![]() |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 43
Phần III Phùng mang, trợn mắt thổi muốn đứt hơi mà cái bếp chỉ tuôn ra toàn khói, với khói. Tức mình quá, Kỳ Phương ném luôn cây cời bếp xuống chân rồi thừ người ra thở. - Chán chết được. - Trong cuộc đời làm phóng viên của mình, chưa bao giờ Kỳ Phương bị xúi quẩy như lần này. Ăn nằm, nằm dề ở cái làng quê đèo heo hút gió hàng tháng trời để vẫn không tìm ra chút manh mối nào. Bị đuổi khỏi nhà như tên ăn trộm chưa hết ê cái mặt, đã nghe đầy tai những lời kêu réo, chửi bới của Khải Văn. Chắc hắn tưởng anh ở đây sung sướng ngon lành như đi du lịch nghỉ mát chắc? Hừ. Hắn có biết nỗi khổ của anh đang nếm chịu đoạn trường thế nào không? Cái khách sạn vừa ấm vừa êm mà hắn ngỡ, chỉ là chuồng bò cũ nát. Một người dân trong làng thương tình đã cho anh mượn tạm ở để điều tra. Thế sao cậu không vào khách sạn, vào nhà trọ mà kêu ca chứ? Thế nào hắn cũng phớt ăng lê bảo thế khi nghe anh than thở. Của đáng tội, có phải anh ngu lắm đâu. Chỉ kẹt nỗi, ở vùng quê này... dân trí quá nghèo nàn, lạc hậu. Cả cái bếp dầu cũng không thấy bán, lấy đâu ra khách sạn, nhà trọ tiện nghi cho anh thuê chứ? Nấu có mỗi nồi cơm, hì hục nãy giờ hơn nửa tiếng đồng hồ vẫn không có cách này làm cho đám củi tươi này chịu cháy. Cứ cái đà này chắc anh đành phải... cuốn gói trở về tòa soạn quá! Nói thì nói vậy, chứ Kỳ Phương biết mình không đời nào làm thế. Anh đâu phải hạng người dễ bỏ cuộc, gặp khó mà chùn bước như chuyện cơm với nước này... anh quyết bắt nó phải sôi lên, chứ quyết không chịu đói. Nghĩ rồi... Kỳ Phương cúi xuống bếp lửa tiếp tục phùng mang trợn mắt. - Trời, Kỳ Phương, anh làm gì mà bụi khói bay mù trời vậy? - Bóng Nguyệt Cầm xuất hiện sau làn khói. Kỳ Phương ngẩng nhanh đầu dậy mừng như bắt được vàng: - Nguyệt Cầm... anh đang nấu cơm đây. Em ngồi chơi với anh một chút. Tiếng Nguyệt Cầm dạ khẽ. Kỳ Phương cúi xuống bên bếp lửa rồi chợt nhớ mình đã bảo Nguyệt Cầm làm một điều không thể được. Cái chuồng bò trống rỗng, ngoài mảnh đệm mới mua trải tạm làm chỗ ngủ, anh chẳng có cái bàn, chiếc ghế nào. - Trời ơi, anh chất củi như vậy thì làm sao mà cháy được? - Nhìn thấy điệu bộ của anh, Nguyệt Cầm kêu lên lạ lẫm. - Ừ! - Kỳ Phương ngước lên, trên má anh xuất hiện một vết lọ nghẹ dài, Nguyệt Cầm không nhịn được mỉm cười. - Củi còn ướt quá, nhóm bao nhiêu giấy cũng không cháy nổi. - Không phải củi ướt đâu. - Ngồi xuống bên cạnh anh, Nguyệt Cầm nhẹ rút hết những cây củi chất lên đầy một bếp của anh ra. - Chỉ tại anh chất đầy quá, bấc bếp ngập không cháy được. - Vậy ư? - Kỳ Phương xum xoe. - Vậy em chất lại giùm anh đi! - Cho em xin tờ giấy. - Nguyệt Cầm nói. Kỳ Phương đặt luôn tờ giấy cuối cùng trong xấp bản thảo của mình cho cô. Không đầy hai phút, Nguyệt Cầm đã làm bếp lửa cháy bùng, Kỳ Phương kêu lên đầy thán phục: - Nguyệt Cầm, em thật tài giỏi quá! - Cảm ơn anh. - Cô cúi đầu bẽn lẽn rồi đáp khẽ. - Trên mặt anh có lọ nghẹ kìa! - Vậy sao? - Kỳ Phương vội đưa tay lên quẹt mạnh. Nhưng vì không thấy nên vết lọ bên này, anh quẹt bên kia. Nguyệt Cầm không nhịn được, đưa tay lên lau cho anh, rồi như chợt nhận ra như vậy là gần gũi quá! Cô thẹn thùng rụt nhanh tay mình lại. Cử chỉ thật đáng yêu. - Anh xin lỗi... - Cho một cây củi vào bếp lửa hồng đang cháy, Kỳ Phương trầm giọng. - Hôm đó... làm em bị ba rầy oan một trận. - Em không giận anh đâu. - Nguyệt Cầm rút đầu e thẹn. - Em chỉ không biết tại sao anh lại làm như vậy. Cả anh, cả ba... ai cũng khó hiểu như nhau. Tại sao phải úp úp, mở mở giấu giếm nhau? - Anh không có giấu em! - Kỳ Phương nhặt khỏi tóc Nguyệt Cầm một nhành cây nhỏ. - Anh tìm tư liệu để viết phóng sự. Anh chỉ không hiểu sao ba em lại giận dữ thôi. Công việc nghiên cứu tìm thuốc cứu người đâu là gì bí ẩn. - Em cũng không biết luôn. - Mắt Nguyệt Cầm buồn rượi. - Em chỉ biết là mình buồn lắm thôi. Anh đi rồi... căn nhà trở nên hoang phế, lạnh lùng hơn bao giờ hết. Ba không đến bệnh viện. Nhưng chẳng phải vì vậy mà em được gần ba hơn trước. Cả ngày lẫn đêm... ba chỉ nhốt mình trong phòng làm việc. Nét mặt lúc nào cũng trầm tư, buồn bã. Kỳ Phương!... Hay là... anh trở về nhà em ở như cũ đi. - Ngập ngừng giây phút, Nguyệt Cầm mở lời thật nhanh, thật nhỏ. Đây chính là cái lý do khiến cô phải leo rào trốn ba đến gặp Kỳ Phương. -Anh cũng muốn như vậy lắm nhưng e bác sĩ không đồng ý. - Kỳ Phương nhìn Nguyệt Cầm chăm chú. Tội nghiệp, chắc bây giờ cô buồn nhiều hơn. Anh đi, ba cô chỉ quan tâm đến công việc. Con chó nhỏ cũng đã không còn. Mới có mấy ngày mà trông cô tiều tuỵ thấy rõ. - Vậy thôi... em về đây. - Thở ra một cái đầy thất vọng, Nguyệt Cầm chậm rãi đứng lên. - Kẻo ba biết lại mắng em nữa đấy. - Ừ! Kỳ Phương không dám giữ cô ở lại, dù lòng còn lưu luyến. Anh muốn mời cô dùng cơm với mình, nhưng lại e cái hột vịt dầm nước tương lạt lẽo. Anh chỉ dám lấy từ nẹp vách một con cào cào vừa được thắt trao cho cô: - Tặng em nè! - Cảm ơn anh. - Nguyệt Cầm mừng rỡ đón lấy hí hửng như đứa trẻ. - Mấy con anh thắt trước đây đó héo hết rồi. À... Kỳ Phương... anh biết không, người đàn ông hôm nọ hỏi thăm đường đã quay trở lại. Ông ta biết ba em là bác sĩ Hữu Bằng. - Sao? - Mắt Kỳ Phương hấp háy. - Ông ta đã trở lại, khi nào? Chuyện gì đã xảy ra? - Em không biết! - Nguyệt Cầm lắc đầu bàng quang. - Chiều hôm đó, ông ta ghé nhà đòi gặp đích danh ba của em. Lúc gặp ông ta, em thấy ánh mắt ba rất lạ. Hai người vào phòng, đóng kín cửa nói chuyện rất lâu. Rồi ông ta trở ra, mặt hầm hầm, giận dữ. - Thế còn ba của em? Ông có thái độ gì sau khi người đó bỏ đi? - Ba em không nói gì. - Nguyệt Cầm khẽ nghiêng đầu. - Em chỉ thấy ông thở ra, gác tay lên trán... đăm chiêu như suy nghĩ nhiều lắm thôi. Kỳ Phương à! - Nắm lấy tay Kỳ Phương, Nguyệt Cầm lo lắng. - Anh có biết chuyện gì đang xảy ra với ba của em không? Sao mấy bữa nay, lòng em như có điều gì đó, phập phồng lo sợ. - Không có gì đâu. - Kỳ Phương trấn an Nguyệt Cầm. - Em hãy về nhà nghỉ đi. Bao giờ biết được gì, anh sẽ kể cho em nghe. - Vâng! Gật đầu chào, Nguyệt Cầm ngoan ngoãn bước đi ngay. Bóng cô khuất lâu rồi sau hàng dâm bụt mà Kỳ Phương vẫn còn đứng đó, dáng người bất động. Câu trả lời nằm ở đâu? Sao những gì anh biết rời rạc quá? Mãi đắm chìm trong suy nghĩ, anh không hay bếp lửa Nguyệt Cầm nhóm được đã bị nồi cơm trào tắt ngấm. *** -Thắt thế nào nhỉ? Cọng lá dừa cầm lên rồi bỏ xuống, Nguyệt Cầm thở ra một hơi dài buồn bã. Tiếng chim sơn ca ríu rít hót trên đầu, cánh vườn thưa nhộn nhịp mà cô nghe sao lạnh vắng. Cô nhớ Kỳ Phương. Nhớ cồn cào da diết. Hơn lúc nào hết, cô muốn chạy đến gặp anh. Nhưng... ngại ngùng không dám, ai đời con gái... mà cứ đến tìm con trai như vậy? Người ta sẽ khi dễ đấy. Nhỏ Lan khi nghe cô kể đã lắc đầu không tán thành hành động của cô rồi. Làm gì bây giờ. Cô cầm con cào cào đã khô của Kỳ Phương tặng. Giá có thể biến thành anh. Giá có thể chuyện trò cùng nó? Những ngày anh có mặt ở ngôi nhà này là những ngày Nguyệt Cầm vui nhất đời mình. Từ nhỏ sống lặng yên, bình dị bên cha, cô đâu biết thế gian này tồn tại một cảm giác tuyệt vời như thế! Tình yêu! Môi Nguyệt Cầm thoáng nở nụ cười. Mặc cho nhỏ Lan và mọi người chê trách, Nguyệt Cầm vẫn không cấm trái tim mình nói tiếng yêu anh. Bởi anh đáng thế... cả làng này có chàng trai nào hơn anh được? Còn Kỳ Phương! Anh có yêu mình không? Tim Nguyệt Cầm thoáng ngập ngừng, e ngại. Trông thái độ anh gần gũi, thân mật. Nhưng... với nhỏ Lan... anh cũng ân cần, dịu dàng giống như vậy. Hẳn là trong mắt anh, cô hay nhỏ Lan chỉ là những cô gái quê mùa không hơn không kém. Người yêu của anh phải là một cô gái thị thành, xinh đẹp, văn minh và giàu học thức. Nghĩ đến điều này... không hiểu sao, tim Nguyệt Cầm nghe đau nhói. Cô muốn òa lên khóc quá! - Nguyệt Cầm! Nguyệt Cầm!... Có tiếng Kỳ Phương văng vẳng gọi, hòa lẫn tiếng chim kêu. Nguyệt Cầm mừng rỡ ngẩng nhanh đầu dậy. Nhưng cô chợt thở ra ngay. Chỉ là ảo tưởng thôi. Kỳ Phương sẽ không bao giờ tìm đến cô đâu! - Nguyệt Cầm! Nguyệt Cầm!... Tiếng kêu nghe rõ quá, không giống ảo giác. Một lần nữa, Nguyệt Cầm ngẩng đầu lên. Nhận ra bàn tay anh đang vẫy mình cuối gờ tường, cô mừng quá, chạy ào ngay tới. - Kỳ Phương... ôi... em nằm mơ sao thế này? - Không phải nằm mơ đâu. - Tiếng Kỳ Phương vui vẻ. - Anh đến rủ em đi chơi. Em có dám đi không? - Dám, em dám. Nguyệt Cầm gật đầu ngay không suy nghĩ. Dù một lát nữa trở về bị ba đánh chết, cô cũng không bao giờ từ chối giây phút được ở gần bên anh. - Vậy thì em ra đây. - Kỳ Phương hớn hở. - Anh có điều thú vị tặng cho em. - Dạ... - Bàn tay đặt lên chốt cửa, Nguyệt Cầm chợt kêu lên thất vọng. - Thôi chết... ba đã khóa cửa lại rồi. - Em không có chìa khóa sao - Kỳ Phương lo lắng. - Từ lúc phát hiện ra việc em lén đến nhà anh. Ba của em đã lấy lại tất cả chìa khóa rồi. - Nguyệt Cầm thở ra buồn bã. - Vậy... đành bó tay à? - Đôi môi Kỳ Phương mím lại, anh thất vọng nhìn con diều lớn trên tay. Nó được dán bằng những trang bản thảo viết vội của anh đó. Nguyệt Cầm nhất định sẽ bất ngờ, thích thú khi nhìn thấy nó lượn bay lên bầu trời cao rộng. - Mình đứng đây nói chuyện đi anh. - Sợ Kỳ Phương giận dỗi bỏ về, Nguyệt Cầm năn nỉ. - Đứng đây nói chuyện ư.? - Kỳ Phương bật lên cười lớn. - Thú vị đấy, nhưng Nguyệt Cầm, anh hỏi em điều này, em có dám leo qua cổng ra ngoài với anh không? - Leo... Leo rào ư? Nguyệt Cầm rụt vai sợ hãi. - Cao quá anh ạ! - Không cao lắm đâu - Kỳ Phương đưa mắt nhìn những thanh sắt ngang trên cửa. - Chỉ cần em can đảm một chút thôi. Em có dám không? Ngập ngừng đưa mắt nhìn cánh cửa rồi đưa mắt nhìn lẹ vào nhà, Nguyệt Cầm thầm cân nhắc. Leo tường trốn ra ngoài, thật là kinh khủng. Nhưng... bây giờ... muốn gặp Kỳ Phương... chỉ còn cách duy nhất này thôi... Được rồi... cuối cùng... Nguyệt Cầm quyết liều để gặp anh. Hít sâu một hơi, thu hết hùng tâm dũng khí, cô bám tay vào thành cửa đu lên. Cao quá... Mấy lần suýt té rồi cũng qua. Cuối cùng cô lên được mặt thành. Kỳ Phương trông thấy, anh la to, động viên: - Ồ, Nguyệt Cầm, em đã làm được rồi... thật tuyệt vời. - Em không xuống được... - Bên ngoài mặt thành, cửa trơn tuột không có những thanh sắt ngang để leo xuống. Nguyệt Cầm kêu to sợ hãi. - Đừng hốt hoảng. - Nheo một con mắt lại, Kỳ Phương khom lưng xuống trước mặt cô. - Em hãy bước xuống lưng anh mà xuống. Nguyệt Cầm kêu to hốt hoảng: - Bước xuống lưng anh mà xuống ư? Em không dám đâu, sợ làm đau anh lắm. - Không đau đâu. - Kỳ Phường quay đầu lại. - Em cứ xuống đi, nhanh lên, kẻo ba em ra trông thấy bây giờ. Nghe nhắc đến ba, Nguyệt Cầm thôi không đùn đẩy nữa. Rụt rè... đặt chân xuống lưng Kỳ Phương, cô nhắm mắt buông mình ào xuống. Đau một chút thôi... Nguyệt Cầm nghĩ thầm như vậy. Nhưng...chẳng có cảm giác đau chút nào, chỉ có cảm giác bồng bềnh trong vòng tay nồng ấm. Lạ lùng, Nguyệt Cầm mở to đôi mắt... kinh hoàng nhận ra... Kỳ Phương đã bế bổng mình, gọn như một con mèo. Ôi!... Cánh tay của anh thật là rắn chắc, bờ ngực anh thật là vững chãi. Một cái gì như một luồng điện từ anh chạy rần khắp người cô. Đê mê, ngây ngất quá! Nguyệt Cầm chỉ muốn úp gương mặt mình vào vai anh, buông mình vào cái cảm giác lạ lùng cứ tuôn tràn như suối. - Em làm được rồi... anh nói có sai đâu. Không hiểu được tâm ý của Nguyệt Cầm, Kỳ Phương vui vẻ thả cô xuống đất. - Vâng... - Xấu hổ với ý định của mình. Nguyệt Cầm cúi đầu ửng hồng hai má. Kỳ Phương nắm lấy tay cô: - Đi nào. - Đi đâu? Nguyệt Cầm ngây thơ. Kỳ Phương nhẹ đặt một ngón tay xuống môi cô: - Đến nơi khắc biết thôi. Bây giờ... em cứ nhắm đôi mắt lại và chạy theo anh. - Vâng! Ngoan ngoãn, Nguyệt Cầm nhắm ngay đôi mắt lại.Cô không cần biết Kỳ Phương sẽ dắt mình đến nơi nào. Cô chỉ cần được ở bên anh, nhìn anh cười, nghe anh nói là đủ lắm rồi. Làn gió trên cao như cũng vui cùng cô, hét phần phật bên tai cô mát rượi, lại chui vào mái tóc của cô làm xổ tung ra bay lượn trong gió. - Tới rồi đây! - Kỳ Phương chợt dừng chân đột ngột. - Em mở mắt ra đi. Nghe lời anh, Nguyệt Cầm từ từ mở to đôi mắt, bỗng kêu lên một tiếng thích thú: - Trời ơi! Đẹp quá! Rồi như không kiềm chế nổi lòng mình, cô tung chân chạy đi ngay, miệng cười vui như trẻ con. Tựa lưng vào một thân cây lớn bên đường, Kỳ Phương thích thú nhìn Nguyệt Cầm tung tăng bên thảm lúa. Cô đang rất ngạc nhiên, Kỳ Phương mỉm cười nhớ lại cảm giác của mình lần đầu phát hiện ra điều bất ngờ thú vị này. Đi nhiều nơi, nhiều chốn, từng tham quan nhiều thắng cảnh, nhưng quả thật lần đầu tiên Kỳ Phương mới nhìn thấy một cánh đồng rộng dường kia, đẹp dường kia. Hơn cả kiệt tác của một thi nhân, đồng lúa trước mặt anh trải dài vô tận vàng rực một màu lúa chín. Nó như không có điểm dừng, chỉ có một đường tiếp giáp với chân trời xa khuất tầm nhìn. Không gian trước mắt, chỉ có hai màu vàng và xanh hòa trộn vào nhau. Thỉnh thoảng điểm một vài cánh cò trắng bay lên. Đẹp yên bình, thanh thoát đến lạ. - Kỳ Phương ơi... em chưa bao giờ được thấy một cánh đồng lúa to đến như vậy. - Nguyệt Cầm đã trở về, trên tay cô là chùm bông lúa chín. - Cảnh vật ở đây đẹp tuyệt luôn, ôi... gió mới mát làm sao! - Chờ anh một chút. Còn điều thú vị nữa đây. - Mỉm cười, Kỳ Phương hất tung con diều vào ngọn gió đồng đưa đến. Ngọn gió bốc lên, trong chớp mắt đã nâng con diều bay cao trên bầu trời xanh thẳm. - Ôi, con diều đuôi đã bay được rồi kìa... - Nguyệt Cầm vỗ tay mừng rỡ. Kỳ Phương,.. anh thật là giỏi quá. - Nó không phải là con diều đuôi đâu. - Ngồi xuống một cái rễ cây cạnh Nguyệt Cầm, Kỳ Phương vui vẻ bảo. - Nó là con diều. - Con diều ư? - Vẫn ngước cao đôi mắt lên bầu trời, Nguyệt Cầm lặp lại - Giời anh. Vậy...con diều đẹp quá. Bay cao ghê... chắc phải tốn nhiều pin lắm. Lại một câu ngớ ngẩn, nhưng lần này Kỳ Phương không cười nữa. Quay lại nhìn cô, tự dưng anh nghe sống mũi mình cay xé. Một niềm thương hại dâng trong lòng anh. Làm người như Nguyệt Cầm không phải là đáng thương, tội nghiệp lắm sao? Như một con ếch tối ngày nằm dưới đáy giếng sâu, suýt đời cứ ngỡ trời chỉ lớn bằng cái vung trên đỉnh đầu mình. Cô nào biết, bên ngoài cái giếng, cuộc đời còn bao điều tươi đẹp, bao nhiêu việc phải làm. Sinh trưởng ở nơi này mười tám năm rồi, vậy mà... cô không hề biết làng quê mình có một cánh đồng đẹp dường này. Nếu anh không đến đây có lẽ đến hết cuộc đời mình cô bé cũng yên lòng sống mãi trong cái biệt thự, ngắm bầu trời qua song cửa sắt không khác một kẻ tù nhân. Tự nhiên Kỳ Phương bỗng muốn có một ngày, mình đưa được Nguyệt Cầm về thành phố. Cho cô được nhìn những công trình của nền văn minh hiện đại. Để cô được biết thế nào là tiện nghi, là cuộc sống của một người dân thành thị. Anh muốn mời cô ngồi vào chiếc Nissan của mình. Chở cô đi dạo khắp nơi rồi mời cô một lần thưởng thức món kem ngon tuyệt. Hẳn là cô sẽ giật mình trước vị lạnh của kem, và cũng sẽ rất thú vị trước sự thơm ngon của nó. Anh sẽ mời cô đi xem ca nhạc, mời cô đi xem phim. Hẳn cô sẽ chết khiếp, sẽ khóc hết nước mắt trước số phận của những nhân vật, cô không bao giờ tin là chúng được tạo thành từ sự tưởng tượng của những nhà văn giống như anh. - Kỳ Phương... anh làm gì mà cứ tủm tỉm cười một mình hoài vậy hả? - Giọng Nguyệt Cầm, chợt vang lên cắt ngang dòng suy nghĩ của Kỳ Phương, anh nhìn chăm chú cô: - Anh đang cố tưởng tượng xem, trông chiếc đầm của em sẽ đẹp thế nào. - Áo đầm ư? - Nguyệt Cầm cúi nhìn bộ đồ lụa trắng của mình. - Nó như thế nào hả anh? - Ừ thì... như vầy nè! - Nhặt một hòn đá, Kỳ Phương vẽ xuống mặt đường một cô gái mặc áo đầm thật đẹp. Nguyệt Cầm chăm chú nhìn giây phút rồi chợt hỏi: - Sao anh không cho cô gái ấy mặc quần? - Hở? - Bị hỏi bất ngờ, Kỳ Phương sững người ra, không biết trả lời sao. - À, ờ... tại trang phục này như thế... người ta không cần phải mặc quần dài. Chỉ cần.... một cái quần nhỏ bên trong. - Trời... như vậy là kỳ cục lắm, em hổng chịu mặc đâu. - Đôi má chợt đỏ bừng, Nguyệt Cầm quay mặt đi, xấu hổ. - Chẳng có gì phải xấu hổ đâu. - Tay Kỳ Phương se se ngọn cỏ. - Các cô gái thành thị vẫn mặc như thế đi ngoài phố. Nguyệt Cầm, nếu anh mời em về thành phố chơi, em có thích không? - Không! - Nguyệt Cầm đáp không cần suy nghĩ. Kỳ Phương chưng hửng: - Vì sao? - Vì nơi ấy... có bạn gái của anh. - Nguyệt Cầm phụng phịu. - Em không thích. - Bạn gái ư? - Kỳ Phương chợt mỉm cười. - Anh không có bạn gái. Mà dù có cũng chẳng sao. Cô ấy sẽ thích em. Em dễ thương lắm mà. - Nhưng em không thích chị ta. - Nguyệt Cầm giận dỗi. Kỳ Phương cảm thấy ngẩn ngơ. Lẽ nào Thu Lan nói đúng, Nguyệt Cầm đã yêu mình? Nếu quả như vậy thì sao? Kỳ Phương bâng khuâng thầm hỏi. Anh có nên đáp lại tình cảm của Nguyệt Cầm không? Hai tháng trời gần gũi, anh thấy Nguyệt Cầm thật đáng thương biết bao. Rất muốn làm một điều gì đó cho cô, nhưng... tất cả chỉ là tình cảm của một người anh dành cho em gái nhỏ. Nguyệt Cầm ngây thơ, non nớt chuyện đời... liệu cô có chịu nổi cú sốc này? - Anh giận vì em bảo không thích bạn gái của anh hả? - Giọng Nguyệt Cầm run rẩy. - Xin lỗi anh, tại em lỡ lời thôi. - Không đâu. - Kỳ Phương nhóng mắt cười nhẹ. - Không có. Thôi anh em mình chơi thả diều tiếp tục đi. Em có thích không? Để anh dạy cho em nhé. - Dạ... - Nguyệt Cầm vui vẻ cầm lấy con điều. Theo hướng dẫn của Kỳ Phương, không bao lâu cô có thể tự mình điều khiển con diều bay tít lên cao. Vui thích quá, cô bật lên cười khanh khách... - Ái... ơi... Đang hướng mắt lên trời nhìn theo con diều, Nguyệt Cầm bỗng khuỵ chân té ngã, cuộn chỉ rơi khỏi tay lăn lông lốc trên mặt đất. Kỳ Phương chạy vội đến đỡ cô đứng dậy, bất chợt kêu to hốt hoảng: - Nguyệt Cầm em sao vậy? - Em... em khó thở quá... - Sắc mặt bỗng đỏ bừng. Nguyệt Cầm đưa tay ôm ngực, hơi thở gấp gáp. - Chắc là cảm nắng rồi! Kỳ Phương vội vã bế Nguyệt Cầm đến một bóng cây. Sẵn chai dầu trong túi, anh thoa lên thái dương của cô và lo lắng hỏi: - Em sao rồi? Có đỡ chút nào không? Chiếc đầu khẽ lắc, mi mắt khép lại, Nguyệt Cầm như bị mê đi. Hơi thở đuối dần, những đốm đỏ lan dần trên làn da trắng ngần của cô. Làm sao bây giờ? Kỳ Phương quýnh quáng. Biết không thể chần chờ, anh cúi xuống bế bổng cô lên cắm đầu chạy. Nguyệt Cầm, em đừng làm sao nhé. Không thì... anh sẽ ân hận lắm đấy. Tự dưng... sao lại trở bệnh như thế này. Trời ơi khổ! - Bác sĩ... bác sĩ... Hai tay ôm chặt Nguyệt Cầm, Kỳ Phương không thể nào nhấn vào chuông cửa, gấp rút quá, anh dùng chân đá mạnh vào cánh cửa rầm rầm. - Có chuyện gì? Bác sĩ Tùng ló đầu qua khe cửa với vẻ mặt lạnh lùng, Kỳ Phương lướt ngay vào, quýnh quáng: - Nguyệt Cầm... Bác sĩ... mau cứu Nguyệt Cầm. Cô ấy... - Trời ơi... sao thế này... - Vừa nhìn thấy sắc mặt Nguyệt Cầm, ông hoảng hốt cắt ngang lời Kỳ Phương. - Mau ẵm nó vào phòng. - Vâng... - Kỳ Phương bước như bay vào nhà. Dù vội vã anh vẫn kịp nhìn nhanh thấy ngoài phòng khách, người khách lạ hôm nào hỏi đường mình với Nguyệt Cầm đang ngồi trên ghế salon. Đôi mắt cú vọ của gã nhìn như nuốt chửng Nguyệt Cầm. - Đặt nó xuống giường mau! Nắm lấy tay con, bác sĩ chợt la to hớt hãi khi thấy mạch yếu dần. Chụp nhanh ống thở oxy vào mũi con, ông vội vã làm tất cả những động tác cấp cứu dành cho một bệnh nhân. Trong giây phút sắc mặt Nguyệt Cầm dần trở lại hồng hào. Mạch nhảy tốt hơn. Cơn nguy kịch không còn nữa. Kỳ Phương bây giờ mới dám thở mạnh, cất tiếng: - Thưa bác sĩ, tôi chỉ rủ Nguyệt Cầm đi dạo, không ngờ... - Cậu đừng nói gì cả... - Giọng bác sĩ lạnh lùng. - Lập tức rời khỏi nơi này... - Cháu... muốn chờ cho Nguyệt Cầm tỉnh lại... - Kỳ Phương nhìn ông van xin. - Tôi không cần... - Đôi mắt ông quắc lên giận dữ, tóm lấy cổ áo Kỳ Phương, lôi xệch anh ta ra cửa, ông quát lớn. - Lũ con trai vô tích sự, tối ngày chỉ biết tán gái với nhậu nhẹt. Lấy tư cách gì theo đuổi Nguyệt Cầm chứ. Cút mau... và đừng bao giờ bén mảng đến nơi này. Vung tay đẩy mạnh Kỳ Phương ra ngoài, ông sập nhanh cửa lại. Tất cả diễn biến xảy ra nhanh quá, Kỳ Phương chẳng kịp có phản ứng gì. Anh chỉ thấy thái độ của ông hôm nay thật lạ, thật khác thường. Cả câu mắng của ông, cũng như muốn ám chỉ điều gì. Dường như... ông muốn khẳng định gã khách có đôi mắt cú vọ kia về quan hệ của mình đối với anh. Tại sao ông làm như vậy chứ Kỳ Phương cảm thấy mình đần độn hơn bao giờ hết. *** Sáng ra, vừa mở mắt đã thấy mọi người tụ tập trước sân nhà của mình xì xào bàn tán, Kỳ Phương vui vẻ lên tiếng hỏi:- Mọi người có chuyện gì vui thế? Kể cho tôi nghe với nào! Nghe tiếng anh, đám đông quay lại, không phải tin vui như anh tưởng, một người hớt hải lên tiếng bảo: - Nguy rồi Kỳ Phương ơi, hồi hôm này con ma lại xuất hiện. - Con ma xuất hiện ư? - Kỳ Phương lẩm bẩm. - Hôm nay mùng ba, phải còn đúng mười hai ngày nữa mới đến ngày con ma xuất hiện cơ mà. - Không chỉ thế! - Một người khác chen vào. - Con ma còn trở nên hung hãn hơn nhiều so với trước. Nó đã giết người bị mình hút máu. - Sao? - Kỳ Phương giật thót người. - Có chết người ư? Thế bác sĩ Tùng biết chuyện này chưa? - Chúng tôi đã báo cho bác sĩ biết. Nhưng ông ấy bảo chuyện này không liên quan gì đến mình, nên không muốn giải quyết. Đám đông nhao nhao nói: - Chúng tôi phải tìm đến anh đây! - Được rồi, đưa tôi đến nhà người bị nạn mau. Xăng xái bước đi, Kỳ Phương quên mất mình chưa kịp đánh răng, rửa mặt. - Con ơi là con... trời ơi... con tôi chết oan ức quá! Chưa bước vào nhà, Kỳ Phương đã nghe tiếng người mẹ khóc con thảm thiết. Thật tội nghiệp. Cậu bé mới mười ba tuổi. Kỳ Phương nhận ra đứa bé, nó chính là người dạy anh dán con diều hôm trước. - Bác ơi, để cháu xem nào. Lách đám đông bước vào, Kỳ Phương nắm tay đứa bé, hy vọng tìm ra chút hơi thở mong manh nào. - Sao cậu... con tôi còn cứu được không? - Người mẹ ngưng khóc, ngước đôi mắt lên chờ đợi một phép màu. Nhưng Kỳ Phương lặng lẽ lắc đầu. Chẳng còn chút hy vọng nào. Toàn thân đứa bé đã cứng đờ, lạnh ngắt. Trên cổ áo vết răng cắn ngập vào bầm tím. Người mẹ nghẹn ngào kể lại: - Con ma đến lúc nửa đêm. Nó định tấn công tôi nhưng thằng Toàn cản lại, đấu vật tay đôi cùng với nó. Tôi sợ quá hét to lên cầu cứu, nhưng nhà tôi nằm ở sâu quá chẳng ai nghe. - Thế sao dì... không chạy đi kêu cứu? - Kỳ Phương thắc mắc. Người đàn bà kéo ống quần lau nước mắt: - Tôi không thể bỏ đi, để một mình con tôi với con ma được. Tôi phải giúp nó đánh trả con ma. Nhưng... con ma mạnh lắm. Giằng co được một lúc, tôi bị nó xô té đập đầu vào cạnh giường ngất xỉu. Đến khi tỉnh lại trời đã sáng. Con tôi cũng đã chết rồi... trời ơi... tôi phải làm sao... - Cậu Phương, cậu Phương...cứu tôi... cứu tôi với... Vừa ngồi xuống định nói vài lời an ủi với người mẹ bất hạnh, Kỳ Phương đã vụt đứng lên vì giọng một người kêu lớn thất thanh. - Cứu tôi với... Những người bị ma cắn đồng loạt lên cơn khát máu, họ tấn công tôi và sắp đến đây rồi. Một người, rồi nhiều người chạy vội vào nhà. Chưa kịp hiểu chuyện gì Kỳ Phương đã thấy sau lưng họ một đoàn nhiều người khác, mắt đỏ ngầu, mặt đằng đằng sát khí đuổi sát một bên. Nhận ra đó là đoàn người lên cơn khát máu. Kỳ Phương lanh trí kêu to: - Đóng cửa lại mau. Cánh cửa được đóng lại ngay lập tức. Cũng may là nhà này chỉ có một cửa thôi, lại vô cùng chắc chắn. Nếu như... ở cái chuồng bò trống huơ của mình, Kỳ Phương không biết xử trí thế nào. Nhưng đoàn người lên cơn khát máu thật tinh khôn. Cánh cửa được cài chặt bên trong vẫn không khiến họ chùn lòng. Họ tìm đủ mọi cách để lọt vào, cố phá cửa, cố trèo lên cả nóc nhà. Cứ trốn như thế này thì không phải cách. Sớm muộn gì thì họ cũng phá được nhà. Đám dân làng xôn xao, lo lắng. Tình thế cấp bách quá, bác sĩ lại không có mặt, túng cùng Kỳ Phương quyết định ra lệnh cho đám trai làng: - Hãy theo cách cũ, đánh cho họ ngất xỉu rồi hãy tính. Vâng lời anh, đám trai làng đem theo gậy gộc, cuốc xẻng, lẻn ra ngoài bằng cửa sau bất ngờ tập kích. Đoàn người đang khát máu do lo tấn công không phòng bị, nên đám trai làng dễ dàng đập cho ngất xỉu. Chưa đầy mười lăm phút, Kỳ Phương đã nghe họ gọi lớn: - Anh Phương ơi, chúng tôi đã giải quyết xong, anh mở cửa ra đi. Bước ra ngoài, nhìn đám người nằm ngổn ngang một đống ngoài sân, Kỳ Phương hỏi một trai làng: - Anh có biết bọn họ bao nhiêu người không? - Một trăm sáu chục người. - Anh trai làng trả lời ngay. - Chúng tôi vừa mới đếm xong. - Một trăm sáu chục người? Nhiều đến thế sao? - Kỳ Phương choáng giật mình. Bấy lâu nay, vì bọn họ nằm rải rác khắp làng... tấn công lẻ tẻ, anh ngỡ chỉ độ chừng vài ba chục người thôi. - Mình làm gì bây giờ anh Phương? - Một người như là thân nhân của người kia lo lắng hỏi. - Nếu không kịp truyền máu, bọn họ sẽ chết mất. - Cái này... - Kỳ Phương nghe rối rắm. Chúng ta nên đến gặp bác sĩ thì hơn. Tôi không tin là ông ta bỏ mặc, thấy chết không cứu đâu. - Thử một lần nữa xem... - Đám đông ngần ngừ rồi cũng vâng lời. Trước khi kéo nhau đi, Kỳ Phương còn cẩn thận bảo đám trai làng đem hết bọn người ma ám vào nhà, cài chặt cửa, đề phòng bọn họ tỉnh lại tấn công bất ngờ, trở tay không kịp. - Anh bạn trẻ, giải quyết gọn lắm, khoa học lắm. Đang cài chốt cửa, Kỳ Phương chợt nghe sau lưng mình giọng người đàn ông vang lên rờn rợn. Quay đầu lại, anh nhận ra người khách lạ hôm nào. - Hãy để bọn người ấy đến gặp bác sĩ. Tôi có chút chuyện riêng muốn bàn với cậu đây. - Chẳng để Kỳ Phương kịp lên tiếng hỏi, ông ta nói luôn một hơi dài. Vốn không có cảm tình với đôi mắt soi mói và gương mặt có vẻ gian xảo của ông, Kỳ Phương lắc đầu, lạnh lùng: - Xin lỗi, ngay lúc này tôi không thể làm theo anh được. - Chỉ một phút thôi. - Song thấy Kỳ Phương vẫn quay lưng lại, gã nói nhanh. - Nếu cậu muốn biết chân dung thật của con ma gây nên tai họa. Miếng mồi câu quá ngon lành, Kỳ Phương không cưỡng nổi được lòng, quay ngoắt lại ngay: - Ông biết con ma là ai ư? - Phải. - Gã gật đầu. Lúc này đoàn người đã đi được một đoạn khá xa rồi. Nên gã không cần sợ ai nghe trộm nữa. - Cậu... có thành kiến với tôi, vì ngỡ tôi là kẻ xấu phải không? - Tôi... - Kỳ Phương không thể phủ nhận một khi ông ta đã biết rõ ràng. - Không sao. - Gã mỉm cười. Một nụ cười đôn hậu nhưng vẫn không làm cho Kỳ Phương có cảm tình. Giác quan thứ sáu bảo với anh rằng gã không thể nào là người tốt. - Thật ra... cậu đã hiểu lầm. Cả dân làng ở đây cũng thế. Từ lâu các người đã bị gã bác sĩ kia lừa gạt. Sự thật tên của gã là Hữu Bằng. Cảm thấy bất bình thay cho bác sĩ, Kỳ Phương lên tiếng cãi: - Đôi lúc giấu tên không phải là sự lừa gạt. - Đúng là giấu tên không phải là lừa gạt vì nó cũng là chuyện nhỏ. Nhưng... - Đưa tay quẹt mũi một cái, gã cho nổ luôn một trái bom đã bật sẵn ngòi. - Gây đại họa cho cả làng mới là chuyện lớn. Con ma mà các người đang tìm kiếm chính là Nguyệt Cầm. Con gái yêu của ông ta. - Nguyệt Cầm là con ma ư? - Kỳ Phương bật lên cười lớn. - Ôi... không còn vô lý nào bằng. - Rồi anh giận dữ. - Này ông, ông đã làm mất thời gian bằng câu chuyện nhảm nhí của mình rồi đó. - Không nhảm nhí, cũng chẳng hoang đường đâu. Gã cất giọng lạnh lùng. - Nếu không tin, đêm nay cậu cứ mời Nguyệt Cầm đi dạo một vòng sẽ rõ. Lời ông ta khẳng định quá, Kỳ Phương hoang mang: - Tại sao ông lại nói chuyện này cho tôi nghe chứ? - Vì cậu là phóng viên. - Ông ta mỉm cười nham hiểm... - Tôi muốn cậu công bố chuyện này lên mặt báo. Cậu bé, hãy nên cảm ơn ta. Vì cậu sẽ trở nên nổi tiếng nhờ bài phóng sự tuyệt vời này. Thôi, bấy nhiêu đó đủ rồi, tin hay không, tùy cậu. - Vỗ nhẹ lên vai Kỳ Phương một cái, ông ta quay lưng bước đi ngay. Thoắt cái đã biến mất vào lùm cây trước mặt. Bí hiểm, bất ngờ như câu chuyện ông ta vừa kể vậy. Nguyệt Cầm là con ma mà anh và mọi người đã tìm kiếm bấy lâu ư? Ông ta đi mất lâu rồi mà Kỳ Phương vẫn còn sững ra bất động. Và... có lẽ... anh sẽ còn đứng mãi như thế không biết cho đến bao giờ, nếu như đừng có ai đó đập vào vai mình một cái. - Anh bạn trẻ, mau vào giúp một tay nào? Giật mình, ngẩng nhanh đầu dậy, Kỳ Phương chợt kêu lên mừng rỡ: - Bác sĩ. - Thì là tôi đây, cậu làm gì mà mừng quýnh vậy? Vẫn cái giọng càu nhàu quen thuộc vừa lạnh lùng, vừa tình cảm làm sao. Kỳ Phương không nhận ra ngay. Tự nhiên, anh nghe từ lồng ngực mình thở phào ra một hơi dài nhẹ nhõm. Dù ai có nói gì, anh vẫn tin ông là một bác sĩ nhân từ tốt bụng. *** Không tin, không bao giờ tin Nguyệt Cầm là con ma hung ác, là nỗi ám ảnh dân làng trong nhiều ngày tháng vừa qua, nhưng để khẳng định lập trường vững chắc của mình. Đêm nay Kỳ Phương sẽ lén lút mời cô đi dạo như lời gã kia đã mách.Lần này Nguyệt Cầm không phải leo rào, cũng chẳng gặp phải chút khó khăn nào. Bởi cha của cô còn mải lo cứu chữa cho một trăm sáu mươi bệnh nhân đang lên cơn khát máu. Đi chơi giữa lúc công việc bộn bề, Kỳ Phương cũng thấy lòng ray rứt lắm. Hơn ai hết, anh biết rõ, bác sĩ phải khó khăn vất vả như thế nào mới có thể cứu chữa được một số lượng bệnh nhân như thế. Những con bệnh đã lên cơn đột ngột, cũng như con ma đột nhiên xuất hiện không đúng lệ thường đã làm mọi việc rối tung lên. Đầu tiên là việc phòng thủ. Kế đến là số lượng máu dự phòng. Phải đến mười hai ngày nữa thì số lượng máu đăng ký ở trung tâm huyết học mới được điều về. Trong lúc cấp bách này, lấy đâu số lượng máu cần thiết để tiếp đủ cho hơn một trăm sáu mươi con bệnh. Đành nhìn họ chìm dần vào cái chết ư? Không kịp đưa họ lên tuyến trên. Đoạn đường xa quá... nhìn những thân nhân của những con bệnh tối sầm đi, lòng Kỳ Phương đau nhói. - Có cách giải quyết rồi... Giữa bốn bề im lặng, giọng bác sĩ bỗng vang lên mừng rỡ. Ồ!... Mắt Kỳ Phương sáng bừng lên. Không cần ông lặp lại đến hai lần, những người dân làng đồng loạt xắn cao tay áo. Tự nguyện hiến dòng máu đỏ của mình cứu sống đồng loại. Cảm động thay, cao quý thay lòng nhân đạo. Cùng bác sĩ cắm kim vào tĩnh mạch những con người vốn còm nhom, gầy yếu vì cuộc sống khó khăn, mắt Kỳ Phương bỗng cay xè. Cùng với họ, anh cũng bằng lòng hiến một phần máu đỏ. - Ba à, cho con hiến máu với. Nguyệt Cầm cũng xắn cao tay áo. Nhưng... bác sĩ đã lắc đầu: - Không được. - Sao thế? - Nguyệt Cầm níu áo cha nài nỉ. - Ba đừng thương con quá! Cho con hiến máu cứu người với. Kẻo mọi người lại nghĩ ba vị thân, vị kỷ bây giờ... Mặc cho con gái nài nỉ, bác sĩ vẫn cứng lòng. Ông có quyền làm thế, dân làng không trách. Nhưng... Kỳ Phương lại không nghĩ thế. Ông không bao giờ vị thân vị kỷ. Không lấy máu Nguyệt Cầm... hẳn ông có một lý do chính đáng. - Kỳ Phương! Anh sao vậy? Nãy giờ ra đây thấy anh trầm ngâm chẳng nói lời nào! Giọng Nguyệt Cầm vang lên trong trẻo. Giật mình thoát khỏi cơn suy tưởng, Kỳ Phương quay người lại, dưới ánh trăng đêm, vẻ mặt lo lắng của Nguyệt Cầm hiện ra đẹp hơn bao giờ hết. Gương mặt này mà lại có thể xấu xa kinh khiếp như con ma trong tấm ảnh hôm nào ư? Thật là một lời phỉ báng, một sự xúc phạm không thể nào tha thứ được. Tự nhiên nghe giận sôi, Kỳ Phương nghiến răng mắng lớn: - Đồ vu khống, khốn kiếp... - Sao anh mắng em? Thấy Kỳ Phương bỗng hét lên, Nguyệt Cầm sợ hãi, co rúm người lại. Kỳ Phương ôm lấy vai cô: - Đừng sợ, anh không phải mắng em. Đôi mắt cô gái hoang mang mở lớn: - Thế anh mắng ai? - Một thằng khốn kiếp. - Trong cơn tức giận, Kỳ Phương không thể kiềm lại. - Hắn dám bảo em chính là con ma hút máu. - Em ư? Em là ma ư? - Quá đỗi kinh hoàng, Nguyệt Cầm run rẩy lùi về sau một bước. - Thế anh có tin không? - Nếu tin anh làm sao dám cùng em đi dạo. - Kỳ Phương bật cười lớn. Rồi sẵn trớn, Nguyệt Cầm đùa luôn: - Bộ anh không sợ em hút máu của mình sao? - Thật không thể tưởng tượng! Những lời nói của Kỳ Phương sao mà khủng khiếp. Nguyệt Cầm bỗng nghe cơ thể cồn cào một cảm giác lạ lùng. Danh từ "hút máu" sao như kích động, cơ thể nóng bừng, cổ họng cháy khô khiến Nguyệt Cầm chỉ muốn uống ngay một thứ gì đó. - Anh nói chơi bộ làm em giận hả? Giây lâu, không nghe Nguyệt Cầm lên tiếng, ngỡ cô giận thật Kỳ Phương quay sang xin lỗi. Nhưng chưa kịp quay đầu lại thì anh đã thấy một bàn tay móng vuốt đầy lông lá níu chặt cổ mình. Sợ hãi nhưng bằng một bản năng sinh tồn, Kỳ Phương vùng mạnh người ra rồi sững người chết lặng. Điều vô lý hoang đường nhất đang hiện ra trước mặt anh. Nguyệt Cầm, người con gái ngây thơ xinh đẹp nhất đời, dần lột xác trở thành một con ma kinh khủng nhất. Bất ngờ lẫn bàng hoàng khiến máu trong người Kỳ Phương như đông đặc lại. Ngẩng người ra như pho tượng đá, anh quên cả việc vùng chạy thoát thân. Đến khi con ma nhào lên chụp lấy mình, anh mới hoàn hồn chợt tỉnh. Không còn đường để chạy nữa rồi. Trong cơn bối rối, Kỳ Phương chợt nhớ đến lần thoát nạn của mình kỳ trước. Chiếc máy ảnh, con ma rất sợ thứ ánh sáng lóe lên bất ngờ. Lần tay xuống lưng tìm chiếc đèn pin Kỳ Phương bất thần rọi thẳng vào mặt con ma. Ánh sáng đã làm con ma hoảng sợ mất một giây, đủ để Kỳ Phương chụp nhanh hòn đá dưới chân mình đập mạnh vào đầu nó. Cú đập vừa đủ mạnh làm cho con ma ngất xỉu. Thoát nạn, Kỳ Phương nhảy ào qua con mương trước mặt. Được mấy bước, Kỳ Phương bỗng dừng chân quay lại. Anh không thể bỏ mặt con ma, cũng không thể tri hô với mọi người vì đó là Nguyệt Cầm. Dù sao giữa anh và cô cũng có với nhau những điều tốt đẹp. Trước khi làm sáng tỏ chuyện này, anh biết mình phải giữ cho cô bí mật hôm nay. Nghĩ xong, anh cúi xuống bế bổng cô lên. Nương theo ánh trăng đêm, băng qua con đường tắt. Kỳ Phương trở về ngôi biệt thự một cách âm thầm. *** Truyền song bịch máu cuối cùng cho nạn nhân cũng quá nửa đêm. Cái bụng đói nhừ, lại thêm phần máu bị lấy ra làm cho ông xây xẩm mặt mày. Bước đến mâm cơm, ăn vội một chén cầm lòng, không kịp xỉa răng, uống nước, ông lại biến vào phòng làm việc.Thời gian không còn nhiều nữa đâu, ông biết mình bây giờ phải tranh thủ từng giây một. Tên Tony Hải đã bắt đầu hành động. Dù hắn không nói, nhưng ông biết. Sự việc hôm nay đã là một lời cảnh báo đối với ông. Lấy một mẫu máu đưa vào kính hiển vi, ông bỗng giật nẩy người lên sợ hãi. Mảnh kính rơi khỏi tay xuống đất vỡ toang. Có mảnh ghim vào trúng chân đau điếng, ông vẫn thừ người bất động. Chung cuộc, sắp kết thúc rồi ư? Ngồi thừ xuống ghế, ông nghe mồ hôi tuôn ròng trên thái dương mình. Dù hơn ai hết, ông là người biết rõ cái kết quả này. Nhưng... không ngờ... ông thật không ngờ mọi việc lại diễn ra nhanh đến thế. Reng reng reng... Tiếng chuông cửa chợt dồn dập. Giương đôi mắt thất thần nhìn vào đám ống nghiệm, ông không buồn đứng dậy. Tiếng chuông cửa kiên nhẫn vang lên, vang lên từng hồi thúc giục. Buộc lòng, ông phải đứng lên, chậm rãi bước ra cửa: - Bác sĩ, Nguyệt Cầm...cô.... Cánh cửa vừa hé mở, Kỳ Phương xộc ngay vào. Phải bế Nguyệt Cầm suốt quãng đường dài, anh mệt quá, nói không ra hơi nữa. Vừa nhìn thấy Nguyệt Cầm nửa người nửa ma, đầu lông lá, sắc mặt ông tái nhợt đi. Không nói một lời, giằng lấy Nguyệt Cầm khỏi tay Kỳ Phương, ông bế vội cô vào phòng làm việc. - Cô ấy đang cùng tôi đi dạo... không hiểu sao... Bước theo ông, Kỳ Phương vụng về giải thích. Anh không biết mình đáng khen hay đáng trách trước khám phá khủng khiếp này. Không để ý đến Kỳ Phương, nét mặt ông đầy căng thẳng, hơi thở của Nguyệt Cầm đã yếu lắm rồi. Số lượng hồng cầu trong cô thiếu hụt đến mức không đủ vận chuyển ôxy cho cô nữa. - Máu! Ông nhìn quanh phòng rồi thở dài tuyệt vọng. Tất cả số máu tìm được đã truyền hết cho bệnh nhân. Chỉ còn một cách duy nhất nữa thôi. Quay sang nhìn Kỳ phương một cái, ông quyết định. - Kỳ Phương, cậu lập tức lấy giùm tôi một đơn vị máu. - Vâng... - Cầm lấy ống kim, chợt nhớ ông vừa mới cho máu xong, Kỳ Phương dừng tay lại. - Không được. Ông vừa lấy một lần, nếu lấy nữa, e nguy đến tính mạng. - Nhưng... Nguyệt Cầm không thể chết! Cậu lập tức làm theo lời của tôi đi. - Giọng ông vẫn lạnh lùng ra lệnh. - Không. - Kỳ Phương vẫn cương quyết lắc đầu. - Dù không biết chuyện gì nhưng tôi biết bác sĩ không thể chết vào giờ phút quan trọng này. Nếu cần máu để cứu Nguyệt Cầm, ông hãy lấy máu của tôi. - Nhưng cậu có khác gì tôi đâu, cũng mới vừa cho máu. - Ông thở dài buồn bã. Lời Kỳ Phương nói đúng. Ông không thể chết, không thể bỏ dở công việc của ông lúc này. Càng không thể lặng yên bó tay nhìn Nguyệt Cầm đi vào cõi chết. - Tôi sẽ đi tìm người hiến máu. - Kỳ Phương bỗng nảy ra một ý. Ông chậm rãi lắc đầu: - Không kịp đâu... nếu không có máu, Nguyệt Cầm sẽ chết trong vòng ba phút nữa. Lời từ miệng ông nói ra, Kỳ Phương không có lý do gì để nghi ngờ. Lặng lẽ quay người lại, nhìn Nguyệt Cầm thiêm thiếp giữa cơn mê, lòng anh như thắt lại. Dù bây giờ... đã biết cô chính là con ma mà mình từng quyết tâm tiêu diệt, Kỳ Phương vẫn không đành lòng nhìn cô đi vào cái chết. Bên tai, tiếng ông khóc nấc lên đau khổ: - Là tại tôi, tất cả là tại tôi... tại sao ông trời lại bắt Nguyệt Cầm phải chịu. Nó ngây thơ, vô tội chẳng biết gì... - Bác sĩ... những ống máu kia... Chợt nhìn thấy những ống nghiệm chứa đầy máu đỏ trên bàn làm việc, Kỳ Phương kêu lên mừng rỡ: - Ông có thể lấy máu đó truyền tạm cho Nguyệt Cầm không? - Hả? - Ông ngẩng ngay đầu dậy, ngập ngừng. Những ống máu này... không phải của Nguyệt Cầm. Ông vừa lấy từ người của những bệnh nhân để phân tích. Nó hãy còn mới lắm chưa kịp đông đặc lại. Liệu... có dùng được không...? Được hay không thì... ông cũng phải thử thôi. May ra... tâm trí như bừng sáng, ông quay bảo Kỳ Phương: - Cậu mau bơm hết những ống máu vào kim tiêm cho tôi. - Ông định truyền máu trực tiếp cho Nguyệt Cầm bằng kim ư? - Kỳ Phương e dè trước cách truyền máu quá mạo hiểm của ông. - Không còn thời gian nữa, đành phải liều thôi. - Vừa nói, ông vừa cắm phập ống tiêm vào tay Nguyệt Cầm. Một cách chính xác, không dám chậm trễ, Kỳ Phương vội làm theo lời ông, hút hết những ống máu vào kim tiêm và trao nó cho ông. Chưa đầy nửa tiếng, ông và anh đã bơm hết hai mươi ống máu vào người Nguyệt Cầm. - Thế nào... có khả quan chút nào không? - Nhìn ông rút kim khỏi tay Nguyệt Cầm, Kỳ Phương hồi hộp hỏi. Không trả lời anh, ông nhẹ nhàng cầm tay con lên tìm mạch, thời khắc trôi thật chậm chạp. - Sống rồi. Thành công rồi! Ba phút trôi qua, giữa lúc Kỳ Phương có cảm giác không còn gì để chờ đợi nữa thì... ông bỗng hét to lên mừng rỡ. - Sống rồi ư? - Như chưa tin, Kỳ Phương hỏi lại ông. - Sống rồi.... - Ông ôm chầm Kỳ Phương vào lòng, bật lên tiếng khóc lớn. Nguyệt Cầm đã sống rồi... Kỳ Phương... chính cậu là ân nhân của nó. Tôi thật không biết nói gì... Cảm ơn cậu... cảm ơn... - Đừng nói như thế! - Kỳ Phương nghe mắt cay xè. - Tôi cũng tình cờ nghĩ ra thôi. Ông... bác sĩ... ông nhìn kìa... Bỏ ngang câu nói giữa chừng, Kỳ Phương hướng mắt về chiếc giường Nguyệt Cầm đang nằm. Có một sự đổi thay kỳ diệu mà không tận mắt chứng kiến, sẽ không thể nào tin nổi. Từ một con ma đầy lông lá, Nguyệt Cầm dần trở lại hình dáng cũ của mình. Đẹp, hồn nhiên như một thiên thần. Quay đầu nhìn con một lần nữa ông lại trào nước mắt. Rồi bàn tay thành kính chấp lên giữa ngực, ông nói trong tiếng nấc nghẹn ngào: - Cảm ơn trời... Có rất nhiều câu hỏi quay tròn trong trí óc Kỳ Phương. Hơn bao giờ hết, anh muốn hỏi ông cho ra lẽ, rằng tại sao lại thế, có thuốc nào chữa được bệnh của Nguyệt Cầm không? Nhưng trước nỗi xúc động của người cha, anh lại thấy mình không thể mở lời. Lịch sự, Kỳ Phương gật đầu chào: - Xin phép bác sĩ, tôi về. - Cậu về ư? - Ông ngẩng đầu lên, tỏ vẻ ngạc nhiên. - Cậu không muốn nghe tôi kể chuyện này sao? - Tôi rất muốn, nhưng... - Kỳ Phương mỉm cười, dối lòng. - Trông ông mệt mỏi quá... nên, hẹn một ngày gần đây vậy! - Không... không hẹn được. - Lắc đầu, ông cất giọng trầm buồn. - Cậu hãy ngồi xuống ghế. Tôi sẽ kể. Ngay đêm nay hoặc không bao giờ nữa. Vẻ mặt ông đầy nghiêm trọng, Kỳ Phương không dám cãi lời. Ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh giường Nguyệt Cầm, anh lắng tai nghe từng lời ông kể. Câu chuyện bắt đầu từ hai mươi năm về trước, khi ông chưa thay tên đổi họ, khi ông vừa hoàn thành học hàm thạc sĩ hạng ưu. Và tuy tuổi đời còn rất trẻ, ông đã làm cho giới khoa học ngạc nhiên với công trình nghiên cứu của mình "Gen di truyền học". Quyển sách của ông được viện hàn lâm chú ý. Họp bàn nhau, họ quyết định tặng ông danh hiệu tiến sĩ. Không chỉ thế... họ còn muốn mời ông về viện hàn lâm cùng cộng sự... Phần IV Cầm tờ giấy nơi tay, Hữu Bằng hết đứng lại ngồi. Anh không biết dùng từ gì để diễn tả hết tâm trạng vui mừng của mình vào lúc này. Trở thành giáo sư trong viện hàn lâm. Anh... có nằm mơ cũng không bao giờ dám mơ đến một điều tuyệt vời hơn thế. Xuất thân từ một gia đình lao động nghèo, đông anh em, Hữu Bằng là đứa con duy nhất được cha mẹ cho học đến nơi đến chốn. Không phải anh ích kỷ. Nhiều lúc, nhìn cha mẹ vất vả, tần tảo kiếm miếng ăn. Anh chị em của mình lem luốc tìm kế mưu sinh, Hữu Bằng cũng thấy xót xa, đau lòng lắm. Rất nhiều lần, anh đòi bỏ học ngang để phụ giúp cha mẹ. Nhưng... mọi người, từ cha mẹ đến các anh chị em của anh đều không đồng ý. Họ bảo: - Gia đình ta dốt nát, nghèo khổ chịu sự khinh khi, rẻ rúng của người đời bấy lâu nay. Giờ chỉ còn trông mong vào một mình anh. Nếu muốn trả ơn, anh hãy cố gắng học cho thật giỏi, đỗ thật cao, làm rạng rỡ dòng họ. Đổi đời hay không giờ chỉ còn hy vọng vào mỗi mình Hữu Bằng thôi. Những lời nói đó đã động viên Hữu Bằng rất nhiều. Trong suốt cuộc đời học sinh của mình, anh luôn luôn là người đứng đầu danh sách dù điều kiện học luôn thiếu thốn, thua sút mọi người. Giành được bằng tiến sĩ. Hữu Bằng đã làm được điều mình hứa cùng cha mẹ và anh chị. Hôm qua, Hữu Bằng đã đem mười triệu đồng, số tiền thưởng từ công trình nghiên cứu của mình về cho cha mẹ. Họ không nhận, bảo tất cả là của anh. Nhưng Hữu Bằng chỉ xin nhận lại một triệu đồng tặng vợ. Còn bao nhiêu xin cha mẹ hãy giữ lấy và chia cho các anh chị của mình. Thấy Hữu Bàng sống có nghĩa có tình, cha mẹ vui lòng lắm. Họ nhận bốn triệu, còn bao nhiêu chia đều cho các đứa con khác. Thời gian trôi, các anh chị Hữu Bằng bây giờ đã lớn, đều có gia đình riêng. Cuộc sống vất vả, bôn ba như ngày trước. Nhưng... không giống với các gia đình khác. Gia đình của Hữu Bằng là một khối đoàn kết, thương yêu khăng khít, quan tâm lẫn nhau như hãy còn ở chung dưới một mái nhà đầm ấm ngày xưa. Những chăm sóc, cưu mang của mọi người dành cho anh khi mình còn đi học, Hữu Bằng ghi nhớ mãi, anh nhất định sẽ đền đáp khi có dịp và anh cũng tin rằng Hương Huyền ủng hộ anh. Hương Huyền, là cô vợ mới cưới được một năm của Hữu Bằng. Cô đẹp người, đẹp nết, từng nổi danh là hoa khôi trường đại học Y. Nhưng không phải vì thế mà Hữu Bằng đã cưới cô khi tuổi đời còn quá trẻ, trong tay chưa có sự nghiệp. Từ ngày còn ngồi ở trường đại học, Hữu Bằng vẫn tự nhủ lòng mình rằng, chỉ lập gia đình khi thực hiện xong tâm nguyện. Tâm nguyện của anh là báo đáp nghĩa sanh thành cho cha mẹ. Đền trả công ơn của anh chị đã lo lắng cho anh ăn học thành tài. Và nhất là anh phải tự tạo cho mình một sự nghiệp vững chắc. Vậy mà... chưa rời ghế nhà trường, Hữu Bằng đã vội vàng cưới vợ. Anh không hề có ý định cũng không quen biết Hương Huyền. Tất cả đều là sự sắp đặt của thầy chủ nhiệm. Thương cậu học trò nghèo hiền lành, chăm làm, hiếu học lại hết mực thương mình, ông đã mở lời tự nguyện đứng ra lo cho tất cả. Trước sự yêu mến, nhiệt tình của ông, Hữu Bằng không thể từ chối. Đám cưới của anh được tổ chức đơn giản nhưng thật vui dưới sự chứng kiến của toàn thể giáo sư, sinh viên trường đại học Y khoa. Trong những tiếng trầm trồ, ngưỡng mộ, Hữu Bằng biết cũng không ít tiếng thở dài, tiếc rẻ của các chàng trai một thời đeo đuổi Hương Huyền. Mình quả may mắn! Mỉm một nụ cười Hữu Bằng hướng mắt ra cửa trông chờ. Hương Huyền đi chợ vẫn chưa về. Cô không biết anh đã hạnh phúc và tự hào thế nào về mình. Cũng như tấm bằng tiến sĩ, Hương Huyền là giấc mơ đẹp nhất cuộc đời anh. - Xin lỗi, anh có phải là Hữu Bằng, người vừa đạt danh hiệu tiến sĩ? Một giọng nam trầm chợt cắt ngang dòng suy nghĩ của Hữu Bằng. Giật mình ngẩng đầu lên. Nhận ra trước mắt mình là một thanh niên ăn mặc bảnh bao, lịch sự, Hữu Bằng đứng hẳn lên khỏi ghế. - Vâng ạ! Chính tôi là Hữu Bằng! - May quá! - Người mới đến cười vui vẻ. - Tôi đến gặp anh đây. - Vâng! - Hữu Bằng gật đầu hoang mang. - Mời anh ngồi ghế.. - Cứ để tôi tự nhiên. - Ngồi xuống chiếc ghế đẩu tạp thường, người thanh niên đưa mắt nhìn quanh căn nhà lá nhỏ của Hữu Bằng. - Nhà của anh đây à? - Vâng - Cảm thấy khó chịu trước cái nhìn soi mói của người khách không quen, Hữu Bằng vào thẳng vấn đề: - Xin lỗi... anh đến gặp tôi có chuyện gì? - Chậm đã! - Nhếch nụ cười khó hiểu, anh ta lấy từ trong túi ra một gói thuốc thượng hạng. Đưa ra trước mặt Hữu Bằng, anh ta mời. - Dùng một điếu đi. - Cám ơn! - Hữu Bằng nhẹ đẩy tay - Tôi không biết hút thuốc. - Thật đáng tiếc! - Cho gói thuốc vào túi, anh ta bắt đầu giới thiệu. - Tôi là Tony Hải... Anh ta là người lai. Bây giờ Hữu Bằng mới để ý đến chiếc mũi cao, đôi mắt xanh và mái tóc hoe hoe không thuần Việt Nam. - Giám đốc nghiên cứu sinh học, tôi đến đây để mời anh cùng cộng tác. Viện nghiên cứu sinh học! Hữu Bằng có nghe danh. Đây là một viện nghiên cứu của người nước ngoài. Có không ít lời đồn đại về nơi này. Tất cả các nhà khoa học chân chính đều không có cảm tình với nó. Nhưng... vì sao... Hữu Bằng chưa biết rõ. - Cảm ơn ông đã có lời mời! - Mỉm cười nhã nhặn, Hữu Bằng tìm lời từ chối. - Cách đây một tiếng tôi đã nhận lời mời vào làm cộng sự trong viện hàn lâm. - Cộng sự với viện hàn lâm ư? - Tony Hải bỗng bật cười lớn. - Anh hãy mau rút lại quyết định của mình. Đó là một quyết định sai lầm đấy. - Sai lầm ư? - Đôi lông mày Hữu Bằng chau lại. - Vì sao thế? - Vì... đó không phải là nơi mà anh có thể phát huy hết năng lực của mình. - Tony Hải nghiêm nét mặt. - Viện hàn lâm chỉ là một nơi cho các lão già cổ lỗ sĩ nghiên cứu những thứ chán phèo vô dụng thôi. - Những giáo sư già giàu kinh nghiệm không phải là những người già cổ lỗ sĩ. - Hữu Bằng cảm thấy bất bình trước cách ăn nói của Tony Hải. - Và những công trình nghiên cứu của họ không phải là những thứ chán phèo, vô dụng. Nó thật sự hữu ích cho cuộc sống. - Có thể! - Tony Hải không nao núng. - Nó hữu ích cho cuộc sống nhưng không hữu ích cho bản thân anh. Với tiền lương một triệu đồng một tháng thì liệu đến bao giờ anh mới có thể tròn tâm nguyện của mình. - Anh nói gì? - Hữu Bằng giật thót người. Trân trối nhìn gã đàn ông ngồi trước mặt, anh không biết gã là ai, sao có thể hiểu được tâm sự của anh như thế. - Phải... tâm nguyện của bố anh. - Tony Hải lại mỉm cười một nụ cười thấu hiểu. - Sẽ nhanh chóng được thực hiện nếu như anh chấp nhận lời mời cộng tác với viện nghiên cứu sinh học của tôi. Với mức lương khởi đầu mười triệu đồng một tháng... anh có cảm thấy mình cần suy nghĩ lại cái quyết định trước đây của mình không? - Mười triệu đồng một tháng ư? - Tai Hữu Bằng như ù đi trước sức hấp dẫn của đồng lương vượt quá sức tưởng tượng. - Đúng vậy! - Gật đầu, Tony Hải đưa ra một miếng mồi câu nữa. - Và số tiền đó còn tăng đến mức bất ngờ nếu anh có khả năng tốt. Ngoài ra, anh sẽ còn được làm việc trong một môi trường hiện đại và đầy đủ phương tiện. Công trình nghiên cứu gen... đề tài anh yêu thích được chúng tôi quan tâm hàng đầu. Anh đồng ý cộng tác với chúng tôi chứ? Những ý nghĩ quay cuồng làm rối tung đầu óc Hữu Bằng. Cơ hội trước mắt quá lớn lao. Liệu anh có nên từ chối viện hàn lâm... niềm mơ ước một đời hay cái viện nghiên cứu sinh học gì đó... với tâm nguyện báo đền cha mẹ. - Đừng đắn đo suy nghĩ nữa, chứng bệnh ung thư phổi của ba anh không chờ đợi được lâu đâu. - Anh nói gì? - Hữu Bàng ngẩng nhanh đầu dậy. - Ba tôi bị ung thư phổi à? Sao ông không nói gì cho tôi biết? - Ông già giấu anh thôi. - Rút từ trong cặp ra một xấp hồ sơ được photo, Tony Hải ném mạnh xuống bàn, trước mặt Hữu Bằng. - Là bác sĩ, anh hẳn biết đọc các xét nghiệm. Cầm lấy tờ xét nghiệm, mắt Hữu Bằng vụt tối sầm đi! Đúng là kết quả xét nghiệm của ba rồi, ông đã bị ung thư phổi từ lâu lắm. Vậy mà... vẫn âm thầm một mình cam chịu, giấu vợ giấu con. - Tôi chỉ nói vậy thôi, còn quyết định vẫn là của anh. Có đúng không? - Tony Hải vụt đứng lên khỏi ghế. - Hãy suy nghĩ kỹ rồi quyết định cũng chưa muộn. Danh thiếp của tôi đây, chào anh. Với tâm trạng một kẻ nắm chắc trong tay phần thắng, Tony Hải ngạo nghễ bước đi, bỏ mặc Hữu Bằng với tờ xét nghiệm trên tay. Giữa ơn nghĩa sinh thành và danh tiếng của bản thân mình, anh biết mình chỉ được quyền chọn một. *** Cuối cùng Hữu Bằng quyết định chọn nhận lời cộng tác với Tony Hải. Anh không thể bỏ mặc cha trong cơn bệnh ngặt nghèo đau đớn thể xác vô cùng. Hai tháng lương ứng trước đủ để vô hóa chất lần đầu hòng ngăn chặn chứng ung thư.Thật ra... cũng không có gì quá lắm. Hữu Bằng không cảm thấy quyết định của mình là một sự hy sinh như lời các anh chị truyền tụng. Với anh, viện hàn lâm hay viện nghiên cứu sinh học cũng giống nhau thôi. Tất cả đều vì con người mà sáng tạo. Thế nhưng... sự đời thường không đơn giản như Hữu Bằng lầm tưởng. Hai tháng làm việc ở viện nghiên cứu, bây giờ anh mới biết Tony Hải là người như thế nào, và mục đích của viện nghiên cứu sinh học nhằm phục vụ, cái tên viện nghiên cứu sinh học thật ra chỉ là một cái tên dùng để che mắt mọi người. Nó cũng không thuộc một quốc gia, một tổ chức nào trên thế giới. Nó là của Tony Hải. Và... nó được thành lập chỉ để phục vụ cho những ý đồ đen tối và vụ lợi riêng bản thân lợi dụng sự sơ hở của nhà chức trách, Tony Hải ngang nhiên thành lập một viện nghiên cứu sinh học. Với tôn chỉ nghiên cứu môi trường, chế tạo các loại phân bón vi sinh, hắn đã ung dung bỏ tiền ra mua chất xám của các nhà khoa học. Khi nào có thiên tài về phát minh sáng chế, hắn lập tức tìm đến dùng tiền và thủ đoạn để dụ dỗ về, Hữu Bằng là một thí dụ điển hình. Tony Hải đang nghiên cứu về vấn đề gì? Hữu Bằng không biết được. Anh chỉ biết hai tháng nay hắn giao cho anh nhiệm vụ phân tích thành phần một loại máu trông rất lạ. Tò mò... nhiều lần Hữu Bằng muốn dò hỏi bạn đồng nghiệp cạnh bên. Nhưng chẳng một ai chịu mở lời nói rõ. - Hữu Bằng, anh có điện thoại, giám đốc mời anh lên phòng làm việc gấp. Chiếc nút đỏ trên bàn bật cháy, giọng cô thư ký thanh thanh. Hữu Bằng giật mình ngẩng dậy. Lau nhanh tay vào chiếc khăn, anh bước đi vội vã. - Hữu Bàng... ngồi đi. - Vừa thấy anh, Tony Hải vội đứng lên, niềm nở. Chưa kịp hiểu chuyện gì, hắn đã lấy ra một phong thư lớn trao cho Hữu Bằng. - Cho anh đây. - Tiền ư? - Hữu Bằng hé vội phong bì rồi kêu lên ngơ ngác khi nhận ra đó là tiền. - Rất nhiều, dễ chừng có đến hơn năm mươi triệu. - Phải. - Gật đầu, Tony Hải lại tiếp tục lấy ra một phong bì khác. - Và cái này nữa, sẽ là của anh nếu anh chịu nhận lời hợp tác với tôi. Đôi mắt mở tròn, Hữu Bằng như không hiểu. Không phải anh đã nhận lời làm việc với hắn rồi sao? - Đó chỉ là bước khởi đầu. Tôi cần anh cộng tác ở một công việc cao siêu, vĩ đại hơn nhiều. - Như hiểu nỗi thắc mắc của Hữu Bằng, Tony Hải đứng lên đến ngồi cạnh anh cất giọng dỗ dành. - Một tài năng lớn như anh không thể phí phạm với những công việc phân tích đơn giản ấy. Hữu Bằng... có một tổ chức quốc tế muốn nhờ chúng ta chế tạo vũ khí sinh học cho họ. Tôi đã nhận lời và muốn anh cùng hợp tác. - Vũ khí sinh học ư? - Hữu Bằng thảng thốt. Xưa nay đã từng nghe vũ khí hạt nhân... anh chưa từng nghe đến loại vũ khí lạ lùng này bao giờ. Tony Hải vỗ vai anh thân mật: - Phải... một loại vũ khí khủng khiếp không cần đến nguyên tử. Nó không chỉ tiêu hao lực lượng đối phương mà còn làm cho tinh thần của họ bị suy sụp nữa. Hữu Bằng, ý tưởng này rất hay. Nếu thành công, tên tuổi của anh sẽ vang dội lẫy lừng và... dĩ nhiên số tiền anh có được trong vụ này sẽ là không tưởng nổi. Những ngón tay nắm chặt xấp tiền, Hữu Bằng nghe bối rối. Trong nhất thời anh không thể nào nghĩ được điều gì. Vũ khí sinh học? Điều đó đúng hay sai? Liệu rồi anh có phải hối hận trước quyết định của mình. Còn... từ chối thì cũng có nghĩa là anh không còn gì cả. Căn bệnh của ba càng lúc càng cần nhiều tiền hơn. Là một bác sĩ, nên không cần hỏi ai Hữu Bằng cũng biết sinh mệnh của cha lúc này như ngàn cân treo sợi tóc. Ông có thể chết bất cứ lúc nào, vậy mà anh chưa làm một điều gì báo hiếu. Hơn lúc nào hết, Hữu Bằng muốn sửa lại cho ba căn nhà tranh đang mục nát, để ông có thể cùng mẹ sống trong những ngày cuối đời, an nhàn thanh thản. Con của anh hai vừa đậu đại học, chồng chị ba cần một số tiền để gia cố thêm chuồng trại chăn nuôi... và bao nhiêu mối thâm tình đang cần anh giúp đỡ. Hương Huyền lại đang mang thai, cô không thể sống thiếu thốn sau khi sinh con cho anh được. Với những ý nghĩ bình thường về vật chất và những nhu cầu tình cảm của một con người mang nặng nợ gia đình, trong một phút, Hữu Bằng đã bước qua lý trí, bằng lòng nhận lời Tony Hải trong một tâm trạng vô cùng thụ động. Anh ngây thơ nghĩ rằng loại vũ khi sinh học của mình sẽ giúp loài người bớt cảnh thương vong đổ nát. Ý tưởng là của Tony Hải. Hắn muốn anh tạo ra một sinh vật biết hút máu người. Con vật đó không chỉ biết giết người mà còn tạo nên một ấn tượng ma quái nhằm lung lay tinh thần chiến đấu của đối phương. Chỉ là một con vật biết hút máu thôi ư? Hữu Bằng nghe mừng rơn trong dạ. Theo anh, một con vật như thế ít nguy hiểm hơn một viên đạn rất nhiều. Thế là anh lao mình vào nghiên cứu. Con vật mà anh chọn chính là loài dơi. Bằng cách tạo ra sự thiếu hụt chuỗi alpha trong cấu trúc Hemolobin anh khiến cho loài dơi kia lâm vào tình trạng thiếu hụt hồng cầu nghiêm trọng. Thêm vào biến đổi cấu trúc gien ở não bộ, con vật vốn hiền lành chỉ biết ăn hoa quả trở nên hung hãn khác thường. Sự việc được tiến hành thuận lợi. Hữu Bằng đã tính trước, với trọng lượng của mình, một con dơi chỉ hút được nửa đơn vị máu. Đủ làm đối phương khiếp sợ chứ không đủ sức giết chết một con người. Anh không lường trước được một sai lầm. Rằng đã có một loài vi khuẩn xuất hiện trong quá trình nghiên cứu của mình. Chính loài vi khuẩn này đã để lại những hậu quả khủng khiếp về sau. Vậy là xong, Hữu Bằng thở phào nhẹ nhõm. Chưa vội thông báo kết quả với Tony Hải, anh muốn khoe thành tựu này với Hương Huyền. Cô hẳn là tự hào nhiều về một anh chồng giỏi giang như thế. Số tiền năm mươi triệu đồng còn lại mà Tony Hải hứa đưa anh nhất định sẽ trích một phần cùng vợ đi du lịch. Tội nghiệp Hương Huyền, mang tiếng là vợ của một tiến sĩ mà chưa được cùng anh đi du lịch bao giờ. Từ lúc mang thai, anh đã mải lo nghiên cứu chẳng ngó ngàng gì chắc cô buồn và tủi thân nhiều lắm. - Hương Huyền ơi! Ra xem anh mang gì về cho em đây! Chiếc Toyota dừng lại, vừa bước chân vào nhà, Hữu Bằng đã cất giọng gọi to. Hạnh phúc nhìn thấy vợ ra mở cửa với nụ cười mừng rỡ trên môi. - Hữu Bằng, anh về sớm quá. Em vẫn chưa kịp làm cơm. - Bước từ từ thôi, kẻo té. - Đưa tay ôm lấy Hương Huyền, Hữu Bằng nghe lòng tràn ngập một tình yêu. Thai nghén mệt mỏi không lo, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chồng. Vừa gặp mặt đã lo cuống cuồng với bữa cơm còn đang làm chưa xong. - Hôm nay em có khỏe không? - Khỏe lắm! - Tựa đầu vào vai Hữu Bằng, cùng anh bước vào nhà, Hương Huyền rối rít khoe. - Anh biết không, hôm nay con đạp những ba lần đó. - Thật sao? - Đặt tay lên chiếc bụng đã nhô cao của vợ, Hữu Bằng mắng yêu con - Con gái, sao mà nghịch quá. Con làm đau mẹ nữa là ba đánh đòn con đó. - Em không cho anh đánh đòn con đâu. - Chưa gì Hương Huyền đã binh con, cứ như anh là một người cha hung dữ lắm. Hữu Bằng bật cười nhìn vợ đưa tay ôm lấy bụng như bảo vệ con. - Ấy chết. - Hương Huyền bỗng chồm nhanh người dậy. - Nồi cơm... để em xuống xem. - Cứ bỏ mặc nó đi. - Hữu Bằng kéo tay Hương Huyền lại. - Hôm nay vợ chồng mình đi ăn tiệm. - Sao mà anh sang thế? - Ngồi xuống lòng anh, Hương Huyền nhẹ lắc đầu từ chối. - Đừng đi anh à! Ăn tiệm mắc lắm. Hãy để dành lo tương lai cho con. - Đấy! Lại như vậy nữa rồi. - Hữu Bằng nhăn nhó. - Em lúc nào cũng dè xẻn, trùm sò như bà cụ vậy. Đừng lo... anh đã có tiền nhiều lắm rồi đây. Nói xong, để chứng minh, Hữu Bằng lấy từ trong túi ra một xấp tiền dày cộm. Hương Huyền trông thấy không vui, còn lộ nét hoang mang, lo sợ: - Tiền ở đâu nhiều thế? Anh làm điều gì bất chính phải không? Trời ơi, em nói với anh rồi... Nghèo bao nhiêu em cũng chịu được mà... anh phải giữ lấy thanh danh. Cao quý thay tấm lòng người vợ lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chồng. Hữu Bằng nghe lòng ngập đầy niềm xúc động. Nhẹ hôn lên mái tóc Hương Huyền, anh trầm giọng: - Em đừng lo. Anh không bao giờ làm chuyện phi pháp hay phải mất thanh danh. Đây là số tiền thưởng cho công trình nghiên cứu của anh thôi. - Thật à? - Đôi mắt người vợ long lanh sáng. - Anh đã nghiên cứu được công trình gì sao không nói cho em biết với. - Anh muốn tặng em một bất ngờ thôi. Vui vẻ chồm người lên chiếc lồng, Hữu Bằng nhẹ tháo tấm phủ bên ngoài, Hương Huyền vội kêu lên ngơ ngác: - Là một con dơi ư? - Phải... là một con dơi. - Hào hứng, Hữu Bằng kể cho Hương Huyền nghe kế hoạch của mình với Tony Hải. Những tưởng khi nghe xong, cô sẽ mừng rỡ khen anh tài giỏi rồi tặng cho anh một nụ hôn thưởng công. Nào ngờ... sắc mặt Hương Huyền cứ tái dần đi theo câu chuyện kể. Cuối cùng, như quá đỗi bàng hoàng... cô chỉ thốt được một câu: - Khủng khiếp, thật là khủng khiếp quá! - Không có gì khủng khiếp đâu. - Ôm vai Hương Huyền, Hữu Bằng mong một sự đồng tình. - Anh đã nghĩ kỹ lắm rồi. So với những hậu quả khủng khiếp của vũ khí. Con dơi của anh... chẳng là gì cả. Em xem, nó chỉ có thể dọa được tinh thần đối phương chứ không giết người. - Đành rằng thế... nhưng... - Hương Huyền nhẹ ôm lấy chồng. - Là một bác sĩ, một nhà khoa học. Nhiệm vụ của anh là cứu người, là nghiên cứu phát minh ra những thứ có ích cho cuộc sống. Anh không thể vì tiền mà phát minh ra cái điều trái tự nhiên như thế. Anh đã nghĩ đến hậu quả của việc mình làm chưa? Một mai, khi những con dơi khát máu, hung hăng này được nhân thành diện rộng. Khi chúng ta không kiểm soát được chúng...chuyện gì sẽ xảy ra? Nỗi kinh hoàng không còn là của riêng phe đối lập, nó sẽ đe dọa đến cuộc sống của những người dân lương thiện. - Chuyện không thể đến nỗi ghê rợn như em nghĩ. - Hữu Bằng nhẹ vuốt tóc Hương Huyền. Trong phút chốc, anh đã thấy hối hận vì đã đem câu chuyện rùng rợn này ám ảnh cô. - Nhưng để mọi chuyện không xảy ra như em nói, anh sẽ suy nghĩ, nghiên cứu tìm xem có cách nào khiến lũ dơi kia sẽ phải tự hủy trong một thời gian ngắn. - Dù anh có nói gì, em cũng không đồng ý với hành động của anh. - Hương Huyền vẫn lắc đầu. - Anh có biết, làm như vậy là hủy hoại môi trường, là tàn nhẫn lắm! Rồi đây loài dơi sẽ vì anh mà tuyệt chủng trên thế gian này... Không... anh phải hủy bỏ phát minh này. Hữu Bằng vì đứa con trong bụng, em tha thiết yêu cầu anh dừng công bố nó. Hủy hoại môi trường? Diệt sạch loài dơi trên hành tinh? Điều đó... lẽ nào Hữu Bằng không biết. Một khi anh biến đổi gen làm cho loài dơi phải tự hủy trong một thời gian ngắn, thì cũng có nghĩa là anh đã rút ngắn thời gian sống của một thế hệ dơi nối tiếp. Gen di truyền học... Điều đó anh có lạ lùng gì? Nhưng... hủy bỏ phát minh... Hữu Bằng biết mình không thể nào làm được, vì số tiền Tony Hải trao cho đã tiêu xài gần hết và... chút kiêu ngạo của bản thân nữa. Một khi phát minh này được công khai. Tên tuổi của anh nhất định sẽ lẫy lừng vang dội. Mọi người sẽ phải khâm phục xem anh như một vị thánh đã tìm ra cách giải thoát cho loài người, vũ khí sinh học thay cho vũ khí hạt nhân... Điều này thật vĩ đại, phi thường. Sao Hương Huyền lại nhìn sự việc này ở một góc độ tiêu cực quá! Với suy nghĩ, niềm tin mình đã lập nhiều công hơn tội, Hữu Bằng kiên quyết không nghe lời vợ, mặc cho cô giận dỗi bỏ vào phòng nằm khóc, bữa cơm chiều hôm đó, đã không diễn ra như Hữu Bằng mong đợi. Rồi Hương Huyền sẽ hiểu mình thôi. Hữu Bằng tự an ủi. Nhìn cô nằm quay lưng lại với mình, anh không buồn, không giận chút nào mà lại càng cảm thấy yêu cô nhiều hơn nữa. Bởi một tâm hồn nhân hậu, mềm yếu như Hương Huyền sẽ không bao giờ chấp nhận cho chồng phát minh ra một thứ vũ khí hại người như thế. Cuộc sống thôi! Hữu Bằng chỉ muốn nói với cô như vậy. Anh không thể cưỡng lại quy luật của cuộc sống vật chất. Phát minh này tuy độc ác, nhưng nó đã giúp anh làm tròn số phận của một con người với gia đình. Ba mẹ của anh giờ đây đã có thể yên nghỉ trong một căn nhà ấm cúng giữa trời mưa bão. Các anh chị em cũng đều tạm ổn về kinh tế với những phương tiện được anh giúp đỡ cho. Hương Huyền... chỉ một lần này thôi... anh hứa đó em... An tâm với lời tự hứa của mình, Hữu Bằng ngủ quên lúc nào không biết... Ầm...xoảng... Anh ngủ rất lâu, rất say và chỉ tỉnh lại với một tiếng động vang lên thật lớn từ nhà bếp. Hương Huyền... nghĩ cô vấp té, làm Hữu Bằng sợ điếng hồn. Nhanh như chớp, anh phóng vội ra sau rồi đứng yên bất động. Trước mắt anh là một cảnh tượng quá hãi hùng. Hương Huyền đang dùng hết sức bình sinh gỡ con dơi ra khỏi cổ mình nhưng không được. Hai hàm răng của nó đã cắm sâu vào làn cổ trắng ngần, một dòng máu đỏ ngọt lành đang chạy vào bụng nó. - Ồ không! - Hữu Bằng kêu lên sợ hãi. Anh chạy vội đến bên Hương Huyền tiếp cứu. Nhưng cũng như cô, anh không làm gì được. Để không tổn hại đến vợ, anh đành phải đứng yên chờ cho con vật hút đến no bụng máu. - Khốn kiếp! - Một tay đỡ lấy Hương Huyền, Hữu Bằng dùng cánh tay còn lại đập mạnh con dơi xuống đất, con vật bị đập trúng đầu giãy chết liền ngay lập tức. Như chưa hả cơn giận, Hữu Bằng còn dùng chân đá mạnh vào bức tường trước mặt. - Hương Huyền... - Thanh toán xong con vật, Hữu Bằng quay sang nhìn vợ. Vì quá khiếp đảm, cô đã ngất đi! Nhẹ đặt Hương Huyền nằm trên giường, nhìn cô xanh xao trong cơn mê, cổ bị hằn sâu vết răng dơi, Hữu Bằng ân hận quá. Anh không ngờ nạn nhân đầu tiên của phát minh này lại là người vợ yêu quý của anh. - Ui da... - Tiếng Hương Huyền rên khẽ. Hữu Bằng mừng rỡ nắm lấy tay cô: - Hương Huyền ơi! Em tỉnh rồi sao? - Con dơi đâu rồi... - Tâm trí vừa tỉnh lại, Hương Huyền lập tức nhớ đến con vật đã tấn công mình. - Anh đã đập nó chết rồi... Nhưng nó làm sao mà tấn công em được. Anh đã nhốt nó rất kỹ. - Hữu Bằng đỡ cô dậy. - Tại em bắt nó. - Đưa mắt nhìn xác con dơi bết máu dưới chân tường, Hương Huyền hạ giọng. - Bắt nó? - Hữu Bằng lạ lẫm. - Tự nhiên em bắt nó làm gì? - Em muốn giết nó đi. - Giọng Hương Huyền như muốn khóc. - Dù em biết làm như vậy anh sẽ không vừa ý. Nhưng em thà bị anh giận chứ không thể để anh phát minh ra loại sinh vật khủng khiếp này. - Em ngây thơ quá! - Nhẹ vuốt tóc Hương Huyền, Hữu Bằng cười trìu mến. Anh không giận em cũng như em không thể hủy phát minh của anh khi chỉ giết con dơi ấy. Với công trình trong tay, anh vẫn còn có thể tạo ra những con dơi khác kia mà... - Em đúng là ngây thơ thật. Áp mặt vào tay chồng, Hương Huyền cười như con nít. - Chẳng những không cản được anh mà còn bị con dơi tấn công ngược lại. Ôi! Nó thật là hung hãn. Em vừa mở cửa lồng là nó đã tấn công ngay. - Nói đến đây sợ quá, Hương Huyền khóc nấc lên. Hữu Bằng nhẹ vuốt tóc cô: - Thôi đừng sợ nữa. Mọi chuyện đã qua rồi. Ngày mai... anh sẽ cho em uống nhiều sắt và axit pholic để bù lại lượng máu đã mất đi. Bây giờ, em ngủ đi, anh sẽ dỗ cho em ngủ nhé. - Nhưng anh phải hứa với em hủy bỏ phát minh của mình. - Nắm lấy tay Hữu Bằng, Hương Huyền nài nỉ. - Hứa đi anh! - Anh không hứa được. - Hữu Bằng lắc đầu. - Em biết để phát minh ra công trình này, anh và Tony Hải đã mất nhiều công sức và tiền bạc. Anh không thể nào hủy bỏ trong một giây... - Rồi anh sẽ phải trả giá cho hành động của mình. - Nước mắt ứa ra, Hương Huyền nói trong bất lực và Hữu Bằng thở hắt ra. Anh không muốn làm cho vợ phải buồn. Nhưng cũng không thể hủy bỏ tâm huyết của mình cho cô vừa lòng được. *** Lặng lẽ đến bên bàn thờ đốt một nén nhang cho vợ rồi đến bên con ngồi xuống, Hữu Bằng vẫn không tin những gì xảy ra là sự thật.Không, anh không bao giờ tin là Hương Huyền đã chết đâu. Tất cả chỉ là một giấc mơ, một cơn ác mộng hãi hùng. Ngày mai này, khi tỉnh lại, anh vẫn thấy mình ngồi trên bàn, vui mừng với thư mời cộng tác của viện hàn lâm. Phải, tất cả sẽ được làm lại từ đầu. Sẽ không có sự xuất hiện của Tony Hải. Mà dù có anh cũng nhất định sẽ không nhận lời của hắn. Để đừng bao giờ tồn tại một phát minh gớm ghê đầy tội lỗi, để Hương Huyền của anh mãi là cô vợ trẻ, hiền lành, nhân hậu bên chồng và Nguyệt Cầm, đứa con khờ của anh không phải lìa xa mẹ khi vừa tròn một ngày tuổi. Nhưng... đã muộn rồi. Dù có gào thét, có khóc la ân hận trọn kiếp này anh cũng không thể nào làm gì được nữa. Vĩnh viễn anh đã mất đi người vợ yêu quý nhất của đời mình. Vĩnh viễn không bôi xóa khỏi lương tâm một niềm cắn rứt đau thương... Nhớ hôm ấy, giải quyết xong bài toán hóc búa trong phương trình minh họa, Hữu Bằng hài lòng đóng khung công thức cuối cùng. Vừa đứng lên định thông báo tin mừng cùng Tony Hải thì điện thoại reo vang: - A lô... - Anh trả lời với một tâm trạng đầy hưng phấn. Nhưng... bên kia đầy dây, giọng của má anh hoàn toàn trái ngược. - Alô... là má đây. Hữu Bằng! Con về mau, Hương Huyền đã chuyển dạ rồi. - Sao? - Hữu Bằng ngạc nhiên quá đỗi. - Đã chuyển bụng rồi à? Hãy còn hơn một tháng nữa kia mà? - Rồi anh lo lắng... - Cô ấy có bị té ngã không? - Không! - Giọng bà gấp rút. - Tự nhiên lúc chiều sang ăn cơm với má, vợ con bỗng la đau bụng rồi vỡ ối. Má đưa nó vào bệnh viện xong là gọi điện cho con ngay. Hiện bác sĩ đang thăm khám cho Hương Huyền trong phòng đó. Hữu Bằng ơi... liệu vợ con có chuyện gì không? Sao má lo quá. - Không có chuyện gì đâu. - Hữu Bằng bình tĩnh. - Cô ấy sanh non... hiện nay vẫn có nhiều người sanh thiếu tháng như thế mà đứa bé vẫn khỏe mạnh thông minh. Má đừng lo quá! - Ừ thôi. Má vào với nó đây. Bà cúp máy lâu rồi mà Hữu Bằng vẫn còn cầm mãi cái ống nghe. Trấn an mẹ nhưng sao lòng anh hồi hộp quá. Tự nhiên sao lại sanh non? Sức khỏe của Hương Huyền tốt lắm kia mà... - Tôi có chuyện gấp phải về sớm đây. - Thông báo với cô thư ký xong, Hữu Bằng chạy như bay ra cửa. Không kịp chờ thang máy, anh phóng luôn xuống bốn tầng lầu bằng cầu thang bộ. Tự mình lái chiếc Toyota, anh chạy thẳng vào bệnh viện. - Hữu Bằng. - Đang nhấp nhỏm trước cửa phòng cấp cứu vừa thấy bóng anh, bà Tịnh chạy ra ngay. - Vợ của con có vấn đề rồi. Bác sĩ phải quyết định mổ gấp bỏ mẹ, cứu con... nhưng mẹ chưa có ý kiến. - Má nói gì? - Chiếc cặp rơi xuống đất, Hữu Bằng nghe như có tiếng sét nổ trong đầu. - Tại sao lại có chuyện như vậy được. - Má không biết. - Bà khóc nức nở. - Gọi điện cho con xong, nghe bác sĩ báo thế, tâm trí má rụng rời, còn không dám ký vào tờ cam đoan cùng cô y tá. Nhẹ tay đẩy mẹ sang bên, Hữu Bằng xăm xăm bước vào phòng cấp cứu. Một cô y tá trông thấy anh chạy lại ngay: - Xin lỗi, anh có phải là chồng của cô Hương Huyền không ạ? Nếu phải, xin nhanh chóng ký vào giấy cam đoan để chúng tôi tiến hành phẫu thuật. Tình trạng đã nguy cấp lắm rồi. - Tôi muốn gặp bác sĩ điều trị. - Hữu Bằng vẫn bước đều. - Tôi muốn biết điều gì đã xảy ra cho vợ tôi? - Có chuyện gì ồn ào thế? - Một vị có lẽ là bác sĩ trưởng khoa, nghe tiếng ồn vội bước ra với vẻ khó chịu. Rồi chợt thấy Hữu Bằng, ông ta đổi ngay thái độ. - Ồ! Hữu Bằng, cậu đi đâu mà nét mặt căng thẳng thế? - Thái Tuấn! - Nhận ra bạn học cũ, Hữu Bằng mừng rỡ, chụp mạnh lấy vai Thái Tuấn. - Hương Huyền là vợ tôi, cậu nói mau đi! Chuyện gì đã xảy ra? - Hương Huyền là vợ cậu ư?... - Gương mặt Thái Tuấn lộ vẻ lo lắng. - Tớ thật cũng không biết giải thích thế nào với cậu về tình trạng của vợ cậu bây giờ. - Tại sao? - Hữu Bằng nôn nóng. Thái Tuấn thở ra một hơi dài: - Vì bệnh của vợ cậu... tớ chưa từng được học. Có một sự phân hủy máu rất là lạ đang diễn ra với tốc độ nhanh trong người Hương Huyền. - Nghĩa là...? Một cái chết dần vì mất máu đang đến với Hương Huyền ư? - Hữu Bằng nhanh chóng hiểu ra sự việc. Thái Tuấn lặng lẽ gật đầu. Hữu Bằng lại kêu lên: - Thế sao cậu không cho truyền máu? - Vô ích! - Thái Tuấn lắc đầu. - Tôi cũng đã nghĩ đến cách này và làm thử. Nhưng... tốc độ tan máu rõ ràng xảy ra nhanh hơn nếu có sự xuất hiện của máu lạ vào người. Qua xét nghiệm... tình trạng tan máu kia có thể lan truyền đến thai nhi. Nên việc làm duy nhất hiện nay là phẫu thuật gấp cứu con bỏ mẹ. - Không, tôi không tin... tôi không đồng ý. - Như một người bị mất trí, Hữu Bằng hét lớn. - Các người chưa tận dụng hết khả năng. Bằng mọi giá phải cứu Hương Huyền. Tôi cam lòng mất con để còn cô ấy... - Hữu Bằng... bình tĩnh lại. - Đặt tay lên vai Hữu Bằng, Thái Tuấn ôn tồn. Tôi hiểu cậu... nhưng... đã bó tay rồi. Tốt nhất... bây giờ cậu hãy trở vào gặp Hương Huyền, nói với cô ấy vài câu trước khi quá muộn. Cánh cửa phòng phẫu thuật mở ra, vừa nhìn thấy Hương Huyền nằm xanh xao trên giường bệnh. Hữu Bằng vội lao vào. Nắm lấy tay cô, anh nói dồn dập: - Hương Huyền... em đừng sợ... anh sẽ cứu em. - Không kịp nữa đâu. - Nhẹ mở đôi mắt u hoài, Hương Huyền mỉm một nụ cười héo hắt. - Anh đừng tốn công vô ích. - Em đừng nghĩ quẩn. - Hữu Bằng áp bàn tay lạnh giá của vợ vào mặt mình. - Bệnh của em không có gì nguy hiểm cả. - Anh dối em làm gì? - Hương Huyền xót xa. - Đừng quên em cũng từng là bác sĩ như anh. Chứng bệnh của em không thuốc chữa. Bởi nó chính hậu quả của việc anh làm. - Em nói sao? - Hữu Bằng nghe sống lưng mình lạnh toát. Hương Huyền nhẹ chớp mi nói: - Gần đây, thấy trong người không khỏe, lại luôn chóng mặt, nhức đầu, em đã tự thử máu của mình để rồi phát hiện số lượng hồng cầu giảm đi một cách rõ ràng không nguyên cớ. - Thế tại sao em không cho anh biết? - Em muốn nói... nhưng dạo này anh quá bận... đi sớm về trễ, loay hoay công việc nên quên đi mất. - Hơi thở bỗng trở nên khó khăn, sợ mình sẽ không kịp nói hết những điều đề nghị, Hương Huyền vội nói nhanh. - Hữu Bằng, em đã phát hiện ra... có một loài vi khuẩn được sinh ra từ nước bọt của con dơi. Loại vi khuẩn đó phá hủy hồng cầu... có khả năng truyền bệnh rất cao... nguy hiểm lắm... nên... anh không nên công bố phát minh này... - Đừng nói nữa... - Nhận thấy mạch đập của cô yếu dần đi, Hữu Bằng lo lắng. - Anh lập tức truyền máu cứu em... - Không kịp đâu... - Hương Huyền níu áo Hữu Bằng, khi thấy anh dợn quay lưng. - Đừng chần chờ nữa nếu anh muốn cứu đứa con mình. Hữu Bằng, lần cuối... anh mau hứa với em đi. Anh không được công bố phát minh này... - Hứa! Anh hứa với em. - Nước mắt tuôn ràn rụa lên môi, Hữu Bằng gật đầu nhanh như một con bửa củi. Hương Huyền tặng cho anh nụ cười cuối cùng của cuộc đời mình. - Vậy là em an tâm lắm. Rồi cô nghẹo đầu sang bên kia, lịm dần đi. Hốt hoảng, Hữu Bằng bổ nhào ra cửa, gọi to: - Bác sĩ... Thái Tuấn... mau cứu vợ tôi! Các bác sĩ lập tức chạy nhanh vào phòng mổ, vây lấy Hương Huyền, họ vội vàng làm các thủ tục cấp cứu. Một bàn tay đặt lên vai Hữu Bằng, Thái Tuấn trầm giọng nói: - Như vậy nhé! Không còn đường chọn lựa, Hữu Bằng đành gật đầu trong nước mắt. Cửa phòng phẫu thuật sập lại ngay trước mắt, ngọn đèn đỏ bật lên, Hữu Bằng cảm nhận được rất rõ ràng. Con dao mổ lên tay Thái Tuấn vừa cắm phập xuống tim mình đau nhói. Hương Huyền đã chết rồi... chết vì sai lầm của chính bản thân anh... - Oa...oa... oa... Tiếng khóc con trẻ chợt vang cắt ngang dòng suy nghĩ của Hữu Bằng. Cúi xuống nôi bế con lên tay, anh dịu dàng đặt bình sữa pha sẵn vào miệng Nguyệt Cầm. Nhìn con nút một cách khó khăn, anh nghe lòng quặn thắt. Tội nghiệp con... cả cuộc đời không bao giờ được biết thế nào là dòng sống ngọt ngào từ bầu sữa mẹ, cũng như sẽ không bao giờ được gọi tiếng mẹ thiêng liêng, trìu mến như mọi người. - Tất cả là tại ba! Hữu Bằng tự sỉ vả mình. Ba quá tầm thường, ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến bản thân. Nếu mẹ của con không kịp phát hiện ra rồi dùng cái chết của mình để cảnh tỉnh, ba đã phạm một tội tày trời, đã gây nên một thảm họa lớn với cuộc đời rồi. Nguyệt Cầm ơi, con có biết... một mai khi phát minh của ba được tung ra... sẽ không chỉ là một cái chết thương tâm của mẹ con, mà hàng trăm, hàng ngàn người cha, người mẹ vô tội sẽ phải chết oan vì con vi khuẩn bất ngờ này. Mẹ con thật ra không chết oan đâu... Hương Huyền... anh nhất định không làm em thất vọng. Nhẹ nhấc bình sữa ra khỏi miệng Nguyệt Cầm, Hữu Bằng âu yếm đặt con xuống nôi, cất giọng ầu ơ cho nó ngủ rồi đứng lên. Đến bên bàn thờ vợ, anh thành khẩn đặt một nén nhang. - Từ nay sẽ không còn phát minh cũng như không tồn tại một Hữu Bằng nào trên thế gian này nữa. Hương Huyền em vừa ý không, anh đốt bỏ công thức của mình đây. Ngọn lửa lóe lên trong phút chốc đã thiêu rụi cái công trình chưa công bố thành tro. Tâm huyết, công sức bao ngày tan biến trong chớp mắt, nhưng Hữu Bằng không cảm thấy buồn, thấy tiếc. Lương tâm phần nào thanh thản với ánh mắt long lanh trong sáng của Hương Huyền trong di ảnh. Bước đến bàn viết một bức thư trao trả toàn bộ tài sản cho Tony Hải, Hữu Bằng quyết định từ bỏ thế giới danh vọng của mình. Tìm đến một làng quê yên bình, sống đời gà trống nuôi con, xa vòng danh lợi. Những tưởng sẽ sống yên bình với con thơ. Đem hết sức mình cống hiến cho nhân loại như một chút công lao chuộc lại lỗi lầm. Thế nhưng... cuộc đời không dễ dàng tha thứ cho những lỗi lầm trong dĩ vãng của Hữu Bằng. Sau bao năm nằm yên trong cơ thể Nguyệt Cầm, con vi khuẩn năm xưa bừng sống dậy, tiếp tục gieo rắc kinh hoàng... *** Câu chuyện đã kể hết lâu rồi, vậy mà... Kỳ Phương vẫn ngồi yên bất động. Sao như huyền thoại, hoang đường không tin được. Người đàn ông đang ngồi trước mặt anh đây, trông hiền từ, nhân hậu thế, không ngờ lại là chủ nhân của một phát minh tàn nhẫn, rùng rợn nhất. Ông đã là thủ phạm giết chết vợ mình. giờ lại sắp trở thành đao phủ giết luôn đứa con gái yêu thương duy nhất trong cuộc đời ông.Ông đáng giận hay đáng thương Kỳ Phương không thể nhận xét thế nào cho đúng. Cả hai chăng? Ông đáng bị lên án, bị nguyền rủa, nhưng cũng đáng thương, đáng được thông cảm lắm. Thế mới biết có những sai lầm không thể nào sửa chữa. Chỉ một chút cạn suy là ân hận một đời. - Kể với cậu, tôi không mong nhận được sự đồng tình hay thương hại. - Giây lâu trong im lặng, ông chợt cất giọng trầm buồn. - Dù không hề cố ý... tôi cũng trở thành kẻ sát nhân gián tiếp giết chết vợ, con mình... và cả một trăm sáu mươi người vô tội khác. - Bác sĩ nói sao? - Kỳ Phương giật thót người sợ hãi. - Không lẽ... Nguyệt Cầm và những người kia... - Phải... - Không để Kỳ Phương nói hết câu, ông đã gật đầu cướp lời. Một khi những cơn tan máu vượt khỏi tầm kiểm soát, tất cả phải chết... một cái chết oan ức tức tưởi như Hương Huyền ngày xưa vậy. - Không có thuốc gì... cách gì cứu được sao? - Kỳ Phương tự biết mình hỏi một câu thừa. Nhưng ý nghĩ Nguyệt Cầm cùng những người vô tội kia phải chết làm anh tối tăm mặt mũi. - Tôi đã làm đủ mọi cách. Nhưng... ngả đầu ra sau ghế, ông nói trong tuyệt vọng. - Chẳng thể nào ngăn chặn sự phát triển và hủy diệt con vi khuẩn ấy. Nó sẽ còn lan rộng... lây truyền nếu chúng ta không cương quyết một lần dứt bỏ đi. - Dứt bỏ nó... - Kỳ Phương chợt rùng mình sợ hãi. - Bác sĩ... lẽ nào... ông đành tâm giết họ ư? - Tôi thật không thể nhẫn tâm. Nhưng... gục đầu vào lòng bàn tay, ông ngập ngừng giây phút. - Bây giờ ngoài cách này, tôi không còn nghĩ ra cách nào hay hơn được. Nếu không ngăn chặn, dập tắt ngay... e số người phải chết còn tăng mãi. - Tàn nhẫn quá! Kỳ Phương cắn nhẹ môi mình. Nghĩ đến một ngày phải đưa Nguyệt Cầm vào cõi chết, tim Kỳ Phương đau nhói. - Bác sĩ... - Nắm lấy tay ông, anh van vỉ. - Ông đừng vội thất vọng, bỏ cuộc sớm như vậy. Hãy cố tìm xem, may ra còn có cách cứu vãn tình hình. - Không còn cách nào khác hơn đâu. - Nhẹ gõ tay xuống bàn tay Kỳ Phương, ông lặng người đi trong nỗi đau tắc nghẹn. - Anh bạn trẻ, anh không cần phải van xin, an ủi ta cứu người đâu. Hơn cả cậu, khi đi đến quyết định này, tôi đã ray rứt, suy nghĩ kỹ. Dù không thương đám người kia, tôi cũng phải nghĩ đến Nguyệt Cầm. Nó là con gái của tôi, đứa con duy nhất cậu biết không? Đọc được những nỗi ray rứt trong ánh mắt khổ đau đầy tuyệt vọng của ông, Kỳ Phương thở ra một hơi dài: - Rồi ông định... giết họ bằng cách nào? Ông sẽ phải trả lời ra sao trước pháp luật? - Tôi sẽ không giết họ cũng không làm gì cả. Tôi chỉ nhốt họ vào một căn phòng thật kín, để họ không hút được máu người. Một khi không còn máu, họ sẽ phải tự chết thôi. - Còn Nguyệt Cầm...ông cũng sẽ... dùng cách này ư? - Kỳ Phương nghe lòng thảng thốt. - Phải. - Hướng mắt nhìn con, ông trìu mến nói. - Tôi sẽ cho con tôi một liều thuốc an thần, rồi cùng ra đi với nó. - Sao? - Kỳ Phương nhảy nhổm. - Bác sĩ... ông sẽ... tự vẫn ư? Không... tôi không đồng ý cho ông làm một việc tiêu cực như thế. - Tôi không tiêu cực. - Môi hé nụ cười buồn, ông đặt tay lên vai Kỳ Phương thân mật. - Tôi đã nghĩ kỹ lắm rồi. Với bao nhiêu tội lỗi đã gây ra, tôi thấy mình có chết đi cũng chưa đền đủ đâu. - Đúng. - Kỳ Phương nhìn thẳng vào mặt ông nghiêm khắc. - Với một cái chết của mình, ông không đền đủ tội với những người đã chết. Nhưng với sự sống, với tài năng của mình... ông là thiên tài hiếm có... đừng... đừng thêm một lần phạm sai lầm. - Thông minh xuất chúng, tài năng tột bực... - Ông bật cười lớn. - Những danh từ đó không còn đúng với một lão già lụm cụm như tôi nữa. Kỳ Phương, kể cho cậu nghe tất cả, tôi không phải chờ nghe cậu cản. Tôi chỉ muốn giúp cậu hoàn thành thiên phóng sự điều tra của mình. Cậu hãy viết tất cả lên mặt báo, rõ ràng, cụ thể từng chi tiết. Nêu đích danh từng tên nhân vật thật. Tôi muốn... tai tiếng của mình trở thành một tấm gương để người đời trông vào cùng suy gẫm và đánh giá. Hy vọng nó sẽ là bài học hữu ích cho những nhà khoa học. Tiền... tuy cần thiết, tuy không thể thiếu trong cuộc sống mỗi người, nhưng đừng bao giờ đánh mất bản thân, bán rẻ lý trí và nhân phẩm của mình. Ý ông đã quyết... Kỳ Phương biết mình sẽ không bao gìờ thay đổi được nếu không tìm ra một cách giải quyết triệt để hơn. - Thế còn Tony Hải... còn cái viện nghiên cứu sinh học giả hiệu của hắn thì sao? - Chợt nhớ đến gã người lai đã mách bảo mình, Kỳ Phương nhất mực quan tâm. - Ông cứ để hắn mặc tình nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật tiếp tục gây tội sao? - Hắn sẽ không bao giờ còn vô tội nữa. - Ông mỉm cười. - Hôm qua tôi đã viết một tờ tường trình gửi lên Bộ tố cáo việc làm của hắn. Với tất cả bằng chứng mà tôi đã thu thập được, tôi tin rằng, không bao lâu nữa hắn cùng cái viện khốn kiếp kia sẽ bị trục xuất khỏi Việt Nam. - Ông đã hành động đúng. - Kỳ Phương tỏ vẻ thán phục. - Lẽ ra ông phải làm như thế từ lâu rồi. - Đó cũng là một sai lầm, ông thừa nhận. Vì ích kỷ, vì sợ ảnh hưởng đến tiếng tăm, uy tín của mình tôi đã không dám đứng ra tố cáo, vạch trần âm mưu của hắn. Để từng ấy năm trời phải sống âm thầm, trốn tránh như một loài côn trùng. Vì tôi mà Nguyệt Cầm phải sống trong thiếu thốn trăm bề. Làm như vậy, tôi...còn thua loài cầm thú... Muốn nói một lời để an ủi sẻ chia cùng ông mà tìm mãi chẳng được từ nào, Kỳ Phương đành đứng lên từ tạ ra về. Bây giờ anh có thể đặt bút một lèo viết hết thiên phóng sự, cũng như có thể kết thúc câu chuyện "Chuyến tàu đêm" một cách dễ dàng. Thế nhưng, Kỳ Phương biết mình sẽ chẳng viết một dòng nào. Anh không thích một kết cục tàn nhẫn, đau thương vậy... phải tìm một kết thúc khác, nhân bản hơn, tốt đẹp hơn. Song... anh sẽ tìm thấy ở đâu trên bầu trời cao rộng đẹp đẽ, ánh dương hồng kia có phải...? |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 43
Phần V - Thế này là thế nào? Anh mau lập tức trả lời tôi... - Xấp bản in bị ném mạnh xuống bàn, giám đốc Trần đùng đùng giận dữ. - Tên Kỳ Phương đó, hắn chết gí chỗ nào? Tại sao anh không tìm liên lạc. Anh có biết... báo Tia chớp đã sụt mất một nửa số lượng rồi không? Đón nhận cơn thịnh nộ của giám đốc, Khải Văn chỉ biết cúi đầu im lặng. Dù biết rõ mình đã bị giám đốc mắng oan. Số lượng báo bị giảm hoàn toàn do lỗi của Kỳ Phương. Hắn đã không gởi về tòa soạn dù chỉ là một dòng tin nhỏ. Nhưng... anh lại không thấy phật lòng, cũng không nghe giận thủ trưởng một chút nào. Cơn phẫn nộ của ông là hoàn toàn đúng, vì ngay chính bản thân mình, Khải Văn cũng giận Kỳ Phương kinh khủng. Không nể tình hắn là đồng nghiệp thân thiết, anh đã mắng hắn là tên vô trách nhiệm từ lâu. Thừa biết sự sống còn của tờ báo nằm trong tay mình. Vậy mà cứ mãi nhởn nhơ cùng trời xanh nước biếc.... - Tôi gia hạn cho cậu hai ngày nữa phải tìm gặp Kỳ Phương và bắt hắn giao bài ngay. Bằng không thì cả anh, cả hắn... đều biến khỏi mắt tôi đi. - Chờ giây lâu, vẫn không nghe Khải Văn hứa hẹn gì, giám đốc Trần quyết định ra tối hậu thư. Điều này... xem ra khá bất công đối với Khải Văn. Anh không nhịn được, bật thành lời: - Giám đốc Trần, ông thật là vô lý. Tại sao lại ghép tôi chung với Kỳ Phương chứ? Tôi không... - Câu nói bị cắt ngang bởi cánh cửa được mở ra đột ngột. Như trong chuyện hoang đường, Kỳ Phương hiện ra ngay trước mắt mọi người sau một câu niệm chú. Vụt quên mất câu nói còn dang dở của mình, cũng như không còn nhớ đến cơn giận hờn, Khải Văn ào lên ôm chặt lấy Kỳ Phương mừng rỡ: - Trời ơi, thằng quỷ, sao không chết luôn đi. - Kỳ Phương! - Chiếc ghế bật ngửa ra sau vì cái đứng lên vội vã đã không làm giám đốc Trần để ý. Bước lên trước môi ông chìa nụ cười niềm nở, thân mật bắt tay Kỳ Phương như quên tuốt trận lôi đình vừa mới xảy ra đây. - Cuối cùng cậu cũng đã về rồi, thật là may. - Vâng! - Đứng yên tiếp nhận sự đón chào nồng hậu, Kỳ Phương ngập ngừng giây lát rồi khẽ nói. - Xin lỗi vì tôi đành phải để mọi người tiếp tục thất vọng. Tôi về đây không phải để nộp bài mà là để xin nghỉ phép một tuần. - Nghỉ phép ư? - Miệng giám đốc Trần há tròn vo. Khải Văn cứ ngỡ tai mình ù đi. Có nhầm không? Kỳ Phương xin nghỉ phép. Hắn muốn chọc giám đốc nổi xung thiên lên chắc? Thời hạn hai ngày hẳn không còn nữa. Ông ta sẽ tống cổ ngay tức khắc gã phóng viên ngạo mạn vô trách nhiệm. Dĩ nhiên... anh sẽ bị một miếng của hắn lây sang. Phen này... không chết cũng bị thương thôi. - Nghỉ phép! - Nhưng Khải Văn đã tính lầm. Không có cơn thịnh nộ nào, chỉ có giọng giám đốc chùn xuống như sợ hãi. - Để làm gì? Nếu cậu có lý do chính đáng, tôi nhất định sẽ duyệt cho. - Thưa giám đốc... xin ông thông cảm ký duyệt cho. Tôi xin nghỉ phép để... đưa Nguyệt Cầm đi chơi ạ? - Hả? - Khải Văn nhảy bật lên trong lúc giám đốc Trần lại té ngồi ra ghế. - Kỳ Phương, cậu không đùa tôi chứ? - Tôi không dám đâu. - Nói rồi, Kỳ Phương quay ra sau gọi khẽ. - Nguyệt Cầm vào đi em. Hãy chào giám đốc của anh và đây nữa, gã Khải Văn đáng ghét mà anh vẫn thường kể cho em nghe đó. - Dạ.... Bây giờ cả ông Trần lẫn Khải Văn đều tin là Kỳ Phương không giỡn. Rõ ràng sau lưng anh vừa bước ra một cô gái đẹp tuyệt vời, cô ta đang khép nép cúi đầu lễ phép: - Cháu chào chú, chào anh ạ! À! Ra thế. Bây giờ Khải Văn mới vỡ lẽ. Anh đã hiểu vì sao những ngày qua Kỳ Phương lười viết bài đến thế. Chỉ vì cô gái xinh đẹp kia làm cho tâm hồn hắn mê mẩn quên hết việc đời thôi. Hừ! Bao nhiêu người trông đợi, vậy mà hắn cứ nhởn nhơ... Bỗng nổi giận đùng đùng, quên cả giám đốc đang ngồi trước mặt mình, Khải Văn bước lên hét lớn: - Kỳ Phương, cậu vô trách nhiệm vừa thôi. Nông nỗi này còn xin nghỉ phép đi chơi cùng người yêu nữa. Cậu có biết tình hình cấp bách lắm rồi không? Cả thành phố này đang sôi lên trước con ma hút máu người. Đêm qua nó lại tấn công giết đi hai người nữa đấy. Sắc mặt Khải Văn khi giận trông hung dữ quá, làm Nguyệt Cầm phải lùi về sau sợ hãi. Kỳ Phương ôm lấy vai cô trầm giọng: - Cậu đào đâu ra cái tin con ma đêm qua vừa giết hai người hả? - Còn đào đâu nữa? - Khải Văn ném tờ báo "Mặt trời" trước mặt Kỳ Phương. - Lại tay phóng viên Trọng Hải. - Kỳ Phương nhặt tờ báo lên xem qua rồi kêu lên giận dữ. - Dám công bố thông tin giả, đánh lừa công chúng. Làm gì có chuyện đêm qua con ma tấn công ai chứ? - Hừ! Cậu nói nghe cứng quá. Cứ như đêm qua ở cạnh con ma không bằng vậy? - Khải Văn lại hét lên. - Sao lại không? - Hét lên rồi mới nhớ, Kỳ Phương hoảng hồn đưa mắt ngó Nguyệt Cầm. Cô như quá khiếp đảm trước cuộc cãi nhau, rút mình vào sau cạnh cửa, đôi mắt nhìn quanh lấm lét. - Thế thì cậu nói đi. Con ma đã làm gì đêm qua hả? - Không bỏ qua cơ hội, như con thú đánh hơi thấy mồi ngon, Khải Văn sấn tới hỏi luôn. - Tớ không có thời gian tranh cãi... - Sợ bị hắn tra hỏi một hồi sẽ lòi ra những điều không đáng nói, Kỳ Phương quay sang phía ông Trần, nãy giờ vẫn ngồi yên như phỗng để nghe hai người tranh cãi. - Từ phút này, tôi xin nghỉ phép đúng một tuần, mong ông đồng ý. - Nhưng... công việc ở tòa soạn bề bộn lắm. - Giám đốc Trần từ chối khéo. Cậu có thể... bàn cùng cô bạn gái thư thả một thời gian. - Xin lỗi... Kỳ Phương cắt ngang lời. - Tôi không thể nào thư thả được. Xin ông thông cảm, dù có phải bị đuổi việc tôi cũng phải nghỉ thôi. Nói rồi, không chờ đến sự gật đầu đồng ý của ông Kỳ Phương bước đến bên Nguyệt Cầm, cất giọng dịu dàng: - Mình đi thôi em. Cô gái bẽn lẽn, sợ hãi nắm tay Kỳ Phương bước đi rụt rè, không quên cúi đầu chào ông Trần và Khải Văn. Vì vẫn tức giận với Kỳ Phương, Khải Văn gầm gừ với Nguyệt Cầm luôn. Sau đó cố tình nói cho anh nghe rõ: - Cô ta đẹp thật, nhưng cũng đâu đáng để đem cả sự nghiệp tên tuổi ra đánh đổi. Đúng là thằng dại gái... dở hơi... *** - Kỳ Phương ơi, sao mọi người lại tỏ ra giận dữ với anh như vậy? Họ không thích anh đi với em có phải không?Xe chạy được một lúc lâu, Nguyệt Cầm vẫn còn ám ảnh những lời Khải Văn lúc nãy, nên nhìn Kỳ Phương dò hỏi. - Ồ không, không đâu! - Sợ cô hiểu lầm rồi tủi thân, Kỳ Phương vội giải thích. - Chẳng liên quan gì đến em. Họ giận dữ vì thấy anh ham chơi quá. Có mỗi bài phóng sự viết mãi không xong. - Nhưng... anh sắp viết xong rồi, tại sao anh không cho họ biết? - Hả? - Kỳ Phương giật nẩy người. Sao Nguyệt Cầm biết anh sắp viết xong rồi? - Em bảo anh sắp viết xong cái gì kia? - Em chỉ đoán vậy thôi. - Mắt Nguyệt Cầm vẫn nhìn chằm chằm ra phía trước rồi bất chợt kêu to. - Ôi, Kỳ Phương... anh nhìn kìa... căn nhà mới cao làm sao! Kia... còn kia nữa... ôi hay quá! Tuyệt quá... Sài Gòn nhiều xe chạy quá! - Ừ! Em cứ từ từ khám phá. Còn nhiều điều thú vị lắm đấy - Kỳ Phương thở phào ra. Hú vía! Lúc nãy nghe cô nói, anh cứ ngỡ cô đã biết tất cả rồi. Không đâu, bác sĩ bảo đến bây giờ Nguyệt Cầm vẫn chẳng biết gì. Thật tội nghiệp, Kỳ Phương nghĩ đến phút giây biết con ma mà Nguyệt Cầm luôn căm thù, muốn hủy diệt kia chính là mình. Liệu cô sẽ ra sao nhỉ? Cú sốc này kinh khiếp quá, cô sẽ phát điên lên mất. Không... anh đã bàn với bác sĩ rồi. Bất luận chuyện gì xảy ra đi nữa cũng phải giấu nhẹm Nguyệt Cầm, để cô còn được sống những ngày cuối đời mình trong hồn nhiên thanh thản. - Đưa Nguyệt Cầm ra Sài Gòn ư? - Chưa nghe Kỳ Phương nói hết câu, ông đã lắc đầu ngay. - Không được, phiêu lưu mạo hiểm lắm. Cậu có biết trong giai đoạn cuối của mình, Nguyệt Cầm có thể biến thành ma bất cứ lúc nào, trong cơn khát máu, nó không nhận biết được ai đâu. Đi chơi với nó, cậu sẽ gặp nhiều nguy hiểm. Kỳ Phương biết và nghĩ đến điều này, nhưng anh không sợ. Dù có phiêu lưu trên sinh mạng của mình, anh cũng phải làm tròn lời hứa với Nguyệt Cầm. Cô phải một lần mở rộng tầm nhìn trước khi nhắm mắt... cũng như có được một kỷ niệm đẹp trong đời... Những lý lẽ đầy thuyết phục của Kỳ Phương cuối cùng cũng lay chuyển được ông Bằng. Trước khi đi, để đề phòng mọi tình huống có thể xảy ra, ông đã trang bị cho Kỳ Phương năm ống tiêm đựng đầy máu, phòng khi Nguyệt Cầm lên cơn đột ngột, với số lượng máu tiếp vào này, anh có thể cầm cự đưa Nguyệt Cầm trở về. Vâng... vậy là... Kỳ Phương đã đưa Nguyệt Cầm về đến Sài Gòn. Nhìn nụ cười rạng rỡ nở bừng trên gương mặt ngây thơ như con nít của cô, Kỳ Phương biết mình đã hành động đúng. Hơn bao giờ hết anh cảm thấy mình có thể chết đi để nụ cười kia tươi mãi. - Kỳ Phương ơi, anh đưa em đi đâu vậy? Thấy Kỳ Phương đưa mình vào một cái cổng to, có nhiều nhân viên bảo vệ soát vé chận ngay trước cửa ra vào, Nguyệt Cầm sợ hãi nhưng Kỳ Phương trấn an ngay: - Đừng lo, đây là nơi đầy thú vị đấy. Mặc dù hai viên soát vé chẳng nói gì, Nguyệt Cầm vẫn sợ hãi nép sát vào người Kỳ Phương, trước nhiều cặp mắt mỉm cười thông cảm. Cô gái đẹp này trông quê quá. Chắc mới đi thành thị lần đầu thôi. Thường khi, nếu phải đi với một cô gái vụng về, quê mùa như Nguyệt Cầm, chắc Kỳ Phương phải thẹn lắm. Nhưng... lần này lại không, Kỳ Phương chẳng xấu hổ chút nào. Ngược lại, anh còn thấy tự hào, thấy mình thêm vững chắc bên một tâm hồn quá đỗi ngây thơ và bé bỏng. - Khu vui chơi giải trí lớn và đẹp nhất Sài Gòn đấy. - Bước hẳn vào trong rồi, Kỳ Phương mới quay sang bảo Nguyệt Cầm. Bây giờ mới nhận ra vẻ hoành tráng, xinh đẹp của khu giải trí, Nguyệt Cầm mở to đôi mắt sững sờ. - Đẹp quá! Nằm mơ em cũng không ngờ thế gian này tồn tại một nơi xinh đẹp như thế này. Kỳ Phương, anh nhìn kìa... những đứa bé kia làm gì quay tròn trên chiếc máy bay như vậy hả? Cô hỏi lớn quá làm khách đi ngang phải ngoái đầu nhìn lại, tội nghiệp cô gái đẹp... cả chiếc đu quay cũng không biết nữa. - Đi theo anh. - Kỳ Phương chợt nắm tay Nguyệt Cầm, dẫn cô bước vào một phòng thời trang gần đó, lựa mua một bộ đồ thật đẹp, anh bắt cô thay ngay rồi dẫn cô đi tham quan du lịch. Trong bộ đồ moden hợp thời trang và thanh nhã do Kỳ Phương chọn, Nguyệt Cầm đẹp lên một cách bất ngờ. Bây giờ nhìn cô không ai có thể ngờ đấy là một cô gái quê mới lần đầu đi thành phố. Bước chân cô ngập ngừng, khập khiễng với đôi giày mới... đáng yêu hơn kiểu cách các cô gái thật thành thị làm duyên gấp trăm gấp vạn lần. - Em dùng thử cái này đi. Mua một cây kem, Kỳ Phương dịu dàng trao cho Nguyệt Cầm. Không nghi ngại gì, cô đưa vào miệng cắn ngay, ăn luôn lớp vỏ bọc bên ngoài. - Ôi! Kỳ Phương vội đưa tay ngăn lại, anh từ tốn mở bao và giải thích với cô cách ăn như thế nào cho gọn. - Dạ em hiểu... Nguyệt Cầm gật đầu nhưng cứ cầm mãi trên tay. Kỳ Phương lại phải lên tiếng nhắc: - Sao em không ăn đi? - Chờ một chút, kem còn nóng lắm! - Nóng ư? - Kỳ Phương tròn mắt. Nguyệt Cầm gật đầu: - Anh không thấy khói bay nghi ngút à? - Trời! - Không còn nhịn được nữa, Kỳ Phương bật cười lớn. - Trời ơi... Nguyệt Cầm, em cứ ăn thử một miếng đi xem có nóng không? - Dạ... - Nghe lời anh nhưng vẫn sợ, Nguyệt Cầm cắn một miếng nho nhỏ rồi kêu lên ngơ ngác. - Ô... nó lạnh... ngộ quá ta... - Thích thú cô ăn ngấu nghiến hết cây kem... quên hết chuyện đời. Ngồi yên nhìn miệng cô ăn một cách ngon lành, lòng Kỳ Phương bỗng nao nao một cảm giác khác thường, muốn được ghi khắc hình ảnh đó vào tâm khảm. - Kỳ Phương, anh làm gì mà nhìn em hoài vậy! - Ăn xong cây kem, ngẩng lên thấy Kỳ Phương chăm chú ngó mình, Nguyệt Cầm thẹn quá kêu lên. - À! Chớp mắt chợt tỉnh, Kỳ Phương vui vẻ. - Hôm nay em đẹp lắm Nguyệt Cầm. Bây giờ anh em mình đi chơi đu quay nhé? Em có dám không? - Dám. - Nguyệt Cầm gật đầu. - Có anh ở cạnh là việc gì em cũng dám làm hết á! - Vậy thì đi. - Nắm tay cô, Kỳ Phương bước đến quầy vé. Thường ngày anh rất sợ độ cao, nhưng... hôm nay vì cô, anh phá lệ thử một lần lên cao cho biết. Vòng quay đã bắt đầu, Nguyệt Cầm kêu lên sợ hãi bởi cảm giác tròng trành. Giây lâu quen dần, cô bắt đầu kêu to thích thú: - Tuyệt quá! Kỳ Phương ơi... chúng mình cao chưa. Anh nhìn xem, những người dưới chân mình bé xíu. Một lát anh chụp cho em pô hình nhé. Em muốn đem về khoe với ba, với nhỏ Lan... Chà! Cả xóm sẽ ganh tỵ cho xem. Trời ơi... sao mà em hạnh phúc dữ vầy nè... Hạnh phúc! Mắt Kỳ Phương bỗng cay xè. Nguyệt Cầm em đúng là tinh khiết, trong lành quá. Với em hạnh phúc có được thật dễ dàng. Em không biết ganh đua cũng không biết đố kỵ cùng ai cả. Cuộc đời em lẽ ra phải được sung sướng lắm. Em có biết là mình không còn sống được bao lâu nữa không? Sao em cứ cười, cứ nói líu lo như chim vậy? Em có biết một hành động ngây thơ của mình là một nhát dao cứa vào lòng anh đau nhói. - Hết rồi ư? - Chiếc đu quay dừng lại, Nguyệt Cầm kêu lên vẻ tiếc rẻ. Kỳ Phương lại dắt cô sang một trò chơi khác. Nguyên một buổi sáng cả hai đã chơi hết các trò chơi của khu du lịch. Và... có lẽ họ sẽ còn chơi nữa nếu như bụng của Nguyệt Cầm không đột nhiên sôi sục vì đói. - Kỳ Phương ơi... em đói bụng rồi, mình ăn cái gì đó đi anh. - À... ừ...! Đưa Nguyệt Cầm vào một nhà hàng, Kỳ Phương đãi cô một bữa đặc sản. Nguyệt Cầm thích lắm, cô ăn ngay không khách sáo. Và... một lần nữa...cô làm anh bật cười với những cử chỉ quê mùa chất phác của mình. Vui nhất là lúc cô ăn đùi gà chiên bột. Loay hoay, lớ ngớ thế nào mà cái đùi gà bay vào trúng ngay mặt một vị khách nước ngoài. Báo hại Kỳ Phương phải sang năn nỉ, xin lỗi... - Bây giờ mình chơi tàu lượn siêu tốc nhé Kỳ Phương? Vừa ăn xong, bụng no căng, Nguyệt Cầm lại đòi chơi nữa. Kỳ Phương nhẹ lắc đầu: - Không được... chơi bây giờ sẽ đau bao tử đó. - Ư! Nguyệt Cầm hờn dỗi quay mặt đi khiến Kỳ Phương phải chìa ra trước mặt cô hai tấm vé màu hồng. - Đừng giận, anh đưa em đến nơi này, tuyệt lắm. - Nơi nào thế? - Nguyệt Cầm háo hức. Kỳ Phương nói nhỏ: - Rạp xem phim. - Rạp xem phim! - Đôi mắt tròn mở lớn. - Là trò chơi gì thế? Có vui không? Kỳ Phương bí mật: - Đến xem rồi biết. - Ồ!... Nhìn vẻ mặt nghệch ra ngơ ngác của Nguyệt Cầm, Kỳ Phương biết cô không hình dung được cái việc xem phim là thế nào đâu. Cô đang tưởng mình sắp được tham gia một trò chơi thú vị. Hẳn cô còn đang suy nghĩ xem một lát chiếc ghế mình ngồi sẽ bay lên, hay chỉ đứng yên nhún một chỗ như trò chơi nhún lúc nãy kia. - Ơ! Màn hình đã được chiếu lên rồi. - Nguyệt Cầm quá đỗi ngạc nhiên, kêu lớn. - Kỳ Phương, những con người kia sao lại chui vào được trong tấm vải như vậy hả? Kỳ Phương chưa kịp trả lời, từ hàng ghế trên đã vang lên tiếng cười khúc khích của một đôi trai gái. - Trời ơi... cô gái kia là người hành tinh này sao mà ngu ngơ, ngây thơ thế! Kỳ Phương nói nhỏ xuống tai cô: - Họ không phải người thật đâu. Họ chỉ là những hình ảnh được ghi lại, tựa như anh chụp hình em vậy. Khác ở chỗ hiện đại hơn, kỹ thuật hơn... những hình ảnh kia có thể đi đứng nói cười. - Vậy, em hiểu rồi... - Nguyệt Cầm gật đầu chăm chú nhìn lên màn ảnh. Câu chuyện phim hay quá, thu hút hết tâm trí của cô. Để cô không hay cạnh bên mình Kỳ Phương vừa thở ra một hơi dài buồn bã. Một ngày vui vẻ cuối cùng cũng trôi qua hết. Cũng như cái ngày Nguyệt Cầm vĩnh viễn biến mất trong cuộc đời rồi cũng sẽ đến thôi. Hôm qua ông Bằng đã nói với anh rằng... sự sống sót của Nguyệt Cầm không còn quá một tuần. Và... một trăm sáu mươi nạn nhân của cô cũng không tài nào kéo dài hơn một tháng. Sự kiện này nhất định sẽ gây nên chấn động dữ dội trong dư luận... Nhưng...chỉ một thời gian thôi, rồi tất cả cũng sẽ chìm vào quên lãng. Kỳ Phương không hiểu liệu mình có quên được Nguyệt Cầm? Sao phút giây này anh chỉ muốn ôm chặt cô vào lòng. Muốn thét gào... muốn hét lên hỏi ông trời. Sao ông đối xử bất công, tàn nhẫn với Nguyệt Cầm như thế? Trong suốt cuộc đời của mình cô chưa từng tổn hại đến ai, chưa từng làm đau một cành cây ngọn cỏ... - Ôi! Tiếng Nguyệt Cầm chợt kêu lên bẽn lẽn. Dứt mình khỏi cơn suy tưởng Kỳ Phương bỗng nghe nao cả dạ. Đôi mắt của Nguyệt Cầm nhìn anh rất lạ. - Kỳ Phương ơi... anh nhìn xem trên màn ảnh, người ta làm gì kỳ quá! Nhìn lên màn ảnh rồi nhìn trở lại Nguyệt Cầm, Kỳ Phương cười khẽ: - Không kỳ đâu, người ta đang biểu lộ tình yêu đấy. - Tình yêu là gì? - Nguyệt Cầm tự hỏi rồi ngơ ngác nhìn quanh. Những cặp nhân tình quanh cô, ai cũng giống như trên màn ảnh, cùng hôn nhau say đắm. - Kỳ Phương ơi... - Giây lâu, cô bỗng rụt rè gọi khẽ. - Em muốn được anh hôn. Có được không? Như có luồng điện chạy dọc sống lưng, Kỳ Phương nhìn sâu vào đôi mắt Nguyệt Cầm với một niềm thương mãnh liệt đang trào dâng trong ấy. Không thể cầm lòng, anh từ từ cúi xuống môi hồng đặt nhẹ một nụ hôn. Là một phóng viên từng trải, lăn lóc khắp các nẻo đường, Kỳ Phương từng được hôn nhiều cô gái. Nhưng... chưa bao giờ anh có được một cảm xúc trọn vẹn như thế này. Bờ môi Nguyệt Cầm ngây thơ, run rẩy. Cô không kinh nghiệm gì, chỉ biết ngỡ ngàng đón nhận... vậy mà... Kỳ Phương lại thấy lòng hưng phấn, ngất ngây. Vòng tay siết chặt Nguyệt Cầm vào lòng mình, anh cảm thấy nụ hôn càng lúc càng tiến sâu hơn... cuồng nhiệt hơn... Thật lâu trong cảm giác đê mê, ngây ngất, Kỳ Phương khó dứt môi mình khỏi môi Nguyệt Cầm. Chợt nhận ra bờ má cô ràn rụa châu rơi, anh lo lắng hỏi: - Anh làm em đau có phải không? - Không! - Vòng tay ôm lấy cổ anh, cô khóc nghẹn ngào. - Em khóc vì quá sung sướng, quá hạnh phúc thôi. Nụ hôn của anh... em sẽ nhớ cho đến chết. - Đừng nói bậy! - Kỳ Phương đặt vội ngón tay xuống môi cô. Ngả đầu vào ngực anh, Nguyệt Cầm khẽ mỉm cười: - Hôn em một lần nữa đi anh. Không đáp, Kỳ Phương đặt nhẹ môi mình xuống môi cô. Trong cảm giác lâng lâng bay bổng của tình yêu, anh chợt nghe tim đau nhói, một giọt lệ vừa trào ra khỏi mắt anh, thấm qua môi Nguyệt Cầm mằn mặn... *** - Không, Nguyệt Cầm... em đừng đi... hãy ở lại với anh một lát. Anh còn có chuyện chưa nói hết với em...Bàn tay nắm chặt lấy chiếc băng ca, Kỳ Phương gào lớn khi thấy cô y tá dợn đẩy Nguyệt Cầm vào bên trong phòng cách ly. - Đã trễ thời gian quy định hơn năm phút rồi. Xin anh thông cảm. Bác sĩ Bằng đã có lời dặn kỹ... - Đôi mắt buồn của cô y tá nhìn Kỳ Phương đầy thương cảm, như bảo anh rằng. - Mình không hề muốn chia cách anh với Nguyệt Cầm, chẳng qua... vì nhiệm vụ phải làm thôi. - Đừng lưu luyến nữa Kỳ Phương... - Đôi mắt nhắm nghiền vì ảnh hưởng của thuốc bỗng mở ra, Nguyệt Cầm nhìn anh đầy lưu luyến, cô cất giọng buồn buồn. - Hãy chúc em lên đường may mắn. - Chúc em lên đường may mắn...? - Kỳ Phương lặp lại lời nói của Nguyệt Cầm và bước lên nắm chặt lấy tay cô, anh bỗng òa khóc. - Không... anh không cho em đi đâu cả. Em phải nghe anh nói... Anh yêu em... Mí mắt chợt khép lại mở ra, Nguyệt Cầm mỉm cười mãn nguyện: - Em cũng yêu... Cô không nói trọn câu, liều thuốc mê đã đưa cô vào giấc ngủ say. Một giấc ngủ mà cô không bao giờ tỉnh lại. Ý nghĩ mình sẽ mất Nguyệt Cầm vĩnh viễn đã làm cho Kỳ Phương không sao chịu nổi. Anh chạy theo chiếc băng ca, anh gọi lớn tên cô... muốn làm tất cả để gọi cô ra khỏi giấc ngủ im lìm. Nhưng... cánh cửa đã lạnh lùng sập lại ngay trước mặt như ranh giới âm dương chia lìa mãi mãi. Anh và Nguyệt Cầm đã thuộc về hai thế giới khác nhau. Đời này, kiếp này... sẽ không bao giờ còn có cơ hội gặp nhau nữa đâu... Giữ đúng lời hứa, Kỳ Phương đã dắt Nguyệt Cầm rong chơi khắp Sài Gòn suốt một tuần. Dấu chân của hai người đã in khắp nơi, đã lưu lại không biết bao nhiêu hình ảnh khắp chốn. Kỳ Phương thực sự có những giây phút tuyệt vời nhất trên đời mình bên cạnh Nguyệt Cầm. Cùng lúc, anh càng thấy quyến luyến, thấy yêu cô nhiều hơn bao giờ hết. Để đôi khi trong hoang tưởng, anh thầm mơ đến một phép thần kỳ diệu. Đến một viễn cảnh tương lai thật tuyệt vời thơ mộng. Trong một căn nhà nhỏ, anh và Nguyệt Cầm cùng sống hạnh phúc đời vợ chồng. Hai người sẽ có một đứa con xinh như mộng. Quên hết ganh đua chuyện trần gian, chỉ biết hưởng những ấm êm, thảnh thơi bên nhau. Đem ý tưởng này kể với Nguyệt Cầm, anh thấy mắt cô long lanh sáng. Ôi... cô còn mong điều gì hơn thế nữa. Thế nhưng...cuộc vui chóng tàn, ngày tháng qua mau. Thấm thoát thời hạn một tuần đã hết. Cùng Nguyệt Cầm chuẩn bị hành lý trở về quê, lòng Kỳ Phương nặng trĩu. Đên đó, nằm cạnh bên nhau cả hai đã mong trời đừng bao giờ sáng. - Cậu nói sao? Suốt một tuần liền Nguyệt Cầm không lên cơn khát máu nào? Ông Bằng kêu lên thảng thốt khi thấy Kỳ Phương giao trả lại mình năm ống máu còn nguyên... - Thật là kỳ lạ quá... Tôi đã tính sai ở chỗ nào? Qua ngày sau, đích thân ông tìm đến nhà Kỳ Phương để báo một tin mừng: - Tôi đã nghĩ ra rồi... thật không ngờ... Kỳ Phương, cậu có biết, trong một phút vô tình cậu đã giúp tôi giải bài toán hóc búa mà tôi phải nặng đầu suốt mười tám năm qua. Cuối cùng... tôi đã tìm được cách diệt con vi khuẩn khốn kiếp ấy rồi... - Thật ư? - Ôi... Kỳ Phương nghe ông ta nói mà vui mừng khôn xiết. Ôm lấy tay ông, anh quay tròn như đứa trẻ được quà. Phải hơn năm phút sau đợi niềm hưng phấn dịu đi, anh mới có thể bình tâm nghe ông Bằng kể lại rõ ràng, tường tận. - Tất cả đều bắt đầu từ một tình cờ ngẫu nhiên thôi. Kỳ Phương, cậu còn nhớ hôm nào trong cơn nguy kịch, tôi và cậu đã dùng những ống máu mang đầy mầm bệnh của những bệnh nhân kia tiêm thẳng vào người Nguyệt Cầm không? Nó không những cứu được Nguyệt Cầm trong cơn nguy kịch mà còn giúp cho cơ thể của nó tạo ra một kháng thể mới... đủ sức cầm cự với sự tấn công của con vi khuẩn. Đó là lý do vì sao suốt một tuần cùng cậu du lịch khắp Sài Gòn mà Nguyệt Cầm không bị một lần lên cơn khát máu. Hôm qua, khi xét nghiệm lại máu của Nguyệt Cầm tôi đã phát hiện ra một điều thú vị. Rằng... nếu ta đem những kháng thể vừa tạo được của Nguyệt Cầm tiêm cho những bệnh nhân, thì trong một thời gian ngắn, số kháng thể đó có thể diệt hoàn toàn số vi khuẩn có trong họ. - Thật tuyệt vời! - Một lần nữa, Kỳ Phương nhảy cẫng lên mừng rỡ. Nắm lấy tay ông, anh cứ lắc mãi trong sự tự hào. - Ông thật sự là một thiên tài... Cuối cùng.... con ma cũng bị ông tiêu diệt. Tất cả bọn họ sẽ sống. - Phải... tất cả bọn họ sẽ sống. - Giữa vui mừng, giọng ông bỗng nghẹn đi, chùng xuống đau đớn. - Chỉ trừ Nguyệt Cầm. - Sao cơ...? - Nụ cười trên môi vụt tắt, Kỳ Phương sững người bất động. - Ông vừa bảo... cơ thể Nguyệt Cầm tạo loại kháng thể, có sức cầm cự với vi khuẩn khát máu cơ mà. - Vì là thế hệ đầu tiên... nên loài vi khuẩn có trong máu Nguyệt Cầm có sức sống mạnh, nên loại kháng thể vừa tạo được trong người Nguyệt Cầm chỉ có thể cầm cự với loài vi khuẩn một thời gian, chứ không đủ sức diệt nó. Loại kháng thể này chỉ có thể tiêu diệt được thế hệ sau của nó thôi. Niềm hy vọng vừa bùng lên đã tắt làm ngay, đôi mắt Kỳ Phương cụp xuống: - Nói vậy... nghĩa là... chúng ta chỉ có thể cứu được một trăm sáu mươi người kia mà không cứu được Nguyệt Cầm. Bác sĩ... ông hãy nghĩ cách đi... biết đâu... - Tôi đã nghĩ kỹ lắm rồi... - Bác sĩ thở ra một hơi dài. Đôi mắt ông chợt trở nên xa vắng. Ngập ngừng giây lâu ông cất giọng khàn khàn. - Muốn cứu đám người kia... buộc lòng ta không thể không hy sinh Nguyệt Cầm. Đôi mắt mở to, Kỳ Phương như không hiểu nên ông đành nói thẳng ra: - Muốn tạo ra kháng thể, bây giờ ngoài cách cấy vi khuẩn của bệnh nhân vào người Nguyệt Cầm chúng ta không còn cách nào khác. - Cấy vi khuẩn của những người kia vào người Nguyệt Cầm? - Kỳ Phương kêu to hoảng hốt. - Ý ông muốn bảo là chúng ta sẽ hút hết kháng thể vừa tạo được của Nguyệt Cầm để làm kháng sinh trị bệnh? Dòng nước mắt tuôn tràn trên đôi má nhăn nheo, ông gật đầu thổ lộ tâm trạng người cha phải giết đi đứa con yêu quý nhất của mình. - Nhưng... như vậy là tàn nhẫn lắm. - Kỳ Phương không đành lòng một chút nào. Ông cũng thế, nắm lấy tay Kỳ Phương, ông như cầu cứu: - Ta cũng bối rối lắm rồi... không biết phải xử trí sao cả. Kỳ Phương, cậu có hiểu tâm trạng của ta khi phát hiện ra cách trị bệnh này không? Ta mừng nhiều... mà cũng đau lòng nhiều lắm. Dù biết rằng... sự hy sinh của Nguyệt Cầm là xứng đáng... Nhưng nó là con của ta... đứa con duy nhất của ta, cậu hiểu không? Làm sao mà Kỳ Phương không hiểu! Nắm lấy tay ông, Kỳ Phương tuôn tràn bao cảm xúc. Phút giây này... anh không thể khuyên ông một lời nào. Bởi lẽ... với anh bây giờ con đường nào cũng quá nhẫn tâm, cũng không nỡ... - Suốt đêm qua, và cả sáng này nữa... ta cứ như kẻ đứng giữa ngã ba đường. Không biết phải đi vào đường nào cho đúng, Kỳ Phương cậu là người ngoài sáng suốt hơn... Hãy nói đi, ta phải làm sao? - Cháu không biết... - Kỳ Phương lắc đầu, tâm tư bối rối. - Lý trí bảo một đường, con tim làm một nẻo. Dù mang mầm bệnh, Nguyệt Cầm vẫn là một con người, chúng ta không thể nói hy sinh là hy sinh ngay được... Đúng vào lúc cả ông lẫn Kỳ Phương hoàn toàn bế tắc trong cách lựa chọn thì... bất chợt sau cánh cửa, Nguyệt Cầm bỗng bước ra. - Sẽ dứt khoát hơn nếu anh và ba nghĩ rằng sự hy sinh của Nguyệt Cầm là cách giải quyết duy nhất hiện thời. Một cái chết để một trăm sáu mươi người được sống là một con số quá rõ ràng cụ thể. - Nguyệt Cầm... - Cả hai nhìn nhau hoảng sợ. Thì ra cô đến lâu rồi, đã nép mình sau cánh cửa nghe rành rọt mọi chuyện. - Nguyệt Cầm!... - Sợ sự thật phũ phàng sẽ làm cô kinh khiếp, Kỳ Phương bước vội đến nắm tay cô. - Em đừng sợ... hãy còn có anh đây. Nhưng... trái với tưởng tượng của hai người, Nguyệt Cầm không tỏ ra sợ hãi chút nào. Nét mặt hồn nhiên, thanh thản như chẳng biết chuyện gì, cô mỉm cười nhìn Kỳ Phương thân thiết: - Anh không phải lo lắng cho em. Em không sợ đâu. Thật ra... chuyện này... không phải bây giờ em mới biết. Tâm lý chuẩn bị em đã có từ lâu, không còn ngỡ ngàng, hoảng hốt như lần đầu nhận biết mình là ma nữa. - Con biết chuyện này từ lâu rồi ư? - Ôm lấy đầu, ông Bằng rên rỉ. - Khốn khổ thân con quá. - Cha! - Nguyệt Cầm hướng mắt nhìn ông trìu mến. - Đừng quá khổ đau như thế. Thật ra... chuyện này chưa lâu lắm. Hôm đó, chập chờn nửa mơ, nửa tỉnh, vô tình con đã nghe được câu chuyện giữa ba với anh Kỳ Phương. - Là hôm đó sao? - Kỳ Phương tự trách mình. - Anh đúng là đáng trách quá! Hẳn là em phải đau khổ lắm trong những ngày qua? - Đúng là khi biết chuyện em đau khổ lắm. - Nguyệt Cầm cất giọng buồn buồn. - Sợ hãi và hoảng loạn, em chỉ muốn chấm dứt ngay cuộc sống của mình. Trời ơi, con ma hung ác từng giết hại người vô tội. Cơn ác mộng, niềm kinh hoàng của mọi người chính là em... Trong một phút vừa biết chuyện em đã oán hờn cha. Trách giận ông tạo ra oan nghiệt. Nhưng... sau nghĩ lại, em thôi không giận mà càng thấy thương ba hơn bao giờ hết. Em tự trách mình trong bao ngày tháng cứ nhởn nhơ sống vô tư với hạnh phúc nào biết lòng cha canh cánh nỗi ưu phiền. Em ước mình được sẻ chia cùng ba sự đau khổ ấy. Em không trách ba khi ông có quyết định sẽ cho em cùng chết với những bệnh nhân đã không còn thuốc chữa. Em biết đi đến quyết định này, lòng ba phải băn khoăn, trăn trở nhiều lắm. Em không thể để ông đã đau lòng càng đau lòng hơn nên cứ vờ như chẳng hay biết gì. Ba muốn em được vô tư, sung sướng đến phút cuối đời thì em sẽ sống vui, sống hạnh phúc cho ba được vui lòng. Đường đến cái chết càng lúc càng gần, nhưng em không thấy sợ. Nhất là sau khi được anh dắt đi chơi khắp thị thành. Kỳ Phương em thật sự biết ơn anh. Anh đã cho em nhiều kỷ niệm đẹp, những phút giây được sống hết mình. Những ngày ở cạnh anh là những ngày tươi đẹp và có ý nghĩa nhất đời em. Để em không còn phải hối hận một điều gì khi bước chân vào cõi chết. Em thật sự hạnh phúc và mãn nguyện với những gì có được trong đời. Một người cha yêu kính thương em hết mực và một người bạn trai đã yêu thương và quan tâm đến em nhiều như thế. Em tự nhủ, bao giờ gặp mẹ, em nhất định sẽ kể về anh với mẹ. Mẹ chắc là vui lắm. Ngừng một lát, không gian chừng như tê liệt không còn một tiếng động. Sau đó điều kỳ diệu đã xảy ra? Đôi mắt Nguyệt Cầm long lanh sáng: - Nghe ba kể với anh mà lòng em vui khôn tả. Cuối cùng thì ba cũng tìm được cách cứu người rồi. Vậy là... từ nay lương tâm ba sẽ không còn bị ray rứt nữa. Bóng ma dĩ vãng vĩnh viễn sẽ chôn vùi trong ký ức của ba... Em chỉ ngạc nhiên trước thái độ không dứt khoát của anh và ba thôi. Tại sao hai người lại yếu đuối như vậy chứ? Lúc đầu đã chấp nhận cho em chết cùng đám bệnh nhân kia. Giờ chỉ có mình em chết sao cả hai không cảm thấy vui mừng, lại sầu não ủ dột thế kia? Hai người làm em lo quá, nên đành phải bước ra nói những lời này.... Giọng Nguyệt Cầm nhỏ nhưng rạch ròi, cương quyết, chứng tỏ, cô đã đắn đo, suy nghĩ trước khi nói ra. Phi thường, vĩ đại thay! Kỳ Phương thật không ngờ, những lời như thế lại được thốt ra từ một cô gái quê mùa, không học vấn. Sống mũi cay xè, anh thấy mình khóc ngon lành trước mặt cô. - Đúng là ban đầu ba chấp nhận cho con chết cùng với mọi người. Nhưng bây giờ... - Nói đến đây, đau khổ quá ông Bằng khóc nấc lên. - Tất cả đều được phép màu cứu sống. Đành lòng nào cha nhìn con đi vào cõi chết. - Con biết. - Bước đến bên cha, Nguyệt Cầm nhẹ nắm tay ông. Bằng một nghị lực phi thường, cô thuyết phục ông mà không để rơi giọt nước mắt nào. - Làm như thế là bất công cùng ba lắm. Thế gian này chẳng có người cha nào nỡ lấy đi sự sống của con mình. Nhưng con mong ba hãy cạn suy. Sự sống của con bây giờ đã trở nên vô nghĩa. Một thời gian nữa thôi, khi những kháng thể trong con không còn cầm cự nổi con cũng sẽ phải đi vào cõi chết. Đó là một cái chết vô nghĩa đầy oan ức. Thà rằng bây giờ ba cho con đi sớm hơn một chút. Đem cái chết của mình cứu một trăm sáu mươi nạn nhân khốn khổ kia. Không chỉ được nhẹ lòng thanh thản mà con còn được chút tiếng thơm, chút tự hào với cuộc đời rằng mình đã không phải sống một kiếp người vô ích. Ba... con cầu xin ba hãy vì con, vì tất cả mọi người mà mau có một quyết định đúng đắn. Hứa với con là ba sẽ bằng lòng, sẽ bằng lòng đi ba.... Cái giọng khẩn thiết, cũng như lý lẽ mang đầy tính thuyết phục của Nguyệt Cầm đã khiến bác sĩ Bằng không thể nào từ chối. Nhìn ông gật đầu nhận lời con, KỳPhương cảm thấy đất trời dưới chân mình đảo lộn. Không, anh muốn hét to lên nhưng hoàn toàn bất lực. Anh nghẹn ngào nhìn ông và Nguyệt Cầm xăng xái lo chuẩn bị. Để có đủ lượng kháng thể cần thiết, việc đầu tiên là phải lấy máu của một trăm sáu mươi bệnh nhân truyền hết vào cơ thể Nguyệt Cầm. Đợi đến khi lượng kháng thể được hình thành đầy đủ, chính ông Bằng sẽ cho một cây kim vào tĩnh mạch Nguyệt Cầm để rút tất cả số lượng máu trong người cô ra. Sau đó mới tiến hành phân tích, tách những hồng cầu kháng thể vừa hình thành ra khỏi hỗn hợp máu. Biến chúng thành một dung dịch đậm đặc rồi đem tiêm vào cơ thể của những bệnh nhân... Và... bây giờ trong căn phòng vô trùng kia, ông Bằng đang tiến hành công đoạn rút máu ra khỏi người của Nguyệt Cầm. Để tránh cho cô không phải đớn đau trước khi lấy máu, ông đã truyền cho Nguyệt Cầm một liều thuốc an thần. Cô sẽ ngủ, một giấc ngủ an lành đến ngàn thu không trở lại. Sự sống đang dần rời khỏi Nguyệt Cầm! Không....!!! Kỳ Phương đấm mạnh tay vào cửa phòng cấp cứu. Hãy mở cửa ra, hãy ngưng ngay tất cả. Trả Nguyệt Cầm lại cho anh, cho cuộc đời tươi đẹp. Trời ơi... sao tất cả vẫn im lìm... chỉ có tiếng thời gian gõ nhịp tí tách. Những giọt máu cuối cùng đang rời khỏi người Nguyệt Cầm. Chiếc băng ca đã chầm chậm đẩy trở ra. Bước sau tử thi Nguyệt Cầm được phủ khăn trắng toát, gương mặt ông Bằng bệch ra, bất động trong một trạng thái đau thương cùng cực. Nhìn theo bóng ông khuất xa dần, tim Kỳ Phương đau nhói từng hồi. Từ nay, cuộc đời đã vĩnh viễn mất đi Nguyệt Cầm. *** -Ê, thì ra chuyện con ma hút máu là có thật. Cô ta tên Nguyệt Cầm.- Ai mà không biết, tôi còn có cả hình cô ta ép vào bóp nữa nè. Xem đi, đẹp tuyệt trần luôn. - Ừ! Đẹp thật... không ngờ lại là ma... uổng thật. Đọc báo mà tôi cứ buồn ngẩn ngơ hết mấy ngày. Thương cho cô Nguyệt Cầm kia quá! - Tôi thiệt phục tay phóng viên Kỳ Phương ấy. Hắn viết phóng sự hay như thật. Đọc mà cứ tưởng hắn là người trong cuộc vậy. Báo "Tia chớp" phen này phát tài to. Báo in ra bao nhiêu bán hết bấy nhiêu. Đắt như tôm tươi vậy. Trên toa tàu đầy ắp tiếng cười nói. Mọi người không phát hiện ra, trong góc ghế có một gã thanh niên đang trầm tư, hướng mắt về nơi xa xôi trong trạng thái bất động. Không tham gia câu chuyện với mọi người, nhưng anh lại lắng nghe không sót một lời họ bình luận. Không xa lạ, anh là Kỳ Phương, là người đang được mọi người đề cập trong câu chuyện kể. Là người vừa hoàn thành xong thiên phóng sự điều tra ly kỳ, cảm động nhất xưa nay. Anh đang trên đường trở lại Sài Gòn. Vậy là một lần nữa, bài phóng sự của anh gây được tiếng vang lớn trong dư luận. Tòa soạn hài lòng, độc giả hết lời khen tặng. Nhưng Kỳ Phương không thấy tự hào một chút nào. Bởi để có được một bài phóng sự hay ho tuyệt vời như thế, anh đã phải đánh đổi quá nhiều. Không chỉ có máu và nước mắt. Anh đã phải lìa xa Nguyệt Cầm, người con gái mà anh yêu quý nhất. - Xin lỗi, anh có phải là phóng viên Kỳ Phương không? Một giọng nam trầm khẽ cắt ngang dòng suy nghĩ của Kỳ Phương. Ngẩng đầu lên, anh ngờ ngợ nhận ra người đang đứng trước mặt mình. Trông quen lắm, nhưng không nhớ mình đã từng gặp anh ta lúc nào. - Tôi là Vân Phi, người lữ khách hôm nào đã gặp anh trên chuyến tàu đêm. Như biết Kỳ Phương không thể nào nhớ ra mình, Vân Phi nhắc lại lần đầu gặp gỡ. - Ô... phải rồi... - Bây giờ mới nhớ ra, Kỳ Phương cười niềm nở rồi kéo anh ta ngồi xuống chiếc ghế trống cạnh bên mình. - Ngồi xuống đây và cho tôi biết, anh có về gặp bác sĩ Bằng để ông cứu chữa chưa? - Tôi đã về, đã gặp ông, cũng đã chữa được cơn bệnh khát máu quái ác nhất đối với mình. - Sau nụ cười mãn nguyện của một người vừa thoát nạn, Vân Phi thở ra một hơi dài. - Không ngờ... con ma đó lại là Nguyệt Cầm. Càng không thể ngờ cô lại có một hành động anh hùng cao cả thế. Tôi thật khâm phục và biết ơn Nguyệt Cầm, cô chính là ân nhân, là người cứu tôi và hơn một trăm người khác khỏi cái chết tàn nhẫn nhất... Sóng mũi cay xè, Kỳ Phương chớp nhanh đôi mắt cố ngăn mình đừng khóc. Giá mà anh có thể quay ngược thời gian cho hôm nay là buổi đầu tiên anh gặp Vân Phi, được anh kể cho nghe chuyện ma quái dị ở làng mình. Có lẽ anh sẽ không thay đổi được diễn biến của câu chuyện, cũng không ngăn được cái chết của Nguyệt Cầm. Nhưng anh có thể yêu cô sớm hơn, bù đắp cho cô nhiều hơn, để cô có được những tháng ngày dài hơn thật vui vẻ và hạnh phúc. - Mọi việc đã kết thúc, cơn ác mộng thật sự không còn nữa. Cái chết của Nguyệt Cầm không oan uổng chút nào... - Vân Phi nói xong câu này cũng là lúc con tàu dừng lại, vội đứng lên, anh vẫy tay tạm biệt Kỳ Phương. - Thôi tôi phải đi đây, chúc anh có thêm nhiều phóng sự điều tra hay hơn nữa. Anh ta và mọi người đã xuống hết từ lâu, vậy mà Kỳ Phương vẫn còn ngồi mãi trên góc ghế. Mọi việc đã kết thúc, con ma cũng không còn, thời gian trôi qua, tất cả sẽ chìm vào quên lãng. Nhưng... anh không muốn thế. Anh không bao giờ muốn quên đi. Bởi với anh, đó không phải là cơn ác mộng mà là một giấc mơ đẹp nhất đời mình. Yên nghỉ đi Nguyệt Cầm, anh sẽ không quên, không bao giờ quên em trong suốt đời này. Anh sẽ làm cho tên em thành bất tử không chỉ với riêng anh mà với tất cả mọi người đang có mặt trên thế gian. Từ nay, ánh trăng đêm không còn là nỗi kinh hoàng ám ảnh trong tâm tưởng của mọi người. Khi cùng nhau thưởng thức chung trà bên ánh trăng thanh bình huyền diệu, chúng tôi sẽ nhắc về em như một huyền thoại, một tấm gương sáng ngời nhân hậu, bao dung. Về sự hy sinh vô cùng thánh thiện. Nguyệt Cầm, em là vầng trăng đẹp nhất đời không bao giờ lặn tắt... Chúng tôi thật lòng biết ơn em... Người anh hùng đã hy sinh bản thân mình cho đồng loại. Bên em... không một cái ác nào có thể tồn tại được. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 44
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXXIV: Điệu Ru Oan Nghiệt-Phần 1 Bóng Ma Áo Hồng Do quá mệt sau một chuyến đi dài từ Sài Gòn lên, nên Hậu đã ngủ một giấc từ năm giờ chiều cho đến khi giật mình tỉnh lại, nhìn đồng hồ anh mới biết lúc ấy đã hơn mười giờ đêm! Vừa định bước xuống giường thì Hậu đã nghe tiếng của ông Tư Hiền quản gia: - Cậu dậy chưa cậu Ba ơi? Hậu vừa ngáp vừa trả lời: - Mới dậy chú Tư ơi. Còn buồn ngủ quá trời! Ông già Tư đẩy cửa bước vào, vừa nhìn Hậu vừa lắc đầu: - Đúng là thanh niên sức voi mà, ngủ bỏ cả cơm chiều, tôi kêu đến gần chục lần mà cậu vẫn không dậy. Hậu vỗ vỗ bụng: - Quả là đói thật. Nhưng ngủ vẫn ngon hơn! Già Tư chỉ tay ra ngoài: - Phải chi cậu không ngủ thì lúc chín giờ ra ngoài sau vườn nhìn trăng lên đẹp mê hồn luôn! Hậu tiếc rẻ: - Vậy sao chú Tư không kêu con dậy, con mê xem trăng lên mà! Ông già Tư lắc đầu: - Thiếu điều thổi còi báo động mà cậu có chịu thức đâu. Thôi để đêm mai, trăng còn tròn tới đêm mốt kia mà. Hậu vừa vươn vai vừa bước ra ngoài: - Cho giãn gân cốt một chút. Già Tư lo ngại: - Trời giờ này trở lạnh, gió đêm nay lại lớn, coi chừng mưa đó cậu. Hậu cười vừa vỗ vai người quản gia già mà anh coi như người thân: - Con còn đang muốn có mưa để tắm đây, nóng phát điên được! Biết không thể ngăn cậu chủ bướng bỉnh, nên già Tư dặn thêm: - Cậu chỉ nên quanh quẩn trong sân vườn thôi. Trời tối không nên đi xa ngoài kia! Động sự tò mò mà bấy lâu nay Hậu chưa có dịp để hỏi: - Ở ngoài sau vườn nhà mình có gì mà cả ba con ngày trước, cho tới chú bây giờ lúc nào cùng nhắc chừng như không muốn ai ra ngoài đó là sao vậy? Già Tư đáp lửng lơ: - Thì nhiều bụi rậm, vả lại ban đêm nữa... Hậu không hỏi thêm, anh lững thững bước ra sân, chỉ định đứng chơi, hóng mát một lúc rồi vào, nhưng chỉ sau vài chục giây thì lại mon men bước theo lối mòn, đi vào vườn. Trời đêm mát dịu, gió nhè nhẹ càng khiến cho Hậu thích thú, cứ đi tới mà quên lời dặn của già Tư. Ngôi nhà của cha anh xây từ khi ông mới khởi đầu sự nghiệp đồn điền ở đây nên đất ch ung quanh nhà rộng mênh mông, có đến gần chục mẫu. Nào cây ăn trái, nào cây tự nhiên, chúng chen nhau mọc, khiến càng đi sâu vào Hậu có cảm giác như vào một khu rừng thật sự. Cảm giác thoải mái khiến cho Hậu quên cả cơn đói đang cồn cào trong bụng. Anh tự nhủ: - Khung cảnh kỳ thú như vậy mà bấy lâu nay mình không ra mà thưởng thức! Tuy là con cả của chủ gia, mà hiện nay lại là người thừa kế chính thức sản nghiệp này, nhưng rất ít khi Hậu về đây. Nội việc quản lý một loạt nhà máy, xí nghiệp mà ba anh trước khi chết đã di chúc để lại và căn dặn Hậu phải ngày càng phát triển nó lên, không được chểnh mảng để nó lụn bại. Là một nghiệp chủ cần mẫn, có đầu óc làm giàu nên từ mấy chục năm trước, khi chỉ là một người làm công ăn lương cho một ông chủ Tây, ba Hậu, tên thường được gọi là ông Tám Xung, đã từng bước tạo dựng nên cơ ngơi, sản nghiệp vào loại cự phách, đứng trong hàng mười đại nghiệp chủ xứ này. Tiếc rằng ông đã mất khi tuổi chưa đầy bảy chục. Và trong lúc Hậu, đứa con trai duy nhất của ông chưa chín chắn trong thương trường. Đang mải mê bước, chợt Hậu khựng lại khi nghe có tiếng ai hát khe khẽ gần đây... - Ai vậy? Hậu lắng nghe thật kỹ và xác định nó ở phía tay phải, tức phía sau rặng cây rậm và cao. Giọng hát ru em thì đúng hơn, nhưng người hát có chất giọng thanh, trong và dịu dàng nên âm thanh phát ra trong đêm thanh vắng đã hớp hồn ngay người nghe như Hậu. Anh khựng lại một lúc, rồi bỏ cả lối mòn, băng qua vạt cỏ thấp không có lối. Do đây là khu vườn có làm cỏ thường xuyên, nên tuy không có đường mòn, nhưng Hậu cũng bước tới dễ dàng, để chỉ nửa phút sau đó anh đã tiếp cận được nơi phát ra tiếng hát ru. Thì ra nó ở bên kia dãy hàng rào tre gai cao quá đầu. Nơi phát ra tiếng ru có một đốm lửa lờ mờ, hình như là ngọn đèn dầu. Hậu đứng im, cố nghe và như muốn nuốt từng câu chữ trong câu hát, bởi càng đứng gần thì giọng ru đó càng có sức thu hút lạ thường. Anh thẫn thờ tự nhủ: - Sao lại có cô nào có giọng hát hay và lạ như thế? Hậu đoán chắc bên đó có một xóm nhà, mà do đêm tối anh không nhìn thấy. - Ước gì... Hậu là người thích nghe hát, anh lại say mê những người hát giọng thanh trong như cô gái này. Một lần, chỉ vì mê một giọng hát như vậy, Hậu đã liên tục trong gần một tháng trời, đã tới ngồi phòng trà chỉ để nghe một cô ca sĩ hát, mặc dù cô ta chỉ là ca sĩ hạng hai và không đẹp. Anh từng lập luận: - Hát hay thì không cần phải đẹp, bởi thanh âm đã quyết định tất cả. Nghe kỹ một lúc, Hậu lại phát hiện ra lời bài hát ru không phải là những điệu hát ru cũ mà lời ru hoàn toàn mới. Thì ra người hát tự đặt, hoặc đó là một bài tân nhạc được biến thành hát ru, nên nghe vừa lạ lại vừa dễ gây thích thú cho người nghe. - Kìa cậu... Tiếng của ông già Tư sau lưng. Hậu quay lại, anh hơi bực mình: - Con đi dạo mát, sao chú Tư theo ra làm gì. Già Tư có vẻ lo lắng: - Nửa đêm mà cậu đi ra đây, bảo sao tôi không lo? Hậu cau mày: - Vườn nhà mình chứ phải trong rừng trong rú gì đâu mà chú ngại? Rồi anh hỏi tiếp liền: - Bên kia có xóm nhà phải không chú Tư? Già Tư ngạc nhiên: - Bên nào? Làm gì có... - Thì bên phía có tiếng ru kia kìa. Lúc ấy chẳng hiểu sao tiếng hát ru đã ngưng bặt, nên già Tư hỏi lại: - Tiếng hát gì ở đâu? Hậu đành phải chỉ tay qua hàng rào: - Bên đó đó! Con mới nghe ai hát ngọt ngào lắm. Tự dưng ông già Tư tái mặt, ông kéo tay Hậu quay trở lại ngay: - Cậu đừng đứng ở đây! Bị lôi đi bất ngờ, Hậu không cưỡng lại được, nhưng chừng vài chục bước anh đã giằng tay ra và gắt lên: - Sao chú làm vậy, cháu đâu phải trẻ con! - Nhưng... tốt hơn là cậu nên vào nhà. Tôi đã hâm cơm và dọn ra rồi, cậu vào ăn cho nóng. Hậu không còn cách nào hơn, nên anh lững thững đi theo vào nhà. Tuy nhiên trong đầu anh vẫn còn nghe văng vẳng tiếng hát ru kia... Anh vụt hỏi: - Bên đó ai ở vậy chú Tư? Già Tư đáp không tự nhiên: - Có ai đâu. Nơi đó... - Chắc chắn là có xóm nhà. Vậy mà lâu nay con cứ nghĩ nhà mình ở giữa rừng, cách ly với mọi thôn xóm, như có lần ba con nói, ông không thích có xóm làng ở gần. - Ừ! - Chú xác nhận với con là có xóm làng ở nơi đó phải không? - Đâu có! Tôi nói lời ông bảo là đúng. Sinh tiền ông không thích chung đụng với người khác. Hồi xây ngôi nhà này cũng thế, đúng ra nó ở cách đây hơn hai cây số, chỗ ranh đất phía đông, nhưng do nó gần với xóm của cư dân, nên ông chủ chuyển qua đây dựng nhà và tỏ ra thích thú lắm. Lúc ngồi ăn cơm, chợt nhớ ra Hậu lại hỏi: - Có ai quen mà thường qua lại với nhà mình không chú Tư? - Cậu quên lời tôi kể sao, lúc sinh tiền ông có thích giao du với ai ở xứ này đâu mà quen với biết? - Kể cả khách của chú cũng không sao? Già Tư lắc đầu: - Tôi sống như cái bóng giữa cuộc đời này thì làm gì giao du với ai! Hậu nhận ra mình vừa chạm vào nỗi đau riêng của ông, nên vội nói: - Xin lỗi chú! Hậu cố nuốt cho xong hai chén cơm rồi vội rút ngay về phòng. Khi bước vào phòng chợt Hậu đứng khựng lại, nhìn sững một nhánh lan rừng còn tươi rói đang nằm trên gối của mình. - Hoa ở đâu vậy? Bước tới cầm cành hoa lên, Hậu càng ngạc nhiên hơn khi thấy có một chiếc khăn tay màu trắng tinh lót bên dưới. Ở một góc chiếc khăn có thêu một đóa lan rừng màu tím nhạt rất tinh xảo. - Của ai? Thừ người ra một lúc rồi Hậu đưa mắt nhìn quanh tìm kiếm. Phòng anh trống trơn, chỉ có chiếc tủ áo, chiếc bàn viết và chiếc giường ngủ đơn giản. Cả ba nơi Hậu đều kiểm tra, không phát hiện gì lạ, cửa nẻo thì không có dấu hiệu đã mở. Anh gọi lớn: - Chú Tư ơi! Già Tư chạy lên ngay, lo lắng hỏi: - Gì vậy cậu Hai? Hậu kịp giấu chiếc khăn tay vào túi, chỉ để nhành hoa lan ở ngoài và hỏi: - Ai để cành hoa này trong phòng con vậy chú? Già Tư quá đỗi ngạc nhiên: - Ủa, tôi đâu có biết! Mà ai để hồi nào vậy? Hậu xẵng giọng: - Nếu biết họ để lúc nào thì con hỏi làm gì nữa! Con muốn hỏi, phòng này ngoài con ra còn có ai có chìa khóa không? Lúc nãy chú... Già Tư đáp vội: - Tôi không vào phòng cậu làm gì! Vả lại phòng này chỉ có cái chìa khoá duy nhất, tôi đã đưa cho cậu rồi đó. Mà lúc nãy khi đi ra ngoài cậu có quên đóng cửa không đó? Hậu quả quyết: - Con có tính xưa nay hễ bước ra khỏi phòng dù là xuống bếp ăn cơm cũng khóa cửa lại, con sợ chuột, gián vào phòng lắm... Đến phiên ông già Tư ngỡ ngàng: - Chuyện này kỳ cục quá. Mà ngoài cành hoa này, còn có gì khác nữa không? Hậu không dám nói đến chiếc khăn, nên lắc đầu: - Không có! Ông già Tư nhìn xuống gầm giường: - Cậu coi có ai trốn dưới này hay trong tủ không! - Con đã xem rồi, không có gì hết. Đích thân già Tư xem lại các cửa sổ và quả quyết: - Phòng này một khi cửa đã khóa thì con gián cũng không vào được, nói chi... Ông nhìn Hậu như có ý muốn hỏi thêm nhưng ngại nên sau vài giây nhìn tới nhìn lui, ông lẳng lặng bước ra ngoài. Hậu thì vẫn còn ngẩn ngơ khá lâu, mắt cứ đăm đăm nhìn cành hoa lan mà chưa biết phải làm sao. Đến khi chợt nhớ đến chiếc khăn tay, anh lấy ra và bấy giờ mới nhận ra nó có hương thơm nhẹ nhàng, một thứ hương thơm khác lạ, không giống với các loại nước hoa nhân tạo mà anh từng ngửi. Chứng tỏ chắc chắn phòng này vừa có phụ nữ vào. - Phòng còn mất đồ đạc gì không cậu? Dù chưa kiểm tra, nhưng Hậu vẫn xua tay: - Không mất gì hết. Thôi, con muốn ngủ một giấc nữa... Ông già Tư vừa bước ra thì Hậu đã khóa ngay cửa lại và anh nói như với người thứ hai: - Tôi không sợ đâu, bây giờ tôi ngủ, nếu có tới đòi lại chiếc khăn tay thì cứ giỏi tới lần nữa xem! Nói xong anh nằm xuống, tắt đèn như ngầm chờ đợi. Và Hậu ngủ thiếp đi lúc gà rừng gáy canh một. Vừa rạng sáng thì giọng ông già Tư oang oang từ ngoài sân: - Dậy cậu Hai ơi, mặt trời lên rồi! Hậu choàng tỉnh và việc đầu tiên là anh nhìn bên cạnh, nơi trước lúc ngủ anh đặt cành hoa lan ở cạnh gối. Không còn cành hoa! Bật ngay dậy, Hậu nhìn quanh và quá đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy cành lan đang được cắm trong chiếc ly uống nước, sắc hoa vẫn còn rất tươi! - Ai cắm hoa vậy? Hậu thầm hỏi và chợt nhớ đến vật quan trọng còn nằm trong túi áo của mình, anh đưa tay sờ và... thót tim. Chiếc khăn tay đã biến mất! Hậu tái mặt, đứng như bị trời trồng khá lâu... *** Nói dối ông già Tư là ra thị xã gửi thư, nhưng Hậu lại bỏ xe ở một góc rừng, rồi đi bộ vòng ra phía sau đất vườn của mình. Vòng rào khu vườn dài gần cây số, nên Hậu phải mất gần mười lăm phút mới tới phía sau, nơi anh đoán là ngang với chỗ mình đứng đêm qua.Việc đầu tiên của Hậu là tìm xem nơi này có xóm nhà nào không? Anh hoàn toàn thất vọng, bởi đúng như già Tư nói, chỗ này hoang vắng, không hề có ngôi nhà nào. Ngoại trừ... Lúc ấy chợt Hậu nhìn thấy một mái nhà thấp bằng xi măng đã khá cũ nằm lẩn khuất trong đám cỏ lau. Anh bước lại gần hơn và giật mình khi nhận ra đó là một nhà mồ với hai ngôi mộ xây nằm song hàng nhau. Mồ không có mộ bia. - Mồ mả của ai mà để hoang phế thế này? Hậu cảm cảnh chép miệng vừa đưa tay vẹt cỏ lau bước tới gần hơn. Anh chợt giật mình khi nhận thấy trước mộ có hai cành hoa lan giống y như cành hoa ai đó đã để trong phòng mình! - Sao lại... Hậu nhìn quanh một lượt, cố tìm xem có đường mòn nào dẫn vào, để từ đó biết nó dẫn tới chỗ nào đó mà anh cần biết. Có nghĩa là anh đang muốn biết chủ nhân của những cành lan này là ai. Nếu là nữ thì hai ngôi mộ này là nam và có thể là... Vừa khi ấy chợt bên tai Hậu vang lên rất khẽ tiếng hát ru đêm qua. Lần này giọng hát ở xa, chỉ khi gió thuận chiều Hậu mới nghe rõ... - Đúng là nàng ta rồi! Hậu quên cả hiểm nguy, anh đạp cỏ gai, nhắm hướng có tiếng hát mà đi thật nhanh, như sợ nó biến mất. Nhưng khi ra khỏi đám cỏ tranh thì không còn nghe âm thanh nào nữa, ngoại trừ tiếng chân chạy của mấy con thỏ rừng. - Sao lạ vậy? Hậu dừng lại nghe ngóng một lúc khá lâu, chợt ánh mắt anh nhìn thấy xa xa có vài nóc nhà. Nó ở cách đó có đến vài cây số. Điều đó có nghĩa là nếu có ai hát trong xóm nhà đó thì nơi Hậu đứng cũng không làm sao nghe được. Tuy vậy Hậu vẫn mừng thầm và anh lại cố bước nhanh về hướng ấy. Cuối cùng thì ngôi nhà tranh đầu tiên cũng hiện ra. Ngôi nhà trống trước trống sau và không có bóng người. Hậu bước sang ngôi nhà thứ hai cách đó khoảng gần trăm thước. Vẫn như vậy, có nghĩa là nhà trống, chẳng có một ai. Hậu lấy làm lạ, anh cố nhìn kỹ hơn, nhưng rõ ràng đây là những ngôi nhà bỏ hoang, thậm chí một con chó, con gà cũng vắng bóng. Có tất cả tám ngôi nhà, chúng cách nhau ngót trăm thước, Hậu bước hết từng căn một để quan sát với nỗi thất vọng và ngạc nhiên. - Chẳng lẽ cả xóm nhà này đều bị bỏ hoang? Hậu đánh bạo bước vào ngôi nhà ở cuối xóm và giật thót người khi có một con mèo màu đen tuyền chạy thoát ra từ chiếc giường ọp ẹp. Một con mèo hoang! Hậu nghĩ là vậy, nhưng ngay sau đó anh lại vô cùng ngạc nhiên khi thấy con mèo sau khi chạy biến vào đám cỏ tranh đã quay trở lại và giương cặp mắt màu xanh ve chai nhìn về phía anh với sự thân thiện, không sợ sệt hay hung dữ như mèo rừng. - Mày không sợ tao nữa phải không, vậy thì tới đây xem nào. Bất ngờ con vật từ từ tiến về phía Hậu và bằng một động tác nhanh như gió, nó phóng từ khoảng cách hơn năm thước đến ngay dưới chân Hậu, vừa giương mắt nhìn anh và cất tiếng kêu "meo meo" rất hiền lành! - Mày đói hả? Con mèo lại kêu lên mấy tiếng nữa, rồi nó đưa đầu cọ cọ vào chân của Hậu như Iàm quen, vẻ thân thiện. Anh cúi xuống định vuốt ve nó thì bất thần con vật phóng vèo ra xa, rời chạy đi về hướng lúc nãy. Chạy được vài bước nó lại quay nhìn, như ngầm bảo Hậu đi theo! - Mày chỉ đường cho tao? Thầm hỏi và Hậu bước theo hướng đó. Quả đúng là con mèo có ý dẫn đường cho Hậu, nên bước vài chục bước nó lại quay nhìn và cất tiếng kêu "meo meo" như lời động viên, rủ rê. Hậu thích thú bước theo, anh nói cố cho nó nghe: - Dẫn đường mà để tôi đi lạc thì không phải là bạn đâu nhé! Con mèo dường như hiểu, sau lời nói đùa của Hậu nó lại kêu lên ba tiếng "meo meo" rồi nhạy cỡn lên như vui thích lắm! Được một quãng chừng vài trăm mét, nó bỗng dừng lại rồi vẫy vẫy đuôi tỏ dấu hiệu gì đó... Hậu đưa mắt nhìn phía trước và chợt kêu lên: - Một cái hồ nước! Trước mặt anh quả là có một hồ nước tuy không lớn lắm, nhưng cũng đủ tạo khung cảnh thơ mộng mà trước đây không bao giờ Hậu nghĩ là có nó. Anh cũng chưa từng nghe cha hay ông già Tư kể về cái hồ này... - Cám ơn mày nhé, miêu. Hậu vừa định bước tới bờ hồ thì chợt khựng lại, bởi trước mắt anh, cách chưa tới mười thước, có người phụ nữ đang ngồi dưới gốc một cây kơnia cổ thụ. Nàng ta ngồi như pho tượng đá, hầu như không màng đến sự có mặt của người lạ. Tần ngần một lúc, Hậu đánh bạo lên tiếng: - Xin lỗi cô, tôi đường đột đến đây phá tan sự yên tĩnh của cô... Mặc cho Hậu nói, người kia vẫn không quay lại. Hình như cô ta không nghe thấy! Hậu lại phải lên tiếng lần nữa: - Cô ơi! Mặc cho Hậu gọi, nàng ta vẫn ngồi bất động. Cho đến khi con mèo bất thần nhảy bổ tới và sà ngay vào lòng nàng ta, lúc ấy cô nàng mới rùng mình một cái và quay người nhìn lại. Hậu kêu lên thảng thốt: - Ồ, đẹp quá! Cô nàng còn khá trẻ, tuy ăn mặc lôi thôi rách rưới, nhưng khuôn mặt và mái tóc đen dài thì hoàn toàn tương phản với hình hài. Hậu không tin vào mắt mình, anh dụi mắt hai lượt rồi ấp úng lên tiếng: - Cô... cô đây là... Con mèo rúc đầu vào người nàng, chứng tỏ nó và nàng thân nhau lắm. Rồi bất ngờ hơn, nàng lên tiếng: - Phải là người lương thiện thì con mèo này mới dẫn đường tới đây! Nàng nói mà không nhìn Hậu, mắt hướng về phía hồ nước và chẳng nói gì thêm, mà nàng lại cất tiếng hát. Đúng là giọng hát ru đêm qua! Hậu ngẩn ngơ đứng nghe và như bị thu hồn phách. Anh không nhớ là mình đã hành động gì chỉ biết một vài giây sau đó anh đã nhẹ bước tới và lẳng lặng ngồi xuống bên cạnh, chăm chú nghe... Trong lúc hát thì hầu như cô gái không để ý gì tới chung quanh. Và hơn nữa là vừa hát cô nàng vừa đong đưa hai tay qua lại giống y như đang ru con. Bài hát ngắn, được lặp đi lặp lại vài lần, mà lời thì rõ ràng nàng ta đã tự chế theo ý của mình, nghe vừa thực tế, vừa cảm động. Cuối cùng... nàng khóc nức nở! Im lặng nãy giờ, lúc này Hậu mới lên tiếng: - Kìa cô, cô sao vậy? Không ngờ sự lên tiếng của Hậu lại khiến cho cô nàng kinh hãi đến tột độ, cô ta té ngã sang một bên, rồi giương mắt nhìn anh như nhìn một quái vật, và trong nháy mắt, cô nàng phóng mình tới trước và biến mất sau đám cỏ tranh. Rồi chỉ ít giây sau Hậu nghe có tiếng "ùm" mạnh, y như một người vừa nhảy xuống nước! Hốt hoảng, Hậu chạy bay xuống sát mé hồ, anh vẫn còn thấy mặt nước khua động. Không kịp suy nghĩ thêm, Hậu để nguyên quần áo, phóng nhanh xuống hồ. Nước buổi sáng khá lạnh nhưng Hậu bất kể, anh nín thở lặn sâu xuống nơi anh thấy có dấu hiệu người vừa nhảy. Hồ khá sâu, cho nên lặn hết hơi thở đầu mà vẫn chưa thấy gì, Hậu phải trồi lên rồi lấy hơi dài hơn, lặn lần nữa. Trước sau Hậu lặn có đến chục lần mà vẫn không thấy ai dưới nước, đến khi đã đuối sức anh mới quyết định thôi không lặn nữa. Leo Iên bờ với tâm trạng hối tiếc, thương cảm, anh chép miệng: - Sao nàng lại làm vậy nhỉ? Bước tới gốc cây định thay quần áo ra vắt khô, bất chợt Hậu nhìn thấy một chiếc áo lụa màu hồng của nữ đang máng trên cành cây thấp ngang tầm nhìn, mà rõ ràng lúc nãy anh không hề thấy. - Áo của ai? Hậu cầm thử lên xem thì một hương thơm quen thuộc phả vào mũi khiến anh nhớ ra ngay: - Của cô ấy! Cô ấy mà Hậu muốn nói tới là mùi hương mà anh ngửi được ở chiếc khăn tay đêm trước. Hai mùi giống nhau chứng tỏ hai vật là của một người. Mà đó là người nào? Cô gái hát lúc nãy chắc là không rồi, bởi cô nàng tuy đẹp nhưng ăn mặc lôi thôi, rách rưới, đâu phải mặc chiếc áo này. Đang lưỡng lự không biết có nên giữ chiếc áo hay máng nó lại cành cây thì bỗng Hậu nhìn thấy một bóng áo hồng lướt nhanh qua đám cỏ tranh phía trước tức phía dẫn về nhà mình, Hậu thốt lên: - Cô ơi! Anh cầm luôn chiếc áo trong tay vừa đuổi theo. Chưa quen chạy trong cỏ tranh, nên khi Hậu chạy gần tới bờ rào nhà mình thì chẳng còn thấy bóng dáng người mặc áo hồng kia. Nhìn lại lúc này Hậu mới hay mình đang đứng gần hai ngôi mộ đá cũ. Hai cành lan tươi lúc nãy không còn đó, mà thay vào là hai chiếc hài ướt sũng nước, mỗi chiếc một kiểu khác nhau. - Ai vừa tới đây? Hậu còn đang ngẩn ngơ thì chợt nghe có tiếng gọi của ông già Tư: - Kìa, cậu Hai, sao cậu ở bên đó? Ông già đang đứng bên rào nhìn sang. Hậu chỉ hai ngôi mộ và hỏi: - Mồ mả của ai vậy chú Tư? Ông già Tư hơi ngập ngừng: - Tôi... tôi cũng không biết.. mộ đó... Rồi ông giục: - Cậu không được ở ngoài đó. Không nên đâu! Ông vừa kêu lên vừa chạy vòng trở ra, ý cho Hậu biết là ông đang chạy qua chỗ đó. Hậu phải la lên: - Con về liền mà! À mà không, con có chuyện ngoài thị xã phải đi, đến trưa con mới về. Anh phải rời đó để tránh không cho ông già Tư chạy qua, đồng thời anh không muốn để ông nhìn thấy chiếc áo màu hồng mà mình đang giữ khư khư trên tay. Khi đi bộ trở ra xe thì lại một lần nữa, Hậu quá đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy trên băng ghế chỗ lái xe ngồi có hai cành hoa lan, giống như hai cành hoa trước hai ngôi mộ lúc nãy. Nhìn quanh một lượt, Hậu biết anh có cố tìm cũng chẳng được, nên nói bâng quơ: - Tôi xin nhận những cánh hoa xinh đẹp và cả chiếc áo lụa này. Không được đòi lại đâu nhé! Hậu rồ xe chạy đi và qua kính chiếu hậu, anh nhìn thấy có một bóng hồng lướt nhanh về phía cuối bờ rào... Phần 1 Chuyện Tình Xưa Theo đúng như kế hoạch thì sau một tuần Hậu sẽ trở lại Sài Gòn, nhưng qua đến mười ngày mà vẫn chưa thấy anh về, ông già Tư thắc mắc: - Bộ cậu Hai quên là cậu có phiên họp gì đó với khách hàng ở dưới sao? Hậu vẫn tỉnh bơ: - Con đã điện về bảo hoãn lại. Con còn muốn ở lại đây thêm ít hôm nữa. - Chỉ sợ bà ở nhà lo cậu đi lâu thôi. Từ hôm cậu lên tới nay tôi quên không hỏi bệnh tình của bà lúc này ra sao! Hậu hơi buồn: - Má con thì vẫn vậy. Bà vẫn ở bên ngoại con. Đây là điều tế nhị, bởi vậy già Tư không muốn hỏi, nhưng trên tay ông có một vật mà ông không thể không nhắc tới bà chủ nhà từ trên chục năm nay không trở về đây: - Sáng sớm nay chẳng hiểu sao vật này lại nằm ở ngay trước sân nhà mình. Khi tôi ra tưới cây thì nhìn thấy, tôi nhận ra ngay là của bà... Vật đó là chiếc quạt bằng đồi mồi, ở cán quạt có khắc dòng chữ: Tặng Lệ Hoa yêu dấu. Từ nào đến giờ Hậu chưa từng trông thấy, nên anh ngạc nhiên: - Sao chú biết là của má con? - Ngày trước khi bà lên sống trên này một thời gian dài, ngày nào bà cũng cầm cây quạt này phe phẩy. Hậu cầm lấy xem, khi thấy có tên của mẹ trên đó anh mới tin: - Lâu nay con không thấy má con xài cây quạt này, nhưng tên đúng là tên của má. - Hồi bà còn ở đây, có lần bà than là mất chiếc quạt mà bà yêu thích, bà kiếm tùm lum hết mà chẳng thấy. Chẳng hiểu sao bây giờ nó lại ở đây! - Nhìn nước bóng của cây quạt thì lâu nay có người xài nó, chứ chẳng phải bỏ xó. Ông đưa cho Hậu: - Cậu đem về cho bà, chắc là bà mừng lắm. Hậu chép miệng: - Không chắc bà còn nhớ. - Làm sao không, khi đây là vật bất ly thân của bà trước đây mà! - Nhưng trí nhớ má từng... Hậu không nói ra chứng bệnh tâm thần mà mẹ đang mang... Anh chỉ cầm lấy quạt và nhẹ lắc đầu. Sáng nay Hậu không muốn ra ngoài, nên sau khi cầm chiếc quạt, anh định trở về phòng riêng, anh dặn ông già Tư: - Trưa nay con không ăn cơm, khi nào đói con sẽ tự tìm xuống bếp ăn, chú Tư không phải lo cho con. Nếu có ai tìm thì chú cứ đưa họ lên phòng con, đừng hỏi han lôi thôi, đó là khách riêng của con. Hậu phải nói như vậy bởi mười giờ sáng hôm nay, anh phải ở trong phòng để chờ một người theo như giấc mơ đêm qua anh được báo trước. Lý do của việc hoãn trở về Sài Gòn cũng nằm trong cuộc hẹn này. Nửa đêm qua, khi đang mơ màng ngủ, Hậu đã nghe có người gọi tên mình ngoài cửa sổ và căn dặn rất rõ rằng những điều gì anh cần biết thì đúng mười giờ sáng mai có người sẽ tới và cho anh biết tất cả! Hậu cũng không biết mình cần biết điều gì, tuy nhiên nghe như vậy thì anh vô cùng nôn nóng, đồng thời linh tính cũng báo cho anh sẽ có chuyện gì đó... Đúng ra Hậu cũng không tin hẳn vào chuyện mộng mị, nếu sau khi thức giấc anh không nhìn thấy thêm một nhánh lan rừng nữa nằm cạnh gối mình. Anh quả quyết là chính người nào đó đang theo sát anh, muốn giúp anh chuyện gì đó... *** Mười giờ...Hậu hồi hộp chờ đợi và cứ một tiếng động nhỏ bên ngoài cửa cũng làm cho anh bật dậy, mở cửa nhìn ra. Để rồi thất vọng. Cuối cùng anh phải mở cửa đi xuống nhà và hỏi: - Chưa có ai tìm con sao chú Tư? Ông già Tư đáp: - Tôi cũng không dám đi đâu cứ ngồi nhà chờ mà chưa thấy ai. Hậu lầm bầm rồi đi trở lên lầu. Khi vừa đẩy cửa phòng bước vào anh đã giật bắn người khi thấy một phụ nữ có tuổi ngồi đợi sẵn trong đó! - Bà là ai? Trong phòng hơi tối, tuy không nhìn rõ mặt vị khách, nhưng cũng đủ nhận ra đó là một phụ nữ tuổi trên bốn mươi, người gầy, khuôn mặt phúc hậu. Bà để khi Hậu bước hẳn vào phòng rồi mới trả lời câu hỏi: - Là người mà cậu đang đợi! - Nhưng... tôi đã khóa cửa khi đi ra, vậy bà vào từ lúc nào vậy? Bà ta cười nhẹ, nét buồn vẫn không biến khỏi ánh mắt: - Khi người ta đã muốn vào đâu thì dù có khóa chục lần khóa cũng không thể ngăn được. Huống hồ gì... Rồi bà nhìn về phía nhánh lan rừng, nói tiếp: - Như những nhánh lan này, nó có đợi cho cậu mở khóa đâu! Câu ví von làm cho Hậu giật mình. Anh không ngờ bà ta biết hết việc đã xảy ra trong phòng anh. - Vậy bà là... Người đàn bà vẫn giọng nhẹ nhàng: - Tôi nói rồi, là người mà cậu cần gặp. - Nhưng thật ra, tôi chẳng có gì để đợi gặp ai cả. Tôi... Bà ta chặn ngang lời của Hậu: - Vậy cậu đi tìm ai và nhảy xuống hồ nước để cứu ai? Hậu giật mình: - Thì ra bà biết việc ấy? Và bà là... Bà ta không đáp mà hỏi lại: - Hóa ra cậu chỉ vì mê bóng sắc của một cô gái nên mới liều mình cứu cô ta? Nếu đúng như thế thì tôi cũng chẳng cần gặp cậu làm gì. Vậy cậu trả vật kia lại cho tôi. Hậu giật mình: - Tôi lấy cái gì của bà? - Vật cậu đang cầm trên tay đó! - Cây quạt? Đây là vật vốn của mẹ tôi mà! - Nhưng hơn mười năm nay nó ở trong tay tôi. Cậu có muốn biết tại sao mẹ cậu lại không có quyền giữ vật ấy không? Hậu bắt đầu mất kiên nhẫn: - Bà là ai, tại sao lại như hiềm khích với mẹ tôi? Người đàn bà bỗng ngửa mặt lên trời cười một tràng dài mà thoạt nghe như tiếng khóc, tiếng rú thì đúng hơn. Hậu còn đang ngơ ngác thì chợt cửa phòng bị kéo ra, ông già Tư xuất hiện và ngơ ngác: - Chuyện... chuyện gì vậy cậu Hai? Vừa kịp nhìn thấy người phụ nữ, ông kêu lên kinh ngạc: - Bà... sao bà lại ở đây, bà Lý? Sự xuất hiện của ông Tư là ngoài mong đợi, tuy nhiên người đàn bà được gọi là bà Lý kia vẫn bình tĩnh: - Ông được lệnh của bà ấy cấm không cho tôi về đây hay sao? Ông già Tư hơi lúng túng: - Tôi... tôi... chỉ ngạc nhiên. Tại sao bà đã... - Người đã chết thì không được về gặp mặt ai nữa sao? Câu nói đó khiến Hậu tái mặt, anh lắp bắp: - Người... người này... Người đàn bà không quan tâm đến Hậu mà nhìn về phía ông già Tư. - Chắc là ông không ngờ phải không, Lê Sang? Lâu nay Hậu đã quen nghe ông già quản gia là ông Tư Lê hay ông Lê Thành, chứ cái tên Lê Sang là lần đầu. Hậu ngơ ngác: - Lê Sang là ai? Người phụ nữ nghiêm giọng: - Sao ông chưa ngồi xuống, hay là muốn tránh mặt tôi? - Tôi... tôi... Nghe cách trả lời và thái độ của ông ta, Hậu đoán chắc là có điều gì đó không bình thường. Tuy nhiên lúc này anh chỉ quan tâm đến việc bà ta là một hồn ma. Anh hơi ngập ngừng và khéo léo lùi dần về phía cửa nhân lúc ông già Tư đang là tâm điểm của câu chuyện. Tuy nhiên, người đàn bà rất tinh ý, đã lên tiếng ngay: - Tôi đang cần nói chuyện với cậu, chứ người đàn ông này thì chưa tới lượt. Cậu đừng nên đi như vậy, sẽ không hay. Hậu đành phải dừng lại, anh lúng túng: - Bà cần gì ở tôi? - Chỉ vì cậu là con của người đàn bà tên Lệ Hoa. Mà mẹ cậu thì còn nợ tôi, người phụ nữ nghèo ở thôn hẻo lánh này một món nợ quá Iớn. Tôi cứ tưởng là giữa tôi với bà ta chỉ cần đòi và trả nợ riêng với tôi là xong, nên tôi có ý đợi bà ta. Nào ngờ cậu xuất hiện và làm rắc rối thêm câu chuyện vốn đã quá rối rắm này rồi! Ông già Tư bỗng kêu lên: - Tôi xin bà, hãy để cậu ấy ra khỏi cuộc hận thù này, cậu ấy là người vô tội! Bà ta nghiêm sắc mặt: - Vô tội là cách đây mười ngày kìa. Còn bây giờ thì tự cậu ấy đã biến mình thành một tội đồ mới rồi! Ông hãy hỏi xem, cậu ấy đã gây ra điều gì? Ông già Tư quay sang Hậu: - Cậu Hai, cậu đã làm gì? Hậu ngơ ngác: - Con có làm gì đâu? Con chỉ mới về đây mười bữa nay, người chung quanh con còn chưa quen nữa là... - Người chung quanh thì chưa quen, nhưng người sát vách thì cậu đã quen rồi! Chẳng những quen mà cậu còn làm cho tâm hồn trong trắng của một đứa con gái mới lớn phải chao đảo, khổ sở. Theo cậu thì như vậy chưa là tội ác sao? Hậu như người đang mơ, anh kêu lên: - Bà nói tôi làm khổ ai? Tôi... tôi... Lúc ấy chợt bà ta cầm nhánh lan rừng lên, quơ quơ trên không trung, khiến Hậu khựng lại. Anh run giọng hỏi: - Người chủ của cành hoa này... Cô ấy là... - Cậu đã nhớ ra khá nhanh, khá khen cho cậu! - Nhưng tôi chỉ gặp cô ấy có một lần, rồi khi cô ấy Iao xuống hồ tôi đã lao theo mà đâu có gặp. Rồi từ hôm đó tôi đâu có gặp lại lần nào! Ông già Tư nghe nói tới đó thì chụp lấy vai của Hậu, hốt hoảng: - Sao cậu làm chuyện đó, cậu Hai! Cậu có biết cô ta là ai không, là... ma đó! Người đàn bà phá lên cười, giọng sắc lạnh: - Ma thì sao? Nó đâu đã làm hại ai, nó còn hơn là con người còn sống. Ông thử trả lời tôi nghe coi, người sống như ông, như mụ Lệ Hoa thì so với lũ ma chúng tôi, ai ác hơn ai? - Tôi không có ý so sánh. Chỉ là vì... cậu Hậu đây hoàn toàn không biết gì, cho nên cậu ấy mới vô tình phạm phải. Mà tôi nghĩ cậu ấy cũng đâu đã làm gì ai... - Ngụy biện. Đợi cột cổ nó vào bao đá lần nữa rồi dìm xuống hồ lần thứ hai thì mới gọi là làm gì hay sao. Chuyện nó làm cho một oan hồn sắp đi đầu thai như con Hồng Lan phải chao đảo vì tình, phải trốn bỏ mồ mả đi lang thang là chuyện tốt hay sao? - Nhưng mà... Hậu phải chen vào: - Tôi đâu có làm điều đó. Cô Hồng Lan nào đó đâu có theo con! Bà ta bất ngờ chỉ tay vào chiếc tủ áo: - Cậu hãy lấy cái áo của nó ra đây xem! Hồn ma trinh nữ mà mất chiếc áo đang mặc cho một gã con trai thì nói lên điều gì? Ở cõi dương trần thì không sao, nhưng cõi âm thì bị chiếm chiếc áo con gái đã là thất tiết với người ấy rồi! Hậu kinh hãi: - Bà nói sao? Chuyện ấy là do... Giọng bà ta trở nên bi thảm: - Tôi tới tìm cậu hôm nay là để nói chuyện đó. Hồng Lan là con gái của tôi, nó mất mạng vì bàn tay độc ác của mẹ cậu, tôi đau khổ, nhẫn nhục giữ gìn nó hơn mười năm nay chỉ mong một ngày nó đi đầu thai để thoát kiếp oan hồn, hy vọng hoàn dương. Vậy mà chỉ vì nó phải lòng cậu, không kịp nghĩ suy đã trao thân cho cậu chỉ trong một đêm cậu xuất hiện ở nơi này! Hậu cố biện minh: - Một cách ngẫu nhiên, đêm hôm đó tôi nghe tiếng hát ru vọng lại của ai đó, tôi tò mò đi tìm và sáng hôm sau tôi ra chỗ có hai ngôi mộ đá, ở đó tôi gặp một cô gái ăn mặc rách rưới rất đáng thương. Thấy cô ấy nhảy xuống hồ, tôi thương tình nhảy theo tìm, nhưng nào có gặp. Chỉ có thế thôi, chứ nào tôi có hành động gì đâu mà gọi là gây ra tội ác! Tôi cũng hoàn toàn không hay biết chuyện mẹ tôi làm ngày trước, như vậy sao bà trách tôi được. - Tôi đã nói rồi, con gái cõi âm chỉ cần để người con trai dương thế mặc áo của mình thì coi như thất thân với người đó! Bà vừa dứt lời thì ông già Tư đã thét lên: - Cậu Hai ơi, chết rồi! Hậu còn chưa biết nói sao thì người đàn bà đã vụt đứng lên, cất tiếng cười lạnh lùng rồi bước nhanh ra ngoài theo lối cửa sổ. Già Tư hốt hoảng: - Bà khoan đã! Nhưng bóng bà ta đã vụt biến mất! Ông già gục xuống ôm lấy đầu rên rỉ: - Oan gia nghiệp chướng mà. Trời ơi! Hậu ngơ ngác: - Có chuyện gì vậy chú Tư? Ông già ôm lấy vai Hậu lắc mạnh, vừa gào lên: - Cậu đã gây ra oan nghiệt rồi, cậu biết không? - Nhưng... oan nghiệt gì? - Cô gái đó là... là... Ông nói tới đó thì gục xuống, cổ họng nghẹn lại như bị ai đó bóp, không thốt ra được trọn câu... - Chú Tư! Hậu đỡ ông già dậy và đưa lên giường. Nhưng ông đã bị hôn mê từ phút đó. Lúng túng mãi, cuối cùng cậu mới đưa được già Tư về phòng riêng của ông ta, sau khi xoa dầu, tạm thời giúp ông ấm lại, Hậu trở về phòng mình và định lái xe ra đầu thôn để liên lạc với trạm y tế. Nhưng anh chưa kịp đi thì đã nghe từ phòng mình có tiếng khóc của trẻ sơ sinh. - Con nít? Hốt hoảng, Hậu bước ngay vào và ngẩn người ra khi thấy trên giường mình có một đứa trẻ nằm và cất tiếng khóc thét. Nhìn quanh chẳng thấy ai khác, Hậu nói to: - Con ai thì đem đi, đây đâu phải là nhà nuôi trẻ. Tôi... tôi... Đứa trẻ sau khi nghe Hậu lên tiếng thì bỗng ngưng tiếng khóc và đưa hai cánh tay quơ quơ như muốn đòi bế! Chẳng có ai đáp lời Hậu nên anh lại phải lên tiếng lần nữa: - Ai vừa mới ở đây? Nhìn thấy dưới đầu của đứa bé có lót vật gì đó màu hồng, Hậu bước tới gần xem và giật mình: - Chiếc áo lụa! Thì ra chiếc áo mà người đàn bà kia lấy đi từ tay anh lúc nãy, bây giờ dùng để lót cho đứa bé nằm. Như vậy... Hậu mạnh dạn nói lớn: - Chính bà phải không? Đứa bé này là con ai thì bà đem cho người đó, mắc gì đến tôi! Lần này đáp lời anh là một vật bay từ ngoài cửa sổ rơi thẳng trước mặt Hậu. Nhìn kỹ lại, Hậu phải một phen giật mình, thảng thốt kêu lên: - Chiếc quạt đồi mồi! Hậu nhớ là lúc nãy anh sợ bị mất nên đã kịp cất chiếc quạt này vào ngăn tủ và khóa lại trước khi đi ra ngoài, vậy mà... Cúi xuống nhặt chiếc quạt lên, Hậu nhìn thấy có mảnh giấy nhỏ kèm theo với dòng chữ: "Muốn an toàn thì cứ giữ đứa trẻ này với cây quạt!". Không còn cách nào hơn, Hậu đành đau khổ giữ lại đứa bé trong phòng mình... *** Cứ ngỡ ông già Tư vì quá xúc động nên ngất đi chốc lát, không ngờ đã qua ngày hôm sau mà ông vẫn chưa tỉnh lại hẳn.Ông chỉ tỉnh táo trong vài giây, nhưng khi vừa nhìn thấy Hậu là ông lại rú lên, rồi sau đó lại rơi vào cơn mê như trước. Hậu lo lắng quá, nhưng chẳng biết phải làm sao, kể cả việc đưa ông Tư đi bệnh viện anh cũng không làm được, bởi phải kẹt cứng bên đứa bé oan nghiệt kia. Mà cũng lạ, đứa bé chừng ba bốn tháng tuổi này suốt ngày không thấy đòi bú sữa, mà cũng không khóc. Chỉ khi nào Hậu bỏ đi ra ngoài hơi lâu là nó mới khóc ré lên, rồi khi thấy Hậu bước vào nó lại nín khe. Hậu tự hỏi, chẳng biết sao nó sống được khi không bú sữa? Bởi vậy anh đi mua hộp sữa bò, đem về pha cho nó và đút thử, nhưng đứa bé không chịu bú, Hậu phải ép nó thì đứa bé ọc ra đầy sữa trong miệng. Hậu ngạc nhiên: - Nó vẫn có bú sữa ! Vậy thì phải chăng... Hậu nhớ tới hai tay đong đưa của cô gái bên bờ hồ hôm trước, cô ta vừa hát ru vừa đưa con... Phải chăng đứa bé này là của cô ta? Nó là con của một hồn ma! Hậu đã nuôi đứa bé gái này được ba ngày, không phát hiện ở nó một biểu hiện gì bất thường. Có nghĩa nó vẫn là một đứa bé như bất cứ đứa trẻ nào, không có chút gì gọi là con của ma hết. Điều này khiến cho Hậu lại càng hoang mang, anh muốn gặp lại người đàn bà nhưng chẳng biết phải làm sao. Với Hậu bây giờ chỉ còn chờ ông già Tư tỉnh lại để anh hỏi cho rõ ngọn nguồn việc mẹ mình thù hằn gì đó với bà ấy, nhưng tình trạng nửa mê nửa tỉnh của ông là như vậy lại càng khiến Hậu rối thêm... Việc làm ăn ở Sài Gòn cũng đang bị ách tắc. Nhân viên kế toán báo lên cho Hậu một tin bất thường: tài khoản của công ty bất động sản do Hậu làm giám đốc bỗng dưng bị khóa. Chính ngân hàng đã thông báo: có luật sư của một người tên Thiên Lý nộp đơn kiện công ty còn nợ bà ta một số tiền lớn, yêu cầu chờ khi có án lệnh của tòa mới cho mở lại tài khoản! Trước tình hình này, đáng lý ra Hậu phải về ngay để giải quyết, nhưng hiện trạng này Hậu còn biết phải làm sao. Cuối cùng Hậu phải chọn giải pháp đưa ông già Tư và cả đứa bé cùng về Sài Gòn một lúc. Tính là thế, nhưng khi bế đứa bé lên xe thì nó lại bắt đầu khóc thét lên, còn ông già Tư thì bỗng dưng lăn lộn, rên la dữ dội! Hậu phải dừng xe lại và hướng về phía có hai ngôi mộ khấn vái: - Tôi xin nhận chịu hết những gì mẹ tôi gây ra, dẫu tôi cũng chưa biết cụ thể là gì. Xin cho tôi đi về Sài Gòn được yên ổn, rồi tôi hứa là sẽ trở lại ngay. Lời anh vừa dứt thì bỗng một giọng nói phát ra từ miệng của ông già Tư, nhưng là của một phụ nữ: - Với điều kiện là phải đưa bà mẹ cậu lên đây! Hậu giật mình: - Ông Tư, ông nói hay là ai? Mà đưa má con lên đây làm gì, trong khi má con bị tâm thần, bà lại khó đi đứng được nữa! - Bà mẹ cậu lâu nay không phải do bị liệt chân, mà là do bị người ta giam lỏng ở đó, không cho đi để tránh bị trả thù. Nhưng bây giờ nếu bà ấy không lên đây thì cậu đừng hòng rời khỏi vùng đất oan nghiệt này! Mà trước khi đi hãy để đứa bé lại, sẽ có người lo cho. - Kìa, chú Tư! Nghe Hậu gọi lớn thì ông già Tư lại im bặt, hôn mê giống như trước. - Tôi xin hứa! Sau khi chở đứa bé về để nó trong phòng mình, Hậu lái xe đưa ông già Tư đi và trót lọt về tới nhà. Do để mẹ ở nhà ngoại, nên Hậu đưa luôn già Tư về đó. Vừa bước vào nhà, anh đã hết sức ngạc nhiên khi thấy mẹ mình rất tỉnh táo, giương mắt nhìn con trai rồi òa lên khóc nức nở. Bà ngoại Hậu kể: - Nửa đêm qua tới giờ nó cứ thức dậy, ngồi đó nhìn ra ngoài đường rồi cứ hỏi chừng nào thằng Hậu về? Nó nói nếu con không về trong bữa nay thì mẹ con sẽ không còn gặp lại nhau nữa! Ngoại sợ quá... Bà Lệ Hoa nhìn con từ đầu đến chân, rồi hỏi như một người bình thường: - Họ có làm gì con không? Hậu ngạc nhiên: - Ai Iàm gì con đâu má? - Thì họ muốn giết con mà! Tối qua họ còn về tận đây cứ đòi bắt má đi để đổi mạng con. Họ nói nếu má không ra khỏi nhà này thì mạng của con sẽ bỏ lại trên đó. - Ai vậy? Bà Lệ Hoa vẫn còn nét sợ hãi: - Bà Thiên Lý! - Nhưng... bà ta là ai? Có phải... Hậu nhớ lời kế toán công ty báo chuyện bà Thiên Lý nào đó ngăn chặn tài khoản công ty, anh kêu lên: - Chính bà ta rồi! Bà ngoại ngạc nhiên hỏi: - Con nói bà nào? - Bà Thiên Lý! Mẹ anh sợ hãi: - Con đã gặp bà ấy phải không? Hậu nhìn mẹ, không đáp lời bà mà lại hỏi ngược: - Giữa má và bà ta có chuyện gì với nhau vậy? Bà ta nói là hận má và quyết phải trả thù là sao? - Chuyện ấy... Bà Lệ Hoa im Iặng một lúc rồi cuối cùng, bà chậm rãi kể vắn tắt: - Đó là một chuyện buồn... Bà ấy và ba con đã quan hệ với nhau và gây đau khổ cho má. Bởi vậy cho nên má mới... Lời bà đang nói thì bỗng ông già Tư lúc ấy vẫn còn mê man, đã lên tiếng: - Không đúng! Phải có nguyên nhân thì chuyện ấy mới xảy ra. Bà dám nói thật việc làm tội lỗi của mình không? Giọng của ông già Tư nghe eo éo như một phụ nữ, mà vừa nghe thì bà Lệ Hoa đã tái mặt, lắp bắp: - Bà... bà là... - Bà phải nói thật, bà và con người này đã làm điều đồi bại gì, đến nỗi người đàn ông hiền lành, một mực thương vợ đã phải hành động để gọi là trả thù! Nói đi chứ! Bà Lệ Hoa không nói được, bà cắn chặt đôi môi đến bật máu ra rồi ôm đầu gục xuống! Hậu hốt hoảng: - Má! Trời ơi, má làm sao vậy? Ông Tư, sao ông nỡ... Nhưng lúc ấy thì cả ông già Tư cũng trở lại hôn mê. Còn bà Lệ Hoa thì toàn thân lạnh ngắt, không còn cử động được nữa. Hậu phải lo cứu chữa cho cả hai, nên không còn để ý đến những hiện tượng lạ. Mãi cho đến khi thấy mẹ có dấu hiệu hồi phục, Hậu mới kề tai bà hỏi khẽ: - Má bị sao vậy? Chú Tư hình như không bình thường, má để ý làm gì. Nhưng bà Lệ Hoa vẫn còn thất thần khi nhìn sang ông già quản gia, bà run run nói: - Con đưa ông ấy ra phòng khác ngay đi. Hay là đưa ông ấy đi bệnh viện... Hậu gật đầu: - Con cũng nghĩ như vậy, nhưng má đang bệnh, con chờ đã... Bà Lệ Hoa cố nói: - Má không sao, con cứ đưa ông ấy vào nhà thương đi, má đợi con về rồi nói con nghe chuyện này. Hậu ngoan ngoãn làm theo. Khoảng một giờ sau anh trở về báo với mẹ: - Bệnh viện nhận rồi, có lẽ lát nữa mình bảo con Tám Sen vào bệnh viện túc trực lo cho chú ấy. Bà Lệ Hoa vẫn chưa an tâm: - Sao con không để chú ở trên đó chữa trị, đem về đây nhà mình đơn chiếc, lấy đâu ra người lo lâu dài cho ông ấy được? Hậu kể lại sự việc, anh lo lắng: - Đâu phải con không biết, nhưng bà ấy ra điều kiện như thế, má bảo con phải làm sao? Nghe kể chuyện đứa bé, bà Lệ Hoa thất thần: - Sao con nhận nuôi đứa nhỏ làm gì! Nó là oan hồn uổng tử... Hậu thật lòng: - Bà ta nói do con đã có quan hệ với hồn ma người con gái ở ngôi mộ đá cạnh vườn nhà mình. Vả lại chính con đã nhìn thấy cô ấy nhảy xuống hồ nước phía sau đất của mình nữa. Nghe tới đó, bỗng bà Lệ Hoa thét lên: - Chết rồi! Rồi bà run lẩy bẩy: - Sao con... con làm chuyện đó! Con có biết đó cũng là... Bà chỉ nói được mấy tiếng đó rồi ngất đi, để cho Hậu sự sững sờ, ngơ ngác. Anh tự hỏi: - Lại chuyện gì nữa đây? Làm sao Hậu có được câu trả lời khi cả hai người biết chuyện là mẹ anh và ông già Tư đều đang trong tình trạng hôn mê. Hậu đưa mẹ sang phòng bà ngoại và dặn: - Má con chưa ổn, ngoại giúp trông giùm. Anh định trở lại bệnh viện, nhưng khi đi ngang qua phòng mẹ, nhìn thấy đồ đạc ngổn ngang, Hậu tạt vào để dọn cho ngăn nắp lại. Tuy nhiên, khi nhìn thấy ngăn tủ nhỏ ở chiếc bàn phấn kéo ra mà chưa đóng lại, anh đưa tay đẩy vào, cũng vừa lúc chợt nhìn thấy một góc tờ giấy ló ra như do ai đó vừa nhét vội vào, Hậu kéo hẳn hộc tủ ra. Tờ giấy có những chữ viết tháo, lại có màu mực đỏ như máu, khiến Hậu chú ý và đọc vội: "Nó là đứa con gái mà bà đã nhẫn tâm cùng người tình của mình dìm chết dưới hồ cùng mẹ nó! Bây giờ nó thay mặt tôi để đòi lại những gì đã mất. Đứa con đó tôi buộc thằng con trai bà phải nuôi, để nó hiểu thế nào là oan nghiệt, là nỗi khổ đau..." Hậu như bị sét đánh, anh không tin vào mắt mình, nên đọc lại một lần nữa, rồi thều thào: - Sao lại có chuyện này? Hậu có linh tính chẳng lành, nên anh kéo luôn ngăn tủ ra, tìm thấy một quyển sổ nhỏ mà anh biết đó là nhật ký của mẹ. Trước khi bị bệnh, đã vài lần bà ngồi viết và từng bảo Hậu: Má viết để sau này con cái biết cuộc đời của má. Những năm tháng bị tâm thần thì hầu như bà xếp xó không viết nữa, nhưng khi Hậu giở ra thì anh giật mình, bởi những trang cuối có ghi rõ ngày tháng mới đây. - Má đã viết được trở lại rồi! Hậu mừng, nhưng khi lật lại những trang trước đây, cách đó rất lâu, chợt anh hốt hoảng kêu lên: - Cái gì thế này? Anh đọc được: "Ngày... Mình biết được chuyện động trời! Anh ta dan díu với con Thiên Lý và có với nó một đứa con, lại là con gái! Nghe nói nó giống mẹ nó như đúc. Có nghĩa là nó cũng xinh đẹp và chắc chắn là anh ta sẽ thương yêu mê mẩn thêm và lại bỏ bê mình. Không thể được! Ngày... Mình phải gởi thằng Hậu lại cho bà ngoại nó. Mình phải đích thân tìm lên đó, gặp mặt con đ. ngựa này để cho nó biết tay! Mình không thể chịu thua đau đớn như thế này! Ngày... Hiền lưỡng lự không chịu ra tay vì sợ. Mình phải vừa khuyến khích vừa tỏ ra giận dỗi cuối cùng anh ấy mới chịu làm. Khi chạm mặt mẹ con nó mình mới giật mình bởi cả hai đứa đều xinh đẹp! Con Thiên Lý đẹp như người trong tranh còn con bé tuy mới hai tuổi nhưng cũng sắc sảo y như mẹ nó, lại có cái miệng cười và đôi mắt sáng chẳng khác nào Hảo. Đúng là anh ta khéo truyền giống! Mà mình lại càng giận khi nghĩ đến chuyện chồng mình đã san sẻ tình cảm cho người đàn bà khác, lại cho nó một đứa con như trong mơ! Như vậy chứng tỏ Hảo yêu con đó hơn mình. Bởi có yêu đương thì mới cho ra đời một dòng máu xuất sắc đến vậy! Càng nhìn con bé mình càng sôi gan, mình cứ muốn nhào vào giết chúng nó! Tuy nhiên Hiền đã ngăn mình, nói để anh ấy tính toán. Và cuối cùng Hiền đã tìm ra cách. Anh ấy lén bỏ thuốc mê vào trong bình nước mà biết chắc thế nào con Thiên Lý cũng uống khi thức dậy. Và như vậy lúc mình ra tay thì nó chẳng hề hay biết. Ngày... Khi Hiền mang con Thiên Lý đi, mình không định hại đứa con của nó, nhưng khi ra đến cửa mình nhìn lại thấy con bé đang ngủ say thì mình đổi ý. Mình không thể để một mầm họa như vậy ở yên đó. Ít nhất mình cũng đem nó cho người khác để khi lớn lên nó không biết mình là con ai, không biết mẹ nó ở đâu! Nghĩ vậy nên mình nhẹ nhàng bế nó đi theo... Thật lòng mà nói, mình nghĩ lúc bế con bé theo, mình chờ cho đến khi Hiền ném con mẹ nó xuống hồ rồi sẽ đưa nó đi xa, đem cho người lạ... Tuy nhiên khi Hiền vừa thực hiện xong việc với con Thiên Lý thì con bé chợt tỉnh dậy và nó gào thét dữ dội rồi như điên dại, nó phóng mình lao theo xuống hồ nước. Hiền nhảy theo vớt nó lên nhưng lặn mò cả buổi mà chẳng thấy..." Hậu buông rơi cuốn sổ nhật ký xuống, mắt anh hoa lên, tai ù đi... - Trời ơi! Những gì Hậu vừa đọc được trong nhật ký đâu phải chuyện đùa. Nó là sự thật ngoài sức tưởng tượng của anh. - Má, tại sao... Hậu chạy sang phòng bà ngoại, nhưng lúc ấy bà Lệ Hoa vẫn còn đang mê man, nên Hậu chỉ biết đứng như bị trời trồng. Phần 2 Chuyện Tình Xưa Theo đúng như kế hoạch thì sau một tuần Hậu sẽ trở lại Sài Gòn, nhưng qua đến mười ngày mà vẫn chưa thấy anh về, ông già Tư thắc mắc: - Bộ cậu Hai quên là cậu có phiên họp gì đó với khách hàng ở dưới sao? Hậu vẫn tỉnh bơ: - Con đã điện về bảo hoãn lại. Con còn muốn ở lại đây thêm ít hôm nữa. - Chỉ sợ bà ở nhà lo cậu đi lâu thôi. Từ hôm cậu lên tới nay tôi quên không hỏi bệnh tình của bà lúc này ra sao! Hậu hơi buồn: - Má con thì vẫn vậy. Bà vẫn ở bên ngoại con. Đây là điều tế nhị, bởi vậy già Tư không muốn hỏi, nhưng trên tay ông có một vật mà ông không thể không nhắc tới bà chủ nhà từ trên chục năm nay không trở về đây: - Sáng sớm nay chẳng hiểu sao vật này lại nằm ở ngay trước sân nhà mình. Khi tôi ra tưới cây thì nhìn thấy, tôi nhận ra ngay là của bà... Vật đó là chiếc quạt bằng đồi mồi, ở cán quạt có khắc dòng chữ: Tặng Lệ Hoa yêu dấu. Từ nào đến giờ Hậu chưa từng trông thấy, nên anh ngạc nhiên: - Sao chú biết là của má con? - Ngày trước khi bà lên sống trên này một thời gian dài, ngày nào bà cũng cầm cây quạt này phe phẩy. Hậu cầm lấy xem, khi thấy có tên của mẹ trên đó anh mới tin: - Lâu nay con không thấy má con xài cây quạt này, nhưng tên đúng là tên của má. - Hồi bà còn ở đây, có lần bà than là mất chiếc quạt mà bà yêu thích, bà kiếm tùm lum hết mà chẳng thấy. Chẳng hiểu sao bây giờ nó lại ở đây! - Nhìn nước bóng của cây quạt thì lâu nay có người xài nó, chứ chẳng phải bỏ xó. Ông đưa cho Hậu: - Cậu đem về cho bà, chắc là bà mừng lắm. Hậu chép miệng: - Không chắc bà còn nhớ. - Làm sao không, khi đây là vật bất ly thân của bà trước đây mà! - Nhưng trí nhớ má từng... Hậu không nói ra chứng bệnh tâm thần mà mẹ đang mang... Anh chỉ cầm lấy quạt và nhẹ lắc đầu. Sáng nay Hậu không muốn ra ngoài, nên sau khi cầm chiếc quạt, anh định trở về phòng riêng, anh dặn ông già Tư: - Trưa nay con không ăn cơm, khi nào đói con sẽ tự tìm xuống bếp ăn, chú Tư không phải lo cho con. Nếu có ai tìm thì chú cứ đưa họ lên phòng con, đừng hỏi han lôi thôi, đó là khách riêng của con. Hậu phải nói như vậy bởi mười giờ sáng hôm nay, anh phải ở trong phòng để chờ một người theo như giấc mơ đêm qua anh được báo trước. Lý do của việc hoãn trở về Sài Gòn cũng nằm trong cuộc hẹn này. Nửa đêm qua, khi đang mơ màng ngủ, Hậu đã nghe có người gọi tên mình ngoài cửa sổ và căn dặn rất rõ rằng những điều gì anh cần biết thì đúng mười giờ sáng mai có người sẽ tới và cho anh biết tất cả! Hậu cũng không biết mình cần biết điều gì, tuy nhiên nghe như vậy thì anh vô cùng nôn nóng, đồng thời linh tính cũng báo cho anh sẽ có chuyện gì đó... Đúng ra Hậu cũng không tin hẳn vào chuyện mộng mị, nếu sau khi thức giấc anh không nhìn thấy thêm một nhánh lan rừng nữa nằm cạnh gối mình. Anh quả quyết là chính người nào đó đang theo sát anh, muốn giúp anh chuyện gì đó... *** Mười giờ...Hậu hồi hộp chờ đợi và cứ một tiếng động nhỏ bên ngoài cửa cũng làm cho anh bật dậy, mở cửa nhìn ra. Để rồi thất vọng. Cuối cùng anh phải mở cửa đi xuống nhà và hỏi: - Chưa có ai tìm con sao chú Tư? Ông già Tư đáp: - Tôi cũng không dám đi đâu cứ ngồi nhà chờ mà chưa thấy ai. Hậu lầm bầm rồi đi trở lên lầu. Khi vừa đẩy cửa phòng bước vào anh đã giật bắn người khi thấy một phụ nữ có tuổi ngồi đợi sẵn trong đó! - Bà là ai? Trong phòng hơi tối, tuy không nhìn rõ mặt vị khách, nhưng cũng đủ nhận ra đó là một phụ nữ tuổi trên bốn mươi, người gầy, khuôn mặt phúc hậu. Bà để khi Hậu bước hẳn vào phòng rồi mới trả lời câu hỏi: - Là người mà cậu đang đợi! - Nhưng... tôi đã khóa cửa khi đi ra, vậy bà vào từ lúc nào vậy? Bà ta cười nhẹ, nét buồn vẫn không biến khỏi ánh mắt: - Khi người ta đã muốn vào đâu thì dù có khóa chục lần khóa cũng không thể ngăn được. Huống hồ gì... Rồi bà nhìn về phía nhánh lan rừng, nói tiếp: - Như những nhánh lan này, nó có đợi cho cậu mở khóa đâu! Câu ví von làm cho Hậu giật mình. Anh không ngờ bà ta biết hết việc đã xảy ra trong phòng anh. - Vậy bà là... Người đàn bà vẫn giọng nhẹ nhàng: - Tôi nói rồi, là người mà cậu cần gặp. - Nhưng thật ra, tôi chẳng có gì để đợi gặp ai cả. Tôi... Bà ta chặn ngang lời của Hậu: - Vậy cậu đi tìm ai và nhảy xuống hồ nước để cứu ai? Hậu giật mình: - Thì ra bà biết việc ấy? Và bà là... Bà ta không đáp mà hỏi lại: - Hóa ra cậu chỉ vì mê bóng sắc của một cô gái nên mới liều mình cứu cô ta? Nếu đúng như thế thì tôi cũng chẳng cần gặp cậu làm gì. Vậy cậu trả vật kia lại cho tôi. Hậu giật mình: - Tôi lấy cái gì của bà? - Vật cậu đang cầm trên tay đó! - Cây quạt? Đây là vật vốn của mẹ tôi mà! - Nhưng hơn mười năm nay nó ở trong tay tôi. Cậu có muốn biết tại sao mẹ cậu lại không có quyền giữ vật ấy không? Hậu bắt đầu mất kiên nhẫn: - Bà là ai, tại sao lại như hiềm khích với mẹ tôi? Người đàn bà bỗng ngửa mặt lên trời cười một tràng dài mà thoạt nghe như tiếng khóc, tiếng rú thì đúng hơn. Hậu còn đang ngơ ngác thì chợt cửa phòng bị kéo ra, ông già Tư xuất hiện và ngơ ngác: - Chuyện... chuyện gì vậy cậu Hai? Vừa kịp nhìn thấy người phụ nữ, ông kêu lên kinh ngạc: - Bà... sao bà lại ở đây, bà Lý? Sự xuất hiện của ông Tư là ngoài mong đợi, tuy nhiên người đàn bà được gọi là bà Lý kia vẫn bình tĩnh: - Ông được lệnh của bà ấy cấm không cho tôi về đây hay sao? Ông già Tư hơi lúng túng: - Tôi... tôi... chỉ ngạc nhiên. Tại sao bà đã... - Người đã chết thì không được về gặp mặt ai nữa sao? Câu nói đó khiến Hậu tái mặt, anh lắp bắp: - Người... người này... Người đàn bà không quan tâm đến Hậu mà nhìn về phía ông già Tư. - Chắc là ông không ngờ phải không, Lê Sang? Lâu nay Hậu đã quen nghe ông già quản gia là ông Tư Lê hay ông Lê Thành, chứ cái tên Lê Sang là lần đầu. Hậu ngơ ngác: - Lê Sang là ai? Người phụ nữ nghiêm giọng: - Sao ông chưa ngồi xuống, hay là muốn tránh mặt tôi? - Tôi... tôi... Nghe cách trả lời và thái độ của ông ta, Hậu đoán chắc là có điều gì đó không bình thường. Tuy nhiên lúc này anh chỉ quan tâm đến việc bà ta là một hồn ma. Anh hơi ngập ngừng và khéo léo lùi dần về phía cửa nhân lúc ông già Tư đang là tâm điểm của câu chuyện. Tuy nhiên, người đàn bà rất tinh ý, đã lên tiếng ngay: - Tôi đang cần nói chuyện với cậu, chứ người đàn ông này thì chưa tới lượt. Cậu đừng nên đi như vậy, sẽ không hay. Hậu đành phải dừng lại, anh lúng túng: - Bà cần gì ở tôi? - Chỉ vì cậu là con của người đàn bà tên Lệ Hoa. Mà mẹ cậu thì còn nợ tôi, người phụ nữ nghèo ở thôn hẻo lánh này một món nợ quá Iớn. Tôi cứ tưởng là giữa tôi với bà ta chỉ cần đòi và trả nợ riêng với tôi là xong, nên tôi có ý đợi bà ta. Nào ngờ cậu xuất hiện và làm rắc rối thêm câu chuyện vốn đã quá rối rắm này rồi! Ông già Tư bỗng kêu lên: - Tôi xin bà, hãy để cậu ấy ra khỏi cuộc hận thù này, cậu ấy là người vô tội! Bà ta nghiêm sắc mặt: - Vô tội là cách đây mười ngày kìa. Còn bây giờ thì tự cậu ấy đã biến mình thành một tội đồ mới rồi! Ông hãy hỏi xem, cậu ấy đã gây ra điều gì? Ông già Tư quay sang Hậu: - Cậu Hai, cậu đã làm gì? Hậu ngơ ngác: - Con có làm gì đâu? Con chỉ mới về đây mười bữa nay, người chung quanh con còn chưa quen nữa là... - Người chung quanh thì chưa quen, nhưng người sát vách thì cậu đã quen rồi! Chẳng những quen mà cậu còn làm cho tâm hồn trong trắng của một đứa con gái mới lớn phải chao đảo, khổ sở. Theo cậu thì như vậy chưa là tội ác sao? Hậu như người đang mơ, anh kêu lên: - Bà nói tôi làm khổ ai? Tôi... tôi... Lúc ấy chợt bà ta cầm nhánh lan rừng lên, quơ quơ trên không trung, khiến Hậu khựng lại. Anh run giọng hỏi: - Người chủ của cành hoa này... Cô ấy là... - Cậu đã nhớ ra khá nhanh, khá khen cho cậu! - Nhưng tôi chỉ gặp cô ấy có một lần, rồi khi cô ấy Iao xuống hồ tôi đã lao theo mà đâu có gặp. Rồi từ hôm đó tôi đâu có gặp lại lần nào! Ông già Tư nghe nói tới đó thì chụp lấy vai của Hậu, hốt hoảng: - Sao cậu làm chuyện đó, cậu Hai! Cậu có biết cô ta là ai không, là... ma đó! Người đàn bà phá lên cười, giọng sắc lạnh: - Ma thì sao? Nó đâu đã làm hại ai, nó còn hơn là con người còn sống. Ông thử trả lời tôi nghe coi, người sống như ông, như mụ Lệ Hoa thì so với lũ ma chúng tôi, ai ác hơn ai? - Tôi không có ý so sánh. Chỉ là vì... cậu Hậu đây hoàn toàn không biết gì, cho nên cậu ấy mới vô tình phạm phải. Mà tôi nghĩ cậu ấy cũng đâu đã làm gì ai... - Ngụy biện. Đợi cột cổ nó vào bao đá lần nữa rồi dìm xuống hồ lần thứ hai thì mới gọi là làm gì hay sao. Chuyện nó làm cho một oan hồn sắp đi đầu thai như con Hồng Lan phải chao đảo vì tình, phải trốn bỏ mồ mả đi lang thang là chuyện tốt hay sao? - Nhưng mà... Hậu phải chen vào: - Tôi đâu có làm điều đó. Cô Hồng Lan nào đó đâu có theo con! Bà ta bất ngờ chỉ tay vào chiếc tủ áo: - Cậu hãy lấy cái áo của nó ra đây xem! Hồn ma trinh nữ mà mất chiếc áo đang mặc cho một gã con trai thì nói lên điều gì? Ở cõi dương trần thì không sao, nhưng cõi âm thì bị chiếm chiếc áo con gái đã là thất tiết với người ấy rồi! Hậu kinh hãi: - Bà nói sao? Chuyện ấy là do... Giọng bà ta trở nên bi thảm: - Tôi tới tìm cậu hôm nay là để nói chuyện đó. Hồng Lan là con gái của tôi, nó mất mạng vì bàn tay độc ác của mẹ cậu, tôi đau khổ, nhẫn nhục giữ gìn nó hơn mười năm nay chỉ mong một ngày nó đi đầu thai để thoát kiếp oan hồn, hy vọng hoàn dương. Vậy mà chỉ vì nó phải lòng cậu, không kịp nghĩ suy đã trao thân cho cậu chỉ trong một đêm cậu xuất hiện ở nơi này! Hậu cố biện minh: - Một cách ngẫu nhiên, đêm hôm đó tôi nghe tiếng hát ru vọng lại của ai đó, tôi tò mò đi tìm và sáng hôm sau tôi ra chỗ có hai ngôi mộ đá, ở đó tôi gặp một cô gái ăn mặc rách rưới rất đáng thương. Thấy cô ấy nhảy xuống hồ, tôi thương tình nhảy theo tìm, nhưng nào có gặp. Chỉ có thế thôi, chứ nào tôi có hành động gì đâu mà gọi là gây ra tội ác! Tôi cũng hoàn toàn không hay biết chuyện mẹ tôi làm ngày trước, như vậy sao bà trách tôi được. - Tôi đã nói rồi, con gái cõi âm chỉ cần để người con trai dương thế mặc áo của mình thì coi như thất thân với người đó! Bà vừa dứt lời thì ông già Tư đã thét lên: - Cậu Hai ơi, chết rồi! Hậu còn chưa biết nói sao thì người đàn bà đã vụt đứng lên, cất tiếng cười lạnh lùng rồi bước nhanh ra ngoài theo lối cửa sổ. Già Tư hốt hoảng: - Bà khoan đã! Nhưng bóng bà ta đã vụt biến mất! Ông già gục xuống ôm lấy đầu rên rỉ: - Oan gia nghiệp chướng mà. Trời ơi! Hậu ngơ ngác: - Có chuyện gì vậy chú Tư? Ông già ôm lấy vai Hậu lắc mạnh, vừa gào lên: - Cậu đã gây ra oan nghiệt rồi, cậu biết không? - Nhưng... oan nghiệt gì? - Cô gái đó là... là... Ông nói tới đó thì gục xuống, cổ họng nghẹn lại như bị ai đó bóp, không thốt ra được trọn câu... - Chú Tư! Hậu đỡ ông già dậy và đưa lên giường. Nhưng ông đã bị hôn mê từ phút đó. Lúng túng mãi, cuối cùng cậu mới đưa được già Tư về phòng riêng của ông ta, sau khi xoa dầu, tạm thời giúp ông ấm lại, Hậu trở về phòng mình và định lái xe ra đầu thôn để liên lạc với trạm y tế. Nhưng anh chưa kịp đi thì đã nghe từ phòng mình có tiếng khóc của trẻ sơ sinh. - Con nít? Hốt hoảng, Hậu bước ngay vào và ngẩn người ra khi thấy trên giường mình có một đứa trẻ nằm và cất tiếng khóc thét. Nhìn quanh chẳng thấy ai khác, Hậu nói to: - Con ai thì đem đi, đây đâu phải là nhà nuôi trẻ. Tôi... tôi... Đứa trẻ sau khi nghe Hậu lên tiếng thì bỗng ngưng tiếng khóc và đưa hai cánh tay quơ quơ như muốn đòi bế! Chẳng có ai đáp lời Hậu nên anh lại phải lên tiếng lần nữa: - Ai vừa mới ở đây? Nhìn thấy dưới đầu của đứa bé có lót vật gì đó màu hồng, Hậu bước tới gần xem và giật mình: - Chiếc áo lụa! Thì ra chiếc áo mà người đàn bà kia lấy đi từ tay anh lúc nãy, bây giờ dùng để lót cho đứa bé nằm. Như vậy... Hậu mạnh dạn nói lớn: - Chính bà phải không? Đứa bé này là con ai thì bà đem cho người đó, mắc gì đến tôi! Lần này đáp lời anh là một vật bay từ ngoài cửa sổ rơi thẳng trước mặt Hậu. Nhìn kỹ lại, Hậu phải một phen giật mình, thảng thốt kêu lên: - Chiếc quạt đồi mồi! Hậu nhớ là lúc nãy anh sợ bị mất nên đã kịp cất chiếc quạt này vào ngăn tủ và khóa lại trước khi đi ra ngoài, vậy mà... Cúi xuống nhặt chiếc quạt lên, Hậu nhìn thấy có mảnh giấy nhỏ kèm theo với dòng chữ: "Muốn an toàn thì cứ giữ đứa trẻ này với cây quạt!". Không còn cách nào hơn, Hậu đành đau khổ giữ lại đứa bé trong phòng mình... *** Cứ ngỡ ông già Tư vì quá xúc động nên ngất đi chốc lát, không ngờ đã qua ngày hôm sau mà ông vẫn chưa tỉnh lại hẳn.Ông chỉ tỉnh táo trong vài giây, nhưng khi vừa nhìn thấy Hậu là ông lại rú lên, rồi sau đó lại rơi vào cơn mê như trước. Hậu lo lắng quá, nhưng chẳng biết phải làm sao, kể cả việc đưa ông Tư đi bệnh viện anh cũng không làm được, bởi phải kẹt cứng bên đứa bé oan nghiệt kia. Mà cũng lạ, đứa bé chừng ba bốn tháng tuổi này suốt ngày không thấy đòi bú sữa, mà cũng không khóc. Chỉ khi nào Hậu bỏ đi ra ngoài hơi lâu là nó mới khóc ré lên, rồi khi thấy Hậu bước vào nó lại nín khe. Hậu tự hỏi, chẳng biết sao nó sống được khi không bú sữa? Bởi vậy anh đi mua hộp sữa bò, đem về pha cho nó và đút thử, nhưng đứa bé không chịu bú, Hậu phải ép nó thì đứa bé ọc ra đầy sữa trong miệng. Hậu ngạc nhiên: - Nó vẫn có bú sữa ! Vậy thì phải chăng... Hậu nhớ tới hai tay đong đưa của cô gái bên bờ hồ hôm trước, cô ta vừa hát ru vừa đưa con... Phải chăng đứa bé này là của cô ta? Nó là con của một hồn ma! Hậu đã nuôi đứa bé gái này được ba ngày, không phát hiện ở nó một biểu hiện gì bất thường. Có nghĩa nó vẫn là một đứa bé như bất cứ đứa trẻ nào, không có chút gì gọi là con của ma hết. Điều này khiến cho Hậu lại càng hoang mang, anh muốn gặp lại người đàn bà nhưng chẳng biết phải làm sao. Với Hậu bây giờ chỉ còn chờ ông già Tư tỉnh lại để anh hỏi cho rõ ngọn nguồn việc mẹ mình thù hằn gì đó với bà ấy, nhưng tình trạng nửa mê nửa tỉnh của ông là như vậy lại càng khiến Hậu rối thêm... Việc làm ăn ở Sài Gòn cũng đang bị ách tắc. Nhân viên kế toán báo lên cho Hậu một tin bất thường: tài khoản của công ty bất động sản do Hậu làm giám đốc bỗng dưng bị khóa. Chính ngân hàng đã thông báo: có luật sư của một người tên Thiên Lý nộp đơn kiện công ty còn nợ bà ta một số tiền lớn, yêu cầu chờ khi có án lệnh của tòa mới cho mở lại tài khoản! Trước tình hình này, đáng lý ra Hậu phải về ngay để giải quyết, nhưng hiện trạng này Hậu còn biết phải làm sao. Cuối cùng Hậu phải chọn giải pháp đưa ông già Tư và cả đứa bé cùng về Sài Gòn một lúc. Tính là thế, nhưng khi bế đứa bé lên xe thì nó lại bắt đầu khóc thét lên, còn ông già Tư thì bỗng dưng lăn lộn, rên la dữ dội! Hậu phải dừng xe lại và hướng về phía có hai ngôi mộ khấn vái: - Tôi xin nhận chịu hết những gì mẹ tôi gây ra, dẫu tôi cũng chưa biết cụ thể là gì. Xin cho tôi đi về Sài Gòn được yên ổn, rồi tôi hứa là sẽ trở lại ngay. Lời anh vừa dứt thì bỗng một giọng nói phát ra từ miệng của ông già Tư, nhưng là của một phụ nữ: - Với điều kiện là phải đưa bà mẹ cậu lên đây! Hậu giật mình: - Ông Tư, ông nói hay là ai? Mà đưa má con lên đây làm gì, trong khi má con bị tâm thần, bà lại khó đi đứng được nữa! - Bà mẹ cậu lâu nay không phải do bị liệt chân, mà là do bị người ta giam lỏng ở đó, không cho đi để tránh bị trả thù. Nhưng bây giờ nếu bà ấy không lên đây thì cậu đừng hòng rời khỏi vùng đất oan nghiệt này! Mà trước khi đi hãy để đứa bé lại, sẽ có người lo cho. - Kìa, chú Tư! Nghe Hậu gọi lớn thì ông già Tư lại im bặt, hôn mê giống như trước. - Tôi xin hứa! Sau khi chở đứa bé về để nó trong phòng mình, Hậu lái xe đưa ông già Tư đi và trót lọt về tới nhà. Do để mẹ ở nhà ngoại, nên Hậu đưa luôn già Tư về đó. Vừa bước vào nhà, anh đã hết sức ngạc nhiên khi thấy mẹ mình rất tỉnh táo, giương mắt nhìn con trai rồi òa lên khóc nức nở. Bà ngoại Hậu kể: - Nửa đêm qua tới giờ nó cứ thức dậy, ngồi đó nhìn ra ngoài đường rồi cứ hỏi chừng nào thằng Hậu về? Nó nói nếu con không về trong bữa nay thì mẹ con sẽ không còn gặp lại nhau nữa! Ngoại sợ quá... Bà Lệ Hoa nhìn con từ đầu đến chân, rồi hỏi như một người bình thường: - Họ có làm gì con không? Hậu ngạc nhiên: - Ai Iàm gì con đâu má? - Thì họ muốn giết con mà! Tối qua họ còn về tận đây cứ đòi bắt má đi để đổi mạng con. Họ nói nếu má không ra khỏi nhà này thì mạng của con sẽ bỏ lại trên đó. - Ai vậy? Bà Lệ Hoa vẫn còn nét sợ hãi: - Bà Thiên Lý! - Nhưng... bà ta là ai? Có phải... Hậu nhớ lời kế toán công ty báo chuyện bà Thiên Lý nào đó ngăn chặn tài khoản công ty, anh kêu lên: - Chính bà ta rồi! Bà ngoại ngạc nhiên hỏi: - Con nói bà nào? - Bà Thiên Lý! Mẹ anh sợ hãi: - Con đã gặp bà ấy phải không? Hậu nhìn mẹ, không đáp lời bà mà lại hỏi ngược: - Giữa má và bà ta có chuyện gì với nhau vậy? Bà ta nói là hận má và quyết phải trả thù là sao? - Chuyện ấy... Bà Lệ Hoa im Iặng một lúc rồi cuối cùng, bà chậm rãi kể vắn tắt: - Đó là một chuyện buồn... Bà ấy và ba con đã quan hệ với nhau và gây đau khổ cho má. Bởi vậy cho nên má mới... Lời bà đang nói thì bỗng ông già Tư lúc ấy vẫn còn mê man, đã lên tiếng: - Không đúng! Phải có nguyên nhân thì chuyện ấy mới xảy ra. Bà dám nói thật việc làm tội lỗi của mình không? Giọng của ông già Tư nghe eo éo như một phụ nữ, mà vừa nghe thì bà Lệ Hoa đã tái mặt, lắp bắp: - Bà... bà là... - Bà phải nói thật, bà và con người này đã làm điều đồi bại gì, đến nỗi người đàn ông hiền lành, một mực thương vợ đã phải hành động để gọi là trả thù! Nói đi chứ! Bà Lệ Hoa không nói được, bà cắn chặt đôi môi đến bật máu ra rồi ôm đầu gục xuống! Hậu hốt hoảng: - Má! Trời ơi, má làm sao vậy? Ông Tư, sao ông nỡ... Nhưng lúc ấy thì cả ông già Tư cũng trở lại hôn mê. Còn bà Lệ Hoa thì toàn thân lạnh ngắt, không còn cử động được nữa. Hậu phải lo cứu chữa cho cả hai, nên không còn để ý đến những hiện tượng lạ. Mãi cho đến khi thấy mẹ có dấu hiệu hồi phục, Hậu mới kề tai bà hỏi khẽ: - Má bị sao vậy? Chú Tư hình như không bình thường, má để ý làm gì. Nhưng bà Lệ Hoa vẫn còn thất thần khi nhìn sang ông già quản gia, bà run run nói: - Con đưa ông ấy ra phòng khác ngay đi. Hay là đưa ông ấy đi bệnh viện... Hậu gật đầu: - Con cũng nghĩ như vậy, nhưng má đang bệnh, con chờ đã... Bà Lệ Hoa cố nói: - Má không sao, con cứ đưa ông ấy vào nhà thương đi, má đợi con về rồi nói con nghe chuyện này. Hậu ngoan ngoãn làm theo. Khoảng một giờ sau anh trở về báo với mẹ: - Bệnh viện nhận rồi, có lẽ lát nữa mình bảo con Tám Sen vào bệnh viện túc trực lo cho chú ấy. Bà Lệ Hoa vẫn chưa an tâm: - Sao con không để chú ở trên đó chữa trị, đem về đây nhà mình đơn chiếc, lấy đâu ra người lo lâu dài cho ông ấy được? Hậu kể lại sự việc, anh lo lắng: - Đâu phải con không biết, nhưng bà ấy ra điều kiện như thế, má bảo con phải làm sao? Nghe kể chuyện đứa bé, bà Lệ Hoa thất thần: - Sao con nhận nuôi đứa nhỏ làm gì! Nó là oan hồn uổng tử... Hậu thật lòng: - Bà ta nói do con đã có quan hệ với hồn ma người con gái ở ngôi mộ đá cạnh vườn nhà mình. Vả lại chính con đã nhìn thấy cô ấy nhảy xuống hồ nước phía sau đất của mình nữa. Nghe tới đó, bỗng bà Lệ Hoa thét lên: - Chết rồi! Rồi bà run lẩy bẩy: - Sao con... con làm chuyện đó! Con có biết đó cũng là... Bà chỉ nói được mấy tiếng đó rồi ngất đi, để cho Hậu sự sững sờ, ngơ ngác. Anh tự hỏi: - Lại chuyện gì nữa đây? Làm sao Hậu có được câu trả lời khi cả hai người biết chuyện là mẹ anh và ông già Tư đều đang trong tình trạng hôn mê. Hậu đưa mẹ sang phòng bà ngoại và dặn: - Má con chưa ổn, ngoại giúp trông giùm. Anh định trở lại bệnh viện, nhưng khi đi ngang qua phòng mẹ, nhìn thấy đồ đạc ngổn ngang, Hậu tạt vào để dọn cho ngăn nắp lại. Tuy nhiên, khi nhìn thấy ngăn tủ nhỏ ở chiếc bàn phấn kéo ra mà chưa đóng lại, anh đưa tay đẩy vào, cũng vừa lúc chợt nhìn thấy một góc tờ giấy ló ra như do ai đó vừa nhét vội vào, Hậu kéo hẳn hộc tủ ra. Tờ giấy có những chữ viết tháo, lại có màu mực đỏ như máu, khiến Hậu chú ý và đọc vội: "Nó là đứa con gái mà bà đã nhẫn tâm cùng người tình của mình dìm chết dưới hồ cùng mẹ nó! Bây giờ nó thay mặt tôi để đòi lại những gì đã mất. Đứa con đó tôi buộc thằng con trai bà phải nuôi, để nó hiểu thế nào là oan nghiệt, là nỗi khổ đau..." Hậu như bị sét đánh, anh không tin vào mắt mình, nên đọc lại một lần nữa, rồi thều thào: - Sao lại có chuyện này? Hậu có linh tính chẳng lành, nên anh kéo luôn ngăn tủ ra, tìm thấy một quyển sổ nhỏ mà anh biết đó là nhật ký của mẹ. Trước khi bị bệnh, đã vài lần bà ngồi viết và từng bảo Hậu: Má viết để sau này con cái biết cuộc đời của má. Những năm tháng bị tâm thần thì hầu như bà xếp xó không viết nữa, nhưng khi Hậu giở ra thì anh giật mình, bởi những trang cuối có ghi rõ ngày tháng mới đây. - Má đã viết được trở lại rồi! Hậu mừng, nhưng khi lật lại những trang trước đây, cách đó rất lâu, chợt anh hốt hoảng kêu lên: - Cái gì thế này? Anh đọc được: "Ngày... Mình biết được chuyện động trời! Anh ta dan díu với con Thiên Lý và có với nó một đứa con, lại là con gái! Nghe nói nó giống mẹ nó như đúc. Có nghĩa là nó cũng xinh đẹp và chắc chắn là anh ta sẽ thương yêu mê mẩn thêm và lại bỏ bê mình. Không thể được! Ngày... Mình phải gởi thằng Hậu lại cho bà ngoại nó. Mình phải đích thân tìm lên đó, gặp mặt con đ. ngựa này để cho nó biết tay! Mình không thể chịu thua đau đớn như thế này! Ngày... Hiền lưỡng lự không chịu ra tay vì sợ. Mình phải vừa khuyến khích vừa tỏ ra giận dỗi cuối cùng anh ấy mới chịu làm. Khi chạm mặt mẹ con nó mình mới giật mình bởi cả hai đứa đều xinh đẹp! Con Thiên Lý đẹp như người trong tranh còn con bé tuy mới hai tuổi nhưng cũng sắc sảo y như mẹ nó, lại có cái miệng cười và đôi mắt sáng chẳng khác nào Hảo. Đúng là anh ta khéo truyền giống! Mà mình lại càng giận khi nghĩ đến chuyện chồng mình đã san sẻ tình cảm cho người đàn bà khác, lại cho nó một đứa con như trong mơ! Như vậy chứng tỏ Hảo yêu con đó hơn mình. Bởi có yêu đương thì mới cho ra đời một dòng máu xuất sắc đến vậy! Càng nhìn con bé mình càng sôi gan, mình cứ muốn nhào vào giết chúng nó! Tuy nhiên Hiền đã ngăn mình, nói để anh ấy tính toán. Và cuối cùng Hiền đã tìm ra cách. Anh ấy lén bỏ thuốc mê vào trong bình nước mà biết chắc thế nào con Thiên Lý cũng uống khi thức dậy. Và như vậy lúc mình ra tay thì nó chẳng hề hay biết. Ngày... Khi Hiền mang con Thiên Lý đi, mình không định hại đứa con của nó, nhưng khi ra đến cửa mình nhìn lại thấy con bé đang ngủ say thì mình đổi ý. Mình không thể để một mầm họa như vậy ở yên đó. Ít nhất mình cũng đem nó cho người khác để khi lớn lên nó không biết mình là con ai, không biết mẹ nó ở đâu! Nghĩ vậy nên mình nhẹ nhàng bế nó đi theo... Thật lòng mà nói, mình nghĩ lúc bế con bé theo, mình chờ cho đến khi Hiền ném con mẹ nó xuống hồ rồi sẽ đưa nó đi xa, đem cho người lạ... Tuy nhiên khi Hiền vừa thực hiện xong việc với con Thiên Lý thì con bé chợt tỉnh dậy và nó gào thét dữ dội rồi như điên dại, nó phóng mình lao theo xuống hồ nước. Hiền nhảy theo vớt nó lên nhưng lặn mò cả buổi mà chẳng thấy..." Hậu buông rơi cuốn sổ nhật ký xuống, mắt anh hoa lên, tai ù đi... - Trời ơi! Những gì Hậu vừa đọc được trong nhật ký đâu phải chuyện đùa. Nó là sự thật ngoài sức tưởng tượng của anh. - Má, tại sao... Hậu chạy sang phòng bà ngoại, nhưng lúc ấy bà Lệ Hoa vẫn còn đang mê man, nên Hậu chỉ biết đứng như bị trời trồng. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 43
Phần 3 Oan Nghiệt Định trở về nhà, nhưng do mẹ còn bệnh, nên đêm hôm đó Hậu đã phải ở lại nhà ngoại. Nhà bà chỉ có hai phòng là có giường, mùng màn đầy đủ để ngủ, một là phòng bà ngoại, hai là căn phòng của mẹ trong thời gian bà ở đây. Lấy chiếc mền ra nằm ngoài ghế trường kỷ để ngủ thì bà ngoại không cho: - Con vào phòng của má con mà ngủ, tối nay má con ngủ bên ngoại. Con cứ ngủ cho ngon, má đã ổn rồi, để ngoại lo. Hậu buộc phải ngủ lại ở phòng của mẹ. Thật ra anh cũng muốn nhân cơ hội để biết thêm về mẹ, mà bấy lâu nay anh ít có dịp lưu tâm. Nhất là nhớ lại cái trang trong nhật ký mẹ có nhắc tới Hiền, người đàn ông nào đó mà Hậu nghi hoặc và chưa biết phải hỏi ai cho ra tung tích ông ta. Đó là người tình của mẹ! Điều này đã khá rõ và còn nặng nề hơn, ông ta đã nhúng tay vào một tội ác mà chỉ mới đọc qua nhật ký Hậu đã rợn cả người! Thì ra sở dĩ ông già Tư không muốn anh ra ngoài chỗ hai cái mộ đá là bởi có liên quan tới chuyện này... Bỗng Hậu kêu lên: - Ông già Tư! Chú Tư Hiền! Từ nào giờ trong nhà chỉ quen gọi ông quản gia là chú Tư, nên cái tên tục là Hiền của chú đã bị quên đi. Có phải chăng Hiền mà mẹ nhắc trong nhật ký là... ông già Tư? Hậu tốc chạy sang phòng bà ngoại, anh hỏi to: - Có phải chú Tư quản gia là Hiền không ngoại? Bà ngoại ngạc nhiên: - Con biết rồi mà còn hỏi là sao? Thì chú ấy tên Hiền, đã làm quản gia cho ba con từ hơn hai chục năm nay. Hình như con được bao nhiêu tuổi thì chú ấy đã ở trong nhà mình bao nhiêu năm rồi... Hậu quay sang mẹ hỏi to: - Có phải Hiền mà má nói là... chú Tư quản gia không? Tuy nhiên bà Lệ Hoa vẫn mê man, nên bà đâu có nghe câu hỏi của Hậu. Thất vọng, Hậu trở về phòng. Anh giở nhật ký của mẹ ra đọc lại lần nữa. Và lúc này anh phát hiện ra một điều quan trọng khác: ở cuối tập nhật ký có một bức ảnh bán thân của một người đàn ông chụp đã lâu, ảnh ngả màu vàng, nhưng vừa thoạt trông Hậu đã nhận ra ngay người trong ảnh, đó chính là ông già Tư lúc đó cỡ gần ba mươi tuổi. Phía sau bức ảnh có ghi dòng chữ: Đỗ Ngọc Hiền chụp khi về Sài Gòn. - Ông ta là Hiền của má! Hậu không còn kiên nhẫn nữa, anh lẻn ra ngoài và gọi xe tới ngay bệnh viện. Ông già Tư lúc ấy cũng vừa tỉnh lại sau cơn mê dài. Vừa nhìn thấy Hậu, ông đã hỏi ngay: - Không ai Iàm gì con chứ? Ông ta đổi cách gọi một điều cậu hai điều cậu trước đây, mà đổi sang gọi Hậu là con, khiến anh hơi ngạc nhiên: - Chú… là chú Hiền? Ông già nhìn sững Hậu: - Con hỏi sao? Ừ, thì từ nào đến giờ ta vẫn là Hiền, Tư Hiền. - Chú là... Hậu định hỏi thẳng, nhưng anh lại khựng lại, lưỡng lự. Ông già Tư vẫn không hay biết chuyện Hậu đã rõ mọi chuyện, chú tiếp tục nói: - Ta mê man, nhưng trong cơn mê lại thấy người ta đang muốn ám hại má con. Ta muốn dậy đi báo cho bà ấy, nhưng không làm sao dậy được. Mới vừa rồi, trong lúc ta đang tuyệt vọng thì chợt nhìn thấy đứa con gái mặc chiếc áo màu hồng, nó ẵm đứa con trên tay và chạy tới báo cho ta biết rằng con phải chạy ngay đi kẻo mất mạng! Ta hốt hoảng và tỉnh lại được, kịp lúc con tới đây! Hậu không nhịn được, anh hỏi thẳng: - Chú nói xem, có phải chú đã giết cô gái đó không? Ông già Tư nhìn sững Hậu: - Con… con nói gì vậy? Giết ai? Hậu gắt lên: - Chú đã dìm mẹ người ta xuống hồ, tại sao không tha đứa bé mới có mấy tuổi? Chú có còn là con người không? Ông già Tư sững sờ trước câu hỏi bất ngờ của Hậu, ông lắp bắp: - Ta... ta... Hậu nói như gào lên: - Gieo tội ác thì sẽ phải đền tội thôi! Chú đừng giấu nữa, tôi đã biết hết rồi. Chính chú đã làm cho mẹ tôi mang tiếng là kẻ giết người! - Kìa, con! Hậu đanh giọng lại: - Lâu nay tôi kính trọng chú, thương yêu chú, coi như cha chú, vậy mà chú làm cho tôi thất vọng quá! Chú là kẻ giết người! - Kìa, Hậu! Hậu quay bước đi ngay, nhưng vừa ra tới cửa phòng bệnh, anh chợt khựng lại. Bởi có một người đang đứng chặn ngang lối đi của anh. Người ấy khi vừa nhìn thấy, Hậu đã phải kêu lên: - Là cô! Cô là... Cô gái mặc chiếc áo hồng mà Hậu từng thấy, từng cầm nó trên tay. Cô gái có gương mặt giống hệt như cô nàng ăn mặc rách rưới ngồi hát trên bờ hồ. Tuy cô ta có ăn mặc đẹp hơn, lộng lẫy hơn, nhưng mái tóc và khuôn mặt thì không thay đổi. Nhất là cặp mắt vừa long lanh, nhưng cũng đượm buồn... Cô nàng cất giọng nghiêm khắc: - Giao cho anh giữ con mà anh nỡ bỏ lại rồi đi luôn, vậy ai chăm sóc nó, ai cho nó bú suốt hai ngày nay? Hậu lúng túng: - Tôi buộc phải... tôi phải... Từ bên trong, ông già Tư hỏi vọng ra: - Ai tới vậy Hậu? Nếu là bà ấy thì để ta... Cô gái áo hồng vội vã: - Anh hãy đi đi, rồi tôi sẽ gặp lại. Còn bây giờ để tôi lo vụ này đã. Cô ta bước thẳng vào phòng bệnh. Hậu nhìn theo và chợt phát hiện, nhìn từ phía sau thì... chẳng thấy thân thể cô ta đâu, chỉ thấy thấp thoáng màu hồng của chiếc áo! Bất chợt Hậu hốt hoảng: - Cô ta... Hậu chạy rất nhanh và kịp đứng chặn ngang trước giường bệnh, vừa lên tiếng: - Cô định làm gì ông ta? Lúc bấy giờ, kể cả hình dáng của cô Hậu cũng chẳng nhìn thấy, chỉ nghe hơi thở dồn dập biểu tỏ sự tức giận. Anh dang cả hai tay ra che khuất cả ông già Tư. - Chuyện của ông ta hãy để cho tôi xử. Tôi sẽ không để ông ta tồn tại, nhưng tôi không muốn các người ra tay. Chỉ nghe Hậu nói mà không thấy ai khác, ông già Tư vội lên tiếng: - Con làm gì vậy Hậu? Cứ đi về đi, ta ở đây một mình cũng chẳng sao mà. - Nhưng ông ta đã giết tôi và bây giờ nếu không ngăn chặn kịp, ông ta sẽ lại giết luôn đứa con của anh nữa! Hậu ngạc nhiên: - Con nào của tôi? - Đứa bé kia không phải con anh thì con ai! Mẹ em nói anh không nhớ sao, chỉ cần giữ chiếc áo của em trong người anh là anh đã thành thân với em rồi, và đứa bé em giao cho anh chính là con anh đó! Chợt nhớ tới những chi tiết trong quyển nhật ký của mẹ, Hậu kinh hãi: - Sao... sao có thể như thế được? Cô là... là con của... ba tôi! Cô là... Anh buông thõng hai tay xuống, hầu như quên hẳn sự có mặt của cô ta, Hậu vùng tuôn chạy ra ngoài, vừa gào lên: - Ông trời ơi, ông giết con rồi! Ông già Tư nói to: - Không phải như vậy đâu, Hậu ơi! Nhưng bóng Hậu đã biến mất bên ngoài. Giọng cô gái hốt hoảng: - Anh ấy sẽ chết đó! Được rồi, một lần nữa anh ấy đã cứu sống ông. Bây giờ tôi hãy tạm tha cái mạng chó của ông, chờ cứu anh ta đã rồi sẽ tính! Ông già Tư ôm đầu rên rỉ: - Đúng là quả báo tôi rồi... Ông muốn nhảy ngay xuống giường để đuổi theo, nhưng cả thân người ông như bị cột chặt, không làm sao làm theo ý mình dược. - Hậu ơi! Ông ta chỉ kêu lên được mấy tiếng đó trong đau khổ tột cùng. Bỗng một giọng nói rót vào tai ông: - Con gái tôi nó ngu dại đi mê đứa con của kẻ thù, tôi ngăn không được, chỉ vì nó lỡ có con với thằng kia rồi. Nhưng còn ông đến phút này đã là giờ tận số rồi! Ông có biết bấy lâu nay chỉ vì ông luôn đeo cái tượng Phật trên cổ nên tôi chưa ra tay được, còn bây giờ thì... Nghe nói tới đó, bất chợt ông già Tư sờ lên cổ mình và thất thần khi không còn thấy tượng Phật bằng gỗ trầm hương mà ngày trước ông vô tình nhặt được ở sau vườn và đeo luôn từ ấy. Chẳng hiểu sao vật bất ly thân của ông lại biến mất. Người kia cất tiếng cười nghe đến rợn người: - Hai mươi năm tao chờ ngày này! Một luồng khí lạnh phả vào mặt ông Tư, khiến ông ta đờ đẫn cả người và hầu như chờ đợi điều bất hạnh đến với mình thì bất chợt hai cô y tá với chiếc xe đẩy xuất hiện kịp thời. Một cô tiến tới bên bệnh nhân và lên tiếng ngay: - Cháu trả bác vật này. Hồi sáng sớm nay khi làm vệ sinh cho bác, cô lao công đã vô tình làm nó rơi ra, cũng may là bác sĩ điều trị nhìn thấy và giữ giúp, bây giờ cháu mang lại cho bác đây. Để cháu mang vào cho! Đó là tượng Phật bằng gỗ trầm hương! Cô ta nhẹ nhàng đeo vào cổ bệnh nhân, vừa giải thích thêm: - Bác sĩ nghĩ bác bị một chấn thương ở não, nên phải đưa bác đi chụp hình. Bác cứ nằm yên trên xe, tụi cháu sẽ đẩy nhé! Họ tiến hành công việc rất nhanh. Và đó là nguyên nhân khiến giọng nói vô hình kia ngừng bặt luôn. Khi họ đẩy xe băng ca đi rồi mới nghe tiếng rít lên: - Thằng chó chết lại thoát nữa! Một trong hai cô y tá đang đẩy xe đã vội trở lại vì quên lấy theo biểu đồ bệnh án của bệnh nhân, khi bước vào phòng cô đã va vào ai đó suýt ngã, cô la lên: - Ai đi mà không coi gì hết! Nhưng khi nhìn lại thì chẳng thấy ai cả. Bất chợt cô rùng mình... *** Hậu mở mắt ra thì ngạc nhiên vô cùng bởi cảnh vật chung quanh. Anh đang nằm trong một gian phòng tối, mùi ẩm mốc xông lên mũi. - Đây là đâu? Trả lời câu hỏi thầm của Hậu là tiếng khóc oe của một đứa trẻ! Và bàn tay của Hậu cũng vừa chạm phải một thân thể nhỏ bé của nó. - Tại sao? Hậu cố căng mắt ra trong bóng tối để nhìn và anh nhận ra đó là đứa bé mà anh từng nuôi giữ mấy hôm ở trang trại. Như vậy anh đã trở về ngôi nhà trên vùng cao nguyên của mình? Bước nhanh tới cửa sổ nhỏ, Hậu nhìn ra ngoài và vô cùng ngạc nhiên khi nhận ra đây chính là ngôi nhà của anh ở Sài Gòn. Gian phòng này là cái nhà kho chứa vật dụng phế thải mà đã từ lâu không được mở cửa ra. Đúng hơn kể từ khi cha Hậu mất thì gian nhà này cũng đóng cửa luôn với những vật dụng tạp nham đủ thứ dồn vào đó, mà mẹ anh đã không buồn mở ra, mà đến khi Hậu lớn lên anh cũng lo học, lo đủ thứ chuyện và thường xa nhà, nên hầu như bỏ quên một góc trong chính ngôi nhà của mình. Hậu thử đẩy cửa lớn thì ngạc nhiên vì cửa khóa từ bên ngoài. Anh cất tiếng gọi lớn: - Chị Chín ơi! Chín là chị người Iàm, coi như quản gia ở đây. Chị ta không trả lời. Lúc này Hậu mới chợt nhớ chị ta đã sang nhà bà ngoại anh để săn sóc cho mẹ, như vậy hiện nhà đâu còn ai khác. Nhớ lại chuyện đêm qua ở bệnh viện, Hậu không hiểu tại sao mình lại chạy về đây, chỉ nhớ là trong lúc còn đang chạy ngoài đường thì anh cảm giác như có người đẩy mình chạy rất nhanh. Qua hơi thở gấp của người đó, Hậu mường tượng ra chính là cô gái áo hồng... - Thì ra cô ta đã đưa mình về đây! Hậu nhủ thầm, nhưng trong lòng anh không mừng mà lại bối rối và lo lắng. Anh càng nhớ lại những nội dung trong tập nhật ký của mẹ. Cô gái này là con của người phụ nữ có tên là Thiên Lý với cha mình. Như vậy... Bất giác Hậu thốt lên: - Mình đã phạm phải một tội ác tày trời rồi! Vừa khi ấy đứa bé ré lên, Hậu buộc lòng phải bước lui tới chỗ nó nằm lúc nãy. Nhưng anh ngạc nhiên quá đỗi khi không còn thấy đứa bé đâu! - Ủa... Hậu còn đang ngơ ngác thì ở góc phòng bên trái có tiếng nói vọng ra: - Con cái mà chẳng lo chăm sóc gì cả, còn đứng đó làm gì? Hậu gắt lên: - Con nít thì để nó một nơi yên ổn, đưa tới đưa lui hoài nó chịu sao nổi? - Vậy sao anh không ở nhà nuôi nó? - Tôi... tôi... Rồi anh nghĩ mình phải nói ra điều nên nói: - Cô có biết... giữa tôi và cô là... anh em cùng cha khác mẹ không! Tức chúng ta cùng huyết thống, sao còn xảy ra chuyện oái oăm này! Tưởng cô nàng sửng sốt, nào ngờ cô ta vẫn điềm nhiên nói: - Có sao đâu! Chỉ có người vô tâm không chịu tìm hiểu đến nơi đến chốn như anh thì mới lo lắng lung tung như vậy thôi! Hậu nạt ngang: - Sao lại lung tung! Cô là con của bà Thlên Lý với ba tôi, vậy không phải là cùng máu mủ với tôi sao? Đã không biết thì thôi, sao lại vô tâm như vậy? Anh ôm mặt khóc rấm rứt. Trong lúc cô gái vẫn thản nhiên nói: - Người đau khổ phải là em chứ! Vì phạm phải dục tình với anh, nên mẹ em nhất quyết phải trừng trị, bắt em phải giao con rồi chờ bà ấy ra tay. Mà anh biết, mẹ em một khi ra tay thì không kể đến con ruột của mình hay là ai không! Thấy cô nàng vẫn không quan tâm gì tới chuyện huyết thống, Hậu lại phải la lớn: - Cô đúng là người cõi âm nên không còn biết gì là đạo lý rồi. Cô có biết anh em chung dòng máu với nhau mà phạm phải chuyện này gọi là gì không? Là loạn luân, và hình phạt là trời tru đất diệt! Nàng bất ngờ hỏi lại: - Nếu sự thật không phải vậy thì sao? Hậu vẫn gào lên: - Là năm rõ mười rồi còn gì nữa! Giọng cô gái bây giờ mới chậm lại, nhấn mạnh từng tiếng một: - Anh đã nhìn rõ mặt em rồi, chúng ta có điểm nào giống nhau như anh em không? - Nhưng mà... - Có khi nào anh nghĩ mình là con của một người khác không? Hậu giật mình, nhưng anh vẫn nói: - Chuyện đó có là nằm mơ! Tôi đang đau khổ, hối hận, mà nếu hồi sáng này cô không đưa tôi về đây thì tôi thà đâm đầu vào xe chết cho rồi! - Chết uổng mạng! Anh có nghĩ là mình hồ đồ lắm không? Tại sao em đưa anh về đây, cố tình cho anh vào cái nhà kho lâu năm không ai vào này để làm gì không? Anh thử nghĩ đi! Hậu ngơ ngác: - Thì cô muốn... - Một phần là để tránh cuộc truy sát của mẹ em. Bà ấy đã chờ đợi việc trả thù này ngót hai mươi năm rồi, đây là thời cơ tốt nhất. Nhưng giết ai thì giết, em nhất định không để mẹ giết anh. Em nhốt anh trong này chờ đến khi nào mẹ em bỏ đi thì anh được toàn mạng... - Như vậy để mà làm gì. Tỏi muốn được chết thôi! - Điên! Em đã nói rồi mà anh vẫn không nghe. Bây giờ nghe tiếp đây, phần còn lại của mục đích đưa anh về đây là để anh xem những gì ba anh để lại trong này, từ đó anh biết thêm nhiều thứ và sẽ sáng mắt ra! Nàng nói xong thì cửa sổ hơi lay động, cùng giọng nói nàng phát ra từ hướng đó: - Em đã cho con bú sữa rồi, nó sẽ ngủ một giấc cho đến khi em quay lại. Còn anh cứ an tâm tìm hiểu đi... Bỗng dưng đèn trong phòng bật sáng, lúc này Hậu mới nhìn thấy ngoài những đồ đạc, vật dụng ngổn ngang, còn có một cái bàn viết còn nguyên vẹn đặt ở một góc phòng và một chiếc giường ngủ rất tươm tất, nơi đứa bé đang nằm ngủ say. Hậu lưỡng lự một lúc rồi cũng giống như ở phòng của mẹ, anh bắt đầu lục ngăn kéo của bàn viết. Ngay ở quyển sổ đầu tiên thì Hậu giở lên đã có một tấm ảnh rơi ra. Anh reo khẽ: - Ảnh của mình! Trong ảnh, Hậu chụp năm anh được bốn tuổi và do chính ba anh chụp. Ở phòng riêng Hậu còn giữ một tấm ảnh giống như vậy. Nhưng khi lật phía sau ảnh thì Hậu tái mặt! Bởi dòng chữ do chính ba anh ghi: "Đứa con trai mình yêu thương nhất, đặt nhiều kỳ vọng nhất, không ngờ lại là... con của kẻ khác!" Nắm chặt ảnh trong tay, Hậu run đến nỗi nói không thành lời: - Mình là... con... con của... Anh lật tung mọi thứ trong ngăn tủ và tuần tự những điều bất hạnh đã hiện ra trước mắt Hậu. Cũng trong một đoạn nhật ký, ba anh đã viết: "Sinh nhật lần thứ tư của thằng Hậu, mình mới khám phá ra một sự thật phũ phàng, đứa con trai độc nhất của mình với Lệ Hoa lại không phải do mình là tác giả! Chính trong một lần ghen tuông, Lệ Hoa đã điên tiết nói huỵch toẹt ra rằng do để trả thù mình có quan hệ với Thiên Lý, nên cô ấy đã... hiến thân cho quản gia Tư Hiền và cho ra đời thằng Hậu!" Ở một đoạn khác, cha Hậu đã viết: "Thiên Lý sinh con gái! Nhìn đứa bé mới ra đời, mình đã hình dung sau này nó sẽ là một đứa con gái đẹp như tranh vẽ! Mình tính đặt tên cho con là Ngọc Nguyệt, tức con thỏ ngọc ở cung chị hằng nga, nhưng Thiên Lý nhất quyết chọn tên Phù Dung để đặt cho con. Cô ấy nói, cô thích những loài hoa. Nên cô là Thiên Lý thì con gái phải là Phù Dung! Mình giải thích hoa phù dung tượng trưng cho sự mau tàn vì người ta vẫn nói phù dung sớm nở tối tàn, nhưng nàng không nghe, còn bảo rằng, thà mau tàn mà được người đời ngưỡng mộ là được." Ở vài đoạn khác nữa, ba Hậu viết lại giống như những gì bà Thiên Lý nói và do chính mẹ Hậu kể. Đọc xong mấy đoạn đó Hậu sững sờ, anh không tin là sự thật: - Không thể nào! *** Ông già Tư sau một lúc ngập ngừng, cuối cùng đã gật đầu thừa nhận:- Ta đã làm chuyện đó, trước tiên vì cảm cảnh bà chủ của mình, sau đó mới vì tình cảm. Ta nói thật, ta thương má con vô cùng. Bà ấy khổ quá nên mới nghĩ quẩn, mới xúi ta làm liều... Hậu gào lên: - Đáng lẽ chú phải từ chối làm chuyện ác chớ! Giết một mạng người vì ghen đã là một tội ác tày trời rồi, đằng này giết luôn đứa trẻ mới hai tuổi đầu nữa! Già Tư nghẹn ngào: - Do con bé nhảy xuống hồ rồi chìm luôn, chứ ta nào... Hậu đặt quyển nhật ký của mẹ trước mắt ông: - Trong này mẹ đã nói hết rồi. Con mong rằng từ nay chú lo cho mẹ và đừng trở về trang trại nữa. Ở trên đó đã có con lo! Hậu nói xong bước đi nhanh ra xe và rồ máy chạy như chạy trốn. Anh đã quyết định dứt khoát, kể từ nay anh sẽ về ở hẳn trên ngôi nhà mà lúc đầu anh chỉ định về chơi. Mọi công việc ở công ty kinh doanh Hậu đã ủy quyền cho một hội đồng lo liệu. Chính ông già Tư khi nghe Hậu quyết định như vậy đã rất hoảng sợ, can ngăn không cho anh đi. Nhưng Hậu đã nói thẳng: - Con thà chấp nhận để cho hồn ma của mẹ con cô ấy hãm hại, còn hơn là cứ sống trong giằng xé lương tâm hoài, chịu không nổi! Việc đầu tiên khi về tới trang trại là Hậu đi ra hai ngôi mộ đá với bông hoa và trái cây, anh cúng rất thành khẩn và vái vong linh họ: - Con thay mặt cho những người mà lâu nay con gọi là mẹ và chú, đến đây tạ tội với... cô. Nếu cô chấp nhận lời tạ tội của con thì từ nay hãy cho con được ở yên trong ngôi nhà này. Con nguyện sẽ làm hết sức mình để chăm sóc mồ mả cho cô và... Anh nói chưa dứt lời thì chợt phía sau lưng có giọng nói vang lên: - Từ nay phải gọi là mẹ, chứ sao gọi là cô! Hậu quay lại và giật mình khi nhận ra hình hài rõ ràng của cô gái áo hồng. Cô nàng đẹp thật lộng lẫy! - Cô... à mà không. Em là Phù Dung! - Biết điều rồi đó. Anh vừa gọi tên Phù Dung tức đã biết được là loài hoa sớm nở tối tàn rồi! Anh hãy gọi lại lần nữa xem! Hậu gọi rất trìu mến: - Phù Dung, em! Nàng tiến lại gần Hậu hơn, nhưng giữ một khoảng cách vừa phải rồi tiếp tục với giọng buồn hơn bao giờ hết: - Em đành phải nghe theo lời mẹ thôi. Mẹ bắt em phải thoát kiếp từ hôm nay để theo mẹ. Hồn phách thì rồi phải theo cát bụi thôi... Nàng bật khóc nức nở và trong nước mắt nàng nói: - Em cũng giống như mẹ thôi, tình yêu ngang trái vốn là số kiếp của mẹ con em rồi. Gặp anh, em cứ ngỡ mình cãi được số phận, sẽ ở lại trần gian để cùng anh chung sống cảnh âm dương. Nhưng nếu em làm thế thì hồn phách mẹ sẽ muôn kiếp lang thang, đời đời mãi là oan hồn. Em thương mẹ, nên đành chấp nhận... Chỉ xin anh hãy cố gắng nuôi con. Đứa bé tuy là do người âm cảnh như em sinh ra, nhưng từ bấy lâu nay nó được ấp ủ hơi dương thế của anh, nên chỉ cần thêm một trăm ngày nữa là nó sẽ vĩnh viễn thành người trần. Nó sẽ thay em lo cho anh. Hãy thương con anh nhé! Nàng nói vừa dứt lời thì theo một cơn gió mạnh thổi qua, biến đi như khói bụi! Hậu gào lên: - Phù Dung! Anh lao theo, nhưng vấp chân té ngã ngay trước đầu mộ và ngất đi. *** Hậu ở lại đó cùng đứa bé. Lạ một điều là tuy không có mẹ, nhưng con bé lớn nhanh như thổi, vô cùng ngoan ngoãn và dễ thương. Lớn lên, nếu có ai hỏi mẹ nó đâu thì nó chỉ lên và bảo: - Mẹ ở trên đó! LINH MIÊU Bà Thủy phải lấy hơi mấy lượt mới kể hết câu chuyện được: - Lần cuối cùng là sáng sớm hôm nay, khi tôi cố gắng mở mắt ra thì nhìn thấy được anh ta nằm đó, không cử động nhưng mắt thì cứ nhìn tôi đăm đăm như muốn nói gì đó mà nói không được. Tôi sợ quá định kêu lên, nhưng cũng không tài nào kêu dược! Ông pháp sư Hoàng Vệ lắng nghe rất kỹ, rồi nhẹ nhàng nói: - Bà là người thứ hai kể câu chuyện này. Rõ ràng đó là một hồn ma, nhưng nó không giống như các hồn ma mà mọi người từng gặp. Nó không hại người, cũng không hung dữ hay ma mãnh. Đặc biệt hơn, nó là một người nam. Bà Bích Thủy hỏi lại: - Đã là ma thì nam hay nữ cũng như nhau, sao gọi là đặc biệt? Nhắm mắt một lúc, rồi đột nhiên vị pháp sư nói: - Nhưng ở đây thì khác! Nó không phải là một oan hồn bình thường như tôi tưởng. Bà xem đây... Ông đưa cổ tay mình ra, bà Thủy nhìn thấy năm dấu đỏ rướm máu quanh cổ tay, bà kinh ngạc: - Ông bị sao vậy và bị bao lâu rồi sao không bôi thuốc? Ông pháp sư nghiêm giọng: - Mới vừa bị tức thời! Hồn ma này đã cao tay ấn hơn tôi tưởng, nên suýt đã mất mạng với nó! Ông lại đưa cổ tay bên kia, có hai dấu răng ngập sâu vào trong, hai dòng máu rịn chảy ra khiến bà Thủy sợ hãi: - Chẳng lẽ thầy cũng mới vừa bị? Mà sao tôi không thấy ai ở đây cả? Ông thầy hơi mất bình tĩnh: - Nguy hiểm là ở chỗ này. Chính cái vẻ lừ đừ, chậm chạp và gần như bất động của nó đã làm hại tôi. Với những vết thương này một người bình thường coi như mất mạng, cũng may là tôi còn có thứ hộ thân. Ông lấy trong túi áo ra một gói vải đỏ, bỏ nhanh vào miệng một vật gì được bọc trong đó. Rồi ông thu dọn đồ đạc và nói nhanh: - Xin kiếu bà. Bà Bích Thủy hốt hoảng: - Kìa, thầy chưa làm giúp tôi chuyện đã nhờ thầy! Lão pháp sư nhẹ lắc đầu: - Tôi không thể giúp được gì nữa! Ông ta đi ra cửa và phóng lên xe vù nhanh. Nhưng xe vừa ra tới cổng thì đâm sầm vào một xe khác và ngã lăn ra. Mọi việc diễn ra bên ngoài, nên trong nhà bà Bích Thủy không hề hay biết... Nửa giờ sau... Bà Bích Thủy sau một đêm mệt lả đã thiếp đi ngay khi lão pháp sư vừa đi ra. Nhưng chỉ một lát sau, bà đã nghe có người lay nhẹ mình cùng giọng nói bên tai: - Dậy đi bà Thủy. Đi theo tôi... Bà Thủy mở mắt ra tuy có hơi ngạc nhiên khi nhìn thấy ông pháp sư, nhưng vẫn không do dự khi ngồi bật dậy và bước ngay xuống giường. Bà chỉ hỏi khi bước ra tới cửa phòng: - Mình đi đâu đây? Ông pháp sư mặt lạnh như tiền: - Đi rồi khắc biết! Bước ra khỏi cửa một chút thì bà Thủy hầu như không còn định hướng được là mình đi đâu, bà hầu như phải vịn vào cánh tay của lão pháp sư mới đi được. *** Khi người ta phát hiện ra bà Bích Thủy nằm ngất đi trong một ngôi nhà bỏ hoang ở phía sau nghĩa địa thì người tím tái, lạnh ngắt.Cũng may là được cứu chữa kịp thời, nên sau đó bà thoát nạn. Nhưng khi người nhà hỏi chuyện thì bà Thủy nhất định không nói và lại tỏ ra sợ hãi một khi bị hạch hỏi. Nhơn, cậu con trai cả của bà rất thương mẹ, nên ngăn không cho ai hỏi gì thêm, đích thân anh dìu mẹ về phòng riêng ngơi nghỉ. Sau đó, chính anh một mình trở lại ngôi nhà hoang đó để tìm hiểu thêm. Và thật bất ngờ, lúc Nhơn bước vào ngôi nhà không còn cửa, anh đã gặp một anh chàng tuổi cỡ bằng anh, đang nằm im dưới đất. Rõ ràng, lúc người phát hiện ra mẹ anh ở đây, người ta quả quyết là nhà không có ai khác, như vậy anh chàng này... Nhơn đứng lặng một lúc lâu rồi mới đánh bạo bước tới xem tình trạng của người nằm đó và giật mình khi nhận ra anh ta còn thở! Thoạt tiên Nhơn định đi báo cho những nhà gần đó nhưng lại ngại lôi thôi, nên sau một phút lưỡng lự, anh bước ra ngoài đường lớn gọi một chiếc xe xích lô, anh bảo: - Tôi có người thân bị bệnh bất ngờ, nhờ anh chở đi bệnh viện giùm. Anh đưa tờ giấy bạc trị giá gấp ba lần cuốc xe, anh chàng đạp xích lô vui vẻ nhận lời liền: - Thầy có cần đi theo không? Nhơn đáp: - Không cần, anh cứ đưa người nhà tôi tới bệnh viện đó, tôi sẽ đón. Tuy nhiên khi Nhơn trở vào thì phải ngơ ngác khi không còn nhìn thấy anh chàng kia đâu. - Ủa, sao kỳ vậy? Anh chàng đạp xích lô bàn: - Hay là người nhà của thầy đã tỉnh lại rồi và đi ra lúc thầy đi kêu xe? Nhơn thở phào nhẹ nhõm, bởi thật sự lúc nãy anh vì lòng trắc ẩn nên phải tính chuyện cứu người gặp nạn, giống như người ta đã cứu mẹ mình. Còn bây giờ coi như không còn phiền toái nữa. Nhơn tìm cách nói khéo: - Anh chờ ở đây, để tôi đi quanh tìm thử xem... Anh nhìn thấy một lối ra khác, ngược lại với lối đã vào lúc nãy, nên đi nhanh ra hướng đó. Mục đích của Nhơn là để tránh phải giải thích lôi thôi với anh chàng đạp xe kia. Chờ một lát sau không thấy Nhơn quay lại, anh chàng đạp xe ngơ ngác gọi: - Thầy gì ơi, tôi trả lại tiền rồi còn đi kiếm ăn nữa chứ! Anh ta gọi đến cả chục lần mà vẫn chẳng nghe trả lời. Túng thế, anh ta mới quay ra xe đậu cách đó vài chục thước. Và... - Ủa? Anh ta nhìn lên xe của mình và thấy một anh chàng đang nằm như chết trên đó! - Kìa, anh... Sờ thấy anh ta bất động, anh chàng hốt hoảng: - Là người nhà của thầy kia đây mà, sao thầy ấy đi đâu vậy cà! Anh ta định đứng đợi, nhưng nhớ lại lời dặn của Nhơn lúc nãy, anh ta lên xe đạp thẳng tới bệnh viện cấp cứu. Tới nơi, anh ta nhìn trước sau chẳng thấy Nhơn đâu thì hơi lo, nên sau cùng phải để khách trên xe, anh ta chạy thẳng vào trong để tìm. Tìm hoài chẳng thấy Nhơn đâu, anh ta đành phải quay ra, tính sẽ dìu đại bệnh nhân vào và gửi ở chỗ cấp cứu. Tuy nhiên, khi trở ra anh ta ngơ ngác, bởi trên xe không hề có bệnh nhân! Mà thay vào đó là một con mèo mun nằm yên như chết trên nệm xe. - Sao... sao thế này? Anh ta còn đang thừ người ra thì vừa lúc con mèo phóng nhanh xuống xe và biến mất giữa dòng người qua lại trên đường... Đúng ra việc đến đó là xong, bởi tiền công đã lấy rồi, cũng không phải tốn chút sức nào về người bệnh. Nhưng chẳng hiểu sao, anh chàng đạp xích lô cũng đứng đó chẳng muốn rời, như còn muốn chờ đợi điều gì đó... Mãi đến khi có một người khách gọi xe, anh ta mới giật mình quay lại và lúng túng đáp: - Dạ, xe đang đợi người... Anh ta đợi đến trưa và cuối cùng đạp xe không về mà trong lòng cứ hoang mang không thôi. *** Nghe con hỏi, bà Bích Thủy ngơ ngác: - Mẹ có biết gì đâu, bởi khi mẹ tỉnh lại thì thấy đang nằm trong phòng mẹ rồi. Nhơn kể lại: - Người ta bắt gặp mẹ nằm trong một ngôi nhà bỏ hoang gần với nghĩa địa. Chính con khi tới đưa mẹ về cũng ngạc nhiên hết sức tại sao mẹ lại ở đó. Đâu, mẹ nhớ lại coi mẹ đã làm gì trước đó? Bà Bích Thủy lúc ấy đã tỉnh táo hơn, bà lờ mờ nhớ lại chuyện ông pháp sư mà bà nhờ một người bạn rước về giùm, bà kêu lên khẽ: - Ông pháp sư! Nhơn ngạc nhiên: - Ông pháp sư nào? Mẹ gặp ông ta ở đâu? Bà Bích Thủy định giấu con, nhưng sau cùng bà nói rằng: - Mẹ nằm mơ thấy một thằng nào đó cứ nằm nhìn mẹ hoài, làm mẹ sợ quá mấy đêm liền ngủ không được, nên phải nhờ người bạn rước ông thầy về coi giùm. Nhơn giật mình: - Thằng nào là... thằng nào? - Một thằng con trai cỡ tuổi con! - Có phải anh ta mặc chiếc áo sơ mi màu xanh và đi đôi giày vải không? Bà Bích Thủy kinh hãi: - Sao... sao con biết? Con cũng gặp hay sao? Nhơn kể lại: - Khi con trở lại ngôi nhà hoang thì gặp anh ta nằm ở đó! Bà Bích Thủy thất thần: - Rồi sao? - Anh ta... biến mất khi con gọi xích lô chở đi bệnh viện giùm! - Sao... sao con dính tới anh ta làm gì! Trời ơi, không xong rồi Nhơn ơi... Bà run lẩy bẩy, khiến Nhơn phải trấn an: - Bây giờ mọi việc qua rồi mẹ. Con nghĩ chắc anh chàng đó cũng là người đi lạc đường rồi vào ngôi nhà đó tá túc... - Nhưng nó chính là đứa đã hiện ra trong giấc mơ của mẹ! Nó mặc cái áo đó, mang đôi giày vải đó. Nó... Bà không biết dùng từ gì để nói về người con trai kia, nên chỉ run và sợ hãi. Nhơn phải nói: - Có lẽ do mẹ yếu trong người rồi mất ngủ và sinh ra như vậy. Thôi, để lát nữa con đưa mẹ đi bác sĩ khám bệnh, uống thuốc là hết. Nhất là mẹ đừng để những hình ảnh như vậy trong đầu nữa. Bà Bích Thủy nhẹ lắc đầu: - Mẹ nào có dám nhớ đâu, nhưng trong đầu cứ luôn luôn bị ám. Mẹ nghĩ có lẽ phải nhờ ông thầy khác quá, chứ lão pháp sư họ Hoàng kia đã không đủ sức rồi. Nhơn không tin những chuyện nhảm nhí, nên anh gạt ngang: - Mẹ đừng bao giờ tin những ông gọi là pháp sư kiểu đó! Mẹ mà rước ông ta về nhà lần nữa là con đuổi ra đó! Bà Bích Thủy sợ hãi: - Con đừng có nói bậy! Pháp sư Hoàng Vệ nổi tiếng từ Hồng Kông, chính mẹ thấy hôm qua ông ấy bị cái vong của ai đó làm cho suýt mất mạng. Đây không phải là chuyện chơi, con không nên... Nhơn sợ cãi thêm làm mẹ buồn, nên anh tìm cách đi vào phòng mình. Nhưng bà Thủy vẫn chưa yên tâm khi thấy con có thái độ như vậy, nên bà bước theo và dặn thêm: - Con đừng có ý kiến gì, để mẹ lo... Nhơn biết nếu mình vào phòng thì thế nào mẹ cũng theo vào và cứ nói mãi vụ đó, nên anh quyết định đi luôn ra ngoài cửa và định tìm quán cà phê nào đó ngồi cho hết buổi trưa. Nhưng vừa bước ra tới cổng thì đã giật mình khi nhìn thấy một con mèo mun nằm như chết ngay dưới chân. - Ủa... Nhơn tưởng con mèo nhà ai đi lạc, nên anh vội lấy chân đá nhẹ vào nó, nhằm làm cho nó đứng dậy và đi chỗ khác. Nhưng con mèo vẫn nằm im, khiến Nhơn phải gọi vào trong: - Chị Tám ơi, ra coi con mèo nhà ai chết nằm ở cổng nhà mình nè! Tám Thể là người giúp việc lâu năm trong nhà, chị chạy ra ngay và tỏ ra ngạc nhiên lẫn sợ hãi: - Mèo mà tới nhà là không hay đó cậu! Mà lại là mèo mun và còn... chết nữa! Nhơn biết chị ta nói lôi thôi đủ thứ mọi chuyện, nên giục: - Chị hốt xác nó đem bỏ thùng rác đi, còn nói lôi thôi gì nữa! Nhơn vừa bước ra cửa thì bỗng nghe tiếng mẹ mình la to: - Không được bỏ thùng rác! Bà đã chạy ra và như tỏ ra thành kính: - Thầy bị sao vậy nè? Nhơn nghe tiếng mẹ thì chưa quay lại, nhưng khi bà nói dứt câu ấy anh phải quay ngoắt lại và lên tiếng: - Mẹ lại nữa rồi! Anh nghĩ mẹ mình sắp nói linh tinh nên cau mày. Tuy nhiên bà Thủy hầu như bất chấp, bà giục Tám Thể: - Mày đưa ông thầy vào nhà ngay đi, chắc là ông tới gặp tao mà gặp chuyện gì đó... Chính Tám Thể cũng quá đỗi ngạc nhiên trước thái độ kỳ cục của bà chủ mình, nhưng chị ta cũng phải làm theo. Chị bế con mèo lên thì phát hiện thân thể nó còn nóng: - Bà chủ, nó còn sống! Nhơn ngán ngẩm vừa quay đi vừa lắc đầu... Khi bế xác con mèo vào nhà rồi, Tám Thể lúng túng nói: - Để nó ở đâu bà chủ? - Thì mày đặt lên chiếc ghế nệm kia kìa. Ổng cao lớn, coi chừng nằm không vừa chiếc ghế đó! Tám Thể không nhịn được, chị ta phải nói: - Đây là con mèo mà bà! Bà Bích Thủy gắt lên: - Đây là ông pháp sư chứ mèo chuột gì, bộ mắt mày đui sao chứ? Bị mắng, đáng lẽ như mọi khi Tám Thể không dám cãi, nhưng trước sự việc rành rành trước mắt như vậy, chị ta không thể im được nên nói đại: - Bà nhìn sao, chứ chính cậu Hai vừa rồi cũng thấy đây là một con mèo đã nằm chết mà. Chị ta đặt con vật xuống ghế rồi bỏ đi ngay vào trong, mặc dù biết làm như thế là vô phép với chủ. Đi vào vừa tới bếp thì chị ta đã nghe bà chủ gọi giật ngược: - Tám, mày ra đây ngay, tiếp tao với! Tám Thể miễn cưỡng đi trở ra phòng khách và chị ta sửng sốt khi nhìn thấy lão pháp sư Hoàng Vệ đang nằm trên ghế! - Hả? Tại sao... Thấy chị ta còn lừng khừng, bà Bích Thủy phải la lớn: - Mày làm gì vậy Tám? Tiếp tao đỡ thầy vào phòng coi. Tám Thể đành phải ghé vai một bên để cho ông pháp sư vịn, nhưng vừa đi chị ta vừa tự hỏi: - Mình đâu có đui! Cũng không tâm thần... Chẳng lẽ một con mèo mà thành ông pháp sư sao? Lạ một điều là khi chạm vào thân thể lão ta, Tám Thể có cảm giác giống như cơ thể của con mèo mà chị ta bế trên tay lúc nãy! - Phòng nào bà? - Mày đưa vào phòng khách. Nhà có hai phòng để trống dành cho khách tới đột xuất, Tám Thể chưa biết đưa vào phòng nào thì bà chủ đã chỉ sang trái: - Phòng này nè! Gian phòng này thường dành riêng cho khách nữ, với những tiện nghi cho nữ, nghĩ bà chủ lộn, nên Tám Thể nhắc: - Phòng này có bàn phấn, có những thứ không dành cho đàn ông. Lúc này bà Thủy mới chợt nhớ ra, nhưng do đã đến sát cửa rồi, nên bà ta quyết đại: - Kệ, cứ đưa vào đi. Coi bộ ông thầy mệt lắm rồi. Đưa ông ta vào xong, bà dặn cô người Iàm: - Lát nữa cậu Nhơn có về mày đừng nói là ông thầy ở trong này. Chờ ông ấy tỉnh lại là đi ngay, nó sẽ không hay biết... Tám Thể nghi bà chủ có tình ý gì đó với người đàn ông này, nhưng sau đó chính bà đã nói khẽ với chị ta: - Tao giao mày canh chừng ông ta, khi nào thấy ông ta tỉnh lại thì bảo ông ấy đi liền. Ông ấy có hỏi tao thì nói tao đi vắng nghe chưa! - Thưa bà, con hổng dám! Bà Thủy nạt: - Tao bảo mày canh là ở ngoài canh, chứ có vào phòng đâu mà sợ. Vả lại ông ấy là người bình thường chứ có phải là gì đâu? Tám Thể nhớ lại chuyện con mèo mun lúc nãy, nên cảm thấy ớn lạnh. Chị ta buộc lòng phải nghe theo, chứ trong lòng không yên. Bởi thế khi thấy Nhơn đi uống cà phê trở về, chị liền kín đáo nói: - Cậu Hai vào phòng khách mà coi có ai ở trong đó không. Nhơn nghe vậy thì quá đỗi ngạc nhiên: - Ai trong đó? - Dạ nghe nói là ông pháp sư gì đó... Nhơn phát điên lên, anh không hỏi gì thêm, đã xông thẳng vào phòng. Và... - Chị giỡn mặt với tôi hả chị Tám? Tám Thể hốt hoảng: - Cậu nói gì vậy cậu Hai? Tôi đâu có... - Trong này có ai đâu, sao chị nói... Tám Thể thất thần: - Cậu nói gì vậy? Chính tôi đưa ông ta vào mà! Chị ta lao thẳng vào phòng, bật đèn lên sáng choang và sững sờ: - Ủa... Gian phòng trống trơn, trên chiếc giường nệm thẳng thớm, chứng tỏ đâu có ai nằm lên. Chị ta thảng thốt: - Không thể nào! Nhơn bực dọc: - Nhà này riết rồi... điên cái đầu mất thôi! Anh gọi lên lầu: - Mẹ ơi, mẹ xuống coi chị Tám Thể này bữa nay sao vậy nè! Bà Bích Thủy cứ ngỡ con trai mình đã phát hiện được vị khách không mời, nên bà quýnh lên, chạy ngay xuống, giọng ấp úng: - Mẹ... mẹ chỉ... Tám Thể nói một câu không đầu không đuôi: - Đi mất rồi, bà khỏi phải lo. Không hiểu, nên bà Bích Thủy vẫn còn lo: - Ông ta chỉ... Lúc này Tám Thể mới nói thẳng: - Đâu có ai trong phòng! Bà Bích Thủy không thể nào tin, bà chạy ngay vào phòng, ngơ ngác hỏi: - Đâu rồi? Nhơn hỏi mẹ: - Mẹ tìm con mèo để làm gì? Bà Thủy nhìn sang Tám Thể: - Chuyện gì vậy Tám? Tám Thể là người lanh lợi, chị ta biết cách gỡ khó cho chủ mình: - Con mèo... đã chạy mất rồi! Nhơn bỏ lên phòng riêng rồi, bà Bích Thủy hỏi: - Ông ta đâu rồi? Bộ mày đưa sang phòng khác hả? Tám lắc đầu: - Con đâu có làm gì. Tự ông ta làm... Bà Thủy ngạc nhiên: - Vậy là sao? Tám Thể rùng mình: - Con nghĩ trong chuyện này chắc là có gì đó... không bình thường. Bà có nghĩ đây là hồn ma không? Bà Bích Thủy hơi lúng túng: - Tao cũng không biết. Nhưng ông ta không thể nào biến mất lạ lùng như vậy được. - Bà nói ông nào? - Thì ông pháp sư! - Nhưng con không hiểu bà rước ông thầy đó tới đây làm gì vậy? Hôm bữa đầu tiên ông ấy tới đây thì thái độ coi bộ tự tin lắm, vậy mà bữa nay ỉu xìu như gà mắc tóc vậy? Không tiện nói ra hết, bà Thủy chỉ ậm ừ cho qua: - Có lẽ ông ấy bị sao đó... Bà không muốn cho Tám Thể hỏi thêm nhiều, nên bước ra khỏi phòng và dặn: - Mày khóa cửa lại ngay đi. Bà trở lên lầu ngay với tâm trạng bất an, định bụng sẽ uống mấy viên thuốc ngủ để tìm một giấc ngủ yên, bởi bà biết chắc là đêm nay sẽ lại bị một đêm mất ngủ nữa... Nhưng, khi vừa mở cửa phòng ra bà đã phải một phen đứng tim, bởi ngay trước mắt bà, ông pháp sư Hoàng Vệ đang ngồi xếp bằng giữa phòng. - Ông... sao ông lại ở đây? Lão pháp sư ra dấu cho bà khóa cửa lại rồi đáp: - Nếu tôi không kịp ra khỏi phòng thì làm sao yên được với thằng con của bà! Thằng đó coi bộ khó chịu dữ a! Bà Bích Thủy hạ thấp giọng, sợ bên ngoài nghe: - Thằng đó giống cha nó khi còn sinh tiền, nó gan dạ và ghét chuyện dị đoan mê tín lắm. Mà tại sao thầy lại tới đây vào giờ này và tại sao lại bị ngã ở cửa? Còn con mèo nữa? Ông thầy làm ra vẻ ngơ ngác: - Con mèo nào? - Thì con trai tôi và con nhỏ người làm cũng đều thấy một con mèo mun nằm ở cổng nhà, chứ đâu phải là ông? - Và bà tin lời họ? - Không, nếu tin thì tôi đâu có đưa ông vào phòng. Lão ta có cử chỉ và lời nói không giống lần trước, khi lão bất thần chụp lấy tay của bà Bích Thủy và nói nhanh: - Đi theo tôi! Bà Thủy bị bất ngờ nhưng cũng kịp phản ứng, bà ghì lại, vừa hỏi nhanh: - Đi đâu? Mà sao ông dám... Bà đã nhìn thấy ánh mắt khác thường của người đàn ông này nên cố vùng thoát ra. Tuy nhiên do bị lão ta nắm chặt quá nên nhất thời bà phải chịu để tay cho lão ta kéo. - Đi theo tôi rồi bà sẽ biết! Lão ta vừa định mở cửa thì bà Thủy đã lanh trí hô lớn: - Thằng con tôi! Lão ta phải bỏ tay ra và quay lại nhìn. Nhân cơ hội đó, bà Thủy xô mạnh vào lưng lão ta một cái khiến lão bị mất thăng bằng và ngã sấp vào tường. Bà Thủy phóng chạy ra cửa vừa la lên: - Bớ... Nhơn ơi, Tám ơi! Nhơn đang ở trong phòng vội tuôn chạy qua phòng mẹ, còn Tám Thể cũng kịp có mặt. Họ hỏi lớn: - Có chuyện gì vậy? Nhơn chụp mẹ lại, hỏi nhanh: - Gì vậy mẹ? Bà Thủy nói tiếng được tiếng mất: - Ông... ông ta... Tám Thể hiểu ra: - Lão pháp sư phải không? Bà Bích Thủy không đáp được, Nhơn buông mẹ ra và chạy về phòng bà, mở cửa ra và ngạc nhiên: - Sao lại là con mèo mun? Tám Thể cũng chạy tới và hỏi còn to hơn: - Sao bây giờ nó ở đây vậy bà? Bà Bích Thủy như người mất hồn, đứng thừ người ra... *** Vừa thoáng thấy bóng lão ta thì bà Bích Thủy đã vội quay mặt đi, nhưng không còn kịp nữa, bà đã bị lão ta phát hiện và gọi to:- Bà đi đâu mấy hôm nay mà tôi tới nhà tìm hoài không gặp? Pháp sư Hoàng Vệ vẫn trong bộ đồ lụa xá xẩu quen thuộc, từ trên xích lô bước xuống, đến trước mặt bà Thủy, thái độ đúng mực: - Tôi bị bệnh mấy hôm, vừa mới đi được là đi tìm thăm bà ngay. Vậy mà hai lần ghé qua nhà đều gặp cậu gì đó, cậu ấy nói bà đi vắng. Vậy sức khỏe bà ra sao, có còn... Bà Thủy vẫn còn sợ và giận chuyện sàm sỡ của lão ta bữa trước, nên nói nhát gừng: - Ông còn hỏi nữa sao, tốt hơn hết là ông đừng tới đây nữa! Ông Hoàng Vệ quá đỗi ngạc nhiên: - Bà nói gì vậy, bà Thủy? - Nói gì thì ông nhớ lại đi ắt biết! Thôi, chào ông! Bà quay ngoắt đi, nhưng câu nói của ông ta đã khiến bà phải khựng lại: - Bà giận tôi chuyện gì đó cũng được, nhưng tôi không thể không báo cho bà biết chuyện về con mèo mun! Vừa nghe nhắc tới con mèo, bà Thủy đã hết vía: - Lại chuyện gì nữa đây? - Chuyện liên quan tới bà chứ không phải tôi. Đây, bà xem vết mèo cào tôi còn nguyên đây, cả mấy tuần nay tôi chữa trị cật lực mà vẫn chưa lành hẳn, nếu không muốn nói là sẽ chẳng bao giờ lành được, nếu không có bà. Tưởng lão ta nham nhở nữa, bà Thủy xẵng giọng: - Chuyện của tôi, tôi tự lo, không cần đến ông! - Bộ bà không nhớ những dấu vết này tôi bị là hôm ở trong phòng bà, khi bà nhờ tôi tới để trừ khử cái vong của chàng trai. Ngay lúc đó, tôi đã phát hiện ra là bà mắc phải một mối duyên nợ rắc rối sâu sắc với một oan hồn, nhưng chưa kịp ra tay thì đã bị nó hành động trước rồi, khiến tôi trở tay không kịp! Đúng ra khi gặp phải một oan hồn cao tay ấn như thế thì tôi phải tránh xa, nếu không muốn mất mạng. Tuy nhiên, tôi không thể thấy bà nguy mà không cứu, như vậy còn đâu là lương tâm con người... Giọng ông có vẻ chân thành, khiến bà Thủy hơi ngập ngừng: - Nhưng, hôm sau... tại sao ông lại làm vậy? Hoàng Vệ ngạc nhiên: - Tôi làm gì? - Thì.. ông chụp tôi, ôm tôi trong phòng, định làm bậy chứ còn gì nữa! Hoàng Vệ điếng hồn: - Có chuyện đó sao? Phải chăng... phải chăng... Rồi ông ta la lên: - Không xong rồi! Bà Bích Thủy cau mày: - Ông nói cái gì không xong? - Thì vụ tôi sàm sỡ với bà! Bà biết tôi mà, hoặc nếu không tin thì bà hỏi bà bạn của bà coi, tôi có bao giờ làm điều gì bậy bạ không. Tôi có thờ tổ nghiệp với lời thề, nếu tôi mà lợi dụng hành nghề để giở trò gì thì sẽ hộc máu mà chết tức khắc! Vậy làm sao tôi có thể làm chuyện gì đó như bà nói... Bà Bích Thủy gay gắt: - Vậy chẳng lẽ là... ma làm? - Bà nói không sai đâu. Chính cái vong mà bà nhìn thấy đêm nào cũng hiện ra nhìn bà say đắm đó! Nó muốn hại tôi nên làm cách đó khiến bà tẩy chay tôi, và như thế là... nó tiếp cận bà được dễ dàng, đâu còn ai ngăn cản nữa! Những lời phân tích của lão ta đủ để bà Thủy ngộ ra, bà sợ hãi: - Vậy ra... trời ơi, vậy mà tôi cứ ngỡ... Rồi bà run run giọng: - Không phải ông nắm tay tôi, lôi tôi đi sao? Ông Hoàng Vệ ôm lấy đầu, rên rỉ: - Hoàng Vệ này mà làm chuyện đó sao! Ông ta móc túi đưa cho bà Thủy xem một tờ giấy mà trên đó vẽ ngoằn ngoèo những gì đó mà thoạt nhìn bà không hiểu gì hết: - Cái này là cái gì? Ông hạ thấp giọng: - Nếu tôi không tới kịp thì vật này đã hại chết con trai bà rồi! Hôm tôi tới tìm bà mà không gặp được, tôi nhìn lên xe hơi của cậu Nhơn gì đó và phát hiện ra miếng giấy kỳ quặc này gắn ở bên hông xe. Chỉ cần cậu con trai bà chạy xe đi một đoạn thì xảy ra tai nạn hoặc án mạng ngay. Nếu tôi không lầm thì cậu nhà đã từng bị cái vong đó phá, suýt mang tội giết người, khi cậu ấy gặp cái xác ở nhà hoang... Bà Thủy kêu lên: - Đúng rồi. Cũng may là sau đó xác biến mất... Ông Hoàng Vệ thở phào: - Số cậu ấy còn lớn, nên hôm đó mới gặp được người đạp xích lô có mạng khắc chế được cái vong rắc rối kia! Nhớ lại những chi tiết do Nhơn kể lại, bà Bích Thủy rùng mình: - Trời ơi, suýt nữa con tôi... Bà sợ sệt: - Bây giờ phải Iàm sao đây thầy? Vừa rồi nó đã lẻn vào nhà nữa. Hoàng Vệ nghiêm giọng: - Nó không phải lẻn vào đâu, mà muốn vào lúc nào cũng được. Bà đã vướng phải nó rồi thì khó mà... Ông không nói hết câu càng làm cho bà Bích Thủy lo sợ hơn: - Làm sao đây thầy? Hoàng Vệ đưa cho bà tờ giấy nhỏ: - Tôi có người bạn, ông ta tay nghề cao hơn tôi lại có nhiều kinh nghiệm hơn, vậy bà nên thử tới nhờ ông ta xem sao. Đây là địa chỉ nhà ông ấy. Cầm tờ giấy trong tay, nhưng bà Thủy vẫn còn lưỡng lự: - Tôi chỉ ngại những rắc rối khác thôi. Hay là... Bà hạ thấp giọng: - Nếu thầy có giận về thái độ của tôi lúc nãy thì cho tôi xin Iỗi. Chẳng qua vì tôi quá hoang mang nên như vậy. Hay là thầy vẫn tiếp tục giúp tôi, tôi... Hoàng Vệ nhẹ lắc đầu: - Không phải tôi ngại khó, nhưng xét khả năng có hạn nên tốt hơn bà nên tới chỗ đó. Tuy nhiên, trước khi tới đó bà nên trở lại ngôi nhà hoang bữa trước một lần nữa. Vừa nghe tới đó bà Thủy đã lè lưỡi, xua tay lia lịa: - Không, không đâu! Có giết chết tôi thì tôi cũng không trở lại nơi mà tôi đã suýt chết một lần! Hoàng Vệ vẫn khuyên: - Tôi e là trước sau gì bà cũng phải trở lại đó mà thôi. Bà chủ động trở lại tốt hơn là bị bắt buộc. Bà Bích Thủy nhìn sững ông, hỏi lại: - Sao bắt buộc tôi phải trở lại nơi ấy? Mà nó ở chỗ nào cho tới giờ tôi cũng không nhớ? Lúc người ta cứu tôi thì chở thẳng về đây, tôi không nhìn thấy gì cả. - Tôi tin khi trở lại đó rồi bà sẽ nhớ nó là đâu. Tôi sẽ giúp đưa bà tới đó. Ngập ngừng một lúc rồi bà Thủy mới gật đầu: - Thôi cũng được. Nhưng thầy phải ở đó với tôi chờ tôi về, tôi mới dám. Hoàng Vệ gật đầu có vẻ cho qua chuyện: - Thôi cũng được. Vậy gọi một chiếc taxi ta cùng đi. Xe chạy khoảng gần hai mươi phút thì tới một đầu ngõ vắng, mà vừa nhìn thấy tức thời bà Bích Thủy kêu lên: - Nơi này... Sao lại tới đây? - Bà biết? - Tôi... tôi... Tuy đã gần hai chục năm rồi bà mới trở lại, nhưng làm sao quên được khi nơi đây là chốn mà bà đã trải qua thời con gái mới lớn. Nơi này... Bà thừ người ra một lúc và cảm giác là lúc ấy ông Hoàng Vệ đã mở cửa xe bước xuống. Đến khi bà tỉnh người lại nhìn quanh thì chẳng còn thấy ông thầy đâu. Bà quýnh lên, sau khi trả tiền xe và bước hẳn xuống liền quay tìm ông ta. - Thầy ơi! Hình như Hoàng Vệ đã đi ngay từ lúc bước xuống xe rồi. Đáng lý bà Bích Thủy phải chùn bước khi không có người đi cùng, nhưng chẳng hiểu sao lúc ấy bà vẫn một mình đi thẳng vào khu đất vắng, chỉ có vài nóc nhà ở cách xa nhau. Nơi này người ta quen gọi là Đồng Ông Cộ. Dừng lại trước ngôi nhà hoang, nhìn trước sau mấy lượt rồi mới bước vào, nhưng bà Bích Thủy vẫn sợ có người nhìn thấy. Và dẫu ngôi nhà trống trơn do bị bỏ hoang lâu ngày, có thể nhìn thấu suốt ra vách phía sau, nhưng bà vẫn lên tiếng hỏi: - Có ai trong nhà không? Dĩ nhiên là chẳng có ai trả lời, nhưng bà Thủy vẫn lặp lại câu hỏi: - Có ai ở đây không, kể cả người không phải là chủ ngôi nhà? Sau khi yên chí là không có người, bà mới bước tới phía tận cùng chiều dài ngôi nhà và đưa tay lay nhẹ vào chỗ vách ván đã cũ, chứng tỏ bà đã khá quen thuộc với ngôi nhà. Sau mấy lần lay, bỗng dưng một miếng ván long ra để lộ một khe hở lớn. Bà Bích Thủy reo lên: - Nó vẫn còn đây! Bà kéo ra một chiếc hộp gỗ đã phủ đầy rêu mốc, nhưng vẫn ôm nó vào lòng bằng cử chỉ trìu mến lạ thường. - Vậy mà mình cứ tưởng nhà đã bị phá và người ta đã đốt nó đi rồi! Ôm chiếc hộp đến chỗ có ánh sáng trời rọi vào, bà Thủy nhắm mắt lại, vừa nhẹ nhàng mở nó ra. Trong đầu bà mường tượng lọn tóc dài óng mượt mà chính bà đã cắt mái tóc thề của mình và đặt vào đó trước ngày đi lấy chồng và hầu như quên hẳn kỷ vật đó. Nhưng khi bà mở mắt ra thì thay vì thấy lọn tóc, trong hộp lại là một bộ xương khô của... một con vật nhỏ nhắn giống như xương mèo! - Trời ơi! Bà Bích Thủy rụng rời tay chân, nhưng chẳng hiểu sao cái hộp trên tay bà vẫn không rớt xuống sàn. Rồi bỗng dưng bà nghe như bên tai có tiếng kêu khẽ "meo meo". Cho đến lúc đó thì bà ngã phịch xuống và ngất đi... *** Việc mẹ mình đột nhiên mất tích khiến cho Nhơn lo lắng vô cùng. Anh hỏi mãi thì Tám Thể mới tiết lộ:- Bữa đó bà nhốt ông pháp sư trong phòng chứ không phải con mèo. Nhưng chẳng hiểu sao khi cậu mở cửa ra lại thấy con mèo ở trong đó, còn ông kia thì biến mất? Cậu có thấy lạ không? Nhơn nhớ lại con mèo đen, anh ngờ ngợ: - Hình như con mèo này nó sao đó. Nhà mình có con nào như vậy không? - Dạ không, bà và cậu đều không thích mèo, chó, nên tụi này cũng đâu dám nuôi. Mà cũng lạ, sau bữa đó rồi không thấy con mèo ấy đâu nữa? Nhơn còn đang hoang mang thì chợt nghe có tiếng gọi cửa. Anh bảo Tám Thể: - Chị ra coi ai. Nếu người lạ thì đừng cho vào, nói nhà đi vắng hết. Tám Thể bước ra một lát trở vào báo: - Dạ, đúng là người lạ, nhưng anh ta nói biết cậu và cần gặp để gửi trả lại cái gì đó. Nhơn cau mày: - Ai vậy? - Một anh chàng đạp xích lô, nói tên là... là gì đó tôi quên rồi. Anh ra trông có vẻ lương thiện. Nhơn chợt nhớ, anh kêu lên: - Anh chàng chở nạn nhân đi bệnh viện! Tám Thể quá đỗi ngạc nhiên: - Chở ai đi bệnh viện hả cậu? Nhơn nói nhanh: - Ra mở cửa mời anh ta vào! Nhơn nhớ lại chuyện hôm đó mà hơi lo. Chẳng biết nạn nhân nhờ anh ta chở đi bệnh viện ra sao rồi, mà tại sao anh ta lại biết nhà mình? - Dạ, khách vào rồi cậu Hai. Nhơn quay lại và nhận ra anh chàng đạp xích lô. Anh chàng kia cũng reo lên: - Tôi cứ tưởng là không thể gặp lại cậu được! Tìm cầu may mà gặp... - Sao, anh tìm tôi chắc không liên quan tới chuyện bữa đó chứ? Thật ra người mà tôi nhờ anh chở chỉ là... Anh chàng mau miệng: - Cậu cứ gọi tôi là Ba Gà tôi chạy xích lô này đã gần chục năm, chưa thấy ai trả một cuốc xe đạp non cây số mà bằng chạy đoạn đường chục cây số như cậu! Tôi tới để trả lại cậu tiền dư. Nhơn xua tay: - Không, đó là công của anh, bởi anh xứng đáng được nhận như vậy. Anh chàng nói một câu quá bất ngờ với Nhơn: - Thật ra bữa đó tôi có chở nạn nhân nào đâu. Đó chỉ là... một con mèo! Nhơn trố mắt kinh ngạc: - Anh nói gì? Chính là một anh chàng tôi tình cờ bắt gặp trong ngôi nhà hoang mà? Ba Gà thật thà: - Chở anh ta tới bệnh viện thật, nhưng vừa tới nơi thì anh ta biến mất, chỉ còn lại trên xe là một con mèo mun! Nhưng con mèo sau đó cũng biến mất. Tôi hoang mang hết sức, đứng chờ cậu một lúc lâu mới đạp xe về nhà. Chiều lại, trong lúc dọn nệm xe tôi mới phát hiện có vật này rơi trên nệm. Ban đầu tôi không nghĩ là của anh chàng bị ngất kia, vì vật này là của nữ. Nhưng sau đó suy nghĩ kỹ tôi dám chắc là của anh ta hay là của... con mèo gì đó, bởi suốt buổi sáng trước khi gặp cậu nhờ chở thì tôi đâu có chở ai. Nhơn tiếp nhận một cây trâm cài tóc của phụ nữ làm bằng xương hay ngà gì đó, anh nói ngay: - Vật này không phải của tôi, cũng chẳng biết của ai, nhưng do anh nhặt được thì anh cứ giữ lại mà xài, đưa tôi làm gì. Anh chàng xua tay: - Tôi không xài được cái này! Vả lại hồi tối qua tôi nằm chiêm bao thấy có ai đó kêu tên tôi, bảo tôi đem cây trâm này đến trả cho chủ của nó, lại chỉ đúng địa chỉ nhà này. Họ còn nói cứ tới hỏi bà Bích Thủy thì ắt có người nhận! Nhơn giật mình: - Bà Bích Thủy? Sao biết tên mẹ tôi? Ba Gà mừng rơn: - Vậy ra bà Bích Thủy là mẹ của cậu sao? Hèn chi trên cây trâm có khắc mấy chữ tên đó... Nhơn nhìn lên cán cây trâm và quả nhiên ở đó có khắc hai chữ Bích Thủy còn rất rõ nét. - Trời ơi, sao lại... Nhơn cứ thừ người ra, trong lúc Ba Gà nói huyên thuyên: - Không ngờ chiêm bao mà y như thật! Lúc đầu tôi chưa tính đi tìm, nhưng sáng nay khi leo lên xe, thay vì đạp đi kiếm ăn trước rồi mới tìm sau, nhưng chẳng hiểu thế nào, tôi cứ cắm đầu đạp và xe... tự nhiên tới đúng nhà này, y như có người dẫn đường. Nhơn mân mê chiếc trâm mãi, anh nói thầm: - Sao lại có chuyện này? Anh đột nhiên hỏi: - Từ mấy ngày trước đó anh có chở người nào là phụ nữ tuổi trung niên không? Ba Gà cười: - Phụ nữ đi xe thì ngày nào không có. Nhưng chiều nào về nhà tôi cũng giũ nệm xe rất kỹ, đâu để sót vật gì trên xe. Tôi chắc chắn vật này thuộc một là cái xác biết chạy mà cậu nhờ tôi chở, hai là của... con mèo mun! Nói xong anh ta chào Nhơn: - Xin kiếu cậu Hai, tôi đi kiếm ăn. Dẫu sao thì tôi cũng nhẹ cả người khi trả lại chiếc trâm này. Thú thật với cậu mấy bữa nay tôi cứ bồn chồn, ray rứt hoài trong người. Không biết có phải do giữ vật này hay không nữa. Nhơn giữ anh ta lại: - Anh đã tới đây rồi, tôi muốn cám ơn anh và xin gửi anh chút chi phí. Nhơn móc tiền định đưa cho anh ta, nhưng Ba Gà xua tay: - Tôi tới là để giao lại vật không phải của mình, chứ đâu dám nhận tiền công. Anh ta đi nhanh ra cổng, mặc cho Nhơn gọi theo mấy lần. Còn lại một mình, Nhơn cứ nhìn cây trâm. Thật ra do lời anh chàng đạp xích lô kể và qua cái tên khắc trên thân trâm, chứ thật ra từ nào đến giờ Nhơn có thấy mẹ mình cài trâm trên đầu bao giờ đâu? Hay là của bà thời con gái? Mà như thế thì tại sao lại rơi trên xích lô? Bao nhiêu câu hỏi cứ vang lên trong đầu khiến Nhơn vô cùng bối rối. Trong lúc anh còn chưa biết làm sao, bởi điều quan trọng nhất lúc này là sự có mặt của mẹ mình thì bà vẫn bặt vô âm tín. Tám Thể thập thò muốn nói gì đó, nhưng thấy Nhơn cứ đăm chiêu nhìn đi đâu đâu, nên phải một lúc chị mới dám lên tiếng: - Thưa cậu Hai, có ông pháp sư... Đang rối lại bực mình, nên Nhơn quát lớn: - Đuổi ông ta đi! - Nhưng thưa cậu, ông ấy... Hoàng Vệ bước vào phòng khách, ông từ tốn nói: - Cậu có đuổi thì cũng để tôi nói hết đã, rồi tôi sẽ đi. Bởi giờ đây chuyện cứu người với tôi còn quan trọng hơn... Nhơn hỏi nhát gừng: - Ông cần gì? - Cậu cần tôi thì đúng hơn! Ông ta tự nhiên ngồi xuống ghế, đồng thời đặt chiếc hộp gỗ lên bàn, vừa chỉ tay, bảo: - Đích thân cậu mở vật này ra đi, như thế sẽ có lợi cho mẹ cậu và cả bản thân cậu nữa. Nhơn chưa hiểu chuyện gì nên tỏ vẻ khó chịu: - Tư cách gì ông sai bảo tôi làm chuyện này chuyện nọ vậy? Ông Hoàng Vệ vẫn không phật lòng: - Tôi hỏi lại, cậu có muốn muốn cứu mẹ cậu không? Bấy giờ Nhơn mới giật mình: - Mẹ tôi làm sao? - Cậu cứ đặt tay lên hộp, rồi chờ cậu kia nữa. Cả hai cùng giở nắp hộp ra một lượt. Nhơn chưa hiểu "cậu kia" là ai thì đã thấy Ba Gà từ từ bước vào. Ông Hoàng Vệ giục anh ta: - Cậu mau tới cạnh cậu Hai và làm đúng theo lời tôi đã dặn hồi nãy ngoài cổng. Chờ cho Nhơn và Ba Gà cùng đặt tay lên nắp hộp xong, ông Hoàng Vệ hô một tiếng lớn: - Lên! Lúc ấy cả Nhơn và Ba Cà chưa ai kịp làm động tác gì thì nắp hộp đã bật ra, vừa lúc từ trong đó một con mèo mun nhảy ra, nhắm thẳng chỗ ông pháp sư mà lao tới. Thuận tay, ông Hoàng Vệ dễ dàng chụp nó trong tay và thở phào: - Xong rồi! Ông quay sang Nhơn, ông nói giọng thân tình: - Cậu không biết nên gay gắt với tôi thôi, chứ thật ra tôi chỉ muốn giúp cậu và bà Bích Thủy thôi. Mà cậu có biết tại sao tôi làm vậy không? - Ông với mẹ tôi...? Hoàng Vệ lắc đầu: - Ý cậu muốn nói tôi và mẹ cậu có quan hệ tình cảm chứ gì? Hoàn toàn sai! Tôi là người theo một thứ tôn giáo riêng, không thể quan hệ nam nữ được. Kể cả tiền tài tôi cũng không cần, bởi tôi không phải người lệ thuộc vào đồng tiền. Nói tóm lại, tôi đang sống sung túc. Tôi giúp mẹ con cậu chỉ vì... con mèo này đây! Ông ta nắm con mèo mun đưa lên cao và bất thần ném mạnh nó xuống đất. Con mèo chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi nằm im. Lúc này ông Hoàng Vệ mới cúi xuống nhặt nó lên trong tình trạng con mèo đã chết hoàn toàn. Ông nhẹ nhàng đặt nó vào trong chiếc hộp và bảo với Nhơn: - Bây giờ cậu có thể nhờ cậu đạp xích lô này chở cậu tới chỗ bà mẹ cậu và đưa bà ấy về. Nhanh lên kẻo bà bị lạnh. - Còn ông? - Nhơn ngập ngừng hỏi. Ông Hoàng Vệ nói thêm trước khi bước ra ngoài: - Tôi và ba cậu trước đây là bạn với nhau. Nhiều năm tôi sống ở Hồng Kông không về đây nên cậu chưa từng gặp. Tôi biết mẹ cậu gặp phải một việc mà người ta gọi là linh miêu ám, nên tôi về đây giúp. Nhơn ngạc nhiên: - Linh miêu là gì? - Là con mèo bị vong hồn người cõi âm nhập. Con mèo này vốn trước đây vô tình nhảy qua thi thể một chàng trai mới vừa chết nên chàng trai ấy nhập vào nó. Mà chàng trai ấy lại chính là... người yêu cũ của mẹ cậu! Nhơn sững sờ: - Ông nói vậy là sao? - Chuyện này rồi mẹ cậu sẽ kể cho mà nghe. Đây là mối tình thời con gái của mẹ cậu, tức trước ngày bà lấy ba cậu. Nhưng do chàng trai ấy khi hay tin mẹ cậu đi lấy chồng thì tự tử chết, hồn phách nhập vào con mèo mun và cứ đeo đẳng theo mẹ cậu hoài, nhất là từ khi ba cậu qua đời thì nó lại càng ám dữ, như muốn bắt mẹ cậu đi theo nó! Cũng may, trong nhà này có cậu là người có cái vong khắc với linh miêu, cộng thêm anh chàng đạp xe này một cách tình cờ lại giúp thêm một tay, nên cuối cùng con linh miêu đã phải chịu phép. Ông quay sang anh chàng đạp xích lô Ba Gà: - Thay mặt vợ người bạn tôi, bà Bích Thủy và cậu chủ nhỏ đây, tôi xin cám ơn cậu nhiều. Từ nay có lẽ bà Bích Thủy mỗi khi đi đâu chỉ nên nhờ cậu chở đi là an toàn... Ông siết chặt tay Nhơn: - Cậu thoát nạn rồi. Từ nay cố lo cho sức khỏe mẹ cậu hơn. Lão ta bước ra ngoài và không quên nhắc: - Cậu Nhơn nên đi ngay đi, ngôi nhà đó không an toàn đâu! Đợi ông ta đi rồi, Nhơn giục: - Anh để xích lô ở đó, tôi chở anh bằng xe hơi, để anh tiếp tôi đỡ mẹ tôi về đây. Hai người đi nhanh tới chỗ ngôi nhà hoang. Vừa mở cửa ra đã thấy bà Bích Thủy ngồi co ro trong góc nhà. Bà mừng rú lên khi nhìn thấy con: - Mẹ chết mất, con ơi! Nhơn nhanh chóng đưa mẹ ra xe. Anh phải giải thích về sự có mặt của Ba Gà: - Đấy là người góp công lớn trong việc giải cứu cho mẹ con mình. Từ nay con muốn nhờ anh ấy mỗi sáng tới đưa mẹ đi chợ và đi đây đó. Bà Bích Thủy chờ cho Tám Thể bước ra ngoài rồi mới kể lại những gì bà biết và Nhơn đang rất muốn biết: - Ngày mẹ còn đang học trường áo Tím thì mẹ có yêu người con trai tên Thái, ở cùng xóm. Mối tình của bọn mẹ trong sáng và thánh thiện lắm, nhưng cũng như tất cả những mối tình đầu, tình học trò đều không thành, cho nên khi mẹ vừa nghỉ học thì ông bà ngoại con bắt mẹ đi lấy chồng, tức lấy ba con sau này đó. Nhơn e dè hỏi: - Rồi người ấy của mẹ sao lại chết? Giọng bà Bích Thủy trong nước mắt: - Tội nghiệp lắm. Anh ấy con nhà nghèo, có cha cũng đạp xích lô như cậu Ba Gà đó, nên đâu có điều kiện để cưới xin mẹ. Mẹ cũng muốn cưỡng lại lệnh của ông bà ngoại con, nhưng là con gái mới lớn, tính tình lại yếu đuối, nên mẹ đâu còn cách nào khác hơn. Không ngờ ngay buổi chiều hay tin mẹ sắp làm lễ hỏi thì Thái đã chạy tới chỗ ngôi nhà mà lúc sáng con tới cứu mẹ đó, hồi ấy đó là ngôi nhà khang trang của ông bà ngoại con, anh ấy vừa nhìn thấy mặt mẹ thì ngã lăn ra và tắt thở! Thì ra Thái đã uống thuốc độc từ trước đó và chỉ chịu chết khi nhìn được mặt mẹ! Bà Bích Thủy siết chặt tay con, tiếp lời: - Mẹ vội đưa Thái vào nhà mình, chính ba con lúc ấy cũng có mặt và giúp mọi việc cho Thái. Mẹ nhớ ra rồi, lúc còn đang khăm liệm cho Thái thì có một con mèo mun bất thần nhảy ngang qua xác, nhiều người hoảng hốt, lo lắng về chuyện đó... Mẹ vì quá đau buồn nên cũng không để ý. Mãi cho đến những năm gần đây, bỗng dưng mẹ cứ nằm chiêm bao toàn thấy ác mộng, và rồi thấy một anh chàng trẻ tuổi nào đó cứ hiện ra và nhìn mẹ đắm đuối, khiến cho mẹ bị ám ảnh và mất ngủ... Rồi chợt bà kêu lên: - Mẹ nhớ ra rồi! Khuôn mặt xanh xám của chàng trai hiện ra trong giấc mơ của mẹ chính là Thái. Mặt Thái đã biến sắc do khi chết Thái bị thuốc độc hành hạ làm cho mặt không còn giữ được sắc thái tự nhiên nữa. Trời ơi! Vậy mà mẹ cứ tưởng... Bà ôm mặt khóc ngất. Rồi trong suốt một tuần lễ, bà cứ gào gọi tên Thái... Cũng may, sau đó ít lâu thì bà cũng nguôi ngoai và sống bình thản bên con. Một hôm bà nói với Nhơn: - Con sớm có vợ đi, để mẹ vui với cháu nội trước khi nhắm mắt... Nhiều năm sau đó không hề có một hiện tượng nào nữa như chuyện con linh miêu. Có lẽ cái vong của anh chàng Thái cũng đã cảm thông, để yên cho người yêu mình sống trọn cái tuổi già. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 44
TRANG LƯU BÚT ĐỊNH MỆNH - Phần I 1. Cái Chết Của Một Người Bạn Ngọc Nga khá vất vả mới khiến cho chiếc Mobilet nổ máy được. Vừa buông tay ra, cô đã phải ngồi bẹp xuống lề đường vừa ôm ngực thở dốc. Nhìn bộ dạng của bạn mình, Hạnh Dung vừa lo vừa thương: - Mày có sao không? Ngọc Nga ra dấu chỉ vào miệng chứ không nói được nhưng Hạnh Dung hiểu được là Nga đang đòi uống nước, cô cũng ra dấu trả lời, rồi chạy băng qua đường nơi có xe nước mía. Con đường rộng mà xe cộ lại rất đông, nên phải mất đến một phút sau Dung mới len qua được bên kia, cô mua luôn hai bịch nước mía, định bụng sẽ dành cho bạn uống hết chứ mình không uống. Cô quay về ngay khi vừa mua xong, quên cả tiền thối lại. Nhưng vừa bước được chưa đầy chục bước thì một chiếc xe lao tới... - Chết rồi, đụng... Ai đó la lớn khi thấy Hạnh Dung ngã xuống, hai bịch nước mía văng tung t óe. Từ bên kia đường, Ngọc Nga cũng nghe tiếng kêu và nhìn thấy xe cộ dồn cục lại, nhưng cô không nghĩ bạn mình bị nạn, nên cô đợi... Bỗng người ngồi bán thuốc lá bên vệ đường gọi to vừa chỉ tay qua bên kia đường: - Cô gì ơi. Cô đi xe Mobilet ơi! Bạn cô bị xe đụng bên kia kìa! Lúc ấy Ngọc Nga mới hốt hoảng: - Đâu? Đụng ở đâu? Cô quên cả mệt nhọc vội băng qua đường. Tuy nhiên Nga bước chưa tới nửa đường thì đã thấy một chàng trai to cao, đang bế xốc Hạnh Dung trên tay vừa bước nhanh hướng ngược lại. - Dung, mày có sao không? Anh chàng kia biết Nga là bạn của nạn nhân nhưng không dừng lại mà vẫn tiếp tục bế Dung bước nhanh vào lề. Khi anh ta vừa đặt Dung xuống, đã thấy cô bật ngay dậy và nói lí nhí gì đó trong miệng, không nghe rõ. Ngọc Nga lao tới hỏi dồn: - Mày có sao không? Thằng cha này đụng mày hả? Cô nàng quay liền qua anh chàng kia, sừng sộ: - Mắt mũi để đâu mà đụng vào người ta vậy hả? Anh chàng chưa kịp trả lời đã nghe Dung nói: - Không phải đâu, tại tao... Cô ngừng nói, vừa nhăn mặt vừa bước nhích ra khỏi vòng tay của anh chàng. Thấy vậy, Nga còn dữ dằn hơn: - Mày gần chết như vậy mà không sao gì! Để tao hỏi tội thằng cha này! Lúc này anh chàng mới lên tiếng: - Muốn hỏi tội thì cũng để người ta băng bó vết thương cho nạn nhân đã chứ. Bộ cô muốn nhìn bạn mình chảy hết máu sao? Anh ta định xem chỗ đau dưới chân của Dung, nhưng cô đã vội xua tay: - Không sao, hổng có máu đâu, chỉ đau vì... vì... Ngọc Nga nhanh nhảu vén ngay ống quần của bạn lên, vừa tía lia: - Coi vết thương sâu cạn thế nào đây? Đúng như Hạnh Dung nói, chỉ là một vết bầm trên ống chân, chứ không có chảy máu. Hạnh Dung mắc cỡ vội kéo ngay ống quần xuống, càu nhàu: - Con này... bộ muốn tao khoe... Hiểu ý của bạn, Ngọc Nga đang lo mà cũng phải bật cười: - Mày sợ phải khoe cặp ống sậy của mày hả? Anh chàng kia cũng phải bật cười theo, vừa thở phào nhẹ nhõm. Điều ấy lại khiến Ngọc Nga nổi xung thiên: - Đụng người ta gần chết sung sướng lắm sao mà còn cười? Hạnh Dung lại phải biện hộ giùm anh chàng: - Tại tao băng qua đường không ngó nên đâm vào xe người ta mà. Cho tôi xin lỗi... Ngọc Nga quay qua bạn mình tru tréo lên: - Con nhỏ này điên rồi chắc! Ai lại xin lỗi người đụng mình gần chết! Dung phải bước đi mấy bước để cho Nga nhìn thấy, vừa nói: - Chết đâu mà chết! Tao còn đủ sức lái Mobilet đưa mày đi mấy chục cây số cho coi! Anh chàng hạ giọng từ tốn: - Dẫu sao cô cũng để tôi đưa tới bác sĩ gần đây coi lại vết thương. Rồi có gì tôi sẽ lo... Hạnh Dung sợ Ngọc Nga lại làm lôi thôi, nên vội nói: - Không sao thật mà. Chỉ vì mất thăng bằng nên tôi bị ngã, cũng may... không đụng đâu hết. Ngọc Nga đâu để yên: - Phải đưa nó đi bệnh viện ngay, không nói năng lôi thôi gì hết! Hạnh Dung bấy giờ mới nghiêm giọng: - Làm gì phải đi bệnh viện, tao xức dầu một chút là xong thôi. Anh chàng nghe vậy vội đứng ngay dậy và phóng đi. Ngọc Nga la lớn: - Tính chuồn hả, anh kia? Anh ta quay lại nói nhanh: - Chuồn đi mua dầu xoa! Lát sau anh ta trở lại với lọ dầu nóng trên tay, đưa cho Hạnh Dung: - Cô xoa lên vết thương. Còn thuốc này để uống cho tan máu bầm. Còn hộp này là... kẹo the của Pháp, tặng cô này để cô... chửi cho âm thanh lớn hơn! Vừa nói, anh ta vừa lấy ra tấm danh thiếp đưa cho Dung: - Đây là tên và địa chỉ của tôi, có gì các cô cứ gọi, tôi sẽ có trách nhiệm... Sợ Ngọc Nga lại gấu ó, nên Hạnh Dung chụp lấy tấm danh thiếp rồi cầm chặt trong tay, vừa nói với anh chàng: - Được rồi, anh cứ đi đi, không sao đâu! Anh chàng ái ngại nên chưa dám đi, Hạnh Dung phải giục: - Anh ra dựng xe lên, để cản đường người ta kìa! Nghe vậy anh chàng mới chạy vội đi. Ngọc Nga quay sang cự bạn: - Mày dễ quá, để nó đi rồi lỡ có gì thì sao. Chà, thấy anh chàng đẹp trai rồi bủn rủn tay chân hả! Hạnh Dung phải đập tay vào lưng bạn một cái rõ đau: - Con quỷ, vô duyên! Mày cứ quen cái tật chuyện gì cũng ào ào, người ta bị tao đụng chứ nào có lỗi gì. - Nhưng hễ xe đụng người là xe có lỗi! Gặp tao thì... tao níu lưng luôn. Hạnh Dung trả đũa: - Níu lại vì anh ta quá đẹp trai hả? Bây giờ cả hai mới cùng cười phá lên. Hạnh Dung giục bạn: - Sẵn xe còn nổ máy mình đi lẹ lên, trễ rồi đó! Họ vọt xe đi rồi thì anh chàng lúc nãy chạy chiếc Vespa đảo qua, anh ta quan sát không thấy thì vội vọt đi nhanh, hình như anh ta cũng khá gấp gáp chuyện gì đó. *** Hạnh Dung chở Ngọc Nga hướng về phía cầu Bình Lợi rồi thẳng về quốc lộ 13. Ngọc Nga tỏ ra rành đường, cô nhắc:- Mình đi xe đạp phải mất cả buổi, nhưng xe gắn máy, dẫu là xe cà tàng này cùng lắm là hai tiếng đã tới. Chắc chắn là không trễ. Họ đi Lái Thiêu dự cuộc họp cắm trại ở vườn măng cụt mà đám bạn hơn chục người đã đi trước từ sáng sớm. - Mày coi lại xăng chưa, không lại dẫn bộ ná thở luôn đó! - Xong rồi! Xăng đầy bình. Chỉ sợ nửa đường chiếc xe này giở chứng thôi. Tao sợ cái cục sắt này quá. Ngọc Nga lại tỏ ra sành sỏi: - Có chuyên gia đây thì khỏi lo. Ở nhà chiếc xe Mobilet của ông già tao, tao là chuyên gia đạp nổ máy và chùi bugi! Đang tán chuyện xe cộ, bỗng dưng Hạnh Dung nhắc lại chuyện lúc nãy: - Tao nghe mày chửi anh ta mà... tội nghiệp. Anh ta chịu trận cũng giỏi chứ gặp người khác thì... Ngọc Nga vẫn chưa chịu: - Người khác thì sao? Hễ đi xe mà va quẹt với người đi bộ thì thằng xe bị lỗi thôi. Xưa nay vậy mà! Hạnh Dung cãi lại: - Mày nói bậy! Bộ đi bộ rồi có quyền cứ lăn đùng ra rồi muốn gì cũng được sao? Ba tao nói đi bộ hay đi xe đều phải phân lỗi, phải đàng hoàng. Có khi người đi bộ còn phải bồi thường cho người đi xe nữa đó! Ngọc Nga phá lên cười: - Chắc mày đang muốn tìm anh ta để tạ lỗi và bắt đền... vài chiếc hôn chứ gì! Đang lái xe, chứ nếu không thì Hạnh Dung đã đánh cho con nhỏ mấy cái. Cô phải đe dọa: - Mày còn nói giọng đó tao lủi xe vào đống rơm bên đường bây giờ! - Nè, con khỉ... mà cũng phải công nhận thằng ấy đẹp trai thật đó chứ! Lại đi chiếc Vespa láng cón nữa, ra dáng công tử lắm! Thảo nào... - Lại bắt đầu nữa rồi... Tao cấm mày chọc ghẹo kiểu đó nghe! - Ừ thì cũng được, tao muốn hỏi anh chàng tên gì thôi. - Tao làm sao biết? Ngọc Nga châm chọc: - Chưa gì đã giấu kỹ rồi! Chứ cái gì trong túi mày đó? Chợt nhớ ra, Hạnh Dung móc trong túi áo tấm danh thiếp đưa ra cho Nga: - Mày coi thì biết, tao chưa đọc thì lấy gì biết! Ngọc Nga đọc rất nhanh: - Nguyễn Hoàng Phi, kỹ sư. Rồi cô nàng xuýt xoa: - Kỹ sư nghe! Ái chà, kỹ sư mà hợp với hoa hậu thì chắc cho ra đời cả lô kỹ sư và công chúa con quá! Hạnh Dung lủi ngay xe vào lề, với tay nhéo bạn một cái đau điếng! - Tao không lái xe nữa! Nếu mày không... Ngọc Nga kêu lên một tiếng, nhưng vẫn không quạu mà tiếp tục đùa: - Biết đâu đấy là cơ duyên? - Con quỷ, mày có im đi không! Họ chọc ghẹo nhau mãi cho đến khi tới ngã rẽ từ quốc lộ vào một con đường nhựa nhỏ hơn, tức hướng đi về Thuận An, Lái Thiêu. Hai mươi phút sau, họ tới bãi gửi xe và nhanh chóng đi bộ qua cầu ván để thẳng vào khu vườn trái cây nổi tiếng. Nơi đó đã có đầy đủ các bạn bè. Trong số những bạn cùng lớp Đệ Nhị A1 còn có vài bạn lạ mà theo lời giới thiệu của Châu trưởng lớp thì sẽ còn vài vị khách đặc biệt hơn. Châu nói: - Bữa nay sẽ dành cho các bạn ở đây một sự ngạc nhiên. Nhất là với Hạnh Dung, cô hoa khôi của nhóm chúng ta một sự bất ngờ! Hạnh Dung vừa tới còn mệt, nhưng cũng lên tiếng: - Dung thì cũng giống như các bạn, làm gì có bất ngờ khi mọi cái đều bình thường cả. - Vậy mà có đấy! Châu vừa dứt lời thì lấy từ trong giỏ xách ra một quyển sổ được gói giấy cẩn thận, vừa nói to lên: - Các bạn có đồng ý bắt chủ nhân của quyển sổ này phải khao chúng ta một chầu trái cây hôm nay không? Một tràng pháo tay vang lên: - Ý kiến quá hay! Hạnh Dung ngơ ngác: - Sổ gì vậy? Châu mở luôn quyển sổ ra, đưa lên trước mặt Dung: - Chắc Dung nhận ra đây là gì rồi phải không? Thú thật mình rất tôn trọng sự riêng tư của chủ nhân quyển sổ, nên chỉ đọc những dòng trên bìa thôi, còn bên trong thì đã được người gửi yêu cầu bí mật và niêm phong cẩn thận rồi. Vừa trông thấy, Dung đã kêu lên: - Quyển lưu bút! Châu xác nhận: - Đúng, đây là quyển lưu bút của Hạnh Dung. - Nhưng... làm sao nó lại trong tay Châu? Mình nhớ là... Biết tính Dung rất thẳng, lại nóng và thường hay nổi xung thiên mỗi khi có ai phạm tới chuyện riêng tư của mình, nên Châu phải giải thích ngay: - Mình nói rồi, có người bạn nhờ mình chuyển cho Dung vật này chứ mình không thể nào lại xen vào chuyện của bạn. Người đó tuy không có mặt đây, nhưng sẽ có một đại diện giải trình thêm với Dung. Người ấy kia... Theo tay chỉ của Châu, Hạnh Dung nhìn về phía bờ đất tường dẫn vào vườn cây, có một chàng trai đang bước chậm vào. - Ủa, anh chàng Hoàng Phi của mày kia! Người la lên đó là Ngọc Nga. Riêng Hạnh Dung thì ngơ ngác mất vài giây rồi cũng lúng túng nói lí nhí trong miệng: - Anh... anh ta... Đến phiên Châu ngạc nhiên: - Ủa... đã quen nhau? Hạnh Dung chưa kịp đáp thì lúc ấy anh chàng đã bước tới và đến lượt anh ta khựng lại, nhìn sững vào Dung: - Cô... cô cũng... Trong Iúc Dung còn đang ngỡ ngàng thì Ngọc Nga đã nhanh nhảu: - Sự tình cờ đáng nghi ngờ! Thì ra người ta vờ đụng xe để hẹn nhau ở đây! Châu ngạc nhiên: - Ai đụng xe? Lúc này Hoàng Phi phải chủ động lên tiếng: - Thì ra cô cũng đến dự buổi họp mặt hôm nay? - Phải vậy, lúc sáng mình cùng đi một thể. Châu cũng nói luôn: - Đây là người đại diện cho Giáng Hương để đến trao cho Dung quyển lưu bút này! Hạnh Dung càng lúng túng hơn: - Vậy mà Dung không biết. Anh... anh là... Chàng trai Hoàng Phi cũng giật mình: - Vậy đây là Hạnh Dung? Châu nói: - Hạnh Dung và Giáng Hương là hai người bạn thân nhất, trong lớp luôn ngồi cạnh nhau, cho đến khi Giáng Hương đi du học hồi đầu năm. - À, thì ra... Anh chàng lịch sự nói thêm: - Em gái tôi vẫn thường nhắc Dung luôn, kể cả khi đã sống ở Pháp. Việc nó giữ quyển lưu bút này quá lâu cũng đã khiến cho nó luôn áy náy... Chắc là cô Dung không giận em tôi chứ? Ngọc Nga luôn tìm dịp để chen vào trêu chọc: - Giận làm sao được khi bạn mình có ông anh đẹp trai như thế kia? Cả bọn được dịp cười ồ lên, khiến cho ngay cả anh chàng Phi cũng ngượng, đừng nói gì Hạnh Dung. Cô nàng phải quay sang các bạn nghiêm giọng: - Không phải chuyện đùa đâu các bạn. Mình xin lỗi... Cô cầm lấy quyển sổ từ trên tay Châu, vừa nói: - Khi Giáng Hương đi Pháp mà cầm luôn quyển lưu bút này, tôi cứ chờ hoài mà không thấy nó gửi về thì cũng có hơi buồn, nhưng sau đó nghĩ như thế cũng tốt, bởi nó sẽ có thì giờ đọc lại những dòng trong đó của nhiều bạn bè, ắt là vui hơn khi ở xứ người. Nên từ đó tôi không còn chờ nữa. Châu phá tan bầu không khí còn bỡ ngỡ đó bằng câu nói: - Thôi, chuyện gì đó để chút nữa nói, bây giờ anh Phi đã chịu khó vượt mấy chục cây số để đến đây rồi thì bọn này xin mời anh cùng tham dự buổi cắm trại cho vui! Hoàng Phi lịch sự từ chối: - Mình chỉ muốn trực tiếp đến đây để gửi vật này về cho chủ nhân của nó, và đã gặp rồi thì xin kiếu, phải về ngay vì hôm nay nhà có giỗ, mình không thể vắng mặt được. Một lần nữa xin cám ơn cô Châu đã vui lòng cho mình biết hôm nay có buổi cắm trại này, và có mặt của cô Hạnh Dung đây để mình có dịp gặp và xin lỗi. Châu nhân dịp giải thích luôn: - Do anh Phi đây không biết địa chỉ của Dung, nên hôm qua tới nhà mình hỏi, mình muốn nhân dịp này mời anh ấy cùng lên đây chơi và gặp Dung luôn. Vậy mà cô nàng Dung này để cho anh ấy về, quả là quá vô tình! Phi lại phải lên tiếng lần nữa: - Tôi xin lỗi, bởi hôm nay nhà có giỗ tôi phải về cho kịp giờ. Chứ nếu không thì ở lại chơi tới bao giờ cũng được! Ngọc Nga nhanh nhảu: - Tiễn người ta ra xe đi, còn chần chừ gì nữa? Châu cũng nói: - Thôi được rồi, anh Phi có chuyện nhà thì bọn này không giữ. Để Dung tiễn anh ra xe. Xin mời anh hôm nào rảnh thì chúng ta gặp lại. Ngọc Nga phá lên cười: - Chuyện hẹn hò không cần tới Châu đâu! Hạnh Dung cấu vào hông bạn mình một cái đau điếng rồi chủ động bước đi ngay để tránh sự trêu chọc của các bạn. Hoàng Phi đi theo sau và phải bước thật nhanh mới theo kịp cô nàng. Anh phải lên tiếng: - Bộ Dung quen chốn này lắm sao mà đi qua cầu, đường đất giỏi quá! Lúc đi xa chỗ các bạn rồi Hạnh Dung mới thấy tự tin hơn, cô hỏi thăm: - Giáng Hương ra sao rồi mà chẳng thấy nó thư từ gì hết. Lần này nó có về không anh? Hoàng Phi hơi chùng giọng: - Nó... có chút việc, nên không về được. Nó nhờ tôi gửi lời cáo lỗi về sự giữ quá lâu quyển lưu bút này. Chắc Dung không giận? Hạnh Dung xua tay: - Em đã nói rồi, chỉ có mong đợi thôi và bây giờ đã nhận lại được rồi, còn giận gì nữa? Vậy khi nào thì anh Phi liên lạc được với Giáng Hương. Em muốn gửi cho nó mấy món quà... - À, việc đó... Thấy anh chàng có vẻ ngập ngừng, Dung nói liền: - Cũng không sao, nếu anh thấy không tiện thì thôi. Hoàng Phi vội nói: - Không, không, chỉ là vì... tôi chưa định ngày trở qua bên đó. Để khi nào đi, tôi sẽ báo cho Dung. Dung thích thú: - Vậy ra anh Phi cũng ở bên Pháp như Giáng Hương! - Phải... - Anh tốt nghiệp rồi, chắc là làm việc bên ấy? Và chắc... đã lập gia đình ở bên đó? Phi lắc đầu lia lịa: - Làm gì có! Bộ Dung thấy tôi già lắm sao? Tôi còn đang... Chẳng hiểu sao tự dưng Dung thấy vui vui, cô nói một câu chẳng ăn nhập gì với nội dung đang bàn: - Con gái Pháp nghe nói đẹp lắm! - Thua xa Dung! Không ngờ anh chàng lại biết nịnh một câu thẳng như thế, Dung quay nhìn anh ta và bất chợt bốn ánh mắt chạm nhau. Dung cúi mặt xuống và nghe tim mình đập nhanh hơn gấp bội. Khi ra tới Cầu Ván thì Hoàng Phi đột ngột nói: - Bây giờ tôi mới dám nói lời xin lỗi... Tôi đã mạo muội viết mấy dòng trong cuốn lưu bút của Dung. Chắc Dung không trách chứ? Hạnh Dung hơi bất ngờ, nhưng cô không tỏ sự khó chịu: - Chắc là... Giáng Hương đã cho phép anh? Mà cũng đâu có sao, lưu bút là nơi ghi nhận tất cả tình cảm của bạn bè dành cho mình, mà anh thì còn hơn là bạn nữa... Hoàng Phi nhìn sững cô: - Dung nói thế nghĩa gì? Hạnh Dung phải nói rõ ngay: - Bởi vì anh là anh của Hương, bạn em, tức anh còn hơn là bạn rồi còn gì! - À thì ra... Cả hai cùng cười bẽn lẽn và tự dưng trong lòng họ cảm thấy thân thiện hơn, cho đến lúc Phi ra lấy xe. Anh nói với lại khi đã rồ máy xe: - Châu đã nói địa chỉ của Dung rồi, có thể ngày mai tôi xin phép tới thăm và nói chuyện nhiều hơn. Cả quà của Giáng Hương nữa... Hạnh Dung reo lên: - Vậy thì mai em sẽ ở nhà chờ anh! Nhưng rồi cô khựng lại: - À mà không được, ngày mai em có việc phải đi với mẹ rồi. Hay là để thứ năm được không? Thứ năm em được nghỉ. Phi hơi lưỡng lự, nhưng cũng gật đầu: - Được rồi, mình sẽ gặp lại nhau. Anh ta rồ xe chạy đi khá xa rồi mà Dung vẫn còn ngẩn ngơ nhìn theo. Chính cô cũng chẳng hiểu tại sao như vậy... - Bị hớp hồn rồi sao cô nương? Giọng nói của Ngọc Nga ngay phía sau khiến cho Dung giật mình, cô quay lại đưa tay dứ dứ như sắp đánh vào bạn, Nga lại càng có dịp trêu chọc: - Si anh chàng rồi thì chịu đi, nếu không ta tấn công phỗng tay trên thì đừng có trách! - Con khỉ! Dung đuổi theo dọa đánh, Ngọc Nga thì cố tình trêu chọc, vừa chạy trước vừa nói với lại: - Anh chàng đẹp trai cỡ đó thì coi chừng đó! *** Suốt đêm qua, Dung cứ đọc đi đọc lại hoài bốn trang lưu bút của Hoàng Phi viết trong sổ. Trước dòng chữ của Phi có bút tích của Giáng Hương, nhưng lạ một điều là Giáng Hương chỉ viết vắn tắt và viết chưa tròn câu thì đã ngưng ngang: "Mình biết việc đưa cho anh mình viết trong lưu bút của Dung là không đúng, bởi Dung và anh Phi chưa hề quen biết nhau. Tuy nhiên do anh ấy quá ái mộ Dung, cứ nằng nặc đòi phải viết để làm quen, nên cuối cùng mình đành phải chiều lòng anh ấy. Mình xin lỗi Dung, còn có điều này nữa, mình muốn nói riêng với Dung..." Những dòng chữ của Giáng Hương ngưng ngang ở đó, rồi tiếp theo là những trang viết của Hoàng Phi. Mà cũng thêm một điều nữa rất lạ, mạch văn của Phi viết đang ngon trớn thì bỗng khựng lại, như bỏ dở nửa chừng. Hạnh Dung đọc đi đọc lại và tính khi gặp lại anh, cô sẽ hỏi cho ra lẽ. Phải chăng Phi hết ý, mất hứng hay không muốn nói hết lòng mình? Cũng may, sáng hôm nay là ngày thứ năm, Dung được nghỉ học, nên cô ngủ nướng thêm một chút. Khi thức dậy thấy đã chín giờ, cô giật mình, nhảy ngay xuống giường và dọn dẹp rất nhanh phòng ngủ của mình, và sau đó ra phòng khách dọn tươm tất trước sự ngạc nhiên của mẹ. Bà Hồng lên tiếng hỏi ngay: - Bữa nay chắc trời sắp có bão hay sao mà cô nương nhà này dọn dẹp kỹ vậy hả? Biết mẹ trêu chọc mình, Dung nũng nịu: - Mẹ này... bộ con gái mẹ làm biếng lắm hay sao? - Không làm biếng, nhưng không được siêng cho lắm. À, hay là bữa nay đón khách? Hạnh Dung tranh thủ ngay sự ủng hộ của mẹ: - Đúng là con có khách. Có mấy người bạn... Bà Hồng cười vừa xoa đầu con gái: - Có vậy nên con tôi mới siêng đây! Mà cũng được, con ở nhà đón bạn, rồi muốn vui chơi gì đó cứ lấy đồ trong tủ lạnh ra mà làm. Mẹ có việc phải qua nhà bà Phán Giáo chiều mới về. Hạnh Dung mừng rơn: - Cám ơn mẹ! - Sao lại cám ơn? Dung lúng túng, sợ mẹ biết mình sẽ đón bạn trai: - Dạ... dạ không. Con cám ơn vì mẹ cho con lấy đồ trong tủ lạnh. - Con khỉ này, bộ mẹ cấm mày vui chơi với bạn hay sao? Mười lăm phút sau bà xách giỏ đi, còn dặn lại: - Con nhớ ở nhà chơi, đừng rủ rê bạn đi ra ngoài. Giờ này trộm đạo nhiều, bỏ nhà trống không nên. - Dạ, mẹ cứ yên tâm đi... điều binh khiển tướng! Bà Hồng tròn mắt nhìn con gái: - Sao mày biết mẹ đi đánh bài? Dung nheo mắt: - Mỗi lần mẹ qua bà Phán Giáo thì chỉ có cầm tướng xanh tướng đỏ thôi, chứ có làm gì khác đâu, ai không biết! - Mày giống hệt thằng cha của mày hồi trước! Lúc nào cũng nghĩ tao đi đánh bài. - Thì ba nói đâu có sai! Vả lại đánh tứ sắc là để vui, giết thì giờ chứ phải cờ bạc ăn thua đủ đâu mà ngại? Mẹ đi rồi Dung mới chạy đi thay bộ đồ mới mà từ tết đến giờ cô mới có dịp thử. Bộ đồ bằng lụa hơi mỏng, nên Dung cứ đứng trước gương ngắm hoài, cứ sợ bị cho là khêu gợi! Thật ra cô khá hài lòng với bộ đồ tự tay đi mua hôm trước Tết, nhưng mặc lần đó chẳng có ai khen, ngoại trừ bị mẹ mắng cho: - Con gái con lứa gì mà ăn mặc cứ... hơ hớ ra thế kia, bộ muốn trêu ngươi thiên hạ hả? Do vậy Dung đã treo nó cho tới hôm nay. Nhìn ngắm kỹ lại, cô tự nhủ: - Đẹp thấy mồ, đâu có gì khêu gợi đâu! Bữa trước không có hẹn giờ với Phi, nên Dung đoán nếu anh ta có tới thì chắc sẽ tới buổi sáng, và giờ tới theo nguyên tắc lịch sự là vào khoảng chín đến mười giờ. Không ai tới chơi mà đi vào giờ trưa, gần bữa cơm. Vậy mà sao bây giờ đã gần mười một giờ rồi mà anh chàng vẫn chưa tới? Chờ tới mười hai giờ mà vẫn chưa thấy, Dung gọi điện tới nhà Ngọc Nga và rủ: - Tao với mày tới nhà của Giáng Hương, tao qua đón mày nghen! Ngọc Nga cười to trong điện thoại: - Nhớ rồi phải không con khỉ? Lát sau Hạnh Dung chạy Velo Solex qua chở Ngọc Nga. Cô nàng vẫn chưa hết chọc: - Bộ mày mê anh chàng thật hả? Dung càu nhàu: - Mê gì mà mê, chẳng qua anh ta hẹn qua nhà chơi và đem theo quà của con Giáng Hương gửi về mà tao chờ suốt buổi sáng không thấy. Nhân mẹ tao đi vắng nên tao muốn chủ động sang bên ấy lấy quà luôn. Có thể anh chàng tìm không ra địa chỉ, hay bỏ lạc địa chỉ rồi cũng nên. Họ đã từng tới nhà Giáng Hương trước đây nhiều lần, chỉ gần một năm nay không sang vì Hương đi du học, nên họ đi rất nhanh đã tới. Ngọc Nga thắc mắc hỏi Dung: - Sao trước giờ mình tới chơi mà không hề gặp anh chàng này hả mày? Mà có đúng anh ta là anh của con Hương không? - Chắc chắn rồi! - Sao mày dám quả quyết khi chỉ mới gặp anh ta có một lần? Hạnh Dung thú nhận việc quyển lưu bút: - Chính anh ta viết trong cuốn lưu bút của tao gửi cho con Giáng Hương. Anh em tụi nó viết chung cho tao. Ngọc Nga kêu lên: - Vậy mà mày dám giấu há! Đưa tao coi anh ta viết gì vậy! - Thì từ từ đã, để hôm nào... Đến nhà Giáng Hương chỉ còn mình bà ngoại ở, còn ba má Hương thì cũng đã định cư ở Pháp từ lâu, nên Hạnh Dung gọi tên của Hoàng Phi, chứ không gọi bà: - Anh Phi ơi! Cô gọi đến ba lần mà vẫn không nghe ai trả lời, mặc dù nhà có mở cửa. Phải gọi đến lần thứ tư thì mới có tiếng dép lê đi ra, rồi giọng bà ngoại của Hương hỏi vọng ra: - Ai kêu có gì vậy? Nhận ra ngoại, Hạnh Dung nói to: - Con là bạn của Giáng Hương đây ngoại, con hỏi có anh Hoàng Phi ở nhà không ngoại? - Cái gì? Hỏi gì? - Dạ, con là Hạnh Dung, bạn học ngày trước của Giáng Hương, con muốn hỏi anh Hoàng Phi, anh của Hương? Bà ngoại bước hẳn ra ngoài, bà nhận ra ngay Hạnh Dung và Nga, nên nói ngay: - Hai đứa bây mà bà tưởng là ai. Con Giáng Hương đi bên Pháp từ lâu nay rồi, còn... Hoàng Phi thì cũng đâu có về. Hạnh Dung nhìn sững bà: - Con mới gặp anh Phi hôm chủ nhật rồi, anh ấy nói là về có mang theo quà của Giáng Hương gửi cho con. Bỗng dưng sắc mặt bà cụ tái xanh, bà bước thụt lùi và lắp bắp hỏi: - Con... con nói... gặp ai? - Dạ, con gặp anh Hoàng Phi hôm chủ nhật rồi. - Trời ơi! Bà cụ kêu lên một tiếng thảng thốt rồi suýt nữa đã ngã xuống đất, khiến cho Hạnh Dung và Ngọc Nga hốt hoảng: - Bà ngoại! Bà sao vậy? Họ đỡ kịp nên bà không ngã, nhưng toàn thân bà bỗng lạnh ngắt, bà xua tay mấy cái rồi ra dấu cho hai đứa dìu vào nhà. Vào trong rồi còn hỏi Iại: - Con nói gặp ai? - Dạ, anh Hoàng Phi. Bà đưa tay chỉ lên tủ thờ có hai ảnh chân dung: - Có phải thằng đó không? Hạnh Dung nhìn lên cùng lúc với Ngọc Nga, rồi cả hai cùng kêu lên: - Chính anh ấy và cả... Gláng Hương nữa! Mà cái gì vậy ngoại? Đây là ảnh... ảnh của họ sao ngoại lại đặt trên tủ thờ? Bà thều thào: - Thì cả hai đứa nó giờ đã... ở trên đó rồi mà. Chúng nó... Hạnh Dung lặp lại như người mất hồn: - Sao lại như vậy? Sao lại... sao lại... Ngọc Nga bình tĩnh hơn, hỏi lớn: - Ngoại nói vậy có nghĩa cả hai đã chết rồi sao? Bà cụ nhẹ gật đầu: - Chết hết rồi... - Ngoại! Hạnh Dung thét lên một tiếng rồi đứng chết lặng. Cô tưởng chừng mình đang nghe lầm hoặc đang trong mơ... Cho đến khi Nga kéo cô về thực tế: - Ngoại nói rõ hơn coi, Giáng Hương mất hồi nào? Lúc này bà cũng có vẻ tỉnh táo hơn, bà từ từ kể: - Nó chết cách đây sáu tháng, cùng với thằng anh của nó. Hạnh Dung như đang trong cơn mộng du: - Không thể nào... không thể như thế được... Ngọc Nga rùng mình: - Vậy ra người gặp mình hôm qua là... hồn ma! Anh chàng đụng xe vào mày cũng là... ma! Bà cụ nghe vậy thì lại hoảng vía: - Thằng Phi gặp tụi con thật sao? Dung chưa kịp đáp thì Ngọc Nga đã nhanh miệng: - Chẳng những gặp thôi, anh ấy còn đụng xe vào con Dung đây, suýt chết! Rồi anh ấy còn chạy xe lên Lái Thiêu nữa... Bà cụ hỏi nhanh: - Chạy Vespa? Rồi bà chỉ ra nhà xe: - Hèn chi chiếc Vespa lâu nay để trong nhà kho, bỗng hôm qua bà thấy ai đem ra nhà ngoài, mà còn lau chùi bóng loáng nữa! Chiếc xe này trước đây là của ba nó, từ khi ba nó chết thì cứ để trong kho, còn thằng Phi thì ngay từ năm lên sáu tuổi đã theo ông cậu nó qua Pháp ở rồi, đâu có về đây... Hạnh Dung thất thần: - Không thể nào đâu ngoại! Ngọc Nga thì vừa rùn vai lại vừa nói bằng giọng run run: - Tụi này gặp ma mà đâu có biết ngoại ơi... Bà cụ vừa khóc vừa nói: - Thằng Phi đâu phải là ma. Nó là thằng hiền lành. Hơn hai chục năm rồi bà không gặp nó, nhưng chắc chắn nó không phải là ma. Ngọc Nga muốn nói gì đó, nhưng nhìn gương mặt thẫn thờ của Dung nên cô nín thinh cho đến lúc Hạnh Dung kiếu bà cụ ra về... Hỏi gì Dung cũng không nói. Phần II 2. Duyên Ma Thấy con gái cứ suốt ngày buồn rầu, lo ra, bà Hồng phải nhắc: - Con sắp tới ngày thi tú tài rồi đó, mà sao cứ lờ đờ như người mất hồn vậy. Hạnh Dung chống chế: - Tại con khó ở... vả lại bài thi con ôn xong hết rồi. Bảo đảm với mẹ là bằng tú tài kỳ này con lấy về cho mẹ là cái chắc! - Thằng cha cô, Iúc nào cũng tự tin. Kỳ này cô mà trượt vỏ chuối thì tôi gả chồng cho biết! Biết mẹ chỉ dọa chơi thôi, nhưng tự dưng Hạnh Dung thấy sợ, cô nhào tới ôm mẹ nũng nịu: - Mẹ mà bắt con lấy chồng là con chết cho mẹ coi! - Con khỉ, chỉ tài nói bậy! Thì con gái lớn phải lấy chồng chứ, chậm lắm là hết năm tới, thi tú tài xong thì cũng phải kiếm chồng để cho tôi có cháu ngoại chứ! - Không đâu! Con ở với mẹ hà! Bà Hồng cũng ôm con vào lòng: - Nói chơi vậy chứ chỉ còn có hai mẹ con, gả đi rồi mẹ ở với ai! Thằng anh Hai mày thì đi biền biệt, nói hoài mà không chịu lấy vợ, mẹ buồn hết sức. Chợt bà nhớ lại chuyện bà Phán Giáo nói mấy bữa trước, bà kể: - Bác Phán có cái mối này, bà ấy nói hoài mà mẹ không nghe. Mẹ muốn biết ý con... Hạnh Dung biết lại chuyện làm mai, nhưng tự dưng cô cũng thấy tò mò: - Bác làm mai ai vậy mẹ? Chắc lại một anh chàng con nhà giàu, công tử bột... Bà Hồng hơi nhỏ giọng: - Lần này bác Phán nói cái mối ấy ở bên Tây. Nghe tới đó, tự dưng Dung giật mình: - Ở bên Tây, mà... ở đâu? Bà Hồng cười xòa: - Mẹ đâu có biết Tây là ở đâu. Mới chỉ nghe vậy thôi... Tự dưng Dung nhớ tới Hoàng Phi. Cô thừ người ra một lúc rồi đột nhiên nói một mình: - Phải chi hồi đó anh ta ở bên này... Bà Hồng nghe không rõ, hỏi lại: - Con nói ai ở bên này? - Dạ... dạ không. Con muốn nói... cần gì phải ở Tây ở Tàu... Bà Hồng dí tay vào trán con gái: - Cha cô, ai cô cũng chê. Kén lắm rồi mai mốt gặp một thằng... trời ơi đất hỡi cho biết! Dung chẩu mỏ ra: - Bộ mẹ muốn con gái mẹ như vậy lắm hả? Hai mẹ con đang nói chuyện thì chuông điện thoại reo vang. Đang ngồi gần máy nên bà Hồng nhấc lên, bà nghe rồi quay sang hỏi con: - Bà ngoại của Giáng Hương là ai vậy con? Có phải con Giáng Hương bạn hồi đó của con không vậy? Hạnh Dung giật thót tim, cô chẳng trả lời mẹ mà giằng lấy ống nghe áp vào tai. Nửa phút sau cô buông ống nghe xuống, lo lắng: - Bà ngoại của Giáng Hương đang hấp hối. Con Ngọc Nga vừa báo tin cho con. - Lâu nay con có ghé thăm bà không? Sao con Giáng Hương không thấy sang đây chơi vậy? Dung thẫn thờ: - Giáng Hương chết rồi. Bà Hồng hốt hoảng: - Chết khi nào? - Gần cả năm rồi. Chết bên Pháp khi đi du học bên ấy. Dung hấp tấp đi ra, bà Hồng căn dặn: - Con qua thăm rồi có gì báo tin cho mẹ, mẹ cũng sang đó nữa. Dung chạy nhanh qua thẳng đó, bởi Ngọc Nga dặn không cần ghé đón nó. Vừa sang tới cổng nhà Giáng Hương đã thấy Nga đứng chờ sẵn: - Không biết sao bà ngoại Hương nhớ số điện thoại nhà tao, và nhờ người giúp việc gọi giùm. - Bà ra sao rồi? - Nằm thiêm thiếp, tao vào thăm bà biết nhưng không mở mắt ra, chỉ hỏi tên mày thôi. - Hỏi sao? Hạnh Dung bước nhanh vào, cô vừa xuất hiện thì bà cụ đã lên tiếng ngay: - Hạnh Dung phải không? - Dạ, con đây ngoại. Bà nhướng mắt lên nhìn, thấy Ngọc Nga, bà nói rất khẽ: - Nói nó ra ngoài một lát, bà có chuyện này muốn nói riêng với cháu! Hạnh Dung phải nói khéo với bạn: - Bà ngoại không chịu được hơi thở của đông người. Mày ra ngoài một lát đi rồi vào sau. Ngọc Nga không hài lòng lắm, nhưng cũng phải bước ra. Lúc này bà cụ bỗng cầm tay Dung, thều thào: - Nó... gửi cái này... cho con! - Ai gởi bà ngoại? - Thằng... Phi! Hạnh Dung tưởng mình nghe lầm: - Ngoại nói ai? - Thằng Phi... - Ngoại, anh Phi đã... Giọng bà cụ càng khó nghe hơn: - Nó... chết... nhưng nó vẫn... Bà khó khăn lắm mới lấy được một vật gì đó từ dưới gối ra, đưa cho Hạnh Dung: - Cái này gửi cho con. Dung cầm lấy và đưa lên xem, đó là một sợi dây chuyền bằng kim loại trắng, có đính theo mặt cũng bằng một thứ chất liệu, hình quả tim, như kiểu dây chuyền dành tặng những người yêu nhau. Còn đang ngơ ngác thì chợt Dung nhìn thấy cái mặt dây chuyền hình quả tim ấy có chốt mở ra, cô nhẹ tay mở và kinh ngạc kêu lên: - Hình của con và... Cô khựng lại, bởi nửa hình quả tim bên này thì ảnh cô, còn nửa bên kia thì là ảnh của... Hoàng Phi! - Thưa ngoại... Bà cụ sức đã kiệt, nhưng vẫn còn nói khá rõ ràng: - Tối qua trong lúc bà mê man thì thấy vong hồn nó về, nó khóc và nói rằng nó đã yêu con từ lúc thấy hình con trong cuốn lưu bút con gửi cho Giáng Hương. Nó định sẽ về nước và hỏi con làm vợ, nhưng chưa kịp thì đã... Bà ngừng một lúc rồi mới tiếp được: - Nó chưa kịp về thì cả hai anh em đều chết trong một tai nạn giao thông bên đó. Do quá say mê con nên hồn nó cứ vất vưởng đi tìm... vừa rồi nó tìm về đây và gặp được con. Hạnh Dung đánh bạo hỏi: - Hồn ma sao con thấy anh Phi giống hệt như người, đâu có vẻ gì là ma vậy ngoại? - Theo nó nói thì hình hài mà con nhìn thấy là xác của một người khác. Nó nhập hồn vào đó để đi gặp con. Bây giờ nó tha thiết van xin ngoại làm cách nào cũng phải cho nó gặp lại con, nó yêu con và muốn... cưới con làm vợ. Ngoại sợ quá, khuyên nó nên bỏ ý định đó đi, bởi dương gian âm cảnh làm sao cưới nhau được, nhưng nó quyết không nghe! - Ngoại! Hạnh Dung muốn nói gì đó, nhưng cô khựng lại. Bà cụ lại tiếp như muốn nói cho hết, sợ không còn kịp: - Nó nói con nên đi tìm người mà nó đã mượn hình hài và nhận lời xin cưới của người đó! Muốn xác nhận đúng người thì con nên nhìn trên cổ người ấy, cũng có đeo một sợi dây chuyền với cái mặt giống như vậy. - Nhưng thưa ngoại... Hạnh Dung vừa nói được tới đó thì đã thấy bà cụ trợn ngược mắt lên rồi ngoẹo đầu sang bên... - Kìa, ngoại! Khi Ngọc Nga chạy vào thì đã nhìn thấy bà ngoại của Hương tắt thở rồi. Cô quay sang hỏi bạn: - Lúc nãy bà trối trăng điều gì vậy? Hạnh Dụng muốn giấu, nhưng sau cùng cô nói hết với Nga. Cô bạn lắm lời này vội nói: - Số mày như vậy rồi, phải làm theo thôi! Hạnh Dung lo lắng: - Nhưng tao làm sao... Cả hai đứng chết lặng rất lâu... *** Sáng vừa mở mắt ra, người mệt nhoài bởi đã mấy đêm liền Hạnh Dung không tài nào ngủ được, thì đã nghe tiếng của mẹ vọng từ ngoài vào:- Con thay đồ ra tiếp khách với mẹ, có bác Phán qua chơi, muốn gặp con. Hạnh Dung nói nhanh: - Con đang mệt, mẹ tiếp đi! - Không được, phải có con. Cứ ra rồi để mẹ nói chuyện. Bác ấy có đề nghị gì thì con chỉ việc lắc đầu bảo rằng chờ học xong tú tài 2 đã. Nghe lời mẹ đi. Được lời của mẹ như vậy, nên dù không muốn Hạnh Dung cũng phải đi trang điểm sơ rồi đi ra. Bà Phán cũng vừa từ ngoài cổng bước vào, đi theo sau bà là một người phụ nữ có tuổi khác và... một chàng trai. Bước chưa tới phòng khách thì giọng bà Phán đã oang oang: - Dẫn rể quý tới nhà dây, cô dâu quý đâu ra đón đi chứ! Biết tính con không thích như vậy, nên bà bảo khẽ con gái: - Bác ấy muốn nói gì cũng được, con cứ chịu đựng. Hạnh Dung quả là đang chịu cực hình, cô vừa mệt vừa chán nản, nên miễn cưỡng đứng dậy chào cho phải phép: - Thưa bác Phán, con chào bác! Thưa... Tự dưng cô khựng lại, trố mắt nhìn chàng trai bước vào sau cùng. Hai tròng mắt của Dung như muốn lọt ra ngoài! Bởi chàng trai kia chính là... Hoàng Phi! Anh chàng cũng khựng lại, nhìn Dung trân trối. Nhưng hình như anh ta chưa nhận thức rõ người đứng trước mặt mình là ai. Bà Phán nhạy cảm, lên tiếng hỏi liền: - A, hai đứa biết nhau à? Bà Hồng cũng hỏi con: - Con quen? Hạnh Dung nhất thời chưa đáp, cô vẫn nhìn xoáy vào chàng trai và sau cùng mới lên tiếng: - Anh Hoàng Phi! Bà mẹ của chàng trai nhận ra, bà cười nói: - Dù cô gọi chưa đúng, nhưng cũng gần với tên của nó. Khương Duy là tên con trai bác! Anh chàng tuy chưa nhận ra Dung, nhưng anh ta cũng nhẹ gật đầu chào rất lịch sự, rồi bước tới chìa tay ra cho Dung bắt. Cô nàng như bị hớp hồn, cứ nắm chặt tay anh ta không chịu buông ra. Bà Hồng phải đưa tay kín đáo nhéo vào hông con gái một cái để Dung chấm dứt cử chỉ đó. Và có lẽ để tránh chướng mắt, bà nói to: - Hay là để người lớn mình nói chuyện, còn hai đứa trẻ thì ra sau vườn làm quen đi, lát nữa vào sau! Hạnh Dung chỉ cần nghe mẹ nói thế, cô đã kéo tay anh chàng ra ngay nhà sau. Khi ra đến ngoài, cô nhìn xoáy vào mắt anh ta rồi hỏi: - Hoàng Phi phải không? Anh chàng vẫn tỉnh như không: - Khương Duy. Mình tên là Khương Duy. Nhưng mình biết bạn. Câu nói càng khiến Dung thêm nghi ngờ: - Có phải anh là người có cái này phải không? Dung đưa tay lên vạch cổ áo anh ta ra và càng sửng sốt khi nhận ra sợi dây chuyền trông giống y như vật cô có trong túi áo. Cô móc ra ngay và đưa lên so, bất chợt anh chàng kêu lên: - Hạnh Dung! Anh ta thay đổi sắc diện một cách đột ngột, từ dáng vẻ chậm chạp bỗng trở nên nhanh nhẹn, hoạt bát hẳn lên, giống y như một Hoàng Phi mà lần đầu tiên Hạnh Dung đã gặp. - Đúng là em rồi, Hạnh Dung! Anh cứ ngỡ sẽ chẳng bao giờ gặp lại em. Để chắc hơn như những lời của bà ngoại Hương kể, Hạnh Dung đưa tay lên định giở mặt dây chuyền của anh chàng ra, thì chính anh ta đã tự tháo ra và đưa hẳn cho Dung: - Em giữ luôn cho đủ cặp! Dung mở trái tim mặt dây chuyền ra, và cả hai cái đều giống y hệt như nhau! - Đúng là anh rồi! Hạnh Dung không một chút sợ hãi, nắm lấy tay Khương Duy, nói đủ cho anh ta nghe: - Em biết rồi, anh ẩn trong xác của anh chàng Khương Duy, nhưng thật ra anh là Hoàng Phi! Anh chàng đáp rất khẽ: - Chuyện này chỉ chúng ta biết thôi. Lúc đó ở trong nhà... Bà Phán Giáo đã bắt mạch được Hạnh Dung kết chàng trai mình mai mối, nên bà mạnh miệng nói: - Tôi làm mai mối hay lắm, nhiều cặp đã thành và con cái đầy đàn, gia đình hạnh phúc. Chưa có cặp nào xảy ra chuyện gì! Bà quay sang bà Hồng: - Chị tin tôi đi, con Dung nhà chị mà ưng cậu cả nhà bà bác sĩ đây thì xứng không ai bằng! Mà coi bộ con nhỏ cũng đã kết thằng Duy lắm rồi. Hình như chúng nó có quen nhau trước. Bà Hồng vẫn giữ đúng ý đã bàn với con gái, nên nói: - Nói gì thì nói cũng phải đợi cháu nó học xong tú tài 2 cái đã. Bà bác sĩ Xuân vội lên tiếng: - Mình làm đám hỏi trước rồi đợi khi cháu nó học xong thì tính liền cũng tiện. - Chuyện này phải để tôi tính lại với con nhỏ. Nó khó tính và hơi cứng đầu. Hồi ba nó còn sống ông không cho ai ép uổng gì nó cả. Bà Phán lấy lòng bà bạn của mình: - Anh chị bạn tôi đây chỉ có con Dung là con gái, mà hiện giờ chỉ còn hai mẹ con sống hủ hỉ với nhau, nên chị ngại phải xa con... Bà bác sĩ Xuân liền nói: - Không sao cả, thằng Khương Duy là con cả, sau nó còn có ba người em nữa, cho nên nếu chị muốn thì tôi đồng ý cho cháu nó ở bên này cùng tiếp tay với vợ phụng dưỡng chị. Bà Hồng còn đang phân vân thì từ nhà sau Hạnh Dung và anh chàng bước ra, tay trong tay. Cô nàng lên tiếng ngay: - Tụi con tính rồi mẹ, con vẫn đi học, còn anh Phi thì đi làm, chờ khi nào con thi xong rồi làm đám cưới luôn! Bà Hồng kêu lên: - Kìa, con. Dung đến bên mẹ, rất chủ động: - Con và Phi biết nhau. Phi đây chính là anh ruột của Giáng Hương bạn con. Bà Hồng ngơ ngác: - Con nói gì vậy? Bà bác sĩ Xuân cũng trố mắt: - Ai là Phi? Thằng con bác là Khương Duy mà. Nó là con trai của bác, chứ đâu phải là anh của Giáng Hương nào đó như con nói đâu? Bỗng anh chàng lên tiếng: - Hạnh Dung nói đúng, con là Hoàng Phi! Cả ba người đàn bà đều ngơ ngác, hết nhìn hai đứa trẻ rồi nhìn nhau. Bà Hồng hỏi đầu tiên: - Con có tỉnh táo không Hạnh Dung? Dung cười nhẹ với mẹ: - Con của mẹ đây mà! Con lúc nào cũng tỉnh táo và nhớ lời mẹ dặn. Con... - Nhưng sao lại có chuyện kỳ cục này? Bà bác sĩ Xuân cũng chen vào: - Thằng Khương Duy nhà tôi là đứa hiền lành, thậm chí có người nói là nó quá ngây ngô, vậy mà sao hôm nay lại... lanh lợi và còn biết đẩy đưa với mẹ nó nữa! Bà Hồng đột ngột đứng dậy và ra dấu cho Hạnh Dung biết: - Con vào trong này mẹ hỏi chút coi! Bà kéo tay Dung đi thẳng vào phòng riêng. Trong khi đó, còn lại ngoài này bà bác sĩ tranh thủ nói với bà Phán Giáo: - Như chị thấy đó, thằng Duy nhà tôi hơi thất thường nên tôi mới muốn cưới vợ cho nó, chỉ hy vọng có chất con gái vào sẽ giúp nó đỡ hơn chút đỉnh, có ai ngờ chỉ mới gặp con này thì nó lại biến đổi, thật khó mà lường. Bà Phán nheo mắt: - Người ta nói đàn bà con gái có khả năng siêu phàm vậy đó! Bất chợt anh chàng Khương Duy lên tiếng: - Mẹ và bác Giáo nói đúng mà chưa đủ. Đúng là hơi con gái làm con tim người ta rộn ràng hơn, nhưng phải là hai con tim của hai người có duyên có nợ kia chứ! Bà bác sĩ Xuân bây giờ mới nhìn thẳng vào con: - Duy, nói cho mẹ nghe coi, đúng là con kết con nhỏ này lắm phải không? Con... hết bông lơn rồi hả? Anh chàng chỉ tay lên sợi dây chuyền trên cổ mình, khoe: - Tụi con có duyên tiền định với nhau, chứ đâu phải đợi đến bây giờ! Bà Xuân ngạc nhiên: - Kìa, con đeo sợi dây đó hồi nào vậy? Xưa nay con có chịu đeo bất cứ thứ gì trên người đâu, nói mẹ nghe coi Khương Duy? Tiện tay, anh ta giở luôn mặt dây chuyền ra, gí sát vào mặt mẹ mình: - Mẹ coi kỹ đi, hai tấm ảnh trong này có phải là con với Hạnh Dung không? - Kìa con! Bà thuận tay chụp lấy và giật phăng ra, sờ lên từng tấm ảnh, thấy nó được in hẳn vào mặt trái tim, chứ không phải là mới dán vào. - Mẹ không thể hiểu nổi... - Giờ thì mẹ đã hiểu rồi đây! Nhưng mẹ làm như vậy là mẹ hại con, khiến con có thể... chết liền! Lời anh chàng vừa dứt thì bỗng sắc mặt tái xanh, người run rẩy... Cũng may vừa lúc ấy Hạnh Dung bước ra kịp, cô nhanh tay giằng lấy sợi dây chuyền từ tay bà bác sĩ Xuân rồi đeo lên cổ cho anh chàng ngay, vừa trách móc: - Bác làm vậy là bác giết con bác đó biết không? Đây là sợi dây định mệnh, phải có nó luôn trên cổ thì mạng sống mới duy trì được. Nếu không... Khương Duy sau khi được đeo trở lại sợi dây chuyền thì hết tình trạng run rẩy và tím tái kia, anh nhoẻn miệng cười với Hạnh Dung: - Cám ơn em. Giọng Dung nhẹ và ngọt lịm: - Hoàng Phi, em phải luôn ở bên anh mới được. Bà Hồng cũng vừa bước ra. Trái với thái độ lúc nãy, sắc mặt lúc này biến đổi, bà lặng lẽ ngồi xuống ghế và chẳng nói gì... Thấy vậy, bà Phán mới lên tiếng: - Qua trao đổi với con gái, chị quyết định ra sao? Bà Hồng chỉ đáp gọn một câu: - Xong rồi! Bà đứng lên và đi thẳng vào trong trở lại. Để cho hai bà khách nhìn nhau ngơ ngác... *** Ngọc Nga vừa bước vào sân đã hỏi liền:- Hạnh Dung không có nhà hả bác? Bà Hồng đáp: - Nó đi học từ sáng sớm, nói bữa nay có kiểm tra gì đó. Nga xua tay lia lịa: - Bữa nay lớp được nghỉ, đâu có học bác! Bà Hồng ngạc nhiên: - Ủa, sao con Dung dám nói gạt bác kìa! Nào giờ nó có bao giờ như vầy đâu... Ngọc Nga ghé sát tai bà thì thầm: - Bữa nay con biết chắc là con Dung đi với bồ nó, bởi vậy con mới qua đây nói cho bác nghe chuyện này. Thấy thái độ khác thường của Nga, bà Hồng hỏi: - Có chuyện gì vậy con? - Con Hạnh Dung phải lòng một anh chàng... cõi âm đó bác! Tưởng mình nghe lầm, nên bà Hồng hỏi lại: - Con nói vậy là sao? Nga nói rõ từng tiếng: - Con Dung bị một hồn ma ám, nó mê anh chàng ấy. Đó là Hoàng Phi, anh con Giáng Hương. Bà Hồng kêu lên: - Hoàng Phi! Đúng rồi, chính thằng đó. Nhưng sao là hồn ma? Ngọc Nga kể hết với bà chuyện cô biết được ở nhà Giáng Hương bữa trước và còn quả quyết: - Chính mắt con và Dung đã nhìn thấy anh chàng đó với con Giáng Hương được thờ trên bàn thờ ở nhà ngoại nó. Con không dám ngăn con Dung, bởi vậy mới nói cho bác hay, để bác bằng mọi cách phải ngăn con Dung lại, nó yêu mù quáng như vậy thì chỉ có chết mà thôi! Bà Hồng thất thần: - Trời ơi, con tôi! Bà lảo đảo ngồi phịch xuống bậc thềm mà miệng cứ lẩm bẩm hoài: - Con ơi, con giết mẹ rồi... Ngọc Nga còn nói rõ hơn: - Chính bà ngoại của Giáng Hương trước khi nhắm mắt đã kêu con Dung tới và dặn dò, trối trăng rất kỹ. Con Dung thuật lại với con là nó phải đi tìm một anh chàng đeo sợi dây chuyền có mặt trái tim, trong đó có ảnh của hai đứa nó, bởi đó là người được Hoàng Phi nhập hồn vào. Bác đừng cho con Dung đi tìm nghe bác, nó sẽ lấy phải ma đó. Bà Hồng thều thào: - Chậm mất rồi! Ngọc Nga tính hỏi thêm thì vừa lúc Hạnh Dung từ ngoài cổng dắt xe vào. Nhìn thấy Nga, Dung đã lên tiếng liền: - Mày mách với mẹ tao chuyện đó phải không? Con này nhiều chuyện! Rồi cô quay sang mẹ, nói nghiêm túc như một người lớn tuổi: - Ma chưa hẳn là xấu. Con đã chấp nhận rồi thì con chịu. Còn nếu mẹ phản đối thì con thà chết theo anh ấy, chứ mẹ đừng bắt con phải xa người con yêu! Ngọc Nga trực tiếp nghe Dung nói những lời đó thì tái mặt, lẩm bẩm: - Con này hết thuốc chữa rồi. Trong đầu Nga có một dự tính mà trước khi tới đây cô đã định sẽ nói cho bà Hồng nghe, nhưng sự trở về đột ngột của Dung đã khiến cho cô chưa kịp nói ra. Nga nghĩ đợi có dịp sẽ nói cho bằng được, mà theo cô là để cứu bạn mình... Nhưng hình như Hạnh Dung đã đọc được ý nghĩ của bạn, cô nói thẳng: - Mày tính xúi mẹ tao đi rước thầy về trừ tà bắt hồn ma của Hoàng Phi phải không? Anh Phi đã đoán biết hết rồi, mày mà nói ra thì tao với mày hết tình bạn bè, mà e sinh mạng của mày cũng không an toàn. Mày không tin cứ thử coi! Ngọc Nga giật mình, cô lúng túng: - Tao… tao chỉ... - Tao biết mày không phải là người xấu, mà chỉ muốn giúp đỡ bạn thôi, nhưng tao nói rõ ràng, đây là duyên số của tao nên để tao chịu. Vả lại, tao đã hiểu về Hoàng Phi lắm rồi, anh ấy sẽ sống như một người dương trần bình thường. Vậy tốt hơn hết là mày đừng đem chuyện này nói lại với ai khác. Riêng mẹ tao, để tao sẽ tìm cách nói thêm cho bà hiểu... Bà Hồng chẳng nói thêm lời nào. Bà như người mất hồn, ngồi chết điếng cho đến khi Hạnh Dung dìu bà vào nhà trong. Còn Ngọc Nga định vào theo, nhưng bỗng dưng cô nàng cảm thấy ớn lạnh và rùng mình liền mấy cái, rồi mắt như hoa lên, người lảo đảo nên cuối cùng đã lặng lẽ ra về mà không báo cho bạn mình biết... Việc Ngọc Nga phát bệnh và nghỉ học hơn một tuần khiến mọi người hoảng hốt, lo lắng. Chỉ có Hạnh Dung là không. Cô chờ cho đến ngày thứ tám, khi Nga có mòi hơi trầm trọng thì tới thăm. Lúc riêng chỉ có hai người, Dung mới nói: - Tao biết mày vẫn tốt, nhưng cái tính thày lay của mày nó hại mày như vậy đó. Có phải sau khi ở nhà tao về, mày vẫn còn có ý định đi thỉnh bùa chú gì đó để đưa cho mẹ tao phải không? Phi đã nói cho tao biết hết và chính anh ấy đã tìm cách ngăn mày, bằng cách khiến cho mày bị bệnh nặng, để mày khỏi làm càn. Bây giờ mày công nhận lời tao nói chưa, còn có ý định tào lao nữa không? Nếu hết rồi thì dậy đi, cùng đi ăn cơm với tao và Hoàng Phi. Ngọc Nga bật dậy ngay và kêu lên: - Mày đừng bắt tao phải đi gặp anh chàng đó. Hạnh Dung giọng chân tình: - Khi hồn đã nhập vào một người cõi trần rồi thì Hoàng Phi đâu phải là ma nữa. Tao tin rằng sau khi gặp anh ấy rồi mày sẽ không còn có ý nghĩ bậy nữa. Thôi, dậy đi và cùng tao đi một vòng... Ngọc Nga bước xuống giường như người chưa từng bị bệnh... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 45
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXXV: Con Ma Nhà Họ Lý -Phần I Hôm qua, khi chiếc xe Traction của cha từ từ ngừng lại trước sân thì Nguyệt Ánh đã có linh tính không hay. Cô nói nhỏ với em gái: - Chị đoán thế nào cũng có bà ấy về cùng ba. Lời tiên đoán của Nguyệt Ánh không sai, bởi bước theo sau ông chủ Thiên Thời là một người đàn bà tuy đã trung niên, nhưng từ cách ăn mặc cho tới cách trang điểm đều giống như các cô gái trẻ. Nhất là đôi môi thoa son đỏ chót, mà khi vừa thoạt nhìn thấy Lan Anh đã thốt lên ngay: - Giống như mấy cô đào cải lương! Vừa nhìn thấy hai cô con gái, ông Thiên Thời đã gọi ngay: - Hai con ra đây chào dì Hai! Lan Anh nguýt một cái, nói nhanh với chị: - Dì cái con khỉ! Nguyệt Ánh bấu em một cái, vừa nhắc: - Kệ, đừng để ba mất mặt. Cô kéo Lan Anh bước ra đứng ngay trên bậc tam cấp, chào cha như mọi khi: - Ba mới về. Thưa dì... Lan Anh thì không nói gì, cô chỉ khẽ cúi đầu. Ông Thiên Thời quay sang người đàn bà: - Đây là Nguyệt Ánh, Lan Anh, hai đứa con gái mà anh nói với em. Chúng nó... Ông chưa nói hết câu thì bà ta đã chận ngang: - Lần sau có chào hỏi thì cũng nên nhìn thẳng vào người mình đang chào, chớ nhìn ngang liếc dọc thế kia là không phải phép. Con gái phải biết lễ, biết phép để còn lấy chồng sau này! Chưa gì đã bị bà ta chỉnh cho rồi, nên Lan Anh không dằn được, lên tiếng ngay: - Con nhà này không lé mắt, cũng không sợ ai mà phải liếc ngang liếc dọc, chỉ có điều là có cần nhìn hay không mà thôi! Ông Thiên Thời thấy không khí chưa gì đã căng thẳng, nên vội nói át đi: - Nguyệt Ánh, Lan Anh đi lo cơm nước để ba đãi dì Hường. Những gì dì Hường nhắc không phải thừa đâu, cũng giống như ba thường nhắc thôi. Đi đi con. Nguyệt Ánh biết ý cha, nên kéo tay Lan Anh đi: - Thôi, bỏ đi. Bữa cơm thì hai cô đã chuẩn bị xong khi nhận được tin cha về cùng với khách. Ban đầu hai chị em không hình dung khách của cha lại quá quắc như thế này, nên đã chuẩn bị tiệc đãi, bây giờ tuy có bực mình, nhưng dù sao thì cũng đỡ phải lo cái việc mà trong lòng hai đứa đều không muốn. Nguyệt Ánh gọi Sáu Chi, đứa giúp việc và bảo: - Lát nữa chị lo cho bả, còn tụi em thì khó ở, nên ba có hỏi chị nói tụi em đi nằm rồi! Cả hai đi thẳng ra sau nhà, nơi có con kênh nhỏ, mà thường khi muốn giải buồn họ đều ra lấy xuồng bơi lòng vòng một lúc... Trong khi đó ở trong nhà bà Hường đã bắt đầu chì chiết: - Hai đứa con gái của anh coi bộ không ngoan ngoãn như anh nói đâu. Chúng khó dạy à nghen! Ông Thiên Thời cố xoa dịu: - Chúng là con nít, có gì mình nói sau. Bây giờ em phải chứng tỏ mình là bà chủ tương lai chớ. Bà ta trừng mắt nhìn ông: - Đã là chủ rồi chớ còn tương lai gì nữa. Ông Thiên Thời nói êm: - Thì đương kim chủ nhân. Còn trên cả... phó tướng này nữa đó nghen! Bà ta nguýt một cái sắc như dao cạo, rồi bước thẳng vô căn phòng mà ông Thiên Thời đã dọn trước. Giọng bà ta nghe rất khó ưa: - Cái phòng gì cũ xì, vậy mà anh nói là phòng của chủ nhân, phòng hạng sang! Như vậy đủ chứng tỏ chủ nhân trước đây không có mắt thẩm mỹ gì hết! Biết cái kiểu ăn nói này sớm muộn gì cũng đụng chạm với hai cô con gái của mình, bởi chúng nó có thể nhịn cái gì được, chứ ai nói chạm tới người mẹ quá cố của chúng thì có chuyện ngay. Nên ông vội khỏa lấp: - Thì cái gì không hài lòng mình sửa lại từ từ. Chớ ở xứ này nhà tui là số một rồi đó. Cái phòng ngủ của vợ chồng ông Thiên Thời trước kia, đã được ông cho người sửa lại khá tươm tất, sang trọng hơn với chiếc giường Hồng Kông đặt mua khá nhiều tiền từ Sài Gòn chở về, thay thế chiếc giường ngủ mà ông cùng bà vợ trước sử dụng đã trên mười lăm năm, mặc dù vẫn còn tốt. Ngoài ra ông còn cho thay toàn bộ màn ở các cửa, cũng bằng vải ngoại, mà ông tin rằng chưa có nhà giàu nào ở tỉnh Rạch Giá này có được. Bà Hường bước vô phòng, chỉ mới nhìn sơ qua đã càu nhàu: - Màu màn cửa tối mò, cái drap giường cũng vậy, thời buổi này ai xài drap màu trắng nữa, thiếu gì bông hoa đẹp. Ông Thiên Thời cũng nói cho xong chuyện: - Không chịu thì đổi cái khác... Ông mở đèn lên sáng choang cả gian phòng và vào tận phòng tắm, vừa tự hào giới thiệu: - Cả tỉnh Rạch Giá chưa chắc nhà nào có phòng tắm nước máy, có vòi sen như nhà này. Có cả bồn ngâm nước nữa, tiếng Tây người ta gọi là beignore. Chỉ có ông chủ Thiên Thời này mới dám xài đó nghen! Bà ta nguýt ông một cái: - Cái bồn này bà già trầu của ông trước khi chết đã có ngâm thân chưa, nếu ngâm rồi thì gỡ bỏ ngay, mua cho tui cái khác! - Làm gì có, tui mới lắp đặt đây mà. Còn nguyên tem luôn! Lễ động phòng của hai ông bà trắc trở ngay từ đầu như vậy, chủ yếu là do tính khí quá quắt của người đàn bà mới nhập gia này. Vậy mà ông Thiên Thời cũng ráng chịu đựng cho qua. Cũng may khi con Sáu Chi mời xuống ăn cơm thì coi như ông được giải thoát, ông hối: - Mình xuống ăn cơm rồi còn nghỉ ngơi, anh đói lắm rồi. Mâm cơm dọn thịnh soạn nhưng chỉ có hai người ăn. Ông Thiên Thời hỏi: - Hai đứa nó đâu rồi sao không ra ăn luôn? Sáu Chi đáp: - Dạ, hai cô nói khó ở rồi đi ra sau nhà. Chắc là đi bơi xuồng rồi, vì hồi sáng có mấy người bạn học của hai cô tới, họ có hẹn đi bơi xuồng. Sáu Chi đã bịa chuyện để cho sự vắng mặt của hai cô chủ nhỏ hợp lý, chớ cô còn lạ gì cái nhăn mặt khó chịu của cả hai khi đón khách mới hồi nãy. Ông Thiên Thời cằn nhằn: - Hai đứa này không biết gì hết, có khách thì phải ở nhà lo chớ! Bà Hường lại có dịp mắng mỏ: - Thiếu người dạy nên vậy đó! Mà thôi, có mặt tụi nó lại ăn mất ngon! Sáu Chi nghe nói mà cũng phát tức. Cô ta đã làm cho nhà này kể từ khi bà chủ cũ còn khỏe mạnh, bà thương cô và ngược lại cô cũng thương bà nhiều. Gần sáu năm ở trong nhà này cô chưa từng bị bà chủ nói nặng lời lần nào, bữa cơm nào bà cũng bắt phải ngồi ăn chung, không phân biệt chủ tớ. Vậy mà nay, từ lúc ngồi xuống mâm, bà Hường này chỉ chăm chú lo trách người này, chê cái kia, chứ không hề quan tâm tới người phục vụ... Chán nản, Sáu Chi bước tránh ra, đi làm vài công việc lặt vặt khác. Và suốt buổi cơm hôm đó cô nghe toàn là lời của bà Hường nói, không nghe ông chủ Thiên Thời nói gì. Câu cuối cùng cô còn nghe rất rõ bà ta bảo: - Người ăn kẻ làm trong nhà này có lẽ tui phải coi lại, nếu cần thì cho nghỉ, mướn đứa khác tui ưng ý hơn! Ông Thiên Thời bấy giờ mới lên tiếng: - Trong nhà này chỉ có thằng Sĩ tài xế là người lái xe cẩn thận, làm nào giờ chưa từng để xảy ra gì, tui ưng ý lắm, còn con Sáu Chi thì là đứa được lòng cả nhà, lại siêng năng, hiền lành, đâu có ai khác mà phải cho nghỉ. Bà ta cố tình nói cho Sáu Chi nghe: - Nhưng tui muốn mọi cái trong nhà này phải mới. Người dính tới bà già trầu kia tui hổng ưa. Sáu Chi nghe mà ức lắm, nhưng cô vẫn cố nhịn. Chờ cho xong bữa cơm, cố dọn dẹp rồi đi tìm hai cô chủ nhỏ. Không thấy hai người ở bờ kênh, Sáu Chi lại đi vòng qua chỗ ngôi mộ của bà chủ. Nơi mà ngày nào Sáu Chi cũng ra đốt nhang cúng, thậm chí còn ngồi lại lâu hơn hai cô gái con bà. Khi bước tới nơi Sáu Chi ngạc nhiên khi thấy ở đầu mộ có một bó hoa còn tươi. - Hoa của ai vậy kìa? Hoa rất lạ, Sáu Chi chưa từng thấy bao giờ, nên không biết là hoa gì, mặc dù đó chỉ là một thứ hoa cẩm chướng mà dân thành thị thường hay dùng. - Của ai vậy hà? Từ phía sau lưng chợt có một giọng nói rất lạ: - Cứ tưởng là sẽ không có người tới để chiêm ngưỡng hoa. Ai ngờ cũng có, mặc dù không phải là... Sáu Chi bật đứng dậy, ngạc nhiên hỏi: - Anh là ai vậy, sao đặt hoa trước phần mộ của bà tui? Khách là một chàng trai cỡ trên hai mươi tuổi, người có vẻ thư sinh, hiền lành, nghe Sáu Chi hỏi đã trả lời rất thành thật: - Tôi là Hiếu, chắc là chị chưa biết, nhưng ngược lại tôi biết chị là Sáu Chi. Sáu Chi càng kinh ngạc hơn: - Sao anh biết tui? - Nghe Nguyệt Ánh nói. Sáu Chi hiểu ra: - À, thì ra anh là bạn của Nguyệt Ánh? Hay của Lan Anh? Anh chàng tên Hiếu cười rất tươi: - Đâu chị thử đoán coi tui xứng làm bạn với cô nào? Sáu Chi rất tự nhiên: - Cô Nguyệt Ánh thì đã mười chín, còn cô Lan Anh thì mới mười bảy. Vả lại không lẽ em lại có bồ trước chị? Hiếu kêu lên: - Sao chị biết tụi tui bồ với nhau! Sáu Chi tâm lý: - Không có chàng trai nào không phải là bồ hay có tình ý gì đó với một cô gái mà chịu khó mang hoa tới thăm mộ mẹ cô nàng cả! Chắc chắn anh là bồ rồi! Cô Nguyệt Ánh phải không? Hiếu lại một lần nữa cười hiền hoà: - Chị đúng là nhà tâm lý đại tài rồi! Thấy mình đoán đúng, Sáu Chi thích thú: - Vậy mà lâu nay Nguyệt Ánh kín miệng như bưng! Cô này giỏi thiệt... Sáu Chi nhìn quanh rồi hỏi: - Anh gặp cô Hai chưa? Hiếu lắc đầu: - Chưa. Nhưng thôi, tôi có việc phải đi ngay. Phiền chị về nói lại với Nguyệt Ánh là có tôi ghé thăm mộ. Có gì tối sẽ gặp lại sau. Anh ta nói xong quay bước đi. Nhưng vừa bước mấy bước thì quay lại nói: - Chị vào nhà ngay, hình như trong nhà đang có chuyện gì, có ai đó la hét om sòm trong đó! Lúc này Sáu Chi mới lắng nghe và quả là có tiếng gấu ó từ trong nhà vọng ra. Cô chạy vào ngay và đúng lúc ông chủ Thiên Thời chạy ra hỏi liền: - Mày có thấy giỏ đồ của bà Hường đâu không? Sáu Chi ngơ ngác: - Từ lúc bà về tới giờ con có ở trong nhà đâu mà thấy. Bà Hường bước ra tới, bà tru tréo nhắm vào Sáu Chi: - Nhà gì trộm cắp như rươi, đồ đạc mới hở ra là mất tiêu liền! Con kia, mày lấy cái giỏ của tao để đâu, nói mau. Không còn nhịn được nữa, Sáu Chi phản ứng: - Bà nói thì phải có bằng chứng, không được nói càng! Nhà này từ bao giờ chưa từng có ai là ăn trộm cả, bà chủ trước đây từng để quên mấy chục lượng vàng mà còn không mất nữa là. Bị phản ứng bà ta quê, nên nổi xung thiên: - Mày hỗn láo hả con ranh con kia! Tao đuổi mày từ bây giờ! Sáu Chi không vừa: - Tui làm là làm cho ông chủ và mấy cô trong nhà này, chớ bộ ham làm cho bà để ăn vàng sao chớ! Tui sẽ nghỉ liền sau khi chờ gặp hai cô chủ tui đã. - Nhưng tao muốn mày ra khỏi nhà tao ngay! - Nhà nào của bà? Nhà này là của ông chủ đây và hai cô Nguyệt Ánh, Lan Anh. Chừng nào những người này đuổi thì tui đi liền! - Nhưng tao... Ông chủ Thiên Thời phải lên tiếng: - Chuyện gì cũng từ từ. Con Sáu đây quán xuyến hết công việc trong nhà, nay cho nó nghỉ thì lấy ai làm... Nghe ông ta nói vậy bà ta tru tréo lên: - Nếu ông binh nó thì tui sẽ đi cho ông coi! Bà ta ngoe nguẩy đi vô phòng có lẽ định lấy va li, nhưng chợt nghe bà kêu lên từ trong ấy: - Ủa, sao lại ở đây! Ông Thiên Thời bước vào và ngạc nhiên khi thấy cái túi mà bà Hường bảo mất hồi nãy đang nằm giữa giường. Bà ta cầm giỏ lên soát lại đồ đạc trong đó rồi thở phào: - Còn nguyên! Ông Thiên Thời lắc đầu: - Vậy mà bà hô hoán! Bà ta bị bẽ mặt, nhưng vẫn giọng điệu khó ưa: - Mà không mất của thì cũng phải đuổi con nhỏ hỗn láo đó đi thì tui mới ở trong nhà này! Ông Thiên Thời phải dịu giọng: - Được rồi, để mai tui tính. Ông hỏi lại: - Trong giỏ có gì mà em la dữ vậy? Bà ta hạ thấp giọng: - Cả tài sản của tui ôm theo ông, chớ phải ít đâu! Gần một trăm lượng vàng và cả đống hột xoàn nữa! Số này tui lấy luôn của lão thầu khóan gởi hùn làm ăn, chưa ăn được mà mất thì có nước tự tử! Ông Thiên Thời rùng vai: - Bao nhiêu đó thì ăn thua gì, bà về đây tui còn cho bà gấp chục lần nữa. Nhưng thôi, đem để trong tủ khóa lại đi, rồi ngủ một giấc, sáng mai tính. Bà ta ôm kè kè cái giỏ, đưa vào tủ đứng cất, khóa lại cẩn thận, rồi nhét xâu chìa khóa vào trong lưng quần. Suốt từ đó tới đêm, ông Thiên Thời hầu như không rời bà ta nửa bước, cũng không hỏi thăm hai cô con gái đi chơi đã về chưa. Nửa đêm... Bỗng dưng bà Hường choàng tỉnh bởi hình như bà vừa bị ai đó thọt léc vào nách. Bà bật ngồi dậy ngơ ngác hỏi: - Ai làm gì vậy? Bà nghĩ ông Thiên Thời ngọ ngoạy tay chân, nhưng khi nhìn sang, bà ta ngạc nhiên thấy ông đang nằm co dưới sàn, ngủ ngáy khò khò! - Ông Thiên Thời, sao lại... Bà hỏi chưa dứt lời thì chợt há hốc mồm khi nhìn ra cửa sổ phòng, nơi đó có một người đang ngồi vắt vẻo, quay lưng vô và hầu như chẳng để ý tới gì xung quanh. Hoảng quá, bà ta hỏi bằng giọng run run: - Ai... ai vậy? Người kia vẫn không quay lại, cũng không lên tiếng. Rồi bỗng dưng cả thân người nhảy ra phía ngoài! - Kìa? Bà Hường hốt hoảng chạy ra cửa nhìn xuống. Trước tầm mắt bà ta là một chàng trai trên dưới hai mươi tuổi, đang nằm sãi tay, bất động trên thảm cỏ. - Ông Thiên Thời! Ông Thiên Thời! Bà gọi đến mấy lần mà ông Thiên Thời vẫn nằm im, quýnh quá bà ta phải chạy lại lay ông, lúc đó mới phát hiện là người ông lạnh ngắt và hầu như hơi thở sắp tắt! - Trời ơi! Tiếng kêu của bà ta khá lớn, nên dẫu không muốn, nhưng Sáu Chi vẫn phải từ phòng mình chạy lên và lên tiếng: - Cửa khóa làm sao tui vô được! Bà ta phải bước tới mở chốt cửa vừa nói nhanh: - Mày coi tiếp tao đỡ ổng lên giường. Không biết bị sao mà người lạnh như thây ma vầy nè! Sáu Chi tiếp bà ta kéo ông chủ lên giường, cô nói nhanh: - Ông lạnh là bị cảm gió rồi, để con đi lấy dầu. - Khỏi, mày chạy ra cửa sổ coi ai nằm dưới kia kìa! Sáu Chi quá đỗi ngạc nhiên, nên không kịp hỏi lại, đã bước tới cửa nhìn xuống và cô ngơ ngác hỏi: - Có ai đâu? Bà Hường gắt lên: - Mắt mày đui sao không thấy, có thằng nào nằm đó, tao mới thấy nó té từ trên này xuống đó! - Làm gì có? Không thèm để ý việc ông Thiên Thời đang ưỡn người lên, có dấu hiệu bất thường, bà ta chạy lại cửa sổ nhìn xuống và kinh ngạc. - Nó mới nằm đó mà? Nó... là ai vậy? Sáu Chi bực mình: - Con không thấy thì làm sao biết? Bà ta gắt lên: - Tao muốn hỏi trong nhà này có đàn ông nào khác không? Sáu Chi đáp nhát gừng: - Không có! - Ủa... như vậy chẳng lẽ... Bà ta chợt hốt hoảng nói to: - Có khi nào... Bà vừa chạy tới bên tủ áo, vừa run run tra chìa khóa vào mở tủ. Rồi giọng bà ta thất thanh: - Trời ơi... của cải của tôi! Trước mắt bà cái túi đựng mấy trăm lượng vàng đã không còn ở chỗ cũ! Bà xốc tung quần áo trong đó lên và kéo cả hộc tủ nhỏ bên trong ra. Vẫn chẳng thấy gì. Số vàng đã không cánh mà bay! - Thằng đó lấy! Bà ta tuôn chạy ra ngoài, vòng ra ngoài cửa sổ, chỗ bà thấy chàng trai nằm lúc nãy. Chẳng hề có một dấu vết gì chứng tỏ là vừa có người té xuống. Nhìn quanh cũng chẳng thấy bóng ai. - Trời ơi! Bà ta cứ luôn miệng kêu trời và cuối cùng chạy trở lên phòng ngủ. Không nhìn thấy Sáu Chi ở đó, bà gào to: - Con gì đó, mày vô đây tao hỏi coi! Phải một lúc sau Sáu Chi mới trở lên. Cô hỏi: - Bà cần gì con? Bao nhiêu bực dọc bà ta đổ lên đầu cô gái: - Vàng của tao đâu? Tụi bây lấy hết của tao rồi phải không? Sáu Chi hết nhịn nổi, cô phản ứng liền: - Ai lấy gì của bà? Bà ăn nói lung tung kiểu đó tui không nhịn à nghen! Bà ta vẫn bù lu bù loa: - Quân ăn cướp, tụi bây không ăn dộng được của tao đâu, tao giết,.. Bà lao tới như mụ điên, Sáu Chi buộc phải vừa né tránh vừa kêu cứu: - Cô Hai cô Ba ơi, bà ta giết tui! Nguyệt Ánh và Lan Anh thề với lòng là sẽ không gặp mặt bà ta nữa, nhưng khi nghe Sáu Chi la hét, họ cùng chạy lên. Nguyệt Ánh hỏi trước: - Chị bị sao vậy chị Sáu? Sáu Chi chưa kịp nói thì mụ Hường đã gầm lên: - Cả hai đứa mày nữa, tụi bây lấy vàng của tao thì mau trả lại đây! Lan Anh vốn ngang bướng, đã phản ứng liền: - Bà kia, bà giở trò gì đây hả? Bà tưởng chị em tui sợ bà sao chớ! Bà... Vừa khi ấy họ nhìn thấy ông Thiên Thời nằm như chết trên giường thì hốt hoảng: - Ba sao vậy? Ba ơi... Họ quên hết mọi chuyện, cùng lao vào phòng. Nguyệt Ánh sờ vào người cha, cô hét lên: - Ai làm gì ba, trời ơi! Mụ ta phải không? Lan Anh xốc nổi hơn, cô la làng chói lói: - Người ta giết ba tôi rồi, bớ bà con ơi! Mụ Hường lúc này chứng tỏ mình là một con người đáo để, mụ ta cũng la to hơn: - Bớ thiên hạ ơi, tụi nó ăn cắp tiền vàng của tôi! Đồ quân ăn cướp, đồ ác nhơn! Tiếng kêu la của họ vang vọng ra tận bên ngoài, tuy nhiên xưa nay chuyện xảy ra trong ngôi nhà giàu này ít khi được láng giềng can thiệp, bởi vậy mặc cho họ la, thật lâu sau vẫn không có người tới. Tài xế lái xe cho ông Thiên Thời thì tối về nhà riêng ngủ, phải sáng hôm sau mới đi làm. Thấy kêu la chẳng có kết quả gì, mụ Hường xoay qua tru tréo kiểu khác: - Tụi bây ỷ đông chống lại tao phải không? Nhưng bây nên nhớ, em tao là lính kín của Tây, chỉ cần tao báo cho nó biết tức thì nó gông cổ tụi bây lại hết cho biết tay! Lan Anh không vừa: - Không làm chuyện gì bậy thì sợ gì lính kín hay lính hở, hổng ai sợ bà đâu! Bà ta trở lại tủ áo, lấy ra gói vải đựng vàng bị mất lúc nãy, giũ tung nó ra làm bằng chứng: - Vàng tao mới để trong này, tụi bây không lấy thì ai vô đây lấy? Cái thằng con trai lúc nãy trèo cửa sổ vô, thấy tao bỏ chạy, nhảy xuống đất suýt chết, đúng là đồng bọn với tụi bây rồi! Nó... nó... Nói tới đây bỗng dưng mụ ta giật mình, khi thấy từ trong túi vải rơi ra một vật. Đó là chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Telda. Mụ ta ngơ ngác: - Cái này... đâu phải của tao? Nguyệt Ánh thì kêu lên: - Cái này... mụ lấy ở đâu ra? Cô cúi xuống nhặt lên và nhận biết ngay: - Của Hiếu mà! Lan Anh cũng nói: - Vật này do chị tặng cho anh Hiếu hồi ảnh đi học ở Sài Gòn mà! Từ lâu ảnh vẫn đeo, sao bây giờ nó lại ở đây? Phải chăng... Rồi chợt nghĩ ra, Lan Anh chỉ vào mặt bà ta hỏi lớn: - Bà ăn cắp vật này ở đâu? Mụ Hường không ngờ mình bị phản pháo khá bất ngờ, nhưng vốn là người đầy kinh nghiệm và gian xảo, nên mụ ta lấy lại bình tĩnh liền: - Đúng là giữa tụi bây và thằng ăn trộm vừa rồi có thông đồng với nhau rồi! Hãy nói mau, nó té bị thương nặng rồi được tụi bây đem giấu ở đâu? Nguyệt Ánh hoảng hốt: - Bà làm gì anh ấy phải không? Câu hỏi của Nguyệt Ánh vô tình như xác nhận chàng trai kia có liên hệ với mình, nên bị mụ Hường chụp lấy: - Nó là người yêu của mày phải không? Giấu nó ở đâu nói mau, đừng để tao truy ra thì lúc đó có lạy tao, tao cũng không tha! Nghe bà ta nói người nào đó té trọng thương, Nguyệt Ánh quá sức lo lắng: - Bà đã làm gì người ta rồi? Tôi sẽ ăn thua đủ với bà... Sáu Chi chen vào nói: - Chưa biết người kia là ai, cô đừng để mắc mưu bà ta. Lan Anh cũng nói: - Chắc gì đó là anh Hiếu. Em nghĩ mụ này đã lấy cắp cái đồng hồ này ở chỗ nào đó, mình phải bắt mụ ta khai ra ngay! Cô quay sang mụ ta, gằn giọng: - Bà tưởng cả vú lấp miệng em được hả! Tui sẽ bắt bà phải nói ra... Cô thuận tay chụp lấy cây gài cửa, đưa cao nhắm vào bà ta: - Bà nói ngay không, lấy vật này ở đâu? Bà không nói tui đập một cây này thì chết không kịp trối đâu! Bà ta lùi một bước, nhưng miệng vẫn tru tréo: - Mày tính giết người diệt khẩu phải không! Tao nói cho mà biết... Mụ ta bất thần chụp lấy con dao rọc giấy trên bàn và lao nhanh về phía ông Thiên Thời, vừa quát: - Tụi bây mà áp đảo tao, thì thằng cha tụi bây sẽ không thoát chết đâu! Nguyệt Ánh ngăn em mình: - Từ từ đã... Thấy kế sách này có hiệu quả, mụ Hường lại làm tới: - Tụi bây không khai ra vụ ăn cắp vàng thì tao sẽ làm thịt thằng cha tụi bây ngay bây giờ! Mụ ta đưa tay lên cao, như sắp vung dao đâm xuống, bỗng lúc đó mụ thét lên một tiếng: - Trời ơi! Rồi ngã ngửa ra phía sau, con dao rớt xuống sàn nhà. Từ khóe miệng mụ ta tuôn ra hai dòng máu... Phần II Mặc dù không tìm thấy dấu vết gì của Hiếu, nhưng những gì mụ Hường nói đã khiến cho Nguyệt Ánh hoang mang. Cô thức suốt đêm để suy nghĩ mà cũng chẳng làm sao hiểu được tại sao Hiếu lại đột nhập vào nhà làm gì, để đến nỗi phải nhảy lầu? Hiếu xưa nay là một chàng trai hiền lành, đứng đắn, từ khi yêu cô đến bây giờ đã hơn ba năm mà chưa một lần dám tới nhà và cũng chưa bao giờ anh đòi hỏi bất cứ điều gì sằng bậy, chứ đừng nói là chuyện lén lút tới nhà và trèo tường lên phòng ngủ như thế này. Nhưng tại sao chiếc đồng hồ, kỷ vật riêng mà lúc nào Hiếu cũng đeo dính trên tay, lý do nào lại ở trong phòng của ông Thiên Thời, nếu không do chính Hiếu mang tới và vô tình đánh rơi lại. Như vậy vụ mất vàng gì đó mà mụ Hường nói là có thật và Hiếu là người... đã gây ra? Chính điều nghi ngờ này đã khiến cho Nguyệt Ánh quyết định phải đi tìm Hiếu cho bằng được. Mặc dù cả nhà Hiếu đã chuyển về một tỉnh khác, chớ không còn ở chung huyện với Nguyệt Ánh như trước kia, nhưng một khi đã quyết rồi thì cô nhất định đi cho bằng được, mặc cho sức khỏe của ông Thiên Thời vẫn chưa có dấu hiệu gì khả quan hơn. Phải mất gần một buổi Nguyệt Ánh mới tìm ra nơi cư ngụ của cha mẹ Hiếu, mà cô hy vọng là Hiếu có về đây, bởi hằng năm vào thời điểm này Hiếu vẫn thường về chơi trong mấy tháng nghỉ hè và đã nhiều lần Hiếu đã tìm sang chỗ hẹn ước của hai người để gặp nhau. Do giữa Hiếu và cô yêu nhau lén lút, cha mẹ hai bên chưa biết, nên khi Nguyệt Ánh xuất hiện trước cửa nhà Hiếu thì người đàn bà đang quét sân nhìn khách với vẻ xa lạ, ngạc nhiên: - Cô kiếm ai? - Dạ, con muốn hỏi thăm nhà của bác giáo? Bác có phải là... - Tui là vợ giáo Chấn, cô kiếm ông giáo nhà tui có chuyện chi không? Nguyệt Ánh mừng rơn: - Dạ, con chào bác giáo. Con muốn hỏi có anh Hiếu ở nhà không? Bà già nhìn sững cô gái vừa hỏi tên con mình mà như nhìn một vật thể lạ nào đó. Bà hơi run giọng hỏi lại: - Cô... cô là gì của con tôi? Bao lâu rồi cô không gặp nó? Nguyệt Ánh thật thà: - Dạ, hơn sáu tháng rồi bác ạ. Bà già thở hắt ra: - Thảo nào! Rồi bà bỗng nghẹn ngào: - Cô tới quá trễ rồi! Nguyệt Ánh hoảng hốt: - Bác nói sao? Có chuyện gì vậy? Bà già quay bước vào nhà, nói với lại: - Cô vô đây. Mời Nguyệt Ánh ngồi ở bộ ván gỗ ngoài hàng hiên, bà hỏi lại: - Cô quen sao với thằng Hiếu? Nguyệt Ánh hơi lúng túng: - Dạ... tụi con... là bạn thân. Con và Hiếu... Hiểu ra, bà thở dài: - Có phải cô tên là Nguyệt Ánh không? - Dạ, chính con là Nguyệt Ánh. Trước kia con học chung trường với anh Hiếu, nhưng dưới hai lớp, chúng con... Bà chận lời: - Tui hiểu rồi. Có lần Hiếu nó nói bóng gió về chuyện này và nói rằng khi nào lấy vợ thì nó chỉ lấy người bạn quen lâu năm mà thôi, không lấy người nào khác. Nguyệt Ánh xúc động: - Dạ... con hiểu lòng dạ anh Hiếu. Hè này con định yêu cầu anh Hiếu dẫn về ra mắt bác và cả ba con bên nhà nữa. Anh Hiếu có hứa với con. Bà già bỗng òa lên khóc nức nở, khiến cho Nguyệt Ánh ngơ ngác: - Thưa bác... có chuyện gì vậy? Bà đứng lên bước vào nhà trong rồi đưa tay chỉ lên bàn thờ: - Nó ở trên đó chờ con lâu nay! Nguyệt Ánh trợn tròn hai mắt, chết sững giây lâu rồi mới thốt nên lời: - Bác... bác nói gì? Anh Hiếu... Hiếu sao vậy? - Nó chết rồi, trong một tai nạn xe hơi cách đây hai tháng. Do nó không nói nên bác đâu có biết cháu ở đâu mà tìm để báo tin. Bởi vậy suốt hai tháng nay nó cứ về hoài, đòi phải đi tìm cháu mà bác biết tìm ở đâu. Bác biết tên cháu là do vậy. Nguyệt Ánh tưởng đâu trời sập trên đầu, cô gào lên: - Trời ơi, anh Hiếu! Rồi cô ngất xỉu. Bà mẹ Hiếu phải đỡ cô lên ghế. Mãi một lúc sau Nguyệt Ánh mới tỉnh lại, cô không tin đó là sự thật, lay tay bà mẹ Hiếu hỏi lại: - Có thiệt không bác? Không đợi câu trả lời, Nguyệt Ánh chạy tới bên bàn thờ, chụp lấy bức ảnh thờ của Hiếu và gào lên: - Tại sao thế này hả anh Hiếu? Tại sao anh không giữ lời với em mà bỏ đi một mình! Giọng bà mẹ Hiếu vẫn trong nước mắt: - Nó chết oan nên hồn phách cứ lẩn quẩn quanh đây. Bữa nay cháu tới đây là may mắn cho nhà bác. Con hãy thắp cho nó nén nhang để vong hồn nó yên ổn ở suối vàng... Nguyệt Ánh đốt nhang mà hai tay run run. Bất chợt, cô thốt lên khiến bà mẹ Hiếu giật mình: - Anh ấy đã tới nhà tìm con! - Hồi nào? - Dạ, mới đêm qua. Cô kể lại chuyện xảy ra ở nhà, nhưng giấu không nói tới vụ bà Hường mất vàng. Tuy nhiên lúc ấy bà già vụt nói: - Tối qua có cái này để trên bàn thờ, cháu xem coi nó viết cho ai? Đó là một mảnh giấy với mấy chữ viết vội: "Nó sẽ giúp cho em nhiều trong những ngày sắp tới. Hãy thường xuyên ra thăm mộ mẹ em." Nguyệt Ánh lẩm bẩm: - Anh Hiếu viết cho mình... Bà mẹ Hiếu không hiểu nên hỏi lại: - Nó dặn vậy là sao? Nguyệt Ánh lắc đầu: - Con cũng chưa biết. Nhưng đúng là Hiếu dặn dò con điều gì đó... Nguyệt Ánh nhớ lại lời của Sáu Chi kể về việc gặp chàng trai đặt bó hoa cẩm chướng trên đầu mộ của mẹ, cô vụt nói: - Đúng là anh ấy rồi! Và ngôi mộ... Cô vội chào bà mẹ Hiếu, xong đi nhanh về nhà. Từ đó về nhà có hơn sáu chục cây số, lại đi bằng phương tiện trung chuyển mấy lượt, nhưng vì sốt ruột nên Nguyệt Ánh vẫn cương quyết đi. Mãi đến hơn mười giờ đêm cô mới về tới. Khi vừa bước vô nhà thì đã thấy Lan Anh cùng Sáu Chi ra đón ở cửa, Nguyệt Ánh ngạc nhiên: - Sao hai người biết tui về giờ này? Sáu Chi chưa kịp trả lời thì Lan Anh đã nói: - Em đang ngủ thì nghe như có ai gọi tên mình, biểu ra đón chị và cùng nhau ra mộ của má! Nguyệt Ánh ngạc nhiên: - Ra ngoài mộ giờ này làm gì? - Em hổng biết, nhưng có ai đó gọi như vậy. Giọng của đàn ông! Nguyệt Ánh giọng buồn hiu: - Là của Hiếu đó. Lan Anh sửng sốt: - Anh Hiếu... sao rồi? Nguyệt Ánh buông thõng: - Anh ấy chết rồi! - Trời ơi! Lan Anh kêu lên rồi sững sờ nhìn chị mình. Sáu Chi cũng bàng hoàng hỏi: - Sao chết vậy? - Bị tai nạn. Thuật sơ lại chuyện biết được bên nhà Hiếu cho em gái nghe, Lan Anh vụt nói: - Có thể ở ngoài mộ mẹ có điều gì đó! Sáu Chi giục: - Mình ra ngoài đó coi thử! Nguyệt Ánh hỏi về cha: - Ba sao rồi? Sáu Chi đáp thay: - Ông chủ không sao, nhưng vẫn mê man. Thỉnh thoảng ông có tỉnh lại, nhưng không nói gì hết, chỉ rưng rưng nước mắt rồi lại lịm đi... Nguyệt Ánh thở dài, trong khi Lan Anh nói oang oang: - Em nghi mụ ác nhơn đã làm gì đó khiến ba ra nông nỗi như vậy! Sợ giọng nói của Lan Anh quá lớn khiến mụ Hường trong nhà nghe được, nên Nguyệt Ánh ra dấu cho em nhỏ lại và bảo khẽ: - Mình sẽ tính sau, bây giờ ra ngoài mộ đã. Lúc này đã nửa đêm, trời không trăng nên tối mò, nhìn cách vài thước trước mặt không thấy gì. Cũng may cả ba người đã quá quen thuộc khu vườn của mình nên đi không khó khăn lắm. Lát sau họ đã tiến gần tới ngôi mộ. Chợt Sáu Chi nói khẽ: - Hình như có ai kìa! Theo tay chỉ của Sáu Chi, chị em Nguyệt Ánh nhìn theo và phát hiện có hai bóng người đang lom khom trước đầu mộ. Lúc ấy có giọng nói của nữ từ phía hai người kia phát ra: - Làm nhanh đi kẻo tụi nó phát hiện! Một giọng đàn ông tiếp theo: - Giờ này chắc họ ngủ say hết rồi, ai mà biết. - Con chị lớn thì đi rồi, chỉ có con nhỏ và đứa ở còn lại ở nhà, nhưng hồi chiều tui đã bỏ thuốc mê vô lu nước uống, tụi nó ăn cơm rồi uống nước đó, chắc chắn là sẽ ngủ tới sáng cũng chưa dậy nổi! - Giỏi! Bà giỏi lắm. Có như vậy mới không uổng công tui đi thỉnh bùa tận bên Miên về và chịu cực đào mồ vào giờ này chớ! - Có vậy tui mới... thương! Giọng đàn ông có vẻ hờn dỗi: - Thương mà về ở với thằng già Thiên Thời ấy. Tui nói thiệt, nếu bà không ngăn thì hôm nó lên Sài Gòn rước bà, tui đã cho đàn em làm thịt nó rồi! - Cái đầu ông đặc sệt, không nghĩ ngợi sâu xa gì hết! Tui không làm như vậy thì làm sao chiếm cái sản nghiệp này được! Chỉ tiếc một điều là ta chưa kịp ra tay thì đã mất mấy trăm lượng vàng rồi. Phen này tui quyết phải lấy lại gấp chục lần cho coi! - Chính vụ mất vàng này sẽ có lợi cho bà nhiều hơn. Người ta sẽ hiểu là trước khi về đây bà cũng có nhiều tiền của và đến khi lão già Thiên Thời mà chết rồi thì việc bà chiếm gia sản này sẽ không ai dị nghị. Họ nói sao được khi bà cũng đã hy sinh một số tiền lớn rồi! Buông con tép ta sẽ bắt được con tôm càng bà ơi! Vừa nói chuyện họ vừa ra sức đào, cuốc cật lực. Lan Anh hốt hoảng: - Họ đào mộ của mẹ kìa! Nguyệt Ánh tuy có bình tĩnh hơn, nhưng cô cũng bắt đầu nóng mặt, hỏi Sáu Chi: - Họ làm gì vậy? Sáu Chi chưa kịp đáp thì đã nghe giọng của người đàn bà nói nhanh: - Đặt nó xuống đi! - Ừ, tui đặt liền! Chẳng hiểu họ đặt vật gì, mà hình như chỉ đặt cạnh đầu mộ thôi chớ không đào sâu xuống mộ huyệt. Một vài giây sau đó nghe giọng tên đàn ông: - Xong rồi. Bây giờ thì chính cái hồn ma của con mụ dưới mồ này sẽ hiện về bóp cổ thằng chồng già của nó, mình không cần ra tay! Mụ kia hỏi nghe rất rõ: - Ông liệu bùa này có linh nghiệm không đó? Tui chỉ muốn thằng chả chết cho nhanh, rồi tới phiên mấy đứa con của lão nữa, chớ còn để chúng nó sống ngày nào thì tui không yên. - Bà yên tâm, bùa này ở bên Miên người ta sùng bái, chỉ cần chôn nó xuống đầu mộ trong vòng hai mươi bốn giờ là sẽ phát huy tác dụng. Vong hồn con mụ này sẽ hiện về và bắt luôn cả chồng con nó đi một lượt. Bảo đảm hiệu quả sẽ làm bà không thể ngờ! Lan Anh không kiềm chế được, suýt la lên, cũng may là Sáu Chi bụm miệng cô bé lại kịp. Nguyệt Ánh nói khẽ: - Mụ này còn hơn rắn độc nữa! Mình phải làm sao, chớ không khéo sẽ chết dưới tay mụ ta mất. Đằng kia sau khi thực hiện xong mưu đồ, cả hai đứng lên. Lúc này Nguyệt Ánh đã nhìn rõ được mặt người đàn ông, cô kinh ngạc: - Ông Sĩ tài xế! Cả Lan Anh và Sáu Chi cũng đã nhận ra. Sáu Chi quá đỗi ngạc nhiên: - Sao lại là ông ta? Người này lâu nay trung thành với ông chủ lắm mà? Lan Anh quá tức, cô vụt chạy tới định lật mặt hai con người xảo trá đó. Nhưng lạ làm sao, khi cô vừa nhấc chân lên thì như có ai kéo lại, không nhúc nhích được. Cả Nguyệt Ánh cũng thế, cô chẳng làm sao cử động được, đành phải đứng im. Trong khi đó thì mụ Hường và tài xế Sĩ ung dung rời khỏi hiện trường. Họ vừa đi vừa nói huyên thuyên đủ thứ chuyện. Cho đến khi họ đi khá xa rồi chị em Nguyệt Ánh mới nhấc chân lên được, nhưng Sáu Chi đã khuyên: - Đừng đuổi theo làm gì, mình phải coi họ chôn cái gì ở mộ của bà cái đã. Sáu Chi giúp hai cô chủ nhỏ bới chỗ đất vừa bị đào lên ở đầu mộ và họ ngạc nhiên khi moi lên được một pho tượng bằng gỗ, đẽo và chạm khắc giống y cái hình người. Dẫu trong bóng tối lờ mờ, nhưng vừa thoạt trông thấy, chị em Nguyệt Ánh đã kêu lên: - Hình nhân của mẹ! Sáu Chi hiểu chuyện, cô khuyên: - Pho tượng này đã bị yểm bùa, cô không nên giữ trong người. Nguyệt Ánh lo lắng: - Nhưng lúc nãy họ nói đó, cái này họ dùng để trấn yểm làm cho vong hồn mẹ bị sai khiến để về giết ba và tụi em. Vậy mình phải làm sao đây! Đã từng nghe nói về những pho tượng tà ma, nên Sáu Chi bàn: - Muốn hủy hoặc vô hiệu hóa bức tượng này chỉ có mấy ông thầy cao tay ấn, hoặc... Thấy Sáu Chi ngập ngừng, Lan Anh giục: - Chị Sáu nghĩ cách gì đi chớ, chẳng lẽ để cho mẹ bị... hay sao! Sáu Chi nghĩ rất nhanh: - Chị nghĩ ra rồi, Lan Anh đưa vật đó cho chị! Cô cầm lấy pho tượng gỗ chạy bay tới ao nước dơ ở cuối vườn, nơi hằng ngày lũ heo, bò thường trầm mình và phóng uế. Chẳng chần chừ Sáu Chi ném ngay pho tượng xuống đó! Một tiếng rú vang lên từ ao nước, khiến cho chị em Nguyệt Ánh hốt hoảng chạy bay tới, họ ngơ ngác hỏi: - Chuyện gì vậy chị Sáu? Sáu Chi lắc đầu: - Chị không biết, nhưng chắc chẳng phải là điều xấu. Hai cô coi kìa. Từ dưới lớp bùn có một ngọn lửa xanh lặc lè lóe lên, rồi thật nhanh, ngọn lửa bay lên cao, biến mất dạng trong bóng đêm. Sáu Chi chấp tay vái theo hướng đó: - Hồn bà có thiêng thì xin phù hộ cho ông và hai cô tai qua nạn khỏi. Lan Anh bị kích động nên nói giọng run run: - Không lẽ mẹ mình để cho họ biến thành... ma hay sao? Nguyệt Ánh định nói, nhưng cô chưa kịp mở miệng thì bên tai đã nghe có tiếng của ai đó rất khẽ: - Cứ làm như không hay biết, rồi sẽ ổn thôi... Nguyệt Ánh kêu lên: - Hiếu! Anh ở đâu? Giọng nói kia là của Hiếu. Nhưng khi Nguyệt Ánh hỏi thì lại im bặt. Lan Anh sợ sệt hỏi: - Bộ... anh Hiếu thành ma hả? - Không, chính anh ấy đã giúp chúng ta khám phá ra hành động mờ ám này của mụ Hường và tên tài xế khốn kiếp! Sáu Chi nhận xét: - Theo những gì mình nghe và thấy được thì giữa bà Hường và ông tài xế đã có sự thông đồng với nhau. Lan Anh rít lên: - Đúng là nuôi ong tay áo mà! Nguyệt Ánh nhớ lại: - Hèn gì có lúc thấy chú Sĩ cứ rù rì chuyện gì đó với ba, rồi chở ba đi Sài Gòn có khi mấy tuần mới về. Thì ra chú ấy âm mưu bán đứng ba đã từ lâu rồi. Lan Anh được dịp đay nghiến: - Lâu nay em đã không ưa cái tay đó, người gì có cặp mắt gian xảo thấy rõ, vậy mà ba cũng tin. Chợt nhớ ra, Nguyệt Ánh hối mọi người: - Ta trở lại mộ của mẹ đi, coi lời dặn của Hiếu còn có gì nữa không. Họ trở lại và ngạc nhiên khi nhìn thấy một bó hoa cẩm chướng còn tươi, nằm trên đầu mộ. Nguyệt Ánh nói: - Hoa này lúc còn sống mẹ rất thích. Cả ba cũng không biết cái sở thích này, chỉ có tui biết do được mẹ kể. Lúc còn con gái mẹ thường được một người con trai tặng cho loài hoa này... Sáu Chi cũng nói: - Bữa trước tui cũng gặp loài hoa này trên mộ. Chắc hai lần chỉ là do một người. Nhưng lạ quá, họ xuất hiện và biến mất quá nhanh, chỉ mới đây thôi. Nguyệt Ánh lẩm bẩm: - Chẳng lẽ là Hiếu? Cô nhớ những lời Hiếu viết trong giấy và thầm khấn rằng: - Nếu là anh thì hãy làm gì đó cho em tin. Lời khấn thầm của Nguyệt Ánh vừa dứt thì bỗng nhiên bó hoa vút bay lên cao, rồi rơi xuống đúng ngay trước mặt cô. Nguyệt Ánh run lên: - Đúng là Hiếu rồi! Cô nhặt bó hoa lên và nói với Sáu Chi: - Chị với Lan Anh vô nhà xem cha thế nào, đưa ông qua phòng của tụi em nằm đỡ cho tới sáng. Còn em thì ở đây có chút việc... Khi Sáu Chi và Lan Anh trở vô nhà, vừa bước vào phòng thì tá hỏa: - Ông chủ đâu rồi cô Ba? Lan Anh hốt hoảng khi không thấy cha mình nằm trên giường: - Họ đã làm gì ba em rồi? *** Trong khi đó, ở một chợ quê cách nhà ông Thiên Thời khoảng hơn mười cây số, mụ Hường và tài xế Sĩ đang có mặt.Mụ Hường bực bội ra mặt khi phải ở trong một ngôi nhà tồi tàn. Mụ càu nhàu: - Bộ hết chỗ rồi sao đưa tôi tới ở chỗ này? Dơ dáy lại muỗi mòng nữa, chịu sao nổi! Tài xế Sĩ an ủi: - Ở dơ vài bữa thôi, khi nào đạo bùa linh ứng thì mình trở về và tha hồ mà sung sướng! - Sao ông nói bùa chỉ cần chôn xuống thì sẽ linh ứng ngay mà từ đêm qua tới giờ không thấy gì hết? - Sao bà biết là không có gì? Nó sẽ hiển linh lên cha con họ, chớ đâu có đụng tới chúng ta. Tài xế Sĩ đứng dậy, nhìn bóng mặt trời rồi nói: - Bà ráng ở trong nhà, đừng ló ra ngoài, để tôi ra chợ nghe ngóng tin tức ở nhà lão Thiên Thời xem sao. - Nhớ mua về cho tui dĩa cơm sườn. Đói quá trời rồi! Tài xế Sĩ xua tay: - Để tui mua đỡ cho bà khúc bánh mì ăn lót dạ được rồi. Đâu có tô, dĩa gì mà mua cơm. Vả lại mua cơm đem về sẽ gây sự chú ý cho người chung quanh đây. Hắn ta đi khá lâu. Khi trở về với vẻ lo lắng: - Chẳng hiểu sao lão Thiên Thời đã biến mất, không có ở nhà! Mụ Hường ngơ ngác: - Biến đi đâu? Lúc mình đi lão ta còn nằm trên giường và tui đã khóa cửa lại cẩn thận mà. - Tui mới nghe mấy tay đạp xe lôi truyền miệng nhau là nhà ông chủ Thiên Thời đang rộn lên vì chuyện ông ta bỗng dưng mất tích. Họ đã báo làng lính chia nhau đi tìm. Cầu trời cho họ đừng nghi chúng ta gây ra. Vẫn quen thói đanh đá, chanh chua, mụ Hường lớn tiếng: - Cũng tại ông hết, khi không ai biểu trốn ra khỏi nhà chi cho họ nghi! Mình ở nhà và chờ kết quả đến có phải hay hơn không? Tài xế Sĩ đưa tay chận ngang miệng mụ ta và nói rất khẽ: - Bà biết một mà không biết mười. Nếu chúng ta ở nhà thì khi xảy ra vụ vong hồn vợ lão ra tay thì liệu nó có tha cho mình không, hay là mụ ta sẽ diệt luôn bà và tui nữa? Mụ Hường rên rỉ: - Bây giờ rối rắm thêm nữa rồi. Ông liệu có cách nào trở về được không? Tài xế Sĩ trấn an: - Chưa biết lão ấy mất tích do dâu, nhưng cứ cho là do mụ vợ gây ra, như vậy không phải là mình sắp đắc lợi rồi hay sao! Tuy vậy mụ Hường vẫn lo ngay ngáy trong lòng. Mụ bảo tài xế Sĩ: - Ông giả vờ như không biết gì, quay về nhà thám thính xem hư thực thế nào? Có ai hỏi ông đi đâu thì nói là bị bệnh bất ngờ nên phải đi nhà thương, giờ mới trở về. Trong lúc đó ông tìm cách tung tin là cả tui cũng bị mất tích nữa, để họ không nghi ngờ. Thấy tài xế Sĩ còn do dự, mụ đốc thêm: - Đâu có ai hay biết vụ ông cấu kết với tui. Vả lại ông là người thân cận của ông Thiên Thời, nên chắc chắn hiện giờ họ đang cần ông hơn ai hết. Cứ nghe tui về đi. Tài xế Sĩ trở về và thở phào nhẹ nhõm khi thấy mọi người trong nhà đều mừng rỡ. Nhất là Sáu Chi, cô ta reo lên: - Cả nhà đang đợi anh tới để đi tìm ông chủ. Nguyệt Ánh bấm Lan Anh, không cho nói và nhẹ nhàng bảo tài xế Sĩ: - Chú Sĩ có biết thường khi ba em đi đâu, ghé nơi nào không? Nếu biết thì chú lái xe đi tìm ba em giùm. Tụi em nghi trong lúc không có ai ở nhà thì ba tỉnh lại, rồi trong lúc đầu óc không tỉnh táo, ba đã đi tới nơi nào đó. Tài xế Sĩ nhân cơ hội nói theo ý của mụ Hường: - Tui nghi chắc là có điều gì đó bất ổn cho cả ông chủ và bà Hường nữa. Thôi, được rồi, tui sẽ lái xe đi tìm. Nhưng ở nhà nếu có chuyện gì thì các cô cũng đừng hoảng loạn, cứ đóng cửa lại, ở trong nhà chờ tui về. Khi anh ta lái xe đi rồi Lan Anh mới gầm lên: - Đồ giả nhân giả nghĩa! Em nghi chính nó và mụ kia đã thủ tiêu ba chớ không ai vô đây! Sáu Chi trấn an: - Sở dĩ tui biểu ông ta lái xe đi là để tiện việc mình theo dõi coi ông ta tới đâu. Chiếc xe này ở tỉnh mình chỉ có ba chiếc, mà hai chiếc kia đều thuộc mấy nhà giàu khác, họ thường đậu xe trước cửa nhà. Bây giờ mình chỉ việc lần theo để hỏi thăm thì người ta sẽ chỉ nơi nào hắn ta lái xe tới. Lan Anh tiếc rẻ nói: - Phải biết vậy lúc nãy em chui vô cốp xe để theo dõi hắn! Nguyệt Ánh xua tay: - Một mình ba gặp nạn chưa đủ sao, em còn muốn nạp mạng cho họ nữa à! Sáu Chi trấn an: - Theo tui thì mình cứ chờ ở nhà. Mình cấm cửa không cho mụ kia trở về, như vậy nếu lỡ ông chủ có mệnh hệ nào thì mình cũng giữ được tài sản này. Lan Anh hưởng ứng liền: - Mụ ấy mà dám vác mặt về đây là em la làng liền, em hô cho thiên hạ biết chính mụ ta đã hại ba! Cuộc tính toán và chờ đợi của chị em họ cho đến chiều hôm đó vẫn không thấy gì. Cả đêm hôm đó cũng nặng nề trôi qua. Sáng hôm sau khi trời vừa rạng sáng thì cả nhà đã giật mình khi nghe tiếng huyên náo ngoài cửa. Khi Sáu Chi ra nhìn thì hốt hoảng báo tin: - Làm gì mà làng lính đông quá hai cô ơi! Nguyệt Ánh nhìn kỹ và càng ngạc nhiên hơn khi thấy có cả tài xế Sĩ trong số người đông đảo kia. - Anh ta bị bắt hay sao vậy? Nguyệt Ánh chưa tự giải đáp được thắc mắc thì Sáu Chi đâ kêu lên: - Ông Sĩ dẫn lính về nhà đó! Họ chưa kịp có phản ứng gì thì đã nghe giọng oang oang ngoài cổng: - Mở cửa ra mau, sở mật thám tới khám nhà đây! Do có chìa khóa riêng để lái xe ra, đem xe vào hàng ngày, nên tài xế Sĩ đã tự động mở cửa mời người đàn ông ra vẻ là cầm đầu toán lính mặc thường phục vào. Khi họ bước vô tới bậc thềm thì tài xế Sĩ kề tai Nguyệt Ánh nói nhỏ: - Hai đứa đừng sợ, người này là em ruột của bà Hường, làm ở sở mật thám Tây trên Sài Gòn, họ về đây là chỉ để bắt người âm mưu hại ông chủ thôi! Lan Anh nghe lỏm được, cô hỏi liền: - Ai hại ba tui! Chỉ tay sang Sáu Chi, tài xế Sĩ nói khẽ: - Con này đây! Lan Anh la lớn: - Làm gì có chuyện đó! Nguyệt Ánh cũng không còn giữ được bình tĩnh: - Chú nói bậy gì vậy? Chị Sáu là người ở gần bên tụi này từ mấy bữa nay, làm gì có... Tên cầm đầu nhóm lính, được gọi là thầy Ba Sung, dõng dạc lên tiếng: - Nhân danh chính quyền bảo hộ Pháp, chúng tôi có lệnh bắt đối với bị can Trần Thị Chi, tức Sáu Chi về tội âm mưu bắt cóc người. Lệnh bắt được thi hành! Hai tên lính kín nhào tới khóa tay Sáu Chi ngay, trước sự phản ứng dữ dội của Lan Anh: - Sao lại bắt chị ấy? Ba tui đâu phải do chị Sáu bắt cóc, mà chắc chắn là do bà Hường gây ra rồi! Có bắt thì kiếm bà ta mà bắt! Tên Ba Sung hất hàm cho đám thuộc hạ: - Giải đi ngay! Họ áp giải Sáu Chi ra xe rất nhanh và sẵn sàng dùng biện pháp mạnh để ngăn sự phản đối của chị em Nguyệt Ánh. Một tên đã xô ngã cả hai người rồi đóng cổng lại lập tức. Khi họ đi xa Lan Anh mới gào lên: - Quân dã man, lũ côn đồ! Nguyệt Ánh giờ hoang mang tột độ, cô chưa biết phải làm sao thì chợt nghe bên tai mình có một giọng nói ấm áp, quen thuộc rất khẽ, hình như chỉ mình cô nghe: - Lên phòng thờ mẹ trên lầu, đốt ba cây nhang và chờ ở đó. Hai chị em không được đi ra ngoài. - Anh Hiếu! Nhìn quanh không thấy ai, Nguyệt Ánh kéo tay em đi: - Đừng ở đây nữa! *** Bọn thuộc hạ Ba Sung đưa Sáu Chi vào căn phòng tối, nằm biệt lập ở khuôn viên khá rộng.Nơi đây chúng gọi là cát-sô Địa ngục. Một tên gọi là cai đội Ngô dằn mặt nạn nhân bằng hai cái tát thật mạnh, vừa đe dọa: - Tao nói gì nghe nấy, cãi là coi như xong đời mày, nghe chưa! Sáu Chi vốn ngang ngạnh, gan dạ, nên tuy bị hù dọa, cô vẫn hất hàm thách thức: - Muốn giết thì cứ giết, chớ đừng hòng hù dọa. Tui không biết gì hết nên mấy người đừng tốn công vô ích! Đội Ngô là một tên ác ôn, từng tra tấn dã man nhiều người dẫu họ không hề có tội, thành có tội, do sợ đòn roi nên khai đại. Hắn cười như ác quỷ: - Mày cứng đầu, để coi sức chịu được tới đâu. Hắn vừa định lấy dụng cụ tra tấn ra thì có lệnh của tên sếp, nên phải đi ngay. Không quên khóa cửa lại cẩn thận và dặn mấy tên cai ngục: - Tụi bây không được cho con nhỏ trong này ăn uống, để tao về sẽ cho nó biết đá biết vàng! Hắn gặp Ba Sung, tên này ra lệnh: - Mày cùng với mấy tên nữa đi ngay xuống chợ Nhỏ rước bà chị tao. Đưa thẳng bà ta về nhà của lão Thiên Thời. Nếu có đứa nào chống đối thì bắt nhốt hết. Nếu cần thì có thể bắn hạ chúng tại chỗ, vu cho tội hoạt động chống đối! - Dạ, em làm ngay! Phần III Phải mất gần một đêm bọn Đội Ngô mới về tới Rạch Giá, từ đó chúng về vùng Chợ Nhỏ chỉ mất vài chục phút. Căn nhà tồi tàn mà mụ Hường đang cư ngụ đã được tài xế Sĩ chỉ dẫn cụ thể, nên bọn họ tìm ra không khó. Vốn đã có quen biết với mụ Hường trước đây, nên Đội Ngô tin chắc hắn sẽ rước bà này về không có gì trở ngại. Vậy mà mọi việc lại ngoài dự tính của hắn. Khi mở khóa ngoài, đẩy cửa ngôi nhà vào thì Đội Ngô quá đỗi ngạc nhiên, bởi mụ đàn bà không có trong đó! Bà ấy đi đâu được khi đúng như thằng cha Sĩ đã nói là cửa ngoài đã bị khóa, không ai bên ngoài vào được? Không lẽ bà ta tàng hình? Đội Ngô tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng phải tìm cách liên lạc về cho Ba Sung. Tên trùm lính kín này điên tiết lên, quát tháo om sòm trong ống nghe: - Tụi bây về đây ngay! Đội Ngô lại phải ngồi xe quay về ngay, mặc dù đã đi suốt đêm không ngủ rồi. Hắn về tới nơi thì nghe Ba Sung ra lệnh: - Mày xuống lôi con nhỏ Sáu Chi lên đây! Nghe lệnh, Đội Ngô đích thân xuống phòng giam biệt lập, mở cửa ra và đinh ninh là con nhỏ bị giam đã một ngày một đêm không cho ăn uống, chắc là đang nằm liệt một góc. Nhưng... - Ủa, kìa! Trước mặt hắn ta không phải là Sáu Chi, mà là... mụ Hường! - Sao lại như vầy? Mụ Hường đang nằm thiêm thiếp, khi nghe có tiếng người đã bật dậy, mụ ngơ ngác: - Ai đây? Khi nhận ra Đội Ngô, mụ ta mừng rơn: - Dữ hôn, tới bây giờ tụi bây mới xuống cứu tao! Đội Ngô hỏi lại: - Sao bà lại ở đây? Chưa biết việc mình nằm trong khám, mụ Hường bù lu bù loa: - Thằng cha Sĩ biểu tao cứ ở đây, đợi chả lo giải quyết xong công việc thì trở lại rước, khiến tao chờ đến mỏi mòn, ăn mấy khúc bánh mì khô khốc nuốt nghẹn bản họng luôn. Mau đưa tao về Sài Gòn gặp thằng Ba Sung đi! Đội Ngô chỉ tay ra ngoài: - Thì đây là chỗ của ông Sung, chớ bà tưởng mình đang ở đâu? Lúc này mụ ta mới ngạc nhiên: - Sao tao lại ở đây? Mà sao chỗ này... Đội Ngô đành phải nói thật: - Đây là phòng giam. Khi bà vô đây có gặp con Sáu Chi không? Mụ ta há hốc mồm: - Tao bị nhốt vì tội gì? Đội Ngô phải dài dòng giải thích mụ ta mới hiểu và vô cùng kinh ngạc: - Sao lại có chuyện này? Đội Ngô báo cho Ba Sung biết chuyện, hắn gầm lên: - Đứa nào gan trời dám thả con Sáu Chi? Phải tra cho ra coi đứa nào làm chuyện này! Tội nghiệp cho mấy tên cai ngục, hết thảy bọn chúng đều ngơ ngác, kêu trời: - Tụi này đâu có biết gì! Chìa khóa phòng giam thì ông Đội giữ, tụi tui đâu đứa nào có chìa khác để mở thì làm sao thả người được. Còn chuyện bà này vô nằm trong đó tụi tui cũng không hay, chẳng hiểu sao... Ba Sung cũng bứt đầu gãi tai, chẳng hiểu tại sao? Tài xế Sĩ lo lắng: - Tôi đã về nhà lão Thiên Thời rồi, con Sáu Chi không có ở đó. Chắc chắn là như vậy, bởi nhà đó tuy rộng lớn, nhưng không một nơi nào để con ấy trốn được. Vụ này ông Ba coi lại kỹ coi có ai trong đám lính của ông vì thấy con nhỏ có nhan sắc rồi đem giấu để... xài riêng không? Ba Sung nuốt nước miếng một cách thèm thuồng. - Con nhỏ ấy tui thấy cũng phải thèm, huống hồ là mấy thằng cốt đột kia. Tuy nhiên rõ ràng là không cách nào nó trốn khỏi trại giam được, ngoại trừ có cánh! Mụ Hường còn lo lắng hơn: - Con này tuy là đầy tớ trong nhà, nhưng nó khôn lanh nên tụi kia dựa vào nó. Nó bày vẽ mọi chuyện để hai con ranh con kia làm theo. Nó mất tích hay chết càng tốt, vì ta nhổ được cái gai độc. Nhưng tui lo là nó... còn sống và âm thầm giúp tụi kia! Ba Sung gạt ngang: - Chuyện ấy dứt khoát không có! Anh ta quay sang hỏi Đội Ngô: - Có tin tức gì của lão Thiên Thời không? Đội Ngô lắc đầu: - Dạ, tụi em đã cho dò la khắp nơi mà chẳng nghe tin tức gì. Lão ta tên đầy đủ có phải là Lý Thiên Thời không vậy! Ba Sung bực mình gắt lên: - Chưa cần phải biết rõ lý lịch lão ta đâu! Tìm được lão ta hay cái xác cũng được, tên họ tính sau! Đội Ngô hạ thấp giọng: - Nếu đúng lão ta tên ấy thì đã có mộ lão ta trong vườn nhà rồi. Tức lão ta đã chết! Mụ Hường giật mình: - Sao có chuyện đó được? Trong vườn nhà lão ta chỉ có ngôi mộ của con vợ lớn của hắn. Ở đó chỉ độc nhất có ngôi mộ đó thôi. Chính tôi với tài xế Sĩ đây đã tới đó... Tài xế Sĩ cũng xác nhận: - Đúng là như vậy. Chắc chắn không có ngôi mộ nào khác! Đội Ngô quả quyết: - Tối qua người của tui đã leo tường vào vườn và nhìn rõ ở đó có hai ngôi mộ. Một mộ cũ tên Lê Thị Kiểm, còn ngôi mộ mới là họ Lý như tui vừa nói. Ba Sung cũng ngạc nhiên: - Hay là lão ấy đã chết! Vậy thì ai chôn, không lẽ hai đứa con gái miệng còn hôi sữa đó? Mụ Hường lẩm bẩm: - Đúng là lão ta họ Lý, nhưng không lẽ... Mụ quay sang tài xế Sĩ: - Hay là... đạo bùa đã linh ứng? Như vậy... cả mấy đứa nhỏ cũng đã... Tài xế Sĩ vỗ đùi đánh đét một cái: - Đúng rồi! Vậy mà qua nay nghĩ không ra! Vong hồn mụ vợ hắn đã làm theo sự sai khiến của đạo bùa và cả nhà ấy đã bị mụ ta bắt theo hết rồi! Anh ta mừng quá nên quay sang ôm chầm lấy mụ Hường mà không cần giữ gìn trước mặt tên ác ôn Ba Sung! Tên này có vẻ khó chịu, nhưng chỉ nhẹ lắc đầu rồi quay đi chỗ khác. Lát sau hắn ta ra lệnh: - Thằng Đội Ngô, mày liên lạc với đám theo dõi dưới đó, hỏi kỹ lại coi tình hình ra sao rồi. Hai đứa con gái còn ở trong nhà hay không? Vừa khi ấy có điện báo về từ Rạch Giá. Đội Ngô đích thân nghe và tái mặt báo lại với sếp mình: - Thưa sếp, tụi nó báo về là trong vườn nhà đó bây giờ có tất cả... bốn ngôi mộ! Mụ Hường kêu lên đầu tiên: - Mộ của ai mà tới bốn cái? - Dạ, tụi nó có ghi tên tuổi hẳn hoi, ngoài hai ngôi mộ như đã nói, hai ngôi mộ mới một là của Lý Nguyệt Ánh, một của Lý Lan Anh. - Cái gì? Cả nhà chúng nó đã... chết hết rồi sao? Lần này tới phiên mụ ta ôm cổ tài xế Sĩ hôn lấy hôn để khiến cho Ba Sung phải lên tiếng: - Chị vừa vừa thôi. Bây giờ việc phải làm là về ngay dưới đó, coi tình hình có đúng như vậy không, rồi cho tiến hành làm thủ tục giấy tờ ngụy tạo, để chiếm lấy tài sản của lão họ Lý kia. Mà chị nhớ, mọi việc đều phải tuân thủ theo ý của thằng này nghe chưa! Anh ta nói như ngầm cho hiểu rằng tài xế Sĩ chỉ đóng vai trò phụ mà thôi. Tài xế Sĩ hiểu điều đó, nhưng hình như anh ta cũng biết vị thế của mình, nên nhất thời cam chịu... Ba Sung ra lệnh: - Đội Ngô dẫn theo hai đứa nữa, hộ tống bà chị tao về đó lo cho xong mọi việc. Ngày mai tao sẽ về sau. Hắn đứng lên đi về căn phòng riêng dành cho sếp ở trụ sở, vừa dặn kỹ lần nữa: - Nhất định phải xác minh cho chắc chắn về cái chết của nhà đó. Sau đó phải bằng mọi cách ém nhẹm mọi tin tức, không để cho thiên hạ bàn tán. Còn chị Hường nữa, cũng phải làm bộ thương xót, khóc lóc cho thiệt một chút, chớ đừng chưa gì đã mừng vui, hí hửng ra mặt, thiên hạ sẽ nghi ngờ, nghe chưa! Tuy là chị, nhưng nhất nhất mọi việc mụ Hường đều phải nghe theo thằng em ác ôn, đầy quyền lực này. Bởi vậy mụ nói xuôi theo: - Chị biết mà... Cả bọn lên xe đi ngay. Ba Sung một mình trở về phòng riêng. Vừa mở cửa bước vào hắn đã suýt kêu lên, bởi trước mắt hắn là một cô gái đang trong tư thế gợi tình, nằm trên giường mà... không có gì che chắn! Người đó lại là… Sáu Chi mới lạ! - Cô... cô là? - Là Sáu Chi, tội phạm mà anh Ba đang cho truy tìm đây! - Nhưng... nhưng sao cô lại... - Thì trốn từ phòng giam tối tăm, chật chội sang đây để... hầu ông anh không được sao? Em đâu có bỏ trốn luôn! Đã bị cô người làm này hớp hồn ngay khi vừa bắt về đây, giờ lại đứng trước cô ta trong tư thế...chết người như thế này, bảo sao Ba Sung còn giữ được vẻ hùng hổ, dữ dằn nữa! Hắn cười hềnh hệch: - Em làm anh hết hồn. Còn bây giờ... Sáu Chi nũng nịu: - Hồi nãy anh bước vô cũng làm cho em hết hồn! Em cứ bị ám ảnh cái bộ mặt hung dữ, cô hồn của tên đội gì đó... - Đội Ngô. Hắn tuy vậy chớ không dám làm gì em đâu. Chẳng qua... - Nhưng hôm qua hắn ra lệnh giam em trong đó, không cho ăn uống và còn hăm bóp cổ em chết nữa! Ba Sung nheo mắt: - Dọa em thôi, chớ ai nỡ hành hạ một người đẹp như vầy! Vừa nói hắn vừa sà xuống định dang tay ôm lấy tấm thân trần đó, nhưng Sáu Chi đã nhanh hơn, cô lăn vào sát vách, vừa đẩy đưa: - Làm gì gấp dữ vậy! Người ta nói mấy người thấy gái như mèo thấy mỡ là người chỉ muốn hưởng thụ nhục dục thôi chớ không hề có tình cảm gì! Mà em thì... em muốn được anh Ba thương yêu, chiều chuộng thật tình kia. Ba Sung vốn là tên háo sắc, già không bỏ, nhỏ không tha, nên hắn làm sao không hưởng thụ cho bằng được cái miếng mỡ ngay trước miệng mèo như thế này. Do đó hắn cũng đẩy đưa: - Ừ, thì chỉ vì... anh thương em mà! Hắn bất thần chụp được Sáu Chi và ghì cứng. Cô gái chỉ chống cự lấy lệ, sau đó nằm im, khiến cho Ba Sung khoái chí: - Như vầy có phải là ngoan không. Chiều anh đi rồi anh cất nhắc cho làm... bà này bà nọ, chớ ai lại cứ đi ở đợ hoài. Nhan sắc của em còn hơn cả con ông chủ em nữa! - Nhưng... Bỗng dưng cô nàng òa lên khóc, khiến Ba Sung hốt hoảng: - Em sao vậy? Cố dằn cơn xúc động, Sáu Chi nghẹn ngào nói: - Tuy muốn thoát kiếp tôi đòi, nhưng em vốn trọng tình nghĩa, nên em lo cho những đứa con ông Thiên Thời... Ba Sung cười hô hố: - Em còn bận tâm làm gì những đứa đó cho mất công! Họ đã... Hắn chưa kịp nói ra thì Sáu Chi đã chận lời: - Trước khi hiến dâng cho anh, em muốn xin anh một điều. Nếu anh đồng ý thì từ nay em sẽ thuộc về anh mãi mãi... còn bằng không thì em thà cắn lưỡi chết tại đây, chớ quyết không để anh làm nhục! - Chuyện gì? - Em muốn anh ký lệnh tha cho tất cả người trong nhà họ Lý. Ba Sung trợn mắt: - Anh chưa bắt họ thì tha cái gì? - Em biết tuy chưa bắt họ, nhưng anh đã có lệnh cho câu lưu họ về tội gì đó do bộ hạ anh chụp cho họ một khi bà chị anh chiếm được tài sản của ông Thiên Thời. Em còn chút tình cảm với họ, cũng muốn trả ơn họ đã nuôi nấng em từ lâu nay. Anh đồng ý đi thì em sẽ chấp nhận để cho anh muốn làm gì thì làm và em cũng chẳng bao giờ xen vô chuyện của bà Hường với ông Thiên Thời nữa. Bình thường ai mà nói câu này thì lập tức bị hắn trừng trị ngay, nhưng bây giờ thì hắn thoải mái, gật đầu ngay: - Được, anh hứa. Hắn nghĩ là Sáu Chi chưa hay chuyện cả nhà họ Lý đã chết hết, nên mới xin như vậy. Còn bây giờ hắn có ký một chục cái lệnh thì cũng chẳng ăn thua gì, lại được lòng người đẹp! Hắn bảo: - Để xong việc này anh sẽ làm theo lời em! Sáu Chi chìa ra một tờ giấy đã đánh máy sẵn: - Em biết thế nào anh cũng đồng ý nên đã thảo sẵn tờ giấy này, anh coi lại rồi ký tên và đóng dấu cho em, trước khi chúng ta... mây mưa một trận tơi bời! Ba Sung lấy viết trong túi áo ra ký liền cái rẹt, chưa kịp nói gì thêm thì Sáu Chi đã chỉ vào hộc tủ bàn viết: - Con dấu của anh lúc nào cũng để trong đó, đóng luôn đi! Hơi ngạc nhiên về sự rành rẽ của cô nàng, nhưng vì ham muốn nhục dục nên Ba Sung làm theo mà không suy nghĩ. Xong đâu đó hắn nheo mắt: - Còn gì nữa không! Sáu Chi nhắm mắt lại, đáp rất ngọt ngào: - Tùy anh thôi... Ba Sung như con hổ đói vồ mồi. Hắn chiếm đoạt, hưởng thụ như chưa bao giờ được hưởng. Hắn hoàn toàn bất ngờ trước sự hấp dẫn, quyến rũ cực kỳ của bông hoa đồng nội, điều này càng làm cho hắn tiếc sao mình không chiếm đoạt sớm hơn! Và cũng chính vì quá say đắm cuộc mây mưa nên Ba Sung quên không hỏi lý do nào Sáu Chi đã thoát ra khỏi phòng giam? Và đó là hậu quả mà sau đó chỉ chưa đầy nửa giờ, hắn đã phải nhận lãnh... Lúc ấy là vào giữa trưa... Theo quy định lâu nay, mỗi khi tên sếp ác ôn này vào phòng riêng đóng cửa lại thì mọi người muốn vào phải gõ cửa, nhưng chỉ được gõ khi không thấy bóng đèn đỏ bên ngoài đang sáng lên. Còn khi đã có đèn đỏ thì dẫu có chuyện gì gấp cũng không được gõ hay gọi. Do đó suốt hơn hai giờ liền Ba Sung ở trong đó thì hầu như mọi công việc liên quan tới hắn ta đều ngừng trệ. Một vài nhân viên có hồ sơ trình ký hoặc trực tiếp xin chỉ thị đều phải sốt ruột chờ. Một thư ký riêng của Ba Sung đã lầm bầm: - Chơi bời gì mà giữa giờ làm việc chẳng biết! Điệu này mấy cái lệnh giam người lấy ai đâu ký quyết định? Tài xế riêng của hắn ta thì lo lắng điều khác: - Không khéo thì khi bà nhà tới đây sẽ nổ ra chiến tranh cho coi! Vài người nghe điều đó đều thích thú: - Chà, cuộc đụng độ sẽ gay cấn, nảy lửa đây. Và họ chờ để xem... Đúng bốn giờ thì bà vợ của Ba Sung xuất hiện. Chẳng biết do có việc cần đột xuất hay do ai đó báo tin... mà khi vừa xuống xe ngoài cổng, mụ Anna đã xộc thẳng vào phòng riêng của chồng. Tên tài xế tuy làu bàu chuyện sếp mình mê đắm tửu sắc, nhưng khi thấy ông ta sắp nguy thì đã vội phá lệ, vừa gõ cửa phòng vừa la lớn: - Bà Anna tới sếp ơi! Vẫn không nghe động tĩnh bên trong, khiến anh này phải la lên lớn hơn: - Bà sếp tới ông sếp ơi! Không nghe trả lời, tên tài xế nghĩ ông sếp mình đang mê trận quên đời nên đập cửa ầm ầm với lời báo động dồn dập: - Bà tới ông ơi! Bà tới! Mụ Anna trừng mắt và quát: - Mày báo động hả, mở cửa ra! Nhưng cửa đã khóa bên trong. Mụ Anna quát: - Lấy búa đập cửa ra! Ai dám làm chuyện đó, cho nên mọi người đều lần lượt tản đi chỗ khác và biến luôn, bởi họ biết cuộc đại chiến giữa hai người sẽ biến họ thành nạn nhân bất đắc dĩ! Điên tiết vì chẳng có ai giúp sức, mụ Anna tự tay cầm một cục đá to đập vào cánh cửa gỗ và sau ba bốn cú đập mạnh, cánh cửa đã bung ra mà vẫn chẳng nghe bên trong có phản ứng gì. Khi cửa mở toang ra, mụ Anna không tin vào mắt mình khi nhìn thấy trên chiếc giường nhỏ phía sau bàn làm việc của chồng là một... bộ xương người! - Trời ơi! Bớ người ta... Lúc này nhiều nhân viên mới dám chạy trở lại và đến phiên họ kinh hãi! Tên tài xế riêng của Ba Sung run run giọng nói: - Rõ... rõ ràng hồi nãy... ông sếp vô trong đó mà... ổng vô... và đâu thấy trở ra... Khi thấy có đông người tới mụ Anna mới dám bước tới gần chỗ bộ xương, nhìn kỹ và thét lên: - Trời ơi, ông Sung! Trên cổ tay của bộ xương vẫn còn mang chiếc đống hồ Oméga bằng vàng, vật quen thuộc của chồng, mà mụ Anna vừa nhìn thấy đã nhận ra ngay! Mụ ta lại nhìn lên cổ, sợi dây chuyền vàng hình mỏ neo có khắc tên mụ và Ba Sung lại càng khẳng định bộ xương này là của Ba Sung! - Trời ơi! Mụ ta ngã lăn ra và nằm bất động... *** Bọn Đội Ngô phải phá cổng rào mới vào được nhà ông chủ Thiên Thời. Họ không gặp ai trong nhà, sau một hồi tìm kiếm, tài xế Sĩ nhắc:- Mình ra sau vườn coi mấy ngôi mộ xem. Tại sao mấy đứa con lão ta cũng chết? Khi họ ra ngoài chỗ khu mả thì vô cùng sửng sốt khi có bốn ngôi mộ nằm song song nhau. Một cái của bà Kiểm, một của ông Thiên Thời, còn hai cái kia thì của Nguyệt Ánh và Lan Anh. Tài xế Sĩ thắc mắc: - Họ chết thì có thể do bị vong hồn của vợ ông Thiên Thời, nhưng ai đã chôn họ mới là việc lạ. - Ai đã vào đây? Một tên nói: - Nhà này chỉ còn duy nhất con Sáu Chi là còn sống, chẳng lẽ là nó làm việc này? Đội Ngô phản bác: - Không thể là nó, bởi thời gian xảy ra ở đây thì con nhỏ đó còn bị giam ở trên kia. Tài xế Sĩ nhắc: - Nhưng anh quên là nó đã thoát ra mà mình vẫn chưa biết là đi đâu hay sao? Đội Ngô bực dọc: - Không nói lôi thôi nữa, hãy đào mồ tụi nó lên coi, biết đâu đây là một âm mưu thì sao? Nghe cũng có lý, nên bọn ba bốn tên hè nhau đào lần lượt bốn ngôi mộ. Tuy vậy cả bọn vừa đào mà vừa run, bởi việc đào mộ đối với chúng là một chuyện xưa nay chưa từng làm! Ngôi mộ đầu tiên bọn chúng đào là mộ có bia đề tên Lan Anh. Đội Ngô nói giọng mất dạy: - Nghe nói con nhỏ này đanh đá lắm, đào lên xem thử khi chết mặt mày có còn dữ dằn hay không? Nhát cuốc của tên lính vừa chạm vào nắp quan tài, bỗng hắn bật bắn ra xa đến gần hai thước! Tên thứ hai la lên: - Coi chừng rắn! Hắn nói và chưa kịp nhảy lên thì đã bị một con rắn cắn vào chân, rồi một con nữa cắn vào cổ tay hắn một nhát nữa! Tài xế Sĩ nhìn thấy từ trong quan tài bò ra toàn là rắn, hắn nhảy lùi ra và la lên: - Chạy đi, rắn đầy kia kìa! Cả hai tên thuộc hạ của Đội Ngô đều bị rắn cắn nằm tại chỗ. Riêng Đội Ngô thì nhờ lẹ chân chạy theo tài xế Sĩ nên không bị gì. Tuy nhiên hắn run như cầy sấy, vừa lắp bắp: - Những con rắn này... phải chăng là... quỷ ma! Tài xế Sĩ đột nhiên nói trong hốt hoảng: - Không lẽ... điều ấy xảy ra? Đội Ngô vừa chạy vừa hỏi: - Chuyện ấy là chuyện gì! Tài xế Sĩ nhớ lại khi thỉnh đạo bùa Miên, ông thầy đã có nói rõ: "Lá bùa này linh nghiệm thì vong hồn người chết sẽ bị sai khiến, còn ngược lại thì sẽ có hậu quả khôn lường...”. Hậu quả khôn lường đó phải chăng là... những con rắn này! Ý nghĩ của hắn chưa dứt thì đã nghe Đội Ngô thét lên một tiếng rồi ngã lăn ra đất. Một con rắn rất to đang quấn chặt lấy cổ hắn! Trong phút chốc đã có ba người trong nhóm đào mộ đã bị rắn cắn chết, bảo sao tài xế Sĩ không sợ điếng hồn! Hắn gần như chạy không nổi, phải lết đi từng bước... Phải đến khi lết được vô tới thềm nhà thì hắn đã kiệt sức, gục xuống. Trong mơ hồ hắn cảm giác như có người đứng trước mặt mình. Người đó cất tiếng gọi khe khẽ: - Thằng phản bội, hãy đền mạng! Cố nhướng mắt lên, tài xế Sĩ càng hốt hoảng, bởi người đang đứng kia chính là... bà chủ đã quá cố của hắn, vợ ông Thiên Thời! - Bà... bà... - Nuôi mày là nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà. Mày đã bán đứng chủ mày, cũng như trước kia mày bỏ thuốc độc trong thức ăn cho tao ăn, để dọn đường cho con quỷ cái Hai Hường xâm nhập nhà này! Mày còn độc hơn những con rắn độc ngoài kia nữa! Tài xế Sĩ vẫn cố nói: - Tha cho con bà ơi... con xin làm bất cứ gì bà sai biểu... Con phải làm như vậy chẳng qua là do hoàn cảnh gia đình con quá túng bấn, nên con mới táng tận lương tâm... Hắn nói tới đó thì bỗng nhiên kêu thét lên một tiếng và cả thân người run lên bần bật rồi nằm im như xác chết... *** Buổi sáng trời thật trong. Mặt trời vừa lên khỏi ngọn tre phía sau vườn thì cũng là lúc có một người xuất hiện trước bốn ngôi mộ. Quỳ xuống trước mộ bà chủ Thiên Thời, người đó giật mình khi thấy đã có một bó hoa cẩm chướng đặt ở đó tự lúc nào rồi.- Cậu Hiếu còn nhanh hơn tôi nữa! Người đó từ từ giở chiếc nón đội che gần kín mặt xuống, để lộ ra khuôn mặt hiền hòa, xinh xắn. Đó là Sáu Chi! Cô quay lại phía sau nói lớn: - Mời hai cô ra đây! Có hai người xuất hiện tiếp theo. Đó là Nguyệt Ánh và Lan Anh! Cả hai ôm chầm lấy Sáu Chi mừng mừng tủi tủi: - Chị Sáu! Tụi này cứ ngỡ là sẽ không bao giờ còn gặp lại chị nữa! Sáu Chi vuốt tóc hai cô gái: - Tội nghiệp hai cô chủ nhỏ của tôi! Phải để hai cô phải chịu khổ sở, sống chui rúc trong căn phòng thờ tối tăm trên lầu là việc bất đắc dĩ... Chẳng qua cũng là để tránh tai họa mà thôi. Giờ thì xong hết cả rồi.... Sáu Chi móc trong túi ra một tờ giấy rồi đặt ngay mộ của bà Thiên Thời, vừa bảo hai cô gái: - Các cô lạy bà đi. Chính bà đã giúp cho việc này đấy. Nguyệt Ánh và Lan Anh cùng lạy theo Sáu Chi. Bỗng tờ giấy mà Sáu Chi vừa lấy ra đó bốc cháy như được ai đó đốt lên! Sáu Chi nói: - Đó là tờ giấy mà tên Ba Sung đã viết theo lệnh của bà, ra lệnh bãi bỏ sự truy cứu ông chủ và hai cô! Nguyệt Ánh ngơ ngác: - Truy cứu gì? - Theo xúi biểu của thằng tài xế Sĩ, tên Ba Sung ra lệnh cho thuộc hạ truy nã các cô và ông chủ về tội danh mà hắn tự đặt ra, nhằm có cớ bắt giam và thủ tiêu. Vong hồn của bà đã hiện ra cứu tôi khỏi trại giam, rồi bà còn giả làm tôi, gạt cho tên Ba Sung giở thói dê xồm ra nữa... Lúc đầu bà chỉ muốn gạt hắn, để hắn ký giấy tha cho ông và cô thôi, chớ không có ý hại hắn, chẳng ngờ hắn say máu làm tới, xúc phạm tới bà, cho nên bà đã hóa kiếp cho hắn và sau đó trừ diệt luôn mấy tên ác ôn, côn đồ, cả thằng phản bội Sĩ nữa. Bởi vậy giờ đây tờ giấy này không còn cần nữa. Rồi Sáu Chi vái riêng với bà chủ mình: - Thưa bà, theo lệnh bà con đã giấu những người thân của bà được an toàn. Nay họ đứng trước mặt bà đây, xin bà tiếp tục phù hộ cho họ... Nguyệt Ánh òa lên khóc: - Má ơi, sao má không về giúp tụi con sớm hơn, suýt nữa tụi con đã chết dưới bàn tay của bọn quỷ sứ kia rồi! Lan Anh cũng khóc theo: - Mấy bữa nằm chui trong phòng, nghe bên ngoài tụi lính kín đi rầm rập, con sợ muốn chết, tưởng tiêu đời rồi. Còn ba nữa, ổng chưa đi nổi ra đây vì ba bốn ngày không ăn... Sáu Chi lại nói: - Tất cả là nhờ bà che chở cho đó. Sở dĩ lâu nay bà không về giúp các cô được là cũng bởi khi chôn bà, thằng tài xế Sĩ đã lén bỏ một lá bùa dưới gối bà nằm, do vậy hồn phách của bà không thể nào liên lạc được với người thân. Khi thằng Sĩ và mụ Hường kia chôn lá bùa tiếp theo để sai khiến bà về hại chồng con thì bị mình phát hiện kịp thời và đem quăng xuống vũng nước dơ, vô tình hóa giải tác dụng của chúng và nhờ vậy cũng giải thoát luôn cho hồn phách của bà bị giam cầm từ lâu. Bà thoát được nên mới cứu được cả nhà. Trong chuyện này còn phải kể luôn công của cậu Hiếu nữa... Nghe nhắc tới Hiếu, Nguyệt Ánh kêu lên: - Mấy hôm rày sao em không còn nghe Hiếu về nữa? Chỉ sang mấy ngôi mộ bên cạnh, Sáu Chi nói: - Chính vong hồn của cậu ấy đã thực hiện những ngôi mộ này, nhằm che mắt bọn ác ôn kia. Trong mộ không hề có xác ai hết, chỉ có lũ rắn độc. Lan Anh le lưỡi sợ hãi: - Mộ không chôn người thì để làm gì, sao không cho đào lên đi, san phẳng để đỡ phải sợ! Sáu Chi nghiêm giọng: - Lúc trước thì không có ai, chỉ có rắn độc nhưng nay thì có chôn người rồi. Nguyệt Ánh ngạc nhiên: - Ai trong đó? - Chính là ba tên thộc hạ của Ba Sung! Chúng bị rắn độc cắn chết và cậu Hiếu đã chôn chúng luôn trong đó! Nguyệt Ánh trầm ngâm: - Đâu có thể để xác bọn chúng trong vườn nhà mình được. Phải làm cách nào đó. Sáu Chi cười nói: - Đợi qua bốn mươi chín ngày thì cậu Hiếu của cô sẽ đưa chúng nó đi xa. Cậu ấy chu toàn lắm... Nguyệt Ánh nói thật khẽ: - Anh ấy vốn là người như vậy... Cô quay sang hướng khác, nói vọng vào: - Em sẽ ở vậy mãi để dành cho anh... Sáu Chi nắm tay hai cô, hối: - Phải vô để mừng ông thoát nạn đi chớ! Họ vừa bước vô nhà thì đã thấy ông Thiên Thời ngồi ở ghế trưởng kỷ. Mặt ông tuy có xanh xao, nhưng vẫn có nụ cười thật tươi. Ông ôm cả hai cô con gái mình vào lòng: - Ba xin lỗi hai con... Lan Anh lại òa lên khóc! Nguyệt Ánh phải lên tiếng: - Như vầy là mừng rồi, còn khóc nỗi gì nữa! Vừa khi ấy có tiếng của một người ăn xin từ ngoài cổng vọng vào: - Xin quý bà quý cô rủ lòng thương, bố thí cho kẻ hèn này vài đồng xu lẻ, ít hột cơm thừa để sống qua ngày... Sáu Chi vội nói: - Đó là mụ Hai Hường! Từ khi Ba Sung bị hóa kiếp thì mụ ta trở thành điên dại, đi lang thang xin ăn. Vong hồn bà chủ cho tui biết, đó là cái quả mà bà ta phải nhận lãnh, để trả cho những ác nghiệp mà mình đã gây ra. Ông Thiên Thời nhìn ra, chợt thở dài. Rồi bảo: - Ba mê muội, suýt nữa nghe bà ta mà hại các con rồi... Nguyệt Ánh lên tiếng liền: - Chẳng qua ba bị họ bỏ bùa, sai khiến thôi. Nay má đã giúp ba gỡ được rồi, còn lo gì nữa! Ông Thiên Thời đứng lên, tuy yếu, nhưng vẫn đi được: - Dẫn ba ra thăm mộ má các con. Trong lúc đó thì giọng xin ăn của mụ Hai Hường xa dần và có lẽ đó là lần cuối mụ ta tới chốn này... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 45
GIỌT MÁU OAN NGHIỆT Bản nhạc cuối cùng vừa chấm dứt thì cũng là lúc Bích Trâm nghe nhói đau ở bụng dưới. Cô buông tay người khách nhảy ra và nói làu bàu mấy tiếng rồi bước nhanh về phía quầy. Tài pán Marie Lan tinh mắt nhìn thấy đã tiến ngay lại hỏi nhanh: - Em sao vậy Bích Trâm? - Em... em... Cô nói không thành lời, bởi lúc đó cơn đau quặn lên dữ dội. Marie Lan giục người quản lý quầy rượu: - Anh giúp đưa nó vào phòng trang điểm, nhanh lên. Bích Trâm hầu như không còn biết gì sau đó... Khi cô mở mắt ra thì vô cùng ngạc nhiên khi thấy mình nằm trong một gian phòng rất lạ. Chung quanh không có ai khác... Cố nhận diện xem nơi này là đâu, nhưng Bích Trâm không tài nào đoán ra, bởi từ cách trang trí, cho đến những đồ vật cố định đều khá lạ mắt, nếu không nói là vô cùng lập dị, chiếc giường ngủ không làm gỗ hay sắt thông thường, mà hầu như toàn bộ thiết kế bằng một chất liệu giống xương hay ngà vô cùng sang trọng. Toàn phòng không có lấy một chiếc tủ áo hay bàn viết, bàn phấn như các phòng khác. Cho nên nhất thời chưa thể đoán đây là căn phòng của nam hay nữ. Cũng may, khi nhìn ra cửa sổ, Bích Trâm nhận ra một búi tóc giả đang máng ở đó, cô buộc miệng: - Là nữ! Có nghĩa là cô đang nằm trong một phòng ngủ của nữ. Là ai? Nhất định không phải là Marie Lan rồi, bởi người tài pán này sống với chồng con ở một khu lao động nghèo, mà căn phòng này mới nhìn đã biết là thuộc một ngôi nhà sang trọng bậc nhất! Nhớ lại mang máng chuyện đã xảy ra, Bích Trâm đưa tay sờ bụng dưới của mình, cô vẫn còn cảm giác ê ẩm và bất giác tự nhủ: - Không lẽ mình... bị dính rồi sao? Cố nhớ lại lần chung chạ gần nhất với Linh, lần đó cả hai đã rất cẩn thận, tuy không dùng biện pháp tránh thai, nhưng nhất định không thể xảy ra hậu quả được, bởi Linh là người có nhiều kinh nghiệm, mà Bích Trâm thì đâu phải tay mơ. Năm năm vào nghề vũ nữ đã dạy cho cô nhiều bài học về cách sống, cách tự bảo vệ mình... Như vậy cơn đau bụng vừa qua đâu phải là triệu chứng có bầu hay cái gì có liên quan? Nhớ tới Linh, Bích Trâm đâm ra lo. Đã từ hơn tuần nay Linh không ghé vũ trường hay nhà cô. Điều này trái với trước đây, cứ một đêm không ghé qua vũ trường thì hôm sau thế nào anh chàng cũng mò tới căn nhà thuê của người yêu và những lần như vậy anh thường ở lại cả ngày. Linh chưa có vợ, sống đời sống nghệ sĩ, tuy không giàu có nhưng cũng thong dong, thương Bích Trâm thật lòng và hai người hứa chắc với nhau là cuối năm nay sẽ chính thức làm đám cưới và khi ấy Bích Trâm sẽ bỏ hẳn nghề vũ nữ. Giấc mộng con mà hai người dự tính không phải là chuyện viễn vông, bởi cả hai đều thật lòng và có quyết tâm. Nhất là với Bích Trâm, mặc dù cô được tiếng là một hoa khôi của vũ trường Mélody, có hàng tá đàn ông thèm thuồng, đeo đuổi, nhưng cô chỉ yêu mỗi mình Linh và quyết chung thủy với anh chàng. Một tiếng động ở cửa phòng khiến Bích Trâm giật mình, cô quay lại vừa kịp nhìn thấy một bóng người lướt qua cửa sổ. Chủ nhà chăng? Cô lên tiếng: - Ai ngoài đó vậy? Không có tiếng đáp lại, Bích Trâm bước nhanh ra định mở cửa, nhưng cửa khóa chặt, mà nhìn quanh lại không thấy chìa khóa, cũng không biết cách nào mở được cửa, nên Bích Trâm đành phải đứng trong nhìn ra cửa sổ và hỏi lại lần nữa: - Ai ngoài đó vậy? Vẫn im lặng. Bích Trâm đành đứng thừ người ra với thắc mắc càng nhiều hơn. Lúc này cô mới tò mò nhìn búi tóc treo lửng lơ trên song cửa. Một lọn tóc dày và dài, được búi lại thành một búi, nó không giống như kiểu đầu tóc mượn của các phụ nữ nông thôn, mà lại giống với kiểu tóc giả của các tiệm uốn tóc hay dùng để gắn vào đầu cho những người cần thêm tóc giả để bới. Không dám đụng vào, tuy nhiên có lẽ do cơn gió thổi qua, nên búi tóc rơi xuống sàn, Bích Trâm đành phải cúi xuống nhặt lên và định máng lại chỗ cũ, nhưng chợt cô nhìn thấy có một mảnh giấy nhỏ đính kèm theo búi tóc. Buộc lòng phải nhìn mảnh giấy và Bích Trâm giật mình: - Sao lại có tên Linh ở đây? Trên mảnh giấy ghi vỏn vẹn hai chữ gửi Linh. - Linh nào? Bích Trâm tự hỏi và vô tình cầm luôn búi tóc trên tay một hồi lâu. Cuối cùng cô chợt hiểu ra, kêu lên: - Đây là căn phòng của Linh? Từ khi quen nhau tới nay đã gần hai năm, chưa lần nào Bích Trâm theo Linh về nơi ở riêng của anh, lý do là Linh ngại, bởi nơi anh ở là nhà của một người dì ruột, theo lời Linh nói thì bà ấy lại khó tính, hay thắc mắc này nọ về cuộc sống riêng tư của anh, nên Linh định khi nào hai người chính thức tính chuyện hôn nhân thì sẽ dẫn Bích Trâm về giới thiệu luôn. - Thì ra anh ấy dối mình là nhà nghèo, chớ thật ra nhìn phòng này thì anh ấy đâu có nghèo! Bích Trâm lẩm bẩm rồi cầm búi tóc quay trở lại giường. Bấy giờ cô mới thắc mắc dữ hơn về búi tóc này. Cô nào gởi cho Linh để làm gì, bởi tóc này chỉ để dành cho phụ nữ? Mà Bích Trâm thì chưa bao giờ nói với Linh về việc cô cần một đầu tóc giả, bởi tóc Bích Trâm vốn dài và đẹp, nếu không muốn nói là quyến rũ, nhiều người thèm thuồng mà không có được! - Tóc này để làm gì? Bích Trâm cứ lặp đi lặp lại câu hỏi trong đầu cho đến khi hai mắt cô như có ai đó kéo trì xuống. Cơn buồn ngủ bất chợt kéo đến, khiến cho Bích Trâm dù mới vừa tỉnh lại sau cơn ngất, cũng không thể cưỡng lại được... *** - Tỉnh lại đi chớ, ngủ gì mà li bì vậy?Nghe giọng nói quen quen, Bích Trâm từ từ mở mắt ra, cô giật mình khi thấy đứng trước mặt mình là chị Marie Lan và Lan Ngọc, một đồng nghiệp. Marie Lan càu nhàu: - Mày sao vậy Bích Trâm, đau bệnh gì mà nằm cả hai ngày hai đêm, bữa nay nếu tao với con Lan Ngọc không tới đây thì chắc mày ngủ luôn quá! Bích Trâm ngơ ngác nhìn quanh, cô nhận ra đây là căn phòng của mình và hoảng hốt: - Em về đây hồi nào? Ai đưa em về? Marie Lan lắc đầu: - Con quỷ này mê ngủ đến không còn nhớ gì hết. Thì con Lan Ngọc và thằng bảo vệ vũ trường đưa mày về chớ ai. - Về đâu? - Thì về đây chớ về đâu nữa! Đêm hôm đó mày bị đau bụng rồi ngất đi, tao tính biểu tụi nó chở đi nhà thương, nhưng sau đó thấy mày không đến nỗi nào, nên mới biểu con Lan Ngọc hộ tống mày về luôn nhà. Quay sang Lan Ngọc, Bích Trâm hỏi dồn: - Mày đưa tao về đâu? Lan Ngọc phá lên cười: - Con khỉ này đầu óc có vấn đề rồi. Thì về đây chớ về đâu. Bích Trâm nhớ lại căn phòng lạ, cô kêu lên: - Tôi ở căn phòng đó và bị khóa chặt cửa không ra được! Marie Lan cũng cười to: - Con này bị rối loạn thần kinh rồi! Chắc là do mê sảng lâu quá mà ra. Rồi chị quay sang Lan Ngọc trách: - Sao bữa đó em không ở lại với nó cho đến lúc nó tỉnh hẳn đã? Lan Ngọc kêu lên: - Ở luôn tới bữa nay à? Tối đó em thấy nó thở đều nghĩ chắc sau khi cơn đau giảm sẽ tỉnh lại, mà nhà em có việc nữa, nên em mới bỏ về. Vả lại ở chung nhà với nó còn có bà chủ nhà mà, có gì họ sẽ giúp nó... Bích Trâm nói lớn: - Không phải căn phòng này! Em ở... Chợt nhớ lại búi tóc, cô quay quanh giường tìm và reo lên: - Nó đây rồi! Bích Trâm nhặt lấy búi tóc nằm cạnh gối đưa lên nói: - Vật này em lấy đi trong căn phòng ấy đấy! Nhìn búi tóc, Marie Lan ngạc nhiên: - Của ai vậy? - Em cũng không biết, nhưng chắc chắn là của một cô gái nào đó. Rồi cô kể lại khá tỉ mỉ chuyện mình nằm trong căn phòng lạ đó. Nghe xong Lan Ngọc kêu lên: - Nó kể nghe giống như trong chuyện Liêu Trai quá! Marie Lan cũng nói: - Giống như người ta mơ gặp ma, thậm chí còn... ăn nằm với ma nữa! Biết họ chế nhạo mình, Bích Trâm gắt lên: - Không phải là mơ đâu! Nếu mơ thì làm sao có lọn tóc thật này ở đây? - Nhưng nếu là thật thì... chuyện ấy là chuyện gì? Bây giờ mày thấy trong người ra sao, có cảm giác như vừa... ăn nằm với ma không? Bích Trâm la lên: - Chị nói bậy! Ăn nằm đâu mà ăn nằm... Tuy nói vậy nhưng cô cũng đưa tay sờ xuống bụng dưới của mình. Cảm giác đau đau như bữa tối đó đã hết hoàn toàn. Lan Ngọc hỏi: - Bữa đó mày đau gì vậy? Có phải bị... kẹt rồi đau không? - Đâu có, tao mới vừa hết mà. Marie Lan bảo: - Nó giống như người bị hư thai vậy đó! - Làm gì có! Cả Marie Lan và Lan Ngọc đều phá lên cười: - Tụi tao tưởng đâu mày ham hố rồi vướng bầu chớ! Cũng may, chớ nếu thiệt thì hết làm ăn, đói nhăn răng con ơi! - Mấy người nói bậy... Bàn ra tán vào lại càng làm cho Bích Trâm thêm rối. Cô cứ thắc mắc hoài chuyện căn phòng lạ và búi tóc: - Như vậy là sao? Nếu là giấc mơ thì làm sao lọn tóc còn ở đây? Marie Lan cũng tán đồng: - Chuyện này hơi lạ... Theo tao, con Bích Trâm hỏi lại bà chủ nhà xem, búi tóc này của ai. Có thể bà ta biết... Bà chủ nhà sau đó lắc đầu bảo: - Phòng cô Bích Trâm mỗi khi đi là khóa kín lại, đâu có ai vào đó được. Mà trong nhà này cũng chẳng ai có búi tóc đó. Lan Ngọc nhắc: - Mày liên lạc với Linh xem, hỏi anh ấy coi có phải căn phòng trong giấc mơ của mày có phải là của anh ấy không? Bích Trâm lắc đầu: - Tao không biết nhà của anh ấy. - Vậy thử tìm anh ấy xem. Bích Trâm vẫn lắc đầu: - Hơn tuần nay tao không gặp Linh. Hình như là anh ấy đi xa ở đâu đó. Mọi người rơi vào bế tắc. Lát sau Marie Lan mới nói: - Thôi, tốt hơn hết là bây giờ con Bích Trâm hãy nghỉ ngơi cho khỏe rồi tối nay đi làm trở lại. Hai hôm rồi khách cứ hỏi em hoài, lão chủ vũ trường cằn nhằn quá trời. Hai người bạn về rồi Bích Trâm cứ nằm đó mân mê búi tóc. Chẳng hiểu sao trong lòng cô cứ bị ám ảnh bởi khuôn mặt của một cô gái nào đó, mà mỗi lần cô ta hiện ra thì y như là Bích Trâm nhìn thấy tóc của cô ta bay bay theo gió, giống hệt như búi tóc trong tay mình. Phải chăng... Bích Trâm tự hỏi nhiều lần, nhưng cuối cùng đành phải tự an ủi: - Chịu thôi. Có thể là một giấc mơ. Tuy nhiên, đến chiều hôm đó, trong khi đang trang điểm chuẩn bị đi làm thì bất ngờ bà chủ nhà bước vào đưa một mảnh giấy: - Có người nhờ gởi cho cô. Trong giấy ghi vắn tắt mấy dòng: “Có tin của anh Linh rất gấp. Vậy hết giờ làm việc ở vũ trường tối nay, Bích Trâm ra chỗ góc đường, đón chiếc xích lô của người đàn ông mặc áo đỏ, đội nón rộng vành, họ sẽ đưa tới chỗ Linh đang dưỡng thương. Anh ấy đang đợi Bích Trâm.” Bích Trâm rất sốt ruột, nhưng chẳng cách nào hơn, nên đành phải đi làm và đợi đến nửa khuya. Sau buổi tối có hai người đàn ông vốn ái mộ Bích Trâm tới mời đi ăn tối, nhưng Bích Trâm đã khéo léo từ chối. Cô bảo: - Em còn bệnh, nên phải về nhà ngay. Người khách mời đưa cho Bích Trâm một xấp tiền giấy khá nhiều: - Nghe em bệnh, anh gởi chút ít để em thuốc men và bồi dưỡng. Bích Trâm không nhận thì người đó cứ nhét đại vô tay cô và đi thẳng ra xe rất nhanh. Đến khi xem lại Bích Trâm quá đỗi ngạc nhiên khi phát hiện lẫn trong xấp tiền có một mảnh giấy nhỏ ghi mấy chữ: "Hãy coi chừng, đừng lên chiếc xích lô đó!" Bích Trâm chạy theo ra ngoài thì người đàn ông đã biến mất. Cô thẫn thờ một lúc rồi quá giang xe một đồng nghiệp khác đi về thẳng nhà, thay vì ra chỗ góc đường. Ngang qua đó Bích Trâm thấy đúng là có một chiếc xích lô với người đạp xe mặc áo đỏ, đội mũ rộng vành! Còn đang hoang mang chưa biết phải làm gì thì vừa khi mở cửa phòng vào, Bích Trâm sững sờ khi thấy có một cô gái lạ đang ngồi đợi sẵn trong phòng! - Cô là ai? Cô gái đẹp lạ lùng, mà mái tóc dài rủ xuống khuôn mặt thanh tú đã khiến cho Bích Trâm phải thốt lên ngay: - Phải cô là... Bích Trâm muốn hỏi cô ta có phải là cô gái mà cô mơ màng thấy trong lúc hoang mang hay không? Thì cô ta đã chủ động lên tiếng: - Đúng ra cô phải tới chỗ tôi, chớ không để tôi cất công tới đây như đã hẹn! Bích Trâm giật mình: - Cô là người đã hẹn tôi tới để gặp Linh? - Gần như là vậy. Thật ra thì người hẹn thật sự với cô là Linh chớ không phải tôi. Chẳng qua tôi muốn nhân cơ hội đó để gặp cô và giải quyết một vài việc cần phải giải quyết. Bích Trâm hốt hoảng: - Linh bị bệnh thật sao? Anh ấy... - Có thể nói là anh ta bị bệnh khá nghiêm trọng. Nhưng chuyện của tôi còn quan trọng hơn, cho nên tôi muốn cô gặp tôi trước. Bích Trâm quá lo lắng, nên giọng gay gắt: - Cô là ai và đã làm gì Linh? Anh ấy phải chăng đã bị hãm hại? Cô gái cười nửa miệng: - Nói hãm hại thì e không đúng. Đây chẳng qua là anh ta đang trả giá cho những gì mình đã gây ra thôi! Cô chính là người sẽ cứu được anh ta, nếu... Cô ta bỏ lửng câu nói càng khiến cho Bích Trâm sốt ruột thêm: - Có chuyện gì cô nói ra đi, rồi chỉ cho tôi chỗ của Linh? Cô gái hất mái tóc dài ra sau, bất ngờ cả một bên tóc phía trái rơi ra, để lộ một bên đầu bị trống, vì một phần tóc đã bị cắt, Bích Trâm chưa kịp hỏi thì cô ta đã nói: - Bên tóc này đang nằm trong tay cô đó, chắc cô nhớ búi tóc lấy được trong căn phòng đó chớ? - Nó... nó là của cô? - Cô thử lấy ra đây và tôi gắn vào xem có đúng hay không? Không đợi Bích Trâm lấy, cô ta đã đích thân lấy nó từ bên cạnh gối của Bích Trâm và đặt nó lên chỗ tóc bị khuyết. Nó vừa vặn y chang! Giọng cô ta nghe chua chát: - Khi người con gái không tiếc gì hết, kể cả mái tóc cha mẹ sinh ra trên đầu, để chứng minh tình yêu, mà người con trai vẫn nhẫn tâm bỏ đi theo mối tình khác, thì theo cô, cô phải xử ra sao? Câu hỏi đột ngột làm cho Bích Trâm lúng túng: - Chuyện đó... chuyện ấy... thật là đáng trách! - Đáng hận mới đúng! Mà cô có biết người gây ra đó là ai không? Tuy có ngờ ngợ, nhưng Bích Trâm lắc đầu: - Tôi... chưa rõ. - Thằng Linh khốn kiếp của cô đó! Vừa dứt lời thì cô ta đứng bật dậy, nhìn thẳng vào mắt Bích Trâm, rít lên: - Gieo cái gì ắt phải gặt cái nấy! Cô nói với nó là giọt máu nó đang để lại trong người tôi, bây giờ tôi trả lại cho nó! Bich Trâm ngơ ngác nhìn chung quanh, cứ ngỡ có một đứa hài nhi nằm ở đâu đó. Nhưng thật bất ngờ, cô gái chỉ thẳng vào bụng của Bích Trâm, giọng lạnh lùng: - Nó đang nằm trong bụng cô đó! Bích Trâm hoảng hốt: - Tôi... tôi làm sao? Tôi đâu có... bầu? Cô gái cất lên một tràng cười dài: - Cô đã cướp thằng đàn ông của tôi, dẫu rằng cô vô tình đi nữa, thì cô phải cùng lãnh hậu quả với thằng đàn ông chó kia? Cô phải mang giọt máu mà lúc chết tôi đã lỡ mang được năm tháng. Bây giờ nó sẽ tiếp tục lớn lên trong bụng cô và cô phải sinh dưỡng nó cho đến lúc nào nó biết được ai là kẻ đã gây ra cái chết cho mẹ nó! - Kìa, cô... Bích Trâm kêu lên, định giải thích cho rõ mối quan hệ của mình với Linh, thì cô gái đã cất giọng: - Tôi là một hồn ma, nên những gì tôi làm bây giờ cô không cưỡng lại được đâu! Nhưng cảm thông cô là người chỉ vô tình, cho nên tôi chỉ nhờ cô mang hộ cái thai này, rồi sinh nở nó, chớ không làm hại cô. Với điều kiện là... Cô gái vừa bước ra cửa vừa quay lại dặn: - Với điều kiện là cô không được có bất cứ hành động nào chống lại tôi hoặc tìm cách trục cái thai ra! Trước khi biến mất, cô ta còn nói rõ: - Nói tên tôi là Mỹ Lan thì Linh ắt biết! Cô ta thoắt cái đã mất bóng ngoài cửa. Bà chủ nhà cũng vừa chạy vô, ngơ ngác hỏi: - Lúc nãy cô hay ai đó la hét gì trong này vậy? Bích Trâm một tay ôm lấy bụng mình, vừa nói, giọng thất thần: - Dạ, đâu có gì... *** Cuối cùng thì Bích Trâm cũng gặp được Linh, khi anh chàng tìm tới nhà. Anh vô cùng ngạc nhiên khi ghé vũ trường và nghe tin Bích Trâm đã nghỉ làm, do vậy anh phải tìm về nhà. Anh càng sững sờ khi nhìn thấy Bích Trâm mang cái bụng bầu!- Kìa, tại sao em... Bích Trâm biết thế nào Linh cũng ngạc nhiên như vậy, nên cô đã sẵn câu giải thích: - Trước khi nghe em nói về cái thai trong bụng này, thì em hỏi anh có nhớ gì về cô gái tên Mỹ Lan không? Vừa nghe nhắc tới cái tên đó tức thời Linh sửng sốt: - Sao... sao em biết người ấy? - Điều này không quan trọng, trước hết anh phải trả lời em về cô gái tên Mỹ Lan đã? - Anh... anh có quen... - Hơn cả quen nữa phải không? Linh đành phải thú nhận: - Đúng, anh có quan hệ tình cảm với cô ấy trước đây. - Rồi sao lại xa nhau? - Tại vì... - Anh hết yêu cô ta, hay bị phụ tình? Linh nhìn vào Bích Trâm rồi trả lời một cách hơi gượng: - Cô ấy... bỏ anh. - Bỏ anh trong khi bụng mang thai hơn bốn tháng sao? Câu hỏi làm cho Linh thất sắc: - Em gặp cô ta? Và cô ta đã... nói điều đó? Bích Trâm ngồi xuống đối diện với Linh, đưa tay chỉ vào bụng: - Cái thai gần năm tháng của anh để trong bụng cô ấy bây giờ đang nằm trong bụng em đây! Linh ngỡ Bích Trâm nói đùa, nên bật cười to: - Em học ai cái kiểu nói đùa đó vậy, Bích Trâm? Bích Trâm nghiêm giọng: - Chính cô Mỹ Lan dạy em nói như vậy. Và anh hãy nhớ lại, cách đây chưa đầy hai tuần thì hai đứa mình còn chăn gối với nhau, bụng em đâu có to như bây giờ! Cái bụng bầu này em có được là sau đêm em bị ngất và được ai đó đưa về căn phòng lạ chỉ có một chiếc giường... Linh hốt hoảng: - Em cũng đã tới đó? Căn phòng có chiếc giường bằng ngà? - Chính xác. Anh đã từng ở đó với Mỹ Lan? Linh như cái bong bóng xì hơi, giọng thễu não: - Mọi việc đều diễn ra ở đó. Và cũng chính nơi đó anh đã phạm tội... Bích Trâm ngạc nhiên: - Anh phạm tội với ai? Linh thở dài: - Thì với Mỹ Lan chớ còn với ai nữa! Hôm đó khi anh gặp em, khiêu vũ với em trong vũ trường xong, lúc đi ra về thì gặp một chiếc xích lô do người đàn ông... Bích Trâm cắt ngang lời: - Người đàn ông mặc áo đỏ, đội nón rộng vành! Linh thất sắc: - Em cũng đã gặp anh ta? Bích Trâm lắc đầu: - May là em chưa gặp, bởi đêm đó em được một người khách nào đó vừa cho tiền vừa báo tin, dặn không cho em tới. Nhưng... Bỗng cô kêu lên: - Lần đó thì không, nhưng trước đó, lúc em bị ngất đi thì... không lẽ người ấy đã đưa em về căn phòng ấy? Cô kể lại cho Linh nghe mọi chuyện. Anh chàng quả quyết: - Chính là như vậy rồi! Đêm hôm đó anh cũng bị bí mật đưa về nơi ấy và tại đó anh gặp Mỹ Lan. - Sao cô ấy cũng ở chỗ đó? - Bây giờ anh mới suy ra ai đó đã bí mật đưa Mỹ Lan về đó, rồi bắt anh tới, chỉ nhằm mục đích buộc anh phải chung chăn gối với Mỹ Lan! Bích Trâm đâu dễ tin lời biện bạch đó, cô nhẹ lắc đầu: - Lâu nay em cứ tin rằng anh là người trung thực, không biết nói dối, nào ngờ cuối cùng thì anh cũng để lộ nguyên hình. Anh nói vậy là để nói rằng chỉ vì bắt buộc nên anh mới ăn nằm với cô Mỹ Lan và sau đó để cô ấy mang bầu chớ gì? - Nói có thể em không tin. Nhưng anh cũng xin nói hết đầu đuôi... Nguyên gia đình của Mỹ Lan trước đó đã muốn ép anh lấy Mỹ Lan, chỉ vì Mỹ Lan giao thiệp rộng, và có yêu một người đàn ông lớn tuổi đã có vợ và là một tay trùm giang hồ, chuyên làm ăn phi pháp, cha mẹ cô ấy không muốn con gái mình lấy một người chồng như vậy, nên cố tình gài cho anh và Mỹ Lan dính với nhau, đặt hai người tụi anh vào thế kẹt, phải lấy nhau nhằm chia cắt chuyện yêu đương linh tinh kia. Anh nhớ ra rồi, tại ngôi nhà đó, vào một đêm thanh vắng, chỉ có hai người tụi anh và... hình như cả hai đã bị cho uống thuốc kích thích, để rồi... mọi chuyện đã xảy ra mà bản thân anh cũng không làm sao kiềm chế nổi! Linh ngừng lại một lát rồi tiếp: - Một lần, rồi hai lần... và sau nhiều lần như vậy. Cho đến một hôm anh được Mỹ Lan báo tin rằng cô ấy đã có bầu được hai tháng. Đó là một tin sét đánh đối với anh, bởi khi đó anh đang tới với em, quyết tâm xây dựng lâu dài với em, người mà anh đã xác định chính là vợ anh sau này! Trong một lúc mất tự chủ và cãi nhau vì anh nghĩ mình bị lợi dụng, nghi ngờ cái thai chưa chắc là của anh, nên anh lớn tiếng, rồi Mỹ Lan cũng lớn tiếng lại, kèm theo những lời thách thức, do đó anh tát cô ấy mấy cái. Mỹ Lan không nhịn, thế là cô ấy lao vào anh, trên tay cầm một con dao rọc giấy, vừa hăm dọa. Trong lúc giằng co, anh đã lỡ tay đẩy con dao trúng vào cổ cô ấy và đâm rất sâu! Cô ấy chết ngay sau đó, khiến anh hoảng sợ bỏ chạy đi. Anh trốn luôn, bởi vậy nhiều ngày anh đã không tới với em được... Bích Trâm bật khóc: - Cuối cùng tội của anh mà em phải nhận hậu quả. Anh thử tưởng tượng xem, mai mốt em sẽ sinh ra một đứa con... ma thì phải làm sao? Linh cũng lo sợ: - Điều này... quả tình anh không nghĩ tới. Anh cũng không biết phải làm sao. Chỉ hy vọng rằng em không phải mang giọt máu ma trong người, mà đó thật sự là giọt máu của anh! Bích Trâm rên rỉ: - Thì đúng là giọt máu của anh chớ còn ai vô đây? Nhưng là giọt máu chuyển từ bụng một hồn ma sang cho em! Linh đau khổ thật sự, anh chợt đứng lên và nói nhanh: - Anh sẽ đi gặp cô ấy! Bích Trâm hốt hoảng: - Gặp một hồn ma, bằng cách nào? - Anh sẽ tới căn phòng đó! - Anh biết chỗ? Linh lắc đầu: - Chính xác thì anh không biết, nhưng anh tin là mình sẽ tìm ra và sẽ gặp Mỹ Lan. Anh sẽ nói phải quấy với cô ấy, chớ không thể để em chịu vạ lây như thế này! Bích Trâm ngăn: - Anh không nên. Xem chừng cô ấy hận anh lắm, sẽ không để anh yên đâu. Linh vẫn quả quyết: - Bằng giá nào thì anh cũng phải làm. Anh đi ra và còn nói một câu mà Bích Trâm chắc sẽ nhớ rất lâu: - Anh mãi mãi yêu em. Những gì anh làm, anh hứa với em không phải là lời hứa suông hay xạo sự. Anh yêu em. Linh bước đi mà còn quay nhìn lại cô với ánh mắt rất lạ... *** Bích Trâm rất đỗi ngạc nhiên khi vừa bước ra khỏi nhà đã gặp ngay một người đàn ông có tuổi bước tới chào và tự giới thiệu:- Tôi là Đỗ Văn, người đã ái mộ cô từ lâu. Nay khó khăn lắm mới tìm được nhà, vậy xin cô dành cho ít thời gian. Bích Trâm từ sau khi nghỉ làm vũ trường đã rất ngại gặp lại người quen cũ, cho nên cô cố tình né tránh: - Tôi đang bệnh, vậy phiền ông để tôi đi khám bệnh đã. Nhưng người đàn ông đã rất nhanh tay, nhét vào tay Bích Trâm một mảnh giấy và nói cũng rất nhanh: - Cô đi ra đường sẽ gặp nguy. Nửa đêm nay cô sẽ sinh và nhớ là khi sinh con phải bọc nó trong một chiếc khăn màu đen hay vật gì đó màu đen cũng được. Như thế mới bảo đảm mạng sống cho cả hai! Nói xong ông ta leo lên xe vù đi mất. Bích Trâm thừ người nhìn theo một lúc rồi chợt rùng mình. Sau đó cô cảm thấy bất an nên quay trở vô nhà. Vừa gặp bà chủ nhà bước ra, bà ngạc nhiên hỏi: - Bụng bầu bì như vậy sao đi đâu không kêu xích lô mà đi, lại đi bộ chi cho mệt vậy? - Dạ, con chỉ đi gần thôi. Bà kéo tay Bích Trâm vô nhà: - Lâu nay cô dọn tới ở mà chưa có dịp vô nhà chơi. Nay nghỉ ở nhà, nằm hoài trong phòng tù túng lắm, vậy thường xuyên qua bên đây chơi với bác cho vui. Bác ở có một mình, mà thấy cháu hiền lành dễ thương, nên mến... Không từ chối được nên Bích Trâm đành phải theo vào phòng khách ngôi nhà lớn. Bà chủ nhà tỏ ra thân thiện: - Ban đầu khi biết được cháu làm nghề gái nhảy thì ý bác không muốn cho thuê căn phòng đó bởi nói thiệt, bác có hơi ác cảm với cái nghề ấy. Tuy nhiên, khi cháu vô ở được vài tuần thì bác lại đổi ý, còn muốn hạ tiền nhà cho cháu nữa, nhất là mấy bữa thấy cháu bệnh. Mà nè... Bà hơi ngập ngừng một lúc rồi mới hỏi: - Hỏi thiệt cháu, mới mấy tuần trước bác đâu thấy cái bụng của cháu, mà sao nay lại... lớn như sắp sinh vậy? Hay là cháu nai nịt để đi làm? Bích Trâm đáng lý ra nên giấu, nhưng chẳng hiểu sao cô lại tuôn ra hết, kể cho bà chủ nhà nghe chuyện cô đang gặp phải. Nghe xong bà hốt hoảng: - Như vậy là không xong rồi! Mang thai của quỷ ma thì... làm sao cháu sống được! Mà còn nguy hiểm nữa... Bà vừa kéo tay Bích Trâm vừa nói: - Đi với bác lại chỗ này, bác có biết một ông thầy chuyên trừ tà yểm quỷ, phải nhờ ông ta giúp cháu mới được! Bích Trâm hoảng hốt: - Không được đâu, con đã hứa với người bắt con mang hộ cái thai này rồi. Con mà làm trái lời thì... con sợ lắm! Cô giật tay ra và mất thăng bằng ngã vào vách, nơi có đặt chiếc đi văng gỗ, Bích Trâm bị té ngồi xuống đó và một cách ngẫu nhiên cô nhìn lên vách tường, nơi có treo ảnh chân dung lớn của một người đàn ông. Vừa trông thấy Bích Trâm đã kêu lên: - Người... người này... là... là... Thấy Bích Trâm có vẻ sợ, bà chủ nhà nói liền: - Đó là chân dung của ông nhà tôi. Bích Trâm ngơ ngác: - Ông ấy... có phải tên là Đỗ Văn không? Bà chủ nhà giật mình: - Lâu nay ông ấy không còn ở nhà nữa, sao cháu biết? - Cháu mới vừa gặp bác ấy ngay trước cửa nhà. Bác ấy còn giúp cháu... Cô đưa ra mảnh giấy vừa rồi. Bà chủ nhà đọc xong chợt kêu lên: - Những gì cháu kể hồi nãy có thể đúng với đứa con riêng của ông ấy! Bích Trâm ngơ ngác: - Cluyện thế nào cháu không hiểu? Ngập ngừng một lúc rồi bà chủ nhà mới kể: - Ông Đỗ Văn chồng bác cách nay hơn một năm bị bác đuổi ra khỏi nhà bởi lý do là... có gia đình riêng với người đàn bà khác đã từ lâu mà tới lúc ấy bác mới phát hiện được. Ông ấy có với người đàn bà kia một đứa con gái năm nay tuổi cỡ bằng cháu. Mà nghe nói cách nay hơn hai tháng đã xảy ra một vụ gì đó, khiến cho đứa con gái đó bị chết thảm! Ông ấy buồn lắm và có về đây một lần xin bác cho trở lại, nhưng bác vẫn cương quyết không chấp nhận. Lúc nãy cháu gặp có thể là ông ta lại muốn về đây để xin xỏ nữa... Vừa khi ấy chợt có tiếng đẩy cánh cổng sắt, bà chủ nhà giật mình hỏi: - Lúc nãy cháu vô nhà có khóa cổng lại không? Bích Trâm kêu lên: - Dạ, cháu vô ý quên rồi... Vừa lúc một người đàn ông xuất hiện. Bích Trâm sửng sốt: - Ông Đỗ Văn! Bà chủ nhà trừng mắt: - Ai cho phép ông trở về đây! Ông ta nói nhanh: - Tôi không yên tâm nên đánh bạo vô nhà để báo cho cô gái này một tin xấu. Cậu người yêu của cô đang gặp nguy hiểm! Bích Trâm kinh hãi: - Sao, anh Linh... - Cậu ấy đang ở nhà tôi và sẽ bị con Mỹ Lan nó giết chết! Rồi ông giải thích nhanh để mọi người hiểu: - Mỹ Lan là đứa con riêng của tôi, cách nay hơn một tháng, nó đã bị chết trong một lần cãi nhau với người yêu là cậu Linh. Người mà sau này tôi mới biết cũng chính là người yêu của cô Bích Trâm đây. Chuyện con Mỹ Lan chết thì coi như xui rủi, nên tôi cũng không khó dễ hay truy cứu gì cậu Linh, nhưng con nhỏ thì không. Nó... thành oan hồn và quyết phải báo thù! Cái vong của nó linh lắm, cứ hiện lên và tìm cách báo oán người đã làm cho nó chết, cũng như những người liên quan tới kẻ nó muốn hại. Tình cờ tôi biết cô Bích Trâm đây bị nó đưa về nhà và ra tay hãm hại bằng cách khiến cô này mang cái thai của nó và sẽ là mầm họa cho cậu Linh sau này. Tôi thương con, nhưng không muốn nó ra tay độc ác, hại người, bởi vậy tôi luôn lén tìm cách cứu cô đây và cả cậu Linh nữa. Nhưng chẳng hiểu sao lúc nãy cậu ấy lại tự tìm tới nhà và gây sự với con Mỹ Lan. Mà như vậy thì chỉ có chết mà thôi! Bích Trâm quên rằng mình đang mang bầu, cô vụt chạy ra ngoài, miệng nói lảm nhảm: - Linh ơi đừng... đừng làm thế! Ông Đỗ Văn phải chạy theo và nói: - Cô đâu có nhớ chỗ đó, để tôi dẫn đường cho! Bích Trâm bước đi như kẻ mộng du... *** Một người đàn bà tuổi cỡ bà chủ nhà của Bích Trâm đứng ngay trước nhà, vừa thấy ông Đỗ Văn về thì mừng rơn:- Tôi sốt ruột hết sức, sao ông đi gì mà lâu dữ vậy? Mà cô gái đó đâu, ông có dẫn về không? Nhìn sang Bích Trâm bà vui hẳn lên: - Đây rồi. Nhưng... sao lại là người có bầu? Nó biểu kiếm mấy cô gái làm nghề vũ nữ, càng trẻ đẹp chừng nào tốt chừng nấy mà... Ông Đỗ Văn vội kéo tay bà vào một góc nhà, nói nhanh: - Tôi không thể làm theo lời nó được! Lần trước chính vì thương nó, muốn nó không quậy phá mà tôi đã hại cô này, khiến cho cổ mang cái thai oan nghiệt của nó. Dòng máu ma đang trong người cô ấy! Rồi ông quay sang Bích Trâm nói rất khẽ: - Lúc nãy tôi ngăn không cho cô đi là vì vậy. Tôi không nỡ tiếp tay cho con Mỹ Lan hại người nữa. Chúng tôi khổ lắm cô ơi... Người đàn bà lúc này cũng đã hiểu và cũng khóc với ông. Một lúc sau họ cùng thố lộ: - Mỹ Lan là con gái chúng tôi. Nó vốn là đứa bướng bỉnh, quen được nuông chiều nên hư hỏng. Nó quan hệ tình cảm tùm lum nên lỡ mang bầu với một thằng không ra gì, đến khi chúng tôi hay được thì đã muộn, cho nên chỉ còn cách là tìm một người con trai đàng hoàng ép nó phải lấy, để cứu danh dự nhà này. Nào ngờ... Bà khóc nức nở, nói tiếp: - Oan hồn nó thành ma hiện về và bắt ba nó đây phải đi tìm những cô gái làm nghề vũ nữ, mà nó cho là đã giành người yêu với nó, để báo oán! Bây giờ Bích Trâm mới lên tiếng: - Sao cô ấy không tự đi tìm, mà phải nhờ đến bác trai đây? Ông Đỗ Văn nói: - Oan hồn nó chỉ linh ứng trong phòng nơi nó bị chết mà thôi. - Nhưng cô ta đã tới tận nơi cháu ở một lần hôm trước! Bà vợ nức nở: - Chỉ bởi lần đó nó sốt ruột, muốn đạt được mục đích sớm nên mới xuất vong đi liều. Bởi vậy khi trở về nó suýt nữa đã... tiêu tán hồn phách! Bà nói điều này ra rồi như biết mình đã lỡ lời, nên vội im lặng. Ông Đỗ Văn sau mấy giây lưỡng lự đành phải tiết lộ hết: - Hồn phách của nó tuy quậy phá, nhưng với người ngoài, còn với chúng tôi thì nó vẫn là đứa con gái duy nhất, dẫu biết nó chỉ còn là hồn ma bóng quế, nhưng chúng tôi vẫn không nỡ để nó biến đi. Bà chỉ tay vào phòng trong: - Có thằng Linh tới, đang ở trong đó. Thấy nó cũng tội nghiệp, nhưng tôi không thể cản được... Ông Đỗ Văn chép miệng: - Oan nghiệt! Rồi ông quay sang Bích Trâm, nói khẽ: - Nó đã bắt cô mang giùm giọt máu nợ của nó trong người thì chắc nó sẽ không hại cô nữa đâu, vậy may ra đích thân cô vào trong đó năn nỉ nó đừng giết hại cậu Linh, hy vọng nó sẽ nghe... Bích Trâm nói nhanh: - Cháu sẽ làm, dẫu có chết cũng được. Cháu phải cứu anh Linh. Vừa dứt lời Bích Trâm đã chạy nhanh vào nhà trong, mặc dù không nhớ lối vào. Cũng may, cô nghe văng vẳng giọng của Linh trong một gian phòng phía tay trái. Đẩy mạnh cửa vào, Bích Trâm sững sờ khi trước mặt mình hiện ra căn phòng giống hệt như căn phòng hôm trước! Linh đang quỳ gối trước chiếc giường trống không, nhưng cứ nhìn nét mặt thất thần của anh cũng đủ biết là Linh đang sợ hãi tột cùng! - Linh! Sao anh... Lời Bích Trâm chưa dứt thì mấy chiếc gối từ trên giường đã bay vù vù nhắm thẳng vào cô. Bị xô ngược về sau, Bích Trâm bàng hoàng chợt hiểu đây là căn phòng của hồn ma cô Mỹ Lan. Bỗng nghe Linh cất tiếng: - Xin cô tha cho Bích Trâm, cô ấy là người hiền lương, vô tội. Tôi xin nhận hết mọi trách nhiệm, kể cả việc nuôi đứa con trong bụng cô ấy, miễn sao cô đừng bắt cô ấy phải tiếp tục mang bầu... Một giọng sắc lạnh vang lên: - Không mang bầu thì làm sao sinh con được! Chỉ bắt nó mang bầu và sinh con đã là nương nhẹ lắm rồi, chớ đúng ra hễ đứa nào là vũ nữ thì phải giết hết! Những đứa này chuyên làm mê đắm đàn ông, khiến họ bỏ bê gia đình, phụ rẫy người yêu. - Nhưng... cô ấy còn phải làm để sống. Vả lại mang cái thai đó, khi đẻ ra thì... - Máu ma mà do người đẻ thì vẫn là người, có sao đâu. Bích Trâm cũng sụp xuống lạy mấy lạy liền, van xin: - Tôi xin chấp nhận mang thai đứa bé này và sinh nở đàng hoàng theo ý cô. Chỉ xin cô đừng hại anh Linh. Cô phải để anh ấy sống mà làm lụng nuôi đứa nhỏ, chớ đời vũ nữ của tôi từ nay coi như hết. Tôi lạy cô... Linh giành nói: - Có giết thì hãy giết tôi, còn cô ấy xin hãy để cho sống. Tôi van cô... Linh lao tới quỳ chắn ngang trước mặt Bích Trâm. Phần cô vũ nữ thì cũng cương quyết không kém, cô bất thần lao tới phía trước có lẽ muốn giành chết với người yêu. Nhưng do bụng có mang nặng nề nên vấp chân, Bích Trâm ngã chúi nhủi đầu xuống sàn nhà, bụng đập xuống thật mạnh. Một tiếng thét kinh hoàng vang lên, cùng lúc ở phần bụng dưới của Bích Trâm máu tràn ra, thấm ướt cả một vũng! Tiếng thét tiếp theo là của người khuất mặt Mỹ Lan. Tiếng thét không hiểu ý nghĩa là gì, chỉ biết sau đó thì căn phòng tối sầm lại, cùng lúc với những tiếng động ầm ầm liên tiếp. Hình như mọi cửa sổ, cửa cái đều đang bị đập mạnh. Vừa lúc có tiếng kêu của vợ chồng ông Đỗ Văn: - Mỹ Lan ơi, đừng! Họ xuất hiện ngay cửa phòng và chỉ kịp nhìn thấy một luồng sáng lập lòe thoát ra khỏi cửa sổ! - Mỹ Lan! Giọng bà mẹ gào lên rồi quỵ xuống. Ông Đỗ Văn cũng đổ xuống bên cạnh vợ, thều thào: - Nó... nó đi rồi. Nó vĩnh viễn đi rồi... Một luồng khí lạnh thổi qua, khiến hai ông bà đều chìm vào cơn mê, đầu óc lờ mờ... Khá lâu sau... Lần lượt Linh mở mắt trước. Rồi tới Bích Trâm... Và sau cùng vợ chồng ông Đỗ Văn tỉnh lại... Khi cả bốn người hoàn hồn thì căn phòng đã sáng trở lại. Có tiếng trẻ con khóc oe oe khiến Linh giật mình kêu lên: - Con... con nít! Trời ơi, Bích Trâm sinh rồi! Có lẽ cú té ngã vừa rồi đã làm động cái thai và Bích Trâm đã sanh non! Bà mẹ Mỹ Lan hốt hoảng: - Thai mới năm tháng mà sinh sao được! Nhưng lúc ấy tiếng khóc lại vang lên nữa. Linh nhìn xuống thấy một hài nhi đỏ hỏn nằm trên sàn, nó đang huơ đạp và khóc dữ dội, chứng tỏ là một hài nhi còn sống. Anh quýnh lên: - Đứa bé còn sống! Chẳng hiểu sao lúc ấy Bích Trâm cũng bật dậy và một cách tự nhiên, cô bế đứa bé lên, nhẹ nhàng lấy vạt áo màu đen của mình trùm nó lại, vừa thốt lên: - Tội nghiệp... Ông Đỗ Văn mau mắn chạy đi, lát sau ông trở lại với chiếc khăn màu xanh đen, đưa cho Bích Trâm và giục: - Mau trùm lại cho cháu! Lúc ấy hầu như ai cũng quên thân phận của đứa bé. Hay đúng hơn, họ không muốn nghĩ đó là một giọt máu ma! *** Đứa trẻ sinh thiếu tháng tưởng khó mà nuôi được, nào ngờ sau đó nó sống khỏe và lớn rất nhanh! Chỉ mới một tháng tuổi mà trông con bé chẳng khác một đứa trẻ bốn năm tháng, khiến ông bà Đỗ Văn cũng phải vui mừng:- Vậy là mình có cháu rồi! Ông Đỗ Văn muốn nhắc bà vợ về gốc tích của đứa trẻ, nhưng nhìn nó thấy thương quá nên ông cũng không nỡ nói ra. Linh thì hết nhìn Bích Trâm rồi nhìn đứa bé, anh thốt lên tự tấm lòng: - Mình có con rồi! Bích Trâm cũng âu yếm ôm con vào lòng, nói như bất cứ người mẹ nào vừa có đứa con đầu lòng: - Hãy ngoan đi cục cưng của mẹ. Đứa bé nhoẻn miệng cười và chớp chớp mắt liền mấy cái, như nghe và hiểu được những lời người lớn vừa nói. Đặc biệt là kể từ sau khi khóc lần đầu khi mới sinh ra, đến nay được một tháng mà nó chưa hề khóc tiếng nào! Linh khẽ nói với Bích Trâm: - Nó thương hai vợ chồng đang thất nghiệp, nên không làm khó mình đó em! Ông Đỗ Văn đề nghị: - Dẫu sao đây cũng là cháu của chúng tôi, nên từ nay cho chúng tôi nhận nó là... cháu ngoại và hai cháu cứ ở lại đây mọi thứ tôi lo. Nhìn ánh mắt chân thành của ông bà, Bích Trâm và Linh nhẹ gật đầu: - Chúng cháu xin nhận. Cho đến khi nào đứa bé cứng cáp thì chúng cháu sẽ liệu... - Không liệu gì hết. Chúng tôi không còn con cái nào khác, nên hai đứa như con ruột của nhà này! Bỗng đứa bé cười thành tiếng rồi đưa tay huơ huơ nhiều cái như đồng tình! Bà mẹ Mỹ Lan phải kêu lên: - Cháu tôi nó nhận lời bà ngoại nó rồi! *** Tuy cố quên nguồn gốc của đứa bé, nhưng cứ thỉnh thoảng Bích Trâm vẫn giật mình khi nhớ lại. Cô tâm sự với Linh, nhưng anh chàng vẫn lạc quan nói:- Mặc kệ. Với tấm lòng thành, mình cứ van vái và cầu mong cho Mỹ Lan thương tình, để mọi việc trôi qua êm thắm... Chẳng hiểu có phải do lòng thành của họ, hay do Mỹ Lan đã vĩnh viễn đi về cõi hư vô, mà sau đó nhiều ngày, mọi việc vẫn bình lặng trôi qua... Đứa bé lớn lên bình thường không có biểu hiện của dòng máu ma. Nó phát triển bụ bẫm, trí não thông minh và được mọi người yêu quý. Khi bé được ba tuổi thì Linh và Bích Trâm mới dám tổ chức lễ cưới. Ông bà Đỗ Văn đứng về phía nhà gái, tác hợp cho hai người. Con bé Thu Minh chạy lăng quăng theo chân bố mẹ khiến mọi người thích thú, khen không ngớt lời... HỒN VỀ NỬA ĐÊM Nhìn đồng hồ trên tường đã hơn chín giờ mà cô con gái rượu vẫn chưa dậy, bà Huyện Xuân lo lắng: - Hẹn với người ta mười giờ rưỡi, mà giờ này con Cẩm Hồng vẫn chưa thức thì làm sao đi cho kịp. Cẩm Nhung, cô chị lớn bênh em: - Hôm qua đi cả ngày, nó mệt nên cho nó ngủ thêm chút nữa. Mình đi xe hơi chớ xuồng ghe gì đâu mà má lo. Bà Huyện vẫn không an tâm: - Đi xe nhưng đường xá gồ ghề, đâu có lẹ hơn đi ghe. Đây qua đó không khéo phải mất hơn hai giờ đồng hồ! Cẩm Hồng đã dậy, từ trong phòng bước ra mà vẫn còn ngáp dài: - Đi qua dự tiệc chớ có phải đi hỏi vợ đâu mà má làm dữ quá trời! Nhìn thấy bộ dạng con gái, bà Huyện Xuân la lớn lên: - Sao chưa thay đồ mà còn ở đó con... con khỉ! Bà tính mắng con, nhưng mấy khi bà nặng lời với cô con gái rượu mà cả ông bà đều cưng như cưng trứng này. Vả lại, hôm nay nhìn thấy con trong bộ đồ ngủ mỏng manh, khiêu gợi, tự dưng bà cũng xao xuyến... Bà chép miệng: - Có con gái như miếng thịt mỡ như mày, nếu không gả chồng cho sớm thì chắc tao với ba mày mất ăn mất ngủ rồi mau già cho coi! Cẩm Nhung cũng nói: - Con gái út má như vậy mà lo gì không lấy được chồng mà má cứ quýnh cả lên! Việc gì má phải đưa Cẩm Hồng qua bên đó chào khách, phải để cho họ đến cầu cạnh mình chớ! Bà Huyện Xuân nhẹ giọng: - Bộ tao không bịết sao mà phải nhắc. Sở dĩ mình phải qua tận bên đó là vì bữa nay có mặt cả nhà của quan chủ tỉnh, trong đó có thằng con trai mới về nhậm chức. Không phải riêng má, mà còn hàng chục người khác cũng chực chờ dịp này. Lát nữa mày có đi theo thì sẽ thấy, bữa nay chẳng khác gì cuộc thi... hoa hậu cho coi! Cẩm Nhung quay sang em gái: - Vậy lát nữa mày bận bộ đồ của lão gì đó đi Tây về tặng hôm trước nhé, cho tụi nó lé mắt luôn! Mày bận đồ đó thì tao bảo đảm hoa khôi xứ Nam kỳ lục tỉnh này đều thua xa! Cẩm Hồng không hứng thú lắm với bữa tiệc này, nhưng nghe chị nói cũng nheo mắt cười: - Chơi thì chơi, sợ gì! Ba mẹ con vừa ra tới cổng thì gặp ngay một chiếc xe trâu chở đầy lúa đang chạy ngược chiều với tốc độ kinh hoàng, cứ nhắm thẳng hướng xe của họ mà lao vào. Bà Huyện Xuân hốt hoảng la lớn: - Coi chừng!!! Tiếng la của bà chỉ đủ cho tài xế Ba Hỷ lách xe sang trái một chút, chưa thể né kịp đà lao tới như tên bắn của hai con trâu điên! Trên xe mọi người đều nhắm mắt lại... chờ chết! Nhưng vừa lúc đó thì nghe rầm một tiếng như trời long đất lở, ba người choàng mở mắt ra và... tưởng như mình đang mơ, chiếc xe trâu lật nằm chổng gọng ở dưới ruộng phía tay phải, phía trước xe hơi chở họ có một người đang đứng dang rộng tay như che đỡ khiến hai con trâu điên không đụng được vào xe! Có gần chục người gần đó bu lại, ai cũng hết vía: - Trời ơi, không thể tưởng tượng nổi! Chiếc xe trâu của Bảy Hổ lao như tên bắn, hất người đánh xe té cách mấy chục thước và cứ tưởng là lao thẳng vào xe hơi của bà Huyện, nào ngờ... Họ nhìn người đàn ông có tuổi đang còn đứng dang tay như nhìn một vị thiên thần. Có người thốt lên: - Chẳng hiểu ông ấy từ đâu xẹt ra, chận ngay đầu hai con trâu nổi điên như người tự sát! Vậy mà không ngờ hai con trâu vừa nhìn thấy ông ta thì đã lách sang bên kia và sẵn đà lao thẳng xuống ruộng luôn! Lúc này bà Huyện Xuân mới kịp hoàn hồn, bà ló đầu ra ngoài xe la oé lên: - Xe điên hay sao mà chạy như vậy chớ! Bảy Hổ, chủ nhân chiếc xe gây tai nạn mình mẩy lấm lem bò từ mé ruộng lên, khúm núm trước bà Huyện: - Dạ xin lỗi bà. Hai con trâu đang đi bình thường, chẳng hiểu tại sao lại nổi điên mà chính con cũng không làm sao kiểm soát được nó. Cũng may có ông đây... Lúc này người đàn ông kia mới quay lại, nói đỡ cho Bảy Hổ: - Một khi trâu mà gặp ma thì có giết chết nó cũng chạy! Số của bà và các cô còn lớn, nên vừa rồi mới thoát khỏi nạn tai. Ông nói xong cúi chào bà Huyện một cách trịnh trọng. Bà Huyện Xuân bỗng kêu lên: - Thầy... thầy là thầy Hai Hội ở... ở... Người đàn ông đó gật đầu: - Trí nhớ bà Huyện tốt quá. Đã gần năm năm rồi còn gì... Ông vừa dợm bước đi thì bà Huyện Xuân gọi giật lại: - Thầy ở Trà Vinh mà sao đi qua đây? Để tôi cám ơn thầy... Bà định bước xuống xe thì ông ấy quay lại, nói một cách tự nhiên: - Nếu bà và các cô đây không phiền thì tôi xin quá giang ra tới cầu đúc, trên đường đi tôi sẽ nói thêm câu chuyện có liên quan tới quý vị. Bà Huyện Xuân phải quay sang hai con, nói để họ không thắc mắc: - Thầy Hai đây ngày trước cũng từng cứu mạng má và ba con một lần rồi. Hồi đó nếu thầy không báo trước thì ba má đã bị bọn cướp giết chết ở nhà ông bà nội các con rồi! Ông thầy cười hiền hòa: - Chuyện cũ rồi. Nhưng nó có liên quan tới chuyện vừa rồi... Bà Huyện giật mình: - Hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau, lại xảy ra ở hai thời điểm quá xa nhau, sao lại có liên quan? Tài xế Ba Hỷ cho xe chạy chậm ra hướng cầu đúc để chủ và khách dễ nói chuyện. Bà Huyện Xuân hỏi: - Thầy nói rõ coi, sao lại liên quan? Ông thầy chợt nhìn vào Cẩm Hổng rồi nói: - Vừa rồi hai con trâu kéo xe nhắm vào cô này, chớ không phải bà! Cũng giống như ngày xưa, tai nạn nhắm vào ông Huyện mà suýt nữa bà bị họa lây! Cẩm Hồng từ nào giờ không quen với chuyện này, nên vừa nghe nói đã kêu lên: - Ông nói gì vậy? Bộ điên sao... Bà Huyện Xuân hốt hoảng: - Đừng hỗn con, thầy đây... Nhưng ông thầy không chút phật ý, từ tốn nói: - Không sao, chuyện chưa đến thì làm sao những người trẻ như cô đây hiểu thấu. Nếu bà và cô không phiền lòng, tôi sẽ nói thẳng ra điều biết được. Nhất là chuyện vừa rồi, chẳng phải khi không mà hai con trâu nổi điên và nhắm vào xe của bà đâu! Cẩm Hồng cau mày, tỏ vẻ khó chịu, nhưng bà Huyện Xuân thì nói liền: - Thầy Hai cứ nói đi! - Cô đây bị ma ám! Câu nói thẳng đó khiến cho Cẩm Hồng chẳng những không sợ mà còn nổi điên: - Ông này... không được nói bậy nghe chưa! Lúc ấy xe vừa ra tới cầu đúc, ông thầy ra dấu cho ngừng lại, rồi nói trước khi bước xuống xe: - Hai con trâu lúc nãy bị ma khiến nên tự dưng nó nổi điên và lao vào xe hơi, đáng lý hai xe đã đụng nhau và chuyện gì xảy ra chắc quý vị đều biết! Tuy nhiên, do cái mạng của bà Huyện đây còn quá lớn, nên cũng như lần trước, khi tên cướp cầm con dao bầu định xả xuống chém ông Huyện thì bị cái vong của người khuất mặt đỡ cho, nên ông bà toàn mạng. Thật ra lần đó, cũng như lần này tuy tôi là người đứng ra che chắn, chớ thật ra người che đỡ đó là người khuất mặt, tôi chỉ là người được lệnh làm thay thôi... Ông nói tới đó thì bước xuống xe và cúi đầu chào rất trân trọng: - Xin cám ơn bà Huyện. Bà nên cẩn trọng và đề phòng điều không hay vẫn còn đeo đuổi. Nhưng hy vọng cái mạng lớn của bà vẫn đủ sức che chở cho người thân của mình! Ông nói xong quay bước đi rất nhanh. Bà Huyện Xuân nhảy xuống xe định chạy theo, nhưng đã chậm. Ông ta đã biến mất vào dòng xe cộ đang chạy. Cẩm Hồng càu nhàu: - Má tin chi những lời nhảm nhí đó! Riêng Cẩm Nhung thì có vẻ hoang mang: - Ông thầy này nói thấy ghê quá! Bà Huyện Xuân đăm chiêu một lúc rồi nhẹ giọng nói: - Ông nhắc chuyện năm xưa má thấy đúng. Hồi đó xảy ra chuyện đám cướp của giết người đó đột nhập vào nhà ông bà nội con, ngoài cướp tài sản chúng còn cố ý giết người nữa. Mà người chúng nhầm trước tiên là ba con, bởi khi ấy ba con vừa được ông nội giao cho cai quản sản nghiệp, quyền lực và tiền của nằm trong tay khá nhiều, bởi vậy bọn cướp nhắm vào ông, muốn bắt cóc ông để tống tiền, nhưng bị ông chống cự nên thằng đầu đảng giơ dao tính chém, may nhờ ông thầy Hội này xuất hiện như một vị thần tiên, đã kịp đá văng cây dao bầu dài cả thước đang xả xuống đầu ba con! Cũng như lần này... Bà nhớ lại chiếc xe trâu hồi nãy mà rùng mình: - Ông ấy lại một lần nữa cứu mình! Cẩm Nhung hỏi: - Má biết nhà của ông ấy ở đâu không, bữa nào mình đem lễ vật tới tạ ơn. Bà Huyện Xuân lắc đầu: - Má chỉ biết tên ông ta là Hai Hội, nên gọi là thầy Hai Hội, chớ nhà cửa ổng ở đâu, làm nghề gì thì má hoàn toàn mù tịt. Cẩm Hồng vẫn nói với giọng thiếu thân thiện: - Ôi, biết làm gì mấy ông thầy đó cho thêm mệt! Cô nàng dựa lưng ra băng ghế, lát sau là thở đều trong giấc ngủ ngon. Bà Huyện Xuân lắc đầu: - Con này sắp lấy chồng tới nơi mà chỉ biết ăn với ngủ! Phải mất hơn một tiếng đồng hồ xe mới tới nơi. Khách khứa đã tới hầu như đủ hết. Trong số này có cả ông Huyện Xuân, bởi ông đi dự họp ở tỉnh rồi cùng về với chủ nhân bữa tiệc hôm nay, ngài phó tỉnh trưởng và là anh ruột của ông. Vừa thấy vợ con vào tới Huyện Xuân đã lên tiếng ngay: - Nãy giờ ở đây chỉ nhắc mỗi mẹ con bà thôi, làm tui phát ghen! Bà Huyện Xuân cười xã giao: - Chắc là nhắc vì mẹ con tui đi trễ! Thành thật xin lỗi quý vị. Có một vị tướng tá oai vệ vội lên tiếng: - Có trễ mấy mà tới đủ mẹ con là được rồi! Nhìn lại người vừa nói, bà Huyện Xuân vội giục hai con: - Chào ngài tỉnh trưởng đi con! Cẩm Hồng chưa kịp chào thì vị đó đã bước tới nắm tay, vừa giới thiệu với mọi người: - Nãy giờ tôi chờ đợi chỉ để nói với mọi người, đây là con dâu của tôi! Quá bất ngờ ngay cả với vợ chồng Huyện Xuân, chớ đừng nói là Cẩm Hồng. Cô nàng lúng túng thấy rõ: - Dạ... dạ... Ngài tỉnh trưởng nói to hơn, cố ý để cho cả bữa tiệc nghe, bởi lúc ấy mọi con mắt đang đổ dồn về phía ông: - Tôi chưa hỏi ý anh chị Huyện, nhưng xin mạo muội nói thẳng, người mà chúng tôi chọn để cưới cho trai mình là cháu Cẩm Hồng này! Xin mọi người cho một tràng pháo tay! Tiếng vỗ tay ầm vang. Nhưng chen lẫn trong những tiếng hoan hô đó cũng có không ít những tức tối. Bởi có đến gần một chục gia đình dẫn con gái tới chỉ mong nhận được lời tuyên bố như vừa rồi. Họ thất vọng và đâm ra ganh tị với mẹ con bà Huyện Xuân. Tuy vậy, khi Cẩm Hồng được mời tới bàn dành riêng cho ngài tỉnh trưởng và gia đình ngồi, thì hầu như mọi người đều phải trầm trồ khi nhìn thấy bộ váy màu cánh sen mà cô nàng mặc, nó đẹp và sang trọng, ăn đứt những bộ cánh của con gái các nhà quyền quý khác trong bữa tiệc. Quả là Cẩm Nhung có cặp mắt tinh đời, khi khuyên em gái chọn bộ cánh này. Lúc này đứng đằng xa nhìn em gái ngồi chung với gia đình tỉnh trưởng, Cẩm Nhung nói khẽ với mẹ: - Má nhìn coi kìa, có bao cặp mắt đang ganh tị với nó và bà tỉnh trưởng đang nhìn nó đầy say mê, thật không uổng công đi bữa nay! Trong lúc đó thì ở bàn riêng, bà tỉnh trưởng giải thích việc vắng mặt của cậu con trai là nhân vật chính bữa nay: - Nó đi mua hoa dành riêng tặng cho cháu! Cẩm Hồng quả thật bất ngờ, cô không tin là mình nghe đúng: - Ảnh nào biết con đâu mà mua hoa tặng? Bà tỉnh trưởng nói: - Tuy chưa gặp cháu lần nào, cũng chưa biết đẹp xấu ra sao, chỉ mới nghe bác nói sơ qua mà nó đã mê rồi! Thằng này giống tánh ba nó, làm gì là làm cái rụp, không chần chừ! - Dạ.... Trong lúc họ đang nói chuyện thì chợt có nhiều cô ồ lên và cười tươi khi thấy một chàng trai xuất hiện với bó hoa dại thật lớn trên tay. Bà tỉnh trưởng bảo: - Thằng Toàn nhà bác đó! Toàn bước thẳng tới chỗ Cẩm Hồng ngồi và thật tự nhiên đưa bó hoa: - Tuy không phải hoa hồng hay hoa lan, nhưng đây là tấm lòng thành, mong cô nương nhận cho! Bà tỉnh trưởng thêm vô: - Đây là Cẩm Hồng, con gái cưng của bác Huyện Xuân, người mà ba má đã chọn làm con dâu, vậy con phải gọi khác chớ, sao lại là cô nương được! Toàn tỏ ra lịch lãm: - Nếu được phép thì xin gọi... em nhé? Cẩm Hồng vốn là gái tân thời, từng giao tiếp bạn trai nhiều khi đi học trường Tây ở Sài Gòn, nhưng phải công nhận anh chàng này quả là lịch lãm và... có duyên. Cô nhoẻn miệng cười đáp lại: - Dù hoa không quý, nhưng tấm lòng thì quý gấp chục lần hơn! Xin cám ơn anh Toàn! Cô nhận bó hoa và rất lịch sự đưa lên mũi ngửi ngay và bất chợt nhìn thấy một mảnh giấy nhỏ gắn kèm rất kín đáo ở giữa bó hoa. Không cần lấy ra, Hồng cũng đọc được mấy chữ viết tháo: - Không nên lấy người này. Cô định lờ đi, nhưng lúc ấy bà tỉnh trưởng đã nhìn thấy, vội hỏi: - Cái gì vậy con, sâu hả? Cẩm Hồng lúng túng: - Dạ không... Tờ giấy nhỏ vô tình rơi ra và Toàn chụp được lại càng khiến Cẩm Hồng mất tự chủ, cô lắp bắp: - Cái... cái đó… Cô định chụp lại, nhưng Toàn đã đưa lên nhìn kỹ... và cười xòa: - Tờ giấy trắng! Tưởng đó là tờ giấy khác, Cẩm Hồng lén nhìn lại và vô cùng ngạc nhiên khi mảnh giấy lúc nãy không còn nữa! Thấy Cẩm Hồng có vẻ không tự nhiên, sắc mặt hơi tái đi, Toàn rất tâm lý giằng lại bó hoa và lên tiếng ngay: - Con hơi hồ đồ, một đóa hoa hương sắc như vầy mà để cho cầm những cánh hoa dại trong tay khác nào hạ thấp người đẹp! Thảo nào lúc nãy khi con đang hái hoa ngoài vườn thì có một ông già đã ngăn con lại, bảo rằng đừng tặng người đẹp loài hoa này. Câu nói chỉ lờ mờ như vậy, nhưng bỗng Cẩm Hồng vụt hỏi: - Có phải một ông già có búi tóc trên đầu không? Toàn ngạc nhiên: - Ủa, sao em biết ông này? Chắc là người thân? Cẩm Hồng càng mất tự nhiên: - Không... không phải. Ông ấy... Ông tỉnh trưởng phải chen vào nói: - Bất cứ ai thấy con hái hoa dại để tặng người đẹp cũng đều khuyên như vậy thôi! Ba cũng thế và ba khuyên con nên chuộc lỗi bằng cách lái xe đưa Cẩm Hồng ra chợ thị xã để tìm mua hoa quý thay ngay bó hoa này, coi như là chuộc lỗi! Bà tỉnh trưởng cũng tán đồng: - Phải đó. Để má xin phép ông bà Huyện cho. Bà chưa kịp bước sang thì cả vợ chồng Huyện Xuân đã nhanh nhẩu bước tới và nói liền: - Cần gì phép tắc. Cháu Toàn cứ đưa Cẩm Hồng đi. Nhưng hai bác xin nhắc, con gái bác nó còn khờ và nhút nhát lắm, cháu chớ có ăn hiếp tội nghiệp nó! Toàn đưa Cẩm Hồng đi trước nhiều cặp mắt khó chịu, tức tối... *** Cẩm Hồng nhìn chiếc xe mui trần thì thích thú lắm, reo lên:- Xe của anh hả, tuyệt lắm... - Em thích lái không? Còn gì bằng, Cẩm Hồng hí hửng: - Em biết lái, anh để cho em lái. Cô ngồi vào trước tay lái và tỏ ra sành điệu khi nổ máy và phóng vèo ra đường như một tay lái chuyên nghiệp, trước sự thán phục của Toàn: - Em lái còn cứng hơn anh nữa. Đường ở đây hẹp và nhiều xe thô sơ đi ẩu quá, anh không dám lái nhanh. Câu nói đó còn hơn một lời khen, khiến cho Cẩm Hồng hứng chí, nhấn ga sâu hơn. Chiếc xe lao đi vun vút giữa đường quê, lại do một cô gái lái nữa, nên mọi người đi đường đều đưa mắt nhìn và thán phục ra lời: - Con gái mà giỏi quá, lái xe còn hơn đàn ông! Một ai đó nhận ra người lái, nên nói: - Con gái út ông Huyện Xuân đó, dân nhà giàu đó mà. Cẩm Hồng được khen, lại được lái chiếc xe đời mới, nên có lúc cô nhấn ga lên gần một trăm cây số giờ. Ngồi bên cạnh Toàn vừa định nhắc thì bất chợt từ lề đường có một con bò chạy vút ra. - Coi chừng! Tiếng cảnh báo của Toàn vừa phát ra thì đầu xe đã lao sát vào con bò. Một cú đụng mạnh chắc chắn sẽ xảy ra và việc gì thì đã rõ... Cả Cẩm Hồng và Toàn đều chỉ biết nhắm mắt lại giao mạng sống cho số phận... - Trời ơi, không tưởng tượng được! Giọng của ai đó vang lên, vừa lúc cả hai người trên xe mở mắt ra. Trước họ, ngay đầu xe đang có một người đứng chận ngang. Cẩm Hồng kêu lên: - Ông thầy Hai! Toàn cũng đã nhận ra, anh vô cùng ngạc nhiên: - Ông lão anh vừa mới gặp ở chỗ hái hoa. Ông thầy Hai lẵng lặng bước tránh ra khỏi đầu xe, tiến về phía con bò đang nằm im dưới ruộng. Bằng một động tác nhẹ nhàng, ông vỗ lên lưng con vật và nó bật dậy ngay, chạy một mạch như chẳng có việc gì xảy ra. Mấy người bên đường trầm trồ: - Nếu không có ông lão này đẩy con bò ra kịp thì chiếc xe đã đụng thẳng vào rồi và... xe lật là cái chắc! Ông thầy không quay lại, bước thẳng theo con đường đê... Lúc này Toàn mới lên tiếng gọi: - Ông ơi! Anh định nói lời cám ơn, nhưng ông ta đã khuất phía xa... Cẩm Hồng không còn ác cảm với ông như trước nữa, cô nhìn theo và lẩm bẩm: - Ông này lạ quá.... Phải mất hơn mười phút sau thì cả hai mới lấy lại bình tĩnh để tiếp tục lái xe ra thị xã. Họ tìm mua được một chục bông hồng ở một vườn trồng hoa, chớ không cần phải vào chợ. Mà thật ra nếu không có một người khách lạ bên đường chỉ cho họ biết vườn trồng hoa, thì họ có tìm tới sáng hôm sau cũng không có bông hoa nào ở thị xã bởi nơi này không hề có chỗ bán hoa tươi như ở Sài Gòn. Lúc hai người dừng lại một quán nước bên đường để uống, thì ai cũng khen hoa đẹp. Hỏi mua ở đâu, Cẩm Hồng nói là mua ở vườn trồng hoa thì ai nấy đều ngạc nhiên: - Ở xứ này làm gì có nhà vườn trồng hoa? Lại là loại hồng nhung này, rất hiếm thấy, ngoại trừ... Rồi người đó hỏi thẳng: - Có phải hai cô cậu hái ở khu mộ của gia đình ông đốc phủ Hài không? Cẩm Hồng ngơ ngác: - Tui đâu biết phần mộ đó? Vả lại, rõ ràng chúng tôi vừa mua ở vườn hoa cách đây hơn nửa cây số mà! Người nọ quả quyết: - Dám cá một ăn một trăm là hoa này ở nghĩa trang nhà đốc phủ Hài chớ không ở đâu khác! Ở đó sáng nào khóm hồng trồng trước mộ cũng nở rực rỡ mà có ai dám vô hái đâu. Cô cậu nghĩ cũng gan thiệt! Người đó nói rồi bỏ đi. Cẩm Hồng tức tối: - Ăn nói vô duyên! Cô ta tức lên, lộ hẳn tính nóng mà từ nãy giờ cố kiềm chế, bằng động tác ném bó hoa ra phía sau xe! Toàn phản ứng tức thời, bằng cách đưa tay ra chụp được, vừa nói: - Bó hoa đẹp mà em! Anh ta tuy chụp lại được bó hoa, nhưng một ngón tay đã bị gai hoa hồng đâm phải, kêu lên: - Ui! Một giọt máu nhỏ ra rơi dính vào ngực áo, Toàn vừa bị đau vừa phát cáu: - Cái hoa này... Anh ta kịp dừng lại sự bực dọc, nhưng cũng đủ cho Cẩm Hồng áy náy: - Em xin lỗi, tại vì em... Toàn lịch sự: - Không sao, anh chỉ khó chịu vì cái áo... Cẩm Hồng tấp xe vô lề và nhanh nhẹn lấy ra chai Aceton rửa móng tay, rồi khá tự nhiên dùng khăn tay của mình thấm nước tẩy đó tẩy chỗ vết máu. Cử chỉ dễ thương đó của cô đã khiến cho Toàn không tự chủ được, sẵn hai mặt sát nhau, anh chàng bất thần ghì vào và đặt lên đó một nụ hôn nồng cháy! Cẩm Hồng không kịp phản ứng, hoặc là không muốn chống cự, thế là họ cứ thản nhiên ôm hôn nhau khiến cho nhiều người đi đường phải đỏ mặt! Nụ hôn kéo dài đến vài chục giây, đến khi rời nhau ra thì Cẩm Hồng như bừng tỉnh, cô nhấn ga cho chiếc xe lao đi vun vút và suốt quãng đường về nhà nụ cười luôn nở trên đôi môi cô nàng... Thỉnh thoảng nhìn sang, cô thấy Toàn đang nhắm nghiền mắt lại, hình như đang tận hưởng hương vị của đôi môi còn đọng lại... Họ về đến nhà thì đã thấy rất đông người đứng đợi. Đích thân bà tỉnh trưởng đứng giữa mọi người nói lớn: - Trong lúc hai đứa con vắng mặt, hai bên cha mẹ đã thỏa thuận xong với nhau là nội tháng sau đám cưới sẽ được cử hành! Hai đứa sẵn đây xuống chào bà con cô bác đi! Cẩm Hồng rất tự nhiên mở cửa xe bước xuống, nhưng Toàn thì vẫn ngồi yên. - Về tới nhà rồi, anh xuống đi chớ? Cẩm Hồng nhắc, nhưng Toàn vẫn nhắm nghiền mắt, bất động. Linh tính báo có điều gì đó bất trắc, Cẩm Hồng phải chồm vào xe lay vai anh chàng: - Anh Toàn... Bị cái đẩy nhẹ của Cẩm Hồng, nhưng Toàn đã ngã dựa vào cửa xe, khiến bà mẹ anh ta hốt hoảng: - Sao vậy Toàn? Toàn được đưa ra khỏi xe trong trạng thái hầu như lịm đi. Chính bà Huyện Xuân phải lên tiếng hỏi: - Nó bị sao vậy Cẩm Hồng? Cô nàng quýnh lên: - Con đâu biết. Tụi con vừa đi mua xong hoa hồng và mới đây ảnh còn cười nói bình thường mà... Chợt nhìn thấy một ngón tay của con trai bị sưng vù to như trái chuối, ông tỉnh trưởng rú lên: - Nó bị sao vậy? Họ tức tốc đưa Toàn vào phòng trong, nhưng ông tỉnh trưởng đã ra lệnh: - Đưa nó đi bệnh viện ngay. Coi chừng bị con gì đó cắn. Rắn độc cũng nên! Cẩm Hồng hốt hoảng: - Không phải con gì cắn đâu, ảnh chỉ bị cái gai bông hồng đâm phải thôi! Con trai cưng của ngài tỉnh trưởng mà bị nạn thì cuộc cấp cứu phải biết! Hầu như tất cả các xe hơi tới dự tiệc đều hộ tống đưa Toàn đi bệnh viện tỉnh cách đó gần sáu chục cây số! Một giờ sau... Trong lúc mọi người còn đang căng mắt ra chờ ngoài hành lang bệnh viện thì chợt nghe tiếng gào thét của bà tỉnh trưởng từ bên trong phòng cấp cứu! Rồi một cô y tá từ trong đó hớt hãi chạy ra, chỉ nói vắn tắt: - Bệnh nhân tên Toàn đã tử vong! *** Suốt ba đêm kể từ khi đi đưa tang của Toàn về, không phút nào bà Huyện Xuân an giấc. Hễ cứ vừa nhắm mắt lại thì hầu như những hình ảnh lạ lùng lại hiện ra. Ban đầu bà ta giấu chồng con về những điều mình gặp trong giấc mơ, nhưng rồi cũng phải nói ra, bởi đêm nào ông Huyện Xuân cũng bị giật mình nhiều lần và đều ngạc nhiên khi nghe bà cứ lảm nhảm gọi tên ai đó. Ông gạn hỏi thì cuối cùng bà đành thú thật:- Hễ cứ nhắm mắt lại thì tui thấy có một người với bộ mặt đầy máu hiện ra. Người đó hỏi tôi có nhớ Sáu Ngọc không? Ông Huyện Xuân chau mày: - Sáu Ngọc là ai? Bà lắc đầu: - Tôi làm sao nhớ được... - Sao tôi nghe bà gọi tên ai là Nương Tử? Bất chợt bà rú lên: - Ai gọi Nương Tử? - Thì bà gọi chớ ai. Nương Tử là người nào mà lâu nay tôi đâu hề nghe bà nhắc? Bà Huyện Xuân vẫn lắc đầu: - Tôi đâu biết... Tuy nhiên, chợt bà kêu lên: - Trời ơi, Nương... Nương Tử phải không? Bà ôm đầu vài giây rồi nói như đang nằm mơ: - Phải rồi... cô đào hát... cô đào hát... Nói tới đó bỗng nhiên bà ngã lăn ra rồi bất tỉnh! Ông Huyện Xuân hốt hoảng gọi người nhà cứu chữa cho vợ, nhưng càng xoa dầu, đánh gió bao nhiêu thì bà lại càng chìm sâu trong cơn mê... Phải đến chiều hôm đó tự dưng bà tỉnh lại và nói như chưa có việc gì xảy ra: - Dọn cơm cho tôi ăn đi, đói quá! Ông Huyện Xuân thở phào: - Bà làm tôi hết hồn! Làm lỡ chuyến đi lo cái vụ xuất cảng gạo cùng với ông phó tỉnh trưởng mất rồi. Bà Huyện Xuân tỉnh táo: - Thì bây giờ ông đi cũng còn kịp mà. Biểu tài xế lái xe chạy tối thì sáng mai tới trên đó rồi. - Bà liệu sức khỏe có ổn chưa thì tôi mới dám đi? - Ông khéo lo, bệnh tôi như giả đò, ăn nhằm gì! Ông Huyện Xuân đi lúc ba giờ thì bốn giờ bà Huyện Xuân cũng đi. Hai cô con gái ngạc nhiên hỏi thì bà dặn: - Má đi về Trà Vinh có chút việc. Nếu ba tụi bây có điện về hỏi thì đừng nói. Nhớ nghe chưa! Cẩm Hồng từ sau tai nạn của Toàn thì hầu như nằm vùi trong phòng riêng, ăn uống bữa được bữa không... Còn Cẩm Nhung thì cũng giống như mẹ mình, cứ thấy ác mộng và đầu óc hoảng loạn, cứ kêu nhức đầu và hoa mắt... Nghe mẹ nói đi xa, Cẩm Nhung cố gượng nói với bà: - Con Cẩm Hổng kỳ lắm, nó cứ ôm mặt khóc rồi bỏ ăn bỏ uống kiểu này con e nó bệnh nặng cho má coi. Hay là má gởi nó trở lên Sài Gòn học tiếp đi, để nó quên chuyện kia... Bà Huyện Xuân nói xuôi theo: - Thì tao cũng tính như vậy, nhưng để sau khi tao đi Trà Vinh về đã. - Chuyện nhà rối rắm, đau bệnh tùm lum mà ba má đều đi hết, con làm sao lo cho xuể đây? Tuy nói vậy nhưng khi mẹ đi rồi Cẩm Nhung cũng rút vô phòng riêng của mình, không màng gì tới chuyện nhà. Bữa cơm chiều không ai dọn là cái chắc, bởi cô người làm cũng đã xin nghỉ mấy hôm về thăm mẹ bệnh nặng. Cẩm Nhung biết như vậy nhưng vẫn nằm im trong phòng cho tới khi trời bên ngoài đã tối. Đang nằm, Cẩm Hồng bỗng bật dậy, bởi mùi thức ăn thơm phức bay vào tận phòng ngủ. Người yếu và ăn uống thất thường mấy bữa nay, vậy mà cô cũng ráng bước ra ngoài, hỏi lớn xuống bếp: - Ai nấu món gì mà thơm dữ vậy, cho con ăn cơm với! Nếu có ở nhà thì bà Huyện Xuân đã mừng rơn, bởi việc ăn uống của cô con gái út là chuyện bà quan tâm hơn hết trong nhà này. Hỏi mà chẳng nghe ai đáp, Cẩm Hồng bước thẳng ra nhà bếp, cô nhìn thấy một mâm cơm với khá nhiều món ăn đã dọn sẵn, còn bốc khói. Đang đói bụng, nên Cẩm Hồng không đợi, vừa ngồi vào bàn ăn vừa nói vọng lên nhà trên: - Con đói nên ăn trước nghen! Cô ngồi ăn một cách ngon lành, chợt Cẩm Nhung bước xuống, kinh ngạc kêu lên: - Trời sập tới nơi rồi, sao bữa nay mày nấu cơm hả Cẩm Hồng? Không nhìn lên, Cẩm Hồng đáp: - Má nấu, chớ có rảnh đâu mà nấu. Công nhận bà già nấu món sườn ram mặn ngon thiệt! - Mày nói ai nấu? Má đi từ hồi bốn giờ, khi đó cơm chưa nấu thì làm sao là má được? Cẩm Hồng bây giờ mới ngẩng lên: - Vậy ai nấu cơm rồi còn dọn sẵn nữa. Đừng nói là chị nghe! Cẩm Nhung bước tới nhìn các đĩa thức ăn rồi kêu lên: - Mấy món này nhà mình đâu có sẵn mà nấu! Cá chẽm chiên nè, gà ác tiềm nè, mày không thấy những món này phải nhà hàng Tàu mới có không? Sao bữa nay lại có và dọn sẵn ở đây? Lúc này Cẩm Hồng mới để ý, cô lẩm bẩm: - Nãy giờ em đói nên ăn đại, đâu có để ý... Bị mất hứng nên tuy bụng còn đói, nhưng Cẩm Hồng ngưng ngang không ăn nữa. Cô nàng còn cảm thấy nhờn nhợn trong cổ họng, nên buông đũa đứng dậy, bước ra cửa sau. Định đứng một lúc cho thoáng rồi trở vô, tuy nhiên chẳng hiểu sao Cẩm Hồng lại đi thẳng ra bên trái khu vườn, rồi mở hẳn cửa hông, nơi thông ra một khoảng đất trống mà lúc nhỏ cô nàng hay ra đó chơi đùa, chỉ mấy năm nay do lớn và phần đi học xa luôn, nên cô ít có dịp ra đây. - Cô út! Tiếng ai đó gọi khiến Cẩm Hồng giật mình nhìn lại. Một cô gái trẻ, ăn mặc dáng nhà quê, nhưng khá xinh xắn từ xa đi lại, miệng cười rất tươi lặp lại câu nói vừa rồi: - Cô út Cẩm Hồng phải không? Chưa từng quen biết mà cô ta lại gọi tên mình một cách thân mật, tự nhiên, làm cho Cẩm Hồng hơi lúng túng: - Chị là ai vậy? Cô gái đáp rất lịch sự: - Tôi lớn hơn cô út hai tuổi, cho nên gọi tôi là chị cũng được. Tôi là Hoa Liên, tuy lạ mà quen. Cách trả lời ỡm ờ của cô nàng, khiến Cẩm Hồng phật ý: - Chị nói rõ mình là ai và gặp tôi với ý gì? Cô ta vẫn cười vui: - Tôi vừa nói rồi, là Hoa Liên, tức hoa sen. Tới đây để dọn bữa cơm cô vừa ăn trong nhà! - Chị... Cẩm Hồng giật mình, nhìn sững người con gái, vừa lắp bắp hỏi lại: - Mâm cơm trong nhà... là của chị? - Cô ăn có ngon không! Cẩm Hồng gay gắt giọng: - Tôi hỏi chị chưa trả lời, mâm cơm đó... - Thì do tôi dọn ra mời cô. Bởi biết cô đã ba ngày chưa ăn uống gì. - Nhưng sao chị biết tôi cần ăn cơm và làm cách nào chị vô nhà tôi được? Chỉ cánh cửa hông, cô nàng đáp tỉnh bơ: - Thì bằng cửa này, giống như cô vừa ra. - Nhưng sao nhà tôi mà chị... Cô gái giờ mới áp tới sát Cẩm Hồng, hạ giọng: - Cậu Toàn sai tôi làm! Đang bực bội, bỗng Cẩm Hồng bước thụt lùi, ngơ ngác: - Chị nói... ai? - Cậu Toàn, con ông bà tỉnh trưởng! - Trời ơi, chị là... Cẩm Hồng bước lui mấy bước, vấp vào một gốc cây suýt té, trong khi đó giọng cô gái vẫn đều đều: - Cậu ấy lo cho sức khỏe của cô, nên sai tui mỗi ngày phải dọn cơm mời cô. Đây là những thức ăn đặt nấu ở tiệm cao lầu ở thị xã, họ làm vừa ngon vừa sạch sẽ, cô cứ yên tâm mà ăn, không phải lo gì hết. Rồi như đoán được tâm trạng của Cẩm Hồng, cô nàng lại tiếp, nói rõ hơn: - Cậu ấy tuy chết rồi, nhưng vẫn hiển linh, vẫn thương cô, muốn luôn luôn được chăm sóc cho cô. Sau khi lấy lại thăng bằng, Cẩm Hồng vụt chạy vào trong, thuận tay đóng sầm cửa lại. Cắm đầu đi thật nhanh, nghĩ là đã cắt được cái đuôi. Nào ngờ, khi tới nửa khu vườn thì đã thấy cô gái lúc nãy đứng áng ngay trước mặt. - Sao lại chạy trốn người đang giúp em? Nghĩ chỉ cần la lớn lên thì Cẩm Nhung trong nhà sẽ nghe thấy, nên Cẩm Hồng gào thật to: - Chị Cẩm Nhung ơi! Gọi đến lần thứ ba mà vẫn không nghe Cẩm Nhung lên tiếng hoặc chạy ra, lúc này Cẩm Hổng hơi hoang mang, nên cô đành phải hỏi lại: - Chị là gì của anh Toàn? - Cô không cần phải biết, chỉ hiểu là Toàn đang là một vong hồn chết oan. Anh ấy đang cần một chỗ dựa ở chốn trần gian này, mà cô là người đó. Cô không làm được chuyện này sao, khi vì cô mà anh ấy phải chết. - Sao lại tại tôi? Anh ấy bỗng dưng bị chết, chớ nào tôi có làm gì đâu? - Vậy ai để cho cái gai hoa hồng đâm vào tay anh ấy? - Chị nói... Cẩm Hồng muốn cãi, nhưng chợt ngừng ngang, trước mắt cô hình ảnh ngón tay sưng vù một cách bất thường của Toàn hôm đó còn ám ảnh Cẩm Hồng cho tới bây giờ. - Anh ấy... Giọng cô gái nghiêm túc hơn: - Toàn chỉ mới là nạn nhân đầu tiên của cô thôi. Còn nữa... Hết sức chịu đựng, Cẩm Hồng gần như la lên: - Chị không được nói linh tinh nữa! Chị đi đi và nói với hồn anh Toàn của chị là tôi không cần ai chăm sóc hết! Tôi tự lo được rồi... Cô vụt chạy thật nhanh vào nhà. Chẳng thấy Cẩm Nhung đâu, mà mâm cơm trong nhà bếp cũng không còn. - Chị Cẩm Nhung! Đi thẳng lên phòng riêng của Cẩm Nhung thì cửa phòng mở toang, Cẩm Nhung chẳng hiểu đã đi đâu. Chưa bao giờ Cẩm Hồng cảm thấy sợ hãi như lúc này. Xưa nay cô không hề tin có hiện tượng ma quỷ, vậy mà giờ đây cô phải đối diện với một hồn ma! - Má ơi! Bất giác Cẩm Hồng phải gọi đến mẹ mình. Chợt có tiếng nói từ phía sau: - Mẹ cô hiện đang đối diện với nguyên nhân gây ra hậu quả mà cô phải gánh chịu ngày hôm nay, phải ba bữa nữa mới về, có đâu mà cô gọi. - Còn bà chị quý hóa của cô thì mới xách giỏ đi, chưa biết lúc nào mới về! Cẩm Hồng quýnh lên: - Sao kỳ vậy? Sao cả nhà... Cô gái kia gằn giọng: - Tôi nói rõ cho cô biết, trong số những người đàn ông mà cô từng trải qua, chỉ có anh Toàn là người xứng đáng. Cuối cùng ảnh mới là người cứu cô ra khỏi bến mê! Nói xong cô ta dợm bước đi thì lần này Cẩm Hồng đã chủ động gọi lại: - Cô nói anh Toàn, có thật không! - Muốn biết thật hay không thì trở về phòng sẽ biết! Bóng cô ta lẫn khuất trong vườn cây. Cẩm Hồng chạy vội về phòng mình và cô sững sờ trước bó hồng nhung đang nằm trên gối. Nó giống hệch với bó hoa mà bữa đó Toàn đã mua để tặng cô. - Anh Toàn! Trong phòng không có ai khác. Không dám đụng vào bó hoa, bởi hậu quả bữa trước còn làm cho Cẩm Hồng sợ, cô đứng tần ngần trước giường mình khá lâu, chưa biết phải làm sao lấy bó hoa đi chỗ khác thì bỗng như có ai đó di chuyển nó đi, từ bên giường chỉ trong nháy mắt bó hoa đã nằm gọn trên bàn phấn. - Toàn, em vẫn nhớ anh. Đừng làm em sợ. Tự dưng toàn thân Cẩm Hồng lạnh run, cô phải leo lên giường, trùm kín mền và thốt nhiên lại gọi Toàn: - Hãy phù hộ cho em, Toàn ơi! Nhờ mấy lần gọi tên Toàn mà Cẩm Hồng phần nào yên tâm. Cô có cảm giác như trong phòng mình có ai đó đang đi lại, có lúc như có hơi thở cạnh bên mình... Toàn chăng? Cẩm Hồng thầm mong như vậy. Như thế còn hơn là để cô một mình mang nỗi sợ hãi khôn cùng. Và nhờ vậy mà suốt đêm hôm đó cô ngủ được yên. Sáng dậy, chưa bước xuống giường thì cô đã ngửi được mùi thức ăn. Khi nhìn về phía chiếc bàn nhỏ trong phòng cô thấy có một mâm thức ăn chờ sẵn! Lần này không ngại như hôm qua, Cẩm Hồng ngồi ăn một cách tự nhiên... *** Bà Huyện Xuân trở về xóm cũ, mà đã hơn hai mươi lăm năm bà không về, khiến cho nhiều người ngạc nhiên. Nhưng sửng sốt nhất có lẽ là bà Tư Trầu ở cạnh đình làng. Bà cứ nhìn vị khách sang trọng vừa bước vô cửa mà tưởng như trong mơ:- Có phải bây là... con Hai Thắm không? - Dạ, đúng rồi, con là Hai Thắm đây. Người dẫn đường cho bà vào đây đã phải lên tiếng nhắc: - Bây giờ cô ấy là bà Huyện, người ta quen gọi là bà Huyện Xuân, chớ đâu còn là Hai Thắm như ngày xưa nữa. Bà Tư Trầu vẫn quen lối bỗ bã xưa nay: - Tao đâu có biết nó làm bà nghè ông tưởng gì chỉ nhớ là con Hai Thắm thôi. Mà nhớ được cũng là nhờ cái nốt ruồi con ve trâu trên trái tai kia kìa! Bà Huyện Xuân đưa tay lên sờ vào nốt ruồi ở gần vành tai, rồi cười: - Bà Tư nhớ dai thiệt. Trong lúc với mấy người kia con phải nhắc tới đủ thứ họ mới nhớ ra. Gần ba chục năm rồi còn gì... Cuộc hội ngộ tuy có bất ngờ, nhưng do đã sinh ra và lớn lên đến năm hai mươi tuổi ở xứ này, nên chỉ sau một lúc là nhiều người đã tới thăm và hỏi chuyện thân tình hơn. Bà Huyện Xuân phải lên tiếng: - Tôi có chút việc muốn hỏi thăm bà Tư, nên xin hẹn với bà con chiều nay hay sáng mai sẽ tới từng nhà thăm. Tôi còn ở lại đây vài hôm nữa. Khi mọi người tản ra hết, bà Huyện Xuân mới hỏi thẳng: - Bà Tư còn nhớ cô đào hát Sáu Ngọc không? Nghe nhắc cái tên đó, bà Tư Trầu giật mình, nhìn trước nhìn sau rồi mới đáp: - Con nhỏ chết linh lắm! Bà Huyện Xuân tái xanh mặt: - Chết khi nào bà nhớ không? Mọi chuyện như hiển hiện ngay trước mắt bà già tuổi đã trên tám mươi, bà thở dài nói: - Ngay khi mày đi lấy chồng được vài tháng. Bất giác bà Huyện Xuân kêu khẽ: - Thảo nào? - Mày còn nhớ nó sao? Nó chết cũng bởi vì mày... Câu nói của bà già càng làm cho sắc mặt bà Huyện Xuân thêm tái xanh: - Con đâu có ngờ... con tưởng đâu cô ấy đã lấy chồng khác rồi... Bà Tư Trầu thở dài: - Lấy chồng sao được khi mối tình lớn nhứt của nó là thằng Ba Thành đã bị mày giành mất! Nó buồn, nó hận đời nên bận nguyên bộ đồ màu đỏ rồi lao vào đàn trâu ăn cỏ khiến lũ trâu hoảng loạn, húc nó chết, thân thể treo lơ lửng trên sừng trâu, phải hạ con trâu mới lấy được xác nó! - Trời ơi, chuyện một cô gái bị trâu chém chết năm đó là Sáu Ngọc sao? Bà Tư Trầu ứa nước mắt: - Lúc ấy mày đã theo chồng về làm ở tòa bố tỉnh Trà Vinh, nên đâu có rõ vụ ấy. Chính là con Sáu Ngọc đó! Mà cũng lạ, sao mày giựt thằng Ba Thành trong tay con Ngọc, mà sau đó ở đây người ta đồn mày lấy thằng công chức làm ở tòa bố tên là Xuân? Có phải rồi mày cũng bỏ thằng Ba Thành không? Sao bỏ dễ quá mà giành giựt chi làm cho con Sáu Ngọc nó mất mạng và thảo nào nghe nói thằng Ba Thành sau đó buồn tình đi làm ăn cướp, giết người... Điều tiết lộ này khiến bà Huyện Xuân hoảng: - Bà Tư nói Ba Thành... đi ăn cướp sao? - Ủa, mày không biết chuyện ấy hả? Nghe nói chính nó đã gây ra mấy vụ cướp lớn ở thị xã Trà Vinh thời mấy chục năm trước! Mà cũng tội cho thằng đó, vốn hiền lành, lại sa vào con đường ấy chỉ vì chữ tình. Vì mày đó, Hai Thắm à! Bà Huyện Xuân sững sờ: - Ăn cướp, giết người... trời ơi! Bà Tư Trầu ngạc nhiên: - Mày sao vậy Thắm? Bà Huyện Xuân đang nhớ lại cái đêm bọn cướp bịt mặt xông vào nhà ba chồng của bà và một tên đã đưa dao bầu chém thẳng xuống đầu của vợ chồng bà, may nhờ người mà được biết là thầy Hai Hội cứu kịp thời. Trong lúc bà Huyện Xuân còn thả hồn về quá khứ thì bà Tư Trầu lại nói: - Nghe nói sau này thằng Ba Thành bị lính bắn chết khi chận đoàn xe chở tiền của nhà nước. - Trời ơi! Trước sau gì bà Huyện Xuân cũng chỉ biết kêu trời. Bởi trong lòng bà quá khứ đầy tội lỗi đang sống lại. Cả hai cái chết của hai người tên Sáu Ngọc và Ba Thành đều do bà gây ra cả. Nhất là Ba Thành, sau một thời gian chung sống từ mối tình cướp giật trong tay cô đào hát nghèo Sáu Ngọc, bà đã bỏ rơi người tình để chạy theo người công chức giàu có sau này là ông Huyện Xuân. - Thôi, nhắc lại chuyện cũ để nhớ thôi, chớ đã lâu quá rồi, mọi thứ đã trở về cát bụi, đâu còn nghĩa lý gì nữa. Mà nè con Hai, mày lại về đây hỏi con Sáu Ngọc làm gì? Bà Huyện Xuân giọng thễu não: - Cháu có chuyện này... chẳng hiểu sao từ lâu cháu không thấy cô Sáu Ngọc, mà gần đây đêm nào cháu cũng mơ thấy. Cô ấy khiến cháu mất ăn mất ngủ, cháu định về đây hỏi bà ngày mất của cô ấy để cúng và xin thỉnh cái vong của cổ đưa vô chùa. Bà Tư Trầu chép miệng: - Từ ngày chết thảm, con Sáu Ngọc hiển linh và cả làng này ai cũng sợ nó! Do nó chết trên sừng trâu, nên sau này cứ hiện hình trên lưng trâu, xua trâu chạy khắp làng đuổi thiên hạ chạy cong đuôi. Cũng may là nó chưa giết chết ai... Bà Tư Trầu chợt chùng giọng xuống: - Mà cũng kỳ lạ lắm, mấy người bị trâu đuổi hầu hết là đàn bà. Mà người nào khi sắp bị trâu húc phải cũng đều nghe một giọng nói kỳ lạ, nghe rất giống giọng của con Sáu Ngọc, nó nói: Không phải! Không phải! Rồi tha cho những người bị nó rượt! Bà Huyện Xuân kinh hãi: - Con trâu điên! Phải chăng... Bà nhớ lại bữa xe mình đang đi thì bị hai con trâu lao vào, suýt chết. - Đúng rồi! Bà Tư Trầu hỏi lại: - Mày nói đúng cái gì? - Dạ... dạ không. Bà Huyện Xuân tính rút lui, nhưng chợt rùng mình khi nhớ tới chi tiết bà Tư Trầu kể Sáu Ngọc hay hiển linh và đứng trên lưng trâu rượt đuổi mọi người trong làng này, nên bà lo sợ, lưỡng lự... thấy vậy bà Tư Trầu lên tiếng: - Hay là tối nay mày ngủ lại đây cho vui. Tuy mày với con Sáu Ngọc cháu tao có mối hiềm khích, nhưng tao vẫn coi mày như con cháu trong nhà. Tao mừng gặp lại mày, như từng thấy lại con Sáu Ngọc vậy. Bà Huyện Xuân cảm động, nhưng trong lòng vẫn không yên. Bà cảm nhận cuộc báo oán của vong hồn Sáu Ngọc như đang cận kề bên mình... Ở lại đây ngủ thì không thể, nhưng còn về thì... lỡ xảy ra chuyện thì sao? Còn đang lưỡng lự, bỗng có một bóng người bước vô. Vừa quay lại nhìn, Bà Huyện Xuân đã hết hồn: - Là... thầy Hai Hội đây sao? Bà Tư Trầu càng kinh ngạc hơn: - Anh... anh Hai? Anh là ba con Sáu Ngọc? Hai Hội giọng từ tốn: - Chính là tôi. Mấy chục năm rồi tôi mới có dịp tới cám ơn bà về những ngày bà đã cưu mang con Sáu Ngọc, khi nó bỏ nhà theo gánh hát lang bạt đây đó. Bà Huyện Xuân thất kinh: - Ông đây là... cha của cô Sáu Ngọc? Ông chưa kịp trả lời thì bà Tư Trầu đã kêu lên: - Ông đã... chết từ trước khi con Sáu Ngọc mất lận mà! Phải vậy không? - Phải! Câu trả lời gọn lỏn đó làm cho bà Huyện Xuân điếng hốn: - Thì ra ông là... là... - Là một hồn ma! Chớ nếu không phải ma thì làm sao mấy lần cứu cô và gia đình được! Ông quay sang bà Tư Trầu, nói: - Bữa nay tôi có việc nói riêng với bà Huyện đây, vậy xin phép bà, ngày mai tôi sẽ tới gặp lại. Ông quay sang bà Huyện Xuân giục: - Bà ra ngoài tôi cần nói chuyện. Đừng sợ, con Sáu Ngọc sẽ không làm gì khi có tôi bên cạnh, bà cứ yên tâm. Bà Huyện Xuân sau một lúc lưỡng lự mới dám bước theo ông ra ngoài. Trời tối đen, nên cơn sợ của bà càng tăng thêm. Nhưng ông thầy Hai đã trấn an: - Hồn ma cũng có nhiều loại thiện, ác giống như loài người. Đúng là oan hồn con Sáu Ngọc nó có hung ác, nó cố theo dấu chân của bà để quyết tâm báo thù, nhưng vẫn còn có tôi, một hồn ma biết thế nào là oán nên cởi chớ không nên buộc, nên bà cứ yên tâm, con Sáu Ngọc không làm hại bà lúc này được đâu. Đi một lúc, tới trước một ngôi miếu vắng, ông già nói: - Bà ở đây, rồi tôi cho bà gặp hai đứa nó. - Dạ, gặp ai? - Con Sáu Ngọc và thằng Ba Thành! Bà Huyện Xuân hốt hoảng: - Ông... ông hại cháu sao? Ông già giọng nhân từ: - Ta đã nói rồi, ta là một hồn ma chỉ biết giúp người thôi chớ chưa hại ai bao giờ. Hôm nay ta muốn nhân tiện giải tỏa mối hằn thù giữa bà và tụi nó. Mấy lần tụi nó tìm cách báo thù bà và cả con gái bà nữa, ta đều xuất hiện kịp thời, ngăn chận được. Tụi nó tuy có tức tối, nhưng cuối cùng cũng nghe lời ta, đồng ý sẽ bỏ qua, với điều kiện... Ông ngừng nói, đưa mắt nhìn sang bà Huyện Xuân và lát sau lại tiếp: - Tụi nó muốn bà đích thân xây lại ngôi miếu hoang này, để tụi nó có chốn nương tựa, như vậy coi như bà đã chuộc lỗi rồi. Bà Huyện Xuân mau mắn: - Dạ, con xin nghe theo. Ông già tiếp lời, giọng tình cảm hơn: - Con Sáu Ngọc là con gái út của tôi. Năm nó lên tám tuổi thì gia đình tôi gặp nạn phá sản và do tôi còn thiếu nợ ông chủ tỉnh một số tiền lớn, nên bị ông ấy siết nợ, lấy nhà và bỏ tù tôi. Quá uất ức nên tôi tự sát trong nhà lao. Ở nhà vợ con tôi lao đao, khổ sở, con cái tứ tán mỗi đứa một nơi. Con Sáu Ngọc đi theo gánh hát là vì lý do đó... Bà Huyện Xuân vụt hỏi: - Bởi đó nên ông mới hại con trai ông tỉnh trưởng để trả thù? Ông già chùng giọng xuống: - Không phải tôi làm, mà do thằng Ba Thành. Nó vừa báo thù cho tôi, vừa báo thù bà... qua con gái của bà. Nói thiệt, tôi chậm chân một chút nên cậu Toàn mới chết, chớ tôi không muốn hại ai hết. Nhưng mà thôi, âu cũng là duyên số. Và ít ra bà cũng nên chịu thiệt thòi đôi chút, để từ nay giải tỏa hết... Ông ngừng một lúc, rồi tiếp bằng giọng nhẹ nhàng hơn: - Cũng tội nghiệp cho cậu Toàn, con nhà quyền thế mà tánh tình dễ thương, nên tôi đã cho sắp đặt để từ nay cậu ấy vẫn ở bên con gái bà, miễn là cô ấy đừng lấy chồng khác... Bà Huyện Xuân lo lắng: - Chẳng lẽ đời con gái tôi phải chịu góa bụa suốt hay sao? Ông già thở dài: - Đó là một chút đánh đổi mà bà phải nhận. Còn nếu không làm như vậy thì con gái bà sẽ có không dưới sáu đời chồng, lại khổ sở long đong. Tùy bà chọn thôi... Bà Huyện Xuân đành phải gật đầu: - Dạ, con xin nghe... *** Có một chuyện rất lạ xảy ra trong nhà Huyện Xuân mà nhiều người thắc mắc, nhưng chẳng ai biết được nguồn cơn, đó là việc cô con gái rượu của họ vĩnh viễn không lấy chồng. Có người không tin chuyện ấy, bảo rằng với nhan sắc như Cẩm Hồng mà chịu ở góa thì có trời mà tin!Vậy mà nhiều năm sau vẫn chẳng thấy cô ta chồng con gì. Đùng một cái, hai năm sau người ta thấy có hai đứa bé con hơn một tuổi xuất hiện trong nhà. Rồi khi chúng biết đi, biết nói, có dịp bước ra ngoài, ai có hỏi cha chúng là ai thì cả hai đều trả lời không cần suy nghĩ: - Chúng con là con của ba Toàn. Gia đình Huyện Xuân cũng chẳng cần giải thích thêm. Họ chấp nhận như vậy. Phần Cẩm Hồng thì từ đó sống lạc quan, không mấy khi bước ra khỏi nhà vào ban ngày. Chỉ có người trong nhà mới biết, cứ vào nửa đêm thì cô ta sửa soạn, trang điểm thật tươm tất và đẹp lộng lẫy, hỏi để làm gì thì cô đáp trong hạnh phúc: - Giờ đó anh Toàn mới về. Mối tình kỳ lạ ấy kéo dài qua năm tháng... Đến khi ông bà Huyện Xuân qua đời thì người kế nghiệp là Cẩm Hồng. Người ta lại càng quá đỗi ngạc nhiên khi thấy cơ nghiệp nhà đó càng ngày càng phát đạt. Hỏi bí quyết nào giúp cho một cô gái chỉ biết hưởng thụ lại thành công được như vậy thì Cẩm Hồng đáp: - Nhờ nhà tôi! |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 46
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXXVI:HẸN EM KIẾP SAU Chương 1 Chuyến xe oan nghiệt NXe vừa qua khỏi địa phận tỉnh Kompong Thom thì hầu như người nào trên xe cũng ngủ say. Tài xế Thạch An, người Cambốt nhưng nói tiếng Việt khá rành, lên tiếng hỏi: - Có vị nào cần ngừng lại nghỉ ngơi không? Chẳng nghe ai đáp, Thạch An chép miệng: - Ngủ gì mà mau vậy, mới lên xe đây mà... Sở dĩ Thạch An hỏi vậy là bởi phía trước cách chừng hai chục cây số sẽ có một trạm đổ xăng, có thể tranh thủ nghỉ ngơi rồi mới đi tiếp về Siêm Riệp. Mười lăm phút sau, dẫu không được ai trả lời nhưng Thạch An vẫn cho xe tấp vào một góc trạm xăng, rồi lên tiếng lần nữa: - Ai có đi vệ sinh hay xuống thư giãn một chút thì cứ xuống, có lẽ ta nghỉ khoảng nửa giờ, đợi trời sáng sáng một chút mới đi cho an toàn bởi đoạn đường phía trước hơi xấu. Anh ta đứng lên đưa tay bật đèn sáng và quay lại nhìn một lượt theo thói quen trước khi rời xe. - Ủa? Anh ta kêu lên một tiếng lớn khiến cho mấy nhân viên của trạm xăng đang ngủ gà ngủ gật bên dưới cũng phải giật mình, hỏi vọng lên: - Chuyện gì vậy? Thạch An la lớn: - Sao khách trên xe đâu hết rồi? Mấy nhân viên cây xăng cười rộ lên: - Khách trên xe anh mà hỏi tụi tui? Trời đất! Tuy nói vậy nhưng vài người cũng mở cửa xe bước lên xem. Lúc đó họ mới sững sờ: - Mà người đâu hết rồi? Bộ bữa nay dư xăng sao anh chạy xe không tới đây vậy Thạch An? Thạch An ngơ ngác: - Tui chở đầy xe mà! Nhưng sao lại... Cũng không thấy lơ xe Danh Nơ đâu, Thạch An càng sợ: - Làm sao có chuyện kỳ vầy nè? Các người kia vẫn cười chọc Thạch An: - Thạch An bữa nay sảng rồi! Xách xe không chạy mà hỏi người thì kiếm đâu ra? Thạch An quả quyết: - Tui rời tiệm cơm ở chợ Kompong Thom lúc chín giờ, khi ấy tui còn đếm lại cho đủ số người rồi mới đi mà. Đâu lẽ nào... Anh ta ngơ ngác như người từ trên trời rơi xuống. Trong đời lái xe hơn sáu năm nghề, chưa bao giờ Thạch An gặp trường hợp này. Không tin vào mắt mình, Thạch An đích thân bước dọc theo đường giữa xe, kiểm tra từng hàng ghế cho tới hàng cuối cùng. Các hàng ghế hoàn toàn trống, nhưng hành lý thì còn nguyên. Một người dưới trạm xăng nói: - Hay là anh mơ ngủ rồi lên xe chạy mà bỏ hành khách lại hết ở trạm trước rồi? Vậy thì chạy trở lại đón người ta đi, chớ giữa khuya này họ lấy xe khác đâu mà đi. Dẫu không tin là mình đãng trí đến như vậy, nhưng cuối cùng Thạch An cũng đành phải làm như vậy. Anh quay đầu xe, vừa chạy được vài trăm thước thì chợt nghe có tiếng nói phía sau lưng: - Ủa, sao anh chạy trở lại đường cũ? Đang cho xe lăn bánh ngon trớn, Thạch An thắng gấp ngay giữa đường, quay lại ngay và... điếng hồn, bởi trên xe lúc ấy có đầy đủ hành khách! Không tin được hình ảnh trước mắt, Thạch An đứng lên hỏi lớn: - Nãy giờ quý vị ở đâu vậy? Một hành khách ngồi băng ghế trước ngơ ngác: - Bác tài hỏi kỳ vậy? Tụi tui ở trên xe này chớ đâu! - Nhưng vừa rồi ở trạm xăng tui kiểm tra thì đâu thấy ai? Mọi người cười rộ lên: - Bữa nay bác tài bị mơ ngủ rồi! Thảo nào bác mới quay đầu xe lại phải không? Thạch An hoang mang đầu óc, chưa biết phải nói gì thì một giọng nói nhẹ nhàng của một cô gái cất lên: - Mấy người chưa vợ đôi khi còn bất thường hơn là người già nữa! Thạch An đã chở đoàn khách này từ Sài Gòn qua Nam Vang, rồi từ Nam Vang lên đây suốt hai ngày rồi, nên Thạch An nhớ rõ từng người khách một. Kể cả chỗ ngồi của vị khách nữ này cũng không đúng, đó là của một bà cụ. Thạch An ngập ngừng hỏi: - Hồi tối này cô ngồi đâu? Cô gái choàng chiếc khăn trùm gần kín khuôn mặt, giờ bỗng lột khăn ra, nhìn Thạch An cười: - Anh không nhớ em sao? Thạch An thảng thốt kêu lên: - Mỹ Lệ! Sao em ở đây? Cô gái choàng lại khăn, vẫn cười: - Em đã lên xe ngay từ bến Sài Gòn, có lẽ do em lúc nào cũng choàng khăn nên anh nhận không ra chớ em thì đã theo dõi anh từ đầu. Thạch An không thể nào ngờ được, anh vẫn thắc mắc: - Nhưng... chỗ em ngồi đâu phải ở đây? - Đúng rồi! Tối qua em ngồi tít đằng sau, hồi nãy em mới thương lượng và được người ngồi ở đây đổi chỗ. Nhưng sao anh lẩm cẩm vậy? - Sao? Anh lẩm cẩm gì? - Thì không thấy hành khách trên xe trong khi họ ngồi đông đủ cả! Thạch An vẫn quả quyết: - Anh không thể nhìn lầm được. Lúc nãy chính mấy người ở cây xăng cũng thấy như anh, chớ đâu phải riêng anh. Mấy người khách khác trên xe cũng lên tiếng: - Chắc tài xế bị bệnh rồi, như vậy mà lái xe thì chúng tôi làm sao dám đi! Người phụ lái nãy giờ ngủ gật, vừa tỉnh lại vội nói: - Thôi, để tui lái thay cho, anh ngồi nghỉ một lúc cho tỉnh táo lại đã. Dẫu không muốn, nhưng trước sự yêu cầu của hành khách, Thạch An cũng phải rời tay lái, xuống ngồi chiếc ghế ngay cạnh Mỹ Lệ. Anh cố giải thích: - Anh chưa bao giờ bị hoa mắt cả. Rõ ràng... Mỹ Lệ ngăn không cho Thạch An nói tiếp: - Tốt hơn hết là anh cứ ngủ một giấc cho đầu óc tỉnh táo lại đã. Lái xe mà, đâu phải lúc nào cũng được như ý. Thôi, nói chuyện riêng với em đi. Sao lâu nay anh không ghé qua nhà chơi? Thạch An dẫu đang muốn tiếp tục thanh minh tình trạng của mình, nhưng nghe Mỹ Lệ hỏi, anh đành trả lời: - Do anh cứ ngày chạy ngày nghỉ, lại đường xa, nên mệt nhoài, đâu có thời giờ thăm viếng ai. Mà lâu nay em có khỏe không? Cô nàng nguýt Thạch An một cái: - Dữ hôn! Chắc em mà có chết anh cũng không hay nữa. - Anh xin lỗi... - Về mà xin lỗi ông bà già, chớ em đâu dám bắt lỗi ai! - Thôi mà... Bỗng cô nàng nghiêm nét mặt lại, nhìn thẳng vào mắt Thạch An hỏi: - Có phải anh đã... lấy vợ bên này rồi không? Câu hỏi làm cho Thạch An giật mình. Anh lúng túng thấy rõ: - Đâu đâu có chuyện đó, anh chỉ quá bận thôi... - Bận đến quên cả lời hứa là đầu năm sẽ về làm lễ hỏi em phải không? Anh có biết là cả nhà em đã trông ngóng thế nào không? Má em đã khóc hết nước mắt vì bà lỡ lời nói với bà con chòm xóm là sẽ gả con vào tháng giêng vừa rồi. Vậy mà... Thạch An không còn vẻ hoạt bát như lúc nãy, anh nói lí nhí trong miệng: - Anh... anh quá bận. Anh chỉ... Mỹ Lệ đột nhiên ôm mặt khóc nức nở, Thạch An quýnh lên, nói thật khẽ: - Em đừng khóc. Để anh... anh kể cho nghe! Khóc người ta sẽ cười cho. Mỹ Lệ vẫn nói với nước mắt ràn rụa: - Anh biểu em phải cười khi trong bụng em có mang giọt máu của một người mà nhìn người đó đi ở với người con gái khác sao? Thạch An bối rối, líu cả lưỡi: - Đâu... đâu có.., anh đâu có... Mỹ Lệ móc trong túi ra một tấm ảnh và gắt lên: - Vậy hình này của ai? Thạch An điếng hồn, bởi trong ảnh là hình anh và người phụ nữ khác, trông cả hai rất tình tứ. - Cái này... cái này... Giọng Mỹ Lệ đanh lại: - Em đã biết hết rồi, cả ba má em cũng biết. Và em đi chuyến này là để gặp tận mặt anh, hỏi anh lần cuối coi anh trả lời ra sao thôi. Như cái bong bóng xì hơi, Thạch An rũ người trên băng ghế và ước gì mình có thể tan biến đi được. Giọng của Mỹ Lệ vẫn đều đều: - Chắc anh đâu còn nhớ những lời hứa trước đây, nào là tháng giêng anh sẽ về cưới em, rồi sau đó sẽ đưa em về Nam Vang chung sống. Em là đứa con gái quê mùa, chỉ biết yêu và tin những gì người yêu đầu đời của mình hứa, để rồi giờ đây bị vỡ mộng với nỗi đau ê chề. Nhất là cái thai trong bụng này... Thạch An vẫn cố không để tình hình căng thêm, anh đưa tay sờ vào bụng Mỹ Lệ, vừa hỏi: - Được mấy tháng rồi? Mỹ Lệ gạt tay anh ra, đáp cộc lốc: - Hơn sáu tháng rồi! Trong đầu Thạch An chợt thầm tính ngày cuối cùng anh về thăm Mỹ Lệ ở Trà Vinh, đúng là hơn năm tháng rồi... - Vậy thì... chỉ còn mấy tháng nữa là sinh con phải không? Mỹ Lệ lại nhìn xoáy vào mắt anh chàng: - Hay là anh nghi ngờ nó không phải con anh? Thạch An quýnh lên: - Đâu... đâu có. Anh tính xem mấy tháng nữa thì phải lo cho em. Anh hứa mà... Mỹ Lệ trề môi: - Lời hứa gió bay thôi! Mà đã bay rồi còn gì... Cô đứng phắt dậy và đi về phía cửa sau xe, sau đó vỗ vào thành xe ra hiệu cho xe ngừng lại. Thạch An định lên tiếng bảo phụ xế đừng ngừng, nhưng tự dưng anh thốt không thành lời, trong lúc đó xe đã ngừng. Đúng lúc đó Thạch An bị hoa mắt và mọi vật trước mặt anh như mờ đi. Anh nghe có nhiều bước chân chung quanh và rồi không còn biết gì nữa. *** Thạch An không tin vào mắt mình khi nhìn thấy trước mắt toàn là sông nước. Anh bật ngồi dậy thì suýt nữa đã té xuống nước, bởi lúc ấy anh đang nằm trên một chiếc xuồng nhỏ, trôi giữa dòng.- Đây là đâu? Thạch An tự hỏi rồi đưa mắt nhìn khắp chung quanh, bất chợt anh kêu lên: - Biển Hồ! Dù đã sinh ra và lớn lên ở đất nước Chùa Tháp này, nhưng chưa bao giờ Thạch An đặt chân tới vùng Tònglê Sáp hay còn gọi là Biển Hồ này, nhưng nhìn biển nước mênh mông trước mắt Thạch An đã chợt nghĩ tới cái hồ lớn như biển từng nghe nói. Đến lúc này Thạch An mới dần nhớ lại những gì đã xảy ra hồi đêm, nhất là Mỹ Lệ, anh hỏi lớn: - Mỹ Lệ! Em đâu rồi? Dĩ nhiên là chẳng có ai trả lời, chỉ có tiếng gió rít và cái nắng rát da phả vào mặt khiến Thạch An khó chịu. Anh càng lo sợ hơn, bởi lúc ấy chiếc xuống nhỏ cứ trôi theo luồng nước chảy mà không biết là đang đi về đâu. Chẳng có ai để hỏi thăm, cũng chẳng có vật gì có thể chèo chống chiếc xuồng lái theo ý mình. Đã từng nghe nói Biển Hổ này rộng chẳng khác một cái biển thật, một khi nó trôi đi thì chẳng biết là về đâu nên Thạch An chụm hai bàn tay lại làm loa, kêu thật lớn: - Cứu tôi với! Anh kêu đến khản cả cổ mà chẳng hề có ai hồi đáp. Lúc đó bỗng một cơn gió mạnh thổi tới làm chiếc xuồng chao đảo và trôi giạt qua phía trái của hồ. Vài phút sau thì một cơn mưa khá to ập xuống, Thạch An chỉ còn biết nhắm mắt lại và cầu trời... Gió càng lúc càng đưa chiếc xuồng trôi nhanh hơn. Vừa lạnh vừa sợ, Thạch An hai tay bám chặt lấy be xuồng, mắt nhắm nghiền... Cho đến khi chiếc xuồng đụng mạnh vào một vật gì đó chao đảo rồi đột ngột ngừng lại. Lúc này Thạch An mới mở mắt ra và bắt gặp ngay trên đỉnh đầu mình một cái bọc to tướng, giống như một đòn bánh tét lớn cỡ một thân người, đang treo lơ lửng giữa hai chánh ba cây. Một mùi khó ngửi hình như toát ra từ cái bọc đó, chợt làm cho Thạch An nhớ lại lời người ta kể kiểu mộc táng (chôn xác trên cây) mà người ở vùng nước nổi quanh năm này hay áp dụng, anh lắp bắp thốt lên: - Đây... đây là... xác... xác người ư? Anh cố đẩy chiếc xuồng ra khỏi chỗ đó, nhưng gió quá mạnh đã làm cho thân xuồng dính chặt vào gốc cây, không làm sao lay chuyển được. Phải mất gần nửa giờ sau, ở lần cố gắng đẩy cuối cùng, Thạch An mới đưa được xuồng tách ra được, nhưng lập tức bị gió đẩy mạnh va vào một gốc cây khác. Lần va đập này mạnh hơn, khiến chiếc xuồng bị lật úp và Thạch An bị văng xuống nước. Khi đưa tay vớ được một nhánh cây vừa nhô lên khỏi mặt nước Thạch An đã được bàn tay của ai đó nắm lấy và kéo mạnh lên. Lúc này Thạch An mới nhận ra chỗ anh vừa được kéo đó là một cái chòi nhỏ và người đưa tay cứu anh là một ông lão ăn mặc rách rưới. Thạch An chưa kịp hỏi thì ông già đã lên tiếng trước: - Cứ nằm nghỉ đi, để già lau khô cho, coi chừng bị cảm lạnh đó. Giọng nói khô khan và lơ lớ của ông chứng tỏ ông ta là một người Việt Nam nhưng sống ở vùng này lâu đời rồi nên tiếng nói có phần cứng. Ông không nghĩ là Thạch An biết nghe tiếng của mình, cho đến khi Thạch An lên tiếng: - Cám ơn bác, cháu lạnh quá! Lúc ấy ông mới hỏi dồn: - Cậu là người Việt Nam? Sao cậu lại trôi tới đây? Thạch An chỉ lắc đầu, ngầm cho ông biết là anh quá mệt. Ông già nhanh nhẹn quay sang cạnh lấy chiếc khăn cũ kỹ đưa cho Thạch An và bảo: - Cậu lau đi cho khô! Rồi ông tự động lột quần áo của Thạch An ra, lấy quần áo cũ của mình cho anh thay. Nhờ vậy lát sau Thạch An đã cảm thấy ấm và tỉnh táo lại. Lúc này ông già mới hỏi: - Sao cậu lại lạc tới đây? Bộ bơi xuồng ở gần bờ rồi bị gió thổi qua tới bên này hả? Thạch An đâu hình dung được nơi này, nên anh chỉ nói: - Cháu chỉ nhớ là mình đi tới gần Siêm Riệp rồi chẳng biết gì nữa... Ông lão ngạc nhiên: - Cậu đi xe mà sao lại lạc xuống Biển Hồ này được? - Cháu cũng không rõ... Dần nhớ lại chuyện trên xe, Thạch An hỏi: - Nơi đây có gần bờ không bác? Ông già lắc đầu: - Nói thiệt với cậu, tui cũng là người Việt, lưu lạc từ Châu Đốc sang tới đây hồi mười bảy tuổi, mà nay đã gần bảy chục rồi, chưa từng bước lên bờ của xứ sở này, nên hoàn toàn không biết gì nơi đây cả, ngoài cái chòi này và mấy dặm nước quanh đây. Rồi ông đột ngột hỏi: - Bộ cùng đi với cậu có nhiều người nữa hả? Thạch An giật mình: - Sao bác biết? - Thì hồi sáng sớm này cũng có một người bị chết trôi tới đây, cô ấy bận đồ giống dân thành thị, có thể từ Nam Vang tới, hoặc cũng có thể là dân Việt mình, bởi tui nhìn thấy cái khăn quàng cổ có mấy chữ Việt. Tự dưng Thạch An hốt hoảng: - Cô ấy đâu rồi? Ông già chỉ tay ra xa xa: - Ở đây chết không có đất để chôn, nên sáng nay tui đã dùng chiếu bó xác cô ấy lại rồi treo trên cây kia, chớ biết làm sao bây giờ. Ở đây người ta kêu là mộc táng đó! Nhớ đến Mỹ Lệ, anh run giọng hỏi: - Cái khăn quàng cổ đó ở đâu? - Tui đã chôn theo xác cô ấy luôn rồi. Mà sao cậu quan tâm tới cái xác ấy vậy? - Bởi vì... cô ấy có thể là... Thạch An không tiện nói ra, nhưng nhất quyết đòi nhìn cho được cái xác đó. Ông lão lắc đầu: - Khó khăn lắm tui mới bó được xác và đưa lên cây chôn cất. Như cậu thấy đó, mưa gió và nước ngập như thế này, đâu dễ gì chôn được xác chết. Thạch An van lơn: - Cháu xin bác, chính cháu sẽ tiếp tay với bác kéo cái xác xuống, bởi cháu nghi đó là... vợ chưa cưới của cháu. Hồi đêm qua cô ấy đi chung chuyến xe với cháu, rồi giận bỏ xuống giữa đường, thật khó mà tới đây, nhưng những gì bác kể cháu nghĩ có thể là... Ông lão lắc đầu: - Từng tuổi này rồi tui mới gặp chuyện như vầy lần đầu. Mà thôi cũng được, xác cũng mới bó chiếu, có mở ra cũng không sao. Đợi trời hơi ngớt mưa, ông lão kéo chiếc xuồng của Thạch An chìm lúc nãy lên, rồi ông bảo: - Cậu phải tiếp tui đưa cái xác xuống xuồng, rồi chở về chòi này, sau đó mới mở ra. Mà cậu có sợ không đó? Thạch An nói thật lòng: - Sợ thì có sợ, nhưng nghĩ tới cô ấy thì cháu lại tự tin. Ông lão định hướng rất chính xác, nên tuy trời mờ trong mưa, vậy mà ông chống chiếc xuồng tới đúng chỗ gốc cây mà lúc nãy Thạch An đã nhìn thấy cái gói to như đòn bánh tét khổng lồ. Thạch An kêu lên: - Lúc nãy cháu dừng xuồng ở đây và đã thấy cái này rồi! - Quan tài chôn người ở vùng ngập nước này là như vậy đó! Nào, cậu đỡ một đầu, ta đưa cái xác xuống xuồng. Ông lão tỏ ra rành chuyện này, nên chỉ chưa đầy mười phút sau cái xác đã được đưa xuống khoang. Ông giục: - Bây giờ ta trở về nhà. Ông dùng chữ "nhà" xong thì chép miệng nói tiếp: - Tui đã sống gần cả đời trong cái chòi gọi là nhà đó ở đây, cậu thấy có khổ không? Dù đang sốt ruột bởi cái xác, nhưng Thạch An cũng tò mò hỏi: - Sao bác không kiếm chỗ nào cất cái nhà mà ở cho tiện nghi hơn? Ông lão cười nửa miệng: - Chung quanh Biển Hồ này chỗ có đất khô thì ở xa bên trong, mà người như tui và hầu hết dân Việt lên đây sống đều cần ở ngay vùng có nước, để làm nghề đánh bắt cá. Xa cái nghề này thì lấy gì mà sống? Họ đưa cái xác trở lại chòi và ông lão từ từ mở dây cột ra. Sau một lớp chiếu cũ thì tới một lớp dày những lá cây, vỏ cây và sau cùng là cái xác. Nhưng khi cái xác lộ ra thì chẳng riêng Thạch An kinh ngạc, mà ngay như ông lão, người trực tiếp liệm xác cũng phải kêu lên: - Sao lại như vậy? Bởi bên trong cùng chỉ là một bộ xương khô! - Ủa, đâu thể nào... Ông lão kêu lên rồi hết nhìn cái xác lại nhìn Thạch An. Anh chàng cũng sững sờ: - Bác nói mới chôn xác hồi sáng này? - Thì mới hồi mặt trời lên khỏi ngọn cây đây. Đó là một cô gái khá đẹp, người ăn mặc rất đẹp, có cái khăn choàng... Ông vừa nói tới đó thì Thạch An đã kêu lên: - Cái khăn choàng đây rồi! Anh chụp chiếc khăn còn dính với bộ xương khô. Rõ ràng nó là chiếc khăn mà Mỹ Lệ choàng lúc ngồi trên xe! - Đúng là cô ấy đây rồi! Cái khăn này không thể sai được... Ông lão thì cứ ngồi thừ người ra, miệng lẩm bẩm: - Xác mới bó chiếu chưa đầy một buổi thì làm gì rã thịt trơ xương ra như vậy được? Điều này là không thể... không thể... Trời lúc này đã tạnh mưa hẳn. Chợt có tiếng lao xao phía trước, rồi tiếng khua chèo, sau đó là giọng nói của ai đó vang lên: - Ông Tư Sang có ở đó không? Tư Sang là tên ông lão trên chòi, ông ta lên tiếng: - Có đây! Tui cũng đang có ý trông các ông tới thì quả nhiên có thiệt. Ghé vô đây, tui có chuyện này muốn hỏi. Ba người đàn ông trên hai chiếc xuồng lớn với mấy giỏ cá, họ thấy có mặt Thạch An thì ngạc nhiên hỏi: - Người này là gì của ông vậy, ông Tư? Chợt nhìn thấy bộ xương, họ hỏi liền: - Sao ông đem cái xác trên cây xuống làm gì? Chỉ về phía Thạch An, ông lão đáp: - Cậu đây muốn nhìn mặt người thân, nhưng mới mở ra đã phải điếng hồn vía rồi. Theo mấy ông thì có khi nào cái xác mới liệm một buổi đã hóa thành xương cốt không? - Làm gì có, treo trên cây như vậy phải mất ít nhất là hai năm thì mới rã hết. Ông Tư Sang liền đem chuyện táng xác kể cho ba người kia nghe. Vừa nghe xong họ đã kêu lên: - Cái xác đó dám là của người trong chiếc xe đò rớt xuống sông Kongpong Thom lắm à! Thạch An không kể họ là người lạ, vụt hỏi liền: - Cái xe đó rớt xuống sông hồi nào mấy bác? Một người trong bọn họ liền kể: - Tụi tui mới ghé vô bờ bán cá, nghe người ta đồn nhau ầm ĩ chuyện có một chiếc xe đò chở đầy hành khách, chẳng biết do tài xế ngủ gục hay sao đó mà lái luôn xuống cầu. Nghe nói chẳng một ai sống sót, tui nghĩ có thể có một vài cái xác đã văng ra khỏi xe và theo dòng chảy về Biển Hồ này, rồi trôi tấp qua phía bờ bên này, bởi mùa này nước giạt về phía của chúng ta đây. Như bị điện giật, Thạch An đứng phắt dậy: - Cháu phải đi qua bờ bên kia đây! Mấy người nọ đều lắc đầu: - Trời đang mưa giông như vầy cậu làm sao đi được? Phải đợi ít nhất là ngày mai. Thạch An sốt ruột: - Cháu không thể đợi được! Chiếc xe đò mà các bác nói có thể là xe do cháu lái, trên đó có người yêu của cháu. Cô ấy đang mang thai gần ngày sinh rồi! Ông già Tư giật mình: - Có thai hả? Cô gái này hình như cũng... có thai! Xem lại chiếc khăn choàng mình còn cầm trên tay, Thạch An bàng hoàng: - Như vậy thì không thể sai được rồi. Mỹ Lệ ơi! Thạch An gào lên trong nỗi tuyệt vọng, rồi bất kể, anh gục đầu lên bộ hài cốt khóc nức nở. Ông già Tư phải kéo anh ra: - Cậu phải bình tĩnh lại đã. Những gì tui nói chưa chắc là đúng hoàn toàn đâu, bởi giờ đây cậu không nhìn rõ mặt xác chết, biết đâu... Mấy người kia cũng nói: - Chuyện xác chết trôi sông thì không thể nói chính xác được. Như cách đây mấy năm, đứa con gái của một người nhập cư bị mất tích, sau đó người ta vớt được một cái xác mặc bộ quần áo y chang, chỉ có khuôn mặt là bị cá rỉa hết nhận không ra, nhưng căn cứ vào quần áo, cha mẹ cô gái đưa xác con về mai táng... Hai tháng sau bất ngờ cô gái đó trở về cho biết là mình bị bọn người xấu bắt đưa về Nam Vang bán cho một động điếm, may nhờ có người tốt bụng giúp cô ta trốn thoát! Họ an ủi Thạch An đủ điều, nhưng nhớ lại lúc Mỹ Lệ giận dỗi bỏ xuống xe, Thạch An không thể nào yên tâm. Anh cố hỏi kỹ: - Sông chảy qua thành phố Konpong Thom có chảy ra Biển Hồ không? Ông già Tư đáp: - Thì hầu như mọi con sông lớn ở xứ này đều chảy ra Biển Hồ. Chỗ chúng ta đang ở đây là trực diện với cửa sông đó. Do vậy... Một người bổ sung chi tiết: - Mọi thứ từ trong con sông cái đó đều trôi ra đây. Bằng chứng là cậu, có phải cậu trôi từ trong đó ra không? Thạch An thừ người ra một lúc rồi lắc đầu đáp: - Cháu cũng không nhớ. Chỉ mang máng nhớ lúc ấy mình bị hoa mắt, ngất đi thôi... Chương 2 Cô gái bị đem bán Một thời gian sau... Thạch An đã trở về được nhà sau đúng một tuần sống trôi dạt cùng những người nhập cư trên Biển Hồ. Việc đầu tiên của Thạch An là ghé lại Kompong Thom để hỏi thăm tin tức về chiếc xe. Người nơi đó xác nhận: - Cách đây khoảng chục ngày có một chiếc xe chở khách bất thần lao xuống sông, nghe nói có một số người nhảy ra khỏi và sống sót, còn lại đa số đều chết theo xe. Nhưng mới hôm qua, khi người ta trục được chiếc xe lên thì không tìm thấy cái xác nào trong đó! Nhớ lại hiện tượng mọi hành khách biến mất đêm hôm đó, Thạch An thảng thốt: - Hay đúng là họ đã biến mất trước đó? Vả chăng Mỹ Lệ cũng đã xuống khỏi xe rồi mà? Nhớ lại chiếc khăn choàng, Thạch An reo lên: - Phải rồi, tục choàng khăn ở xứ Chùa Tháp này thì cô gái nào cũng giống nhau cả. Có thể người chết không phải là Mỹ Lệ chăng? Với tâm trạng nửa nghi nửa ngờ như thế, Thạch An trở về nhà. Cô vợ Sam Sam Sơ Ri của Thạch An vừa mừng lại vừa tức giận khi gặp lại mặt chồng: - Anh đi đâu mà biệt tăm biệt tích cả chục ngày nay vậy? Có phải đi theo con nào ở Siêm Riệp không? Thạch An kể lại chuyện mình đã trải qua thì chẳng những không tin, mà trái lại Sam Sam Sơ Ri còn lồng lộn lên: - Đúng như vậy rồi! Anh nói xe bị tai nạn, vậy sao người đi chung với anh trở về đây an toàn ngay sau hôm đó, có nghe họ nói xe bị tai nạn gì đâu! Thạch An cố cãi, nhưng khi Hiệp, cậu phụ lái xe cho anh xuất hiện thì mọi việc đảo lộn hết. Anh ta thuật lại: - Khi anh ngủ thì em lái, nhưng sau đó em phát hiện trên xe không có hành khách, giống như trước đó anh đã gặp phải. Em ngừng xe lại tìm hoài không thấy anh, trong lúc đang loay hoay thì bỗng chiếc xe tự nhiên trôi từ từ, rồi tuột luôn xuống sông! Em ở lại đó nhờ người giúp trục chiếc xe lên nhưng không được nên vội trở về đây báo tin. Không gặp anh em nghĩ chắc là anh đi đâu đó, chớ chắc chắn anh không có trong xe lúc nó rớt xuống sông. Sam Sam SơRi càng được nước làm căng thêm: - Anh tưởng lâu nay giấu kín rồi tui không biết hay sao? Anh và con đó... Cô ta nói tới đó chợt ngừng lại khi bà mẹ bước ra. Hình như bà ta nháy mắt ra hiệu gì đó khiến cô nàng phải bỏ ngang cơn giận. Tuy nhiên vẫn còn ấm ức, nên cô quay vào nhà trong mà sắc mặt còn đằng đằng sát khí. Thạch An ngơ ngác: - Có chuyện gì vậy mẹ! Bà Kham Sô xua tay: - Ôi, đàn bà ghen bóng ghen gió đó mà! - Nhưng... chưa bao giờ SơRi lại có thái độ như hồi nãy! Con muốn biết là con đã làm gì nên tội mà cô ấy đối với con tệ quá. Chuyện con vắng nhà vừa rồi đúng là con bị tai nạn mà. Tai nạn ấy cho tới giờ phút này con cũng chưa biết thực hư ra sao nữa. Mẹ đã từng biết Biển Hồ chưa? Con đã bị trôi giạt ra đó trong mấy ngày qua! Bà Kham Sô nhìn sững chàng rể: - Con nói đã ra tới Biển Hồ? - Dạ, con bị ngủ mê trên xe, đến khi tỉnh dậy thì thấy đang bị trôi trên Biển Hồ, may mà gặp được người cứu. Bà chép miệng: - Con nói toàn chuyện gì đâu không, đến mẹ còn không tin nổi, nói gì con SơRi. Thạch An vò đầu bứt tóc: - Con có nói gì cũng chẳng ai tin, vậy ai muốn nghĩ gì cũng được! Anh bỏ ra ngoài khu vườn bên cạnh nhà, nơi có ngôi nhà mát mà thường khi Thạch An vẫn ra đó ngồi mỗi khi cần thư giãn. Bà Kham Sô cũng hơi bực với thái độ của chàng rể, nhưng chưa tiện nói ra. Bà bước ra cửa định đi chợ thì chợt có một người từ bên kia đường bước qua, trông thấy bà người đó đã kêu lên: - Bà Kham Sô, tôi tìm bà từ hai hôm nay rồi! Nhìn sững người khách không mời, lúc đầu bà Kham Sô còn chưa nhận ra, nhưng sau đó bà hơi lúng túng: - Có phải cô là... là.... - Tôi là Sáu Đen ở Sài Gòn nè! Lúc ấy bà Kham Sô mới sững sờ: - Cô Sáu đây sao? Mà... mà sao cô tới đây? Bà Kham Sô có vẻ không tự nhiên, nhìn trước ngó sau rồi lôi tuột khách vào trong nhà. Sáu Đen lên tiếng trước: - Có chuyện cấp bách nên tui phải tìm lên bà ngay, không tuân theo lời bà dặn, xin bà thông cảm. Bà Kham Sô hạ thấp giọng: - Có gì nói nhỏ nhỏ... Sáu Đen có lẽ quen ăn nói bổ bả nên vẫn giữ giọng điệu như trước đó: - Chuyện đó tui làm xong cả nửa năm nay rồi, tưởng là êm. Nào ngờ vừa rồi con Mỹ Lệ lại hiện về làm dữ lắm! Câu nói đó lọt ra bên ngoài, Thạch An nghe được, anh giật thót người, nhưng kịp kiềm chế, cố lắng tai nghe kỹ hơn... Bên trong nhà hình như bà Kham Sô không còn hạn chế lời nói của khách được, nên mặc cho Sáu Đen tiếp tục: - Con nhỏ đó thành ma rồi! Mà nghĩ cũng tại tui, lúc hại nó tui không quan sát kỹ, chớ nếu để ý một chút thì tui đâu có hại chết một đứa đang mang thai! Giọng bà Kham Sô thảng thốt: - Nó có bầu sao? Sao nói nó mới cặp với thằng Thạch An mà? Sáu Đen tỏ ra rành rẽ: - Đâu phải mới! Tụi nó yêu thương nhau từ năm sáu năm rồi, trước khi thằng Thạch An lên đây lập nghiệp rồi cưới con gái bà. Tui mới tìm hiểu đây và thấy bất nhẫn quá. Thêm nữa chuyện con Mỹ Lệ hiện về đòi mạng mấy bữa nay khiến tui và mấy đứa đàn em không đứa nào ngủ được! Tui cũng xin báo cho bà hay, tui thì còn có thể giữ mồm giữ miệng được chớ mấy đứa đàn em chúng không giữ được đâu. Tui e chúng nó... Bà Kham Sô la lên: - Phải tìm cách bịt miệng chúng nó lại chớ! Sáu Đen hạ thấp giọng: - Tui hứa cho tụi nó thêm tiền và đưa tụi nó đi xa, nhưng tiền nong tui bây giờ yếu lắm... Bà Kham Sô gắt lên: - Tôi đã trả tiền công đủ cho cô rồi, mà số tiền cũng đâu phải là nhỏ. Vậy sao bây giờ còn có ý... Giọng Sáu Đen đầy vẻ giang hồ, thách thức: - Thật lòng tui muốn chuyện này êm xuôi, chớ đâu có làm khó dễ gì bà. Nhưng con Mỹ Lệ không phải là người, nó đã là ma, do đó tui đâu biết nó trả thù lúc nào! Tui sợ lắm rồi, nếu bà không giúp giải quyết tụi đàn em tui thì chuyện chúng nó đi tố cáo để chuộc tội là điều tui không thể ngăn cấm được. Đó là chưa kể oan hồn con đàn bà có thai mà bị chết oan, nó sẽ ra tay báo oán bất cứ lúc nào! Bà Kham Sô có vẻ trách móc: - Hồi đó tôi đã dặn rồi, chỉ cần dọa cho nó sợ mà rút lui khỏi thằng Thạch An, để bảo vệ hạnh phúc cho con gái tui. Chớ tui đâu có... Sáu Đen lớn tiếng: - Bà nói sao? Chớ không phải bà dặn làm bất cứ điều gì miễn là diệt tận gốc, để con Mỹ Lệ đó không còn tồn tại hay sao? Khi thực hiện xong phi vụ này tui đã báo cho bà biết khi bà xuống mua bán ở Sài Gòn, lúc ấy bà còn thưởng thêm tui về cách làm nhanh, gọn và hiệu quả nữa! - Nhưng mà... - Thôi, tui nói mau để bà dễ tính. Bây giờ bà cho thêm một ít nữa để tui đưa bọn đàn em đi xứ khác sinh sống, tránh những điều không hay xảy ra. - Nhưng mà... - Còn nếu bà không chi thêm thì tui bỏ mặc tụi nó, tui bỏ xứ đi. Sau này tụi nó có khai linh tinh gì đó thì bà ráng mà lo. Biết nếu để kéo dài sự có mặt của mụ ta trong nhà sẽ sinh nhiều phiền toái, bà Kham Sô móc vội một số tiền đưa cho Sáu Đen và dặn: - Từ nay chị đừng ghé đây nữa, nghe chưa! Sáu Đen có vẻ không hài lòng với số tiền được đưa thêm, nhưng nghĩ sao mụ ta lại rút êm. Ra khỏi nhà khoảng vài trăm thước thì nghe có tiếng gọi phía sau: - Chị gì đó ơi! Sáu Đen hoảng hốt quay lại thì Thạch An đã đứng ngay sau lưng chị ta, anh nói nhanh: - Tôi sẽ gởi thêm cho chị ít tiền, chị ghé quán nước này nói chuyện một chút. Chưa từng biết mặt Thạch An, nên lúc ấy Sáu Đen tưởng gặp phải lính kín, chị ta hơi run: - Ông là... Thạch An nhanh tay đẩy chị ta vào một quán cà phê vắng gần đó, nói nhanh: - Tôi là Thạch An, người mà chị vừa nói chuyện với mẹ vợ tôi! Sáu Đen điếng vía: - Cậu... cậu đã biết chuyện? - Biết hết! Và chị thấy là đã đến lúc tôi báo cảnh sát bắt chị được chưa? Sáu Đen là tay giang hồ giết người không gớm tay, vậy mà vừa bị dọa đã quíu cả lên: - Tui đâu có làm gì! Tui chỉ... - Chỉ có giết người thôi chớ gì! Chị giết Mỹ Lệ khi nào? Bị nói trúng tim đen, Sáu Đen líu lưỡi: - Tui... tui không có giết. Đó là do bọn đàn em nó làm... Thạch An đanh giọng lại: - Tôi hỏi giết khi nào? - Dạ... đã gần năm tháng rồi... Thạch An ôm đầu kêu lên: - Trời ơi, vậy mà tôi nào có hay! Mỹ Lệ ơi... Lợi dụng lúc Thạch An đang ôm đầu gục xuống, Sáu Đen đứng vụt dậy định chuồn, nhưng Thạch An đã phát hiện kịp. Anh nắm chặt tay mụ ta lại, nói gần như thét lên: - Chị mà bước ra khỏi đây là coi như chị hết muốn sống rồi đó! Khôn hồn thì ngồi xuống đây nói hết cho tôi nghe, chị được mướn bao nhiêu tiền để làm chuyện tày trời ấy? Sáu Đen từng nghe Thạch An là dân tài xế chạy xe đường dài Sài Gòn - Nam Vang, nên cũng có hơi nhợn nên đành phải ngồi trở lại. Mặt bắt đầu xanh tái... - Chị được trả bao nhiêu tiền để làm chuyện này? Giọng chị ta ngập ngừng: - Dạ... hai lượng vàng... - Giết ở đâu và bằng cách nào? - Dạ... ở đấy... Thạch An sửng sốt: - Ở đấy là ở đâu? - Biển Hồ. Câu nói khiến cho Thạch An nhảy dựng lên: - Sao lại ở Biển Hồ? Sáu Đen như một phạm nhân trước vành móng ngựa: - Nói thiệt với cậu... đúng ra cô Mỹ Lệ không bị giết ở xứ này đâu, nhưng vì bọn đàn em của tui sợ làm ở bên xứ mình thì dễ đổ bể, nên nhân dịp cô ấy đi qua Nam Vang hồi tháng tư, hình như là để kiếm cậu cho nên tụi nó đã ra tay. Thạch An bị kích động dữ dội, anh nói như là ra lệnh: - Nói rõ cho tôi nghe coi, giết bằng cách nào? - Tụi nó đón bắt cô Mỹ Lệ ở bến xe lúc cô ấy nghe tin cậu có vợ bên này và sau đó đưa cô ấy ra Biển Hồ vào một đêm trời mưa. Chúng nó... xô cô ấy xuống hồ! Thạch An đấm mạnh xuống bàn: - Quân dã man! Biết cô ấy đang có thai mà chúng bay vẫn không tha, trời tru đất diệt tụi bây! Sáu Đen cũng không vừa: - Nếu tụi đàn em tui tội mười thì cậu tội cũng không nhẹ đâu. Chỉ vì cậu bỏ bê con người ta trong lúc cô ấy đang có mang, nên cô ấy mới cất công từ quê nhà sang tận đây tìm cậu, để rồi bị hại như vậy. Tui nghĩ... Thạch An điên tiết lên: - Chị mà còn nói nữa tôi sẽ giết liền tại đây! Rồi Thạch An lảm nhảm như kẻ điên: - Thảo nào mình trôi giạt ra tận Biển Hổ... thì ra Mỹ Lệ dẫn dắt mình ra đó, chính cô ấy đã chỉ lối cho mình tìm ra xác cô ấy. Vậy mà mình ngu muội, không biết gì... Sáu Đen nghe được lại tưởng là Thạch An đã khám phá ra mọi chuyện, mụ càng quýnh lên: - Cậu đã tìm được xác cô ấy? Tui... tui xin tạ tội, tui xin... Mụ ta bất ngờ sụp xuống lạy Thạch An, khiến những người chung quanh ngơ ngác, chẳng hiểu chuyện gì. Thạch An để cho mụ ta lạy, đến một lúc anh vụt đứng lên và nói: - Chị đi với tôi! Thạch An lôi mụ ta ra ngoài, hướng về phía nhà mình. Sáu Đen phản ứng bằng cách vùng thoát và chạy nhanh qua bên kia đường. Bị bất ngờ nên khi Thạch An đuổi theo thì đã chậm, mụ ta đã mất hút trong đám đông. Còn đang bực tức đứng nhìn theo thì bỗng Thạch An thấy chiếc xe đò mà mình thường lái, tức chiếc xe nghe nói đã rớt xuống sông Konpong Thom, vừa trờ tới đậu ngay trước cửa nhà của mẹ vợ. - Ủa? Thạch An chạy vội qua, nhìn thấy ngồi ở vô lăng là Hiệp, cậu phụ lái cho anh, Thạch An ngạc nhiên hỏi: - Xe được vớt lên hồi nào vậy? Hiệp giải thích sự có mặt của mình: - Xe mới được vớt chiều hôm qua, đáng lẽ còn phải chỉnh sửa, nhưng bà chủ ra lệnh phải đưa xe về đây để sáng nay đi liền. - Đi về Sài Gòn à? - Không! Đi Siêm Riệp. Thạch An nhìn lên xe thấy trống không, anh hỏi khẽ Hiệp: - Những hành khách đi xe bị rớt xuống sông giải quyết ra sao rồi? Hiệp lắc đầu cười: - Đâu có ai! Thạch An ngơ ngác: - Vậy là sao? Năm mươi hai người khi tôi rời bến ở Sài Gòn mà, sao lại không có ai? Hiệp đáp tỉnh queo: - Đã xuống xe hết chỗ trạm xăng, anh không nhớ sao? - Nhưng... chỉ vài phút sau thì xe lại đầy khách, tao nhờ mày lái thay, lúc đó khách đông đủ cả. Vậy là sao? Hiệp lắc đầu: - Em không biết! Nhưng khi xe lao xuống sông thì em văng ra khỏi xe, chiếc xe chìm lỉm, để rồi khi trục vớt lên thì không còn người nào trong xe. Cửa xe vẫn đóng kín, như vậy làm sao người thoát ra được nếu có trong xe? Điều này em cũng thắc mắc và định gặp anh để hỏi. Thạch An đang định vào nhà để hỏi mẹ vợ tại sao lại điều xe của mình đi Siêm Riệp, trong khi nếu xe đã sửa xong thì chính anh sẽ là người lái nó về lại Sài Gòn. Vừa lúc đó bà Kham Sô từ trong nhà bước ra, vừa thấy Thạch An bà đã gắt lên: - Mọi người đang chờ trong nhà để đi, sao con ở đâu nãy giờ? Thạch An đang bức xúc trong lòng về những gì biết được về tội ác của bà mẹ vợ này, nếu không gằn được thì Thạch An đã nổi xung thiên ngay. Cũng may lúc này Thạch An tự nhủ lòng là cố nhịn và sẽ chỉ nổ ra khi cần thiết. Thạch An chỉ đáp cộc lốc: - Con không thể lái đi đâu khi chưa biết những người khách đi xe tới Konpong Thom bây giờ đang ở đâu. Hay là họ cũng... bị thủ tiêu giống như cô gái tên Mỹ Lệ rồi? Câu nói của Thạch An đột ngột đã làm cho bà Kham Sô tái mặt, bà lắp bắp: - Sao... sao con nói chuyện của ai đó? Mỹ Lệ là người ra sao? - Má dám chắc là không biết người này? Bà Kham Sô chưa trả lời câu hỏi khó của Thạch An thì bỗng có giọng the thé của Sam Sam SơRi: - Biết con đó thì sao! Bây giờ anh ra mặt bênh vực nó phải không? Như giọt nước làm tràn ly, Thạch An nói như hét lên: - Quân giết người. Đồ dã man! Bị bất ngờ, bà Kham Sô vừa giận nhưng cũng vừa sợ, nên trong nhất thời bà không phản ứng kịp, trong khi Sam Sam SơRi thì vẫn đanh đá: - Anh làm gì khi tui giết đứa đã cướp chồng tui hả? Giết người thì sao? Bà Kham Sô bụm miệng con gái không kịp, nói như van lơn: - Má xin con, muốn gì thì từ từ nói... Thạch An chỉ thẳng tay vào bà mẹ vợ: - Bà giết Mỹ Lệ phải không? Bà Kham Sô run rẩy: - Không... má không... - Mụ Sáu Đen đã nói hết rồi, má còn muốn nói gì nữa không? Mà con nghĩ má và vợ con đâu còn gì để mà biện minh nữa. Bây giờ hãy để cho người chết nói chuyện với hai người thôi! Vừa lúc đó phụ xế Hiệp bước vô, anh chỉ tay ra xe và nói: - Lúc nãy có người gởi tui mang về đây một thứ mà thấy lạ quá tui không dám chở, nhưng người ấy nói nếu tui không chở thì sẽ hối hận... nên tui đành phải đem về đây. Bà Kham Sô hỏi: - Chở cái gì? - Dạ, một bó gì đó giống như đòn bánh tét lớn. Vừa nghe nói là Thạch An đã kêu lên: - Vật đó đâu rồi? - Dạ, ở ngoài xe. Thạch An chạy nhanh ra mà hai chân như quíu lại, linh tính cho anh biết là điều chẳng lành... Vật đó đặt nằm ở băng ghế sau cùng mà vừa nhìn thấy Thạch An đã nhận ra ngay, đó là cái gói xác chết treo trên cây ở bờ Biển Hồ mà anh đã gặp hôm trước! - Ai gởi vật này? Hiệp lúng túng: - Lúc em sắp sửa chạy xe về đây thì có một ông lão đã lên xe tự lúc nào không biết. Vừa bước xuống xe vừa chỉ tay lên và nói: "Mày chở vật này về giao cho chủ xe, nói với bà ta là hãy nhận lại vật mà bà đã cho người xô xuống hồ cách đây năm tháng!", rồi ông ta biến mất! Bà Kham Sô đang đứng bỗng té ngồi xuống ghế trường kỷ, trong lúc Sam Sam SơRi thì hơi biến sắc. Chỉ có Thạch An, bỗng nhiên anh cười lên như điên, rồi thét to: - Cuối cùng thì em cũng đã tìm tới đúng chỗ rồi Mỹ Lệ ơi! Trong lúc mẹ con bà Kham Sô xanh mặt sợ hãi thì Thạch An lại càng cười lớn. Chẳng biết là anh đang tỉnh hay mê... *** Hãng xe đò chạy tuyến Nam Vang - Sài Gòn là của bà Kham Sô. Trong số hơn chục đầu xe thì chiếc xe do Thạch An, con rể bà lái là chiếc mới nhất. Nhưng kể từ khi xảy ra tai nạn, rồi đến việc xác chết bó chiếu nằm trên xe thì hầu như chiếc xe đó không kiếm được tài xế. Ai cũng ngại lái nó. Mà ngay như Thạch An, kể từ hôm đó cũng bỏ nhà đi luôn, chẳng biết là đi đâu.Vào sáng sớm một ngày cuối năm... Bà Kham Sô ngồi xe cùng Sam Sam SơRi do tài xế Hiệp lái, đi về hướng Sài Gòn. Từ Nam Vang về Bù Vét, tức biên giới chỉ có ngót hai trăm cây số, nhưng chẳng hiểu sao Hlệp lái với tốc độ khá cao mà từ sáng sớm cho đến xế chiều vẫn chưa thấy tới. Quá sốt ruột bà Kham Sô hỏi: - Tới đâu rồi Hiệp? Hiệp cũng ngơ ngác, anh phải nhìn quanh mấy lượt mới trả lời: - Sao lạ quá, con lái đúng hướng, đáng lẽ giờ này đã qua khỏi Tây Ninh rồi, mà sao hình như... Anh nhìn thấy chiếc cầu và con sông lớn phía trước mặt có một thị trấn quen thuộc thì giật mình: - Ủa, sao kỳ quá. Sam Sam SơRi buột miệng: - Hay là đi lạc rồi? Hiệp buông thõng: - Lạc thiệt rồi! Bà Kham Sô trợn mắt nhìn Hiệp: - Mày lái đi đâu mà lạc? Ở đây là đâu? Hiệp ấp úng: - Dạ, hình như là... Konpong Thom bà ơi! Bà ta kêu lên: - Về Sài Gòn sao mày chạy ngược lên đây làm gì? Bộ muốn đi Angkor hả? Hiệp lúng túng: - Dạ, con đi về hướng Sài Gòn mà. Hồi nãy bà thấy xe mình qua phà Niết Lương đó, mà hướng đó thì chỉ mấy trăm cây số là tới Tây Ninh rồi. Sao kỳ lạ vậy? Sam Sam SơRi rít lên: - Đầu óc mày để đâu vậy? Trời ơi, đi lên đây làm gì không biết nữa! Tự dưng bà Kham Sô rùng mình. Bà run giọng nói: - Chạy ra khỏi tỉnh này ngay đi! Hiệp luýnh quýnh quay đầu xe và suýt nữa anh đã đâm xe vào thành cầu, càng khiến cho bà Kham Sô hốt hoảng: - Mày cẩn thận chớ! Mau đi đi! Vừa khi đó có một chiếc xe tải chở đầy hàng hóa va chạm với một xe tải khác ngay dốc cầu phía vừa đi qua, khiến hai xe nằm vắt ngang cầu và hàng đoàn xe phải kẹt lại. Hiệp kêu lên: - Điệu này làm sao qua! Phải mất hơn hai giờ sau đường mới khai thông. Lúc ấy trời đã tối và đổ mưa nữa, Hiệp nói: - Đường này không an ninh làm sao đi tối được. Mà từ đây trở lại biên giới phải trên bốn trăm cây số, e rằng... Sam Sam SơRi đã quá mệt, cô nàng gắt lên: - Kiếm khách sạn nào ở đi, đi không nổi nữa đâu! Nhưng bà Kham Sô phản đối liền: - Muốn ngủ thì chạy qua tỉnh khác, chớ không được ở đây! Sam Sam SơRi bực mình ngay với mẹ mình: - Má kỳ quá, ở đâu mà không được, miễn có khách sạn thôi. Bà Kham Sô nói như hét: - Tao nói không được! Hiệp phải lên tiếng: - Cô Sam Sam SơRi nói đúng, giờ này chỉ có thể ngủ ở Konpong Thom này thôi, chớ chạy cách cả trăm cây số nữa mới có khách sạn. Mà quãng đường này kể cả xe nhà binh Pháp còn không dám đi ban đêm nữa là... Sam Sam SơRi nói ngang: - Ông ghé đại vô chỗ nào đó cũng được, tui mệt gần tắt thở rồi đây! Bà Kham Sô vẻ sợ hãi nhưng chẳng còn cách nào hơn nên đành nín thinh. Hiệp đã từng ở chỗ này mấy đêm khi chờ trục vớt chiếc xe, nên anh ghé lại khách sạn quen, Hiệp nói: - Bà và cô Hai ngủ phòng hạng sang cho tiện nghi, còn riêng con thì quen ngủ trên xe rồi, khỏi cần mướn phòng. Mệt quá nên Sam SơRi không thiết gì chuyện ăn uống, cô nàng bảo: - Con ngủ cái đã! Chừng nào đói thì kêu bồi mua cái gì đó lên phòng ăn cũng được. Cô ta vô phòng và lăn ra ngủ ngay. Bà Kham Sô thì sau khi khóa chặt cửa phòng lại, còn dặn bồi phòng: - Không được kêu cửa, khi nào cần cái gì chúng tôi sẽ rung chuông. Móc khóa chưa đủ an tâm. Bà ta còn kéo chiếc ghế chận ngang cửa, vừa nói như nhắc nhở con gái: - Không được mở cửa đó nghe! Rồi bà ta đi tắm trước khi ngủ. Vừa vào nhà tắm bà ta vừa càu nhàu: - Cái thằng tài xế khỉ gió, chạy đâu không chạy lại chạy lên đúng chỗ này... Cái thói quen một khi tắm thì phải tắm khá lâu, cho nên phải mất gần nửa giờ sau bà Kham Sô mới từ trong phòng tắm bước ra. Đèn phòng đã được tắt, chỉ chừa lại bóng đèn ngủ nhỏ trên đầu giường. - Ngủ chưa con? Không có tiếng đáp, nghĩ là con gái đã ngủ nên bà nhẹ nhàng lên giường, nằm cạnh con. Bây giờ nỗi ám ảnh về chuyện cách năm tháng trước như sống dậy. Cũng ở thị trấn này, hồi đó tay bà không trực tiếp ra tay, nhưng chiếc xe Desoto của bà đã có mặt bà trên đó, chở theo một người mà sau đó bọn thủ hạ của Sáu Đen đã đưa xuống ghe, mà theo lời dặn của bà thì "phải đưa nó ra tận Biển Hồ, cho nó vĩnh viễn nằm dưới đó". Hôm đó cũng vào một đêm tối trời như thế này, mọi việc diễn ra khá nhanh, nhưng sao giờ đây nó như hiển hiện lại một cách chậm chạp và sống động... chẳng khác chuyện vừa mới xảy ra! Bất giác bà Kham Sô rùng mình, và quay sang ôm chặt con gái vào lòng, nói rất khẽ: - Má sợ quá con ơi... Chẳng thấy SơRi có phản ứng gì, mà bàn tay của bà lại có cảm giác lạ lạ, rồi bỗng bà rút tay về, vừa bật dậy vừa la lên: - Sao vậy SơRi? Con... con bị gì vậy? Người bà vừa ôm có thân thể ướt đẫm và lạnh như băng! Bà Kham Sô chưa kịp bước xuống giường thì toàn thân bà đã bị rớt xuống như trái mít rụng. Vừa bật dậy bà đã bật công tắc điện, căn phòng sáng choang. Trước mắt bà, một người hoàn toàn xa lạ đang nằm trên giường, nước ướt sũng lan ra thấm cả nệm. Dẫu đứng cách mấy bước, nhưng bà Kham Sô vẫn nhìn rõ mặt người đó, vẫn bộ quần áo đó, vẫn chiếc khăn choàng cổ đó và... bà chợt nhớ ra và kêu Iên: - Mỹ Lệ! Đúng người nằm trên giường kia là Mỹ Lệ, người phụ nữ mà năm tháng trước bà đã nhờ Sáu Đen và đàn em đưa đi thủ tiêu! - Bớ... Tiếng kêu thất thanh của bà Kham Sô chưa kịp phát ra cửa miệng thì bất thần như có ai đó từ phía sau đẩy mạnh, khiến bà nhào tới trước, rồi ngã sóng soài trên giường, ngay bên cạnh Mỹ Lệ. Lúc này bà ta mới phát hiện ra là Mỹ Lệ chỉ còn là... cái xác chết. Cố vùng dậy để bỏ chạy, nhưng chẳng biết bằng cách nào đó, cánh tay trái của bà ta lại bị cả thân thể xác chết đè lên, chẳng làm sao nhúc nhích được! Rồi một giọng sắc lạnh cất lên: - Trả nợ cho tao! Giọng nói đó phát ra từ miệng của xác chết. - Bớ... Bà Kham Sô cố gào lên, rồi đôi mắt tối sầm... Chương 3 Vay trả Đường bộ đi từ thành phố Siêm Riệp tới Biển Hồ chỉ hơn mười cây số, nhưng chẳng hiểu sao xe hơi chạy đã gần hai giờ mà vẫn chưa tới. Bà Kham Sô nhận ra điều bất thường nhưng không dám lên tiếng hỏi. Bởi người ngồi bên cạnh bà không phải là cô con gái đanh đá mà là... xác chết của Mỹ Lệ. Kể từ khi tỉnh lại sau cơn ngất ở phòng khách sạn thì bà Kham Sô đã nhận ra mình ngồi chung băng ghế với cái xác ma, nhưng dẫu có muốn rút tay ra khỏi bàn tay lạnh giá kia thì cũng chẳng làm sao rút được, nên đành ngồi im trong nỗi sợ hãi tột cùng. Thậm chí muốn lên tiếng hỏi tài xế Hiệp đang lái xe mà cũng chẳng làm sao hỏi được. Phải đợi đến khi xe ngừng lại ở một bụi cây rậm rạp, lúc ấy bà Kham Sô mới thu hết can đảm cất tiếng hỏi: - Con Sam SơRi đâu rồi? Tài xế Hiệp không trả lời, mà cái xác bên cạnh bà ta lại bất thần cử động và cất tiếng yếu ớt: - Con đây! Bà Kham Sô kịp nhìn lại và hết sức kinh hãi khi người ngồi cạnh mình lại là con gái, chớ không phải xác ma. Điều này quá đỗi lạ, bởi rõ ràng lúc lên xe chạy gần một giờ đồng hồ thì chắc chắn người này chính là cái xác kia. Vậy mà sao bây giờ lại là... - Sao lại là con, Sơ Ri? Giọng của SơRi nghe hơi khác thường, có lẽ vì quá sợ hãi: - Bộ má không muốn đem con theo sao? - Trái Iại, má đang sợ bỏ con lại đó một mình. Nhưng lúc nãy chính mắt má thấy... Sam SơRi chưa kịp đáp thì lúc ấy cánh cửa xe tự nhiên bật mở ra rồi hai mẹ con như bị ai đó xô ra khỏi băng ghế và sau đó tự động bước về phía trước mặt. Người đi trước dẫn đường là tài xế Hiệp. Anh ta chẳng nói lời nào, cứ lầm lủi bước nhanh. Mà anh ta càng đi nhanh thì mẹ con bà Kham Sô đi phía sau càng mệt, bởi phải cố bước cho kịp. Khoảng nửa giờ sau thì tới chỗ bến nước, mà vừa kịp nhìn thấy bà Kham Sô đã hoảng sợ: - Biển Hồ đây sao? Đây là lần đầu tiên bà ta nhìn thấy cái biển mênh mông này. Mặc dù cách có hơn bốn tháng bà cũng đã một lần ngồi trên thuyền xuôi dòng sông Konpong Thom, nhưng lần đó chỉ ra tới gần cửa sông thì thuyền đậu lại, để cho đám thủ hạ của Sáu Đen đi tiếp. Còn lần này được trực tiếp nhìn cả một vùng hồ rộng lớn ngoài sức tưởng tượng, bà Kham Sô chợt run lên và hai chân như rũ xuống, không còn bước đi bình thường được nữa. Lúc này tài xế Hiệp mới từ từ quay lại, vừa cất tiếng: - Nóng nực quá nên mệt, bước đi không nổi hả bà chủ? Vậy thì hãy đi nhanh xuống ghe để rồi còn tắm nước hồ cho mát chớ! Nghe giọng nói đúng là của tài xế Hiệp, nhưng gương mặt anh ta thì không phải. Mà là... chính là gương mặt của... Mỹ Lệ! - Trời ơi! Mặc cho tiếng kêu thất thanh của bà ta, người có thân xác là tài xế Hiệp, nhưng mang gương mặt của Mỹ Lệ vẫn bình thản vừa đi vừa nói: - Xuống ghe nhanh lên, mọi người đang đợi! Mẹ con bà ta ríu ríu nghe lời. Họ cùng bước lên chiếc ghe có mui đang đậu chờ sẵn. Vừa trông thấy chiếc ghe bà Kham Sô đã ngờ ngợ rồi chợt kêu lên: - Chiếc ghe ấy đây mà. Bà nhớ rất rõ, hơn bốn tháng trước, chính bà đã bỏ tiền ra mướn chiếc ghe có cái mui màu xanh này cho bọn đàn em Sáu Đen đưa người phụ nữ tội nghiệp tên Mỹ Lệ xuống để đem đi thủ tiêu. - Không... tôi không... Bà và cô con gái cố vùng thoát chạy trở lên bờ nhưng bỗng cả thân người họ bị nhấc bổng Iên, rồi nhẹ nhàng rơi lên sàn ghe và... nằm bất động. - Nhổ neo! Lệnh ban ra từ miệng của Mỹ Lệ. Sam SơRi còn lơ mơ tỉnh, cô cố nói bên tai mẹ: - Mẹ cố chạm vào người của Hiệp xem... người ta nói ma mượn lốt người khác thì chỉ cần chạm vào chân nó thì nó sẽ hiện lại nguyên hình. Má thử chạm đi... Bà Kham Sô sợ điếng hồn nên đâu dám. Sam SơRi phải bất thần chụp lấy tay bà ta rồi đưa chạm vào chân của Hiệp đang đứng kế bên. Một tiếng ré lên như tiếng heo kêu, rồi cả thân người của Hiệp đổ ngay xuống bên cạnh mẹ con họ. Lúc này gương mặt của Hiệp đã trở về nguyên trạng, nhưng anh ta nằm im như chết. Bà Kham Sô cố gào lên: - Dậy đi Hiệp! Nhưng mặc cho bà ta cố kêu gào và vùng vẫy, chiếc ghe vẫn từ từ lui ra giữa dòng và lướt đi thật nhanh. Bà Kham Sô đã mất hết khái niệm về thời gian, nhưng có lẽ cũng phải rất lâu sau đó... Chợt có giọng ai đó nghe rất quen cất lên: - Đúng chỗ này rồi đó! Một giọng khác còn quen hơn: - Cho họ xuống một lượt đi! Lời nói vừa dứt thì chiếc ghe chòng chềnh và mẹ con bà Kham Sô có cảm giác như bị hất tung lên cao và rơi xuống. Sau đó họ hầu như chẳng còn biết gì nữa, cho đến khi bên tai họ nghe có những âm thanh kỳ dị... Sam SơRi mở mắt ra trước, cô ta vừa nhìn thấy cảnh vật chung quanh đã phát hoảng: - Má ơi! Không thấy mẹ đâu, cô ta càng hoảng hơn. Vừa lúc đó có tiếng hét rất gần, khi Sam Sơ Ri nhìn lại phía sau thì thấy mẹ cô cũng đang trong tình trạng giống như vậy. Hai mẹ con đều bị treo lủng lẳng trên cành cây, mà phía dưới chỉ toàn nước và nước. - Mẹ ơi! Sam Sơ Ri cất tiếng gọi và bên cây kia giọng bà Kham Sô cũng cất lên: - SơRi con! Lúc này có một giọng thứ ba vang lên ở phía tay phải của họ: - Chỗ ở mới có tiện nghi không phu nhân và tiểu thư? Nhìn kỹ, cả hai thấy người hỏi lại là một ông lão đang ngồi trên một chiếc xuồng câu. Và nếu họ biết thì đó là ông Tư Sang. Người đã từng cứu Thạch An một lần. Bà Kham Sô cố kêu lớn: - Cứu giùm tôi với! Sam SơRi cũng la lên: - Con ngộp thở rồi ông ơi, xin cứu con giùm! Ông già Tư vẫn bình thản: - Xưa nay nằm trên nệm ấm chăn êm quen rồi, nay chỉ mới thử nằm trên cành cây có chút xíu đã kêu than rồi, vậy thử hỏi người suốt đời bị treo trên đó thì họ làm sao chịu nổi? Sam SơRi khóc òa lên: - Con sợ lắm ông ơi, xin cho con xuống. Ông già Tư đáp mà không nhìn lên họ: - Giữa treo trên đó như vậy và xuống đây để rồi bị bó lại bằng chiếc chiếu rách này, cô chọn cách nào? Bà Kham Sô nhìn thấy mấy chiếc chiếu rách trên xuồng đầu tiên và bà cũng từng nghe nói là người chết ở đây được bó trong chiếu và treo lơ lửng giữa chánh ba cây, nên vừa nghĩ tới viễn cảnh đó đã kêu thét lên: - Chúng tôi không muốn chết! Bấy giờ ông già Tư mới quay lại nhìn thẳng vào bà ta: - Vậy sao bà làm cho người ta chết rồi thân xác người ta bị treo trên đó suốt đời thì được? Bà hãy nhìn lại ngay bên cạnh bà đó, có phải có người nằm đó vĩnh viễn không? Lúc ấy bà Kham Sô mới chợt nhìn thấy có một xác người bó chiếu treo ngay bên cạnh. Bà thét lên: - Trời ơi, cứu tôi! Ông già Tư cất tiếng cười nghe thê lương lạ thường, rồi giọng ông như tiếng than khóc: - Ở đời bất công vậy đó. Người ta giết người rồi xác người bị hại treo giữa rừng nước cô quạnh thì được, mà khi người ta bị thì lại sợ hãi, kêu la! Vậy tui hỏi mọi người, trường hợp của bà ta thì có tha hay không? Bỗng có nhiều tiếng đáp vang lên: - Làm sao tha được khi bà ta là chủ mưu vụ này mà! Nghe lẫn trong lời đáp đó có giọng quen quen, bà Kham Sô đảo mắt nhìn quanh thì chợt nhận ra giọng đó ở ngay cạnh mình. Và chợt bà kêu lên: - Mỹ Lệ! Xin cô... Giọng đó lại vang lên: - Tôi phải đưa bà về đây hôm nay là để bà thấy hậu quả do bà gây ra! Bà thấy rồi chớ, nạn nhân của lòng thù hận ích kỷ của bà đã chết và chịu như thế này mãi mãi. Vậy theo bà thì nếu bà trả nợ tôi thì cái chết treo có phải là hình thức tương xứng không? Mỗi lời nói phát ra thì cái xác táng trong chiếc chiếu bó tròn kia lại lắc lư theo nhịp gió thổi qua. Bà Kham Sô đã sợ chết điếng rồi, nên giọng của bà không còn phát ra trơn tru nữa: - Tôi... tôi xin lỗi... tôi hối hận... tôi... Sam SơRi khóc như con heo bị thọc huyết vừa van lơn: - Xin chị tha mẹ con em. Cũng chỉ vì ích kỷ, muốn chiếm đoạt anh Thạch An một mình nên mẹ con em mới làm chuyện ác. Bây giờ thì em đã biết tội mình rồi. Vậy xin chị Mỹ Lệ hãy rộng lòng tha cho em và cho cả cái thai em đang mang trong bụng nữa... Giọng của Mỹ Lệ lẫn giữa đau đớn và thù hận: - Vậy khi mẹ cô giết chết tôi thì đứa con trong bụng tôi nó cũng đâu có thoát. Cô có biết lúc ấy tôi cũng van xin bà ta như vậy, thậm chí còn thống thiết hơn nữa kia, vậy mà bà ta có đoái hoài tới đâu, vẫn ra lệnh cho đám kia dìm tôi xuống nước, khiến tôi chết mang theo cả cái thai năm tháng tuổi, có thê thảm không? Sam SơRi nhìn sang mẹ: - Có phải vậy không mẹ? Bà Kham Sô khóc nức nở: - Cái ác đã khiến mẹ phải làm như vậy... mẹ biết lỗi mình rồi và chỉ xin... Bà quay sang cái xác bên cạnh: - Tôi đã gây ra tội ác thì phải trả, chỉ xin cô để con tôi yên, để nó sanh con và nuôi đứa nhỏ. Một tràng cười vang lên: - Bà con hãy nghe người ác nói chuyện nhơn đức nè! Theo bà con thì có nên làm theo lời bà ta không? Những tiếng vang lên: - Không! Đừng nghe lời bà ta! Tuy nhiên, giọng của Mỹ Lệ lại vang lên: - Tuy ai cũng có thể đồng tình với tôi về cuộc báo thù này, nhưng tôi không muốn lặp lại tội ác mà kẻ thù của tôi đã gây ra. Có nghĩa là tôi không giết người phụ nữ đang mang thai này, mà chỉ trừng trị người đàn bà táng tận lương tâm thôi! Lời vừa dứt thì bỗng thân thể đang treo lơ Iửng của bà Kham Sô bị rơi xuống nước, cùng lúc với năm, sáu thân thể nữa ở các cây gần đó. Giọng của Mỹ Lệ trầm xuống: - Bà ta đã chết cùng với bọn Sáu Đen, những kẻ không đáng sống trên đời nữa. Sam SơRi thét lên một tiếng rồi ngất trong lúc thân thể vẫn còn treo lơ lửng như vậy. Giọng nói rất nhẹ của Mỹ Lệ: - Mọi việc gần như xong rồi chú Tư. Vậy phiền chú giúp nốt cho con việc đưa cô ta về nhà giùm. Ông già Tư hơi lưỡng lự: - Nhưng sao cô... lại để cô ta sống? Đây là đứa ích kỷ, lòng dạ độc ác không thua gì mẹ cô ta đâu! Mỹ Lệ thở dài: - Đủ rồi chú Tư! Vả lại cô ta còn có đứa con của Thạch An trong bụng, mà con thì không muốn Thạch An không có người nối dõi. - Nhưng... - Không sao đâu! Con đã tiên liệu mọi việc rồi. Cô ta sẽ chỉ làm mỗi nhiệm vụ là sinh ra đứa con thôi. Còn những điều khác thì hãy để số phận tính... Ông già Tư muốn nói thêm, nhưng cái chiếu của Mỹ Lệ đã tan biến nhanh thành bụi bay theo gió. Ông già Tư chỉ còn biết thở dài rồi từ từ đỡ thân thể của Sam SơRi xuống. Ông chép miệng: - Lòng dạ con người lương thiện thì dẫu có thành hồn ma họ cũng đâu thể độc ác, táng tận lương tâm như bọn ác nhân thật sự. Thay mặt những người còn sống trên thế gian này, chú xin có lời cám ơn cháu, Mỹ Lệ! Ông vừa đưa Sam SơRi đặt lên xuồng, vừa quay lại nhìn những thân thể người, trong đó có bà Kham Sô nổi lềnh bềnh trên mặt nước, vừa nói với họ: - Các người hãy trôi trên nước đi, để trải qua đúng như những gì cô Mỹ Lệ đã chịu đựng, rồi đợi tôi đi Nam Vang về sẽ tìm chỗ định cư cho! *** Bốn tháng sau Sam SơRi sinh đứa con đầu lòng.Nó là một đứa con trai, giống Thạch An như đúc và còn lạ hơn nữa nó lại có phần giống Mỹ Lệ, chớ không có chút gì giống Sam SơRi cả. Chính Thạch An đứng ngẩn ngơ rất lâu nhìn đứa trẻ và sau cùng anh lẩm bẩm: - Đúng như Iời Mỹ Lệ nói trong giấc mơ rồi... Trong chiêm bao, đã ba đêm liền Thạch An được cái vong của Mỹ Lệ về báo là đứa trẻ do Sam SơRi sinh ra chính là giọt máu của Thạch An với cô mà cô đã mang xuống âm cảnh, nay cho nó trở về thay đứa con của Sam SơRi trong bụng. Mỹ Lệ có hỏi rằng Thạch An có đồng ý như vậy không, lúc ấy Thạch An lặng thinh. Bởi cả hai đứa đều là giọt máu của anh, vậy làm sao Thạch An có thể nhẫn tâm để đứa này, bỏ đứa kia? Bất giác Thạch An thở dài, nói một mình: - Đành phải vậy thôi! Sam SơRi bất chợt nói: - Đứa con này là của anh và chị Mỹ Lệ, anh hãy nhận lấy! Nói vừa xong thì bất ngờ Sam SơRi bước xuống giường, rồi đi thẳng ra ngoài cửa, mặc dù mới sinh được có hai ngày. Lúc đầu Thạch An tưởng cô nàng đi vệ sinh, nhưng sau khi chờ gần nửa giờ vẫn không thấy Sam SơRi trở vô, Thạch An hốt hoảng chạy đi tìm. Lúc ấy có một người ngồi bán hàng phía trước nhà bảo sinh đưa cho Thạch An một mảnh giấy nhỏ, trong đó có mấy chữ của Sam SơRi: "Đừng tìm tôi! Hãy cố nuôi thằng bé, cô Mỹ Lệ muốn như vậy đó. Anh mướn một người nuôi đứa bé rồi trở về nhà ngay để giải quyết mọi việc. Sam Sơ Ri". Thạch An hoảng quá, nhưng rồi cũng phải làm theo lời dặn đó. Anh trả tiền và nhờ bảo sinh viện chăm sóc giùm đứa bé trong một tuần lễ, để sau đó anh sẽ đem con về nhà. Sau đó Thạch An ngồi xe về nhà ngay. Nơi mà anh đã dự tính là sau khi Sam SơRi sinh con anh sẽ bỏ đi luôn, không ở đó nữa. Nhưng khi về tới nhà Thạch An đã giật mình khi thấy chị người làm chạy ra đưa anh chùm chìa khóa nhà, cùng một hộp giấy tờ. Giở ra xem thì trên cùng là một phong thư của một luật sư. Ông ta viết khá rõ ràng: "Tuân lệnh thân chủ tôi là cô Sam Sam SơRi, kèm theo là tờ ủy quyền hợp pháp, tôi là luật sư Yeng ĐơNi xin thông báo đến ông Thạch An là: Cô Sam Sam SơRi đã nộp đủ thủ tục ở văn phòng công chứng để chuyển nhượng toàn bộ tài sản của cô sang cho ông và đứa con mới sinh là Thạch Luôn. Vậy từ nay ông là sở hữu chủ duy nhất của số tài sản gồm: một ngôi nhà ở Nam Vang, hai ngôi nhà ở Battambang, một ngôi nhà tại Sài Gòn (văn bản quyền sở hữu mang tên ông kèm theo đây), cùng công ty vận tải liên quốc gia, chạy tuyến Nam Vang - Sài Gòn, giao ông khai thác, sử dụng mà không được sang bán cho người khác cho đến khi đứa bé Thạch Luôn đủ mười tám tuổi, khi đó chính đứa bé sẽ là sở hữu chủ vĩnh viễn mọi thứ vừa kể trên. Luật sư Yeng ĐơNi".. Thạch An cầm hộp giấy tờ mà ngẩn ngơ hồi lâu, rồi sau đó anh gào lên: - Không, SơRi! Anh định chạy đi tìm thì chị người làm vội nói: - Cô Sam SơRi bảo là cậu đừng đi tìm, sẽ không gặp được cô ấy đâu. Tốt hơn hết là cậu hãy cố chăm sóc đứa con mình. Nếu cậu không chê tôi già yếu, thì xin giao đứa bé cho tôi nuôi. Hy vọng tôi còn sống để nuôi nó khôn lớn. Thạch An chỉ biết ngồi thừ người ra. Sau đó... Thạch An làm đúng theo lời dặn của Sam Sam SơRi. Anh tiếp tục quản lý cơ ngơi của nhà vợ và làm rất khá. Chẳng mấy chốc tài sản phát triển nhanh gấp bội trước kia. Đứa bé lớn lên thường hay hỏi cha: - Mẹ con đâu rồi cha? Thạch An chỉ đáp lơ lửng: - Mẹ con... có việc đi xa, sẽ có ngày trở về... Cho đến một ngày kia có người tới báo chắc với Thạch An rằng, họ gặp được xác của Sam Sam SơRi chết trôi ở bờ Biển Hồ gần làng đánh cá của người Việt. Họ định vớt đem về giúp Thạch An, nhưng khi vừa mang lên ghe thì tự dưng cái xác biến thành tro bụi bay theo gió mất tăm. Thạch An lặng người đi, rồi hai hàng nước mắt của anh tuôn chảy. Thốt nhiên anh nói thầm: - Hẹn em kiếp sau... Chẳng hiểu trong lòng của Thạch An lúc ấy hẹn mà hẹn với ai. Mỹ Lệ hay Sam Sam SơRi? Thật ra tuy Sam Sam SơRi là kẻ có nhúng tay vào tội ác, nhưng chưa hẳn cô ta hoàn toàn xấu. Và cũng có thể cô cũng xứng đáng nhận được lời hứa của Thạch An lúc này... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 46
CHIẾC VÒNG HÔN ƯỚC -Chương 1 Giấc mộng đêm hè Hảo tự dưng thấy khó ngủ, nên anh đi tắm và sau đó mở toang cửa phòng ngủ trên lầu, nằm quay ra hướng cửa nhìn ra bầu trời đêm lác đác vài vì sao lạc. Bất giác Hảo tự nhủ: - Thấy sao băng mà ước điều gì ắt được điều ấy! Tự dưng anh mỉm cười với chính mình. Bởi đã lâu lắm rồi anh không hề có một ước mơ nào cả. Có thể do quá bận bịu cho kỳ thi lấy bằng cử nhân luật, đồng thời có lẽ do đâu óc Hảo luôn căng thẳng chuyện cứ bị mẹ mình giục cưới vợ, làm cho anh chàng chẳng hề dám nghĩ ngợi điều gì ngoài những điều xảy ra trước mắt. Mà người ta nói cũng đúng, chỉ những người nhàn rỗi hay quá thiếu thực tế mới hay mơ mộng, ước mơ thôi... - Cậu ơi, bà muốn gặp cậu dưới nhà, mời cậu xuống. Tiếng gọi của bà Linh làm cắt ngang dòng suy nghĩ của Hảo, anh hỏi vọng ra: - Bây giờ mấy giờ rồi mà mẹ tôi còn thức? - Dạ, đã khá khuya rồi, nhưng bà vẫn đang ngồi đợi cậu ở phòng khách. Miễn cưỡng Hảo mặc áo khoác ngoài rồi xuống phòng khách. Anh nhìn đồng hồ tay thấy đã hơn mười giờ, nên vừa thấy mặt mẹ anh đã càu nhàu: - Con đang mất ngủ mà má càng làm con khó ngủ hơn. Việc gì để ngày mai không được sao má? Bà Dung chép miệng: - Phải thức tới giờ này má đâu có muốn. Nhưng cứ hễ nhắm mắt lại thì y như rằng lại nghe tiếng nói nhắc chuyện mà chính má con phát ngán ngẫm... Hảo vừa ngáp vừa ngồi xuống ghế trường kỷ, lặp lại: - Chuyện gì vậy má? Bà Dung hơi khó nói, nhưng rồi cũng phải bộc bạch: - Ai đó cứ giục má cưới vợ cho con hoài. Đã ba đêm liền, cứ vào khoảng chín mười giờ khi má đang ngủ thì bị gọi giật ngược dậy. Hảo lại càu nhàu: - Tại má cứ nhai trầu hoài, vôi và lá trầu nóng làm thần kinh má căng thẳng và sinh ra mộng mị lung tung. Má thôi đừng ăn trầu nữa sẽ hết ngay thôi! Bà Dung lắc đầu: - Má đã bỏ trầu từ cả tháng nay, từ lúc bị bịnh. Nhưng càng nhịn trầu thì buồn miệng, lại càng khó ngủ. Mà hễ ngủ thì y như là... chiêm bao. Ba bữa nay má chiêm bao thấy có một người nào đó lạ hoắc, cứ đứng trước mặt má nghiêm sắc mặt rồi nói như ra lệnh: "Bà phải cưới vợ cho thằng con trai ngay đi, không được để cho có người phải chờ đợi. Bà mà không nghe lời thì đừng trách sao tai họa tới". Đó, con nghĩ sao với lời đe dọa này? Hảo xua tay: - Ba cái chuyện vớ vẩn đó mà má cũng tin sao? Chẳng lẽ trong chiêm bao má thấy ai đó biểu giết người rồi má cũng nghe theo sao? Bà Dung vẫn quả quyết: - Nhưng chuyện này khác! Hình như ai đó biết chuyện con không thích lấy vợ nên quyết ép má phải giục con làm theo. Vả lại người ấy còn nói mối lương duyên này nếu không thành thì má và con sẽ không toàn mạng! Hảo đến phải bực lên: - Má còn nói chuyện đó nữa thì ngay sáng mai con sẽ đi chơi xa, đến khi nào má thôi không có ý đó nữa con mới về. Bà Dung còn lạ gì tính thằng con cứng đầu như ba nó, có nói lắm thì cũng chỉ đưa tới hai mẹ con cãi nhau mà thôi, nên bà hơi dịu giọng: - Nhưng con không thương má sao Hảo? Nếu tình trạng này kéo dài chắc là má sẽ điên mất! Cũng thừa hiểu mẹ mình có bộ thần kinh không tốt, nên Hảo cũng bớt nói cứng: - Thì cái gì má cũng để từ từ con tính, chớ gấp gáp sao được. Nghe con nói câu đó bà Dung mừng rơn: - Con hứa với má rồi đó nghen! Chỉ cần con hứa thôi, má cũng sẽ ngủ được tối nay. - Nhưng mà... Hảo định nói thêm, nhưng chợt nghĩ lại nên anh thôi. Dợm đứng lên đi về phòng thì bà Dung dặn thêm: - Mấy ngày nay con phải ở nhà để mẹ an tâm, đừng đi đâu nghe chưa. Hảo miễn cưỡng hứa: - Dạ. Nhưng má cũng đừng có nghĩ ngợi linh tinh nữa. Má cần thuốc an thần không con đi mua? Bà Dung lắc đầu: - Má uống đến hai viên mỗi đêm, thay vì một viên như bác sĩ dặn, mà có tác dụng gì đâu. - Má cũng đừng uống quá liều như vậy, càng có hại thêm mà thôi. Chỉ cần mỗi đêm một viên rồi thanh thản mà ngủ, như vậy sẽ có hiệu quả hơn. Tuy dặn mẹ mình như vậy, nhưng chính Hảo khi trở về phòng lại càng nghĩ ngợi lung tung và hầu như chẳng tài nào chợp mắt được. Cho đến khi đồng hồ treo tường gõ hai tiếng khô khan... Cảm giác hơi lạnh bên ngoài lùa vào một cách bất thường, khó chịu, Hảo đứng lên đóng cửa sổ lại. Đêm hè trời oi bức mà lại có những luồng gió khó chịu quá. Hảo trở lại giường nằm và bắt đầu nhắm mắt lại, đếm số như nhiều lần mất ngủ anh vẫn hay làm. Một, hai... mười... hai mươi... cho đến số một ngàn thì đôi mắt của Hảo mới từ từ khép lại thật, cơn buồn ngủ ập đến... - Nè, sao nhốt người ta trong này, ngộp thở quá đi thôi! Tiếng của ai đó kêu khe khẽ khiến cho Hảo nhướng mắt lên nhìn, chỉ thấy lờ mờ một bóng con gái ở cách chỗ Hảo chừng vài thước. - Ai vậy? Đó là câu hỏi thoáng qua trong đầu Hảo, nhưng ngay lập tức tan biến ngay, bởi cơn buồn ngủ lại ập đến. - Mở cửa ra mau! Mở cửa... Hảo lại nhướng mắt lên và lại vẫn nhìn thấy cô gái ấy. Nhưng lần này cô nàng đứng gần cửa sổ hơn, như đang cố đưa tay mở cửa mà không mở được. Lúc này nàng ta quay mặt đối diện, cho nên Hảo nhìn khá rõ khuôn mặt thanh tú với mái tóc dài quá vai. Chỉ có điều là đôi mắt của nàng ta thì sáng nhưng đượm nét buồn sâu thẳm, khiến vừa thoạt nhìn thì Hảo đã có ấn tượng và chút gì đó xót xa... Cái bệnh muôn thuở của Hảo là như vậy, tuy không mê đắm đàn bà, nhưng rất nhạy cảm trước những ánh mắt buồn hay sầu khổ. - Cô là... Hảo chỉ hỏi được mấy tiếng đó, rồi như bị ai chận ngang miệng, không thể nói thêm nữa. Cho đến khi cô gái nhắc lại lời than vãn lúc nãy: - Ngộp thở quá, làm ơn giúp thả em ra đi! Hảo lấy làm lạ, tại sao cô nàng cũng ở trong phòng như anh mà lại kêu khó thở, trong khi anh thì vẫn bình thường? - Cô sao vậy? Lần này thì Hảo đã thốt được thành tiếng và thậm chí còn ngồi bật dậy nữa. - Cô là ai? Hảo dợm bước tới thì cô gái hốt hoảng đưa tay ngăn lại: - Không được đến gần đây! Nếu anh mà tới thì... thì em chết liền tại đây! Nàng vừa nói xong thì gục xuống, ôm mặt khóc nức nở. Điều này khiến cho Hảo hốt hoảng: - Kìa, sao cô Iại... Cô gái giải thích: - Em đi lạc đường, lỡ đột nhập vào phòng anh, xin anh tha lỗi cho và thả giúp em ra... Nhưng mà không được, em ra bây giờ thì họ giết em chết mất. Xin cho em tá túc một chút nữa, với điều kiện là anh mở giùm cửa sổ ra, em không thể sống mà thiếu không khí được. Xin hãy giúp em... Hảo ngạc nhiên: - Ai đang truy đuổi cô? Cô nàng rõ ràng là đang sắp ngộp thở, chỉ còn có thể huơ hai tay vào không khí một cách yếu ớt, như sắp chết. Hảo không còn kịp nghĩ gì thêm, anh nhảy tới và mở bung cánh cửa sổ ra. Vừa lúc ấy cô gái đổ sụp xuống sàn nhà, người run lên liên hồi. - Kìa, cô sao vậy? Cô gái lịm đi, nhưng nhịp thở vẫn còn đều. Hảo lo sợ định gọi mẹ mình, tuy nhiên kịp nghĩ nên anh nín im một lúc rồi nhẹ nhàng gọi: - Cô ơi, cô có sao không? Cô gái vẫn nằm im. Hảo chợt nhớ nếu một người bị ngất mà để nằm dưới gạch thì họ có thể bị nhập thổ mà chết, nên anh đánh bạo bế cô nàng lên, đưa lại giường mình. Sợ bị hiểu lầm, nên Hảo vội bật thêm ngọn đèn sáng và lúc này mới giật mình khi nhìn vào khuôn mặt cô nàng. - Đẹp lạ thường! Hảo phải thốt lên như vậy rồi đứng ngẩn ngơ một lúc cho đến khi có tiếng gọi của mẹ ở nhà dưới: - Hảo ơi, có chuyện gì mà con mở đèn sáng nửa đêm vậy? Sợ mẹ mình lên, nên Hảo vói vọng ra: - Có con chuột chạy vào phòng nên con đang kiếm đập nó! Rồi anh tức khắc tắt đèn. Lúc này Hảo mới bắt đầu suy nghĩ là làm sao với cô nàng đây và cô ta là ai? Vào phòng anh từ lúc nào? Trước khi xuống nhà gặp mẹ thì Hảo không hề thấy cô ta trong phòng mình mà... Bao nhiêu câu hỏi không thể giải đáp trong nhất thời, mà nếu cứ để cô nàng trong phòng mình như thế này e rằng sẽ gặp rắc rối đây! Hảo suy nghĩ nhanh, rồi anh quyết định: - Cứ để cô ta trong này, mình sang phòng bên ngủ tạm vậy. Nhà còn mấy phòng trống, trong đó có gian phòng mà Hảo vẫn hay dùng làm nơi học bài. Anh bước ra ngoài, khóa cửa lại ở ngoài, đề phòng cô nàng bước ra đi lung tung chắc chắn sẽ gặp mẹ anh hoặc mấy chị người làm. Một mình bên phòng kia, Hảo cũng không thể nào ngủ được. Anh ngồi chờ đến khi đồng hồ gõ năm tiếng thì vội trở về phòng, mở cửa vào với ý định là kêu cô nàng dậy để ra khỏi nhà trong khi mọi người còn say ngủ. Nhưng khi Hảo mở cửa ra anh suýt nữa kêu to, bởi phòng trống không, chẳng thấy bóng dáng cô gái đâu mà cửa chính, cửa sổ đều vẫn còn khóa chặt. Tìm một lượt khắp nơi trong phòng mà không hề thấy cô ta, Hảo tự hỏi: - Chẳng Iẽ cô ta biến thành gió bay đi được sao? Chợt Hảo nhìn thấy có một mảnh giấy đặt trên gối nằm với những chữ viết vội: "Hãy tìm em ở thôn Đông Thạnh, huyện Thiện Nhân, tỉnh này... Em sẽ chết nếu không được cứu kịp thời. Hãy cứu em với! Mỹ Hương." Vừa lúc ấy có tiếng gọi của bà Dung: - Ra đi với má tới chỗ này gấp, Hảo à! Đang còn thẫn thờ, nhưng Hảo cũng phải mở cửa ra. Vừa nhìn thấy con, bà Dung đã nói gần nói xa: - Không chậm trễ được con ơi, mau đi con. Hảo ngạc nhiên: - Đi đâu giờ này hả má? Bà Dung kéo tay con, có lẽ sợ Hảo không chịu đi. Hảo phải kêu lên: - Má phải để con mặc đồ đã chớ! Đứng chờ cho con mặc quần áo xong bà Dung mới chịu đi. Xuống tới nhà dưới bà mới nói: - Má mới vừa bị cái vong của ai đó vừa kêu gào vừa khóc lóc, nói rằng nếu má và con không tới đó liền thì họ sẽ bị chết, mà mẹ con mình cũng nguy tới tánh mạng nữa! Đã quá chán với câu chuyện của mẹ, nhưng Hảo cũng phải lên tiếng hỏi: - Đi đâu bây giờ má? - Qua huyện Thiện Nhân. Vừa nghe tới đó thì Hảo hoảng vía: - Má nói đi đâu? Ai ở bên huyện đó? - Không còn thời giờ nữa, cứ đi rồi ắt biết! Bà Dung kéo con trai đi mà không cần biết Hảo đang rất hoang mang. Đến khi xe ngừng lại trước một ngôi nhà lớn thì bà Dung không đợi chủ nhà ra, đã gọi lớn vào trong: - Mở cửa mau lên! Từ trong có một người lớn tuổi bước ra và không ngờ họ lại rất mừng rỡ khi thấy hai người khách lạ, như đã quen từ lâu: - Cả nhà đang chờ bà tới từ sáng sớm đến giờ! Hảo ngạc nhiên, hỏi khẽ mẹ: - Bộ nhà này quen với má hả? Sợ con hỏi lôi thôi, bà Dung kéo Hảo đi nhanh vào trong. Có một đôi vợ chồng cỡ tuổi sáu mươi đang ngồi sẵn ở phòng khách, vừa thấy bà Dung vào họ đã reo lên: - Bà tới kịp thời, may là chưa có chuyện gì xảy ra! Người phụ nữ, chừng như là chủ nhà, vội nói: - Suốt đêm rồi chúng tôi cứ bị thúc hối, bảo phải đi tìm bà cho bằng được. Sáng nay chúng tôi vừa tính đi thì nhà tôi đây, người ta gọi là ông giáo Thái, nhận được tin là bà sắp tới, nên cả hai ngồi đây chờ. Có phải bà là bà Dung ở Lộc Thiện? Còn đây là cậu Hảo, một luật sư tương lai? Hảo ngạc nhiên quá đỗi khi thấy bà ta biết rõ về mình như vậy nên đánh bạo hỏi: - Sao bác biết con? Người đàn ông giờ mới lên tiếng: - Chẳng những biết tên, nghề nghiệp của cậu, mà chúng tôi còn biết cậu có quen với con gái tôi nữa! Bà Dung nhìn con, sửng sốt: - Có đúng là con quen với cô nhà này không, Hảo? Hảo lắc đầu, chưa kịp trả lời thì chợt có tiếng chân bước từ trong ra, rồi một người con gái xuất hiện. - Hả? Hảo chỉ kêu được một tiếng rồi sững người như trời trồng. Phần cô gái thì cũng giống như Hảo, cô tròn mắt nhìn khách rồi thốt lên trong sự sửng sốt: - Là anh đây sao? Người con gái đang đứng đó chính là cô gái đã lọt vào phòng của Hảo đêm qua! Cô nàng sau vài giây sững sờ, đã lấy lại bình tĩnh và cất tiếng: - Đúng là anh rồi! Bà chủ nhà quay sang con, hỏi khẽ: - Đúng rồi phải không con? Đúng là người con muốn gặp rồi phải không? Cô gái nhẹ gật đầu: - Dạ đúng! Rồi cô bất thần ngã đầu vào Hảo và... òa khóc trong niềm vui tột cùng. Hảo cũng hành động ngoài sức tưởng tượng của chính bản thân mình, anh đưa tay ôm đầu và vuốt lên mái tóc dài của cô nàng. Tiếng cười giòn của ông chủ nhà: - Tui nhẹ cả người! Vậy mà hai hôm nay ăn ngủ không yên, cứ ngỡ là tiêu cả rồi! Bà vợ cũng phụ họa: - Cho đến trước đây mấy phút tui cũng không tin là mọi việc sẽ kết thúc tốt đẹp, khi mà đến gần năm giờ sáng nay tui vẫn còn bị các vong hồn gào thét đòi giết cả nhà này nếu không tìm được chàng rể cho... con gái tui. Trong lúc đó cô gái nói khẽ vào tai Hảo: - Anh thấy chưa, em tha thiết năn nỉ anh qua đây ngay đâu phải là chuyện đùa. Chính mẹ anh cũng hiểu như vậy mà. Lúc này bà Dung mới thở phào và nói với con, nhưng cho mọi người nghe: - Tôi cũng mất ngủ và cứ lo ngay ngáy không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Bởi cứ nhắm mắt lại ngủ thì nghe tiếng hối thúc phải cưới vợ cho con trai mình. Mà ngặt nỗi, thằng con trai tôi từ nào đến giờ có chịu ai đâu mà cưới. Nó cũng không hề quen với cô gái nào, vậy mà không ngờ lại biết và... thương cô bé này... Bà giáo Thái vội nói: - Con gái tôi tên Mỹ Hương, chính nó về đây kể lại là có quen biết với người con trai tên Hảo và nhất quyết là phải cưới cho được người này, nếu không thì chính nó sẽ đi tìm cái chết, chớ không đợi ai giết hại cả. Trong khi tìm cách cho Hảo và Mỹ Hương ra chỗ khác nói chuyện, bấy giờ bà giáo Thái mới ngồi sát vào bà Dung, nói rất khẽ: - Trước mặt tụi nó tui phải kể lạc quan như vậy, chớ sự việc thì không phải đơn giản như vậy đâu. Chắc chị đã rõ? Bà Dung nhẹ gật đầu: - Dạ tôi biết. Nhân đây tôi muốn hỏi anh chị, phải ta chỉ cho chúng nó giáp mặt là xong chuyện không? - Tui cũng hy vọng là vậy. Nhưng theo nhà tui thì còn có những rắc rối khác. Để ông ấy kể cho chị nghe. Ông giáo Thái đưa ra một cái hộp nhỏ bằng bạc đã khá cũ vừa nói: - Đây là vật bắt đầu câu chuyện. Nó có suôn sẻ và êm xuôi là ở đây, nhất là ở người có duyên giữ nó. Bà Dung nhìn sững ông Giáo Thái, hỏi lại: - Và ai là người giữ nó? Bây giờ ông Giáo Thái mới kể rõ hơn: - Cách đây ba ngày trong lúc đào gốc cây mai để bón phân, tình cờ tôi thấy cái hộp này nằm dưới đất, vừa lấy lên thì tôi bị ngã vật ra, tay chân tê buốt và bị hành hạ suốt đêm đó... Bà Dung kinh ngạc: - Sao vậy? Trong cái hộp này có gì mà ghê gớm như vậy? Ông giáo Thái từ từ mở nắp hộp ra, để lộ một chiếc vòng cũng bằng bạc nằm gọn trong đó. Bà Dung vẫn chưa hiểu: - Nó chỉ là chiếc vòng, anh nói là bị hành hạ là sao? Bà giáo Thái chen vô nói: - Chị thử cầm nó lên coi, sẽ hiểu thôi. Bà Dung quên cả dè dặt, cầm ngay chiếc vòng lên nhìn kỹ cả hai mặt rồi giật mình: - Sao lại có tên của thằng con tôi ở đây vậy? Rõ ràng trên chiếc vòng cũ hiện lên dòng chữ: "Trần Thiện Hảo 19 tháng giêng... luật sư". Ông giáo Thái chưa kịp nói gì thêm thì bà Dung đã lẩm bẩm: - Đúng là tên họ và ngày sinh của thằng Hảo rồi... Ông giáo Thái tiếp: - Ban đầu tôi đâu biết cậu Hảo là ai, nghĩ chắc là ai đó làm thất lạc món đồ này. Nhưng ngay đêm đó tôi được ai đó hiện về trong giấc mơ gọi giật tôi dậy và phán bảo rằng nếu tôi không tìm được người con trai tên Hảo này đem về... làm rể thì cả nhà tôi phải chết. Sáng ra tôi kể lại cho nhà tôi nghe, bà ấy nói là tôi chiêm bao mộng mị, không tin. Đến khi chính bà ấy cũng bị y như vậy thì vợ chồng tôi mới tin là thật. Bà giáo Thái tiếp lời: - Có một cái vong bám theo chiếc vòng này, cứ ra lệnh cho tui phải làm theo lời bà ta. Tui tỏ ý không đồng tình thì suốt mấy đêm liền tui chẳng thể nào ngủ được. Có đêm tui còn bị đè đến muốn tắt thở luôn! Bà Dung chưa thể nào tin: - Tại sao có chuyện lạ kỳ như vậy? Anh chị nói cái vong là vong gì? - Thì là vong người chết! Chị chưa từng nghe nói đến vong hay hồn người chết à? Vong là hồn ma hiện về được! Bà Dung bắt đầu sợ: - Nhưng sao cái vong gì đó có cái vòng này và bắt ép anh chị là ý gì? Ông giáo Thái đành phải nói thẳng: - Họ muốn ép chúng tôi phải gả con gái cho người mà họ chọn. - Nhưng... người đó là ai? - Thì là con trai của chị! Bộ chị không thấy cái tên con chị nằm trên chiếc vòng sao? Bà Dung hốt hoảng: - Trời ơi, vậy ra con tôi bị... ma quỷ ám rồi sao? Ông giáo Thái thở dài: - Mà nào vợ chồng tôi có đứa con gái như ý họ đâu... Lời ông chưa dứt thì bà vợ đã chen ngang vô, có lẽ sợ ông nói hố: - Ý ông nhà tui muốn nói... chúng tôi chỉ có một đứa con gái rượu, nay phải nghe theo lời ép buộc này thì... Bà Dung bất nhẫn: - Tôi cũng đâu muốn ép uổng gì ai. Vả lại thằng con tôi nó kén cá chọn tôm dữ lắm chớ đâu phải... Nhưng vừa khi đó Hảo và Mỹ Hương cùng bước vô, họ cùng lên tiếng như một đôi song ca: - Dạ, tụi con thương nhau chớ có ép gì nhau đâu. Ba má yên tâm, mối lương duyên này là do trời định và tụi con chỉ biết tuân theo thôi! Vừa nói Mỹ Hương vừa giật chiếc vòng trên tay cha và phấn khởi nói: - Đây là tín vật của chúng con do trời ban cho, chớ phải tụi con tự tới với nhau đâu. Phải không anh Hảo? Hảo thường khi ít nói, nhất là nhát gái, giờ đây lại nhanh nhẩu: - Vợ con nói đúng! Bà Dung sững sờ nhìn con trai: - Hảo, con vừa nói... Hảo ôm vai Mỹ Hương, mặt lộ vẻ phấn khởi: - Tụi con đã quyết định rồi, hai đứa sẽ cưới nhau. Nay chỉ còn chờ ý của hai bên cha mẹ thôi! Mặc dù dẫn con đi tìm vợ do bị thúc ép, vậy mà khi nghe con nói, bà Dung lại một lần nữa kinh ngạc: - Con nói thiệt? Cả Mỹ Hương cũng lên tiếng: - Chuyện trọng đại sao dám nói chơi được má! Ông bà giáo Thái hình như không dám có ý kiến gì khác trong việc này, nên họ cùng gật đầu một lượt: - Các con tính sao cũng được. Bà Dung đành phải gật đầu theo: - Tùy con thôi... Mỹ Hương lấy chiếc vòng đeo vào tay Hảo, vừa dặn: - Đây là chiếc vòng hôn ước, anh đeo vô rồi thì vĩnh viễn không được tháo ra đó nghen! Hảo phấn khởi: - Đeo vô để chúng ta có đôi bên nhau thì dại gì mà cởi ra! Nhưng vừa đeo chiếc vòng vào tay thì bất ngờ Hảo kêu thét lên một tiếng rồi sau đó ngã bật ra nằm bất động. Bà Dung kinh hoảng: - Trời ơi, sao vậy con! Trong lúc mọi người lo sợ thì trái lại Mỹ Hương tỉnh táo như chẳng có gì xảy ra, cô nói: - Có như vậy thì mọi việc mới tốt đẹp. Thôi bây giờ má có thể về được rồi, còn anh Hảo thì má để bên này con lo, chiều cả hai con cùng về một lượt. Bà Dung đâu thể yên tâm: - Nhưng mà... nó bị như vậy... Mỹ Hương cúi xuống và thật bất ngờ, cô ta bế xốc Hảo trên tay, đi thẳng vào phòng trong trước sự ngơ ngác của hai bên cha mẹ. Chính bà giáo Thái cũng phải lên tiểng hỏi chồng: - Sao nó mạnh dữ vậy? Ông giáo Thái nhẹ lắc đầu: - Làm sao tôi biết được? À mà không, tôi muốn nói... con gái mới lớn mà, nó khỏe hơn mình nhiều. Bà không nghe người ta nói tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu sao! Bà Dung sững sờ giây lâu rồi Iắc đầu, chép miệng: - Tôi không thể nào hiểu nổi, nhưng tôi vẫn lo cho thằng Hảo... Bà giáo Thái lên tiếng: - Con gái tui đã nói rồi, chị cứ yên tâm ra về để chuẩn bị đám cưới cho tụi nó đi. Chớ điệu này tui e để lâu sẽ ăn thú phạt quá! Ông giáo Thái cũng nói: - Hổm nay tụi tôi đau đầu lắm rồi, nếu giải quyết được sớm thì trút cái gánh nặng ngàn cân này chắc tụi tôi làm heo ăn mừng quá! Lại sợ ông chồng nói hớ, bà vợ phải chận ngang: - Hổm nay ông ấy bị oan hồn ám nên nói năng cứ như là người cõi trên vậy đó. Thôi, nếu chị muốn về thì để tui biểu tụi nó đưa ghe cho về, đỡ mệt hơn đi xe. Bà Dung vẫn còn muốn hỏi thêm, bà kề tai bà sui gia hỏi nhỏ: - Tôi vẫn chưa biết cái vong, hay oan hồn là ai vậy? Mà tại sao họ lại can thiệp vô chuyện của con tôi và con anh chị? Bà giáo Thái hình như muốn né tránh nên nói lảng ra: - Chuyện này... có lẽ mình để sau này đi chị. Thôi, chị sửa soạn về, còn thằng Hảo thì để nó ngủ một lát sẽ dậy thôi. Nó bây giờ cũng giống như ông nhà tui lúc mới nhặt được chiếc vòng, ông cũng ngủ cả buổi mới tỉnh lại. Bà Dung ngẩn người ra một lúc mới dặn lại trước: - Anh chị Giáo nhớ lưu ý giùm thằng Hảo, tuy lớn vậy mà tính tình hời hợt lắm, nhiều khi... Lời bà chưa dứt thì từ trong có tiếng của Mỹ Hương vọng ra: - Má cứ yên tâm về đi, con lo được cho anh ấy mà. Chiều nay tụi con sẽ về ăn cơm, má nhớ dặn người làm nấu sẵn sớm tụi con về ăn! Chẳng còn cách nào hơn, bà Dung đành vừa lắc đầu vừa nói khẽ: - Toàn chuyện gì đâu không, chắc tôi đứng tim mà chết mất! Bà không đi ghe như gợi ý của vợ chồng giáo Thái mà tự kêu xe ngựa. Vừa về tới nhà thì bà đã nghe chị người làm nói: - Có một người khách tới tìm cậu Hảo, tui nói cậu đi vắng thì người đó vẫn xông vô nhà và còn nói rằng cô ta nhất định phải chờ để gặp cho được cậu Hảo! Bà Dung ngạc nhiên: - Cô ta đâu? - Dạ, ở trên phòng cậu Hảo. Bà Dung la toáng lên: - Sao không có tôi ở nhà chị lại dám cho khách tự tiện vô ra như vậy chớ? Chị người làm Hai Chanh sợ sệt: - Dạ thưa bà chủ, con không cho nhưng cô ấy cứ nhất quyết đi đại vô nhà rồi còn chạy thẳng lên phòng cậu Hảo nữa. Con chưa kịp ngăn lại thì cô ấy đã đóng kín cửa phòng rồi ở miết trong đó cho tới giờ! Bà Dung tự hỏi: - Ai vậy? Không lẽ thằng Hảo có bạn gái nào khác sao? Bà vội đi lên lầu, gõ cửa phòng con trai. Từ bên trong có người lên tiếng: - Cửa không khóa, vô đi! Nghe tiếng quen quen nên bà Dung đẩy nhanh cánh cửa và sững sờ khi thấy người đang nằm trên giường là... Mỹ Hương, con gái ông bà giáo Thái mà mình mới gặp bên nhà. Bà lắp bắp hỏi: - Sao con về đây trước bác? Cô gái lắc đầu: - Tui tới tìm người tên Hảo, còn bà đây là...? - Kìa, bác là má thằng Hảo đây, sao con không nhận ra bác hả Mỹ Hương? Cô gái nghiêm giọng: - Tui không phải là Mỹ Hương, mà là Ngọc Hạnh. Bà chưa trả lời câu hỏi của tui. Bà Dung trố mắt: - Con... cô nói sao? Bác già rồi nhưng đâu có lẫn mà mới tức thời đây đã quên! Con là Mỹ Hương, con gái ông bà giáo Thái ở bên Thiện Nhơn! Cô gái gay gắt: - Tui nói rồi, tui là Ngọc Hạnh và tui tới đây không phải để thăm bà, mà là đòi nợ thằng con trai! Trước thái độ căng thẳng của cô ta, bà Dung phải dịu giọng: - Tôi xin lỗi... Nhưng không thể nào... nhất định... Bà định quay xuống nhà gọi Hai Chanh, nhưng chừng như biết ý bà nên cô gái tên Ngọc Hạnh đã chận ngang: - Bà đừng sai người đi kêu ai đó tới, tui không ngại giết chết họ ngay đâu! Bà hãy bước vô đây nghe tui hỏi, khôn hồn nghe lời thì sống, mà cãi thì... thì chuyện xảy ra ắt bà đoán biết rồi. Trước lời đe dọa đó bà Dung đành riu ríu bước vô phòng. Bà chưa kịp ngồi xuống đã nghe cô gái hỏi: - Bà có nhìn thấy cái này chưa? Cô ta đưa ra một chiếc vòng bạc giống y như chiếc vòng bà Dung mới nhìn thấy ở nhà giáo Thái. - Ủa, sao nó lại ở đây? Cô gái hỏi lớn: - Bà thấy vật này ở đâu? Tình thật bà Dung kể: - Tôi mới vừa thấy ở nhà vợ chồng giáo Thái bên Thiện Nhơn, sao cô cũng có? Cô gái hét lên: - Quân chó má, bọn chúng đã ra tay trước ta rồi! Chẳng hiểu ất giáp gì, bà Dung ngơ ngác: - Cô nói vậy là sao? Cô ta gầm gừ như con hổ cái: - Chúng mày tính qua mặt tao phải không? Đâu có được! Phải cho tụi bây biết tay mới hiểu hậu quả của hành động ngu xuẩn là như thế nào! Cô đứng vụt dậy, đôi mắt long lên tia hung ác khiến cho bà Dung phát khiếp, lùi lại. Cô ta quát lớn: - Bà dẫn tui qua chỗ đó ngay bây giờ! - Đi... đi đâu? - Nhà có chiếc vòng mà bà vừa nói! Giọng bà Dung run rẩy: - Cô ơi, chính cô là người biết chuyện đó mà. Chính cô là Mỹ Hương mà... Cô nàng thẳng tay bóp mạnh cổ bà, khiến bà Dung gần nghẹn họng, bà cố kêu lên: - Tôi... tôi chết... Thẳng tay cô nàng xô một cái thật mạnh, làm cho bà già té sấp xuống sàn nhà, trước mắt tối sầm lại, bên tai bà còn nghe văng vẳng: - Muốn chết thì tao cho chết hết! - Cô... xin cô... Bà Dung chỉ kêu lên được mấy tiếng rồi ngất lịm… Chương 2 Nỗi oan Choàng tỉnh lại, nhìn thấy Mỹ Hương và Hảo trước mặt, bà Dung kêu thét lên: - Đừng hại tôi! Hảo hốt hoảng lên tiếng: - Má sao vậy, con và Mỹ Hương đây mà! Bà nhìn thẳng vào Mỹ Hương vừa xua tay lia lịa: - Cô... cô này mới vừa ở đây... Mỹ Hương phải lên tiếng ngay: - Con chờ anh Hảo tỉnh lại ở nhà con thì đúng vào giờ cơm, ba má con bắt phải ăn rồi mới được đi. Ăn cơm xong là tụi con đi ngay, mới vừa về tới đây thì nghe chị Hai Chanh nói má có khách tới thăm mà lại tiếp trên phòng anh Hảo, nên con mới chạy lên ngay và... thấy má đang nằm ngủ say! Bà Dung chưa tin hẳn nên bật ngồi dậy quay sang Hảo, hỏi bằng giọng sợ sệt: - Đã có ai tìm con chưa? Hảo ngơ ngác: - Ai tìm đâu má? - Một cô gái... mà cô ấy lại giống... giống y như cô này. Nghe bà gọi mình là cô, Mỹ Hương kêu lên: - Bộ má không nhận con là con dâu sao! Má... Hảo cũng nói: - Sớm muộn gì thì Mỹ Hương cũng là dâu con của má rồi, má đừng... Bất chợt nhìn thấy chiếc vòng bạc trên cổ tay Hảo, bà kêu lên: - Chiếc vòng ấy cũng giống hệch như chiếc này! Cô ta cũng có một chiếc... Hảo gắt lên: - Má nói cô nào? Bà Dung phải nói thật: - Có một cô gái đột nhập vô phòng con đây, cô đưa ra một chiếc vòng bạc giống như chiếc này rồi hỏi má có biết không. Sau khi nghe má nói vừa nhìn thấy nó ở nhà anh chị sui gia thì cô ấy giận dữ, trừng mắt nhìn má rồi còn hăm dọa sẽ giết hết người bên nhà... anh chị sui gia nữa! Mỹ Hương hốt hoảng: - Nguy rồi! Điều này có nghĩa là... Cô quay sang nói với Hảo: - Anh ở lại đây lo cho má, em phải chạy về nhà gấp. Cô phóng ra ngoài chạy như bị ma đuổi nhưng dẫu vậy khi về tới nơi thì mọi việc đã quá trễ. Cả hai ông bà giáo Thái đã nằm gục trong nhà. Miệng của hai người đều trào máu. Đúng ra trước cảnh như vậy thì Mỹ Hương phải gào khóc và tức tốc báo động để gọi người cấp cứu. Đằng này cô lại lặng lẽ bỏ đi và biến mất ở khu nhà mồ dòng họ Henri Phạm ngay trong khuôn viên nhà ông giáo Thái. Nửa giờ sau Hảo cũng có mặt. Anh không thể yên tâm để Mỹ Hương đi một mình nên vụt chạy theo. Khi vào nhà anh chẳng còn nhìn thấy cảnh tượng mà Mỹ Hương mới thấy, có nghĩa cả hai ông bà giáo Thái đã không còn nằm ở đó nữa. Chỉ còn lại hiện trường mấy vết máu... Chưa biết chuyện gì đã xảy ra, Hảo cố tìm kiếm khắp nhà, nhưng chẳng hề thấy bóng dáng ông bà Giáo đâu. Chợt nhìn thấy một chiếc khăn tay màu xanh nằm trên vạt cỏ, Hảo giật mình kêu lên: - Cái này của Mỹ Hương mà? Anh nhặt lên và tự dưng hướng mắt về phía cuối khu vườn. Linh tính báo cho Hảo biết có điều gì ở nơi đó... Bước một cách dè dặt về phía đó, Hảo phát hiện ra một dãy nhà xây kiên cố đã cũ, nhưng hình như không phải để ở, mà Ià... nhà mồ. Quả đúng như vậy, khi nhìn thấy dòng chữ trên tấm biển "Mộ phần nhà họ Henri Phạm" thì Hảo kêu lên: - Đây là nơi chôn cất dòng họ của Mỹ Hương! Tò mò, Hảo không ngại khi bước thẳng vào bên trong nhà mồ và giật mình khi nhìn thấy chỉ có hai ngôi mộ xây bằng loại đá gì đó ánh lên màu đỏ phản chiếu ánh ngọn đèn le lói trên tường đến chói mắt. Điều gây ngạc nhiên nhất đối với Hảo là cả một ngôi nhà mồ to lớn có thể chứa cả vài chục ngôi mộ mà chỉ trơ trọi có hai mộ phần. Phải chăng là nơi chôn cất hai người đức cao vọng trọng nhất của dòng họ? Suy đoán không bằng đến gần xem thực tế, Hảo bước tới phía trước hai ngôi mộ và giật mình khi nhìn thấy hai mộ bia rất giống nhau từ hình thức cho tới tên họ người chết. Mộ bên trái mang tên Mỹ Hạnh còn mộ bên phải là Mỹ Hương. - Sao lại là... Mỹ Hương? Hảo kêu lên kinh ngạc rồi đứng thừ người ra. Một luồng khí lạnh đang chạy dọc theo sóng lưng anh, càng lúc càng lạnh hơn khiến Hảo bắt rùng mình. - Trời ơi, chẳng lẽ... Anh cố đọc kỹ dòng chữ ghi ngày tháng năm sinh và một lần nữa kêu lên: - Đúng là cô ấy! Sinh ngày 15.03.1951 và chết ngày 18.06.1971 tức mới chết chưa đầy hai năm, lúc mới vừa tròn hai mươi tuổi! Hảo nhẩm tính và gần bị choáng, vừa lúc anh đọc thêm mộ bia kế bên của người tên Mỹ Hạnh. Cô này sinh ngày 15.03.1951 và cũng chết ngày 18.06.1971 y như của Mỹ Hương. - Họ cùng sinh và cùng chết một ngày! Vậy là... hai chị em song sinh! Hảo rùng mình một lần nữa khi nhớ tới việc sáng nay anh đã trao đổi nụ hôn đầu tiên với Mỹ Hương tại khu vườn nhà này! Khi ấy chính Mỹ Hương đã hỏi anh một câu mà đúng ra nếu anh tỉnh táo, không bị chìm trong mê muội thì đã hiểu ngay ý nghĩa của nó. Câu hỏi quá rõ ràng: "Nếu có một người không còn sống trên đời này nói yêu anh thì anh nghĩ sao? Anh có yêu người ta không?" Lúc ấy Hảo đang như nguời cõi trên, anh chỉ biết rút đầu vào ngực cô nàng mà không đáp. Để rồi sau đó đã nói một câu thật mơ hồ: - Được yêu thì phải yêu cho xứng với tình yêu của người ta cho mình... Mà cũng kỳ lạ thật, lúc đó tại sao Hảo không hỏi cho rõ ràng tại sao là người sống mà cô nàng có thể lọt vào phòng riêng của anh một cách dễ dàng như thế được? Nhớ lại những giấc mơ mà mẹ anh kể khiến cho Hảo càng khó hiểu hơn. Cũng như thái độ lập lờ của cha mẹ Mỹ Hương nữa, chắc chắn là còn có điều gì đó bí ẩn trong ngôi nhà này... Hảo muốn bỏ ra ngoài, nhưng bất chợt anh lại nhìn thấy một vạt áo màu xanh quen thuộc của Mỹ Hương còn ló ra ngoài chỗ nắp đậy ngôi mộ đá. - Của Mỹ Hương! Sự thắc mắc và tò mò đã khiến Hảo đâm ra liều. Anh có một quyết định mà nếu lúc khác thì sẽ chẳng bao giờ làm như vậy. Anh đưa tay đẩy thử nắp mộ phần. Và... cái nắp xê dịch một cách nhẹ nhàng! Cứ nghĩ tới một thi thể như còn sống của Mỹ Hương trong đó, Hảo hơi run... đến khi nguyên phần bên trong mộ huyệt lộ ra thì Hảo mới thét lên: - Trời ơi! Người đang nằm trong phần mộ không phải là Mỹ Hương, mà chính là... bà giáo Thái! - Trời ơi, sao... sao vầy nè? Hảo vừa hỏi vừa bước lui ra mấy bước. Bất chợt lưng anh va vào một người nào đó ở phía sau. Hảo quay lại và kêu thét lên: - Trời ơi! Thì ra người đứng ngay phía sau Hảo chính là... Mỹ Hương! Hảo cố đứng vững, nhưng đôi chân cứ như bị ai kéo xuống, lảo đảo... Bỗng anh bị bàn tay của Mỹ Hương chụp lấy và nàng nhe răng ra chẳng biết là cười hay khóc mà chỉ mới thoạt nhìn vào Hảo đã rụng rời. Bởi hai bên khóe miệng là hai chiếc răng nanh nhô ra! - Mỹ Hư... ơ... ng, e...m... Hảo kêu chưa trọn tên thì đã bị ngay một cái tát cực mạnh, kèm theo tiếng quát: - Còn kêu tao là Mỹ Hương nữa thì tao sẽ cắt luỡi! Bây giờ Hảo mới sửng sốt nhìn kỹ. Mặt mày thì giống hệch, chỉ có cách ăn mặc thì không giống, nhất là giọng nói thì khác xa. - Cô là... Hảo đưa mắt nhìn xuống mộ bia có tên Mỹ Hạnh và chợt hiểu. Anh lắp bắp: - Cô là Mỹ Hạnh! Cô ta không đáp, lại đưa tay kia hình như định kéo Hảo tới gần hơn. Vô tình cổ tay có đeo chiếc vòng bạc của cô ta va chạm vào chiếc vòng trên tay Hảo, vang lên một tiếng khô khan và... cùng với một tiếng thét kinh hoàng từ miệng cô nàng. Rồi trước sự kinh ngạc của Hảo, cô ta lảo đảo ngã xuống. - Cô Mỹ Hạnh! Hảo cúi xuống định đỡ cô ta dậy thì ngẫu nhiên lại chụp đúng cổ tay có chiếc vòng bạc. Chẳng hiểu chiếc vòng rộng hay sao, mà vừa nắm phải thì nguyên cái vòng đã nằm gọn trong tay Hảo. Và... chẳng thể nào tin nổi, thân thể của cô nàng bỗng dưng bốc cháy, khói bốc lên xanh cả một góc phòng. Khi khói tan thì chẳng còn trông thấy thi thể của Mỹ Hạnh đâu nữa. Hảo bàng hoàng: - Trời ơi! Vừa lúc ấy chiếc vòng bạc trong tay Hảo bỗng lóe sáng rồi có một luồng khí lạnh buốt chạy theo cánh tay anh, chạy lên tận đầu. Hoảng quá, Hảo tìm cách đặt chiếc vòng xuống nhưng không tài nào tháo ra được. Mà khí lạnh thì càng lúc càng mạnh thêm, khiến cho Hảo hầu như không còn kiểm soát được mình nữa. Anh lấy tay này chụp qua tay kia và chiếc vòng anh đang đeo cũng phát ra luồng khí lạnh khác, giống y như chiếc vòng kia. Hảo quýnh quá, liền kéo mạnh, chiếc vòng đó cũng rơi ra như chiếc kia và... cả hai rơi chồng lên nhau. Lúc ấy cái cảm giác kỳ lạ mới chấm dứt. Hảo ngơ ngác: - Sao kỳ vậy? Anh cúi xuống nhìn kỹ vào hai chiếc vòng và càng ngạc nhiên hơn khi trên vòng dòng chữ tên của anh bây giờ có thêm hai chữ Mỹ Hương lồng vào, còn chiếc kia thì thêm hai chữ Mỹ Hạnh xoắn lấy chữ Thiện Hảo. Hảo hoang mang cực độ, anh lẩm bẩm: - Sao lại có chuyện này? Tại sao là Mỹ Hạnh? Vừa khi ấy Hảo nghe có tiếng động ở phần mộ, vừa quay lại anh đã hoảng kinh khi thấy bà giáo Thái đang trèo ra, vừa run lập cập. - Cứu... cứu ông ấy với! Hảo ngạc nhiên: - Cứu ai bác? - Ông nhà tui! Ông ấy bị... Bà run run vừa đưa tay chỉ vào phần mộ kế bên. Hảo kinh ngạc: - Ai ở trong đó? - Ông nhà tui... Hảo vừa đưa tay vịn vào thì nắp mộ đá dịch chuyển, rồi một cánh tay đưa lên. Trong lúc Hảo còn đang sợ sệt chưa dám đưa tay nắm lấy, thì bà Giáo đã nhào tới ôm lấy, cố kéo ra. Hảo buộc lòng phải tiếp bà cùng kéo mạnh. Ông giáo Thái ra ngoài rồi mà vẫn còn choáng, ông lảo đảo phải vịn vào thành mộ mới đứng vững. Ông cất giọng yếu ớt: - Con nhỏ đâu rồi bà? Bà giáo Thái lắc đầu: - Tui đâu có biết... Ông giáo Thái lẩm bẩm: - Con Mỹ Hạnh... nó đâu có để cho yên... Hảo chỉ xuống đất và nói nhanh: - Cô ấy mới ở đây và... biến mất rồi! Anh thuật nhanh cho ông bà giáo Thái nghe và hỏi lại: - Cô ấy là ai mà có vẻ không thiện cảm với cháu và hình như là cả nhà này nữa. Hai ông bà chừng như còn bị choáng sau khi bị lôi từ trong mộ huyệt ra, nên nhất thời họ chưa trả lời câu hỏi của Hảo. Mãi khi chợt nhớ ra điều gì đó, ông Giáo mới sợ sệt hỏi: - Lúc nãy gặp nó, con có nghe Mỹ Hạnh nói gì hoặc làm gì không? Chỉ vào hai chiếc vòng bạc, Hảo đáp: - Có lẽ mọi thứ xuất phát từ những chiếc vòng này. Tại sao nó ở trong tay hai cô gái và đều có dính dáng tới cháu? Ông giáo Thái sau một lúc ngập ngừng đã phải nói ra điều mà vợ chồng ông có vẻ giấu từ lâu: - Nói thiệt với con, trong hai đứa này chỉ có con Mỹ Hạnh là con ruột của hai bác. Còn Mỹ Hương... Tưởng mình nghe lầm, Hảo hỏi lại: - Bác nói ai? Bà giáo Thái giọng buồn hiu: - Chính là con Mỹ Hạnh! - Vậy còn Mỹ Hương? - Đây là điều bất hạnh của gia đình bác, mà bây giờ có nói sơ lược thì con cũng không thể hiểu rõ nội tình. Hay là thế này... Bà quay sang ông giáo Thái hỏi ý: - Hay là tối nay mình lưu Hảo ở lại và kể hết cho nó nghe? Ông giáo Thái gật đầu: - Phải như vậy thôi. Hảo nghĩ thế nào nếu hai bác mời cháu ở lại đây? Hảo không cần suy nghĩ thêm, anh gật đầu liền: - Dạ, con sẽ ở lại. Miễn là... Chừng như hiểu sự đắn đo của Hảo, ông giáo Thái nói nhanh: - Cháu cần phải nhìn tận mắt, nghe tận tai thì mới có thể tin và cảm thông cho hai bác được. Thật ra vừa rồi hai bác đã gạt con và cả mẹ con nữa... Câu nói đó khiến cho Hảo sững sờ: - Hai bác nói thiệt? Ông giáo Thái cúi xuống nhặt hai chiếc vòng lên và gói lại bằng chiếc khăn tay một cách cẩn thận, rồi bảo: - Chính hai vật này nó đã hại bác và suýt nữa thì con cũng bị liên lụy. Ông ra dấu cho Hảo rời khỏi ngôi nhà mồ với vẻ e dè và cẩn thận khóa cửa ngoài. Đồng thời ông bẻ vẹo cả hai chiếc vòng ra, rồi sau đó móc nó trở lại làm thành một vòng khóa thứ hai, rồi mới bỏ di. Hảo chưa hiểu hết câu chuyện, nhưng cũng đi theo họ vào nhà. Khi đã ở trong nhà rồi ông giáo Thái mới an tâm nói: - Chính bác là người đi tận Thái Lan để mướn người ta làm hai chiếc vòng đó, chỉ nhằm cho cháu vào tròng, đồng thời cứu con gái của hai bác là Mỹ Hạnh. Nhưng không ngờ... Nhưng lời của ông giáo Thái, Hảo càng nghe càng không tài nào hiểu nổi. Anh ngơ ngác hỏi lại: - Bác nói gì vậy? Sao lại có cháu trong đó? Bà giáo Thái tỉ mỉ hơn: - Số là mười tám năm trước bác sinh một đứa con gái trong nhà bảo sinh tư nhân ở thị xã, nó có một cái bớt đen vắt ngang vai, nên vừa sinh nó ra bác đã linh tính sẽ có chuyện gì đó bất thường. Mà quả thật vậy, chỉ mới sinh được hai giờ thì con nhỏ khóc thét lên, dỗ gì cũng không nín. Người nó tím tái mà ngay như hộ sinh và bác sĩ cũng chẳng làm cách nào cho nó nín. Bác hoảng quá nên cứ nằm bên con mà khóc. Có một lúc vì quá mệt bác đã ngủ thiếp đi. Đến khi tỉnh dậy bác đã vô cùng sửng sốt khi nhìn thấy bên cạnh con mình còn có một đứa trẻ khác nằm ngủ ngon Iành. Nói thiệt, lúc đó bác không thể nào tin được, bởi hai đứa trẻ giống nhau như hai giọt nước, đến bác mà cũng lầm! Phải sau đó khi vạch lưng ra xem, bác mới biết đứa trẻ lạ khác con Mỹ Hạnh nhà bác là ở chỗ trên vai nó không có cái bớt màu đen quái dị. - Nhưng... đứa trẻ đó ở đâu ra. Đó có phải là Mỹ Hương sau này không? Bà giáo Thái thở dài đáp: - Đúng là vậy! Nhưng nó ở đâu ra thì bác không thể biết. Ông giáo Thái kể tiếp: - Khi bác vô bảo sinh viện thăm thấy sự việc như vậy bác mới đi hỏi khắp các phòng, chẳng ai biết tung tích đứa bé. Cũng may, sau đó khi bác gái thay tả cho nó thì phát hiện ngay dưới lưng nó có những chữ viết chi chít trên lưng, những chữ có nội dung kỳ lạ vô cùng! Hảo càng nghe càng bị thu hút bởi câu chuyện, anh lắng nghe kỹ những lời kể tiếp theo của ông giáo Thái: - Nội dung những dòng chữ đó đại ý nói rằng đứa bé đó ra đời là từ một lời nguyền của một người có tên là Xuân Hương, người ấy căm thù một người đàn ông có tên là Trần Thiện Hữu, nên muốn đứa con rơi của mình lớn lên và tìm kẻ thù để báo cho được hận mà mẹ nó khi chết đi đã không báo được. Và hai bác là người có nghĩa vụ phải nuôi đứa trẻ ấy lớn lên, cho đến khi nào nó báo được thù mới thôi! Bà giáo Thái tiếp lời chồng: - Chúng tôi đâu còn cách nào khác ngoài việc phải làm theo lời dặn lạ kỳ đó. Tôi nuôi con bé và đặt tên là Mỹ Hương, gần giống như Mỹ Hạnh con ruột mình. Một tuần sau khi sinh, tôi đưa cả hai đứa con về nhà. Nửa đêm hôm đó tui nghe có tiếng ai đó gọi ngoài cửa sổ bảo rằng phải ra gốc cây ngoài vườn, đào lấy lên hai vật mà bắt buộc phải đeo nó vào cổ tay hai đứa trẻ. Họ bảo rằng nếu để lạc mất một trong hai vật đó thì mạng sống của hai đứa trẻ sẽ bị nguy và người nuôi dưỡng chúng cũng bị ảnh hưởng! Bà nói tới đó thì ngừng lại, có thể do hết hơi, hoặc vì lý do gì đó... Ông giáo Thái lại phải nói tiếp: - Chính tôi là người đem cuốc ra gốc cây trúc đào ngoài vườn, đào xuống và gặp hai vật ấy. Đó là đôi vòng bằng bạc mà cháu nhìn thấy hồi nãy. Hảo chận ngang hỏi: - Nhưng sao trên hai chiếc vòng lại có in tên của cháu? - Đúng là ban đầu không phải là tên của cháu đâu, mà là mang tên Trần Thiện Hữu! Hảo hốt hoảng: - Sao là Trần Thiện Hữu? Mà Trần Thiện Hữu nào? Ông giáo Thái lắc đầu: - Bác cũng không biết. Mãi về sau này khi gặp mẹ cháu, bác mới biết người đó là... Hảo bàng hoàng: - Có phải là ba cháu không? Ông giáo nhẹ gật đầu: - Rất tiếc là... đúng như vậy! - Không thể nào! Hảo kêu lên và đứng bật dậy. Anh lặp lại: - Ba cháu chết đã lâu, mà ông cũng không thể nào dính tới những người đó! Ông giáo Thái cũng đứng lên, ông bước vô phòng riêng, lát sau trở ra với một bức ảnh đã khá cũ cầm trên tay, đưa cho Hảo và hỏi: - Cháu xem ảnh này có phải là cháu và ba cháu không? Vừa cầm tấm ảnh xem, Hảo đã thảng thốt kêu lên: - Ba con đây mà! Trong ảnh, Hảo chụp với cha hồi năm anh mới lên mười tuổi, tức trước khi cha chết năm sáu năm. - Sao bác có tấm ảnh này? - Bác đào lên được từ dưới gốc cây như vừa kể, cùng với hai chiếc vòng bạc! Hảo càng kinh ngạc hơn: - Sao tấm ảnh này lại ở dưới gốc cây? Ông giáo Thái trầm giọng xuống: - Điều này là như bác nói lúc nãy, nó dính tới một lời nguyền. - Lời nguyền của ai? - Của người tên Xuân Hương nào đó. Nhưng rủi là nó lại ứng vào nhà của bác, vào đúng đứa con duy nhất của hai bác, con Mỹ Hạnh! Ông ngừng lại một lúc rồi giải thích tiếp một cách cặn kẽ: - Ba cậu ngày trước có quan hệ tình cảm với một người con gái tên Xuân Hương. Chẳng hiểu thế nào mà cô gái ấy nửa chừng xuân gãy cánh thiên hương. Cô gái yểu mạng đó chẳng hiểu sao lại hận thù cha cậu và tìm cách báo oán mà chưa có dịp. Ngôi nhà này trước kia là của một ông Đốc phủ sứ, sau bán lại cho tôi. Có lẽ sự trùng hợp ngẫu nhiên đã khiến chúng tôi dính vào vụ này. Có nghĩa là chúng tôi bị dính vô điều rắc rối mà đúng ra là của ba cậu. Có lẽ oan hồn cô Xuân Hương đó lầm tưởng tôi là cha cháu, cho nên mới báo thù ngay đứa con đầu lòng của tôi... Hảo chận ngang: - Rồi đứa bé mà sau này là Mỹ Hương thì sao? Bà giáo Thái chen vô: - Đó là... đứa con cõi âm, do oan hồn cô Xuân Hương tạo ra để báo oán! Đấy là sự hiểu lầm mà vợ chồng tôi phải lãnh đủ. Như nhà tôi vừa kể, âm hồn nghĩ chồng tui là cha cháu, ông Trần Thiện Hữu! Đến phiên ông tiếp: - Hai cái vòng đó thật ra mang tên Trần Thiện Hữu. Tôi biết là cái vòng của cô Xuân Hương đã làm và báo oan sai người, cho nên tôi mới tìm thầy cúng và được biết cách hóa giải hữu hiệu nhất là phải có thầy giỏi, có khả năng làm ra hai chiếc vòng khác, ghi tên người khác để cho hai đứa bé đeo thay vì đeo đôi vòng mang tên Trần Thiện Hữu. Và như tôi đã nói, tôi đã được người hướng dẫn sang tận Thái Lan để cậy một ông thầy bùa danh tiếng bên đó, nhờ ông ấy gỡ đôi vòng có lời nguyền kia, đem về một đôi vòng mới mang tên Trần Thiện Hảo. - Nhưng sao lại là tên cháu? - Điều này tôi hoàn toàn không biết, mà là do chính ông thầy người Thái Lan tạo ra. Có thể ông ta làm theo bản năng, cái tên Trần Thiện Hảo đối xứng với Trần Thiện Hữu, Hữu - Hảo, hoặc là do hận thù! Hảo bỗng hỏi: - Ông thầy người Thái tên là gì? - Tôi còn nhớ rất rõ, ông ta là Sinakul Thong Sác! Hảo sửng sốt: - Thong Sác! Trời ơi, có lẽ nào... Tới phiên vợ chồng Giáo Thái kinh ngạc: - Sao vậy? Cháu biết người này? Hảo lắp bắp: - Đó là... là người quen cũ của mẹ cháu! Ông ta ngày xưa làm thầy ở xứ này, sau thất tình khi mẹ cháu đi lấy chồng nên bỏ xứ ra đi. Mẹ cháu từng kể nhiều lần tên ông ta, ngày còn sống ba cháu cũng đã đôi lần đi tận Thái Lan để tìm, bởi giữa hai người có mối hiềm khích từ xa xưa... Bà giáo Thái bịt miệng: - Vậy thì đúng rồi! Thảo nào khi ông nhà tui tìm sang đó, sau khi kể chuyện thì ông ta tự ý làm đôi vòng khác, khắc tên Trần Thiện Hảo lên đó. Có lẽ ông ta nhằm trả thù, muốn hại giọt máu kẻ tình địch của mình! Hảo ôm đầu rên rỉ: - Trời ơi, sao người ta lại nhẫn tâm, báo thù ngay trên một đứa trẻ con như cháu? Hảo muốn bỏ đi, anh định về nhà hỏi mẹ đôi điều nhưng vừa lúc ấy ông giáo Thái gọi lại và nói thêm: - Bác còn chưa nói hết cho cháu nghe, khi được mười tuổi thì con Mỹ Hạnh của bác bỗng ngã bệnh. Nằm dưỡng bịnh được mấy ngày thì một hôm nó biến mất cho đến ngày nay. Sau hơn một năm chờ đợi trong vô vọng thì một đêm kia bác mơ thấy nó hiện về kêu gào thê thảm. Bác hỏi thì nó chẳng những không kể nguyên nhân mà lại chỉ thẳng vào mặt bác mắng xối xả, bảo rằng bác nuôi con người khác, bỏ bê nó. Bác nói gì nó cũng không nghe và trước khi nó đi nó còn lớn tiếng hăm dọa là sẽ khiến cho vợ chồng bác thê thảm mới hả dạ! Bà giáo Thái lại phải tiếp sức với chồng kể tiếp, bởi kể tới đó thì do quá xúc động nên ông giáo Thái không còn đủ sức nói nữa: - Sau đó bác mới hiểu ra, do khi đem hai chiếc vòng từ Thái Lan về, thay vì cho cả hai đứa trẻ đeo như lời dặn của ông thầy Thong Sác, đằng này chỉ cho có một mình con Mỹ Hạnh đeo, chỉ vì nó là con ruột của mình, chúng tôi muốn bảo vệ nó. Hảo buột miệng: - Có nghĩa là hai bác có ý muốn bỏ rơi Mỹ Hương! Bà giáo Thái thật lòng: - Quả là có như vậy, nhưng không phải chúng tôi bỏ rơi con Mỹ Hương, mà đúng hơn là sợ... Bởi ông Thong Sác đưa hai cái vòng đó và dặn kỹ rằng khi lớn lên chỉ đứa nào trong hai đứa mà được lời cầu hôn trước thì sẽ tồn tại, đứa còn lại sẽ khó toàn mạng. Do đó mà chúng tôi chỉ cho con Mỹ Hạnh đeo một chiếc vòng, còn chiếc kia thì đem chôn dưới đất. Không ngờ... Ông giáo Thái nói: - Không ngờ con Mỹ Hạnh chết mất xác, mang theo chiếc vòng đang đeo trong tay. Từ đó vợ chồng tôi nghĩ rằng con ruột của mình đã chết rồi thì còn giữ gìn gì nữa, nên tình cảm có chuyển sang cho con Mỹ Hương. Bởi dẫu sao thì vợ chồng tôi cũng nuôi nó từ tấm bé và suốt thời gian dài như vậy chẳng hề phát hiện nó có chút gì là con của ma quỷ cả. Có lẽ vì vậy mà vong hồn con Mỹ Hạnh sinh ra oán hận chúng tôi, cho là chúng tôi không thương nó! Hảo vẫn còn thắc mắc: - Nhưng sao hai bác lại xây cái nhà mồ mà trong đó có cả mộ của hai cô? Bà giáo Thái chợt khóc nức nở: - Là bi kịch mà vợ chồng tôi phải nhận lãnh đó, chớ đâu phải Iàm theo ý muốn đâu. Đầu tiên con Hạnh hiện về buộc vợ chồng tôi phải xây một cái mộ dành cho... con Mỹ Hương! Tôi hỏi sao con Mỹ Hương còn sống mà lại xây mộ thì nó bảo rằng nó muốn con Mỹ Hương chết theo nó và phải bị nhốt trong một nhà mồ như vậy và nó sẽ là người canh giữ không cho con Mỹ Hương sống, kể cả trong thế giới vô hình! Thì ra khi bị oan hồn cô Xuân Hương hại chết, nó trở thành ma, một thứ hồn ma đồng trinh nên linh ứng và nguy hiểm hơn cả oan hồn của Xuân Hương và nó quay lại trả thù ngay cả giọt máu rơi của ma là Mỹ Hương! - Nhưng tại sao trong nhà mồ có tới hai mộ huyệt cho cả hai cô? Ông giáo Thái lắc đầu: - Tôi cũng chẳng biết tại sao. Bởi khi vừa xây xong ngôi mộ dành cho Mỹ Hương thì ngay sáng hôm sau đã thấy có thêm ngôi thứ hai mà chẳng biết ai xây. Bà giáo Thái thì quả quyết: - Chắc chắn là vong hồn cô Xuân Hương rồi! Bởi mấy đêm liền tôi đều nghe tiếng cãi vả bên ngoài vườn, lắng nghe kỹ tôi nhận ra trong hai người cãi có tiếng của Mỹ Hạnh. Nó cãi với người tên Xuân Hương. Thì ra khi chết thành ma thì con Mỹ Hạnh không còn sợ người bắt hồn nó nữa, mà ngược lại nó đâm ra muốn diệt luôn cái mầm mống của Xuân Hương. Nó bây giờ hầu như chẳng còn biết phân biệt ai là ai hết! Hảo nhớ lại khi hai chiếc vòng chạm nhau thì Mỹ Hạnh ngã lăn ra rồi bốc cháy, anh kể cho ông giáo Thái nghe. Vừa nghe xong ông nói liền: - Bác đã nghe cháu kể rồi, do vậy khi ra khỏi nhà mồ bác mới dùng hai chiếc vòng để khóa cửa lại. Theo bác, cách ấy sẽ khống chế được cả hai, bởi hai chiếc vòng đều là sản phẩm của ông thầy yểm bùa nổi tiếng, nó có khả năng triệt tiêu luôn những oan hồn uổng tử lộng hành. Hảo nhìn hai người, dè dặt hỏi: - Nhưng sao hai bác lại bị nhốt trong nhà mồ, mà lại nằm trong hai cái mộ huyệt đó? Vậy xác hai cô ở đâu? - Cả hai đều không có xác, con Mỹ Hạnh thì đã mất xác ngay lúc còn nhỏ, còn con Mỹ Hương thì cách đây một năm cũng đã mất tăm, nghe nói chết trôi. Nhưng vong hồn hai đứa thì lúc nào cũng bám theo vợ chồng bác, cứ thúc giục bác phải tìm chồng cho chúng, mà nhất thiết phải là người con của ông Trần Thiện Hữu thì chúng mới chịu! - Vậy ra hai bác tìm được cháu và gạt cho cháu tới để sa vào chiếc bẫy của hai cô con gái nhà bác? Ông giáo Thái buồn bã lắc đầu: - Hai bác chỉ muốn được yên thân thôi! Còn đưa cháu tới đây thì bác làm sao biết cháu là ai, ở đâu mà gọi tới. Chuyện này là do các hồn ma hoặc là do... mẹ cháu! Hảo bài bác ngay: - Mẹ cháu làm sao hại con mình mà đưa cháu tới đây? Nhất định là có uẩn khúc gì đây. Hảo dứt khoát bỏ đi, anh về nhà. Thấy Hảo trở về chị người làm Hai Chanh mừng khôn xiết: - Bà tỉnh lại lâu lắm rồi, cứ hỏi cậu đi đâu, tui đoán là cậu qua nhà Mỹ Hương nên nói đại. Bà hoảng hốt cứ đòi theo qua bên đó, nhưng do hai chân còn quá yếu đi không được nên bà cứ nằm đó khóc gào, cứ hối tui đi kêu cậu về, đừng ở bên cái nhà ma quỷ đó. Mà nhà nào là nhà ma quỷ vậy cậu? Hảo không tiện nói ra nên anh giục chị ta: - Chị đi rước thầy thuốc về trị bệnh cho má tôi đi. Đợi cho Hai Chanh đi rồi Hảo mới ngồi xuống hỏi mẹ: - Má nói cho con biết ông Thong Sác hiện giờ ở đâu? Câu hỏi bất ngờ đó khiến bà Dung giật mình: - Sao... sao con hỏi chuyện đó? Ông ấy thì có dính gì tới nhà ta nữa đâu... Hảo nghiêm giọng: - Con biết hết rồi, chính ông ta đã yểm bùa nhà mình, tính hại chết con để trả thù việc má bỏ ông ta đi lấy ba con ngày trước! Bà Dung càng lúng túng: - Ai... ai nói với con chuyện đó? - Thì chính việc má xui con đi hỏi vợ đúng nhà vợ chồng ông giáo Thái đã nói lên điều đó rồi! Má, tại sao má đưa con vô chỗ chết? Bà Dung ôm mặt khóc, hồi lâu sau mới nói: - Việc ấy má hoàn toàn không làm. Mà là do... chính mấy cái vong hồn của hai đứa con gái đó nó xúi má, nó giục má phải đi hỏi vợ cho con bằng được! Hảo kể lại chuyện biết được bên nhà giáo Thái cho mẹ nghe và lắc đầu bảo: - Điều đó không đúng! Bởi theo lời nguyền thì một trong hai cô mà nhận được lời cầu hôn trước thì người còn lại sẽ chết, mà chắc gì khi con qua đó lại cầu hôn ai theo ý của họ. Như vậy hai oan hồn đó đã có người đứng sau lưng. Có thể là cô Xuân Hương, mà cũng có thể là... ông Thong Sác? Bà Dung trầm ngâm một lúc rồi nói: - Má nghĩ chắc là như vậy. Và đứa con gái được hậu thuẫn mạnh hơn đã thắng, đã được con ngỏ lời cầu hôn. Bởi vậy đứa kia mới chết lần thứ hai. - Má nói cô Mỹ Hạnh? - Mỹ Hạnh là người thua cuộc, còn người thắng như lời con kể thì đã chiếm được tình cảm của con. Cô ấy... Hảo hốt hoảng: - Như vậy con đã... Anh không dám nói mình đã có hôn ước với Mỹ Hương, với hồn ma, nên lắp bắp: - Con... con... Bà Dung giọng rầu rĩ: - Dẫu là ai thắng thì con cũng phải chết, bởi có ai yêu hồn ma mà được như ý đâu... Lời bà chưa dứt thì bỗng có một giọng nói vang lên ngay trong nhà: - Cũng có ngoại lệ chớ má! Người đó là con đây. Cả hai quay lại và điếng hồn khi thấy Mỹ Hương đứng phía sau họ. Trông sắc mặt tươi thắm kèm nụ cười khả ái, Hảo giật mình: - Em... à mà cô không sao chứ? Mỹ Hương nũng nịu: - Từng kêu em là em ngọt xớt, mà bây giờ lại cô này cô nọ nữa rồi! Bộ anh nói không còn chiếc vòng hôn ước thì mọi việc xóa bỏ hay sao? - Nhưng... - Em tuy là hồn ma, nhưng với nỗi oan ức lớn mà mẹ nuôi em đã mang nên em không thể về với cát bụi như họ được, mà em phải... kết thành nhân duyên với anh! Hảo lắp bắp hỏi: - Em là... là con của cô Xuân Hương? Nàng lắc đầu: - Em và cô ấy không hề có quan hệ máu thịt gì cả! Em là một đứa con bị bỏ rơi trong nhà bảo sinh đúng vào lúc bà giáo Thái sinh con, rồi em bị ghép vào chung giường với con bà Giáo. - Ai đã làm chuyện đó? Hảo hỏi với giọng nghi ngờ, Mỹ Hương đáp có vẻ thành thật: - Em không hề biết, nhưng chắc chắn là có người sau lưng điều khiển em và có ý muốn cho em gặp được anh, như vừa rồi... - Người đó là cô Xuân Hương? Mỹ Hương vẫn lắc đầu: - Em cũng không rõ, nhưng mới đây thì có một người ra mặt giúp em, đưa em ra khỏi nhà, tránh phải đối đầu với oan hồn của Mỹ Hạnh. Nhờ vậy mà em còn sống đến ngày nay. Hảo trố mắt kinh ngạc: - Cô là người sống? Mỹ Hương cười, gật đầu: - Là người sống như anh! Hảo lắc đầu: - Không thể tin dược! Người sống mà đột nhập vào phòng người khác dễ như bỡn, biến đi như gió là sao? Mỹ Hương đáp: - Đó là do em bị người ta sai khiến. Mọi điều là do họ... Bà Dung nhìn Mỹ Hương từ đầu đến chân, vẻ sợ hãi vẫn còn nguyên: - Cả hai cô gái nhà ông bà Giáo đều là ma, chớ đâu có ai là người! Tôi không tin... Mỹ Hương vẫn giữ sự bình tĩnh: - Vậy mà đây là sự thật! Và chỉ có một người nói thì bác sẽ tin thôi. Vừa khi ấy có một tiếng tằng hắng phía sau, bà Dung và Hảo quay lại nhìn và kinh ngạc. Nhất là bà Dung, sững sờ trước con người mới vừa xuất hiện đó, bà lắp bắp: - Ông... ông là... - Mới có mười lăm năm không gặp mà bà đã quên rồi sao. Thảo nào... - Thong Sác! Nghe mẹ kêu cái tên đó Hảo trố mắt nhìn người đàn ông vừa vào, anh cũng lắp bắp: - Ông... là... Người đàn ông ăn mặc theo phong cách Thái Lan, nghiêm giọng nói: - Tôi là Thong Sác! Là... Ông ta chưa kịp nói thì bà Dung đã chận lại: - Không được nói! Ông không đủ tư cách nói ra điều đó! Nhưng Thong Sác vẫn nói: - Đã đến lúc tôi không được quyền giữ riêng cho mình nữa rồi. Tôi sẽ nói... Ông quay sang Hảo, nhìn anh với cặp mắt thật trìu mến: - Hảo, ba đây mới chính là ba ruột của con đây! Hảo nghe như có tiếng sét bên tai, anh run run hỏi: - Ông... điên rồi hay sao? - Không điên! Bởi nếu ta điên thì vừa rồi ta đã không nhanh tay cứu được con khỏi sự trừng trị của Mỹ Hạnh. Việc làm cho nó tan thành khói là do ta làm, chớ đâu phải tự dưng mà nó như vậy sao! Cũng như nếu ta không vì con thì đâu liều mạng với oan hồn dữ dằn của Xuân Hương. Vừa vĩnh viễn đuổi cô ta đi, lại vừa giành lại người con gái có duyên số với con, Mỹ Hương đây! Trong lúc Hảo còn đang hoang mang, bán tín bán nghi thì bỗng mẹ anh thở dài rồi lên tiếng: - Ông ấy nói đúng đó con! Hảo kinh hãi: - Sao lại có chuyện này? Ông Thong Sác tiếp lời: - Ngày mẹ con bỏ ta đi lấy chồng, tức ông Trần Thiện Hữu, cũng là lúc bà ấy đã có thai được hai tháng. Con là cái thai ấy! Không tin thì hỏi mẹ con coi... Hảo đưa mắt nhìn mẹ và nhận được cái gật đầu của bà. Trong lúc đó thì giọng ông Thong Sác đều đều: - Ta quả thật có hận thù với ba kế của con, nên lúc đầu có ý báo oán. Nhưng gần đây khi chứng kiến cảnh con và mẹ con khổ sở, lo âu, nên ta kịp nghĩ lại. Ta đã hối hận và quyết làm cái gì đó để chuộc lỗi... Ông đứng lên, đưa cho Hảo và Mỹ Hương mỗi người một chiếc vòng bạc còn mới, nói bằng giọng chân thành: - Vật này mới đúng là của hai con. Nó thuần túy là những chiếc vòng hạnh phúc, vòng hôn ước theo phong tục của người Thái. Vậy hai con hãy đeo cho nhau đi, nó hoàn toàn không nguy hiểm gì hết. Đeo vào sẽ được hạnh phúc dài lâu và còn... trị được tà ma nữa! Ông nói xong bước đi thẳng không nhìn lại. Bất chợt nghe bà Dung kêu lên thảng thốt: - Anh Thong Sác! Nhưng ông ta đã biến rất nhanh ngoài đầu ngõ. Hảo đưa tay mình cho Mỹ Hương đeo chiếc vòng và chính anh cũng đeo cho nàng. Họ hoàn toàn bình yên sau khi đeo vòng vào... KHI NGƯỜI CHẾT TRỞ VỀ Vào thời năm 1955 mà lái một chiếc xe mui xếp (décapotable) đã là sang trọng và hách xì xằng lắm, mà người lái lại là một cô gái nữa, thì phải nói là cả bãi biển dọc từ Bãi Trước qua Bãi Dứa, Ô Quắn và Bãi Sau thiên hạ đều lác mắt nhìn. Cô nàng dừng xe lại trước một nhà hàng hải sản ở Bãi Sau tức thời có hơn chục cặp mắt nhìn ra không chớp. Trong số họ có người nhận ra cô gái, nên kêu lên: - Thu Vân! Nhưng cô nàng hình như không để ý, cứ câng câng cái mặt đẹp như một tài tử điện ảnh, rồi rú ga phóng đi trước sự trầm trồ của thiên hạ. Người vừa kêu mà không được đáp lại đã không phiền lòng, trái lại còn hãnh diện mình là người duy nhất biết tên cô nàng. Anh ta quay sang mấy người bạn nói lớn: - Con nhỏ này là con gái của chủ tiệm vàng Kim Xuân ở Chợ Lớn Mới, đi học bên Tây mới về đó! - Hèn chi chơi như Tây! Một người khác thêm vào: - Thời buổi này mà một mình lái chiếc xe mui trần này từ Sài Gòn ra đủ biết không phải tay mơ rồi. Mà chiếc xe đẹp thiệt! Một anh chàng khác phê bình: - Khen người lái hoa nhường nguyệt thẹn không khen, lại đi khen chiếc xe! - Nhan sắc đó thì còn lời lẽ đâu mà khen cho vừa nữa, thấy là đã hết hồn rồi! Cuộc bàn luận quanh người đẹp có lẽ sẽ chẳng bao giờ chấm dứt nếu không có hai cặp nam nữ nữa vừa bước vô quán mà nhìn cách phục sức, cũng như phong cách của họ đã thấy có sự khác biệt ngay với những người chung quanh. Họ vừa kéo ghế ngồi xuống thì đã bị nhận diện bởi anh chàng biết tên cô gái lái xe mui trần lúc nãy. Anh ta gọi lớn: - Henri Phạm! Phải toa đó không vậy? Một trong số hai cặp vừa vào nghe có người gọi đã quay lại và reo lên: - Ồ Quang, tình cờ thú vị quá vậy! Anh chàng tên Quang quay sang mấy người bạn, nói như khoe: - Tay này là anh ruột của con nhỏ Thu Vân hồi nãy. Có lẽ bọn họ đi chung với nhau và hẹn ở đây nên vừa rồi con nhỏ mới dừng xe lại nhìn. Bọn này đều du học bên Pháp và con nhà giàu nữa, nên ăn chơi dữ lắm! Người tên Henri Phạm kia quay lại hỏi: - Nãy giờ toa có nhìn thấy em gái moa đi qua đây không? Em gái moa lái chiếc décapotable màu đỏ... - Có! Nàng đi về phía Ô Quắn, mới đi xong. - Cám ơn toa, bọn này hẹn nhau ở đây, chắc nó không thấy nên chạy chơi một vòng, lát nữa trở lại thôi. Anh ta nói xong thì quay lại với mấy người bạn của mình. Họ cầm bia chai ướp lạnh tu mấy hơi dài ra vẻ sành điệu. Quang khều người bạn ngồi cạnh nói khẽ: - Tụi nó uống bia Pháp, hình như là mang theo đó chớ quán này làm gì có bán. Vừa khi ấy anh chàng Henri Phạm đích thân cầm sang bốn chai bia lạnh vừa lấy ra từ trong thùng đá, đặt lên bàn và mời: - Mời các anh cùng uống với mình cho vui! Quang sợ các bạn ngại, nên vội nói: - Henri đây là bạn của mình, cậu ấy có nhã ý mời thì các bạn đừng ngại. Vậy xin cám ơn toa! Ngẫu nhiên mà hai nhóm hòa đồng với nhau, họ cụng ly vui vẻ và quên ngay cô nàng lái xe màu đỏ. Henri Phạm vui miệng nói: - Bọn này ra dự lễ cưới của con gái ngài tỉnh trưởng, tổ chức ở vườn hoa sứ trên Bạch Dinh vào chiều nay. Bọn này ngủ ở Pacifique, nếu còn ở đây thì tối nay mình gặp nhau, nhảy chơi! Quang đẩy đưa cho xong chuyện: - Ờ, để bọn mình coi... Chớ thật ra Quang không thích cách chơi của bọn con nhà giàu này lắm. Anh tự hiểu là khó lòng chơi theo kịp họ, hơn nữa kiểu chơi thác loạn thâu đêm của họ mà anh từng nghe kể khiến anh chào thua trước. - Hay là lát nữa toa đi với bọn này, còn mấy bạn toa thì mình hẹn mai gặp để dùng điểm tâm chơi. Quang từ chối ngay: - Cám ơn toa, bọn này cũng có một chương trình riêng, nên phải đi ngay sau đây. Họ cụng ly lần nữa, bọn Quang chuẩn bị chia tay thì chợt có tiếng người kêu thất thanh phía trước: - Tai nạn ở Ô Quắn, kinh khủng lắm! Ai đó hỏi: - Tai nạn thế nào? Người nọ đáp: - Có một chiếc xe hơi lạc tay lái đâm đầu xuống vực sâu chỗ Ô Quắn, thảm khốc lắm! Quang đứng bật dậy ngay và hỏi lớn: - Có chết người không? Nghe Quang hỏi, người nọ vừa chạy đi vừa đáp: - Muốn biết tới đó mà xem! Một chiếc xe màu đỏ đẹp lộng lẫy bây giờ chỉ còn là đống sắt vụn mà thôi. Cả nhóm của Henri Phạm cùng đứng bật dậy kêu lên: - Hả? Xe... màu đỏ! Họ chẳng hẹn mà cùng phóng như bay về hướng xảy ra tai nạn. Nơi đó cách Ô Quắn ngót một cây số, vậy mà cả bọn gần chục người chạy bộ chỉ chưa đầy mười phút đã tới. Nhìn thấy một đám người khá đông bu trên bờ vực sâu, Henri Phạm và Quang cùng chen vào nhìn xuống. Họ chỉ thấy một xác xe màu đỏ nằm kẹt giữa hai tảng đá, sóng biển đang vỗ vào bọt trắng tung ra từng đợt... - Trời ơi, em tôi! Henri Phạm như kẻ điên, bất kẻ hiểm nguy chạy ngay xuống vực, một người nào đó la lớn: - Phải đi theo lối này mới xuống được! Nhưng Henri Phạm không cần nghe, anh ta cứ lần theo các gờ đá, leo xuống một cách khó khăn mà vẫn không dừng bước. Quang là người thứ hai đi theo lối những người đứng gần đó chỉ cho. Anh xuống được trước, nhưng cũng chỉ cách chiếc xe bị nạn khoảng hơn ba chục mét. Rõ ràng là chiếc xe màu đỏ, mui trần và một người nằm bẹp dí ở tay lái! - Trời ơi! Quang kêu lên một tiếng kinh hoàng rồi đảo mắt tìm Henri Phạm. Lúc ấy anh chàng chỉ mới xuống được nửa phần đường và đành phải dừng lại vì không còn lối xuống nữa. Một người cứu hộ đã xuống trước nói vọng lên: - Anh đó không được xuống nữa nguy hiểm lắm, để người của tụi tui tới đưa qua bên này! Quang phải giải thích với họ: - Đó là người nhà của nạn nhân, do quá sốt ruột nên xuống đại. Họ cử một người khá rành leo trèo sang để giúp đưa Henri Phạm trở lại đúng đường xuống. Phải mất hơn mười phút sau anh ta mới xuống được chỗ của Quang, giọng anh ta gần như không còn hơi: - Phải... phải là nó... là Thu Vân không? Quang bình bĩnh hơn, anh chỉ chiếc xe đỏ và đáp: - E rằng đúng! Một người cứu hộ nói: - Chúng tôi đã xuống được chỗ chiếc xe rồi, xe mang số NBK 538... và một cô gái bị kẹt giữa tay lái, đã chết rồi! - Thu Vân! Henri Phạm kêu thét lên rồi gục xuống... *** Mãi đến chiều thì việc trục chiếc xe bị nạn mới hoàn tất. Trước đó thì xác nạn nhân đã được đưa lên, đặt nằm trong chiếc xe cấp cứu của bệnh vện chờ sẵn trên đường. Quang cũng có mặt để giúp bạn, bởi lúc ấy Henri Phạm gần như không còn đứng nổi trên đôi chân nữa. Anh ta cầu viện tới Quang: - Toa phải ở đây với moa, chờ đến khi ba má moa ra tới. Moa không còn tâm trí đâu mà lo nữa... Quang siết chặt tay anh ta: - Cậu yên tâm, Thu Vân cũng như em mình mà. Cậu có thể về khách sạn nghỉ ngơi, để mình theo xe cấp cứu về bệnh viện và làm các thủ tục cho đến khi ba má cậu ra tới mình sẽ bàn giao. Nhìn chiếc xe mui trần bẹp dúm, Quang bất nhẫn. Mới buổi sáng đây cả bọn anh và cả bàn dân thiên hạ ở bãi sau còn trầm trồ, lé mắt bởi chiếc xe đẹp mê hồn này, mà bây giờ... Henri Phạm cố lê bước theo Quang đi về phía chiếc xe chở xác, anh nói: - Moa cũng phải theo nó tới phút cuối... Quang kè một bên bạn mình tới chỗ xe. Tài xế lái xe cấp cứu mở cửa trước cho hai người ngồi, nhưng Henri Phạm yêu cầu: - Cho tụi tôi ngồi sau với em gái tôi. Cửa sau chở xác luôn khóa kín, nên tài xế phải tự tay mở khóa và dặn hai người: - Xác đã quấn vải kín, hai cậu đừng mở ra. Cửa vừa được mở, Henri Phạm yếu nên được Quang đỡ lên trước, rồi anh mới theo sau. Bỗng cả hai người đều kêu lên: - Thu Vân đâu? - Xác đâu? Trong khoang xe không hề có cái xác vừa mới đem lên cách đó hơn mười lăm phút! Nghe họ kêu, cả nhóm người đang trục xác và xe đều chạy lại và sửng sốt khi cái xác đã biến mất không để lại dấu vết gì! Người tài xế quả quyết: - Chỉ có tôi ở đây với cái xác, sau khi đưa vô khoang sau rồi đích thân tôi khóa cửa lại, chìa khóa do tôi giữ, như vậy làm sao mất được? Quang lặng người đi. Trong đầu anh cảm giác như nghe có một âm thanh kỳ dị, giống như tiếng khóc thảm thiết của ai đó... Nhưng âm thanh đó chỉ thoáng qua rồi tắt lịm... - Thu Vân? Quang nói ngay âm thanh mình vừa nghe được và kết luận: - Hình như... cô ấy đang ở gần đây? Người trưởng toán cấp cứu hỏi: - Anh nói cô nào? - Cô gái chết trong tai nạn. Họ cười ồ lên: - Giàu trí tưởng tượng quá cha nội ơi! Quang không quan tâm tới sự chế nhạo của họ, anh đi quanh đó tìm kiếm... Lát sau anh nhặt được một mảnh vải, cầm tới hỏi Henri Phạm: - Có phải cái này là một phần bộ áo váy của Thu Vân không? Vừa nhìn thấy Henri Phạm đã kêu lên: - Đúng rồi, vạt áo của nó! - Như vậy xác chết đã ra ngoài xe rồi! Nghe Quang nói, người trưởng toán cứu hộ quay sang hỏi tài xế. - Anh có khóa chặt cửa thùng xe không? Anh tài xế gân cổ lên: - Chắc chắn mà! Mà cái xác đã giập nát làm sao... làm sao có thể tự bò ra ngoài được? Quang vẫn quả quyết: - Tôi có cảm giác cô ấy còn ở đâu đây... Đích thân anh tìm quanh đó và thậm chí còn mở rộng ra một phạm vi xa hơn. Cuối cùng đành thất vọng quay lại và bảo: - Chịu thôi. Henri Phạm suy sụp hoàn toàn, anh ngồi hẳn xuống vệ đường vừa rên rỉ: - Trời ơi, nó chết mà cũng không còn xác, sao trời ác với em tôi quá nè trời! Anh ta cứ gào khóc như vậy suốt, khiến cho mấy người cứu hộ phải ái ngại, họ hỏi ý Quang rồi lẳng lặng rút lui cùng với xác chiếc xe bẹp dúm. Khi họ đi rồi Henri Phạm quay sang hỏi Quang: - Bây giờ mình phải làm sao đây? Quang cũng chỉ biết thở dài: - Mình cũng chẳng biết làm sao. Có lẽ phải đợi hai bác ra rồi sẽ tính. Anh ta kéo tay bạn đứng dậy: - Cậu phải về khách sạn đợi hai bác ra, kẻo hai bác ra mà không gặp cậu họ sẽ càng sốt ruột hơn. Henri Phạm miễn cưỡng đứng lên đi bộ cùng Quang. Vừa đi được mấy bước bỗng Quang dừng lại và nói: - Rõ ràng mình nghe có tiếng khóc của ai đó! Cậu nghe thử xem... Henri Phạm lắng nghe kỹ và lắc đầu: - Mình đâu có nghe gì? Quang không tin vào tai mình, bởi càng lúc âm thanh nức nở càng rõ hơn trong đầu... *** Đang lẽ chỉ ở chơi Ô Cấp hai ngày, nhưng cuối cùng Quang đã phải lưu lại đến nay là ngày thứ năm. Bởi hai ngày đầu phải tất bật với vụ việc của Thu Vân. Đụng chuyện mới thấy nhà giàu họ giải quyết công việc bối rối và dở hơn người nghèo nhiều. Chỉ nội việc sự mất tích xác chết không mà cha mẹ Thu Vân đã phải quýnh quáng chạy đi khắp mọi nơi, hết thuê người này, mướn người kia, mà cuối cùng thì cũng chẳng giải quyết được gì, họ cũng đành phải về tay không.Chẳng hiểu sao Quang lại quyết định ở lại khi Henri Phạm và gia đình đã về hết sau khi tìm được xác Thu Vân. Mà cả nhóm bạn cùng đi với Quang cũng đã về, duy có Quang quyết định thuê một căn phòng ở một khách sạn rẻ tiền và ở lại. Anh chỉ giải thích ngắn gọn với người bạn: - Mình bị sốc sau cú vừa rồi nên muốn ở lại thêm vài ngày cho khuây khỏa. Sáng nay thay vì ra Ô Quắn và đi lang thang như mấy hôm rồi vẫn làm, Quang lại chuyển hướng, đi bộ lên Bạch Dinh. Cũng chẳng biết tại sao, chỉ cảm thấy cần một nơi ở độ cao để phóng tầm mắt ra biển xa, thư giãn nên Quang khá thích thú khi lên đứng bên hai khẩu đại bác và tự nhủ: - Cứ mỗi ngày được đứng đây nhìn ra biển thì chắc mọi buồn phiền sẽ dứt hết! Đứng hơn một giờ, Quang lững thững đi bộ xuống. Đúng ra anh đi theo các bậc thang xuống phía tay phải cho gần, nhưng bất chợt anh thoáng thấy một bóng áo vàng đi về hướng rừng hoa sứ, nơi vốn chỉ dành cho xe chạy lên xuống bởi đường dốc và xa hơn. Kỳ lạ chưa! Bởi bóng áo vàng mà Quang vừa nhìn thấy giống Thu Vân y hệt! Quang đổi hướng, anh bước nhanh về hướng đó. Cô nàng mặc bộ váy màu vàng nổi bật giữa rừng hoa sứ đang nở rộ và chỉ có một mình, nên càng khó lẫn vào ai khác. Cố thu ngắn khoảng cách, Quang đánh bạo cất tiếng gọi: - Thu Vân! Cô gái quay phắt lại và... Quang sững sờ: - Thu Vân... Đúng là Thu Vân... cô con gái đã chết trong tai nạn xe lật ở Ô Quắn! Với ai có thể lầm được, nhưng Quang thì không, bởi anh từng nhiều lần tới nhà chơi và đã là bạn thời cô ta còn học ở Sài Gòn. Vả lại mới vừa nhìn thấy ở bãi sau cách chưa đầy một tuần. Lại vẫn chiếc váy màu vàng này nữa... - Thu Vân! Anh gọi lần thứ ba thì bỗng cô gái bước nhanh và chỉ sau đó vài giây đã mất hút trong rừng hoa sứ! Quang tốc chạy theo vào khu vực rừng hoa, vốn có cắm bảng cấm người lạ xâm nhập. Vừa lúc đó có tiếng quát lớn phía sau: - Anh kia, không được đi lối đó! Quang quay lại phân bua: - Tôi đuổi theo một người quen, anh thông cảm. Nhưng nhân viên bảo vệ vẫn cương quyết: - Không ai được vào đó hết! Mà trong ấy làm gì có ai đâu mà nói là người quen của anh? Quang vẫn cố giải thích: - Cô ấy vừa mới đi vô đó, tôi xin theo gọi cô ấy ra thôi! Người bảo vệ vẫn không cho: - Để tôi vào xem có ai mời ra cho. Anh ta bước vô một lúc rồi trở ra xua tay nói: - Làm gì có ai trong đó mà tìm! Quang tiu nghỉu đứng một lúc mới chịu đi. Anh theo lối đó đi xuống đường mà trong lòng vẫn còn thắc mắc, chưa chịu từ bỏ ý định trở lại. Phải một lúc sau khi nhìn thấy bóng anh chàng bảo vệ lên trên khá xa, Quang mới lẻn vào và lom khom người hướng về chỗ lúc nãy. Đây là lần đầu tiên bước vào giữa khu rừng hoa sứ mà xưa nay Quang chỉ đứng ngoài nhìn, anh cảm thấy khu rừng khá rộng, ăn thông lên tận vách núi phía trên... Chẳng thấy bóng người nào, nên Quang tiện bước đi thẳng lên phía vách núi. Tuy khá chênh vênh nhưng cũng có một lối mòn nên sau hơn mười phút Quang đã lên được một khoảng rộng, bằng phẳng. Nơi đó có một ngôi nhà lá nhỏ, cửa đóng kín. - Có khi nào... Quang tự cười với ý nghĩ có thể Thu Vân đi vào ngôi nhà đó! Nhưng đã lỡ lên tới đây rồi không lẽ quay về, nên Quang bước đại tới bên ngôi nhà, anh cất tiếng gọi: - Có ai trong nhà không? Chẳng ai lên tiếng. Hình như đây chỉ là một trại của người làm rẫy, không có người ở thường xuyên. Vừa định quay đi thì chợt mũi Quang ngửi được một hương thơm rất lạ, không phải hương hoa dại, cũng không phải hương tự nhiên bay theo gió. Bất chợt anh kêu lên: - Thu Vân! Quang đẩy mạnh cánh cửa gỗ khép hờ, cửa bật vô trong và... chẳng có ai trong đó. Nhưng khi Quang nhìn lên vách lá anh phát hiện bộ váy màu vàng mà cô gái vừa mặc lúc nãy đang treo ở đó. Có lẽ hương thơm phát ra từ đó. - Thu Vân! Có phải Thu Vân ở đây không? Vẫn chẳng có hồi âm. Quang mở tung cửa cái, cửa sổ ngôi nhà, nhưng cũng chẳng thấy gì ngoài chiếc chõng tre xiêu vẹo, nhà vắng chủ. - Nhưng tại sao bộ quần áo lại ở đây? Quang bước ra ngoài tìm khắp chung quanh và cất tiếng gọi nhiều lần: - Thu Vân! Cô Thu Vân! Vẫn im phăng phắc... Trở vô nhà, Quang đánh bạo cầm bộ váy xuống và len lén ngửi thử. Đúng là hương thơm từ đó, có nghĩa cô nàng vừa mới thay bộ đồ ra và cũng đồng nghĩa với việc cô nàng vẫn còn quanh quẩn đâu đây... Nghĩ có thể cô ta đã phát hiện ra mình nên lánh mặt, nên Quang có ý nghĩ là giả vờ như đi xuống, nhưng kỳ thật là quay trở lại nấp bên ngoài ngôi nhà. Hơn nửa giờ trôi qua vẫn chẳng thấy bóng ai. Trời bắt đầu nắng gắt mà bụng thì đói nên Quang đã bắt đầu nao núng, định bỏ cuộc, nhưng mục đích gặp cho bằng được con người mà cho tới giờ phút này Quang vẫn chưa thể nào tin được rằng cô ta chết rồi mà vẫn còn di chuyển cái xác đi được. - Cô ấy thành ma? Quang tự hỏi và có ngay câu trả lời, bởi hành tung kỳ lạ của cô nàng đã chứng minh điều đó. Nhưng tại sao Thu Vân lại chọn đúng nơi này để xuất hiện, phải chăng là có ý muốn báo cho Quang biết điều gì? *** Mười hai giờ trưa...Trong khi Quang đã hết kiên nhẫn thì bất ngờ từ trong ngôi nhà lá cánh cửa gỗ lại bung ra và... từ trong đó một bóng người hiện ra, mà vừa trông thấy người ấy Quang đã há hốc mồm kinh ngạc. - Henri Phạm? Đúng là anh chàng! Mà tại sao anh ta lại ở đây và xuất hiện như vừa từ dưới đất chui lên vậy? Quang định lên tiếng kêu, nhưng kịp nghĩ lại nên anh yên lặng chờ. Henri Phạm thì sau khi quan sát một lượt khắp chung quanh, quay vô trong nhà ra dấu, lại một người nữa bước ra, mà lần này thì sự kinh ngạc của Quang còn gấp bội. Bởi đó là... Thu Vân. Henri Phạm quay sang cô em gái nói mà không cần giữ lời, có lẽ nghĩ đây là chỗ hoang vu, không có ai ngoài họ: - Bây giờ em có thể yên tâm xuống dưới kia, anh đã để sẵn chiếc xe khác và em cứ thế lái về thẳng Đà Lạt mà không cần phải về Sài Gòn đâu. Ở Đà Lạt chơi khoảng một tháng, rồi lên máy bay trở lại Pháp và... bắt đầu thụ hưởng hai chục triệu Franc Pháp tiền bồi thường của hãng bảo hiểm Pháp chi nhánh tại Sài Gòn. Trương mục ngân hàng mang tên anh, vì anh nhận là người bảo hộ cho em ở nước ngoài, được ba má ủy nhiệm. Từ nay cái tên Emile Thu Vân sẽ không còn nữa, mà thay vào đó là tên Anna Phạm. Mà cần gì cái tên Thu Vân đó nữa, miễn mình có được số tiền bồi thường lớn đủ trang trải lại những gì đã mất do chi tiêu quá lố từ nào đến giờ! Thu Vân vỗ vào vai anh trai mình: - Phục anh sát đất luôn! Qua mặt được hãng bảo hiểm nhân thọ chuyện đâu phải đơn giản, vậy mà anh cũng làm được. Nhưng khiến cho em phải một phen hú vía khi lái xe tới sát bờ vực sâu chỗ Ô Quắn, sợ gần chết. Rồi lại phải kéo cái xác của con nhỏ người làm và đặt nó ngồi vô chỗ lái xe, để nó giả làm em, sau đó lại phải nổ máy xe, vô số và... buông ra cho xe lao xuống vực. Sơ sẩy một chút là em bị rớt theo chiếc xe luôn. Henri Phạm cười: - Biết em có đủ bản lãnh nên anh mới giao làm nhiệm vụ đó chớ bộ! Và em đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ rồi còn gì. Chiếc xe đã lao thẳng xuống vực sâu và ai cũng đinh ninh rằng em đã chết trong vụ ấy rồi! - Nhưng sao khi trục xe và xác chết lên anh lại để cho cái xác biến mất, suýt nữa thì bảo hiểm đã không chịu bồi thường rồi? Henri Phạm cười to: - Em có lanh nhưng chưa đủ khôn. Lúc ấy em không có mặt tại hiện trường nên đâu có biết là khi xác con nhỏ Thắm vừa mới kéo lên anh đã điếng hồn, bởi tuy thân thể nó giập nát, nhưng khuôn mặt còn nguyên, làm sao nói đó là em, cô Thu Vân được? Em có biết là lúc ấy anh phải lanh trí lắm mới ra lệnh cho hai thằng đàn em đi theo trà trộn làm nhân viên cứu hộ để nhân cơ hội người tài xế xe cứu thương lơ đễnh, đã lấy cắp cái xác con Thắm đem giấu. - Không có xác làm sao hãng bảo hiểm chịu đền nhân mạng? - Em cũng quên là chỉ đến tối là người ta tìm được xác chết của nạn nhân ở một hốc đá gần chỗ tai nạn xảy ra sao? Khi đó xác con Thắm đã được anh cho tụi nó lấy đá đập nát, để không còn nhận diện ra nữa. Và sau đó đã báo cho đội cứu hộ tới và mang về bệnh viện. Thu Vân cười thành tiếng: - Anh làm khéo đến nỗi đến ba má khi đứng trong nhà xác mà cũng chẳng nhận ra! Tội nghiệp, thấy má khóc chết lên chết xuống em sợ và đau lòng quá. Chuyện này mà vỡ lở ra chắc là không yên với ông bà cụ đâu! Henri Phạm nhún vai: - Nhằm nhò gì ba cái chuyện này. Mà mình cũng đâu ngu gì để lộ... - Chỉ tội nghiệp ba má sẽ khổ đau vì mất con, trong lúc em vẫn còn sờ sờ đây... Henri Phạm nghiêm giọng: - Trong vụ xài phá đến cạn hết tiền ba gởi ở nhà băng bên Pháp đâu phải chỉ mình anh, mà em đóng góp đến phân nửa trong đó. Xong vụ này mình bí mật chuyển trả lại cho ba là ổn. Chuẩn bị đi, chợt Henri Phạm nhớ ra, anh ta hỏi: - Hồi nãy em có đóng kỹ nắp hầm chưa? Thu Vân cười: - Cái hầm bí mật này quả lợi hại, nằm ngủ dưới đó cả đêm cũng giống như ngủ trong phòng khách sạn, sướng thiệt. - Anh phải mất cả tháng trời, nhờ thợ từ trong Sài Gòn ra làm mới được như vậy. Anh phải thủ sẵn một nơi như vậy để phòng khi lộ chuyện thì có nơi mà ẩn thân một thời gian. Em đâu có biết là cả chuyện vô ra rừng hoa sứ này anh cũng phải tốn tiền mới yên chớ bộ! Thôi, có lẽ là hôm nay là ngày chót, chúng ta không trở lại đây nữa, nên cũng không cần cái hầm, có bị lộ thì cũng chẳng sao. Thôi mình đi! Họ đi rất nhanh xuống núi, xuyên qua rừng hoa sứ. Quang quá bức xúc với những gì vừa nghe, anh vừa định đứng lên gọi họ một tiếng và vạch trần những gì họ làm. Tuy nhiên, chẳng hiểu sao khi vừa đứng lên thì Quang đã ngã ngồi trở xuống như bị ai kéo lại vậy. Phải đến lần cố gắng thứ ba Quang mới có thể đứng thẳng lên, nhưng lúc ấy hai người họ đã đi khá xa rồi. Bấy giờ Quang chỉ còn cách bước thẳng vào nhà với ý định xem cái hầm mà họ vừa nói ra sao. Nhưng điều ngạc nhiên đầu tiên của Quang là chiếc váy màu vàng của Thu Vân lúc mặc đi vào đây đã không còn, mà lúc nãy khi đi ra cô ta mặc bộ quần áo màu xám nhạt, đầu đội mũ như một cách ngụy trang, mà tay không hề xách giỏ hay cầm vật gì. Vậy bộ đồ màu vàng biến đi đâu? Điều đó càng khiến cho Quang tò mò thêm, anh tìm nắp hầm và phát hiện ra ngay nó nằm ở gần gian bếp nguội lạnh, chỉ cần giở tấm ván lên là lộ ra một cái thang gỗ dẫn xuống dưới. Chẳng do dự, Quang bước ngay xuống, thấy có cây đèn pin treo sẵn ở lối đi, Quang chụp lấy và soi tới trước. Quả đúng nó như một căn phòng đầy đủ tiện nghi, có cả giường nệm phẳng phiu và ở đầu giường có ngọn đèn ngủ màu hồng nhạt nữa. - Có lẽ họ xài bình ắc quy chớ nơi này làm gì có điện! Quang hơi thắc mắc về việc đó, nhưng thắc mắc của anh không tồn tại được lâu, bởi liền lúc đó anh chợt sững sờ khi nhìn thấy có một người đang nằm trùm mền trên giường mà phải nhìn kỹ mới thấy! - Ai vậy? Không thấy người nọ động đậy, Quang cất tiếng gọi: - Ai đây, tôi muốn hỏi... Anh gọi đến lần thứ ba mà vẫn chẳng thấy người nọ cử động hay lên tiếng, Quang chợt lo, anh bạo gan cúi xuống kéo đại góc mền ra và... - Trời ơi! Trước mắt Quang là... một cô gái lạ mặc bộ đồ màu vàng máng ở vách lúc nãy! Không thể nào tin được, Quang gọi thêm lần nữa và cũng chẳng thấy cô nàng cử động. Quang hốt hoảng đưa tay chạm vào, rồi kinh hãi bởi thân thể cô ta đã lạnh cứng. Có nghĩa đó là một xác chết! - Trời ơi! Quang hoang mang tột độ, anh lúng túng mất vài giây rồi mới chạy tháo lên miệng hầm, định kêu ai đó. Nhưng chung quanh vắng tanh, vả lại nếu gọi người tới trong lúc này thì khác nào rước họa vào thân, bởi chỉ mình anh với một xác chết, ai mà tin được rằng anh không dính líu tới cái chết của cô nàng! Lúng túng một hồi lâu Quang mới quyết định trở xuống hầm, lần này anh phải nhìn cho thật rõ, ít ra cũng tìm được cách nào đó báo động cho người ta biết... chớ không thể để một người chết nằm trong đó, mà chắc chắn khó lòng có ai hay được. Nhưng khi Quang đặt chân trở xuống đó thì... cái xác của cô gái không còn ở đó nữa! *** Việc đầu tiên của Quang khi trở về Sài Gòn là tìm tới nhà của cha mẹ Thu Vân. Họ là chủ một tiệm vàng lớn ở vùng Chợ Lớn mà đã đôi lần Quang có tới chơi với anh em Thu Vân, nên cha mẹ cô biết Quang. Vừa thấy Quang, bà Kim Tín đã òa lên khóc kể:- Lâu nay con không ghé chơi nên bác không biết con ở đâu. Phải chi biết mà gọi con tới chơi thì chắc tụi nó không đi Ô Cấp làm gì để xảy ra cớ sự này! Quang dò hỏi: - Sau khi tai nạn xảy ra bác có kịp đem xác Thu Vân đi nhận diện không? Ông Kim Tín nói thay vợ: - Chính tôi xuống nhà xác bệnh viện để nhìn, nhưng có nhận dạng được nó đâu, bởi thi thể đâu còn nguyên vẹn. - Henri Phạm đâu rồi bác? - Ôi! Cái thằng lãng tử đó mà cháu hỏi làm gì. Nó về đây chỉ ở nhà có nửa buổi rồi đi biệt tới bữa nay. Cũng tại nó mà con Thu Vân mới lái xe đi Ô Cấp chớ hai bác đâu có cho. Đường sá xứ mình khác, đâu phải thấy vắng mà muốn chạy sao cũng được. - Nghe nói có bảo hiểm phải không bác? Ông Kim Tín hơi ngạc nhiên về sự hiểu biết của Quang, nhưng cũng đáp: - Có! Nhưng do tụi thằng Henri và Thu Vân sống bên Pháp nên làm bảo hiểm bên đó, nên họ sẽ tiến hành thủ tục bồi thường bên đó. Nhưng còn bồi thường mà làm gì nữa khi mạng sống không còn? Quang giả vờ hỏi: - Hình như nhà có cô người làm tên Thắm phải không bác? Đến lúc này thì ông Kim Tín không khỏi ngạc nhiên nói: - Sao cháu biết con nhỏ đó? Quang cười giả lả: - Dạ, chẳng là vì cháu có quen với nhà cô ấy ở dưới quê... Bà Kim Tín buột miệng nói: - Thì ra là vậy, cháu ở làng Mỹ Quý hay Mỹ Lương của huyện Hòa Thành? - Dạ, ở sát nhà của cô Thắm. - Vậy là Mỹ Quý rồi! Huyện Hòa Thành tỉnh Ba Xuyên chỉ có cái xã Mỹ Quý là heo hút nhất, lại ít người biết, nên bác cũng hay quên là nó ở Mỹ Quý hay Mỹ Lương. Vậy ra cháu với nó là đồng hương. Mà cũng hay, dịp này bác hỏi cháu xem, gần đây cháu có gặp nó không? - Dạ... gặp ai ạ? - Con Thắm! Nó nghỉ làm ngang xương cả tuần nay mà chẳng biết đi đâu! - Có thể cô ấy về quê chăng? Ông Kim Tín bác ngay: - Con nhỏ này từ ngày lên đây làm chưa bao giờ xin về quê lần nào, bởi lẽ đơn giản là nó không còn ai ở quê hết. Lẽ thứ hai là nó làm được bao nhiêu tiền lương đều gởi lại cho nhà tôi hết, không giữ đồng nào trong túi, như vậy lấy đâu tiền để đi. Bà Kim Tín cũng nói: - Con nhỏ hiền lành, dễ thương, tuy là không còn ở nhưng vợ chồng tui thương nó như con ruột. Tính năm tới nó đủ hai mươi tuổi thì coi mối nào được gả chồng cho nó. Con nhỏ tuy ít học nhưng đẹp người, đẹp nết, ai mà lấy được nó là có phước lắm! Quang không kiềm chế được, buột miệng: - Người như vậy mà bị hại thì... Bà Kim Tín hốt hoảng: - Ai hại nó? Quang nói chữa: - Dạ, cháu muốn nói nếu như rủi ro... Ông Kim Tín nói: - Tôi nghĩ chắc không có chuyện gì đâu. Con nhỏ này không chừng ham vui bị bạn bè rủ rê đi đâu đó, vài bữa thì về thôi. Quang vòng vo mãi, cuối cùng anh mới hỏi thẳng điều mà hôm nay tới anh muốn hỏi: - Ở Đà Lạt hai bác có nhà riêng hay nhà bà con gì trên đó không? Bà Kim Tín nói thật: - Tôi có một biệt thự bỏ không trên đó, chỉ thỉnh thoảng lên nghỉ mát vài hôm. Mà mùa này lạnh, nên phải ba bốn tháng nữa vợ chồng tui mới lên chơi. - Vậy không chừng Henri Phạm cũng lên đó chơi, bao nhiêu lần rồi cậu ấy không lên Đà Lạt thưa bác? - Cả chục năm rồi. Từ ngày đi du học nó về đây có bốn năm lần, mà lần nào cũng chỉ ở nhà, có đi nghỉ mát thì chỉ ra Ô Cấp thôi. - Vậy hai bác có nhà riêng ở Ô Cấp không? Kiểu hỏi như điều tra của Quang khiến cho ông Kim Tín bắt đầu thấy lạ, ông hỏi vặn lại: - Hình như cháu muốn tìm hiểu điều gì phải không nào? Quang lúng túng: - Dạ không, cháu chỉ... hỏi cho biết vậy mà. Và cũng bởi... mới rồi cháu nằm mộng thấy Thu Vân... Đây là Quang bịa chuyện, nhưng bà Kim Tín lại quan tâm: - Cháu mộng thấy nó thế nào? Nó chết có yên ổn không? Bác cũng hơi lo, vì nó còn trẻ, lại chết tức tưởi như vậy nên bác sợ oan hồn... Ông Kim Tín gạt ngang: - Bà khéo tưởng tượng! Con gái mình là dân Tây học, làm gì có chuyện oan hồn với hồn oan. Bà Kim Tín tại nức nở khóc: - Ông cứ nói vậy hoài, trong lúc tui cứ mong cho vong hồn nó về một lần thôi cũng được, vậy mà chưa thấy... Rồi bà hỏi Quang: - Cháu mộng thấy nó nói gì? Quang đã có toan tính trước, anh đáp: - Dạ, cháu nghe cô ấy muốn tìm ngôi nhà nào đó ở Ô Cấp mà tìm chưa ra. Cả ba lần mộng thấy cô ấy thì cả ba lần Thu Vân đều chỉ nói có chuyện đó. Lần này chợt ông Kim Tín buột miệng: - Nhà ở Vũng Tàu, nó biết sao còn tìm! Quang giả bộ: - Dạ, con thấy Thu Vân có vẻ không nhớ, cô ấy chỉ nói là hình như nhà ở gần Bạch Dinh hay sao đó... Bà Kim Tín vụt nói: - Thì căn nhà biệt thự hướng ra bãi Dâu. Đúng là nó không nhớ, bởi khi đi du học thì nó mới có mười tuổi, mà ngôi nhà cũ đó tôi và ông nhà tôi cũng lâu lắm rồi không về đó, chẳng biết còn hay sập rồi nữa! - Thảo nào... Quang bỏ lửng câu nói khiến ông Kim Tín thắc mắc: - Cháu nói gì? Quang lại lảng sang chuyện khác: - Dạ không. Cháu muốn nói... chẳng hiểu sao gần đây cháu hay mộng mị quá. Anh vừa định đứng lên cáo từ thì chợt từ ngoài cửa có một người bước vào, mà vừa nhìn thấy thì cả ba người đang ngồi đều bật dậy một lượt: - Trời ơi... Trời... Bà Kim Tín té ngồi trở xuống, miệng lắp bắp: - Con... con Thắm ông ơi. Người vừa xuất hiện chính là Thắm, nhưng trong bộ váy màu vàng mà Quang đã thấy hôm ở rừng hoa sứ. Cô ta là cô gái nằm chết trong hầm hôm đó! Anh lắp bắp mãi, nói không thành lời: - Cô đúng là... Cô gái bình thản ngồi xuống và nhìn vào bà Kim Tín, hỏi bằng giọng không vui: - Sao bà không đi tìm con? Bà Kim Tín vẫn chưa tin vào mắt mình, giọng bà run rẩy: - Có phải... thiệt là con không vậy? - Là con đây! Con đâu có chết mà sao bà vẫn coi như con đã ra người thiên cổ? Ông bà biết là đã chôn ai không? Quang vụt nói: - Là cô Thắm! Nãy giờ hình như cô gái không để ý đến Quang. Giờ nghe anh nói, cô mới quay sang và nói: - Anh đã biết ngôi nhà trên núi lớn Ô Cấp thì cần trở lại đó để biết thêm điều cần biết! Rồi cô lại quay sang ông bà chủ của mình: - Hai người hãy chuẩn bị mà rời khỏi ngôi nhà này đi, vài ngày nữa nó không còn là của mình đâu! Trong lúc ông bà Kim Tín còn đang ngơ ngác thì cô nàng vụt đứng lên và ra hiệu cho Quang đi theo: - Anh ra đây! Quang riu ríu bước theo. Khi ra tới ngoài rồi cô nàng lên tiếng: - Anh đã gặp tôi nằm chết trong hầm ngôi nhà trên rừng hoa sứ rồi phải không? Vậy bây giờ anh có ngạc nhiên khi thấy con người đó có mặt tại đây không? Quang sợ, nhưng anh vẫn cố nói cứng: - Không phải một, mà là đã hai lần tôi nhìn thấy cô chết và biến mất. Như vậy kể cả lần này nữa, biết đâu cô lại... Cô nàng bỗng cười phá lên: - Không ngoại trừ lần này đâu! Cô nàng vừa nói vừa dừng lại và quay ngoắc đối diện với Quang. Anh chàng há hốc mồm kinh ngạc, bởi trước mắt anh bây giờ không phải là Thắm nữa, mà là một cô gái khác với gương mặt bê bết máu! - Anh chưa từng biết mặt thật của tôi, mà chỉ biết cái mặt biến dạng này phải không? Quang còn chưa hiểu gì thì cô nàng buông một tiếng ngắn gọn: - Thì như anh đã nghe họ nói rồi đó, tôi đã bị họ nhẫn tâm sát hại rồi mà còn hủy hoại nhan sắc thêm lần nữa. Quang run giọng: - Cô Thắm... tôi cảm thông với cô, tôi muốn giúp, nhưng mà... Không để ý lời phân trần của Quang, cô nói tiếp: - Và anh đã nghe anh em họ kể chuyện giết chết tôi rồi xô xuống vực sâu ở Ô Quắn cùng chiếc xe rồi phải không? - Có... có nghe... - Như vậy là anh biết đích xác cô Thu Vân đâu có chết, đúng không? - Phải! Và bữa đó tôi thấy cô ta đi vào ngôi nhà trong rừng hoa sứ nữa. - Chính nhờ vậy anh mới có động cơ tìm tới nhà cô ta và hiểu tôi đã bị chết oan như thế nào. Tôi nghèo cũng giống như anh và chỉ bởi nghèo hèn, cô thế, nên mới bị giết chết cho một mưu đồ gian ác của họ. Cũng như do anh nghèo và tốt bụng, nên suýt nữa anh đã bị sa vào bẫy của họ, để họ có gì sơ sẩy thì chính anh là người sẽ đứng ra nhận tội thay! Quang ngơ ngác: - Cô nói vậy là sao? Nàng ta nhẹ giọng: - Hôm ở rừng hoa sứ sau Bạch Dinh, chính anh bị cô Thu Vân dụ đi theo lên căn nhà hoang đó, còn cái xác mà anh nhìn thấy trong hầm là xác của tôi do bọn chúng lấy cắp được trong nhà xác bệnh viện, để làm tang chứng buộc tội anh... Quang chận ngang: - Nhưng tôi có bị gì đâu? - May cho anh là tôi đã kịp thời cứu anh! Chính tôi đã biến đi và xui khiến anh rời ngôi nhà đó kịp thời. Bởi chỉ năm phút sau đó thì cảnh sát do Henri Phạm báo đã ập tới, họ chẳng gặp ai nên mọi việc coi như xong! Quang không thể nào tin được, nhưng khi anh nhìn cô gái thì thấy cô ta mỉm cười, gật đầu: - Tôi tuy chết oan, thù hận mọi người, nhưng không thể để cho một người ngay như anh bị nạn thay cho họ được! Do anh biết quá nhiều chuyện của họ, nên họ tìm cách thủ tiêu anh để bịt đầu mối. Anh có biết là họ đã tính trước mấy bước tiến và mấy bước lui. Tiến là nếu mọi việc êm xuôi, họ sẽ lãnh được tiền bảo hiểm nhân thọ, còn lui là phòng bất trắc, cơ mưu bị bại lộ. Lúc ấy họ sẽ đổ vấy lên đầu anh, nói chuyện giết tôi là do anh làm, mà bằng chứng do họ tạo ra sẵn là một túi tiền lớn họ dàn cảnh mang theo bên thi thể tôi để mọi người nghĩ động cơ anh giết tôi là vì muốn cướp tiền! Trong lúc Quang còn đang hoang mang thì cô nàng vụt nói nhanh: - Anh về nhà và đừng ngạc nhiên khi thấy số tiền bạc triệu để sẵn trong đó. Tiền đó tôi lấy được tại hiện trường, thứ mà họ định dùng để vu cáo anh. Đó là đồng tiền phi nghĩa, do đó không việc gì anh trả lại mà cứ giữ xài. Và còn nữa, khi hãng bảo hiểm đền tiền, thì thay vì họ nhận được, tôi sẽ khiến cho nó thuộc về anh! Anh sẽ dùng số tiền đó để thoát kiếp nghèo, hoặc làm từ thiện gì đó tùy anh. Thôi, vĩnh biệt anh, con người tốt bụng nhưng phải cái tội... quá tò mò! Nói xong thoắt cái cô ta đã biến mất. Vừa khi ấy cha mẹ Thu Vân trong nhà chạy ra hỏi lớn: - Thắm! Con Thắm đâu rồi? Quang chỉ lắc đầu không đáp. Bà Kim Tín phải gào lên: - Nó đâu rồi? Phải đó là hồn ma không? Bây giờ chính ông Kim Tín là người có kết luận: - Chưa chết mà hồn ma nỗi gì? Nhưng bất thần, Quang nhìn thẳng vào ông nói: - Cô ấy là hồn ma đó! Một oan hồn đáng lý về đòi nợ máu, nhưng cô ấy chưa làm. Có lẽ cô ấy chỉ muốn đòi nợ chính người đã gây ra tội ác mà thôi. Nói xong Quang quay bước đi, bà Kim Tín gọi lớn: - Kìa, cháu Quang! Cháu vừa nói gì? Quang nói mà không quay lại: - Hai bác sắp đón nhận những tin không tốt lành gì đâu. Anh đi nhanh bởi không muốn trả lời thêm nữa. Anh tự nhủ: - Biết nhiều quá là rước lấy phiền nhiễu nhưng cũng có được cái hay, như mình... *** Ba tháng sau...Bỗng nhiên Quang nhận được điện tín từ một ngân hàng Pháp bảo rằng anh có một số tiền mười triệu Franc Pháp mà không nói rõ là tiền gì. Quang định viết thư từ chối và nói rõ mọi chuyện cho họ biết và rút lại số tiền lớn đó. Tuy nhiên anh chưa kịp viết thì lại nhận được một thư khác từ một chi nhánh ngân hàng Pháp tại Sài Gòn chuyển đến, thông báo là anh có một trương mục tại ngân hàng họ với số tiền mười triệu đồng Franc. Quang chưa kịp có phản ứng gì thì đêm đó anh đang ngủ vụt ngồi dậy khi nghe có tiếng nói từ cửa sổ vọng vào: - Em đã nghĩ rồi, số tiền này thay vì trả lại cho hãng bảo hiểm, có nghĩa là anh tố cáo tội gian manh của anh em nhà Henri Phạm và Thu Vân, như thế họ sẽ ở tù thì anh cứ giữ mà làm từ thiện và cải thiện cuộc sống, đừng trả lại. Cứ để suốt đời con Thu Vân sẽ sống trong cảnh trốn chui trốn nhủi với cái tên giả, đó là cách nó phải trả giá cho tội ác của mình, đau khổ còn hơn là ngồi tù. - Nhưng như thế này trước sau gì cũng đổ bể, tôi lại liên lụy, bởi tiền đang nằm trong trương mục của tôi. Giọng nói kia giải thích rất rạch ròi: - Mọi thứ em đã lo hết rồi. Em khiến cho đồng tiền luân chuyển từ Pháp về trương mục của anh mà chẳng ai biết được nguồn gốc. Không phải mình gian manh, nhưng để cho người thật thà, tốt bụng như anh khỏi phải liên lụy. Anh cứ yên tâm dùng số tiền ấy. Có thể một ngày nào đó anh sẽ cứu trợ ngược lại cho ông bà Kim Tín, bởi sớm muộn gì hai đứa con trời đánh ấy cũng làm cho gia sản nhà đó không còn một đồng. Tự dưng có số tiền lớn như vậy khiến Quang lúng túng chẳng dám đụng vào. Nhưng lạ quá, cứ hàng tháng anh lại nhận được một số tiền để chi dụng mà không biết của ai cho. Sau đó khi nhận được thông báo tình hình trương mục ngân hàng, Quang mới hiểu đã có người rút tiền giúp cho anh. Người giúp đó ngoài Thắm ra thì đâu còn ai nữa! Và cứ thế, hễ mỗi khi Quang vừa có ý định làm ăn gì thì tự nhiên có ngay số tiền như ý chuyển đến. Được cái là Quang không hề lợi dụng số tiền đó để phung phí. Anh chủ yếu dùng để làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo khác. Và đặc biệt, anh mua một mảnh đất rộng, chỉ xây một căn nhà nhỏ để ở, phần đất còn lại anh lập một cái miếu thờ, mà trong miếu chỉ thờ một bức họa do chính Quang vẽ lại theo trí nhớ chân dung của Thắm. Từ đó Quang sống thanh thản một mình và tự nguyện làm ông từ chăm sóc ngôi miếu. Sau này người ta đồn ngôi miếu đó linh hiển lắm, cầu gì được nấy. Mà lời cầu khấn phải mang ý tốt thì mới được đáp ứng, còn ngược lại, nếu lợi dụng hay gian trá thì sau khi khấn vái sẽ mang bệnh chữa hoài không khỏi... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 47
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXXVII:ĐỒI THIÊN THU Giấc ngủ kéo dài hơn dự kiến, có lẽ do thời tiết mát mẻ, mà cũng có thể do cơn mệt của một ngày đường đi qua những đoạn đầy bụi và gập ghềnh, nên Mỹ Uyên ngủ say chưa từng thấy. Lúc tỉnh giấc, Uyên đưa tay xem đồng hồ thì không khỏi giật mình, đã hơn 1 giờ sáng! Như vậy cô đã ngủ đến hơn 6 giờ liền! Vừa lúc ấy, có tiếng gọi khẽ ngoài phòng: - Cô Út ơi, cô dậy chưa? Biết đó là tiếng của chị người làm Tư Sương, nhưng Uyên vẫn còn vươn vai trên giường chưa chịu lên tiếng. Phải cho chị ta lặp lại lần thứ hai thì Uyên mới đáp: - Dậy rồi. Có gì không chị Tư? - Dạ, nãy giờ tôi gọi cả chục lần mà cô không lên tiếng, tôi đoán cô còn ngủ nên thôi. Tôi muốn dọn mâm cơm ra, sợ để trong phòng kiến, gián bâu. Lúc này Mỹ Uyên mới nhớ ra, hồi 6 giờ chiều chị ta có dọn vào phòng cô mâm cơm nóng sốt, mời cô ăn, nhưng lúc đó do mệt nên Uyên dự tính nằm nghỉ một lúc sẽ ngồi dậy ăn, bởi thật sự lúc ấy cô đang đói... nhưng ngủ quên luôn tới giờ. - Mâm cơm hả? Uyên lúc này mới chịu nhảy xuống giường và mở cửa phòng trong tư thế mắt nhắm mắt mở: - Chị vào lấy ra hâm lại giùm tôi, tôi ngủ quên... Tư Sương rất mến cô chủ nhà này, nên vui vẻ bảo: - Ngủ ngon hơn ăn mà cô! Bước tới chỗ đặt mâm cơm, bỗng chị ta kêu lên: - Ủa, cô Út... ăn rồi mà? Mỹ Uyên giật mình: - Ăn hồi nào? Sau lúc chị đem cơm vào là tôi ngủ liền một mạch tới giờ này, ăn uống gì đâu! Chỉ mâm cơm đã sạch thức ăn, Tư Sương cười: - Tưởng cô Út chê đồ ăn nấu vội của tôi, nào ngờ cô ăn ngon miệng quá! Uyên bước tới nhìn vào mâm cơm, ngạc nhiên kêu lên: - Tôi đâu có ăn! Tới phiên Tư Sương ngạc nhiên: - Vậy ai ăn? Chị ta quay về phía cửa hỏi: - Cô ngủ có đóng cửa không? Uyên đáp quả quyết: - Tôi khóa rồi còn gài chốt nữa! Vừa rồi tôi mở ra thì chốt khóa còn nguyên mà. Nhìn lại cửa sổ vẫn còn chốt bên trong, Tư Sương cau mày: - Đâu có ai lọt vào đây được? Mà cô Út... Chị ta định hỏi lại xem cô chủ mình có lầm lẫn, ăn rồi mà quên... nhưng Mỹ Uyên như đã đoán được ý của chị, vội nói ngay: - Bụng tôi còn đói cồn cào nè, sao có chuyện kỳ vậy? Uyên hỏi lại: - Nhà này bộ lâu nay ai muốn vào thì vào hay sao chị? Tư Sương xua tay: - Dạ, đâu có cô Út! Ở đây là biệt lập, vả lại khu vực này mọi người tôn trọng ông chủ, nên chưa bao giờ có ai dám bước vào trang trại này, chứ đừng nói là trộm đạo. Mà chuyện này tôi nghĩ có lẽ... hay là... Chị không tìm ra được cách nói nào cho đúng. Bởi trộm nếu vào phòng thì lấy của cải, chứ sao lại chỉ ăn cơm? Còn kẻ gian khác thì... Chị nhìn quanh rồi hỏi: - Cô Út xem có mất mát gì không? Uyên nhìn qua một lượt, thấy chiếc va li để ở đầu giường vẫn còn nguyên, cô nói: - Đồ đạc tôi còn chưa lấy ra thì đâu có gì để mất! - Vậy ai vào đây? Tư Sương đứng thừ người ra một lúc, chị dọn mâm ra mà còn lầm bầm: - Chuyện chưa từng xảy ra... Ngồi lại trong phòng, chính Mỹ Uyên cũng không thể hiểu nổi: - Sao có chuyện kỳ lạ này? Lát sau, mâm cơm khác được bưng vào, Tư Sương hơi ngại nói: - Do không chuẩn bị thức ăn sẵn, nên chỉ còn lạp xưởng với mấy cái trứng, cô Út ăn đỡ được không! Uyên ngồi ngay vào bàn ăn: - Tôi đang đói cồn cào, có bấy nhiêu đây là quý rồi! Cô ăn một cách ngon lành. Lúc này Tư Sương mới tin thật là cô chủ mình không hề đụng tới mâm cơm kia. Chị ta ngồi nhìn Uyên ăn vừa thắc mắc: - Chuyện này kỳ quá cô Út? Phải chăng... Chị ta bước tới cửa sổ quan sát thật kỹ rồi lắc đầu nói: - Tôi nghi có con gì đó nhảy vào đây ăn vụng, nhưng cửa sổ cao và chốt chặt thế này thì con gì vào được? Cô có nghi ai không cô Út? Vốn tính không đa nghi, nên Uyên xuề xòa: - Chuyện cũng đã xảy ra rồi, nghi ngờ mà làm gì! Có thể là... chuột bọ gì đó cũng nên! - Cũng có thể... nhưng phòng này nào đến giờ không thấy chuột... Quá đói, nên Mỹ Uyên ăn một loáng đã hết sạch mâm cơm với thức ăn đơn sơ. Cô còn khen: - Chị chiên trứng có nghề đó nghen! Được khen, Tư Sương cười toe toét: - Lâu lắm rồi mới có người khen tôi, cám ơn cô Út! Để không khí bớt căng do chuyện vừa rồi, Mỹ Uyên nói đùa: - Sao chị không kiếm một người... để người ta khen cho. Chị mà gật thì chắc ở xứ này thiếu gì các anh chàng nhào vào, phải không chị Tư! Tư Sương thẹn thùng, lúng túng: - Cô Út này... ai mà chịu tôi cô ơi! Uyên ăn xong thì đồng hồ tay của cô chỉ hơn 2 giờ. Định không ngủ tiếp nên Uyên lấy va li ra soạn đồ để treo lên móc, cô giật mình khi phát hiện trong va li của mình có một cành hoa hồng còn tươi đặt trong đó! - Kỳ vậy? Mỹ Uyên không hề đặt cành hoa này vào chung với quần áo của mình, vả lại nếu có đặt vào đó thì qua chặng đường hơn 5 tiếng đồng hồ, cánh hoa hồng không còn tươi như mới hái được! Mà loại hồng vàng này không phải nơi nào cũng có. Cánh to, thân cao, lá nhỏ, là đặc trưng của loại hồng mà nếu Uyên nhớ không lầm thì chỉ có ở ngay trong nhà mình đây, do trước kia lúc còn sinh thời cha cô đã lấy giống từ nước ngoài về ươm và cho hoa. Nhưng vài năm nay thì do không có người chăm sóc nên hầu như bốn chậu hồng vàng nhà cô đã chết và tuyệt chủng luôn! Vậy mà... Điều làm cho Uyên sững sờ lúc này là việc ai đã đặt cành hoa vào va li mình và đặt vào lúc nào mà cô không hay biết. Nó có liên quan tới mâm cơm hồi đầu hôm không? Bao nhiêu câu hỏi khiến cho suốt từ đó đến sáng, Mỹ Uyên không tài nào ngủ lại được. Cô cũng không buồn sắp xếp đồ đạc, mà chỉ biết ngồi ngẩn ngơ. Hồi nãy cô không quan tâm lắm vụ mâm cơm, nhưng bây giờ chỉ một cành hoa nhỏ, cô lại không yên trong lòng. Chắc chắn là có điều gì đây... - Cô Út ơi, dậy sớm tập thể dục đi, rồi vào ăn cháo. Tôi có nấu nồi cháo cá ngon lắm để cô ăn, bù bữa đạm bạc đêm qua! Nghe tiếng Tư Sương, Mỹ Uyên phải nói vọng ra: - Được rồi, cám ơn chị, lát nữa tôi ăn. Cô thấy cần một cuộc tản bộ với không khí trong lành buổi sáng để khuây khỏa cho bớt căng thẳng, nên thay đồ thể dục, Uyên đi ra sau vườn. Mảnh đất mà ngôi biệt thự của cha cô tọa lạc rộng có đến 5-6 héc-ta, một phần chung quanh nhà thì được vây quanh bởi tường rào cao, có cửa thông ra phần đất phía sau khá rộng, dẫn tới dãy đồi tít tắp đằng xa. Ít khi nào Uyên một mình đi lên phía sườn đồi thoai thoải kia, mặc dù vào những buổi sáng nơi đó rất đẹp, đặc biệt là lúc mặt trời lên. Có lần Mỹ Uyên đã nhìn thấy cha đứng trên đó nhìn về phía vầng thái dương vừa nhô lên, ông nhìn có vẻ say sưa lắm... đến khi bắt gặp con gái mình nhìn mình từ sau thì bỗng dưng ông nổi nóng, xua Uyên vào nhà ngay! Sau đó Uyên có hỏi cha tại sao như vậy thì ông lúc ấy có vẻ bình tâm lại, đã vỗ vai cô bảo: - Chỗ ấy mặt trời lên đẹp lắm, nhưng... có lẽ không nên xem. Nhất là con còn nhỏ... Uyên hỏi: - Nhỏ thì đâu có ai cấm nhìn mặt trời lên đâu ba? Cha cô không vừa lòng lắm cách hỏi của con, nhưng ông chỉ nói: - Con biết vậy là đủ rồi. Rồi chẳng hiểu sao, ông ra lệnh cho mọi người trong nhà kể cả cô: - Từ nay không ai được ra chỗ sườn đồi, nhất là phía gần vực. Nơi đó nguy hiểm. Ông chỉ nói thế thôi, nhưng người nhà từ Tư Sương, Sáu tài xế và cả mấy người làm vườn nữa, không ai dám trái lại. Có lần Tư Sương còn nói với Uyên: - Mỗi lần tôi đứng bên sườn đồi đó mà nhìn xuống vực sâu, tự nhiên tôi chóng mặt liền! Từ ngày đó cho tới nay đã hơn năm năm. Cha cô đã mất, nhưng mấy lần về ở đây, có lúc đến vài tháng, nhưng chưa lần nào Mỹ Uyên có dịp ra đây. Cho đến sáng nay cũng thế, cô chỉ muốn đi một vòng ở phần vòng rào của ngôi nhà, cho nên khi vừa đi tới tường phía sau thì Uyên quay lại. Tuy nhiên khi vừa xoay người đi, chợt cô nghe tiếng đàn ở đâu vọng lại. Một bản nhạc rất quen thuộc mà vừa thoạt nghe Uyên đã phải dừng lại ngay: Bản Love Story! Ban đầu Uyên ngỡ đó là nhạc từ máy radio, nhưng khi nghe kỹ thì không phải. Ai đó đang đánh đàn guitar, mà lại lúc chơi lúc ngừng. Sáng sớm mà được nghe điệu nhạc quen thuộc, lại là bản tình ca Mỹ Uyên đã thuộc nằm lòng và thường hát một mình mỗi khi ngẫu hứng, bởi vậy Uyên lặng im và chăm chú lắng nghe. Quãng thời gian người chơi đàn ngừng lại là những lúc Uyên cụt hứng, làu bàu: - Chơi thì chơi cho trọn... Nhưng Uyên không phải chờ lâu, ngay lúc đó tiếng đàn lại trỗi lên. Lần này lại có kèm theo tiếng hát nữa! Mà là giọng của một chàng trai! Mỹ Uyên hơi tò mò, cô nhìn qua song sắt cổng sau, hướng về phía ngọn đồi gần đó. Rõ ràng là tiếng đàn hát phát ra từ đó. - Ai mà mới sáng sớm đã lên đó? Tự hỏi và dĩ nhiên là không có câu trả lời, nhưng sự tò mò đã khiến Uyên theo quán tính đã mở chốt cửa bước ra phía ngoài. Sương sớm còn đọng lại trên đầu ngọn cỏ, nên Uyên bước tới đâu sương ướt thấm vào da lạnh buốt. Tuy nhiên lúc này Uyên không ngại sương, thứ mà cô rất ngại trước đây. Có lẽ do tiếng đàn hát mỗi lúc một rõ hơn và... quyến rũ hơn! Như con mồi nhỏ bị thôi miên trước ánh nhìn của con mãnh hổ, Uyên bước thẳng lên đồi mà không kiểm soát được bước đi của mình! Cô đi khá nhanh, cho đến khi tiến rất gần với tiếng đàn hát thì chậm lại, và gần như bất động khi tiếng đàn hát ngừng lại. Nghĩ là nó lại tiếp tục như lần trước, nhưng qua gần ba mươi giây không nghe lại âm thanh quyến rũ kia, Uyên tắc lưỡi: - Sao lại... Cô chờ thêm khá lâu nữa, vẫn im lặng... Lần này không đứng im nữa, Uyên bước nhanh tới trước. Cô quyết xem thử người vừa đàn hát đó là ai? Nhưng khi đã lên tới đỉnh đồi rồi Uyên chẳng nhìn thấy ai. Đây là đồi cỏ chứ rất ít cây to, nên tầm mắt có thể phóng rất xa, nhìn rộng khắp một vùng... Vậy mà chẳng thấy bóng người nào. - Kỳ vậy... Mỹ Uyên nhìn lại chỗ gốc cây cổ thụ duy nhất ở đỉnh đồi nơi ngọn cỏ còn rạp xuống chứng tỏ có người vừa ngồi xong. Vậy anh ta đi đâu mà biến mất quá nhanh, trong khi nếu muốn biến khỏi tầm mắt trên đỉnh đồi này ắt phải đi gần năm phút. Thất vọng vì nguồn cảm hứng buổi sáng bị cắt ngang, Mỹ Uyên vẫn chưa muốn rời đi. Cô bước lại chỗ gốc cây và tự dưng muốn ngồi lại nơi ấy. Tuy nhiên vừa ngồi xuống thì Uyên đã bật dậy ngay, bởi cô vừa ngồi lên một vật gì đó. Bật dậy và nhận ra vật đó chính là một chiếc nhẫn bằng chất liệu giống như ngà voi. Nhẫn khá lớn, cỡ tay của đàn ông! - Chắc là của anh ta... Mỹ Uyên không định cầm lên, nhưng vừa muốn quay đi thì cô lại đổi ý, cúi xuống nhặt chiếc nhẫn lên, sau khi ngắm qua một lượt, cô cho vào túi áo và quay trở lại. Vừa bước qua một mô đất cao, chợt Uyên giật mình khi thấy trước mặt mình là cả một rừng hoa hồng vàng! Những đóa hồng vàng nở rộ đón ánh bình minh khiến cho Uyên phải sững sờ một lúc. Rồi cô lẩm bẩm: - Những cánh hoa này sao giống... Cô đã nhận ra, hồng vàng ở đây rất giống với cành hoa mà cô bắt gặp trong va li của mình! - Thì ra... Cô muốn nói thì ra hoa là ở nơi đây! Nhưng khi nghĩ tới người đem nó vào phòng mình thì Uyên lại ngừng ngay ý nghĩ. Không thể nào... Tiện tay Uyên ngắt một cành hoa và mải mê nhìn nó như bị thôi miên. Mãi gần nửa phúc sau cô mới rời nơi đó. Lúc đi lên, dù độ dốc, nhưng Uyên đi nhanh hơn khi xuống. Một phần bởi không có mục tiêu chinh phục, nhưng một phần có lẽ do vừa bước đi mà Uyên cứ thỉnh thoảng quay lại nhìn... Khi xuống hết triền đồi, một cách ngẫu nhiên Uyên đưa tay sờ vào túi, cô giật mình kêu lên: - Đâu rồi? Chiếc nhẫn cô cẩn thận bỏ vào lúc nãy giờ đã biến mất? Túi của bộ áo khoác thể thao là áo mới, không có lỗ rách, vậy nó đi đâu? Định trở lại để tìm, nhưng khi sờ xuống túi quần thì Uyên thở phào, bởi chiếc nhẫn lại ở đó. - Kỳ lạ! Uyên chỉ còn biết kêu thầm rồi bước trở vào nhà mà hình như đang muốn nghe lại tiếng đàn hát lúc nãy... Khi vào nhà gặp Tư Sương, Uyên hỏi liền: - Chị có nghe tiếng đàn hát hồi này không? Sương ngạc nhiên: - Ủa, đâu có nghe gì? Uyên kể sơ lại sự việc và hỏi: - Gần nhà mình có ai hay đàn hát không? Tư Sương cũng lắc đầu: - Tôi đâu có biết ai. Xóm này ít người, phần đông là thợ rừng, thợ săn, họ đi làm xa, nhiều khi cả năm không thấy về nhà. Nếu có chơi đàn thì họ chơi đàn cò, đàn kìm hay ca vọng cổ, chứ làm gì biết đàn nhạc ngoại gì đó như cô nói. Nhiều khi cô nghe họ hát băng hay radio gì đó không chừng! Uyên quả quyết: - Tôi chắc chắn đó là người hát. Tôi còn... Cô định nói là mình nhặt được chiếc nhẫn, nhưng kịp ngừng lại. Rồi cô đưa cành hoa hồng vàng cho Tư Sương xem và kể: - Tối qua tôi gặp một cành hồng giống như cành này trong va li của tôi, chị thấy có lạ không? Tư Sương trố mắt: - Cô nói thật hả? - Mà chị có biết trong vườn mình ở đâu có nhiều hồng vàng này không? - Ở trên đồi. Mà cũng lạ, ngày trước ông chủ trồng quanh nhà, chỉ bởi thiếu tưới có một thời gian ngắn là hỏng chết khô hết, vậy mà đám hồng vàng này không ai tưới tiêu gì hết lại sống tốt ở trên đồi, chẳng biết sao nữa? - Ai trồng nó trên đó? Có vẻ suy nghĩ, một lúc Tư Sương mới đáp: - Hồi trước hình như cũng do ông chủ trồng. Rồi cô hạ thấp giọng kể: - Có chuyện này ít ai biết, hồi còn khỏe, mỗi khi lên trên này thì hầu như ngày nào ông chủ cũng lên trên đồi đó ở cả ngày! Ông chủ còn cho xây một cái nhà mát trên đó nữa để nghỉ trưa, có khi ngủ cả tối, chỉ một mình ông thôi. Cái nhà mát đó chỉ mới bị tháo dỡ đi vài năm nay, chỉ vì... - Sao lại dỡ bỏ? Tư Sương ngập ngừng một lúc mới chịu nói: - Chuyện này là do bà chủ... Tôi nói cho cô nghe thôi, cô đừng nói lại cho bà chủ nghe... Uyên động viên chị ta: - Chị biết tính tôi rồi, có bao giờ tôi đứng về phía ba má tôi mà gây ác cảm với người làm trong nhà đâu? Tư Sương mạnh dạn: - Bởi vậy tụi tôi trong nhà này ai cũng quý mến cô và luôn hết lòng vì cô, kể từ khi cô thay quyền ông bà chủ cai quản cơ ngơi này. Chuyện này thật ra bà chủ bảo tôi phải giấu... Chính bà đã ra lệnh cho tôi mướn người dỡ bỏ cái nhà mát trên đồi. Chỉ vì... Như sợ có người ngoài nghe được, Sương nói thật nhỏ: - Trong ngôi nhà đó có ma! Lần đầu tiên nghe chuyện đó, nên Uyên giật mình: - Có chuyện đó sao? Mà từ nào giờ có nghe mẹ tôi nói gì đâu? - Bà giấu dữ lắm. Đến cả tôi mà bà cũng không cho biết, mặc dù từ lúc ông chủ còn sống, chính tôi là người mỗi ngày lên trên đồi để quét dọn ngôi nhà mát cho ông. - Chị cũng biết là trong ngôi nhà có ma? Sương lắc đầu: - Nói thật với cô là tôi không hề hay biết. Hình như ma cỏ gì đó chỉ nhát có mỗi mình bà mà thôi! Uyên càng nghe càng rối: - Chị nói gì tôi không hiểu. Sao ma chỉ nhát có mỗi mẹ tôi? Mà mẹ tôi đâu có sống trên này. Cũng giống như bây giờ, bà luôn ở nhà tại Sài Gòn mà? - Đúng là thỉnh thoảng bà mới lên đây chơi và chỉ ngủ lại vài đêm thôi. Vậy mà... Thấy Tư Sương có vẻ ấp úng, Uyên khó chịu: - Chị nói chị quý tôi, vậy mà chuyện gì trong nhà này chị cũng giấu hết. Vậy là sao? Chị ta đành phải thú thật: - Không giấu gì cô... tiếng đàn hát mà cô vừa nói đó tôi nghe đã lâu rồi! Nó phát ra từ trong ngôi nhà mát trên đồi chính bà chủ cũng có nghe và có lần bà đã gặp một cô gái trên đó, chính cô ta! Uyên phản đối: - Người hát và đánh đàn là một, và người ấy chắc chắn là đàn ông. Bằng chứng là... Cô muốn nhắc tới chiếc nhẫn bằng ngà, nhưng kịp ngừng lại, chỉ nói chung chung: - Hồi sáng nay khi lên trên đồi, tôi đã nhìn thấy dấu vết còn lại là của đàn ông, mà giọng hát cũng là đàn ông một trăm phần trăm! Tư Sương im lặng một lúc rồi tiếp: - Tôi cũng đã nghe giống như cô nghe vậy, nhưng chính bà chủ đã nói với tôi là bà gặp... ma nữ. Nó đuổi bà không cho tới đó! Uyên sửng sốt: - Tới đó là tới đâu? - Thì ngôi nhà mát trên đồi! Uyên lắc đầu: - Càng khó tin, bởi chị cũng biết rồi, mẹ tôi bị tai biến liệt nửa người từ mấy năm nay rồi, chỉ ngồi xe lăn, vậy làm sao bà lên trên đồi được? Mỗi lần lên đây bà chỉ ở trong phòng, còn cao lắm là nhờ con A Lìn đẩy xe đi vòng vòng quanh sân này thôi. - Chính con Lìn đó đã đưa bà lên đồi! Câu nói của Sương làm cho Uyên bị kích động: - Chị Lìn đẩy xe đưa mẹ tôi lên đó làm gì? - Có lẽ do bà ra lệnh. Tội nghiệp con nhỏ, chính vì làm việc ấy nên nó mới... chết ngay trên đồi đó! - Trời ơi! Chị Lìn bị... bị chết trên đó? Tư Sương bắt đầu hé lộ những điều mà Uyên không bao giờ nghĩ tới: - Một lần, khi đẩy bà chủ lên đó rồi, tự dưng con Lìn vụt chạy về phía triền dốc bên kia, chỗ vực sâu và... nhảy xuống đó! - Trời ơi! Rồi... rồi chị ấy...? - Chết mất xác luôn! Lúc ấy ông chủ vẫn còn sống và bị sốc dữ lắm! Uyên hiểu ra: - Bởi vậy sau đó ba tôi cấm không cho ai đi lên đồi! - Đúng vậy. Nhất là từ lúc bà chủ lên đây và gặp... Chị ta lại nói hớ, sợ sệt nín bặt. Uyên hỏi tới: - Chị nói tôi nghe xem, mẹ tôi thấy gì mà đến đỗi bà ra lệnh dỡ bỏ ngôi nhà mát trên đó? - Tôi... tôi... Tư Sương nói xong thì vụt chạy đi trước sự ngơ ngác của Uyên. Cô bực bội gọi giật lại, nhưng Sương đã lẫn mất ở đâu đó... *** Mỹ Uyên tức tốc trở về Sài Gòn để gặp mẹ mình. Những nghi vấn trong lòng cô đã khiến Mỹ Uyên phải làm như vậy, mặc dù biết rằng lúc này mẹ mình đang bệnh nặng nằm liệt một chỗ.Cũng may, khi Uyên trở về thì bà Mỹ Nhung tỉnh táo hơn bình thường. Bà nhìn con và nở nụ cười héo hắt, thều thào hỏi: - Con... đi đâu về... Uyên đã có chủ tâm, nên cô không giấu: - Con lên trên nhà nghỉ của mình trên Đơn Dương. Đang yếu đến độ không tự ngồi dậy được, vậy mà khi nghe Uyên nói bà đã rướn người lên và líu lưỡi hỏi: - Con... lên... lên đó... làm... làm gì...? Uyên đỡ mẹ dậy, cho bà nằm dựa vào gối, rồi lại tiếp: - Con bây giờ quản lý cơ ngơi đó thì phải lên xuống trông chừng chứ. Con còn tính cho xây dựng lại cái nhà mát trên đồi nữa. Ở đó mà có nhà mát ngồi chơi hay tiệc tùng thì nhất trên đời, không đâu bằng! Con không hiểu ngày xưa tại sao lại phá nhà cũ đi? - Con... con không... không được... Bà chỉ nói được bấy nhiêu đó rồi thì lịm đi. Uyên hốt hoảng gọi to: - Mẹ! Mẹ sao vậy? Cô không ngờ lời nói khích của mình lại gây hậu quả như thế, nên quýnh lên, lo thoa dầu để cứu mẹ mình. Phải lâu lắm sau đó bà mới tỉnh lại. Nhưng vừa nhìn thấy Uyên thì bà lại hốt hoảng: - Đừng... đừng con... - Mẹ bảo con đừng cái gì? Con có làm gì đâu? Bà cố hết sức nắm lấy tay Uyên như muốn lay mà lay không nổi, miệng bà mấp máy liên hồi nhưng phát không thành tiếng... Uyên phải chủ động hỏi: - Có phải mẹ bảo con đừng xây cái nhà mát trên đồi hay không? - Ừ... ừ... Hiểu ý mẹ mình, nhưng Uyên giả vờ như không biết, lại hỏi: - Cái nhà mát đó đâu có cản trở gì ai mà tại sao nó bị phá? Ít ra mẹ cũng nói cho con biết chứ... Nếu không thì con cứ xây lại, bởi con chuẩn bị chuyển về trên đó ở luôn. Con đưa mẹ lên cùng ở, có chị Tư Sương sẽ chăm sóc cho mẹ. Bà Mỹ Nhung cố hết sức lực còn lại, cố đưa cả hai tay lên, ý phản đối: - Không... đừng... Nhưng rõ ràng bà không còn đủ sức để nói gì thêm. Hai tay bà rớt xuống và mắt trợn trừng. - Mẹ! Bà Mỹ Nhung đã rơi vào cơn mê sâu... *** Cuối cùng thì Mỹ Uyên đã chẳng hỏi thêm được ở mẹ mình một chi tiết nào câu chuyện quanh những bí ẩn của ngọn đồi kỳ lạ trong phần đất nhà. Sau một buổi hôn mê, bà Mỹ Nhung đã trở lại trạng thái nửa mê nửa tỉnh như trước. Bác sĩ điều trị căn dặn kỹ:- Tránh đừng để cho bệnh nhân bị xúc động mạnh. Những ai từng gây cho bà sự kích động thì không nên đối diện với bà, nhất là trong lúc này. Do vậy, đêm hôm ấy tuy ở lại nhà nhưng Mỹ Uyên không túc trực bên giường bệnh của mẹ, mà ngủ ở phòng riêng. Tối đó, sự tò mò đã thôi thúc Uyên mò sang phòng mà ngày trước ba cô làm việc và thường ngủ lại ở đó. Phòng này không phải là phòng ngủ, nhưng do ba cô hay thức khuya làm việc, đôi khi quá mệt, ông hay ngủ lại nên trong phòng có để sẵn một giường nệm nhỏ. Tủ hồ sơ, bàn làm việc thì đầy. Kể từ khi ba chết, chưa bao giờ Uyên bước vào đây, một phần là vì cô tôn trọng nguyên tắc của ba cô, không nên táy máy đồ đạc của người khác, và một phần là do khi còn khỏe mạnh, mẹ Uyên cũng nghiêm cấm con cái không đứa nào được tự tiện bước vào phòng của cha. Kể cả bà, đã nhiều lần bà tuyên bố: Mẹ không đụng tới bất cứ cái gì của riêng ông ấy! Lời tuyên bố đó đã cho Uyên hiểu một chút rằng: giữa ba và mẹ mình có điều gì đó lấn cấn, mà chẳng qua ông bà khéo léo không để cho con cái biết. Kể từ ngày ba mất, Uyên là người duy nhất sau mẹ được quyền sở hữu chùm chìa khóa của căn nhà, nên việc cô vào căn phòng làm việc của ba mình rất dễ dàng. Là một doanh nhân thành đạt, làm chủ nhiều đồn điền, nên phòng làm việc của ông rất nhiều những tủ đựng hồ sơ kinh doanh. Lúc ông sắp mất, tuy Uyên chưa đủ lớn nhưng sau này chính vị luật sư nhận quản lý tài sản đã nói riêng với cô rằng ông đã có căn dặn: Chỉ có Mỹ Uyên là người được xem và quản lý những gì ba cô để lại. Lúc này, khi đứng trong phòng của cha rồi Uyên mới nhận ra sự thiếu sót của mình. Đúng ra cô đã phải vào phòng này từ mấy năm nay, để xem cha mình để lại những gì, rồi căn cứ theo đó mà quản lý tài sản, việc kinh doanh. Bấy lâu nay Uyên chỉ dựa vào kinh nghiệm học được ở trường và óc thông minh riêng để quán xuyến công việc... Bởi vậy khi kéo ngăn tủ bàn làm việc của cha ra Uyên đã nhận thấy ngay điều mình cần học là ở đây! Xấp hồ sơ trên cùng đã có ghi sẵn đòng chữ: Những điều mà Mỹ Uyên nên xem! Thì ra cha đã dành sẵn cho cô ở đây! Vừa giở tập hồ sơ ra xem Uyên đã giật mình! Ngay tờ giấy đầu tiên đã có bút tích của cha: Mỹ Uyên nên làm ngay giúp cha... Cô lật tiếp bên dưới thì hơi hụt hẫng, bởi ngoài tờ giấy đó thì chẳng còn giấy tờ gì khác. Mà ở cùi hồ sơ còn có dấu của việc bị xé vội, một mảnh giấy còn sót lại. - Ai đã hủy đi những hồ sơ này? Bên dưới hồ sơ là các giấy tờ khác sắp xếp theo thứ tự, đó là những công nợ của các mối làm ăn của công ty, mà trong di chúc để lại ông Minh cha cô đã có ghi. Hầu hết là công nợ mà chủ nợ là cha cô, tức cô là người thừa kế duy nhất, sẽ tiếp tục là chủ nợ của họ. Hầu hết là sắp đến hạn họ phải trả. Uyên buột miệng: - Cũng may là mình xem kịp thời! Và rõ ràng, người nào lấy cắp hồ sơ chỉ nhắm vào một loại giấy tờ nào đó. chứ không đụng đến giấy tờ có liên quan đến tiền bạc. Ở một ngăn kéo khác, cũng phải dùng chìa khóa Uyên mới mở được, cô bắt gặp ngay một bức ảnh chân dung của một cô gái trẻ, đẹp, có nụ cười thật tươi, nhưng đôi mắt thì thật là buồn. Tấm ảnh không lộng khung, nên Uyên lật phía sau và đọc được dòng chữ: Kỷ niệm trên đồi Thiên Thu! - Đồi thiên thu? Nhìn kỹ thì bức ảnh này có bối cảnh phía sau là một khung cảnh nào đó quen quen... người chụp đã cắt từ một bức ảnh chụp ngoài trời, để phóng thành một ảnh chân dung... - Phải rồi, trên ngọn đồi đó! Uyên nhận ra và nhớ lại cảnh trên đỉnh đồi nhìn sang phía bên kia, nơi mà cha cô từng cấm không cho đứng ngắm! Thì ra bức ảnh này được chụp nơi ấy và phải chăng là do chính cha cô chụp? ở một ảnh thứ hai thì đã là câu trả lời: vẫn tấm ảnh đó nhưng còn nguyên, chụp chung với một người đàn ông. Mà người đó chính là... cha của Uyên! - Thảo nào... Uyên kết nối những sự việc và lờ mờ nhận ra một chút ánh sáng trong bóng đêm dày đặc quanh cha mẹ mình... - Người phụ nữ trẻ đẹp này phải chăng là đầu dây mối nhợ của sự lấn cấn giữa cha mẹ mình? Nhưng tại sao? Bao nhiêu câu hỏi lại dồn dập kéo về, khiến cho Uyên càng muốn khám phá thêm những điều của cha mà cô còn chưa biết. Sau hơn một tiếng đồng hồ lục lọi, Uyên đã có thêm bằng chứng để khẳng định rằng cha cô và người phụ nữ kia là một cặp đôi gắn bó cho đến ngày cha cô qua đời. Trong đó có một lá thư ngắn do cha cô viết chỉ cách ngày ông trút hơi thở cuối cùng khoảng một tuần lễ, gửi cho người phụ nữ tên Thiên Thu, báo cho cô ấy biết rằng ông đang hấp hối, sắp lìa xa, mong gặp được cô lần cuối ở tại ngôi nhà trên đỉnh đồi! - Nhưng sao lá thư này còn ở đây? Sau khi nhìn kỹ Uyên hiểu ra: Lá thư này cha cô đã gửi đi cho người con gái tên là Thiên Thu, nhưng bị trả lại và người phát thư có ghi: Người nhận đã chết, nhà không có ai nhận thay! - Trời ơi! Tự dưng Uyên kêu lên và sững sờ. Thì ra cha cô và cô người yêu này đã chết ở những thời điểm không xa nhau. Và tất cả lại có liên quan tới ngọn đồi mà ông gọi là đồi Thiên Thu! Mà phải chăng do người phụ nữ kia có tên là Thiên Thu nên cha cô đã đặt tên ngọn đồi là tên ấy? Thêm một chút ánh sáng nữa lại vụt tắt ngay. Bởi sau đó, những gì liên quan tới cô gái đã không còn nữa trong đống hồ sơ khá nhiều trong phòng. Hình như có ai đó cố tình lấy đi, hay hủy hoại. Uyên cố tìm thêm nhưng vẫn không có gì. Giở trở lại xấp hồ sơ có ghi: Những điều Mỹ Uyên nên xem... Uyên chợt hiểu, cô thốt lên: - Đấy chính là những điều cha muốn nói về những ẩn tình giấu kín. Những trang nhật ký của ông! Ai đã làm chuyện này? Họ đã lấy đi điều mà cha mình muốn mình biết... mà người đó là ai, nếu không là... Uyên chợt nghĩ ra, cô kêu lên khẽ: - Mẹ! Lúc ấy đã là nửa đêm. Chung quanh yên ắng, đặc biệt là trong ngôi nhà mà giờ đây chỉ có Uyên, mẹ và cô y tá trực. Uyên cho tất cả những đồ đạc của cha vào chỗ cũ, chỉ giữ mấy bức ảnh. Cô đứng yên một lúc rồi bước qua phòng mẹ đang hôn mê. Không phải là không tôn trọng mẹ, nhưng Mỹ Uyên phải quyết định lẻn vào phòng riêng của bà là ở tình thế bắt buộc. Cô phải biết điều tối hệ trọng cho mắt xích cuối cùng, mà thiếu nó thì mọi vướng mắc trong lòng cô sẽ chẳng bao giờ được nối kết và sáng tỏ ra. Bà Mỹ Nhung vẫn trong tình trạng hôn mê, hai cô y tá mà Uyên chi tiền để họ túc trực lo cho mẹ luôn là những người mẫn cán, họ túc trực theo ca rất nghiêm túc về giờ giấc. Nhưng với cô là người trả tiền công cho họ thì việc cô ra vào phòng của bệnh nhân là chuyện bình thường, chỉ có điều là theo yêu cầu của bác sĩ, Uyên không trực tiếp đối diện với mẹ, bởi mỗi lần như vậy sẽ gây ra sự kích động nơi bà. Uyên bước vào phòng, ra dấu cho cô tá trực ca khuya bước ra ngoài, dặn chừng nào bệnh nhân hoặc cô gọi thì hãy vào. Sau đó Uyên bước lại tủ riêng của mẹ. Những tủ này cô không có chìa khóa, nhưng may quá, xâu chìa khóa của bà Mỹ Nhung lại ghim trong ổ khóa của một chiếc tủ trong phòng. Mở tủ ra, ở ngăn quần áo thì Uyên không màng, cô kéo ngăn tủ nhỏ thường mẹ cô hay để nữ trang và những vật quý giá. Bà luôn khóa, nhưng hôm nay thì lại không. Có lẽ bà nghĩ nó ở trong phòng riêng mà cánh cửa tủ lại khóa chặt thì còn lo gì. Và chính ở ngăn tủ đó, Uyên đã tìm thấy vật mình đang tìm. Một xấp giấy viết đầy chữ của cha, được xé ra đúng là từ xấp hồ sơ bị mất nhiều trang mà Uyên phát hiện lúc nãy. Vừa cầm lên đọc nửa dòng đầu. Uyên đã biết ngay đó là những trang nhật ký của cha! "Ngày... tháng... năm... Mình gặp Thu trên đồi, nơi mình đã đứng suốt ba buổi chiều để đợi. Cuối cùng nàng cũng đã đến! Thật lộng lẫy, kiêu sa và dễ thương làm sao... Mình tự hỏi: tại sao mình để lỡ mất con người như thế này, để đi lấy một người mình không hề yêu? Phải chăng trời bắt mình phải trả giá! Ngày... tháng... năm... Vừa gặp thì nàng đã báo cho mình cái tin mà vừa nghe mình đã tái mặt, chết điếng...” Đang đọc tới đó thì bỗng bà Mỹ Nhung kêu thét lên một tiếng, khiến Uyên phải ngừng lại. Vừa lúc đó cô y tá chạy vào. Cô cũng hốt hoảng: - Bà bị nguy lắm rồi! Phần 2 Mẹ mất ngay lúc Mỹ Uyên vừa khám phá ra một điều vô cùng quan trọng, nên vừa mai táng cho mẹ xong Uyên đã phải lập tức trở lên Đơn Dương. Cô tìm theo đúng cái địa chỉ mà cha cô ghi phía sau tập nhật ký. Sở dĩ Uyên làm chuvện ấy ngay thay vì đọc hết tập nhật ký của cha là bởi ở dòng cuối cùng của nhật ký, ba Uyên đã dặn thật kỹ: "Con muốn biết nhật ký ba viết có trung thực hay không thì trước tiên con phải tìm tới nhà của người phụ nữ mà ba đã dành cả một đời để yêu. Có biết rõ rồi thì con sẽ hiểu ba có phải là người chồng, người cha tệ bạc hay không!" Địa chỉ mà ông Minh ghi thật ra không xa ngôi nhà của gia đình Uyên là bao. Uyên tìm được khá dễ, nhưng khi hỏi thì một bà lão duy nhất sống trong nhà chỉ khóc chứ không trả lời câu hỏi của Uyên. Mãi sau đó, khi đã dùng hết cách kể cả nước mắt, thì Uyên mới được bà già cho biết: - Đây đúng là nhà của con Thu. Nhưng từ khi nó mất đi thì không một ai được phép bước vào. Kể cả tôi là bà của nó mà cũng chỉ được ngủ ở ngoài hiên này suốt năm năm nay. Uyên ngạc nhiên: - Sao vậy bà? Cô ấy chết rồi mà? - Chính vì đã chết nên mới hiển linh! - Hồn ma? Bà cụ bước đi rất yếu, nhưng cũng ráng đứng lên mở cổng rào, mời Uyên: - Nhưng đó chuyện của ngày hôm qua. Bắt đầu từ sáng nay thì khác. Mới sáng sớm tôi đã ngạc nhiên bởi cánh cửa vốn đóng chặt ngót năm năm qua, bỗng dưng mở toang và tôi không còn nghe tiếng khóc tỉ tê trong đó nữa! Uyên còn chưa dám bước vào thì bà khuyến khích: - Trước đây thì tôi không dám, nhưng từ bây giờ có lẽ khác rồi, cháu cứ bước vào đi, rồi muốn hỏi gì về con Thu tôi nói cho. Uyên bước hẳn vào trong. Cô nhìn lên bàn thờ thì thấy một khung ảnh với chân dung giống hệt như tấm ảnh mà cô thấy ở nhà mình. Cô ngập ngừng hỏi: - Thưa bà, con muốn biết cô Thu này có phải tên thật là Thiên Thu không? - Đó là tên thật của nó. Một cái tên mà ai nghe cũng quở là tên không nên đặt cho một cô gái còn son trẻ như thế. Nhưng nó lại thích. Có lẽ bởi mang cái tên như vậy nên đã thành định mệnh của nó. Và bởi vì nó có cái tên quá kêu, quá kiêng kỵ với mọi người nên người ta đã bắt nó mang một cái tên khác hoàn toàn, một cái tên lạ lẫm, mà có lẽ vì thế mà nó đã trở thành... thiên thu! - Tên gì, thưa bà? - A Lìn! Lời bà vừa thốt ra đã làm cho Uyên kinh hãi: - A Lìn? Phải chăng đó là... người hầu của mẹ cháu? Bà cụ sửng sốt nhìn Uyên: - Vậy ra... cô là... là con của con người đó sao? Con người có cái tên đẹp, êm ái như nhung mà có lòng dạ độc ác hơn rắn độc, hùm beo! - Kìa bà... Uyên định lên tiếng bênh vực mẹ mình, nhưng kịp dừng lại khi nhìn thấy nét mặt đanh lại của bà cụ. Rồi bất thình lình, bà cụ chỉ tay sang một bàn thờ khác phía vách bên kia, bảo Uyên: - Cô có nhìn thấy thằng đó không? Nó chết khi mới hai mươi tuổi, tức lớn hơn con Thiên Thu hai tuổi. Nó cũng chết bởi lòng dạ rắn độc của mẹ cô! - Kìa bà! Xin bà... Nhưng bà cụ chừng như không còn để ý đến lời nói của Uyên nữa, mà rơi vào cơn xúc động khó kiềm chế được: - Con người ta đang độ tuổi lớn, tuổi yêu, vậy mà chỉ vì ghen tuông, ích kỷ, mẹ cô đã nhẫn tâm sát hại nó, đẩy chúng nó xuống địa ngục, âm phủ. Cái thứ yêu tinh đó cuối cùng cũng phải đền tội, cũng phải... Bà càng nói càng xúc động và giọng càng thê thiết hơn, điều đó càng khiến cho Mỹ Uyên không còn chịu đựng nổi, cô gào lên: - Bà đừng nói nữa! Uyên lao ra cửa trong tình trạng hoảng loạn và cứ thế, cắm đầu chạy một mạch không định hướng. Nhưng phải chăng là ngẫu nhiên, khi cuối cùng Uyên lại dừng trên đỉnh đồi quen thuộc. Đến khi nhận ra, cô bàng hoàng kêu lên: - Đồi Thiên Thu! Đột nhiên, Uyên lại lao tới như mũi tên về hướng vực thẳm, vừa cất tiếng gọi thảng thốt: - Mẹ! Bởi lúc ấy ngay trước tầm mắt của Uyên là chiếc xe lăn của mẹ mình đang chới với sắp ngã xuống vực sâu! - Mẹ ơi! *** - Cô Út tỉnh lại rồi!Tiếng reo mừng của Tư Sương cũng làm cho người mới vừa bừng tỉnh giật mình. Cô ngơ ngác nhìn quanh và cất tiếng hỏi: - Mẹ tôi đâu? Tư Sương nắm tay Uyên gọi khẽ: - Tôi, Tư Sương nè! Lúc này Uyên mới nhận ra, nhưng cô vẫn hỏi: - Mẹ tôi có bị rơi xuống vực sâu kia không? - Cô Út, chính tôi đã kịp cứu cô lúc đó đang sắp lao xuống vực sâu trên đồi. Nếu tôi tới không kịp thì cô đâu còn mạng, chẳng khác gì chị Lìn. - Lìn! Chị vừa nói tới ai? - Cô Út đâu còn lạ gì chị ấy, người đã đẩy xe lăn cho bà chủ suốt mấy năm trời. Người đã bị chết trên đồi... Uyên không còn kiềm chế được, cô bật dậy nắm vai Tư Sương hỏi dồn: - Tại sao chị Lìn chết? Và chị có biết Lìn chính là Thiên Thu không? Tại sao... Câu hỏi dồn dập đó đủ khiến cho Tư Sương bàng hoàng, chị đờ người ra, cho đến khi Uyên dứt hỏi thì cũng là lúc Sương run rẩy như bị kinh phong: - Cô... cô Út... biết rồi sao... Và chị ta im lặng như người mất hồn, sắc mặt tái nhợt... - Vậy là chị biết hết mà giấu tôi. Chị Sương, mọi việc thế nào? Tư Sương bật khóc nức nở, hồi lâu mới nắm tay Uyên, nhẹ giọng bảo: - Cô ráng đi theo tôi. Chị ta dẫn Uyên về phòng riêng của mình. Đây là căn phòng ở dãy nhà riêng dành cho người giúp việc, nhưng khi bước vào trong thì chính Uyên cũng ngạc nhiên khi nhận ra phòng rộng và tươm tất chẳng khác gì các phòng trên ngôi nhà lớn hay cụ thể là phòng của Uyên. Sương giải thích ngay: - Đấy là sự ưu ái của cả ông bà chủ. Họ tưởng thưởng cho tôi, bởi vì suốt mười lăm năm tôi chỉ biết ở đây... Nhưng điều ngạc nhiên lớn hơn là ngay sau khi Uyên nhìn thấy bức ảnh chân dung đặt trên một bàn thờ kê giữa nhà, cô kêu lên: - Hình đó là ai? Bức ảnh thờ kia giống y như ảnh thờ ở nhà bà cụ của cô Thiên Thu! Người mà bà cụ bảo rằng đã bị chết bởi mẹ Mỹ Uyên! - Người này là... Tư Sương đáp gọn: - Là em ruột của tôi! Uyên bị kích động: - Người đó chết theo cô Thiên Thu phải không? Không đợi Sương trả lời, Uyên đã tự bảo: - Cả hai đều do một tay mẹ tôi... Lời cô chưa dứt thì Tư Sương đã bịt cả hai tai lại gào to: - Đừng nhắc chuyện đó! Đừng... Rồi như kẻ bị tâm thần, chị ta thoát chạy ra khỏi nhà, nhằm hướng phía sau mà chạy. Uyên sững sờ một lúc, chợt cô nhớ ra, hốt hoảng: - Đồi! Uyên phóng theo và quả nhiên cô nhìn thấy bóng của Tư Sương chạy về hướng ngọn đồi. Và bất chợt từ trên đó có tiếng đàn guitar bài "Chuyện Tình" (Love Story) vọng lại. Uyên hơi khựng lại khi nghe bài nhạc, nhưng rồi nó như một động lực, khiến cô chạy nhanh hơn và thật bất ngờ, như có một phép mầu, Uyên lại chạy tới đỉnh đồi trước cả Tư Sương! Và đó cũng là thời khắc quyết định, bởi đúng lúc đó bỗng nhiên Tư Sương buông mình lăn tròn theo triền dốc, để rơi nhanh xuống phía vực sâu! Bằng một động tác như được ai đó tiếp sức, Uyên vừa kịp đưa tay chụp lấy một cánh tay của Sương, rồi kéo lại. Động thái đó kịp lúc cứu mạng của Sương, bởi chỉ trong nháy mắt nữa thôi, cả thân thể cô ta sẽ rơi gọn xuống vực! Được cứu rồi, nhưng Tư Sương vẫn chưa tin là mình đang còn ở trên đỉnh đồi. Cô kêu lên thảng thốt: - Tôi đến đây rồi! Uyên phải lên tiếng: - Tôi đây, Uyên đây chị Tư. Nhưng Sương vẫn nhắm nghiền đôi mắt, nói như nói với ai đó: - Chờ tôi có lâu không? Hãy thông cảm, tôi phải chờ... Rồi chị ta rơi vào trạng thái hôn mê sâu... Mỹ Uyên phải khó khăn lắm mới kéo chị ta xuống triền đồi phía bên kia... *** Sau khi giúp Tư Sương tỉnh lại và ngủ yên rồi, Mỹ Uyên mới trở lên phòng mình ngả lưng nghỉ. Suốt ngày qua, cô đã quá mệt với nhiều chuyện, giờ đây cô cần giấc ngủ hơn bao giờ hết. Nhưng chỉ vừa đặt lưng xuống thì Uyên lại bật dậy ngay và bật đèn sáng lên để xem lại tập nhật ký của cha.Hôm ở nhà, Uyên chỉ mới xem một trang đầu và định để lúc nào rảnh sẽ xem tiếp. Nhưng bữa nay thì nhất thiết cô phải đọc cho hết, bởi những gì còn lại là một thách thức với Uyên... "Ngày... tháng... năm... Thu báo cho mình biết, cô bị Mỹ Nhung chặn đường khi đi từ nhà ra thị xã, và sau đó bị Nhung cùng ba người đàn bà khác kéo về một ngôi nhà hoang để ra tay hành hạ dã man! Thu cầu cứu mình và cơn thịnh nộ của mình lên tới cực độ, mình về gặp Mỹ Nhung, định sẽ ra tay thật nặng để trừng trị cái tội đã dám làm cái chuyện mà mình đã cấm từ lâu. Mỹ Nhung tuy là vợ mình, nhưng cô ấy hiểu hơn ai hết, mình đã yêu Thiên Thu từ trước khi mình lấy vợ. Một trong những đ điều kiện để mình chấp nhận cuộc hôn nhân với Nhung chính là việc Nhung không được quyền đụng đến Thu, bởi Thu đã phát nguyện đi tu, chỉ chờ nàng sinh xong đứa con đang lỡ mang với mình. Chính Mỹ Nhung đã đồng ý trước mặt mình và Thu, vậy mà sau đó lại âm thầm trở mặt. Mình hận Nhung và thứ tình yêu chỉ có nghĩa chứ không chút tình, phút chốc trở thành thù hận! Tuy nhiên, khi mình định trút cơn thịnh nộ thì Nhung lại làm cho mình chùn tay: cô ấy báo cho mình cái tin mà mình phải sững sờ, rằng cô ấy cũng đang có thai với mình! Lòng dạ mình đau thắt, lương tâm mình ray rứt khó xử... Để rồi cuối cùng mình đành phải dẹp qua một bên cơn giận đang sục sôi.” "Ngày... tháng... năm... Trong lúc mình chuẩn bị đi tìm Thiên Thu để giúp nàng ổn định cuộc sống, xoa dịu tinh thần sau cú sốc dữ dội đó, thì xui cho mình, chẳng hiểu sao mình lại đau bụng đến tối tăm mặt mày, người sốt cao như lửa đốt và buộc phải nằm lại mất mấy ngày. Để rồi khi mình tìm tới một lương y quen thì ông ta báo cho mình cái tin dữ làm mình sững sờ: Mình bị ai đó cho uống phải một loại độc dược cực mạnh, khiến cho ngũ tạng bị phá hủy từ từ và sẽ liệt giường cho đến ngày chết! Mình còn chưa hết bàng hoàng thì độc dược đã phát huy tác dụng, rồi sau đó mình không thể làm gì ngoài nằm thiêm thiếp chờ chết! Trong lúc kiệt lực và gần đi vào hôn mê thì mình mơ hồ biết được là đang bị chuyển đi trên một chiếc xe... Mình phát hiện ra đang ở một nơi xa... Khi cơn mê giảm bớt, mình nhận ra đang nằm trong ngôi biệt thự ở Đơn Dương. Đêm hôm đó, mình nghe trộm được cuộc nói chuyện của ai đó ngoài cửa phòng. Có lẽ họ nghĩ mình hôn mê nên cuộc nói chuyện khá thoải mái xoay quanh chuyện hãm hại ai đó... Sau cùng mình điếng hồn, bởi hai người phụ nữ kia đang bàn một âm mưu hại người! Mà họ không phải ai xa lạ, chính là Mỹ Nhung và cô người làm tên Tư Sương! Mỹ Nhung căn dặn: - Mày phải cố duy trì sự sống cho ông ấy đến khi con Thiên Thu sinh con, bởi tao cần đứa con của nó, chứ tao nào có "bầu bì" gì đâu. Tao đã gạt được lão ta, để lão ta tin rằng tao đang có thai và không trừng trị tao về tội đã làm nhục con người yêu của lão. Sau khi con Thiên Thu gần ngày sinh, mày nhớ bảo thằng em trai mày trực tiếp đưa nó về Sài Gòn cho tao, lúc đó tao sẽ có cách tính nó. Tư Sương đã hỏi lại Mỹ Nhung: - Tại sao phải đưa cô ấy về Sài Gòn mà không để ở đây sinh xong, rồi sau đó con sẽ... ra tay? Còn thằng em trai con, sao lại phải là nó đưa Thiên Thu đi mà không phải là con? Lúc ấy Mỹ Nhung đã nói: - Mày quên là tao cần bắt đứa nhỏ để nuôi hay sao! Còn việc phải cần thằng em trai mày là bởi như mày nói, thằng ấy mê con Thiên Thu mà không được đáp lại, bởi vậy tao mới muốn cho nó tận mắt thấy cảnh con Thiên Thu mang thai với người khác, từ đó nó sẽ thù hận lão Minh nhà tao. Tao muốn mượn tay thằng em mày giết một lúc cả hai đứa nó. Lúc ấy, mình đã nghe rõ tiếng kêu thất thanh của Tư Sương: - Bà đừng bắt thằng em trai con làm chuyện ác nhân đó! Đúng là nó yêu Thiên Thu mà không được đáp lại, nhưng nó sẽ không bao giờ hại người đâu. Nó thà chịu đau khổ một mình chứ không làm kẻ sát nhân đâu! Lúc ấy, mình nghe Mỹ Nhung gằn từng tiếng: - Nếu mày không nghe theo tao thì hậu quả gì mày đã biết rồi! Tao sẽ nói cho mọi người biết chính mày đã đi mua độc dược, rồi chính mày đã bỏ vào thức ăn cho lão ấy ăn! Mày là thủ phạm chớ không phải tao!” "Ngày... tháng... năm... Mình còn biết thêm, sau khi căn dặn Tư Sương mọi việc, Mỹ Nhung đã đắc ý, nói toạc ra ý của bà ấy: - Tuy trước sau gì tao cũng cho con Thiên Thu về chầu âm phủ, nhưng sẽ không để nó chết dễ dàng đâu, mà còn phải cho nó nếm mùi đau khổ nhiều hơn. Tư Sương đã hỏi lại: - Bà còn muốn thằng em con làm gì nữa? Mỹ Nhung cười đắc ý: - Tao sẽ giấu đứa con nó mới sinh, gạt nó rằng đứa bé bị bắt cóc và cho nó cùng thằng em trai mày đi tìm. Lúc ấy em mày chỉ cần... Mình nghe Tư Sương thảng thốt kêu lên: - Không được đâu bà ơi. Thằng em con sẽ không bao giờ ra tay... Mỹ Nhung đã tính mọi việc đâu ra đó, bà ta nói: - Mày khỏi phải lo. Chuyện hại con Thiên Thu không cần em mày ra tay đâu. Chỉ cần nó dẫn con Thu trở về Đơn Dương, rồi mọi việc sẽ có người khác lo!” "Ngày... tháng... năm... Người khác mà Mỹ Nhung nói chính là bà ta! Một tháng sau, khi mình còn nằm liệt giường thì Mỹ Nhung bất thần trở ra. Lần này bà ấy không đi một mình, mà cùng với Thiên Thu, nhưng Thu lại trong lốt một ả xẩm tên Lìn! Mình bị á khẩu và bất động, nên khi bà ta ngồi trên xe lăn mà người đẩy xe là... Thiên Thu đến trước mặt mình thì mình chỉ trào nước mắt chứ không làm sao lên tiếng được! Nhưng nghe thì mình nghe rất rõ, Mỹ Nhung đã không giấu giếm, nói thẳng: - Cô người yêu nhỏ bé của ông bây giờ đã trở thành nàng hầu đẩy xe lăn cho tôi rồi! Mà ông biết tại sao cô ấy lại chấp nhận làm điều này không? Bởi... cô ta cũng bị tôi cho uống loại thuốc giống như của ông đã uống, tuy công dụng có khác nhau. Thuốc ông uống thì sau vài tháng nữa sẽ chết, còn thuốc cô ta uống thì không chết mà chỉ... khờ khờ, điên điên thôi. Ông thấy đó, nhìn thấy ông mà cô ta không hề xúc động, không nhận ra người tình của mình! Mình điên tiết lên, nhưng chẳng làm gì được, đành chỉ biết quơ hai tay trong tuyệt vọng. Nhìn Thiên Thu đẩy xe lăn đi... Đi được mấy bước thì bà ta quay lại chọc tức mình: - Ông không hỏi sao tôi lại ngồi xe lăn à? Thật ra, tôi có què cụt gì đâu, chẳng qua tôi giả vờ để hành hạ nó chơi thôi! Bà ta nói xong thì bước ngay xuống xe, bước đi một cách linh hoạt, trong lúc vẫn giục Thiên Thu đẩy xe lên đồi!” "Ngày... tháng... năm... Mình ngất đi có lẽ khá lâu, sau khi mình thức gần suốt đêm để cố viết cho thật nhiều trang nhật ký mà mình định viết từ lâu mà chưa thực hiện được. Có lẽ do vận dụng sức quá căng thẳng, quá lâu, nên mình đã ngất đi. Lúc tỉnh lại, mình hơi giật mình khi nhìn thấy con Tư Sương đang quỳ bên cạnh. Nó bật khóc khi thấy mình tỉnh lại. Nó nói trong nghẹn ngào: - Ông ơi... cô... cô Thiên Thu đã... đã rơi xuống vực rồi! Thằng em con lao theo mà không cứu kịp và cũng đã chết dưới vực sâu đó! Mình vận toàn lực và bật lên được một tiếng "trời ơi!" rồi...” "Ngày... tháng... năm... Mỹ Uyên con! Nếu con đọc được những dòng này thì con đã biết mình là con của ai rồi! Và chắc con sẽ ngạc nhiên tại sao con là con duy nhất của ba với Thiên Thu, trong khi bà Mỹ Nhung không hề sinh cho ba được đứa nào, vậy tại sao gọi con là Út? Chỉ vì cho đến khi ba chết, chắc chắn sẽ không có ai là chị em của con nữa, ba gọi con là Út để khẳng định con là chót, là duy nhất. Bởi ba biết chắc là khi ba ra đi rồi thì bà Mỹ Nhung sẽ bày lắm trò nữa gạt con... Vậy con nên nhớ, sau con, ba không hề có con với ai nữa! Ba lạy trời cho con mau tìm được quyển nhật ký này, để đọc và biết hết sự thật. Có như thế con mới hiểu tại sao ba yêu cô Thiên Thu đến như thế và rồi đây con cũng yêu mẹ con như ba vậy...” "Ngày... tháng... năm... Mỹ Uyên của ba! Ba không còn sức để viết được nữa... Ba chỉ muốn lặp lại, đây là tất cả những gì con nên xem! ...Về tài sản thì trước đây vài tuần, khi nghe biết sự thật quanh âm mưu của người mà con gọi là mẹ, bà Mỹ Nhung, thì ba đã âm thầm nhờ luật sư lập tờ di chúc, để lại tất cả sản nghiệp này cho con. Chỉ duy nhất có con là đủ tư cách thừa hưởng. Tâm nguyện cuối cùng của ba là muốn con hãy tìm cho được hài cốt của mẹ Thiên Thu và lập mộ đàng hoàng. Nếu được thì hãy chôn cô ấy bên cạnh ba...” *** Mỹ Uyên buông tập nhật ký xuống và bật khóc! Những gì cha cô viết là sự thật, mà cho đến giây phút này cô mới hiểu tại sao trong thâm tâm mình từ nào đến giờ tuy nghĩ bà Mỹ Nhung là mẹ của mình, nhưng chưa bao giờ Uyên có tình cảm sâu đậm với người đàn bà ấy...Mỹ Uyên đã bỏ ra hơn chục ngày để tự thân đi tìm hài cốt mẹ dưới vực sâu. Địa hình hiểm trở, vực sâu nguy hiểm, những điều đó không làm chùn chân cô gái yếu đuối. Nhưng kết quả vẫn là con số không. Đến ngày cuối cùng, khi tất cả những người giúp Uyên đi tìm đã phải chán nản buông xuôi, thì Mỹ Uyên chợt nhớ tới ngôi nhà của Thiên Thu! Trở lại nơi đó thì ngay khi vừa nhìn thấy cô, bà cụ trong nhà đã reo lên: - May quá, tôi đang tính đi tìm cô đây! Bà kéo Uyên ngồi xuống, vừa thuật chuyện: - Đêm qua tôi lại mơ thấy nó về, nó nói là sắp nhận lại con, tôi ngạc nhiên hỏi thì nó khóc chứ không nói... - Cô Thiên Thu hả bà? Á, mà không phải là cô, mà là... Bà già vuốt tóc Uyên: - Nếu con Thu mà còn sống thì chắc giờ đây cũng đã có con cỡ tuổi con rồi! Bà thích một đứa cháu gái giống như con vậy... Mỹ Uyên khóc òa lên khiến bà ngạc nhiên: - Sao con khóc? Bất thần ôm lấy bà, Uyên nghẹn ngào: - Bà... là mẹ của cô Thiên Thu phải không? Bà cụ hình như muốn giấu, nhưng trước ánh mắt thành khẩn của Uyên, bà hơi ấp úng một chút, rồi nhẹ gật đầu: - Phải... - Bà ngoại! Bà cụ kinh ngạc: - Cô... con gọi ta là gì? - Bà ngoại của con! Con là con của mẹ Thiên Thu đây! Bà cụ trợn tròn mắt: - Con không gạt ta phải không? - Chính là con đây, bà ngoại! Giọng bà cụ thảng thốt: - Hèn gì suốt đêm con Thiên Thu cứ hiện về và nói mãi về chuyện nó đã tìm được con rồi! Nhưng mà... theo ta biết thì con là con của... vợ thằng Minh? Mẹ con là... Mỹ Nhung? - Không đâu ngoại. Để con kể ngoại nghe... Mỹ Uyên tuần tự kể lại những gì cha viết trong nhật ký. Khi cô vừa dứt lời thì bà cụ nói liền: - Tội nghiệp thằng em con Tư Sương! Chính nó đã tìm ra hài cốt của con Thiên Thu, đem về đây. Uyên kinh ngạc: - Nghe nói ông ấy cũng đã chết theo mẹ con, khi nhảy theo cứu rồi cũng rơi xuống vực sâu mà? Bà cụ lắc đầu: - Chỉ có mình con Thu chết. Thằng Năm Nhàn này nhảy theo rồi may mắn máng lại trên cành cây, không chết. Nhưng toàn thân thương tích đầy mình. Nó đã kẹt lại dưới khe sâu nhiều năm liền, sống được là nhờ ăn củ dại, trái rừng và uống nước suối. Nó bị gãy cả hai chân, mù hai mắt, nhưng vẫn ngày đêm cố công tìm cho bằng được hài cốt của Thiên Thu! Tội nghiệp, nó yêu Thiên Thu trong vô vọng, vậy mà vẫn một lòng chung thủy... Cho đến một ngày kia cách đây gần mười năm, một hôm nó lê lết về đây kêu cửa, ta ra mở cửa và cứ tưởng nó là ma! Đến khi nó nói ra ta mới biết sau bao nhiêu ngày tháng, nó đã tìm ra được hài cốt con Thu, nhưng chưa thể đưa về đây, nguyện thế nào cũng cố đem về cho bằng được! Ngoại cảm ơn nó vô cùng, giữ nó lại đây chăm sóc thương tích, nhưng vào một đêm thanh vắng, nó đã... treo cổ chết giữa phòng mà bây giờ ngoại thờ mẹ con. Tội nghiệp, nó đã đi theo mẹ con rồi... Mỹ Uyên nhớ lại tiếng đàn hát bài Love Story, cô chép miệng: - Đúng là ông ấy... - Con nói ai? - Dạ, người chung tình với mẹ con! Tội nghiệp ông ta! Bà cụ thở dài: - Bởi vậy ngoại mới thờ chung nó trong nhà với con Thu. Chỉ tiếc là cho tới bây giờ, ngoại vẫn chưa tìm ra nơi mẹ con vùi thân. - Con đã tự đi tìm, rồi nhờ cả chục người, nhưng vẫn chưa thể tìm được. Mỹ Uyên tỏ ý muốn được ở lại trong gian phòng đang thờ mẹ mình, bà cụ tỏ ý ngần ngại, nhưng sau cùng bà cũng đồng ý. Chỉ căn dặn: - Con đừng ngủ lại trong đó. Đến khi nào cần ngủ thì ra ngoài này,với ngoại. Uyên lần đầu tiên có được cái cảm giác gần gũi với mẹ ruột mình, nên cô cứ đứng trước bàn thờ, đốt hết nén nhang này lại tiếp nén khác. Cho đến quá nửa khuya... Bà ngoại gọi mấy lượt mà Uyên vẫn chưa chịu ra, cuối cùng bà phải đi ngủ trước. Còn lại một mình, Mỹ Uyên cất tiếng khấn mẹ mình: - Nếu mẹ có linh thiêng thì hãy hiện về cho con biết hài cốt mẹ bây giờ đang ở đâu? Di ngôn của ba cũng rất muốn được chôn gần bên mẹ, nay con đang muốn thực hiện lời dặn đó và quyết làm cho được. Mẹ giúp con đi... Mỗi lần Uyên khấn thì nhang cháy bùng lên, nhưng ngay sau đó lại tắt phụt như có ai đó thổi không cho cháy! Uyên đốt đi đốt lại đến lần thứ sáu mà vẫn lặp lại như vậy. Cô chợt hiểu, nên lại khấn: - Nếu mẹ không bằng lòng thì con sẽ đợi đến lúc nào mẹ ưng. Con ở đây đợi được. Đến hơn một giờ sáng, quá mệt mỏi nên Uyên ngả đầu vào vách tủ thờ định ngủ. Nhưng chỉ mới lim dim thì chợt nghe có tiếng đàn vang lên ban đầu nhỏ, sau vài mươi giây thì lớn dần... Rồi tiếng hát cất lên. Bài Love Story lời Việt được hát rất hay, truyền cảm lạ thường... - Chính là ông ấy! Uyên đang lơ mơ nhưng cũng thốt lên được. Cô định gượng dậy, nhưng không tài nào nhấc tay chân lên được. Tiếp đó, cô cảm giác như có một bóng người lướt qua trước bàn thờ, tiếng đàn hát chuyển động theo cái bóng lướt đi ấy, chừng như người hát đang muốn cho âm thanh đến khắp mọi hướng trong phòng... Một lát sau, khi tiếng đàn hát dứt ngang thì tiếng khóc nức nở lại vang lên. Tiếng khóc của đàn ông. Mỹ Uyên cố lắng nghe và nhận ra tiếng khóc than kia là của chính người vừa mới đàn hát! Bởi ngay lúc ấy thì Uyên nghe có tiếng nói, giọng khàn đục: - Đừng về với ông ta, Thu ơi. Một giọng nữ cất lên: - Tôi không thể... không thể tiếp tục xa con được. Xin hãy rời xa tôi đi. Tôi muốn về với con gái mình! Xin hãy ngừng ngay tiếng đàn đó đi, tôi không thể mà... Lời của người phụ nữ còn thống thiết hơn, khiến Uyên nghe tới đây thì lạnh bắt rùng mình. Rồi bỗng cô buột miệng: - Mẹ Thiên Thu! Trong lúc bức xúc Uyên đã thốt lên hơi lớn, điều đó làm cho cuộc đối thoại trong bóng tối dứt ngang! Từ bên ngoài, bà ngoại gọi vào: - Con kêu ai vậy? Mỹ Uyên lúc ấy mới choàng tỉnh, cô có thể cử động và nói được bình thường. Cô nói vọng ra: - Con đâu có nói gì! - Vừa rồi bà nghe con kêu tên Thiên Thu mà? - Dạ... có lẽ con nằm mơ! Mà ngoại ơi... Uyên bước ra, lay tay bà hỏi: - Hồi nào tới giờ ngoại có từng mơ thấy người đàn ông theo đuổi mẹ con không? Bà gật đầu: - Có, lần nào nó cũng khóc, cũng xin ngoại nói giúp để mẹ con thương nó. Nó si tình đến nỗi hình như ngày đêm theo vong hồn của mẹ con như hình với bóng. Mỹ Uyên chợt hiểu: - Con biết tại sao con đi tìm mà không thấy hài cốt của mẹ rồi! Chính người ấy đã giấu xác mẹ, chỉ vì muốn giữ riêng cho mình. Ông ấy sợ hồn mẹ con trở về bên cha con và con! Bà cụ ngơ ngác: - Có chuyện đó sao? Uyên đáp: - Mới rồi con nghe hai người nói chuyện và con đoán ra như vậy. Hài cốt của mẹ con có thể đã bị người ấy giấu ở nơi nào đó. Người ấy ghen bà ngoại ạ! Bà cụ lẩm bẩm: - Cũng có thể lắm... Rồi bà kể: - Trước đây đã đôi lần bà nghe tiếng thì thầm trong phòng này, khi thì tiếng đàn ông khóc, khi thì tiếng của mẹ con tỉ tê. Mẹ con luôn bứt rứt vì bị ngăn trở bởi ai đó... Bây giờ con nói điều này thì bà mới biết, đúng là cậu ấy ghen với ba con. Mỹ Uyên lại xin phép bà, trở vào phòng, cô tiếp tục đốt nhang và khấn: - Nếu mẹ quyết về với cha con và con thì hãy làm cách gì đó, giúp con tìm ra hài cốt của mẹ đi! Uyên vái hai lần, đốt nhang cả hai lần đều bị tắt. Đến lần thứ ba thì cây nhang cô vừa cắm xuống bỗng vụt bay lên như pháo thăng thiên, và vọt ra ngoài cửa sổ! Linh tính mách bảo, Uyên chạy nhanh ra theo. Cô nhìn thấy cây nhang bay là đà trên ngọn cỏ về hướng phía trước nhà. Nó bay chậm, nên Uyên chạy không nhanh cũng theo kịp. Lúc ấy trời còn tối, nên ánh lửa ở đầu nhang chỉ nhỏ xíu nhưng cũng đủ để Uyên chạy theo. Một lúc sau, Uyên giật mình khi nhìn thấy sườn đồi trước mặt. Ánh lửa nhỏ từ đầu nhang tiếp tục ở cách Uyên vài bước chân, hướng lên đồi! Mệt nhoài, nhưng như được ai tiếp sức, Uyên vẫn chạy lên đồi và cuối cùng cây nhang dừng lại và cắm sâu xuống đất dưới gốc cây cổ thụ như được ai đó làm! - Phải chăng... Mỹ Uyên nhìn chăm chú vào chỗ cây nhang đang cháy sắp tàn, cô thốt lên: - Mẹ chỉ chỗ cho mình! Không nghĩ ngợi gì thêm, Uyên dùng ngay một nhánh cây khô gần đó làm cuốc và cuốc lấy cuốc để. Chỉ vài phút sau, quả nhiên cách mặt đất chưa đầy hai tấc, đã lộ ra một cái đầu lâu trắng hếu! - Mẹ! Cuối cùng Uyên đã đào lên được trọn vẹn một bộ hài cốt, mà ở cổ tay bên trái của bộ xương vẫn còn nguyên chiếc vòng tay bằng sừng, trên đó có khắc dòng chữ: Lê Thị Thiên Thu. - Mẹ! Con tìm được mẹ rồi! Không kể bùn đất dơ, My Uyên ôm lấy đống xương rồi òa lên khóc! Tiếng khóc của Uyên theo gió bay xa. Trên đỉnh đồi gió càng lúc càng mạnh, lúc nãy mây đen còn vần vũ, tự dưng quang đãng rất nhanh. Một lúc sau, ánh mặt trời nhô lên từ hướng phía trái chân đồi... Bỗng từ đâu, vang lên tiếng đàn rối nhịp, như ai đó đang điên cuồng đánh lên! Vẫn là tiếng đàn guitar, nhưng lúc này không phải là bản Love Story nữa, mà âm điệu cuồng điên, chứng tỏ người đàn đang trong tâm trạng bất an, giận dữ! *** Cuối cùng thì Mỹ Uyên cũng đã thực hiện được điều mà cha cô ước nguyện: Đem xác ông về chôn trên đỉnh đồi, nằm bên cạnh là mộ của Thiên Thu!Kể từ hôm đó, nhiều người nghe tiếng đàn, tiếng hát ai oán não nùng của một người đàn ông vang lên trên đồi. Chỉ có bà ngoại của Uyên mới hiểu, bà bảo Uyên: - Tội nghiệp thằng đó... Uyên khấn: - Nếu bác linh hiển thì cứ về đây, cùng với ba mẹ con... Sau đó, bà ngoại cô còn kể lại: - Đêm qua thằng ấy nó hiện về, gục khóc bên bàn thờ con Thu. Khóc dữ lắm! Nhưng đến sáng thì lặng lẽ bỏ đi... Từ đó, ngày nào Uyên cũng lên đồi và ngồi rất lâu bên hai ngôi mộ, mà ở trước mộ cô dựng duy nhất một tấm bia với dòng chữ: Đồi thiên thu hai mộ. |
| Múi giờ GMT. Hiện tại là 11:16 PM. |
Powered by: vBulletin Version 3.6.1 Copyright © 2000 - 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.