![]() |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 21
NGƯỜI ĐẸP VƯỜN TRÚC ĐÀO Vào những năm 1948 - 1950, trên những chuyến xe đò liên tỉnh từ Sài Gòn về miền Tây thường rất ít khách. Nhất là ở chuyến xe “tài nhì”, tức xe chạy trễ, chuyến cuối lại càng ít người đi hơn. Chuyến xe chạy Sài Gòn - Vĩnh Long khi tới Bắc Mỹ Thuận thì trên xe chỉ còn đúng năm người: Hai cậu con trai vốn là sinh viên học ở Sài Gòn về quê nghỉ hè, một đôi vợ chồng già có lẽ đi thăm con cháu ở xa về, trên tay xách nách mang quá nhiều quà cáp và một cô gái mà suốt đoạn đường xa chỉ thấy ngồi im rồi lại ngủ, gần như chẳng quan tâm gì đến chung quanh. Hai anh chàng ngồi băng ghế sau cô gái, đến lúc này, khi khách đã xuống gần hết mới chú ý đến người đẹp. Mà quả cô nàng đẹp thật, đẹp đến không ngờ! Linh, anh chàng đeo kính cận tỏ ra ngạc nhiên: - Vậy mà nãy giờ mình không để ý. Đẹp quá, Đạt ơi! Đạt, người ngồi cạnh nhưng mắt nhìn, vẻ thờ ơ: - Ờ thì đẹp, nhưng mắc gì tới mầy, sao quan tâm dữ vậy? Lời nói của Đạt hơi lớn, nên khiến cô gái phải quay lại nhìn. Linh lúng túng thấy rõ: - Mày… mày có im đi không thằng khỉ gió. Mày... Người đẹp chỉ liếc qua hai anh chàng rồi lại tiếp tục im lặng. Xe bắt đầu xuống phà. Đôi vợ chồng già có lẽ tới nhà nên gọi xe lôi, chất đồ lên khi hành khách xuống phà. Do phải xách mấy túi đồ khá nặng theo, nên khi đi một quãng xuống gần tới sông, Linh mới dáo dác tìm quanh, chẳng thấy cô gái đâu, anh ta lại hỏi Đạt: - Cô ta đâu rồi? Đạt chau mày: - Cô nào? Linh phát cáu: - Thì người đẹp ban nãy chứ cô nào nữa! Mới đây mà sao chẳng thấy cô ta đâu nữa? Chẳng lẽ... Cả hai xuống phà, trên phà khá đông người, nên Linh có cố nhướng mắt tìm khắp nơi cũng không thấy cô gái mặc áo dài trắng. Anh chàng tiếc ngẩn tiếc ngơ, bởi dễ gì gặp được một người đẹp cỡ đó trên cùng một chuyến xe chiều... Phà tách bến chậm, gió từ sông cái thổi lồng lộng xua đi cái oi bức mà suốt mấy giờ liền hành khách phải chịu đựng trên xe. Lại chẳng còn xa nữa là tới bến, nên mọi người có vẻ nhẹ nhõm, khoan khoái. Linh chẳng còn hỏi Đạt xem đã tới chưa như khi còn ngồi trên xe, bởi mắt anh chàng còn bận đảo khắp nơi để tìm. Anh ta lẩm bẩm: - Chẳng lẽ cô nàng xuống ở bờ bên kia rồi? Chẳng mấy chốc phà đã tới bến Vĩnh Long. Hành khách hấp tấp đi bộ lên để đi một đoạn năm, bảy cây số nữa để đến bến xe cuối. Mấy tay lơ xe giục giã: - Bà con đi xe Thuận Thành hãy mau lên xe cho kịp chuyến đò cuối về bên Cồn đi! Linh lần đầu tiên theo bạn về quê nghỉ hè, nên hỏi lại Đạt: - Về bên Cồn có phải về nhà cậu không? Lúc này Đạt mới cười: - Bây giờ mới hỏi, bộ hết còn trông ngóng người đẹp nữa hả? Linh hơi ngượng, nhưng giọng vẫn tỏ ra tiếc nuối: - Chẳng kịp bắt chuyện gì hết... Đạt đấm vào vai bạn một cái: - Thằng mê gái. Linh miễn cưỡng theo Đạt bước trở lên xe. Và lúc này đôi mắt anh ta sáng rực lên khi nhìn thấy cô gái vẫn còn ngồi yên ở băng ghế. Cô nàng vẫn đang nhắm mắt ngủ. Tay lơ xe nói như giải thích cho Linh và Đạt về việc cô gái không xuống xe: - Cô ấy bị say xe xuống không được chớ còn bắt buộc ai cũng phải xuống đi bộ qua phà. Linh đâu cần lời giải thích đó, bởi việc người đẹp vẫn còn đây là quá đủ với anh chàng rồi. Vậy mà... Linh sung sướng nhắm nghiền mắt lại, Đạt phải buột miệng: - Mày cũng say xe nữa sao? Linh chẳng đáp, anh cứ nhắm nghiền mắt như muốn tận hưởng phút giây hạnh phúc này, Đạt tưởng bạn bệnh thật nên đưa tay lên sờ trán, khiến Linh càng muốn nhắm mắt thật lâu thêm. Lát sau xe đã tới bến. Linh cố nhắm mắt để như nhốt hình ảnh người đẹp vào đó, cứ sợ nó mất đi. Mà mất thật! Lúc anh ta nghe lơ xe giục: “Xuống xe nhanh lên”, thì nhìn lại đã chẳng còn thấy cô gái đâu. Hoảng quá anh ta nhéo Đạt một cái rõ đau: - Sao mày không kêu tao ngay! Nhìn một lượt, chợt thấy cô nàng áo trắng đang leo lên một chiếc xe lôi, xe chạy thật nhanh, Linh giục: - Mau lên Đạt! Anh ta bắt một chiếc xe lôi khác và hối: - Chạy theo chiếc xe kia! Đạt xẵng giọng: - Đi về bến đò qua cồn cho kịp đò cuối, chớ còn đi đâu nữa, thằng khùng! Bị mắng nhưng Linh không giận, bước lên xe lôi rồi mà mắt vẫn dõi theo bóng áo trắng phía trước, buồn bã như vừa đánh mất một bảo vật gì đó… Mãi đến khi xuống ghe rồi mà Linh vẫn còn ngoái lại nhìn lên bờ, mặt buồn so... Đây là lần đầu tiên Linh về một vùng quê nhiều sông nước, vườn cây trĩu quả, nên thích thú vô cùng. Anh chàng đã quên được chuyện lạc mất người đẹp. Mặc dù suốt đêm qua hầu như thức cũng mơ mà trong giấc ngủ cũng mơ thấy nàng. Đạt rủ: - Bữa nay cho mày đi vô vườn xoài của nhà tao ở cách đây năm cây số. Tha hồ mà leo cây, hái trái và bơi xuồng, lội sông khoái chưa! Linh phấn khởi: - Đã quá mày! Nhưng mà nè Đạt, ở thứ vườn tược xa xôi thế này mà cũng có người đẹp dữ vậy sao? Đạt trợn tròn đôi mắt: - Người đẹp nào ở đây? Ở đây làm gì có… Nhưng chợt nhớ ra, cậu ta phá lên cười: - Cô nàng chắc là con nhà giàu đâu ở bên chợ, chớ làm gì có ở xứ này! Thôi, đừng tơ tưởng nữa, ông tướng. Ta chuẩn bị đi nào. Đạt đã xin phép cha mẹ để dẫn bạn đi chơi, nên được mẹ và chị gái chuẩn bị cho khá đầy đủ là thức ăn, cơm nắm… Bà Tư, mẹ Đạt còn dặn dò: - Bạn con chưa quen sông nước vùng này, đừng để nó lội sông lớn, nghe không con. Linh được dịp khoe tài: - Tuy con ở miền Đông, nhưng biết lội giỏi, dư sức qua sông Cái bác Tư ơi. Ba Đạt dặn thêm: - Hồ bơi ở Sài Gòn khác, sông nước này khác. Tốt nhất là chỉ nên ở rạch nhỏ. Nhớ chiều về sớm. Khu vườn xoài của nhà Đạt tuy xa, nhưng khá rộng và nhiều trái. Ngoài xoài, còn có nhiều thứ cây ăn quả khác như mận, ổi, cam, quýt, dừa. Thứ nào Linh cũng mê. Vừa hái những trái mận căng da Linh vẫn không quên người đẹp: - Thứ này mà có cô nàng tao sẽ tặng một rổ luôn, nàng mê phải biết. Đạt chỉ lắc đầu cười. Anh ném cho Linh hai quả dừa mới hái cùng với con dao to: - Đừng mơ mộng viển vông nữa, hãy thử chặt mấy trái dừa uống cho đã khát đi cha nội. Linh chưa chịu chặt dừa mà cố leo lên trên ngọn cây mận. Từ chỗ đó đưa mắt về phía xa, chợt anh nhìn thấy mấy nóc nhà ngói, Linh reo lên: - Ở đây cũng có những nhà lớn đó sao, Đạt? Đạt không nhìn theo Linh, nhưng vẫn đáp: - Đó là nhà xưa còn lại, cũng giống như nhà cha mẹ mình. Ở đây hồi trước còn giàu hơn bên xóm mình nữa… - Vậy có nghĩa là... bây giờ bên này nghèo hơn? Đạt nói cho qua: - Tớ không rõ lắm vì ít qua đây, nhưng nghe nói hồi năm 45 – 46 ấp này bị giặc Pháp tràn vô đốt phá tiêu điều… Linh là người cực kỳ tò mò, cứ muốn biết mọi chuyện, nhưng thấy Đạt có vẻ không rành nên thôi... Họ ở chơi đến xế chiều thì chính Linh lên tiếng đề nghị: - Hay ta về sớm một chút. Họ về tới nhà thì trời còn sáng. Trong lúc Đạt đi tắm, thay quần áo thì Linh chẳng biết lẻn đi đâu, mất dạng. Cả nhà Đạt quýnh lên về chuyện biến mất của Linh. Họ trách Đạt sao không trông chừng bạn, làm cho Đạt phát bực lên: - Nó lớn rồi có phải con nít đâu mà lúc nào cũng trông với coi! Mãi đến tối mịt Linh mới mò về. Vừa bước vô nhà, trông thấy Đạt, anh ta đã reo lên như một đứa trẻ: - Trời ơi, không thể tưởng tượng được mày ơi! Cô nàng! Mày nhớ cô nàng không? Đạt đang bực nên quát to: - Mày có biết là từ chiều đến giờ cả nhà này không ai ăn uống gì được vì sự biến mất của mày không! Mày đi đâu thì cũng phải nói chớ. Linh không hề giận vì bị la và cũng chẳng để ý tới sự tò mò của cả nhà đang dồn vào mình. Anh chàng kéo ngay Đạt vào nhà trong, sự phấn khích vẫn còn: - Mày không thể tưởng tượng nổi đâu, hồi chiều biết có nói mày cũng không cho, nên tao đã lén đi một mình. Tao trở lại mấy chỗ ngôi nhà ngói xưa nhìn thấy lúc trưa ở vườn xoài... Đạt chặn ngang: - Chi vậy? Linh nheo một mắt: - Không uổng công chút nào hết. Tao tới tận ngôi nhà ngói lớn nhất vì linh tính như mách bảo với tao điều gì đó. Mà quả không sai. Mày biết tao nhìn thấy gì trong ngôi nhà đó không? Đạt bực, gắt lên: - Thấy ma! Linh cười thích thú: - Ma nữ mới đã chứ! Rồi anh chàng hạ thấp giọng như sợ người nhà của Đạt nghe: - Không thể ngờ được mày ạ, tao gặp nàng! Mày nhớ người ngồi trên xe đó hồi trưa không? Đúng là trời thương tao rồi! Đạt cũng phải ngạc nhiên: - Cô ta ở đâu bên xóm nhà hoang đó? Linh nhún vai: - Ai mà biết. Chỉ có điều đây là sự thật. Tao đi dài dài theo xóm, bởi tò mò muốn biết thôn xóm xứ mày ra sao, thì bất ngờ tao tới ngôi nhà ngói xưa đó. Nhìn vô cả một vườn cây trúc đào đang nở hoa đỏ cả một sân. Tao đang thích thú ngắm nhìn thì chợt tao không còn tin vào mắt mình nữa, nàng đang xuất hiện ngay trong vườn trúc đào ấy, như một nàng tiên! Nàng mặc một bộ đồ lụa trắng, mái tóc để xõa dài xuống tận lưng, trông lạ hơn khi ở trên xe, nhưng tao vẫn nhận ra, bởi làm sao tao quên được gương mặt khả ái đó… Đạt vẫn không tin: - Nghe mày kể chuyện khác nào liêu trai. Thôi đi ông tướng, đã lỡ đi chơi suýt lạc đường thì thú thiệt đi để ngày mai tao còn hướng dẫn cho. Vẫn không bực vì bị nghi ngờ nói phét. Linh đi tắm mà mồm luôn nghêu ngao hát. Anh ta vui đến tột cùng, quên cả bữa cơm chiều. Lần này thì chuyện Linh mất tích không còn là nỗi lo của gia đình Đạt nữa, mà là cả xóm. Một vài người lắm chuyện đã đoán già đoán non: - Ở ngoài sông Cái, chỗ ngã ba Vàm năm nào cũng có người chết trôi. Đặc biệt là các chàng trai, cô gái còn đồng trinh. Người ta đồn ở khúc sông đó có thủy thần, hằng năm về đòi mạng. Chỉ có ba của Đạt thì ra vẻ trầm ngâm. Ông gọi riêng Đạt ra ngoài hỏi: - Mày nói cho ba nghe coi, liệu thằng Linh có quen biết đứa con gái nào ở gần đây không? Điều này chính Đạt đã nghĩ tới từ lúc trưa khi không thấy Linh về ăn cơm trưa, nhưng còn bán tính bán nghi... Anh hỏi chị gái mình: - Lâu nay chị có qua xóm nhà hoang không? Bên đó vẫn hoang tàn như xưa hay có thay đổi gì không? Chị Mai rất rành chuyện xóm làng, chị quả quyết: - Đâu có gì thay đổi. Kể từ khi xóm ấy bị giặc Pháp dội bom, đổ quân đốt nhà, hãm hiếp người thì hầu như cả xóm đều tản cư đi các nơi khác sống. Các ngôi nhà ngói vẫn bỏ hoang tàn. Đạt nhớ lại những lời mô tả của Linh, nào là ngôi nhà với vườn hoa trúc đào, nào là cô gái áo trắng v.v... Đạt nghĩ đó chẳng qua là lời ba hoa của một anh chàng dại gái, đầu óc lãng mạn. Nhưng dẫu sao vẫn phải nghĩ đến chỗ những ngôi nhà hoang. Đạt bảo: - Để con qua bên xóm nhà hoang xem sao. Chị Mai cũng đồng tình: - Để chị đi với em. Chị rành bên đó. Trên đường đi Đạt chợt hỏi: - Chị nhớ ở bên đó có cô gái nào đi học Sài Gòn không? Mai quả quyết: - Làm gì có. Xóm đó giờ chỉ còn một số người nơi khác tới ở để đi làm mướn. Chỉ có... Đạt tò mò: - Còn có ai nữa? Mai cười: - Chỉ có hồi bốn, năm năm trước. Hồi đó có con ông Hương Cả hình như là học ở trường áo Tím Sài Gòn. Cô Giáng Hương, bạn của chị. - Cô ấy còn ở đây? Mai chép miệng: - Cô ấy đã chết trong trận càn của giặc năm 1947. Chết do bị giặc cưỡng hiếp dã man! Rồi Mai kể rành rọt hơn: - Năm ấy cũng vào những ngày hè như vầy. Giáng Hương về nhà nghỉ hè thì bị nạn. Năm đó cô ấy chỉ mới mười tám tuổi. Chị em Đạt tới xóm nhà hoang thì trời xế chiều. Khi đi gần tới ngôi nhà ngói xưa thì Mai chỉ và nói: - Đây là nhà của ông Hương Cả, cha của Giáng Hương, hồi đó chị thường sang chơi. Ngôi nhà nhìn từ xa đã thấy sự hoang tàn, bởi mái ngói và tường nhà rêu phong, sân rộng phía trước cỏ mọc đầy. Chợt Đạt kêu lên: - Cái gì vậy chị Mai? Trong ngôi nhà hoang có nhiều người tụ tập khác thường. Mai cũng ngạc nhiên: - Chuyện gì đây? Chị em họ chen được vào trong thì cũng vừa lúc người ta khiêng ra bằng võng một người gần như là một xác chết. Đạt vừa nhác thấy đã thét lên: - Linh! Thì ra nạn nhân là Linh. Một người tham gia cấp cứu đã kể lại vắn tắt: - Suốt đêm hôm qua tôi đi soi ếch ở sau nhà, lâu lâu lại nghe có tiếng cười rồi lại khóc ở trong nhà này. Ban đầu tôi cứ tưởng là như mọi khi người ta vẫn gọi đây là ngôi nhà ma, nên tôi không dám vào. Tuy nhiên khi gần sáng khi sắp sửa xách giỏ ếch về thì lại nghe ai đó kêu lên kinh hoàng lắm! Tôi chạy về nhà kể lại chuyện thì con vợ tôi một hai ngăn không cho tôi trở lại đây, nó nói đó là hồn ma. Tôi thì không tin, nhưng… Anh ta ngừng lại thở hổn hển rồi tiếp: - Cho đến chiều nay khi xách cần câu đi nhấp cá, khi ngang qua sau nhà tôi lại nghe nhiều tiếng rên gấp lắm. Lúc ấy tôi không còn bình tĩnh được nữa nên gọi thêm mấy anh em nữa, xông vào nhà và gặp người này đang nằm hấp hối dưới nền đất ẩm. Anh ta nhìn mình mẩy không có thương tích gì nhưng xem ra bị mất sức giữ lắm, da mặt tái nhợt, tay chân nhấc không lên. Đạt nghe xong, thất thần: - Linh ơi, sao vậy Linh! Linh được đưa ra bệnh viện tỉnh, cứu được mạng sống, nhưng anh ta vẫn trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh, mồm miệng cứ lầu bầu mấy tiếng “Giáng Hương… Giáng Hương...” Cuối cùng Linh được chuyển về Bệnh viện Tâm thần Sài Gòn. Ở đây người ta kết luận: - Anh chàng này vừa bị một cú sốc kinh hoàng lắm mà không chết đã là may. Anh ta đã qua cơn nguy hiểm tính mạng, nhưng chứng hoang tưởng sẽ còn kéo dài. Anh ta chỉ duy nhất nghĩ về một cô gái tên Giáng Hương, cứ gọi tên cô ấy và đôi lúc còn hỏi: “Vườn trúc đào đâu rồi?...” NGHIỆP CHƯỚNG Thi hỏng cả ba lần tú tài, mà nhà lại nghèo, nên coi như con đường công danh của Phan đã chấm dứt. Tại quê nhà có người đề nghị Phan vào làm thư ký tại một nhà máy xay lúa để kiếm miếng cơm độ nhật. Tuy nhiên với Phan thì như vậy lại càng đau lòng thêm. Bởi chung quanh anh những bạn bè cùng trang lứa ai cũng đỗ đạt, hoặc ít ra thì cũng giàu có sắm tàu xe làm chủ nọ vênh vang… Cuối cùng đã Phan cũng chọn giải pháp ra đi khỏi quê, làm một chuyến phiêu bạt thật xa. Và anh dừng chân ở một thành phố lớn. Tiền bạc trong túi có rất ít, nên Phan chỉ có thể tìm những chỗ trọ rẻ tiền, để ngày ngày lê bước khắp nơi tìm việc làm. Đã hai tháng trôi qua mà công việc vẫn chưa có nơi nào. Tiền tiêu, tiền nhà đều cạn... Phan buồn tình ghé vào một quán nhậu bên đường gọi một xị đế ngồi uống cho đến lúc chuếch choáng say mới lê chân về chỗ trọ. Với Phan coi như đêm nay là đêm cuối cùng anh ngủ ở đây. Ngày mai chưa biết ra sao... Tỉnh giấc vào giữa khuya, Phan nghe đầu nhức như búa bổ, toàn thân lại đau như vừa bị cơn cảm nặng. Có lẽ do xị rượu buổi chiều. Phan chợt giật mình khi có một bàn tay ai đó mát lạnh, mềm và đang nhẹ nhàng lướt lên trên lưng mình, từ cao xuống thấp, như xoa bóp... Đang ở tư thế nằm nghiêng, Phan cố xoay người trở lại, chợt anh suýt kêu lên khi chạm một thân thể bên cạnh và người đó lại là phụ nữ và lại còn... không mảnh vải che thân! - Sao? Sao lại... Phan cố bật dậy, nhưng tay chân anh như tê liệt, anh chỉ có thể nghiêng người đủ để nhìn thấy cô gái hơi quen quen... Bấy giờ cô gái mới lên tiếng: - Lạ lắm sao? Rõ là khéo vờ… - Cô… Cô nàng đưa tay chận ngang miệng Phan, nói thật khẽ: - Bộ muốn cho cả nhà hay biết sao? Phan kịp nhận thức được chỗ anh nằm đúng là phòng trọ chật hẹp và nhìn lên tường thấy đồng hồ treo chỉ đúng hai giờ. Hai giờ sáng, và... chuyện gì đã xảy ra? Cô gái bất ngờ ôm chầm lấy Phan vừa hôn lấy hôn để. Hôn như chưa bao giờ được hôn... Không còn khả năng chống trả, nên Phan chỉ biết ậm ừ trước cơn bão táp mà mình đang gặp phải. - Bất ngờ... Từ bên ngoài có tiếng ai đó thét lên dữ tợn: - Thằng khốn kiếp này dám làm chuyện thối tha! Vừa lúc cánh cửa phòng trọ của Phan bật mở tung, cùng lúc với đèn phòng được bật sáng choang. Vợ chồng ông chủ nhà đang hùng hổ đứng giữa phòng, mồm họ há hốc kinh ngạc nhìn lên giường của Phan. Cô gái kéo vội chiếc chăn đang đắp chung về phía mình để che giấu thân thể lõa lồ, còn Phan thì lại lộ ra trần trụi... Đến lúc đó thì Phan mới tá hỏa khi nhận ra toàn thân mình cũng còn rất ít vải che. Hình như lúc anh đang trong cơn say... Tiếng ông chủ nhà quát to: - Thằng khốn nạn, tao sẽ giết mày! Ông ta lao tới với con dao dài trên tay. Phan có muốn vùng dậy cũng chẳng thể nào làm được. Bỗng bà vợ lão chủ nhào theo ôm cứng chồng lại, bà ta giọng khẽ hơn: - Ông đừng nóng như vậy, kẻo thiên hạ biết cả bây giờ. Bà quay sang một người đàn bà nữa nãy giờ đứng phía sau: - Chị Tư đóng cửa lại giùm. Con dao trên tay lão chủ bị lấy đi, nhưng lão ta vẫn còn hung hăng rất đáng sợ: - Tao đâu ngờ cho một thằng khố rách áo ôm như mày vô mướn nhà để rồi mày làm nhục nhà tao! Phan cố chống chế. - Dạ, con đâu có... Bấy giờ bà chủ mới chỉ vào người bên cạnh Phan, hỏi: - Chứ ai nằm đó? Từ trong chăn cô gái khóc rưng rức như tự giới thiệu sự hiện diện của mình. - Con đó còn hông ngồi dậy đi, còn nằm đến bao giờ! Lúc này Phan mới dần tỉnh trí, anh bắt đầu hiểu: cô gái trong chăn kia mà anh cảm thấy quen quen chính là cô con gái kiêu căng con chủ nhà trọ mà hai tháng nay anh vẫn thấy mặt. Nhưng còn chuyện này... thì sao? Chính Phan cũng không thể nào hiểu nổi, anh chỉ nhớ mang máng là đêm qua quá say anh mò về nhà và ngủ vùi... Như đã được chuẩn bị từ trước, người phụ nữ đứng phía sau được lệnh từ vợ chồng chủ nhà đã bước tới đưa máy ảnh lên chụp liền mấy kiểu vừa lúc cô gái như cố ý tung chăn để lộ mặt và phần thân trên ra. Xong đâu đấy vợ chồng lão chủ bảo người chụp ảnh: - Chị đi ra để chúng tôi giải quyết. Bà chủ nhà quay sang chồng: - Ông cũng vô nhà nghỉ đi, để tôi tính chuyện này. Chờ mọi người ra hết rồi bà Lệ tên người chủ nhà mới nhẹ giọng hơn: - Con Lan mày chưa dậy mặc đồ vô, còn chờ gì nữa? Lan - cô con gái - lúc này mới chui hẳn ra khỏi chăn, kéo quần áo vứt bừa bãi dưới nền gạch, mặc vào. Quay sang Phan bà ta bớt gay gắt hơn: - Cậu nghĩ sao mà làm vậy? Cậu có biết con gái tôi nó còn là gái tân, tháng sau là chồng đi coi mắt rồi... Phan lúng túng: - Dạ thưa bà, con... con đâu có... con đâu... Bà Lệ nghiêm giọng: - Đến nước này nếu khôn thì cậu phải thành tâm. Tôi thật sự không ghét bỏ, thù hằn gì cậu. Tôi muốn tìm một lối thoát cho cậu... - Dạ, bà chủ giúp con! Giọng bà chậm nhưng rõ ràng: - Đến nước này nếu cậu làm tùm xùm ra thì chính gia đình tôi, con gái tôi mang nhục mà thôi. Cậu đã gây ra chuyện tày đình thì cậu phải giải quyết hậu quả. Cậu hiểu tôi nói gì không? - Dạ, con không... Bà Lệ lại phải xẵng giọng: - Cậu còn bướng bỉnh phải không? Hay để ông nhà tôi tính chuyện với cậu? - Dạ... Thấy thái độ của Phan có vẻ thuần phục, bà Lệ lại hạ giọng: - Nó là con một trong nhà, nó là con gái rượu của chúng tôi, nhưng đến nước này thì tôi đành phải... Bà ngừng nói, đưa tay gạt nước mắt, giọng trở nên bi thiết hơn: - Con cái nó dại, nó làm hại cha mẹ nên giờ đây tôi phải chấp nhận. Tôi gả nó cho cậu. Câu nói như một tiếng sét giáng xuống Phan. Mặc dù cú sét đánh này không gây thương vong, nhưng với Phan anh không thể nào tin được... - Thế nào, cậu tính sao? Nhìn gương mặt nghiêm nghị của bà, rồi quay sang nhìn Lan đang co người khóc rấm rức, Phan rối như tơ vò. Anh tìm mãi mà chẳng ra lời nào để nói… - Nếu thuận thì bắt đầu từ hôm nay dọn đồ đạc lên căn gác phía sau nhà mà ở. Cậu như người trong nhà. Còn mọi việc để tôi lo... Bà nói xong kéo tay cô con gái bước trở vô nhà lớn. Phan ngồi đó mà tưởng như mình đang trong cơn chiêm bao... Sáu tháng sau... Đang ngon giấc, chợt Phan bị đánh thức dậy: - Dậy nhanh. Vợ đẻ tới nơi mà còn mê ngủ! Tiếng giục là của bà Lệ. Phan nhìn sang chỗ vợ thì thấy Lan đang nằm ôm bụng rên la. Anh bật dậy ngơ ngác: - Thai mới năm sáu tháng mà đẻ nỗi gì? Bà Lệ quát to: - Sáu tháng hơn rồi! Động thai hay thai hư gì đó, còn lôi thôi gì nữa, nhanh lên! Phan là trai tơ nên hoàn toàn khờ khạo trong chuyện này. Kể cả có những điều bất thường như việc vừa làm đám cưới với Lan xong chưa hơn một tháng thì Lan báo tin có bầu. Đến tháng thứ hai thấy bụng Lan to, Phan hỏi thì Lan nạt ngang bảo: - Cái thai trong bụng lớn nhỏ là tùy nó, sao lại hỏi tui? Thắc mắc nhưng không biết hỏi ai nên Phan đành câm nín với nỗi niềm riêng. Thấy Phan còn ngồi thừ ra đó, bà Lệ lại phải giục: - Mau chạy đi mời bà bác sĩ tới đi! Cái thằng... Phan như cái máy chạy ra cửa. Nhưng vừa sắp bước xuống thang lầu, anh quay lại hỏi: - Sao không đưa đi bệnh viện mà sanh ở nhà? - Bảo đi nhanh đi, lôi thôi hoài! Lan cũng phát khùng về thái độ lừng khừng của chồng, cô ta lắc đầu than: - Thật là vô tích sự. Bà Lệ xỉ một cái vào trán cô gái: - Phải như vậy thì mày mới ém nhẹm cái thai quỷ quái này đến nay! Bà đưa tay nhẩm tính rồi nói: - Bữa nay là đúng 9 tháng 12 ngày rồi… Mười lăm phút sau Phan trở về với bà bác sĩ già. Như đã có hẹn trước, bà bác sĩ bảo: - Đã chuẩn bị mọi thứ cho tôi chưa? - Xong hết cả. Xua tay mời mọi người ra ngoài, bác sĩ bắt tay ngay vào việc. Vừa khám bụng, bà giục ngay: - Sắp sinh rồi, cho thau nước nóng nhanh lên. Không để cho kẻ ăn người làm có mặt, đích thân bà Lệ và Phan lo mọi việc. Họ vừa quay đi lấy thau nước thì đã nghe tiếng khóc oe oe trong phòng. Mừng quá bà Lệ hỏi vọng vào: - Con trai hay gái? Không nghe tiếng trả lời. Bà Lệ sốt ruột hỏi lại: - Trai gái vậy? Bà đẩy cửa phòng bước vô. Trước mắt bà, bà bác sĩ đang ngồi thừ người nhìn bào thai vừa lọt lòng mẹ. - Trời ơi! Tiếng kêu thảng thốt là của bà Lệ, khi ánh mắt bà chạm phải cái bào thai còn đỏ hỏn. - Cái… cái gì đây? Đúng là một hài nhi, nhưng đứa bé có cái đầu nhỏ như nắm tay, còn phần cơ thể thì dài hơn bình thường. Đặc biệt là phần bộ phận sinh dục thì khó mà mô tả… Bà bác sĩ già buông thõng một câu: - Nó là con trai! Bà muốn nói thêm: Là một quái thai, nhưng kịp dừng lại. Lúc đó bà Lệ mới từ từ bước tới gần hơn. Bà nhìn trân trối vào chỗ giữa háng của đứa bé: Bộ phận sinh dục của nó phát triển y như một người lớn trưởng thành! Sau khi làm mọi việc cho thai phụ, thai nhi, bà bác sĩ lặng lẽ rời khỏi phòng, thì bà Lệ ôm mặt khóc nức nở: - Trời đã hại tôi! Tiếng than của bà đã đánh thức Lan đang lịm đi sau khi sinh. Cô nghiêng nhìn sang con và thét lên trong nỗi bàng hoàng: - Trời ơi! Phan từ bên ngoài chạy vào và đứng khựng lại như trời trồng... Mười lăm năm sau... Thằng bé Dị - tên đứa con oan nghiệt Lan sinh ra - càng lớn lên càng quái dị. Bởi vậy, dù nó có tên là Thành Nhân, nhưng chẳng một ai gọi chính tên nó, mà gọi là Dị, riết rồi chết tên. Ban đầu Lan và bà Lệ rất giận khi ai đó gọi con cháu họ với tên Dị, nhưng lâu ngày họ cũng chẳng còn quan tâm, mặc ai muốn gọi sao cũng được. Thằng bé Dị thì lại rất khoái khi được gọi cái tên ấy. Nó đưa tay dứ vào mặt mỗi khi ai gọi nó là Nhân. Tính tình thằng bé cổ quái, hung tợn khác thường, lúc nào như cũng muốn gây sự và khiêu khích bất cứ ai đến gần. Ngoại trừ nữ giới. Điều lạ là ở chỗ đó. Ngay từ lúc còn trong nôi thằng Dị đã ghét đàn ông. Có lần Phan bế con, đã bị nó cào cấu và cắn cho đau điếng. Chỉ đến khi có mấy người tớ gái đến bế thì nó mới yên. Do nó dị tướng, nên bà Lệ mướn một lúc ba đứa tớ gái thay nhau bồng bế trong nhà và chỉ ở quanh quẫn trong phòng, tuyệt đối không cho xuất hiện ở nhà ngoài, đặc biệt là lúc nhà có khách. Lan thì từ khi con lọt lòng, cô ta chưa một lần bồng ẵm và gần như là dị ứng với thằng bé. Mỗi lần nhìn thấy Dị là y như là giữa hai mẹ con gầm gừ nhau như chó với mèo. Đặc biệt hơn, có một người nữa, mỗi lần trong thấy Dị là ông ta kêu thét lên và cắm đầu chạy như gặp phải ma. Người đó là ông ngoại của Dị, ông Thiện Hảo! Mà phần thằng Dị cũng vậy, hễ lần nào gặp người đàn ông đó nó đều chỉ vào mặt và hét lớn: - Đồ ác nhân! Đồ khốn kiếp! Riết rồi bà Lệ hầu như cách ly Dị khỏi cuộc sống trong gia đình. Và điều đó là nguyên nhân dẫn tới những bi kịch khôn lường. Đầu tiên là chuyện một đứa tớ gái bồng bế Dị từ nhỏ đột ngột mang bầu! Cô ta khóc lạy bà Lệ xin thôi việc mà không đòi hỏi quyền lợi gì.Truy hỏi mãi mới vỡ lẽ, tác giả bào thai không ai khác hơn là thằng Dị! Rồi tiếp đó luôn cả hai đứa tớ gái còn lại cũng đến xin thôi. Hỏi nguyên nhân, chúng chỉ khóc... Sau cùng bà Lệ cũng hiểu. Thằng nghịch tử Dị tuy mới ở tuổi 15 mà đã thành quỷ, cứ bắt buộc các hầu gái cho nó giở trò đồi bại, ai không cho thì nó đánh, nó nằm vạ la khóc ỏm tỏi, đến nỗi phải chịu quy phục. Bà Lệ đã thay đến bốn, năm lần tôi tớ, vậy mà chẳng ai ở được quá một tuần. Đến nỗi tiếng dữ đồn xa, cả khu xóm ai ai cũng biết chuyện và chẳng một ai dám vào làm dù được trả công gấp hai, ba lần người khác. Thằng Dị thì càng ngày càng quỷ quái hơn. Một bữa nó kêu thẳng bà Lệ vào bảo: - Bà phải cưới ba con vợ cho tui! Có ma mới dám lấy nó. Bà Lệ phải năn nỉ ỉ ôi mãi nó mới chịu yên. Nhưng kể từ đêm đó nó cứ gào khóc trong phòng, gây náo loạn cả nhà chẳng ai ngủ nghê gì được. Bà Lệ phải thương lượng với nhiều nơi để tìm vợ cho cháu với điều kiện chia cho một phần tài sản. Vào một buổi sáng... Có một cô gái tuổi chưa quá hai mươi, từ ngoài cửa bước vô và lên tiếng ngay: - Ai cần thì tui sẵn sàng làm vợ! Trông cô gái cũng bình thường và có phần đẹp, hấp dẫn, chứ chẳng hề có dấu hiệu gì của bệnh hoạn. Cô ta gặp ngay bà chủ nhà và hỏi thẳng: - Bà ra điều kiện nếu lấy cháu bà thì được gì? Bà Lệ nhìn cô ta từ đầu đến chân, có lẽ ưng ý, bà nói: - Tôi chia cho một phần tư tài sản này cho cô sống với cháu tôi. Cô gái cười nửa miệng rồi lắc đầu: - Cả tài sản hoặc ít nhất cũng tạm thời là phân nửa! Cô ta nói xong tự nhiên đi thẳng ra nhà sau trước sự ngạc nhiên của bà Lệ. Ra đến thang lầu dẫn lên phòng của Dị, cô gái lên tiếng: - Ra mà đón vợ đi! Thằng Dị như chực chờ từ lúc nào rồi, nó chạy bay xuống cầu thang và tự nhiên ôm chầm lấy cô gái lạ. Thấy bà Lệ bước vô, Dị cười khoe. - Đây là vợ tui! Bà Lệ đứng nhìn chưa biết phản ứng ra sao thì Dị và cô gái đã nắm tay nhau đi thẳng lên lầu, biến mất sau cửa phòng đóng kín... Kể từ hôm đó cô gái không trở ra nữa mà nghiễm nhiên cô ta thành vợ Dị. Biết có chống đối cũng vô ích, nên cuối cùng bà Lệ đành giả câm giả điếc chấp nhận. Nhưng nào đã được yên, một hôm cô gái đứng trước mặt bà nói thẳng: - Từ nay bà không được bước lên phòng ở của tụi tui. Nhất là lão già Thiện Hảo, nếu để chúng tôi nhìn thấy mặt thì đừng nói sao chúng tôi độc ác! Mà ông chồng bà Lệ vài tháng nay cũng chẳng bén mảng về nhà. Phan và Lan thì hầu như mạnh ai nấy đi ra ngoài với công việc của mình. Tóm lại từ đó trong nhà chỉ còn lại bà Lệ già như một chiếc bóng. Mọi việc dần dần đều do cô gái tên Thủy đứng ra lo liệu. Cô ta còn dám mạnh miệng tuyên bố với mọi người: - Tôi cháu dâu đích tôn, từ nay chỉ có tôi là chủ trong nhà này! Và cô ta hành xử vai trò như một chủ nhân. Mà cũng lạ, kể từ khi có vợ, thằng Dị thôi không phá phách, kêu la nữa. Nó tỏ ra mê đắm người vợ hấp dẫn kia nên hầu như cả ngày không bước ra khỏi phòng. Ba năm nữa... Thằng Dị được mười tám tuổi. Hôm đó nghe tin vợ nó chuyển bụng sinh nên cả Phan và vợ đều về thăm. Những chỉ ở nhà ngoài cùng bà Lệ để chờ tin. Vẫn bà bác sĩ cũ, nay dù đã ở tuổi trên 80 nhưng vẫn được bà Lệ tin tưởng gọi đến. Lúc họ đang ngồi ở phòng khách thì chợt thấy ông Thiện Hảo từ ngoài đi vô, ông ta trông tiều tụy, thiểu não vô cùng. Vừa trông thấy mọi người ông chợt quỳ sụp xuống và khóc rống lên. Phan ngơ ngác nhìn chưa hiểu gì thì Lan chợt hét lớn: - Cút đi! Cô ta định xông ra với cái gạt tàn thuốc trên tay. Bà Lệ phải kéo con lại: - Kệ ổng. Giờ ổng đền tội cho đáng cái đời! Ông Hảo không chạy mà lại mọp xuống gần như nằm sấp dưới đất. Lan như chẳng còn chịu đựng nổi nữa lại sắp sửa lao ra, thì bà Lệ lên tiếng: - Để má nói cho thằng Phan nghe… Bà quay sang nắm lấy tay Phan, giọng thân tình: - Bấy lâu nay thấy con ăn ở má thương. Con hiền lành, thương vợ, trong lúc đó con Lan cứ ngày đêm bị ám ảnh nên cọc cằn, bẳn gắt... Bà dừng lại dường như để lấy hơi rồi mới tiếp: - Con Lan không phải là con ông Hảo. Má lấy ông ấy khi đã có bầu bốn tháng, giống như con và Lan… Phan nhìn sững bà, rồi quay lại nhìn Lan. Bà Lệ ôn tồn kể tiếp: - Ông ta là dượng ghẻ. Đến khi con Lan lớn lên mười tám tuổi thì bị ông ta nổi cơn tà dâm, thú vật, cưỡng hiếp nó có mang và má đã dàn cảnh để con phải gánh chịu hàm oan... Phan chỉ kịp kêu lên một tiếng: - Trời ơi! Rồi ngồi như trời trồng. Lan thì gục đầu vào ghế khóc nức nở. Bà Lệ lại tiếp: - Không ngờ cái thai khốn kiếp đó sinh ra lại là quái thai. Đúng là trời hại nhà này mà… Bà đang nói bỗng giật mình kêu lên: - Ông Hảo, sao vậy? Ông Hảo ngã ngang ra, miệng trào máu tươi lênh láng. Khi bà Lệ tới bế ông dậy thì phát hiện ông ta đã cắn lưỡi. - Trời ơi là trời! Tiếng bà chưa dứt thì từ trên lầu bà bác sĩ già được người tớ gái dìu xuống, mặt bà xanh như tầu lá, miệng thều thào: - Lại... lại quái... quái thai... Con vợ của Dị sinh hai cái bào thai đỏ hỏn, tròn như trái mít tố nữ, không tay chân, chỉ có mặt và đôi mắt láu liên... Bà Lệ nhũn người ra, lịm đi... Hậu quả đúng là khôn lường. Sau khi sinh hai quái thai, vợ chồng Dị chẳng buồn phiền gì, trái lại ngày ngày còn vui đùa với hai... cục thịt đỏ hỏn đó với sự thích thú. Ông bà Hảo và Lệ đều chết cùng một ngày. Phan và Lan thì bỏ đi biệt dạng. Ngôi nhà to lớn cùng với tài sản khổng lồ giờ trong tay vợ chồng Dị. Từ đó hầu như chẳng một ai dám lui tới ngôi nhà ấy. Cũng chẳng biết cuộc sống của những người nửa người nửa ma quỷ đó ra sao... LẤY VỢ CÕI ÂM Bà mai Lý Hà cố thuyết phục: - Cái mối này không thể nào chê được, bảo đảm thấy là ưng liền! Ông bà Tố Vấn nhìn nhau rồi nói: - Chỗ nào cũng được, miễn là người ta đừng chê thằng Tô Hòa nhà này là được. Mà còn chuyện tiền nong nữa, họ có đòi hỏi gì không? Bà Lý có dịp tâng bốc: - Tui mà đụng tới vụ nào là ngọt vụ đó! Mối này là nhà giàu, nhưng họ dễ chịu lắm, chẳng đòi hỏi gì nhiều, chỉ… một cặp hột bốn ly, với đôi vòng cổ và đôi xuyến đeo tay và... Bà Tố Vấn trợn tròn mắt: - Bấy nhiêu đó mà còn chưa nhiều sao? Ông Vấn lắc đầu: - Không kham nổi mối này rồi! Thôi, bà khỏi lo nữa... Ông chán nản bỏ vào trong chợt cậu con trai Tô Hòa chạy ra từ trong phòng riêng, kêu lên: - Đi coi mặt giùm con, nhanh lên đi! Bà Vấn gắt lên: - Mày có đủ vòng vàng kim cương như người ta đòi không mà đòi đi coi mặt. Ông cũng bước trở ra, lên tiếng: - Đi tìm mối khác đi con, nhà mình nghèo mà… Tô Hòa nhảy cỡn lên: - Mối này coi như xong rồi mà, đi nhanh lên kẻo người ta đợi! Bà mai Lý nghe vậy thì mừng rơn: - Thấy chưa, tui đã nói rồi mà, cậu hai nhà này chỉ mới nghe thôi mà đã quýnh lên như thế, huống hồ là gặp mặt… Nói cách gì Tô Hòa vẫn không nghe, cuối cùng cha mẹ anh ta phải chiều lòng con: - Thôi được rồi, con muốn thì cha mẹ chiều, nhưng hậu quả ra sao thì đừng có than trách. Họ chuẩn bị rồi cùng đi với bà mai Lý. Tuy nhiên khi ra đến ngoài rồi thì bà lại ngạc nhiên hỏi lại: - Sao đi hướng này? Tô Hòa không đáp, vẫn chỉ cho xe đi theo ý mình, mãi đến khi bà Lý hỏi quá thì anh ta mới nói: - Bà lắm lời quá để đến nơi rồi thì ắt biết. Cuối cùng xe dừng lại ở một dãy Phố cổ, Tô Hòa nhìn số nhà rồi reo lên: - Đúng chỗ này rồi! Anh chủ động bước xuống vừa giục cha mẹ: - Người ta đang đợi mình. Ba má vào trong đó nếu người ta có nói gì thì cũng gật. Mà tốt nhất cứ để con nói, con trả lời hết cho. Anh quay sang bà Lý: - Cho bà đi theo là cho đông người, ra vẻ long trọng một chút, còn ngoài ra bà không được nói gì hết. - Nhưng mà, đây đâu phải là cái mối mà tôi làm mai cho cậu? Đến lúc này thì cha mẹ Hòa mới biết sự việc, họ chưa kịp hỏi gì thì cửa sắt của ngôi nhà đã được kéo ra.Từ trong có hai vợ chồng lớn tuổi bước ra, họ vồn vã đón chào: - Dạ, có phải cậu Hòa và song thân đây không? Hòa mau mắn giới thiệu: - Đây là ba má con. Còn đây là... Vợ chồng kia mau mắn tiếp lời: - Chúng tôi là song thân của Mai Nương. Con gái chúng tôi đang bận trang điểm, sẽ ra chào quý vị sau. Chỉ đơn giản có thế rồi họ nhiệt tình mời khách vào nhà khiến cho ông bà Tô Vấn có ngại mấy cũng phải bước vào trong. Cũng là người Hoa với nhau, nên họ nhanh chóng chuyện trò và gần gũi nhau ngay. Lúc này bà Mai Liên mới nói rõ: - Liên tiếp ba bữa nay, đêm nào vợ chồng tôi cũng nằm mộng thấy con gái về nói đã tìm được chồng, bắt chúng tôi phải sang ngay nhà ông bà để xin cưới cậu Hòa cho nó. Tụi tôi lo ngại quá chưa dám qua thì hồi tối này nó vừa khóc vừa đe dọa nếu từ chối thì nó sẽ thành tinh thành quỷ về quấy phá cả hai bên nhà! Tô Hòa phụ họa thêm: - Đúng vậy đó. Tối qua con thấy Mai Nương vô phòng con và nói rằng cô ấy chết ngộp dưới nước. Hồn phách không siêu thoát được, phải đi lang thang. Rồi mới đây chẳng biết ai sai khiến, cô ấy đã tìm tới con, cho biết rằng con với cô ấy có tiền duyên, không lấy nhau không được. Nếu con mà cãi lời thì sẽ chết theo cô ấy xuống cõi âm để gần nhau! Lúc này chợt bà Tô Vấn ôm mặt khóc nức nở. Thấy lạ, ông Tô gạn hỏi: - Chuyện gì vậy? Bà Tô kể lể: - Từ đêm tới giờ tôi tính kể cho ông và thằng Hòa, tôi cũng có một giấc mơ giống như vậy… Tô Hòa kêu lên: - Má cũng gặp Mai Nương? - Má gặp và nó cũng nói y như lời con vừa kể! Cha mẹ Mai Nương mừng quá: - Đúng! Trời Phật thương chúng tôi rồi. Tôi xin ông bà, hãy vì bọn trẻ… Ông Tô Vấn lưỡng lự: - Việc này còn phải coi lại coi... Bỗng Tô Hòa sụp xuống lạy cha mẹ mình: - Cha mẹ thương con, đừng để con phải chết. Con muốn được kết hôn với Mai Nương! Bà Mai Liên chỉ lên bàn thờ có di ảnh của Mai Nương: - Từ ba bữa nay cứ đốt nhang lên là cháy bừng lên như sắp có hoạn, tui sợ quá không dám đốt nữa! Tô Hòa nhanh nhẩu bước tới đốt một nén hương và cắm vào bát nhang. Quả nhiên, bát nhang bốc cháy thật khác thường! Ông Tô Vấn muốn thử lại lần nữa, đích thân ông thắp hương và vái: - Nếu cháu có linh ứng, muốn sánh duyên với thằng Hòa nhà tôi thì hãy để cho nhang cháy đến phân nửa rồi hãy... Mọi người ngồi chờ đến gần mười phút. Nhang lúc đầu cháy rất bình thường, chợt đến nửa phần thì bỗng bừng lên ngọn lửa khá cao. Làm cho hai bà đều kêu lên: - Không xong rồi! Bà Lý nãy giờ ngồi im, giờ cũng phải lên tiếng: - Tôi đi Hồng Kông năm ngoái cũng đã chứng kiến một chuyện giống như vậy. Tôi nghĩ đây là ý trời. Đây là tiền duyên. Ông Tô Vấn buồn lắm. Ngồi lặng thinh một lúc lâu chợt ông thở dài, than nghe não lòng: - Trời hại nhà họ Tô rồi. Từ nay không kẻ nào nối dõi rồi! Nghe ông nói bà vợ cũng buồn lây: - Nhà mình vô phước, cây chỉ có một trái mà bây giờ lại như thế này thì hết phước rồi… Họ buồn lắm, nhưng trước tình thế này họ không còn biết làm cách nào hơn. Theo tục lệ của cộng đồng họ thì chuyện kết hôn giữa hai người hai cõi âm dương không phải chuyện hiếm... Nên sau cùng họ định hứa hẹn, giao ước một nghi lễ chỉ có họ biết với nhau thôi. Ba ngày sau, ông bà Tô Vấn cũng sắm sửa lễ vật y như cho một đám cưới thật rồi đưa sang nhà họ Mai. Chỉ người trong dòng họ có mặt với nhau và âm thầm tiến hành hôn lễ. Tô Hòa không hề tỏ ra ân hận. Trái lại anh ta rất vui khi mặc đồ chú rể và đứng trước di ảnh của Mai Nương, anh nói lớn: - Con hứa với tổ tiên, từ nay con sẽ là rể của nhà họ Mai. Con nguyện thương yêu Mai Nương trọn đời trọn kiếp. Anh khấn xong, đốt một nén nhang và cắm vào bát cẩn thận, nhang cháy bình thường. Cha mẹ Mai Nương vui mừng ra mặt. Họ chắp tay tạ ơn: - Lạy Phật Trời, nhà họ Mai từ nay không đơn độc nữa rồi. Hai họ cùng nâng ly, chúc tụng nhau. Những nén nhang thơm cháy và tỏa hương nức thơm cả nhà. Tô Hòa rước di ảnh của Mai Nương về đặt trong phòng riêng của mình và từ đó chỉ ở miết trong phòng, ít khi bước ra ngoài. Anh ta làm nghề thợ bạc, trước đây phải ra ngoài lãnh hàng đem về làm cật lực suốt ngày rồi đi giao. Nay không thấy làm gì hết, vậy mà cứ chiều đến là các mối hàng lại tới lấy và có hàng giao rất đúng hẹn, nhiều người lại khen là lúc này Tô Hòa làm kỹ, chất lượng hơn lúc trước! Và lạ hơn nữa, đêm nào ông bà Tô Vấn cũng nghe từ trong phòng con trai vọng ra những tiếng nói thì thầm, giống y như có hai người đang tâm sự với nhau. Thỉnh thoảng lại nghe có tiếng cười trong trẻo nữa! Quần áo của Tô Hòa mặc từ đó cũng không đem ra ngoài giặt giũ nữa, nhưng lúc nào cũng sạch sẽ, thẳng nếp, phẳng phiu. Hỏi thì Hòa chỉ đáp ỡm ờ: - Thì có giặt mới sạch… Là người Hoa lại sống trong xóm toàn đồng hương, nhà cửa san sát, chật hẹp, vậy mà những điều lạ đang lại xảy ra trong nhà họ Tô, những người ngoài chẳng một ai hay biết. Kể cả mụ mai mối Lý Hà, kể từ hôm làm mối hụt trở về, sau đó không thấy mụ ta xuất hiện nữa. Nếu có ai hỏi mụ về chuyện nhà họ Tô, mụ ta chỉ lắc đầu rồi nói: - Họ sống theo họ, tui đâu có biết… Ông bà Tô Vấn dần dần cũng nguôi ngoai chuyện không có cháu nối dõi. Nhưng bỗng một hôm sau khi ngủ dậy bà bỗng hoảng hốt bảo chồng: - Mình sắp có cháu nội rồi. Cháu trai đích tôn nữa! Ông Tô ngạc nhiên: - Bà mơ nữa hả? Ghé sát tai ông, bà tiết lộ: - Đêm rồi tôi thấy con Mai Nương hiện về báo rằng nó sắp sinh cho mình đứa cháu nội trai! Ông Tô lắc đầu: - Lại chuyện mộng mị nữa rồi... Nhưng bà thì tỏ vẻ tin tưởng lắm: - Giống như lần trước, tôi tin đây là chuyện có thật! Gọi Tô Hòa ra hỏi thì anh chàng chỉ đáp: - Chuyện gì tới ắt sẽ tới… Anh ta viết mấy dòng trên mảnh giấy dán ở cửa phòng rồi khóa kín lại. Bà Tô đọc xong mảnh giấy thì kêu ông bảo: - Nó dặn sáng mai đừng kêu dậy ăn sáng bởi nó làm việc khuya cần ngủ đến trưa. Họ chỉ biết có vậy và nhìn nhau lắc đầu… Sáng hôm sau khi họ còn chưa mở cửa thì đã nghe tiếng gõ và giọng bà sui gia bên ngoài: - Không ra đón cháu nội đây, còn ngủ sao? Vợ chồng ông Tô Vấn vừa mở cửa ra đã vô cùng sửng sốt khi thấy bà Mai Liên bế trên tay một đứa bé còn trong tháng. - Cháu nội đích tôn đây! - Nó, nó ở đâu vậy? Bà Mai Liên nhanh nhẩu: - Tối qua vợ chồng tôi được con Mai Nương về báo là sáng mai phải sang đây sớm để cùng mừng cháu ngoại với ông bà nội! Nó còn dặn là hễ thấy đứa bé bọc trong tấm khăn lụa màu đỏ thì đó chính là cháu của mình! Hồi nãy vừa xuống xe tui đã thấy đứa bé này nằm ngay cửa, nó là một đứa cháu trai ông bà nội ơi. Nhìn đứa bé thì ông bà Tô Vấn giật mình, bởi nó giống Tô Hòa như khuôn đúc! Ông Tô lắp bắp: - Nó… nó là… Bà Mai đáp ngay: - Nó là cháu nội của ông chớ ai nữa! Sợ hàng xóm biết chuyện dị nghị lôi thôi nên họ cùng kéo vô nhà ngồi nhìn thằng bé đang vô tư ngủ… lát sau bà Tô gọi cửa phòng con trai: - Hòa ơi! Ra đây coi chuyện này nè! Kêu mãi chẳng nghe Hòa đáp, bà sốt ruột muốn đẩy cửa vô, nhưng ông Tô đã nhắc: - Nó dặn là để đến trưa mới kêu. - Nhưng bây giờ… Vừa lúc ấy cửa phòng xịch mở Tô Hòa từ trong lao ra và sà ngay lại chỗ thằng bé: - Con tôi đây rồi! Anh ôm thằng bé vào lòng, trìu mến lạ thường. Rồi chính anh nói: - Vợ con sẽ về sau con về đây trước để đón con. Từ hôm ấy nhà có thêm đứa trẻ, Tô Hòa chẳng giải thích gì thêm, nhưng ông bà Tô Vấn vẫn thương thằng bé và hầu như quên thắc mắc về nguồn gốc của nó. Với ai họ cũng bảo: - Đứa này là con thằng Tô Hòa, là cháu đích tôn của chúng tôi! Từ ấy Tô Hòa vui hơn. Đứa bé thì suốt ngày ở trong phòng với Hòa, chẳng thấy đem sữa cho bú móm gì, nhưng thằng bé vẫn ngày càng bụ bẫm và rất mau lớn. Thấm thoát nó đã biết gọi ba ba và còn vui hơn khi nó cất tiếng gọi ông, bà thật dễ thương. Nhà họ Tô đã có người nối dõi... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 22
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXII: OAN TÌNH ÚT LIỄU - Phần 1 ĐÊM XA MẸ Trời mưa mỗi lúc mỗi lớn hơn. Ánh trăng non vừa mới nhô ra đã nhanh chóng tắt lịm trong đám mây đen kín trời. Gió như muốn giật tung mọi thứ trên vùng đất hầu như chỉ có những ngôi nhà lá tạm bợ. Phải đốt lại ngọn đèn dầu đến lần thứ tư, nhưng đèn cháy được vài phút lại tắt trước cơn gió dữ. Ráng thốt ra mấy tiếng đứt đoạn vậy mà thím Tám Hạo đã phải thở lấy hơi mấy lượt: - Thôi... con... để dầu... còn đốt ngày... mai... Thằng Út Chót, 6 tuổi, vốn ngủ say như chết khi đặt lưng xuống, vậy mà nãy giờ nó cũng đã thức, nằm im nhìn mẹ. Thấy mẹ ho xù xụ sau câu nói, Chót bật dậy ôm tay bà: - Đừng nói nữa má. Má... - Con ráng... Bây giờ cô chị lớn mới lên tiếng: - Em ngủ đi, để chị lo cho má. Đừng để má nói, má mệt mà. Nhưng Thím Tám đâu chịu ngừng: - Liễu, con ráng... lo... cho các... em... Út Liễu nắm chặt bàn tay hầu như chẳng còn chút sinh khí của mẹ: - Con biết, con lo mà. Má hãy ráng giữ hơi sức qua đêm nay, sáng sớm con sẽ đi nhắn ba về. - Con... con đừng... - Má, đừng nói nữa, mệt lắm. Nhưng Thím Tám dường như không thể không nói trong giây phút này, giọng thím đã lạc hẳn: - Má lo... lắm... má mới thấy họ lại về... họ đòi... bắt má... đi. Lại còn... đòi bắt cả con... đi... nữa... Những tiếng sau hầu như không còn nghe rõ, nhưng đôi môi của thím vẫn còn cố mấp máy như còn những điều không thể không nói ra. Út Liễu hơi hoảng: - Má ơi, má... Thím Tám nắm tay con, cố kéo Liễu gần mặt mình hơn: - Má nhắm bề không... xong rồi... má nói điều này... con nghe mà... giữ mình... Càng lúc giọng nói của thím Tám Hạo càng khó khăn, nhưng thím vẫn cố nói sao cho con gái hiểu: - Hai đêm... rồi má... đều thấy… oan hồn... con Chín Hoa... nó về đòi má... phải trả... trả con cho nó. Út Liễu mới nghe đến tên Chín Hoa đã hơi giật mình. Bởi cái tên này ngay từ lúc lên 3 cô đã nghe mẹ nhắc tới. Ngày đó Thím Tám thường nói: “Hồi thời con gái, Thím Tám và Dì Chín Hoa là hai người bạn thân thiết với nhau, đi đâu, làm gì đều có nhau như hình với bóng... cho đến khi Thím Tám đi lấy chồng thì chợt xảy ra chuyện mà thím không bao giờ nghĩ tới. Đó là việc chồng thím lại chính là người tình lâu năm của Chín Hoa! Chuyện ấy Hoa giấu kín, mãi đến hôm cử hành lễ tạ gia trên thì Hoa mới xuất hiện trước mặt họ hàng nhà Thím Tám khóc lóc thảm thiết, kể lại mọi chuyện và chạy mất từ đó. Đám cưới của Thím Tám tạm hoãn để mọi người lo giải quyết chuyện của Hoa. Ngày hôm sau người ta tìm thấy xác Hoa trôi ở sông cái gần nhà. Chín Hoa chết vì quá tuyệt vọng, bế tắc trước một bên là tình một bên là bạn. Hôn lễ của Thím Tám với con người hai mặt kia cũng bị hủy luôn. Cho mãi đến 3 năm sau thím mới lấy người sau này là cha của anh chị em Út Liễu. Thím Tám thường kể rằng cứ lâu lâu thím chiêm bao thấy Chín Hoa hiện về đòi con. Ban đầu thím chẳng hiểu là đứa con nào? Mãi sau hỏi ra thím mới càng đau hơn khổ hơn khi hay tin bạn mình trước khi chết đã có mang thai được gần 6 tháng! Cứ như thế, hiện đã hơn 20 năm rồi, những chuyện ác mộng về đòi con vẫn cứ diễn ra. Chưa lúc nào Thím Tám ngủ yên, nhất là từ khi thím sinh ra Út Liễu. Bởi thím còn nhớ rất rõ, lúc sinh tiền Chín Hoa luôn nói rằng mình chỉ thích sinh con gái và cô ấy với Thím Tám từng giao ước với nhau là hễ trong hai người ai sinh con trước nếu là con gái thì phải để cho người kia nhận làm con nuôi. Chính vì lời hứa mơ hồ đó mà sau khi sinh Út Liễu, dù Chín Hoa đã chết, nhưng Thím Tám vẫn làm một cái lễ van vái vong hồn Hoa, cho Út Liễu nhận Hoa làm mẹ nuôi. Rắc rối là ở chỗ đó. Bởi từ ấy Thím Tám cứ bị ám ảnh hoài và lạ làm sao, từ ấy thím thường hay thấy hồn Chín Hoa về đòi con!” - Má, chuyện mộng mị ấy mà, má tin làm gì. Nhưng Thím Tám vẫn cố nói: - Má cũng muốn không tin, nhưng đã hơn 20 năm qua hầu như đêm nào Chín Hoa cũng về kêu tên má. Mà gần đây nó lại gọi cả tên con nữa! Út Liễu, con bảo má không sợ làm sao được... Những lời nói của Thím Tám lúc này chợt tỉnh táo, mạch lạc khác thường, như là thím đang hồi sinh. Út Liễu vừa mừng vừa lo: - Má, má thấy trong mình ra sao? Một nụ cười héo hắt trên môi người mẹ tội nghiệp: - Má đâu có sao... Má chỉ muốn con... hứa với má là sau khi má chết, con khoan hãy lấy chồng. Bởi vì... Thím ngừng lại lấy hơi rồi nói tiếp: - Người ta nói... con gái phạm phải lời nguyền mà có chồng thì tức khắc sẽ bị... bắt hồn đem đi! Út Liễu gần như van lơn: - Không có chuyện đó đâu má ơi. Mà ví dụ có thì con cũng không bao giờ lấy chồng. Con sẽ ở vậy với má, ba và gia đình mình suốt đời... Thím Tám giọng yếu đi: - Còn thằng Năm lớn, nó thương con... nó là thằng... Út Liễu chặn lời: - Con sẽ bảo anh Năm không thương con nữa. Con cũng chưa hứa hẹn gì, nên sẽ không... Bỗng nhìn thấy Thím Tám tự dưng tím tái mặt mày, người run lên, Liễu hốt hoảng: - Má, má ơi! Thật là nhanh, Thím Tám ưỡn người lên một cái rồi hai tay buông xuôi... - Má ơi! Trong đêm mưa tầm tã, tiếng nấc nghẹn của Út Liễu chừng rơi nhanh vào đêm mênh mông. Thằng Út Chót giờ mới tỉnh giấc, nó ngơ ngác nhìn cảnh tượng trước mắt, rồi cũng thét lên: - Má! Phận người nghèo sống hẩm hiu, cô quạnh, mà lúc ra đi cũng nhẹ như cơn gió thoảng qua… Chú Tám Hạo lặng người trước xác vợ. Ở một nơi cách bằng hai ngày đường sông, không nghe tin tức gì, nhưng ngày hôm kia tự dưng chú đang nằm ngủ trưa thì nghe con chim quạ kêu thất thanh trên ngọn tre. Một cái điềm như thế đối với chú là điềm dữ, bởi vậy mặc cho lời can ngăn của bạn bè đang làm công ở mỏ đá, chú Tám xuống xuồng bơi đi ngang. Vậy mà chú vẫn chậm chân. Vừa thấy chú bước vô nhà, Út Liễu đã òa lên khóc ngất: - Ba ơi, má đã... Chết điếng trong lòng, nhưng trước tình cảnh đó, chú Tám cũng chỉ bảo với Liễu: - Con chạy qua nhà Hai Mãnh báo cho chú hay và nói ba cần gặp chú ngay. Út Liễu nhớ lời mẹ, cô thuật lại cho cha nghe đầu đuôi rồi nói rất cương quyết: - Con để tang mẹ ba năm, sau đó thì sẽ ở vậy luôn. Chú Tám thở dài: - Ba đâu có ép uổng gì con chuyện này. Nhưng tội nghiệp chú Hai Mãnh và thằng Năm Được. Thằng Năm nó thương con, mới hôm rồi ba nó có bàn với ba, tính qua mùa nước này sẽ cho lấy lễ... Tiếng thở dài của Út Liễu nghe càng não ruột hơn: - Con không phải tin chuyện hoang dường, nhưng ý của má như vậy nên con phải nghe theo. Con đã hứa với má rồi. Tám Hạo chiều ý con: - Thì con tính vậy cũng được. Vậy để ba nói chuyện với Hai Mãnh. Út Liễu đi mời khách cho cha. Cùng đi với chú Hai Mãnh có cả Năm Được. Tội nghiệp chàng trai thật thà, chất phát, vừa nghe tin mẹ vợ tương lai mất anh ta òa lên khóc còn hơn là một nữ nhi. Họ sang đến nơi thì Tám Hạo vô đề ngay. Chú nói rõ ý của vợ và đề nghị: - Chắc anh Hai cũng không trách cha con tôi. Thôi thì mọi chuyện cứ để hết tang bên nhà tôi rồi hãy tính tiếp. Tinh ý sẽ thấy Năm Được quay mặt đi chỗ khác, buông một tiếng thở dài... Còn Út Liễu, cô không dám nhìn người yêu, cứ núp mãi ở nhà sau chỉ biết dọn quần áo rồi sắp xếp nhà cửa. Chú Tám phải nhắc: - Con Út đợi vừa sáng thì sang chợ nhờ họ chở cái áo quan sang ngay. Tiền bạc thì... Chú chợt nhớ là do đi về quá vội nên chưa kịp ứng tiền công. Mà trong nhà này trăm thứ đều trông vào chú... Cũng may, Hai Mãnh đã nhanh nhảu: - Anh Tám chớ lo, để tôi bảo Thằng Được về bên nhà… Chú gọi Năm Được ra ngoài thì thầm dặn điều gì đó, chỉ thấy Được dạ và đi thật nhanh trong đêm tối. Tám Hạo ái ngại: - Anh Hai đâu dư dả gì, mà còn phải lo chuyện này... Hai Mãnh nói thật lòng: - Tôi cũng đâu có tiền. Nhưng may là vừa qua vợ chồng tôi có bán mớ lúa để dành 3 năm qua, mua ít nữ trang, tính dành tặng cho con dâu. Nay cái này cần thiết hơn, mình lấy nó dùng trước. Út Liễu ngồi nhà trong nghe chuyện lòng cô đau nhói. Chú Tám cũng đau và lặng người đi vì xúc động... Hồi lâu mới thốt được mấy lời qua màn nước mắt: - Cả đời cha con tôi không thể nào quên ơn của anh Hai. Xiết chặt tay người bạn già: - Có gì đâu mà ơn với nghĩa anh Tám. Khi anh khi tôi mà... Một cơn gió lùa mạnh qua bức vách tả tơi, tắt lịm ngọn đèn dầu duy nhất trong phòng. Tám Hạo không buồn đốt lại đèn, mà cùng với Hai Mãnh chia nhau điếu thuốc rê, cứ mỗi lần hít mạnh một hơi thì ánh sáng bùng lên, đủ để soi sáng mặt hai người họ, đồng thời soi rõ cả xác chết của Thím Tám đang nằm trên bộ chõng tre ộp ẹp. Út Liễu từ trong nhìn ra, tự dưng cô khóc ngất vì tủi thân và chạy ra ôm chầm lấy xác đã lạnh của mẹ. Thằng Út Chót cũng làm theo chị. Hai Mãnh lên tiếng: - Lấy mền đắp lại cho chị Tám. Tám Hạo cũng bảo: - Lấy cái mền mới mua dành cho đám cưới, đắp cho má con, Út à. Thật ra, nếu không lấy chiếc mền mới đó thì cả nhà này làm gì tìm ra vật gì để đắp mà còn nguyên lành. Hầu hết mùng màn từ lâu đã tả tơi... Út Liễu ôm chiếc mền mới trở ra, cô phải đi lần mò từng bước bởi ánh sáng từ điếu thuốc của cha không đủ sáng tới cửa buồng. Chợt Liễu bàng hoàng khựng lại khi nhìn thấy... Thím Tám đang ngồi dậy! - Má! Liễu kêu thật to, cả hai người cha không hiểu chuyện gì nên cùng hỏi lớn: - Gì vậy Liễu? - Má bây? Phần II GIÔNG TỐ Út Liễu vừa chất xong mớ lá sen, bông sen xuống xuồng, định đi cho kịp con nước ròng xuôi ra chợ được nhanh thì nhìn thấy chiếc ca-nô chạy tốc độ thật cao đâm sầm vào như muốn đụng thẳng vào cô. Chưa biết ai trên ca nô, Liễu đã kêu thét lên: - Bộ không có mắt sao mà chạy đâm vô người ta vậy hả? Trên ca nô có mấy tiếng cười khả ố vang lên. Lúc này Liễu mới nhìn kỹ và chợt giật mình. - Cậu Ba Tình con ông Phủ Oai! Biết cô gái đã nhận ra mình, Ba Tình cười lấy lòng: - Giỡn chút chơi mà cô Út. Chiếc xuồng bị sóng đẩy từ chiếc ca-nô nên chồng chềnh qua lại suýt chìm. Những bó sen trên xuồng rơi vãi xuống sông trôi nhanh theo dòng nước. Hoảng quá Út Liễu kêu lên: - Bông sen của tôi tiêu hết rồi! Ba Tình bất thần đẩy một tay em bên cạnh nhào xuống nước: - Vớt lên cho cô Út mày! Thằng đệ tử chới với, uống đến mấy ngụm nước rồi mới bì bõm bơi theo vớt mấy bó bông sen lên. Một đệ tử khác đứng trên ca-nô quay sang càu nhàu: - Giá trị gì mấy thứ đó mà làm dữ vậy. Cậu Ba mua hết cả ghe này còn được nữa là... Thằng đang bơi nói vọng lên: - Mua luôn cô chủ nữa cũng xong! Út Liễu giận lắm nhưng nghĩ có chửi nhau với bọn này chỉ thêm bực mình, nên vừa càu nhàu vừa xếp ngay ngắn hàng hóa, rồi quay lên nhà nói lớn: - Con đi chợ đây, tía ơi! Cô không chờ thu hồi lại mấy bó sen trôi dưới sông, định xô xuồng ra thì Ba Tình đã đưa chân giữ lại: - Sao lại vô tình vậy, cô Út. Nhà đang có khách mà... Út xẵng giọng: - Khách khứa nào đâu, ba tôi đang bệnh nằm trên đó. Chỉ vào mình rồi lại chỉ ra một chiếc ghe lớn đang cập bến, Ba Tình tưng tửng: - Đây là khách và còn kia nữa. Bữa nay nhà đầy khách, mình là con gái lớn phải ở lại nhà lo trà nước chứ, cô Út. Vừa lúc đó chiếc ghe bầu đã vào tới, mấy tay phu chèo ghe hách dịch nạt nộ: - Tránh xuồng qua một bên để tau vô coi! Hắn nói chưa dứt lời đã đâm sầm vào làm cho Út Liễu phải nhảy sang bên mới tránh khỏi cú va đập. Chiếc xuồng bị bung ra ngoài sông trôi theo dòng nước chảy xiết Út la lớn: - Mấy người muốn ăn cướp sao chứ! Chiếc xuồng của tôi... Ba Tình phải nạt tên đang còn ở dưới sông: - Lội ra kéo xuồng vô mày! Từ trong ghe bầu có giọng chát chúa của phụ nữ: - Chuyện gì mà ồn ào vậy tụi bây? Ba Tình cười trơ trẽn: - Con dâu tương lai của má nó chào đó! Chiếc ghe lớn đã ngừng hẳn, mấy tên phu ghe cột chặt dây và đứng dạt hai bên chờ. Trong ghe một phụ nữ tuổi trên dưới 50, ăn mặc lụa là sang trọng bước ra. Có hai con hầu theo cạnh. Bà ta đảo mắt lên bờ và dừng lại chỗ Út Liễu đứng. - Ủa, đây là... Ba Tình cười cười vừa nheo mắt: - Út Liễu, con dâu của má đó! Bà đốc Phủ Oai hơi nhíu mày một chút, rồi khi nhìn kỹ gương mặt trái xoan, đôi má hồng hồng, đôi môi mọng như quả mận chín của cô gái, thái độ bà đổi hẳn: - Con gái Tám Hạo đây hả? Chèn ơi... Thấy mẹ có vẻ hài lòng, Ba Tình cười phá lên: - Vậy má cứ cãi hoài, con người ta đẹp như vậy đó, chứ phải như... Anh ta muốn nói... “đâu phải như con chằn cái vợ lớn tôi ở nhà”, nhưng đã kịp dừng lại khi liếc sang Út Liễu. Bà Phủ Oai được hai đứa hầu đỡ lên bờ. Bà đưa tay ngoắc Út Liễu: - Lại tao coi mặt coi, con gì... Ba Tình chen vô liền. - Út… Út Liễu. - Ờ con Út Liễu. Tên nghe cũng đẹp dữ... Đúng ra Út không bước tới theo lệnh bề trên của bà ta, nhưng vì chỗ cô đứng đang lắc lư, bởi lúc nãy nhảy đại theo định chụp lại chiếc xuồng, nên chân trên chân dưới nước... Út đành phải bước lên một bước. Bà Phủ Oai nhìn cô một lần nữa rồi gật đầu: - Ừ được. Bà chỉ nói bấy nhiêu đó rồi bước thẳng lên nhà. Mấy tên phu ghe nịnh chủ nên chạy lên trước gọi to: - Tám Hạo đâu ra đón bà Phủ? Chú Tám bệnh hai ngày nay, còn đang nằm trên giường, nghe gọi nhưng không dậy nổi, bảo thằng Út Chót: - Ra coi ai đó con. Thằng Út Chót chạy ra nhìn thấy người quá đông nên chạy trở vào nói lớn: - Có bà nào đi với nhiều ông nữa vô nhà mình kìa! Bà Phủ Oai đã vào tận cửa, nhìn vào chẳng thấy ai liền hỏi: - Nhà bộ chết hết hay trốn hết rồi sao không ai ra hết vậy? Vợ chồng Tám Hạo đâu? Chợt nhìn lên tủ thờ thấy có ảnh chân dung của vợ Tám Hạo, bà ta kêu lên: - Con này trả chưa hết nợ sao lại chết rồi? Còn thằng Tám Hạo... Chú Tám đã nghe rõ, biết khách là ai, nên ráng lê bước ra. - Dạ, chào bà Phủ tới chơi. Bà Phủ Oai vẫn giọng trịch thượng: - Ai rảnh rỗi đâu tới đây chơi. Tới để đòi nợ. Tám Hạo biết thế của mình nên xuống giọng: - Vợ tôi mới mất, lại mất mùa liên tiếp, mà tôi đã làm công cũng chẳng được đồng nào dư. Đang định ra lạy ông bà Phủ để xin khất. Bà Phủ Oai chanh chua: - Lạy bà xong hay sao? Mày biết là đã nợ bao nhiêu rồi không? Bà quay ra ngoài gọi: - Tài Phú, đem sổ nợ của vợ chồng Tám Hạo vô đây rồi đọc cho nó nghe! Tên Tài Phú riu ríu vâng lời, hắn giơ sổ đọc to lên: - Mùa năm kia nợ 100 giạ, năm ngoái nợ mới 150 giạ, cộng lãi cũ thành 350 giạ. Mùa này là 130 giạ, phạt tội trễ nãi công nợ 100 giạ nữa. Tổng cộng là 580 giạ!... Và còn nữa, còn tiền phạt bỏ ngang không ra ở đợ của vợ Tám Hạo, cộng lại quy ra lúa là 320 giạ, vị chi tất cả là 900 giạ. Bà Phủ Oai hất hàm: - Bữa nay cho trả phân nửa, một tuần sau trả hết, ý mày sao, Tám Hạo? Chú Tám tối tăm mặt mũi, hai tai như ù đi vì những con số vừa nghe. Chú chỉ còn biết van xin: - Con xin bà Phủ, ngàn lạy bà Phủ, vợ con vừa mới nằm xuống, con lại bệnh hoạn liên miên. Để vài bữa ráng hết bệnh, con sẽ xoay sở trả bớt... Bà Phủ cười gằn: - Thằng nói dễ nghe chưa! Mày biết 900 giạ lúa là bằng bao nhiêu tiền không? Có bán hết mạng trong nhà này cũng chưa đủ trả! Như đã có dự tính trước, bà ta quay ra hô to: - Tụi bây còn chờ gì nữa không kéo sập cái nhà này cho tao! Lũ đầu trâu mặt ngựa từ dưới ghe ào lên và đồng loạt kẻ gậy gộc, người dao kẻ rựa, chúng cùng lúc chặt, xô căn nhà lá vốn đã xiêu vẹo. Chú Tám Hạo hốt hoảng kêu gào: - Đừng bà Phủ ơi! Tội nghiệp vong hồn má sắp nhỏ. Xin trăm lạy bà! Ngàn lạy bà! Chú dập đầu lạy lấy lạy để, vậy mà mụ Phủ Oai vẫn tỉnh rụi, lại còn quay ra hô hét lũ gia nhân: - Tụi bây chặt lâu quá thì cứ đốt cho rụi đi! Một tên nghe lời, bật quẹt lên định châm vào vách lá, thì chợt hắn bị ngay một cú đá của ai đó, ngã lăn nhào ra. - Năm Được! Chú Tám vừa nhìn thấy Năm Được xông vào đã lên tiếng kêu, nhưng không còn kịp nữa. Chàng trai thật thà giờ bỗng dưng dũng mạnh lạ thường, vừa hạ xong tên đốt nhà, đã quay sang đá văng một tên khác đang cầm rựa. Bị phản ứng bất ngờ, bọn gia nhân hơi chùng tay, nhưng bà Phủ đã quát lên: - Tụi bây là đồ ăn hại, có một thằng tiểu tốt mà cũng để cho nó lộng hành sao! Năm Được đã hạ thêm một tên nữa thì vừa lúc có một tiếng nổ thật to, đồng thời một tiếng rú thất thanh: - Trời ơi! Năm Được đưa tay ôm lấy bụng đầy máu, lảo đảo ngã xuống. Người vừa nổ súng chính là Ba Tình. Trên tay hắn còn lăm lăm khẩu súng hai nòng đang bốc khói. - Anh Năm! Út Liễu quên cả hiểm nguy, bổ nhào tới ôm chầm lấy Được. Vết thương có vẻ khá nặng nên Năm Được lăn lộn, máu thì càng lúc càng ra nhiều hơn. - Quân sát nhân! Đồ khát máu! Út Liễu vừa chửi gào to. Từ trong nhà chú Tám Hạo cũng ráng lết ra, chú thất thần nhìn Năm Được, giọng lạc hẳn đi: - Trời ơi, thằng Năm... Bà Phủ Oai không một chút động lòng, hất hàm bảo con trai: - Mày bắn chi cho uổng đạn, để tụi nó chém cho mấy dao cũng đủ rồi. Út Liễu bất chấp hiểm nguy, xốc Năm Được lên cố gắng kéo về phía xuồng. Đặt Năm ngay trên đống sen, thuận tay cô chụp một con dao còn để ở trên ghe bầu cầm ở tay, vừa đẩy xuồng ra vừa đe dọa: - Đứa nào ngăn cản tao sẽ tự sát liền cho bây coi! Nhờ vậy Liễu đã đưa được Năm ra giữa dòng. Rồi theo con nước trôi nhanh ra phía chợ. Nhìn Năm Được nằm im, Út Liễu vừa bơi xuồng mà nước mắt trào tuôn như mưa... Trở về nhà từ bệnh viện sau khi Năm Được qua cơn nguy kịch, Út Liễu sững sờ khi nghe Út Chót báo tin: - Làng lính đã theo lệnh bà Phủ bắt ba đi rồi. Nhìn mái nhà giờ chỉ còn đống đổ nát, Liễu nghe uất nghẹn trong lòng. Chợt nhớ ra cô hỏi em: - Bàn thờ của má đâu? Út Chót chỉ ra bụi chuối sau nhà: - Em đem ra để đỡ ở ngoài đó. Chót thuật lại đầu đuôi câu chuyện ở nhà từ lúc Liễu chở Năm Được đi: - Chị đi rồi, bà Phủ giận sôi gan, ra lệnh đốt nhà lần nữa. Nhưng lần này ba là người đứng ra ngăn cản. Ba dang tay đứng chặn mấy tên hung ác lại và nói: “Đứa nào phá nhà thì trước hết phải giết tao trước đã”! Một tên xông tới định chém thì chợt Ba Tình ngăn lại: - Cần để ông ta sống để đứng làm chủ hôn chứ! Hắn quay sang mẹ: - Má phải để lão ta sống thì mình danh chánh ngôn thuận đưa con Liễu về nhà chứ. Má quên là hôm nay đến đây chỉ nhằm mục đích đó hay sao. Bà Phủ lườm thằng con háo sắc: - Nó đẹp thì có đẹp, nhưng đâu đến nỗi mày phải lạy với tao với ba mày rồi còn năn nỉ con vợ mày ở nhà để đòi lấy con Liễu về nhà làm lẽ cho bằng Được! Thiếu gì con gái ở xứ này... Ba Tình nheo mắt cười: - Con Út Liễu ăn đứt tụi khác. Con mà không lấy được nó thì thề sẽ bỏ xứ này mà đi cho má coi! Nhờ vậy mà tía mình được sống, nhưng bà Phủ vẫn ra lệnh báo lính làng tới bắt tía đi. Họ còn kết tội tía là làm loạn, cấu kết với gian đảng nữa. - Ai là gian đảng? - Là anh Năm Được đó. Họ nói anh Năm có chân trong băng cướp, giết người và quốc sự gì đó... Út Liễu căm phẫn rít lên: - Quân sát nhân còn ngậm máu phun người! Đêm đó chị em Liễu che chắn những gì còn lại của ngôi nhà để ngủ. Bát nhang trên bàn thờ Thím Tám vẫn cháy và gần như suốt đêm đó Liễu không chợp mắt được... Chẳng hiểu suy nghĩ gì qua đêm mà sáng sớm hôm sau Út Liễu bảo thằng Chót: - Em qua nhà chú Hai ở đỡ, chị có việc phải ra chợ. - Chị đi thăm ba hả. Liễu gật: - Chị sẽ tìm gặp ba và... Cô bỏ lửng câu nói rồi xuống xuồng đi luôn... Phần III Ông Đốc Phủ Oai là người rất tâm lý, lão luyện trong đối nhân xử thế, nên ngồi đối diện với Út Liễu một lúc lâu mà ông vẫn chưa mở được lời. Cô gái nhỏ con của một tá điền nghèo kiết xác, lại đang thiếu nợ nhà ông khá nhiều, lại làm cho ông bận tâm thế này quả là chuyện lạ. Nhưng bất cứ chuyện gì trên đời này đều có nguyên nhân xuất phát của nó. Giọng của ông Phủ Oai có vẻ căng thẳng: - Cháu nói má cháu tên là gì? Út Liễu giương đôi mắt khinh miệt nhìn kẻ đối diện với mình mà không cần biết đó là một Phủ Oai khét tiếng, kẻ đang có quyền đưa cha mình vào chỗ chết. Giọng cô nhát gừng: - Hỏi để làm gì. Má tôi chết rồi, có muốn thì xuống âm phủ mà hỏi. Phủ Oai vẫn kiên nhẫn: - Có phải bà là Bảy Phụng không? Đúng là Bảy Phụng rồi, một cặp đẹp nhất vùng này thời đó, cùng với Chín Hoa... Nghe nhắc tới Chín Hoa thì Út Liễu không còn kiềm chế được, cô hỏi nhanh: - Ông biết Dì Chín Hoa? Phủ Oai lặng người đi giây lát trước khi đáp: - Chẳng những biết, mà còn... Ông bất thần vén tay áo lên tận vai phải, để lộ ra một hình xăm với chỉ một chữ H, rồi như chưa đủ, ông kéo tuột cả vai trái gần phía trái tim mình, một chữ khác mà Út Liễu đọc được ngay, chữ P lồng trong hình một phượng hoàng. Út Liễu vẫn còn hoang mang thì Phủ Oai đã đọc ra nghĩa hai chữ viết tắt đó: - Một bên là Hoa, Chín Hoa, một bên là Phụng, Bảy Phụng. Bên nào nặng hơn? Ông ta tự nhiên hỏi thế, rồi tự trả lời: - Bên nào cũng nặng. - Ông nói cái gì vậy? Út Liễu hỏi, vừa đưa mắt nhìn chằm chằm vào hình xăm chữ P. Phủ Oai có lẽ hiểu, ông đưa tay sờ lên chữ đó và nói rất tình cảm: - Tôi có tội với người này cho tới phút này. Rồi chợt ông quay sang Liễu, hỏi bằng giọng trách móc: - Sao má con chết mà không cho tôi hay? Liễu ngơ ngác trước câu hỏi kỳ cục đó: - Mắc mớ gì phải báo cho ông? Hiểu ra mình quá lời, Phủ Oai xìu giọng: - Tôi xin lỗi... Ông nói một mình: - Từ mấy chục năm rồi, ít ỏi gì đâu... Nghe có tiếng động gì đó ở cửa ngoài, Phủ Oai nói vọng ra: - Không cho bất cứ ai vô đây, để tao làm việc! Trong nhà này đám gia nhân sợ Phủ Oai như thỏ sợ cọp, nên hễ nơi nào có mặt ông là không có bóng người khác. Yên tâm với mệnh lệnh của mình, Phủ Oai quay sang Liễu, giọng nhỏ nhẹ: - Hôm qua bác không hay nên tụi nó mới làm quá tay với ba của cháu và với thằng gì đó. Thôi được rồi, để bữa nay bác cho thả ba cháu ra. Ông ta lại hỏi: - Trước khi chết má con có nói gì không? - Nói gì là nói gì? Má tôi... Phủ Oai chặn lại: - Có khi nào má con nhắc tới bác không! Út Liễu cảm thấy mẹ mình đang bị xúc phạm, cô gắt giọng: - Ông không được nhắc tới má tôi. Tôi tới đây cũng không xin ban bố ơn huệ gì, chỉ xin thế mạng để mấy người thả ba tôi ra, ông đang bị bệnh nặng... Phủ Oai vẫn nhẹ giọng: - Cô giống y tính của Kim Phụng ngày trước. Cũng chính vì cái tính ương ngạnh đó mà tôi thương, tôi phụ Chín Hoa để cưới Phụng. Chợt nhớ lại lời kể của mẹ trước phút lâm chung, Liễu hỏi nhanh: - Ông chính là người gây ra cái chết của Dì Chín Hoa? Không ngờ Phủ Oai lại dễ dàng gật đầu: - Chính tôi. Thì ra ông ta là người chồng hụt của mẹ mình thời con gái và là nguyên nhân làm cho một cô gái như Chín Hoa phải trầm mình tự vẫn. - Ông ỷ giàu, lừa tình thiên hạ rồi phụ rẫy người ta, trời sẽ không tha cho ông! Phủ Oai đăm chiêu nhìn ra ngoài: - Tôi thề có trời là không bao giờ phụ má cô. Chính vì hiểu lầm lòng dạ tôi nên Phụng mới bỏ đi lấy Tám Hạo, một tá điền nghèo nhất vùng này. Út Liễu vênh mặt: - Ba tôi nghèo nhưng má tôi yêu thương hết lòng hết dạ. Bà không phải là tham giàu sang, bằng chứng là... Phủ Oai lại gật đầu: - Tôi hiểu nên từ lâu nay tôi đâu dám động tới gia đình cô... Liễu chua ngoa: - Không động đến mà cho người tới đốt nhà cướp của người ta. Đó là đạo lý gì vậy, ông đốc phủ? Phủ Oai vẫn nhẫn nhịn: - Tôi đã nói rồi, đó là do đám gia nhân làm bậy, chứ nào phải... Liễu lớn tiếng: - Chính mụ vợ ông cùng thằng con trai ông đứng thị thiền cho đám ác ôn hành động, vậy mà không phải do ông ra lệnh sao! Túng thế Phủ Oai phải trấn an: - Được rồi, để chuộc lỗi, ngay bây giờ tôi sẽ cho thả Tám Hạo ra và cho người dựng lại nhà đàng hoàng. Tôi cũng đồng ý xóa hết nợ nần cũ… Ông quay ra hét đám gia nhân: - Hãy qua bên làng, nói với Quản Xị là thả ngay Tám Hạo ra, còn bọn bây thì vô ngay chỗ phá nhà hôm qua dựng lại ngay, đàng hoàng hơn cho tao! Út Liễu không biểu lộ chút xúc động nào trước những lời ngọt ngào của Phủ Oai. Ba Tình núp ngoài cửa phòng nghe rõ đầu đuôi câu chuyện mà Phủ Oai vừa nói với Út Liễu. Hắn chạy bay đi tìm mẹ, bà Phủ đang ngồi đậu chếch tứ sắc với vài người nữa ở nhà hội đồng thì nghe chuyện đã nổi tam bành lên: - Thì ra cho tới giờ phút này thằng cha mày vẫn còn tơ tưởng đến hai con Chín Hoa và Bảy Phụng! Quả là tao hành động đâu có lầm, tao cào nhà và còn tính cào mả con Bảy Phụng lên nữa mới hả dạ. Vậy mà nay thằng cha tha hết cho bọn nó rồi, có tức trào máu lên không chứ! Bà ta hạ lệnh: - Mày dẫn chục đứa đi chặn lại vụ thả Tám Hạo và vụ dựng lại nhà cho nó, mau lên! Ba Tình làm bà ngạc nhiên: - Không cần đâu má. - Mày cũng về hùa với ổng hả! Ba Tình kề sát tai mẹ nói nhỏ: - Triệt tụi nó quá mức chỉ mang tiếng ác. Chi bằng nhân dịp này ta ra tay với con Út Liễu... - Mày tính... Ba Tình nheo mắt cười: - Con sẽ hành động ngay để qua đêm là đã biến con Út Liễu thành… vợ Ba Tình cho má coi! Con chỉ nhờ má ém miệng con vợ con giùm, đừng để nó nổi tam bành là hỏng chuyện hết. Suy tính một lát, bà Phủ gật đầu: - Mày phải làm cho êm. Tao cũng muốn mày đem con nhỏ đó về rồi sinh cho tao vài đứa cháu nội, chứ như con vợ mày đã bốn năm năm mà vẫn trơ trơ, không đẻ đái gì hết... Được bật đèn xanh, Ba Tình mừng rỡ: - Má cứ chờ tin vui. Con Út Liễu sẽ đẻ cho má thằng cháu trai cho coi! Hắn chạy đi ra nhà sau với tâm trạng phấn khởi vô cùng. Vừa lúc đó nhìn thấy Út Liễu xuống xuồng sắp sửa bơi ra sông cái, Ba Tình gọi lại: - Cô Út chờ tôi đã. Nhìn thấy hắn Út Liễu sợ thất thần, nhưng cố làm ra như phớt lờ. Ba Tình hạ giọng thân thiện: - Hôm qua tôi có uống chút rượu nên hành động quá bậy, nay tới xin lỗi cô Út, rồi tôi sẽ xin lỗi bác Tám nữa. Má tôi cũng ăn năn lắm và đã bị ba tôi chửi cho một trận nên không dám ra gặp mặt cô Út. Xin Út bỏ qua cho. Giờ lo đi rước bác Tám về, tôi sẽ lo thuốc men cho bác ấy... Nghe giọng nghĩa tình của hắn Út Liễu càng thêm ứa gan cô nguýt ngang một cái: - Khẩu xà phun ra toàn nọc độc mà cũng nói điều nhân nghĩa sao! Cảm ơn, tôi tự lo được. Cô đẩy ghe ra thì mới hay là không có dằm bơi và cả chiếc xuồng cũng vô đầy nước như sắp chìm. Hơi lúng túng, thì Ba Tình đã mau mắn: - Cứu người như cứu hỏa! Bây giờ cô cứ để xuồng ở đây mai tôi sẽ cho người đưa qua nhà trả. Còn cô cứ lên ca nô tôi đưa qua nhà làng để rước bác Tám. Lẹ lên, nếu không thì Quản Xị nó giải cha cô lên Quận thì khó mà cứu ra lắm. Nghe nói hồi đêm rồi bác Tám xỉu mấy lần vì lên cơn xuyễn. Biết bệnh tình của cha, đồng thời trong tình thế này đâu còn cách nào khác hơn... Út Liễu nghiêm giọng: - Không phải tôi khuất phục mấy người. Chỉ vì tôi sợ tía tôi bệnh nặng chịu không nổi... Thấy con mồi đã chịu phép, Ba Tình nhanh nhẩu nhảy xuống ca nô: - Ba Tình này mang tiếng ác bấy lâu nay, nhưng với ai kìa, chứ với cô Út thì tôi đâu bao giờ dám sàm sỡ. Tôi tôn trọng tính thẳng thắn của cô mà... Hắn một mình lái ca-nô đưa Út Liễu vượt qua sông cái. Từ nào chưa quen ngồi ca-nô chạy lướt trên mặt nước nên Liễu một mặt lo bám thật chặt, một mặt cứ giục cho hắn chạy nhanh hơn, trong đầu cô giờ chỉ có hình ảnh người cha già bệnh hoạn đang không biết sống chết ra sao... Ba Tình hình như cố ý càng lúc càng chạy nhanh, lại lượn qua lượn lại làm chiếc ca-nô lắc lư. Út Liễu đã bắt đầu hoa mắt, buồn nôn. Cô gào lên: - Chạy chậm lại! Nhưng Ba Tình giả vờ như không nghe, hắn nhấn ga mạnh hơn, càng làm cho Liễu hầu như không chịu nổi. Hai tay bám vào thành ca-nô của Liễu chợt lơi ra và cô đổ nhào về phía trước miệng nôn thốc nôn tháo ra. Lúc này Ba Tình mới lơi chân ga, hắn nhìn Út tiễu với vẻ đắc ý. Và như đã chuẩn bị truớc, hắn lấy một bình đong nước uống, rót vào một cái ca rồi thật nhanh tay cho vào đó một viên thuốc màu trắng loại thuốc ngủ mạnh mà lâu nay hắn vẫn mang theo người để sẵn sàng cho các con mồi sa bẫy. Út Liễu nhũn người ra, tiếp tục ói vài hơi nữa rồi mới lấy hơi thở như bệnh nhân sắp chết. Lấy khăn tay của mình tự động lau sạch miệng cho Liễu, Ba Tình ân cần bảo: - Có lẽ tôi vì nóng lòng do sợ quá không kịp để cứu bác Tám nên chạy quá nhanh làm cô Út chịu không nổi. Tôi xin lỗi và bây giờ cô súc miệng rồi uống một vài ngụm nước, nghỉ một lát sẽ khỏe lại ngay. Út Liễu không còn tự chủ được, cô tiếp lấy ca nước uống ngay một hơi gần hết nửa ca rồi ngã người ra sau dựa vào thành ca-nô, mắt nhắm nghiền lại như không muốn nhìn thấy tên ác ôn trước mặt mình. Và đó là lần nhắm mắt tai hại nhất của cuộc đời Út Liễu... Bởi chỉ chưa đầy nửa phút sau thì thuốc ngủ đã ngấm, cô gái đáng thương đã nằm lịm đi như người chết giữa lòng ca-nô. Ba Tình nhìn cô với nụ cười mãn nguyện... Phần IV PHẬN HỒNG NHAN Choàng tỉnh, Út Liễu đảo mắt nhìn quanh và bật dậy ngay khi biết mình đang nằm trong một căn phòng lạ. Nhưng hình như có một sức ì quá nặng, đã kéo cô lại, người đau nhức như trong cơn bệnh nặng. - Tôi đang ở đâu? Trả lời cô là giọng một phụ nữ: - Mày không biết là đang ở đâu và làm gì à? Hãy kéo cái mền ra thì biết ngay thôi... Lúc này Liễu mới đưa tay sờ lên người, bên trong chiếc mền đắp ngang là phần da thịt trần trụi, không một mảnh vải nào khác che thân! - Trời ơi! Cô kêu lên kinh hãi, vừa lúc người vừa nói chuyện với cô bước ra từ sau tấm rèm che. Một phụ nữ trên dưới 30, mặt đầy phấn son, vẻ đanh ác. Cô ta lại lên tiếng: - Biết tao là ai chưa, con đ... chó? - Ai? Bà là... Mụ nở nụ cười nham hiểm: - Có lẽ phải nói rõ thì mày mới biết. Tao là Hương Lan, vợ chính thức của Ba Tình, con trai đích tôn của nhà này! Lờ mờ nhận ra thực tế, Út Liễu kêu lên: - Mấy người đã làm gì tôi? Thằng Ba Tình... Vợ Ba Tình đanh giọng: - Ai cho phép mày gọi chồng tao là thằng này thằng nọ, con đ... chó! Mày đã dụ dỗ ăn nằm với nó rồi tính trở mặt hả? Chụp tay lên bụng mình, Út Liễu đã hiểu tất cả! Cô vùng tốc mền ra định chạy đi. Nhưng với thân thể lõa lồ thì làm sao dám... cô ôm lấy ngực và ngồi lại xuống giường, bật khóc nức nở. Lờ mờ nhớ lại cơn nôn tháo lúc ở trên ca nô rồi sau khi uống nước và mê đi... Út Liễu gào lên: - Quân khốn nạn! Giọng của vợ Ba Tình càng cay càng nghiệt hơn: - Tao bắt được tại trận mày lén vào đây ân ái với chồng tao. Nếu không có ba má chồng tao can ngăn thì đêm qua tao đã giết mày thả trôi sông rồi, tao thật không ngờ một đứa con nít ranh như mày mà cũng dám làm chuyện tày đình này. Ả ta quay ra đóng chặt cửa phòng lại, rồi lấy ra sợi dây buộc đã chuẩn bị sẵn và bất thần quất mạnh vào đầu, mặt mũi của Liễu. Cô gái đang yếu mềm như cọng bún này chỉ biết đưa tay lên đỡ và kêu la. Nhưng chỉ một chút sau đó cô đã bị vợ Ba Tình trói gô lại đặt nằm giữa giường. Ả ta đắc chí: - Tao sẽ hành hạ mày bằng cách để trần truồng như vậy rồi đem đặt xuống xuồng cho trôi đi khắp chợ để mọi người nhìn một chút đứa dám cả gan lấy chồng người khác! Mày chịu nổi chứ? Bao nhiêu nhục nhã, uất hận phút chốc trào ra, Út Liễu gào to lên: - Đồ súc sinh, quân khốn khiếp, bây hại người còn độc ác vu cáo. Đồ chó! Thẳng tay quất xuống thân thể bất động của Liễu bằng một thanh tre đã chuẩn bị sẵn và cứ liên tục như thế đến hơn chục roi mà ả độc ác vẫn chưa hả dạ. Chợt có người xô cửa vô và quát lớn: - Mày tính giết người hay sao, con ác nhơn kia! Người vừa xuất hiện là bà Phủ Oai. Bà ta giằng lấy cây roi trên tay vợ Ba Tình vừa đẩy ả sang bên: - Mọi việc đã lỡ rồi, để tao và ba mày giải quyết. Mày không được hành hạ nó nghe chưa! Bà ta đích thân cởi trói cho Liễu rồi lấy một bộ đồ sạch mặc vào cho cô với lời vỗ về: - Bác xin lỗi con. Chẳng qua là cơn ghen của đàn bà, nhưng từ giờ bác sẽ không cho nó làm gì con nữa... Bà quay sang quát lớn: - Mày đi ra khỏi phòng, rồi kêu thằng Ba Tình vô đây! Vợ Ba Tình lúc nãy hùng hổ, đanh ác bao nhiêu thì giờ lại ngoan ngoãn nghe lời... Đợi ả ra rồi bà Phủ lại nói: - Thằng Ba Tình nó thương con từ lúc chưa lấy vợ, nhưng lúc ấy con cứ tránh mặt nó hoài, nên nó mới cưới con Lan Hương này. Con đàn bà nạ giòng này đâu có đẻ đái cho nhà này đứa cháu nào để nối dõi, bởi vậy hai bác cũng có tính sẽ cho tụi nó thôi nhau, tìm cho thằng Tình đứa khác để còn đẻ con... Nè Liễu, con hãy bình tâm lại, thằng Ba Tình không phải vùi hoa dập liễu gì con đâu, chẳng qua nó... Út Liễu ôm hai lỗ tai, gào lên: - Bà đừng nói nữa! Trời ơi, má ơi, ba ơi! Có lẽ đã chịu đựng quá sức nên vài giây sau Liễu đã kiệt sức lịm đi. Bấy giờ Ba Tình mới nhẹ đẩy cửa bước vào, hắn ta hỏi khẽ: - Sao má? Bà Phủ lắc đầu: - Nó còn hoảng loạn lắm. Hồi nãy tao mà vô không kịp thì con quỷ cái Lan Hương đã giết chết người ta rồi! Quân quá ác, biểu thị oai cho nó sợ thôi, vậy mà như muốn hạ thủ... Ba Tình được dịp xổ nỗi lòng: - Con ác phụ đó mà kể gì ai. Bởi vậy, nếu kỳ này Út Liễu sinh cho thằng con trai thì sớm muộn gì con cũng từ nó. Thấy trên tay chân út Liễu có nhiều vết trần xước rớm máu, Ba Tình vội lấy khăn lau, ra chiều thương yêu lắm. Bà Phủ bảo: - Ngay tối nay mày liệu đưa con này ra chợ Huyện, ở trong căn phố lầu ba mày mới mua rồi tìm lời an ủi, khuyên dụ nó để bằng lòng chấp nhận. Chứ theo tao thì coi bộ găng lắm chứ chẳng chơi. Còn con vợ mày để đó tao lo. Ba Tình có vẻ lo: - Còn ông Tám Hạo thì sao rồi má! Bà Phủ đáp tỉnh rụi: - Ba mày tha cho nó về, nhưng tao cho tiền thằng Quái Xị bảo nó giam lại, sáng nay giải lên tỉnh rồi, vu cho tội dùng vũ khí hành hung để giật nợ, tù ít nhất cũng ba năm. - Ba có biết không? - Ông biết thì chuyện đã rồi. Mà để thằng đó ở ngoài thì còn rắc rối thêm chuyện con Liễu. Thôi, lo mà chở nó đi ngay chạng rạng này. Nhớ là canh chừng con nhé, bí quá nó dám làm liều lắm à... Út Liễu vẫn chìm trong cơn mê... Trời bên ngoài vần vũ sắp đổ cơn mưa lớn. Sấm chớp liên hồi. Dường như trời đất cũng đang lên cơn thịnh nộ trước những tội ác đang diễn ra... Chỉ tiếc là trời luôn ra tay không kịp thời trước mọi bất công... - Má ơi, cứu con! - Út Liễu, má đây! Má tới với con đây... - Nhưng sao má đứng ngoài đó, vô đây mới cứu được ra chứ, họ nhốt con trong này, họ giết con má ơi! Bóng thím Tám Hạo chập chờn ngoài cửa sổ, đôi lần định vượt qua chắn song sắt, nhưng đều bất thành. Út Liễu nhìn rất rõ toàn thân mẹ mình ướt sũng và hình như khuôn mặt dính đầy những máu nữa. Hốt hoảng Liễu lại gào to lên: - Má ơi, cứu con! Má sao vậy má? Đáp lại là giọng đứt quãng của thím Tám: - Má không vô được, chân má bị xiềng, người má bị thương tích nặng lắm con. - Má! Sao vậy? Ai đã hại má? Thím Tám khóc ngất: - Bữa họ cào nhà mình, chặt, đốt đã phạm phải má. Má luôn ở bên các con mà,vậy mà họ nỡ nhẫn tâm… - Má, ông Phủ Oai nói rằng, ông là... Thím Tám hốt hoảng đưa tay chỉ ra sau lưng mình: - Con không thấy Dì Chín Hoa đứng đó sao! Dì mà nghe nói tới thằng khốn nạn đó thì lập tức con cũng bị vạ lây. Nhìn thấy một phụ nữ xõa tóc quá lưng, mặt xanh tái khác thường đang đứng im như pho tượng gần đó Út Liễu ngầm so sánh: “Bà ấy đâu có đẹp bằng má mình lúc con gái”… Chín Hoa đang đứng đó là hình ảnh của một cô gái đôi mươi, chứ không già như má, út Liễu thoáng ngạc nhiên, nhưng rồi cô chợt hiểu: “Dì ấy chết lúc tuổi đôi mươi mà, còn má thì chết già...”. Út Liễu một lần nữa muốn chồm người qua cửa sổ để đến với mẹ, nhưng người cô nặng trịch, tay chân như bị ai trói chặt. Liễu đành gào thật to: - Má ơi, đợi con! Một cơn gió lạnh thổi qua, Út chợt rùng mình, cô cảm giác như mình đang rơi vào một bể băng. Có một bàn tay của ai đó chụp lấy cổ cô muốn xiết chặt. - Má! Ở ngoài kia dường như thím Tám đã nhìn thấy, bà cố hét lớn: - Đừng để nó giết con, Út ơi! Bàn tay lạ kia cứ mỗi lúc mỗi xiết mạnh hơn, Út Liễu hầu như chẳng còn thở được nữa. Cô hiểu mình sắp chết, sắp phải xa bà mẹ già đang đứng nhìn một cách vô vọng ngoài kia… - Cứu con, má ơi! Dì Chín ơi, thằng Phủ Oai nó hại con! Trong tuyệt vọng Út Liễu đã nói tên Phủ Oai ra. Và lập tức có tác dụng, bóng của Dì Chín Hoa vụt lóe lên rất nhanh, rồi từ xa lao vút tới như tia chớp. Bàn tay đang xiết cổ Út Liễu rơi ra kèm theo một tiếng rú thất thanh! - Út! Sao vậy Út? Tỉnh lại. Tiếng kêu đã làm cho Út Liễu thoát ra cơn mê vừa rồi. Cô bật ngồi dậy nhìn ra cửa sổ và gọi thất thanh: - Má ơi! Nhưng trước mắt Liễu lúc ấy chỉ là bóng đêm dày đặc cùng sự im lặng đến ngột ngạt. Bên cạnh cô là Ba Tình. Anh ta cố làm lành: - Em lại thấy ác mộng nữa rồi phải không Út. Đã bảo rồi, ráng ngủ ngon, ăn nhiều để mau khỏe, vậy mà... Thực tế quá phũ phàng trước mắt, Út Liễu vung tay đập thẳng vào mặt kẻ đứng trước mặt mình: - Thằng khốn nạn, tao sẽ chết với mày! Cô lao tới chụp được áo của Ba Tình, rồi bằng một sức mạnh chưa từng thấy, Út Liễu ôm cứng lấy anh ta, dữ dằn như con mãnh thú. Ba Tình rú lên và cố vùng ra, nhưng do Liễu bám quá chặt, nên nhất thời anh ta đành phải thúc thủ. Và sức mạnh của Út Liễu giờ phút đó chẳng gì có thể ngăn cản nổi, chỉ một thoáng cả cô và Ba Tình đã ra gần sát cửa sổ không có chắn song. Tiếng thét kinh hoàng lúc này lại chính là của Ba Tình! Tiếp theo là cả hai vụt bắn ra ngoài cửa sổ. Từ đó xuống đến mặt đất khá cao … Bà Phủ Oai chết lặng bên xác đứa con trai. Bà đã không còn có thể khóc nữa khi mà đã suốt đêm qua cho đến giờ này bà đã khóc và ngất lên ngất xuống nhiều lần. Riêng ông Phủ thì chỉ mím môi nhìn Ba Tình rồi quay đi nhẹ lắc đầu. Nỗi đau của ông như lắng đọng hết. Chỉ có một người là không hề khóc, cũng không biểu lộ xúc cảm đặc biệt gì... Đó là Lan Hương. Cô ta ngồi bên xác chồng mà chốc chốc lại chép miệng rồi nói lẩm bẩm gì đó chỉ để tự nghe. Và đến một lúc, khi vừa thấy bà mẹ chồng định bước ra ngoài, ả ta dường như không kiềm chế được đã thốt lên: - Cho đáng cái đời! Bà Phủ rất thính tai, đã quay lại và hỏi liền: - Mày nói ai đáng đời. Lan Hương lắp bắp: - Dạ, con đâu… Đã đến lúc sức chịu đựng của bà Phủ không còn giới hạn, bà to tiếng: - Tao đã thấy chướng tai gai mắt từ hôm qua đến giờ rồi! Ai thuở đời vợ gì mà chồng chết lại không nhỏ một giọt nước mắt, không khóc thương được một lời. Mày là con người hay thú vật chứ? Giới hạn kiềm chế của cô con dâu quá quắt này cũng bị phá vỡ, cô ta trả treo ngay: - Khóc thương chi cho mệt với con người một dạ hai lòng, suốt đời chỉ chạy theo bóng sắc đó! - Mày miệt thị ai đó, con kia? - Thì ai hai lòng hai dạ ắt biết. Ai đã yêu người ngoài phụ rẫy vợ con chắc má biết hơn tôi mà! Giọng mỉa mai của cô ta đã nhận ngay một cái tát của bà Phủ Oai. Và đó là giọt nước làm tràn ly, Lan Hương tru tréo to lên: - Bớ người ta, vô đây coi nhà Phủ Oai ức hiếp nguời đây. Cái quân một dạ hai lòng, đồ ham đó bỏ đăng. Hỏi cả làng này coi, ai mà không biết ngày xưa Phủ Oai phụ con gái người ta đi chạy theo bóng sắc khác, đến nỗi người yêu phải nhảy sông tự tử. Ngày nay rau nào sâu ấy, thằng Ba Tình cũng tốt đẹp gì đâu, hết tò tí với người ăn kẻ ở trong nhà, rồi nay lại bắt ép gái tơ, đốt nhà cướp của thiên hạ, đến nỗi chết thê thảm vì gái, vậy mà còn bắt tôi phải khóc thương nữa sao! Những lời cay độc phát ra từ cửa miệng của ả đã làm xé lòng bà Phủ, một con người lâu nay chỉ biết có hò hét và cay độc với thiên hạ. Bà còn chưa kịp phản ứng thì ông Phủ Oai đã xuất hiện, ông trừng mắt nhìn cô con dâu: - Mày ăn nói bậy bạ vậy hả con vô sinh đản hậu kia! Cơn giận của ông đã lên đến cực điểm chỉ vì vừa rồi Lan Hương đã dám khơi lại chuyện riêng tư mà từ mấy chục năm rồi không một ai dám nhắc, kể cả bà Phủ. Thuận tay ông nắm áo đẩy mạnh con dâu ra khỏi nhà: - Mày cút đi cho khuất mắt tao! Cũng chỉ vì mày 5 – 7 năm nay không sinh con nên thằng chồng mày mới đi tìm người để có cái mà nối dõi nhà này. Mày hiểu chưa! Lan Hương giờ chẳng còn kiêng nể gì nữa, cô ta gào lên: - Bớ người ta! Phủ Oai cưỡng hiếp con dâu đây nè! Ả vừa nói vừa tự tay cởi phăng chiếc áo lụa đang mặc ra, để lộ nửa thân trên lồ lộ. Miệng thì tiếp tục tru tréo. Không ngờ cô ả phản ứng quá dữ như vậy nên ông Phủ Oai hậm hực bỏ đi, vừa ra lệnh cho đám tôi tớ khác: - Con này nó điên rồi, tụi bây đẩy nó vô nhà kho phía sau nhốt và khóa kín cửa lại! Đám gia nhân chưa kịp ra tay thì chợt Lan Hương đã vỗ vào bụng như muốn đập vỡ nó ra: - Tao sẽ giết cái bào thai trong bụng này cho tụi bây tuyệt tự luôn! Chỉ một câu nói đó thôi đã làm thay đổi tất cả. Ông Phủ Oai sựng lại. Còn bà Phủ thì há hốc, kêu lên: - Vợ thằng Ba, đừng! Bà quên cả thân phận, lao tới ôm ngang người cô con dâu để ngăn không cho cô ta làm liều. Còn Lan Hương thì chẳng biết vô tình hay cố ý, lại tiếp tục đánh đấm vào bụng. Nhưng lần này thay vì vỗ bụng mình, tất cả những cú đập, đánh đều trúng vào mặt bà Phủ! Thấy nguy, ông Phủ Oai phải la lên: - Tụi bây sao không tới tiếp bà! Lấy áo mặc vô cho vợ thằng Tình rồi đưa nó vô phòng. Khi mọi người can ra được thì bà Phủ đã mềm nhũn. Vậy mà bà vẫn cố nói: - Giữ tay nó lại... đừng cho đụng tới cái thai... Vợ Ba Tình có lẽ cũng đã ráng quá sức, nên cô ta chỉ còn thều thào những gì trong miệng nghe không rõ lúc đám gia nhân kè hai bên đưa vào phòng trong. Phần V OAN HỒN ÚT LIỄU Thấm thoát mà đã hơn bảy tháng từ ngày Ba Tình mất… Cũng bằng quãng thời gian ấy mọi việc trong nhà ông Phủ Oai có quá nhiều thay đổi. Ông Phủ thì như con người yếu thế, trốn tránh sự đời, suốt ngày cứ nằm trên ghế dựa gần cửa sổ trong phòng riêng để đọc sách. Nhiều khi không đọc gì hết nhưng ông cũng thờ người ra, mắt nhìn lên trần nhà và lặng lẽ thở dài... Bà Phủ thì cứ sáng nức mắt ra đã đi đậu chiến. Khi nào về nhà thì lấp ló ở cửa phòng của con dâu, rón rén tới lui cứ như tớ gái sợ bị chủ mắng. Nhất là khi cái bụng của cô con dâu càng lớn thì sự e dè, sợ sệt lại càng tăng. Bà thường dặn đám gia nhân khác: - Tụi bây không được làm kinh động mợ Ba, để cho nó nghỉ ngơi, nó gần ngày sinh nở rồi... Thì ra chỉ bởi cái bào thai đứa cháu đích tôn trong bụng Lan Hương nên cô ả từ một người đáng khinh, kẻ chầu na, đã trở thành nhân vật quan trọng, người được cưng chiều nhất nhà. Hễ mở miệng ra là bà Phủ hỏi: - Con muốn ăn gì để má bảo tụi nó mua? - Con đi nhè nhẹ kẻo động cái thai. - Kìa… kìa, đừng ăn thứ đó, đẻ con đầu có nhiều cứt trâu…v.v… và v.v…. Mà hầu như lần nào đáp lại thái độ cưng chiều, ân cần của bà, Lan Hương chỉ hững hờ, im lặng. Hoặc quá lắm thì lại gắt lên: - Biết rồi, nói hoài. Mấy bà già sao dai như đỉa đói! Trước kia thì với kiểu ăn nói đó bà đã nổi tam bành. Vậy mà giờ bà chỉ lặng im rồi thở dài. Bà cố chịu đựng… Ngoài ra, chính bà Phủ còn đi rước về ba bà mụ giỏi nhất, nuôi ăn ở sẵn trong nhà. Có người hỏi cần chi tới ba bà mụ, thì bà Phủ đáp: - Nhiều càng tốt chứ sao. Nếu còn mụ nào giỏi nữa tôi sẽ mời thêm về đây. Họ sẽ lo chu toàn cho cháu nội tôi. Bà còn dặn thật kỹ từng bà mụ: - Nhớ hễ nó bắt đầu đau bụng thì cả ba bà đều phải có mặt. Hễ là con trai thì hô lên liền cho tôi hay nghe chưa. Còn một tuần nữa đủ 9 tháng 10 ngày. Trong lúc bà Phủ nôn nao, sốt ruột thì trái lại vợ Ba Tình tỉnh queo như không. Cô ta còn bảo mấy đứa hầu: - Tụi bây đi mua sò huyết về tao ăn một bữa coi. Bà Phủ nghe vậy liền can: - Không nên đâu con. Gần ngày sinh không nên ăn thứ đồ biển độc địa đó. Nhưng Lan Hương trề môi: - Hơi sức đâu cử kiêng theo mấy bà già trầu, mệt quá! Cô ta một hai hét bảo lũ người hầu đi mua ngay. Và sau đó ngồi nướng hơn ba ký sò huyết ăn một cách ngon lành. Bữa ăn vừa xong thì cô ta kêu đau bụng làm cả nhà nháo nhào lên. Bà Phủ Oai quýnh quánh hối ba bà mụ: - Mấy bà lo ngay đi, nó đau bụng sinh đó! Trong lúc mấy bà mụ chạy quýnh chân thì Lan Hương điềm nhiên nằm trên giường miệng nói linh tinh: - Đẻ thì đẻ phức đi cho rồi, mệt quá! Bà Phủ không để ý tới kiểu nói năng trịch thượng đó, chỉ nghĩ đến phút giây đứa cháu nội đích tôn ra đời. Bà hỏi một bà mụ: - Cái bụng của nó như vậy chắc là con trai chị hả? Bà mụ Tư gật đầu: - Gần như chắc chắn là một cậu hai bụ bẫm! Nhưng Lan Hương thì trề môi: - Con trai làm gì cho giống cái thứ ấy! Hễ bà Phủ nói ra câu nào là ả ta lại tìm cách cạnh khóe, hỗn hào như vậy. Cũng may là cơn đau bụng dữ dội sau đó khiến cô ả chỉ còn cắn môi, trân mình và oằn oại. Cơn đau có vẻ bất thường khiến mồ hôi của cô ả thoát ra thấm ướt mấy lớp áo. Bà mụ Tứ cầm khăn lau trán cho cô ta và hơi ngạc nhiên khi phát hiện mùi mồ hôi rất lạ. Nó hôi tanh khác thường. Mấy người kia cũng nhận thấy thế nhưng không dám nói, chỉ có bà Phủ là lẩm bẩm: - Giống như mùi chuột chết! Cơn đau bụng của Lan Hương kéo dài suốt cả đêm. Cô ả lăn lộn, kêu la đã kiệt sức mà vẫn chưa có dấu hiệu sinh. Bà mụ Thắm, là người có tuổi và giàu kinh nhiệm nhất trong số mụ có mặt đã phải lên tiếng: - Kiểu này chắc bà Phủ phải đích thân ra giữa trời khấn vái đất trời và mười hai bà mẹ sinh cho mợ Ba. Nghe vậy bà Phủ đã chạy đi lo nhang đèn, bàn vong thiên và tiến hành ngay lễ cúng. Trời lặng gió, nhưng chẳng hiểu sao mấy ngọn đèn cầy đốt lên là vụt tắt ngay! Quýnh quá bà hét đám gia nhân lấy ra cây đèn dầu có ống khói cao. Vẫn y như vậy, cứ cháy bùng lên rồi thì tắc ngay như có ai thổi! Không còn kiên nhẫn được nữa, cứ để thầm như thế bà Phủ chấp tay khấn... nhưng thật bất ngờ, câu khấn của bà chưa dứt thì chợt bát nhang tự dưng cháy phừng phừng, ngọn lửa bốc cao. Suýt chạm vào mặt bà! - Trời ơi! Bà vừa lùi ra sau thì “rầm'' một cái, chiếc bàn vọng thiên như bị ai đó hất tung lên văng tung tóe những thứ để trên. Lửa từ bát nhang lan ra cách nhà kho, lửa bắt vào vách ván biến thành một cơn hỏa hoạn thật sự. Cũng may lúc ấy đám gia nhân có mặt kịp thời, họ dập tắt được ngọn lửa. Vừa lúc ấy chợt có tiếng la to từ trong phòng sinh. Tiếng của cả ba bà mụ. Mọi gia nhân đều bị cấm không cho vào nên dù đang rất sợ, sau vụ lửa cháy vừa rồi, bà Phủ cũng tất tả chạy vô. Vừa tới cửa phòng bà đã nhìn thấy bà mụ Tư mặt xanh như tàu lá, mồm lắp bắp: - Mợ... mợ Ba sinh... sinh... Bà ta chỉ nói được mấy tiếng đó rồi vụt chạy ra ngoài mất dạng. Bà mụ Thắm chặn ngay cửa không để bà Phủ vào: - Bà đừng vô phòng ấy, ghê lắm? Bà Phủ không thể không vào, nên vẹt mụ Thắm ra, bà chạy thẳng tới bên giường nhìn vào chỗ vợ Ba Tình. - Á á á! Mắt bà Phủ mờ đi, nhưng những gì vừa nhìn thấy quả là không thể nào tin được! Gọi nó là cái gì nếu không là một thứ yêu ma, quỷ quái? Trên giường, nằm ngay dưới hai chân của vợ Ba Tình là một hình hài quái dị: Đứa bé sơ sinh không tay, không chân, có đầu có mặt, nhưng trên khuôn mặt tròn trịa chỉ có hai hố sâu chỗ thường khi là đôi mắt, còn thì không mũi, không miệng. Bà Phủ đã quá sợ nên ngất ngay dưới chân giường. Còn lại hai người, bà mụ Thắm bảo mụ Năm: - Chúng ta liệu mà về đi, chứ còn ở đây làm sao được. Họ định im lặng bước ra khỏi phòng, nhưng chưa đi được mấy bước thì bà mụ Năm đã bị vật gì đó ném mạnh vào bụng. Nhìn lại và bà thét lên một tiếng kinh hoàng: - A á á! Cha mẹ ơi! Vật vừa rơi đúng bụng bà chính là cái quái thai kia. Chẳng ai ném mà nó tự nhảy! Theo bản năng tự nhiên,dù sợ nhưng bà mụ Năm đã đưa hai tay lên đỡ và cái quái thai đã nằm gọn trong đó. Bằng động tác hoảng loạn, bà nắm nó ra xa, nhưng như đã bị dán chặt, hai tay bà không cách nào rứt ra được. Bà mụ Thắm tính chạy một mình, nhưng khi bà dợm đi thì nghe quỵt một tiếng, quái vật kia đã nằm gọn trên vai bà! Nó không có tay chân, nhưng bà mụ có cảm giác cổ mình như bị xiết mạnh, càng lúc càng khó thở... Lúc vừa nghe tin báo, ông Phủ Oai đã chạy ngay sang. Tới nơi ông nhìn thấy vợ mình và hai bà mụ đang nằm bất tỉnh ngoài phòng. Còn cửa phòng thì đóng kín im ỉm. Giục mọi người đưa ba bà đi cứu chữa, còn ông Phủ thì gõ vào cửa kêu lớn: - Vợ thằng ba sao rồi? Chẳng có tiếng đáp. Gọi đến hơn ba lần vẫn im như tờ. Sốt ruột quá ông Phủ bảo một đứa tớ gái: - Bây gọi cửa coi mợ Ba sao rồi. Con nhỏ thường ngày vẫn hầu hạ vợ Ba Tình vội lên tiếng, nhưng cũng chỉ nhận được sự im lặng... Mãi đến trưa hôm đó, lúc bà Phủ đã tỉnh lại thì mọi việc mới rõ. Bà nói: - Con vợ thằng Tình sau khi sinh đã ngất xỉu ngay, giờ chắc là còn hôn mê trong đó. Ông Phủ tức tốc cho người phá cửa, nhưng nhát búa đầu tiên chưa đập thì cửa phòng bật mở. Lan Hương đang bế trên tay đứa bé được bọc kín trong chiếc khăn lớn. Cô ta trố mắt nhìn mọi người: - Mấy người làm gì ồn ào ậy? Bà Phủ còn sợ nên không dám hỏi, ông Phủ phải lên tiếng: - Hồi nãy nghe nói con bị ngất. Vậy có sao không? Lan Hương đóng sầm cửa lại vừa nói: - Từ giờ đừng ai làm phiền tôi nữa! Trước thái độ kỳ dị của cô ta, ông Phủ đành ngao ngán lắc đầu rồi quay bước đi về phòng. Riêng bà Phủ thì nét sợ hãi vẫn còn trên mặt, bà run giọng hỏi bà mụ Thắm: - Bà nhớ chuyện gì hồi đêm không! Cả hai bà mụ vẫn chưa hoàn hồn: - Chuyện đó... Bà Phủ kéo cả hai về phòng riêng của mình, nhét vào tay họ một số tiền lớn vừa dặn: - Đây là tai nạn của nhà tôi, xin hai bà làm ơn giữ kín giùm chớ kể cho ai nghe... Bà mụ Thắm mau miệng: - Chẳng những không kể với ai mà từ nay tụi tôi cũng bỏ luôn nghề làm mụ này. Xin thề có sự chứng giám của mười hai bà mẹ sinh... Họ cầm tiền và rời ngay nơi mà họ đã có một lần sợ nhớ đời... Đợi đã suốt một ngày một đêm, đến lúc này bà Phủ không còn kiên nhẫn được nữa, bà bảo mấy gia nhân đứng bên cạnh: - Tụi bây không phải đợi nữa, tông cửa vào đi! Cánh cửa được mở ra không khó, nhưng khi nhìn vào bà Phủ Oai đã vô cùng kinh ngạc, bởi người nằm trên giường lúc ấy không phải là vợ Ba Tình, mà là... Út Liễu! Cô gái nằm im như đang ngủ say. Trong số người có mặt chỉ có bà Phủ là rành Út Liễu và chính bà đã chứng kiến cảnh cô cùng nằm chết với Ba Tình khi rơi từ lầu cao xuống, nên bà rất đỗi ngạc nhiên kêu lên: - Con này, chẳng lẽ... Chợt nhớ đến mẹ con vợ Ba Tình bà cho người lùng xục khắp phòng. Chẳng có ai khác. Một gia nhân hỏi: - Từ hôm qua khi mợ Ba khóa cửa phòng lại thì con và mấy người nữa canh suốt ở đây, đâu có thấy mợ Ba đi ra. Mà cũng đâu thấy ai vào, vậy sao cô này... Câu nói của hắn chưa đứt thì người nằm trên giường bật ngồi dậy. - Út… Út Liễu! Bà suýt ngã té phía sau khi phải lùi đến mấy bước. Trước mặt bà là một Út Liễu mặt lạnh như băng, da tái xanh nhưng đôi mắt thì long lên rất đáng sợ. Út Liễu bước xuống giường và tiến về phía bà Phủ. Mấy tên gia nhân đưa tay ngăn lại, một tên la lên: - Con nhỏ này làm gì vậy? Hắn chưa dứt câu thì chợt ớ người ra, lảo đảo mấy vòng rồi té ngửa xuống đất. Mọi người nhìn thấy máu từ trong miệng hắn trào ra. Hoảng quá, những người còn lại ù té chạy bay ra khỏi phòng. Phần bà Phủ, chứng kiến cảnh vừa rồi làm bà run bắn như cầy, miệng bà vừa ú ớ vừa lết ra khỏi phòng. Nhưng chỉ được vài bước, tự dưng cả thân thể bà bị nhấc bổng lên và bị ném mạnh lên giường. Bà Phủ có cảm giác như vừa rơi vào một vũng sình lầy nhầy nhụa, lại có mùi tanh tưởi khó chịu... nhìn sang bên, bỗng bà tá hỏa khi nhận ra chỗ mình nằm là một vũng máu tươi! Nhớ lại cảnh vợ Ba Tình nằm cùng cái quái thai cũng chính trên giường này, bà Phủ càng sợ thêm. Trước mắt bà tối sầm lại và bà đã ngất đi... Bà Phủ ngã bệnh nằm liệt giường suốt tháng trời. Cũng quãng thời gian đó, ông Phủ bỗng như người mất hồn. Mỗi đêm hễ nhắm mắt lại là ông bị ác mộng. Tuổi lớn, lại bị căng thẳng như thế, nên chỉ một thời gian sau trông ông già đi cả chục tuổi. Một hôm ông bảo Ba Lộc, là người tớ trung thành, đã theo ở với ông 20 năm: - Mày chèo ghe đưa tao đi chùa bên cù lao rồi ở bên đó chơi tới chiều. Ba Lộc đi chuẩn bị ghe. Tuy nhiên khi sắp tới giờ đi thì bỗng anh ta ôm bụng kêu đau rồi lăn lộn như sắp chết. Hoảng quá người nhà đưa Lộc lên bờ đánh gió, cho uống thuốc. Tuy nhiên bệnh tình anh ta mỗi lúc mỗi nặng thêm. Cuộc đi lễ chùa của Phủ Oai, không vì thế mà hoãn lại ông bảo tìm người khác chèo ghe. Lát sau khi ông xuống bến thì đã thấy có người đứng sẵn ở lái ghe. Người thay Ba Lộc là một phụ nữ, khi được hỏi thì trả lời mà không giở chiếc nón lá đội sụp ngang tầm mắt: - Dạ, tôi là em bà con với anh Lộc, tôi chèo ghe giỏi, lại rành đường bên cù lao, nên anh Ba nhờ tôi đưa ông đi. Hồi nào đến giờ chưa từng nghe đến người này, nhưng nghe nói thế Phủ Oai cũng không hỏi thêm. Ông rút vô mui ghe nằm đọc sách. Chiếc ghe lướt sóng vượt qua sông lớn nhắm hướng cù lao, nơi có ngôi chùa nổi tiếng nhiều tín đồ. Đường từ nhà sang đó phải vượt sông lớn, nhưng chỉ đi hơn nửa giờ là tới, nhưng đã khá lâu, ông Phủ đã đọc gần nửa cuốn Tam Quốc chứ mà ghe vẫn còn bồng bềnh trên sông. Ông hỏi vọng ra: - Sao lâu tới vậy? Không có tiếng đáp. Phủ Oai hơi hoài nghi nên vén màn hông ghe nhìn ra. Ông khá ngạc nhiên khi thấy ghe đang băng ngược lại với hướng đến cù lao. - Đi đường nào vậy... Bấy giờ người chèo ghe mới lên tiếng: - Đi tới chỗ người đang chờ gặp ông. Linh tính có điều không lành, ông Phủ nói to: - Tao cần tới chùa ngay, không đi chỗ nào khác! Nhưng người chèo ghe vẫn cứ nhắm hướng đang đi, chèo mạnh hơn. Phủ Oai nổi máu hung hăng thường ngày, định bật dậy cho đứa chèo ghe bướng bỉnh một trận. Có muốn nhúc nhích còn không được chứ đừng nói là bước đi. - Con nhỏ kia, mày làm gì vậy. Chỉ có gió thổi ào ào đáp lời ông. Và chiếc ghe như lướt nhanh hơn, phút chốc đã qua tới bờ bên kia. Đây là vùng đất thuộc bãi bồi không có nhà cửa, xưa nay vẫn được dùng để chôn xác những người chết vô thừa nhận hay dân nghèo chết không có đất chôn. Chiếc ghe ghé vào một bờ đất. Cô gái chèo ghe vẫn đứng yên ở lái, nhưng chẳng hiểu sao sợi dây cột ghe đã như có ai đó ném lên bờ và tự cột vào một gốc cây. Bấy giờ cô gái chèo ghe mới lên tiếng: - Lên bờ đi ông Phủ! Sau câu nói, tự dưng ông Phủ cảm thấy như chân được cởi trói và như được ai đó đẩy tới ông bước khá nhanh về phía mũi ghe. - Lên! Tiếng hô của ai đó như có một sức mạnh phi thường, làm cho Phủ Oai tung người lên và nhảy lên bờ một cách nhẹ nhàng như chiếc lá rơi! Còn đang ngơ ngác chưa biết chuyện gì xảy ra, bỗng cô gái chèo ghe lên tiếng, giọng sắc lạnh: - Gặp người quen sao không chào vậy, ông Phủ Oai! Có cảm giác như ai đó đang đứng rất sát mình, ôngPhủ quay vội ra sau và trợn tròn đôi mắt: - Là... là... là... Ông ta chỉ nói được mấy tiếng như vậy rồi chết điếng đứng nhìn người phụ nữ đã đứng phía sau ông từ lúc nào rồi... Cô gái dưới ghe lại lên tiếng: - Mới có vài chục năm mà đã quên rồi sao? Ông Phủ Oai không quên! Chỉ vì quá bất ngờ, quá sửng sốt... mãi một lát sau ông mới kêu lên khẽ: - Chín... Chín Hoa! Người tình thuở thiếu thời của ông đang đứng đó. Vẫn như xưa, chỉ có khác chăng là thay vì miệng nhoẻn cười tươi mỗi lần gặp ông, nay lạnh lùng, im lặng. Bằng một động tác không kiềm chế được, Phủ Oai đưa tay định chụp bàn tay người đối diện. Nhưng cú chụp như vào chỗ hư không và còn làm cho ông ta lảo đảo suýt té. Định thần lại, ông ta thấy Chín Hoa vẫn đứng yên trước mặt mình, nhưng từ trong đôi mắt của cô có một dòng lệ đang tuôn ra và đỏ như máu! Thần hồn hoàn toàn bị khuất phục trước người con gái đã vì mình mà oan uổng cả một đời, Phủ Oai vội quỳ xuống trước mặt cô, giọng rất chân tình: - Tin hay không là tùy em, nhưng lòng của anh lúc nào cũng hối hận ray rức và luôn cầu mong em hãy tha thứ, hãy để cho anh chuộc lại lỗi lầm Chín Hoa, em đừng... Một lần nữa không có ý định chồm tới thì bị đẩy mạnh bởi một sức mạnh vô hình làm cho thân thể nặng trên 70 ký của Phủ Oai bật ra khá xa, rơi gần một bụi rặm. Còn chưa kịp hoàn hồn, ông Phủ đã sửng sốt khi thấy từ trong bụi bước ra một người phụ nữ khác, trên tay bế một đứa trẻ con. - Vợ thằng Ba Tình! - Phải, đó là Lan Hương, vợ Ba Tình, cô con dâu của ông. Phủ Oai còn chưa hết sửng sốt thì từ dưới ghe cô gái cầm chèo lại lên tiếng: - Cháu nội đích tôn đó, sao không nhận đi! Lan Hương cúi xuống, trao qua tay ông Phủ đứa bé cô ả đang bế trên người. Đứa bé khóc òa lên phá tan bầu không khí đang yên tĩnh khác thường nơi đó. Chưa biết phải làm sao, chợt nhìn thấy đứa nhỏ trên tay, ông kêu lên: - Con thằng Ba Tình! Thằng nhỏ chỉ mới hơn một tuần tuổi nhưng gương mặt lanh lợi, sắc sảo và đặc biệt là giống Ba Tình như hai giọt nước! Dù hôm trước chưa tận mắt nhìn thấy cảnh vợ Ba Tình sinh ra quái thai, nhưng cũng đã nghe vợ thuật lại. Giờ đây nhìn thằng bé này, không khỏi hoang mang... Nhưng còn nghi ngờ gì nữa đứa bé nó giống Ba Tình, có nghĩa là giống chính khuôn mặt ông mà bất cứ kẻ xa lạ nào cũng nhận thấy ngay. - Trả cho con ông! Vợ Ba Tình giờ mới lên tiếng và vụt quay đi và biến mất cùng với Chín Hoa. Phía trước là một nghĩa địa hoang vắng. Nơi đó đúng là một bãi tha ma với những nấm mồ vô chủ không có lấy một tấm mộ bia... Đứa bé lại khóc to, ông Phủ đành phải lắc tay mấy cái để dỗ và lạ thay nó lại nín và còn đưa mắt nhìn ông mỉm cười ngây thơ. - Về đi! Cô gái chèo ghe lại ra lệnh. Lần này Phủ Oai ngoan ngoãn nghe theo. Ông bước lại đại qua bãi bùn nhưng không thấy lún mà cảm giác như đi trên chỗ bằng phẳng. Không đợi ông ngồi xuống sàn, cô gái đã đẩy mạnh ghe ra giữa dòng. Chiếc ghe chồng chềnh, nhưng ông Phủ không té. Ra đến ngoài rồi bỗng nhiên cô gái đưa tay giở chiếc nón lá che lụp xụp trên đầu ra. - Út Liễu! Phủ Oai định lùi lại, nhưng Út Liễu đã lên tiếng cảnh giác: - Ông nhúc nhích là té làm chết thằng cháu nội đó! - Út… cô Út, té ra cô... cô không chết? Khi nhìn kỹ lại ông Phủ lại sợ hãi, bởi trong hai hố mắt của Út Liễu đang chảy ra những giọt máu tươi, giống như của Chín Hoa lúc nãy? - … Con... đừng hại... Út Liễu phá lên cười, âm thanh vang vọng cả một khoảng sông: - Nếu muốn hại ông thì làm sao ông còn sống tới phút này và còn được ôm cháu nội trong lòng nữa. Thương ông vì ông không đến nỗi ác như bọn kia, nên cho ông về. Hãy lo mà sống cho phải lẽ, hợp đạo lý ở đời. Hãy sám hối những gì mình đã làm và hãy trả lại hết những gì không thật là của mình. Út đội lại nón và lúc đó có một cơn gió lớn thổi tới, chiếc ghe lắc lư mạnh và thoắt cái, cái bóng của cô gái như một mũi tên vút lên cao, theo gió mất dạng. Ông Phủ Oai nhớ lờ mờ là lúc đó ông khụy xuống sàn thuyền một cách nhẹ nhàng, rồi hoàn toàn mất ý thức... Chẳng biết bao lâu sau, khi chợt tỉnh lại, ông Phủ ngạc nhiên khi thấy chiếc ghe của mình đang đậu tại bến nhà. Đám gia nhân chạy tuôn ra vừa mừng vừa ngạc nhiên kêu lên: - Ông Phủ còn sống! Bà Phủ có mặt kịp thời với sự ngơ ngác: - Ủa, té ra... Rồi bà cũng nói thật: - Mới cách đây hơn một giờ có ai đó đứng ở bến này gọi lên nói là hãy qua bên cù lao mà đem xác ông về! Tôi đang lo lắng nhưng vì sóng lớn quá nên đang chờ cho sông êm êm một chút mới đi tìm ông. Không ngờ... Ông Phủ dụi mắt như vừa qua một giấc ngủ say, đầu óc ông lờ mờ nhớ lại chuyện vừa xảy ra. Từ Chín Hoa đến Út Liễu và... Chợt nhớ lại đứa bé, ông quay sang nhìn. Thằng bé vẫn còn đó, nó đang ngủ say như chẳng có việc gì xảy ra... Bà Phủ đã nhìn thấy thằng bé, vừa ngạc nhiên vừa nghe nóng mặt: - Con ai... mà giống như là... Ông Phủ ôm đứa nhỏ vào lòng, bước lên bờ và trao qua tay bà: - Con thằng Ba Tình đó, bà lo mà chăm sóc cho nó. Đã từng chứng kiến từ phút đầu cơn ác mộng hôm qua nên bà Phủ tru tréo lên ngay: - Ông đừng hòng qua mặt tôi. Bộ ông tưởng tôi không nhìn thấy con thằng Ba hồi hôm kia sao chứ! Nó là con ai? Bà nhìn thằng bé rồi lại nhìn chồng: - Ông còn gì nữa để giải thích hả? Coi cái mặt thằng nhỏ với mặt ông kia, có phải một khuôn đúc ra không! Đang mệt lại bị hạch hỏi lung tung, ông Phủ giành lấy đứa bé: - Bà không lo thì để tôi lo! Ông ẵm cháu đi thẳng vào nhà, mặc sức cho bà vợ tru tréo phía sau. Phần VI BÁO ỨNG 18 năm sau... Vợ chồng ông Phủ Oai chết chỉ cách nhau chưa đầy một tháng. Bà Phủ chết khi đang ngồi đánh tứ sắc với 3 người bạn. Vừa đặt những lá bài xanh xuống chiếu thì bà gục luôn. Bà chết thật êm, mặc dù trước đó suốt nhiều tháng bà đã mắc chứng mất ngủ triền miên. Ông Phủ Oai thì suốt 3-4 năm trời ông sống trong nổi cô đơn và ẩn dật. Ông chết khi đang ngồi trước nhà mình vào lúc nửa đêm. Khi người ta phát hiện thì thi thể ông đã cứng đờ. Lúc đem xác ông đi liệm thì người ta mới phát hiện trong tay ông đang giữ một tờ di chúc đã lập, có chữ ký rất rõ ràng. Bất ngờ nhất là nội dung bản di chúc ghi những điều mà chẳng ai ngờ tới: Toàn bộ tài sản dành cho một người con gái tên là Lê Thị Liễu tự là Út Liễu! Có người hiểu chuyện đã thắc mắc: - Hơn 18 năm trước cô Út Liễu đã chết và nghe đồn đã biến thành ma, vậy lấy đâu ra Út Liễu để hưởng tài sản? Trong lúc đó đám tang ông Phủ đang diễn ra thì có một cô gái khoảng 18 - 19 tuổi xuất hiện. Cô đi một mình và chẳng quen biết một ai, nhưng khi cô bước đến trước một quan tài thì ai cũng ồ lên ngạc nhiên: - Út Liễu! Đó là những người từng biết mặt Út Liễu con của vợ chồng Tám Hạo trước kia. Họ nhìn không chớp mắt cô gái trẻ như không tin vào mắt mình. Cô này giống Út Liễu ngày xưa như hai giọt nước. Có người đánh bạo lên tiếng hỏi: - Cô là Út Liễu? Cô gái gật đầu: - Tôi đúng là Út Liễu. - Con của Tám Hạo? Cô gái lắc đầu: - Không phải, tôi con của... Út Liễu! Chẳng ai hiểu cô ta muốn nói gì. Chợt khi đó có một cụ già râu tóc bạc phơ từ ngoài bước vào, lên tiếng: - Nó là cháu ngoại tôi. Nhìn kỹ thì đúng là Tám Hạo. Ông quay sang cô gái: - Nó là con của Út Liễu, và mặc dù là con một, nhưng để nhớ má nên tôi đặt cùng tên là Út Liễu. Đốt một nén nhang, ông bảo cô gái: - Dẫu sao thì đây cũng là người đã sinh ra Ba Tình, mà Ba Tình lại là cha của con, vậy nghĩa tử là nghĩa tận, con hãy đốt nhang và lạy ông Phủ ba lạy cho phải lễ. Cô gái tên Út Liễu làm theo lời một cách khá cung kính. Xong cô tiếp nhận chiếc phong bì có chứa bản di chúc để trên nắp quan tài. Cụ Tám Hạo bảo cô: - Con hãy theo đúng những gì ông đã dặn. Út Liễu dạ một tiếng và rút ngay bản di chúc ra đọc lớn cho mọi người nghe, xong bảo một cách nghiêm túc: - Đây là tài sản mà tôi không mong đợi nhưng lại được. Mà tôi lại không cần đến nhiều tiền như vậy, cho nên hôm nay đây trước mặt mọi người ở đây, tức những người đã từng bao năm làm tôi tớ trong nhà này, tôi tuyên bố sẽ chia đều số tài sản cho từng người một. Ai cũng có phần, không phân biệt già trẻ, bé, lớn. Những tiếng hoan hô vang dậy của ngôi nhà lớn, nơi mà lâu nay đám gia nhân này không ai dám hó hé nửa lời. Chỉ trừ một người. Người đó vừa từ ghe bước lên tiếng ngay: - Tôi là cháu nội đích tôn của nhà này, vậy thì ai có quyền hưởng di chúc? Một gia nhân nói nhỏ với người bên cạnh: - Mười tám năm trước chính ông Phủ ẵm thằng này về nói là con của Ba Tình với Lan Hương. Nó giống Ba Tình từ vóc dáng cho tới tính tình. Lớn lên nó phá tiền ông bà Phủ không biết bao nhiêu mà kể, chính hiệu là một phá gia chi tử! Một người khác nói: - Hắn gần đây bỏ nhà đi hoang, ông Phủ Oai chịu hết nổi nên tuyên bố từ hắn ta, không cho hưởng bất cứ tài sản nào của ông. Tưởng hắn đi luôn, ai ngờ giờ lại trở về. Bà Vú nuôi thêm vào: - Thằng này chính là oan gia của ông bà Phủ, chỉ vì nó quá giống Ba Tình nên được nuôi nấng và cưng chiều. Nhưng ngay từ khi mới 5 tuổi đã mất dạy, hỗn hào, chỉ biết chơi hoang chẳng màng đến học hành. Có lần, khi đó nó được 10 tuổi, theo bà Phủ đi lễ chùa, có một bà già đứng nhìn nó thoáng chốc rồi nói với bà Phủ: “Thằng này đâu phải là người, nó là ma đầu thai đó! Nó vốn là một quái thai, được cải thành người để trả thù. Nó không hề có linh hồn một con người”. Bà ta nói xong thì biến mất. Bà Phủ sợ hãi nhìn sang cháu đích tôn, nhưng thằng bé Hai Thiện chẳng biểu lộ chút gì là quan tâm đến lời của bà lão lúc nãy. Khi đến trước chùa, nó bảo bà nội: “Bà vô đi, tôi không hợp với nhang khói và tượng phật. Và đó không phải là lần đầu tiên nó không vào những nơi chốn tôn nghiêm. Biết vậy nên từ đó bà Phủ cũng không ép dẫn nó đi chùa chiền hay lễ cúng gì cả... Về nhà bà đem chuyện bà lão nói kể cho ông Phủ nghe, ông cũng hơi lo, nên nói: “Lúc được con Lan Hương trao đứa nhỏ tôi cũng nghi nghi, nhưng vì hôm đó đang hoang mang nên tôi không làm sao từ chối. Lúc nó vừa 15 tuổi đã đòi cưới vợ. Bị ông bà Phủ phản đối nó làm ầm ĩ lên rồi đe dọa: “Nếu không cưới ngay cho tôi con vợ thì tôi sẽ bán tài sản nhà này cho coi!”. Từ đó Hai Thiện trổ thói trăng hoa còn hơn cả Ba Tình thời trẻ. Đã có trên chục cô gái ngây thơ, nhẹ dạ trong làng bị hại trinh tiết dưới bàn tay của con yêu râu xanh này... Bà vú em ngừng kể, bởi lúc đó bỗng dưng Hai Thiện đưa mắt nhìn bà một cách hằn hộc. Rồi hắn tiến về phía bà hất hàm bảo: - Bà có nhớ hồi tôi 16 tuổi, tôi đã nói gì với bà không? Bà vú hơi chột dạ, bởi hồi đó trong một cơn say hắn đã bảo rằng bà có ba đứa cháu gái vậy hãy liệu chuẩn bị ngày đưa họ tới nạp cho hắn, để hắn kêu bà bằng cô, bằng dì! Tưởng hắn say ăn nói bậy bạ rồi thôi, nào ngờ bây giờ hắn nhớ và nhắc lại. - Cậu Hai đừng nói vậy, các cháu tôi đã lấy chồng hết rồi. Bà vừa đáp vừa tìm cách lui ra khỏi đám đông, nhưng Hai Thiện vẫn nói với theo: - Bà ra ngoài bến đón cháu vô đây để tang ông cố! Lời hắn vừa dứt thì cũng là lúc cả ba đứa cháu của bà vú Tư xuất hiện. Trên tay họ đều bế theo con còn trong tháng! Vú Tư đứng lặng người, chết điếng. Trong lúc lần lượt ba đứa cháu bà đều bước vô lạy trước quan tài y như là con cháu thứ thật. Hai Thiện có vẻ đắc chí đứng nhìn họ. Sau đó hắn quay sang cô gái đang đứng cạnh Tám Hạo: - Con này mày tới đây để làm vợ bé tao phải không? Vậy thì... Hắn vừa định nắm tay cô ta thì đã bị ngay một cái tát nổ đom đóm. Giọng cô gái sắc lạnh: - Má tao sai lầm khi để mày lớn lên trong nhà này. Ngày ấy bà ấy chỉ nghĩ rằng sẽ dùng mày để phá cái nhà đầy tội ác này rồi sau đó sẽ bắt mày đem đi. Nhưng không ngờ mày nhờ vong hồn Ba Tình theo phò trợ nên đã thoát được sự kiểm soát của má tao và lộng hành càng dữ. Nhưng chạy trời không khỏi nắng đâu quân xấu xa kia! Cô nói xong vung tay thêm cái nữa, lập tức Hai Thiện khụy chân, quỳ gối ngay trước đầu quan tài. Hắn cố vùng vẫy đứng lên, nhưng dường như đã bị chôn chặt chân ở đó. Cô gái lạnh lùng bảo: - Hãy lạy người đã cưu mang và khốn khổ vì mày rồi quay ra lạy hết mọi người ở đây để tạ tội bấy lâu nay. Làm đi. Mệnh lệnh được Hai Thiện làm theo răm rắp trước sự ngạc nhiên của mọi người. Sau khi lạy xong bỗng hắn lăn ra sàn nhà nằm bất động. Cả ba cô cháu bà vú cùng lúc ôm con chạy bay ra bờ sông. Vú Tư chạy theo gọi lại: - Tụi bây nói tao nghe coi, tại sao vậy. Lần lượt từng cô đều thuật lại câu chuyện giống nhau: - Ngay trong đêm tân hôn bỗng chồng của cháu biến đâu mất thay vào đó là một người đàn ông lạ. Hắn ép tụi cháu thành thân mà không tài nào cưỡng lại được bởi hầu như tay chân miệng mồm cháu đã bị tê liệt. Tụi cháu để mặc cho hắn ta muốn làm gì thì làm... Một cô nói tiếp: - Sau đó thì hắn bỏ đi, chồng tụi cháu lại trở về. Vì quá xấu hổ nên tụi cháu không dám nói ra chuyện xấu xa kia... Rồi vài đêm hắn lại tới, cứ ẩn hiện y như là ma. Khi hắn vô phòng tụi cháu thì chồng tụi cháu cũng tự dưng đi đâu mất đến ngày hôm sau mới trở về! Cứ như thế đến lúc tụi cháu mang thai và sinh con... Cô thứ ba kể: - Mãi khi sinh con xong thì tụi cháu mới biết người đàn ông như ma như quỷ kia chính là cháu nội ông Phủ Oai! Hắn chẳng đến báo tin ông Phủ Oai chết, nhưng chẳng hiểu sao tự dưng cả ba chúng cháu đều như bị sự sai khiến vô hình nào đó, đã ôm con tới chỗ đám tang này và... Từ trong nhà bỗng có tiếng huyên náo khác thường, bà vú và ba cô cháu gái đều chạy vào. Trước mặt họ chiếc nắp quan tài đã bật ra, trước sự sợ hãi của mọi người. Xác của ông Phủ Oai vẫn nằm im, trong khi Hai Thiện thì đã động đậy. Anh ta cố đứng lên và thật bất ngờ, bỗng lao vào quan tài, nằm chồng lên xác của ông nội mình. - Kìa, kéo anh ta ra! Mọi người la lên và nhào tới định kéo Hai Thiện ra, nhưng khi tay họ vừa chạm đã phải bật ra vì tay của họ như vừa chạm vào một lò lửa! Chỉ có hai người là không hề tỏ vẻ ngạc nhiên gì cả. Đó là ông cháu của Tám Hạo. Cô cháu gái bảo ông: - Đã đến lúc kết thúc rồi đó. Họ quay bước ra ngoài với vẻ bình thản. Khi họ vừa ra tới sân thì trong nhà có ai đó la lên: - Cứu Hai Thiện ra đi! Cùng lúc đó thì chiếc nắp quan tài tự nhiên đóng sập lại, nhốt cả Hai Thiện trong đó. Vài người cố cạy nắp quan tài lên, nhưng dù có cố gắng đến mấy họ cũng không tài nào làm được. Tám Hạo nói vọng từ ngoài sân: - Đem chôn họ đi! Nói xong ông ra dấu cho cô cháu xuống ghe. Tuy nhiên, cô gái đã quay đi về một hướng khác, vừa nói: - Con cảm ơn ông về sự nuôi nấng từ bấy lâu nay. Nhưng số con chỉ tới đây thôi, con phải trở về nơi con sẽ gặp được mẹ. Ông ráng mà sống thêm ít năm nữa... Tám Hạo lặng người đi trước cuộc chia tay đột ngột mà ông không hề nghĩ tới. Mặc dù, từ lâu ông vẫn có linh tính một điều gì đó... Ông Tám nhớ rất rõ, cách đây hơn 16 năm, lúc ông đang nằm ngủ ở nhà thì chợt nghe tiếng gọi của Út Liễu, báo cho ông biết rằng cô đem về cho ông một đứa cháu ngoại, bảo ông tới một trại ruộng cách đó hơn 2 cây số sẽ nhận cháu đem về. Khi ông Tám Hạo tới đúng chỗ đó thì thấy một đứa bé mới sinh được úm trong một chiếc mền cũ. Đứa bé gái vừa mới vài tháng tuổi, bị bỏ nằm một mình cười, như đã nhận ra người thân. Ở dưới chỗ nằm của đứa bé có ghi mấy chữ: “Đặt tên nó là Út Liễu như tên con và ba cứ xem như con còn sống vậy...”. Khi lớn lên con bé tỏ ra ngoan hiền, hiếu thảo. Một tay nó đã lo cho ông ngoại đầy đủ nhờ vậy Tám Hạo đã sống thọ đến tuổi trên 80, mặc dù cuộc sống đạm bạc, thiếu thốn. Đến sáng đó, bỗng dưng cô cháu gái giục ông xuống ghe và nói: - Tới để chứng kiến ngày tàn của nhà Phủ Oai! Mọi việc hình như đã được dự liệu trước, nên khi đến nơi thì tuần tự đã xảy ra những điều mà cô gái đã nói trước với ông ngoại lúc ngồi dưới ghe. Chỉ duy có việc chia tay đến phút này cô mới nói... Đứng nhìn theo đứa cháu biến mất dần trong con đường làng, Tám Hạo chỉ nhẹ thở dài rồi chậm rải bước xuống ghe, chèo ra sông lớn. Gió nổi lên đột ngột làm chiếc ghe như bị sức kéo mạnh làm nó lướt đi thật nhanh. Ra đến quá nửa sông, bỗng ông Tám cảm giác chóng mặt, không gượng được đã ngã ngửa trên dàn ghe, hơi thở của ông nhẹ dần cho đến lúc tắt hẳn... Con người nhân hậu, suốt đời gian khổ này đã ra đi thật nhẹ nhàng, thanh thản... Chiếc ghe cứ trôi, trôi mãi theo con nước ra biển... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 22
Phần I - OAN HỒN NÀNG HẦU TRẺ ICÔ GÁI MỒ CÔ Cả Tổng Tân Phong Hạ không ai là không biết đến gia đình phú hộ Bành Ngũ. Con người có cái tên hơi lạ này có gốc Hoa kiều, nhưng đã sống nhiều đời ở đất ta, nên mọi người xem ông ta như một người địa phương. Phần nữa, bởi ông ta là một nghiệp chủ giàu nhất hạng ở vùng này, lại có đến ba đứa con trai làm quan cho nhà nước bảo hộ Pháp, trong đó có một người làm chức biện lý tòa án, quyền uy tột đỉnh, nức tiếng hung ác. Do đó hầu như bất cứ ai, khi nhắc tới những con người của dòng họ Bành đều khiếp sợ. Thậm chí có người còn ví Bành gia như một phủ thừa tướng thời phong kiến. Năm đó xảy ra nạn đói tràn lan khắp nơi. Ngoại trừ những nhà giàu, còn hàng dân lao động bình thường đều khổ sở chạy tìm miếng ăn từng bữa mà cũng không đủ. Bởi vậy ở làng Tân Phong Hạ mới xảy ra chuyện đem con cái đi cho, đi đợ ở những nhà giàu trên tỉnh, trên Sài Gòn. Nhà của vợ chồng Năm Đực lâm cảnh bi đát đó. Vào đúng chiều ba mươi Tết, trong lúc nhiều nhà còn có của ăn của để đang rộn ràng lo sắm sửa, chuẩn bị đón ông bà, thì vợ Năm Đực ngồi ôm đứa con gái mười bốn tuổi mà khóc ròng. Chỉ vì con nhỏ không dám ra đường bởi chiếc quần vá chùm vá đụp duy nhất của nó hôm qua bị mất khi cỡi bò trên bờ kinh, lội xuống sông vớt củ co. Nó đã lấy lá sen che thân, chạy về nhà rồi nằm khóc suốt. Thương con, vợ Năm Đực lột chiếc quần độc nhất cho nó mặc, nhưng con Xuyến nhất quyết không chịu. Nó làm sao đành lòng mặc kín khi mẹ mình phải quấn bao bố! Chiều ba mươi tết rồi, nhà không còn gạo, không có gì để cúng ông bà thì còn cam lòng chịu đựng được, chớ còn để cho con gái mười bốn phải ở truồng như vầy, làm sao người mẹ vốn thương con hơn thuơng bản thân mình chịu nổi! Chị ôm con vừa khóc vừa nhìn quanh quất trong nhà, xem coi có thứ gì có thể lấy để may vội cho con chiếc quần mặc Tết? Mà nào còn có gì trong ngôi nhà rách nát và hầu như chẳng còn thứ gì bằng vải mà còn nguyên vẹn cỡ hơn bàn tay. Chị lại khóc. Cuối cùng Năm Đực từ ngoài bước vô, reo lên như bắt được vàng: - Có rồi! Có thứ để ăn tết rồi! Anh cầm chiếc quần vá trước sau mấy lỗ, nhưng trông còn khá tươm tất, đưa ra trước mặt vợ con như khoe một chiến lợi phẩm: - Bà và con Xuyến thấy gì đây không! Chị Năm nhìn lên rồi cau mày: - Ông lại... Hiểu ý vợ, Năm Đực nghiêm giọng: - Thằng này hổng có ăn cắp à nghen! - Vậy chớ ở đâu ông có? - Trời thương mình bà ơi? Thứ đồ rách này nhà giàu có đem ra đồng cho bù nhìn bận, trong khi mình thì không có mà che thân. Tui mới vừa.. Hiểu ra, chị Năm cười như mếu: - Té ra có ngày mình cũng phải cầu tới mấy đứa bù nhìn đứng đồng đuổi chim! Năm Đực hạ thấp giọng như sợ có người nghe: - Tui đi ngang qua đồng lúa của Biện Chung, thấy hơn chục con bù nhìn đều bận đồ mới, hình như họ cũng cho tụi nó ăn tết hay sao đó. Trong số này tui thấy có một con được cho bận chiếc quần còn nguyên, thấy mà thèm. Trong lúc nhiều người không có được cái quần rách để bận mà lũ bù nhìn lại lành lặn, sạch sẽ như vậy... Tui vừa tức lại vừa nảy ra ý lột chiếc quần về cho mình bận. Tui làm liền, không ai thấy hết! Cái này cũng là ăn cấp, nhưng ăn cắp của con bù nhìn đứng ngoài đồng giữ lúa thì ai mà hỏi tội, phải hông mình? Vợ năm Đực cầm chiếc quần lên xem, gật gù: - Còn tốt lắm, mấy miếng vá này là do ai đó cố tình đắp vô để che mắt thiên hạ, chớ quần còn nguyên, chỉ hơi cũ chút thôi. Đây là nhà giàu họ dư của, đem quần áo còn nguyên cho bù nhìn bận sợ người ta quở nên làm vầy... Năm Đực phấn khởi, nói đùa: - Nhờ vậy mình mới có mà bận tết! Vuốt tóc con gái, chị Năm giọng đầy phấn khởi: - Có đồ rồi con. Mình không xấu hổ gì khi phải lượm đồ thiên hạ bỏ để bận, miễn sao che được thân thôi. Con hãy bận đi. Con Xuyến đẩy chiếc quần về phía mẹ: - Má bận đi, đưa chiếc quần cũ của má đây, con bận được rồi. Thấy hai mẹ con cứ đùn đẩy qua lại hoài, Năm Đực phải phân xử: - Con là con gái mới lớn, cần phải lành lặn hơn, vậy con cứ bận cái quần này. Mà còn chuyện này nữa... Năm Đực chợt nhớ ra, anh ngồi xuống nhìn con gái, rồi nhìn vợ, hạ thấp giọng: - Tui cậy được người nói với nhà phú hộ Bành rồi... Chị Năm ngạc nhiên: - Mà chuyện gì? - Chuyện con Xuyến. Đến phiên con Xuyến nhìn sững cha: - Cha làm gì con vậy? Năm Đực vỗ đầu con, cười hề hề: - Lo cho tương lai của mày thôi. Chừng như nhớ ra chuyện hai vợ chồng từng bàn, vợ Năm Đực reo lên: - Phải chuyện đó hông? - Chớ còn chuyện gì nữa! Rồi anh nói thật nhỏ, như sợ bên ngoài nghe: - Cậy cục hết hơi người ta mới bằng lòng với điều kiện mười giạ lúa lãnh được phải chia cho họ năm giạ. Vợ Năm Đực bực tức: - Ăn trên đầu trên cổ người ta như vậy mà cũng ăn được sao! Năm Đực từ tốn; - Kệ họ. Mình có được lúa ăn Tết là quý rồi. Nhứt là con mình có được chỗ nương thân mà đâu phải ai cũng muốn mà được! Con Xuyến nghe cha mẹ nói đã hiểu, nó chen vô: - Con hổng ham vô ở cái nhà đó đâu ba má ơi! Họ ác lắm, đâu có thương yêu gì tôi tớ. Vợ Năm Đực phải vỗ về con: - Mình làm tốt, không lười biếng hay tham lam thì họ đâu có gì hung ác với mình. Con đâu có biết, muốn vô làm tôi tớ cho nhà ấy thì cả làng này ai cũng muốn mà đâu có được. Năm Đực nói thêm: - Họ mướn người còn phải coi giò coi cẳng. Chỉ có ai là tá điền tốt, nhà ít người thì họ mới mướn. Xuyến lấy làm lạ: - Đi ở mà sao khó vậy? - Bởi họ sợ nhà nào đông anh em thì trong lúc làm việc dễ sanh lòng tham, nhám nhúa của nhà họ tuồn về nhà mình. Ối, bọn nhà giàu hay đa nghi vậy đó... Vợ Năm Đực có vẻ mừng thầm: - Mình nhờ ai nói vô vậy? - Mụ Sáu Thắm, vốn làm hầu cho bà Bành Ngũ từ lâu đời, rất được lòng tin của chủ. Tui nghe nói ai muốn vô nhà đó ở đợ cũng đều đút lót cho mụ. Mụ ta ăn cắt cổ nhưng được việc. Nói là xong. Mụ hẹn mình chiều nay dẫn con nhỏ qua. Vợ Năm Đực kêu lên: - Tết nhứt tới nơi, để cho con nhỏ ở nhà ăn tết đã chớ! Năm Đực cười như mếu: - Nói tết nhứt mà chạnh lòng. Nhà không còn hột gạo mà tết nỗi gì. Cho con nhỏ vô đó sớm thì may ra nó còn có cái ăn cái mặc mấy bữa tết với người ta. Mình thấy không, mấy đứa hầu bên nhà đó đứa nào cũng ăn trắng mặc trơn, đâu như con Xuyến... Thật tình Xuyến không hề muốn xa nhà, nhất là phải đi ở đợ chỗ nhà giàu đó. Tuy nhiên, nhìn cảnh nhà, hiểu nỗi khổ tâm của cha mẹ, nó không còn ý phản đối nữa. Đến khi nghe cha hỏi: - Con chịu qua bên đó liền không Xuyến? Xuyến đã gật đầu ngay: - Dạ, sao cũng được. Mẹ nó đưa chiếc quần lãnh mỹ a cũ, nhưng còn lành lặn cho con gái: - Con lấy quần của má mà bận. Má có cái quần ba con mới đem về... Xuyến xua tay: - Con không bận đâu. Của má dành để đi ăn giỗ mà! Má nó cười gượng: - Nói mà mắc cở. Giỗ quải gì khi nhà không có gạo ăn. Tại má hà tiện nên cái quần bận hơn mười năm rồi chưa rách, chớ người ta đã làm nùi giẻ từ lâu rồi! Cố bắt ép con mặc chiếc quần lãnh, nhưng Xuyến nhứt quyết không nghe, nó nói: - Con qua nhà người ta thế nào họ cũng cho đồ cũ để bận, lo gì. Má cứ để cái này ở nhà mà bận. Khi nào con có dư con đem dìa cho má thêm. Biết tánh con nên Năm Đực bảo: - Thôi để nó bận chiếc quần tui mới đem về cũng được. Thôi, bà chuẩn bị cho nó đi sớm. Để tui dẫn nó qua. Vợ Năm Đực không chịu: - Đưa con gái đi phải để tui chớ. Tội nghiệp con nhỏ... Năm Đực nghiêm giọng: - Bởi biết tánh bà hay mau nước mắt nên tui mới không để bà đi. Tết nhứt qua đó ôm nhau khóc không khéo người ta lại đuổi về cho coi! Nghe chồng nói vậy chị mới ngồi im. Nhưng khi Xuyến bước ra khỏi nhà thì hai mẹ con nhào tới ôm chầm lấy nhau khóc ngất. Khiến cho Năm Đực phải gắt lên: - Đi làm ăn chớ phải vĩnh biệt đâu mà khóc lóc làm người ta... chịu hổng nổi! Và rồi anh cũng khóc! Cuối cùng, để chấm dứt cảnh đó, Năm Đực vội kéo tay con gái đi nhanh. Đi khá xa rồi mà con Xuyến còn ngoáy lại nhìn với màn nước mắt tuôn như mưa... Tới trước cổng lớn rồi mà Năm Đực chưa dám lên tiếng gọi. Phải đứng thật lâu, cho đến khi thoáng thấy bóng bà Sáu Thắm thì Năm Đực mừng rơn: - Cô Sáu! Cô Sáu! Mụ Sáu Thắm tuy cũng là người giúp việc, nhưng nhờ làm lâu năm, lại là tay thân tín với bà chủ nhà, nên ăn trắng mặc trơn, quần lãnh, áo lụa, trông chẳng khác gì một phu nhân! Vừa nghe kêu, mụ nhíu mày, chẳng khác gì bà Bành Ngũ, hỏi vọng ra: - Đứa nào đó? - Dạ, con là thằng Năm Đực đây cô Sáu! Năm Đực... Lúc đó mụ mới chịu đi ra, hất hàm hỏi: - Chuyện gì vậy? Chợt nhìn thấy con Xuyến, mụ nhớ ra: - Con nhỏ đây hả? - Dạ, nó đó cô Sáu. Mụ nhìn qua Xuyến một lượt, có vẻ hài lòng: - Coi cũng được. Nhưng mày nó mấy tuổi? - Dạ, mười bốn. Mụ trợn mắt: - Xác vầy mà mười bốn nỗi gì! Lấy chồng còn được… Ngay phút đầu Xuyến đã không ưa mụ này rồi, nó nguýt xéo một cái rồi quay đi nơi khác. Bỗng mụ vỗ đùi một cái, reo lên: - Tao đổi ý rồi! Tưởng mụ từ chối, Năm Đực quýnh lên: - Cô Sáu, xin cô... Mụ Sáu Thắm bất chợt chụp lấy vai con Xuyến, xoay tròn nó một vòng, rồi thật nhanh tay sờ lướt qua ngực con nhỏ, sau đó nói liền: - Xong rồi! Con Xuyến bị mụ chạm vào ngực nên bực mình, tính la, nhưng thấy cha lừ mắt, nên nó lặng im, nhưng xem ra ấm ức lắm. Vừa lúc mụ Thắm kéo tay nó lôi ngay vào bên trong cổng và nói với lại với Năm Đực: - Mày đứng đó chờ, để tao vô trình bà chủ một chút. Mụ ta kéo Xuyến đi, trong lúc con nhỏ rị lại, như có linh tính điều chẳng lành đang đợi hờ nó bên trong kia. Mụ ta phải mạnh tay, vừa dụ ngọt: - Ngoan ngoãn để người ta nhận cho làm. Bộ mày tưởng ai muốn vô đây cũng được hay sao... Nhà lúc này hình như không có ai khác, ngoài một người đàn bà lớn tuổi, dáng phốp pháp, đang ngồi xếp bằng trên bộ trường kỷ. Mụ Sáu lễ phép: - Thưa bà... Bà kia không nhìn lên, hỏi mà không hở môi: - Gì đó? - Dạ... Mụ Sáu bước nhanh tới, rỉ tai điều gì đó... lúc ấy bà kia mới ngẩng lên nhìn về phía Xuyến: - Mày nói con nhỏ này? Mụ Sáu muốn chứng minh cho lời nói của mình, nên không gì bằng nhanh tay quay sang Xuyến, rồi bất thần giựt phăng áo con bé ra. Do áo cũ, lại gài bằng nút bóp, nên chỉ cần giựt nhẹ là nguyên hàng nút áo xút ra cả, phơi nguyên cả bộ ngực trần, không có áo lót của con bé. Chưa kịp kêu Iên, Xuyến đã bị đe dọa: - Đây là bà chủ. Bà chỉ muốn coi mày có bệnh hoạn gì hay không, trước khi được nhận vào làm. Lúc này con Xuyến mới biết người ngồi trước mắt mình là bà chủ Bành như xưa nay từng nghe nói. Nó hơi sợ nên quên việc ngực mình đang phơi trần ra. Đến lúc chợt nhớ, nó đưa tay kéo vội hai vạt áo lại, thì đã nghe chính bà chủ lên tiếng: - Mày mười bốn tuổi phải không? - Dạ... - Mười bốn mà sao như gái sắp lấy chồng vậy? Hay là có… bậy bạ gì rồi! Con Xuyến không hiểu nên ngớ người ra, mụ Sáu phải lên tiếng thay: - Chắc là chưa đâu bà chủ. Hồi nãy tui có thử bóp... Nhưng bà chủ vẫn hỏi lại: - Nào giờ mày có biết... con trai chưa? Không nghĩ là bà ta hỏi mình, nên con Xuyến không đáp. Mụ Sáu phải nhắc: - Bà chủ hỏi mày đó. Nào giờ có biết con trai chưa? Xuyến ngơ ngác: - Biết gì? - Thì… thì... mày có biết mùi đời chưa? - Mùi đời gì? Thấy nó ngớ ngẩn quá, mụ Sáu bực quá: - Mùi đời mà cũng không biết! Là cái chuyện... Bà chủ chận mụ ta lại: - Kiểu này là nó chưa biết gì đâu. Chắc tại nó lớn xác! Mụ Sáu được dịp tấn công: - Con biết nhà con nhỏ này. Nghèo, không có ăn, nhưng làm lụng giỏi, có lẽ nhờ vậy nên mau lớn. Bà coi, da nó trắng, tay chân dài, đâu thua gì... Biết mụ ta sẽ ca tụng tràng giang đại hải nên bà chủ ngắt ngang: - Được rồi, đưa nó đi tắm rửa sạch sẽ, rồi chút nữa đưa vô phòng trong cho tao dạy việc. - Dạ thưa bà, quần áo nó quá dơ dáy... - Lột ra bỏ hết, lấy tạm đồ mới của đứa nào đó cho nó bận. Rồi kêu thằng thợ may Tư Tửng tới may cho nó mấy bộ đồ tết. Cứ làm theo lời tao. . - Dạ... nhưng còn thằng cha nó đưa tới, còn đứng đợi ngoài kia. - Lấy năm đồng cho nó trước. Còn lúa thì vài bữa biểu nó tới lấy. Dẫn con Xuyến ra sau bếp, bảo nó đứng đợi, mụ Sáu chạy ngay ra cổng đưa cho Năm Đực hai đồng: - Bà chịu con nhỏ rồi. Nó đã được nhận. Bà còn nhân đạo gởi cho vợ chồng bây hai đồng để ăn tết. Năm Đực không ngờ mọi việc suôn sẻ đến vậy, nhất là được có tiền nữa, anh ta run run đưa tay nhận và ríu rít cám ơn: - Ơn cô Sáu đời đời vợ chồng con không thể quên. Xin cô Sáu… Anh ta định ngắt ra một đồng đền ơn, nhưng mụ Sáu đã giở giọng đạo đức: - Công ơn gì, giúp vợ chồng bay không hết mà! Mụ ta quay đi với ba đồng bạc trong túi. Và trong vài ngày tới, trong số mười giạ lúa tiền công ở đợ một năm của Xuyến, mụ lại có năm giạ... Phần II Bà Bành lắng nghe lời giải thích của bà thầy Chín: - Cái số của cậu Hai nhà này nó phải như vậy. Số bảy vợ thì chạy trời cũng không khỏi nắng. Tránh đi đâu cũng chẳng khỏi. Mà có như vậy thì đường công danh mới hạnh thông, mới phất lên như ngày nay! Bà chủ Bành thở dài: - Đã hai ba con rồi mà nào có thấy gì đâu... Mụ Chín lên giọng: - Sao không thấy gì bà chủ! Cậu Hai từ thư ký tòa án, nay đã leo lên tới chức biện lý, chớ phải… Bà Bành chận lời: - Ý tui muốn nói là nó càng lên cao thì chuyện nhà nó càng rối thêm. Con vợ lớn nó ghen mất ăn mất ngủ, rồi còn đủ thứ chuyện khác nữa. Mà nè, nghe con Sáu nói, bà còn có cách khác nữa phải không? Mụ Chín hạ thấp giọng: - Thì như tui nói hôm trước đó. Mà cái này cũng không phải do tui làm được nghe. Phải sư phụ của tui, thầy Tư Sung, ổng học được phép này từ bên Xiêm về. Mà nghe nói, xuất xứ của nó cũng từ bên Tây Tạng. Bà chủ Bành hơi sốt ruột: - Bữa rồi nghe con Sáu Thắm nói bà cần đứa con gái đồng trinh… Mụ Chín reo lên: - Đúng! Vụ này phải có thứ đó mới làm được. Bà chủ Bà Bành sợ tôi tớ khác nghe được nên nói thật khẽ: - Tính thì có tính. Nhưng sao tui thấy... bất nhân quá! Mụ Chín trề môi: - Bất nhân gì bà ơi? Con gái xứ mình mười sáu mười bảy đã lấy chồng hết rồi, có còn trinh tiết được đâu mà giữ với gìn. Mà giữ để làm gì khi đói rã ruột! Tui nói thiệt, nếu tui có con gái tui cũng đem tới… Thấy mình lỡ lời nên mụ ta ngừng nói, đưa mắt nhìn bà chủ nhà. Bà chủ Bành vẫn nhẹ giọng: - Tui kiếm được một đứa. Nhưng sao thấy bất nhẫn, chỉ vì nó còn… - Chắc bà chủ nói nó còn quá nhỏ chớ gì? Bà nên nhớ, vụ này phải gái dưới mười lăm mới làm được nghe! - Nó mới mười bốn... Mụ Chín lại reo lên: - Tui biết ngay mà. Giàu như bà chủ thì cỡ tuổi nào mà không có! Rồi mụ ta hạ thấp giọng: - Tui nói rõ hơn để bà hiểu. Để tránh cho cậu Hai có tới bảy bà vợ, thì bà phải tìm một gái đồng trinh tuổi còn nhỏ, dưới mười lăm, để cậu ấy cưới làm nàng hầu. Cưới xong bảo đảm cậu Hai không còn có ý kiếm thêm vợ nữa và đường công danh của cậu cũng sẽ lên như diều cho bà coi! Bà chủ Bành ra dấu cho mụ Chín giữ lời, bà ta nói: - Tuy là có lợi cho cả con vợ nó, nhưng con này vốn ghen đến bất kể trời đất, nên việc này tui giao cho bà, phải làm cách nào đó nói cho nó thông, chớ còn… Mụ Chín cả quyết: - Tui cam đoan với bà, mợ Hai sẽ không hó hé gì đâu. Tui đã có cách! Mụ ta ghé tai thì thầm gì đó một lúc, bà Bành ra vẻ hài lòng: - Được đó bà cố làm gấp đi. Họ trao đổi thêm, rồi bà Bành móc tiền đưa, rồi còn dặn: - Khi nào xong chuyện tui sẽ tính thêm. Mụ Chín cho ngay tiền vào rúi rồi quày quả đi liền. Ra đến ngoài cổng đã gặp tài xế Ba đang lái chiếc Trac-tion trờ tới, anh ta đưa tay ngoắc và giục: - Bà lên xe lẹ đi! Vừa leo lên xe chưa kịp ngồi yên chỗ thì tài xế Ba đã vọt chạy làm cho mụ Chín bật ngửa, phải kêu lên: - Chạy gì như quỷ bắt vậy! Viên tài xế không nói rằng, mặt cứ lạnh như tiền, nhấn thêm ga. Khắp chốn nhà quê này mỗi khi nghe tiếng xe chạy qua thì đã biết là xe của ai, thấy đều leo lề né tránh để khỏi mang họa, bởi họ đâu lạ gì kiểu chạy xe bạt mạng của cánh tài xế nhà họ Bành! Chạy một khoảng khá xa, tay tài xế mới lên tiếng: - Cậu Hai trách bà đó. Mụ Chín giờ mới hoàn hồn: - Trách gì mà trách, phải nói ráo nước miếng mới xong chớ bộ. - Con nhỏ đâu? Mụ Chín trợn mắt: - Làm sao có ngay được mà con nhỏ với con to! Tài xế Ba còn định nói gì thêm nửa thì bỗng có tiếng nói từ băng ghế phía sau: - Chưa ai dám bắt ông biện lý chờ dài cổ như bà đó nghe, bà Chín! Giật mình nhìn lại đã thấy quan biện lý Bành Tường. Thì ra nãy giờ ông ta cố tình mọp người phía băng sau, nên khi vội bước lên băng trước mụ Chín không nhìn thấy. - Dạ bẩm... Hai Tường xua tay: - Không dài dòng nữa, kết quả ra sao? Mụ ta cười cầu tài: - Làm sao không xong được, bẩm quan... - Nhưng nó đâu? Mụ Chín hạ thấp giọng: - Món hiếm thì đâu thể lộ ra công khai được thầy… Hai Tường sốt ruột: - Đừng dài dòng nữa, nó đang ở đâu? - Ở nhà. Biện lý Tường nạt lớn: - Bà giỡn mặt với tui hả? Đã quen với cảnh bị hù dọa và tâng bốc, nên mụ Chín vẫn giữ được bình tĩnh: - Hàng đã nhập về kho của cậu Hai rồi, cậu tha hồ muốn làm gì tùy ý! Hai Tường la lớn: - Không xong đâu! Bộ bà muốn cho con chằn cái nó xé xác cả tui nữa sao chớ! - Sao không biết. Nhưng mà... Mụ ta chồm ra sau, nói mà ngay cả tài xế Ba cũng không nghe được. Nghe xong Biện lý Tường hài lòng: - Cũng được. Tuy nhiên, vốn dè dặc và nể bà vợ chằn ở nhà, nên anh ta dặn thêm: - Nếu vậy thì bà phải làm cho kỹ, đừng để con chằn cái đó ồn ào. - Cậu Hai yên tâm, một khi bà Thầy Chín này ra tay thì có trời mới thoát được thôi. Năm năm luyện phép ở bên Xiêm mà! Bây giờ... Hiểu ý mụ ta. Biện lý Tường móc bóp phơi lấy ra tờ giấy oảnh (vingt piastre - hai mươi đồng - TG) đưa và dặn: - Mọi việc êm xuôi sẽ có thưởng thêm. - Dạ, cám ơn cậu Hai. Đến một đoạn đường vắng thì mụ Chín được thả xuống. Dù phải đi bộ khá xa, nhưng mụ ta khá hài lòng với số tiền hậu hỉ trong túi. Lúc này người mụ ta nghĩ đến chính là mợ Hai Tường, nhân vật mà cả bà chủ Bành và Hai Tường đều ngán khi đối đầu! Nhưng với mụ ta thì đó là chuyện nhỏ. Bằng chứng là sau đó một giờ, mụ ta chờ Minh Nguyệt, vợ Hai Tường ở ngay đầu chợ. Khi vừa định bước lên chiếc xe song mã, vợ Hai Tường đã nghe có ai đó gọi mình, quay lại bắt gặp mụ Chín, Minh Nguyệt cau mày: - Bà kêu tui? Mụ Chín khúm núm: - Dạ, bẩm mợ Hai... Nhìn thái độ mụ ta Minh Nguyệt đoán biết là có chuyện gì đó,chị ta nhát gừng: - Có chuyện gì cứ nói! - Dạ, có chuyện này... Nhưng e không tiện... Ra dấu cho mụ leo lên xe, Minh Nguyệt bảo: - Xe mui kiếng, nói gì bên ngoài cũng không nghe. Đã vài lần nói chuyện với người phụ nữ này, nhưng mụ Chín vẫn không thể nào ưa được chị ta. Bởi con người này vừa lạnh lùng, vừa nham hiểm hơn cả những gì loại người như mụ từng gặp. Tuy nhiên, lần này mọi thứ đang có lợi thế nghiêng về phía mụ, nên Mụ Chín chưa vội nói khi đã bước lên xe rồi. Phải đợi đến khi cô ả lên tiếng: - Chuyện gì nói mau, tui còn có công chuyện. Lúc này mụ Chín mới từ từ nói: - Chuyện vợ bé của cậu Hai. Quả là phát đạn duy nhất đã bắn trúng ngay đích. Minh Nguyệt đổi ngay thái độ: - Bà biết chuvện gì, nói mau coi! Đâm bị thóc, chọc bị gạo vốn là nghề của mụ, nên đợi cho đối thủ sốt ruột mụ mới nhẹ giọng nói: - Tội nghiệp mợ Hai, mối nguy đã ở ngay trong nhà mà mợ còn chưa hay biết! Vốn nóng tính, nên Minh Nguyệt làm sao chịu đựng nổi, chị ta gắt lên: - Có gì nói tui nghe coi, cái bà này! Đến lúc đó mụ Chín mới giáng đòn quyết định: - Vợ bé cậu Hai đang ở ngay trong nhà mợ, mà mợ không hề hay biết. - Cái gì! Bà nói… Cô ả run lên, chụp lấy vai mụ Chín, khiến mụ rùng mình. Không ngờ cô ta vừa dữ dội lại vừa có sức khỏe hơn người, chỉ cần một cú chụp đã làm cho một bên vai mụ ta đau điếng. - Ai? Nói mau! - Đầy tớ trong nhà này! Câu nói như nhát búa tạ đập vào đỉnh đầu, khiến Minh Nguyệt choáng váng. Ả ta phải hỏi lại: - Bà vừa nói… nói gì? - Tôi nói con đầy tớ, con hầu non còn mơn mởn xuân tình trong nhà này chính là vợ bé cậu Hai! Bất chợt Minh Nguyệt phá lên cười, khiến cho lão già Hai đánh xe ngựa ngồi phía trước cũng phải giật mình quay lại. Lúc này, sau khi cười xong, Minh Nguyệt đã nói lớn: - Chuyện đó chiêm bao cũng không có! Mụ Chín nghiêm giọng: - Chuyện khó tin mà có thiệt mới khiến mợ phải đau tim chớ! Rồi mụ ta hạ thấp giọng: - Nếu muốn chứng kiến tận mắt thì mợ phải cần tới tui. Mụ nheo mắt một cách trịch thượng, khiến Minh Nguyệt phát cáu, nhưng không dám lộ ra mặt, phải dịu giọng: - Có gì bà cứ nói… - Mợ Hai... Hiểu ý con người chỉ biết có tiền này, Minh Nguyệt nói ngay: - Cho bà hai chục, bà nói rõ nghe coi! Mụ Chín cười cầu tài: - Mợ Hai có tiếng là xài kỹ, nhưng chuyện này phải khác... Cậu Hai cho tui gấp đôi mà tui còn không giữ kín được. Huống hồ... - Chồng tui cho tiền bà, biểu ém nhẹm chuyện này? - Tui đâu nói gạt mợ. - Vậy ổng hứa cho bao nhiêu? Đưa lên bốn ngón tay, mụ Chín nói khẽ: - Bốn chục! Minh Nguyệt kêu lên: - Bà có biết bốn chục đồng mua được mấy trăm giạ lúa không? - Dạ biết, nhưng cái đó... Mụ ta cố tình nhìn đi nơi khác, khiến cho Minh Nguyệt đành phải hạ giọng theo: - Thôi được, vậy bà lấy năm chục được không! Đó là vì tui muốn biết ngay, chớ còn dò tìm thì đâu có khó gì... Mụ Chín phán một câu mà sắc mặt tỉnh rụi: - Con Xuyến, con hầu mới của bà chủ Bành. Con đào tơ mới mười bốn tuổi... - Thánh thần thiên địa ơi! Cô ả nghiến răng trèo trẹo và gần như không còn thở được nữa... Phần III Sau cuộc bàn thảo giữa bà chủ Bành, mụ Sáu Thắm và mụ Chín, người thực hiện cuối cùng là Sáu Thắm. Với hai chục đồng nhận thêm từ bà chủ, Sáu Thắm đã hứa chắc nịch: - Việc giao cho Sáu này làm thì chắc như bắp! Mụ ta đi thẳng vô buồng của chủ, nơi con Xuyến đang bị giam lỏng hơn mười ngày rồi. Vừa thấy mụ xuất hiện, con bé đã mừng rơn: - Bà Sáu, cho con về nhà đi! Nhìn con nhỏ mặc bộ quần áo mới vừa vặn, màu sắc tươi sáng, mụ Sáu buộc miệng khen: - Mèn ơi, nhìn không ra con Năm Đực! Xuyến không màng, nó lặp lại câu nói: - Cho con về nhà đi bà Sáu! Chỉ bộ đồ trên người nó, Sáu Thắm nghiêm giọng: - Mày biết đồ đang bận là của ai không! Còn cơm mày ăn nữa, hổm rày mày no đủ, sung sướng là nhờ ai không? - Nhưng con nhớ nhà, nhớ ba má con quá bà Sáu ơi! Mà sao người ta nhốt con hoài trong này vậy bà Sáu. Rất tâm lý, Sáu Thắm ôm ấp, vuốt ve con bé: - Ai nhốt con làm gì. Đây là phòng dành cho khách của bà chủ, chỉ khách quý mới được ngủ. Vậy mà con ngủ hổm nay thì sướng như tiên rồi, còn muốn gì nữa! - Con muốn ra ngoài, con muốn đi làm, chớ không muốn ăn rồi ngủ như vầy. Buồn lắm bà Sáu ơi! - Buồn gì mà buồn. Người ta cho con như vậy là muốn con nhả nắng, nhả bớt mùi phèn, rồi làm cô, bà với người ta! Xuyến nào hiểu gì những lời mụ Sáu nói, nó chỉ biết khóc lóc, năn nỉ: - Con muốn về nhà thôi. Buộc lòng mụ Sáu phải gắt lên: - Ba má mày lấy của người ta mấy chục giạ lúa, cả năm tiền công rồi, mày về nhà rồi có để trả lại cho người ta không? Đang khóc mà nghe nhắc tới những điều đó con Xuyến ngưng khóc liền. Nó giương mắt nhìn mụ Sáu như cầu cứu. Hiểu ý, Sáu Thắm xoa dịu: - Ngoan ngoãn nghe lời đi, rồi cuộc đời sẽ sung sướng. Hiện nay đang còn Tết, nhà chủ đang bận rộn nên chưa tiện cho con về thôi. Chờ qua ít bữa, khi nào con muốn về thăm ba má thì xin phép, bà chủ cho liền! Xuyến hết khóc, nhưng nó vẫn thắc mắc hỏi: - Rồi người ta cho con làm gì? Chuyện gì con cũng làm được hết, nhứt là chuyện ngoài đồng như mò cua, bắt ốc. Sáu Thắm cười ngất: - Con nhỏ khùng hết biết! Đây là nhà giàu, họ ăn gạo thơm, cá tôm con lớn, thịt thà nguyên ký, làm gì có chuyện mò cua bắt ốc. Yên tâm đi, vài bữa bà chủ cho theo hầu, hoặc có thể là cho theo giúp việc cho cậu Hai ở Sài Gòn. Mày thích ở Sài Gòn không? Xuyến lắc đầu nguầy nguậy: - Con hổng thích Xà Gòn đâu! - Sài Gòn chớ Xà Gòn gì! Đó là nơi mà ai cũng mơ được một lần đi tới. Mày có điên mới chê chỗ đó! - Con chỉ muốn ở nhà thôi. - Bây giờ lại đây! Mụ ra lệnh làm cho Xuyến ngạc nhiên giương mắt nhìn. Lúc ấy Sáu Thắm đưa cho nó gói quần áo: - Đây là số quần áo mới may theo số đo bữa trước thợ may đã đo cho con. Từ nay con phải bận những thứ này, bỏ hết quần áo đang bận, nhất là số quần áo cũ. Mụ chủ động lôi từ trong túi vải ra đến bốn bộ đồ mới toanh, mà bộ nào cũng màu sắc rực rỡ, tơ lụa bóng loáng. Xuyến ái ngại: - Con đâu quen bận mấy thứ này. Con sợ... - Con này khùng quá đi, đồ mắc tiền này chỉ nhà giàu mới may được. Tao thèm mà còn chưa rớ nổi đây! Quả là đẹp. Từ lâu nay nhìn con nhà giàu mặc, Xuyến thèm một lần được ướm thử... Vậy mà sao giờ đây được có nó trong tay, Xuyến lại không ham. Có lẽ đầu óc nó đang chỉ có một nỗi nhớ nhà, nhớ cha mẹ… Sáu Thắm phải nhắc: - Con thay bộ màu hồng này đi, nó hạp với da con lắm. Xuyến lắc đầu: - Đồ con đang bận còn sạch mà. - Con này hay cãi. Tao biểu thì thay liền đi, rồi còn đi gặp bà chủ nữa. Chẳng đặng đừng, Xuyến phải đi thay đồ. Lát sau nó vừa bước ra thì Sáu Thắm đã kinh ngạc thật sự: - Con này không ngờ đẹp như tiên nga vậy! Trong phòng sẵn tấm kiếng lớn, ngẫu nhiên Xuyến nhìn được mình trong đó, nó cũng giật mình nhìn sững và kêu lên khẽ: - Mèn ơi! Mụ Sáu bước tới vịn vai Xuyến, xoay nó đi một vòng, rồi không cầm lòng được: - Tao thấy mà còn mê nữa là... - Bà Sáu, bà nói ai vậy? - Thì mày chớ còn ai! Con nhỏ mới mười bốn mà sao nở nang y như gái mười tám hai mươi, nhìn mà phát ham! Xuyến thẹn đỏ mặt: - Bà Sáu! Sao bà nói con vậy... Mụ sờ vô ngực nó, làm cho Xuyến hoảng hồn, bước thụt lùi và kêu lên: - Bà Sáu! Sáu Thắm chặc lưỡi: - Con nhỏ ngon thiệt! Điệu này chắc cậu ấy chết cho coi. Xuyến ngơ ngác: - Bà Sáu nói cái gì vậy? Biết mình lỡ lời, mụ ngừng lại nhưng đôi mắt vẫn không rời bộ ngực no tròn của con bé, như muốn ăn tươi nuốt sống. Phần Xuyến, tự dưng nó cảm thấy sợ, vội đưa tay ôm lấy ngực rồi ngơ ngác nhìn quanh như cảm thấy có ai đó đang nhìn nó... Qua cơn sững sờ, mụ Thắm trở về thực tế, vội hối: - Mau đi, chải đầu cổ cho tươm tất, rồi xức một chút dầu thơm vô! Xuyến xua tay lia lịa: - Con hổng biết xài dầu thơm đâu. Xức dầu vô là con chết liền đó! Xuyến đi chải đầu, nhưng cứ nhìn ngắm hoài trong kiếng, đây là lần đầu tiên trong đời Xuyến biết thế nào là soi gương. Nhất là với bộ đồ mới, may vừa khít thân hình. Chính nó cũng ngạc nhiên về thân thể mình, tại sao nó nở nang cỡ này? Từ nào do chưa bao giờ soi gương, nên Xuyến không thể ngờ, nhất là bộ ngực và cái mông, nó y như mấy chị lớn... Bà chủ Bành đột ngột bước vô làm cho cả Sáu Thắm và Xuyến đều giật mình. Mụ Sáu nói lí nhí: - Chút xíu nữa… con sẽ… Bà chủ hấp tấp: - Lẹ lên đi, coi bộ con vợ thằng Hai... Nói tới đó chợt bà nhìn Xuyến rồi hạ giọng đủ cho Sáu Thắm nghe: - Làm sớm hơn chút đi, con Minh Nguyệt nó hay chuyện rồi. Bà quay sang Xuyến, giọng nhỏ nhẹ: - Mấy bữa nay bà bận lo Tết nên quên con gái đi. Đúng ra phải cho con về nhà ăn Tết mấy hôm rồi trở lại. Nghe bà ta nói Xuyến mừng rơn: - Bà cho con về hả bà! - Chuyện đó đâu có gì mà cho với không cho. Được rồi, sau bữa tiệc này ta sẽ cho con về nhà chơi. Mừng quá Xuyến quên rằng mình là kẻ tôi đòi, nó nhảy dựng lên: - Sướng quá, được về nhà rồi! Bà chủ Bành bảo mụ Sáu: - Kêu mấy đứa nó đem cho tao hai ly nước cam. Hình như nước cam vắt đã chuẩn bị sẵn, nên mụ Sáu vừa gọi đã thấy bưng lên ngay. Và trước sự ngạc nhiên của Xuyến, bà bảo đặt một ly trước mặt bà, còn ly kia ngay trước mặt con bé. - Uống đi con. Coi như đây là quà bà cho con, mừng con được về nhà. Con Xuyến luýnh quýnh thấy rõ: - Con hổng... hổng biết. Con hổng dám... Giọng bà chủ Bành đầy tình cảm: - Con đừng làm vậy bà không chịu. Thương con là con nhà nghèo nhưng giỏi giang, hiếu thảo, lại đẹp người đẹp nết nên bữa nay ta nói thiệt lòng, ta muốn nhận con làm con nuôi. Con chịu hông thì nói, rồi ta sẽ nói chuyện với ba má con sau. Xuyến ngơ ngác nhìn bà, không tin những gì bà nói. Phần nữa, nó ngỡ như mình đang chiêm bao... Thấy nó như vậy, mụ Sáu nói chêm vô: - Sao không cám ơn bà chủ đi! Xuyến luống cuống hơn: - Dạ... con... con không... Sợ nó nói bậy bạ, mụ Sáu liền nói thay: - Được bà chủ thương tình, hạ cố là phước đức ba đời nhà nó, nên nó rạp đầu xin cám ơn bà chủ! Mụ ta đẩy con bé tới trước mặt chủ, giục: - Lạy bà chủ ba lạy đi con! Trong lúc Xuyến còn chưa biết làm gì thì bà chủ Bành đã đỡ lời: - Không cần đâu con. Bây giờ con uống với mẹ Bành ly nước này, coi như lễ nhận lời. Từ nay kêu ta là mẹ! Không đợi nó bưng, mụ Sáu đã ấn vào tay nó và hối: - Uống đi, lẹ lên! Xuyến không còn cách nào hơn đã phải bưng ly nước cam uống từng ngụm nhỏ. Mụ Sáu lại giục: - Uống một hơi đi! Xuyến uống một hơi hết ly. Đây là lần đầu tiên con nhỏ con nhà nghèo này biết vị ngon của một ly nước cam tươi uống theo kiểu này. Uống xong nó đứng ngây người ra, lúc đó bà chủ Bành kéo tay nó lại gần: - Đưa má coi con dâu... à mà con gái má đẹp đến cỡ nào. Quả tình bà cũng không ngờ Xuyến quá đẹp như thế này. Dưới mắt bà hơn mười ngày trước thì Xuyến chỉ là con bé gọn gàng, xinh xắn ở mức coi được thôi, không ngờ chỉ cần khoác lên người bộ quần áo lụa là thế này đã hoàn toàn đổi khác. Bà phải buộc miệng khen: - Oh đẹpquá! Xuyến thẹn đỏ mặt, nó cúi xuống vân vê tà áo, càng làm cho nét duyên dáng tăng thêm lên. Bỗng nó như đứng không vững, lảo đảo... bà chủ Bành nháy mắt cho mụ Sáu: - Lo cho nó. Bà nói xong bước vội ra ngoài, không cần biết Xuyến đang bị chuyện gì. Còn lại mụ Sáu, mụ không ngạc nhiên về chuyện đột ngột xảy ra này, đưa tay đỡ lấy lưng con bé, rồi nhẹ nhàng đặt nó xuống giường. Ngoài trời bóng tối đang trùm lên vạn vật... Tiếng kêu của con chim lẻ bạn vang lên lạc lõng rồi chìm trong im lặng... Khi biết chắc Xuyến đã chìm sâu vào cơn mê, lúc ấy mụ Sáu mới im lặng rút lui ra khỏi phòng. Và hình như đã có sự sắp đặt, nên liền khi ấy có một bóng người xuất hiện rất nhanh, lẻn vào phòng rồi đóng nhanh cửa lại. Người vừa vào đó đứng sững trước tấm thân lồ lộ của Xuyến. Anh ta phải mất vài chục giây mới định thần và kêu lên khẽ: - Tuyệt trần! Anh ta chính là Hai Tường, là quan biện lý về từ Sài Gòn! Và anh ta như ngây dại trước tấm nhan sắc băng trinh. Môi anh ta run run trước khi dấn tới từng bước... từng bước... Tấm thân anh ta phủ lên thân thể đáng thương kia và... Chợt có tiếng đẩy mạnh cửa, rồi một tiếng gầm lên xé màn đêm: - Khốn nạn! Vợ Hai Tường xuất hiện như con ác quỷ. Ả ta gầm lên: - Tao biết mà! Và như con hổ đói, ả nhào tới kéo chồng ra, khiến cho Hai Tường mất thăng bằng té ngửa xuống sàn nhà. Chỉ tội nghiệp cho Xuyến, lúc ấy nó vẫn còn hôn mê, nhưng đã bị con cọp cái nắm tóc lôi dậy, đánh tới tấp vào mặt. Vừa đánh ả ta vừa gào lên: - Tao giết mày, con... chó! Bị đánh tơi tả đến như vậy mà Xuyến vẫn chưa tỉnh, có lẽ do thuốc mê trong ly nước cam quá nhiều. Phần Hai Tường, đường đường là một biện lý, mỗi cái trừng mắt của anh ta thì nhiều người muốn rụng tim, nhưng giờ ấy trông anh ta thảm hại vô cùng. Vừa xốc lại quần áo, anh ta vừa lấm lét nhìn bà vợ dữ, rồi từ từ phi bước. Tuy nhiên, vừa ra đến cửa phòng đã nghe một tiếng quát: - Ông đứng lại đó! HaiTường như bị thôi miên, đứng im và chờ đợi. Minh Nguyệt bỏ con bé ra, bước lại gần chồng, gặng từng tiếng: - Muốn cưới nó làm vợ bé hả! Được, để tui cho ông toại nguyện! Ả ta lại tiếp tục quay sang hành hạ Xuyến. Lần này con bé bị lột hết quần áo ra, hai tay bị trói gô ra sau, còn tóc thì bị quắt vào thành giường và cột chặt. Ả đánh đến một lúc thì chừng như mỏi tay, vội chuyển sang hình thức khác với mấy miếng vỏ sầu riêng mang theo sẵn. Thịt da non nớt, trắng phao của Xuyến phải hứng chịu những cái cào mạnh bằng vỏ sầu riêng. Mỗi cái cào là để lại những vệt máu tươm ra. Xuyến bàng hoàng tỉnh lại. Con bé gào lên: - Má ơi! Tiếng kêu của nó vọng lên trong đêm trường, nghe thê lương, đau lòng... Nhưng trước sau gì cũng chẳng có ai đến cứu. Mặc dù trong ngôi nhà lớn đó lúc ấy có nhiều người nghe và hiểu chuyện, nhưng vì sợ uy quyền của vợ Hai Tường, nên họ đều im lặng, chịu đựng... Chỉ có người duy nhất trong nhà không hay chuyện gì đang xảy ra. Người ấy là bà chủ Bành. Nguyên do là khi ngủ bà ta thường dùng hai cục bông gòn nhét lỗ tai và dùng khăn đen che mắt cho dễ ngủ. Nên khi tiếng la thét vang lên ở phòng con Xuyến ngủ bà hoàn toàn không hay. Mãi đến khi có tiếng gọi lớn của Sáu Thắm ngoài cửa: - Bà chủ ơi, nguy cấp rồi! Lúc ấy bà mới tốc chạy ra thì thấy mụ Sáu luýnh quýnh: - Mợ... mợ Hai... giết... giết... con Xuyến rồi! Mụ ta chạy trước, bà chủ Bành chạy theo sau. Khi họ đẩy cửa phòng bước vô thì cũng là lúc máu trong miệng con Xuyến trào ra. - Con quỷ cái kia, mày có buông tay ra không! Quay lại nhìn thấy mẹ chồng, nhưng Minh Nguyệt vẫn không buông con Xuyến, mà lại gầm lên: - Chính má thị thiềng cho thằng chồng tui làm chuyện bỉ ổi này! Chính má xui biểu! Là người bày mưu thật, nhưng mục đích của bà là chỉ nhầm cho con trai lấy được gái đồng trinh, hầu có được vận may, phá được cuộc đời nhiều vợ của Tường, chớ đâu hề muốn cuộc hành hung đổ máu này. Do vậy bà không còn suy nghĩ, đã lao tới chụp lấy tóc Minh Nguyệt kéo giật ra, khiến cho ả ta té ngửa, kéo theo cả con Xuyến. - Á…! Một tiếng thét kinh hoàng vang lên. Lúc ấy đang đứng gần đó nhìn thấy rõ nên Sáu Thắm cũng thét lớn: - Trời ơi, con Xuyến! Mụ ta thấy con dao đang cầm trên tay Minh Nguyệt đã xuyên qua bụng con bé. Máu trào ra đỏ cả nền nhà. Lúc này vợ Hai Tường cũng thét lên: - Tui… tui không! Ả ta muốn nói rằng con dao trên tay mình là dùng để cắt tóc tình địch chớ không phải để đâm chết nó. Nhưng bà chủ Bành lúc ấy đã nhìn thấy, bà kinh hoàng gào lên: - Bớ người ta! Bớ... Bà ta thoát chạy ra ngoài có lẽ vì quá sợ. Nhưng Minh Nguyệt thì lại nghĩ khác, nên ả ta lao theo, con dao đẫm máu còn trên tay. Chạy được trên chục thước thì bà Bành phát hiện cô con dâu đang đuổi theo. Bà hoảng hốt kêu lên: - Giết người! Bớ người ta… Bà chưa kêu trọn câu thì lập tức bị ngay lưỡi dao xuyên từ sau lưng ra trước ngực! Mọi việc diễn ra quá nhanh nên lúc ấy dù đang có mặt tại hiện trường, nhưng biện lý Tường cũng chẳng làm sao can thiệp kịp. Khi anh ta chạy đến nơi thì bà mẹ chỉ còn kịp kêu lên một tiếng: - Con... Rồi tắt thở. Phần IV - Ba má ơi, cứu con! Tiếng kêu ai oán, thống thiết đó vang lên đến lần thứ ba thì vợ Năm Đực mới choàng dậy. Chạy ra lay chồng: - Ông à, dậy coi ai kêu gì ngoài kia kìa! Năm Đực hồi chiều nhậu bên đám giỗ nhà hàng xóm mãi đến nửa khuya mới về, nên giờ này hơi men còn chuếnh choáng, nghe vợ kêu mà chỉ ậm ừ. Mãi khi bị vợ kéo tóc thì anh mới bật dậy, ngơ ngác: - Cái gì vậy? Lúc đó tiếng kêu càng rõ hơn: - Ba má ơi, cứu con với! - Trời, con Xuyến! Vợ Năm Đực phóng cái rẹt xuống giường, lại ngay mở cửa sổ nhìn ra mấy bụi chuối rậm rạp. - Cứu con với má ơi! Không còn nghi ngờ gì nữa, chị vừa chạy vừa gọi chồng: - Ra coi con nhỏ bị sao ngoài kia kìa! Hai vợ chồng chạy nhanh ra đó, nhưng bóng tối bao trùm, xòe bàn tay hầu như không thấy, nên nhất thời họ chưa phát hiện ra gì. Vợ Năm Đực phải lên tiếng: - Con phải hông Xuyến? Im lặng. Đến lượt Năm Đực kêu lớn: - Phải con không Xuyến. Bấy giờ họ mới nghe những tiếng rên phát ra từ phía bờ ruộng cách đó không xa. - Tới đó coi đi ông! Bờ ruộng xạ vào mùa khô chỉ còn trơ lại gốc rạ nên dẫu trời tối cũng có thể nhìn được. Họ không phát hiện hình bóng ai. Vợ Năm Đực lại gọi lần nữa: - Con ở đâu vậy Xuyến? Vẫn không có tiếng đáp lại. Chị Năm giục chồng: - Ông vô đốt cây đèn ra đây coi! Năm Đực chạy đi ngay. Cũng vừa lúc đó chợt tiếng rên lại tái hiện. Lần này ở cách xa hơn, chừng như người rên đang đi về hướng xóm nhà phía trước. Không đợi chồng trở ra, chị Năm vừa chạy theo, vừa kêu trong nỗi sợ hãi, khổ đau: - Có chuvện gì vậy Xuyến? Con chờ má với... Chị chạy bán sống bán chết, bị ngã đau điếng mấy lần mà vẫn đứng dậy, cố chạy tiếp. Tiếng rên, khóc vẫn còn nghe rõ phía trước, khiến cho chị Năm càng sốt ruột hơn. - Xuyến ơi! Miệng kêu, chân chạy, bỗng chị Năm giẫm phải vật gì đó, té sấp tới trước. Cú té khá đau, nhưng khi tay chị chạm vào vật đang nằm dưới bụng mình thì vợ Năm Đực kêu thét lên! Tiếng kêu to đến nỗi Năm Đực đang chạy cách gần trăm thước cũng phải giật mình. Anh chạy thục mạng tới nơi thì nhìn thấy vợ vẫn còn nằm sấp đó, nhưng mặt thì ngẩng lên với nét sợ hãi đến tột cùng. - Có sao không! Anh ta vừa hỏi mấy tiếng đó thì chợt nhận ra có một người nữa nằm bên dưới vợ mình. Năm Đực kêu lên: - Ai vậy bà! Vợ anh ta chỉ thều thào không ra lời, tay thì ra dấu gì đó. Đến khi soi đuốc thì Năm Đực mới hiểu. Vợ anh ta bảo gỡ vật gì đó dưới chân mình. Năm Đực phải cúi xuống thì mới nhận ra một bên chân vợ đang bị dính vô một cái bẫy của ai đó gài bắt trộm. Khó khăn lắm mới gỡ được bẫy ra, nhưng khi đỡ được vợ lên thì Năm Đực sửng sốt: - Con... con Xuyến! Người nằm sấp dưới ruộng chính là Xuyến. Lúc ấy chị Năm cũng đã nhìn thấy, chị gào lên: - Xuyến ơi! Ôm con vào lòng, chợt một lần nữa chị Năm hốt hoảng, bởi tay chị vừa chạm vào một vật nhọn nhô ra từ ngực con bé. Và... - Máu! Máu mình ơi! Nghe tiếng kêu thét của vợ, lúc ấy Năm Đực mới bế xốc con lên. Một cây tre nhọn xuyên từ lưng thấu qua ngực của Xuyến. Đưa ngón tay để ngang mũi con, Năm Đực chết điếng. Bởi Xuyến đã chết tự bao giờ rồi! - Xuyến ơi! Má nè con! Nghe vợ gào khóc thảm thiết, Năm Đực muốn ngăn lại, nhưng anh không còn sức đâu nữa để lên tiếng. Mãi đến khi thấy vợ sắp đập đầu vô bờ đất, anh mới kéo chị về phía mình, giọng khàn đặc: - Nó chết rồi mình à! Không tin điều đó, nên chị Năm cứ tiếp tục gào khóc. Giữa đêm trường, tiếng khóc vang đi rất xa. Có lẽ vì thế nên có tiếng chó sủa từ trong xóm, rồi một lát sau, có nhiều bước chân đi về phía họ. - Có chuyện gì mà ban đêm ban hôm om sòm ngoài này vậy? Giọng của hương quản Xị nghe là nhận ra liền, nên Năm Đực vội kêu lớn: - Vợ chồng tui đây hương quản ơi. Năm Đực đây! Hương quản Xị đi cùng với hai dân đinh nữa, tất cả họ còn nồng nặc mùi rượu. Khi lại gần, chừng như nhận ra Năm Đực nên hương quản hỏi lớn: - Mày ăn cắp lúa người ta hay sao mà giờ này ở đây? Đang đau buồn mà nghe hỏi vậy, chị Năm nạt ngang: - Con tui bị giết đây nè! Năm Đực bình tĩnh hơn: - Con gái tui bị người ta giết chết bỏ nằm đây, hương quản cứu giùm nó với! Quản Xị bước tới, đưa đèn pin soi vô xác chết rồi không cần nhìn kỹ, đã nói ngay: - Bị chông tre đâm lủng như vầy là... đi đâu đó ban đêm, lọt xuống hầm chông, chớ ai mà giết! Hắn quay sang tên lính tuần bên cạnh, hất hàm nói: - Hai đứa bây lấy cán khiêng con nhỏ về nhà làng, để sáng mơi tao coi. Mau lên! Họ làm rất nhanh. Đến khi họ khiêng đi khá xa rồi chị Năm mới kịp gào lên: - Trả con tui đây! Chị lao tới và bằng sức mạnh của người mẹ muốn giành lại con, chị giành lấy Xuyến từ tay hai tên lính tuần, vác chạy nhanh về nhà mình. Năm Đực cũng bất ngờ trước hành động của vợ, anh chỉ còn biết đi bước dài theo sau. Trời lúc đó đã gần sáng… Móc túi lấy tờ hai chục đồng đưa cho hương quản Xị, vợ Hai Tường hạ thấp giọng nói, như sợ có người nghe thấy: - Chú giỏi lắm, để rồi tui nói ông biện lý thưởng thêm. Mà nè, nhớ là phải kín miệng. Hễ có bất cứ điều gì lọt ra ngoài thì chẳng những cái chức hương quản của chú mất, mà cái mạng già của chú cũng... không còn! Hương quản Xị vốn quen nghe những lời đe dọa như vậy nên khúm núm thưa: - Dạ bẩm bà, tui đâu có ăn gan trời mà dám... - Tốt lắm, vậy hãy về đi. Nhớ đi cửa sau, đừng để ai nhìn thấy. Đợi cho quản Xị ra hồi lâu, Minh Nguyệt cũng lấy dù ra theo. Ra vừa tới cửa phòng nhìn thấy đứa người làm đứng quay lưng, ả dặn: - Tao đi, trong nhà có ai hỏi thì nói tao đi chùa, chiều mới về. - Làm ác rồi đi chùa để xóa tội hay sao! Vừa trả lời con người hầu vừa quay lại và... - Á! Một tiếng thét vang lên, vừa lúc Minh Nguyệt lảo đảo, lui mấy bước. Trước mặt y thị không phải là con người hầu bình thường, mà là người với gương mặt trơ xương. Một chiếc đầu lâu trên thân mình bằng xương bằng thịt! Trong lúc Minh Nguyệt cứ lùi dần vào phòng mình, thì người kia cũng bước dần theo. Cho đến khi cả hai lọt vào phòng thì cánh cửa phòng cũng tự động đóng sầm lại. Bây giờ một giọng sắc lạnh lại cất lên: - Một ngàn chùa cũng không rửa sạch tội lỗi của mày, vậy thì đi làm gì cho bẩn nơi thiêng liêng đó! Hãy ở đây chơi với tao, vui hơn. Minh Nguyệt chân thì muốn bước lùi thêm nữa, nhưng lúc đó đã đụng thành giường, nên một cách tự động, ả ta ngồi phệch xuống, người bắt đầu run như cầy sấy. - Lúc giết người mày đâu có run! Lúc này bản năng tự vệ đã khiến Minh Nguyệt thốt lên được: - Tôi... tôi không làm gì. Tôi xin... Nói tới đó ả chấp tay lạy tới tấp về nhiều hướng, trong lúc con hầu cất tiếng cười rồi bất thần nó ngồi xuống cạnh, đưa tay chụp lấy vai ả: - Phải lạy tao thì mới đúng, lạy chi lung tung vậy. Minh Nguyệt cảm thấy toàn thân lạnh như băng, ả run lập cập: - Dạ... dạ... Vừa nói ả vừa cúi sát người xuống, lạy dài. Rồi từ đó không ngóc đầu lên được nữa. Giọng sắc lạnh vẫn tiếp tục: - Được lắm, cứ quỳ mọp như vậy đi. Tao khoái trò chơi này. Chừng nào chán tao lại đổi cho trò khác. Bỗng ngay lúc đó từ bên ngoài có tiếng người hỏi lớn: - Làm gì kêu la vậy mợ Hai? Giọng của Năm Hùm, người làm công thân tín trong nhà. Hắn từ nhà sau chạy lên khi đang làm thịt chó, tay chân còn dính đầy máu me. Chẳng biết có phải do hơi của máu chó dính tay hắn mà trong phòng chợt Minh Nguyệt hóa giải được thế quỳ và người trước mặt ả cũng tự nhiên bật ngửa ra rồi nằm im. - Có chuyện gì mở cửa ra, tui giúp cho mợ Hai ơi! Minh Nguyệt lúc này đã có thể lên tiếng được: - Cứu... cứu tao! Hai Hùm kéo mạnh cánh cửa phòng. Anh ta nhìn thấy người nằm dài dưới sàn nhà thì kêu lên: - Con Diệu mà! Con hầu lúc nãy với cái đầu lâu trên cổ giờ đây đã trở lại là một đứa bình thường với khuôn mặt khá xinh xắn. Nó là con Diệu thường ngày vẫn hầu hạ Minh Nguyệt. Trố mắt nhìn giây lát, rồi cái máu ác, bản tính hung hăng thường nhật của ả lại nổi lên, thay vẻ sợ hãi, run rẩy lúc nãy, Minh Nguyệt hét lớn: - Đánh chết con này cho tao! Hai Hùm ngơ ngác: - Nó làm gì mà đánh nó mợ Hai? - Nó… nó... muốn giết tao! Rồi không đợi Hai Hùm, ả tự tay chụp lấy cây gài cửa đập mạnh xuống đầu con Diệu. Nhưng thanh gài cửa chưa kịp hạ xuống thì đã nghe ả thét lên một tiếng và ngã lăn ra, máu trong miệng trào như heo bị chọc tiết! Hai Hùm định nhào tới đỡ ả dậy, nhưng bỗng khựng lại khi anh ta nhìn thấy sự biến đổi khác thường trên gương mặt con Diệu. Từ màu trắng hồng dễ thương, nó từ từ chuyển sang màu xanh chàm rồi lại sang màu đỏ như máu! Là một gã đâm thuê chém mướn về làm công nhà này lâu nay, Hai Hùm chuyên làm những công việc mà không ai trong nhà dám làm như giết chó, thọc huyết heo, đập đầu trâu bò... Vậy mà trước hình ảnh đang xảy ra hắn cũng phải rùng mình, bước lui mấy bước. Và cuối cùng chính hắn cũng phải bỏ chạy! Bà chủ Bành từ hôm bị con dâu xách dao rượt chạy, đến nay vẫn còn bệnh, nằm liệt trong phòng. Nhưng khi nghe tin tai nạn xảy ra cho Minh Nguyệt bà vẫn hỏi thăm mấy đứa hầu. Con Hường vốn là bạn của con Diệu, thuật lại chuyện khá rành rọt: - Hổng biết con Diệu nói gì đó mà mợ Hai nổi trận lôi đình, vác cây gài cửa định đánh nó, nhưng chưa kịp đánh thì ngã lăn ra hôn mê cả buổi chưa tỉnh lại. Bà Bành ngạc nhiên: - Con đó ác và có sức dữ lắm, sao lại như vậy? - Con cũng không biết. Nghe chú Hai Hùm nói lại thì cũng không phải do con Diệu đánh. Mà mợ Hai như bị ma ám hay sao đó! Bà Bành quan tâm: - Mày biết gì nói hết cho tao nghe coi. Ma ám làm sao? - Hai Hùm thuật lại là con Diệu mặt xanh mặt đỏ giống y như quỷ, như ma vậy đó! Nó làm cho mợ Hai... Nó vừa nói tới đó chợt bên ngoài có tiếng của Minh Nguyệt: - Nói lén người khác coi chừng thụt lưỡi nghe chưa! Ả ta xuất hiện làm cho chẳng những con Hường sợ, mà bà chủ Bành cũng phải bật dậy dù đang bệnh nặng. - Mày... mày... Minh Nguyệt tươi cười, bước thẳng vào chỗ bà mẹ chồng đang nằm, giọng ả thay đổi đến bà Bành phải ngạc nhiên: - Con tới thăm má và xin lỗi má về điều không phải của con. Rồi ả ta sụp xuống lạy liền ba cái, trước khi bà Bành lên tiếng: - Mày đừng làm vậy tao tổn thọ. Thôi, đứng dậy đi. Minh Nguyệt vẫn bình tĩnh lạy cho xong rồi mới ngẩng lên, ả vẫn dịu dàng: - Má đừng giận con. Chỉ tại con ghen mù quáng đã làm cho con làm bậy. Bây giờ con hứa với má, con sẽ là con dâu hiền, ngoan của nhà này. Bà chủ Bành vẫn không làm sao quên được chuyện hôm đó, bà run run giọng hỏi: - Mày làm sao giải thích chuyện con Xuyến. Con nhỏ... Minh Nguyệt tỉnh rụi: - Đâu có gì đâu má. Hương Quản Xị đã làm tờ trình lên quan rồi, con Xuyến chết là do vô tình khi chạy ra đồng bị ngã lên hầm chông gài ăn trộm. Nó chết là vì vậy chớ nào... Bà Bành thều thào: - Mày... mày... Minh Nguyệt vẫn bình tĩnh: - Má đừng lo nghĩ lung tung, cứ an tâm tịnh dưỡng, để rồi mấy bữa nữa má hết bệnh, con sẽ đưa má đi Sài Gòn chơi. Nhà con vừa sắm riêng cho con chiếc xe Peugeot 203 mới toanh, chạy êm như ru! Bà Bành vẫn còn lo: - Chuyện con Xuyến... Minh Nguyệt gạt ngang: - Xong hết rồi. Con đã cho riêng ba má nó một trăm đồng, nên họ không khiếu nại gì nữa. Coi như xui rủi cho cả hai nhà vậy mà! Thấy con Hường đang nghễnh cổ lắng nghe, Minh Nguyệt nhìn sang nó, giọng dịu dàng, nhưng con bé nghe như có gươm dao trong đó: - Chuyện gì của người khác có nghe thì nghe thôi, đừng có lanh chanh nhiều chuyện nghe con. Thôi đi ra ngoài đi, chiều gặp mợ, mợ cho ít tiền xài! Con Hường xưa nay vốn sợ mụ này hết vía, nên vừa nghe nói đã dạ rân: - Dạ, con hổng dám... Rồi vụt chạy ra ngoài. Còn lại hai người, Minh Nguyệt vẫn lễ phép: - Con xin lỗi má lần nữa. Mấy bữa nay nằm ngủ con cứ bị ác mộng hoài, nên vừa rồi đi chùa con được sư cô khuyên nên tu tâm dưỡng tánh, ăn hiền, ở lành... con nghe theo, nên từ nay má đừng ghét bỏ con nữa. Lời lẽ của ả chẳng khác một dâu thảo hiền, khiến cho trong phút chốc bà chủ Bành cũng động lòng, bà dịu giọng: - Như vậy là phải đó con. Phải nhắn tin cho thằng Hai nó mừng. Minh Nguyệt khoe: - Con gặp nhà con rồi. Bởi vậy ảnh mới mua tặng con chiếc xe hơi đó. Ảnh còn gởi tặng má mấy thứ này nữa. Vừa nói ả vừa lấy ra một chiếc hộp thiếc, bên trong có chiếc vòng cẩm thạch và đôi bông tai hột xoàn sáng lấp lánh. Bà Bành tuy đã có vô số nữ trang, vậy mà vừa nhìn thấy mấy vật đó cũng phải mừng rơn: - Mèn ơi, những thứ này đẹp quá! Bà cố gượng đưa tay cầm lấy và nhân tiện đặt tay lên tay con dâu: - Má cám ơn. Nhưng chợt bà kêu lên: - Sao tay con lạnh quá vậy Nguyệt? Minh Nguyệt tự sờ tay mình rồi nói: - Đâu có má. Có lẽ tại má đang bệnh cho nên... Bà chủ Bành rút tay về không nói gì thêm, nhưng cái cảm giác lạnh lạ thường kia vẫn còn làm cho bà bị rúng động, khiến bà phải rùng mình lên mấy lần. Có lẽ cảm nhận được điều ấy, nên Minh Nguyệt vội đánh trống lảng: - Má ăn gì chưa, để con biểu tụi nó đem cháo vô cho má ăn. Nhà con vừa gởi về nào vi cá, nào bào ngư để bồi bổ cho má mau khoẻ. Bà Bành định ngăn lại, nhưng Minh Nguyệt đã gọi vọng ra ngoài: - Đứa nào ngoài đó, xuống bếp kêu tụi nó múc cháo tao nấu hồi nãy, đem lên đây ngay coi! Lát sau đã có ngay chén cháo nóng nghi ngút khói. Minh Nguyệt đích thân thổi cho cháo nguội bớt, vừa múc từng muỗng đút cho bà mẹ chồng. Một cử chỉ mà từ ngày về làm dâu nhà này ả ta chưa bao giờ làm! Bà chủ Bành thật sự cảm động, nên vừa ăn bà vừa lắng nghe những lời ngọt ngào của cô con dâu. Giữa câu chuyện, bất ngờ Minh Nguyệt hạ thấp giọng hỏi: - Bà nhớ con Xuyến không, nó muốn thăm bà! Giọng nói nghe lạ, không phải của ả ta, làm cho bà Bành giật mình, trố mắt nhìn và hỏi: - Con vừa nói gì? Một tiếng cười khác thường vang lên, cũng vừa lúc đó Minh Nguyệt vụt đứng dậy, kéo theo cả bà chủ Bành. Bà này đang bệnh nên có lẽ người nhẹ tênh, nên khi bị nhấc bổng lên đã không có một phản ứng gì. - Con Xuyến về nhà này là do bà phải không thưa má? Vậy thì cái chết của nó bà đâu phải vô can! Vậy thì vay gì trả nấy, thưa má! Ả ta nghiến răng và thuận tay tung mạnh bà mẹ chồng lên cao như tung một quả bóng. Khi rơi xuống, thay vì rớt trên sàn nhà, bà Bành lại bị vướng vào sợi dây giăng mùng. Bình thường sợi dây ấy chỉ đủ giăng chiếc mùng nhẹ tênh, nhưng lúc này nó lại đủ sức treo thân thể nặng ngót năm chục ký của chủ nhân ngôi nhà. Không thấy bà chủ Bành động đậy nữa, Minh Nguyệt mới nhẹ gót quay ra. Khi cô ả ra tới cửa thì con Hường đi trở vô, nó vừa nhìn thấy đã kêu thét lên: - Trời ơi… con Xuyến! Nó kêu xong thì ngã lăn ra ngất xỉu. Phần V GIEO GÌ GẶP NẤY Tội nghiệp con Hường, chỉ vì nhìn thấy Xuyến mà ngất đi suốt mấy giờ liền. Đến khi tỉnh lại nó như kẻ điên loạn, cứ nhìn ai cũng ra gương mặt Xuyến. Lúc ấy Minh Nguyệt nói với mọi người: - Con này ăn phải bùa mê thuốc lú gì đó rồi nên mới như vậy, đuổi nó quách cho yên chuyện. Con Hường bị tống ra khỏi nhà ngay sau đó. Con nhỏ có lẽ cũng chỉ chờ có thế, nó xách gói quần áo chạy một mạch không dám nhìn lại, cho đến khi ra tới bến đò. Nhà Hường ở cách đó mất gần nửa ngày đò, nên con bé chờ đò đủ người là đi ngay, nhưng chờ khá lâu rồi mà chuyến đò thường khi tấp nập khách, giờ đây lại thưa vắng, chỉ có đúng người chèo đò đứng chơ vơ nhìn ra sông lớn. Quá sốt ruột nên Hường bước tới hỏi: - Đò chừng nào đi vậy chị? Cô lái đò đang đội chiếc nón lá lụp sụp vội giở ra, quay lại nhìn thẳng vào người hỏi: - Trời ơi... Xuyến! Trước mặt con Hường là Xuyến. Nhưng không phải với bộ mặt ma, mà con bé lại mỉm cười hiền hòa: - Đừng sợ, chính là tao đây, nhưng tao không hại mày. Hường sợ điếng hồn vía, cứ muốn chạy, nhưng dường như hai chân nó lúc ấy mềm nhũn. - Xuyến... tao với mày đâu có thù oán gì. Tao... Lặng lẽ đưa con đò rời bến mà chỉ có một hành khách là Hường, mãi khi ra tới giữa sông Xuyến mới lại nói: - Tao muốn cứu mày nên vừa rồi tao nhập vô xác con tiện nhân đó để khiến cho mày bị đuổi, chớ nếu không thì mày cũng theo số phận của tao mà thôi. Mày có biết là con tiện nhân ấy lắm mưu nhiều kế, nó giả bộ hiền ngoan vừa rồi là để loại trừ bà chủ Bành, sau khi đã giết được tao. Mày hãy yên tâm mà về quê đi, vài bữa nữa thôi, mày sẽ trở lại nhà đó với vai bà chủ. Mày sẽ thay mặt tao trả giùm mối thù mà tao đang gánh nặng trên người! Giúp tao nghen Hường! Con Hường hoàn toàn thụ động, nghe đến đâu nó gật đến đó. Cho đến khi có một cơn gió mạnh nổi lên làm cho chiếc đò chòng chềnh, khiến Hường suýt ngã, phải bám be xuồng. Khi nó hoàn hồn nhìn lại thì chẳng còn thấy bóng dáng con Xuyến đâu nữa. Nó ngơ ngác tìm thì nghe vọng trong gió giọng của Xuyến: - Mày phải giúp tao! Hường bàng hoàng khá lâu, đến khi thấy con đò cứ lềnh bềnh trôi không phương hướng nó mới giật mình cầm lấy chèo, nhắm hướng nhà mình mà chèo một mạch. Đến tối mịt nó mới về tới nhà. Vừa bước lên bến Hường đã nghe trên nhà reo lên: - Con nhỏ về rồi kìa! Chú thím Tám Xum, cha mẹ Hường cùng chạy xuống mừng vui khôn tả: - Con yên lành dìa đây rồi, ba má mừng quá! Thấy thái độ bất thường của cha mẹ Hường có hơi nghi. Nó nhìn lên nhà thì thấy có bóng ai đó, nó ngạc nhiên hỏi: - Khách nào trong nhà mình vậy má? Thím Tám không giấu được niềm vui: - Rồng tới nhà tôm con ơi! - Rồng nào? Con Hường hỏi mà mắt vẫn không rời hướng đang nhìn. Chú Tám phải lên tiếng: - Con lên tới ắt biết. Vừa bước tới cửa Hường đã khựng lại, hồn vía lên mây khi nhìn thấy Hai Tường đang đứng trong nhà! Thấy nó, ông chủ biện lý mà từ ngày vô ở đợ nhà chủ chưa bao giờ Hường dám nhìn thẳng mặt, đã cười rất tươi, cất giọng thanh trong như con gái nghe rất quen: - Vắng có mấy tháng mà cô Hường khác đi nhiều. Cao lớn hơn, đẹp lên nhiều nữa! Vốn đã sợ, nay lại nghe những lời đó Hường lại càng run thêm, nó lúng túng nói gần không ra lời: - Dạ... dạ... bẩm... bẩm quan... Hai Tường bước gần lại, hạ thấp giọng chỉ cho mình Hường nghe: - Đừng sợ, Xuyến đây. Tròn mắt ngạc nhiên, Hường định hỏi, nhưng miệng như bị ai đó bịt lại. Trong khi Hai Tường lại tiếp: - Đã biết chuyện này do tao xếp đặt rồi, vậy đừng thắc mắc gì nữa hết, cứ theo ý tao mà làm. Rồi mày sẽ đổi đời sẽ cùng tao làm được việc mà lúc sống tao không thể làm. Ba má mày có hỏi thì cũng đừng nói gì hết. Câu duy nhất mày phải nói lúc này là: Tui thương cậu Hai! Nhớ nghen Hường! Nói xong câu đó Hai Tường trở lại bình thường, anh ta cất giọng đúng của ông chủ hét ra lửa của Bành gia: - Cô Hường năm nay bao nhiêu tuổi? Hường riu ríu: - Dạ... mười bảy. - Mười bảy bẻ gãy sừng trâu. Vậy có dám bẻ gãy sừng con trâu già này không? Nói xong Hai Tường tự nhiên kéo ghế ngồi mà không đợi mời. Và trái với thường khi, chú thím Tám không tỏ ra sợ sệt khi đứng trước ông chủ khét tiếng hung tàn này. Chú lại còn nói: - Quan biện lý có ý chờ con từ sáng tới giờ đó. Mời ăn gì cũng không, nói chờ con về rồi đưa con ra chợ ăn cao lầu! Thím Tám thêm vô: - Quan biện lý còn đem tới tặng cho con mấy bộ đồ quý nữa kìa. Thím nói xong chạy đi lấy ra một gói đồ khá lớn đưa cho con: - Trong này có đủ hết, đều là của riêng con. Hường tiếp nhận không chút do dự, có lẽ nó nhớ lời dặn của hồn con Xuyến lúc nãy, Hai Tường cũng thế, anh ta làm như đã được sự đồng tình của Hường, nên cất tiếng thân mật: - Em đi thay đồ để ta còn đi sớm. Ta ra chợ ăn uống, sau đó đi luôn Sài Gòn ở chơi mấy bữa. Đợi cho lúc nào chuyện nhà dưới này xong xuôi thì ta về. Anh đã nói với ba má rồi. Hường đưa mắt nhìn cha mẹ, thì họ đều gật đầu. Chú Tám thường khi nghiêm khắc, giờ cũng dịu giọng: - Thầy Hai đã thưa chuyện với ba má rồi. Sau khi suy tính ba má thấy cũng được. Vậy con nên nghe lời. Nghĩ là cha mẹ mình cũng đã được vong hồn Xuyến tác động nên Hường không nói gì thêm, nó ngoan ngoãn đi vào phòng riêng thay quần áo. Mấy bộ đồ Hai Tường mua về ngẫu nhiên lại vừa khít Hường, nên khi nó mặc bước ra chính cha mẹ nó cũng phải trầm trồ: - Con tui đẹp quá! Hai Tường vừa ý: - Em quá xứng đáng! Anh ta bước tới nắm tay Hường kéo sát mình rồi hỏi: - Ba má thấy có chênh lệch gì không? Thím Tám lên tiếng ngay: - Cũng đâu có sao! Chú Tám lại giục: - Hai đứa đi kẻo trễ! Hường rui ríu đi theo sau, Hai Tường đi trước ra chiếc xe hơi đã đậu sẵn gần nhà. Đích thân Hai Tường lái, không có tài xế. Khi đi một đoạn khá xa anh ta mới lên tiếng: - Được rồi, cám ơn mày nghen Hường! Giọng nói của Xuyến! Còn Hai Tường thì mỉm cười. Hường không có phản ứng gì, mãi một lúc sau mới nói rất khẽ: - Tao sẽ làm được chuyện mày nhờ, Xuyến ơi! Sau cái chết đột ngột của bà chủ Bành, cả Bành gia rơi vào tình trạng như rắn không đầu. Biện lý Tường thì ở biệt trên Sài Gòn không về, còn Minh Nguyệt thì hầu như suốt ngày đóng kín cửa phòng không ló mặt ra. Tôi tớ trong nhà trên chục người không ai dám léo hánh lên nhà lớn, chỉ trừ một người, đó là Hai Hùm. Chính anh ta cũng không hiểu tại sao chỉ mình anh khi bước lên nhà lớn thì không hề gì, còn những người khác thì mỗi khi vừa đặt chân lên thềm nhà đã nghe từ trong phòng bà Bành cũng như phòng Minh Nguyệt vọng ra những âm thanh kỳ quái! Có người biết chuyện đã đoán rằng do Hai Hùm lắm máu chó, máu bò trâu nhiều nên ma quỷ sợ không dám lên tiếng! Nhưng ma quỷ gì trong Bành gia? Bà Tư Phấn, một người làm công lâu năm, chuyên quét dọn phòng ốc cho chủ nhà, đã tiết lộ: - Hôm qua khi bước vô phòng bà chủ tui suýt nữa đã rụng tim ra ngoài, bởi tui thấy một người treo cổ giữa phòng! Mọi người hỏi ai là người treo cổ thì bà Phấn lắc đầu nói: - Tui cũng hổng biết. Bởi vì khi tri hô lên, vài người nữa chạy tới xem thì... không hề có ai hết! - Bà bị ám ảnh, nhìn gà hóa quốc rồi! Bà Tư lắc đầu nói: - Không nhìn lầm đâu. Lầm sao hồi tối này tui đang ngồi rửa chén ngoài bờ ao nhìn vô, tui thấy trong phòng bà chủ có cái bóng đang đút đầu vô dây thắt cổ rõ ràng. Đến khi Hai Hùm chạy vô thì chẳng có ai, nhưng sợi dây thòng lọng thì còn nguyên! Ai nghe kể cũng le lưỡi lắc đầu, sự sợ hãi lan khắp nơi. Có người còn nói: - Chắc tại chuyện này nên con Hường xin nghỉ luôn cũng không chừng! Nghe nhắc tới con Hường, một người có nhà gần nhà ba má Hường bỗng nói: - Tui nghe nói tháng sau thì con Hường làm đám cưới! Mọi người ngạc nhiên: - Nó lấy ai vậy? - Ai mà biết. Chỉ nghe má nó nói úp mở là con Hường sắp lấy chồng giàu. Nghe nói giàu lắm! Con Tư Bê, bạn Hường, cùng hầu hạ bà Bành, chép miệng: - Con người ta có số. Biết đâu mai mốt con Hường làm bà chủ này chủ nọ cho coi! Chỉ có tụi mình Ià số con rệp, suốt đời chui rút vô cái xó khỉ này, để cho người ta đè đầu cưỡi cổ. Mọi người đang bàn tán thì chợt nghe có tiếng huyên náo dưới bến, liền đó Hai Hùm hớt hãi chạy lên, trên tay bế xốc một người. - Ai vậy Hai? Bà Tư Phấn hỏi, vừa bước lại gần rồi kêu thét lên: - Sáu Thắm! Sao vậy Hai? Hai Hùm đặt mụ Sáu xuống, giọng còn run: - Tui... tui thấy bà nằm trên xuồng, tấp vô bến... Anh ta chỉ vô cái miệng đầy máu của mụ Sáu, vừa lúc Tư Phấn cũng đã phát hiện: - Cái lưỡi! Lưỡi của mụ Sáu Thắm đã bị ai đó cắt đứt và mụ ta đã chết! - Ai đã làm? Câu hỏi của Tư Phấn không có lời đáp. Mãi một lúc Hai Hùm mới hạ thấp giọng nói mà như sợ có người nghe: - Tui nghi vụ này... Con Tư Bê vọt miệng nói liền: - Con Xuyến làm chớ không ai vô! Bị mọi người tròn mắt nhìn, khiến Bê phải thấp giọng: - Chỉ có ma mới làm được. Mà ma thì chỉ có... Bà Tư Phấn cũng đồng tình: - Con mụ Sáu này thường ton hót nhiều chuyện, rồi lại còn bày trò gả người này bán người kia. Con Xuyến mà linh thiêng nó cũng dám lắm à! Hai Hùm tiết lộ làm mọi người còn hoảng hơn: - Tui nghe nói hồi sáng này Sáu Thắm với bà Chín thầy bùa đi chung dự đám cưới bên kia cồn, mà chẳng hiểu sao giờ này chỉ có mình xác Sáu Thắm ở đây. Hay là... Anh ta vỗ đùi đánh đét một cái: - Chắc là mụ Tám cũng xong đời rồi cũng nên! Anh ta vội chạy bay xuống chỗ chiếc xuồng lúc nãy và không suy nghĩ gì thêm, đã đẩy mạnh xuồng ra giữa sông, nhắm hướng cồn chèo một mạch. Chèo chưa được bao xa thì bỗng anh ta kêu khẽ: - Có người! Một xác người nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Xác nằm ngửa chứng tỏ đó là đàn bà. Cho xuồng lại gần, Hai Hùm hốt hoảng: - Bà Chín. Người phụ nữ lắm mưu mẹo gọi là bà Thầy Chín đang chết trôi sông, miệng mụ ta há hốc ra, với chiếc lưỡi bị cắt cụt. Hai Hùm thất thần, đứng thờ người ra một lúc rồi mới đưa tay vớt cái xác lên. Nhìn kỹ thì cả hai cái chết của hai mụ Sáu và bà Chín đều cùng một cách với nhau. Có nghĩa là do một người gây ra... - Con Xuyến! Lần đầu tiên chính miệng anh đồ tể này nhắc tới Xuyến. Anh ta đã bắt đầu cảm nhận những gì đang xảy ra đều có liên quan tới con hầu gái chết oan? Tự dưng phát rùng mình, khiến Hai Hùm lảo đảo, suýt ngã xuống sông. Anh ta luống cuống cầm chèo mà cứ quơ tới quơ lui, không làm sao đưa chiếc xuồng đi được. Phải mất gần nửa giờ sau Hai Hùm mới đi được về bến. Cũng vừa lúc đó từ trên nhà đã nghe có tiêng kêu thất thanh: - Mợ Hai, bớ người ta! Mọi người đang chạy về phía phòng của Minh Nguyệt. Ở trong phòng có tiếng rú vọng ra, đúng là giọng của ả ta. Do không có ai dám vào phòng nên Tư hô lên: - Kêu Hai Hùm về lẹ lên! Cũng may Hai Hùm vừa bước lên tới. Anh ta bảo: - Ai đó cùng tui phá cửa phòng vô coi! Không ai dám, cuối cùng bà Tư Phấn phải lên tiếng: - Để tao. Hai Hùm dùng sức phá tung cửa phòng, vừa kịp lúc họ phát hiện Minh Nguyệt đang định đút đầu vào vòng treo cổ. Hai Hùm vừa chạm tới chân thì toàn thân Minh Nguyệt đã rơi xuống nằm sóng sượt trên sàn nhà. Bà Tư Phấn hốt hoảng: - Mợ Hai! Khi bà chạm vào người Minh Nguyệt thì lại càng sợ thêm, bởi toàn thân ả ta đã lạnh như nước đá. Hai Hùm sau khi đưa tay sờ lên mũi ả, đã mừng rỡ reo lên: - Còn sống! Ả ta được cứu tỉnh, nhưng từ phút đó cứ luôn kêu la giống như người mất trí. Hai Hùm bàn: - Hay là ta đưa mợ ấy đi nhà thương, chớ để ở nhà thì biết liệu thế nào? Không còn ai khác để quyết định, nên sau đó bà Tư Phấn phải hành động. Đích thân bà cùng với hai con hầu ngồi ghe có mui đưa Minh Nguyệt đi. Nhưng đã ba lần đưa ghe ra khỏi bến thì đều như bị ai đó kéo mạnh lại, chiếc ghe cứ chạy lùi! Hai Hùm là người có sức vóc, vậy mà cuối cùng cũng phải chào thua. Anh ta lắc đầu nói: - Sông nước này bây giờ đã thuộc về cô ấy rồi! Bà Tư Phấn ngạc nhiên: - Chú nói cô nào? Hai Hùm không dám nói lớn: - Cô Xuyến! - Con Xuyến... làm sao? Trả lời bà là một cột nước đột ngột vọt lên từ lòng sông, cao đến quá đầu mọi người, rồi chiếc ghe lắc lư, chao đảo như sắp lật úp! Hoảng quá Hai Hùm hét mấy đứa hầu: - Ôm mợ Hai cho chặt, tao cập ghe lại rồi đưa lên bờ! Phải vất vả lắm họ mới đưa được người lên bờ an toàn. Lúc này Hai Hùm đã quá mệt, anh ta nói hổn hển: - Ai làm thì làm, tui chịu thua! Nói xong anh ta bỏ đi một nước, không quay lại nhìn mọi người. Mặc cho Minh Nguyệt vẫn tiếp tục kêu gào, điên loạn… Phần VI Tin biện lý Tường về đây khiến cả nhà vừa mừng vừa sợ. Mừng là đã có người giải quyết những chuyện nan giải ở nhà, nhưng lại lo sợ bởi xưa nay mỗi lần quan biện lý mà có mặt thì y như là đám tôi tớ thế nào cũng có đứa ăn đòn. Hai Tường có tiếng là hung hăng, cái gì không vừa ý là quật roi da tới tấp, bất kể tôi tớ là trẻ hay già. Chính bà Tư Phấn cũng đã từng nếm mấy roi da nhớ đời! Nhưng Hai Tường không đi một mình. Anh ta từ trên xe hơi bước xuống cùng với một người đẹp thật lộng lẫy. Chính bà Tư Phấn phát hiện đầu tiên, bà trố mắt nhìn rồi kêu lên: - Ai in là... con Hường! Người phụ nữ đi cạnh, tay trong tay với biện lý Tường chính là Hường chớ chẳng ai khác! Con bé người hầu bữa trước, nay trong bộ cánh sang trọng đã đổi khác hoàn toàn, trông nó chẳng khác một quý bà quý cô dân nhà giàu thứ thiệt. Hai Tường khác với những lần trước, đi thẳng tới trước đám gia nhân đang dàn hàng ngang chào đón, anh ta mỉm cười vừa cúi đầu chào: - Bà con mạnh khỏe! Mọi người cứ tưởng mình nghe lầm, bởi nào giờ hễ mở miệng ra với gia nhân là anh ta chỉ có quát nạt, gầm gừ chớ đâu dịu dàng như thế này. Riêng Hường thì nhìn vào các bạn bè cũ, nó lên tiếng ngay: - Tui về rồi nè, có nhớ tui không! Tất cả hầu như còn ngơ ngác, đâu ai tỉnh táo để đáp lời, nên Hường phải lặp lại: - Tui vô nhà rồi lát nữa mình nói chuyện nhiều! Nhìn theo dáng đi của Hường khuất trong nhà lớn rồi bà Tư Phấn mới dám lên tiếng: - Nhà này bây giờ trật tự đảo lộn, đất trời sắp nghiêng rồi! Bỗng có giọng nói của ai đó vang lên đủ cho mọi người nghe: - Trời đất không nghiêng đâu, mà trái lại nó đang yên ổn và sắp tốt đẹp hơn lên mà thôi! Giọng nghe quen quen nhưng không biết là của ai. Khiến mọi người nhìn nhau nghi ngờ. Bà Tư Phấn phải lên tiếng hỏi: - Ai nói vậy? Ai cũng lắc đầu, chợt con Thoa, đứa hầu riêng cho bà chủ Bành ngày trước lên tiếng: - Giống in như là tiếng con Xuyến! Chỉ nghe bấy nhiêu đó bà Tư Phấn đã rùng mình. Bà cuống lên: - Đi đi làm việc đi. Không ai khiến, nhưng bà lại đi thẳng vào phòng riêng của Minh Nguyệt. Đến lúc chợt nhận ra thì bà đã ở bên trong phòng. Từ ngày bị lên cơn điên loạn thì hầu như không một ai dám bước vô chỗ của ả ta, mỗi khi đưa cơm nước thì đám tôi tớ chỉ biết đặt cơm ở cửa rồi chạy biến đi ngay. Họ đồn với nhau rằng vợ Hai Tường có thể giết bất cứ ai để cho ả gặp mặt? Chẳng hiểu sao mình lại vào đây, bà Tư Phấn đang lúng túng định lui ra thì đã bị Minh Nguyệt ôm chặt lấy, vừa cất giọng van lơn: - Làm ơn cứu tui, làm ơn đem tui đi bà Tư ơi! Như vậy là ả còn tỉnh táo, nhận biết người đang đứng trước mặt, điều này khiến bà Tư Phấn hơi yên tâm, bà nhẹ giọng: - Mợ Hai muốn đi đâu? - Tui phải chạy trốn, giúp tui với bà Tư! - Mợ trốn ai? Minh Nguyệt đưa tay chỉ ra ngoài, sắc mặt hoảng loạn: - Họ tới đó, trốn đi! Ả kéo tay bà Tư, nhưng có lẽ do ăn uống thất thường mấy ngày liền nên ả yếu đến nỗi vừa kéo một cái đã ngã nhoài ra. Bà Tư chưa kịp đỡ ả dậy thì đã nghe tiếng của Hai Tường: - Phòng này hôi hám lắm, mình lên phòng trên, biểu tụi nó sửa sang lại. Hai Tường và Hường xuất hiện đột ngột khiến cho bà Tư Phấn quýnh lên, bà chưa biết làm sao thì Hường đã lên tiếng: - Bà Tư cứ ở đó. Từ nay bà lo cho mợ ấy. Hai Tường trừng mắt: - Không có mợ gì hết. Từ nay đây mới là mợ Hai của nhà này! Anh ta chỉ sang Hường, nói với bà Tư Phấn: - Hường đã chính thức là vợ tôi, từ nay cô ấy sẽ cai quản nhà này. Mọi sự sắp đặt là do cô ấy! Trước sự ngạc nhiên lẫn sợ hãi của bà Tư, Hường vẫn nhỏ nhẹ: - Bà Tư đừng ngại gì hết. Cứ lo việc của mình. Bà cũng đừng ngại chuyện phải hầu hạ ai, bởi từ nay trong nhà này ngoài tui ra thì không có ai là chủ nào nữa! Thật bất ngờ, lúc ấy bỗng Minh Nguyệt quay sang Hường và sụp xuống lạy liền mấy cái, giọng run rẩy: - Xin tha cho tui. Tui sẽ tuân lời... Hai Tường quát lớn: - Đuổi nó ra nhà kho mà ở! Hường lay tay Hai Tường: - Kìa mình, mình đã hứa rồi mà, chuyện nhà này để em lo... Hai Tường dịu giọng: - Ờ... ờ.... em cứ làm gì thì làm. Anh ta nói xong quay bước một mình trở ra phòng ngoài. Hường lúc này mới nói: - Cứ để bà ta ở lại phòng này, nhưng từ nay không còn ai phục dịch nữa. Mọi việc dọn dẹp đều phải tự lo. Ngoài ra bà ta còn phải làm hết mọi việc trong nhà này, giống y như các người khác. Bà Tư Phấn ái ngại: - Đâu được Hường... à mà không, mợ Hai Hường, dẫu gì mợ ấy cũng là chủ nhà. Hường nghiêm giọng: - Bà Tư cứ hỏi thẳng bà ấy xem, bà ta có nhận mình là chủ không? Chưa kịp để ai hỏi, Minh Nguyệt đã vụt lên tiếng: - Tui là tôi tớ trong nhà. Cho tui ở là tui mang ơn trọn kiếp này. Trong lúc bà Tư Phấn còn đang ngẩn ngơ thì Hường đã quay gót. Tướng đi của nó cũng khác xưa, khoan thai, sang trọng hơn... Mọi sự diễn ra trong Bành gia khiến ai chứng kiến cũng đều phải kinh ngạc. Vợ lớn Hai Tường từ một hoạn Thư, quyền sinh sát trong tay, giờ đây trở thành một con hầu già, người nghễnh ngãng, nửa tỉnh nửa mê. Còn Hường, đứa tôi đòi ngày nào giờ nghiễm nhiên trở thành bà chủ cả cơ ngơi đồ sộ. Biện lý Tường xin từ nhiệm trước sự bất ngờ của các đồng sự. Anh ta trở về quê nhà sống cuộc đời ẩn dật, như một cái bóng mờ sau lưng cô vợ trẻ. Lạ là Hường từ nào chưa từng làm chủ, mới lấy chồng ở tuổi mười bảy, vậy mà đã tỏ ra chững chạc người lớn hơn người ta tưởng. Mọi tôi tớ trong nhà đều được những ân sủng bất ngờ. Mỗi người được cấp cho mười mẫu ruộng và một số tiền làm vốn. Ai thích về quê lập nghiệp thì về, còn ai ở lại làm việc thì được đối xử công bằng, lương thưởng tăng hơn nhiều lần so với trước kia. Nếu Bành gia trước đây là chốn địa ngục của đám tôi tớ, thì bây giờ là thiên đàng của họ. Những người từng bị đuổi việc trước kia nay cũng trở về rất đông. Đối với họ thì cô chủ Hường là hạng nhất! Lạ một điều là gặp mặt Hường ở đâu là Minh Nguyệt cúi mọp đầu không dám ngẩng lên. Mỗi lần như vậy Hường chỉ đưa mắt nhìn rồi bỏ đi, không hề có cử chỉ gì biểu tỏ sự hằn thù. Nếu lần nào có lên tiếng thì giọng nói của Hường nghe rất lạ, giống như giọng của ai đó... Người ta bảo rằng trong con người của Hường có một phần hồn của Xuyến. Và chính Xuyến chớ không phải Hường, mới là người cai quản sản nghiệp nhà họ Bành. Họ phải trả giá cho những tội ác từng gây ra. Điều đó cũng phải thôi... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 23
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXIII: TIẾNG SÁO GỌI HỒN - Phần I Mưa nửa đêm. Giữa cái thị trấn vốn yên bình này, tiếng mưa trong đêm là một âm thanh khó nghe có thể dẫn đến những cơn mất ngủ của nhiều người. Không phải tiếng mưa đánh thức họ dậy mà trong cái không gian giữa trời đất sâu thẳm ấy lại đưa đến cho mọi người một cảm giác âm thanh đầy ma quái. Lâm đã thức giấc tự bao giờ. Anh đang đứng nhìn những giọt mưa rơi tí tách ngoài hiên nhà, bên tai anh khúc nhạc bi thương của ai ngân vang trong đêm. Tiếng sáo cất lên như một lời than thở, oán trách. Trong đêm mưa gió tầm tã, chỉ có tiếng gió rít lên từng hồi. Gió rít mạnh ào ạt thổi bay đi bao nhiêu chiếc lá vàng lìa cành tan tác. Tiếng sáo ngân vang như hòa nhập vào âm thanh trầm bổng nhưng ghê sợ của vũ điệu mưa rơi. Từ ngày Lâm đặt chân tới cái thị trấn nhỏ bé yên tĩnh này, đêm nay là đêm anh bị đánh thức bởi tiếng sáo kỳ lạ. Lâm không hiểu trong đêm mưa gió, giá rét thê lương như thế này, sao lại có người ngồi thổi sáo như muốn gởi tâm sự mình qua tiếng sáo đìu hiu. Lâm không thể nào đoán ra được bản nhạc mà ai đó đang thổi. Anh nghĩ chắc đây là những âm thanh xuất thần nhưng cũng đủ khiến cho lòng Lâm không khỏi bùi ngùi. Từ căn phòng của Lâm nhìn ra ngoài, đối diện là con đường mòn đầy bụi cỏ gai, trời đêm mịt mù phủ từng lớp mưa trắng xóa, Lâm không nhìn rõ từng cảnh vật trong đêm nhưng anh vẫn đưa mắt phóng ra ngoài trời một cách vô thức. Một cơn gió thổi mạnh vào người Lâm. Gió mang đến cho anh hơi lạnh buốt giá. Ánh sáng từ phía chân trời vụt hé sáng kèm theo một tia chớp, chính cái ánh sáng ấy đã giúp Lâm nhận rõ được: Trên con đường mòn phía trước có một bóng trắng đang đứng yên lặng nhìn về phía Lâm. Lúc đầu Lâm cứ tưởng là một vật gì? Có thể là chiếc áo của ai đã để quên trên cành cây. Nhưng khi nhìn rõ lại, anh nhận ra bóng trắng ấy là một thiếu nữ, mái tóc cô gái che khuất cả khuôn mặt làm cho Lâm không thể nào nhìn rõ được. Khi tia chớp tắt lịm, màu đen thẫm trở lại. Lâm không còn thấy rõ bóng dáng cô gái nữa. Anh đưa mắt tìm kiếm nhưng vô vọng, ngoài trời cảnh vật mờ ảo làm cho anh càng khó nhìn rõ được người con gái đó đi về hướng nào. Lâm trở về với trạng thái hoang mang. Anh không biết anh đang gặp ai, trong đêm mưa lớn thế này, tại sao lại có một bóng người lang thang trên con đường vắng. Có phải là Lâm vừa mới gặp một oan hồn đi trong đêm không? Và tiếng sáo kia nữa. Tiếng sáo như gọi hồn, của một nỗi niềm trắc ẩn. Lâm không biết lý giải sự việc vừa qua mà anh đã gặp nhưng khi nghĩ đến hồn ma trong đêm tối, anh còn cảm thấy mơ hồ. Lâm thầm nghĩ, biết đâu một cô gái đang đi dạo trong đêm... Cơn mưa dần tạnh hạt và âm thanh của tiếng sáo bí ẩn cũng im bặt. Không gian trở về cái yên tĩnh vốn có, ngoài trời không một tiếng động, chỉ có tiếng côn trùng rên rỉ trong đêm, lúc này Lâm cảm thấy cơn buồn ngủ kéo đến. Giấc ngủ muộn màng và đầy căng thẳng đã đến với anh. Lâm không quan tâm đến ông Năm đang làm tiếp công việc gì. Anh đưa mắt nhìn ra xa nơi đó, những cánh đồng lúa xanh rờn ngút ngàn tít chân trời. Bầu trời trong xanh với áng mây trắng trôi bồng bềnh. Cảnh vật đẹp làm sao! Giàn hoa thiên lý đang khoe mình trong ánh nắng ban mai, một vài cánh bướm lượn lờ ve vuốt từng cánh hoa. Thiên nhiên ở đây trong lành và đáng yêu mà từ lâu lắm rồi Lâm không có phút giây thanh thản để tận hưởng nó. Anh nhắm mắt lại và nhớ đến lời Chí Thông đã nói với anh: - Mày sẽ tận hưởng được, những phút giây yên bình và thanh nhàn nhất... Buổi sáng êm đềm, sau cơn mưa đêm qua, mọi cảnh vật sống động hẳn lên, tươi mát như vừa được tẩm thuốc trường sinh. Vài tia nắng len lỏi qua kẽ hở chiếu sáng phòng Lâm. Ánh nắng mơn trớn dịu dàng lên má Lâm, làm cho anh giật mình tỉnh giấc sau giấc ngủ mệt mỏi, nặng nề... Tiếng ho khàn đục của ông Năm làm vườn dưới nhà, người đàn ông quản gia của ngôi nhà này làm cho Lâm khó chịu đưa mắt nhìn ra cửa sổ. Ông Năm đang tưới nước những bụi hoa trước cổng nhà, ông lẳng lặng làm việc không quan tâm đến những việc xung quanh. Từ ngày Lâm đến căn nhà này dưới sự giới thiệu của Chí Thông, bạn anh, vẻ im lặng đáng sợ của ông Năm làm anh cảm thấy lo ngại, mặc dù anh biết trước điều đó qua lời kể của gia đình Chí Thông. “Khi trở về quê của tao, nơi đó trong lành và thơ mộng lắm, mày sẽ có được nguồn cảm hứng mới để tạo ra một tác phẩm riêng mình...” . Thật ra, Lâm và Chí Thông cùng tốt nghiệp đại học Mỹ Thuật, nhưng trên con đường sự nghiệp, cả hai có những chí hướng khác nhau. Chí Thông may mắn có những bản thiết kế trong ngành nhà hàng và khách sạn. Sự thành công rực rỡ ấy đưa Chí Thông trở thành giám đốc một công ty do anh tự đứng ra thành lập. Còn Lâm, với những hoài bão của riêng mình, trong suốt thời gian qua anh vẫn là một người vô danh sống một cuộc đời bình thường, mặc dù anh vẫn sống hết mình cho sự nghiệp. Anh có một thế giới cho riêng anh ở thành phố, ngôi nhà đầy ắp những tranh của anh, các đứa con tinh thần được chào đời tại đây và chúng chỉ biết nằm im trong lớp bụi thời gian bao phủ. Lâm chưa lần nào đưa chúng xuất hiện trước công chúng, không phải vì Lâm khó tính, chẳng qua anh chưa có một tác phẩm nào tuyệt tác mà từ lâu anh hằng mơ ước. Tác phẩm ấy sẽ xuất hiện như một kỳ công nửa sống động, nửa hư vô... Lại tiếng ho khàn đục của ông già Năm làm cắt đi dòng suy nghĩ của Lâm. Không biết ông Năm đã đứng sau lưng anh tự bao giờ, ông khẽ hỏi, giọng vẫn khàn đục: - Tối qua cậu ngủ có ngon không? Lâm quay sang nhìn ông Năm, anh mỉm cười gật đầu, bất chợt anh nhớ ra tiếng sáo lạ lùng. Tiếng sáo đã làm cho anh mất ngủ hai ngày qua. Lâm chưa kịp lên tiếng thì bóng dáng ông Năm đã khuất sau cửa. Ông là một con người ít nói, chỉ biết chăm chỉ làm việc, hầu như ông không muốn cho mình một ít thời gian rảnh rỗi. Lâm không tỏ ra ngạc nhiên vì tính tình của ông Năm. Khi chuẩn bị đến đây, Chí Thông đã giới thiệu tỉ mỉ cho anh nghe rồi. - … Tuy bề ngoài ông Năm lạnh lùng, ít nói, nhưng ông ấy sống tình cảm lắm. Mười năm trôi qua, ông ấy vẫn gắn bó với gia đình tao. Khi gia đình tao chuyển về thành phố, ông ấy là người tình nguyện ở lại trông coi căn nhà này, lo hương quả cho tổ tiên tao, trên đời này hiếm có người quản gia nào trung thành như vậy... Lâm rời khỏi căn phòng dành cho mình, anh đi thẳng ra phòng khách. Căn phòng trang trí đơn sơ và giản dị. Tất cả đồ dùng trong nhà kể cả tủ, bàn ghế đều là những kỷ vật thời xa xưa, có cái hơn cả tuổi của Lâm. Bàn thờ tổ tiên được đặt giữa phòng khách trông thật uy nghi trang trọng. Trên ấy, từ cao xuống thấp, những di ảnh của tổ tiên qua từng đời của gia đình Chí Thông. Tủ thờ được chạm trổ hình long phụng rất tinh vi, từng sắc thái là đặc thù mỗi cá tính riêng. Tất cả đều ẩn hiện lên từng đồ vật trang trí trong phòng. Lâm chưa am hiểu hết những chi tiết hoa văn kia, anh chỉ đưa mắt nhìn thoáng qua rồi bước thẳng ra ngoài vườn. Khu vườn khác hẳn với sự âm u tĩnh mịch trong ngôi nhà. Nơi đây mới chính là không khí trong lành cần thiết đối với Lâm. Anh ngả người trên băng ghế đá, ánh nắng ấm áp rọi vào người làm cho cơ thể anh nóng bừng hẳn lên. Anh vươn vai lên hít một hơi thật sâu tận lồng ngực rồi khoan khoái đưa mắt nhìn lên cao, nơi ấy có những áng mây trắng bồng bềnh trôi lơ lửng tạo thành những hình ảnh ngộ nghĩnh. Trong phút giây thư giãn, tâm trí anh quên đi câu chuyện ngày hôm qua, anh không bận tâm đến những gì đã xảy ra với anh và những ngày anh sẽ sống trong vùng quê của gia đình Chí Thông. Anh mong muốn mình có những cảm hứng mới lạ để cho việc sáng tác của anh thành công. Chỉ còn một tháng nữa anh phải quay trở về thành phố để chuẩn bị cho vệc trưng bày triển lãm tranh của mình. Vì đã đến lúc những bức tranh phải được ra mắt công chúng. Lâm cảm thấy hồi hộp và căng thẳng khi nghĩ đến những việc sắp tới. Lại cái âm thanh quen thuộc ngân vang trong đêm tối, âm thanh ấy vang lên điệp khúc sầu bi và não lòng. Lâm không thể nào tránh khỏi sự tò mò vốn có trong anh. Lần này nhất định Lâm phải tìm ra sự thật ai là chủ nhân của tiếng sáo kia. Anh khoác thêm vào người một chiếc áo ấm như lấy thêm can đảm khi bước ra ngoài. Trong màn đêm đen tĩnh mịch kia, cái lạnh bỗng xuyên qua da thịt anh một cách bất bình thường. Anh lặng lẽ bước theo con đường mòn dẫn ra cánh cổng lớn. Gió thổi nhè nhẹ, đâu đó như hơi thở của đêm phả vào người Lâm. Vòm trời đen thẫm không một ánh sao, cánh cổng được Lâm mò mẫm mở ra, trước mắt anh là một con đường đất đỏ lác đác vài bụi cỏ gai. Cũng may là Lâm mang cây đèn pin nhỏ, ánh sáng từ cây đèn ra lờ mờ không đủ cho anh nhìn bao quát xung quanh, đêm tối, âm u và lạnh lẽo. Tiếng sáo êm đềm đưa vào tai người nghe như là lời thì thầm, than thở, trách hờn ai đó. Lần theo con đường, Lâm bước đi một cách dè dặt, linh cảm báo trước cho anh biết, chủ nhân tiếng sáo ấy rất gần đây, quanh quẩn bên anh... Đi mãi và vẫn tiếp tục đi, Lâm cũng không thấy gì ngoài sự độc hành của anh trong màn đêm. Tiếng sáo cứ vi vu huyền bí, xa xa có vài căn nhà tranh lờ mờ ánh sáng ngọn đèn dầu, không gian tĩnh lặng u ám. Bất chợt, mắt Lâm nhòe đi khi chạm một ánh sáng khác thường như là một màu trắng mờ đục khiến bước chân anh thôi thúc đến gần với ánh sáng lạ kia. Bây giờ Lâm mới nhìn rõ được nó, không phải màu trắng đục mà là một màu tím nhạt, gần như là màu trắng được hòa hợp với màu tím huyền ảo vô cùng. Bên tai Lâm vẫn tiếng sáo rất gần và quen thuộc. Anh không thấy gì ngoài cái ánh sáng tím trắng hiển hiện. Ánh sáng đó được bao phủ bởi một rừng cây xương rồng. Lâm cố tìm lối đi để bước đến gần ánh sáng ấy, anh muốn biết nó là ánh đèn hay một vật gì có thể phát ra thứ ánh sáng kỳ quặc kia và còn có ai ở trong đấy với tiếng sáo đau buồn trầm uất. Cuối cùng thì Lâm cũng tìm được một lối nhỏ để chui vào bên trong. Lối vào rất hẹp nên anh phải cúi người xuống bò vào. Những mũi gai xương rồng thật nhọn đâm vào da thịt anh đau buốt. Anh cảm thấy sự mạo hiểm của anh quá liều mạng. Gió lại rít mạnh quăng một luồng khí lạnh xuyên thấu vào da thịt Lâm, hơi lạnh này làm Lâm giật cả mình, anh nhớ ra là anh đã đón nhận nó một lần rồi. Lâm cố nhanh chân trong bóng tối trên con đường rất hẹp, khi ánh sáng cận kề trước mặt cũng vừa lúc anh thoát khỏi cái hang động chật hẹp kia. Lâm phẩy tay đứng dậy, trước mặt anh, ánh sáng tím trắng soi rõ những cảnh vật xung quanh anh đứng. Một ngôi mộ nằm cô đơn giữa vùng đất trống, được sơn phết một màu tím nhạt cùng màu với những chậu hoa lan đang lung linh sắc tím trong đêm. Phía trước ngôi mộ là hai con sư tử to lớn trông thật hung dữ. Miệng hai con sư tử đang ngậm hai quả long châu. Chính hai quả long châu đó đã phát ra những ánh sáng kỳ lạ kia. Một làn khói trắng bay tỏa xung quanh, Lâm nhận thấy phía trước ngôi mộ, ai đã cắm vào đó ba cây nhang. Lâm đưa mắt tìm kiếm, linh tính báo cho anh biết rằng có ai đó đang còn ở đây. Âm thanh của tiếng sáo lắng đọng lại bên tai Lâm không còn nghe rõ nữa, giờ đây anh đang đối diện với ngôi mộ hoang không một bóng người, với đêm tối vắng vẻ và hoang sơ. Từ phía sau ngôi mộ vang lên những âm thanh kỳ lạ, nghe gần giống tiếng la hét của con người, rồi một giọng cười cất lên, tiếng cười lảnh lót như cắm vào màng nhĩ bất kỳ ai. Thật là kinh khủng! Trong khoảnh khắc này. Lâm cảm nhận rõ từng giọt mồ hôi đang đọng trên trán anh, có thể anh thoáng run. Một luồng khí lạnh tiếp theo lan xuống vai anh, chạy dọc theo sống lưng và thậm chí hai bên chân của Lâm cũng nhiễm phải khí lạnh đó, anh khụy xuống như không. Không biết có phải không khí ngoài trời đã lạnh hơn, Lâm đang tưởng tượng mình đứng giữa tảng băng lớn với tuyết phủ kín người anh. Tim Lâm đập mạnh, anh định quay lưng thoát khỏi cái làn khí lạnh quái dị này. Nhưng không khí lạnh ập đến từ mọi ngả và Lâm không tìm được nguyên nhân cho hiện tượng này. Gió không thổi vì không một dấu hiệu nào của cơn gió cả. Lâm không biết hiện tượng này là chuyện gì đang xảy ra cho anh, chẳng phải anh còn đang tồn tại ở đây sao. Anh đang đứng trước ngôi mộ xa lạ không hề quen biết ngay cả với cái tên người chết. Nhưng cái lạnh tê tái này anh tưởng như mình đang đứng giữa những hồn ma, cảm nhận được những sự lạnh giá của cái chết, không thể tồn tại trong sự sống. Tiếng cười ma quái không còn nữa. Đột nhiên xung quanh anh bao phủ một làn khói trắng mờ ảo, làn khói lạ vây kín lấy ngôi mộ khiến cho Lâm không thể nào nhìn rõ được di ảnh của người chết. Nhưng một thoáng lướt qua tấm ảnh kia, Lâm cũng đủ mơ hồ nhận biết ngôi mộ là một người con gái còn rất trẻ. Làn khói bao phủ ngay chỗ Lâm đứng khiến anh không còn trông thấy gì ngoài ấn tượng kinh dị về một điều gì đó chưa rõ nét. Lâm đưa tay lên cao như cố xua đuổi làn khói bay đi mà hình như chúng đang xông vào mũi anh một mùi hương khó ngửi. Hơi lạnh trong cơ thể anh đã biến mất tự lúc nào, anh dường như quên hẳn, giờ đây anh chỉ tập trung đối phó với làn khói ma quái này. Lâm không đứng yên một chỗ, anh chạy về phía sau ngôi mộ, nơi mà lúc nãy đã phát ra tiếng cười ma quái. Không gian cuối cùng cũng gom làn khói bay lên cao, cảnh vật trở về trạng thái cũ. Ngôi mộ từ từ hiện ra sau; lớp khói tan loãng. Lâm hốt hoảng, lần này anh không thể nào tin vào sự thật, trước mặt anh bóng một người con gái trong tà áo màu trắng tinh, tóc dài thả xuống bờ vai mảnh khảnh. Cô gái ngồi quay lưng về phía Lâm khiến cho anh không thể nhìn rõ được khuôn mặt. Tiếng khóc của cô gái nghe thê thảm trong đêm tối tĩnh lặng. Tiếng khóc của cô gái như than như oán những nỗi cay đắng, chất chứa uất hận trong lòng. Lâm cảm thấy anh đang chơi vơi và lạc lõng, anh không biết trước mặt anh là một oan hồn chưa siêu thoát, đang ngồi than khóc cho số phận bi thương của mình hay là một hình bóng trong ảo giác. Cảnh vật như lắng đọng lại trong tiếng khóc của cô gái. Lâm không dám bước lại gần dù khoảng cách giữa anh và cô gái không xa lắm. Thời gian dài như vô tận. Anh mong cho hình bóng ấy mau tan biến đi. Anh thầm cầu mong đây chỉ là cơn ác mộng của anh mà thôi. Nhưng cô gái vẫn ngồi bất động. Tiếng khóc của cô mỗi lúc nhỏ dần và tan biến trong không gian. Trời đất... chưa bao giờ Lâm lại run lên dữ dội như bây giờ. Anh vốn là một người không tin vào những chuyện hồn ma bóng quế, nhưng đêm nay mọi sự việc lại đến với anh một cách kỳ lạ và rõ ràng quá thể. Tâm trạng của Lâm không thể không lo lắng và hoang mang... Bất thình lình cô gái đứng dậy trong tà áo dài trắng tha thướt. Cô bước đi về phía những bụi xương rồng gai xù xì kia. Bóng dáng cô như lướt bay trên mặt đất. Lâm nhắm mắt lại, người run bắn và vô cùng kinh khiếp. Trong bóng đêm, tiếng sáo lại vang lên âm thanh một bản nhạc ma quái, lần này nghe rùng rợn và đáng sợ, pha lẫn âm thanh của tiếng sáo là tiếng cười điên dại của ai đó cất lên xé tan màn đêm yên tĩnh mang lại dư âm nhọn hoắt dữ tợn thoáng mơ hồ như những bóng ma đang nhảy múa xung quanh Lâm, âm thanh văng vẳng từ nơi xa xôi như từ chốn âm la vọng lại. Dường như Lâm cảm nhận được hơi thở lạnh toát sau gáy mình. Tóc anh như dựng ngược lên. Lâm lấy hơi thật sâu mà vẫn không xua đuổi được nỗi sợ hãi trong lòng. Anh không thể kiềm chế và tự chủ được nữa, anh vội chạy trở lại theo lối đi lúc nãy anh đã vào. Những bụi xương rồng gai xấu xí kia không buông tha anh, chúng cấu xé... quần áo và da thịt Lâm một cách tàn bạo. Lâm cố chạy thật nhanh, như một cơn lốc lao vào bóng đêm. Xung quanh Lâm, hình ảnh người con gái cứ chập chờn như bóng ma đang bám theo. Lâm cố dùng hết sức mình chạy thật nhanh để thoát khỏi sự ám ảnh kinh hoàng. Sáng hôm sau Lâm thức dậy rất muộn, tất cả những gì đêm hôm qua đã làm cho Lâm hãi hùng, đây là lần đầu tiên anh có cảm giác sợ hãi như vậy. Những hình ảnh đêm qua: ngôi nhà mồ, bóng ma... đến với tâm trí Lâm một cách ngờ vực, anh nửa tin nửa ngờ thật khó chịu. Mặc dù anh có nghe mọi người truyền miệng với nhau nhiều câu chuyện ma quỷ ly kỳ, nhưng từ trước tới giờ anh hoàn toàn không tin. Đây là lần đầu anh đã gặp và anh không sao tránh khỏi sự nghi hoặc và khó hiểu về câu chuyện này. Có tiếng bước chân nhè nhẹ, cánh cửa phòng Lâm từ từ hé mở, một gương mặt quen thuộc xuất hiện, rồi vẫn giọng khàn đục của ông Năm: - Cậu có khỏe không cậu Lâm? Tôi có nấu cháo cá cho cậu, cháo nóng ăn vào sẽ khỏe ngay. Lâm miễn cưỡng gật đầu. Anh cũng không muốn nằm trong phòng, bao suy nghĩ vẫn cứ xoay quanh đầu Lâm, khiến cho anh cảm thấy nặng nề và lo lắng. Ông Năm đã đợi anh ngoài phòng ăn. Khi thấy anh xuất hiện, ông nhanh nhẹn múc cho anh một chén cháo cá. Mùi thơm của hương vị hành, tiêu và cá làm cho Lâm cảm thận được cơn đói đang cồn cào trong cơ thể. Lâm gật đầu cảm ơn người quản gia. Anh ngồi xuống bàn và ăn chén cháo cá một cách ngon lành. Ông Năm vẫn ngồi đó đợi cho anh ăn xong rồi nhanh nhẹn múc thêm cho anh một chén khác. Vừa ăn cháo, Lâm đưa mắt nhìn ông Năm, đây là lần đầu anh nhìn trực diện vào ông. Ông Năm có khuôn mặt dài, những nếp nhăn trên trán và trên khóe mắt báo hiệu cho thấy sự già nua trước tuổi của người đàn ông. Ánh mắt của ông nhìn xa xăm như ẩn chứa nhiều tâm sự buồn. Ông không cao lắm nhưng nhìn ông, người ta có cảm giác ông rất cao. Có thể ông quá gầy nên trông khẳng khiu, hay là tự ông muốn đầy đọa cơ thể mình những cơ cực và xen lẫn sự đau thương... Thấy Lâm cứ nhìn mình một cách lạ lùng, ông Năm nhăn mặt hỏi: - Cháo có ngon không cậu? Lâm không trả lời câu hỏi của ông mà chỉ gật đầu thay cho lời đáp. Khi chén cháo thứ hai anh nạp vào cơ thể vừa xong, ông Năm định đứng dậy múc thêm nữa, nhưng Lâm đưa tay ra dấu không ăn tiếp. Anh đưa mắt nhìn ông dò xét và lên tiếng hỏi: - Ông Năm ở đây bao nhiêu lâu rồi? - Đã hai mươi năm rồi. Ông chậm rãi trả lời. - Trong hai mươi năm qua, ông có biết chuyện ly kỳ nào kể cho con nghe đi. Lâm đưa thuốc mời ông Năm hút, nhưng ông Năm không hút thuốc của Lâm. Ông lấy trong túi ra loại thuốc được gói bằng bao nylon, ông đặt những sợi thuốc vào một tờ giấy trắng rồi vân vê vo tròn lại. Lâm bật quẹt lửa cho ông Năm mồi thuốc. Sau khi hít một hơi dài, ông từ từ nhả ra từng cụm khói trắng bay tỏa cả căn phòng, những sợi thuốc bị đốt cháy toát một mùi thơm khen khét đặc thù. Sau đó ông chậm rãi nói: - Chẳng có chuyện gì ly kỳ mà kể cho cậu nghe. Cái thị trấn nhỏ bé này vốn yên tĩnh, giờ cũng vậy mà thôi. Lâm nhướng mắt nhìn ông rồi buông một câu hỏi thăm dò: - Vào những đêm tối trời ông có nghe ai thổi sáo không? Câu nói của Lâm làm cho ông Năm giật mình, khuôn mặt ông biến sắc hẳn đi. Nhìn thấy sự thay đổi đột ngột của ông Năm, Lâm đoán rằng trong câu chuyện này ông Năm cũng hiểu một phần nào, anh nói tiếp: - Trong hai ngày qua, đêm nào con cũng nghe thấy tiếng sáo. Không biết ai đó thổi, hay một oan hồn nào thổi để gọi hồn người khác... Ông Năm phản ứng mạnh, ông đứng dậy đưa hai tay xua đi những lời nói của Lâm. Giọng ông run lên: - Tôi có nghe tiếng sáo nào đâu, cái thị trấn này chưa bao giờ có hồn ma. Nói xong ông vội bước nhanh như trốn chạy một sự thật nào đó. Lâm ngỡ ngàng nhìn ông Năm và ngạc nhiên với sự phản ứng mạnh mẽ của ông khi nghe câu chuyện anh vừa kể. Cũng may là Lâm chưa kể thêm về bóng ma mặc áo trắng ngồi trên ngôi mộ kia. Không biết nghe thêm câu chuyện này, ông Năm sẽ phản ứng ra sao. Anh nhún vai một cách khó hiểu. Anh muốn quên đi câu chuyện này, nhưng anh không thể nào quên được. Mọi chuyện cứ quanh quẩn trong tâm trí anh. Rồi những lời đồn đại của mọi người trong thị trấn, làm cho Lâm cảm thấy câu chuyện mang tính chất đầy hoang đường và huyền bí. Anh không thể nào giải thích được những sự kiện mà anh đã gặp phải, nó cứ ẩn hiện chập chờn, càng kích thích tâm trí, anh vừa sợ hãi vừa hiếu kỳ khôn tả. Hình ảnh người con gái trong đêm mà Lâm gặp, tiếng sáo thương tâm kỳ bí của cô gái cứ đâm vào tâm thức Lâm. Và âm thanh của tiếng sáo như lời than thở với Lâm chăng? Lâm nghe được mọi người trong thị trấn này xầm xì với nhau: - Đêm đêm, bóng ma nữ ấy xuất hiện với tiếng sáo gọi hồn nghe ghê rợn, bóng ma ấy ngồi vắt vẻo trên cây với mái tóc dài đan lại thành từng chùm. Cô ta quyến rũ những người đàn ông qua lại bằng tiếng sáo của mình. Vào những đêm mưa, bóng ma nữ xuất hiện, cô ta đi lang thang trên con đường vắng vẻ này. Khuôn mặt cô ta chỉ độc nhất hai con mắt lõm sâu đỏ ngầu như hai cục máu... Bóng ma thay hình đổi dạng rất nhanh. Khi là một cô gái trẻ tóc dài tha thướt trong tà áo dài trắng, lúc là một quả phụ áo đen với tiếng cười như điên dại... Nghe đâu bóng ma nữ đó đang ở trong ngôi nhà ma cuối thị trấn này. Những hồn ma bị cô ta mê hoặc đều đi đến căn nhà ma của cô ta để phục tùng cô ta... - Căn nhà ma đó có một mụ đàn bà điên loạn. Suốt ngày giam mình trong nhà, mụ ta đã bị những oan hồn sai khiến, không ai ở trong thị trấn này thấy mặt mụ ta. Bóng ma nữ ấy ngày xưa là con gái của mụ ta thì phải. Không biết bao nhiêu câu chuyện xoay quanh về bóng ma nữ trong đêm và căn nhà ma cuối thị trấn. Lúc đầu Lâm nghĩ chỉ là một câu chuyện hoang đường của mọi người bịa đặt ra để truyền miệng trong lúc rảnh rỗi hoặc ghét một người nào đó rồi đặt điều nói xấu, thêu dệt thêm câu chuyện ma... Nhưng khi câu chuyện này trùng lặp với những sự kiện mà anh gặp được trong những ngày qua, khiến cho anh thay đổi suy nghĩ ban đầu của mình. Phải chăng có một thế giới vô hình nào đang xung quanh anh? Những lý lẽ anh đưa ra không thể nào giải thích được. Thật là huyền bí trong tri giác của anh. Trong phút giây căng thẳng anh nhớ ra rằng mỗi con người đều mang một linh hồn. Khi cuộc sống còn đang ngự trị linh hồn ẩn trong thể xác chúng ta những buồn vui, cay đắng cuộc đời. Linh hồn mang trách nhiệm chia sẻ, an ủi, động viên và thể xác chỉ có nhiệm vụ làm theo những gì linh hồn sai bảo. Khi chúng ta bước vào thế giới vĩnh hằng, thoát khỏi cái thể xác đau thương đọa đày, linh hồn là sứ giả mang chúng ta đi lên thiên đàng tìm những hạnh phúc và cuộc sống mới. Không phải linh hồn nào cũng mang đến những thiên đàng cho mọi người. Mà có những linh hồn bị đọa đày oan ức, những linh hồn đó tạo cho chúng ta nhìn về một thế giới huyền bí và một hình bóng như ẩn hiện trước mắt chính là nhắc nhở chúng ta biết rằng họ vẫn còn tồn tại trong thế giới hiện tại... Lâm đang hoang mang với bao nhiêu suy nghĩ, khó hiểu mà giờ đây rõ ràng nó đang đối diện với anh. Không biết anh có còn gặp lại hình bóng cô gái hay một hồn ma trong đêm nữa không. Nhưng nhất định có một điều mà Lâm đang nghĩ tới, anh phải đối diện với thực tế. Dù sự im lặng bao trùm, anh phải phá tan bầu không khí đó. Anh muốn mọi chuyện phơi bày trước ánh sáng một cách công bằng dù người hay là ma. Dù thế giới anh đang ở hay một thế giới vô hình nào cũng phải có tiếng nói riêng của nó. Những ngày tiếp theo trôi qua đối với Lâm thật vô nghĩa. Anh chưa trở lại ngôi mộ lần thứ hai và tiếng sáo huyền bí kia cũng nguôi đi. Ông Năm càng trở nên ít nói mỗi khi gặp anh. Lâm dự định ngày mai trở về thành phố. Dù sao đi chăng nữa căn phòng quen thuộc của anh vẫn là nơi anh cần đến và còn bạn bè nữa. Bỗng nhiên Lâm thèm uống một ngụm cà phê, ngồi tán gẫu vài chuyện vu vơ cùng vài đứa bạn hay là uống vài chai bia cùng Chí Thông để ngồi nghe nó huyên thuyên chắc sẽ đỡ buồn. Đã mấy ngày nay, Lâm không có được một nguồn cảm hứng nào để cho ra đời một tác phẩm theo ý muốn và nguyện vọng của mình. Thật là ngu xuẩn khi nghe lời Chí Thông xuống đây. Hình như Lâm đã quên sự kiện trước kia mà anh đã gặp. Anh không còn nghĩ về nó nữa, anh muốn quên đi và anh cũng không muốn khám phá ra làm gì. Thôi thì cứ để nó yên lặng như cái thị trấn vốn yên lặng kỳ bí này. Chiều nay, khi ánh nắng tắt dần sau vườn cây bạch đàn, vài cánh chim lẻ bạn bay trên bầu trời, chúng đang cố tìm phương hướng để bay nhập vào đàn. Những đóa hoa đồng nội thoang thoảng một mùi hương bình dị, mộc mạc bay tỏa cả một vùng. Lâm đang đứng cạnh giàn hoa giấy màu trắng, bên anh là cái giá vẽ đã nằm im từ lâu. Thật ra, Lâm không vẽ được cái gì bởi trong tâm trí anh quá trống rỗng, không một chút cảm giác nào của nghệ thuật hay một cái nhìn nghệ sĩ nào cả. Lâm muốn sáng ngày mai khi từ giã cái thị trấn nhỏ bé này, ít nhiều cũng phải có một vật làm lưu niệm những ngày anh sống ở đây... Mãi suy nghĩ, Lâm không nghe tiếng bước chân nhẹ sau lưng anh. Giọng nói của một cô gái trong trẻo vang lên khiến cho Lâm giật mình quay lại. - Buổi chiều đẹp như thế này mà lại vô nghĩa trong tâm hồn họa sĩ hay sao? Trước mặt Lâm là một cô gái trẻ, thật không ngờ ở một cái thị trấn xa xôi hẻo lánh lại có một thiếu nữ xinh đẹp như vậy. Cô gái có mái tóc dài chấm lưng, đôi mắt thật to, chứa đựng mặt hồ thu phẳng lặng phút chốc làm cho Lâm chết đuối trong đấy. Đôi môi cô chúm chím nở một nụ cười thật xinh nhưng buồn. Tà áo màu tím điểm những cánh hoa trắng ôm lấy thân hình thon thả. Cô như hiện thân của một nữ thần trong một buổi chiều vàng đầy thơ mộng. Lâm như không còn tin vào mắt mình nữa. Đứng trước một giai nhân tuyệt mỹ bỗng nhiên anh cảm thấy sự hiện diện của mình quả là ngây ngô, thừa thãi. Cô gái cúi xuống hái một đóa hoa trắng rồi cài lên mái tóc. Cử chỉ đáng yêu làm sao, khiến cho trái tim Lâm đập rộn rã như muốn nổ tung ra ngoài, rồi bất chợt cô gái ngồi xuống thảm cỏ xanh đưa mắt nhìn anh và nở một nụ cười. Giữa quang cảnh tuyệt vời như thế này, xung quanh có cỏ xanh và hoa dại, bầu trời xanh thẫm bởi những áng mây trắng bồng bềnh trôi. Người đẹp nhìn Lâm với nụ cười đầy quyến rũ. Không cưỡng nổi những cảm xúc trong Lâm bỗng đâu tràn về một sự ngất ngây khiến Lâm không nhận thức được mình nên bắt đầu từ đâu? Nhưng anh chỉ biết được rằng, anh đang như điên dại, khắc họa những hình ảnh tuyệt đẹp ấy vào tờ giấy trắng bên cạnh anh. Cô gái vẫn ngồi yên lặng, nụ cười vẫn nở trên môi. Cô ngồi đó và đang tạo mẫu cho Lâm vẽ. Cô là người mẫu bất đắc dĩ. Xuất hiện bất thần bên Lâm, kéo anh trở về con người thật của anh. Trong nỗi say sưa đắm đuối ấy, bức tranh Lâm đang tạo ra càng lúc càng sống động. Cảnh vật và con người như đang lặp lại cho chúng ta thấy lần thứ hai. Cô gái ngồi thật lâu để cho Lâm hoàn tất xong bức tranh. Khi Lâm đang sửa lại những điểm nhỏ của bức vẽ cho thêm phần hoàn mỹ, bất chợt cô gái vụt đứng dậy không một lời từ giã hoặc đến xem tác phẩm của Lâm, cô đi theo con đường mòn. Lâm ngạc nhiên cảm nhận sự yên lặng khá bí ẩn của cô gái, anh chạy theo khẽ gọi: - Cô gì ơi! Cô ơi! Cô gái dừng lại đưa mắt nhìn Lâm khi anh đến gần. Không để cô gái lên tiếng, Lâm nói theo luôn: - Chẳng lẽ khuôn mặt tôi đáng ghét lắm sao? Không một câu giã từ cô bỏ đi như thế thì... Cô gái cười nhìn Lâm, cắt ngang lời nói của anh: - Gặp nhau như một cơn gió vô tình, từ giã làm gì cho luyến lưu hả anh. - Nhưng cô cũng phải cho tôi biết tên của cô. Và còn nữa, cô không đến xem hình của mình do tôi khắc họa lên sao? Một câu chê hay lời khen cũng là ý kiến cho sự sáng tác của tôi mà. - Không một câu chê mà chỉ là lời khen thôi. Tôi không đến xem vì tôi biết rằng trong tranh người con gái ấy đẹp hơn tôi rất nhiều. Lâm nhìn cô gái với ánh mắt trìu mến, anh mỉm cười: - Làm sao cô biết được cô gái trong tranh đẹp hơn cô? Hình ảnh chỉ hiện hữu trong tờ giấy trắng làm sao mà sánh được với người thật ở ngoài? Cô gái không trả lời câu nói của Lâm. Cô đưa tay vuốt tóc cử chỉ thật dịu dàng đáng yêu. Yên lặng một lúc, cô quay sang nhìn Lâm, thỏ thẻ nói: - Ngày mai anh rời xa thị trấn này rồi, biết tên em làm gì. Gặp nhau rồi chia tay nhau đó là quy luật trong cuộc sống mà. Lâm vẫn bướng bỉnh đáp: - Nhưng ít ra cũng phải biết tên người con gái trong tranh này. Dù sao thì một cái tên, với nhau đâu phải là chuyện hẹp hòi. Cô gái bước lại gần Lâm, đưa tay lấy đóa hoa trắng trên tóc của mình. Cô đưa cho Lâm và nhẹ nhàng nói: - Đây là tên của em, vậy công bằng chưa? Rồi cô gái cười thành tiếng. Thoáng một cái,cô quay lưng bước đi không một lời từ giã, không một cái hẹn hò. Lâm khẽ gọi theo: - Chưa công bằng đâu, cô vẫn chưa biết tên tôi mà. Cô gái không quay lại nhưng cơn gió đã đưa câu trả lời của cô vào tai anh: - Tạm biệt anh… Vũ Lâm. Lâm tròn mắt ra vì ngạc nhiên, anh không hiểu làm sao mà cô gái ấy lại biết tên anh. Từ ngày đặt chân đến thị trấn này, người đầu tiên cũng là người cuối cùng anh gặp đó là ông Năm, thật bất ngờ là có một người thứ ba biết tên anh... Lâm đưa tay nâng niu đóa hoa cô gái trao cho anh. Trong ánh nắng chiều vàng rơi sót lại, cánh hoa màu trắng tinh khiết và thoang thoảng một mùi hương dịu dàng. Một đóa hoa dại bên đường vô danh, bởi vì Lâm không đoán được tên của nó. Ngẫm nghĩ một lúc, Lâm khẽ gọi trong tiềm thức của mình, một cái tên vô tình, thật vô tình: - Hoa Trinh Nữ... hoa Trinh Nữ. Phần II Đêm nay là đêm cuối cùng anh lưu lại thị trấn này. Lúc chiều khi anh trở về nhà, ông Năm đã đón anh ngoài cổng, ông không nói gì mà chỉ nhờ anh gửi cho Chí Thông một giỏ trái cây mà ông vừa hái ngoài vườn. Lâm thừa hiểu tính tình của ông, một con người trầm ngâm ít nói, mặc dù Lâm cố bắt chuyện với ông. Màn đêm tĩnh mịch, không gian yên lặng và nặng nề, ngoài trời vài tiếng kêu thê lương của những con côn trùng càng tạo cho âm thanh của đêm buồn não ruột. Gió rít từng cơn làm cho những lá cây trên cành lay động. Mưa bắt đầu rơi hạt, tiếng mưa trong đêm xuyên qua lá cây, mái ngói nghe như xào xạc mưa không lớn hạt, nhưng nghe được tiếng nước chảy trên mái nhà. Lâm cố nhắm mắt lại mong tìm cho mình một giấc ngủ êm đềm. Gió càng thổi mạnh, một hơi lạnh xuyên qua người Lâm làm cho anh rùng mình, dù rằng Lâm khoác trên vai một chiếc áo ấm. Hơi lạnh khá quen thuộc và quen thuộc nhất là tiếng sáo hình như Lâm nghe tiếng sáo rất gần bên tai anh. Lâm cố mở mắt ra, nhưng mí mắt nặng nề không lay chuyển được, hơi lạnh làm cho anh run lên cầm cập. Anh cố nhoài người dậy, nhưng có một vật gì cứ đè nén vào cơ thể anh. Khi hơi lạnh đi qua, trạng thái Lâm trở nên bình thường, tiếng sáo vẫn văng vẳng bên tai. Lần này Lâm từ từ hé mắt ra. Không thể tin vào mắt mình nữa, Lâm mở mắt nhìn, anh đưa tay nắm chặt lấy hai thanh giường ngồi nhổm dậy. Hình như anh cảm nhận được rằng tóc anh đang dựng đứng lên. Trước mặt anh, bên khung cửa sổ, bóng một người con gái với mái tóc dài che đi nửa khuôn mặt. Cô gái đang im lặng cầm ống sáo, vừa trông thấy Lâm cô vội đưa lên miệng để thổi một điệu nhạc u buồn và ảm đạm như tiếng tơ lòng oán trách than thở cùng ai. Trong đêm tối bao trùm hình bóng cô gái đầy ma quái, Lâm cố lấy lại bình tĩnh, anh chăm chú nhìn cô gái. Hình như tà áo cô gái mặc là một màu trắng tím. Một cơn gió nhẹ thổi để cho Lâm càng nhìn rõ khuôn mặt cô gái. Anh chợt giật mình, tim anh đập mạnh liên hồi như muốn nổ tung, hình ảnh này quá quen thuộc với anh như anh đã gặp một lần rồi. Đôi mắt buồn như muốn nói một điều gì, cùng với bộ áo màu trắng tím, cả mái tóc dài kia nữa cứ có nét quen quen. Càng nghĩ Lâm càng sợ hãi. Chính xác là anh đã gặp rồi. Trong cái ngôi nhà mồ lần trước, người con gái trong di ảnh kia. Rồi bất chợt anh liên tưởng đến hình ảnh cô gái hồi chiều anh gặp, không hiểu sao khuôn mặt của họ giống nhau quá. Họ có mối liên hệ nào chăng? Cô gái áo trắng tím kia buông cây sáo trên tay xuống. Cô đưa ánh mắt buồn bã nhìn Lâm, ánh mắt ấy như van xin Lâm một điều gì mà Lâm không thể nào đoán ra được. Lâm không biết mình đang mơ hay đang tỉnh, trước mặt anh là một bóng ma hay một con người. Anh muốn tìm ra sự thật. Lâm lấy hết can đảm và đứng dậy. Cô gái nhìn Lâm lần cuối cùng rồi quay bước đi, bỏ lại sau lưng tiếng gọi của Lâm. - Cô ơi! Khoan đi đã. Cô ơi! Nhưng cái bóng trắng phơn phớt tím ấy cứ lướt nhẹ nhàng trong bóng đêm. Lâm chạy nhanh đến cửa sổ rồi đưa mắt nhìn ra ngoài. Trong màn đêm đen thăm thẳm bóng người con gái mờ khuất nơi đâu. Lâm quay lưng lại, anh chạy nhanh ra khỏi phòng mình, bất chợt anh đứng khựng lại khi trông thấy bóng dáng gầy gò của ông Năm đang ngồi cạnh ngọn đèn dầu leo lét. Trông thấy Lâm, ông khẽ lên tiếng, âm giọng khàn đục của ông trong đêm nghe rợn cả người. - Cậu định chạy theo cô ta sao? Một bóng ma hoang đường chỉ vào trong giấc mơ của cậu mà thôi. Lâm quá đỗi ngạc nhiên, anh không hiểu sao ông Năm lại biết về câu chuyện của anh, mặc dù anh chưa nói với ông lời nào. Anh trố mắt cố nhìn vào mắt ông Năm, lắp bắp hỏi: - Tại… tại sao… ông biết cô gái ấy? Thật khó hiểu khi ông nói cô ta là một bóng ma hoang đường. - Cậu quá tưởng tượng mà thôi. Làm gì có cô gái nào, hồn ma nào. Mà có chăng chỉ là một cơn ác mộng. - Không phải như vậy! – Lâm lắc đầu, giọng anh đầy cương quyết. Nhất định là cô gái ấy. Chính con đã thấy di ảnh cô ta trong ngôi mộ gần đây. Còn tiếng sáo nữa. Chính cô ấy là người thổi sáo trong đêm. Không biết là hồn ma hay người thật. Đây là một điều bí ẩn. Ông Năm im lặng, gương mặt ông bỗng nhiên trầm ngâm và suy tư, trong đôi mắt nhăn nheo của ông, vài giọt lệ tuôn trào. Ông đưa tay chậm lấy những giọt lệ và run giọng nói: - Đáng lý ra tôi không kể cho cậu nghe về câu chuyện trong thị trấn này, nhưng cậu đã đi sâu vào câu chuyện này thì thôi, đây là lần cuối cùng tôi kể cho cậu nghe. Lâm hồi hộp bước lại gần ông Năm, anh ngồi xuống cạnh ông chăm chú lắng nghe câu chuyện ông đang bắt đầu kể: - Khi tôi biết cậu là bạn của Chí Thông, tôi muốn trong thời gian qua, cậu sống trong cái thị trấn này, mọi chuyện đều êm đềm với cậu. Nhưng tất cả đều đi ngược lại suy nghĩ và mong muốn của tôi... Ông Năm lặng người đi một lúc rồi nói: - Gia đình của Chí Thông dọn đi cũng chính vì chuyện ma quái này. Người con gái thổi sáo mà cậu gặp trong đêm đó chính là Ngọc Lan, cô gái con ông chủ lò gạch nhà ở cuối con đường kia, ngôi nhà có lầu cao nhất thị trấn này... Lâm ngạc nhiên chưa hiểu câu chuyện như thế nào, anh cắt ngang lời ông Năm: - Thế cô còn sống hay chết? - Chuyện đã hai mươi mấy năm rồi. Ông Năm lên giọng kể: - Lúc đó Ngọc Lan vừa bước qua tuổi mười tám, cô gái nổi tiếng đẹp nhất trong làng và cũng có biệt tài thổi sáo rất hay. Tiếng sáo ấy làm cho biết bao chàng trai vừa mê sắc lẫn mê tài theo đuổi. Nhưng ba Ngọc Lan rất khó tính trong chuyện hôn nhân của con gái, hình như ông đang chọn một chỗ rất giàu có cho Ngọc Lan. Ngoài trời mưa bắt đầu nặng hạt, gió càng thổi mạnh, gió hất tung cửa sổ khiến cho nó đập mạnh vào thành cửa, ngọn đèn dầu trên bàn bỗng nhiên vụt tắt, bóng tối bao trùm lấy căn phòng. Lâm đã để quên quẹt lửa trong phòng. Còn ông Năm không quan tâm đến chuyện đó, ông kể tiếp: - Nhưng ba Ngọc Lan đâu biết rằng con gái của họ đang yêu thầm anh thợ làm gạch ở nhà, anh ta tên là Vĩnh Tân. Mối tình thầm lén của họ nẩy nở mãnh liệt, khi ba Ngọc Lan biết chuyện thì cô đã có thai với Vĩnh Tân ba tháng, một kết cuộc bi thảm của đôi trai gái. Vĩnh Tân đã bị ba Ngọc Lan cho người đánh thật tàn nhẫn đến khi anh trút hơi thở cuối cùng. Còn Ngọc Lan, sau cái chết của Vĩnh Tân, cô lặng câm không nói một câu nào cho đến khi đứa con của Ngọc Lan ra đời cũng là lúc cô ta treo cổ tự tử trong một đêm mưa tầm tã… Về sau, trong những đêm mưa, tiếng sáo ấy lại ngân vang như một lời than thở cho một câu chuyện tình kết thúc vô cùng bi thương... Trong bóng tối yên lặng não nề. Câu chuyện của ông Năm càng thêm mùi bi đát. Lâm đưa mắt nhìn ông, vẫn khuôn mặt khắc khổ mang những nét trầm tư và bất chợt anh trông thấy khóe mắt ông Năm long lanh. Một giọt nước chảy dài xuống gò má nhăn nheo của ông. Như không muốn bầu không khí quá tĩnh lặng này, Lâm khẽ lên tiếng hỏi: - Có phải trong những đêm mưa, tiếng sáo của hương hồn Ngọc Lan không? Ông Năm gật đầu trả lời Lâm: - Đúng vậy, tôi còn nhớ hai mươi năm về trước, ngày cô Ngọc Lan chết, trong một đêm mưa. Bởi thế đến bây giờ mỗi khi đêm nào có mưa, mọi người xung quanh lại nghe tiếng sáo bi thương của cô ấy, có người còn thấy bóng dáng ẩn hiện của Ngọc Lan trên con đường mòn trong tà áo màu trắng phơn phớt tím. Khi còn sống cô ấy thường mặc chiếc áo màu đó. - Như vậy là trong những đêm mưa, tiếng sáo của Ngọc Lan vẫn dư âm cho đến nay? Ông Năm lắc đầu: - Không phải là như vậy, mà chỉ được một năm mà thôi. Hình như gia đình của Ngọc Lan có mời một pháp sư đến mộ của cô ấy làm phép và từ đó mọi người không còn nghe tiếng sáo ấy nữa. Đã hai mươi năm lặng lẽ trôi qua, câu chuyện thương tâm cũng phai nhạt dần trong tâm trí mọi người. Nhưng chẳng hiểu sao một năm gần đây tiếng sáo của Ngọc Lan lại ngân lên trong những đêm mưa... Lâm vẫn chưa hết bàng hoàng, vầng trán anh đầy những nếp nhăn khó hiểu. - Thế mọi người có phản ứng gì khi nghe tiếng sáo ấy không? - Người ta vẫn còn sợ hãi, có vài gia đình dọn đi, trong đó có gia đình Chí Thông. Thì ra là vậy, ba mẹ của Chí Thông có lẽ quá sợ hãi tiếng sáo ma quái kia nên đã dọn lên thành phố một cách đột ngột, điều này làm cho Lâm và cả Chí Thông không hiểu ra chuyện gì? Bây giờ khi nghe ông Năm kể, Lâm mới hiểu nguyên nhân câu chuyện. Ông Năm đứng dậy bước lại phía tủ thờ tìm cái hộp quẹt, một ánh lửa nhỏ lóe sáng phá tan cái âm u của căn phòng. Lâm cũng đứng dậy, dư âm của câu chuyện làm cho tâm trí anh xao động, hình như sự kết thúc quá đau thương khiến cho người nghe thêm mủi lòng. Lâm trở về phòng mình, đêm đó Lâm không sao chợp mắt được. Hình ảnh của cô gái tóc dài bên khung cửa sổ với tiếng sáo như gọi hồn người nghe sầu thương thê thảm. Ngôi mộ cổ với ánh sáng màu tím và cuối cùng người con gái trong buổi chiều anh gặp, người con gái làm người mẫu tình cờ của anh. Lâm cảm thấy giữa họ có một mối liên quan gì đó hay là sự trùng hợp ngẫu nhiên với nhau? Nhất là khuôn mặt cả hai mà như một. Thật là khó hiểu! Sáng hôm sau, Lâm quyết định ở lại. Điều này làm ông Năm thay đổi hẳn thái độ đối xử. Khác với lần trước là sự lạnh lùng và im lặng, một chút cởi mở kèm theo một nụ cười trên gương mặt nhăn nheo của ông... Những ánh nắng màu vàng ấm áp mơn trớn thảm cỏ xanh tươi trước nhà, ánh nắng len lỏi qua cổng sắt rồi âu yếm vờn những cánh hoa mong manh đang e lệ ngắm những hạt sương mai. Mặt trời gom những tia nắng tinh nghịch ấy để đưa chúng lên cao rồi ném chúng đi xa, đi xa thật xa khắp cả nhân loại địa cầu. Lâm nhẹ nhàng đưa tay mở cái then gài cánh cửa, anh bước nhanh ra ngoài không quên đóng nhẹ cửa lại, anh không muốn cho ông Năm biết mình đi đâu. Con đường mòn quen thuộc trước mặt Lâm không xa lạ gì với anh nữa. Lâm bước nhanh mặc cho những bụi cỏ gai ttên đường bám lấy chân anh. Xa xa Lâm chỉ thấy một vài túp lều tranh nằm thu mình trong vườn cây xanh ngát. Mùa này là mùa của chôm chôm, nhưng những trái chôm chôm vẫn còn xanh lối. Chỉ có mùi thơm của một vài cây nhãn trái mùa còn sót lại thoảng bên những lối đi. Lâm vẫn âm thầm bước đi, anh muốn trở lại ngôi mộ cổ kia lần nữa. Anh muốn tìm hiểu và xác minh về sự thật trong câu chuyện của ông Năm. Hàng xương rồng với những chiếc gai nhọn xù xì hiện ra. Lần này Lâm không phải tốn công chui vào một lối đi nhỏ hẹp, mà trước mặt anh có một cánh cổng bằng sắt được đan bởi những thân cây xương rồng. Cánh cổng đã được mở rộng ra và ngôi nhà mồ sừng sững trước mặt Lâm. Đúng là một sự huyền bí khi cánh cổng này đóng và khó ai đoán được đó là cánh cổng. Vì ai bước vào ngôi mộ này bắt buộc phải đi vào ngõ hẹp kia. Lâm không còn nhút nhát sợ hãi như lần trước. Anh mạnh dạn bước vào bên trong, lần này anh có thể quan sát và nhìn kỹ hơn mọi vật bên trong. Những đường nét điêu khắc trên ngôi nhà mồ thật độc đáo. Xung quanh những thanh sắt kiên cố được phủ lên một lớp sơn bóng loáng màu trắng tím. Trên trần nhà, nếu như chịu khó ngước mắt lên, sẽ bắt gặp những thiên thần có đôi cánh màu trắng muốt đang nô đùa trong đám mây. Lâm cảm thấy hơi ngạc nhiên vì cảnh trang trí này, nó ẩn hiện nửa giống cõi của Thiên Chúa nửa giống Phật Giáo, bởi vì bao quanh ngôi mộ là bốn con rồng uy dũng trong bộ cánh màu vàng óng, chạy theo ngôi mộ là hình một cái tháp nhiều tầng trong mỗi tầng được tô vẽ những cánh hoa lan màu tím. Tất cả được làm bằng một loại đá rất sáng và mịn, nhìn vào cứ tưởng chất liệu là thủy tinh. Cuối cùng trên chóp tháp có một cây thánh giá bằng gỗ đen bóng mượt, đầu cây thánh giá được gắn vào một viên đá hình bầu dục, viên đá đã phát ra những ánh sáng lạ kỳ. Lâm bước lại gần ngôi mộ, anh đưa mắt nhìn di ảnh người con gái. Cô gái còn rất trẻ với mái tóc dài thả ngang vai, ánh mắt thật buồn và sâu thẳm, ánh mắt ấy làm cho Lâm cảm thấy lạnh cả người, không hiểu sao anh liên tưởng đến ánh mắt của cô gái làm mẫu cho anh. Thật giống nhau một cách trùng hợp. Người con gái trong di ảnh có vẻ đẹp dịu dàng đằm thắm còn cô gái làm mẫu cho anh mang một nét đẹp lạnh lùng thanh cao. Lâm cúi xuống nhìn hàng chữ được khắc trong ngôi mồ... Anh khẽ đọc tên người con gái. - Dương Ngọc Lan... Maria... 20 tuổi... Ba, mẹ lập mộ... Có tiếng bước chân bên ngoài ngôi nhà mồ. Tiếng bước chân ấy đạp lên những xác lá khô kêu xào xạc. Lâm đưa mắt nhìn ra ngoài, tiếng bước chân ấy mỗi lúc một gần. Lâm bước thẳng ra khỏi nhà mồ, anh đưa mắt tìm kiếm. Trong các bụi xương rồng khẽ lay động, anh liên tưởng đến cái bóng người hôm trước anh đã gặp ở đây, tự nhiên anh cảm giác như hơi lạnh đang bò dọc theo đường xương sống của anh. Có phải chăng bóng người ấy lại xuất hiện giữa ban ngày? Anh biết rằng giữa thanh thiên bạch nhật này những hồn ma không bao giờ xuất hiện... Một bóng người xuất hiện từ một bụi xương rồng xù xì đầy gai. Bóng người ấy mặc toàn một màu đen, khuôn mặt được quấn kín bằng một cái khăn cùng màu. Những dòng suy nghĩ của Lâm bị gián đoạn và anh không thể nào để tâm đến những suy nghĩ của mình. Một con người bất ngờ xuất hiện trước mặt anh thật là sự kiện quá kỳ quái. Lâm không thể nào nhận ra người đó là nam hay nữ, già hoặc trẻ. Nhìn dáng người, Lâm đoán chừng đang tuổi trung niên, bộ đồ màu đen may kiểu người Trung Hoa rộng thùng thình. - Bác là người nhà của cô Lan phải không? Lâm khẽ nhíu mày hỏi. Thật ra Lâm muốn nghe giọng nói của người kia, để cho anh đoán được đấy là nam hay nữ. Người mặc đồ đen không trả lời, ánh mắt của người ấy nhìn Lâm thật lâu rồi bước vào ngôi mộ. Lần này Lâm mới để ý trên tay của người mặc y phục đen là một chậu hoa lan, những cánh hoa đang hé nở liên kết vào nhau thành một chùm tím tuyệt đẹp. Khi đặt chậu lan gần ngôi mộ thì cùng lúc ấy chiếc khăn choàng được tháo xuống, bí mật khẽ hé mở. Trước mặt Lâm là một thiếu phụ, tuy không còn trẻ nhưng nét đẹp thời con gái vẫn còn phảng phất trên khuôn mặt của bà. Mái tóc bà ngả sang màu muối tiêu, điều đó chứng tỏ sự già nua đi trước tuổi. Bà cất giọng nói, tiếng của bà nghe trầm uất nhưng vẫn mang âm hưởng dịu dàng: - Tôi là mẹ của Ngọc Lan, con gái tôi bảo tôi đến đây để gặp cậu. Lâm ngạc nhiên mở to mắt nhìn bà mẹ của Ngọc Lan. Anh thật không tin được câu nói của bà. - Bác nói sao? Cô Lan đã chết rồi mà, làm sao cô ấy nói cho bác biết được? - Nó không có chết đâu, nó chỉ đi xa thôi. Cứ vào những đêm mưa thì nó hay về thăm tôi. Đêm mưa hôm trước, nó về và nói hôm nay tôi đến đây để gặp cậu. Lâm đưa tay chỉ vào ngôi mộ: - Thế ngôi mộ này là của ai. Chẳng phải của cô Lan sao? - Đó là nhà của nó... Người đàn bà nghẹn ngào và không thốt lên lời nào nữa. Bà không khóc hoặc có khóc nhưng chẳng còn nước mắt để tuôn trào ra. Khuôn mặt ấy hằn lên những nỗi đau của năm tháng. Lâm bước lại gần người đàn bà, anh đặt tay lên vai bà an ủi: - Thôi bác đừng buồn nữa chuyện đã qua rồi, hãy để cho nó qua đi. Dù sao thì cô Lan cũng không còn. Bác có sống trong ảo mộng cũng chỉ làm cho bác thêm đau lòng mà thôi. Người đàn bà lắc đầu, ánh mắt thật sáng khi nhìn Lâm, khác hẳn với lúc đầu, hình như những nét cứng cỏi đang hiện dần trong con người bà. - Tôi biết cậu không bao giờ tin nhưng tôi đã hứa với con Lan một chuyện là đưa cậu về nhà, bây giờ cậu hãy đi theo tôi. Nói xong bà quay lưng bước đi. Không chờ đợi phản ứng của Lâm như thế nào. Bóng dáng bà thật nhanh nhẹn, Lâm không còn chần chờ gì nữa, anh bước theo như một cái máy. Dù sao thì câu chuyện cũng đang trong giai đoạn gay cấn, anh không muốn là người bỏ cuộc ngang. Con đường đang đến ngôi nhà của người đàn bà xa hẳn với ngôi mộ. Sự im lặng nặng nề bao phủ xung quanh bóng dáng người đàn bà đang thoăn thoắt khác hẳn sự già nua hiện trên khuôn mặt bà. Ngôi nhà hiện ra trước mặt Lâm, những ô cửa sổ được phủ lên một màu tím nhạt, trước cổng nhà là một giàn hoa giấy sum suê. Hình như chủ nhân của ngôi nhà không muốn cho người ngoài nhìn vào trong nhà, nên giàn hoa giấy um tùm che khuất chỉ có màu tím của những cánh cửa sổ hiện lên. Khi cánh cổng được mở ra, người đàn bà đứng lại chờ Lâm bước vào. Không khí nặng nề và yên tĩnh bao lấy người Lâm, nhất là khi cánh cửa sắt đóng thật mạnh sau lưng anh. Lúc này Lâm đang ở bên trong ngôi nhà. Đây là dịp để cho anh quan sát tất cả những gì đang hiển hiện. Khác hẳn với vẻ bên ngoài lạnh lùng và cổ kính, bên trong ngôi nhà được trang trí thật giản dị. Trước thềm nhà hàng trăm chậu hoa lan nở rộ tím ngắt, chúng được treo lên những thân cây bách tùng diệp. Dãy hành lang chạy theo những ô cửa sổ cũng đầy kín những chậu hoa lan. Căn nhà được bao phủ một màu tím tươi mát của hoa và lạnh lùng của những bức tường cùng màu sơn ảm đạm ấy. Căn nhà được đúc thêm một tầng lầu, không rộng lớn và cũng không nhỏ lắm. Theo tầm nhìn nó chỉ vừa đủ cho một gia đình lý tưởng mà thôi. Người đàn bà đã bước vào phòng khách tự bao giờ. Trong khi Lâm còn đang ngỡ ngàng với phong cảnh hữu tình xung quanh ngôi nhà, mãi cho đến khi bên tai anh văng vẳng một âm thanh quen thuộc. Tiếng sáo ngân vang trong buổi sáng yên lành. Lâm nhẹ nhàng bước vào trong phòng khách, cảnh trí trong phòng thật sang trọng và quý phái lại một lần nữa khiến cho anh mở tròn mắt ngạc nhiên đến tột độ. Bộ bàn ghế được làm bằng một loại gỗ có vân bóng mướt, được bọc bởi những tấm da quý hiếm. Trên bàn một bình hoa to lớn, những cánh hoa màu tím còn đang ướt đẫm giọt sương ban mai. Trong phòng được treo đầy những bức tranh thủy mạc với những núi non hùng vĩ cao xa tít tận chân trời. Trải dài là những thác nước màu trắng xóa, bên khung cửa sổ là tấm mành trúc, được khắc họa bằng những cánh hoa lả lơi như mời gọi, khẽ lay động vài cơn gió thổi qua. Phía bên cạnh cửa sổ là một tủ đứng bằng thủy tinh trong suốt, bên trong lồng những khuôn hình bằng nhung đỏ từ trên xuống dưới, Lâm có thể đoán ra đây là tổ tiên của ngôi nhà này. Tiếng sáo vẫn êm đềm trong căn phòng. Lâm đưa mắt nhìn quanh tìm kiếm, ánh mắt anh dừng lại trên khung cửa ở căn gác lầu. Một bóng người con gái ngồi với mái tóc dài buông xõa bờ vai, trong khoảnh râm mát lung linh là tà áo tím trắng nổi bật khung cảnh như liêu trai chí dị. Lâm không thể nào nhìn thấy khuôn mặt của cô gái, nhưng bóng hình ấy rất quen thuộc trong tâm thức Lâm. Một cơn gió nhẹ từ cửa sổ thổi sau lưng Lâm mặc dù không lạnh, nhưng anh cảm thấy cơ thể mình run lên. Xung quanh anh, mọi vật tĩnh lặng. Chỉ có bóng dáng người con gái và tiếng sáo đầy ma quái. Lâm cảm thấy nỗi sợ hãi đang từ từ xâm chiếm anh. Chẳng lẽ anh đang bước vào một thế giới thứ ba huyền bí, ngôi nhà đậm đặc một âm khí của sự chết chóc. Bỗng nhiên Lâm liên tưởng đến những hồn ma trinh nữ. Khi còn sống một lần được yêu nay xuống âm phủ thành những hồn ma chuyên đi chọc phá thiên hạ. Câu chuyện này anh nghe ngoại kể khi anh còn đang đi học. Những lúc đó, anh chỉ cho là chuyện nhảm nhí. Nhưng bây giờ những câu chuyện hoang đường ấy lại hiện ra trước mắt anh, không biết anh tin vào đâu đây. Lâm hơi chần chừ khi anh bước lại cầu thang lên căn gác, lần này nhất định anh phải bước lên. Anh cần đối diện với thực tế, dẫu người hay là ma, anh cũng cần phải gặp một lần mới được. Nhưng ý định của anh chưa kịp thực hiện thì ánh đèn trên căn gác vụt tắt. Một bóng tối bao trùm căn gác, mặc dù đang là buổi sáng. Lâm chưa biết phải làm gì thì có tiếng nói sau lưng anh: - Con Lan không thích người lạ lên phòng của nó, anh có thể ngồi ở phòng khách này được rồi. Lâm quay lại nhìn người đàn bà, khác hẳn với lúc nãy anh gặp, bà ta đã thay bộ đồ lụa trắng, mái tóc được bới lên cao, khuôn mặt của bà được trang điểm nhẹ nhàng tôn lên vẻ đẹp quý phái kiểu mệnh hệ phu nhân thời xưa, giọng nói của bà trở nên ngọt ngào và niềm nở. Bà chỉ tay vào ghế mời Lâm ngồi. Bàn tay của bà thon thả với những chiếc nhẫn nạm đầy những viên ngọc lấp lánh được Lâm nhìn thấy khi bà rót nước trà. - Uống nước đi con. Đợi cho Lâm cầm ly nước. Bà khẽ nói: - Tên của bác là Tuệ Nương. Con cứ gọi dì Nương cho thân mật. Dì Nương đưa mắt nhìn Lâm, trong ánh mắt đau buồn của dì long lanh ngấn lệ. Có lẽ dì cố nén lại không để cho nó tuôn trào ra. Lâm lặng người đi. Anh lắng nghe dì Nương thổn thức: - Con là người đàn ông đầu tiên đến ngôi nhà này sau khi Vũ Nguyên ra đi... Dì Nương lặng yên một lúc như cố nhớ lại hình bóng người xưa... Rồi dì Nương nói tiếp: - Vũ Nguyên là ba của Ngọc Lan. Sau cái chết của con Lan, ông ấy đã bỏ đi biệt xứ cho đến tận bây giờ,dì cũng không biết ông ấy đang ở đâu. - Thế ngôi nhà này chỉ có một mình dì và... Lâm bỏ lửng câu nói. Anh đưa mắt nhìn lên căn gác như cố tìm hình bóng của thiếu nữ kia, nhưng thật vô vọng, bóng tối đang bao trùm trên căn gác. Ngôi nhà trở nên âm u lạnh lẽo. Dì Nương hiểu được sự ngạc nhiên của Lâm, dì khẽ trả lời: - Dì vẫn ở cùng con Lan, con không thấy hồi nãy nó ngồi thổi sáo sao? Dì đã dạy nó thổi từ khi nó còn nhỏ đấy! Lâm trông thấy ánh mắt của dì Nương sáng lên khi nhắc đến Ngọc Lan. Và dì đưa cho Lâm xem hình của Ngọc Lan từ lúc nhỏ cho đến khi thành thiếu nữ. Lâm phải công nhận rằng Ngọc Lan rất đẹp và rất giống dì Nương. Trong câu chuyện và nhất là nhắc đến Ngọc Lan, dì Nương sôi động hẳn lên. Dì kể cho Lâm nghe sở thích của con mình và những kỷ niệm thời còn đi học của Ngọc Lan. Lâm lắng nghe và chỉ biết im lặng, mặc dù Lâm muốn hỏi dì Nương nhiều câu thắc mắc của anh về câu chuyện Ngọc Lan, về cái chết của cô ấy cách đây hai mươi năm, hình như trong mắt anh nhận xét về dì Nương có một cái gì đó không ổn. Lúc thì dì Nương cười nói huyên thuyên, lúc lại u buồn đưa mắt nhìn quanh vẻ sợ hãi như đang tìm kiếm một cái gì. Căn phòng đã vắng lặng giờ trở nên vắng lặng hơn. Chỉ có anh và dì Nương. Một vài lần Lâm hỏi đến Ngọc Lan, anh muốn gặp cô ấy nhưng đều bị dì Nương lảng qua câu chuyện khác nhưng khi anh nhắc đến ngôi mộ của Ngọc Lan, khuôn mặt dì Nương chợt biến sắc không còn cái linh động sôi nổi trong câu chuyện nữa, giọng nói của dì chậm rãi và buồn bã. - Đó là ngôi nhà thứ hai của con Lan, những hồn ma nơi đó vẫn đến đây quyến rũ nó về đấy. Dì không thích nó trở về nơi lạnh lẽo u tối đó, cho nên mỗi khi có những hốn ma đến bắt nó đi. Thì nó đem tiếng sáo ngân lên cho những hồn ma nghe đoạn thê lương sầu bi. Chính những khúc sầu thảm ấy làm cho chúng quên đi nhiệm vụ phải bắt con Lan về ngôi nhà kia... Lời nói của dì Nương như một thứ âm thanh vang dội trong căn phòng yên tĩnh này. Câu chuyện càng trở nên trắc ẩn và ma quái, trong ánh mắt của dì Nương chứa đựng nỗi căm phẫn lẫn điên dại. Lâm không muốn câu chuyện trở nên phức tạp, anh xin phép dì Nương ra về. Thật ra, trong thâm tâm của Lâm đầy sự ngờ vực về những gì dì Nương kể. Anh chắc chắn một điều câu chuyện này còn nhiều uẩn khúc... Khi tiễn Lâm ra đến cửa, dì Nương đưa tay vỗ nhẹ vai anh thân thiện nói: - Con Lan nó rất thích anh, nó muốn anh trở lại đây lần nữa. Nó muốn anh vẽ chân dung nó. Lâm gật đầu đồng ý, anh không lên tiếng và cũng không hỏi một điều gì ở dì Nương. Bởi vì anh biết rằng có hỏi cũng vô ích mà thôi. Ngoài trời nắng đã lên cao, ánh nắng chiếu xuống đường càng lúc càng gay gắt, hơi nóng từ lòng đất xông lên xen lẫn mùi hương của hoa đồng nội. Lâm vẫn bước từng bước, trong anh chất chứa những suy nghĩ nặng nề. Câu chuyện đã từ từ cuốn hút anh. Vẻ thần bí và ma quái thật sự khiến cho Lâm cứ đi sâu vào câu chuyện. Anh muốn có một sự thật rõ ràng giữa cuộc sống hiện tại chứ không phải là một giả thuyết mơ hồ. Nhưng theo sự phỏng đoán của Lâm, cuộc sống của dì Nương phức tạp hơn so với anh nghĩ. Hình như trong vẻ dịu dàng của người đàn bà này chất chứa những sự tính toán độc đoán, táo bạo và trong ánh mắt phảng phất nét buồn bi thảm kia sẵn sàng hành động bí ẩn, thỉnh thoảng Lâm nhận thấy những khác thường như là căm phẫn, oán trách về một cái gì đó nơi bà. Nếu như chúng ta bắt gặp một người sống trong quá khứ luôn luôn đặt mình trở về cái dĩ vãng xa xưa. Đôi khi sự điên rồ của họ không sao tránh khỏi. Dì Nương là hiện thân của cuộc sống đau thương mất mát. Cái đánh mất trong dì là hạnh phúc vuột khỏi tầm tay khi người ta không nắm bắt và nuôi dưỡng nó được thì sự nuối tiếc vẫn là hoài mong muôn thuở trong họ... Ông Năm bước vào phòng Lâm và báo cho anh biết có người tìm anh ở dưới phòng khách. Lâm vội vàng khoác chiếc áo vào người rồi bước nhanh ra khỏi phòng. Thật ngạc nhiên vì từ lúc anh đến đây cho đến nay, anh chưa bao giờ quan hệ mật thiết với ai và cũng chẳng bao giờ gặp người nào trong thị trấn này. Hình như anh thấy mọi người ở đây mỗi khi gặp anh đều nhìn với ánh mắt lạnh lùng, kiểu cố tránh mặt anh. Khi Lâm bước xuống phòng khách, anh chẳng thấy ai đứng chờ anh cả. Lâm đưa mắt nhìn quanh tìm kiếm chợt ánh mắt dừng lại. Ngoài sân vườn, trong nắng nhẹ nhàng buổi chiều hoàng hôn, bóng một người con gái quen thuộc đang đứng đấy. Gió thổi nhè nhẹ làm cho tóc cô gái tung bay theo gió. Vẫn chiếc đầm dài màu tím điểm những đóa hoa trắng li ti. Trông cô gái toát ra nét đẹp huyền diệu. Lâm bước lại gần, cô gái quay nhìn anh rồi nở một nụ cười rạng rỡ: - Cơn gió nào đưa người đẹp đến đây. Thật là một vinh hạnh cho tôi. - Không có cơn gió nào đưa em đến đây cả. Tự em tìm đến. Lâm đưa mắt nhìn cô gái, nhún vai hỏi: - Làm sao em biết tôi ở đây? Cô gái cười, nụ cười vẫn đẹp và cùng khuôn mẫu với thuở ban đầu mà anh gặp gỡ. - Những chiếc lá mách với em rằng anh đang ở đây. - Thế chúng nó có mách với em về anh những gì nữa không? Cô gái lắc đầu khẽ cúi xuống nhặt một chiếc lá vàng và mân mê chúng. Buổi chiều tà, gió thường đưa những chiếc lá xa cành bay đi, vài cánh chim lẻ bạn dang đôi cánh mệt mỏi đi tìm bầy. Phía chân trời, những áng mây trắng bồng bềnh trôi lững lờ. Lâm đưa mắt nhìn cô gái lần nữa. Lần này anh muốn tìm ra một sự thật trong đôi mắt ấy. - Nhà em ở gần đây không? - Chỉ cách nhà anh hai cây điệp già. - Tôi có chuyện này muốn hỏi em và mong nhận một lời giải đáp chân thành. Cô gái ngạc nhiên nhìn Lâm, hỏi: - Chẳng lẽ anh cho em là giả dối sao? Lâm lắc đầu vội đưa tay phân bua: - Không... không... xin em thông cảm cho lời nói thiếu tế nhị của tôi. Nhưng tôi là người mới đến đây. Có những chuyện xảy ra với tôi thật ngỡ ngàng. Trong cái thị trấn nhỏ bé này có nhiều câu chuyện huyền bí mà tôi không làm sao hiểu nổi. - Chuyện huyền bí gì? Anh có thể kể cho em nghe không? Lâm đưa tay chỉ vào cô gái: - Chuyện huyền bí thứ nhất là về em. Cô gái mở tròn mắt ra đầy ngạc nhiên: - Về em...? - Đúng vậy, tôi không biết tên em. Và mỗi lần gặp em đều là một sự tình cờ. Tôi không biết về em nhiều, nhưng em lại biết tên tôi và còn biết tôi đang ở đây. Thế có lạ không? Cô gái như hiểu được tâm trạng của Lâm, cô nhẹ nhàng lên tiếng trấn an anh: - Đừng quá căng thẳng anh Lâm, mọi chuyện đâu cũng vào đấy cả. Có những cái làm cho anh khó hiểu, anh hãy xem cuộc sống là một quyển sách. Lúc đầu đọc thật là rắc rối, khó hiểu, nhưng anh càng đọc càng dễ hiểu... - Nhưng đối với tôi càng đọc càng dẫn đến phức tạp. - Tại anh quá nôn nóng mà thôi. Chuyện gì cũng từ từ đã, anh muốn biết về em. Đơn giản thôi, em không có huyền bí như anh tưởng đâu. Cô gái mỉm cười nhìn Lâm và nói tiếp: - Em tên Ngọc Nhi, em sống cùng với bà ngoại. Năm nay em hai mươi tuổi. Suốt hai mươi năm qua, em chỉ biết cái thị trấn yên bình này thôi. Lâm đưa tay hái một đóa hoa hồng, anh cẩn thận bẻ những gai nhọn rồi đưa sang cho Ngọc Nhi. Cô thích thú đón nhận rồi đưa lên mũi ngửi. - Nhi không theo học trường nào sao? Ngọc Nhi lắc đầu buồn bã, lúc này Lâm mới nhận thấy trong ánh mắt của Ngọc Nhi mang một vẻ buồn sâu thẫm. - Em không theo học trường nào cả, từ nhỏ cho đến lớn. Ngoại của em vừa là mẹ cũng vừa là thầy. Bà rất nghiêm khắc dạy dỗ em. Không bạn bè cũng không người quen, em sống càng lúc càng xa cách thế giới xung quanh. - Và anh là người đầu tiên mà em được gặp. Đoá hoa hồng được Ngọc Nhi cài lên mái tóc, nét đẹp của cô càng rạng rỡ thêm. Trong câu chuyện của Ngọc Nhi đã đưa tâm trạng Lâm đi vào sự đồng cảm. Cái buồn của Ngọc Nhi làm cho tim anh thổn thức, đây là lần đầu tiên sau ngày chia tay Phùng Khanh anh mới tìm lại cảm giác rung động của con tim mình. Không biết vì vẻ đẹp rực rỡ của Ngọc Nhi hay do tâm sự đáng thương của nàng mà khiến trái tim của Lâm đập lên rộn rã như mới yêu lần đầu. Thấy Lâm cứ nhìn mình, Ngọc Nhi e thẹn quay sang chỗ khác, cô bước lại gần băng ghế đá và ngồi xuống. Lâm cũng bước theo, anh lên tiếng an ủi Nhi. - Đến một lúc nào đó. Nhi sẽ có bạn bè, sẽ hòa nhập vào một thế giới mới. Nhi có thích điều đó không? - Em thích lắm nhưng không thể nào thay đổi số phận của em được. Em có một lời thề với ngoại em rồi. Lâm sững sờ nhìn Ngọc Nhi hỏi: - Lời thề gì? Tại sao Nhi lại phải thề với ngoại Nhi như vậy? Ngọc Nhi cố tình tránh ánh mắt Lâm, thầm thì: - Anh đừng nên hỏi, chúng ta ai đều có cuộc sống riêng. Cũng may là ông trời còn thương em, cho em được gặp anh để tâm sự cùng anh. Nhưng không biết sau này chúng ta có còn gặp nhau nữa hay không. Đừng nên hiểu nhau nhiều quá. Lâm như muốn dang hai tay ôm lấy Nhi vào lòng. Trước mặt anh, một người con gái yếu đuối cần anh che chở nhưng anh không dám làm thế. Anh không muốn mình là một người đàn ông quá hồ đồ. Nhi là một cách hoa trắng mong manh, anh cần phải nâng niu cánh hoa ấy. Nhi là một giọt sương tinh khôi, chỉ cần anh động đậy giọt sương sẽ vỡ tan. Ngọc Nhi quay sang nhìn Lâm, nét mặt cô không còn vẻ u buồn nữa. Sự rạng rỡ và xinh tươi đang hiện lên. Cô tinh nghịch nheo mắt với Lâm, rồi khẽ hỏi: - Còn chuyện huyền bí nào nữa không? Anh kể cho em nghe đi. Lâm ngồi xuống bên cạnh Ngọc Nhi, anh vẫn giữ khoảng cách không gần Nhi. Hình như anh sợ khi đụng vào hình hài ấy, nó sẽ như một giấc mơ vụt biến mất. - Nhi có biết ngôi nhà trồng đầy hoa tím trên cái đồi kia không? Ngôi nhà trước cổng có giàn hoa giấy. Ngọc Nhi gật đầu. Cô nhìn Lâm và chờ anh hỏi tiếp. - Anh có đến ngôi nhà đó một lần và gặp một người đàn bà gọi là dì Nương, hình như anh thấy dì Nương đang sống trong một thế giới huyền ảo. Dì có một người con gái đã chết cách đây hai mươi năm. Chính anh đã thấy ngôi mộ của cô ấy, nhưng dì nói cô ấy vẫn còn sống và oan hồn của cô ấy về nhà thăm dì và thổi sáo cho dì nghe. Ngọc Nhi không phản ứng gì về câu chuyện của Lâm đang kể, chính cái điều này càng làm cho Lâm thêm ngạc nhiên. Không đợi cho Lâm lên tiếng hỏi tiếp. Ngọc Nhi đã trấn an anh: - Anh đừng nghĩ ngợi nhiều về chuyện này. Anh đúng là người gan dạ và không sợ khi bước vào ngôi nhà đó. Tất cả mọi người trong thị trấn này, họ đều nguyền rủa ngôi nhà đó, họ cho đó là ngôi nhà của địa ngục, của ma quỷ, họ muốn phá bỏ ngôi nhà đó, nhưng họ không dám làm ngay. Vì hàng đêm, vợ con họ và chính bản thân họ đều trông thấy bóng một cô gái với tiếng sáo thê lương, sầu thảm nửa van xin họ, nửa như đe dọa họ. Họ sợ tiếng sáo ấy lắm. Họ cho đó là tiếng sáo gọi hồn. Ngọc Nhi vừa kể xong, đôi mắt cô vương vương một nét buồn sâu thẳm. Nhưng trong vẻ buồn ấy lại hiện lên một thoáng căm phẫn tột cùng. Lâm vẫn chưa hết bàng hoàng, câu chuyện này anh chỉ được biết qua Ngọc Nhi mà thôi. Thật ra thì anh có đến gặp một vài người trong thị trấn, khi họ nghe anh hỏi đến vấn đề này, họ đều lảng tránh anh. Bóng tối bắt đầu vây phủ, những tia nắng bị gom hết lại và chạy trốn vào những chiếc lá bàng to trước sân. Ngọc Nhi đứng dậy xin phép anh về nhà. Khi tiễn cô ra cổng, Lâm định xin cô một cái hẹn, nhưng Nhi hiểu ra vội đưa bàn tay nhỏ nhắn của mình vẫy Lâm cười nói: - Hãy xem em là cơn gió vô tình, một cơn gió thoảng qua nhanh mà thôi. Không để cho Lâm nói được điều gì, bóng của Ngọc Nhi khuất dạng sau cánh cổng. Lâm đưa mắt nhìn theo trên con đường vắng tanh, hình bóng của Nhi đơn côi độc hành. Tà áo màu tím nhạt của cô phất phơ bay theo chiều gió. Mái tóc của cô vẫn còn cài đóa hồng nhung trông thật diễm lệ. Lâm muốn chạy nhanh đến bên Nhi, nhưng có một cái gì đó cản chân anh lại, hình như chưa được sự cho phép của Nhi. Anh rất sợ hình bóng ấy tan biến và sợ ánh mắt hơi nghiêm nghị của Nhi. Lâm vẫn nghĩ tình yêu là hơi thở. Là nhịp đập của trái tim khi cả hai hòa quyện nên một. Nhưng khi đi bên cạnh Ngọc Nhi. Anh cảm thấy trái tim cô gái này có một chút băng giá lạnh lùng. Lâm không tự cho mình thuộc típ người lý tưởng với nhiều cô gái. Nhưng ai một lần gặp anh đều mang một ấn tượng khó quên, vẻ điềm đạm pha một chút dịu dàng đã làm cho anh có nhiều điểm vượt trội hơn những chàng trai trẻ khác. Không hẳn như thế, Lâm còn có những cái riêng rất đàn ông như ánh mắt, nụ cười... Vậy mà đi bên Lâm, Ngọc Nhi vẫn hờ hững như một người xa lạ. Cô cứ vô tình với ánh mắt tin yêu mở ngỏ của Lâm. Cô không hay biết rằng có một tình yêu đang chờ đợi sẵn sàng... Lâm đưa hai tay xoa nhẹ vào thái dương của mình, anh không muốn mình rơi vào trạng thái căng thẳng. Tình yêu đã nguội lạnh với anh từ lâu, bây giờ dù có thức dậy trong anh hay là ngủ yên, trái tim anh đã chai sạn. Có tiếng nói ồn ào lẫn trong tiếng xe máy phân khối lớn quen thuộc bên tai, Lâm chưa kịp nhìn ra cửa, anh đã thấy bóng dáng to lớn sừng sững trước mặt anh. Chí Thông vẫn như ngày nào tinh nghịch và vui nhộn. - Thế nào anh bạn trẻ, có ra đời tác phẩm nào xuất sắc chưa? Lâm nhìn bạn anh không trả lời câu hỏi của Chí Thông mà đưa tay đấm mạnh vào vai bạn cười lớn đáp lễ: - Thằng quỷ, mày xuống đây sao không gọi điện thoại cho tao biết trước. - Tặng cho mày sự bất ngờ mà. Chí Thông ngồi xuống giường, anh đưa tay tháo đôi giày đang mang và ném nó xuống gầm giường. Tiện tay, anh cởi luôn chiếc áo đang mặc. Chí Thông là như vậy, tính cẩu thả là thói quen của anh, trái hẳn với tính của Lâm, Lâm vốn cẩn thận và ngăn nắp. Lâm ngồi xuống cạnh Chí Thông, hỏi: - Có gì mới không kể cho tao nghe xem, công ty của mày làm ăn ra sao rồi ? Chí Thông nhún vai, anh lấy khăn lau những giọt mồ hôi trên trán rồi trả lời: - Mọi chuyện đều bình thường, nhưng điều mà tao quan tâm nhất là mày, cả tuần nay mày chẳng liên lạc gì với ai cả, công việc của mày ra sao? Coi bộ muốn đóng đô ở đây luôn hả? Lâm phì cười, anh không lạ gì cái tính khí của Chí Thông. Vẫn vô tư nhưng quan tâm đến bạn bè là ưu điểm số một của Chí Thông. Lâm lắc đầu trả lời với bạn vẻ chán chường: - Chẳng tiến triển gì cả. Có lẽ chưa đúng lúc để tao thi thố tài năng của mình hoặc tao quá vô dụng. - Mày thật bi quan quá, tao đã xem qua những tác phẩm của mày rồi. Cái nào cũng đặc sắc cả, tao không biết mày còn đòi hỏi gì nữa? Chẳng lẽ mày muốn có một tác phẩm siêu phàm hay sao? - Tao chỉ muốn mọi người chiêm ngưỡng tranh của tao bằng ánh mắt nghệ thuật. Và tao muốn có một tác phẩm riêng cho mình. Đó là sự đánh dấu cho thành công tài năng thực sự của tao. Chí Thông đưa tay vỗ mạnh vào vai của Lâm. Vừa động viên tinh thần của anh vừa nhắc nhở anh. - Đừng quá đòi hỏi cao cho bản thân mình. Và đừng tốn công sức săn tìm bóng của mình, nên biết rằng bóng của mình và bản thân mình, hai cái đang đi đôi. Lâm chợt cười khanh khách, đưa mắt nhìn Chí Thông chế giễu. - Sao hôm nay mày lý luận ghê thế, thật là quá cao siêu. Tao chẳng hiểu gì cả. Chí Thông nhăn mặt nhìn Lâm nói: - Mày cứ cười tao đi. Rồi có lúc mày sẽ suy nghĩ lời nói của tao là đúng. Lâm chợt nghiêm mặt lại, anh gật đầu tán thành lời nói của bạn. - Xin lỗi mày, tao quá vô duyên. Tao biết là mày rất quan tâm cho tao, cho nên mày bỏ tất cả công việc trên đấy xuống đây để khuyên nhủ tao. Thật là cảm động! Chí Thông cắt ngang lời nói của Lâm: - Thôi đừng có xạo, bạn bè mà mày khách sáo quá. Tao chỉ muốn mày toại nguyện giấc mơ của mày mà thôi... Chợt Chí Thông đứng dậy, anh đổi câu chuyện sang hướng khác. - Không tranh luận về chuyện này nữa, chúng mình đi tìm cái gì giải trí đi. Đi câu cá rồi nhờ ông Năm làm món cá chiên xù. Tối nay tao với mày nhậu một trận cho đã. Lâm hưởng ứng lời đề nghị của Chí Thông. Cả hai cùng đi xuống dưới nhà. Ông Năm đã chuẩn bị sẵn cho Chí Thông và Lâm hai cây cần câu, ông Năm vốn biết tính của Chí Thông mỗi lần về đây là thích đi câu cá. Lâm nheo mắt nhìn Chí Thông rồi thì thầm bên tai bạn: - Ông Năm này hiểu tính mày thích cái gì ở đây. Đây là lần đầu tiên tao thấy ổng vui. Chí Thông cười xòa, anh không đáp lại câu nói của Lâm mà vụt chạy thật nhanh ra sau vườn. Nơi có một cái hồ nuôi cá của gia đình Thông, Lâm cũng chạy theo bạn, cả hai như hai đứa trẻ đang thích thú tắm trong mưa, khiến cho ông Năm nhìn theo buột miệng cười thành tiếng. Ra đến nơi, Chí Thông vươn vai hít một hơi thật sâu và khoan khoái nói: - Lâu lắm rồi, không hít thở không khí thiên nhiên này, đúng là một thiếu sót cho cuộc sống. Lâm mỉm cười nhìn bạn. Anh thông cảm cho Thông bởi vì Thông khác anh xa. Thông rất đam mê sự nghiệp, không lùi bước trước những khó khăn nào. Cái gì Thông muốn đạt được thì bằng mọi giá Thông đều đạt được. Trong sự nghiệp của Thông cũng vậy, hiện giờ anh là giám đốc cho một công ty có vốn đầu tư nước ngoài, một vị trí tầm cỡ trong xã hội... vì thế không biết bao nhiêu người đẹp chạy theo Thông. Chính anh đã hội tụ những gì mà nhiều người muốn... Chí Thông đưa mắt nhìn Lâm mgạc nhiên hỏi: - Làm gì mà mày nhìn tao dữ vậy. Bộ có gì lạ lắm sao? Lâm lắc đầu cười trả lời: - Không có gì! Nhưng hơi ngạc nhiên một chút. Giám đốc bỏ những người đẹp xuống đây ngồi câu cá với thằng bạn nghèo này. Chí Thông phản ứng thật nhanh bằng cái trừng mắt nhìn bạn: - Ê đừng đem cái giọng nói lưỡi câu của mày ra nha. Có tin là tao thẳng chân một cái là mày bay xuống ao cho lũ cá xơi tái không? Vừa hỏi xong Chí Thông đã nhào đến vật Lâm xuống bãi cỏ. Lâm không phản ứng kịp thời và anh bị thụ động mặc cho Chí Thông muốn làm gì thì làm. Hai bàn tay của Chí Thông khỏe và rắn chắc siết chặt vào người Lâm. Rồi để mặc cho Lâm giãy giụa. Chí Thông vẫn không buông. Cả hai cùng vật lộn trên cỏ, tiếng cười của họ vang rộn cả một góc sân. Chí Thông và Lâm bỏ thời gian giải trí cả một buổi trưa nhưng cả hai vẫn không câu được một con cá nào. Chí Thông vốn là người nóng tính. Anh buông cây cần câu xuống, chán nản nói: - Thật xui xẻo. Cả ngày chẳng câu được con cá nào. Đúng là lũ cá có mắt. Lâm nhún vai trả lời: - Chắc là nó ghét chúng ta nên nó không chịu cắn câu. Nhưng mà mày đừng có lo. Ông Năm đang chuẩn bị món cá chiên xù ở nhà rồi kìa. - Sao mày biết có món cá chiên xù ở nhà? - Mũi tao rất thính, tao đã nghe được mùi thơm của cá. Chí Thông đưa tay xoa đầu Lâm mỗi khi đắc ý chuyện gì, Chí Thông thường hay bày tỏ sự thiện cảm của mình bằng cách xoa đầu người khác. Lâm đã quen thói quen đó của Chí Thông. Cả hai cùng bước vào trong nhà. Đúng như lời nói của Lâm, ông Năm đã chuẩn bị món cá chiên xù trên bàn cộng thêm một dĩa rau sống xanh tươi với chén nước mắm ớt chua cay. Đang đói bụng nhìn món ăn trên bàn, Chí Thông và Lâm không tránh khỏi tính xấu ham ăn của mình. Chí Thông hít hà, anh cười ha hả khi ngồi xuống ghế. Trên bàn có sẵn đồ uống và ly. Anh cầm chai rượu đế đưa lên cao, nhìn Lâm qua màu trắng đục của rượu. - Tối hôm hay có thể là đêm dài của chúng ta. Lâm mỉm cười nhìn bạn hưởng ứng: - Dài mà có rượu ngon uống với người bạn tri âm tri kỷ thì không sao. Chí Thông rót một ly rượu đầy đưa lên miệng uống cạn. - Mời bằng hữu... Ông Năm không ngồi lại hưởng ứng cùng Chí Thông và Lâm. Mặc dù cả hai năn nỉ hết lời, ông Năm vẫn tìm cách từ chối, ánh mắt của ông tràn đầy sung sướng khi nhìn Chí Thông đang cao hứng reo hò. Ông lặng lẽ rút lui nhường chỗ cho hai người bạn lâu ngày gặp nhau để họ bộc lộ sự cởi mở thân thiện tự nhiên nhiều hơn. Thông đẩy chai rượu sang Lâm sau khi đã rót cho mình một ly đầy. Lâm cũng rót một ly. Cả hai chạm ly uống cạn rồi buông tiếng khà thoải mái. Chí Thông nói: - Theo như tao được biết, mày vừa hoàn thành xong một bức tranh ở đây phải không? - Đúng, nhưng cũng không đặc sắc lắm. Chí Thông vốn thuộc loại người có bản chất tò mò: - Thế người con gái trong bức tranh là ai vậy, người tình mới phải không? - Đơn giản chỉ là cô gái trong bức tranh mà thôi. Lâm nhìn bạn, men rượu làm cho anh phấn chấn thêm. Lâm nhướng hai hàng lông mày lên hỏi Chí Thông: - Chuyện vợ con của mày tới đâu rồi, bao giờ mày mời tao đi ăn cưới đây? Chí Thông không ngước đầu lên trả lời, bởi vì món cá này quá hấp dẫn với anh. - Thế nào anh chàng giám đốc trẻ, biết bao nhiêu cô người mẫu xếp hàng chờ đợi...? Chí Thông cắt ngang lời nói của Lâm. Anh cầm chai rượu rót đầy ly Lâm. - Đừng lo chuyện của tao, hãy nói về mày đi, đã lọt vào mắt xanh cô nào chưa? Lâm cười khẽ trả lời: - Mắt đen còn chưa có nói chi mắt xanh. - Nghe giọng mày nói chẳng hào hứng chút nào. Tại sao bất cần đời quá vậy bạn? Rồi Chí Thông đứng dậy hét lớn: - Cuộc đời là màu hồng, hãy tận hưởng đi kẻo uổng phí! Lâm không nói gì, nâng ly rượu lên thật cao để nhìn gương mặt của Chí Thông qua lớp thủy tinh. Tống một hơi dài cạn sạch, anh đặt ly xuống, tận hưởng mùi vị rượu thật nồng và cay xé tận đáy lòng, men rượu làm giảm đi sự căng thẳng trong anh. Anh nhún vai nói: - Nếu tất cả cuộc đời này đều là màu hồng thì trái đất thật yên bình và hoàn hảo, không có ai tranh giành quyền hành với nhau, không có người giàu và người nghèo, trẻ con không phải đói rách sống kiếp lang thang. Chí Thông nhăn mặt, không phải men rượu làm anh cay mà lời nói của Lâm quá chua chát. - Kìa, anh bạn trẻ của tôi bỗng nhiên trở thành nhà triết lý bao giờ vậy? Trong mắt mọi người, thế giới này có hoàn hảo bao giờ đâu? - Nói hay lắm, cạn với cậu một ly… Lâm đưa ly rượu ngang mặt Chí Thông cả hai cùng cạn. Thật ra Lâm không muốn tranh luận về vấn đề này với Chí Thông. Bởi vì anh hiểu rằng giữa anh và Chí Thông đang sống trong hai quan niệm khác nhau. Tuy rằng cả hai cùng theo đuổi một chí hướng phấn đấu chung là sự nỗ lực vươn lên của những tài năng trẻ, một chủ doanh nghiệp trong tương lai. Và cả hai cũng là tình bạn tri âm, hiểu và thông cảm cho nhau nhiều hơn. Chí Thông đặt ly xuống bàn, đưa ánh mắt nhìn Lâm chờ đợi Lâm rót rượu thêm vào ly mình. Ánh mắt Chí Thông long lanh, men rượu làm cho Thông ngà ngà say. Anh lầm bầm: - Đêm nay là đêm dài, uống với bạn hữu không thấy say. Lâm không nghe những lời Chí Thông anh đang theo đuổi những hình ảnh riêng trong anh. Hình ảnh kỳ lạ của những đêm về trước cứ chập chờn trong tâm trí anh. Không thể nào để mãi trong lòng, Lâm tâm sự với Chí Thông: - Trên đời này mày có tin là có những linh hồn xung quanh chúng ta không? Có những hiện tượng lạ lùng không sao lý giải được. Cứ đến nửa đêm linh hồn đó hóa thân thành những hồn ma đi lang thang cô đơn một mình. Hồn ma mang nỗi oan ức không biết tâm sự giải bày cùng ai, mượn tiếng sáo để nói lên những lời tâm sự của mình và nhờ cơn gió đưa đẩy đi xa. Không biết nên gặp hồn ma đó hỏi nguyên nhân những tâm sự thầm kín trong khúc nhạc của tiếng sáo hay ra bỏ chạy trong nỗi sợ hãi kinh hoàng rồi nguyền rủa về bóng ma quấy phá mọi người trong những đêm mất ngủ... Lâm đưa mắt nhìn Chí Thông. Anh ngừng nói trong khi thấy Chí Thông gục đầu xuống bàn ngủ ngon lành. Có lẽ men rượu đã thấm khiến Chí Thông say bí tỉ, không biết chuyện gì xảy ra với mình kể cả những lời tâm sự của Lâm. Miệng Chí Thông vẫn lầm bầm: - Bằng hữu... Bằng hữu... Lâm khẽ cười. Anh đỡ người Chí Thông ngồi bật dậy rồi dìu bạn vào phòng. Trong cơn say, miệng Chí Thông vẫn khẽ gọi hai chữ... Bằng hữu... Chí Thông ngủ cùng phòng với Lâm. Cả hai sau một trận đụng độ no say, đều lăn đùng ra ngủ. Trong màn đêm tĩnh mịch, tiếng ngáy của Chí Thông nghe rõ từng tiếng ồn ào. Lâm chỉ chợp mắt được một lúc rồi anh chợt tỉnh dậy trong cái trở mình của Chí Thông và bàn tay nặng trịch của Thông đè lên ngực anh. Lâm nhẹ nhàng đặt tay của Thông xuống. Anh rời khỏi giường cũng như thường lệ anh hay mất ngủ về đêm. Lâm bước ra phòng khách trong ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn dầu không thắp sáng đủ căn phòng, điều làm cho Lâm ngạc nhiên là hai cánh cửa sổ ngày thường được ông Năm cẩn thận đóng lại, nhưng hôm nay bỗng nhiên mở tung ra. Gió từ ngoài lùa vào làm cho tấm rèm cửa lay động, một luồng không khí thổi vào người Lâm. Hơi lạnh khác thường này làm cho anh sợ hãi khi gặp lại lần nữa. Lâm lùi lại, linh tính báo cho anh biết có một điều gì đó đang xảy ra trước mặt anh. Và anh nghe được hơi thở của ai đó bên ngoài cửa sổ. Lâm im lặng, mắt anh vẫn không rời khỏi cánh cửa. Bất chợt có tiếng gõ cửa, lúc đầu một vài tiếng nhưng về sau dồn dập. Lâm trấn tĩnh lại và anh lên tiếng hỏi: - Ai đó, đêm khuya cần gặp ai? Không một tiếng trả lời, tiếng gõ cửa vẫn dồn dập, bực tức Lâm bước nhanh đến đấm mạnh vào cánh cửa rồi hét lớn: - Ai muốn quậy phá gì, muốn gặp ai? Vừa hỏi, Lâm vừa mở tung cánh cửa ra, một màu đen tối hiện ra trước mặt Lâm. Trong bóng đêm đen thẫm ấy, sự im lặng mỗi lúc càng rợn người. Không một bóng người, cũng không một ai. Lâm đưa mắt tìm kiếm nhưng anh chẳng thấy gì ngoại trừ chỉ một mình anh mà thôi. Lâm xô mạnh cánh cửa, cơn bực tức vẫn chưa nguôi trong lòng anh. Khi Lâm quay lưng lại, anh giật mình mở tròn mắt đầy ngạc nhiên, hai cánh cửa sổ lúc trước được mở tung ra, giờ được khóa cẩn thận đóng lại. Căn phòng tối sầm lại bởi ngọn đèn dầu cũng bị tắt đi. Không gian trở nên yên lặng đáng sợ. Lâm đang ngơ ngác chưa kịp định thần tâm trí của mình, một lần nữa, tim anh đập loạn xạ. Trước mắt anh, phía bên góc căn phòng, ngay bộ trường kỷ, một ánh sáng màu tím nhạt hiện lên cùng với màu tím ấy là bóng một người trong trang phục trắng đang ngồi quay lưng về phía Lâm. Mái tóc cô gái thả dài xuống, hình bóng thật quen thuộc. Lần này Lâm không sợ hãi nữa, anh can đảm bước lại gần cô gái, lên tiếng hỏi trong khi mắt anh vẫn nhìn cô gái với vẻ ngạc nhiên tột độ về sự xuất hiện bí ẩn của cô ta: - Hãy nói cho tôi biết cô cần gì ở tôi? Cô là người hay là một oan hồn cần tôi giúp đỡ? Cô gái im lặng không trả lời câu hỏi của Lâm. Ánh sáng màu tím bên cô gái lúc hư lúc thực. Trong căn phòng tối đen này bên ngoài không một ánh trăng sao. Lâm không thể nào nhìn rõ được chân dung người con gái. Anh chỉ lờ mờ thấy mái tóc đen tuyền thả dài xuống vai và được khoác trên người cô gái một bộ đồ rộng thùng thình cùng một màu với ánh sáng ấy. Lâm bước thêm vài bước nữa, lần này chỉ còn cách cô gái chừng hai mét. Anh lên tiếng đầy vẻ bực tức và giọng nói anh vang dội xé tan bầu không khí ảm đạm. - Tôi đã gặp cô được một vài lần. Đây không phải là lần đầu tiên chúng ta gặp nhau. Tôi nghĩ tôi không nợ nần và không thù oán gì với cô. Tại sao cô cứ bám lấy tôi mà chọc phá vậy? Thật ra cô là ai? Nói mau, nếu không cô đừng cho tôi là bất lịch sự với cô. Lâm bước thêm một bước rồi hai bước đến bước chân thứ ba, lần này ánh sáng màu tím vụt bừng sáng. Cô gái quay sang nhìn Lâm. Trong ánh sáng chói chang ấy. Lâm kinh hãi tột độ khi nhận ra khuôn mặt của cô gái. Anh lùi lại một vài bước dựa lưng vào thành ghế. Anh đưa tay bấu chặt lấy thanh gỗ, cơn xúc động của anh mỗi lúc một dâng cao. Khuôn mặt của cô gái hiện lên trong ánh sáng quá hãi hùng. Đây là lần đầu tiên anh mới trông thấy một khuôn mặt kỳ dị như thế. Một màu trắng bệch bao trùm lấy khuôn mặt và nó giống như một tảng thịt vuông vức không mũi không miệng, không lông mày. Chỉ độc nhất với hai con mắt tròn xoe lấp lánh nhìn Lâm. Trong ánh mắt long lanh chảy dài xuống là những giọt máu màu hồng trên khuôn mặt trắng như bột. Lâm như không còn đủ khả năng nhìn cái khuôn mặt kỳ dị ấy nữa. Khuôn mặt như một tảng thịt được gắn trên một thân hình mảnh mai của người con gái kia nhưng anh không ngờ rằng bộ quần áo lập dị được khoác lên người của cô gái một cách nặng nề và to lớn như thế. Khi cô gái đứng dậy, thân hình của cô cao lớn bằng Lâm. Cái đầu của cô gái rung rinh như muốn rớt xuống đất... Lâm cảm nhận được những ngón tay của anh đang bám chặt vào thanh gỗ của chiếc ghế và đang rướm máu vì đau nhức. Có tiếng cười hoang dại trong phòng. Tiếng cười ngân lên theo một chuỗi dài đầy ma quái, Lâm nghe tiếng hét của Chí Thông và anh không còn biết sự hiện diện của cô gái trước mặt, anh đưa chân đá chiếc ghế đang cản lối ra của anh. Chiếc ghế ngã nhào xuống, kéo theo cái bình bông to tướng bằng gỗ đặt cạnh góc nhà. Cái bình đã lăn xuống chân Lâm khiến cho anh té xuống đất, đầu anh đau nhói khi đập mạnh vào cái chân bàn trước mặt và Lâm vẫn không nghĩ đến điều đó, anh cố đứng dậy chạy thật nhanh vào phòng tìm Chí Thông. Những cái gối được quăng tới tấp trước mặt Lâm, kèm theo tiếng hét của Chí Thông: - Biến ngay! Tao chẳng sợ ma cỏ gì cả. Biến... biến nhanh! Lâm đưa tay ra để trả lời với bạn: - Bình tĩnh đi Thông, tao đây mà! Lúc này Chí Thông mới bình tĩnh lại. Anh đưa mắt nhìn Lâm bực dọc hỏi: - Mày biến đi đâu vậy? Tao mới vừa gặp một con ma nữ, đầu tóc rối tung như ổ quạ đến bên giường nhìn tao mà cười, tưởng tao là thằng nhát gan, ai ngờ tao cho cái chân đèn vào đầu. Thế mà vẫn ôm đầu cười như ma dại... Chí Thông vẫn không giấu vẻ bực tức trên khuôn mặt, anh nằm xuống giường nhìn Lâm nói tiếp: - Thôi ngủ đi. Ngày mai cùng về với tao, đừng nên ở đây nữa. Nơi gì đâu khùng điên và ma quái. Lâm không nói gì, anh cũng không kể câu chuyện ban nãy cho Chí Thông nghe. Anh biết tính của Chí Thông không bao giờ tin chuyện ma cỏ trên đời này. Có tiếng ngáy của Chí Thông, mới đấy mà Chí Thông đã ngủ rồi. Lâm đưa mắt nhìn bạn mỉm cười khi thấy khuôn mặt Chí Thông lúc ngủ vẫn còn vẻ tức giận câu chuyện vừa qua. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 23
Phần III Sáng hôm sau, Chí Thông đã lấy tất cả quần áo của Lâm đặt lên xe hối thúc Lâm về. - Đi thôi mày, quả đúng là gia đình tao nói không sai, nơi đủ thứ chuyện nhảm nhí, đừng nên nghĩ làm gì chỉ điên đầu mà thôi. Lâm không nói gì, anh lẳng lặng lấy hành lý của mình trở vào phòng. Chí Thông ngạc nhiên, đi theo và nổi sùng hỏi: - Mày điên rồi sao? Cả tuần qua mày chẳng làm được việc gì cả, trong giai đoạn cuối này, mày không chuẩn bị cho những tác phẩm của mày, thế thì làm sao cuối tháng phòng triển lãm tranh của mày khai mạc được chứ? Nghe Chí Thông nhắc đến triển lãm tranh vào cuối tháng này, Lâm chợt giật mình, thật sự là anh quên hẳn. Đúng là cả tuần nay anh không biết anh đang đeo đuổi mục đích gì? Vỏn vẹn chỉ một bức tranh “Chiều hoàng hôn” của anh mà thôi. Thấy Lâm còn đang đứng suy nghĩ mông lung. Chí Thông nhanh nhẹn kéo Lâm đi ra cửa, nhưng khi bước chân đến phòng khách, Lâm lắc đầu nhìn bạn nói: - Tao quyết định ở lại đây thêm vài ngày nữa. Tao có chuyện riêng phải làm, mày về trên đó mà lo giùm tao phần phát thiệp mời bạn bè, rồi tao sẽ về kịp ngày triển lãm tranh mà. Chí Thông hiểu được tính của Lâm. Một khi quyết định một chuyện gì thì không thể nào thay đổi được. Thông nhìn Lâm với ánh mắt đầy khó hiểu, anh không hỏi Lâm điều gì chỉ khi leo lên xe chuẩn bị nổ máy. Chí Thông mới nói: - Dù sao thì tao không xen vào chuyện riêng của mày nhưng có điều tao muốn nói với mày… Lâm đưa tay vỗ mạnh vào vai bạn cười: - Có chuyện gì mà sao vẻ mặt mày quan trọng dữ vậy? Chí Thông nói với vẻ nghiêm túc: - Hai bác rất buồn về mày nhiều lắm. Trước khi xuống đây tao có đến nhà mày. Thật tội nghiệp cho hai ông bà đang khao khát có cháu nội ẵm bồng... Chí Thông bỏ lửng câu nói, nheo mắt nhìn Lâm cười rồi nói tiếp: - Lần này về kiếm đại một em đi, kén chọn hoài coi chừng ế đấy. - Thì bây giờ đã ế rồi nè, mày tài hoa mà, kiếm giùm tao được không? - Thôi đi cha nội. Tôi hiểu tính cha mà. Lâm phì cười, anh chưa kịp lên tiếng hỏi lại Chí Thông sao đổi cách xưng hô như vậy? Thì tiếng máy xe của Chí Thông nổ ầm ĩ. Thông cho xe lao nhanh ra cổng sau cái vẫy tay chào tạm biệt. Lâm đưa mắt nhìn theo, anh thấy ông Năm đứng ngoài cổng tự bao giờ. Chí Thông dừng xe lại và nói chuyện với ông Năm một chút rồi mới đi. Lâm không quay vô nhà, anh bước ra cổng. Anh muốn đi dạo một lúc, thật tình câu nói của Chí Thông ban nãy làm cho anh cảm thấy chạnh lòng. Trong phút giây này anh nhớ đến ba mẹ mình. Họ chỉ có duy nhất anh trên đời này. Anh biết tâm trạng của ba mẹ mặc dù họ cố giấu kín nhưng anh vẫn hiểu. Giữa anh và Chí Thông cách xa hoàn toàn. Chí Thông vừa có địa vị, vừa chuẩn bị lấy vợ. Lâm chỉ biết vợ sắp cưới của Thông là một cô thư ký riêng của công ty vừa xinh đẹp lại giỏi giang, đã có một lần anh gặp mặt. Còn anh mãi đến tận bây giờ vẫn còn ì ạch xách giá đi vẽ tranh. Một họa sĩ vô danh, không tên tuổi trong mắt mọi người, anh thích theo đuổi nghệ thuật nhưng nghệ thuật lại không mỉm cười với anh. Có lẽ bản tính của anh quá khắt khe, anh không bằng lòng với chính bản thân mình. Anh tự đánh giá mình còn non kém, phải chăng anh đang đặt mình vào vị trí của những nhà họa sĩ tài ba trên thế giới. Anh muốn mình cũng như họ. Anh đang đi tìm cái tôi của mình trong khi cái tôi của anh vẫn còn ở bên anh. Bước chân đã đưa Lâm đến phiên chợ sáng. Nơi đây mọi ngày vẫn náo nhiệt, nhưng hôm nay khác hẳn với ngày thường vì sự im lặng đang bao trùm. Mọi người đang tập trung với nhau bàn tán một chuyện gì đó quan trọng, trên gương mặt mọi người hiện ra một sự căng thẳng tột độ. Lâm đã quên đi dòng suy nghĩ của mình. Anh bước lại gần một đám đông đang bàn tán xôn xao, họ mải miết tranh luận nên không để ý đến sự có mặt của anh. Một người đàn bà ồn ào nhất trong đám lên tiếng: - Thật là kinh hoàng, đêm hôm qua, chính mắt tôi trông thấy con ma nữ mặc toàn đồ trắng bay phất phơ trên ngọn trúc nhà tôi. Cô gái bên cạnh cũng họa thêm: - Đêm nào con cũng nghe tiếng sáo của hồn ma ấy. Có đêm con còn trông thấy một khuôn mặt trắng bệch chỉ có hai con mắt đỏ ngầu... Mọi người đang tranh nhau nói về câu chuyện con ma quái ấy. Lâm không nghe tiếp, anh đảo mắt nhìn quanh và bước lại gần một quán cóc ven đường. Nơi ấy có một bà lão lớn tuổi đang ngồi im lặng. Quán cóc chỉ bán vài lon kẹo xanh đỏ và vài bánh cốm lưa thưa. Lâm ngồi xuống cái ghế được làm bằng khúc củi đã lâu ngày giờ nhẵn bóng, Người đàn bà không thèm hỏi Lâm ăn gì. Bà đang cầm chiếc quạt mo quạt một cách mệt nhọc. Lâm khẽ lên tiếng: - Cho con một cái bánh cốm đi bà. Người đàn bà đưa bánh cốm cho Lâm và cũng không nói tiếng nào, lúc này buộc lòng Lâm đành phải khơi chuyện: - Sáng nay trong chợ có chuyện gì vậy bà? Hình như mọi người đang bàn tán về chuyện hồn ma nào đó? Tiếng thở dài của bà vang lên phá tan sự im lặng. Bà chậm rãi trả lời: - Chỉ là... một câu chuyện cách đây hai mươi năm. Giờ đây lặp lại mà thôi. - Trên đời này bà có tin rằng có một oan hồn còn uẩn khúc chưa được giải tỏa hay không? - Tôi không biết gì cả, đừng hỏi tôi chuyện đó. Lâm cắn môi. Anh đưa mắt quan sát người đàn bà. Hình như anh trông thấy trên khuôn mặt của bà ta hằn lên những đau khổ và xúc động tột cùng. Có tiếng bước chân phía sau, Lâm trông thấy một anh thanh niên trẻ bước vào, anh đến bên bà nói nhỏ: - Nội vô trong nhà nghỉ đi. Con sẽ trông quán cho nội. Người đàn bà đứng dậy, nặng nề bước vào nhà. Còn lại anh thanh niên, khác hẳn với bà lão. Anh sôi động bắt chuyện với Lâm: - Em tên Minh, đã mấy lần em thấy anh ở ngôi nhà của ông Năm. Lâm gật đầu mỉm cười nhìn Minh và anh không bỏ lỡ cơ hội này: - Nói cho anh nghe, chuyện gì đang xảy ra ở thị trấn này vậy em? Minh sốt sắng kể: - Anh không hay chuyện gì sao. Cả xóm này đang gặp ma, một con ma nữ nha anh. Chuyện kinh dị lắm, chính bà của em cũng nói chuyện với con ma ấy. Lâm ngạc nhiên hỏi: - Bà em nói chuyện với con ma nữ ấy? Minh lắc đầu trả lời: - Em không biết, nhưng những ngày gần đây xảy ra đủ chuyện, bóng ma ấy cứ lẩn quẩn trong đêm nên mọi người không dám ra đường lúc về đêm. Lâm giả đò không tin, anh nheo mắt nhìn Minh: - Anh có thấy gì đâu? Đêm nào anh cũng đi dạo. Anh đâu có gặp bóng ma nào? - Em cũng như anh. Em không gặp ma cỏ gì. Nhưng nghe mọi người kể, em sợ quá, ban đêm em không dám bước ra ngoài. Nhưng bà em nói con ma là con nhà ma quái ở cuối xóm, anh có biết ngôi nhà ma quái không? Và không đợi cho Lâm trả lời. Minh nhanh miệng kể tiếp: - Mọi người trong thị trấn này đã cách biệt với ngôi nhà ấy, họ cho rằng ngôi nhà chứa những linh hồn quậy phá. Đêm xuống hay đi chọc ghẹo mọi người. Lâm nhăn mặt, vẻ như không hiểu ý Minh nói: - Mọi người ở đây vẫn tin rằng có ma hay sao? Anh thấy ngôi nhà đó có một người đàn bà sống ở đó mà? Minh trợn trừng nhìn Lâm hỏi: - Vậy là anh có đến ngôi nhà đó rồi. Anh phải đến gặp thầy cúng thôi. Coi chừng con ma ở đó bắt hồn anh. - Bình tĩnh lại đi em, làm gì có chuyện đó. Anh vẫn ngồi đây nói chuyện với em, có ai bắt hồn anh đâu. - Nhưng rồi anh sẽ bị bắt. Có vài người hiếu kỳ đến ngôi nhà ấy nhưng họ không vào được bởi vì bên trong có tiếng kêu khóc và rên rỉ, thảm thiết. Họ sợ quá bỏ chạy, đêm về bóng ma ấy cứ bám lấy họ cả gần một tháng mới buông tha. Lâm gật đầu vẻ như tin lời của Minh nói, khiến cho anh ta càng thích thú kể tiếp: - Nhưng sắp tới mọi người trong xóm này đoàn kết lại kéo đến ngôi nhà ma đó đập phá nó đi. Lâm buột miệng hỏi: - Chính quyền không can ngăn chuyện của họ làm? - Họ đều nhất trí cả. Cái thị trấn này vốn rất yên bình, nhưng bây giờ họ bị những bóng ma ấy phá phách. Đêm xuống cứ vờn qua vờn lại trên đường khiến cho mọi người lo sợ, không dám đi đâu vào ban đêm, phải tiêu diệt nó thôi. Minh vẫn còn kể huyên thuyên đủ chuyện xoay quanh bóng ma. Trong khi Lâm đã đứng dậy ra về. Một vài người bước vào quán, họ hưởng ứng câu chuyện của Minh. Nơi đó, lúc nãy vẫn còn yên lặng, giờ lại xôn xao hẳn lên. Lâm cho hai tay vào túi quần và thong dong bước đi trên con đường nhựa vừa làm xong. Mùi nhựa mới hắt vào mũi anh. Trong cái nắng mùa hè oi bức và nghiệt ngã này làm cho đầu óc Lâm càng quay cuồng. Lâm cứ mặc nhiên bước đi. Anh biết xung quanh anh những ánh mắt không chút thiện cảm đang nhìn theo soi mói. Lâm vẫn cứ mặc kệ, bước chân anh mỗi lúc một nặng nề. - Lâm! Lâm! Lâm! Có tiếng người đàn bà gọi anh, giọng nói của người đàn bà ngọt ngào trong trẻo. Bà ta vẫn gọi Lâm, gọi đúng tên của anh. - Lâm, có phải con đang tìm hiểu về câu chuyện thương tâm của ta phải không? Lâm cố mở mắt ra nhìn. Toàn thân anh cứng đờ đi không nhúc nhích. Mí mắt nặng trịch không sao mở ra được, trên vai anh giọng nói của người đàn bà vẫn âm vang: - Ta hiểu tâm trạng của con lúc này. Con đang ở trong một thế giới hư ảo giữa người và ma. Con không tin rằng có những hồn ma hiện hữu trong thế giới của con. Lâm ú ớ cố bật lên thành tiếng. - Người là ai... tại sao cứ ẩn hiện xung quanh tôi. Sự thật nói cho tôi biết rằng tôi đang gặp phải một hồn ma hay không? - Con hãy để cho sự thật ấy chìm vào trong bóng tối đi… Giữa con và ta là hai thế giới khác nhau hoàn toàn. Ta chỉ là một hạt bụi hiện hữu trong thế giới của con. - Thế giới của người là gì? Ở đâu? Có gần đây không? Lâm cố nhướng người ngồi bật dậy nhưng vô ích cơ thể anh như một tảng băng lạnh giá và cứng nhắc. Anh không mở mắt ra được. Anh chỉ nghe âm thanh qua lời nói của người đàn bà. - Con đừng nên biết thế giới của ta làm gì. Mọi người vẫn cho là chuyện hoang đường. Con cứ nghĩ nó là như vậy đi. Lâm vẫn ngoan cố đáp: - Nhưng tôi không biết người là ai? Tại sao tôi không cử động được, tôi không thể nào mở mắt nhìn được vậy? - Không thể nào ngươi nhìn được ta đâu dù cho ngươi có mở mắt ra ngươi cũng không thể nào thấy ta được. - Tại sao? Tôi không hiểu gì cả. Một làn gió nhẹ bỗng thổi vào mặt Lâm khiến cho anh rùng mình. Giọng nói của người đàn bà vẫn trong trẻo bên tai Lâm. - Con đừng tìm hiểu nhiều điều quá, trên đời này có những cái cần nên hiểu, cũng có những cái không cần. Ta thì hiểu hết mọi chuyện. Con hãy sống thực tại một chút đừng nên ngoan cố với bản thân mình. Hãy thư thả. Lâm lắc đầu nói: - Tôi không hiểu người nói gì cả. Hãy nói cho tôi biết người cần gì ở tôi? Giọng nói của người đàn bà ngân cao: - Ta không đòi hỏi con điều gì cả. Nhưng ta biết con có thể giúp được ta khi con quyết định ở lại cái thị trấn này. Hãy làm những gì mà con có thể làm và đừng tin vào những gì mà con đã thấy và đã nghe cũng như sự hiện diện của ta. Chỉ là một giấc mơ mà thôi, đơn giản chỉ là một giấc mơ... giấc mơ... giấc mơ... Lâm giật mình choàng tỉnh, anh mở mắt ra nhìn xung quanh, toàn thân tê tái và rã rời, đầu óc Lâm quay điên cuồng. Anh như người say vừa tỉnh, mồ hôi lấm tấm thấm ướt cả chiếc áo đang mặc. Anh bần thần như người mộng du, giấc mơ ban nãy khiến cho tâm trí Lâm rối bời. Đây là một giấc mơ lạ lùng từ trước đến giờ anh mới gặp, những lời nói của người đàn bà và những câu đáp của anh, khiến cho anh nhớ rõ như thuộc lòng. Anh vẫn còn ngờ ngợ đây là một sự thật hay chỉ là một giấc chiêm bao. Phải chăng một giấc chiêm bao mang một ý nghĩa đặc biệt cần Lâm giải nghĩa? Lâm đưa mắt nhìn đồng hồ, giờ này mới có một giờ chiều. Anh đã ngủ trưa được hai tiếng, lúc sáng đến giờ Lâm vẫn không thấy ông Năm. Anh không biết ông ta đi đâu mất dạng. Đang trong lòng ngờ vực về ông Năm, chợt Lâm nghe có tiếng chuông ngoài cổng. Anh loạng choạng đứng dậy, xuống nhà mở cổng. Khi cánh cổng được mở ra, một bóng người quen thuộc trong mắt Lâm khiến cho anh buột miệng thốt lên: - Dì Nương…! Người đàn bà ấy chính là dì Nương hôm nào Lâm đã gặp và cũng chính người ở trong căn nhà ma quái mà thị trấn này biệt lập ra. Dì Nương vẫn không thay đổi gì, bộ đồ đen may kiểu Trung Hoa cổ kính và dì đội trên đầu chiếc khăn đen che phủ cả khuôn mặt, có lẽ dì không muốn cho mọi người xung quanh nhận ra dì. Lâm mời dì Nương vào nhà, nhưng dì lắc đầu từ chối: - Dì không thích vào nhà ai, ngoại trừ nhà dì ra... Dì Nương nhìn thẳng vào mắt Lâm nói: - Con đã hứa vẽ chân dung con gái của dì, bây giờ con nên thực hiện lời hứa đó. Lâm lặp lại câu nói của dì Nương: - Vẽ chân dung con gái của dì ngay bây giờ ạ? Dì Nương gật đầu, dì nói như ra lệnh cho Lâm: - Con vào trong chuẩn bị mọi thứ. Dì sẽ đợi con đến nhà dì. Nói xong dì Nương quay lưng bước đi. Dì không đợi cho Lâm phản ứng trước lời đề nghị đột ngột của dì. Lâm còn đang ngỡ ngàng, anh không biết mình đang làm cái gì. Nhưng Lâm cũng quay lưng vào trong nhà. Anh chuẩn bị mọi thứ cần thiết. Trên đường đi đến nhà dì Nương, Lâm vẫn chưa hết bàng hoàng. Anh đang trải qua những cơn ác mộng, mọi thứ đến với Lâm quá đỗi ngạc nhiên và bất ngờ. Anh chưa kịp trấn tĩnh lại mình, thì chuyện khác xảy ra với anh. Câu chuyện vừa hoang đường vừa thần kỳ khiến cho Lâm không thể nào quên được. Bây giờ anh đang đối diện với chính nó. Anh cần phải làm một đều gì đó, sự hoài nghi vẫn còn âm ỉ trong lòng anh. Căn nhà dì Nương đã hiện ra trước mặt Lâm, vẫn không có gì thay đổi, giàn hoa giấy trước cổng nhà trổ hoa đủ màu: trắng, hồng và tím, sum xuê hơn trước nhiều. Cánh cổng đã mở rộng ra đón chào Lâm đến. Anh mạnh dạn bước vào bên trong. Hình như những chậu hoa lan trước cửa nhà nở hoa thưa thớt đi. Và Lâm nhận thấy sự ảm đạm đang bao trùm lấy ngôi nhà. Không để lại một tiếng động. Lâm từ từ bước vào. Cảnh vật hoang tàn hiển hiện trước mắt Lâm, khác hẳn với lần trước mà anh đã đến. Bàn ghế nằm lăn lóc mỗi nơi một cái, những bức tranh thủy mạc vốn sinh động giờ nằm ngổn ngang. Chiếc bình cổ to tướng giữa nhà giờ bể tan tành, vương vãi mảnh vỡ khắp nơi... Lâm không thể tin vào mắt mình nữa. Anh đặt cái giá vẽ xuống chân và bần thần đưa mắt nhìn khắp căn phòng. Anh không biết phải làm như thế nào? Bóng dáng dì Nương đã bặt tăm, anh không biết hiện giờ dì đang ở đâu. Một ánh sáng lóe lên từ trên căn gác xép và cửa sổ nhẹ nhàng mở ra. Một mái tóc dài ngang lưng, tà áo trắng trong ánh sáng màu tím nhạt càng thêm mờ ảo huyền bí. Người con gái ngồi im lặng bất động. Tiếng sáo trầm bổng được cất lên giữa không gian tĩnh mịch tạo khung cảnh thê lương. Cô gái vẫn không đối diện với Lâm. Cô ngồi yên trên đó, du dương những điệu buồn da diết. Lời tình tự đi vào lòng người nghe thật não lòng. Lâm bước nhanh đến chân cầu thang. Lần này anh nhất định phải đối diện trước mặt người con gái trên kia. Dù cho cô ta là hồn ma hay là người, anh cần phải biết sự thật trong câu chuyện này. Bước chân anh dừng lại tại cánh cửa. Dì Nương đã đứng nơi đấy tự lúc nào, lời nói của dì đanh lại: - Cậu không được vào căn phòng này. Con gái của tôi không thích gặp cậu. Lâm nhún vai trả lời: - Không thích gặp con, thì làm sao con vẽ chân dung cô ấy được? Dì Nương khoát tay ra lệnh bác bỏ lời nói của anh: - Không cần phải đối diện. Anh cứ đứng ở dưới nhà vẽ lại tất cả những cảnh vật mà anh trông thấy. Lâm lắc đầu đáp: - Con không thể nào làm được, một khi người họa sĩ không có nguồn cảm hứng thì bức tranh chỉ vô hồn. - Tôi sẽ tạo nguồn cảm hứng cho cậu. Lâm tròn mắt nhìn dì Nương. Anh không biết dì muốn khắc họa hình ảnh hiện tại này để làm gì? Chẳng có gì mới mẻ và sinh động cả, một bức tranh điêu tàn hoang dã như thế này sao? Dì Nương ra dấu bảo Lâm đi theo dì, Lâm lặng lẽ bước theo. Anh không quên quay lại nhìn cô gái, vẫn tiếng sáo bay bổng ấy làm nên những điệp khúc như gieo vào lòng người sự phân ly và lời oán trách. Dì Nương dẫn Lâm đi thẳng vào nhà trong, đây là lần đầu tiên Lâm vào phía sau của căn nhà này. Càng vào sâu trong nhà. Lâm mới biết nơi đây rất dài và rộng, ánh sáng không đủ để cho Lâm quan sát chung quanh. Tất cả đều mờ ảo hư hư thực thực trong mắt anh. Dì Nương dừng lại trước một căn phòng, dì tìm xâu chìa khóa rồi cẩn thận mở cửa, Căn phòng thật rộng, bày trí khá đơn giản. Khi ánh sáng bừng lên từ hai cánh cửa sổ được dì Nương mở tung ra, Lâm sững sờ đưa mắt nhìn. Anh không thể tin vào mắt mình, xung quanh anh cả bốn góc tường được treo toàn tranh và tranh... Dì N ương kéo Lâm đến từng bức tranh và giải nghĩa cho anh hiểu đề tài của nó. Giọng của dì ngọt ngào khác hẳn lúc nãy, trong tiếng nói, Lâm nghe được những âm thanh run lên vì xúc động: - Con có thấy một căn nhà gỗ mộc mạc xung quanh toàn hoa và cây trái không? Có một đôi vợ chồng trẻ đang sống hạnh phúc nơi ấy. Người chồng hiền lành chăm sóc những chậu lan, hàng ngày vào mỗi buổi sáng, người vợ đem ra chợ bán. Hoa lan của họ được nhiều người trong xóm ưa thích... Dì Nương quay sang nhìn Lâm, ánh mắt của dì rưng rưng lệ. Bà nghẹn ngào nói: - Người trong tranh chính là dì và Vũ Nguyên, chồng của dì. Rồi dì Nương đưa tay chỉ một bức tranh khác, nơi đấy là một khung cảnh ấm cúng trong sinh hoạt ở gia đình. Người chồng đang ngồi đọc báo, người vợ ngồi thêu thùa bên cửa sổ. Bên cạnh họ là đứa bé kháu khỉnh ngủ ngon giấc trong chiếc nôi. Tiếng của dì Nương trầm lắng như đang ngược dòng thời gian sống trong quá khứ êm đẹp và hạnh phúc của mình. - Bé Ngọc Lan ra đời trong tình thương yêu và tràn đầy hạnh phúc của vợ chồng dì. Lúc đó cuộc sống của vợ chồng dì không giàu có nhưng vô cùng lý tưởng. Từng bức tranh được dì khắc họa rõ nét qua từng giai đoạn trong gia đình của dì, xem qua mỗi bức tranh Lâm mới thấu hiểu được nỗi đau khổ và cay đắng mà dì Nương chịu đựng, bắt đầu từ khi ông Vũ Nguyên trở thành ông chủ lò gạch, ông đã thay đổi tính tình khác hẳn với chàng trai hiền lành trồng hoa năm xưa. Giờ đây là một ông chủ đầy quyền uy, tham vọng. Tính độc ác đối với người làm công của ông ngày càng bộc lộ ra. Dì Nương đã khuyên ông nhiều lần và khóc hết nước mắt với ông nhưng vô hiệu lực, ông trở nên hung tàn… thậm chí cả với vợ con của ông... Một bức tranh chân dung của Ngọc Lan được dì Nương cẩn thận đưa cho Lâm. Bà không kìm chế được sự xúc động của mình. Đôi vai gầy yếu của bà run run. Bà nói qua nước mắt: - Lúc này con Lan vừa mười tám tuổi, dì khắc họa bức tranh này trong trí tưởng tượng của dì. Đã hai mươi năm qua, đêm nào nó cũng về nói chuyện với dì. Tội nghiệp nó lắm, chết oan ức và tức tưởi, linh hồn nó không bao giờ siêu thoát được. Lâm cảm thấy mắt mình cũng hơi cay. Tự đáy lòng anh dâng tràn nỗi xúc động vô biên. Trước mặt anh là một người đàn bà đáng thương đang sống trong quá khứ đau buồn vì cái chết của đứa con gái yêu thương của mình. Bà không chấp nhận cái hiện tại phũ phàng ấy. Bà muốn sống trong kỷ niệm thuở xa xưa và bà không chấp nhận những gì đã xảy ra với bà... Tiếng khóc của dì Nương nghe se thắt cõi lòng. Lâm không biết an ủi dì như thế nào. Anh nhẹ nhàng đặt tay mình lên vai dì Nương, khẽ an ủi: - Chuyện đã qua rồi dì đừng nên đau buồn nữa. Nếu như ở suối vàng cô Lan biết được, cô Lan sẽ buồn lắm. Dì Nương lắc đầu và quay lại nhìn Lâm trừng mắt hét lớn: - Con Lan vẫn còn sống, nó không chết… Lan ơi! Mẹ đây nè con… Dì Nương thay đổi hẳn không còn vẻ dịu dàng như lúc nãy. Giờ đây dì như một người hoàn toàn khác, đôi mắt trợn lên điên dại nhìn Lâm, hai tay dì bứt lấy tóc rồi dì cười sặc sụa, cười như điên khùng. Giọng cười của dì làm cho Lâm cảm thấy ngờ ngợ, hình như anh đã nghe qua một lần rồi. Bất chợt dì Nương đưa tay chụp lấy Lâm rồi dùng hết sức lực yếu đuối của dì cào vào người anh, miệng không ngớt kêu lên thê thảm: - Trả con lại cho tôi, hãy trả con lại cho tôi… Lan ơi! Về với mẹ đi con. Đừng… đừng bỏ mẹ mà đi…! Lâm không phản ứng gì, anh cứ để dì Nương nắm tóc mình, cào cấu vào người anh. Rồi dì ôm lấy Lâm vuốt ve, nức nở. Dì cứ làm liên tục như thế không mệt mỏi, mãi cho đến khi kiệt sức dì mới ngã vào người Lâm. Tình thế quá đỗi bất ngờ. Lâm thật sự hốt hoảng. Anh ẵm dì Nương lên rồi rời khỏi phòng tranh bước nhanh ra phòng khách. Mọi thứ xung quanh anh vẫn bề bộn. Anh đặt dì Nương nằm trên bộ ghế salon, khuôn mặt xanh xao của dì thật thảm hại. Sự bất động bao trùm lấy người đàn bà khốn khổ, hình như cái chết đang cận kề với dì. Lâm ngồi yên lặng ái ngại đưa mắt nhìn dì Nương. Anh lắng tai nghe tiếng lầm rầm từ trong cổ họng của dì Nương phát ra một âm thanh khó nghe. - Ngọc Lan... con hãy đến với mẹ, hãy mang mẹ theo cùng con... Cuộc sống của mẹ cần có con bên cạnh... mẹ thật đau lòng khi chấp nhận cái hiện tại phũ phàng này... Con đã bỏ mẹ ra đi không một lời trăn trối... mẹ biết con rất đau khổ và mất mát nhiều lắm, nhưng con có hiểu cho tâm trạng của một người mẹ khi mất một đứa con… con thật không công bằng với mẹ... Những giọt nước mắt nóng bỏng chảy xuống khuôn mặt nhăn nheo của dì Nương, đôi mắt của dì vẫn khép lại. Dì đang gặm nhấm những đau thương bi đát trong cuộc đời của dì. Những tháng ngày trôi qua, dì đang sống trong sự đọa đày của thân xác lẫn linh hồn. Sự ám ảnh kinh hoàng về cái chết của Ngọc Lan vẫn đeo đuổi trong tâm trí của dì suốt bao tháng năm, làm cho cuộc sống của dì thay đổi. Tiếng nói của dì Nương vang lên như sự ăn năn sám hối: - Mọi người thù ghét và xa lánh tôi... tôi là một người đàn bà... điên loạn đáng kinh tởm... Tôi như một loài quỷ dữ sống cô lập và xa lánh cộng đồng. Nhưng tôi không bao giờ muốn thế. Tôi cũng như mọi người... khát khao có một cuộc sống trong một gia đình hạnh phúc... đừng xa lánh tôi đừng khinh bỉ tôi... Hơi thở của dì Nương không còn dồn dập nữa, khuôn mặt dì đã chuyển sang màu hồng, ánh mắt dì đang lay động và từ từ hé mở. Dì ngơ ngác nhìn xung quanh và khi nhận ra Lâm, dì hỏi: - Chuyện gì đang xảy ra cho dì vậy? Con đến từ lúc nào? Tất nhiên Lâm không muốn nhắc đến sự kiện đã qua, anh không muốn khơi lại vết thương trong lòng dì Nương. Sự bình yên trở lại trong ngôi nhà này, tâm trạng dì Nương tạm thời bình thường nhưng hai mắt vẫn còn nhìn về một nơi xa xăm và dại khờ đờ đẫn như linh hồn dì vẫn còn ở tận đâu đâu... Bức tranh đã được Lâm vẽ xong. Còn một vài chi tiết nhỏ, anh đang tô màu lại. Sau cú sốc căng thẳng, dì Nương đã bình thường, dì cũng ít nói hơn trước nhiều. Mọi cảnh vật xung quanh ngổn ngang bừa bộn, dì Nương ngồi nhìn nó với ánh mắt thẫn thờ. Trên căn gác đèn vụt tắt, cánh cửa sổ khép lại, bóng dáng cô gái đã mất dạng. Lâm đã hoàn thành xong bức tranh, anh đưa mắt nhìn dì Nương. Như hiểu ý Lâm, dì Nương đứng dậy đến gần anh. Không nhìn bức tranh của Lâm, dì buồn bã nói: - Đây là bức tranh cuối cùng của dì, trong cuộc đời của con người rồi cũng đến lúc phải kết thúc, dì không oán trách ông trời quá bất công với dì, đây là phần số của mỗi con người mà thôi. Lâm nhìn dì Nương, chỉ có vài ngày anh không gặp mà dì thay đổi nhiều quá. Khuôn mặt của dì thêm nhiều những nếp nhăn, dáng đi vừa nặng nề vừa mệt nọc. Lâm nhỏ nhẹ lên tiếng như cố ý đủ cho dì nghe: - Dì cũng tin vào phần số thì hãy xem như tất cả mọi chuyện là một cơn gió thoảng qua, dì là một họa sĩ tài năng, con tin rằng những bức tranh của dì sẽ đưa dì thành một người nổi tiếng. Bây giờ dì phải sống cho chính bản thân của dì. Cuộc đời này vẫn còn nhiều điều tươi đẹp. Dì phải tận hưởng chứ. Dì Nương lắc đầu trả lời: - Dì không sao quên được quá khứ đau buồn kia cũng một phần lỗi ở nơi dì. Ngọc Lan và Vĩnh Tân yêu nhau, dì không đủ can đảm để bảo vệ chúng nó. Dì quá yếu hèn trước sự hung tàn bạo lực của Vũ Nguyên. Đến bây giờ sự ân hận ấy cứ bám theo dì. - Dì đừng nên ôm tất cả những phần lỗi ấy dành cho dì, người gây ra thảm kịch đau buồn chính là ông Nguyên. Con nghĩ ông ấy cũng đau buồn và cắn rứt lương tâm với những hành động tàn nhẫn của ông ấy. Dì Nương không muốn nhắc đến chuyện gia đình của mình. Dì bắt câu chuyện sang hướng khác: - Đừng cho dì là một họa sĩ tài ba. Trong cơn khủng hoảng dì cầm bút vẽ mà thôi, dì không được đào tạo qua trường lớp nào cả. - Con thật mắc cỡ với dì, chính con đã được đào tạo qua trường lớp mà cũng không bằng dì chút nào, nghệ thuật do tài năng của con người mà ra. Còn đào tạo chỉ là cái nền căn bản. - Đừng quá khiêm tốn với mình, dì thấy tranh của con có ấn tượng lắm. Lâm nhún vai phớt lờ trước câu nói của dì Nương. Anh bước lại gần cửa sổ nhìn ra ngoài. Thật ra đứng trong ngôi nhà của dì Nương, anh không nhận rõ được ngày hoặc đêm. Bên ngoài màn đêm đã buông xuống tự khi nào, bầu trời đen thẳm và tĩnh lặng. Đã đến lúc Lâm phải về. Anh quay lại xin phép dì Nương, nhưng anh thật bất ngờ. Dì Nương không còn đứng đó nữa. Bức tranh của anh cũng biến mất theo dì, Lâm bước lại giá vẽ, anh trông thấy một tờ giấy trắng được dì Nương dùng cọ vẽ của anh viết nhắn lại vài hàng chữ: “Cám ơn cháu Lâm nhiều, dì có món quà đền ơn cho cháu. Xin hãy nhận, đây là tấm lòng của dì. Tạm biệt cháu. Xin lỗi, dì không tiễn cháu được. Dì Tuệ Nương” Lâm đưa mắt nhìn sang chiếc bàn nơi ấy có một cái hộp màu nhung đen. Anh hồi hộp mở ra xem. Trong đó có một chiếc vòng ngọc màu xanh rất đẹp, anh không biết có nên nhận hay không? Vì anh hiểu giá trị của chiếc vòng này rất lớn so với bức tranh của anh vẽ cho dì Nương... Cuối cùng Lâm cũng quyết định cầm lấy món quà của dì Nương anh thu xếp tất cả đồ dùng của mình, nhanh nhẹn rời khỏi căn nhà của dì Nương. Bên ngoài không gian thật vắng lặng. Không một bóng người qua lại. Lâm đưa tay lên xem đồng hồ. Bây giờ chỉ mới tám giờ tối mà anh cứ nghĩ là mười hai giờ đêm. Một mình trong bóng tối bao trùm, Lâm âm thầm bước đi từng bước nhỏ, anh miên man suy nghĩ về chuỗi thời gian trong cuộc đời dì Nương. Hạnh phúc ngập tràn chưa được bao lâu rồi bước sang nỗi bất hạnh đọa đày. Chẳng lẽ cuộc sống của con người chỉ tồn tại để gặm nhắm những điều cay đắng hay sao? Lâm thông cảm và hiểu cái mất mát của dì Nương. Mặc dù anh trông thấy nhiều chuyện hoang đường của dì và anh chưa kết luận được sự thật về người con gái thổi sáo trong nhà dì là người thật hay là ma. Anh bỏ ngoài tai những lời đồn đại của mọi người trong thị trấn này về dì, anh phải can ngăn họ lại không cho họ đập phá ngôi nhà của dì... Đang mải mê suy nghĩ Lâm về đến nhà từ lúc nào không biết, ông Năm đã đợi anh bên ngoài cổng, vừa thấy anh, ông Năm lên tiếng hỏi: - Cậu mới đi đâu về vậy? Lâm giật mình đưa mắt nhìn ông Năm một hồi lâu rồi mới trả lời: - Con đi vẽ tranh... Ông Năm cắt ngang lời nói của Lâm: - Cậu nói dối, có phải cậu đến ngôi nhà đó không? - Cậu đã gặp mẹ con mụ ấy? Lâm ngạc nhiên nhìn ông Năm, ánh mắt anh dò xét, từng cử chỉ của anh khiến cho ông Năm bối rối tránh đi. Lâm im lặng không trả lời câu hỏi của ông Năm, anh đi ngang qua người ông Năm rồi đi thẳng vào trong nhà. Anh biết sau lưng anh, người đàn ông lẳng lặng theo khi bước vào trong nhà. Đến phòng khách. Lâm đứng đấy và chờ ông Năm. Vừa thấy ông, Lâm lên tiếng hỏi: - Ông biết gì về căn nhà ma đó? Hình như ông còn nhiều chuyện muốn giấu con. Ông Năm thở dài trả lời, lần này Lâm trông thấy những giọt nước mắt lăn dài trên má ông: - Tôi không muốn giấu cậu điều gì cả, nhưng trong chuyện này tôi đã chôn kín nó từ lâu, Thôi thì lần này cậu là người đầu tiên và cũng là người cuối cùng đào xới quá khứ đó lên… Nói xong, ông Năm ôm mặt khóc, tiếng khóc của ông làm Lâm càng thêm bối rối. - Tôi chính là ba của Vĩnh Tân đây... Tôi... tôi.... Tiếng ông Năm run rẩy theo từng lời ông nói. Lâm sửng sốt nhìn ông Năm. Anh quá bất ngờ trước sự thật này. Trước mặt anh, thân hình già nua của ông Năm cứ chao đảo như không thể thăng bằng. Ông khóc ngon lành như chưa lần nào được khóc. Lâm chỉ biết im lặng nhìn ông. Anh không muốn phá tan bầu không khí này. Khi cơn xúc động của ông Năm lắng xuống, ông đưa mắt nhìn Lâm và nói: - Vĩnh Tân là đứa con trai thứ hai của tôi, nó thật thà hiền lành biết mấy. Khi tôi biết nó đem lòng yêu cô Lan, tôi ra sức cản ngăn nó. Nhưng vô vọng, tình yêu của nó quá mãnh liệt. Chính vì thế mà nó phải chịu một cái chết bi thảm như vậy... Sau cái chết của nó, con Lan vì quá đau buồn, suốt ngày cứ giam mình trong phòng. Còn gia đình tôi thì bị ông Nguyên cho người đến đốt nhà và đuổi chúng tôi đi khỏi thị trấn. Vợ tôi quá điên dại không chịu nổi cái chết của Vĩnh Tân, bà đã cắn lưỡi tự tử... Ông Năm lặng im không kể tiếp nữa, hình như ông muốn quay trở về đối diện quá khứ đau buồn ấy... Lâm bước lại gần ông Năm và ngồi xuống cạnh ông, bàn tay anh đặt lên vai ông, an ủi: - Con không biết nói như thế nào trước nỗi mất mát của gia đình ông, nhưng chuyện đã qua rồi thì hãy để cho nó qua đi, đừng nên khơi lại thêm đau buồn. - Tôi đâu muốn nhắc đến sự đau buồn này đâu. Nhưng con mụ ấy lại muốn quậy phá cái thị trấn này, những gì mà cậụ trông thấy được tất cả đều do mụ ta bày trò ra. Lâm tỏ vẻ không tin, anh hỏi ông Năm: - Ông không tin có những oan hồn hay sao? Chính mắt con trông thấy người con gái thổi sáo, chẳng phải là cô Lan à? - Mụ ta lắm trò lắm, làm gì có oan hồn của cô Lan, nếu có thì thằng Vĩnh Tâm nhà tôi chết còn oan hơn nó, tại sao tôi không thấy gì cả vậy? - Hình như ông không thiện cảm với dì Nương lắm. Trong câu chuyện này dì ấy cũng như ông mà thôi. Ông Năm gắt gỏng trả lời: - Tôi không cần biết. Những người trong gia đình ấy tôi thù ghét tất cả. - Kể cả cháu nội của ông sao? Ông Năm sửng sốt nhìn Lâm, câu nói của anh đã làm cho ông rung động. Ông lạc giọng hỏi Lâm: - Anh biết gì về con bé đó... Anh đã gặp nó rồi à? Lâm lắc đầu: - Con chưa gặp, nhưng ông chắc cháu nội của ông là con gái à? - Tôi có gặp nó một lần lúc đám tang của cô Lan. Nhưng người nhà của ông Nguyên không cho tôi vào. Họ đánh đập và xua đuổi tôi, sau lần đó tôi không có tin tức gì về nó cả. Mọi người trong thị trấn nói rằng ông Nguyên đã đem nó đi cho cô nhi viện rồi. Lâm giật mình, linh tính báo cho anh biết một điều gì đó trong câu chuyện này. Anh liên tưởng đến Ngọc Nhi và sự xuất hiện bí ẩn của cô gái mà anh từng gặp... Ông Năm lên tiếng hỏi, cắt ngang dòng suy nghĩ của Lâm: - Cậu đến ngôi nhà đó, có trông thấy điều gì lạ không? - Có rất nhiều điều lạ mà ông không biết được đâu. Lâm đưa mắt nhìn ông Năm một cách bí ẩn: - Ông Nguyên bỏ nhà đi từ lâu, gia đình họ đã phá sản sau cái chết của cô Lan. Bây giờ căn nhà đó chỉ còn một mình dì Nương đang sống trong điên loạn vì thương nhớ cô Lan. Ông Năm không nói gì, ông chỉ im lặng nghe Lâm nói: - Cả thị trấn này đang lên án dì Nương, họ đã tập hợp lại với nhau và đã thống nhất đập phá căn nhà dì Nương đang ở. Họ cho đó là căn nhà ma cần phải hủy bỏ. Ông Năm ngơ ngác nhìn Lâm, ông như không tin tai mình đã nghe những lời nói của Lâm. Ông lên tiếng hỏi: - Có thật như thế sao? Cả thị trấn này muốn đập phá căn nhà đó sao? Làm như thế thì đâu có được. Tuy rằng ông Nguyên có lỗi với mọi người nhưng chúng ta không nên đối xử quá tàn nhẫn với họ. Lâm gật đầu anh không ngờ ông Năm đã thay đổi ý định trả thù của mình. Có lẽ khi nghe anh đề cập đến cháu nội của ông. - Con nghĩ ông sống ở đây lâu năm và ông đã quen thuộc với mọi người trong thị trấn này. Ông nên khuyên can họ. - Không đơn giản như cậu nghĩ đâu. Bà ta đã bày ra những trò ma quái để hại người, bây giờ mọi người đang trừng phạt bà ta mà. - Cũng một phần là do những người hiếu kỳ đến quậy phá... Ông Năm không muốn nghe đến chuyện này nhiều nữa. Ông đứng dậy lặng lẽ rời khỏi căn phòng, bỏ mặc Lâm ngơ ngác nhìn theo. Sự thay đổi đột ngột của ông khiến cho Lâm cảm thấy khó hiểu, đầu óc quay cuồng. Những chuyện ân oán trong gia đình của mỗi người sao càng lúc càng phức tạp, hình như anh thấy trong họ lúc nào cũng hiện hữu sự trả thù hằn sâu vào tâm trí họ. Lâm cũng trở về phòng, anh buông mình xuống giường sau một ngày mệt nhọc. Bất chợt mắt Lâm dừng lại nơi bức tranh “Chiều hoàng hôn” mà anh đã vẽ lần đầu gặp Ngọc Nhi. Không hiểu sao anh có linh cảm rằng giữa Ngọc Nhi và cô Ngọc Lan có mối quan hệ gì đó? Ánh mắt và nụ cười của Ngọc Nhi sao mà giống cô Lan, phải chăng họ là... anh cố nhắm mắt như không muốn suy nghĩ tiếp. Đầu anh lúc này sao nặng trĩu, đau nhức, anh thấy mắt hoa lên, sự uể oải tự nhiên đến làm cho toàn thân Lâm mệt mỏi rã rời... Nửa đêm, Lâm bị đánh thức dậy bởi tiếng gọi của ông Năm. Lâm chưa biết chuyện gì xảy ra, anh ngồi dậy trong khi cơn buồn ngủ vẫn kéo nặng trịch mí mắt anh, tiếng nói của ông Năm làm cho Lâm giật mình tỉnh ngủ: - Cô gái hôm trước đang đợi cậu ở ngoài cổng kìa. Lâm chạy nhanh xuống anh mặc kệ cái nhìn đăm của ông Năm. Ngọc Nhi đứng đợi Lâm ngay cổng thật, vừa trông thấy anh, cô hốt hoảng la lên: - Anh Lâm, ngoại em muốn gặp anh lần cuối, nhanh lên, đi theo em anh Lâm ơi. Không đợi cho Lâm lên tiếng, Ngọc Nhi nắm lấy tay anh kéo chạy đi. Cả hai cùng chạy trong màn đêm đen thẳm với tốc lực cao. Căn nhà dì Nương hiện ra trong ánh sáng rực rỡ, tất cả những ngọn đèn được thắp sáng, khác hẳn với sự âm u trước đây. Ngọc Nhi vừa chạy vừa nói với Lâm: - Anh ngạc nhiên khi biết dì Nương là ngoại của em phải không? Rồi em sẽ kể cho anh nghe về chuyện của em. Lâm gật đầu trước lời nói của Nhi. Trong khi cả hai đã chạy đến căn phòng của dì Nương. Căn phòng được thắp sáng hàng trăm ngọn đèn cầy. Dì nằm trên chiếc giường to lớn được phủ những tấm vải nhung màu đỏ, đôi mắt dì nhắm lại. Khi nghe tiếng bước chân của Lâm và Nhi, đôi mắt dì lay động rồi từ từ mở ra nhìn mọi người. Lâm không thể nào tin vào mắt mình nữa, mới trải qua nửa ngày thôi mà dì Nương đã gầy đi nhiều quá. Dì Nương đưa bàn tay yếu ớt vẫy Lâm và Nhi đến gần, giọng nói của bà nặng nhọc khó nghe: - Lâm… dì không... còn sống được bao lâu... thần chết đang trên đường đến đây... để đưa dì đi... Dì biết là sáng ngày mai... mọi người trong thị trấn này sẽ đến đây đập phá ngôi nhà này... Dì Nương co rúm người lại, hơi thở của dì dồn dập. Lâm hốt hoảng chạy đến bên dì khẽ nói: - Dì cứ bình tĩnh dưỡng bệnh. Không ai có thể vào đây đập phá ngôi nhà này. Ngọc Nhi nói xen vào: - Ngoại ơi. Con đã điện thoại gọi ngoại Ba rồi, chút nữa ngoại Ba sẽ xuống đây. Lâm đưa mắt nhìn Ngọc Nhi, như hiểu cái nhìn của Lâm, Ngọc Nhi giải thích: - Ngoại Ba là em ruột của ngoại em, lúc nhỏ em sống với ngoại Ba. - Ngoại Ba của em nhà ở gần đây không? - Nhà ngoại Ba xa lắm, ở trên Lâm Đồng Đà Lạt. Rồi Ngọc Nhi khẽ nói nhỏ vào tai Lâm. - Ngoại Ba đã chết cách đây hai năm, em giấu ngoại không nói cho người biết... Nói xong, Ngọc Nhi bước tới gần dì Nương. Cô cúi xuống thì thầm bên tai dì Nương điều gì đó. Lâm trông thấy cái gật đầu của dì Nương. Anh chưa hiểu chuyện gì xảy ra giữa hai bà cháu họ thì Ngọc Nhi đã đứng dậy bước đến gần Lâm nói nhỏ: - Em có chuyện phải ra ngoài, anh cứ ở lại với ngoại em. Hình như ngoại có vài điều muốn nói với anh. Bóng dáng của Ngọc Nhi khuất nhanh sau cánh cửa. Lâm bước đến bên dì Nương. Anh ngồi uống cạnh dì. Tiếng nói của dì Nương càng lúc càng nhỏ dần hoặc lạc đi trong không gian. - Dì... xem con... như là Ngọc Nhi... tội nghiệp con bé... Nó bị ràng buộc bởi lời thề của dì... nó phải sống trong linh hồn của mẹ nó... Tất cả mọi chuyện hồn ma oan ức... cô gái ngồi thổi sáo... tiếng sáo gọi hồn... đều do dì thêu dệt nên... Kẻ bị trừng phạt chính là dì... Nói đến đó dì Nương cố nuốt những giọt nước mắt đang chảy xuống đôi môi gầy guộc. Lâm đưa tay nắm lấy bàn tay xanh xao yếu ớt của dì như muốn chia sẻ nỗi cô đơn và đau khổ kéo đằng đẵng những tháng năm dài. - Dì tra tấn lương tâm của mình như vậy. Chuyện xảy ra đều có nguyên nhân, không ai trên đời này không có lúc phạm phải một sai lầm. - Nhưng... sai lầm của dì thì quá lớn lao... mọi người... đang căm thù dì... chính dì mang lại... những rắc rối cho họ... Lâm lấy chiếc khăn tay của mình thấm những giọt mước mắt trên má người đàn bà. Cử chỉ thân mật của anh khiến cho dì Nương chạnh lòng, dì gượng cười nói tiếp: - Thật... không ngờ... đến lúc cuối trong cuộc đời dì... dì lại gặp con... người đã san sẻ và an ủi dì... đã thông cảm... những sai lầm của dì... ông trời... vẫn không bất công với dì lắm... Tiếng dì Nương yếu dần và loãng đi trong không gian. Đôi mắt của dì khép lại trong hai hàng nước mắt chảy dài trên má. Bàn tay của dì vẫn nắm chặt lấy tay Lâm. Hơi nóng từ bàn tay của dì dần dần chuyển sang lạnh giá, cho đến khi Lâm nhận thấy bàn tay mình không giữ chặt bàn tay của dì Nương… Ngọc Nhi đã đứng bên Lâm tự lúc nào, cô đưa tay ôm lấy mặt khóc nức nở: - Ngoại em đã thanh thản ra đi rồi, tội nghiệp cho bà quá… Lâm không nghĩ rằng cái chết của một con người lại đến nhanh như thế. Anh vẫn còn nghe tiếng của dì Nương thầm thì bên tai anh thế mà giờ đây dì nằm lặng yên bất động. Cuộc sống con người kể ra thật ngắn ngủi. Thế là hết, tồn tại hay không tồn tại chỉ là vô nghĩa mà thôi. Căn phòng im ắng trong sự chết chóc tang thương. Gió từ bên ngoài lùa vào hai cánh cửa sổ, gió thổi tắt hàng trăm ngọn nến cùng lúc, ánh sáng trong căn phòng vụt tắt cũng như đời người vừa lịm tắt. Ngọc Nhi đứng nép mình bên Lâm, cả hai đều mang tâm trạng lo lắng. Trong không gian đen thẫm não nề, chỉ nghe tiếng gió lùa trên khung cửa sổ, tiếng gió rít qua khe cửa rợn cả người, rồi một nguồn khí lạnh như băng thổi vào trong phòng. Chính cái hơi lạnh này khiến cho Lâm nhớ đến hôm nào anh đã gặp. Ngọc Nhi run rẩy ôm chầm lấy Lâm, tiếng nói của cô khe khẽ: - Có phải thần chết đã đến nơi để... đưa ngoại em đi... Ngọc Nhi chưa nói hết câu thì một ánh sáng màu xanh lục bay vút vào trong phòng, ánh sáng lấp lánh mang hình tròn như quả trứng gà, ánh sáng đó bay xung quanh chỗ dì Nương đang nằm. Bên ngoài tiếng sấm sét vang dội. Cơn mưa vô tình từ đâu đưa đến, mưa mỗi lúc một nặng hạt, tiếng mưa đêm ào ạt trên những chiếc lá như một điệu nhạc buồn đưa tiễn người đi xa. Ánh sáng màu xanh lục vẫn bay quanh bên dì Nương, ánh sáng mang đến trong phòng một hơi lạnh giá rét. Lâm cảm thấy hơi lạnh đang đi vào cơ thể anh, xâm chiếm toàn thân anh bắt nó run lên, anh cắn chặt lấy hai hàm răng của mình cho không bật được thành tiếng. Trong khi Ngọc Nhi không kiềm chế được đã bật lên từng tiếng rên rỉ, hơi thở của cô mỗi lúc một dồn dập như chịu không nổi, cô hét lên: - Mình chạy ra khỏi đây đi anh. Không biết... chuyện gì đang xảy ra. Tiếng hét của cô tác động đến ánh sáng màu xanh lục ấy và bất thần ánh sáng ấy bay vút vào người Ngọc Nhi. Có một sức mạnh vô biên nào đó đẩy Ngọc Nhi khỏi Lâm khiến cho cả hai người văng ra cùng té nhào xuống đất. Lâm cố lấy lại thăng bằng, ngồi bật dậy thì Ngọc Nhi đã đứng sừng sững trước mặt Lâm, mái tóc cô rối tung trong gió và ánh mắt của Nhi lấp lánh cùng màu với ánh sáng ma quái đó. Giọng nói của Nhi vang lên, âm thanh nghe buốt từng tế bào trên cơ thể Lâm. - Con đừng sợ... ta không hại gì con đâu. Con là một người đàn ông tốt, con đã thấu hiểu được câu chuyện của ta. Dần dần định thần lại, Lâm không sợ hãi trước câu nói khác thường của Ngọc Nhi, anh nhớ ra chính giọng nói này anh đã nghe trong giấc mơ. Lâm dùng hết sức của mình hét lên: - Người đừng làm hại Ngọc Nhi, hãy buông ngay cô ấy ra. - Làm sao ta hại được Ngọc Nhi. Nó là một phần máu thịt của ta mà… - Tôi nghĩ câu chuyện đã qua rồi, nỗi oan ức của người là do người thân của người gây ra, hãy quên đi tất cả và hãy trở về làm lại một con người khác đi. - Ta muốn cám ơn con đã đối xử tốt với gia đình của ta, chuyện ân oán ta không bao giờ nghĩ tới. Ta đã hóa thân là một ánh sáng thoát khỏi kiếp người đau thương từ lâu rồi… Lâm lo lắng đến Ngọc Nhi, anh không quan tâm đến lời nói mà chủ yếu trông thấy Ngọc Nhi mềm nhũn ra khi ánh sáng ấy thoát ra khỏi cô. Lâm chạy đến ôm chầm lấy Nhi, ánh sáng ấy bay lượn một vòng trong phòng và bay qua cửa sổ biến mất trong màn đêm. Ánh sáng trong phòng đã trở về vị trí cũ, hàng trăm ngọn nến bỗng nhiên được thắp sáng lại một cách rất tự nhiên tuy rõ ràng không ai làm việc đó. Bên ngoài mưa đã tạnh hạt, hơi lạnh trong căn phòng đã tan biến đi. Mọi cảnh vật trở về bình thường như lúc ban đầu. Ngọc Nhi đã tỉnh lại. Cô mở mắt ra và ngơ ngác nhìn Lâm hỏi: - Chuyện gì xảy ra vậy anh? Hình như là... Nhi nhăn trán cố nhớ lại sự việc đã xảy ra, nhưng Lâm đã trấn an cô dù đó là lời nói dối: - Không chuyện gì cả. Lúc nãy trời mưa gió lớn đã thổi tắt tất cả những ngọn nến, anh mới vừa thắp sáng chúng nó lại đấy. Ngọc Nhi đỏ mặt, khi cô trông thấy mình đang nằm trọn trong vòng tay của Lâm. Nhi đẩy nhẹ Lâm ra ngượng ngùng nói: - Em thật bất cẩn quá... Lâm không quan tâm đến sự bối rối của Ngọc Nhi, anh bước lại gần dì Nương, đưa bàn tay vuốt nhẹ khuôn mặt dì lần cuối. Ngọc Nhi cũng bước theo anh, cô lên tiếng khấn vái: - Ngoại ơi! Con sẽ làm theo lời ngoại, ngoại hãy yên lòng nhắm mắt. Ngọc Nhi đưa tay bóp nhẹ cánh tay Lâm ra dấu đi theo cô. Cả hai cùng rời khỏi căn phòng của dì Nương. - Cứ để ngoại em nằm yên ở đây đi. Sáng mai sẽ có người đem quan tài đến, em có những thứ này muốn cho anh xem. Lâm bước đi theo Ngọc Nhi, lần này Ngọc Nhi đưa anh lên căn gác mà hôm nào anh rất muốn bước lên song đã bị dì Nương cản lại. Cánh cửa được mở rộng ra, ánh sáng bên trong vừa đủ để cho Lâm nhìn rõ từng món đồ vật. Trên chiếc bàn trang điểm bằng gỗ đen mịn có một viên đá được thắp sáng màu trắng tím, Ngọc Nhi bước tới cầm lấy nó và đưa cho Lâm. - Đây là viên đá nhân tạo chạy bằng pin. Bên trong được gắn 1 ngọn đèn nhỏ xíu màu tím. Ngọc Nhi nhìn Lâm mỉm cười, một lúc sau cô hỏi tiếp: - Anh còn nhớ khi anh gặp nó trên ngôi mộ của mẹ em không. Lúc đó em cũng có mặt đấy. Lâm chợt nhớ ra, lần đầu tiên anh gặp ngôi mộ của Ngọc Lan, có ánh sáng màu tím đó và một bóng trắng với tiếng sáo thê lương. Thì ra không phải là hồn ma, mà chính là Ngọc Nhi. Lâm nhìn Ngọc Nhi ngạc nhiên hỏi: - Nhưng anh không hiểu, tại sao những đêm mưa tầm tã lại nghe tiếng sáo thê lương ấy, tiếng sáo như gọi hồn người, em làm thế để làm gì? - Anh có nhớ rằng mẹ em đã treo cổ tự tử vào một đêm mưa tầm tã. Nên ngoại em muốn mọi người trong thị trấn này nhớ đến mẹ em, nhớ đến tiếng sáo đau thương của bà. Lâm bước đến chiếc ghế cạnh bàn trang điểm và ngồi xuống. Anh lắng nghe Ngọc Nhi kể tiếp: - Lúc mẹ em mất, em vừa tròn ba tháng, ông ngoại đã quyết định đưa em vào cô nhi. Có lẽ ngoại không ưa ba em nên đã thù ghét luôn em. Duy chỉ có bà ngoại là người thương yêu em. Bà đã bí mật gửi em cho ngoại Ba là em ruột của ngoại ở Lâm Đồng, Đà Lạt nuôi dưỡng em. Khi em tròn hai mươi tuổi thì ngoại Ba em chết. Trước khi chết ngoại Ba em đã kể hết sự việc cho em và bảo em về đây đóng vai làm mẹ của em. Tức là một Ngọc Lan trong mắt ngoại em. Và ngoại Ba bắt em phải thề rằng dù ngoại ruột của em có ra yêu cầu kỳ quặc thế nào em cũng phải làm theo, dù sao thì cũng là ngoại ruột của em, người đã che chở cho em. Cho nên em không thể làm trái ý người được... Nói đến đây Ngọc Nhi im lặng, cô bước đến bên cửa sổ mở cánh cửa cho rộng ra, bên ngoài màn đêm đã thu lại nhường chỗ cho ánh sáng rạng đông bừng lên. Cảnh vật trong buổi sớm tinh sương sinh động và mát mẻ, một cơn gió trong lành thổi vào phòng xóa nhòa đi bao u uất. Lâm đưa mắt nhìn quanh căn phòng, anh bắt gặp trên kệ sách một cái đầu người với khuôn mặt hình vuông trắng bệch, khuôn mặt chỉ độc nhất hai con mắt màu đỏ như máu. Lâm cười thầm trong bụng. Anh nhớ ra đã gặp nó trong phòng khách của Chí Thông. Ngọc Nhi quay sang thấy Lâm nhìn chăm chú chiếc đầu lâu kinh dị kia, cô buột miệng hỏi: - Chiếc đầu lâu đó chính tay em tự chế, trông nó có gây ấn tượng gì cho anh không? - Lúc đầu thấy hơi sợ, nhưng nhìn lâu cũng thấy thích - Lâm nhún vai trả lời. - Lúc vào trong nhà dọa anh và bạn của anh, em cũng lo lắm. Nhưng ngoại em cứ trấn an em nên em đỡ lo. Nhưng bạn của anh quá hung dữ. Anh ta ném cái gì đó vào đầu ngoại em chảy máu quá trời luôn. Lâm cười ra tiếng khi nhớ đến chuyện này. Còn Ngọc Nhi cố nhớ đến những lần mặc những chiếc áo cổ xưa rộng thùng thình một mình lang thang trên con đường vắng lặng về đêm. Trong mưa gió bão bùng cô phải đứng lặng yên bên cửa sổ mong cho ai đó bắt gặp cô. Mục đích của cô là hóa thân thành một oan hồn đến đòi nợ oan hồn hay khi cô cất tiếng sáo thê lương đau buồn trong đêm tối, người nghe cứ tưởng tiếng sáo gọi hồn của ma quỷ, rủ nhau đi về chọc phá mọi người. Những lần như thế, một mình trong đêm, cô rất sợ gặp phải hồn ma nào đó không biết cô phải cư xử như thế nào? Lâm lên tiếng cắt ngang dòng suy nghĩ của Ngọc Nhi: - Em giả làm những oan hồn đi hù dọa mọi người. Thế em có tin rằng trên đời này có những oan hồn chưa được siêu thoát đang quanh quẩn bên chúng ta không? - Em không thấy và cũng không gặp những hồn ma bao giờ nhưng mà theo em thì có một thế giới khác đang ở sau lưng mình. Lâm không nói gì trước lời nói của Ngọc Nhi, anh cũng thầm nghĩ rằng có một điều gì đó mà anh không thể nào giải nghĩa được... Ngọc Nhi kéo trong tủ ra một bao thư, rồi đưa sang Lâm nói: - Ngoại em có gửi cho anh một bức thư Ngoại đã viết hôm trước nhưng nói với em rằng khi nào ngoại mất mới đưa cho anh. Có tiếng nói của nhiều người ở dưới nhà. Ngọc Nhi đưa mắt nhìn qua cửa sổ và nhận ra những người ở công ty mai táng. Cô bước ra cửa xuống dưới nhà, khi cô rời khỏi căn phòng, cô vẫn không quên quay lại dặn dò Lâm. - Em xuống dưới trước, người ta đã đem quan tài đến cho ngoại em. Anh cứ ở đây đọc thư rồi xuống sau. Tiếng bước chân Ngọc Nhi nghe rõ từng tiếng buồn phiền trên cầu thang. Còn lại một mình Lâm trong căn phòng, anh từ tốn mở bao thư của dì Nương ra xem, bức thư màu hồng nhạt với những nét chữ thật đẹp chứng tỏ dì Nương là một con người tài hoa hiếm thấy. “Lâm con! Khi con đọc những dòng chữ này thì dì không còn trên cõi đời này nữa. Dì biết cái chết đang cận kề với dì. Và dì hiểu rõ nó sẽ đến lúc nào. Dì thật tình xin lỗi con trong những ngày con ở trong thị trấn này. Những hành động điên rồ của dì và kéo theo Ngọc Nhi đã làm cho con điên đầu, làm cho cuộc sống của mọi người không được yên bình. Đây là lỗi lầm của dì, xin hãy tha thứ cho dì. Khi con người đã bước vào thế giới vĩnh hằng thì mọi ăn năn hối cải của họ đều rất thành tâm để được sám hối một lần, để thanh thản ra đi. Dì biết con là một họa sĩ có tài và sắp tới con sẽ tổ chức một buổi triển lãm tranh của riêng mình. Do đó hai bức tranh “Thiên đàng hạnh phúc” là món quà tinh thần dì dành tặng con, mong rằng con hãy đón nhận nó, người ta sẽ không biết đến dì và mãi mãi sẽ không biết đến dì, chỉ có con là người duy nhất biết mà thôi. Còn chuyện của Ngọc Nhi, dì đã hối hận khi bắt nó phải thề độc với dì, nhưng từ khi nó gặp con, dì hiểu rằng lời thề ấy đã quá ích kỷ và hoang đường. Dì sẽ rút lại lời thề ấy, mọi hình phạt dì xin gánh chịu hết. Chuyện cuối cùng dì muốn nói với con rằng, dì biết ông Năm là ông nội của Ngọc Nhi. Con hãy giúp dì cho họ nhìn nhận ông cháu. Một lần nữa hãy gởi lời xin lỗi đến mọi người. Người đàn bà bất hạnh. Tuệ Nương.” Bức thư của dì Nương để lại, Lâm đã đọc đi đọc lại nhiều lần, anh cảm thấy thương dì Nương nhiều hơn là lên án những hành động điên rồ của dì. Anh nghĩ rồi đây mọi người sẽ thông cảm cho người đàn bà bất hạnh này. Hình như mọi người dưới nhà đang chuẩn bị đặt dì Nương vào quan tài, Lâm đứng dậy bất chợt anh thấy ánh lửa bập bùng bên cửa sổ. Lâm đưa mắt nhìn và suy nghĩ đăm chiêu. Bên ngoài, dưới sân nhà. Ngọc Nhi đang đốt những kỷ vật của dì Nương trong đó có những bức tranh mà dì là tác giả. Lâm biết rằng Ngọc Nhi đang làm những lời trối trăn của dì Nương. Anh thầm nghĩ: “Người chết đi kỷ vật cũng mang theo mà”. Có tiếng reo hò ở ngoài cổng, Lâm đoán là mọi người trong thị trấn đang kéo đến nhà dì Nương để đập phá. Lâm bước nhanh xuống dưới nhà, anh đứng giữa sân hai tay dang rộng, anh hét lên, tiếng nói của anh vang dội: - Hẫy để cho người chết có một giấc ngủ ngàn thu, mọi chuyện được giải tỏa, mọi người đừng nên ích kỷ, hãy tạo cho mình một tình nhân ái và độ lượng. Có tiếng ai đó lao xao từ chỗ đông người. Lâm nhận ra giọng nói của Minh, cậu con trai bà bán quán ngoài chợ: - Anh ta bị mụ già quái quỷ bắt hồn rồi. Anh ta không phải người nữa, anh ta là ma. Cùng lúc đó, nhiều tiếng nói hưởng ứng theo: - Mặc kệ anh ta, chúng ta vào trong nhà đập phá đồ đạc đi bắt mụ già đó ra đây trừng trị. - Chúng ta tiến thẳng vào đi. Ai ngăn cản đánh chết không tha. Từ trong nhà Ngọc Nhi khoan thai bước ra. Cô dõng dạc nói lớn: - Ngược lại, không ai có quyền bước vào căn nhà này. Chúng ta đang sống trong cái xã hội công bằng chứ không phải đang sống trong một xã hội chà đạp lẫn nhau. Tiếng nói của Ngọc Nhi làm cho mọi người im lặng đi, sự xuất hiện đột ngột của cô làm cho biết bao ánh mắt kinh ngạc. Họ hoàn toàn không biết cô là ai? Bởi vì theo họ biết ngôi nhà này chỉ có một mình dì Nương sống ở đây mà thôi. Lâm đưa mắt nhìn mọi người. Anh hiểu tâm lý từng người lúc này. Anh lên tiếng: - Tôi nghĩ mọi người nên để yên cho bà cháu họ đi, trong gia đình này đang có tang, mọi người không thấy sao? Người đàn bà mọi người nguyền rửa đang nằm yên trong quan tài, một người đàn bà bất hạnh và đáng thương. Dì Nương không hại mọi người mà chính mọi người tìm cách hãm hại bà ta. Ai trong số các người lén lút ném đá vào nhà này? Còn nữa ai đã khinh bỉ khi trông thấy dì Nương. Tất cả mọi người đều lên án dì Nương nhưng hãy tự xét lại lương tâm mình đi. Sự phản kháng yếu đuối của dì Nương chỉ hù dọa mọi người rằng sẽ có ơn đền oán trả của những oan hồn trong ngôi nhà của dì. Dì dựng lên câu chuyện như thế chỉ mong muốn mọi người hãy tránh xa dì Nương ra, để cho dì yên thân mà thôi. Từng lời nói của Lâm đã thấm sâu vào mọi người, họ không còn hùng hổ như trước nữa, một số người tự rút lui và lẳng lặng ra về. Còn lại một vài người, hình như họ chưa thông hiểu hết lời nói của Lâm. Một người đàn ông lớn tuổi nhìn Lâm khẽ nói: - Cậu là người mới đến thị trấn này, những chuyện trước kia xảy ra làm sao cậu biết được. Mụ già này đáng phải trừng trị đích đáng. Những chuyện ma quỷ hiện hồn làm cho xóm làng phải lo lắng tất cả đều do mụ ta gây ra, mụ là một con quỷ cái đội lốt người. Người đàn bà đứng bên cạnh phụ họa thêm: - Đúng đấy, mụ ta là ma chứ không phải là người. Đêm đêm mụ ta cầm chiếc đầu lâu bê bết máu đi từng nhà hù dọa mọi người. Mụ ta có giọng cười kinh dị lắm, đến giờ tôi vẫn không quên được giọng cười đó. Con gái của tôi đã một lần gặp mụ ta, nó quá khiếp sợ nên đã bệnh một tháng trời vẫn chưa hết, nếu cậu không tin, hỏi tất cả mọi người xem. Mọi người cùng chen nhau lên tiếng hùa vào câu nói của người đàn bà: - Mụ ta đáng bị trừng phạt. Cậu là ai tại sao lại chen vào chuyện làng xóm chúng tôi? - Tống cổ cậu ta đi khỏi đây ngay, đồ phá đám! Trước tình thế phẫn nộ của mọi người, Lâm điềm tĩnh trả lời, khuôn mặt anh không lộ một chút gì lo sợ: - Mọi người không cần biết tôi là ai, nhưng mọi người cần nên biết những chuyện mọi người làm là một hành động nông cạn. Tại sao tất cả mọi người ở đây không nghe tôi nói? Đừng nên kết tội vội vàng vào những hành động của dì Nương gây ra cho mọi người. Nếu như dì Nương không dựng những chuyện ma quái đi chọc phá mọi người thì có lẽ cuộc sống của dì không tồn tại trong ngôi nhà này, dì đã bị mọi người tống cổ đi từ lâu rồi. Lâm quắc mắt lên nhìn mọi người, ánh mắt của anh chiếu sáng nhìn trừng trừng vào mọi người, giọng nói của anh run lên trong cơn thịnh nộ. Lâm không kiềm chế được nỗi tức giận của mình: - Hãy nhìn đi, trước mặt mọi người là chiếc quan tài, người đàn bà mà mọi người cho là kẻ đáng bị trừng phạt đang nằm trong đấy, bà ta đã chết rồi, mọi người có trông thấy hay không? Tôi không đồng ý với những hành động bà ta làm ra. Chuyện thêu dệt ma quỷ đêm đêm hiện hồn lên nhát mọi người, những hành động bà ta làm ra là phi lý trái với sự thật. Nhưng mọi người phải thông cảm và nên chia sẻ với tình cảnh của người đàn bà bất hạnh này. Chồng bà ta là một người đàn ông tàn ác gây ra hậu quả rồi bỏ trốn để một mình bà gánh chịu tất cả. Con gái bà ta treo cổ tự tử, nỗi đau chưa qua sự mất mát lại đổ xuống đầu người đàn bà yếu đuối, thử hỏi một người phụ nữ đáng thương chống chọi những bi thương này như thế nào? Con người chúng ta ai cũng có trái tim, ai cũng có tình yêu thương vô hạn, mọi người hãy vì tình người trong nhân loại tha thứ cho những lỗi lầm của người quá cố này gây ra. Chúng ta hãy nhìn về một hướng tốt đẹp mà chúng ta đã có được không? Không một ai trong số đông còn lại lên tiếng khi Lâm vừa dứt lời: Sự yên lặng bao trùm. Lâm đưa mắt dò xét nhìn từng khuôn mặt mọi người. Tất cả đều im lặng, đầu họ cúi xuống như là một phút mặc niệm cho người quá cố. Tiếng khóc của Ngọc Nhi đã làm cho họ mủi lòng, một vài người trong số họ bước đến an ủi Ngọc Nhi, một vài người khác lẳng lặng bước đi... Lâm quay sang nhìn Ngọc Nhi. Anh bắt gặp ánh mắt đầy biết ơn của cô. Có một bóng người quen thuộc bước đến gần Lâm. Anh nhận ra ông già Năm, ông cầm lấy tay Lâm, xúc động nói: - Cậu nói hay quá, những lời nói của cậu đã xoá tan những hận thù trong lòng mọi người, trong đó có tôi. Lâm mỉm cười nhìn ông Năm, anh cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng đi khi giải quyết xong câu chuyện huyền bí đầy thù hận của người dân trong thị trấn này. Anh đưa mắt tìm kiếm Ngọc Nhi. Anh biết giờ đây anh còn phải làm gì để giúp cho ông cháu họ nhận ra nhau. Anh cầm tay ông Năm ra dấu bảo ông đi theo anh. Trong ánh mắt của ông Năm đầy ngờ vực, anh biết ánh mắt ấy sẽ có những giọt nước mắt lăn tròn vì xúc động. Ngọc Nhi đang ôm quan tài của dì Nương, cô khóc rưng rức, tay cô đang nâng di ảnh của dì Nương. Giọng cô lạc đi: - Ngoại ơi! Sao ngoại bỏ con ra đi, trên thế gian này một mình con đơn côi cô độc, con phải sống như thế nào đây. Lâm và ông Năm bước đến bên cạnh Ngọc Nhi. Vừa trông thấy cô, mắt ông Năm đã nhòa đi, tay ông đưa ra một cách vô thức, đôi bàn tay nhăn nheo run rẩy hẳn lên. Ngọc Nhi quay sang nhìn hai người. Cô ngạc nhiên vì sự có mặt của ông Năm. Lâm đưa tay chỉ ông Năm, nhìn Ngọc Nhi hỏi: - Em có nghe ngoại em nhắc đến những người thân của ba em không? Ngọc Nhi lắc đầu, trong tiềm thức của cô hình bóng người cha không hề hiện hữu. Cô không biết hình dáng ấy ra sao, dù chỉ nhìn qua hình ảnh. - Ngoại em có nói rằng ba em là người trong thị trấn này, nhưng từ ngày xảy ra thảm cảnh đau lòng của ba mẹ em, ông ngoại em đã đuổi gia đình của ba em đi biệt xứ rồi. Lâm nhìn Ngọc Nhi thăm dò ý kiến của cô: - Em có muốn gặp lại người thân của ba em không? Ánh mắt Ngọc Nhi vụt sáng, khuôn mặt cô hớn hở lên: - Thật không anh? Em còn gặp lại người thân của ba em sao? - Đúng vậy! Ông nội của em đang đứng trước mặt em kìa. Lời nói của Lâm đã xoáy vào tim Ngọc Nhi, những giọt nước mắt của cô trào ra trong sự xúc động tột cùng… Cô đưa mắt nhìn ông Năm trong lớp lệ sương mờ. Hai tay, ông Năm đưa ra chờ đón đứa cháu thân thương mà bao nhiêu năm nay ông chưa hề biết mặt. Ông lặng người đi không nói lên lời nào, chỉ lắp bắp: - Ôi… Cháu của tôi… Ngọc Nhi khóc trong hạnh phúc. Cô thật không ngờ ngày hôm nay đem đến một mất mát lớn trong đời cô nhưng bù lại đã cho cô gặp lại người thân của ba cô. Niềm đau thương rồi sẽ lắng đọng để hạnh phúc mỉm cười với cô. Cơn xúc động vừa đi qua, ông Năm đưa mắt nhìn Ngọc Nhi thật lâu, như đang tìm kiếm những nét thân quen của người con vắng số của ông. - Ông nội có di ảnh của ba con không? Tiếng Ngọc Nhi thỏ thẻ bên tai ông, tội nghiệp cho ông khi nhìn thấy ánh mắt thất vọng của Ngọc Nhi: - Ngày xưa nhà nội nghèo lắm, cơm không đủ ăn chứ làm gì có tiền đi chụp ảnh. - Tại sao đến bây giờ ông nội mới đến tìm con? Hiện tại ông nội đang sống với ai và ở đâu? Ông Năm cười buồn, khuôn mặt của ông có nhiều nếp nhăn giờ trông càng thảm não hơn, những nếp nhăn như xích lại gần hơn. Càng nhìn ông như càng già đi thêm nhiều. - Đã bao nhiêu năm nay ông chờ đợi ngày này. Làm sao ông biết con ở đâu mà tìm? Phương trời xa cách ông là ông nội của con nhưng đến bây giờ mới biết mặt của cháu mình. Ngọc Nhi như hối hận về câu hỏi của mình. Cô biết sự hận thù giữa hai gia đình càng sâu đậm. Ngọc Nhi bắt sang chuyện khác: - Hiện tại ông nội đang sống với ai? Con có thể gặp lại những người thân ấy được không? - Ông sống một mình... Ông Năm buông lửng câu nói, đôi mắt ông rưng rưng. Ông hướng về một cõi xa xăm. Ngọc Nhi đang ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra. Lâm đứng bên cạnh cô. Nãy giờ anh đã chứng kiến sự tương phùng của ông cháu Ngọc Nhi. Đã đến lúc anh phải lên tiếng: - Ông nội của em là quản gia của gia đình bạn anh, căn nhà mà hôm trước em đến đó. Ông sống trong sự đơn côi vì bên cạnh ông không còn người thân nào. Ngọc Nhi cắn môi cố khỏi bật ra tiếng khóc, cô không nghờ rằng sự bất hạnh bao trùm những người thân của cô như thế này. Mỗi người đều mang trong lòng nỗi uất ức đau thương. Cô là người đứng giữa, cả hai bên đều là người thân của cô. Lâm như hiểu những suy nghĩ của Ngọc Nhi. Anh an ủi cô: - Hãy để cho câu chuyện chìm vào dĩ vãng, bây giờ em đã có nội rồi. Em nên bù đắp lại những tháng ngày cô đơn cho nội em. Ngọc Nhi gật đầu. Cô như chú mèo con ngoan ngoãn nghe lời chủ. Có tiếng nói của một nhân viên công ty mai táng, Ngọc Nhi hiểu rằng đây là lần cuối cùng cô nhìn mặt ngoại cô. Người ta đang chuẩn bị đậy nắp quan tài lại. Lâm cùng Ngọc Nhi tiến lại gần, ông Năm cũng bước theo sau. Ngọc Nhi lặng người đi, cô đưa hai tay ôm mặt khóc, khi nghĩ rằng rồi đây cô sẽ không còn gặp lại ngoại bao giờ nữa. Mãi mãi vĩnh viễn chia tay rồi! Không biết khi người ta đã nằm xuống, mọi thứ xảy ra có còn mang theo nỗi buồn? Ngoại của cô cũng cùng chung trường hợp như vậy. Vẫn mặc tình cho mọi người làn gì tùy ý. Người ta đã quấn vào người bà những tấm vải trắng thật chắc và đổ xung quanh bà những xác trà thơm mùi hoa lài. Một tấm vải nhung đỏ đắp lên mặt ngoại cô. Ngọc Nhi run rẩy đưa tay lật tấm vải nhè nhẹ. Khuôn mặt của ngoại cô hiện ra, một khuôn mặt trắng bệch, xanh xao. Ngọc Nhi cảm nhận mặt đất chỗ mình đang đứng chao đảo, mọi vật xung quanh cô là một màu đen thẳm. Lâm đã kịp thời đưa tay đỡ lấy Ngọc Nhi. Cả thân người cô nằm trong đôi tay rắn chắc của anh. Một vài phút trôi qua, Ngọc Nhi mới trấn tỉnh lại. Khuôn mặt cô ửng hồng dần, một lần nữa cô lại rơi vào tay Lâm. Ngọc Nhi lí nhí nói: - Em cám ơn anh... nhiều lắm... em lại bất cẩn nữa rồi... Lâm mỉm cười trước sự bối rối đáng yêu của Ngọc Nhi, anh muốn đưa hai tay ôm lấy Nhi, che chở cho cô suốt cả cuộc đời. Có tiếng khấn của ông Năm, làm cho Lâm và Ngọc Nhi im lặng lắng nghe: - Tôi thật sự có lỗi với chị. Bao nhiêu tháng năm qua tôi cũng như mọi người đều khinh bỉ và thù ghét chị. Tất đều do nguyên nhân sự hận thù trong lòng tôi với gia đình chị và chị là người chịu nhiều hậu quả nhất. Tôi không trách những điên rồ và dại dột của chị. Giờ đây tôi thông cảm và thấu hiểu được sự bất hạnh và đau khổ tột cùng của chị. Âm thanh trong cổ họng của ông Năm nhỏ dần và chìm sâu vào không gian đang nhuộm màu tang tóc đau thương. Chiếc nắp quan tài từ từ đậy vào. Các nhân viên mai táng đang làm những thủ tục đưa tiễn người chết. Từng chiếc đinh đen đúa được người ta đóng mạnh vào nắp quan tài. Âm thanh vang lên nghe nhức nhối. Một kiếp người khép lại, một dĩ vãng đau buồn chấm hết. Ngọc Nhi quay mặt đi nhìn về hướng khác, cô không tin vào sự thật. Mặc dù sự thật đang phơi bày trước mặt cô. Lâm im lặng không nói một lời. Anh đang ngồi trước nắp quan tài đốt những tờ giấy tiền bạc âm phủ đưa tiễn dì Nương. Anh không hiểu người ta bày ra những chuyện này để làm gì? Khi đưa tiễn người chết người ta vẫn đốt hàng đống giấy tờ vàng bạc. Những đồ hàng mã như nhà cửa, xe hơi... không biết dưới âm ty người chết có nhận được không? Thật là một hiện tượng khó hiểu? Trong khi ông Năm vẫn còn ngồi bất động đưa mắt nhìn từng động tác của từng người. Cả không gian bao trùm trong sự yên tĩnh, chỉ có tiếng bước chân của những người qua lại thực hiện công việc riêng của mình. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 23
Phần IV Sau những ngày của đám tang dì Nương, mọi người trong thị trấn trở lại cuộc sống bình thường. Không ai còn nhắc đến những chuyện ma hiện hồn hoang đường và tiếng sáo gọi hồn trong đêm mưa. Họ đã quên đi tất cả và đang hòa nhập vào cuộc sống mới. Lâm cũng như mọi người. Anh đang đem cuộc sống nhộn nhịp và sôi động của làng quê mộc mạc này vào từng bức tranh của mình. Thực ra, Lâm đang ráo riết thu thập nguồn cảm hứng của mình để sáng tác ra những tuyệt phẩm có giá trị. Lâm muốn trở về thành phố, tất cả các bức tranh của anh sẽ được mọi người chiêm ngưỡng, bình luận hay tán thưởng. Những công sức anh đã bỏ ra gần ba năm nay. Chiều nay Ngọc Nhi tìm anh, gương mặt cô thật rạng rỡ. Cô khoe với anh đã cho người đến dọn dẹp và sửa sang lại căn nhà. Tất cả đều thay đổi. Căn nhà không còn là căn nhà ma trong mắt mọi người, nó sẽ là một công viên được trồng nhiều hoa lan, cho mọi người sau những buổi làm việc mệt nhọc đến tìm cảm giác thư giãn. Ngọc Nhi thích thú nói: - Đây chính là nguyện vọng từ lâu của em. Có lẽ ngoại em dưới cũng hài lòng về việc em làm. Em muốn bù đắp lại những tháng ngày kinh hoàng của ngoại em gây ra và cũng thay lời xin lỗi của ngoại em đến với mọi người. Lâm đồng tình về việc làm hữu ích của Ngọc Nhi. - Việc em làm là hoàn toàn đúng. Em cần nên giải quyết mọi chuyện cho sáng tỏ. Tất cả những người dân trong thị trấn này có một cuộc sống hiền hòa và một sân vui chơi giải trí sau giờ lao động mệt mỏi, em đã góp một phần công ích trong đó. Ngọc Nhi đan hai bàn tay vào nhau, cô cúi đầu nói: - Em không siêu phàm như anh nghĩ đâu, cái mong muốn là mọi người xóa đi ác cảm mỗi khi đến căn nhà ma và một người phụ nữ bất hạnh điên loạn sống trong đấy. Lâm gật đầu, anh hiểu ý của Ngọc Nhi. Anh đã đưa ánh mắt thân thiện nhìn về phía cô và hỏi khẽ: - Em có định hướng về tương lai của mình chưa? Sắp tới em định làm gì? - Thật tình em chưa nghĩ ra, nhưng có lẽ em phải tiếp tục học lại, ước mơ của em là trở thành một nhà doanh nghiệp trẻ. Em muốn xâm nhập vào thị trường và sống một cuộc sống sôi động đầy thử thách. Lâm giật mình trước sự suy nghĩ đầy táo bạo của Ngọc Nhi. Anh không thể ngờ rằng với hình dáng bên ngoài hơi một chút yếu đuối và bướng bỉnh mà Ngọc Nhi lại có những ý định đầy táo bạo như vậy. Anh không có ý kiến gì trước quyết định của Ngọc Nhi, anh cũng thật sự không hiểu chuyện kinh doanh gì. Đơn giản một điều, anh là một nhà nghệ thuật, sáng tạo bằng năng khiếu bẩm sinh của mình. Khác hẳn hoàn toàn với những suy nghĩ của Ngọc Nhi, một lối suy nghĩ của những nhà kinh doanh chờ đợi từng thời cơ nắm bắt lợi nhuận là hàng đầu trong mắt họ, đúng là suy diễn ra thị trường như chiến trường... Tiếng nói của Ngọc Nhi cắt ngang dòng suy nghĩ của Lâm: - Anh có ý kiến gì trong quyết định của em không? Lâm nhủ thầm trong lòng: “Mình có nên trả lời theo suy nghĩ của mình không? Trong mắt Ngọc Nhi không biết cô ấy đang nghĩ gì về mình?”. Tình yêu thầm kín của anh dành cho Ngọc Nhi thanh bạch và trong trắng quá. Anh không có một lần dám nắm tay cô. Đứng trước mặt Ngọc Nhi, anh như một đứa trẻ đang dò dẫm bước vào tình yêu đầu đời. Không phải là Lâm thất bại với việc tán tỉnh con gái, mà thực ra trên thành phố không biết bao nhiêu cô gái trồng cây si trước nhà anh. Anh không quá cao ngạo cho mình thần tượng, nhưng ở anh có một giọng nói trầm, ấm cúng làm cho người nghe chú ý và dễ bị cuốn hút. Nhưng đối diện với Ngọc Nhi, anh mới biết rằng anh là một con người vô duyên không có sức thu hút đối phương... Ngọc Nhi ngạc nhiên khi thấy Lâm ngồi thừ ra với ánh mắt bất thần nhìn về một hướng vô định. Ngọc Nhi bước lại bên Lâm, lặp lại câu hỏi ban nãy với anh. - Anh có ý kiến gì trong quyết định của em không? Lâm giật mình, anh trả lời một cách miễn cưỡng: - Anh không có ý kiến gì. Em muốn trở thành một nhà doanh nghiệp cũng tốt thôi... Đó là công việc mà em lựa chọn... em đã quyết định... Lâm buông lửng câu nói với Nhi, khi trông thấy bóng dáng khắc khổ của ông Năm bước vào. Vừa trông thấy ông Năm, Ngọc Nhi chạy đến bên ông, cô quên đi sự căng thẳng, bối rối của Lâm. - Nội! Từ nay nội có đồng ý về chung với con không? Ông Năm lắc đầu: - Nội đã quen ở đây rồi, nội không về Lâm Đồng với con đâu. Ngọc Nhi nũng nịu: - Nhưng con muốn nội về ở với con, ở trên ấy đất đai rộng lắm tha hồ cho nội trồng trọt chăn nuôi. Ngôi biệt thự của ngoại Ba lớn lắm. Ông Năm vẫn không thay đổi ý định: - Nội đã sống ở đây quen rồi, nội không đi đâu, đừng khuyên nội nữa. Nơi đây là nơi chôn nhau cắt rốn của nội. Sống ở đây và chết cũng ở đây. Lâm bước ra ngoài, anh đón nhận được cái buồn tự nhiên ở đâu mang đến cho anh. Bên trong tiếng cười nói của Ngọc Nhi và ông Năm. Anh mỉm cười với hạnh phúc tràn ngập ở nơi họ, nhưng nụ cười của anh sao trông sầu não quá chừng! Một năm đi qua. Thời gian trôi theo chiếc kim đồng hồ quay đi không bao giờ quay ngược lại. Phòng triển lãm tranh của Lâm đã thành công rực rỡ nhiều lần. Tiếng tăm của Lâm chẳng mấy chốc lan đi rộng rãi, người trong nước lẫn người ngoài nước đều mến chuộng tranh của anh vẽ . Họ cho đó là phong cách riêng của người Việt Nam mang đậm màu nét thuần túy của cuộc sống đời thường. Lâm đã thành lập một công ty riêng, mở ra một xưởng vẽ và làm thầy cho một đám học trò yêu thích nghệ thuật. Cuộc sống đã thay đổi với anh, nhưng chuyện tình yêu trong anh vẫn không thay đổi. Anh vẫn sống trong ảo vọng của mối tình đơn phương thầm lặng. Bóng hình người ấy mỗi lúc càng xa vời, anh mong chờ trong nỗi tuyệt vọng. Chí Thông là người phản đối kịch liệt trước tình yêu câm lặng của Lâm. Mỗi lần nhắc đến chuyện tình của Lâm, Chí Thông thương hại nhìn anh rồi bỡn cợt nói: - Thời buổi bây giờ, không có ai chung tình như mày đâu, chẳng lẽ trên đời này không còn một đứa con gái nào hay sao? Tình yêu đơn phương của mày như một thiên tình đẫm lệ trong các trang tiểu thuyết mùi mẫn của bọn đàn bà con gái. Và Chí Thông đã chứng minh cho Lâm thấy anh chàng thay tình như thay áo, biết bao nhiêu cô gái đều qua tay Chí Thông. Anh là một tay tán gái cừ khôi, không một bóng hồng nào qua khỏi tay Thông được. Một hôm Chí Thông hẹn Lâm ra quán cà phê nổi tiếng trong thành phố. Khung cảnh ở đây thật thơ mộng, từng đôi trai gái ngồi tâm sự với nhau. Sự có mặt đột ngột của Lâm làm cho một vài ánh mắt nhìn lên khó chịu. Cũng đúng thôi, đây là quán dành cho các đôi tình nhân tỉ tê tâm sự, không ai vào đây đơn côi một mình cả. Lâm phớt lờ , anh đưa mắt nhìn quanh tìm kiếm Chí Thông. Tiếng một cô gái gọi tên anh. Lâm ngạc nhiên quay lại, anh nhận ra Thùy Dung, cô nhân viên thiết kế thời trang của công ty Chí Thông. Dạo này công ty của Chí Thông chuyển sang lĩnh vực thời trang, anh đã thiết kế những chương trình “ấn tượng trẻ”, trong các chương trình đó có một vài show trình diễn nước ngoài và đã thành công đáng kể. Thùy Dung mỉm cười nhìn Lâm. Cô đưa tay chỉ ghế cho Lâm ngồi và không đợi Lâm lên tiếng, Thùy Dung giải thích cho sự có mặt của mình: - Anh Thông có công chuyện phải đi gấp, nên em ngồi đây để tiếp chuyện với anh đó. Lâm hiểu ra câu chuyện. Thì ra Chí Thông gài bẫy tình cho Lâm. Có một lần anh nghe Chí Thông đề cập đến Thùy Dung, cô nhân viên xinh đẹp mà Chí Thông muốn Lâm làm quen. “Dịp may hiếm có đấy mày. Thùy Dung có tài và có sắc còn mới trinh nguyên. Tao chưa dám đụng vào để dành cho người bạn thân của tao”. Lâm phì cười trước sự tử tế của Chí Thông. Và đây là kế hoạch của Chí Thông khiến cho Lâm chẳng chút gì ngạc nhiên. Anh nhìn Thùy Dung. Trước vẻ đẹp sắc sảo và kiêu kỳ của cô không làm cho tim Lâm chao đảo. Thấy Lâm cứ nhìn mình trân trân, Thùy Dung cười bẽn lẽn nói: - Anh Lâm có chuyện gì vui kể cho Dung nghe đi. Lâm nhún vai trả lời ngây ngô. - Anh toàn là Liêu trai kinh dị. Em có muốn nghe không? Thùy Dung gật đầu lia lịa: - Em thích lắm, kể đi anh. Lâm hít một hơi dài, anh làm vẻ mặt trầm trọng: - Vấn đề ma hiện hồn về có nhiều người nói tới, họ kể rất nhiều chuyện và đưa ra những yếu tố khá thú vị như chúng ta đã biết, có nhiều chuyện quái đảng. Đây là câu chuyện trừu tượng. Có một linh hồn không siêu thoát, đêm đêm hiện ra phá phách mọi người. Ngày trước, linh hồn này là một cô gái trẻ xinh đẹp có tài thổi sáo. Tiếng sáo của cô làm say mê biết bao nhiêu chàng trai... Cô gái chết trong một đêm mưa tầm tã, cô ta thắt cổ tự tử vì tình yêu không trọn vẹn. Khi linh hồn của cô ta xuống âm ty, không được chấp nhận và bị trừng phạt đọa đày lên trần gian, sống một kiếp ma. Đêm đêm cô ta hiện ra thành một thiếu nữ xinh đẹp ngồi thổi sáo. Tiếng sáo bi thương réo rắt vào lòng người nghe những khúc nhạc đau lòng oán than cho số phận... Thùy Dung im lặng chăm chú nhìn Lâm, câu chuyện kinh dị của anh quá hấp dẫn cô. Người phục vụ mang đến cho Lâm một tách cà phê nóng, Lâm đưa tách cà phê ngang tầm mắt nhìn chất nước sóng sánh màu đen tuyền, Lân húp một ngụm nhỏ, mùi thơm cà phê bay qua mũi. Anh cảm thấy thật sảng khoái. Thùy Dung đã nhắc ghế ngồi cạnh Lâm tự lúc nào. Câu chuyện ma của anh làm cho Thùy Dung lo sợ. Cô vốn là người sợ ma bẩm sinh. Lâm thầm cười trong bụng vì tính nhát gan của cô gái này. Lâm kể tiếp: - Nếu ai đã một lần nghe tiếng sáo của cô gái ma đó thì hồn sẽ quay quắt nhung nhớ về hình bóng liêu trai của người ta, mọi người nói tiếng sáo ấy là tiếng sáo gọi hồn. Vào những đêm trăng sáng, cô gái trở thành hồn ma kinh dị lúc ẩn lúc hiện, hồn ma đó với hình dạng quái thai, thân hình mảnh mai ốm yếu nhưng cái đầu to lớn, khuôn mặt con ma hình vuông với da mặt trắng như bột, không mũi miệng. Chỉ có hai con mắt như hai vết hào sâu hoắm phun ra những tia máu kinh khủng... Thùy Dung sợ hãi, cô đưa tay nắm chặt cánh tay Lâm. Cô nhắm mắt lại mà cứ liên tưởng trước mặt cô bóng dáng con ma đó hiện ra với khuôn mặt chỉ có hai con mắt đỏ rực như hai cục máu... Tiếng hét của Thùy Dung phá tan bầu không khí yên tĩnh trong quán. Mọi người đều ngẩng đầu lên nhìn chăm chú vào Lâm và Thùy Dung. Thùy Dung đỏ mặt thỏ thẻ bên tai Lâm. - Anh kể chuyện ma nghe rùng rợn, em sợ quá. Chúng ta ra khỏi chỗ này đi anh. Lâm gật đầu, anh mừng thầm trong bụng, đúng là câu chuyện của anh có tác dụng đã làm cho Thùy Dung đòi về. Khi tiễn Dung, Lâm mỉm cười nói: - Khi nào chúng ta gặp lại nhau, anh sẽ kể cho em nghe chuyện con ma đòi mạng, em có thích nghe không? Lâm không nghe Thùy Dung trả lời, cô cho xe chạy nhanh như muốn trốn tránh anh, làm như anh là con ma không bằng! Mọi người đã ra về hết, căn phòng chỉ còn lại một mình Lâm, lúc nào anh cũng là người về sau cùng. Xưởng vẽ tranh của Lâm không rộng lắm, nhưng cũng chứa khoảng mười người. Trên trần nhà chiếc quạt gió quay vù vù. Lâm cảm thấy không khí vẫn ngột ngạt và nóng bức. Trên tường đối diện chỗ Lâm ngồi, hai bức tranh “Thiên đường hạnh phúc” của dì Nương và một bức tranh “Chiều hoàng hôn” của anh. Ba bức tranh này đã gây ra nhiều tranh luận cho giới hâm mộ. Làm nên một hiện tượng đáng chú ý. Lâm đã nhận được rất nhiều cú điện thoại gọi đến, thậm chí họ trực tiếp gặp gỡ, nài nỉ anh bán ba bức tranh cho họ với một cái giá không thể ngờ. Nhưng tất cả đều thất vọng, họ chỉ nhận được cái lắc đầu từ chối của Lâm. Ba bức tranh là vật quý giá nhất trong đời của anh, nó nhắc anh nhớ đến những ngày anh sống phiêu lưu nơi xứ lạ và những chuyện xảy ra ngoài trí tưởng tượng của anh, vừa mang tính chất huyền bí vừa hoang đường nhưng lại rất thật. Từ lâu, mọi tin tức về Ngọc Nhi đều mơ hồ trong Lâm. Có một lần Lâm gặp ông Năm lên thành phố, ông báo cho Lâm biết Ngọc Nhi đã tốt nghiệp xong một khóa ngắn hạn về thương mại và đang tham khảo thị trường Châu Á ở tận đất nước hoa anh đào Nhật Bản. Lâm cảm thấy mừng cho sự thành công của Ngọc Nhi. Nhưng tâm trạng anh mang một nỗi buồn nhớ man mác. Mặc dù tình yêu anh dành cho Ngọc Nhi nguyên vẹn không thay đổi. Nhưng anh chỉ đón nhận một trái tim không lời đáp từ nơi cô. Lâm lấy thuốc lá ra hút, khuôn mặt anh không giấu được nét trầm tư... Một tiếng động khô khốc đột ngột phát ra. Lâm nhận thấy cánh cửa phòng sát cạnh lối vào xưởng đóng mạnh lại. Mọi thứ đều ngưng hoạt động. Tất cả những ánh đèn trong phòng Lâm vụt tắt, bóng tối bao trùm lấy anh. Lâm không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Anh đứng dậy, điếu thuốc trên môi rớt xuống chân anh. Làn khói trắng bay vào mũi anh cay nồng buộc anh đưa tay dụi mắt. Ánh sáng trong căn phòng phát ra trước mặt Lâm làm cho anh giật mình mở to mắt nhìn. Sự việc xảy ra lại có vẻ hoang đường, ánh sáng được phát ra chính từ bức tranh “Chiều hoàng hôn” của Lâm. Ánh sáng màu xanh lục bao quanh cả bức tranh. Lâm hốt hoảng khi trông thấy khuôn mặt của Ngọc Nhi không còn rạng rỡ xinh tươi nữa. Nụ cười trên môi cô như khép lại, khuôn mặt trở nên ủ dột đau thương. Lâm rùng mình, dường như hình ảnh của Ngọc Nhi trong bức tranh đã tan ra thành hư vô. Khoảng một hay hai phút sau, một bóng trắng từ từ xuất hiện. Lâm không tin vào mắt mình nữa, bóng trắng đó quá quen thuộc với anh. Ngọc Nhi đã hiện hữu ngay trước mặt Lâm. Đây là sự thật hay trong giấc mơ, anh chưa kịp nghĩ ra. Kinh khủng, thật là một sự kiện kinh khủng không thể nào hiểu được. Khuôn mặt tươi cười xinh đẹp, đôi mắt nhí nhảnh của Ngọc Nhi đã thay đổi hoàn toàn. Giờ đây, thay vào đó khuôn mặt trắng bạch như thoa loại phấn hế đát, đôi mắt nàng đờ đẫn nhìn anh. Trong đôi mắt ấy những giọt nước mắt trào ra, lênh láng như mặt biển khơi. Một luồng không khí lành lạnh ghê ghê thổi vào người Lâm khiến cho anh run lẩy bẩy, điều gì đang diễn ra vậy? Trong bóng tối nhập nhòa, hai cánh tay xương xẩu và lạnh lẽo đang chờ đón Lâm. Bước chân của Ngọc Nhi đi về phía anh xiêu vẹo. Tim Lâm đập dữ dội, cổ họng tắc nghẹn không thở được, giống như cơn ác mộng trải qua trong tâm trí một con người khủng hoảng. Hai chân Lâm chôn chặt xuống nền gạch, cứng đờ vì hoang mang kinh ngạc. Đây không phải là chuyện người thật giả ma để hù dọa Lâm, mà là một người của một hồn ma hiện hình mang hình dạng Ngọc Nhi đang đứng trước mặt anh. Thình lình Lâm ngửi thấy mùi xác chết, một luồng khí hôi thối của cơ thể người chết đang phân hủy. Lâm hoảng hốt thực sự, anh cố lùi ra xa tránh né hai cánh tay đang lần mò tìm kiếm anh. Khuôn mặt Ngọc Nhi chuyển sang màu xanh lục, từ hai vành môi xám xịt phun ra một luồng khí màu đỏ như máu. Lâm cảm nhận mình sắp nôn mửa ra, anh cơ hồ muốn ngất xỉu, chính cái luồng khí màu máu kia là mùi của người chết mà anh vừa hít vào. Từ từ tiến sát đến gần Lâm là một khuôn mặt màu xanh lục với hai gò má chảy rữa kinh tởm, môi bị gặm gần hết khiến cho hai hàm răng nhô ra ngoài, lúc này hai cánh tay là hai ống xương khẳng khiu đưa lên cổ Lâm, buộc Lâm phải nhìn thẳng vào hai hố mắt sâu hoắm. Khuôn mặt lại chuyển sang một màu đỏ bầm, những tảng thịt bầy nhầy đang rớt xuống từng miếng vào người Lâm. Chúng biến thành một dòng máu đỏ lan rộng khắp cả người anh, mùi hôi thối nồng nặc bao vây lấy anh... Sức chịu đựng của Lâm đã hết. Lâm nhảy bật ra khỏi hai bàn tay xương xẩu kia và thét lên khiếp đảm. Bóng ma không còn mang hình dạng của Ngọc Nhi nữa, nó mang theo một bộ xương người trắng hếu, bộ xương phát ra ánh sáng màu lục lủng lẳng chập chờn trước mặt Lâm. Mấy ngón tay của Lâm run lên. Anh xô chiếc ghế về phía bộ xương, động lực va chạm khiến cho bộ xương đứng yên lại. Nhưng cái đầu lâu máu đỏ bầm kia vẫn cứ lúc lắc với hai con mắt lúc lồi ra lúc sâu hoắm lại. Lâm khiếp sợ phóng nhanh về phía trước cố thoát ra khỏi bóng ma kinh dị. Nhưng bóng ma vụt đứng trước mặt anh, sừng sững, hai bàn tay xương xẩu ôm chặt lấy Lâm, giọng nói của bóng ma phều phào bên tai anh: - Hãy theo em... đừng bỏ em... Lâm cảm thấy cổ họng mình bị vòng tay ma quỷ siết chặt, hơi thở đứt quãng, cái chết đang đến gần anh. Anh không một chút phản kháng, đôi mắt anh nhắm lại chờ đợi. Trong khi đó, mùi hôi thối của người chết vẫn nồng nặc trên mũi anh... Một bàn tay to khỏe đập mạnh vào vai Lâm, kéo anh thoát khỏi cơn ác mộng kinh hoàng vừa qua. Lâm ngồi bật dậy ngơ ngác đưa mắt nhìn quanh. Mọi thứ xung quanh anh vẫn bình thường. Căn phòng thắp sáng với nhiều ánh đèn. Chiếc quạt trên trần nhà vẫn quay đều đều và anh vẫn chưa tin câu chuyện kia là cơn ác mộng. Lâm đưa tay lên xoa đầu, cơn nhức đầu làm cho mắt anh nhòe đi nhưng Lâm cũng nhận ra người đang ngồi đối diện với anh là Chí Thông. - Mày đang mơ cái quỷ quái gì vậy ở bên ngoài mà tao đã nghe tiếng la hét của mày khủng khiếp. Chí Thông chỉ cánh cửa cho Lâm thấy: - Cửa đóng chắc quá, tao phá xông vào thấy mày nằm trên bàn la hét om sòm. Lâm thở dài, anh đưa tay ôm lấy đầu, anh đã trải qua một giấc mơ khủng khiếp, nhớ đến sự việc đã qua, anh cảm thấy da anh nổi gai ốc từng mảng. Chí Thông đưa ánh mắt dò xét nhìn Lâm khó hiểu, anh hỏi tiếp: - Có chuyện gì xảy ra cho mày vậy nhìn lại mày kìa, người đầy mồ hôi, coi chừng bị cảm lạnh. Lâm lắc đầu, cổ họng anh đắng nghét, và anh thấy khó khăn khi phát ra từng tiếng trả lời cho Thông nghe: - Tao... không sao... chỉ bị... nhức đầu... một chút thôi... Chí Thông mỉm cười yên tâm. Anh lấy trong túi xách của mình ra một chai rượu whisky, anh tìm một chiếc ly thủy tinh, rót rượu vào ly và đưa sang bên Lâm. - Cũng còn may cho mày, tao đang tìm bạn giải sầu nên có sẵn rượu trong túi. Uống một ngụm đi sẽ sảng khoái ngay thôi. Lâm cầm chiếc ly trên tay, anh đưa mắt nhìn cái chất lỏng hấp dẫn màu nâu đựng bên trong đang sóng sánh. Anh đưa lên miệng uống cạn, đúng như lời Chí Thông nói, hơi rượu nồng nàn làm cho Lâm được trấn an, hơi ấm trong cơ thể anh bừng bừng trở lại... Lâm đưa mắt nhìn Chí Thông với sự cảm kích: - Cám ơn mày đã đến đây. Tao vừa trải qua một cơn ác mộng. - Ác mộng? - Chí Thông nhún vai hỏi. - Đúng vậy. - Lâm nhìn thẳng vào mắt Chí Thông chờ đợi câu trả lời thực sự của bạn. Lâm hỏi Thông: - Mày có tin ma hiện hồn không? Có những yếu tố bắt buộc chúng ta phải tin, có nhiều chuyện quái đản, huyền bí và kinh dị, dù khoa học có tiến bộ tới mức nào đi nữa cũng chịu chưa giải thích nổi cái thế giới vô hình xung quanh ta. Chí Thông cười ngạo nghễ trước câu nói của Lâm: - Mày đúng là đàn bà, đến bây giờ vẫn còn tin chuyện ma hiện hồn, dẹp bỏ những chuyện nhảm nhí đó đi! Chí Thông đứng dậy đến bên cạnh Lâm đưa tay xoa nhẹ vào đầu bạn: - Làm ơn trở lại tính khí nam nhi một chút đi. Chúng ta đi tìm một quán bar nào đó uống hết chai rượu này.Tao gọi điện thoại cho Thùy Dung đến chơi với mày nha. Lâm trừng mắt nhìn Chí Thông: - Mày muốn đi chơi với cô ta thì cứ hẹn hò đi, đừng có đem tao vào. - Mày không thích Thùy Dung à? Cô bé đó cảm mày lắm đó, đây là cơ hội ngàn vàng đừng bỏ lỡ uổng… Còn bây giờ tao muốn đi uống rượu với mày. Lâm đứng dậy, anh không thể nào từ chối lời đề nghị của Chí Thông. Một khi Chí Thông muốn có trời mà cản được. Lâm tắt tất cả đèn trong phòng, anh đưa mắt nhìn bức tranh của Ngọc Nhi lần cuối mà sao thấy lạnh cả người. Giác quan thứ sáu báo cho anh biết rằng có một chuyện gì đó đang xảy đến cho Ngọc Nhi... Tiếng của Chí Thông hối giục Lâm... anh lặng lẽ rời khỏi căn phòng, bên ngoài Chí Thông đã nổ máy xe ầm ĩ... Phần V Những ngày liên tục kế tiếp, cơn ác mộng vẫn hoành hành tâm trí Lâm khiến cho tâm trạng anh rối bời. Linh tính báo cho anh biết có điềm không tốt đang chuẩn bị xảy ra. Lâm cố gắng liên lạc, tìm kiếm những thông tin về Ngọc Nhi, nhưng anh đều không nhận thông tin gì về cô cả. Hiện giờ Lâm không biết Ngọc Nhi đang ở đâu? Ông Năm cũng như anh, ông chỉ biết căn nhà trên Lâm Đồng không còn nữa. Ngọc Nhi đã bán đi, lấy tiền đó cho vào việc kinh doanh của cô. Lâm không hiểu Ngọc Nhi kinh doanh gì. Và anh cũng không hiểu tại sao Ngọc Nhi phải lao đầu vào cái thương trường rắc rối phức tạp đầy sự chà đạp lẫn nhau, lừa lọc phỉ báng, tranh giành quyền lợi của nhau. Đồng tiền là thượng đế trong mắt tất cả những giới doanh nghiệp. Anh nghĩ thế và anh chép miệng thở dài. Anh không muốn suy nghĩ nhiều về chuyện này. Đối với Lâm, cuộc sống bình thản êm dịu đến với anh là anh mãn nguyện lắm rồi. Lâm cảm thấy khoảng cách giữa anh và Ngọc Nhi ngày càng vời vợi, giữa hai người không cùng chí hướng. Đã đến lúc Lâm phải cố quên hình bóng Ngọc Nhi trong trái tim anh. Có lẽ thời gian sẽ giúp cho anh xóa nhòa tình yêu dành cho nàng. Tiếng bước chân bên ngoài hành lang. Lâm đưa mắt nhìn ra ngoài cánh cửa. Thùy Dung đột ngột xuất hiện, cô lộng lẫy trong bộ đầm ngắn màu hồng càng tôn thêm cặp chân dài thon nhỏ đầy quyến rũ. Lâm không ngạc nhiên lắm trước sự xuất hiện của Thùy Dung. - Anh Lâm. Có chuyện cần phải cộng tác với anh đây. Khuôn mặt hớn hở của Thùy Dung khi cô kéo chiếc ghế ngồi đối diện với Lâm, anh buông ra một câu hỏi hờ hững: - Có chuyện gì quan trọng lắm không? Nếu trong lĩnh vực thời trang, anh chịu thua. Thùy Dung nhìn Lâm bằng đuôi mắt dài và sắc bén: - Thời trang là cuộc sống làm gì mà ám ảnh anh ghê gớm vậy? - Anh hoàn toàn không lên án về ngành thời trang của em. Nhưng ở hai chúng ta, mỗi người đều có một hướng đi của riêng mình. Thùy Dung mím môi suy nghĩ, cô chầm chậm nói: - Anh có thể đem nghệ thuật của anh đặt vào thời trang được không? Em đang thiết kế trang phục truyền thống của dân tộc mình. Em muốn anh vẽ lên những chiếc áo dài phong cảnh quê hương. Cuộc sống đời thường vùng quê bình dị. Chúng ta không lạm dụng nghệ thuật vào thời trang, điều đó có gì đâu mà anh ngại. Lâm cảm thấy những lời nói của Thùy Dung thật có lý anh trở nên thân thiện với cô tự lúc nào không hay: - Nếu em có ý định như vậy thì thật là tuyệt vời. Anh sẽ đem hết tài năng của mình ra cộng tác với em. Thùy Dung gật đầu mỉm cười mừng rỡ: - Anh hứa đấy nhé. Chúng ta sẽ hợp tác với nhau, đúng là Thông nói không sai... Lâm ngạc nhiên nhìn Thùy Dung khi cô đề cập đến Chí Thông, hiểu cái nhìn của Lâm, Thùy Dung nói tiếp: - Chí Thông là người hiểu tính anh nhiều nhất. Lâm nhăn mặt hỏi Dung: - Chí Thông, nó nói gì về anh? - Anh ấy đều nói tốt về anh cả thôi. Anh ấy nói anh là một kho tàng nghệ thuật là một người có cái nhìn nghiêm túc. - Thật là khó tin, nó làm gì mà nói tốt về anh nhiều như thế. Thùy Dung cúi đầu thú nhận: - Anh Thông nói tốt về anh một phần còn một phần tốt về anh là do em nghĩ ra, thật sự em muốn làm việc cùng với anh... Khuôn mặt Thùy Dung đỏ ửng, cô cúi đầu tránh đi cái nhìn của Lâm. Mái tóc ngang vai của cô che nửa khuôn mặt, Lâm không nhận thấy sự bối rối trên khuôn mặt yêu kiều đó. Lâm để ý đến những thay đổi lạ thường trong khuôn mặt của Thùy Dung. Ánh mắt và nụ cười của Thùy Dung hoàn toàn khác hẳn, nó không phải là của cô, mà nó được hiện hữu chính của Ngọc Nhi. Lâm rùng mình xua tan bao suy nghĩ đang đè nặng trong đầu anh. Hình bóng Ngọc Nhi cứ chập chờn trong mắt anh. Nụ cười của Nhi thật rạng rỡ, ánh mắt êm đềm như mắt hồ thu phẳng lặng đã làm cho tim Lâm như ngừng đập, anh đang là kẻ chết đuối trong đó. Cơ thể Ngọc Nhi toát ra một hơi ấm đầy đam mê diệu kỳ. Lâm đưa hai tay ôm choàng lấy thân hình mảnh mai thon nhỏ của Ngọc Nhi. Khuôn mặt Lâm áp sát cận kề khuôn mặt Ngọc Nhi. Anh ngửi thấy mùi thơm trinh nguyên trên đôi môi hé mở của nàng... Một luồng khí màu xanh lục từ đôi mắt của Ngọc Nhi bay ra... Trong phút giây tận hưởng mùi vị tình yêu giờ đã tan theo hư vô, khuôn mặt xinh đẹp với nụ cười rạng rỡ đã không còn tồn tại nữa, nó tan biến đi theo không khí. Giờ đây đối diện trước mặt Lâm, sự biến dạng từng thời kỳ trên khuôn mặt đã bị lão hóa nhanh đến mức độ Lâm không còn nhận ra nữa, hiện giờ nó đang hình thành một chiếc đầu lâu đen ngòm với hai hốc mắt sâu thẳm. Từng mảng da thịt trên khuôn mặt biến thành một lớp hồ trắng bệch nứt ra rơi vung vãi xuống gạch vỡ tan tành. Chiếc đầu lâu lắc lư theo điệu nhạc, một thứ âm thanh quái dị khiến ai nghe cũng lạnh toát nổi da gà. Lâm nhận ra tiếng sáo du dương trong âm điệu bi thương nhuộm màu tang tóc. Những làn khí lạ từ trong ánh mắt bay ra chyển thành những màu sắc ma quái, lúc xanh đỏ, tím vàng... Mùi hương của làn khí lạ là cái mùi lâu năm của người chết, mùi thối của da thịt phân hủy không thể lẫn lộn vào đâu. Lâm không còn lạ gì mùi này trong nỗi kinh hoàng cao độ, Lâm đưa hai tay đẩy mạnh cái thân hình, mà lúc nãy anh cho là mảnh mai thon thả té nhào xuống nền gạch bóng loáng ở nhà anh. Chiếc đầu lâu ấy không còn lắc lư nữa, âm thanh của tiếng sáo ngưng bặt... Tiếng hét của cô gái vang lên, Lâm giật mình mở to mắt nhìn trừng trừng người đang đối diện mình. Thùy Dung đang run rẩy vì tức giận, khuôn mặt cô vẫn còn những nét bàng hoàng trước hành động kỳ lạ của Lâm. - Anh điên rồi sao. Anh thật điên rồ. Quỷ ma đã nhập vào người anh rồi... Thùy Dung lồm cồm đứng dậy sau cái té do Lâm xô đẩy. Cả thân người Thùy Dung đau điếng, cô cố lê từng bước chân ra cửa. Bao nhiêu ước mơ dệt mộng của tình yêu mới vừa chớm nở dành cho Lâm giờ tan thành mây khói. Thùy Dung thật sự thất vọng về Lâm, hình như có ma lực nào đó hiện diện trong Lâm... càng nghĩ Thùy Dung càng lo lắng cho anh. Nhưng cô không muốn đem những rắc rối đến cho mình, Thùy Dung là một cô gái khôn ngoan biết nắm bắt lấy thời cơ... Cô biết rằng đằng sau bóng dáng của Lâm hàng khối anh chàng đang theo đuổi cô. Thùy Dung đưa mắt nhìn Lâm lần cuối, cô tự nhủ trong lòng sẽ không quay lại căn nhà này lần nữa, ánh mắt của cô như thầm nói lời tạm biệt với anh. Bóng dáng Thùy Dung khuất dần sau cánh cửa. Lâm vẫn ngồi bất động, anh không nói một lời nào. Những sự kiện vừa qua làm cho tâm trí Lâm lảo đảo, ngả nghiêng. Anh không thể nào giải thích được những ác mộng kinh hoàng. Lâm không nghĩ rằng đây là một giấc mơ, hình như nó là một sự thật phơi bày trước mặt Lâm. Một câu chuyện thần bí xoay quanh sự sống của Ngọc Nhi. Cho đến bây giờ anh không biết Ngọc Nhi đang ở đâu và đang làm gì? Nhưng có một điều Lâm đoán chắc được mạng sống của Ngọc Nhi đang bị đe dọa, bóng ma kinh hoàng ấy sẽ không tha cho linh hồn bé nhỏ của Ngọc Nhi. Một tuần trôi qua. Vào một buổi chiều, chuông điện thoại trong phòng làm việc của Lâm reo lên gấp gáp. Lâm cầm máy lên, trong đó truyền đến một giọng nói lạ: - Tôi là cảnh sát điều tra, có một vụ án xảy ra tại khách sạn Ngàn Sao. Ông ta tên là Vũ Nguyên đã tự nổ súng tự sát. Chúng tôi xem thấy có một bức thư ông ta gửi cho anh kèm theo là một quyển nhật ký của một cô gái tên là Phương Ngọc Nhi mời anh lập tức đến khách sạn gặp chúng tôi. Không mấy lúc. Lâm đã đến khách sạn Ngàn Sao, đó là một khách sạn cũ kỹ hay nói đúng hơn nó là một phòng trọ bình dân dành cho những người khách bình dân. Trong khách sạn có rất nhiều người, không kể đến những người dân hiếu kỳ đang đứng xung quanh tò mò nhìn vào. Khi Lâm bước vào khách sạn, có một người đàn ông tiến đến trước mặt anh, tự giới thiệu. - Tôi là thanh tra Hùng Minh. Có phải anh là họa sĩ Vũ Lâm không? Lâm gật đầu, đưa tay bắt tay Hùng Minh. Mọi người trong phòng tránh ra để Lâm và Hùng Minh bước vào. Trước mắt Lâm là một thi thể người đàn ông gầy còm. Khi người ta kéo tấm khăn phủ mặt ông xuống, Lâm rùng mình khi trông thấy có nhiều nếp nhăn và co rúm lại trên khuôn mặt đen sì của ông ta, nhất là đôi mắt ông ta mở trừng lên không chịu nhắm lại. Những giọt máu loang lổ trên mặt ông ta giờ chuyển sang một màu đỏ bầm. Bất chợt, Lâm liên tưởng đến chiếc đầu lâu lúc lắc với hai con mắt đỏ như máu bay ra cái làn khí đậm màu đỏ bầm hôi thối. Lâm lùi lại, anh quay mặt nhìn đi hướng khác, anh không muốn trông thấy cảnh tượng kinh hoàng này. Hùng Minh bước đến bên Lâm. Anh ta đưa cho Lâm một bức thư của ông Nguyên và quyển nhật ký của Ngọc Nhi. - Đây là vụ án mạng xảy ra khá ly kỳ, nó được chuẩn bị rất chu đáo. Nếu như không có cái chết của ông Nguyên thì vụ án này vẫn nằm trong vòng bí mật. Anh quen biết với cô cháu gái của ông ta khi nào? Lâm buồn bã trả lời, tay anh vẫn mân mê quyển nhật ký của Ngọc Nhi: - Tôi quen biết với Ngọc Nhi đã hơn một năm nay, mặc dù tôi rất yêu Ngọc Nhi nhưng... Lâm im lặng, anh không muốn nhắc đến chuyện tình yêu của anh và Ngọc Nhi, một câu chuyện tình buồn... Hùng Minh hiểu những lời nói tận đáy lòng Lâm. Và Hùng Minh báo cho Lâm nghe một hung tin về Ngọc Nhi: - Chúng tôi có điều tra và được biết ông Vũ Nguyên và cô Ngọc Nhi đã sống ở Nhật Bản một thời gian nhưng cuối tháng hai ông Vũ Nguyên trở về Việt Nam chỉ có một mình. Cô Ngọc Nhi đã mất tích luôn từ đó. Nhưng sáng nay sở cảnh sát Nhật Bản đã gởi qua một tờ fax có vẽ chân dung một nạn nhân mà họ tìm thấy được dưới chân núi, xác chết đã đến thời kỳ phân hủy, họ không thể nào xác minh được nạn nhân là ai... Lâm cắn môi kềm chế cơn xúc động sắp trào dâng trong lòng anh. Trước cái chết thê thảm, thương tâm của Ngọc Nhi nước mắt Lâm trào ra, anh không thể nào nén được cơn thổn thức của cõi lòng. Anh khóc thành tiếng, mọi người đưa mắt nhìn anh và họ thông cảm nỗi khổ đau mất mát mà anh đang đối mặt. Có một vài tiếng nói xầm xì ở sau lưng Lâm: - Ông ta nhẫn tâm quá, hại luôn cả cháu gái của mình, ông ta là quỷ rồi không phải là người. - Tội nghiệp cho cô gái vừa xinh đẹp lại vừa tài năng, một chủ doanh nghiệp trẻ... Lâm bước nhanh, anh muốn thoát khỏi nơi đây. Anh không muốn nghe người ta bàn tán trước cái chết đau lòng của Ngọc Nhi. Anh không tin đây là sự thật. Mới ngày nào anh vẫn còn gặp Ngọc Nhi, trò chuyện cùng cô, nhìn cô cười, nghe giọng nói ngọt ngào của cô... Thế mà giờ đây, cô đã trở thành người thiên cổ, Lâm vẫn còn bàng hoàng trước cái chết của Ngọc Nhi. Thế giới xung quanh như đang nhộn nhịp và tất bật, giờ đây như đảo lộn tất cả, anh như người vô hồn lê bước không định hướng về đâu... Cái chết của Ngọc Nhi là một cú sốc nặng nề với Lâm. Cả tuần nay anh không đến công ty, mọi việc Lâm giao phó cho Chí Thông lo liệu. Ba mẹ của Lâm rất lo lắng cho anh, nhưng chỉ thấy sự im lặng và lầm lũi đơn độc của Lâm trong căn phòng đóng cửa suốt ngày đêm. Thật ra ba mẹ của anh hiểu về anh rất rõ, chính sự im lặng này là sự tịnh tâm, là liều thuốc an thần cho Lâm. Lá thư ông Vũ Nguyên gởi cho Lâm toàn những lời lẽ ăn năn sám hối, không làm cho sự căm phẫn trong lòng anh nguội đi, nếu như ông ta không tự sát, Lâm có thể tìm đến ông ta và chính tay ông kết thúc cuộc sống đầy tội ác của ông ta. Trong lá thư của ông Nguyên có nói đến cái chết của Ngọc Nhi. Sự việc diễn ra đúng kế hoạch của ông ta và Ngọc Nhi chỉ là con cờ do tay ông ta điều khiển. “Ngày… Tháng… Năm… Anh Lâm! Có lẽ anh rất ngạc nhiên khi đọc những dòng chữ này của tôi. Một người lạ và chưa bao giờ gặp mặt và quen biết với anh, nhưng tôi biết anh rất yêu đứa cháu gái của tôi và tôi chính là ông ngoại của nó. Khi tôi viết lá thư này gởi đến anh thì cũng là lúc tôi đang ăn năn sám hối những sự việc mà tôi đã gây ra. Đầu tiên là Vĩnh Tân ba của Ngọc Nhi, kế tiếp là Ngọc Lan con gái tôi, rồi đến Tuệ Nương vợ của tôi và bây giờ là Ngọc Nhi. Tôi quá tàn ác và nhẫn tâm với người thân của tôi. Tòa án lương tâm đã phán xét tôi và tôi không biết phải đền tội của mình như thế nào? Tôi chỉ biết đem máu của mình để cầu xin mọi người tha thứ tội cho tôi. Tôi là một kẻ đáng thương bị trừng trị, nhưng có điều này tôi muốn nói với anh. Tin hay không là tùy ở anh. Tôi… không có giết Ngọc Nhi. Làm sao tôi có thể nhẫn tâm ra tay với đứa cháu gái của tôi được… Nhưng tôi là một tên hèn nhát đáng bị nguyền rủa, tội lỗi đầy ắp trên đầu. Tôi không cầu xin với anh một điều gì, nhưng vì tình yêu của anh dành cho Ngọc Nhi, xin anh hãy giúp nó đạt được ước nguyện của nó. Một lần nữa, xin anh hãy giúp cho cháu của tôi. Tôi thật là xấu hổ khi tôi nói lên điều này. Tôi là kẻ khốn nạn nhất! Phương Vũ Nguyên”. Những nét chữ trong lá thư của ông Nguyên cứ nhảy múa trước mặt anh không muốn giữ một vật gì của người đàn ông tàn ác đáng ghét này. Lâm châm lửa, anh đốt bỏ lá thư của ông Nguyên vào cái gạt tàn thuốc của mình. Giờ đây Lâm cảm thấy tâm hồn hơi thanh thản khi anh thực hiện được những ước nguyện lúc còn sống của Ngọc Nhi. Căn phòng hoàn toàn im lặng, bên ngoài không một tiếng động, Lâm biết ba mẹ của anh đã về quê ngày hôm qua. Khi nào anh gặp phải một chuyện gì, ba mẹ anh vẫn thường để cho anh yên lặng một mình trong căn nhà này. Ba mẹ anh rất tin tưởng ở anh và họ hiểu sau cú sốc, anh sẽ tự vực lấy chính bản thân mình và sẽ đứng thẳng lên. Trên tay của Lâm là quyển nhật ký của Ngọc Nhi, từng dòng chữ nhạt nhòa nước mắt, người con gái trong trang giấy hiện ra trước mắt anh. Anh cảm nhận được bên tai mình tiếng thỏ thẻ ngọt ngào của nàng. “Anh Lâm! Không phải là em trốn chạy trước tình cảm của anh dành cho em. Xin anh hãy hiểu cho em, đừng buồn và đừng giận em, dù sao thì em cũng có lỗi với anh. Em không nói ra sự thật khi chia tay với anh trong đêm buồn ở thị trấn… Anh là một người đàn ông tốt. Và suốt cả cuộc đời em sẽ không bao giờ gặp được một người đàn ông nào tốt hơn, chỉ một mình anh mà thôi... Em đã yêu anh khi mà lần đầu tiên em gặp anh. Nhưng em không có cơ hội bày tỏ với anh. Cho đến bây giờ em vẫn không có cơ hội nói với anh. Anh Lâm! Tạo hóa đã tạo ra em trong hình hài của mẹ em nhưng tạo hóa không tạo ra cuộc sống cho em… Khi em vừa chào đời đã phải gánh chịu nỗi côi cút của một đứa trẻ mồ côi cha mẹ, không tình thương của ông bà. Bị người đời khinh rẻ. Tủi nhục đã nuôi em khôn lớn đến ngày hôm nay. Khi em trưởng thành, em phải gánh chịu những lời thề kỳ quặc của bà ngoại. Sống một kiếp nửa người nửa ma làm bạn với bóng tối. Lúc đó em muốn vùng vẫy ra khỏi nơi ma quái kia bay nhảy trong một cuộc sống nhộn nhịp của những bạn bè cùng lứa tuổi với em. Sự khao khát trong em mỗi lúc càng mãnh liệt… Nhưng rồi có một thế giới vô hình nào đó phát ra ánh sáng màu lục đến bên em, an ủi linh hồn em lúc cô đơn trống vắng… Rồi khi ngoại em qua đời, đã đến lúc em phải sống cho bản thân em, tất cả những lời kỳ quặc của ngoại giờ đã được hủy bỏ. Em muốn trở thành một người phụ nữ mạnh mẽ, sống cho hoài bão của riêng mình. Để bù đắp lại những tháng năm giam lỏng linh hồn em. Anh Lâm! Anh có hiểu tâm trạng của em lúc này không? Em không dám nói tiếng yêu anh, mặc dù lời nói này là điều mà em mơ ước từ lâu để nói cho anh nghe”. Lâm thở dài, anh lấy một điếu thuốc rồi châm lửa hút. Từng làn khói trắng cuồn cuộn bay tỏa ra căn phòng. Phải chăng khói thuốc đã làm mắt anh cay nhòe hay là những dòng nhật ký của Ngọc Nhi chọc vào tuyến lệ của anh. “Em đã tốt nghiệp loại ưu ngành thương mại và em đang đầu tư vào lãnh vực ăn uống ở thành phố Đà Lạt. Em có đọc báo và biết được phòng triển lãm tranh của anh rất nổi tiếng. Xin chúc mừng anh. Đáng lý ra em phải lên thành phố để thăm anh hoặc gọi điện thoại liên lạc với anh, nhưng em không thể nào làm được. Em gặp lại ông ngoại của em. Người mà đã bức bách ba mẹ em chết trong oan ức và ngoại em sống những ngày tháng điên loạn. Song dù sao ông ta cũng là người mà em gọi là ông ngoại. Đầu tiên, em đã nhường một cổ phần cho ông ta. Nhưng với bản tính tham lam, ích kỷ, tàn ác, ông ta đã bày ra những chuyện làm ăn phi pháp dẫn đến công ty của em bị thua lỗ. Lúc này em không muốn gặp anh. Em đã hối hận thật sự, đáng lý ra em không nên theo đuổi cái sự nghiệp kinh doanh kia và em đừng quá tham lam bước lên những bước thang danh vọng. Phải chi có một điều ước đến với em. Chỉ duy nhất một điều ước thôi. Em sẽ ước lần đầu tiên gặp anh, nói cho anh tình yêu của em và bình lặng sống bên anh trong một cuộc đời hạnh phúc êm đềm. Em đã đánh mất hạnh phúc của chúng ta rồi. Một lần nữa em cúi đầu mong anh tha lỗi cho em…” Những trang giấy lem luốc màu mực chứng tỏ Ngọc Nhi đã khóc thật nhiều khi viết lên những dòng chữ này. Tay của Lâm run run khi lật từng trang giấy, anh nhận thấy hơi ấm của Ngọc Nhi còn quanh quẩn nơi đây. Sự gián đoạn của những trang giấy kế tiếp khiến Lâm hiểu ra, Ngọc Nhi đã ngưng viết một thời gian, cho đến khi cô lên đường sang Nhật Bản, những dòng nhật ký lại hiện lên: “Anh Lâm! Chuyến đi Nhật lần này với ông ngoại có lẽ là chuyến đi định mệnh của em. Lúc đầu em không dự định sang Nhật, nhưng có một khoảng tiền lớn trong một công ty mà ông ngoại em có một cổ phần trong đó. Anh cũng biết đấy, trước khi ông ngoại em bỏ nhà đi, ông ta có sang Nhật sống một thời gian ở đó. Tất cả những tài sản của em đều bị ông ta tiêu phá hết. Em đang trong giai đoạn phá sản. Em muốn lấy lại những gì đã mất của em. Nhưng khi sang Nhật Bản, ông ta đã vạch lên một kế hoạch không thể nào ngờ được. Em đã rơi vào cái bẫy của ông ta. Thực ra, ở Nhật ông ta không có một cổ phần nào cả, ông ta muốn đưa em sang đây để bắt buộc em phải làm vợ một tên vô loại nào đó trong giới giang hồ, vì ông ta đã mắc nợ hắn một số tiền lớn. Em thật kinh tởm ông ta, người mà em đã gọi là ông ngoại. Giữa cái nơi đất khách quê người này, em không biết cầu cứu đến ai. Em quá cô đơn, lúc này sao em nhớ đến anh và yêu anh biết dường nào… Em không chấp nhận cuộc hôn nhân ép buộc của ông ta… sẽ không bao giờ có chuyện đó xảy ra… Em biết là mình đã tính sai một nước cờ. Giờ đây em phải gánh lấy hậu quả của nó… Anh Lâm yêu thương! Hãy cho phép em gọi hai tiếng đó lần cuối cùng trong cuộc đời em… Nếu sau này em không còn sống trên cõi đời này nữa, cái chết sẽ không toàn vẹn với em. Nếu như anh có thể còn gặp lại những gì còn sót của em. Xin anh hãy rủ lòng thương, mang em về đặt cạnh bên mẹ em và bà ngoại em. Vĩnh biệt tình yêu của em. Nếu như… nếu như kiếp sau còn gặp lại, em xin nguyện suốt đời làm kẻ nô lệ cho anh. Đừng cười về những suy nghĩ ngớ ngẩn này, biết đâu chuyện của kiếp sau có thực phải không anh? Em yêu anh như chưa lần nào được yêu và ước mơ được là người tình bé nhỏ của anh…” Lâm vẫn cứ liên tục châm thuốc hút, quyển nhật ký của Ngọc Nhi anh đã khép lại tự lúc nào. Cái chết của Ngọc Nhi là do sự bức bách của ông ngoại cô, dẫn đến việc Ngọc Nhi lâm vào bước đường cùng nên quẩn trí, cô tìm đến cái chết để giải quyết mọi chuyện. Lâm cảm thấy thương hại cho Ngọc Nhi. Cô phải chịu đựng trước những nghịch cảnh của gia đình đến quá sức chịu đựng. Anh ngả người tựa vào thành ghế, đưa mắt nhìn lên trần nhà. Những mảnh tường loang lổ, một con thằn lằn đã rình rập được một con mồi. Lâm lầm bầm nói trong cổ họng: - Ngọc Nhi ơi! Nếu như em biết dừng chân đúng lúc. Nếu như em gặp anh sớm thì em đâu chết oan ức như vậy. Cũng một phần là lỗi nơi anh! Phải chi lúc ấy anh giữ em lại. Anh đừng nhút nhát trong việc tỏ tình với em... Nước mắt Lâm chảy dài, khuôn mặt anh ướt đầm đìa. Anh vẫn mặc tình cho những giọt lệ ấy trào ra. Anh đang khóc cho Ngọc Nhi và thương tiếc sự ra đi của cô. Tháng năm lặng lẽ trôi qua, thời gian giúp cho Lâm từ từ nguôi đi hình bóng người xưa, công việc làm ăn của Lâm ngày càng khấm khá. Chí Thông đã cưới vợ và người đó không ai xa lạ chính là Thùy Dung. Hôm đám cưới Chí Thông, khi trông thấy Lâm cô dâu đã ngại ngùng lên tiếng: - Duyên nợ con người, không ai tránh khỏi được, có duyên mà không nợ cũng là con số không. Còn Chí Thông thì cười giả lả: - Thật là khổ cho tao, đã làm ông mai cho mày mà chẳng được gì. Cuối cùng lại bắt ông mai thay vào mớ trớ trêu. Lâm mỉm cười, anh không nói gì trước sự lúng túng đáng yêu của hai người… Giờ đây Chí Thông và Thùy Dung đang chuẩn bị đón đứa con đầu lòng của họ sắp ra đời, nhìn họ tràn ngập hạnh phúc anh cũng vui lây... Lâm đã thực hiện ý nguyện của Ngọc Nhi. Anh sang Nhật, sau khi hỏa táng thi thể Ngọc Nhi, anh đem hài cốt của cô về chôn cạnh hai ngôi mộ dì Nương và bà Ngọc Lan. Lâm có tìm đến ông Năm, nhưng sau khi nghe tin Ngọc Nhi chết, vì quá đau buồn, ông đã bỏ thị trấn, từ lúc đó không còn biết tin tức gì về ông nữa. Ba mẹ Lâm hối thúc anh lấy vợ, nhưng đến bây giờ vẫn không một bóng hồng nào lọt vào mắt anh, phải chăng anh đã hững hờ với cuộc đời này? Sáng nay Lâm đi làm như thường lệ, xưởng vẽ tranh của anh đã phát triển rộng thêm nhiều và những người đam mê nghệ thuật đến đây hăng say làm việc rất đông. Tất cả đều ngưỡng mộ tài năng của Lâm, họ kính trọng anh, tôn sùng anh, vì anh là bậc thầy của họ… Khi Lâm đang ngồi vào bàn làm việc thì cánh cửa phòng anh bật mở. Người phụ tá của anh bước vào đi bên cạnh là một cô gái tóc dài, dáng cao thanh tú và mảnh mai, chiếc nón rộng vành che đi khuôn mặt của cô làm cho Lâm nhìn không rõ, nhưng gây cho anh ấn tượng khá đặc biệt là chiếc đầm dài cô gái đang mặc, màu tím nhạc có những cánh hoa trắng li ti. Người phụ tá của Lâm là một anh chàng thư sinh cao dong dỏng, cặp kiếng cận của anh ta kề sát Lâm: - Thưa anh, cô gái này đợi anh đã rất lâu, cô ấy muốn gặp anh để hỏi giá bức tranh ngoài kia, lần này nhất định cô ấy phải mua cho bằng được. Người phụ tá của Lâm đi ra khỏi phòng, chiếc nón rộng vành cũng được tháo xuống. Trước mặt Lâm là một nụ cười thân quen, nụ cười quyến rũ và ánh mắt phẳng lặng hồ thu ấy... Anh sững người lại vì kinh ngạc. Khuôn mặt, nụ cười và ánh mắt đó là của Ngọc Nhi đang nhìn anh. Lâm biến sắc trừng trừng nhìn người con gái bên tai anh tiếng nói ngọt ngào êm dịu. - Anh vẫn giữ hai bức tranh “Thiên đường hạnh phúc” và “Chiều hoàng hôn”... Lâm không nghe những câu nói tiếp theo của cô gái. Mắt anh nhòa đi trên hình bóng yêu kiều thướt tha của người con gái thân quen. Một ánh sáng màu tím trắng bay xung quanh cô, ánh sáng lung linh rõ làn khói màu xanh lục. Xuất hiện từ hai ánh mắt cô gái nhìn anh. Mùi thơm của hoa hồng ngào ngạt bay tỏa khắp phòng Lâm, mùi thơm này làm cho Lâm dễ chịu. Bất chợt anh nhớ tới mùi hôi thối của xác chết mà anh đã từng hít phải. Anh phải phân vân rùng mình liên tục. Ánh sáng màu tím trắng vụt tắt và bóng hình của cô gái cũng biến mất như tan theo mây khói. Lâm còn đang ngơ ngác nhìn, anh không hiểu chuyện gì đang xảy ra với anh? Cùng lúc đó, người phụ tá của anh bước vào, khuôn mặt anh ta hớt hải như vừa trải qua điều gì kinh hoàng lắm: - Anh ơi! Ba bức tranh treo trên tường tự nhiên biến mất, không để lại dấu vết gì cả. Sáng nay đâu có người khách nào. Chỉ có… Anh ta đưa mắt nhìn quanh rồi quay sang hỏi Lâm: - Cô gái đâu rồi anh?... Cô gái mua bức tranh gì đó… Lâm lắc đầu, xua tay ra dấu cho người phụ tá của anh bước ra ngoài. Lúc này anh không muốn nói gì cả. Người phụ tá của anh vâng lời nhưng trong lòng rất ngờ vực. Có điều gì đó không bình thường vừa xảy ra ở đây chăng? Bên ngoài tiếng ồn ào qua hành lang, Lâm biết các nhân viên của anh đang tập trung lại bàn tán về sự biến mất kỳ lạ của ba bức tranh kia và cả cô gái kỳ lạ lúc nãy. Lâm đưa mắt dõi ra cửa sổ, anh muốn tìm kiếm dấu vết của một thế giới vô hình. Thế giới vẫn còn có những linh hồn chưa được siêu thoát. Anh hiểu sự kiện lạ lùng ban nãy. Và anh cảm nhận rằng hơi thở ấm áp với mùi hương hoa hồng của Ngọc Nhi vẫn còn bên cạnh anh. Nó chưa tan biến vào hư vô… |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 24
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXIV: TIẾNG VỌNG HỒN MA - PHẦN I Đêm không trăng... cũng không sao, chỉ có gió và tiếng xào xạc của lá cây bị chạm vào nhau tạo thành thứ âm thanh rờn rợn, nhất là ở nơi luôn vắng vẻ bóng dáng con người. Bởi chốn này là chốn của những kẻ đã chết mà... Bãi tha ma khá rộng lớn bao gồm cả Phật giáo và Công giáo nhưng được phân chia rạch ròi thành hai khu vực khác nhau. Phía bên khu vực đạo Công giáo có vẻ quy mô và nề nếp hơn nên các ngôi mộ được chôn cất thẳng hàng, dù đã xây hay vẫn còn nấm đất. Chưa hết, những người sớm nằm yên nghỉ ở đây còn được hưởng sự râm mát ban ngày và không khí u tịch trầm lắng ban đêm bởi nhiều rặng bạch đàn trồng xen kẽ giữa các hàng mộ. Ngược lại khu nghĩa trang của phía Phật giáo hết sức là luộm thuộm với các kiểu chôn cất tự do khiến mồ mả người chết quay tứ hướng chẳng có chút nào là trật tự. Đã vậy cỏ dại còn bao trùm lên cả lối đi vào những ngôi mộ đất tạo cảm giác ngần ngại cho bất cứ ai muốn vào để tảo mộ người thân. Vấn đề gay go hơn là khu nghĩa trang Phật giáo còn nổi tiếng là lắm ma. Ngay giữa ban ngày cũng có kẻ đã từng bị nhát đến chết ngất để rồi sau đó trở thành ngẩn ngơ mất trí... Lời đồn đại nghe thật khủng khiếp. Làm thót tim rất nhiều người nên chẳng ai dám nghĩ tới chuyện lần mò ra nghĩa trang nếu như không có việc ma chay cúng tế. Thế nhưng, đêm nay bỗng xảy ra sự kiện lạ. Đó là đã gần mười hai giờ đêm rồi mà lại có một bóng người cầm đèn bão tiến sâu vào con đường dẫn vô khu vực nghĩa trang. Thật là gan cùng mình, những ai trông thấy đều le lưỡi, lắc đầu và nghe lo giùm cho cái kẻ khùng điên nào đó. Ú... ú... ú… không biết là tiếng rít của gió hay tín hiệu gọi nhau của âm hồn vang vọng lên từ cõi chết? Dù cho nó là gì đi nữa thì âm thanh đó cũng làm cho người ta phải rợn óc và bủn rủn cả tứ chi. Vậy mà không hiểu kẻ to gan lớn mật kia có cảm thấy sợ hãi, chùn chân... mà sao vẫn cứ tiến sâu vào nghĩa trang? Câu hỏi được đặt ra trong suy diễn nội tâm của người sống bên ngoài vòng đai nghĩa trang đang chứng kiến và lo ngại nhìn theo đốm sáng ngọn đèn mỗi lúc một nhỏ lần trong bóng tối mịt mù. Ú... ú... lại cái thứ âm thanh ma quái trỗi lên làm nhói đau trái tim những người yếu bóng vía. Trung và các bạn ngồi trong quán nước nhỏ mãi tít ngoài đầu con đường dẫn vào nghĩa trang, nhóng mắt ra màn đêm đen đặc, cảm giác người mình muốn nổi gai. Cậu khe khẽ rỉ tai Siêu: - Lão Tâm này quả là gan. Dám nhận lời cá cược vào nghĩa trang giờ này, không biết lát nữa lão có còn bình tĩnh mà trở ra như lúc đi vô chăng? Siêu nhún mạnh đôi vai, tay thọc vào túi áo như để che giấu sự nhút nhát đang trỗi dậy từ bên trong. Cậu máy môi: - Mày yên tâm đi Trung ơi! Tao chắc chắn lão Tâm sẽ đường hoàng trở ra nhận phần thắng cá cược... Xưa nay lão nổi tiếng là kẻ không hề biết sợ ma quỷ, chỉ có chúng mới sợ ngược lại lão thôi. - Mày cả quyết như thế ư? Học ngồi gần đó nhấn mạnh câu hỏi thay Trung để rồi nhận được cái gật đầu của Siêu: - Đúng, bởi tao đã từng thấy lão Tâm làm những chuyện kinh thiên, động địa hơn gấp nhiều lần. Tụi bây nhớ vụ bốc mộ cô gái chết đuối dạo nọ không? Thật khiếp đảm, nếu là tao chắc tao đã nhập khẩu xuống âm tào, địa phủ từ hôm ấy. Ôi, từ ngày cha sanh mẹ đẻ tới giờ tao mới nghe chuyện xác người chết hàng chục năm moi lên mà vẫn còn y nguyên. Mặc dù tóc gáy ở phía sau đã có cọng dựng đứng, Học vẫn hù để thổi phồng câu chuyện: - Cái xác còn y nguyên vẫn chưa đáng sợ bằng sự kiện người chết bỗng dưng cười. Tao cam đoan những người đang có mặt lúc đó, nhiều kẻ phải té đái. Trung hích cùi chỏ vào hông bạn: - Trong số đó có lẫn lộn mày không? Học hấp háy đôi mắt: - Không... tao chỉ nghe kể lại đã phải nín tiểu tiện ban đêm rồi. Vậy mà khen thay cho lão Tâm, lão dám lãnh nhiệm vụ chuyển cái xác từ quan tài cũ sang quan tài mới để người ta chôn trở lại. Cường xen vào bằng thái độ thản nhiên: - Có gì đâu mà lão làm không được. Dù không bị phân hủy, xác chết vẫn là xác chết chứ đâu thể biến thành quỷ hồi sinh... Lời Cường chưa kịp ngưng thì đã bị Trung chận đứng bằng cái vỗ khá mạnh vào giữa miệng kèm theo tiếng quát khẽ: - Chuyển hệ đi thằng khỉ. Mày có biết bây giờ là lúc nào hay không? Cường hất tay Trung ra rồi xoa xoa chỗ bị đau, mặt càu nhàu: - Đang nói chuyện ma sao có thể chuyển thành chuyện tiên đồng, ngọc nữ được. Mày mới là đứa lãng nhách, mười hai giờ đêm thì sao nào? Bị bạn la. Trung không tự ái mà nhốn nháo ngó quanh mình vì cảm nhận thấy có luồng khí lạnh ập đến. Cậu cất giọng run run: - Mày làm ơn nói năng ý tứ giùm kẻo lỡ có oan hồn nào ra tới đây dạo mát nghe được thì bản thân mày mang họa. Quang “xồm” là tên con trai có tướng mạo rất ngang ngạnh nãy giờ ngồi im nhâm nhi ly trà đá, chợt hất chiếc cằm lún phún hàm râu quai nón. Tiếng cậu nghe ồm ồm: - Mấy thằng mày toàn là gan thỏ đế. Nếu có sợ thì hãy nên sợ người sống, chứ kẻ chết thì còn làm được cái gì nào. Chẳng qua họ chỉ là những chiếc bóng vật vờ, yếu đuối mà những người mắt thường không nhìn thấy. Học cãi lại lời biện luận của Quang: - Mày đừng coi thường người ở thế giới bên kia. Hồn ma tuy chỉ là một chiếc bóng vật vờ nhưng không hề yếu đuối như mày nói. Theo tao được biết thì có khối kẻ sống dở, chết dở vì sợ ma. Nghe Học nói, Quang “xồm” cười bạnh hàm: - Điển hình là mày và thằng Trung phải không? Trước bao nhiêu bạn bè, Trung và Học sĩ diện không nhìn nhận nên tìm cách chống chế. - Mày dùng từ sợ e quá đáng. Thật ra đây chỉ là sự kiêng dè... Cường hùa với Quang “xồm” trêu chọc hai thằng bạn vốn nổi tiếng nhút nhát nhất trong bọn: - Kiêng dè cái quái gì mà đến nỗi mới nghe nhắc đã xanh lè bản mặt. Cứ làm như các hồn ma có quyền sinh sát con người trên trái đất này vậy. Học đối đáp yếu ớt: - Tại mày với thằng Quang xồm chưa từng bị nó nhát nên đâu hiểu được cảm giác sợ hãi khi phải đối diện với một bóng ma. Quang xồm bèn gạn hỏi: - Hai thằng mày biểu đã thấy thì kể xem mặt mũi của chúng ra sao? Trung thật thà: - Cũng giống in như người sống thôi. Có điều họ chỉ là một chiếc bóng mờ ẩn hiện, là khi tỉnh táo thật sự chúng ta không thể thấy. Cường bật cười ha hả: - Theo lời mày nói thì đâu có chi đáng sợ chứ. Hơn nữa mày chỉ thấy lúc không tỉnh... có nghĩa là vào thời điểm nằm mơ. Tao quả quyết chuyện hồn ma không có thật. Quang xồm gật gù, dáng vẻ tán đồng ý kiến: - Không có thật trên đời mà chỉ có do trí tưởng tượng của những kẻ nhát gan dựng lên. Không chịu ngồi yên. Học vội cãi lại: - Tao không nhìn nhận sự phán đoán của hai đứa mày. - Vậy thì hãy nêu ra lập luận của mình, mày đã thấy ma tận mắt chưa? Học đáp thật dứt khoát: - Rồi. Cường hỏi mím: - Có giống như thằng Trung diễn tả không? Học huơ tay: - Khác xa. Bởi con ma tao thấy rất ư là khủng khiếp. Có hình dáng đàng hoàng. - Ở chỗ nào? - Trong bãi tha ma khu đạo Phật. Chẳng biết lời Học là đùa hay là thật, Trung nghe giật nảy người, cậu lắp bắp: - Mày... mày nói... xạo... Học không thèm đính chính, đưa mắt ngó ra màn đêm tối đen ở bên ngoài rồi tự nhích sát vào phía trong, miệng lẩm nhẩm: - Biểu tao xạo thì thôi, tụi bây đừng có hỏi. Để chừng nào tận mắt tụi bây nhìn thấy rồi hãy tin. Quang xồm bèn gạ gẫm: - Mày thấy nó ra sao thì nói để mọi người cùng tưởng tượng. Bằng không, con ma nó sẽ chỉ nhát một mình mày... vì mày biết rõ nó. Sợ thót ruột, nhưng giữa thời khắc sắp sửa không giờ, Học cũng chẳng có lá gan thuật lại hình bóng con ma. Bởi biết đâu bên ngoài thế giới tĩnh lặng đen ngòm kia đang hiện diện một số oan hồn đứng đâu đó theo dõi câu chuyện rồi nổi hứng xấn vào tham gia. Ôi, nếu chúng hiện ra lúc này thì chính mình và thằng Trung đến phải lăn ra mà xỉu mất. Còn bọn thằng Cường, thằng Quang... chắc gì còn tỉnh táo để nhìn rõ mặt con ma. Mà Học cũng cầu mong cho hai thằng bạn dở hơi bị một phen khốn đốn, song chưa phải là bây giờ. Cứ để tội tụi nó đấy! Còn nhiều dịp khiến tụi nó phải thót tim cậu mới nghe. Trong lúc Học còn đang ngồi im, chưa tìm được cách phản ứng thì bất thần có tiếng kêu phát ra giữa năm thằng: - Coi kìa... dường như là lão Tâm đang trở ra. Có lẽ ma quỷ trong nghĩa trang chê lão già rồi chăng? - Như vậy thì tụi mình thua cuộc rồi. - Nhằm gì. Chỉ với một can rượu mà chứng minh được rằng nghĩa trang không có ma thì cũng đáng. Thú thật, tuy chẳng phải là loại yếu bóng vía... nhưng nghe lời đồn đại râm ran tao cũng nhụt chí anh hùng. Bởi công việc của tao thường ngày phải đi bỏ hàng sớm phụ má tao... Không thông cảm với tâm trạng của Cường, Học ti toe cái miệng: - Thế mà nãy giờ mày còn làm ra vẻ có lá gan bự tổ chảng hù thiên hạ. Té ra cũng là con muỗi giống như nhau... Bị Học làm cho quê. Cường thúc cùi chỏ vào hông bạn. Cười ngượng nghịu: - Biết rồi còn la lớn. Tao đâu có dại mà trưng bày chân tướng của mình ra. Học gập người nhưng lại ngước mặt lên đáp trả: - Không dại thì khôn quái gì được khi hai chữ “sợ ma” mày đã viết rõ lên trán rồi. - Hồi nào? - Mới xong. Có tất cả bây nhiêu thằng đây làm chứng. Cường đảo mắt ngó vòng quanh các bạn thấy ai cũng mỉm cười liền câm tịt không dám khua môi, múa mỏ tiếp. Cậu nhường phần cho Quang xồm. - Xếp chuyện thằng Cường sang một bên để đón lão Tâm trở ra kìa. Như là một mệnh lệnh, tất cả năm tên con trai đều đứng lên chống mắt về phía cái đốm sáng đang lập lòe từ đàng xa trông tựa con đom đóm tiến dần đến chỗ họ. Nói về lãoTâm, một ông già ngoài sáu mươi, nát rượu, thường lấy công việc tẩm liệm người chết làm nguồn sống thì ấn tượng về ma với lão chỉ là đùa. Đêm nay lão nhận lời thách thức của bọn trai trẻ đi ra nghĩa trang vào giữa thời điểm không giờ vì can rượu đế hấp dẫn lão. Hơn nữa, lão cũng muốn tận mắt chứng kiến hình ảnh con ma là sao mà người dân trong vùng cứ kháo nhau rùm beng lên khiến nhiều kẻ phải khiếp vía rồi thêu dệt đủ thứ chuyện. Thật ra thì lão Tâm thừa hiểu việc con ma được dựng lên từ miệng lưỡi của những người lắm chuyện, ăn không ngồi rồi chứ chẳng hề có thật. Đời lão đã sống tới ngần tuổi này, tiếp xúc với bao nhiêu xác chết từ bệnh hoạn đến các kiểu tai nạn... thế mà lão đã lần nào trông thấy họ trở về dù chỉ là một chiếc bóng mơ hồ. Theo lão, chết đồng nghĩa với hết... là chẳng còn lại gì ngoài một khung ảnh và nấm mồ thu gọn nơi nghĩa trang lạnh lẽo. Vậy thì ma là cái gì chứ mà con người phải sợ hãi đến như thế? Hôm nay lão nhất định phải minh chứng... Quá mười giờ đêm, sau chầu rượu đã sừng sừng. Lão Tâm khoác thêm cho mình chiếc áo ba đờ xuy đã cũ rồi đốt đèn bão, lão khệnh khạng rời khỏi nhà. Không có ai ngăn cản lão vì bà vợ già của lão đã đi ngủ từ lâu. Mà dẫu còn thức, bà cũng chẳng can thiệp do biết rõ tính nết lão. Màn đêm bên ngoài tối đen và ngập tràn hơi sương tạo nên bầu không khí lạnh bao trùm lấy lão. Nếu không nhờ chất men thấm sâu làm nóng bừng cơ thể thì lão Tâm nhất định sẽ suýt xoa. Nhưng bây giờ thì lão thừa sức để đi ra tới tận nghĩa trang, lão đã nắm chắc phần thắng cá cược với bọn trẻ... Vừa giơ cao cây đèn bão soi đường, lão Tâm vừa hình dung đến can rượu chung độ, lòng lâng lâng thích thú. Mấy thằng nhóc con ấy quả là ngốc mới đi thách đố lão chuyện này. Ngang qua cái quán nước nằm ở đầu con hẻm dẫn vào khu vực nghĩa trang, lão Tâm biết rõ bọn con trai đang có mặt trong quán để quan sát lão nên không thèm ghé vội. Cứ cho chúng ở đó cho tới khi lão trở ra đòi chung độ. Với ý nghĩ như thế, lão Tâm bình tĩnh soi đèn đi thẳng một lèo mà không hề quay đầu lại. Dù đang trong trạng thái say say, tỉnh tỉnh nhưng lão không bị vấp váp lần nào cứ đi như đi giữa ban ngày. Mà khu vực tha ma này đối với lão mọi ngõ ngách đều thân thuộc ngay đến tên tuổi và chỗ chôn người chết lão cũng thuộc nằm lòng. Đã không biết bao lần lão ngủ quên trên mộ vì quá say không còn sức về nhà. Lúc ấy chẳng hiểu có âm hồn nào chui lên khỏi mộ để phá rối giấc ngủ của lão không? Chỉ biết là khi tỉnh dậy, lão thấy mình vẫn bình an vô sự. Đêm nay, lão cũng muốn được ngủ ngoài nghĩa địa nên đã mặc thêm áo ấm. Nhất định sáng mai bọn nhãi ranh kia phải trợn mắt lên mà phục lão khi thấy lão đường hoàng đi trở ra. Lão Tâm nói một mình: - Hà... hà... ta là ma... ma là ta... còn tất cả... chỉ là một lũ ngốc. Đi đến cổng nghĩa trang, lão Tâm bỗng ngần ngừ dừng lại vì sực nhớ mình đã bỏ quên bịch thuốc rê ở nhà. Quay về để lấy chăng? Chỉ e mấy thằng ranh con cá cược viện cớ cho rằng lão sợ ma rồi thì không thèm chung độ. Mà phải nhịn hút thì cũng rất khó chịu nhưng hụt mất can rượu lão Tâm thấy không đành. Thôi thì tìm chỗ nào đó trong nghĩa trang ngủ quách một hơi tới sáng vậy. Với dự định như thế, lão Tâm tiếp tục dấn sâu vô khu vực nghĩa trang Công giáo tìm đến ngôi mộ cô gái chết đuối mà ông đã phụ giúp cải táng dạo nào. Đây là ngôi mộ nhà giàu nên được xây khá lộng lẫy, có mái vòm che mưa nắng trông giống như căn nhà nhỏ. Lão Tâm chọn chỗ này ngủ qua đêm kể ra cũng táo bạo, bởi ngay chính người nhà của cô gái từ khi cải mả lại thấy xác chết không tiêu tan thì rất lấy làm sợ hãi cho rằng đó là điềm dữ. Còn lão Tâm tuy cũng có phần sửng sốt trước sự kiện lạ nhưng lão đã gạt đi những suy nghĩ thường làm bủn rủn tâm trí của con người. Sợ... với lão Tâm thì lão chỉ sợ trên đời này không còn người nấu rượu để cho lão có chất men dung nạp vào cơ thể mình thôi. Còn muôn điều sợ hãi khác không hề có chỗ đứng trong người lão. Chưa vội chui vào bên trong cái mái vòm để đánh giấc, lão Tâm đặt cây đèn bão xuống kệ bình hoa rồi đứng ngay người đảo mắt quan sát khắp khu vực nghĩa địa. Thật bình yên… thậm chí không có lấy một hơi thở mạnh, chỉ toàn tiếng gió, bởi vùng đất tha ma này tọa lạc trên ngọn đồi nên buộc phải chịu đựng sự xâm nhập của bất kỳ ngọn gió lớn, nhỏ nào. Điều ấy không ảnh hưởng tới sự yên nghỉ của những người sớm lìa bỏ cõi đời để đi về với thiên thu. Gió có thể ru họ ngủ say hơn, có thể đẩy lùi bất cứ sự tĩnh lặng để họ không cảm thấy rằng mình đã chết… Bởi từ chết suy diễn ra nghe tàn nhẫn quá vì nó là sự kết thúc của một đời người. Trong bóng tối dày đặc của màn đêm, những ngôi mộ xây có quét vôi màu sáng nổi bật lên trong tầm nhìn của lão Tâm. Chỉ riêng điều này thôi cũng có thể làm đau tim của bao kẻ nhát gan, bởi thật sự mà nói thì trông nó đầy kỳ quái giống như bóng dáng của những hồn ma đang đội mồ lên hòa nhập với thế giới bên trên. Lão Tâm tự hỏi không biết tới bao giờ lão và bà vợ già cũng sẽ được người ta đưa tiễn ra đây. Nực cười thay, lão đang có bụng sợ mình chết muộn phải nằm nơi yên nghỉ không vừa ý vì diện tích đất trống của nghĩa trang ngày càng thu hẹp lại. Ngay những người còn trẻ tuổi dường như cũng biết lo xa như lão nên cứ lần lượt đua nhau ra đi sớm… chỉ trong vòng tuần lễ mà đã có hai, ba đám tang tiễn ra đây xí chỗ. Nghĩ thật tội, có lẽ họ chưa phải là kẻ muốn buông xuôi tất cả để trở về với thế giới hư vô đâu. Nhưng nào ai tránh được sự sinh tử của hóa công. Sống và chết là hai vấn đề tất yếu mà không phải do con người định đoạt. Gió lúc này thổi mạnh hơn làm lá và những nhánh cây bạch đàn kêu lạo xạo tạo thành thứ âm thanh rõ nét như tiếng nhạc đưa hồn trong các buổi lễ truy điệu người đã khuất. Lão Tâm cảm nhận được sự trầm buồn và u uất, càng nghe càng não ruột bi thương. Cần phải đánh một giấc ngủ quên đời thôi. Lão Tâm cố dứt ra khỏi nỗi suy tư về thế sự nhân tình bằng cách khom lưng chui vào bên trong cái mái vòm của ngôi mộ rồi thanh thản ngả người nằm. Một chỗ nghỉ qua đêm khá tốt đây. Nhưng lão chưa kịp nhắm mắt lại thì cơn thèm thuốc lại làm cho lão phải ngồi dậy ngáp dài. Điệu này chắc chắn lão không thể an giấc điệp tới sáng mai, có lẽ phải sớm rời khỏi nghĩa trang để về nhà thôi. Bọn nhóc ấy đâu có cược với lão giam mình ngoài bãi tha ma qua đêm mà chỉ cần qua khỏi giờ thiêng… Cố nán lại đây thêm chút nữa, lão Tâm tự nhủ rồi tiếp tục nằm xuống vắt một cánh tay qua trán lơ mơ suy nghĩ về những chuyện tốt, xấu mà lão từng bắt gặp trong đời. Men rượu thấm sâu làm đôi mắt lão trĩu nặng, cố nhướng lên cũng không nổi trong suốt khoảng thời gian gọi là chờ đợi. Bỗng… có tiếng rên hư hư đập vào tai lão Tâm cùng với cảm giác toàn bộ khuôn mặt mình bị vật gì đó ươn ướt, mềm mềm lướt qua, lướt lại… giống như có người lau mặt cho lão. Nhưng lão nhớ rất rõ là mình đang nằm trên một ngôi mộ ngoài nghĩa địa chứ chẳng phải ở nhà. Vậy thì điều chi đang xảy ra cho lão? Ôi… lẽ nào lão bị ma nhát ư? Không... trên đời này không thể có ma. Lão là một ông già ngoài sáu mươi chứ đâu phải đứa nhóc mà tin vào điều ấy! Lão Tâm muốn vùng dậy để làm rõ sự việc mà lão đang ngờ vực song toàn thân lão như bị đè nặng bởi một động lực nào đó ở bên trên. Không thể cử động được thì cũng phải mở mắt ra để nhìn cho rõ vấn đề. Lão Tâm bắt đầu vận toàn lực vào đôi mắt nhưng bờ mi của lão cứ dính chặt vào nhau. Phải cố gắng hết sức lão mới hé được nó ra để rồi lâm vào cơn khủng hoảng tột độ trước những gì vừa thấy. A... a... lão Tâm thét lên bằng thứ âm thanh bộc phá hết công suất nơi cơ thể lão, vậy mà chẳng hiểu sao nó lại không phát được ra ngoài. Ôi trời... cái gì đang động đậy bên cạnh lão? Một gương mặt bờm xờm gớm ghiếc không hề giống con người gây ấn tượng hãi hùng tột độ chẳng thể nào diễn tả được. A... a... nó là ma hay là một con ác thú vậy? Đôi mắt xanh lè sáng quắc và chiếc miệng rộng ngoác lởm chởm hai hàm răng nhọn dài. Hư... hư... có cả một chiếc lưỡi dài thè ra đỏ ngòm ngòm… dù đang là đêm tối, lão Tâm cũng cảm nhận là thấy rõ màu sắc. Xoẹt... xoẹt. Hư... hư… chiếc lưỡi gớm ghiếc kia nó lại lướt qua mặt lão và buộc lão phải cảm nhận điều mà lão chưa dám hình dung đến. Thì ra... suốt nãy giờ con ma đã dùng lưỡi liếm mặt lão để đánh thức lão đậy. Kinh khủng quá... cả buồn nôn nữa chứ. Lão Tâm nhộn người lên một cái rồi cho tuôn ra hết mọi thứ đang chứa trong bụng. Ộc... ộc... ộc mùi chua nồng lẫn lộn từ các thứ tạp chất đã bị lên men phả lên mũi càng khiến lão Tâm phải tởm lợm dùng hết sức mình vùng lên để thoát khỏi sự khống chế của con ma. A... a... a... khi lão Tâm thật sự tỉnh táo lại nhận định vấn đề thì chung quanh lão chẳngcó gì ngoài cây đèn bão vẫn còn le lói ngọn lửa sáng đặt ở phần chân ngôi mộ. Lão bật hỏi thành tiếng: - Phải chăng ta đã quá say rượu nên chưa ngủ mà nằm mơ? Nhưng rồi lão gạt ngay cái thắc mắc ấy vì bàn tay lão đang sờ soạng phải cái hợp chất nhầy nhầy mà lão vừa ói ra. Lão khẳng định mau chóng: - Những gì vừa xảy ra là đúng sự thật! Nói xong, lão lại đâm hoảng sợ rùng mình nhìn dáo dác lung tung. Bởi nếu lão cho đó là thật thì chẳng phải lão vừa bị ma nhát sao? Mà con ma nào gớm ghiếc hết chỗ nói, thuộc vào loại đã thành quỷ chứ không phải là hồn ma bình thường. Theo như đạo Công giáo thì là kẻ chết dữ nên không được hưởng sự sáng láng... Nghĩ tới đây, cơn đờ đẫn còn sót lại do men rượu chợt tan biến. Lão bật dậy chộp lấy cây đèn bão rồi quay lưng bỏ chạy trở ra khỏi khu nghĩa trang đầy huyền bí hoặc đang lặng chìm trong màn đêm bí ẩn, lần đầu tiên trong đời lão Tâm biết khiếp sợ sự vô hình. Vừa nhìn thấy rõ bóng lão Tâm bước vào trong tầm sáng của ánh điện hắt ra, cả bọn đã nhao nhao: - Thế nào, lão có nhìn thấy gì không? Dưới ánh sáng lu mờ chỉ nhìn thấy người chứ không thể quan sát được sắc diện, lão Tâm hoạt động đôi mắt một cách chậm chạp ngó lướt qua từng đứa trong số bọn trai trẻ thách đố lão rồi buông câu ngắn gọn: - Có ma... Cường lanh chanh nói giành bạn: - Lão đang nhạo tụi mình đó. Siêu đồng tình với Cường: - Chắc chắn là như vậy rồi. Bởi nếu có ma thật thì lão đâu thể nào bình tĩnh như vậy được. Học khẳng định thêm vô: - Phải rồi. Không ai có thể thản nhiên khi nhìn thấy ma thật sự cả. Lão đang hù chúng ta. Chẳng phản ứng lại lời nào trước những câu nói hoài nghi của bọn con trai, lão Tâm im lặng buông xuôi tầm mắt rồi lẳng lặng bỏ đi thẳng một lèo mặc tiếng kêu réo om sòm ở phía sau: - Lão Tâm... lão không nhận can rượu thắng cược sao? - Lão thấy ma hay không thì cũng phải kể lại chứ. - Về chi vội... vào quán uống ly trà nóng đã nào. Lão Tâm... từ từ chờ thằng Học nó về chung. Vẫn không quay đầu lại, lão Tâm lầm lũi băng mình vào bóng đêm với cây đèn bão lúc này đã tắt ngấm do Quang xồm nghịch ngợm thổi tắt. Trông lão giống như một hồn ma vừa đi ra khỏi nghĩa địa. Trung rùng mình quay bảo Siêu: - Thật xui xẻo cho kẻ nào đụng phải lão lúc này. Có thể chết giấc vì sợ mất. Học nghe được hích tay Trung: - Đại thể là mày. Trung phản bác lại Học: - Mày thì hơn gì tao mà bày đặt. Học chống chế yếu ớt: - Tao... đỡ... đỡ hơn mày nhiều. Trong lúc Trung bĩu dài môi khinh thường Học thì Siêu nói với Quang xồm: - Thái độ của lão Tâm thiệt là kỳ. Lão thắng cược sao không chịu nán lại nhận phần rượu chung độ? Quang xồm hơi nhăn trán: - Tao cũng như mày làm sao mà biết được. Chắc tại lão cao ngạo muốn tụi mình phải mang can rượu qua tận nhà, chứ không thèm tự xách về. Đã thế cho lão nhịn thèm tới chừng nào đòi mới chung. Lời Quang xồm đưa ra cả bọn đều nhất trí: - Đúng. Cứ giữ y ý kiến... chỉ cần một ngày không có rượu, lão Tâm khắc sẽ tự tìm tụi mình. Siêu che tay lên miệng ngáp: - Bây giờ thì về thôi chứ ngồi lại đây chi nữa. Chủ quán đòi đóng cửa nãy giờ rồi. Tiếp theo là tiếng gà gáy râm ran trỗi lên nhưng vẫn không xua đuổi được màn đêm đen kịt và khí lạnh của sương đêm làm ẩm ướt lên vạn vật. Học than thở: - Chỉ có mình tao phải đi riêng một ngã, đứa nào cầm theo đèn pin thì đưa đây. Nghe thấy vậy, Trung vội dúi cây đèn đang cầm vào túi quần rồi phẩy tay: - Đời nào có chuyện ấy. Giao đèn cho mày, tao lấy gì soi về nhà? - Tụi mày những bốn thằng cùng đi chung một đường, cần chi phải soi đèn! Trung cố tìm lời viện cớ: - Không soi đèn lỡ gặp ma tưởng người tới bá cổ làm quen thì kể như toi đời. Sự vô tình của Trung làm cho Học nổi da gà. Cậu lấm lét nhìn màn đêm rồi trách cứ: - Thằng khốn đã không cho mượn đèn mà còn bày đặt hù dọa hả? - Tao không dọa mà nói sự thật. Mày ngó coi, trời tối đen thế này không có đèn sao đi được về nhà. Hơn nữa tao lại còn mắc bệnh quáng gà. - Bệnh đâu ra bất tử vậy? Tao nhớ má mày thường khen mày sáng mắt, ban đêm cũng có thể xỏ kim được. Trung chớp mắt cãi chính: - Mày nghe lộn thì có. Đó là má tao khen con nhỏ em gái tao. Trước tình cảnh phải một mình một đường mò mẫm trong đêm tối, Học khổ sở gãi đầu: - Mày thông cảm ưu tiên cho tao đi Trung ơi! Chứ bây giờ mà không có đèn pin dứt khoát tao chẳng thể nào về nhà cho được. Trung hừ mũi: - Sịt… sịt cứ làm như mày hổng phải là người sinh trưởng ở đây vậy. Nếu thích đi lạc thì cứ việc, không cần lu loa lên cho cả bọn biết đâu. Siêu khẽ giễu: - Chắc thằng Học nó muốn tụi mình biết rõ sự việc để lỡ nó có bề gì xảy ra còn dễ tìm. Cường bất ngờ lên tiếng: - Cũng chưa nói chắc được. Ngộ nhỡ nó đi đêm một mình bị hồn ma nào đó bắt đem giấu thì có trời mới biết. Nhất là ma con gái đồng trinh tự tử chết rất hám chọc ghẹo bọn trai tơ như tụi mình. Từ trong ruột Học, cơn run sợ đã bắt đầu hình thành nên cậu không ngăn được cái thụi mạnh vào bụng bạn khiến Cường la bai bải: - Úi… đau tao... thằng quỷ sứ. - Cho mày chết. Chừa cái tội làm teo gan kẻ khác chưa? - Hừm... sợ ma thì muôn thuở vẫn là sợ ma, dẫu có đứng bên cạnh nhiều người, bộ đồ lòng của mày vẫn co thắt. Bị nói đúng tim đen, nhưng Học cứ gân cổ lên để cãi: - Mày đã thấy chưa mà đã dám to mồm nói xấu tao như vậy? Ma là cái quái gì mà phải sợ... Chẳng phải lúc nãy lão Tâm đã một mình ra nghĩa địa rồi trở về an toàn đó sao? Tao cóc tin trên đời này có loại hiện hữu vô hình đó! Quang xồm luôn là kẻ đế lời vào: - Không tin thì mày cần chi phải mượn đèn, cứ can đảm xuyên thủng bóng đêm mà về. Thoạt nghe, Học run lên tựa như đang bị sốt. Thấy thế, Quang xồm đưa tay vuốt má bạn cười khì: - Coi bộ trời lạnh lắm sao mà răng miệng mày đánh bọ cạp lên vậy Học? Học cố nén để giọng nói không bị lạc đi: - Tại người tao không được khỏe nên đứng ngoài trời sương nó phản ứng. - Tội nghiệp cho mày quá. Mau về đi kẻo đổ bệnh bây giờ. Nghe Quang xồm hối thúc, song đôi chân Học không tài nào cử động được. Cậu cầu cứu đến Siêu: - Hay là mày qua ngủ chung với tao để tao khỏi bị bà già la. Siêu nguây nguẩy từ chối: - Ngủ chung với mày thà tao chịu khó thức hết đêm. Người gì đâu mà ngáy như sấm, nằm kế bên ai mà chợp mắt nổi. Mày e bị mắng thì cứ về một mình, sáng mai tao sẽ tới thanh minh cho. Mặt mũi Học giống hệt khỉ bị cho ăn ớt: - Chờ sáng mai mọi chuyện đã nguội tao cần chi mày nói hộ? - Vậy thì cứ nhóng tai lên coi đó là lời ru mày sẽ thấy cũng dễ ngủ. - Xúi bậy. Trời đã về sáng rồi, còn nhắm mắt được bao lâu? Chi bằng để tao theo mấy thằng mày đi chơi luôn tiện thể. Biết tỏng Học không dám về một mình nhưng vì cơn buồn ngủ đang ập đến nên chẳng ai còn hào hứng để chọc ghẹo. Cả bọn thay nhau ngáp rồi cũng kéo thành hàng đi trên con đường đất rộng trở ngược vào trong xóm. Học bị đẩy tuốt luốt ở phía sau cố lấn đi lên ngang hàng với Trung, song vướng phải Quang xồm nên mãi vẫn thụt lùi bên dưới. Chợt Siêu hắng giọng nói: - Sắp tới chỗ bụi tre nhà ông Cần rồi đó nghe tụi bay! Như thể bị tạt vào người gáo nước lạnh đột ngột, tất cả đều cảm giác mình rất run. Nhất là những kẻ chẳng lấy gì làm bạo gan như Học với Trung tỏ ra điếng hồn khi một tên nào đó trong bọn bất ngờ la lớn. - Chạy... Không ai bảo ai, những đôi chân dài xoải nhanh để vọng lại phía sau âm vang của những tiếng nện nghe bình bịch... Mãi tới lúc có người không thể thở nổi dừng lại hào hển hỏi thì cả bọn mới chấm dứt cuộc đua bất tử này. Trung lên tiếng: - Mày vừa thấy gì nơi bụi tre vậy hả Siêu? Siêu vừa ngáp vừa bịt miệng: - Y như có ma ấy! Tự nhiên tao nghe đằng sau gáy lạnh tựa bàn tay ai chạm vào. Nghe nói thế, hai kẻ thấy toàn thân bủn rủn đồng thanh kêu: - Hớ... một đám đông như vầy mà ma cũng dám xuất hiện để nhát ư? Quang xồm cúi mím môi trong màn đêm. Cậu dọa thêm: - Đã là ma thì còn có gì không dám chứ? Lần này thì Cường đồng hội, đồng thuyền với Trung và Học. Cả ba cứ chụm vào nhau, thậm chí giẫm cả lên chân nhau nhưng không có một tiếng rên. Cho đến khi Học bước bỗng một chân xuống ổ gà té quỵ thì Trung hốt hoảng: - Ma... ma... Thêm một phen tháo chạy loạn xạ khiến mọi người tách rời nhau. Chỉ riêng Quang và Siêu là cùng chung một đường, còn Trung, Học, Cường thì mỗi người chạy một hướng bởi nơi họ xuất phát cuộc thi maratông bất đắc dĩ là một ngã tư đường. Khi định thần dừng lại cả ba con thỏ đế này cũng dở khóc, dở cười vì phía trước họ chạy tới không phải là con đường về nhà mà là lối dẫn ra bãi tha ma và những chỗ hoang vắng đầy ấn tượng. Sáng nay, Quang xồm chưa kịp ngủ dậy thì đã bị Siêu đến đánh thức một tin giật gân: - Dậy... mở mắt mau… thằng lười. Có một vụ án mạng rất nghiêm trọng xảy ra trên địa phương mình. Chưa thật sự tỉnh táo vì giấc ngủ muộn màng đêm hôm qua nên giọng Quang xồm nghe ngầy ngật: - Đứa nào chết? Thằng Trung... thằng Cường... hay thằng Học…? Tức thì Quang bị lãnh một cái tát đau điếng nên phải mở hẳn mắt ra và nhổm dậy: - Đồ khốn... ai cho phép mày nặng tay với tao thế? Chửi xong. Quang xồm thanh minh: - Gần sáng mới ngủ được một chút lại còn đến đây quấy rầy. May mà tao đã nhìn thấy mày, thu hồi “ngũ lôi chưởng” lại... Nghe nói, Siêu vội lùi ra xa: - “Ngũ lôi chưởng” của mày cất để dành chừng nào xảy ra sự cố hẵng xài. Bây giờ, mau đánh răng rửa mặt đi với tao tới nhà mấy thằng kia. Quang xồm hấp háy đôi mắt, nhìn Siêu bằng nét mặt nghiêm trọng: - Nói vậy có án mạng thiệt hả? Siêu gật mạnh đầu: - Thiệt! Bộ nãy giờ tao nói giỡn với mày sao? Đôi mắt Quang trợn ngược: - Thế có nghĩa là... một trong ba thằng kia đã bỏ chúng ta? Đến lượt Siêu kinh ngạc há hốc mồm: - Mày vừa nói cái gì? - Thì chẳng phải thằng Trung, thằng Học hay thằng Cường bị chết ư? - Nguồn tin từ đâu thế? - Chính mày đã nói lại còn bày đặt hỏi nữa hả? - Ê, đồ vu khống. - Sao chối mau vậy thằng quỷ sứ! Dù đang ngái ngủ tao cũng nghe thật rõ ràng là... Siêu ngắt lời Quang xồm: - Rõ là cái đầu bư nhà mày. Thử nhắc lại nguyên văn coi. Quang xồm xoa chiếc cằm có đầy những cọng râu lún phún, nheo mắt nói: - Bộ nhớ của tao thuộc loại tốt nên nó đã ghi âm lại lời mày vào đây không sót chữ nào. Hãy nhóng tai lên mà nghe đây nè. Chẳng phải mày đã nói... dậy mau, có một vụ án rất nghiêm trọng xảy ra... Siêu bật cười khanh khách bật dậy chận ngang lời tường thuật của Quang xồm: - Há… há... há... thế mà cũng tự cho rằng mình thính tai, tỉnh táo. Tuy là tao có nói như vậy nhưng đâu phải biểu thằng ôn dịch kia chết chứ. Mà nó chết vì cái gì được chứ? Quang xồm nhún vai nói: - Sợ ma. Chẳng phải đêm hôm qua tụi nó bị thót tim đến mấy lần đó sao. - Tao với mày cũng có khác gì đâu nào. Vắt chân lên cổ chạy chối chết đến nỗi rơi cả dép. Sáng nay tao mới vừa tìm được. - Rồi sao mày tin... có án mạng xảy ra đâu đó? Siêu tròn vo chiếc miệng: - Tin tức nóng hổi tao vừa nhận được cách đây nửa tiếng. Một vụ án chết người rất khủng khiếp. Quang xồm ngắt lời Siêu: - Nói mau lên, đừng dài dòng làm tao nôn nóng. Người chết kiểu gì mà mày cho là khủng khiếp hả thằng nhóc! Siêu ném về phía Quang xồm một cái nhìn nặng như đá: - Nhóc... mả tổ nhà mày! Lớn hơn tao được bao nhiêu tuổi mà ra vẻ “ông già” vậy? Mày muốn hiểu từ khủng khiếp tao dùng có đúng không thì hãy mau lẹ lên. Dáng điệu của Quang xồm lề mề như thói quen vốn có khiến Siêu phải nhấp nhổm kêu lên: - Trời đất. Chờ mày ra khỏi nhà thì hiện trường vụ án đã xong xuôi. Biết thế, tao qua rủ ba thằng kia đỡ mất công đứng đợi. Đã quệt kem vào cây bàn chải đánh răng, Quang xồm còn buông xuống tự ái: - Hối hận thì biến đi... cũng đâu có muộn. Tao còn đang muốn nướng tới trưa đây. Siêu đột nhiên năn nỉ: - Ngủ thì lúc nào mà hổng được... nhưng chuyện gay cấn thì lâu lâu mới xảy ra một lần. Tao xin mày đừng có làm hụt hẫng sự háo hức của tao. Nào, cầm bàn chải lên đánh răng đi. Bị Siêu ép, Quang xồm vừa cà sát chiếc bàn chải vào răng vừa càu nhàu: - Rõ lắm chuyện. Cứ làm như cả đời mới nhìn thấy người chết một lần vậy. Theo tao... nhìn thấy ma ép phê hơn. Thật bất ngờ, Quang xồm làm cho Siêu giật gân: - Ê hê... tao không đồng tình với lời ước mong của mày đâu nhé, thằng râu quai nón bờm xờm kia. Đúng là đồ khùng điên. - Mày né tránh kiểu nào thì người chết rồi và ma cũng là một. Siêu cố cãi: - Tao biểu khác. Quang cũng không chịu thua: - Không thể khác mà hoàn toàn đúng nữa, thằng chết nhát kia ơi. Vì người chết rồi thì hồn lìa khỏi xác, mà đã lìa khỏi xác tức thì đã thành ma. Tuy đã biết rõ ràng như thế, Siêu vẫn trợn mắt lên tựa đứa trẻ bị người lớn hù dọa. Giọng cậu nghe thảng thốt: - Thật thế ư? Quang khẽ lườm: - Còn phải giảng giải nữa sao. Mày giả ngây không giống đâu. - Vậy tao đếch cần đi coi nữa. Ngộ nhỡ cái hồn ma mới toanh ấy trông thấy tao đẹp trai kết môđen thì khổ đời. - Nói tầm phào, gặp xui biến thành thiệt thì tha hồ trắng mắt. Thôi, đi nào. Tự nhiên Siêu làm mặt ngẩn ngơ: - Đi đâu? Quang hậm hực: - Thằng này buồn cười thiệt. Liệu có phải là con ma ngụ ở bụi tre nhà ông Cần đã nhập vào người mày? Siêu nói giọng xìu xìu: - Làm gì có chuyện ấy. Tao biết mình vẫn còn là thằng Siêu, còn mày là Quang xồm đây mà. - Vậy mà tao ngó bộ dạng mày cứ tưởng đã thành người cõi trên rồi chứ. - Hứ. Không tranh cãi thêm nữa. Quang với chiếc áo mặc vào người rồi khoác tay bạn đi ra. Bên ngoài mặt trời đã lên cao tỏa sức nóng hầm hập làm tan biến làn khí mát buổi sáng. Siêu đưa tay xoa mặt: - Tại mày rùa nên mới muộn thế này. Quang hóm hỉnh: - Bộ mày sợ người ta chia mất phần thịt của người chết hay sao? Siêu rùng mình: - Mày nói nghe gớm quá. Tao chỉ tò mò muốn nhìn xem họ chết như thế nào thôi. - Thì cũng trợn mắt, lè lưỡi, mặt trắng bệch ra chứ có gì lạ đâu. Để tao làm thử cho mày coi. Không chờ Quang kịp phát ra những động tác làm mình phải rợn tim, Siêu gạt đi: - Tao không coi. Quang xồm cười hì hì: - Ghé rủ thêm ba thằng kia nữa chứ. Siêu lại tiếp tục phẩy tay: - Thôi đừng, mắc công mình làm tụi nó ăn ngủ không ngon rồi lâm vào hội chứng tâm thần thì phiền toái. - Chà, có lòng tốt quá hén. Nhưng tao bảo đảm ba thằng nó nghe được không cám ơn mày đâu. Hổng chừng còn bị chúng nó mắng. - Quang xồm ơi... nãy giờ mày đã ngốn của tao bao nhiêu là thời gian rồi đó! Thây kệ chúng... mình phải nhanh chân chạy tới chỗ xảy ra án mạng đi. Nói rồi Siêu lôi thốc Quang chạy thật nhanh mà không cho bạn có thời gian trì hoãn bằng câu chuyện nào nữa. Năm phút sau, cả hai đã đến hiện trường vụ án là một bãi đất trống thường thanh vắng cả ngày lẫn đêm vì ít người qua lại. Tuy hai cậu tới muộn nhưng tử thi người chết vẫn còn nằm ở đó nên họ mặc sức nhìn. Nạn nhân là một cô gái có nhan sắc, dáng vẻ bề ngoài cũng rất sang, đã chết trong tư thế nằm nghiêng gục vào cái gò trông tựa như nhân vật trong cổ tích trầu cau mà khi còn bé vẫn thường nghe kể. Siêu gợn lên cảm giác ơn ớn, nói nhỏ vào tai Quang: - Cô gái này chết uổng quá há mày. Quang xồm tưng tửng chọc: - Mày thấy “uổng” thì chạy tới khều cổ lệnh cho sống lại đi. Siêu vừa dậm nhẹ đôi chân vừa khe khẽ la bạn: - Mày tính hại chết tao sao thằng khốn, ở chỗ này đừng có dại mồm, dại miệng nghe. - Sợ thì về quách đi, đứng sớ rớ đây làm chi? Bị Quang đuổi, Siêu rất muốn nổi nóng nhưng không dám đành dịu giọng hòa bình: - Mày làm ơn đừng tước đoạt sĩ diện đàn ông của tao trước mặt bàn dân thiên hạ chứ. Ở đây có biết bao người hiếu kỳ, chẳng lẽ thêm tao nữa là thừa sao? Quang xồm vẫn luôn miệng làm bực Siêu: - Tất nhiên là không thừa nhưng nhìn bộ dạng mày tao thấy mắc cở quá. Thanh niên trai tráng gì mà vừa gặp chuyện giật gân mặt mũi đã xanh lè. Không tin ư? Tìm tấm kính mà soi thử, biết đâu chừng mày lại là mục tiêu được chọn của hồn ma cô gái kia. Quá sợ hãi bởi lời nói năng không kiêng nể của Quang, da mặt Siêu chuyển từ xanh sang tái xám. Cậu lắp bắp: - Mày... im đi... thằng trời đánh. Có ngon thì tự chuốc lấy vạ cho mình đi đừng đổ nó qua tao. Quang xồm thọc hai tay vào túi quần, nghênh mặt: - Sợ gì nào. Chỉ sợ cô ta chê tao xấu vì có hàm râu quai nón. Phàm thì con gái thường ưng mấy thằng có dáng dấp thư sinh giống như mày. Siêu cố phình to lá gan mình một lần để đối chọi lại: - Nếu được thế thì tao cũng hân hạnh tiếp ứng ngay. Xem ra cô gái này cũng khá đẹp đấy chứ. Vừa nói Siêu vừa liếc qua cái xác đang được bộ phận khám nghiệm tiến hành công việc mổ tử thi tại chỗ để lấy kết luận điều tra. Tự nhiên Siêu lùi dần ra xa vì cậu cảm thấy mình không có đủ can đảm để chứng kiến những điều mà người ta thường cho là rùng rợn. Khi Quang và Siêu về đến nhà thì bọn Trung, Học, Cường cũng lò dò đến nơi. Vừa hạ mông xuống ghế ngồi, Học đã rên la ỏm tỏi: - Khốn kiếp thật... đêm qua đứa nào thét lên tiếng “ma” làm tao chạy bán sống bán chết đến độ giẫm cả vào hàng rào kẽm gai rách cả quần và trầy trụa tay chân, phải đi chích ngừa phong đòn gánh, vừa đau vừa tốn mấy chục ngàn. Quang ngó Trung cười khục khặc: - Chính nó. Chẳng lẽ mày không biết thủ phạm đang ngồi kế bên sao? Thấy ánh mắt Học dán vào mình. Trung vội vàng nhổm dậy nhưng đã bị Cường ấn xuống với lời trấn an: - Nó hỏi thế chứ có nhai sống được mày đâu. Tao cũng là nạn nhân của tiếng la hoảng đêm qua vậy. Mày nhìn đây, chân tao bị trẹo phải cột dây đây nè. Khuôn mặt Trung méo xẹo: - Tao đâu có muốn làm cho mọi người ra nông nổi... chỉ tại tao đã nhìn thấy ma thiệt mà. Quang xồm tiến lại gần vuốt mũi Trung, điệu bộ hơi hợm hĩnh: - Mày biểu thấy ma thì miêu tả lại cho cả bọn nghe coi. Tiếng Trung hơi đứt quãng: - Thì... đại để... nó là… cái khối đen hoặc trắng... lẫn lộn trong bóng đêm. Vừa nghe qua, Quang xồm đã cười ngả nghiêng đến nỗi xô Siêu té xấp mặt xuống bộ phản. - Hắc… hắc... nếu kết luận theo sự mô tả của mày thì ma và người phải nhiều ngang với nhau. Trung chưa hiểu ra nên lập cập kêu lên: - Lời mày làm tao nghe phát ớn, dân số người và ma mà bằng nhau thì ngày tận thế tới gần rồi. - Đó hoàn toàn là do mày nói chứ hổng phải tao à nghen. Ai biểu mày tự cho mọi khối đen hoặc trắng nhìn thấy được trong đêm đều là ma. Bị vặn lại, Trung lắp bắp cải chính: - Tao… đâu có... kẻ thu gom tất cả chính là mày. Siêu lóp ngóp bò dậy, bênh vực Trung: - Phải đó... tao làm chứng thằng Quang xồm thổi phồng câu chuyện. - Thì sao nào? Mày chỉ giỏi tài gió bên nào nghiêng bên ấy. Tao cầu vong hồn cô gái vừa chết ở cái gò bám theo mày để mày được nếm chút mùi vị của sự sợ hãi là như thế nào. Lời Quang chưa kịp dứt thì toàn thân Siêu đã toát ra chất nước làm cơ thể cậu nghe lạnh cứng. Thật khốn kiếp... tại sao thằng Quang lại cứ nhè mình mà chọc thế! Siêu chửi thầm trong bụng, song ngoài miệng phải van xin: - Tao lạy mày Quang ơi! Mày muốn đùa kiểu nào cũng được, nhưng đừng đụng chạm tới vong linh của người ở thế giới bên kia. Bởi nếu họ mà sống khôn thác thiêng thì chúng ta sẽ không được yên thân đâu. Âm giọng của Quang xồm oang oang: - Mẹ kiếp. Mới chỉ nói như thế mà mày đã sợ vãi đái rồi ư. Cùng lắm bị vật chết sớm vài năm làm con ma trai tráng còn hơn là trở thành hồn ma lão. Chân tay Siêu run lẩy bẩy thấy rõ: - Mày càng mở miệng thì lại càng phạm thượng. May mà đã về nhà rồi chứ còn đứng ở chỗ gò tao tin chắc mày sẽ bị phạt nhãn tiền ngay tức khắc. Vốn bản tính ngang ngạnh nên Quang xồm ưỡn ngực: - Tao cóc sợ. Mày nhìn coi tao có phải là loại chết nhát như mày không? Siêu tức khí nói thách: - Không chết nhát thì trở lại chỗ cái gò mà cầu hôn với ma cô gái. Tao nhận thấy mày có vẻ xứng đáng làm rể Diêm Chúa đấy! Quang xồm không nhún nhường mà vỗ cả hai tay vào ngực mình: - Tất nhiên bộ vó của tao phải ngon cơ hơn mày rồi. Thoạt đầu tao cũng đã có ý định này... - Thì bây giờ cũng chưa muộn, mày lập tức quay lại cái gò ấy đi. Đang ngồi im. Học vội bật dậy can gián Quang khi thấy thằng bạn dợm đứng: - Không còn gì ở đó nữa đâu mà mày định tới. Lúc nãy tụi tao đến nơi nhưng xác chết đã được đưa đi rồi. Điệu bộ Quang xồm thật buồn cười do chiếc miệng ngoác lớn: - Ủa, sao đưa đi mau dữ vậy? Mới vừa xong, tao và thằng Siêu còn thấy mà. Nghe qua Siêu thở phào tựa như người vừa trút xong một gánh nặng quá tải: - Vậy là tốt. Cô ta được gia đình đưa về chôn cất, không phải trở thành một oan hồn vất vưởng lang thang rồi nghịch ngợm đi trêu ghẹo người ta. Chộp lấy câu nói của Siêu, Quang xồm lại tiếp tục hù dọa: - Tao cam đoan xác đi chứ hồn thì chưa đi. Tụi mày muốn chứng minh thì theo tao đi ra đó! Mặc cho Quang xồm thúc giục, không một ai trong bọn đồng tình với cậu trong trò đùa này nên tất cả đều ngồi im đưa mắt ngó nhau. Quang nôn nóng quát tướng: - Bộ tụi mày mọc rễ xuống ghế hết rồi ư? Học nhích người thật nhẹ: - Tao không mọc rễ mà bị đau chân. Cường vội vàng lên tiếng: - Tao cũng thế. Bị trật gân như vầy đi đứng thật khó khăn. Thấy ánh mắt Quang quét qua mình, Trung gợn lên cảm giác ớn lạnh nhưng vẫn bị tóm gáy: - Còn mày thì sao “thỏ”? Vịn vào thái độ coi thường ấy, Trung phản ứng liền tay: - Nếu bị coi là thỏ thì tao đâu cần phải dời gót ngọc theo mày. Quang đẩy mông Trung buộc đứng dậy: - Dẫu là gì thì mày cũng không thể khước từ. Thêm một người là thêm một thành viên. Trung le lưỡi liếm vành môi khô khốc: - Tao rất dị ứng với những trò đùa quái đản của mày. Nếu khoái làm chuyện hơn người thì mày cứ việc sôlô một mình, làm ơn tha giùm bọn tao đi đừng lôi đứa nào vào cuộc. Nghe Trung bảo thế, Quang lập tức chửi thề: - Mẹ kiếp... có một đám bạn nhút nhát như tụi mày thật là hổ thẹn. Thanh niên trai tráng gì vừa nghe lạnh gáy đã co thắt ruột gan, chân run không bước nổi. Mẹ kiếp... coi tao đây, thằng Quang xồm này chưa hề biết sợ một thứ gì. Tao sẽ tự tới chỗ cái gò một mình xem hồn ma cô gái ấy có dám hiện ra nhát tao không. Mỗi lời của Quang xồm thốt ra đều gây khó chịu và làm tăng thêm cơn sợ nơi các bạn, song vì hiểu rõ cá tính ương ngạnh xưa nay của nó nên chẳng ai thèm can gián. Rất lâu sau, Siêu mới nói: - Mày cứ việc làm theo ý mày muốn, chỉ xin đừng để liên lụy đến bọn tao. Quang xồm tống cho Siêu một cái đạp thật đau: - Thứ nửa mùa như mày hãy coi chừng. Thường thì các âm hồn chỉ thích bám theo những kẻ vừa tỏ ra mình bạo, lại vừa nơm nớp để lòi cái nhát chứ không ưa đứa cứng đầu hoặc có lá gan bong bóng trời mưa. Siêu cố tình nổi giận để tìm cơ hội thoát thân. Cậu trừng mắt quay phắt người ra cửa: - Tao đếch thèm đứng đây để nghe mày lảm nhảm những câu điên khùng nữa. Về nhà phi một giấc tới chiều cho nó sướng cái đời. - Ai cho... ai cho phép mày về...? Quang xồm không để yên toan nắm áo Siêu kéo lại nhưng cậu đã nhanh chân chạy thẳng một mạch mà chẳng hề quay đầu. Còn lại bốn thằng, Quang xồm đảo mắt một lượt rồi to giọng: - Trong số tụi bay có đứa nào ủng hộ tao? Chỉ có những đôi mắt mở to lên nhìn Quang chứ hoàn toàn không có câu trả lời nào đáp lại. Tức tối Quang phồng mồm lên chửi toáng: - Đồ chết nhát cả lũ. Tao thề rằng nếu vắn số hơn tụi bay, tao nhất định không để cho một đứa nào yên thân. Đúng là một câu thốt hàm hồ nhưng lại khiến cho Trung, Học và Cường bị một phen rung động. Cả ba cậu không lên tiếng nhưng trong lòng thì đua nhau mắng thầm thằng bạn ngỗ ngược chẳng hề biết kiêng nể là gì. PHẦN II Riêng Siêu, dù đã về đến nhà rồi mà cậu vẫn bị ám ảnh mãi những câu nói đùa tai quái của Quang xồm nên đem nó vào giấc ngủ trưa ngắn ngủi. Và thế là cậu phải trải qua một phen khốn đốn, hãi hùng tới mức ngất xỉu ngay cả trong cơn mơ. Lúc tỉnh dậy, Siêu ngơ ngơ ngẩn ngẩn đặt tay vào đáy quần bị ướt rồi tự hỏi: - Mình đã nằm ngay chỗ dột trời mưa chăng? Nhưng dường như bên ngoài trời đâu có mưa. Thế chẳng lẽ... Lớp da mặt Siêu chợt nóng ran với ý nghĩ mình vừa tiểu ra quần. Mà làm gì phải đến nỗi thế kia chứ. Nhìn lại mình thấy toàn thân vẫn còn đang run bần bật, Siêu mới sực nhớ tới giấc mơ. Thật quái đản, cậu không thể hình dung nổi điều gì đã xảy đến với mình. Ôi... tại sao cô gái ấy lại xuất hiện trong giấc ngủ của cậu? Mà lại y hệt như lúc cậu nhìn thấy cô ta nằm ngoài gò. Một đầu tóc rũ rượi... đôi mắt mở trợn trừng... khuôn mặt tím ngắt... lưỡi lè ra khỏi hàm răng... ôi khiếp quá. Phải chăng cậu đã đi xem rồi ấn tượng luôn hình ảnh đó vào đầu? Hay là... bởi tại thằng Quang xồm buông lời xúc phạm, cậu là bạn nó nên bị vạ lây? Tiêu đời mi rồi Siêu ơi! Không khí buổi trưa đang nóng bức vậy mà với riêng Siêu cậu vẫn cảm thấy lạnh. Một cái lạnh bao trùm lấy cậu từ trong đến ngoài khiến toàn thân cứ co rúm, rồi phát ra những cái run bần bật không thể nén nổi. Siêu không dám ở trong buồng một mình. Cậu để nguyên chiếc quần ướt chạy luôn ra ngoài rồi đụng phải đứa em gái. - Úi... làm gì mà tông người ta chí mạng vậy? Trong lúc Siêu chưa kịp phân bua thì con nhỏ bỗng phát hiện kêu lên: - Ủa, nước ở đâu nhỏ xuống? Ui chao... quần anh Siêu bị ướt. Siêu thật sự hết hồn cũng như lúc cậu mơ thấy mình gặp ma, ngọng miệng không nói năng gì được. Sau cùng thẹn quá cậu đánh quát khỏa lấp: - Ướt kệ tao... can chi tới mày mà thắc mắc. Con nhỏ đương không bị mắng trố mắt lên ngó Siêu lạ lẫm. Nó thốt ra một câu làm cậu nhảy nhổm người: - Trời ơi... anh Siêu đái dầm giữa ban ngày. Toan tát vào cái miệng đáng ghét của đứa em một bạt tai về tội không biết giữ sĩ diện cho người khác nhưng Siêu kịp thời thu hồi cơn nóng lại, chỉ la nó câu ngắn gọn: - Im mồm! Nhìn sắc diện cau có của anh trai, con nhỏ không dám nói thêm câu nào nữa mà vội đưa bàn tay che miệng. Cử chỉ của nó khiến Siêu phải bật cười, song cậu cố nén bằng cách bậm môi không cho nhỏ em nhìn thấy. Phóng nhanh vào nhà tắm với chiếc quần đùi quơ vội ở sào phơi, Siêu đóng sập cửa rồi xối nước. Thật tệ hại, sao lại xảy ra chuyện này kia chứ. Nếu như có ai hay biết được, Siêu còn mặt mũi nào đặt chân ra ngoài đường. Cần phải ngăn chặn ngay nhỏ em gái lại vì cậu biết nó cũng thuộc loại ruột để ngoài da, sẽ mau chóng loan tin cho cả nhà. Nghĩ đến chuyện sẽ bị quê, Siêu tắm rửa thật nhanh rồi ung dung bước ra tìm đứa em gái và cậu khựng lại ngay lập tức. Đúng là đồ con gái lẻo mép, cậu đỏ mặt nhìn thấy nó đang thì thầm vào tai một đứa con gái khác điều gì đó bỗng ngưng ngay, lấm lét nhìn cậu ló đầu ra. Thế này thì chuyện xấu đã bị lộ, Siêu trừng mắt lên với cả hai đứa khiến chúng im thin thít. Cậu dằn mặt: - Tụi bay mà lộn xộn, tối tao đem cột ngoài gốc me cho ma nhát. Nghe thấy vậy, hai đứa em của Siêu liền bỏ chạy vào trong nhà như để tìm người che chở chúng. Còn lại một mình cậu chợt tức cười vì câu dọa không hợp lý hợp tình. Chẳng phải cậu cũng thuộc loại sợ ma đến nỗi chỉ mơ thấy ác mộng mà đã tè ra cả quần đó sao? Thế mà lại còn huênh hoang đòi nhát ma mấy đứa em, may mà chúng không dám đả kích lại... tự khuấy cho mình ly nước chanh. Uống xong Siêu cảm thấy lạnh do nhiệt độ trong người bị xuống thấp. Cậu lại trèo lên giường nằm quấn mền nhưng chỉ được một chút thì kêu ỏm tỏi lên: - Á… buông... buông ra... Hai đứa em của Siêu chạy vô trước cửa buồng đứng lấp ló nhìn anh trai đang giữ chặt chiếc mền với bộ dạng đầy khiếp sợ. Chúng hỏi tới, giọng run run: - Anh bị... bị gì vậy? Siêu co quắp người, lẩy bẩy nói như van: - Tha... tha cho tui... tui hổng dám...chọc cô đâu... Nhỏ em Siêu bạo gan hơn xông tới kéo chân anh, làm cậu hét lớn: - Á buông... buông ra đi... đừng đụng... đụng vào tôi... Tội nghiệp con bé, vừa lay Siêu vừa gọi toáng cả lên: - Anh... anh... Đang trong cơn hoảng loạn, Siêu co chân đạp mạnh vào đứa em gái khiến con bé té chúi mặt vô vách. Khóc mếu máo: - Hu hu... anh Siêu điên rồi... Không phân bua. Siêu còn trợn trừng lên với nó, miệng lẩm nhẩm những câu nói kỳ quặc: - Đi đi về với thế giới của cô đi. Kẻ xúc phạm cô là thằng Quang xồm chứ không phải là tui đâu... đừng nhát... tui sợ lắm... Hai đứa em của Siêu khủng hoảng, xanh lè mặt mày chạy thụt trở ra để mặc anh trai trong buồng với trạng thái của một kẻ đang khiếp đảm một điều gì đó vô hình mà chúng đã mường tượng ra. Ma... nhất định anh trai của chúng đang thấy ma. Nhưng giữa ban ngày thế này sao lại có ma hiện ra trong nhà chúng để nhát anh trai chứ? Nỗi thắc mắc của hai đứa nhỏ bị gián đoạn bởi tiếng thét của Siêu vọng ra từ bên trong. Không dám nấn ná thêm, cả hai đứa hùa nhau đi tìm người lớn về chứng kiến cảnh tượng trên. Siêu bị ba má cậu lôi ra ánh sáng tạt cho một thùng nước mới tỉnh cơn hoảng Ioạn. Cậu giương mắt nhìn mọi người ngơ ngác: - Có điều chi vừa xảy ra ở đây vậy? Cha cậu nhăn mặt nói: - Mày hãy hỏi lại mày coi cái gì đã xảy ra với mày! Thấy điệu bộ của cha rất khó chịu, Siêu thả ánh mắt qua mẹ thì liền nghe bà nói: - Vừa nãy con làm trò khỉ gì trong buồng mà mấy đứa em phải bỏ chạy hết trơn vậy? Siêu ấp úng vì chưa kịp nhớ lại sự kiện đầy quái đản vừa xảy ra với mình: - Con... con không biết... Giọng cha cậu nóng nảy: - Tại sao lại không biết khi chính mắt tao cũng nhìn thấy và nghe rõ mày rú lên như bị quỷ nhập tràng bắt mất thần. Siêu lập lại lời của cha bằng thái độ sợ sệt: - Quỷ nhập tràng bắt mất hồn. - Phải. Chắc mày hay đi theo mấy thằng ôn vật kia phá phách những nơi linh thiêng nên bị trừng phạt dở điên, dở khùng rồi. Mẹ Siêu chận mìệng cha cậu, không cho tiếp tục nói: - Bậy... bậy quá. Sao ông lại có thể trù con mình như thế chứ. Dẫu chúng nó có phá cũng không đến nỗi... Sắc mặt của cha Siêu đỏ phừng phừng: - Như thế mà bà còn cho là không đến nỗi ư? Ai đời đã lớn ngỏng mà chẳng giúp ích gì được cho gia đình ngoài việc kéo bè, kéo lũ đi quậy phá ngày đêm, đến người chết cũng không tha. Bà có nhớ đêm thứ sáu vừa qua không? Chúng nó đi đâu tới gần sáng mới về chứ? Trong lúc mẹ Siêu còn đang lúng túng thì cha cậu lại mắng: - Tao nói trước, kỳ thi tốt nghiệp này mà hỏng thì đừng có ở trong nhà. Tao không muốn thấy mặt đâu. Chờ cha bỏ đi, Siêu mới khẽ làu bàu: - Không muốn thấy thì thôi, làm gì mà hăm he dữ vậy. Mẹ Siêu vỗ nhẹ vào miệng cậu: - Nói hỗn... ba con nhắc nhở là muốn tốt cho con, phải lo mà sửa đổi. Siêu chưa chịu phục thiện, cãi lại mẹ: - Con có làm gì xấu xa và sai đâu ngoài việc đi chơi với mấy đứa bạn để thư giãn lúc học hành căng thẳng. Thế mà ba cũng lấy cớ đó để mắng. Vốn rất chìu chuộng Siêu nên khi nghe cậu nói, bà mẹ đã vội vuốt: - Tính ba con nóng nảy chẳng lẽ con không biết... thôi thì lúc nào cảm thấy học không vô cứ ra ngoài thong dong với bạn nhưng đừng có bày trò chi quá đáng. Nhất là chuyện đụng chạm tới người chết. Họ mà quở là tiêu đời, không ai cứu nổi đâu. Lời mẹ khiến Siêu sực nhớ tới nỗi ám ảnh mà cậu đã tạm quên do phải đối đầu với cha. Bây giờ hình dung lại, cơn ớn lạnh trong lòng Siêu lại bưng bừng trỗi dậy song cậu không dám kể lể với mẹ, chỉ âm thầm tự nhủ rằng sẽ nghe lời bà. Mấy hôm nay lão Tâm ốm liệt giường trước sự ngạc nhiên của vợ lão. Đúng là chuyện lạ. Bởi trong lúc mê sảng lão còn thốt ra rất nhiều câu khiến người nghe phải rợn gáy như: Ta tin... ta tin trên đời này thật sự có ma rồi... Và đừng... đừng làm cho ta khiếp đảm hơn... Như vậy là thế nào? Bà lão rất muốn hỏi chồng về cái điều mà ông đã bộc lộ nhưng khi tỉnh lại thì ông không hé môi lấy một lời, chỉ lặng thinh với thái độ e dè, kiêng nể. Chuyện chi đã xảy đến cùng ông lão, riêng một mình ông là rõ. Vậy mà ông lại cố tình giữ kín, cứ làm như nói ra thành lời ông sẽ bị chết ngay. Quả thật, lão Tâm cũng không biết mình có nên thố lộ chuyện này ra, bởi xưa nay lão có bao giờ tin rằng trên thế gian này có ma, nhân vật của thế giới vô hình luôn làm cho người ta khiếp sợ. Trong đời lão, từ lúc còn trai trẻ cho đến lúc về già... lão từng sờ mó vào biết bao xác chết trong việc tẩm liệm, chôn cất họ, nhưng chưa lần nào lão nhìn thấy hoặc thậm chí mơ thấy họ trở về bằng hình ảnh hay bóng dáng vật vờ. Ngay đến chuyện cô gái bị chết đuối chôn cất đã mười năm mới cải mả mà tử thi không tan rã cũng chưa làm lão phải hãi hùng, ngoài một chút ấn tượng khó giải thích. Vậy mà... sự cá cược vừa rồi với lũ trẻ lão đã không thắng cược. Tuy nhiên chúng cũng chẳng hề biết rằng lão bị thua. Nguyên nhân chỉ có lão mới giải thích được thôi... mà chính vì lý giải được lão mới thấm thía chữ sợ một cách sâu sắc đến sinh bệnh. - Lão Tâm... lão Tâm... mấy thằng tui mang rượu cá cược qua cho lão nè. Nghe tiếng nói lao xao ở ngoài, lão Tâm hơi ngóc đầu lên nhưng rồi lại hạ xuống. Dường như lão không có ý muốn tiếp bọn trẻ nên kéo chiếc mền trùm cao. Song lão vẫn cứ bị làm rộn khi chúng ào tới nơi. Một đứa áp sát vào tai lão la lớn: - Thần lưu linh sao có thể nằm im trên giường được. Lão dậy mau... tụi tui chung độ rồi lại tiếp tục cá cược với lão nữa. Đã định bụng không trả lời nên lão Tâm nhắm mắt giả vờ ngủ, thế mà một cánh tay của đứa bậm trợn nào đó đã lôi thốc lão dậy. - Tới giờ nhậu rồi... lão tính vờ hổng giống đâu. Rượu này là rượu nếp lận đó, chỉ cần mở nắp can ra thôi là ngửi đã say rồi. Lão không tin, tụi tui rót liền cho lão một cốc. Giữa lúc lão Tâm vẫn chưa chịu lên tiếng thì vợ lão đã chạy vào can gián: - Ấy đừng các cháu... ông lão đang bị bệnh suốt mấy ngày không đả động gì tới rượu nào cả. Làm ơn xách chiếc can này về đi cho ta nhờ. Quang xồm là kẻ đang cầm can rượu trên tay, hơi hếch mặt ngổ ngáo: - Sao lại xách về khi nó đã thuộc quyền sử dụng của lão. Tụi tui sòng phẳng lắm! Thua thì cứ chung độ đầy đủ chứ không quỵt. Cường lách mặt qua mặt Trung đang đứng phía trước để nói: - Phải. Tụi này tuy nhỏ tuổi nhưng rất biết luật chơi lắm. Rượu đã đem tới nhà, lão hãy nhận mà uống dần. Bây giờ lão Tâm mới đưa mắt nhìn khắp lượt bọn trai trẻ đang vây quanh lấy mình, cất giọng khàn khàn: - Ta đâu thắng cược mà nhận chung độ của bọn bây. Kỳ thiệt... ta đã nhìn thấy ma và đã bị nó nhát. Những khuôn mặt chứa đầy sự sửng sốt đều hướng cả về phía lão. Học lập cập hỏi trước: - Sao? Lão nhìn thấy ma thiệt rồi ư? Nó... nó ra sao? Trung vội nép sát vào lưng Cường, mắt nhóng lên háo hức lắng nghe lời kể lại của ông lão. - Đáng sợ lắm! Đã già từng tuổi này ta mới cảm nhận và thấm thía hai chữ “sợ ma” mà những người chung quanh ta từng nếm trải. Cường mở to tầm nhìn hết cỡ: - Nói như vậy là lão công nhận có ma thiệt trên đời? Cái đầu bạc trắngcủa Ião Tâm gật gù: - Có ma thiệt... tầm cỡ ma chê, quỷ trừ như ta mà trông thấy nó đã thất vía, kinh hồn, huống gì mấy đứa bay. Thôi từ nay bỏ ý định tìm hiểu lung tung đi, kẻo mang họa. Ta cũng không vào hùa với bay nữa, hãy mang can rượu này về. Mặc dù thái độ của lão Tâm rất trang nghiêm nhưng trong mắt Quang xồm lại giống như đùa cợt. Cậu quay qua bảo các bạn: - Đừng tin lời lão Tâm... lão đang dọa tụi mình đó! Lão Tâm cố gắng nói song âm giọng quá nhỏ nên không đủ sức thuyết phục: - Ta không dọa, sự thật thì ta đã nằm trên mộ cô gái chết đuối và đã bị ma nhát. Ta chỉ biết nói bằng lời thì mấy đứa không tin nhưng thật tình thì như thế! Trong lúc các bạn chưa ai kịp phản ứng thì Quang xồm đã nhanh nhẹn gạt phắt: - Lão nói dóc. Nếu có ma thiệt thì phải chính mắt tui thấy tui mới tin. Siêu nãy giờ im ru, co người trong chiếc áo gió rộng thùng thình, chợt lên tiếng: - Tao nghĩ lão Tâm nói thiệt chứ không dọa bọn mình. Từ bữa đi coi cô gái tự tử ngoài cái gò tới giờ, tao luôn phải sống trong tâm trạng phập phồng lo sợ. Tuy chưa khẳng định rõ rằng có ma hay không nhưng cứ ngồi một mình là tao lại như nhìn thấy cô gái ấy vật vờ ngay trước mặt, sợ đến cứng cả người. Tao nói trước, sẽ không tham gia vào chuyện mạo hiểm chết người này đâu. Quang xồm mắng Siêu khi cậu vừa nói dứt: - Đồ chết nhát... ai cho phép mà tách rời khỏi nhóm? Mày mà có ý đồ thối lui tao sẽ đem mày tới cái gò cột ở đó qua đêm. Toàn thân Siêu giật nẩy lên như bị chích điện: - Oái... oái... chơi trò gì vậy. Tụi mày mà làm thế, bảo đảm sáng mai sẽ có thêm một vụ án mạng xảy ra. Quang xồm càng bạo miệng: - Mày chết thành ma thì may ra tao mới sợ. Nhưng còn sống mày nhát cáy, chết rồi cũng chẳng oai ma đâu. Có chăng là chờ tao chết tao sẽ quậy cho tụi bay xem. Lão Tâm ngước đôi mắt đục lên nhìn Quang xồm quở trách: - Thằng này nói bậy quá, đúng là đồ con nít ranh. Trung, Học và Cường vội nương theo lời lão Tâm chĩa miệng vào Quang: - Dòng họ mày chỉ có mình mày là cháu trai để gây giống, nối dòng. Ông ngoại mày mà nghe được những lời mày vừa thốt chắc sẽ ăn ngủ không yên quá. Quang ơi... mày nên giữ miệng, giữ mồm một chút đi. Rất ngạo nghễ, Quang xồm đứng xoạc chân, hất mạnh cằm về phía trước: - Không mượn tụi bay lo chuyện bao đồng. Cứ để rượu đấy cho lão Tâm. Tất cả cùng biến. Thả can rượu xuống bàn dù lão Tâm không chịu nhận. Quang phẩy tay lên ra lệnh cho cả bọn rồi xăm xăm bước đi kéo theo một đoàn dài ở phía sau. Khi bọn trẻ kéo đi rồi, lão Tâm ngồi ngây ra suốt hàng giờ trước can rượu, thứ chất cay mà cách đây mấy ngày thiếu nó lão không thể chịu đựng nổi. Thế nhưng lúc này chỉ hình dung ra mùi men nồng của nó lão đã cảm giác buồn nôn. Mà cũng phải thôi, lão làm sao còn có thể dung nạp nổi vào người khi vừa trải qua một quá trình khủng hoảng cả thể xác lẫn tâm lý. Kiểm nghiệm lại sự kiện đã xảy ra ở nghĩa trang hôm đó, lão Tâm phải thú nhận rằng mình đã sợ. Mà điều làm lão kinh hãi nhất là con ma liếm mặt... ôi... chiếc lưỡi của nó mềm mềm, ươn ướt... cứ lướt qua, lướt lại trên khắp khuôn mặt lão, dù lúc ấy đang ở trong trạng thái say đờ người vẫn cảm nhận được cái mùi hôi thối từ miệng nó tỏa ra. Trời thần ạ. Vừa mới tưởng tượng lại, lão đã nghe ruột gan mình muốn lộn hết cả lên. Khiếp đảm quá, may mà con ma để lão thoát, không bóp chết lão. Lão Tâm đưa bàn tay lên vò rối tung mái tóc bạc rồi lẩm bẩm: - Nó bóp ch ết ta thế nào được khi ta là một vật thể sống, còn nó chỉ là một oan ồn ẩn hiện trong chiếc bóng vật vờ. Tới đây thì lão nghe tiếng nói của bà vợ: - Ông dạo này lạ quá. Bộ gở chết rồi sao mà bỏ rượu và sợ ma? Lão Tâm khẽ ngước mắt ngó lên rồi lại cụp xuống như muốn tránh né câu chuyện đang bị bà vợ khơi dậy. Ông lão hầm hừ trong miệng: - Già rồi thì cũng tới ngày ra nghĩa trang xí chỗ chứ. Bà lão phật ý liếc chồng: - Lại nói năng tầm phào. Người đang bệnh làm ơn giữ miệng giùm tui đi. Tuy đã từng tuổi này, tui vẫn chưa muốn ở góa. Dù tâm trạng không vui, nghe vợ nói, lão Tâm cũng phải bật cười: - Khà khà... bà làm tui thấy sợ chết rồi. - Sợ thì ráng sống thêm ít năm để chờ tui luôn thể. Vợ chồng “đồng tịch, đồng sàng” thì cũng phải “đồng quan, đồng quách” chứ. Ông lão lại cười lên ha hả, giọng chế nhạo: - May mà lúc này chỉ có tui với bà chứ không hiện diện người thứ ba nào nên hổng bị ai cười. Lời lão Tâm vừa dứt thì phía sau nhà bếp có tiếng động rất lớn dội lên tựa âm thanh của sự đổ bể đồ sành sứ. Bà lão hoảng hốt kéo lôi ông chạy xuống xem sự thể nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy gì ngoài một con mèo mun đang thu mình trên góc bếp. Nhìn cặp mắt xanh lè của nó hướng về phía mình, lão Tâm bỗng nghe rợn cả người lẳng lặng trở lên nhà. Trong đầu lão hiện giờ là sự ám ảnh khủng khiếp của bóng ma nơi nghĩa trang... Một bộ mặt xồm xoàm lông lá... đôi luồng mắt sáng rực trong đêm tựa mắt con mèo mun ban nãy chiếu thẳng vào mặt lão... Những chiếc răng lởm chởm, nhọn hoắt... A... a... a... lão Tâm không thể bình tĩnh nổi dù lão đang ở nhà mình chứ không phải ngoài nghĩa địa. - Ông… ông thấy trong người ra sao? Có khó chịu lắm không? Lão Tâm đã nhảy lên giường trùm chăn, run lẩy bẩy giống người đang trong cơn bệnh nặng: - Đừng... đừng có hỏi... để... để tui yên. Bà lão không hiểu rõ nguyên nhân sự khác thường của ông lão nên cằn nhằn: - Người chi mà kỳ cục, quan tâm tới cũng bị la. Không phản ứng lại vợ, lão Tâm chọn thái độ lặng thinh nhưng điều này cũng làm tăng nỗi sợ của lão. Và chỉ trong một chốc, lão đã phải tung chiếc mền ra khỏi người để chạy đi tìm bà vợ già yêu cầu ngồi sát cạnh bên mình với lý do. - Tui mỏi chân... bà bóp giùm hai cái đầu gối cho tui một chút. Tuy trong lòng còn đang bực, bà lão cũng không nỡ từ chối sự nhờ vả của người chồng. Bà tiến tới gần chăm sóc ông: - Nào, trở lại chỗ nằm đi. Tỏ ra ngoan ngoãn một cách miễn cưỡng, lão Tâm ngả người xuống giường chìa đôi chân khẳng khiu toàn những xương là xương về phía bà vợ: - Bóp nhè nhẹ ấy! Bà lão đặt mười ngón tay gầy guộc lên chân chồng nhăn mặt: - Không bóp nhẹ, chẳng lẽ tui róc thịt ông ra sao. Mà cũng chỉ toàn là xương, có chút thịt nào dính da đâu... rượu nó làm tiêu tan hết cơ thể của ông rồi. Nghe vợ phàn nàn, lão Tâm bèn ngoái đầu lên khôi hài: - Nhớ ngày xưa tui cũng bảnh lắm và lực lưỡng lắm chứ. Không như vậy bà đâu có chịu bỏ gia đình để theo tui. Bà lão ngoác cái miệng để lộ hàm răng chỉ còn trơ lại ít cái răng ghim trên lợi, mắng yêu chồng: - Khỉ quá. Sắp xuống lỗ làm bạn với giun dế rồi mà còn nhắc lại chuyện thời trẻ. Nói thiệt, tui cũng không ngờ về già rồi ông lại xấu xí, xương xẩu vì quá kết thân với thần lưu linh. Biết trước, tui hổng thèm... - Ha... ha... ha... Lão Tâm cười lớn tiếng làm căn nhà vốn quạnh quẽ quanh năm của lão có một chút sinh khí. Lão bông đùa: - Bà cũng còn đẹp đẽ gì đâu mà chê trách người chồng già. Cứ làm như mình là kẻ nhan sắc lắm vậy. Ôi, xấu không thể ví vào đâu được. Biết chồng giỡn, nhưng bà lão vẫn tự ái, trợn tròn mắt: - Ông dám nói... - Khà... khà... tui nói đúng chứ có quá sự thật đâu. - Cũng không được thốt ra. Dẫu tui có xấu, có già ông cũng phải khen một chút chứ. - Chà, sống chung bao nhiêu năm hôm nay tui mới thấy bà có ý tưởng khôi hài đó. Bà lão chắc lưỡi nói: - Thì cũng phải tạo ra niềm vui để sống chứ. Ông coi, trong nhà này ngoài hai thân già lủi thủi vào ra, còn có thêm tiếng nói của ai. Phải chi hồi còn trẻ mình nhận nuôi một đứa con để hủ hỉ... - Thôi bà đừng có phàn nàn điều đó nữa, hoàn cảnh của mình không tiện lợi cho điều mong ước của bà đâu. Xưa nay chúng ta đã chẳng làm bạn với ma sao. Giọng bà lão như nghẹn lại: - Nhưng bây giờ ma đã làm cho ông sợ, cứ nhìn thái độ của ông mấy bữa nay thì tui đoán... - Bậy… bậy... Thấy bà vợ sắp sửa phanh phui những điều mà mình muốn giấu nhẹm, lão Tâm đã vội vàng chận lại rồi quay ngót đi ra sân, mặt hướng về phía nghĩa trang nơi tạo cho lão cái ấn tượng sợ hãi. Những tia nắng cuối ngày đã lịm tắt từ lâu nhường chỗ cho hoàng hôn rớt xuống. Gió mát làm không khí dễ chịu hơn, nhưng lão Tâm vẫn chẳng thấy nhẹ thở bởi linh cảm bất an cứ bám chặt lão làm tắt ngấm mọi ý nghĩ tốt lành. Vừa mới lên giường nằm chưa kịp nhắm mắt lại, lão Tâm đã bị tiếng kêu réo bên ngoài làm kinh động phải bò dậy, lão hỏi vợ: - Dường như là mấy đứa hồi sáng tới nhà mình... Bà lão tới cơn buồn ngủ nên dấm dẳng trong mùng: - Thì cũng chỉ có bọn chúng mới hay tới đây làm rộn... Lão Tâm tỏ thái độ bực dọc toan nằm xuống thì nghe tiếng réo gọi ở ngay khoảng sân trước cửa nhà. Âm vang đầy thúc giục: - Lão Tâm... lão Tâm... mau ra đây với tui... Rất khó chịu vì trong người không khỏe nhưng tiếng kêu cất lên lần thứ ba thì lão không thể nằm yên. Lão lồm cồm giở mùng chui ra bước chầm chậm về hướng cửa đặt tay lên chốt lầm bầm nói: - Ai... làm gì quấy nhiễu ta giờ này? Âm thanh từ bên ngoài vọng vào thật rõ ràng như tiếng gió: - Tui đây... có người đang gặp nạn, lão mau đi cứu họ. Phản xạ tự nhiên đã xúi giục lão Tâm giật phắt cái chốt cửa và hấp tấp lao ra. Hoàn toàn không có ai ngoài bóng tối đen kịt làm cho lão phải khựng lại. Ngạc nhiên, lão cố gắng căng đôi mắt để nhìn xuyên qua màn đêm rồi di chuyển hướng. Chợt tia đồng tử của lão bắt gặp một mục tiêu di động lẫn lộn trong cái khoảng không gian đen thăm thẳm của thời khắc mười giờ đêm. Chính xác là đã có người tới gọi lão chứ chẳng phải lão nằm mơ. Nhưng sao họ không chờ lão cùng đi mà lại buồn bã đi một mình ở phía trước thế. Tuy thắc mắc, lão Tâm cũng không cho phép mình chậm trễ, lập tức rời khỏi nhà để đi theo chiếc bóng dẫn đường kia. Lạ thay, khi lão định được hướng đi thì thấy mình đã đứng trước cổng nghĩa trang và đã rẽ lối sang khu Phật giáo. Một cái rùng mình đột ngột làm đôi chân lão khựng lại không thể bước tiếp được dù chiếc bóng dẫn đường vẫn di động phía trước. Ồ, sao lại là nơi này chứ? Ai có thể gặp nạn ở bãi tha ma vào lúc đêm hôm khuya khoắt như vầy? Liệu có phải là... ma đưa lối, quỷ dẫn đường? Lão Tâm rợn người lên lần nữa, toan tính quay trở về thì chợt nghe như có tiếng nói đập vào tai: - Nhanh chân lên! Sự thôi thúc của trí giác đẩy lão bước thêm được một đoạn ngắn nữa nhưng rồi cơn khiếp hãi lần trước đã bùng lên mạnh mẽ hơn, áp đảo mọi ý muốn. Và lão Tâm quay ngoắt trở lại bỏ mặc âm thanh của tiếng gọi như vọng xoáy vào trong đầu: - Đi cứu người... mau cứu người! Phải nói rằng lão Tâm bước đi thật nhanh một cách không ý. Về tới gần nhà mình, lão mới chợt nghe sự day dứt dội mạnh ra từ cơn kiềm nén tột độ trong lòng. Lão đã tự hỏi phải chăng thật sự có người đang gặp nạn chờ lão đến cầu cứu, nhưng lão đã cố tình bỏ qua vì ngờ vực cảm giác. Lời khẩn cầu mà lão nghe được là có thật hay nó được vọng ra từ tâm tưởng vốn đang bị hoảng loạn sau cơn bạo bệnh của lão. Còn chiếc bóng di động đã dẫn đường cho lão nãy giờ là gì chứ? Chẳng lẽ đấy lại là một hồn ma nào đó đang yên nghỉ trong nghĩa trang? Đứng thừ mặt trước khoảng sân nhà mình hồi lâu. Lão Tâm bỗng hình dung đến một câu chuyện xa xưa mà lão đã lãng quên. Hay nói đúng hơn là lão không dám nhớ tới nó dù ấn tượng chẳng phải là sự sợ hãi, kinh khiếp như tâm trạng của lão hiện giờ. Tội lỗi quá. Lão Tâm thà đối diện với hiện tượng ma quái đang xảy ra còn hơn là phải khơi lại điều quên lãng ngày cũ. Không bước vào nhà ngay lúc đó, lão Tâm ngồi luôn ở ngoài sân cho đến khi nghe thân thể mình lạnh cóng mới lò dò đứng dậy. Bỗng... một động lực khá mạnh chợt lôi thốc lão đi trong khi lão chưa kịp định thần ra điều gì. Lão chỉ khẳng định rõ ràng rằng mình đã té lăn ra đất rất đau rồi không còn hay biết gì nữa. Thời gian qua bao lâu để cho lão tỉnh lại chưa, chỉ biết rằng khi hé được mắt ra thì chung quanh lão đang có rất nhiều người. Lão nghe thấy cả tiếng khóc tỉ tê của bà vợ già dập vào tai. - Hư... hư... ông đừng có bỏ tui mà đi trước như vậy... hư... hư... Bây giờ lão Tâm mới hiểu mình còn sống nên khe khẽ ngóc đầu lên: - Làm gì mà khóc như có đám ma trong nhà vậy? Thấy chồng đã lên tiếng, bà lão mừng rỡ gạt khuôn mặt vào ống tay áo đã ướt nước mắt kể: - Tui biết ông già rồi nên muốn chết trước để khỏi làm tui bận bịu. Nhưng ông ơi... tui sống một mình cũng hổng có vui đâu. Lão Tâm ngẩn người ra: - Ý bà là… Miệng bà lão méo xệch đi, nói cướp lời: - Tui biết chắc là ông toan tính tự tử rồi. Chứ đang không ông trong nhà mà lại mò ra ngoài làm chi lúc nửa đêm với một sợi dây thừng dài kia chứ? Nghe vợ nói lão Tâm bật ngồi dậy mở tròn đôi tròng mắt: - Sợi dây thừng dài ư? Nhưng nó từ đâu ra? Giọng bà lão nhão nhẹt: - Tui không biết, chỉ thấy trong tay ông đang cầm nó. - Vậy sao tui chưa chết? Bà lão lại ôm mặt khóc thút thít: - Híc... híc... cái đó ông phải đi tìm lão tử thần mà hỏi. Tui chỉ biết là khi tỉnh ngủ không thấy ông nằm ở bên mới mò ra ngoài tìm thì gặp ông gục trước sân. Toàn thân ướt đẫm và lạnh ngắt. Nói thiệt sao lúc đó tui khỏe quá, kéo lê được ông vô nhà rồi mới chạy đi cầu cứu hàng xóm. Không màng đến những lời kể lể của bà vợ, lão Tâm đưa mắt nhìn mọi người rồi hoang mang cố nhớ những điều còn lưu lại trong đầu. Nhưng dù có vận dụng hết sự minh mẫn của tuổi tác lão cũng không nghĩ ra nguồn gốc sợi dây thừng mà vợ lão bảo lão đã cầm. Không hiểu sao sáng nay Quang xồm dậy thật sớm khác hẳn với mọi ngày. Cậu vừa xòe tay xin tiền ông ngoại thì đã bị người dì mắng: - Con trai lớn tồng ngồng như vầy mà chẳng giúp ích được gì cả, chỉ chơi bời lêu lổng. Không nhét nổi chữ nghĩa thì cũng phải kiếm việc làm hoặc học hỏi cho mình một cái nghề để sau này nuôi thân. Không ai sống mãi để làm chỗ dựa cho mày đâu. Vốn bản tính rất ương ngạnh nên Quang xồm không chịu nhập tâm lời giáo huấn mà đáp trả: - Mới bảnh mắt đã to tiếng. Sống thế này thà bỏ đi bụi còn hơn. Dì Quang xồm không nén nổi sự giận dữ dù cả dòng họ chỉ có mình cậu là thằng cháu trai duy nhất: - Nếu mày muốn thì cứ việc bỏ đi bụi. Thử lăn ra đời coi không lao động mày sống nổi được mấy ngày. Nhà này thật vô phước mới sinh ra ngữ con cháu bất trị. Nuôi lớn tới ngần này mà chẳng hiểu ra điều thiệt hơn. Quang xồm sửng cồ lên dù thường ngày vẫn nghe mọi người phàn nàn về mình. Cậu trợn mắt nói lớn: - Ai mượn mấy người đẻ ra tui, bắt tui phải có mặt trên đời này làm chi. Người dì của cậu buột miệng tuôn: - Ai muốn... ai thích đẻ ra mày hồi nào đâu. Chỉ tại má mày... đàn bà trắc nết tạo ra nghiệp chướng làm mọi người phải khổ. Quang xồm phản ứng lại lời lăng nhục ấy thật mạnh mẽ: - Tui cấm dì xúc phạm đến má tui. Người dì của Quang xồm chống nạnh ngang hông rồi bĩu dài môi miệt thị: - Cứ làm như má mày là người phụ nữ đoan trang đức hạnh lắm vậy. Thiệt không biết mắc cỡ một chút nào. Tao là em má mày mà tao còn phải hổ thẹn lây. Mắt Quang xồm phát ra tia nhìn cực nóng như có lửa. Cậu gằn giọng: - Dẫu má tui có làm gì tồi tệ thì bả cũng chết rồi! Dì không nên khơi lại để xỉ vả. Người dì của Quang xồm hất mạnh cằm, mắt liếc thằng cháu mồ côi: - Ối… tao cũng có hơi đâu mà nhớ tới một người chị như má mày. Chỉ tại hôm nay mày làm tao ngứa miệng... Nói tới đây, dì của Quang xồm đổi giọng: - Từ nay mày đừng có xin tiền ông ngoại nữa, ổng già rồi không thể chu cấp cho mày mãi đâu. Khôn hồn thì hãy nghĩ đến chuyện lập thân... bắt đầu từ tuần tới tao sẽ cúp phần ăn của mày nếu mày không làm được ra tiền đóng góp. Trong lúc Quang xồm Iặng đi vì sự đối xử quá quắt của người dì thì ông ngoại cậu lên tiếng: - Làm gì mà cạn tàu, ráo máng với nó vậy? Dù sao thì cũng nuôi nó từ nhỏ tới lớn rồi, để từ từ cho nó trưởng thành thêm chút nữa. Nhưng người dì của Quang xồm chẳng dành cho cậu khoảng tình cảm nào của người thân, bà tiếp tục đay nghiến song chuyển hướng qua ông già: - Tới giờ này mà cha còn thương hại nó nữa à? Hồi đó không có sự can thiệp của cha... tụi tui đã đem bỏ nó vô cô nhi viện cho rảnh nợ. Hứ... thà nuôi một lũ cháu gái hợp tình hợp pháp còn hơn là giữ lại thằng cháu hoang không nguồn gốc. Rồi để coi... nó có trở thành người tốt được hay không? Mới có bây nhiêu mà đã như con ngựa bất trị. “Xoảng”… một cái đẩy khá mạnh của Quang xồm đã khiến cho chậu kiểng đặt ở bệ lan can rơi xuống đất bể toang. Người dì của cậu gào ầm lên: - Đó… tui nói có sai đâu. Ông ngoại Quang xồm quát nạt cậu: - Sao mày lại đập phá chậu hoa của tao vậy? Thay vì dịu xuống nhận lỗi, Quang xồm đã bộc phát cơn giận dữ của mình ra. Cậu vung tay, vung chân tứ phía làm đồ đạc rơi đổ tùm lum trước sự hoảng hốt của những người trong nhà. Chưa hết, cậu còn túm lấy người dì tát vào mặt bà ta mấy cái... bốp... bốp... ối ối nó giết người... Quang xồm nghiến răng nói: - Dì không đáng để tui giết. Nhưng nếu dì muốn sống thì nên hạn chế miệng lưỡi của mình đi. Phải, thằng Quang xồm này là con ngựa bất trị, là giọt máu đẻ hoang... những lời này tui nghe dì nói rất nhiều lần song đây là lần cuối, tui không cho phép dì lặp lại nữa. Nếu ngoan cố... dì đừng trách... Quang xồm hất người dì ngã xuống rồi quay lưng bỏ đi mặc cho bà ta tru tréo ở phía sau: - Đồ khốn kiếp... cút đi luôn đừng có về đây nữa. Quang còn nghe rõ tiếng ông ngoại than vãn: - Nghiệp chướng... trước sau gì cũng là nghiệp chướng. Và rồi tiếp theo là lời nguyền rủa của người dì, làm máu trong người Quang sôi sục. Nhưng cậu đã không thèm quay trở lại mà cứ thế bước đi với một cái đầu đang toan tính nổi loạn. Phải, làm sao cậu có thể trở thành con người bình thường, ngoan ngoãn khi xuất thân là một đứa trẻ không nguồn gốc lại phải sống trong môi trường khắc nghiệt, chẳng được sự đón nhận của người thân. Bản tính ngang ngạnh, vô giáo dục của Quang cũng do không ai dạy dỗ cậu mà ra. Hàng ngày cậu cũng được nuôi ăn, song đó là những chén cơm không dễ nuốt... Từ nhỏ. Quang đã cảm nhận được sự đối xử cách biệt của những người cưu mang cậu, nhưng cậu đã cố tình phớt lờ đi để cuộc sống bớt nặng nề, trăn trở. Thế mà người dì của cậu đã không hiểu giùm cho cậu điều ấy! Bà ta luôn xấu bụng ghen ghét khi thấy ông ngoại có phần ưu đãi cậu hơn con bà. Hừm... cậu là một đứa con không có cha, lại mồ côi luôn cả mẹ... đó chẳng phải là điều bất hạnh sao chứ? Quang xồm không hiểu nguyên nhân nào khiến mẹ cậu chết sớm, bỏ cậu lại cho những người thân nuôi dưỡng? Còn việc cậu là con hoang thì cậu có nghe mang máng rằng mẹ cậu đã lỡ dại với một người đàn ông. Thật khốn nạn cho cái thân của cậu chưa. Bây giờ thì cậu phải tự lực làm sao đây? Chẳng phải cậu không dám quay trở lại nhà, mà là cậu không muốn nhìn thấy mặt người dì hắc ám ấy! Quang xồm di động đôi chân bằng những bước đi nặng trịch. Không chỉ định nơi sẽ đến nên cậu cứ đi hoài ra tới con đường lớn để rồi va phải một người đàn bà xấu xí bẩn thỉu đang dò dẫm xin ăn. Lần đầu tiên Quang tỏ ra lễ phép: - Xin lỗi, tui không cố ý... Người đàn bà không nói năng gì cả, chỉ đưa mắt ngó cậu rồi cúi xuống nhìn cái thau nhôm móp méo trên tay. Dường như bà ta hiểu rõ thân phận mình nên cũng chẳng muốn làm khó tới người khác. Quang xồm tiếp tục đi với chiếc bụng đói meo vì chưa ăn buổi sáng. Đã mấy lần cậu định tấp vào một hàng bún hoặc xe bánh mì quen mua thiếu nhưng nghĩ sao đó cậu lại thôi. Định tới nhà mấy thằng bạn kiếm đỡ thứ gì ăn... lại thấy ngại cha mẹ chúng. Quang xồm nuốt nước miếng để dằn cơn cồn cào trong bụng. Tuy chưa quá đói, song cảm giác bao tử rỗng tuếch làm cậu nghe khó chịu vô cùng. Cần phải tìm một chỗ ngả lưng thật yên tĩnh và không bị ai quấy rầy. Bước chân vô định đưa Quang xồm đi ngang qua chỗ cái gò hoang xảy ra án mạng hôm nọ. Ánh mắt cậu vụt sáng khi thấy có đồ cúng... toàn trái cây... cũng có thể dùng tạm được trong lúc này. Thế là chẳng kiêng dè gì vong linh người đã chết, Quang xồm xấn tới với tay bốc một trái táo ngon nhất đưa lên miệng cắn và thì thào: - Hồn đã dùng trước rồi thì bố thí lại cho tui... bằng không, cho tui vay cũng được... chừng nào có tui đem trả. Trái táo bị phơi nắng có lẽ cũng vài ngày nên ăn không giòn ngọt nhưng Quang xồm cũng chiếu cố hết nhẵn và đã nhá tiếp sang trái thứ hai. Cậu vừa nuốt vừa thầm nghĩ trong lòng: Đúng là ăn giành phần của ma... Bọn thằng Học, thằng Cường, thằng Trung, thằng Siêu mà biết chuyện chắc phải trợn mắt... Ối, toàn là những thằng chết nhát. Quang xồm chợt bật lên sáng kiến tự kiếm ăn cho mình mà không cần tốn công sức lao động. Cậu nhếch môi cười một mình: - Hì... hì... phen này lũ bay cứ tự động dung nạp đồ ăn cho ta xơi... Đánh một giấc thật no mắt ở chỗ cái gò. Khi tỉnh dậy Quang xồm thấy chung quanh mình trời đang bắt đầu sắp tối. Vậy là cậu đã ngủ khá lâu, hết cả một ngày tại nơi mà ai ai cũng đều phải kiêng nể. Thế nhưng, cậu có bị làm sao đâu... lại còn cảm thấy khỏe khoắn ra. Ồ không! Cậu đang rất đói bụng thì đúng hơn, bởi cả ngày nay bao tử của Quang chỉ được nạp hai trái táo và vài quả chuối sứ chín rục không ngon lành gì cho lắm! Nghĩ tới chén cơm trắng bốc khói, ruột gan Quang cào lên dữ dội. Chẳng lẽ lại muối mặt trở về nhà để tiếp tục nghe người dì sỉ nhục, mà bỏ đi bụi đời luôn cậu sẽ phải sống ra sao? Hoàng hôn sắp nuốt chửng không gian tạo ra một bầu không khí hơi se lạnh khiến Quang gai cả người. Tuy không phải là kẻ nhút nhát, thậm chí còn có phần bạo dạn... thế mà trước sự tĩnh lặng, vắng vẻ ở nơi này, cậu cũng không tránh khỏi rùng mình. Biết đâu hồn ma của cô gái tự tử chết hôm nào lại linh thiêng hiện lên để nhát cậu không chừng. Dù trong lòng không tin, song Quang xồm cũng chột dạ phần nào, cậu tức tốc đứng dậy rời khỏi cái gò bước đi lững thững về phía những chòm nhà đang hắt ra ánh điện rực sáng. Giờ đây có lẽ mấy thằng ôn dịch bạn cậu đang quây quần bên mâm cơm hưởng không khí đầm ấm của gia đình chúng. Chắc chẳng có đứa nào nghĩ rằng thằng Quang xồm đêm nay không có nơi để về. Mẹ kiếp... tại sao cùng một kiếp người như nhau mà đời của ta lại bất hạnh hơn chúng nó kia chứ? Quang xồm tự hỏi và cũng tự giận dữ bóp nát nhừ quả cam mà cậu đã cầm với ý định sẽ giải khát khi cần. Hừm... vứt quả cam thật xa như người ta ném trái banh, Quang hầm hừ mãi trong miệng thứ âm thanh mà không ai có thể đoán ra lời của nó. Đi ngang qua nhà thằng Cường, nhìn thấy bóng bạn bên trong ô cửa sổ đang đầm ấm ăn cơm tối với gia đình, lòng Quang xồm trỗi lên cơn ghen tị. Thì ra trên đời này chỉ có mình là kẻ có số phận không may. Thằng Cường, thằng Học, thằng Trung... đem ra so tất cả đều hơn cậu. Hừm... không thể để chúng yên ổn mà hưởng phúc như vậy được chúng phải san sẻ nỗi bất hạnh của ta... Quang xồm vừa nghĩ vừa quay ngoắt hướng đi tiến dần vào khoảng sân nhà Cường. Không có con chó nào xồ ra nên cậu càng bạo chân lần vô tận nhà sau. Mùi chua từ nước đậu hũ ép ra xông lên mũi Quang làm cho cậu hơi nhăn mặt nhưng rồi tiếp theo là sự mừng rỡ. No rồi đây. Quang rờ rẫm trong bóng tối một hồi với niềm thỏa mãn dâng cao. Đậu hũ trắng lấy từ khuôn ra tuy lạt song chất béo ngậy của nó cũng làm cho cậu cảm giác ngon... phải nói rằng rất ngon là đằng khác, nhất là trong lúc bụng đang đói cồn cào. Quang không biết mình đã ăn bao nhiêu đậu hũ của nhà Cường, chỉ khi cảm thấy rất no mới dừng lại rồi chậm chạp trở ra như một bóng ma thật sự vậy. Chẳng đôi mắt nào phát hiện ra Quang xồm và hành động ăn vụng của cậu. Thế là Quang ung dung với chiếc bụng no căng thoát được tới ngoài đường chõ miệng vô cười thầm: - Hí... hí... lát nữa thế nào cũng có kẻ la hoảng lên cho xem. Thật vậy, khi Quang chưa đi được bao xa thì đã nghe thấy tiếng ồn ào từ chỗ nhà Cường. Âm thanh duy nhất lọt vào tai cậu là một câu rất ngắn gọn của ai đó: - Đúng là ma... Lại thêm một tràng cười ngấm ngầm khoái trá nữa của Quang diễn ra trên môi cậu. Ý tưởng biến thành nhân vật huyền bí để hù dọa các bạn hình thành trong đầu Quang mỗi lúc một lớn hơn. Và cậu tiếp tục đi tới nhà Học, nhà Siêu... tối hôm đó Quang thật sự vui đến nỗi chưa bao giờ cậu được vui đến như vậy. Há... há... há… bộ dạng co dúm của tụi nó thiệt buồn cười quá xá. Phải chi mình có thêm tài biến hóa, mình sẽ làm cho tụi nó phóng uế ra quần chơi. Những bước chân hả hê đưa Quang xồm đi lang thang trong đêm tối cho tới khi mệt rã người dừng lại thì mới hay mình đang đứng trước nhà lão Tâm, nhưng cửa đã đóng kín. Có lẽ cặp vợ chồng già này đã đi ngủ nên ngay đến ánh sáng của ngọn đèn cũng không còn. Ngồi bệt xuống nghỉ chân cho bớt mỏi, Quang xồm nhìn bóng đêm vây chung quanh bằng thái độ lầm lì. Cái gì đáng cho cậu phải sợ đâu nếu không muốn nói rằng cậu đang thích hòa thân xác mình vào với chúng. Bởi có như thế cậu mới khiến người ta nể sợ, không còn coi thường cậu là một thằng con hoang. Hừm... “con hoang”, cái từ ấy như mũi tên của gã thợ săn độc ác bắn ra ghim thẳng vào ngực Quang xồm làm cho cậu bị đau phải giãy giụa trong suốt bao nhiêu năm. Hôm nay nhất định cậu phải nhổ nó ra, phải dùng hết sức lực của mình bắn trả lại... Sau một hồi gầm gừ với hoàn cảnh cay nghiệt của bản thân, Quang xồm đứng bật dậy tới gõ cửa nhà lão Tâm như muốn trút vào lão phần nào cơn thù hận của riêng cá nhân mình. Chạy. Cần phải chạy thật nhanh, đôi chân của Quang xồm chịu sự điều khiển của não nên ra sức chạy băng băng về hướng nghĩa địa để lại phía sau những tiếng dội khá lớn. Hú hồn, cậu không lường trước được sự việc xảy ra như vậy. Chỉ là đùa thôi mà... đúng là lão già yếu bóng vía. Cầu mong lão đừng chết, Quang dừng lại vừa thở, vừa ngoái đầu nhìn lại nhưng đằng sau cậu là một khoảng tối đen chẳng nhìn thấy vật gì ngoài những hình thù quái dị của đám cây cối trong bóng đêm. Thật sợ quá, nỗi sợ của Quang không phải là cơn khiếp đảm mà là sự hoảng hốt của một kẻ biết mình vừa gây nên tội lớn. Đúng là tội của Quang xồm sẽ rất lớn nếu như lãoTâm thật sự lìa đời. Ở một khoảng cách khá xa tầm, Quang cố vểnh đôi tai lên để nghe ngóng động tĩnh từ phía nhà lão Tâm, song không gian hoàn toàn yên lặng. Mặc dù vậy, Quang vẫn không dám quay trở lại. Cậu đứng tần ngần một chút rồi lầm lũi tiến thẳng vào nghĩa trang. Một chút gờn gợn thoáng ập đến với Quang nhưng lập tức biến mất ngay, nhường chỗ cho sự tò mò, muốn khám phá điều bí ẩn. Gió lúc này không còn mạnh chỉ rì rào như tiếng quạt của bà mẹ, nên Quang nghe lạnh. Cậu rảo gót chân đi qua nhiều hàng mộ trong trạng thái hơi căng thẳng, thị giác và thính giác tập trung cao độ đến mức tiếng rơi của chiếc lá cậu cũng có thể nghe. Chẳng có gì đáng cho Quang phải sợ như tâm trạng lúc đầu. Cậu tỏ ra dạn dĩ hơn đi hết khu nghĩa trang đạo Công giáo rồi chĩa mắt qua khu Phật giáo. Tất cả chỉ là một màn đen lẫn nhiều vệt sáng của những ngôi mộ xây làm thành một bối cảnh khá rùng rợn. Thế nhưng Quang xồm không chịu dừng chân lại mà bước qua khỏi ranh giới để sang khu đạo Phật. Ngay những giây phút đầu tiên cặp mắt cậu đã va phải một mục tiêu kỳ dị. Đó là cái khối đen biết di động ở cách cậu không xa. Người hay ma? Tim Quang xồm bắt đầu dội mạnh lên và mỗi lúc càng tăng cường nhịp độ. Làm sao có thể là người được, cậu tự mình khẳng định và cho rằng chẳng ai điên khùng gì mà lấp ló ngoài nghĩa trang giờ này. Sự có mặt của cậu nơi đây đã là điều khác người rồi, chắc chắn không còn kẻ thứ hai nào điên hơn cậu. Tin vào suy nghĩ ấy nên toàn thân Quang như bắt phải khí lạnh mà lẽ ra cậu đã cảm nhận từ sớm. Nên rời khỏi nghĩa địa ngay thôi, Quang vừa quyết định vừa thụt lùi và trong khoảnh khắc bị mất bình tĩnh ấy, bước chân cậu đã hụt hẫng khiến cả người rơi tuột xuống một cái hố sâu đầy cỏ và dường như có cả nước. Ối... tiếng kêu của Quang tuy không phát âm ra ngoài miệng song cái ngã đã toát lên tiếng động làm cậu phải thót tim. Sự phản ứng của những nhân vật trong thế giới vô hình chăng? Chắc chắn là không sai bởi họ đã phát hiện ra kẻ đột nhập vào nơi mà họ đang yên nghỉ. Như vậy cái ngã vừa rồi là cậu bị ma đẩy. Quang nghe lạnh toát đằng sau gáy cố nhoài người ra khỏi hố nhưng đôi chân cậu giống như bị ai nắm kéo lại không thể trườn lên được. Lần này thì Quang thật sự nhìn nhận rằng mình đã sợ. Ruột gan cậu run rẩy từ trong ra tới tận bên ngoài. Đúng là dại... khi không lại mò ra bãi tha ma lúc nửa đêm để phải nhận lãnh hình phạt có một không hai này. Nếu là bọn chết nhát kia, thế nào cũng tử vài ba mạng hoặc chẳng còn chút mật. Riêng mình thì... Quang xồm chưa kịp hình dung đến cảm tưởng của mình thì bất chợt miệng há hốc, mắt trợn tròn, toàn thân cứng đờ ra. Mà cậu đang đối diện với con ma... Ôi trời... chính là nó chứ không sai. Cái khối đen mà cậu vừa thấy ở ngay trước mặt cậu. Phen này đúng là chết thật. Có thể phải tỉ thí một trận sống mái giữa người và ma may ra mới có cơ hội thoát thân. Nhưng ma với người đâu cùng chung hình thể mà vật lộn được với nhau. Nó chỉ cần búng một ngón tay cái thì cậu sẽ chết không kịp kêu cứu. Với ý nghĩ như thế. Quang xồm không đứng vững nổi trên đôi chân của mình mà khụy hẳn xuống rồi ngồi bệt luôn dưới hố. Mọi sức mạnh quả cảm lẫn sự lầm lì, ương bướng ở nơi Quang như tan biến đâu hết trả lại con người cậu lúc này là sự nhút nhát tột cùng. Ma... lần đầu tiên trong đời cậu hiểu nỗi sợ ma là thế nào. Hèn gì đám bạn của cậu, chỉ nghe nói đã có thằng sợ mất mật. Hư... hư... Quang không biết đó là tiếng rên của mình hay của con ma đang ở trên miệng hố? Cậu chỉ biết là đôi tai mình đã nghe rất nhiều âm thanh đó cho tới lúc bị bàn tay con ma tóm gọn lôi lên trên. Chết... chết... trong đầu Quang lúc này chỉ có từ chết là rõ ràng nhất thôi. Đành chịu vậy, đâu có vùng vẫy hay khiếp sợ cũng không thoát được kiếp nạn này. Quang xồm nhắm tịt mắt chờ đợi giây phút tử của mình. Nhưng... dường như con ma đang bày trò mèo vờn chuột. - Sao lại ngồi ở dưới cái huyệt mộ đó thế? Tiếng của người. Quang như không tin ở tai mình, mở chống mắt ra để nhìn. Bởi cậu cho rằng ma không thể nào phát âm thành lời giống người được. Song thị giác của cậu đã đứng im đồng tử vì chạm phải một bộ mặt hay nói đúng hơn là một hình dáng hết sức kinh khủng. Á... á... á... lần này Quang xồm khẳng định là mình đã thét chứ không ngờ vực như lần trước. Gớm ghiếc quá, mắt cậu trông thấy rõ ràng một con ma có cái đầu tóc xõa dài... may mà trời quá tối nên cậu không nhìn thấy bộ dạng đặc trưng của nó ra sao nên còn có thể sống sót để cất lời hỏi lại: - Bà là... ma hay... người...? Có lẽ giọng của Quang xồm quá run nên con ma nghe không rõ đáp theo kiểu hỏi ngược: - Cậu là ai mà lại ở ngoài nghĩa trang vào giờ này? Quang xồm nhanh chóng lấy lại bình tĩnh để bắt đầu cuộc đàm thoại đầy bất ngờ và gay cấn. Tiếng cậu đã trở nên mạch lạc hơn: - Tui... cũng đang... muốn hỏi bà... Con ma không cười khà khà để chặn đứng tinh thần của Quang xồm mà nó tỏ ra nhu mì một cách đáng kinh ngạc: - Cậu muốn hỏi cái gì? Quang xồm đáp không theo sự điều khiển của ý thức: - Bà là người hay là ma quỷ hiện hình? Con ma hỏi làm cho cậu lạnh gáy: - Hãy thử đoán coi... ta là ai? Quang xồm buột miệng nói: - Bảy mươi phần trăm thì là người... - Vậy ba mươi phần trăm nữa cậu cho ta là ai? - Ma. Bởi chỉ có những hồn ma mới ẩn cư ngoài nghĩa địa. Bây giờ thì tiếng cưởi của con ma chợt vỡ ra nhưng không tạo thành âm thanh rờn rợn mà lại nghe như nức nở. - Ta là hồn ma ư? Thế mà có đôi lúc ta là cứ muốn mình là người. - Bà làm tui không hiểu gì. - Hừ... hừ... cậu hiểu để làm chi khi cuộc đời này là những cơn gió xoáy hung hãn và tàn khốc. - Bà nói cứ như là người ta ca cải lương vậy. Giọng con ma ướt sũng: - Nếu là cải lương thì khi hạ màn người diễn viên sẽ trở lại với đời thường. Nhưng đây là đời thường thì cậu ngẫm thử xem lời ta có quá đáng không chứ. Đi... đi theo ta... Bất ngờ bị rủ rê, Quang xồm phản ứng lại: - Tui chưa muốn chết đâu... bà đừng bắt hồn tui. Có lẽ con ma cảm thấy vui trước sự sợ hãi của Quang xồm nên đã bật cười trấn an cậu: - Khà... khà... ta bắt hồn cậu làm chi khi bản thân ta còn chưa thể tự lo liệu được. Mà ta trông cậu có vẻ quen... Quang vội hấp tấp nói: - Không hề quen thì có. Đây là lần đầu tiên tui dám vào nghĩa trang một mình. Con ma từ tốn hỏi: - Lý do nào xui khiến? Phải chăng cậu đang có dự định phá phách... - Ồ không. Chẳng qua là tui không có nơi nào để về nên mới nghĩ tới chuyện tá túc ngoài nghĩa địa. - Nhưng đây là chỗ của người đã chết. Quang im lặng một lúc rồi đối đáp trơn tru: - Người chết rồi sẽ không biết làm hại ai. Nơi của họ là chốn ẩn thân thật yên ổn. - Ý tưởng của cậu sao mà giống ta thế. - Té ra bà chẳng phải là hồn ma. Sự phát hiện của Quang làm con ma trước mặt cậu ngỡ ngàng: - Ta là hồn rna hồi nào. Bộ cậu tưởng chết dễ lắm sao? Lúc này Quang cảm thấy lá gan mình to ra không còn teo thắt lại như hồi nãy. Cậu bắt đầu lấn lướt: - Trời ơi... hổng phải là ma mà nãy giờ hổng nói thiệt. Gặp kẻ nhát họ hồn phi phách lạc xuống âm phủ thì bà không có mạng mà đền. Nếu tui có đem theo cây đèn pin tui đã không hốt hoảng. Con ma mà Quang xồm ngộ nhận giờ lộ rõ là một người bằng xương, bằng thịt. Điều đáng nói hơn bà ta lại chính là người phụ nữ ăn xin mà cậu đã va phải ở ngoài đường lúc ban ngày. Khi nhận diện được thủ phạm làm cho mình ú tim, Quang kêu lên thật lớn: - Thì ra là bà hả. Ăn mày thì ở ngoài đình ngoài chợ chứ sao lại mượn nghĩa địa làm nhà? Người phụ nữ ăn xin thở dài dưới bóng đêm: - Ta phải giả làm ma ở đây là điều khổ tâm khó nói ra. Quang xồm như hiểu chuyện nên không đặt thêm câu hỏi mà chỉ khẽ máy miệng: - Bà làm ma trông giống lắm, ngay đến ma thiệt cũng e lầm. - Tại vì ta quá xấu có phải không? Đó là sự bất hạnh mà ông trời đã trút xuống số phận ta khiến ta sống cũng như người đã chết. Thái độ Quang xồm thật dửng dưng: - Bà oán trách chi lão trời già ở trên cao, ông ấy không có mắt để nhìn thấu đáo mọi việc đâu. Hãy tự mình vượt qua cái định mệnh mà ông ấy đã sắp đặt sẵn. Lúc này Quang xồm nghe người phụ nữ ăn xin khóc thật sự, tiếng khóc của bà ta làm rung động trái tim vốn rất ngỗ ngược của Quang. - Hu... hu... hu... ta đã làm điều đó và đã chuốc lấy hậu quả thê lương là cuộc sống hiện tại đây... hu... hu... hu... Tự nhiên Quang xồm trở nên dễ thương hơn, cậu đi sâu vào đời tư người phụ nữ có hoàn cảnh chẳng ra gì này. - Bà hãy kể cho tui nghe về bà đi. Người phụ nữ vẫn nức nở với nỗi đau của chính mình nên không thốt thành lời được. Hồi lâu sau bà mới nói khi tâm trạng đã dịu lại: - Muốn nghe chuyện của ta thì hãy theo ta lại chỗ trọ của ta ở đằng kia. Quang ngẩn ngơ đảo mắt nhìn vòng quanh: - Ngoài nghĩa địa này mà cũng có nhà trọ ư? Tiếng cười của người phụ nữ ăn xin đầy chua chát: - Ừ nơi đây là khách sạn ngàn sao mà ta đã nương náu suốt nhiều năm. Đôi mắt Quang xồm trợn ngược lên: - Bà đã ở trong nghĩa địa nhiều năm chứ không phải chỉ mới đây… - Đúng, bởi thế cho nên ta và những người đã yên nghỉ nơi đây nào có khác gì nhau. Tuy ta còn sống nhưng cũng giống như một hồn ma đã chết. Ban ngày thì ra phố xin ăn, còn ban đêm thì vất vưởng trong cái nghĩa trang vắng lặng này với nỗi quay quắt nhớ thương và niềm đau oán hận. Quang xồm đâm ra nhiều chuyện: - Giọng điệu của bà khó hiểu quá. Bà đang nhớ thương ai và đang oán hận ai? Người phụ nữ thổn thức tựa như đang đau khổ lắm: - Nỗi lòng của ta chỉ có những hồn ma trong nghĩa trang này mới cảm thông và chia sẻ được thôi. - Nhưng dù sao bà cũng đã gặp tui... đã lộ ra chút ít về bản thân của mình. Lời năn nỉ của Quang xồm làm người phụ nữ lặng thinh. Lúc lâu sau bà ta mới cầm lấy tay cậu kéo mạnh: - Thôi được ta sẽ nói rõ về ta nếu như cậu tình nguyện giúp ta một chuyện. Quang xồm sốt sắng gật: - Chuyện gì khó mấy tui cũng hứa sẽ làm. - Vậy thì đi lại đây. Ta có thức ăn ngon lắm, mình vừa ăn vừa trò chuyện. Nghe thấy vậy, nước miếng từ trong miệng Quang xồm ứa ra làm cho cậu phải nuốt nước liên tục. Bởi lẽ số đậu hũ ăn vụng ở nhà Cường khi nãy đã được bao tử cậu tiêu hóa hết. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 24
PHẦN III Tuy từ nhỏ đến lớn là một đứa trẻ sống trong môi trường chẳng ra gì, nhưng hôm nay là ngày đầu tiên Quang xồm trở thành con ma đói. Lúc ở chỗ cái gò cậu đã giành ăn trái cây cúng của người chết, rồi tự biến mình thành tên trộm bất đắc dĩ nơi bếp nhà thằng Cường, giờ lại ngồi nhai ngon lành con gà luộc đã lạnh tanh mà người phụ nữ ăn xin chìa ra. Có lẽ đây cũng là đồ cúng trên ngôi mộ của một người nào đó ở khu nghĩa trang đạo phật chứ không phải do bà ta bỏ tiền ra để mua. Dự đoán của Quang xồm được giải đáp: - Thịt gà còn ngon không hay đã thiu mất rồi? Sực nhớ tới người phụ nữ ăn xin, Quang xồm bẻ chiếc đùi gà còn lại đưa cho bà: - Vẫn còn ăn được. Trong hoàn cảnh này, như vầy là nhất rồi. Người phụ nữ chìa tay đón lấy, ngồi ăn nhỏ nhẻ, miệng không ngừng tâm sự: - Cậu nói chí phải. Tình cảnh khốn khổ của ta có được thứ bỏ vào bụng để kéo dài sự sống là may mắn lắm rồi, còn trông mong gì nữa. Bấy lâu nay ta đã làm con ma đói, ma khát... ăn toàn đồ cúng của người chết để sinh tồn. Con gà luộc này lúc chiều ngang qua ngôi mộ đằng kia ta đã lấy nó… Quang xồm ngừng ăn đưa lưỡi liếm vòng quanh mép, vẻ chẳng hề câu nệ: - Tiếc quá. Phải chi có chút muối tiêu bữa tiệc của chúng ta sẽ ngon hơn. Người phụ nữ thở hơi mạnh: - Cậu là con cái nhà ai ở vùng này? Quang xồm dấm dẳng nói: - Bà đừng hỏi gì về thân thế của tui cả. Chỉ nên biết đại khái rằng tui là một đứa mồ côi bị người đời hất hủi, không có chỗ để về. Có lẽ từ nay tui cũng mượn nghĩa địa để nương náu giống như bà... - Cậu làm ta thấy bất ngờ, nhưng ta xin có lời khuyên cậu nên cố gắng chịu đựng để vươn tới một tương lai sáng sủa hơn. Cậu còn quá trẻ đừng buông xuôi như ta. Cá tính bướng bỉnh của Quang xồm trỗi lên khiến cậu quăng chiếc đầu gà đang gặm dở đi khá xa rồi lộ dáng bực bội: - Tui tự biết mình phải làm gì và phải sống như thế nào. Mẹ kiếp... cuộc đời chó má này đâu đáng để cho tui trân trọng. Tui cảm thấy thù nó... thù những kẻ đã sinh ra tui... Những lời bộc thốt của Quang xồm làm người phụ nữ ăn xin phải thảng thốt, tuy nhiên màn đêm dày đặc của nghĩa trang đã giấu nhẹm cử chỉ ấy nơi bà. Bà ta nhỏ giọng khi thấy Quang xồm đã dịu lại: - Bình tĩnh... giận dữ làm gì khi sự việc đã rồi. Quang xồm tiếp tục đưa miếng thịt gà còn lại lên miệng nhai cho đến khi hết nhẵn mới dùng tay chùi mép rồi hất mặt: - Đêm nay tui sẽ ngủ lại đây để bầu bạn với bà... mà không, để nghe bà kể chuyện đời xưa... Người phụ nữ ăn xin cảm nhận khóe mắt mình chợt cay vì cơn ngậm ngùi quay trở lại: - Chuyện đời ta không giống như cổ tích đâu cậu nhỏ. Mà nó là một cơn giông tố dữ dội nhận chìm ta xuống tận đáy sâu của kiếp sống làm người. Cậu đã thấy rồi đó ta bị đẩy xuống địa ngục khi chưa trở thành hồn ma. Quang xồm ra vẻ rất nóng lòng: - Bà đi ngay vào câu chuyện đi, đừng đi vòng vo tam quốc nữa. Người phụ nữ ăn xin chắc lưỡi: - Thì ta nói... nhưng nghe rồi cậu đừng khinh ta là một người đàn bà chẳng ra chi. - Hãy gạt vấn đề đánh giá đó sang một bên, chờ bình luận sau đi. Tiếng người phụ nữ ăn xin ảo não: - Sở dĩ ta có kết cục ngày hôm nay là do số phận trớ trêu đã đẩy ta vào một tình huống thật tệ hại. Ta nhớ rõ mồn một từng sự việc xảy ra song không tài nào hiểu được tại sao nó lại đến với ta và tại sao ta lại ngã quỵ trước nó? - Trời ơi... bà kể tóm tắt thôi, tui không kiên nhẫn để nghe bà kéo dài câu chuyện đâu. - Dù sao thì cũng phải có đầu, có đuôi chứ hớt ngang câu chuyện thì cậu làm sao hiểu được. Tới đây, người phụ nữ ăn xin tiếp tục kể về mình: - Trời sinh ra ta và đối xử bất công với ta nhiều đến nỗi ta khó mà nói hết được. Là phụ nữ nhưng ta không có chút nhan sắc, mãi ngoài ba mươi vẫn chẳng có gã đàn ông nào thèm ngó mắt tới đời ta. Đã vậy, anh chị em trong nhà còn không thương, ghét bỏ, coi ta như cục nợ, là vận rủi... mỗi khi gặp phải chuyện không may. Họ cứ lấy ta ra mà mắng, mà đổ lỗi... cho đến một ngày ta không chịu đựng nổi đã nghĩ tới chuyện chết quách để khỏi là cái gai trong mắt người thân. Vào một đêm không trăng cũng chẳng sao giống như đêm nay... sau khi chờ mọi người trong nhà đi ngủ hết, ta đã mở cửa trốn ra với một chai thuốc trừ sâu cực mạnh tìm chỗ kết liễu cuộc đời. Song ta lại sợ có người phát hiện được sẽ cứu ta sống lại nên quyết định lần mò ra nghĩa địa để chết, vì đó là nơi hoang vắng... ý niệm về sự giải thoát khỏi cuộc đời khổ ải đã cho ta lòng can đảm và ta đã dò dẫm ra tới tận nghĩa trang... Thế nhưng khi ta đưa chai thuốc trừ sâu lên miệng thì bỗng nghe có tiếng rên rất gần mình. Thoạt đầu ta thật sự khiếp hãi vì nghĩ rằng bị ma trêu… rồi sau đó ý tưởng của một kẻ chán sống làm tan biến sự sợ hãi... ta căng mắt xuyên thủng bóng tối chung quanh mình và tìm ra thủ phạm của tiếng rên. Đó là một người đàn ông say rượu nằm vắt ngang trên ngôi mộ bằng đất chỉ cách chỗ ta đứng khoảng vài bước chân. Mặc kệ ông ta chăng. Ta đã định bụng như thế, nhưng rồi tính hiếu kỳ muốn biết gã là ai nên ta đã đến gần và cúi xuống dùng tay mình lay lay... Thật bất ngờ... trong lúc ta chưa kịp nhận dạng được dung mạo của gã thì đã bị gã nắm chặt lấy và đè xuống... Phải kể lại chuyện này ta cảm thấy xấu hổ quá. Giá như lúc đó ta phản kháng lại sự cám dỗ của ma quỷ thì dẫu còn sống ta cũng đâu khổ sở đến dường này. Ngừng lại một chút để nghiền ngẫm những sự việc đã xảy ra trong đời mình, người phụ nữ ăn xin mới nghẹn ngào kể tiếp: - Ta nghĩ ông trời trêu ngươi ta nên mới bày ra những cái trò oái ăm trong cái đêm hôm đó. Ta thật sự không hiểu mình sao lại có thể buông xuôi một cách dễ dàng để người đàn ông đó chiếm đoạt mình rồi lặng lẽ bỏ đi. Dù đã là một cậu con trai đang bước vào tuổi thanh niên, Quang xồm vẫn còn ngu ngơ trước vấn đề tình cảm của người lớn mà cậu vừa nghe được nên bật thốt: - Sao bà không chạy theo người đàn ông ấy làm vợ gã? Tiếng khóc nơi người phụ nữ ăn xin lại vỡ ra: - Ta nào biết gã là ai và sinh sống ở đâu. Sau đêm chung đụng đó, ta bỗng dưng không còn muốn chết nữa nên đã qua trở về nhà. Lòng thầm mong sẽ tìm cho được người đàn ông ngẫu nhiên làm chồng mình với niềm hy vọng cháy bỏng của người đàn bà đang cần một mái ấm. Sự việc ấy không ai biết... mãi cho tới lúc ta phát hiện mình mang thai và chẳng thể giấu giếm mọi người được. Nghe tới đây. Quang xồm thông minh đột xuất: - Tui đã suy đoán được đoạn cuối của câu chuyện. Bà đã bị đuổi ra khỏi nhà và sống kiếp đời lang bạt, ăn xin mà tui đang thấy đây. - Cậu nói đúng không sai. Điều đáng phải nhắc lại là cho tới giờ này, trải qua chừng ấy năm ta vẫn chưa tìm ra tông tích người đàn ông đó để nói rằng ổng và ta từng có một đứa con... Rất tiếc là ta cũng không được sống cạnh nó. Quang xồm xoa tay hỏi: - Nó đã chết rồi chắc? Người phụ nữ ăn xin bèn mắng cậu: - Nói tầm bậy. Nó vẫn còn sống... mà thôi, điều ta cần là nhờ cậu tìm giùm ta người đàn ông kia... Chuyện không vui nhưng Quang xồm lại cười rũ: - Há... há... há... bà cứ làm như tui có phép thần nhìn xuyên được quá khứ của bà vậy, theo lời kể thì bà và người đàn ông đó chỉ gặp gỡ một lần và chưa hề biết mặt nhau. Sự kiện lại xảy ra rất lâu, mười mấy... hai chục năm... ngay đến cơ quan pháp luật cũng chưa chắc tìm ra được, huống hồ tôi... thằng Quang xồm thường chỉ độc một tài bốc phét. Trong bóng đêm, người phụ nữ ăn xin lại lộ dáng vẻ buồn thảm: - Ta biết yêu cầu của ta khó có thể đáp ứng nhưng linh cảm cứ mách bảo rằng người đàn ông này không ở quá xa ta. - Thế thì bà cần gì phải nhờ vả tới tui. Bà hãy lợi dụng khoảng thời gian ăn xin mà xông xáo mọi nơi ắc có ngày sẽ gặp. Người phụ nữ phàn nàn: - Điều đó ta đã làm rồi, song ngặt nỗi ta không hề biết mặt mũi ông ấy... Quang xồm đứng bật dậy: - Vậy thì tui xin bó tay thôi. Dẫu có tài đánh hơi như chó săn trải qua nhiều năm cũng khó lòng mà phát hiện. - Nhưng ta có vật này đây. Nếu cậu nhận giúp thì ta sẽ đưa cậu giữ để tìm ra chủ của nó. Lòng tốt của Quang xồm tan biến mất khi nghĩ đến chuyện không nên tự chuốc lấy những rắc rối vào mình. Cất tiếng gọi nhiều lần không thấy Quang xồm thưa, người phụ nữ ăn xin chồm tới lay lay cậu nhưng vẫn không nghe đáp trả. Bà lẩm bẩm một mình: - Đang nói chuyện mà đã ngủ lăn ra nhanh thế này ư? Chẳng có động tĩnh gì từ phía cậu con trai, có lẽ Quang xồm đã thả hồn vào giấc mộng sau khi đã vỗ yên bao tử. Thấy vậy, người phụ nữ ăn xin bèn trở lại chỗ của mình không quấy rầy Quang xồm nữa dù lòng tốt muốn đánh thức cậu ta dậy. Đã quá nửa đêm, hay nói đúng hơn là trời đang chuyển dần về sáng nên đâu đó lác đác tiếng gà. Sương lúc này đã sa xuống thật nhiều tạo ra màn không khí ẩm ướt và khá lạnh khiến người phụ nữ ăn xin phải xuýt xoa dù đã quen sống trong bối cảnh như vậy từ lâu. Cũng nằm trên một ngôi mộ xây, nhưng có mái vòm che, người phụ nữ ăn xin ngửa mặt lên nhìn trời lòng xót xa như xát muối. Bà mân mê vật kỷ niệm duy nhất của người đàn ông từng đến trong đời và đánh rơi lại rồi hồi tưởng ký ức năm xưa. Cũng một đêm tối mịt mùng nhưng không yên ả mà đầy bão táp, phong ba. Bà cứ ngỡ hồn mình sẽ bị rơi xuống địa ngục song trái ngược lại nó đã trôi bồng bềnh như quả bóng nổi trên sông hoặc áng mây lênh đênh giữa bầu trời rộng lớn. Thú vị quá... say sưa quá... chất ngất quá... bà đã mê man, ngất lịm đi trong cảm giác khoái lạc... một thứ khoái lạc mà hơn nửa đời người tới giờ mới được tận hưởng. Thật thiệt thòi cho bà quá. Và bà đã không bỏ lỡ cơ hội tận dụng, níu kéo, ngất say cho đến lúc tỉnh lại thì... tất cả đã vụt bay. Chẳng lẽ những gì vừa xảy ra với bà đêm ấy chỉ là mơ? Ồ, không đâu. Bà vẫn còn đang cảm nhận được sự run rẩy của con tim và hơi thở dồn dập toát ra từ nơi ngực. Những chiếc nút áo bị mở tung trên người bà chính là bằng chứng. Bà đã đi qua thời con gái dù có hơi muộn màng. Hồi hộp, lo âu nhưng bà không thấy ân hận gì. Chỉ tiếc mỗi một điều là đã không tỉnh táo để coi tên kẻ trộm ấy là ai? Dù hắn là người hay là một hồn ma nghịch ngợm bà cũng thấy thật đáng yêu và mong muốn được hắn quấy nhiễu mãi. Hạnh phúc, dẫu nó đến trong mơ, bà cũng sẽ hân hoan đón nhận. Bởi bà đang thèm khát nó, đang ước mong được nắm giữ lấy nó... nhưng... buồn bã thay... nó không thể trở lại... không tái diễn lại trong đời bà lần thứ hai. Bà đã hờn ghen với ả Thị Nở trong tác phẩm của Nam Cao, vì có cùng số phận như nhau song bà vẫn là người kém may mắn hơn cả. Thị Nở còn có cơ hội nấu cho Chí Phèo tô cháo hành bốc khói, có cơ hội hưởng cùng gã nát rượu ấy một đêm khoái lạc dưới trăng, được gã ngây người ra nhìn đắm đuối như chiêm ngưỡng chị Hằng, được gã rủ cùng sống chung trong lò gạch... Còn bà, tên kẻ trộm đời bà đã bặt tăm tựa như cơn bão dữ tan chỉ để lại hậu quả là sự đau đớn nặng nề. Thoạt đầu bà hoang mang cho rằng đích thị mình đã ăn nằm với ma. Nhưng sáng hôm sau tìm được chiếc vòng bạc loại của đàn ông thường đeo rơi ngay chỗ đó thì bà mới tin tên kẻ trộm là người. Vậy mà gần hai mươi năm cố săn lùng, bà vẫn chưa phát hiện được tung tích về kẻ đã gieo thêm oan nghiệt cho đời mình. Bà có thai, chịu đựng sự phỉ nhổ, sinh con, bị bắt mất con, bị đuổi đi, sống kiếp thân tàn ma dại của một kẻ ăn mày. Thế mà bà vẫn khư khư giữ chiếc vòng bạc ấy như báu vật và luôn hy vọng có ngày gặp được người đàn ông trong mộng tưởng năm xưa... - Ớ… ớ... ớ... Tiếng kêu của Quang xồm đưa người phụ nữ ăn xin thoát khỏi cơn hồi tưởng của đời mình. Bà nhổm dậy nhìn qua phía cậu con trai đang nằm, máy miệng: - Cậu đã tỉnh lại rồi hả? Không có câu trả lời đáp lại, có lẽ lúc nãy Quang xồm đã nói mơ. Khi Quang xồm vươn vai thức giấc thì trời đã rạng sáng. Cậu hất tung chiếc mền rách trên người xuống rồi bật kêu: - Thiệt là hôi. Cứ như giẻ chùi chân ấy. Người phụ nữ ăn xin ở cách cậu không xa, vội giải thích: - Ta lại thấy cậu nằm co ro giữa trời, toàn thân ướt đẫm sương nên mới dùng nó đắp tạm. Quang xồm nhìn người phụ nữ ăn xin nhăn nhó mặt: - Bà tốt với tôi vừa thôi, tui không có cơ hội trả ơn đâu. Người phụ nữ ăn xin khẽ cúi đầu lặng thinh, dưới ánh sáng tỏ mặt người của một ngày mới bắt đầu trông bà ta thật xấu xí đến độ Quang xồm không biết phải dùng ai để ví von. Chẳng lẽ Thị Nở của Nam Cao cũng ngang tầm cỡ này sao? Quang xồm nghe tội cho gã đàn ông đã ôm ấp bà ta. Chắc tại vì quá say rượu nhìn Chung Vô Diệm tưởng Hằng Nga nên mới gây ra sự cố. Chừng tỉnh lại giật mình trốn biệt không dám để lộ tông tích. Nghĩ tới đó Quang xồm không nén nổi buồn cười hục hặc trong cổ họng khiến người phụ nữ ăn xin ngạc nhiên hỏi: - Cậu đang vui có phải không? Quang xồm chẳng ý tứ: - Tình cảnh này có gì mà vui, tui tức cười bà thì có... Người phụ nữ ăn xin sầm mặt xuống: - Cậu giễu cợt số phận ta đó ư? Quang xồm bật thành tiếng cười lớn phá tan sự tĩnh lặng của nghĩa trang: - Ha... ha... ha... bà trách lầm người rồi. Kẻ giễu cợt bà là ông trời, là gã say rượu bậm trợn nào đó của năm xưa chứ hổng phải là tui. Người phụ nữ ăn xin òa khóc, tiếp nối lời của Quang xồm: - Cậu nhắc lại làm ta mủi lòng quá. Ta chỉ trách trời chứ không trách người đàn ông đó! Rồi bà ta bước tới gần Quang năn nỉ: - Cậu trai à, ta chỉ xin cậu giúp ta một chuyện thôi. Cậu mà không nhận lời, ta chết không cam tâm. Thấy Quang xồm không gật đầu bà ta năn nỉ tiếp: - Điều ta nhờ chỉ là chuyện cỏn con, cậu thừa sức làm mà... Thấy khó thể từ chối, Quang xồm đành miễn cưỡng: - Thôi được, tôi hứa sẽ cố công tìm người đó giùm bà, nhưng việc tìm được ông ta không thì tui chưa chắc. Nghe thấy thế, người phụ nữ ăn xin mừng rỡ dúi chiếc vòng bạc vào tay Quang: - Cám ơn cậu... cậu hãy giữ chiếc vòng kỷ vật này. Nếu người đàn ông nào nhận nó thì chính là kẻ ta đã nhờ cậu tìm. Cầm chiếc vòng lên ngắm nghía thấy chẳng có gì đáng giá để đem cất kỹ, Quang xồm bèn đeo nó vô cổ tay. Cậu ngó lại rồi than vãn: - Thế này thì người ta sẽ hiểu tui là bóng đây. Người phụ nữ ăn xin như lờ đi lời của cậu con trai, móc trong túi áo ra những tờ giấy bạc khá cũ kỹ xếp ngay lại trên tay rồi đưa cho Quang xồm: - Ta dành dụm được ít tiền, cậu lấy mà xài. Hằng ngày ta ăn xin cũng đủ no cái bụng, không cần phải tiêu phí gì cả. Ngó thấy tiền, mắt Quang xồm sáng rỡ, nhưng rồi nghĩ sao đó, cậu nguây nguẩy lắc đầu: - Tui đường đường là thanh niên trai tráng mà phải xòe tay lấy tiền của một bà già ăn xin để xài sao. - Ta cho cậu chứ có phải cậu tự lấy đâu mà ngần ngại. - Bà đừng có ép tui khi tui cũng có ít nhiều lòng tự trọng trong người. - Cần tiêu dùng thì cứ lấy đi mà. Ở đây chỉ có ta và cậu khách khí làm chi nữa. Số tiền này không nhiều, chỉ vài chục ngàn bạc thôi. Ăn mày như ta không có tiền lớn đâu. Tuy những tờ giấy bạc trên tay ngườl phụ nữ ăn xin không còn hấp dẫn Quang xồm song chiếc bụng đang sôi sùng sục của cậu đã buộc cậu nghĩ đến tô cháo lòng nóng hổi thơm ngon ở quán bà Bảy Béo ngoài đầu xóm. Nếu không gạt bỏ tự ái để mà cầm lấy thì chắc chắn phải nuốt nước bọt suông... Sự thôi thúc của cái bao tử rỗng tuếch đang đòi ăn đã xui khiến Quang xồm đưa tay chớp lấy số tiền đó thật nhanh. Cậu còn đưa ra câu biện hộ cho việc nhận tiền của mình: - Tôi không sợ bà buồn. Thôi thì tôi tạm giữ, khi nào bà muốn lấy lại thì tui sẽ trả. Người phụ nữ ăn xin khoát mạnh tay: - Cậu chịu xài tiền của ta là ta đã thấy vui. Bây giờ chia tay... nếu muốn gặp thì cứ ra đây. Nghĩa trang không có ma... chỉ có ta và lũ chó hoang bị đói chạy rong thôi. Quang xồm đứng thừ người như thể không muốn rời khu vực nghĩa địa: - Bà sẽ đi đâu cả một ngày? Người phụ nữ ăn xin nhếch môi cười: - Công việc kiếm sống của ta là rên rỉ để cầu cạnh tình thương của mọi người. Khi nào mệt mỏi ta lại trở về nghĩa trang này nghỉ ngơi. Thôi ta đi đây kẻo mặt trời đang ló rồi. Nói xong, người phụ nữ ăn xin chậm chạp đi dọc theo các hàng mộ để ra khỏi nghĩa trang. Nhìn bóng bà ta khuất dạng ở phía xa lẫn lộn giữa những tấm bia nhô lên cao và những thân cây bạch đàn rũ lá đang phơi mình trong những tia nắng ấm đầu ngày, lòng Quang gợn lên cảm giác xót thương. Nghĩ cũng tội nghiệp cho bà ta, đã sắp bước vào tuổi mắt kém tay run rồi mà không có nơi để trú ẩn. Ngộ nhỡ trong những lúc trái gió, trở trời bà ta biết phải nương tựa vào ai. Kiếp làm người thật chua cay, kẻ chẳng biết sự đau khổ, đói khác là gì... người thì chỉ ước mơ được một lần sung sướng trong đời cũng không được. Như cậu và người phụ nữ ăn xin đây là sự bất công tột cùng của tạo hóa. Đáng ghét quá... Quang xồm thấy mình không cam lòng để phải chịu như thế! Cậu cần phải vùng vẫy để vượt lên số phận. Sống bụi đời cũng được nhưng phải bắt những kẻ có diễm phúc hơn mình san sẻ phần nào sự bất hạnh thì Quang xồm mới cam tâm. Không nán lại nghĩa trang để suy tư, nghĩ ngợi thêm. Quang xồm nhét số tiền trên tay vào túi quần rồi lững thững bước đi với ý định sẽ tìm một quán ăn nào đó xơi no bụng. Dù sao thì cậu cũng không thể nhịn đói khi trong túi có tiền. Ra khỏi cổng nghĩa địa, Quang hướng thẳng vào trong làng. Những con đường lớn nhỏ đều có người nhưng dường như chẳng ai quan tâm tới cậu. Không buồn lòng vì điều ấy, Quang còn tỏ thái độ nghênh ngang, kênh kiệu với mọi người. Cậu tấp vào một hàng bún bò kêu liền hai tô, giọng nghe khá hách dịch: - Đặc biệt... năm ngàn một tô ấy. Bà chủ hàng bún nhìn Quang xồm bằng ánh mắt dò chừng: - Liệu mày có trả tiền không hay là toan tính chuyện ăn quịt? Các cơ mặt của Quang xồm khẽ giật nhẹ kèm sự tức giận, cậu đáp mà như mắng: - Tui đã ăn quịt của bà lần nào chưa? Bà chủ hàng bún vẫn không rời mắt khỏi Quang, hơi sẵng giọng: - Mày chưa quịt... nhưng biết đâu hôm nay mày tính quịt. Không chịu đựng nổi lời lẽ xúc phạm ấy, Quang móc túi lôi hết số tiền mình có được quẳng ra bàn. Cậu hất hàm: - Bây nhiêu đây đủ để trả tiền cho bà không? Bây giờ bà hàng bún mới thay đổi thái độ, giả lả chào mời cậu: - Ngồi… ngồi đi. Có đặc biệt ngay đây... Tức mình vì đã bị khinh thường, Quang tính không thèm ăn, song mùi thơm của nước lèo nhấn cậu ngồi xuống ghế nuốt nước bọt ừng ực: - Mau lên đi, tui đói rồi! Bà hàng bún đon đả: - Đây... đây... ăn trước một tô đi. Lập tức khuấy đũa vào tô bún thơm ngon vừa được đặt trước mặt, Quang hối hả gắp đưa lên miệng mà không kịp nêm gia vị. Cậu hít hà một cách khoái trá: - Bà làm tô thứ hai luôn đi, kẻo tui mất hứng ăn. - Có liền đây, chỉ sợ mày bể bụng vì bội thực thôi. Quang xồm bĩu cặp môi đang trơn mỡ ngừng ăn nói: - Bà có dám thách đố thằng này không? Nếu hổng xơi hết năm tô thì tôi trả tiền gấp đôi. Bà chủ hàng bún nghệt mặt ra: - Thế mày xơi hết thì tao phải làm sao? Tia đồng tử của Quang xồm rực sáng: - Tất nhiên là bà phải chịu lỗ tiền kia rồi. Bà chủ hàng bún bèn buột miệng: - Đúng là bọn cờ bạc. Làm gì cũng tính chuyện hơn thua. Quang xồm vội bào chữa: - Thì ngược lại bà cũng sẽ được thêm tiền nếu tui thua cược mà. Nhìn lại tô bún bò to đùng mình vừa chế biến xong đang chuẩn bị trao cho Quang, bà chủ hàng bún thầm nghĩ chắc chắn thằng nhóc này không thể nhá hết tô thứ ba chứ nói gì đến năm tô. Nó tính bày trò khủng bố bà để trả đũa chuyện vừa xong... hừm... thằng nhóc con... bà không phải hạng dễ bị vuốt mũi đâu, thách đố thì thách đố... mày sẽ phải trả gấp đôi con ạ. Bụng trấn an dạ, bà hàng bún vào cuộc với Quang xồm: - Được! Tô thứ hai đây, mày ăn đi tao sẽ làm tiếp tục. Nhưng nói trước thua cuộc thì đừng có chạy làng tao róc xác mày lấy xương hầm nước lèo đó nha. Không hiểu Quang xồm có mưu mẹo gì hay chăng mà cậu ta tỏ ra rất bình tĩnh vừa ăn vừa rung đùi xem chừng mình đã nắm chắc phần thắng. Bây giờ thì Quang không vội vàng như lúc nãy, cậu nhai húp thật chậm rãi từ tốn cứ như sợ món bún bò trong tô sẽ mau chóng chui tọt vào bụng mình khi chưa kịp đã thèm. Thấy vậy, bà hàng bún sốt ruột giục: - Bộ mày đau răng bất tử sao mà ăn lâu quá vậy? Quang xồm cười bằng mắt: - Phải ăn chậm thì tui mới cảm nhận được hết sự thơm ngon của món bún bà làm. - Không cần mày khen hàng bún của tao cũng luôn đắt khách xưa nay rồi. Khôn hồn thì mau lên, thằng quỷ sứ! Mặc, Quang xồm vẫn thong thả trước bộ mặt nôn nóng của bà hàng bún. Mãi cho tới lúc cậu ăn hết tô thứ năm thì mặt trời đã xế trưa. Quang dùng tay xoa bụng hả hê nói: - Tui thắng hay bà thắng? Bà hàng bún cau có trừng mắt: - Thằng khốn... mày giở trò lừa bịp. Năm tô bún phải ăn liền một lúc chứ mày kéo dài hằng mấy tiếng đồng hồ thế này… Quang xồm mạnh miệng la cãi tay đôi: - Lúc nãy bà có giao kèo thời gian đâu mà bây giờ hạch họe. Còn chuyện tui ăn năm tô bún cũng liền một hơi chứ có nghỉ lúc nào đâu. Bà là người lớn mà tính lật lọng con nít hả? Bà hàng bún đỏ bừng mặt. Mắng Quang xồm té tát: - Con nít quỷ chứ hổng phải tầm thường. Thôi thì bố thí cho mày năm tô bún, cút mau đi thằng khốn. Đâu chịu bị sỉ nhục như thế, Quang xồm sừng sộ lại: - Tui không phải ma đói, ma khát hay ăn mày mà nhận của bà bố thí. Năm tô bún đó bà thua cuộc nên phải chung. Bà hàng bún quát tướng: - Thì tao đã chung và mày đã nốc hết vào bụng, còn đôi co gì nữa? Biến đi ngay cho tao còn bán hàng. Đúng là một ngày xúi quẩy nên mới gặp quỷ sứ, ma vương... Liếc mắt ngó thấy rổ bún còn đầy tràn, Quang xồm tỏ thái độ khoái chí thay vì tức giận bà hàng bún đã nặng lời lăng mạ. Nhất định ngày hôm nay nhà bà ta phải ăn bún trừ cơm bởi đụng nhằm cái vía không may mắn của Quang. - Lão Tâm... lão Tâm... Đang sắp sửa lịm người đi, nghe tiếng gọi giật giọng, lão Tâm hốt hoảng bổ choàng dậy, mắt lơ láo nhìn quanh, vẻ mặt đầy sợ hãi: - Đừng... đừng... ta thật sự tin là có ma rồi... đừng... đừng tới đây dọa ta nữa... ta cũng không còn sống... sống nỗi nữa đâu... Đứng gần đó với ly nước trên tay toan đưa lên cho chồng, bà lão kinh ngạc khựng lại hỏi: - Ông đang thấy... thấy gì vậy? Lão Tâm nói như người đang trong cơn mê sảng: - Ma... ma nó lại đến đây quấy nhiễu ta. Bà lão cảm thấy chân tay mình rụng rời dù thời điểm giữa ban ngày chứ không phải là đêm tối. Bà run rẩy như chính mình đang đối diện với con vật vô hình ấy vậy: - Đâu... đâu... ông chỉ... chỉ nó... cho tui... tui coi... Lão Tâm quơ tay lung tung không nhất định một chỗ nào: - Đó... đó… Bà lão cố mở to đôi mắt chùng xuống vì tuổi tác, giọng lắp bắp: - Tui... tui... không thấy... Lão Tâm chợt ngẩn người: - Chắc là nó không muốn hiện diện trước người thứ hai. - Vậy ông có nhìn thấy nó không? - Thấy... mà không... chỉ mang máng thôi chứ không thấy rõ ràng. - Ông tường thuật lại thử. Có nào là ma mà lại đến nhát chúng ta giữa ban ngày. Lão Tâm lặp lại lời của vợ: - Ma nhát giữa ban ngày à? Bà lão chỉ tay ra ngoài trời: - Thì ông hãy nhìn coi. Mặt trời đang nắng chói chang kia chứ có phải là đêm đen đâu. Mặt lão Tâm nghệt ra trông giống hệt một ông già lẩn thẩn. Ngay chính lão cũng không hiểu mình có thật sự bị ma nhát hay đó chỉ là nỗi ám ảnh do sự cố đêm qua. Ma... cái âm từ này sao nghe khiếp đảm quá. Nó làm cho lão phải rợn gáy khi hình dung lại đêm hôm nào ngoài nghĩa trang. Ôi... nếu sự kiện ấy lặp lại một lần nữa không biết lão có còn đủ tỉnh táo mà thoát thân hay đối diện với nhân vật thuộc thế giới người chết không. Họ không có khí giới trong tay nhưng có thể cướp đi linh hồn của những kẻ yếu bóng vía. Mà lão đâu phải là loại người dễ bị hù dọa chứ. Thế mà... chỉ một lần nhìn thấy nó là lá gan lão đã teo tóp lại một cách thảm thương. Ma... cái bóng đêm hôm qua dẫn lão đi liệu có phải là ma không? Nếu chính nó thì đây là lần thứ hai lão bị ma trêu chọc. Sợi dây thừng siết cổ lão... phải chăng con ma muốn bắt hồn lão đi nên mới dùng tới chiêu thức ấy? Nhưng số lão đâu có chết lãng xẹt như vậy, bằng chứng là lão vẫn còn đang sống... đang ngồi sờ sờ trước mặt vợ lão đây. - Ông nghĩ gì mà thờ thẫn cả người ra vậy hả? Tiếng bà lão làm lão Tâm giật mình, quay sang khẽ gắt gỏng: - Nghĩ gì mặc kệ tui, bà cần biết để làm chi? Bị chồng nói nặng lời, bà lão bèn hờn lẫy: - Vợ chồng quan tâm với nhau mà cũng còn bị mắng. Thây kệ ông, tui hổng ham nữa. Nói rồi bà lão bỏ ra ngoài để mình ông chồng lại đó. Chỉ một lúc, bà nghe tiếng ông la: - Ma... ma... Ngó vô nhà thấy chẳng có gì xảy ra, bà lão cho rằng chồng mê sảng nên lẳng lặng làm công việc nội trợ của mình. Chừng xong xuôi mọi chuyện, bà bưng tô cháo vào mời ông thì mới hay sự thể. Lão Tâm đang nằm sấp ở dưới gầm giường trông cứ như con chó sợ chủ đánh. Bà lão phải vận dụng hết sức mới lôi được lão ra. - Ông làm cái chi mà kỳ cục quá vậy? Trên giường không nằm lại chui xuống giường là sao? Lão Tâm vừa run rẩy, vừa rên rỉ: - Ma... nó nhát tui... Bà lão vội đảo mắt vòng quanh nhà, hoang mang hỏi: - Đâu? Ông nhát tui... tui bỏ nhà đi cho ông ở một mình đó. Lão Tâm không dành cho vợ lời trấn an mà còn làm cho bà sợ thêm: - Ma nó nhát tui thiệt, ai dọa bà làm chi. - Nhưng bây giờ là ban ngày chứ có phải là đêm đâu? Bộ loạn rồi hay sao mà quỷ sứ, ma vương lên trần gian giữa thanh thiên, bạch nhật chứ. Có lẽ ông bị loạn thần kinh rồi cũng nên. Ăn cháo đi, tui tìm thuốc an thần cho. Đón tô cháo còn nóng hổi thơm mùi hành và trứng, lão Tâm múc ăn một cách miễn cưỡng dù trong bụng lão đang trống rỗng. Được phân nửa, lão ngừng lại hít hà: - Đủ rồi, tui không ăn nữa đâu. Bà lão không ép, dúi cho ông viên thuốc bé xíu nói: - Ông uống đi, rồi ngủ một giấc dậy sẽ khỏe thôi. Lão Tâm toan phản đối nhưng nghĩ sao đó đã làm theo ý vợ. Trước khi lên giường nằm, ông còn yêu cầu bà: - Bà phải ở gần tui không được đi đâu hết. Đang bực mình bởi thái độ của chồng, bà lão cũng phải phì cười nhận lời: - Được. Tui sẽ không xa ông dù là nửa bước. An tâm, ông lão nằm vắt cánh tay lên trán rồi nhắm mắt. Có lẽ viên thuốc an thần chưa kịp thấm nên lão còn đủ tỉnh táo để liên tưởng đến những sự việc đã xảy ra. Không phải chỉ mới đây mà là chuyện xưa... xa lắc, xa lơ… cái thời lão còn là một trung niên tráng kiện coi trời bằng vung, đất dưới chân không to hơn chiếc dép. A... a... a... LãoTâm lại hét lên thật to nhưng có một bàn tay ấm áp đã vỗ nhẹ lên người lão như muốn trấn an cơn ác mộng mà lão vừa gặp phải. Cảm giác dịu dàng ấy bỗng làm lão liên tưởng đến cái sự kiện mà cứ hễ nhớ tới lão lại run lên bần bật. Thật khổ thân cho lão, mà phải đâu lão muốn mình phạm tội trong mơ. Bao nhiêu năm nay chẳng phải lão từng sống chung với bà vợ già của mình đó sao. Vậy mà đã có một lần... lão thật sự không biết chuyện ấy là thiệt hay là ảo ảnh? Rất có thể tại lão quá gan dạ nên bị các hồn ma trêu chọc. Như thế có nghĩa là… lão đã... ối, không thể hình dung được những gì mà lão đã thấy và hành động. Thật quá sức hổ thẹn. Nếu không phải tại say rượu ắt lão đã có thể làm chủ mình... đã không để sự kiện xấu xảy ra. Thời gian qua rất lâu nhưng dư âm quái đản ấy cứ trở về trong ký ức của lão. Không thể phủ nhận rằng nó không cuốn hút lão, làm cho lão phải mê mẩn cả người mỗi khi chợt nhớ lại. Tội lỗi. Liệu có phải là tội lỗi chăng? Không, Ião không thể tự kết án mình khi chưa hiểu rõ tường tận sự việc. Bởi nếu vấn đề là thật thì sao chẳng ai làm khó lão. Đã bấy nhiêu năm lão cố tình chờ đợi song cơn bão trong tâm tưởng lão lại cứ bình thản ngủ yên như một tên lười không muốn rời khỏi nệm ấm, chăn êm. Và lão đã đúc kết lại rằng điều ấy chỉ là mơ... một giấc mơ lố bịch mà trong đời lão chỉ gặp một lần. - Hư... hư... hư... Lúc này lão Tâm rên khe khẽ chứ không la toáng lên như khi nãy. Lão nghe tiếng bà vợ già phàn nàn: - Không biết mắc bệnh gì mà cứ lúc tỉnh, lúc mơ. Đã biểu đừng lần mò ra nghĩa địa mà hổng nghe. Chắc lại đụng chạm tới vong hồn nào nên bị quở phạt đây. Rất muốn mở miệng để giải thích nhưng hai bờ môi lão Tâm cứ dính chặt lấy nhau buộc lão phải làm người câm một cách khó chịu. Chợt có bóng ai đó thấp thoáng ở bên ngoài cứu lão thoát khỏi những lời cằn nhằn của bà vợ. - Nghe nói đêm qua lão Tâm bị ma vật... tui tới thăm ổng. Từ trong nhà lão Tâm thở dài đánh thượt vì biết mình lại tiếp tục bị làm phiền. Đúng là tránh bà vợ lắm điều lại gặp phải lũ nhỏ tinh nghịch, phen này lão khó lòng mà yên thân nằm nghỉ. Quả nhiên, lão Tâm lập tức bị dựng dậy: - Ai mà nằm thõng thượt trên giường vậy? Hãy ngồi dậy kể lại chuyện ma vật Ião ra sao? Lão Tâm muốn tát vào cái miệng thằng Học để cho nó đừng toác hoác trước mặt lão nhưng không đủ sức giơ cao cánh tay lên. Thằng Trung không biết điều còn nói tiếp: - Con ma nào vật lão chắc cũng thuộc loại hết hơi nên mới để cho lão còn sống sót. Thằng Siêu không đứng yên mà chêm vào: - Lão còn sống bởi lão mạnh hơn đó, chứ yếu vía như mấy thằng mình thì nó bắt mất hồn rồi. Cường lên tiếng thật từ tốn: - Tao không ngờ dạo này ma quỷ lộng hành quá. Chỉ trong một đêm mà nó quậy phá hai ba nơi. Những đôi mắt mở lớn hướng về cậu: - Còn chỗ nào ngoài nhà lão Tâm ra? Cường đáp lời Học, thái độ khá nghiêm nghị: - Nó phá cả nhà tao... vừa ăn, vừa khuấy nát hết mấy khuôn đậu hũ. Siêu phẩy tay phủ nhận: - Tao chắc chắn là không phải. Ma nào biết ăn giống người. Hay đêm qua nhà mày bị ăn trộm đột nhập rồi. Cường biện hộ cho sự suy luận của mình: - Làm gì có tên trộm vô nhà người ta chỉ để ăn đậu hũ. Hơn nữa, lúc ấy còn sớm lắm, cả nhà tao đang ăn cơm tối thì nó đã hành động rồi. Siêu cười lên khục khặc: - Có thế mới là người. Cường ngoảnh mặt về một bên: - Tao không tin. Siêu chế giễu: - Vậy mày tin là có ma ư? Bộ không sợ nó nhân cơ hội vật lộn với mày như đã vật lão Tâm. Cường ré lên khi Siêu chưa kịp dứt: - Oái, thằng chó chết, im ngay kẻo tao cho gãy hết răng bây giờ. Thấy bạn sợ. Siêu làm già: - Tao không ngại gãy răng, chỉ e mày đau tim chết trước khi thực hiện được điều ấy. Cường vội vã hạ mình: - Mày biết lo cho tính mạng của bạn bè là tốt rồi. Bây giờ dành thời gian hỏi thăm lão Tâm đi. Siêu cố chọc Cường thêm một câu: - Tấm lòng của mày chẳng thơm tho một chút nào. Mà thôi, đây là nhà của lão Tâm, cũng không nên làm rộn lão khi lão bị ốm. Tới đây. Cường chìa ra một gói nhỏ bọc lá chuối bên ngoài mà cậu giữ khư khư nãy giờ đưa cho lão Tâm, giọng hiền khô: - Tui biết lão khoái ăn đậu hũ nên đem đến cho lão một ít nè. Lão Tâm nhìn Cường bằng ánh mắt có đôi chút thiện cảm. Lão mở miệng thật khó khăn: - Cám ơn. - Ối… lão khách sáo làm chi. Tụi tui luôn mong mỏi lão sống thọ để thỉnh thoảng còn được nghe lão kể những chuyện của những nhân vật của thế giới vô hình chứ. Lời Học lập tức bị Cường chận đứng lại: - Đã sợ ma thấy mồ còn làm bộ. Phải như đêm hôm qua nhà mày gặp sự kiện lạ thì bây giờ mày không dám múa mỏ khua môi đâu. Da mặt Học đỏ rần lên vì tự ái: - Bằng chứng đâu mà mày hạ giá trị của tao thấp vậy? Cường trề môi: - Cần gì phải chỉ rõ ra cho bàn dân thiên hạ thấy hết chứ. Học không biết điều làm tới: - Tao bắt buộc mày phải nói. Trong lúc Cường còn đang bối rối vì giữ sĩ diện cho Học thì đột ngột có thêm người xuất hiện với giọng khá dõng dạc: - Nó không nói thì để tao nói giùm. Mọi ánh mắt đều nhìn ra, cùng kêu lên một lượt: - Thằng Quang xồm... Quang xồm thọc hai tay vào túi quần, dáng điệu thật nghênh ngang, với điếu thuốc lá ngậm bên mép: - Phải, là tao đây... làm gì mà tụi bây kinh ngạc giống như thấy ác thần vậy? Cường mấp máy miệng theo kiểu cà lăm: - Mày... mày... từ nơi nào... tới... tới đây... Không giải thích vội, Quang xồm hả họng cười: - Há… há… há... tụi bay thử đoán xem tao vừa từ đâu đến? Siêu quan sát Quang xồm rồi buột miệng: - Ngó bộ dạng mày tao biết đã nhập băng với mấy đứa ngoài đình chợ rồi. Nhìn vẻ mặt lừ đừ của Quang xồm, Siêu nói tiếp: - Tao không thể đoán sai được, bởi tao biết rõ mày đã bỏ nhà đi bụi rồi. Một chút gì đó thật cay thật đắng gợn lên mắt, lên môi Quang xồm nhưng ngay tức khắc bị cậu gạt phăng thay cho nụ cười đầy ngạo mạn: - Chuyện tao bỏ đi bụi là có thiệt vì tao không thể sống chung nổi với những người luôn coi tao là cái gai trong mắt. Tao oán ghét họ lắm! Tao sẽ lăn ra vật lộn với đời để tự kiếm sống... sức dài, vai rộng thế này thì chết đói làm sao được. Tụi bay coi... từ hôm qua tới giờ bụng tao luôn no nê. Siêu tỏ ý ngờ vực: - Phải hông đó? Ai biết được bao tử nằm bên trong lớp da kia có bị sôi lên ùng ục vì rỗng tuếch hay lọc ọc vì chứa nước lã quá độ không. Quang xồm bạnh hàm tạo nét mặt khá dữ dằn: - Mẹ kiếp... không tin thì áp lỗ tai vào mà nghe, dạ dày tao đang ung dung nhào bóp thức ăn đầy chất bổ dưỡng. Rồi cậu kể lại chuyện thách đố với bà bán bún cho mấy thằng bạn nghe bằng thái độ khoái trá song không được đứa nào ủng hộ, Trung nhỏ giọng: - Mày gặp may hôm nay nhưng ngày mai thì chưa biết ra sao đâu. Khôn hồn thì trở về xin lỗi ông ngoại mày và bà dì để họ cưu mang vài năm nữa, chờ mày học kiếm được chút nghề... Lời khuyên của Trung dành cho bạn bỗng trở thành cái họa đối với cậu. Quang xồm đã tống vào bụng Trung cú đấm khá mạnh tay: - Úi… chết tao rồi. - Cho mày chết luôn để khỏi nói ra những lời ngu ngốc. Trung gập người nhưng vẫn cố ngẩng đầu lên: - Tao không nói ngu mà hành động của mày mới ngu. Quang xồm lại thụi vào người Trung thêm mấy cái cùi chỏ nữa, lần này thì bị lão Tâm can gián: - Dừng lại đi... tụi bây tính đánh nhau trong nhà của ta sao? Đang hăng máu. Quang lôi thốc Trung ra ngoài khiến tất cả phải xúm vào giữ lại. - Bộ mày tính giết nó cho hả cơn tức ư? Chuyện nhỏ xíu mà xé ra to... Quang xồm phun nước bọt trúng người Siêu, miệng quát tháo: - Thằng Quang này luôn như thế! Nhất là trong tình huống như bây giờ. - Đúng là đồ trâu điên. Học đã dùng tay bịt mồm nói lén, vậy mà chẳng hiểu sao âm thanh lại lọt vào lỗ tai Quang xồm làm cơn giận của cậu ta chuyển hướng trút cả sang lên đầu Học. Quang xồm hoạt động đến đôi chân. - Hự... hự... ối, sao mày lại đánh tao? Học ôm bộ mông vừa bị lãnh hai cái đá tê cứng chạy vòng quanh cầu cứu vì Quang xồm nổi khùng rượt đánh. - Thằng chó chết... trong mắt mày tao là đồ trâu điên thì tao sẽ húc cho mày lủng ruột luôn. Biết tính nết của Quang xồm thường không nghe lời phải quấy, phân trần nên Học hoảng hốt co giò chạy bán mạng về thẳng nhà không dám quay đầu lại để biết thêm chuyện gì sẽ tiếp tục xảy ra. PHẦN IV Không rượt được Học để đánh, Quang xồm quay lại thì đám bạn cũng biến hết khiến cậu chẳng còn chỗ để trút giận bèn hoạnh họe lão Tâm: - Tụi nó đâu? Lão Tâm mệt nhọc nói: - Ta đâu có giữ chúng. - Nhưng mới vừa xong tụi nó đã đứng đây. - Tại bây dữ dằn quá nên tụi nó sợ biến hết rồi. Quang xồm đảo mắt chĩa tia nhìn vào nhà lão: - Phải chăng tụi nó đã trốn ở trong đó? Lão Tâm dùng một bàn tay vuốt ngực: - Nếu nghi ngờ thì vô đó mà tìm. Ta đang mệt không có sức ngồi đây để cãi lộn. Nói xong lão Tâm chậm chạp quay lưng để mặc Quang xồm đứng trước hè với tâm trạng bực dọc vì cơn giận chưa dịu hết. Nằm trên giường một lúc, lão Tâm nhổm dậy nhìn ra thì không còn thấy Quang xồm đâu. Ông gọi vợ lại hỏi thì nghe bà gắt gỏng: - Quan tâm tới mấy thằng ma sống ấy làm gì. Bộ nãy giờ nó chưa làm cho ông điên cái đầu hả? Lão Tâm không nói năng gì nữa mà lẳng lặng với những suy nghĩ của riêng mình. Thật tình thì thằng Quang xồm là một đứa khó ưa, khó làm cho kẻ khác có thiện cảm với nó, nhưng chẳng hiểu sao lão Tâm lại cứ muốn gần gũi với nó. Vì một nguyên nhân nào thì lão không biết, chỉ cảm thấy muốn giúp đỡ nó làm người tốt, bởi lão đã thấy trước được rằng nếu không có người cưu mang, dìu dắt thằng Quang xồm dứt khoát sẽ hư. Cùng chơi chung với nhau nhưng bốn thằng kia coi bộ dễ dạy hơn. Chắc tại vì chúng có cha mẹ và được sống trong tình thương của người thân. Còn thằng Quang xồm, tuy ở cùng địa phương song lão cũng không rõ lắm về gốc tích của nó ngoài việc biết lơ mơ nó là một đứa con bị bỏ rơi. Tự nhiên lão trách mình trước kia không nghĩ đến chuyện xin một đứa con nuôi, biết đâu thằng Quang xồm và lão lại có duyên làm cha con thì chắc chắn lão sẽ không để nó hư hỏng dù cuộc sống có khó khăn hay phức tạp. Ông trời cũng trêu ngươi cho ta quá, kẻ cần thì không có, chỗ chẳng muốn thì lại ban... Chỉ tội nghiệp cho bà vợ già của lão nhiều lúc phải tủi hổ khóc thầm vì hoàn cảnh đơn côi. Không biết bây giờ nhận con nuôi có còn kịp nhìn thấy nó lớn? Ý tưởng ấy làm lão Tâm nghe vui nên sức lực bỗng phục hồi. Lão rời khỏi chỗ nằm xuống nhà bếp tự múc cháo ăn rồi dò dẫm ra đường. Nắng làm cho lão hoa mắt khi lão đụng phải một người đàn bà có dáng dấp bầy hầy và hôi hám. Thế nhưng lão không hề bị mắng mà còn nhận được nụ cười đầy quái đản: - Hì… hì... tui sẽ không làm khó nếu như ông cho tui xin ít tiền. - Trời. Đúng là một kiểu bắt vạ đầy tế nhị và khôn ngoan. Lão Tâm muốn dừng lại châm cho mụ đàn bà này vài câu song cái mùi hôi của kẻ lâu ngày không tắm rửa đã khiến lão từ bỏ ý định. Lão cho tay vào túi mò mẫm mãi mới lôi ra được tờ giấy bạc rách góc, đã cũ mèm: - Có thế này, xài được thì nhận lấy. Người đàn bà nhìn lướt qua, ánh mắt tối sầm lại: - Gặp người keo kiệt như ông thì bọn ăn mày tụi tui chết đói nhăn răng hết còn gì. Lão Tâm đành phải nán lại, giọng kêu lên ngỡ ngàng: - Ăn mày đòi móc túi ăn xin tổ trác là phải rồi. Ta không phải dân nhà giàu... mụ đã chọn lầm đối tượng. Người đàn bà áp cả khuôn mặt rất khó coi của mình tới thật gần lão Tâm làm cho lão phải nhăn mũi quay đi. - Ủa, ông cũng là ăn xin ư? Lão Tâm đáp bằng thái độ khó chịu: - Nếu phân giai cấp thì ta cao hơn mụ một bậc. - Ông nói năng khó hiểu... - Mụ cứ hiểu đại để là nhà nghèo được rồi. - Ông sống bằng nghề gì? - Già như ta còn làm gì được, mà mụ tò mò về người khác làm chi? Có cầm tờ giấy bạc này không để ta còn đem cất? - Thì ông cứ cất, tui cũng không thích hưởng tiền bố thí của dân nghèo. - Chà... Lão Tâm chỉ bật ra được một từ rồi nín bặt tập trung cả thị giác của mình vào người đàn bà ăn xin trước mặt. Đúng là lão đã gặp một kẻ ăn mày thời thượng. Nhưng người đàn bà này trông chẳng có gì đặc biệt ngoài sự xấu xí ra. Đến già như lão mà cũng không thấy bắt mắt. - Này, tui có thể hỏi thăm ông một chút được hay không? Lòng chẳng hề muốn dây dưa tới chuyện của người đàn bà song lão không thể lắc đầu từ chối ý muốn của người đối diện: - Mụ muốn hỏi việc chi? Nhìn thấy rõ vẻ miễn cưỡng trên khuôn mặt của lão Tâm, người phụ nữ ăn xin vẫn tỏ ra hồ hởi: - Tui muốn biết về một người đàn ông có thói quen đeo vòng ở tay. Lão Tâm hơi ngẩn người: - Ông ta bao nhiêu tuổi? - Tui không biết. - Tên họ của kẻ ấy là gì? - Tui cũng hổng biết luôn. - Vậy thì tả hình dáng, khuôn mặt... ta có thể đoán được chứ. - Tui không biết nốt, bởi tui chỉ gặp gỡ ông ấy có một lần trong đêm tối mà thôi. Nghe người phụ nữ ăn xin nói thế, lão Tâm khẽ nhìn lên, giọng khẽ hài hước: - Nếu vậy thì phải bắc thang lên mà hỏi ông trời thôi, chứ người phàm trần như ta xin đầu hàng hai tay. Người phụ nữ ăn xin xụ mặt xuống: - Nói như ông thì cả đời tui không tìm được ư? - Điều đó là tất nhiên. Ta khuyên mụ đừng tốn công vô ích. - Nhưng người ấy rất quan trọng đối với tui. Tiếp theo lời rên rỉ là những giọt nước mắt của bà ta ứa ra chảy thành dòng khiến lão Tâm thấy khó xử. Lão ngó quanh ngại ngùng. - Ta và mụ đang đứng ở ngoài đường mà mụ khóc lóc như vầy coi chừng người ta hiểu lầm đó! Họ sẽ cho rằng ta ăn hiếp mụ. Lão Tâm chưa kịp bộc lộ hết sự lo ngại thì rắc rối ập đến với lão ngay. Quang xồm không biết từ đâu nhảy ra quát tướng lên: - Ai cho phép lão ăn hiếp một bà già chân yếu, tay mềm như vậy? Lão Tâm nhìn Quang xồm bực dọc: - Bộ ta không phải là một ông già sắp chết hả? Bây coi ta còn có thể hiếp đáp được người khác sao? Quang xồm chống nạnh cả hai tay, dáng đứng thật dễ ghét: - Tôi không biết lão sắp chết hay còn sống được bao lâu nữa. Có điều tui thấy rõ ràng lão làm cho người ta phải khóc. - Đó là tại mụ ta muốn khóc. - Lão nói nghe không lọt tai chút nào hết. Ai lại muốn khóc hơn muốn cười? Không dằn được, lão Tâm bèn nặng lời: - Chỉ có những thằng mang cái đầu lợn, óc trâu như mày mới có thể cười trong mọi tình huống được thôi. Còn kẻ khác... không như thế! Phải nói lão Tâm đã khơi lại cơn điên cuồng của Quang xồm khi nãy khíến cậu ta không nể vì lão là người trên, trợn mắt, phồng mang tuôn ra những lời thật khó nghe. - Lão dám lăng nhục tui là đầu lợn, óc trâu à. Được... rồi lão sẽ nếm mùi trả đũa lại của tui. - Ta không thèm chấp mày đâu Quang xồm. Ở xứ sở này ai cũng biết mày là kẻ không có người dạy bảo. Quang xồm ưỡn ngực to bè, khỏe như khiêu chiến: - Tui không có người dạy bởi tui là con của quỷ sứ, ma vương trốn địa ngục lên đây. Bằng chứng là trên đời này đâu có ai dám nhận làm cha tui. Lão Tâm ngồi bệt xuống vệ đường vì không còn hơi để đứng. Tuy nhiên lão vẫn nói thều thào: - Cách đây ít phút, ta có ý định nhận mày về làm con để cho mày có một tình thương và nơi trú ẩn. Nhưng bây giờ nhìn thấy mày bộc lộ những cá tính côn đồ, hung hãn ta biết sẽ không uốn nắn nổi mày... Tưởng Quang xồm sẽ tiếc rẻ vì đánh mất vận may, song hoàn toàn trái ngược, tên con trai này còn bật cười: - Ngứa tai quá, bộ lão tưởng lão là phú ông quyền quý có lắm bạc, nhiều tiền sao mà nảy sinh ý nghĩ muốn làm cha tui. Há... há... một ông già cả đời chỉ sống nhờ vào người chết... thậm chí còn mong cho người ta mau chết và chết nhiều... lại có những ước muốn vượt quá giới hạn. Nói cho lão biết, dẫu tiền kiếp đặt để số mạng tui đầu thai làm con lão, tui cũng kháng chỉ sổ thiên tào. Từng lời, từng lời của Quang xồm làm lão Tâm giận run người khi ý nghĩ tốt của lão bị thằng con trai xấc xược này mỉa mai châm biếm. Thôi thì mặc xác nó, lão già đâu còn hơi sức mà làm cái chuyện dời non, lấp bể chứ. Cứ để cho cuộc đời dìm nó chết hoặc cuốn phăng nó đi như một thứ rác rưởi. Nghĩ thế, nhưng lòng lão Tâm lại không nỡ. Lão hướng mặt về phía Quang xồm cố tìm nơi cậu một chút gì đó tốt đẹp để cho lão còn lưu luyến. - Ông... ông đang nhìn gì khi trước mắt chỉ là một khoảng không? Lão Tâm giật mình trước câu hỏi đột ngột ngay bên cạnh nên vội vàng quay đầu. Thì ra người phụ nữ ăn xin vẫn còn đứng đó, tỏ thái độ lo lắng cho lão. Để che lấp tâm trạng, lão Tâm khẽ nhếch môi giả lả: - Ồ! Không sao, ta đang ngắm tia nắng rực rỡ của một ngày đẹp trời. Nghe thấy vậy, người phụ nữ ăn xin cười xòa: - Ở tuổi ông mà còn thốt ra một câu đầy lãng mạn. - Mụ cảm thấy ngồ ngộ hả? Có chi lạ, người già nhưng trái tim và khối óc chưa chịu già. - Ông lão vui tính thiệt. Ông ở đâu? Chỉ đi, thỉnh thoảng tui sẽ ghé tới thăm. Lão Tâm nhìn người phụ nữ trân trân: - Mụ có ý đồ gì đây? Ta nói trước ta không phải là kẻ độc thân, mụ đừng có tán tỉnh. Người phụ nữ ăn xin đỏ mặt lên vì thẹn. Tuy nhiên, thay vì mắng lại, bà ta tỏ thái độ dịu êm: - Tôi cũng đã có tuổi rồi ông lão ơi... chỉ mong được yên thân, không thích chuyện đèo bồng đâu. Lão Tâm muốn cười phá lên trước những lời ngộ nghĩnh vừa nghe song đã nén lại được. Quả là một chuyện khá hi hữu, lão Tâm thấy mình như chợt trẻ lại đến mấy mươi tuổi dù trong người vẫn đang còn mệt. Lão bỗng lên tiếng nói đùa: - Mụ già... ta cũng già, trêu chọc nhau để làm sống lại những năm tháng đã đi qua trong đời cho lòng bớt tủi hổ chứ có phải rửng mỡ đâu mà cự nự. Ta nói thiệt, mụ tuy trẻ hơn bà già của ta nhưng nhan sắc không bằng đâu. Sắc mặt người phụ nữ ăn xin chuyển sang màu xám xịt, mắt long lanh ngấn nước: - Tui xấu là do sự bất công của tạo hóa, tại sao ngay đến một ông lão già gần đất xa trời cũng không hề có một chút cảm thông. Trong đời tui chắc chỉ một người duy nhất ấy… Thấy bà ta trở lại chuyện ban đầu, lão Tâm cũng chẳng chấp nhất, hỏi han: - Gã là ai? Người phụ nữ ăn xin thút thít khóc: - Thì cứ cho rằng ông ta là một hồn ma đi. Bởi nếu là người thì gần hai chục năm nay tui đã tìm được ổng. - Chuyện của mụ làm cho ta mù tịt không thể nào hiểu nổi. - Tui cũng không cần ông phải hiểu. Kẻ tui nhờ vả lúc này là thằng vừa gây sự với ông. Lão Tâm nhướng mắt, miệng há hốc: - Sao? Thằng Quang xồm sẽ giúp mụ tìm người à? Người phụ nữ ăn xin gạt nước mắt, gật gù: - Phải! Tui đã nhờ nó rồi. Tui còn đưa cả kỷ vật của ổng cho nó giữ... - Mụ tin cái thằng trời đánh đó! - Có thể nó không tốt với ông nhưng lại tốt với tui. - Mụ biết nó bao lâu? - Mới từ đêm hôm qua. - Hừm... đúng là thời đại của tên lửa, nên mọi khoảnh khắc thời gian đều bị rút ngắn đến không ngờ. Ta khuyên mụ chớ nên tin vào nó. Người phụ nữ ăn xin ngúng nguẩy ra vẻ không thèm nghe: - Không tin nó, chẳng lẽ lại tin ông. Tui đã cho nó những đồng tiền ít ỏi nhất tích góp được do người ta bố thí thì nó cũng phải đối đáp lại tấm lòng của tui chứ. Lão Tâm chợt thấy lo giùm bà ta: - Mụ đúng là loại người dễ tin. Xưa nay thằng Quang xồm nổi tiếng là đứa bậm trợn, nó chưa hề đối xử tốt với ai. Thật ra thì cũng tại hoàn cảnh sống của nó không may mắn như bạn bè cùng trang lứa thôi. - Ông không cần lo cho tui. Tui nghĩ thằng Quang sẽ giúp tui tìm được gã “Chí Phèo” của cái đêm tăm tối. Câu nói này làm lão Tâm lẩn thẩn: - “Chí Phèo” ư? Liệu mụ có phải là ngộ chữ vì đọc sách quá nhiều? Người phụ nữ ăn xin bẽn lẽn như một cô gái trẻ: - Ông nói trật lất. Nếu bị ngộ chữ tui còn nói năng với ông thế này được sao. Tui dùng tên của nhân vật trong tác phẩm của Nam Cao đặt cho gã bởi tình cảnh gặp gỡ của tui cũng giống như trong chuyện. Khác một điều là gã Chí Phèo và Thị Nở còn trông thấy được mặt mũi của nhau do ánh trăng phản chiếu, còn chúng tui thì… Thấy người phụ nữ ăn xin lắc đầu, rưng rưng lệ, lòng lão Tâm dấy lên đôi chút xót xa lẫn thương hại. Theo sự suy đoán của lão thì tâm thần của bà ta dứt khoát có vấn đề. Vì là con người bình thường thì không ai lại phơi bày chuyện tình cảm riêng tư theo kiểu ấy. Mụ ta là người vùng nào thì Lão Tâm cảm giác mình đã từng gặp người phụ nữ ăn xin này nhưng không thể nhớ ra được là ở đâu. Mà thôi, quan tâm tới làm chi. Chẳng phải là lão đang cần được khuây khỏa hay sao? Chuyện bị ma ám đêm qua vẫn còn làm lão sợ... Đúng là không ngờ mấy chục năm tiếp xúc, đụng chạm với bao nhiêu cái thây ma... giờ mới bị ma làm cho khiếp hãi, thật hổ thẹn. Lão Tâm thầm than vãn rồi tỏ ý chấm dứt cuộc gặp gỡ vô tình này. - Ta muốn trở về nhà nằm nghỉ, mụ cứ tiếp tục lo đi kiếm sống cho mình, đừng chàng ràng chuyện phiếm nữa. Người phụ nữ ăn xin vụt lộ nét quyến luyến: - Ông lão... chỉ nhà cho tui biết với đi. Không muốn bị làm phiền. Lão Tâm từ chối liền: - Ta sẽ không có thời gian tiếp mụ đâu. Cứ coi như chưa quen vậy. Lập tức lão Tâm bỏ đi ngay để khỏi bị níu kéo. Lão không biết phía sau lưng mình người phụ nữ ăn xin kia đang tỏ thái độ gì, chỉ hay đằng trước mặt lão bà vợ già đang lăng xăng đi kiếm. Trở về nhà nhưng lão Tâm không tài nào nằm nghỉ ngơi như ý muốn mà cứ vào ra thấp thỏm khiến vợ lão phải thắc mắc: - Bộ ông biết trước nhà sắp cháy hay sao mà nóng lòng quá vậy? Lão Tâm khẽ nạt vợ: - Nói bậy. Bà lão thả ánh mắt đi theo ông vòng quanh nhà: - Tui nói bậy cũng được nhưng trong suy đoán của tui chắc chắn là không bậy. Ông đang gặp chuyện gì khó xử phải không? Lão Tâm chựng lại vì không thể tìm được câu trả lời thích hợp, bởi thật tình lão có gặp phải chuyện gì khó xử đâu. Còn người phụ nữ ăn xin kia chỉ là lần gặp đầu tiên, hơn nữa mụ ta chẳng gây ấn tượng chi ngoài một chút hài hước về câu chuyện tìm người của mụ. Nghĩ cũng buồn cười thật, giá như nhà văn Nam Cao còn sống, lão sẽ đề nghị ông ấy thêm vào tác phẩm của mình tình tiết mà lão vừa nghe, vừa thấy được lúc nãy. Có lẽ sẽ hay đấy, ý nghĩ ngộ nghĩnh này làm cho lão bật cười và bị tra gạn: - Ô hay, ông có trở điên hay không mà thay đổi thái độ liên tục vậy? Lão Tâm ngưng bặt niềm vui đột xuất cau mặt lại với vợ: - Ắt hẳn bà muốn như thế hả? Cười hay khó chịu bà cũng đặt vấn đề cả. Thấy ông chồng có vẻ giận, bà lão bèn thôi không đối đáp, lẳng lặng đi xuống nhà dưới chuẩn bị nấu cơm chiều. Còn lại một mình ở nhà trên, lão Tâm trở lại với những câu chuyện làm lão phải nhọc lòng. Thằng Quang xồm cũng có mặt trong danh mục khiến lão phải suy nghĩ. Nhớ tới thái độ của nó, lão không ngăn được cơn bực. Hỗn láo đến thế là cùng. Nếu lão là người sinh ra nó, dứt khoát lão không để nó thành một đứa ngỗ nghịch như hiện nay. Bây giờ thì cây đã mọc cong, không ai còn uốn nắn được nó... ngoại trừ tự nó muốn sửa đổi. Lão cũng thấy tội cho người phụ nữ ăn xin nhẹ dạ, chẳng biết mụ ta đã cho thằng Quang xồm bao nhiêu tiền để nhờ nó tìm người đàn ông không tuổi, không tên của mụ ta. Cuộc đời sao có lắm éo le, cứ phát sinh ra những sự kiện dồn con người vào thế bi kịch. Ngay chính lão cũng từng va chạm phải tình huống... song may mắn là nó chưa làm cho lão khốn đốn và thời gian đã khiến nó ngủ yên. Nhiều lúc nghĩ lại, lão day dứt không nguôi, cảm thấy có lỗi với vợ dù bà ấy chẳng hề hay biết gì về tâm tư của lão, trong kinh thánh của đạo Công giáo thì dù ngoại tình trong tư tưởng cũng đã là phạm tội. Vậy mà lão tự cho mình trong sạch suốt bấy nhiêu năm. Phải đi trình cha sứ khi có dịp để nhận ơn tha thứ của chúa trời. Lão Tâm chợt nghe lòng nhẹ nhõm đi ra cửa nhìn mông lung bầu trời đã dịu dần tia nắng. Một ngày nữa lại sắp hết giống như sự ngắn ngủi của đời người. Ngay đến sống lâu như lão cũng chưa trang bị được gì cho mình điều gì mai sau cả. Vậy mà những đứa còn trẻ như thằng Quang xồm lại học đòi sống buông xuôi. Lão Tâm chắc lưỡi, mắt nhóng về phía nghĩa trang. Lão nhất quyết sẽ không sợ ma dẫu cho nó có hiện hình ra nhát lão. Vì còn không lâu nữa, lão cũng sẽ là ma. Trở thành con ma thật khi đã chết rồi. Chưa đến bảy giờ tối Siêu đã hối mấy đứa em đóng cửa, không cho một đứa nào rời khỏi nhà. Cậu dõng dạc tuyên bố. - Dạo này tình hình an ninh không được tốt lắm. Hôm qua nhà thằng Cường bị trộm vào ăn cắp cả đậu hũ. Nếu chúng biết ba má mình không có nhà mò tới thăm thì nguy. Nhỏ em gái Siêu vừa quan sát anh trai, vừa bộc lộ sự lo lắng: - Nhà mình có nhiều thứ có giá trị lắm! Hay là chúng ta khiêng bàn ghế trấn hết các cửa. Siêu gật gù: - Đề nghị của mày nghe được đó. Nào cùng làm. Sau ít phút hì hục, anh em Siêu đã đem hết số bàn ghế lẫn vật dụng có kích thước cồng kềnh tấn vô các ngõ ngách mà họ cho rằng trộm có thể đột nhập. Chưa yên trí, Siêu còn dặn dò em: - Phải thủ thêm một ít cây để đánh trộm nếu như nó dám thò đầu vô. Thằng em trai út của cậu bật cười giòn: - Ba má vắng nhà có một ngày mà anh làm gì khủng bố tụi em dữ vậy? Cứ vô tư nằm ngủ không có gì xảy ra đâu. Siêu trợn mắt lên mắng: - Nhóc con... mày biết chi mà lên tiếng. Vô tư nằm ngủ như mày rồi để sáng mai còn mỗi cái nhà trống không ư? Ba mẹ về cạo đầu hết cả bốn đứa. Xuân và Xinh là hai đứa em gái giữa của Siêu cùng mở miệng một lượt: - Đã bày bố trận như thế này thì trộm nào mà vào được. Họa chăng có ma biết biến nó mới vào được thôi. Vô tình hai nhỏ con gái đã làm tim thằng anh thót lại. Siêu co tay cốc lên đầu chúng: - Bộ ngứa mỏ lắm sao mà phải nói lên vậy? Đúng là đồ con gái… Nhỏ Xinh ấm ức vì bị đánh. Nó tròn vo cái miệng: - Con gái nhưng không có sợ ma dữ dội như con trai. Anh mà ăn hiếp tụi em nhất định đêm nay sẽ bị ma kéo cẳng. Quả nhiên, Siêu không dám dùng quyền lực kẻ làm lớn trấn áp mấy đứa em như lúc nãy mà biết dè chừng: - Không phải tao ăn hiếp tụi mày mà là hai đứa đã nói những điều tối kỵ. Hồn ma linh thiêng lắm. Không đùa như tụi mày nghĩ đâu. Nhỏ Xuân háo hức góp lời vô: - Em nghe người ta kể cô gái chết ngoài gò thường hiện hình lên đòi đồ cúng. Một đứa bạn của em có họ hàng với chị ấy nói rằng hồn ma còn biết ăn. Dù trong lòng không tin, Siêu cũng phải im lặng vì nghe nhột. Thật sự cậu rất sợ oan hồn của cô gái tự tử chết ngoài gò đến quấy nhiễu bởi đã trót lời phạm thượng. Con nhỏ Xuân không hiểu rõ tâm trạng của anh trai bô bô thuật lại chuyện: - Ngày hôm qua gia đình người ta đem trái cây ra cúng phát hiện hồn ma đã ăn hết phân nửa. Tới đây thì Siêu buộc phải chận miệng nó lại: - Mày làm ơn tốp lại giùm đi con nhỏ. Mày kể thêm chút nữa cô ta lướt hồn tới đây đòi đồ cúng thì chí nguy. Nhỏ Xinh cướp câu đáp của chị: - Anh sợ gì. Đây là nhà của mình, dẫu là ma cũng phải biết quen lạ chứ. Bất giác Siêu thốt lên: - Tao nghĩ... cô ta biết tao. Đến lượt thằng út lanh chanh: - Vậy chắc là bạn gái của anh rồi còn gì. Toàn thân Siêu nổi da gà khắp lượt, cậu như cảm thấy khí lạnh xuyên qua người: - Trời ơi... mày tính giết tao hả, thằng nhóc con khỉ gió. - Đâu có. Em chỉ nói... - Hết chuyện nói sao mày lại đem hồn ma gán ép vào với tao. - Thì tại anh... - Câm họng ngay. Mày tuôn ra câu nào nữa tao sẽ giảm thêm tuổi thọ đó. Thằng nhóc ngơ ngác vì không hiểu mình đã làm gì nên tội. Nó ra sức phân trần: - Em... em... chỉ nghĩ vậy thôi mà. Siêu nhìn nó gờm gờm: - Mày nghĩ nhiêu đó tao đã sợ hết hồn. Nếu quá đà, thêm một chút tao sẽ ngay đơ ra mà chết mất. Thằng nhóc con tám tuổi vô tư hỏi: - Sao lại chết khi chỉ mới nghe nhắc tới ma? Siêu không biết phải giải thích thế nào cho thằng em tường tận về cái điều mà mình đang sợ. Ma... một âm từ hết sức ngắn gọn, vậy mà thoạt nghe ruột gan cứ bật lên thon thót. Chỉ tại mấy đứa em của cậu chưa từng bị nó nhát nên chúng mới nhởn nhơ trước nỗi sợ của cậu thôi. Để rồi coi... Siêu dọa chúng bằng mắt rồi phẩy tay ra lệnh: - Đi ngủ. Thằng út liền phản đối: - Còn sớm, em chưa làm xong bài tập toán. Siêu nói gắt: - Sáng mai tao kêu thức dậy sớm, tha hồ mà học. - Nhưng cô giáo dạy, những gì có thể làm được hôm nay thì chớ để ngày mai. - Không phải trong tình huống nào cũng rập y khuôn. Tao biểu mai học thì đừng có cãi. Do cha mẹ không có nhà nên thằng út không dám cự nự lại anh cả. Thế nhưng vào mùng rồi mà nó vẫn còn lầm bầm: - Sợ ma không dám thức thì nói đại đi cho rồi. Siêu nghe được co chân đạp nó: - Mày nói thêm câu nữa tao bắt ngủ ngồi đó. Vì nằm chung giường với anh nên thằng út đành nín thinh hậm hực cho tới khi ngủ lăn quay. Ở trong buồng không biết hai nhỏ con gái ngủ chưa mà chẳng nghe động tĩnh. Phần Siêu, trời nóng cậu không thể trùm chiếc chăn lên đầu như mọi bữa nên cảm thấy khó ngủ. Với lại bây giờ còn khá sớm, nếu có chợp mắt được thì cũng chín, mười giờ. Ôi, thức một mình thà kêu hết mấy đứa em cùng dậy thì đỡ sợ hơn. Siêu khẽ đạp chiếc chăn cho nó tụt xuống chân để nhổm đầu thì bất chợt nghe thấy có tiếng động lạ. Thế là hơi thở lẫn nhịp tim của Siêu cùng chựng lại, chỉ có đôi tai dểnh lên là còn hoạt động... Chẳng lẽ nào lại là trộm? Mà sao bọn chúng biết nhà cậu vắng người lớn? Không chắc... cũng có thể là ma. Chỉ mới thoáng nghĩ thôi Siêu đã run từ trong ruột run ra. Biết phải làm sao với tình huống phân đôi này? Trộm cậu cũng sợ, mà ma thì càng thêm sợ. Cố nhúc nhích thằng em bên cạnh để đánh thức nó dậy nhưng nó cứ như thân cây chuối nằm im. Cực chẳng đã Siêu phải quơ lấy chăn trùm lên đầu rồi nép sát vào người thằng út. Ôi, khó thở quá... lại còn nóng nực nữa. Phen này thì chết vì một trong ba nguyên nhân nêu ra đây trộm, ma và thiếu oxy để thở. Chưa bao giờ Siêu lâm vào tình thế hiện tại phải chiến đấu một mình với cơn sợ hãi về nhiều điều. Xoảng... không biết tiếng của vật gì, song Siêu nghe rất gần, Chắc chắn không phải trộm, hoặc nếu có phải thì nó không dám nán lại nữa vì gây ra tiếng động. Còn là ma... cậu đối phó thế nào đây? Vụt… y như là tiếng rít của gió đêm... không... tiếng của cành lá cọ vào nhau... chẳng phải... tiếng thở của ai đó kèm theo lời rên rỉ: - Ta là hồn ma nữ ngoài cái gò... tới thăm mi đây... ơi… Siêu… Chưa phân định rõ tiếng kêu xuất phát từ đâu, toàn thân Siêu đã cứng ngắc tựa bị hóa thạch. Cậu há hốc miệng nhưng âm thanh thì tắc nghẹn. Ối, oan hồn cô gái đi tìm cậu. Hư… hư... sao cô ta lại không tìm thằng Quang xồm hoặc ba thằng mắc gió kia? Siêu muốn phát âm được thành tiếng để van lạy hồn ma đang ẩn hiện đâu đó trong nhà hay ngoài sân... đừng nhát, đừng tới thăm cũng đừng hiện ra bằng bất cứ hình ảnh nào cho cậu thấy. Bởi nếu thấy thì cậu sẽ chết chắc. Mà không chết sao được khi lâm vào tình cảnh có một không hai này. - Ơ… Siêu mi không muốn đón tiếp ta có phải không? Ta đang đứng rất gần chỗ mi nằm đây, ta lạnh... ta đói... Siêu ơi ta muốn đắp chung mền với mi... Tự nhiên có một sức bật mãnh liệt đã đẩy Siêu chồm dậy lao ra khỏi mùng rồi chạy thẳng vô buồng. Cũng không dành chút thời gian câu nệ, cậu kéo dạt Xuân và Xinh để xấn lăn vào khoảng trống giữa hai đứa em gái, vì chưa ngủ say nên khi bị xê dịch, Xuân mở mắt ra hỏi: - Anh làm gì kỳ vậy? Khi không lại chen vào giường con gái. Lúc này Siêu quên mất cả ngượng ngùng, đề nghị với nhỏ Xuân: - Cho tao ngủ ké đêm nay đi. Ngoài kia khủng khiếp quá. - Lại nằm mơ thấy ác mộng chứ gì? - Không phải. Tao vừa bị... ma nhát. - Thế thằng út đâu rồi? - Nó vẫn còn nằm đó! - Sao không kéo cả nó vô đây. Hơi thở Siêu hổn hển: - Nó ngủ mất tiêu có biết trời trăng gì đâu mà kéo cho được. Nhỏ Xuân lồm cồm ngồi dậy trách anh: - Dù sao anh cũng không thể để nó nằm ngoài đó một mình, ngộ nhỡ... - Tao biết con ma chỉ quậy tao chứ không quậy thằng út đâu. Nằm cuộn người trong chăn, Siêu kề miệng ra trấn an nhỏ Xuân, nhưng con bé không chịu, đánh thức đứa em kế dậy. Vừa mở mắt, nhỏ Xinh đã kêu la toáng: - Trời đất... ai cho anh mò vào đây? Siêu vẫn nằm im không cựa quậy chỉ hoạt động chiếc miệng: - Bộ cần hai đứa tụi bay đồng ý tao mới được phép sao? Ba má đi vắng, tao có nhiệm vụ phải bảo vệ mấy đứa tụi bay mà. Nghe anh trai nói dứt lời, nhỏ Xuân bụm miệng cười: - Hí... hí... không biết ai bảo vệ ai, anh sao ưa nói ngược quá hà. Rồi nó khều nhỏ Xinh: - Tao với mày ra ngoài ngủ chung với thằng út, nhường buồng cho ảnh đi. Nếu là ban ngày chắc hai đứa em Siêu đã nhận ra sắc mặt của anh nó đỏ dừ lên vì hổ thẹn. Song nỗi sợ trong lòng chưa tan biến nên cậu đành chịu trận nhận sự châm biếm của các em. Siêu tự hỏi khi bị bỏ một mình trong căn buồng rộng tối om, liệu oan hồn cô gái kia có hay biết về việc cậu vừa dời chỗ nằm không? Nếu có... cậu trốn vào đâu cho thoát được? Khốn khổ gần hết đêm mới lịm ngủ được một chút thì Siêu bị dựng dậy bởi tiếng hét của Học: - Mày tính không đi thi sao mà giờ này còn nằm cuộn mền. Năm cuối cấp giở trò lười một chút là xôi hỏng, bỏng không đó. Như ngày thường, Siêu sẽ tống cho thằng bạn một tống ra trò vì đã làm rộn cậu. Nhưng hôm nay, cậu lắc lư cả cái đầu tóc rối bời có đeo theo đôi mắt còn nhắm tịt chưa mở nổi. Giọng nhầy nhụa: - Mấy giờ rồi? Liệu còn sớm quá không? Học kêu lêm như sấm rền: - Sớm bên Tây chứ bên ta thì muộn rồi. Mở mắt ra đi thằng quỷ, bộ cả đêm du ngoạn dưới âm tào hay sao mà giờ này vẫn còn mơ màng? Hay phán quan giữ mất hồn mày rồi? Chỉ với bấy nhiêu lời của Học đã làm Siêu tỉnh táo mà không cần rửa mặt. Cậu chắp tay vái bạn lia lịa: - Tao lạy mày Học ơi... ban đêm tao bị ma hành hạ, ban ngày mày tha cho tao đi. Học nghệt mặt ra ngó bạn: - Mày đang nói năng lảm nhảm gì thế? Siêu nhăn nhó thuật lại chuyện rồi đúc kết: - Có lẽ tụi mình phải sắm một cái lễ đem ra gò cúng xin cô gái đừng quậy phá thằng nào. Vốn keo kiệt, Học ngần ngừ: - Tao nhớ chuyện này chỉ có mày và thằng Quang xồm là xúc xiểm tới người chết... không có mặt ba thằng tao. Bỗng đâu Cường xuất hiện khi Siêu chưa kịp mắng Học không có tinh thần đoàn kết. Cường hấp tấp nói lắp theo thói quen muôn thuở: - May... may... quá... Gặp... gặp... tụi bay...ở đây… Siêu đỡ lời cho bạn: - Chuyện quan trọng thì để tới trưa tụi tao đi học về. Bây giờ nghe mày nói thì đến trễ học mất. Nhưng Cường không chịu chờ tới trưa theo ý kiến của Siêu mà tuôn ra ào ào: - Trễ… trễ... tao cũng phải... phải… nói liền... liền bây giờ... Siêu chạy xuống nhà dưới đánh răng kéo theo cả đám bạn. Học hích vào hông Cường: - Sao mày không tranh thủ lúc nó làm vệ sinh mà nói đi. Cường bèn hoạt động tay chân để diễn giải câu chuyện: - Tụi mày có tin đêm qua tao đã bị ma nhát không? - Cái gì? Siêu há to chiếc miệng dính đầy kem vừa kinh ngạc, vừa hoảng sợ: - Chuyện có thật hay sao hả, hằng khốn? Cường không còn nói lắp, mà mạch lạc từng câu: - Đứa nào xạo ông trời rút lưỡi đi. Lần đầu tiên trong đời tao nhìn thấy con ma bằng mắt chứ không phải nằm mơ. Nói hai thằng mày đừng cười, tao sợ quá đã ị luôn ra quần và vấp ngã bỏ chạy. Đây nè, tụi bay nhìn đi... bằng chứng là nốt bầm to tướng ở chân tao. Rồi Cường biểu lộ sự thật thà của mình bằng cách vén cao ống quần lên cho hai thằng bạn xem. Chứng kiến tận mắt. Siêu bủn rủn cả giọng tựa kẻ hết hơi: - Tao cũng chung hoàn cảnh với mày, nhưng tao không nhìn thấy con ma mà chỉ nghe nó nói. Học chớp mắt ngờ vực: - Liệu hai thằng mày có cấu kết với nhau không? Ma mà cũng biết nói như người ư? Siêu súc miệng rồi nhổ nước bọt vội vã để biện luận: - Mày chưa nghe chưa thấy nên chưa tin thì mặc kệ... chứ tao và thằng Cường đã bị nó nhát rồi thì không thể làm thinh như chẳng có gì xảy ra được. Học giải quyết ngắn gọn: - Vậy thì hai thằng mày góp tiền mua lễ vật ra gò cúng đi. Cường giương mắt vì chưa biết chuyện của Siêu: - Sao? Con ma của mày cũng đòi đồ cúng hả? Siêu xanh mặt gật đầu: - Nó không đòi thẳng thừng mà rên rỉ rằng đói và lạnh lắm! Nó còn nói rõ là hồn ma cô gái chết ngoài gò. Nghe thấy vậy, Cường nhảy dựng: - Như thế... trong một đêm oan hồn của cô ta đã tới những hai nơi. Học vụt nói: - Có khi nào thằng Trung cũng bị cô ta viếng thăm hay không? Siêu thừ người: - Ai biết được. Muốn rõ thực hư thì phải đi hỏi nó. Hay là phân công cho thằng Cường tìm tới nhà thằng Trung coi sao. Không phản đối sự sắp đặt đột ngột ấy, Cường nhận lời: - Được, để tao. Hai thằng mày cứ đi học tới trưa về rồi tính. Thấy không còn thời gian nên Siêu và Học đành phải hẹn lại những ý kiến chưa nói hết. Họ chia tay, kẻ đến trường, người lo công việc của mình. Phần Cường từ nhà Siêu cậu phóng thẳng tới nhà Trung thì thấy thằng bạn đang lặc lè ở trước sân: - Ủa, tao nhớ tối qua mày vẫn còn lành lặn mà. Trung nhăn nhó như khỉ: - Thế mới gọi là tai nạn đột xuất, tối qua tao tới nhà mày mua đậu hũ về ngang chỗ ngã tư thì bị ma kéo chân nhét xuống lỗ cống. Cường cố đặt tình huống: - Phải hông đó? Có khi nào tự mày hụt chân rồi đổ thừa cho ma không? Trung giãy nảy: - Úy… tao hổng dám đặt chuyện bậy bạ đâu. Đổ thừa cho người thì có thể chứ ma thì cho vàng tao cũng không dám nói bừa. - Vậy mày có thấy bóng dáng của nó ra sao không? Sắc mặt Trung xám ngoét: - Tất nhiên là có thấy, tao còn bị nó táng cho một cái tối tăm cả mặt mũi rồi để lại câu nói nghe rợn óc... Cường hỏi tới: - Con ma đã nói gì? Trung bắt chước giọng của nhân vật ở thế giới bên kia: - Ngày mai mang đồ cúng ra cái gò. Dù cũng thóp gan vì sợ nhưng âm điệu lặp lại của Trung làm Cường rũ ra cười: - Hố... hố... mày nhái nghe hổng giống chút nào, còn khiến cho tao bị nhột! Thấy thằng bạn giễu mình, Trung nổi khùng: - Đồ chó chết... muốn cười thì cút về nhà mày, đừng làm chướng mắt tao. Chỉ mỗi chuyện ma kéo chân tao đã thấy khốn đốn rồi. Rồi cậu bật lên tiếng rên: - Ui da... không biết phải dùng thứ gì mà xoa bóp cho hết đau. Cường không giận mà còn chỉ dẫn: - Mày lấy vỏ cây dâu mà cột thử coi, nghe nói loại đó cũng kỵ tà ma lắm! Không tin, song Trung lại tỏ ra mừng rỡ: - Được, tao sẽ làm. Mày giúp tao kiếm cây dâu về đây. Bị nhờ vả một cách không thiện cảm, Cường từ chối: - Tao không rảnh. Mày muốn chân mau khỏi thì cà nhắc đi mà tìm. Tao đến đây là để kể lại cho mày nghe tụi tao cũng đang là nạn nhân của hồn ma cô gái ngoài gò hoang. Trưa nay lại nhà thằng Siêu họp mặt.... Toan phồng mồm lên mắng Cường, nghe thấy vậy Trung co rút người lại: - Mày không dọa tao hả thằng ngọng? Chạm tự ái, Cường đẩy Trung té rầm: - Chuyện đó chỉ mình thằng Quang xồm là có gan thôi chứ tao thì không. Đang đau lại còn bị xô ngã. Trung kêu la ỏm tỏi nhưng Cường đã về không nản lại để đỡ cậu. PHẦN VI Vừa đi học về tới nhà chưa kịp ăn cơm. Siêu đã rủ ba thằng bạn lù lù dẫn xác tới. Cậu hất mặt: - Gì thì cũng phải để cho tao thở cái đã chứ. Học bô loa: - Tao biểu từ từ nhưng tụi nó không nghe, sợ giờ thiêng nên muốn tránh. Trung khập khiễng nói ngay từ ngoài sân: - Đi liền bây giờ đi, tao và thằng Cường đã lo xong lễ của tụi tao. Siêu đưa mắt ngó Học: - Phần mình tính cúng cái gì đây? Học lơ mơ nhìn chỗ khác: - Tùy mày. Tao không biết góp ý đâu. Hay mày hùn với tao mua nải chuối và... Cường cướp lời Siêu chỉ tay vào bọc lễ của mình: - Ở đây tụi tao đã có xôi, có bánh và một nải chuối rất ngon rồi. Mày cúng món mặn đi và mua thêm nhang đèn nữa. Nghe gợi ý, Siêu đá chân vào mông Học: - Mày nghe chưa thằng ôn. Học quay lại trừng mắt: - Việc gì tới tao chứ. Hồn ma hiện ra với tụi mày đòi đồ cúng chứ có hiện ra với tao đâu. Chẳng qua tao có mặt cùng đi là vì bạn bè thôi. Rất bất mãn bởi tính toán của Học nhưng Siêu không tiện nói đành tự lo phần mình: - Tao không có sẵn tiền mua nên định bắt con gà mái của tao làm thịt đem cúng đỡ. Còn nhang thì rút một bó ở nhà. Trung kêu trời: - Chao ôi! Giờ này mày mới bắt gà làm thịt thì chừng nào mới xong chứ! Siêu không chần chừ mà vội xăn tay áo: - Chỉ một chút. Có sẵn nước sôi trong bình thủy rồi, không lâu đâu. Cường xấn vào phụ với Siêu trong khi Trung và Học nằm trên nhà tán gẫu. Nửa giờ sau mùi thơm ngầy ngậy của thịt gà luộc bay tỏa khắp nhà khiến mấy đứa em của Siêu lò mò tới đòi ăn. Nhất là thằng út, nó cứ phập phồng hai cánh mũi: - Anh Hai dành phần cho em cái đùi đừng có chặt ra nhé! Siêu quát nó: - Đâu phải thứ ăn được mà mày đòi. Thằng út chớp mắt rồi nuốt nước bọt cho xuôi xuống cần cổ: - Thịt gà sao lại không thể ăn được chứ. Bộ anh tính đem đi chỗ khác rồi giấu ăn một mình à? Siêu cố gắng phân bua: - Tao thề là hông ăn. Đây là đồ đem cúng. Thằng út vẫn không hiểu nỗi khổ mà anh nó đang mang nên cười xòa: - Tưởng gì chứ cúng trước rồi sẽ được ăn sau. Mà em nhớ ba má đi đâu có dặn... Thấy Siêu lâm vào tình cảnh khó giải thích. Cường cứu bồ: - Thằng nhóc này mày biết gì mà hỏi han lòng thòng. Anh hai mày đang thi cử nên cúng để cầu xin đỗ đạt. Mày nói nhiều mất linh bị cốc lủng sọ, tụi tao hổng bênh đâu. Hiểu rõ cặn kẽ thằng út liền biến đi sau khi để lại cái liếm mép đầy thèm khát. Siêu lầm bầm bảo Cường: - Chờ nhang tàn đem về hay để lại đó luôn? Cường gạt đi: - Đồ cúng rồi ăn không ngon. Nếu muốn chiêu đãi thằng em mày thì làm thịt con gà khác. - Nhưng tao chỉ có mấy con để gây giống... không gặp phải chuyện khủng khiếp đêm qua tao không đụng tới chúng đâu. Thôi thì một lát nữa tính sau. Bây giờ lo vớt gà rồi còn đi kẻo muộn... Siêu làm mọi việc một cách lập cập cho tới khi tất cả cùng rời nhà trực chỉ hướng cái gò hoang mà tiến. Vừa đúng mười hai giờ trưa... cái giờ mà những kẻ mê tín cho rằng rất linh thiêng. Nắng làm khuôn mặt của các cậu con trai đỏ gay và ai nấy đều vã mồ hôi ướt áo. Còn chừng mười mét nữa là tới cái gò nhưng bốn cậu con trai chẳng ai chịu xung phong. Trung giẫm lên chân Học: - Mày đem đồ lễ tới đó đặt lên giùm tụi tao đi. Học viện cớ lắc đầu: - Lòng thành của ai người đó dâng, tao đâu dám tài lanh. Cường đẩy lưng Siêu tiến lên: - Mày mang gà lại trước đi. Siêu dùng dằng: - Tao không dại. Tất cả đếm một, hai, ba... bước tới cùng một lúc. Và họ đã làm như thế mới có thể đến được bên cái gò. Thủ tục cúng của bốn tên con trai cũng ngắn gọn và rất buồn cười. Họ đặt lễ, đốt nhang vái, nêu tên món lễ của ai khiến cho Học phải điều chỉnh: - Tụi bay lộn xộn quá. Cứ gom chung vào cần gì phải tách riêng từng người. Siêu lên tiếng: - Phải nói rõ thì hồn ma mới biết là con gà của tao, còn bánh trái của hai thằng kia. Biết mình đang bị nói mỉa, Học phải vội ngậm miệng. Nhưng Trung không để yên đã to tiếng báo cáo: - Hồn ma ơi... ba thằng tui đã đáp ứng đòi hỏi của hồn ma rồi, xin đừng có quấy rầy. Còn thằng bạn tui tên Học... hồn ma chưa thăm nó, nếu còn muốn thứ gì thì cứ tìm. Để tui đọc địa chỉ... Hành động bất ngờ của Trung khiến cho Học lạnh gáy, tóc tai dựng ngược hết cả lên. Cậu muốn chửi, muốn đấm thằng bạn chết tiệt đã chơi khăm cậu một cú nốc ao song tay chân cứ như bại xuội chẳng thể nào điều khiển nổi. Làm sao mà cậu không phát hoảng khi lâm vào tình cảnh “họa vô đơn chí” thế này chứ. Học tự biết mình cũng là một tay sợ ma thứ thiệt... vậy mà thằng khốn Trung lại hại cậu bằng cách xúi hồn ma tìm tới cậu. Nó còn đọc vanh vách địa chỉ... Ôi, phen này cậu sẽ bị ú tim đây. Cơn bủn rủn từ trong ruột toát ra làm cho Học khụy chân. Không có cánh tay nào đỡ cậu cho tới khi Học nghe tiếng chân chạy. Hoảng hồn, cậu vận dụng tất cả sức mạnh vào đôi chân rồi lập tức điều khiển nó hoạt động... tới khi không còn chạy được nữa, buộc phải dừng thì Học ngã nhào vô người Siêu. Cậu thở rống lên như bò: - Hờ... hờ... hờ... Siêu hất Học sang một bên, chửi toáng: - Chưa đến nỗi bị cắt tiết đâu mà giãy chết. Hồn ma cô gái chưa tới thăm mày giữa ban ngày được đâu. Học trếu tráo: - Tao biết tội... mày làm ơn đừng có nhắc lại nữa. Tuy hồn ma chưa hỏi đến nhưng tao sẽ tỏ thiện ý vào ngày mai. - Mày tính lấy gì để làm lễ đem ra gò? - Tao không biết. Có thể là cây trái vườn nhà tao. - Mày đi một mình ra gò hay triệu tập cả tụi tao. Học nghe hơi thở của mình tuôn ra từ mọi nơi có lỗ hổng. Cậu trả lời đứt quãng: - Ngày mai... bàn tiếp đi. Bây giờ... tao đang bối rối lắm! Thông cảm cho tâm trạng ruột gan lộn tùng phèo của Học, cả ba cậu con trai không bày trò trêu chọc nữa, ai đi về nhà nấy vì trong số họ có kẻ chưa được ăn cơm trưa. Sáng hôm sau nhằm vào ngày chủ nhật, Siêu cuộn mình trong chăn với ý định sẽ ngủ bù cái đêm bị hồn ma quấy rầy. Nhưng cậu không được toại nguyện bởi đám bạn dẫn xác đến. Tiếng của Trung mở đầu: - Dậy mau... có lộc ăn... Siêu hé mở một bên mắt: - Ở đâu ra. Mày tính giở trò lừa đảo hả? Trung xoắn mũi Siêu kéo ngồi lên: - Chưa nhìn thấy đã nói bậy. Coi chừng tao đớp mất phần của mày bây giờ. Lúc này Siêu đã mở banh cả hai mắt và chịu hoạt động miệng. Cậu láu liên: - Lộc ăn đâu? - Ở ngoài kia. - Của đứa nào? - Thằng Học. - Tao có nghe lộn hay không? - Hổng lộn đâu. Mày hãy nhìn ra trước sân nhà mày kìa, thằng Học đang ngồi ở trước cây bông giấy với cái bịch to tướng đó! - Có vật gì trong đó? - Một con vịt quay thơm phức và năm ổ bánh mì. - Trời! Sao hôm nay nó hào phóng quá trời vậy. Dám bao tụi mình cả vịt quay. Trung trề môi: - Không dám nó cho ăn vịt quay đâu, đừng mừng vội. Nhờ tao hù gãy lưỡi nó mới chịu bao mỗi thằng một ổ bánh mì. Siêu thộn mặt tiu nghỉu: - Thế còn con vịt quay ngon lành kia? - Là lễ của nó đem ra gò cúng hồn ma cô gái. - Ủa, nó chơi sang dữ vậy hả? Hôm qua tao nghe nó nói chỉ cúng trái cây vườn thôi mà. Trung rỉ nhỏ vào tai Siêu: - Thì phải có vấn đề thằng keo kiệt bủn xỉn ấy mới chịu tốn tiền chứ. Mày thử ngó bộ dạng của nó coi, chắc đêm qua bị hồn ma vật ra trò... Nghe theo lời Trung, Siêu lấp ló bên trong cửa sổ nhìn ra thấy Học phờ phạc không khác gì cậu đêm trước. Cũng từng là nạn nhân nên Siêu nghe thương xót cho Học chứ không có ý định trêu chọc thêm. Cậu bảo Trung: - Thôi, nó cho ăn bánh mì là tốt rồi. Mày ra ngoài đó với tụi nó, chờ tao đánh răng cái đã. Nhớ đừng có kháo chuyện kẻo ba má tao nghe được ổng bả chửi rầm lên. Nửa giờ sau, Trung, Học, Cường, Siêu có mặt tại cái gò hoang nhưng họ đã trông thấy một tình huống hết sức ngỡ ngàng. Đó là tất cả những thứ mà họ đem cúng hôm qua đã bị hồn ma ăn hết nhẵn. Bằng chứng là xương gà vương vãi và vỏ trái cây nằm rải rác gần đó. Còn bánh và xôi thì không thấy dấu tích đâu. Cường thì thầm: - Đây đúng là một hồn ma chết đói nên mới ăn nhiều như vậy. Siêu trừng mắt ra ý bảo Cường im: - Liệu mà giữ cái miệng. Mày không biết là chúng ta đang đứng ngay tại cái gò hoang đây sao. Bị nhắc nhở. Cường vội đưa tay bịt mồm mình rồi đứng im nhìn Học bày lễ vật cúng. Con vịt quay bắt mắt tỏa mùi ra thơm phức khiến mọi người ai nấy đều phải nuốt nước miếng ừng ực. Nhất là Học, trông cậu có vẻ tiếc món ăn mà rất hiếm khi cậu được ăn. Nếu không phải là sợ hồn ma quậy phá mình thì dễ gì Học chịu mất con vịt quay béo ngầy, béo ngật ấy. Đốt nhang xong, không muốn nán lại để tăng cường thêm độ tiếc rẻ của mình, Học hối thúc các bạn: - Về thôi tụi mày. Coi như phần tao cũng đã ổn. Chẳng có câu nào phản đối nên tất cả cùng quay lưng. Đi được một đoạn ngắn. Cường bỗng nêu thắc mắc: - Theo tao thì xưa nay ma chỉ hưởng hương hoa của đồ cúng chứ đâu có ăn máng trọi giống như mình vừa thấy. Trung có cùng ý nghĩ: - Thằng Cường nói đúng. Ma mà biết ăn thịt gà chừa lại xương thì kể cũng lạ đời. Ê... có khi nào tụi mình bị hợm không? Học đang tiếc con vịt quay đến xót cả ruột gan vì cậu phải đập heo đất mới đủ tiền mua nó, nên gật đầu tán đồng: - Có thể lắm. Hay tụi mình quay lại đó xem sao. Siêu gạt phăng: - Đã cúng rồi thì mặc kệ hồn ma cô ta muốn ăn kiểu nào thì tùy ý. Bộ ba thằng mày muốn bị quấy nhiễu nữa sao? Nhưng Trung, Học và Cường đã hùa tới kéo tay Siêu: - Giữa ban ngày mà lại không phải là giờ thiêng, mày đừng lo. Trước giờ chưa ai nhìn thấy ma ăn uống ra sao, nhất định hôm nay bốn thằng mình phải rình thử. Giá có thằng Quang xồm nó sẽ không bỏ qua cơ hội này, hổng chừng còn chụp được cả hình hồn ma đang nhai ngấu nghiến con vịt quay. Thoạt đầu Siêu bị bản chất nhút nhát trong người giữ chân lại, sau đó nghe tới cái tên Quang xồm cậu bèn nổi máu anh hùng: - Hừm... tụi bay nhắc làm gì thằng khốn chỉ chuyên môn ăn hiếp bạn bè. Hôm rồi nó còn nhổ cả nước bọt vào mặt tao. Trung cũng trề miệng rên: - Nó đấm tao túi bụi tới bây giờ vẫn còn đau. Học vội nhắc đến nỗi khổ của mình: - Tao thì nào có yên thân gì. Bị nó đá những hai cái, còn phải bỏ chạy thục mạng... khốn kiếp quá... tao hứa từ nay không bè bạn với nó nữa. Cường nhấp nhổm đôi chân vì bị mỏi: - Đã không chơi thì xếp chuyện nó qua một bên rồi trở lại chỗ cái gò. Tao nghe mắt trái giật giật chắc là sắp có chuyện. Tự nhiên nghe Cường nói vậy tất cả cùng sốt sắng quay trở lại. Nhưng lần này họ đi thật rón rén cứ như người đi rình trộm chứ không ồ ạt giống lúc nãy. Khoảng cách từ chỗ họ tới cái gò bị rút ngắn... cho đến khi độ nhìn của từng người có thể thấy rõ ràng. Song cả bốn đôi mắt cùng kinh ngạc, ngỡ ngàng... thậm chí thay đổi bằng cơn giận tột độ. Tiếng Trung thét: - Thằng khốn Quang xồm kìa. Học tiếp lời giọng tức run: - Nó đang xé con vịt quay của tao ăn. Cường cà lăm: - Thái... thái độ... rất ung dung. Chỉ bấy nhiêu thôi là tất cả đều hiểu rằng mình đã bị Quang xồm chơi khăm. Họ nổi điên, mạnh ai nấy vớ được gì cầm theo cùng xông tới chỗ cái gò quyết trừng trị kẻ đã gây ra điều khốn kiếp. Siêu lăm lăm cục đá to bằng cái chén ăn cơm, quát tháo ầm cả lên: - Thằng xồm chó chết kia, thế nào xương vịt quay cũng đâm thủng cổ mày. Bị phát hiện đã giở trò, Qang xồm không quê còn nhăn răng ra cười: - Món ăn ngon, tao phải nhai chậm rãi cớ gì xương đâm được. Cám ơn tụi bay đã có lòng... Học không dằn được cơn nóng nảy nhảy tới múa khúc cây dài cả thước trên tay. Sắc mặt cậu đỏ gay: - Thì ra mấy ngày nay mày đã giả làm oan hồn nhát tụi tao. Quang xồm vẫn nham nhở: - Biết rồi còn la lớn. Vịt quay của mày giòn và béo, tao hứa sẽ chừa lại cho mày cái đầu... Không nhịn nổi, cả bốn cậu con trai đằng đằng sát khí xúm lại kẻ đánh, người đè khiến Quang xồm dù có sức mạnh cũng không tài nào thoát ra được. Thế là khi mọi người bớt cơn giận, tên con trai có bản tính bậm trợn xấu xa đã bị no đòn đến nỗỉ phải ói số thịt vịt quay vừa xơi được ra ngoài. Sự việc hồn ma đòi đồ cúng đã sáng tỏ nên Trung, Học, Siêu và Cường không còn nhút nhát như lúc trước. Tối đến họ có thể tự đi đến nhà nhau rồi về mà không phải vắt giò chạy bán mạng vì sợ ma. Chuyện xảy ra tuy cả bốn không ai hé môi kể lại nhưng chẳng hiểu sao có một số người lớn biết được. Kẻ bị mắng đầu tiên là Siêu: - Cái thằng đã lớn thế mà còn ngu, tin vào những chuyện ma xàm. May mà nó chỉ mới đem cống nạp con gà. Thằng út em Siêu làm cho cậu quê thêm: - Phải chi bữa đó em ăn cái đùi thì đỡ thấy tiếc hơn. Khi không đem dâng con gà luộc to đùng. Hai nhỏ em gái cũng không chịu tha mạng. Xuân đế vào: - Ảnh bị ma giả nhát mà sáng ra tao phải giặt một thau thùng mền. Xinh đưa tay bịt mũi làm mặt xấu: - Eo ơi... khủng khiếp quá. Không biết gặp ma thiệt anh hai mình sẽ ra sao? Chỉ với bấy nhiêu lời lọt vào tai, Siêu đã thấy da mặt mình rát bỏng dù cậu đang đứng trong chỗ mát. Nghĩ thật giận thằng Quang xồm khốn kiếp. Nhưng dẫu sao cậu và các bạn cũng đã cho nó một trận nên thân rồi. Không biết thằng Học, thằng Cường, thằng Trung có bị người nhà đay nghiến chăng? Siêu nảy ra ý định đi tìm đến nhà chúng xem tình hình nên lén lút ra vườn rồi vạch rào để đi. Cậu lần mò tới nhà Cường và lại nghe than thở: - Nghĩ lại mấy thằng mình thiệt là dại, mắc lừa, tốn tiền của lại bị người ta cười. Siêu vội vàng bịt tai: - Tao trốn qua đây là để tránh nghe mày làm ơn đừng ca cẩm nữa. Rồi cậu quay qua hỏi: - Hai thằng kia thế nào rồi? Cường chép mỉệng: - Một thằng thì tiếc hùi hụi số tiền mua vịt quay, còn một thằng thì điếc ráy vì đã chôm của mẹ nó bọc bánh bả định đem biếu người ta. Siêu thở dài: - Cùng gặp nạn như nhau thôi. Cường bỗng chạy xuống bếp bưng lên cho Siêu một ly sữa đậu nành còn nóng: - Uống đi rồi quên hết mọi chuyện. Tao nghĩ mày và thằng Học từ nay nên tập trung đầu óc để học hành. - Cám ơn lời khuyên của mày. Tao đã tự hứa với mình rồi, qua khỏi ngày hôm nay tao sẽ không đi chơi nữa. Cường đề nghị: - Vậy thì còn trọn một ngày, tập trung tụi nó lại đi câu cá nấu canh chua. Siêu hào hứng: - Nếu không có cá nấu, tao sẽ ủng hộ con gà làm hai món cháo và xé phay. Với tâm trạng rất vui, Siêu và Cường kéo nhau đi tìm hai thằng bạn cũng đang lâm vào tình trạng giống nhau. Sau một buổi câu cá đầy hứng khởi, tất cả trở về nhà Siêu với chiếc giỏ khá nặng đựng lẫn lộn nhiều thứ. Trung nói vui: - Rặt một lũ bò ngang. Cường ngọng nghịu: - Tại... tại mày, thích bắt... bắt cua chứ bộ. Học khom người lắc cái giỏ bằng tre: - Hổng bắt nó thì chỉ có nước về tay không. Siêu vung tay: - Tao câu được tới mấy con cá lóc, chỉ tại thằng Trung làm cho sổng. Trung vươn cổ lên cãi: - Mày là chuyên gia đổ thừa. Đành rằng cá cắn câu nhưng chưa bỏ vô giỏ thì sao là tại tao cho được. Thôi, bắt được nhiều cua thì cũng đã có thứ ăn. - Phải làm gì với nó đây. Cua thì sao có thể nấu canh chua? Nghe Học nói, Cường góp ý: - Nấu bún riêu, trời nắng ăn thứ này là nhất. Siêu lười biếng: - Nhưng phải giã và lọc thịt của nó thì mệt lắm. Cường nhận phần: - Cứ để tao. Mày lo đi kiếm mấy thứ phụ gia để nấu là được rồi. Học tự nhiên đề xuất: - Tao ủng hộ hai ký bún bằng tiền mặt. Ba đôi mắt còn lại ngó nhau đầy lạ lẫm khiến Học nghe tự ái tràn trề. Cậu phân trần: - Tụi bay đừng cho rằng lúc nào tao cũng chỉ biết ăn của người. Chơi với bạn bè phải có qua có lại chứ. Trung láu lỉnh: - Không biết tao có nên tin vào lỗ tai tao nữa không? Học vui vẻ gật đầu: - Cần phải tin vì mày đang nghe rõ ràng mà. Bây giờ mày lãnh nhiệm vụ đi mua bún, tao đưa tiền. Trung lộ vẻ ngần ngừ: - Từ từ mua. Tụi mày nấu xong được nồi canh cua thì cũng còn lâu lắm. Nhưng Học cứ nhất thiết bắt Trung phải đi liền khiến cậu lầm bầm mắng trả lại: - Được lắm. Đã thế thì tao sẽ cho tụi mày đợi dài cổ... - Dám không…? - Đi sẽ biết. Nói rồi Trung biến nhanh cùng chiếc xe đạp của Siêu. Ở nhà cả ba tên con trai còn lại bắt đầu trổ tài nấu nướng với mớ kinh nghiện chỉ biết qua loa. Chiều nay ba má Siêu và mấy đứa em qua hết nhà bác Hai nên không có ai làm vướng bận. Thế là mặc sức cho họ bày biện khắp căn nhà bếp đến hai xoong nồi riêu cua. Học hỉnh mũi: - Cũng thơm ngon đáo để. Tao đang đói chắc chắn sẽ ăn được hai ba tô. Cường nếm thử, trề môi chê: - Ngon gì mà ngon, phải thêm mớ gia vị vô nửa mới có thể đậm đà. Tao khoái nó chua chua một chút. Siêu quẳng cho Cường gói me nó dự trữ trong nhà: - Đây ông tướng, nhưng cho vào ít thôi kẻo chua lè mất ngon. Trong lúc Cường cắm cúi bên cạnh nồi riêu cua hấp dẫn thì Siêu, Học nhóng cổ ra ngoài. Một trong hai thằng lầm bầm: - Từ đây tới chợ có bao xa mà thằng ranh ấy đi lâu dữ vậy? - Thì lúc nãy nó đã chẳng nói trước rồi ư? - Nhưng nó cũng phải nóng lòng vì sợ tụi mình xơi trước chứ? - Không có bún thì xơi trước thế nào được. Hổng lẽ húp nước riêu... Hai rồi tới ba kẻ vào ra. Chán chê cho đến lúc họ toan quyết định chia nhau húp nước riêu thì Trung mới chịu dẫn xác về, song cử chỉ của cậu đầy hốt hoảng: - Có chuyện lớn... có chuyện lớn... Đang bực mình vì chờ đợi. Học túm cổ Trung quát tướng lên: - Không ai nghe mày bày đặt chuyện đâu thằng dịch vật. Chắc đánh mất tiền rồi về đây lu loa lên chứ gì. Vẻ mặt Trung đượm thêm sự hớt hải: - Tao không đánh mất tiền, tao đã mua được bún... - Thế sao mày không đem về liền mà bắt tụi tao đợi cả tiếng đồng hồ? Bây giờ thì giọng Trung run bần bật: - Tại… tại... tại tao... Siêu trợn mắt nạt bạn: - Nói đại đi. Mày không bắt chước cố tật của thằng Cường được đâu. Nhưng Trung vẫn lẩy bẩy không thành tiếng: - Tao... tao đi coi... thằng... thằng... Nổi giận Học véo mạnh tay Trung: - Thằng chết tiệt nhà mày chứ thằng nào. Bây giờ tụi tao phạt mày ăn bún không với nước mắm. Trung rên rỉ: - Ối… ối... lúc này có ăn đến nem công, chả phượng tao cũng nuốt không nổi. Thằng... thằng Quang xồm nó... nó... Những khuôn mặt nghệt ra: - Sao? Thằng Quang xồm nó hành hung mày hả? Trung phải nuốt nước bọt một hơi rồi mới nói nổi: - Nó không hành hung tao mà là người ta hành hung nó. Siêu nóng nảy: - Mày nói rõ hơn đi, thằng khỉ ạ. Trung đưa mắt nhìn khắp lượt rồi kể lại: - Tao không biết trước đó đã xảy ra chuyện gì, nhưng lúc đi mua bún về ngang đường phía bên kia tao trông thấy thằng Quang xồm bị một tốp người rượt đuổi... Siêu thở ra khá mạnh: - Chỉ có thế mà mày làm như nó bị người ta chặt ra nhiều khúc. Ai chứ thằng Quang xồm bị rượt đánh chẳng có gì quan trọng, không oan uổng lắm đâu. Trung buột miệng kêu lên: - Vấn đề không phải ở chỗ oan mà là nó đã gặp nạn lớn. Học cầm bọc bún Trung đưa đến thêm vào: - Thằng khốn ấy chỉ có trời đánh thì may ra mới hết. - Nhưng ông trời chê nó không thèm đánh mà lại sai quỷ sứ kéo nó xuống cái giếng sâu bỏ hoang ngoài đầu làng trong khi chạy... Nghe thấy vậy cả bọn cùng lộ ra chút hoảng hốt, song Cường đã trấn an: - Rớt xuống đó thì nó lại leo lên. Thanh niên cẳng dài dễ gì chết, nhất là mùa này lại có nhiều nước. Mà chuyện ấy cũng đâu khiến mày đi lâu như vậy. - Thì tao đứng đó coi và nghe sự thể. - Mày biết được thêm điều gì thì kể nốt đi. Trung lại thở đứt quãng: - Tao thấy người ta xúm lại đó đông lắm, nhưng không phải để chửi thằng Quang mà lo trục vớt nó lên. Học chắn lời: - Theo tao thì mọi người quá nhân từ. Cứ cái ngữ thằng Quang xồm thì dẫu có ngâm dưới giếng vài ngày cũng chưa biến nó thành người tốt được. Trung lào phào: - Người ta đang lo cứu nó lên cấp thời còn chưa biết sống, chết huống hồ gì mày đòi ngâm vài ngày, ở đây ai không hay cái giếng ấy bị bỏ hoang lâu rồi nên rất ngộp vì thiếu lượng oxy dưới đáy. - Vậy mày đã nhìn thấy người ta lôi được nó lên chưa? Trung ảo não tựa như người thân của cậu đang gặp nạn: - Chưa. Tao có cảm giác lo cho tính mạng của nó quá, hay là tụi mình kéo nhau tới đó đi. Không có lời phản đối nào bật ra trong lúc này dù chưa ai kịp thưởng thức món bún riêu mà họ đã bỏ công ra nấu. Khi Trung, Học, Siêu và Cường có mặt ở chỗ cái giếng hoang thì người dân trong làng cũng túa ra đó khá đông. Tuy nhiên, thằng Quang xồm cũng vẫn còn dưới giếng vì chưa ai có cách nào lôi nó lên được. Bốn cậu nghe loáng thoáng: - Thằng đó chết chắc chứ không thể sống được. Thả dây xuống biểu nó nắm lôi lên nhưng nó vẫn làm thinh... Học nháy mắt hỏi Siêu: - Ê có khi nào nó nhịn thở núp dưới đó vì sợ lên sẽ bị đánh đập không? Tao nhớ thằng Quang xồm có tài lặn dưới nước rất lâu. Siêu lộ nét mặt lo âu: - Lâu cũng chỉ được ít phút chứ không thể kéo dài hằng giờ được. Tao nghĩ nó ngỏm củ tỏi dưới giếng rồi. Không bảo nhau mà tim ai cũng nhói đau bởi cảm giác mất mát, dù nó là kẻ mà họ rất ghét. Quang cảnh chung quanh khu vực bờ giếng thật ồn ào và có phần gay cấn. Một vài người gan dạ đu dây xuống nhưng chưa được nửa chừng đã vội vã làm hiệu để kẻ túc trực ở trên kéo gấp lên vì không chịu nổi sức ngạt bên dưới. Họ còn dùng cả đèn pin chiếu xuống và đã lắc đầu biểu lộ điều xấu đang xảy ra. Giữa lúc đó thì lão Tâm lẫn người đàn bà ăn xin xuất hiện. Khi biết được Quang xồm, đang ở dưới giếng thì người đàn bà đang ăn xin liền bù lu bù loa: - Trời ơi... nó đang giữ cái vòng của tui đó là kỷ vật duy nhất mà tôi quý hơn sinh mạng. Vì đã quen người phụ nữ này nên lão Tâm lên tiếng: - Ngay đến xác của nó còn chưa có cách kéo lên được nữa là... Dẫu vòng của mụ có bằng ngọc trai cũng phải bỏ. Khi không vật quý không giữ lại đem giao cho nó... Người phụ nữ ăn xin tự trách mình: - Tui cũng hổng hiểu tại sao vừa gặp nó tui đã nghe như có một điều gì đó rất gắn bó như thể từng có mối quan hệ tình thân... Có vài người hiếu kỳ xen vô nói: - Thằng Quang xồm là cháu ngoại của ông Bà Quyết, dì ruột nó đang đứng đằng kia kìa. Nghe nói đâu má nó sinh con trong tình trạng không chồng nên hổ thẹn mà chết, bỏ nó lại cho người thân nuôi. Thời gian gần đây nó đã bị họ đuổi đi bụi... lười biếng không chịu lao động sống nên mò vô nhà người ta ăn cắp rồi còn bày trò giả làm ma, hôm nay có lẽ bị phát hiện nên người ta rượt đuổi và nó đã hoảng hốt nên đã rơi xuống giếng. Vừa nghe qua câu chuyện, người phụ nữ ăn xin thở nấc lên. Bà ta cũng không đứng nổi trên đôi chân của mình: - Các người nói sao... nó là... cháu ngoại ông Bảy Quyết? Có ai đó đã nhìn nhận: - Cháu ngoại ông Bảy Quyết thì sao chứ. Chẳng lẽ người nhà của thằng Quang không nhận, bà lại tính nhận giùm sao? Người phụ nữ ăn xin chờn vờn đôi cánh tay về phía trước: - Làm ơn... làm ơn gọi... dì của nó lại giùm… Trước yêu cầu có phần lạ lùng này, người ta lập tức điệu dì của Quang xồm lại chỗ của người phụ nữ ăn xin dù bà ta không chịu tới: - Tui quen biết gì với hạng người đó chứ. Đừng nói là thấy sang bắt quàng làm họ nghe. Người phụ nữ ăn xin ngước đôi mắt đờ đẫn của mình lên nhìn lướt qua kẻ đối điện rồi gục xuống khóc ròng. Bà ta thốt ra những lời mà không ai ngờ tới: - Ta sẽ không bắt quàng làm họ với các người, nhưng ta buộc phải nhìn nhận đứa con mà ta đã sinh ra chứ. Người dì của Quang xồm thảng thốt bước giật lùi về phía sau: - Bà... bà là... Người phụ nữ ăn xin nức nở lao về phía miệng giếng: - Là mẹ của thằng Quang... ôi con của ta ơi... Sự kiện xảy ra quá đột ngột làm ai nấy trố mắt nhìn. Nếu không có lão Tâm nhanh tay thì người mẹ khốn khổ ấy đã rơi tòm xuống giếng cùng thằng con trai có lẽ giờ này đã chết. Lão Tâm bỗng trở thành người an ủi bà ta: - Buồn gì cũng không thể hại mình. Mụ nhảy xuống đó mắc công người ta phải vất vả trục mụ. Nghe ta... bình tĩnh đi. Người phụ nữ ăn xin vật vã trong vòng tay nắm giữ của lão Tâm: - Tui làm sao có thể bình tĩnh khi biết được nó là con mình thì cũng là lúc chứng kiến thấy nó chết. Trời hỡi... ông đối xử tệ với tui quá... hu... hu... Không khí căng thẳng diễn ra và kéo dài cho tới khi mặt trời lặn người ta mới đưa Quang xồm lên khỏi miệng giếng. Nhưng chỉ là một cái xác cứng đờ, lạnh ngắt không còn chút hơi ấm nào. Dù bình sinh mọi người trong làng ai cũng rất ghét thậm chí không muốn nhìn mặt Quang xồm, vậy mà khi hay tin tên con trai này đã chết làm khá nhiều người ngơ ngẩn. Cường rùng mình than với Siêu: - Phen này thì nó làm ma thiệt chứ không còn giả bộ nữa. Tụi mình gặp nguy rồi. Siêu phát tín hiệu đồng cảm: - Mày nhìn kìa. Nó còn chưa chịu nhắm mắt... có khi nào ngay đêm nay nó tới nhát mình không? Cường nghe tóc tai dựng đứng dù chung quanh đang có rất nhiều người. Cậu thì thào: - Với thằng này thì có thể lắm! Xác nằm trên mặt đất chứ hồn thì nhăm nhe quậy phá rồi. Bốn thằng mình cứ mà liệu lấy thân. Bây giờ Học mới tâm sự. - Hổng biết tụi mày sao chứ tao thấy sợ quá. Rút về ăn bún riêu rồi còn tính chuyện phòng thủ. Thấy chẳng có việc gì cần đến mình. Trung, Học, Cường và Siêu nháy mắt nhau cùng bỏ về với tâm trạng phập phồng. Nhà Siêu vẫn còn vắng vì ba má và các em cậu chưa về. Cả bốn tập trung dưới nhà bếp quây quần bên nồi riêu cua đã lạnh tanh rồi thở dài: - Mất cả ngon. Ăn thì dở mà bỏ thì uổng... - Thôi kệ, cứ xơi nó vào bụng. Biết đâu cũng có chất bổ dưỡng. Đang đói nên dẫu không bắt miệng lắm họ cũng chan chan, húp húp được mỗi người vài tô. Siêu buông đũa trước tiên: - Tao no rồi. Đứa nào còn ăn được thì cứ việc. Học lên tiếng: - Tao nhá thêm tô nữa. Trung tiếc rẻ: - Tao cũng ăn. Cường không hùa vào mà hạ tô bún đang ăn dở xuống xoa bụng. Mãi một lúc sau cậu mới nói: - Tao chẳng dại gì mà nhét đầy bao tử món bún riêu đã lạnh tanh. Nhất là trong tình thế gay go ở thời điểm này. Ngộ nhở... ban đêm mà đau bụng thì nguy khốn. Thật muộn màng khi Học và Trung nghe được câu nói ấy của Cường. Cả hai muốn ói bớt thức ăn ra nhưng cái bụng tham lam của cậu cứ giữ lại. Họ đành phải trách cứ: - Sao mày không nói sớm? Chờ tụi tao ních no căng bụng mới mở miệng ra hù. Cường khịt mũi: - Tao không hù mà là tao cảnh báo... Bún riêu cua là món ăn rất mát, lại để lạnh dùng buổi chiều thật không nên chút nào. Siêu thả mắt nhìn ra ngoài: - Bây giờ trời đã sắp tối rồi mà nhà tao chưa có ai thèm về. Điệu này chắc đóng cửa qua hàng xóm ngồi chờ quá. Cường tỏ thiện ý tốt: - Còn tụi tao đây chi. Chừng nào nhà mày có người tụi tao mới kiếu từ. Bây giờ kéo lên nhà trên chơi đánh cờ. Không hào hứng nên Trung và Học lộ vẻ chẳng sốt sắng: - Hai thằng mày chơi đi. Tụi tao chỉ lên ngồi coi. Lên nhà, bàn cờ vừa bày ra chưa đi được quân nào thì Học đã gập người rên rỉ: - Ui da... tao đã có triệu chứng đau bụng. Siêu rời mắt khỏi bàn cờ để ngó bạn: - Sao nhanh vậy? Mặt Học nhăn như khỉ: - Tao đâu biết... chỉ thấy nó đau thì kêu thôi. - Nhà vệ sinh ở đằng sau chừng nào cần thì cứ việc. Trung bất ngờ nhập cuộc: - Tao cũng nghe cảm giác lạ trong người rồi. Hổng chừng hai thằng mình lại phải dành nhau cái nhà thì nguy khốn. Học bèn rủ: - Hay là tao với mày dzọt về nhà. Trung lắc đầu: - Toa lét nhà tao tọa lạc khá xa, tao thà ở lại đây cùng chiến đấu với mày. Nói dứt lời, Trung vội vã ôm bụng: - Sự kiện xảy ra rồi. Tao phải đi giải quyết đây. - Có cần tao đi theo không? Ngộ nhỡ mày đang lúng túng trong đó, hồn thằng Quang xồm đột ngột hiện ra thè lưỡi nhát thì... thì... Bỗng dưng bị Học dọa, Trung nhảy cẫng dù hai tay đang ôm vòng qua bụng: - Thằng khốn... tao đã cố giữ miệng không nói ra... vậy mà mày... Học bối rối bụm mồm: - Tao không hề có ý... tao hớ miệng. Nhưng dù sao thì trời đã tối không thể khỏa lấp được nỗi sợ bao trùm lên tâm trạng cả bốn người. Bị đau bụng, Trung buộc phải vào toa lét mà không cách nào trì hoãn. Cậu túm lấy áo Siêu: - Ở nhà mày... mày phải có trách nhiệm dẫn tao đi. Siêu viện cớ: - Tao đang mắc chơi cờ. - Thì ngừng lại một chút chết thằng Tây nào. Ngó điệu bộ của Học. Cường bật cười khanh khách. Cậu bảo Siêu: - Mày không mau chân lên để nó thả ra đây thì dọn mệt. Đau bụng không chần chờ được đâu. Lời nhắc nhở của Cường khiến Siêu phải hấp tấp đứng lên. Tuy nhiên cậu cũng càu nhàu mắng: - Ai cho ăn dữ bây giờ làm phiền tới người khác. Đúng là: “Tham thực nên mới cực thân”. Không dám há miệng ra đối chọi lại vì biết lỗi của mình. Trung kéo Siêu cùng chạy xuống nhà dưới bỏ Học và Cường ở trên nhà. Đã ngồi vào toa loét rồi, cậu còn dặn với ra: - Mày phải đứng chờ tao. Từ bên ngoài, Siêu chọc Trung: - Cứ từ từ mà tuôn ra cho hết đi. Tao sẽ không dẫn mày đi lần thứ hai đâu thằng khỉ. Không có tiếng đáp mà chỉ nghe hơi thở khá mạnh rồi đứt quãng bên trong. Siêu mím môi cười thầm toan nghịch làm cho thằng bạn ú tim thì đột ngột... một cái bóng đen lướt qua tầm mắt cậu rồi biến mất. Không kịp nhìn đó là gì, Siêu nổi gai ốc bỏ chạy bình bịch lên nhà để mặc Trung trong toa lét. Cậu trợn mắt lu loa: - Tao vừa thấy thằng Quang... Cường và Học vội nhích sát vào nhau: - Ở đâu? - Dưới nhà sau. - Mày thấy nguyên si hình dáng của nó ư? - Không. Chỉ là một cái bóng đen thui lướt qua mắt. Học nhấp nhổm vì cơn đau bụng bộc phát mạnh: - Có khi nào đó lại là con mèo nhà mày không? Siêu thật thà: - Mèo nhà tao màu trắng chứ không phải màu đen. - Thì mèo nhà hàng xóm sang chơi. - Cũng có thể. Nhưng dẫu sao tao cũng nghe ơn ớn thế nào ấy! - Thằng Trung đâu? - Nó còn đang ở dưới. - Bạo gan nhỉ. Cường vừa khen thì Trung đã hộc tốc chạy lên. Cậu vung tay đấm vào Siêu lia lịa: - Đồ xấu xa. Mày tính hại chết tao hay sao mà bỏ tao một mình ở dưới đó! Nói cho biết, tao chưa kịp dội cầu đâu! Cường sấn tới đỡ giùm Siêu: - Không sao. Còn thằng Học đang ôm bụng chờ tới phiên... Học hiền lành đột xuất: - Tao biết tụi bay đều là bạn bè tốt. Có lộc cùng ăn, có nạn cùng chịu. Siêu cụng đầu vào vai Học: - Mày kiếm đâu ra những lời nịnh bợ ngọt ngào vậy. Nhưng dù cho mày không nói tụi tao cũng đâu nỡ bỏ bạn bè. Nào, muốn đi toa lét thì mau lên... Qua câu chuyện Siêu kể trông thấy bóng đen không một ai dám ngồi lại nhà trên mà cùng đi theo chụm hết vào một chỗ. Học nhát ma đến mức không cần đóng cửa khiến Cường và Siêu bịt mũi: - Hôm nay hổng biết là ngày gì mà bị tra tấn nhiều chuyện vậy! Âm thanh của câu nói chưa kịp dứt thì bóng đèn điện ở nhà bếp bỗng tắt phụt nhốt tất cả vào bóng tối và sự huyền bí dội ra từ suy nghĩ của họ. Những bàn tay quờ quạng để tìm nhau, cùng tiếng hỏi lao xao: - Đứa nào đã tắt đèn? - Không phải tao. Tao đang đứng đây mà. - Hay là cả khu vực này cúp điện. - Cũng không phải. Bóng đèn nhà trên đang cháy sáng kia kìa. - Vậy thì đích thị... - Thằng Quang xồm... Không biết tiếng cuối cùng là của ai, chỉ hay rằng tất cả đã xô chạy lên nhà trên, ngay cả Học... khi phẹc mơ tuya quần chưa kịp kéo. Dẫu là ai... dẫu làm gì... tốt, xấu... cuối cùng khi chết thì họ vẫn được chôn cất tử tế. Đám ma Quang xồm tuy có ít người tham dự nhưng khá xúc động vì những người thân của cậu đã hối hận chuyện không dạy dỗ cậu nên thân, khiến cậu trở thành con ngựa hoang bất trị. Ngôi mộ của Quang xồm nằm sâu tận bên trong giáp ranh giữa khu Công giáo và Phật giáo, được người dì và ông ngoại cậu bỏ tiền xây. Tuy không đẹp lộng lẫy song cũng là một mái nhà thật sự của riêng cậu khi đã ngàn thu yên nghỉ. Sau đám tang, người túc trực ở đó chỉ có mẹ cậu. Tội nghiệp, bà ta đã xấu nay lại càng xấu hơn vì quá đau khổ chuyện mất con. Chiếc vòng bạc mà bà tháo từ tay Quang xồm ra khi người ta tẩm liệm nó, bà đang giữ kỹ trong túi áo như lúc xưa. Có lẽ mãi đến bây giờ người đàn bà khốn khổ này vẫn mơ ước và hy vọng sẽ gặp được người đàn ông đã một lần đi qua đời mình. Ô định mệnh nghiệt ngã quá nên mới lại sắp đặt thêm những tình huống trớ trêu... Chiều nay vì trời yếu nắng nên không gian không thấy gì làm sáng sủa. Người phụ nữ ăn xin hái đâu ra được nắm hoa dại đem cắm vào chiếc bình trước mộ con. Trong lúc bà đang rì rầm nói những lời tâm sự của lòng mình thì một người xuất hiện, phát ra âm thanh nghe quen thuộc: - Mụ vẫn còn buồn vì sự ra đi của nó sao? Người phụ nữ ngước mắt lên: - Cả đời tui cam chịu khổ vì hai người. Thế mà giờ đây nó chết đi, một người thì không sao tìm được. Lão Tâm bước tới nhưng giữ khoảng cách ngắn ngủi: - Ý mụ đang nhắc tới người đàn ông mụ có lần nói... Người phụ nữ vội thọc tay vào túi lấy chiếc vòng bạc ra chìa về phía lão Tâm: - Kỷ vật của người ấy đây… lão coi đi tuy nó chỉ là một chiếc vòng bạc cũ kỹ mà ông ta đánh rơi lại song tui đã coi nó như báu vật. Tiếc là thằng Quang xồm đã chết đi rồi vẫn chưa biết cha của nó là ai. Cầm chiếc vòng người phụ nữ ăn xin đưa mặt lão Tâm chuyển dần từ trắng bệch sang tái tím. Chỉ cần quan sát lão mà không cần phải hỏi người ta cũng biết rõ là lão đang xúc động dữ dội lắm, hay có thể cho rằng lão đang lâm vào tình thế bấn loạn cũng đúng thôi. Bởi chiếc vòng bạc mà người phụ nữ cho là kỷ vật không xa lạ gì với lão nhưng lão đã làm mất nó trong một đêm ấn tượng nhất của đời mình. Ôi, cầu mong lão hoa mắt nhìn lầm... song lời người phụ nữ mải miết kể đập vào tai lão thì không thể nào phủ nhận. Trời ơi... tại sao lại gây nên cảnh oái oăm thế này chứ? Thì ra mãi đến gần hai mươi năm trôi qua sau cái đêm phạm tội bất ngờ ấy, lão mới biết mình có một đứa con. Một niềm vui quá muộn màng, thậm chí quá cay nghiệt với lão bởi nó có còn sống đâu. Thằng Quang xồm đã nằm yên dưới mộ sâu... Thằng Quang xồm khi sống lão đã từng bị nó tỏ thái độ bất kính. Vậy mà giờ đây nó lại là con của lão... là giọt máu của lão đã vương vãi trong một lần say rượu đã mò ra nghĩa trang lúc nửa đêm hòng chứng tỏ với mọi người rằng mình không sợ ma, thề có trời... chính lão không hề có chủ định phạm tội, mà chẳng hiểu ma quỷ xui khiến thế nào để cớ sự xảy ra. Lúc đó lão cứ ngỡ mình hành động trong mơ... và ý tưởng chuyện không có thật đã kéo dài cho tới bây giờ... để rồi kết thúc bằng lời giải thích phũ phàng mà lão đang nghe thấy. Ôi, tựa như một tiếng sét nổ ngang tai lão vậy. Lão Tâm muốn hét lên thật lớn để mắng chửi cái định mệnh chó chết đã đặt sẵn vào đời lão những tình huống oái oăm. Lão muốn nói to lời xin lỗi thống thiết với người phụ nữ ở trước mặt. Lão muốn dựng cả xác chết của Quang xồm dậy để nói với nó rằng lão là cha của nó... nhưng bộ quai hàm của lão không cử động được, cả chiếc lưỡi phát âm cũng cứng đờ trong miệng, chỉ còn đôi mắt của lão là đang nói, đang ánh lên tia nhìn van xin được tha tội. Cứ thế, lão Tâm đã ở trong tình hình thụ động khá lâu cho tới khi người phụ nữ ăn xin chạm vào tay lão để lấy lại chiếc vòng thì mới hay lão không ổn. Bà ta vội đỡ lão nằm cạnh mộ Quang xồm rồi hỏi: - Lão bị sao thế này? Chắc ở đây nhiều gió độc nên lão chịu không nổi. Để tui đưa lão về. Nhưng lão Tâm phát ra cử chỉ muốn ở lại nghĩa trang, lão không nói được bằng lời chỉ quờ quạng bằng tay trên mặt đất tựa như người viết chữ. Người phụ nữ ăn xin ngạc nhiên cắm cúi đọc: - Chiếc vòng này là của ta... Chỉ với bấy nhiêu chữ thôi mà đã làm chấn động cả toàn thân người phụ nữ ăn xin. Bà ta té ngồi cạnh lão Tâm, nhìn sững sờ ông rồi tru lên mà khóc: - Hu... hu... hu... là ông sao? Suốt bấy nhiêu năm tui lại không thể tìm ra được chứ. Bây giờ thì con mình đã chết tui làm sao nói với nó được cái điều mà tui luôn ấp ủ trong lòng... hu... hu... hu... Thấy lão Tâm lặng thinh chỉ ngó mình bằng đôi mắt đờ đẫn long lanh ngấn nước, bà ta túm lão lắc: - Nói đi... nói với tui một câu thôi cũng được, tui đã chờ và hy vọng gần hết đời rồi lão có biết hay không? Song lão Tâm chỉ có thể xiết chặt bàn tay của bà ta lần cuối cùng cũng như lần đầu tiên trong đời. Bởi tim của lão đã ngừng đập và mọi thứ trong mắt chấp chới rồi tắt hẳn. Lão Tâm chết vì không chịu nổi cú sốc khổng lồ vào cái tuổi gần đất, xa trời. Hoàng hôn bắt đầu phủ xuống nghĩa trang, bức màn sẫm màu và sau đó thì tối hẳn. Từ bên ngoài không ai hay biết lại có thêm một bi kịch xảy ra nữa, mà người ta kháo nhau rằng khu nghĩa địa bây giờ đáng sợ hơn khi nghe thấy âm thanh lạ từ trong đó vọng ra. Quả thật, nào ai có ngờ đâu đó là tiếng khóc, tiếng vật vã đau thương của một kẻ sống dở, chết dở giữa trần gian. Bởi bà ta đã mất đi tất cả những thứ mà là người ai cũng có. Tiếng khóc trỗi lên lẫn lộn theo tiếng gió, lúc nức nở. Não nùng, lúc giận dữ cuồng điên làm những ai nghe được đều phải rùng mình, thương cảm. Nhất là cậu con trai có lá gan thỏ đế từng làm bạn với Quang xồm, luôn sống trong tâm trạng thấp thỏm lo sợ có một lúc nào đó mình sẽ bị hồn ma thằng bạn đáo để lấy làm cho hồn vía thất kinh. Và thế là họ tụ họp nhau nêu ý định: - Ngày mai phải kiếm gì làm lễ đem ra mộ thằng xồm cúng nó thôi. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 25
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXV: TRỞ VỀ TỪ KIẾP SAU - Phần I Chuyện Trên Đèo 4 giờ chiều 24 tháng 12… Đã bắt đầu leo dốc đèo Bảo Lộc, vừa nhìn đồng hồ tay, Phong vừa huýt sáo, bởi với thời gian này thì anh chắc chắn sẽ tới kịp buổi lễ sinh nhật sẽ khai diễn đúng 7 giờ tối nay. Và chắc chắn anh sẽ nhận được một nụ cười thật tươi của người yêu và không chừng còn được thêm một nụ hôn thắm thiết nữa! Vậy là giữ đúng hứa, Phong có mặt tại Đà Lạt đúng thời khắc mà Giáng Hương muốn nhất, đêm giáng sinh! Ngoài ra, trong điện tín gửi về, Hương còn nói rõ, ba má Hương từ Nha Trang lên, cũng sẽ có mặt đúng vào dịp đó, chỉ để công bố chính thức lễ đính hôn của con gái! Vượt qua khúc cua thứ hai, vừa qua đoạn dốc ngược thì bỗng Phong nghe có tiếng kêu hét lên thật lớn từ phía tay trái, tức phía sườn núi! Ban đầu Phong không có ý định ngừng bởi xe đang leo dốc, nhưng tiếng thét lại vang lên lần thứ hai, lần này nghe rõ hơn: - Cứu tôi với! Cứu… Tiếng của một người phụ nữ! Phản ứng tự nhiên của Phong là nhấn còi thật dài và lặp lại mấy lần như thế, vừa cố nhấn ga để xe lên hết đoạn dốc cao. Anh định chạy vài chục thước nữa sẽ ngừng lại xem việc gì xảy ra, đồng thời liếc nhìn khẩu súng săn mà khi nào về Đà Lạt anh cũng mang theo để ở băng sau. Ngừng lại sát lề, Phong kéo thắng tay lên và quay lại nhìn chỗ vừa phát ra tiếng kêu cứu. Bất chợt anh thấy có người lao thẳng vào xe mình từ phía vách núi. Người đó mở nhanh cửa xe vừa hớt hải: - Chạy! Chạy đi... Phong chỉ kịp nhìn thấy một phụ nữ mình mẩy đầy những máu, giọng nói như sắp đứt quãng. - Cô… Phong chưa kịp hỏi hết câu thì đã thấy một người cầm rựa từ phía dưới dốc đuổi theo lên, chỉ còn cách xe chừng vài chục mét. - Chạy đi, nó sẽ giết… Không kịp hỏi gì thêm, Phong nhả thắng tay vừa nhấn mạnh ga vọt xe tới. Chiếc xe lao rất nhanh, cũng vừa kịp thoát khỏi tầm chém bằng rựa nhắm vào kiếng sau xe. Tất nhiên là kẻ đuổi theo không làm sao bắt kịp. Nhưng cũng phải hơn năm phút sau Phong mới nhìn sang người khách và hỏi: - Cô có sao không? Cô gái một tay ôm bụng, hình như có vết thương nơi đó, còn tay kia thì đưa lên vén mái tóc dài đang phủ xuống mặt. Phong bàng hoàng, suýt kêu lên, bởi gương mặt đẹp đến mê hồn của cô gái! - Cô… cô có sao không? Dù cố giữ bình tĩnh, nhưng Phong phát âm cũng không tự nhiên. Quả thật chưa bao giờ anh nhìn thấy một bộ mặt đẹp hoàn hảo đến như vậy. - Anh làm ơn chạy nhanh hơn nữa, em sợ! Phong có cảm giác như mình hoàn toàn lệ thuộc vào vị khách này, nên vừa nhấn thêm ga, Phong vừa lo lắng hỏi: - Vết thương của cô có sao không? Vừa hỏi, Phong vừa đưa chiếc áo choàng của mình cho nàng, choàng qua vai, chỗ vết thương. Nàng ta không đáp mà chỉ nhăn mặt. Riêng nét mặt nhăn nhó kia cũng đủ làm cho Phong bồn chồn: - Tôi phải làm gì cho cô đây? Vết thương... Lúc này nàng mới nói: - Em không bị thương, chỉ bởi chạy quá nên đau. - Nhưng máu khắp người cô kìa? Lúc này đã bình tĩnh hơn, cô gái đưa tay sờ khắp nơi và cuối cùng dừng lại ở bả vai, chỉ duy nhất chỗ đó là bị thương, nhưng xem chừng không nặng. Cô nhẹ mỉm cười: - Dạ, cám ơn anh. Nhờ anh mà em thoát hiểm. Người đã đẹp mà nói năng lại nhẹ nhàng, duyên dáng, khiến cho Phong quên cả việc mình với cô nàng chỉ mới biết nhau thôi. Anh đùa: - Cảnh cô bị đuổi bắt vừa rồi còn ly kỳ hơn là phim hành động nữa! Mà cớ gì người đó đuổi theo chém cô? Cô gái đáp tỉnh bơ: - Không phải là người nào, mà là... chồng em! Câu trả lời khiến cho Phong như bị rơi từ chín tầng mây! Anh lúng túng: - Cô… cô đã có chồng? Cô gái giờ mới nhìn thẳng vào Phong: - Có điều gì không đúng sao anh? - Ờ không... không phải. Chỉ vì... vì... Thấy Phong lúng túng, cô gái nói thẳng ra ý mình: - Nhiều người khi nghe em nói đã có chồng đều có thái độ giống như anh vậy! Bộ kỳ lắm hả? Một người hai mươi tuổi như em chưa lấy chồng được hay sao? - Cô mới hai mươi tuổi? - Bộ cũng chưa được nữa sao? Thấy cô nàng tuy mới thoát hiểm mà chẳng còn chút lo sợ gì, lại nói năng hoạt bát, Phong cũng hứng thú: - Trông cô chỉ… mười bảy, mười tám thôi. Mà nói thật, không ai tin cô là gái có chồng cả! Nhất là có một anh chồng dám xách dao đuổi chém cô vợ như tiên thế này! - Không phải anh ta đuổi chém em... Phong ngạc nhiên: - Chứ cây rựa trên tay anh ta lúc nãy thì sao? - Đó là cây rựa nó khiến anh ta như vậy! Biết câu nói của mình chỉ càng khiến cho anh chàng thắc mắc thêm, nàng nói thêm liền: - Anh ta bị điên! Mà người điên thì hành động đâu phải do lý trí của chính mình! Hiểu ra, Phong thở phào: - Thì ra là vậy. Nhưng sao cô lại... - Lại lấy người chồng điên hả? Theo anh thì tại sao? Bị ép buộc, hay bị lầm lẫn, hoặc lấy rồi chồng mới bị điên! Nguyên nhân nào thì cô ta cũng đều đưa ra hết, Phong chỉ còn biết cười và lắc đầu. Thốt nhiên, nàng ta nói: - Chính em chọn anh ta! Đang chạy ngon lành, Phong đột ngột thắng gấp, trố mắt nhìn cô gái, có cảm giác như cô nàng... bị điên: - Cô… cô… Nàng cười rất tươi, giọng bình thản: - Một cô gái bình thường, lấy một anh chàng điên làm chồng đúng là chuyện lạ khó tin. Nhưng ở đời đâu phải cái gì cũng bắt buộc phải giống nhau! - Tuy nhiên... Đột nhiên, nàng mở cửa xe vừa đưa tay vẫy chào Phong: - Cám ơn anh nhiều, em xuống đây! Phong hốt hoảng: - Sao lại xuống? Cô còn đang máu me đầy mặt cả. Mà ở đây là đỉnh đèo… Cô nàng đã bước xuống, sau khi đóng cửa lại còn cúi xuống nói vọng vào trong xe: - Anh chưa hỏi tên em? Phong lại một phen nữa lúng túng: - Tôi... tôi xin lỗi. Tôi là Phong, còn cô...? - Kiều My! Cô nàng chạy nhanh vào lề, nhưng như chợt nhớ ra, quay lại nói với: - Tiệc giáng sinh của anh coi chừng không vui! Một câu nói gở, nhưng trong lúc này Phong không chấp, anh chỉ đưa tay vẫy lại và nói: - Mong có ngày gặp lại! Phong thắng xe định bước xuống, không phải để đòi lại chiếc áo choàng nàng quên không trả, mà để định hỏi thêm gì đó, nhưng không còn thấy bóng cô nàng đâu nữa! - Kỳ vậy? Phải đến trên năm phút dừng xe lại, kiếm tìm mà vẫn chẳng thấy. Phong đoán chắc cô nàng đã đón một chiếc xe khác quá giang rồi, chứ quanh khu đó đâu có nhà nào có thể là nhà cô ta? Anh mỉm cười một mình rồi lên xe, nhìn đồng hồ và nhấn ga. Buổi chiều cao nguyên trời lạnh, con đường đèo vắng vẻ nên càng lạnh thêm. Nhất là với Phong lúc này tự dưng anh rùng mình. Đấy là chuyện hơi lạ, bởi từ lâu cái khí hậu Đà Lạt đâu thấm gì với anh. Có lúc nhiệt độ xuống dưới 10 độ mà Phong vẫn cảm thấy thích vì sự mát mẻ dễ chịu của nó. Đang mặc chiếc áo sơ mi hở cổ, Phong chỉ gài thêm nút trên chứ không dừng lại để quay kiếng xe lên. Con đường trăm cây số anh chạy chỉ chưa đầy hai giờ sau đã nhìn thấy nóc nhà thờ Con Gà… Hài lòng với chính mình, Phong vừa chạy một vòng quanh hồ Xuân Hương, trước khi lên phía Don Bosco về phía nhà của Giáng Hương. Vừa qua khỏi thủy tạ, chợt phía trước có khá đông người đang vây quanh một vụ gì đó bên bờ hồ, người xem tràn ra cả lối xe chạy, nên Phong phải dừng hẳn xe lại, bóp còi xin đường. Tuy nhiên, có lẽ do quá mải mê chú ý đến vụ việc nên họ không quan tâm lắm đến tiếng còi xe, trái lại một người còn quay lại cự nự với Phong: - Người ta chết mà còn ở đó bóp còi! Một người khác lại reo lên: - Phải rồi, sẵn có xe này, nhờ chở cô ấy đi bệnh viện xem sao! Họ không cần hỏi ý kiến của Phong, một người mở đại cửa sau xe của anh, hai người khác thì khiêng một xác người ướt đẫm nước lên. Họ vừa đặt người đó xuống băng ghế sau thì bỗng Phong kêu thét lên: - Giáng Hương! Ai đó nói: - May quá, có người nhà của cô ấy đây rồi! Chúng tôi thấy cô ấy đang chạy xe bỗng lủi thẳng xuống nước rồi chìm lỉm. Phải mất hơn mười lăm phút mới vớt được cô ấy lên. Còn chiếc xe thì... Phong cố giữ bình tĩnh: - Phải cấp cứu trước khi chở đi! Ai đó lại nói: - Nãy giờ chúng tôi đã làm rồi mà không có kết quả. Hồi đầu nạn nhân có run người lên, ói ra nhiều nước, nhưng chẳng hiểu sao liền đó thì lại nằm im. Phải đưa đi bệnh viện thôi! Phong không rành đường nên nhờ một người cùng ngồi xe giúp chỉ lối. Chỉ hơn năm phút sau thì Giáng Hương đã được đưa vào phòng cấp cứu. Người ta xác nhận là cô ấy chưa chết hẳn, còn có dấu hiệu của sự sống, nhưng một bác sĩ đã nói: - Do nạn nhân đã bị ngạt thở dưới nước quá lâu, nên e rằng não bộ bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức. Một giờ sau, cuộc hồi sức cho Giáng Hương vẫn chưa có kết quả cụ thể. Bà Phấn, mẹ của Hương sau khi được Phong điện thoại về nhà báo tin đã tới bệnh viện. Bà khóc bù lu bù loa lên, vừa giục Phong: - Con phải cứu nó! Không thể để nó chết như thế này được! Phong trấn an: - Bác cứ bình tĩnh. Các bác sĩ đang cố gắng. Nhưng sao Hương lại ra nông nỗi này vậy bác? Bà Phấn kể qua màn nước mắt: - Tự nhiên cách đây một ngày, nó bỗng kêu nhức đầu rồi ngủ vùi đến hơn ba bốn tiếng. Sau khi thức dậy, nó la hoảng lên như đang sợ ai đó! Bác hỏi mãi nó mới nói là bị một người phụ nữ nào đó tìm cách giết, nó bảo bác giúp đuổi người đó đi. Bác nhìn thì trong phòng lúc ấy đâu có ai, nên hỏi lại nó thì nó ôm cứng lấy bác, miệng cứ gào lên: “Nó giết con! Nó giết con!” Thế rồi từ phút ấy nó cứ lâu lâu lại mê sảng như vậy, làm cho bác sợ quá định báo tin cho con hay, nhưng con Phương em nó thì nói là bữa nay thế nào con cũng lên tới, bác đang đợi con ở nhà thì hồi nãy mấy đứa nó nói là con Giáng Hương lấy xe chạy đi đâu chẳng biết, bác hốt hoảng cho người chạy đi tìm thì kế hay tin con báo. Phong kể lại những chi tiết do những người cứu Giáng Hương từ dưới hồ lên và vẫn còn thắc mắc: - Sao Hương đi ra ngoài này làm gì? Bác có nhớ nhiều lần Hương nói ghét nhất là chuyện phải đi vòng bờ hồ phía bên nhà hàng thủy tạ, vì hình như hồi còn nhỏ Hương đã từng một lần bị ngã xe ở đoạn đường đó... Bà Phấn gật đầu: - Bình thường có việc gì phải đi qua hướng đó thì nó đều chạy bên bờ của nhà hàng Thanh Thủy rồi vòng qua vườn hoa, hoặc là qua cầu rồi hướng lên Trần Hưng Đạo, chứ không bao giờ... Có lẽ do lúc ấy tâm trạng nó không ổn định. Vừa lúc đó thì vị bác sĩ theo dõi tình trạng của Giáng Hương từ phòng cấp cứu bước ra và thở phào: - Cô ấy tỉnh lại rồi! Bà Phấn thốt lên: - Lạy trời! Nhưng vị bác sĩ vẫn dè dặt: - Tuy nhiên, hiện thời cô ấy còn trong tình trạng phải theo dõi kỹ, bởi đã tỉnh nhưng cô ấy chưa biết gì, cứ la hét gì đó, chừng như là sợ hãi lắm! Bà Phấn giải thích: - Ở nhà nó cũng trong tình trạng đó, hôm qua đến nay lận! Vị bác sĩ gật gù: - Có lẽ là nhờ vậy mà cô ấy chìm dưới nước trên mười lăm phút mà không chết! Chứ bình thường, con người chỉ cần ngưng thở một phút là não bộ bị phá hủy ngay, khó lòng mà tỉnh lại… Rồi ông nói thêm: - Cô ấy sẽ chưa tỉnh lại như bình thường được đâu. Người nhà hãy chuẩn bị tinh thần túc trực ở đây để theo dõi. Bà Phấn thôi khóc, nói với Phong: - Cháu có thể về được rồi, để bác lo cho nó. Cháu đi ngang qua nhà nhắn con Phương lát nữa vào, mang theo đồ đạc cần cho bác và cả con Giáng Hương. Phong lững thững rời bệnh viện mà trong lòng có cái gì đó lo lo... không lý giải được... Phần II Thế là những gì chuẩn bị cho đêm giáng sinh thành công toi. Không như dự kiến, Phong phải đi thuê khách sạn để ở. Anh định sau khi tắm rửa, nghỉ ngơi một lúc rồi sẽ trở vào bệnh viện để xem tình hình bệnh trạng của Giáng Hương ra sao. Nhưng sau khi ngả lưng một chút thì cơn buồn ngủ đột ngột kéo đến, khiến Phong không làm sao cưỡng được, anh ngủ một giấc dài. Đến lúc tỉnh giấc, Phong nhìn đồng hồ thì hốt hoảng, lúc ấy đã 2 giờ sáng! Chuông nhà thờ vẫn còn đổ, lúc đó nhắc cho Phong nhớ đã qua đêm giáng sinh. Nhớ tới Giáng Hương, Phong bật dậy mặc nhanh quần áo ấm và ra ngoài. Chiếc xe hơi lúc nãy quá vội vào phòng khách sạn nên Phong quên không quay kiếng, khóa cửa, nên sương đêm vào ướt đẫm cả băng ghế trước. Định cúi xuống lấy chiếc khăn lau thì chợt Phong giật mình khi nhìn thấy chiếc áo khoác của mình cho cô gái Kiều My mượn hồi chiều! - Nàng ta tới đây? Phong quay nhìn một lượt khắp chung quanh, rồi mở cửa xe, xuống hỏi người bảo vệ khách sạn: - Nãy giờ có ai leo lên xe tôi không? Anh bảo vệ lắc đầu: - Dạ không. Chợt lúc ấy cô thu ngân ở quầy lễ tân nói vọng ra: - Có một người nào đó gửi cho anh cái này! Họ đưa cho Phong mảnh giấy nhỏ, trong đó ghi vỏn vẹn mấy chữ: Hãy về nhà, cả nhà nàng ta đang đợi chỉ mình anh! Phong hỏi: - Người gửi tôi tờ giấy này có nói là ai không? Cô thu ngân lắc đầu: - Dạ không. Lúc đó tôi đang bận mở tủ nên quay lưng ra, chỉ nghe một giọng nữ nói: Cho tôi gửi giấy này cho người chủ chiếc xe đậu ngoài sân! Rồi khi tôi quay ra thì chẳng còn thấy ai. - Kiều My! Phong nói rất khẽ rồi quay trở lại xe. Anh đi thẳng vào bệnh viện thì hết sức ngạc nhiên khi nghe cô y tá trực báo tin: - Cô Giáng Hương đã được người nhà đón về hồi 11 giờ rồi... Phong sửng sốt: - Thế bệnh tình của cô ấy? - Cô ta đột ngột tỉnh lại và như chẳng hề bị gì! Bác sĩ cũng vô cùng ngạc nhiên, nhưng sau khi khám kỹ đã xác định là cô ấy không hề có di chứng gì và bởi thấy cô hoàn toàn bình phục nên đồng ý cho xuất viện. Nhớ lại câu viết trong tờ giấy, Phong lẩm bẩm: - Chuyện này là thế nào đây? Anh tức tốc trở về nhà Giáng Hương và vô cùng kinh ngạc khi thấy cả nhà đang quây quần bên một bàn tiệc linh đình! Ngồi bên cạnh bà mẹ, Giáng Hương tươi như bông hoa, vừa trông thấy anh, cô nàng đã kêu lớn: - Tưởng theo cô nàng nào rồi chứ! Bà Phấn thì từ tốn hơn: - Biết cháu đi tìm khách sạn ngủ mà cả nhà không ai biết khách sạn nào để đi gọi, nên đành dọn sẵn tiệc ra và chờ... Phương liến thoắng: - Em biết chị Hương, dẫu có chờ anh tới sáng chị ấy cũng chờ! Hương thì liếc dài: - Dám bỏ người ta ngồi dài cổ trong đêm giáng sinh há! Để rồi xem người ta trị tội? Phong lúng túng giải thích: - Dạ, con xin lỗi bác, lúc ở bệnh viện ra con quá mệt và đầu óc căng thẳng, nên vội đi tìm khách sạn để tắm rửa nghỉ ngơi, định lát sau thì vào lại bệnh viện. Không ngờ ngủ quên... Bà Phấn quay sang con gái: - Nó có lý do chính đáng mà con... Giáng Hương chẩu môi: - Chính đáng thì không giận, nhưng vẫn phải phạt! Phương chen vào hỏi: - Hình phạt gì chị Hương? - Bắt phải ăn hết đầu, cánh và… cái phao câu con gà quay, không được ăn thịt nạc! Nhìn con gà tây quay tươm mỡ trên bàn tiệc, Phương lè lưỡi: - Hình phạt này ngang với án tử hình! Nhưng Phong vừa gãi đầu vừa cười chấp nhận: - Vì muốn được... làm rể nhà này nên xin chấp nhận! Bà Phấn cũng vui lây: - Vậy là tốt rồi! Mọi chuyện không vui đến rồi đi một cách nhanh chóng thế này đúng là nhà ta có trời Phật độ. Nào, các con hãy ngồi vào bàn rồi cùng nâng ly mừng đi! Bà Phấn quay sang Phong kể: - Lúc con về chừng một lát thì tự dưng bác nghe cô y tá trong phòng cách ly chạy ra la lên: Bác ơi, cô ấy tỉnh lại rồi! Khi bác chạy vào thì thấy nó ngồi lên, vừa đưa tay tự cởi bỏ cái chụp dưỡng khí trên mũi và nó còn kêu bác một tiếng lớn nữa! Đúng là như trong chiêm bao... Phong lén đưa mắt nhìn sang người yêu, anh mừng và ngạc nhiên bởi nét tươi tắn rạng ngời của nàng, không có một chút gì chứng tỏ là người vừa suýt chết đuối và mới vừa hôn mê. Anh định hỏi, nhưng bà Phấn hình như hiểu ý, bà nói khẽ với Phong: - Lúc này không nên hỏi gì chuyện của nó. Em nó tỉnh táo như vậy là mừng rồi. Thôi nào, ta nâng ly? Bà chủ động rót đầy bốn ly sâm banh và nói trước: - Má mời các con! Giáng Hương cụng ly rất mạnh với Phong: - Uống trăm phần trăm trước khi thụ án phạt! Phong vui trong lòng, anh uống cạn một hơi, nhưng tự dưng anh nhớ lại nội dung trong tờ giấy lúc nãy. Thấy anh khựng lại suy tư, Giáng Hương hỏi ngay: - Ngồi đây mà để đầu óc về cô nào vậy? Đó là câu hỏi đùa, nhưng Phong cũng lúng túng đến phát thương: - Đâu… đâu có… Anh... anh... Bá Phấn phải đằng hắng: - Đang vui nghe, để cho nó… chịu án phạt đi! Phong được cứu, anh không giữ ý, đưa tay chụp ngay đầu con gà quay vặn một cái và cầm gọn lên, nói lớn: - Trai thời trung hiếu làm đầu! Anh ăn ngon lành cái đầu gà tây to đùng. Phương ôm bụng cười: - Gái thời tiết hạnh phao câu với mề! Giáng Hương trừng mắt nhìn em gái: - Tao có bị phạt đâu mà ăn mấy thứ đó! Mày giỏi thì ăn giùm anh ấy đi. Bà Phấn giảng hòa: - Thôi, để mẹ tiếp cho thằng Phong hai cái cánh! Biết mẹ mình khoái ăn cánh xưa nay, Phương lại được dịp cười bò lăn: - Người không bị phạt mà tự nguyện! Vậy là đêm giáng sinh tưởng đâu bị hư bột hư đường, phút cuối lại trở thành một bữa vui hết cỡ! Bà Phấn tế nhị, nháy mắt với Phương cùng rút lui, để lại cho hai người trọn vẹn một đêm lãng mạn... Khi còn lại với nhau, đột nhiên Giáng Hương hỏi: - Người đẹp của anh đâu rồi? Phong giật mình: - Em hỏi ai? Nàng nghiêm giọng, không có chút gì là đùa: - Người mà anh vừa mới gặp! - Anh đâu có! Anh chỉ... Do bị truy bất ngờ, suýt nữa Phong đã nói hớ, tuy nhiên câu hỏi tiếp theo đã làm cho Phong ngớ người ra: - Người đã tới với anh ở khách sạn đó, đâu rồi? Sắc mặt Phong tái đi, anh lắp bắp đến tội nghiệp: - Anh... anh… Cũng may, lúc đó bà Phấn bất ngờ xuất hiện, giọng bà run run: - Có... có người chết ngoài cổng nhà mình! Phong bật dậy ngay, anh chạy ra và là người đầu tiên nhìn thấy một xác người nằm sóng soài ngay cổng nhà. Một người đàn ông! - Lấy cây đèn pin ra, nhanh lên Phương! Giáng Hương vừa gọi em gái vừa chạy ra đứng cạnh Phong, cô hỏi trong nỗi sợ hãi: - Ai vậy anh? Phong lắc đầu: - Anh đâu biết... Tuy nhiên, vừa lúc ấy anh nhìn thấy cây rựa đang cầm trong tay của xác chết và hình ảnh anh chàng đuổi theo Kiều My ở đỉnh đèo Bảo Lộc hôm qua hiện ra, Phong không kiềm chế được, kêu lên: - Anh ta. Khi đó Phương đã mang đèn pin ra, cô soi thẳng vào mặt xác chết, lúc này Phong càng nhìn rõ hơn, anh mất bình tĩnh hẳn: - Đây... đây là... - Anh biết người này? Câu hỏi của Giáng Hương nghe rất rõ, nhưng Phong vẫn hỏi lại: - Em nói gì? - Em hỏi... Hương không hỏi tiếp, mà nhìn sững vào Phong, ngạc nhiên bởi sự mất bình tĩnh của anh. - Anh sao vậy? Phong lặng người một lúc rồi đáp thật khẽ: - Anh đã gặp anh ta. Phương ngây thơ hỏi: - Anh quen người này? Mà sao anh ta chết vậy? Phong nhẹ lắc đầu rồi quay mặt đi chỗ khác. Tự dưng lúc ấy anh cảm giác như mình sắp ngã, không còn đứng vững nữa… Cũng may, Giáng Hương lại là người đỡ anh kịp thời: - Kêu cảnh sát đi, để chị dìu anh Phong vô trong. Anh bị bệnh rồi. Bà Phấn đi theo sau, lo lắng: - Từ chiều đến giờ có quá nhiều chuyện phải lo, giờ lại tới chuyện này nữa, thằng Phong đâu còn đủ sức để chịu đựng. Bà giúp con gái lấy dầu xoa cho Phong và lâm râm khấn: - Xin Phật trời độ cho nhà chúng tôi tai qua nạn khỏi. Hương nghiêm giọng: - Đây có phải là tai nạn gì của nhà mình đâu. Có lẽ anh Phong nhạy cảm với cảnh người chết, mà người đó lại quen với anh ấy nữa… Thấy Phương cũng chạy theo vào, bà Phấn giục: - Con điện thoại cho đồn cảnh sát đi, để người ta tới mang xác chết đi. Có hỏi gì kêu má nói chuyện. Phương rùng mình: - Ai dám đứng ngoài đó một mình, ghê chết được! Phải hơn mười lăm phút sau Phong mới tỉnh táo trở lại. Anh đưa mắt nhìn Giáng Hương, như sợ cô nàng truy hỏi nữa. Tuy nhiên, anh hơi ngạc nhiên với thái độ trở lại bình thản của nàng. - Anh đỡ chưa? Có cần uống chút gì nóng không? Lúc này Phong mới dám mạnh dạn hỏi: - Cái… cái đó đâu rồi? - Anh hỏi cái xác chết hả? - Ờ. Phương định trả lời thay chị, thì bà Phấn đã lên tiếng: - Để má ra coi. Bà ra ngoài nhưng lập tức trở vào ngay, kêu lên: - Biến mất rồi! Phương mau miệng: - Cái gì biến mất? Hay là.. Bà Phấn run run giọng: - Cái xác chết? Mới tức thì đây... Phong bật dậy ngay: - Hả? Sao lại... Anh quên rằng mình vừa bị choáng, đã chạy ra ngay cổng. Xác chết chẳng còn ở đó nữa! Bà Phấn hỏi Phương: - Hồi nãy con đã gọi cảnh sát chưa? Phương lắc đầu: - Dạ chưa. Bà Phấn thở phào: - Vậy là may! Phong lẩm bẩm: - Có thể anh ta chỉ bị ngất thôi chứ chưa chết... Và đến lượt anh cũng thở phào nhẹ nhỡm. Chỉ có Giáng Hương là lẳng lặng quay vào mà không nói lời nào nữa. Đến Phương cũng phải ngạc nhiên: - Chị Hương sao vậy? Phong nhìn theo rồi cũng im lặng. Bà Phấn nói thay: - Chắc là nó cũng mệt... Không khí đang vui bỗng trở lại nặng nề. Mãi khi cả nhà trở vào hết, bà Phấn mới nói: - Để má đốt nhang bàn thờ đã… Bà quên là ngôi nhà này Giáng Hương ở một mình đi học, còn bàn thờ thì ở Nha Trang, nên bà lại nói: - Đốt nhang cắm ngoài sân cũng được. Nhà có sẵn nhang không Hương? Hương đi lấy mấy nén nhang đưa cho mẹ rồi không nói không rằng, đi thẳng vào phòng. Bà Phấn bảo Phương: - Con theo vào coi nó sao vậy. Phong lặng thinh, trong lòng anh cảm nhận được sự im lặng của người yêu, nhưng cụ thể thế nào thì anh chưa thể lý giải được... Phần III Mối Tình Tay Ba Đáng lý đã phải trở về Nha Trang cùng với Phương, nhưng do ngại Giáng Hương còn có những điều bất trắc nữa xảy ra, nên bà Phấn đã lưu lại thêm ít lâu. Bà bảo Phương: - Mai con về nhà trước, mẹ ở lại với chị ít hôm nữa, tuần sau mẹ về. Thấy Phong còn ở lại, bà gợi ý luôn: - Con không phải ở khách sạn nữa, cứ dọn về đây mà ở, vừa vui, lại vừa có thể giúp đỡ nếu em nó có chuyện gì… Nghe nói, Giáng Hương cười ngất: - Mẹ trù con nữa rồi! Lại tạo điều kiện để người ta lên mặt cho coi! Phong biết bà mẹ vợ tương lai đứng về phe mình nên nheo mắt cười với Hương: - Ai dám lên mặt với bà chủ nhà! Lạng quạng bị đuổi ra sân ngủ thì lạnh chết. Giáng Hương nguýt dài: - Chứ không phải chờ dịp để đi tìm người đẹp liêu trai sao! Phong luôn nhạy cảm mỗi khi Hương nhắc tới Kiều My, bởi anh nghĩ có thể nàng ta đã biết điều gì. Bởi vậy, anh tìm cách dò khéo: - Hay là lúc bị hôn mê em đã thấy điều gì mà anh chưa hề biết? Bà Phấn không muốn nhắc tới chuyện ấy, nên khi nghe Phong hỏi, bà ái ngại nhìn con chờ phản ứng. Mà Giáng Hương phản ứng thật: - Anh muốn biết phải không? Vậy được rồi, vậy chứ mảnh giấy này là của ai? Cô móc trong túi ra một mảnh giấy, mà vừa trông thấy Phong đã giật mình! Bởi đó chính là mảnh giấy mà cô gái đã gửi cho anh ở quầy lễ tân khách sạn đêm giáng sinh! Tại sao Hương có nó trong lúc ngay khi vừa xem xong thì Phong đã vứt đi rồi? Thấy Phong cứ thừ người ra, Giáng Hương cười bí hiểm và nói trong lúc quay đi: - Có phải của người đẹp liêu trai không? Nếu không phải thì tại sao nàng ta biết chuyện nhà của em? Phong đành phải giải thích một phần: - Có… ai đó không biết, gửi cho anh tại quầy tiếp tân. Cho đến nay anh vẫn không nghĩ ra người ấy là ai, chỉ nghe nói là... một cô gái. Hương cười khẩy: - Đó thấy chưa, đúng là một cô gái mà! Phong như gà mắc tóc: - Anh... anh cũng không... Giáng Hương đi thẳng vào phòng, Phong định chạy theo, nhưng thấy có bà Phấn ở đó nên khựng lại. Phương từ ngoài cửa nói vọng vào: - Anh chạy theo vào phòng đi! Bà Phấn cũng xúi: - Con vào đi, năn nỉ nó một chút là được thôi. Phong nghe theo, anh nhẹ đẩy cửa phòng vào và chuẩn bị tư thế để xuống nước... Nhưng thật bất ngờ, anh vừa lách mình qua khỏi cửa thì cánh cửa bị đóng sầm lại, chốt bị khóa ngang! Còn đang ngơ ngác thì anh chàng đã bị nàng nhào tới ôm lấy cổ ghì mạnh, và lúc ấy Phong chỉ còn có nước là chạy theo đà bước lui của nàng. Giáng Hương ngả người xuống giường, kéo theo Phong cùng ngả đè lên người cô. Một nụ hôn thật sâu chừng như là để chặn không cho Phong lên tiếng, khi bên ngoài còn có mẹ và em gái đang lắng theo dõi... Phong vốn từng được Giáng Hương khen là có nụ hôn không thể nào cưỡng lại được, cho nên lúc này anh nghĩ phải phát huy nó tối đa, để ít ra khỏa lấp được điều anh đang muốn che giấu... Hồi lâu, nàng nói chỉ đủ cho Phong nghe: - Lần này tha cho đó nghen, lần sau mà còn thì biết tay em! Bên ngoài, bà Phấn kéo tay Phương ra nhà sau, bà nói khẽ: - Mày thì cũng mau mau kiếm một thằng cỡ như thằng Phong tao mới yên tâm! Phương cười híp cả mắt: - Má bảo con đó nghe! Vài bữa sẽ có kết quả ngay! Bà Phấn trằn trọc mãi mới có cảm giác là cơn buồn ngủ sắp đến. Mí mắt hơi nặng, bà trở mình lấy tư thế để chuẩn bị cho giấc ngủ ngon, bởi sáng sớm mai bà phải về Nha Trang rồi. Bất chợt có một bàn tay mát mịn choàng qua người bà, rồi ôm lấy, cùng lúc với một bên nệm lún xuống, chứng tỏ đang có người leo lên nằm chung. - Mày hả Phương? Nghĩ là cô con gái thứ ngủ phòng bên chắc là khó ngủ nên sang đây ngủ chung, nên bà Phấn hỏi mà không quay lại. Không nghe đáp, bà lại hỏi lần nữa: - Mai về rồi, cố ngủ một chút đi, sao lại qua đây? Nghe hơi thở phả vào gáy mình hơi lạ, bà Phấn quay lại, vừa hỏi: - Ủa, Giáng Hương hả? Nghe cách thở và cái kiểu ít nói khi lên giường, bà Phấn chắc chắn là Hương rồi, bà đưa tay choàng qua ôm lấy con, hỏi nhỏ: - Bộ sợ thằng Phong lẻn vào hả? Sợ gì, thằng đó không dám đâu. Vẫn không có tiếng đáp lại, bà nghĩ con gái mắc cỡ, nên lại nói rất khẽ: - Vui thì vui, nhưng đừng để nó làm gì nghe con. Làm con gái phải giữ... như thế nó mới nể mình, quý mình. Như ba mày hồi đó, ông lén chun vào mùng tao đến chục lần mà có được gì đâu. Có lần tao nhột quá đạp cho một cái ngã xuống sàn u đầu luôn! Bà nghe một tiếng cười rất khẽ, nhưng vẫn không có tiếng đáp lại. Tế nhị, bà không nói nữa mà lại buông ra, kéo chiếc mền lên đắp ngang ngực con. Trong bóng tối không nhìn được mặt con, nhưng bà cũng hài lòng khi nghĩ là con gái mình muốn ngủ với mẹ một đêm rồi mai lại phải xa mẹ, ít ra cũng một năm nữa, khi đó Hương mới tốt nghiệp đại học và trở về nhà. - Ngủ đi con... Bà nói khẽ rồi nằm im, dỗ giấc ngủ cho mình... 5 giờ sáng… Phương dậy trước, cô sang phòng mẹ gõ cửa: - Dậy đi mẹ ơi, sáng rồi! Bà Phấn choàng dậy, không còn thấy Giáng Hương bên cạnh, bà nghĩ cô đã trở về phòng riêng, nên giục ngược lại Phương: - Sửa soạn đi con, đến giờ xe chạy rồi! Phương cười: - Bữa nay coi mẹ đó, ngủ trễ mà còn hối thúc con. Xong hết rồi nè, kêu chị Hương dậy đóng cửa để mình đi. Bà Phấn gạt ngang: - Kêu thằng Phong thôi, để cho con Hương nó ngủ. Hồi tối qua nó ngủ với mẹ, có lẽ không ngon giấc, bây giờ đừng kêu nó dậy. Bỗng có người lên tiếng từ sau lưng: - Mẹ nói ai ngủ với mẹ? Quay lại đã thấy Giáng Hương đứng ở cửa phòng riêng hỏi vọng ra. Bà Phấn tưởng con đùa, nên nói: - Con khỉ, nhớ hơi mẹ, lấy đầy hơi rồi bây giờ làm bộ phải không? Giáng Hương nghiêm giọng: - Tối qua mẹ ngủ với ai? Phương chen vào: - Thì mẹ mới nói đó, mẹ ngủ với chị! Giáng Hương không kịp mang dép, để chân trần bước thẳng về phía mẹ mình, cô ngạc nhiên hỏi lại: - Mẹ nói ngủ với ai? Tối qua con đọc sách tới nửa khuya rồi nằm ngủ quên ngay trên bàn viết, có ra khỏi phòng đâu? Lúc này bà Phấn mới chắc là con mình nói nghiêm túc, bà giật mình: - Vậy ai nằm với mẹ? Bà quay sang Phương: - Con hả Phương? Phương lắc đầu nguầy nguậy: - Đâu có, con ngủ ở phòng con mà! Tự dưng bà Phấn rùng mình. Bà hỏi lại: - Hai đứa nói thật? Giáng Hương lặp lại chắc nịch: - Con chắc chắn như vậy! Con mới vừa giật mình dậy tức thì, nghe mẹ và con Phương nói chuyện con mới chạy ra đây. Luồng khí lạnh chạy dài theo sống lưng khiến bà Phấn mất bình tĩnh: - Tụi bay nói vậy là... là... cái gì đã xảy ra? Ai vào nhà mình đêm qua? Bà giục Phương: - Đi coi đồ đạc trong nhà có bị mất thứ gì không? Giáng Hương trầm tĩnh hơn, cô bảo: - Nó dám vào nhà nằm ngủ chung với mẹ thì cái nó cần lấy là... mẹ con mình chớ sá gì đồ đạc! Tuy nghe nói vậy, nhưng Phương vẫn chạy đi kiểm tra đồ đạc, cô trở lại nói: - Đâu có mất gì. Tiền bạc trong giỏ xách của mẹ và con để trong phòng con vẫn còn đủ cả. Chị Hương coi có mất gì không? Phong cũng vừa dậy, anh ngạc nhiên khi nghe kể lại câu chuyện: - Sao có chuvện lạ vậy? Bác có nhìn được mặt người đó không? - Đâu có, vì bác tắt đèn. Vả lại, thấy nó leo lên giường nằm ôm bác và ngủ ngon lành, bác cứ tưởng đó là con Giáng Hương qua ngủ để tiễn bác về. Giáng Hương buột miệng nói vừa cười trêu chọc: - Lại là cô gái! Hay là cô ta đi tìm anh Phong mà lạc qua phòng mẹ? Bà Phấn lườm mắt nhìn con: - Con cứ cái giọng đó hoài, đàn ông nào chịu nổi! Nhưng Giáng Hương vẫn cười: - Anh Phong đã thú thật có một cô gái đeo theo anh ấy đó mẹ! - Nhưng con nhỏ này... sao tao nghĩ mãi không ra, sao lại vào mùng mẹ làm gì? Hay nó là... Bà chợt rùng mình, rồi kêu lên: - Ta nhớ rồi, tay nó hình như lạnh hơn tay tụi bay! Mà hình như... Phương che miệng cười: - Mẹ ngủ với người ta suốt đêm rồi bây giờ mới phát hiện là tay lạnh! Mẹ coi chừng bị... ma chung giường đó! Phong không muốn Phương đùa như vậy, anh gọi cô em vợ tương lai lại, nói khẽ: - Chuyện của má nói không phải đùa đâu. Mà chuvện ấy cũng không thể đùa giỡn được. Theo anh nghĩ, việc một cô gái nằm ngủ chung với má là phải coi lại... Vừa khi ấy, bỗng Phương nhìn lại chỗ cửa phòng của mẹ, cô la lên: - Cái gì kia! Theo tay chỉ của cô, mọi người nhìn về phía đó và Phong là người đầu tiên kinh ngạc: - Cây rựa! Anh nhớ lại ngay cây rựa trên tay anh chàng đuổi theo Kiều My, cũng là cây trong tay của xác chết trước cổng nhà! Bước tới cầm nó lên, Phong nói đủ mình nghe: - Đúng là nó rồi! Phương hỏi: - Anh nói gì vậy? Phong không đáp, anh lặng người đi khá lâu... Phong thức giấc lúc nửa đêm, anh nhìn qua cửa sổ ra khoảng sân sau và giật mình khi thấy có ai đó đang đi khá nhanh ra chỗ có bóng khuất! - Ai như Giáng Hương? Bật dậy như bị điện giật, Phong bước đến sát cửa sổ và căng mắt nhìn. Đúng là Giáng Hương! Cô đang đi về phía giàn su su mà ban ngày Phong đã nhìn thấy đầy trái, nhưng chẳng lẽ đang đêm mà cô nàng đi hái quả? Theo dõi một lát, mắt quen hơn với bóng tối, lúc này Phong không nghi ngờ gì nữa, anh thấy Giáng Hương đang cúi xuống đào bới cái gì đó. Vừa tò mò vừa lo sợ, Phong tức tốc chạy ra khỏi phòng, vòng ra cửa sau mở cánh cửa không khóa đang khép hờ. Anh đi thật nhẹ, bước lần tới gần hơn mà Hương vẫn chưa hề hay biết. Từ khoảng cách chưa đến mười thước, Phong có thể nhìn được Hương đang đào đất và đặt xuống hố vật mà vừa nhìn thấy anh đã kêu lên: - Cái rựa! Tiếng kêu của Phong tuy không lớn, nhưng đủ cho Hương giật mình ngẩng lên, cô hơi lúng túng: - Em... em... Phong bước tới gần, hỏi: - Em chôn nó làm gì? Mà sao nửa đêm em lại... Giáng Hương ném mạnh cây rựa thẳng xuống hố, giọng cô hơi khác thường: - Em không muốn nhìn thấy nó! Phong nhanh tay lấy cây cuốc chim mà Hương đang dùng để đào đất, anh lấp ngay đất lại, chôn cây rựa dưới đó, mặc dù vẫn chưa biết mục đích thật sự của Hương là gì? Thấy Hương cứ đứng yên, thần sắc có vẻ khác thường, Phong dìu nàng vào, vừa nhẹ giọng nói: - Em vào nhà, anh pha ly chanh nóng, em uống sẽ tốt hơn. Xong rồi, anh cũng không muốn thấy cây rựa đó nữa. Anh hiểu... Nàng ngả đầu vào vai Phong như cần sự chở che. Điều mà từ mấy hôm nay anh không hề thấy... Thái độ này của Hương thật sự giống với Hương bình thường. Một nét mà Phong vốn rất thích và yêu vô cùng... - Anh… Giáng Hương như muốn nói gì đó, nhưng Phong đưa tay chặn lại: - Hãy yên lặng đi. Anh muốn ngắm em hiền lành, dễ thương như lúc này. Họ sóng đôi bước đi trong bóng tối, dưới làn sương nhẹ, chẳng khác nào một đôi tình nhân mới yêu nhau đang tìm những phút giây tuyệt vời nhất với nhau! Khi vào đến nhà bỗng nàng dừng lại và nói: - Em muốn đi ra ngoài! Nhìn đồng hồ tay thấy đã hơn 12 giờ, Phong hơi ngại. - Khuya quá rồi, hay là... Nàng giận dỗi: - Anh không đi cùng thì em đi một mình! Em đang cần đi. Phong đành phải chiều nàng: - Nhưng em phải mặc thêm áo ấm vào đã. Anh đích thân lấy áo rồi khoác vào cho Hương, xong anh bảo: - Mình giống đôi vợ chồng mới cưới đang đi hưởng tuần trăng mật quá! Hương cười, không nói gì... Đến khi Phong chạy ra tới hồ Xuân Hương, bỗng Hương nói: - Mình chạy xuống đèo Prenn chơi đi anh! Phong trố mắt kinh ngạc: - Em biết giờ này mấy giờ rồi không? - 12 giờ 15 phút! - Vậy sao... Giọng nàng trở nên ương ngạnh: - Nếu anh không đi thì cho em mượn xe, em sẽ tự lái! Nhớ lại chuyện nàng phóng xe gắn máy xuống hồ, Phong hoảng hốt: - Thôi, được rồi, anh sẽ lái. Nhưng theo anh... Việc lái xe vào đêm khuya qua quãng đường đèo là cực kỳ nguy hiểm, nên tuy nhận lời Giáng Hương, nhưng Phong vẫn không yên tâm. Vừa chạy anh vừa liếc sang nàng, Hương như chẳng để ý, ngả đầu sang phía vai Phong và... ngủ ngon lành. Biết người yêu đang trong tâm trạng bất ổn, nên Phong cứ để yên và lái xe chầm chậm. Thay vì lái về phía đèo Frenn, Phong cho xe chạy ngược lên thác Cam Ly. Anh dự tính, nếu Hương thức dậy có hỏi thì anh sẽ nói do thấy cô ngủ say, sợ chạy đường đèo sẽ khiến cô thức giấc, nên phải chạy lên hướng này. Tuy nhiên, xe chạy khá xa mà Hương vẫn ngủ say. Đến trước chỗ rẽ vào thác Cam Ly, Phong nhẹ nhàng cho xe dừng lại với ý định cởi bớt áo khoác của mình đắp lên cho nàng, bởi thời tiết lúc này khá lạnh. Cầm chiếc áo vừa định nhẹ nhàng trùm lên người Hương thì bỗng Phong há hốc mồm, suýt nữa đã kêu lên! Bởi trước mặt anh, người đang ngủ kia không phải là Giáng Hương, mà là… Kiều My! - Kiều My! Lần này thì Phong chẳng kiềm chế được, đã gọi tên cô gái, khiến cho cô nàng mở mắt ra, vừa ngơ ngác hỏi: - Sao lại ở đây? Phong hỏi hơi lớn: - Sao lại là cô? Thế Giáng Hương đâu? Cô nàng chẳng chút ngạc nhiên: - Người yêu của anh sao lại hỏi em? Xin chào, gặp lại người quen chẳng chào hỏi, lại hạch sách như vậy sao? Phong gượng gạo: - Nhưng vừa rồi Hương đi với tôi chứ đâu phải cô? Nàng bật cười: - Đúng là ban đêm anh trông gà hóa cuốc rồi! Chứ lúc nãy ai hứa chở em đi đèo Prenn? - Vậy ra hồi nãy là cô chứ không phải Giáng Hương? - Ngay từ lúc trong vườn, khi em đào lỗ chôn cây rựa thì tưởng anh đã nhận ra em rồi. Đúng là đàn ông ai cũng vô tâm cả... - Không thể nào. Tôi còn tỉnh táo đây mà, tôi nhìn rõ ràng là Giáng Hương nên mới chịu đi ra ngoài giờ này... Cô nàng Kiều My cười thành tiếng: - Vậy ra tốt phước cho cô ta thật! Và cũng may cho em. Nhờ anh quáng gà nên đêm nay em mới có diễm phúc được anh chở đi dưới sương đêm như thế này! Em xin cám ơn cô nàng Giáng Hương thật nhiều! Phong nhận ra điều mà từ mấy hôm nay anh cứ ngờ ngợ... Anh đột ngột hỏi: - Cô Kiều My muốn gì ở tôi? Không bất ngờ trước câu hỏi, nàng bất thần ôm lấy mặt Phong hôn thật sâu! Phong muốn vùng ra, nhưng chẳng hiểu sao anh lại để yên... khi nàng lơi ra thì Phong chỉ phản đối lấy lệ: - Cô làm vậy... Nàng lại cười: - Không làm thế này thì đâu làm sao được anh yêu! Tình yêu là chiếm đoạt nếu không chinh phục được! Phong ngửa mặt ra sau ghế dựa, cố định thần lại, chợt trên môi anh bị đôi môi của nàng dán chặt, hơi thở nóng liên tục phả vào mặt, càng lúc càng dồn dập, khiến Phong lúc đầu bất ngờ, sau đó phải dùng sức đẩy mặt nàng ra, nhưng không phải dễ, bởi cô nàng khỏe một cách lạ thường! Đến khi đẩy được thì Phong gần kiệt sức, anh ngơ ngác: - Kìa, sao cô… Nhưng một lần nữa, Phong phải tròn mắt lên, bởi người đang trước mắt anh lại là... Giáng Hương! - Trời ơi! Anh kêu lên một tiếng thảng thốt, rồi mở cửa xe lao xuống đường! Nàng vẫn ngồi yên. - Giáng Hương. Là em phải không? Phong hỏi mà không có câu trả lời, buộc lòng anh phải bước lại gần, cúi nhìn vào trong và hốt hoảng khi thấy Hương đang ngồi trước vô lăng, máy xe đang nổ và cô đang trong tư thế sắp sửa rồ máy! - Hương, đừng! Phong mở cửa xe định leo lên, nhưng chiếc xe vọt lên quá nhanh, khiến cho chỉ một tay anh bám được vào thành cửa và cứ lơ lửng như vậy khi chiếc xe lao đi như bay! - Hương, anh ngã bây giờ! Mặc cho Phong la lớn, cô nàng vẫn cho xe tăng ga. Nhờ đường khuya hầu như không có xe khác qua lại, chứ nếu không thì đụng là cái chắc! Tuy nhiên, Phong làm sao chịu đựng nổi tư thế treo lửng lơ như thế, bởi vậy anh phải cố hết sức kéo mạnh tay lái sang trái. Chiếc xe lạng đi nửa vòng, đầu hướng vào lề trái, và lúc ấy Phong chẳng còn biết làm cách nào khác là cố bám chặt hơn và nhắm mắt lại chờ điều xấu nhất xảy ra! Và điều xấu đã xảy ra thật. Một tiếng rầm vang lên, chiếc xe đã lao thẳng vào gốc cây bên đường. Phong bị văng ra đến vài thước, trong khi người ngồi trong xe thì bất động. Đêm Đà Lạt im ắng lạ thường… Đêm khuya vắng người đến đỗi tai nạn xảy ra khá lâu mà vẫn không có một ai đến cứu… Phần IV Mở mắt ra, nhìn thấy Giáng Hương ngồi cạnh, Phong suýt kêu lên, nếu không bị nàng lên tiếng trước: - Tưởng cứ nằm ăn vạ như thế mãi chứ! Ơn trời... Phong ngạc nhiên trước sự bình thản của nàng: - Em sao vậy? Giáng Hương lặp lại câu hỏi: - Anh sao vậy? Đã nửa đêm đi ra ngoài một mình, bị ai làm gì đó đến nỗi nằm giữa đường, nếu không được mấy người đi quét đường sớm thì chẳng biết ai sẽ đưa anh về nữa! Phong bật dậy: - Ai đưa anh về đây? Còn em nữa, em... Giáng Hương chỉ tay ra sân: - Nếu trên xe anh không có tờ giấy ghi trên kiếng xe bảo đưa giúp anh về đây thì họ chắc sẽ đưa anh vào bệnh viện rồi! - Ai ghi giấy gì? - Chẳng biết ai, chỉ thấy ghi mấy chữ: Người này ở số O1 đường Hoa Sứ. Vậy lúc đó anh đi cùng ai? - Thì... cùng em chứ còn ai nữa! Chính em đã giành lấy tay lái, em chạy như điên khiến cho anh phải đeo vào thành xe, suýt chết! Giáng Hương quắc mắt: - Nè, tôi chưa hỏi tội lén đi ra ngoài thì đừng có ăn nói kiểu đó nghe chưa! Ai đi với anh, nói xem! - Thì với em! Thấy phong gắt lên, chứng tỏ anh chàng nói thật, Hương hỏi lại: - Anh nói đi với em? Vậy sao suốt trong cơn mê, anh cứ gọi mãi tên cô Kiều My nào? Nghe nhắc tới Kiều My, tự dưng Phong bị kích động: - Kiều My! Cô ấy ở đâu? Sự quan tâm quá sức tới Kiều My nào đó của Phong đã là câu trả lời cho sự thắc mắc của Giáng Hương từ đêm qua đến giờ, cô nói từng tiếng một: - Như vậy là rõ quá rồi, em hiểu rồi! Phong hỏi lại: - Tại sao lúc đó em làm vậy? Em có biết chỉ chút nữa thôi là cả em và anh đều chết hết! Nàng phải gắt lên: - Anh đừng nói kiểu đó nữa, em chẳng làm gì hết, suốt đêm rồi em nằm ngủ ở nhà, không rời khỏi nhà nửa bước! Phong phải lắc mạnh vai nàng: - Em nói anh mơ ngủ sao? Hay anh bị mộng du? Hương nghiêm giọng: - Em lặp lại em không hề đi ra ngoài với anh đêm qua! Nói xong, Hương giận dỗi bỏ đi vào nhà. Phong định chạy theo thì bị đau nhói ở chân, lúc ấy anh mới nhớ tới vụ tai nạn xe đêm qua, anh lẩm bẩm: - Rõ ràng mình nhớ khi tai nạn xảy ra thì cô ấy bị kẹt trong chiếc xe đâm vào gốc cây kia mà! Tại sao cô ấy không hề bị thương tích gì hết? Bước ra cửa nhìn vào chiếc xe của mình, Phong vẫn còn nhận ra đầu xe bị móp vào, anh đến gần nhìn vào chỗ tay lái, còn vết máu vừa khô! Như vậy lời nói của Hương là thật! Đầu óc Phong hoang mang cực độ. Bây giờ anh mới dần nhớ lại từng diễn biến chuyện đêm qua... Đúng là mọi việc đều có liên quan tới Kiều My! Mà tại sao cô ta lại làm như vậy. Cô ta lại biết khá rõ chuyện của anh với Giáng Hương là sao? Càng nghĩ càng rối lên, cuối cùng Phong ngồi ôm đầu ở phòng khách khá lâu, và chỉ đi vào phòng riêng khi cơn buồn ngủ không còn cho phép anh ngồi thêm phút nào nữa. Nhưng lúc vào đến phòng, có một vật nằm trên giường khiến cho Phong vừa nhìn thấy đã tỉnh ngủ. Đó là chiếc áo hoa mà bữa gặp Kiều My trên đèo Bảo Lộc cô nàng đã mặc! - Tại sao lại ở đây? Không dám để chiếc áo đó trên giường, nên Phong chụp vội định vứt ra ngoài cửa sổ. Nhưng vừa đụng tới nó thì vật ấy như một sợi dây thừng, cột chặt hai tay anh lại! Phong hốt hoảng vùng mạnh ra nhưng càng vùng vẫy thì chiếc áo càng siết chặt hơn, siết đến khiến cho anh đau đớn vô cùng, nhưng không dám cất tiếng la, bởi sợ Giáng Hương nghe thấy. Cho đến khi gần bị ngạt thở, lúc đó Phong mới cất tiếng kêu, nhưng đã không còn kịp nữa... Phong ngất đi. Nhưng lạ lùng thay, trong cơn mê đó, anh lại bước đi như một xác chết biết di chuyển! Mà lại đi ra chỗ để xe hơi và leo lên ngồi ở băng ghế cạnh tay lái, rồi ngoẹo đầu sang bên ngủ ngon lành. Chiếc xe nổ máy, từ từ lui ra khỏi cổng mà không gây ra một tiếng động nào. Dĩ nhiên là Giáng Hương từ trong nhà không hề hay biết. - Trời ơi, chiếc xe đụng móp méo cái đầu như vậy thì người còn sống sao nổi? - Nhưng kìa, còn người ở băng trước! Những người bâu quanh chiếc xe của Phong bàn tán xôn xao khi nhìn thấy xe của anh đậu ở lề đường. Rồi bỗng một người reo lên: - Người đó tỉnh rồi kìa! Phong ngơ ngác nhìn quanh và tự hỏi: - Đây là đâu vậy? Anh mở cửa xe, nhưng do bị kẹt nên loay hoay mãi mà vẫn chưa mở được, chợt anh phát hiện một mảnh giấy nhỏ ai đó ghim chỗ tay nắm cửa xe. Trên giấy có mấy chữ quen thuộc: Hãy đi tìm nhà Kiều My! - Kiều My! Phong vừa khẽ kêu tên Kiều My thì cánh cửa xe bật ra một cách nhẹ nhàng. Cả mảnh giấy cũng biến đâu mất! Những người chung quanh thấy Phong tỉnh lại, đã có người hỏi to: - Anh không sao hả? Phong lúc ấy mới nhìn lên, và càng ngạc nhiên khi thấy có đến chục người đang nhìn mình như nhìn một quái vật. Anh lúng túng: - Dạ... dạ tôi... xe tôi bị... - Thì ai cũng thấy rồi, xe anh bị tai nạn. Vậy tài xế đâu? Lúc này Phong mới chợt nhớ, anh chẳng biết làm cách nào anh đưa xe được tới đây? Ai đã lái xe? Một người nào đó nói: - Kiểu này chắc là tài xế đã bị thương nặng, hoặc đã chết rồi cũng nên! Chắc là ai đó đã chở đi nhà thương rồi! Phong thất thần, lẩm bẩm: - Phải chăng là... Giáng Hương? Anh còn đang thẫn thờ thì chợt có người vỗ vào vai anh bảo: - Thấy anh không được khỏe, vậy hãy vào chỗ phòng mạch của bác sĩ phía bên kia đường cho người ta khám xem sao? Phong không muốn, nhưng lúc ấy chợt nhìn lại hai cổ tay của mình, anh thấy nơi đó còn hằn lên hai dấu bị cột trói, bầm tím, anh thốt lên khiến mọi người ngạc nhiên: - Vết trói! Nhớ lại chuyện chiếc áo lúc còn tỉnh, Phong lại cảm thấy chỗ hai cổ tay vẫn còn đau, do vậy anh theo tay chỉ của người nọ bước qua phòng mạch. Nhưng vừa bước vào phòng khám, anh đã khựng lại bởi mấy chữ trên tấm bảng tên treo trên vách: Bác sĩ Kiều My. - Hả? Phong kêu lên kinh ngạc, vừa lúc người giúp việc bước ra hỏi: - Thầy cần khám bệnh hay sao? Giờ này chưa tới giờ khám, phải đợi đến 9 giờ. Phong hỏi lớn: - Kiều My là tên ai vậy? Chị người làm trả lời: - Là tên của bác sĩ chứ còn ai! - Có phải cô bác sĩ... thật đẹp, thật trẻ phải không? Thấy thái độ khác thường của khách, chị người làm hốt hoảng quay vào trong, định kéo cửa sắt lại, bỗng có tiếng hỏi từ trong nhà: - Ai mà ồn ào vậy Tư Thà? - Dạ, có ông này... Không để cô ta nói hết câu, Phong đã hỏi ngay người phụ nữ lớn tuổi vừa bước ra: - Bác sĩ Kiều My đâu? Nghe cách hỏi trịch thượng của Phong, người phụ nữ ra vẻ khó chịu, do đó bà đáp cũng cộc lốc: - Tôi đây! Đang lớn giọng, bỗng Phong xìu hẳn xuống: - Bà... bà là... là... - Tôi là bác sĩ Kiều My, người phụ trách phòng mạch tư này! Cậu cần khám bệnh hay cần gì? - Dạ xin lỗi... Tôi muốn... muốn tìm cô Kiều My trẻ, thật đẹp, người có nốt ruồi trên mép và... Vừa nói tới đó, Phong chợt nhìn thấy chiếc áo hoa đúng là của Kiều My đang treo trên vách, cạnh bàn làm việc của bác sĩ. Anh sững sờ: - Đó là… là của Kiều My! Lúc này, đến phiên chủ nhà kinh ngạc: - Sao cậu biết đó là của con gái tôi? Câu hỏi làm cho Phong tròn mắt ngạc nhiên: - Con gái… là sao? Bà là Kiều My, tại sao… Thấy vài người tò mò đứng lấp ló nhìn vào, người phụ nữ vội bảo chị người làm: - Tư Thà, đóng cửa lại đi, chưa tới giờ khám bệnh mà. Rồi bà quay sang Phong: - Mời cậu vào đây, tôi cần hỏi... Phong theo vào ngồi trước bàn của chủ nhà, nhưng mắt vẫn không rời khỏi chiếc áo treo thẳng thớm trên vách tường. Không thể nào sai được, đúng là áo của Kiều My! Từ màu sắc, hoa văn cho đến kiểu may và kích cỡ đều giống hệt nhau... - Cậu có chắc là đã gặp người mặc chiếc áo này? Phong quả quyết: - Mới gặp đây thôi! Nhất là... ngay đêm qua… Bà bác sĩ trợn tròn mắt: - Cậu đùa sao? Con gái tôi... Phong hỏi nhanh: - Cô gái có chiếc áo này là con của bà? Thế cô ấy tên là gì? Bà ta đáp với giọng lạc hẳn đi: - Kiều My... Phong cảm giác là bà ta có vấn đề về thần kinh: - Sao lại là Kiều My! Vậy tên bà là... - Tôi cũng là Kiều My. Việc hai mẹ con cùng tên với nhau là thường. Chỉ có điều… Bà ngừng nói, nhìn Phong kỹ hơn rồi hỏi với giọng không tự nhiên: - Cậu nói… mới gặp ai đêm qua? - Là cô… Kiều My! Cô ấy… Bà bác sĩ hét lên: - Cậu đừng nói nữa, tôi đau khổ đủ rồi, đừng khơi gợi lại hình ảnh con tôi thêm, tôi… Bà ôm mặt khóc rưng rức, khiến cho Phong ngơ ngác. - Bà sao vậy? Tôi có làm gì cho bà phật ý không? Câu trả lời của bà khiến cho Phong gần đứng tim: - Con tôi chết rồi, tôi đau khổ đủ lắm rồi! - Bà nói… Phong run đến nỗi phải ngừng lại để trấn tĩnh rồi mới hỏi tiếp: - Ai chết? - Con gái tôi, con Kiều My. Phong phải lùi lại và đưa tay vịn vào thành ghế mới đứng vững được: - Cô ấy thật sự là Kiều My… Cô ấy là... Phong hy vọng là anh đang nghe lầm, cũng như người đang được gọi Kiều My không phải là người anh từng gặp. Nhưng vừa khi ấy, bà bác sĩ đã quay sang trái chỉ vào một cái tủ nhỏ, bên trên có bức ảnh chân dung. - Con gái tôi chụp lúc nó chưa đầy hai mươi tuổi, trước lúc chết chỉ sáu tháng. Phong tái mặt, bởi bức hình đó chính là Kiều My, cô gái anh cho quá giang xe trên đèo và là người đã hành hạ anh suốt mấy ngày nay! Anh hỏi gần như líu lưỡi: - Cô ấy chết... thật rồi sao? Cô ấy... - Kiều My chết trước Tết năm rồi, giờ đã gần giáp năm. Phong như người mất hồn, anh lặp lại câu hỏi gần như vô nghĩa: - Cô ấy chết rồi sao? Bà bác sĩ nhìn thẳng vào Phong như dò xem anh ta nói thật hay đóng kịch. Nhận ra nét thẫn thờ trong ánh mắt của Phong, bà nhẹ thở dài: - Cậu làm sao vậy? Nói cho tôi biết xem, con Kiều My làm gì cậu? Phong biết cần phải nói hết ra: - Cháu gặp cô ấy trên đèo Bảo Lộc cách đây gần một tuần, trong lúc cô ấy bị một thanh niên hung dữ cầm dao đuổi theo chém! Vừa nghe tới đó, bà bác sĩ kêu lên: - Thằng khốn nạn, chính bởi nó mà con tôi mới chết, nay nó còn không tha khi con nhỏ đã là hồn ma! - Tay ấy là ai? - Nó là người yêu của Kiều My. Nó là Tư Đạt, con của một nhà giàu sụ xứ này, nhưng ăn chơi đàng điếm, chẳng hiểu sao con My lại yêu và khổ sở với nó suốt mấy năm trời, cho đến khi... Bà nói tới đó thì cơn xúc động thái quá đã khiến cho con tim đập nhanh và mặt bà tái xanh, thở gấp. Phong hốt hoảng: - Kìa bác? Bác đừng... Ra dấu cho Phong lấy giúp lọ thuốc trong ngăn kéo, bà uống nhanh một viên và nhắm nghiền mắt lại, khoảng vài phút sau... - Cậu kể tiếp cho tôi nghe, con tôi đã nói với cậu những gì về nó? Phong thành thật: - Cháu chỉ cho cô ấy quá giang khoảng chưa đầy nửa giờ, rồi đột nhiên cô ấy đòi xuống ở dốc dèo. Do lúc ấy cháu có hẹn với người yêu, nên không ở lại hỏi thêm chuyện cô ấy được. Cho đến khi người yêu cháu bị nạn dưới hồ Xuân Hương thì bất ngờ cô ấy lại xuất hiện và gây ra cho cháu bao phiền nhiễu. Hình như cô Kiều My muốn đùa với cháu, hoặc là muốn trả thù cháu chuyện gì đó. Như mới hồi tối này, chính cô ấy đã trói cháu bằng chiếc áo này, đẩy cháu lên xe rồi đưa tới đây. Chẳng hiểu làm sao nữa? Vừa nói Phong vừa đưa hai cổ tay còn hằn dấu bị trói cho bà bác sĩ xem. Bà khẽ lắc đầu rồi chép miệng: - Nó đã báo trước điều này cho tôi tối qua. Nó bảo, nó sẽ đưa về cho tôi người mà tôi đang cần tìm, vì phải là người đó thì mới chặn đứng con ác quỷ kia lại được! Người đó... chính là cậu! Còn con ác quỷ kia chính là người cầm rựa đuổi theo nó mà cậu thấy! Phong hốt hoảng: - Sao lại là cháu! Bà bác sĩ đứng lên tiến về phía chiếc áo treo trên tường, móc từ trong đó ra một mảnh giấy và đưa cho Phong xem: - Cậu đọc thì rõ. Trong mảnh giấy đúng là nét chữ như mấy hôm nay anh đã nhận ra: “Mẹ phải buộc anh ấy cưới con ngay chỉ như vậy thì con mới thoát khỏi tay thằng Đạt. Bởi nó vẫn còn muốn con thành ác quỷ như nó, chứ không chịu để con là một hồn ma hiền lành, bình thường! Mẹ hãy mau cứu con! Nói với người tên Phong đó cứu con với, rồi con sẽ đền ơn! Con lạy mẹ, con lạy người ấy!” Phong đọc xong tờ giấy, anh sững sờ: - Sao có chuyện này? Cháu… cháu đã có người yêu, chúng cháu đã đính hôn chỉ chờ ngày cưới thôi! Bà bác sĩ lại thở dài: - Tôi cũng không biết nữa, nhưng nó quả quyết là cậu phải cứu nó. Cậu phải... Lúc này, bà bác sĩ mới nói thật: - Tôi biết con mình thành ma, nhưng đâu có ngờ nó lại lâm vào hoàn cảnh bi đát như thế này. Bởi vậy hừng sáng nay nó về đây, đưa chiếc áo này bảo tôi treo lên, chờ cậu tới, thì tôi đã không muốn nghe theo nó... Nhưng thú thật với cậu, nhìn ánh mắt van lơn cầu cứu của nó, lòng tôi không đành... Tôi cũng xin cậu. Phong đáp dứt khoát: - Không thể được! Làm sao cháu có thể lấy người nào khác, ngoài người cháu đang yêu. Nhất là với người đã khuất như cô Kiều My thì lại càng không được... Câu nói của Phong chưa dứt thì tự dưng đôi chân của anh bỗng khụy xuống trong tư thế đang quỳ gối, mặt hướng về phía bà bác sĩ! - Kìa cậu... Chính bà bác sĩ cũng không nghĩ Phong làm như vậy. Riêng Phong thì lúc ấy chẳng khác nào một con rối, ai giật sao anh làm vậy. Và... anh dập đầu mấy cái liền mà không hiểu được tại sao mình làm vậy! Bà bác sĩ cũng lên tiếng mà như bị ai đó điều khiển: - Được rồi, con đã lạy đủ ba lạy, coi như đây là lễ xác nhận con muốn làm chồng con Kiều My. Mẹ chấp nhận, thôi đứng dậy đi! Bà vừa dứt lời thì Phong cũng bật đứng dậy được, như vừa được giải thoát! Anh lắp bắp: - Cháu… cháu không hiểu… Bà bác sĩ cười gượng gạo: - Thì bác cũng có hiểu gì đâu. Đây hình như là ý của con Kiều My. Nó xúi mình làm vậy. Bây giờ tùy cháu thôi... Phong lặng người đi một lúc, rồi anh lặng lẽ bước ra ngoài. Anh không để ý gì đến chiếc xe bẹp dúm của mình, cắm đầu đi bộ mà không còn nhớ mình đi đâu... Cho đến khi anh nghe tiếng người gọi ơi ới: - Anh Phong. Giáng Hương từ bên kia đường đi băng qua với vẻ mặt đầy lo lắng: - Anh đi đâu mà em tìm suốt từ đêm qua đến giờ? Coi anh kìa, sao tay chân thương tích đầy thế kia? Phong bỗng ôm chầm lấy người yêu như tìm được vật đã mất vừa tìm lại được. Anh nói qua hơi thở: - Anh chỉ muốn ở mãi bên em. Đừng giận anh, đừng xua đuổi anh nghe Hương. Sợ người đi đường để ý, Giáng Hương vội gọi chiếc taxi trờ tới. Lên xe, cô giục tài xế: - Chạy về hướng Don Bosco! Lát sau khi về đến nhà, vừa bước vô tới phòng khách, Phong đột nhiên nói: - Hay là ta cưới nhau sớm đi Hương! Nhìn anh với ánh mắt nghi ngờ, Hương hỏi lại: - Anh nói thật lòng hay là để khỏa lấp chuyện đi với ai đêm qua đó? Phong lại siết chặt nàng trong vòng tay: - Anh nói nghiêm túc. Hãy gật đầu đi, ngày mai anh sẽ nhắn ba má anh lên và chúng ta sẽ cưới ngay đầu tháng này! - Không hối hận chứ? Nghe giọng nàng nhẹ nhàng, Phong phấn chấn: - Em đồng ý phải không? Sự đồng thuận của Giáng Hương như sự cứu rỗi Phong trong lúc này, anh reo lên: - Vậy là anh thoát rồi! - Anh thoát gì? Thoát ai? Trong lúc phấn khởi, Phong đã nói hớ! Anh vội chữa: - Anh nói là anh sắp thoát kiếp... độc thân rồi! Thật sự trong lòng Phong đang nghĩ đến việc mình phải cưới ngay để hóa giải lời nói của Kiều My, bất chấp việc anh đã quỳ dưới chân bà mẹ cô ta để cầu hôn... Trong niềm vui vô bờ, Phong ôm người yêu trong lòng, cứ ngồi yên ở phòng khách rất lâu... Buổi chiều qua khá nhanh, khi phát hiện trời đã tối, Giáng Hương mới nhắc: - Anh đi lấy xe về, sao lại để ngoài đường! Phong chợt nhớ, anh hơi lúng túng: - Chiếc xe bị... bị hư, anh tính để mai… Nàng nói: - Hư thì cũng phải tìm cách kéo về hay đưa vào garage nhờ người ta sửa. - Ừ, để anh xem... Phong định gọi điện tới một garage quen, nhờ họ tới chỗ chiếc xe đang đậu để kéo về garage. Nhưng vừa từ phòng khách nhìn ra, anh bỗng giật mình: - Ủa, chiếc xe! Chiếc xe của anh đang nằm trong sân! Khi Phong bước ra xe xem thì lại càng kinh ngạc hơn, bởi chiếc xe bây giờ đã nguyên vẹn, không hề có một dấu vết gì chứng tỏ nó mới bị tai nạn! Phần V Đám cưới của Phong và Giáng Hương diễn ra tại Đà Lạt thay vì ở Sài Gòn hay Nha Trang theo lẽ thường. Bởi cả hai gia đình đều đồng ý rằng việc rước dâu từ Nha Trang về Sài Gòn quá xa xôi, thay vì mỗi bên cứ bao xe mời khách thân quen cùng lên Đà Lạt, vừa dự đám cưới vừa đi du lịch mấy hôm. Tuy đã có quyết tâm phải lấy vợ ngay để tránh phải gánh vác chuyện cô Kiều My, nhưng trong suốt buổi diễn ra lễ cưới ở nhà hàng khách sạn Palace, hầu như lúc nào Phong cũng nơm nớp lo sợ sự rắc rối xảy ra. Nhưng cũng may, buổi lễ diễn ra trót lọt. Cô dâu Giáng Hương đi bên cạnh chồng với nụ cười lúc nào cũng rạng rỡ trên môi. Điều mà ít cô dâu nào có được. Bởi tâm lý chung của các cô nàng là thường bồi hồi trong giây phút trọng đại này, nên dễ gì tìm được nụ cười nơi họ. Phần nữa, các cô hơi ngượng ngùng trước đám đông... - Em vui phải không? Cảm ơn em nhiều... Giáng Hương đáp lại Phong bằng một cái siết chặt tay. Đêm đó họ ngủ lại ở khách sạn, thay vì về nhà riêng. Cho nên chỉ sau khi tiệc tàn, khoảng mười phút sau là cả hai đã rút hẳn vào phòng riêng. Việc các khách sạn tổ chức hình thức khuyến mãi bằng cách tặng cho cô dâu chú rể một phòng sang trọng khách sạn ngay trong đêm tân hôn là điều hết sức tế nhị. Phải tâm lý, cô dâu ngay trong đêm động phòng mà phải ké né trước người thân ở nhà khi bước vào phòng riêng với chồng, rồi sáng dậy lại phải đỏ mặt khi bước ra. Nhất là trước sự xét nét của gia đình hoặc là bà mẹ chồng, chẳng biết thằng con trai mình đêm động phòng đã làm tròn nghĩa vụ mà tổ tông giao phó hay không? Hoặc bà mẹ vợ, bà ta thường chờ sáng ra xem nét mặt của con gái mình xem có biểu hiện gì của sự bị... ăn hiếp quá đáng không? Còn ở phòng riêng khách sạn thì tha hồ mà ngủ cho đến chín mười giờ sau một đêm mệt mỏi... Bởi vậy vừa vào đến phòng, Giáng Hương đã cởi áo cưới ra rồi bảo với chồng: - Em mệt chết đi được, cho em nghỉ chút đã! Rồi cô tự tắt đèn, giải thích với Phong: - Em sợ ngủ dưới ánh sáng lắm! Mà thật ra lúc ấy Phong cũng cần bóng tối... Họ nằm trong bóng tối bao trùm, nhưng chẳng người nào phàn nàn hay sợ hãi. Bởi đối với họ, phút giây chìm trong màn đêm này nó có ý nghĩ cả cuộc đời... Cho đến quá nửa khuya thì cả hai mới đi vào giấc ngủ một cách êm ái, nhẹ nhàng mặc dù hơi thở của người cũng như sắp dứt... Nếu không có giọng nói rót vào tai thì có lẽ Phong cũng chưa tỉnh giấc: - Có yêu em không? Phong với giọng nhừa nhựa: - Không yêu sao... nằm đây! Con chó con, dậy sớm vậy. Bộ còn muốn... gây sự sao? - Em hỏi lại, anh có có yêu em không? Phong đưa tay bụm miệng nàng lại: - Khỏi phải hỏi, em đã thừa biết rồi! Nhưng nàng vẫn vùng ra, cố nói tiếp: - Em nói chưa hết. Ý em muốn hỏi là nếu em... không phải là Giáng Hương thì anh có còn yêu em không? Câu hỏi hơi lạ, mà giọng cũng không bình thường. Phong ngồi bật dậy ngay, vừa hỏi: - Em sao vậy Hương. Nàng kéo anh nằm lại: - Chưa trả lời em? - Anh... anh làm sao yêu khi không phải là em được! Em đừng làm anh sợ, Hương! Nàng bỗng cười khúc khích: - Tập sợ lần cho quen đi! Vừa lúc ấy, đèn trong phòng tự dưng bật sáng. Phong vừa nhìn sang Giáng Hương thì đã phát hoảng: - Sao lại là... là cô? Trước mắt anh là một Kiều My với thân thể ngọc ngà, cô nàng không hề ngượng ngùng khi phơi mình dưới ánh đèn, mà trái lại còn hả hê, hài lòng. Phong kêu lên: - Tôi hỏi, tại sao lại là cô? Nàng rất từ tốn, đáp: - Thì em đã nói trước với anh rồi, em phải làm vợ anh thì mọi việc của em và của anh mới tốt đẹp được. Bây giờ anh có nói gì thì cũng đã muộn, bởi sau đêm tân hôn thì em đã là vợ anh và anh đương nhiên là chồng em rồi! - Nhưng mà... Phong định cãi, nhưng nhìn lại thân thể mình anh mới giật mình. Bởi lúc ấy anh cũng... Quá ngượng, Phong định nhảy xuống giường, nhưng nàng đã kéo ghì lại: - Vợ chồng mới cưới đừng để bất cứ việc gì không hay xảy ra, như vậy sẽ là điềm xui xẻo. Rồi không đợi Phong nói, nàng lại tiếp. - Thật ra từ lâu nay vẫn là em cùng với anh, chứ nào phải là Giáng Hương! Anh không nhận ra cũng là phải, bởi hồn em nằm trong xác của cô ấy! Phong không muốn nàng ta nói tiếp, nên lớn tiếng quát lại: - Cô đừng nói nữa, dối trá! Nhưng nàng ta vẫn bình tĩnh: - Anh có nhớ lần cô ấy ngã xuống hồ Xuân Hương không? Anh nghĩ một con người chìm dưới nước hơn mười lăm phút, mà thật ra là nửa giờ, thì có thể còn sống không? Phong giật mình: - Vậy ra...? - Giáng Hương đã chết từ phút đó! Và em đã nhập vào xác cô ấy, sống lại ở bệnh viện! Anh không để ý những hiện tượng kỳ lạ mà anh đã gặp trong thời gian đó sao? Tất cả không là ảo giác, mà là chính em... Nàng ngừng kể, nhìn vào mắt Phong với tia nhìn đầy trìu mến, rồi lại tiếp: - Chỉ vì em yêu anh! Em là người đến sau, không được anh yêu, nhưng theo số thì chính em mới là duyên số của anh. Vả lại, Hương đã chết rồi! Ngoài ra, lấy em là anh đã cứu được mạng một người đang gặp thảm cảnh. Phong vẫn gay gắt: - Nhưng người tôi yêu là Hương! Tôi muốn... - Anh có muốn thì bây giờ cũng không được. Hơn nữa, anh đâu có mất gì, bởi từ nay anh vẫn sẽ sống với thân xác của Giáng Hương. Mọi người, ngoài anh ra, đâu có ai biết gì về chuyện này. Kể cả mẹ và gia đình cô ấy… Lúc này thì Phong đã hoàn toàn suy sụp, anh chỉ biết ôm đầu và gục xuống. Trong khi đó, giọng của Kiều My vẫn đều đều: - Việc em đón xe anh trên đèo Bảo Lộc là một định mệnh, chứ đâu phải ngẫu nhiên. Nếu hôm đó anh không gặp em thì rồi Giáng Hương vẫn chết, bởi số cô ấy chỉ tới đó. Em chính là sự thay thế, sự bù đắp hoàn hảo nhất cho anh còn gì! Nếu anh thử xa em xem, số phận của anh sẽ ra sao? Anh muốn thì cứ làm thử đi, em không dọa đâu, bởi từ phút này em đã là vợ của anh rồi, chỉ bảo vệ và lo lắng cho anh không hết, chẳng bao giờ em làm anh khổ cả... Phong lặng người đi... Trở lại cuộc sống bình thường... Những ngày sau đêm tân hôn tưởng đâu Phong sẽ bị sốc, nhưng trái lại, anh vẫn vui vẻ nếu không muốn nói là phấn khởi, yêu đời hơn! Ngay khi quyết định làm đám cưới. Phong đã có ý sẽ chuyển về Sài Gòn ở. Nhưng đến lúc này thì anh lại đổi ý. Do vậy, khi bà Phấn quyết định tặng cho vợ chồng anh ngôi nhà Giáng Hương đang ở thì Phong nhận ngay. Mặc dù việc đó sẽ khó cho công việc làm ăn của anh ở Sài Gòn, Phong nói với cha mẹ mình: - Con sẽ chuyển công việc làm ăn lên đây, để con vừa tiện làm ăn lại dễ cho Giáng Hương theo học hết hai năm cuối đại học. Sau đó tụi con sẽ tính tiếp. Dĩ nhiên cha mẹ anh chiều theo con. Riêng bà Lộc, mẹ Phong thì có vẻ thích cô con dâu: - Mẹ thấy tính tình con nhỏ được lắm. Ráng mau mau kiếm cho ba mẹ một đứa cháu nội nghe chưa! Phong nhớ cách đây vài năm, khi anh bắt đầu yêu Giáng Hương thì sau vài lần gặp gỡ, chính mẹ anh đã phán: - Tao không ưa kiểu đỏng đảnh của con nhỏ đó. Ngữ ấy mà cưới về làm vợ thì chỉ có nước... để nó leo lên đầu! Vậy mà bây giờ lại khác. Nhờ đâu vậy, nếu không là nhờ... vong hồn của Kiều My! Bất ngờ hơn nữa là sự xuất hiện của bà bác sĩ, mẹ của Kiều My. Bà nhìn con mình qua dáng vóc của Giáng Hương bằng tất cả sự trìu mến. Bà nói với Phong: - Má cám ơn con. Nhờ con mà từ hôm đó tới nay Kiều My không về nữa. Lần cuối cùng nó về với má là sau đêm tân hôn với con, nó bảo rằng từ nay thằng bồ cũ của nó sẽ không còn theo ám nó được nữa, bởi nó đã thành thân với người đàn ông khác. Việc nó đem chôn cây rựa ở sau vườn cũng mang ý nghĩa đó. Mất cây rựa và việc nó dâng đời con gái cho con, là hai nguyên nhân chính giúp nó và con được an toàn từ đây! Giáng Hương từ nào đến giờ chưa từng quen biết với bà bác sĩ. Nhưng khi từ trong phòng bước ra, vừa thấy bà, cô đã sà vào lòng, vuốt ve bà: - Con nhớ má nhiều! Rồi hai người cùng khóc. Bà bác sĩ nhẹ giọng: - Từ nay má coi như con vẫn còn sống! Thôi được, dưới thân xác của ai, miễn linh hồn là của con cũng đủ rồi. Má sẽ thường xuyên tới lui với con... Phong vội nói: - E rằng... Nhưng bà đã hiểu ý: - Má tới đây nếu có gặp ai thì sẽ bảo với họ rằng, má là bác sĩ riêng của cô chủ Giáng Hương! Họ cùng cười trong niềm hạnh phúc tràn dâng... Trong một ngôi biệt thự sang trọng ở Đà Lạt, có một đôi vợ chồng kẻ tục người ma sống với nhau, mà không một ai khác hay biết… |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 25
NGƯỜI CỨU HỘ BÍ HIỂM - Phần I Định tắm biển từ rất sớm, nhưng suốt buổi chiều hầu như không lúc nào vắng khách, cho nên mãi đến gần sáu giờ chiều Mỹ Lan mới rảnh. Cô nhìn những đợt sóng trắng xóa đang ập vào các ghềnh đá mà reo lên thích thú. Cái thú rất riêng của Lan là được nhảy sóng, mà phải là sóng lớn như thế này! Thấy trời tối, Mỹ Lan tiếc rẻ, chép miệng: - Uổng quá! Cô muốn bỏ ý định xuống nước vào giờ này, nhưng cứ nhìn tới nhìn lui những cuộn sóng, cuối cùng cô lại quyết định thay đồ xuống bãi biển! Lúc Mỹ Lan đón đợt sóng đầu tiên thì đồng hồ trên tay cô chỉ đúng 6 giờ 30 phút. Lan bơi rất cừ, nên cô dám ra xa gần cây số, nhưng lần này do trời tối và sóng hơi lớn, nên cô chỉ nhảy sóng ở cách bờ vài chục mét. Thích thú với làn nước trong xanh mát lạnh, nên Lan tha hồ đón hết đợt sóng này tới đợt sóng khác. Đến khi nhìn chung quanh chẳng còn thấy ai ngoài cô ra, đáng lý Lan đã phải leo lên bờ, nhưng mải mê sóng biển và thích được tắm trong điều kiện vắng vẻ nhất, nên Mỹ Lan hứng thú bơi ra xa một chút. Và xa thêm chút nữa… đến lúc nhìn lại thì không thấy bờ nữa, Mỹ Lan hơi giật mình, quay người bơi trở vào. Một vật gì đó chạm nhẹ vào chân khiến Mỹ Lan nghĩ ngay tới loài cá đuối, mối họa cho những người bơi xa bờ! Cô hít sâu một hơi rồi lao mạnh theo chiều cơn sóng, để thoát khỏi nơi đó. Nhưng... cô bị hụt hẫng sau khi rơi từ ngọn sóng xuống vùng nước sâu. Chới với, nhưng nhờ bản lĩnh của một người bơi giỏi, cộng với kinh nghiệm, Mỹ Lan vẫn ngoi lên được. Tuy nhiên, hình như có vật gì đó vướng ở cổ chân, nên vừa ngoi lên thì lập tức cô bị lôi trở xuống. Lan hơi hoảng, cô kêu lên: - Vướng lưới! Mảnh lưới này có thể là lưới bị đứt, trôi dạt vào đây, sẽ là vô phúc cho ai vướng phải, có thể chết ngạt do không bơi được! Mỹ Lan cố rướn người lên và hy vọng các đợt sóng sẽ giúp cô trôi nhanh vào bờ. Tuy nhiên, ngay sau đó thì Lan hốt hoảng khi chân cô như đang bị ai đó trì kéo xuống, do đó khi đợt sóng ào tới thì thay vì nhảy lên theo ngọn sóng, trái lại Lan bị chìm xuống. Cứ như thế, cô chịu ba lần sóng dâng lên và hạ xuống mà không thoát đi được mét nào, miệng thì đã bị nước tràn vào, khiến cô phải cố lắm mới không bị sặc nước. Mà sặc nước trong hoàn cảnh này đồng nghĩa với để nước tràn vào phổi! Chịu đựng đến lần thứ tư thì toàn thân Mỹ Lan hầu như tê liệt, không còn phản ứng gì khi đợt sóng tràn tới. Người cô chìm nghỉm xuống nước... Mở choàng mắt ra mà Mỹ Lan vẫn chưa tin là mình còn sống! Cô kêu lên một tiếng vô nghĩa, như một phản ứng tự nhiên của người chết đuối! Và đáp lại cô là một giọng người trầm ấm: - Thoát rồi! Mừng cho cô! Bấy giờ Mỹ Lan mới nhìn lại và bắt gặp một thanh niên to cao, da sạm nắng, anh ta đang nhìn mình chăm chú. - Anh là... - Là người đã cứu cô từ ngoài biển vào đây! - Vậy ra… Lan muốn hỏi có phải anh ta đã kéo chân mình xuống, khiến phải ngạt thở, nhưng anh chàng đã nói liền: - Tôi từ trên bờ, vô tình nhìn ra thấy có ai đó đang chới với theo mấy ngọn sóng, nên tôi đã bơi ra. May mà còn cứu kịp cô... Nghe cách anh ta nói thì rõ ràng đây là vị cứu tinh của mình, Mỹ Lan thay đổi giọng: - Xin cảm ơn anh. Cô muốn nói thêm, nhưng khi phát hiện chỗ cô đang nằm là một cái lều vải thấp lè tè, cô ngạc nhiên: - Đây là đâu vậy? - Là lều tạm của tôi. Tôi ở đây để trông chừng chiếc tàu đang mắc cạn ngoài kia. Cô có thấy chiếc tàu đó không? Mỹ Lan có thấy gì đâu, cô lắc đầu: - Không thấy, bởi tôi mới tới hồi trưa. - Thảo nào... Lan hiểu là anh ta đang chê mình điều gì đó, nên hỏi lại: - Anh nói thảo nào là sao? Nói tôi không phải là dân rành biển hả? Anh chàng vẫn giữ giọng dễ mến: - Là người mới tới thảo nào cô không biết chỗ mà cô tắm lúc chiều là vùng cấm. Nơi đó vừa nhiều sóng cao lại có đá ngầm, và còn nguy hiểm hơn là những dòng nước xoáy ngầm bên dưới. Dân lặn biển chuyên nghiệp mà còn tiêu mạng ở đó, nữa là... Anh ta nói xong bước ra ngoài liền. Từ ngoài, anh ta nói vọng vào: - Ở đây cách chỗ cô trọ không xa lắm, nhưng bây giờ là nửa đêm, cô nên ngủ lại đây, sáng hãy về sớm! Anh ta nói xong thì đi mất. Nằm trong lều, Mỹ Lan không an tâm, nên bật dậy bước ra ngoài. Bầu trời đêm tối đen, phía trước cũng một màu đen, tuy nhiên nghe tiếng sóng vỗ và thỉnh thoảng nhìn thấy đầu ngọn sóng trắng xóa, cho Lan hiểu ở đây là bãi biển. Nhìn quanh không thấy anh chàng kia đâu, cô đâm hoảng. Anh ta ở đây cũng là một mối lo, nhưng dẫu sao thì anh ta cũng là người đã cứu mình, có anh ta sẽ là một bảo đảm, hơn là phải ở lại một mình giữa một nơi cô tịch và trong màn đêm như thế này! - Anh gì ơi! Lan kêu lần đầu hơi nhỏ, lần sau to hơn. Nhưng trước sau gì anh ta cũng không lên tiếng. - Hay là... Cô nhìn xuống và mới phát hiện ra trên người đang khoác một chiếc sơ mi của nam giới. Lúc này cô mới nhớ ra là lúc bị chìm thì mình đang mặc đồ tắm, chắc là lúc cứu mình lên đây anh ta đã lấy áo của anh ta để mặc cho mình. - Anh ta đã... thay đồ cho mình sao? Mỹ Lan giở vạt áo ngoài lên và thở phào. Bên trong vẫn còn nguyên bộ áo tắm, như vậy chứng tỏ anh chàng đã không hề đụng chạm gì đến cô. - Mô Phật! Lan thở phào và quyết định thật nhanh, phải trở về khách sạn thôi! Cô bước thật nhanh theo bãi biển, nhắm hướng có ngọn hải đăng trên đỉnh núi, nơi mà cô không lầm là khách sạn sát biển của mình… Đến khi về gần tới nơi thì Lan mới chợt nhớ là trên người cô vẫn còn mặc chiếc áo sơ mi nam. - Ôi chao, áo của anh ta! Muốn trở lại cởi trả cho anh ta, nhưng Mỹ Lan lưỡng lự. Sau cùng, cô tự bảo: - Sáng mai trở lại tìm anh ta cũng được. Lan đi thẳng vào phòng tắm khi vừa về đến. Tắm táp một lúc tỉnh người, cô nàng trở ra và lúc này mới ngả lưng lên giường, thở phào một hơi. - Thoát nạn! Bất chợt cô nhìn sang gối bên cạnh và giật mình khi thấy có mảnh giấy trên đó với dòng chữ viết khá đẹp: Chúc cô ngủ ngon và đừng bận tâm gì đến chiếc áo cũ đó. Xin chào. - Của anh ta! Mỹ Lan cứ thắc mắc mãi, chẳng hiểu làm cách nào anh ta vào được phòng mình? Nhìn đồng hồ tay thấy đã hơn 12 giờ, nếu còn sớm thì chắc chắn là Mỹ Lan đã chạy đi tìm bảo vệ khách sạn hoặc phục vụ phòng để hỏi. Tính của Lan là hễ có gì lấn cấn trong đầu thì không tài nào ngủ được, cộng thêm chuyện chết đuối hồi chiều cứ ám ảnh hoài, khiến dù đã nằm đến hơn một giờ mà cô vẫn không tài nào chợp mắt được. Phải đến gần sáng thì cơn buồn ngủ mới đến một cách muộn màng. Mỹ Lan ngủ có đến vài tiếng. Khi giật mình tỉnh giấc do tiếng huyên náo bên ngoài, Lan nhìn đồng hồ và bật dậy ngay. Đã hơn 9 giờ! Khi mở cửa ra, Mỹ Lan nghe người phục vụ phòng nói: - Sáng nay khi cô còn đang ngủ thì có hai người bạn của cô hôm qua trở lại, họ tính rủ cô đi đâu, nhưng kêu cửa hoài không nghe cô lên tiếng nên họ đi rồi, hẹn trưa sẽ trở lại. - Ngoài hai người đó, còn có ai nữa không? - Dạ không. - Nè chị, đêm qua lúc tôi đi ra ngoài, chị có thấy ai lẻn vào phòng tôi không? Chị phục vụ cười: - Làm sao lẻn vào được! Phòng này ngoài cô ra, chỉ có chúng tôi là có chìa khóa để mở vào thay nệm hay làm vệ sinh thôi. Bộ cô bị mất cái gì sao? Mỹ Lan biết có nói ra cũng chẳng ích lợi gì, lắc đầu: - Không có gì. Chỉ là tôi thấy gì đó là lạ thôi. Cảm ơn chị. Sau khi thay quần áo, Mỹ Lan quyết định sẽ đi tìm anh chàng đêm qua để trả lại chiếc áo và cảm ơn anh ta lần nữa. Nhưng khi tìm chiếc sơ mi mà mình mắc trong phòng tắm thì không còn thấy nó đâu, Mỹ Lan hốt hoảng chạy ra ngoài gọi chị phục vụ hồi nãy: - Rõ ràng có ai đó vào phòng tôi lúc tôi ngủ rồi! - Cô mất đồ? - Chiếc áo tôi mắc trong nhà tắm lúc đi ngủ, bây giờ mất rồi! Chị phục vụ đích thân vào xem. Rồi chị ta quả quyết: - Kẻ gian không thể từ ngoài thò tay và lấy được. Còn người lẻn vào thì lại càng không, bởi cô ngủ có khóa chốt cửa bên trong mà! Mỹ Lan thừ người ra một lúc rồi kiểm tra lại đồ đạc khác, không mất một thứ gì nữa. Ngồi suy nghĩ mãi,cuối cùng Lan vẫn quyết định đi tìm anh chàng. Ít ra cũng nói rõ và xin lỗi anh ta một tiếng. Bãi biển giờ đã khá đông, nó khác hẳn không khí vắng lặng hồi đêm. Bởi vậy Lan đi suốt chiều dài bãi, xa đến ngót một cây số mà vẫn không tìm ra chiếc lều vải nào. Dừng lại hỏi mấy thanh niên cứu hộ đang đứng trực ở một tháp canh thì họ đều lắc đầu bảo: - Ở bãi này là bãi tắm công cộng, làm gì có ai được phép dựng lều. Lan hỏi: - Vậy nơi đây có chiếc tàu mắc cạn nào không? Mấy chàng trai cười: - Chỉ có tụi tôi mắc cạn bởi phải neo chân ở đây canh chừng cho du khách tắm, không đi đâu chơi được, chứ có tàu bè nào mắc cạn đâu! Mỹ Lan không tin, nên cô lại tiếp tục đi dọc theo bãi, xa đến tận chỗ chưa khai thác, không thể đi bộ qua được, mới quay lại. - Không thể… Cô cố nhớ lại xem đêm qua cái lều ở quãng nào. Cô nghĩ có thể lều chỉ dựng ra ban đêm, còn ban ngày thì dẹp đi, như vậy muốn tìm anh ta thì phải đợi đến tối. Bụng đói cồn cào, lại mỏi chân, nên Mỹ Lan tìm một nơi bán thức ăn sáng, ăn nhanh tô bún rồi quay về ngay khách sạn. Trưa nay tụi bạn sẽ tới rủ cô đi tham quan vài nơi... Vào phòng thấy phòng ốc sạch sẽ, chứng tỏ nó mới được vệ sinh xong. Chợt nhìn lên gối lại thấy một mảnh giấy nữa nằm ở đó. Lần này vẫn chữ viết giống như vậy và rõ ràng là mới viết: “Tôi đã lấy lại chiếc áo rồi, cô đừng bận tâm đi tìm để xin lỗi. Hẹn có dịp sẽ gặp lại! Dũng”. Mỹ Lan không còn giữ được bình tĩnh nữa cô ngồi xuống giường mà đầu óc cứ quay cuồng. Vân và Thủy hai người bạn của Mỹ Lan trở lại đúng vào giờ cuối buổi chiều, thấy bạn vẫn cứ nằm trên giường, họ ngạc nhiên: - Bà sao vậy, Lan? Mỹ Lan uể oải ngồi dậy, cô không muốn kể lại chuyện mình vừa trải qua, nhưng vô tình Vân nhìn thấy tờ giấy của anh chàng viết Mỹ Lan còn để trên giường, cô đọc và chuyền sang cho Thủy: - Người ta có bạn mới mày ơi! Thủy xem xong thì tròn mắt nhìn Lan: - Công nhận bà này giỏi nghen! Mới ra đây có một đêm mà đã có “kép” rồi, lại cho nhau mượn áo nữa! Mỹ Lan không buồn đính chính, cô rủ hai bạn: - Tụi mình kiếm chỗ nào sát bãi biển ngồi uống bia đi! Hai người bạn ồ lên: - Lại còn dữ nữa, uống bia ư? Mỹ Lan lặp lại: - Tự dưng mình thấy thèm bia. Dĩ nhiên là uống chơi chút thôi. Cô vừa nói vừa thay quần áo và còn thêm: - Mà nếu cần thì uống cho say, uống tới khuya luôn! Vân nhạy cảm hơn nên lo lắng nhìn bạn: - Bà có chuyện gì vậy Lan? Hay là… Thủy nói cho hết ý: - Hay là bị chàng ta cho leo cây? Mỹ Lan vỗ vào vai cô nàng: - Tào lao! Mà thật vậy, lý do Lan muốn ngồi uống bia ở bãi biển nhằm mục đích đợi anh chàng kia. Cô không hiểu mình có si mê anh ta không, nhưng những gì đã xảy ra khiến cho Lan quyết phải gặp bằng được, bởi nếu không gặp thì Lan cảm thấy trong lòng như có điều gì đó thôi thúc. Thấy Mỹ Lan quá cương quyết, nên Vân cũng tán thành: - Bọn này cũng định rủ bà đi kiếm cái gì ăn ở chợ, nhưng thôi, có lẽ ngồi bãi biển ăn ghẹ chơi cũng hay! Ba người lại kéo ra một quán gần bãi, nhưng Lan lại đề nghị: - Mình tới chỗ xa hơn một chút, ở đây nhiều người ồn ào quá. Họ tới một chỗ che dù, một phụ nữ còn trẻ ngồi bán thức ăn miền biển cùng với đứa con gái khoảng bốn năm tuổi. Mỹ Lan hỏi: - Chị có ghẹ chứ hả? Còn khô mực, khô cá gì đó dai dai… Chị này cười tươi đón khách: - Các cô muốn thứ gì cũng có. Kể cả mấy thứ mà ngư dân sắp sửa đem vào kia, nhiều lắm! Thủy và Vân thích thú: - Ồ, tôm cá tươi ăn ngon lắm! Trước tiên chị luộc cho một ký ghẹ đi. Mỹ Lan nói lại: - Cho hai ký luôn! Vân ngăn: - Mình còn ăn mấy thứ khác, kêu chi nhiều vậy! Thấy mấy người bạn vui vẻ, dễ tính, chị bán hàng cũng vui lây: - Gặp được khách như mấy cô chắc bữa nay tôi bán đắt hàng cho coi! Nhìn sang đứa bé đang ngồi cạnh, Mỹ Lan khen: - Cháu gái xinh quá, theo phụ mẹ bán hàng hả con? Chị bán hàng nói liền: - Nó là cháu chứ không phải con tôi. Nó con của người anh mới qua đời... Ba người bạn giật mình, nhìn cô bé thương hại. Lan hơi tò mò: - Ba cháu không may, còn mẹ cháu đâu? Chị bán hàng nhẹ lắc đầu, giọng buồn thiu: - Ba nó chết chưa đầy một năm thì má nó bỏ đi lấy chồng khác, để nó lại cho tôi nuôi từ đó. - Tội chưa! Con bé khá dễ thương, tuy theo buôn bán dưới nắng gió, nhưng da mặt nó vẫn trắng hồng, khác với những đứa trẻ vùng này thường đen bởi gió biển. - Con bao nhiêu tuổi? Con bé đáp giọng thật dễ thương: - Dạ thưa cô, con bốn tuổi. - Con tên gì? - Dạ, con tên Lan. Thủy reo lên: - Trùng tên với bà, Lan ơi! Mỹ Lan nghe vui vui trong lòng: - Cô là Mỹ Lan, vậy con là cái gì Lan? - Dạ, con cũng là Mỹ Lan! Câu trả lời khiến cho cả Mỹ Lan cũng kinh ngạc: - Ồ, sao trùng hợp đến từng chữ vậy! Vân nói đùa: - Hay là cô Mỹ Lan nhận bé Mỹ Lan làm con nuôi đi! Cô ấy thương con nít lắm mà kén chồng nên tới giờ vẫn chưa chịu kiếm một Mỹ Lan con để nuôi đó! Chị bán hàng cũng nói vui: - Nếu cô nhận tôi cho đó! Bỗng con bé lên tiếng: - Không chịu đâu, con phải ở đây để chờ ba con về chứ! Chị bán hàng vò đầu nó: - Cô nói chơi mà, làm sao để con xa cô được! Mỹ Lan tò mò lần nữa: - Ba cháu mất ở đâu mà nó bảo chờ? Chỉ ra biển xa, chị đáp: - Ba nó đi biển rồi gặp bão, không về. Lan hỏi tới: - Đánh cá hả chị? - Cậu ấy là thủy thủ, đi tàu. Một hôm gặp bão, tàu sắp chìm, nhiều người khác bị sóng cuốn đi, cậu ấy lao theo cứu được hầu hết người trên tàu, sau đó tàu khác tới tiếp ứng đưa được số người này vào bờ. Chỉ có cậu ấy là mãi mãi không về. Vân buột miệng: - Tội quá! Con người dũng cảm tốt bụng vậy mà trời nỡ để cho chết, uổng ghê! Con bé dụi đầu vào lòng cô mình, vừa ngây thơ nói: - Ba con sắp về rồi! Đêm qua con mơ thấy ba về, ba ở trần, vắt cái áo sơ mi có hình hai cái mỏ neo trên vai! Câu nói đó khiến Mỹ Lan tròn mắt nhìn và lẩm bẩm: - Áo có hình hai cái mỏ neo? Thủy ngồi bên cạnh vội hỏi: - Bà nói gì vậy Lan? Vân cũng nói: - Bà này nãy giờ làm cho người ta cứ tưởng chừng như bà... bệnh hay sao đó! Mỹ Lan cười khỏa lấp: - Có gì đâu… Rồi cô đưa mắt nhìn con bé, tự dưng cô thấy nó có nét rất giống với chàng trai đã cứu mình hôm qua! - Con dễ thương quá! Lan vừa khen vừa cầm tay nó, thấy chiếc vòng đeo tay làm bằng những con ốc nhỏ rất tinh xảo, cô buộc miệng khen: - Cái vòng đẹp quá! Con bé nghe khen thì thích thú khoe: - Của ba Dũng làm cho con đó! Một lần nữa, Mỹ Lan sững sờ: - Ba Dũng! Vân ngạc nhiên: - Bà sao vậy Lan? Sao bà nghe tới tên Dũng là... là… Vân chợt nhớ lại lá thư ngắn hồi nãy trong phòng, cô kêu lên: - Cũng tên Dũng! Thủy cũng nói: - Lại một sự trùng tên, thật là kỳ lạ! Chị bán hàng không hiểu, liền đưa mắt nhìn ba người, rồi hỏi: - Ba cô nói ai tên Dũng? Ba của con nhỏ cũng tên là Dũng, nên tối ngày nó cứ gọi tên ba nó rồi gặp ai cũng hỏi có gặp ba Dũng của nó hông! Mỹ Lan hỏi, giọng không được tự nhiên: - Chị nói ba cháu bé chết khi đi trên chiếc tàu biển, phải không? - Phải. Tàu ấy đôi khi có ghé lại ngoài kia, chỗ gần bãi này. Có lần do cập quá gần bãi nên tàu bị mắc cạn, cậu Dũng phải kéo bạn bè thủy thủ lên bãi này căng lều lên ngủ. - Căng lều? Câu hỏi của Mỹ Lan quá lớn, khiến chị bán hàng cũng ngạc nhiên: - Cô sao vậy? Mỹ Lan hơi ngượng: - Dạ, không sao… không có gì... Vân kéo Thủy bước ra khỏi chỗ bán hàng, cô nói khẽ với bạn: - Con Mỹ Lan bữa nay nó làm sao ấy! Mày thấy nó kỳ kỳ không? Thủy gật đầu: - Chẳng những kỳ mà còn quái nữa! Mình nghi nó đang gặp chuyện gì đây… Chợt họ thấy Mỹ Lan đứng lên có ý ra về. Vân ngạc nhiên nói: - Mình chưa ăn ghẹ mà? Lan đưa cho đứa bé tờ giấy bạc mệnh giá lớn và bảo: - Cô gửi cháu, bảo cô cháu mua thật nhiều ghẹ, ngày mai cô ghé lại ăn. Còn bây giờ cô có việc phải đi. Chị bán hàng nhìn thấy, vội la lên: - Sao cô cho cháu nhiều tiền quá, không được đâu. Mỹ Lan cười bảo: - Tôi gửi nó, để nó đưa lại cho chị, mai chúng tôi ghé ăn mà. Nhưng con bé đã đưa trả lại tiền: - Không nhận đâu, ba Dũng về rầy chết! Ba dặn là con nít không được xài tiền, con trả lại cô đây! Rồi nó bất ngờ nắm lấy tay Mỹ Lan, ngây thơ nói: - Mai cô trở lại nhé! Nhớ dẫn ba con về với nhé! Đi một đoạn xa rồi, Vân hỏi: - Bộ bà biết ba con nhỏ thật hả? Thủy xua tay: - Tao nghĩ không phải, chỉ vì ba con bé trùng tên với anh chàng Dũng nào đó thôi... Tuy nhiên, Mỹ Lan lại gật đầu: - Đúng là anh ấy! Vân trố mắt: - Bà nói thật? Mỹ Lan kéo tay hai bạn đi nhanh hơn: - Tôi nghĩ ra rồi! Chính là anh ta! Khi về đến phòng riêng, Mỹ Lan từ từ kể lại mọi việc khi cô gặp nạn. Nghe đến đoạn nguy hiểm nhất, Vân hỏi nhanh: - Có phải bà nghi đã bị anh ta níu chân dưới biển không? Nhưng tại sao không kéo bà đi luôn mà lại cứu đem lên bờ? Thủy nhát gan nên nghe nói đã rùng mình: - Đừng kể nữa bà ơi, gai ốc nổi khắp mình mẩy tôi rồi nè! Mỹ Lan hầu như không chú ý đến lời nói của bạn, cô nhìn ra ngoài biển khơi rồi chép miệng: - Anh ta tốt bụng thật! Tội nghiệp... Vân và Thủy cũng đồng tình. - Tội nghiệp anh ta mà cũng tội cho con bé con anh ta nữa. Mới bao lớn mà đã mất cả cha lẫn mẹ. Phần II Duyên Ma Bà Thanh Vân ngồi thừ người ra, đầu óc để tận đâu đâu, đến nỗi ông chồng gọi lần thứ hai mà vẫn không nghe. Ông phải lặp lại: - Bà có nghe tôi nói không vậy? Lúc nghe được, bà mới giật mình: - Ông nói cái gì? Ông Vân thở dài: - Vợ chồng mình bây giờ nói chuyện với nhau chẳng khác nào hai người điếc đối thoại vậy. Tôi hỏi bà tại sao cứ ngồi đó mà thẫn thờ hoài vậy? Bà lại thở dài: - Chứ nó như vậy mà ông bảo tôi tỉnh táo, vui vẻ sao cho được! - Bà nói con Mỹ Lan? - Chứ còn nói ai! Ông coi, từ bữa nó đi Ô Cấp về tới giờ chẳng khác nào như kẻ mất hồn, đúng hơn là một người cõi trên vậy! - Con gái tới tuổi lấy chồng mà bà còn để trong nhà thì nó vậy đó! Tôi bảo cứ gả phắt đi cho rồi! Ông nói xong đứng dậy đi ra, bà gọi giật lại: - Ông đi đâu vậy? Tôi đang cần bàn với ông mấy chuyện nên mới ngồi đây đợi từ nãy giờ. Ông Vân ngồi lại mà không vui: - Tôi hẹn với mấy cha đồ gỗ để nói chuyện mở đại lý ở Singapore, rảnh đâu mà bàn với bạc chuvện gì khác! - Nhưng chuyện này còn quan trọng hơn. Ông nhớ mình hứa với vợ chồng thằng Tuấn Lùn cái gì không? Nghe vợ nhắc, ông Vân giật mình: - À, bà nhắc tôi mới nhớ. Đã quá hạn món nợ của nó rồi. Đáng lẽ mình phải gặp nó trước để thương lượng, chứ kỳ này đâu kịp tiền cho nó... Bà nguýt dài: - Đợi ông giải quyết thì có mà mất nhà với nó! Tôi đã gặp và bàn với nó rồi, nhưng nó cần gặp ông để nói rõ hơn một chút trước khi nó quyết định. Ông Vân thở phào: - Đỡ được một mối. Tháng này còn món nợ của mụ Tám Kiên nữa… Bà Thanh Vân chì chiết: - Làm ăn cho cố, nợ tứ phía rồi bắt bà già này è cổ ra năn nỉ thiên hạ! Vợ chồng thằng Tuấn Lùn mà không khéo giải quyết thì không xong với nó đâu! Nó nói với tôi là nếu qua tháng này mà không tính thì nó xiết luôn mấy cái xưởng đóng bàn ghế của ông ở Tân Bình. Thằng đó nói là làm, ông đừng có chủ quan! Giọng ông xìu hẳn xuống: - Bởi vậy mới nhờ tới bà. Mà bà đã nói chuyện với nó rồi, còn có tôi chi nữa? - Nó cần có chữ ký của ông trong tờ giao kèo. Ông trố mắt ngạc nhiên: - Còn giao kèo gì nữa, mình đã ký giấy nợ với nó rồi? Bà lại thở dài: - Lần này là giao kèo... gả con mình cho con trai lớn của nó! Đang đứng gần cửa ra vào, ông Vân lao ngay đến bên vợ hỏi dồn: - Bà nói gả ai? - Thì mình chỉ có mỗi con Mỹ Lan, không gả nó thì gả ai? Ông ngẩn ngơ một lúc, biểu lộ sự bất lực trước một việc trọng đại: - Mình lại đi làm sui với thằng đó sao! Bà vợ còn chán nản hơn: - Chỉ nội việc nghĩ tới mình phải ngang hàng phải lứa với vợ chồng thằng côn đồ đó là tôi muốn ớn lạnh rồi! Nhưng bây giờ quyền quyết định đâu còn là của mình nữa... Bà lấy ra tờ giấy đưa cho ông: - Giấy báo công nợ mình còn với vợ chồng nó đây, ông coi lại coi. Ông không cần coi cũng nói vanh vách: - Ba trăm lượng vàng, cộng với tiền lời mười phân nữa! Lấy đâu ra số đó để trả cho nó lúc này. Ông không đáp mà chỉ ngồi im lặng, không màng đến chuyện cái hẹn với ai đó mà ông vừa nói. Bà Thanh Vân lặp lại: - Nó nói sẽ tới bữa trưa nay, mời vợ chồng mình đi ăn cao lầu. Nó còn nói, nếu ông chịu gả con Mỹ Lan cho thằng con trai nó thì vợ chồng nó sẵn sàng quên món nợ lớn đó! Rồi bà lại nói thêm: - Nghe nói tuy vợ chồng nó là thứ mặt rằn mặt ri, nhưng thằng con trai lại được lắm, học đến đại học đàng hoàng! Ông lắc đầu chán hản: - Học tiền chứ học cái gì thứ đó! Gả con cho lũ đó khác gì mình đem con cho hùm beo ăn thịt! - Nhưng bây giờ còn cách nào nữa đâu! Bà nhìn đồng hồ rồi nói: - Bây giờ là gần chín giờ, ông có đi đâu thì mười một giờ có mặt ở nhà. Từ đây đến đó tôi còn tìm cách dụ con Mỹ Lan, để nó chịu đi ăn cơm với người ta trưa nay. Ông Vân nhỏ giọng hỏi: - Nó đâu rồi? - Thì nằm suốt trong phòng từ hai bữa nay. Cơm nước còn không ăn nói gì chuyện đi ra ngoài! Kiểu này tôi e khó mà có mặt nó trong bữa cơm hôm nay, rồi chẳng biết phải ăn nói với họ ra sao nữa! Ông ra dấu cho bà im: - Bà để tôi vào nói chuyện với nó. Bà không nhớ là trong nhà này nó chỉ nghe có mình tôi hay sao? Ông bước vào phòng con gái và ở trong đó chỉ khoảng mười phút thì bước ra. Bà Thanh Vân nhìn nét mặt ông đã đoán ra kết quả: - Ông hí hửng vậy tức là... Ông kéo bà vợ ra ngoài sân nói khẽ: - Xong rồi! Tôi nói với nó là lát nữa đi với tôi để tôi mua cho nó chiếc xe hơi riêng và cho nó tha hồ đi Vũng Tàu, nó chịu liền! Bà Vân mừng rỡ: - Vậy là ổn rồi! Mà tôi cũng chẳng hiểu sao mấy bữa nay nó cứ đòi trở ra Vũng Tàu hoài? - Kệ nó. Miễn hôm nay mình dàn xếp xong vụ này thôi. Vậy trưa nay bà cứ đi tới nhà hàng với vợ chồng thằng Tuấn Lùn, đi nhà hàng nào thì để giấy lại trong phòng tôi về chở con Mỹ Lan tới đó luôn. - Ông liệu mà nói trước với nó, đừng để khi gặp tên đó rồi nó giở chứng thì mất mặt mình đó! - Bà cứ để tôi lo. Thấy ba dừng xe lại trước nhà hàng, Mỹ Lan ngạc nhiên hỏi: - Ủa, không lẽ bữa nay ba cho con ăn nhà hàng sao? Ông Vân cười: - Bộ ba mời con gái ăn cao lầu không được hả? Mời quý cô nương! Từ lúc lên xe đến giờ, nhất là từ khi ghé lại chỗ salon xe hơi để đặt mua cho cô chiếc xe hơi nhỏ, xinh xắn, Mỹ Lan luôn được cha chăm sóc, gợi chuyện vui, cô cũng quên đi nỗi canh cánh bên lòng, vui với cha mình như chưa có gì xảy ra. Cô còn nói: - Khi lấy xe mới, con muốn người đầu tiên ngồi xe con đi Vũng Tàu là ba, chứ chẳng phải ai khác! - Mà nè, sao dạo này con thích Vũng Tàu vậy hả? - Ba quên con ba là tay bơi cừ khôi, là kình ngư miền sông nước sao! Mà bơi giỏi, thích sóng biển thì phải thích Vũng Tàu chứ! Cô nói mà trong lòng đang nghĩ tới một người. Người đó có nói ra thì chắc ba mình cũng không hiểu, nên Mỹ Lan chỉ biết im lặng và đăm chiêu... Người ấy chính là Dũng, anh chàng thủy thủ đã chết. Từ hôm ở Vũng Tàu, sau khi biết Dũng đã chết, đáng lẽ Lan phải quên ngay việc muốn gặp lại, nhưng chẳng hiểu sao trong lòng cô lại càng ghi đậm hình ảnh của anh ta hơn. Điều này nhất thời Mỹ Lan không làm sao lý giải được. Chỉ biết rằng khi về nhà rồi cô càng nhớ anh ta da diết! - Kìa, tới nơi rồi, công nương chưa xuống sao? Nghe cha đùa, Mỹ Lan gượng cười và bước xuống bá vai cha đi thẳng và nhà hàng. Cô hỏi: - Chỉ có cha con mình đối ẩm với nhau thôi phải không ba? Ông Vân gật đầu: - Thì cha con mình thôi... Nhưng nếu có gặp bạn bè của ba thì… mình cũng mời họ một tiếng. Hoặc không chừng họ mời mình nữa! Mỹ Lan lắc đầu nguầy nguậy: - Không, con không thích ăn với nhiều người đâu! Con muốn uống rượu với ba thôi! - Ừ, được rồi bữa nay cha con mình không say không về! Lên lầu trên, ông Vân chọn một bàn riêng và dặn người phục vụ: - Cậu chọn cho tôi chai rượu chát lâu năm nhất và cho món cá chẽm chiên giòn, thêm món hải sâm bát bửu và… Mỹ Lan chặn lời: - Hai món đủ rồi, mình có hai người thôi mà ba! - Ừ, nhưng mà… bữa nay ba muốn cha con mình vừa ăn vừa nhậu thỏa thích, ăn không hết thì bỏ! Ông dặn riêng gì đó với người phục vụ… Lát sau, họ đem ra đến bốn năm món, mà món nào cũng nhiều, phải năm sáu người ăn cũng chưa hết! Mỹ Lan, trố mắt ngạc nhiên: - Giống tiệc cưới vậy ba? Cha con mình… Cô vừa nói tới đó thì chợt ngừng ngang rồi kêu lên: - Ủa, má kìa ba! Má... Bà Thanh Vân bước tới với ba người nữa. Bà giới thiệu: - Đây là vợ chồng chú Tuấn, còn đây là con trai của chú thím. Mỹ Lan định phản ứng gay gắt vì sự xuất hiện của những người khách, tuy nhiên khi chạm vào ánh mắt của chàng trai thì tự dưng cô thừ người ra và ngồi im, mặc cho mẹ nói: - Hai cha con ở đây mà nãy giờ chúng tôi kiếm quá chừng! Thôi nào, cùng ngồi vào bàn luôn cho tiện! Bà quay sang chàng trai và con gái mình: - Đây là Mỹ Lan, con gái bác. Con đây là Thành, con trai chú thím Tuấn. Ông Vân đã chuẩn bị sẵn mọi phương án để chặn đứng những phản ứng không hay của con gái, nhưng ông hơi bất ngờ khi Mỹ Lan vui vẻ ngay với Thành: - Anh Thành học năm thứ mấy? Thành kéo ghế ngồi gần Mỹ Lan: - Năm ba luật khoa. Còn Mỹ Lan? - Dạ, năm hai văn khoa. Ông bà Vân nhìn nhau và đều thở phào. Thế là điều họ lo sợ đã không xảy ra. Trong suốt bữa tiệc, mọi người nói chuyện thoải mái. Thậm chí có lúc Tuấn Lùn vốn ăn nói kém, nhưng khi đề cập đến chuyện nhạy cảm thì cũng được Mỹ Lan chấp nhận ngay: - Dạ, chú cứ nói, cháu nghe. Tuấn quay sang con trai mình, vừa hỏi: - Chú hỏi thật, nếu bây giờ chú thím có ý muốn… muốn hỏi cháu cho thằng Thành, cháu đồng ý không? Bà Thanh Vân hết hồn, tự trách thầm, sao anh ta lại hỏi thẳng như thế, đời nào con nhỏ chịu... Tuy nhiên, câu trả lời của Mỹ Lan lại hết sức lịch sự: - Dạ, được chú thím quan tâm, thương tưởng đến là danh dự cho cháu. Nhưng cháu còn phải hỏi ý kiến ba má cháu đã... Vợ của Tuấn Lùn mừng rỡ: - Cháu nói vậy thím mừng quá! Mấy hôm nay thím cứ lo, lo rằng... Mỹ Lan nói đỡ ngay: - Dạ, cháu mới là người phải lo chứ ạ! Chỉ sợ anh Thành chê cháu là còn bé quê mùa, học kém... Thành bạo dạn hẳn lên: - Đỉa đeo chân hạc còn dám đòi hỏi gì hơn! Cả bàn cùng cười. Không khí cởi mở bất thường, khiến cho ông Vân phải quay sang hỏi nhỏ con: - Con thật lòng chứ Mỹ Lan? Hay là muốn làm vừa lòng ba má? Mỹ Lan siết chặt tay cha: - Con biết hết chuyện rồi. Vả lại khi gặp anh Thành là con có cảm tình ngay. Đây là con người tốt, còn đòi hỏi gì hơn nữa ba! Nghe con gái nói mà ông Vân tưởng như ai nói, ông nhìn thẳng vào mắt con thì nhận ra là Mỹ Lan nói thật lòng. Quá xúc động, ông bảo khẽ với con: - Con đã cứu nhà mình Lan ơi. Mỹ Lan không chú ý đến lời của cha. Ăn gần xong, bỗng Thành nói: - Con xin phép hai bác, xin phép ba má, con và Mỹ Lan muốn nói chuyện riêng một chút, tụi con xin phép đi ra ngoài uống nước với nhau được không ạ? Bà Thanh Vân mau mắn: - Được thôi con! Miễn là… Mỹ Lan hiểu ý mẹ, cô nói: - Con sẽ về nhà trước 10 giờ mà, má yên tâm! Con xin phép chú thím, xin phép ba mẹ. Hai người sóng đôi nhau bước ra cửa. Cả bốn ông bà nhìn theo và gật đầu hài lòng. Tuấn Lùn chủ động nói: - Về món nợ mà anh chị còn nợ tụi tôi, tụi này tính rồi, nếu anh chị chịu gả con Mỹ Lan cho thằng Thành nhà tôi thì coi như đó là của hồi môn, vợ chồng tôi tặng cho tụi nó! Bà vợ anh ta cũng nói theo: - Cái tình cái nghĩa của chúng ta mới lâu bền, chứ tiền bạc chỉ là phương tiện thôi. Khi nào tụi nó làm đám cưới thì tụi tôi xé giấy nợ ngay! Ông Vân hơi sĩ diện, nhưng cũng cảm động, bắt tay Tuấn: - Cảm ơn chú, cảm ơn thím. Vợ chồng tôi... Tuấn Lùn chặn lại: - Có gì đâu anh Ba. Tụi này biết anh Ba từ lâu rồi mà. Số tiền nợ đó chẳng qua là do làm ăn, anh Ba bị tụi nó lừa thôi. Từ nay anh em mình một nhà rồi thì nếu có kẹt gì, anh chị cứ bàn với tụi em, mình giúp nhau còn hơn là để người ngoài… Bà Thanh Vân siết chặt tay vợ Tuấn Lùn: - Được vợ chồng chú thím đoái hoài, thật vợ chồng tôi vô cùng cảm ơn. Nhưng cũng phải kể là vợ chồng tôi đã uốn đến gần gãy lưỡi mới thuyết phục được con nhỏ. Tính nó chắc là chú thím đã nghe nói rồi, bướng bỉnh và cương quyết lắm. Đừng hòng mà ép nó. Nếu ép thì nó thà chết chứ không bao giờ nghe! Tuấn cũng công nhận: - Trước khi muốn ngỏ lời chúng tôi đã dò hỏi, nhiều người cũng nói là nếu được con nhỏ chịu về làm dâu là phước bảy mươi đời! Thấy vợ phóng đại quá xá ông Vân cũng trân mình ngồi nghe. Đến chừng ra về rồi, ông mới kêu trời: - Chưa từng thấy ai môi mép như bà! Bao nhiêu công sức của người khác đã nhận về mình hết! Bà nguýt ngang: - Môi mép để xóa nợ cho ông mà còn chưa chịu sao? Ông thấy không, vợ chồng thằng ấy mà có được con dâu như con Mỹ Lan là như tôm được đeo lưng rồng vậy! Mà nè ông, bữa nay ông có thấy con Mỹ Lan lạ không? Nó như mới được ai lột lưỡi vậy! - Ờ, con nhỏ hơi kỳ. Dường như nó với thằng đó có duyên số thật hay sao mà... Trong lúc họ đang hí hửng với kết quả không ngờ đó thì ở một quán cà phê vắng, chờ cho Mỹ Lan lắng nghe kỹ, Thành mới nói rất rõ ràng, vừa đủ cho cô nghe: - Anh là Dũng, em nhận ra chưa? Mỹ Lan tròn mắt: - Dũng! Có phải là Dũng... thủy thần, Dũng đã cứu em ở Vũng Tàu không? Anh chàng hạ thấp giọng: - Ngay phút đầu mới gặp, sợ em nhận không ra anh trong lớp con ông bà Tuấn đó, nên anh có nheo mắt hai lần, em nhận ra? - Em không nhận ra, nhưng bỗng bên tai em nghe có tiếng gió biển rít lên, rồi tiếng sóng biển rì rào nữa... Tự dưng em nhớ tới người đã cứu em. Và em đã... - Đã ăn nói rất hay, đã làm cho bốn ông bà già sau phút ngẩn ngơ đã vui mừng khôn xiết! - Lúc đó em chưa nhận ra anh, nhưng tự dưng em có cảm giác là mình với anh chàng trước mặt có gì đó mật thiết với nhau, nên em... Một lúc sau, Mỹ Lan hạ giọng nói tiếp: - Sao anh biết nhà đó tới hỏi cưới em mà… Anh chàng chặn lời: - Từ khi nắm chân em dưới biển là coi như hồn anh đã thoát được lên bờ và anh hiểu là cuộc sống ở cõi âm của anh sẽ gắn liền với em. Nói thật, hôm đó nếu không phải là anh mà là một hồn ma khác thì em cũng không thể sống được. Anh theo em từ hôm ấy, theo về tận đây. Đêm ngủ, em có biết ai kéo mền đắp cho em không? - Chẳng lẽ là anh? - Chứ còn ai vào đây! Chợt Mỹ Lan hỏi: - Cái xác của anh chàng Thành nay ở đây, còn hồn anh ta đâu mà anh nhập được vào? - Đây là anh chàng phá gia chi tử, được cha mẹ cưng chiều nên ăn chơi khét tiếng, hiện anh ta đúng ra đã phải chết rồi do đua xe, mà cha mẹ anh ta không hay biết. Sau khi anh ta trở về nhà với tính tình thay đổi chắc là cha mẹ mừng lắm! Như vậy anh làm được một công đôi việc: Lấy được em và gia đình của Thành có đứa con phá gia trở thành con ngoan. Khi chia tay nhau về, anh chàng còn dặn: - Trước mọi người em vẫn cứ gọi anh là Thành. Nhớ nghe chưa! Mỹ Lan gật đầu và cười mãn nguyện trước khi gọi taxi về nhà. Cha mẹ cô đang ngồi đợi sẵn ở phòng khách, họ đề nghị: - Ba má muốn đợi con về mình đi nấu cháo khuya. Mỹ Lan cười vui với mẹ: - Con và… Thành ăn no lắm rồi. Con buồn ngủ, cho con ngủ sớm. Ba má nói với bên kia để họ chuẩn bị lễ cưới sớm đi! Trong lúc ông bà Vân ngơ ngác thì Mỹ Lan mỉm cười bước thẳng vào phòng... Trong ngày cưới của Mỹ Lan và Thành, khi hôn lễ đang diễn ra thì có hai người khách xuất hiện đột ngột, khiến mọi người ngỡ ngàng. Đó là bé Mỹ Lan và cô của nó! Hai người tiến về phía bục làm lễ giữa lúc cô dâu chú rể đang uống rượu mừng. Con bé đứng ngay trước mặt kêu lớn: - Ba, mẹ! Trong lúc sui gia đôi bên đang ngơ ngác thì Thành và Mỹ Lan đều reo lên: - Con! Con bé chạy lên sân khấu ôm chầm lấy Thành và Mỹ Lan. Nó còn quay sang mấy người lớn chào lễ phép: - Con chào ông bà! Ông Vân quá đỗi ngạc nhiên: - Nó là ai vậy? Mỹ Lan nói to: - Con chào ông bà ngoại đi. Tiếp theo là Thành: - Con chào ông bà nội đi! Con bé làm theo răm rắp: - Con chào ông bà ngoại! Con chào ông bà nội! Hai bên sui gia còn đang trố mắt kinh ngạc thì cả Mỹ Lan và Thành đều lên tiếng qua micro: - Đây là đứa bé mà chúng tôi nhận làm con nuôi trước khi cưới nhau. Nó sẽ là tiền đề cho con cái chúng tôi sau này! Cả tiệc cưới vỗ tay hoan nghênh về lời tuyên bố đó, khiến cho cô đứa bé đứng dưới này rưng rưng nước mắt vì cảm động. Tuy chị hơi bất ngờ về việc chồng của Mỹ Lan cũng nhận bé Lan, nhưng khi nhớ lại đêm qua trong giấc mơ, vong hồn của Dũng về đã báo trước rằng chị cứ dẫn cháu về, nó sẽ gặp được cha nó! Sau khi chấm dứt nghi thức hôn lễ, chính bé Lan dẫn tay hai người đi xuống đến bên cô nó và nói: - Đây là ba Dũng của con nè? Lúc ấy Mỹ Lan đã nhanh nhảu kề tai nói nhỏ với chị: - Hồn anh Dũng nhập vào chồng của em. Như vậy em là chị dâu của... chị rồi! Thành cũng kề tai chị nói rõ hơn: - Anh đã cứu Mỹ Lan thoát chết, và bây giờ cô ấy giúp lại anh. Bọn anh chính thức thành vợ chồng rồi, vậy từ nay em để con bé lại đây anh chị săn sóc cho nó. Còn em nữa, em không cần buôn bán chi ngoài đó cho cực, hãy về đây cùng vui buồn với anh chị và cháu. Mỹ Lan nắm tay chị, thân mật: - Về ở với bọn này nghe! Bé Lan mà vắng cô chắc là phản đối dữ lắm! Con bé cũng nói: - Cô Ba về ở với Lan đi, Lan sẽ có cô và với... mẹ Mỹ Lan nữa! Trong lúc mọi người đang vui vẻ thì ở một góc phòng tiệc cưới, có hai người bạn thân với Thành ngơ ngác nói với nhau: - Ủa, sao mấy hôm trước mình chứng kiến thằng Thành đua xe bị đụng nằm chết trên xa lộ mà bữa nay nó lại... cưới vợ ngon lành vậy? Hôm đó tao nhớ khi chở vào nhà xác người ta còn hỏi nó tên tuổi là gì, bởi trong người nó không có mảnh giấy lận lưng! Sao kỳ vậy Hưng? Người tên Hưng lắc đầu: - Tao cũng không biết nữa! Hay là sau khi mình chở vào nhà xác nó đã tỉnh lại? - Tao cũng không biết nữa... Mà họ làm biết được. Chỉ có Mỹ Lan là rõ mà thôi… CHÍN OAN HỒN _ Phần I Được bạn giới thiệu, Luận mua miếng vườn công đất ở một xã vùng sâu của huyện Tánh Linh, anh thích thú lắm. Bởi toàn bộ khu đất đã được trồng nhiều cây ăn trái sắp tới mùa thu hoạch, như vậy có nghĩa là Luận sẽ có được thành quả ngay, ít ra cũng giúp cho anh đỡ phải chán nản trong những ngày đầu đi làm rẫy. Luận sống độc thân, lại đang có chuyện buồn muốn bỏ thành phố, nên việc mua được miếng rẫy này là điều anh hài lòng, như buồn ngủ gặp chiếu manh! Anh đã về ở ngay mà không đợi sửa sang lại căn nhà lá như lời khuyên của mấy người láng giềng. Anh bảo: - Một mình thì ăn ở bao nhiêu, cần gì sửa. Căn nhà đúng hơn phải gọi là căn chòi, bởi nó quá nhỏ và quá đơn sơ, ngoài chiếc giường tre ọp ẹp ra thì chẳng có thứ gì khác, kể cả bếp lò nấu cơm. Một người có chòi gần đó thấy vậy đã mang qua cho Luận mượn hai cái nồi và chiếc lò đất rồi dặn: - Anh cứ dùng tạm cái này đi bữa nào ra chợ thị trấn mua cái mới. Luận cám ơn và ngay chiều hôm đó, anh đã có dịp sử dụng vật mới mượn. Một con rắn hổ chuối to bằng cổ tay chẳng hiểu bò đi kiếm ăn hay bị chó đuổi, đã bò thẳng vào chòi của Luận, nằm ngay trước mặt anh. Vốn sợ rắn, nên sẵn cây cán cuốc trong tầm tay, Luận đã đập chết tươi con rắn và trổ tài nấu món thịt rắn hầm nước dừa chanh muối! Luận đi gọi thêm mấy người ở gần sang nhậu một chầu. Trong tiệc nhậu, một người vui miệng nói: - Cái chòi này và chủ của nó có số đào hoa. Hồi trước khi lão ấy về đây khai khẩn rẫy thì chỉ có một mình, qua năm sau lại thấy có một cô gái khá trẻ tới ở với lão ta, chẳng biết có phải vợ không mà chẳng nghe lão ta giới thiệu, nhưng ở chung, ngủ chung với lão... Một anh chàng bạn nhậu khác nghe vậy vụt hỏi: - Sao anh biết người ta ngủ chung? Anh chàng kia cười khà khà: - Cái chòi bằng bụm tay như vậy mà hai người nam nữ chung, không ngủ chung thì ngủ đâu? Nghe chuyện, Luận tò mò hỏi: - Sao ông ta lại bán miếng rẫy này, mà lại gửi nhờ người khác bán chứ không đứng ra trực tiếp? Nghe gợi đúng mạch, nên họ tuôn ra một hơi: - Thằng cha này hơn năm mươi mà có con vợ trẻ như vậy nên có chí thú làm vườn đâu, tối ngày cứ đi đi về về, hành tung khó lường. Được cái là dân ở đây mạnh ai nấy sống, chẳng ai để ý tò mò gì… Cho đến cách đây hơn sáu tháng, ông ta biến luôn và sau đó nhờ người đứng ra bán miếng vườn này cho anh. Luận càng tò mò hơn: - Nghe mấy anh nói ông ta có ở chung với phụ nữ, mà từ lúc về tới đây tới giờ tôi có thấy chút gì là dấu vết của phụ nữ đâu? Vả lại với chiếc giường ọp ẹp như thế này, làm sao hai người nằm được? Nghe hỏi cũng có lý, nhưng hai người kia cũng chỉ cười trừ. Lát sau một người nói: - Mà cũng lạ, từ ngày có cô gái đó về đây ở, tôi chỉ nhìn thấy cô ta xuất hiện đúng hai lần. Lúc đầu tôi cứ tưởng cô ta đã bỏ đi, nhưng lần sau cùng tôi nhìn thấy cô ta phía sau vườn nhà này là khoảng vài tuần trước ngày lão chủ đất này bỏ đi. Người nọ lại nói: - Hai người này sống bí ẩn như… ma vậy đó! Gặp cái xóm khác chắc họ rình rập và đồn đại tùm lum cho coi! Luận uống vào một ly trăm phần trăm rồi hứng chí hỏi: - Tôi hỏi thật hai anh, thằng cha đó có đẹp trai không vậy? Tư Thiên là tay ở sát nhà với Luận, đáp: - Làm sao đẹp bằng ông anh được! Ông ấy chỉ có cái mã hơi… hơi… giống kép cải lương thôi! - Vậy sao con gái mê ông ấy quá trời vậy? Tư Thiên cười hềnh hệch: - Anh mà có tiền, chịu chơi thì con gái còn đeo theo anh gấp chục lần ông đó! Mà thôi, nói làm gì chuyện mấy người đó cho mệt, giờ ta uống! Bữa nay anh Luận có mồi thì tôi có rượu, mình uống tới sáng luôn! Sáu Lập nãy giờ ít nói, giờ lên tiếng: - Uống xỉn thì cứ leo lên chiếc giường này nằm cả ba người, để coi sập không? Và như thế mình có thể nghiệm ra rằng thằng cha kia có ngủ được với đàn bà trên đó không! Ba người uống trước sau hết hơn một lít, coi bộ muốn sai mèm cả rồi, nhưng Sáu Lập vẫn còn hăng: - Nếu hết rượu thì ta cá độ, ai thua thì đi mua về uống nữa! Tư Thiên thích thú: - Vụ này được à nghen! Bây giờ cá gì? Luận biết tửu lượng của mình chỉ tới đây nên anh tìm cách nói lảng ra: - Thôi, uống hết ly này ta nghỉ là vừa… Nhưng Sáu Lập vẫn hung hăng: - Nghỉ sao được! Nếu anh Luận không uống nữa thì tui với thằng Tư Thiên này chơi tay đôi! Bị khích, Tư Thiên đưa cả hai tay lên trời: - Chơi tới bến luôn. Bây giờ cá gì? Sáu Lập lấy hai que cây dưới đất đưa lên nói lớn: - Ai rút được cây ngắn thì phải đi mua rượu! Luận chen vào: - Vừa biên vừa diễn như thế sao công bằng. Bây giờ để tôi đi bẻ cây, ai rút nhằm cây ngắn thì đi mua rượu! Tư Thiên tán đồng: - Phải đó, thằng Sáu Lập này tính ăn gian hả! Cuộc rút thăm cho kết quả Sáu Lập phải xách chai đi mua rượu. Quãng đường khá xa mà trời lại tối, nên Luận đề nghị: - Hay là mình gác chuyện thắng thua này lại, để mai chơi tiếp! Tư Thiên phản đối: - Không được, phải để thằng mập này đi cho bớt mỡ! Sáu Lập phanh ngực áo lên giọng: - Đi thì đi chứ sợ gì! Tao mua về thằng nào không uống thì tao đè tao đổ! Anh ta xách cái chai không đi thẳng ra sau vườn, Luận ngạc nhiên hỏi: - Mua rượu sao đi ngã đó? Tư Thiên được dịp cười nhạo: - Nó tính đánh bài chuồn đó anh Luận ơi. Sáu Lập sừng sộ: - Tôi đi… “xả hơi” rồi vòng qua lối sau ra ngoài kia mua rượu không được sao? Luận nhớ là phía cuối khu đất có một lối đi riêng mà mấy hôm nay anh chưa qua đó. Anh bảo: - Nhờ anh Sáu mà tôi biết được thêm lối đi gần hơn! Tư Thiên xác nhận: - Có lối đi đó nên lão chủ đất trước anh, mỗi khi dẫn mấy cô về thường ít ai thấy. 10 giờ... Tư Thiên nhìn ra ngoài vừa tắc lưỡi: - Đây ra quán bà Mười có non cây số mà thằng quỷ này đi cả tiếng đồng hồ chưa về! Luận hơi lo: - Tôi thấy anh Sáu có hơi “xỉn” rồi, chẳng biết đi đường có ổn không nữa? Tư Thiên cười cười: - Thằng đó trời đánh không chết, sợ gì thứ khác. Không chừng ông cậu đã quá rồi nằm cô ở đâu đó ngủ cũng không chừng! Anh ta vừa nói vừa đứng ngay dậy: - Để tôi ra đó xem. Luận đề nghị: - Khuya lắm rồi, hay là anh đón anh Sáu rồi nói anh ấy về luôn, mai mình chơi tiếp! Tư Thiên quắc mắt: - Sao được! Anh cứ ở nhà đợi, tôi đi một chút về liền! Anh ta cũng đi theo lối tắt phía sau. Luận ngồi lại một mình và cảm thấy buồn ngủ đến nhướng mắt không lên nên phải hai lần lấy nước đá rửa mặt cho tỉnh. Vậy mà chỉ được một lúc là Luận phải lảo đảo đi tìm chỗ nằm. Anh đánh một giấc ngon lành… - Tránh ra cho người ta ngủ! - Xích ra, chật thấy mồ! - Thằng cha nào chiếm chỗ của ba người ta, đi ra đi! - Tránh ra! - Xích ra! - Ông này say rượu giống ba mình quá! - Người cha này hôi quá, chắc là chưa tắm đây! - Không phải chưa tắm, mà hôi mùi rượu! - Mình xúm lại nhau khiêng thằng cha này quăng xuống đi! Trước sau có đến chín đứa trẻ cùng lên tiếng. Bọn chúng chưa đứa nào quá ba tuổi, vậy mà rất lanh lợi, khỏe mạnh và nói năng líu lo như chim. Đặc biệt là cả chín đứa đều không mặc quần áo! Sau tiếng hô: - Quăng! Thì chúng đã ném Luận ra khỏi giường, anh bị rơi xuống nền đất bên ngoài cửa sổ đau điếng! - Ôi, sao… sao... lại ném tôi? Luận chỉ kịp la mấy tiếng rồi thì lịm đi vì quá đau. Đến khi anh tỉnh lại mở mắt ra thì thấy mình đang nằm giữa rẫy bắp của chính mình. Hình như lúc anh lịm đi thì ai đó đã khiêng mình tới chỗ này… Có lẽ do sương đêm nên cơn say trong người Luận đã giảm, anh cũng không còn cảm thấy nhức đầu như búa bổ nữa. Lúc này chợt nhớ lại giấc mơ đêm qua, anh kêu lên: - Bọn nhóc đó đâu phải là mơ! Sở dĩ Luận nghĩ không phải là mơ bởi anh đang nghe có nhiều tiếng cười của trẻ con bên trong chòi, chứng tỏ là lũ trẻ còn trong đó... - Bọn chúng là ai? Luận định vào nhà xem sự thể ra sao, nhưng đúng lúc ấy anh nghe có nhiều tiếng cười trẻ con ở ngoài vườn! - Sao chúng lại ở ngoài này nữa? Buộc lòng Luận phải bước về hướng có tiếng cười. Phía trước Luận là bóng hai ba đứa trẻ đang chạy, anh hỏi lớn: - Mấy đứa đi đâu giờ này? Chẳng có tiếng trả lời, mà những đứa trẻ càng chạy nhanh hơn, Luận phải kêu lớn lần nữa: - Tụi bây con cái nhà ai, đứng lại coi! Anh phóng chạy theo. Nhưng chân Luận vấp phải vật gì đó, anh ngã nhào! - Ai? Lúc ngã, Luận đã đè lên thân thể của ai đó! Anh hốt hoảng hỏi lại lần nữa: - Ai? Vừa lúc anh ngờ ngợ nhận ra chiếc quần đùi của người đang nằm… - Sáu Lập! Nhìn kỹ thì đúng là Sáu Lập. Luận hốt hoảng kéo lật anh ta lại thì lúc đó chàng bợm nhậu này chỉ còn là cái xác không hồn! Hai vệt máu còn ứa ra ở mép của Sáu Lập. Phần II Kẻ Luyện Phép Sáng hôm sau, người ta tìm thấy Tư Thiên nằm ở mé rẫy, may là anh ta chưa chết. Khi hay tin Sáu Lập đã mạng vong thì Tư Thiên gào lên dữ dội. Anh ta nói với Luận: - Lúc tôi đi ngang qua chỗ lô cà phê của anh mới trồng thì thấy có bóng trắng vụt chạy. Tôi lao theo vì thấy cái bóng ấy quen quen, nhưng nó chạy nhanh quá, khi tôi ra tới mé rẫy thì bị vấp phải vật gì đó ngã nhào. Bởi vậy nên cái bóng kia mới chạy thoát. Tức ơi là tức! Luận hỏi: - Sao anh hông ngồi dậy đuổi theo tiếp? Tư Thiên đáp hơi ngượng: - Do lúc đó “xỉn” quá… Rồi Tư Thiên nói nhỏ với Luận: - Lúc ngất và nằm ngoài rẫy, tôi mới phát hiện ra một điều hết sức lạ lùng mà nói ra chưa chắc anh và mọi người tin… - Chuyện gì? - Thằng chủ miếng vườn này nó còn ở đây! Luận ngạc nhiên: - Sao nghe nói anh ta bán vườn rồi đi về quê ở tận vùng nào đó xa lắm? Ừ, chính anh nói với tôi bữa tôi mới về ở chứ còn ai. Tư Thiên đáp nhanh: - Thì lúc ấy tôi cũng tưởng như vậy. Nào ngờ tối qua tôi nhìn thấy rõ lão ta lấp ló ngoài bìa rừng, hình như đang đón con bồ nhí chạy ra. - Cái bóng trắng mà anh nói đó là cô gái từng sống với lão ta ở đây? - Tôi nghĩ là vậy. Chỉ tiếc là lúc ấy tôi bị vấp ngã, chứ nếu không thì chắc chắn đêm qua tôi đã khám phá được điều gì đó rồi! Khi người ta khiêng xác Sáu Lập đi rồi, Luận đã trở ra vườn, đúng nơi Lập nằm chết và anh phát hiện ra một điều lạ: Chỗ đất còn nhuộm máu của Sáu Lập có dấu hiệu lõm xuống. - Một cái hố? Luận ngay lập tức lấy cuốc ra đào chỗ đó lên. Bên dưới là một cỗ quan tài khá lớn. Lớn hơn cỗ quan tài bình thường. - Sao cỗ quan tài lớn quá? Luận lưỡng lự một lúc, sau cùng anh cạy nắp quan tài lên và sững sờ khi nhìn thấy bên trong không có xác người, mà chỉ có chín cái hũ bằng sành. - Chôn tài sản? Luận nghĩ ngay tới điều đó và nghĩ tốt hơn hết là đi báo cho Tư Thiên và vài người khác biết. Tuy nhiên sau đó anh lại nghĩ khác, sợ báo động lên sẽ gây ồn ào, đã chẳng ích lợi gì mà còn thêm sự phiền phức. Cuối cùng, Luận quyết định lấp hố huyệt lại như cũ và trở vào nhà suy tính thêm. - Phải chăng tay chủ đất trước đã chôn tài sản mà chưa kịp mang đi? Vốn tính không tham, nên Luận tính đến phương án tiếp tục bảo vệ số tài sản dưới huyệt mộ, đợi đến khi nào chủ của nó trở lại lấy đi thì thôi. Anh hài lòng với ý nghĩ ấy, nên ngay sau đó anh leo lên giường định ngủ một giấc lấy lại sức… Tuy nhiên, có một thứ âm thanh kỳ lạ mà vừa nằm xuống là Luận nghe nó vang lên. Ban đầu nó giống như tiếng ve sầu kêu từ dưới lòng đất. Sau đó lại lan ra khắp nơi, lúc thì ở vách nhà, lúc lại ở cửa sau… Thứ âm thanh đó hễ Luận nằm nghiêng bên này thì nó vang lên ở bên kia, khi anh trở mình quay lại thì lập tức nó lại vang lên ở phía ngược lại! - Cái gì vậy? Luận bật dậy nghe kỹ và phát hiện âm thanh ấy phát ra từ ngoài vườn. - Lại chuyện gì nữa đây? Tuy hơi lười, nhưng Luận vẫn cầm con dao cán dài, bước trở ra vườn. Càng đi anh càng nghe âm thanh đó rõ hơn. Sau cùng, anh dừng lại chỗ cái hố huyệt mới được lấp lại. Âm thanh kỳ lạ phát ra từ một cái lỗ to bằng miệng chén ăn sâu xuống lòng đất! - Ủa, mình mới lấp lại rất kỹ lúc nãy mà? Luận lại dùng con dao cán dài đó đào đất lấp nốt cái lỗ kia. Lấp xong thì quả nhiên âm thanh ngừng bặt. - Thì ra... Luận vừa quay đi thì lại nghe tiếp âm thanh kỳ lạ đó. Lúc anh quay lại thì phải há hốc mồm kinh ngạc, bởi cái lỗ anh vừa lấp bây giờ lại xuất hiện như cũ. Lại lấp lần thứ hai, lần này Luận bê nguyên tảng đá lớn ở gần đó đè lên chỗ cái lỗ và lẩm bẩm: - Thứ quỷ quái nào cũng miễn có trồi lên được! Yên tâm, Luận xách dao đi trở vào. Nhưng khi vừa bước vào chòi anh đã phải kêu lên: - Trời ơi! Ở giữa nhà, có chín đứa trẻ đang xếp thành vòng tròn và chuyển động chẳng khác nào như chúng đang múa! Nhìn kỹ hơn thì Luận tái mặt, bởi chín đứa trẻ tuy có đủ tay chân, đầu mình, nhưng trên gương mặt bầu bĩnh lại không có mắt mũi! - Cái... cái gì đây? Luận vừa kêu lên vừa bước lùi lại. Còn lũ trẻ thì hình như không nhìn thấy có người tới nên chúng vẫn vô tư nhảy múa. Thỉnh thoảng chúng còn nghịch ngợm, đứa này leo lên vai đứa kia, nhảy phóc lên giường và mỗi lần như vậy đều phát ra thứ âm thanh kỳ dị mà vừa nghe Luận đã hiểu, chính thứ âm thanh này anh đã nghe phát lên từ cái lỗ ở huyệt mộ ngoài kia! - Thì ra... Ý nghĩ của Luận vừa lóe lên đã bị dập tắt, bởi một trong chín đứa trẻ đột ngột nhảy bổ vào anh, xô anh ngã nhào ra sau! Và cứ thế, hết đứa này lại đến đứa khác cứ nhắm vào Luận mà nhào tới, như một quán tính chứ không phải chúng nhìn thấy được! Luận bị nhiều cú bổ nhào như vậy, chẳng khác bị những cú đánh liên hoàn, khiến anh ê ẩm cả người, cố bò dậy và thoát chạy thục mạng! Đang chạy nhanh, bỗng Luận đâm sầm phải một ai đó, người đó kêu lên: - Chết tôi! Lúc ấy Luận mới nhìn kỹ, anh kinh hãi kêu lên: - Sáu Lập! Trước mặt anh là Sáu Lập đang lồm cồm dậy sau cú va chạm mạnh với Luận. Đứng sau lưng Lập là Tư Thiên! Luận hỏi bằng giọng run run: - Anh... anh Sáu… anh... Tư Thiên cười to: - Anh tưởng thằng Lập là hồn ma hiện về hả? Nó chưa chết đâu, còn sống nên mới kiếm anh để nhậu tiếp đó! Luận đứng dậy, trấn tĩnh vài giây mới hỏi: - Có đúng là anh Sáu... còn sống? Tư Thiên nghiêm túc: - Tối qua thấy nó hộc máu tưởng chết, nhưng khi khiêng về nhà thì phát hiện nó còn thở. Thoa dầu, cấp cứu một lát nó tỉnh lại. Chỉ có điều do “xỉn” quá nên nằm tới giờ này mới tỉnh. Mà anh làm gì chạy như ma đuổi vậy? Luận đưa tay chỉ vào nhà: - Mấy anh vào nhà tôi mà coi, bọn quỷ ma nó... Hai ông thần lưu linh kéo tay Luận: - Đệ tử lưu linh mà sợ ma sao! Họ kéo tay Luận đi trở lại căn chòi lá. Đến nơi, Luận nhắc chừng họ: - Chúng nó còn ở trong đó, tuy là con nít nhưng chúng khỏe lắm và nhanh như sóc vậy đó! Cả ba len lén nhìn vào... Tư Thiên ngạc nhiên hỏi: - Có thấy gì đâu? Sáu Lập cũng nói: - Nhà trống trơn! Nghe Luận quả quyết những gì anh đã nhìn thấy. Sáu Lập xác nhận: - Tối qua lúc bị vấp ngã, nằm trên chỗ đó tôi nghe văng vẳng như có tiếng hú hay âm thanh gì kỳ lắm, chỉ tiếc là sau đó tôi bị ngất đi… Luận bảo hai người: - Mấy anh theo tôi ra đây? Thấy Luận dẫn mọi người trở ra vườn, Sáu Lập chỉ phía trước: - Tối qua tôi bị ngã ở đây nè. Luận nói: - Đó là một cái hố huyệt! Lấy cây cuốc hôm qua Luận đào đất còn bỏ lại, anh bảo hai người: - Mấy anh tiếp tôi đào nó lên sẽ thấy việc lạ! Khi nhìn thấy cỗ quan tài quá lớn, Tư Thiên kêu lên: - Quan tài này chắc là chôn voi chứ không phải chôn người! Luận nghiêm giọng: - Chôn kho tàng thì đúng hơn! Hai người kia nhìn Luận, cho là anh ta nói đùa, Luận nói tiếp: - Sáng nay tôi đã đào lên, thấy có chín cái hũ bằng sành khá lớn, miệng hũ được bịt kín, giống như cách người bảo quản châu báu mà mình thấy trong phim hay trong sách mô tả. Tôi không dám khui ra, bây giờ có hai anh, chúng ta thử khui xem cái gì trong đó! Sáu Lập có vẻ bị kích động: - Lỡ là... là châu báu thì làm sao? Mình có được hưởng cái này hay phải đem giao nộp? Tư Thiên nói: - Kho báu trong vườn của anh Luận thì đương nhiên thuộc về anh ấy rồi! Luận vội nói: - Không đâu. Tuy nó ở trong vườn nhà tôi, nhưng không phải là của tôi. Do vậy, khi đào lên các anh tùy ý chia chác thế nào cũng được. Cần thì ta chia cho cả 12 nóc gia trong ấp này, mỗi người một chút cho họ cùng đổi đời! Nghe vậy, Sáu Lập cười khoái chí: - Không ngờ anh Luận lòng dạ hào hiệp như vậy! Tôi tình nguyện đào và tình nguyện đứng ra chia chác. Cám ơn anh Luận. Anh ta cầm cuốc đào rất hăng, chỉ lát sau là lồi nắp quan tài ra. Luận từng cạy nắp nên bảo: - Phải nhẹ tay một chút, bên trong toàn là đồ dễ bể. Khi khui nắp quan tài ra thì đúng là có chín cái hũ bằng sành loại lớn nằm thành ba hàng. Tư Thiên hỏi: - Bây giờ khui không anh Luận? Luận chưa trả lời thì Sáu Lập đã nhanh tay gỡ sợi dây vải đỏ cột ngang miệng hũ ra. Anh ta chờ đợi một thứ ánh sáng lóe lên của vàng bạc châu báu! Nhưng không, bên trong lại còn có một cái hũ thủy tinh nhỏ hơn, đặt gọn trong lòng cái hũ sành. Tư Thiên nhanh tay kéo chiếc hũ thủy tinh ra, và... Luận là người kêu lên đầu tiên: - Một... một cái bào thai. Đúng là trong hũ thủy tinh có chứa một bào thai đã tượng hình đầy đủ, nằm trong dung dịch để giữ cho nó không phân hủy. Lần lượt tám cái hũ kia cũng được mở ra và… cái nào cũng giống như vậy. Luận buộc miệng: - Không lẽ... Hai người kia không hiểu nên hỏi lại: - Anh nói gì? Luận không đáp, nhưng trong đầu anh đang nghĩ tới chín đứa trẻ quỷ quái trong nhà... Phải mất ba đêm kiên trì ngồi rình trong bóng tối, Luận mới chộp được cái bóng trắng mà Tư Thiên mô tả. Đó là một phụ nữ tuổi trên dưới ba mươi. Khi bị Luận tóm được, chị ta tỏ vẻ sợ hãi, năn nỉ: - Xin tha cho em, chẳng qua vì cần tiền nên em mới làm cho lão ta… - Lão ta là ai? - Dạ, là... là người chủ cũ của miếng vườn này! Luận giật mình: - Lão ta đã bán mảnh vườn rồi, vậy cho cô về đây làm gì mà đêm đêm lén lút như đi ăn trộm vậy? - Dạ.. dạ không phải trộm… Luận phải gắt lên: - Không ăn trộm thì làm gì trong vườn người ta? Cô không khai ra tôi sẽ đưa tới đồn cảnh sát bây giờ. - Dạ… dạ khai! Chị ta kể tới đâu Luận nổi da gà tới đó: - Cái huyệt mộ này đâu có chôn ai. Dưới đó chỉ có chín cái bào thai... Chị ta lấy ra một gói giấy trong đó chứa chín củ gì đó có hình dáng y như là hình hài một đứa trẻ con thu nhỏ, nói: - Lão ta mướn tôi mỗi lần năm đồng. Tôi chỉ việc khoét cái lỗ rồi bỏ từng củ ngải luyện phép này xuống, để cho chín cái bào thai kia ăn. Đó là cách để nuôi chúng. Có nuôi đầy đủ như vậy thì tròn chín tháng chúng mới thành... tinh được! Luận chặn lời: - Luyện thành tinh để làm gì. - Để… cướp tài sản thiên hạ! Luận kinh ngạc: - Chỉ với mấy cái bào thai này sao làm được chuyện đó! Chị ta tỏ vẻ thành khẩn: - Tôi sợ phải tiếp tục làm chuyện này lắm rồi, vậy để tôi nói hết cho anh nghe, rồi anh giúp cứu tôi thoát khỏi sự khống chế của lão ta! Chị ngừng một lúc rồi tiếp: - Lão ta vốn là một người chuyên phá thai lậu. Phần đông người tới nhờ lão phá đều đã có thai tới tháng thứ tư, thứ năm, tức là lúc ấy bào thai đã lớn. Sau khi phá, lão ta chọn những bào thai nữ để luyện phép. Các bào thai được chứa trong lọ thủy tinh là đã được làm phép đủ chín tháng mười ngày rồi, chúng được nuôi bằng ngải nên đã trở thành những con tinh chứ không còn là các bào thai chết nữa! Đợi thêm chín mười ngày nữa, lúc ấy lão sẽ dùng những con quái quỷ này như công cụ kiếm tiến cho mình! - Kiếm bằng cách nào? - Phát hiện nhà nào nhiều của, lão sẽ sai chín đứa trẻ thành tinh đó đột nhập vào nhà, lấy hết tài sản đem về cho lão! Ngoài ra, lão ta còn dùng những con yêu quái kia để bắt cóc gái tơ đem về để chiếm đoạt thân xác. Luận lắc đầu: - Trường hợp của tôi thì những cái bào thai thành tinh đó vào nhà để làm gì? - Khi bán đất cho anh là do lão biết trước sau gì mình cũng bị phát hiện. Nhưng khi anh dọn đến ở rồi thì lão ta lại sợ anh khám phá ra điều bí mật, nên tìm cách gây sợ hãi, để anh bỏ đi, để đất hoang cho lão dễ làm ăn! Thấy Luận không lộ vẻ sợ lắm, chị ta lại nói: - Chỉ cần tôi cho chín cái thai đó ăn bùa ngải thêm ba mươi ngày nữa thì lúc ấy bọn trẻ con thành tinh đó sẽ vô cùng nguy hiểm. Ngoài lấy cắp tài sản, bắt cóc người, chúng còn có thể giết chết bất cứ ai chúng không thích! Chị ta kể tới đó thì lộ vẻ sợ hãi lắm: - Tôi bây giờ không thể ở đây được nữa rồi. Nếu ở thì lập tức sẽ bị lũ quỷ kia hại chết ngay. Đó là chưa nói lão chủ vẫn đang theo dõi tôi... Luận hỏi nhanh: - Lão ta bây giờ đang ở đâu? - Tìm lão ta không khó. Chỉ có điều trước hết anh phải tìm cách triệt tiêu cái mầm họa này đi! - Làm cách nào? Chị ta kề tai nói nhỏ cho Luận nghe. Anh gọi thêm Tư Thiên và Sáu Lập, khoảng nửa giờ sau họ đã có trong tay hai con chó mực cái và thực hiện đúng theo bài bản của chị ta... Họ giết hai con chó, lấy huyết của nó rải đều lên huyệt mộ, nhất là chỗ cái lỗ ăn thông xuống huyệt. Những tiếng kêu thét kinh hoàng vang lên từ dưới đó. Rồi một lát sau thì im bặt... Nhìn kỹ lại thì chỗ đó lõm sâu xuống, bên dưới cỗ quan tài cũng biến mất! Sau đó, người ta tìm gặp lão gian manh đang trú ngụ tại một ngôi nhà mướn cách đó không xa. Khi bị bắt, lão ta nhanh chóng nhận tội và còn thừa nhận: - Khi đổ máu chó xuống huyệt tức là đã hủy diệt hết mầm họa mà tôi cố tình nuôi dưỡng nhằm thực hiện ý đồ xấu... Lão còn tiết lộ: - Tôi học được thủ đoạn này từ một ông thầy bùa người Cao Miên. Ông ta hứa với tôi rằng, sau khi tôi thành công ông ta sẽ còn truyền cho tôi mấy thứ nữa, kỳ bí lắm! Nhưng lão quên một điều, cái xấu và cái ác sẽ không bao giờ có kết cục tốt đẹp cả... NGƯỜI TÌNH MA Trời mưa mỗi lúc một lớn hơn, nên dù có muốn đi cũng không làm sao đi được, Phước đành phải kêu thêm ly cà phê đen uống và chờ. Có ba bốn người nữa cũng đồng cảnh ngộ như Phước, nên anh yên tâm ngồi đó mà không lo lắm khi đồng hồ tay cứ nhích dần về con số bốn. Ở vùng quê này khoảng bốn giờ thì coi như trời tối, nhất là những buổi chiều mưa như thế này. Một người ngồi gần đó chép miệng: - Trời này không biết lão già Hai đủ sức chèo qua sông không nữa? Chị chủ quán Chín Thật đưa tay chỉ lên trời vừa nói: - Chỉ có trời sập thì ông ấy mới không qua sông thôi! Ông già này là con trời sai xuống trần gian để trả nợ cho mọi người đó! Trong lúc chờ mưa tạnh thì đề tài về ông lái đò lại được mọi người quan tâm. Một người khác lên tiếng: - Ông già cũng lạ, cực khổ chèo chống, vậy mà đưa khách qua sông không hề đòi hỏi thù lao, ai muốn cho cũng được, ai quên thì không nhắc! Trên đời này quả không có người thứ hai như ổng! Chị Thật bật cười: - Bởi vậy tôi mới nói ông ấy là con trời sai xuống. Chỉ có người thiên đình thì mới tốt bụng như vậy thôi! Người thứ ba nói: - Nghe nói ông ấy không có gia đình, vợ con nên làm nhiều cũng không biết cất tiền ở đâu! Lúc này Phước mới tò mò: - Vậy nhà cửa ông ấy ở đâu, cũng phải ăn để sống? Bà chủ quán nhìn Phước, đoán anh là người ở xa tới nên nói: - Cậu không biết thôi, ông ấy mà nhà cửa gì. Làm cũng ghe, ăn cũng ghe, mà ngủ cũng ghe! Đúng hơn là chiếc xuồng đó, chính là nhà của ông ta! Một người khác thắc mắc: - Dù là một mình, nhưng chiếc đò nhỏ xíu đó thì tối làm sao ông ấy ngủ cho được? - Vậy mà cũng xong. Đã năm bảy năm nay rồi chứ ít gì! Chín Thật rành chuyện ông ta nhất, nên nói tiếp: - Thật ra khi tôi về đây dựng cái quán này thì nghe nói trước đó ông ấy cũng có nhà, ở trên bờ đàng hoàng. Nghe đâu chỉ từ khi đứa con gái ông ấy chết thì ông ấy mới ra nông nổi này! Phước càng tò mò hơn: - Sao con gái ông ấy chết? Chị chủ quán lắc đầu: - Tôi cũng không rõ lắm. Chỉ nghe nói ông ấy chỉ có mỗi đứa con đó, cha con sống với nhau từ nhỏ, bà vợ nghe nói đã chết từ lúc con bé vừa lọt lòng. Ở đây cũng chẳng ai biết mặt con gái ông ta. - Tội nghiệp, một kiếp người. Câu kết luận của Phước khiến mấy người kia đưa mắt nhìn anh cảm thông. Rồi họ nhìn đồng hồ tay và nhìn trời, rồi hai trong số ba người khách cuối cùng đó đứng dậy nói: - Chắc chờ không được rồi. Ông con trời chắc bữa nay cũng chịu thua cơn sụt sùi của thiên đình rồi. Hai người họ đội mưa đi trở lên đường làng, có lẽ đón xe ngựa để trở về chợ. Mà họ làm vậy cũng đúng, ở bến đò ngang này quá năm giờ chiều thì sẽ không còn xe ngựa để đi, mà mong gì còn đò… Phước thì khác, do anh ở xa tới, đi tìm nhà quen ở bên kia sông, nên bằng mọi giá cũng phải chờ đò. Anh quay sang người khách duy nhất còn lại và hỏi: - Vậy chú cũng chờ chứ? Vị khách lớn tuổi gượng cười đáp: - Cũng muốn chờ, nhưng điệu này chắc là đò không qua rồi, mà tôi không biết lội, mưa gió lớn này chắc khi có đò tôi cũng không dám qua. Có lẽ uống hết ly nước rồi tôi ghé qua nhà người quen gần đây nghỉ tạm, sáng mai đi sớm. 4 giờ rưỡi... Rồi 5 giờ. Tuy trời mưa có bớt phần nào nhưng bóng con đò vẫn bặt tăm. Nhìn xuống mặt sông chỉ thấy trắng xóa một màu mưa giông. Vị khách già kia hớp nhanh ngụm nước trà rồi đứng lên: - Thôi, tôi đi trước đây! Ông bước nhanh trong mưa. Khi ấy chỉ còn lại Phước là người duy nhất trong quán. Có lẽ để anh yên tâm, chị chủ quán vội lên tiếng: - Cậu có thể ngồi đợi tới bao giờ cũng được, khi nào muốn đi thì đi, tối tôi ở lại đây, cũng mở cửa bán lai rai cho ai cần uống nước thì uống. Mà cậu ở đâu tới, qua bên kia sông kiếm nhà ai? Phước thấy chị ta vui vẻ nên cũng bắt chuyện: - Tôi từ Sài Gòn về. Tôi chưa tới vùng này bao giờ, mò đường đi do được một người chỉ cho. Bên kia sông có phải là xã Vĩnh Trạch không chị? - Đúng rồi, bên này là Vĩnh Lương, còn bên kia là Vĩnh Trạch, lươn và trạch cùng họ với nhau mà! Phước cười: - “Lương” này có chữ G ở sau, không có nghĩa là “lươn” như con “lươn”. Chắc là không phải cùng họ. Chị chủ quán cười ngất: - Dân quê tụi tôi dốt nát đâu còn phân biệt chữ nghĩa như cậu, nên “lươn” hay “lương” gì đó đọc lên nghe cũng vậy! Cậu biết con “cá trạch” hay con “trạch”? Phước lắc đầu: - Dạ chỉ nghe nói chứ chưa biết. Chị chủ quán lại cười to hơn: - Vậy là tôi dốt phân nửa cậu dốt phân nửa! Tôi dốt chữ còn cậu dốt hình dạng con trạch. Mà nè, cậu kiếm nhà ai ở bên đó? - Dạ, ông Sáu Thành, trước làm thầy thông phán ở tỉnh, lâu nay về xã này, mà không biết nhà cửa ở đâu? Chín Thật cau mày suy nghĩ một lúc rồi lắc đầu: - Tôi cũng biết bên đó khá nhiều, mà đâu có nghe ai nhắc tới ông Sáu Thành làm thầy thông phán? - Hy vọng là hỏi dò chắc cũng có người biết. - Nhưng trời tối thế này, nếu có qua được bên đó chắc gì cậu tìm được nhà ngay. Chi bằng trở về chợ ngủ qua đêm đi sáng mai đi sớm? Phước lưỡng lự: - Tôi cũng nghĩ như chị, nhưng ngặt vì ngày mai tôi phải trở về Sài Gòn gấp, nên không thể nán lại. Chờ thêm hơn mười lăm phút nữa, Phước chán nản trả tiền nước rồi đứng dậy ra về. Anh dự tính ra quốc lộ đón xe đêm trở về Sài Gòn ngay chứ không ở nhà trọ. Và như vậy là bao nhiêu kế hoạch của anh đã phá sản. Nhưng vừa bước đi mấy bước Phước đã nghe chị chủ quán kêu to: - Đò qua kìa cậu ơi! Nhìn ra sông thấy con đò đang từ từ cập bến, Phước mừng xiết kể, anh buột miệng: - Đúng là trời còn thương! Chị chủ quán còn dặn với theo khi Phước chạy nhanh xuống đò: - Cậu muốn biết người bên Vĩnh Trạch thì hỏi ông Hai lái đò, ông ấy là người sống bên đó! - Cám ơn chị! Phước là khách duy nhất còn lại, nên khi anh vừa bước xuống thì ông già Hai đã cho ghe lui ra ngay. Ông không nói lời nào cho đến khi đò ra tới giữa dòng, ông mới quay lại hỏi: - Cậu về xóm trên hay xóm dưới? Phước ngơ ngác: - Xóm trên là ở đâu, còn xóm dưới là ở đâu? Nhìn khách một lượt, ông già hỏi lại: - Cậu ở xa tới? - Dạ, cháu ở Sài Gòn. - Cậu quen ai ở bên đó? - Ông Sáu Thành, trước làm thông phán ở tỉnh... Câu nói của Phước vừa tới đó đã bị ông già cắt ngang: - Cậu quen ông ta ra sao? Cậu là... Nhìn vẻ kích động của ông, Phước hơi ngạc nhiên: - Bác biết ông ấy? Có đúng ông Sáu ở làng Vĩnh Trạch không bác? Ông vẫn còn sống với cô con gái… cô Hạnh. Tuyết Hạnh! Ông già lặng yên, mắt hướng nhìn ra dòng sông đang mờ đi bởi mưa giăng. Lát sau ông nói mà không nhìn Phước: - Cậu kiếm sao được những người đó! Phước ngạc nhiên: - Ủa, sao vậy bác? Ông ấy không còn ở xứ này nữa sao? Định nói gì đó, nhưng kịp dừng lại, ông già đẩy mạnh tay chèo mà không thêm lời nào. Phước phải hỏi lại: - Bên kia có nơi nào ngủ trọ được không bác? Ông già nhìn Phước lắc đầu: - Làng quê chứ đâu phải phố chợ mà nhà trọ cậu! Phước đăm chiêu: - Lỡ không tìm được nhà thì biết ngủ đâu? Có đình chùa gì gần đây không bác? Ông già thoáng một chút suy nghĩ, rồi bảo: - Về nhà tôi ngủ. Đã nghe chị chủ quán nói ông già không có nhà, anh hỏi lại: - Bác sống trên ghe này một mình, làm sao chiếc ghe chứa được hai người bác? Ông già cười nhân hậu: - Vậy ra cậu đã nghe người ta nói về tôi rồi phải không? Tuy ghe này không đủ chỗ cho hai người ngủ, nhưng nhà thì dư để cậu ở đêm nay! Phước giật mình: - Bác Hai có nhà riêng, sao người ta nói bác chỉ sống dưới ghe? Ông không đáp đúng câu hỏi mà lại chỉ tay về phía trước và nói: - Nhà ở chỗ đó. Ông hướng mũi ghe về phía vừa chỉ, lát sau đã thấy một bến sông cây cối um tùm. Bấy giờ ông mới cột ghe lại ở gốc một cây bần, rồi bảo: - Cậu theo tôi lên đây. Tuy không tiện nghi lắm, nhưng cũng đủ cho cậu yên giấc tối nay. Chỉ có điều đứa cháu tôi là chủ căn nhà lá này có thể tối nay nó không về, vậy cậu có dám ngủ một mình không? Phước đáp thật lòng: - Dạ, cháu bác Hai ở được thì cháu ở được thôi. Nhưng lỡ nửa đêm người đó về gặp cháu thì sao? - Không sao cả. Ở chốn quê này, được đón khách thành phố tới ngủ lại là vui rồi, ai thắc mắc làm chi. Thôi được rồi, tôi sẽ ngồi lại nói chuyện với cậu cho vui, khi nào cậu buồn ngủ thì tôi về cũng được. Tôi cũng neo ghe gần đây… Chợt nhớ ông nói: - Chắc là cậu chưa ăn cơm chiều. Vậy để tôi xuống ghe lấy lên ít đồ ăn, mình cùng ăn cho vui. Cậu không chê đồ ăn đạm bạc chứ? Phước thấy ông thật thà, lại nhiệt tình, nên đáp hay: - Dạ, có thức ăn đã là quý rồi, mà cháu thì dễ ăn lắm, gì cũng nuốt trôi cả! Chừng nửa phút sau ông già Hai mang lên một con cá nướng và nửa nồi cơm nguội, ông bảo: - Cơm thì nguội, nhưng được cái là còn nóng, nên ăn chắc cũng không đến nỗi nào! Rất tự nhiên, ông già dọn ngay thức ăn lên bộ giường tre rồi giục Phước: - Ăn ngay đi cậu, để lát nữa cá nguội thì tanh. Ông ra ngoài hái vào một mớ đọt non và giải thích: - Cá nướng mà ăn không kèm rau thì không ra gì cả. Đây là đọt cóc non, cậu ăn thử coi có ngon hơn rau thị thành không? Không ngờ được ăn bữa ăn quá lạ miệng, nên Phước tự nhiên ăn hơn phân nửa xuất ăn, vừa ăn anh vừa nghe ông già hỏi: - Cậu nói thật cho tôi nghe, cậu tìm ông thông phán gì đó ở xứ này? Sao cậu biết ông ta về đây? Phước không còn dè dặt như ban đầu nữa, anh nói: - Dạ chẳng giấu gì bác Hai, cháu đi tìm ông chỉ bởi giữa cha mẹ cháu và bác ấy có liên quan đến một lời hứa... Ông già rất chăm chú lắng nghe, có vẻ sốt ruột: - Lời hứa thế nào cậu? - Dạ, hứa về một cuộc hôn nhân! Phước đặt miếng thịt cá nướng trở lại tàu lá chuối, giọng hơi chùng xuống: - Mà cũng tại ba má cháu, phải chi lúc cháu đủ tuổi lập gia đình, ông bà cháu đi tìm ông thông phán Thành thì chắc không mất công như bây giờ! Ông già hỏi tới: - Vậy sao họ không cho cậu đi tìm? - Chỉ vì mẹ cháu muốn cháu lấy vợ giàu, con ông Phủ đầy quyền thế, để khi cháu ra trường sẽ dễ bề tiến thân, hơn là cưới một cô gái con ông phán về hưu. Thêm nữa... Phước ngập ngừng, không muốn nói ra điều riêng tư... Nhưng thấy ông già có vẻ lắng nghe, vả lại anh nghĩ, có cho ông ấy biết cũng không có gì phải ngại, bởi ông ta là người dưng, nghe rồi bỏ mà… Do vậy sau vài giây ngần ngừ, Phước tiếp: - Thêm vào đó, chẳng biết căn cứ vào đâu mà má cháu nói là cô gái con ông thông phán đó bị bệnh kín gì đó, mà là bệnh nan y nữa, do vậy không muốn cho cháu cưới cô ta! Ông già có vẻ kích động: - Mà cậu cũng sợ lây bệnh của cô ấy sao? Cậu nghe lời bà già? Phước lắc đầu, giọng anh bùi ngùi: - Cháu hoàn toàn không đồng ý với ý của má cháu. Cháu muốn đi tìm cho bằng được cô gái. Bởi cháu nghĩ, hôn nhân là lương duyên trời định mà, dẫu mới chỉ là lời hứa giữa hai bên cha mẹ lúc tụi cháu còn nhỏ, nhưng vẫn là lời hứa nhân duyên. Nếu hai đứa tụi cháu mà có duyên thì dẫu cô ấy ra sao thì cháu vẫn cưới! - Cậu nói thật? Phước đưa miếng cá nướng kèm đọt cóc nhai một miếng lớn, tỏ thái độ dứt khoát: - Điều đó là chắc chắn! Ông già gục gật đầu: - Xứng đáng là tư cách một con người! Tiếc cho cô gái ấy… Phước ngạc nhiên: - Ủa, bác biết về cô gái hứa hôn với cháu sao? Bác biết ông Phán Thành? Ông già vội lắc đầu: - Không... tôi chỉ cam cảnh thôi. Người có lòng dạ như cậu thật đáng quý. Phước được dịp trút tâm sự: - Từ sau vụ ấy cháu bỏ nhà đi. Cháu đi để tránh không cưới vợ theo ý ba má cháu. Nhưng cháu cũng không làm sao biết được nơi đâu để tìm gia đình ông thông phán. Cháu vẫn muốn tự thân mình thực hiện lời hứa năm xưa! - Cậu nói thật? Trời ơi, quả là người có tấm lòng bồ tát! Nhưng... nếu không tìm được người ta thì cậu làm sao? Phước cười gượng: - Cháu đã thề với lòng mình, nếu cháu không kết nhân duyên được với người ấy, hay ít ra không gặp được cô ấy một lần để ngỏ lời chính thức thì cháu chưa thể tính tới hôn nhân với ai khác! Cháu tự coi như mình là người đã có vợ rồi! Bởi vậy lần này cháu mới lặn lội về đây, cháu quyết bằng mọi giá phải tìm cho ra cô ấy. Ông già chép miệng: - Sợ e là khó. Năm bảy năm rồi, vật đã đổi sao đã dời... Mà đời người thì ngắn ngủi vô cùng... Ông nói xong vội đứng lên, bước nhanh ra ngoài, sau khi dặn lại: - Tôi đi đây, có gì sáng mai tôi sẽ trở lại sớm. Tôi hứa sẽ giúp cậu tìm cho được người mà cậu cần tìm! Phước muốn hỏi thêm, nhưng không còn kịp nữa, bóng ông già chèo đò đã khuất sau lùm cây. Thấy muỗi vo ve chung quanh, Phước lo đêm nay mà ngủ trần thì có nước làm mồi nuôi lũ chúng! Tuy nhiên khi nhìn kỹ chiếc giường còn lại bên trong, Phước thấy một chiếc mùng đã giăng sẵn? Anh thích thú: - Đúng là trời còn thương! Tuy bữa ăn đơn sơ, nhưng do đói và lạ miệng nên Phước ăn đến no nê và còn thèm. Anh thầm cám ơn ông già chèo đò, hứa với lòng là nay mai thế nào cũng tìm cách mời lại ông một bữa! Phước đứng lên vươn vai, vừa định bước ra ngoài chốt cửa lại, thì… anh hoa mắt, lảo đảo như vừa uống rượu… và chỉ trong phút chốc thì không còn biết gì nữa... Phước tròn mắt nhìn vào người đang đứng trước mặt mình, lặp lại câu hỏi lần thứ hai: - Cô là… ai? Có lẽ chờ cho Phước bình tĩnh hơn, người kia mới nhẹ nhàng đáp: - Người hỏi phải là tôi, chứ sao lại là anh. Vậy tại sao anh vào nhà tôi, anh chưa trả lời? Bây giờ Phước mới tỉnh táo hoàn toàn, anh bật ngay dậy, vừa ngơ ngác nhìn quanh và nhận ra mình đang nằm trong ngôi nhà lá mà đêm qua đã được ông già chèo đò đưa tới. - Tôi... tôi... Bấy giờ Phước mới nhìn rõ, người đứng trước mặt mình là một cô gái khá đẹp, tuy ăn mặc đơn sơ nhưng toát lên nét kiều diễm và có chút gì đó là của thành thị, chứ không thuần túy thôn nữ như cách ăn mặc. - Cô là…? Cô gái giờ mới nhếch môi cười: - Anh lại hỏi nữa rồi? Vẫn chưa trả lời tôi mà. Anh là ai mà vào nhà tôi nằm ngủ tự nhiên như nhà mình vậy? Lúc này Phước mới nhận ra vì thế của mình, anh bẽn lẽn nói: - Tôi… tôi được bác Hai chèo đò bảo… cứ tự nhiên ngủ ở đây. Mà sao cô vào được khi tôi đã chốt hết cửa lại rồi? - Chốt cửa trước, lại để thả cửa sau, giữ nhà kiểu như anh thì ăn trộm vào khiêng đi lúc nào cũng không hay! Mà anh nói do bác tôi dẫn tới, vậy bác tôi đâu? Phước đỡ quê: - Cô hiểu cho rồi đó. Bác Hai đi xuống đò, nói sẽ trở lại vào sáng mai. Bây giờ là giờ nào rồi cô? - Mười giờ sáng! Phước hốt hoảng: - Không xong rồi, tôi phải về Sài Gòn liền bây giờ! Trời ơi, sao tôi lại ngủ dữ vậy không biết! Thấy anh quýnh lên, cô gái cũng bắt cười: - Anh biết ở đây là đâu không mà giờ này đòi về Sài Gòn liền? - Thì đây là... là làng Vĩnh Trạch. - Ờ, làng này ở bên này sông, muốn đi về Sài Gòn phải qua đò, đi ra chợ, rồi lên thị xã, từ thị xã mới có xe đi Sài Gòn. Mà xe thì chỉ chạy một chuyến vào sáng sớm. Hay anh muốn đi bộ về trên đó? - Vậy ông già Hai? - Bác hai tôi bữa nay bệnh rồi, không đưa đò được. Cô nói xong quay bước ra ngoài, trước khi ra khỏi cửa còn nói với lại: - Bác có gửi cho anh cái này, nhưng dặn là chỉ đến mười hai giờ trưa nay mới được mở ra xem. - Cái gì vậy? - Cái gói để trên bàn thờ đó. - Bàn thờ nào? - Thì trong nhà chỉ có một bàn thờ thôi, còn hỏi là bàn thờ nào nữa? Lúc tối có lẽ do không đủ ánh sáng nên Phước không kịp quan sát, bây giờ nghe cô gái nói vậy anh mới bước ra nhà ngoài nhìn thì quả thấy có một bàn thờ cũ. Nhưng... Vừa dán mắt vào nhìn thì Phước đã kinh hãi kêu lên: - Sao lại thế này? Trên tủ thờ có ảnh chân dung một cô gái mà chỉ cần nhìn qua cũng đủ thấy nó giống với cô gái vừa rồi như khuôn đúc. - Cô gái này là... Phước ghé sát vào hơn, nhìn kỹ khung ảnh và một lần nữa anh thốt lên: - Không thể được. Anh thấy ngay dưới bức hình có dòng chữ viết rất nắn nót: “Mãi mãi nhớ con gái yêu Tuyết Hạnh của cha! Phán Thành!” - Cái gì? Phước đọc kỹ dòng chữ lần nữa rồi người anh run lên: - Tuyết Hạnh... trời ơi! Ngỡ rằng mình vẫn còn mơ ngủ, Phước đưa tay sờ thử vào khung ảnh và lạnh người khi nhận ra những gì đang trước mắt anh là sự thật. Phước thảng thốt: - Sao thế này hở trời! Suýt nữa anh đã té ngã vì người như mất hết sinh lực. Đầu óc choáng váng. Vừa mới tỉnh lại sau một giờ ngủ bất thường, giờ đây Phước lại đang chìm dần vào cơn mê mà trong lúc bàng hoàng anh còn kêu lên được hai tiếng: - Tuyết Hạnh! Ông già Hai từ dưới bến mới vừa bước lên. Nhìn thấy Phước như thế ông lặng người đi rồi nhẹ thở dài... - Cậu đã tỉnh lại lần nữa rồi và chắc chắn là không chết. Nãy giờ tôi ngồi đây mà cứ ngỡ là cậu sẽ đi theo người mà cậu đang tìm kiếm! Giờ thì ổn rồi. Người nói đó là ông già Hai chèo đò. Phước vừa nhìn thấy ông, anh đã kêu lên: - Bác Hai, sao lại thế này? Biết là Phước đang muốn hỏi gì, ông già vẫn điềm nhiên nói: - Ở đời mọi vật xoay tròn chung quanh nhau. Rồi đến một lúc nào đó điều tưởng như không bao giờ gặp, lại gặp nhau trong hoàn cảnh oái oăm như thế này! - Nhưng sao cô ấy lại là Tuyết Hạnh? Có phải bác biết rõ về Tuyết Hạnh và cha cô ấy, ông phán Thành? Ông già Hai thở dài lần nữa: - Phán Thành đã chết kể từ khi con gái ông ta qua đời. Mà cậu có biết vì sao con Tuyết Hạnh chết không? Không đợi Phước trả lời, ông già đã tiếp: - Một đứa con gái còn độ tuổi xuân thì, đang mơ đến ngày được thực hiện lời đính ước của đôi bên cha mẹ cho cuộc hôn nhân tuy không phải do mình chọn lựa, nhưng nó đặt kỳ vọng vào chàng trai mà cuộc đính ước đó mang lại. Rồi đùng một cái nó phát hiện mình bị mắc chứng bệnh nan y và còn bị bên đính ước kia hủy lời, trước mặt nữa! Hỏi làm sao nó sống nổi? - Không thể được! - Đúng là không thể được! Bởi con Tuyết Hạnh có bị bệnh gì đâu! Chẳng qua mẹ cậu con trai kia vì muốn hủy hôn nên đã tung tin ác, gán cho nó cái bệnh mà nó tưởng mình mắc thật! Và nó đã tự vận chết khi tuổi mới vừa trò mười tám! Người ta đã giết con Tuyết Hạnh như vậy đó! - Kìa bác! Bác nói Tuyết Hạnh chết do tự vận? Vậy còn người... mà cháu vừa gặp hồi đêm này là ai? Cô ấy... Ông già ngửa mặt lên cười mà như đang khóc. Giọng ông bi thảm vô cùng: - Con nhỏ tưởng chết đã yên thân, vậy mà trời còn chưa cho nó yên, ông trời ơi, ông ác lắm! Ông già Hai vụt đứng dậy và định bước ra ngoài như chạy trốn. Nhưng bỗng ông khựng lại và kêu lên: - Con! Sự xuất hiện đột ngột của cô gái khiến chẳng những ông già ngạc nhiên, mà Phước còn như chết đi sống lại, anh reo lên: - Cô! Cô là… - Đã biết rồi sao còn hỏi? Mà sao không quỳ xuống tạ tội với… nhạc gia đi! Phước còn đang ngơ ngác thì cô gái đã bước hẳn vào nhà. Cô đến gần bên bàn thờ, cầm bức ảnh thờ lên và hỏi Phước: - Anh thấy chúng tôi giống nhau không? Phước không còn dè dặt nữa, anh gọi thẳng tên: - Tuyết Hạnh! Anh định lao tới chụp lấy cô gái, nhưng đã bị ông già nhảy ra ngăn lại: - Nó khổ cho đến chết, hồn phách không siêu thoát được, tôi phải cho nó ở riêng ngôi nhà này để hy vọng được về nơi chín suối... vậy mà nay cậu còn quấy phá nữa hay sao! Ông giận dữ nên sức mạnh khiến Phước phải kiêng dè, anh lùi lại vừa hỏi: - Bác đây chính là... bác Sáu Thành? Bác phán... Ông già cười khẩy: - Còn Phán với Thông gì nữa! Tôi đã bỏ hết để về đây cùng con gái, chỉ mong được yên ổn những ngày cuối đời thôi, cậu đừng khuấy động nữa! - Bác Sáu! Con biết lỗi của gia đình mình, con muốn được xin lỗi và... Ông già lại cười nghe vô cùng thống thiết: - Xin lỗi để làm gì nữa khi con nhỏ chỉ còn lại ở bàn thờ kia, trời ơi! Bỗng nhiên cô gái lên tiếng: - Anh ấy nói đâu có gì sai ba. Hãy để anh ấy chứng tỏ lòng mình đi ba. Con bây giờ… Cô bước tới chỗ cha mình, đưa tay ra nắm như một người còn sống bình thường: - Con đây mà. Con là Tuyết Hạnh, con có thể... Chính ông già cũng kinh ngạc: - Lâu nay ba chỉ ghé lại đây để thắp nhang cho con và nghe con nói chuyện, chứ có bao giờ nhìn thấy được bóng con, cũng như được con... Tuyết Hạnh hướng sang Phước: - Chính sự chân thành của anh ấy đã khiến cho con hoàn hồn được ba à! Ít ra là trong ngôi nhà này, từ nay con có thể hiện nguyên kiếp người, để sống với người yêu mình! Và chỉ với điều kiện đó. Có nghĩa là, nếu anh Phước mà thương con, chịu chung sống với con như vợ chồng bình thường tại ngôi nhà này, thì con sẽ được như một người bình thường. Chỉ khi nào anh Phước phụ rẫy con, bỏ con thì lúc ấy con... sẽ trở lại là hồn ma và con có kết cuộc còn bi thảm hơn... Ông già lắc đầu than: - Lại khổ nữa rồi con ơi! Thà con cứ yên phận chết oan như thế còn hơn. Làm sao tin được lòng dạ con người. Nhất là cái giống nhà đó… Phước hốt hoảng: - Bác Sáu, xin bác tin con! Con đã nguyện rồi, nếu con không chung sống được với Tuyết Hạnh thì thà con chết theo em ấy còn hơn! Bác không tin thì con làm ngay đây cho bác coi! Phước định lao đầu vào cột nhà thì nhanh hơn anh, Tuyết Hạnh đã chặn ngang, kéo anh lại: - Chưa chi mà đã muốn bỏ người ta rồi! Được rồi, ba tôi không phải không tin anh, nhưng ông đã chứng kiến sự tráo trở lâu nay rồi, nên ông đâu dễ chấp nhận chỉ bằng mấy lời nói. Thời gian còn dài, nếu anh làm được thì ba tôi sẽ tin thôi. - Được! Anh sẽ chứng minh... Phước quỳ ngay xuống trước mặt ông già, im lặng chờ một cái gật đầu. Với anh, nếu chưa được thì sẽ quỳ đến khi nào toại nguyện mới thôi... - Được rồi. Nhưng sống ở lại đây là tự chuốc cực khổ vào thân. Sẽ lam lũ, lao động và nghèo khổ, liệu mấy bữa thì anh bỏ cho con gái tôi khổ đau thêm đây? Phước mừng quá, đứng vụt dậy và bất thần chụp lấy tay Tuyết Hạnh, reo lên: - Cám ơn ba, cám ơn em! Chính ông già cũng ngạc nhiên vì con gái mình để yên không phản ứng gì khi bị nắm tay, như vậy chứng tỏ lời cô nói lúc nãy là đúng! Ông mừng quá: - Hạnh, con đã... Tuyết Hạnh gật đầu: - Như con vừa nói, con bây giờ trở lại bình thường. Nhưng với điều kiện… Phước nói như một lời thề: - Anh xin hứa nếu anh làm không đúng lời thì… anh còn thê thảm hơn em nữa. Anh sẽ mãi mãi ở lại chốn này. Tuyết Hạnh nhìn sang cha nhẹ gật đầu, mỉm cười... Giữa chốn đời thường vừa có một chuyện lạ mà ngoài họ ra, mấy ai hiểu được. Nhưng suy cho cùng, ở đời này chuyện ma quỷ và con người mấy ai dám chắc ai quỷ, ai ma. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 26
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXVI: Phần I XÁC AI TRONG NGÀY CƯỚI Một buổi sáng trời thật lạnh, ở xứ sở cao nguyên này là chuyện không lạ. Tuy nhiên, điều lạ lại nằm ở người phụ nữ trẻ đang rời khỏi ngôi biệt thự cổ để bước xuống dốc ra bờ hồ mà chỉ mặc chiếc áo phong phanh. Phải chăng cô nàng có tâm thần bất ổn? Chưa hẳn đã như vậy, bởi sau khi xuống tới bờ hồ cô lại biết vẫy tay đón một chiếc xe ngựa, chỉ hướng về phía ngoại ô, tới nghĩa địa. Chiếc xe đầu tiên thà đậu ở đó chờ khách khác, chứ không chịu đi nghĩa địa lúc quá sớm. Phải chiếc thứ hai thì ông già mới chịu đi. Cuối cùng chiếc xe ngựa ấy được ra dấu cho ngừng trước cổng khu nghĩa trang lớn nhất thành phố Đà Lạt. Người đánh xe giờ mới buột miệng hỏi: - Cô đi thăm mộ sớm quá. Vậy lát nữa cô có cần quay về không, tôi đợi? Nàng chỉ nhẹ mỉm cười, rồi khóat tay từ chối, chứ không lên tiếng. Cô nàng đi thẳng vào nghĩa địa mà chẳng một ai khác để ý, vì vào giờ đó thì người quản trang vẫn chưa thức dậy. Cô ta lại đi thẳng vào sâu trong khu nghĩa địa rộng lớn chiếm gần hết một bên sườn đồi thoai thoải. Cuối cùng cô dừng lại trước một ngôi mộ được xây bằng đá hoa cương rất bề thế, rồi đứng im, cúi đầu... Vừa lúc ấy cô nàng rùng mình. Có lẽ bây giờ mới thấm lạnh! Mà cái lạnh buổi sáng sớm vào những hôm trời rét đậm như thế này một khi đã rùng mình mà không làm ấm kịp thời thì vướng bệnh là cái chắc! Nhưng điều này sẽ không xảy ra, bởi vừa khi ấy thì cô ta chỉ nhẹ đưa tay lên đầu ngôi mộ thì đã có sẵn chiếc áo khóac của ai đã máng nơi đó và mặc vào một cách rất tự nhiên. Khi đã đủ ấm, cô nàng từ từ ngồi xuống nơi đã có ai đặt sẵn một bó layơn màu vàng còn tươi. Bấy giờ tấm bia mộ mới lộ ra dòng chữ Dã Lan chi mộ. Không khấn vái, cũng không đốt hương theo thông lệ người đi viếng mộ, cô nàng chỉ ngồi im rất lâu. Cuối cùng một tiếng nấc vang lên! Buổi sáng âm u lạnh lẽo bao trùm khu nghĩa địa buồn... Lúc ấy ở ngoài cổng chợt có một chiếc xe ô tô màu đen chạy nhanh tới đã dừng lại. Trên xe, người thanh niên bước nhanh xuống nhìn quanh một lượt rồi chép miệng: - Đi đâu kìa? Người đánh xe ngựa lúc nãy vẫn còn đậu lại để đốt thuốc hút, thấy vậy đã định lên tiếng hỏi, thì bỗng thanh niên lái xe hỏi trước: - Nãy giờ chú có thấy cô gái trẻ vào trong này không? Người đánh xe chỉ tay và đáp: - Mới vào chừng năm phút! Anh chàng nhanh chóng rời khỏi xe, sắp bước vào cổng nghĩa trang thì chợt dừng lại nói: - Nếu chú còn đậu xe ở đây thì nếu cô ấy có trở ra làm ơn nhắn giùm là có Phước tới tìm! Cám ơn chú. Anh chàng tên Phước đó đi như chạy qua hết lô mả này tới lô mả khác, cuối cùng dù không biết nơi cô gái đến, nhưng anh cũng dừng lại đúng ngôi mộ có tên Dã Lan. Đầu mộ chỉ còn bó hoa lay-ơn, ngoài ra chẳng có ai! Đứng rất lâu trước ngôi mộ, rồi sau đó Phước lặng lẽ bước đi một vòng hầu như khắp khu nghĩa địa. Vẫn chẳng thấy bóng nàng đâu. Thất vọng, anh thở dài: - Tìm ở nhà không có, ra đây cũng không... Vậy cô ấy đi đâu? Gần một giờ sau Phước mới trở ra ngoài. Bác đánh xe ngựa vẫn còn đậu đó, bác tò mò hỏi: - Cậu gặp cô ấy chưa? Phước lắc đầu, bác ấy nói liền: - Nghĩa địa này chỉ có một cổng ra này thôi, phía bên kia là đồi cao không leo lên được như vậy chắc chắn là cô ấy còn ở trong. Sợ dĩ tôi không bỏ về là có ý đợi cô ấy. Tội nghiệp, thấy cô ấy buồn và cô đơn quá. Phước leo lên xe và không quên dặn lại lần nữa: - Lát nữa nếu cô ấy có ra thì bác nói giùm là có Phước tìm, có chuyện gấp lắm! Nói là Phước đã nói chuyện điện thoại với cô ấy đêm qua. Bác nói vậy là cô ấy nhớ ra. Thật ra Phước chỉ mới biết cô gái này qua cuộc điện thoại mà anh gọi vào ngôi biệt thự cổ để hỏi thuê trọ trong một tuần ở lại Đà Lạt. Anh gọi đến gặp chủ nhà, nhưng cô gái ấy lại nhấc máy lên nghe. Sau khi Phước hỏi còn phòng cho thuê không thì cô ấy bảo mình cũng là khách, nhưng nếu Phước muốn thuê nhà thì ngày mai cứ tới, bởi sáng sớm mai cô sẽ trả nhà. Lúc đó Phước đã hỏi vội rằng sau khi trả lại nhà thì cô đi đâu? Thì bất ngờ cô ấy đáp gọn lỏn: Đi về thế giới bên kia! Nói vậy rồi cô ta gác máy. Đến sáng nay khi tới ngôi nhà cổ thì bà chủ nhà báo là cô gái mới vừa trả nhà xong, hình như là đi luôn không trở lại... Nhớ tới câu nói không biết đùa hay thật của cô gái và sau đó hỏi bà chủ nhà, bà chỉ xuống hướng bờ hồ. Phước hỏi đúng người đánh xe ngựa đã từ chối chở cô gái, ông ta bảo cho Phước biết cô ấy đi về hướng nghĩa địa và Phước đã linh tính điều chẳng lành, anh tức tốc đi ra hướng ấy... Không còn cách nào hơn, Phước lái xe trở về ngôi biệt thự cổ. Bà chủ nhà báo liền: - Vừa rồi tôi nhận được một cuộc gọi điện thoại, nghe giọng biết là cô Hồng Hạnh, nhưng tôi vừa a lô thì bên kia cúp máy. Chẳng biết có phải cô ấy gọi không, mà sao... - Cô gái ấy tên là Hồng Hạnh? - Đúng rồi! Một cô gái hiền lành, dễ thương, nhưng tội nghiệp quá, chẳng hiểu sao lại cô đơn. Suốt mấy tháng ở đây chưa bao giờ tôi thấy có bạn bè gì tới thăm. Người đẹp đẽ như vậy mà... - Chắc tại cô ấy khó tính cũng nên? Bà chủ nhà bênh vực ngay: - Không phải đâu! Cô ấy ăn nói mềm mỏng hòa nhã lắm. Có lẽ do có tâm sự gì đó... Phước hỏi thẳng việc thuê phòng: - Bà có chắc là cô ấy bỏ đi luôn không? Nếu chắc thì tôi xin thuê căn phòng ấy. Sau vài giây suy nghĩ, bà đồng ý: - Thật ra tôi cũng mong cô ấy đi đâu đó rồi trở lại ở tiếp. Nhưng thôi, sau này rồi hãy tính. Bây giờ có cậu là bạn cô ấy ở thì cũng được. Phước định đính chính mình không phải là bạn, nhưng lại thôi, anh hỏi: - Cháu đến ở ngay được không bác? - Cũng được. Mà cậu tính ở bao lâu? - Dạ, nếu xong việc sớm thì hai tháng, còn nếu việc kéo dài thì có thể lâu hơn. Được chứ bác? - Được. Nhà tôi đơn chiếc, có người tới ở cho vui. Mà nói thật, cậu là bạn của cô Hồng Hạnh nên tôi mới dám cho ở, chứ tôi ngại cho thanh niên mướn nhà lắm. Phước nghĩ bà ta ngại chuyện người thuê nhà dẫn gái về nhà, nên anh vội nói: - Bà yên tâm, cháu cũng giống như cô Hồng Hạnh, ở chỉ một mình và sẽ không có bạn, nhất là bạn gái. Bà chủ thanh minh ngay: - Tôi không phải cấm chuyện bạn gái, bởi nhà đã mướn rồi là quyền của cậu. Tuy nhiên, tôi lại sợ người không đàng hoàng. Với cậu thì tôi yên tâm... Vậy đây, cậu cứ dọn vào mà ở, tiền bạc thì cô Hạnh sao cậu vậy. Anh chỉ chiếc xe hơi: - Cháu có chiếc xe này làm phương tiện đi lại, cháu đậu nó ở sân được chứ ạ? Bà chủ nói vui: - Có xe của cậu, thỉnh thoảng tôi có cần đi cấp cứu hay chuyện khẩn cấp gì chắc cũng tiện đây! Thấy bà ta vui tính, Phước lân la hỏi thêm chuyện: - Cô Hạnh ở đây và làm gì hả bác? - Ủa, cô ấy chưa nói cho cậu nghe sao? - Dạ chưa. - Cô ấy nói đi tìm tung tích của thân nhân. Phước hơi ngạc nhiên: - Cô ấy tìm được? - Tôi cũng không biết. Không hề nghe cô ấy nói. Bất chợt Phước nhớ chuyện ở nghĩa địa, anh kêu lên: - Ngôi mộ trong nghĩa địa! Bà chủ nhà không hiểu, nên hỏi lại: - Cậu nói mộ của ai? - Bác có biết Hồng Hạnh có người thân chết chôn trong nghĩa trang thành phố này không? Bà chủ nhà lắc đầu: - Tôi không nghe nói. Nhưng sao... cậu gặp cô ấy đi vào nghĩa địa lúc nãy? Phước trầm ngâm một lúc rồi lắc đầu: - Dạ, cháu không gặp, nhưng có lẽ... Phước tới ở chỉ gọn trong một va li quần áo, nên anh chỉ việc chuyển vào phòng là xong. Lúc vào phòng, anh vẫn còn ngửi được mùi thơm vốn có ở một phòng ngủ con gái. Quan sát khắp nơi thì chẳng còn vương lại chút gì khác của người ở trước, ngoại trừ khi mở tủ áo ra anh phát hiện có bộ đồ mặc trong nhà bằng lụa màu hồng phấn. Đúng là của cô nàng bỏ quên lại. Phước báo cho bà chủ nhà, nhưng bà lại bảo anh: - Cậu cứ tạm để trong tủ đó đi, có lẽ hôm nào cô ấy sẽ trở lại lấy. Tuy nghe theo, nhưng sau đó Phước cứ bị bộ quần áo ám ảnh mãi. Anh hết lấy ra ngắm, rồi lại đứng nhìn nó treo trong tủ, mà mỗi lần nhìn thì Phước lại tưởng tượng cảnh cô nàng lang thang trong nghĩa địa và tự dưng thấy lo lo. Phước cũng chẳng hiểu mình lo điều gì, và tại sao lại để tâm trí vào một người con gái hoàn toàn xa lạ như thế? Cho đến hơn mười một giờ đêm hôm ấy Phước vẫn chưa thể nào ngủ được, anh bước đến mở cửa sổ nhìn ra ngoài. Có một khu vườn trồng hoa ở phía sau nhà. Trời đêm lạnh và có sương mù, hơi lạnh lùa vào khiến Phước rùng mình, anh vừa định đóng cửa lại thì chợt có một bóng người lướt nhanh qua cách tầm mắt anh không xa. - Đêm như thế này mà ai đi ngoài trời lạnh như thế? Phước tự hỏi và chưa kịp tìm được lời đáp thì bỗng anh lảo đảo, mắt hoa lên như bị trúng gió. Phải vịn vào thành cửa sổ Phước mới đứng vững được. Một lúc lâu sau Phước mới qua được cơn choáng đột ngột đó. Anh vội đóng ngay cửa lại và quay trở về giường. Nhưng khi nhìn vào cửa tủ đang mở mà lúc nãy Phước treo bộ quần áo lụa ở đó đã không còn thấy nữa! Đồng thời có một mùi hương thoảng nhẹ còn vương lại khắp phòng. - Phải chăng... Phước thừ người ra một lúc rồi mở toang cả hai cánh cửa tủ, anh hơi hoang mang, tự hỏi: - Ai vào được phòng này? Anh sợ lúc mình bị choáng có ai đó đã lọt vào phòng, nhưng khi xem lại cửa phòng thì chốt gài bên trong vẫn còn. Chỉ có cửa sổ... - Không lẽ... Phước nghĩ tới cái bóng người lướt qua lúc nãy. Tuy nhiên, từ cửa sổ anh ở là lầu một của ngôi nhà, cách mặt đất bên dưới khá xa, không thể nào... Phải mất hơn một tiếng đồng hồ sau, Phước mới tìm lại được giấc ngủ, nhưng cũng vừa chợp mắt là như có ai đó thọc vào mạng sườn khá mạnh, khiến Phước phải choàng dậy định lên tiếng thì một phen nữa giật mình, bởi bàn tay anh chạm phải bộ đồ lụa đang nằm cạnh! Mở đèn lên nhìn thì đúng đó là bộ quần áo lúc nãy! Phước chưa tin hẳn vào mắt mình nên phải cầm lên xem kỹ, và nhờ vậy anh phát hiện có một mảnh giấy đính kèm, rơi ra. Phước đọc được dòng chữ: Sao lại tơ tưởng đến cái không phải của mình! Chẳng biết mấy chữ đó viết cho ai, nhưng Phước có cảm giác là nhắm vào mình. Anh chợt rùng mình khi nghĩ trong lúc anh ngủ đã có ai đó vào phòng và trả lại bộ đồ. Điều này là chắc chắn! Anh mở cửa gọi bà chủ nhà. Bị đánh thức đột ngột, bà ta tỏ ra khó chịu nhưng sau khi nghe Phước thuật lại chuyện thì bà giật mình: - Có chuyện đó sao? Bà quả quyết với Phước: - Từ nào đến giờ ở nhà này chưa từng xảy ra bất cứ chuyện gì như vậy. Mà nhà này cửa nẻo chắc chắn, không làm sao người ngoài lọt được vào. Hơn nữa còn có hai con chó nhốt ở ngoài vườn, chỉ cần một tiếng động nhỏ là nó sủa vang trời luôn. Mà lúc nãy tôi có nghe gì đâu... Phước không muốn tranh luận nên anh lẳng lặng đóng cửa lại. Nhưng vừa lúc đó, bà chủ nhà lại gõ cửa và lên tiếng: - Hay cậu đưa bộ đồ ấy cho tôi giữ có lẽ tốt hơn. Phước thật tâm không muốn, nhưng chẳng lẽ lại giành, nên anh lấy bộ quần áo đưa cho bà ta. Anh thầm nghĩ, như thế có lẽ tốt hơn thật! Và Phước ngủ khá thẳng giấc ngay sau đó... Tuy nhiên, mới vừa mờ sáng, Phước đã nghe bà chủ nhà vừa chạy sang vừa kêu lên: - Lạ quá cậu Phước, bộ đồ... sao nó lại... Nhìn bộ dạng bà ta, Phước chợt hỏi: - Bộ đồ mất nữa rồi sao? Bà chủ nhà sợ hãi: - Mất rồi! Tôi khóa cửa lại cẩn thận mà... *** Bà chủ nhà Ánh Hồng đã thật sự cần sự có mặt của Phước trong nhà sau sự cố đó. Bà mất ngủ luôn mấy hôm sau, cho đến khi Phước báo cho bà cái tin còn chấn động hơn: - Bộ đồ đó hiện đang nằm trong va li của cháu! Số là khi dọn vào ở, Phước đã lấy hết quần áo trong va li ra để mắc vào tủ áo, còn chiếc va li thì anh cho vào gầm giường. Sau chuyện mất bộ đồ của cô gái thì Phước cũng có kiếm tìm trong phòng, nhưng không bao giờ nghĩ là nó lại nằm trong đó. Cho đến sáng nay lúc chợt nhớ là mình còn để sót vài vật dụng linh tinh trong đó, Phước mới kéo va li ra và ngớ người khi thấy bộ đồ lụa nằm ngay ngắn trong đó. Anh gọi ngay cho bà chủ Ánh Hồng, bà run run giọng bảo Phước: - Cậu liệu mà... bỏ bộ đồ ấy đi! Tôi không ngủ được vì nó, mà bây giờ lại như thế này nữa thì chắc tôi chết mất! Phước chỉ ậm ừ: - Được, để cháu tính... Tuy nói vậy, nhưng Phước lại lén để bộ đồ trở lại trong va li và tự nhủ: - Để xem... Anh đi thật sớm, trở lại khu nghĩa địa. Suốt mấy hôm suy nghĩ, cuối cùng Phước quyết định phải trở lại nghĩa địa một lần nữa. Anh đi một vòng hầu như khắp nơi, cuối cùng anh lại tìm gặp ngôi mộ có tên Dã Lan bởi một dấu ấn dễ phát hiện: Ngay trước đầu mộ vẫn có một bó hoa lay-ơn tươi giống như hôm trước! Bó hoa này chắc chắn là mới được đặt sáng sớm nay hoặc có thể là tối qua, chứ không phải là bó hoa cũ mà anh thấy hôm trước. Phước đọc kỹ dòng chữ ghi trên mộ bia và lẩm bẩm: - Cô ta là thế nào với người nằm dưới mộ? Thắc mắc của Phước là về Hồng Hạnh, cô gái đang làm cho anh và bà chủ nhà Ánh Hồng điên đầu. Phước không nghĩ chính Hồng Hạnh là người gây ra những rối rắm vừa qua, mà có thể đó là người nằm dưới nấm mộ này. Nhìn kỹ lại những chữ ghi trên mộ bia, thấy ngày sinh tử, Phước kêu lên: - Chết rất trẻ! Nếu tính ra thì cô này chết lúc chỉ mới mười tám tuổi! Bất giác, Phước cảm thán: - Chết trẻ như vậy, thảo nào... Phước dự tính khi về sẽ hỏi lại bà chủ nhà, có thể bà ta sẽ biết chút gì đó về cô gái tên Dã Lan này. Còn bây giờ, chẳng còn biết làm gì, Phước lại đi lang thang trong nghĩa trang một lúc nữa, rồi quay trở ra định về. Tuy nhiên, chẳng hiểu sao khi quay lại thì anh lại đi qua lô cũ, tức trở lại đúng ngôi mộ cô Dã Lan lúc nãy! Mà lần này khiến anh ngơ ngác, bởi bó hoa nằm ở đầu mộ không phải là bó lay-ơn màu vàng như lúc nãy, mà thay vào đó là một bó hoa hồng vàng tươi thắm! Nghĩ chắc chắn có người mới vừa tới viếng mộ, Phước quay một vòng nhìn, khi không thấy bóng ai, anh thử hỏi lớn: - Ai vào đây vậy? Ai vừa thăm mộ cô Dã Lan? Không có ai đáp lời, Phước chợt nghĩ tới cô gái, anh thốt lên: - Hồng Hạnh! Lời anh vừa dứt thì chợt có một tiếng bật khóc gần đâu đó. Tiếng khóc của một cô gái! Phước nhìn lên và anh bắt gặp một bóng người đang thoắt chạy sau hàng mả phía bên kia. Không suy nghĩ thêm, Phước tốc chạy theo, vừa cất tiếng gọi lớn: - Hồng Hạnh! Cô Hạnh! Bóng người kia chạy rất nhanh, nên dù cố tăng tốc, vậy mà khi ra đến cổng thì mất bóng cô ta! Phước đang còn ngơ ngác thì chợt nghe tiếng xe hơi rồ mạnh cách đó không xa. Mở máy xe mình, Phước phóng vội theo, bởi anh nghĩ, chỉ cần bám được chiếc xe này thì mọi thắc mắc trong đầu anh sẽ được giải hết! Tuy nhiên, chiếc xe kia chạy ra hướng ngoại ô và vẫn duy trì tốc độ rất nhanh mặc dù đi qua vùng dân cư đông đúc, khu vực Trại Hầm. Khó khăn lắm Phước mới bám đuổi kịp và tới một khúc ngoặt, Phước cố hết sức và vượt lên cặp sát được chiếc xe kia, rồi bằng một động tác bẻ lái rất chuyên nghiệp, Phước đã vượt qua được chiếc xe và vờ như bị sự cố, Phước cho xe dừng lại, bắt buộc chiếc xe nọ cũng phải dừng theo. Chỉ chờ có thế, Phước bước vội xuống xe và quan sát nhanh bên trong xe ấy biết thế nào cũng nhìn thấy cô gái lúc nãy. Nhưng Phước đã lầm. Trong xe không có ai khác ngoài tài xế là một người lớn tuổi! Hơi ngượng, nên Phước tìm cách nói: - Dạ, xin lỗi. Cháu chỉ... bị kẹt thắng, cháu muốn... Ông tài xế lịch sự cười nhẹ với Phước rồi chậm rãi lách xe ra phía ngoài, đi thẳng. Phải mất hơn chục giây sau Phước mới bình tĩnh lại và cho xe đi theo. Nhưng lạ quá, xe anh vẫn nổ máy, mà khi sang số để chạy tới thì hầu như không thể chuyển động được! Bị những người phía sau bóp còi inh ỏi để phản đối việc đậu xe chắn ngang lối đi, nhưng Phước vẫn chẳng làm thế nào cho xe chuyển động được. Sốt ruột và bực dọc, một tài xế phía sau nhảy xuống xe và đến tận xe của Phước, quát lớn: - Xe bị gì vậy? Phước đành phải nói: - Xe tôi bị kẹt thắng! Anh chàng kia nóng nảy đưa tay đẩy mạnh một cái, xe của Phước ào tới suýt nữa đã tông phải mấy người phía trước. Phước bị một phen hú vía, lại bị mấy tài xế kia vượt qua vừa chửi bới om sòm: - Không biết lái xe mà cũng bày đặt lái! Phước ráng nhịn để bám theo chiếc xe kia, bởi anh vẫn còn hoài nghi có thể vừa rồi mình nhìn chưa kỹ trong xe. Nhưng mất hơn năm phút sau, anh vẫn không tài nào tìm ra chiếc xe trước. Trong khi ấy thì ở một lối rẽ, chiếc xe đó dừng lại trước một ngôi nhà trồng nhiều hoa, người tài xế bước xuống xe và giở chiếc nón đội đầu xuống thì mớ tóc dài bung ra, xõa dài xuống tới tận thắt lưng. Đó là một cô gái... Về phần Phước thì sau một vòng tìm kiếm vô vọng, anh đành phải lái xe trở về nhà trọ. Anh tìm ngay bà Ánh Hồng và hỏi: - Có khi nào bà nghe cô Hồng Hạnh nói về ai đó tên Dã Lan không? Bà chủ nhà lắc đầu: - Chưa bao giờ nghe... Phước thuật lại mọi chuyện mình vừa gặp và kết luận: - Cô gái tên Hồng Hạnh này có mối quan hệ gì đó với một người đã chết tên Dã Lan, và chính cô Dã Lan này đã gây ra những chuyện kỳ lạ mà bà và cháu gặp mấy hôm nay. Vốn đã sợ từ mấy hôm rồi, nay nghe Phước kể, bà Ánh Hồng càng sợ thêm. Bà hỏi khẽ: - Bây giờ làm sao cậu Phước? Phước chỉ biết lắc đầu. Bà ta chợt nói: - Hay là bữa nay tôi làm mâm cơm cúng cô ấy xem sao? - Bà cúng ai? - Thì cái cô gì cậu vừa mới nói đó! - Dã Lan! - Ừ, thì cô ấy... Phước không có ý kiến gì, trong lúc bà Ánh Hồng nhanh chóng đi chuẩn bị một lễ cúng. Khoảng một giờ sau thì lễ cúng được bày ra, bà gọi Phước lại: - Cậu là người tìm thấy mộ cô ấy, cũng là người gặp oan hồn cô ấy đầu tiên, vậy cậu cũng phải cùng với tôi khấn vái cô ấy. Bà đốt hai nén nhang, đưa cho Phước một nén. Phước miễn cưỡng khấn thành tiếng: - Vong hồn cô Dã Lan sống khôn thác thiêng, xin chứng giám cho lòng thành của chúng tôi. Xin cô đừng quậy phá khiến chúng tôi sợ. Chúng tôi hứa sẽ cúng vái cô đều đặn, xin cô... Lời của Phước chưa dứt thì con gà luộc và đĩa trái cây đang cúng bỗng bị hất tung lên, văng tung tóe trên sàn nhà! Bà chủ nhà hốt hoảng: - Sao vậy cậu Phước? Chính Phước cũng đang hoang mang. Anh định vái lần nữa, nhưng do quýnh quá nên anh khấn lầm tên: - Vong hồn cô Hồng Hạnh có linh thiêng thì... Lạ lùng thay, lời khấn chưa hết thì tất cả vật cúng đang nằm vương vãi ra đó bỗng hiện diện trở lại đầy đủ trong dĩa như lúc mới bắt đầu! Phước và bà chủ nhà đều trợn tròn mắt kinh ngạc... *** Cuối cùng thì Phước hiểu ra tại sao anh vái vong hồn của Dã Lan thì bị phản ứng mạnh như vậy. Bởi khi anh khấn lầm tên của Hồng Hạnh thì mọi việc đều yên. Phước nói với bà Ánh Hồng: - Một là giữa người chết và cô Hồng Hạnh có gì khúc mắc, hai là có thể... chính Hồng Hạnh là... hồn ma! Bà chủ nhà kêu lên: - Cậu nói vậy sao được! Cô Hạnh đã ở đây với tôi từ bao lâu nay, mọi việc đều bình thường, thì làm sao có chuyện đó! Phước không muốn tranh luận thêm, nên suốt từ đó cho đến chiều tối, anh đóng cửa phòng ở một mình và còn dặn bà chủ nhà: - Hôm nay cháu ăn sáng trễ, vậy tới bữa cơm bà đừng gọi. Chừng nào đói cháu sẽ tự ra ăn. Không nằm nghỉ, Phước làm một việc mà mấy hôm tới đây anh muốn làm mà chưa có thì giờ, đó là dời chiếc tủ áo sang vách tường bên kia. Tuy một mình kéo chiếc tủ khá nặng là rất khó, tuy nhiên hì hục một lúc Phước cũng làm được. Lúc lấy chổi quét bụi chỗ vị trí cũ của chiếc tủ thì Phước phát hiện có một mảnh giấy nhỏ đã cũ, nằm kẹt sau lưng tủ. Định quét bỏ luôn, nhưng có mấy chữ ở mặt sau tờ giấy khiến Phước phải cúi xuống cầm lên xem ngay. - Dã Lan! Phước kêu lên và suýt đã đánh rơi tờ giấy xuống sàn! Tờ giấy đó là một danh thiếp của người tên Dã Lan, có ghi cả nghề nghiệp, địa chỉ rõ ràng. Đọc qua mấy dòng địa chỉ, Phước lẩm bẩm: - Khu Trại Hầm... Phước nhớ hôm qua lúc lái xe đuổi theo chiếc xe lạ, anh đã tới gần với địa chỉ này. Phải chăng... Anh ra xe đi trước sự ngạc nhiên của bà chủ nhà: - Dạ, cháu có chút việc... Anh lái xe về hướng Trại Hầmm vừa nhẩm đọc số nhà theo địa chỉ trong danh thiếp. Lát sau anh đã tới nơi. Đúng ngôi nhà mà bữa trước cô tài xế lái chiếc xe mà Phước đã đuổi theo không kịp! Đã biết trước là người tên Dã Lan đã chết, nhưng Phước vẫn hỏi khi thấy có một bà cụ từ trong nhà bước ra: - Thưa bác, cháu muốn hỏi, đây có phải là nhà của cô Dã Lan? Bà cụ nhìn sững vào Phước rồi nhẹ lắc đầu: - Không có ở đây. - Thưa bác, cháu muốn hỏi... - Chết rồi! Bà đáp gọn như vậy rồi quay bước đi vào. Phước gọi: - Thưa bác, cháu không hỏi cô Dã Lan! Lúc này bà cụ mới quay lại, hỏi với giọng bình thường: - Cậu hỏi điều gì? - Dạ... cháu là bạn của cô Hồng Hạnh, cô này là bạn của Dã Lan... Cháu muốn... Vừa nghe tới tên Hồng Hạnh thì bà cụ đã trợn tròn mắt nhìn Phước, vừa lùi lại: - Cậu là... là gì với Hồng Hạnh? Phước đã bịa, nên phải bịa tiếp: - Dạ, cháu là bạn... Bỗng bà cụ mắt long lên giận dữ, bà rít qua kẽ răng: - Đồ thối tha, đồ tàn ác! Mày... mày... Bà dang thẳng cánh tay và bất thần tát mạnh vào mặt Phước. Anh chàng không phòng bị nên nhận đủ cái tát như trời giáng ấy! - Kìa, sao bác đánh cháu. Cháu đâu có... Bà ta nói như hét: - Mày cút đi ngay. Mày đã giết nó rồi nay lại dám vác mặt tới nữa sao! Đồ... Có lẽ bà tính tát thêm nữa, nhưng Phước đã lùi kịp và một lần nữa kêu lên: - Sao bác làm vậy! Bà cụ giờ mới ôm lấy mặt, gào lên trong nước mắt: - Lan ơi, con chết rồi mà nào đã yên thân! Người ta lại tới nữa, họ còn muốn gì nữa đây, trời ơi! Phước thấy cần phải nói rõ: - Thưa bác, cháu chưa hề biết gì về cô Dã Lan này. Vừa rồi nhân vào trong nghĩa địa cháu tình cờ gặp ngôi mộ của cô ấy. Bà cụ chưa tin hẳn lời giải thích của anh, nên ngẩng lên nhìn và hỏi: - Cậu là gì của con Hồng Hạnh? - Dạ... cháu chỉ là bạn bình thường... Lúc này gương mặt của bà bớt căng thẳng, rồi sau khi nhìn Phước một lượt nữa, bà dịu hẳn giọng: - Cậu hỏi con Dã Lan làm gì? - Dạ... chẳng qua... cháu cũng muốn qua bác để tìm hiểu thêm về cô Hồng Hạnh? Một lần nữa sau khi nghe nhắc tới Hồng Hạnh, bà cụ lồng lên: - Con ác quỷ đó, cậu đừng nhắc nó trước mặt tôi! Phước ngạc nhiên, nhưng cũng bắt đầu hiểu đôi chút sự việc. Anh lại phải bịa thêm: - Dạ, cháu cũng là nạn nhân của Hồng Hạnh. Cho nên... Quả như Phước nghĩ, bà cụ đổi giọng ngay: - Cậu... bị nó làm gì? Đồ quỷ cái đó nó không chừa ai cả! Bà kéo tay Phước vào nhà: - Cậu vào đây rồi nói cho tôi nghe chuyện con quỷ đó làm gì cậu đi! Đúng là con đó nó chẳng chừa ai cả! Phước phải miễn cưỡng bước theo. Khi vào phòng khách rồi anh mới giật mình khi nhìn thấy bức ảnh trên chiếc bàn thờ duy nhất trong phòng. Chân dung một cô gái thật đẹp. - Đây là cô Dã Lan? Bà cụ nhẹ gật đầu: - Nó đó. Rồi bà tiếp bằng giọng buồn buồn: - Con nhỏ chỉ mới mười tám tuổi, mới vừa đậu đại học, chưa kịp học thì đã chết tức tưởi rồi. Mà phải chết do bệnh thì tôi không tức, đằng này lại chết do chuyện tình yêu, trời ạ! Phước cố khai thác thêm chi tiết: - Nhưng tại sao cô Hồng Hạnh lại dính líu tới chuyện này chứ? Mỗi lần Phước nhắc tới Hồng Hạnh là bà cụ lại như điên tiết lên: - Nó là đầu dây mối nhợ làm hại cháu tôi! Chính nó là đứa giành tình yêu của con nhỏ, khiến cho con Dã Lan phải chết, phải bị bức tử! - Nhưng... cô Hồng Hạnh là thế nào với Dã Lan? Là bạn hay là... - Nó... Bà cụ vừa mở miệng định nói tiếp thì bất thần trợn ngược hai mắt và hầu như á khẩu luôn! Phước hốt hoảng: - Kìa, bác! Anh phải đưa tay đỡ bà cụ và dìu bà dựa vào chiếc ghế xô-pha. Bà cụ vẫn gần như mê man, khiến Phước phải gọi lớn vào trong nhà: - Có ai ở sau không, giúp tôi với! Chẳng nghe trả lời, có lẽ bà cụ sống một mình, hoặc là người nhà đi vắng. Cho nên Phước đánh bạo bước vào nhà trong với ý định tìm lọ dầu để cạo gió cho bà. Anh tìm một vòng ở ngoài không thấy nên sau khi nhìn trước sau, anh thấy một cánh cửa phòng mở hé thì quyết định bước vào. Bên trong tối thui, Phước mò bật được đèn sáng lên, chưa kịp tìm lọ dầu thì chợt giật mình khi nhìn thấy hai bức ảnh chân dung đặt cạnh nhau trên bàn. Một tấm giống y như ảnh chân dung ở bàn thờ bên ngoài, còn bức kia thì... chính là ảnh của anh! Phước gần muốn đứng tim! Anh run rẩy nhưng hai chân gần như bất động, nên có muốn bước tới cũng không được, mà tháo lui cũng không xong. Vừa khi ấy thì có tiếng rên ư ử của bà cụ ở nhà ngoài. Phước cố gượng chuyển dịch, nhưng vừa nghiêng người qua thì anh đã bị ngã nhoài về một bên... Đến khi vừa tỉnh lại, Phước đã nghe có người hỏi anh bằng giọng ngạc nhiên: - Sao cậu vào đây? - Cậu có sao không? Phước biết là cần giải thích, anh cố nói trong lúc đầu óc còn đờ đẫn: - Cháu... cháu thấy bác bị ngất... nên cháu... đi tìm dầu... Bà cụ hiểu ra, nên dịu giọng: - Tôi tỉnh lại không thấy cậu đâu, vào đây lại thấy cậu đang nằm ngay cửa phòng của cháu tôi, nên tôi cứ tưởng... Vừa lúc đó Phước nhớ tới hai bức ảnh hồi nãy, anh quay lại nhìn thì... trước mặt anh lúc ấy chỉ còn một ảnh của Dã Lan thôi! - Kìa, sao lúc nãy cháu thấy... - Cậu thấy gì? Phòng này vốn khóa cửa từ khi con Dã Lan chết, sao lúc nãy cậu mở ra được? - Dạ cửa mở, chứ cháu làm sao mở được! Cửa mở ra và cháu nhìn thấy có hai bức ảnh trong đó, cháu ngạc nhiên quá... Bà cụ đưa mắt nhìn vào và nói: - Hai ảnh nào đâu? Chỉ có hình con Lan. Phòng này là phòng riêng của nó, từ ngày nó chết, tôi để nguyên không thay đổi gì hết, chỉ vài bữa vào quét bụi một lần. Phước không tin vào mắt mình, anh nói: - Vừa rồi cháu thấy rõ ràng có hai tấm ảnh chân dung... Bà cụ vẫn cương quyết nói: - Không có ảnh nào khác. Bà tiện tay đóng cửa lại và nhắc khéo Phước: - Cậu ra ngoài ngồi uống nước. Lúc nãy cám ơn cậu... Bà rõ ràng không hài lòng việc Phước tự tiện vào nhà trong, nhất là nhìn vào căn phòng riêng của đứa cháu. Phước phải một lần nữa giải thích: - Lúc nãy cháu chỉ sốt ruột muốn tìm dầu, bởi thấy bà bị ngất... Có lẽ sợ Phước hỏi thêm, nên bà cụ vội đứng dậy dợm bước đi. Phước đành phải cáo từ. Phần II Phước trở về nhà trọ và gặp bà chủ nhà chờ ở cổng, báo tin: - Cậu có khách. Phước ngạc nhiên: - Ủa, cháu đâu cho ai biết mình ở đây? Ai vậy bác? Bà chủ nhà cười khó hiểu: - Một người đẹp! Cậu này cũng dữ nghen, vậy mà tưởng hiền... Phước chưa biết thế nào nên vội bước nhanh vào trong, không thấy ai ở phòng khách, anh hỏi: - Ủa, khách của cháu đâu. Bà chủ nhà chỉ tay vào nhà trong: - Cô ấy xin vào phòng cậu để nghỉ, tôi cho... Phước la lên: - Sao bà cho người lạ vào phòng của cháu! - Ai là người lạ đâu? Câu nói đó của người vừa bước từ trong phòng của Phước ra. Vừa quay lại Phước đã kêu lên: - Ngọc Trâm! Bà chủ nhà cười bảo: - Người này cậu còn cho là người lạ nữa không! Phước bối rối: - Nhưng... nhưng sao em biết anh ở đây? Cô gái tên Ngọc Trâm bước tới gần, giải thích: - Em phải mất cả buổi để tìm ra anh. Mà cũng chẳng có gì khó, bởi Đà Lạt tuy cũng rộng, nhưng nơi thường cho thuê nhà trọ cũng không nhiều, chịu khó hỏi dò là ra thôi. Rồi cô quay sang bà chủ nhà phân trần: - Bà chủ thấy không, đàn ông họ vô tình và thường chỉ nghĩ cho phần mình thôi, không hiểu thế nào là nỗi khổ của người khác! Bà chủ nhà chen vào: - Không phải tôi tự động cho cô ấy vào phòng cậu đâu. Khi cô ấy tới đây, hỏi đúng tên cậu thì tôi xác nhận là có, tôi mời cô ấy vào nhà, tính để ngồi ở phòng khách chờ cậu, nhưng khi thấy cô ấy đưa ra lá thư của cậu gửi khi mới tới Đà Lạt cho cô ấy thì tôi hiểu cô ấy và cậu là... vợ chồng sắp cưới, nên khi cô ấy than mệt tôi đã không ngại cho cô ấy vào phòng cậu nằm nghỉ để chờ... Biết thế nào Phước cũng lên tiếng thanh minh gì đó, nên Ngọc Trâm chủ động nói: - Em có đem cái này cho anh, vào đây em cho coi! Lúc này Phước đành phải nói rõ, để việc anh và Trâm vào chung phòng được danh chính ngôn thuận: - Trâm là người yêu của cháu. Vậy xin phép bác cho tụi cháu nói chuyện riêng một lát... Bà Ánh Hồng vui vẻ: - Không hề gì. Tưởng là bạn bè suông thì còn phải thắc mắc, chứ đã là người yêu, là vợ sắp cưới thì cô cậu cứ tự nhiên. Muốn ở bao lâu cũng được. Và nếu phòng đó chật, thì tôi đổi qua phòng trên lầu cho rộng hơn, biệt lập hơn. Phước vội nói: - Dạ, được rồi bác. Tụi cháu chỉ... - Đừng có ngại. Tôi rất thông cảm cho những người trẻ, cứ tự nhiên đi! Bà nói xong lảng đi vào phía sau, để cho Phước bị người yêu kéo tuột vào trong phòng. Vừa vào phòng, Ngọc Trâm chủ động đóng cửa lại ngay khiến Phước hốt hoảng: - Làm vậy coi sao được! Ngọc Trâm nheo mắt: - Bà chủ đã cho phép rồi, còn ngại gì nữa! Cô nàng ôm chầm lấy Phước hôn lấy hôn để, khiến Phước phát ngượng: - Em làm gì vậy! Em... em để anh thở đã chứ! Sau phút chào nhau theo kiểu của Trâm, bấy giờ Phước mới hỏi: - Sao em ra khỏi nhà được mà đi tìm anh? Sao không nghe lời của ba má, bỏ anh để đi lấy chồng đi, cho tròn chữ hiếu? Trâm dụi đầu vào ngực người yêu: - Nghe cái giọng giận dỗi, mỉa mai thấy mà ghét! Xúi người ta đi lấy chồng phải không? Người ta nghe lời, làm y như vậy thì đừng có trách! Phước vẫn còn dỗi: - Trách thì cũng được gì đâu! Bởi vậy anh mới chọn giải pháp đầu hàng, bỏ đi và chịu đau khổ một mình! Trâm bật dậy, nhìn thẳng vào mắt Phước nghiêm giọng: - Một mình hay mấy mình? Một mình sao mới lên đây mấy ngày mà nghe bà chủ nhà nói ngày nào cũng đi từ sáng sớm tới chiều tối? Đi với ai? Đã yêu nhau năm năm, nên đâu lạ gì nhau. Phước còn hiểu bề ngoài thoải mái của Trâm là cả một đợt sóng ngầm dữ dội bên trong. Việc cô nàng dám bỏ nhà theo anh lên tận đây đủ biết tình yêu nàng dành cho anh mạnh đến mức nào! Phước dò hỏi: - Chuyện nhà ra sao rồi? Trâm xịu mặt: - Anh tệ lắm, mới gặp trở ngại một chút đã giận dỗi bỏ đi rồi! Anh có biết không, khi hay tin anh đi em đã muốn bỏ đi ngay để tìm, mà chẳng biết làm sao. Phải đợi khi anh viết mấy chữ về báo là lên Đà Lạt thì em mới yên tâm. Còn chuyện ba mẹ em thì như anh biết đó, ý là của ông bà, chứ có phải của em đâu! - Nhưng... em có từ chối được đâu? Trâm nhìn thẳng vào mắt Phước: - Vậy bây giờ em ở đây với anh không là lời khẳng định hay sao? Em yêu anh và chỉ biết có mỗi mình anh thôi. Được chưa! Phước ôm chặt người yêu, anh bàn: - Ngày mai mình sẽ đi tìm nơi khác ở cho tiện. Chứ ở đây e không tiện lắm. Nhưng Trâm đã phản đối ngay: - Em thích nơi này hơn. Em thấy bà chủ nhà y như mẹ mình, nên ở đây em sẽ đỡ nhớ nhà và không phải lo này khác nữa. Thật tình Phước rất sợ Trâm lần dò ra được chuyện rắc rối của anh với Hồng Hạnh và cả với Dã Lan. Nhưng biết làm sao khi Trâm đã quyết như vậy. Đêm hôm đó, trong lúc Phước còn ngượng ngùng dè dặt trong lần đầu gần gũi với người yêu, thì trái lại Trâm đã làm anh ngạc nhiên. Cô nàng chủ động tất cả việc phòng the và còn nói khẽ bên tai Phước: - Em phải hiến trọn cho anh ngay đêm nay, để mọi việc đã rồi. Chúng ta đã là của nhau và em chắc chắn là anh không bỏ em mà đi nữa! Phước như chàng ngố đang được tập tành làm người lớn, mặc dù người huấn luyện anh cũng chẳng phải là tay lão luyện gì! Đến sáng hôm sau thì họ đã chính thức là... vợ chồng. Phước nói với bà chủ nhà: - Cháu muốn xin với bác là cho cháu mướn ở đây lâu dài. Coi như bây giờ cháu không chỉ một mình... Bà Ánh Hồng cảm thông: - Tôi biết rồi, nên đã chuẩn bị căn phòng trên lầu rộng rãi hơn để hôm nay cô cậu dọn lên. Nhưng Ngọc Trâm lại phản đối: - Con muốn được ở căn phòng hiện tại thôi. Nó ấm cúng và... hay hay thế nào ấy! Phước xua tay: - Thôi, phải chuyển lên lầu. Mình tới hai đứa chứ phải độc thân như cô ấy... Anh lỡ lời, khiến Trâm ngơ ngác: - Cô nào? Bà chủ nhà phải đỡ giùm: - À, phòng này hồi trước tôi có cho một cô độc thân mướn, trước khi cậu Phước tới. - Anh biết cô ta? Phước chối ngay: - Làm gì biết. Cô ấy đã dọn đi từ lâu anh mới tới. Chỉ nghe bà chủ nói lại thôi. Trâm liếc một cái sắc như dao cạo, và sau đó thì thầm vào tai Phước: - Liệu hồn nghe, đừng có léng phéng! Bà chủ nhà tinh ý nên nhận ra tính ghen của Trâm. Lúc sau khi đứng gần Phước, bà bảo khẽ: - Cậu liệu mà giấu kín chuyện, không khéo thì mệt đó! Trong lúc Phước đang nói chuyện với bà chủ nhà thì Trâm dọn dẹp trong phòng. Bỗng cô nàng hỏi vọng ra: - Cái va-li của anh sao không để trong tủ mà lại để dưới gầm giường? Vừa nghe nhắc tới chiếc rương, Phước hốt hoảng chạy vào ngay và la lớn: - Em đừng đụng tới cái rương đó! Nhưng lời Phước đã trễ, lúc đó Trâm đang bật nắp va-li ra. Phước điếng hồn, bởi trong đó còn bộ đồ ngủ của Hồng Hạnh! Tuy nhiên... khi nhìn vào trong va-li thì... trống không! Phước thở phào, khiến Trâm ngạc nhiên: - Anh sao vậy? Bộ giấu gì trong này sao? Đã yên tâm rồi, nên Phước mạnh miệng: - Thì xem kỹ coi có gì trong đó! Người ta sợ cái rương dơ, bẩn tay em, nên... Trâm vừa lau chiếc rương vừa nói: - Tưởng giấu thư tình trong này thì chết với... tôi! Trong lúc Trâm đem cất va-li vào tủ thì Phước tự hỏi: - Bộ đồ mình để trong đó rõ ràng mà? Lúc này Phước thấy mình cần phải cương quyết, nếu không muốn sẽ gặp thêm những rắc rối khác nữa: - Anh tính kỹ rồi em ơi, phòng này anh ngủ mấy đêm rồi, có đêm nghe côn trùng kêu ngoài cửa sổ, khó ngủ lắm. Chi bằng nhân tiện ta dọn hẳn lên lầu cho rồi, trên kia biệt lập hơn và tránh được những tiếng ồn nữa. Anh chủ động gặp bà chủ nhà: - Cháu dọn lên lầu thôi! Bà Ánh Hồng nhìn Phước với một thoáng ngạc nhiên, nhưng cũng chấp nhận ngay: - Tùy cậu thôi. Ngọc Trâm tuy không ưng lắm, nhưng nghe Phước nói cũng có lý, nên cô phải nghe theo. Cũng may, quả đúng là căn phòng trên lầu rộng rãi hơn, thoáng hơn và cửa sổ không quay ra vườn sau như căn phòng bên dưới. Được nước, Phước bảo: - Phòng này có phải là hay hơn nhiều không! Cảm giác như vừa thoát được gánh nặng, Phước thở phào một hơi rồi giục Trâm: - Mình ra ngoài ăn sáng đi em. Rồi mình đi chơi đây đó một vòng. Từ bữa lên đây đến giờ anh chưa đi đâu cả. Trâm trề môi: - Xạo! Bà chủ nhà nói bữa nào anh cũng đi. Vậy không đi đây đó chứ đi đâu? - Thì... đi công việc khác với đi chơi chứ! Anh chỉ tới nhà vài người quen thôi... Trâm vốn đa nghi nên hỏi tới: - Nhà người quen ở đâu, sao không dẫn em tới đó với? Em cũng muốn làm quen với họ. Phước phải tìm cách nói lảng ra: - Anh tìm đã hai ngày rồi mà không gặp ai hết. Địa chỉ họ cho hình như không chính xác. - Địa chỉ đâu đưa em xem nào. Em tìm nhà hay hơn anh nhiều! Vừa nói, một tay Trâm thọc vào túi quần của Phước, nơi cô biết anh thường để mọi thứ trong đó. Và cô bắt gặp tấm danh thiếp trong đó. Phước điếng hồn, anh đưa tay chặn lại vừa lắp bắp nói: - Cái... cái này là của một người bạn... Trâm càng nghi ngờ, cố rút tay ra thật nhanh, kéo theo tấm danh thiếp. Cô đưa lên xem ngay và ngạc nhiên: - Có địa chỉ ai đâu? Phước chụp lấy ngay mà tim như muốn ngừng đập! Nhưng... anh còn ngạc nhiên hơn khi tấm danh thiếp trắng tinh, không có dòng chữ nào hết! Rõ ràng, đây chính là danh thiếp tên và địa chỉ nhà của Dã Lan mà! - Danh thiếp trắng mà anh để trong túi chi vậy? Phước một lần nữa thở phào. Anh còn chưa thể nghĩ ra tại sao lại như vậy thì Trâm đã tiếp: - May đó, nếu gặp danh thiếp cô nào thì... biết tay tôi! Cô nựng yêu mà Phước thót tim. Anh tự hỏi: - Sao kỳ vậy? Anh kiếm cớ vào nhà vệ sinh và lấy tấm danh thiếp ra xem lại. Lần này anh điếng hồn, bởi trên giấy hiện rõ rành rành những dòng chữ cũ: Dã Lan... - Kỳ vậy? Không chần chừ, Phước xé nát tấm danh thiếp rồi bỏ ngay vào bồn cầu, giật nước cho nó trôi đi! Làm xong việc rồi mà tim Phước vẫn còn loạn nhịp. Anh bước ra và giục Trâm: - Đi nhanh kẻo trưa rồi em. Sau mấy lượt "kiểm tra" mà Phước đều vượt qua trót lọt, Trâm càng yêu anh hơn, nên vừa ra đường là cô ghì chặt lấy anh, như sợ anh chàng chạy theo người khác! Phước thầm kêu khổ, bởi như thế này thì việc dò tìm những gì về Hồng Hạnh, Dã Lan coi như cực khó... Anh đề nghị: - Mình ghé Thủy Tạ ngồi uống cà phê, ăn sáng đi. Sáng sớm mà ngồi đó nhìn ra mặt hồ thì thú vị lắm! Suốt buổi sáng ngồi ở Thủy Tạ hầu như là cuộc độc thoại của Trâm khi cô nàng cứ giành nói: - Em tính rồi, lần này mình ở luôn đây, cần gì phải đi nơi nào khác. Em thích khí hậu Đà Lạt hơn. Phước chỉ ậm ừ: - Cũng được. Nhưng anh lại thích Nha Trang hơn. Nơi đó có biển, có các hải đảo... Ngồi chờ tới khi mặt trời lên cao, hai người kêu tính tiền để đi bộ lên Đồi Cù. Nhưng khi Phước cho tay vào túi quần để lấy tiền trả thì anh giật mình, bởi trong túi anh lại có tấm danh thiếp còn nguyên! - Hồi nãy mình đã xé rồi kia mà? Phước tự nhủ và chắc chắn trong túi không phải là tấm danh thiếp đó, tuy nhiên anh không dám móc ra. Thấy anh lưỡng lự, Trâm hỏi: - Anh quên đem theo tiền hả? Phước đành phải nói dối: - Anh quên... Trâm lấy tiền trong túi mình để trả và không quên đùa: - Đi với em thì em còn trả cho, nếu đi với cô nào khác thì có phải quê không? Phước nói cho qua: - Tại hôm qua xài hết tiền mà sáng nay anh quên không lấy thêm. Thật ra trong túi nằm chung với tấm danh thiếp có tiền, nhưng Phước cứ sợ rút ra lỡ kéo luôn cả hai thứ ra thì rắc rối! Trước khi rời quán, Phước lại tìm cách vào nhà vệ sinh: - Anh hơi bị đau bụng, em chờ anh một lát. Vào trong nhà vệ sinh, sau khi gài cửa lại Phước móc tấm danh thiếp ra xem ngay và tái mặt, bởi đúng là tấm danh thiếp của Dã Lan! Đứng ngẩn ngơ một lúc rồi một lần nữa Phước xé vụn tờ giấy ra, anh không kịp bỏ xuống bồn cầu thì bên ngoài đã nghe tiếng gõ cửa và giọng của Trâm rất khẽ: - Em cũng đau bụng, mau lên cho em vào. Phước đành phải ném mẩu giấy vụn trong tay qua ô cửa sổ thông hơi ra ngoài mà anh biết đó là mặt hồ. Mở cửa ra trong dáng điệu lúng túng, cũng may là lúc ấy Trâm đang vội, bước ra hẳn ngoài sân rồi Phước mới trấn tĩnh lại. Anh lẩm bẩm: - Sao lại có chuyện lạ thế này? Hay là... Tự dưng anh toát mồ hôi, nỗi sợ hãi len vào chẳng khác nào như anh đang đối mặt với một hồn ma ghê gớm trước mắt! Phải đến khi Trâm bước ra thì Phước mới cố lấy lại bình tĩnh, anh kéo cô đi ngay: - Mình về em. Anh cảm thấy khó chịu quá... Quả lúc ấy sắc mặt Phước xanh xao, phờ phạc. Trâm phải lên tiếng: - Anh có cần đi bệnh viện không? Nhìn anh kìa... Phước xua tay: - Không cần. Mình về đi em! Phước lái xe lảo đảo như người say rượu, phải khó khăn lắm hai người mới về tới nhà. Nhưng vừa bước vào cửa thì bà chủ nhà đã nói: - Có người nào đó ở Sài Gòn lên, nói là tìm cô Ngọc Trâm. Phải cô là Ngọc Trâm không? Tôi không nhớ rõ lắm nên bảo họ chờ, nhưng họ nói vội quá nên đưa cái địa chỉ này bảo cô về thì tới ngay, họ cần gặp gấp lắm! Cầm tờ giấy lên, Trâm đọc cho Phước cùng nghe: - Đường liên xã Đông, Trại Hầm. Vừa nghe đến đó Phước đã không dừng được, kêu lên: - Sao lại là Trại Hầm? Bỗng dưng Trâm cũng sợ hãi cuống cuồng lên: - Em phải đi ngay! Phước hốt hoảng: - Để anh cùng đi với. Nhưng Trâm đã nghiêm giọng: - Anh đang bệnh không đi được. Để em tự lái xe, chuyện này cần lắm. Cô không chờ Phước đồng ý, đã giằng lấy chìa khóa xe rồi ra nổ máy vọt đi rất nhanh. Khi ra đến ngoài rồi Trâm mới bình tâm lại, cô hơi mất tự chủ, lẩm bẩm: - Tại sao mình lại đi? Ai ở địa chỉ này vậy? Thật ra Trâm không hề quen ai ở địa chỉ đó cả. Mà cuối thư cũng không ký tên... vậy mà vừa đọc thư xong Trâm đã quýnh lên, như bị ai thôi thúc, ép buộc! Do không biết đường nên Trâm phải hỏi ba bốn lượt, cuối cùng mới tìm được hướng về Trại Hầm. Địa chỉ mà Trâm tìm được lại đúng là ngôi nhà của... Dã Lan! Nhưng khi cô xuống kêu cửa thì không phải bà cụ hôm qua đón Phước, mà là một cô gái rất đẹp. Vừa trông thấy Trâm cô ta đã reo lên: - Cô rất đúng hẹn! Trâm được mời vào trong nhà và cô gái chủ động tự giới thiệu: - Tôi là Dã Lan. Còn cô là Ngọc Trâm? Trâm ngạc nhiên: - Sao cô biết tôi? Và lý do mời tôi tới đây là gì? - Cô không ngại tôi nói thật? - Ủa, chưa biết sự thật mà cô nói sẽ ra sao thì việc gì phải ngại? Cô muốn nói về cái gì mới được? Cô nàng tự xưng là Dã Lan nói rõ từng tiếng một: - Tôi muốn cô đến gặp một người. Người đó hiện nay chồng cô đang đau đầu vì cô ta, mà không khéo anh chàng Phước đó sẽ là nạn nhân tiếp theo! Tôi và cô tuy chưa quen biết nhau nhưng biết cô sắp gặp nguy nên ra tay cứu. Cô tin lời tôi không? Trâm hơi giật mình, nhưng vốn tính ngang bướng, không thích bị hù dọa, cho nên cô hỏi lại: - Cô nói tôi đang gặp nguy? Mà cụ thể thế nào? Cô ta lấy từ cái túi vải bên cạnh một túi nhỏ, đưa ra cho Trâm xem: - Cô xem bộ đồ này có đẹp không? Nhìn bộ đồ ngủ bằng lụa của phụ nữ, Trâm ngạc nhiên: - Đồ của ai vậy? Mà tại sao cô lại đưa cho tôi xem làm gì? - Tôi không nói ra đồ này là của ai, vì người nói cho cô biết sẽ không phải là tôi. - Vậy là ai? Nàng ta cười khó hiểu: - Rồi cô sẽ biết. Trâm thấy thái độ úp mở của cô ta thì bực dọc, đứng lên ngay: - Tôi tưởng cô là người quen thật sự của tôi, kêu tôi tới đây bởi chuyện gì quan trọng, thì ra là một việc tào lao! Vậy tôi xin kiếu! Trâm dợm bước ra thì chợt nghe câu nói: - Tôi muốn cô gặp một người tên là Hồng Hạnh, một cô gái dang đe dọa tới hạnh phúc giữa cô và người cô đang yêu! Trâm quay lại, tròn mắt kinh ngạc: - Cô muốn nói... chồng tôi và cô gái ấy? Nàng ta cười khẩy: - Điều đó chính cô gặp rồi nhận xét thì chính xác hơn là nghe tôi nói! Cô cứ giữ lấy bộ đồ này đem về đưa cho chồng cô xem và hỏi nó là của ai, lúc ấy cô sẽ nghe anh ta nói! Đó, sau khi anh ta xác nhận rồi chính anh ta sẽ chỉ cho cô nơi nào để cô gặp tình địch của mình. Dứt lời ấy, cô nàng bước trở vào nhà trong và thật lâu sau chẳng thấy trở ra. Đợi mãi, Trâm sốt ruột, lúc này cô mới đảo mắt quan sát một vòng ngôi nhà. Đến khi mắt chạm vào tủ thờ, nhìn thấy bức ảnh chân dung trên đó thì tim cô muốn nhảy ra ngoài! - Cô... cô ta... là... Giữa người thật bên ngoài vừa rồi và người trong ảnh chỉ là một! Vậy ra... Trâm muốn kêu lên, nhưng hầu như cô không còn đủ lực để làm. Toàn thân cô lúc này mồ hôi toát ra như giữa trưa hè ở một vùng oi bức, dù bây giờ là mùa thu của Đà Lạt sương mù! Lâu lắm sau đó Trâm mới lên tiếng được: - Cô ơi! Nhưng cũng chỉ kêu được mấy tiếng đó rồi thôi. Trâm cố lắm rồi ôm bộ đồ và chạy biến ra ngoài cổng... Lái xe trong trạng thái còn tệ hơn Phước lúc sáng, Trâm về được tới nhà thì quá đỗi ngạc nhiên khi nghe bà chủ nhà bảo: - Cậu Phước vừa đón xe đi ra ngoài, nói là đi tìm cô! Trâm mệt lả người nhưng vừa nghe thế, cô đã la lớn: - Nguy rồi, anh tới đó sẽ chết mất! Bà chủ nhà không hiểu chuyện gì, hỏi lại: - Cô nói ai chết? - Anh Phước của cháu! Bác ơi, cháu mệt quá không thể trở lại đó, vậy bác giúp cháu, đi kêu Phước về liền! Không thì... Trâm chỉ nói được bấy nhiêu đó rồi đổ người xuống sàn nhà. Bà Ánh Hồng hốt hoảng đỡ cô lên định vực vào phòng thì Trâm kịp tỉnh lại, cô nói qua hơi thở gấp: - Đó là... là ma! Bà Ánh Hồng tưởng Trâm mê sảng nên nói càn, bà hỏi lại: - Cô nói cái gì? - Ma! Cô ấy là ma! - Cô nào? - Dã Lan! Nói xong câu ấy thì hầu như Trâm chẳng còn biết gì nữa. Bà Ánh Hồng làm nhiều cách mà Trâm cũng không tỉnh lại, nên bà ta đành đỡ cô lên ghế dài nằm để chờ Phước về. Bất chợt nhìn thấy trong tay của Trâm đang ôm bộ quần áo lụa, bà ta khiếp hãi kêu lên: - Bộ đồ của Hồng Hạnh! Đang lịm người đi, vậy mà vừa nghe tiếng Hồng Hạnh tức thì Trâm chồm dậy ngay, cô ngơ ngác hỏi: - Hồng Hạnh ở đâu? Bà Ánh Hồng ngạc nhiên: - Cô cũng biết cô Hồng Hạnh? - Hồng Hạnh! Tìm cho tôi Hồng Hạnh! Gào lên to quá nên Trâm bị mệt, lại rơi vào trạng thái nửa mê nửa tỉnh như lúc nãy. Lúc này bà Ánh Hồng cầm bộ đồ lên xem, bà run thấy rõ, lắp bắp một mình: - Bộ đồ này... thứ này chỉ hại thôi! Mà sao bảo cậu Phước vứt đi rồi mà giờ nó lại ở đây? Tại sao cô này lại có nó? Bà nhớ lần rắc rối trước nên sợ bộ đồ đó lắm, nhìn nó như thấy ma! Thuận tay, bà ném mạnh nó ra cửa sổ. Nhưng đột nhiên có một tiếng kêu thét lên bên ngoài, hướng bộ quần áo vừa bị ném! Lúc bà nhìn ra thì hốt hoảng, bởi con chó già vốn thường xuyên nằm ngủ ở gốc cây mận đã bị bộ đồ rơi trúng và... nó đã vỡ óc ra chết tại chỗ, chẳng khác bị vật nặng trăm cân đè phải! Thất thần, bà Ánh Hồng vừa chạy lui vào nhà, vừa run rẩy: - Trời ơi! Cậu... cậu Phước ơi! Bà chạy được tới ngang cửa phòng thì ngã sấp ở đó... *** Phước về tới nhà thì trời đã tối hẳn, Anh bước vào phòng khách thì vô cùng ngạc nhiên khi chẳng thấy đèn đóm gì cả, mà cửa nẻo lại mở toang. Khi bật đèn lên thì anh hốt hoảng khi thấy Trâm nằm trên ghế dài, bất động! - Trâm! Em sao vậy? Phước lay mãi mà Trâm vẫn không tỉnh, anh vội bế cô lên phòng riêng. Mở được cửa phòng trong lúc phải bế nặng trên tay, nên Phước không kịp bật đèn, anh đã đưa thẳng Trâm tới giường. Đặt Trâm nằm xong, Phước mới trở ra bật đèn sáng lên. Và... - Kìa! Lúc này trên giường không phải mỗi Trâm, mà còn có thêm một người nữa! Một cô gái lạ cực kỳ xinh đẹp, đang nằm thoải mái như trong phòng riêng của cô ta! - Cô là... - Là ai phải không? Người tới để đòi lại bộ quần áo bỏ quên! Phước thót tim: - Hồng Hạnh! Người đang nằm trên giường bật ngồi dậy, vừa chỉ tay vào Trâm: - Cô người yêu của anh đang tìm tôi để hại đó? Tôi cứ tưởng anh là người tốt nên mới rủ tới ở đây, và còn chỉ cho mộ của một người mà tôi đang có mối bận tâm... Nào ngờ lại nuôi ong tay áo, anh rước cô nàng này tới để cô ta nhận lời kẻ khác, rắp tâm hại tôi! Phước ngơ ngác: - Cô nói chuyện gì tôi không hiểu? - Vậy bộ đồ của tôi đâu? Phước lúng túng: - Tôi... tôi để trong phòng, rồi... - Rồi đem giao cho con Dã Lan phải không? Bởi vậy nên cả hai người đều tới lui nhà con đó thường xuyên! - Không! Tôi chỉ... - Có! Đừng chối! Tiếng nàng ta quát quá lớn, khiến Trâm bừng tỉnh. Cô ngơ ngác: - Anh nói chuyện với ai vậy? Phước điếng hồn, anh lắp bắp: - Anh... anh chỉ... Nhưng nhìn lại thì chẳng còn thấy cô gái lạ đâu? Cũng vừa lúc Trâm bật ngồi dậy, cô nhìn quanh và la lên: - Anh dẫn ai vào phòng này phải không? Rõ ràng còn mùi thơm phụ nữ ở đây nè... mùi thơm này em thấy quen lắm... Đúng rồi, đây là mùi của bộ quần áo lụa mà em đem về! Phước càng sợ hãi thêm: - Em... em đem bộ quần áo gì? Câu hỏi của Phước vừa dứt thì đột nhiên từ ngoài cửa sổ một vật bay vào, rơi ngay trước mặt hai người. Nhìn lại, Phước kêu lên: - Bộ quần áo! Thì ra đó là bộ đồ mà bà Ánh Hồng mới vứt ra ngoài lúc nãy. Vừa thấy nó, Phước đã định nhào tới chụp lấy, nhưng đã bị Trâm ngăn lại: - Bởi vậy cô ấy mới nói là cứ đem nó về đây thì biết nó là của ai. Thì ra là của anh! - Không! Anh chỉ... Biết máu ghen của Trâm cỡ nào rồi, nên Phước vội kể liền mọi chuyện. Tuy vậy xem ra Trâm vẫn chưa tin. Cô gặng hỏi lại: - Không biết gì về cô ấy sao anh theo dõi làm gì? Phước thành thật: - Anh cũng chẳng hiểu sao lại như vậy? Hình như anh bị ai sai khiến hay sao đó... Kể cả việc anh mạo hiểm vào nghĩa trang cũng không do tự anh... Trâm đâu biết chuyện bộ đồ gây ra cái chết của con chó lúc nãy, nên cô chụp nó lên và gí vào mũi của Phước: - Anh xem, có phải mùi thơm của nó giống như mùi vừa rồi không? Phước đành phải thú thật: - Thì cô ấy vừa mới ở trong này! Trâm ngơ ngác: - Là sao? Anh nhân lúc em bị ngất rồi đưa cô ta vào phòng phải không? Trời ơi! Phước hốt hoảng: - Làm gì có! Cô ta... hiện ra! Trâm giật mình: - Cô... cô ta là... ma? Tuy không rõ lắm, nhưng Phước vẫn gật đầu: - Chắc là vậy! Lời Phước vừa dứt thì từ ngoài cửa sổ vang lên giọng của cô gái: - Đã cầm bộ đồ đó mà không mặc vào thì không khỏi mạng vong! Trâm ngang bướng: - Ai thèm mặc đồ của người khác! Hai tiếng bốp chát vang lên trước sau, trong lúc Phước giật mình thì Trâm lảo đảo, ôm lấy mặt và rú lên! Dòng máu từ trong khoé miệng cô tuôn ra. Phước hốt hoảng: - Sao vậy? Trâm tru tréo: - Sao anh đánh em? Phước lắc đầu nguầy nguậy: - Làm gì có! Anh có đánh em đâu? Lại hai cái tát tiếp theo khiến Trâm ngã chúi xuống giường, lần này thì cô tin là không phải do Phước gây ra. Và cũng là lúc cô thất sắc: - Vậy là... là ai đó đã đánh em! Phước đoán được sự việc, anh lớn tiếng khấn: - Tôi xin lỗi các cô, vợ tôi có lỡ lời, nhưng cô ấy không ác ý. Xin hãy tha cho... - Mặc vào đi! Trâm trở nên ngoan ngoãn lạ thường, cô thay đồ ngay trước mặt Phước mà không thấy ngượng. Lạ hơn nữa là bộ quần áo của Hồng Hạnh mà Trâm mặc vào lại vừa y. Phước phải buột miệng khen: - Đẹp lắm! Thấy ở túi áo có vật gì phồng lên, Trâm đưa tay rút ra một chiếc khăn tay trắng, trên đó có viết một dòng chữ bằng mực đỏ: Tới ngay địa chỉ này và làm đúng những gì người ta yêu cầu! - Đưa anh xem, cái gì vậy? Phước giằng lấy, nhưng khi anh cầm trên tay nhìn thì chẳng thấy chữ gì trên đó! Chính Trâm cũng ngạc nhiên: - Chữ mới còn đây mà? Cả hai nhìn nhau và tự dưng thấy rùng mình. Trâm run giọng: - Em sợ quá... chắc là em không đi đâu! Lời cô vừa dứt thì lại bị ngay hai cái tát nữa đau điếng! Nỗi sợ hãi đã lên tới cực điểm, Trâm nói gần như van lạy: - Tha cho tôi, tôi sẽ làm theo... Cô đưa mắt nhìn Phước như cầu cứu. Phước cũng chỉ biết nói: - Em nhớ địa chỉ không, anh sẽ đưa em tới đó. Phần III Dò theo địa chỉ ghi trong khăn tay, Phước lái xe vòng mấy lượt mà vẫn chưa tìm ra. Sau cùng anh phải dừng xe lại hỏi một bác đánh xe ngựa: - Bác làm ơn chỉ giúp cháu đường Đợi Chờ là ở đâu? Nghe Phước hỏi, ông lão đánh xe phá lên cười: - Ai cho cậu cái địa chỉ này đúng là muốn thử trí thông minh của cậu rồi. Bởi ở thành phố này làm gì có tên đường đó! Trâm buột miệng: - Vậy chẳng lẽ địa chỉ ma sao? Ông lão đáp: - Địa chỉ không ma, nhưng đó là nơi ở... của ma! Ông lão lại phá lên cười rồi mới nói tiếp: - Địa chỉ thì đúng, nhưng cái tên đường thì người ta muốn đánh đố cô cậu. Vậy cô cậu có muốn tới đó không? Trâm mau miệng: - Dạ muốn, cháu phải tới! Ông già nghiêm giọng: - Đó là nghĩa địa thành phố. Nơi đó còn được người ta gọi vui là "Thành phố đợi chờ", cô cậu hiểu rồi chứ! Đáp xong, ông ra roi cho ngựa chạy nhanh, Phước nhìn Trâm vừa lẩm bẩm: - Anh đã tới đó rồi. Nơi đó có mộ cô Dã Lan... Lát sau, Phước dừng xe trước cổng vào nghĩa địa, anh nhìn địa chỉ ghi ở cổng thì quả đúng như ông đánh xe ngựa vừa rồi nói. Lưỡng lự một lát, chính Trâm đã giục: - Mình vào trong coi! Phước miễn cưỡng bước theo với đầu óc hoang mang. Trâm hình như có người dẫn đường, cô đi thật nhanh và thỉnh thoảng còn quay lại giục: - Anh đi nhanh lên! Đã mấy lượt đi vòng nghĩa trang này nên Phước không khó để đi theo, nhưng việc Trâm đi sâu vào tận cùng khu vực có những dãy mộ làm cho anh phải lên tiếng: - Em đi chi sâu quá vào đây vậy? - Tìm chỗ của cô Hồng Hạnh! Lúc này từ phía sau nhìn tới, thấy Trâm trong bộ đồ lụa của Hồng Hạnh tự dưng Phước có cảm giác đó chính là Hạnh chứ không phải Trâm! Cho đến khi Trâm đứng lại trước một ngôi mộ thì Phước mới giật mình: - Mộ này là... Anh chưa hỏi hết câu thì Trâm đã tránh sang một bên để Phước nhìn rõ được chữ trên mộ bia: Nguyễn Thị Hồng Hạnh, tử ngày... Phước kêu lên: - Cô ấy được chôn ở đây! Trâm vẫn thản nhiên như đã biết rồi: - Chỉ có anh là tin cô ấy còn sống thôi. Bây giờ anh giúp em đi. Phước ngạc nhiên: - Làm gì? Trâm đột ngột quỳ xuống trước mộ. Thấy Phước còn đứng, cô giục: - Nhanh lên! Phước ngạc nhiên: - Sao phải quỳ? Bỗng như có ai cầm cây đánh mạnh vào khủy chân, khiến cho Phước không muốn cũng phải quỳ xuống thật nhanh! Trâm nhìn sang anh rồi gật đầu: - Như vậy là được đó! Giọng của cô nàng bỗng dưng rất lạ, Phước phải lên tiếng hỏi: - Sao giọng em không như... em vậy? - Là sao? Vậy em giống ai? Phước cố nhớ xem mình đã từng nghe giọng này của ai? Cuối cùng anh nhớ ra: - Hồng Hạnh! - Người nằm dưới mộ bây giờ là... Ngọc Trâm của anh đó! Hãy khấn cô ấy vài tiếng, xin phép để chúng ta được thành thân từ hôm nay. Nhanh lên đi kẻo không kịp! Phước còn chưa biết tính sao thì như có ai xúi giục, anh lên tiếng như con vẹt: - Chúng tôi xin thề là ăn đời ở kiếp với nhau, có chết cũng không chia lìa! Nàng quay sang mỉm cười: - Vậy là được rồi! Nàng cũng nói: - Cám ơn. Trâm đã giúp tôi thoát được nạn tai này. Từ bây giờ tôi mượn xác của cô để hoàn dương và sẽ thay cô để chăm sóc cho anh chàng người yêu của cô chu đáo. Bảo đảm là ngày trước anh ta mê cô bao nhiêu thì với tôi, anh ta sẽ có mê hơn chứ không kém. Nói xong, nàng ta ngả đầu sang Phước, rồi như cái xác không hồn, cô ta nằm luôn trên tay Phước. Hốt hoảng, Phước kêu lên: - Trâm! Em sao vậy? Nàng vẫn bất động, sờ vào da thì lạnh như băng! Phước quýnh lên, bế xốc nàng lên tay chạy thẳng ra ngoài cổng. Nhưng khi ngang qua ngôi nhà quản trang thì anh nghe có tiếng gọi của ai đó: - Cậu đưa cô ấy vào trong này, chậm một chút là nguy! Phước đành phải đưa Trâm vào trong. Ngôi nhà của ông quản trang nhỏ, nhưng cũng có một chiếc giường nằm ở bên trong. Khi Phước đặt Trâm nằm xong rồi, ông già quản trang mới gọi anh ra ngoài, ông nói: - Sao cậu dám đưa người yêu vào đó. Cậu không biết đó là mộ của ai sao? Phước vờ như không biết: - Dạ, tụi cháu chỉ tình cờ đi thăm mộ người quen, rồi đi ngang qua... - Mộ đó là của cô gái từng dính vào một vụ thảm sát trên đồi thông cách đây chưa lâu, cậu không nghe? Phước lắc đầu: - Dạ, cháu ở xa tới nên không biết gì. - Đó là cô Hồng Hạnh, một trong hai cô do hiềm khích riêng nên đã dẫn nhau lên đồi thông ở gần hồ Tuyền Lâm rồi quần thảo, cho đến khi say máu, ôm cứng lấy nhau và cùng lăn xuống vực sâu, cùng chết! Ngừng kể một lúc, rồi ông lại tiếp: - Khi ấy tôi đi đốn cây ở đó, tình cờ tôi phát hiện ra vụ việc, tôi cố leo xuống vực để cứu họ, nhưng khi xuống tới nơi thì đã muộn, cả hai đã chết! Sau đó tôi theo giấy tờ tùy thân của cả hai, tìm cách đi báo cho gia đình họ biết để đến lấy xác. Nhưng chỉ có mỗi cô kia, tức cô Dã Lan, thì có người nhà ở Trại Hầm là tới nhận xác con rồi đưa về làm lễ an táng. Cô còn lại tuy có giấy tờ tên Hồng Hạnh, nhưng khi tôi tới địa chỉ ghi trong giấy thì người ta nói cả nhà cô ấy đã dọn đi từ lâu rồi! Bí quá nên sau đó tôi đưa về nghĩa trang và chôn bên cạnh ngôi mộ của cô Dã Lan vừa mới chôn, nghĩ là làm như vậy sẽ ổn, bởi đã chết cùng nhau thì nằm cạnh nhau là phải. Nào ngờ đó lại là một rắc rối lớn, khiến tôi phải mất ăn mất ngủ nhiều ngày! Ông ta kể mà cứ rùng mình hoài, Phước phải hỏi: - Có chuyện gì sao? - Nửa đêm khi tôi đang ngủ thì nghe tiếng quần thảo nhau tưng bừng bên ngoài! Tôi mở cửa nhìn ra thì thấy hai cô gái đang nắm tóc nhau đánh đấm không nương tay! Nhìn kỹ tôi ngạc nhiên quá đỗi, bởi họ chính là hai cái xác chết mà tôi thấy bữa trước! Có nghĩa là họ đã đội mồ dậy đánh nhau tiếp. Ông ta lại phải ngừng kể để thở, bởi hình như kể chuyện ấy làm cho ông căng thẳng, phát mệt. Phải một lúc sau ông mới tiếp được: - Mà không phải chỉ một lần đó. Cứ vài đêm thì lại diễn ra một trận như vậy. Hình như giữa họ đã có sự hiềm thù gì đó dữ dội lắm, cho nên khi đã chết rồi mà vong hồn vẫn không từ bỏ chuyện hằn thù! Không để chuyện ấy cứ tiếp diễn, cho nên tôi mới quyết định theo cảm tính, bằng cách bốc một trong hai ngôi mộ đó, đem chôn ở một lô khác. Tôi nghĩ, không cho họ gần nhau nữa thì họ sẽ thôi, không gặp nhau, có nghĩa là thôi không còn đánh nhau! Không ngờ ý nghĩ chủ quan của tôi mà lại đúng. Bởi từ hôm dời mộ cô tên Dã Lan đi thì không còn cuộc đánh nhau nào nữa. Tuy nhiên, vong hồn cô tên Hồng Hạnh ấy dữ lắm, cô ta không chịu yên, cứ đêm đêm thì hiện ra rú vang cả nghĩa địa này như còn ấm ức, uất hận lắm! Bởi vậy cả mấy năm nay rồi, tối nào tôi cũng đặt trước mộ cô ta một bó hoa tươi để cúng! Nhờ vậy mà cô ấy đỡ quậy phá hơn. Nhưng được cô này thì lại chọc giận cô kia! Vong của cô Dã Lan lại hiện về đòi tôi phải cho cô ta một bó hoa lay-ơn màu vàng, tôi đành phải làm theo... Phước buột miệng: - Thảo nào trên mộ cô ấy ngày nào cũng có một bó lay-ơn vàng tươi thắm! - Trên mộ cô Hồng Hạnh cũng có một bó hoa hồng vàng, nhưng chẳng hiểu sao bó hoa trên đầu mộ cô tên Hạnh thì vừa để là bị mất! Tới nay tôi còn thắc mắc... Ông quản trang vừa nói tới đây thì bỗng Trâm trở người, kêu ú ớ gì đó trong miệng, khiến Phước phải kề tai sát lại, vừa hỏi: - Em tỉnh rồi phải không? Giọng không phải của Trâm rót vào tai Phước: - Tìm cách giữ chân ông ta ở đây, còn anh chạy nhanh ra chỗ mộ của Dã Lan, lấy bó hoa ở đó qua đặt trên đầu mộ của em. Làm ngay đi thì mới hy vọng em còn được ở bên anh, bằng không... Cô nói tới đó thì có vẻ gấp gáp và sợ hãi lắm, khiến cho Phước phải hành động ngay. Anh giả vờ bảo với ông già: - Cháu bỏ quên món đồ ngoài mộ, bác làm ơn giữ cô ấy giùm, đừng để cô ấy tỉnh lại và chạy đi. Anh không đợi ông quản trang đồng ý đã vụt chạy đi. Anh đã biết mộ của Dã Lan, nên chạy ngay tới đó một cách dễ dàng. Trên mộ quả có một bó lay-ơn như thường lệ. Anh cầm lấy ngay và vòng qua phần mộ của Hồng Hạnh lúc nãy. Vừa đặt bó hoa xuống, bỗng Phước nghe về phía ngôi mộ của Dã Lan có một tiếng rú nghe thê lương lắm! Không dám chần chừ, Phước chạy trở về liền chỗ nhà của người quản trang. Vừa thấy anh, ông ta đã nói liền: - Cô bạn của cậu tỉnh lại rồi, cô ấy đòi đi mà tôi chưa cho! Phước bước vào và đứng khựng lại! Bởi trước mặt anh lúc đó không phải là Trâm nữa, mà là... Hồng Hạnh! - Em... Cô... Cô nàng lấy tay che mặt rồi ra dấu cho Phước đi ngay. Phước phải tìm cách nói: - Tụi cháu cám ơn bác giúp đỡ và xin phép bác. Anh dìu một bên nàng đi nhanh ra cổng nghĩa trang. Họ lên xe chạy đi một quãng khá xa rồi Phước mới thở phào nhẹ nhõm. Anh quay sang nàng, lo lắng hỏi: - Như vậy tôi biết phải nói với bà chủ nhà sao đây? Cô nàng vẫn bình thản: - Có sao đâu! Anh không nhớ là trước đây tôi đã ở trọ đó nhiều tháng mà! Bà chủ đâu có biết tôi là một hồn ma mà lo... - Nhưng... còn người yêu của tôi? Làm sao tôi giải thích với bà ta, cũng như với mọi người... Nàng bỗng phá lên cười: - Khéo lo xa quá! Như thế này được chưa? Nàng nói xong thì Phước đã một phen nữa há hốc mồm: - Cô là... Nàng lại cười: - Vẫn gọi bằng cô sao? Trước mặt Phước lúc này lại là... Ngọc Trâm! Chỉ có giọng là khác. Cô ta dặn: - Em thoát được tai kiếp rồi, nên từ nay có thể sống với anh, lúc thì em là Hồng Hạnh, còn khi cần thì em vẫn là Ngọc Trâm của anh! Phước chỉ len lén nhìn, nhưng anh thấy cô nàng không chút gì khác với Ngọc Trâm. Anh yên tâm nên nói: - Mình về nhà đi. Rồi mai tìm cách dọn đi nơi khác. Nàng ta vẫn giữ ý ban đầu: - Em vẫn thích ở chỗ đó. Chính nơi ấy em đã cải trang ở đó chờ anh và đã quen rồi. Phước trố mắt: - Cô chờ tôi là sao? - Thì em đoán thế nào anh cũng tới, nên mai phục để chờ. Người cõi âm biết trước hết mọi sự việc tương lai. Em còn biết số cô gái tên Ngọc Trâm đã tận, nên mới khiến cô ấy đi tìm anh, để rồi nhờ vậy mà em mới có cơ hội dùng hồn cô ấy mà qua mặt được kẻ thù của em! - Dã Lan phải không? Cô và cô ấy sao lại hận thù sâu nặng như vậy? Cô nàng không đáp mà chỉ tay về bên trái, bảo: - Anh chạy về hướng này đi, mọi việc sẽ rõ thôi. Phước còn đang lưỡng lự thì nàng đã cầm tay lái bẻ ngoặt sang hướng vừa chỉ. Chiếc xe rẽ đột ngột suýt đâm vào lề, nhưng cũng chính cô nàng đã nhẹ nhàng điều chỉnh lại một cách dễ dàng, và cuối cùng chiếc xe đi về hướng đường mòn đến hồ Tuyền Lâm. Tới trước một ngôi nhà nằm khuất sâu trong một vườn cây trĩu quả, nàng nói như ra lệnh: - Anh cho xe vào trong rồi đậu lại. Phước làm theo và sau khi tắt máy xe, anh lại nghe nàng bảo: - Anh vào nhà đi. Nàng đi trước và biến vào nhà thật nhanh Phước lững thững theo sau. Khi vào tới trong thì không thấy cô nàng đâu, chỉ thấy một phòng khách nhỏ, bày biện đơn sơ nhưng tươm tất. Và ngay hình ảnh đầu tiên đã làm cho Phước sửng sốt: - Hồng Hạnh! Một ảnh chân dung của Hồng Hạnh đặt trên bàn thờ ở giữa nhà khiến Phước sững sờ, anh quay lại tìm Hồng Hạnh thì chẳng thấy đâu, mà gọi thì cũng chẳng nghe cô ta trả lời. Trong lúc còn đang hoang mang thì từ phía sau lưng Phước đã có người lên tiếng: - Nó đi rồi, đâu còn mà tìm! Phước quay lại và ngỡ ngàng khi thấy một người đàn bà lớn tuổi, bà ta chỉ lên bàn thờ, nói tiếp: - Cậu biết rồi, nó đã chết và người đi với cậu vừa rồi chỉ là cái vong của nó trong thân xác một người khác. Mà điều đó thì chỉ xảy ra bên ngoài, chứ ở đây là nhà của nó thì làm sao thân xác ấy hiện hữu được. Bà cụ tuy lớn tuổi, có vẻ lụ khụ, nhưng nói năng lưu loát và sắc sảo. Phước hơi lúng túng: - Dạ, cháu mới cùng cô ấy tới đây. Cô ấy vừa bước vào nhà... - Nó đi ngay rồi. Bây giờ cậu ngồi xuống đi. Điều nó muốn cậu biết là ở đây, tôi sẽ giúp cậu. - Thưa bác, bác là... - Tôi là mẹ nó. Nó là con gái út của tôi. - Dạ, cháu xin chào bác, cháu là Phước. Thật ra cháu không phải là bạn trai của cô Hạnh, mà là... Bà cụ chặn lời: - Cậu không nói thì tôi cũng đã biết. Con gái tôi tuy chết rồi, nhưng vẫn như sống, nó sống để báo thù! Phước đã nghe Hồng Hạnh nói, nên anh chen vào: - Nếu vậy thì mọi việc đã xong rồi! Cô ấy đã làm được việc mà lâu nay vẫn chưa làm. Cô Dã Lan đã bị... Bà cụ giật mình: - Cậu biết cả chuyện đó? Vậy mà lúc nãy nó không nói gì với tôi cả đã bỏ đi. Rồi bà như được dịp trút nỗi niềm bấy lâu nay giữ trong lòng: - Nó đang tuổi thanh xuân, lại còn đang yêu nữa, vậy mà bị chết tức tưởi, chết oan ức bởi giành nhau một người tình! Mà đứa giành với nó lại là chị em cùng cha khác mẹ của nó mới oái oăm chứ! Lần đầu được nghe chuyện này, và mặc dù không muốn can dự vào mối thâm thù giữa họ, nhưng anh cũng tò mò: - Bác nói vậy thì ra Hồng Hạnh và Dã Lan là hai chị em ruột? Bà già giọng vẫn gay gắt: - Tuy mang tiếng là chị em, nhưng tụi nó chỉ mới biết nhau chưa đầy một tháng thì xảy ra chuyện, mà là chuyện động trời nữa! Tội cho con Hạnh nhà tôi, nó từ nào chưa từng yêu ai, chỉ mới gặp và yêu thằng ấy là lần đầu, vậy mà lại gặp bất hạnh ngay! Thấy bà có vẻ cởi mở muốn trút nỗi niềm, nên Phước khơi gợi: - Người yêu cô Hạnh ở đâu, làm nghề gì thưa bác? Anh ta là ai? Bà cụ nhẹ lắc đầu: - Tôi cũng chưa gặp mặt lần nào, mới chỉ nghe nó nói lại. Nhưng tôi biết nó yêu thằng ấy say đắm. Thằng ấy là kiến trúc sư, nghe nói đẹp trai lắm, có lẽ cỡ như cậu đây. Người ở Sài Gòn lên đây... Nó tên là... Đức. Tên đầy đủ là Phước Đức! Bà vừa nói tới đây thì Phước như giẫm phải lửa: - Bà nói gì? Phước Đức ư! Bà già đột nhiên đứng dậy và bước vào phòng trong, lát sau trở ra trên tay cầm một tấm ảnh bán thân, đưa cho Phước: - Hình này là người yêu con Hồng Hạnh. Mà sao... giống cậu quá! Phước cầm lấy bức ảnh, vừa nhìn anh đã bàng hoàng kêu lên: - Anh Đức! Rồi cả người Phước run lên như bị trúng gió! Khiến bà già cũng phải sửng sốt: - Cậu làm sao vậy? Phước nói như mê sảng: - Sao lại là anh? Sao anh có trong chuyện này? Lúc này bà già mới nhìn kỹ Phước hơn, bà cũng giật mình kêu lên: - Đúng là thằng này rồi! Bà giật lại tấm ảnh trên tay Phước, bước tới đặt nó lên bàn thờ Hồng Hạnh, vừa khấn: - Con sống khôn thác thiêng về đây chứng kiến, hôm nay đứa gây ra tội đã tới nhà ta để đền mạng! Con hãy nói cho mẹ biết, mẹ phải làm gì đây? Phước cũng nhào tới chỗ bàn thờ, anh sụp xuống lạy liền mấy lượt vừa tha thiết: - Cả nhà khổ sở vì mất anh. Đi tìm anh khắp nơi cúng vái đủ thầy mà không có hiệu quả gì, nào ngờ anh lại ở đây! Sao anh không về anh Hai? Phước vừa dập đầu lần thứ nhất thì đã nghe văng vẳng bên tai một giọng nói thật quen thuộc cất lên: - Họ tưởng anh là người tên Đức nên mới kéo anh vào vụ này. Họ giành người yêu là anh Đức của anh đó. Bây giờ và mãi mãi về sau, anh sẽ ở đây, làm rể nhà này và đâu còn nhớ gì tới em nữa, hả Phước! Giọng nói đó là của Ngọc Trâm! Ngỡ nàng đứng bên cạnh mình, Phước quay lại nhìn, nhưng không hề thấy ai. Mà hình như những lời nói vừa rồi cũng chỉ đủ mình anh nghe thôi. Bà cụ vẫn bình thản đứng im, không có phản ứng gì. - Trâm! Bất giác Phước kêu to lên! Và điều đó khiến cho anh bị bật ngửa ra sau, cùng lúc có một tiếng khóc thét lên và câu nói trong tuyệt vọng của Trâm: - Hãy cưới em đi! Chỉ có vậy chúng ta mới được bên nhau. Anh sống mà em cũng được sống! Hãy làm ngay đi... Rồi im bặt. Hình như trong cõi vô hình Ngọc Trâm đang bị ai đó lôi tuột đi. Tiếng nấc của nàng xa dần... xa dần... *** Người đánh xe ngựa dừng lại trước nhà bà Ánh Hồng, ông gọi vào trong: - Bà chủ ơi, ra mà nhận người đây! Bà Ánh Hồng đang tưới cây ở sân, vội bước ra cổng, và giật mình khi thấy trên xe có một người nằm, mà người đó lại là Phước! - Kìa, cậu Phước! Ông lão đánh xe nói: - Tôi đi ngang qua khu nghĩa địa cũ phía tây thành phố bỗng gặp cậu này nằm bên vệ đường. Tôi dừng xe lại thì chỉ nghe cậu ta thều thào mấy tiếng, nói địa chỉ nhà bà, rồi sau đó anh ta ngất lịm luôn. Tôi chở thẳng về đây xem bà có nhận anh ta không? Bà Ánh Hồng hốt hoảng: - Nhận chứ. Cậu ấy ngụ ở đây mà. Anh tiếp đưa giùm cậu ta vào nhà đi. Trời ơi, sao ra nông nỗi này! Ông lão đánh xe ngựa vừa tiếp đưa Phước vào nhà, vừa nói: - Cái nghĩa địa này bây giờ không chôn người mới chết nữa, toàn là những mồ mả cũ nhưng nhiều ma lắm, cứ ra nhát thiên hạ hoài. Chẳng hiểu sao cậu này lại tới đó làm gì cho đến nông nổi này! Bà Ánh Hồng hoảng sợ: - Cậu ta tới nghĩa địa đó sao? Ông lão lắc đầu tiếp lời: - Tôi không tận mắt thấy cậu ấy vào nghĩa địa, nhưng vùng đó đâu có nhà ai, mà nằm trước cổng nghĩa địa thì không vào đó chứ đi đâu? Rồi ông kể lể: - Mà sao lúc này mấy người trẻ sao thích vào nghĩa địa quá. Mới mấy bữa trước đây có một cô gái cũng kêu tôi chở tới nghĩa địa mới bên phía đông, nơi người ta gọi là Thành phố Đợi Chờ, chẳng biết để làm gì mà tới thật sớm rồi vào đó mãi chẳng trở ra! Bà Ánh Hồng than thở: - Cậu này mướn nhà ở đây cùng với người yêu, sáng nay hai người đi ra ngoài và đi biệt. Tôi chờ hoài không thấy về. Bây giờ ra nông nỗi này, rồi cô người yêu ở đâu, ra sao chẳng biết? Thấy để Phước nằm giữa phòng khách hơi kỳ, bà nhờ ông đánh xe: - Đã giúp thì anh giúp cho trót rồi tôi trả tiền công cho luôn, anh làm ơn đỡ cậu ấy lên phòng riêng giùm. Họ đưa Phước lên phòng trên lầu. Vừa mở cửa phòng ra thì bà Ánh Hồng đã hoảng hốt kêu lên: - Kìa, cô Trâm! Thì ra Ngọc Trâm đang nằm yên trên giường như đang ngủ. Vừa nghe kêu lớn, cô bật dậy ngơ ngác: - Ủa, chuyện gì vậy bà chủ? Chợt nhìn thấy Phước, cô thảng thốt: - Kìa, anh! Đang mê man, bỗng Phước choàng tỉnh, anh mở mắt ra và không nói năng gì, chỉ ôm chầm lấy Trâm, không muốn rời ra. Bà Ánh Hồng lên tiếng: - Cô cậu đi đâu mà mỗi người một nơi! Trong lúc cậu đang lạc ở nghĩa địa, còn cô thì về đây lúc nào tôi không hay? Nỗi bàng hoàng vẫn còn nơi nét mặt của Trâm, nhưng được hơi ấm từ vòng tay của người yêu, cô dần trấn tỉnh lại, lẩm bẩm: - Qua rồi... qua cơn ác mộng rồi... Bà Ánh Hồng nghe không rõ nên hỏi lại: - Cô nói gì? Trâm siết chặt Phước vào lòng, như sợ anh biến mất: - Con cứ ngỡ anh ấy mất luôn rồi! Trời Phật còn thương chúng con... Lúc này Phước mới lên tiếng: - Có phải là... em đây không, Ngọc Trâm? - Là em. Chính em đây! Đúng là giọng nói của Trâm, chứ không phải xác nàng mà hồn Hồng Hạnh như trước. Phước mừng quá: - Đúng là em rồi! Thôi, chúng ta mau rời khỏi chỗ này đi em! Trâm nói rất khẽ đủ cho anh nghe: - Chưa đi được. Bởi hiện nay tuy thoát được về cùng anh, nhưng em vẫn còn bị nhốt ở cõi âm. Em chưa tới số chết, nên dẫu có bị bắt hồn, em vẫn còn cơ hội đoàn tụ cùng anh, nếu anh cưới em ngay bây giờ! Hãy làm lễ cưới em đi, như vậy họ sẽ không bắt hồn em đi luôn. Hãy thực hiện đi anh! - Nhưng họ là ai? Nàng đáp nhanh như sợ có người nghe: - Hai cô gái đó, anh không nhớ sao? - Dã Lan và Hồng Hạnh. - Đúng là họ rồi. Họ là hai chị em cùng cha khác mẹ, tình cờ yêu chung một người con trai mà người đó lại là người anh ruột lưu lạc của anh. Sau khi sát hại lẫn nhau, họ vẫn tiếp tục tranh giành người yêu. Họ gặp anh tưởng anh là người con trai ấy nên họ muốn thủ tiêu để độc quyền chiếm đoạt anh. Một trong hai người họ sắp thực hiện được tham vọng của mình, nhưng cũng may anh nhìn được bức ảnh của người anh, anh nói ra sự thật, lúc đó cô Hồng Hạnh mới hoang mang, điên tiết lên, cô ấy đánh đập vong hồn em, đuổi em đi, nhờ vậy mà em mới thoát ra được! Hãy cưới em ngay đi, có như thế họ mới để cho chúng ta yên bên nhau. Em biết chắc như vậy... Phước quay sang năn nỉ bà chủ nhà: - Bác giúp tụi cháu với! Bác đứng ra làm chủ hôn cho đám cưới tụi cháu, bác nhé! Bà Ánh Hồng nhẹ gật đầu: - Được rồi! Gì chứ chuyện này thì tôi sẵn sàng. *** Phước và Trâm cứ nghĩ là đám cưới vội của mình chỉ là hình thức để che mắt người cõi âm và tổ chức đơn sơ thôi, nào ngờ bà Ánh Hồng đã làm thật rình rang! Ngoài một số khách riêng của bà chủ nhà lại còn có nhiều người từ Sài Gòn lên! Hỏi họ làm sao biết chuyện mà có mặt thì hầu hết đều đáp như nhau: - Có người điện thoại báo tin là bọn này kéo lên ngay! Giữa buổi lễ bỗng xuất hiện hai người phụ nữ lớn tuổi mà vừa trông thấy họ, Trâm và Phước đã hốt hoảng: - Sao... sao họ cũng có mặt! Hai người đó là bà mẹ của Dã Lan và bà mẹ Hồng Hạnh! Họ chẳng những xuất hiện một lượt mà còn tay nắm tay, cùng bước tới trước mặt cô dâu chú rể để cùng lên tiếng: - Chúc mừng cho hai cháu! Phước lắp bắp: - Sao... sao hai bác... Bà mẹ Hồng Hạnh lên tiếng trước: - Tụi tôi tới để đem con mình về. Bởi hai đứa nó đã hiểu, mà chúng tôi cũng hiểu: Hạnh phúc chỉ tới đúng người đáng được hưởng nó. Con chúng tôi đã yêu lầm và đưa tới một kết cục bi thảm thì phải gánh chịu. Việc lôi kéo cô cậu vào vụ này là xằng bậy, không thể được! Bởi vậy chúng nó đã quyết định từ nay trả lại những gì cô cậu vốn có. Chúng nó sẽ đi tìm người con trai kia, anh của cậu... Phước buột miệng: - Anh cháu đã mất tích từ lâu. Có thể cũng đã chết. Như vậy các cô ấy tìm trong thế giới cõi âm của mình ắt gặp! Hai bà mẹ nói một câu mà cả bà chủ nhà và cô dâu chú rể đều giật mình: - Cho chúng tôi lên đưa xác con chúng tôi về! Họ nói xong thì đi thẳng lên lầu, vào phòng riêng của Phước và Trâm. Cả hai hốt hoảng chạy theo, cả bà chủ nhà nữa. Khi mở cửa phòng ra thì họ đều sửng sốt, bởi có hai xác chết nằm sóng đôi giữa phòng. Cả Trâm và Phước đồng kêu lên: - Hồng Hạnh! Dã Lan! Hai xác chết là của hai người con gái mà suốt mấy ngày qua đã gây bao phiền phức cho họ, nên giờ đây nhìn thấy sự hiện diện của họ trong phòng mình, cả hai đã hốt hoảng và quýnh lên: - Làm sao bây giờ bà chủ? Nhưng hai bà mẹ đã rất bình tĩnh lên tiếng: - Không sao cả. Chúng tôi tới đây là để mang chúng về. Chúng cùng xuất hiện như vậy là chứng tỏ chúng thôi thù hận nữa rồi. Bởi dẫu sao chúng cũng là chị em ruột thịt với nhau... Họ nói xong thì đưa tay chạm vào hai thi thể. Bỗng dưng hai cái xác vụt tan biến và chỉ còn lại trên tay mỗi bà mẹ một đóa hồng vàng và một đóa lay-ơn màu hoàng anh! Lẳng lặng rời lễ cưới, hai bà quay lại chúc: - Chúc cô cậu trăm năm hạnh phúc! Rồi như sương khói, họ tan biến vào không trung... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 26
HAI NẤM MỒ TRONG NGÔI NHÀ CỔ - Phần I Nhận được tin chú mình mất đã hơn hai tháng mà Hoàng chưa thể về được, do kẹt kỳ thi tốt nghiệp, đồng thời do đường sá quá xa xôi. Cho đến hôm nay mới leo lên máy bay về nước, Hoàng bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm với ông chú ruột mà Hoàng thương như cha. Bởi cha mất sớm, nên suốt quãng đời thơ ấu của Hoàng hầu như gắn bó với chú và sự lớn lên của anh, cũng như xuất ngoại du học cũng là một tay ông chú này. Bởi vậy khi hay tin ông mất mà mình về không được Hoàng đã ray rứt suốt cả tháng trời sau đó. Hơn năm tiếng đồng hồ ngồi máy bay, vậy mà vừa xuống ở phi trường, Hoàng đã thuê xe về ngay quê nhà, nơi cách thành phố đến hơn trăm cây số. Người tài xế cũng ái ngại giùm Hoàng: - Bây giờ đã hơn 8 giờ tối rồi, sao cậu không nghỉ ở khách sạn rồi mai hãy về sớm? Hoàng cười nhẹ: - Tôi có việc gấp. Anh tranh thủ ngả lưng ra băng ghế, cố chợp mắt một lát. Nhưng chỉ được vài mươi phút thì chợt giật mình, bởi chiếc xe thắng gấp, kèm tiếng càu nhàu của người tài xế. - Bộ điên chắc! Hoàng mở mắt ra hỏi: - Có chuyện gì vậy anh? Chỉ tay về phía lề đường, bác tài xế đáp: - Tôi không thắng kịp thì cô ta đi đời rồi? Thoáng thấy một bóng người mặc chiếc áo dài trắng đứng bơ vơ bên vệ đường, Hoàng ngạc nhiên: - Cô gái đó? - Cô ta từ trong lề đã bất thần lao ra chặn trước đầu xe mình, nếu tôi thắng không kịp thì không biết chuyện gì đã xảy ra! Hoàng chưa kịp có ý kiến gì thì đã thấy cô gái tiến đến gần bên xe, nói gì đó lí nhí mà trong xe Hoàng không nghe rõ. Anh hỏi: - Cô ấy nói gì vậy? Bác tài có vẻ không hài lòng: - Cô ấy xin quá giang xe. Nhìn ra thấy cô gái đang xách trên tay chiếc va-li lớn, có vẻ nặng, Hoàng tỏ ra thương cảm: - Chắc cô ta về xa mà đón không được xe hay gì đó... Bác tài lắc đầu nguầy nguậy: - Thời buổi này hơi sức đâu mà tin mấy cô này cậu ơi! Bọn lừa đảo nhiều chiêu lắm... Nhưng Hoàng đã đột nhiên quyết định: - Anh cứ hỏi xem cô ta về đâu? Và không đợi bác tài xế hỏi, Hoàng đã kéo kính gió xuống, ló đầu ra hỏi: - Cô muốn đi nhờ? Cô gái mừng rỡ: - Dạ, em về Vĩnh Long, mà giờ này không còn xe. Em đón hoài không ai cho quá giang. Em thân gái không biết phải làm sao... Hoàng nhìn cô nàng, mặc dù trời tối, nhưng cũng nhận ra nét duyên dáng, trong sáng của một nữ sinh, anh nói liền: - Tôi cũng về Vĩnh Long, vậy cô cứ lên đi, xe còn rộng. Hoàng quay sang nói với bác tài: - Cứ cho cô ấy quá giang, mình giúp đỡ nhau mà. Bác tài vẫn làu bàu: - Cậu rước phiền phức cho coi... Nhưng Hoàng cương quyết: - Tôi không ngại, anh cứ chở. Đích thân Hoàng bước xuống mở cửa xe và mời: - Cô lên ngồi phía sau với tôi. Mình là đồng hương mà. Cô gái hơi ngượng khi phải ngồi chung với người lạ, nhưng Hoàng đã trấn an: - Tôi đi du học mới về, tôi quen cách xử sự của phương Tây, nên cô đừng ngại. Ngồi chung mà hồn riêng thì đâu việc gì phải sợ! Thấy Hoàng vui vẻ nên cô gái cũng bước lên ngồi bên trong. Hoàng bảo tài xế: - Anh cho va-li cô ấy ra thùng xe cho gọn. Lúc đầu bác tài không có cảm tình với cô nàng, nhưng khi đã nhìn rõ mặt cô ta thì anh chàng lái xe hơi giật mình, cô ta đẹp và hiền quá, nên anh lại có cảm tình. Sau khi cho va-li vào thùng xe xong, anh tài xế còn hỏi: - Cô đón xe bao lâu rồi? - Dạ, hơn một tiếng đồng hồ mà chiếc xe nào cũng từ chối! Mà nào em có quá giang không đâu... Không hiểu ý cô nàng, Hoàng hỏi lại: - Cô nói thế là sao? Anh tài xế phải giải thích giúp: - Cô ấy nói mình quá giang có trả tiền đàng hoàng! Hoàng nhìn sang cô ta và giật mình trước nhan sắc mà anh không ngờ! Anh buột miệng: - Cô... cô là... - Em là Ngọc Hà. Em đi học ở Sài Gòn, nay nghỉ hè về quê. - Vừa rồi cô nói là quá giang xe có trả tiền, vậy nếu tôi nói tôi không muốn người đi chung mà trả tiền cho người cho mình quá giang thì cô nghĩ sao? Cô nàng vẫn bình tĩnh chớ không chút gì lúng túng: - Đó là em nói với những người từ chối cho mình quá giang, chớ còn... như xe này thì có cho vàng em cũng không dám nghĩ vậy! Cách ăn nói dạn dĩ của cô gái đã khiến Hoàng cảm thấy gần gũi hơn, anh hỏi: - Em nói ở Vĩnh Long mà cụ thể là ở đâu? - Dạ, ở ngay thị xã, cách chừng hơn cây số. Hoàng reo lên: - Gần vườn nhãn Thầy Tiêu không? Cô gái ngạc nhiên: - Anh cũng biết nơi đó? Hoàng cười: - Bởi vườn nhãn Thầy Tiêu là đất nhà tôi! Lần này đến phiên cô gái reo lên: - Vậy liền nhà nhau rồi! Hỏi ra thì mới biết cô gái có nhà ở sát bên đất vườn nhà của Hoàng. Tuy đi học xa lâu ngày mới về một lần, nhưng Hoàng cũng còn nhớ có lần anh nhìn thấy ngôi nhà ngói lớn bên cạnh, thì ra là nhà cô gái này: - Đúng là quả đất tròn rồi! Mà sao lâu nay tôi chưa từng gặp cô lần nào? - Em cũng thỉnh thoảng mới về. Câu chuyện của họ càng lúc càng thân tình, sôi nổi. Hoàng tỏ ra hào hứng khi nghĩ kỳ nghỉ hè này sẽ có được một người bạn mới ngay cạnh nhà. Anh đề nghị: - Tuần này Ngọc Hà có rảnh không? Mình tổ chức một chuyến đi dọc sông Cổ Chiên, qua bên kia cồn chơi cho vui? Cô nàng có vẻ tư lự: - Chuyện này... để em tính đã. Em sẽ trả lời anh Hoàng ngay ngày mai thôi. Bởi em về còn có một ít việc... - Cũng được, mình còn tới mấy tháng hè mà. Xe vừa qua bắc Mỹ Thuận thì cô gái xin xuống: - Em ghé nhà ngoại em rồi chiều mới về nhà. Nhà ngoại em ở cầu Trường An đây, xin chú tài xế làm ơn ngừng ở đây. Cô xuống xe rồi mà Hoàng vẫn còn nhìn theo, cho đến khi bóng cô ta khuất sau hàng cây ven đường. Bác tài xế hình như thông cảm với vị khách của mình: - Cô ấy đẹp quá hả thầy! Hoàng cũng buột miệng: - Đẹp thật! - Thầy đúng là có số hên! Hoàng ngạc nhiên: - Số hên gì anh? - Thì hên nên mới cho người quá giang đẹp cỡ đó. Nhìn sang băng ghế bên cạnh phát hiện chiếc áo khoác cô nàng bỏ quên, Hoàng kêu lên: - Cô ấy quên cái áo rồi! Bác tài rất rành tâm lý nên nói: - Con gái mà quên đồ khi ngồi với trai, một là do quá hồi hộp, lúng túng, hay là cố ý... mà như vậy thì thầy Hai có cớ để gặp lại cô ta chứ! Xe về đến nhà đã khá khuya, nhưng Hoàng vẫn bảo người tài xế dừng lại trước ngôi nhà của Ngọc Hà để quan sát khá kỹ. Tuy là sát ranh nhau, nhưng cổng ra vào nhà này lại ở hướng khác, nên từ nhà chú Hoàng mà muốn sang đây phải đi vòng một quãng đủ mỏi chân. - Nhà cô ấy đó! Hoàng nói đột ngột nên người tài xế nghe không hiểu, anh ta hỏi lại: - Vào nhà này hả thầy? Hoàng chỉ tay tới trước: - Nhà kia. Việc Hoàng về lúc nửa khuya làm cả nhà anh vừa mừng vừa ngạc nhiên. Thím Ba Hoàng trách: - Sao về nước mà con không đánh điện về báo trước, để cả nhà lên Sài Gòn đón! Hoàng chỉ tay sang người tài xế: - Có chú này đón là đủ rồi! Rồi anh bảo: - Đã quá khuya rồi, anh ngủ lại rồi sáng về sớm. Bác tài khoái thác: - Mới hơn mười giờ mà ăn thua gì, tôi quen chạy xe đêm rồi nên về giờ này mát. Vả lại sáng mai tôi còn có mối đi Vũng Tàu gấp. Thôi, xin cám ơn thầy Hai và xin kiếu. Anh ta vừa lùi xe ra cổng bỗng chợt nhớ ra, kêu lên: - Còn chiếc va-li của cô ấy! Hoàng hốt hoảng: - Ờ, lúc nãy cô ấy xuống xe mình quên nhắc! Bà thím Ba Hoàng ngạc nhiên: - Có cô nào vậy con? Hoàng vừa tiếp nhận chiếc va-li do anh tài xế mở thùng xe đưa cho, vừa ngượng nghịu đáp: - Dạ... một cô quá giang dọc đường. Một cách vô tình, người tài xế nói: - Cô ấy nhà ở cạnh đây mà lo gì, ngày mai thế nào cô ấy chẳng qua lấy. Bà thím càng thắc mắc thêm: - Ai mà ở cạnh nhà con? Hoàng đành phải nói thật: - Cô gái ở nhà cạnh đất mình đây, gặp con ở dọc đường, cô ấy quá giang xe... Bà thím tròn xoe mắt: - Con nói... đứa nào? Ở nhà nào? - Dạ, ngôi nhà ngói lớn sát ranh đất mình đây! - Nhà Huyện Thời? - Dạ, con không rõ, nhưng cô ấy nói ngôi nhà sát đất mình, mà ở cạnh đây thì chỉ có đúng ngôi nhà ngói này thôi. Cô ấy tên Ngọc Hà! Bà thím run thấy rõ: - Trời ơi... sao lại có chuyện này? Sao lại... Bà kêu với vào trong nhà: - Con Ngọc đâu, ra má bảo! Ngọc là con gái lớn của chú thím Hoàng, tuy gọi Hoàng bằng anh, nhưng tuổi thì lớn gần gấp đôi. Từ trong bước ra, cô mừng khi thấy Hoàng: - Anh Hoàng về nãy giờ mà em bị bệnh không ra được. Có chuyện gì vậy anh Hoàng? Bà thím hỏi liền: - Con còn nhớ con Ngọc Hà con Huyện Thời nhà ở cạnh mình không? Ngọc đáp ngay: - Sao không nhớ má, dẫu nó chết cách đây gần chục năm rồi, nhưng thời con gái con với nó chơi thân nhau mà! Hoàng cười lớn: - Cô em lớn xác của tôi ơi, không phải cô Hà đó đâu! Cô này chỉ khoảng mười tám đôi mươi thôi? Ngọc gân cổ cãi: - Nếu là con ông Huyện Thời thì chỉ có mỗi con Hà đó, nó bằng tuổi em mà! Trong lúc Hoàng còn đang ngơ ngác thì bà thím Ba tiếp bằng giọng run run: - Con lâu về đây nên không biết, ông Huyện Thời chỉ có đứa con gái duy nhất tên là Ngọc Hà, con nhỏ xinh đẹp nhất vùng này nên nhiều người theo đuổi, nhưng nó chưa chịu lấy ai thì bỗng lăn đùng ra chết khi mới vừa học xong tú tài! Nó chết rồi nhà ông Huyện tuyệt nòi luôn, bởi chỉ sau đó hai năm thì cả vợ chồng ông Huyện cũng đua buồn mà chết theo. Thế rồi... Bà xúc động không kể tiếp được, Ngọc phải bổ sung: - Còn hai người anh của Ngọc Hà nữa, nhưng ảnh làm ăn ở Sài Gòn, nghe nói chơi bời trác táng lắm nên không bao giờ về quê, do vậy ngôi nhà lớn của ông bà Huyện từ đó hầu như bỏ hoang luôn. Lâu rồi chẳng thấy có ai léo hánh nên xứ này người ta hầu như quên bẵng nó. Hoàng vẫn chưa tin đó là sự thật: - Để sáng mai tôi đi hỏi kỹ lại coi quanh đây còn ngôi nhà ngói nào nữa hay không. Có thể có và cũng có một cô Ngọc Hà khác nữa... Ngọc cười, lắc đầu: - Nguyên cả vùng này chỉ có nhà mình và nhà Huyện Thời là nhà ngói thôi. Anh có kiếm đỏ con mắt giờ cũng chẳng ra ngôi nhà thứ ba! Hoàng bí quá phải đưa chiếc áo khoác ra nói: - Đây là áo của cô ấy bỏ quên trên xe của anh. Còn đây nữa, chiếc va-li này cũng của cô ấy. Lúc này Hoàng mới để ý trên chiếc va-li có đính theo một cái thẻ, trên thẻ có ghi họ tên và địa chỉ. Cúi xuống đọc xong Hoàng kêu lên: - Nè, em đọc coi có phải rành rành tên, địa chỉ của "Lê Thị Ngọc Hà, xóm Thị, xã Hàng Thái (biệt thự Huyện Thời)" Cả Ngọc và thím Ba đều ngơ ngác: - Sao có chuyện này được! Thím Ba còn nói thêm: - Hồi đám tang con Ngọc Hà thím có dự nữa mà. Mồ mả dòng họ đó vẫn còn chôn trong đất nhà, sát ranh mình đây, nếu cần thì mai mốt con qua đó mà coi! Ngọc nhận xét: - Em nghi đứa con gái nào đó nó thấy anh đi xe hơi, tướng tá bảnh bao nên bày trò gạt anh đó! Hoàng ngẩn người ra một lúc rồi lẩm bẩm: - Không thể... Anh đem chiếc va-li về chỗ ngủ của mình mà vẫn luôn nghe lời bình phẩm phía sau lưng của Ngọc: - Mấy chàng công tử dáng đẹp trai, con nhà giàu, lúc nào cũng bị con gái bám theo! Hoàng muốn cãi nhưng lại thôi. Với anh, cách tốt nhất là trực tiếp điều tra sẽ hay hơn... Ngọc còn nói với theo lúc Hoàng bước vào căn phòng dành cho anh: - Căn phòng đó cửa sổ nhìn thẳng qua bên mấy cái mả của nhà ông Huyện Thời, trời sáng trăng có thể nhìn thấy dễ dàng! Hoàng không hứng thú gì chuyện đó, nhưng những lời của Ngọc cũng khiến anh không tài nào ngủ được. Anh cũng không thể nào không tò mò với chiếc va-li của cô nàng. Sau vài phút lưỡng lự, Hoàng thử bấm chốt khóa và mở được liền. Va-li không khóa. Những gì bên trong khiến Hoàng ngẩn người ra. Toàn quần áo mặc trong nhà. Tất cả hầu như còn mới và chỉ một màu trắng tinh khiết. Hương thơm dịu nhẹ nhưng sức lan tỏa thì vô cùng... Hoàng như bị ngất ngây với mùi hương kỳ lạ đó... *** Cuối cùng thì Hoàng cũng toại nguyện. Anh đã đột nhập được vào ngôi nhà cổ bên cạnh. Đây là ngày thứ ba anh về đây, và phải khó khăn lắm trước sự dặn dò và theo dõi của bà thím anh cũng như cô em quá tò mò. Họ lúc nào cũng nhắc đi nhắc lại: - Đừng bao giờ dại dột tìm cách vào ngôi nhà hoang đó nghe chưa! Tuy tỏ vẻ nghe theo, nhưng đã hai ngày qua, lúc nào Hoàng cũng tìm cách để tiếp cận cho được ngôi nhà. Thật sự Hoàng không hề nghi ngờ gì về cô gái tên Ngọc Hà. Với anh, những chuyện có tính cách ma quái, hoang đường ấy chẳng qua kể để nghe cho vui. Chứ những gì anh đã thấy, đã gặp mới đáng tin. Nhất là cái va-li quần áo, nó là bằng chứng sống cho thấy người mặc những quần áo đó không thể nghi ngờ gì, cô ta là một cô gái bằng xương bằng thịt bình thường như mọi người! Điều này chính linh tính nhạy bén của Hoàng đã cho anh biết như vậy. Sáng nay, Hoàng phải tìm cách nói với bà thím là anh đi qua làng bên cạnh thăm mấy người bạn cũ, phải chiều mới về. Nhờ vậy anh mới rời khỏi nhà mà không có sự tò mò của Ngọc. Hoàng phải thật sự đi một quãng đường trên năm sáu cây số, rồi lén quay lại bằng đường tắt, để rồi lẻn vào ngôi nhà qua cổng phía sau, tức cách xa ranh đất của nhà chú thím Ba. Nghĩ là nhà không có ai ở, nên Hoàng cứ đủng đỉnh đi từ phía bên này sang bên kia và sau cùng đi thẳng vào nhà lớn. Phải công nhận là ngôi nhà còn lớn rộng và bề thế hơn nhà của chú Ba. Tuy đã cũ và lâu không có người ở, nhưng toàn bộ ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn và bên trong không có vẻ gì là hoang phế. Bước tới đâu Hoàng cũng tỏ ra tiếc rẻ, anh thầm nghĩ, một ngôi nhà như thế này mà không có người ở thật là uổng. Đặc biệt là khi đến trước một căn phòng để hé cửa, Hoàng đã phải dừng lại, bởi có hương thơm nhẹ nhàng từ trong tỏa ra, khiến Hoàng phải buột miệng: - Hương thơm này! Anh thấy nó giống y như mùi thơm từ quần áo trong rương của cô gái! - Cô Ngọc Hà ơi! Hoàng bật lên tiếng kêu mà không kịp suy nghĩ. Vì anh, chắc chắn người mang mùi hương đó là Ngọc Hà! Cánh cửa bỗng mở rộng ra mà chẳng thấy ai mở. Vừa khi ấy, có một giọng nói vừa đủ nghe phát ra từ bên trong: - Ai tới thì bước vào, chứ tôi không thể ra ngoài được... Giọng nói có vẻ mệt nhọc và hụt hơi. Hoàng hơi sửng sốt nhưng chỉ thoáng qua, rồi anh lấy lại sự gan lì cố hữu, bước hẳn vào phòng. Đến lúc này thì Hoàng sững sờ trước căn phòng bài trí hài hòa, ấm cúng. Một căn phòng của người sống đang ở, Hoàng nghĩ như vậy! - Đóng cửa lại, bởi tôi đang bệnh không chịu được tiếng ồn bên ngoài. Tôi cũng sợ ánh sáng nữa. Lúc này Hoàng mới đánh bạo hỏi: - Bà là chủ ngôi nhà này? Tại sao bên ngoài hoang phế mà trong này lại... Một tiếng thở dài tuy nhỏ nhưng Hoàng vẫn nghe. Tiếp theo là giọng nói lúc nãy lại cất lên: - Cậu đi tìm một cô gái phải không? Hoàng đáp nhanh: - Dạ đúng. Bà đây là... - Tôi thì không quan trọng. Con gái tôi mới đáng nói... - Vậy ra cô Ngọc Hà là con gái của bà? Một tiếng reo khẽ: - Đúng là cậu rồi! Con Hà nó dặn phải là người biết được tên nó thì mới cho vào đây. Mà sao tới bữa nay cậu mới sang? - Ngọc Hà đâu rồi bác? - Nó chờ cậu hai ba ngày rồi, bữa nào cũng ngồi trong phòng này chờ cho tới chiều tối... Hoàng sốt ruột: - Cô ấy biết nhà cháu mà, sao không qua bên đó hỏi. Cháu cũng chờ... - Nó có qua hai ba lần, nhưng người ta không cho gặp, khiến cho con nhỏ về ngồi than vắn thở dài, bởi bao nhiêu quần áo nó để quên trong va-li, làm hai hôm nay phải mặc quần áo giặt đi giặt lại. Hoàng hốt hoảng: - Vậy để cháu về lấy đem qua ngay! - Khoan đã. Nó đi qua ngoại nó rồi, chiều mới về. - Bên Trường An? Hoàng vẫn muốn chạy về lấy chiếc va-li, nhưng người đàn bà trong phòng vẫn cố giữ anh ở lại: - Cậu đã sang rồi thì hãy ngồi lại đây, tôi cần nói chuyện với cậu. Và không đợi Hoàng hỏi thêm, bà ta đã chủ động nói tiếp: - Cậu muốn hỏi sao mẹ con tôi lại ở trong ngôi nhà hoang này chứ gì? - Dạ... - Nhưng cậu vào đây có thấy nó có đúng là nhà bỏ hoang không? - Dạ không. Cháu đang thắc mắc điều đó... Một tiếng thở dài nữa, lần này nghe rõ hơn, hình như bà ta đến gần hơn với tấm màn che ngang căn phòng mà người bên ngoài không nhìn thấy bên trong. Giọng hơi khó nghe hơn, nhưng vẫn đủ cho Hoàng hiểu được những gì bà đang nói: - Mẹ con tôi là hai người cuối cùng còn lại của dòng họ danh giá và cũng lắm tai tiếng này. Chỉ bởi... Bà ngừng lại một lúc khá lâu rồi mới tiếp: - Chỉ bởi tôi mắc chứng bệnh nan y... Hoàng bật kêu lên: - Thì ra... - Nhưng cậu đừng lo. Bệnh tôi nan y, nhưng không lây, do vậy... Hoàng cải chính liền: - Dạ ý cháu không phải vậy. Cháu chỉ muốn biết có phải vì chuyện này mà bác giấu tông tích mình với mọi người không? - Gần như vậy. Nhờ thế mà lâu nay tôi được ở yên. Chỉ phiền là mỗi lần con tôi về thăm là nó phải trốn tránh mọi người, không dám ra ngoài. Bà lại ngừng nói, mất thêm mấy chục giây nữa, rồi tiếp bằng giọng trách móc: - Tôi chẳng hiểu giữa cậu với con gái tôi quen thân thế nào mà nó lại chỉ cho cậu nơi ở này. Đây đâu phải là nơi người như cậu tới. Nhất là cậu lại là con của người bên cạnh nhà... Cậu là thế nào với cô Ngọc bên đó? - Bác biết em họ cháu? Bỗng người bên trong tấm màn thảng thốt kêu lên: - Cậu là con của... Biện lý Vĩnh? Nghe bà ta gọi đúng tên cha mình, Hoàng quá đỗi ngạc nhiên: - Ba cháu chết lâu rồi, sao bác biết ba cháu? - Trời ơi... Một tiếng kêu thảng thốt từ bên trong khiến cho Hoàng hốt hoảng, suýt nữa anh đã vén màn chạy vào rồi. Cũng may người kia ngăn kịp: - Cậu không được vào đây! Tôi hỏi lại, có đúng cậu là con của Hai Vĩnh không? - Dạ đúng. Cháu là đứa con duy nhất của ba cháu. Ông ấy chết lúc cháu mới lên hai tuổi, nên cháu được chú Ba cháu nuôi cho ăn học. Cháu đi học xa nên ít khi về quê, do đó ít quen biết ai ở đây. Cháu cũng chỉ quen Ngọc Hà mới đây thôi, trong lúc cô ấy quá giang xe cháu. - Vừa rồi cậu nói gì? Ba cậu... - Dạ, ba cháu mất cách đây đã bảy tám năm rồi, mất ở bên Pháp. - Cái gì, Hai Vĩnh đi Pháp hồi nào? - Dạ, ba cháu đi một lượt với cháu. Qua Pháp được hai năm thì ông ấy mất trong một tai nạn giao thông. Chôn ở bên Pháp. - Trời ơi! Lần này tiếng kêu trời nghe não lòng hơn, rồi sau đó là tiếng bật khóc và nấc lên từng hồi. Hoàng hoang mang quá, anh chờ một lúc rồi mới dám lên tiếng hỏi: - Bác làm sao vậy? Có cần... Giọng bà ta tỏ ra khá mệt: - Cậu về đi Nếu tiện thì lúc nào đó cậu mang giùm cái va-li của Hà qua đây. Cậu cứ để ngoài cửa cũng được không cần vào. Tôi cám ơn cậu... Sau câu nói đó hầu như Hoàng không còn nghe bất cứ động tĩnh nào bên trong, cánh cửa phòng ngoài nãy do tự anh đóng lại, bỗng nhiên mở ra từ từ như người mở. Hoàng giật mình nhìn lại thì chẳng thấy ai ở cửa, anh lên tiếng trước khi bước lùi ra: - Cháu xin phép về. Rồi cháu sẽ mang va-li qua ngay. Vẫn không nghe trả lời. Khi Hoàng vừa bước ra khỏi cửa thì cánh cửa tự động khép lại. Ngôi nhà trở lại vẻ u tịch vốn có của nó. Hoàng ra về bằng cửa lúc vào, nhưng anh hơi bất ngờ khi cánh cổng đó đã bị ai khóa lại rồi! Loay hoay mãi, cuối cùng Hoàng mới tìm được một lối ra khác, mà khi lọt được ra ngoài rồi anh vô cùng ngạc nhiên, bởi chắn ngang lối ra là một nghĩa địa gia tộc, mà từ đó Hoàng có thể nhìn thấy nhà chú thím mình chỉ cách một hàng rào tre! Đúng như Ngọc đã nói đêm trước, đây là nơi chôn cất nhà Huyện Thời. Trong số năm ngôi mộ có một ngôi mà vừa nhìn thấy Hoàng đã buột miệng kêu lên: - Ngọc Hà! Nếu không được nghe Ngọc nói trước thì chắc là Hoàng đã sửng sốt đứng tim! Anh cúi xuống nhìn kỹ và đọc được dòng ghi ngày tử: 14 tháng 4 năm Ất Sửu... Nhẩm tính xong, Hoàng lẩm bẩm: - Như vậy là đã hơn năm năm rồi... Không thể nào! Hoàng còn đang ngẩn ngơ nhìn ngôi mộ thì từ bên kia hàng rào tre có tiếng gọi lớn: - Anh Hoàng, sao anh ở bên đó? Hoàng nhìn lên thì thấy Ngọc và thím mình đang tròn xoe mắt nhìn sang. Anh lúng túng: - Con... con sang... Ngọc gọi giật: - Anh về nhà liền đi, có khách ở Sài Gòn ngồi chờ bên nhà nè! Hoàng ngạc nhiên: - Khách nào? Anh đâu có quen ai ở Sài Gòn đâu? Thím Ba cũng giục: - Người ta chờ hơn nửa tiếng rồi, con mau về đi! Hình như họ sợ hãi lắm khi thấy Hoàng đứng giữa mấy ngôi mộ. Ngọc bảo: - Hay anh vạch rào đi tắt về cho nhanh! Hoàng không muốn kinh động trong nhà, nên anh chấp nhận sự đi tắt không đàng hoàng đó. Khi anh về được bên nhà mình thì Ngọc nói: - Lối đó là của mấy con chó chạy qua lại lâu ngày thành đường đi, nhưng đâu ai dám qua bên đó! Thím Ba trách: - Sao con qua đó một mình làm gì? Hoàng đành phải nói: - Con tính kiếm cô gái ấy để trả lại chiếc va-li. Cũng may là gặp... Cả thím Ba và Ngọc đều sửng sốt: - Gặp ai? Hoàng chợt nhớ là mình chưa tiện nói ra những gì vừa gặp, anh nói lảng sang chuyện khác: - Ai đợi vậy? Ngọc chỉ tay vào nhà: - Một cô gái, nói là bạn của anh, cổ ngồi đợi lâu lắm rồi, em có nói là chưa biết lúc nào anh về thì cô ấy bảo đợi tới giờ nào cũng được! Hoàng bước nhanh vào nhà, nhờ vậy tránh được câu trả lời cho thím Ba. Vừa bước vào tới phòng khách, anh đã phải kêu lên: - Kìa, Ngọc Hà! Phần II Người khách đang ngồi đó chính là cô gái quá giang xe, là Ngọc Hà! Cũng may là lúc đó không có thím Ba và Ngọc sau lưng, nên sự sửng sốt của Hoàng và câu nói của cô gái không ai nghe được: - Anh đừng gọi em là Ngọc Hà, em chỉ nói là bạn ở Sài Gòn về, anh cứ gọi em là Thủy, Ngọc Thủy. Em muốn gặp anh có chút chuyện rồi đi ngay, không phải bận tâm. Không kịp hỏi nguyên do thì Ngọc đã bước ra, cô mau miệng nói: - May cho cô, chứ ông anh của em mà đi thì như chim trời cá nước, đâu biết giờ về! Thôi, hai người cứ ngồi nói chuyện, để em đi làm cơm đãi khách. Cô gái vội xua tay: - Dạ, xin cám ơn, em có việc phải đi ngay. Em ghé chỉ để lấy cái va-li bỏ quên hôm trước, không kịp ăn cơm đâu. Ngọc tròn mắt ngạc nhiên: - Sao bữa trước anh Hoàng nói va-li này là của... cô Ngọc Hà nào đó? Cô gái gỡ bí cho Hoàng: - Có lẽ anh Hoàng nhớ lộn, va-li này là của em. Anh Hoàng anh cho em lấy va-li đi, xe đang đợi em ở ngoài lộ cái. Hoàng nhìn cái nháy mắt kín đáo của cô nàng, anh không nói gì thêm, đi vào phòng lấy chiếc va-li. Nhận xong, nàng ta cáo từ đi ngay. Lúc này Hoàng buộc phải chạy theo, nhưng nàng ta đi thật nhanh, mới đó mà đã biến mất sau lùm cây. Cố chạy theo một đoạn thì màu áo trắng của cô hình như lẩn khuất vào vòng rào nhà Huyện Thời... Hoàng ngẩn người ra khá lâu, mãi đến khi nghe tiếng Ngọc sau lưng: - Cô ấy đẹp quá trời luôn! Sao anh không ga lăng, chạy theo xách nặng giùm cho người ta! Hoàng cười gượng: - Nàng ta đi nhanh quá tôi chạy theo còn không kịp nữa là... Tuy cố tránh mà cũng không khỏi sự tò mò của Ngọc: - Cô ấy là ai mà sao anh không giới thiệu gì hết. Người đẹp và dễ thương cỡ đó xứ mình may ra mới chỉ có con Ngọc Hà ngày xưa... Hoàng nhìn sững Ngọc: - Cô nói Hà nào? - Thì Ngọc Hà con gái ông Huyện Thời, bạn của em ngày xưa. Hồng nhan bạc phận, chứ nếu không thì... Khi sắp vào tới nhà, Ngọc chợt kéo Hoàng đứng lại: - Chắc anh không biết chuyện giữa ba anh với cô Ngọc Hà đó? Hoàng như bị điện giật, anh lay vai Ngọc: - Cô nói gì, nói lại tôi nghe coi nào? - Chuyện này má không cho nói, nhưng thấy anh quan tâm đến bên nhà Huyện Thời nên em nói riêng cho anh nghe. Ngày xưa, lúc bác Hai, tức ba anh còn đây thì giữa hai người có mối quan hệ... - Hai người nào? - Thì... bác Hai với con Ngọc Hà! Chợt nhớ lại mấy tiếng kêu trời lúc nãy của người đàn bà giấu mặt trong ngôi nhà cổ, Hoàng sững sờ: - Có... có chuyện ấy sao? Ngọc vẫn tiếp tục kể: - Bác Hai lớn hơn cô ấy đến gần ba chục tuổi, lại người đã có vợ con, cho nên rắc rối mới xảy ra. Cuối cùng bác Hai phải bỏ lên Sài Gòn, rồi ở đây Ngọc Hà thất tình, phát điên và... Ngọc còn đang kể dở dang thì từ trong nhà thím Ba gọi vọng ra: - Cơm khét hết rồi, con khỉ này đâu rồi? Ngọc vụt chạy vào nhà, nói với lại: - Để chiều em kể tiếp cho nghe! Hoàng vẫn còn bàng hoàng: - Sao lại có chuyện này? Sao lại... Hoàng không thể nào quên tiếng kêu thảng thốt của người đàn bà trong ngôi nhà hoang kia. Bất giác anh thốt lên: - Không lẽ bà ấy là... Rồi trước sự ngạc nhiên của Ngọc, Hoàng chạy một mạch về hướng ngôi nhà cổ... Anh tìm ra lối vào không khó như lúc đầu, nhưng do quá nóng lòng nên Hoàng có cảm giác là bước chân mình còn quá chậm... Cuối cùng, Hoàng cũng lọt được vào trong. Khác với lần đột nhập lúc nãy, lần trở qua này Hoàng tìm mãi không ra căn phòng mà anh đã vào và gặp người đàn bà giấu mặt kia. Có đến bốn năm gian phòng, cái nào cũng giống nhau và đều khóa kín cửa, Hoàng có muốn gõ cửa gọi thì cũng không dám. Anh tần ngần khá lâu rồi quyết định gõ đại vào cửa một căn phòng mà anh nhớ mang máng là phòng lúc nãy. Nhưng không có ai lên tiếng. Chợt anh giật mình quay lại nhìn, bởi đâu đó còn phảng phất mùi hương như mùi quần áo trong chiếc va-li... Không lẽ gõ hết cả mấy căn phòng? Hoàng đi lần về cuối nhà, bỗng anh nghe bên trong căn phòng bên tay phải có một âm thanh gì đó lọt ra ngoài... - Tiếng khóc! Rõ ràng là bên trong có tiếng khóc rất khẽ vọng ra. Mà không phải là một, hình như có đến hai người cùng khóc! Hoàng không dám thở mạnh, anh áp sát tai vào để cố nghe cho rõ hơn. Đến khi xác định là bên trong có người đang khóc thì Hoàng cố nghe cho được những gì họ nói. Nhưng tuyệt nhiên không có tiếng nói nào khác ngoài tiếng nức nở... Chờ một lúc lâu bỗng có một tiếng thét từ bên trong: - Má! Rồi thôi, không có gì tiếp theo, lúc này Hoàng không còn kiên nhẫn nữa, anh tông mạnh cửa vào, cánh cửa bật ra. Và... đúng là căn phòng hồi nãy, nhưng bây giờ tấm màn ngăn ngang đã được kéo qua, để lộ ra hai cái mộ xây nằm song song nhau, và bên thành một ngôi mộ đang mở nắp có một cô gái đang phủ phục, vừa cất tiếng khóc, cả thân người run run... - Ngọc Hà! Tiếng tông cửa chưa làm cho cô gái bật dậy, nhưng khi Hoàng gọi tên Ngọc Hà thì cô gái đã hốt hoảng xoay người lại và mất thăng bằng suýt ngã vào trong mộ huyệt! Cô đúng là cô gái vừa nói chuyện với Hoàng xong. Bên cạnh cô còn chiếc va-li đang nằm dưới chân. - Ngọc Hà! Hoàng lặp lại vừa bước tới gần, có lẽ anh sợ cô bị ngã. Nhưng cô nàng đã đưa tay ngăn lại: - Anh không nên tới đây làm gì, má em đang... Bỗng nhiên nàng lảo đảo, lần này không còn gượng được và ngã vào trong hố huyệt đang mở nắp. Hoàng nhanh hơn, đã lao tới và chụp được cánh tay đang chới với của Hà, anh kéo lại và giữ được cô trong vòng tay. Nhưng chưa kịp đưa cô lại chỗ dựa thì bỗng mắt Hoàng chạm vào bên trong hố huyệt. Trong đó có một thi thể còn nguyên vẹn đang nằm im! Hoảng chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi đờ người ra... Lần đầu tiên Hoàng biết thế nào là cảm giác sợ. Anh không sợ ma, mà chỉ bất ngờ về một xác chết nằm trong cũng vừa khi ấy cô gái tỉnh lại, cô đưa tay đóng nắp quan tài vừa giải thích: - Người trong đó là mẹ em. Bà ấy chết đã lâu rồi... Hoàng ngạc nhiên: - Chết đã lâu rồi mà sao thi thể còn nguyên và không... - Đó là một bí mật mà chỉ em và mẹ em biết... Bất chợt Hoàng hỏi: - Phải bà là Ngọc Hà? Kinh ngạc bởi câu hỏi của Hoàng, cô gái hỏi lại: - Sao anh biết? Không trả lời, Hoàng lại hỏi ngược: - Cô có biết một người tên là Vĩnh, Hai Vĩnh không? Lần này thì cô gái trợn tròn đôi mắt, kinh ngạc tột độ: - Sao anh biết ông ấy? - Bởi người đó là cha ruột của tôi! Câu nói của Hoàng như một tiếng sét đánh vào tai cô gái, cô chỉ tay vào ngôi mộ bên cạnh, vừa run run hỏi: - Anh nói... người này. Lúc này Hoàng mới kịp nhìn xuống đầu ngôi mộ và đến lượt anh sửng sốt: - Sao... sao lại là... là mộ của ba tôi? Trên mộ bia ghi rõ mấy chữ: Nơi đây Nguyễn Hữu Vĩnh, biện lý Vĩnh đền tội! Hoàng không tin vào mắt mình: - Ba tôi chôn bên Pháp, sao lại có mộ ở đây? Sao ba tôi lại đền tội? Bất chợt cô gái quay qua cái mộ vừa đóng nắp, cô gào thét lên: - Sao lại như vậy mẹ? Tại sao mẹ bảo con làm chuyện này khi biết anh ấy là anh của con? Hoàng ngơ ngác: - Cô nói gì? Cô là... Rồi anh chợt nhớ lời Ngọc nói... Hoàng kêu lên: - Ba tôi và bà Ngọc Hà, mẹ cô là... Cả hai nhìn nhau và im lặng kéo dài... *** Giở từng trang giấy cũ trong chiếc rương chứa toàn thư từ, sổ sách, Ngọc Hà vừa kể: - Mẹ em vừa sinh em ra chưa đầy tháng thì bà bỗng phát căn bệnh lạ. Chẳng ai biết bà bệnh gì, chỉ thấy tự mẹ rút vào phòng riêng rồi cấm mọi người không được vào. Lúc ấy ông bà ngoại em còn sống, họ là gia đình giàu có bậc nhất ở xứ này, nên đâu có thầy bà, thuốc thang gì mà họ lo không nổi. Vậy mà mẹ nhất định không cho chữa trị, mẹ dọa mọi người là nếu không để cho bà yên thì bà sẽ tự tử! Ông bà ngoại sợ quá nên chiều theo ý mẹ, ngày ngày lo cơm nước đưa vào cho mẹ. Chuyện ấy kéo dài được mấy năm… Lúc ấy em còn nhỏ đâu biết gì và được gửi đi một nơi khác nuôi dưỡng. Đến khi em được mười tuổi thì mới lần đầu tiên được trở về nhà và được vào gặp mẹ. Đúng ra thì em lén tìm gặp bà, chứ ông bà ngoại không cho, sợ em bị lây bệnh của mẹ! Và đó cũng là lần đầu em biết mẹ mình với hình hài chỉ còn da bọc xương! Bởi vì, suốt trong những năm mẹ cáo bệnh rút vào phòng kín, tách biệt với thế giới bên ngoài, để cho mọi người ngỡ mẹ bệnh nan y, thật ra khi ấy mẹ đã chuẩn bị cho mình một cái chết, nên bà chỉ ăn uống cầm chừng, chứ bà không hề bị bệnh gì hết! Lần đó khi gặp em, mẹ đã ôm em vào lòng khóc suốt một buổi, không cho em ra ngoài. Để rồi mẹ lấy hết những gì đã viết trong những năm sống biệt lập, đưa cho em, dặn là chỉ mình em đọc mà thôi, và mẹ cũng bắt em phải hứa là thay mẹ trả thù một người đàn ông. Dặn xong thì mẹ chết trên tay em! Hoàng nghe tới đó thì chặn lời: - Người mà mẹ em bảo trả thù có phải là ba anh không? Cô gái gật đầu: - Đúng. Mẹ bảo cả cuộc đời mẹ đã giao trọn cho người đàn ông đó, nhưng ông ấy đã phản bội mẹ, sau khi hay tin mẹ có thai thì ông ấy đã cao chạy xa bay, không đoái hoài gì tới bà đang đau khổ! Lúc ấy em còn quá nhỏ để hiểu những chuyện ấy, em chỉ biết đau khổ vì mất mẹ thôi, nên tính đem chuyện mẹ dặn nói lại với ông bà ngoại. Nhưng em chưa kịp nói gì thì ngay khi ấy mẹ đã hiện hồn về gào khóc, ngăn không cho em nói ra chuyện riêng của mẹ! Cũng từ đó, đêm nào hồn mẹ cũng hiện về, mẹ nói sẽ ở bên em cho đến khi nào nhìn thấy em trả thù được người đàn ông đó! Lúc em lớn và hiểu biết, em có phân tích cho mẹ nghe dẫu sao người ấy cũng là cha ruột của em. Nhưng mẹ nhất quyết không nghe, bà nói người đàn ông đó là kẻ bạc tình, vô trách nhiệm thì không xứng đáng được gọi là cha! Mẹ cứ gieo vào đầu em mỗi ngày như vậy, cho nên em cũng nhiễm hận thù và chính em đã xây hai ngôi mộ trong phòng riêng của mẹ khi ông bà ngoại vừa mất, ý của mẹ là hai ngôi mộ ấy một dành cho mẹ nằm, còn cái kia để dành cho…ông ấy! - Bà đã hiểu lầm ba. Bà nghĩ ông đã phản bội bà để chạy theo bóng hình khác. Chứ bà đâu có biết rằng chính do ông ngoại em sau khi phát hiện ra mối tình vụng trộm của ba anh với mẹ em, ông ấy đã âm thầm vận động, đút lót tiền với một viên chức người Pháp, đẩy ba anh đi một chỗ thật xa, để ngăn không cho ông liên hệ với mẹ em nữa. Đó là nguyên nhân khiến ba anh đứt liên lạc với mẹ em. Cho đến ngày ba anh vì quá phẫn chí, đã quyết định bỏ xứ ra đi. Trong những ngày ở Pháp ông đã từng nói với anh là đã bị một người đàn bà phản bội, đã có những ngày sâu nặng với ông mà còn bỏ đi lấy chồng khác có quyền thế hơn! Ngày đó anh không hiểu gì nên cũng có ý trách người đàn bà kia, nhưng khi về đây và nhất là vừa rồi gặp được mẹ em thì anh bắt đầu hiểu, có lẽ tất cả là do ông ngoại bày ra để nhằm chia cắt hẳn cha mẹ chúng ta. Ngọc Hà cũng gật đầu: - Em hiểu hết rồi, và mẹ cũng hiểu. Bằng chứng là mấy chữ mẹ vừa viết lên vách huyệt đã cho thấy mẹ hối hận, mẹ bảo trong đời mẹ chỉ sai lầm có một lần, mà là sai lầm tệ hại nhất, đó là…đã hiểu sai về ba! Ngọc Hà nhìn Hoàng với ánh mắt chờ sự cảm thông: - Cả mẹ và em cũng đều hiểu không đúng về ba, mong anh đừng giận. Em cũng sẽ khẩn cầu vong hồn ba hãy tha thứ cho mẹ, cho em. Hoàng chặn lời: - Anh nghĩ ba không còn giận đâu. Anh hứa, lần này trở về Pháp anh sẽ tìm cách đem hài cốt của ba về đây, và nếu em đồng ý thì anh xin được mai táng ba ngay bên cạnh mộ phần của mẹ. Nhưng chợt nhớ ra, Hoàng hỏi: - Tại sao xác mẹ em nằm đây mà ngoài vườn lại có một ngôi mộ đề tên mẹ nữa? - Đó là ý của mẹ và do em làm. Mẹ không muốn ai biết cái thế giới riêng của mẹ trong phòng này cả! - Rồi còn cái tên nữa, sao mẹ là Ngọc Hà, mà em cũng tên đó? - Cũng là ý của mẹ. Lúc sinh ra em có tên là Thanh Thủy, nhưng sau này mẹ đổi lại cho em mang đúng tên của mẹ. Mẹ bảo, cái tên Ngọc Hà chỉ chết một lần vì ngu dại, cả tin, còn Ngọc Hà còn lại trên thế gian thì phải làm ngược lại, phải khiến cho đàn ông ngu dại, cả tin và trả thù họ! Em thú thật, chính mẹ đã mách cho em biết lần trở về này của anh, bảo em phải tìm cách tiếp cận anh, đưa anh về đây gặp mẹ. Chứ em đâu có ngờ anh lại là… Hoàng cười, vỗ vai cô nàng: - Đâu có ngờ suýt nữa em đã hại chết người anh cùng cha khác mẹ của mình phải không! Nhìn xuống chiếc va-li Hoàng thắc mắc: - Anh có tò mò và biết trong va-li của em quần áo chỉ toàn một màu trắng, vậy là sao, chẳng lẽ em không bao giờ mặc quần áo màu khác? Ngọc Hà lặng người đi một lúc, rồi đột nhiên cô bật khóc! Hoàng hoảng hốt: - Em sao vậy Hà? Bây giờ mọi việc đã rõ rang rồi, chúng ta sẽ cùng lo cho nhau. Anh hứa sẽ bù lại những gì ba đã làm cho em thiệt thòi. Anh em mình sẽ cùng thờ phụng cha mẹ mà… Đột nhiên Ngọc Hà chụp lấy vai Hoàng, khóc nức nở: - Suýt nữa thì em đã hại anh rồi! Anh biết không, nghe lời mẹ, em tính sau khi hại anh chết thì em sẽ vào trong này, cùng nằm chết với mẹ. Những quần áo màu trắng này là em tự lo để tẩm liệm cho mình! Hoàng vỗ về em gái: - Mọi việc qua rồi em. Bây giờ là lúc mình phải vui lên chứ! Anh không trách gì em cả, mà trái lại anh thương em nhiều và anh thấy trách nhiệm của mình càng nặng nề hơn. Nhưng anh hứa, anh sẽ dành mọi sự tốt đẹp nhất cho em gái mình! Anh em họ cùng siết chặt tay nhau. Suốt buổi chiều hôm đó, họ ở miết trong căn phòng với hai ngôi mộ và tối hôm đó, Hoàng quyết định đưa Ngọc Hà về nhà chú Ba để giới thiệu rõ. Hai anh em thức nói chuyện gần cả đêm. Bên nồi cháo gà do Ngọc nấu chiêu đãi, Ngọc Hà đã vui miệng kể: - Mẹ là một hồn ma, nhưng từ khi mẹ hiện về bên em, chưa bao giờ em nghe mẹ nói sẽ hại ai bao giờ. Có lẽ mẹ là một oan hồn duy nhất hiền lành như vậy. Ngọc chen vào nói: - Má của chị ngày trước cũng hiền lành, dễ thương lắm. Em chơi lâu nên biết mà… Ngọc Hà nghe Ngọc gọi mình như vậy thì vội xua tay: - Sao… sao cô gọi cháu như vậy? Cháu là con gái của mẹ, bạn cô mà! Ngọc cười: - Một đằng là con của bạn, nhưng trong huyết thống thì… chị là vai chị của em đó. Chị là con gái của bác Hai mà, chị chỉ nhỏ hơn anh Hoàng thôi, chứ với em thì chị là chị của em mà! Đêm đó cả nhà thức đến sáng với niềm vui khôn tả… CẨU NHI - Phần I Thời Pháp thuộc... Từ Rạch Giá đi Hà Tiên chỉ hơn sáu chục cây số, nhưng việc đi lại phải mất gần một ngày, dẫu là đi bằng xe hơi nhà. Bởi vậy mới tờ mờ sáng đã thấy anh tài xế Tư Xê lo chuẩn bị nổ máy chiếc Traction. Lúc cô chủ Nguyệt Ánh vừa leo lên xe thì đồng hồ chỉ đúng con số 6. Vừa rồ máy xe, Tư Xê báo ngay với chủ: - Đi sớm như vậy thì hy vọng tới Kiên Lương kịp dự lễ. Cô chủ Nguyệt Ánh cau mày: - Không cách nào sớm hơn sao? - Dạ, đường không xa, nhưng xấu và gặp mùa mưa này, em không dám chạy nhanh. Vả lại, có cô ngồi xe thì làm sao em dám chạy quá ba chục cây số giờ. - Sáu chục cây số thì chạy chậm cũng chỉ hai tiếng, sao đến nửa ngày mới tới, còn hơn là đi Sài Gòn, chán chết! - Dạ, tại cô chưa đi đoạn đường này nên chưa biết, chứ so với đường Sài Gòn thì nó xấu hơn nhiều, lại còn phải qua hơn chục cây cầu sắt bắc tạm, đâu dám chạy mà chỉ bò thôi. Nói thật, đi ca nô còn nhanh hơn! Nguyệt Ánh chẩu miệng ra: - Vậy sao không lấy ca nô đi? Tư Xê biết chiều ý cô chủ khó tính: - Em cũng muốn vậy, nhưng hôm qua em vừa đưa ý kiến đó ra thì bị ông chủ rầy liền, ông nói cô Ba không biết lội sao đi đường sông nước được. Nguyệt Ánh tuy sinh ra và lớn lên ở vùng sông nước Rạch Giá, nhưng vốn con nhà giàu, chỉ biết lên xe xuống ngựa nên làm sao có dịp lội sông bơi xuồng, do vậy cô chẳng hề biết lội như bao cô gái khác. Hơn nữa, cô có tiếng là đẹp và sống cao sang, nên dẫu có muốn thử đi sông cũng chẳng bao giờ dám nhảy xuống nước sông có màu đục như bị ô nhiễm, mặc dù ai cũng biết nước sông vùng đồng bằng có tiếng là sạch. - Dạ, cô cần ghé đâu ăn điểm tâm hay chạy luôn. - Anh chạy luôn đi, chừng nào đói ghé nhà hàng dọc đường ăn cũng được. Tư Xê cười: - Dạ, đường này không có quán xá, nhà hàng dọc đường như Sài Gòn đâu. Một là ăn ở chợ này, hai là đi thẳng tới nơi ăn trưa luôn! Nguyệt Ánh bực bội: - Xứ sở gì mà thiếu đủ mọi thứ, vậy mà ông bà già đày tôi tới đó làm gì cho khổ thân! Thôi, không đi nữa! Biết là cô ta làm nư, nhưng Tư Xê cũng phải xuống nước, bởi đây cũng là nhiệm vụ mà anh ta được ông chủ Thuận Thành giao: - Cô Ba ráng một chút, chứ đúng ra mình phải đi vào chiều hôm qua, nhưng thấy trời tối lại mưa gió trơn trợt, nên phải để sáng nay. Thôi, cứ ngồi trên xe, để em ghé Tài Ký bảo nó làm bánh mì xíu mại và bánh bao đưa lên xe cho cô vừa đi vừa ăn cho khỏi mất thì giờ. Chẳng biết nghĩ sao, cô nàng vụt nói: - Thôi được rồi, cứ ghé Tài Ký cho tôi. Tôi có chút việc ở đó tiện giải quyết luôn. Tư Xê cho xe chạy tới quán ăn nổi tiếng Tài Ký, ngừng ngay cửa, chưa kịp xuống xe mở cửa như lệ thường thì Nguyệt Ánh đã tự bước xuống. Rồi thay vì đi vào tiệm ăn, cô nàng lại bước qua bên kia đường, đi thẳng vào ngôi nhà lầu ba tầng mới cất lộng lẫy, nguy nga. - Nhà của nghiệp chủ Thuận Lợi mà! Sao cô ấy lại ghé vào chỗ này? Sở dĩ Tư Xê ngạc nhiên, bởi anh lái xe cho nhà ông chủ Thuận Thành đã gần chục năm, mọi khách hàng, bè bạn gì của ông bà chủ anh đều rành, mà riêng nghiệp chủ Thuận Lợi này thì anh ta còn biết rành hơn nữa, bởi đã nhiều lần ông chủ Thuận Thành từng dặn: - Làm ăn, giao dịch gì với ai cũng được, nhưng tao tuyệt đối cấm tụi bay không được giao du với cánh của Thuận Lợi nghe chưa! Mặc dù Nguyệt Ánh đi học và sống ở Sài Gòn lâu ngày, nhưng chắc chắn cô ta phải biết sự nghiêm cấm đó. Vậy tại sao cô ta lại tới nhà này trong thời khắc mà cả gia đình cô đang chờ ở Kiên Lương để cử hành hôn lễ cho cô? Trong lúc Tư Xê còn đang thắc mắc, hoang mang, thì chợt anh nghe có vị khách nào đó đang ngồi ăn trong quán Tài Ký nói vọng ra: - Con nhỏ tiểu thư con nhà Thuận Thành tới thăm thằng bồ nó là con trai út Thuận Lợi đó tụi bay! Một giọng khác, có lẽ là ngồi chung bàn lên tiếng: - Con nhỏ kiêu nhất xứ này, con nhà giàu, học giỏi lại đẹp gái như vậy mà lại mê thằng Út Thông của Thuận Lợi, vừa hư đốn, chơi bời trác táng lại mang tật đi mây về gió nữa! Một người khác hỏi: - Đi mây về gió là gì mày? - Là bắn khỉ! Là hút á phiện, hít nàng tiên nâu đó! Tư Xê quay lại nhìn thì bắt gặp bàn có bốn năm người, họ đang chỉ trỏ sang bên kia và bàn tán. Chợt nhớ ra cái tên Út Thông, Tư Xê kêu lên: - Đúng rồi, chính là người mà hôm qua cự nự với Nguyệt Ánh khi anh ra đón ở bến tàu! Do không biết mặt hắn trước đó, nên từ hôm qua tới nay Tư Xê cứ thắc mắc hoài, sao ở xứ này lại có người dám cự cãi ngang cơ với cô chủ nhỏ nhà Thuận Thành như vậy! Hôm qua anh nghe có người kêu tên anh chàng đó là Út Thông... Phải mất gần nửa giờ sau thì Nguyệt Ánh mới trở ra, thần sắc cô nàng không được tươi tỉnh như lúc vào. Vừa lên xe, cô đã giục: - Đi nhanh lên! Biết tính cô nàng nên Tư Xê không dám hỏi gì, mãi đến khi qua khỏi Sóc Xoài thì cô nàng lên tiếng trước: - Đói bụng quá, kiếm cái gì ăn đại cũng được! Tư Xê chạy một lúc nữa, anh nhìn thấy một quán cóc bên đường có treo lủng lẳng mấy cái bánh dừa, bánh tét, anh rà xe lại, ngập ngừng nói: - Ở đây đâu có bán gì ngoài mấy thứ này. Sợ e cô Ba ăn không được... Nhưng thật bất ngờ, cô nàng quay kính xe xuống và nói với ra: - Cho bốn cái bánh dừa! Mua xong, nàng ta lại giục: - Đi nhanh lên! Đưa cho Xê hai cái, còn phần mình hai cái, cô nàng lột ra ăn ngon lành và còn khen: - Bánh ngon thật! Tư Xê cười thầm trong bụng về điều ngược đời này. Bình thường ở nhà, cô ta kén ăn và chê ỏng chê eo những món bình dân, vậy mà hôm nay khi đói thì ăn thứ thường nhất vẫn khen ngon! Xê vừa lái xe vừa lột một cái ăn và cười bảo: - Cô ít ăn, chứ còn em thì sáng nào cũng ăn thứ này hoặc xôi, ăn riết rồi cảm thấy nó ngon hơn cả bánh bao, hủ tiếu! Không biết là anh ta nói kháy mình, Nguyệt Ánh lại trầm trồ: - Bánh nhân đậu ở đây gói ngon hơn Sài Gòn. Phải biết, lúc nãy mua thêm đem về nhà tối ăn! Lúc này Tư Xê mới nhắc: - Tối nay cô còn phải dự lễ cưới nữa đó. Nguyệt Ánh xì một hơi dài: - Cưới với hỏi gì, mệt quá! Tư Xê đưa ra tấm thiệp hồng, nhắc: - Ông chủ bảo em đưa cho cô xấp thiệp này, để cô mời mấy người bạn thân, nhưng do mãi đến chiều hôm qua cô mới về tới nên em không kịp đưa. Liệu có cách nào báo cho họ biết để đi dự không? Nguyệt Ánh cầm xấp thiệp định vứt ra ngoài xe nhưng Tư Xê đã kịp ngăn lại: - Dẫu cô không muốn giữ, nhưng thiệp cưới có ghi tên cô, tên chú rể mà đem bỏ đường bỏ chợ không nên đâu! Nguyệt Ánh cầm xấp thiệp vứt xuống sàn xe, càu nhàu: - Nếu không chiều ý ba má tôi thì miễn có vụ cưới hỏi này đi! Chán chết được! Rồi bất ngờ cô ta hỏi: - Anh biết Út Thông con nhà Thuận Lợi không? - Dạ... chỉ biết sơ thôi, cậu công tử đó giàu lắm, nghe nói làm gì ở Sài Gòn phải không cô? - Phải. Tôi cấm anh không được nói lôi thôi về việc tôi có liên hệ với nhà đó. Nhất là với ba tôi... - Cô yên tâm, thằng Tư Xê này biết đạo lý ăn cây nào rào cây nấy mà! Vả lại, từ nào đến giờ em chưa bao giờ thóc mách bất cứ chuyện gì. Bởi vậy ngay như chuyện ông có... Anh ta kịp dừng lại, nhưng Nguyệt Ánh thì đâu có chịu dừng: - Anh mới nói cái gì? Ba tôi có gì? - Dạ... đâu có. - Nói! Anh mà không nói thì đừng có trách tôi sao ác. Tôi dư sức đuổi việc anh ngay ngày mai mà ba tôi cũng chịu thôi! Tư Xê tự trách mình lỡ lời, nên đành phải hé lộ: - Ông chủ... đi chơi khi lên Sài Gòn. Ông dặn em đừng nói lại... - Chỉ có vậy thôi sao? - Dạ, chỉ có vậy... - Tha cho đó. Từ rày có chuyện gì nói tôi nghe, tôi cho tiền xài. Nói xong, cô nàng móc ra tờ năm đồng đưa cho: - Anh cầm uống cà phê! Tư Xê ngầm hiểu, đó không phải là tiền thưởng công tiết lộ chuyện ông chủ, mà thật ra đó là hối lộ để không lộ chuyện cô ả ghé nhà Út Thông. - Anh lái nhanh nhanh một chút, tôi nằm ngủ, chừng nào tới nơi thì gọi. Lúc này Tư Xê vừa lái xe vừa nghĩ tới chuyện rối rắm của cánh nhà giàu. Cụ thể là chuyện của cô ả Nguyệt Ánh này. Cô ta đang đỏng đảnh ở Sài Gòn, ăn chơi nhiều hơn học hành, giao du với nhiều người, trong đó có Út Thông, vậy mà đùng một cái, ông già cô ta gọi điện lên bảo về đi lấy chồng là cô ta riu ríu nghe theo, về liền! Trong chuyện này Tư Xê chỉ hiểu bề nổi, chứ mặt chìm thì anh còn mù mờ. Bề nổi là sui gia đằng trai có một thế lực lớn ở Hà Tiên, giàu gấp năm bảy lần công ty vận tải thủy bộ Thuận Thành. Vụ cưới hỏi này chắc không ngoài mục đích trao đổi, gả bán để dựa dẫm nhau giữa hai bên trọc phú. Trong đó ông chủ Thuận Thành đang cần một thế lực như bên thông gia kia, cho nên ông ta mới hy sinh cô con gái cưng của mình! Phần Nguyệt Ánh, theo Tư Xê hiểu, chắc chắn cô ta kẹt điều gì đó, nên mới chấp nhận lấy người mà cô ả không hề biết mặt, không hề yêu thương. Bởi vậy thái độ bất cần biết lễ cưới chiều hôm nay của cô nàng, cho thấy trong lòng cô ta đã có sẵn một dự tính gì đó... Đột nhiên cô nàng hỏi: - Anh có biết tại sao đám cưới tôi mà không làm ở Rạch Giá, mà đem lên nhà nội tôi làm không? Tư Xê nếu có biết cũng không dám nói, anh ta chỉ ậm ừ: - Dạ, chắc là tại... tại cô... Nguyệt Ánh bỗng vỗ lên vai anh ta: - Ví dụ bây giờ anh nhận tôi làm vợ thì anh nghĩ sao? Dẫu là tay lái cừ khôi, từng lái xe hơn chục năm, nhưng với cú vỗ vai kèm câu nói đó đã khiến Tư Xê chao đảo tay lái, suýt nữa đã đâm xe xuống ruộng! Anh ta lắp bắp: - Cô... cô Ba để... em sống với! Nguyệt Ánh chợt cười to lên: - Chưa chi đã sợ thì làm sao làm thật! Tư Xê lần này đâm xe vào lề thật, chui hẳn vào một lùm cây lớn, um tùm. Anh ta đã kịp thắng và quay lại chắp tay xá dài: - Xin cô Ba để cho tôi sống nuôi mẹ già! Ông chủ mà đuổi tôi thì có nước đi ăn mày cô ơi! Nhưng giọng Nguyệt Ánh trở nên nghiêm túc: - Tôi nói thật. Anh có dám nhận làm chồng tôi không? Rồi không đợi cho Tư Xê trả lời, cô nàng chủ động nói luôn: - Chỉ làm chồng giả thôi. Ví dụ như tôi nói anh đã lỡ với tôi... có thai, để tôi hủy cái đám cưới chiều nay. Để rồi anh cứ bỏ việc, tôi cho anh một số tiền lớn, đủ sống cả đời, anh chịu không? Tư Xê tưởng mình nghe lầm, anh lắp bắp hỏi lại: - Cô Ba nói... nói... Nghĩ anh ta đã nghe lời, Nguyệt Ánh nói cụ thể ra: - Nói thật với anh, tôi lỡ... có thai với Út Thông, mà hồi nãy tôi ghé bảo anh ta cứu tôi để ngăn cái đám cưới này lại thì anh ta đã giở giọng chó má, chối phăng trách nhiệm. Rồi tôi sẽ cho anh ta biết tay, nhưng bây giờ việc cấp bách là tôi phải có cách để tháo chạy khỏi cái vụ cưới hỏi này đã! Chỉ có anh nhận lời ăn nằm với tôi thì chắc chắn mọi việc sẽ ổn hết! Tư Xê toát mồ hôi, người anh phát run lên: - Em xin cô Ba, nhà em nghèo, nhưng em đâu táng tận lương tâm làm chuyện đó... Hãy để cho em sống với! Thấy không thể làm cho anh ta nghe theo, Nguyệt Ánh phải rít lên: - Anh mà từ chối thì coi như anh đã... cưỡng bức tôi rồi! Vừa nói cô ả vội tuột phăng áo ngoài ra, để lộ nguyên phần trên thân thể vừa tru tréo: - Anh mà từ chối thì tôi la lên, nói anh lợi dụng đường vắng cưỡng hiếp tôi! Anh tưởng tôi không dám làm hả? Nguyệt Ánh vừa cất tiếng thì Tư Xê đã đưa tay chụp miệng cô ả lại, hốt hoảng: - Kìa, cô Ba! Rồi anh ta tắc tị, không nói thêm được lời nào nữa, bởi khi ấy anh ta đã bị đôi môi mọng kia áp lên chỗ có thể phát ra lời. Người Tư Xê như tê dại hẳn đi... Chỉ còn giọng nhỏ xíu của Nguyệt Ánh: - Anh hãy trở về nhà của Út Thông, lên lầu gặp anh ta, nói tôi gửi cái này, rồi sau đó đi ngay, khỏi cần hỏi gì nữa. Cô ả đưa cho Tư Xê một phong thư dán kín... *** Lái xe đến cách Kiên Lương khoảng vài cây số, Tư Xê tấp xe sát lề theo lệnh của Nguyệt Ánh, rồi cô ả bảo: - Anh kiếm chỗ nào đó ở đỡ đi, rồi sáng mai đón xe đò lên Sài Gòn chờ tôi. Đây, anh cầm trước số tiền này mà xoay sở, rồi tôi sẽ cho thêm gấp đôi nữa! Tư Xê cầm tiền mà lòng dạ rối bời. Như vậy thì coi như anh ta đã tự đập bể nồi cơm của mình, tự cắt đứt đường về để làm người lương thiện! Thấy anh ta còn lững thững ở vệ đường, Nguyệt Ánh lại giục: - Kiếm chỗ nào ẩn mặt đi, để thiên hạ thấy thì hư chuyện hết! Mọi thứ khác để tôi lo. Cô ả ngồi vào tay lái và vù xe đi đầy tự tin. Tư Xê như kẻ mất hồn, anh ta chưa kịp nhét số tiền lớn vào túi thì đã nghe ai đó gọi bên đường: - Vào đây nghỉ chân đi anh Hai! Nghĩ chắc ai đó thấy anh cầm tiền lại vừa trên xe hơi bước xuống, nên Tư Xê mau chân bước nhanh vừa nhét số tiền vào túi cẩn thận. Tuy nhiên, có một thiếu niên chạy xe đạp đuổi theo vừa gọi giật ngược: - Có người quen của chú kêu đằng kia kìa! Tư Xê nhìn lại thì giật mình, bởi người đang bước ra khỏi quán cóc bên đường có gương mặt quen quen... mà sau vài giây suy nghĩ, Tư Xê đã kêu lên thảng thốt: - Út Thông! Tuy chưa quen anh ta, nhưng đã một lần thấy mặt, hôm anh ta cãi nhau với Nguyệt Ánh, nên vừa nhìn thấy Tư Xê đã nhận ra. Nhưng tại sao anh ta lại ở đây? Không phải vừa rồi Nguyệt Ánh nói là gặp anh ta ở nhà hay sao? Không còn cách nào hơn, Tư Xê đành phải quay lại. Đúng là Thông đang ngồi một mình trong quán lá, anh ta kéo vội Tư Xê vào và nói ngay: - Tôi chờ anh ở đây đã lâu rồi! - Nhưng... không phải cậu đang ở Rạch Giá sao? Út Thông nhìn trước nhìn sau rồi mới nói nhanh: - Tôi đã ở Kiên Lương này từ chiều hôm qua và ra ngồi đây từ sớm! - Vậy mà cô Ba Ánh nói mới gặp cậu ở hiệu buôn Thuận Lợi. Hồi nãy chính tôi đã chở cô ấy tới đó, vào gặp cậu mà... Út Thông rít lên: - Con khốn nạn bày trò đó! Tôi... tôi làm sao còn ở đó được... Anh ta định nói gì đó, nhưng kịp dừng lại và đổi giọng: - Tôi đến gặp anh để nhờ anh một việc, chẳng biết anh có bằng lòng giúp? Tư Xê ngạc nhiên: - Tôi giúp gì được cho cậu? - Được! Chỉ có anh là giúp được cho tôi lúc này thôi. Anh tới chỗ đám cưới chiều nay tìm cách... phá không cho họ cưới nhau! Tư Xê nhìn sững anh ta: - Sao cậu không làm mà nhờ tôi? - Bởi tôi mới chết, hồn chưa thể hiện ra được, phải nhờ qua anh để hành động! Tư Xê đang ngồi trên ghế mà nghe câu nói đó anh ta ngã ngửa ra sau, kêu lên: - Cậu... cậu nói... nói gì? - Tôi giờ là một hồn ma, do tôi mới chết nên chưa thể ra tay làm theo ý mình được. Tôi nhờ anh, tôi biết anh là người tốt, mong anh giúp tôi đòi lại sự công bằng! Anh biết không, con Nguyệt Ánh nó yêu tôi, lấy tôi và có thai được ba tháng rồi, bây giờ nó với ông già nó ham tiền, nên bỏ tôi đi lấy thằng con ông triệu phú ở Kiên Lương này, nó đành lòng, nhẫn tâm giết tôi chết chẳng khác giết một con gà con vịt! Tư Xê kêu lên: - Không thể có chuyện đó! Bởi hồi sáng tôi thấy cô ấy lên nhà cậu chỉ khoảng nửa tiếng thì trở xuống, cô ấy còn nói cậu phụ tình cô ấy, chối từ đứa con trong bụng cô ấy khi được cô ấy báo tin! Út Thông dúi vào tay Tư Xê một nắm tiền: - Anh lấy số tiền này, rồi làm một việc hợp với lương tâm, giúp người bị nạn. Anh coi đây là tiền công cũng được, hoặc là món tiền tôi cho anh để nghỉ làm cho nhà Thuận Thành cũng được! Thấy Tư Xê vẫn còn nhìn mình với ánh mắt hoài nghi, Út Thông nói như van lơn: - Anh hãy giúp giùm tôi đi, tôi chết mà vong hồn ở chín suối vẫn luôn nhớ ơn anh! Anh còn chưa tin phải không, đây nè, anh hãy nhìn cần cổ của tôi xem, có phải nó phù to ra không? Đó là hậu quả của hành động đổ xái á phiện đang nấu sôi vào miệng tôi của Nguyệt Ánh. Lúc sáng khi cô nàng lên lầu gặp tôi đang hút á phiện, cô ta giả vờ ngồi xuống châm thuốc cho tôi, rồi bất ngờ lấy nguyên lọ thuốc phiện đang nấu trên ngọn đèn dầu phộng đổ vào miệng tôi, làm tôi sặc thuốc và tử vong ngay! Cách giết người này chỉ có Nguyệt Ánh mới biết vì có lần tôi kể cho cô ả nghe. Ả rắp tâm làm vậy là để dễ dàng đi lấy chồng khác! Anh xem đây... Vừa dứt lời thì... đã chẳng còn thấy anh ta đâu nữa! Tư Xê ngơ ngác: - Cậu Út! Chỉ nghe văng vẳng tiếng anh ta bên tai: - Tôi sẽ mượn hình hài anh mà tới chỗ đám cưới, xong việc thì anh trở về nguyên vẹn, chẳng ai hại gì anh, đừng sợ! Rồi anh ta đã như sương khói, biến mất không để lại dấu vết gì... Đây là cách anh ta chứng minh cho Tư Xê thấy những gì anh ta nói là đúng sự thật! Và điều đó có nghĩa là... Tư Xê ngẩn ngơ một hồi lâu rồi đưa tay sờ hai túi quần, cả hai xấp tiền còn nằm đó, anh ta tự hỏi: - Nghe ai đây? Dẫu chưa biết phải làm theo lời ai, nhưng cuối cùng Tư Xê vẫn quyết định đi ngược về hướng Kiên Lương. Lúc đầu đi bộ, sau anh gọi một chiếc xe lôi và chỉ về hướng thị trấn... *** Giả làm người dọn bàn cho tiệc cưới. Tư Xê đã qua mắt được mọi người. Kể cả ông chủ Thuận Thành ngày ngày ngồi xe cho Tư Xê lái cũng không nhận ra anh tài xế của mình, Tư Xê khá yên tâm lẫn vào trong đám đông tham dự tiệc. Bữa tiệc sáu giờ mới bắt đầu vậy mà mới năm giờ quan khách đã tới gần như đủ mặt. Vợ chồng ông Thuận Thành suốt sáng đã đứng ngồi không yên bởi sự vắng mặt của cô con gái, nhân vật chính của buổi lễ, bà cứ cằn nhằn ông chồng: - Tôi đã nói rồi, cứ chờ nó về rồi đi luôn mà ông không chịu, cứ đòi lên đây trước. Rồi bây giờ không biết nó tới đâu rồi? Lỡ... nó nổi chứng, không về thì chẳng biết lấy cô dâu đâu mà giao cho người ta đây! Cũng may là tới giữa trưa thì Nguyệt Ánh về tới. Bà Thuận Thành là người duy nhất trong nhà biết chuyện cái thai oan nghiệt của con gái, nên bà trách nhẹ con: - Bụng dạ như vậy mà còn đi đứng hấp tấp, bộ không sợ nó động cái thai sao! Mà nè, đã nai nịt cẩn thận chưa, đừng để khi mặc áo cô dâu mà cái bụng "thè lè" ra đó thì có nước... độn thổ! Nguyệt Ánh vẫn tỉnh như không: - Chuyện đâu còn có đó, lo làm gì cho mệt! Biết tính ngang bướng, ẩu tả của con, nên bà Thành xẵng giọng: - Mày mà làm hư bột hư đường là ông giết chết liền đó, chẳng phải chơi đâu! - Chết là cùng chứ gì! Bà Thành hạ thấp giọng hỏi: - Mày dàn xếp vụ thằng Thông chưa? Nó có chịu im tiếng để mày lo cho xong vụ này chưa? Vẫn giọng tưng tửng, cô ả đáp: - Xong hết rồi! Chẳng những im qua vụ này, mà còn im vĩnh viễn nữa! Bà Thành tròn mắt nhìn con: - Mày nói sao? Vĩnh viễn là gì? - Là không bao giờ còn làm phiền người khác nữa! Cô ả nói xong thì đứng lên đi thẳng vào phòng riêng. Đây tuy là nhà của bà nội, nhưng vốn là con gái cưng, đứa cháu rượu của bà nội, cho nên Nguyệt Ánh được dành cho mọi đặc quyền, thậm chí bà nội còn tuyên bố là về sau này nếu cô ả muốn thì cả gia sản, cơ ngơi này sẽ là của cô ta? Bởi vậy đám cưới của cô được tổ chức ở đây thay vì ngoài Rạch Giá cũng là điều tự nhiên, chẳng ai thắc mắc gì. Bà Thành vẫn chưa yên tâm, bà chạy theo con vào tận phòng riêng, thấy Nguyệt Ánh có vẻ mệt, bà gọi ra ngoài: - Đứa nào nói bếp dọn cơm lên cho cô Ba ăn nghe chưa. Dọn thẳng vào phòng này luôn! Cô ả không muốn ăn, nhưng do bụng đói cồn cào, bởi từ sáng đến lúc này chỉ có hai cái bánh dừa trong bụng, nên cũng muốn ăn cho no rồi còn tính tiếp chuyện chiều nay. Hình như đoán được ý con, bà hỏi khẽ: - Mày tính gì vậy Nguyệt Ánh? Nói cho má nghe coi, đừng có làm bậy... Cô ả không nói, cứ để nguyên đồ nằm lăn ra ngủ. Bà Thành phải dỗ mãi cô nàng mới chịu hé lộ: - Chiều nay con đợi cho họ nhà trai trao cho ba má cái giấy nợ xong rồi thì con tuyên bố trước mọi người là con... đã có thai với người khác, hãy hủy đám cưới ngay! Bà Thành hoảng hốt: - Đừng! Đừng làm vậy con ơi! Con có biết nếu con mà làm vậy thì ba con đứng tim chết liền. Bà nội con cũng không sống nổi nữa! Dẫu gì thì con cũng đã hy sinh rồi thì cứ hy sinh cho trót. Thằng này cũng đâu phải cùi đui sứt mẻ gì đâu mà con chê. Nó vẫn còn hơn thằng Út Thông về cả tư cách lẫn sự giàu có. Hơn nữa theo má biết thì nó hiền lành, khờ khạo lắm, sẽ không biết chuyện con có thai trước mấy tháng đâu. Khi đã cưới nhau rồi má sẽ có cách giúp con ém nhẹm vụ cái thai, đừng lo. Nguyệt Ánh đang mệt mà cứ nghe lải nhải hoài, cô ta nói như hét lên: - Thôi, má đừng nói nữa! Con biết phải làm gì rồi. Xong vụ này chẳng những con thoát khỏi mối này, mà cả vụ thằng Út Thông con cũng thoát luôn. Cái chết của hắn cũng có người đứng ra gánh chịu giùm con rồi! Chỉ hai hôm nữa là con trở lên Sài Gòn, tiếp tục cuộc sống tự do của mình và từ nay ba má đừng bận tâm gì tới con hết. Bà Thành hỏi lại: - Ai gánh vụ thằng Thông? Mà con nói sao, thằng Út Thông... chết rồi hả? Nguyệt Ánh đáp tỉnh queo: - Nó bỏ mặc con với hậu quả đã gây ra thì phải trả giá thôi! Chỉ tội nghiệp cho thằng Tư Xê, nó vì khờ khạo nên bị con gạt, nó sẽ ghé nhà thằng Út Thông đưa thư, trong thư con viết rằng bởi con lỡ yêu thằng tài xế, nên hắn thông cảm, đừng tìm kiếm con nữa! Thật ra đó chỉ là những lời giả, chỉ để khi người ta khám phá ra cái chết của hắn thì cứ tưởng là Tư Xê tới tìm và giết Út Thông do ghen! Bà Thành vốn cũng là người lắm mưu nhiều mẹo, vậy mà vừa nghe kể đã phải le lưỡi, rùn vai: - Mày ác quá Ánh ơi! Thằng Tư Xê nó nghèo, còn mẹ già mà sao mày nỡ hại nó chi vậy! Nguyệt Ánh vẫn bình thản: - Sống chết đều có số cả. Mà số phận đã đẩy đưa hắn dính vào vụ này. Thôi, dẫu sao hắn cũng có được một số tiền lớn trước khi ở tù, lo gì! Mọi lời nói của ả ta ngoài bà mẹ nghe ra, còn có một người nữa! Mà người đó không ai xa lạ, chính là... Tư Xê! Trong vai giả làm người phục vụ tiệc, Tư Xê đã xung phong bưng cơm vào phòng của cô chủ và khi tới cửa, anh ta đã vô tình nghe hết cuộc đối thoại bên trong! Và lời của Nguyệt Ánh vừa dứt thì ngoài này mâm cơm trên tay Tư Xê cũng vừa rơi xuống sàn! Anh ta bỗng ngã lăn ra, hình như có một cái bóng của ai vừa trong cơ thể anh thoát ra ngoài! Khi bà Thành và Nguyệt Ánh mở cửa ra thì chỉ nghe anh ta thét lên vừa chỉ tay về phía cửa sổ: - Út Thông! Út... Nguyệt Ánh hốt hoảng: - Sao... sao anh còn ở đây? Vẫn chỉ tay và lắp bắp: - Út... Út... Thông! Rồi anh ta gục xuống, miệng sùi bọt mép... Nguyệt Ánh thất thần, miệng lẩm bẩm trong sợ hãi: - Hắn... hắn chết rồi mà... Chỉ nói được có thế, rồi cô ả lảo đảo, vừa ôm bụng kêu đau! Bà Thuận Thành kinh hãi kêu to, đám gia nhân trong nhà cùng chạy tới, một mặt khiêng Nguyệt Ánh trở vào phòng còn Tư Xê thì được đưa ra nhà ngang, chỗ gia nhân cư ngụ. Từ đó đến khi lễ cưới diễn ra, anh ta cứ thỉnh thoảng lại kêu lên khe khẽ: - Cậu Út... cậu Út... tôi không làm được... Trong lúc đó thì giờ hành lễ đã đến, đằng trai tới đúng giờ và theo nghi thức thì cô dâu phải ăn mặc lễ phục ra chào và cùng lễ gia tiên. Nhưng do tình thế đột xuất như vậy nên sau khi bàn bạc với nhà trai, họ cũng đồng ý thông qua, lo cứu chữa cho cô dâu xong mới cử hành lễ. Thậm chí nếu Nguyệt Ánh không tỉnh lại, hai bên cũng không buộc cô dâu có mặt trong lễ lạy bàn thờ. Ông sui trai còn nói: - Do thằng con tôi ở rể, nên thay vì đưa con vợ nó về bên nhà lạy gia tiên xong rồi trở lại đây ở luôn, nhưng nay như vậy thì chuyện về lạy bàn thờ bên nhà để lúc nó tỉnh lại đã, không sao! Thế là lễ cưới diễn ra suôn sẻ... Việc chỉ mới lấy chồng được năm tháng mà Nguyệt Ánh chuyển bụng sinh đã làm cho tôi tớ trong nhà quá đỗi ngạc nhiên. Họ bàn tán với nhau: - Bộ sinh non hay sao mà mới năm tháng đã sinh? Người kia thì nói: - Chuyện của nhà giàu mình hơi đâu mà bàn cho mệt! - Bộ nhà giàu rồi có thai chỉ mấy tháng là sinh sao? Họ khác người nghèo chúng ta hả? Người nọ bật cười: - Không khác, nhưng lúc nào thích thì họ sinh, ai làm gì họ! Cuộc bàn tán chấm dứt ngang, bởi khi đó cậu chủ Năm Hòa từ trong bước ra, anh ta hất hàm hỏi: - Sao không làm việc mà ngồi "tán dóc"? Ba gia nhân hoảng sợ tản ra mỗi người một hướng. Đối với họ thì cậu chủ này không phải người khó, nhưng do thường nói lén sau lưng cậu ta nhiều, nên vừa rồi ba người mới bỏ đi. Nhưng chỉ được một lát sau thì cả ba đã tìm cách tụm lại, tiếp tục câu chuyện: - Tội nghiệp cậu Hòa, làm chồng, làm cha mà chẳng có quyền gì hết, suốt ngày cứ quanh quẩn quanh "bà chằn" kia để bị bà ấy sai chạy có cờ! Người vừa nói là Tám Son, người làm cho nhà bà nội Hai lâu đời nhất. Chị ta lại tiếp: - Ông này nhà giàu mà chấp nhận ở rể, chỉ vì ông ta thương cô Nguyệt Ánh quá. Vậy mà "bà chằn" Ánh lúc nào cũng lấn lướt, ăn hiếp chồng, thấy mà ứa gan. Người thứ hai là Ba Thắm, vội chen vào: - Mấy đứa con gái nhà giàu thường hay ăn hiếp chồng. Phải chi gặp cỡ thằng chồng tao thì nó đánh cho mỗi ngày tám chục bận, cho hết thở luôn! Người cuối cùng là Tư Sương, vốn ôn hòa nhất trong đám gia nhân, vội gạt ngang: - Chuyện của người ta thì kệ họ, nói tới nói lui lọt tai bà chủ nhỏ đó thì có nước về mò cua bắt ốc! Tám Son không chịu thôi: - Mò cua còn hơn là ở đây suốt ngày nhìn con đó đỏng đảnh, đanh đá, thấy chướng mắt quá chừng! Rồi chị ta kề tai các bạn, nói khẽ: - Tôi nghe đồn là con Nguyệt Ánh trước đây "cặp" với thằng con trai Út ông chủ hãng vận tải Thuận Lợi. Dám đứa con trong bụng con nhỏ Ánh là con của thằng công tử kia lắm! Tư Sương xua tay: - Đừng nói mò kiểu đó, lọt tai cậu Năm Hòa thì tội nghiệp cậu ấy! Ba Thắm tỏ ra rành chuyện hơn: - Mấy bà nhớ anh tài xế Tư Xê không? Tội nghiệp anh chàng này... chẳng hiểu sao tự nhiên phát điên phát khùng rồi không còn lái xe được nữa! Người ta đồn chính anh ta có dính líu tới cô Ba Nguyệt Ánh nữa, chứ chẳng phải riêng gì Út Thông đâu. Tám Son còn rành chuyện hơn, chị ta kể vanh vách: - Tư Xê khi nào hết điên trong giây lát đã kể chuyện động trời mà chỉ có tôi là được nghe thôi! Mấy bà có nghe không? Hai người kia đời nào bỏ qua chuyện lạ: - Bà kể coi, Tư Xê nói gì? - Một bữa tôi đang nằm ngủ trưa sau nhà thì Tư Xê lại gần. Nhìn thấy anh ta tóc tai rũ rượi, tôi sợ quá định bỏ chạy thì anh ta van lơn tôi, xin hãy để cho anh ta nói điều uẩn khúc trong lòng bấy lâu nay... tôi nghe giọng nói của anh ta không có vẻ gì là xằng bậy cho nên đã ngồi lại nghe anh ta kể. Tư Xê nói rất thật rằng anh ta đã được con Ánh cởi áo cho xem và còn dụ cho lấy làm vợ nữa! Tôi nghe mà dựng tóc gáy luôn! Hai người kia kêu lên: - Có chuyện đó sao? Vậy Tư Xê có phải là tác giả cái thai kia không? Tám Son vừa mở miệng định nói thì bỗng nhiên thét lên một tiếng rồi ngã lăn ra, hộc máu như vừa bị thọc huyết! Tư Sương hốt hoảng la lên: - Thôi, đừng nói nữa, lo cứu bà ấy đi! Nhờ có chuyện đó mà mấy gia nhân thôi không bàn tán nữa. Cũng vừa khi ấy bỗng trong nhà có tiếng kêu to: - Mợ Ba chuyển bụng rồi, đóng cửa lại không cho ai vào nhà hết! Nguyệt Ánh thật ra đã chuyển dạ từ sáng sớm, đã rước đến ba bà mụ về, nhưng không bà nào giúp được cô ả sinh con, nên chỉ biết đứng xớ rớ bên ngoài để chờ... Bây giờ nghe cô hầu thân tín báo tin vậy cả ba bà mụ đều chạy vào một lượt. Nhưng cả ba đã phải khựng lại ngay cửa phòng, bởi trước mắt họ đang có một cảnh mà họ không tin vào mắt mình: Nguyệt Ánh đã sinh xong, có lẽ kiệt sức nên nằm thiêm thiếp, còn bên cạnh cô ả là một hài nhi thân thể đỏ như máu, đang rúc vào nách mẹ như đang tìm sữa bú. Phải mất vài giây, ba bà mụ mới kêu lên: - Đỡ cho mợ ấy đi! Họ cùng lao vào và cùng kêu thét lên một lượt khi hài nhi quay mặt ra: - Trời ơi! Trước mắt họ là một quái vật thì đúng hơn! Đứa bé có gương mặt chẳng khác gì một con chó, chứ chẳng giống một con người! Nó thấy ba bà mụ thì bỗng ngửa mặt lên trời rú lên một tiếng dài như tiếng chó tru! - Trời ơi! Bà mụ thứ nhất bước vào sau nên khi bước lui thì chạy được trước. Nhưng bà vừa cất bước thì ngã nhoài người. Rồi bà thứ hai cũng xoay người và ngã chồng lên bà trước. Cuối cùng thì cả ba bà đều nằm chồng lên nhau. Trong khi đó thì tiếng tru của đứa bé hầu như không dứt... Cho đến khi Năm Hòa bước trở vào. Anh nhìn cảnh tượng đó thay vì sợ như những người kia thì lại hết sức bình tĩnh và còn trách mọi người: - Sao để con tôi như thế này! Anh ta còn bước tới ôm con vào lòng, bế lên tay và đặt nhẹ nhàng vào lòng Nguyệt Ánh. Đứa bé thôi không kêu la tru tréo nữa, mà trái lại rất ngoan ngoãn... Hòa còn ngồi xuống bên vợ con, âu yếm một cách bình thường: - Mình thấy thế nào, có mệt lắm không? Nguyệt Ánh hơi động đậy thân thể, nhưng mắt vẫn nhắm nghiền, miệng thì thào gì đó mà Năm Hòa bật dậy ngay. Anh gọi to ra ngoài: - Mấy người khiêng giùm mấy bà mụ này đi đi! Đám gia nhân tuy sợ điếng hồn, nhưng không dám cãi, phải vừa khiêng mà vừa run. Trong khi đó còn lại trong phòng sinh với vợ, Năm Hòa kiêm luôn công việc của bà mụ. Anh tắm rửa cho đứa bé, quấn tã cho nó một cách nhẹ nhàng, đầy tình thương yêu... Mà chẳng riêng gì hôm đó. Những ngày sau Năm Hòa cũng làm y như vậy. Hình như anh ta đã chấp nhận việc ấy. Mà cũng lạ, cô ả Nguyệt Ánh vốn xưa nay đỏng đảnh, vậy mà sinh con quái thai như vậy nhưng cô ta vẫn âm thầm chịu đựng, ở miết trong phòng cùng chồng lo cho con! Họ còn nghiêm cấm không ai được bước vào phòng riêng đó. Hằng ngày những đám tôi tớ chỉ được phép mang thức ăn, pha sữa đem vào tới cửa, đặt trước chiếc bàn con rồi đi ra. Vợ chồng con cái họ hầu như chỉ sống trong bốn bức tường đó... Riêng ba bà mụ sau khi bị ngất đi và được đưa về cứu chữa, sau đó cả ba đều phát điên. Nhất là mỗi khi nghe ai nhắc tới chuyện cái quái thai thì đều kêu thét lên và bỏ chạy! Kể cả những ai tò mò, thóc mách nhiều chuyện, hay bàn tán vụ quái thai đó thì đều bị hành xác như đau bụng, nhức đầu, thậm chí còn bị hộc máu không nguyên cớ. Do vậy sau này chẳng còn ai dám bàn tán nữa. CẨU NHI - Phần II Ba năm sau... Cũng may là càng lớn lên thì thằng bé càng có gương mặt trông dễ coi hơn lúc mới sinh. Do vậy cha mẹ nó cho nó ra ngoài. Năm Hòa đặt tên con là Thuận Tâm để cho gần giống với tên cha là Thuận Hòa, nhưng mỗi lần kêu tên đó thì thằng bé lại khóc, hình như không chịu! Cuối cùng chính nó khi biết nói đã xưng tên mình là Thông! Vừa nghe con nói tên đó ra thì Nguyệt Ánh bàng hoàng, cô ngăn con lại: - Không được đâu! Nhưng đứa bé đã nói rành rẽ: - Con thích cái tên đó hơn. Con là con của người này đây mà! May là khi thằng bé nói điều ấy ra thì không có mặt Năm Hòa ở đó. Do vậy, Nguyệt Ánh dặn con: - Con tên Thông cũng được, nhưng đừng nói với ba con chuyện con là con của ai nghe chưa! Thằng bé chỉ cười chứ không trả lời. Năm Hòa thì vẫn vô tư và vẫn hết mực thương con... Và có một điều lạ là lúc mới sinh thì hầu như ai trong nhà cũng sợ đứa bé, nhưng khi nó lớn lên thì người ta lại thương mến nó nhiều hơn. Bởi hình như thằng bé biết tình cảnh của mình, nên nó tỏ ra ngoan hiền và thân thiện với mọi người trong nhà, nhất là với những gia nhân. Nhờ vậy mà khi được sáu tuổi, tới tuổi đến trường, trong lúc Năm Hòa định rước gia sư về nhà dạy, thì Chín Lài, cô người làm kiêm vú em đã tình nguyện đưa đón thằng bé đi học: - Cô cậu cứ để cho em đưa đón cháu hằng ngày. Cho nó tới trường học thì tốt hơn ở nhà. Nghe vậy thì vợ chồng Năm Hòa cũng nghe theo. Và thật bất ngờ, ngoài sự lo ngại của họ, Thông vào trường là gây được cảm tình ngay với bạn bè, thầy cô giáo. Tuy ngoại hình nó không còn xấu như lúc mới sinh, nhưng dẫu sao gương mặt vẫn còn nét của một con chó... dễ thương. Và chẳng hiểu sao mọi học sinh khác đều không bao giờ chế giễu gì nó cả. Đặc biệt là Thông học hành rất giỏi, vượt xa các bạn cùng lớp! Có lẽ đó cũng là nguyên nhân các bạn thích nó, trong đó có sự nể phục nữa! Mọi việc diễn ra thuận lợi như vậy nên Nguyệt Ánh và chồng không còn phải bận tâm đến "cục nợ" mà họ cứ tưởng mình phải ôm suốt đời! Nhất là Nguyệt Ánh, cô nàng được rảnh tay nên lại trở về với nếp sống cũ, thường đi về Rạch Giá, Sài Gòn, nói là đi giao thiệp làm ăn, nhưng thật ra là để nối lại những cuộc vui thời con gái mà sáu bảy năm nay bị gián đoạn! Chỉ tội nghiệp cho Năm Hòa, kể từ ngày lấy vợ anh ta trở thành một anh chồng hờ đúng nghĩa cứ sống theo sự lèo lái của vợ và chấp nhận vô điều kiện như vậy... Anh ta tự an ủi mình bằng cách lao vào công việc kinh doanh. Từ khi về ở rể nhà Thuận Thành, Năm Hòa được cha mẹ ruột dặn là phải quản lý số tài sản lớn mà ông bà giao cho: Một là số nợ mà ông bà Thuận Thành thiếu, được trừ cấn khi làm đám cưới, được chuyển sang làm vốn cho vợ chồng Hòa qua số xe cộ chạy đưa khách mang tên công ty của cha mẹ vợ, được ông bà Thành hứa sẽ chuyển về cho vợ chồng Hòa quản lý sau ba năm họ chung sống. Hai là số tiền cũng khá lớn được cha mẹ cho trực tiếp Hòa và Nguyệt Ánh để lập một công ty xuất cảng hải sản do Năm Hòa đứng tên làm chủ. Với ngần ấy công việc nên Hòa làm còn không xuể, nói gì chuyện đi đây đi đó cùng vợ. Nên Nguyệt Ánh mặc sức mà kiếm chuyện để vắng nhà. Lại một tấn bi kịch nữa xuất phát từ đây... Vào một buổi sáng... Sau khi đi Sài Gòn suốt một tuần, hôm đó Nguyệt Ánh về nhà lúc nửa khuya. Lại đi với một người đàn ông lạ. Hình như họ vừa uống rượu ở đâu, nên người nồng nặc hơi men... - Mình đi đâu mà mãi tới giờ này mới về tới? Đường sá xa xôi, lại khó đi mà sao không về cho sớm sớm một chút... Năm Hòa chỉ nói có bấy nhiêu đó vậy mà Nguyệt Ánh đã sừng sộ: - Bộ muốn nhốt người ta ở nhà như con chó giữ nhà sao! Đi đâu, về giờ nào là quyền của tôi, việc gì tới mấy người! Ả ta sau khi nói vào mặt chồng một hơi, liền quay sang người đàn ông đi cùng, dịu giọng: - Mông-xừ Lý cứ tự nhiên, nhà này vậy đó, không như vậy không được. Tay đàn ông được gọi là mông-xừ Lý tuy có ké né một chút với Năm Hòa, nhưng thấy Nguyệt Ánh bất cần như vậy, cho nên ông ta cũng mạnh dạn hơn, bước theo vào phòng khách. Nguyệt Ánh gọi lớn vào nhà sau: - Có khách mà sao không ra lo nước nôi gì hết vậy? Tụi bay đâu? Năm Hòa vẫn nhẹ giọng: - Tụi nó đã đi công việc hết rồi, bữa nay phải huy động hết người trong nhà lo cho lô hàng xuất cảng kịp chuyến tàu. - Thì anh lấy giùm mấy ly nước uống không được sao! Năm Hòa nhìn khách cười gượng: - Mời anh ngồi nghỉ, tôi sẽ lo nước nôi cho. Nhà quê, lại làm công việc lu bu nên như vậy đó, anh thông cảm... Lý cũng thấy ái ngại: - Không phải bận tâm đâu, thưa anh... Lúc này Nguyệt Ánh mới quay sang giới thiệu: - Đây là Năm Hòa, ba sắp nhỏ. Còn đây là luật sư Lý, người đang lo công việc cho tôi! Lý bắt tay Hòa, lịch sự: - Bông-rua mông-xừ Hòa. Rất hân hạnh được biết ông. Tôi được cô Ánh... Nguyệt Ánh chặn lại không để khách nói hết: - Tôi có việc phải làm, cần tới luật sư nên nhờ mông-xừ Lý đây về lo giúp. - Nhưng mà... nhà mình đâu có việc gì nhờ tới luật sư? Năm Hòa thật thà hỏi, không ngờ Nguyệt Ánh lại sừng sộ: - Có tôi mới nhờ chứ! Đừng có nói lôi thôi nữa, cứ đi lo nước mời khách đi! Năm Hòa vốn quen nhịn vợ từ lâu, nhưng trước sự quá quắt của cô ả trước mặt khách lạ, thêm nữa là việc cô ả nói nhờ luật sư về làm gì đó khiến Hòa hơi bất bình. Anh vẫn đi lấy nước mời khách, nhưng khi trở ra thì không thể im lặng được nữa: - Mình nói nhờ luật sư đây làm chuyện gì? Nguyệt Ánh không trả lời mà đứng dậy đi thẳng vào phòng ngủ, lát sau mang ra một xấp giấy tờ đưa cho Lý: - Anh xem những thứ này đủ chưa? Vừa nhìn thấy xấp giấy tờ, Năm Hòa đã kêu lên: - Giấy tờ nhà và điền sản, mình đưa luật sư làm gì? Lúc này Nguyệt Ánh mới hét toáng lên: - Lại xía vào chuyện làm ăn của tôi nữa sao! Ừ, nhà của tôi, tôi đem bán đó, ai làm gì tôi? Trước thái độ quá quắt của vợ, dẫu là thánh cũng không nhịn được, nên Năm Hòa quay sang luật sư Lý nói thẳng: - Cái gì thì được chứ ba cái giấy tờ này thì không! Anh đưa lại cho tôi. Anh ta vừa đưa tay định lấy lại thì Nguyệt Ánh đã chụp giữ và xỉa xói: - Anh có quyền gì mà cản tôi? Anh có biết đây là số tài sản cha mẹ tôi, cha mẹ anh cho riêng tôi để anh cưới được tôi không? Đã là của tôi thì tôi có quyền muốn làm gì thì làm! - Nhưng không có nghĩa là mình đem đi cầm cố! Có phải cầm cố không luật sư? Luật sư Lý không chuẩn bị trước tình huống này, nên lúng túng: - Dạ, cái này do cô nhà... tôi chỉ... Nguyệt Ánh vẫn đanh đá: - Không việc gì anh nói chuyện với anh ta! Đấy là nhà do tôi đứng tên, tôi có quyền. Rồi ả kéo tay luật sư Lý đi thẳng vào căn phòng dành cho khách bên trái ngôi nhà, vừa nói trống không: - Tôi làm việc bên này với luật sư, cứ ngủ một mình với thằng Thông đi! Năm Hòa đành nhìn theo bóng vợ sóng đôi với tay luật sư khuất vào phòng kia... Chán nản, Năm Hòa lặng lẽ quay về phòng mình. Anh bắt gặp thằng Thông đứng ở cửa phòng, sợ nó hiểu chuyện người lớn, nên Hòa bảo con: - Thôi, mình vào ngủ đi con. Nhưng thằng Thông vùng vằng: - Ba để con coi họ làm gì. Ba thật là... Sao ba lại để vậy? Không ngờ con mình lại để ý chuyện đó, Năm Hòa vội gạt ngang: - Con đừng để ý chuyện người lớn. Má con có khách cần làm việc, nên... Thông ứng xử như người lớn, nó nhìn cha rồi nhẹ lắc đầu buông một câu: - Ba sẽ nhận hậu quả thôi! Nói xong nó bỏ đi ra ngoài, Năm Hòa gọi giật ngược: - Khuya rồi con không vào ngủ còn đi đâu? Nhưng thằng bé đã bỏ đi luôn. Cái tuổi mười một của nó hình như đã hiểu chuyện gì đang xảy ra trong nhà... Đau cho Năm Hòa là gần như suốt đêm đó, Nguyệt Ánh cùng với tay luật sư ở miết trong phòng, không hề ra. Và nếu tinh ý một chút, Năm Hòa sẽ thấy họ làm việc gì mà đèn trong phòng tắt ngóm... *** Cái tin động trời loan ra làm cả xóm bàng hoàng: - Một người đàn ông chết trong phòng của Nguyệt Ánh. Khi nhà chức trách tới thì thấy một người đàn ông nằm chết trên giường trong tư thế lõa lồ, còn bên cạnh đó thì quần áo của ông ta và cả đồ của chủ nhà Nguyệt Ánh! Năm Hòa thất thần chạy đi tìm vợ thì chẳng thấy đâu mãi về sau chính thằng Thông chỉ cho ba nó: - Má trốn ngoài bụi tre sau nhà! Khi Năm Hòa ra đó thì thấy Nguyệt Ánh cũng trong tình trạng không mảnh vải che thân, ngồi co ro trong bụi vừa run rẩy vừa kêu cứu: - Làm ơn cho tôi ra với! Năm Hòa phải kêu người làm lấy ra cái mền trùm cho vợ và đưa vào nhà. Nhưng vừa vào tới trong thì cô ả đã thét lên: - Cho tôi ra! Đừng để hắn ta trong nhà! Tưởng ý thị nói tay luật sư, Năm Hòa bảo: - Người ta đem xác anh ta về bệnh viện để khám nghiệm tử thi rồi, đâu còn ai nữa! Nhưng Nguyệt Ánh vẫn sợ hãi: - Còn! Anh ta còn kia kìa! Anh ta sẽ giết tôi mất! Nhìn lại chỉ có thằng Thông đứng đó, Năm Hòa bảo: - Con tiếp ba đưa má vào trong đi. Nhưng thằng bé lặng lẽ quay đi vừa lẩm bẩm: - Con đi đây... Từ khi thằng Thông đi rồi thì Nguyệt Ánh không còn sợ nữa, cô ả để cho chồng mặc quần áo vào và ở miết trong phòng riêng. Đến trưa hôm đó, nhà chức trách tới mời cả hai vợ chồng về trụ sở cảnh sát để điều tra vụ án xảy ra trong nhà họ. Bước đầu, người ta đã kết luận sơ bộ: - Nạn nhân tên Lý, làm nghề luật sư, chết do ngạt thở bởi một chất gây nghiện, nghi là thuốc phiện nguyên chất! Sau khi lấy lời khai đầy đủ cả hai vợ chồng Hòa, người ta đã cho Năm Hòa về, còn Nguyệt Ánh thì bị giữ lại. Một trong những điều tra viên sau khi nghe kết luận đã lên tiếng: - Tôi còn nhớ cách đây hơn chục năm, lúc tôi còn ở ty cảnh sát Rạch Giá, tôi đã chứng kiến một vụ chết người cũng giống như trường hợp này! Nạn nhân lúc đó là Út Thông, con trai của nghiệp chủ Thuận Lợi, anh ta cũng chết khi đang hút á phiện rồi bị sặc mà chết, cũng y như vậy. Chỉ khác là Út Thông đang hút thì bị sặc, còn người này thì không hút mà trong miệng, trong phổi lại đầy những thuốc phiện, kỳ lạ thật... Sau khi tạm giam Nguyệt Ánh vào khám rồi, anh chàng này mới nói riêng với các đồng nghiệp: - Theo tôi biết thì Út Thông ngày xưa là bồ của cô Nguyệt Ánh này. Chẳng hiểu hai cái chết có liên quan gì với nhau không mà cả hai có quan hệ cùng một người đàn bà? Tuy vậy, Nguyệt Ánh chỉ bị giam có một đêm, hôm sau thị được thả ra, có lẽ do Năm Hòa chạy tiền. Kể từ khi về nhà, cô ả cứ nhìn ai cũng chỉ tay và la: - Anh ta kìa! Trưa hôm đó thì có một xe hơi từ Sài Gòn đỗ ngay cửa, ba người đàn ông bước xuống xe đi thẳng vào nhà. Năm Hòa ra tiếp, sau khi hỏi thân thế anh, một trong ba người đàn ông trịnh trọng nói: - Tôi là thừa phát lại Lê Văn Tý, chúng tôi thừa án lệnh của tòa sơ thẩm Sài Gòn, được sự phối hợp của lục sự tòa Rạch Giá, cho phép tôi được đọc lệnh tịch biên gia sản của cô Lâm Nguyệt Ánh, nghiệp chủ, chủ nhân gia sản này và bốn cơ ngơi khác có danh sách kèm theo đây. Lý do: Cô Nguyệt Ánh cầm cố tài sản này cho ông Trần Ngươn, người có đi theo đây đây từ trên một năm nay, đã quá hạn trả nợ mà không có khả năng chi trả, nên trong phiên xử ngày... vừa qua, tòa đã tuyên án tịch thu số tài sản này để sung vào công quỹ, sau đó làm thủ tục trả nợ cho ông Trần Ngươn. Yêu cầu ông cho mời bà Nguyệt Ánh ra ký biên bản để chúng tôi tiến hành làm nhiệm vụ. Năm Hòa hốt hoảng: - Vụ này để cho tôi xem lại! Tôi là chồng cô ấy, tôi đâu biết gì? Vị thừa phát lại nghiêm giọng: - Đây là án lệnh của tòa, mong ông chấp hành cho. - Nhưng vợ tôi hiện đang bị bệnh nặng không thể ra đây được. Vậy có cách nào tôi xin hoãn thi hành án lại một thời gian không? Vị thừa phát lại lắc đầu: - Chúng tôi chỉ là cấp thừa hành. Ông cứ tuân thủ đi, rồi có khiếu nại gì đó thì gửi đơn lên tòa sau. Giữa lúc Năm Hòa còn đang lúng túng chưa biết phải làm sao thì chợt anh nghe giọng của con trai. Thằng Thông bất ngờ xuất hiện và nói lớn: - Má tôi đang nằm liệt giường, còn ba tôi thì chẳng biết gì vụ này, sao các ông nỡ làm như vậy? Thấy thằng bé tuổi thiếu niên mà ăn nói lý sự như vậy, vị thừa phát lại nạt một tiếng: - Con nít biết gì mà chen vào chuyện của pháp luật! Chẳng những không sợ mà thằng Thông còn hất mặt: - Mấy ông nói có án lệnh của tòa, mà án lệnh đâu, cái gì chứng minh là các ông thi hành pháp luật? Thừa phát lại giận run, nhưng cũng đưa cao tờ giấy lên, dõng dạc: - Đây là án lệnh của tòa! Thằng Thông ngửa mặt cười dài: - Ông làm như ở đây mù hết rồi vậy! Cái đó mà là án lệnh sao? Thừa phát lại giật mình nhìn tờ án lệnh mà chính ông giữ từ Sài Gòn xuống đây, xem và... kêu lên: - Sao vậy nè trời? Trên tay ông ta lúc đó chỉ là một tờ giấy trắng, chẳng có chữ nào! - Sao kỳ vậy? Thông cười to: - Có gì đâu mà kỳ! Các ông lợi dụng chức quyền, muốn dọa nạt người lương thiện hả? Mấy ông đưa án lệnh ra đây, bằng không thì yêu cầu bước ra khỏi nhà, nếu không... Vị thừa phát lại lục trong cặp mấy lượt cũng chẳng thấy gì, ông ta còn quay sang hỏi vị lục sự tòa Rạch Giá: - Lúc sáng khi tôi đưa cho anh coi, anh có đưa lại cho tôi chưa? Vị lục sự cự lại liền: - Sao lại chưa đưa. Nếu tôi không đưa lại thì vừa rồi anh lấy đâu ra để đọc cho chủ nhà nghe? Thừa phát lại chợt nhớ ra, ông trố mắt: - Đúng rồi, cái tôi vừa đọc là án lệnh, mà sao bây giờ... Ông ta xem lại cả hai mặt tờ giấy trắng rồi vỗ trán kêu trời: - Trời hại tôi rồi mà! Sao có chuyện kỳ vậy nè? Ông ta bứt đầu bứt tai một lúc rồi đành quay sang Năm Hòa xin lỗi: - Chúng tôi xin lỗi ông chủ. Đây là một sơ suất ngoài ý muốn. Tuy nhiên, chúng tôi trở về Sài Gòn và sẽ trở xuống với đầy đủ thủ tục hơn. Chờ họ ra về rồi, lúc đó thằng Thông mới ôm bụng cười rũ rượi, Năm Hòa ngạc nhiên hỏi: - Sao kỳ vậy con? Sao con biết ông ta không có án lệnh trong tay? Thông móc từ trong túi áo mình ra một tờ giấy: - Nó đang ở đây thì làm gì ông ta có trong tay được! Năm Hòa cầm tờ giấy xem và kinh ngạc: - Sao con có cái này? Thông ỡm ờ: - Thì con... lượm được. Mà mặc kệ ông ta, miễn là bữa nay ông ta không tịch thu nhà mình là được rồi! Bộ ba không muốn sao? Năm Hòa thở dài: - Má con đã gây ra cớ sự, bây giờ họ không tịch thu được thì vài bữa họ làm thôi! Trước sau gì mình cũng mất trắng, cũng phải ra đường mà ở thôi! Chẳng hiểu má con đã làm gì đến nông nỗi này? Thông nhìn vào phòng mẹ, rồi nhìn cha và nhẹ lắc đầu, không nói gì... Năm Hòa hỏi nhỏ con trai: - Có phải con... cứu mẹ con không? Thông trợn trừng mắt nhìn cha: - Sao con lại phải cứu người bán đứng cha con mình chứ? Con... con... Nó định nói gì đó, nhưng kịp dừng lại... Năm Hòa muốn hỏi thêm, nhưng thằng Thông đã bước ra ngoài rồi mất dạng. Còn lại một mình chẳng biết làm gì, Năm Hòa cầm tờ án lệnh bước vào phòng vợ định cho Nguyệt Ánh xem và hỏi đôi điều. Nhưng Hòa quá đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy trên giường trống không. - Mới nằm thiêm thiếp đây mà? Chạy ra ngoài tìm cũng không thấy. Sau đó hỏi thì đám gia nhân báo: - Tụi con thấy lúc khách tới nhà thì mợ đã ra xe một mình lái về hướng Rạch Giá rồi. Nghĩ là vợ ngại phải đối mặt với pháp luật nên lánh mặt, Năm Hòa cũng không đi tìm. Anh ngồi xem lại hết các giấy tờ về nhà cửa, sản nghiệp. Lúc này anh mới tá hỏa, bởi hầu hết giấy tờ còn lại chỉ là bản sao đánh máy có công chứng, còn các bản chính thì đâu mất hết! Thì ra đã từ lâu Nguyệt Ánh lần lượt đem giấy tờ sở hữu tài sản đi cầm cố mà Hòa không hay. Mà cầm cố để làm gì trong khi vợ chồng họ là những người làm ăn phát đạt bậc nhất ở địa phương này, đâu có thiếu hụt gì! Trong một tờ giấy nhỏ nằm lẫn trong mớ giấy tờ, Năm Hòa đọc được những con số mà sau một hồi suy nghĩ, anh mới chợt nhận ra đó là tổng số nợ mà Nguyệt Ánh đã nợ trên một chục người, con số nợ mà vừa nhẩm tính xong, Hòa đã kêu lên: - Thánh thần ơi! Tổng số nợ lên tới trên một ngàn lượng vàng! Năm Hòa ngồi bật ra, thất thần, bủn rủn tay chân. Như vậy là coi như hết! Công sức anh làm chục năm nay, cộng với số vốn hai bên cha mẹ cho, phút chốc đã ra tro bụi! - Trời hại tôi rồi! - Người hại chứ trời nào hại! Năm Hòa giật mình với câu nói của ai đó. Anh nhìn lên thì ra thằng Thông. Nó đứng trước mặt cha, trên tay cầm một xấp giấy gì đó, nó đưa cho Năm Hòa và nói: - Đây là con báo đáp lại những gì cha đã lo cho con từ khi con ra đời! Năm Hòa nhìn lại xấp giấy tờ và giật mình: - Giấy nợ! Ở đâu con có những thứ này? Cái này là nợ hai trăm lượng vàng, thế chấp nhà máy xay lúa trong kinh xáng. Còn đây là giấy nợ mượn một trăm năm chục lượng thế chấp đội tàu đánh cá mười chiếc. Đây là... Không can đảm đọc hết, Năm Hòa run giọng hỏi lại: - Sao con có những thứ này? Thông nói như người lớn: - Má đem những thứ này cầm cố cho người ta, nay đã quá hạn và hồi nãy thừa phát lại tới tịch thu gia sản là để bán trả nợ cho người ta đó! Năm Hòa lo lắng: - Con lấy những thứ này ở đâu, ăn cắp của người ta phải không? Không làm chuyện đó được đâu con. Đã vay thì phải trả, ba còn cái gì sẽ trả cái đó, chút nào hay chút nấy, để trả cho người ta. Ba sẽ năn nỉ, lạy lục họ xin cho mình hẹn lại... Thông nói lớn: - Con đã trả hết nợ rồi! - Cái gì? Giữa lúc này mà con còn nói giỡn được sao? Tưởng con đùa, nhưng khi nhìn lại mặt con thì nó nói thật nghiêm túc: - Con nói thật. Trả rồi thì người ta mới cho lấy lại giấy nợ chứ! - Nhưng mà... Thằng Thông bất chợt quay ra ngoài nói lớn: - Chú Tư đem bà ấy vào đi! Một người đàn ông bế một người trên tay từ ngoài cửa bước vào. Năm Hòa vừa nhìn thấy đã kêu lên: - Tư Xê! Anh bồng ai vậy? Vừa khi ấy, Hòa nhìn kỹ và thét lên: - Nguyệt Ánh! Trên tay của Tư Xê là Nguyệt Ánh đang rũ rượi như một xác chết! Đoán biết thế nào Năm Hòa cũng hỏi, Tư Xê chủ động nói trước: - Tôi gặp cô ấy lái xe định đâm xuống sông tự vẫn, cho nên tôi đã kịp cứu cô đem về đây. Mà việc này tôi làm được là nhờ cậu Út Thông đây... Nghe nhắc tới Út Thông. Năm Hòa giật mình quay lại nhìn. Chẳng thấy ai khác ngoài thằng Thông đang đứng đó. - Anh Tư vừa nói... - Út Thông đã báo tin kịp thời nên tôi mới tới cứu kịp. Anh nên cám ơn anh ấy đi. Vừa khi ấy, Năm Hòa kinh ngạc kêu lên: - Kìa, Thông, con đi đâu vậy? Thông chẳng nói chẳng rằng, lẳng lặng bước ra ngoài rồi mất dạng. Tư Xê bảo: - Nó là Út Thông đó. Sao anh Năm không cám ơn anh ấy đi. Chính nhờ anh ấy mà bao nhiêu giấy nợ của anh mới được lấy về. Anh ấy đã trả hết nợ cho người ta rồi! Hòa tưởng như mình đang mơ: - Anh Út Thông đã... đã chết lâu rồi mà? Tư Xê nói tỉnh táo: - Thì phải là hồn ma mới làm được chuyện này! *** Trầm ngâm khá lâu Tư Xê mới bắt đầu kể: - Ngày đám cưới của anh, tôi được hồn ma của Út Thông đón đường, cho tôi một số tiền bảo tới phá đám cưới của hai người. Tôi nghe lời, nhưng khi tới nơi, nghe lén được lời thú nhận của Nguyệt Ánh với mẹ cô ấy thì tôi sững sờ, mà cả vong hồn của Út Thông cũng bàng hoàng trước tiết lộ ấy cho nên sau đó chúng tôi vẫn để cho đám cưới của anh được diễn ra trọn vẹn. Sau này cứ thỉnh thoảng Út Thông hiện về báo cho tôi biết là anh ta đã chuyển hướng phá, không ngăn cản hai người ăn ở với nhau nữa, mà lại cho anh và Nguyệt Ánh tiếp tục gắn bó với nhau, để sau đó sẽ nhận những hậu quả ghê gớm hơn. Anh có biết cái quái thai mà Nguyệt Ánh sinh ra đó là do Út Thông đầu thai không? Anh ta quyết tâm phá tới cùng, bằng cách độc địa hơn, đó là dùng cái quái thai hình cẩu đó để cho vợ chồng anh đau khổ, rồi khi lớn lên chính thằng bé hình chó ấy sẽ phá nát gia can anh, tiêu tán hết sản nghiệp nhà anh! Nghe tới đó, Năm Hòa hốt hoảng kêu lên: - Trời ơi, con tôi có sao không? Nó là hồn ma của Út Thông, như vậy nó có còn là con của tôi không? Tư Xê thở dài: - Tội nghiệp cho con người đó! Tính toán là vậy nhưng khi đầu thai làm con của anh rồi, trong suốt những năm sống trong nhà này nó đã chứng kiến cảnh anh bị vợ ăn hiếp, chứng kiến lòng dạ nhân hậu của anh và sự chí thú, cần mẫn làm ăn của anh, cho nên từ thù hóa ra bạn. Út Thônh không còn muốn phá anh nữa, mà trái lại anh ấy đã giúp cho anh nhiều. Như vụ Nguyệt Ánh cầm cố tài sản vừa rồi... Hòa ngơ ngác: - Vụ đó sao? - Người hủy tờ án lệnh chính là Út Thông! Mà người đem những tờ giấy nợ về cho anh cũng là Út Thông! Trong cái vỏ là con trai anh, Út Thông biết hết mọi việc trong nhà này... Năm Hòa nhớ tới con mình, anh gào lên: - Thằng Thông, con tôi đâu rồi? Tư Xê thở dài: - Ở đời hễ được cái này thường mất cái kia. Thằng Thông vốn chỉ là oan hồn của Út Thông về báo oán Nguyệt Ánh và anh, nay mọi việc đã không như vậy rồi thì hồn Út Thông biến đi, dĩ nhiên con anh cũng không thể tồn tại. Hòa vẫn gào to: - Con tôi, trời ơi! Tư Xê dịu giọng: - Theo lời Út Thông nói với tôi thì sau vụ này Nguyệt Ánh đã thay đổi hoàn toàn rồi, cô ấy không còn chút gì là con người cũ nữa, có lẽ anh cũng không nên chấp nhất làm gì, hãy cho cô ấy một cơ hội làm lại cuộc đời. Và cũng theo lời Út Thông thì rồi anh sẽ sớm có một quý tử để thay thế cháu Thông vắn số! Năm Hòa lặng người đi khá lâu... Đến khi có tiếng kêu khe khẽ từ trong buồng vọng ra, Tư Xê nói: - Cô Nguyệt Ánh tỉnh lại rồi đó, anh hãy vào với cô ấy đi. Tôi xin kiếu. Tư Xê bước nhanh ra ngoài. Năm Hòa chạy nhanh vào phòng. Nguyệt Ánh vừa tỉnh lại. Gương mặt nhợt nhạt, giọng nói thều thào, nhưng cô nàng vẫn cố nói cho bằng được: - Em xin lỗi mình... Năm Hòa sa nước mắt: - Mình tỉnh lại là tôi mừng rồi, đừng nghĩ ngợi nữa. - Con chúng ta... Năm Hòa nói trong màn nước mắt: - Nó đã đi rồi! Nó... Nguyệt Ánh siết chặt tay chồng, giọng nghẹn ngào: - Em biết. Em tạ tội cùng anh. Anh hãy đuổi em ra khỏi nhà này em không xứng đáng được anh coi là vợ! Cô nàng cố ngồi dậy và định bước xuống giường bỏ đi. Nhưng Năm Hòa đã giữ chặt lại, giọng đầy vị tha: - Mình bỏ hết những gì đã qua. Coi như một tai nạn. Mà thật ra đó là tai nạn, em và anh cùng bị oan hồn ám. Còn bây giờ chúng ta mới thật sự sống cho mình. Anh cúi xuống hôn lên đôi má nhăn nheo của vợ, nói khẽ vào tai nàng: - Rồi chúng ta sẽ có một quý tử nữa! |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 27
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXVII: PHẦN I XIN CHO EM KIẾP NGƯỜI Lâu lắm mới có dịp hội ngộ cùng bạn bè cũ ở cùng quê, nên Phong đã phải nhậu suốt từ lúc trời đứng bóng, cho đến lúc hơn bốn giờ mới chợt nhớ là mình còn phải trở về. Anh luýnh quýnh chuẩn bị hành lý, khiến mấy người bạn cười trêu chọc: - Cái thằng, trai chưa vợ mà giống như sợ bà chằn nào ở nhà ăn thịt vậy! Sao không ở lại đây ngủ thêm đêm nữa xem sao! Phong xua tay: - Mình còn phải đi thăm ông bác đau nặng ở bên kia cù lao, nếu đi trễ thì sẽ không còn đò sang sông. Một người nữa bàn ra: - Đây sang đó chỉ hơn chục cây số, đi xe ngựa chỉ mất nửa giờ, vội gì! Nhưng Phong vẫn cương quyết, anh chào bạn bè, rồi còn hẹn: - Nếu ông bác tôi lành bệnh, lượt về thế nào cũng ghé lại chơi một tuần liền! Mấy người bạn phấn khởi: - Hứa là phải nhớ đó nhé! Thôi được rồi, đi đi. Mà chúng tôi đã dặn sẵn chiếc xe ngựa chạy tốt để đưa cậu đi rồi. Hẹn gặp lại! Phong vừa ra xe thì anh chàng đánh xe đã giục: - Trời đang chuyển mưa đó cậu, ta phải đi tới bến đò trước khi trời mưa thì đò mới dám sang sông. Bây giờ trễ lắm rồi đó! Phong cũng vội, nên vừa lên xe anh đã dồn hành lý sang một bên, tranh thủ nằm xuống sàn xe, nhằm để cản gió, như thế xe sẽ chạy được nhanh hơn. Anh chàng phu xe tên Lý đã nhanh nhảu lên tiếng: - Nếu mệt thì cậu Hai cứ nằm ngủ một chút đi, khi nào tới em sẽ gọi. Phong hơi mệt do men rượu nặng, nhưng chẳng hiểu sao anh lại không muốn ngủ. Có lẽ anh muốn nhìn ngắm phong cảnh hai bên đường hơn. Xe qua khỏi một đoạn đường gập ghềnh, Lý bảo: - Đường phẳng rồi, em sẽ chạy vượt tốc độ luôn! Phong phải ngăn anh ta lại: - Không nên chạy nhanh quá! Tôi cũng muốn chầm chậm một chút để còn ngắm cảnh. Lâu quá không về đây, cảnh trí bây giờ khác nhiều quá... Phong là người quê quán ở nơi này, nhưng theo cha mẹ ra tỉnh thành học từ lâu, lần trở lại này là sau hơn năm năm. Do đó, có những nơi tuy biết từ ấu thơ, nhưng nay nhìn lại anh không khỏi ngỡ ngàng. Xe chạy được hơn mười phút nữa thì trời tối mịt mù, mây đen kéo đầy một góc trời. Lý tắc lưỡi: - Mưa tới rồi! Phong lo lắng hỏi: - Liệu mình tới bến đò kịp không? - Kịp thì kịp giờ, nhưng mưa thì tới ngay bây giờ, e rằng... Anh ta nói chưa hết câu thì chợt Phong nhìn thấy bên đường cách gần trăm thước, có một bóng người đưa tay vẫy vẫy. Anh hỏi: - Họ quá giang xe phải không? Lý chạy xe thường ngày nên rành, đáp: - Quá giang đó, nhưng trời mưa gió, mình lại gấp thế này, ai mà rước cho được! Nói xong, anh ta ra roi liền mấy cái con ngựa tung vó chạy rất nhanh. Chẳng mấy chốc, xe đã vượt qua chỗ người đứng đón xe. Phong nhận ra đó là một phụ nữ đứng co ro, có vẻ đang bệnh hoạn. Anh kêu lên: - Ngừng lại! Anh chàng đánh xe cũng nói to: - Cậu không phải bận tâm với mấy người quá giang giữa đường này đâu. Ở đây nếu cho quá giang thì chục chiếc xe này cũng chở không hết! Phong vẫn cương quyết: - Tôi bảo anh cứ dừng lại. Nếu cần thì tôi trả thêm tiền công. Lý phân trần: - Không phải em không muốn cho quá giang, nhưng đoạn đường này vắng, trời lại sắp mưa lớn, ngộ lỡ... - Anh không thấy người ta là phụ nữ, lại hình như đang bệnh hoạn chi đó nữa. Làm phước thì được phước, lo gì. Không cãi được, Lý đành phải gò cương lại. Tuy nhiên, xe cũng đã chạy lố đến cả trăm thước. Phong nhảy xuống ngay, anh chạy đến gần và hiểu rằng mình đã quyết định đúng, bởi lúc ấy cô gái đang run rẩy, mặt, môi tái nhợt. - Cô nương cần về đâu? Cô gái tuổi trên dưới hai mươi, lắp bắp: - Dạ... dạ em cần về... bến đò. Phong mau mắn: - Tôi cũng đang đi tới đó. Vậy cô mau lên xe đi! Anh định quay lưng đi, nhưng thấy cô gái lảo đảo thì chụp vội lấy cánh tay và giục: - Để tôi dìu cô đi, nhanh lên kẻo trời mưa! Được dìu nên cô gái đi được đến bên xe, nhưng tới đó thì cô lả người đi, khiến Phong phải bế xốc cô ta lên xe, nhường hẳn phần rộng cho cô ta nằm, còn anh thì thu mình lại co ro. Anh giục: - Chạy nhanh đi anh Lý! Anh chàng Lý khẽ lắc đầu, hình như muốn nói gì đó nhưng ngại. Chẳng mấy chốc thì đã đến gần bến đò. Chợt cô gái choàng dậy và kêu khẽ: - Suýt nữa đã đi lố, cho em xuống đây. - Nhà cô ở chỗ nào, để xe ngừng ngay nhà. Chỉ tay về phía ngõ nhỏ đằng xa: - Nhà em ở mãi trong kia, xe vào không tiện. Xin cảm ơn quý ân nhân, nếu không có ngài thì vừa rồi có thể em sẽ ngã ở bên đường. Em bị cảm gió bất ngờ... Cô ta không đợi Phong dìu, đã tự bước xuống xe, một lần nữa cúi đầu lễ phép: - Xin đa tạ. Em tên là Hạnh Hoa, nhà ở xóm Cây Trâm, ngay trên Gò Trúc. Cô ta vừa dứt lời tức thì bước đi rất nhanh, khác với vẻ yếu đuối bệnh hoạn lúc nãy. Đi được gần chục bước, chợt nhớ điều gì, cô ta quay lại nói: - Khi nào có đi qua đây mời ngài ghé qua tệ xá, tiện nữ xin mời ly nước trả ơn! Phong ngẩn ngơ nhìn theo, còn Lý thì lên tiếng: - Loại con gái này phải dè chừng. Phong tức giận: - Tôi không muốn nghe anh nói về khách của tôi như vậy! Bị chỉnh, Lý nín thinh, nhưng xem ra không hài lòng. Anh ta ra roi cho xe chạy nhanh tới bến đò. Tới nơi, cũng may chuyến đò cuối cùng sắp rời bến. Phong bước xuống đò xong, nhắc Lý: - Cậu quay về ngay đi, nói tôi cám ơn các bạn, hẹn sẽ gặp lại. Lý chỉ chờ có thế, anh ta giục ngựa đi ngay, trước khi trời đổ mưa. Con thuyền vừa rời bến đã phải dừng lại, người chèo đò nhìn trời rồi quyết định: - Mưa lớn lắm, không thể qua sông lớn trong thời tiết này. Vậy ta phải chờ tới sáng mai thôi. Nhiều người phản đối, đúng ra Phong cũng không đồng tình, bởi anh cần đi thăm ông bác gấp lắm. Nhưng chẳng hiểu sao cho đến lúc thuyền quay lại bến rồi mà Phong vẫn không nói tiếng nào... Hầu hết khách đã rời đò, người thì trở về nhà, vài người nhà xa thì cũng đi tìm nhà quen để tá túc qua đêm. Đến lúc này Phong mới bừng tỉnh, anh hỏi thăm chỗ trọ thì người ta chỉ: - Ở cách đây nửa dặm mới có một khách điếm nhỏ, nhưng xem ra với lượng người lỡ đò đông như vừa rồi thì khách điếm ấy e rằng sẽ không còn phòng nào. Phong lo lắng: - Mình chẳng quen ai ở đây cả, biết làm sao đây? Anh lững thững đi dọc theo bờ sông, chợt có một người đi vượt qua mặt và nói một câu trống không: - Sao không đi tìm cô gái quen lúc chiều? Phong sáng mắt lên, reo khẽ: - Vậy mà mình cũng không nhớ ra! Anh định chạy theo người vừa nói câu nói kia, nhưng họ đã vụt mất bóng. Phong tự hỏi: Ai mà biết chuyện cô gái? Nhưng lúc đó trời bắt đầu đổ mưa, nên Phong chẳng còn kịp nghĩ ngợi gì thêm, anh quay lại, nhắm hướng đã đi qua lúc chiều. Nhờ ít hành lý nên Phong cũng không khó lắm để vác đi bộ. Anh tìm hỏi một người qua đường: - Ông biết xóm Cây Trâm còn gần không? Ngước nhìn Phong với vẻ tò mò, ông ta đáp cộc lốc: - Sắp tới rồi! Phong đi chưa đầy trăm bước, đã nghe ai đó bên đường nói lớn: - Xóm Cây Trâm đây rồi, còn tìm đâu nữa! Phong quay nhìn thì chẳng thấy một ai, bởi đó là một xóm vắng. Đúng hơn là một xóm hoang, không có lấy một nóc nhà. - Ủa... Phong chậm bước lại, định đợi có người đi tới để hỏi thăm. Tuy nhiên, anh đợi ngót một khắc mà chẳng thấy ai. Còn đang tiến thoái lưỡng nan thì chợt nhìn thấy có ánh đèn trước, Phong mừng khôn xiết, vội bước thật nhanh về hướng đó. Nhưng đi mãi mà vẫn chưa tới gần được ánh đèn. Mà chừng như Phong càng đi thì nó càng xa hơn. - Chẳng lẽ... Một ý nghĩ vừa thoáng qua đầu, Phong vội xua nó ra ngay. Vừa lúc có ai đó nói phía trước mặt: - Không kiên nhẫn gì hết, mưa to rồi đó! - Kìa, cho tôi hỏi... Nhưng người vừa nói cũng giống như mấy lần trước, chẳng đáp lời. Phong phải lặp lại câu hỏi: - Ai đó, cho tôi hỏi thăm! Hoàn toàn im lặng. Phong đã bắt đầu chồn chân, hoa mắt... Bỗng anh cảm thấy túi hành lý trên vai mình như bị ai đó lấy đi một cách nhẹ nhàng. Anh chỉ kịp kêu khẽ: - Ai? Túi hành lý đã bị lấy mất mà chẳng biết ai là thủ phạm. Phong nhìn qua lại một lượt nữa, rồi cố hết sức, vụt chạy thẳng về phía có ánh đèn. Vừa chạy anh vừa kêu to: - Cô Hạnh Hoa! Cô Hạnh Hoa! Tiếng gọi của Phong vang vọng trong đêm, nghe như đang lạc vào một chốn hoang vu, rừng núi nào đó. Từ nào đến giờ Phong vốn là người lì lợm, gan dạ, chưa từng biết sợ chuyện quỷ ma, nhưng giờ phút này anh nghe lạnh cả người, tay chân đã bắt đầu mất kiểm soát. Bước đi được vài bước nữa thì đột nhiên Phong bị ngã xuống. Trong lúc đầu óc lơ mơ, Phong có cảm giác như mình nhìn thấy một khuôn mặt rất quen, tuy nhiên anh không làm sao lên tiếng gọi được, cũng không đưa tay vẫy hay chụp nắm, cầu cứu... Vừa khi ấy, Phong mơ hồ nghe như có người hỏi câu gì đó, rồi một bàn tay ai đó chụp lấy tay anh, kéo lên... *** - Cậu ấy tỉnh lại rồi! Phong vừa mở mắt ra đã giật mình. Trước mặt anh là hai người lớn tuổi hoàn toàn xa lạ. Người đàn bà đứng lên rất nhanh, mang ra một bát gì đó nghi ngút khói: - Cậu ấy đói lắm rồi, đã qua một đêm, một ngày rồi còn gì... Ông cụ râu tóc bạc phơ, có vẻ trầm tĩnh hơn, đưa tay ngăn lại: - Khoan đã, để cậu ta uống một ly nước đã. Bây giờ nước cần hơn thức ăn. Bà lão nghe lời, mang đến ly nước và tự tay đưa cho Phong. Đúng là Phong đang khát khô cả họng, gặp nước là uống một hơi hết nửa ly. Ông lão lại ngăn không cho uống tiếp, đích thân ông dùng muỗng múc mấy muỗng nước cháo cho vào miệng người bệnh. Quả nhiên sau đó Phong cảm thấy tỉnh người, mở mắt lớn hơn, quan sát kỹ và lên tiếng rất khẽ: - Tôi đang ở đâu? Bà cụ reo lên: - Cậu ta tỉnh hẳn rồi ông ơi! Ông cụ gật đầu: - Tốt rồi. Cậu ấy không sao rồi. Phong lặp lại câu hỏi: - Tôi đang ở đâu đây? Bấy giờ ông cụ mới trả lời: - Đây là nhà của vợ chồng lão. Cứ gọi là lão Tam. Còn tại sao cậu lại ở đây thì từ từ nhớ lại đi... Phong không cần cố gắng cũng nhớ lại rất nhanh những chi tiết vừa qua, anh thảng thốt bật dậy. Nhưng do sức quá yếu, nên vừa bật lên, anh đã ngã trở xuống. Ông lão nhẹ giọng bảo: - Cậu cứ nằm đó, rồi tôi nói cho cậu nghe mọi chuyện. Phong lại nhìn họ, thấy hai người già trước mặt mình vẻ mặt phúc hậu thì có hơi yên dạ. Ông lão bắt đầu kể: - Đêm hôm trước, lúc đi soi ếch ngoài nghĩa trang thì tôi gặp cậu nằm ngất ngoài đó. Lúc đưa cậu về đây thì cậu hoàn toàn không biết gì, người lạnh ngắt như cái xác chết. Bà lão nhà tôi sợ quá định chạy đi báo động, nhưng cũng may, sau đó nhờ uống vài viên thuốc gia truyền của tôi, cậu ấm lại, nhưng vẫn còn mê man. Tôi yên tâm, bởi như vậy là cậu chưa chết... Bà cụ chen vào: - Lúc mê sảng, cậu cứ kêu tên người nào đó nên tôi đoán chắc là cậu bị lạc mất họ... Phong hốt hoảng: - Cháu gọi tên ai? - Hạnh Hoa! Đó là câu đáp của ông cụ. Phong lần này cố gắng và bật dậy được. Anh bật kêu lên liền: - Hạnh Hoa! - Đó là ai mà cậu kêu không ngớt? - Dạ... Anh kể lại đầu đuôi câu chuyện. Vợ chồng ông lão nghe xong đều lắc đầu thở dài: - Không xong rồi... Phong ngạc nhiên: - Sao lại không xong? Ông lão không đáp, ông đứng lên đi ra ngoài, để cho bà vợ nói chuyện với khách. Phong sốt ruột hỏi tới: - Sao hai bác lại có vẻ như... hay là... Bà cụ thở dài: - Ông nhà tôi không muốn nói cho cậu nghe, sợ cậu bệnh lại... Phong quả quyết: - Đâu có sao, bác cứ nói đi! - Cái tên Hạnh Hoa đâu có ở xóm này. Mà chỉ có... ở ngoài nghĩa địa! - Kìa bác! Phong cho rằng những người này đã già nên lẩm cẩm, anh đứng lên và quyết định đi ngay. Bà cụ lo lắng: - Kìa, cậu còn chưa khoẻ mà. Nhưng Phong vẫn bước ra ngoài, anh bước đi chỉ vài chục bước thì ngơ ngác nhìn quanh, bởi khắp nơi là bãi tha ma, chớ chẳng có nhà cửa của ai! Thì ra... Nhìn lại sau lưng Phong càng kinh ngạc hơn, bởi ngôi nhà mà anh vừa đi ra cũng chẳng còn thấy đâu! - Ủa, sao lạ vậy... Vừa lúc đó, Phong thấy có một người xách chiếc giỏ câu đi tới, anh mừng rỡ: - Dạ thưa chú, cháu muốn hỏi thăm... Người đàn ông chất phác nhìn qua Phong rồi hỏi: - Cậu tìm mồ mả ai trong này phải không? - Dạ không. Cháu muốn hỏi nhà của lão Tam... Người đàn ông cau mày: - Lão Tam nào? Có phải lão già đi soi ếch không? Lão ta được kêu là Ba ếch chớ ít ai gọi lão Tam. Nếu đúng lão ta thì mộ ở đằng kia. Lão đưa tay chỉ đúng vào hướng ngôi nhà mà Phong vừa đi ra. Phong ngơ ngác: - Không... lão ấy còn sống. Mới đây lão vừa mới... Lão đi câu trợn tròn mắt nhìn Phong: - Cậu... cậu bị... ma rồi! Nói xong ông ta mau bước đi thẳng, khiến Phong hốt hoảng gọi với theo: - Bác ơi... cháu hỏi nhà cô Hạnh Hoa? Ông lão càng đi nhanh hơn, giống như bị ma đuổi. Phong bực dọc, vừa lầm bầm vừa giậm chân. Bỗng ngay trước mặt anh lúc ấy có một ngôi mộ đất đã lâu năm, cỏ mọc um tùm, hiện ra một mộ bia mà vừa thoáng nhìn qua Phong đã xanh mặt: Hạnh Hoa! - Sao... sao lại... Phong chợt cảm thấy xây xẩm và lảo đảo... Rồi không còn kiềm chế được, anh chàng ngả người xuống, ngất đi lần nữa... *** Tỉnh lại trong nhà ông bác mình, điều đó làm cho Phong không thể nào tin được. Anh hỏi người nhà: - Sao tôi lại ở đây? Người anh họ của Phong kể lại: - Nửa đêm hôm qua, lúc mọi người đang ngủ say thì có tiếng gõ cửa. Chính tôi ra mở cổng thì bắt gặp chú nằm ngay lối ra vào, trên ngực chú có một mảnh giấy viết mấy chữ, tuồng chữ giống như của con gái... Phong sốt ruột: - Trong giấy viết gì? Anh ta móc túi lấy ra mảnh giấy xếp đôi: - Chú đọc đi, chắc biết là chữ của ai. Trên giấy chỉ ghi vắn tắt: Hãy tĩnh dưỡng rồi gặp lại sau! Người anh họ hỏi với nụ cười nghi kỵ: - Ai mà có vẻ thần bí vậy? Bỗng dưng Phong kêu lên: - Hạnh Hoa! Ai nấy trong nhà đều ngơ ngác: - Ai là Hạnh Hoa? Lúc này Phong mới quả quyết: - Chắc là nàng ấy đưa tôi về đây! Rồi anh thuật lại chuyện ở bến đò, nghe xong không ai tin đó là sự thật: - Chắc là Phong nó bị ảo tưởng hay sao rồi? Làm gì có chuyện như thế! Bác gái của Phong suy nghĩ cẩn trọng hơn, bà nói: - Cứ để cho nó nghỉ ngơi rồi sẽ hỏi lại sau. Nhưng Phong thì không yên, anh hỏi ông anh mình: - Đường từ đây về bến đò Lợi Giang bao xa và ngoài đường sông, còn có đường bộ không? Người anh lắc đầu: - Ngoài đường sông, không còn cách nào về đó. Nơi ấy cách đây hơn bốn mươi dặm, mỗi ngày chỉ có hai lần đò đưa. Hôm qua chú về đây giờ đó cũng hơi lạ, bởi không có chuyến đò nào đi trễ như vậy. Bà bác của Phong cũng nói: - Chắc là người nào đó đem cháu về nhà họ rồi mới đưa về đây nên tới vào lúc nửa đêm. Cháu có quen ai ở xóm này? - Dạ đâu có. Mấy năm con mới về đây một lần, đường đi còn không nhớ, làm sao có người quen. - Còn cô Hạnh Hoa nào đó? - Thì con đã nói rồi, đó là cô gái con mới quen ở bến đò. Con nghi là cô ấy đưa con về đây thôi, chớ đâu đã chắc. Người anh họ quả quyết: - Không cô Hạnh Hoa thì cô nào khác thôi. Chữ viết của con gái rõ ràng. Chú nhớ lại xem, còn có cô nào nữa? Bị chất vấn lôi thôi, Phong đâm bực: - Làm gì có ai! Anh dùng dằng tính bỏ đi, nhưng chợt nhớ bệnh tình của ông bác, nên quay vào nhà trong, hỏi: - Bác ra sao rồi? Bác gái anh vui mừng nói: - Ổng đang bệnh nặng lắm, thầy thuốc xứ này đã chạy hết nên mới nhắn con về gấp. Nhưng chẳng hiểu sao tự dưng từ trưa hôm qua đến giờ ông ấy lại hết bệnh! Đang ở ngoài sân sau tỉa cây. Phong đi ngay ra sân sau, anh ngạc nhiên thấy bác mình khoẻ như chẳng hề bệnh hoạn gì. - Sao nghe bác bệnh nặng, con lo quá... Viên ngoại họ Từ cười tươi với cháu: - Bác khoẻ còn hơn lúc chưa bệnh nữa! - Bác uống thuốc gì vậy? Từ viên ngoại kéo Phong lại gần: - Bác chỉ nói riêng cho con nghe thôi, đừng để tới tai bác gái con thì phiền... Bác chẳng có thuốc men gì cả, đêm hôm trước khi bác đang ngủ thì bỗng mơ thấy một cô gái thật lạ đẹp, đứng bên giường bác và cất tiếng hỏi: Có phải ông là bác của Mã Phong ở làng Hoài Sơn không? Bác còn chưa kịp trả lời thì cô ta đã tiến lại gần bác, đưa tay chạm vào vai bác hai lần, rồi đi... Vậy mà khi tỉnh lại thì bác chẳng còn thấy bệnh tật gì! Bác mừng quá, nhưng không dám nói cho bác gái con nghe, tính bả hay ghen tuông bậy bạ, sợ lại nghĩ bác mơ tưởng gái liêu trai này nọ... Phong ngạc nhiên quá đỗi: - Bác có nhớ mặt cô gái đó không? - Chẳng những nhớ mà bác còn được cô ấy nói cho biết tên nữa. Tên là Hạnh Hoa. Phong kêu lên: - Hạnh Hoa! Tiếng kêu của anh quá lớn, khiến bà viên ngoại từ nhà trước phải chạy vào: - Có chuyện gì vậy? Từ viên ngoại có vẻ lúng túng, còn Phong thì nhanh trí đáp: - Dạ, con mừng bác con hết bệnh, con không ngờ! Bà Từ quay vào mà vẫn lẩm bẩm: - Ông này bệnh giống như bệnh tà vậy... Chiều hôm đó, Từ viên ngoại cho làm tiệc linh đình để thết đãi cả nhà, đồng thời cũng mừng cậu cháu trai về thăm. Ông bảo Phong: - Không mấy khi về chơi, kỳ này con phải ở lại đây chơi vài tháng mới được đi! Phong do dự: - Con còn nhiều việc. E là... Phong nghĩ ngay tới việc mình phải trở lại bến đò tìm Hạnh Hoa, nên dù sau đó ông bác có ép lắm, anh cũng chỉ ậm ừ cho qua. Trong bụng Phong thì tính chỉ ở lại vài ngày thôi... PHẦN II Đêm hôm đó, trằn trọc mãi mà Phong vẫn chưa ngủ được. Anh nằm xuống, ngồi lên năm ba lượt, rồi cuối cùng quyết định mở cửa sau đi ra sân vườn. Khu vườn lúc trưa Phong đã đứng rất lâu với ông bác, nhưng so với lúc này thì nó khác xa. Vườn vắng lúc nửa đêm có cái gì đó khác lạ, với Phong điều này lại là sự thú vị. Anh đang muốn tìm một chút thư giãn đầu óc hơn là sự yên ắng bình thường... Và chừng như ước gì được nấy, vừa khi ấy Phong ngửi được thứ hương thơm rất lạ, mà thoạt tiên anh ngỡ đó là hoa trong vườn. Nhưng nhìn quanh không thấy có khóm hoa nào, mà ngửi kỹ thì đấy không phải là hương từ những cánh hoa tươi... Chợt một mảnh giấy nhỏ rơi ngay trước mặt, Phong nhặt lên xem và giật mình, bởi mấy chữ trong giấy là gửi cho anh! "Chào anh Phong. Lâu lắm rồi anh mới trở lại, không thể đi ngay được đâu!". - Ai vậy? Phong ngơ ngác nhìn quanh và cảm giác như có ai đó đang đứng rình. Nhưng tuyệt nhiên không có ai cả. Một tiếng động cũng không. - Ai có ý trêu chọc thì xin ra đây, Phong rất muốn được gặp! Anh lặp lại câu nói đến lần thứ hai, vẫn im lặng. Chẳng nghĩ ngợi thêm, Phong bước nhanh về phía trước và mừng thầm, bởi càng đi thì hương thơm như gần hơn, chứng tỏ anh theo đúng hướng. Nhưng khi đến cuối vườn thì Phong hơi thất vọng. Bởi trước mặt anh là bức tường rêu phong cao ngất, không có lối đi nữa. Nhìn chung quanh là cây cối um tùm, bóng đêm dày đặc. Phong tiu nghỉu quay trở lại, thì giẫm phải một mảnh giấy nữa. Nhặt lên và cũng như lần trước, có mấy chữ quen thuộc: "Trở về phòng sẽ gặp!". Phong cố tìm một lúc, vẫn không thấy gì lạ, anh đành bước nhanh trở về. Vừa bước vào phòng anh đã ngửi được hương thơm giống như nãy giờ ngoài vườn! - Ai đó? Anh thắp sáng ngọn đèn lên thì thất vọng, bởi căn phòng vẫn trống không! - Chắc chắn nàng ta vừa mới ở đây! Thật ra nàng nào Phong đâu có biết. Vả lại nếu có nàng nào thật thì sự xuất hiện đột ngột vào giữa đêm như thế này đâu phải là điều lành! Tuy nhiên, chẳng hiểu sao Phong nôn nóng muốn diện kiến cho bằng được. Bởi vậy anh cúi xuống gầm giường, mở bung cánh cửa tủ quần áo để tìm xem nàng ta có trốn trong đó? Khi đã biết chắc là không thì đôi mắt Phong lại sáng lên khi nhìn thấy một mảnh giấy đặt trên gối. "Tắt đèn, đi nằm. Và nhớ, chỉ được chạm vào người bên cạnh khi nào được phép. Tuyệt đối không được nói chuyện, không được mở đèn. Làm ngược lại thì sẽ ân hận!". Tính tình vốn bướng, nhưng lúc này anh chàng Phong lại ngoan ngoãn. Có lẽ sự thôi thúc gặp người đẹp đã khiến anh quên hết... Tắt đèn và leo lên giường nằm trong thế chờ đợi... Chỉ vài chục giây sau thì Phong có cảm giác có thân người ai đó đặt lưng xuống bên cạnh anh, rồi hơi thở nhẹ nhàng phả vào mặt, khiến Phong ngất ngây. Rồi bất chợt một bàn tay ai đó đặt lên tay anh và kéo nó nhè nhẹ sang bên. Nơi tay Phong vừa đặt xuống không cần nhìn thấy anh cũng hiểu là mình đặt ở đâu. Mềm và mát lạ thường! Quên lời dặn, Phong vừa định lên tiếng thì chợt miệng anh như bị bàn tay ai đó chặn lại. Người ấy cũng không nói gì... mà chỉ hành động. Nếu ai hỏi Phong, anh đang bị khiến làm gì thì có lẽ Phong cũng không tiện nói ra. Có những việc không cần nói mà ai cũng hiểu... Thời gian qua thật chậm... Đến khi Phong nghe tiếng gà gáy rộ thì cũng là lúc thân thể anh bị đẩy mạnh ra, khiến anh suýt ngã xuống giường! Lúc định thần lại, đưa tay sờ bên cạnh thì không còn thấy ai. Anh kêu lên: - Cô! Không nghe tiếng đáp, Phong nhảy xuống giường, đốt sáng ngọn đèn và lần này cũng bắt gặp một mảnh giấy với dòng chữ: "Đã là phu quân của người ta, cấm không được tơ tưởng đến người khác. Làm trái lại thì hậu quả sẽ khôn lường!". Nhớ lại những điều diễn ra trong đêm, tự dưng Phong rùng mình. Cảm giác đê mê thì còn nguyên, nhưng một cái gì đó rờn rợn cũng đang len lỏi trong người anh... - Dậy chưa Phong? Tiếng gọi của bà bác. Phong lên tiếng: - Dạ, con dậy từ nãy giờ. - Sửa soạn rồi đi với hai bác sang nhà của bác Cả Sanh. Sáng sớm nay họ mời. - Dạ. Tuy dạ nhưng Phong không hề muốn đi. Bởi anh chưa biết mục đích của chuyến đi, vả lại chuyện về đây để đi thăm viếng người này người nọ là điều Phong không nghĩ tới. Bà Từ lại nói vọng vào: - Mình đi sớm, bởi họ đã mời điểm tâm. Lại có cả chuyện đó. Phong nản quá, nhưng anh không dám cãi, bởi từ khi cha mẹ mất rồi thì người bác này chẳng khác là cha. Bà Từ lại rất thương Phong nữa. Không đầy nửa giờ sau thì vợ chồng Từ viên ngoại đã chờ sẵn ngoài sân. Khi Phong bước ra thì ông Từ đã lên tiếng ngay: - Ngày xưa bác đi coi mặt vợ mà được mời đón như vậy thì sướng biết mấy! Nghĩ mà ghen tị với con. Phong ngơ ngác: - Bác nói... coi vợ cho ai? Bà Từ lừ mắt nhìn ông: - Tật lanh chanh của ông cũng không chừa! Rồi bà quay sang Phong, giục: - Lên xe lẹ lên con! Bước lên chiếc xe ngựa khiến Phong chợt nhớ chuyến xe tới bến đò hôm trước, bất giác anh nói: - Có lẽ ngày mai hai bác cho con về. Con có nhiều việc... Bà Từ nghiêm giọng: - Làm sao về được! Con nên nhớ... Bà kịp dừng lại trước khi nói ra điều bà chưa muốn nói. Và bà chuyển sang chuyện khác: - Con năm nay bao nhiêu tuổi rồi, Phong? - Dạ tuổi Thìn, hai mươi. Ông Từ chen vào nói: - Con rồng thì bay bổng, bay cao dữ lắm. Thường đàn ông tuổi rồng hay đào hoa... Bỗng bà trừng mắt: - Vậy ông cũng đâu có ngoại lệ! Biết mình lỡ lời, nhưng không còn kịp nữa, ông Từ lắp bắp: - Tôi... tôi thì khác... Cái máu sư tử Hà Đông của bà thì ông Từ còn lạ gì, nên sau câu nói hớ ấy, ông ta im như thóc. Phong phải phá tan không khí căng thẳng: - Bữa nay sao bên bác Cả Sanh lại mời mình qua sớm vậy bác? Mà sao họ biết cháu về? - Ờ... người ta đợi con về ngày đêm. Họ... Nhà Cả Sanh cách đây không xa lắm, nhưng xe ngựa chạy chậm, nên phải mất một giờ sau họ mới tới nơi. Vợ chồng Cả Sanh đã ra tận cổng đón khách, và chừng như họ chỉ chú ý một mình Phong. Cho nên khi vừa thấy mặt, đích thân Cả Sanh đã ôm chầm lấy anh và nói một câu mà Phong ngỡ ngàng: - Có được chàng rể như vậy mới xứng đáng! Có lẽ sợ Phong thắc mắc, nên bà Từ vội nói: - Xin lỗi để anh chị Cả đợi lâu. Bởi ông nhà tôi mới hết bệnh, xe không dám chạy nhanh. Ông Cả Sanh nắm tay Phong đưa vào nhà và quay vào trong gọi lớn: - Nói cô Hai bay chuẩn bị ra chào khách đi! Một tiếng dạ như trong tuồng hát, giọng một nữ nhân vừa nhão vừa kéo dài. Bà Cả có vẻ hãnh diện khoe: - Con Hai nhà tôi tính tình vui vẻ, cả làng này ai cũng thương mến. Để cháu nó ra chào anh chị và... cậu Phong đây. Rồi bà nói riêng với Phong: - Trong lúc người lớn nói chuyện với nhau, bác cho phép con dẫn Mỹ Dung ra vườn ngắm cảnh, chuyện trò. Nội nghe giọng dạ nhão nhẹt vừa rồi Phong đã nản, giờ lại sắp phải diện kiến con người này nữa, Phong bắt đầu chán, anh ước sao giờ này mình được nằm ngủ trong phòng, để tiếp tục được hưởng cái dư vị lạ thường kia... - Dạ, con xin chào hai bác. Em xin chào... chào... Bà Cả phải đỡ lời con gái: - Đây là Phong, cháu hai bác Từ viên ngoại. Con cứ gọi bằng anh cho quen. Phong không buồn nhìn lên, tuy nhiên khi nghe bà Từ nhắc khẽ, anh mới ngẩng lên. Và... - Ủa, Hạnh... Hạnh Hoa! Bà Từ ngạc nhiên: - Con gọi ai là Hạnh Hoa? Bà Cả phải nhắc: - Con gái bác tên là Mỹ Dung. Nhưng Phong đã quả quyết: - Đúng là Hạnh Hoa rồi! Hạnh Hoa, cô không nhớ tôi sao? Tôi là người cho cô quá giang xe ngựa tới bến đò chiều mưa hôm đó. Tôi là... Bà Cả phải lên tiếng: - Vậy ra hai đứa đã từng quen nhau! Thảo nào... Bà Từ hỏi: - Có phải cô gái mà mấy bữa nay con nhắc tới hoài đây không? - Dạ đúng rồi. Vậy mà con cứ tưởng... Tuy nhiên, lúc ấy Phong nhớ lại giọng nói nhão nhẹt của cô gái này vừa rồi thì khựng lại. Thấy Phong nhìn con gái mình, bà Cả lại tưởng anh chàng bị sắc đẹp của Mỹ Dung hớp hồn, nên hài lòng lắm: - Hai con có thể ra ngoài chơi, chờ chút xíu vào ăn điểm tâm. Phong hầu như không còn e dè nữa, anh nhìn cô gái, hỏi dồn: - Cô Hạnh Hoa thật sự không nhớ tôi sao? Cô gái tên Mỹ Dung ngơ ngác: - Anh hỏi ai? Hạnh Hoa nào? Phong lặp lại: - Hạnh Hoa, nhà cô ở Gò Trúc, thôn Cây Trâm. Đêm hôm đó... Phong định nhắc lại chuyện cũ, nhưng nhìn thấy có nhiều người nên thôi. Trong lúc anh còn đang lúng túng thì cô gái đã chủ động rủ: - Ta đi ra ngoài chơi đi! Nghĩ đó là dịp may, nên Phong đi theo. Ra tới chỗ vắng, anh vừa định lên tiếng thì cô nàng đã nói trước: - Đã thành thân với người ta rồi, bây giờ còn nhắc tới ai nữa? Còn nhớ anh đã được dặn những gì không? Phong giật mình, tròn mắt nhìn cô nàng. Thì ra "tai nạn xảy đến là với cô nàng này?" Anh bước lùi một bước, vừa lúc cô nàng phá lên cười: - Coi anh chàng tính tháo chạy kìa! Bị chạm tự ái, Phong nghiêm giọng: - Trượng phu đứng giữa trời đất, có làm có chịu, xin cô nương đừng... - Vậy ta hỏi ngươi, vừa rồi ngươi nhắc tới cô Hạnh Hoa nào, và phải chăng muốn chạy đi tìm cô ta? Bấy giờ Phong mới giải thích đầu đuôi: - Tôi quả có người bạn gái tên Hạnh Hoa, tuy chưa mặn nồng, nhưng chỉ một lần gặp gỡ cũng đủ để tôi lưu luyến. Tôi có ý định đi tìm nàng ấy, nhưng không phải lúc này. Cách trả lời khăng khái của Phong khiến cô nàng dịu giọng lại: - Khẩu khí nghe cũng khá. Nhưng dẫu sao ngươi cũng đã phạm vào điều ta cấm. Ngươi tính sao đây? - Tôi... tôi... Nàng bất ngờ nói: - Cử hành hôn lễ ngay với tôi! Phong thất thần: - Sao được? Cô nương nên nhớ là... Nàng ta đanh giọng lại: - Nếu làm trái lại thì khăn gói mà đi chầu Diêm Vương! Nàng ta nói xong quày quả bỏ đi, Phong lặng người khá lâu... trước khi có tiếng gọi từ trong nhà: - Hai đứa vào ăn sáng! Bà Cả vừa bước ra. Không thấy con gái, bà ngạc nhiên: - Con Mỹ Dung đâu? Bà phải hỏi lại lần thứ hai thì Phong mới nghe, anh lắp bắp: - Dạ... cô ấy mới ở đây, rồi... Đã biết tính con, bà Cả cười nói: - Chắc là nó chạy đâu đó rồi. Con nhỏ lớn xác mà còn con nít lắm, mai này về chắc là cháu phải mệt với nó! Phong kêu lên: - Kìa bác! Bà Cả chừng như không để cho Phong nói thêm nên quay bước vào trong. Phong đành phải bước theo vào nhà. Mọi người đã tề tựu đông đủ, cả cô gái vừa rồi! Phong khựng lại, thấy vậy ông Cả Sanh giục: - Ngồi vào đi cháu. Đến ngồi bên con Mỹ Dung đây, hai bác cho phép! Bà Từ cũng đưa mắt ngầm bảo Phong làm theo lời. Chẳng biết làm sao hơn, anh chàng đành phải rụt rè bước tới ngồi xuống chỗ trống duy nhất. Mỹ Dung không còn thái độ như lúc nãy, cô ta lịch sự lấy đũa chén cho Phong, và còn bạo dạn gắp thức ăn mời: - Ăn đi chớ, mọi người chỉ còn đợi anh thôi. Lạ quá, giọng cô nàng lúc này khác hẳn lúc nãy, cả âm thanh lẫn cung cách. Phong thu hết can đảm đưa mắt nhìn sang, và... anh há hốc mồm, không tin vào mắt mình nữa. Cô nàng ngồi đây tuy có giống với Hạnh Hoa, nhưng như có cái gì đó xa lạ, không hề có cái nét quen thuộc của một Hạnh Hoa mà Phong đã quen! - Cô... Cô nàng quay sang phân bua với mẹ: - Má coi, ảnh cứ nhìn con hoài, ai mà ăn được! Phong ngượng quá, anh phải nói lảng: - Tôi... tôi nhìn con chim lạ ngoài cửa sổ... Suốt bữa ăn, Phong cứ thấp thỏm không yên, anh muốn hỏi chuyện nhưng lại không dám nhìn sang cô nàng. Ông bà Cả thì nghĩ là cứ để cho đôi trẻ tự tìm hiểu nhau. Đến gần xong bữa ăn, bà Cả mới nhắc lại chuyện chính yếu của ngày gặp mặt hôm nay: - Giữa hai nhà chúng ta thì không cần phải rào đón gì nữa. Sẵn hôm nay có mặt đông đủ, hai bác công bố chuyện trọng đại này: Hai nhà đã đồng ý kết thông gia, rằm tháng này sẽ tiến hành lễ hỏi, rồi ba tháng sau thì hôn lễ sẽ được tổ chức ở hai nhà. Kể từ hôm nay, hai bên cha mẹ cho phép hai đứa được qua lại, chuyện trò thân mật với nhau. Cháu Phong có thể gọi là cha mẹ cho quen. Biết Phong sẽ có phản ứng, nên bà Từ nói chặn ngang: - Mọi chuyện người lớn đã bàn xong hết rồi. Các con không phải lo gì hết. Phong cần bàn gì thêm thì về nhà mình nói chuyện. Đột nhiên Mỹ Dung vụt đứng dậy, cô nàng bỏ chạy bay vào nhà trong. Bà Cả nhìn theo lắc đầu: - Con gái đứa nào cũng giống như nhau. Mắc cỡ vậy chớ còn... Còn lại một mình, Phong cũng tìm cách đứng lên, anh thoái thác: - Con no rồi, xin phép... Bước trở ra sân sau lúc nãy, chợt Phong nhìn thấy một bóng người giống hệt cô gái có khuôn mặt như Hạnh Hoa. Cô ta bước đi thật nhanh như cố tránh mặt Phong. - Nhà này có tới hai người con gái? Không kịp suy nghĩ thêm, Phong bước thật nhanh theo cô gái vừa khuất sau lùm cây. Trong lúc bước vội, Phong giẫm phải một vật, đến khi cúi xuống nhìn anh mới giật mình, bởi vật mà anh vừa giẫm lên chính là chiếc áo màu thiên thanh mà cô gái mới mặc! Còn đang ngơ ngác thì Phong nghe một giọng nói từ phía sau: - Anh lại vi phạm lời hứa rồi! Bây giờ cũng giống như chiếc áo đó, anh phải cởi hết quần áo ra, coi như hình phạt đầu tiên. Hãy làm đi! Phong chưa kịp có phản ứng gì thì như bị ai đó giật phăng chiếc áo ra khỏi người! Cú giật thật gọn và nhanh, khiến Phong chỉ kêu lên một tiếng khẽ thì thân đã trần trụi! - Kìa, tôi... tôi... Anh đoán thế nào cũng tới phần dưới thân thể, nên dùng cả hai tay ôm lấy lưng quần, vừa cố lý giải: - Tôi có làm gì sai đâu. Tôi chỉ vô tình bị người ta gán ghép cho điều mà tôi hoàn toàn không muốn... Mặc cho anh nói, lại một cú giật phăng nữa và lần này thì Phong chỉ còn biết xấu hổ ôm lấy mặt. Anh nghe gió thổi mát cả thân thể, điều đó có nghĩa là anh đang... Phong hiểu là mình phải làm gì, anh vội lăn thật nhanh vào bụi rậm gần đó, trong lúc tay vẫn ôm lấy mặt! Một lúc khá lâu, không nghe động tĩnh gì, Phong từ từ mở tay ra khỏi mắt và... phát hiện chung quanh mình chẳng có ai. Thân thể không còn mảnh vải che thân, nên dù vắng người, nhưng Phong vẫn phải nằm yên đó... Một lúc sau, Phong nghe có tiếng của bà Từ và bà Cả, họ đang nói về anh: - Thằng coi vậy mà cũng không vừa. Mới đó mà đã lẻn vô phòng con nhỏ. Chuyện này nếu lúc bình thường thì không dễ chịu với ông Cả nhà tôi đâu! Nhưng nay thì có thể... Giọng bà Từ: - Chị Cả thứ lỗi cho sự trẻ lòng non dạ của lũ trẻ. Dẫu sao thì chuyện cũng lỡ rồi. Nhưng tôi cũng chẳng hiểu sao, chỉ trong thời gian ngắn vậy mà thằng Phong nhà tôi lại đủ sức để làm được chuyện ấy... Bà Cả hơi lớn tiếng: - Bộ quần áo nó bỏ lại trong phòng con Mỹ Dung đã nói lên hết mọi chuyện rồi, chối cãi gì nữa! Nhưng mà thôi, tôi vừa nói lúc nãy, nhà tôi sẽ chẳng bắt lỗi nó, miễn là chúng ta tính cho gọn chuyện này! Nằm trong bụi, khi nghe nói đến đó Phong đã hiểu! Thì ra bộ quần áo của anh vừa bị lột đi, đã... nằm gọn trong phòng cô con gái ông bà Cả. Có nghĩa là Phong đã vừa làm chuyện đồi bại với con gái cưng của người ta. Bị oan, nhưng lúc ấy Phong chẳng có cách nào lên tiếng để thanh minh. Lúc ấy, hai người đàn bà lại dừng rất gần chỗ Phong nằm trốn và tiếp tục câu chuyện. Giọng bà Cả: - Tôi tính như thế này, ta nên cử hành hôn lễ cho tụi nó sớm hơn dự kiến. Bà Từ giọng yếu xìu: - Tùy chị thôi... - Tôi tính bỏ luôn lễ hỏi, làm lễ cưới ngay tuần sau! Bà Từ vẫn không phản ứng gì: - Tùy chị... Bà Cả có vẻ phấn khởi lắm: - Tôi vui là chị cũng hiểu chuyện và muốn cho nó tốt lành. Thôi được rồi, mình không cần phải đi tìm thằng Phong nữa, rồi tự khắc nó sẽ biết mà về. Vợ chồng tôi cũng không nhắc tới nữa. Họ quay trở vào nhà. Phong quá bức xúc, anh không dằn được, đã kêu lên: - Không được! Nhưng vừa khi ấy, cổ họng của anh như bị ai đó bóp chặt, không để tiếng nói phát ra... *** Việc mình đột ngột bỏ nhà đi chắc chắn là sẽ gây nhiều lo lắng và phiền toái cho gia đình bác lắm, nhưng Phong vẫn nhất quyết đi. Bởi anh hiểu, nếu để tới ngày mai thì mọi việc đã quá trễ. Khi ấy hôn lễ sẽ cử hành! Điểm tìm đến của Phong không ngoài xóm Cây Trâm. Anh không tin những gì mình chứng kiến lần trước... Và quả đúng như vậy. Khi Phong bước tới đầu xóm anh đã vô cùng vui sướng khi nhìn thấy một xóm nhà nằm yên bình dưới rặng cây xanh tươi. Gặp ngay một người phụ nữ lớn tuổi, Phong dè dặt hỏi: - Thưa cô, đây là xóm Cây Trâm? Người đàn bà vui vẻ đáp: - Chính là đây rồi. Cậu hỏi nhà ai? - Dạ... nhà cô Hạnh Hoa? Cứ sợ như lần trước, nên sau câu hỏi Phong giương mắt nhìn và cầu mong cho câu trả lời thuận lợi. Và quả như vậy: - Hạnh Hoa hả? Phải con nhỏ xinh đẹp, có cái nốt ruồi duyên ở môi trên không? Phong mừng rỡ: - Dạ đúng rồi! Đúng là có cô ấy hả cô? Người phụ nữ đưa tay chỉ về căn nhà ở cuối xóm: - Nhà nó đó. Xóm này chỉ có mình nó tên là Hạnh Hoa, nên cậu khỏi phải tìm thêm. Tôi thấy nó có nhà đó. Bà ta đáp xong thì đi ngay, không đợi cho Phong cám ơn. Phong thì mừng đến nỗi bước đi gần vấp phải đá. Tuy ngôi nhà còn cách khoảng vài trăm thước nhưng do quá mừng nên Phong đi rất nhanh, phút chốc đã đứng ngay trước cổng nhà. Anh cất tiếng gọi mà không cần giữ ý: - Hạnh Hoa ơi! - Tới nhà rồi mà còn la lớn quá, không sợ thiên hạ hay biết sao? Phong giật mình quay lại thì trố mắt kinh ngạc, bởi đang đứng trước anh chính là một Hạnh Hoa bằng xương bằng thịt hẳn hoi! - Tôi... tôi không lầm chớ? - Anh lầm cái gì? Phong hơi ngập ngừng: - Cô là... Hạnh Hoa thật chớ? Có phải... Nàng cười thật tươi: - Người đã được quá giang xe trong buổi chiều mưa đó. Mấy ngày nay người ta đợi dài cổ ra mà vẫn biền biệt. Cứ tưởng cái xóm nghèo này không hân hạnh được đón chàng công tử hào hoa kia... Phong mau mắn: - Đâu có, tôi đã trở lại đây rồi... Nàng chặn lời: - Thôi, đã tới là được rồi. Anh vào nhà đi, em đã làm cơm sẵn đợi cả buổi rồi. Phong ngạc nhiên: - Cô biết tôi sẽ tới sao? Tôi không báo... Cô nàng nhí nhảnh, đáng yêu hơn là Phong tưởng. Anh không tiện hỏi thêm, theo nàng ta vào nhà. Ngôi nhà tuy nhỏ và đơn sơ, nhưng mọi thứ đều ngăn nắp sạch sẽ và thoang thoảng hương thơm... Chính mùi hương này đã khiến Phong phải kêu lên: - Đúng mùi hương này rồi! Hạnh Hoa như không hiểu, hỏi lại: - Anh nói đúng cái gì? - Hương thơm này! Nàng lại cười: - Em có dùng nước hoa bao giờ đâu. Mọi thứ đều tự nhiên mà. Phong nhớ rõ mùi hương mà anh đã ngửi được suốt mấy đêm liền, nhất là mùi hương phả ra từ thân thể cô nàng đêm ân ái... Anh quả quyết: - Chính là em rồi, Hạnh Hoa! Bất chợt Phong chụp lấy tay nàng, và... kinh hãi bỏ ra ngay, bởi cảm giác lạnh đến tê buốt cả người khiến cho Phong tròn mắt nhìn. - Em... em... Hạnh Hoa chợt run lên như người phát bệnh. Phong hốt hoảng: - Hạnh Hoa, em sao vậy? Nàng vụt quay người chạy vụt đi. Phong nghe rõ một tiếng khóc từ nàng. Chẳng hiểu mình phạm lỗi lầm gì, Phong nói với theo: - Cho anh xin lỗi! Nàng đã khuất ở nhà trong. Phong không tiện tiến sâu vào nhà, nên chỉ cất tiếng: - Nếu anh có làm điều gì thất thố thì xin tha cho anh, anh không cố ý. Không có ai đáp lời, Phong đành phải ngồi ở phòng ngoài chờ. Lúc này anh mới để ý giữa phòng khách có đặt một tủ thờ, bên trên không có ảnh hay bài vị, mà chỉ có một tấm lụa màu trắng, cùng một bát nhang. Ngồi đợi khá lâu, sức chịu đựng sắp hết giới hạn thì cô nàng từ trong đi ra, trên tay bưng mâm có để một phong nhang, một dải lụa màu đỏ, một con dao và một cái chén. Lạ hơn nữa là lần này nàng đã thay bằng một đồ tang, trên đầu vấn khăn tang đã cũ! Không nói lời nào, nàng quỳ xuống trước bàn thờ, hai tay dâng mâm lên và im lặng... Chẳng ai bảo, Phong cũng tự động quỳ xuống ngay phía sau lưng nàng. Lúc này chợt nàng cất tiếng: - Đời con gái đã bị xúc phạm thì đâu còn gì để dám nhìn mặt tổ tiên! Nay xin cho con được chọn một trong ba hình thức... Nàng bất ngờ đặt chiếc mâm xuống, lúc này Phong mới nhìn rõ trong cái chén có chứa một chất nước màu đen, và... anh chợt hiểu! Nhưng Phong chưa kịp kêu lên thì nàng đã tiếp lời: - Cái nhục của người con gái chỉ có thể rửa bằng một nhát dao, một dải lụa treo cổ hoặc một chén thuốc độc, con sẽ chọn một trong ba... Nàng thật nhanh tay, chụp lấy chén thuốc! Lúc này, Phong hiểu anh chỉ chậm một giây là mọi chuyện hỏng bét hết, nên bằng hết sức mình, anh lao nhanh tới và đưa tay đổ ngay chén thuốc. Một tiếng rơi vỡ, cùng lúc với tiếng thét của nàng: - Để tôi chết! Phong tiện tay hất tung cả chiếc mâm. Trong lúc rối loạn ấy, may mắn sao Phong lại chụp được phong nhang. Và cũng thật nhanh, anh chàng lao tới bàn thờ, sẵn cây đèn dầu đang cháy, Phong đưa cả bó nhang vào, đốt một lúc! Mùi thơm của nhang tỏa ra, vừa lúc Hạnh Hoa bật khóc thành tiếng! Chẳng biết làm gì với nguyên bó nhang đang cháy trên tay, Phong quỳ đại xuống ngay bên cạnh nàng, cất tiếng mà cảm giác như không phải do mình nói: - Con xin chuộc lỗi bằng cách... được cưới nàng làm vợ! Câu nói của Phong thật bất ngờ, nhưng xem ra cô nàng vẫn không ngạc nhiên, vẫn tiếp tục khóc và gục đầu xuống... Phong tưởng mình nói chưa đủ thuyết phục, nên lại tiếp lời: - Con, Từ Thanh Phong, năm nay hai mươi tuổi, đã gặp và đem lòng yêu người con gái tên Hạnh Hoa này. Trong thời gian qua, nếu con có làm điều chi không phải thì nay con xin chuộc lỗi bằng cách nhận nàng làm vợ. Con xin hứa... Bỗng dưng nàng quay sang giật phăng bó nhang trên tay Phong và ném nó tung bay lên không trung! Hành động quá bất ngờ đó khiến Phong chỉ biết ngơ ngác nhìn... Tuy nhiên, khi những cây nhang rơi xuống thì thật lạ lùng, nó biến thành những mảnh giấy nhỏ, chẳng khác hoa trong ngày cưới! Phong đang lo lắng, bỗng hoá ra tươi tỉnh, anh nói to: - Được chứng cho rồi! Anh mừng quá nhảy cẫng lên, đến khi nhìn xuống thì chẳng thấy Hạnh Hoa đâu! - Hạnh Hoa! Nơi nàng vừa quỳ chỉ còn lại bộ đồ tang. - Hãy trở lại đi, Hạnh Hoa! Anh nói thật lòng mà. Anh đã thề trước tổ tiên thì quyết không thay lòng đổi dạ! Mặc cho Phong nói rát cả họng, cô nàng vẫn biệt tăm. Lát sau, không dằn lòng được, Phong xông đại vào nhà trong. Nhưng anh càng thất vọng hơn, khi phòng duy nhất của ngôi nhà trống không. Ngoài ra, ngôi nhà này không có chỗ nào để trốn lánh được. Đến khi ra tới cửa sau thì bất chợt Phong nhìn thấy một mảnh giấy của ai treo ngay cửa ra vào. "Hãy về ngay nhà bác, nếu chậm thì không bao giờ gặp được em!" - Hạnh Hoa. PHẦN III Bà Cả Sanh đứng ngồi không yên từ mấy bữa nay, và lại càng như đứng trên lửa từ sáng đến giờ. Bởi giờ ngọ hôm nay là giờ bên đằng trai sang rước dâu, mà cô dâu thì... ngủ mê man từ hai hôm rồi, vẫn chưa tỉnh! Đã cho người đi rước lương y mà cũng chưa thấy tăm hơi. Lại bị ông chồng khó tính trách móc: - Cũng tại bà, ai bảo định ngày cưới chi cho gấp gáp quá, để rồi giờ đây quýnh lên. Bà Cả nổi nóng, giờ có chỗ để xì ra: - Nếu nghe theo lời ông thì con gái nhà mình chỉ có nước theo đầu bếp mà phơi khô, chớ ai mà dám tới cưới! Cũng tại con gái tuổi dần cao số, đã hơn cả chục nơi dạm hỏi rồi, mà cuối cùng bỏ chạy hết, vì ai cũng ngán con cọp cái! Ông Cả bỗng cười vang: - Vậy ra chỉ có tôi là đui mù, điếc không sợ súng, nên mới đi rước con cọp cái về nhà! Chợt nhớ mình cũng tuổi dần, nên bà Cả dịu giọng: - Nhưng... đâu phải cọp cái nào cũng... ăn thịt cọp đực đâu! Bằng chứng là hơn ba chục năm sống với ông tôi nào phải là cọp hay chằn gì đâu! Ông chắp tay xá vào không khí mấy cái liền: - Lạy trời, nếu như vậy mà không phải cọp hay chằn, thì chẳng hiểu hai thứ đó còn dữ đến mức nào nữa! Bà bí thế, xoay qua dùng ngón đòn cũ rích, nhưng luôn luôn hiệu quả, đó là lồng lên: - Bây giờ ông ngồi đây đôi co, ăn thua đủ với tôi phải không? Ông nói đi, để rồi tôi còn tính... Luôn luôn ở thế đang mạnh thành yếu, nên đến lúc đó ông Cả tiu nghỉu đáp: - Ờ nói vậy chớ... bà vẫn là vợ yêu quý mà! Có gì đâu... Bà hất hàm: - Bây giờ ông tính sao? Lỡ lát nữa người ta tới đón dâu thì lấy con gái đâu giao cho họ? Không lẽ khiêng cô dâu ra xe về nhà chồng như khiêng heo! Ông Cả chợt nảy ra một ý: - Hay là ta cứ cho kiệu hoa vào tận phòng con gái mình, khiêng nó lên rồi đưa trở ra, có ai mà biết được! Bà nguýt ngang: - Nói vậy mà cũng nói được! Rồi lấy ai lạy gia tiên, lấy ai làm lễ tơ hồng? Họ còn đang bối rối, thì bỗng có người nhà về báo: - Không xong rồi ông bà ơi! - Chuyện gì vậy, con Chín Hoa này? Chín Hoa bô bô cái miệng: - Con vừa ở bên nhà ông bà Từ viên ngoại về đây. Cậu Phong đi đâu mất từ mấy hôm nay đâu đã về! Vợ chồng Cả Sanh hốt hoảng: - Nó đi đâu? - Thì từ hôm ở đây, cậu ấy đi luôn. Nhưng bên đó nói dối là cậu ta trở về rồi. Thật ra cho đến lúc con trở về đây thì cậu ấy vẫn bặt vô âm tín! Bà Cả buông thõng người xuống ghế, ôm đầu rên rỉ: - Làm sao đây hở trời! Lát nữa bà con họ hàng kéo tới để đón nhà trai và đưa dâu, mình phải ăn nói sao đây? Ông thì tỉnh táo hơn: - Họ cũng đang rối còn hơn mình nữa. Sao không nhân chuyện này mà tuyên bố hoãn đám cưới lại, đổ thừa tại bên đằng trai có ông già hay bà già gì đó bệnh ngặt sắp qua đời! Tuy ít khi nghe theo ý của ông chồng, nhưng giờ này đang thế bí, nên bà Cả đành phải nói theo: - Đành phải vậy thôi... Bỗng lúc đó có một giọng nói vọng ra từ bên trong: - Ai cho hoãn đám cưới? Bà Cả ngạc nhiên: - Con... Mỹ Dung ông ơi! Mỹ Dung từ trong buồng bước ra, vẻ mặt tươi tỉnh. Cô ta nhìn một lượt khắp nhà rồi gắt toáng lên: - Sao đèn đóm phía bên này chưa thắp sáng lên? Bà Cả vẫn chưa tin: - Kìa con... sức khoẻ con sao rồi? Cô nàng dửng dưng như không: - Thêm hoa ở chỗ kia nữa. Bỏ mấy thứ hoa dùng để cúng kia đi, đám cưới mà chưng hoa như đám tang vậy! Nói xong, đích thân cô nàng đi nhổ từng cành hoa không vừa ý trong các bình hoa đã được bà Cả cho cắm, vứt tung toé khắp nơi, vừa hét đám gia nhân: - Sao không quét dọn cho sạch đi! Xưa nay, đám gia nhân ít bị cô tiểu thư nhà này chửi bới, nay nghe hơi lạ, lúc đầu họ còn ngớ người lại, sau thấy ánh mắt lộ hung quang của cô ta, đám kia răm rắp làm theo. Vợ chồng Cả Sanh cũng nhận thấy điều bất thường này, nhưng quá đột ngột nên họ còn ngây người ra đó, chưa nói được tiếng nào... - Đem hết những đồ đạc này ném xuống sông cho tôi! Mấy thứ mà cô nàng vừa bảo ném đó chính là những món mà thường ngày Mỹ Dung chưng bày ở phòng khách, có thứ là vật ưa thích nhất của cô nữa... Lúc này bà Cả không dừng được, phải lên tiếng: - Những thứ ấy là của con mà Dung. Chính con mua về, có cái do chính ba má tặng cho, còn mới nguyên sao lại đem bỏ? Bỗng cô nàng trừng mắt: - Bây giờ vứt bỏ hay để tự tay tôi làm? Ông Cả hạ thấp giọng: - Tụi bay đem bỏ theo lệnh cô bay đi... Chưa thôi, cô nàng còn chỉ tay vào phòng riêng: - Đem hết mùng màn chiếu gối trong đó bỏ đi hết. Lấy đồ mới ngoài kia đem vào thay! Lúc ấy, mọi người mới để ý thấy cả một đống mùng màn để sẵn ngoài hiên nhà. Bà Cả định cản lại, bởi tất cả mùng màn chiếu gối trong phòng là đích thân bà đi mua sắm, chuẩn bị cho đám cưới. Bà chỉ còn biết quay sang nói khẽ với chồng: - Sao nó kỳ quá, giống như... chằn lửa vậy? Ông định nói "nó giống bà" chớ ai, nhưng kịp dừng lại. Lúc đó, đám gia nhân rối rít làm theo. Một lát sau thì mọi việc đâu vào đó. Với vẻ hài lòng, lúc này cô nàng mới quay sang cha mẹ: - Con gái đã sẵn sàng về nhà chồng rồi! Bà Cả run giọng hỏi lại: - Con... có phải con là Mỹ Dung không? Giọng cô nàng trở nên khác hơn vừa rồi: - Chớ má muốn con là ai? Vậy con đi nhé! Bà Cả hốt hoảng: - Khoan đã con! Bởi... vừa rồi con làm má lo quá. Bấy giờ cô nàng mới phá lên cười: - Con tập làm bà chủ, để chuẩn bị cho vai trò này sau khi lấy chồng. Con cũng muốn là má bây giờ chớ! Bà thích thú quá, lay mạnh vai ông: - Ông nghe thấy chưa, đâu phải mình tôi bị ông gọi là cọp cái hay chằn lửa đâu! Ông Cả rùng mình, định đứng dậy bỏ đi thì Mỹ Dung đã nhắc: - Bên đằng trai sắp tới rồi đó! Bà Cả nói khẽ: - Nghe nói thằng Phong bỏ đi chưa về? Cô ta chỉ tay về phía con đường trước nhà: - Ra mà đón họ đi! Vừa khi ấy, họ nghe có tiếng xe ngựa dừng lại ở cửa, có đến trên mười chiếc. Chiếc xe rước dâu đi đầu, với hai ngựa kéo, phủ rèm đỏ kín mít, giống như bất cứ lễ rước dâu nào. Ông bà viên ngoại trịnh trọng bước xuống trước, nhưng theo sau họ không phải là Phong, mà là một người phù rể. Ông bà Cả vừa định lên tiếng hỏi, thì bà Từ đã bước tới, giọng buồn bã: - Thằng Phong... nó... nó... Thay vì đúng vai trò của cô dâu là phải che mặt, ở trong phòng kín, đến giờ mới bước ra; đằng này vừa khi ấy Mỹ Dung đã bước ra lên tiếng làm mọi người ngạc nhiên: - Đâu có gì phải lo lắng. Anh Phong vốn ngủ ở nhà con từ hôm ấy. Chúng con cùng ngủ với nhau, chuẩn bị sức khoẻ cho ngày trọng đại hôm nay! Lời cô ta vừa dứt, thì bỗng cả hai họ đều trố mắt ngạc nhiên khi thấy Phong trong lễ phục chú rể, từ từ bước ra, đứng sóng đôi với Mỹ Dung! Bà Từ như vừa tỉnh cơn mơ, bà kêu rú lên: - Phong! Vậy mà con làm cho hai bác mất ăn mất ngủ. Trời ơi, thằng khỉ gió! Phong chừng như không để ý đến thái độ của mọi người, anh rất tự nhiên đưa tay choàng qua hông của Mỹ Dung, rồi cũng rất thản nhiên dìu nhau tới trước mặt hai bên cha mẹ, khẽ cúi đầu chào. Sau đó cả hai không ai bảo ai, cùng bước tới bàn thờ làm lễ một cách rành rẽ, không đợi ai nhắc. Khiến cho vai trò chủ hôn hai bên trai gái đều trở nên thừa. Có lẽ quá mừng nên cả hai ông bà sui gia đều muốn cho buổi lễ diễn ra chóng vánh, tránh những bàn tán của bà con hai họ. Buổi tiệc mặn do đó diễn ra rất nhanh. Đến cuối giờ ngọ thì đằng trai đã xin phép ra về. Nếu có ai nhìn được sắc diện vui mừng khó tả của cô dâu sau tấm mạng che, khác hẳn khuôn mặt u sầu, lưu luyến của hầu hết các cô dâu khác thì chắc là sẽ ngạc nhiên lắm. Ngược lại, gương mặt của Phong sau khi ra vẻ tươi vui chào mọi ngươi, thì giờ đây lại ưu tư khác thường. Anh bước ra kiệu hoa mà như lê chân về nơi đầy ải nào đó... Khi ngồi lên kiệu rồi, cô nàng mới ghé sát tai chàng nói rất khẽ: - Mọi việc sẽ đâu vào đó thôi. Không sợ phạm phải lời đe của cô ta đâu! Phong cũng đáp khẽ hơn: - Tôi chỉ còn biết liều thôi, nhưng lòng dạ tôi thì trước sau gì cũng chỉ có Hạnh Hoa mà thôi! Một cú nhéo đau thấu xương, nhưng Phong ráng chịu. Anh nghe nàng nói rất khó hiểu: - Rồi biết cái tội chung tình sẽ ra sao! Xe chạy được một lúc, chẳng hiểu khi ấy nàng ghé sát chàng nói thêm câu gì đó, mà nghe Phong kêu lên: - Em là Hạnh Hoa! Người đánh xe giật mình định gò cương lại, nhưng một cánh tay của cô gái đã thò ra và thúc mạnh vào mông ngựa, chúng phóng như bay hay đúng hơn là... như ma đuổi! *** Gả được con gái là điều mà vợ chồng Cả Sanh mừng khôn xiết. Tuy nhiên, sau đám cưới một ngày thì nỗi buồn xa cách đang làm cho người đàn bà đanh đá trở nên vào ngẩn ra ngơ. Dẫu sao thì lâu nay mẹ con có nhau sớm tối, nay rứt ruột giao về nhà người ta thì làm sao không buồn. Đợi cho ông Cả đi đánh cờ ở nhà người bạn, bà Cả mở cửa vào phòng Mỹ Dung. Bà muốn sắp xếp những gì còn lại của con, nhất là giữ một vài thứ, phòng khi có nhớ thì lấy ra mà nhìn ngắm... Nhưng vừa mở cửa ra, bà Cả đã phải khựng lại, giương tròn mắt nhìn lên giường. Trên đó có một người đang nằm! - Ai... ai? Bà vừa mở miệng hỏi thì đôi chân như có ai đẩy tới, nên bà tiến sát lại bên giường. Người nằm đó chính là Mỹ Dung! - Trời ơi, bớ! Bà Cả gào lên, nhưng tiếng của bà hình như bị nghẹn lại ở cổ, bỗng bà nghe có tiếng nói khẽ: - Má nằm xuống đây! Rõ ràng là con gái đang nói với bà. Nó còn đưa tay kéo bà xuống nữa. Thân thể bà Cả không gượng được, đã ngã dài trên giường, nằm sát bên con gái. - Sao... sao con còn ở đây? Giọng Mỹ Dung yếu ớt: - Má nhìn không thấy sao, con đâu... còn sống! - Hả? Con nói... Bà định bật dậy, nhưng Mỹ Dung đã kéo tay bà đặt lên người cô ta. Thịt da lạnh ngắt! - Trời ơi, con! Giọng Mỹ Dung yếu dần, rất khó nghe: - Con phải trả... những gì ba má đã vay... của người ta... Bà Cả ngơ ngác: - Vay trả gì của ai? - Má không nhớ sao? Ngày trước, lúc con chưa ra đời thì ba có một người đàn bà khác. Chính má, vì muốn chiếm hữu riêng cho mình, nên má đã không ngại mướn người thủ tiêu cô gái tên là Hạnh Nương. Cô ấy bị dìm chết ở một cánh đồng, khi trong bụng cô đã có thai gần ngày sinh... Mỹ Dung vừa kể đến đó thì bỗng bà Cả ôm mặt gào lên: - Đừng kể nữa! Nhưng Mỹ Dung phải nói cho hết, bởi cô biết mình sẽ chẳng còn dịp để nói nữa: - Sau khi giết tình địch rồi, má độc chiếm người đàn ông tên Sanh, để rồi một năm sau thì sinh ra con. Má giấu được nhiều người về chuyện đó, nhưng với một người thì má không thể giấu được, chắc má biết là ai rồi... - Con, má van con. Con đừng... - Không được rồi má ơi! Người đó đã trở về và... đòi mạng! Mà con là người phải trả mạng cho người ta... Người ấy là chị Hạnh Hoa. Chị ấy là đứa con bảy tháng tuổi trong bụng cô Hạnh Nương. Khi cô ấy chết thì đứa bé đã được đặt tên sẵn là Hạnh Hoa cũng chết theo, nhưng vì oan uổng, nên hồn phách chị ấy mãi vật vờ rày đây mai đó. Cho đến khi gặp được anh chàng Phong. Theo duyên số thì con và Phong phải là vợ chồng với nhau, bởi trước đó ba má đã hứa với hai bác của Phong. Nhưng cô Hạnh Nương bắt chị Hạnh Hoa phải giành lại cho bằng được anh ấy. Và thế là con phải trả, mà trả cũng có nghĩa là phải trả luôn kiếp người cho họ! Bà Cả lại gào lên: - Không được? Thứ hồn ma bóng quế đó đâu đủ tư cách làm người! Con không phải trả cho ai hết, họ có giỏi thì về đòi nợ má đây! Bà ôm chầm lấy con, nhưng bỗng cả thân xác của Mỹ Dung đã tan biến mất. Chỉ còn nghe giọng như gió thoảng của cô mà thôi: - Giờ đây cái xác thật sự của con đã giao lại cho Hạnh Hoa rồi, chị ấy trở lại kiếp người và đang sống hạnh phúc bên anh Phong. Bà Cả oà lên khóc: - Má sẽ đi đòi lại! - Đừng làm điều đó, không được gì đâu! Dẫu sao thì từ nay về sau cũng chẳng ai biết được chuyện này ngoài má. Con khuyên má nên giữ kín, bởi nếu nói ra thì ngay cả hồn phách của con cũng không còn được ở bên má nữa. Từ nay, chị Hạnh Hoa sẽ đóng vai con, chị ấy cũng sẽ tốt với ba má, sẽ chăm lo cho ba má còn hơn cả con nữa. Theo con thì kể cả ba, má cũng đừng nói cho ba biết. Má nhớ lời con không? Bà Cả nghẹn ngào phản đối, nhưng trước những lời của con gái, cuối cùng bà phải hứa: - Má hứa, má sẽ im lặng. - Còn một việc nữa, ngày hôm nay má mướn người đi sang thôn Cây Trâm, tìm đúng chỗ Gò Trúc, có một ngôi mộ hoang ở đó, chính là mộ của cô Hạnh Nương. Má cho người bốc mộ, lấy cốt đưa vào ngôi chùa gần đó để cho cô ấy yên nghỉ. Làm được điều đó rồi thì từ nay coi như mọi chuyện thù hằn giữa má và cô Hạnh Nương, chị Hạnh Hoa sẽ đều biến mất. Má làm ngay đi! Im lặng hoàn toàn... Bà Cả kêu to lên: - Mỹ Dung! Nhưng dường như cô nàng đã tan biến vào không gian rồi... *** Nửa năm sau, tình cờ hôm đó nhân đi ngang bến đò, Phong tạt qua thôn Cây Trâm. Có lẽ anh muốn nhìn lại một chút kỷ niệm. Tuy nhiên, anh lại ngơ ngác khi không còn thấy thôn xóm nữa, mà nơi đó đúng là một nghĩa địa hoang vắng. Phong cố ý tìm lại ngôi mộ ngày trước thì không hề có. Mà khi hỏi về những gì anh đã chứng kiến ngày trước cũng chẳng một ai biết... Khi trở về thuật chuyện cho Hạnh Hoa nghe, nàng nghiêm giọng bảo: - Em đã nói rồi, đó là chuyện của quá khứ. Em bây giờ đã là vợ của anh, và anh chỉ nên biết có thế. Nếu anh còn nhớ tới chuyện ngày trước nữa thì Hạnh Hoa bằng xương bằng thịt bây giờ sẽ trở về cát bụi cho coi! Phong hốt hoảng: - Không, anh đâu muốn... Anh ôm chầm lấy cô vợ yêu quý. Lúc ấy nàng mới nói thật khẽ: - Báo cho anh một tin mừng... em đã có thai hai tháng! Trong lúc Phong vui mừng khôn xiết thì nàng hạ thấp giọng: - Cho đến giờ phút này em mới tin chắc là mình... chính thức được trở lại làm người. Em xin cảm ơn cô Mỹ Dung và... bà Cả Sanh nữa. Những câu nói này Phong không hiểu hết ý, nhưng vốn tin tưởng và yêu quý vợ mình, nên Phong không hỏi thêm lời nào nữa... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 27
HỒNG NƯƠNG - Phần 1 Ở thị trấn Gia Thành này, cứ mỗi năm đến mùa mưa là hầu như mọi việc buôn bán đều như dừng lại. Bởi có tiếp tục mở cửa bán thì hàng hoá cũng chỉ bày ra cho nắng mưa làm phai màu, mất giá mà thôi. Cửa hàng của Tiêu Sơn cũng nằm trong hoàn cảnh đó. Ngay khi mùa mưa bắt đầu, anh chàng lái buôn độc thân này đã tính chuyện đóng cửa rồi đi chơi đâu đó, chờ qua hết tháng tám mới trở về. Sáng hôm đó, sau khi thức dậy, chỉ ăn sáng qua loa, Sơn đã xách va-li đi ra. Trong lúc anh còn loay hoay khoá cửa thì chợt có tiếng người hỏi sau lưng: - Sao giờ này mà hiệu buôn lại khoá cửa? Quay lại, Sơn cau mày khi nhìn thấy một người đàn ông lạ, không có vẻ gì là cư dân địa phương. - Phiền ông, hôm nay cửa hàng tôi nghỉ bán. Người đàn ông lạ vẫn lịch sự: - Tôi tới đây không phải mua hàng mà để bán hàng. Sơn nhún vai, vẻ ngán ngẩm: - Hàng đã không bán thì mua vào làm gì! Anh tới nhầm chỗ rồi. Mời anh đi cho. Tiêu Sơn xách va-li bước nhanh đi, nhưng người đàn ông kia đã gọi giật lại: - Ông cần mở cửa ra để nhận những thứ này. Ông ta chỉ ra phía sau lưng mình, nơi có nhiều thùng đồ niêm phong: - Những thứ này thuộc về ông. Ông cần cất giữ nó, rồi sau đó đi cũng được. Sơn vốn tính ngay thẳng, anh hơi cáu: - Ông cho rằng tôi sẽ chứa chấp bất cứ thứ gì không phải của mình trong nhà hay sao? Người đàn ông vẫn kiên trì: - Thứ hàng này không phải của tôi, mà là của một người quen với anh gửi, nhờ tôi chuyển giùm. Anh xem người ta ghi ngoài thùng kìa. Lúc này, Sơn mới để ý nhìn mấy dòng chữ ghi ngoài thùng. Đúng là gửi cho anh, và người gửi chính là người bạn thân ở ngoài tỉnh lỵ. Sơn mừng lắm: - Lâu lắm rồi không được tin người bạn thân này, không ngờ nay anh ta lại giở trò gửi quà cáp gì nữa đây! Người đàn ông lạ lại nói: - Người gửi quà cho anh có dặn tôi là phải giúp anh đưa nó vào nhà rồi mới được đi. Vậy anh nên mở cửa cho tôi chớ. Không còn cách nào hơn, Sơn đành phải mở cửa và giúp anh ta chuyển bốn thùng hàng vào nhà. Khi các thùng hàng được mở ra thì Sơn vô cùng ngạc nhiên khi thấy trong cả bốn thùng ấy đều là hàng tơ lụa đắt tiền, những thứ mà từ mấy tháng qua cửa hàng của Sơn đã bán sạch, mà việc mua lại nó thì không thể, bởi nó hiếm và giá cả quá mắc, vượt khả năng của Sơn. Vậy mà nay... Người đàn ông lạ giải thích thêm: - Người bạn tên Phú của anh còn căn dặn tôi rằng nên ở lại giúp cho anh vượt qua giai đoạn buôn bán ế ẩm này. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ thì người giúp anh tốt nhất là một người khác, chớ không phải tôi. Anh ta vừa nói xong đã quay ra ngoài vỗ tay liền ba cái. Từ ngoài cửa, có một người lao vụt vào nhà trong tư thế đang che kín mặt mày. - Người này sẽ ở lại đây giúp anh mọi việc. Lúc ấy, người trùm mặt kia mới bỏ tấm mạng che mặt ra, lộ diện là một cô gái tuyệt đẹp! Người đàn ông lạ giải thích: - Người này cũng không phải của tôi, mà là của cậu Phú, bạn cậu. Chính cậu Phú bảo tôi đem số hàng này và cô gái tới đây gửi cho cậu. Có một lá thư gửi cho cậu nữa... Ông ta đưa cho Sơn lá thư ngắn, trong đó Phú giải thích sự việc: "Mình có việc phải ra nước ngoài một thời gian dài, là hàng hoá và công việc buôn bán không kịp thu xếp. Vậy nếu còn nghĩ tới người bạn thân này thì Sơn hãy nhận số hàng tơ lụa và cứ toàn quyền bán buôn nó theo ý thích, tiền thu được thì cứ giữ lấy, dùng nó làm vốn tái tạo lại việc kinh doanh, khi về anh em mình sẽ tính lại với nhau. Riêng người con gái này, vốn là em gái nuôi của tôi, cô ấy hiền ngoan và tốt bụng, lại giỏi giang, tôi gửi cho cậu, xin hãy vì tôi mà cho cô ấy ở nhờ, bù lại cô ấy sẽ giúp cậu việc buôn bán. Cô ấy còn độc thân, nên Sơn không phải ngại gì cả..." Đọc xong lá thư, Sơn vẫn chưa thể hiểu hết ý, anh hỏi lại: - Phú còn ở nhà nó không? Tôi phải gặp ngay nó, bởi tôi không thể lo việc này. Người đàn ông bảo: - Cậu Phú đã lên máy bay rồi, nghe nói lâu lắm mới về. Tôi là người làm công lâu năm của cậu ấy, mà nay cũng bị yêu cầu tìm chỗ mà ở. May mà tôi còn có người bà con. Vậy thôi nhé, mọi thứ anh cứ làm theo lời dặn. Tôi đi đây. Sơn muốn giữ ông ta lại, nhưng lúc đó người đàn ông kia đã biến mất ngoài cửa. Thất vọng, Sơn định lên tiếng thì cô gái đứng bên cạnh chợt nói: - Hàng hoá này anh không nên để trong thùng quá lâu. Vả lại có nhiều khách hàng sắp tới mua, anh nên bày nó ra. Sơn nhìn cô ta ngạc nhiên: - Cô... cô... Nàng ta nhắc lại: - Khách đến mua hàng đông lắm, anh phải bày hàng và mở cửa ra kẻo không kịp. - Cô biết gì chuyện bán hàng ở đây mà can thiệp. Mùa này chờ ba ngày cũng không có một người khách, chứ đừng nói... Lời Sơn chưa dứt thì đằng trước đã có nhiều tiếng huyên náo, rồi có người gọi to: - Ông chủ ơi, khách chờ mua hàng đông lắm, hãy mở cửa ra mau! Trong lúc Sơn còn đang ngạc nhiên thì cô gái lại giục: - Sao không mở cửa hàng ra đi! Rồi không đợi Sơn, cô ta đã nhanh tay mở các kiện hàng tơ lụa ra, bày trên các kệ. Việc làm cực kỳ nhanh gọn trước sự ngạc nhiên, thán phục của Sơn. - Sao anh còn chưa mở cửa ra? Khi Sơn mở cửa ra thì cũng là lúc cô nàng nhanh chân lẩn vào bên trong nhà. Sơn phát hiện ra, định hỏi, nhưng lúc ấy khách tràn vào khá đông nên anh cũng chẳng còn hơi sức đâu mà lo chuyện nào khác bằng bán hàng. Khách hàng thích thú với những hàng hoá lạ, nên người này mua lại í ới gọi người khác tới cùng mua. Chỉ nội buổi sáng mà Sơn đã bán hết một kiện hàng lớn. Điều ấy khiến các hiệu buôn cùng ngành hàng với Sơn kinh ngạc, họ chạy tới chứng kiến và bảo nhau: - Thằng cha này gặp thời hay sao, chớ mùa này ai lại ùn ùn đi mua hàng tơ lụa như vậy! Mà chỉ riêng cửa hàng của Tiêu Sơn thôi, các nơi khác hầu như khách không buồn đưa mắt nhìn, dẫu có vài nơi hàng hoá cũng phong phú không kém! Đến giờ cơm trưa hôm ấy, ngồi tính sổ sơ sơ, Sơn thấy mình đã có doanh thu bằng cả một tháng bán buôn trước đây... Lúc này anh mới chợt nhớ tới cô gái, nên đóng cửa trước, ra nhà sau tìm. Lại một lần nữa Sơn ngạc nhiên, khi thấy trên bàn ăn đã có một mâm cơm nóng hổi đã dọn sẵn! - Ủa, ai đã... Cô gái bây giờ đã thay đổi xiêm y, suýt nữa Sơn nhận không ra, anh lúng túng: - Cô... cô là... Cô gái cười thật tươi: - Em đây mà. Cứ gọi em là Tuyết Hồng. Sơn không quen lắm việc tiếp xúc với mỹ nhân, nên anh khá vụng về: - Cô... cô Tuyết... Nàng lại chủ động: - Người ta hay gọi em là Hồng Nương. Em thích được gọi như vậy. - Cô Hồng... Hồng Nương, tại sao lúc nãy cô... Hồng Nương nói năng khá tự nhiên: - Lúc ấy em bỗng bị đau mắt không chịu nổi. Vả lại... em cũng không quen... em không muốn gặp mặt người lạ. Mong anh tha lỗi cho. Sơn xua tay: - Không sao đâu! Tôi cũng không dám bắt cô Hồng phải nhúng tay vào công việc như vậy! Nàng chỉ mâm cơm: - Như việc này thì anh không cấm chớ? Em sẽ tình nguyện hằng ngày được nấu cơm hầu anh. Em ái ngại quá khi thấy bếp núc lạnh tanh, hầu như anh chẳng bao giờ nấu nướng gì? Sơn lại lúng túng: - Tôi... có một mình, lại lo buôn bán, nên... gặp đâu ăn đó, lúc nào nhớ thì ăn. - Không được. Từ nay anh phải ăn uống đúng giờ. Sơn khoe chuyện buôn bán đắt hàng và tỏ ý lo lắng: - Hàng bán thì ham quá, nhưng theo đà này thì chỉ vài tuần là hết số hàng đang có, biết tìm mua ở đâu, bởi hàng hoá xứ này không được như thế. Hồng Nương vô tư: - Anh cũng chẳng phải lo. Em có một mối chạy hàng giỏi lắm. Người này vẫn thường xuyên lo cung cấp hàng hoá cho anh Phú. Để em nhắn tin, rồi cứ mỗi lần cần hàng ta cứ chờ họ mang tới đây giùm. Sơn mừng lắm: - Ồ, được vậy thì còn gì bằng! Đây, bao nhiêu tiền bán được tôi đưa hết cho cô giữ, khi nào cần mua hàng thì cô toàn quyền gửi họ mua. Nhưng tôi vẫn lo, liệu cô còn xa lạ nơi này, vậy làm sao cô đi đứng, giao thiệp cho tiện? - Ồ, anh không phải lo chuyện ấy đâu. Em có cách của mình để nhờ người quen lo giùm. Tiền này em chỉ giữ tạm thôi, mua hàng hết bao nhiêu, sau đó em sẽ cất vào tủ của anh cho chắc. - Ồ không, tiền này cô có quyền... Cô nàng nghiêm giọng: - Anh Phú đã dặn rồi, số hàng hoá đó là thuộc toàn quyền sử dụng của anh. Mọi tiền bạc thu được từ đó dĩ nhiên là của anh, chớ em thì không can dự gì. Nếu anh tin thì em giúp cho một phần việc đặt hàng, chớ nặng trách nhiệm hơn thì em nhất định không dám nhận! Sơn đành phải chấp nhận như vậy. Anh mạnh dạn ngồi xuống ăn bữa cơm thật ngon lành. Nhưng đang ăn, anh ngạc nhiên hỏi: - Nhà không có thức ăn, mà chẳng thấy cô đi chợ, vậy lấy đâu ra những thịt cá tươi ngon như mấy món này? Nàng lại cười: - Đó là bí quyết riêng của phụ nữ chúng em, anh cho phép em không nói được không? Tuy không hỏi nữa, nhưng cho đến khi xong bữa ăn, Sơn vẫn còn thắc mắc. Ăn xong, anh vừa định dọn dẹp thì cô nàng đã mau mắn nói: - Đây là công việc của đàn bà. Đã có đàn bà trong nhà này thì nhất định anh không được làm. Cũng chẳng còn cách giải quyết nào khác hơn, nên tối đó Sơn phải đưa ra giải pháp: - Nhà có hai phòng, nhưng vì phòng kia đã lâu không dùng đến nên bụi bặm, hôi mốc. Vậy tối nay cô cứ vào phòng tôi mà ngủ, tôi sẽ ngủ ngoài chỗ bán hàng, vừa trông coi hàng hoá luôn. Cô nàng đưa tay chỉ vào trong phòng gần bếp: - Anh thử vào xem, dọn dẹp như vậy được chưa? Sơn vào ngắm căn phòng và rất đỗi ngạc nhiên: - Sạch gấp đôi phòng của tôi! Nhưng... thời gian đâu mà cô làm được việc này? Nàng vừa dọn bếp vừa đáp: - Việc nhỏ của đàn bà mà. Đêm đó, Sơn nằm trằn trọc mãi, bởi trong đầu cứ suy nghĩ về sự hiện diện của một cô gái trong nhà mình. Ở lại trong một hai ngày thì được, nhưng lâu dài thì sao? Sẽ giải thích với người quen như thế nào cho hợp lý? Còn đang mải mê suy nghĩ, bỗng có tiếng gõ nhẹ cửa phòng, Sơn bước ra mở cửa thì không thấy ai, chỉ thấy có mảnh giấy nhỏ nhét ở ổ khoá: "Anh đừng bận tâm về sự hiện diện của em. Từ nay em sẽ không bao giờ bước ra khỏi cửa một bước. Kể cả chỗ bán hàng, em cũng không có mặt. Phạm vi của em là phòng riêng và nhà bếp, chỉ yêu cầu anh đừng cho người lạ vào khu vực bên trong đó. Cám ơn anh. Hồng Nương." Nhìn sang phòng nàng thì vừa thấy bóng Hồng Nương mới khuất vào trong. Sơn thở phào, như vừa trút được gánh nặng. Đúng là nàng đã hiểu thấu ruột gan của Sơn! Nhờ vậy mà sau đó Sơn đã ngủ được một giấc thật say... Do hơi mệt vì bán hàng bữa trước, nên sáng hôm sau Sơn dậy rất muộn. Lúc anh thức giấc thì nắng đã xuyên qua cửa sổ vào phòng. Hốt hoảng, anh bật dậy và lo việc không ai mở cửa bán hàng. Nhưng Hồng Nhung đã nói vọng vào: - Em ra sớm, lúc chưa có ai để niêm yết giờ mở cửa. Vậy anh còn hơn mười lăm phút nữa mới tới giờ bán hàng. Thôi, vào ăn sáng rồi còn ra tiếp khách đi, ông chủ! Một mâm thức ăn đã dọn sẵn, và lại là món điểm tâm Sơn đặc biệt ưa thích! - Cô... cô lấy đâu ra mấy món này? Đây là hủ tiếu tim gan, sườn non của tiệm Hải Vị cuối khu chợ mà? - Đúng là thức ăn của tiệm đó. Anh cứ ăn đi cho nóng. Đừng thắc mắc việc làm cách nào em mua được. Bảo đảm với anh, không ai thấy em từ trong nhà này đi ra, cũng không thể thấy em đi vào. Sơn ái ngại: - Vì ý thích của tôi mà cô phải nhọc công như vậy, tôi không muốn đâu. Từ mai cứ còn cơm nguội bữa trước, cô chiên giúp lại, tôi ăn thế quen rồi. Nàng lắc đầu: - Không có em ở đây thì anh muốn ăn uống thế nào tuỳ ý. Nhưng có em rồi thì trách nhiệm của em là phải thế này, việc thức khuya dậy sớm, nếu không cho em làm vậy thì em bệnh, anh lại mất công tốn tiền thuốc! Lại một lần nữa, Sơn phải nhượng bộ. Và đúng là nhờ thay đổi thức ăn nên anh ăn rất ngon miệng. Ăn vừa xong thì ngoài cửa đã có tiếng lao xao của khách hàng. Lúc Sơn mở cửa thì cả chục người tràn vào. Họ hết lời khen ngợi anh: - Trong lúc chợ búa ế ẩm mà ông chủ Sơn lại có hàng mới bày bán, đáp đúng thị hiếu người mua, thật là giỏi! Sơn cám ơn mọi người thì có một bà nói: - Ông chủ trẻ tuổi, tài giỏi như vậy mà không có người quán xuyến việc nhà, thật là tiếc! Có cần không, tôi làm mai cho? Một người khác lên tiếng liền: - Bà ta gả con gái cho cậu đó, chớ cần gì làm mai cho ai! - Con gái bà ta đẹp thì có đẹp, nhưng cái miệng ăn hàng núi cũng sập chớ đừng nói là cửa hàng này! Bị chọc quê, bà xỉa xói mấy người kia một lúc, trước khi về còn nói với lại: - Con gái tôi tên Trà My, bữa nào ông chủ Sơn ghé nhà chơi, nhà tôi ở đầu xóm Đông. Đợi bà ta đi rồi, một bà nói với Sơn: - Bà đó là trùm ở xóm chợ này đó, nhà bà ta giàu có lắm, cỡ cậu mà lọt vào làm rể bà ta thì hốt trọn ổ đó! - Ổ quạ hay ổ cú! Một người nào đó chen vào nói rồi mọi người cùng cười to. Không khí cửa hàng của Sơn lúc nào cũng vui vẻ, nhộn nhịp như vậy. Đến trưa, trong giờ cơm Sơn phải nói: - Kiểu này thì chỉ vài ngày nữa là hết hàng để bán. Liệu có cách nào mua hàng về kịp không? Hồng Nương bình tĩnh đáp: - Anh khỏi phải lo, nội chiều mai sẽ có một chuyến hàng mang tới. Sơn kinh ngạc: - Sao mà nhanh vậy? - Thì mình đặt hàng, họ mang tới chớ sao? - Đặt hàng? Cô đặt hồi nào? Nàng cười tươi: - Hôm qua khi anh nói và sẵn tiền, em đã nhắn với người quen, họ báo tin là ngày mai sẽ giao tới. Sơn tính lại số tiền bán được và càng ngạc nhiên hơn, bởi tuy số lượng bán ra ngang bằng hôm qua, nhưng số tiền lại nhiều hơn. Anh chưa hiểu tại sao thì Hồng Nương giải thích: - Số hàng hôm nay thuộc thùng hàng lụa loại cao giá, anh bán mà không để ý sao? Sơn chợt nhớ ra, anh gật đầu: - Đúng rồi, lúc nãy tôi căn cứ theo giá ghi ở đầu cây vải để bán mà quên so với giá hàng hôm qua. Tôi cũng không ngờ là Phú đã gửi cho những loại hàng cao giá như vậy. Hồng Nương tiết lộ: - Các thứ hàng hoá này suốt trong nhiều tháng anh Phú đã không bán ra, nói là để dành cho mùa Tết. Cho đến lúc nghe tin mình sắp phải đi nước ngoài thì đã quyết định dành toàn bộ số hàng quý gửi tới cho anh. Có thể nói đây gần như là toàn bộ tài sản của Phú. Buổi chiều hôm đó, quả nhiên có một xe chở hàng tới giao tận nơi. Người giao hàng chỉ biết giao xong rồi đi, Sơn có hỏi thêm vài chi tiết, nhưng anh ta hầu như không nói gì, lên xe đi thẳng. Vào nhà hỏi lại Hồng Nương thì cô chỉ cười bảo: - Em cũng chẳng biết. Có lẽ người quen của em giao cho họ chở tới mà không dặn gì khác. Sơn xem lại hàng và phải công nhận số hàng lần này còn tốt hơn đợt vừa rồi đặc biệt là đáp ứng đúng màu sắc mà trong mấy ngày vừa qua nhiều người đã yêu cầu. Điều này khiến Sơn không khỏi ngạc nhiên, bởi khi bán hàng thì Hồng Nương không có mặt, không nghe được sở thích của khách hàng, mà khi vào nhà ăn cơm Sơn cũng chưa nói ra yêu cầu của khách. Vậy mà cô đã đặt hàng chính xác đến không ngờ! Hỏi thì Hồng Nương cười đáp: - Có lẽ do kinh nghiệm của phụ nữ. Ở đây là vùng thôn quê, màu sắc phải thích nghi với hoàn cảnh, khí hậu và bản tính con người. Sơn thầm phục kiến thức đó của cô ta, anh nói lịch sự: - Tôi phải cám ơn cô Hồng vạn lần. Lần này thành công là có phần đóng góp rất lớn của cô! Hồng Nương khiêm nhường: - Chuyện đó đâu đáng gì mà anh phải quan tâm. Việc anh cho em nương nhờ mới là ơn lớn mà em phải đền đáp. Sơn cảm thấy bạo dạn hơn: - Nhưng xem ra ơn của cô lớn hơn. Cô biết không, nếu mấy hôm trước không có cô tới với số hàng quan trọng này, thì tôi đã đóng cửa hiệu đi du lịch rồi. Mùa mưa ở chợ này bán được nửa thước vải đã là khó, chớ đừng nói là cả mấy thùng như hai hôm nay! Nghe anh nhắc tới chuyện đi, Hồng Nương hỏi: - Anh định đi với ai mà hôm đó sửa soạn kỹ dữ vậy? - Đâu có gì mà kỹ, tôi chỉ... Hồng Nương kể ra vanh vách: - Ngoài quần áo cá nhân của anh, còn có bốn đoạn gấm dành cho con gái nữa! Sơn ngạc nhiên: - Sao cô biết rõ vậy? Hồng Nương cười: - Mạn phép anh, em đã lấy đồ đạc trong va-li ra định giặt, nên mới rõ. Anh có rầy thì em chịu, chớ em không thể thấy đồ đạc để trong rương lâu, nó sẽ hôi mốc. Đúng là Sơn không hài lòng lắm về việc người khác soạn đồ đạc riêng của mình. Tuy nhiên, với Hồng Nương thì anh lại dè dặt. Đúng hơn, nếu cô nàng có làm hơn thế nữa thì Sơn cũng không nỡ chê trách. Đưa hàng hoá vô nhà xong thì trời đã tối. Để mừng việc buôn bán thành công và mừng có chuyến hàng mới, Sơn ngỏ ý với người khách nữ thân thiết của mình: - Tối nay tôi muốn được mời cô Hồng một chén rượu. Hồng Nương nhận lời ngay: - Em cũng đã làm sẵn một ít món nhắm rồi đây! Họ bày tiệc rồi cùng nhau uống đến gần nửa khuya. Sơn vô cùng ngạc nhiên khi nhận ra tửu lượng của cô nàng khá cao. Anh thật lòng khâm phục: - Hồng Nương tửu lượng ăn đứt tôi rồi, có lẽ tôi phải xin hàng thôi! Hồng Nương cũng đã ngà ngà, giọng cô hơi lè nhè: - Chưa bao giờ em uống đến như thế này... Nàng vừa nói vừa đưa tay chụp đại lên bàn, vô tình nắm phải bàn tay của Sơn. Anh chàng để yên, mắt vẫn nhắm nghiền. Tay hai người cùng trong tay khá lâu... Và có lẽ họ cùng say và đi vào giấc ngủ... Chẳng biết bao lâu. Cho đến khi Sơn mở mắt ra thì anh chẳng còn thấy cô nàng đâu. Sơn cũng đứng lên về phòng mình. Tuy nhiên, khi đi ngang qua phòng của Hồng Nương, Sơn ngạc nhiên khi không có nàng trong đó. Bước ra phòng ngoài cũng chẳng thấy cô nàng, Sơn thật sự lo, anh gọi: - Hồng Nương! Anh lo nàng quá say rồi ngã ở đâu đó, nên đi tìm kỹ mọi ngõ ngách. Chẳng hề thấy. Mà cửa nẻo vẫn đóng kín. - Cô Hồng! Sơn gọi đến cả chục lần, thậm chí mở cửa bước ra ngoài tìm mà vẫn không thấy gì. Giờ đó đã quá khuya, có lẽ gần sáng, nên đường sá vắng tanh. Người vẫn còn hơi men, nên chỉ đứng ngoài được một lúc, Sơn phải quay vào nhà. Anh cố cưỡng lại cơn mệt, thức đến sáng, chờ đợi trong tâm trạng nôn nao, lo lắng như chưa bao giờ như thế... Lúc này Sơn mới có thời gian soát lại lòng mình. Anh không thể chối rằng trong con tim trống rỗng xưa nay của mình đã bắt đầu có chút gì đó làm xao động... Bởi vậy, sự lo lắng trong anh lại càng tăng thêm. Nếu có thể được, Sơn đã chạy đi tìm coi nàng đang ở đâu? Gà bắt đầu gáy thưa thớt ở đầu thôn. Cũng là lúc Sơn mòn mỏi ngủ thiếp đi... - Này, dậy ăn chút cháo nóng cho khoẻ. Coi chừng anh bệnh rồi đó! Sơn choàng tỉnh dậy, anh giật mình và mừng rỡ khi nhìn thấy Hồng Nương đang cúi xuống trước mặt mình: - Cô... cô về lúc nào? Hồng Nương ngạc nhiên: - Em có đi đâu mà về? Sơn quả quyết: - Tôi đã đi tìm khắp nơi, cả trong phòng cô nữa mà chẳng thấy. Cô đi đâu làm tôi lo quá... Chỉ tay ra chỗ để các thùng hàng: - Hàng quý mới về, em sợ kẻ trộm nên ra ngủ giữa hai kiện hàng. Một phần cũng do say... - Ủa, lúc nãy tôi có tìm ở đó mà... - Chắc là anh chỉ tìm ở ngoài nên làm sao thấy, trong khi em nằm ở tận bên trong. Sơn thở phào nhẹ nhõm và anh không cần ăn chén cháo mà nàng bưng ra, đã vội đi về phòng ngủ tiếp... Do vậy, anh không để ý thấy Hồng Nương vừa đem giấu một bộ đồ nguỵ trang. Có lẽ dùng để đi ra ngoài lúc đêm... Phần 2 Năm năm sau... Từ một hiệu buôn ế ẩm, ít hàng, thưa khách, sắp đóng cửa, cho đến nay hiệu Tiêu Sơn đã trở thành một hiệu buôn bề thế nhất của chợ thị xã này. Không thể phủ nhận, mọi việc đều bắt nguồn từ số hàng hoá của người bạn tên Phú gửi tới. Sơn hiểu điều đó nên cứ thỉnh thoảng vài tháng một lần, anh đều cho người về tỉnh thăm chừng xem Phú xuất ngoại đã trở về chưa. Nhưng đã qua năm năm, Phú vẫn bặt tăm hơi, kể cả một lá thư cũng không gửi về. Đã mấy lần Sơn hỏi, nhưng Hồng Nương chỉ biết lắc đầu. Có lần cô bảo: - Anh Phú tính tình kín đáo, ít chịu nói điều gì anh ấy không muốn. Chuyện anh ấy ra đi cũng hoàn toàn bí mật với mọi người và cả em, mặc dù ảnh thương em như em ruột. Sơn băn khoăn chuyện bặt vô âm tín của Phú một phần là nhớ bạn, nhưng điều làm anh áy náy nhất là đồng vốn mà anh đang chiếm dụng, chẳng biết tính sao? Sơn đã tích luỹ có thừa số vốn của bốn kiện hàng do Phú gửi giúp, định sẽ trả đủ cho bạn khi gặp lại. Chẳng những thế, Sơn còn dành đến hơn phân nửa số tiền lời từ năm năm qua cho bạn. Anh chỉ dành cho mình một số vừa phải để phát triển cơ ngơi và cho... hai thành viên nữa trong nhà. Hai thành viên? Điều này nếu Phú về, anh ta sẽ vô cùng ngạc nhiên và có thể là rầy rà nữa, nhưng Sơn chẳng còn cách nào khác hơn. Chung đụng nhau, giúp đỡ nhau khi tối lửa tắt đèn rồi bén duyên lúc nào không hay, và đến một ngày, cũng trong một cơn say, hai người họ đã trở thành của nhau. Hồng Nương không tỏ ra hối tiếc gì, cũng không lo bị Phú rầy, mà chỉ lo chuyện đứa con ra đời. Lúc có thai, nhiều lần nàng ưu tư, Sơn hỏi mãi nàng mới thổ lộ: - Em lo, không biết con chúng ta sẽ có hình hài ra sao nữa? Sơn ngạc nhiên hỏi lại thì nàng giải thích thêm: - Là bởi... trước đây có lần em bị bệnh sốt rét rừng, chẳng hiểu sinh con có ảnh hưởng gì không? Sơn trấn an: - Em yên tâm, anh là giống tốt, sống đàng hoàng, nên con anh nhất định là phải đẹp trai và thông minh! Mà quả vậy, cậu bé Tiểu Minh khi ra đời đã kháu khỉnh, lanh lợi và cực kỳ thông minh. Đến lúc ấy, Hồng Nương mới an tâm. Tuy nhiên, nếu để ý sẽ thấy thỉnh thoảng nàng thường lén nhìn con rồi lại ôm con vào lòng, như sợ nó rời xa mình! Điều này nàng không biểu lộ cho Sơn biết, và anh chàng do quá lo làm ăn, nên cũng không để ý. Thằng bé Tiểu Minh nay đã trên ba tuổi, và thường quấn quít theo cha ở ngoài cửa hàng, và chính nó có lần đã nói với cha: - Sao không bao giờ mẹ chịu ra ngoài này vậy cha? Sơn cười: - Tại mẹ sợ bị người đàn ông khác nhìn rồi người ta... bắt cóc mẹ đi! Thằng bé kêu lên: - Còn ba đây và con nữa, ai dám bắt mẹ được! Sơn xoa đầu con: - Cha chỉ nói đùa thôi, chớ từ lâu nay mẹ không quen buôn bán, nên mẹ không tiện ra ngoài này. Mẹ con không thích tiếp xúc với người ngoài. Thằng bé ngây thơ nói: - Sao hôm trước mẹ dẫn con đi gặp tới mấy người lận! Họ cũng là người buôn bán... Sơn kinh ngạc: - Con nói gì vậy Tiểu Minh? - Thật đó, buổi tối mẹ thường đi gặp mấy người kia. Con thấy những người đó không phải là bạn của cha. Từ lâu nay, Sơn tin tưởng vợ tuyệt đối, bởi chưa bao giờ thấy Hồng Nương ra khỏi nhà nửa bước, vậy mà nay... Anh nghiêm giọng nói con: - Con còn nhỏ, không được nói bậy nghe chưa! Mẹ con sao lại... Thằng bé rất hồn nhiên: - Mẹ dặn con đừng nói lại với cha. Mà con thấy mẹ và những người kia cũng không có làm gì. Lần nào cũng bàn chuyện hàng hoá gì đó... Chợt nhớ ra, Sơn reo lên: - Đúng rồi! Mẹ con mua hàng cho cha. Những người kia là thương buôn. Tiểu Minh vẫn thắc mắc: - Thương buôn sao không tới ban ngày gặp luôn cha, mà chỉ tới vào ban đêm? Mà lại gặp nhau ngoài đồng vắng nữa! Những điều tiết lộ là hoàn toàn mới mẻ với Sơn, anh sợ Hồng Nương nghe được, nên kéo con ra ngoài cửa căn dặn: - Con chỉ được nói chuyện này với cha thôi, không được nói với ai nghe chưa! - Dạ... Thấy sắc mặt của cha, Tiểu Minh có vẻ ngại... Nó nói sang chuyện khác: - Tối qua con thấy mẹ khóc. Sơn hốt hoảng: - Hồi nào? - Lúc ba tính sổ sách ngoài này. Mẹ ngồi trong phòng ôm con vào lòng rồi khóc. Con có hỏi thì mẹ chỉ nói do mẹ quá thương con. Nhưng thương con sao mẹ lại khóc, hả cha? Sơn hơi lúng túng: - À, có lẽ... Mà thương quá cũng khóc chớ sao. Khóc sung sướng mà! Sơn còn định giải thích thêm, nhưng lúc đó có mấy khách bước vào nên anh xoa đầu con rồi bảo: - Con vào trong nhà với mẹ đi, lát cha vào rồi mình ăn cơm! Chợt Tiểu Minh nhìn ra rồi reo lên: - Con nhớ rồi, cái ông mang cái giỏ lớn đi phía sau kia là bạn của mẹ đó! Sơn giật mình, anh nhìn kỹ thì rõ ràng đây là những người khách lạ, chưa từng đến đây bao giờ. Họ gồm bốn người, toàn là đàn ông. Sợ Tiểu Minh ở đó nói lôi thôi, nên anh giục con: - Con vào trong đi, cũng đừng nói với mẹ về mấy người khách này, để đây cha tiếp họ. Tiểu Minh dùng dằng một lúc rồi mới chịu đi. Vừa lúc đó, bốn người khách bước vào. Họ nói giọng miền khác: - Ở đây có thu mua tơ? Sơn lịch sự đáp: - Dạ có chớ. Miễn là hàng đẹp và giá cả phải chăng. Một người nói: - Hàng chắc chắn là ông chủ vừa ý rồi, còn giá cả thì chẳng khác gì giá mà lâu nay ông chủ vẫn thu mua. - Vậy thì mấy ông cho coi thử hàng? Người đàn ông mà lúc nãy Tiểu Minh nói là quen với Hồng Nương, lên tiếng: - Bà vợ ông đã từng mua của chúng tôi mà. Chính những hàng hoá ông bán ở đây cũng là do chúng tôi mang tới cả... - À, thì ra các ông là khách buôn lâu nay vợ tôi thường nhắc. Vậy mời ngồi. Ta ngồi rồi nói chuyện. Thật vinh hạnh quá! Người nọ nói với giọng thiếu thân thiện: - Chúng tôi muốn gặp ngay vợ ông, chứ không có thì giờ nói chuyện! Hàng hoá này là chúng tôi mang tới giao cho cô ấy. - Vậy thì các ông cứ giao cho tôi cũng được. Cô ấy mua giá nào, tôi sẽ trả giá đó. Người kia gắt lên: - Không được. Phải kêu Tiểu Tuyết ra đây! - Tiểu Tuyết nào? Ở đây làm gì có Tiểu Tuyết? - Chính con vợ của ông đó! - Nàng còn có tên là Tiểu Tuyết ư? Nhưng... nhưng nàng đang bận... - Bận gì cũng kêu ra đây! Thấy thái độ kỳ lạ của họ, Sơn nghĩ là do buôn bán tiền nong không sòng phẳng sao đó, nên anh nói: - Nếu nàng còn nợ nần gì các ông thì đưa sổ ra, tôi sẽ trả tất cả! Một gã khác nói to: - Nợ này không phải bằng tiền, mà là... mạng sống của con đó! Trong lúc Sơn trố mắt ngạc nhiên thì một người khác trong bọn có vẻ trầm tĩnh hơn, ông ta nói: - Cô vợ ông thường đặt hàng chúng tôi, nhưng hai tuần nay lại đổi sang mối khác, khiến chúng tôi bị kẹt hàng, lỗ vốn nặng. Bây giờ ông hãy gọi cô ta ra đây bồi thường thiệt hại cho chúng tôi, có như vậy chúng tôi mới để cô ta yên. Bằng không... - Nhưng... tôi đâu biết chuyện này. Vả lại lâu nay vẫn một người mang hàng tới giao, tôi thấy có sự thay đổi gì đâu? Người hung dữ nhất trong bọn đã gắt lên: - Gọi ngay Tiểu Tuyết ra đây! Vừa khi ấy, Tiểu Minh chạy ra gọi cha: - Cha vào trong mẹ cần nói chuyện! Sơn cũng cần gặp vợ, anh để khách đứng đó, chạy vào phòng. Anh giật mình khi thấy Hồng Nương nằm co ro, sắc mặt tím tái, giọng yếu ớt: - Mau đuổi họ đi. Em... em sẽ gặp nguy, nếu... nếu họ còn ở đó... Sơn hốt hoảng: - Họ hung dữ lắm, làm sao anh đuổi đi được? Hồng Nương cố sức nói: - Hãy... hãy bắt con mèo mun ra... ném vào họ... Sơn còn lưỡng lự thì Tiểu Minh đã nhanh chân chạy đi tìm con mèo mun đang nằm ngủ ở cửa buồng, rồi nó chạy bay ra bất thần ném mèo vào chỗ bọn người kia. Bỗng có những tiếng gầm rú ghê rợn vang lên, khiến cho Sơn vừa chạy ra tới cũng phải sững lại, kinh hãi nhìn bốn cái bóng phóng vút ra cửa! Những người chung quanh đó kinh hoàng gào thét: - Hổ! Hổ bà con ơi! Thì ra bốn cái bóng vừa phóng khỏi cửa hiệu của Sơn chính là bốn con hổ vàng thật to. Nhưng hình như chúng cũng đang kinh hoảng, nên trên đường chạy đã không chạm đến ai. Tuy vậy, cả thị trấn đã phải một phen hú vía! Lúc mọi người hoàn hồn chạy tới hỏi thăm thì Sơn đã ngất đi giữa tiệm. Chỉ có Tiểu Minh là còn đứng đó, thằng bé chẳng những không sợ mà còn bình tĩnh cúi xuống lay gọi cha dậy. Rồi khi thấy người bâu tới đông quá nó lại nói: - Bà con về đi, cha con không sao, chỉ bất tỉnh thôi. Khi mọi người đi hết rồi nó mới cố kéo cha vào trong. Sau đó ra đóng cửa lại cẩn thận. Vào trong rồi, nó gọi mẹ: - Chúng nó chạy hết rồi, mẹ không cần sợ nữa. Sau đó ít giây thì Sơn tỉnh lại, anh lo lắng nhìn vợ: - Em có sao không? Hồng Nương đã đỡ hơn lúc nãy, cô ôm con vào lòng, giọng run run: - Lạy trời, con và anh không sao. - Họ là ai vậy? Tại sao họ mới là người đó lại hoá thành hổ? Tiểu Minh nhớ ra, nó nói: - Con thấy cả bốn con hổ đều chỉ còn lại ba chân! Chúng là cọp què mà, sợ gì! Hồng Nương siết chặt con hơn: - Không đâu con... Chúng là hổ tinh, nên dù còn mấy chân chúng cũng giết chúng ta trong nháy mắt thôi! Sơn thấy trong giọng nói của vợ có gì đó không bình thường, nên gạn hỏi: - Em nói cho anh nghe coi, sao bọn đó lại tìm em? Giữa em với chúng có gì... Có lẽ biết không thể giấu mãi được, nên nàng vừa sụt sùi khóc vừa kể: - Bọn chúng là bầy hổ dữ ở rừng Dương Lâm, ở phía bắc tỉnh thành. Trong nhiều năm, chúng đã ăn thịt vài chục người đi qua rừng. Trong số đó có những người buôn tơ lụa. Một hôm, trong nhóm người buôn tơ có một người thạo bắn cung tên và giỏi nghề săn thú dữ, đã đụng độ với bầy ác thú đó. Kết quả là người kia lùa cả bốn con hổ vào một hang đá sau khi bắn chúng trọng thương, mỗi con đều mất một chân sau. Khi hổ đã vào hang rồi, người ấy bịt miệng hang, chất củi đốt hang! Ai cũng ngỡ là bốn con hổ bị diệt, chẳng ngờ hơn một giờ sau đó, từ trong hang có tiếng gầm rú, rồi bốn con hổ đồng loạt phóng ra nhắm thẳng vào chỗ người kia mà tấn công. Người ấy bị giết chết tức khắc, xác bị hổ xé nát, hình như là để hả cơn hận thù! Mà chưa hết, sau khi giết kẻ thù rồi, bốn con hổ còn lao tới chỗ chiếc lều, nơi có người vợ và cô con gái nhỏ của ông lái buôn kia, và giết luôn bà vợ. Cô con gái nhỏ... Kể tới đây dường như quá kiệt sức, nên Hồng Nương phải ngừng lại để lấy hơi. Sơn có linh tính, nên hỏi chặn ngang: - Cô gái nhỏ đó phải chăng là... Nàng gật đầu: - Người đó là em. Đúng ra em cũng đã chết, nhưng nhờ có một người đi săn tới kịp, người đó nổ súng liền mấy phát. Bầy hổ phát hoảng nên bỏ em lại đó, chạy mất. Người cứu em hôm đó chính là anh Phú, bạn anh. Sơn reo lên: - Phú có tài bắn súng mà! - Phú đưa em về chữa trị vết thương, nhưng chữa hoài vẫn không khỏi, bởi người ta cho biết hổ khi nó đã thành tinh, vết thương do chúng chạm vào ai thì sẽ không bao giờ lành được. Ngoại trừ... Sơn ôm lấy vợ: - Nhưng em quá may mắn, nên đã lành lặn như ngày hôm nay. Đó là trời ban lộc cho anh! Nàng không vui mà lại bật khóc. Sơn an ủi: - Chuyện qua rồi, em không phải lo nữa... Nàng vẫn khóc, và bất thần cố sức ôm gọn hai cha con Sơn vào lòng như sợ họ biến mất: - Đừng bỏ em! - Kìa, sao em nói nhảm gì vậy? Anh và con vẫn bên em đây mà! Nàng càng khóc to hơn: - Không còn kịp nữa rồi! Chúng đã tới đây rồi thì còn mong gì sống sót nữa. Hai người hãy mau đi đi, kẻo chúng trở lại mà không còn đường sống! Sơn vụt nhớ tới Phú, anh đứng lên và nói: - Để anh ra tỉnh nhờ Phú xem. Có thể Phú đã về rồi. Phú là người bắn súng giỏi, có anh ta trong nhà sẽ giúp mình nhiều. Hồng Nương càng khóc to hơn: - Phú đã chết năm năm trước rồi! Ngày em tỵ nạn tới anh là ngày Phú bị lũ hổ tinh đó tới tấn công trả thù, chúng đã xé xác Phú ra làm nhiều mảnh rồi tha vào rừng. - Trời ơi! Sơn rụng rời tay chân, anh ngồi bệt xuống như người mất hồn, trong khi Hồng Nương vẫn tiếp tục kể: - Em nhờ cải trang, đi theo các kiện hàng nên mới tới được đây. Em cứ ngỡ... Nàng ngừng kể, cơn xúc động làm cho hơi thở nàng đứt quãng, khó khăn... Thằng bé Tiểu Minh ghì lấy mẹ, nói như hét lên: - Không ai được làm hại mẹ. Họ tới đây con sẽ bắt con mèo mun, thật nhiều con mèo mun để đuổi họ! Hồng Nương nhẹ lắc đầu: - Không ăn thua gì đâu con! Hai cha con phải chạy trốn ngay thôi, bởi họ tới đây chỉ để tìm mẹ mà mẹ thì cũng không còn có thể sống nữa rồi, số mẹ đã tận con à... Nàng càng nói thì giọng càng yếu đi. Quay sang Sơn, nàng thì thầm: - Em sắp bị họ rước đi rồi... Sơn hốt hoảng: - Không đâu! Em đừng nói nhảm, có anh đây mà... Lúc đó trời đang tối dần... Nhìn ra cửa sổ, Hồng Nương sợ hãi: - Không xong rồi, họ lại tới nữa đó! Sơn nghe ngóng rồi nói: - Anh có nghe động tĩnh gì đâu. Mình đóng hết cửa nẻo lại thì làm sao ai vào được! Anh bước tới đóng cửa sổ thì vừa lúc đó có một giọng nói vang lên từ nhà bếp: - Chậm mất rồi ông chủ Sơn ơi! Đúng lúc đó, bốn người đàn ông lúc sáng lại xuất hiện, ngoài ra còn có một người đàn bà mặt mày đầy son phấn đi cùng. Mụ này mới là người lên tiếng tiếp theo: - Tưởng là thoát được tao hả, con tiểu yêu kia! Hồng Nương vừa nhìn thấy mụ ta thì đã run lẩy bẩy, vừa ghì chặt lấy Sơn hơn. Mụ kia quát lớn: - Lôi cổ nó ra cho tao trị tội! Bốn gã kia định nhào tới thì Tiểu Minh nhanh trí chụp lấy con mèo đưa ra dọa: - Ai nhảy vào thì tôi tặng cho con này! Thật là hiệu quả. Cả bốn tên đều khựng lại, chưa dám nhào tới. Mụ đó lồng lên: - Đồ chết nhát, để tao! Mụ ta như con hổ dữ lao thẳng về phía vợ chồng Hồng Nương. Nhưng thật bất ngờ, Tiểu Minh cũng lao theo, rồi bất thần thằng bé ngoạm lấy một bên cổ tay của mụ ta cắn chặt! - A... a... a! Tiếng thét của mụ khiến cho bốn tên đều muốn nhảy vào tiếp cứu, nhưng lúc ấy con mèo mun như đồng tình với chủ, nó giương cặp mắt xanh màu ve chai trừng trừng nhìn, nên bốn tên không dám nhúc nhích. Còn Tiểu Minh thì dù mụ kia có ra sức cào cấu, đánh đập, nó vẫn ngoạm chặt, nhất định không nhả ra. Một dòng máu từ cánh tay của mụ ác chảy xuống, rơi đúng vào đỉnh đầu của Hồng Nương, và... nàng lả người đi. Cùng lúc, mụ kia cũng khuỵ xuống, chụp lên thân thể vợ chồng họ. Máu từ cánh tay mụ ta tiếp tục chảy... Phút chốc đã ướt đẫm cả đầu, cổ và thân mình Hồng Nương. Cho đến lúc, tự dưng thân xác mụ ác bỗng teo tóp đi như chiếc bong bóng xì hơi. Và... cuối cùng chỉ còn lại một bộ da hổ màu trắng! Bất thần Hồng Nương bật dậy, nàng kéo chồng con lên, reo to: - Thoát rồi! Sơn ngơ ngác: - Em không sao chớ? Hồng Nương quay sang con, Tiểu Minh miệng còn dính đầy máu, nhưng nó vẫn cười vui: - Con hạ được nó rồi! Lúc họ nhìn lại thì cả bốn tên kia cũng biến đâu mất. Nhìn kỹ xuống sàn nhà thì chỉ còn thấy bốn bộ da hổ sần sùi. Hồng Nương thật sự mừng: - Mình thoát rồi! Nhờ Tiểu Minh dám liều mạng cắn vào tay mụ hổ bạch đó, rồi máu từ thân thể mụ chảy ra rơi trên đầu em, nhờ máu hổ tinh đó mà em đã thật sự hoàn toàn trở lại kiếp người! Sơn vẫn chưa hết bàng hoàng: - Em nói gì anh chưa hiểu? Tại sao chỉ bấy nhiêu máu đó mà cả năm người họ đều tan biến hết? Giọng Hồng Nương phấn chấn hẳn lên: - Bây giờ em mới nói thật, khi tới đây em đã là hồn ma! Là sứ giả của lũ hổ tinh kia. Sau khi giết chết anh Phú và em xong, hồn em bị lũ hổ tinh đó khống chế, bắt em giả làm người để tiếp tục hại người hầu thoả mãn hận thù của lũ chúng nó. Việc em tới đây, đem hàng hoá tới giúp anh cũng là do bọn chúng dàn cảnh. Bọn nó biết anh là bạn thân của Phú, thế nào anh cũng trả thù, nên chúng tìm cách ra tay trước, để tận diệt mầm mống nguy hiểm. Tuy nhiên, khi tới đây sống với anh rồi, bắt đầu nảy sinh tình cảm nên em giấu thân phận, định kéo dài cuộc tình này. Bởi vậy nhiều lúc em nhìn Tiểu Minh cứ sa nước mắt là vì thế! Em chỉ sợ mất con và anh. Nhưng giờ thì hết rồi, thoát rồi! Biết cha con họ không hiểu, Hồng Nương nói thêm: - Không ai làm ma hổ chảy máu được. Nhưng may mắn sao, Tiểu Minh làm liều mà mụ hổ già độc ác kia đã bị chảy máu, và chảy cho đến cạn kiệt. Máu đó mà rơi xuống một oan hồn khác thì oan hồn ấy lập tức được trở lại kiếp người! Quả là trời còn thương em! Đúng như lời của Hồng Nương, kể từ phút ấy nàng hầu như không còn sợ sệt, lén lút nữa. Mà hằng ngày đã công khai xuất hiện cùng chồng ở cửa hàng. Sơn hãnh diện giới thiệu vợ mình với mọi người. Ai cũng khen Hồng Nương đẹp và phúc hậu. Thằng bé Tiểu Minh thì lúc nào cũng quấn quít bên cha mẹ. Nó ngầm hãnh diện vì đã cứu được mạng mẹ nó... Cửa hiệu của Tiêu Sơn càng lúc càng phát đạt. Chẳng mấy chốc, anh trở thành người giàu nhất vùng! HỒN NGƯỜI XÁC AI? Nghe bà mối Chín Lệ nói huyên thuyên về gia đình nhà gái, chính bà Dương cũng chịu không nổi, nói gì ông giáo già Dương Phu. Do đó, vừa thấy bà Chín sắp nói sang đề tài mới thì ông đã đứng dậy, bỏ vào trong. Vẫn không nản, bà mối hạ thấp giọng ra điều quan trọng lắm: - Tôi không nói ngoa, nhà này tuy là giàu nứt đố vách, nhưng lại dễ chịu, chớ không như nhiều phú gia khác. Chính họ đã gợi ý cho tôi đi tìm con trai con nhà bình dân lao động để làm mai cho con gái họ. Tôi nói thật đó. Bà Dương vẫn không hào hứng lắm: - Thì nghe bà nói vậy, chớ vợ chồng tôi vẫn muốn tìm mối nào nghèo cũng được, miễn là hợp với hoàn cảnh nhà này. Bỗng nghe giọng nói của cậu con trai Dương Thanh: - Còn phải hợp với con nữa chớ! Bà Chín Lệ chụp ngay lấy đối tượng chính mà bà cần phải thuyết phục: - Ờ, cậu Thanh đây rồi. Tôi nói cho cậu nghe, mối này gặp là cậu chịu liền. Con gái họ vừa đẹp vừa hiền, lại là người gia giáo, biết phép tắc... Bà còn muốn khoe nữa, nhưng Thanh đã chặn lời bà: - Ngon lành vậy sao lại ế, phải nhờ người mai mối? Mụ Chín hơi bị quê: - Chẳng qua... họ tự trọng... họ không thích gả con cho những đám giàu có hợm hĩnh khác... Thanh cười to: - Hóa ra nhà nghèo như mình bây giờ cũng có giá. Mà đã có giá thì ta làm cao, làm chảnh chơi. Không chịu! Bà Dương phải dịu giọng: - Nói năng cho đàng hoàng con. Dẫu sao mình cũng cám ơn bà Chín. Thôi, đã vậy thì để tôi tính lại, rồi nội ngày mai sẽ báo cho bà biết. Tiễn bà mối về rồi, bà quay sang nói với con trai: - Theo má thì con cũng nên chọn mối này cho rồi. Ba con nay đau mai yếu, còn má thì căn bệnh cũ cứ tái phát hoài, khó mà ở đời với chị em con. Mà ước nguyện lớn nhất của ba má là nhìn thấy được đứa cháu nội trước khi nhắm mắt. Bà nói xong, thở dài buồn bã. Dương Thanh tuy ngang bướng, không ưa chuyện vợ con, nhưng lại là người rất hiếu thảo. Anh luôn sợ cha mẹ buồn: - Con đâu phải không muốn... Nhưng má nghĩ coi, cưới vợ chớ đâu phải đi chợ lựa con cá, mớ rau mà phải cần người rao hàng, bày hàng... Bà Dương hiểu con đã có chiều dao động, nên tiếp tục bộ mặt buồn. Quả nhiên, Thanh đột ngột nói: - Thôi được, má nói bà Chín dẫn mình sang nhà họ đi! - Má không ép... Dương Thanh dứt khoát: - Con thật sự muốn như vậy, má đừng lo. Thôi, con đi có việc, chừng nào đi má nhắn con về. Tính tình con là như vậy, bà Dương hiểu, nên bà trầm ngâm một lúc rồi vào nhà trong nói với ông: - Sáng mai mình sang bên nhà gái. Tôi đi nhắn bà Chín. Ông có vẻ lo: - Liệu thằng Thanh... - Thì ông vừa nghe nó mới nói đó thôi. *** Bước đi một cách uể oải, Thanh theo sau cha mẹ và bà mối Chín Lệ, khiến người ngoài nhìn vào ắt nghĩ rằng anh chàng đi thú phạt nhà vợ chớ không phải đi coi mắt vợ! Thanh miễn cưỡng đến nỗi bà mẹ cũng coi không được: - Con làm bộ mặt đó thì mù họ cũng nhìn thấy! Dương Thanh vẫn cái kiểu nói tưng tửng: - Nhiều khi con gái họ lại chịu mới lạ! Bà Dương trề môi: - Có quỷ ma mới chịu nổi mày! Dương Thanh chỉ cười chớ không nói gì thêm. Cũng may, vừa lúc ấy thì đã tới Đoàn gia trang. Gọi là Đoàn gia trang cũng đúng, bởi ngôi nhà của họ Đoàn này thuộc loại lớn nhất ở huyện Long Mỹ này. Chủ nhân là Đoàn Minh Thiện, ngày trước vốn làm chức quan lớn trong triều đình, trước khi triều đình phong kiến suy vong thì ông ta đã kịp tậu cơ ngơi đồ sộ này. - Dạ, ông bà chủ nhà con kính mời quý khách vào nhà ạ! Một người ra dáng là quản gia đã đợi sẵn nơi cổng, vừa thấy khách tới đã cúi chào lịch sự. Ông Dương vốn khó tính mà nhìn kiểu cách họ đón khách cũng hài lòng, ông lên tiếng liền: - Anh vào bẩm với Đoàn gia là có chúng tôi, thôn dân ở làng Hòa Lạc tới yết kiến. Người quản gia vẫn một mực lễ phép: - Dạ, Đoàn chủ nhân của tôi đã biết ạ, vậy kính mời ngài, phu nhân và công tử đáo gia! Theo kiểu cách nói của quản gia thì còn ảnh hưởng nặng nề phong kiến, chứng tỏ đã phục vụ nhà này từ khá lâu. Dương Thanh quay mặt đi chỗ khác cười, khiến bà Dương nhìn thấy phải nhắc khẽ: - Không được cười nhạo người ta! Vừa bước vào tới đại sảnh thì đã thấy một vị râu tóc bạc phơ, tướng mạo phi phàm, bước ra nghênh tiếp: - Chân tôi hơi yếu, đi đứng khó khăn nên không ra ngoài nghênh tiếp, xin ông bà thứ lỗi! Dương Phu phấn khởi: - Được ngài cho phép tới như thế này đã là vinh dự cho gia đình chúng tôi lắm rồi... Dương Thanh không nhịn được, đã lên tiếng: - Bên nào cũng vinh hạnh hết thì thành đại vinh hạnh mất! Không tỏ ra bực mình, Đoàn chủ gia lại quay sang Thanh, giọng vui vẻ: - Có phải Dương công tử đây chăng? Ồ, quả là tuấn tú, khôi ngô và có cá tính! Buộc lòng Thanh phải cúi chào, nhưng vừa nhìn xuống thấy đôi ủng xưa của chủ gia, anh ta liền reo lên: - Con ngưỡng mộ và ước ao bấy lâu có được một đôi như thế này, lạ và đẹp quá! Lại một lần nữa tỏ ra không phiền, mà họ Đoàn còn cười ha hả: - Công tử quả là ăn nói bộc trực, có duyên! Bà Dương lên tiếng: - Dạ, ngài bỏ qua cho, thằng con tôi tính tình... Ông Đoàn chặn lời: - Phu nhân đừng quá lo, cậu nhà có tính tình như vậy rất hợp ý tôi. Đàn ông phải nói năng có cá tính như vậy, chớ dạ dạ vâng vâng quá cũng không hay. Rồi ông nói riêng với Thanh: - Để tối bác tặng cho con một đôi. Đây là những gì còn lại của thời xưa. Ngày nay được lớp trẻ như con thích là điều mà người già hết thời như ta vui lắm! Thấy lời lẽ chân thành của ông ta thì Dương Phu có cảm tình lắm, ông nghiêm giọng bảo Thanh: - Con không được làm phiền Đoàn gia nữa. Trong nhà, Dương Thanh chỉ ngán có mỗi mình cha, nên sau câu nhắc nhở đó, anh chàng nín thinh không tưng tửng nữa. Khi đã an vị rồi, không để bà mối lên tiếng, Đoàn chủ gia đã chủ động nói: - Ý của tôi thì chắc hai vị đã được nghe rồi. Tôi chẳng may phu nhân vắnsố, để lại ba đứa con gái phải nuôi. Cũng may là ngày nay chúng đã khôn lớn. Nhưng con gái khôn lớn, đến tuổi cập kê thì làm cha mẹ ai cũng phải lo. Nỗi lo thứ nhất là bề gia thất của chúng, nỗi lo thứ hai là chọn ai để cho con cái mình nương tựa về sau. Tôi thú thật, tuy là quen biết nhiều, mối mai cũng lắm, nhưng vì qua kinh nghiệm tình đời, quá chán ngán nhân tình thế thái, nên tôi cứ ngay ngáy lo ngày đêm... Bà mai Chín Lệ ngứa miệng nghề nghiệp chen vào: - Đoàn lão gia đây thương con, không muốn cho con lấy phải người không xứng về nhân cách, bọn hám của, ngu dốt... Biết bà ta nói thêm sẽ nói lung tung, nên họ Đoàn phải chặn ngang: - Cô Chín đây là người quen, có giới thiệu ông bà và cậu đây. Nói thật, nếu là người khác thì họ sẽ vì sĩ diện, không hạ mình. Nhưng tôi thì khác, tôi đi tìm người tốt, cũng giống như tuyển nhân tài, nghe nhân tài ở đâu thì người tìm phải tìm tới, chớ không để họ tìm tới mình, như thế mới gọi là tầm nhân. Ông Dương xúc động thật sự: - Lâu lắm rồi tôi mới nghe được những lời chí tình của một người như Đoàn huynh. Tôi xin nghiêng đầu bái phục! Ông vòng tay ra trước, biểu lộ sự tôn trọng. Ông Đoàn vội xua tay: - Không có chi, không có chi! Được đón tiếp người đạo đức như nhị vị đây, lòng tôi mãn nguyện lắm. Đây phải nói là vinh hạnh cho tôi chớ không phải... Ông ngừng câu nói, nhìn sang Thanh. Lúc này sau khi bị cha nhắc nhở nên Dương Thanh không bộp chộp chen lời nữa. Anh ta thấy chủ nhà nhìn mình thì cũng bắt chước cha vòng tay thi lễ. Đoàn gia có vẻ hài lòng lắm: - Cháu đây giỏi lắm, còn trẻ tuổi mà biết phép tắc như thế này là hiếm trong thời buổi bây giờ. Rồi ông quay vào trong gọi: - Các con ra chào khách! Cùng lúc, ba cô gái thật xinh đẹp bước ra. Người nào cũng xinh như hoa mới nở, mặt hoa da phấn tự nhiên, không tô vẽ, nhưng trông họ lộng lẫy khác thường. Anh chàng ngang tàng như Dương Thanh mà cũng phải ngẩng lên nhìn và... thót tim! - Dạ, kính chào hai bác. Chào... công tử ạ! Họ đồng loạt lên tiếng giống nhau, cùng giọng điệu, chẳng khác một dàn đồng ca! Bà Dương thích thú nói liền không giữ ý: - Ba cô nương nhà đại quan xuất sắc quá đi thôi! Nghe khen, cả ba cô gái đồng loạt cúi đầu: - Dạ, chúng con cám ơn Dương mẫu! Họ gọi Dương mẫu một cách ngọt xớt, khiến bà Dương càng thêm phấn khích, bà líu lo: - Cám ơn! Cám ơn các con! Ông Dương phải ngầm đá chân vợ thì bà ta mới kịp dừng lại. Ông phải lên tiếng khỏa lấp: - Dạ, có tận mắt thấy mới hiểu thế nào là nề nếp gia phong của nhà Đoàn huynh. Cả ba tiểu thư đây thật quả xứng đáng... Nghe khen, ba cô con gái bỗng chạy nhanh vào trong, vừa chạy vừa thẹn đỏ mặt. Ông Đoàn phải nói chữa: - Chúng nó còn con nít lắm, xin quý vị tha lỗi cho. Rồi quay sang Dương Thanh, ông hỏi: - Cậu thấy thế nào? Chúng nó... Thanh phải lễ phép đáp: - Dạ thưa bác, cháu ngưỡng mộ ạ… - Một đứa là Thanh Thủy, một đứa là Kiều Nương, còn đứa út là Thúy Thúy. Chúng sinh cách nhau chỉ một năm, nên trông như sinh ba vậy. Ta hỏi thật, trong ba đứa, cháu thích đứa nào? Đừng ngại, lòng dạ nghĩ sao cứ nói thẳng. Dương Thanh cũng không ngờ mình lại buột miệng nói ngay: - Cháu ấn tượng với cái tên Thúy Thúy! Ông Đoàn cười ha hả: - Quả là có nhãn quan tinh đời! Tuy ba chị em đều xinh đẹp như nhau, nhưng con út đó dễ thương nhất. Tuy tính tình có hơi ngang bướng một chút... Bà Dương một lần nữa không dằn lòng được: - Thì thằng con nhà này cũng vậy. Nó cũng... Ông Đoàn quay sang Thanh: - Cho phép cháu được ra vườn sau chơi với tụi nó. Thấy Thanh còn lưỡng lự, ông khuyến khích: - Cần tiếp xúc để tìm hiểu thêm. Và cũng để cháu tự khám phá xem đứa nào là con út. Nhớ, phải là phát hiện đầu tiên nhé, chớ nếu dò hỏi mới lần ra thì ta sẽ không gả cho đâu nhé! Dương Thanh thấy trò chơi lý thú, nên anh phấn khởi chạy ngay ra vườn sau. Nơi đó, anh đã thấy ba cô con gái đang chơi đùa. Một cô lên tiếng ngay: - Đuổi tụi em đi nào! Đuổi theo người nào sau cùng thì chính người đó là... Dương Thanh vui lây cái vui của họ nên lao ngay vào cuộc chơi. Thật tình anh cũng chưa biết ai là Thúy Thúy, tức cô gái út, nhưng trong tâm thức của Thanh nó khiến anh cứ nhắm theo cô gái mặc áo màu vàng anh mà đuổi. Mải miết chạy, đến khi nhìn lại Thanh ngạc nhiên thấy hai cô kia đã đi đâu mất! Lúc ấy, cô nàng áo vàng cười dòn tan: - Đuổi nữa đi chớ, anh chàng ngang bướng! Dương Thanh đâu phải trai khờ, anh hiểu ngay: - Tôi đã bắt đúng người rồi phải không! Vậy thì liệu mà trốn đi, tôi mà tóm được thì... coi chừng! Nhưng anh chàng lầm, càng đuổi nàng càng chạy nhanh hơn. Thanh đuổi hơn chục vòng thì gần muốn đứt hơi mà cô nàng phía trước vẫn cười nói như không! Cuối cùng, Thanh đành phải lên tiếng: - Xin chịu thua! Cô nàng quay lại, nói gọn hơ: - Đã không bắt được vợ thì đừng hòng lấy vợ! Dương Thanh vẫn có tài vặt, vờ như mệt đứng không vững, chờ cho cô nàng bước lại gần, bất thần anh đưa tay chụp lấy bàn tay xinh xắn và reo lên: - Ai thua thì biết! Bỗng nàng xịu mặt: - Anh không được phép làm vậy! Ai cho anh cái quyền nắm tay người con gái khi người ta chưa thuộc về anh. Cũng may... Nàng nói từ cũng may thì đỏ mặt, quay đi chỗ khác. Dương Thanh tỏ ra hối tiếc: - Cho tôi xin lỗi, tôi không hề cố ý xúc phạm. Chẳng qua là... Cô nàng dịu giọng: - Thôi bỏ qua. Thế nào, đã thở được chưa? Dương Thanh trở lại bản tính ngang bướng cũ: - Thở thì còn yếu, nhưng ôm người đẹp thì thừa sức. Không ngờ nàng đanh mặt lại: - Nếu anh còn ăn nói kiểu đó thì em đi đây! Nàng giận dỗi bỏ đi, Dương Thanh phải xuống giọng: - Xin lỗi. Anh hứa là không nói bừa bãi nữa. Lúc này nàng đổi thái độ: - Cũng khá khen cho người biết thích nghi hoàn cảnh. Em xin ra mắt Dương huynh! Thanh cười vui: - Giọng điệu hơi giống truyện Tàu! Nhưng như thế lại hay. Dương huynh này xin chào... Thúy tiểu muội! Nàng cười giòn: - Sao biết em là Thúy Thúy mà đuổi theo? Lỡ hồi nãy đuổi nhầm hai chị thì sao? Thanh nghiêm túc: - Chắc là duyên số quá! - Anh tin duyên số? - Thế em không tin à? Nàng hơi ngập ngừng: - Tin... nhưng mà... Cuộc gặp gỡ của họ không ngờ lại suôn sẻ, bởi vậy ở trong nhà hai bên nói chuyện mà thỉnh thoảng cứ ngóng ra ngoài sân sau. Nhất là Đoàn lão, hình như không thấy Dương Thanh quay vào khiến cho ông yên tâm. Ông bảo: - Tụi nó tìm đúng nhau rồi! Ông thú thật: - Bảo thằng con anh chị ra đó chơi, chớ thật ra tôi thử xem nó có tìm đúng đứa mà nó thích hay không. Số là vậy, cách đây ít lâu, tôi mộng thấy Nguyệt Lão dạy rằng, hễ chàng trai nào tìm ra đúng người thì đó là nhân duyên. Nhất là con út. Tôi không giấu là trong ba đứa, Thúy Thúy là đứa tôi muốn nó lấy chồng trước. Biết là họ sẽ hỏi nguyên do, ông Đoàn nói ngay: - Theo số của tôi, hễ đứa con út mà lấy được chồng thì hai đứa kia dễ lấy chồng hơn. Cá tính con út ngang bướng, nên rất khó tìm được người... Cũng may cậu nhà cũng không khác... Ông Dương phụ theo: - Tôi không sợ con gái ngang tính, mà chỉ sợ đứa nào quá hiền sẽ không trị được thằng con ngang ngạnh của tôi. Hồi nãy tuy mới nhìn con nhỏ lần đầu, nhưng tôi tin là chúng nó hợp nhau. Đoàn lão hài lòng: - Nếu anh đã nói vậy thì tôi không còn lo nữa. Tôi nói luôn, nếu anh chị muốn thì tôi gả con Thúy cho cậu Thanh. Chẳng cần lễ vật gì cả. Đám cưới đơn sơ cũng được, không cần phải phô trương! Bà Dương mừng trong lòng. Thú thật là bà cũng đã ưng, chưa nói ra mà thôi. Nay nghe nói vậy, bà lên tiếng liền: - Được ngài cho phép thì vợ chồng tôi xin đội ơn và về lo liền lễ vật. Ngài nói thế, chớ về phía chúng tôi cũng phải lo cho ra lễ. Vậy ngài xem, hôn lễ bọn chúng có thể cho cử hành lúc nào? Đoàn lão không cần suy nghĩ: - Ngay trong tháng này cũng được. Miễn là hai đứa không có ý gì khác... Vừa lúc ấy cả hai bước vào. Thúy Thúy đã bạo miệng lên tiếng: - Con có ý kiến khác ạ! Ông Đoàn trố mắt nhìn con: - Lại gây chuyện gì nữa đây con ngựa chứng? Nàng quay sang Dương Thanh nháy mắt: - Anh nói đi chớ, xúi không dám làm phải không? Dương Thanh hơi ngập ngừng: - Con cũng... có ý... giống như Thúy Thúy vậy. Ông Đoàn cười to: - Chưa gì mà chúng nó đã đồng tâm hợp lực ép bọn già mình rồi đây! Ông Dương nhìn con, hỏi: - Con muốn nói gì? Dương Thanh lại nhìn sang Thúy. Cô nàng không dừng được nữa: - Tụi con muốn... đám cưới nhanh nhanh hơn nữa! Nói xong, cô nàng quay bước bỏ chạy mất. Thanh ngơ ngác định chạy theo thì Đoàn lão đã ngăn lại: - Con mà chạy theo nó thì có mà rụng giò. Trong nhà này mấy chị nó thường gọi nó là con ngựa. Ông nói tới đó chợt khựng lại, mặt hơi tái đi. Bà Dương ngồi đối diện nhìn thấy liền kêu lên: - Anh sao vậy anh... sui? Ông Dương cũng lo lắng: - Anh bị chứng gì hay sao? Để tôi gọi người nhà... Đoàn lão xua tay: - Không hề gì. Tôi chỉ bị xây xẩm một chút. Bệnh già ấy mà... Ông dần dần lấy lại khí sắc. Rồi ra lệnh cho gia nhân: - Lo bắt đầu tiệc đi! Tiệc đã bày sẵn, chỉ mời nhau rồi bắt đầu nhập tiệc. Trong bữa tiệc, họ thỏa thuận với nhau rất nhanh. Đoàn lão nói: - Mười sáu này là ngày tốt cho tuổi hai đứa nó. Chắc cũng tiện cho anh chị phải không? Vợ chồng họ Dương nhanh chóng gật đầu: - Dạ, ngày ấy thuận tiện lắm! - Tôi tính như thế này, ngay ngày mốt ta tiến hành lễ hỏi, rồi ngày mười sáu thì cưới. Nhà tôi rộng nên nhân dịp này tôi sẽ mời tất cả bà con. Tôi có ý này, chẳng biết anh chị có phiền gì không... Tôi muốn đãi cả hai họ một lượt cho tiện, anh chị thấy sao? Ông bà Dương lưỡng lự: - E rằng... Hiểu ý, Đoàn lão nói luôn: - Sẵn tôi đặt tửu lầu nấu món ăn, nhân đó tôi đặt luôn cho bên anh chị. Ta đãi ở đây một ngày, bữa sau bên này cùng kéo qua bên kia dự tiệc lần nữa! Được không? Thỏa thuận với nhau xong thì trời đổ mưa lớn. Cơn mưa kéo dài mãi cho tới chiều tối chưa ngớt. Đoàn lão ngỏ ý: - Nhà đã chuẩn bị mọi thứ rồi, nhân trời mưa đây, tôi mời anh chị và cháu Thanh ở lại ngủ một đêm. Có thêm thì giờ chúng ta bàn kỹ hơn về ngày lễ của chúng nó! Dù không muốn, nhưng cũng không còn cách nào hơn, ông bà Dương đành phải chấp nhận. Chừng như Dương Thanh có vẻ hài lòng… *** Đã hai ba lần, hễ nhắm mắt lại ngủ thì y như Dương Thanh bị ai đó nhéo vào người đau điếng! Lần đầu thì anh chàng còn giật mình, ngơ ngác tìm xem ai phá mình. Nhưng đến mấy lần sau thì Thanh ráng nhịn đau, đang nhắm mắt bất chợt ngồi bật dậy định bắt quả tang. Nhưng không lần nào Thanh thấy ai. Bực bội, Dương Thanh nhảy phóc xuống giường, bước ra cửa sổ nhìn về phía sau, nơi lúc chiều anh và Thúy Thúy đuổi bắt nhau. Nhưng lạ quá... - Sao lại là cảnh này? Trước mắt Dương Thanh lúc này là một dải đất rộng, chớ không phải là khu vườn rộng với đầy những cây cảnh nữa. Nghĩ mình mới thức dậy còn hoa mắt, nhưng sau hai lần dụi mắt, vẫn thấy đúng như thế. Thanh cứ trố mắt nhìn, quên cả trời lúc đó khá lạnh, khiến anh phải rùng mình mấy lượt. - Lạ quá... Vừa định leo cửa sổ nhảy ra ngoài, thì chợt Thanh khựng lại, bởi trước mặt anh lúc đó, cách chừng chục bước, có một cô gái trông quen quen, đang cưỡi một con ngựa bạch. Thanh nhìn kỹ và kêu lên: - Thúy Thúy! Tiếng kêu của Thanh suýt làm cho cô gái ngồi trên lưng ngựa nghe thấy, khiến Thanh phải đứng lùi vào một bước để tránh. Khi ấy nàng quay mặt lại hướng mình, nên Thanh không thể nhìn lầm, nàng ta chính là Thúy! Quá đỗi ngạc nhiên, Dương Thanh rón rén lần theo cửa sổ ra ngoài. Để tránh bị phát hiện, Thanh đi rất nhẹ và vòng ra phía sau lưng cô gái. Lúc ấy không phải chỉ một mình Thúy Thúy mà phía sau lưng nàng còn có hai cô chị của mình! Nếu lúc chiều họ mặc quần áo khác màu nhau, thì giờ đây họ cùng mặc một loại trang phục giống nhau, toàn một màu trắng như tuyết! Trong ba người, lúc này trông Thúy Thúy có vẻ như là một nữ tướng, hay một nữ chủ nhân, mà hai cô chị đi theo hầu. Cả ba lúc ấy đang hướng về nhau, dùng tay ra hiệu, như một cuộc tập trận! Tay của Thúy Thúy đưa lên cao, rồi hạ xuống, mỗi lần như vậy hai cô chị lại nhảy xuống ngựa, rồi leo lên... và sau cùng cùng hét lên một tiếng lớn, rồi cùng lao xuống một lúc. Dương Thanh còn đang ngơ ngác chưa hiểu gì, thì chợt nghe có tiếng người kêu lên thất thanh: - Có người rình, không xong rồi! Cả ba đứng ngay dậy, hướng về phía Dương Thanh, sợ hãi như bị bắt quả tang đang làm chuyện gì đó không lương thiện. Thúy Thúy cất giọng run run: - Em xin lỗi... Dương Thanh còn chưa biết phải ứng xử ra sao thì chợt có vài tia sáng lóe lên, khiến anh phải lấy tay che mắt lại. Khi mở mắt ra thì... không còn khung cảnh cũ nữa! - Thế này là sao? Thúy bất thần đổ gục xuống, Dương Thanh hoảng hốt: - Kìa, Thúy! Anh lao tới, nhưng nàng đưa tay xua ra: - Đừng! Đừng chạm vào người em... Sắc diện nàng trở nên xanh tái rất đáng ngại, nhưng vẫn tỉnh táo nói năng: - Em muốn anh nghe chuyện này... Ra dấu cho Dương Thanh ngồi xuống, nàng nói khẽ: - Em chưa định nói, nhưng anh đã lỡ nhìn thấy rồi thì em nói hết. Lúc nãy là em đang tập lại tư thế mà chúng em phải làm, nếu muốn còn sống sót... Thanh ngơ ngác: - Có chuyện gì sao? - Anh nhìn kỹ em xem, thấy gì? Dương Thanh chợt kêu lên: - Sao... kỳ vậy? Trên lưng nàng có một bờm lông màu trắng rất lạ! Thanh vừa mở miệng hỏi thì như hiểu ý, nàng lên tiếng trước: - Em không giấu anh nữa, em không phải người dương thế mà! Câu nói của nàng khiến cho Dương Thanh tưởng chừng như mình vừa từ trên trời rơi xuống, chàng há hốc mồm, hồi lâu mới lắp bắp: - Em... em nói... - Em là một oan hồn! Nói vừa dứt thì cũng là lúc nàng bật ngửa ra sau. Tình hình có vẻ không ổn. Thanh định bế xốc nàng dậy thì Thúy lại xua tay: - Lúc này anh chưa thể chạm vào người em được, phải để qua giờ tý, lúc ấy... Dương Thanh đành ngồi đó nhìn, lòng dạ anh ngổn ngang trăm câu hỏi. Tại sao có hoàn cảnh này? Hay là mình đang mơ? Đêm đã khuya lắm, sương xuống lạnh làm Thanh rùng mình, nhưng lo nhất là Thúy Thúy nàng hình như đang phải chịu sự hành hạ của cái lạnh còn ghê gớm hơn một người thường nhiều. Người nàng vừa run lên lại vừa co rúm lại. Nhưng không nghe nàng phát ra tiếng rên la nào hết... Trời bỗng tối sầm lại hơn, và bấy giờ mới nghe tiếng kêu khẽ của Thúy: - Anh không sợ thì hãy ôm chặt em đi! Ôm thật chặt! Thanh không một chút sợ hãi, ôm chầm lấy nàng và lúc ấy mới giật bắn người, bởi anh có cảm giác như mình đang ôm một tảng băng trong lòng! Nhưng đã lỡ rồi, có muốn buông ra thì cũng không buông được. Một luồng gió mạnh thổi qua, trong hơi gió Dương Thanh ngửi được một mùi tanh tưởi gần ngạt thở, khiến anh vô cùng ngạc nhiên. Nhưng cũng không lâu, sau đó thì trời hình như sáng tỏ hơn, gió lặng và... mùi tanh cũng hết! Lúc ấy, giọng của Thúy mạnh mẽ hơn: - Cám ơn anh, vậy là em thoát rồi! Nàng ngồi bật dậy, giọng nói lại liến thoắng thường lệ: - Sao còn chưa chịu buông ra? Dương Thanh chợt nhận ra là nàng đã đứng lên mà anh vẫn còn ôm chặt, chẳng khác đôi sam dưới biển! - Anh... anh xin lỗi! Giọng nàng nghiêm túc hẳn lại: - Người xin lỗi phải là em. Suýt nữa em đã làm cho anh gặp nguy. Anh có biết vừa rồi chỉ trong nháy mắt, có thể là cả em và anh đều vong mạng rồi đó! Nàng ôm vai Thanh, chẳng khác nào đôi tình nhân yêu nhau thắm thiết. Giọng nàng thì thầm: - Có hối tiếc khi phải hy sinh vì em không? Khác với một Dương Thanh ngổ ngáo thường ngày, anh chàng lại siết chặt tay nàng, giọng chắc nịch: - Hy sinh cho tình yêu là điều có gì mà hối tiếc! Nhưng em chưa nói rõ... - Ta ngồi xuống đây... Nàng dìu Thanh tới ngồi xuống chiếc ghế đá. Chỉ lên nền trời vừa rạng sáng, nàng hỏi: - Anh đoán bây giờ là giờ nào rồi? - Chắc là hơn hai giờ sáng. - Quả đúng như vậy. Vừa qua giờ tý được một chút. Phút giây định mệnh của em cũng vừa qua. Hồi nãy anh có nhớ em nói em là gì không? Thanh ngập ngừng: - Em nói mình là... là... - Là một oan hồn! Em xin lặp lại, em không phải người dương thế. Em là... Nàng chờ phản ứng của Thanh, và lúc ấy anh chàng càng siết chặt nàng hơn, chàng thì thầm: - Anh không cần biết, miễn là... - Em yêu anh là đương nhiên rồi. Và bởi vậy mà vừa rồi họ đến để bắt em đi. Họ không muốn em vướng chuyện trần gian... - Em nói rõ hơn xem? Thúy Thúy như đã chuẩn bị trước, nàng kể khúc chiết: - Em và hai chị vốn là một cô chủ và hai nàng hầu. Em là chủ. Nhà em không phải nơi này, mà ở vùng biên giới xa xôi. Cha em là một lãnh binh, một hôm ông bị bọn thuộc hạ làm phản, giết chết và còn truy sát cả nhà em nữa. Mẹ em bị hại khi cùng bọn em chạy nạn. Thân con gái từ nào chưa từng nếm trải cực khổ, vậy mà em và hai con hầu cũng ráng chạy được một đoạn đường rất xa, tới nơi này. Chính là nơi này... Nàng nghẹn ngào khi kể tới đây, có lẽ cơn xúc động dữ dội đang bùng phát. Phải khó khăn lắm nàng mới tiếp lời được: - Trong lúc dừng chân lại bãi đất hoang thì ba con ngựa chở bọn em bỗng dưng nổi chứng, chúng lồng lên dữ dội như muốn giẫm đạp chết bọn em! Lúc ấy, chợt con hầu tên Thanh Thủy của em phát hiện ra, nó la lên: “Lũ ngựa bị lên cơn ghiền thuốc phiện!” Phát hiện này của Thanh Thủy làm em nhớ lại khi đóng doanh trại ở vùng biên giới, trong số ngựa chiến của cha, có một số con được cho uống nước có pha chất á phiện để chúng nghiện và dễ sai khiến chúng. Bởi mỗi khi cơn ghiền của chúng nổi lên, chúng có xu hướng tìm về nơi chúng xuất phát, nhằm tìm thuốc để thỏa cơn ghiền! Nàng khóc ngất sau câu nói đó. Dương Thanh để cho nàng khóc, bởi anh nghĩ chỉ có khóc cho thỏa thì nỗi khổ đau trong lòng sẽ vơi đi. Mà quả vậy, sau một lúc nàng ngẩng lên, tiếp lời: - Thanh Thủy và Kiều Nương đã chết không toàn thây dưới sự giẫm đạp của hai con ngựa do chính các chị ấy cưỡi. Còn em, tuy không chết như vậy, nhưng sau đó không lâu cũng hồn lìa khỏi xác. Anh có biết em chết thế nào không? Nàng ngẩng cổ lên, đưa hai cái lỗ sâu đã thành thẹo cho Thanh xem: - Con ngựa của em cưỡi đã... cắn cổ em, hút cho hết máu rồi cùng ngã lăn ra chết! Dương Thanh chưa kịp hỏi thì nàng đã tiếp: - Nguyên khi trước, ngày nào em cũng đích thân đốt ống tẩu thuốc phiện cho cha hút, nên mỗi ngày em hít phải khói thuốc đó vào phổi, lâu ngày thành nhiễm. Trong máu của em đầy độc chất của thuốc, nên khi con ngựa đói thuốc, nó lồng lên điên cuồng và trong một giây, nó chợt đánh hơi được mùi máu có hơi thuốc của em, nó cắn cổ em là vì thế! Nhưng sau khi hút hết máu em vào người nó, thì chính con ngựa cũng chết luôn vì ngộ độc! Nàng ngừng nói đã lâu rồi mà Dương Thanh vẫn còn ngẩn ngơ. Anh không tin mình vừa nghe một câu chuyện thật. Cho đến khi nàng lại tiếp: - Khi hồn đã lìa khỏi xác rồi thì em chợt nhận ra con ngựa đang phủ phục trước mặt. Nó khóc vì hối hận! Đó là con ngựa trung thành mà cha em đã nuôi từ bé, nó là một con chiến mã, vừa khỏe, lanh lẹ lại vừa trung nghĩa giống như người. Nó đã từng cứu cha em nhiều lần, khi mang cha em bị thương nằm rạp trên lưng nó về tận doanh trại. Có lẽ sau phút điên cuồng vì thuốc, nó đã bừng tỉnh, nhưng lúc ấy thì đã muộn, cả em và nó đã ở âm cảnh nên nó phủ phục mãi, như chờ em tỏ thái độ... Nhưng em còn lòng dạ đâu để trách móc nó. Vong hồn em vất vưởng đi tìm cha mẹ, nhưng một khi đã chết rồi thì mỗi người một số phận, đâu làm sao ai tìm được ai. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, bỗng em gặp hai người hầu. Thanh Thủy và Kiều Nương được chở trên lưng một con ngựa bạch, mà chỉ thoạt nhìn em đã nhận ra ngay, đó chính là con ngựa em cưỡi, con ngựa đã hút máu mình! Trong khi em còn đang lo sợ thì con bạch mã đã lên tiếng giải thích rằng, do lỡ làm em thác oan, nó đã chuộc lỗi bằng cách giấu hồn phách tụi em vào thế giới vong hồn của loài vật, không chung đụng với hồn phách loài người. Mục đích của việc ấy là để tìm cơ hội hồi sinh cho em. Dương Thanh reo lên: - Em có thể hồi sinh? Nàng đưa tay chặn lại: - Anh không được nói to. Nửa đêm vừa rồi, bọn phán quan đã phát hiện chuyện dối trá của em và con bạch mã, nên họ truy đuổi, em và hai con hầu đang tập cưỡi lại ngựa, định tẩu thoát thì anh xuất hiện, và suýt nữa thì phán quan bắt được cả bọn em và cả anh cũng bị vạ lây! Thanh không chờ đợi lâu. Nàng đã kết luận: - Một lần nữa con bạch mã đã cứu em! Chính nó lúc đó đã đột ngột xuất hiện, đánh lạc hướng phán quan bằng cách xuất hiện và chạy về hướng khác, các phán quan đuổi theo và bắt được nó, nhưng bạch mã thà chết lần nữa chớ không dẫn phán quan đi tìm bọn em. Do vậy, hiện nay phán quan tưởng bọn em thoát được về trần gian nên đã gạt tên tụi em ra khỏi danh sách chết. Có nghĩa là... Thanh mừng khôn xiết: - Em đã hồi sinh? Nàng gật đầu: - Đúng. Nhưng có điều... Nàng ngừng nói, đưa mắt chỉ tay về phía cuối vườn, nơi có một con ngựa bạch nằm chết. Họ cùng tiến về phía đó, Thanh nhìn kỹ hơn và kêu to: - Đoàn lão gia! Thúy Thúy gật đầu: - Đúng. Đây chính là Đoàn lão, người mà em gọi là cha. Nhưng thật ra... Dương Thanh cũng ngạc nhiên: - Thật ra thế nào? - Như anh thấy đó, lão vốn là ngựa bạch, tức là tác nhân gây ra cái chết của em, cũng là con tuấn mã trung thành từng phục vụ nhà em suốt mấy chục năm! Sau khi gây họa và cứu em khỏi về âm phủ đã đưa em và hai cô hầu về vùng đất này, lập ra cơ ngơi riêng, biến dạng thành người và đóng vai cha của ba đứa con gái. Sở dĩ ông bày ra cuộc kén rể là bởi muốn cho bọn em vĩnh viễn trở lại kiếp người, do ông biết trong quy định của cõi âm có một khoản hở, hễ người nào hồn chưa bị đày mà tìm được người đàn ông tương hợp, người có số cao... như anh chẳng hạn, thì sẽ được hồi sinh! Chính vì vậy mà Đoàn lão đã cất công đi tìm và cuối cùng gặp được anh. Nhưng cũng chính vì việc coi mặt của anh và gia đình đã gây kinh động, khiến phán quan biết chuyện. Rồi như anh chứng kiến đó... Đến lúc này thì niềm vui trong lòng Dương Thanh đã gần như trọn vẹn, anh hỏi khẽ: - Em có thể hoàn toàn thuộc về anh chưa? Nàng gật đầu: - Em giao cuộc đời em cho anh! - Còn... Thanh Thủy và Kiều Nương? Nhéo Thanh một cái đau điếng: - Hỏi với ý gì vậy? Thanh phải đính chính ngay: - Đâu có! Anh chỉ tội nghiệp cho hai cô ấy. Và để... nếu có ai đó thích hợp, sẽ giới thiệu cho họ. - Ừ. Tưởng có ý lộn xộn thì coi chừng đó! Bây giờ em đã là một người trần rồi, mọi tính cách của một người vợ dương gian em đều có. Họ ngả đầu vào nhau trong niềm vui vô tận... Tuy nhiên, ngay lúc ấy có tiếng la thất thanh của hai cô gái kia: - Không xong rồi! Không xong rồi! Thanh Thủy và Kiều Nương người nhễ nhại mồ hôi, hơi thở gấp gáp, vừa chạy tới đã gục ngã ngay trước mặt, Thúy Thúy hốt hoảng: - Chuyện gì vậy? - Phán... phán quan! Họ chỉ tay về phía sau, chỉ có một cụm mây đen, nhưng cũng làm cho Thúy hãi hùng, lùi lại mấy bước: - Anh... anh chạy đi! Chạy nhanh đi! Họ chỉ tìm em thôi, hãy đi đi kẻo muộn! Dương Thanh bất thần lao tới, ôm chặt lấy Thúy trong động thái sợ mất nàng: - Không! Anh sẽ cùng với em! Chợt một tràng cười to vang lên. Trong thanh âm của giọng cười không có gì là hung ác cả. Rồi một giọng nói vang lên: - Ta tới không phải để bắt các ngươi đi, mà để chính thức báo tin, các ngươi được sống ở dương trần! Cả ba cô gái đều tưởng mình nghe lầm: - Đúng vậy không? Họ định hỏi lại lần nữa, thì chợt cụm mây xa dần, kèm theo lời dặn: - Với điều kiện là tất cả phải có chồng, và năm sau nếu ta trở lại mà chưa thấy có... con, thì lúc đó mọi lời hứa đều bị hủy bỏ! Đám mây đen tan hết rồi mà cả bốn người vẫn còn tần ngần đứng đó... Phải một lúc lâu sau, Thúy Thúy mới reo lên: - Sống rồi! Bỗng hai cô kia quỳ xuống, giọng buồn thiu: - Tụi này biết làm sao đây, cô chủ! Dương Thanh nói thay cho vợ: - Chuyện đó để tôi lo! Thúy Thúy trừng mắt: - Lại tính giở trò phải không? Thanh phải nói rõ: - Anh sẽ làm mai! Anh có hai thằng bạn tốt, còn độc thân! Nàng cười hiền hậu: - Thế thì được... Kiều Nương mừng rỡ: - Cám ơn anh rể! Cám ơn ân nhân! Dương Thanh định nói chuyện thêm với họ, nhưng liếc thấy Thúy đang nhìn nên tìm cách lảng ra, lẩm bẩm đủ mình nghe: - Lấy vợ là... như thế này sao? Nhưng liền lúc đó, khi quay sang Thúy thì hồn vía Dương Thanh hầu như biến mất. Anh chàng nhũn đến ngạc nhiên: - Anh... anh chỉ biết có em thôi! Hai cô gái kia che miệng cười vừa quay đi chỗ khác... *** Hơn một năm sau thì ở nhà Đoàn lão đã có thêm ba sinh linh. Ba đứa bé trai đã ra đời trước sau chỉ trong mấy ngày. Ba bà mẹ đã toại nguyện ước vọng. Nhưng họ chờ mãi mà vẫn chưa thấy phán quan trở lại. Thật ra phán quan đâu có trở lại nữa. Bởi nơi này là những con người, không cần họ dẫn đi nữa... XUẤT HỒN NHẬP XÁC Một nhóm gần mười chiếc xe lớn nhỏ lần lượt dừng lại trước cái quán lá ven lộ. Cánh tài xế đều xuống xe và người nào cũng ngao ngán khi nhìn lên con đường đèo cao ngất ngưởng. Một anh than thở: - Cố chạy dữ lắm mà cũng không kịp. Giờ này làm sao leo đèo được. Mà ngủ lại đây đêm nay thì muỗi cắn có mà chết! Một tài xế khác phụ họa: - Bữa kia tôi ngủ lại rồi, chẳng những muỗi mà còn có vắt nữa! Nửa đêm đang ngủ, sờ lên mặt đụng phải gần chục con vắt sắp sửa bò vào lỗ mũi lỗ tai mình! Người thứ ba thêm vào câu chuyện cho tính ly kỳ lên tới tột đỉnh: - Đó mà ăn thua gì, chính tôi đây đã bị nguyên một con rắn chui tọt vào trong quần đùi, vừa thức dậy phát hiện ra tức thì tôi ngất xỉu luôn! Nghe những người đó kể chuyện, Hoa Lý ngồi cạnh chồng trong ca-bin xe tải phát rùng mình, liền hỏi: - Họ ngủ ở đâu mà bị vậy anh? Sự chỉ ngay trong xe: - Thì phải ngủ ngồi hay lăn ra sàn nếu là xe tải để ngủ, chớ kẹt ở đây thì lấy chỗ đâu mà thuê mướn phòng trọ? Lý có vẻ lo, nhưng thấy chồng chưa có ý kiến gì thì cũng chỉ biết ngồi trên xe mà chờ. Cánh tài xế chung quanh người thì ăn cơm, kẻ uống rượu để giết thì giờ. Đến hơn mười giờ khuya, thì có một phụ nữ ra dáng người địa phương, tới bên xe của Lý gợi ý: - Họ là đàn ông thì ngủ đâu cũng được, chớ đàn bà con gái như cô thì ở đây sao tiện. Sao không chạy vào trong kia một chút, có ngôi nhà rộng, họ vẫn thường cho những xe lỡ đường ngủ nhờ. Lý mừng rỡ: - Hay quá! Chị dẫn đường tôi vào đó được không? Chị kia mau mắn: - Được chớ! Lý quay sang giục chồng: - Mình vào đó đi anh! Đây là lần đầu tiên lái xe qua đèo ban đêm, lại có chở theo cô vợ trẻ, nên Sự cũng không muốn vợ mình chung đụng với cánh tài xế ăn nói bạt mạng, nhậu nhẹt bí tỉ đó, nên anh hưởng ứng ngay: - Vậy mời chị lên xe, tôi đưa tới chỗ đó luôn! Người phụ nữ nhanh nhảu leo lên ngồi cạnh Hoa Lý, chị ta buột miệng khen: - Cô đẹp đến tôi nhìn mà cũng ngất ngây, đừng nói là... Thấy mình lỡ lời, chị ta ngừng ngang, dẫu vậy Sự cũng quay sang nhìn, vẻ không hài lòng kiểu người khác khen vợ mình như thế. Chị kia chừng như hiểu nên nói lảng sang chuyện khác: - Cô chú có đói thì lát nữa tôi nấu cơm đem qua cho ăn. Tính rẻ hơn cả quán xá nữa! Lý nhỏ nhẹ: - Dạ, chắc là sẽ nhờ chị. Bộ nhà chị ở gần nơi cho trọ? - Cách mấy căn thôi. Kìa, tới rồi đó, chỗ căn nhà có đèn sáng đó. Sự lái chiếc xe tải nhẹ của mình tới đậu ngay sân ngôi nhà sàn khá rộng. Một người phụ nữ từ trong nhà nghe tiếng xe đã chạy ra. Gặp người quen, hai người họ nói riêng gì đó mấy câu, sau đó người phụ nữ dẫn đường quay lại bảo: - Chị chủ nhà đồng ý để cô chú ngủ nhờ. Mà chỉ hai người thôi, chớ nhà chị ấy đơn chiếc, không tiện cho nhiều người. Lý phấn khởi ra mặt, lấy tờ giấy bạc đền ơn người giúp mình: - Chị cầm lấy uống nước. Nhưng chị ta xua tay: - Không đâu! Chỗ chị em mà, giúp nhau thôi chớ tiền bạc gì! Khi bước vào nhà rồi, chính Sự cũng phải công nhận là vợ chồng anh gặp may. Nhà cửa khang trang, sạch sẽ và ấm cúng, khác hẳn khung cảnh lạnh lẽo, hoang vắng của bên ngoài. Anh cũng ngạc nhiên tại sao gần như vậy mà lâu nay cánh tài xế không phát hiện ra, để chen chúc chi chỗ cái quán lá chật chội ngoài kia? Lý cũng bảo chồng: - Chắc họ sợ vào đây tốn kém nên mới nhường may mắn cho mình? Nhờ được có chỗ trọ, nên tối đó Hoa Lý không phải lo ngay ngáy chuyện muỗi, vắt tấn công, mà lại có được một bữa ăn no, ngon miệng nữa. Chị chủ nhà chỉ có một đứa con nhỏ ở cùng, nhà còn một phòng nhỏ đủ một người ngủ và cả một gian phòng khách rộng mênh mông. Chị ta nói: - Tiếc là cả hai vợ chồng không ngủ trong phòng có chiếc giường nhỏ kia được, vậy phiền chú ngủ ngoài phòng lớn, tôi đã giăng mùng sẵn. Sự nói ngay: - Không sao đâu, một mình vợ tôi được ngon giấc là đủ rồi! Đêm dần trôi qua... Gà gáy một hiệp, cũng là lúc Sự tỉnh giấc. Anh quay về phía phòng ngủ của vợ mình, sốt ruột muốn mò vào thăm chừng, bởi lúc chiều cô ấy có vẻ sốt và khó chịu trong người... Tuy nhiên, Sự không dám. Bởi lỡ đang mò vào phòng vợ mà gặp chị chủ nhà thì chị ta sẽ nghĩ gì về mình? Chắc chắn là không hay rồi... Cố gạt qua một bên sự lo lắng, nhưng sao trong lòng Sự tự dưng nóng lên, bồn chồn như đang có chuyện gì đó? Cuối cùng anh chợt nảy ra một ý, liền ngồi dậy chui ra khỏi mùng và đi thẳng ra cửa, nhưng cố tình đi sát vào phòng ngủ của vợ. Chuyện này nếu có bị phát hiện thì Sự cũng có cớ để nói rằng anh đang tìm lối ra ngoài đi vệ sinh! Nhưng cũng may, hình như chị chủ nhà đang ngủ say... Sự mạnh dạn bước hẳn vào phòng vợ. Tuy trong bóng tối, nhưng anh vẫn có thể nhìn rõ chiếc giường ngủ... - Hoa Lý! Trước mắt Sự rõ ràng là chiếc giường trống không! - Hoa Lý! Quên cả giữ ý, Sự gọi lớn đến hai lần. Nhưng chẳng hề có tiếng đáp. Có thể nàng đi ra ngoài. Điều này hơi lạ, bởi xưa nay Hoa Lý rất nhát gan, chưa bao giờ dám ra ngoài ban đêm, nhất là ở một nơi lạ như thế này. Bước trở ra ngoài, Sự hướng về phía phòng chủ nhà, hỏi to: - Chị chủ nhà còn thức không? Không có tiếng ai đáp, Sự bước gần hơn phía bếp và lại gọi lần nữa: - Chị chủ nhà ơi! Sự đã bước tới ngang phòng của chủ nhà, liếc vào thấy cửa phòng mở toang, bên trong có đèn sáng và... không có ai trong đó cả! Sự nghe tim mình đập nhanh, anh lại gọi lớn: - Lý ơi! Hoàn toàn im lặng. Lúc này không còn giữ ý nữa, Sự tung cửa bước hẳn ra ngoài. Và anh hoa cả mắt, khi nhìn chung quanh lúc đó là khung cảnh hoang tàn, chớ không như lúc anh mới đến. - Kỳ vậy? Sự không suy nghĩ thêm, anh lo lắng cực độ khi nghĩ tới một điều gì đó thật xấu... *** Điều lo lắng của Sự không hề sai. Bởi lúc đó, cách ngôi nhà vợ chồng anh ngủ tạm khoảng trên một cây số, Hoa Lý đang gặp nạn! Cô đã bị bắt đi, đem ra khỏi phòng trong lúc đang ngủ. Người ta đã trùm cô trong một bao tải lớn với rất nhiều vôi bột rắc bên trong, bởi vậy Lý đã không thể mở miệng kêu la được, vì mỗi khi há miệng ra thì cô sặc vôi đến muốn ngất đi! Có ba người đứng vây quanh Hoa Lý, một trong ba người đó chính là người phụ nữ dẫn đường cho vợ chồng cô vào chỗ trọ. Lúc này chị ta mới lộ mặt là người cò mồi, gài bẫy để vợ chồng Lý sập bẫy. Chính chị ta đã nói với tên đàn ông trong bọn: - Giao nó cho anh, đây là món hàng tuyệt vời nhất mà tôi gặp được từ nào đến giờ. Vậy thưởng lớn chớ? Tên đàn ông lấy ra một xấp tiền đưa cho chị ta: - Đây là thưởng ban đầu. Còn phần thưởng lớn hơn tức là quyền khai thác thân xác cô ta sau một tháng ta sử dụng! Họ cùng cười hô hố trước cơn phẫn nộ của Lý. Lúc này cô đã hoàn toàn tỉnh táo, nhưng do hai tay bị trói và miệng bị nhét khăn, nên chẳng làm sao la hét được. Sau đó hai người biến đi, chỉ còn lại duy nhất tên nọ với Lý. Hắn ta không vội vã để thực hiện ý đồ. Đầu tiên hắn dùng chiếc khăn ướt khá sạch lau nhẹ nhàng quanh mặt mày, cổ rồi lần xuống ngực của Lý. Lau đến đâu hắn xuýt xoa đến đó: - Đẹp ơi là đẹp! Nhan sắc này, tấm thân này sao lại là gái đã có chồng được! Phải là nụ hồng vừa nở mới đúng! Lúc đi ngủ, Hoa Lý đã thay bộ đồ hơi mỏng để cho mát và không mặc nội y, cho nên khi tên kia lau tới vùng ngực, Hoa Lý điếng hồn vía, người cô run lên, tưởng chừng như sắp ngất vì khiếp sợ! Mà tên nọ cũng đang bắt đầu run, bởi những gì hắn nhìn thấy chẳng khác miếng mồi ngon phô bày trước miệng con hổ đói! - Em cưng ơi... Hắn mất bình tĩnh thấy rõ, và tay hắn vừa run vừa chụp đúng vào nơi mà hắn cho là ngon nhất! Bằng tất cả sức bình sinh, Lý vùng lên lần cuối của cuộc đời! Cú bung chân, nẩy người thật mạnh khiến cho cả thân thể đang bị trói của cô lăn khỏi giường! Ngôi nhà xây trên mỏm đá sát bên một vực sâu, cho nên khi Lý lăn ra, người cô tung vách ván văng ra bên ngoài. Tên nọ hốt hoảng lao theo, khi nhìn thấy Lý đang nằm sát bờ vực, hắn đã kêu lên: - Nằm yên đó, đừng nhúc nhích! Hắn từ từ bước tới, đôi mắt long lên đỏ ngầu. Hoa Lý đã liếc nhìn thấy cái vực bên dưới, và... không một chút đắn đo, cô tung người một lần nữa! - Đừng! Đó là tiếng thét của hắn. Nhưng đã muộn. Bóng dáng thân thể nhỏ bé của Hoa Lý đã rơi vùn vụt xuống vực sâu. Rồi mọi thứ trở về im lặng... Vừa lúc ấy, một bóng người lao vút tới, cùng với một tiếng thét lớn: - Lý ơi! Người vừa tới đó là Sự. Anh chậm mất vài giây thôi nhưng đã hết rồi! Hai người đàn ông ghìm nhau. Nếu so về sức và thủ đoạn thì Sự thua sút. Nhưng về uất hận thì anh chàng đang có ưu thế! Anh gào to một tiếng: - Chết! Anh lao thẳng người vào tên nọ bằng tất cả sức mạnh của một người chết ngất nỗi hận. Tên côn đồ kia phải tránh sang bên. Tuy nhiên do né hơi chậm, nên hắn bị Sự xô ngã lăn trên đá. Bằng một động tác rất có nghề, hắn lăn ngược trở lại và bám được vào một gốc cây. Còn Sự thì sau khi lao quá mạnh, đã ngã chúi đầu xuống đất, đau điếng. Nhưng lúc đó, miệng anh vẫn còn gào lên: - Lý ơi! Tên côn đồ không bỏ lỡ dịp may, hắn bật ngay dậy và dùng chân đá mạnh vào mạng sườn của kẻ đứng trước mặt mình! Sự chỉ kêu lên được một tiếng, rồi thì toàn thân bắn tung lên, rơi nhanh xuống vực, theo hướng của vợ vừa rơi! Tên côn đồ xoa tay vào nhau, nở nụ cười hiểm ác: - Tao hụt ăn thôi, chớ làm sao bị hại bởi tụi bay được! Tuy bị một phen hú vía, nhưng hắn vẫn còn thèm tấm thân nõn nà mà hắn vừa vuột mất trong tầm tay. Hắn nói: - Cả năm trời nay mới có được con mồi ngon như vậy, thế mà vuột mất, điên thật! Hắn chạy như bay về hướng ngôi nhà trọ, la hét hai mụ đàn bà tay sai: - Mau đẩy chiếc xe tang vật xuống khe núi đi, bọn chúng đi đời hết rồi! Rồi ra ngoài kia đón coi, có đứa nào tới nạp mạng nữa không? Vuột mất lần này nữa thì chính tụi bay phải thế mạng! Hai mụ đàn bà tiếp tay làm việc ác riu ríu nghe lời... Ở chân đèo ngoài kia lại có thêm vài chiếc xe dừng lại chờ sáng để qua đèo. Chẳng biết rồi sẽ còn nạn nhân nào kế tiếp nữa hay không? Trăng trên đỉnh đầu vừa nhô ra khỏi đám mây đen. Chẳng hiểu sao trăng lúc đó có màu đỏ như nhuộm máu... *** Mở mắt ra, việc đầu tiên của Sự là thều thào hỏi: - Hoa Lý đâu? - Mô Phật, thí chủ đã tỉnh lại rồi! Người vừa lên tiếng là vị sư già, có lẽ đã đứng bên cạnh suốt thời gian Sự hôn mê. Nghe Sự hỏi, ông quay sang nói với bà già làm công quả trong chùa: - Suốt hai ngày mê sảng, hễ hơi tỉnh là cậu ta cứ gọi tên cô ấy.Tội nghiệp! Bà già Hai nhẹ lắc đầu: - Chẳng biết cô Hoa Lý nào đó bây giờ ở đâu để mình đi báo tin lành này, cậu ấy có thể sống được rồi! - Hoa Lý! Hoa Lý... em đừng chết! Em đừng chết! Vị sư già thở dài: - Xem ra cô Hoa Lý nào đó chẳng còn trên thế gian! Bà già Hai vẫn nuôi chút hy vọng, bà kề sát vào tai Sự hỏi khẽ: - Cậu nói đi, cô Hoa Lý đó ở đâu, tôi sẽ đi tìm cho? Sự định ngồi dậy, nhưng toàn thân đau nhức, không thể cử động được. Nhà sư phải lên tiếng: - Cậu cần phải nằm tĩnh dưỡng lâu nữa mới có thể khỏi được. Số cậu may lắm mới rơi từ trên núi xuống mà lại vướng vào cành cây bồ đề của ngôi chùa này, nên chỉ bị thương thôi. Chớ rơi thẳng còn gì là tính mạng! Bà già Hai cũng thêm vào: - Tôi đang quét lá sân chùa thì nghe một tiếng động mạnh, nhìn lên tôi thấy cậu treo lơ lửng trên đó. Lúc ấy trời mới hừng đông, nên không có ai tiếp tay đưa cậu xuống, tôi và thầy trụ trì phải khó khăn lắm mới đưa cậu xuống được an toàn. Số cậu đúng là lớn lắm! - Số lớn mà làm gì khi không còn Hoa Lý! Lý ơi... Anh ta do quá xúc động và ráng sức quá nhiều nên ho lên sù sụ, và vì thế đã làm động vết thương ở ngực, máu tuôn ra nhiều. - Kìa cậu! Bà già Hai hoảng sợ kêu lên. Vị sư già bình tĩnh: - Băng lại vết thương cho cậu ấy, rồi lấy thuốc cho cậu ấy uống ngay vào. Đừng để cậu ấy bị kích động nữa. Sự được chăm sóc và phải mất hơn nửa ngày sau đó, anh mới tỉnh hẳn. Vị sư già kể từ lúc ấy cũng không xuất hiện nữa, có lẽ ông đã yên tâm là người khách trẻ của mình không còn nguy hiểm đến tính mạng nữa. Sự ăn được cháo loãng và cũng đã nói năng được rành mạch. Bà già Hai luôn túc trực bên cạnh và sẵn sàng trả lời những câu hỏi hơi nhiều của Sự. Mà câu hỏi về Hoa Lý luôn trên cửa miệng của anh: - Đây có gần vực sâu không? Bà có thấy người nào rơi xuống đó chết không? Bà Hai thành thật đáp: - Chùa này cách vực sâu không xa, thỉnh thoảng tôi cũng có nghe tin ai đó rớt xuống, nhưng do vực quá sâu, lại hiểm trở, nên khó mà nhìn thấy nạn nhân được. Mà theo tôi, cậu là người may mắn duy nhất từ xưa đến nay. Sự sốt ruột: - Tôi muốn đi tìm vợ tôi. Cô ấy rơi xuống vực sâu chỉ cách tôi nửa phút, chắc là rơi không xa nơi đây. Vậy mà sao... Nhìn ra ngoài trời, bà Hai lo lắng: - Sao giờ này chưa thấy sư trụ trì trở về? Nơi đó nguy hiểm lắm mà ông cũng không ngại... - Sư ông đi đâu? - Ông không nói, nhưng tôi đoán là ông xuống dưới vực sâu hơn. Có thể là nơi có xác chết. Sự ngồi dậy được, anh hỏi dồn: - Có đúng là sư ông đi tìm vợ tôi không? Bà Hai chưa trả lời thì từ ngoài đã có tiếng của nhà sư Thiện Tánh: - Mô Phật! Vừa nhìn thấy ông, Sự đã hỏi ngay: - Có phải sư thầy đã... Sư Thiện Tánh nhẹ thở dài, gương mặt buồn bã: - Không hay rồi. Ta không giấu cậu, ta đã... Ông ngồi xuống đối diện với Sự, lại một lần nữa thở dài: - Ta đã gặp người đó, hình như là đúng... Ông lấy trong tay áo một vật mà vừa đưa ra, Sự đã kêu lên: - Chiếc vòng của Hoa Lý! Đó là chiếc vòng bạc có chạm khắc rất tinh xảo mà Sự đã đặt làm tặng vợ sau ngày cưới. Anh chụp ngay nó và ôm vào lòng: - Em đây mà! Nhà sư nhìn thấy mà lòng bất nhẫn, ông cố giữ bình tĩnh, nhưng trong giọng nói có hơi run: - Cậu bình tĩnh lại. Dẫu gì thì cũng xảy ra rồi... Sự hốt hoảng: - Cô ấy sao rồi thầy? - Chết rồi! Ta đã khó khăn lắm mới trèo xuống được nơi ấy, cách đỉnh bên trên có đến hơn trăm thước. Một nơi như vậy thì làm sao sống nổi! Tội nghiệp, thân xác cô ấy chẳng còn lại gì, chỉ có cánh tay với chiếc vòng này là còn nhận ra. Sự vừa hồi tỉnh, giờ đây lại như chiếc lá lìa cành, anh đổ người xuống, suýt nữa đã rơi khỏi giường. Đích thân đỡ anh nằm yên, nhà sư nhẹ giọng bảo: - Đằng nào thì cũng phải cho cậu ấy biết sự thật, chớ để cậu ấy hy vọng hão huyền thì không nên. Khi cậu ấy khỏe hẳn rồi, nếu muốn thì ta sẽ đích thân dẫn cậu ấy trở xuống đó lần nữa. Ta đã mai táng chu đáo cho cô ấy rồi. Ông ngồi đó với Sự khá lâu, đổ cho anh thêm một ít thuốc an thần. Ông hy vọng sau một giấc ngủ dài, tinh thần của Sự sẽ vững vàng hơn... *** Trước khi rời khỏi chùa Thiền Lâm, Sự đã hứa với sư Thiện Tánh: - Con sẽ nghe lời thầy, con sẽ cố bình tâm mà sống. Con cám ơn thầy chăm sóc, nuôi dưỡng con mấy tháng nay. Ơn này con không bao giờ quên. Sự ôm chiếc bình tro cốt của vợ rất chặt trong tay, như sợ nó vuột mất! Lên được con dốc dựng đứng, Sự nghe lời nhà sư, anh đứng chờ xe đò để về nhà. Tuy nhiên, chỉ sau vài phút đứng đó, bao nhiêu ký ức về Hoa Lý như sống lại, và hình ảnh đêm kinh hoàng ấy lại hiển hiện về, nó khiến cho Sự lảo đảo, mất kiềm chế. - Anh có lỗi với em, Lý ơi! Mỗi lần nói câu đó thì cơn uất hận trong lòng Sự có dịp bùng lên, điều mà mấy tháng qua anh đã nghe theo lời khuyên của sư thầy, kiềm chế được nó... Phút giây ấy, Sự hiểu rằng mình đành phải đi ngược lại những gì đã hứa ở chùa. Anh siết chặt chiếc bình tro cốt một lần nữa, rồi nói như lời thề: - Anh sẽ không để cho vong hồn em phải ngậm hờn nuốt hận đâu, Hoa Lý! Thay vì đón xe hướng về nhà, Sự đi bộ dần dần và sau cùng hướng về phía bên kia đèo. Vẫn chân đèo quen thuộc. Tuy vào ban ngày nó có khác đi đôi chút, nhưng Sự vẫn nhớ rõ đêm hôm đó anh dừng xe trước cái quán lá kia để đợi... Sự ghé vào quán, vờ như người lỡ đường, anh gọi nước uống và nghe ngóng tình hình. Anh nhớ, hôm đó anh lái xe theo chỉ dẫn của người phụ nữ kia đi về phía trước mặt không xa lắm thì tới ngôi nhà ấy. Ngồi một lúc, thừa lúc vắng khách, Sự quay sang hỏi chủ quán, một người đàn ông tàn tật: - Nghe nói xe tới đây ban đêm thường bị kẹt lại, tại sao vậy anh? Chủ quán có vẻ thật thà, thở dài nói: - Thật ra ban đêm vẫn qua đèo được, nhưng vài năm trở lại đây ở giữa đèo thường xảy ra cướp bóc, thậm chí giết người nữa, nên cánh lái xe hàng ban đêm rất sợ, cứ trời tối là ngủ lại đây cho chắc ăn. - Thấy ở đây chật hẹp, làm sao cùng lúc nhiều xe tới có thể trú ngụ được. Gần đây có chỗ trọ không? Nhìn Sự một lúc, người chủ quán hạ thấp giọng: - Có chỗ để ngủ qua đêm, nhưng mấy ai dám vào đó! Thấy mình khai thác đúng nguồn, Sự dò thêm: - Sao không dám, giá cả mắc hả? Chủ quán lắc đầu, vừa nói mà mắt đảo qua đảo lại nhìn, như sợ có người nghe thấy: - Cho không cũng chẳng ai dám ở! Ai không biết thì nộp mạng liền! Sự trố mắt: - Sao vậy? Chủ quán hạ thấp giọng hơn nữa: - Nghe nói là sào huyệt của bọn cướp ở đó! - Sao biết mà không ai đi tố cáo chúng? Chủ quán lắc đầu, thở dài: - Đất này là của chúng, hó hé ra là hết sống! Tôi nói thật, nghèo quá nên bấm bụng ở lại buôn bán, chớ cũng muốn cuốn gói đi lâu rồi! Mới hôm qua đây, nghe nói con gái của quan tỉnh trưởng tỉnh kế bên lái xe qua đây lúc mờ tối, chưa kịp ghé quán tôi nghỉ chân thì đã bị dụ đưa vào đó và mất tích luôn! Quan lính của tỉnh trưởng đã bủa vây suốt ngày mà chẳng bắt được ai, mà bóng dáng cô gái cũng biến mất luôn, chiếc xe du lịch còn bỏ lại ở trong đó! Sự bắt đầu bị kích động, nhưng cố giữ bình tĩnh. Anh uống vội ly nước rồi đi ngay, anh biết chủ quán đang nhìn theo tò mò. Bởi ở khu vực đèo này ít ai đi bộ lên xuống đèo. Nhắm hướng ngôi nhà trọ bữa trước, Sự đi thật nhanh. Trong đầu Sự quả thật chưa có một định hướng gì, chỉ nghe hỏa bốc lên bởi câu chuyện vừa được biết! Làm gì bọn chúng ư? Sự cũng chưa tính, nhưng chắc chắn khi đối mặt với chúng, đặc biệt là với tên khốn kiếp hôm trước thì nhất định giữa anh và hắn sẽ chẳng ai có thể sống! Đi được hơn nửa cây số thì trước mặt Sự hiện ra ngôi nhà sàn, anh thốt lên: - Chính đây rồi! Nhưng bước chưa được chục bước nữa thì bất chợt có ai đó nhảy ra chụp lấy Sự kéo vào bụi rậm. Anh quay lại thì thấy có khá đông quân lính Pháp và vài người địa phương. Trong số này có một phụ nữ người Việt, ăn mặc sang trọng, bà ta hất hàm hỏi: - Anh này đi đâu vào đó? Sự đã liều, nên nói đại: - Tôi đi tìm vợ! Vợ tôi bị bọn cướp bắt đưa vào đây chưa biết sống chết ra sao? Bà nọ nghe Sự nói thế thì mừng rơn: - Vậy sao? Vậy thì... thì để cho anh ta vào đó. Biết đâu anh ta có thể cứu được luôn con gái tôi ra! Bà ta nói với Sự: - Tôi là vợ ông tỉnh trưởng ở tỉnh bên, con gái tôi cũng bị bọn chúng bắt cóc đưa vào đó từ hôm qua đến giờ. Lính đã bao vây hết khu vực này, nghe nói tên đầu sỏ đang còn mắc kẹt trong ngôi nhà trước mặt, nhưng hắn hung dữ và có lựu đạn, nên lính của tôi chưa tiện xông vào. Nếu bây giờ cậu có thể xông vào, làm cách nhử cho tên cướp xuất hiện, nói chuyện thương lượng với hắn, trong lúc đó lính của tôi sẽ lén tấn công diệt hắn! Sự mừng thầm, vậy là anh không cần phải tìm đâu xa, kẻ thù đã ở trước mắt. Do vậy, anh gật đầu liền: - Được, để tôi vào đó. Một tên sĩ quan Pháp đưa cho Sự khẩu súng nhỏ: - Mày cần mang theo... Nhưng Sự gạt ngang: - Tao không cần! Như được tiếp thêm sức mạnh, Sự đi thật nhanh vào nhà, trước những cặp mắt ngạc nhiên quá đỗi của mọi người. Tiến lên nhà sàn, Sự lên tiếng ngay: - Thằng chó chết đâu, ra đối mặt với tao! Không nghe ai đáp, Sự lại bước thẳng vào nhà, nhìn thấy rõ căn phòng mà hôm đó vợ anh đã ngủ. Máu hận trong lòng bừng lên, Sự quát thật to: - Ra đây tay đôi với tao, thằng ăn cướp sát nhân! Vẫn chẳng có ai đáp, Sự bước thẳng tới cửa phòng của mụ chủ nhà, vừa lúc đó có một cánh tay mềm mại đưa ra kéo mạnh Sự vào trong, kèm câu nói nghe thật quen: - Hắn chờ anh trong này! Giọng nói rõ ràng là của Hoa Lý, nhưng nhìn lại thì người vừa kéo Sự là một cô gái lai, khuôn mặt hoàn toàn xa lạ. Sự lúng túng: - Cô... cô là... Đưa tay chỉ vào giữa phòng, lúc ấy đang có mặt gã đàn ông bặm trợn, mặt có một vết thẹo dài vắt ngang sống mũi. Vừa nhìn thấy là Sự nhớ ra ngay: - Thằng khốn kiếp! Anh không dằn được, lao tới đá cho hắn một cú, hắn ngã nhào mấy bước, đụng vào vách nhà. - Không cần phải làm thế đâu. Hắn đã bị em cắt hết gân tay chân rồi, bây giờ anh chỉ cần cắt nốt cái lưỡi chó của hắn nữa là đủ, là hết đời hắn! Giọng nói đúng là của Hoa Lý, vừa nhẹ nhàng mà vừa như ra lệnh đó Sự đã quen từ ngày chưa cưới. - Cô là... Nàng cười thật tươi: - Anh nhận không ra em cũng phải. Bởi em là phần hồn, còn cái xác là của con gái bà tỉnh trưởng ngoài kia. Hôm qua bọn cướp bắt cô này đem vào đây định hiếp và bị cô ấy chống cự, thà cắn lưỡi chết chớ không để làm nhục! Em là Hoa Lý, vợ của anh, từ ngày bị chết oan dưới vực sâu biết được tin anh còn sống qua lời của vị sư chùa Thiền Lâm, nên em vẫn ngày đêm vất vưởng đi tầm thù, quyết trả cho được mối hận mà cả em và anh đang mang nặng trong lòng. Em đã tới đây lúc tên khốn kiếp này vừa khiến cho cô gái chết, đúng là số trời đã định thế, nên em kịp nhập vào cái xác còn nóng hổi ấy. Em hồi sinh và tên chó má này đã bị em khống chế. Em ở đây chờ, vì biết thế nào anh cũng tới... Nàng nói xong, sà ngay vào lòng Sự như ngày nào nàng vẫn làm. Sự tưởng chừng như trong giấc mơ, anh kêu lên khe khẽ: - Hoa Lý! Lát sau, họ dẫn tay nhau ra. Bà tỉnh trưởng và bọn lính chạy tới ngạc nhiên hỏi: - Cậu đây cứu con phải không? Cô nàng nhẹ gật đầu: - Dạ phải. Nàng nói khẽ vào tai Sự: - Cứ nhận đại đi, thế nào rồi họ cũng gả con gái họ cho anh mà, em biết chắc! Và... chúng ta lại trùng phùng... Sự mừng không thể tả. Tuy nhiên, trong lòng anh vẫn có chút bùi ngùi... Dẫu sao, thân xác của Hoa Lý vẫn làm anh không thể quên... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 28
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXVIII: Yêu và Chết- Phần 1 1. Chuyến Xe Hoàng Hôn Quốc lộ 27, con đường đèo từ Ban Mê Thuột qua Đà Lạt là một con đường vắng, rất ít xe cộ đi qua, nhất là xe con. Vậy mà ngay từ sáng sớm hôm nay đã có một người khách lạ ghé qua quán cốc của Hà Ni và nói với cô: - Bữa nay cô có khách đặc biệt đó! Hà Ni đã nhìn người khách lạ rồi nhún vai nói: - Có ma ghé thì có! Người khách là một vị nữ nhân, tuổi trên dưới bốn mươi, cười hiền hòa rồi tiếp: - Vậy mà có mới hay. Mà có phải cô là Hà Ni không? Hơi ngạc nhiên về sự rành rẽ của khách, nhưng nghĩ có thể do mình làm chủ cái quán nhỏ này chắc ai đó biết tên rồi nói lại, nên cô gật đầu: - Cháu là Hà Ni, chẳng hay cô ở đâu lại biết cháu? Vị khách lại cười: - Biết mà không sai là tốt rồi. Vậy cô có phiền nếu tôi ngồi nói chuyện chơi không? Hà Ni phấn khởi: - Quán ở đây vắng, nhiều khi cần một người khách ngồi nói chuyện còn quan trọng hơn là bán được ly cà phê! Mời cô. Vị khách khá tự nhiên: - Gọi tôi là Dã Quỳ. Cô Hà Ni có lạ với cái tên này không? Hà Ni cười thoải mái: - Dã Quỳ là hoa tiêu biểu của vùng này! Hoa mọc đầy hai bên đường, chỉ có điều... Cô ngừng lại không dám nói tiếp, thì bất ngờ vị khách lại nối câu: - Dã Quỳ nói lái thành quỷ già phải không? Hà Ni xua tay: - Cháu không có ý đó! Cháu chỉ... - Quỷ già thì đâu đã sao! Tuổi như tôi mà bị gọi là quỷ già cũng đúng thôi! Chỉ e cỡ như cô mà thiên hạ gọi như vậy mới đáng ngại. Hà Ni chợt thở dài: - Ở mãi nơi này thì dẫu có là hoa hậu thì rồi cũng trở thành hoa Dã Quỳ hết thôi! Nghe tiếng thở dài não ruột của cô, vị khách cũng buồn theo: - Một người trẻ như cô mà bi quan quá là không nên! - Thực tế nó như vậy, có lạc quan thì cũng cải thiện được gì đâu? Hà Ni đi pha một tách cà phê khá ngon, đem lại mời khách: - Phụ nữ mà uống nhiều cà phê là không tốt cho da, nhưng mình ở xứ này không uống thứ này thì uống gì bây giờ. Cháu không uống được rượu, nên mới cố cạn ly chất đắng này vậy! Vị khách cười: - Vậy thì hoa Dã Quỳ sắp tàn uống với đóa Dã Quỳ hàm tiếu! Họ cùng cười nói vui vẻ. Khi mặt trời đứng bóng, bà Dã Quỳ đứng lên kiếu từ: - Giờ tôi phải đi. Về tới Đà Lạt phải hơn sáu giờ, nên không thể đi trễ hơn được. Hẹn có dịp nào trở lại tôi sẽ ghé chơi và hy vọng lúc đó sẽ nhìn thấy một Hà Ni với tên gọi mới, cô Hoa Hồng chẳng hạn! Trước khi bước ra cửa, bà còn quay lại dặn: - Cô sắp gặp bạn rồi đó. Nhớ lời tôi nhé, đó là người sẽ... Bà bước đi nhanh không để cho Hà Ni hỏi gì thêm. Chỉ khoảng nửa giờ sau thì có một chiếc xe tải dừng lại trước cửa quán, từ trên xe có hai người dìu một chàng trai máu me đầy người bước xuống. Họ gọi mấy ly cà phê và hỏi chủ quán xin nước để nhúng khăn lau vết thương cho người nọ. Hà Ni vốn sợ máu, nên cô không dám nhìn, nhưng lấy một chiếc khăn sạch để họ lau và còn dặn: - Lau xong bỏ luôn cũng được. Chàng trai bị thương có vẻ can đảm lắm, nên tuy thương tích khá nhiều khắp người, nhưng anh ta không hề rên la tiếng nào, chỉ ngồi trân mình chịu đau. Chỉ thỉnh thoảng nhăn mặt rồi cúi đầu chịu trận. Uống chưa hết ly nước, tài xe đã đứng dậy nói với cậu trai nhỏ tuổi hơn: - Mày ngồi với anh ấy, tao lại đằng kia bỏ mấy món hàng xong sẽ trở lại ngay. Anh ta ra xe và rồ máy chạy rất nhanh. Còn lại chàng trai bị thương và cậu lơ xe, Hà Ni len lén nhìn và chợt hỏi: - Sao không đưa anh ấy đi bệnh viện chữa trị, vết thương coi bộ không nhẹ đâu! Cậu lơ xe đáp: - Anh này không chịu. Mà tụi tôi cũng sắp về tới Ban Mê Thuột rồi. Ngồi thêm chừng mười phút nữa thì cậu lơ xe đứng lên đi ra ngoài, vừa nói: - Em đi... ngoài một chút. Và rồi cậu ta đi luôn. Mười phút, hai mươi phút, rồi hơn một giờ vẫn không thấy trở lại. Cả chiếc xe tải cũng mất hút luôn. Đến lúc này thì Hà Ni chợt hiểu. - Họ bỏ anh ta ở lại đây! Anh chàng bị thương vẫn không một tiếng rên la, nhưng xem chừng anh ta đã lả người, cứ chúi tới trước và đến một lúc bỗng ngã dài xuống sàn. Hà Ni hốt hoảng: - Kìa anh! Cô chẳng còn cách nào hơn, đành phải cúi xuống đỡ anh chàng dậy và chợt phát hiện ra có một mảnh giấy nhỏ rơi ra từ túi áo anh chàng. Không định đọc, nhưng bỗng nhìn thấy tên mình trên đầu mảnh giấy, nên cô tò mò: "Cô Hà Ni! Nhớ tôi nói đây là khách của cô. Nếu không muốn làm một thứ... quỷ già như tôi, thì hãy chấp nhận anh ta và chăm sóc cho cẩn thận. Có lúc gặp lại. Hoa Dã Quỳ." Hà Ni ngẩn ngơ một lúc, đến khi thấy anh chàng cứ nấc lên và ưỡn người như lên cơn, cô chẳng còn cách nào khác, phải dùng hết sức bế xốc anh ta dậy, kéo lê vào phòng mình. Bởi trong quán chỉ có chiếc giường ngủ của cô là nơi duy nhất có thể ngả lưng. Đặt anh chàng xuống giường, vừa định quay ngoài thì bất chợt bàn tay anh ta nắm chặt tay Hà Ni, khiến cô hốt hoảng: - Kìa, sao anh... Nhưng lúc nhìn lại thấy mắt anh ta hầu như hết thần, Hà Ni không đành gỡ tay ra, mà chỉ nhẹ nhàng ngồi xuống và chờ một lúc. Khi thấy bàn tay anh ta lơi ra, Hà Ni mới rút tay về, nhưng cũng chưa vội đứng lên. Đến lúc này cô mới có dịp nhìn kỹ anh chàng. Anh ta còn khá trẻ, khuôn mặt thanh tú, không có chút gì là của dân nhà xe hay làm nghề rừng như hầu hết thanh niên xứ này. - Anh ta là một người xứ khác? - Cô tự hỏi. Từ đó cho tới chiều anh chàng nằm yên như hôn mê, nhưng Hà Ni len lén sờ thử trán thấy nhiệt độ vẫn bình thường thì yên tâm. Khi trời tối thì cô gái sống một mình này lại bắt đầu lo. Làm sao để anh ta ở lại đây được, khi ban đêm cô chỉ có một mình? Vả lại... Định báo cho mấy người hàng xóm biết, nhưng do dự mãi, cuối cùng Hà Ni chọn giải pháp giữ im lặng. Cô hy vọng anh ta sẽ tỉnh lại, và sáng mai nếu chiếc xe kia không trở lại thì cô sẽ tìm cách gửi anh ta về Ban Mê Thuột. Như thế ít ra lòng cô gái nhân hậu này cũng đỡ ray rứt... Đến nửa đêm hôm đó... Trong lúc Hà Ni chuyển ra ngoài quầy hàng ngủ tạm thì anh chàng vẫn nằm yên trên giường của cô. Đến khoảng 1 giờ sáng, khi thức dậy đi ra sau bếp thì Hà Ni giật mình khi thấy trên giường trống không. Anh chàng đã biến đâu mất... Cửa sau vẫn còn chốt bên trong, cả cửa trước cũng thế, vậy anh ta đi đâu được? *** Việc anh chàng biến mất vào nửa đêm rồi xuất hiện vào sáng sớm hôm sau đã làm cho Hà Ni sửng sốt. Lúc tối sau khi tìm kiếm khắp nơi không thấy người khách bị thương nặng, Hà Ni đã lên giường nằm ngủ lại, với ý nghĩ là sẽ tìm hiểu kỹ lại vào sáng hôm sau. Vậy mà khi vừa choàng tỉnh lại thì bàn tay của Hà Ni đã chạm phải một người nào đó ngay cạnh mình trên giường! - Ai? Câu hỏi của Hà Ni vừa cất lên thì bàn tay người nọ đã quàng qua ngực cô và giữ yên ở đó. Lúc này cô mới định thần, thay vì bật ngay dậy và hét lên, thì linh tính báo cho Hà Ni biết tốt hơn là cô nên giữ im lặng... Bởi người đang ôm cô chính là... anh chàng bị thương lúc nãy. Và thay vì lên tiếng hỏi, Hà Ni lại nằm im, cố giữ để anh ta không giật mình. Một lúc lâu, thấy anh ta không có cử động gì, nghĩ là anh ta đã ngủ say, Hà Ni mới từ từ gỡ tay anh ta ra và nhẹ nhàng bước xuống giường. Trời đã sáng hẳn, nên bây giờ cô có thể nhìn rõ được mặt anh chàng hơn. Anh ta ngủ chẳng khác một đứa trẻ, gương mặt nửa trẻ thơ nửa người lớn. Mấy vết thương trên mặt đã khô và trả lại một phần trán và má bên phải vẻ phẳng phiu, ưa nhìn của một chàng trai thành thị! Hà Ni đánh bạo gọi khe khẽ: - Anh gì ơi! Anh... Bất chợt anh ta bật ngồi dậy và lên tiếng: - Xin lỗi đã làm cho cô sợ! Hà Ni lúc này mới hốt hoảng, đứng bật dậy khỏi giường: - Anh... anh biến đi đâu rồi xuất hiện lại như ma vậy? Sao anh dám... dám lên nằm trên giường tôi? - Tôi đã xin lỗi rồi, nếu cần, tôi sẽ xin lỗi lần nữa. Việc tôi nằm trên giường là do cô mà! Hà Ni nghiêm giọng: - Lúc đầu thấy anh bị thương nặng quá nên tôi cho vào giường nằm, bởi nhà chỉ có chiếc giường duy nhất. Còn khi không thấy anh, tôi đã trở lại giường của mình để ngủ. Sao khi trở lại anh cũng leo lên nằm chung là ý gì? Anh nên nhớ tôi là gái chưa chồng, anh làm như vậy... Anh chàng cười trên đôi môi héo hắt: - Chết duyên con gái! Tôi vạn lần tạ lỗi và chấp nhận bị trừng phạt. Phạt gì cũng được, tùy cô. - Tôi chỉ muốn... Hà Ni đưa tay sờ lên ngực, nơi bị bàn tay của anh ta đặt lên lúc nãy. Hình như hiểu ý, anh ta nhẹ giọng: - Tôi vô tình. Chắc cô cũng không nỡ trách một người trong trạng thái gần kề với cái chết chứ? Hà Ni nghe cách anh ta nói chuyện thì đã xác định rõ, anh chàng chính là người thành thị, miệng dẻo nhưng vẫn có chút gì đó thật thà. Và điều này đã khiến cho cô không truy hỏi nữa, mà chỉ nhìn kỹ anh ta để dò xét thêm. - Sao cô lại leo lên giường nằm chung với tôi, không sợ sao? Hà Ni bây giờ mới la lên: - Ai nằm chung với anh? Giường của người ta, anh leo lên đại thì có. - Nhưng cô đã nhường cho tôi rồi, sao nửa đêm lại vào nằm, làm tôi tưởng... - Anh thật sự không nhớ là nửa đêm đã bỏ đi đâu mà tôi tìm kiếm khắp nơi không thấy? - Tôi vẫn nằm ở đây mà! - Không có! Hay anh là... ma? Không ngờ anh chàng lại gật đầu: - Cũng có thể là ma lắm. Bởi nếu không phải ma sao tôi đang ở Sài Gòn, đang sắp lấy vợ thì lại nằm ở đây? Cách nói ỡm ờ của anh ta khiến cho Hà Ni tò mò hỏi thêm: - Anh nói sao, anh không phải là người đi chung xe với mấy người trên xe tải chở hàng sao? Anh chàng ngơ ngác: - Xe tải nào? - Chiếc xe chở hàng từ Đà Lạt chạy về đây. Trên xe có tài xế, một cậu lơ xe và... anh. Họ đem anh trong tình trạng thương tích đầy người vào đây rồi bỏ trốn hết, để mình tôi lãnh của nợ! Anh chàng lẩm bẩm: - Sao như vậy được? Tôi đang đi với cô ấy đó mà? Tôi đang... Hà Ni ngỡ anh ta đóng kịch, nên nghiêm giọng hỏi: - Anh nói sắp lấy vợ mà còn đang đi với cô nào nữa? - Thì là cô ấy! Chúng tôi đang chở nhau đi sắm đồ cưới, chẳng hiểu sao lại bị như thế này? Nhìn nét mặt thất thần của anh ta, Hà Ni nhẹ giọng: - Lúc họ bỏ anh lên xe, anh có biết gì không? - Xe nào? - Thì chiếc xe tải chở anh tới đây! Anh chàng lắc đầu: - Tôi không hề biết gì... Cũng chẳng hiểu sao, tôi hoàn toàn không nhớ gì hết? Vậy Ngọc Lan ở đâu? - Ngọc Lan là vợ chưa cưới của anh phải không? - Chính là cô ấy! - Anh tìm chiếc xe tải đó mà hỏi? Có thể lúc anh chở cô ấy đi đường, bị chiếc xe ấy tông phải rồi họ bỏ anh lên xe chở đi, còn cô kia thì chắc đã chết, nên họ vứt xác ở đâu đó. Nghe Hà Ni nói y như thật, anh chàng bắt đầu hốt hoảng nói: - Có đúng như vậy không? Hà Ni phải bật cười: - Sao anh lại hỏi tôi? Chuyện đó... Anh chàng như cố nhớ lại, nhưng hình như đầu óc anh ta không vận hành theo ý muốn, nên lúc nhớ lúc không, vừa muốn nói thì lại thừ người ra. Hà Ni phải trấn an: - Được rồi, anh nghỉ ngơi đi rồi sẽ nhớ. Cô vừa bước vào trong thì chợt anh chàng nhớ ra, kêu lên: - Phải rồi, cô ấy ở dưới cái hố sâu! Hà Ni chỉ ra ngoài, nơi có một cái vực sau nhà, hỏi: - Có phải giống như vậy không? Anh chàng nhìn và tỏ ra sợ hãi: - Đúng rồi! Cô ấy... cô ấy... Sợ anh ta không kiềm chế được, nên Hà Ni phải giải thích: - Giống chỗ này thôi, chứ không phải đây! Đợi cho anh ta bình tâm lại phần nào rồi Hà Ni mới hỏi: - Tên anh là gì? - Phong. Người ta gọi cặp đôi chúng tôi là loài hoa rừng đẹp nhất: Hoa Phong Lan. - Vậy là anh đã tỉnh táo hoàn toàn rồi. Anh cố nhớ lại xem, có đúng là cô ấy đã chết không? - Cô nào? - Thì vợ hay người yêu của anh. Cô Lan gì đó? Anh chàng bật dậy, một lần nữa ngơ ngác nhìn quanh rồi lẩm bẩm: - Phải rồi, cô ấy ở ngoài kia... Rồi bất ngờ, anh vụt phóng khỏi giường và cắm đầu chạy như bay ra ngoài. Không kịp ngăn lại, Hà Ni chỉ gọi với theo: - Anh đừng ra đó, có cái vực sâu! Nhưng không còn kịp nữa, chỉ trong nháy mắt thì bóng của Phong đã mất hút... Hà Ni hối hận đã nói linh tinh khiến cho anh chàng kích động. Lần này không biết có giống như lúc nãy, liệu anh ta có trở lại không? Tuy là người đã sống ở vùng này lâu nay, nhưng Hà Ni cũng chưa hề đi xuống phía vực sâu nên cô không thể hình dung nổi là bên dưới ra sao và liệu Phong xuống đó rồi có chuyện gì xảy ra? Cô bước tới một gốc cây bên bờ vực, đưa mắt nhìn xuống bên dưới và chợt rùng mình. Nó sâu thăm thẳm và cô chợt nghe lạnh sống lưng. Rồi bỗng dưng cô cất tiếng gọi thật to: - Anh Phong ơi! Chỉ có tiếng vọng từ chính giọng của cô dội lại, chứ hoàn toàn không có ai đáp. Sững sờ một lúc khá lâu, Hà Ni lững thững đi trở vào nhà. Cô lo lắng cho sự an nguy của anh chàng xa lạ kia một phần, nhưng chính cô cũng lấy làm lạ là trong lòng mình lại có điều gì đó rộn lên kỳ lạ, khó giải thích. Khi vào tới nhà, bỗng dưng Hà Ni đánh hơi có gì đó bất thường bên trong. Cô buột miệng kêu khẽ: - Ai trong nhà nhỉ? Sở dĩ cô tự hỏi như vậy là do cái mũi thính nhạy của cô vừa phát hiện ra một mùi hương rất lạ của một ai đó. Không lên tiếng hỏi, Hà Ni nhẹ bước đi thẳng vào phòng ngủ và sững lại khi nhìn thấy có một người nằm im, cả thân thể phủ kín trong chiếc mền, chỉ ló ra phần trên. Vừa nhìn đã thấy mái tóc dài phủ qua mặt gối, Hà Ni đã kêu lên: - Ai vậy? Cô là... Người nằm đó đúng là một nữ nhân, nghe tiếng hỏi lớn của Ni, cô ta trở mình, quay mặt ra và rên khẽ mấy tiếng. Hà Ni hốt hoảng khi phát hiện ra trên gương mặt xinh xắn của cô ta dính đầy những máu. - Trời ơi! Sao... sao vậy? Ni quên cảnh giác, đã bước nhanh tới bên người khách lạ và đưa tay tốc mền ra, vừa lúc kêu lên thất thanh: - Bớ! Tiếng kêu của Hà Ni bị nghẹn lại, bởi lúc ấy cô lảo đảo và ngã phịch xuống đất. Trước mặt cô, nửa phần thân thể của người kia chỉ là... bộ xương trơ ra! - Trời ơi... cứu... cứu! Hà Ni không còn kiểm soát được mình nữa, cô muốn thoát chạy, nhưng tay chân hoàn toàn không còn cử động được, như bị điểm huyệt. Trong khi cô lịm đi thì nửa thân người của cô gái kia từ từ cử động và nhẹ nhàng rời khỏi giường, không màng tới Ni đang nằm dưới đất. Một cơn mưa trái mùa đột ngột trút xuống, lùa gió lạnh buốt xương qua cửa sổ vào nhà, và chỉ trong phút chốc, toàn gian nhà như chìm trong màn tối âm u. Phần 2 2. Hoa Dã Quỳ Tuấn đỗ xe ngay trước quán, gọi to vào trong: - Hà Ni ơi, anh về tới nè! Bên trong quán có người bước ra, đó là Hà Ni, nhưng khi nhìn thấy Tuấn, cô vẫn dửng dưng như không, chỉ đưa mắt nhìn như nhìn khách lạ vào quán. Tuấn ngạc nhiên, nhưng vẫn lên tiếng tiếp: - Em sao vậy, cách có mấy thước mà nhìn cũng không ra anh sao? Hà Ni vẫn trơ mắt nhìn, đến nỗi một người khách đang ngồi trong quán vốn quen biết với Tuấn lên tiếng: - Người yêu về mà nhận cũng không ra, đúng là bữa nay cô Hà Ni này đầu óc sao ấy! Rồi anh ta quay ra nói với Tuấn: - Từ sáng đến giờ vào uống cà phê mà cô này lơ đãng sao ấy. Như là người mất hồn vậy! Tuấn lo lắng nhìn người yêu: - Em có bệnh gì không vậy Hà Ni? Coi sắc mặt em kìa, xanh rờn... Hà Ni vẫn không nói gì, nhưng khi Tuấn bước đến gần hơn thì cô bất ngờ đưa tay cấu vào đùi anh ta một cái đau điếng. Tuấn suýt kêu lên nhưng kịp kiềm chế được, anh đoán chắc có nguyên nhân gì đó, nên bước nhanh vào nhà trong. Ni đi theo, lúc này cô mới nhanh chóng đóng sầm cửa lại và thật bất ngờ, đưa tay đẩy mạnh một cái. Tuấn không kịp đề phòng, nên bị ngã ngửa lên giường. Anh chàng chưa kịp lên tiếng, đã bị một bàn tay của Hà Ni bịt chặt ở miệng và đành phải im lặng... Trong mơ hồ, Tuấn nhớ là mình bị người yêu nhảy đè lên người, và anh còn ráng sức thốt lên: - Em... em làm anh cứ tưởng... thì ra là... là... Rồi Tuấn hầu như không còn, hay đúng hơn là không muốn vùng vẫy nữa, anh chấp nhận để cho người yêu muốn làm gì thì làm... Nửa giờ sau... Người xuất hiện trở lại ở gian khách đang ngồi uống cà phê là Tuấn chứ không phải Hà Ni. Vị khách quen lúc nãy rất tâm lý, lên tiếng: - Vắng nhà lâu ngày nên bị bà xã phạt phải không? Mà xem ra cô ấy cũng không khỏe lắm đâu, ông liệu mà vừa phải tối nay nhé, không khéo... Anh ta nói xong trả tiền cà phê và bước ra ngoài. Chỉ một lát sau, bỗng có người chạy lại hớt hãi báo tin: - Cái người vừa ra khỏi quán chẳng hiểu sao tự nhiên chúi nhủi đầu xuống đất miệng hộc máu và nằm một đống ngoài kia kìa! Vài người nữa đổ xô chạy đến, Tuấn cũng đi theo, nhưng lát sau anh trở lại, lúc ấy đã thấy Hà Ni đứng trong quán, anh nói như lời báo cáo: - Anh ta bị trúng gió chắc! Hà Ni vẫn bình thản: - Việc gì cũng có cái giá của nó. Tuấn hình như muốn hỏi lại, nhưng xem chừng anh ngại, nên sau đó chỉ lẳng lặng giúp người yêu dọn dẹp trong quán, không nói năng gì. Cho đến khi từ ngoài có một chiếc xe hơi cũ vừa đậu lại, từ trên xe bước xuống một người đàn ông lớn tuổi, mà vừa thoạt trông thấy Hà Ni đã kêu lên: - Chính là cô sao! Người phụ nữ lớn tuổi hôm trước đã ghé quán. Bà ta nhìn sang Tuấn và chẳng cần giữ ý, đã nói ngay: - Cậu này đâu phải là người cô mong đợi phải không? Câu hỏi khiến cho Tuấn ngẩng mặt lên nhìn, nhưng Hà Ni thì vẫn không chút lo lắng, đáp nhanh: - Giữa chốn thâm sơn cùng cốc này, có đàn ông là quý rồi, còn chọn ai với ai nữa! Cô vừa nói vừa bước lại gần và quàng tay qua vai Tuấn, giới thiệu: - Đây là Tuấn, người yêu của cháu, lâu nay đi làm ăn xa nay mới về. Người phụ nữ tên Dã Quỳ chợt nghiêm sắc mặt lại: - Hai người đừng có diễn trò trước mặt tôi! Hà Ni và anh chàng tên Phong đâu? Câu hỏi bất ngờ của bà khiến cả Hà Ni cũng phải lúng túng còn anh chàng tên Tuấn thì vừa run vừa lùi lại sau như sắp bỏ chạy. Bà Dã Quỳ hét lớn: - Đứng yên đó! Nhưng anh chàng đã kịp phóng qua hàng rào thấp bên hông nhà và mất hút bên ngoài. Còn lại Hà Ni đang lúng túng thì đã bị bà Dã Quỳ chụp tay, bà đanh giọng: - Các người tính làm gì? Cậu ấy đâu? Hà Ni run lẩy bẩy: - Anh... anh ta... Rồi bất chợt cô chỉ ra ngoài chỗ vực sâu, nói nhanh: - Ở dưới đó! Bề ngoài xem ra vẻ chậm chạp, vậy mà khi ra tay thì bà Dã Quỳ thật nhanh, bà khóa chặt tay của cô gái, rít lên: - Nếu không đưa anh ta lên thì đừng hòng sống với tao! Động tác khóa tay đó có lẽ quá mạnh, nên Hà Ni kêu lên đau đớn: - Ui da! Để... để con nói... Cô ta được bà buông ra, vừa định bước đi thì đã bị gọi giật lại: - Trên người của cô bây giờ đã bị ta điểm huyệt, đừng hòng tính chuyện tẩu thoát. Khôn hồn thì mau đưa anh chàng tên Phong đó về đây! Hà Ni đi rồi. bà Dã Quỳ mới quay lại phân trần với người khách duy nhất còn lại trong quán: - Ở chốn vắng vẻ này xưa nay vốn bình yên, nhưng bây giờ đã không còn được như vậy nữa rồi. Ông thấy đó, cô gái lúc vừa rồi đâu phải là một con người bình thường... cô ta... Vị khách đó là một người đàn ông trung niên, nãy giờ hầu như không màng tới cuộc đôi co giữa hai người, giờ nghe hỏi mới quay lại từ tốn nói: - Thì chính bà đã đem lại điều bất ổn đó thôi! Người đàn bà giật mình: - Ông... ông nói thế... Người đàn ông vẫn không nhìn vào bà Dã Quỳ, nói tiếp: - Thì chính bà đã gây ra cái chết cho họ, khiến họ thành như vậy mà còn trách ai? Ông nói vừa xong thì vội bước ra ngoài. Bà Dã Quỳ hốt hoảng thấy rõ, bà vội chạy theo gọi lớn: - Kìa, ông! Nhưng người đàn ông đã như cái bóng, biến mất ngay khi vừa ra tới đường lộ. Bà Dã Quỳ ngẩn ngơ một lúc, khi bước trở vào thì đã thấy một người nằm im dưới sàn nhà. Người ấy là anh chàng Phong. Chẳng hề ngạc nhiên, bà Dã Quỳ đưa tay sờ lên trán anh chàng, rồi chép miệng: - Cũng còn may. Phong vẫn còn sống, nên sau đó vài giây, anh ta trở nhẹ người rồi mở mắt ra, ngơ ngác: - Tôi... tôi đang ở đâu? - Cậu không phải lo, đây là nơi cậu được cứu sống. Cậu nhớ cô chủ quán Hà Ni không? Được đánh thức cơn mê. Phong ngơ ngác: - Cô ấy đâu rồi? Đưa tay chỉ vào trong nhà: - Nơi cậu đã nằm hồi đêm qua. Phong không hỏi thêm, bật ngay dậy rồi bước nhanh vào trong nhà. Cũng vừa lúc ấy Hà Ni bước ra. Cô như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài, sững sờ khi nhìn thấy Phong: - Anh... anh... Bà Dã Quỳ phải lên tiếng: - Nếu tôi trở lại không kịp thì hai người đã chết rồi! Tôi kể tóm tắt cho nghe: Hai người đã bị oan hồn của một ma nữ hãm hại, nó khiến cho cậu Phong này đi xuống vực sâu và nó nhập hồn vào Hà Ni, khiến cho cô suýt nữa đã hại thêm một người thanh niên vô tội. Anh chàng Tuấn vốn là một thợ chụp ảnh thường qua lại tuyến đường này và từng đem lòng thương cô chủ quán đây. Nó bắt hồn anh chàng ấy, định biến anh ta thành một cặp đôi để cùng với nó tiếp tục gây thêm những thảm cảnh. Cũng may... Bây giờ hai người mới nhận ra. Hà Ni lúc này hoàn toàn khác một Hà Ni lúc nãy, cô ngượng ngùng nhìn Phong: - Anh đã... Phong đáp: - Tôi cũng không biết nữa! Tôi cũng mới tỉnh lại đấy thôi. - Em cũng... Hà Ni vừa nhìn ra nhà ngoài thì ngạc nhiên: - Bà ấy đâu rồi? Biết cô hỏi bà Dã Quỳ, Phong nhìn ra và nói: - Bà ấy mới vừa ở đây. Nhưng khi họ trở ra ngoài thì chẳng còn thấy bà ấy đâu Hà Ni ngạc nhiên: - Em mới nghe tiếng của bà đây mà. Khi đó, người đàn ông bỏ đi đột ngột lúc nãy lại hiện diện, ông ta đặt một nhánh hoa dã quỳ nằm dưới đất và bảo: - Bà ấy đây. Cô chủ quán nhớ tên bà ta không? Hà Ni gật đầu đáp: - Dạ nhớ, bà Dã Quỳ. Ông là... Người đàn ông không đáp, mà vừa nói vừa bước trở ra ngoài: - Bà ta không phải là người xấu, nhưng nếu không tìm gặp lại bà ấy thì chuyện rắc rối sẽ còn dài đấy! Ông ta cũng biến rất nhanh như lúc tới. Hà Ni hoang mang: - Sao toàn những chuyện gì đâu không vậy anh? Phong lắc đầu: - Tôi không hiểu! Nhưng vừa chợt nhớ lại chuyện của mình. Tôi nhớ tới Lan, khi cô ấy bị tai nạn... Đầu của Phong đau nhói khi nhắc tới chuyện ấy. Anh vừa ôm đầu vừa rên rỉ: - Tôi không chịu nổi... Tôi chết mất! Hà Ni hốt hoảng: - Anh bị sao vậy? Anh... anh. Cô hốt hoảng nhưng cũng chẳng biết làm sao. Trong lúc luống cuống, chẳng hiểu sao cô lại chụp cái hoa dã quỳ còn nằm dưới đất đưa cho Phong, Đó là hành động vô ý thức, vậy mà lạ lùng thay, nó lại có hiệu quả tức thời. Phong tỉnh táo hẳn và ngơ ngác: - Tôi hết đau rồi. Hay là... Anh chợt nghe văng vẳng tiếng ai đó từ trong đóa hoa phát ra: - Hãy tới thôn Ea Rya mà tìm người chủ bông hoa này... Phong nhìn sang Hà Ni hỏi: - Ai vừa nói vậy? - Ai nói gì đâu, em không nghe! Tiếng nói lại vang lên rất khẽ, chỉ đủ cho mình Phong nghe: - Đi ngay đi và nhớ là đừng rời hoa dã quỳ ra khỏi tay. Nhớ đấy! Lần này cũng chỉ mình Phong nghe, anh phải nói lại cho Hà Ni nghe nội dung câu nói và hỏi: - Ai vậy? Hà Ni lặng người đi: - Em cũng không biết... Phong nhớ lại lời người đàn ông nói lúc nãy, anh hốt hoảng: - Mình phải tìm người đàn bà có tên là Dã Quỳ này sao? Bà ấy... Vô tình trong lúc nói chuyện, Phong để hoa dã quỳ rơi khỏi tay, lập tức cơn đau lại nhói lên dữ dội. Thấy anh ta lảo đảo, Hà Ni vội chụp lấy vai và kêu lên: - Anh sao vậy? Phong sợ Hà Ni giẫm phải bông hoa, anh muốn cúi xuống nhặt lên, nhưng vừa cúi người thì ngã sấp luôn xuống sàn nhà. Cũng may khi ngã anh lại nằm đè lên đóa dã quỳ, nhờ vậy Phong lại tỉnh táo. Lúc này Hà Ni chợt nhớ ra, cô bảo: - Anh không được rời bông hoa này ra. Phong hỏi: - Thôn Ea Rya ở đâu? - Em cũng không biết, nhưng chắc hỏi thì có người chỉ cho. Đóng vội cửa quán, Hà Ni giục: - Mình đi ngay cho kịp! Gọi một chiếc xe thồ, cô hỏi: - Anh biết thôn Ea Rya không? Anh chàng chạy xe đáp ngay: - Thôn ấy cách đây khoảng chục cây số, cô tìm ai ở đó nói đi, tôi rành thôn ấy lắm vì tôi cũng là người ở đó mà. - Vậy anh có biết một bà có tên là Dã Quỳ không? Anh chàng lái xe giật mình: - Bà Lang Leng? Mà cô tìm bà ta làm gì? Đến phiên Hà Ni ngạc nhiên: - Lang Leng là ai? - Đó là tên riêng của bà mà cô gọi là Dã Quỳ đó. Bà ấy là người cùng thôn với tôi mà. Ở thôn người ta chỉ quen gọi bà ta là bà Leng thôi. Nhưng mà... Anh ta bỗng nhìn Hà Ni với ánh mắt không bình thường và định nói gì đó nhưng không kịp, bởi lúc ấy cô nàng đã đỡ Phong trong tình trạng đang suy sụp lên xe, cô ngồi kèm phía sau và giục: - Anh đưa tụi tôi đi ngay đi! Anh chàng kia đành phải rồ máy xe. Trên đường đi, anh ta hỏi: - Cô tìm bà ấy có chuyện gì? Rồi không đợi cho cô đáp, anh ta quay lại nhìn Phong, hỏi: - Anh này có phải bị bệnh đau đầu không? Ni giật mình: - Sao anh biết? Anh ta chưa kịp đáp thì do phải tránh một chiếc xe ngược chiều chạy áp sát, nên ngưng ngang câu chuyện. Đến khi tránh được rồi thì anh ta lại chuyển sang đề tài khác: - Đoạn đường này xảy ra tai nạn hoài, như chuyện vừa rồi đó... Câu nói vô tình khơi gợi đúng nỗi đau của Phong, anh nói liền: - Vợ tôi cũng bị một chiếc xe như vậy... Anh nói chưa hết câu thì đột nhiên ngưng bặt, như có một vật gì đó chặn ngang cổ họng. Ngồi cạnh, Hà Ni phát hiện ra điều ấy nên hỏi nhanh: - Anh bị sao vậy? Phong không đáp được mà chỉ đưa tay ra dấu. Hà Ni càng hốt hoảng hơn: - Anh chạy nhanh lên! Đừng nói chuyện nữa. Anh bạn tôi đang gặp nguy. Anh chàng lái xe do vậy không thể nói tiếp điều đang muốn nói. Gần hai chục phút sau đã tới thôn Ea Rya, anh ta dừng xe trước một ngôi nhà sàn và bảo: - Nhà của bà Leng đó. Dặn anh ta chờ đó, Hà Ni dìu Phong leo lên thang. Khi bước vào nhà đã gặp ngay một cô gái trẻ đang ngồi dệt thổ cẩm, Hà Ni vội hỏi: - Có bà Dã Quỳ ở nhà không cô? Cô gái giương mắt nhìn khách như không hiểu. Hà Ni chợt nhớ ra, cô hỏi lại: - Tôi muốn hỏi bà Leng! Bấy giờ cô gái mới đáp: - Không có! - Bà đi vắng chừng nào về? - Không về! Thấy cách đáp cộc lốc của cô ta Hà Ni hơi bực, nhưng chợt nhớ đấy là một cô gái người thiểu số, nên cô dịu giọng hỏi lại: - Tôi có việc cần kíp, muốn gặp bà Leng. Xin cô giúp cho... Cô gái lắc đầu: - Bà ấy chết rồi còn đâu mà gặp! Hà Ni giật bắn người: - Cô nói sao? Bà Dã Quỳ... Bà Leng đã chết ư? Cô ta chỉ tay ra ngoài đường lộ nói gọn lỏn: - Ra ngoài kia mà nhìn xuống hố sâu, má tôi ở đó! Phong đang trong tình trạng choáng váng, vậy mà khi nghe câu nói, anh đã hỏi liền: - Bà ấy cũng bị tai nạn xe ư? Vừa lúc ấy anh chàng lái xe thồ cũng vừa bước lên, anh ta lên tiếng: - Lúc nãy tôi định kể mà chưa kịp. Bà Leng đã chết cách nay hơn một năm rồi. Bị một chiếc xe tải đụng phải, hất bà ấy văng xuống vực sâu rồi bỏ chạy luôn. Bởi vậy từ ấy bà thường hiện hồn về chặn mấy chiếc xe chạy ẩu để cảnh báo. Bà là một hồn ma giúp người chứ không hại người. Cách nay mấy bữa, tôi nhìn thấy một chiếc xe tải chạy như điên qua khu vực này, bỗng nhiên dừng lại, rồi cả tài xe và lơ xe đều nhảy xuống quỳ giữa đường lạy như tế sao vừa van xin mà chẳng biết là xin ai. Tới khi họ đi rồi tôi mới nhìn thấy ở bên đường có một bó hoa dã quỳ còn tươi nằm ở đó, tôi đoán... Hà Ni vụt nói: - Bà Dã Quỳ! Anh ta gật đầu: - Đúng là bà ấy! Hà Ni lo lắng nói: - Thì ra mấy lần bà ấy xuất hiện đều là… hồn ma! Rồi cô quay sang Phong: - Anh nghe giọng nói bí hiểm từ trong đóa hoa dã quỳ có phải là bà ấy không? Phong gật: - Đúng vậy. - Do đó, lúc nãy khi nhìn thấy cậu đây cầm trên tay đóa hoa dã quỳ tôi đã có ý nghi ngờ. Có phải là cậu gặp bà Leng không? Không tiện nói hết ra, Phong chỉ đáp: - Bà ấy giúp tôi... Còn Hà Ni thì lại nói: - Có một người chỉ cho chúng tôi tới đây. Người đàn ông... Không ngờ anh lái xe kêu lên: - Ông thầy người Tàu từ Đà Lạt lên phải không? Hà Ni lắc đầu: - Tôi không biết, chỉ gặp ông ghé quán một lần, ông ấy cho địa chỉ để tới đây rồi đi luôn, không biết gốc tích, tên tuổi. Tỏ ra rành rẽ việc, anh ta nói thêm: - Đã nhiều lần ông thầy đó tìm về đây, hình như lúc đầu để trừ khử oan hồn của bà Leng, nhưng sau này lại nghe nói ông ta luôn ủng hộ bà ta, mỗi khi có đụng độ giữa bà Leng với ai đó... Phong ngạc nhiên: - Sao lại có chuyện đụng độ? Bộ có nhiều người muốn trừ khử bà ấy sao? - Tôi không rõ lắm... Nhưng xem ra đây là chuyện giữa các oan hồn với nhau. Tôi chạy xe thồ khắp khu này nên đã nhiều lần chứng kiến cảnh ông thầy Tàu đó ngồi bên đường đốt nhang cúng, mà lần nào cũng có những bông hoa dã quỳ cạnh nén nhang. Trong thuật làm phép, theo tôi biết khi muốn giúp ai thì người ta hoặc là đặt ảnh hoặc biểu trưng của vong hồn người đó cạnh nén nhang. Ông ấy không cúng để độ cho bà Leng thì đặt những bông hoa dã quỳ làm gì ở đó? Hà Ni lẩm bẩm: - Cũng lạ... Lúc ấy, đột nhiên Phong ngã sóng soài trên sàn nhà. Trong lúc Hà Ni hốt hoảng thì cô gái con chủ nhà lúc nãy bước trở ra, cô ta cầm trên tay một đóa hoa dã quỳ khác, hoa đã phơi khô, đặt lên ngực Phong, vừa bảo: - Cái này dễ giữ bên mình hơn. Xong rồi về đi. Chưa ai kịp hỏi gì thì lại một lần nữa cô ta biến mất vào trong. Hà Ni gọi với theo: - Cô ơi! Anh chàng lái xe thồ bảo: - Người thiểu số không biết nói nhiều. Cô ấy nói như vậy là xong rồi, cô cứ đưa cậu ấy về đi. Coi kìa, cậu ấy đã tỉnh táo như thường rồi. Phong tự đứng lên và nói như chưa có gì xảy ra: - Mình về! Cám ơn cô Hà Ni. Rồi quay sang người lái xe, bảo: - Anh cho tôi ra ngoài chợ, tôi sẽ xuống ở đó, còn anh đưa cô này về quán. Hà Ni phản đối: - Không được! Anh chưa thể tự đi, phải về quán nằm nghỉ, lúc nào khỏe hẳn hay. Vả lại, anh còn chưa rõ chuyện đã xảy ra với mình mà. Phong vẫn cương quyết: - Cứ như vậy đi. Anh lái xe thồ làm đúng như lời, ra ngoài anh ta còn nhiệt tình chở Phong tới giao cho một bạn đồng nghiệp rồi dặn: - Cậu này cần đi đâu anh cứ chở, rồi nhớ chở về lại quán cô Hà Ni này. Hà Ni không an tâm, cô cũng chẳng hiểu sao như vậy, bởi giữa cô với anh chàng chưa hề có ràng buộc gì với nhau cả. Đến khi xe thồ chở cô về tới quán mà Hà Ni vẫn còn ngẩn ngơ, lo lắng… Anh lái xe nghĩ Hà Ni lo cho người yêu nên chen vào nói: - Anh ta chẳng đi đâu xa cả, lúc nãy tôi nghe lỏm được biết anh ta bảo xe thồ chạy tới dốc Đầu Voi. Chỗ mới xảy ra tai nạn chết hai người cách đây mấy ngày. Chắc là đi tìm tin tức người thân... Câu nói của anh ta lại khiến Hà Ni càng thêm lo: - Chỗ đó xảy ra tai nạn sao? Ở đó... - Nơi ấy là một khúc cua gắt, lại khuất tầm nhìn nên xe thường bị tai nạn. Ngay như tôi, dẫu quen đường đèo, vậy mà ai kêu chở qua đó tôi còn ớn nữa là... Hà Ni hồi hộp như người thân yêu nhất của mình đang gặp nguy... *** Ba ngày sau, Phong vẫn chưa trở lại.Lúc đầu Hà Ni chỉ hơi lo thôi, nhưng sang ngày thứ ba thì cô không thể nào chịu nổi nữa. Cô tự nhủ với lòng là rõ ràng chàng khách lạ kia đã chính thức ngự trị trong con tim mình. Nó không như Tuấn, nhà nhiếp ảnh giang hồ trước đây, lần đó Hà Ni mới chỉ có cảm tình với anh ta, lâu lâu không thấy anh ta ghé thì nhớ nhớ, mong mong chứ không bồn chồn lo lắng như lần này với Phong. Sáng sớm ngày thứ tư thì Hà Ni chủ động đi tìm anh lái xe thồ tên Tư Lương và đề nghị: - Anh đưa giùm tôi tới đèo Đầu Voi và trở về đây kịp bán bữa trưa. Tư Lương đoán biết ngay mục đích của cô, nên nhận lời ngay: - Tôi sẽ chở cô đi, nhưng chỉ tới phía bên này dốc thôi, tôi không chạy qua bên kia. Hà Ni thật sự chưa từng đi qua con đường quốc lộ 27 này, nên gật đầu: - Chỉ cần anh đưa tới đó thôi, để tôi... - Cô đi tìm anh chàng bữa trước phải không? Hà Ni không muốn giấu: - Anh ấy đi đã ba ngày rồi không thấy về. Mà tôi cũng quên hỏi anh: người đưa anh Phong đi hôm đó đâu rồi? Tư Lương giật mình: - Mấy hôm nay bận công chuyện nên tôi cũng quên hỏi nó xem hôm đó đưa cậu kia đi ra sao. Vậy cô lên xe đi, tôi chở đi tìm anh ta hỏi, rồi mình liệu mà đi tìm luôn. Chạy một vòng chỗ các tay xe thồ hay đậu xe đợi khách, không tìm thấy Ba Long, Tư Lương ngạc nhiên bảo: - Thằng này siêng lắm, ít khi bỏ cữ chạy xe, vậy mà hôm nay không thấy! Anh ta hỏi một tay quen thì được trả lời: - Nghe nói Ba Long đưa khách đi Bảo Lộc mấy hôm rồi chưa về, vợ con nó đang lo sốt vó ở nhà! Hà Ni hốt hoảng: - Có chuyện gì hay sao vậy? Tư Lương cũng cuống lên, anh ta không đợi Hà Ni bảo cũng chạy thẳng tới nhà Ba Long. Vợ anh này vừa trông thấy Lương đã òa lên khóc: - Anh có biết nhà tôi đi đâu không? Hà Ni vụt hỏi: - Mấy hôm nay anh ấy không về hay sao? Thấy Hà Ni, vợ Ba Long ngạc nhiên, Tư Lương phải giới thiệu: - Đây là cô Hà Ni, chủ quán cà phê ở dốc 30, mấy bữa trước cô ấy có nhờ Ba Long đưa giùm bạn của cô ấy đi đèo Đầu Voi, tới hôm nay bạn cô ấy cũng chưa trở về. Vợ Ba Long càng hốt hoảng: - Vậy nguy to rồi! Sao mấy hôm nay anh không nói cho tôi biết để đi tìm! Chị giục đứa con lớn: - Chở má tới chỗ đó ngay! Hai chiếc xe phóng như bay tới đèo Đầu Voi. Hà Ni luống cuống không thua gì vợ Ba Long. Khi vừa tới nơi, trong lúc mọi người còn đang đứng từ trên cao nhìn xuống vực sâu thì Hà Ni đã đi đại xuống theo một lối mòn, khiến Tư Lương phải la lên: - Không xuống kiểu đó được đâu! Anh ta chặn một người qua đường lại hỏi thì người đó chỉ tay xuống vực sâu nói liền: - Mới có một chiếc xe gắn máy lọt xuống đây cách mấy ngày, rồi sáng nay có người nói ở xóm rẫy phía dưới phát hiện mấy cái xác. Vợ Ba Long gào lên: - Trời ơi, ông ơi! Hà Ni cũng cuống cuồng: - Mình phải xuống dưới đó mới được! Cô quên cả hiểm nguy tuôn xuống theo con đường mòn. Tư Lương chưa kịp ngăn lại thì vợ Ba Long cũng chạy theo. Có mấy người khách qua đường nhìn thấy, họ hét lớn: - Không xuống bằng lối đó được, leo lên rồi đi vòng chỗ kia kìa! Cũng may là họ chỉ kịp thời, chứ nếu không thì chỉ vài chục bước nữa thôi hai người đã gặp nguy, bởi đó là một vực sâu không có lối xuống, mà bên dưới cách hơn trăm mét là cây cao và đá lởm chởm. Hơn nửa giờ sau, theo đường được chỉ, họ cũng xuống được bên dưới. Đó là một xóm nhà của đồng bào H'Mông. Vừa bước vào ngôi nhà đầu tiên ở cái xóm chừng hơn chục nóc nhà, Hà Ni đã kêu lên khi thấy người đàn ông đang ngồi xếp bằng giữa nhà: - Kìa, ông là... Đó là vị khách từng uống cà phê và chỉ đường cho Phong tới tìm nhà bà Dã Quỳ. Ông không ngạc nhiên khi thấy sự xuất hiện của Hà Ni, mà bình thản nói: - Tôi biết sớm muộn gì cô cũng tới đây! Mà tới là phải và kịp lúc. Cậu ấy chờ cô tới để đưa về. Một lần nữa Hà Ni kinh ngạc bởi ngay trước mắt cô là Phong đang nằm im như xác chết: - Kìa, anh ấy có sao không? Cô ngồi xuống ngay bên cạnh và đưa tay sờ lên ngực, lên mũi Phong, như cử chỉ của một người vợ. Rồi reo lên: - Còn thở! Ông thầy Tàu lên tiếng: - Tôi tới chậm một bước là cậu ấy mất mạng rồi! Thuận tay, ông chỉ vào túi áo của Phong: - Cũng may nhờ có vật này. Hà Ni móc ra đóa hoa Dã Quỳ khô, cô bảo: - Chính cô gái con bà Dã Quỳ tặng cho anh ấy. Ông thầy Tàu gật đầu: - Ít ra thì bà ấy cũng đã làm được việc ấy. Rồi ông đứng lên, giục: - Cô nên đưa anh ấy về ngay đi. Có mấy người tôi đã nhờ, họ sẽ giúp cô đưa cậu ấy lên. Chờ đợi nãy giờ mà không thấy chồng đâu, vợ Ba Long vụt hỏi: - Chồng tôi đâu? Không nhìn chị ta, ông thầy Tàu nói: - Người lái xe thồ đã về nhà từ sáng sớm nay rồi, sao chị còn ở đó? Mau về mà lo cho sức khỏe anh ta đi. Anh ấy cũng may mắn nên mới thoát nạn. Phải nói là nhờ hồng phúc của cậu Phong đây. Nghe vậy, chị ta không đợi Hà Ni, đã cùng con trai trở lên ngay, Tư Lương cũng lên theo. Lúc này ông thầy Tàu mới gọi riêng Hà Ni ra ngoài nhà, chỉ tay về phía một ngôi nhà sàn nhỏ nằm đơn độc ở một góc: - Lúc nãy do có mặt người đàn bà kia nên tôi không tiện nói, còn bây giờ cô không vội đưa cậu Phong về đâu. Cậu ấy còn cần phải lưu lại nơi đây cho đến khi nào giải quyết xong chuyện với người trong ngôi nhà kia. Hà Ni ngạc nhiên: - Ai ở trong đó? - Người mà trước sau gì cô cũng cần phải gặp. Nếu tôi nói đó là tình địch của cô thì cô có tin không? Hà Ni càng bối rối hơn: - Từ nào đến giờ tôi chưa có người yêu. Người có thể nói có chút liên hệ tình cảm với tôi thời gian qua là anh chàng nhiếp ảnh sống lang bạt, nhưng đó cũng chỉ là tình bạn không hơn không kém. Tuy nhiên, gần đây thì giữa tôi với anh ta cũng không còn liên hệ gì với nhau nữa. Vả lại anh ấy là người sống độc thân, như vậy làm sao có ai là tình địch của tôi được? Ông thầy Tàu nghiêm giọng: - Vậy mà có đó! Lại là tình địch mà nếu không giải quyết xong rắc rối giữa cô với cô ta thì cô sẽ còn khổ dài dài... Ông nói xong lặng lẽ ngồi xuống ngay bên cạnh Phong, để cho Hà Ni lúng túng: - Ông chỉ cho tôi bây giờ tôi phải làm sao? Ông ta đáp cộc lốc: - Cô hãy sang nhà đó gặp người cô cần gặp trước đã. - Nhưng mà... Ông thầy Tàu chừng như cố ý không nghe, nên ông nhắm nghiền mắt lại và ngồi bất động mặc cho Hà Ni hỏi gì ông cũng im lặng... Chẳng còn cách nào hơn. Hà Ni đành phải một mình bước đến ngôi nhà kia. Đầu óc cô hoang mang, chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra nên vừa bước đi mà trong lòng lo lắng, sợ hãi… Tuy nhiên, khi bước hẳn vào bên trong ngôi nhà nhỏ ấy thì Hà Ni ngạc nhiên, bởi bên trong nhà không có ai. Một ngôi nhà trống, chỉ có một số vật dụng mà vừa thoạt nhìn Ni lại càng ngạc nhiên hơn, bởi đó là đồ dùng của phụ nữ, mà là phụ nữ người Kinh! - Ai ở đây? Nhìn bộ quần áo màu xanh ngọc còn mới, rất đẹp mắt treo trên vách, bên cạnh đó là chiếc nón vải của người thành thị. Hà Ni đoán chắc nơi này là chỗ ở của một cô gái không phải là cô gái người H' Mông. Ở một góc phòng còn có một cái rương bằng da còn mới, trên nắp rương có một khung ảnh. Tò mò, cô bước lại gần và nhìn thấy ảnh một cô gái rất đẹp trong khung hình. Mắt Hà Ni mở tròn xoe khi đọc được dòng chữ viết khá bay bướm dưới góc ảnh: Phong Lan! - Phong Lan! Người mà Phong đã kể... Không kiềm chế được, Hà Ni vừa thốt lên thì chợt nghe từ phía sau lưng có người lên tiếng: - Cô cũng biết tên tôi nữa sao? Giật mình, Hà Ni quay lại nhìn và sững sờ, bởi người đang đứng trước mặt cô đúng là cô gái trong bức ảnh bán thân kia! - Cô chưa trả lời câu hỏi của tôi! Cô ta lặp lại câu hỏi khiến cho Hà Ni lúng túng: - Tôi... tôi nghe... - Phong đã kể cho cô nghe chứ gì! Anh ta dám đem chuyện riêng về tôi mà kể với người khác, rõ ràng lòng dạ anh ta không còn gì để nói nữa rồi! Cô ta giận dỗi, bước đi thật mạnh, nhưng sao mà Ni không nghe động sàn nhà... Cô còn đang ngạc nhiên thì đã nghe cô ta quát lớn: - Cô muốn gì mà tới đây? Cảm giác sợ hãi bỗng dưng biến mất, Hà Ni đáp gọn: - Để gặp cô! - Tôi sẽ giết chết bất cứ ai giành người tôi yêu! Tôi chờ và hôm nay cô dẫn xác tới đây tức là tự cô tìm lấy giây phút cuối của đời mình rồi đó! Hà Ni không còn ngại, nên cô dám nhìn thẳng vào người đang nói chuyện với mình. Tuy nhiên, điều làm cô ngạc nhiên là tuy nghe tiếng nói, nhưng nhìn khắp chung quanh Hà Ni vẫn không thấy ai, ngoài những lay động nhẹ ở phía cửa sổ, như có người nào đang đứng đó và thở vào bức màn vải mỏng. - Cô là... Giọng sắc lạnh đáp ngay: - Người không còn chân dung! Cô không biết sợ ma ư? Tự dưng Hà Ni bạo dạn hẳn lên: - Trước đây thì có, nhưng từ lúc này thì không. Cô biết tại sao không? Đang ở thế là người chủ động tấn công, bỗng cô gái xưng mình là Lan kia đã có vẻ khựng lại và nhẹ giọng hơn: - Cô nghĩ mình có ông thầy Tàu kia che chở sao? Thật ra Hà Ni không hề nghĩ điều đó, tuy nhiên nghe cô ta hỏi, cô đáp liền: - Có thể là như vậy! Hơn nữa, còn có Phong ở đây. Anh ấy chưa biết là người hay ma, nhưng tôi biết chắc đó là một người đàn ông chung tình, tốt bụng. Giọng của Lan gắt lên: - Anh ta không chung tình! Bởi nếu chung tình thì đã không bỏ đi và quen biết với cô trong lúc biết tôi bị nạn. Một người tốt thì sao lại bỏ người yêu của mình nằm dưới vực sâu này mà đi một mình? - Cô nói anh ta đi đâu một mình? - Thì đi tìm cô, gặp cô rồi khiến cô mò đến tận đây để tìm, trong lúc tôi đã thành ma, đã là một oan hồn đói lạnh ở chốn này! Hà Ni vốn hiền lành, không thích đôi co tranh luận hơn thua với ai, nhưng cũng phải phá lên cười: - Cô chỉ biết yêu và ích kỷ thôi, còn ngoài ra không hiểu gì về giá trị của tình yêu cả. Cô nói mình là một oan hồn mà đến việc người yêu của mình bị thương suýt chết, bị người khác mang xác đi bỏ đường bỏ chợ cũng không biết! Cô biết ai đã cứu anh ấy không? Đến phiên Lan cất tiếng cười vang: - Cô dám nói mình chính là người cứu lắm! - Điều ấy đúng! Câu nói này là của ông thầy Tàu. Ông ta xuất hiện lúc nào hai người đang tranh luận không hay biết. Hà Ni chưa kịp quay lại thì ông đã tới và càng ngạc nhiên hơn khi giọng nói của Lan kêu lên vẻ sửng sốt: - Ba nói sao, cô này... - Chính cô ấy đã cứu Phong, nếu không, cậu ta đã chết mất xác dưới vực sâu khác rồi! Bọn buôn lậu thuốc phiện, những kẻ hại con đã mang Phong đi tới chỗ của cô này và bỏ lại đó, nếu cô ấy không tốt bụng ra tay cứu thì Phong đâu còn mạng. Cũng vì cứu Phong mà suýt nữa cô ấy cũng mang họa lây, bởi bọn kia mượn bàn tay của thầy mo A Lúng ở rừng Yok Đôn, định biến cô này thành ma trành. Cũng may là có anh chàng người yêu cũ của cô ấy đã thế mạng... Ông vừa nói tới đây thì Hà Ni thét lên: - Chẳng lẽ Tuấn đã... Ông thầy Tàu nhẹ lắc đầu: - Thương cho cậu ấy, nhưng cũng là cái số. Bọn kia biết được anh chàng Tuấn đó đem lòng yêu thương cô nên đã dụ đưa cậu ấy về để cùng chịu chung số phận với cô, nhưng do cô chưa tận số, nên hôm đó chỉ có Tuấn là bị chết thôi. Tuấn chết mà cũng kịp liều mạng, kéo theo con ma nữ vốn là tay sai của lão thầy mo A Lúng cùng chết. Bởi vậy từ hôm đó cô mới được hiện hữu như ngày hôm nay. Chẳng qua... Ông định nói gì thêm, nhưng bỗng dừng lại rồi im lặng, bước tới ngồi xếp bằng giữa sàn nhà. Giọng của Lan lại run run vang lên: - Ba, ba không thương con gái mình sao? Ba... Đến lượt Hà Ni ngơ ngác: - Cô Lan là con của ông? Ông thầy Tàu thở dài, trả lời với con trước: - Nếu không thương con thì cha đâu đã lặn lội tới đây. Nếu không thương con thì cha đây suýt mất mạng vì con ma trành của lão thầy mo A Lúng! Con có biết là để cứu được Phong, cứu cô Hà Ni, đem họ tới được đây đâu phải chuyện dễ! - Nhưng cô Hà Ni này sẽ... Ông thầy Tàu chặn lời con: - Cô này không có ý tranh giành gì người con yêu. Nhưng đây là duyên số. Cha làm nghề trừ tà ma, cha biết rõ chuyện này, kể cả sự vắn số của con. Hôm con cùng thằng Phong đi Ban Mê Thuột trên chuyến xe của mụ Hai Nương đó, cha không kịp cản ngăn, suýt nữa làm liên luỵ đến sinh mạng của Phong. Lan la lên: - Còn mạng của con thì cha để mặc phải không? - Cha không để mặc, mà cha đành bó tay. Bởi số con đã tận, con không chết giờ đó thì vài giờ sau cũng chết! Giọng của Lan khóc lên rấm rứt, cô cố gào lên: - Vậy sao không để Phong cùng chết với con! Anh ấy yêu con mà... Ông thầy Tàu lại thở dài, lần này nghe não ruột hơn: - Thà như vậy mà tốt hơn, tránh một chuyện còn thảm khốc hơn là cái chết nữa. Con có biết Phong là gì của con không? - Là người yêu của con chứ còn gì nữa! - Nếu cha chậm một bước thôi là mọi chuyện đã hỏng hết rồi! Con và Phong chính là... anh em cùng cha khác mẹ với nhau. - Ba! Tiếng kêu thảng thốt của Lan làm cho Hà Ni cũng phải bàng hoàng: - Ông nói... nói là... Giọng của Lan đầy kích động: - Ba... ba nói gì? Ba gạt con phải không? - Con còn nhớ đêm hôm trước khi con bỏ trốn đi Ban Mê Thuột với thằng Phong cha đã rầy và đòi đánh con một trận nếu con không chấm dứt tình yêu với Phong không? Giọng Lan nức nở: - Con không ngờ ba nhẫn tâm chia lìa tụi con. Bởi vậy con và Phong mới quyết định bỏ đi Ban Mê Thuột. Tụi con tính chung sống ở đó vĩnh viễn. Ông thầy Tàu cất giọng buồn thảm: - Cha đã sững sờ khi hay tin con và Phong yêu nhau. Trước đó cha cứ nghĩ hai đứa chỉ là bạn. Vả lại hôm đó cha mới được biết Phong chính là giọt máu rơi của cha với một phụ nữ người dân tộc ở thôn Ea Rya. Tự dưng Hà Ni kêu lên: - Bà Leng? Bà Dã Quỳ! Ông thầy Tàu gật đầu: - Phải. Chính là bà ấy. Hồi xưa lúc đi làm rừng ở vùng đó, ta có yêu một cô gái Thượng tên là Ya Leng, có biệt danh là hoa Dã Quỳ. Ta có với cô ấy một đứa con trai, nhưng khi vừa sinh con ra thì do một tai nạn lở núi, bà ấy chết, ta cứ ngỡ là đứa con đó cũng bị chôn vùi theo với mẹ nó. Nào ngờ cách đây không lâu, ta được hồn bà ấy hiện về báo cho biết khi tai nạn xảy ra, đứa con không chết, nó được một người chạy xe khách đem về nuôi và nó đã lớn lên, tên là Phong. Bà ấy buộc ta phải ngăn chuyện yêu đương giữa hai anh em chúng lại và ta đã làm, suýt nữa không kịp... Rồi ông quay sang phía có tiếng nói của Lan, hỏi giọng khẩn trương: - Giữa con và Phong đã có gì với nhau chưa? Lan đáp rất nhanh: - Chưa! Tụi con chỉ yêu nhau với tình yêu trong trắng. Anh Phong là người đàng hoàng. Có hai tiếng thở phào cùng lúc. Một là của ông thầy Tàu và của Hà Ni. Cả hai nở nụ cười mãn nguyện. Ông già nói giọng phấn khởi: - Con vắn số thì có trời mới thay đổi được. Thôi, dẫu cha có thương con, nhớ con thì cũng phải chấp nhận. Giờ đây chỉ còn lại chuyện của thằng Phong và cô gái này... Ông quay sang Hà Ni: - Không phải tự dưng mà hôm đó bọn xấu chở xác Phong tới quán của cô đâu. Mà đó là do sự chỉ bảo của vong hồn bà Dã Quỳ. Hà Ni thốt lên: - Bởi vậy ngay sau đó bà ấy có mặt liền! - Cho tới bây giờ bà ấy vẫn có mặt bên Phong, bên cô để ngăn chặn bọn kia hãm hại hai người. Tội nghiệp bà ấy... Ông lại hướng về phía Lan: - Cha không muốn đưa vong con về bên cha là bởi con cần ở đây một thời gian nữa. Nơi này từng xảy ra quá nhiều tai nạn, oan hồn uổng tử quá đông, con là người sẽ giúp hóa giải bốn âm khí, oan hồn nơi này, để bớt những cái chết đi. Rồi khi nào cha thấy được thì sẽ rước vong con về nhà ở Đà Lạt. Có tiếng khóc nức nở của Lan... Phần 3 3. Quán Âm Hồn Hai Nương bảo đứa đàn em: - Mày ngừng lại chỗ cái quán bên đường kia, tao... mắc quá! Lơ xe Ngố cười tít mắt: - Bởi vậy nãy giờ xe cứ lết lên dốc thấy tội nghiệp! Cả xe ai cũng đầy bầu nên xe nặng lết không nổi cũng phải! Đập lên lưng lơ xe một cái, mụ Hai Nương bước xuống nhanh, vừa quay lại dặn tài xế: - Tranh thủ nghỉ một lát rồi tới Pleiku ăn cơm cũng kịp. Mụ đi thẳng vào quán định đi vệ sinh nhờ, nhưng chủ quán chỉ ra sau: - Ở phía kia. Mụ Nương đi ra xa hơn vài chục thước, thấy có căn nhà nhỏ ở một góc thì bước đại vào. Nhưng mụ ta đã phải khựng lại, bởi đó không phải là nhà vệ sinh, mà là một cái miếu âm hồn. Còn chưa kịp lùi ra thì bỗng như có ai xô mạnh một cái, làm cho mụ ngã chúi nhủi về phía trong, vô tình quỳ gối ngay trước bát nhang đang nghi ngút khói. Còn đang lúng túng, định đứng dậy thì chợt nghe có một giọng nói vừa đủ nghe: - Sao chưa lạy! Mụ ta mọp ngay đầu xuống đụng đất và cứ thế lạy liền ba lạy. Khi ngẩng lên, bỗng mụ run rẩy kêu lên: - Cô... cô là... Trước mắt mụ ta đang có một cô gái ngồi xếp bằng trên chỗ bệ thờ. Tuy tóc cô ta xõa gần kín khuôn mặt, nhưng mụ Nương vẫn nhận ra, mụ lặp lại: - Cô... cô sao lại ở đây? Một tràng cười vang lên: - Mụ không ngờ người bị mụ xô xuống vực Đầu Voi bây giờ lại ở đây? Mụ tưởng đổi địa bàn hoạt động, không cho xe chạy qua quốc lộ 27 nữa là sẽ không gặp lại oan gia sao! - Tôi... tôi... - Mụ nín! Nếu còn léo nhéo nữa thì ta cắt lưỡi liền! Mụ trả lời ta, tại sao hôm đó mụ xô ta xuống vực sâu, còn người yêu của ta mụ lại chỉ đánh cho nhừ đòn rồi kéo lên xe chở đi? - Dạ... dạ tôi không có ý... tôi chỉ... Mấy cái tát liền khiến cho mụ ta xiểng liểng, suýt ngã chúi đầu tới trước. Giọng mụ thất thần: - Tôi chỉ... - Phải nói thật ra thì còn mong toàn mạng, bằng không thì... Mụ Hai Nương bình sinh hung ác, miệng lưỡi có gai có góc, vậy mà giờ đây mềm như bún: - Dạ... chỉ vì tôi... giận cô đã cướp thằng Phong, nó vốn là người mà ba tôi nuôi nấng từ nhỏ. Phong là người mà tôi kỳ vọng sẽ nối nghiệp nhà tôi mà kinh doanh... - Láo! Phong là người tốt, anh ấy có mang ơn nuôi dưỡng của mấy người, nhưng từ khi trưởng thành, anh ấy biết cái nghề buôn lậu hàng quốc cấm của mấy người là phạm pháp, nên đã có ý định ra khỏi nhà mấy lần. Anh ấy đã thề là sẽ không bao giờ dính tới chuyện làm ăn nguy hiểm đó nữa. Vậy mà mấy người đã nỡ nhẫn tâm hại anh ấy. Còn tôi, chỉ là người vô can, tại sao mấy người giết tôi? - Chẳng qua tôi chỉ... tôi chỉ lỡ tay mà thôi. Vả lại... - Vì sợ tôi tố cáo mấy người chứ gì! Mà có sợ thì cũng có thoát được đâu! Tôi nói cho mà biết, bắt đầu từ hôm nay hãy liệu mà bỏ nghề đi, nếu không sẽ hối không kịp! Lời đó vừa dứt thì có một cụm khói xanh bốc lên từ chỗ cô gái ngồi rồi... sau đó mất dạng! Mụ Hai Nương sợ thất thần: - Cô... cô Lan! Mụ đã nhớ ra rồi, cô gái này là người yêu của Phong, đã bị chính mụ ta xô ngã xuống vực sâu hôm đó, vì nghĩ rằng cô ta là nguyên nhân khiến Phong mê muội tính bỏ nhà đi. Vậy mà sao cô ta lại ở đây? Mụ chợt nhận ra, kêu thét lên: - Ma! Bớ người ta! Mụ tức tốc chạy ra khỏi miếu. Khi vào tới nhà, mụ còn chưa hoàn hồn, chỉ thều thào với chủ quán: - Ma! Ma ngoài kia... Bà chủ quán gắt lên: - Ma cỏ gì ở đây! Mụ Hai Nương chỉ ra cái miếu: - Ngoài miếu có... có ma. Tuy bực mình nhưng bà chủ quán cũng bước ra xem. Bà trở vào la lớn: - Chị này vô duyên, đó là cái miếu thờ thổ địa của đất này từ bao đời nay, ma quỷ gì trong đó! - Ma... tôi thấy ma. Rồi mụ ta chạy một mạch ra xe, giục mấy đàn em: - Đi nhanh lên. Chẳng hiểu sao, mụ ta bảo tài xế quay đầu về hướng quốc lộ 27, thay vì chạy theo hướng Kontum, Pleiku. *** Chỉ một tuần sau. Tại chân đèo Đầu Voi, chỗ khúc cua nguy hiểm nhất, trước khi các xe leo đèo và đổ dốc, người qua lại thấy mọc lên một cái quán khá khang trang. Chủ quán trực tiếp đứng bán chính là... mụ Hai Nương! Lúc đầu người qua lại ngạc nhiên và hơi ngỡ ngàng, nên hay ghé quán. Tuy nhiên chỉ mấy ngày sau thì lời đồn lan mạnh: - Mụ Hai Nương mở quán miễn phí trong tháng đầu tiên, sau đó chỉ lấy bằng năm mươi phần trăm giá các quán khác! Lời đồn đó quả không sai. Khi khách ghé quán tháng đầu, dẫu cho ăn uống thứ gì cũng được miễn phí. Mụ Hai Nương tuyên bố: - Trước đây tôi làm nhiều điều không phải, nay sám hối, muốn mọi người cảm thông, tha lỗi... Quán mụ ta nhờ vậy ngày càng đông khách. Đặc biệt, những xe dừng lại nghỉ ngơi ở đó đều có chung nhận xét: - Mở quán ngay chỗ này thật là thuận tiện cho cánh chạy xe chúng tôi. Bởi tới đây nghỉ ngơi trước khi lên đèo và xuống dốc, nhờ được tỉnh táo, nên sẽ không xảy ra tai nạn. Lời nói đó rất đúng. Từ lúc có cái quán thì tai nạn giảm hẳn. Mà khu vực hoang vắng đó cũng trở nên đỡ lạnh lẽo hơn. Đặc biệt hơn, quán đông khách hơn nữa khi về đêm. Điều nay chưa từng xảy ra, bởi xưa nay dân buôn ít khi qua đoạn đường này vào ban đêm, bởi đường không an toàn và thường có những vụ trấn lột. Vậy mà bây giờ hầu hết xe cộ lại thích đi đêm qua đây, được ghé quán nghỉ ngơi, đôi khi còn được lai rai vài thứ đặc sản thú rừng do đầu bếp riêng của quán nấu. Lâu dần tiếng tốt đồn xa, ai cũng thích ghé quán tên là Hai Nương đó... Cho đến cuối năm, khi tình cờ đi ngang qua đó, Hà Ni và Phong, lúc ấy đã thành vợ chồng, họ ghé vào quán nghỉ chân. Vào chiều cuối năm, lại vào giờ xế nên quán vắng khách. Chỉ có đôi vợ chồng trẻ nên họ gọi thức uống được phục vụ rất nhanh. Uống một ngụm cà phê, Hà Ni khen: - Cà phê này không thua cà phê Tùng ở Đà Lạt! Phong cũng xác nhận: - Đúng là ngon. Phân nửa giống hương vị cà phê của Ban Mê Thuột. Hai người đang muốn đi sau khi uống xong cà phê, nhưng bỗng người phục vụ quán bưng ra mấy dĩa thức ăn còn nghi ngút khói và nói: - Chủ quán chúng tôi mời hai cô chú. Xin cô chú cứ dùng, quán chiêu đãi, không tính tiền. Phong vội nói: - Không phải là chuyện tiền nong, mà do chúng tôi phải vội đi. Bỗng có một giọng trong trẻo cất lên từ phía trong: - Nỡ từ chối lời mời của người bạn cũ sao? Phong quay lại và giật mình khi thấy một cô gái rất đẹp bước ra: - Ngọc Lan! Hà Ni nghe chồng gọi tên Lan cũng sửng sốt: - Đây là... Cô gái chủ động lên tiếng: - Lan mà cô từng gặp dưới vực sâu hôm đó, nhưng nay mới nhìn được dung nhan. Chào cô dâu mới xinh đẹp! Phong chưa hết bàng hoàng thì từ trong nhà có một người nữa bước tiếp ra theo. Lần này Hà Ni lại kêu lên: - Bà Dã Quỳ! Phong đã nghe cha mình thuật lại mọi chuyện, nên lúc này anh như trong cơn mơ: - Bà là... Mẹ! Bà Dã Quỳ nén xúc động, đứng từ xa, kêu lên: - Con! Vừa khi ấy, chợt bên ngoài có một chiếc xe khách dừng lại, có khá nhiều người bước vào. Điều đó khiến cho cả Lan và bà Dã Quỳ vội rút vào trong mà chưa kịp nói hết lời, Phong định bước theo, nhưng chân anh như bị ai kéo lại, không bước được bước nào. Hà Ni nhạy cảm hơn, cô nói khẽ: - Không gặp được họ đâu. Anh không nhớ họ đã chết rồi sao? Họ là... oan hồn! Lúc ấy khách vào khá nhiều, những người phục vụ ra lo cho khách. Phong có hỏi nhưng họ đều đáp: - Ở đây không có ai ngoài chúng tôi. Họ thẫn thờ ngồi lại rất lâu. Thậm chí khi mấy lượt khách vào rồi ra mà bóng dáng của hai người kia vẫn chẳng thấy tái xuất hiện. Đến lúc mụ Hai Nương ra và nói: - Những gì cô cậu nhìn thấy chỉ nên để bụng thôi. Rồi sau sẽ hiểu! Phong muốn hỏi chuyện thêm với người đã từng cưu mang mình, nhưng mụ Nương hình như muốn tránh, cứ lăng xăng lo cho khách mà không hề ngồi lại với Phong. Sau này nhiều người đồn rằng cái quán của mụ Hai Nương là... quán âm hồn. Bởi có những đêm họ đi qua thấy quán vắng, không có ai phục vụ, nhưng hễ ghé vào gọi thức ăn thì lập tức được dọn lên mau lẹ. Tuy là vậy, nhưng chẳng hiểu sao thiên hạ vẫn cứ ghé quán mà không hề sợ hãi. Hỏi thì có người bảo: - Ma cỏ gì, miễn phục vụ tốt là được rồi! Riêng Hà Ni và Phong thì tin chắc điều mình chứng kiến là thật. Họ bảo nhau: - Có thể sự hối cải của mụ Hai Nương đã khiến cho những oan hồn ở đèo Đầu Voi cảm động và giúp mụ thành công khi mở quán... Chính Phong và Hà Ni còn nhiều lần trở lại quán ấy, nhưng họ không hề gặp lại bà Dã Quỳ và Ngọc Lan... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 28
OAN HỒN MẸ CON Cuộc Hội Ngộ Lần dọn nhà này đã là thứ ba, chỉ trong vòng hai năm. Mà đâu chỉ dọn gọn nhẹ, đằng này mỗi lần dọn là cả một khối gia tài khổng lồ. Dọn nguyên cả một ngôi biệt thự! Có người thắc mắc, chẳng hiểu tại sao ông chủ nhà trẻ tuổi có cái tên nghe như người nước ngoài Robert Lý này lại hay thay đổi nhà như vậy? Câu hỏi thắc mắc đó chỉ được giải đáp khi chính người tài xế lâu năm của ông ta là Tư Tài tiết lộ rằng, sở dĩ chủ mình chuyển nhà hoài cũng chỉ vì... chứng mất ngủ! Tại sao một người quá giàu có như ông ta lại khó ngủ, trong khi đó là bệnh của những người nghèo, những người phải tất bật với trăm công ngàn việc, phải suy nghĩ tính toán mưu sinh? Cũng chính tài xế Tài có lần đã nói: - Chẳng hiểu sao ông chủ tôi cứ nửa đêm là thức trắng tới sáng, và mỗi lần như vậy thì ông thường bắt mọi người trong nhà phải bật đèn sáng hết tất cả các phòng ốc trong nhà. Hỏi tại sao thì ông ta không nói mà chỉ gầm thét rất dữ mỗi khi ai đó không nghe lời, không làm đúng ý ông ta! Robert Lý là một đàn ông tuổi còn trẻ, chứ chưa phải là một ông cụ lẩm cẩm, khó tính, vậy mà đã có một thói quen kỳ lạ như vậy, ắt phải có nguyên do. Tuy nhiên, ngoài những tiết lộ hiếm hoi của tài xế như vậy, chẳng một ai khác biết được gì thêm. Mà cũng khó mà biết được, bởi ngoài anh tài xế nói ra ít ỏi những điều đó rồi ngậm miệng, có cho vàng anh ta cũng không nói thêm, còn những người giúp việc khác trong nhà hầu như trước sau gì cũng bị cho nghỉ việc. Ông chủ vốn độc thân từ lúc mọi người được biết ông như một người thích chuyển nhà như thay quần áo! Ngôi biệt thự nằm trong khu đất rộng hơn nửa mẫu tây này có tiếng là đẹp và sang trọng. Đã nhiều người trước ông Robert Lý này muốn mua mà không mua được, tại người bán nói giá quá cao, vậy mà khi ông ta vào coi, chỉ hỏi giá, sau đó ông ta ký tờ chi phiếu trả tiền ngay, không đắn đo suy nghĩ. Ông ta mua nhà giống như mua món hàng vài ngàn đồng. Khi dọn về ở, việc đầu tiên ông ta làm là sai tài xế Tài đi rước một ông thầy địa lý gốc từ Hồng Kông sang, khá nổi tiếng trong giới người Hoa ở Chợ Lớn. Ông thầy địa lý đó được chủ nhân yêu cầu có một điều: - Nhà này tôi ưng ý hầu hết các chi tiết về xây dựng, không phải sửa đổi điều chi hết, chỉ yêu cầu ông trấn yểm thế nào cho yên ổn, nhất là để ban đêm cho nhà bớt lạnh! Lời yêu cầu khá kỳ quặc, vậy mà ông thầy địa lý lại nhận lời ngay. Ông ta còn quả quyết: - Chứng mất ngủ của ông cũng sẽ chấm dứt từ nay! Robert Lý có vẻ hài lòng lắm, anh ta thưởng trước cho ông thầy địa lý một số tiền lớn, coi như vừa nhận được từ ông thầy này một ân huệ gì đó lớn lắm! Đó là đêm thứ ba Lý dọn về ở trong ngôi nhà đắt tiền của mình. Anh ta thật sự hài lòng, bởi rõ ràng như lời cam kết của ông thầy địa lý, hai đêm rồi Lý ngủ yên giấc, lại ngủ giấc dài, không mộng mị, không giật mình lúc nửa đêm. Ông ta quá đỗi vui, gọi tài xế Tài tới và dặn: - Từ nay cậu không phải thức chờ lệnh mở đèn sáng như trước kia nữa. Tôi có thể ngủ trong bóng tối được rồi... Đêm nay Lý đi ngủ khá sớm, lúc chưa đầy mười giờ. Đèn ngủ trong phòng ông cũng tắt hết, chứng tỏ ông ta đã bình yên, ngủ ngon... Cho đến nửa đêm hôm đó... - Tư Tài hả? Sao giờ này mày còn chưa ngủ, mà... Hỏi tới đó thì ông Lý bật dậy, bởi ông cảm giác người bước qua cửa sổ ngoài không phải là Tài. Một người có mái tóc dài đang phất phơ trước gió... - Ai vậy? Sau câu hỏi của ông Lý thì chợt vang lên một âm thanh va chạm, giống như vật gì đó vừa ngã đổ. Hốt hoảng, ông Lý hỏi to: - Sao vậy? Ông không kịp suy nghĩ, đã tung cửa chạy ra nơi vừa phát ra tiếng động. Quả nhiên trước mặt ông là một người đang nằm sóng soài trên sàn: một phụ nữ với mái tóc dài! Không có đèn sáng, nhưng do trời có trăng, nên Lý cũng đã nhận ra người nằm kia là một phụ nữ còn khá trẻ. Ông hơi lưỡng lự một chút, rồi bằng phản xạ tự nhiên ông luồn tay qua thân thể cô gái đỡ dậy, vừa lẩm bẩm: - Sao lại đi đâu vào giờ này? Rồi một cách tự nhiên, Lý bế xốc nạn nhân vào phòng mình. Và thay vì gọi tài xế Tài, ông ta lại tự tay mình đặt cô gái lên giường. Khi bật đèn sáng lên, ông ta càng kinh ngạc hơn khi nhận ra đó là một cô gái trẻ, lại đẹp như tranh vẽ. - Cô ta là ai? Lý tự hỏi, cũng vừa lúc cô gái trở mình, mở mắt ra và thảng thốt kêu lên khẽ: - Đây là...? Lý trấn an: - Tôi là chủ nhân ngôi nhà này. Vừa rồi nghe cô bị ngã bên ngoài nên tôi mạn phép đưa vào đây. Cô gái bật dậy, nhưng choáng váng suýt ngã, Lý phải đưa tay đỡ và lên tiếng: - Cô cứ nằm cho khỏe hẳn đã! Cô gái đưa cả hai tay ôm lấy ngực như muốn che giấu điều gì. Lúc này Lý mới để ý, ngực áo cô ta bị rách toạc một mảng lớn mà lúc nãy do vội nên ông không để ý. Bằng một động tác thật nhanh, Lý lấy vội chiếc áo khoác của mình đang để ở đầu giường rồi trùm lên người cô ta kèm lời trấn an: - Cô đừng ngại, nhà này ngoài tôi ra còn có tài xế đang ngủ gần đây. Cô cứ nghỉ ngơi cho khỏe rồi cần về thì tôi gọi tài xế đưa về. Tôi tên Lý! Cô gái có vẻ bình tĩnh hơn, cô nói rất khẽ: - Em là Mỹ Nhung. Em... - Thôi được rồi, cô chưa cần nói gì đâu, cứ nghỉ ngơi đi đã. Để tôi pha ly chanh nóng cho cô uống sẽ ấm người. Có vẻ cô bị lạnh. Cô ta vẫn còn run, nhưng sau khi được choàng chiếc áo khoác thì có vẻ đỡ hơn. Cô hơi ngại muốn rời khỏi giường, nhưng Lý đã kịp lên tiếng: - Không sao cả, cô cứ ngồi đó. Nhưng cô gái đã chủ động chuyển qua ngồi trên một trong hai chiếc ghế dựa trong phòng, vừa áy náy lên tiếng: - Thật làm phiền ông quá. Tôi đi lạc... - Sao cô lại lạc vào nhà này, trong khi cổng ngoài đã khóa và tường rào bao quanh ngôi nhà khá cao? - Dạ... em bị người ta truy đuổi. Chỉ vì em... nhìn thấy một vụ... giết người! Câu nói khiến Lý sửng sốt: - Cô nói ai giết người? Giết ở đâu? Đưa tay chỉ ra ngoài, cô gái giọng vẫn còn thất thần: - Ngoài kia, ở xóm nhà bên ngoài... Rồi cô ta giải thích rành rọt: - Nhà em ở cạnh tường rào nhà này, lúc nãy em đang ngủ thì nghe có tiếng người kêu cứu bên ngoài, em mở cửa bước ra thì vừa lúc chứng kiến một người đàn ông đang vung dao chém một người khác. Em hoảng quá liền la lên, thế là hung thủ quay qua đuổi em, có lẽ hắn ta sợ bị lộ hành vi giết người của mình! Em quýnh quá nên leo vội lên gốc cây cạnh tường và... nhảy đại vào vườn nhà này. Em cố chịu đau và bò lê tới đây. Lời giải thích khá hợp lý nên ông Lý không hỏi thêm, ông muốn hỏi xem cô gái có bị thương chỗ nào không, nhưng thấy cô vẫn còn lấy tay ôm ngực, nên không tiện hỏi. Chợt nhìn thấy một dòng máu thấm qua kẽ tay cô, Lý hốt hoảng: - Cô bị thương rồi! Cô gái không đáp, vừa nhích tay ra khỏi chỗ bả vai thì ngã phịch xuống sàn nhà! Hốt hoảng, Lý đỡ cô và một lần nữa đưa trở lại giường. Lần này cô gái ngất đi hẳn... Đồng hồ trên tường lúc ấy đổ một tiếng khô khan... *** Định thức canh cho cô gái ngủ sau khi chính mình băng vết thương trên bả vai cô ta, nhưng cuối cùng Lý cũng ngủ thiếp đi. Đến lúc choàng tỉnh thì nghe bên ngoài có tiếng gọi khá to của tài xế Tài:- Ông chủ ơi, trưa quá rồi! Hôm nay ông có dặn là mình đi sớm lên vườn cao su thăm người bạn của ông ở Tây Ninh mà! Lúc này Lý mới chợt nhớ, ông nhìn lên giường và hốt hoảng khi không thấy cô gái nằm trên đó: - Đâu rồi? Từ bên ngoài, Tài tưởng ông chủ hỏi mình nên vội lên tiếng: - Ông nói cái gì đâu rồi? - Cô... à không không, tao nói... Ông mở cửa phòng, ngơ ngác hỏi: - Mày có thấy ai ngoài này không? Tài ngẩn người ra: - Đâu có ai! Sợ Tài phát hiện ra những bất thường trong phòng, Lý bảo: - Thôi, mày ra ngoài chờ đi, tao sửa soạn một chút cái đã! Trở vào nhìn lên giường, ông phát hiện trên gối nằm có mấy chữ viết vội bằng son môi: "Cám ơn anh đã cho nghỉ ngơi và săn sóc vết thương. Em có việc phải về nhà gấp, hẹn sẽ có dịp đền đáp công ơn. Mỹ Nhung." Lý ngẩn ngơ mấy giây rồi đưa mắt nhìn ra phía sau vườn, nơi có bờ tường cao ngăn với xóm nhà bên ngoài. Ông suy nghĩ một lúc rồi hỏi tài xế Tài: - Mày có biết xóm nhà phía sau vườn mình không? Tài gật đầu: - Dạ, có biết. Nhưng em chưa qua đó lần nào từ khi ông dọn về đây. - Đưa tao qua đó! Tài ngạc nhiên: - Thưa ông... Lý không để cho Tài hỏi thêm, đã bước nhanh ra sau vườn. - Ủa, sao ông đi lối này? - Tao muốn! - Bộ ông muốn leo qua tường sao? Tốt hơn.. Tuy không có ý định đó, nhưng Lý cũng muốn tận mắt nhìn xem lời kể của cô gái có đúng hay không, nên giục Tài bước tới tận bờ tường. Sẵn có thang leo hái trái để gần đó, đích thân Lý trèo lên và nhìn sang bên kia. Quả nhiên có một cây mít to. Cành của nó giẻ qua tận bờ tường. Lý thầm bảo: - Cô ta nói đúng... Rồi anh cùng với Tài đánh xe vòng qua bên xóm nhà. Đến lúc này Lý mới hơi lúng túng, anh chẳng biết phải hỏi thế nào cho phải, bởi cô nàng và anh chỉ mới quen biết nhau qua một giây phút ngắn ngủi... Cũng may, vừa khi ấy có một ông cụ từ trong ngôi nhà sát bờ tường bước ra, ông nheo mắt hỏi khách lạ: - Mấy chú kiếm ai? Lý vội đáp: - Dạ... cháu muốn tìm cô Mỹ Nhung. Ông già nhìn sững vị khách sang trọng rồi lặng lẽ quay bước vào trong, buông một câu mời: - Mời anh vào nhà. Lý để Tài ngồi ngoài xe, còn anh theo vào trong. Thấy nhà vắng người, lại không có tăm hơi gì của cô gái, Lý vừa định lên tiếng hỏi thì ông cụ đã nói: - Anh cần gặp cháu tôi có việc gì? - Dạ, cháu... - Anh chưa cho tôi biết, anh quen thế nào với cháu gái tôi? - Dạ, cháu và cô Mỹ Nhung chỉ mới quen. Cháu muốn hỏi thăm vết thương trên vai của cô ấy đã đỡ chưa ạ! Ông cụ giật mình: - Nó bị thương sao? Lý ngạc nhiên: - Vậy cô ấy chưa về nhà sao? Cô ấy... Ông cụ chợt đổi giọng: - À không... Tôi muốn hỏi, anh là người cứu cháu phải không? Lý thở phào: - Dạ, cũng gần như vậy. Cháu muốn biết bây giờ cô ấy có khỏe không? Ông cụ nhẹ gật đầu: - Nó không sao! - Thưa ông, cô ấy... - À, nó hiện không có ở nhà. Tối qua có lẽ nó về bên nhà nội nó... - Dạ, bác đây là... - Tôi là ông ngoại. Cháu nó ở đây với tôi từ khi ba má nó vắn số đến nay. Lý nhìn lên tường thấy có bức chân dung của Mỹ Nhung khá to treo cạnh một phụ nữ lớn tuổi mà vừa thoạt nhìn Lý đã ngờ ngợ, hình như quen quen... Anh chưa kịp hỏi thì ông cụ đã nói: - Cháu uống nước đi! Ông thấy Lý cứ nhìn lên mấy bức ảnh trên tường thì nói: - Nó và mẹ nó lúc còn sống. - Dạ... bà ấy có phải là bà Thu Hà? Ông cụ ngạc nhiên: - Cậu biết con gái tôi? - Dạ, nếu đúng đó là bà Thu Hà thì cháu có biết. Trước đây bà và ba má cháu có quen. - Vậy cậu là con ai? - Dạ, ba cháu là thầu khoán Lê Khả. Ông cụ trợn tròn mắt nhìn Lý khá lâu rồi reo lên: - Quả là trái đất tròn! Tôi có biết ba cậu. Ngày xưa... Ông chợt khựng lại và rồi nín lặng, tinh ý lắm mới nghe ông thở dài. Rót tách trà nóng mời Lý uống, ông vừa nhìn đồng hồ tay rồi nói: - Xin lỗi cậu, tôi có việc phải ra chợ. Hôm nay là ngày giỗ của con gái tôi. Lý vội vã: - Dạ xin lỗi bác, cháu làm phiền bác quá. Anh kiếu từ và ra xe giục tài xế: - Mình về thôi. Tài mở khóa xe, nhưng sau mấy lần khởi động xe vẫn không chạy được. Lý càu nhàu: - Đã dặn nhiều lần rồi, phải chăm sóc xe cẩn thận... Tài lúng túng: - Thưa ông, em mới chỉnh lại xe hôm qua, nó còn ngon lành mà. - Coi lại xăng thế nào! - Dạ, em mới đổ chiều hôm qua, còn đầy bình. Lúc ấy, Lý thấy ông cụ đạp chiếc xe đạp đi qua, trên xe máng cái giỏ đi chợ. Anh lại giục: - Người ta đi xe đạp mà còn nhanh hơn mình kìa! Xe chưa kịp nổ máy thì chợt Lý phát hiện có một nghĩa trang nhỏ phía sau ngôi nhà, anh bảo với Tài: - Hóa ra nhà mình ở cạnh một nghĩa địa mà lúc mua mình không để ý. Tài đã nhìn thấy lúc đậu xe chờ, anh ta nói với ông chủ vẻ thân tình: - Đây là nghĩa địa riêng, chỉ có vài ngôi mộ thôi. Không chừng của nhà này đó cậu. Tự dưng Lý thấy tò mò, anh bảo: - Mày ráng nổ máy đi, để tao ra coi. Anh bước nhanh ra phía sau nhà như bị một điều gì đó xúi giục, không thể cưỡng được. Ngôi mộ đầu tiên anh nhìn thấy đã làm cho hai mắt hoa lên, anh phải dụi hai lần và ghé sát hơn vào bia mộ: "Mộ chí Nguyễn Thị Mỹ Nhung." - Cái gì? Lý không tin vào mắt mình, anh cúi hẳn xuống nhìn và trong lúc còn bàng hoàng thì chợt nghe có giọng nói phía sau: - Đây là chị em sinh đôi, trùng tên với cháu nó. Quay lại thấy ông cụ lúc nãy vừa trở về, Lý lúng túng nói: - Dạ, xe cháu chết máy, nên cháu... - Cậu tò mò vì cái tên trên mộ bia phải không? - Không phải là nó mà là đứa em nó, trùng tên. Lý nghe tim mình đập nhẹ đi và anh thở phào: - Vậy mà cháu cứ tưởng... Vừa khi ấy, tài xế gọi vọng vào: - Nổ máy được rồi cậu ơi! Lý vội chào ông cụ rồi bước ra xe ngay, sợ ông già hỏi thêm. Anh cũng chẳng hiểu sao mình như vậy nữa. Khi xe chạy rồi anh mới hỏi Tài: - Mày có gặp trường hợp hai chị em trùng tên bao giờ chưa? Tài đáp ngay: - Có chứ cậu. Như ở quê em, hai đứa đều tên là Lài, nhưng một đứa là Lài chị, còn đứa kia là Lài em. - Nhưng một người sống một người chết, mày đã gặp chưa? - Dạ chưa. Mà ai vậy cậu? - Nhà đó đó. Cô chị tên Mỹ Nhung mà em cũng cùng tên, cô chị sống, cô em chết. Tài nhìn sang cậu chủ: - Bộ cậu quen ai trong hai cô sao? Lần đầu tiên Lý lúng túng trước tài xế của mình: - À đâu có! Tài lờ mờ đoán ra chuyện gì đó nhưng không dám hỏi. Anh chỉ hỏi khi xe ra tới ngoài đường cái: - Mình có đi Tây Ninh không cậu? Lý nhìn đồng hồ tay rồi đáp: - Thôi khỏi, mình về nhà. Vừa về tới nhà, Lý đã đi ngay vào phòng riêng và vừa mở cửa ra anh đã suýt kêu lên, bởi trên giường của anh đang có người nằm. Mà người đó không ai khác hơn là Mỹ Nhung! - Sao cô lại ở đây? Cô gái nhoẻn miệng cười rất tươi, khác hẳn vẻ tiều tuỵ đêm qua: - Dạ, em không ra ngoài được. - Vậy ra từ đêm qua đến giờ cô vẫn còn ở trong nhà này? Mà sao sáng nay... - Em tính không làm phiền anh nữa nên định trở ra bờ tường để trèo về bên kia, nhưng em vừa trèo thì bị ngã, em nằm ngất đi ở bụi cây. Lý hốt hoảng: - Cô bị ngất suốt từ đó ư? Cô gái bẽn lẽn: - Em tỉnh lại sau đó, nhưng khi vào đây thì anh đã đi ra ngoài rồi. - Vậy sao cô vào phòng tôi được? - Anh đi mà đâu có khóa cửa phòng, nên em vào đại. Bởi em nghĩ, không quen ai trong nhà này, vậy cách an toàn nhất là vào phòng người em từng làm quen đêm qua cho chắc ăn! Một lần nữa, Lý bị thuyết phục bởi cách nói năng lưu loát của cô gái trẻ, anh nhìn cô ái ngại: - Vết thương cô sao rồi? Cô gái cười hồn nhiên: - Ngất đi một lúc lâu, khi tỉnh lại thì hầu như vết thương không còn đau nữa. Cám ơn anh! Lý cau mày: - Cô bị nhốt trong nhà tôi mà lại cám ơn tôi là sao? - Là vì... nếu trở về sớm thì chắc chắn em sẽ no đòn với ông ngoại. Ông ngoại em thương em, nhưng bỏ nhà đi qua đêm là không được. - Nhưng tối qua cô nói là bị bọn người xấu đuổi theo mà? Vả lại, đâu có nghe ông ngoại cô nói gì chuyện rầy rà... Nghe Lý nói, cô gái trố mắt nhìn anh: - Sao anh biết? Bộ anh... Lý đành thú nhận: - Tôi xin lỗi vì đã phải sang tận nhà cô để hỏi thăm. Bởi cô biến mất đột ngột khiến tôi lo lắng. Cô gái cất giọng dò hỏi: - Anh gặp ai trong nhà? - Thì ông ngoại cô và cả... Lý ngừng nói, nhìn cô gái vài giây mới tiếp lời: - Thấy cả ngôi mộ mang tên cô nữa! Câu nói đó khiến cô nàng bật dậy liền. Nhưng Lý lại nói luôn: - Ngôi mộ mang tên Mỹ Nhung, nhưng ông ngoại cô nói đó là người em song sinh trùng tên. Cô nàng ngồi xuống giường, sắc mặt giãn ra. - Đúng thế chứ, cô Mỹ Nhung? Lần đầu tiên nghe anh gọi chính tên mình, cô nàng hài lòng: - Anh không ngạc nhiên khi em không phải là người nằm dưới mộ? Câu hỏi hơi bất ngờ khiến Lý phải mất vài giây mới đáp: - Tôi đi tìm cô là tìm người còn sống, chứ đâu muốn nhìn ngôi mộ! Cô nàng vụt đứng lên định bước ra thì Lý gọi lại: - Cô nói là sợ về bị ăn đòn sao bây giờ lại về? - Anh đã thấy ông ngoại em đi chợ rồi phải không? Như thế là ổn, em chỉ việc về nhà nấu cơm sẵn, đợi ông mang thức ăn về là ông sẽ vui ngay, không rầy và chắc chắn là không đánh. - Dẫu cô cháu gái ông bỏ nhà đi qua đêm? Mỹ Nhung hơi khựng lại, rồi bất ngờ nói: - Hay anh đưa em về giúp, được không? Lý rùn vai: - Về và thú nhận là đã bắt cóc cháu gái ông để ăn đòn thay cô hả? Nàng không chú ý đến nội dung câu hỏi, vẫn giục Lý: - Anh đã giúp thì giúp cho trót đi! Lý gọi tài xế: - Cậu đưa giùm cô này về nhà, chỗ tôi và cậu mới vừa sang đó. Tài ngơ ngác khi chưa nhìn thấy cô nàng: - Cô nào, thưa cậu? - Cô đang ở trong phòng tôi. Tài sửng sốt: - Cậu.. cậu có... ai trong phòng? Lý gắt: - Bảo thì cứ làm, hỏi lôi thôi làm gì! Chợt bên trong giọng của Mỹ Nhung vọng ra: - Phải anh đưa thì em mới về, còn không thì em... ngủ ở đây luôn! Quá bất ngờ, Tài lè lưỡi rụt cổ như ngầm bái phục ông chủ của mình. Biết anh ta hiểu lầm, Lý lại gắt lên: - Đừng nghĩ lung tung! Mau đưa xe ra cửa đi. Tài chạy xe ra cổng đợi, lát sau Lý cùng ra với người đẹp. Vừa chợt nhìn thấy, Tài đã kêu lên: - Cậu, đây là... Lý phải đập vào vai chàng tài xế lắm mồm một cái rõ đau thì anh ta mới chịu nín im. Anh ta cho xe chạy ra khỏi cổng vừa được hơn chục thước thì bỗng ôm lấy đầu kêu đau. Chiếc xe đang ngon trớn đã suýt đâm sầm vào cột đèn khi anh ta kịp đạp thắng gấp. Lý la lớn: - Mày làm gì vậy Tài? Nhưng lúc ấy Tài đã gục trên vô lăng, mặt anh ta tái xanh. Quýnh lên, Lý lay anh ta, vừa gọi: - Tài, sao vậy? Cũng may vừa khi ấy Tài mở mắt ra, anh ta hoảng hốt chỉ tay về phía trước: - Cậu không thấy gì sao, có... Lý ngạc nhiên: - Có cái gì? - Người... người ta nằm lăn ra đường, suýt chút nữa... chút nữa mình cán qua họ rồi! Lý hoàn toàn không thấy gì như lời Tài nói, nên vội nhìn ra ngoài và càu nhàu: - Có ai đâu, thằng này mày sao vậy? Tài vẫn còn tỏ ra sợ hãi, vừa chỉ tay ra phía trước vừa run giọng nói: - Kia kìa, cậu không thấy sao? Lúc ấy, chợt Mỹ Nhung cũng lên tiếng: - Có người bị tai nạn phía trước, anh thử bước xuống xem... Buộc lòng Lý phải mở cửa xe bước xuống. Vừa đặt chân chạm đất thì bỗng nhiên Lý kêu lên: - Họ nằm đây nè! Ngay bên hông xe, đúng chỗ Lý vừa bước xuống đã có một người nằm sóng soài. Lúc này Lý mới hốt hoảng: - Vậy ra mày đã đụng vào người ta rồi! Lý cúi xuống định đỡ nạn nhân lên thì chợt sững sờ khi nhìn vào mặt người phụ nữ tuổi trung niên đang nằm nhắm nghiền mắt dưới chân. - Bà... bà Thu Hà! Người phụ nữ này có khuôn mặt giống hệt như trong bức ảnh chân dung ở nhà ông cụ hồi sáng nay. Lúc này Lý vội nhìn vào trong xe, anh định hỏi Mỹ Nhung thì chẳng còn thấy cô ta đâu! Có vài người đi đường nhìn thấy, họ la lên: - Sao không chở người ta vào bệnh viện đi, còn ở đó chờ cho người ta chết sao? Lý chợt hoàn hồn, anh giục Tài: - Đưa bà ấy lên xe rồi chở vào bệnh viện ngay đi! Dẫu đã trên mười năm rồi, nhưng gương mặt người phụ nữ này vẫn đập mạnh vào tâm trí Lý, anh thẫn thờ như người mất hồn khi nhớ lại câu nói của ông ngoại của Mỹ Nhung hồi sáng: - Kể từ khi ba má nó chết hết thì con Mỹ Nhung ở với tôi. Anh chợt rùng mình, nhưng vẫn giục Tài chạy nhanh đi tìm bệnh viện. Khi tới bệnh viện cấp cứu, anh đích thân mở cửa và giục Tài: - Mày chịu khó bế bà ấy vào, nhanh lên! Nhưng chợt Tài kêu lớn: - Cậu Hai, coi kìa! Theo tay chỉ của Tài, Lý nhìn ra băng ghế sau, anh kinh hãi khi thấy ở đó là... một bộ xương người chứ không phải là người phụ nữ bị tai nạn lúc nãy nữa! - Trời ơi! Lý chỉ kịp kêu lên như vậy rồi lặng người đi, mồ hôi lạnh thấm ướt cả lưng áo... Việc phải âm thầm chở bộ xương người trên xe quay về ngôi nhà của ông cụ tìm Mỹ Nhung là điều vạn bất đắc dĩ mà Lý buộc phải làm. Anh động viên Tài: - Ráng giúp tao một chút. Tài thắc mắc: - Nhưng cậu đâu bắt buộc phải chở về đó, trong khi ta có thể đem bỏ ở bãi đất trống nào cũng được mà! Lý nghiêm giọng: - Không được. Mày cứ làm theo tao đi, rồi ắt biết tại sao. Khi Tài chạy xe tới đúng ngôi nhà lúc sáng thì chính Lý ngạc nhiên khi thấy cửa nẻo đóng kín. Ngỡ ông cụ đi chợ chưa về nên anh bảo Tài tắt máy xe đợi. Hơn nửa giờ sau, Lý bắt đầu sốt ruột, nhất là việc Mỹ Nhung vẫn chưa trở về nhà. Anh hỏi lại Tài: - Lúc nãy khi lộn xộn, mày có thấy cô gái bước ra khỏi xe không? - Dạ, lúc ấy em bị choáng, đâu biết gì. Chờ thêm nửa giờ nữa, Lý quyết định bước xuống xe đi vòng ra sau nhà, chỗ mấy ngôi mộ đá. Anh giật mình khi thấy ngôi mộ nằm cạnh mộ đề tên Mỹ Nhung bị vỡ một mảng lớn, như bị ai đó đập phá. Trên bia mộ ghi rõ: Mộ phần Lê Thị Thu Hà. Tò mò, Lý cúi xuống nhìn kỹ dòng chữ ghi bên dưới được khắc bằng tay, dạng chữ viết thường: "Hận nhà họ Vương!" - Sao là họ Vương? Lý bị kích động khi dòng họ Vương của mình bị nêu ra ở đây. Anh ngồi hẳn xuống ngay đầu mộ, đưa tay bới đất cát lấp một phần dòng chữ tiếp theo để đọc cho hết câu: "Lòng dạ bạc bẽo của người này chỉ có phanh thây ra mới hả dạ! Suốt kiếp này mày đừng hòng ngóc đầu lên được Dương Cường ơi!" Tới đây thì Lý không thể nào còn bình tĩnh được nữa, anh sửng sốt kêu lên: - Cha tôi sao? Dương Cường là cha của anh. Ông ấy có liên hệ với người phụ nữ tên Thu Hà này là điều Lý từng biết, tuy còn lờ mờ. Nhưng câu ghi trên mộ này đích thị là dành cho cha mình! Lý thì thào: - Sao... sao lại có chuyện này...? Anh ngồi thừ người ra ở đó khá lâu, lúc đứng lên trở ra xe thì một lần nữa Lý sửng sốt khi thấy Tài gục trên tay lái, ngất lịm. Nhìn ra băng ghế sau, anh kêu lên: - Đâu rồi? Bộ xương đã biến mất! Lý nhìn quanh, xóm vắng không có một bóng người. Ngôi nhà của ông cụ vẫn khóa chặt cửa. Khi Lý bước tới nhìn qua khe cửa thì hốt hoảng, bởi ở giữa nhà có một cỗ quan tài đỏ nằm trong bóng lờ mờ... Còn đang hoang mang thì chợt Lý nghe có tiếng ai đó sau lưng: - Nhà đó không có ai ở đâu, mà cậu tìm ai? Lý quay lại, anh thấy một phụ nữ trung niên đang nhìn anh như dò xét. Lý phải lên tiếng: - Tôi tìm ông cụ chủ nhà. Ông có cô cháu ngoại tên Mỹ Nhung... Chị nọ nhìn sững Lý rồi nói, giọng hơi run: - Ông... ông ấy đã... còn cô... cô... Chị ta chỉ nói được mấy tiếng không thành câu đó rồi vụt bỏ chạy như bị ma đuổi. Lý ngơ ngác gọi theo: - Kìa chị! Chị ơi... Trong nháy mắt, người phụ nữ đã biến mất dạng. Lý còn đang phân vân thì nghe Tài gọi vừa nhấn còi xe: - Cậu Hai! Khi Lý trở lại xe thì thấy sắc mặt của Tài vẫn còn thất thần, anh hỏi: - Hồi nãy mày bị sao vậy? Còn cái... Lý vừa hỏi vừa nhìn ra băng sau, Tài run giọng đáp: - Em đang ngồi đợi cậu ra thì chợt nghe có tiếng động phía sau, em quay lại thì thấy một phụ nữ trung niên với mái tóc dài quá lưng đang trừng mắt nhìn! Em chưa kịp có phản ứng gì thì bỗng bị mờ mắt, đầu óc quay cuồng, rồi không còn biết gì nữa... Lý càng hoang mang hơn, anh chỉ ra sau nhà, nói giọng hơi run: - Ngôi mộ phía sau đó cũng... cũng... Tự dưng Lý cảm giác như có ai chặn ngang không để anh nói. Anh hốt hoảng giục Tài: - Chạy đi! Khi về đến nhà, Lý vẫn chưa hết bàng hoàng. Anh dặn Tài: - Mày nghe bất cứ động tĩnh gì cũng phải chạy ngay lên phòng tao, đừng để tao phải gọi! Lý đóng cửa phòng lại, và anh mở tung mấy ngăn kéo cất giữ giấy tờ sổ sách mà khi dọn nhà tới đây anh chưa có dịp sắp xếp lại. Vật anh tìm là những gì của cha để lại mà bấy lâu nay Lý ít khi để ý tới. Phần lớn là những bản lưu các hợp đồng thi công những công trình lớn, thỉnh thoảng có lẫn một vài giấy tờ, thư từ riêng. Và cuối cùng vật mà Lý cần tìm đã có. Đó là một bao nhựa cũ, trong đó gói khá kỹ những thư từ, hình ảnh của cha và... của một người tên Thu Hà! - Đây rồi! Những thứ này kể từ khi cha chết đã hơn tám năm, Lý niêm kín trong tủ riêng, kể cả mẹ anh chết sau cha hai năm Lý cũng không cho bà xem. - Thì ra bà Thu Hà và cha... Lý vừa tò mò giở từng phong thư và hình ảnh. Lúc này anh mới phát hiện trên một bức ảnh chụp riêng bà Thu Hà, có những nét bút mực đỏ gạch chéo gần như muốn xóa hết khuôn mặt xinh đẹp trong đó. - Sao ai lại làm vậy? Lý lật phía sau bức ảnh, anh giật mình khi nhận ra nét chữ quen thuộc của mẹ: "Con chó cái này, mày không thể tồn tại trên cõi đời này là đúng với ý trời, đừng trách ai cả!" Đọc thêm vài lá thư nữa, Lý biết đó là những thư tuyệt tình của người tên Thu Hà, trong đó có đoạn viết: "Chuyện của mình càng lúc càng đi đến ngõ cụt mà thôi. Em xin anh hãy buông tha cho em, còn phần em thì để quên anh, em sẽ đi lấy chồng. Em đau đớn mà làm việc này, nhưng như thế còn hơn, bởi em không thể yêu một người đã có vợ, để suốt năm tháng vò võ đợi chờ trong tuyệt vọng... Thôi, quên em đi... Thu Hà." Thì ra ba đã yêu người đàn bà này trong khi đã có mẹ rồi. Thảo nào mẹ ghen như vậy... Đến một lá thư sau cùng, được để dưới một xấp ảnh, vừa đọc ngay dòng đầu, Lý đã sững sờ: "Tôi hận anh kiếp này qua kiếp khác Dương Cường ơi!" Nội dung gần giống với câu trên mộ bia. Và còn nữa, những dòng tiếp theo: "Anh không thể bảo đảm chuyện tình yêu cho người ta thì hãy để cho người ta hạnh phúc, cớ sao lại nhẫn tâm phá hoại cái mà người ta cất công xây dựng? Anh đã ra tay độc ác thì đừng trách sao chính mình sẽ lãnh hậu quả thảm khốc." Lý buông những lá thư và hình ảnh xuống rồi thẫn thờ khá lâu. Vậy ra cha mình có lỗi trong vụ gì đó chăng? Hay là lỗi với chính bà Thu Hà? Suốt buổi đó hầu như Lý không ra khỏi phòng. Anh cố tìm thêm những chi tiết khác nữa, nhưng không có... Bất chợt anh nhớ tới mẹ: - Ở nhà ngoại, nơi mẹ ở vào những ngày cuối đời! Điều vừa lóe lên trong đầu khiến cho Lý gọi giật tài xế vào: - Chuẩn bị đi Bà Rịa ngay! Tài ngạc nhiên: - Chỉ tới Bà Rịa thôi hay đi luôn Vũng Tàu hả cậu? - Bà Rịa thôi, về nhà ông bà ngoại tôi! Tài muốn có ý kiến ngăn lại, bởi lúc đó đã hơn 5 giờ chiều rồi, nhưng anh biết tính của cậu chủ mình, một khi đã muốn làm việc gì rồi thì có trời mới cản được. Bởi vậy Tài vẫn cho xe ra cổng và chờ. Khi Lý vừa mở cửa xe phía sau thì anh ngạc nhiên hỏi: - Cái gói gì đây? Tài ngơ ngác: - Dạ, gói gì em đâu có biết? Lý mở lớp giấy bọc bên ngoài ra, anh ngạc nhiên vì bên trong là một cái hộp thiếc, loại hộp đựng bánh bisqui. Nhưng bên trong không có bánh, mà chứa toàn những giấy tờ, thư từ... - Của mẹ! Nhìn chữ viết cùng những vật dụng quen thuộc, Lý nhận ra ngay đó là đồ vật của bà Mỹ Hoa, mẹ anh. Lý hỏi lại: - Sao nó lại ở đây? Lý biết chắc hầu hết những đồ vật riêng tư của mẹ, khi bà mất thì bà ngoại anh đã lấy về cất riêng trong căn phòng mà mẹ anh được dành riêng trong ngôi nhà của ông bà ngoại ở huyện Đất Đỏ. Nó chưa hề được đưa về nhà này, lại càng không thể nằm khơi khơi trên xe như thế này. Giở nắp hộp ra, Lý phát hiện có một mảnh giấy với dòng chữ lạ: "Cần gì phải ra tận Bà Rịa, những gì cần xem nó ở cả trong chiếc hộp này!". - Chữ này của ai viết vậy, mày biết không Tài? Đưa miếng giấy với mấy dòng chữ viết đó cho Tài xem, anh ta lắc đầu: - Em đâu có biết. Lý thay đổi quyết định, anh bảo: - Mày cho xe trở vào và chờ tao một lát. Anh đi thẳng vào phòng mình, tuần tự giở hộp thiếc ra. Ngay tờ giấy đầu tiên đã khiến Lý phải giật mình, bởi trên đó không viết chữ gì, mà chỉ có một bức ảnh chân dung của bà Thu Hà cùng với dấu gạch chéo bằng bút đỏ. Một dấu gạch chéo đủ nói lên ý của người gạch: Xóa sổ người trong ảnh! Chưa hết, ngay dưới đó còn có một lá thư với nét chữ lạ, viết rất thô kệch và đề thẳng tên mẹ: Gửi bà Mỹ Hoa. Lý hơi run tay khi bóc lá thư này ra xem. "Theo đúng ý bà, tôi đã cho đàn em làm xong mọi việc. Tình địch của bà, cả chồng con nó đều đã bị thiêu sống trọn gói, như một tai nạn cháy nhà, chẳng ai có thể nghĩ đó là một vụ giết người. Như vậy, lần này bà không còn phải áy náy nữa về việc trừng phạt mà bà trách tôi là ra tay nửa vời như lần trước. Tình địch của bà giờ đây không còn có cơ hội viết thư tố cáo với chồng bà nữa. Vậy đề nghị bà trao nốt số tiền công còn lại cho người cầm giấy này nội trong ngày hôm nay. TB: Điều dặn dò cẩn thận của bà cũng đã được đàn em tôi thực hiện chu đáo: trước khi chết, tình địch của bà được báo cho một chi tiết thú vị rằng chính ông Dương Cường đã ra tay để trả thù việc bà Thu Hà bỏ đi lấy người khác, gây cho ông chồng bà đau khổ! Hồn người kia dưới Suối Vàng sẽ luôn nghĩ rằng bà ta bị tình nhân sát hại. Và nếu có trả thù thì chắc chắn họ cũng chỉ tìm chồng bà để trả thù mà thôi!" Buông lá thư xuống, Lý chỉ kịp kêu lên mấy tiếng rồi gục xuống. *** Khó khăn lắm Lý mới tìm được ngôi nhà nhỏ nằm sâu trong con đường dẫn lên núi ở một thôn cách thị trấn Long Điền hơn năm cây số. Ngôi nhà cửa đóng im ỉm, đứng ngoài khá lâu rồi mà Lý vẫn không thấy bóng ai bước ra. Mặt trời dần xuống thấp càng làm cho Lý hơi lo, bởi nếu không gặp được người cần tìm thì có lẽ anh phải trở về Bà Rịa ngủ trọ, rồi mai trở lại tìm nữa. Vừa khi ấy, có người lên tiếng hỏi từ phía sau: - Cậu kiếm ai? Giật mình quay lại thấy một bà cụ, Lý lễ phép: - Dạ, cháu muốn tìm ông Năm Lực. Bà già chỉ tay vào nhà: - Ông ấy ở trong nhà! Cậu phải vô tận nơi để kêu may ra ông nghe, chứ đứng ngoài này thì tới bao giờ ông ấy mới ra! - Dạ, nhưng cổng ngoài đóng chặt... - Đẩy mạnh mà vào, không có khóa đâu. Nhưng nói trước để cậu biết, coi chừng khi vào gặp ông già đó! Lý ngạc nhiên: - Sao vậy bác? Cháu chỉ hỏi thăm chuyện nhà một chút, chứ có làm phiền gì ông ấy đâu? Bà cụ khẽ lắc đầu: - Ông già này tính khí thất thường lắm. Bình sinh ông không chịu tiếp xúc với ai, cũng không gây khó dễ gì cho ai, nhưng nếu ai làm cho ông ta bực mình thì liệu hồn, có khi ông ấy vác cây đuổi chạy không kịp! Ở xứ này ai cũng ngán, không ai dám bước vào nhà nửa bước. Cậu liệu mà tính! Nói xong bà cụ đi thẳng. Lý hơi lưỡng lự, nhưng cuối cùng anh mạnh dạn đẩy cánh cổng và bước vào sân. Câu nói của người nào đó trong giấc mộng đêm qua như còn văng vẳng bên tai, nó như sự thôi thúc Lý phải gặp ông già cho bằng được: "Gặp ông Năm Lực thì mọi điều sẽ sáng tỏ. Ông ấy sẽ cho anh biết anh phải làm gì để thoát ra khỏi khổ nạn này. Bằng không, anh sẽ bị mất ngủ triền miên, bị quấy phá suốt đời và thậm chí sẽ tiêu tan hết sản nghiệp do cha anh để lại". Lý bước nhanh đến bên cửa trong ngôi nhà và gõ liền mấy cái vào cửa, vừa cất tiếng gọi: - Bác Năm ơi, bác Năm! Anh phải gọi đến lần thứ ba thì mới nghe một giọng khàn đục lên tiếng: - Ai đó? - Dạ, cháu tìm bác có việc gấp. Cháu từ Sài Gòn ra. - Ai ở Sài Gòn ra? Giọng ông già trở nên hằn học và cộc lốc: - Ai? - Dạ, cháu là Lý. Cháu cần tìm ông Năm Lực. - Lý nào? Lý bắt đầu ngại khi nghĩ mình sắp đối diện với con người hung hăng này. Anh cố dịu giọng: - Cháu được cô Mỹ Nhung giới thiệu... Không ngờ câu nói bịa của Lý lại có tác dụng tức thời. Ông già mở ngay cánh cửa, vừa hỏi: - Con Mỹ Nhung đâu? Ông đứng đối diện với Lý mà chẳng màng đến anh, chỉ đảo mắt tìm kiếm. Hiểu ý, Lý phải nói: - Dạ, cháu ra có một mình. Cháu chỉ.. Cánh tay khẳng khiu của ông cụ vung lên và rất nhanh, ông giáng thẳng vào mặt Lý một cái. Nếu không cảnh giác trước thì Lý đã lãnh trọn cái tát đó. Anh kịp đưa tay chụp cánh tay ông lại vừa lên tiếng: - Cháu không có ý xấu. Cháu chỉ nghe theo lời mách bảo của Mỹ Nhung ra gặp ông, đem cho ông ít quà... Cánh tay già nua tuy có dữ dằn, nhưng sức lực đâu bì được với sức trẻ, do vậy khi bị Lý kìm lại, ông đành phải rút tay về và đột nhiên bật thành tiếng khóc. Ông khóc nức nở như một người chưa từng được khóc, khiến cho Lý lo ngại: - Kìa bác. Cháu chỉ... Anh đã chuẩn bị sẵn gói quà theo lời mách bảo của người báo mộng cho anh đã dặn, mấy bánh thuốc hút. Vừa đưa nó ra, ông cụ đã reo lên như đứa trẻ được quà: - Con Mỹ Nhung của ông đây mà! Quà của nó ở đây mà... Ông vồ lấy mà không đợi Lý đưa. Và thái độ ông đổi khác ngay khi ôm gói quà trong tay: - Con Mỹ Nhung của ông đâu? Nó được bao lớn rồi? Nó sao không về đây vấn thuốc cho ông hả? Những câu hỏi liên tục khiến Lý chưa biết trả lời sao thì chợt anh nhìn thấy một ảnh chân dung phóng lớn treo trên vách nhà, hình một bé gái tuổi khoảng lên ba, có nét hao hao với Mỹ Nhung. Linh cảm khiến Lý ứng đối kịp thời: - Dạ, Mỹ Nhung nay đã lớn rồi, cô ấy có thể mồi thuốc cho ông hút được! Đang vui, bỗng ông nhìn Lý quát lớn: - Sao tập cho con gái hút thuốc hả? Không được nghe chưa! Nói xong, ông giữ chặt gói thuốc trong tay vừa bước thẳng vào trong như sợ có người giật lại gói quà của mình. Quan sát sự việc, Lý đã đoán phần nào tính khí và tình trạng sức khỏe của ông cụ. Anh lại dịu giọng nói: - Mỹ Nhung gửi lời thăm ông và dặn ông không được ăn uống thất thường. Mỹ Nhung... Bỗng dưng ông cụ quay trở ra, chỉ tay lên bức ảnh bé gái, vừa mếu máo nói: - Con nhỏ chết khi mới chừng ấy tuổi thôi, tội lắm trời ơi! Bây giờ đến phiên Lý kinh ngạc, anh lúng túng: - Dạ, cháu... cháu... - Ngồi xuống đi, rồi nói cho ta nghe coi cháu tao bây giờ ở đâu? Thì ra ông cụ không bình thường, nhớ chuyện này xọ qua chuyện kia. Lý nắm bắt tâm lý khá giỏi bởi đã du học khoa tâm lý ở nước ngoài mấy năm, anh tiếp tục dùng sở học của mình: - Dạ, để cháu vấn thuốc cho ông hút, Mỹ Nhung có chỉ cho cháu. Quả nhiên cách nói đó của Lý đã chinh phục được ông già. Ông tỏ ra thân thiện hơn: - Được rồi, mấy bữa nay ta ho nhiều nên cữ hút thuốc. Vậy con hãy rót nước cho ông uống đi, giống như Mỹ Nhung hồi ấy... Lý rót ngay một ly nước trong bình trà đã nguội đưa cho ông và nói: - Ông uống đỡ, để chờ cháu đi nấu nước sôi pha ấm trà khác cho ông nghe. Mỹ Nhung nói ông thích uống trà đậm. Chi tiết này là Lý bịa ra, không ngờ đúng ý ông: - Phải, con nhỏ nhớ dai quá. Ta thích uống trà nóng và đậm mà phải là trà sen kia. Cũng may trong gói quà Lý mang theo có cả thuốc lá và trà, anh vội nói: - Mỹ Nhung có gửi cả trà sen cho ông. Ông cụ cảm động: - Con nhỏ còn thương! Tội nó quá... Lý thầm nghĩ: thì ra đây là ông nội của cô gái, còn ông già ở cạnh nhà mình là ông ngoại. Anh tự nhiên đi ra sau bếp mà không gặp sự phản đối nào của ông cụ. Anh tìm thấy ấm nấu nước để chỏng chơ trên lò, không có chút nước nào trong đó, chứng tỏ ông già sống chỉ một mình và không ai chăm sóc cơm nước. Chờ ấm nước sôi, Lý mang lên châm vào bình, xin ông cụ lấy gói trà sen trong bọc thuốc lá. Anh bịa thêm: - Mỹ Nhung nói ông thích vừa ngồi uống trà vừa kể chuyện cho con cháu nghe, vậy bây giờ... Anh định khơi gợi để bắt đầu cuộc truy hỏi những điều mình cần biết, và anh đã thành công khi ông già bảo: - Ngày trước lúc nào nó cũng biết đòi ta kể chuyện những lúc ta ngồi hút thuốc, uống trà. Bàn tay nhỏ nhắn của nó cầm nhúm thuốc không xong, vậy mà lúc nào cũng đòi vấn cho nội hút. Thấy mà thương cái bàn tay búp măng đó! Nhìn đôi mắt rưng rưng ngấn lệ của ông, Lý biết rằng trong lòng ông đang sống lại hình ảnh đứa cháu gái thân thương, nên anh đánh thẳng vào điểm yếu đó bằng câu nói: - Nếu Mỹ Nhung yêu cầu ông kể cho nghe tại sao cô ấy bỏ ông đi, ông có sẵn lòng nói không? Lý chờ những lời kể thật câu chuyện mà anh cần biết, hoặc có thể là cơn thịnh nộ của ông già. Không ngờ, giọng ông cụ bỗng trở nên nhẹ nhàng, tình cảm hơn: - Nó bỏ ta mà đi khi ta chỉ có nó là cháu nội duy nhất! Hôm đó cũng bằng giờ này khi nó đang ngồi nghe ta kể chuyện thì vụt chạy ra ngoài, kêu lên là nhà của nó bị cháy. Nó hoảng loạn lên, bởi khi ấy ba má nó đang ngủ say trong đó, mà lúc sang đây do sợ trộm vào lấy đồ nó đã khóa cửa từ bên ngoài! Trời ơi... Ông cụ kể tới đó thì nấc lên và hầu như không còn đủ sức để ngồi vững nữa, ông ngã chúi nhủi về phía trước. Lý hốt hoảng: - Kìa, ông ơi! Anh đỡ ông cụ lên và kịp nghe ông nói rất khẽ: - Gặp con Mỹ Nhung hãy nói với nó là đừng làm khó người ta... không phải do thằng ấy gây ra đâu… Câu nói mập mờ khó hiểu, khiến Lý phải hỏi lại: - Ông nói thằng đó là ai? - Thằng Dương Cường... không phải nó... mà chính con vợ nó... Ông nói tới đây thì kiệt sức, ngoẹo đầu sang bên và ngất đi. Lý bế ông lên chiếc ghế dài giữa nhà: - Ông ơi! Sờ thấy ông còn thở, Lý hơi yên tâm, nhưng nỗi thắc mắc trong lòng vẫn khiến anh không yên. Tại sao ông cụ nói về cha mình như thế? - Ông ấy nói đúng. Tôi đã gặp ông và hỏi kỹ rồi, đang tính về sẽ gặp lại cậu nói rõ. Nhất là gặp mẹ con con Thu Hà để giải mối hận trong lòng chúng nó bấy lâu nay. Giọng nói đó khiến Lý bàng hoàng, anh quay lại và ngơ ngác khi thấy ông già mà anh từng gặp ở ngôi nhà gần nhà mình, nơi có những ngôi mộ. - Kìa, sao bác lại ở đây? Ông già bình tĩnh ngồi xuống ghế và đáp: - Thì cũng như cậu, tôi đi tìm hiểu sự thật. - Vậy ra bác vắng nhà mấy bữa nay là lên đây! Mà sao có một cỗ quan tài nằm giữa nhà bác ở dưới? - Cậu không nhận ra sao, đó là quan tài của cha cậu, ông Dương Cường! Câu nói đó khiến Lý rúng động: - Trời ơi, sao lại như thế! - Đó là ý của con Thu Hà! Hơn mười năm nay nó chỉ nung nấu việc trả thù, dẫu đã là người cõi âm nó vẫn không nguôi chuyện thù hận. Bởi nó vẫn tin chắc rằng cha cậu là người gây ra cái chết cho vợ chồng, con cái nó. Cho đến mới đây... Ông lấy từ trong túi áo một phong thư và đưa cho Lý: - Cậu đọc đi rồi sẽ hiểu. Lý cầm lấy và ngạc nhiên kêu lên: - Đây là lá thư người ta gửi cho má cháu! - Thì ra cậu đã biết, chính con Mỹ Nhung đưa về cho tôi. Nó bảo sau khi hiểu ra điều này rồi, nó không còn hận cha cậu nữa, mà nó cũng muốn mẹ nó làm như vậy... - Hôm qua cháu cũng nhận lá thư này trong cái hộp của mẹ cháu, hình như cũng do Mỹ Nhung đem tới. Ông già gật đầu: - Nó đó! Con Mỹ Nhung có cảm tình với cậu, nên nó không muốn mẹ nó tiếp tục hận thù, tiếp tục gây ra những cái chết cho nhà họ Dương nữa... Lý hốt hoảng: - Những cái chết nhà họ Dương? Ông già tiếp lời bằng giọng bức xúc: - Ba cậu chết là do con Thu Hà bắt hồn, mẹ cậu cũng thế và rồi sẽ tới cậu! Lý tái mặt: - Ông... ông nói thật ư? Ông già tiếp tục thở dài: - Oan gia nghiệp chướng mãi như thế làm sao được! Bởi thế hôm cậu sang nhà tìm con Mỹ Nhung là tôi sợ thất thần rồi! Tôi đâu muốn con gái mình tiếp tục lún sâu vào cuộc hận thù đó, mặc dù nó có quyền... Ông nói tới đây thì oà lên khóc, khiến Lý cũng mủi lòng, ông nghe mắt mình cũng cay cay... - Thưa ông... Lý bị ông già chặn ngang: - Cậu để tôi nói hết đã. Hôm đó tôi nói dối cậu rằng có hai con Mỹ Nhung. Thật ra chỉ có một và đó là Mỹ Nhung nằm dưới mộ. Còn Mỹ Nhung mà cậu gặp chính là... Lý chặn lời ông: - Cháu đã hiểu, đó là hồn ma cô ấy! - Nhưng có những điều cậu còn chưa hiểu. Như nơi cậu đang sống... - Ông nói gì cháu không hiểu? Ngôi nhà cháu đang ở là sao? - Đó là ngôi nhà do ba cậu xây cho... ông Năm Lực đây mà! Lý ngơ ngác: - Có chuyện đó sao? Vậy mà cháu nào biết. Cháu mua là do có người mách. - Do oan hồn con Thu Hà khiến cậu đó. Nó muốn đưa cậu về đây, để... Ông tiếp bằng giọng run run: - Nó muốn bắt hồn cậu đi luôn! Lý thất thần: - Thảo nào gần hai năm nay, lúc nào trong đầu cháu cũng như vang lên những âm thanh kỳ lạ, khiến cháu mất ngủ triền miên và rất sợ bóng tối! Cháu không hề biết gì về ngôi nhà mình đang ở... Ông già kể tiếp: - Hồi đó anh sui gia tôi đây cất ngôi nhà ở cạnh nhà tôi. Con Thu Hà ngày ấy còn sống, và nó với cha cậu là một cặp đôi mà tưởng chừng như không có gì chia lìa chúng được. Tôi cũng tán đồng chuyện chúng nó yêu nhau. Nhưng chẳng hiểu sao đùng một cái, cha cậu lại đi lấy vợ, lấy người mà sau này cậu gọi là mẹ đó! Con Thu Hà đau khổ khóc sưng cả mắt và cứ tìm cách níu kéo, kêu gọi cha cậu hồi tâm trở về với nó! Tôi biết được điều đó nên cương quyết bảo nó cắt đứt chuyện tình với cha cậu, bởi tôi không muốn con gái mình mang tiếng phá hoại gia cang người khác, mặc dù nó là kẻ đến trước. Đến trước mà về sau cậu à... Ngừng lại một lúc, rồi ông tiếp bằng giọng bùi ngùi: - Nó đã trả thù lại bằng cách... đi lấy chồng! Con trai ông Năm Lực đây khi ấy sống trong ngôi nhà cậu ở bây giờ, tức sát vách nhà tôi và con Thu Hà. Chúng nó phải lòng nhau thật sự hay chỉ là cuộc tình gán ghép để thỏa cơn thù hận của con Thu Hà thì tôi không dám chắc, nhưng có điều là khi chúng sống với nhau, tôi nhận ra thằng Hòa con anh Năm đây thương con Thu Hà thật. Cho đến khi chúng có với nhau đứa con đầu lòng, con Mỹ Nhung, thì tôi tin là chúng sẽ ăn đời ở kiếp với nhau được. Tôi mừng lắm. Nhưng... Ông ngừng lại, cơn uất nghẹn làm cho ông không thể tiếp tục câu chuyện được nữa. Phải mất gần năm phút sau Lý mới nghe ông lên tiếng, giọng khàn đục: - Vậy mà một buổi chiều kia, lửa trong nhà bỗng dưng bốc cháy! Lúc đó tôi đi ra chợ chưa về, còn con Mỹ Nhung lúc ấy hơn ba tuổi thì sang nhà nội nó chơi, chỉ kịp chạy về khi lửa đã cháy trùm toàn ngôi nhà. - Cửa ngoài đã bị khóa, con Mỹ Nhung cố lao vào để mở cửa và cũng bị thiêu cháy theo ba má nó! Trời ơi... Ông cụ lại ngất đi. Lúc này trong ngôi nhà nhỏ có đến hai ông già nằm bất động, khiến Lý bối rối, anh phải chạy đi lấy khăn nhúng nước lau cho cả hai người. Lát sau họ tỉnh lại. Ông Năm Lực tiếp bằng giọng trầm buồn: - Bấy lâu nay tôi buồn đau quá mà hóa rồ, bởi tôi chỉ có mỗi thằng con trai, nó chết đi rồi tôi không còn thiết sống nữa. - Bởi vậy anh ấy mới bán ngôi nhà mà cậu đang ở đó, bỏ về đây ở ẩn. Hôm qua tôi tìm đến để hỏi thêm anh ấy vài việc liên quan tới con gái mình, và định trở về khuyên con Thu Hà, đừng nuôi hận thù nữa. Chứ thật ra khi nó mang cỗ quan tài ba cậu về đặt giữa nhà đó là cho liệm xác cậu vào đó mới hả giận. Đêm qua đúng ra là cậu đã bị hại rồi, nếu không có con Mỹ Nhung. Nó đã cãi nhau với mẹ nó một trận, không cho Thu Hà đón đường cậu lúc cậu định đi Bà Rịa. Lý hốt hoảng kêu lên: - Thì ra cô ấy ngăn không cho cháu đi Bà Rịa bằng cái hộp đựng đồ vật của mẹ cháu! - Phải! Thật ra cái hộp này giữ ở nhà ông nội cháu đây từ lâu, chứ không ở nhà bà ngoại cậu. Con Mỹ Nhung đã lấy đem đưa cho cậu, mục đích giúp cậu hiểu rõ mọi chuyện, đồng thời ngăn không cho cậu ra ngoài. Bởi nếu cậu đi đêm qua thì cậu đã không toàn mạng! Lý rùng mình, hết nhìn hai ông cụ rồi nhìn một lượt khắp ngôi nhà. Thấy bức ảnh của Mỹ Nhung thời thơ ấu, anh thắc mắc: - Lúc chết cô ấy mới ba tuổi, sao giờ đây là một cô gái. Ông Năm Lực tỉnh táo đáp: - Người trong thế giới vô hình cũng lớn lên theo thời gian. Nó đã trở về đây nhiều lần, mà mỗi lần bước vào nhà tôi cứ tưởng là cô gái nào, đâu ngờ là nó. Nếu nó còn sống thì năm nay cũng đã mười bảy mười tám rồi... Ông lại khóc. Rồi ông già kia cũng khóc theo. Và đến lượt Lý cũng không cầm được nước mắt... *** Khi Lý trở về cùng ông cụ thì cả hai vô cùng ngạc nhiên khi không còn thấy cỗ quan tài nằm giữa nhà nữa! Lý còn đang hoang mang thì ông già đã chỉ tay ra sau nhà bảo:- Chắc là nó an táng ngoài kia rồi. Lý chạy ra và vô cùng ngạc nhiên khi thấy có một ngôi mộ mới nằm ngay bên trái mộ của Thu Hà, cùng một dãy với ba ngôi mộ: Thu Hà, chồng bà ấy và Mỹ Nhung. - Âu cũng được... Lý nói khẽ và thầm khấn: - Ba hãy nằm đây! Bà ấy đã tha thứ cho ba rồi đó... Lý trở về nhà với tâm trạng bớt nặng nề hơn. Kể từ hôm đó, Lý đã cho mở tường rào thông cửa sang bên kia. Mỗi ngày anh đều sang bên bốn ngôi mộ và thường xuyên hương khói. Cũng từ hôm đó, đêm nào đèn ở phòng của Lý cũng tắt rất sớm. Có lần tài xế Tài rình bên ngoài và nghe có tiếng cười của một người con gái từ bên trong. Vốn là người ưa tán chuyện, nhưng chẳng hiểu sao từ đó Tài lại kín miệng như bưng, không hé lộ với ai nửa lời về những gì mình thấy được trong phòng cậu chủ của mình... Mà thật ra thì cũng có gì đâu để bàn tán! Bởi ở cõi đời này, đâu phải người với ma liên hệ với nhau là chuyện đáng ngạc nhiên! |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 28
NHẬP TRÀNG Cái Chết Của Người Tình Trẻ Bà Lệ Thủy rùng mình bởi cơn gió lạnh đột ngột thổi từ ngoài vào, bà bước tới đóng chặt cánh cửa sổ lại rồi bật lò sưởi. Đây là một ngoại lệ, bởi tuy trời Đà Lạt có lạnh, nhưng từ bao lâu nay bà không bao giờ phải dùng tới lò sưởi cả. Với bà, cái lạnh ở xứ hoa này đâu thấm gì với cái lạnh ở nước ngoài mà bà đã trải qua hơn mười năm đi du học. Bởi vậy kể từ khi về nước, mua lại ngôi nhà cổ này trên ngọn đồi cách trung tâm thành phố hơn cây số, bà đã cho mở tung các cửa ra, kể cả ban đêm. Với bà, không khí trong lành quan trọng hơn cả hơi lạnh mà mọi người thường ngại. Tôi tớ trong nhà không tán thành việc đó, nhưng họ đâu dám có ý kiến khi bà chủ muốn. Tối nay, bà càng có lý do để chứng tỏ mình không sợ lạnh, bởi thằng con trai bà lúc chiều đã điện thoại lên dặn bà phải đóng kín cửa lại, làm cho trong nhà ấm lên, để khi anh ta đưa cô con dâu bà về cô ta đỡ phải cóng, vì cô ta rất dị ứng với khí lạnh Đà Lạt này. Bà Lệ Thủy vốn có thành kiến với cô con dâu không do bà chọn này, cho nên hễ cái gì cô nàng không ưa thì bà muốn làm trái ngược lại. Về cô con dâu Mỹ Dung, chính bà đã phản đối kịch liệt khi bà còn ở nước ngoài nhận được tin Hoàng Lộc cưới vợ. Với bà, chuyện vợ con của Lộc phải do bà chọn, mà việc đó bà đã làm rồi, bà muốn Lộc cưới Lan Hương, một cô gái đang ở Pháp cùng cha mẹ vốn là bạn thân của bà. Tuy nhiên Hoàng Lộc đã làm chuyện đã rồi, khi tự mình tổ chức đám cưới mà không cần sự có mặt của mẹ. Khi bà về nước, giữa hai mẹ con đã nổ ra cuộc tranh luận dữ dội, dẫn tới sự tách ra lên Đà Lạt ở riêng, không màng gì tới cuộc kinh doanh đang phát đạt và rất cần sự góp sức của bà. Hồi trưa nay, Lộc điện lên báo tin là anh và vợ sẽ lên gặp bà bàn vài việc quan trọng. Bà đã có ý không muốn tiếp cô con dâu, nhưng do Lộc bảo chuyện không thể không gặp, nên buộc lòng bà phải để cho Lộc đưa con dâu lên. Bà cố ý ngồi chờ là vậy... Tuy nhiên, chẳng hiểu sao đang ngồi, bà Lệ Thủy lại bắt rùng mình, bà đóng cửa sổ lại nhưng không muốn mấy người giúp việc nhìn thấy mình bị lạnh, nên bà tự bật lò sưởi và đóng kín cửa ra vào lại, rồi ngã người trên ghế nệm. Tự dưng bà cảm thấy buồn ngủ đến độ đôi mắt vốn rất tỉnh táo của bà như đang muốn nhắm lại. - Ra khỏi phòng này ngay! Cái vía của bà Lệ Thủy vẫn còn chưa ngủ, nhưng câu nói của ai đó thì như vọng lại từ cõi hư vô. Bà cố bật người dậy mà không thể, nên cố nhướng mắt lên, vừa hỏi nhừa nhựa: - Ai... nói gì... - Tao nói là mày bước ra khỏi phòng này ngay, nghe chưa con đ. già! Giọng nói càng lúc càng đanh đá và như sắp vồ lấy bà, khiến bà Lệ Thủy phải đưa tay lên đỡ và một lần nữa cố rướn người lên để tránh. Bà cảm giác như có hơi thở của ai phả vào mặt mình, bà kêu thét lên. Nhưng tiếng kêu của bà không thể phát ra khỏi cổ họng được, trong khi giọng nói lặp lại lần nữa: - Tao nói lần nữa, mày có đi ra không! Phòng này là của tao, tại sao mày tới đây chiếm lấy rồi còn tự động đốt lò sưởi lên nữa, tao không thích! Cái lò sưởi chạy điện đang phả hơi nóng ra, tự dưng tắt phụt, rồi một cái tát thật mạnh vào má, khiến bà Lệ Thủy phải ngã phịch xuống sàn. Bấy giờ, bà mới kêu lên thành tiếng: - Bớ người ta! Vừa khi ấy, bên ngoài có tiếng đập mạnh cửa phòng: - Bà ơi, có chuyện gì vậy? Bà Lệ Thủy đứng lên mà cảm giác lảo đảo vẫn còn. Phải mất nửa giây sau, bà mới hoàn hồn, hiểu rằng mình vừa trải qua cơn ác mộng... - Con Hai hả, mày đẩy cửa vào, cửa không khóa! Hai Sương, cô giúp việc đắc lực của bà lo lắng: - Con nghe bà la dữ quá, có chuyện gì vậy? Nhớ lại chuyện vừa rồi, nhưng bà không dám nói: - Tao thấy cái gì đó ghê lắm, nhưng... mộng mị mà. Có lẽ tao nằm cấn bả vai, cho nên... Bà nhìn đồng hồ tay và chép miệng: - Sao giờ này mà cậu Lộc mày chưa lên tới? Hai Sương đáp: - Lúc nãy con nghe điện thoại trong phòng bà reo dữ lắm, con tưởng bà nghe... - Tao nằm ngủ quên. Không biết có phải của thằng Lộc không? Bà vừa dứt thì chuông điện thoại lại reo vang, bà chụp lấy ống nghe và ngạc nhiên khi đầu dây bên kia không phải là giọng của Lộc, nhưng đang nói chuyện về Lộc: - Tôi là người đi đường ngang qua đèo Bảo Lộc và gặp chiếc xe của cậu Hoàng Lộc bị nạn ở đó. Cậu Lộc thì không sao, nhưng còn... Bà Lệ Thủy buông ống nghe xuống, người bà cứng đờ sắc mặt tái xanh... Hai Sương hoảng hốt: - Chuyện gì vậy bà? Bà nói như người mất hồn: - Con vợ thằng Lộc... chết rồi! - Trời ơi! *** Ghét Mỹ Dung là một chuyện, còn việc cô ta chết lại là việc khác, nó khiến bà Lệ Thủy bối rối và lo lắng nhiều. Cô dâu trẻ mà bà chỉ mới gặp có vài lần trước ngày tách ra ở riêng, thật ra cũng không phải là con người đáng ghét hay xấu xa gì, chỉ có điều... cô ta không phải là người do chính bà chọn lựa! Người ta đưa được xác Mỹ Dung lên từ dưới vực sâu sau khi xe của Hoàng Lộc lạc tay lái rơi xuống đó. Cô nàng tuy chết do tai nạn rơi xuống đèo, nhưng chiếc xe của họ vướng vào một thân cây to và treo lơ lửng ở đó, chỉ cô bị rơi ra, máng vào một cành cây và tử vong, còn Hoàng Lộc thì vướng lại trong cabin, nên chỉ bị xây xát nhẹ. Nửa đêm hôm đó, xác Mỹ Dung được chuyển từ nhà xác bệnh viện về theo yêu cầu của Hoàng Lộc. Anh chàng không muốn để ở nhà xác rồi chuyển thẳng về Sài Gòn theo ý của mẹ, bởi anh lập luận: - Mỹ Dung được quyền nằm lần cuối trong nhà mẹ chồng, thay vì nằm trong nhà xác lạnh lẽo! Mẹ có phản đối thì con cũng đưa về đây và thậm chí con còn tổ chức tang ma luôn trên này, thay vì đưa về Sài Gòn. Bà Lệ Thủy đành để mặc cho con trai muốn làm gì thì làm. Suốt đêm đó cho tới sáng, bà cáo bệnh nằm rút trong phòng riêng. Sáng hôm sau khi vừa tỉnh giấc, bà đã nghe bên ngoài có tiếng đọc kinh theo công giáo, thay vì tụng niệm theo nghi lễ Phật giáo. Bà gọi Lộc vào định phản đối, bởi gia đình theo đạo Phật. Tuy nhiên, Lộc đã thẳng thừng phản kháng: - Mỹ Dung theo công giáo, do đó con phải làm lễ theo nghi thức tín ngưỡng của cô ấy. Mẹ không tham dự thì để con làm. Sự chống đối của Lộc với mẹ đã ra mặt và có vẻ căng thẳng, mà với khách khứa tới nhiều, không tiện tranh luận với con, nên bà Lệ Thủy lại một lần nữa im lặng lánh vào phòng. Hầu như suốt ngày hôm đó bà không ló mặt ra, dẫu bà nghe tin ông bà sui gia, tức cha mẹ của Mỹ Dung hay tin con chết đã có mặt đầy đủ! Hoàng Lộc phải nói khéo với cha mẹ vợ: - Mẹ con đau tim nên khi hay tin dữ bà đã ngất đi và không dậy nổi suốt từ hôm qua đến giờ, có lẽ ba mẹ cũng không nên vào thăm làm gì chỉ khiến bà mệt thêm mà thôi. Cha mẹ Mỹ Dung nhất quyết đưa quan tài con gái về Sài Gòn, nên ngay trưa hôm đó họ mướn xe chuyển đi ngay. Bà Lệ Thủy nhờ thế trút được gánh nặng. Khi xe chuyển quan tài đi rồi, chính Tư Sương khuyên bà: - Dẫu gì thì bà cũng nên về theo cho phải lẽ. Nhưng bà lại cương quyết: - Thằng Lộc đã nói như vậy rồi thì tao không cần đi. Vả lại, tao không thể chịu nổi cho đến khi chấm dứt ma chay. Hai Sương kê sát tai bà nói: - Lúc liệm xác mợ Hai, con thấy ở hai khóe mắt của mợ như có hai hàng nước mắt chảy ra! Bà Lệ Thủy trừng mắt nhìn chị ta: - Nói tào lao! Mày nhiễm ba cái chuyện hoang đường rồi đó. Nhưng Hai Sương quả quyết: - Không riêng gì con thấy thôi đâu. Chính bà mẹ mợ ấy cũng thấy và con thấy chính bà ấy lấy khăn lau nước mắt cho mợ Hai nữa. Cậu Lộc đã khóc ngất khi chứng kiến cảnh ấy đó bà! Tuy gạt ngang chuyện bà cho là nhảm nhí đó, nhưng khi vào phòng riêng nằm, bà Lệ Thủy cứ bị ám ảnh hoài điều mà Hai Sương gọi là xác chết chảy nước mắt đó. Đến nỗi khuya hôm đó, bà phải gọi Hai Sương vào ngủ cùng. Bà giải thích: - Tao thấy trong người không được khỏe lắm, nên cần mày bên cạnh, để nửa đêm cần cạo gió thì mày cạo giùm tao. Hai Sương biết bà ta sợ, nhưng vờ như không hiểu, chị ta còn nói: - Con ngủ với bà, nếu nửa đêm bà có sợ gió không ra ngoài mà cần gì bên ngoài con sẽ đi thay bà. *** Nửa đêm hôm đó... Có lẽ quá căng thẳng suốt ngày, nên vừa nằm xuống một lúc bà Lệ Thủy đã ngủ say. Hai Sương đi tắt đèn rồi cũng nằm theo. Khoảng một giờ sau... Bà Lệ Thủy quay sang cô người làm của mình, nói bằng giọng ngái ngủ: - Mày ngủ ngáy và nghiến răng quá tao ngủ không được! Hay là thôi, mày ra ngoài ngủ riêng đi! Hai Sương không trả lời, hình như cô ta đã ngủ quá say. Và tiếng ngáy càng to hơn... Bà Lệ Thủy phải bật dậy với tay bật bóng đèn ngủ có độ sáng tỏ hơn, bà gắt: - Con này ngủ như chết vậy. Dậy đi! Và bà chỉ kịp nói tới đó, rồi thì gần muốn đứng tim khi nhìn thấy trước mặt mình, người đang nằm kia không phải là Hai Sương, mà là... Mỹ Dung! - Trời ơi, bớ... bớ... Bà ta lảo đảo ngã ngửa xuống giường, vô tình lại ngã đúng lên thân thể của Mỹ Dung! - Cứu... Bà ta ngất đi. Đến khi được cứu tỉnh thì người đứng trước mặt bà là Hai Sương. Bà ta thều thào: - Sao... sao lại... thế này...? Hai Sương ngạc nhiên: - Bà sao vậy? Sao nửa đêm bà la làng làm náo động cả nhà vậy bà? Bà Lệ Thủy bật dậy, nhìn quanh với vẻ bàng hoàng còn trên nét mặt: - Nó... nó đâu rồi? - Nó nào? - Con... con Mỹ Dung! Hai Sương và mấy người làm đều ngơ ngác: - Mỹ Dung nào? Mỹ Dung đã được chở về Sài Gòn rồi, sao còn cô ấy ở đây? - Không, nó mới ở đây? Nó nằm trên giường này, nó là... Bà ta quay lại nhìn Hai Sương với vẻ nghi ngờ: - Sao lúc đầu mày ngủ với tao, mà sao khi tao lay dậy thì thấy... con Mỹ Dung nằm ngay chỗ của mày? Hai Sương nghe bà ta nói vậy thì hốt hoảng: - Con đâu phải ma! Lúc bà ngủ, con ra ngoài đi vệ sinh, bởi con sợ làm dơ nhà vệ sinh của bà. Đến khi trở vào thì con kịp nghe bà kêu thét lên! Sáu Xinh, một cô người làm khác cũng lên tiếng: - Lúc bà chủ kêu la trong này thì ở ngoài kia có ai đó để cái thùng lớn ngã dưới gốc cây mimosa. Cái thùng đó giống như... giống như... Bà Lệ Thủy chú ý tới điều đó, bà hỏi dồn: - Cái thùng gì? Sáu Xinh chỉ tay ra ngoài: - Ngay trước cửa đó! Hai Sương là người chạy ra xem đầu tiên, và từ ngoài sân tiếng cô ta kêu thất thanh: - Bà ơi, cỗ... cỗ quan tài! Bà Lệ Thủy dù đang kiệt sức cũng phải cố lết ra ngoài, đôi mắt bà trợn trừng khi nhìn thấy cỗ quan tài đỏ như máu đang nằm lạnh lùng giữa sân nhà! Rồi như có một lực vô hình đẩy bước chân bà tiến lại gần hơn cỗ quan tài. Hai Sương cũng bước theo và khi họ còn đang sợ sệt hồi hộp, thì bỗng nắp quan tài như bị ai đó đẩy mạnh, nó bật ra rơi xuống đất! - Trời ơi! Tiếng la lớn nhất là của Hai Sương, nhưng người ngất xỉu lại là bà Lệ Thủy? Bên trong quan tài là Mỹ Dung! Hình ảnh đôi dòng lệ chảy tuôn lúc liệm như thế nào, thì lúc này trước mắt mọi người nó lại tái hiện y như vậy! Hai Sương thất thần: - Mợ Hai... xin mợ... Mọi người không tin vào mắt mình, nhưng trước mắt họ, cái xác nằm im trong quan tài là sự thật và nó như đang thách thức những con tim sắp vỡ ra của những người có mặt. Hai Sương dìu bà chủ vào nhà, vừa nói với lại: - Sáu Xinh gọi điện thoại về Sài Gòn báo tin này liền đi, kẻo cậu Lộc lo. Xinh gọi ngay cho Hoàng Lộc báo tin cỗ quan tài thì từ đầu dây bên kia, giọng của Lộc sửng sốt: - Chị nói cái gì, quan tài của vợ tôi đang ở dưới này, tang lễ đang cử hành mà! Sáu Xinh rụng rời tay chân, đứng chết lặng... Khi Người Chết Trở Về Thấy Hoàng Lộc quá mệt sau hai đêm thức trắng bên quan tài vợ, ông bà Tân Phát đều khuyên anh: - Con phải ngủ lấy sức, chứ thức suốt như vậy chịu sao nổi! Nhưng Lộc vẫn cương quyết: - Con không sao ngủ được ba má à. Hễ nhắm mắt lại là con thấy hình ảnh vợ con như hôm xảy ra tai nạn và con lại bị sốc, lại hãi hùng! Bà Tân Phát lắc đầu: - Biết rằng vậy, nhưng con không thể chịu đựng nổi đâu. Hay là con cứ vái vong hồn vợ con, nó sẽ giúp con thanh thản mà nghỉ ngơi. Lộc ngắm nghiền mắt lại, cố làm theo lời mẹ vợ, nhưng vừa lúc đó anh bỗng thảng thốt kêu lên: - Coi kìa! Vợ con! Anh hướng về cửa ra vào nhìn người phụ nữ vừa bước vào. Vợ chồng ông bà Tân Phát cũng nhìn theo và cùng reo lên: - Trời ơi, con... Mỹ Dung! Lúc này những người giúp lo ma chay đã đi ngủ hết, nên chỉ có ba người họ với nỗi sợ hãi thất thần. Hoàng Lộc là người tỉnh táo nhất, anh lên tiếng hỏi: - Có phải là em không... Mỹ Dung? Người phụ nữ vừa bước vào giương mắt nhìn ba người, nhìn Hoàng Lộc khá kỹ, rồi cất tiếng đáp: - Chào cả nhà. Xin phép cho tôi được đốt nén hương cho người chết được không ạ? Vừa nói cô ta vừa bước sát tới bên quan tài, một lần nữa bà Tân Phát rú lên: - Mỹ Dung, con ơi! Ông Tân Phát bình tĩnh hơn, dìu vợ lùi mấy bước, vừa khe khẽ gọi: - Có phải con thác thiêng và về thăm cha mẹ không Mỹ Dung? Người kia trừng mắt nhìn hai ông bà, ngơ ngác hỏi: - Ai là Mỹ Dung? Tôi là Ngọc Hương, nhà tôi ở gần đây hay tin nhà có tang nên sang chia buồn. Sao ông bà gọi tôi là Mỹ Dung? Hoàng Lộc tròn mắt nhìn vào vợ mình, gọi to: - Mỹ Dung, anh đây mà! Cô ta lại trừng mắt với Lộc: - Cả nhà này sao vậy? Không cho người ta đốt nhang thì thôi, sao lại có thái độ này? Tôi là Ngọc Hương, chẳng dính dáng gì tới Mỹ Dung nào đó cả... Lộc phải gắt lên: - Em đừng đùa dai nữa, cả nhà đang đau buồn vì em, sao em lại... Anh định đưa tay chụp lấy tay vợ mình thì cô nàng bước lùi lại rất nhanh vừa la lên: - Nhà này điên rồi! Vừa nói cô ta vừa tháo chạy ra ngoài, và phải vài giây sau Hoàng Lộc mới tốc chạy theo, anh kêu lớn: - Mỹ Dung! Em đừng... Nhưng anh không tài nào đuổi theo kịp, bởi lúc ấy dòng người và xe cộ bên ngoài rất đông. Trong khi ấy ở trong nhà, ông bà Tân Phát chưa kịp hoàn hồn thì những người khác đã thức giấc, họ ngơ ngác hỏi nhau: - Chuyện gì vậy? Một người kịp nhìn thấy nắp quan tài hé mở, liền kêu lên: - Sao cái nắp quan tài như vậy? Tư Quan là người đã cùng với những người trong đội mai táng hôm qua đã đóng quan tài cẩn thận, liền lên tiếng: - Nắp áo quan này có nạy cũng chưa chắc ra được, sao lại như thế này? Anh ta bước tới và kêu lên: - Cô Mỹ Dung sao thế này? Ông Tân Phát kịp bước tới cùng với vợ, ông nhìn vào và sững sờ: - Nó còn đây mà! Điều bà Tân Phát sững sờ là hai giọt nước mắt ở khóe mắt của xác con, nó giống như bữa đầu tiên bà đã bắt gặp và kịp lau. Bà gào lên: - Nó còn sống ông ơi! Nhưng khi tay bà chạm vào xác con thì lạnh ngắt. Nhưng hai giọt lệ thì tuôn chảy giống như người sống đang khóc! Bà gào to: - Con ơi! Tay bà chạm vào giọt nước mắt bà bỗng rú lên, bởi nó đỏ như máu! Ông Tân Phát nhìn thấy thì hốt hoảng: - Bà đừng đụng vào! Nhưng lúc ấy cả hai bàn tay của bà Tân Phát đã nhuộm đầy máu, khi bà đưa lên thì cũng là lúc Hoàng Lộc từ ngoài cửa bước vào với gương mặt hớt hải: - Con sắp đuổi kịp thì vợ con biến mất vào xóm nhà bên trong hẻm, con... Anh chợt nhìn thấy cảnh trước mắt thì khựng lại. Ông Tân Phát lên tiếng: - Con Mỹ Dung còn đây. Nó... Lộc bước tới nhìn thấy xác vợ mà vẫn chưa tin: - Không thể nào... Anh nói thế bởi người mà anh vừa đuổi theo không hề khác với vợ mình bất cứ điểm nào, kể cả bộ đồ cô ấy mặc trên người cũng chính là bộ đồ mà khi liệm xác, anh đã mặc vào cho Mỹ Dung. - Không thể nào! Anh nhìn hai bàn tay đầy máu của mẹ vợ với sự kinh ngạc: - Má sao vậy? Ông Tân Phát chỉ vào mắt của con gái: - Nước mắt nó chảy ra và bà ấy chạm vào thì bị như vậy! Tư Quan nói: - Xác đã liệm rồi, bà bị như vậy bây giờ ông bà và cậu Hai phải đốt nhang làm lễ lại, coi như nhập quan lần thứ hai. Mợ Hai chắc có điều chi uất ức đây, nên mới thế này... Ông Tân Phát đồng ý: - Thì chú làm giúp cho đi! Nhưng Hoàng Lộc ngăn lại: - Con không thể nào tin được chuyện xác vợ con và người phụ nữ vừa rồi. Không thể có việc người giống người kỳ lạ đến như vậy! Tư Quan vẫn đề nghị: - Chuyện gì đó mình tính sau, còn bây giờ hãy đóng nắp áo quan lại, chứ để thế này không tiện. Mợ Hai giờ đã về với cõi âm, không thể... Chợt bà Tân Phát gắt lên: - Bây giờ tôi mới để ý làm gì có chuyện người chết sống lại như vừa rồi, trong khi con tôi còn nằm nguyên trong quan tài này! Đúng rồi, chắc chắn là ông lại sinh tâm mà bấy lâu nay tôi không hay biết! Ông... ông nói đi, có phải con nhỏ đó là con riêng của ông không? Ông Tân Phát ngơ ngác: - Con riêng nào? - Thì con nhỏ vừa mới vào đây đòi đốt nhang đó, chứ con nào nữa! Chỉ có dòng máu của ông thì mới có đứa giống con Mỹ Dung như khuôn đúc vậy thôi! Cả tới thằng Lộc mà còn lầm nữa là... - Nói bậy! Tôi mà có con rơi con rớt hồi nào. Lộc thì vẫn như người mê ngủ: - Không thể tin được! Giống nhau như hai giọt nước... giống nhau... Bà Tân Phát quên cả việc hai bàn tay mình đang dính đầy máu, bà chụp vai chồng và nổi cơn tam bành: - Bây giờ cháy nhà mới ra mặt chuột nè trời! Bấy lâu nay tôi đui mù nên đã tin tưởng ông, vậy mà... Bà khóc rống lên trước sự ngơ ngác của mọi tôi tớ trong nhà. Nhất là Tư Quan, anh ta đang sốt ruột muốn đóng nắp áo quan lại, mà như vậy thì biết làm sao? Anh ta nhắc nhở Hoàng Lộc: - Cậu Hai xem... Lộc quay lại anh ta và bảo: - Anh cứ để đó cho tôi. Nhưng câu nói của Lộc vừa dứt thì bỗng dưng nắp quan tài tự động đóng sầm lại. Tư Quan ngơ ngác: - Sao kỳ vậy cậu? Hoàng Lộc bước tới cố kéo ra, nhưng nắp áo quan như đã được đóng đinh chắc cứng, không làm sao lay chuyển được. Ông Tân Phát nhân cơ hội nói lớn: - Bà làm chuyện tào lao khiến cho hồn con mình nó bị kinh động rồi kìa! Hoàng Lộc cũng nói: - Ba má gác chuyện đó lại đi, bây giờ phải tập trung lo cho Mỹ Dung đã... Tuy nói là tập trung lo, nhưng Lộc cũng không biết là lo cái gì. Cho đến khi Tư Quan nhắc, vì ông bà Tân Phát cũng cho người mời các nhà sư tụng niệm theo nghi thức Phật giáo: - Lát nữa đây có mấy nhà sư tới tụng kinh. Trong số mấy vị sư này có sư Thiện Tánh rành về tà ma, hay là mình nhờ ông xem thử. Lộc gật đầu: - Phải đó! Vừa khi ấy thì ba nhà sư bước vào. Nhờ vậy mà cuộc tranh luận giữa đôi vợ chồng già mới tạm yên. Nhưng bà vẫn quay sang nhà sư có pháp danh Thiện Tánh và đề nghị: - Nhờ thầy xem giùm, con gái tôi... Bà nói chưa dứt lời thì sư Thiện Tánh đã lên tiếng vừa chỉ vào quan tài: - Hồn người này vừa xuất ra lại nhập vào ngay, nếu không... Ông quay lại nhìn Hoàng Lộc: - Giữa vợ cậu với ai đó có mối hận thù gì không mà như vậy? Lộc ngạc nhiên: - Hận thù gì ai đâu thầy? - Có! Chết mà còn hiện về khi hạn bốn mươi chín ngày chưa qua là có chuyện rồi! Cậu không nhìn thấy trên hai khóe mắt của bức ảnh kia có nước mắt sao? Bấy giờ Lộc và mọi người mới nhìn lên bức ảnh chân dung dựng trước quan tài, họ thấy rõ hai dòng lệ tuôn ra y như người còn sống! Bà Tân Phát kêu lên: - Trên xác nó cũng có! Nhà sư chậm rãi nói: - Hiện tượng này là sự hoàn dương, bởi có điều oan ức chưa giải được. Phải giải trước khi mai táng, còn không thì... Ông quay sang Lộc nói khẽ: - Vợ cậu chết không do tai nạn xe, mà chết trước khi xe rơi xuống vực! Vợ chồng ông Tân Phát kinh hãi: - Có chuyện đó sao Lộc? Hoàng Lộc còn đang bàng hoàng thì nhà sư vội nói tiếp: - Chuyện này có thể không dính tới cậu đây, nhưng việc cô ấy chết là có điều uẩn khúc. Tôi sẽ tụng kinh cầu siêu cho vong hồn cô ấy siêu thoát, rồi việc gì đó gia chủ tính sau... Ông bắt đầu buổi cầu kinh. Trong khi đó thì ông bà Tân Phát kéo Lộc ra ngoài truy vấn: - Ông thầy nói vậy là sao? Lộc thành thật thuật lại: - Khi tụi con đi gần tới đèo Bảo Lộc thì Mỹ Dung kêu nhức đầu, con lấy dầu xoa thì Dung cho biết có đỡ hơn. Cô ấy chỉ có biểu hiện là không được khỏe thôi, chứ không có điều gì khác thường. Sau đó, Dung ngả đầu trên ghế ngủ thiếp đi, con để yên cho cô ấy ngủ. Đến khi xe con đang chạy thì bỗng nghe có tiếng động gì đó khác thường dưới gầm xe, con tính dừng lại xem, nhưng do lúc ấy đang lên dốc, nên con phải chờ cho hết dốc mới tấp vào lề. Tuy nhiên... Hoàng Lộc kể đến đó thì quá kích động nên phải dừng lại một chút rồi mới tiếp: - Như con đã nói rồi, bỗng dưng lúc ấy xe chao đảo dữ dội, rồi thì con không còn điều khiển xe được nữa, và... Bà Tân Phát kêu lên: - Đúng rồi, con Mỹ Dung đã ngất trước khi xe bị nạn, có phải đã bị đầu độc không? Hoàng Lộc hốt hoảng: - Ai đầu độc? Vợ con trước đó nửa phút vẫn còn tỉnh mà, cô ấy đâu có biểu hiện gì của sự bị đầu độc? Ông Tân Phát nói: - Như vậy thì phải để lại xác con Dung, chờ khám nghiệm tử thi đã, không được đem chôn! Hoàng Lộc cũng đồng tình: - Chắc phải làm vậy thôi. Nhưng bà thì phản đối: - Con tôi đã chết thảm chết thương như vậy mà nay còn banh xác ra mổ xẻ nữa, tội nó lắm mấy người biết không! Bà khóc oà lên. Từ trong nhà, sư Thiện Tánh bước ra, giọng từ tốn nói: - Không cần phải làm vậy đâu. Chuyện này thuộc tâm linh, hãy để cho cái vong người chết quyết định. Bà Tân Phát vụt hỏi: - Như vậy là sao thầy? - Đợi tôi tụng xong kinh cầu siêu này thì gia đình có thể cho mai táng được rồi. Mọi chuyện còn lại hãy để vong hồn cô ấy tự quyết định. Cứ làm như vậy đi rồi mọi việc sẽ sáng tỏ thôi. Ông quay vào nhà mà còn nói với lại: - Người cõi âm hành xử rõ ràng hơn cõi dương gian. Ông tiếp tục gõ mõ cầu kinh trong khi bà Tân Phát đứng ngồi không yên, bà chốc chốc lại hỏi chồng: - Có nên nghe theo lời thầy không? Lộc chen vào: - Con nghĩ cứ làm theo như thế. Việc bây giờ có lẽ con sẽ cho người giám định lại chiếc xe bị nạn của tụi con. Người ta đã trục được nó và đưa về gara gần đây. Ông Tân Phát còn bức xúc: - Ông thầy nói con Mỹ Dung chết trước lúc xe rơi xuống hố thì còn coi lại chiếc xe làm chi! Lộc vẫn cương quyết: - Theo con là có! Con đang nghi tới một số sự việc... Anh bỏ vào đứng cạnh quan tài vợ, lâm râm khấn vái điều gì đó rất lâu. Đến giữa trưa hôm đó thì buổi tụng kinh chấm dứt. Trước khi ra về, sư Thiện Tánh gọi riêng Lộc ra bảo: - Cậu sẽ gặp nhiều khó khăn cho việc tìm ra những khúc mắc quanh cái chết của vợ cậu, tốt hơn hết là cậu nên đưa xác cô ấy về chôn trên đất riêng của mình hơn là chôn ở nghĩa địa. Lộc do dự: - Điều này ba mẹ con không đồng tình. Họ muốn chôn ở nghĩa địa để tiện bề thăm viếng hơn. Hay là thầy nói giúp giùm... Sư Thiện Tánh gật đầu: - Được, để ta nói. Nhờ ông thuyết phục, cuối cùng vợ chồng ông Tân Phát mới thuận theo. Nhưng bà vẫn ra điều kiện: - Con phải bảo đảm là sau này nếu con có lấy vợ khác thì việc thăm viếng của gia đình bên này không có trở ngại gì. Bằng không thì má sẽ cho chuyển mộ đi nơi khác liền! Hoàng Lộc nói chắc: - Con xin hứa với ba má là đời con chỉ có một lần lấy vợ thôi. Ngôi nhà của con sẽ mãi mãi là nhà của Mỹ Dung. Con xin thề có vong linh cô ấy. Theo lời khuyên của thầy Thiện Tánh thì việc an táng Mỹ Dung được thực hiện vào chiều tối hôm ấy. Ông nhấn mạnh: - Giờ Dậu thích hợp cho việc an táng này. Ngôi biệt thự nhỏ của Lộc còn một khoảng sân trồng nhiều hoa phía sau. Anh an táng vợ ngay giữa những luống hoa nhiều màu sắc... *** Ba Minh đứng ngồi không yên khi liên tục hai ngày rồi chuông điện thoại nhà ông cứ reo rồi lại tắt ngay khi có người nhấc ống nghe lên.Ông ta bực mình lắm nên đã ba lần đích thân nhấc máy lên và chửi vào đó những lời nặng nề nhất! Và sáng hôm nay cũng thế. Khi ông vừa thay đồ xong định đi thì chuông reo. Vừa cầm máy lên ông đã chửi xối xả: - Đồ mất lịch sự, đồ... Lời ông ta chưa dứt thì đầu dây bên kia đã có giọng nữ trong trẻo cất lên: - Làm gì hung hăng dữ vậy ông trùm côn đồ! Từ nào đến giờ chưa có ai dám ăn nói xấc xược như vậy với ông, nên Ba Minh gay gắt ngay: - Ai vậy? Bộ... - Muốn giết tôi sao? Giống như giết người ở đèo Bảo Lộc hả? Ba Minh thót tim. Giọng ông không còn tự nhiên: - Ai... ai nói đó? - Cần gì biết là ai khi ông chưa trả lời tôi? Có phải ông định giết tôi như giết vợ chồng Hoàng Lộc không? Ba Minh dập ngay ống nghe xuống, mặt ông tái xanh! Chuông điện thoại lại reo. Không dám nhấc máy, nên chuông reo có đến gần một phút, cuối cùng ông ta nhanh tay ấn nút cúp cuộc điện đàm và thở phào! Nhưng lạ lùng sao, tiếng nói trong điện thoại vẫn vang lên: - Biết sợ rồi sao ông Minh. Tôi tưởng người dám làm mọi chuyện tày trời như ông thì đâu có sợ ai, dẫu là hồn ma báo oán chăng nữa! Người của Ba Minh phát lạnh và run, điều mà suốt cuộc đời làm giang hồ của hắn chưa bao giờ xảy ra! Ông ta có muốn kiềm chế lại cũng không được, cái lạnh lạ lùng xuất phát từ trong ruột gan mà ra, cho nên càng cố gắng kiềm chế thì ông ta càng run lập cập và suýt nữa thì hai hàm răng đã chạm vào nhau. - Thế nào, bây giờ ông chịu nói chuyện với tôi chưa, ông Minh? Ba Minh như con gà mắc mưa, run giọng hỏi: - Cô là ai? - Hồn ma. Ông từng nghe nói về oan hồn chưa? - Cô... tôi đâu có làm gì... Giọng trong điện thoại bắt đầu sắc lạnh hơn: - Không làm gì, chỉ giết người rồi ném xác người ta xuống vực sâu thôi, phải không? - Tôi... tôi.. Ông ta thật sự bị suy sụp: - Tôi xin cô... - Ô kìa, trùm côn đồ, giết người như ngóe mà bây giờ hèn thế sao! Vậy lúc ông đích thân xả thắng xe của Hoàng Lộc, để khi đổ đèo thì mất thắng, ông có sợ không? - Tôi... tôi... Ông ta chỉ lặp lại mấy lần như vậy chứ không nói được câu nào khác. Giọng trong điện thoại vẫn vang lên: - Rồi ai tráo lọ đầu gió của Lộc, để khi vợ anh ta hít vào thì bị hôn mê hả? - Tôi... tôi... - Mục đích chính của tội ác đó là gì? Do dược trả tiền công cao hay lý do nào khác, hãy tự nói đi, ông Minh. Đừng để tôi ra tay! Ba Minh vừa run rẩy vừa cố bò lết ra tận cửa ra vào. Đến khi đứng lên được thì ông thoắt chạy như điên ra chiếc xe hơi nhà đang đậu sẵn. Khi xe ra tới đường rồi ông mới thở phào nhẹ nhõm. Ít ra thì ông cũng đã thoát được cái giọng nói chết người đó! Ông ta có cuộc hẹn làm ăn với mấy khách hàng tại một địa điểm ở trung tâm thành phố và đáng lẽ khi rồ ga ông phải tới đó ngay, nhưng chẳng hiểu sao hướng xe của ông ta lại đi về khu vực ngoại ô. Gần nửa giờ sau, Ba Minh cho xe rẽ vào một ngôi nhà bề thế nằm sâu trong một hoa viên sực nức mùi hoa kiểng. Đón anh là một phụ nữ ngồi trên chiếc xe lăn, bà ta đã tự lăn xe ra tận bậc tam cấp khi thấy xe của Ba Minh đi vào. Ba Minh bước xuống xe và âu yếm với người đó bằng cách bế bà ta trên tay, đưa vào phòng khách, vừa cất giọng trìu mến: - Đã nói rồi, Ly Ly không được tự lăn xe ra ngoài đó, lỡ ngã xuống bậc tam cấp thì sao? Người có tên là Ly Ly nũng nịu: - Thì đã có anh đỡ, lo gì! - Đâu phải lúc nào anh cũng có mặt ở đây để đỡ. Mà anh còn đang có nhiều việc phiền lòng đây... Ly Ly tuy đã có tuổi, nhưng là một phụ nữ đẹp, có sức quyến rũ không thua gì con gái trẻ. Người ta nói người phụ nữ khuyết tật luôn có sức quyến rũ, hấp dẫn tiềm tàng mà khó có người đàn bà lành lặn nào có được... Bởi vậy Ba Minh, một tay giang hồ khét tiếng, dưới trướng có không biết bao nhiêu em út trẻ đẹp, lại đi mê bà ta như điếu đổ, trong khi bà ta còn có chồng con và Ba Minh thì đang sống cùng hai bà vợ trẻ khác! Giọng Ly Ly như mật ngọt: - Bộ bị hai cái gông kia cột chặt sao mà mặt mày bí xị, hốc hác vậy cưng? - Cột đâu mà cột, mà có cột thì làm sao giữ nổi thằng Ba Minh này? Cuộc chuyện trò tình tứ giữa họ bị cắt ngang bởi chuông điện thoại reo vang. Đã bị tiếng chuông điện thoại hành hạ suốt hai hôm nay, nên vừa nghe chuông reo Ba Minh đã nói liền: - Đừng nghe! Ly Ly cau mày: - Sao lại đừng nghe? Em đang chờ điện thoại của Lan Hương từ Pháp gọi về mà. - Nhưng... Ba Minh không tiện nói ra ý của mình nên không cản nữa, để cho Ly Ly nhấc máy lên. Chẳng biết bà ta nghe ai nói gì trong điện thoại mà nhìn sững Ba Minh vừa quay ra hỏi: - Ai mà biết anh ở đây? Ba Minh hốt hoảng: - Nói là anh vừa đi ra ngoài. Nhưng giọng trong điện thoại đã vang lên giống y như lúc Ba Minh ở nhà mình: - Sao vậy ông Ba Minh! Ông nghĩ là chạy trốn sang đây rồi có thể thoát được sao? Mà liệu ông thoát thì cô con gái cưng của ông và bà Ly Ly đây ở bên Pháp có thoát được chăng? Câu nói này chẳng riêng Ba Minh sợ tái mặt, mà Ly Ly cũng rúng động. Bà run giọng hỏi: - Cô là ai mà biết con gái chúng tôi? Giọng người kia phá lên cười sắc như dao và sau tràng cười là một loạt âm thanh gầm rú nghe rợn người: - Vừa nghe nói đến tên con gái mình thì đã lo sốt vó, trong khi đó thì lại đi giết con gái người khác không gớm tay! Bà Ly Ly không còn giữ bình tĩnh được nữa, và điều khiển chiếc xe lăn thật nhanh, tiến sát tới bên điện thoại và chụp ống nghe lên, giọng bà run run: - Cô... cô nói gì về con gái tôi? Nó... nó đâu có làm gì nó chỉ biết đi học thôi mà... - Vậy con gái người ta thì sao, nó cũng chỉ biết sống vui và đi lấy chồng, có được hạnh phúc thôi, có làm gì ai đâu mà ông chồng của bà giết hại nó? - Cô nói... ông ấy giết ai? - Muốn biết giết ai thì bà hỏi người đàn ông bên cạnh bà đi! Đến lúc này thì Ba Minh không còn giữ bí mật nữa, ông ta nói ra điều mà ngay cả người tình yêu dấu của mình ông cũng định giấu: - Chỉ vì anh không muốn con gái mình bị chị Lệ Thủy bỏ rơi. Từ lâu anh đã muốn thằng Hoàng Lộc là con rể nhà mình. Chính em cũng muốn điều đó, bởi giữa em và chị Lệ Thủy từng hứa hẹn là sẽ làm sui gia với nhau mà... Bà Ly Ly trợn tròn đôi mắt: - Nói vậy con dâu chị Lệ Thủy chết là do anh? Ba Minh nín thinh, chỉ có giọng trong điện thoại là vang lên: - Chẳng những giết người con dâu vô tội kia, mà ông ta còn định giết luôn Hoàng Lộc nữa! Không tin đó là sự thật, bà Ly Ly tròn mắt nhìn Ba Minh khiến ông ta lúng túng, run rẩy: - Tôi... tôi... không có ý giết thằng Lộc. Hôm đó, tôi đã cho người phá cái chốt cửa bên tay lái, định hễ chiếc xe vừa sắp lao xuống vực thì bằng phản ứng tự nhiên, Hoàng Lộc sẽ tung cửa xe ra để thoát thân và chỉ ngã trên bờ vực, chứ đâu có ngờ. Nhưng cuối cùng Hoàng Lộc cũng đâu có chết! - Trời ơi, anh Minh! Bà Ly Ly thét lên rồi ngã chúi người về phía trước, toàn thân run lên bần bật. Có lẽ cơn đau tim của bà đang bộc phát. Ba Minh hoảng hốt: - Ly Ly, em sao vậy? Giọng kia lại vang lên: - Ông lại phạm thêm một tội ác nữa rồi! Sau câu nói đó thì giọng ấy im bặt... Chỉ có tiếng nấc của Ba Minh: - Em ơi, anh chỉ muốn giành lại tình yêu cho con gái mình thôi. Chỉ còn một tháng nữa thì nó đã về nước, nó cần có một tấm chồng như con trai chị Lệ Thủy, có như vậy thì ngôi nhà này và những tài sản khác nữa của tụi mình mới không bị ngân hàng tịch biên để trả nó cho công ty bất động sản mà hiện nay thằng Hoàng Lộc đang làm giám đốc! Tôi chỉ muốn giữ hạnh phúc cho mẹ con em thôi mà... Lời ông ta càng nói thì người bà Ly Ly càng co giật dữ dội hơn. Đến khi chợt nhớ ra thì Ba Minh mới bế xốc bà ta lên, chạy bay vào phòng riêng để cứu chữa. Nhưng hình như đã quá trễ... Quỷ Nhập Bà Lệ Thủy dậy thật sớm và dặn Hai Sương: - Bữa nay tao có khách, tụi bay lo đi chợ làm thức ăn đãi khách. Hai Sương hỏi lại: - Khách bao nhiêu người thưa bà? - Khoảng bốn năm người! - Dạ, là đàn ông hay đàn bà, khách chỉ ăn cơm hay khách nhậu ạ? Bà Lệ Thủy bảo: - Khách toàn đàn ông. Mày mua cho tao một nửa con chó. Hai Sương sửng sốt: - Bà... bà nói mua con gì? - Mua thịt chó! Mày kêu xe đi xuống Trại Mát. Ở đó có bán thịt chó làm sẵn, mua về và chỉ làm đúng một món nướng cho tao thôi. Hai Sương xanh mặt: - Con... con đâu có biết làm thịt chó. Con cũng không quen mùi nữa... - Không quen rồi sẽ quen. Đem về đây rồi tao sẽ chỉ cho cách làm. Trước thái độ kỳ lạ của bà chủ, Hai Sương thấy hơi kỳ lạ. Bà ta ở nước ngoài về mà sao lại bảo nấu món thịt chó đãi khách? - Mày ngạc nhiên vì tao bảo làm món thịt chó hả? Không ngờ bà ta hiểu thấu tâm trạng mình, nên Hai Sương hơi lúng túng: - Dạ... con chỉ lo món thịt chó hơi lạ, xưa nay đâu nghe ai đãi khách... Bà Lệ Thủy bỗng phá lên cười: - Người ta không đãi mà mình đãi mới hay! Vả lại những người này phải đãi họ thịt chó họ mới thích. Hai Sương biết tính chủ, càng nói thì bà càng bảo lưu ý của mình, nên chị ta vừa lấy xe máy ra mà vẫn còn thắc mắc, nhưng vẫn đi mua. Khi chạy xe tới Trại Mát, vùng ngoại ô của thành phố Đà Lạt thì Hai Sương mới càng lúng túng hơn, bởi nhìn quanh chẳng thấy nơi nào bày bán thịt chó. Mà hỏi thăm thì Hai Sương lại không dám, bởi ai đời một phụ nữ lại đi tìm mua thịt chó? Còn đang hoang mang, bỗng có người hỏi từ bên ngoài đường: - Có phải cô kiếm mua thịt chó không? Hai Sương giật mình: - Dạ... dạ phải. Nhưng sao anh lại biết? Người đàn ông trung niên cười cười: - Thấy cô ngơ ngác thế kia thì biết ngay mà! Nhưng nói cho vui thôi, chứ đã có người dặn rồi, cô cứ lấy thịt mà mang về, khỏi phải trả tiền. Hai Sương càng ngạc nhiên hơn: - Có phải bà chủ tôi dặn không? Người đàn ông lắc đầu: - Cô không cần biết. Hãy mang về đi. Ông ta vừa nói vừa đưa cho Sương một cái túi nhựa và dặn: - Đem về nhà hãy mở ra, và chỉ cần làm theo hướng dẫn ghi trong giấy là sẽ có món ngon ngay. Hai Sương xách cái giỏ mà tay run run. Từ nào đến giờ cô có biết thịt chó nó ra làm sao, cứ tưởng tượng nguyên con chó mới làm thịt nằm trong giỏ là Sương đã muốn nôn ói rồi. Chị ta gồng mình cầm lấy và cắm đầu đạp xe như bay trở về nhà. Vừa tới cổng nhà đã thấy thấp thoáng mấy người khách lạ đứng trong sân. Bà Lệ Thủy nhìn ra giục: - Mau đem vào đi, còn chần chừ gì nữa. Rồi bà quay sang một người khách trẻ và bảo: - Đã có cậu này rồi thì mày giao món thịt đó cho cậu ấy làm. Nói xong, bà ta lại hướng về người đàn ông có tuổi đang đứng quay mặt vào trong và nói: - Món ăn này mình ăn ngay tại sân thích hơn anh! Người đàn ông quay lại, thì ra ông ta là Ba Minh. Nghe hỏi, ông ta miễn cưỡng đáp: - Ừ cũng được. Mình vừa ăn vừa nói chuyện! Tốt nhất là chị không nên để cho mấy người làm ở ngoài này... - Anh yên tâm, sẽ chỉ có đám mình thôi. Nào, mời cùng ngồi quanh bàn đá này, trong lúc cậu gì đó mang gói thịt tới đây, ta bày lên bàn rồi đưa bếp lò ra sau. Tên đàn em của Ba Minh đặt chiếc giỏ lên bàn, vừa định mở ra thì đã bị bà Lệ Thủy ngăn lại: - Không, vinh dự này phải để cho anh Ba chứ! Ba Minh cười rất gượng: - Ai cũng được mà, đâu hề gì. Ông ta nói thế nhưng vẫn đưa tay mở dây cột giỏ ra. Gói khá lớn lại cột hơi kỹ, nên phải mất gần nửa phút ông ta mới mở bung được lớp bọc bên ngoài. Vừa nhìn thấy vật bên trong thì Ba Minh đã kêu thét lên: - Trời ơi! Trước mặt ông ta và mọi người là một chiếc đầu lâu người, chứ không phải con chó. Mà cũng không phải cái đầu lâu bình thường, bởi tuy đã nằm rời thân thể, nhưng đôi mắt của cái đầu ấy vẫn còn chớp mắt như người sống! Bọn thủ hạ của hắn do đứng bên ngoài nên nhanh chân chạy đi, còn Ba Minh thì cứng đờ một chỗ! Tuy nhiên, cũng chỉ chạy được mấy bước rồi chẳng hiểu bị gì mà đều đứng khựng lại như bị chôn chân xuống đất! Bà Lệ Thủy bỗng dưng phá lên cười: - Lũ giết người mà cũng biết sợ xác chết sao? Nghe giọng bà là lạ, Ba Minh nhìn sững và lắp bắp hỏi: - Chị Thủy, có phải là chị không? Bà Lệ Thủy vẫn giọng cười khác thường: - Nếu không phải thì là ai? Trước tiên, anh hãy nhìn vào cái đầu lâu kia xem là ai cái đã! Ba Minh nhìn xuống lần nữa và lần này còn thét lên kinh hoàng hơn lần trước: - Ly Ly! Rõ ràng cái đầu của bà Ly Ly đang nhìn ông với đôi dòng lệ đang tuôn trào hai bên khóe mắt! Ba Minh vồ lấy và ôm đầu lâu vào lòng, vừa khi ấy có một tiếng rú lạ thường cất lên từ đầu lâu ấy, và... Ba Minh bật ngửa ra, buông rơi chiếc đầu lâu lăn lông lốc dưới đất. Bọn đàn em hắn nhìn rõ mọi diễn biến, cả bọn chúng đều líu cả lưỡi, muốn kêu lên mà cũng không làm sao mở miệng được. Cho đến khi bà Lệ Thủy vụt đứng lên, tiến về phía chúng và cất tiếng hỏi: - Đứa nào làm hư thắng xe của Hoàng Lộc? Vừa hỏi, bà vừa chỉ thẳng vào một tên gọi là Hùng Sùi: - Chính mày phải không? Tên này vừa mở miệng định chối thì bỗng hắn thét lên đau đớn. Nhìn lại thì đã thấy miệng hắn đầy máu, một phần lưỡi của hắn đã rơi xuống đất! Những tên còn lại kinh hoảng nhưng cũng đành đứng như bị trời trồng, cho đến khi bà Lệ Thủy hỏi tiếp: - Thằng nào bỏ thuốc mê vào ly nước cho vợ Hoàng Lộc uống? Bốp! Chát! Vừa hỏi xong thì bà giương thẳng tay tát vào hai bên má thằng đàn em tên Năm Gà: - Chính mày chứ còn ai vào đây! Lại một cái lưỡi nữa rơi ra cùng lúc với tiếng kêu thảm thiết của tên nọ! Đến lượt Ba Minh. Nãy giờ ông ta đã thất kinh hồn vía, vừa run vừa muốn chạy trốn, nhưng cũng là lúc bị gọi tên: - Tụi nó chỉ là tay sai, được chủ sai đâu thì làm đó! Còn ông, ai đã sai bảo ông? Ông lý giải là do sợ con gái mình không lấy người chồng giàu phải không? Cho nên ông bằng mọi giá phải loại đối thủ của mình. Hành động đó của ông đã khiến cho người phụ nữ trót yêu ông mà cả đời phải hy sinh, chịu tật nguyền do ông cho uống nhầm thuốc phá thai, rồi vì ông mà bà ta phải chịu cảnh xa chồng, do người đàn ông kia không thể nào chịu nổi cảnh vợ mình mê một tay trùm xã hội đen như ông. Bây giờ bà ấy đã chết, bởi biết ông gây ra tội ác tày trời. Ông còn muốn gì nữa? Còn đứa con gái ông sắp về nước phải không? Ba Minh gào lên, van lơn: - Đừng, xin đừng hại tới con tôi. Mọi tội lỗi là do tôi, con gái tôi không biết gì hết, nó cũng không muốn làm theo tội ác của tôi đâu! Ông ta vừa cử động tay chân được thì cũng là lúc cái đầu lâu của bà Ly Ly tự nhiên lăn đến dưới chân. Thuận tay, ông ta cúi xuống ôm lấy và nức nở khóc. Nhưng lạ lùng thay, bỗng nhiên ông ta phát tru lên một tiếng thật dài, thật kinh khủng, rồi phóng mình xuống đất! Lúc đó Hai Sương và vài người nữa trong nhà nghe tiếng gào thét bên ngoài đã chạy ra nhìn, và sửng sốt khi nhìn thấy Ba Minh vừa nhảy xuống đất đã biến thành một con chó mực to tướng. Hai Sương là người xách chiếc giỏ thịt chó về cho nên chị ta càng thêm kinh hãi khi nhìn thấy hiện tượng đó. Chị líu cả lưỡi: - Ông... ông ta... Khi ấy bà Lệ Thủy quay lại và nói to cho người nhà nghe: - Kẻ ác nhân này đã đền tội rồi đó, vậy bà chủ của mấy người cũng được tha từ nay. Và hãy nói với bà ta không được đối xử với con dâu mình như vậy nữa! Nói dứt lời thì như cái bóng, hình hài bà ta thành sương khói biến mất... Sáu Xinh đứng bên cạnh nói với Sương: - Bà ra coi, sao bà chủ mình biến đi đâu? Hai Sương thất thần: - Kỳ quá... Chợt chị ta nhớ ra, bảo: - Hồi nãy nghe bà ấy nói gì không? Tại sao bà ta nói là đã tha cho bà chủ mình rồi? Vậy bà ta là ai? Họ chẳng hẹn mà cùng chạy vào nhà, gõ cửa phòng bà Lệ Thủy: - Bà chủ ơi! Họ gọi đến khàn cả cổ mà vẫn chẳng có tiếng trả lời, mà bên trong lúc ấy hình như có âm thanh ú ớ. Hai Sương nói: - Mình tông đại cửa vào thôi, biết đâu bà chủ bị nạn gì đó! Họ tung được cửa thì vừa kịp nhìn thấy bà Lệ Thủy ngã lăn xuống sàn nhà. - Bà chủ! Họ vực bà dậy thì vừa lúc bà Lệ Thủy tỉnh lại, sợ hãi hỏi: - Nó đâu rồi? Hai Xinh hỏi: - Bà chủ hỏi ai? - Nó... vợ thằng Lộc... Sau khi hoàn hồn lại, bà kể: - Tao đang ngủ trong này chợt thấy có ai đè lên thân thể, rồi cổ tao như bị chặn ngang, không nói hay kêu la gì được. Mà cả chuyện ngồi dậy cũng không thể. Hai Sương ngơ ngác: - Vậy người nãy giờ ở ngoài sân tiếp khách là ai? Rồi hồi sáng này có phải bà sai con đi mua thịt chó không? Bà Lệ Thủy tròn mắt kinh ngạc: - Tao bảo mua thịt chó làm gì? Mà từ sáng tới giờ tao có ra khỏi phòng đâu, tao bị ai đó đè cứng trên giường này như tụi bay thấy đó! Mọi người như từ trên trời rơi xuống, nhất là Hai Sương, chị ta ngẩn người một lúc rồi tự hỏi: - Phải chăng là... mợ Hai? Sáu Xinh nghe vậy liền hỏi: - Oan hồn cô Mỹ Dung hả? Hai Sương như người mất hồn: - Oan hồn! Đúng là oan hồn! *** Lan Hương vừa bước xuống phi trường, mới bước vào phòng chờ lấy hành lý thì đã thấy một thanh niên đưa tay vẫy vẫy ở cửa đợi. Lúc đầu tưởng là vẫy ai nên Hương không đáp lại, nhưng sau đó nhìn kỹ, cô thấy trên tay anh ta cầm một miếng bìa cứng đề tên LAN HƯƠNG, thì cô giật mình tự hỏi:- Chẳng lẽ là anh chàng này? Cô lấy một mảnh giấy nhỏ trong túi áo khoác và đọc lại: Hoàng Lộc sẽ chờ ở phi trường. Chỉ biết Hoàng Lộc trước khi đi du học, đã cách trên mười năm rồi, nên lúc này đứng trước mặt anh ta chắc gì Lan Hương đã nhớ. Tuy nhiên, khi nhìn lại một lần nữa anh chàng cầm tấm bìa đề chữ Lan Hương kia, cô nàng thầm nghĩ: vượt quá mong đợi của mình rồi! Hương còn nhớ cách nay hơn một tháng, cô đã nhận được lá thư của cha, trong đó ông có viết: "Ba đã tìm được cho con người con trai mà con mong đợi, thằng Hoàng Lộc mà trước khi đi du học con từng khen là đẹp trai, thông minh mà lại hiền lành. Mặc dù khi ấy Lộc mới có mười hai tuổi, còn bây giờ nó đã gần ba mươi, đang là một mẫu đàn ông khôi ngô tuấn tú, lại giỏi giang, giàu có. Ba má mà được nó làm rể thì còn hạnh phúc nào bằng!" Cách ngày Hương về nước mấy hôm, cô còn nhận được một điện tín đánh từ quê sang, nói rằng khi về nước cô sẽ nhận được nhiều tin vừa xấu vừa tốt một lúc nhưng chính niềm hạnh phúc bất ngờ sẽ giúp cô vượt qua những tin gọi là xấu! Lúc đó, Lan Hương chưa hình dung được là chuyện gì. Cho đến hôm nay, suốt hơn mười giờ ngồi trên máy bay, cô nghĩ mãi mà vẫn chưa ra chuyện gì đang chờ mình ở nhà... Sau khi lấy được hành lý, Lan Hương vừa đẩy xe ra tới cửa thân nhân đón thì Hoàng Lộc đã tiến đến gần và lên tiếng ngay: - Tôi là Hoàng Lộc, đến đón Lan Hương theo sự cho phép của hai bác. Lan Hương lịch sự, nhẹ giọng: - Em đã được ba má nhắc nhiều về anh, nhưng không ngờ... Lộc nói liền: - Không ngờ gặp là thất vọng phải không! Hai người cười vui và ngay từ phút giây ấy, họ đã thân nhau ngay. Điều này cả hai cũng không hiểu tại sao... Đến khi Lộc lái xe đưa Hương về thẳng nhà mình thì thay vì ngạc nhiên, cô đã rất tự nhiên đi theo Lộc vào nhà và còn hỏi: - Nhà có đủ phòng cho em ngủ lại không? Hoàng Lộc đã chuẩn bị từ trước, anh chỉ về một căn phòng khang trang nhất trong nhà, đáp: - Chẳng những có phòng mà còn là căn phòng đẹp nhất nữa! Lan Hương không hỏi gì đến sự vắng mặt của cha mẹ mình, cho đến khi Lộc chủ động nói ra: - Nếu bây giờ Hương nghe một tin buồn thì em sẽ làm sao? Nàng bất ngờ hỏi: - Anh muốn nói tới chuyện ba má em phải không? Lộc gật đầu: - Đúng vậy! Em có buồn lắm không? Cô nàng sa nước mắt, nhưng vẫn tỉnh táo: - Lúc ngồi trên xe anh, chẳng hiểu tại sao em lại nghe văng vẳng bên tai mình báo tin buồn này. Lúc đó em bàng hoàng, vừa muốn khóc lên thì bất chợt xe anh quẹo vào nhà, ngừng lại thì em như... một người khác. Bây giờ em chỉ bùi ngùi một lúc rồi thôi... Hoàng Lộc cầm lấy tay nàng, nói rất khẽ: - Từ bây giờ em không còn là... Lan Hương nữa! Đúng hơn, em là Lan Hương, nhưng thực chất em là... vợ anh thật sự! Lộc nói những lời này vừa nhìn Hương, cô nàng không có phản ứng gì, ngoài việc nhìn anh đắm đuối. Sau đó, hai người đứng trước bàn thờ của Mỹ Dung, Hoàng Lộc lên tiếng: - Anh đã làm theo đúng những gì em muốn rồi đó! Bây giờ Lan Hương đã về đây, cô ấy rõ ràng hoàn toàn không biết những gì cha mẹ mình làm. Cô ấy... Lời của Lộc chưa dứt thì đã nghe chính miệng Lan Hương thốt lên: - Em biết rồi, không quay lại nhìn em sao? Hoàng Lộc quay lại nhìn và anh kêu lên thích thú: - Em đây mà, Mỹ Dung. Tiếng cười khúc khích của cô nàng vừa lúc cánh cửa lớn mà Lộc vừa mở lúc nãy bỗng dưng sập lại, đèn đang sáng cũng tắt ngúm. Chỉ còn lại tiếng reo vui của hai con người trong bóng tối: - Làm người ta hết hồn! - Cám ơn em đã đền cho anh... - Nhớ đây là phần thưởng dành cho con người trung thực, hết lòng yêu vợ của anh. Nếu anh lạng quạng thì chẳng những mất em luôn mà cả cái xác Lan Hương này cũng sẽ thuộc về người khác đó nghe! - Ai dại gì mà để mất... cả hai! Một cú nhéo đau điếng, mà người lãnh đủ chính là Hoàng Lộc. Anh chàng ráng nhịn đau, nhưng đến lúc chịu không nổi phải kêu lên: - Đau, đừng nhéo chỗ đó em! Trong bóng tối, hai người quyện lấy nhau và có lẽ hạnh phúc sẽ ở với họ lâu lắm... *** Chuyện Lan Hương và Hoàng Lộc thành hôn với nhau tuy diễn ra âm thầm, nhưng vẫn có một số người biết. Họ bàn tán với nhau: - Thằng Lộc sao tệ quá, vợ mới chết chưa đầy sáu tháng đã lấy vợ khác rồi! Người lại nói: - Mà cũng lạ, nghe nói vong hồn cô Mỹ Dung linh lắm, mà sao lại chấp nhận cho người vợ mới của Lộc về ở trong ngôi nhà còn bàn thờ cô ta trong đó? Mặc ai nói gì thì nói, Lộc và Lan Hương vẫn hạnh phúc bên nhau. Bà Lệ Thủy vẫn ở Đà Lạt, nhưng thỉnh thoảng về Sài Gòn. Mỗi lần về, bà đều rất hòa hợp với Lan Hương, khác xa với thái độ hờ hững, đố kỵ với Mỹ Dung ngày trước. Và nếu có ai nhìn thấy thì sẽ ngạc nhiên hơn, bởi bà luôn đứng trước bàn thờ của Mỹ Dung và lâm râm khấn vái rất thành khẩn. Có lần bà còn gọi Lan Hương lại gần, đứng trước bàn thờ và nói: - Má biết lỗi của mình, biết được tấm lòng vị tha của con khi chấp nhận cho Lan Hương đem xác mình về nhập với hồn của con để làm vợ thằng Lộc. Má cám ơn con... Bí mật của Lộc và Lan Hương chỉ có bà Lệ Thủy biết, và bà đã thề với lòng là sẽ mãi mãi giữ kín. Bởi vậy nhiều người ngạc nhiên tại sao Lan Hương từ lúc về nước chưa một lần về nhà thăm ngôi nhà của mẹ cô. Ngôi biệt thự đồ sộ đó bị bỏ hoang... Tuy nhiên, khi tìm hiểu thì người ta mới phát hiện ra trong nhà không phải hoàn toàn vắng hoe mà thật ra còn có một... con chó mực rất lớn trú ngụ! Con chó đó là hiện thân của Ba Minh! Ngôi biệt thự tuy không có người, nhưng chỉ có con chó ấy, nó đã giữ cho ngôi nhà luôn luôn ấm cúng như có người ở. Không một kẻ trộm nào dám léo hánh vào bởi đã từng có mấy lượt, kẻ tham lọt vào nhà và lập tức bị con chó cắn cổ, xé xác. Chỉ có vợ chồng Lan Hương là biết chuyện. Họ thường tâm sự với bà Lệ Thủy: - Con chó mực đó là hồn của Ba Minh nhập vào. Ba Minh là kẻ đại ác, nên chết không thành ma mà thành quỷ. Tuy nhiên, nó đã bị Mỹ Dung khắc chế, nhốt nó vĩnh viễn trong ngôi nhà đó. Ở trong ngôi nhà thì nó chỉ là con chó tinh ranh, nhưng bình thường nó không có gì nguy hiểm. Trừ phi có ai đó tìm cách đưa nó ra ngoài, lúc đó nó sẽ trở nên cực kỳ nguy hiểm! Người bị nó nhập sẽ là quỷ nhập tràng, nguy hiểm khôn lường... Bà Lệ Thủy lo sợ hỏi: - Sao con không diệt nó hẳn cho rồi, để như vậy sẽ có ngày... Nhưng vong hồn Mỹ Dung đã quả quyết: - Chỉ khi nào anh Lộc ruồng bỏ Lan Hương, tức ruồng bỏ con, thì lúc đó con mới để cho con chó mực thoát ra ngoài. Và lúc ấy nạn nhân đầu tiên sẽ là... Hoàng Lộc! Hoàng Lộc dúi mặt vào tóc vợ, âu yếm: - Trời có sập anh cũng không dám bỏ em nữa là... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 29
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXIX: YỂU MỆNH Người Con Gái Bạc Phận Vượt qua vô vàn khó khăn, cuối cùng hai người mới được toại nguyện. Đám cưới vừa xong là Văn mệt phờ người, anh ngủ vùi một đêm mãi gần giữa trưa hôm sau mới giật mình tỉnh dậy. Vừa mở mắt ra, anh đã nhận được một tiếng thở dài ngay bên cạnh. - Anh xin lỗi. Văn quay sang nói với tác giả tiếng thở dài vừa rồi và lại nhận thêm một cái ngúng nguẩy, xoay người nhanh sang nơi khác kèm theo tiếng thở dài còn dài hơn. - Người ta biết lỗi rồi mà. Chỉ vì đêm qua anh quá say, khi vào tới phòng đã không còn biết trời trăng gì nữa. Thậm chí anh còn không biết có em nằm bên cạnh nữa! Cho đến lúc này Ngọc Mai mới chịu quay mặt lại, giọng vẫn còn hờn dỗi: - Đêm động phòng của anh là như vậy đó hả? Biết lỗi của mình nên Văn lại xuống giọng hơn nữa: - Biết lỗi rồi mà... tha cho lần đầu đi, rồi anh sẽ đền bù xứng đáng cho. Ngọc Mai bật dậy ngay, vừa chỉ tay xuống nệm, nơi có vài ba vết màu đỏ loang lổ: - Anh hưởng đời con gái mà như vậy đó sao? Anh có biết là suốt đêm qua em khóc bao nhiêu nước mắt không? Văn cũng giật mình và bật dậy ngay, mắt nhìn vào dấu vết đó vừa run giọng hỏi: - Anh... anh đã làm gì? Lần này không phải là tiếng thở dài nữa, mà là một tiếng kêu thảng thốt: - Anh không biết mình đã làm gì? - Ờ... anh say quá, có ngóc đầu dậy nổi đâu... - Vậy vậy ai đã làm ăn như gà mổ. Làm tiêu đời con gái người ta mà chẳng màng tới kết quả ra sao nữa. Ai đã... Văn thật sự tỉnh táo: - Em nói đêm qua anh đã… đã... làm gì? Anh còn mặc nguyên quần áo đây mà! Anh... Văn không ngờ chỉ câu nói đó của mình mà Ngọc Mai đã òa lên khóc! Quá đỗi ngạc nhiên, Văn hỏi: - Em làm sao vậy, Mai? Anh nói không phải sao, anh ngủ như chết và có làm gì đâu? Thêm câu nói này nữa thì sức chịu đựng của Mai đã hết, cô nhảy phóc xuống giường, vừa ôm mặt khóc vừa chạy bay ra khỏi phòng. Văn gọi với theo: - Mai! Dừng lại đã. Vừa đuổi theo vợ, Văn vừa cảm giác đầu mình nặng như chì, anh lảo đảo và suýt ngã sấp ngoài cửa. Nhưng do Mai cứ nhắm hướng đường xe mà chạy, nên Văn cũng phải cố đuổi theo. Trong khi đó thì mấy bà cô, bà dì tới dự cưới đêm qua còn ngủ lại trong nhà, khi nghe cuộc đuổi bắt của vợ chồng Văn đã cùng thức dậy ra xem. Họ đã không tiếp Văn đuổi theo giữ Mai lại mà còn đứng nhìn nhau và cười. Bà cô thứ Sáu còn trẻ nên bạo miệng hơn, đã lên tiếng: - Thằng Văn này không biết tâm lý gì hết. Chắc là con nhỏ vừa ngủ dậy thấy bị... mất đời con gái nên mắc cỡ! Mà thằng cũng tệ, phải biết tâm lý con gái chứ nó cảm giác như bị mất, đồng thời như phạm tội... Chắc là thằng Văn nói gì không khéo làm cho con nhỏ quá ngượng mà bỏ chạy đó, Chắc là chạy về bên nhà. Bà dì út kéo tay mấy bà kia: - Mình vào coi kết quả có đáng mừng không? Cả bốn bà vừa cô vừa dì đã cùng bước vào phòng tân hôn của vợ chồng Văn. Người la lên đầu tiên là cô Sáu: - Điểm son rồi chị Hai ơi! Chị trúng độc đắc rồi! Trúng số rồi! Mấy bà kia sau khi nhìn mấy đốm màu đỏ trên nệm cũng đều la lên. - Hỷ sự thật rồi! Đối với các bà còn nặng cổ tục thì việc nhìn thấy dấu vết "con gái" sau đêm tân hôn của cô dâu là điều đại hỷ, nên việc họ cùng la lớn mà không ngượng là có lý của nó. Bà mẹ chồng Hai Ngân từ trong bước ra, chỉ nghe thôi cũng đã mãn nguyện, bà thở một hơi dài như trút được gánh nặng: - Suốt đêm qua tới giờ tôi cứ ngay ngáy trong lòng... Rồi bà quay sang các chị em chồng phân bua: - Cưới vợ cho con thời nay nó cực vậy đó. Lo nết ăn nết ở của nó chỉ một, mà lo... đời con gái của nó còn không là gấp mười lần! Tôi thấy con Ngọc Mai sống theo tân thời nên cũng lo lo. Cũng may, trời còn thương nhà này. Mấy bà kia được dịp tự tán dương mình: - Thấy không, tụi này có con mắt tinh đời mà, thoạt nhìn đã biết con nhỏ có phước tướng, cưới nó về rồi đây chị Hai phát tài cho coi! Một bà dì lại nói: - Có được con dâu còn… "nguyên vẹn" là điều phải ăn mừng lớn đó! Thôi, bảo tụi nó đem giặt tấm drap đi, để con nhỏ lại mắc cỡ nữa bây giờ! Nhưng bà cô Sáu lại nói: - Không cần. Phải để cho con Mai nó tự đi giặt, còn mình thì hãy đóng cửa lại, làm như không biết gì... Nửa giờ sau.. Trong lúc cả nhà đang phấn khởi trước dấu hiệu vui thì Văn trở về với bộ mặt rầu rĩ, anh thấy mọi người nhìn mình thì bực dọc: - Làm như con là quái vật hay sao vậy? Bà Hai Ngân phải lên tiếng: - Mấy cô mấy dì đang có ý định làm bữa tiệc riêng mừng vợ chồng con đó! Văn trố mắt: - Mừng chuyện gì? Cô Sáu là người bạo miệng nhất: - Chuyện con có được con vợ đại hỷ! Dì út thì nói: - Thời buổi này mà được con vợ như nó là đại phước đó! Thiên hạ bỏ ra bạc triệu cũng không có, chứ phải chơi đâu! Thật bất ngờ, Văn buông một câu: - Có gì đâu mà quý, máu lươn đó? Bà Hai Ngân nghe như sét đánh ngang tai, bà há hốc mồm rồi vài giây sau mới hỏi: - Con... con nói gì? Văn nói toẹt ra: - Con mới chạy qua nhà cô ta hỏi cho ra lẽ, tuy cô ta không chịu nhận, nhưng con biết chắc đó là... máu lươn! Chứ có phải... Cô Sáu la lên: - Tụi bay điên rồi hay sao mà làm vậy? Sao mày biết? Văn sa sầm nét mặt vốn đã nặng từ nãy giờ: - Đêm qua con say bí tỉ, ngủ mê như chết thì làm sao... có chuyện đó được. Cô ta đã... Bà Hai Ngân chụp lấy vai con: - Chuyện này có thật! - Còn thật với giả gì nữa. Sáng nay khi thức dậy con biết chắc mình... không có làm gì hết, vậy mà cô ta lại trách con. Làm ăn không ra gì, rồi còn nổi giận bỏ chạy khi con tỏ ý nghi ngờ. Đến khi con chạy theo về nhà cha mẹ cô ấy, hỏi thì cô ấy làm dữ, đóng ầm cửa lại không thèm tiếp chuyện với con. Má coi như vậy có tức không! Bà Ngân thừ người ra trước cái tin bất ngờ này, mãi một lúc sau bà mới thở dài một tiếng rồi lặng lẽ bỏ đi về phòng riêng. Mấy bà dì bà cô xúm lại định hỏi, nhưng Văn đã buồn bã rút vào phòng mình, rồi suốt chiều đó anh không hề bước ra ngoài, cũng chẳng buồn cơm nước gì... *** Bà Ngân vừa xuống xe xích lô thì đã nghe có người gọi mình:- Chị Hai! Vào đây! Mắt hơi kém nên nhìn dáo dác mà không thấy ai, chỉ nghe giọng hơi quen quen thôi, nhưng bà Ngân vẫn bước về phía người gọi. - Có dâu mới rồi quên bạn bè hết sao! Bước tới gần hơn, lúc này bà Ngân mới nhận ra bà bạn cũ: - Trời ơi, bà coi mắt mũi tôi đó, cách có chục bước mà như mù. Bà Tư Xinh hình như đã có ý đợi sẵn, nên nói: - Biết chị thế nào cũng đi chùa nên tôi đợi, chẳng ngờ đợi đến mỏi cổ ra chị mới tới. Sao đi chùa trễ vậy? Bà Ngân chỉ giỏ trái cây, giải thích: - Bận chờ con nhỏ bán trái cây, nó hẹn đem xoài cát vừa chín tới để mình cúng Phật, mà giao trễ đến gần một tiếng đồng hồ, làm trưa trờ trưa trật tôi mới đi được. Mà sao bà không tìm tôi ở nhà lại chờ ở đây? - Tôi không dự đám cưới được nên ngại đến nhà. Vả lại có chút chuyện nên muốn gặp chị ở đây tiện hơn. Đã lâu không gặp nhau, vừa rồi lại không thấy bà ta tới dự đám cưới, nên bà Ngân có ý ngại: - Tôi có bảo sắp nhỏ qua gửi thiệp và lời cáo lỗi với bà, mấy bữa đó tôi nhức cái chân đi không được, chứ đúng ra phải trực tiếp qua mời. Sao, có giận gì không! Tôi xin lỗi. Bà Tư khoát tay: - Không có chuyện đó đâu, người xin lỗi phải là tôi. Nhưng bữa nay tôi gặp chị không phải vì chuyện đó, mà là... Bà ta hạ thấp giọng ra vẻ quan trọng: - Có một người muốn gặp chị, nhờ tôi nói trước... Bà Ngân ngạc nhiên: - Ai muốn gặp tôi sao lại phải nhờ bà? Bộ người ta không thể biết nhà tôi sao? - Chị nhớ người này không? Vừa lúc đó, người đàn bà nãy giờ ngồi quay mặt vào tường giờ mới quay ra, vừa nhìn thấy thì bà Ngân đã reo lên: - Chị Năm! Người được kêu là chị Năm đó là Năm Thảnh, một người đối với bà Ngân có mối thâm tình còn hơn là một người bạn cũ. Và chẳng hiểu sao, sau tiếng kêu thảng thốt đó thì bà Ngân lại biến sắc! Giọng bà hơi run: - Chị Năm về hồi nào, mà sao tôi không hay. Giọng người phụ nữ có vẻ không tự nhiên: - Tôi đâu có được hoan nghênh, nên làm sao báo trước! Mà cũng phải, báo trước thì đâu có cuộc gặp hôm nay! - Chị Năm. Có lẽ hiểu ý, nên Tư Xinh đứng lên: - Xong nhiệm vụ rồi, tôi xin kiếu, rồi bữa nào sẽ qua nhà gặp chị Hai sau. Tôi đi có chút việc nhà... Không giữ bà lại có lẽ cũng hạp ý bà Năm Thảnh, nên bà ta nghiêm giọng nói: - Chuyện này có lẽ giải quyết giữa tôi với chị tốt hơn. Bà Ngân bắt đầu lộ rõ sự lo lắng, bối rối: - Tôi không có ý đó... - Chị muốn nói là không có ý nuốt lời hứa với tôi chứ gì? Nhưng bằng chứng là chị có tôn trọng những gì đã hứa đâu. Chị đã là bà mẹ chồng của cô dâu mà đứa con gái đó không là con gái của tôi! Bà Ngân lúng túng: - Tôi không có ý... - Tốt hơn là chị đừng nói với tôi những lời thanh minh ấy. Chị đã cưới vợ cho con trai mình, trong khi nhẫn đính hôn với con gái tôi thì nó vẫn còn đeo. Chị giải thích sao về điều này đây? Bà Ngân như một tội nhân đứng trước mặt quan tòa, bà đáp buông xuôi: - Chuyện này tôi cũng không biết nói sao nữa. Thằng Văn nó cũng không có ý bội bạc, chỉ vì... chỉ vì... - Chỉ vì đám đó giàu hơn nhà tôi, con dâu mới đẹp hơn con Xuân Lan nhà tôi, đúng không. Vậy thì ngày đó chị mai mối xin cưới con gái tôi làm gì? Chị có nhớ là khi chị dẫn thằng Văn qua coi mắt con nhỏ, chính tôi đã nói là tôi chỉ có mỗi con Xuân Lan, nên tôi chưa muốn gả, vậy mà chị nói cho bằng được, chị hứa hẹn đủ điều đến nỗi con nhỏ cũng phải xiêu lòng, nó bỏ cả năm học cuối để chuẩn bị về nhà chồng, để rồi... Những lời của bà ta nói đến đâu bà Ngân nghe buốt óc đến đó. Dẫu bà đã biết trước sẽ có ngày này, nhưng đối mặt với nó bà lại mất hết can đảm để nói thật. Bởi sự thật này nó có điều sâu kín, khó nói ra một lúc... Phải mất đến gần một phút sau, bà Ngân mới nói được một câu có đầu có đuôi: - Ông nhà tôi trước khi mất có nợ một số tiền lớn của bên đó, nên mẹ con tôi không còn cách nào khác hơn là phải tiến hành lễ cưới. Tôi cưới dâu mà lòng đau như cắt chứ có sung sướng gì đâu... - Đau lòng mà sao còn đòi con dâu phải còn trinh tiết! Bất ngờ trước câu nói của bà ta, bà Ngân ngơ ngác: - Sao... chị biết chuyện đó? - Bởi biết mới gặp chị để nghe chị giải thích ra sao? Bị ép buộc phải cưới con người ta, sao còn đòi hỏi? Muốn đòi hỏi tiêu chuẩn cao sao chê con gái tôi? Nói tới đó bà ta đứng phắt dậy, nói gần như rít lên: - Tội ác của mẹ con chị rồi đây trời sẽ phạt cho sáng mắt ra! Đã ác độc làm cho con gái tôi thất vọng vì nhục nhã, nay còn làm cho một đứa con gái khác chết oan vì tội bêu xấu, hỏi còn chỗ nào để nói nữa không! Bà Ngân như bị sét đánh ngang tai, bà bàng hoàng: - Chị Năm nói gì? Ai… chết? Bà Năm Thảnh cười khẩy: - Đẩy con gái người ta chỉ sau một đêm tân hôn vào chỗ chết mà còn ngây thơ hỏi ai chết, có lẽ chỉ có mẹ con nhà mấy người thôi! Bà ta nói xong bước đi liền, không thèm nhìn lại dù cho bà Ngân kêu liền mấy tiếng. Phải một lúc sau thì bà Ngân mới hoàn hồn, chạy ra gọi xích lô mà quên cả cái giỏ trái cây đi cúng chùa! Hấp tấp bảo người đạp xe: - Chú chạy tới chợ Tân Định giùm. Nhà của Ngọc Mai. Vừa ngừng xe trước cửa, bà Ngân đã điếng hồn khi nhìn thấy người ra vào tấp nập, mà sắc mặt người nào cũng căng thẳng. Nhác thấy bà, một người trong nhà đã thốt lên: - Quân sát nhân còn dám vác mặt tới đây nữa sao? Bà sui gia cũng vừa đi đâu về, bà ta lên tiếng ngay khi thấy bà Ngân: - Tôi tốn tiền xe để kêu mấy người qua đây đền mạng cho con tôi, sao mấy người ác quá vậy! Bình thường thì giữa bà Ngân và gia đình Ngọc Mai đã chỉ bằng mặt mà không bằng lòng, đặc biệt là với người đàn bà nổi tiếng là cay nghiệt đanh đá trong giới buôn hột xoàn, đá quý, mà từ cái tên Ba Tú đã được người ta đổi thành Tú Bà Bà. Nay xảy ra chuyện thì phải biết... - Sao bà chưa vào mà đền mạng cho con tôi, còn đứng đó để chờ tôi rước vào hay sao? Vừa sợ vừa nhục, bà Ngân chưa biết phải xử lý ra sao thì chợt bà nghe có tiếng phía sau lưng: - Má để con đưa vào! Quay lại nhìn thấy Văn đi cùng một người phụ nữ lạ tuổi trung niên, bà Ngân ngạc nhiên: - Sao con cũng tới vậy? Văn rất tự tin, mặc dù lúc đó mọi ánh mắt trong nhà đều đổ dồn ra mẹ con anh với sự hằn học, như chực xỉa xói, chửi bới! Và quả nhiên như thế, bà Ba Tú đã hất hàm nói lớn: - Nhà này không đón loại người kia như khách, mà là tội phạm, là quân ác! Lời bà ta vừa dứt thì có hai ba thanh niên lao ra, giữ tay Văn lại. Họ vừa định lôi Văn đi, thì người phụ nữ đi theo đã lên tiếng: - Các người hãy khoan manh động. Rồi bà quay sang bà Tú: - Bà không còn nhớ tôi sao? Người đã tiếp bà qua điện thoại ba lần hồi đầu tuần này. Người đã... Người này vừa nói tới đó thì bà Tú đã bị rung động: - Vậy bà là... - Hai Xuân. Bà nhớ ra chưa? Chỉ bấy nhiêu đó thôi. Bà Tú như bị trời trồng, thần sắc tái nhợt ngay: - Bà... bà... Lúc này Văn mới lớn tiếng: - Con chỉ muốn thắp hương cho vợ con, và mẹ con cũng tới đây với ý tốt. Vậy má... Anh chưa dứt lời thì bà Tú đã đưa mắt nhìn mấy thanh niên kia, họ buông Văn ra rồi rút đi hết. Lúc này khách mới được mời một cách nhã nhặn: - Dạ, mời chị sui. Văn vẫn tỏ ra lịch sự: - Thưa má, con không có ý làm tổn thương... Bây giờ người phụ nữ đi theo Văn mới lại tiếp: - Tôi cũng muốn giấu chuyện này, bởi nó là danh dự một con người. Nhưng bởi chuyện xảy ra tày đình quá, nên buộc lòng tôi phải lên tiếng. Thật ra việc tôi giúp cho cô Ngọc Mai có được là chỉ nhằm... bảo vệ hạnh phúc lứa đôi mà thôi… Việc một chút máu lươn, máu cá đó cũng chỉ để... Lúc này bà Ngân mới hiểu hết đầu đuôi, bà sửng sốt nhìn bà sui gia, rồi nhìn người phụ nữ kia: - Trời ơi, sao lại cần phải làm tới những chuyện ấy! Trinh tiết người con gái còn ở đức hạnh, phẩm chất, chứ đâu chỉ ở mấy vết máu dính ở drap nệm. Trời ơi, tội ác này dẫu không nhúng tay vào, nhưng tôi cũng không làm sao tránh được tội! Ngọc Mai ơi, sao con... Bà lao tới chỗ quan tài cô con dâu, trong lúc Văn cũng làm thế và gục xuống nấc lên trong niềm đau vô bờ... Bà Tú lặng người đi, rồi cuối cùng bà cũng bật khóc. Chợt một người từ trong nhà ra, có lẽ chưa biết nội dung cuộc nói chuyện giữa đôi bên nãy giờ, nên giọng bà ta tỏ ra đanh đá. - Mấy người rõ là quân sát nhân mà! Cháu tôi chỉ mới về nhà chồng một đêm mà mấy người nhẫn tâm làm cho nó phẫn chí phải tự tử chết, trong lúc cái bào thai trong bụng nó đã trên hai tháng rồi... Ý bà ta cho rằng tác giả bào thai là của Văn, cho nên mới mạnh miệng nói như thế. Nào ngờ lời đó vừa thốt ra thì cả mấy người ở đó đều tái mặt. Chính bà Tú cũng kêu lên: - Trời ơi! Rồi bà quỳ xuống ngay trước đầu quan tài con gái. Bà Ngân thì vừa nhìn sang con trai mình, hoang mang tột độ: - Con... có chuyện đó sao con không nói? Văn tế nhị, không muốn nói chuyện ấy, nhưng ở thế chẳng làm cách nào hơn, nên anh phải lên tiếng: - Con với Ngọc Mai chưa một ngày quan hệ với nhau trước khi cưới. Vả lại nếu đã có gì với nhau thì việc gì Ngọc Mai phải dàn cảnh những dấu máu đó làm gì... Sự hung hăng của người kia cũng bị xìu ngay, nhưng bà ta cũng vẫn cố vớt vát: - Tôi là cô của nó, tôi đâu để cháu mình bị oan ức như vậy được! Tuy nhiên lúc ấy bà Tú đã tỉnh lại, bà đưa tay kéo nhẹ cô em chồng của mình lại gần, thều thào: - Đừng nói nữa… Người ta đâu có gì sai... Bà cô già vẫn chưa chịu: - Nhưng con Mai nó chết oan với cái thai trong bụng là cháu của họ! Bà Tú lạc giọng: - Tôi nói không... phải mà. Mọi việc là ở... thằng Tài con bà Sanh... Nói chỉ được bấy nhiêu đó rồi bà lại xỉu một lần nữa. Bà cô thì sau một lúc sững sờ đã gào lên: - Đồ quân khốn nạn! Tao sẽ giết hết tụi bay! Rồi bà bỏ chạy ra ngoài, để lại mẹ con bà Ngân đứng bơ vơ đó. Trong lúc ấy thì người nhà của bà Tú cuống cuồng lên lo cứu bà tỉnh lại, mà không một ai chú ý đến điều bất thường đang xảy ra: Có một người phụ nữ trẻ đầu trùm gần kín trong chiếc khăn choàng, đã bước vào nhà và đứng ngay trước cửa nhìn vào cỗ quan tài rất lâu mà không nói gì. Lạ một điều là giữa lúc đó bên ngoài có nhiều khách đến dự lễ tang đang ngồi, vậy mà hầu như không một ai để ý. Hoặc là họ không nhìn thấy? Một lúc sau thì người đó lặng lẽ bỏ đi. Có người trong nhà bước qua chỗ cô ta vừa đứng chợt nhìn thấy một mảnh giấy nhỏ của ai đó đánh rơi. Chị cầm lên và đọc thấy mấy chữ viết vội: Văn, tôi hận anh? Người nhặt được mảnh giấy đó là chị họ của Ngọc Mai, chị gọi lớn vào trong: - Văn, có ai gửi cậu cái gì nè! Văn bước ra ngay và sau khi đọc, anh bàng hoàng kêu: - Của Ngọc Mai! Cái này chị lấy ở đâu ra! Văn lặng người, ai nghe kỹ mới biết là anh vừa nói: - Ngọc Mai, anh xin lỗi... Chỉ có Văn mới biết những dòng chữ kia là do Ngọc Mai viết. Mà hình như là mới vừa viết đây thôi... Cô Gái Tuổi Tuất Gần ba năm sau... Sau một thời gian dài sống gần như khép kín, tách biệt khỏi mọi cuộc vui chơi... Văn mới trở lại đời sống bình thường. Hôm nay cũng là chuyến đi chơi đầu tiên của anh sau mấy năm và nơi anh đến là một vùng biển vắng, rất ít du khách. Chính Văn cũng chẳng hiểu sao mình lại chọn khu Mũi Nai của Hà Tiên, có thể là một sai lầm khi ngẫu hứng chọn lựa. Tuy nhiên, khi đặt chân tới rồi thì anh mới cảm thấy là mình chọn không lầm. Bởi ở một nơi vắng và còn hoang sơ này mới thích hợp cho một cuộc tịnh dưỡng tinh thần. Văn chọn một nhà trọ bình dân ở gần bãi biển và còn cẩn thận hỏi người chủ phòng trọ: - Ở đây có đông khách lắm không? Bà chủ thật thà: - Chỉ có cuối tuần thì mới có thêm một số khách, hoặc là dịp lễ, còn không thì lai rai ít người thôi. Nếu cần sự yên tĩnh thì nơi này quá thích hợp. Văn cũng không giấu giếm: - Tôi chỉ ngại có quá đông người. Nếu vắng được như vậy có lẽ tôi sẽ ở chơi một tuần. Bà chủ mừng rỡ: - Được những người khách như cậu thì tôi thích lắm. Mà cậu cũng đừng đi ra ngoài hàng quán ăn cơm chi cho mất công, thích ăn uống gì cứ cho biết, tôi sẽ phục vụ cậu như ở nhà. Văn tỏ ra thích thú: - Được vậy cũng tốt. Vậy mỗi ngày bà cứ cho ăn gì cũng được, miễn là đừng có thịt. Tôi ngán thịt và những món nhiều mỡ, chất béo. Sau khi dặn dò, Văn ngủ một giấc dài... Đến khi choàng dậy thì thấy trời đã tối, đồng thời anh ngửi được mùi thức ăn thơm lừng. Đói bụng, Văn định bước ra ngoài nhắc bà chủ dọn cơm, nhưng khi vừa bước xuống giường anh đã giật mình khi nghe có người nói ngay trong phòng mình: - Em tính kêu nhưng chưa kịp thì anh đã dậy. Em xin lỗi đã vào phòng mà không xin phép. Chỉ vì em sợ để thức ăn bên ngoài mèo chó ăn... Nhìn thấy một mâm cơm còn nghi ngút khói đặt trên bàn, Văn ngạc nhiên: - Cô là ai mà lại mang cơm vào đây? Lúc này Văn mới nhìn kỹ cô gái đang xới cơm một cách tự nhiên, anh hơi giật mình bởi nhan sắc cực kỳ quyến rũ, không có vẻ gì là con gái xứ này, hơn nữa khó lòng nghĩ rằng đây là người giúp việc cho bà chủ nhà trọ. Do vậy Văn hơi lúng túng: - Cô đây là… Vừa khi ấy bà chủ nhà trọ xuất hiện, bà đáp thay: - Quên nói với cậu, tôi còn có con nhỏ cháu ở xa tới chơi, hôm nay nghe có khách nên nó giúp một tay. - Dạ, cám ơn bà chủ. Cô gái trở nên dạn dĩ hơn: - Người trực tiếp làm lại không được lời cám ơn nào, cũng hơi buồn... Bà chủ nhà trọ phải chặn lời: - Con nhỏ này, ăn nói... Văn chen vào: - Không, cô ấy nói đúng, tất nhiên sau bà chủ nhà là phải cám ơn cô nhiều nhưng bên cạnh đó tôi lại xin được trách... Anh chưa dứt lời, bà chủ đã lo lắng hỏi: - Có chuyện gì làm cậu không hài lòng? Văn chỉ vào cô gái: - Có, cô này... Bà chủ nhà trọ càng hoảng hơn: - Xuân Lan, con làm gì để khách phiền vậy? Cô gái tên Xuân Lan hốt hoảng: - Dạ, con có làm gì đâu, ngoài nghe lời dì con mang cơm vào đây thôi. Có chăng là con quên gõ cửa lúc bưng cơm vào. Văn xua tay: - Tôi đâu dám trách chuyện ấy. Tôi chỉ muốn nói điều đã nói rồi với bà chủ, tôi không muốn bị phá vỡ sự yên tĩnh. Mà cô đây... Chợt ngớ ra, bà thở phào: - Tưởng chuyện gì, chứ điều ấy thì... cho tôi xin lỗi. Nhưng con Xuân Lan này đâu phải là khách trọ hay ai xa lạ nó là con cháu trong nhà, cũng kể như... Xuân Lan lại mau miệng: - Coi như là người hầu cũng được! Văn áy náy: - Ai dám có người hầu như cô! Bà chủ trọ hình như cố ý: - Nếu cậu không phiền thì từ bữa nay tôi xin để nó dọn cơm, lau dọn phòng cho cậu. Con nhỏ tuy dáng tiểu thư như vậy chứ nó giỏi giang và siêng năng lắm. Rồi không để Văn có ý kiến, bà chủ trọ bước ra khỏi phòng với một câu nói thòng: - Xuân Lan, hãy giúp cho khách quý của chúng ta! Lúc đầu đúng là Văn không thích sự có mặt của một người như cô gái này trong phòng mình, nhưng chỉ sau chưa được hai phút thì trong đầu Văn lại đổi chiều suy nghĩ. Anh dịu giọng: - Nãy giờ tôi nói đùa, thật ra được một người như cô dọn cơm cho ăn thì dẫu bụng no vẫn muốn ăn! Và ngay sáng hôm sau, khi bữa điểm tâm được dọn bởi một người khác thì Văn đã cảm thấy khó chịu: - Sao không phải là cô gì đó... Cô bé phục vụ thật thà: - Dạ, cô Lan bị đau bụng không dậy nổi. Văn hốt hoảng: - Có nặng lắm không? Bây giờ cô ấy ở đâu? - Dạ, ở phòng phía sau. Rồi chẳng màng tới mâm thức ăn, Văn phóng ra khỏi phòng trước sự ngạc nhiên của con bé phục vụ: - Kìa, cậu! Văn luýnh quýnh như người thân của mình bệnh nặng, anh chạy ra phía sau thấy có hai căn phòng đều đóng kín cửa, chẳng biết Xuân Lan ở bên nào để gõ cửa thì chợt anh nghe từ phía sau lưng. - Ủa, mới sáng sớm anh đã thức rồi sao? Quay lại thấy Xuân Lan, Văn hơi sửng sốt: - Vậy ra... cô không phải đang đau? Cô nàng ngạc nhiên: - Sao anh biết? - Thì... con bé gì đó nói… - À, con nhỏ bé Tư nhiều chuyện. Việc con tôi đau bụng thì có gì phải nói với khách. Con này thật là... Văn trố mắt: - Cô vừa nói gì? Ai bệnh? Có lẽ lỡ lời nhưng sau đó thì Xuân Lan vẫn tự nhiên trả lời. - Dạ, đó là con gái em. Lúc nửa đêm nó đau quá nên em phải ra tận thị xã kiếm thuốc. - Cô, có con rồi? Thấy vẻ ngạc nhiên của Văn, Xuân Lan không khỏi bật cười. - Chuyện em có con sao anh lại sửng sốt như vậy? Chẳng khác gì một anh chàng khi được người yêu báo tin có thai! - Ồ không... không phải vậy! Chỉ vì tôi thấy cô...như con gái mà. Vừa lúc đó từ trong phòng có tiếng trẻ con khóc thét lên, khiến Xuân Lan hốt hoảng: - Trời ơi, con tôi. Cô chạy nhanh vào phòng và hét to từ trong đó: - Dì Hai ơi, con của con! Văn quên cả giữ ý, anh bước nhanh vào và nhìn thấy một đứa bé còn rất nhỏ, chỉ khoảng vài tuổi, lăn lộn trên giường, người tím tái như sắp chết đến nơi. Trong lúc Xuân Lan còn đang lúng túng chưa biết phải làm sao, ngoài cách ôm con vào lòng, đứa bé có lẽ quá đau, nên nó giãy giụa càng dữ hơn. Văn rất nhanh nhẹn, anh lao tới bế xốc nó lên và chạy bay ra ngoài, vừa nói với lại: - Qua bên phòng tôi, tôi có thuốc đau bụng và có cách làm cho nó bớt đau! Anh về tới phòng mình thì Xuân Lan cũng chạy theo kịp. Cô tiếp với Văn đặt đứa bé xuống giường. Văn tỏ ra khá sành về chăm sóc bệnh, vừa làm anh vừa giải thích: - Tôi là một bác sĩ chuyên khoa nhi, nên đi đâu tôi cũng mang theo. Anh pha một chút thuốc và bảo Xuân Lan: - Cô cho cháu uống đi! Do quá sợ nên tay cô run, đút mấy muỗng thuốc mà cũng không xong. Văn phải giành lấy muỗng và bảo: - Cô để tôi! Anh đút thuốc cho đứa bé chẳng khác gì một ông bố thương con, lo cho con. Nhìn từng động tác của anh, Xuân Lan có vẻ cảm phục lắm. Sau khi đút hết số thuốc, Văn còn lấy dầu xoa khắp vùng bụng cho đứa bé và sau đó bảo Xuân Lan. - Cô tiếp tôi giữ chặt cháu lại, để tôi xem kỹ coi cháu có bị đau ruột thừa không? Anh dùng tay ấn lên bụng bên phải của đứa bé, khám đi khám lại mấy lượt và trầm ngâm không nói gì... Sốt ruột Xuân Lan hỏi. - Cháu có sao không anh? Văn thở phào: - Không có dấu hiệu của đau ruột thừa. Có thể cháu nó bị trúng thực. Uống thuốc này vào, một lát sau nếu cháu đi tiểu được thì ổn, còn không thì có lẽ phải đưa đi bệnh viện. Lời của Văn vừa dứt thì... chính Xuân Lan cũng muốn ngạt thở, bởi đứa bé xổ ra tất cả những gì có trong bụng! Mùi tanh tưởi, hơi thối tỏa lan khắp phòng. - Chết rồi, nó... làm bậy trên giường rồi! Văn tỏ ra cảm thông: - Không hề gì, cứ để cho cháu đi… Được như thế này mình có thể yên tâm rồi! Quả nhiên như vậy, sau một hồi xổ ra những gì tích tụ khiến bụng đau con bé dịu lại ngay, nó không còn lăn lộn la khóc nữa. Và trước sự bất ngờ của Xuân Lan, đích thân Văn cúi xuống bế đứa bé lên một cách nhẹ nhàng rồi bước thẳng vào nhà tắm để rửa. Xuân Lan hốt hoảng: - Không, dơ lắm, để em! Nhưng Văn đã rất tự nhiên, ôm bé trong lòng, ngồi xổm xuống và nhẹ nhàng rửa cho nó. Xuân Lan phải tiếp anh nên chỉ một lúc sau, đứa bé đã được rửa sạch và đúng phương pháp, không để cho bé bị lạnh. Anh chỉ nói: - Cô giúp dọn tấm trải giường giùm, thay cho tấm khác để tôi đặt cháu lên. Xuân Lan đề nghị: - Hay để em ẵm cháu về bên phòng em... - Không nên, cháu đang đi vào giấc ngủ sau khi kiệt sức vì đau bụng. Bây giờ giấc ngủ của cháu còn tốt hơn cả thuốc. Cô làm theo lời tôi đi, trong lúc tôi bế cháu thì cô thu dọn đi. Phải mất gần mười phút mới xong. Thời gian đó, Văn khéo léo ẵm đứa bé trên tay, áp sát nó vào lòng, vừa bước tới lui vừa nhẹ nhàng ru cho nó ngủ. Vừa dọn giường, Xuân Lan vừa liếc mắt nhìn và không giấu được xúc động. Khi đặt bé xuống xong, Văn nói: - Lúc này cháu nó cần ngủ cho say. Chỉ cần đụng khẽ vào là cháu giật mình và có thể ảnh hưởng tới bộ thần kinh non nớt của cháu. Tốt hơn là cô cứ ở đây với cháu, tôi ra ngoài chơi cũng được. - Hay là... anh cứ qua bên phòng của em nằm nghỉ đỡ. - Ồ không. Ai lại... - Không sao cả, phòng bên em cũng giống y như bên anh thôi. Được như vậy em mới không áy náy... Sau một chút ngần ngừ, Văn gật đầu: - Thôi, cũng được. Anh bước đến phòng của Xuân Lan và khá ngạc nhiên khi cánh cửa gài chốt bên trong. Vậy còn ai trong phòng ngoài mẹ con Xuân Lan? Anh vừa định quay bước thì chợt cánh cửa mở toang ra, nhưng lại chẳng thấy người mở. Tò mò, Văn bước tới và lên tiếng: - Ai trong đó vậy? Không ai đáp, nên buộc lòng Văn phải bước hẳn vào trong. Anh nhìn thấy một người nằm trên giường, mặt quay vào trong. - Xin lỗi, ai vậy? Cửa phòng tự dưng đóng sập lại, cùng lúc người trên giường cất tiếng: - Tự tiện vào nhà là tư cách gì vậy? Nghe giọng quen quen, Văn giật mình: - Cô là... - Tôi hỏi anh chưa trả lời? - Tôi… được chủ phòng này cho phép ngủ nhờ. Tôi... Văn đứng cách giường đến hai thước vậy mà chẳng hiểu sao, như bị một sức hút mạnh, khiến cả người anh lao tới sát bên giường và rồi bất thần anh bị người nọ kéo mạnh lên giường. Văn mất bản năng tự vệ, anh ngã nằm chồng lên người cô ta. - Tôi… tôi xin lỗi! Thay vì than phiền, cô nàng lại kéo sát người Văn vào mình, kề tay anh nói thật nhỏ: - Không nhận ra người quen sao? Văn có muốn quay lại nhìn cũng không được, bởi nàng ta ôm quá chặt, trong khi Văn đang rất hoang mang bởi giọng nói, trong đầu anh đang lướt qua những hình ảnh có thể là người chủ nhân của giọng nói... Bỗng anh kêu lên: - Ngọc Mai! Tiếng kêu của anh đồng thời với vòng tay của cô nàng lơi ra. Văn vừa chồm dậy được thì lại một lần nữa phải ngạc nhiên tột cùng: - Kìa... sao lại là cô? Trước mặt Văn là Xuân Lan. - Sao lại là cô? Văn kinh ngạc hỏi lại. Tưởng mình nhìn lầm, Văn phải cúi xuống nhìn lại lần nữa. Nàng ta đang nhìn anh với nụ cười kỳ lạ... Văn phóng người xuống và chạy một mạch về phòng mình. Chưa tới cửa, anh đã kêu lớn: - Cô Lan ơi! Văn khựng lại ngay cửa phòng và thất sắc! Bởi trong phòng anh, Xuân Lan đang ngồi dưới sàn mà đầu thì dựa vào cạnh giường ngủ một cách ngon lành! - Cô Lan. Văn gọi, nhưng cô nàng không tỉnh lại ngay, hình như còn trong cơn mơ, giọng thì thào: - Con chờ mẹ… mẹ sắp làm được điều đó rồi... chờ mẹ nghe con. - Cô Xuân Lan! Cô... Lúc này Xuân Lan mới tỉnh hẳn, cô bật dậy, vừa ngơ ngác: - Có chuyện gì vậy? - Ở... ở bên phòng cô... Anh nói và chạy như bay về hướng phòng của Xuân Lan. Cô nàng chạy theo. Khi đứng trước cửa phòng, Văn mới lắp bắp nói: - Ở trong này... - Cái gì trong đó? - Một cô... một cô giống như cô! Chẳng hiểu Văn muốn nói gì, Xuân Lan bước hẳn vào trong và nhìn khắp một lượt, cũng chẳng thấy gì. Chính Văn cũng kinh ngạc: - Cô ta mới ở đây mà? Cô ấy nằm trên giường cô! Chẳng còn thấy cô ta, Văn tái mặt khi nhớ tới giọng nói quen thuộc và hồi nãy bất chợt anh tưởng đó là giọng của Ngọc Mai. Thấy Văn thừ người ra, Xuân Lan hỏi: - Anh bị sao vậy? Văn đành phải kể lại chuyện vừa rồi. Nghe xong, Xuân Lan giật mình: - Ở đây làm gì có chuyện kỳ lạ ấy xảy ra? Nơi đây vắng khách nên cũng đâu có ai tới tận phòng riêng của em để lộng hành như vậy! Xuân Lan tỏ ra bị kích động nhiều trước sự việc này, nhưng cũng may, vừa lúc đó thì tiếng khóc thét của đứa bé bên kia khiến cô phải chạy về. Văn cũng chạy theo và một lần nữa anh biến sắc khi nhìn thấy trên cổ của bé có đeo một vòng chuỗi màu tím rất nổi bật, mà vừa thoạt trông thấy nó Văn đã sửng sốt? - Sao lại như thế này. Xâu chuỗi này chính anh đã mua theo yêu cầu của Ngọc Mai ngay sau lễ hỏi của hai người và ai cũng nhận xét rằng nó là xâu chuỗi có màu sắc độc nhất vô nhị. Điều đó cũng đúng, bởi sau đó mỗi khi đeo Ngọc Mai đều nhận được những tia nhìn trầm trồ. Và chính người chủ hiệu kim hoàn, nơi bán xâu chuỗi đã nói với Văn rằng đó là xâu chuỗi duy nhất đem về Việt Nam. Không thể có xâu thứ hai! Vậy tại sao bây giờ nó lại ở đây? Văn bước lại gần hơn xem kỹ và anh phải thốt lên: - Ngọc Mai! Mà cũng lạ, đứa bé đang khóc thét, vậy mà khi nghe Văn kêu hai tiếng Ngọc Mai thì tức thời nó nín lặng và đưa mắt dáo dác tìm... Xuân Lan ôm con vào lòng cô nói nhỏ đủ mình nghe: - Mẹ đã hứa rồi mà, mẹ không để con phải khổ tâm. Hãy tin mẹ... Văn nghe không rõ, tưởng cô than trách gì với con, nên anh lên tiếng: - Cháu giật mình thôi, chứ không sao đâu. Cô xem, sắc mặt cháu đã khá lên nhiều rồi. Xuân Lan hơi lúng túng: - Em, em nói chuyện để xem nó tỉnh hẳn chưa, chứ không có gì... Cô nàng không tỏ ra chút ngạc nhiên gì với sự xuất hiện xâu chuỗi trên cổ con mình, cho đến khi Văn hỏi: - Xâu chuỗi này ở đâu cô có và cô đeo cho cháu lúc nào vậy? - Ủa, nãy giờ em không để ý. Cái này không phải của em, mà cũng chẳng biết ai đã đeo lên cổ cháu nữa? Rõ ràng lúc nãy đâu có! Văn thẫn thờ một lúc rồi nhẹ thở dài... Câu chuyện thương tâm sau đêm tân hôn ba năm trước như một đoạn phim đang diễn ra trước mắt, khiến trong một tích tắc không kiềm chế được, anh ôm đầu khóc lên rưng rức. Xuân Lan ngạc nhiên: - Anh sao vậy? Anh vừa gọi Ngọc Mai, mà đó là ai? Văn có nhu cầu trút cạn nỗi niềm mà từ rất lâu rồi anh không biết thổ lộ cùng ai: - Ngọc Mai là người vợ chỉ chung sống với tôi có đúng một đêm tân hôn rồi ra đi vĩnh viễn. Mà thật ra đêm tân hôn đó đâu đáng được gọi là đêm thiêng liêng của một đôi vợ chồng đúng nghĩa. Chẳng qua cũng tại tôi. Tôi là thằng đàn ông chẳng ra gì, đồ bỏ đi. Cũng tại tôi mà… Xuân Lan tỏ ra quan tâm đến câu chuyện: - Anh nói lỗi tại anh, vậy sao lúc ấy anh không xin lỗi hoặc là tỏ cho cô ấy biết là anh hối hận chẳng hạn? Văn lắc đầu: - Tôi có dịp nói lời nào đâu! - Nhưng phải có nguyên nhân gì mới khiến cô ấy bỏ anh chứ? Văn thở dài: - Cô nói điều này đúng. Nguyên nhân là bởi từ sự vô tình của tôi trước nỗi đau của Ngọc Mai. Dẫu biết rằng lúc ấy nàng cần một sự cảm thông, an ủi. Vậy mà tôi quá khốn nạn! Xuân Lan hơi bị kích động qua câu nói của Văn: - Anh nói cảm thông là cảm thông điều gì? Văn không giấu giếm: - Cô ấy lỡ có thai với người tình và trong đêm động phòng đó, nàng sợ tôi phát hiện ra, nên đã... Văn không tính nói ra, nhưng vô tình Xuân Lan lại khơi đúng mạch: - Có phải nàng tìm cách qua mặt anh chuyện trinh tiết không? Văn giật mình: - Sao cô biết? - Thì... chuyện vợ chồng trong đêm tân hôn từ ngàn xưa mà! Có phải anh quá căng thẳng chuyện ấy? Văn buông một tiếng thở dài: - Căng thẳng thì có, nhưng chính vì sự căng thẳng đó mà tôi đã phạm vào một tội ác không thể tha thứ được! - Tội ác gì? - Giết vợ! - Ủa, chính anh trực tiếp giết? - Không trực tiếp, nhưng vì lòng ích kỷ, hẹp hòi, đã đẩy nàng tìm tới cái chết, như vậy không phải do tôi giết là gì. Ngừng lại một lúc, Văn không thể không nói ra hết những gì chất chứa trong lòng: - Mẹ tôi và các cô, dì của tôi đều lên án việc Ngọc Mai có thai hai tháng khi về nhà chồng, điều đó cũng là lẽ thường tình, bởi có ai chấp nhận được một cô dâu mang về nhà mình đứa con của người khác! Trong trường hợp đó, đáng lẽ tôi phải là người cảm thông, chia sẻ nỗi đau với Ngọc Mai, đằng này tôi xuôi tay, bất lực. Đau cho tôi hơn khi vài tuần sau đó, tôi tìm hiểu và được biết rằng Ngọc Mai đã bị lừa và cô ấy đang chơi vơi giữa dòng nước lũ, còn một bàn tay cứu giúp là tôi, thì tôi lại phủ phàng từ chối. Cô ấy chết là tự giải thoát mình, nhưng đó là bản án nặng nề nhất mà tôi phải gánh chịu. Bởi vậy từ ba năm nay, tôi để cho nỗi ăn năn gặm nhấm lương tâm mình... Khi nhìn sang đứa trẻ, Văn bỗng ứa nước mắt lần nữa, rồi giọng anh chùng hẳn xuống: - Tội lỗi của tôi càng nặng hơn khi Ngọc Mai chết mang theo cả bào thai hơn hai tháng, mà nếu còn sống thì chắc cũng cỡ tuổi này! Nói xong thì cơn xúc động của Văn đã lên tới cực điểm, nên anh bật khóc như chưa bao giờ được khóc như thế. Đứa bé đột ngột ngồi bật dậy, khỏe như những đứa trẻ bình thường! Nó nhìn Văn rồi cất tiếng: - Nếu con ông còn sống thì ông có nuôi nó không? Trước câu hỏi bất ngờ của nó, Văn hơi lúng túng, nhưng cũng trả lời suôn sẻ: - Chắc chắn là bác sẽ nuôi như con ruột mình! Bác thề trước trời đất, bằng cả lương tâm mình, bác sẽ làm một người cha tốt nếu có được đứa con như vậy! - Nhưng nó là con người khác mà? Không ngờ đứa bé mới hơn ba tuổi lại hỏi được câu hỏi như vậy, nên Văn cúi xuống vuốt lên tóc nó giọng trìu mến. - Bác ao ước có được một đứa con như cháu vậy. Bác muốn lắm. Có lẽ cử chỉ đó, những lời nói đó của Văn đã chạm vào nỗi niềm của cô nàng, nên bỗng dưng Xuân Lan bật khóc. Đứa bé ôm mẹ và cũng khóc theo! Trong phút chốc, cả ba người đều ràn rụa nước mắt. Đột nhiên Xuân Lan ôm con đứng dậy rồi chạy bay ra cửa. Đứa bé quay lại nhìn Văn như không muốn rời... Và chẳng biết mẹ nó hay chính nó đã ném mạnh xâu chuỗi về phía Văn. Anh sợ nó rơi rồi bị đứt, nên vươn tay ra chụp. Xâu chuỗi quấn chặt vào tay Văn, rồi chẳng hiểu bằng cách nào, nó lại quấn thành nhiều vòng, ôm sát lấy cổ tay Văn như người ta đeo chiếc vòng xuyến! Chính Văn cũng ngạc nhiên, anh kêu khẽ: - Sao thế này? Anh thử cởi ra, nhưng không làm sao cởi cho được, mà nếu cố sức thì chắc chắn xâu chuỗi sẽ bị đứt! Ngẩn người ra một lúc và cũng từ giây phút đó, tự dưng Văn cảm thấy như có một luồng khí lạnh chạy dài theo sống lưng, rồi lan ra khắp cơ thể. Khí lạnh ấy chạy đến đâu thì Văn nghe như có hàng vạn mũi kim châm vào da thịt mình. Anh hốt hoảng kêu lên: - Làm sao đây! Lời anh chưa dứt thì cả thân người Văn lảo đảo, rồi đổ xuống sàn nhà... Cuộc Hội Ngộ Phải hai tuần sau thì Văn mới bình phục và rời khỏi bệnh viện Rạch Giá. Thay vì trở về Sài Gòn ngay theo lệnh của mẹ, nhưng Văn lại quyết định một lần nữa xuống Hà Tiên. Anh trở lại bãi biển Mũi Nai, quyết tìm lại ngôi nhà trọ mà ở đó anh đã gặp những con người kỳ lạ. Nhưng như một giấc mơ, dẫu đã đi tìm cả buổi mà vẫn chưa tìm ra đúng nơi anh từng ở hồi tuần trước. Hỏi thì ai cũng lắc đầu bảo: - Ở đây làm gì có ngôi nhà trọ đó. Bãi tắm Mũi Nai khá nhỏ, vào thời ấy chỉ có đúng hai nhà trọ, mà cả hai Văn đều tới và đều thất vọng, bởi từ phòng ốc cho tới con người, chẳng có nơi nào giống với nơi kia. Kể cả hai căn phòng nằm phía sau như chỗ ở của Xuân Lan cũng không hề có. Vậy hóa ra những gì vừa trải qua là một giấc mơ sao? Văn hoang mang, nghi ngờ cả trí nhớ của mình... Nhưng cuối cùng anh vẫn quả quyết rằng những gì đã xảy ra là thật. Bởi vật còn lại trên cổ tay anh đã nói lên tất cả, đó là xâu chuỗi màu tím. Nó càng lúc càng như bám chặt lấy thịt da Văn, mặc dù lúc ở bệnh viện hình như người ta đã có ý lột nó ra nhưng không thành công. Giờ đây tuy nó không còn gây ra cảm giác lạnh buốt như lúc mới đeo, nhưng dẫu cho có như thế thì Văn vẫn không có ý muốn cởi nó ra nữa. Văn cố kiên nhẫn nán tại Mũi Nai thêm một đêm. Anh thuê một phòng và đêm đó có ý thức rất khuya để đợi... nhưng đến quá nửa đêm, do quá mỏi mệt nên Văn thiếp đi cho đến sáng. Vừa thức dậy, Văn đã bàng hoàng khi trên cổ tay mình không còn thấy xâu chuỗi nữa! Mọi cửa nẻo đều đóng kín nên khó có người ngoài lọt vào. Mà cho dù có người khác thì cũng chẳng làm sao lột xâu chuỗi ra được. Vậy mà... Văn bần thần rất lâu, bỏ cả bữa ăn sáng chỉ để tập trung đi tìm xem có ai đeo xâu chuỗi ấy trên cổ. Nhất là những đứa bé, gặp đứa nào Văn cũng cố tình lại gần và nhìn kỹ... Đến trưa hôm đó, chẳng còn hy vọng gì nên Văn định chỉ ở cho hết một ngày tiền phòng nữa rồi sẽ đi. Nhưng khi anh trở về phòng trọ thì quá đỗi ngạc nhiên khi thấy phòng của mình đã có người khác trú ngụ! Hỏi ra thì chủ nhà trọ chưa từng cho anh thuê phòng, bằng chứng là trong sổ lưu trú không hề có tên anh vào đêm qua. Sau một hồi cãi vã, Văn đành phải hỏi thuê phòng khác, nhưng đã bị từ chối với lý do nhà trọ hết phòng. Quá bực mình, Văn sang nhà trọ còn lại. Nhưng điều không ngờ đã xảy ra: nhà trọ ấy cũng báo là hết phòng. Bực quá, Văn hỏi: - Ở bãi biển này làm gì có khách nhiều đến đỗi cả hai nhà trọ mà hết cả phòng? Chủ phòng trọ đưa sổ cho Văn xem thì quả nhiên cả mấy chục phòng đều đã có người ở! Văn đành tiu nghỉu gọi xe ra chợ Hà Tiên với ý định trở về Sài Gòn ngay. Nhưng lúc ấy đã quá trưa, nên bến xe vắng tanh. Phòng bán vé báo cho Văn biết là đã hết xe, muốn đi phải mua vé trước và chờ sáng ngày hôm sau. Tối đó, Văn đành phải thuê phòng khách sạn ở lại. Khi đăng ký ở khách sạn Giang Thành, Văn nghe cô tiếp tân bảo: - Cũng may cho anh, bữa nay có nhiều khách từ tỉnh khác tới, người ta đặt chỗ trước hết cả hai chục phòng ở đây. Căn phòng này vốn là của hai mẹ con một vị khách đã ở đây mấy ngày rồi, đáng lẽ cô ấy còn ở lại tới chủ nhật này, nhưng chẳng hiểu sao lại đột ngột trả phòng và đi lúc sáng nay, nên mới còn trống cho anh mướn đấy. Văn hơi tò mò: -Hai mẹ con đó tên gì vậy cô? Cô lễ tân nhìn Văn vừa cười cười: - Chà, bộ đi tìm người yêu hả? Cô ấy tên là... Xuân Lan và đứa bé cỡ ba tuổi... Vừa nghe đến đó, Văn đã cuống lên: - Cô ấy đâu? Cô lễ tân đáp: - Đi từ sớm rồi. Nghe nói về Cần Thơ. Văn hỏi một câu hơi quá tò mò: - Cần Thơ mà huyện, xã nào cô có biết không? Vậy mà chẳng ngờ cô lễ tân lại biết: - Hôm qua nghe cô ấy nói quê mình ở gần chợ Ô Môn, Cần Thơ. - Ô Môn! Tự dưng Văn giật mình! Hình như anh đã có nghe ai đó nói quê cũng ở địa danh này... Nhất thời Văn chưa thể nhớ đó là quê của ai, nhưng trong đầu Văn cứ lởn vởn mấy từ Ô Môn... Ô Môn... Văn nghĩ, đây là sự ngẫu nhiên đến lạ lùng. Anh vô tình lại thuê đúng căn phòng người mà mình muốn đi tìm! Phải chăng đó là cơ duyên? Mải nghĩ miên man nên khi cô lễ tân đưa xâu chìa khóa phòng mà Văn vẫn còn lơ đãng nhìn đi nơi khác... - Chìa khóa phòng của anh đây. Văn lững thững đi tìm phòng. Anh định sau khi nhận phòng rồi sẽ đi một vòng quanh chợ, để may ra còn có thể gặp mẹ con cô ấy... Nhưng khi vừa mở cửa phòng, bật đèn lên thì Văn ngạc nhiên khi nhìn thấy xâu chuỗi màu tím đang nằm trên gối. *** Xe đò dừng ở đầu cầu Ô Môn, Văn lưỡng lự một lúc rồi mới bước xuống. Việc Văn quyết định ghé nơi này là một hành động mạo hiểm. Bởi đây là lần đầu anh đến nơi này. Nhìn nhà cửa hai bên đường, chưa thấy có vẻ gì là thị trấn thì Văn lại càng lo, liệu nếu không tìm ra chỗ cần tìm mà trời tối thì làm cách nào để ngủ tạm, trong khi chẳng hề thấy có nhà trọ nào quanh đây? Gọi một chiếc xe ôm, Văn hỏi bác tài: - Gần đây có nơi nào trọ qua đêm không bác? Nhìn qua Văn một lượt bác tài đáp: - Tìm khách sạn sang trọng như ở Cần Thơ thì không có, chứ phòng trọ bình dân thì thiếu gì. Mà cậu muốn ở gần đây hay vào trong thị trấn? - Thị trấn còn cách bao xa bác? - Khoảng năm trăm thước thôi, nhưng mấy người muốn ngủ qua đêm rồi sáng mai đón xe đò đi Sài Gòn thì người ta thường ở chỗ nhà trọ gần đây. Cậu Hai cần chỗ nào? Leo lên xe xong, thay vì về chỗ trọ, Văn lại bảo: - Bác chạy cho cháu mấy vòng thị trấn này, bao nhiều tiền cháu sẽ trả. Bác tài mỉm cười: - Chà, dân thành thị lần đầu về chợ quê muốn ngắm mấy cô gái quê phải không? Văn thấy ông ta vui nên cũng đùa. - Gái quê dễ thương hơn con gái thành thị bác ơi! Bác tài cười lớn tiếng: - Coi bộ muốn kiếm vợ xứ này hay sao vậy? Văn vui miệng đùa: - Nếu kiếm thì có dễ không bác? Ông già đáp ngay: - Dễ ợt. - Bác biết có ai làm mai cho cháu được không? Văn nói đùa, nhưng ông già lại tưởng thật: - Cái vụ đó thì tôi dám nhận lời lắm à! Tôi có đứa cháu gái, năm nay chỉ mới 21 tuổi, đẹp như gái thành thị, chỉ có điều... Đã lỡ đùa rồi nên Văn đùa tới luôn: - Kể cả gái đã từng có chồng rồi cũng được, miễn hiền và ngoan và đạt yêu cầu! Ông già nói luôn: - Nó lỡ có một con rồi... Tự dưng Văn chợt nghĩ tới Xuân Lan: - Con được mấy tuổi bác? - Cỡ ba tuổi! Cậu dám lấy gái có con rồi không? Tôi xem tướng cậu năm nay có lẽ cũng gần ba chục, mà chọn gái còn son thì e khó... Văn cười: - Son hay không son đều được cả, miễn hạp nhãn! - Cậu nói thật không, tôi giới thiệu liền? - Con của bác? - Không, tôi có quen với chỗ này, họ có một đứa con gái tuy tuổi còn trẻ mà đã lỡ… Văn chưa kịp có thêm ý kiến gì thì đã được đưa tới một nơi cách thị trấn Ô Môn chừng nửa cây số xe ngưng trước một ngôi nhà ngói xưa khá rộng. nhưng vắng người. - Cậu xuống đi, trong nhà có người đang đợi cậu! Lời vừa dứt thì bác tài cũng vừa nhấn bàn đạp, mà không cần lấy tiền xe. Chiếc xe lôi vọt đi trước sự ngỡ ngàng của Văn: - Kìa bác... Văn chưa biết phải làm gì thì đã nghe người trong nhà nói vọng ra: - Đã tới rồi thì vào nhà đi chứ? Rồi một bà cụ từ trong bước ra, nheo mắt nhìn khách cho rõ. Văn cúi chào: - Dạ, kính chào bà. Con đi kiếm nhà một người tên là... Xuân Lan. Chẳng hay bà có biết vùng này có ai tên đó không ạ? Bà cụ mở cổng rào ra, vừa nói: - Đã tới rồi thì vào đi, còn hỏi gì? Ngạc nhiên bởi thái độ bà cụ và cả ông lái xe lôi. Văn phải hỏi lại: - Cháu cần tìm một người tên là Xuân Lan, vậy bác có biết? Bà cụ không trả lời, lại khóa cổng, rồi đi thẳng vào trong sau khi nói. - Cậu ngồi ở phòng khách đợi. Bà bỏ đi ra nhà sau, khiến Văn càng khó xử hơn. Anh cứ lúng túng không biết phải làm sao thì chợt nhìn thấy trên tường có một khung ảnh lớn, trong đó có hàng chục bức ảnh nhỏ hơn, mà một trong những tấn ảnh đó khiến cho Văn phải giật mình: - Sao lại là họ? Anh bước vào gần hơn để nhìn và bàng hoàng kêu lên: - Chính là họ rồi! Trong ảnh là cha mẹ của Ngọc Mai và cả ảnh của cô nữa, có lẽ chụp cách năm ba năm gì đó. Trông Ngọc Mai chẳng khác gì lúc về nhà chồng! - Đây là... Văn vừa buột miệng thốt ra chưa dứt lời, thì sau lưng anh đã có người lên tiếng: - Ngạc nhiên phải không? Trái đất tròn mà... Nghe tiếng quen quen, Văn quay lại đã kêu lên: - Kìa… má! Bà mẹ của Ngọc Mai đang đứng giữa phòng khách với bộ mặt lạnh lùng! Văn tưởng như mình nhìn lầm: - Má... sao má lại ở đây? Bà Thảnh ngồi xuống ghế và chỉ chiếc ghế đối diện: - Cậu ngồi xuống đây. Văn như người từ trên trời rơi xuống, anh ngồi mà lúng túng thấy rõ: - Con... con không hề biết má ở đây. Con chỉ... - Chỉ đi tìm người con gái tên Xuân Lan phải không? Bị lật tẩy, Văn càng cuống lên: - Dạ... sao... sao má biết? Nhưng mà con chỉ tìm để trả lại cô ấy xâu chuỗi... Không ngờ bà mẹ vợ đã tinh ranh hơn Văn tưởng: - Xâu chuỗi màu tím là của con Ngọc Mai, cậu lại tìm tới trả cho người khác là sao? Hay là có mới nới cũ? Trước câu hỏi quá hóc búa, Văn như con gà mắc tóc. - Dạ... con... con... - Sao anh không nói rõ xâu chuỗi đó là của con bé Ngọc Ngà! Người vừa thốt ra câu nói đó chính là Xuân Lan, xuất hiện cùng với con bé Ngà, nó vừa trông thấy Văn thì nhào tới và reo lên: - Chú! Lúc này trên mặt bà Thảnh mới hết căng thẳng, bà quay sang bảo: - May cho cậu, nếu không có con nhỏ này... Bà nói xong thì đứng lên đi vào liền, khiến Văn có muốn hỏi thêm cũng không được. Anh nhìn Xuân Lan với tất cả sự kinh ngạc: - Sao cô cũng ở đây? Nàng cười: - Thì đây là nhà em mà! - Vậy còn... - Anh muốn hỏi người vừa rồi hả, đó là dì ruột của em, từ Sài Gòn mới về để... đợi gặp anh! Câu nói này càng làm cho Văn hoang mang: - Sao lại có chuyện đó? Nàng cười thành tiếng: - Bộ anh tưởng tự nhiên anh biết nơi này mà tới sao? ở khách sạn Giang Thành hôm qua, đâu phải tự dưng người ta chỉ cho anh biết em ở xứ này? Cũng như lúc nãy, làm sao bác đạp xe lôi biết anh mà chở đến tận đây? Văn rùng mình: - Thì ra... - Anh cũng đừng lo, mọi điều cũng chỉ tạo cơ hội cho anh đến gặp người mà anh ngại gặp nhất mà thôi và anh đã gặp rồi đó. Nhưng xem ra dì em cũng không đến đỗi quá căng thẳng với anh, khác với thái độ của bà suốt ba năm nay. Bà chỉ muốn gặp và ăn tươi nuốt sống anh thôi, chắc anh biết nguyên do? - Vậy cô là... - Em đã nói rồi, em là cháu của dì Thảnh. Nhớ lại chuyện xâu chuỗi và những gì xảy ra ở Hà Tiên, Văn hỏi dồn: - Vậy chuyện của Ngọc Mai, chuyện về xâu chuỗi kia... Xuân Lan nhẹ lắc đầu: - Mọi việc không phải do tôi. Anh muốn biết thì cứ hỏi dì tôi. Còn bây giờ... Cô quay lại, tìm thì chẳng còn thấy bé Ngọc Ngà đâu. Nàng hoảng hốt: - Ngà ơi, con ở đâu? Chẳng nghe con bé trả lời, cô càng quýnh lên. Văn cũng hoảng, anh cùng chạy đi tìm. Cả hai chạy khắp nhà, ra cả ngoài sân vườn cũng chẳng thấy. Lúc này Xuân Lan đã thấy run, cô líu cả lưỡi: - Không… không được... không xong rồi! Văn hỏi mãi cô ta mới nói rõ hơn: - Để cho con bé đi coi như nó sẽ trở về với mẹ nó, và như vậy có nghĩa là... là... anh phải đi khỏi đây ngay! Văn ngơ ngác: - Cô nói gì tôi không hiểu? Vậy hóa ra cô không phải là mẹ của bé Ngọc Ngà sao? Và tại sao tôi không được ở lại đây? Nàng nói như hét: - Anh đi ngay đi! Nói xong, nàng ta gục xuống khiến Văn càng hoảng sợ hơn: - Kìa, cô Lan. Cô sao vậy? Xuân Lan lịm dần và suýt ngã xuống đất, may mà Văn đã đỡ kịp. Anh gọi lớn: - Cô tỉnh lại đi, cô Lan! Cô nàng chỉ còn là cái xác biết thở nhè nhẹ... Văn chẳng còn cách nào hơn nên phải bế cô lên, định bước vào nhà thì anh nghe Lan thì thào: - Đừng vào đó, hãy đưa em ra ngoài... Văn làm theo như cái máy. Anh đưa Xuân Lan ra ngoài cổng, vừa nhìn thấy một chiếc xe lôi trờ tới, anh gọi: - Chở đi bệnh xá gần nhất! Xe chạy một lúc thì đột nhiên ngừng ngay cửa một nhà trọ, Văn khoát tay: - Không phải đây! Nhưng một lần nữa, anh nghe giọng thì thào của Xuân Lan: - Cứ đưa em lên đây! Một người trong phòng trọ bước ra giúp đưa cô vào phòng. Họ nói: - Cô này là khách ở đây mà. Văn nói cho họ rõ: - Không, nhà cô ấy ở gần đây cô ấy bị bệnh nên tôi phải đưa đi bệnh viện ngay! Nhân viên tiếp tân quả quyết: - Cô Xuân Lan này ở đây từ hôm qua với một đứa bé, lúc nãy nó chạy về trước và đang ở trong phòng! Vừa khi ấy, bé Ngọc Ngà từ trong chạy ra, nó một lần nữa mừng rỡ khi gặp Văn: - Chú, con chờ chú về. Văn còn thắc mắc nhưng không thể hỏi đứa bé ba tuổi, vả lại anh còn phải lo cứu chữa cho Xuân Lan trước. Nhân viên nhà trọ nói cho Văn biết: - Cô ấy nói lúc sáng rằng mình về chơi nhà người quen, tôi cứ tưởng đến chiều cô ấy mới về, nên vừa rồi có một cô bạn của cô ấy tới đây tìm, tôi đã chỉ cho vào phòng đợi, bây giờ chắc còn trong đó. Bé Ngà nói: - Đi rồi, chỉ để lại cái này. Nó đưa ra cho Văn một cái bọc, trong đó có một gói giấy được gói khá chu đáo: - Con về phòng thì không gặp cô ấy, nhưng khi con vào trong phòng rồi thì cô ấy đứng từ ngoài nói vọng vào, dặn con lấy cái bọc này đưa cho má Xuân Lan hoặc người nào đi cùng má Lan cũng được. Vậy chú cũng là người được gửi cái này, chú mở ra xem đi. Văn không định mở, nhưng nghe con bé nói vậy anh mở ra xem thử. Vật gói kỹ kia khi được mở ra khiến cho Văn điếng hồn, đó là bức ảnh chụp Ngọc Mai lúc vừa tự tử đang còn nằm yên trên giường! - Trời ơi! Văn chỉ kêu được mấy tiếng rồi thì lảo đảo, mặt xanh tái! Con bé Ngà không hiểu chuyện gì, nó hoảng sợ: - Chú, chú làm sao vậy chú? Văn cố lắm mới nói được mấy tiếng: - Ngọc... Mai... Bé Ngà bỗng ôm cứng lấy Văn, như sợ anh chết. Nó gào lên: - Chú ơi, chú! Xuân Lan lúc ấy kêu lên ú ớ: - Đừng đừng hại người ta… đừng... Con bé Ngà cũng hét lớn: - Đừng hại chú này! Con thương chú ấy! Vừa nói nó lại càng siết chặt Văn hơn như sợ ai đó bắt mất anh, đến nỗi Văn cũng phải ngạc nhiên: - Chú có sao đâu con? Bé Ngà vẫn không lơi tay nó càng la lớn hơn và cứ xoay người hết bên này lại qua bên kia, như đang cố che chở cho anh khỏi bị ai đó tấn công! Và đến khi Văn không còn đủ sức để đứng vững thì một lần nữa con bé lại thét lên: - Mẹ, đừng hại người ta! Rồi như liều mình, nó ngã nhoài lên thân thể vừa đổ xuống của Văn, chẳng khác gì tấm lá chắn. Lúc ấy thì Xuân Lan cũng đã nằm yên. Vậy bé Ngà sợ ai? Chẳng thể lý giải được, bởi lúc ấy cả Văn và Xuân Lan đều đã ngất đi. Chỉ còn chị chủ nhà trọ, chị hốt hoảng giục mấy người làm lo cấp cứu cho hai người. Tuy nhiên, khi mấy người kia kéo bé Ngà ra khỏi người Văn thì con bé nhất quyết không bỏ ra, nó gào lên: - Đừng để mẹ giết chú này! Cho đến khi họ đưa Văn vào phòng mà con bé vẫn còn ôm cứng anh. Chị chủ nhà trọ nói với một nhân viên: - Chạy vào xóm trong, chỗ gần nhà máy xay có một ngôi nhà ngói xưa, cô này có bà con ở đó, báo cho họ biết cô ấy đang bị bệnh ngoài này, kêu họ ra ngay. Người nhân viên chạy đi một lúc khá lâu, khi trở về đã lắc đầu báo: - Em kiếm nãy giờ mà có ngôi nhà ngói xưa nào đâu, chỉ có một cái nhà lớn, nhưng khi nhìn vào thấy chỉ có mồ mả chung quanh chứ đâu có người ở! Chị chủ phòng trọ ngạc nhiên: - Tôi cũng nhớ ở đó không có người nào ở, mà sao cô này lại nói có bà dì ở đó! Mày có hỏi kỹ mấy người chung quanh đó không? - Dạ có, ai cũng nói nhà ấy đã bỏ hoang từ lâu rồi, cách đây mấy năm có chôn một người, thành ra nơi ấy gần như là cái nghĩa trang gia đình, chứ đâu phải nhà ở. Vẫn chưa tin hẳn, nên chị chủ phòng trọ lại sai một người khác đi hỏi. Vài mươi phút sau người này về, cũng báo y như vậy: - Đó đúng là một nghĩa địa gia tộc, nghe nói của một bà nhà giàu nào đó ở Sài Gòn, quê quán ở xứ này, nên bây giờ khu đất đó dùng làm nơi chôn người chết. Ngôi mộ nào cũng xây đá kiên cố lắm, nhưng ngôi nhà ngói lớn thì không ai ở đã từ lâu rồi. Trong lúc họ còn đang bàn tán thì Văn tỉnh lại. Anh nhìn thấy bé Ngà vẫn đang bám chặt lấy anh và đã ngủ khì thì xúc động lắm, định gỡ bé ra cho nó ngủ trên giường, nhưng con bé dù đang ngủ vẫn cự tuyệt, không chịu buông tay ra! Chị chủ nhà hỏi Văn: - Lúc nãy cậu đưa cô này về từ đâu vậy? Nghe Văn kể, chị ta kêu lên: - Chỗ đó là nghĩa địa chứ đâu phải nhà! Văn không tin, anh định gửi bé Ngà lại để tự đi xem thực hư, nhưng con bé vẫn nhất định không rời ra, nên cuối cùng Văn đành phải bế nó theo, kêu xe lôi chạy trở về chỗ lúc nãy. Tận mắt chứng kiến mà Văn vẫn còn chưa tin, anh hỏi một người gần đó, người ta nói rành rẽ: - Đây là đất hương hỏa của ông Cả mà ngày xưa người ta gọi là Cả Tự, khi ông mất đi thì để lại cho người con gái tên Thảnh, nhưng sau đó bà này cũng chuyển lên Sài Gòn ở, rất ít khi về đây. Ngôi nhà dần dần xuống cấp, cuối cùng bà Thảnh dùng khu đất ấy làm từ đường thờ tổ tiên. Nhưng chỉ được một thời gian thì việc thờ tự cũng chẳng ai lo, nên hầu như ngôi nhà đành bỏ hoang. Chỉ có khu đất rộng gần một mẫu chung quanh đã lần hồi biến thành nghĩa trang gia tộc. Hình như có đến gần mười ngôi mộ được chôn trong đó, mà mới nhất là mộ của người con gái bà Thảnh chết cách đây ba bốn năm, được đem về mai táng và thỉnh thoảng bà có về nhang khói. Nhưng mới đây nghe tin bà ấy cũng đã chết, nhưng mộ phần thì không thấy đem về đây, có lẽ đã được hỏa táng rồi cũng nên. Nghe bà ta kể rành rọt như vậy nên Văn không thể không tin, sau một lúc lưỡng lự, anh quyết định vào bên trong khuôn viên ngôi nhà. Vẫn là ngôi nhà mà anh tới lúc sáng, nhưng bây giờ nó là một ngôi nhà hoang, rêu phong, nhện giăng đầy. Văn đứng thẫn thờ khá lâu rồi chợt nhớ, anh bế bé Ngà ra thẳng sau vườn, nơi có đến chục ngôi mộ đá nằm san sát nhau. Một ngôi mộ mới nhất, nổi bật hơn nằm ở cuối dãy, mà vừa thoạt nhìn thấy Văn đã thót tim! Khi bước lại gần bỗng bé Ngà khóc thét lên và co quắp người lại ôm cứng lấy Văn, anh phải dỗ nó: - Cháu đừng sợ, chú chỉ xem qua rồi đi ra ngay! Ánh mắt của Văn dừng lại ở dòng chữ trên mộ bia: Phần mộ Lê Thị Ngọc Mai. Bên trên dòng chữ là ảnh chân dung của Mai, gương mặt buồn hiu. - Ngọc Mai! Văn kêu lên rồi đứng chết lặng. Trong lúc bé Ngà kéo tay anh giục đi: - Đi đi chú! Đi đi... Văn bước đi mà mắt cứ ngoái lại nhìn vào ngôi mộ. Nó như có một mãnh lực kỳ lạ, khiến Văn cứ muốn chạy trở lại. Rồi văng vẳng bên tai Văn nghe như có tiếng ai đó gọi tên mình. Anh vừa định lên tiếng thì bàn tay nhỏ nhắn của bé Ngà đã bụm ngang miệng, khiến anh không thể thốt lên được. Và một lần nữa con bé lại giục: - Đi nhanh lên đi chú! Mãi đến khi tới ngoài cổng, con bé mới òa lên khóc và nói rất nhỏ vào tai Văn: - Người ta đang muốn bắt chú đi, chú mau chạy đi! Thấy Văn vẫn còn nấn ná chưa chịu bỏ đi, con bé lại giục. - Chạy nhanh lên! Lúc này chợt Văn nghe như có bước chân người phía sau lưng, anh cảm nhận hơi thở của ai đó sát vào gáy mình, đồng thời có một mùi hương rất quen thuộc phả vào mũi anh... Văn buột miệng: - Ngọc Mai! Đúng là loại nước hoa mà Ngọc Mai thường dùng khi còn sống, khi ấy Văn vẫn thường nói chỉ duy nhất nàng mới dùng loại nước hoa pha lẫn giữa hương của đàn ông với phụ nữ... Lúc này Văn cảm giác như có luồng hơi lạnh buốt đang phủ lên gáy mình và hình như… Bỗng con bé Ngà hét lên một tiếng rồi buông tay ra khỏi Văn! Anh hốt hoảng khi nhìn quanh không thấy con bé. - Cháu ơi! Cháu ở đâu? Văn điếng hồn khi con bé tự dưng biến mất, mà quên là lúc ấy cái cảm giác lành lạnh sau gáy cũng không còn... Văn trở về nhà với bộ dạng thất thần. Vừa bước vào cửa nhà trọ, anh đã nghe tiếng khóc nức nở của ai đó từ bên trong. Và khi anh vào hẳn phòng khách thì đã nghe Xuân Lan gào lên: - Con bé chết rồi! Văn đang như kẻ mất hồn, đã giật mình: - Cái gì, bé Ngà đâu? Chỉ đứa bé đang nằm im trong lòng, mắt nhắm nghiền, Xuân Lan nói qua màn nước mắt: - Nó chết rồi! Hốt hoảng. Văn cúi xuống chạm tay vào mũi con bé, không còn tín hiệu của hơi thở, Văn gào lên: - Trời ơi, chú hại cháu rồi! Đột nhiên Văn hét vào mặt Xuân Lan: - Chính cô! Cô là nguyên nhân làm cho con bé chết! Lan ngơ ngác: - Anh nói gì vậy? Chính em vừa tỉnh lại thì đã thấy con nhỏ nằm bên cạnh rồi. Lúc nãy nó lại đi với anh, vậy ai đã làm gì con bé? Câu hỏi khiến Văn nhớ lại diễn biến câu chuyện vừa rồi, anh buông tiếng thở dài: - Ngọc Mai... Xuân Lan hoảng hốt: - Anh vừa nói gì? Anh gặp chị ấy? Văn không giấu: - Tôi vừa cùng bé Ngà vào ngôi nhà hoang và ra nghĩa địa... Anh vừa nói tới đó thì Xuân Lan đã thất thần kêu lên: - Anh dẫn xác đến đó là tới số rồi. Rồi cô nhìn lại bé Ngà: - Nhưng sao con bé lại như thế này? Nó là con.. Nàng định nói hết ý, nhưng bỗng ngừng bặt và vẻ sợ hãi lộ rõ. Văn hỏi: - Cô sao vậy? Xuân Lan không trả lời, rồi bất ngờ cô ôm bé Ngà đứng vụt dậy và chạy biến ra ngoài. Văn gọi theo. - Cô Xuân Lan, đừng đưa con bé đi. Nhưng bóng cô nàng và bé Ngà phút chốc đã không còn thấy nữa... Hóa Giải Hận Thù Tìm kiếm đến chồn chân mà vẫn chẳng thấy Xuân Lan đâu, Văn chán nản quay về phòng trọ. Chị chủ nhà chỉ căn phòng của Lan và bảo: - Nếu còn ở lại thì anh cứ ở trong phòng cô ấy, chờ xem có thể chiều hoặc mai gì đó cô ấy sẽ trở lại. Thật tình thì Văn vẫn muốn lưu lại đây thêm, bởi những gì quanh Ngọc Mai anh vẫn còn quá mù mờ. Nhất là chuyện của con bé Ngà đang làm cho Văn hối hận, đau khổ... Do đó, tối hôm ấy Văn ngủ lại phòng của Xuân Lan. Lúc ở trong phòng anh mới phát hiện cô ta còn bỏ lại túi xách quần áo. Ban đầu Văn không có ý định lục lọi gì trong đó, nhưng lúc nửa đêm thì bỗng trong đầu anh lóe lên một ý nghĩ lạ, anh lẩm bẩm: - Có thể nào chính là cô ấy chăng? Văn đang liên tưởng Xuân Lan chính là... Ngọc Mai! Bởi những gì đã xảy ra có khả năng là như vậy. Văn bật dậy và nhẹ nhàng mở chiếc túi vải ra. Bên trong chỉ có vài bộ quần áo của Xuân Lan và bé Ngọc Ngà. Nhưng điều làm cho Văn chú ý là còn có một bức ảnh mà vừa nhìn vào Văn biết ngay đó là bức ảnh mà anh đã nhìn thấy trong ngôi nhà lúc sáng, ảnh của Ngọc Mai và gia đình. Có đủ mặt, từ Ngọc Mai, bà mẹ và một người đàn ông đứng bên cạnh bà Thảnh. Điều này cũng lạ, bởi khi cưới Mai thì Văn đã biết là cô ấy mồ côi cha từ khá lâu, mà bức ảnh này có lẽ chụp cách khi Mai chết không lâu lắm? Lật ra phía sau bức ảnh còn có dòng chữ: sinh Ô Môn, tử về Giang Thành! - Giang Thành! Văn được biết Giang Thành là tên gọi khác của Hà Tiên! Anh giật mình: - Thì ra là vậy? Nhìn đồng hồ tay thấy mới hai giờ sáng, nhưng Văn đã thay đồ, xách theo túi xách của Xuân Lan và trả phòng. Chị chủ nhà trọ ngạc nhiên: - Giờ này mà cậu đi đâu? - Tôi có việc phải đi gấp, nếu cô Xuân Lan có trở lại chị làm ơn nói là tôi đi tìm cô ấy ở Giang Thành. Văn đi ngay giờ ấy và cũng may là có chuyến xe đò chạy tuyến Cần thơ đi Hà Tiên qua đó khá sớm. Nhờ vậy, Văn tới nơi vào giữa trưa hôm ấy. Sự trở lại của Văn làm cho cho khách sạn Giang Thành ngạc nhiên: - Ủa, tưởng cậu đã về Sài Gòn rồi, sao giờ này còn ở đây? Văn hỏi liền: - Chị có thấy cô gái và đứa con hôm trước trở lại đây hay không? - Có. Nhưng chỉ ghé đây dặn trước phòng để mai quay về ở rồi đi ngay. Văn thất vọng: - Lỡ cả rồi! Nghe vậy, người chủ khách sạn hỏi: - Cậu muốn gặp cô ấy lắm sao? - Dạ cần lắm. Nhất là tôi muốn biết xem đứa bé con của cô ấy tình trạng sức khỏe ra sao rồi? - Cháu bé còn bệnh, sốt mê man nhưng có vẻ không sao, nên cô ấy mới quyết định về thăm mộ cha, trước khi trở lại đưa cháu bé đi trị bệnh. Văn hốt hoảng: - Sao lại làm vậy, tính mạng đứa nhỏ quan trọng hơn chứ. Anh vội đi ngay. Người chủ khách sạn hỏi: - Cậu tính đi đâu? Sao không ở lại đây đợi, thế nào cô ấy cũng trở lại mà. Văn sốt ruột: - Tôi muốn tìm gặp đứa bé ngay, nó đang trong tình trạng nguy hiểm, có thể tử vong chứ không phải chỉ bệnh nặng đâu. Nghe vậy, ông chủ khách sạn sau một lúc suy nghĩ, chợt nhớ ra: - Hôm trước ở đây cô ấy có nói là dòng họ mình có khu từ đường trên đường lên Thạch Động. Có thể bây giờ cô ấy đang ở đó cũng nên! Đưa cho Văn chiếc xe đạp, ông bảo: - Đây lên chỗ đó hơi xa. Mà ngoài đi bộ và xe đạp ra không có phương tiện gì khác, vậy cậu cứ lấy chiếc xe đạp này đi cho tiện. Cậu biết đường lên Thạch Động? Ông chỉ đường cặn kẽ cho Văn và còn dặn: - Nếu cần đưa cháu bé đi bệnh viện Rạch Giá thì tôi có chiếc xe hơi, sẽ giúp đưa cháu đi. Văn đạp xe theo đường đã được hướng dẫn và không khó đã tìm ra khu đất từ đường duy nhất trên đoạn đường đó. Khi hỏi một người đánh xe bò đi qua, Văn được ông ta cho biết khá rành rẽ: - Đây là đất của ông Hương Chủ Mạnh, đã có thời là một trong những người giàu nhất xứ này. Ông ấy mới chết cách nay chưa lâu và hiện được chôn cùng bà vợ trẻ hơn ông cả chục tuổi. Chưa biết chắc có phải nơi mình cần tìm không, nhưng Văn cũng bước vào trong khuôn viên khu từ đường. Có hai ngôi mộ xây khá bề thế nằm giữa khu vườn rộng, và trên mộ bia một trong hai ngôi mộ có dòng chữ phần mộ Trần Thị Thảnh đã đập vào mắt Văn tức thời. Anh bước lại gần và còn nhìn rõ ảnh chân dung của người chết nữa: - Bà ấy đây rồi! Đây là mộ của bà Thảnh, mẹ của Ngọc Mai! Bên cạnh là mộ của người đàn ông tên Phan Văn Hoài, với ảnh chân dung mà vừa nhìn Văn nhận ra ngay, đó là người đàn ông trong bức ảnh nằm trong túi xách của Xuân Lan. - Thì ra... Vừa khi ấy có tiếng cất lên từ phía sau: - Không cách nào thoát được anh! Văn quay lại và kêu lên: - Xuân Lan! Thấy cô chỉ có một mình, Văn hỏi ngay: - Con bé đâu? Xuân Lan đáp, giọng cực kỳ buồn thảm: - Chết rồi! Cô chỉ tay vào một ngôi nhà nhỏ dưới tàn cây gần đó Văn chạy nhanh vào và đứng khựng lại trước xác của Ngọc Ngà nằm trên chiếc giường cũ. - Nó đã chết từ lúc ở bên Ô Môn, nhưng em cố đưa nó về đây để hy vọng bà ngoại nó cứu được. Nào ngờ họ là những người quá vô cảm, nhẫn tâm nhìn cháu ruột của mình chết! - Cô nói họ là ai? - Dì tôi, bà Thảnh! - Nhưng tại sao phải là bà ấy mới cứu được bé Ngà? Có lẽ định không nói, nhưng rồi Xuân Lan không kiềm chế được, đã thốt ra: - Vì nó mà bà ngoại nó, người lúc nào cũng thúc ép mẹ nó làm chuyện báo thù? Chính vì muốn báo thù mà mẹ nó đã nghe bà ngoại, tìm cách giết hại anh, trong lúc bé Ngà thì lại bênh vực cho anh, nó muốn cứu anh nên đã lao vào người mẹ nó và đã chết từ tay mẹ nó! Văn ngơ ngác: - Cô nói gì vậy, ai là mẹ của bé Ngà? - Ngọc Mai! Câu trả lời của Xuân Lan khiến Văn bàng hoàng: - Con của Ngọc Mai, có nghĩa là... - Chính nó là giọt máu của anh đó! - Trời ơi! Trong lúc Văn ngồi xuống bế con lên tay thì Xuân Lan đều giọng kể: - Khi Ngọc Mai chết thì đã có thai trên hai tháng. Người chết oan lại mang thai thì sau khi chết phải sinh con trả lại cho đời, bởi đứa bé chưa tới số. Em vốn là con riêng của ba, trước khi ba chắp nối với dì Thảnh. Một hôm khi đang ngủ, em giật mình tỉnh giấc bởi có ai đó đặt bên cạnh mình một đứa trẻ sơ sinh. Em hoảng quá thì lúc ấy bà Thảnh đã hiện về báo cho biết đó chính là con của Ngọc Mai, bắt em phải nuôi và coi như con, không được kể lại chuyện ấy với ai. Không phải em sợ bị hồn ma giết hại, mà vì em thương đứa bé tội nghiệp này, nên em đã chấp nhận nuôi nó và coi như con mình. Vậy mà cách đây vài tuần, bà ta lại không để cho em và con bé được yên, khi buộc em phải tìm cách gặp anh để trả thù giúp Ngọc Mai! Văn giật mình: - Vậy em không phải là... hồn ma của Ngọc Mai sao? - Em là nạn nhân cũng như anh thôi! Việc anh không chọn khu nghỉ mát nào khác mà chọn Mũi Nai cũng là do xui khiến của hồn ma của bà Thảnh và Ngọc Mai. Họ xui anh tới đây để em ra tay. Văn chặn lời: - Nhưng tại sao Ngọc Mai không trực tiếp ra tay, cô ấy là một hồn ma mà? Chỉ vào bé Ngà, Xuân Lan nói: - Cũng bởi con bé này. Chẳng hiểu sao dẫu chưa một lần biết mặt anh, nhưng lúc nào nó cũng bênh vực, che chở cho anh. Chính nó là vật cản đã khiến cho dì Thảnh và Ngọc Mai không ra tay được. Họ lại càng hận anh lắm, anh biết không! Văn thở dài: - Tôi biết và nỗi ăn năn lâu nay đã gặm nhấm lòng tôi khôn nguôi. Tôi không ân hận gì nếu bị họ giết chết! Xuân Lan nghiêm giọng: - Không được, anh phải sống vì con anh chứ! - Nhưng... Văn muốn nói thật đứa bé không phải là dòng máu của mình, nhưng kịp nghĩ lại, anh lảng sang hướng khác: - Tôi ngạc nhiên không hiểu sao hai mẹ con họ lại không chôn chung một nơi ở Ô Môn mà hai người hai nơi như thế này? Lan thở dài: - Cũng do ba em. Ông ấy và Ngọc Mai không thuận với nhau lúc còn sống, đến khi chết họ cũng thề không nằm gần nhau. Ba em có một lời nguyền khi nhắm mắt, không ngờ lời nguyền đó đã linh ứng sau này, và cũng bởi vì lời nguyền nên Ngọc Mai không thể tự tiện tới vùng đất này để ra tay hại anh. Đây nè, em cho anh coi lời nguyền... Xuân Lan đi vào góc nhà tìm một lúc, rồi lo lắng nói: - Em bỏ quên cái túi xách ở đâu mất rồi, trong túi có vật ấy... Văn đưa chiếc túi vải đang cầm trên tay ra: - Phải cái này không? Xuân Lan mừng rỡ: - Đúng rồi! Cô cầm lấy tấm ảnh chụp chung ra, chỉ tay vào người đàn ông trong ảnh. - Đây là ba em. Lúc tấm hình này chụp thì không có ông, bởi ông đã chết trước đó mấy năm rồi. Nhưng khi biết mẹ con bà Thảnh muốn dùng em để hại người, đó là hại anh, thì ông đã linh ứng, đưa hình ông ghép vào trong này, để ngăn chặn không cho họ làm hại em nếu sau này em bị họ ép đến đường cùng. Anh có thấy dòng chữ viết phía sau ảnh này không? Sinh Ô Môn, tử Giang Thành! Đó chính là lời nguyền của ba, ý ông muốn nói là bà Thảnh sinh ra ở Ô Môn, nhưng khi chết thì chôn ở Hà Tiên này. Mà có như vậy thì sinh mạng em sẽ không sao, bởi khi bà ấy nằm ở đây thì còn có ba em, sẽ không để làm hại em được! Chính vì vậy mà em mới giữ bé Ngà ở đây để nuôi, cho nó được yên ổn. Vậy mà chỉ vì muốn ngăn chặn không cho họ hại anh, để rồi con bé phải mạng vong như thế này. Tội cho nó... Nghe kể chuyện, Văn sững sờ, anh gào lên: - Có muốn giết thì cứ giết tôi, cớ sao lại hại con bé mới ngần này tuổi! Văn ôm con bé và chạy thẳng ra chỗ hai ngôi mộ rồi bằng một động tác bất ngờ, anh lao đầu vào mộ bia của bà Thảnh. Sức lao khá mạnh, nếu trúng vào thì có thể vỡ đầu. Đó là một hành động tự sát mà chính Văn cũng chẳng hiểu tại sao mình làm vậy! Xuân Lan chạy ra sau, cô vừa kịp nhìn thấy đã la lên: - Đừng! Anh đừng... Tuy nhiên, khi đầu của Văn va vào thành mộ bia thì như có một cái đệm êm ái đỡ lấy, khiến anh chỉ bị ngã mà không bị thương tích gì. Vừa khi ấy, Văn chợt nghe có tiếng thì thào: - Con không sao, ba ơi! Văn bật ngay dậy và mừng như bắt được vàng: - Ngọc Ngà, con còn sống sao? Con bé Ngà ôm chầm lấy Văn như nó vẫn thường làm, hơi ấm từ người nó làm cho Văn nhẹ hẳn đi, anh nói và khóc: - Cứ tưởng con bỏ ba rồi... Xuân Lan chạy tới, cô mừng không kém: - Mẹ cứ tưởng con không thương mẹ nữa chứ! Không hẹn mà cả Văn và Xuân Lan đều ôm chầm lấy bé Ngà, chẳng khác gì cặp vợ chồng đang âu yếm đứa con cưng! Và họ giữ như vậy khá lâu... Chẳng hiểu có sợi dây vô tình nào đó đã cột chặt họ lại với nhau, nên sau phút bất chợt đó, họ đã nhìn nhau với ánh mắt đầy cảm thông, trìu mến. Rồi Xuân Lan lên tiếng: - Vừa rồi vong hồn của ba đã đỡ cho anh không va đầu vào mộ bia đó! Ba không muốn anh chết, bởi trên đời này còn có đứa con gái bé bỏng của ba đang bơ vơ! Văn bất chợt siết chặt tay nàng, nói khẽ vừa đủ cho nhau nghe: - Em sẽ không bơ vơ nữa... Con bé Ngà vội chen vào: - Còn bỏ con cho ai? Văn siết chặt nó vào lòng: - Có ba, mẹ đây chi! Họ tràn ngập trong niềm hạnh phúc tuy bất ngờ, nhưng đó là điều tất yếu... *** Văn cứ sợ bé Ngà không thể sống lâu, bởi người ta nói thường những đứa bé nửa âm nửa dương như Ngà thì chỉ thọ được cao lắm là tới mười tuổi. Vậy mà đã mười bốn năm trôi qua, bây giờ Ngọc Ngà đã đến tuổi mười bảy, mà chẳng có dấu hiệu gì cho thấy cô bé yểu mệnh Văn vừa mừng vừa lo, anh bàn với vợ: - Anh nghe người ta nói, nếu Ngà vừa qua tuổi mười bảy, bước sang tuổi mười tám mà vẫn chưa có gì xảy ra thì phải làm lễ cúng thật lớn để rửa vong cho nó! Vậy chúng ta nên chuẩn bị là vừa, bởi chỉ còn chưa đầy mười ngày nữa là Ngà qua tuổi mười tám! Xuân Lan kề sát vào chồng, thì thầm: - Em đã lo cả rồi, mà anh cũng yên tâm, mấy đêm liền ba đều hiện về báo cho em biết rằng cái vận yểu mệnh của dòng họ chị Ngọc Mai đã qua và bé Ngà cũng chính thức được tồn tại trên cõi trần này rồi. Lúc ấy Ngọc Ngà vừa từ dưới bếp bước lên, thấy cha mẹ bàn bạc, cô nói: - Bữa nay con đãi ba má món cá trê chiên chấm nước mắm gừng, món ruột của hai ông bà! Văn nhẹ cười với con gái: - Chỉ sợ quả bom nổ chậm này không còn bao lâu nữa để cho tôi với má nó hưởng cái thú ăn ngon này nữa đây! Con gái là con nhà người ta mà. Ngọc Nga giãy nảy: - Không, con không lấy chồng đâu, con ở mãi với ba má thôi. Và cũng như hồi nhỏ, Ngà vẫn còn thói quen cứ sà vào lòng cha mà giữ chặt: - Con không bao giờ rời xa ba má! - Con khỉ, nói phải giữ lời đó nghen! Không ai lột da mà sống mãi, nhưng có lẽ hạnh phúc mà họ đang được hưởng là bất tận... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 29
TIẾNG HÚ RỪNG TRÀM - Phần I Mùa nước nổi... Con kinh Xáng chảy từ Sông cái Mỹ Văn xuyên qua Mỹ Hiệp Sơn cho tới tận đầu kinh Bảy Nam Thái Sơn năm nào cũng vậy, hễ mùa khô thì nước cạn tới đáy, còn mùa nước nổi thì nước ngập tràn đồng, không còn phân biệt được đâu là sông, đâu là bờ. Đôi vợ chồng trẻ Ba Tài và Mỹ Lệ nghĩ nước tràn sông sẽ dễ đi, nên mãi tới gần hai giờ chiều họ mới rời kinh Bảy để đi về Mỹ Hiệp Sơn. Con kinh Xáng vốn quá quen thuộc với họ, nên dù đoạn giữa khá vắng, nhưng Ba Tài vẫn tự tin nói với vợ: - Em coi chừng nào cơm chín, mình dừng lại chỗ có hàng tràm gie ra sông để nghỉ. Ăn tối mình đi thì khoảng bảy giờ là tới Vọng Thê, như vậy đêm nay mình đã có mặt ở nhà, chấm dứt một tháng trời lênh đênh sông nước! Mỹ Lệ thở dài: - Buôn bán kiểu này chắc lần sau em xá dài, không bao giờ dám đi bán hàng nữa! Cũng may là sáng nay bán được cho tiệm tạp hóa ở chợ Nam Thái Sơn số xoài còn lại, chứ nếu không thì có nước đổ xuống sông? Cuộc chuyện trò của vợ chồng họ được một lúc thì đã tới khúc giữa của con kinh, nơi đã vài lần Ba Tài cho ghe dừng lại nghỉ ngơi. Lần này vừa nhìn thấy đám khói bốc lên từ chỗ đó, anh tắc lưỡi: - Có người chiếm chỗ trước mình rồi! Lệ thì lại thích: - Có thêm người đậu lại vui hơn! Em đã ngán cảnh phải thui thủi đậu ghe ở bến vắng lắm rồi! Ba Tài cho ghe tấp lại chỗ hàng tràm quen thuộc. Tưởng là có ghe khác. Nào ngờ khi đậu lại mới hay khói bốc lên từ một con cúi rơm do ai đó bỏ lại lúc nấu nướng xong. Rơm đang cháy sém vào thân cây tràm lớn. Ba Tài càu nhàu: - Để lửa kiểu này gặp mùa khô nó cháy hết rừng chứ chẳng phải chơi! Anh định khoát nước dập tắt lửa, nhưng Lệ đã ngăn lại: - Để đó em nhúm lửa, khỏi phải quẹt hao đá lửa! Vợ chồng họ bắt đầu bữa cơm chiều khá sớm và nhanh chóng. Ăn vừa xong, Lệ đã giục chồng: - Đi về cho sớm, trời chuyển mưa rồi kìa? Nghe vợ nói có lý nên Ba Tài vội nhổ sào sửa soạn lui ghe. Nhưng thật bất ngờ, cơn mưa đổ như trút nước ngay khi trời còn quang! Lệ hốt hoảng: - Kiếm chỗ có nhà trú đỡ đi anh! Ba Tài nhìn chung quanh rồi thất vọng: - Cách đây cả cây số mới có nhà, bây giờ mưa quá lớn đâu đi được. Họ đành phải cột dây ghe vào gốc tràm chịu trận. Ba Tài trấn an vợ: - Mưa kiểu này sẽ không dai đâu, ráng chịu một chút là tạnh thôi! Và họ cắn răng chịu đựng. Cứ ngỡ cơn mưa rào sẽ qua mau. Nhưng họ không thể ngờ được tình huống tồi tệ nhất mà họ phải trải qua sau đó... Cơn mưa càng lúc càng lớn, giông gió nổi lên mạnh chưa từng thấy. Mùa nước nổi mà mưa giông thế này đúng là bi kịch cho những người đi xuồng ghe. Ba Tài đã quen sông nước, dãi dầu mưa nắng nhiều, vậy mà một lúc sau anh bắt đầu lo. Chiếc ghe năm trăm giạ của anh thường chở cả mấy tấn hàng, nay lại là ghe trống nữa, nên không sợ chìm vì nước mưa, nhưng lúc ấy Lệ lại gào lên khi phát hiện nước tràn quá nhiều tát không kịp: - Nước phía sau nhiều lắm, anh tiếp em tát ra kẻo chìm ghe. Lệ la lạc cả giọng, nhưng lúc đó Ba Tài còn phải lo ghì dây cột, cố giữ cho chiếc ghe không bị trôi theo cơn gió mỗi lúc một lớn hơn! Đến một lúc, giọng của Lệ hầu như không còn phát ra được nữa. Phần do đã la quá nhiều nãy giờ nên giọng không còn nghe rõ được, phần nữa là âm thanh của con người đều bị át đi bởi tiếng gầm rú của giông bão. - Ghe sắp chìm rồi! Đó là câu nói cuối cùng của Lệ mà Ba Tài còn nghe tiếng được tiếng mất trong màn mưa, để tới sau đó họ hầu như không liên lạc được với nhau mặc dù chỉ đứng cách nhau chưa đầy mười thước. Chiếc ghe đã bắt đầu lắc lư dữ dội và ngay sau đó nó tròng trành theo gió và những đợt sóng lùa cực mạnh. Ba Tài đã phát hiện ghe của mình bị trôi. Anh gào lên: - Bám chặt mui ghe! Anh còn la mấy lần nữa, nhưng đó là những tiếng gào cuối cùng. Bởi nếu có thể nhìn rõ được qua màn mưa thì ắt Ba Tài đã phải bàng hoàng, bởi bóng dáng mảnh mai của Mỹ Lệ vừa bị bắn tung ra khỏi ghe. Mưa gió vẫn hoành hành suốt ba tiếng đồng hồ sau. Chiếc ghe gần như bị lật úp và trôi dạt theo dòng nước đang cuồn cuộn chảy, trên một dòng sông mênh mông... Đêm tối mịt mùng... Cho đến rạng sáng ngày hôm sau... Mưa đã bắt đầu tạnh. Người đầu tiên phát hiện ra chiếc ghe mắc cạn ngay trước cửa nhà mình là một lão nông, khi ông vừa đẩy được cánh cửa xiêu vẹo bởi cơn gió suýt làm sập từ đêm qua. Nhìn thấy chiếc ghe nằm nghiêng chiếm hết phần sân, ông kêu lên: - Ghe của ai mà leo lên tận nhà mình nè bà ơi! Bà lão đang dọn lại nhà bếp bị mưa dột tứ tung, vừa lên tiếng: - Chắc là trời cho mình ghe để đi chở lúa trúng năm nay đó. Ông lão nghển cổ sang nhà hàng xóm gọi lớn: - Năm Xị ơi, qua coi giùm tao coi ghe của ai mà nằm trên sân vậy nè? Từ bên căn nhà lá đã bị sập gần phân nửa mái trước, có tiếng đáp lại: - Tôi thấy rồi, tính chờ ông dậy báo cho ông biết là của trời cho ông đó, ông Sáu ơi! Ông Sáu Đời chỉ tính bước lại coi qua, chứ sức ông thì làm sao chuyển dời được chiếc ghe dài gần bằng cái nhà. Nhưng bỗng ông giật mình khi thấy từ trong ghe có đôi chân trần của ai thò ra ngoài! - Năm Xị! Mày qua coi, có xác chết đây nè! Khi Năm Xị chạy qua thì cả bà Sáu cũng có mặt. Bà quá sợ nên run rẩy nói: - Mau cứu người ta ra đi rồi báo cho chòm xóm biết! - Thật là tội nghiệp... Không đợi thêm người, chính ông Sáu đã đẩy được phần mui ghe bị sập lên và thấy được cả người bị nạn kẹt bên trong. Ông kêu lên: - Một người đàn ông, Năm ơi! Khi họ kéo được xác ra thì đó là Ba Tài! Năm Xị lo lắng: - Dám còn người trong ghe nữa lắm à! Anh ta ra sức chui vào trong khoang ghe để tìm. Cuối cùng anh lắc đầu bảo: - Hết rồi! Bà Sáu chạy đi tìm chiếc chiếu cũ để đắp xác nạn nhân, nhưng khi vừa cúi xuống thì bà hốt hoảng kêu lớn: - Còn thở! Ông Sáu Đời quay lại nhìn rồi cũng reo lên: - Còn sống thật Năm ơi! Năm Xị đã đôi lần cứu người chết đuối nên có kinh nghiệm, anh ta la lên: - Bà Sáu trải chiếc chiếu ra để anh ta nằm lên, rồi mình đốt lửa hơ cho anh ta ấm, người tím tái hết rồi! May mắn, sau hơn mười phút hơ lửa, Ba Tài đã hồi tỉnh. Vừa mở mắt ra, anh chàng đã bàng hoàng kêu lên: - Mỹ Lệ! Em đâu Lệ ơi. Ông Sáu Đời phải trấn an: - Chỉ có mình cậu trên ghe. Chắc ai đó còn bám víu được ở đâu đó, không sao đâu! Bấy giờ Ba Tài mới nhìn chung quanh, anh trấn tĩnh lại và bắt đầu mếu máo: - Sao con vợ tôi nó không chịu bám ghe... nó yếu đuối quá mà, sao chịu nổi sóng gió hả trời! Sau một hồi gào khóc kêu tên vợ, Ba Tài mới bắt đầu kể lại chuyện mình bị nạn. Anh nói: - Tôi đang đậu ghe ở giữa kinh Xáng thì gió nổi lên... Ông Sáu chép miệng: - Ở đây là gần cầu số 5 cách kinh Xáng đến hơn ba chục cây số. Năm Xị cũng nói: - Lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy ghe trôi ngược từ dưới lên trên, suýt chút nữa là trôi tới tận Bảy Núi rồi! Ba Tài giật mình: - Đây là cầu số 5 sao? Vậy gần nhà tôi. - Cậu ở đâu? - Dạ, ở Vọng Thê, ở trên triền núi Ba Thê. Năm Xị reo lên: - Gần quê của vợ tôi rồi! Anh quay gọi về nhà: - Má mấy đứa nhỏ ơi, qua nhìn bà con nè! Vợ Năm Xị chạy qua và la lên: - Ba Tài đây mà! Trời ơi, sao vậy nè? Sau khi nghe kể chuyện, chị Năm lo lắng: - Con Mỹ Lệ hồi còn con gái là đứa bơi lội dở nhất trong đám bạn bè tụi tôi. Sao anh dám cho nó đi theo ghe? Ba Tài mếu máo: - Túng tiền quá nên tính đi chuyến này rồi nghỉ luôn. Con vợ tôi nó cũng cằn nhằn hoài, không thích đi buôn bán dưới ghe. - Có ghe chở hàng đi bán đây đó là nhất đời rồi, chỉ hiềm con nhỏ bơi lội dở, không ưa sông nước thôi. Mà thôi, bây giờ đã như vậy rồi, anh Ba cứ nghỉ ngơi cho khỏe rồi tôi bảo ông chồng tôi cùng với anh đi tìm con Lệ. Ba Tài lòng nóng như lửa đốt, liền đề nghị: - Nhà chị có xuồng, làm ơn cho tôi mượn, tôi muốn đi tìm ngay. Chậm một giây nào là... Anh ta lại khóc như trẻ con, khiến mấy người chung quanh cũng mủi lòng. Bà Sáu nói: - Tôi có chiếc xuồng con, chịu được sóng gió, lùm bụi, cậu cứ lấy mà đi. Cần thì ông nhà tôi đi theo giúp nữa. Năm Xị nói: - Thôi, chú Sáu ở nhà, để tôi đi với Ba Tài được rồi. Họ bắt đầu cuộc tìm kiếm, bắt đầu ở chỗ nhà, lần ngược theo hướng gió đi về phía kinh Xáng, băng qua đồng tràm bị ngã rạp vì gió bão. Lúc gió bão đi ghe chắc chừng vài giờ, còn lúc này Ba Tài không bỏ sót lùm tràm nào còn nhô lên khỏi mặt nước, nên phải mất gần cả ngày mà vẫn chưa tới được kinh Xáng. Năm Xị nói: - Tôi có nhà người quen ở khúc kinh Xáng dưới này, hay là ta ghé đó nghỉ ăn cơm đã, rồi đi tiếp. Ba Tài không muốn nghỉ, nhưng phải chiều lòng bạn, nên miễn cưỡng chống ghe về phía đó. Tiếp họ là vợ chồng anh chàng chuyên lấy củi ở rừng tràm, Tám Đối vừa nghe nói mục đích chuyến đi đã reo lên: - Dám cái này lắm à! Sáng nay đi kiếm củi ở vạt rừng phía trước, vợ tôi thấy có chiếc áo của ai vất trên nhánh tràm, thấy còn mới nên nó lấy về tính để mặc. Coi phải áo của chị nhà không? Ba Tài vừa nhìn thấy chiếc áo đã la hoảng lên: - Áo của vợ tôi mà! Rồi anh khóc rống lên, Tám Đối nói thật lòng: - Áo đang mặc trong người mà bị lột ra, máng trên nhánh cây là đã bị gió nước cuốn trôi mạnh lắm! Ba Tài hầu như chẳng còn nghe ai nói gì nữa, anh chỉ khóc, vừa ôm chiếc áo vào lòng vừa gào lên từng hồi... *** Suốt ba ngày như điên như dại, tìm kiếm hầu như khắp các cánh đồng mà chẳng thấy dấu vết gì của vợ. Ba Tài trở về nhà như cái xác không hồn! Người ở xóm vừa trông thấy anh đã kêu lên: - Thằng này bộ thành ma hiện về hay sao vậy? Con vợ mày nó đợi mày ba bốn bữa nay, khóc hết nước mắt vì mày. Ba Tài tưởng mình nghe lầm: - Mấy người nói gì? Con vợ tôi chết thì hãy để vong hồn nó yên, đừng có... Dì Mười bán tạp hóa trợn mắt nhìn Tài: - Cái thằng bộ khùng sao chứ, vợ mày nó uổng công đợi mày quá! Ba Tài vẫn giọng tưng tửng: - Còn vợ đâu mà đợi với chờ! Dì Mười cứ tưởng Tài khùng, bà la lớn: - Về nhà nhanh lên đi, con vợ mày nó khóc hết nước mắt rồi đó! Đến nước này Ba Tài mới ngớ người ra: - Cái gì? Dì Mười nói giỡn hay thật? Vừa hỏi, Ba Tài vừa cắm đầu chạy một mạch về nhà mà trong lòng hoang mang tột độ. Từ xa, Tài đã nhìn thấy nhà mình có khói bốc lên, chứng tỏ có người! Mà nhà anh ta thì ngoài hai vợ chồng ra có ai khác đâu mà nấu với nướng? - Mỹ Lệ! Ba Tài nhìn thấy vợ đang nhúm lửa nấu cơm trong bếp mà không tin đó là sự thật! Anh phải gọi lần thứ hai: - Lệ! Có phải là em không? Mỹ Lệ đứng dậy reo lên rồi nhào tới ôm chầm lấy chồng, cô nghẹn ngào: - Tưởng anh không về... Rồi cô khóc như mưa! Thật quá bất ngờ đến không thể nào tin nổi! Tài lắp bắp: - Em... em thật... thật không vậy? Mỹ Lệ cũng sờ nắn từ vai xuống ngực Ba Tài nghi ngờ: - Có phải anh thật không vậy? Vợ chồng mừng như vừa qua cơn ác mộng. Mỹ Lệ kể: - Em bị nước cuốn trôi và em ngất đi, cho đến khi tỉnh lại thì thấy mình nằm trên một chiếc ghe lớn. Em hoảng hốt khi thấy mình đang mặc bộ quần áo của người khác. Thì ra vợ chồng người chủ ghe tốt bụng đã vớt được em trong lúc em ngất xỉu nằm trên một chiếc xuồng lật úp. Ba Tài kể lại những ngày đi khắp cánh rừng tràm tìm kiếm. Nhớ lại chiếc áo, anh hỏi: - Chiếc áo máng lại trên nhánh tràm, vậy khi người ta vớt em thì... trần trụi hay sao? Lệ ngượng ngùng: - Lúc đó còn biết gì nữa... Mà thôi kệ, miễn còn sống trở về với anh là mừng rồi! Suốt đêm hôm đó hai vợ chồng hầu như không ngủ, đến gần sáng Lệ hỏi một câu làm Ba Tài giật mình: - Chuyện anh với cô út Sương hồi đó kết thúc ra sao? Ba Tài trố mắt: - Sao khi không em hỏi chuyện đó làm gì? Chuyện ấy là thời anh còn trai trẻ, anh và cô ấy có... nhưng xong hết trước ngày anh cưới em mà! Anh coi như không còn nhớ gì... - Nhưng em thì nhớ! Anh có biết là trong lúc hôn mê khi trôi trên sóng nước em thấy gì không? Thấy có người nói là anh phụ cô đã bỏ rơi khi cô ấy đã... có thai! Đúng không? Ba Tài giật mình: - Ai nói... bậy bạ vậy? Làm gì có chuyện đó! - Đâu phải ai nói, mà em mơ thấy. Mấy hôm nay nằm nhà chờ anh, em cũng còn mơ tiếp giấc mơ kỳ lạ đó? Em chờ anh về để hỏi... Tài gạt ngang: - Không hề có chuyện ấy! Rồi như không muốn cho vợ đề cập đến chuyện đó nữa, Tài lảng sang chuyện khác: - Nói cho tôi nghe coi, bữa được người ta vớt lên thì ai vớt, ai thay quần áo cho em? Có phải thằng cha chồng của bà chủ ghe không? Lệ nguýt dài: - Đừng đánh trống lảng, hãy trả lời em lần nữa đi, có phải hồi trước lấy người ta có thai rồi bỏ không? - Đã nói không có mà! Tài khỏa lấp bằng hành động âu yếm, nhưng Lệ vẫn chưa chịu buông tha: - Hỏi là hỏi chơi vậy chứ em biết hết rồi! Em còn biết cái thai khi đó đã được trên ba tháng nữa... Và hồi đó anh còn tính đặt cho con là Minh Lộc nữa. Tài Lộc mà! Nghe vợ nói quá chi tiết nên Tài giật mình: - Sao… sao em biết? Ai nói? Giọng Lệ càng lúc càng tỉnh táo hơn, đến đỗi Ba Tài phải giật mình: - Lệ, sao em cứ nhắc lại chuyện đó hoài vậy. Bộ không thương anh sao? - Thương anh, nhưng anh đâu có thương người ta! Anh bỏ người ta trong lúc bụng mang dạ chửa, vậy lương tâm anh ở đâu? Câu nói của Lệ khiến Tài phải ngồi bật dậy nhìn thẳng vào mặt cô: - Lệ! Có phải là em không? Tại sao... Mỹ Lệ không trả lời mà đứng lên bước xuống khỏi giường, lát sau trở lại đặt lên bụng Tài một vật gì đó mềm mềm, lành lạnh như vừa lấy từ dưới nước lên. - Cái gì vậy? - Nhìn thì biết. Tài định nhảy xuống giường đốt đèn, nhưng Lệ đã nói: - Anh sờ sẽ biết ngay là cái gì mà. Ba Tài đưa tay sờ vào và kêu lên thảng thốt: - Tóc! Đó là lọn tóc dài được khoanh lại. Điều đó gợi ngay cho Tài một hình ảnh: - Út Sương. Một tiếng thở dài trong bóng tối: - Ít ra thì anh cũng đã thừa nhận. - Em... Tài đưa tay định mơn trớn, xoa dịu cô vợ trẻ, nhưng lúc ấy anh giật mình, bởi tay anh vừa chạm vào một thân thể sũng nước, lạnh ngắt! - Lệ! Toàn thân Lệ bất động, Tài phải lay mấy lượt cũng chẳng chịu nhúc nhích. Hốt hoảng, Tài nhảy xuống tìm cách đốt đèn dầu lên, nhưng tìm mãi mà không thấy cây đèn đâu. Phải loay hoay mãi anh mới đốt được đèn và soi vào mùng, kèm theo tiếng gọi lần nữa: - Lệ! Nhưng Tài điếng hồn khi thấy chỗ của Lệ nằm giờ chỉ còn là bộ quần áo đẫm nước, mà Lệ thì chẳng thấy đâu! - Lệ ơi! Em ơi... Ba Tài có linh tính chẳng lành, anh tốc chạy ra ngoài vừa kêu vang. Nhưng do chung quanh rất ít nhà cửa, nên dù tiếng kêu vọng lớn trong đêm, phải một lúc sau mới nghe có tiếng của Hai Mười hỏi lớn: - Cái gì vậy Ba Tài? - Vợ...vợ con mất tiêu rồi! Khi hỏi ra sự tình, mọi người đều ngạc nhiên: - Nó đi đâu giờ này? Hay là mày làm gì nó giận rồi trốn ở đâu đó chăng? Dì Mười và mấy người nữa cùng với Tài chia nhau đi tìm, nhưng mãi tới sáng hôm sau cũng chẳng thấy tăm hơi gì của Lệ. Đến khi mặt trời lên thì có người từ dưới triền núi chạy lên báo: - Chiếc ghe của anh Ba Tài đâu mất rồi! Ba Tài sững người, kêu khẽ: - Lệ đi rồi! Mất chiếc ghe coi như Ba Tài cụt chân. Mùa nước nổi chung quanh núi đều là nước, núi Ba Thê giờ như một ốc đảo cô lập giữa đại dương. Giờ có muốn đi tìm Lệ cũng chẳng biết làm sao, bởi hầu như nhà nào cũng chỉ có một chiếc xuồng dùng để đi lại, đâu có ai dư! Dì Mười lúc đó mới thắc mắc: - Không biết bữa con Lệ về đây nó đi bằng gì mà chẳng thấy xuồng ghe gì hết? Ba Tài thẫn thờ như người mất hồn. Khi anh trở về nhà thì bộ quần áo ướt của Lệ cũng chẳng thấy! Thay vào đó là cái nón lá cũ của ai để trên gối, mà khi cầm lên Tài phải giật mình, vì bên trong nón có dòng chữ viết bằng than củi: - Tìm em ở rừng tràm. Ba Tài kinh hãi: - Không xong rồi! Anh qua năn nỉ dì Mười: - Dì Mười làm ơn cho con mượn chiếc xuồng của ai để đi tìm vợ con. Nó gặp nguy. Không cho cũng kỳ, nên dì Mười dặn thòng: - Mày có đi thì đi cho nhanh mà về, để ngày mốt tao còn đi núi sập. Tài bơi chiếc xuồng nhỏ nhẹ tênh, nó lướt đi vù vù, vậy mà anh vẫn còn thấy chậm. Lòng dạ anh nóng ran như lửa cháy, nên không thiết gì ăn uống, cứ băng đồng nước, nhắm hướng rừng tràm mà đi. Vạt rừng này kéo dài từ Mỹ Hiệp Sơn qua tới Nam Thái Sơn, biết tìm Lệ ở đâu. Mông lung như vậy, chẳng hiểu sao Tài lại đi rất tự tin, cứ nhắm hướng giữa rừng mà bơi. Rừng tràm sau cơn bão lớn giờ xơ xác, ngã rạp, nên vốn đã chằng chịt giờ lại um tùm, khó đi hơn. Trời tối mà Ba Tài còn loay hoay giữa chốn mịt mùng, không biết phải làm sao. Giữa lúc còn đang hoang mang thì bỗng chiếc xuồng của Tài đâm phải vật gì đó trước mũi. Vừa khi ấy, anh thấy lờ mờ và reo lên: - Mỹ Lệ! Chiếc ghe của Tài đậu phía trước, anh quýnh lên: - Đây rồi! Tài nhảy phóc lên ghe, vừa kêu rối rít: - Lệ ơi, em đâu? Nhưng anh thất vọng, bởi trên ghe không có ai. Chiếc ghe mắc kẹt vào giữa hai cây tràm lớn và nằm yên ở đó, còn người trên ghe thì đã biến đi từ lúc nào rồi... - Lệ ơi! Tiếng kêu của Tài vang vọng cả khu rừng. Bất chợt anh nghe một tràng tiếng hú nối theo tiếng kêu của anh. Tiếng hú lúc đầu nhỏ và ngắn, sau lan dần ra và càng lúc càng lớn. Nghe lạnh cả người! Nghĩ tới vợ trong khung cảnh này, bất chợt Tài rùng mình! Anh buột miệng: - Lệ, em có làm sao không? Chờ cho tràng tiếng hú kia vừa dứt, Tài lại cất tiếng gọi vợ lần nữa: - Lệ ơi, anh tìm em. Anh là Ba Tài đây! Một lần nữa tràng tiếng hú lại nối theo y như lần trước, lần này tiếng hú ở gần hơn và nghe rõ hơn, đúng là... giọng của một người nữ! Thần hồn Ba Tài hoảng loạn, anh chỉ kịp thốt lên: - Mỹ Lệ, trời ơi! Rồi đứng chết lặng. Lẽ nào như thế? Lẽ nào Mỹ Lệ là người phát ra tiếng hú đó? Hoang mang đến cực độ, Tài chỉ biết chấp tay van vái: - Xin đừng để vợ con như vậy xin trời Phật... Lời của Tài chưa dứt thì chợt một tràng cười như xé lụa vang lên. Giọng cười nghe bi thương hơn và qua giọng cười đó, bỗng Tài nhận ra âm thanh quen thuộc làm Tài bừng tỉnh, anh kêu lên: - Út Sương! Tiếng thốt của Tài nhỏ, chỉ đủ mình anh nghe, nhưng chẳng hiểu sao đã có tiếng đáp vọng lại: - Vẫn còn nhớ cố nhân sao! Tài lắp bắp: - Anh... anh không có ý... Một vật gì đó bay vụt tới rơi ngay trước mặt Tài..Anh cầm lên và giật mình. - Bộ quần áo của Mỹ Lệ! Bộ quần áo này lúc sáng còn nằm trên giường khi Lệ biến mất. Bây giờ nó vẫn đẫm nước, như được lột và quăng từ dưới nước lên. Bất chợt, Tài kêu to: - Mình ơi! Tràng cười kia lại vang lên, kèm một tiếng rít ghê rợn: - Tình quá! Và tiếp theo là cả thân thể lõa lồ của Mỹ Lệ vọt lên từ dưới nước, rơi đúng vào chân của Tài. Anh nhận ra ngay và vội cúi xuống ôm lấy. Nhưng như trong cơn mơ, bàn tay Tài vừa chạm vào cơ thể vợ thì khác nào chạm vào nước. Anh hốt hoảng. - Lệ! Em sao vậy? Cũng vừa lúc ấy Tài lảo đảo, rồi mắt mũi tối sầm lại… Phần II - Kìa, cậu đã tỉnh lại rồi, may quá! Mở mắt ra nhìn thấy một lão nông trung niên ngồi trước mặt mình, Ba Tài chồm ngay dậy, hỏi liền: - Vợ tôi đâu chú? Đưa tay ra dấu cho Tài nằm yên, người chủ nhà nhỏ nhẹ nói: - Kêu tôi bằng anh thôi. Tôi năm nay chỉ mới ba chín, chắc lớn hơn chú chút đỉnh thôi. Ba Tài đâu còn nghĩ gì khác ngoài vợ mình: - Kêu bằng gì cũng được, nhưng vợ tôi đâu? - Vợ nào, tôi chỉ thấy có mình chú nằm chết giấc trên ghe nên đem về đây, chứ nào có ai khác. - Nhưng vợ tôi nó... nó... Chợt nhớ lại chuyện đã qua, Tài nhìn quanh rồi thảng thốt kêu lên: - Người ta đã làm gì vợ tôi rồi? Chú... à mà anh có thấy ai ở chỗ ghe của tôi không? Người đàn ông lắc đầu: - Tôi đi giăng câu ngang qua vạt rừng đó thì nghe có tiếng hú, biết có chuyện chẳng lành nên tôi vội tới. Cũng may là còn kịp cứu chú. - Anh có biết ai hú không? - Kêu tôi bằng Hai Chà là được rồi. Còn ai hú thì làm sao mà biết được, ngoại trừ mình cũng là ma như họ! Tài giật mình: - Đó là ma sao? - Tôi ở đây lâu đời lắm rồi, nhưng hiện tượng này chỉ mới có chừng hơn một năm nay. Ban đầu tôi cứ tưởng người điên nào đó, nhưng kiếm tìm hoài mà chẳng thấy ai trong khu rừng này cả. Rồi chắc chắn đó là ma! - Một hồn ma nữ? - Đúng. Đã nhiều đêm tôi nghe tiếng một người đàn bà vừa hú vừa khóc! Nhất là vào những đêm trời tối hay mưa gió, chỉ nội nghe tiếng hú thôi thì dẫu cho tim bằng đá óc bằng thép cũng phải rùng mình! Tôi nè, là dân làng chài mà nhiều lần đã phải thót tim khi nghe tiếng hú vừa khóc thê lương đó. Cậu mà nghe thì... Chợt anh ta hỏi: - Hay là cậu nghe rồi nên mới ngất đi phải không? Ba Tài gật đầu: - Chẳng riêng tôi, mà còn con vợ tôi nữa. Anh đem chuyện mất tích của vợ mình và những gì đêm qua kể lại. Vừa nghe xong Hai Chà đã vỗ đùi: - Đúng y như vậy rồi! Hồi năm ngoái có một cặp vợ chồng lấy củi ngang qua khu rừng đó thì cũng bị như vậy. Chỉ vì người chồng tên là Tài. Ba Tài kinh ngạc: - Tên Tài thì có gì liên quan tới hồn ma? - Vậy mà có đó. Tôi để ý rồi, đã nhiều cặp vợ chồng hoặc đàn ông đi một mình hễ ai qua đó cũng bị hồn ma hiện ra quấy phá, thậm chí nguy hiểm tới tính mạng nữa, tất cả đều có tên là Tài! Ở xóm trên đã có ba người bị y như vậy! - Đều tên là Tài! - Đúng vậy. Chú mày biết tại sao không? Chỉ bởi hình như hồn ma đó có thù hận điều gì với một người tên Ba Tài! Ba Tài giật bắn người, suýt nữa anh đã để lộ thân phận của mình, cũng may là Hai Chà đã nói tiếp: - Tôi đã tìm thấy một cái gò đất cao giữa cánh đồng tràm, trên gò có một cây gáo cổ thụ, thân cây cỡ hai người ôm và trên đó còn ghi lại mấy chữ để giải thích vì sao có chuyện hận thù người tên Tài! Ba Tài lắng nghe rất kỹ, thấy Hai Chà dừng lại hút thuốc, anh hỏi tới: - Sao nữa anh Hai? - Trên thân cây viết mấy chữ như vậy: Hận Ba Tài suốt kiếp. Đó, chú mày thấy chưa, chỉ vì hận Ba Tài nào đó mà oan hồn ấy hại bất cứ người đàn ông nào tên Tài vô phước đi ngang qua! - Ở gò đất đó có nhà cửa gì không anh Hai? - Chỉ có một cái chòi nhỏ, nhưng có lẽ cất đã lâu ngày nên bây giờ dột nát hết rồi. Tuy nhiên, nơi đó còn có một vật sót lại, có lẽ đó là kỷ vật của hai người lúc còn mặn nồng với nhau. Anh ta đi vào nhà lấy ra một chiếc lược làm bằng sừng trâu rất xinh xắn, đưa cho Tài xem: - Trên chiếc lược này còn khắc mấy chữ, cậu đọc coi. Tài vừa nhìn thấy chiếc lược đã giật mình run rẩy... bởi không cần nhìn kỹ Tài cũng biết trên cán lược có dòng chữ: Cho người thương không bao giờ xa cách! Hai Chà đợi cho Tài đọc xong, anh ta mới nói: - Tôi đoán giữa Ba Tài này với cô gái oan hồn vốn là cặp đôi với nhau, và từng có thời tới chỗ cái chòi đó để ở hay tình tự gì đó, cho đến khi... Bỗng dưng Ba Tài thét lớn: - Đừng nói nữa. Rồi như một kẻ điên, anh lao người ra trước nhà và không làm chủ được bản thân, đã bước hụt chân ngã luôn xuống nước! Và có lẽ nước lạnh đã làm cho Tài tỉnh lại, anh vẫn đứng yên dưới nước, nhưng lại ôm mặt khóc nức nở, Hai Chà ngạc nhiên: - Chú làm sao vậy? Ba Tài không đáp, lẳng lặng leo lên ghe, mãi đến khi chống ra cách nhà vài chục thước mới nói với lại: - Cám ơn anh Hai, tôi phải đi tìm vợ tôi! Hai Chà đứng nhìn theo và lắc đầu: - Thằng này số chết hay sao đây! Anh lấy chiếc lược sừng đặt lên bàn thờ giữa nhà, thành kính khấn vái: - Việc cô sai tôi chưa làm được, nhưng thằng đó sớm muộn gì cũng tới nộp mạng cho cô thôi! Nếu ai để ý sẽ thấy bàn thờ kia chỉ có một bát nhang, không có ảnh thờ, nhưng lại có một lọn tóc phụ nữ khá dài. Giống y như lọn tóc mà Ba Tài đã thấy ở nhà đêm vợ biến mất! Nén nhang đã tắt tự bao giờ, bỗng dưng sau lời khấn của Hai Chà nó vụt cháy trở lại. Bấy giờ Hai Chà lại tiếp tục khấn: - Em yên tâm, dẫu em còn bị phán quan cấm cung, không thể ra ngoài đi báo thù được nhưng Hai Chà này nguyện vì em, sẽ làm cho kẻ đã gây ra cái chết oan uổng của em phải đền tội ngay trong mùa nước nổi này! Anh ta khấn xong thì bước ngay ra ngoài, lên chiếc xuồng nhỏ bơi theo hướng Ba Tài vừa đi. Chiếc xuồng nhỏ nên lướt rất nhanh, và có lẽ thuộc đường, nên khi anh ta tới gò đất thì chưa thấy ghe của Tài. - Ủa, anh ta phải tới đây mà? Hai Chà chợt nhìn sang chỗ gốc cây cổ thụ, nơi có khắc dòng chữ và kêu lên: - Anh ta dám làm chuyện này sao? Gốc cây gáo, chỗ có khắc dòng chữ vừa mới bị ai đó dùng dao vạt bằng mặt, xóa hết những chữ khắc đã mấy năm qua. Dấu vết vạt còn mới nguyên. - Thằng Ba Tài này dám sao! Nhưng anh ta chưa kịp nổi cơn giận thì bỗng thấy ở phía bên kia gốc cây có một nấm mộ đất còn mới. Trên đầu mộ có cái bệ bằng cây tràm tươi vạt mặt, khắc mấy dòng: Mộ phần Lưu Mỹ Lệ. Quá uất ức, Hai Chà lao tới dùng chân đạp mạnh vào đầu ngôi mộ, định xô ngã cái bệ. Nhưng bỗng anh ta rú lên một tiếng đau đớn rồi ngã lăn ra. Những ngón chân anh ta tóe máu ròng ròng, giống như vừa bị ai chặt đứt! Từ không trung, bỗng vang lên tràng tiếng hú lạ lùng, ghê rợn. Mà nghe kỹ thì cách hú không hề giống với tiếng hú mà Ba Tài đã nghe. Vẫn của một người nữ, nhưng khác với tiếng hú mà Hai Chà đã biết: - Út Sương, không phải là em, vậy ai đang hú? Trả lời cho anh ta là một tiếng khóc dội lên từ gò mả cũ, đối diện với mả mới. Vừa nghe Hai Chà đã hốt hoảng: - Sao em lại khóc, Út Sương? Tiếng khóc càng lúc càng bi thương hơn, và Hai Chà hiểu việc gì đã xẩy ra. - Có phải em bị người ta hại rồi phải không? Ai? Con Mỹ Lệ hay là...? Hình như giữa anh ta và cái vong dưới mộ có thể truyền đạt ý nghĩ cho nhau, nên chỉ một lát sau thì anh đã gầm lên: - Trời ơi, mình chậm mất rồi! Anh ta hấp tấp rời ngay gò đất như chạy trốn. Và lúc này chiếc ghe của Ba Tài mới cập bến, Tài bước lên với dáng điệu thẫn thờ, nhưng khi đứng trước ngôi mộ mới thì anh vội ngồi thụp xuống và gào lên: - Đừng bỏ anh Lệ ơi! Rồi quay lại phía sau, anh mọp sát người xuống mặt đất, giọng van lơn: - Út Sương ơi, anh tạ tội với em, xin em đừng làm như vậy tội cho cô ấy. Nếu có muốn trả thù thì anh đây, em cứ ra tay! Tài nằm hẳn ra đất và chẳng buồn ngồi dậy. Anh chờ và chờ rất lâu. Vẫn không có gì xảy ra cho đến khi trời sẫm tối. Lúc này không phải Ba Tài ngồi, mà có ai đó kéo anh dậy, vừa nhìn mặt người đó, Tài đã run lên: - Hai Chà! Anh... làm gì? Trên tay Hai Chà cầm cây mác sáng ngời, mắt anh ta long lên: - Mày phải chết! Anh ta vung tay lên và chặt xuống. Phụp một cái! Nhưng thay vì chặt trúng vào Ba Tài đang ngã ngồi dưới đất, cây mác lại nhắm thẳng vào thân cây gáo và mũi mác cắm phập vào đó, gần lút nửa cây mác! Và từ trong thân cây có một dòng máu chảy ra, kèm theo một tiếng thét kinh hoàng! - Út Sương! Đó là tiếng gào của Hai Chà, và sau tiếng gào đó thì anh ta gục xuống ngay, miệng hộc máu tươi có vòi! Ba Tài ngơ ngác nhìn, chưa hiểu tại sao anh ta lại như vậy thì anh nghe có tiếng từ dưới nấm mộ mới, vừa đủ cho anh nghe: - Anh hãy rời đây ngay, không thì nguy đến tính mạng! - Mỹ Lệ! Tài quay sang ôm lấy nấm mộ, nhưng giọng nói kia lại thúc giục. - Đi nhanh lên đi! Những giọt máu tươi này sẽ làm cho cô ả thoát ra được chốn giam cầm, và thế là anh chết ngay. - Không, anh không đi đâu hết, anh sẽ ở lại đây vĩnh viễn cùng em. - Đi đi. Ba Tài bị đẩy mạnh một cái ra xa và nằm gọn dưới ghe! Vừa lúc đó, có một chiếc xuồng nhỏ khác vụt tới và một người phóng lên ghe, cắp ngang người Ba Tài, nhảy gọn lên gò đất cao. Vừa đặt Tài xuống, ông đã dang tay tát cho anh hai cái liền và quát: - Thằng khốn kiếp, quen thói trăng hoa thì sẽ nhận hậu quả thôi! Bị đánh quá đau, nhưng thay vì kêu la, trái lại Ba Tài lại reo lên với tất cả sự vui mừng. - Ba! Trước mặt Tài lúc này là một người đàn ông lớn tuổi, nhưng còn khỏe, thân hình cao lớn, dữ tợn! Và người đó là cha của Tài! - Ba! Sao ba ở đây? Ba là... là... - Một hồn ma! Bởi ta làm sao là người được khi đã chết hơn mười năm rồi! Rồi ông chỉ vào ngôi mộ cũ: - Nó là mầm mống của mọi kiếp nạn mà con phải gánh chịu! Con còn nhớ trước khi ba chết, ba đã từng dặn con điều gì không? Tài hạ thấp giọng: - Dạ, năm đó con mười sáu tuổi, lúc hấp hối ba có dặn con là đừng bao giờ dan díu với phụ nữ đã có chồng hoặc người đã có người yêu, bởi trong đời người có hai cái tội lớn nhất: thứ nhất là phá hại đời con gái người ta, thứ hai là lấy vợ người khác! Ông già gằn giọng: - Vậy con đã làm đúng chưa? - Dạ... Giọng ông già đanh lại: - Con đã làm sai hết những gì ba dặn! Việc con dan díu với Út Sương khi cô ấy đã có chồng là Hai Chà, như vậy là sao? Ba Tài lắp bắp: - Dạ... con không biết... Đến khi biết thì đã lỡ rồi... Mà con cũng không biết Hai Chà là chồng của Út Sương... Cho đến khi... - Con lớn xác chứ đầu óc chưa lớn! Con có biết gần ba năm trước, khi con đưa Út Sương trốn vào gò đất này để tránh tiếng đời dị nghị, con đâu có biết là mình đã vướng vào cái vòng oan nghiệt. Út Sương khi ấy đâu còn là người nữa... Ba Tài kinh hãi: - Ba nói sao? Sương là... - Khi nó báo tin cho con biết đã có thai hai tháng và rủ con đi trốn vào rừng là đã có ý định giết con rồi. Một con ma nữ muốn giết người tình của nó đâu có gì lạ, nhưng lạ một điều là người chết tại đây năm đó không phải con, mà là nó. Con Út Sương? Ba Tài có vẻ sợ hãi: - Ba đừng nói chuyện đó! Nhưng ông già vẫn nói: - Ngày đó cũng may ta hay kịp nên tới cứu con đúng lúc. Thật ra cái chết của Út Sương đâu phải do con. Con đã bị hàm oan mà không tìm cách để minh oan, chưa chi đã vội đi lấy vợ tiếp, để cho người ta gán cho cái tội bội nghĩa bạc tình, tội giết vợ rồi chạy tội? Ba Tài cũng không ngờ tình tiết này, anh ngơ ngác: - Sao có chuyện đó ba? Chính con đã bỏ đi trong lúc Út Sương mang thai tới ngày sinh. Cô ấy sinh khó và chết ở chỗ này, trong lúc con bỏ về và không trở lại mà? Điưa tay chỉ vào Hai Chà, ông nói: - Cũng giống như lần này, lần đó chính anh ta đã bám theo con và Út Sương tới tận đây. Người mà hắn muốn giết là con, nhưng xui rủi sao, khi hắn ra tay thì lại nhằm vào Sương. Cô gái bị chết trước khi ngã xuống sông, nên con tưởng chính mình gây ra cái chết đó! Ba cũng cùng hoàn cảnh với con, nên ba cảm thông được nỗi khổ trong lòng mà con phải chịu oan, nên bấy lâu nay lúc nào ba cũng theo để che chở cho con. Nếu không có ba thì làm sao con thoát qua được cơn bão tố vừa rồi! - Vậy sao ba để cho Mỹ Lệ phải chết! Ông già thở dài: - Con mới hiểu một mà chưa hiểu hai, ba. Mà ba hỏi thật với Mỹ Lệ, con có yêu thương nó không? Ba Tài đáp nhanh: - Điều này ba khỏi phải hỏi. Nếu không yêu thì con đâu có bỏ cả danh vọng ở chốn thị thành mà lên sống cùng cô ấy ở núi Ba Thê. Con cũng giống như ba, đã bỏ hết... Ông già bỗng phá lên cười, giọng cười vừa chua xót vừa bi thương: - Cũng chỉ vì đàn bà cả. Con ơi! Rồi giọng ông chùng xuống: - Cũng giống như con, ba đã lỡ vướng vào người phụ nữ đã có chồng và vì đó mà tiêu tan cả sự nghiệp và mạng sống. Ba đã vì chuyện ấy mà bỏ cả mẹ con ở lại, để rồi bà ấy chết vì chịu không nổi cảnh đời ngang trái... Ông nói như sắp khóc, Ba Tài nói lảng chuyện khác: - Ba, con muốn ở lại đây với vợ con được không ba? Ông già gầm lên giận dữ: - Thằng điên, bộ muốn chết sao chứ! Ông thẳng chân đạp một cái thật mạnh, Ba Tài bị hất tung xuống ghe, còn nhanh hơn hồi nãy, kèm theo tiếng quát: - Một mạng của ba đủ rồi! Tài vẫn cố nói: - Nhưng còn vợ con nằm đó, con không đành... - Con vợ mày... Mà thôi, tao bảo đi là đi! - Vợ con ba ơi! - Đi nhanh lên, rồi... mày sẽ gặp nó! Đi đi! Lúc đó, cây gáo cổ thụ bỗng chuyển động giống như bị ai đó cưa sắp ngã. Cùng lúc, những tiếng hú kinh người cất lên vang động cả khu rừng. Nằm trên ghe mà Ba Tài có cảm giác như mình bị quay tròn như chiếc bông vụ. Chóng mặt và muốn ói, Tài chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi chiếc ghe như bị lôi đi vùn vụt... Tuy không nhìn thấy, nhưng lúc ấy Ba Tài nghe rất rõ tiếng gầm lên như con hổ bị thương của cha, cùng lúc có những tiếng thét lên kinh hoàng của phụ nữ. Mọi thứ đã ở lại sau lưng Ba Tài. Anh ngất lịm... *** Ngay đêm trở về nhà ở Ba Thê, Tài đã chứng kiến một việc rất lạ. Tuy anh vắng nhà đã bốn năm ngày, nhưng nhà cửa vẫn sạch sẽ, tươm tất. Và lúc về vì quá mệt, Tài đã nằm ngủ một giấc dài... đến khi tỉnh dậy đã thấy một mâm cơm ai dọn sẵn còn nóng sốt. Cứ tưởng Dì Mười bên cạnh thấy tình cảnh đơn chiếc của anh nên lo giúp bữa ăn, tuy nhiên khi mở mắt ra nhìn thì thấy cửa anh đã chốt bên trong, làm sao bên ngoài đưa cơm vào được. Trong lúc Tài còn đang hoang mang thì một giọng nói quen thuộc đã cất lên mà không thấy người: - Thắp nhang cho ba đi, rồi ăn cho lại sức! Tài bàng hoàng: - Mỹ Lệ! Em... - Đừng nói lớn, người ngoài nghe được họ tò mò. Em bây giờ chỉ về được với anh qua đêm như thế này thôi. Đó cũng là nhờ ba đã hy sinh cứu em thoát được thảm kịch vừa rồi. Ba Tài ngơ ngác. - Chuyện gì đã xảy ra? - Sau khi anh đi rồi thì một cuộc tàn sát đã xảy ra, mà người phát động là Út Sương! Cô ấy bị ba và một số oan hồn khác bắt nhốt ở gò đất cây gáo đó từ nhiều năm, chỉ có thể nhờ người chồng còn sống là Hai Chà đi trả thù giùm và đáng lẽ cô ấy còn bị giam cầm ở đó mãi mãi… Nhưng vừa rồi lúc Hai Chà chém anh thì mũi mác đá vô tình lạc vào thân cây, mà thân cây gáo chính là nơi giam vong hồn của Út Sương, thế là máu chảy tuôn ra và hồn cô ta theo đó mà thoát! Điều đó có nghĩa là Út Sương sẽ trực tiếp đi theo anh và sớm hay muộn thì anh cũng phải đền mạng! Trong lúc Ba Tài đang căng thẳng đầu óc, thì giọng của vợ anh lại tiếp, trấn an anh: - Nhưng bây giờ thì không sao rồi. Chính ba anh đã phải hy sinh cái mạng sống ở cõi âm, quyết sống mái một trận với Út Sương, cuối cùng cả hai cùng tan hồn! Anh yên tâm, Út Sương giờ đây đã vĩnh viễn tiêu diêu cùng cát bụi... - Ba anh! - Ba thì cũng vậy. Và nhờ có ông mà anh sẽ được sống. Rồi cô hạ thấp giọng: - Nhưng sống như thế nào mới là quan trọng! Ba Tài hiểu ý: - Em vẫn sợ anh lăng nhăng nữa chứ gì! - Không sợ sao được khi mới ngần này tuổi mà anh đã qua hai đời vợ! Ai mà biết được là sẽ còn bao nhiêu đời nữa... - Anh sẽ... - Bây giờ anh đừng hứa hẹn gì cả. Khi em còn sống thì em ghen theo kiểu người sống, anh có thể chống đỡ được, còn hiện tại thì em là một oan hồn, mà anh biết rồi đó, oan hồn hành động ai mà lường được! Em sẽ ghen cho anh coi! - Mỹ Lệ, anh hứa mà... - Thì cứ sống cho đàng hoàng đi, em hứa sẽ là người vợ phục vụ anh hết mình, hết kiếp âm này luôn! Rồi nàng hạ thấp giọng, sợ có người khác nghe: - Em chỉ về với anh vào ban đêm, còn ban ngày anh chỉ nghe tiếng em nói mà không thể nhìn nhau được. Vậy anh có dám hứa là cho đến hết kiếp dương trần của anh, anh sẽ không bao giờ lấy người con gái nào khác nữa không? Ba Tài nói không cần suy nghĩ: - Sao lại không hứa! Anh bảo đảm với em rằng Ba Tài này sẽ không bao giờ mơ màng tới phụ nữ nào khác. - Chắc không? - Chắc trăm phần trăm! - Vậy thì ăn hết phần cơm kia đi, em mới tin. Bụng đang đói cồn cào nên không đợi nhắc lần thứ hai, Ba Tài đã ngồi vào ăn ngon lành. Giọng nói của vợ vẫn đều đều bên tai: - Từ nay em sẽ lo cơm nước cho anh, sẽ lo hết mọi việc trong nhà này, nhưng để mọi người không nghi ngờ, em sẽ đem về đây cô em gái bà con... Vừa nghe, Ba Tài đã la lên: - Sao được! Đã nói là anh không bao giờ quen ai nữa kia mà! - Cái này là do em cho phép. Em sẽ cho đứa em về đây thay em, sống với anh như vợ chồng. - Không! Anh không thể... Giọng nàng nghiêm túc: - Không phải anh sống với nó như lấy người khác đâu mà không với chịu! Xác của nó mà hồn là của em, anh hiểu rồi chứ. Rồi nàng nói rõ hơn: - Đứa em của em nó vắn số, năm sau thì chết, lúc đó em sẽ nhập hồn vào nó và... về ở với anh! Còn từ đây đến đó anh vẫn cư tang vợ, vẫn phải sống âm thầm cùng em như thế này. Tài lúng túng: - Anh... anh không biết tính sao... - Không trăng sao gì hết, cứ nghe em mà làm. Sáng mai làm một bữa tiệc, mời chòm xóm tới thông báo việc em bị chết và cúng cơm. Nàng nói xong thì biến mất. Ba Tài có hỏi thêm gì cũng không nghe trả lời... Hơn một năm sau... Một hôm, bỗng có một cô gái khuôn mặt giống y như Mỹ Lệ, từ dưới triền núi đi lên, trên tay xách nguyên một va li quần áo, giống như đi về nhà chồng. Cô vừa bước vào cửa đã hỏi ngay Tài: - Sao vợ về mà không ra đón? Tài ngơ ngác, bởi giọng nói thì hoàn toàn là của... Mỹ Lệ! Anh lắp bắp: - Anh... anh chưa biết em là... Nàng cười như thân quen tự bao giờ: - Em là vợ anh từ hôm nay, sao còn đứng đó? Nàng ta đưa va li cho Tài một cách tự nhiên và sau đó bước vào nhà, đi thẳng ra sau bếp, giống như người đã sống trong nhà từ lâu! Trưa hôm đó theo ý của Lệ, Ba Tài dọn một tiệc nhỏ, mời đầy đủ hàng xóm và chính thức giới thiệu: - Giới thiệu với bà con, đây là cô em họ của vợ tôi, thấy hoàn cảnh tôi đơn chiếc, nên từ nay cô ấy về đây giúp đỡ... Dì Mười là người nhanh nhảu, nói thẳng ý mình: - Con chị chết rồi, sao không bắt con em thế vai? Còn ai bằng chính con em mình, chắc vong hồn con Lệ cũng vui lắm! Thấy Ba Tài không nói gì, còn cô gái thì bẽn lên cúi đầu, mọi người cùng vỗ tay: - Đẹp đôi quá rồi, vậy thì nhân bữa nay ta coi như lễ cưới đi! Vậy đó.... Nhờ bữa tiệc nhỏ ấy mà từ đó cô em vợ Mỹ Lan đã chính thức trở thành nội tướng của Tài. Hơn một năm sau thì họ có đứa con đầu. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 29
NGHIỆP CHƯỚNG - Phần I Việc con gái cưng Thể Phụng chuyển bụng sinh kéo dài đến ba ngày mà vẫn chưa sinh được đã khiến bà Phủ Hoài lo lắng, đứng ngồi không yên. Đến chiều ngày thứ ba thì bà hết kiên nhẫn, gọi cô em chồng bảo: - Cô kêu xe chở con nhỏ lên ngay Sài Gòn đi, thầy bà, mụ đỡ ở Cần Thơ này kêu họ bỏ nghề hết cho rồi! Ai đời có chuyện sinh con mà làm ba ngày rồi cũng chưa được! Tôi đây sinh sáu mặt con mà chỉ cần mụ vườn cũng cái "rẹt" là xong! Cô Út Nguyệt phân trần: - Không phải họ dở đâu chị Hai. Mà chỉ vì con Phụng sinh khó, nghe mấy bác sĩ ở bệnh viện nói không chừng phải mổ để lấy con ra nữa đó! Bà Phủ kêu lên: - Không được đâu! Con gái tôi lá ngọc cành vàng, thân thể ngà ngọc mà mổ xẻ thì còn gì con nhỏ! Út Nguyệt vẫn cố giải thích: - Người ta nói nếu không mổ coi chừng đứa nhỏ trong bụng bị ngạt mà chết chứ chẳng phải chơi! - Cô này nói xui xẻo không hà! Mà thôi, đi đánh điện cho thằng tài xế về nhanh lên, để chở nó đi liền! - Đánh điện, nhận điện rồi đi về hai ngày nữa mới tới, chắc là con Phụng nó đau mấy lớp rồi! Sao không nhờ xe của bên nhà Phán Hữu cho tiện? Bà Phủ trề môi: - Thèm mượn của nhà đó! Cái xe Traction "cà tàng" đó chở con nhỏ đi bị dần xóc, chắc con Phụng sinh trên xe chứ không đợi tới nhà bảo sanh! Vả lại, nhà đó có ưa gì bên mình đâu mà mượn với vay. Cô không nhớ vụ con Thể Phụng từ hôn con trai họ sao? Họ thù nhà mình lắm! Nguyệt vẫn nói: - Theo em thì nếu mình nhờ là họ đáp ứng ngay! Mới hồi sáng này thằng Lộc còn qua hỏi thăm sức khỏe con Phụng đây, và còn gửi chục cam sành nói là của má nó mua biếu cho con Phụng! Họ còn thương con Phụng lắm! - Thương với yêu gì cái ngữ ấy! Tôi nói thật, con Phụng từ hôn đúng lúc, chứ nếu không thì đời con nhỏ sẽ khổ cho mà coi! - Bà Phủ gạt ngang. - Nhưng theo em thấy... Thấy Út Nguyệt cứ một mực bênh vực cho họ, bà Phủ gắt lên: - Tôi nói rồi, nhà đó không được! Cô thấy không, gả con Phụng cho cánh này, nó... Bà bị Nguyệt cắt ngang: - Tôi thấy có ngon lành gì đâu! Đến đỗi con nhỏ tới ngày sinh mà thằng chồng còn không ló mặc về, thì thử hỏi... Bà Phủ tuy bị cứng họng, nhưng vẫn cố nói: - Thằng Tường nó bận công chuyện làm ăn nên về không kịp, chứ đâu phải không về! Mà đàn ông thời buổi này họ lo làm ăn nhiều hơn là lo cho vợ con. Mà nói thật, tôi cũng không thích loại đàn ông cứ tối ngày lẽo đẽo bên vợ, ru rú trong nhà! Út Nguyệt trề môi, lắc đầu: - Đàn ông mà đi mịt mù kiểu đó ham cái gì! Tôi để ý rồi, bữa báo tin con Phụng sinh khó, bảo nó về gấp, vậy mà nó có về đâu. Bà Phủ vẫn chống chế: - Trên Sài Gòn báo điện về nói thằng Tường phải đi Đà Lạt lo việc làm ăn gì đó về không kịp. - Đà Lạt chứ phải bên Tây Tàu gì đâu mà năm sáu bữa rồi về không tới? Nói thật với chị, chị cứ bênh nó hoài như vậy có ngày à... Bà Phủ biết Út Nguyệt vốn có cảm tình với nhà Phán Hữu, mà thằng Lộc, con họ từng là bạn học của Nguyệt, nên khi Phụng từ hôn với Lộc, chính Nguyệt là người phản đối đầu tiên và còn quyết liệt phản đối việc Thể Phụng lấy Tường, con trai một của nhà trọc phú Ba Lến! Biết cứ để cho Út Nggyệt nói một lát, cô ta sẽ càng nói linh tinh, nhức đầu lắm! Cho nên bà Phủ liền nói cho qua: - Thôi được, cô muốn nhờ ai đó thì nhờ. Nhưng tôi không ra mặt đó! Út Nguyệt hăng hái: - Để tôi lo, chị Hai coi như không biết! Cô chạy đi một lát, khi trở về đã hí hửng: - Thằng Lộc sẽ trực tiếp lái xe đưa con Thể Phụng đi và chờ để đưa về nữa! Bà Phủ có vẻ khó chịu, nhưng đành phải im lặng để Nguyệt lo. Tuy nhiên bà dặn: - Coi chừng con Phụng sẽ không chịu lên xe đó nghen! Út Nguyệt nheo mắt: - Bảo đảm với chị, con nhỏ mà được thằng Lộc chở đi sinh nó càng sinh lẹ hơn cho chị coi. Nửa giờ sau, chính Lộc lái chiếc Traction qua tận bệnh viện tỉnh, rước Thể Phụng và đưa đi Sài Gòn. Út Nguyệt đi theo. Trên đường đi, Út Nguyệt cười ngặt nghẽo: - Bà già bị tao gạt mà cũng đành ngậm tăm mà chấp nhận! Bà ấy đâu có biết là con Phụng tính lộn ngày mang thai nên phải một tuần nữa mới tới ngày sinh. Bây giờ hai đứa bay tha hồ mà hú hí, chừng nào sắp sinh thì điện tín về cho bà ấy hay. Thể Phụng hơi lo: - Lỡ má con đòi lên Sài Gòn thăm con thì làm sao? - Thì thằng Lộc "thêm tay thêm chân" cũng vài ngày thôi, chứ bộ muốn cả tháng sao. Lúc đó tao đã đưa con này vào nhà bảo sanh rồi, bà ấy có lên cũng đâu có sao. Lộc cười gượng, anh nhìn sang Phụng nói mà lòng đau như cắt: - Đáng lẽ mình tạo cả hình hài chứ đâu chỉ thêm tay thêm chân như thế này. Nhưng sao cũng được, miễn Phụng hiểu cho lòng dạ con là được rồi, dì Út. Út Nguyệt cũng xót xa: - Thấy tụi bay mà lòng tao cũng đau. Cũng tại thằng Lộc hết, lúc sắp đám cưới con Phụng, tao đã bảo là hai đứa cứ bỏ trốn mà mày không dám! Lộc chống chế: - Dì Út xúi nghe cũng phải, nhưng con mà làm vậy, ông Phủ cào nhà ba má con! Vả Iại Phụng lúc ấy có đồng tình đâu mà con dám... Thể Phụng bùi ngùi: - Tại má em đòi chết nếu em không từ hôn anh và lấy thằng Tường! Nói phải tội, chỉ vì má em ham cái tài sản khổng lồ mà thằng Tường được hưởng, chứ bà thừa biết em đâu thương yêu gì thằng đó! Út Nguyệt chợt điểm mặt cả hai: - Nhưng tao cảnh cáo nghe. Hai đứa bay cứ lén lút tò tí với nhau có bữa thằng Tường nó hay được thì có mà chết! Mà tao cũng nghi quá, không biết cái thai trong bụng mày đây thằng Lộc đóng góp hết mấy chục phần trăm. Thể Phụng đập vào vai bà cô mình mấy cái liền: - Cô này... biết rồi còn phải hỏi! Mà nói thật, nếu đổ bể ra con sẽ khai trong vụ này đầu dây mối nhợ là do cô Út! Chính cô bày đầu, chính cô chỉ đạo! - Cha mày, giúp cho tụi bay mà bây giờ mang tiếng. Lộc chen vào: - Con cám ơn cô Út. Nếu không có cô Út giúp thì qua vụ bị từ hôn vừa rồi, con đã cắn lưỡi mà chết cho rồi! Đó là chưa nói ba má con đã nhục nhã, uất ức vô cùng khi bị từ hôn. - Thôi thì bây giờ tao đền cho đây! Mà nói thật, không phải tao trù, chứ còn chuyện vợ chồng con Phụng này, tao dám chắc là sẽ không thọ đâu. Một khi con Phụng bỏ thằng Tường, mày có dám nhận lại nó không? Lộc đáp không cần suy nghĩ: - Con thề có trời, con nhận liền. - Hưởng xái cũng được sao? - Xái hay nguyên gì cũng được hết! Cô Út quên là con từng nói, nếu Phụng có tan nát hết đời thì con vẫn yêu Phụng, con quyết phải ăn đời ở kiếp với Phụng! Thể Phụng bật khóc thành tiếng. Cô lắc vai Nguyệt: - Cô Út đừng nói nữa, con... chết bây giờ! Út Nguyệt nhìn cháu gái mình rồi nhìn sang Lộc và thở dài... Bất chợt Lộc nói: - Nếu bây giờ tụi con bỏ trốn luôn thì cô Út có giúp con không? Út Nguyệt giật mình: - Có phải hai đứa đã có tính trước phải không? Thể Phụng ôm vai bà cô mình: - Tụi con không giấu cô Út, hai đứa tính chuyến này trốn luôn! Tụi con sẽ đi thật xa, rồi sau khi sinh xong, chúng con sẽ lập nghiệp nơi đó luôn. Vậy sau khi đưa tụi con lên Sài Gòn xong thì cô Út quay về, sau đó khoảng một tuần lễ Út hãy nói với mọi người rằng sau khi sinh xong, con đã đi đâu Út không biết! Út Nguyệt sợ hãi: - Chuyện này thì không nên đâu! Hay là để sinh nở xong đã, đứa con này đem giao cho bên nội nó, rồi tụi con muốn đi đâu cũng được! - Tới nước này con xin nói thật với cô Út, con không còn đứa con nữa! Phụng khóc rấm rứt. Câu nói như sét đánh ngang tai Út Nguyệt, cô run giọng hỏi: - Con nói gì, Thể Phụng? Bây giờ Phụng bình tĩnh trở lại: - Con đã phá cái thai này ngay từ tháng thứ năm rồi! - Phụng! Nguyệt gọi một tiếng lớn rồi nhìn sững đứa cháu gái mình. Mọi việc như một giấc mơ. Hồi lâu cô mới hỏi lại: - Sao tới giờ con vẫn còn mang thai? Bất ngờ, Phụng giở áo ngoài lên, để lộ cái thai giả quấn bằng vải độn gòn bên trong và kể: - Út nhớ trận đau nặng của con cách nay mấy tháng không? Đó là lần con phá thai, suýt mạng vong! Sau khi phá xong, bởi thằng Tường đâu có khi nào ở nhà, cho nên con dễ dàng qua mặt bên chồng bằng cái bụng giả này! Sở dĩ con làm vậy là vì con không muốn có bất cứ mối quan hệ nào với cái gia đình quái quỷ đó. Con đã tính cùng với Lộc bỏ đi từ lúc ấy, nhưng chưa thuận lợi, nên mới nấn ná tới bây giờ. Đây là thời điểm thích hợp để tụi con thực hiện ý nguyện của mình, vậy cô Út hãy giúp con lần cuối! Con lạy cô Út! Út Nguyệt chới với, ngẩn ngơ một lúc mới thở dài nói: - Tụi bay đặt tao trước việc đã rồi này thì bảo tao còn làm cách nào được nữa! Thôi thì muốn làm gì đó cứ làm... Cô móc trong túi ra còn một số tiền, thấy quá ít nên vội tháo luôn chiếc xuyến đeo trên tay và đôi bông nhận hột dừa luôn cho Thể Phụng: - Cô không có nhiều, chỉ có bấy nhiêu thôi, hai đứa cầm đỡ để tiêu xài, rồi có gì cô liên lạc sau và giúp tiếp! Phụng xua tay: - Không cần đâu cô Út ơi! Con đã chuẩn bị từ lâu nay rồi, nên đã ngầm tích trữ, hiện nay cũng có được một số vốn kha khá, có thể gầy vốn làm ăn, sinh sống được, cô… Suốt dọc đường đi, câu chuyện của ba người chỉ xoay quanh đề tài bỏ trốn. Đến xế chiều thì họ tới một nơi mà Lộc nói: - Tối nay Út ngủ lại với tụi con chỗ này. Đây là ngôi nhà nhỏ mà tụi con đã âm thầm chuẩn bị từ mấy tháng nay, rất kín đáo, nên chắc chắn không một ai biết! Đó là một xóm ngoại ô rất vắng vẻ nhà cửa, ít người qua lại. Ngôi nhà tuy nhỏ nhưng có được khoảng sân, có chỗ để xe kín đáo. Phụng hớn hở trước khung cảnh mới mẻ này, cô ôm chầm lấy Út Nguyệt: - Đây mới thật sự là tổ ấm của tụi con đó cô Út ơi! Nhìn qua một lượt, Út Nguyệt gật đầu: - Cũng khá ấm cúng. Thôi, Út mừng cho hai đứa con. Còn bây giờ coi bộ con Phụng mệt rồi, hãy mở cửa vào nhà cho nó nghỉ ngơi, trong lúc đó để Út đi ra ngoài kia mua chút gì về chuẩn bị bữa cơm trưa nay và cho cả bữa chiều luôn! Cô nói xong đi liền. Trong khi đó Thể Phụng cũng mệt thật sự, cô bảo Lộc: - Anh cất chiếc xe cho kỹ, đừng để người quen nhìn thấy. Em đi nghỉ chút đây. Cô mở cửa đi thẳng vào phòng khách. Nhưng vừa bước vào cô đã phải khựng lại, bởi ngay giữa bộ ghế trường kỷ đã có một người ngồi sẵn! Đó là một phụ nữ tuổi trung niên. Bà ta không để Phụng lên tiếng, đã nói ngay: - Đã sinh rồi mà cái bụng sao còn lớn vậy cô Thể Phụng? Phụng giật mình, nhìn sững bà ta: - Bà là... - Là người đem tin chẳng lành đến cho cô! Cô có muốn nghe tin về đứa con năm tháng tuổi bị bỏ rơi không? Như giẫm phải lửa, Phụng thảng thốt: - Bà... bà nói gì? Tôi nào có... có bỏ ai. Người phụ nữ mặt đanh lại: - Chuyện bỏ con là chuyện riêng cô, còn tôi là người tới để bắt cô phải chịu trách nhiệm về đứa con của mình. Bà ta lấy ra từ trong giỏ xách một tấm chăn bông và chiếc áo ấm còn mới, đưa cho Phụng và nói gay gắt: - Người ta sinh con ra khi không nuôi, đem cho người khác thì ít nhất cũng bọc con trong cái chăn cỡ này, mặc cho đứa nhỏ cái áo ấm cỡ này... Có đâu như cô, chỉ cho đứa nhỏ một cái bao cũ, mấy tờ báo cũ để gói và liệng xuống ao! Bà ta nói đến đâu Thể Phụng gai ốc đến đó, và cuối cùng cô phải bước lùi mấy bước run run hỏi: - Bà là... là ai? Bà tới đây để... - Tôi nói rồi, tôi tới để bắt cô chịu trách nhiệm về đứa con bị bỏ rơi của mình. Phụng cố chống chế. - Đứa con đó tôi bị hư thai. Bỏ nó là lẽ đương nhiên... Giọng người đàn bà đanh lại: - Nó đâu có chết khi thai đã hơn năm tháng tuổi! Lúc ấy nó đã thành hình và khi lọt lòng nó đã là một sinh mạng! Cô... Thể Phụng vùng chạy ra ngoài trong tâm trạng bấn loạn, sau lưng cô, giọng nói kia vẫn vang lên: - Cô không thèm nhìn mặt con mình hay sao? Nó đi tìm cô mà cô vẫn nhẫn tâm thì đừng có trách! Phụng dừng lại ngay, cô sửng sốt: - Nó làm sao sống được? - Cô không nghe ai khóc trong phòng hay sao? Lúc này Phụng mới để ý lắng nghe, và hốt hoảng khi nghe rõ mồn một tiếng trẻ con khóc từ bên trong nhà! - Ai? Người phụ nữ giọng vẫn lạnh lùng: - Vào mà nhận con đi! Như bị điện giật, Thể Phụng la lên: - Tôi không có con! Tôi... Người phụ nữ đứng vụt lên và bước thẳng ra ngoài cửa. Vừa lúc Lộc cất xe xong bước vào, anh ngạc nhiên: - Có chuyện gì vậy em? Vừa lúc tiếng khóc lớn hơn của đứa trẻ vọng ra, khiến cả Lộc và Phụng đều sửng sốt, họ chạy bay vào và... đứng sững lại trước một đứa trẻ hình hài quái dị đang nằm trên giường, khóc thét từng hồi! Lộc bình bĩnh hơn, anh nói: - Tìm hiểu xem là con ai mà bỏ đây đã, rồi sẽ tính. Nhưng Phụng đã run rẩy và lắp bắp: - Là con... con của... em! Đến phiên Lộc há hốc mồm: - Em điên hả Phụng? - Em nói thật. Nó là cái bào thai năm tháng tuổi mà hôm trước anh dẫn em đi phá đó... Lộc ngơ ngác: - Nó đã chết ngay sau khi lấy thai ra mà! Chính anh đã thấy... Thể Phụng rụng rời tay chân, phải ngồi bệt xuống sàn, mặt tái xanh... Lộc hỏi lại: - Ai nói với em chuyện này? - Lúc nãy anh không thấy người phụ nữ từ đây đi ra sao? Chính bà ta tới giao con và nói rõ... Lộc chợt nhớ ra: - Bà ta... anh nhớ ra rồi, bà này là người nhà của bà mụ, người anh đã nhờ lo vụ phá thai cho em. Hồi nãy thấy bà ta đi ra anh cứ tưởng là em có hẹn để nhờ vả chuyện gì đó... Nhìn lại đứa trẻ một lần nữa, Lộc chợt rùng mình, anh nói rất khẽ với Phụng: - Mình phải làm sao... chứ để vậy sao được? Phụng nói như khóc: - Làm sao thì... em đâu biết. Mà trời ơi, sao nó chỉ có một con mắt và không có cái lỗ mũi! Nó là người hay là... - Là người! Là đứa con được người sinh ra đàng hoàng chứ bộ! Tiếng nói đó phát ra từ đâu cả Lộc và Phụng đều không biết, họ ngơ ngác nhìn nhau rồi đảo mắt khắp phòng, tìm kiếm... - Con đây nè! Lúc này họ mới tá hỏa, bởi tiếng nói đó phát ra từ đứa bé! Thể Phụng gần như bò lết dưới sàn, cô hoảng loạn chỉ muốn bỏ chạy mà không làm sao đứng lên được. Chợt giọng nói kia lại cất lên: - Sao gặp con mà mẹ không mừng? Con là Tài đây mà. Tài Lộc, Lộc Tài, cái tên hồi đó mẹ dự định đặt cho con, mẹ không nhớ sao? Giọng nói hướng về phía Lộc: - Ba của con đây mà! Tài Lộc của ba đây! Lộc chết điếng: - Con... con.. Anh chỉ nói được mấy tiếng rồi cứng họng đờ đẫn cả người... Trong khi đó thì đột nhiên đứa bé nhanh như sóc nó phóng từ giường xuống rồi nhảy lên đeo cứng Thể Phụng, khiến cho cô phải ẵm nó khác nào mẹ ẵm con! Giọng nó lại rót vào tai Phụng: - Hãy ẵm con cho chắc con mà té thì con chết. Mà con chết thì.. người ẵm cũng chết theo luôn! Phụng hầu như không còn kiểm soát được mình, cô sắp ngã người sang một bên thì Lộc đã kịp thời lao tới chụp lại kịp. Đứa bé thích thú cười vang: - Như vậy phải được không! Có cả cha lẫn mẹ cùng ôm con như vậy mà bấy lâu nay con cứ tưởng là không bao giờ có được! Con cám ơn cha mẹ... Phụng đã thật sự ngất. Lộc ngẫu nhiên trở thành người phải sang tay, ẵm đứa bé, để nó khỏi té. Và đến phiên anh nghe đứa nhỏ thỏ thẻ bên tai: - Con đã về đây rồi thì đừng hòng đưa con đi nữa... *** Phải khó khăn lắm Thể Phụng mới thoát được ra khỏi nhà. Suốt ba ngày phải sống trong cực hình, nằm bên một đứa trẻ mà nội hình hài của nó thôi Phụng đã phát chết khiếp. Có lẽ nhờ cô phát bệnh từ hôm đầu, cho nên suốt mấy hôm nay Lộc là người phải chịu trận bồng ẵm, chăm sóc cho nó!Có một hôm lợi dụng lúc nó ngủ, cả Lộc và Phụng liền lẻn ra khỏi nhà, định bỏ trốn, nhưng khi vừa leo lên xe thì đã bị nó leo lên lúc nào chẳng biết và đeo cứng cổ, không cho Lộc lái xe! Bởi vậy bữa nay nhân nó nằm ngủ với Lộc, Phụng dặn trước Lộc, cô sẽ đi tìm bà mụ, người đã lấy thai ra cho cô, để hỏi cho rõ, nhất là gặp người đàn bà kia, hầu nhờ giải quyết vụ này. Quả nhiên Phụng thoát được, cô đi một mạch về chợ Phụng Hiệp. Tuy lần đó đi lén vào ban đêm, nhưng Phụng vẫn còn nhớ nhà, cô hỏi thăm thì được người ta chỉ đúng chỗ bà mụ. Bà vừa gặp Phụng đã nhớ ra, bà ngạc nhiên hỏi: - Sao, bộ cô có thai nữa và cần... phá nữa sao? Phụng ngượng đỏ mặt: - Làm gì có. Tôi tới là để thăm lần phá năm đó bà chắc là cái thai đã chết không? Bà mụ Ba hơi sựng lại một chút, rồi đáp: - Thì... lấy ra khỏi bụng mẹ thì... coi như chết chứ sao! - Nhưng... cỡ thai đó liệu nuôi thì có sống được không? - Hơn năm tháng, làm sao sống được. - Vậy sao... Phụng sợ nói ngang bà mụ không hiểu, nên hỏi lại: - Hồi bà làm cho tôi, tôi nhớ có một bà phụ việc... bà đó bây giờ còn ở đây không? - Bà Tám Thôi, chính bà ta đã là người giúp đem đứa nhỏ đi mai táng. Bà đó làm ăn đàng hoàng, chu đáo, nên cô đừng lo, vong hồn đứa bé chắc là cũng siêu thoát rồi. Chỉ tiếc là hồi đó tôi quên không hỏi bà ấy chôn cái xác đó ở đâu để mai mốt mình đem vào chùa cầu siêu cho nó. - Tôi muốn gặp bà Tám đó, bà làm ơn... Bà mụ Ba đáp gọn lỏn: - Bà ấy chết cách đây hơn một tháng rồi! Câu nói khiến cho Phụng tá hỏa: - Bà nói gì? Ai chết? - Thì bà Tám Thôi, bà bị chết bất đắc kỳ tử mà chẳng thấy có bệnh gì! Bởi vậy tôi mới không kịp hỏi bà chôn cái thai ở đâu. Phụng phải vịn vào thành ghế mới đứng vững được, người cô run và phải một hồi sau mới có thể hỏi tiếp: - Có phải chắc chắn đúng bà ấy là người đã cùng làm với bà? Bà mụ Ba nói chắc nịch: - Mấy cái vụ này thì làm sao dám cho người ngoài sờ tay vào. Bà Tám Thôi này xưa nay có tay nghề và kín miệng, cho nên chỉ mình bà ta là cùng làm với tôi, chứ không có ai khác cả! Chưa tin hẳn, Phụng hỏi thêm: - Bà chỉ nhà giùm... tôi tới thắp cho bà ấy nén nhang. Nghĩ là Phụng có lòng, nên bà mụ Ba chỉ và còn dặn: - Bà ấy hoàn cảnh khó khăn, cô có tới thì cũng cho bà ấy chút đỉnh. Phụng đi ngay tới chỗ đó. Khi bước vào nhà thì cô đã nhìn thấy tấm ảnh chân dung của bà ta đặt trên bàn thờ, Phụng kêu khẽ. - Đúng là bà ta rồi! Người nhà đón tiếp Phụng rất ngạc nhiên khi thấy một người lạ mà tới nhà họ, nên đã hỏi thẳng: - Cô tới để nhờ vả vụ... phá thai phải không? Nếu là chuyện đó thì yêu cầu cô đi ngay cho! Phụng phải đính chính: - Dạ không phải, tôi là người quen cũ, nhân về qua đây ghé thăm bà gửi cúng bà ít quà... Cô lấy ra một số tiền kha khá đặt lên bàn thờ và nói: - Cầu cho vong linh bà Tám siêu thoát... Người con gái lớn của bà bỗng ôm mặt khóc: - Má tôi đâu có làm gì ác, mà sao từ khi chết đến giờ đêm nào cũng về báo mộng, toàn là chuyện gì đâu không, làm cả nhà mất ăn mất ngủ? Phụng tò mò: - Có chuyện gì vậy? Nghĩ Phụng cũng là người quen với má mình, nên chị nọ không giấu: - Má tôi chết mà không có bệnh gì, tôi đã nghi rồi... không ngờ có thật? Đêm nào bà ấy cũng về báo là bị một oan hồn uổng tử đeo theo phá, đòi đền mạng! Bà sợ hãi, khóc lóc và kêu cứu, nhưng mình là người trần thì làm sao cứu giúp được những vong hồn cõi âm. - Uổng tử là cái gì? - Là vong hồn của trẻ nhi bị chết oan! Chẳng hiểu lúc giúp cho bà mụ Ba, má tôi có phạm phải tội ác gì hay không mà... Chị nói tới đó thì lại khóc lớn hơn. Rồi lát sau hơi bình tâm lại, chị chỉ lên bàn thờ và bảo: - Có cái tên của người nào đó mà lần nào hiện về má tôi cũng bảo ghi lại. Hỏi để làm gì thì bà nói để bà chỉ cho đứa uổng tử kia, để nó không còn đeo theo bà nữa! Phụng như bị lôi cuốn vào câu chuyện, cô đứng lên và bước về phía bàn thờ, rồi tiện tay cầm lên mảnh giấy nhỏ có ghi mấy chữ: Thể Phụng, con gái bà Phủ Hoài! Phụng tái mặt, cô tìm cách tháo lui ngay: - Xin lỗi, tôi có việc phải đi... để lần khác tôi tới thắp nhang cho bà Tám sau. Ra đường rồi Phụng đi như chạy và lúc này trong đầu cô hình ảnh của bà Tám Thôi hôm gặp cô ở nhà đang là nỗi ám ảnh khủng khiếp! Và theo như những gì đứa con gái bà thuật lại hồi nãy thì chuyện bà ấy mang đứa bé tới giao cho Phụng không phải là ý của riêng bà. Đó là ý của... oan hồn uổng tử kia! Trở về Sài Gòn ư? Điều này Phụng không dám. Nhưng để cho Lộc chịu trận với đứa bé thì khác nào biết anh sắp nguy mà không cứu! Cuối cùng Phụng nghĩ ra một cách. Cô cũng về Sài Gòn, nhưng thay vì về thẳng nhà, cô ghé lại một nhà quen, nhờ một người đạp xích lô, cho anh ta một số tiền bằng cả ngày chạy xe và dặn: - Anh tìm cách tới số nhà này, theo địa chỉ tôi ghi trong giấy, tới đó tìm người tên Lộc, gọi anh ta ra cửa rồi dặn anh ấy là phải đem đứa bé về nhà của bà Phủ Hoài. Đưa nó cho cô Út Nguyệt và dặn... Người đạp xích lô lắc đầu nói: - Cô dặn nhiều quá tôi đâu có nhớ. Tốt nhất là cô viết vô tờ giấy, rồi tôi tới đó đưa, người ta sẽ đọc và làm theo! Nghe có lý, Phụng viết vội mấy ý, dặn Lộc cứ ôm đứa bé về nhà, nói đại là cô vừa sinh ra... quái thai, nên sợ không dám về nhà. Rồi bảo cô Út Nguyệt đem đứa nhỏ giao cho bên nội nó, để bên đó họ xử lý sao là tùy họ! Người đạp xích lô đi chừng một tiếng đồng hồ, trở về với vẻ thất vọng: - Việc cô nhờ tôi làm không xong rồi, tôi tới đó thì nhà đóng kín cửa, kêu hoài cũng chẳng ai ra mở! Phụng lặng người đi khá lâu, cuối cùng cô quyết định liều, cô bảo chở mình về đó. Khi mở cửa ra thì đúng là Lộc và đứa bé không có ở nhà. Họ đi đâu chẳng hiểu, nhưng chiếc xe hơi thì vẫn còn ở đó. Lúc xem lại hành lý thì những gì của Lộc cũng biến mất, chỉ còn lại quần áo, vật dụng của Phụng. - Như vậy là sao? Chẳng lẽ Lộc bỏ trốn với đứa bé? Điều này hoàn toàn không thể, nhưng những gì diễn ra trước mắt khiến cho Phụng càng lúc càng hoang mang. Cũng may, sau đó khi ra chỗ chiếc xe, Phụng chợt phát hiện có dòng chữ viết bằng phấn trên ca-pô xe: Anh đem con về nhà cho cô Út. Phụng reo lên: - Lộc đã làm đúng ý mình! Cô thầm cám ơn trời phật đã giúp cho mọi việc như ý... Phần II Út Nguyệt nhanh tay đặt đứa bé vào trong xe hơi của Tường, rồi chạy đi ngay khi nó còn đang ngủ. Do đã cho tiền tài xế Tư Sang rồi, nên anh ta lúc đó làm như vô tình bỏ đi uống cà phê. Như vậy là mọi việc coi như ổn. Điều lo sợ canh cánh trong lòng từ hai ngày qua giờ đã giải tỏa. Việc này Út Nguyệt dám tự hào rằng, ngoài cô ra thì khó lòng ai làm được. Thứ nhất, không ai dám ẵm đứa bé dị hình và tính tình quỷ quái như nó. Thứ hai là ẵm được nó và giao tận nơi mà nó phải tới, người cha ruột thịt của nó, là điều khó lòng thực hiện! Làm xong việc khó, như trút được gánh nặng ngàn cân, Út Nguyệt về nhà lòng hí hửng. Ở một căn nhà mướn tạm để cho Phụng và Lộc ở, Út Nguyệt phấn khởi kể lại thành tích của mình: - Tụi bay biết không, lúc đặt đứa bé vô xe, tao cứ nơm nớp lo sợ nó giật mình tỉnh lại và đeo cứng như thằng Lộc nói, nào ngờ nó lại nằm im, ngủ ngon lành! Tao tưởng tượng lúc thằng Tường trở ra mà nhìn thấy nó chắc là hắn ta sợ đến... đái trong quần luôn! Lộc vẫn chưa yên tâm: - Đứa bé này nó quỷ quái lắm, không phải ai nó cũng đeo bám đâu. Chỉ đúng người nó mới làm vậy. Sợ e... Út Nguyệt trừng mắt: - Thì thằng Tường là cha đẻ của nó thì nhất định nó sẽ đeo khi gặp mặt. Chứ còn như tao, tụi bay thấy không, nó đâu có đeo cứng như đeo thằng Lộc... à mà cũng lạ, sao thằng Lộc là người ngoài, đâu có dính dáng máu mủ gì với nó đâu mà đứa bé lại đeo như sam là sao? Bà quay sang Phụng: - Mày nói thật coi, đứa bé là con của ai, thằng Tường hay thằng Lộc nào? - Dạ... của ông Tường, chứ anh Lộc thì... - Thằng Lộc không có sao đứa nhỏ đeo nó dữ vậy? Tao nghi quá... Hay là nó hoàn toàn là của thằng Lộc trước khi mày lấy chồng? - Đâu có cô Út! Của cha Tường mà. - Tao thấy sau ngày cưới rồi mà mày còn thậm thò thậm thụt với thằng Lộc, tao sợ... Phụng không muốn bàn tới chuyện đau đầu này nữa, nên đứng lên và nói: - Thôi, cô Út giúp kêu chiếc xe lôi vào đây, để tụi con trở lên Sài Gòn liền. Tụi con sẽ thực hiện tiếp những gì đã tính. Út Nguyệt nhẹ lắc đầu: - Tao cũng mất ăn mất ngủ vì chuyện tụi bay! Từ bữa con Phụng lên Sài Gòn rồi không thấy về, cả nhà thằng Tường chạy đôn chạy đáo kiếm tìm. Sau khi họ biết là mày cùng bỏ đi bởi thằng Lộc thì họ làm giặc lên, họ đòi kiện ba má bay! Cũng may là uy thế cha bay còn lớn nên họ mới để yên. Nhưng với thằng Lộc thì họ hăm sẽ làm dữ với nhà mày! Lộc không hề nao núng: - Con đã quyết rồi thì họ muốn làm gì cũng được. Cái quan trọng nhất với con là Phụng, trừ khi là Phụng bỏ con, chứ không thì con thề sẽ không bao giờ con để mất Phụng lần nữa! Phụng cũng nói: - Con chỉ lỡ một lần thôi, sẽ không có lần thứ hai. Út Nguyệt hạ thấp giọng: - Mà tao vẫn còn thắc mắc, sao mày không thương thằng Tường, sao lại để có con với nó! Mày ngừa rồi chứ cơ hội như thế này có phải đỡ rắc rối hơn không! Phụng chán ngán: - Ngừa sao được với cái thằng lúc nào về nhà cũng say xỉn. Mỗi lần như vậy hắn coi con như con súc vật, đè ra đánh, đập và... làm đủ trò, con làm sao cưỡng lại được! Rồi Nguyệt thở dài: - Cái số con này không ngờ lại khổ! Bởi vậy đâu phải cứ sinh làm con nhà giàu, nhà quyền thế là sướng đâu! Phụng bước vào phòng trong chuẩn bị hành lý, thì từ trong đó cô hét to: - Út ơi, anh Lộc ơi! Hai người này chạy vào thì muốn chết khiếp! Bởi, trước mặt họ là đứa bé đang nằm ngủ ngon lành trên giường! Phụng run giọng: - Sao... sao nó vẫn còn ở đây cô Út? Út Nguyệt cũng mất bình tĩnh: - Nghe tụi bay kể tao không tin nó là… oan hồn uổng tử. Nhưng bây giờ thì… tao tin. Mà đã là oan hồn thì làm sao bắt nó theo ý mình được. Phụng vừa sợ vừa chán nản: - Con biết làm sao bây giờ đây Út? Út có cách nào giúp con với... Út Nguyệt chợt nhớ, cô kéo tay hai đứa ra ngoài bảo: - Cô có quen một ông thầy chuyên làm phép trục ma quỷ ít ra ông ấy cũng có thể làm cho đứa bé này không quậy phá con nữa. Phụng mừng quýnh: - Sao Út không nói sớm. Vậy Út còn chờ gì nữa. Út Nguyệt bảo: - Bây giờ để nó khỏi nghi, Lộc hãy ở lại nhà coi chừng nó, cô sẽ dẫn con Phụng qua bên ông thầy. Ông thầy gọi là thầy Tư Thế, vốn nổi tiếng từ Xiêm La về. Đã lâu năm hành nghề từ Băng-Cốc, Nam Vang, Thất Sơn. Ông tài giỏi, nhưng rất kén khách. Chỉ những ai thầy cho là có hoàn cảnh ngặt nghèo, đáng thương thì nhờ thầy thầy mới giúp. Còn không, dẫu có trả bao nhiêu tiền thầy cũng từ chối. Biết vậy nên trước khi ghé chỗ thầy, Út Nguyệt đã dò hỏi trước ở nhà một người quen và được người này cho biết: - Thầy Tư đã đóng cửa không tiếp khách từ ba ngày nay. Có dặn mấy đệ tử là khi nào có người tới tìm thì từ chối hết. Út Nguyệt thất vọng: - Tôi từ xa tới, mà thầy như vậy thì biết làm sao đây? Người nọ mách: - Cũng đã từng có vài lần như vậy rồi. Nếu cô muốn được thầy tiếp thu phải đợi lúc nửa đêm tới đứng chờ thầy ở cổng. Giờ đó thầy thường ra ngồi cầu vong giữa trời. Lúc đó hễ thầy gặp ai đầu tiên thì nhờ gì thầy cũng giúp. Út Nguyệt ái ngại: - Nhưng tôi và đứa cháu là thân nữ, làm sao có thể tới vào đêm khuya như vậy được? - Nếu không làm vậy thì đành chịu thôi! Út Nguyệt về bàn lại với Phụng, thế là nửa đêm hôm đó hai cô cháu đích thân tới nhà thầy Tư Thế và đợi... Đúng như chị nọ nói, đúng nửa đêm hôm đó thầy Tư xuất hiện như một tiên ông, trong bộ quần áo toàn trắng. Thầy ngồi xếp bằng giữa sân, không thắp hương, nhưng mắt thầy nhìn vào khoảng không bao la như nhìn làn khói hương quyện bay theo gió... Hồi lâu bỗng thầy ngẩng lên và nhìn ra cổng nói đủ cho hai người nghe: - Hai người chờ đợi chi cho mất công. Hãy về đi, oan gia nghiệp chướng đó đã trót mang thì không làm sao dứt ra được đâu! Út Nguyệt nghe vậy lên tiếng liền: - Lạy thầy, thầy đã biết rồi thì xin ra tay giúp giùm cho cháu tôi, tội nó lắm! Nó gặp phải cuộc hôn nhân không ra gì, bây giờ lại mang cái khổ này nữa, làm sao nó sống nổi. Thầy Tư không nhìn Phụng, nhưng đã phán: - Nó sống không nổi vậy sao bắt kẻ khác phải khổ? Út Nguyệt cãi: - Cháu tôi đâu có làm ai khổ đâu thầy! Nó... nó… Thầy Tư giờ mới nhìn ra, giọng thầy đanh lại: - Vậy xác đứa bé năm tháng tuổi nằm dưới đáy ao là con của ai? Phụng nãy giờ im lặng, bỗng thốt lên: - Chuyện đó không phải do con làm! Cái đó... - Ai mang nó trong bụng? - Dạ... con lỡ... - Lỡ mang thì phải đẻ và nuôi, cớ sao phá bỏ giữa chừng, mà phá xong khi biết nó còn sống lại giết nó chết? Phụng hốt hoảng: - Con không có giết nó. Con giao chuyện ấy cho bà mụ và... Thầy Tư đanh giọng: - Tội của bà mụ và người trợ giúp cho bà ta thì đã rõ, cả hai người họ đều sẽ lần lượt lãnh hậu quả thôi. Ông thầy nói xong câu đó thì im lặng, ngồi nhắm mắt và tiếp tục cuộc cầu hồn. Út Nguyệt và Phụng có nói gì thì vẫn không nhận được câu trả lời. Đứng mòn mỏi, cuối cùng Út Nguyệt dẫn cháu về. Họ nhận được lời khuyên của thầy nói với theo: - Đứa bé có thể biến mất, nhưng nghiệp chướng thì sẽ không hết đâu! Đầu óc hoang mang, Phụng đi theo Nguyệt chỉ được một đoạn rồi kêu đau bụng. Lúc đầu bụng chỉ đau râm ran... nhưng càng về sau thì cơn đau tăng lên dữ dội. Nhìn thấy mặt cháu mình xanh tái, Út Nguyệt hốt hoảng: - Có sao không con? Phụng thở hổn hển đầy mệt nhọc: - Không... không xong rồi... Út ơi... con chịu không nổi nữa rồi... Phụng chỉ nói được mấy tiếng đó rồi ngã quỵ xuống giữa đường. Hoảng quá, Út Nguyệt vội kêu xe chở đi bệnh viện. Phụng đã gần như mê man lúc vào tới chỗ khám bệnh. Sau gần một giờ, một cô y tá bước ra hỏi: - Ai là thân nhân của cô Thể Phụng? Út Nguyệt vội đáp: - Dạ tôi. Nhìn Nguyệt từ đầu đến chân, cô y tá hơi tò mò: - Cô là gì của cô Phụng? - Tôi là cô ruột của nó. Tôi... - Được rồi, mời bà vô gặp bác sĩ. Ngỡ bệnh tình của Phụng quá nặng, nên Út Nguyệt vừa bước theo mà vừa run. Vừa gặp bác sĩ cô đã hỏi ngay: - Cháu tôi sao rồi bác sĩ? Liệu có chữa được không? Vị bác sĩ Iại nhìn cô một lượt, rồi đột nhiên hỏi: - Bà chưa biết gì? Út Nguyệt ngơ ngác: - Biết gì? - Cô Phụng này đã có thai được ba bốn tháng, cái thai bị động nên hành, mà sao bà để cho đến nỗi này? Út Nguyệt tưởng mình nghe lầm: - Bác sĩ nói thật hay giỡn? Vị bác sĩ nghiêm nét mặt: - Tôi đâu có thời giờ để nói chơi với bà. Cô này bị động thai, nhất thời chúng tôi chưa xác định được là cái thai có bị gì hay không, phải đợi chuyển qua chuyên khoa rồi mới rõ. Nguyệt bắt đầu run: - Cháu tôi mới sinh đây mà sao lại có thai được? Hay là bác sĩ lầm lẫn? Vị bác sĩ có vẻ bực mình, ông gọi cô y tá dặn: - Cô cho chuyển bệnh nhân qua khoa sản ngay. Lưu ý, phải kịp thời, nếu không sợ e... Ông bỏ ra khỏi phòng rồi mà Út Nguyệt vẫn còn ngơ ngác nhìn theo. Mãi một lúc cô mới hỏi lại cô y tá: - Bác sĩ nói gì vậy? Cô y tá cũng bực mình: - Thì bà nghe rồi đó, bệnh nhân này bị động thai, chứ có bệnh hoạn nào khác đâu! Mà sao thai lớn rồi mà bộ không biết sao để cho nó tệ như vậy? Năm phút sau thì Phụng được chuyển sang phòng khác. Khoa sản. Cho đến nửa đêm hôm đó thì bệnh viện cho một kết quả động trời: Bệnh nhân Thể Phụng mang thai gần bốn tháng, thai bị động, có thể nguy hiểm chẳng những cho đứa bé trong bụng, mà ngay cả mẹ nó cũng bị nguy hiểm đến. Út Nguyệt thất thần: - Không thể nào! Làm sao lại như vậy... Bà cứ đứng yên như bị trời trồng, vừa lẩm bẩm khiến mấy cô y tá phải phát bực: - Bà không đi làm thủ tục cho bệnh nhân nhập viện đi, còn đứng đó, bộ muốn nhìn bệnh nhân bị nguy hiểm sao! Mãi đến khi theo Phụng vào tới phòng điều trị rồi mà Nguyệt vẫn còn lừng khừng như kẻ mất hồn. Cho đến khi cô gọi khẽ sau lưng: - Cô Út! Cô Út... Út Nguyệt quay lại thấy Phụng vừa tỉnh thì mừng: - Con ơi, dậy đi để cãi với họ, chứ cô nói không được.. - Cãi cái gì? - Thì... họ nói mày có thai bốn năm tháng gì đó, nghe có tức cười không? Phụng cũng ngơ ngác: - Thai gì? Con mới phá thai cách năm tháng trước, rồi từ đó có... ăn nằm gì với ông Tường đâu mà có thai? Út Nguyệt ngập ngừng: - Vậy mày với thằng Lộc... có gì với nó không? - Làm gì có. - Thật không? - Con thề độc với dì mà. Hai cô cháu nhìn nhau mà chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra... *** Bà Phủ Hoài điếng hồn trước tin báo của Út Nguyệt. Bà ngồi thừ người ra hồi lâu rồi mới hỏi lại:- Rồi biết ăn nói làm sao với bên nhà chồng nó? Cái con mẹ phú hộ Ba Lến là loại đàn bà miệng mồm độc địa, đâu dễ để yên. Nguyệt đã tính kỹ rồi, nên có cách nói của mình: - Sợ gì thứ nhà giàu dốt nát đó! Tôi nói thật với chị, cùng lắm thì mình bắt con Phụng về cũng có sao đâu! Bà Phủ nhảy dựng lên: - Bộ giỡn sao Út! Họ đâu có để cho mình yên khi con Phụng đã là dâu nhà họ? Rồi mình giải thích sao với thiên hạ nữa chuyện con Phụng mới đi bệnh viện nằm chờ sinh, rồi bữa nay lại nói mới có thai bốn tháng? Bộ cô nói họ con nít sao chứ! Út Nguyệt hạ thấp giọng: - Con Phụng sẽ có cách nói, nó đã tính rồi... Bà Phủ trợn mắt nhìn đứa em chồng chỉ bằng tuổi con gái mình: - Cô với nó còn tính toán, âm mưu gì nữa đây? Nguyệt kề tai nói nhỏ cho bà chị dâu nghe một hồi. Vừa nghe xong bà Phủ la lớn: - Không được! Phá thai là tội lớn, suốt đời cất đầu lên không nổi đâu! - Nhưng con Phụng đã... Suýt nữa Nguyệt đã nói lộ ra chuyện Phụng từng phá thai một lần rồi, may mà cô dừng lại kịp... Bà Phủ tinh ý nên thắc mắc: - Bộ con Phụng đã... Nguyệt nói lảng ngay: - Đâu có chuyện gì. Tôi muốn nói con nhỏ đang có sức khỏe kém, không thể để nó bệnh hoạn bởi mang cái thai... nhưng thôi, tôi sẽ có cách khác... Thấy Nguyệt úp mở như vậy bà Phủ lo ngại: - Cô tính toán gì thì cũng nghĩ tới tôi với ông anh Hai cô. Ông ấy mà biết được chuyện con Phụng làm bậy bạ gì đó là ông ấy giết chết! Nguyệt nói ỡm ờ: - Làm thì làm cho đúng, chứ ai lại làm bậy... Cô nói xong đứng lên đi ngay, khiến cho bà Phủ càng lo thêm, bà gọi giật ngược: - Cô Út! Cô lại đây tôi hỏi thêm coi! Nhưng Út Nguyệt đã đi nhanh ra khỏi cửa. Bởi Phụng đang nằm ở ngôi nhà mướn chờ đợi... Từ hôm ở bệnh viện về, Phụng lúc nào cũng ở trong tâm trạng nơm nớp lo sợ, hoang mang. Vừa thấy Nguyệt về, cô nàng đã vồ lấy, khóc nức nở: - Con chết Út ơi! Nó... nó lại hành con... - Ai hành? - Cái thai! Từ sáng lúc Út đi thì nó liên tục quậy, làm con đau đớn không chịu nổi. - Đã uống chén thuốc an thai mà cô pha sẵn chưa? - Uống rồi, nhưng vừa uống vô là con ói ra sạch hết và cái thai càng quậy dữ hơn! Con chịu hết nổi rồi Út ơi! Họ đang nói chuyện thì từ ngoài cửa Lộc chạy ùa vào. Anh vừa thở hổn hển vừa mừng ra mặt: - Xong rồi cô Út ơi! Nguyệt ngạc nhiên: - Chuyện gì vậy? - Đứa... đứa nhỏ.. coi như xong rồi. Đến Phụng đang đau đớn mà cũng hỏi dồn: - Xong là sao? Lộc nói chậm từng tiếng một: - Nó biến đâu mất rồi! Út Nguyệt kinh ngạc. - Thật vậy sao? Mà biến đi đâu? Phụng lo lắng: - Thứ quỷ quái đó không dễ bỏ đi đâu. Nó là oan hồn thì chuyện ở hay biến mình làm sao kiểm soát được. Nhưng Lộc quả quyết: - Anh đã tìm khắp nơi rồi, không hề thấy nó. Và anh lấy ra bộ đồ trẻ con đưa cho Út Nguyệt xem, vừa trông thấy thì cả cô và Phụng đều kêu lên: - Đồ của nó! - Thì đây là quần áo đứa bé đang mặc, vừa rồi cháu tìm thấy nó bỏ ngoài sân. Phụng nghe trong bụng mình nhói đau và như có ai xúi, cô thốt lên: - Đem đốt nó đi! Lộc còn lưỡng lự thì Út Nguyệt giật lấy, cô chạy ra sân và châm lửa đốt liền. Bộ quần áo cháy rất nhanh và khi nó vừa cháy hết thì cũng vừa lúc Phụng bật đứng dậy vừa reo lên sung sướng: - Con hết đau bụng rồi Út ơi. Cô đưa tay xoa xoa bụng như còn chưa tin và rồi đột nhiên hỏi: - Hình như con... đâu còn có thai nữa? Hôm qua Út Nguyệt đã sờ vào bụng cháu mình, rõ ràng cái thai gò lên và động đậy nữa, còn bữa nay... Sau khi sờ vào, Nguyệt la lên: - Đúng là không có gì hết! Lộc chưa được thông báo việc Phụng có thai lần nữa, nên ngơ ngác: - Cái gì không có vậy? Út Nguyệt nháy mắt không cho Phụng nói, cô hỏi Lộc: - Tao hỏi thật, mày có ăn nằm gì với con Phụng từ bốn năm tháng nay không? Lộc thành thật: - Từ lúc Phụng phá thai đến giờ tụi con hoàn toàn không có gì với nhau hết! - Thật không? - Dạ thật. Con mà nói láo cho trời tru đất diệt con đi! Nguyệt cười: - Thấy mày thề thốt tao cũng tạm tin. Mà thôi, để tao lo vụ con Phụng cho xong đã... Cô quay sang Phụng thì cô này đang ưỡn ẹo ra vẻ mừng vui lắm: - Con không còn thấy có chút gì trong bụng hết. Chắc chắn là con... hết mang thai rồi Út ơi! Vô tình cô nói hớ lên khiến Lộc ngơ ngác: - Em mang thai? Đến nước này Út Nguyệt đành phải nói: - Con Phụng thấy bụng đau, đi bệnh viện khám, người ta ghi là có thai... Phụng chen vào nói: - Nhưng bây giờ hầu như không có gì! Út ơi, mình trở lại bệnh viện cho họ khám lại đi! Lộc xung phong: - Để anh đưa em đi! Út Nguyệt chặn lại: - Ở đây gần với nhà chồng con Phụng, họ mà thấy nó đi với mày thì họ cào nhà mày xuống! Thôi, để tao đưa đi, thằng Lộc muốn nghe ngóng thì đi theo, nhưng phải cải trang thành người nào đó, để thiên hạ không nhận ra. Lộc mau mắn: - Để con giả làm người đạp xe lôi. Con có quen với một bác có chiếc xe lôi đang bỏ không, cô Út và Phụng chờ cho một chút, con sẽ kiếm đồ thay rồi đưa xe tới đây chở Út và Phụng đi tới một bác sĩ sản khoa giỏi mà con có biết. Phần III Lộc đi chừng nửa giờ sau trở lại. Anh ngừng xe ngoài cửa gọi vào nhà: - Ai đi xe thì ra đi! Khi Út Nguyệt và Phụng bước ra họ đã vô cùng kinh ngạc khi nhìn trong lớp quần áo phu xe với chiếc nón lá rách lụp xụp trên đầu. Phụng kêu lên: - Anh giống dân xe lôi quá trời! Lộc đùa: - Cũng phải tập dần, để mai mốt về sống chung với Phụng, lỡ có thất nghiệp thì cũng có sẵn cái nghề để sinh nhai chứ! Họ leo lên xe, Lộc đưa tới một bà bác sĩ chuyên khoa sản. Sau khi khám thật kỹ, bà nói liền: - Tuy còn phải thử thở mới biết được chắc chắn là có thai hay không, nhưng qua các dấu hiệu cho thấy thì cô đây hoàn toàn không có gì hết! Phụng mừng rơn: - Vậy là thật rồi, mừng quá! Bà bác sĩ ngạc nhiên: - Không có thai mà mừng vậy sao? Có đứa nào chưa? Phụng lắc đầu: - Dạ chưa? - Chưa có con thì phải buồn khi chưa có thai chứ? Út Nguyệt phải chen lời: - Thưa bác sĩ là vầy... cháu nó chưa muốn có con để còn tiện làm ăn. Chờ lúc nào thuận tiện mới tính... Bà bác sĩ quay sang Lộc: - Anh chồng đây phải không? Anh cũng đồng ý với vợ sao? Lộc miễn cưỡng gật đầu: - Dạ, em cũng muốn vậy. Bà bác sĩ lắc đầu: - Từ nào đến giờ thân chủ của tôi hầu hết khi nghe chưa đậu thai thì thất vọng, chán nản lắm. Đây là lần đầu... Trả tiền khám bệnh xong, Phụng giục hai người: - Mình về thôi, chắc má tôi mừng íắm! Út Nguyệt hốt hoảng: - Bộ mày muốn trở về nhà hả Phụng? Phụng gật đầu: - Dạ, đúng rồl! Từ nay con không sợ gì nữa hết, con sẽ trở về nhà sống đàng hoàng, rồi con sẽ bỏ chồng, để chuẩn bị lấy anh Lộc! Nguyệt lo lắng: - Rồi biết ăn nói sao với bên phú hộ Tư Bền đây? Rồi thằng Tường nữa... Phụng tỏ ra bình thản: - Có gì mà phải lo. Bây giờ con nghĩ rồi, chẳng thà quyết định dứt khoát, chứ còn tiếp tục sống trong cảnh vợ hờ thì con không chấp nhận! Từ ngày lấy con, tay Tường chỉ ngủ nhà có ba đêm rồi biền biệt miết, con còn sống đời làm vợ kiểu đó được sao! Thấy Lộc im lặng nhìn đi nơi khác, Út Nguyệt hỏi: - Ý mày thấy sao, Lộc? Lộc quay lại đáp rất dứt khoát: - Con đã nói rồi, dẫu có chết con cũng quyết lấy Phụng! Phụng cảm động ngã vào vai Lộc, âu yếm: - Con không thể thiếu anh ấy được... Út Nguyệt thở dài: - Đành thôi, chứ biết sao... Ngay tối hôm đó Phụng theo Út Nguyệt vào thẳng nhà mình. Bà Phủ Hoài vừa thấy con về đã định quát một trận, nhưng khi thấy Phụng vẫn tươi tỉnh và bình thản thì bà hơi ngạc nhiên: - Mày có sao không vậy? Phụng ôm chầm lấy mẹ, cầm tay bà đặt lên bụng mình khiến bà Phủ rụt tay lại, la lớn: - Sao lại có thai, vậy còn đứa con mới sinh đâu? Phụng thản nhiên: - Bầu bì gì đâu má. Bộ má không thấy bụng con là bụng... con gái hay sao? Bà Phủ tròn mắt: - Mày với cô Út mày. Bộ muốn giỡn mặt với tao hả? Út Nguyệt giờ mới lên tiếng: - Cũng tại con nhỏ này, nó nói hoảng, làm em tưởng... Bà Phủ mừng rỡ: - Nếu vậy thì còn dễ ăn nói với bên kia. Rồi bà thắc mắc: - Sao cả chục năm nay rồi, từ lúc con Phụng được lên Sài Gòn sinh tới nay. Không hề thấy bên nhà Tư Bền qua hỏi thăm tiếng nào hết? Phụng được dịp kể lể: - Cái nhà đó mà biết gì tới ai ngoài họ đâu. Còn thằng Tường thì đi mút chỉ, hình như có vợ bé đâu trên Sài Gòn, còn nhớ gì tới nhà cửa, vợ con! Út Nguyệt được dịp chen vào, kể tội: - Tôi đã nói rồi, dứt khoát với cái nhà đó cho rồi mà chị còn không chịu! Bà Phủ dịu giọng: - Tôi cũng đâu có thiết tha gì, nhưng ngặt nỗi ông anh cô ông ấy sĩ diện, không muốn thiên hạ đàm tiếu. Bởi vậy cho nên... Phụng nói thẳng ra ý của mình: - Kỳ này con tính bỏ luôn! Nhân chuyện con đi sinh về mà không có con đem theo, con báo là sảy thai, chắc là họ sẽ giận dữ và kiếm chuyện, vậy cũng tốt, con sẽ tuyên bố bỏ về nhà cha mẹ luôn. - Không được đâu con... Bà Phủ can, nhưng Út Nguyệt đã đốc vào: - Cứ làm vậy đi con! Nếu mà bây không dám nói thẳng, thì để cô. Tôi sẽ đi với con Phụng qua bên đó nói chuyện với họ một lần cho xong! - Nhưng mà, còn anh cô... Nguyệt xẵng giọng: - Cùng lắm là anh Hai giết em chứ gì, em không sợ, miễn là em cứu con Phụng thoát cảnh khổ là được. Nói xong cô hối cháu mình - Mày đi liền với tao qua nhà họ! Phụng do dự: - Để từ từ đã cô. Con mới về, để con chơi với má con chút đã... Nguyệt nóng nảy: - Tao muốn đi liền, chứ để nguội tao mất lửa luôn, không nói được! Phụng đành phải đi theo. Cô sắp sẵn trong đầu kịch bản để nói với nhà chồng chuyện mình có thai mà không sinh. Thậm chí Út Nguyệt còn chỉ thêm cho một mánh nói hiệu quả hơn: - Mày cứ nói là sinh.. quái thai, nên sau khi sinh xong mày hoảng quá đã nhờ người bỏ đi rồi! Phụng dè dặt: - Mấy người già họ không chấp nhận vậy đâu. Có lẽ con sẽ nói là sinh con dị hình và vừa ra đời nó đã chết nên bệnh viện cho mai táng giúp rồi! - Ừ, cứ như vậy... Tuy nhiên, mọi việc diễn ra sau đó đã làm đảo lộn mọi dự tính của cả hai. Lúc vừa bước vào nhà đã gặp ngay bà chủ Bền. Hôm nay thấy mặt con dâu bà đã cười toe toét ngay: - Dữ không, tưởng mày bỏ luôn cục cưng của tao chứ! Phụng ngơ ngác nhìn bà rồi nhìn lại Út Nguyệt, chưa hiểu gì thì chủ Bền lại nói: - Nó dễ thương lắm mày ơi! Tao vốn ghét con nít, vậy mà từ lúc nó về đây tao thương hết biết, bồng ẵm không rời tay! Bà nói xong quay lại chiếc nôi đặt giữa nhà, bế lên một đứa bé còn trong tháng, vừa nựng nịu: - Cục cưng của bà nội ơi, con mẹ mày nó hư lắm sinh ra mày rồi bỏ đi luôn, bữa nay mới về! Dậy mà la cho nó một trận đi! Phụng thảng thốt: - Má nói... Bà chủ Bền sang thằng bé qua cho Phụng: - Sinh con dễ thương như vậy mà không chịu về bồng ẵm, cưng yêu nó! May là có nó nên tao tha cho, bây giờ về mà chăm sóc nó đi. Nhưng nhớ, cục cưng của ta à nghen, nuôi không kỹ thì biết tay tao! Phụng như từ trên trời rơi xuống: - Má nói...? Út Nguyệt cũng hỏi: - Đứa trẻ này là... Bà chủ Bền gắt lên: - Trời ơi, con nó mà nó còn hỏi! Bộ mày điên hả Phụng? Chứ đứa nào sai ẵm nó về đây, nói mày còn phải nằm bệnh viện dưỡng bệnh sẽ về sau. Lúc đầu tao định lên Sài Gòn kiếm mày, nhưng mấy bữa nay mắc ôm cái cục cưng này đâu làm sao đi được! Phụng ẵm đứa nhỏ trong tay mà chẳng hiểu ra sao, cô đưa mắt nhìn sang cô mình. Út Nguyệt lanh trí hơn, nên nói khỏa lấp: - Đúng rồi, con Phụng bữa nay mới khỏe... Nhưng ai ẵm đứa nhỏ về vậy? Hay là của ba nó? - Thì là con của thằng Tường chứ ai! Mà con thằng Tường là con của con Phụng! Bộ cô tưởng thằng con tôi nó năm thê bảy thiếp sao! Bà quay qua Phụng, cầm bàn chân của thằng bé lên, suýt xoa: - Bàn chân giống thằng Tường như khuôn đúc. Còn cái môi, cái mũi nó giống con như cắt để qua. May cho tụi bây, sinh ra mà không giống đứa nào thì chết với tao. Phụng nhìn kỹ thì công nhận lời nói của bà không sai, đứa bé trai quả giống cả cô và Tường không chối cãi đi đâu được. Bà chủ Bền chợt hỏi: - Về sao không thấy đồ đạc đâu hết? Út Nguyệt nhanh miệng đáp thay: - Nhân tiện tôi đưa nó về nhà, để đem qua sau. Rồi nhân lúc bà chủ không để ý, Út Nguyệt kéo cháu ra ngoài, hỏi nhỏ: - Chuyện này là sao Phụng? Phụng bối rối: - Nhiều chuyện quá con cũng không biết sao nữa... Hết thằng quái thai kia, rồi cái thai mắc dịch, và bây giờ lại thằng nhỏ này? Con nghi có thể con rơi của thằng Tường, rồi nó tìm cách đưa về đây để bắt con gánh quá! Nếu vậy thì con sẽ bỏ nhà đi cho Út coi! Út Nguyệt có được sự bình tĩnh lạ thường trong những trường hợp nguy. Cô suy nghĩ rất nhanh rồi nói: - Chuyện này rất có uẩn khúc. Để tao tìm hiểu... Phụng lắc đầu: - Chắc con chịu thua quá Út ơi! Con không còn chịu nổi những rắc rối nữa. Rồi bây giờ không lẽ con phải ôm con người khác mà nuôi sao? Bỗng từ miệng đứa bé thốt ra mấy lời nghe lạnh cả sống lưng: - Sao lại là con người khác. Con là con của bà đây mà! Suýt nữa Phụng đã buông rơi đứa bé xuống đất! Út Nguyệt đỡ lấy nó vừa run run nói: - Không xong rồi, còn nguy hơn cả quái thai nữa! *** Thầy Tư Thế không cần nhìn ra cũng đã biết là ai tới. Thầy cất tiếng:- Tới kịp lúc thì vào đi, còn ngần ngại nỗi gì nữa. Út Nguyệt nhìn Phụng rùng mình: - Ông này như có mắt ở ngoài đường vậy? Chưa đợi hai người bước vào tới nhà, thầy đã nói liền: - Cái họa đã tới rồi phải không? Tôi đã nói rồi, oan gia nghiệp chướng này thì khó mà thoát được nó lắm! Út Nguyệt mạnh dạn kể sơ qua câu chuyện đã xảy ra. Cô không kể rõ chi tiết, tuy nhiên thầy Tư đã nhắc: - Cô kể còn thiếu lần có thai sau này của cô kia? Rồi không đợi Nguyệt đáp, ông nói tiếp: - Đứa quái thai đã biến mất rồi phải không? Phụng nhanh nhảu: - Dạ, nó biến rồi, con mừng quá! - Thật ra nó không biến, mà chỉ thay đổi hình dạng thôi. Nó là biến thể của cái bào thai mà cô đã phá lúc năm tháng có thai. Nó chết đi và hiện về phá cô, báo oán thì đúng hơn! Nhưng do thấy cô quá sợ và khó lòng sống chung với cô và gia đình chồng, nên nó biến thành cái bào thai bất ngờ làm cho cô hoảng sợ mấy hôm! Chính nó định qua lần có thai lần nữa của cô để ra đời và bắt đầu cuộc báo oán ầm ĩ hơn... Phụng buột miệng: - Con đã không còn có thai nữa rồi thầy! Thầy Tư lắc đầu: - Có thể tự nhiên mà có thai được, bởi đó là mang thai của ma! Nhưng làm sao tự dưng mà hết có thai được. - Vậy tại sao...? - Cô đã sinh con mà không biết đó thôi! Con ma thì sinh cũng theo kiểu của ma! Cô vừa sinh non đứa bé đó trong lúc đi vệ sinh mà không hề hay biết. Và đứa bé đó hiện nay đang được bà nội nó nuôi! Út Nguyệt hoảng hốt: - Vậy ra đứa nhỏ đó... Thầy Tư trầm giọng: - Bây giờ nó đã lọt vào nhà phú hộ Bền được một cách êm xuôi, được cưng chìu nữa, như vậy coi như cuộc báo oán bắt đầu... Phụng nói vội: - Như vậy con có thoát được không thầy? Ông thầy lắc đầu: - Cô mang tội nghiệt quá lớn thì làm sao thoát được! Nhà phú hộ Bền do làm giàu bất chánh, từng có ân oán nặng với nhiều người và người ta muốn qua con cháu họ để báo oán. Đáng lý ra cô có thể thoát được, nếu cô không nhẫn tâm giết chết cái thai năm tháng tuổi đó. Bây giờ đứa bé vừa báo oán nhà Tư Bền, mà cô cũng phải lãnh phần. Nhưng do cha mẹ cô ăn ở có đức hơn, nên cô chỉ phải gánh chịu chuyện đứa bé cho đến khi nó được ba tuổi. Khi ấy nhà bá hộ Bền trả nợ xong thì cô cũng được thoát. Cho nên mọi chuyện của cô bây giờ là trở về nhà chồng và chờ cho đến mãn kỳ hạn mà thôi. Phụng hốt hoảng: - Cứu con thầy ơi! Con không thể chịu nổi... Nhưng thầy Tư đã đứng lên, giọng dứt khoát: - Ta chỉ biết và kể lại cho cô nghe thôi, còn mọi việc là do ở số phận, phúc phận của cô thôi. Về trước khi xảy ra những điều tệ hại hơn... Ông nói xong bước ra nhà sau rồi mất tăm luôn. *** Ba năm sau… Cả vợ chồng phú hộ Tư Bền đều ngã bệnh và cùng chết một ngày trước sự ngơ ngác của thân nhân! Khi cậu Hai Tường về thì đáng lẽ phải đau buồn và lo lắng chuyện ma chay, đằng này anh ta lại dửng dưng, phó mặc cho mấy người bà con. Anh ta còn ra lệnh cho người chú họ: - Chú lo chôn hai người họ xong thì bảo tất cả bà con ở quê lên phải về hết! Ông chú Tám của Tường bất mãn: - Bà con anh em người ta lên đây là do hay tin anh chị Tư chết, chứ đâu phải lên để nhờ vả gì đâu! Nhưng Tường vẫn hách dịch: - Tôi nói là sau đó tôi có chuyện phải làm việc với những quan chức ở Sài Gòn về. Tôi đâu cần nhiều người! Quá bất mãn với thái độ mất dạy của Tường nên đám bà con thân nhân đã kéo nhau về hết. Cũng may cho họ, chứ nếu họ còn ở lại thì chỉ mất công chứng kiến một chuyện không ai ngờ. Quả có khách Sài Gòn về thật. Nhưng họ không phải là khách thân thiện, mà họ về là để làm thủ tục tịch biên toàn bộ gia sản của phú hộ Tư Bền. Chính Tường cũng kinh ngạc: - Tại sao mấy người làm vậy? Một luật sư đại diện cho phía chủ nợ đã trưng ra các giấy tờ mà nhà này nợ ngân hàng họ. Số tiền quá lớn, đến Tường còn phải thất thần: - Sao nợ gì mà lớn quá vầy nè? Vị luật sư nói: - Phân nửa số nợ này là do cậu vay đã mấy năm nay rồi mà chưa trả, nay đã quá hạn. Tường gân cổ cãi: - Nhưng hôm nay tôi sẽ tính sổ và trả hết! Vị luật sư bảo: - Đó là ý của cậu. Còn thực tế thì tài sản nhà cậu đâu còn gì để mà trả. Đây cậu coi. Tường xem xong sổ sách, giấy nợ, anh thất thần: - Trời ơi, như vậy mấy ông tính sao với gia sản này? - Tính kỹ rồi, qua đối chiếu thì cả hai số nợ gộp lại thì tài sản này trọn vẹn đủ trả cho ngân hàng. Hôm nay chúng tôi làm thủ tục, yêu cầu anh ký tên. Tường hét lên như điên: - Tôi chỉ nợ một phần, còn lại ai nợ tôi đâu có biết? - Như cậu thấy đó, người ký giấy nợ là cha mẹ anh và người được hưởng một phần sau khi ngân hàng tính toán chính là đứa con còn nhỏ của anh. Nó sẽ được hưởng khi đủ tuổi trưởng thành. Tường bắt buộc phải ký tên vào giấy thanh lý. Sau đó anh ta phát điên và bỏ nhà đi mà chẳng biết là đi đâu. Thế là chỉ trong phút chốc thì cả cái gia sản kết sù đã biến thành của người khác. Phụng âm thầm bỏ đi, để đứa bé ba tuổi lại với chị vú em. Lạ một điều là hình như đã biết trước mọi việc, nên thằng bé vẫn bình thản khi biết Phụng bỏ đi. Nó còn nói như người lớn: - Bà vú cứ ở lại với con, rồi bà vú sẽ được đền bù! Chuyện kết cuộc đúng y như vậy: mười lăm năm sau đứa bé lớn lên và hưởng phần gia tài còn lại. Còn Tường thì chẳng thấy bóng dáng đâu. Có người nói hình như là anh ta điên đi lang thang rồi chết bờ chết bụi ở đâu đó... Rồi vào một đêm kia, ngôi nhà ngói như cái dinh thự của bá hộ Tư Bền đã bỗng dưng bốc cháy dữ dội vài giờ sau thì cả cái cơ ngơi đó thành tro bụi... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 30
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXX: Quán Cầu Hồn - Phần 1 CÔ GÁI TRÊN BÈ CHUỐI Trời mưa như trút nước, gió thổi mỗi lúc một mạnh thêm, bên ngoài trời tối đen như mực. Thỉnh thoảng, những tia chớp chỉ đủ cho Thái nhìn thấy được những lùm cây lờ mờ chứ không nhìn rõ được dòng sông. Thái vô cùng sốt ruột, bởi nếu đợi trời hết mưa thì làm sao con tim của anh chịu đựng nổi, trong khi hình bóng của Tuyết Mai vẫn bặt tăm. Tính đến lúc đó thì Mai đã mất tích đúng nửa ngày rồi. Đối với người khác thì nửa ngày không là bao. Nhưng đối với Tuyết Mai xưa nay chưa từng rời khỏi nhà dù chỉ một giờ mà không có lý do. Nhất là sáng sớm nay đã xảy ra một biến cố trong gia đình: Cha của Mai sau khi thức trắng một đêm, ngồi uống hơn một chai rượu whisky đã nổi điên lên, khóa chặt cửa phòng con gái lại rồi nói như một lời thề: - Nếu ai mở cửa cho nó ra khỏi phòng thì coi như đã xóa mạng thằng Tư Quang này! Tư Quang là tên tục của Monsteur Directeur Trần Đại Quang, mà có người còn gọi trịnh trọng là quan lớn Đại! Đã nổi tiếng là sát thủ khi giữ chức giám đốc Nha cảnh sát, mà ngoài đời thường lão Quang còn là khắc tinh của con cái trong nhà. Không ai không sợ mỗi khi nghe tiếng đằng hắng của ông ta, vậy mà trong nhà chỉ có cô con gái út Tuyết Mai là không hề bị ông ta khuất phục! Cụ thể như chuyện chiều qua, lúc ông đi làm về và gọi Tuyết Mai ra bảo: - Con chuẩn bị thay quần cho thật đẹp, thật sang trọng, rồi bảy giờ tối nay đi với ba dự buổi tiệc chiêu đãi của ngài Thống sứ Pháp. Lập tức ông ta nhận được câu trả lời của con gái: - Ba đi một mình đi, con không bao giờ tới gặp họ. Bởi chẳng có việc gì con phải gặp ông ta cả! - Gặp thằng Robert chứ ai bảo con gặp lão già đó làm gì! - Dứt khoát không! Nói xong, Tuyết Mai bỏ ra sân định lấy xe đi, lập tức lão Quang đã gầm lên: - Mày nói chuyện kiểu đó với ai vậy, con ranh kia! Bà vợ ông ta từ trên lầu bước xuống, thấy vậy thì hoảng hốt, nhào tới kéo tay lão ta lại. Bởi bà thừa hiểu, chọc giận lão cỡ đó thì chỉ có nước tự sát! Nhưng Tuyết Mai vẫn ngang bướng quay lại nói: - Ba bảo con đi đâu cũng được, nhưng đi tới nhà tên Tây đó thì con thà chết chứ không bao giờ đi! Lão Đại Quang không còn dằn được, bước thẳng ra sân, dang thẳng cánh tay và tát mạnh một cái, khiến cho cô con gái bé bỏng của lão ta đang ngồi trên xe đã phải ngã nhào xuống đất, trước sự hoảng sợ của bà mẹ: - Trời ơi, ông giết con sao! Bà định lao ra thì lão Quang đã như một con mãnh thú, cúi xuống nắm búi tóc dài của Mai, lôi xềnh xệch vào nhà. Nhìn đôi mắt lão long lên, bà Thanh Nguyệt biết khó mà cản nổi cơn giận, nên chỉ biết đứng yên, gào lên trong vô vọng: - Nó là con mình mà, ông ơi. Lão Quang hầu như điên cuồng, chẳng còn nghe ai nói gì nữa, lão lại dang tay tát liền mấy cái nữa vào mặt con gái. Tuyết Mai lúc ấy chỉ còn như một cánh hoa nghiêng ngả trước gió bão, chỉ vài chục giây sau thì cô đổ nhào xuống sàn nhà, cùng lúc là tiếng quát to của lão sát thủ: - Nhốt nó lại trong phòng! Rồi từ đó đến hết đêm, lão Quang đuổi hết người nhà ra, đóng cửa phòng lại và ngồi uống rượu một mình. Cho đến sáng thì người nhà phát hiện lão Quang gục tại chỗ, say đến không còn biết trời đất gì nữa, còn cửa phòng của Tuyết Mai thì mở toang. Cô con gái út của lão Quang đã biến mất. Người nhà của Tuyết Mai ngầm báo tin cho Thái biết, thay vì chạy theo mọi người đi nhiều hướng để tìm, Thái lại chọn ngôi nhà bên dòng sông La Ngà này để ngồi đợi. Nó có lý của nó, bởi nơi này chính là chỗ hẹn đầu tiên, cũng là điểm mà mỗi khi cần gặp nhau thì anh và Tuyết Mai thường tới. Cơn mưa đột ngột khiến Thái phải chôn chân ở trong căn nhà lá mà thường khi Thái vẫn gọi đó là Thảo Mai quán (quán lá của Mai), bởi quán rất vắng khách, đôi khi suốt buổi chỉ có anh và Tuyết Mai là khách. Chủ quán có lần giải thích với Thái: - Vợ chồng già chúng tôi ở đây, nên sẵn đó mở quán bán, khách nào tiện đường thì ghé uống nước, nghỉ chân, chứ thật ra nơi này vắng và khuất, có mấy khách lui tới đâu! Do vì quán vắng và là nơi quen biết, nên từ đầu cơn mưa đến giờ, Thái chưa thấy chủ quán đâu, nhưng anh cũng không quan tâm, anh chỉ nôn nao trong dạ về sự biệt tăm của Tuyết Mai mà thôi... Có những tiếng động bất thường ở phía ngoài, hướng bờ sông, Thái căng mắt nhìn ra, nhưng không thấy gì, phải đợi đến lúc một tia sấm chớp nữa, anh mới thoáng thấy có một bóng người đang khệ nệ ôm vật gì đó vừa chạy rất nhanh vào quán. Lúc tông cửa quán vào, người đó lên tiếng: - Mưa gì mà mưa như điên thế này, may mà quán chưa sập! Đó là ông chủ quán. Thái lên tiếng ngay: - Bác Hai hả, cháu là Thái đây! Nghe tiếng anh, ông chủ quán reo lên: - Mav rồi! có cậu đây rồi! Ông đặt vật trên tay xuống một cách cẩn thận, vừa hướng về phía Thái: - Sao cậu còn ở đó, có biết ai đây không? Thái chưa kịp chuyển động thì lão chủ quán đã gắt lên: - Nhanh lên, cô ấy chưa biết sống chết thế nào nữa! - Ai? - Cô bạn cậu! Tôi đang bơi xuồng từ bên kia sông sang thì may trông thấy cô ấy đang chới với sắp chìm. Vớt lên xuồng rồi tôi mới lờ mờ nhận ra là cô bạn của cậu. Như bị điện giật, Thái bật ngay dậy lao tới và hốt hoảng lên tiếng: - Có đúng là cô ấy không? Cô ấy... - Đang bị ngất đi sau khi tôi kéo lên khỏi mặt nước, như vậy không phải chết đuối. Chắc là do sợ và lạnh quá. Vừa chạm vào cánh tay của cô nàng, Thái suýt rút tay về, bởi hơi lạnh khác nào băng giá. - Tuyết Mai! Thái nghe một tiếng ư nhỏ, rồi bàn tay nàng nắm lấy tay anh, tuy yếu, nhưng đủ để xác định mình còn sống. Thái quên hết cả mệt, anh ôm chầm lấy người yêu mà quên là nàng đang ướt đẫm và lạnh. - Cậu tìm cách thay quần áo khô cho cô ấy ngay đi! Thái tuột phăng quần áo ngoài của mình ra và nhân cơ hội ông chủ quán bước vào trong nhà, lột quần áo ướt của Mai ra, thay thật nhanh. Vừa lúc ngọn đèn dầu được chủ quán đốt lên và giọng thúc giục của ông ta: - Cậu mau đưa cô ấy vào trong đi, có chiếc giường đó, cho cô ấy nằm đỡ. Có cả mền nữa, tuy không sạch lắm, nhưng lúc này cần phải trùm để cô ấy ấm, tránh cảm lạnh. Chờ tôi đốt bếp lửa lên, cậu hơ cho cô ấy. Thái nghe theo, nhưng vừa bế Tuyết Mai vào tới phòng trong thì anh nghe nàng thỏ thẻ bên tai: - Em tỉnh rồi, nhưng cứ làm như em còn mệt, anh ôm em đi! Thái thở phào nhẹ nhõm, cất đi gánh lo ngàn cân từ cả buổi vừa qua. Anh bảo cũng thật khẽ: - Cứ nằm yên đó. Khi ông chủ quán Hai Lượm bưng bếp lửa vừa nhóm xong vào thì giọng ông vẫn còn lo lắng: - Tôi mà tới chậm chừng nháy mắt nữa thì cô ấy đã chìm rồi, mưa quá lớn và gió cũng mạnh nữa. Người cỡ tôi đây mà trầm mình dưới nước như thế cũng chịu không nổi nữa là... Không đợi bếp lửa cháy rực lên thì người của Tuyết Mai đã ấm lại rồi. Chính Thái cũng ngạc nhiên: - Em rơi xuống nước lâu chưa mà người không lạnh? Nàng đáp khẽ: - Sao không lạnh. Hồi nãy bộ anh không thấy sao… Thái nhớ lại lúc mới chạm vào cánh tay của Mai anh suýt kêu lên, nên anh càng ngạc nhiên hơn: - Bây giờ hầu như chẳng còn chút gì là lạnh lẽo nữa. Kỳ vậy? - Nhờ anh đó! Thấy trong hoàn cảnh này mà nàng còn đùa được, Thái hỏi nhỏ: - Nói cho anh nghe coi, em biến đi đâu mất từ đêm qua đến giờ? Nói chuyện vô cùng hệ trọng mà giọng Mai dửng dưng như không: - Em đi tự tử! - Kìa, Tuyết Mai! Thái nghĩ nàng trong tâm trạng bất an nên nói năng không kiểm soát, anh đem chuyện nghe thấy ở nhà thuật lại cho Tuyết Mai nghe. Nhưng vừa nghe xong, Mai chỉ nói gọn lỏn: - Cha mà ác tâm với con, thì coi như con nó đã chết! - Mai... Nàng đưa tay bụm miệng anh lại: - Tốt hơn hết là anh đừng nói gì chuyện nhà em hết. Chỉ biết bây giờ em đang ở bên anh là tốt rồi! Mà điều này thì cách đây vài giờ tưởng chừng như em đã... Thái nghe chừng như trong cách nói năng của Mai có chút gì đó khang khác. Anh định hỏi, nhưng lúc đó ông Hai chủ quán đã bước vào, nên anh thôi. Bấy giờ ông mới hỏi: - Sao cậu thì ở đây, còn cô thì chìm dưới sông là sao? Bộ đi bơi xuồng rồi cô bị rớt sông, trời mưa cậu tìm không được phải không? Thấy Mai chừng như không muốn giải thích, nên Thái đỡ lời: - Dạ, đúng vậy thưa chú. - Cậu chọn cách ngồi ở quán đợi cũng là cách khôn ngoan. Chứ nếu không thì... Rồi chợt ông đổi giọng: - Cũng may cho cô cậu, nếu chuyện xảy ra ngày mai thì quán này đóng cửa, không có ai ở đây, cậu đâu vào quán ngồi đợi được. Thái ngạc nhiên: - Sao chú đóng cửa quán? Chú bận việc gì sao? - Không phải bận, mà đóng cửa luôn. Chờ đến khi nào bán cho chủ khác, họ thích mở quán nữa thì mở cửa bán, còn không thì tùy họ. Thái tắc lưỡi: - Chú bỏ quán này uổng quá. Rồi còn chỗ đâu để tụi này... Ông chủ quán hỏi một câu bất ngờ: - Cậu có biết ai mua quán không, tôi bán rẻ? Thái cười, lắc đầu: - Cháu đâu biết. - Hay là cậu mua đi, làm nơi hóng mát! - Dạ, cháu... Chợt giọng Tuyết Mai rót nhẹ vào tai anh: - Anh mua đi! Thái định hỏi lại, nhưng sợ lộ chuyện nàng tỉnh lại, nên anh phải lúng túng: - Dạ... Ông Hai quả quyết: - Tôi nói thật đó. Nếu cậu mà mua thì tôi bán thật rẻ. Để cho cậu tôi thích hơn là bán cho người khác, họ sẽ phá nơi này làm lại, tôi thấy uổng... Thái còn lưỡng lự thì nàng lại giục: - Ừ đi! - Dạ... Thái ậm ừ như vậy, nhưng ông Hai thì ngỡ anh đồng ý, nên quyết ngay: - Bán cho cậu giá chỉ bằng tiền mua hai chiếc xuồng thôi! Tôi gom tiền mua chiếc ghe đủ hai vợ chồng chèo lên chèo xuống con sông này, chứ bây giờ tôi cũng không còn thích sống một chỗ nữa. Vậy nghe, cậu cứ đưa trước cho tôi phân nửa cũng được. Thái lại bị thúc ngầm, cuối cùng anh phải gật đầu: - Thôi, cũng được. Cháu cũng cần một nơi để tới lui. - Rồi, sáng mai mình nói chuyện cụ thể hơn. Bây giờ cô cậu có thể nằm giường đó ngủ đi, tôi ra ngoài này. Nhớ, nếu cô có bệnh hoạn gì thì kêu tôi liền. Trời đã ngớt mưa... Nhưng đêm cũng khá khuya. Thái hỏi khẽ: - Anh ngủ chung, có tiện không? Nàng bất ngờ ôm chặt lấy Thái, khiến anh gần muốn ngạt thở, cố đẩy ra thì Mai dỗi: - Bộ không muốn gặp người ta hả? - Bậy. Anh chỉ ngại... Yêu nhau đã hơn ba năm, đây là lần đầu tiên Thái mới biết mùi vị của cơ thể người yêu. Anh lóng cóng mãi mới đánh bạo ôm lại và đặt một nụ hôn nhẹ lên môi nàng. Bất ngờ Thái bị nàng ghì chặt, môi anh gần như dính vào môi nàng, khó mà rời ra được! Ở ngoài kia, ông già Hai hình như cũng chìm vào giấc ngủ... Khoảng một canh giờ sau... Chợt Thái nghe nàng nức nở khóc! Quá đỗi ngạc nhiên, anh hỏi khẽ: - Chuyện gì vậy? Nàng thổn thức đáp: - Người ta đã là vợ anh rồi, đã bỏ nhà đi rồi, nếu anh bỏ em thì... em đi luôn! Thái kề sát tai nàng, rót vào những lời bằng tất cả chân tình: - Anh thề mà. Anh chẳng bao giờ thay đổi. Chỉ sợ em thôi. - Em thì chỉ có mình anh. Em trốn nhà đi cũng chỉ vì ba em bắt ép gả cho người mà em không yêu. Ba đã hành hạ em như không phải tình máu mủ, cho nên bây giờ em chỉ còn trông cậy vào anh thôi. Anh mà bỏ em nữa, em sẽ... Bụm miệng nàng lại, Thái nghiêm giọng: - Đừng nói gở. Anh thề với em. Người ta thường nói sau cơn mưa trời lại sáng, hôm sau quả đúng như thế. Bầu trời buổi sáng thật trong lành, rạng rỡ. Chừng như sau một cơn mưa lớn đã gột rửa những bụi bặm, u ám đi hết, bình minh chào đón hai tâm hồn trẻ vừa vượt qua cơn sóng dữ bằng ánh nắng sớm xuyên qua khe cửa sổ vào phòng. Thái bật dậy thì không thấy Tuyết Mai đâu, anh lo lắng cất tiếng gọi: - Mai ơi, em ở đâu? Có tiếng đáp của chú Hai chủ nhà: - Cô ấy thức sớm và đi ra ngoài sông, có lẽ hít thở không khí trong lành buổi sáng. Cậu cũng nên ra đó. Thái vừa bước ra thì ông già bảo: - Lát nữa tôi có việc phải đi, hai cô cậu cứ ở lại đây rồi ít hôm tôi trở lại mình tính toán chuyện cái nhà cũng được. Xem ra cô ấy cần phải có thì giờ nghỉ ngơi nhiều đó cậu Thái. Thái cám ơn ông rồi đi thẳng ra ngoài bến sông. Tuyết Mai đang ngồi đó với dáng vẻ ưu tư, khác hẳn với sự tươi tắn, linh hoạt của đêm qua. - Sao em không gọi anh dậy? Mai nhìn lại anh với vẻ buồn buồn. Thái lo ngại: - Có chuyện gì vậy em? Nàng không đáp, chỉ nhẹ lắc đầu rồi kéo Thái ngồi xuống bên cạnh. Một lúc sau, nàng đưa tay chỉ một đám lục bình trôi từ xa lại, hỏi: - Anh nhìn kỹ xem, có phải là chiếc bè chuối không? Thái nhìn rồi đáp: - Không phải, lục bình đó. Nhưng sao em quan tâm tới bè chuối làm gì? Nàng nhẹ lắc đầu: - Thì em hỏi vậy mà... - Sao em không vui? Hay là đã hối hận chuyện đã... cho anh? Nàng siết chặt tay Thái: - Điều đó làm cho em vui hơn thì có. Chỉ có điều... Nàng lại có vẻ lo lắng, chỉ tay về phía xa và hỏi: - Có phải cái bè chuối không? Thái nhìn lại và vẫn lắc đầu: - Không phải... Tuyết Mai đột ngột hỏi: - Nếu bây giờ em xa anh thì anh làm gì? Thái trố mắt nhìn nàng trân trối: - Nãy giờ em toàn nói chuyện gì đâu, em sao vậy Tuyết Mai? - Nhưng câu em hỏi anh chưa trả lời? - Còn làm gì nữa. Anh sẽ đi theo em! Mai lại lắc đầu: - Không được, trong chúng ta chỉ có một người phải xa thôi. Người đó là em. Em hỏi thật, anh có dám ở lại đây ròng rã vài ba năm không? Thái kêu lên: - Em lại nói lăng nhăng nữa rồi! Nàng nghiêm giọng: - Em hỏi thật đó. Anh sẽ làm gì nếu ở lại đây một mình? Hay là sẽ đi tìm người con gái khác về cùng chung sống? Thái siết chặt nàng trong vòng tay: - Tìm người này nè. - Anh có chắc vậy không? - Chắc chắn là vậy. Anh thề... Nàng ngả vào lòng Thái, hai khóe mắt ươn ướt. Thái hốt hoảng: - Em sao vậy? - Em... Đột nhiên Tuyết Mai ôm lấy ngực, không nói được lời nào, nhưng trông dáng vẻ thì đau đớn lắm. Thái sợ hãi: - Em sao vậy, Tuyết Mai? Em đừng làm anh sợ. Nàng nói qua hơi thở gấp: - Đỡ lấy em. Cho em nhìn ra ngoài sông... Vừa khi ấy nàng reo lên, giọng nghe rất yếu: - Cái bè chuối! Quả nhiên, khi nhìn ra sông Thái thấy một chiếc bè chuối trôi giữa dòng. Nàng hốt hoảng: - Vớt nó lên, đừng để nó trôi đi! Chưa biết là chuyện gì, nhưng Thái thấy người yêu nói như thế cũng định đứng lên, vừa lúc đó có tiếng của ông già Hai chủ quán: - Trên bè chuối hình như có cái gì đó, để tôi bơi xuồng ra vớt lên coi! Sẵn xuồng, ông bơi nhanh ra và chặn được hướng trôi của chiếc bè. Lát sau ông Hai vào tới, ông gọi từ dưới bến: - Hai người xuống coi nè, có một đứa bé trên bè! Dù đang rất mệt nhưng nghe nói thế Tuyết Mai giục: - Anh đưa em xuống đó coi. Thái phải dìu mới đưa Mai đi được. Vừa nhìn thấy đứa bé nằm gọn trong chiếc khăn trùm kín, Tuyết Mai reo lên: - Đúng rồi! Và đột nhiên nàng ngã ra ngất đi. Thái hốt hoảng: - Tuyết Mai! Em... em sao vậy? Em... Ông già Hai bảo: - Chắc cô ấy xúc động khi nhìn thấy cảnh này. Vậy cậu đưa cô ấy lên nhà đi, để tôi bế đứa bé. Ông bế đứa bé lên, nó giật mình khóc thét, đồng thời từ miếng tã lót trên lưng nó rơi ra một mảnh giấy, Thái không để ý, nhưng một cách ngẫu nhiên, mảnh giấy ấy bị gió thổi tung lên, rồi bay đáp đúng vào giữa ngực của Tuyết Mai, tức nằm đúng tầm mắt Thái, anh đọc được rõ ràng: - Hãy nuôi nấng nó chu đáo. Còn mạng sống của nó tức là còn mạng em! Đang mang nặng, bỗng Thái dừng ngay lại, anh buông một tay ra và đưa lên mũi của nàng. - Trời ơi, Tuyết Mai. Thái phát hiện nàng không còn thở nữa! - Chú Hai ơi, cô ấy đã chết rồi! Đưa Mai vào trong nhà, xem kỹ lại thì đúng là nàng đã tắt thở, tim ngừng đập! - Sao vậy chú Hai? Sao vậy Mai? Thái cứ lặp lại câu hỏi mà chẳng ai trả lời cho anh. Hồi lâu ông Hai mới lên tiếng: - Để tôi qua bên kia sông rước thầy về xem cô ấy bị bệnh gì. Thái lắc đầu: - Không cần đâu chú, cháu đã nghĩ ra rồi, cô ấy đã biết trước mình sẽ chết nên đã chuẩn bị rồi. Đứa bé này, mảnh giấy viết sẵn này. Anh đưa cho ông Hai đọc tờ giấy. Ông già đồng tình: - Cậu nói đúng. Nhưng phải tìm hiểu nguyên do nào khiến cô ấy làm điều này? Tự tử phải không cậu? Thái quả quyết: - Không phải. Hình như... Thái nhớ lại từng cử chỉ, lời nói của Tuyết Mai suốt đêm qua. Mọi việc đã báo trước mà anh không để ý. Anh quay sang ông chủ quán: - Cháu sẽ mua ngay quán này. Cháu sẽ ở cùng cô ấy nơi đây. Ông Hai buồn bã nói: - Tôi cũng không nỡ lấy tiền cậu. Hay là... Thái móc ngay số tiền đang có trong túi: - Chú cứ cầm lấy trước số này, còn lại bao nhiêu một tuần nữa cháu sẽ đưa luôn. Ông Hai đưa tiền lại cho Thái: - Tôi chưa cần ngay, cậu cứ để lại đó lo cho cô ấy, chừng nào tiện tôi sẽ nói cậu đưa. Tôi cũng ở lại đây giúp cậu một tay cho xong việc rồi mới đi. Nhờ ông nên việc hậu sự cho Tuyết Mai được chu tất. Ban đầu Thái muốn về báo cho cha mẹ Tuyết Mai hay, nhưng nhớ lại những cơn giận dữ điên cuồng của ông Tư Quang thì Thái bỏ ngay ý định. Anh phân trần với ông già Hai: - Có bác làm chứng cho về cái chết của cô ấy, để sau này tránh người ta nghĩ là cháu. Ông Hai hiểu ý: - Cậu yên tâm, cứ mai táng cô ấy ở phần đất phía sau nhà này, đất đó của riêng cậu về sau, không ai tranh chấp cả. Thái để xác của người yêu qua đến ngày hôm sau mới chôn. Lạ một điều là đã chết rồi mà sắc mặt của Tuyết Mai vẫn tươi nhuận, y như đang nằm ngủ! Thái lưỡng lự mãi rồi mới cho xuống huyệt. Tuy nhiên, trước giờ hạ huyệt thì đứa trẻ bỗng khóc thét lên như phản đối! Thái phải dừng tay, anh bảo ông già Hai: - Chú Hai để ý xem, có phải đứa bé không muốn mình chôn xác cô ấy xuống mộ? Thái thử một lần nữa, lần này anh đích thân ôm xác Mai ra, cho cỗ quan tài xuống trước, rồi mới đặt nàng trở lại. Vẫn tiếng khóc thét còn lớn hơn lúc nãy! Thái chưa biết phải làm sao thì bỗng một cơn gió thật mạnh thổi lên, rồi cát bụi bay mịt mù. Lúc lặng gió trở lại, bỗng Thái kêu lên thảng thốt: - Tuyết Mai. Cô ấy... Không còn thấy xác của Mai đâu, mà cỗ quan tài thì đã bị cát đất lấp kín lại, như vừa mai táng xong. Thái ngỡ ngàng một lúc rồi hỏi ý ông Hai: - Mình có nên đào trở lên không chú? Suy nghĩ một lúc, ông Hai nói: - Nếu trời đất khiến không để cho cậu đích thân chôn cất thì cậu cũng không nên cãi lại. Thôi, dù gì thì cô ấy cũng đã ở dưới rồi, ai chôn cũng được. Sau khi đắp mả cẩn thận, Thái trở vào nhà và anh muốn đứng tim khi nhìn thấy cái xác của Tuyết Mai đang nằm yên như đang ngủ trên giường. - Tuyết Mai! Thái kêu lên rồi đứng như trời trồng... *** - Dô!- Dô trăm phần trăm mày! Tám Lành và Năm Sự đã cụng đến ly thứ năm, nên giọng điệu có phần chếnh choáng. Họ uống chưa hết ly rượu vừa cụng thì bỗng nghe tiếng ai sau lưng: - Dô bằng ly đó mà cũng dô. Có ngon thì chơi mỗi lần một chén coi! Ba Tàng mặt mày đỏ gay, chắc là đã nhậu lâu rồi, anh ta nhắc lại: - Thằng nào dám chơi với ta hai chén không? Ai thua thì phải làm chuyện mình thách đố ngày hôm qua! Tám Lành vốn không ưa tật châm chọc của Ba Tàng, nên trợn mắt nhìn anh ta: - Mày có dám chắc là làm được không? Hay là thua rồi rút êm? Ba Tàng tru môi: - Thằng này chưa từng làm thỏ đế nghe! Chơi không? Tám Lành quay vào trong quán gọi lớn: - Cho mượn cái tô múc canh chủ quán! Chủ quán Tư Son mang tô ra liền, mụ ta nói khẽ với anh chồng đang xớ rớ cạnh đó: - Ba cái rượu ông mua về bán cho ai cũng chê, bữa nay có mấy thằng này thách đố, đem ra cho nó uống hết! Thật ra sức của mấy tay này chỉ chịu nổi nửa tô là bò càng rồi! Ba Tàng la lớn: - Mày thua rồi, Tám Lành! Mày... Anh ta nói chưa dứt câu đã lăn kềnh ra, chẳng còn biết trời trăng gì nữa. Tám Lành cũng chẳng khá hơn, anh ta làm rơi tô rượu, tô vỡ tan tành, rồi cũng ngã nhào như cây chuối bị đốn! Còn lại mình Năm Sự, anh ta ra vẻ ngon: - Mấy thằng nhóc, tửu lượng bao nhiêu mà cũng bày đặt! Ông già Hai nãy giờ ngồi im ở góc nhà giờ mới bắt đầu lên tiếng: - Có phải tụi nó thách đố chuyện đứa nào dám qua quán của thằng Thái bên kia sông chứ gì? Năm Sự vỗ ngực: - Anh nó đây mà dám múa rìu qua mắt thợ à! Ông già Hai dò hỏi: - Vậy chú mày dám làm chuyện đó? - Chuyện gì ông già? - Thì chuyện đột nhập quán Bảy Thái! - Dư sức qua cầu. Chợt ông già phá lên cười: - Tao thấy mắc cười tụi bay quá trời! Ai đời chuyện của người ta, chẳng mắc mớ gì mình, lại cá độ với nhau rồi uống đến chết lên chết xuống thế này, có phải ngu không! Năm Sự tỏ ra rành chuyện: - Sao lại không mắc mớ! Ông Hai không nhớ là cái quán cũ của ông, sau khi ông sang lại cho thằng trẻ tuổi đó nó dẫn về con vợ trẻ măng, để rồi con vợ lăn kềnh ra chết. Tưởng đâu vợ chết nó sẽ bỏ đi, để tụi này kiếm cái quán đó làm chỗ chứa cờ bạc ai dè nó vẫn bám trụ, ở lì. Mà còn gay go hơn nữa, hình như nó có vợ khác hay sao đó... Có người đồn đêm nào họ cũng nghe trong buồng nhà nó có tiếng rù rì thủ thỉ kỳ lạ lắm! Ông già Hai nghe tên nọ nói thế thì có vẻ lo trong lòng, ông nghĩ hắn ta biết khá nhiều chuyện, như vậy Thái sẽ không ổn. Mà điều đó không làm sao yên tâm, nên tìm cách nói dạt ra: - Tụi bay toàn nghĩ tào lao! Tao biết thằng đó, nó là học trò mới ra trường, có con vợ trẻ bị chết nên thua buồn ở lại đó để tưởng nhớ con vợ chớ có rước ai khác đâu, đừng nghĩ bậy! Năm Sự vẫn không thôi: - Người ta còn đồn là không thấy anh chàng ấy đi chợ bao giờ, nhưng bữa nào cũng ăn ngon, có người dọn ăn cho. Như vậy không rước đàn bà khác về thì ai làm? Ông già Hai gắt giọng: - Mà ví dụ nó có vợ khác đi nữa thì cũng đâu mắc mớ gì mình. Tụi bay rõ là kiếm chuyện. Năm Sự cười hô hố: - Ông Hai quên là tụi này đang muốn lấy hoặc mua lại rẻ căn nhà đó để chứa bài hay sao? Tôi nói thật, bằng mọi cách tụi này cũng làm cho thằng đó phải dọn nhà đi mới thôi! Nghe giọng nói của hắn, ông già Hai ghét lắm, nhưng ông biết nói ra sự chống đối lúc này không có lợi, nên ông chỉ tìm cách lái câu chuyện đi hướng khác: - Tụi bay không nghe đồn gì sao? Là chuyên gia nghe ngóng những lời đồn thi, nên Năm Sự chú ý ngay: - Chuyện gì ông Hai? - Chuyện con heo quay của nhà Hương cả Thạnh thả trôi sông trưa nay! Quả là tin quá hấp dẫn, Năm Sự hỏi tới: - Sao tới bây giờ ông già mới nói, bây giờ là mấy giờ rồi? - Sắp sửa thôi chớ chưa tới. Tụi bay mà đón ở cửa Hội đồng thì thế nào cũng lấy được. Tao nghe tụi thằng Sáu Lùn cũng quyết cướp con heo đó, nghe nói heo thật lớn, đến gần một tạ! Năm Sự vỗ đùi: - Tổ cha thằng Sáu Lùn cũng không ăn được con heo này nữa là nó! Nhưng mà... Anh ta nhìn lại hai thằng bạn mình thì thất vọng: - Chiến hữu mà như vậy thì còn làm ăn gì được nữa. Chợt hắn ta búng tay nghe cái tróc và reo lên: - Có cách rồi! Hắn quay sang ông già Hai: - Ông cho tôi mượn cái dây lưới giăng dài của ông đi! Biết cho mượn thì coi như đi đời tay lưới kiếm cơm của mình, nhưng ông già Hai đành phải chiều lòng hắn: - Lưới cơm của tao nghe mày, làm gì cũng phải giữ cho kỹ, đừng để rách nghe chưa. Năm Sự nheo mắt: - Trăm phần trăm ngon lành mà ông già! Đã đoán biết là hắn mượn tay lưới dài để làm gì rồi, kiểu đó thì còn gì là lưới của ông, nhưng già Hai chỉ khẽ lắc đầu rồi đi lấy lưới ra đưa cho hắn. Đợi cho Năm Sự đi rồi, ông già Hai gọi thằng con út ra: - Con chèo xuồng qua sông liền, tìm gặp anh Thái mày, nói ba dặn như vậy... như vậy... Thằng út Hơn rất khoái, mỗi lần sang chỗ Thái để được anh dạy cho vẽ hình, cho nên nó phấn khởi đi ngay. Còn riêng Năm Sự, sau khi có được tay lưới, hắn trở ngay về nhà, lấy chiếc xuồng nhỏ, bơi ngược dòng sông về hướng nhà Hương cả Thạnh. Đi ngang qua khúc cua Hội đồng, hắn thoáng thấy lố nhố mấy bóng người đang tụ nhau dưới gốc cây bần, trong số đó có bọn thằng Sáu Lùn. Năm Sự khéo léo mọp người khi đi ngang qua đó, và nhờ vậy hắn không bị bọn kia phát hiện. Hắn lên trên đó khoảng vài trăm bước, neo xuồng lại rồi cột một đầu lưới vào gốc cây dừa. Xong, hắn lặn xuống và băng qua sông, tránh không để ai phát hiện. Qua bờ bên kia, hắn trồi lên và cột một đầu lưới vào một gốc bần. Như vậy hắn đã có được một cái bẫy, mà bất cứ vật gì như chiếc bè chuối trôi ngang qua cũng sẽ bị vướng lại, và... Tự cho là mình thông minh khi nghĩ ra cách này nên Năm Sự cười đắc ý, rồi nấp kỹ để chờ... Quả nhiên, đúng ngọ thì một chiếc bè chuối thật lớn, cỡ như một chiếc xuồng ba lá từ trên trôi xuống. Năm Sự hồi hộp khi nghĩ tới con heo quay béo ngậy, vàng ươm đang nằm trên bè... Bữa nay sau khi tụi thằng Tám Lành, Ba Tàng tỉnh lại sẽ phải phục lăn hắn ta, và đêm nay bọn hắn sẽ tha hồ mà chè chén tới sáng luôn! Bè chuối trôi mỗi lúc một gần hơn, và rõ ràng trên bè có một vật to như con heo trăm ký đang được phủ bằng mấy tàu lá chuối, trông hấp dẫn làm sao! Và đúng như Năm Sự mong đợi, chiếc bè trôi tới rồi vướn vào dây lưới giăng ngang, dừng lại giữa dòng! Mắt Năm Sự sáng lên, hắn lao ra ngay và kéo chiếc bè vào bờ, lựa một chỗ khuất, vừa định giở lá chuối phủ con heo ra thì đã nghe giọng lè nhè cất lên: - Thằng khỉ đột, định ăn một mình à! Nhìn lên, thấy Tám Lành và Ba Tàng chân hươu chân nai vừa trờ tới. Năm Sự giục: - Mau tiếp một tay coi, hai thằng quỷ, tụi bay còn dậy nổi sao? Ba người kéo chiếc bè lên bãi bùn một cách dễ dàng và Năm Sự người lẹ tay nhất, tốc ngay tàu lá chuối lên. - Trời ơi! Tiếng thét lên của ba tên cùng lúc! Trước mặt chúng, không phải là con heo quay béo ngậy, mà đó lại là... một xác chết. Xác một cô gái! Ba Tàng vẫn còn chưa tỉnh rượu, vậy mà lúc này hắn đã vùng đứng lên và co giò chạy. Tám Lành cũng làm theo. Chỉ còn Năm Sự, do hai chân đang bị lún sâu dưới bùn, chưa rút lên được nên đứng yên mà hai mắt trợn tròn, mồm há hốc và... tất cả ba tên chẳng hẹn mà cùng gục ngã tại chỗ. Chiếc bè chuối lúc ấy tự dưng như được đẩy ra, trong phút chốc đã trôi ra giữa dòng và... vượt qua dây lưới một cách dễ dàng, để tiếp tục trôi về phía hạ lưu... Quán Cầu Hồn - Phần 2 Khi mọi người hay tin bọn Ba Tàng, Năm Sự và Tám Lành bị nạn ngoài bãi bồi, họ chạy ra đưa được cả ba về thì ba tên đã ở trong tình trạng hầu như hôn mê. Sau khi được hơ lửa, thoa dầu thì may sao bọn họ hồi tỉnh. Vừa mở mắt ra, Năm Sự đã thét lớn: - Ma! Bớ người ta! Hai tên kia cũng tình trạng như vậy, bọn chúng chưa hoàn hồn, nên nhìn chung quanh cứ ngỡ như chúng đang ở địa ngục. Tám Lành lắp bắp: - Đừng... đừng bắt hồn tôi. Tôi không cố ý... Ba Tàng còn tệ hơn, hắn tiểu tiện ra quần và bò càng trên đất, vừa la khóc, vừa van xin ai đó: - Tha cho tôi, từ nay tôi xin chừa... Có mặt ở đó, ông già Hai lên tiếng: - Tụi bay đã được cứu sống rồi, còn làm gì vậy? Vẫn chưa tin, Năm Sự đưa mắt nhìn ông già và hỏi với giọng thảng thốt: - Cô... cô ta đâu... đâu rồi? Ông già Hai hỏi lại: - Cô nào? Năm Sự líu cả lưỡi: - Ở... ở trên... trên bè... Ông già Hai cười lớn: - Mấy thằng này chỉ giỏi tài ăn nhậu, quậy phá thiên hạ chứ không làm chuyện gì cho ra hồn! Chỉ cho đi lấy con heo quay mà cuối cùng cũng để cho tụi thằng Sáu Lùn xóm dưới nó lấy được. Thật là nhục cho tụi trai tráng xóm mình! Vừa nghe đến điều đó, tỉnh hẳn người ra, hắn hỏi lớn: - Thằng Sáu Lùn làm gì? Chỉ tay về phía sân đình, ông già Hai nói nhanh: - Ra đó mà coi tụi nó đang xẻ con heo quay ra chia phần cho mọi người, phần còn lại cả bọn gần hai chục đứa ăn nhậu đã đời cả buổi rồi mà vẫn chưa hết! Tám Lành và Ba Tàng cũng đã nghe, bọn hắn đưa mắt nhìn nhau ngỡ ngàng, hồi lâu mới hỏi nhau: - Sao kỳ vậy? Năm Sự lắc đầu lẩm bẩm: - Không thể có chuyện đó... Chính là tôi đã thấy... Ông già Hai bỏ đi vừa nói với lại: - Tụi bay có thèm heo quay thì ra mà chia phần với người ta! Dù cảm thấy nhục nhưng bọn Năm Sự cũng nháy mắt cho nhau rồi cùng chạy ra sân đình. Trước mặt chúng, chiếc bè chuối được kéo nguyên chiếc lên để giữa sân, trên bè vẫn còn một phần ba con heo quay đang ăn dở dang. Bọn Sáu Lùn vừa nhác thấy mấy tên chạy tới đã reo lên: - Các chiến hữu đi đâu mà tụi này kiếm cả buổi không thấy? Vào, vào đây làm tiếp đi, bọn này ăn không hết! Năm Sự nổi máu du côn: - Tụi bay có biết là chính tao đã vớt được con heo này không? Sao tụi bay... Sáu Lùn đâu có vừa, đứng lên cười hềnh hệch: - Có muốn ăn ké thì tụi này cho ăn, còn nói giọng đó thì coi chừng... ăn đòn đó! Tám Lành kề miệng nói khẽ: - Rõ ràng hồi nãy mình thấy... xác chết, mà sao bây giờ bọn chúng lại ăn ngon lành vậy? Hay là tại mình xỉn? Tám Lành cãi: - Chứ thằng Năm Sự có say đâu? Năm Sự chỉ tay vào con heo quay: - Mày coi lại coi, tụi bay đang ăn giống gì vậy? Sáu Lùn điên tiết lên: - Thằng này bữa nay tới số rồi chắc! Hắn lao tới định thoi vào mặt Năm Sự, nhưng vừa đưa tay lên thì bụng quặn đau như bị ai cắt đứt, khiến hắn co quắp người lại. Bọn em út thấy vậy ngạc nhiên hỏi: - Sao vậy anh Sáu? Một người lớn tuổi đứng gần đó lên tiếng: - Chắc là tại ăn nhiều quá chớ gì! Một mình hắn mà ăn hết cái đùi heo, hèn gì! Vừa khi ấy, bỗng có người thét lên: - Xác người! Thì ra trước mặt họ, trên chiếc bè chuối lúc ấy là một nửa xác người! Chưa bao giờ tưởng tượng nổi cảnh này, cho nên mọi người vừa nhìn thấy đã ù té chạy, một số thì đứng tại chỗ thi nhau nôn mửa liên hồi! Năm Sự là người đã chứng kiến từ lúc nãy, nhưng giờ đây nhìn thấy lại cũng phải tối tăm mặt mày, lảo đảo muốn ngã khuỵu! Còn phần Sáu Lùn thì sau khi lăn lộn bởi cơn đau, đã nằm im không có dấu hiệu gì của sự sống. Bọn đàn em của hắn đứa thì co giò chạy, đứa sợ quá kêu la khóc um sùm. Còn những người lúc nãy trót nhận phần chia thịt heo quay thì sợ đến gần chết ngất. Cũng may là hầu hết họ đều chưa có người nào ăn miếng nào! Tất cả không ai bảo ai, đã cùng nhau đem quăng bỏ số thịt ấy và rời khỏi sân đình tức khắc. Tin tức loan truyền rất nhanh, chưa đầy một giờ sau thì hầu như chuyện bọn Sáu Lùn ăn xác chết đã rao khắp làng. Người sợ thì không dám tới sân đình để xem lại cảnh tượng hãi hùng lúc nãy. Nhưng còn những người không biết sợ và tò mò thì rủ nhau kéo tới nhìn cho tận mắt. Trong số này có người đã chứng kiến, giờ nghĩ lại, thấy cần phải coi lại cho chính xác, nên cũng tháp tùng theo nhóm người mới. Nhưng khi họ kéo tới sân đình thì tất cả đều ngẩn người ra, bởi trên chiếc bè chuối vẫn là... gần nửa con heo quay ăn dang dở! Mấy người mới tới bàn tán: - Làm gì có chuyện ăn xác người! Có lẽ mấy người kia giành con heo quay nên tung tin nhảm. Mà cũng có thể là họ bị mờ con mắt bởi... ăn nhiều quá! Mặc ai nói gì thì nói, nhưng bọn Sáu Lùn thì vẫn bị quằn quại rên la. Riêng Sáu Lùn sau một lúc mê man đã tỉnh lại, nhưng khi nhìn thấy mọi người thì bỗng quỳ và lạy bất kể ai. Anh ta vừa lạy vừa lùi như muốn chạy trốn mà chạy không được. Đến lúc anh ta lùi tới mé sông thì ngã nhào xuống đó và... mất hút! Những người chứng kiến vội hô hoán lên rồi vài người nhảy theo mò, nhưng sau hơn một giờ tìm kiếm vẫn chẳng thấy xác của Sáu Lùn đâu. Chính Năm Sự cũng lạnh sống lưng về chuyện này. Hắn ta nói riêng với Tám Lành: - Tao nghĩ chuyện này có dính tới... ma quỷ gì đó phải không mày, Tám? Tám Lành run giọng đáp: - Chắc vậy quá. Ba Tàng thì tỏ ra rành hơn: - Hồi nãy tao để ý thấy lúc đầu cái xác chỉ còn lại một phần ba, nhưng bây giờ sau khi mọi người tới coi thì nó còn gần phân nửa mà lại là phần đầu, chớ không phải phần chân như lúc nãy! Năm Sự cũng nhận ra điều đó: - Đúng rồi. Rồi cả bọn họ đều lẳng lặng rút lui khỏi nơi ấy. Một lúc sau, cũng chín Năm Sự hỏi bạn: - Tụi bay còn giữ ý định qua thám thính nhà của thằng Bảy Thái không? Hai tay kia đều tán thành: - Sao lại không? Cũng tại mày tào lao dính vào vụ con heo cúng nên mình mới gặp rắc rối. Bây giờ mình lén qua sông đi. Họ thực hiện ngay ý đồ, và hơn nửa giờ sau đã có mặt ở quán Thảo Mai. Vẫn ít khách như thường lệ, vẫn chỉ một mình anh chủ quán chứ không hề có ai phục vụ. Đã có chủ ý trước nên bọn Năm Sự đã hỏi ngay khi vừa ngồi xuống quán: - Có gì nhậu không ông chủ? Mà sao chỉ một mình ông đứng bán, bà chủ đâu? Bảy Thái chủ quán giờ đây đã già hơn nhiều so với ba năm trước, khi anh tới đây để sang lại quán này của ông già Hai, anh vẫn nụ cười hiền hòa, trả lời: - Quán ế ẩm mà mướn người phụ việc làm gì cho tốn kém, còn bà chủ thì... có đâu mà chủ với tớ! Thấy anh cũng biết nói đùa, nên bọn Năm Sự cũng dễ dò la: - Không có bà xã sao anh về đây bao năm trời nay mà chịu nổi? Sao không kiếm bà nào về hủ hỉ cho vui lại đỡ đần công việc? Thái không hứng thú trả lời chuyện này, nên anh quay trở vào trong. Hai Lành gọi giật lại: - Chưa cho gọi thức uống mà ông chủ! Thái quay lại hỏi: - Quý anh dùng gì? Ba Tàng lớn giọng: - Cho một chai đế! Thái lắc đầu: - Quán tôi không bán rượu từ nào tới giờ, mong quý anh thông cảm uống thứ khác. Có cà phê mới đem từ chợ về, ngon lắm. Hai Lành sừng sộ: - Quán mà gọi cái gì cũng không có, vậy mở quán để làm gì? Thái vẫn nhẹ giọng: - Dạ, mở cho vui, bán vài thứ giải khát thôi còn rượu thì tuyệt đối không có. Ba Tàng đứng dậy, hai tay chống nạnh, hất hàm hỏi: - Chú mày biết bọn này là ai không mà dám nói giọng đó, hả? Thái vẫn tỉnh bơ: - Là ai thì cũng không có rượu. Bởi lẽ đơn giản là từ mấy năm nay tôi không hề có rượu trong nhà. - Hỗn láo. Hắn ta quát lên, vừa lao tới như muốn ăn thua đủ. Chợt có tiếng của Năm Sự vang lên: - Nóng nảy có ích gì đâu, đây cũng là chỗ quen biết mà. Mày phải thông cảm cho chú ấy, vợ chết còn đang buồn mà, làm sao nhìn thấy kẻ khác say sưa be bét trong nhà mình. Vả lại chú ấy còn để thì giờ để... rước bà nhỏ về nữa chớ! Bị chạm chuyện riêng tư, Thái nghiêm giọng: - Các anh tới uống nước thì tôi cám ơn, còn chuyện riêng tư thì xin các anh tôn trọng cho, đừng chạm tới. Biết thế nào Ba Tàng cũng nổi điên, Năm Sự chặn lời ngay: - Thôi, xin lỗi vậy. Bọn tôi không có ý đó, chẳng qua thấy ông chủ một mình cực khổ lại buôn bán ế ẩm, nên chỉ có ý là... Hắn ta ngừng lại, có ý dò phản ứng của Thái trước khi tiếp lời: - Hay là ông chủ sang lại quán này cho tụi tôi đi! Đang mềm mỏng, bỗng Thái đổi ngay thái độ, gắt lên: - Ai cho phép các anh vô cớ hỏi sang quán của người ta? Hơi bất ngờ về thái độ của Thái, nhưng chỉ sau vài giây thì Năm Sự đã lên giọng: - Hỏi sang quán thì có gì không phải. Bởi bọn này biết trước sau gì chú mày cũng phải bỏ của chạy lấy người thôi! Ở đây làm sao nổi khi một thân một mình mà tuổi đời thì còn quá trẻ. Thái không còn chịu nổi trước thái độ khiếm nhã đó, anh thẳng thừng: - Nếu không còn chuyện gì khác để nói nữa thì xin mời các anh đi cho! Thái đi thẳng vào phòng trong, cứ ngỡ như vậy là bọn họ sẽ tự động bỏ đi. Nhưng anh đã lầm. Đã có ý đồ trước khi tới đây thì đời nào chúng chịu thua. Năm Sự ra dấu cho hai bạn hắn, cùng nhau rón rén theo chân Thái đi vào trong. Không đề phòng nên Thái không phát hiện có người theo mình. Anh mở cửa phòng, rồi cứ để vậy không đóng lại bước tới bên giường, vừa đưa tay vặn ngọn đèn dầu đầu ở giường lên. Căn phòng sáng hẳn, đủ cho ba kẻ tò mò ngoài cửa nhìn vào và thấy một người đang nằm trên giường! Đó lại là một... phụ nữ! Đầu tiên là Năm Sự, rồi Tám Lành và Ba Tàng, lần lượt cả ba tên đều quỵ xuống tại chỗ miệng như bị ai bóp cứng không kêu lên được tiếng nào. Rồi chẳng ai bảo ai, chúng cùng bò, lết, nhắm hướng ra ngoài mà thoát thân. Gần 5 phút sau, cả bọn đã tới ngoài vườn. Lúc này Năm Sự mới có thể nói được, tuy giọng còn thất thần: - Tụi bay có thấy... thấy gì không? Ba Tàng đáp trong nỗi sợ hãi tột cùng: - Xác... xác chết trên bè chuối! Tám Lành thì vẫn chưa hoàn hồn: - Ma... ma thật rồi! Năm Sự bình tĩnh hơn: - Xác chết thôi, chớ chưa chắc là ma. Nhưng tại sao mới lúc nãy nó ở trên kia sân đình mà bây giờ lại ở đây? Mà lại ở trong phòng của thằng này là sao? - Hay là... Ba Tàng vừa nghĩ ra điều gì đó, hắn định nói, nhưng Năm Sự đã cắt ngang: - Theo tao thì tụi mình chạy nhanh cho rồi! Tao thấy vụ này có cái gì đó ghê ghê. Bà Tàng nhún vai: - Tao hiểu rồi, chính thằng cha già Hai có liên hệ với thằng chủ quán này! Có thể thằng cha già ấy nó bày ra vụ này chăng? - Vụ gì? - Thì cái xác con nhỏ kia! Càng bàn thì lại càng rối thêm. Cuối cùng Năm Sự bảo: - Tốt hơn hết là đừng dính tới vụ này nữa. Rút nhanh lên! Hai tên kia vẫn còn chần chừ thì bỗng Ba Tàng cảm thấy lưng mình có vật gì đó lành lạnh luồn từ lưng quần đi lên, giống như con rắn chui vào áo hắn. - Cứu... cứu tao? Hắn chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi mắt gần như đứng tròng! Năm Sự và Tám Lành chẳng biết chuyện gì xảy ra, chúng hỏi: - Mày sao vậy Ba Tàng? Cũng vừa khi ấy vật làm cho Ba Tàng chết khiếp đó xuất hiện ngay từ ống quần của cả hai. Chúng nhận ra và chưa kịp kêu lên tiếng nào thì đã trợn trừng và... ngưng thở! Vật đang làm chúng khiếp sợ đó là... một cánh tay trần từ dưới đất nhô lên, như con rắn trườn. *** Ông già Hai nhìn Thái với sự ái ngại: - Tôi lo cho cậu. Vừa rồi nếu không có những chuyện kỳ lạ đó xảy ra thì e rằng bọn quỷ côn đồ ấy đã phát hiện ra chuyện riêng của cậu rồi. Thái thắc mắc hỏi: - Cháu vừa nhìn thấy họ đứng ở cửa phòng nhìn vào và thấy vợ cháu đang nằm, cháu lo quá chưa kịp phản ứng gì thì chẳng hiểu sao họ lại hoảng sợ bỏ chạy vậy chú Hai? - Không phải tự nhiên đâu. Chính vì chúng nó thấy vợ cậu ở đây nên hoảng sợ đó. Bởi mới cách đó không lâu chúng đã nhìn thấy trên chiếc bè chuối. Thái lại ngạc nhiên: - Bè chuối gì nữa chú Hai? Ông già Hai đem chuyện xác chết trên bè chuối kể cho Thái nghe. Anh càng rối thêm: - Sao lại có chuyện đó chú Hai? Mà đó là xác của ai vậy? Ông già Hai biết là Thái thật sự không rõ chuyện đã xảy ra, ông nói: - Xác ấy là của cô Mai, vợ cậu! Thái tròn mắt: - Chú Hai nói gì cháu không hiểu? - Ban đầu tôi cũng không hiểu. Nhưng sau khi chuyện xảy ra, tình cờ tôi nhìn thấy chính con bé Thu, con nuôi của cậu đã dìu cô Tuyết Mai lướt trên mặt sông! Thái hoảng kinh: - Con bé Thu! Nó... nó đã chết đuối cách đây trên một năm rồi, chú không nhớ sao? Ông Hai gật đầu: - Sao tôi lại quên, bởi chính tôi là người đã vớt nó và đem chôn ở sau vườn này. Nhưng rõ ràng tôi thấy nó. Thái lẩm bẩm: - Vậy là nó không bỏ đi như mình nghĩ. - Nếu thật sự nó đi thì xác của cô Tuyết Mai đã rã từ lâu rồi, chứ đâu còn nguyên vẹn sau hơn ba năm lìa đời. Cậu không nhớ lời cô ấy dặn trong mảnh giấy để lại sau lưng con bé Thu ngày ấy sao? Thái gật đầu, giọng buồn bã: - Sao cháu lại không nhớ. Và đó là nỗi ray rứt của cháu cho đến bây giờ. Năm đó nếu cháu không mải lo ngày đêm ngồi bên xác người yêu cháu trong phòng, quên cả con bé, để cho nó bò ra bờ sông rồi chết đuối... Cháu tự trách mình, nhưng chỉ còn biết cầu nguyện vong linh Tuyết Mai tha thứ cho lỗi lầm đó của cháu. Ông già Hai tỏ ra rành chuyện đến nỗi Thái phải ngạc nhiên: - Nếu không có chuyện đó xảy ra thì những ngày cầu hồn của cậu không kéo dài quá ba năm như bây giờ đâu. Cậu không để ý những chi tiết về cái chết của bé Thu ngày đó sao, đâu phải tự nhiên mà con bé bò ra ngoài sông, nếu khi đó cô Tuyết Mai không dẫn đường cho nó đi. Cậu nhớ lần cậu hốt hoảng chạy đi tìm cô Mai lúc nửa đêm không? Thái gật đầu: - Khi cô ấy chết được gần một năm thì vào một đêm trời mưa, do quá buồn ngủ nên cháu đã ngủ quên bên cạnh giường nằm của cô ấy, lúc chợt giật mình thì không thấy Tuyết Mai đâu, cháu hoảng hốt chạy đi tìm thì gặp chú Hai từ dưới sông lên, trên tay ẵm bé Thu. Chú báo tin con bé bị chết đuối thì cháu không chú ý lắm, bởi cháu còn mải lo không biết Tuyết Mai đi đâu? - Và thật ra cô ấy chẳng hề đi đâu phải không? - Dạ đúng. Sau khi tìm một hồi, cháu trở vào phòng thì xác cô ấy vẫn còn nằm đó. Ông Hai trầm ngâm một lúc rồi mới tiết lộ: - Lúc ấy tôi cũng không biết chuyện gì đã xảy ra. Mãi sau này, khi vào nửa đêm bỗng tôi nghe tiếng cô Mai gọi cửa nhà, tôi ra mở cửa thì chẳng thấy cô ấy đâu, mà chỉ thấy con bé Thu nằm ngay ngạch cửa. Thái ngơ ngác: - Con bé đã chết và chính chú Hai chôn nó rồi mà? - Điều đó thì đúng nhưng việc xác nó nằm ngay cửa nhà tôi lúc ấy cũng không sai! Bởi sau đó, chính cô Tuyết Mai báo mộng cho tôi hay, chính cô ấy đã cứu con bé, nhưng không dám đưa về nhà lần nữa vì giữa nó và cậu không hợp nhau, nếu để chung thì một là nó lại chết, hai là chính cậu sẽ chết! Nên cô ấy năn nỉ nhờ tôi giữ xác nó giùm, đợi đến khi nào cậu và cô Mai hết vận hạn sẽ tính. Tôi nghe chuyện và bắt đầu hiểu, chớ nói thật với cậu suốt thời gian dài trước đó tôi vẫn nghi hoặc chuyện của cậu, không tin một xác chết như cô Mai lại có thể không đem chôn nhiều năm mà vẫn không hề có chuyện gì xảy ra, vẫn ở bên cạnh cậu như một người nằm ngủ bình thường! Lâu nay Thái giấu kín chuyện này, nhưng nay ông già Hai đã biết nhiều hơn anh nghĩ, nên Thái chỉ biết thở dài, rồi khẽ bảo ông: - Chú Hai như cha cháu, nên việc này cháu không dám giấu nữa. Chú hãy đi theo cháu vào đây. Thái đưa ông già Hai vào tận phòng riêng, anh chỉ xác của Tuyết Mai: - Cô ấy vẫn nằm đó, thi thể vẫn còn ấm suốt hơn ba năm qua, bởi vậy cháu đâu dám đem chôn. Ngày đêm cháu chỉ biết cầu hồn cho cô ấy... Ông Hai mỉm cười: - Cô ấy còn giữ được như thế này là do những lời cầu hồn của cậu đó! Đúng ra là cô ấy đã chết thật vào cái đêm con bé Thu chết đuối, bởi bé Thu là oan hồn theo để chờ rước cô Tuyết Mai đi và lần đó là kỳ hạn cuối. Thái chưa hiểu: - Chú Hai nói vậy là sao? Chính Mai đã cứu bé Thu khi nó bị thả trôi trên bè chuối và dặn cháu nuôi dưỡng nó, vậy tại sao nó muốn bắt cô ấy đi. - Tôi là người ngoài làm sao biết nhiều ơn cậu, nhưng qua chuyện tôi cứu con bé Thu từ bến sông lên, cô Tuyết Mai đã báo mộng cho tôi biết mọi chuyện. Sở dĩ cô ấy không báo cho cậu biết là bởi cô ấy phải tránh cho hồn ma bóng quế đang canh giữ ngày đêm quanh xác của cô. Chuyện nó như thế này... Ông không dám nói, mà kéo Thái ra một góc nhà, nói thật khẽ chỉ đủ cho Thái nghe: - Thật ra ngày đó, khi tôi vớt được cô Mai lên khỏi sông thì cô ấy chỉ còn là cái xác. Hồn phách đã lìa khỏi xác rồi, chỉ được cho sống lại trong thời gian ngắn để gặp gỡ cậu và sau đó đúng ra phải chết luôn lúc con bé trên bè chuối xuất hiện. Cậu biết không, con bé Thu chính là một hồn ma của một đứa trẻ bị chết oan cùng với mẹ nó ở khe sông này, mẹ nó thì tận số nên bị bắt đi luôn, riêng nó do bị chết oan nên vất vưởng theo dòng sông, hôm đó nó gặp cô Tuyết Mai nhảy sông tự tử nên nó bám lấy, tưởng đâu cô Mai là mẹ mình. Chính nhờ nó mà hồn phách cô Tuyết Mai không bị bắt đi hẳn, cậu nhớ chưa? Thái nhớ lại, anh lẩm bẩm: - Thảo nào cô ấy dặn cháu là phải giữ cho bằng được con bé, bởi nó mất thì cô ấy cũng mất! Ông già Hai bảo: - Suýt nữa thì cậu đã làm hại cả hai người. Bé Thu cũng đang chờ được hồi sinh như cô Mai vậy. Thái Sốt ruột hỏi: - Con bé bây giờ ở đâu, chú Hai? Hồn phách nó thì tôi đang thờ ở nhà, còn xác nó thì vẫn ở nguyên chỗ tôi chôn lúc trước. Hồi nãy chính nó đã khiến cho lũ thằng Năm Sự một phen hết vía, để bọn ấy từ nay không còn dám léo hánh tới đây nữa. Thái thật lòng hỏi ông già Hai: - Giờ đây cháu phải làm gì nữa chú Hai? Nói thật với chú, nếu chỉ để được gần gũi với Tuyết Mai thì cháu có thể để cô ấy trong tình trạng này suốt đời cũng được. Cháu có thể sống với người vợ nằm ngủ yên như thế là đủ rồi. Nhưng còn bé Thu mà như lời chú vừa kể thì cháu chẳng biết phải làm sao. Ông già Hai trấn an: - Tôi biết rõ chuyện này nên hiểu rằng tấm lòng thành của cậu đã lay động được cõi âm hồn, cậu sẽ sớm được đền đáp. Mà lúc nào cô Tuyết Mai hồi sinh thì con bé Thu cũng được hưởng lây. Cậu cứ tiếp tục cầu đi, hồn phách của người cậu thương yêu không phụ cậu đâu. Trước khi ra về, ông già Hai dặn lại: - Bọn người xấu kia nhằm mục đích làm cho cậu nản lòng, bỏ đi, để chúng chiếm ngôi nhà này dùng làm chuyện phi pháp. Vậy cậu không được lung lay ý chí. Tôi hứa sẽ ngày đêm để mắt giúp cậu. Thái cảm động xiết chặt tay ông ngầm cám ơn. Tiễn ông ra tận bờ sông, đến khi anh quay vào nhà thì không thể tin vào mắt mình nữa: Trước mặt anh, một cô gái đang đứng giữa nhà, nhoẻn miệng cười rất tươi hướng về anh! - Tuyết Mai! Đúng là một Tuyết Mai bằng xương bằng thịt đang đứng đó! Thái còn ngỡ ngàng chưa tin hẳn thì nàng đã bước tới ôm chầm lấy anh, thổn thức: - Rồi mình cũng có ngày này mà. Mai biết anh chàng vẫn còn hoang mang, nên kéo tay Thái vào tận phòng ngủ, chỉ lên giường: - Anh nên đem đi mai táng. Đó là tất cả những gì còn lại của một Tuyết Mai vắn số. Nó là xác phàm của em do cha mẹ sinh thành, giờ thì trả em về cát bụi. Chỉ còn em ở đây, cũng là thân xác, nhưng lại do chính anh cầu nguyện mà thành. Em hồi sinh là do sự trì chí, lòng thành của anh thấu tận cõi hư vô, nên từ nay em hoàn toàn thuộc về anh! Giọng nàng nói thật chân thành tha thiết. Âm điệu lời nói vẫn như xưa, tuy có điều bây giờ là một Tuyết Mai chững chạc, trưởng thành hơn. Thái bước tới bên giường và giật mình khi nhìn thấy dưới lớp chăn đắp là một bộ xương khô! Tuyết Mai lặp lại để anh yên tâm: - Như em vừa nói, ấy là thể xác của em phải trở về cát bụi. Anh hãy chôn ngay đi. Chôn bên cạnh mộ của bé Thu. Anh làm ngay đi, nếu không em có thể bị nhập trở lại đó! Thái hốt hoảng làm theo lời. Anh một mình bế bộ xương khô ấy ra, đào một hố huyệt bên cạnh phần mộ không nấm đất của bé Thu mà ông già Hai đã chôn mấy năm trước. Lạ lùng thay khi Thái vừa đặt bộ xương xuống, chưa kịp lấp đất thì tự nhiên đất chỗ đó liền lại và ở nấm mộ kế bên có một làn khói màu xanh bay lên, trong nháy mắt đã không còn thấy nữa. Còn đang ngẩn ngơ thì từ trong nhà đã có tiếng trong trẻo của Tuyết Mai gọi vọng ra: - Hôm nay em sẽ khao anh một bữa thịnh soạn. Anh vào sửa soạn đi, để còn đón chú Hai và bé Thu về nữa. Tuyết Mai lau dọn nhà cửa thành thạo, quen thuộc như người từng sống trong nhà này từ lâu. Thấy Thái cứ nhìn mình lạ lẫm, nàng cười bảo: - Có gì đâu mà anh phải ngạc nhiên, tuy em mới ngồi dậy được đây, nhưng hồn phách em đã ở trong ngôi nhà này từ ba năm nay. Em đâu còn lạ gì nữa. Đến trưa đó thì ông già Hai lại sang. Ông dẫn theo một đứa bé gái cỡ ba bốn tuổi, nó vừa trông thấy Thái và Mai thì đã chạy ào tới, ôm chầm lấy và khóc nức nở: - Tưởng là con không còn gặp lại mẹ cha nữa! Con là bé Thu đây. Ông già Hai gật đầu: - Nó vừa hồi sinh là bảo phải dẫn qua đây ngay! Cuộc trùng phùng quá bất ngờ, nhưng không có sự ngỡ ngàng lâu, bởi trong đầu của ba người dường như thoáng hiện những kỷ niệm đã qua, dù là rất mơ hồ, nhưng họ hiểu đó là những gì mà họ từng có. Như một giấc chiêm bao, giờ biến thành sự thật. Trước khi bữa tiệc gia đình bắt đầu với hai con gà luộc, Tuyết Mai nói với ông Hai: - Cháu nhờ chú Hai lập giùm một cái miếu ngay cạnh hai ngôi mộ đất ngoài kia, chắc chú hiểu ý cháu? Già Hai gật đầu: - Cháu không nhờ thì chú cũng sẽ làm. Miếu tưởng niệm hai người được hồi sinh, chứ không phải thờ vong hồn như xưa nay người ta vẫn làm. *** Người ngoài không hiểu chuyện, thấy tự dưng Thái có cô vợ trẻ đẹp và đứa con hơn ba tuổi, họ đồn nhau:- Thằng cha chủ quán Thảo Mai coi vậy mà đào hoa. Vợ chết được mấy năm, nay lại vớ được một cô nàng thật là xinh xắn. Anh ta tốt số thật! Có người thì bảo: - Con riêng của vợ mà xem ra con bé kia lại quyến lyến, thương yêu cha vượng còn hơn con đẻ nữa, lạ thật! Thái và vợ nghe những lời bàn tán ấy chẳng những không khó chịu mà còn xúc động, nhìn nhau cười. Họ sống với nhau trong hạnh phúc dài lâu.. Đôi khi Thái tế nhị nhắc: - Dẫu sao em cũng tìm cách về thăm lại cha mẹ chứ? Lần nào Tuyết Mai cũng lắc đầu bảo: - Em đã nói rồi, thân xác do cha mẹ sinh ra đã trả lại cát bụi rồi. Em bây giờ hoàn toàn là của hai đứa mình. Tuy nhiên, em vẫn cầu nguyện cho họ sống vui, sống khỏe. Đợi khi họ trăm tuổi già em sẽ là người thờ tự... GIỌT MÁU CÒN LẠI Mặc dù đã về hưu từ nhiều năm, nhưng quan tri phủ họ Hoàng, tục gọi Hoàng Nhân đại gia, vẫn được mọi người biết tiếng. Dù là tiếng ác, nhưng dẫu sao không một ai ở phủ Diên Sơn, vùng ven biển này lại không quen tên, thuộc nết ông ta. Họ Hoàng còn khá nổi tiếng ở khoảng dù giàu sang tột bậc, chức trọng quyền cao, cái gì cũng có, chỉ tiếc một đều là không có con! Đây là điều bất hạnh duy nhất mà vợ chồng ông ta mắc phải. Đến nỗi khi ngã bệnh nặng, dẫu thầy thuốc cấm đoán, nhưng suốt mấy tháng trời nằm trị bệnh, ông ta cũng bắt bà vợ trẻ hơn ông đến hơn chục tuổi phải ngày đêm ở bên cạnh. Một phần để hầu hạ, chăm sóc bệnh, nhưng mặt khác, quan trọng hơn là để giúp lão ta có con! Với người khác thì chuyện có một vài đứa con nó dễ như ăn cơm, uống nước hằng ngày, vậy mà lão Hoàng lại cực khó, đúng hơn là nan giải vô cùng! Biết chồng bệnh, nhưng vì thấy ông quá thiết tha, gần như là lời trối trăng mỗi khi yêu cầu bà cho lão một đứa con nối dõi. Hoàng phu nhân, tên tục là Nguyệt Ánh đã phải hứa để chồng yên tâm: - Mình cứ ráng uống thuốc, nhất là thuốc bổ, em sẽ cố có kết quả kỳ này! Và hình như trời không phụ lòng lão ta, một tuần trăng sau Hoàng phu nhân báo tin: - Em đã... có dấu hiệu! Đang rất yếu sức, vậy mà khi nghe tin ấy, lão Hoàng đã bật dậy ngay, hổn hển nói: - Nếu đúng vậy... tôi... tôi tri ân bà. Tôi... Lão chỉ nói được có vậy rồi ngã vật ra nằm thiêm thiếp. Đó là hậu quả của nhiều lần thức dậy nửa đêm (theo lời dặn của thầy thuốc) ráng sức lên đỉnh vu sơn đi tìm con! Lão Hoàng qua đời chỉ sau đó một tuần. Bà Nguyệt Ánh thương khóc chồng thì ít mà lo cho cái thai mới tượng hình thì nhiều. Chẳng hiểu sao, kể từ khi bà cấn thai thì hầu như đêm nào cũng thấy ác mộng. Mà những cơn ác mộng đều giống nhau: bà thấy một đứa bé khôi ngô tuấn tú cứ đứng ngay trước mặt bà mà cười và đòi đánh! Khi tỉnh dậy, bà thắp nhang khấn vái. Mỗi lần như vậy thì bà yên được vài giờ, rồi sau đó lại tiếp tục bị ác mộng hành hạ. Chuyện tưởng chỉ có vậy. Nào ngờ khi cái thai được chín tháng mười ngày theo thông lệ thì bà Ánh chẳng có dấu hiệu gì của một cuộc chuyển dạ, chờ thêm chục ngày nữa vẫn chẳng có tín hiệu. Đi khám thai thì thầy thuốc sau khi xem mạch đã phán một câu gọn lỏn: - Chưa có dấu hiệu sinh, ít nhất cũng một tháng nữa! Bà Nguyệt Ánh cãi lại: - Tôi tính ngày tháng rất kỹ, sao lại có chuyện trễ đến như vậy? Vị lương y quả quyết: - Đó là tôi nói sớm, chớ thật ra chẳng hề có một biểu hiện gì về sinh sản trong vòng một vài tháng tới cả! Không tin ông thầy thuốc này, bà cho gia nhân đi rước những lương y nổi tiếng hơn về. Sau khi khám kỹ, họ cũng nói y như vậy: - Chưa có dấu hiệu sinh! Có đến mười thầy thuốc đã nói như vậy cho nên bà Ánh không còn nhờ ai nữa. Bà tự an ủi: - Có lẽ do mình lớn tuổi rồi nên mang thai không như người bình thường. Thôi thì mặc, lúc nào sinh cũng được miễn không có biến chứng gì thì không cần lo. Kết quả thật ngoài sức tưởng tượng: Bà Ánh mang thai đến tháng thứ mười bốn thì có triệu chứng thất thường. Bà ta nghe đau bụng rồi kêu gào đau đớn. Cuộc chuyển dạ sinh kỳ lạ đã trải qua năm ngày ròng lăn lộn, kêu la mà bà ta vẫn chưa sinh được! Thật ra đó không phải là chuyển bụng sinh. Một buổi chiều, trong lúc người nhà đi vắng thì có một vị đạo sĩ mặc đạo bào màu đen rất lạ, đột ngột ghé qua. Vừa bước vào tới cửa ông ta đã lên tiếng: - Ở đây nghiệp chướng nặng quá, sao không giải nó đi? Bà Ánh đang nằm kêu la trên ghế trường kỷ, nghe vậy ngẩng lên nhìn và khó chịu khi thấy người lạ. Tuy nhiên, lúc đó vị đạo sĩ lại lên tiếng: - Nghiệp chướng nơi này nặng lắm, không khéo lại nguy đây! Gợi tò mò, Nguyệt Ánh hỏi: - Nghiệp chướng gì? Ông ta chỉ thẳng vô bụng của bà Ánh, bảo: - Ở đây! Nghĩ lão ta điên, bà Ánh quát lớn: - Ông ở đâu vào đây nói nhảm, đi đi! Mặc cho bà ta đuổi, lão đạo sĩ vẫn trầm tĩnh nói tiếp: - Tôi chẳng mắc mớ gì chuyện này, nhưng khi đi ngang qua đây phát hiện được, tôi chẳng thể làm ngơ. Bà sắp gặp tai nạn lớn, một là bà chết, hay là... đứa bé trong bụng phải chết! Vừa nghe lão ta nói tới đó, bà Nguyệt Ánh đã thét lên: - Nói bậy! Rồi bà ta ôm lấy bụng của mình, như sợ bị xâm hại. - Đây là đứa con mà chồng tôi lúc sắp chết cũng muốn có nó cho bằng được. Ông chẳng biết gì thì hãy đi ra đi! Bà lớn tiếng, đáng lý phật ý, nhưng vị đạo sĩ vẫn không tỏ ra chút phiền lòng, ông tiếp tục nói: - Mạng sống của bà tùy thuộc vào vật trong bụng mà bà đang mang. - Ông im đi! Bà Nguyệt Ánh cố đứng lên để đi vào trong, tránh phải nghe người khách lạ này nói nữa. Đứng nhìn theo bà, vị đạo sĩ khẽ lắc đầu: - Nghiệp chướng khó trừ! Nói xong, ông lặng lẽ bỏ đi. Khi ra tới ngoài rồi ông vẫn còn ray rứt nên quay vào nói, cố tình cho chủ nhà nghe: - Vẫn còn chưa muộn! Nếu bà muốn sống thì chiều nay tìm tôi ở bến đò. Ông ta đi rồi, lúc này trong nhà bà Ánh bỗng gào lên: - Trời ơi! Bà kêu được mấy tiếng đó rồi ngất đi. Đến chiều, lúc vừa tỉnh lại thì bà nôn nóng đòi người nhà dẫn đi ra bến đò. Bà dặn: - Phải tìm cho được lão đạo sĩ. Ông ta sẽ làm hại con tôi. Lúc ra tới chỗ bến vắng, bà đã gặp ngay ông đạo sĩ mà không cần tìm. Vừa trông thấy bà, ông chỉ một chiếc xuồng nhỏ và bảo: - Bà hãy xuống xuồng đi, nó sẽ giúp bà được toại nguyện. Vẫn còn kịp! Bà Nguyệt Ánh nhìn thẳng vào ông ta, giọng giận dữ: - Tôi tìm để hỏi tội ông, tại sao ông cứ muốn hại con tôi? Lúc hôn mê, tôi được nó báo là ông đang tìm cách giết nó. Vậy là sao? Vị đạo sĩ nghiêm giọng: - Chỉ bởi tôi muốn cứu bà. Bà đâu biết thứ bà mang trong người là mối họa lớn cho bà, cho cả sản nghiệp của bà nữa! Hãy làm theo lời tôi đi! Ông nói dứt lời thì bất thần dùng tay đẩy nhẹ, khiến cho bà Ánh mất thăng bằng nhào ngay xuống chiếc xuồng đang không có người. Cũng may là dù ngã bất ngờ nhưng bà chẳng sao, kể cả cái thai trong bụng cũng không hề hấn gì. Chiếc xuồng không ai bơi nhưng đã tự động rời bến, khiến bà Ánh phải la lên: - Tôi không biết lội, không biết bơi xuồng, phải kéo tôi vào mau lên! Vị đạo sĩ vẫn lờ đi, ông ngửa mặt lên trời, lẩm bẩm gì trong miệng mà người đứng gần cũng không nghe được. Trời đang lặng gió, bỗng sóng nổi lên, rồi gió như lốc xoáy, khiến chiếc xuồng quay như chong chóng. Tiếng của bà Ánh lúc đầu còn la lớn, nhưng chỉ một lúc sau thì im bặt. Khi gió ngừng thì chiếc xuồng đã tự động cập bến, Bà Ánh hầu như chẳng còn biết gì nữa. Lúc này ông đạo sĩ mới gọi lớn: - Đưa bà ấy về, nhớ là không được để bà ấy một mình đi ra ngoài. Dặn xong, ông vừa định bước đi thì bất ngờ ông nghe một tiếng khóc của trẻ con vang lên. Sững sờ giây lát, rồi ông nhẹ lắc đầu thở dài: - Số kiếp cả thôi! Đành chịu. Đứa hài nhi do bà Ánh sinh ra trong hoàn cảnh này đáng lý rất lo ngại, tuy nhiên nhìn nó chòi đạp và cất tiếng khóc thì có vẻ bình thường. Giây lát sau nó lại nín khóc và đưa tay quơ quơ như thèm sữa hay khát nước, ông đạo sĩ phải xua tay bảo mấy gia đinh của bà Ánh vừa có mặt kịp thời: - Hãy mang bà ấy về. Mọi việc là do số trời cả! Ông bước đi vừa lắc đầu chán nản... *** Bà Nguyệt Ánh dù sinh nở bất thường, nhưng cuối cùng cũng có được một đứa con trai như bà hằng mong đợi. Thằng bé ra đời chậm hơn bình thường đến bốn tháng, nên sau khi sinh đã có những biểu hiện khác người. Nó biết đi khi vừa được sáu tháng tuổi và biết nói như một đứa trẻ lên năm khi mới tám tháng! Điều ấy là bất thường và kỳ lạ, nhưng vì quá thương con, quý trọng giọt máu duy nhất của chồng còn để lại, nên bà Ánh hầu như không quan tâm những gì khác, ngoài tình thương yêu dành cho con, ngày đêm nâng niu chăm sóc cho cậu quý tử của mình.Khi thằng bé Bảo An đầy năm, bà Nguyệt Ánh chuẩn bị một lễ thôi nôi thật lớn, mời hầu như khắp mọi người trong vùng. Dẫu chồng không còn đương chức, nhất là ông đã chết, nhưng tiếng tăm của nhà họ Hoàng vẫn còn lớn, nên lời mời của bà vẫn được hưởng ứng tích cực. Mới sáng sớm ngày lễ thôi nôi mà đã có mấy chục người từ những nơi rất xa kéo đến. Đến trưa, tức thời khắc chính thức khai tiệc thì hầu như cái khuôn viên rộng lớn của dinh thự Hoàng Nhân đã không còn một chỗ trống. Trong số khách dự có cả vị đạo sĩ áo đen lần trước. Ông lặng lẽ chen vào giữa đám đông như mọi người, rồi hầu như chẳng còn thấy bóng dáng nữa... Một đứa bé ở tuổi thôi nôi thì thông thường đều do mẹ hoặc người nhà bế ra để chào khách dự tiệc, nhưng ở đây thì khác. Bởi cậu bé Bảo An đã lớn như một đứa bé lên năm tuổi nên chính nó tự đi ra và bất ngờ đứng lên bàn cất tiếng: - Chào bà con! Bữa nay bà con xa gần đều có mặt, trong số này có người tốt cũng có kẻ xấu, nên tôi muốn nhìn mặt kẻ xấu trước. Vậy ai là kẻ xấu hãy bước ra! Dĩ nhiên không ai chịu nhận mình là kẻ xấu, cho nên thằng bé kêu gọi tới lần thứ hai mà vẫn chưa một ai bước ra. Chẳng những thế, trong số khách mời có nhiều người tỏ ra bực bội, tự hỏi, tại sao lại để một đứa nhóc con như thế nói năng hỗn láo, phạm thượng! - Tư cách gì mà thằng nhỏ này lại ăn nói như thế? Người vừa lên tiếng chính là anh rể của lão Hoàng. Tuy ông nay đã khá lớn, nên khi giận phát âm có phần run và nghẹn. Ông ta vừa dứt lời thì thằng bé phá lên cười: - Chờ hoài cuối cùng cũng chường mặt ra. Lão tính tới đây hôm nay là nhằm mục đích khác, chứ đâu chỉ đi dự đám thôi nôi, phải không? Bị thằng nhóc nói đúng tim đen, nên lão già tên gọi là Sáu Hết quát luôn: - Tao tới đây đòi món nợ mà ba mày còn nợ của tao ngày trước, mẹ con bay phải trả lại cho tao! Lão vừa nói vừa bước ra, tới ngay trước mặt bà Nguyệt Ánh và thằng bé Bảo An đưa tay chỉ vào nó: - Thím dạy con như vậy sao? Nó là con nít, sao đủ tư cách để hoạnh họe người lớn đáng tuổi cô bác nó? Kẻ xấu là sao mà người tốt là thế nào? Bà Ánh chưa kịp đáp thì thằng bé đã hớt ngang: - Tốt là không bòn rút nhà này, còn kẻ xấu là tìm cách chống lại nhà họ Hoàng và còn đi vu khống, nói xấu ba tôi nữa. Chính ông đã đi rêu rao là ba tôi ở ác, tham lam đủ điều, ông còn chối không? Ông Sáu Hết giận đến run người: - Thằng ranh con hỗn láo. Chính ba mày ngày còn làm quan đã lấy hết đất đai của tao đem bán, rồi còn vu cáo tao là phản tặc, khiến tao bị tù đày nhiều năm trời, gia đình ly tán, sản nghiệp tiêu tan, đây tay trắng lại mang bệnh sắp chết đây! Chẳng những không nao núng, thằng bé còn ngửa mặt cười vang: - Vui quá, lại có một thằng hề già ra làm trò! Còn ai là kẻ xấu nữa không, bước ra hết đi. Noi gương lão Sáu Hết, có đến gần chục người nữa bước ra đứng dàn hàng ngang vừa lên lếng: - Bữa nay chúng tôi tới đây là để đòi nợ, đòi sự công bằng. Nhà họ Hoàng phải trả ngay đất đai, tài sản cho chúng tôi! - Còn ai nữa ra luôn! Giọng thằng bé đầy thách thức, nó lại quay khắp hướng với nụ cười nửa miệng y như một người trưởng thành. Bỗng một người xuất hiện, người mà vừa trông thấy thì bà Ánh đang đứng cạnh con đã phải giật mình. Đó là ông đạo sĩ mặc đạo bào đen. Bà lắp bắp: - Ông... ông tới đây làm gì? Đâu có ai mời. Lão vẫn bình tĩnh: - Ở đây hôm nay chỉ có một số người được mời, còn lại là những người tới để đòi nợ như quý vị đây vừa nói. Tôi cũng đòi nợ như mọi người đây! Thằng bé quen thói trịch thượng như nãy giờ, nó nhìn ông đạo sĩ vừa hất hàm: - Ông bước lại gần đây coi! Bà Nguyệt Ánh muốn ngăn con lại nhưng không còn kịp nữa, ông đạo sĩ đã bước tới và với giọng chậm rãi như thường lệ: - Nghiệt súc quá ngông cuồng! Lần trước ta không cương quyết nên ngươi mới lọt ra đời được, còn bây giờ... Lão đưa tay lên, từ trong tay áo rơi ra một tấm vải màu vàng, vừa chụp lấy lão vừa hô to: - Nghiệt súc, biến! Bị bất ngờ nên thằng bé chới với, đến khi thấy nguy nó chỉ còn biết thụp người xuống. Cũng may vừa khi ấy bà Nguyệt Ánh đã nhanh trí, lấy cả thân mình của bà đè lên con vừa bảo: - Nằm yên! Mọi người chỉ nghe một tiếng kêu thét lên sau đó và khi nhìn lại họ đều hốt hoảng, bởi bà Nguyệt Ánh đã nằm bất động, khóe miệng tuôn đầy máu! Trong khi thằng bé thì đã nhanh chân lủi trốn mất trong đám đông khách khứa. Lão đạo sĩ một lần nữa thở dài: - Trời hại nhà họ Hoàng này rồi! Nhiều người chưa hiểu chuyện đã vây quanh ông, hỏi dồn: - Chuyện gì đã xảy ra vậy? Liệu bà Hoàng có sao không? Lão đạo sĩ sau khi đưa tay bắt mạch cho bà Ánh đã trấn an: - Bà ấy không sao, chỉ bị nội thương nhẹ thôi, rồi sẽ tỉnh lại ngay mà. Rồi lão giải thích thêm: - Lúc nãy nếu bà ấy không che chở cho nó thì thằng con nghiệt súc kia đã phải tàn đời rồi. Tôi phải ra tay như vậy là chỉ để cứu cái nhà này khỏi họa diệt vong thôi. Nó là oan gia là kết tinh của bao nhiêu oan hồn uổng tử đầu thai về để hại dòng họ Hoàng này táng tận, tiêu vong! Vài người trong thân tộc vốn không rõ chuyện ác của Hoàng đại nhân ngày trước, nên tỏ ra không đồng tình. - Dù sao thằng bé cũng là giọt máu hiếm hoi còn lại của họ Hoàng, sao ông làm như vậy? Lão đạo sĩ lắc đầu: - Các vị không biết đó thôi, nó đâu phải là người! Không thấy sao, mới có một tuổi mà nói năng hành động như một người lớn và còn hỗn láo, trịch thượng nữa. Nếu để nó tồn tại thì cái nhà này không mấy chốc chẳng còn gì. - Nhưng dẫu sao... Vừa lúc đó bà Nguyệt Ánh tỉnh lại, bà quên cả đau đớn gào khóc, kêu gọi con trai: - Bảo An ơi, chạy đi con! Hãy chạy và trốn đi, đừng để lão ta giết con! Lão đạo sĩ nhẹ giọng: - Tôi không giết nó, chỉ muốn thu nạp để tách nó ra khỏi đây. Nhưng tôi đành chịu thất bại, bởi ngoài có bà đỡ cho nó còn được lũ yêu tinh đồng bọn theo rất đông, lần này tôi không làm gì được thì lần sao khó mà thành công. Thôi, tùy bà, tôi xin cáo từ! Ông đi nhanh ra cửa rồi mất dạng. Bà Nguyệt Ánh hơi ngượng với mọi người, nên chống chế: - Do nó là con cầu tự mà, nên tôi cưng chiều, khiến nó hỗn hào. Nhưng trẻ con mà, rồi mình sẽ uốn nắn nó từ từ... Bà lủi thủi đi vào nhà, miệng cứ gào kêu tên con... *** Bà Nguyệt Ánh không chết, nhưng từ hôm đó bà hầu như hôn mê. Bảo An bỏ đi đâu mất không thấy bóng. Nhưng trong nhà lại xảy ra những chuyện khá ly kỳ: Bọn gia nhân báo rằng ở phòng ngủ của bà Ánh đêm nào cũng có bóng người ra vào! Bà Ánh hôn mê có đến cả tuần sau. Rồi cuối cùng bà tỉnh lại trong trạng thái như người đau nặng lâu ngày. Người bà gầy rạc sụt cân đến không ngờ, trọng lượng mất đi gần phân nửa! Người nhà kể chuyện về bóng người ra vào phòng bà mỗi đêm, bà Ánh nhẹ lắc đầu bảo: - Đâu có ai ra vào. Tôi không ăn uống, cũng không dậy được thì làm sao tiếp xúc với ai. Khi xem lại đồ đạc trong phòng, bà giật mình: - Sao mất hết nhiều thứ? Bà ráng dậy, lần tới chỗ tủ đựng nữ trang tiền bạc thì bàng hoàng: - Trời ơi. Tiền bạc... nữ trang... không còn... Bà chỉ nói được mấy tiếng rồi lại ngất. Tôi tớ trong nhà bị nghi là thủ phạm nên cùng tập trung lại, chờ bà hồi tỉnh họ cùng thề thốt: - Tụi con ở với bà từ lâu nay, không hề dám tham lam gì, xin bà đừng nghi oan! Bà Ánh dịu giọng hơn thường khi: - Ta biết ai lấy rồi, các ngươi không phải lo. Bà nói xong thì ôm mặt khóc nức nở. Đám gia nhân không hỏi, nhưng họ đều có chung nhận định như bà. Vài người trong số họ nói với nhau: - Thằng Bảo An chắc là ma quỷ, chứ người gì mà mới một tuổi đã lớn xác và khôn lanh như vậy? Chính nó đó chứ không ai, nó đã vào phòng bà chủ để lấy cắp tiền. - Nhưng nó còn con nít thì lấy nhiều tiền để làm gì? Nếu có, chắc là cũng do ai đó xúi giục. Mà mấy hôm nay nó đi đâu không thấy về, hay là đã bị ông đạo sĩ bữa đó làm gì rồi? Họ lo lắng cũng bằng thừa, bởi ngay chiều hôm đó Bảo An ra về. Nó khinh khỉnh với mọi người trong nhà, cũng chẳng lên phòng thăm mẹ, nó vào phòng riêng vốn là thư phòng của ông Hoàng ngày trước và đóng cửa lại. Khi họ đem chuyện báo lại cho bà Ánh nghe, chẳng những không rầy la, bà còn dặn mấy đứa phục vụ: - Tụi bay phải canh xem cậu cần gì thì phục vụ cho cậu. Đừng nói gì chuyện mất đồ hết. Vú em của Bảo An là Thị Hai nhận trách nhiệm chuyện đó. Chị lên phòng gõ cửa thì từ trong, Bảo An nạt lớn: - Để tao yên! Thị Hai lên tiếng: - Tôi nè cậu Hai, nếu cậu cần gì thì cứ gọi, tôi nằm ngủ ở ngay ngoài này chờ phục vụ cậu! Giọng của Bảo An dịu lại: - Thị Hai hả, ừ được. Mày vào đây tao bảo. Thị Hai đã là vú nuôi nó từ lúc mới lọt lòng, cả việc bú mớm chị cũng đích thân lo, bởi chị là gái một con, từng có sữa con so rất ngon, bởi đứa con mới sinh ra của chị đã phải bỏ do bạo bệnh. Nghe giọng điệu không bình thường của Bảo An, chị có hơi lạ, nhưng không nghĩ gì khác, chị đẩy cửa bước vào phòng. - Gài cửa lại... - Dạ, cậu Hai. Việc phải xưng dạ thưa với một thằng nhóc đã là kỳ, lại còn phải nghe nó kêu mình bằng mày này mày nọ nữa, Thị Hai bực lắm nhưng ráng chịu đựng bởi thân phận tôi đòi. - Lại gần đây bóp chân cho tao coi, đi qua nay mỏi nhừ cả hai chân! Thị Hai đẩy đưa: - Bà kiếm cậu khắp nơi, bà khóc thương vì nhớ cậu đến phát bệnh nằm liệt giường mấy hôm nay. Chợt nó hỏi: - Bà ấy có hỏi gì tôi không? - Dạ có, à mà không! Bà chỉ hỏi không biết cậu đi đâu. - Vậy thôi sao? Còn chuyện tiền bạc... Thị Hai ngạc nhiên: - Cậu hỏi tiền bạc gì? Bộ cậu... Bỗng nó phá lên cười: - Hỏi chơi vậy chớ tôi biết bà ấy phát hiện ra vụ mất tiền, và bà ấy nghi cho tôi lấy! Mà haha... tôi lấy thì đã sao, bà ấy còn thiếu gì tiền ba tôi để lại nữa! Thị Hai trố mắt: - Cậu Hai lấy thật hả? Thằng bé trợn mắt nhìn lại Thị Hai: - Làm gì ngạc nhiên dữ vậy? Mày có muốn xài không tôi cho? Thị Hai hốt hoảng: - Cậu Hai đừng làm tôi sợ! Tôi không bao giờ dám... Thằng bé bất thần vùng dậy, chụp lấy Thị Hai kéo về phía mình khiến chị ta không làm chủ được, phải ngã sấp lên người nó: - Đừng làm vậy cậu Hai! Đừng... Nhưng chị ta đã bị Bảo An chặn ngang miệng bằng sức mạnh đáng ngạc nhiên... - Kêu lên là tao giết chết liền. Tao đâu phải là thằng bé con Bảo An đâu, cứ nhìn lại tao coi. Lúc này Thị Hai không còn hồn vía nữa, nhưng cũng liếc nhanh về phía nó, rõ ràng người đang khống chế chị là một ai đó khác, chứ chẳng phải Bảo An! Tuy nhiên, giọng vẫn là giọng của nó: - Tao đi lang thang mấy ngày nay mà tới đâu người ta cũng từ chối không cho tao vào mặc dù đó là những kỹ viện, những lầu xanh. Họ nói tao còn con nít, cấm vào! Mà tao thì đang phát triển thành người lớn, tao muốn được cái mà người lớn có. Vậy thôi, mày chiều tao, lén lút giữa tao với mày thôi, mọi việc sẽ không ai hay... rồi tao cho tiền đời mày sẽ hết khổ, hết cơ cực. Nghe tao thì yên mà không nghe thì mày biết rồi, tao có thể giết chết bất cứ đứa nào mà tao muốn! Thế nào theo tao chứ? Hãy nói ừ đi trong khi tao còn năn nỉ... Thị Hai chết điếng trong lòng, nói thuận thì quyết là không, mà chống cự lại thì chỉ có nước chết! Thằng tiểu quỷ này xưa nay muốn gì được nấy. Nay hình dáng nó hiện tại lại không phải là nó, mà với sức một đứa cường tráng như vậy làm sao chị chống lại được? Đang còn lưỡng lự, bỗng có người gọi bên ngoài: - Bà chủ kêu Hai ơi! Chỉ chờ có thế, Thị Hai vùng ra định chạy đi, thì bất chợt thằng quỷ kéo mạnh lại, chị ta vô phương cựa quậy. - Để tao! Hắn nói vọng ra: - Tao sai con Hai đi chợ rồi! Có thể bên ngoài biết Thị Hai chưa đi đâu nhưng ai dám cãi lời. Họ lên báo cho bà chủ như vậy rồi nhìn nhau lắc đầu. Bà Nguyệt Ánh thay vì rầy con, bà lại chỉ đăm chiêu một chút rồi im lặng. Từ đó, bà cũng chẳng nhắc tới số tiền bạc nữ trang bị mất. Thằng con tiểu quỷ của bà thì đang làm một chuyện động trời ngay trong nhà mà hầu như bà không quan tâm, hay là có biết mà lờ đi... Nửa đêm hôm đó, chính tên khốn kiếp ấy bước ra khỏi phòng rồi tỉnh như không, hô lớn: - Con Hai chết rồi! Khi mọi người chạy lên thì thấy Thị Hai nằm sóng sài dưới sàn, chết mà không kín thân thể! Lúc này, chính bà Ánh khi nhìn Bảo An trước mặt mình cũng phải kinh ngạc, bởi đó là một thanh niên lực lưỡng chứ không phải là đứa con bé bỏng của bà! Trong khi mọi người hãi hùng thì Bảo An dửng dưng bước ra ngoài, buông lại một câu lạnh lùng: - Đổi phòng khác cho tôi! Bà Nguyệt Ánh cũng chiều theo: - Đổi phòng cho cậu Hai. Rồi bà cố bước theo con ra ngoài định nói gì đó nhưng Bảo An hình như biết mà vẫn tảng lờ, đi luôn. Người mẹ đau khổ chỉ biết nhìn theo rồi ôm mặt khóc. *** Nhờ tiền bạc và cũng nhờ mối quan hệ cũ của ông Hoàng nên chuyện động trời về cái chết của cô hầu gái bị xếp hồ sơ, không truy cứu. Bà Ánh phải tốn khá bộn. Rõ ràng là bà muốn được yên thân và cũng muốn cho đứa con trai cầu tự của mình không bị tai tiếng. Nhưng chừng như nghiệp chướng không giới hạn đó. Chỉ một tháng sau thì chuyện gì đến đã đến! Một buổi sáng, khi bà Ánh còn đang nằm trong phòng riêng thì bên ngoài có tiếng người la hét vang. Lát sau mấy con hầu chạy vào báo tin dữ: - Bà ơi, cậu Hai nguy rồi! - Chuyện gì mà nguy? - Người ta kéo tới đòi bắt cậu Hai vì tội... gian dâm với vợ và con người ta! Bà Ánh vừa chạy ra đã nhìn thấy cả chục người đang ra sức xô đổ cổng rào. Cũng may, vừa khi ấy có mấy tay lính lệ của làng tới, họ chặn lại: - Có chuyện gì thì ra nhà làng mà kiện cáo, sao lại phá nhà người ta? Mấy người đang giận dữ đã gào lên: - Làng xã các người bênh nhau, có thưa kiện cũng như không! Thằng tiểu yêu nhà này nó làm loạn xóm làng, gây tang tóc cho mọi người mà quân lính các người có ra tay không, hay là để yên cho nó làm tới? Một lính lệ nói lớn: - Sao không ra tay! Mới rồi làng đã bắt nó ra đóng gông ngoài sân làng rồi! Anh ta quay sang bà Ánh: - Thằng con nhà bà phạm tội tày trời, hãm hiếp giết cả nhà người ta, nên bị bắt sắp giải lên quan rồi! - Trời ơi, con tôi! Bà Ánh chỉ kêu được mấy tiếng rồi đứng như trời trồng. Lát sau, bà mới xua tay: - Không. Không có chuyện đó! Con tôi còn nhỏ làm sao nó làm được chuyện tày đình ấy mà mấy người vu oan! Khi mấy tên lính lệ dìu bà ra tận nhà làng thì rõ ràng trước mắt là Bảo An đang bị cùm tay chân. Vừa nhìn thấy mẹ, nó đã lồng lộn lên: - Thả tao ra, không thì cả lũ bay phải chết hết! Bà Ánh bất nhẫn khi nhìn con trong tình cảnh ấy, nhưng bà cũng đành phải chịu thôi. Ngay trưa hôm đó, người ta áp giải thằng tiểu quỷ lên quan huyện. Người này vốn là bạn đồng liêu với ông Hoàng ngày trước, cũng muốn nhẹ tay với Bảo An. Tuy nhiên, vừa gặp mặt ông thằng khốn kiếp đã chỉ thẳng vào ông hét lớn: - Mày phải cứu tao ra, không thì tao sẽ giết hết cả nhà mày! Trước thái độ quá đáng của nó, bà Ánh phải lên tiếng: - Không được hỗn! Bất ngờ, nó quay sang bà trợn mắt lên: - Bà chết tới nơi mà còn chưa biết sao? Huyện lệnh Đinh Liêm đập bàn quát lớn: - Súc sinh! Rồi ông ra lệnh cho lính lệ nọc hắn ra đánh hai chục hèo. Rất lạ là dù bị đánh tóe máu, nhưng hắn vẫn gào thét chửi bới chứ không kêu đau. Bà Ánh bất nhẫn quay mặt đi chỗ khác, hồi lâu khi quay lại thì người ta đã đưa Bảo An đi rồi. Hỏi thì bà được viên huyện lệnh đáp vắn tắt: - Phải đưa ngay nó lên phủ, để người ta trị tội nó. Thằng bé này tuy tuổi còn trẻ con, nhưng hành động là người lớn nên không thể xem thườmg được. *** Do Bảo An tuổi còn nhỏ nên không ghép tội hết được, mặc dù đó là trọng tội, phải chết. Khi đưa lên phủ, họ truyền giam vào nhà lao chờ lệnh. Huyện quan Đinh Liêm muốn làm tiền nhà họ Hoàng, nên cho người tâm phúc tìm tới nhà gặp bà Nguyệt Ánh. Nhưng khi họ tới nơi thì hay tin bà Ánh đã về thành phố để khiếu nại.Tưởng bà ta cố ý lánh mặt, nên huyện quan ra lệnh hành quyết ngay, dù đó là một lệnh trái luật. Tuy nhiên, khi lính vào nhà lao để dẫn phạm nhân ra thì chỉ còn thấy cái xác của một đứa bé nằm đó, nhưng không phải là xác của Bảo An! Chuyện báo lên quan huyện, lão Đinh Liêm hốt hoảng đến tận nơi xem thực hư. Và lão ta chết điếng khi nhìn thấy cái xác. Đó là đứa con trai lên ba của ông ta... - Trời ơi! Lão kêu lên và ngất tại chỗ. Trong khi đó thì ở bến đò nơi bà Nguyệt Ánh trên đường đi khiếu kiện, đã bất ngờ gặp lại vị đạo sĩ. Bà hơi khó chịu nhưng không cách nào hơn là phải chào hỏi lấy lệ, rồi định xuống đò thì ông đạo sĩ đã lên tiếng: - Bà đi làm gì cho mất công. Nó tới đây bây giờ. Bà Ánh nhìn lại phía sau thì thấy một xe ngựa chạy nhanh tới và thả xuống một người. - Con! Bảo An không đáp, chạy nhanh xuống đò và đuổi hết những người cùng đi: - Lên hết, để tôi đi! Mấy người kia biết nó nên vừa thấy đã muốn tránh xa. Còn lại trên đò chỉ có hai mẹ con. Nhưng thằng khốn ấy không hề nhìn mẹ nó, lại tự tay chèo con đò ra giữa dòng. Lão đạo sĩ kêu lớn: - Bà hãy nhảy xuống sông lội vào bờ đi, nếu không muốn chết chung với thằng đó! Bà Nguyệt Ánh đời nào chịu nghe, bà còn bước lại gần con hơn, cất giọng trìu mến: - Làm sao con thoát ra được vậy? Mẹ lo cho con quá. Bất ngờ tên khốn kiếp dùng tay gạt ngang, khiến cho bà Ánh lảo đảo và ngã xuống sông. Đã không ra tay cứu mẹ, mà hắn còn ngửa mặt lên trời cười như điên như dại! Nhanh như chớp, lão đạo sĩ phóng xuống và nhanh tay chụp được bà Ánh kéo lên. Vừa lúc ấy, con đò mà Bảo An đang chèo chống bỗng chao đảo rồi quay tít như chong chóng. Tiếng la hét vang lên: - Cứu tôi! Cứu! Nhưng chẳng một ai nhảy xuống cứu. Khi con đò ngừng lại thì người ta chẳng còn thấy bóng dáng Bảo An đâu. Mặt nước chỗ gần con đò ấy có máu trào lên. Rồi mọi thứ trở lại bình yên... Ông đạo sĩ thở dài: - Đành thôi, chẳng còn cách nào hơn. Bà Nguyệt Ánh chợt hiểu, bàng hoàng định kêu lên, nhưng vội ngừng lại ngay. Trong đầu bà sáng ra và hiểu rằng mình không nên làm gì. Giọng lão đạo sĩ vẫn đều đều: - Đáng lý nó đã chết trong ngục rồi, nhưng bọn bảo hộ cho nó là lũ oan hồn cứ cố tình giải thoát cho nó, còn giết hại thêm một mạng người nữa, để cho nó ra đây gặp bà, trừ nốt người mà nó cho là cản trở việc tiêu diệt nhà họ Hoàng. Cũng may tôi đã hay được. Giờ đây thì mọi việc qua rồi, đứa con nghiệp chướng đó đã vĩnh viễn không trở lại nữa. Nó chính là một giọt máu gần ngày sinh của một người đàn bà bị chồng bà giết hại khi chị ta cự tuyệt sự cưỡng bức của ông Hoàng. Nó đầu thai vào là để báo oán đó. Bà Ánh không còn cố tình bênh vực cho con nữa, bà lẳng lặng nghe rồi ôm mặt khóc. Lão đạo sĩ phải an ủi: - Bà may mắn thoát nạn rồi. Tuy rằng sau này bà sẽ chẳng còn gì cả. Nhưng ở đời đâu chỉ giàu sang mới sống được. Rồi mọi việc sẽ đâu vào đó... Ông nói xong lại bỏ đi. Bà Nguyệt Ánh thẫn thờ một lúc rồi cũng trở về nhà. Ngày hôm sau... Toàn bộ gia sản của dòng họ Hoàng đều bị tịch biên bởi quan huyện Đinh Liêm. Chẳng biết có phải đó là từ trên hay không, chỉ biết là sau khi thực hiện được việc ấy thì ông ta vui lắm. Hình như đó là một việc trả thù riêng tư! Bà Nguyệt Ánh trắng tay, khăn gói trở về quê cũ. Đáng lý thất vọng lắm, nhưng tự dưng lòng bà cảm thấy thanh thản không còn vướng bận bất cứ chuyện gì nữa... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 30
HỒN TIỂU QUYÊN Chuyện ông bá hộ Tung hơn bảy mươi tuổi mà còn đòi lấy vợ trẻ chẳng những làm cho cả nhà sững sờ, mà ngay như người làng cũng ngơ ngác bảo nhau: - Ông ta có hồi xuân không mà đòi lấy gái mười tám? Có người lại nói: - Mà có đứa ưng thuận mới là chuyện lạ! Chắc là ham tiền, chứ con gái mà đi lấy một ông già như thế? Nói gì thì nói, việc đã thành sự thật. Hôm đó trong buổi họp mặt gia tộc, bá hộ Tung đã long trọng tuyên bố: - Nhà này từ nay sẽ có chủ mới. Con gái của chủ nhà máy xay lúa Đồng Xanh ở cồn Cái Thia đã nhận lời và làm... má mấy đứa trong nhà này. Người đầu tiên lên tiếng phản đối là con gái út của ông, cô Út Liên: - Nghe nói con đó mới mười tám tuổi, như vậy còn nhỏ hơn tuổi con, sao làm... mẹ tụi này được. Bá hộ Tung trợn mắt: - Mày kêu ai bằng con này con nọ, con kia? Út Liên không vừa: - Ba mà cưới nó về thì đừng trách tụi con bỏ nhà đi hết cho ba ở với nó! Người em gái thứ sáu của ông cũng ca: - Bộ hết chỗ lấy sao anh lấy con này về làm vợ? Mà nghe đâu bên cánh đó cũng đâu có ưng, chỉ bởi anh ép họ... Bá hộ Tung đập bàn quát tháo vang cả nhà: - Đừng có bàn ra. Tao cưới vợ là cưới cho tao, chứ có cưới cho mấy người đâu. Nhà cửa này là của tao, sản nghiệp này cũng do tao tạo dựng, như vậy tao là chủ, tao có quyền quyết định chuyện riêng của tao! Thấy ông anh của mình nói đến nước đó, nên cô Sáu quay sang nói với mấy đứa cháu: - Ba bay đã nói như vậy rồi thì tốt hơn hết là tụi con qua nhà cô mà ở. Để nhà này cho ông ấy sống với vợ "nhí" đi! Cả ba đứa con gái đều đồng tình. Trước khi đi chúng còn nói như trối: - Chỉ khi nào ba chết tụi con mới về để tang, chứ không bao giờ tụi con đặt chân về nhà này! Không ngờ con cái phản ứng dữ quá lão bá hộ đành xuống nước: - Tụi con thương ba tuổi đã già, sống cô đơn buồn quá chắc là ba mau chết! Em gái ông nói: - Nếu vậy tôi làm mai cho anh con Tư Gấm năm nay nhỏ hơn tôi ba bốn tuổi. Nó là người đàng hoàng, từ nào đến giờ chưa lấy chồng, lại con nhà gia giáo nữa. Ông bá hộ rùn vai, lè lưỡi: - Cô cho tôi lạy, con vợ già mới chết, bây giờ cô lại bảo tôi đi kiếm một con... chằn cái khác về hả? Còn lâu! Cô Sáu Nết nhún vai, lắc đầu: - Anh hết thuốc chữa rồi! Mấy cô cháu dắt tay nhau ra khỏi nhà. Lão bá hộ nhìn theo dửng dưng. Tuy nhiên, khi họ đi hết rồi thì ông chợt cảm thấy trống vắng. Kể từ ngày vợ chết cách ba năm trước, bề ngoài thì lão có vẻ là người chung tình, nhưng thật ra lão là người trăng hoa khó ai bì! Cho đến khi một sự tình cờ, lão được người mách cho cô gái tân tên là Tiểu Quyên. Đúng hơn là có người mai mối. Một bà mai có cỡ. Chính bà ta tìm tới gặp riêng lão và tiếc lộ: - Ông bá hộ bộ tính chết già trong cô độc hay sao vậy? Bá hộ Tung ngao ngán lắc đầu: - Nghe tới vợ con là phát ngán rồi! Sống một mình thấy khỏe hơn. - Nhưng vợ là vợ già chứ còn... nàng hầu, đào "nhí" thì phải khác chứ! Và ngay lập tức, mụ ta mách: - Bá hộ biết chủ nhà máy xay lúa Đồng Xanh ở bên cồn Cái Thia không? - Biết. Nhà máy xay lúa thuộc loại lớn nhất vùng này? Mụ ta cười phá lên: - Ai hỏi về sự lớn nhỏ của nó làm gì. Bởi có lớn, có giàu gì thì cũng chỉ bằng cái móng tay của ông mà thôi. Tôi hỏi là hỏi đứa con gái hoa nhường nguyệt thẹn của nhà đó kìa! Bá hộ Tung ngạc nhiên: - Thì cũng mắc mớ gì tôi? Hình như là nhà đó có đứa con gái năm rồi tính đưa đi dự thi sắc đẹp ở Tây đô thì phải. Mụ mai vỗ tay: - Đó đó. Cái đáng nói là ở đó đó! Rồi mụ ta kề tai nói nhỏ: - Ông có muốn có con nhỏ đó để hết cô đơn không? Đúng là đưa mỡ đúng vào miệng mèo! Lão bá hộ có sụm chân đi nữa mà nghe giới thiệu món ngon như thế cũng phải ứa nước dãi: - Nó chịu tôi sao? Mụ ta nheo mắt: - Chịu ngang xương thì đời nào nó chịu. Nhưng... phải có những cái khác thường thì mới gọi là bá hộ Tung chớ! Vẫn thầm phục cái tài xúi người này, giục người kia của mụ ta, nên ông bá hộ hỏi khẽ: - Có cách nào? Lúc này mụ mới nói thẳng ra: - Số là thằng cha chủ nhà máy xay lúa đó vừa bị vỡ nợ, thiếu nhà băng số tiền khá lớn, sắp bị xiết nợ mất cái nhà máy xay. Cho nên nó mới... bán đứa con gái mà trả nợ. - Bán con gái? Có phải cái cô đi thi sắc đẹp không? Mụ mai lại vỗ đùi: - Còn ai vào đó nữa! Và chỉ có ông thôi... Trong lúc bá hộ Tung còn chưa rõ thì mụ ta đã giải thích rành rọt như người trọng cuộc: - Chỉ cần ngài bỏ ra nửa vạn bạc là xong. Đó là số tiền cha cô nàng thiếu nợ nhà băng! Nghe tới số tiền quá lớn, lão bá hộ phát hoảng: - Số tiền trị giá ba bốn trăm lượng vàng đâu phải chuyện chơi! Mụ mai hạ thấp giọng ra vẻ quan trọng: - Bởi vậy tôi mới nói chỉ có mình ông là tính được! Nhiều thì có nhiều, nhưng để có được người đẹp như tiên giáng trần đó thì... cũng đâu có quá mắc. Lão bá hộ đã bắt đầu nao núng: - Sao bà biết họ chịu đổi con? Mụ mai đánh đòn quyết định: - Được hay không là do tài của con Tư Thắm này mà, ông bá hộ! Rồi mụ ta nói chi tiết hơn: - Vừa rồi chính thằng chủ nhà máy chạy qua cậy nhờ tôi nói giùm ông bá hộ. Nếu ông đồng ý giải nguy cho ông ta bằng cách trả cho nhà băng số tiền nợ đó, thì đổi lại ông ta sẽ cho con gái về làm thứ thiếp cho ông. Nói thứ thiếp cho có vẻ, chứ đó là làm bà bá hộ nhí cho ông đó! Mắt lão bá hộ sáng lên nhưng vẫn còn e dè: - Biết cô ấy có thuận không? - Miễn là ông chịu thì giá nào cũng xong! - Nhưng mà... Lão ta nhẩm tính và im lặng hồi lâu. Cuối cùng đã gật đầu. Thế là mụ mai Tư Thắm phấn khởi nói: - Ông chờ đó, chỉ trong vòng hai mươi bốn giờ là xong. Mụ ta nói đúng. Bởi qua chiều hôm sau thì có tin tốt: - Ông chuẩn bị tiền đi, xong rồi! Một cuộc gặp mặt giữa bá hộ Tung và chủ nhà máy xay Mười Lực, với lời giao ước: - Giải nợ nhà băng xong thì lập tức tổ chức đám cưới! Bá hộ Tung muốn chắc ăn hơn, đã ra điều kiện: - Phải cho tôi gặp mặt cô Tiểu Quyên trước, chỉ cần một lời hứa của cô ấy thôi thì bao nhiêu tôi cũng chi! Dĩ nhiên Tiểu Quyên không chịu! Cô khóc òa lên khi nghe cha nói thẳng ra ý định và cương quyết nói: - Nếu cha bắt ép con lấy lão ấy thì con sẽ cắn lưỡi chết ngay lập tức! Biết con mình nói là làm, nên Mười Lực phải cầu viện tới bà mụ Tư Thắm, mụ này bày mưu: - Tôi đã lường trước rồi. Phải như thế này thì mới xong... Mụ ta bày trò như thế nào đó mà ngay ngày hôm sau, Mười Lực đã ngã bệnh nặng, đồng thời có một lũ đầu trâu mặt ngựa kéo tới đòi đốt nhà máy xay, nếu không trả nợ kịp thời. Lúc đầu Tiểu Quyên không quan tâm chuyện gì đang xảy ra. Tuy nhiên, khi gia nhân báo tin cha bệnh nặng, rồi nhà máy bị hăm đốt, côn đồ kéo tới đông như kiến thì cô gái đáng thương phải rung động. Cô chạy đi tìm cha thì thấy ông nằm thoi thóp trong phòng, ông ra dấu cho con tới bên cạnh rồi nói như trối trăng: - Nếu cùng lắm thì con hãy châm lửa trước, đốt nhà này, đốt luôn cả nhà máy, không để cho chúng nó chiếm lấy. Còn phần con thì hãy đi về quê nội tạm lánh thân, sau sẽ tính... Ông nói trong hơi thở dồn dập khiến cho Tiểu Quyên hoảng sợ: - Cha! Vậy cha hãy đi đi, con sẽ cho người mang cha ra khỏi nhà, phần con thì... Cô muốn nói là sẽ ở lại tử thủ, dẫu cho có tự thiêu trong biển lửa cũng cam đành nhưng lời cô chưa dứt thì ông Mười Lực đã quát lớn: - Hãy mau đi đi, tụi nó kéo tới đây bây giờ! Vừa nói ông vừa tung mền ngồi dậy và lao thẳng vào tường như hành động tự sát! Tiểu Quyên lao theo cha, gào lên: - Đừng cha ơi! Con, con.. nghe theo cha. Con... Rồi nàng ta ngất đi. Mọi việc trở lại bình thường ngay sau đó. Kể cả bọn đầu gấu hung hăng cũng tự động rút đi... Thì ra đó là màn dàn cảnh của mụ Tư Thắm. Mười Lực cũng là con rối của mụ. Vậy mà kết quả lại vô cùng mỹ mãn. Khi Tiểu Quyên tỉnh lại, chính cô đã nói với cha: - Cha hãy gọi lão bá hộ tới đây. Con muốn nói chuyện với lão ta trước khi cử hành hôn lễ! Không biết Tiểu Quyên đã nói gì, mà sau đó bá hộ Tung đã xuất ngay số tiền lớn để giải nợ nhà băng cho cha cô. Mọi việc xong xuôi rồi, cô mới bảo mọi người: - Hãy chuẩn bị đám cưới! *** Nguyên cái đám cưới giữa một ông bá hộ 75 tuổi với một cô hoa khôi 18 tuổi đã là một tin hấp dẫn, còn cộng thêm tin đồn là sẽ có biến cố ngay trong ngày cưới bởi một chàng trai, người yêu của cô dâu, sẽ xuất hiện phá đám cưới, nên trên quãng đường vài cây số, đã có hàng ngàn người đứng chật hai bên đường để chờ xe hoa đi qua.Nhưng họ phải thất vọng, bởi xe đưa dâu được đưa từ Sài Gòn về, là loại xe mui kiếng bít bùng, cô dâu ngồi trong xe thì như tọa trong thành trì kiên cố, người ngoài nhìn vào không thấy. Và có lẽ đoán trước tình hình bất ổn, nên lão bá hộ đã mướn trên hai chục võ sĩ của các lò võ Thiếu lâm từ Chợ Lớn về hộ tống hai bên đoàn xe hoa. Bởi vậy đoàn xe đưa dâu đi qua yên lành chẳng hề có chuyện gì xảy ra. Trên chiếc xe rước dâu, lão bá hộ diện nguyên bộ âu phục màu mỡ gà nên trông trẻ ra... vài tuổi. Ngồi bên cạnh là cô dâu, đầu trùm kín trong một vuông lụa màu đỏ giống như phong tục của người xưa. Suốt quãng đường đi, cô dâu chú rể không hề nói với nhau lời nào. Khi đến nơi, trước khi bước xuống xe cô dâu mới lên tiếng, đủ cho bá hộ Tung nghe: - Ông đã hứa với tôi rồi, phải ba tháng sau ngày cưới ông mới được phép bước vào phòng tôi. Có nghĩa là phải qua ba tháng tôi mới chính thức trở thành vợ ông! Vậy lát nữa đây, tôi sẽ vào luôn phòng riêng, không xuất hiện chào hai họ và cũng không dự tiệc cưới. Ông cứ nói là tôi bị bệnh bất ngờ cần nghỉ ngơi. Nhớ đó! Nhìn thấy mọi người chờ đợi ở sân nhà quá đông, hình như họ muốn nhìn mặt cô dâu, khiến bá hộ Tung bối rối: - Người ta đón đông quá như vậy làm sao? Hay là em cứ lên tiếng phía bên trong cái mạng che cũng được, cho họ một tiếng? Nàng đáp cụt ngủn: - Không! Cũng may, vừa khi ấy thì có bà mai Tư Thắm xuất hiện. Bà ta rất nhanh trí, đã cho hai người đi kè bên cô dâu, vừa đi vừa hô lên: - Cô dâu bị mệt, mau đi vào phòng trong nghỉ ngơi! Nhờ vậy mà thoát được cảnh bẽ mặt trước đám đông. Và cũng nhờ vậy mà sau đó có cớ nói với bà con hai họ: - Cô dâu bị bệnh bất ngờ, bây giờ phải nằm trong phòng chờ hồi phục sức khỏe! Đích thân mụ Tư Thắm phải trổ tài miệng lưỡi thì mới qua được chuyện cô dâu làm thủ tục lạy gia tiên và chào hai họ. Thiên hạ bàn tán xôn xao nhưng cuối cùng cũng có người nói: - Mấy đứa dâu trẻ nó làm bộ làm tịch như vậy đó, phải chịu thôi! Lão bá hộ tức lắm, nhưng vì đã trót hứa rồi, nên cũng đành ráng chịu đựng. Lão ta dặn mấy tên gia đinh: - Tụi bay canh kỹ bên ngoài, đừng để ai làm phiền giấc nghỉ ngơi của... bà! Đám gia nhân đưa mắt nhìn nhau cười lén. Lão bá hộ biết thế nhưng có lẽ lúc này trong đầu lão chỉ nôn nao có một chuyện là làm thế nào được sớm gần người đẹp, cho nên lão không bắt lỗi bọn kia. Lão cũng quên cả việc uống rượu mừng mà khách khứa, bạn bè đang chờ ngoài nhà khách. Đến khuya hôm đó, đích thân lão bưng cơm vào gõ cửa người đẹp: - Mình ơi, dậy ăn chút rồi ngủ! Tiếng xưng mình của lão khiến những gia nhân đứng chung quanh không thể nhịn được cười. Và hậu quả là lão ta nổi điên lên, đuổi cổ mấy tên đi khỏi chỗ đó. Còn lại một mình, lão ra sức kêu nhiều lần nữa mà bên trong vẫn không có tiếng đáp, cũng chẳng có động tĩnh gì, như là không có người trong đó! Quá lo sợ, lão đập mạnh cửa! Vẫn im phăng phắc. Lão nói to, cố ý để cho bên trong nghe: - Tụi bay lấy búa để tao phá cửa coi nàng có việc gì trong đó không! Quả nhiên có tác dụng. Cửa nhẹ hé mở và một giọng nói yếu ớt phát ra: - Có gì đưa vào đây. Lão bá hộ mừng quá vừa đưa mâm cơm vào vừa nói: - Mình có mệt không để ta đấm bóp cho! Lão nhận ngay một tiếng xì dài rồi cửa phòng đóng sầm lại ngay! Vẫn không thất vọng lão nói với vào: - Tôi ở ngoài này, có gì thì gọi! Và đêm đó, lão bắc ghế dựa nằm ngay ngoài cửa phòng, mặc dù đã mệt nhừ sau một ngày tất bật. Do đám con cái đã tẩy chay bỏ nhà đi, nên sau khi khách khứa ra về hết, cả đám gia nhân cũng bị lão cho tạm về nhà mấy bữa. Chỉ còn lại trơ trọi một mình trong nhà, lúc ấy lão mới thấm thía nỗi cô đơn. Đêm đầu tiên, lão biết thế nào là cảnh chú rể nằm chèo queo ngay trong đêm tân hôn! Và qua đêm thứ hai... Suốt ngày qua, dù lão nói cách gì người đẹp cũng không ra ngoài. Mâm cơm lão đưa vào hôm qua được đưa ra y nguyên, nàng không đụng đến miếng nào! Lão bá hộ thật sự lo: - Mình làm gì cũng phải ăn uống, chứ nhịn như thế này làm sao chịu nổi? Nàng vẫn im lặng. Trưa hôm đó, lại một mâm cơm nữa được đưa vào rồi đẩy ra mà không hề đụng tới chút nào. Qua ngày thứ ba... Lúc này lão bá hộ phải xuống nước: - Nàng muốn gì cũng được, kể cả việc ta để nhà này cho nàng ở một mình ta đi chỗ khác. Chỉ yêu cầu nàng ăn uống để mà sống! Nàng vẫn im lặng. Lão không còn nhẫn nại được nữa, phải dùng sức tung cửa ra. Phải tung đến lần thứ ba thì cánh cửa mới bật mở, và... lão há hốc mồm kinh hãi! Bởi đang nằm trên giường không phải là Tiểu Quyên, mà lại là... Út Tiên, con gái của lão! - Trời ơi, sao vậy nè? Lão hô lên, nhưng do đám gia nhân tạm nghỉ việc hết, nên cuối cùng lão phải đích thân bế xốc con gái mình dậy trong tình trạng hầu như chỉ còn thở rất yếu. Nửa giờ sau, nhờ sự tận tình cứu chữa của mấy người hàng xóm, Út Liên mới tỉnh lại. Cô nàng ngơ ngác khi nghe cha mình hỏi: - Sao con lại ở trong phòng đó, còn... nàng đâu? Liên chỉ biết cô đang ngủ nhà bà cô, không hề hay biết tại sao lại ở đây? Còn lão bá hộ thì gần như điên tiết lên khi hỏi mà chẳng ai biết Tiểu Quyên ở đâu. Lão gầm lên: - Nó trốn về nhà rồi! Mặc dù lão biết trong căn phòng đó không làm cách nào nàng ta trốn đi đâu được, bởi không có cửa sổ cũng không có bất cứ lối đi nào khác, ngoài cửa phòng ra vào duy nhất. Lão nhất quyết chạy trở qua nhà cha mẹ Tiểu Quyên để tìm. Nhưng vừa bước ra tới sân thì lão thấy một thanh niên lạ bước vào. Anh ta hất hàm hỏi trịch thượng: - Tiểu Quyên đâu? Đang căng thẳng vì lo, lão bực dọc quát: - Mày là ai? Chàng trai vẫn bình tĩnh bước thẳng vào nhà mà không đếm xỉa tới lão. - Nè, thằng kia... Lão vừa nói thì bỗng cảm giác như bị ai đó tát mạnh vào má mình hai cái liền! Lão ngơ ngác: - Ai... ai vậy? Quay một vòng không thấy ai, lúc đó thì chàng trai đã bước hẳn vào phòng khác. Lão phải chạy theo vừa lặp lại câu hỏi: - Mày kiếm ai? Anh chàng đáp cộc lốc: - Tiểu Quyên. - Mày là ai mà... mà... Câu nói vừa phát ra thì cũng là lúc anh ta xông thẳng vào căn phòng đang mở toang cửa. Nhìn chẳng thấy ai, anh ta quắc mắt hỏi lớn khiến lão Tung phải giật mình: - Cô ấy đâu? Tiểu Quyên đâu? Lão Tung chưa kịp đáp thì đúng lúc ấy ngoài cổng có nhiều tiếng chân ngựa chạy rầm rập vào, cùng với tiếng hỏi lớn: - Có nhà không ông bá hộ? Người chạy vào đầu tiên là Mười Lực. Không để ý gì khác, ông hỏi dồn: - Con gái tôi đâu? Lão bá hộ quay sang chàng trai lúc nãy định chỉ anh ta thì vô cùng ngạc nhiên, bởi anh chàng đã... biến đi đâu từ lúc nào rồi! Thấy lão có vẻ lúng túng, Mười Lực nghi hoặc: - Ông đã làm gì con Tiểu Quyên nhà tôi rồi? Không còn còn cách nào hơn, lão ta đành phải nói thật: - Cô ấy ở trong phòng suốt hai hôm nay, rồi lúc nãy tôi mở cửa phòng ra thì chẳng thấy đâu mà thay vào đó là con gái tôi! Mười Lực có linh tính điều chẳng lành nên run lên: - Chết con tôi rồi! Rồi ông ôm đầu rên rỉ: - Phải biết như vậy thì tôi đâu có ép gả con mình! Tiểu Quyên ơi, vì ba mà con bây giờ chẳng biết ra sao, còn thằng Quân thì đã chết sau khi con lên xe hoa. Trời ơi! Đang rối trí mà nghe Mười Lực nói. Lão bá hộ phải hỏi lại: - Quân nào? Ông nói Quân nào? Mười Lực không giấu giếm: - Quân là người yêu của con gái tôi. Đáng lẽ tụi nó sẽ cưới nhau vào Tết này, nhưng do tôi ép Tiểu Quyên, nên chúng nó phải chia lìa nhau. Vừa rồi khi hay tin con Quyên đi lấy chồng, thằng ấy đã đập đầu vào vách nhà máy xay lúa mà chết rồi! Lão bá hộ không tin vào tai mình: - Quân! Nó... nó mới vừa ờ đây! Mười Lực như bị điện giật: - Cái gì? Ông nói sao? Thằng Quân... - Nó mới vừa ở đây. Nó cũng nói là đi tìm Tiểu Quyên. Ông bước vào nó mới... biến mất! Mười Lực nói như người bị tâm thần: - Lạy trời... lạy trời xin đừng làm gì con gái tôi. Lạy trời... Rồi ông lạng choạng bước ra cửa, vừa đi vừa cất tiếng gọi: - Quyên ơi! Quyên! Tiếng của ông chìm vào không gian đang lặng gió... Bá hộ Tung gục xuống ôm đầu rên rỉ: - Tôi đã làm gì thế này? Tôi gây ra chuyện gì đây? Ông chợt nhớ tới con gái mình và bàng hoàng bật dậy lao đi: - Liên ơi! Con ơi... *** Những gì hiện ra trước mắt đã khiến cho bá hộ Tung càng bàng hoàng hơn. Xác của Quân vẫn còn nằm đó với cái đầu đầy máu. Điều này có nghĩa là...Giọng của bà mẹ Quân như xé nát con tim lão bá hộ: - Nó thương con Tiểu Quyên, nó muốn sống đời với con nhỏ, mà con nhỏ cũng thương nó, bất kể giàu nghèo. Vậy mà người ta đành đoạn chia lìa tụi nó ra, để bây giờ xảy ra thảm cảnh này. Trời ơi, Quân ơi! Bà không biết mặt bá hộ Tung, nên đứng bên lão ta mà vẫn nói như lời kết tội của một quan tòa: - Họ ỷ mình giàu nên làm những chuyện thường luân bại lý mà cũng làm được! Một thằng già đáng tuổi ông nội ông ngoại mà ép duyên một đứa con gái mới lớn, mà sao trời không có mắt, cứ để cho nó xảy ra, hả trời... Một người đứng cạnh đó, lên tiếng: - Thằng cha ruột của con Quyên còn đáng trách hơn. Lão Mười Lực này mắc nợ quá rồi hóa điên, không còn lý trí gì hết nỡ đem con mình đưa vào chỗ chết! Giờ đây chẳng biết đã sáng mắt chưa. Trong khi đó, người ta phát hiện có một xác chết treo lơ lửng ở gốc cây đa ngoài đầu làng. Một người chạy về báo cho Mười Lực: - Con Tiểu Quyên tự tử chết ngoài kia kìa. Không có Mười Lực ở đó, lão bá hộ nghe vậy vội vã chạy đi, vừa hớt hải kêu lên. - Tiểu Quyên. Tiểu Quyên ơi... Nhưng lão ta đúng là không có duyên trùng phùng với Tiểu Quyên, nên khi lão vừa chạy tới thì hai người hàng xóm khiêng xác Quyên về tới. Cô gái đáng thương đã chết thật rồi, thi thể lạnh ngắt. Đặt hai thi thể nằm sóng đôi nhau giữa nhà, khiến mọi người chứng kiến đều bất nhẫn, không cầm lòng được phải bật khóc. Nhất là bà mẹ của Quân, bà gào lên từng hồi: - Con ơi, thương nhau mà khi sống người ta đã chia lìa tụi bay, phải đến khi chết mới được bên nhau như vậy, thê thảm quá trời ơi! Có một người vừa ở bên nhà bá hộ Tung chạy về, họ báo tin: - Con gái út của lão bá hộ cũng bị trời hại chết rồi! Bá hộ Tung lúc ấy vừa trở lại, đang đứng ở ngoài, nghe tin đó đã rụng rời, phải cố lắm mới lê bước vào nhà được. Út Liên không còn nằm ở đó nữa, lão bá hộ thẫn thờ một lúc rồi lại rời khỏi nhà, lão đã đoán nơi con mình được đưa đến. Khi lão qua tới nhà của cô em gái thì quả thấy mọi người đang xôn xao trong nhà. Vừa trông thấy lão cô Sáu Nết đã kêu lên: - Con gái anh nó ra nông nỗi này mà anh còn không biết sao? Lão Tung nhào tới ôm xác con, gào lên: - Con ơi! Bất ngờ Út Liên mở mắt ra nhìn lên ngơ ngác. Cô Sáu đứng bên vừa mừng vừa sợ, la lên: - Con Liên sống lại rồi! Ngồi bật dậy như người sau một giấc ngủ say. Liên nhìn cha mình và bỗng sợ hãi lùi lại, hai tay ôm lấy ngực như một người thủ thế, sợ bị tấn công! Lão Tung phải lên tiếng trấn an: - Ba đây con! Ba xin lỗi con, ba biết mình sai rồi, ba xin hứa... Thái độ của ông có tác dụng phần nào giúp cho Liên lấy lại bình tĩnh, cô quay sang cô mình rồi ôm chầm lấy. Cô Sáu lên tiếng: - Có cô đây con. Ba con cũng biết lỗi rồi. Vả lại giờ đây thì con nhỏ đó cũng đã chết rồi. Mình không trách nó, chỉ tội nghiệp thôi. Để rồi cô sẽ qua tận nhà nó lo tang lễ cho đàng hoàng, như chuộc lỗi với người ta. Lão bá hộ cũng nói: - Tiền tôi bỏ ra trả nợ cho cha cô ấy coi như là món quà để chuộc tội. Tôi sẽ xin cô ấy... Ông nghẹn lời không nói tiếp được. Liên chừng như hài lòng với cử chỉ đó, cô siết chặt tay cô Sáu và rồi quay sang nhẹ giọng với cha: - Con hiểu, con không giận ba. Thế là từ bi kịch đã chuyển thành niềm vui lớn của nhà bá hộ. Trong niềm vui tột cùng đó, không ai để ý thấy cái nhìn của Liên về phía cha mình có cái gì đó khang khác. Lão Tung đề nghị: - Bây giờ không còn gì để con và mấy chị con giận ba nữa, thôi ta về nhà chớ! Út Liên nói khéo: - Ba về trước, để con ở chơi với cô Sáu, chiều chúng con về. Lão bá hộ ra về một mình trang tâm trạng buồn vui lẫn lộn. Trong trái tim thầm kín, lão vẫn nhớ và tiếc Tiểu Quyên. *** Chỉ mới được giới thiệu qua một lần mà tự dưng lão Tung có cảm tình ngay với chàng trai lạ mà người bạn dẫn tới. Lão nhìn anh ta một lúc nữa rồi hỏi: - Cháu nói là người ở đâu? Tân, tên chàng trai lễ phép thưa: - Dạ thưa bác, cháu ở Ô Môn, Cần Thơ. - Cháu có bà con với ai ở xứ này? Ba Kiệm, người bạn lâu năm của lão Tung phải trả lời thay: - Nó là cháu ruột, kêu vợ tôi bằng cô. Nó vừa thi đậu bằng Diplomma chuẩn bị vào học trường Thông ngôn ở Sài Gòn. Họ đang nói chuyện thì Út Liên từ nhà sau bước lên, chợt kêu lớn: - Anh Tân! Sao anh biết đây mà tìm? Hai người lớn còn đang ngơ ngác thì Liên đã giải thích: - Lúc con học ở Cần Thơ đã quen với Tân. Người mừng nhất có lẽ là lão Tung, lão nói thẳng ý của mình: - Ngẫu nhiên mà hai đứa nó quen nhau vậy nếu cháu Tân đây chưa có mối nào thì... Liên ngượng, nên chạy vào nhà, vừa nói: - Ba này! Ba Kiệm nhẹ giọng: - Hôm nay tôi dẫn nó qua đây có ý để ra mắt cho anh biết mặt. Không ngờ tụi nó lại quen biết trước, thật đúng là duyên nợ. Thế là chỉ một lời hứa, hai bên đã đồng ý với nhau sẽ tiến hành hợp tác cho Liên và Tân. Dĩ nhiên anh chàng Tân không thể nào từ chối chuyện này... Một tháng sau... Đám cưới của Liên và Tân được tổ chức trọng thể. Nhà bá hộ lo hết mọi việc. Do Tân mồ côi cha mẹ nên Ba Kiệm đứng ra lo bên họ đằng trai. Nhưng có một biến cố thật bất ngờ, không ai nghĩ tới. Ngay trong ngày cử hành hôn lễ thì lão bá hộ Tung bỗng lăn đùng ra chết mà không hề có bệnh tật gì. Đám cưới cử hành được ba ngày thì hai người con gái lớn của ông bá hộ bỗng khăn gói chuẩn bị ra khỏi nhà. Mỹ Dung cô chị cả vừa lo sợ vừa hấp tấp nói với cô em kế Kim Lan: - Tối qua lại thấy nữa, không thể ở lại được đâu! Kim Lan cũng nói: - Vong hồn hai đứa nó cứ đòi mình phải bỏ nhà này, nếu ở lại thì nó giết chết! Mà nghĩ lại thì mình cũng nên qua bên cô Sáu mà ở cho rồi, bây giờ ba chết, đâu còn ai! Con Liên thì... sao kỳ kỳ... nó cứ phớt lờ mình đi! Mỹ Dung giục em: - Đi nhanh lên, cái nhà này bây giờ tao có cảm giác toàn là hồn ma không hà! Họ ra đi mà không màng gì tới chuyện quyền lợi, tài sản. Và đó là một quyết định đúng. Bởi chỉ một buổi sau khi họ rời khỏi nhà thì Út Liên đột ngột phá bỏ bàn thờ bá hộ Tung đi. Cô ta nói với chồng: - Mình không ác, nhưng dẫu sao dẹp hết chướng ngại vật này cũng là phải đạo. Thờ một kẻ đã hại đời mình trong nhà thì làm sao mình có thể an tâm mà sống. Cô ta cho người gói tất cả lư hương, ảnh thờ của lão Tung, gửi sang nhà cô Sáu Nết với lời nhắn: - Đừng bao giờ đem trở lại! Từ hôm đó, cuộc sống của Liên và chồng trở nên cô lập với mọi người. Không bao giờ người ta thấy đôi vợ chồng trẻ này bước ra khỏi nhà. Họ cũng không thuê mướn người giúp việc. Bởi vậy có người tự hỏi, họ sống bằng gì hằng ngày khi không chợ búa, mua sắm. Ba tháng sau... Tình cờ, chị người làm cũ của nhà bá hộ, một hôm lẻn vào nhà để lấy một món đồ mà hồi trước khi thôi làm chị ta bỏ quên, nên đã mục kích một chuyện mà chị ta sững sờ: Anh chồng đã gọi Út Liên bằng Tiểu Quyên và cô này cũng gọi lại anh ta là Quân. Chị này đem chuyện sang nhà cô Sáu Nết kể lại cho mọi người nghe thì ai nấy đều sửng sốt. Tuy nhiên, chị vừa kể xong thì hộc máu tại chỗ và trở thành người điên loạn từ đó! Tìm hiểu cặn kẽ hơn người ta phát hiện một sự thật: - Út Liên và chồng thật ra là vong hồn của Quân và Tiểu Quyên nhập vào. Họ đã trả thù và được toại nguyện... Tuy biết vậy, nhưng do sợ họa lây, nên từ đó mọi người không ai dám hé răng kể lại với người khác... HẬN TÌNH Vừa nhìn thấy cô giáo bước vào nhà thì bà Phán Sử đã hài lòng ngay, bà khều con dâu nói khẽ: - Con nhỏ này được đó con, coi bộ thùy mị, kín đáo, chứ không như mấy con trước đây cứ ăn mặc như sắp đi hẹn hò với trai vậy, Liên Hương cũng đồng tình: - Cô này thấy tướng đi cũng biết con nhà có giáo dục. Cô mặc chiếc áo dài kín đáo mà đẹp quá. Không phải là con nhà giàu mà tướng quý phái ghê! Bà Phán hỏi đùa: - Con học làm thầy bói bao giờ mà vừa nhìn người đã biết là giàu nghèo rồi? Liên Hương cười: - Dễ thôi má, nếu con nhà giàu, thì ai chịu khó đi dạy thêm! - Ờ há. Mẹ con bà vừa nói xong thì cô gái đã dẫn xe đạp vào tới thềm nhà, nhìn thấy hai người cô lễ phép cúi đầu chào: - Dạ, cháu chào bác, chào chị. - Chào cô giáo. Có phải cô là người mà bên nhà thầy Tú giới thiệu không? - Dạ phải. Cháu là Cẩm Hà, cháu tới để... Liên Hương có cảm tình ngay với cô ta, nên đứng dậy đon đả nói: - Mời cô giáo vào nhà rồi nói chuyện. Nghe bác Tú nói nhưng tôi không tin là cô còn quá trẻ như vậy. Chắc là cô... Có lẽ sợ bị chê ngay từ phút đầu gặp gỡ, nên Cẩm Hà đã vội lên tiếng: - Em đã hai mươi mốt tuổi rồi ạ. Bà Phán cười vui: - Hai mươi mốt mà đã già lắm sao? Mới bằng tuổi con gái út tôi. Phải chi nó... Bà đang nói tới đó thì chợt ngừng lại và như nghẹn lại, Liên Hương phải chen ngang vào: - Má lại nhắc tới cô út rồi, để con lấy nước má uống. Sau khi rót nước cho bà mẹ chồng xong, Liên Hương quay sang bảo cô giáo: - Cô theo tôi lên lầu, các cháu có phòng riêng trên đó. Quay lại bà Phán, Cẩm Hà lễ phép: - Cháu xin phép bác. Bà Phán đang cố nén cơn xúc động đang chợt trào dâng, nghe cô gái chào, bà ngẩng lên và bỗng giật mình khi nhìn thấy cô từ phía sau, bà kêu lên khẽ: - Sao giống con Thu Hường như đúc vậy? Thu Hường là cô con gái út mà bà vừa chợt nhắc và phát xúc động. Cô gái đã chết! Vô tình Cẩm Hà đâu có biết, cô bước đi chầm chậm theo sau Liên Hương lên lầu và mỗi bước đi của cô lại càng khiến cho bà Phán Sử tưởng chừng như nhìn thấy con gái mình tái sinh! Mãi đến lúc Cẩm Hà đã khuất trên cầu thang rồi mà bà vẫn còn ngẩn ngơ nhìn theo. Tuy gương mặt giống ít có lẽ do Thu Hường là con nhà giàu ăn sung mặc sướng, trắng da dài tóc, còn cô gái này con nhà nghèo, da hơi đen, nhưng sao có người lại có dáng đi giống con gái bà đến như vậy! Bà lẩm bẩm: - Phải chi nó còn sống... Bà lại khóc! Lúc Liên Hương trở xuống, cô khoe với mẹ chồng: - Cô giáo đồng ý dạy luôn bữa nay đó má. Và có điều này nữa con có ý này thì đúng hơn, con muốn mời cô ấy ở lại đây luôn để tiện việc dạy tụi nhỏ. Cô ấy đang đi học Văn khoa, má thấy có tiện không? Bà Phán reo lên: - Ôi, còn gì bằng! Nhà đơn chiếc quá, có thêm được người như cô tới ở thì má con tôi vui lắm! Vậy ý cô giáo thế nào? Cẩm Hà hơi ngập ngừng: - Vừa rồi chị Liên Hương có ngỏ ý, cháu... Bà Phán giục: - Nhận lời đi cô! Tôi nói thật đó, ý con dâu tôi cũng là ý của tôi mà. Cẩm Hà có phần xiêu lòng: - Dạ, cháu sẽ tính. Còn ngay lúc này, cháu sẽ chờ các em dậy và sẽ bắt đầu luôn. Không giữ ý, bà kéo tay Cẩm Hà ngồi xuống bên cạnh, giọng trìu mến: - Nói thật với cô, kể từ khi con gái tôi mất... Liên Hương sợ bà lại xúc động nên lại xen vào: - Má đừng có... Nhưng bà đã bình tĩnh xua tay: - Má không sao đâu, để má nói chuyện với cô giáo. Cuộc trò chuyện giữa một già một trẻ chẳng mấy chốc đã trở nên thân thiết, cảm thông. Cuối cùng chính Cẩm Hà đã vui vẻ nhận lời: - Cháu cám ơn bác và chị Liên Hương. Vâng, ngày mai cháu sẽ dọn tới đây. Rồi câu chuyện lại xoay qua riêng tư. Bà Phán nhìn Cẩm Hà một lúc và hỏi thẳng: - Cháu là người ở xứ nào? - Dạ, cháu ở Châu Đốc. Bà Phán giật mình: - Châu Đốc mà miệt nào, huyện thị nào? - Dạ, cháu ở Châu Phú. - Trời đất! Bác cũng ở Châu Phú đây. Lại thêm một lần ngẫu nhiên mà họ có chung bản quán với nhau, khiến cho tình cảm đậm đà hơn. Bà nắm chặt tay Cẩm Hà, nói: - Nếu con không chê, bác xin nhận con là... con nuôi, cháu thấy có tiện không? Cẩm Hà vui hẳn: - Thưa bác, cháu đang cần... Cô đang vui, bỗng ngậm ngùi: - Cháu không còn ai... Liên Hương nói thêm: - Vừa rồi cô ấy kể cho con nghe, cô mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhiều năm trước. Bà Phán thương tâm: - Tội nghiệp con tôi! Vậy cha mẹ con là ai ở xứ đó? - Dạ, ba con cũng có chút tiếng tăm ở vùng đó. Hồi ấy con còn nhớ, người ta gọi ông là ông Huyện Phò... Câu nói của Cẩm Hà chưa dứt thì đã nghe bà Phán kêu lên: - Trời ơi! Rồi chẳng hiểu sao bà như á khẩu, người lạnh ngắt. Liên Hương hốt hoảng: - Má! Má sao vậy. Cô cùng với Cẩm Hà phải phụ nhau đưa bà vào phòng riêng. Trong lúc hiểm nguy đó mà bàn tay của bà vẫn cố nắm chặt tay của Cẩm Hà. Miệng cứ mấp máy nhiều lần như muốn nói điều gì đó mà không nói được. *** Có tiền sử bệnh huyết áp cao, lại bị nhiều chuyện dồn nén từ khi hai đứa con của bà chết cùng lúc, nên tâm thần bà Phán luôn trong trạng thái bất an. Việc bà bị sốc đột ngột khi đang nói chuyện với Cẩm Hà đã khiến cả Liên Hương và Cẩm Hà đều thắc mắc không hiểu sao, nhưng mấy ngày sau cũng chưa giải tỏ được, bởi bà Phán từ lúc ấy hầu như chỉ tỉnh lại sau vài lần. Tuy bác sĩ đã trấn an là tình trạng sức khỏe bà không sao, chỉ ở tình trạng đó hơi lâu, chứ không nguy hiểm. Tuy nhiên Liên Hương lo lắng vô cùng, bởi trong nhà bây giờ không còn có ai, nếu bà mẹ chồng mà có mệnh hệ nào thì chẳng biết phải làm sao. Cô đành phải trông cậy vào Cẩm Hà:- Từ lúc này em phải giúp chị lo cho má. Chứ chị thì cũng không còn nhiều sức nữa. Nlư em thấy đó, chỉ mấy đứa con chị, nó cũng... mồ côi cha... Cẩm Hà đã hiểu điều đó ngay từ bữa đầu tiên, nhưng chưa kịp tìm hiểu, nay cô mới nhân cơ hội biết thêm: - Em muốn hỏi, chồng chị mất trong trường hợp nào? Chỉ lên bàn thờ có hai ảnh, một của chồng và một của cô em chồng: - Hai anh em họ đi chung xe rồi bị tai nạn một lượt! Hôm ấy chị ở lại nhà giờ chót nên còn sống. Cẩm Hà thốt lên: - Hèn chi! Cô định hỏi thêm, nhưng thấy không tiện nên thôi. Liên Hương hình như cũng không muốn khơi gợi lại nỗi đau đang gậm nhấm trong lòng, nên nói sang chuyện khác: - Em ngủ trên phòng đó có tiện không? Cẩm Hà thấy hài lòng: - Tốt lắm rồi chị. Ở chỗ em trọ đâu tiện nghi bằng. Liên Hương cũng nói thật: - Từ hôm có em tới ở chung, chị an tâm lắm. Nhất là gặp lúc má bệnh như thế này, nếu không có em tiếp thì chắc chị cũng nằm theo má quá! Đã hai đêm liền vừa thức học bài, vừa phải lo chăm sóc bà Phán, nên tối nay Cẩm Hà cảm thấy mệt. Cô chưa kịp nói thì Liên Hương cũng đã thấy, cô nói: - Em phải ngủ sớm tối nay đi. Để chị thức với bà già. Em phải ngủ đủ giấc sáng mai chị em mình cùng dậy ăn sáng chung, chị có món quà này cho em. Cẩm Hà chỉ chờ có thế, cô lên phòng riêng trên lầu, chỉ kịp tắm qua thì đi ngủ liền, chứ không đọc mấy trang sách như lệ thường... Được cái là nơi này khá yên tĩnh, nhà lại ít người, nên rất dễ dỗ giấc ngủ. Chỉ hơn mười phút sau Cẩm Hà đã ngủ sâu... - Nè, sao vào nhà tôi mà ngủ vậy? Câu nói lặp lại có lẽ đến lần thứ ba thì Cẩm Hà mới giật mình tỉnh dậy. Lúc đầu cô vẫn còn nằm yên, nhưng khi đã nghe rõ câu nói đó là dành cho mình, cô mới bật dậy. Tuy nhiên cả người Cẩm Hà như bị đè bởi một khối đá nặng, nên cô không thể nào cử động, đồng thời lồng ngực bị nén đến sắp nghẹt thở. Vùng vẫy đến mấy lượt, sau cùng Cẩm Hà cũng thoát ra được. Cô mở ngay ngọn đèn trên đầu nằm và có cảm giác như chỗ nệm bên cạnh nơi cô nằm vẫn còn hơi nóng! Có tiếng của Liên Hương từ bên ngoài: - Em bị sao vậy Cẩm Hà? Cẩm Hà định kể lại chuyện mình vừa bị, nhưng kịp nghĩ nên ậm ừ: - Dạ... em bị chiêm bao. - Chị đang ngủ nghe em la lớn nên tưởng có chuyện gì. - Dạ, không có gì. - Niệm Phật rồi ngủ yên thôi. Liên Hương trở về phòng của mình chỉ được một lát thì lại nghe tiếng Cẩm Hà thét lớn: - Chị Liên Hương ơi! Chạy trở sang, Liên Hương ngạc nhiên hơn khi thấy Cẩm Hà đang nằm lăn dưới sàn ở bên ngoài cửa phòng! - Sao vậy em? Không thể giấu được nữa, Cẩm Hà phải nói thật: - Em chưa kịp ngủ thì như có ai đó quăng em ra đây! Liên Hương quá đỗi ngạc nhiên bước thẳng vào phòng tìm khắp nơi, cả dưới gầm giường. Chẳng thấy ai, cô hỏi: - Lúc nãy em có đóng cửa phòng không? - Dạ có, em còn cẩn thận cài chốt bên trong nữa! - Nhưng nhà này đâu có ai khác ngoài mấy người mình. Chị thì ngủ bên kia, còn má thì nằm liệt giường trong phòng tầng dưới, đi còn không được, nói gì ôm em ném ra ngoài. Không lẽ thằng nào lẻn vào đây? Cẩm Hà nói khẽ, như sợ có người nghe: - Không phải đàn ông, mà là.. con gái! - Nhưng mà... Liên Hương vừa nói tới đó thì chợt nhìn thấy vật gì đó nằm dưới sàn, cô cúi xuống nhặt lên, bỗng kêu lớn: - Cô út! Cẩm Hà kinh ngạc: - Cô út nào? Giọng Liên Hương chùn hẳn xuống. - Cô út nhà này. Cái trâm cài này là của cô ấy. Không lẽ nào... Cẩm Hà cũng vừa hiểu, cô lặp lại câu nói nửa chừng của Liên Hương: - Không lẽ chị ấy vào phòng em? Mà cũng có thể lắm... Cô thuật lại câu nói lúc đầu: - Đầu tiên em nghe có người đuổi em, hỏi sao dám vào nhà này. Giọng có vẻ hằn hộc lắm, em đâu ngờ là chị út? Liên Hương lặng người đi một lúc, cô tự hỏi: - Không lẽ có chuyện này? Cô không tin chuyện ma quỷ, nên càng không nghĩ cô em chồng của mình hiện hồn về. Tuy nhiên nhớ lại lúc liệm xác Thu Hường, chính mắt cô nhìn thấy vật này vẫn còn đính trên tóc của cô ấy mà! Mà chiếc trâm cài này lại do chính cô mua tặng cô ấy lúc mới về nhà chồng nữa nên không thể nào có chuyện nhìn lầm. - Hay là vô tình vật của chị ấy để sót lại mà em không thấy, để nó rơi nên bị quở chăng? Không muốn làm cho Cẩm Hà sợ nên Liên Hương nói cho qua: - Có lẽ vậy. Nói thế, nhưng sau khi đã về phòng rồi, chính Liên Hương phải trằn trọc rất lâu để suy nghĩ về chiếc trâm. Nếu bà Phán còn tỉnh cô đã sang hỏi cho ra lẽ. Nhìn sang hai đứa bé ngủ say, Liên Hương sợ con thức giấc nên không dám mở đèn sáng, mặc dù lúc ấy cô rất muốn mở tủ, xem lại một số đồ vật. Trong số đó có chiếc trâm thứ hai, mà lúc mua cô đã mua một cặp, tặng cho Thu Hường một cái, còn cái kia thì cô dùng cho đến khi chồng chết cô mới thôi không cài tóc nữa, đem cất trong tủ. Nằm mãi vẫn không ngủ được, cuối cùng Liên Hương cũng phải nhè nhẹ bước tới tủ áo, kéo nhẹ ngăn tủ nữ trang bên trong ra. Tuy qua ánh đèn ngủ không nhìn rõ chi tiết, nhưng Liên Hương vẫn phát hiện chiếc trâm của cô không còn trong hộp nữ trang nữa. - Kỳ vậy? Liên Hương hỏi hơi lớn, nên một trong hai đứa con cô, thằng Hải giật mình hỏi: - Mẹ bị sao vậy? Liên Hương nhìn lại đã thấy Hải đứng bên cạnh rồi, cô xoa đầu con: - Không có gì đâu con, ngủ đi. - Sao mẹ không ngủ? - Ờ, mẹ... - Mẹ ngủ với con đi. Chìu con, Liên Hương đành phải đóng tủ, trở lại giường nằm dỗ con. Thằng bé vô tình nói: - Đêm qua khi ngủ con thấy cô út đó mẹ. Liên Hương giật mình: - Cô út sao, cô làm gì con? Thằng Hải rút đầu vào ngực mẹ: - Đâu có sao. Con thấy cô út kêu con, bảo con là cô thương con nhưng không thương mẹ! Liên Hương lay vai con: - Đúng là cô út nói vậy sao? - Dạ đúng. Mà lần thứ hai rồi đó! Lần trước lúc con bệnh tháng rồi, khi ngủ con cũng nghe cô út nói vậy. - Sao con không nói lại cho mẹ nghe? Thằng bé ngây thơ: - Con biết là chiêm bao, cô út nói dối, nên con không nói lại cho mẹ nghe! Biết là lời trẻ con nói, vả lại đã là chiêm bao. Tuy nhiên khi hồi tưởng lại, điều thằng bé nói không sai lắm. Lúc mới về nhà chồng, người đối xử với cô tệ nhất chính là cô em út Thu Hường này. Ban đầu Liên Hương nghĩ có lẽ do ganh tỵ của cô em chồng, nên Liên Hương cố ăn ở cho đúng phép, đem tình thương đổi lại sự ganh ghét ấy để dần lấy lòng cô em. Vậy mà nhiều năm sau Thu Hường vẫn có cái gì đó mà mỗi khi đối diện vẫn khiến cả hai khó chịu. Tuy có lòng bao dung, không cố chấp, nhưng thật tình mà nói, mãi cho đến lúc anh em họ chết, Liên Hương vẫn thấy khó chịu khi đối với cô lạnh nhạt bao nhiêu, thì đối với Tú, chồng Liên Hương, thì cô em gái đôi khi thân mật quá mức, hầu như muốn độc quyền thương yêu ông anh mình! - Má, ngủ đi! Thằng Hải nhìn như không muốn mẹ mình suy nghĩ, nó giục thêm lần nữa. Buộc lòng Liên Hương phải tắt cả đèn ngủ để cố nhắm mắt lại, tìm giấc ngủ. Nhưng chỉ được một lát thì bên phòng của Cẩm Hà lại vang lên tiếng kêu của cô giáo. Và chỉ chút xíu sau đã nghe tiếng chân Cẩm Hà chạy bên ngoài, cô gọi cửa: - Cho em qua ngủ với chị Liên Hương! Em sợ... Mở cửa ra thấy Cẩm Hà ôm quần áo mền gối trong trạng thái hoảng loạn, Liên Hương không kịp suy nghĩ gì: - Vào đi em! Hai đứa bé thấy cô giáo vào ngủ chung thì mừng lắm, cứ huyên thuyên hỏi đủ chuyện. Sợ con nghe Cẩm Hà kể chuyện ma quỷ, nên Liên Hương ra dấu cho Cẩm Hà im lặng, cô nói khẽ: - Để chút nữa tụi nhỏ ngủ lại, em nói chị nghe. Cẩm Hà nghe lời, nhưng nghe cách cô thở gấp Liên Hương hiểu là cô đang sợ hãi và muốn nói gì đó, không thể chậm trễ, cô liền tìm cách bảo Cẩm Hà: - Em bị bệnh thì theo chị sang đây chị cạo gió cho. Liên Hương dặn hai đứa con: - Hai đứa nằm lại đây và mau dỗ giấc ngủ, sáng mai cô Cẩm Hà sẽ đưa đi chơi sở thú! Nghe được đi chơi, hai đứa trẻ reo lên: - A, được đi chơi rồi! Kéo Cẩm Hà xuống hẳn phòng khách, mở đèn sáng lên, Liên Hương hỏi: - Em nói chị nghe coi, chuyện gì vừa xảy ra? Cẩm Hà chưa hết run, cô không đáp mà lấy một gói giấy nhỏ đưa ra. Liên Hương tiếp lấy vừa mở ra xem đã giật mình: - Ở đâu em có cái này? Lúc bấy giờ Cẩm Hà mới lên tiếng: - Cô ấy đưa cho em. - Cô nào? - Cô út. Liên Hương chết lặng đi bởi vật trên tay và cũng bởi tin mà Cẩm Hà vừa tiết lộ. - Đúng là... cô út? Cẩm Hà thuật rõ: - Lúc nãy khi chị vừa về phòng thì em nghe có hơi thở lạ của ai đó rất gần, em kịp bật đèn ngủ lên thì thấy một người con gái đứng cạnh giường, em chưa kịp kêu thì cô ấy đã nói rõ từng tiếng một bảo em phải rời khỏi phòng ngay, nếu không thì sẽ biết thế nào là tội chiếm nhà người khác! Trước khi bước đi, cô ấy còn xưng tên mình là Thu Hường! Đưa vật đang cầm trên tay ra, Liên Hương chưa kịp hỏi thì Cẩm Hà đã nói: - Trước khi biến mất sau cửa sổ, cô ấy còn ném vật ấy lại cho em và dặn: Đưa cho Liên Hương, bảo với nó rằng Thu Hường và nó tình đoạn, nghĩa tuyệt. Trên tay của Liên Hương là chiếc trâm cài tóc, mà vừa nhìn thấy là cô biết ngay là của mình, vật mà lúc nãy xem trong hộp nữ trang cô biết là bị mất. - Em ngạc nhiên hơn khi thấy cô ấy có vẻ hằn hộc khi nói tới chị. Ngoài ra cô ấy còn ném lại thêm cái này nữa. Nhìn vật Cẩm Hà vừa đưa, một lần nữa Liên Hương chết điếng: - Trời ơi! Cô chỉ kêu được hai tiếng rồi thừ người ra, mặt biến sắc và để rơi vật trên tay. Một chiếc chìa khóa bình thường thôi. - Chìa khóa này của phòng nào vậy chị? Cẩm Hà cố tình hỏi. Liên Hương đáp như cái máy: - Phòng không được phép mở trong nhà này! Rồi không đợi Cẩm Hà hỏi thêm gì, Liên Hương bất thần đứng dậy và bước thẳng lên lầu. Cẩm Hà chạy theo, nhưng vừa tới chân cầu thang thì Liên Hương nói: - Đây là chuyện riêng trong mà, em cứ về phòng chị ngủ với hai đứa nhỏ, lát chị sẽ xuống. Liên Hương đi thẳng lên lầu trên nữa, nơi mà khi ba chồng cô còn sống đã nhiều lần nghiêm cấm: Đây là nơi lưu giữ riêng những gì của dòng họ này, ngoại trừ ta với má tụi con ra không người nào được bước vào. Có quy định nghiêm ngặt ghi ở cửa, nếu vi phạm thì coi như không còn đủ tư cách làm thành viên trong nhà này nữa. Tám năm về làm dâu nhà này, chưa bao giờ Liên Hương vi phạm và thâm tâm cô luôn nghĩ rằng cái gì người khác không muốn thì mình đừng bao giờ làm. Mặc dù cô biết chiếc chìa khóa màu vàng này dùng để mở căn phòng đó, nó luôn móc trên lưng quần của bà Phán và có lần bà cũng tiết lộ rằng nó dùng để mở căn phòng mà bà gọi là dòng họ Đỗ. Nay thì sự thôi thúc trong lòng đến độ Liên Hương không còn kiềm chế nổi. Nhất là khi cô biết ý của Thu Hường muốn cô khám phá căn phòng ấy, Liên Hương tự nhủ, mình không thể không biết! Tuy quyết tâm, nhưng khi tra chìa khóa vào, vừa xoay một vòng là Liên Hương chùn tay. Phải lấy hết can đảm, cuối cùng cô cũng mở được và khựng lại ngay khi nhìn một chữ viết bằng Hán tự thật lớn trên tường trước mặt. Vốn thuở nhỏ có học tiếng Hán, nên Liên Hương hiểu nghĩa của chữ này, đó là chữ Hận! Phía bên dưới, chỗ chân tường có một cái rương cũ, ngoài ra không hề có một vật gì khác trong phòng! Như vầy sao gọi là phòng bí mật của dòng họ Liên Hương tự hỏi và một lần nữa nhìn chăm chú vào chữ Hận trên tường. Phải chăng bí mật là từ chữ này. Mà tại sao lại hận, ai hận ai trong nhà này? Trong lúc quan sát, tình cờ Liên Hương phát hiện có một ảnh chân dung nhỏ của ai đó đặt ở cạnh chiếc rương. - Ảnh của bà Phán? Tuy ảnh chụp khi còn khá trẻ, nhưng nhìn nét mặt, nhất là cái nốt ruồi trên môi của người trong ảnh, Liên Hương đoán ngay đó là bà mẹ chồng mình thời trẻ. Quả nhiên khi cầm bức ảnh lên Liên Hương đọc được, hai chữ sau ảnh: Ngọc Nga. Mà Ngọc Nga chính là tên của bà Phán Sử... - Hận người này ư? Một lần nữa Liên Hương tự hỏi và không tìm được câu trả lời. Phải đến khi cô mở nhẹ chiếc rương ra. Vật đập vào mắt Liên Hương đầu tiên trong rương là ảnh hai đứa trẻ mới sinh, hai bé gái. Lật phía sau bức hình thấy có ghi dòng chữ: Ngày... Thu Hường và Cẩm Hà được bảy ngày sinh! Liên Hương kêu lên: - Thu Hường và... Cẩm Hà! Liên Hương bắt đầu run tay, suýt nữa đã để rơi tấm ảnh xuống sàn. Nhưng chưa hết, còn một dòng chữ viết bằng mực đỏ, qua thời gian nó hơi mờ đi so với dòng chữ màu xanh bên trên: Hận tình này làm sao trả được đây? Hai dòng chữ tuy cùng trên một tấm ảnh nhưng lại do hai người viết. Dòng trên có thể là bà Phán viết, còn dòng dưới là nét chữ rắn rỏi của đàn ông. - Sao lại là Cẩm Hà? Cô Cẩm Hà gia sư của hai con mình phải chăng chỉ là trùng tên ngẫu nhiên. Liên Hương tự hỏi và một lần nữa thêm vào mớ bòng bong thắc mắc chưa có lời giải. Cô lại tiếp tục giở từng vật trong rương ra. Tiếp theo là một phong thư đã vàng úa. Trong phong bì có một lá thư dài mà ngay dòng đầu tiên đã gây chú ý cho Liên Hương: Ngọc Nga yêu dấu... Chỉ bấy nhiêu đó cũng đủ lý do cho Liên Hương ngồi xuống và đọc ngấu nghiến lá thư: "Ngọc Nga yêu dấu! Khi em đọc được những dòng chữ này thì người viết đã ra đi rất xa rồi! Anh ra đi vì nỗi hối hận không nguôi, nỗi ray rứt khiến cho một con người mang tiếng là hung ác, cường quyền bậc nhất ở xứ này phải bỏ ăn, mất ngủ kể từ khi vừa sinh con xong đã bỏ bệnh viện mà đi và vội vã đến nỗi chỉ mang theo được một đứa con trong hai đứa song sinh! Em có biết là khi hay tin, anh đã tới bệnh viện ẵm đứa bé còn lại về nhà mà lòng tan nát, dày vò dữ dội. Anh biết mình không xứng đáng để được em ở lại, bởi dù sao anh cũng là kẻ dùng cường quyền ép em lấy trong lúc em đã có người yêu. Anh cũng biết em yêu Phán Sử hơn và dành trọn tình yêu cho hắn ta, nhưng thử hỏi em, anh cũng đâu thua gì hắn về khoản yêu em say đắm? Chỉ vì anh đã lỡ có vợ rồi, em là kẻ đến sau. Nhưng đúng ra, chính chúng ta là những người yêu nhau trước mà. Chúng ta yêu nhau khi Phán Sử chưa yêu em và Ngọc Diệp chưa làm vợ của Huyện Thời này! Vậy mà chúng ta đành phải lìa xa nhau, để anh phải mang tiếng là lừa em trong cơn say để chiếm đoạt và khiến em mang thai, sinh đôi và phải đứt ruột trốn đi, còn anh bị mang tiếng là kẻ cưỡng đoạt con gái nhà nghèo! Anh nói mà đâu ai tin, trong đó chắc có cả em nữa! Bởi vậy, anh chỉ biết âm thầm chịu đựng và cố nuôi cho con Cẩm Hà khôn lớn... anh giấu con về tông tích mẹ nó và nó cũng không hề nghi ngờ gì. Khi anh sắp chết, anh đã sắp đặt gởi nó về nội nuôi, trước khi lìa đời anh nhớ nó có hỏi anh là mẹ nó đâu, anh bảo dối con là em đã chết, nên chắc từ đó nó luôn nghĩ rằng nó mồ côi trên cõi đời này. Tội nghiệp con. Anh mong em có ngày nào đó thuận tiện hãy về tìm nó. Nó vẫn tên Cẩm Hà, bên vai trái có 2 nốt ruồi son để em dễ nhận. Điều ray rứt thứ 2 mà đến khi chết anh vẫn chưa thể làm được, đó là xin em bức ảnh mà em đã nhờ thợ ảnh chụp hai đứa nhỏ lúc còn trong bảo sinh viện. Em còn giữ nó phải không? Anh rất muốn nhìn lại con Thu Hường 1 lần, nhưng có lẽ không kịp nữa rồi... Vĩnh biệt!" Cuối thư không có chữ ký, mà chỉ một chữ viết tên Thời hơi run và xấu... có vẻ người viết đã chết ngay sau khi viết tới đây! Buông lá thư xuống Liên Hương lại thắc mắc: - Má sinh hai cô con gái này rồi mới về với ba, vậy tại sao anh Tú cũng là con của hai người, lại là anh cả? Bao nhiêu điều chưa rõ đó lại càng khiến cho Liên Hương muốn tiếp tục khám phá số đồ vật trong rương còn lại. Vật tiếp theo lại cũng là một lá thư khác, không phong bì, dạng như là một đoạn nhật ký được trích ra. Nét chữ hình như là của bà Phán: "Mình cố giấu mọi chuyện với Sử khi mình bảo với anh ấy rằng con Thu Hường là kết quả của những ngày vụng trộm của hai đứa, mình trốn anh ấy, trốn gia đình đi sinh xong mới ẵm con theo anh ấy lên Sài Gòn. Ban đầu anh ấy tin là thật và rất thương con Thu Hường. Nhưng cũng vì một sơ xuất nhỏ, tức là bức thư của Huyện Thời nhờ người mang đến trong lúc mình vắng nhà, Sử đã đọc và hiểu hết! Anh ấy điên lên khi biết mình bị phản bội và Thu Hường không phải là dòng máu của anh! Để trả thù mình, Sử đã lao vào các cuộc trác táng, nhậu nhẹt bê tha và cả mèo mỡ lung tung, đến phải nhận hậu quả là căn bệnh giang mai quái ác. Chính căn bệnh ấy mà Sử mắc chứng vô sinh. Anh ấy không thể có được giọt máu chính thức với mình! Điều ấy càng làm cho Sử hận đời hơn, anh lại dấn sâu vào các cuộc bài bạc rượu chè. Cho đến một hôm, anh ấy tự tay mang về 1 đứa trẻ lớn hơn con Thu Hường ba bốn tuổi. Ban đầu mình ngỡ đó là giọt máu rơi của anh ấy, nhưng sau hỏi kỹ lại thì mới biết do quá ham có được đứa con, nên Sử đã nhờ một người bạn xin giùm một đứa trẻ mồ côi về làm con nuôi. Đứa trẻ ấy là thằng Thanh Tú. Nó lớn hơn con Hường nên đương nhiên là anh, đẩy con Thu Hường xuống là em. Đó cũng là ý Sử, anh ấy không muốn con của tình địch lại là con trưởng trong nhà! Mình cũng phải chấp nhận và cũng hết lòng yêu thương thằng Tú, để làm vui lòng chồng..." Đọc đến đây Liên Hương thừ người ra, cô thốt lên: - Thì ra là vậy. Thảo nào... Nhớ lại những cử chỉ thân mật, những cách đối xử với nhau lúc cả hai còn sống, Liên Hương bất giác thốt lên: - Có điều gì đó! Cô bất chợt nhìn thấy một mẩu giấy khắc nằm bên dưới. Mẩu giấy với chữ viết của bà Phán! "Sử vừa mất thì mình lại nhận được tin khác khiến lòng mình đau như cắt. Con Thu Hường và thằng Thanh Tú yêu nhau. Trời ơi, sao lại có chuyện đó được, trong khi mình đã cưới vợ cho thằng Tú rồi mà! Thằng Tú làm chuyện này rồi làm sao với vợ nó đây! Khi mình kêu hỏi nó thì thằng Tú nói thật nó và con Thu Hường đã yêu nhau ngay từ khi con Thu Hường được mười lăm tuổi. Đó là kết quả của những ngày chung sống trong cùng một nhà. Dù hai đứa nó không phải là ruột thịt, máu mủ gì của nhau nhưng mình làm sao chấp nhận cho được chuyện đó? Mình phản đối quyết liệt và hăm đuổi Tú ra khỏi nhà nếu nó không chấm dứt hành động ấy! Nó lặng lẽ bỏ đi khỏi nhà suốt mấy ngày liền, trong khi con vợ nó, Liên Hương thì không biết gì, cứ tưởng chồng mình có việc gì đó vắng nhà. Để rồi... trời ơi, chuyện không ai ngờ đã xảy ra! Tụi nó âm thầm hẹn nhau đi chơi và... cùng lao xuống vực sâu! Chúng nó tự tử vì tình, trong lúc những kẻ đau khổ lại chính là mẹ và vợ con của chúng!" - Trời ơi! Lần này là tiếng kêu thảng thốt của Liên Hương! Cô bủn rủn tay chân, người lảo đảo sắp ngã. Trời đất như sụp đổ trước mắt người vợ suốt đời chỉ biết thương chồng, chung thủy với chồng cho đến phút cuối cùng. Tú ngoại tình, với anh thì còn có thể tin được, nhưng sao lại là Thu Hường? Điều khó tin nhất trên đời lại là sự thật! - Thảo nào... Liên Hương cứ vân vê những tờ giấy trong tay mà không biết phải làm gì. Cuối cùng cô xếp nắp rương lại, bước ra khỏi phòng mà trong lòng trống rỗng, xót xa... - Mẹ ơi! Cô giáo... Cả hai đứa con của Liên Hương đều chạy lên, chúng hớt hãi nói không tròn câu: - Cô giáo... Cô giáo đã... Liên Hương hốt hoảng: - Cô giáo sao rồi? Thằng Hải bình tĩnh hơn đáp: - Cô giáo bị cô út dẫn đi rồi! - Trời ơi! Liên Hương vừa chạy vừa hỏi: - Đi hướng nào? Thằng bé Sơn chỉ tay ra ngoài sân sau: - Hướng này. Liên Hương chỉ kịp bảo hai đứa: - Hai con trở về phòng đóng cửa lại, để mẹ đi tìm cô giáo. Cô chạy ra vườn vừa nghĩ đến khu mộ hai cái chôn gần nhau của Tú và Thu Hường. Quả nhiên khi gần tới nơi cô nghe giọng của Thu Hường cất lên: - Tao đã mất người yêu về tay một đứa con gái lạ, bây giờ gặp bất cứ đứa lạ nào vào nhà thì thà tao diệt nó trước, hơn là phải hối hận về sau! Không nghe tiếng trả lời, nhưng từ xa nhìn thấy một người nằm dài dưới đất, Liên Hương đoán ra ngay đó là Cẩm Hà. Bước tới gần hơn thì người đang đứng nói giọng của Thu Hường chỉ là một cái bóng xõa tóc, phất phơ theo gió đêm! - Hồn ma Thu Hường! Giọng cô ả lại cất lên: - Ta yêu suốt năm năm nhưng chưa hưởng được một giây của cuộc sống vợ chồng, vậy mà đứa lạ vào đây cướp mất người yêu của tao, rồi còn sinh ra hai đứa con cho anh ta nữa! Cũng vì hai đứa trẻ này mà tao không ra tay báo thù kẻ cướp tình yêu của mình được, tao hận thấu xương và tao quyết giết bất cứ đứa con gái nào xuất hiện trong nhà. Mày là đứa tao ra tay đầu tiên, vậy hãy khóc cho đã đời đi rồi nhận cái chết! Cô ta vừa nói vừa giơ thẳng cánh tay lên như sắp giáng xuống. Liên Hương thu hết can đảm nói lớn: - Cô út, hãy dừng tay! Nghe tiếng Liên Hương, Thu Hường gầm lên: - Ước gì tao giết được con tiện nhân này! Rồi cô ả quay phắt người lại, lúc này Liên Hương mới nhìn thấy được gương mặt xanh như tàu lá cùng với hai chiếc răng nanh nhô ra hai bên khóe miệng. - Mày muốn cứu con này hả, còn lâu! Chẳng còn cách nào hơn, Liên Hương liền đưa ra những trang giấy mình cầm trên tay và ném mạnh về phía cô ả, vừa nói to: - Người đó là chị em ruột của cô đó! Lạ thay, những tờ giấy vừa nằm trong tay cô ta tức thời cháy bùng lên như có ai đốt! Thu Hường không nao núng, vẫn giữ lấy vật đang cháy, gương mặt vẫn tỉnh táo như không... Những tờ giấy vừa cháy xong thì cũng là lúc Thu Hường nhảy lùi một bước, lần này ả kêu lên: - Sao lại có chuyện này? Liên Hương chợt hiểu, đối với hồn ma thì cách đọc thư là phải đốt cháy, giống như khi cúng vái giấy tiền vàng bạc vậy! Vừa rồi nàng ta đã làm cho những tờ giấy gồm thư của ông Phán, nhật ký của bà Phán... và cô ta đã hiểu mọi chuyện! - Trời ơi! Tiếng kêu trời của một hồn ma nghe là lạ, khiến Liên Hương hơi yên tâm, cô giải thích thêm: - Đây là đứa chị em song sinh của cô út. Cô ấy hoàn toàn không hay biết chuyện của má với ông Huyện Thời ba ruột của cô. Cũng như tôi, làm sao tôi biết chuyện cô và anh Thanh Tú yêu nhau, chứ nếu biết thế thì tôi đời nào chen vào làm chi cho khổ cả ba người. Dẫu sao thì tôi cũng cám ơn cô đã tha cho mạng sống để tôi nuôi mấy đứa con, chúng nó đâu có tội tình gì. Thu Hường ngã gục xuống như tàu lá rụng. Trong lúc đó thì Cẩm Hà vừa mới tỉnh lại, cô ngơ ngác hỏi: - Em... em bị sao vậy chị Liên Hương? Nhìn bên cạnh thấy một đống quần áo nằm sóng soài, cô càng ngạc nhiên hơn: - Cái gì đây chị... Liên Hương biết có nói thì Cẩm Hà cũng không tin, cô liền nắm tay lôi đi, và bảo: - Đi vào gặp má. Em sẽ nghe chính má kể lại tất cả mọi chuyện. Vùa bước đi Cẩm Hà vừa nhìn lại sau lưng, chợt cô ngạc nhiên kêu lên: - Chị Liên Hương xem kìa! Trước mắt họ, ngay chỗ ngôi mộ của Thu Hường, có một đống lửa đang bùng cháy dữ dội! Liên Hương lẩm bẩm: - Không lẽ cô ấy đã... Liên Hương nghĩ tới chuyện hồn ma từ giã cõi trần. Người ta thường nói khi một oan hồn ra đi thường bốc cháy thành khói hoặc biến thành hơi sương. Phải chăng từ nay Thu Hường sẽ siêu thoát? Nắm chặt tay Cẩm Hà cô nói khẽ: - Oan hồn của Thu Hường lúc nãy đòi giết em phải không nào? Cẩm Hà dè dặt gật: - Dạ, đúng rồi, em sợ lắm, chẳng hiểu sao cô ấy lại cứ theo đòi giết em hoài? - Chỉ vì cô ấy tưởng em vào nhà này để cướp người yêu của cô ta lần nữa! Cẩm Hà ngạc nhiên hơn: - Người yêu nào? - Đó chính là chồng của chị, là anh của Thu Hường. Được rồi, để chị kể sơ lượt cho em nghe trước khi đi gặp má. Cô kể lại mọi chuyên. Nghe xong Cẩm Hà ngơ ngác: - Sao lại có chuyện đó? À mà cũng có lý... Cuối cùng Cẩm Hà nhận ra: - Em nhớ rồi, ba em từng nói rằng ông có một mối tình tội lỗi. Nhưng em không ngờ em lại rơi vào mối tình ấy. Cô khóc rấm rức... *** Bà Phán chợt tỉnh. Đây là lần tỉnh đầu tiên của bà sau gần một tuần lễ. Việc đầu tiên sau khi mở mắt ra bà hỏi ngay: - Con Cẩm Hà đâu? Cẩm Hà đã ngồi bên cạnh, vội lên tiếng: - Dạ, con đây. Quay lại nắm chặt tay Cẩm Hà, bà òa lên khóc! Liên Hương vội ngăn lại: - Má đừng quá xúc động. Con đã nói sơ với Cẩm Hà rồi, cô ấy hiểu và chờ má nói đó. Bà Phán kéo Cẩm Hà vào lòng, giọng trìu mến: - Má xin lỗi con, vì hoàn cảnh ngày đó má ra đi mà không kịp đem con theo để con phải mang tiếng mồ côi từ nào đến giờ. Mà phải chỉ có con cùng với con Thu Hường thì chắc nó... Bà lại sắp khóc, nên Liên Hương lại phải chen vào: - Vừa rồi Cẩm Hà và cô út cũng đã gặp nhau rồi. Má không cần phải lo nữa, họ đã thông hiểu nhau rồi! Bà Phán mừng vô kể: - Cả đời má vẫn nơm nốp sợ chuyện hai chị em nó không biết nhau vô tình sinh hận thù nhau. Bây giờ trong cái rủi còn có cái may. Tuy con Thu Hường chết rồi nhưng trời còn thương má, cho con Cẩm Hà trở về! Rồi bà nói thêm: - Lúc mới gặp con má đã giật mình rồi, không phải cái tên mà bởi tướng đi, dáng vóc, nó giống y con Thu Hường! Rồi bà lại ôm cứng con gái, như sợ Cẩm Hà thoát ra. Cẩm Hà cũng khóc, hai mẹ con thi nhau khóc vì niềm vui đoàn tụ. Lát sau bà Phán tiếp lời: - Để má kể lại chuyện tại sao ông Phán Sử suốt đời hận cha con con Cẩm Hà... Liên Hương nói nhanh: - Dạ, con mạng phép má, con đã đọc hết những gì trong phòng cấm trên lầu. Và cũng nhờ vậy mà vừa rồi con đã cứu được cô út Cẩm Hà đó! Kể sơ lại cho bà nghe, bà Phán gật đầu: - Má không trách gì con hết. Căn phòng đó vì tôn trọng ông ấy nên từ khi ông ấy qua đời má vẫn giữ lại, mặc dù má rất sợ khi phải lên đó. Bà đứng lên, kéo tay Cẩm Hà và con dâu: - Đi, mình ra ngoài một chút. Liên Hương tính ngăn, nhưng nghĩ sao cô lại thôi, dìu một bên cùng mẹ chồng ra ngoài vườn. Cẩm Hà xúc động lắm, cô vừa đi vừa đưa tay lau nước mắt... Khi đứng trước ngôi mộ bà bỗng trố mắt nhìn cảnh cháy đen và hốt hoảng: - Sao vậy? Ai đốt vậy? Liên Hương thuật lại, cô kết luận: - Có thể hồn phách của cô út và cả anh Tú nữa đã ra đi vĩnh viễn rồi. Sau gần nửa giờ đứng đó, cả ba trở vào nhà. Bà Phán yêu cầu dẫn bà lên lầu, chỉ cái phòng cấm, bà nói: - Má muốn lên đó lạy ông Phán ba lạy, má xin lỗi ông ấy. Nhưng khi đứng trước bức tường, chính bà và Liên Hương cùng kêu lên: - Ủa, đâu mất rồi? Chữ "Hận" cực lớn trên tường đã biến mất không để lại một dấu vết gì! Cả chiếc rương gỗ cũng không cánh mà bay! Bà Phán lắp bắp: - Hay là... hay là... Liên Hương nói thầm: - Chắc là họ rút khỏi nhà này rồi. Bà Phán đứng lâm râm khấn một lúc rồi bà lặng lẽ bước một mình xuống lầu, không cho ai kè. Có lẽ bà thấy nhẹ người, khỏe khoắn lại như lúc bình thường. XÁC AI TRONG PHÒNG? Lưỡng lự khá lâu trước khi quyết định, Hóa bảo người quản lý nhà nghỉ: - Anh cho tôi chọn khu nhà trên đường lên Liang Biang. Người quản lý nhìn Hóa khá chăm chú, cuối cùng đưa anh xâu chìa khóa: - Như đã nói với anh, nơi đó khá vắng vẻ, chỉ dành cho những du khách nghỉ vào mùa hè. Hiện nay chỉ có một cặp đang ở, nhưng đến trưa mai thì họ sẽ trả phòng, chưa có khách nào mới ngoài anh. Mà anh nói sẽ ở trong bao lâu? - Một tuần và cũng có thể hơn. - Được rồi, anh cứ cầm chìa khóa đi theo người hướng dẫn lên đó trước, sau đó người mang thức ăn trữ tủ lạnh sẽ lên sau. Ở đó không có hàng quán ăn nên anh sẽ phải dùng thức ăn trữ sẵn. Hằng ngày sẽ có người mang điểm tâm, cơm trưa, chiều cho anh. Nếu đêm anh muốn ăn gì thì gọi điện thoại. Mà điện thoại cũng chỉ gọi được nội bộ thôi, không gọi đường dài được. Hóa thừa biết những điều đó nên không chú ý lắm, vội cầm xâu chìa khóa rồi leo lên chiếc xe Mobylette cà tàng của anh nhân viên hướng dẫn. Dọc đường, anh còn hỏi Hóa: - Sao ở trung tâm tiện nghi hơn mà anh không ở, lên chi chỗ khu này buồn thấy mồ luôn, lại thiếu mọi tiện nghi nữa? Hóa cười: - Tại tôi thích khung cảnh thiên nhiên, thích yên bình và tránh sự quấy nhiễu. Anh chàng kia lại nói: - Nếu cần không khí trong lành, yên tĩnh thì hằng ngày anh cũng có thể lên núi mà chơi, chiều về khách sạn trung tâm để nghỉ ngơi. Việc gì phải... - Nhưng sao bằng ta ở ngay nơi đó! Khi lên tới nơi, Hóa chợt nhớ ra, anh nhờ: - Có thể nào mỗi ngày anh mua giúp tôi một tờ báo ngày, rồi gởi người mang điểm tâm lên, được không? Đây, tôi đưa trước anh tiền đủ mua 1 tuần. Anh chàng lắc đầu: - Năm nay là 1960 rồi, nhưng ở Đà Lạt này anh muốn coi nhật trình của Sài Gòn thì phải đợi đến buổi chiều mới có! Vậy làm sao mua cho anh được. Hóa cười: - Mua báo buổi chiều cũng được, sáng gửi lên cũng không sao, miễn là có báo để đọc. Tôi vốn ghiền đọc báo mà, mới cũ gì cũng tốt. Khi anh chàng hướng dẫn tên Tâm đi rồi, Hóa mới bước vào nhận phòng của mình. Nói chung là cũng tạm được. Tuy không khang trang, hiện đại bằng các khách sạn ở trung tâm thành phố, nhưng cũng giường nệm, máy nước nóng tuy cổ lỗ sĩ, nhưng còn hoạt động tốt. Hóa đặc biệt hài lòng với cửa sổ phòng ở hướng ra đỉnh đồi phía sau. Từ đó, anh có thể phóng tầm mắt suốt một quãng dài. Xa tận rừng sâu. Cái thú đam mê cháy bỏng đó đã khiến Hóa chọn khung cảnh sống này. Tắm rửa vừa xong thì chị nhân viên mang thức ăn cũng vừa tới. Có khá đủ lương thực, chị ta chỉ từng thứ: - Nếu tối đến, cậu có thích và tự tay làm được thì vài món này có thể có được nồi cháo nóng. Tôi mang cho cậu mấy chai rượu vang và cả chai rượu mạnh nữa đây. Cái tủ lạnh chỉ để trữ thức ăn, chứ không làm đá được, hay đúng hơn là làm rất lâu đặc. Mà cũng đâu cần đá, xứ lạnh mà. Hóa cám ơn chị ta rồi bảo: - Chiều nay chị không cần phải mang cơm lên, tôi sẽ ăn nhẹ rồi đi ngủ cũng được. Nhưng chị ta đã chỉ một "gà mên" để riêng: - Sao lại không ăn cơm. Xứ lạnh mau đói bụng lắm. Tôi đã mang cho cậu bữa chiều, cậu dùng ngay cho còn nóng. Đợi chị ta đi rồi, Hóa mới ngả lưng xuống giường đến lúc này anh mới cảm thấy mỏi nhừ cả lưng và vai. Gần suốt ngày ngồi xe lửa Sài Còn, Tháp Chàm, rồi ba bốn tiếng ngồi ôtô - ray leo dốc lên tới Đà Lạt, quả là có sức chịu đựng thì mới kham nổi. Hóa giờ khoái ngủ một giấc hơn là ăn. Và anh đã nằm và ngủ ngon lành, gà mên cơm vẫn còn y nguyên đó... Nửa đêm... Hóa choàng tỉnh thì vô cùng ngạc nhiên khi thấy trên bàn có một mâm cơm đã dọn sẵn. - Ai vào đây? Hóa bước xuống nhìn thì rõ ràng gà mên cơm đã được bày ra hết trên bàn. Và còn hơn thế nữa, có cả một đĩa trái cây tráng miệng đã gọt sẵn, đặc biệt là chai rượu vang đã khui, chỉ chờ rót là uống. - Ai mà chu đáo thế này? Vốn tính cẩn thận, Hóa lên tiếng hỏi: - Có ai vào nhà không? Không ai đáp, chung quanh im phăng phắc. Từ cửa sổ nhìn ra cũng không thấy gì bởi màn đêm dày đặc. Hóa cảm thấy đói bụng, anh đắn đo một chút rồi ngồi xuống ăn ngon lành, anh tự nhủ: - Chắc là chị đưa cơm trở lại, thấy mình ngủ nên không gọi dậy. Ăn xong người khỏe khoắn, nhìn đồng hồ thì thấy chỉ mới 10 giờ, anh quyết định thử bước ra ngoài xem ban đêm có gì hay, đồng thời hít thở khí trời mát lạnh mà từ lâu anh đã thèm khát. Lúc này Hóa mới để ý thấy trong dãy nhà còn có một căn phòng sáng đèn. Chắc là phòng của cặp đôi mà người quản lý khách sạn nói lúc chiều. Thì ra đâu chỉ có mình anh trong chốn tịch liêu này. - Bớ! Giết... giết người! Tiếng kêu thật lớn, thật rõ ràng phát ra từ dãy nhà! Hóa giật mình, cố định hướng xem chính xác tiếng là đó là từ phòng nào. - Cứu... cứu! Tiếng kêu lúc này nhỏ hơn, chừng như người bị hại đang nguy hiểm, có thể là sắp tắt thở! Hóa tốc chạy về phía căn phòng có đèn sáng. Đến gần thì đúng là âm thanh kêu cứu đang phát ra từ đó. - Cứ... ư… Âm thanh cuối lịm dần... Quên cả hiểm nguy, Hóa cũng không kịp vòng ra phía cửa trước, đã tung mạnh vào cánh cửa sổ đang khép hờ, cửa bật ra. Vừa kịp lúc Hóa nhìn thấy một bóng người to lớn, đang vác trên vai một người khác nhỏ hơn, tóc người đó xõa dài xuống tận sàn nhà. - Anh ta giết người rồi tẩu thoát đây! Do dãy nhà khá dài, nên Hóa phải chạy sang mất đến hơn một phút mới ra được phía cạnh mặt tiền. Hoàn toàn vắng lặng, không có bóng ai. Khựng lại một chút, Hóa bước lần về phía cửa phòng của căn hộ còn sáng đèn. Cửa phòng mở toang, đúng là vừa rồi vác xác chết chạy anh ta đã không kịp đóng cửa! - Không thể để anh ta thoát được! Hóa vừa lẩm bẩm vừa đuổi theo hướng mà anh đoán là anh chàng nào đó đã chạy. Xuống dốc đến hơn trăm thước mà cũng chẳng phát hiện được dấu vết gì. - Khuya và tối thế này... Hóa hơi chán nản quay trở lại, anh nghĩ sẽ điện thoại về trung tâm báo cho họ biết để may ra... Vừa bước vào phòng, Hóa tá hoả khi nhìn thấy một người con gái nằm xõa tóc trên giường của mình! Vừa định lên tiếng hỏi thì Hóa phát hiện trên lưng áo cô gái có vết máu loang, anh hốt hoảng: - Trời ơi, án mạng! Muốn bước tới điện thoại đặt gần xác chết thì Hóa lại ngại, anh chỉ còn biết la to: - Bớ người ta, giết người! Anh la đến khàn cả cổ mà vẫn chẳng ai nghe. Mà thực tế thì lúc ấy ngoài Hóa ra, đâu còn ai ở đó. Làm sao bây giờ? Quyết định thật nhanh Hóa tức tốc chạy trở lại con đường đã đuổi theo lúc nãy. Anh nhớ lúc chiều đi qua nửa đoạn đường lên đây anh có thấy một đồn công an nhỏ, phải báo ngay cho họ. Phải mất hơn mười lăm phút sau, Hóa mới xuống tới đồn. Viên cảnh sát trực đang ngủ gật trên bàn, Hóa phải gõ ba lần vào cửa anh ta mới giật mình tỉnh dậy. Vừa thấy Hóa thở hổn hển anh ta hỏi: - Bị cướp hay gặp thú dữ? Hóa đưa tay ôm ngực, phải vài giây sau mới nói thành lời: - Gi...ế... t ng...ư... ờ... i! - Ai giết? - Ở trên kia! Một cảnh sát thứ hai thức giấc, họ cùng hỏi kỹ và phải nửa phút sau Hóa mới bình tĩnh thuật lại cho họ nghe mọi việc và yêu cầu: - Xin các anh hãy mau lên đó thủ phạm chạy chưa xa! Hai người cảnh sát đem theo cả súng cùng đi theo Hóa. Một người rành khu này nên nói: - Vùng này vắng, không có đường xe hơi chạy, nên dẫu có thoát xuống dưới kia thì cũng không chạy xa được. Để tôi gọi bộ đàm cho trạm canh phía dưới, họ sẽ chặn được hắn ta thôi! Phải mất gần nửa giờ, họ mới lên tới nơi. Hóa chỉ và phòng mình và bảo: - Xác chết đang ở trong đó. Phòng là phòng của tôi, nhưng trong lúc tôi ra ngoài thì hắn vác xác bỏ vào đó, rồi chạy mất. Hóa mở cửa phòng ra và... Hóa hốc mồm nhìn vào, cả sáu con mắt căng ra mà chẳng hề thấy gì trong đó! Một viên cảnh sát hỏi: - Xác chết nào đâu? Hóa lúng túng: - Mới... mới đây thôi mà! Một cô gái tóc dài, bị đâm trên lưng. Người cảnh sát còn lại làu bàu: - Cha này bị mộng du rồi! Tức quá Hóa vào xem kỹ giường ngủ của mình mong thấy một dấu vết gì đó để chứng minh, nhưng tuyệt nhiên không, ra nệm vẫn trắng tinh! - Kỳ cục quá... ! Chợt nhớ ra Hóa nói: - Qua phòng của họ! Anh dẫn hai người cảnh sát sang phòng sáng đèn của cặp đôi kia. Bên trong đèn sáng, nhưng cửa đóng kín. Một anh cảnh sát gõ cửa mấy tiếng. Có người lê dép đi ra vừa làu bàu: - Nửa đêm mà cũng gọi... Một cô gái tóc dài tận lưng, bước ra trong trang phục dùng cho phòng ngủ, vừa trông thấy, một cảnh sát đã khoát tay: - Được rồi, cô khỏi ra, cho tôi hỏi, nãy giờ cô có nghe chuyện gì xảy ra không? Cô ta lắc đầu: - Đâu có nghe gì! Rồi cô ta quay vào, đóng cửa lại. Hóa thẫn thờ nhìn theo. Hai nhân viên cảnh sát cằn nhằn: - Cha này có tâm thần hay mộng du thì đi nơi khác mà làm phiền. Nửa đêm nửa hôm. Họ bỏ đi, trong khi Hóa thừ người ra rất lâu mà chưa cất bước về phòng mình được... *** Sau khi nghe kể lại chuyện, chị người làm hơi biến sắc. Chị kề tai Hóa nói khẽ:- Hôm qua tôi tính nói mà sợ cậu không tin, ở đây người ta vẫn thường xuyên gặp chuyện như vậy. Hồi trước nghe đâu có một cặp tới ở rồi xảy ra ghen tuông thế nào đó, anh chàng giết cô nàng chết, sau đó tự tử chết theo? Bây giờ thỉnh thoảng hay hiện về phá phách những người một mình. Theo tôi, tốt hơn hết là cậu nên trả phòng đi... Hóa bướng bỉnh không muốn nghe lời. Tuy nhiên, sau khi suy nghĩ, anh lặng lẽ trả phòng, ra đi với bao thắc mắc trong lòng.... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 31
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXI: Hồn ma Đòi Chồng - Phần 1 Đã hai lần bị thức giấc đột ngột, Huyền hơi bồn chồn trong dạ nên bật dậy định uống một ly nước rồi dỗ lại giấc ngủ. Nhưng khi nhìn đồng hồ trên tường thì cô giật mình. Mới có 12 giờ. Mọi đêm vào giờ này Huyền đang ngủ rất say, bởi công việc suốt ngày quần quật, mãi đến hơn mười giờ mới buông ra được, có đêm chưa kịp ăn cơm là Huyền đã nhướng mắt hết lên và thường ngủ thay ăn! Và đêm nay, mãi đến hơn 1415 giờ mới chợp mắt, vậy mà cứ vừa đi vào giấc ngủ thì y như là có ai đó chạm vào người, làm cô bé thức giấc. Hai lần rồi mà khi thức dậy Huyền chẳng hề thấy ai bên cạnh. Hay là tại vắng Hoa... Có thể lắm. Hai chị em từ nhỏ đến giờ, nhất là từ khi mồ côi mẹ lúc chưa đầy mười tuổi đến nay, không lúc nào ngủ xa nhau. Chiều nay ba bảo chị Hoa đi cùng ba ra vườn ngoài Long Thành mà xe không còn dư chỗ nên Huyền mới chịu ở nhà. Nghĩ Hoa sẽ trở về nhà kịp bữa cơm tối, vậy mà đến 10 giờ Dì Ngọc mới báo là ba về không kịp, phải ngủ đêm ở vườn, và đây là lần đầu hai chị em không ngủ cùng nhau. Tự cho đó là nguyên nhân khiến mình mất ngủ nên Huyền vừa uống xong ly nước đã trở lại giường và tin rằng mình sẽ ngủ say ngay... tuy nhiên lại một lần nữa, khi Huyền vừa nhắm mắt thì dường như có ai đó nắm lấy bàn chân mình kéo thật mạnh! Huyền bật dậy hỏi lớn: - Ai vậy? Bật đèn phòng lên, toàn bộ căn phòng nhỏ hiện ra, nhìn rõ mọi vật, nhưng tuyệt nhiên không có ai, cửa phòng vẫn đóng kín, cài chốt bên trong. Huyền hơi chột dạ, mặc dù xưa nay cô vốn là người không bao giờ biết sợ vu vơ. Bước tới cửa sổ, bấy giờ Huyền mới phát hiện ra tuy hai cánh cửa vẫn đóng kín, nhưng chốt không gài và ở một cánh khi khép đã kẹt lại một mảnh vải màu xanh lá. Cầm lên xem thì ra đó là một chiếc băng đô cài đầu mà thoạt trông Huyền đã có cảm giác quen quen... Hình như là của ai đó mà cô đã nhìn thấy đôi ba lần. Nhất thời chưa đoán ra là của ai nên thuận tay Huyền bung luôn cánh cửa ra và... cô há hốc mồm khi thấy đứng cách cửa sổ chưa quá mười bước chân là một người phụ nữ xõa tóc, đang đứng quay mặt đi chỗ khác, nhưng nhìn từ sau lưng Huyền đã phải kêu lên: - Mẹ! Phải, cái bóng đứng kia trông giống hệt như mẹ, khiến Huyền không chút lo sợ, kêu lần nữa: - Mẹ! Phải mẹ không? Rồi như bị một lực hút vô hình, Huyền bung cửa phòng, theo hướng sau nhà, chạy bay ra nơi cô vừa nhìn thấy bóng người kia. Không còn thấy ai nữa, nhưng Huyền vẫn cắm đầu chạy theo hướng trước mặt, vừa chạy Huyền vừa cất tiếng gọi: - Mẹ ơi! Con là Huyền đây! Một lát sau Huyền đã ra tới hàng rào kẽm gai phía sau vườn, nơi ngăn khu nhà rộng với bên ngoài. Thường khi, Huyền chỉ đứng bên trong rào nhìn ra rặng cây ở bên kia sườn đồi mà chưa một lần dám bước ra, bởi lệnh cấm của cha, mà cũng bởi sợ một điều gì đó mà lâu lắm rồi Huyền chưa lý giải được. Lần này thì bằng cách nào cũng phải ra cho bằng được! Huyền nói thầm và cúi người tìm cách chui qua hàng rào kẽm gai khá kiên cố. - Mất công thôi! Một giọng nói thật quen thuộc, đồng thời một bàn tay mát lạnh của ai đó đặt lên vai Huyền. Chưa kịp nhìn lại thì toàn thân Huyền đã đờ ra, đầu óc lờ mờ... *** Mở mắt ra, Huyền suýt kêu lên khi nhìn ra gian phòng bên ngoài, nếu không có bàn tay của ai đó bụm ngang miệng cô lại. Chừng như ai đó không muốn cho Huyền bị lộ diện, nên cô giữ im lặng và nhìn kỹ hơn những gì đang diễn ra trước mắt. Giữa gian phòng lớn đang có bốn người, hai người ngồi quay lưng lại phía Huyền, họ đang chụm đầu vào nhau thì thầm điều gì đó nghe không rõ, nhưng nhìn trên tay họ Huyền lờ mờ đoán ra: Họ đang cầu hồn!Sở dĩ Huyền đoán được bởi có hôm, vô tình cô đã nhặt được một quyển sách chép tay ở bếp nhà mình, mà tựa đề quyển sách đã nói lên nội dung của nó: Cầu hồn - nói chuyện với vong linh người chết. Quyển sách sau đó bị bà dì ghẻ đòi lại và còn mắng cho Huyền một trận, bởi hình như sách đó là thứ mà bà ta đang nghiên cứu, không muốn để cho ai khác đọc. Trong sách có nói và vẽ cả hình minh họa cảnh lễ cầu hồn, nó giống như những gì Huyền đang nhìn thấy trước mắt! Lạ lùng hơn, một trong hai người đang ngồi cầu hồn kia là hai người phụ nữ đầu trùm kín bằng chiếc khăn đen! Và khi nhìn kỹ hai người nữa đang nằm im trước mặt họ, lại là cha và chị Hoa! Huyền hốt hoảng định kêu lên, nhưng lúc này cô như bị điểm huyệt, không há miệng ra được. Người nào đó nãy giờ đứng bên cạnh Huyền cũng đi đâu mất. Lúc này chợt Huyền nghe người ngồi bên trái lên tiếng: - Cái vong hồn này lạ lắm, hình như đã được che chở bởi thế lực nào đó mạnh hơn quyền lực của ta, nên nhất thời không trục nó về được! Mụ bên phải tức tối: - Đã tốn bao công sức mới gài cho cha con nó đi cùng nhau ra vườn, hầu thực hiện buổi hôm nay. Như vầy có nghĩa là bó tay sao, công cốc sao? Mụ kia cũng không còn bình tĩnh: - Tôi có thể nhìn suốt cõi vô hình, muốn trục cái hồn nào về thì phải về, nhưng người này thì đã hai tiếng đồng hồ rồi, sức tôi sắp kiệt rồi đây, mà vẫn chưa làm sao gọi nó về được! Nhìn lại hai người đang nằm, mụ bên trái ngao ngán: - Bây giờ biết giải quyết hai của nợ này sao đây? Mụ kia thu dọn vài thứ linh tinh của mình xong, vừa đứng lên vừa nói: - Đã là của nợ thì khử nó đi cho rảnh việc! Mụ bên trái trợn tròn mắt: - Bộ bà quên là tụi nó còn cần cho tôi đến cỡ nào hay sao! Cho đến khi nào... Mụ ta kề tai nói khẽ gì đó, rồi họ nhìn trước sau, mụ ta nói: - Nơi này vắng, ngôi nhà này vốn bỏ hoang từ mấy năm rồi, có lẽ ta bỏ họ ở đây, dù họ tỉnh lại thì cũng chẳng ai hay biết. Mụ kia hỏi lại: - Lúc làm cho họ mê man để đưa về đây có để họ nghi ngờ gì không? Mụ nọ lắc đầu: - Tôi nhờ thằng tài xế ruột, cho nó số tiền bằng ba tháng lương thì có cạy miệng nó cũng không nói. Nếu có bị hạch hỏi thì nó cũng biết phải trả lời thế nào rồi. Hai mụ đàn bà nhìn quanh một lượt rồi tắt đèn, rời khỏi phòng. Đợi cho họ đi xa rồi Huyền mới bước ra, bật điện lên và chạy đến bên cha và chị. Huyền càng lo lắng thêm khi hai người vẫn còn bất động. - Ba ơi! Chị Hoa ơi! Tỉnh dậy... Gọi đến lần thứ ba thì ông Thiện mới hơi khẽ động đậy hai tay, sau đó từ từ mở mắt ra. - Đây là... Huyền mừng rỡ: - Ba! Ba không sao chứ! Nhìn thấy con gái, ông Thiện hỏi ngay: - Hoa đâu? Lúc này Hoa cũng đã tỉnh, cô ngơ ngác: - Sao mình ở đây ba? Sao có cả Huyền nữa? Huyền ngại ở lại không tiện, nên giục: - Mình rời khỏi đây ngay, nguy hiểm lắm! Không biết là chuyện gì nhưng thấy thái độ của Huyền, ông Thiện và Hoa cũng phải nghe theo. Khi ra đến ngoài ông Thiện mới nhận ra nơi mình đang đứng: - Đây là ngôi nhà hoang mà! Hoa cũng nói: - Lâu đài ma! Huyền kéo mọi người đi thật nhanh rời khỏi nơi ấy, đến một nơi an toàn, rồi cô mới hỏi: - Tại sao ba và chị Hoa nói là đi ra trang trại, sao trở về nơi này? Ông Thiện bình tâm lại một lúc rồi đáp trong trạng thái mệt mỏi: - Ba chỉ nhớ lúc sắp rời trang trại ra về thì tự dưng ba xây xẩm đầu óc, rồi sau đó không còn biết gì hết... Hoa kể lại: - Khi ba ngất chị đã là người phát hiện. Chị gọi chú Ba tài xế ra phụ khiêng ba lên xe, mãi đến khi xe chạy được một quãng thì chị cũng bị tình trạng như ba vậy! Huyền kể lại những gì mình vừa nghe được: - Chú tài xế đã bị người ta mua chuộc để làm chuyện này. Họ là đồng bọn với nhau đó. Ông Thiện vẫn không tin: - Ai thì ba còn nghi ngờ, chớ chú Ba ấy thì không thể nào... Bởi chú ấy là người đã làm việc cho ba từ thời ba mới khởi nghiệp. - Chính tai con nghe hai người cầu hồn nói rõ như vậy. Bây giờ về nhà tìm gặp chú tài xế và hỏi thì rõ thôi. Mà nè ba, sao con thấy cái dáng của một trong hai người cầu hồn quen quen sao đó... giống như bà Ngọc vậy đó! Ông Thiện nhắc: - Con quên là bà ấy đã đi du lịch Hồng Kông hai ngày rồi sao. Tuần tới mới về. Hoa chợt hỏi: - Huyền nói em gặp mẹ? Huyền kể mà vẫn còn nguyên vẻ xúc động: - Em thấy rõ ràng. Chính mẹ đưa em tới ngôi nhà hoang đó, chớ em làm sao biết nơi ấy. Và cũng chính mẹ đã giúp đặt em vào chỗ kín đáo để mục kích được chuyện vừa rồi và kịp cứu chị và ba ra. Ông Thiện lâu nay vẫn bị hai con oán về việc bước đi bước nữa sau khi mẹ chúng mất, nên rất lúng túng mỗi khi nhắc tới bà vợ trước của mình. Tuy nhiên lúc này ông vẫn lên tiếng: - Có thể đúng là bà ấy. Hoa tiếc nuối: - Phải chi chị có mặt ở nhà để gặp mẹ! Huyền đưa bàn tay lên sờ quanh miệng mình, nhớ lại: - Em còn nguyên cảm giác bàn tay mẹ bụm miệng không cho em lên tiếng. Hơi ấm lòng bàn tay y như của một người còn sống. Chớ không như người ta mô tả người cõi âm tay lạnh như băng. Ba nói cho tụi con nghe về cái chết của mẹ đi. Có đúng là mẹ chết sau một cơn bạo bệnh không? Ông Thiện hơi lúng túng: - Chuyện đó... lâu rồi... Nhưng mà nhắc làm gì cho thêm buồn. Nhưng Huyền cương quyết: - Ba không nói thì có lúc tụi con cũng sẽ rõ. Dì út Hạnh có lần đã nói... Ông Thiện chặn lại ngay: - Các con không được nghe dì Hạnh. Giữa dì ấy và bà Ngọc bây giờ vốn có nhiều mâu thuẫn với nhau từ lâu, làm sao dì ấy nói tốt cho bà Ngọc được. Hoa sẵng giọng: - Lúc nào ba cũng bênh bà ta! Biết nói về bà vợ kế thì thế nào cũng rắc rối, nên ông Thiện lái sang chuyện khác: - Tụi con có muốn biết tại sao người ta gọi ngôi nhà hoang lúc nãy là nhà ma không? Đúng là bị chạm vào sự tò mò, nên Hoa quên ngay chuyện căng thẳng vừa rồi, cô hỏi ngay: - Nghe nói đó cũng là sản nghiệp nhà mình? - Đúng, ngôi nhà ấy hiện vẫn còn là sở hữu của dòng họ mình. Hồi thời Pháp thuộc ông nội các con vừa xây xong ngôi nhà đó thì xảy ra chuyện rồi thì bỏ luôn, không dám ở từ đó đến nay đã trên bốn chục năm rồi! Huyền hỏi: - Nhà bỏ hoang nhưng lúc nãy con thấy khu vườn rộng chung quanh khá quang đãng? - Chỉ có nhà là không người ở, còn khu vườn thì ba cho một người bà con khai thác, nên họ có lui tới dọn dẹp, trồng trọt. Hoa vẫn thắc mắc: - Ba nói ngày xưa từng xảy ra chuyện gì? - Ba không trực tiếp gặp, nhưng nghe ông nội con kể thì lúc nhà vừa xây xong thì vào ban đêm người ta thấy có những bóng người chạy rầm rập trong đó, đèn đuốc sáng choang, nhưng đến khi lại gần quan sát thì chẳng thấy gì! Về sau ông nội con đã nhờ người tìm hiểu nguyên do thì phát hiện nhà xây trên một nền đất vốn trước kia là một nghĩa địa hoang, nơi đó nhiều người bị giết và xác bị chôn giấu một cách bí mật! Ngoài ra người ta còn nói rằng hiện vẫn còn mấy nấm mồ nằm ngay phía dưới phòng khách của ngôi nhà! Hoa tính nhút nhát nên nghe nói tới ma đã rùng mình: - Vậy thì phá luôn ngôi nhà cho rồi, để làm gì, vậy mà hồi nãy con với ba nằm trong đó... Cô lay vai Huyền: - Còn em nữa, một mình mà lại dám... Huyền cười hồn nhiên: - Còn có mẹ nữa chớ bộ! Nghe nhắc tới người vợ quá cố, một lần nữa ông Thiện lại cố tình nói sang chuyện khác: - Ba cảm thấy trong người ớn lạnh, ta nên về nhà ngay thôi. Huyền lo lắng: - Ba nằm dưới đất chắc là lâu lắm, coi chừng nhập thổ. Đó là chưa nói, còn có thể bị mấy mụ kia làm bùa phép gì đó nữa... Ông Thiện tự tin: - Chắc là không có chuyện đó. Nhưng Hoa thì lo: - Cũng có thể lắm. Như Huyền kể, họ muốn dùng ba với con để cầu hồn cầu vong của ai đó... Sao kỳ vậy ba? Ông Thiện chưa đáp thì Huyền đã nói: - Rõ ràng là họ muốn hại ba, để thực hiện ý đồ gì đó? Nãy giờ con suy nghĩ hoài, họ là ai mà tính chuyện ác như thế chớ? Họ gọi tắc xi về nhà. Hoa bàn: - Bữa nay chỉ có cha con mình ở nhà, ta nên làm một buổi liên hoan, coi như mừng thoát nạn và cũng nhân tiện cúng vong hồn mẹ. Bấy giờ ông Thiện mới dám nói một câu liên quan đến vợ: - Phải nói là cúng vong mẹ các con trước, sau đó mình liên hoan luôn! Huyền nhìn cha cảm thông: - Ba nói phải. Vậy để con đi mua thức ăn, chị Hoa ở nhà lo dọn bàn thờ mẹ. Nhớ tới chuyện Huyền kể đang ngủ bị kéo chân, Hoa xua tay: - Thôi để chị đi chợ cho, Huyền lo ở nhà đi! Hiểu ý chị nên Huyền cũng không tranh cãi, cô chỉ dặn: - Chị nhớ mua mấy thứ mẹ thích, nhất là món bánh patê chaud. Nghe các con bàn với nhau làm cho lòng ông Thiện quặn đau. Đã lâu rồi, mỗi khi nhớ đến người vợ quá cố, muốn cúng bà thứ gì ông không dám nhắc các con, mà âm thầm mua về đặt lên bàn thờ rồi âm thầm khấn vái và tránh đi ngay. Có lần Huyền nhìn thấy đĩa bánh paté chaud, cô hỏi của ai thì ông chỉ im lặng rồi quay đi... *** Vừa bước lên gác lửng nơi đặt bàn thờ mẹ, Huyền đã kêu lên:- Ba ơi, sao kỳ vậy nè! Nghe kêu, cả ông Thiện và Hoa đều chạy lên. Họ vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy bát nhang trên bàn thờ đang bốc cháy dữ dội! Hoảng hốt, ông Thiện chạy tới dùng tay kéo vội những chân nhang đang cháy ra, sợ nó cháy lan sang những thứ khác. Nhưng khi nhúm chân nhang vừa được kéo lên thì những giọt nước màu đỏ như máu từ đó chảy ra, rơi loang đỏ cả nền nhà! Hoa thảng thốt: - Trời ơi, gì vậy? Huyền bình tĩnh hơn, bước tới gần, nhìn rồi nói: - Giống như là máu! Bảo con bật đèn lên, ông Thiện cúi xuống nhìn thật kỹ rồi cũng xác nhận: - Giống như máu vậy. Mà quả là vậy. Bởi thứ nước màu đỏ ấy sau một lúc đã gần như đông đặc lại. Lúc này Hoa càng hốt hoảng: - Máu... máu của ai vậy? Huyền tự dưng nhớ tới mẹ, cô la lên: - Mẹ nguy rồi! Không ai hiểu Huyền muốn nói gì, cô bé đã vùng chạy xuống nhà dưới, vừa đi vừa gọi Hoa: - Chị Hoa theo em! Ông Thiện lo sợ: - Con đi đâu vậy Huyền? - Con đi tìm mẹ! Hoa tức tốc chạy theo. Hai chị em bằng phương tiện xe gắn máy đã chạy hướng ra ngoại ô. Hoa hỏi: - Mình đi đâu? - Chị khắc biết! Lát sau khi đến nghĩa trang thì Hoa mới hiểu: - Vô chỗ mộ mẹ! Họ gởi xe và đi bộ tới dãy mộ bên trong. Vừa tới cách mấy chục bước Huyền đã kêu lên: - Chuyện gì vậy, chị Hoa! Ngôi mộ xây đã bị ai đó đập phá một phần, dấu vết còn mới. - Thảo nào... Huyền lặng người đi một lúc, rồi bảo chị: - Em nghĩ nó có liên quan tới vụ cầu hồn đêm qua. Họ muốn hồn mẹ phải về với mục đích gì đó, trong khi mẹ thì không khuất phục. Đúng là quân dã man! - Em nói ai! - Thì bọn bắt chị và ba hôm qua đó, chớ còn ai nữa! Một mặt nhờ người bảo vệ nghĩa trang thuê người sửa chữa lại ngôi mộ, một mặt Huyền bảo chị mình: - Ta đi tìm chú Ba tài xế. Lúc này Hoa mới chợt nhớ: - Ờ, nhắc chị mới nhớ, sao lúc về nhà mình không thấy chú ấy đâu? Huyền kéo tay chị đi, vừa nói: - Ông ấy đã bị mua chuộc rồi! - Ai mua chuộc? Huyền không trả lời, cắm đầu chạy một mạch tới khu lao động bên kia cầu bắt qua con kinh nước đen. Đứng trước một ngôi nhà cửa đóng then cài, Huyền gọi đến ba bốn lượt mà chẳng có ai lên tiếng. Lát sau một người ở nhà bên cạnh thò đầu ra bảo: - Người ở nhà đó đã trả lại nhà, dọn đi từ hôm qua rồi. - Họ dọn đi đâu dì có biết không? Bà nọ lắc đầu: - Tôi không biết. Huyền thất vọng quay xe ra, Hoa nói: - Chị còn biết nhà bà chị của chú ấy ở khu Bàn Cờ nữa, hay ta qua đó xem. Tuy nhiên lại một lần nữa họ thất vọng. Bởi nhà đóng cửa mà lối xóm chẳng biết là đi đâu. Huyền quả quyết: - Tìm ra ông ta thì mọi việc sẽ sáng tỏ. Hoa chưa rõ lắm nên hỏi: - Em nghi ông ta đào mộ mẹ? Nhưng nó có liên quan gì tới hiện tượng chảy máu ở bàn thờ lúc nãy? - Em chỉ suy đoán thôi, nhưng nó đã đúng khi nó trùng với việc mộ mẹ bị đào xới lên. Mà chị không nhớ là việc chôn mẹ, đi làm cỏ mộ hằng năm đều do một tay chú Ba tài xế hay sao? - Vậy ông ta đào mộ để lấy cắp đồ? Huyền lắc đầu: - Em không nghĩ vậy, mà quan trọng và nguy hiểm hơn. Họ muốn hại cả nhà chúng ta nữa! Hoa là người chân chất, nên tuy là chị nhưng không sâu sắc bằng cô em, vẫn nghĩ đơn giản: - Xưa nay người ta chỉ đào mộ để lấy cắp vàng bạc, nữ trang mang theo người chết, chớ chị đâu có nghe chuyện đào mộ để làm gì khác? Biết có nói thêm thì chị mình cũng không hiểu, bởi Hoa là người rất lười đọc sách và cũng không thích tìm hiểu chuyện huyền bí, nên Huyền quay về. Ông Thiện vừa trông thấy con đã nói ngay: - Có những hiện tượng kỳ lắm. Lúc hai đứa đi rồi nhà mình lại bị cháy lần nữa! Mà lần này tại ở chỗ khác... Nghe mùi khét còn lại, Huyền hốt hoảng: - Cháy ở đâu vậy ba? Chỉ lên lầu hai, ông Thiện nói mà giọng vẫn còn mất bình tĩnh: - Ở phòng tụng kinh của bà Ngọc. Chị em Huyền chạy lên thì căn phòng vẫn còn mùi khét và khói. Nhìn mấy bát nhang trên bàn cúng đều bị cháy lụi, tự dưng Huyền buột miệng: - Đáng đời! Căn phòng này trước đây là của mẹ, nhưng kể từ khi mẹ mất, nhất là từ lúc mụ "phù thủy" đó chuyển về sống hẳn trong nhà này thì mụ ta chiếm luôn làm nơi hằng ngày tụng kinh gõ mõ, với trang thờ Phật bà cực to mà lúc nào cũng nhang đèn rực rỡ. Không dám xúc phạm thánh thần, nhưng mỗi lần nghe tiếng tụng niệm của mụ ta thì Huyền là người ghét hơn ai hết. Bởi Huyền luôn có ấn tượng mụ ấy tụng kinh mà lòng dạ độc ác, kiểu khẩu Phật tâm xà! - Huyền có thấy gì không? Hoa đứng sau lưng vừa hỏi, Huyền nhận ra ngay: - Bát nhang bàn thờ Phật bà còn nguyên, chỉ những trang thờ khác mới bị cháy! - Sao lạ vậy? Huyền kéo tay chị mình xuống dưới nhà, nói cho cha cùng nghe: - Con tin là mẹ đã làm chuyện này! Ông Thiện nhìn con gái rồi nhẹ lắc đầu, không nói gì. Hoa lên tiếng: - Nhưng sao mẹ lại cũng làm cháy bát nhang ở bàn thờ của chính mẹ? Huyền không đáp, cô giục chị mình: - Mình lo đi chợ nhanh để còn kịp cúng nữa. Em muốn cúng mẹ thật long trọng. Em đang có cảm giác như mẹ đang hiện diện trong nhà lúc này. Do không có mặt bà mẹ ghẻ ở nhà, nên chị em Huyền thoải mái hơn, họ làm bữa cúng khá nhanh. Đến giữa trưa thì thức ăn được dọn cúng khá thịnh soạn. Bát nhang bị cháy lúc sáng đã được thay tro mới và khi đốt lên đã cháy bình thường. Ông Thiện lần đầu tiên, do không có mặt vợ kế, nên đã có vẻ thoải mái khi cúng vái. Ông đứng rất lâu trước bàn thờ, khấn rất thành khẩn và nếu tinh ý sẽ thấy ông đang rơm rớm nước mắt. Bỗng nhiên Hoa kêu lên: - Coi kìa, ba! Cả ông Thiện và Huyền cùng nhìn theo hướng tay chỉ của Hoa và đều sững sờ khi thấy di ảnh của bà Thiện đang có hai giọt lệ màu đỏ như máu chảy xuống! Huyền là người nhạy cảm, nên nói ngay: - Mẹ về báo điều bất lành với chúng ta đó, ba! Ông Thiện lên tiếng, hướng về di ảnh: - Bà có điều gì phải không? Làm sao cha con tôi nói và nghe được từ bà đây, Ngọc Lệ? Lần đầu tiên kể từ khi vợ mất, ông Thiện mới gọi tên vợ một cách thoải mái như thế. Điều mà khi có mặt bà vợ kế Kim Ngọc ở nhà ông luôn khép nép, né tránh, kể cả không dám thắp nhang trên bàn thờ vợ lớn. - Ba ơi, mẹ chớp mắt! Huyền kêu lên vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Hoa cũng phụ họa: - Con cũng thấy nữa. Huyền khấn qua màn nước mắt: - Mẹ ơi, nếu mẹ hiển linh về đây thì xin mẹ nói hoặc làm gì đi, cả nhà đang có mặt bên mẹ đây nè! Hai dòng máu từ hai khóe mắt di ảnh càng lúc càng lan rộng ra, khiến ông Thiện phải giục con: - Lấy khăn sạch đến lau đi con! Hoa chạy lấy chiếc khăn mặt từ phòng tắm, nhưng vốn nhát gan nên lại đưa cho Huyền: - Em lau cho mẹ đi! Huyền chẳng chút sợ hãi, đã bước tới lau di ảnh mẹ. Chợt cô kêu lên: - Ba tới coi nè! Ông Thiện bước tới, nhìn thấy một dòng chữ hiện trên mặt bàn thờ, do vệt máu chảy tới đâu tạo ra đến đó: Tới chỗ ngôi mộ, lấy lên gói giấy mà họ mới bỏ xuống. Hãy cứu mẹ với! Ông Thiện chưa hiểu hết chuyện nên đưa mắt nhìn Huyền. Cô bé mau mắn: - Con nghĩ không sai mà, người ta đang muốn hại mẹ! Huyền lôi tay cha: - Ba đi với con! Hoa trông nhà, ông Thiện và Huyền đi nhanh tới nghĩa trang. Những người thợ do Huyền thuê lúc sáng đã hoàn tất phần sửa chữa ngôi mộ. Vừa thấy Huyền tới, họ báo ngay: - Chuyện lạ lắm! Tụi tui lấy xi măng vá lại chỗ bị đập vỡ kia nhưng làm cả chục lần vẫn không được. Hầu như bao nhiêu xi măng đều rơi tuột vào trong hết. Cuối cùng tui phải dùng một miếng nhôm ốp bên ngoài mới tạm trám được chỗ bị thủng. Nhưng xem ra không chắc chắn lắm. Ông ta nói vừa dứt lời thì nguyên mảng xi măng mới lại bong hết ra, để lộ một chỗ khá to. Huyền bước tới và không hề sợ sệt, vội cho tay vào lôi ra một gói giấy được cột rất kỹ. Cô quay sang hỏi mấy người thợ: - Các chú có thấy ai cho cái này vào mộ không? Mấy người thợ lắc đầu: - Nãy giờ chỉ có bọn này ở đây, đâu có ai tới. Mà có ai tới tụi tui cũng không cho làm chuyện bậy bạ đó. Mà cái gì vậy cô? Huyền đưa mắt nhìn cha, rồi nhanh tay mở dây. Qua nhiều lớp giấy, cuối cùng lộ ra một hình nhân bằng vải, có dạng một phụ nữ, cùng với mấy tờ giấy màu vàng có ghi chữ ngoằn ngoèo, kỳ dị. Trong lúc Huyền chưa biết phải làm gì thì một trong số mấy người thợ tỏ ra rành chuyện, đã nói: - Đây là hình nhân và bùa ếm của ai đó ếm người trong mộ, may mà cô lấy ra kịp. Bây giờ để hóa giải, cô phải đốt nó ngay đi! Ông Thiện cũng từng nghe nói chuyện này, nên ông đích thân cầm lấy mấy thứ kia và mượn bật lửa của một người thợ, rồi đốt cháy ngay tức khắc. Ngọn lửa cháy cũng lạ, nó không phải màu đỏ hay vàng như thường thấy, mà phát ra một thứ ánh sáng xanh lặc lè rất quái dị. Lửa tàn rất nhanh trong tiếng thở phào của Huyền. Cô giục mấy người thợ: - Mấy chú trám lại giùm chỗ bị vỡ đó đi! Mấy người thợ vô cùng ngạc nhiên khi việc làm của họ diễn ra khá dễ dàng, chỉ một lúc sau họ đã trám xong lỗ vá khá lớn. Một người nói: - Chẳng bù với lúc nãy. Có lẽ do cái vật quỷ quái kia cũng nên! Họ chẳng hẹn mà cùng nhau quỳ xuống trước mộ, lạy một cách thành kính. Huyền cũng khấn: - Mẹ ơi, nếu muốn gì mẹ cứ hiện về như vừa rồi, con sẽ cùng mẹ... Lúc này hai mắt ông Thiện đỏ hoe và ông cũng không giấu giếm sự xúc động của mình trước mặt con nữa... - Mình về ba. Hai cha con nắm tay nhau rời khỏi nghĩa trang. Lúc đó trời đã xế bóng... Có điều họ không hay biết, khi họ vừa bước đi thì ở ngôi mộ bà Ngọc Lệ đột ngột xuất hiện một bóng người, chập chờn như sương khói, thoắt ẩn thoắt hiện rồi sau cùng như một vệt khói bay theo hướng cha con ông Thiện. Đang đi trên đường, chợt Huyền rùng mình liền mấy lần, cô ngạc nhiên nói với cha: - Tự dưng con cảm thấy lạnh và như có ai vừa hôn má mình, ba ạ! Ông Thiện cũng vừa có cảm giác như có bàn tay ai đó chạm vào vai mình, lành lạnh... Ông bảo: - Ba cũng thấy như có cái gì đó... Khi họ về đến nhà thì lại ngạc nhiên hơn khi nghe Hoa kể lại: - Lúc ba và Huyền đi chừng một giờ, khi con đang ngồi dưới nhà thì nghe như có tiếng ai bước đi trên lầu, con sợ quá chưa biết phải làm sao thì bỗng có tiếng chuông điện thoại reo. Con bước tới nghe mà mắt vẫn không rời khỏi cầu thang, bên kia đầu dây chỉ có tiếng thở dài mà không ai lên tiếng! Con hỏi thì cũng vẫn nhận được tiếng thở dài đó... Hơi bực mình, con đặt ống nghe xuống thì chuông lại reo. Nhấc ống nghe lên thì vẫn tiếng thở dài. Con hỏi lớn: “Ai vậy?” Thì bên kia chợt có tiếng nói, thật ngắn, nghe như vọng về từ cõi nào: "Hoa hả con?". Hoa kể tới đây thì cảm giác lạnh cả người, Huyền hỏi: - Có phải mẹ không? Hoa lắc đầu: - Chị sợ quá không dám hỏi và run tay làm rơi ống nghe xuống! Nghe chị mình nói Huyền tiếc nuối: - Gặp mẹ mà chị không nói chuyện! Phải chi... Ông Thiện nhẹ giọng: - Nếu mẹ đã về thì thế nào bà ấy cũng về nữa. Cứ chờ đi con... Huyền chạy lên lầu và từ trên đó cô gọi to xuống nhà: - Đúng là mẹ rồi ba ơi! Ông Thiện và Hoa chạy lên, họ ngạc nhiên khi thấy Huyền đang ôm bức di ảnh của mẹ trong lồng ngực, bức ảnh sáng rỡ, không có dấu vết gì của những giọt máu lúc sáng. Huyền nói: - Cả trên bàn thờ, chỗ những chữ máu hồi sáng cũng đã biến mất hết. Ba cha con nhìn nhau nghẹn ngào... Bà Kim Ngọc cẩn thận đóng kín cửa sổ, gài chốt bên trong trước khi lên giường ngủ. Bà cảm thấy mệt và buồn ngủ đến nỗi hai mí mắt như bị trì kéo xuống. Sở dĩ bà cẩn thận như thế, bởi lúc chiều khi lên lầu thượng đốt nhang bà đã nhìn thấy bát nhang bị cháy và một vài hiện tượng khác thường. Linh tính báo cho bà một điều gì đó... Kể cả bộ mặt của mấy đứa con riêng cũng làm cho bà khó chịu. Khi thấy bà trở về chúng chẳng những không chào mà còn vênh lên như thách thức và còn xầm xì những gì đó rất khả nghi... Bà Ngọc vốn là cây gai trong nhà, bà biết thế, nhưng với bà, bọn nhóc đó mới chính là những cây gai cần phải nhổ đi! Trước khi nhắm mắt tìm giấc ngủ bà ta còn lẩm bẩm: - Trước sau gì thì cũng phải đến... Hơn mười hai giờ đêm... Cả nhà im ắng, lặng như tờ. Bà Kim Ngọc cũng vừa đi vào giấc ngủ ngon. Chợt có âm thanh từ ngoài vọng vào, qua khe cửa sổ. Thứ âm thanh rất lạ, ban đầu nhỏ, rồi rõ dần... đó là tiếng khóc của một người phụ nữ. Lúc đầu có lẽ chẳng ai trong nhà nghe được âm thanh đó, nhưng chỉ nửa phút sau thì người đầu tiên nghe được chính là bà Kim Ngọc! Bà ta vừa trở mình thì giật mình mở mắt ra ngơ ngác. Ai khóc? Tiếng khóc càng lúc càng gần và hình như nhắm thẳng vào cửa sổ, nơi sát chiếc giường bà ta đang nằm. Lúc này bà Ngọc mới hối hận là lúc chiều đã chọc giận ông Thiện, để ông ta sang phòng riêng ngủ. Nếu có ông ta thì dẫu sao bà cũng đỡ sợ hơn. - Ông Thiện ơi! Bà ta lên tiếng gọi đại để tự trấn an, chớ biết chắc là ông chồng không thể nghe được. Tuy nhiên tiếng khóc hình như không hề nao núng với sự lên tiếng của bà, mà trái lại, vừa khi ấy chợt có một tiếng động lạ và... giống như có ai vừa nhảy vào phòng! Do có thói quen ngủ không để đèn, nên lúc này thuận tay bà Ngọc mới bật công tắc lên. Lúc ấy bà ta há hốc mồm chớ không còn kêu được nữa. Trước mắt là một bóng người đứng giữa phòng trong tư thế yên lặng, mặt quay đi hướng khác, nhưng vừa thoạt trông thấy dáng đứng đã làm cho bà Ngọc sửng sốt, run lẩy bẩy: - Bà... bà là... Lúc này bóng người kia mới từ từ quay mặt lại. Một phụ nữ với bộ mặt đầy máu tươi đang chảy xuống làm ướt đẫm cả bộ quần áo màu trắng đang mặc. Bà ta vẫn im lặng... - Ông... ông... Bà Ngọc cố gọi to hơn, nhưng chỉ được mấy tiếng rồi thì cổ họng như bị ai chận ngang, cảm giác đang nghẹt thở, sắp chết! - Ô... n... g... Bóng người kia từ từ bước đến gần giường hơn, hai bàn tay của bà ta vẫn bất động, nhưng càng lúc bà Ngọc cảm thấy như cổ bị siết mạnh và trước mắt tối dần, đầu óc quay cuồng... Bà ta ngất đi chẳng biết là bao lâu, cho đến khi từ bên ngoài có tiếng bước chân dồn dập chạy rồi tiếng hỏi to của ông Thiện: - Bà Ngọc ơi! Gọi không nghe trả lời, ông vặn nắm cửa thì cửa khóa trong. Gọi lần nữa vẫn im lặng. Cuối cùng ông phải chạy về phòng riêng lấy xâu chìa khóa dự phòng sang mở. Vừa đẩy cửa phòng bước vào ông Thiện đã hoảng hốt khi thấy bà Ngọc nằm bất động trên giường mà chung quanh toàn là máu! - Trời ơi! Cứ ngỡ bà ta bị giết, nên ông Thiện không dám lại gần, ông kêu to cho hai con gái: - Hoa ơi, Huyền ơi? Hai cô gái đang ngủ ở tầng dưới vội chạy lên ngay và họ cũng khựng lại, ngơ ngác đứng nhìn từ ngoài chớ không dám bước vô. ông Thiện sợ hãi: - Hình như bà ấy bị đâm chết! Trước sự việc kinh khủng đó, ông Thiện phải điện báo cho cảnh sát. Đến khi xe cảnh sát tới, họ bước vào khám hiện trường thì lúc ấy mọi người mới vô cùng ngạc nhiên, bởi bà Ngọc không hề chết! Bà ta bò dậy, nhìn mọi người đến khi nhìn lại thân thể mình thì bà thét lên, rồi có lẽ vì quá sợ hãi, bà ngất đi lần nữa! Cảnh sát định chuyển bà ta đi bệnh viện thì bà tỉnh lại, hỏi bằng sự hoảng loạn: - Bà ta đâu rồi? Bà ta quay khắp nơi tìm kiếm, cuối cùng chỉ tay về phía cửa sổ, lắp bắp: - Nó... nó chui qua... Một cảnh sát tới cửa sổ quan sát rồi nói ngay: - Cửa sổ cài chốt bên trong thì làm gì có người đột nhập vào qua chỗ đó. Ông Thiện cũng nói: - Lúc tôi mở cửa cái vào thì chốt bên trong cũng còn khóa nguyên. Như vậy... Họ đưa mắt nhìn với sự hoài nghi. Nhất là khi sau đó họ phát hiện ra khắp thân thể bà Ngọc không hề có vết thương nào. Một người hỏi: - Bà bày ra việc này nhằm mục đích gì? Bà Ngọc ngơ ngác: - Cái gì bày ra? Mấy người không thấy tui bị như thế này sao? - Chỉ có máu vấy khắp giường chứ bà có thương tích gì đâu? Quay sang ông Thiện, một cảnh sát hỏi: - Bà ấy có bị tâm thần không? Ông Thiện lắc đầu: - Không, bà ấy vẫn bình thường. Nhưng Huyền thì la lên: - Bà ấy bị lên cơn đó! Do bị nghi ngờ dựng chuyện nên bà Ngọc bị hạch hỏi đủ thứ và cuối cùng một viên cảnh sát đã cảnh cáo: - Nếu bà còn giỡn mặt như thế này nữa thì chúng tôi không để yên đâu! Mặc cho bà ta lớn tiếng thanh minh, nhưng các viên cảnh sát vẫn không tin. Đến lúc họ về rồi, bà ta lại trút giận lên chị em Huyền: - Lúc nãy đứa nào nói gì? Ông Thiện thì không muốn rầy rà trong nhà nên nói xuôi: - Đã không có chuyện gì thì thôi, bà đi thay đồ đi. Khác với trước kia lúc nào cũng lép vế, sợ sệt, lúc này tự dưng Huyền tự tin hẳn lên, cô trả treo ngay: - Tôi nói bà lên cơn đó! Từ ngày về nhà này bà ta là xếp, chưa từng nghe những lời lẽ chướng tai như vậy, nên bà ta trừng mắt nhìn Huyền: - Con kia, mày vừa nói gì, nói lại tao nghe coi! Huyền cũng quắc mắt: - Từ nay tui miễn có sợ bà đi, tui nói... Mụ ta quen thói đanh đá, không đợi Huyền nói dứt lời, đã nhào tới định chụp lấy cô bé. Tuy nhiên, bỗng dưng mụ khuỵu xuống và kêu thét lên như vừa bị ai đánh té! Từ khóe miệng bà ta trào ra hai dòng máu. Phản ứng tự nhiên, ông Thiện kêu lên: - Bà sao vậy? Ông bước tới vừa định đỡ bà ta lên thì chợt kinh ngạc: - Ai viết chữ gì trên ngực bà thế này? Lúc này nhìn kỹ mọi người mới thấy ngay giữa ngực áo bà Ngọc có một dòng chữ rất sắc nét: "Hãy trả lại những gì đã cướp!". Ông Thiện còn chưa lên tiếng thì Huyền đã reo lên: - Đúng là mẹ rồi! Mẹ ơi, trả thù đi mẹ! Cô bé quá kích động nên vừa chạy xuống lầu vừa la toáng lên: - Ông trời có mắt bà con ơi! Bớ mọi người, hãy tới coi mẹ con trả thù mụ phù thủy nè! Trái với thường khi, lúc ấy tuy vẫn còn tỉnh táo, nhưng mụ Ngọc vẫn không phản ứng gì trước những lời của Huyền. Trái lại, mụ ta lại co rúm người lại, vẻ sợ hãi tột độ! Không muốn làm kinh động lối xóm, nên ông Thiện xuống nhà khuyên nhủ Huyền: - Rồi bà ta sẽ trả giá, nhưng con làm quá lại không hay. Hoa cũng nói: - Coi bộ mụ ta phải một phen kinh hãi lắm rồi, kệ mụ. Huyền vẫn còn phấn khích: - Con đoán là vừa rồi mụ ta đã bị mẹ về trị cho một trận nên thân rồi, chứ không phải tự nhiên đâu. Ba có thấy dòng chữ trên ngực mụ ta không, nó giống hệt tuồng chữ của mẹ! Ông Thiện cũng ngầm hiểu như vậy, nhưng không nói ra. Chỉ có Hoa là thắc mắc: - Máu vấy đỏ trên giường và quanh người mụ ta là gì vậy, có đúng là máu không? Mà sao mụ ta không bị thương? Hay là... Câu nói của Hoa làm cho Huyền giật mình: - Không lẽ máu đó là của... Hoa hoảng hốt: - Mẹ bị bà ta làm bị thương? Huyền vụt chạy bay lên lầu, cô tông cửa vào phòng bà Ngọc, định sẽ truy xem bà ta đã làm gì mẹ mình. Nhưng khi cửa phòng vừa bật mở ra thì cô đứng sựng lại, trố mắt nhìn một cảnh tượng lạ thường trước mắt: Trên bốn vách tường quanh phòng đều có những dòng chữ đỏ như máu, giống hệt dòng chữ trên ngực bà ta: "Hãy trả lại những gì đã cướp của tao!". Mụ Ngọc thì vẫn nằm yên dưới nền gạch... *** Bà Mai bước thật nhanh sau khi phát hiện có người cứ đi theo sau mình hoài. Nhưng bà ta càng đi nhanh thì người phía sau lại càng bước nhanh hơn. Qua khỏi đoạn đường ngắn là tới một con hẻm dài hơn dẫn về nhà, bà Mai hơi yên tâm, bởi đây là xóm quen, có gì bà ta chỉ cần la lên một tiếng là có người tiếp cứu ngay. Nhưng tại sao bà ta lại sợ một người cũng là phụ nữ và cũng cỡ tuổi như mình? Có lẽ do thói quen thôi. Đến khi cách nhà chừng vài chục mét thì bà Mai thở phào, bà bước nhanh, vừa ngoái đầu nhìn lại sau. Người kia không còn theo nữa. - Có lẽ mình lo xa... Bà Mai vừa lẩm bẩm vừa tra chìa khóa mở cửa. Đèn vừa bật sáng thì bà ta cũng kêu lên: - Bà... tại sao...? Trước mặt bà có một người phụ nữ ngồi sẵn ở ghế phòng khách. Trông bà ta giống y như người vừa đi theo ngoài đường, khiến bà Mai biến sắc: - Bà... vừa rồi... Người kia nhếch mép cười: - Bà buộc tôi phải theo hơi mỏi chân. Hình như bà cố tình tránh mặt, trong lúc tôi chỉ muốn hỏi bà vài câu rồi thôi. Đành vậy... - Bà là ai? Sao lại vô nhà tôi được? Đó là chưa kể, chỉ mới thấy đó, sao bà ta lại đi quá nhanh và lọt được vào nhà trước cả chủ nhà! Bà Mai hơi run. - Khách đến nhà sao không mời được ly nước sao? Đáng lý phải hỏi cho ra khách là ai, nhưng tự dưng bà Mai lại dịu giọng: - Tôi xin lỗi... Bà bước vào phòng riêng với ý định dùng điện thoại riêng gọi ra ngoài báo tin cho ai đó. Nhưng ý định chưa thực hiện được thì đã nghe từ bên ngoài nói vọng vào: - Báo tin cũng vô ích thôi. Tốt nhất là bà hãy ra nói chuyện với tôi vài câu. Tôi sẽ không ở đây lâu. Mời bà. Giọng nói lịch sự của bà ta càng làm cho bà Mai rợn người hơn. Bà riu ríu bước ra như bị sai khiến. - Bà ngồi đi cho. Ai lại tiếp khách mà đứng bao giờ. Bà Mai cóng cả tay chân, phải vịn vào thành ghế mới ngồi xuống được. Trong giọng nói của người khách như có một ma lực gì đó ghê gớm, khiến cho người đối diện chẳng những không dám nhìn thẳng, mà thậm chí còn không chịu nổi âm thanh từ giọng nói của bà ta. - Bà là tác giả của những thứ này? Vừa nói người khách vừa ném ra trước mặt bà Mai một gói nhỏ toàn những tờ bùa chú màu vàng. Thoạt nhìn thấy bà Mai đã há hốc mồm, run rẩy: - Tôi... tôi... Bà khách cười khẩy: - Hỏi bà vậy thôi, chớ khi tôi đã tới đây tức là đã xác định chính bà là tác giả của các thứ này rồi, phải không bà Mai Liên, Miên Lai! Bà ta còn biết cả biệt danh của mình. Bà Mai càng run hơn: - Tôi... tôi chỉ... chỉ làm chơi thôi. Vị khách nghiêm giọng, gắt lên: - Làm chơi mà để hại người, triệt linh hồn không cho người ta siêu thoát, ngăn không cho người ta bảo vệ con cái người thân yêu của mình sao! Bà ta nói tới đó thì vụt kéo phăng mái tóc đang xõa trước trán xuống, hỏi to: - Làm chơi mà suýt đâm thủng hai con mắt người ta như vầy sao! Lộ ra hai lỗ thủng khá sâu ngay trên chân mày hai bên mắt của bà ta. Giọng bà càng trở nên dễ sợ hơn: - Nếu không ngăn kịp thời thì giờ này bà và con mụ kia đã thực hiện được ý đồ lấy trọn gói tài sản của một người đã chết. Hành vi tội ác đó làm sao che mắt được ai, hả! Rồi bà lại rít lên: - Cái đêm ở ngôi nhà hoang đó, nếu bà và con mụ ác nhân kia thành công thì giờ này còn gì là cái gia đình vốn đã bị nát tan vì lòng dạ con mụ kia... Bà ta nói tới đó bỗng vụt khóc òa lên, giọng nghe sắc lạnh và thê lương lạ thường! Bà Mai phát sợ, định bước lùi ra thì chợt bị bàn tay vươn ra chụp lấy. Như bị điểm huyệt, bà ta đờ người ra, trước khi bà khách ngừng khóc và hỏi: - Ai bày cho mấy người cái trò ma quỷ hại người này? Có phải lão tài xế nhà ông Thiện không? Bà Mai lắp bắp: - Tôi... tôi không... - Khỏi chối. Trước khi tới đây tôi đã ghé thăm lão ấy ở Cát Lái, nơi mà bọn các người có cái am tu tiên giả hiệu, lừa bịp thiên hạ! Chỉ tội cho lão Thiện, chỉ vì khờ khạo, tin người mà bị bán đứng, suýt mất mạng! Bị điểm đúng tim đen, mụ Mai chỉ còn biết ngớ người ra, chờ đợi điều tồi tệ nhất xảy ra. Tuy nhiên, chợt bà khách đứng lên: - Màn chưa hạ ở đây đâu, bởi mưu ma chước quỷ của bọn các người đâu chỉ đơn giản thế này. Gieo bao nhiêu thì gặt bấy nhiêu, nhớ như vậy! Bà ta nói xong bước thẳng ra cửa. Thoắt cái đã không còn thấy bóng. Mọi việc diễn ra quá nhanh khiến cho mụ Mai không kịp phản ứng gì... - Có chuyện gì vậy? Người hỏi và vừa bước vô là bà Kim Ngọc. Mụ Mai cứ tưởng người khách lúc nãy trở lại nên suýt kêu lên, chừng nhận ra người quen, bà ta dồn dập: - Bà không tới sớm một chút, cùng tôi... Bà Kim Ngọc hỏi: - Chuyện gì sao bà gọi điện cho tôi rồi im lặng không nói gì hết, làm tôi lo quá nên chạy qua đây. Có chuyện gì vậy? Phải định thần lại một lúc bà ta mới thuật lại mọi chuyện. Vừa nghe xong bà Ngọc hốt hoảng: - Bà nói... người đó vừa mới ở đây ra? - Chưa đầy một phút. - Đúng là nó rồi. - Bà nói nó là ai? Bà Ngọc buông người xuống ghế, thất thần: - Điều không mong đợi đã tới rồi! Rồi nhìn không thấy ai khác trong nhà, mụ Ngọc vạch ngực áo ra chỉ vào đó: - Bà xem thì biết! Dòng chữ màu đỏ như máu, hiện trên da ngực rất rõ ràng: "Hãy trả lại những gì đã cướp của tao!", vừa nhìn thấy bà Mai đã sợ sệt ngồi lùi ra: - Cái này... Tự dưng bà ta cảm thấy ngứa ở ngực, vội đưa tay chụp lên đó và bằng đôi tay run run, kéo áo ra... và lần này mụ Ngọc kêu lên: - Bà cũng có như tui! Trên ngực người đàn bà này hiện lên dòng chữ: "Phải trả giá cho những gì đã làm!". Hoảng quá mụ đưa tay chà lên dòng chữ hy vọng sẽ tẩy xóa chúng. Nhưng chỉ hoài công, bởi những chữ ấy chừng như đã nổi lên từ trong da thịt, càng tẩy thì nó càng rõ hơn và còn gây rát bỏng thêm! Mụ Ngọc chép miệng: - Tôi đã thử xóa rồi, nó như một vết xăm, không tài nào xóa được. - Nhưng mụ ấy đâu có đụng vào ngực tôi, mà sao... Chợt nhớ ra, bà ta kêu lên: - Phải rồi, chắc là lúc con mụ ấy nắm tay tôi! Bà Ngọc cũng thuật lại chuyện xảy ra ở nhà mình. Nghe xong mụ Mai sợ hãi, nhìn trước nhìn sau rồi nói rất khẽ: - Chắc là phải chuyển chỗ ở ngay thôi, ở đây không yên rồi... Mụ Ngọc thất vọng: - Tôi đang tính qua ở tạm với bà, mà kiểu này thì không ổn rồi. Bà còn chỗ nào khác không? Bà Mai suy nghĩ một lúc rồi lắc đầu: - Kể cả cái am tu tiên của tôi bên Cát Lái cũng bị phát hiện rồi, còn biết nơi nào là an toàn nữa! Hai mụ đàn bà đầy mưu mẹo, vậy mà giờ đây đang lâm vào thế bất an. Họ bàn mãi, cuối cùng với bản chất gian xảo của mình, mụ Ngọc kề tai mụ kia nói gì đó một lúc. Cả hai tỏ ra đắc ý: - Mình phải ra tay trước thôi! Trước khi ra về, mụ Ngọc dặn kỹ: - Bà đừng liên lạc với tôi tại nhà. Chuyện đó để cho Ba tài xế lo. - Mà nè, mụ ta đã biết rõ chuyện làm của Ba tài xế rồi, không êm đâu. - Vậy tôi sẽ có cách khác, bà cứ yên tâm. Mụ Ngọc hấp tấp ra về. Bà ta cẩn thận nhìn trước nhìn sau rất kỹ trước khi đi vào con hẻm nhỏ, mãi đến khi ra tới đường lớn mới thở phào nhẹ nhõm. Chiếc xích lô chở mụ ta tới lúc nãy vẫn còn đậu chờ. Mụ hất hàm bảo: - Chạy về ngay nhà tôi! - Bà không đi chùa như đã dặn lúc nãy? - Thôi, tôi có chuyện này gấp hơn. Mụ quá căng thẳng, nên xe vừa chạy một quãng đã nhắm mắt lại dưỡng thần. Lát sau khi mở mắt ra mụ ngạc nhiên hỏi: - Chú chạy đi đâu vậy? Ở đây giống như... Người phu xe không trả lời, có thể là không nghe, bởi lúc đó xe cộ chung quanh rất đông. Bà Ngọc phải lặp lại: - Đây đâu phải đường về nhà! Vẫn không nghe anh ta đáp, mà xe thì như được tăng tốc độ, vượt qua mặt nhiều xe khác. Cuối cùng rẽ vào một con đường nhỏ hơn, vắng vẻ. Lúc này mụ Ngọc mới nhận ra, mụ kêu lên: - Vô khu nghĩa trang này làm gì? Tay phu xe lúc này mới lên tiếng, giọng hơi lạ: - Tới đây thăm người quen! - Kìa, dừng lại! Nhưng không còn kịp nữa. Chiếc xích lô phom phom chạy thẳng vào cổng nghĩa trang. Cho đến khi ngừng lại thì mụ Ngọc mới ngớ ra, bởi trước mặt mụ ta là hằng hà những ngôi mộ, chẳng biết đâu là đâu. Rồi chẳng cần ai nhắc nhở, mụ ta bước thẳng tới trước, đi giữa dãy mồ mả. Đến một ngôi mộ xây, có tấm bia đề dòng chữ: Mộ phần của Ngọc Lệ. Lúc này mụ ta mới hốt hoảng: - Mộ của...của... - Của người đã bị mụ hại chết! Mụ Ngọc ngẩng lên nhìn thì thấy người vừa nói chính là bác phu xe. Giọng bác trở nên sắc lạnh: - Những toan tính xấu xa sẽ phải trả giá, càng để lâu cái giá sẽ càng đắt! Mụ Ngọc muốn nói gì đó, nhưng hình như mụ ta không còn khả năng ứng khẩu. Rồi như một thân cây đổ, mụ ta khuỵu chân xuống, theo thế quỳ gối, đôi mắt nhìn thẳng vào tấm bia, mà hình như lúc ấy di ảnh của bà Ngọc Lệ đang long lên, đầy căm thù! Người phu xe đã bỏ đi mất, nhưng mụ Ngọc vẫn quỳ đó, không dám nhúc nhích, cũng không hé môi lấy nửa lời... Nghĩa địa giờ này vắng lặng như tờ, không có bóng ai khác, nhưng văng vẳng như có tiếng thì thầm của ai đó... Âm thanh càng lúc càng rõ hơn, lát sau chính mụ Ngọc điếng hồn khi nhận ra tiếng ấy phát ra từ dưới mồ! Âm thanh không thành câu, nhưng những gì rót vào tai mụ Ngọc hầu như mụ ta hiểu hết, nên cứ thỉnh thoảng lại gật đầu và chốc chốc lại nói một mình: - Tôi biết tội mình. Tôi biết... - Chỉ vì lòng tham, chỉ vì ích kỷ muốn chiếm đoạt nên tôi... Không nghe lời chất vấn, nhưng hết câu trả lời này đến câu khác, mụ Ngọc như tự thú: - Tôi muốn chiếm đoạt cái tài sản đó. Tôi muốn giết chết hết họ bằng nhiều cách... mà cách tốt nhất là một cuộc lật xe có chủ tâm. Mặt trời lúc ấy đã lên trên đỉnh đầu, nắng như đổ lửa, vậy mà mụ đàn bà ấy vẫn quỳ bất động, miệng thì không ngớt nói và nói... Cho đến khi xế bóng thì cũng là lúc người bảo vệ nghĩa trang bước tới. Ông ta lên tiếng gọi: - Bà ơi! Gọi đến lần thứ ba chẳng nghe đáp, lúc ấy ông ta mới đưa tay lay nhẹ mụ Ngọc. Và, như một khúc gỗ, mụ ta ngã sõng soài trên đất. Vừa định đỡ mụ ta dậy thì ngay sau lưng ông ta đã có người lên tiếng: - Để tôi, bà ấy do tôi chở đến, có lẽ do bị huyết áp. Người phu xe nhẹ nhàng bế xốc mụ ta lên, đi ra chiếc xích lô đậu sẵn. Và cũng như lúc nãy, lão ta cứ đạp thẳng một mạch về hướng mà chắc lúc tỉnh mụ Ngọc cũng không ngờ tới. Khi ngừng lại trước ngôi nhà hoang phế thì người phu xe lại bế mụ Ngọc vào trong. Đặt mụ ta xuống giữa gian phòng ngập trong bóng tối, lúc ấy lão mới thở hắt ra, chừng như vừa trút được gánh nặng, mà cũng có thể là do đã ráng quá sức. Bởi vừa lúc ấy lão cũng đã giở chiếc nón rộng vành xuống, để lộ ra một khuôn mặt đàn bà, với mái tóc dài vừa buông xuống quá lưng! Đúng lúc ấy, ở ngoài sân cũng vừa có một chiếc xe hơi ngừng lại. Lát sau một người đàn ông có tuổi, nhưng dáng vẻ khỏe mạnh, hai bên vai vác hai cái bao tải cột kín miệng, bước vào. Người đàn ông đặt hai cái bao xuống vừa nhìn quanh và tỏ vẻ hài lòng khi thấy mọi bề yên ắng. Ông ta nhanh chóng mở miệng hai bao tải ra và nói một mình, nhưng đủ lớn, bởi không sợ ai nghe thấy: - Yên tâm mà nằm đây đi, hai con quỷ cái, chỉ lát nữa thôi thì chúng mày tiêu ma luôn! Thì ra trong hai bao tải là hai cô gái nằm bất động, nhưng thân thể còn mềm mại, chứng tỏ là chỉ ngất đi chứ chưa chết. Lại nhìn trước sau lần nữa, xong xuôi lão ta quay ra, khóa chặt cửa bên ngoài. Cẩn thận hơn, lão ta đi một vòng quanh nhà, quan sát trước sau, thấy tất cả cửa nẻo đều được khóa cẩn thận. Lúc ấy lão ta mới yên tâm lên xe, rồ máy chạy từ từ ra khỏi nơi đó. Để lại sau lưng những điều kỳ lạ mà chính lão ta cũng không ngờ tới... *** Từ trong bóng tối của gian phòng ẩm thấp, mụ Ngọc choàng tỉnh dậy. Mụ ta ngơ ngác định lên tiếng thì chợt tay phải sờ đụng một thân thể của ai đó. Người bị sờ cũng bật dậy và hỏi: - Ai vậy? Nghe giọng quen quen, mụ Ngọc hỏi khẽ: - Chị Mai hả? - Ủa, bà hả Ngọc? Họ còn định hỏi thêm, nhưng chợt bà Ngọc nghe bên trái mình có một tiếng động, đưa tay sờ thì hoảng hốt suýt kêu lên. Bởi cạnh bà chẳng biết tự lúc nào đã có sự hiện diện của một người đàn ông! - Ai? Cả hai mụ đều không hỏi thêm được tiếng nào thì đã nghe giọng rất khẽ: - Tôi đây, Thầy Tám... Mụ Mai ngạc nhiên: - Sao ông ở đây? - Tui cũng đâu có biết... Còn hai bà, sao lại... Hai mụ đưa tay chận lại, không cho lão pháp sư trụ trì am tu tiên ở Cát Lái nói. Bởi vừa lúc ấy họ đã nhìn thấy ở phòng bên ngoài có khá đông người đang ngồi vây chung quanh một phụ nữ mặc toàn trắng, mà vừa trông thấy là cả hai đã điếng hồn. - Là bà ta! Vây quanh người phụ nữ vận đồ trắng gồm có ông Thiện, chị em Hoa, Huyền và nếu mụ Ngọc bình tâm có thể nhớ ra, đó là ông bảo vệ nghĩa trang. Ông ta hướng về người phụ nữ ngồi giữa nói một cách kính cẩn: - Lúc đầu tui không để ý, nhưng qua lần sau thì tôi thấy có một chiếc xe hơi, giống hệt chiếc mà ông Thiện đây đi, do một người đàn ông lớn tuổi, khỏe mạnh lái, đậu phía ngoài cổng nghĩa trang, rồi tài xế đi thẳng vào đây. Ông ta đi thẳng vô chỗ ngôi mộ của bà Ngọc Lệ, sau khi quan sát không thấy ai thì bắt đầu dùng cưa máy loại nhỏ, thứ cưa có thể cắt đứt sắt, cưa đứt một góc ngôi mộ. Tôi là người duy nhất nhìn thấy nhờ đứng ở một nơi khuất, tôi định chạy tới hỏi, nhưng sau đó thấy ông không lấy gì trong mộ ra, mà lại nhét thứ gì đó vô trong mộ. Tôi còn đang ngạc nhiên, chưa biết phải làm gì thì lúc đó có cô đây chạy tới, trong khi người lái xe hơi vừa đi ra nên không hay biết. Chính tôi là người nhận giúp thuê thợ trám lại một chỗ bị vỡ cho cô đây. Lão vừa nói vừa chỉ sang Huyền. Huyền gật đầu: - Lúc ấy cháu cũng không biết bác là bảo vệ nghĩa trang, nên đã không kịp xin phép bác để đốt những thứ lấy ra từ trong mộ. - Tôi nhìn thấy hết và cũng đã mục kích việc bức di ảnh của bà đây chảy máu mắt. Thú thiệt, đã từ lâu, đêm đêm tôi thường nghe tiếng khóc từ ngôi mộ đó. Tôi đoán là người chết có nỗi oan ức gì đó, tôi muốn tìm cách báo tin cho gia đình biết, nhưng ngặt nỗi là không biết họ ở đâu. Ông ngừng nói, đưa mắt nhìn người phụ nữ trùm kín mặt nãy giờ vẫn ngồi im lặng. Vẫn chẳng có tín hiệu gì từ bà, trong lúc ông Thiện lên tiếng: - Anh chờ một chút, người này tới rồi anh nhận diện xem có đúng là kẻ đã đào mộ không? Khoảng 5 phút sau, có tiếng xe ngừng ngoài sân và liền đó một người đàn ông cao lớn bước vào. Huyền kêu lên: - Chú Ba tài xế! Hoa nói khẽ: - Chính chú đã vác tụi mình trong bao tải tới đây. Lúc ấy chị còn tỉnh, nhưng không dám kêu. Nhìn thấy cảnh trước mắt, Ba tài xế muốn tháo lui, nhưng bỗng chân như bị ai níu lại, rồi như bị một lực hút mạnh, lão lao nhanh tới và quỳ xuống ngay trước mặt người phụ nữ? Vẫn không nghe người đó lên tiếng, nhưng tự động lão tài xế thành khẩn như thú tội: - Dạ, xin bà chủ tha thứ cho thằng Ba dại dột này. Chính tôi đã cấu kết với con mụ Ngọc để hại bà. Ngay từ lúc bà và Ngọc còn là bạn thân thiết của nhau, khi lui tới nhà chơi mụ ta đã ngầm móc nối với tôi để tìm cách lừa bà vô một âm mưu đê tiện... Nghe tới đó Huyền đã sôi máu, cô định lên tiếng thì lão Ba đã tiếp lời: - Lúc bà bị bệnh nằm liệt cả tháng trời cũng là lúc tôi nghe theo sự sai khiến của mụ Ngọc, mỗi ngày khi đưa rước bác sĩ tới nhà khám bệnh, cho thuốc, tôi đã lén tráo thuốc, cho bà chủ uống những loại thuốc lấy từ lão pháp sư ở am tu tiên bên Cát Lái, do mụ Mai chủ mưu. Những loại thuốc bà chủ uống là độc dược, chỉ uống trong vài ngày là bị xuất huyết nội, dẫn đến cái chết không phương thuốc nào chữa khỏi! Bởi vậy bà chủ đã chết khi hai cô Hoa và Huyền đây chỉ mới bảy tám tuổi. Khi bà chủ chết được vài tháng là mụ Mai thực hiện ngay ý đồ, mụ ta tìm cách chèo kéo ông chủ, một bữa gài bẫy để ông chủ mắc mưu tới dự một tiệc rượu ở một khách sạn, khi ông chủ bị say do bị bỏ thuốc mê trong rượu thì mụ ta nhờ tôi dìu ông lên phòng và... ông đã vô tình ăn nằm với mụ ta. Khi ông chủ tỉnh lại thì mụ ta bù lu bù loa lên, nói mình bị làm nhục và buộc ông chủ phải có trách nhiệm với mình. Do không biết bị lừa, nên ông chủ đã chấp nhận cho mụ ta quan hệ và từ đó mụ dần dần thay thế vai trò bà chủ... Lão ta ngừng nói, lần này nhìn sang ông Thiện, rồi tiếp: - Sau khi đã thực hiện thành công âm mưu ban đầu, mụ Ngọc vẫn chưa hả dạ, mụ còn muốn tiến hành bước thứ hai là loại bỏ hai cô Hoa và Huyền, bởi sự có mặt của hai cô trong nhà khác nào cái gai trước mắt mụ. Đã ba lần mụ sai tôi chở ông và hai cô đi ra trang trại, xúi tôi tìm cách lái xe lao xuống vực, rồi nhảy ra khỏi xe, bỏ mặc cho ba cha con. Nhưng tôi chưa làm được. Rồi lần cuối cùng, mụ nghe theo mụ Mai và lão pháp sư Tám, định cho mấy cha con uống bùa điên, sau đó ếm cho vong của bà chủ không về báo oán được. Tôi cũng là người đứng ra thực hiện... Tôi đáng tội chết! Huyền không kiềm chế được, đã nhảy tới chụp lấy lão tài xế, vừa đánh vừa gào thét: - Quân dã man! Đồ giết người! Ông Thiện thì trầm tĩnh hơn, ông chỉ chua xót nhìn người tài xế bao nhiêu năm của mình, thở dài: - Tôi có bao giờ xử tệ với chú đâu, vậy mà... Ba tài xế rên rỉ: - Tôi vì tham tiền mà tối con mắt, tôi lạy ông chủ. Ông ta lạy sâu nhiều lần, mặc cho Huyền liên tục đấm đá. Ông Thiện không đành lòng, liền nói: - Thôi con, mọi việc có trời. Vả lại... Ông định nói tới người phụ nữ ngồi trước mặt, nhưng hơi ngượng, nên thôi. Trong lúc Hoa nhỏ nhẹ lên tiếng: - Mẹ, làm sao bây giờ? Người mà Hoa gọi là mẹ vẫn yên lặng. Một làn gió nhẹ thổi qua lay động vạt áo của bà, lúc này những người đối diện mới nhận ra thân thể bà hầu như không có, giống như con bù nhìn khoác áo bên ngoài! Hoa kêu lên: - Mẹ! Huyền nghe gọi quay lại và cô òa lên khóc: - Mẹ, sao mẹ như thế này! Lúc đó thân thể bà vụt đứng lên và chẳng khác gì một bộ quần áo không người mặc, bay lơ lửng giữa không trung! Ông Thiện giờ mới dám nói với bà: - Tôi xin lỗi. Bà muốn xử sao tôi cũng chịu. Nhưng cái bóng như sương khói kia đã từ từ biến vào khoảng không ngoài vườn. Tuy nhiên, trước khi biến mất bà còn nói vọng vào phía trong: - Ra đi! Trước sự ngạc nhiên của mọi người, từ trong phòng tối ba người lần lượt xuất hiện: Mụ Ngọc, Mai và lão pháp sư Tám - Họ khúm núm không dám ngẩng mặt lên và tới quỳ bên cạnh tên tài xế. Không nói lời nào, bởi lúc ấy dù có muốn nói thì cả lũ họ cũng chẳng thể nào cất tiếng được, bởi nếu nhìn kỹ lúc ấy mới thấy họ đã mất lưỡi! Mụ Ngọc đổ gục xuống trước, mụ há to miệng như để cho mọi người thấy cái miệng đầy máu, vô cùng ghê rợn của mụ ta! Hai người kia lần lượt cũng làm như vậy. Nhìn cảnh tượng ấy, dù có phẫn uất tột độ, nhưng chị em Huyền cũng không thể lên tiếng. Ông Thiện quá đỗi kinh hãi, lùi lại định bảo vệ hai con, bỗng vấp phải cái chân của Ba tài xế, khiến ông suýt ngã và cũng nhờ thế đã phát hiện ra lúc ấy gã tài xế đang nằm bất động, miệng trào máu tươi lênh láng. Hoa yếu bóng vía nên vừa run vừa bám chặt vào em gái. Huyền thì mím chặt môi, nhìn lũ người kia không chớp mắt, theo dõi mọi động tĩnh của họ. Nhưng thật ra lúc ấy cả bọn họ đâu còn gì nữa để mà dõi theo. Lão pháp sư Tám thường khi lắm trò, bày ra lắm thứ hại người, vậy mà bây giờ như một mớ giẻ rách, nằm lăn lộn, rên la. Sợ Huyền manh động nên ông Thiện kéo tay hai con đi: - Mình không cần làm gì hết, họ đã đền tội rồi còn gì. Huyền lúc này mới nhớ đến mẹ: - Không biết tại sao mẹ lại bỏ đi? Hoa nhắc: - Em không nhớ khi cùng chúng ta tới đây mẹ đã nói là mẹ luôn luôn ở bên cạnh mình. Chắc chắn mẹ không bỏ đi đâu. Ông Thiện cũng nói: - Mẹ con sắp đặt hết mọi chuyện này, nên có lẽ bà ấy biết phải làm gì. Ba nghĩ lúc này mình nên trở về nhà thì hơn. *** Có bốn con người biến mất khỏi thế gian mà chẳng ai biết họ đi đâu. Đó là mụ Ngọc, mụ Mai, lão pháp sư Tám và tài xế Ba. Có rất nhiều tin đồn quanh họ. Một trong những tin đó là họ đi chung trong một chuyến hành hương rồi xe bị rơi xuống vực ở một đoạn đèo miền Trung, xe cháy mất xác.Người nhà họ có đi kiếm tìm, cuối cùng đành phải chấp nhận giả thuyết trên. Trong khi đó, thật sự họ đang có mặt ở ngôi nhà hoang. Không biết là họ còn sống hay đã chết, nhưng cả bốn người họ như những bóng ma, ban ngày biến mất trong ngôi nhà huyền bí thâm u đó, chỉ ban đêm mới thấy thấp thoáng bóng hình của họ. Nhiều người chung quanh đồn rằng đó là những hồn ma, nên càng ngày càng thêu dệt thêm nhiều chuyện ly kỳ. Có điều chắc chắn họ là những người câm, tâm thần bấn loạn và thỉnh thoảng lúc nửa đêm thường cất tiếng kêu như chó tru. Ngôi nhà hoang từ ấy hầu như không còn ai dám lui tới. Trong khi đó... Tại nhà ông Thiện mọi việc lại hoàn toàn trái ngược. Nếu mấy năm qua không khí trong nhà luôn căng thẳng giữa hai cô con gái với bà mẹ ghẻ, thì giờ đây một hoạt cảnh gia đình đầy ắp tiếng cười. Hai cô con gái luôn quấn quít bên cha và lúc nào họ cũng ngồi quanh bàn thờ của người mẹ quá cố. Huyền quả quyết: - Mẹ không sống lại bằng xương bằng thịt được, nhưng mẹ đang có mặt trong ngôi nhà này. Mẹ sẽ về bất cứ lúc nào nhà này gọi mẹ! Điều đó người ngoài không thể biết được và cũng khó tin, nhưng đang là sự thật! Hằng ngày đích thân Huyền nấu những món mà khi sinh tiền mẹ thích ăn, hoặc cúng những trái cây mà cha kể là mẹ khoái khẩu. Lúc còn con gái... Hầu như tất cả những món đồ cúng trên bàn thờ đều được ăn hết! Do có những hiện tượng lạ như thế, nên nhà ông Thiện từ đó không thuê người ngoài vào giúp việc. Không một ai hay biết chuyện ấy... Nếu tinh ý, vào những đêm nhà có yến tiệc, thường tổ chức trên lầu, thì từ dưới đường nhìn lên có thể thấy được vây quanh bàn tiệc luôn có bốn người: Ba cha con ông Thiện và một bóng người phụ nữ luôn ngồi giữa họ. Có một người phụ nữ ở cõi âm đã đòi được chồng sống ở dương thế... Phần 2 Ở vùng kinh xáng này không nơi nào đông khách bằng nhà Huyện Hỉ, bởi vậy chuyện một vài chiếc ghe bầu sang trọng ghé vào bến cùng lúc không phải là chuyện lạ. Tuy nhiên, lần này có đến bốn chiếc ghe sơn phết sặc sỡ, rèm sáo treo đẹp mắt ghé một lượt đã làm cho đám gia nhân nhốn nháo cả lên. Mà người đứng ngồi không yên lại là cô con gái rượu của nhà Huyện Hỉ. Đã suốt từ sáng sớm, lúc nào cô Hai Tuyết cũng hỏi thăm con Năm Nở, đứa tớ gái riêng của mình: - Có thấy khách nào tới chưa? Biết cô chủ mình đang nóng lòng đợi một ai đó, nên Năm Nở trấn an: - Cô cứ để con canh chừng cho, hễ có khách tới là con chạy vô báo tin ngay! Đến lúc thấy đoàn ghe bầu vừa cặp bến, con Nở đã ba chân bốn cẳng chạy bay vào phòng riêng của chủ thông báo liền: - Tới rồi cô Hai ơi! Hai Tuyết quýnh lên: - Đông người không? - Dạ, tới bốn ghe lận, có đến vài chục người! Dù đã chuẩn bị sẵn, nhưng Tuyết vẫn không bình tĩnh khi hết chụp món này lại chụp sang món khác, một lúc vẫn chưa chọn được cái áo nào để mặc vào. Con Nở lanh lợi, biết tâm trạng chủ nên nó nói ngay: - Cô Hai nên bận cái áo màu hồng, đẹp hơn màu xanh lục kia. Lời nhắc của con Nở đã khiến cho Tuyết nhớ ra là đã cả chục lần cô mặc thử chiếc áo dài màu cánh sen mà lần nào nhìn vô kính cũng thấy hài lòng. Vậy thì tại sao phải đổi màu khác... Con Nở nhanh nhẩu chạy trở ra, nó nói với lại: - Khi nào ông bà gọi, con sẽ chạy vô cho cô hay! Khách từ trên bốn chiếc ghe bầu bước xuống quả là đông như lời mô tả của con Nở. Mà người nào cũng ăn mặc sang trọng, quần lãnh áo lụa đủ sắc màu. Lại có những người bưng mâm quả nữa, giống như một đám hỏi. Con Nở đứng nhìn mà không chớp mắt, nó tự hỏi: - Hổng lẽ bữa nay đám hỏi cô Hai Tuyết? Chuyện trọng đại này sao nó không nghe cô chủ nói? Bởi nhất nhất chuyện gì cô chủ cũng thường thổ lộ với nó, vì cô là người sống khép kín, ít đi lại, không có bạn cũng không se sua, đỏng đảnh như hầu hết các cô tiểu thơ nhà giàu khác. Khi đoàn khách kéo hết vào nhà, được đích thân ông bà Huyện đón tiếp, thì Nở đã nhanh chân chạy đi báo ngay: - Đúng là đám hỏi cô ơi! Có đủ lễ bộ, mâm trầu cau, ngũ quả và con còn nghe bên kia nói bữa nay là ngày lành tháng tốt nữa... Hai Tuyết hơi ngạc nhiên: - Làm gì có đám hỏi gì ở đây? Bữa nay tao đang chờ gia đình anh Ba Thông qua để... Con Nở mau miệng: - Con đâu có thấy thầy ký Thông! Đây toàn là những người lạ không hà. Tuyết lẩm bẩm: - Ba má đã đồng ý mời người ta qua mà. Sao lại có khách nào nữa? Chính ngày hôm qua Tuyết còn nhắc lại chuyện ba má mình chịu cho mời cha mẹ thầy ký Thông sang chơi và cũng chính Tuyết đã cho gia nhân tức tốc đưa ghe sang đó rước họ. Đáng lẽ giờ này họ cũng đã về tới... - Thưa cô Hai, ông bà cho mời cô Hai ra tiếp khách. Tiếng của con Sáu Lý, đứa tớ hầu hạ bà Huyện nói vọng ngoài cửa phòng. Hai Tuyết bước vội ra hỏi nó: - Khách nào vậy? Con Lý lắc đầu: - Dạ, con cũng hổng biết. Bà dặn cô sửa soạn quần áo cho chỉnh tề. Nói xong nó bước trở ra ngay. Tuyết bảo con Nở: - Mày ra coi kỹ lại coi khách tới làm gì, nói gì rồi vô đây báo ngay cho cô! Con Nở chạy ra vừa lúc nghe bên khách nói: - Thưa anh chị Huyện, được sự cho phép của anh chị, vợ chồng tui đã nhờ người coi tuổi rất kỹ, may quá tuổi thằng Tư nhà tui và tuổi cô Hai nhà này hạp nhau vô cùng! Thầy bói nói hai tuổi này mà ăn ở với nhau sẽ sinh quý tử, dựng nên nghiệp lớn sau này! Họ còn nói nhiều nữa, nhưng nội bấy nhiêu đó cũng đủ làm cho con Nở điếng hồn, nó chạy bay vô, báo tin mà không giữ nổi bình tĩnh: - Không... không xong rồi... cô Hai. Họ... họ đi... cưới... cưới cô! - Ai cưới? - Cưới cô Hai! Họ đang bàn chuyện... Vừa lúc ấy con Lý lại trở vô: - Thưa cô Hai, bà hối cô ra liền, nếu không bà vô đó! Tuyết giục con Nở: - Mày ra nghe kỹ lại coi! Con Nở vừa bước ra thì đã thấy bà Huyện bước nhanh vào: - Sao kêu cả buổi mà không chịu ra vậy, Tuyết! Còn con này nữa, biểu mày kêu mà sao còn ở đây? Con Nở lúng túng: - Dạ con... con... Tuyết bước ra, hỏi mẹ: - Khách nào vậy má? Bà Huyện nghiêm giọng: - Vợ chồng Bá Hộ Tòng bên Cái Tàu. Bữa nay họ qua... coi mắt con. Tuyết trố mắt nhìn mẹ: - Má... con đã nói rồi, bữa nay bên nhà thầy ký Thông... Bà Huyện chặn ngang: - Ai qua cứ qua, còn đám này ba má đã hẹn trước. Người ta lại mang lễ vật... Bà ta biết là hố lời nên dừng lại, nhưng Tuyết đã hiểu, cô lớn tiếng: - Có phải ba má hứa gả con cho họ không? - Thì... con cứ ra chào người ta đã. Còn gả hay không là quyền của mình, chớ phải lấy ngay đâu mà sợ! Bà nói xong thì trở ra nhà ngay, nhưng trước khi đi đã không quên thòng một câu: - Ra ngay, chớ để ba mày vô thì có chuyện lớn đó! Tuyết buông mình xuống giường, cơn phẫn nộ trào dâng, nhưng nguồn cơn sự việc lại bắt đầu từ cha mẹ, nên cô đâu thể nào trút ra sự thịnh nộ. Bởi vậy chỉ có khóc là hữu hiệu nhất. Tuy nhiên con Nở đã nhắc: - Cô Hai đừng khóc, son phấn trên mặt hư hết, ông lại nổi giận... Nó ôm chầm lấy cô chủ, an ủi: - Không sao đâu cô Hai. Cô cứ ra chào khách, rồi chút nữa khi khách của cô tới thì ắt họ sẽ hiểu. Làm vậy đi cô. Tuy tuổi còn nhỏ, nhưng sự khôn dại thì con Nở còn tỏ ra hơn hẳn cô chủ của mình. Cho nên sau khi nghe nó phân tích, Tuyết đã quẹt nước mắt, dặm lại son phấn rồi miễn cưỡng bước ra chào khách. Người đứng bật dậy trước tiên khi thấy Tuyết xuất hiện là một chàng trai tuổi trên hai mươi, đầu tóc láng bóng, ra dáng công tử nhà giàu. Khi Tuyết cúi chào thì người phụ nữ lớn tuổi bên phía khách lên tiếng ngay: - Con Hai nhà anh chị quả là đẹp người đẹp nết, xứng đôi với thằng Tư nhà chúng tôi phải biết! Thấy dáng vẻ miễn cưỡng của con gái, bà Huyện phải lên tiếng trước: - Bữa nay cháu nó không khỏe trong người, nên ra chào rồi xin phép cho nó vô nghỉ ngơi. Người phụ nữ lớn tuổi bên khách đúng là bà bá hộ Tòng, bà ta đứng lên nhanh, vừa chụp lấy tay Tuyết vuốt ve. - Bác không ngờ cháu lại trắng và đẹp đến như vầy! Cũng may, bác đã lường trước nên cũng không phải thiếu chu đáo... Bà lấy ngay ra từ trong giỏ xách một chiếc hộp bọc nhung đỏ và nói ngay: - Cườm tay trắng ngần này mà đeo vòng cẩm thạch thì thua gì Tây Thi! Bà ta vừa nói, vừa nhanh nhẹn tròng vào cổ tay của Tuyết chiếc vòng cẩm thạch khá to: - Vòng này tui gởi mua từ bên Hồng Kông, chỉ để tặng cho... con dâu tương lai thôi! Bà là tay khá sành sõi chuyện đeo vòng, nên chỉ loáng một cái, chiếc vòng đã nằm gọn ở cổ tay của Tuyết. Khiến cho Tuyết có muốn phản đối cũng không kịp, cô chỉ lí nhí: - Con không... không quen đeo... Quay sang bà Huyện, bà bá hộ nói nhanh: - Đây là quà riêng tui cho con nó, không nằm trong lễ vật, anh chị cho phép. Một cách bướng bỉnh, Tuyết tìm cách tháo chiếc vòng ra, nhưng không tài nào làm được. Nhìn thấy, bà Huyện vội lên tiếng: - Con tới đứng bên má đây một chút rồi xin phép vô nghỉ. Đôi mắt cú vọ của anh chàng con trai nhà bá hộ cứ nhìn thẳng vào phía Tuyết. Con Nở núp trong màn nhìn ra cũng thấy chướng, nó thầm nghĩ: "Đàn ông con trai gì thấy con gái là nhìn muốn... muốn rớt... luôn!". Lát sau bà Huyện đích thân đưa Tuyết vô, bà dặn khẽ: - Không được tháo chiếc vòng ra, nghe chưa! Khi trở về phòng rồi, Tuyết mới òa lên khóc. Cô khóc nức nở làm nhòe cả son phấn trên má, khiến cho con Nở lo lắng: - Cô bình tĩnh, chớ có... Tuyết giục: - Em ra bến đợi coi, chừng nào thấy có ghe ghé lại thì vô báo ngay. Nở đi chưa tới bến thì đã gặp Bảy Nô, anh chàng được Tuyết sai đi rước nhà ký Thông. Nó ngạc nhiên hỏi: - Ủa, sao chú về một mình? Bảy Nô tỏ vẻ sợ sệt: - Tui... tui đâu có rước cậu ký. - Sao vậy? Cô Hai đang chờ mà? Bảy Nô ghé sát tai Nở, thì thầm: - Hồi sáng khi tui đi được một đoạn thì bà Huyện sai người chạy ghe máy theo kêu lại, biểu khỏi phải rước. Rồi còn cho tui mấy đồng ra chợ ăn hủ tiếu từ sáng tới giờ nữa! Con Nở thốt lên: - Hèn chi! Nó định chạy vô báo cho Tuyết biết chuyện, nhưng Bảy Nô đã kéo lại: - Mày mà nói cho cô Hai biết là bà Huyện đuổi cổ mày ra khỏi nhà đó! Nở mím chặt môi, nó đứng thẫn thờ hồi lâu, rồi giả bộ đi về phía nhà kho, đợi cho Bảy Nô không để ý, nó chạy vụt vào phòng của Tuyết, cuống quýt: - Cô ơi... không... không xong rồi! Cậu Ký... cậu Ký... Tuyết hốt hoảng: - Có chuyện gì? Mãi hồi lâu Nở mới nói thành lời: - Cậu Ký không... có qua! Tuyết ngạc nhiên: - Sao em biết? - Bảy... Bảy Nô... Nó thuật lại đầu đuôi lời Bảy Nô, rồi còn dặn: - Nếu cô mà nói ra vụ này thì Bảy Nô và con sẽ bị đuổi lập tức! Tuyết mím chặt môi, hai tay nắm lại để kiềm chế cơn uất nghẹn trong lòng. Trước mắt cô bầu trời như tối sầm lại... Lát sau, khi đã trấn tĩnh lại, Tuyết bảo khẽ con Nở: - Em lén lấy chiếc xuồng nhỏ, bơi trước ra vàm và đợi cô ở đó, cô sẽ ra sau. Nhớ đem theo mấy bộ đồ. Con Nở tròn mắt nhìn cô chủ. Nhưng nó không nỡ ngăn cản hay chối từ. Bởi lúc ấy nó nhìn thấy hai dòng lệ đang lăn dài trên má Tuyết... *** Thấy con trai cứ đứng ngồi không yên, mà suốt mấy ngày liền không đi làm, vợ chồng Tám Thảnh đều lên tiếng hỏi: - Sao con không đi làm việc, bữa nay là thứ Hai mà? Thông đáp nhẹ hều: - Con nghỉ... Thím Tám ngạc nhiên: - Nghỉ phép hay sao? - Dạ nghỉ luôn... Đến phiên chú Tám tròn xoe mắt: - Con nói vậy là sao? Bộ bị ông Huyện cho thôi việc hả? - Dạ. Thím Tám lo lắng: - Bộ con làm điều gì không hay phải không? Chớ có lý nào xưa nay ông bà Huyện thương con, giúp đỡ cho vào làm ở công sở, mà còn... Bà muốn nhắc tới chuyện bà Huyện có lần còn nói xa nói gần việc tác hợp cho con gái họ với Thông, nhưng thấy chồng lừ mắt nên thôi. Thông lấy ra một bao thư lớn, đưa cho cha mẹ: - Hồi sáng nay ông bà Huyện gửi cái này cho con. Ba má coi thì sẽ rõ. Ông Thảnh mở bao thơ ra và ngạc nhiên vô cùng khi thấy ngoài một lá thư còn có khá nhiều tiền! - Tiền gì nhiều dữ vậy? Trong lúc thím Tám hỏi thì chú đọc nội dung lá thư. Đọc xong, chú thẫn thờ: - Người ta cám ơn về sự nhiệt tình bấy lâu nay của thằng Thông, nhưng nay vì nhu cầu công việc, cần người khác thích hợp hơn, nên quyết định cho thằng Thông nghỉ. Để đền bù công lao của nó, ông bà Huyện gửi cho một số tiền khá lớn... Thím Tám cầm xấp tiền đếm kỹ, rồi kêu lên: - Tiền này mua được mấy chiếc ghe lớn cũng chưa hết! Thông thở dài: - Con đâu có ham tiền bạc này. Cái mà con cần là... Chú Tám chặn lời con: - Người ta đã nói vậy rồi và cũng đã biết điều cho mình số tiền lớn, thôi thì mình lo kiếm chuyện khác mà làm. Thím Tám mau miệng: - Có số tiền này mình mở một vựa gạo ở chợ, thằng Thông giỏi tính toán thì ở nhà làm chủ mua bán, còn tui với ông lấy tiền mua thêm chiếc ghe đi thu mua lúa gạo về cung cấp cho cửa hàng. Cái nghề này mau khá lắm đó nghen! Trong lúc cha mẹ say sưa bàn tán chuyện làm ăn thì Thông lặng lẽ bước ra trước sân nhà, nhìn ra sông mà nghe lòng tê tái. Chỉ mới hôm thứ bảy đây thôi lúc về nghỉ cuối tuần Thông còn dệt bao nhiêu là mộng đẹp, khi chính anh đã được Tuyết thỏ thẻ khi tiễn anh lên ghe: - Ba má đã chịu cho tụi mình tính chuyện cưới hỏi rồi đó. Có thể sáng mai em sẽ cho người qua đón ba má và anh qua gặp mặt ba má em để người lớn nói chuyện. Vậy mà... - Làm gì mà thừ người ra vậy? Giọng nói phía sau lưng làm cho Thông giật mình, quay lại và... há hốc mồm kêu lên: - Tuyết! Nhìn Tuyết bằng xương bằng thịt đứng trước mắt mà Thông cứ tưởng như mơ! Tuyết phải nhắc: - Không xách tiếp người ta chiếc va-li nặng nữa sao! Thông lúng túng đỡ lấy chiếc va-li lớn, lắp bắp nói: - Em... em qua đây... với ai? Nhìn lại trước sau cũng chỉ mình Tuyết nên Thông càng nhạc nhiên hơn: - Em đi một mình? Tuyết gật đầu: - Đi một mình, chắc là không được thầy ký tiếp đón phải không? Hai người đang nói chuyện thì thím Tám từ trong nhà bước ra, kinh ngạc: - Ai vậy con? Thông quay về phía mẹ: - Đây là cô Hai Tuyết, con gái ông bà Huyện. Hồi nào đến giờ chỉ nghe con nói, chớ chưa gặp mặt Tuyết bao giờ, nên thím Tám Thảnh ngoài sự bất ngờ về sự xuất hiện đột ngột của khách, thím còn sững sờ trước tấm nhan sắc của cô con gái quyền quý! - Kìa má, khách tới nhà mà má không mời vô, còn đứng đó... - Ờ, ờ... mời cô vô nhà. Mèng ơi, rồng mà tới nhà tôm, làm cho tui hết hồn! Tuyết cười dịu dàng: - Con tới xin cơm hai bác và anh Thông, chớ khách khứa gì. Thông là người tinh ý, anh nhìn chiếc va-li thì hơi thắc mắc, phải đợi khi Tuyết nói câu đó anh mới hỏi khẽ: - Em đi đâu mà đem đồ đạc nhiều vậy? - Qua đây ở luôn! Câu trả lời khiến Thông ngơ ngác: - Em...em... Tuyết tế nhị nói đủ cho Thông nghe: - Lát vô nhà em sẽ nói sau. Chú Tám nghe có khách thì cũng bước ra. Đã từng qua thăm nhà ông bà Huyện Hỉ, và đã từng gặp mặt Tuyết, nên chú ngạc nhiên quá đỗi khi thấy sự hiện diện của cô ở đây: - Cô Hai... đi với ai? Tuyết cúi chào và lễ phép đáp: - Dạ, con đi một mình. Vừa vào trong bỗng Tuyết vòng tay trước mặt chú thím Tám: - Con xin phép hai bác, cho con được tá túc và cũng xin hai bác tác hợp cho chúng con. Đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác nên chú thím Tám nhất thời chưa biết phản ứng ra sao. Trong lúc Thông thì lúng túng: - Em... sao em... như vậy? Hay là... - Em trốn khỏi nhà! Câu trả lời của Tuyết làm cho mọi người như đang mơ! Thím Tám kêu lên: - Chuyện này rắc rối lắm đây! Chú Tám thì đăm chiêu. Lúc này chỉ có Thông là còn tỉnh táo, anh hỏi kỹ lại: - Có chuyện gì bên nhà? Tuyết không giấu giếm, đem chuyện nhà kể ra hết. Rồi cô tha thiết: - Con hết đường tính rồi, nên mới làm liều thế này. Xin hai bác thương tình, cho con ở tạm ít bữa, rồi con với anh Thông sẽ tính. Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, nên vợ chồng Tám Thảnh đành phải chấp nhận. Thím Tám bảo Thông: - Con dọn phòng đã làm sẵn chờ ngày con cưới vợ cho cô Hai đây nghỉ. Con ra ngoài này ngủ ở bộ ngựa gõ. Không ngờ Tuyết đã quỳ ngay xuống: - Hôm nay con xin phép được kêu hai bác là ba má! Bởi dẫu gì thì con đã quyết là vợ anh Thông rồi, nếu bữa nay mà không đặt ba má con trước sự đã rồi thì không hy vọng gì sau này được sự đồng ý. Quá bất ngờ nên đôi vợ chồng chân chất chỉ biết lặng thinh. Còn Thông thì chỉ biết nắm chặt tay Tuyết trong tay mình, lí nhí gì đó không ai nghe rõ... Tuyết không đợi sự đồng ý của cha mẹ Thông, đã kéo tay Thông vô trong, rồi nói nhanh: - Nếu ta không thành chồng vợ ngay bữa nay thì ba má em sẽ tìm và bắt em về, lúc đó có hối cũng không kịp! Tội nghiệp Thông, vốn xưa nay chỉ biết nghe lời, có dám cãi ai đâu, nhất là với cô con gái rượu của ông Huyện Hỉ, người là chủ và là người ơn của mình. Bởi vậy, lời nào Tuyết nói ra anh chàng cũng chỉ biết gật đầu rồi làm theo... Đêm đó lễ động phòng bất đắc dĩ của Thông và Tuyết đã khiến cho đôi vợ chồng già phải mất ngủ cả đêm. Đến gần sáng thì thím Tám bàn với chồng: - Bề gì thì tui với ông cũng phải qua bên nhà ông bà Huyện để thưa cho rõ chuyện này. Con gái người ta là cành vàng lá ngọc, tuy nó quá thương con mình mà làm liều như vậy, nhưng dễ gì họ để yên... Chú Tám cũng đồng ý: - Tui với bà lấy cớ đi công chuyện, đừng cho tụi nó biết, rồi đi luôn qua bên đó ngay sáng nay. Mặt trời đã lên cao nhưng Thông và Tuyết vẫn chưa dậy, chú Tám Thảnh sau khi hội ý với vợ, đã đứng ngoài nhà nói vọng vào: - Ba má có chuyện đi qua bên Cồn, tới chiều mới về. Hai đứa ở nhà cứ ăn cơm trước, đừng đợi. Họ xuống xuồng và bơi nhanh về hướng Phụng Hiệp. Trên đường đi, chú Tám cẩn thận bàn trước những cách đối đáp khi giáp mặt ông bà Huyện: - Người ta là nhà quan, bởi vậy có nói chuyện thì bà cũng phải tính toán, đừng nói lung tung. Cứ những gì tui dặn hồi hôm mà nói. - Tui lại sợ ông, khi được mời vài ly rượu thì ruột gan gì cũng móc ra phơi bày hết, không khéo lại hư bột hư đường! Mãi bàn đủ thứ chuyện nên quãng đường mấy chục cây số không mấy chốc đã tới nơi. Từ xa nhìn cơ ngơi đồ sộ của nhà Huyện Hỉ, đôi vợ chồng già thấy tủi thân: - Sui gia nhà người ta như vầy, còn mình thế kia, thiệt khó hết sức... Nhưng khi xuồng tấp vô bến thì thím Tám ngạc nhiên hỏi chồng: - Ông nghe in là tiếng trống, tiếng kèn... đám ma, đúng không? - Chắc là ở gần đâu đây. Nhưng lúc bước lên bờ thì chính chú Tám phải sững sờ khi nhìn cảnh nhộn nhịp đang diễn ra đúng ở nhà của ông Huyện! Bảy Nô là người từng đôi lần sang nhà chơi, nên vừa trông thấy vợ chồng Tám Thảnh đã ngạc nhiên kêu lên: - Kìa, sao hai ông bà biết tin mà sang đây? Còn thầy ký Thông đâu? Thím Tám linh tính nhạy hơn, đã hỏi ngay: - Đám... của ai vậy? Bảy Nô chép miệng: - Thì của cô Hai Tuyết chớ ai! - Hả? Cái... cái gì? Ngỡ là họ quá xúc động, nên Bảy Nô lập lại: - Cô hai nhà này mới mất hồi trưa hôm kia. Cô ấy đi xuồng với đứa tớ gái, khi qua sông lớn đã bị gió thổi lật xuồng. Cả hai đều không biết lội nên chìm luôn. Mới vớt xác được sáng qua. - Ông ơi... Thím Tám nắm chặt tay ông, miệng muốn nói mà chẳng làm sao thốt nên lời. Chú Tám bình tĩnh hơn, hỏi lại: - Chắc là vậy không? Bảy Nô cả quyết: - Chính tui lặn mò được xác cô ấy mà. Tội nghiệp cũng chỉ vì... Do đám tang có quá đông người, nên sự hiện diện của vợ chồng Tám Thảnh chẳng ai hay biết, ngoài Bảy Nô. Khi thím Tám ngỏ ý muốn vô chào ông bà Huyện và nói lời chia buồn, cũng như muốn kể về chuyện lạ đang ở nhà mình, thì Bảy Nô đã ngăn lại: - Theo tui thì anh chị không nên vô bây giờ. Họ đang giận thầy ký Thông lắm, bởi cũng chỉ vì cô Tuyết đi tìm thầy ký mà ra cớ sự. Bảy Nô đem mọi chuyện kể lại, rồi kết luận: - Chỉ bởi ông bà Huyện muốn ngăn không cho thầy ký và cô Hai Tuyết yêu thương nhau, nên mới nhận lời đám bá hộ Tòng, mà lòng dạ cô Hai Tuyết thì chỉ thương có thầy ký thôi. Lòng bán tin bán nghi, nên cuối cùng chú Tám bàn với vợ: - Mình quay ngay về nhà xem sao. Nếu đúng là con Tuyết còn bên đó thì mình trở qua cho họ hay, để họ mừng! *** Trở về tới nhà thì trời đã tối. Vợ chồng Tám Thảnh hấp tấp lên nhà và gọi ngay khi còn ngoài sân:- Thông ơi! Không nghe tiếng đáp, thím Tám cằn nhằn: - Thằng này mới có hơi đàn bà đã sinh ra lười nhác rồi. Thím đẩy cửa đi thẳng vào trong, vỗ vô vách ván, kêu lớn: - Thông ơi, kêu Hai Tuyết ra má biểu coi. Vẫn im phăng phắc. Chú Tám hơi ngạc nhiên: - Tụi nó đi đâu giờ này? Thấy trời sắp tối mà đèn đóm trong nhà chưa đốt, lại vắng tanh một cách không bình thường, khiến Thím Tám sinh nghi: Thím đẩy cửa phòng và gọi lần nữa: - Thông ơi! Lần này thím nghe có tiếng ú ớ... Thím giục chồng: - Ông đốt cho tui cây đèn coi! Ngọn đèn dầu được đốt lên, vừa lúc thím Tám kêu lớn: - Thằng Thông! Sao vầy nè con? Nhìn thấy Thông nằm trên giường, một tay ôm cứng cái va-li, còn tay kia thì đưa lên như cố vẫy vẫy... - Chuyện gì vậy con? Chú Tám nhào tới đỡ con dậy, thì phát hiện thân thể Thông lạnh ngắt, mắt nhắm nghiền, nhưng miệng thì nói lí nhí: - Tu... y... ết... - Không xong rồi ông ơi! Thím Tám chạy đi lấy dầu xoa cho con, còn chú thì đốt bếp lửa than lên, hơ khắp thân thể cho Thông. Lát sau Thông tỉnh lại. Anh vẫn cố ôm chặt cái va-li, vừa khóc vừa nói: - Con không để mất Tuyết đâu ba má ơi! Hỏi sự tình thì Thông kể: - Tối qua con với Tuyết ngủ với nhau bình thường cho đến quá nửa đêm... Sau đó tụi con mệt quá nên ngủ một giấc. Ba má đi hồi nào con cũng không hay. Đến gần chiều con mới giật mình tỉnh dậy thì chẳng thấy Tuyết đâu. Con gọi và muốn bật dậy đi tìm, nhưng người mất hết sinh lực không làm sao đứng dậy được. Cuối cùng con sờ đụng vật này trên giường, ngay bên cạnh chỗ con nằm. Thông mở va-li ra, bên trong không hề có quần áo gì, chỉ có duy nhất một miếng như miếng vải, rất lạ, mà khi Thông trải rộng nó ra trên giường thì cả chú thím Tám đều ồ lên, giật mình. Bởi đó là... một bộ da người! - Hai... Tuyết! Tuy chỉ là bộ da mỏng tanh, nhưng nguyên vẹn hình hài của Tuyết, sinh động như một người sống! Thông vừa khóc vừa nói: - Con hiểu ra rồi, khi Tuyết tới đây là cô ấy đã chết. Chẳng biết chuyện gì đã xảy ra cho cô ấy? Con phải sang bên nhà... Thím Tám buông tiếng thở dài: - Nó đã chết thật rồi! Họ thuật lại cho Thông nghe mọi việc. Anh chàng gào lên: - Trời ơi! Tôi đã giết cô ấy... *** Từ đó... Một năm... Rồi hai năm sau... Người ta thấy thầy ký Thông vẫn không lấy vợ, nhưng cuộc sống của anh chàng càng ngày càng vui vẻ, hạnh phúc, còn hơn những người lập gia đình sinh con đẻ cái. Đúng như ý nguyện của cha mẹ, Thông lập một vựa gạo ở chợ và trực tiếp quản lý. Vợ chồng Tám Thảnh do già yếu nên không ra phụ giúp gì được cho con trai. Tuy nhiên nếu có ai để ý họ sẽ ngạc nhiên khi nhà cửa một người độc thân như Thông lại vô cùng ngăn nắp, chẳng khác gì có bàn tay đàn bà! Đã có nhiều cô gái giới bình dân có, mà con nhà khá giả cũng nhiều, để ý thương Thông, nhưng trước sau gì Thông cũng nói thẳng với họ: - Tôi đã có vợ con đang đợi ở quê nhà! Và từ chối tất cả lời mời mọc. Chẳng ai hiểu vì sao. Người ta chỉ đoán do quá thương Hai Tuyết, nên Thông thề không bao giờ lấy vợ. Tuy nhiên, có một bí mật mà người ngoài không thể biết được: Trong phòng riêng của Thông lúc nào chiếc va-li của Tuyết cũng được Thông đặt ngay bên cạnh gối của mình. Trong va-li dĩ nhiên là có bộ da người. Và chính bộ da người ấy là nguyên nhân của việc mãi mãi không lấy vợ của Thông. Bởi cứ đêm đến, hoặc những lúc Thông đi đâu về và khóa cửa ngoài, thì bộ da người đó không còn là vật vô tri giác nữa. Nó trở thành một Tuyết bằng xương bằng thịt! Cuộc sống lạ thường đó kéo dài và cả hai vô cùng mãn nguyện với thực tại đó... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 31
Phần 3 Nhận ca trực lúc nửa đêm, nhưng suốt hơn một tiếng đồng hồ mà không có ca cấp cứu nào. Cả ê-kíp trực đều ngạc nhiên, quay sang chàng bác sĩ trưởng kíp trực, một cô y tá trêu chọc: - Con bệnh sợ bác sĩ Tuấn quá nên chẳng dám vô! Bấy giờ bác sĩ Tuấn mới ngẩng đầu khỏi tờ báo đang đọc, nhẹ cười rồi bước vô phòng riêng. Y tá Liên là người quan tâm đặc biệt tới chàng bác sĩ trẻ tài hoa này, nên khi cô vừa đứng lên liền bị các đồng nghiệp nói liền: - Pha cho chàng một ly cà phê nóng đi! Liên đang có ý định ấy, nhưng sợ bị trêu chọc, nên giả bộ: - Biết ảnh có uống không mà pha... Ngọc nheo mắt: - Dẫu pha cà phê không đường mà do Liên mang vào chàng cũng uống nữa là... Liên bước tới chỗ đặt phích nước, thì cũng vừa lúc có chiếc xe cấp cứu ngừng gấp ở ngay cửa phòng cấp cứu. Tiếng huyên náo vang lên và tiếng chân người chạy rầm rập như thường lệ. Một ca cấp cứu có vẻ khẩn cấp. Người ta đẩy vào một bệnh nhân máu me đầy người và bác sĩ Tuấn đã có mặt kịp thời. Anh giục các y tá: - Cho lau sạch các chỗ chảy máu, nhanh lên! Nạn nhân nữ mặc nguyên bộ áo dài màu vàng nhạt, mà máu thì hầu như loang khắp người, đặc biệt là khuôn mặt hầu như khó thể nhận ra, bởi vết thương nơi đó là nặng nhất. Trong lúc Tuấn đo mạch, xem một lượt vết thương trên mặt thì các y tá lấy mẫu máu đi phân tích nhóm máu và vài người khác như thông lệ đã cởi bỏ hết y phục của nạn nhân để tìm thêm thương tích. Còn có một vết thương khá sâu ở bụng và một bên nơi xương sườn bị gãy. Nạn nhân còn thở rất yếu và hầu như hôn mê, không biết gì. Tuấn giục: - Lấy ngay kết quả phân tích nhóm máu và truyền máu ngay, kẻo không kịp! Tất cả ê-kíp trực đều làm việc khẩn trương với tinh thần trách nhiệm cao. Nhưng Tuấn vẫn chưa hài lòng, anh lại giục: - Tôi đã chích thuốc cầm máu rồi, hãy chuẩn bị tiếp máu ngay, nạn nhân mất máu quá nhiều. Bỗng đôi mắt Tuấn như muốn nổ tung khi anh lướt qua ngực bệnh nhân! Từ đầu vú bên này chạy thẳng sang đầu vú bên kia rải đều ba nốt ruồi màu đen tuyền! Hình ảnh này... Quên sự hiện diện của cả kíp trực, Tuấn chụp lấy miếng gạc và lau nhanh những vết máu còn lại trên vùng ngực căng tròn của nạn nhân. Liên hồi hộp theo dõi hành động của Tuấn, chợt thấy anh khựng lại, rồi thảng thốt kêu lên: - Tuyết Ngân! Hai tay của Tuấn run lên, có lẽ anh đang xúc động mạnh. Liên nhận ra điều bất thường đó trước tiên, cô bước lại gần, hỏi khẽ: - Gì vậy bác sĩ? Tuấn như kẻ mộng du: - Đúng là cô ấy đúng là... Tuấn đã từng nhiều lần nhìn vùng ngực căng tròn đó và anh đã từng gọi ba nốt ruồi giăng ngang độc đáo ấy là ba giọt nước mắt của thiên thần! Và anh đam mê, thương yêu ba giọt lệ ấy vô cùng... Bởi người có ba giọt lệ rơi trên ngực ấy chính là Tuyết Ngân, là người yêu đã xa cách anh ngót ba năm rồi! Giờ đây... - Bác sĩ sao vậy? Nghe Liên hỏi mà Tuấn ngỡ như trong cơn mơ, anh lẩm bẩm: - Tuyết Ngân... sao lại thế này? - Có kết quả phân tích máu rồi đây, nhóm máu O, mình đang có sẵn loại máu này. Các nhân viên kíp trực đã quá quen thuộc với công việc nên chỉ nửa phút sau thì cuộc cấp cứu đã diễn ra suôn sẻ. Tuy nhiên, sau mười lăm phút, thì vị trợ lý theo dõi mạch đã buồn bã báo tin: - Không xong rồi, tim đã ngừng đập. Đích thân Tuấn dùng tay ấn mạnh lồng ngực bệnh nhân mà không đợi mấy người y tá nam như lệ thường. Nhưng sau cả chục lần làm hô hấp không hiệu quả, một y tá lấy máy kích động tim, can thiệp tiếp. Cũng vô vọng. - Cô ấy đã chết do vết thương trên đầu quá nặng. Tuấn đứng buông thõng hai tay, hồn phách như bay mất đi đâu... Tuyết Ngân của anh đã vĩnh viễn rời xa anh rồi! Điều mà ngót ba năm nay lúc nào Tuấn cũng nghĩ thế nào rồi nàng cũng quay trở về... - Chỉ còn mấy ca cấp cứu nhỏ, anh tranh thủ ngủ một chút đi, coi bộ bác sĩ đã quá mệt rồi! Y tá Liên bưng tách cà phê bốc khói đứng ngay cửa phòng, nhìn Tuấn trìu mến. Nhưng tâm trí của Tuấn đâu còn để ý đến ai. Kể từ lúc người ta chuyển xác của Tuyết Ngân xuống nhà xác thì Tuấn hầu như suy sụp hoàn toàn. Tiếp tách cà phê, Tuấn nốc một hơi hết sạch, rồi đột ngột hỏi: - Xác cô ấy đâu rồi? Liên nhìn anh, ngạc nhiên nhưng vẫn lễ phép đáp: - Dạ, đã đưa xuống nhà xác rồi. - Cô dặn khi có người nhà vào nhận xác thì phải báo cho tôi ngay! - Dạ. Nhưng để làm gì ạ? Tuấn đứng bật dậy: - Mà thôi, để tôi lo. Anh dặn lại Liên: - Nếu có ca nào nữa thì nhờ bác sĩ Thuần lo giùm. Tôi ra ngoài một chút. Tuấn đi thẳng xuống khu nhà xác. Anh dặn thật kỹ người phụ trách phòng lưu xác: - Xác của một nạn nhân nữ mới chuyển xuống, anh làm ơn bảo quản cẩn thận giùm. Khi nào có thân nhân tới nhận thì liên lạc với tôi ngay. Người phụ trách hỏi ngay: - Phải một người nữ không? Trên phòng cấp cứu mới đưa xuống nhưng vẫn chưa có tên tuổi, nghe nói trong người nạn nhân không có giấy tờ tùy thân. Tuấn bảo: - Cô ấy là Tuyết Ngân, là... người nhà của tôi. Người phụ trách nhà xác ghi vội tên họ do Tuấn vừa cung cấp vào một tờ phiếu, vừa nói: - Biết được tên ngay còn may, có người chết cả tuần vẫn chưa có ai nhận, bởi không có bất kỳ thứ giấy tờ gì. Theo yêu cầu của Tuấn, người bảo vệ đồng ý để cho anh vào tận phòng lưu xác, kéo tấm vải lên, nhìn vào một lần nữa ba "giọt nước mắt" trên bộ ngực vẫn còn căng tròn... *** Phải đợi đến ba ngày sau, khi chẳng một ai khác đến nhận xác, thì Tuấn được phép làm thủ tục đưa xác cô gái tên Tuyết Ngân về. Do nhà Tuấn ở là một ngôi nhà biệt lập, thuộc khu ngoại ô khá vắng vẻ, nên việc xe của bệnh viện đưa xác về đã không gây sự chú ý nào của người chung quanh.Được một tuần nghỉ phép, Tuấn dành trọn cho việc "ma chay". Sở dĩ Tuấn quyết định đưa nàng Tuyết Ngân của mình về nhà là do trong đầu anh đã có một quyết định táo bạo: Tuấn sẽ giữ mãi thân thể của nàng bên cạnh, dù chỉ là một xác chết! Vốn có hiểu biết về phương pháp ướp xác, do đã từng học ở nước ngoài nhiều năm, nên Tuấn thực hiện ý định không khó. Đầu tiên anh đặt mua một quan tài bằng thủy tinh khá đắt tiền, sau đó là các hương liệu để ướp. Công đoạn khôi phục lại gương mặt bị biến dạng do va đập của nàng mất khá nhiều thì giờ mà vẫn không làm cho Tuấn ưng ý. Bởi sau nhiều lần cố gắng anh vẫn không làm sao giúp cho khuôn mặt ấy dễ nhìn hơn, nên sau cùng Tuấn quyết định dùng vải tẩm keo đặc chế quấn quanh khuôn mặt, giống như các xác ướp Ai Cập trong các lăng mộ xưa. Chỉ có phần thân thể là để nguyên. Phải mất ba ngày Tuấn mới hoàn thành được công việc khá công phu và nhiều cảm xúc này. Nhiều cảm xúc là bởi trong suốt thời gian tiếp xúc với xác người yêu, con tim Tuấn vừa thương cảm vừa nhói đau. Tuấn khóc gần cạn nước mắt khi công việc hoàn tất. Trong khu vườn nhà Tuấn có một gian nhà vốn được anh dùng làm phòng thí nghiệm hóa sinh mini lúc còn đi học y, nên giờ đây khá thuận tiện cho việc anh biến nó thành một nhà mồ với chiếc quan tài thủy tinh Tuyết Ngân đặt giữa nhà. Tuấn bật máy điều hòa suốt ngày đêm để duy trì xác dài lâu. Mỗi ngày, cứ lúc nào rỗi là Tuấn lại vào ngồi trong đó rất lâu, bên quan tài, giống như anh ngồi nhìn người yêu đang ngủ say... Những việc lạ thường đó tất nhiên chỉ mình Tuấn biết. Bất cứ ai, dù quen thân tới đâu Tuấn cũng không cho vào ngôi nhà để xác. Cuộc sống của Tuấn có một chút thay đổi, nhưng ít ai để ý. Đó là từ khi ấy Tuấn luôn đi làm về đúng giờ, thay vì đi cà phê hay nhậu nhẹt với bạn bè. Sinh hoạt của một bác sĩ độc thân như Tuấn là điều không bình thường lắm, nhưng cũng nhờ trước đó anh luôn là anh chàng độc thân không "linh tinh" như đa phần các người đồng cảnh ngộ khác, nên cũng không gây sự thắc mắc cho bạn bè. Tuấn thầm cám ơn Trời Phật đã giúp cho anh có được những giây phút tuyệt vời này. Anh thầm nhủ: "Chỉ cần như thế này, mình sẽ không bao giờ lấy vợ!". Người thất vọng nhất trong việc này có lẽ là cô y tá Liên, người lúc nào cũng dành cho bác sĩ Tuấn thứ tình cảm sâu nặng. Từ ngày ấy Tuấn lúc nào cũng về ngay sau khi hết ca trực, khiến cho Liên lỡ mất mấy lần đón anh ở căn tin và mỗi lần như vậy cô phải mang về mấy thứ mà cô đã chuẩn bị sẵn để biếu Tuấn. Những món ăn nấu sẵn mà Liên biết Tuấn rất thích! Bữa nay nhất định phải khác! Liên thầm hạ quyết tâm như vậy khi đứng đợi ngay đầu ngõ dẫn vô nhà Tuấn. Khi thấy Tuấn từ xa, Liên đã bước ra giữa đường đưa tay vẫy: - Anh Tuấn! Đang chạy ngon trớn, đầu óc lại đang nghĩ chuyện gì đó, sự xuất hiện đột ngột của Liên khiến cho Tuấn phải thắng gấp xe chao sang một bên. Anh ngạc nhiên: - Cô làm gì vậy Liên? Cô y tá khá dễ thương hơi lúng túng: - Dạ em... em chờ anh. Tuấn cau mày: - Sao lại chờ tôi là thế nào? Bao nhiêu ý tứ sắp xếp trong đầu trước khi tới đây giờ phút ấy tự dưng bay đi mất hết, Liên lí nhí: - Dạ... dạ em... có cái này. Cô đưa cái túi nhựa ra trước mặt: - Em mang cái này cho anh. Rồi sợ Tuấn vặn vẹo, Liên nói một hơi: - Mấy lần chờ anh ở căn tin không được, em phải mang về và ăn gần bị trúng thực luôn! Thấy cử chỉ lời nói của cô y tá mà mình hằng quý mến như một cộng sự thật thà, Tuấn nói một câu dễ nghe: - Một thân một mình như tôi ăn gì chẳng được, cô Liên bận tâm chi cho mất công. Vả lại... Liên không để cho Tuấn nói: - Bữa nay là món mà em biết bác sĩ thích nhất, món gì đoán coi? Tuấn đành phải nói đại: - Mực ống dồn thịt! Liên reo lên: - Y chang! Và cô nàng liếng thoắng: - Món ăn còn nóng, bởi em mới làm và mang đến đây ngay. Em muốn thực khách phải thưởng thức ngay! Đã từng đôi ba lần được Liên tặng cho món ăn nấu sẵn, Tuấn đã ăn và công nhận là ngon và rất hợp khẩu vị nhưng anh vẫn ái ngại: - Cô Liên làm cho tôi ngại quá. Vả lại chiều nay tôi có cái hẹn ăn cơm với mấy người bạn ở ngoài. Vẻ mặt Liên xìu xuống thấy rõ, cô lẩm bẩm: - Em buồn chết được... Thật ra Tuấn chỉ tìm cách thoái thác, nhưng trước thái độ của Liên, anh lại không đành: - Hay là thế này vậy... Liên chỉ chờ có thế, cô reo lên: - Anh bỏ bữa ăn ngoài nhé! Em sẽ cùng về nhà, nấu cho anh ăn nhe! Tuấn hốt hoảng: - Không được đâu! Liên tiu nghỉu: - Sao vậy? Em đã từng tới nhà anh rồi mà... Tuấn giờ lại là người lúng túng: - Nhưng mà... lần trước Liên tới với các bạn. Còn bây giờ... Liên bạo dạn hơn: - Em làm chung với anh, em tới là mang thức ăn cho anh, chớ có phải gì đâu mà anh ngại. - Nhưng... tôi ở một mình, Liên là phụ nữ, như thế không tiện... Thật ra Tuấn ngại là vì chuyện khác. Anh đỡ lấy túi thức ăn, định tìm cách từ chối khéo việc mời Liên vào nhà: - Thôi tôi nhận và sẽ ăn ngay. - Nhưng em muốn hâm nó lại và nêm nếm thêm một chút. Vả lại phải có rau ăn kèm thì mới ngon. Em có mang theo túi rau, chưa lặt và rửa, để em vào nhà làm. Anh không phải ngại đâu, anh ăn xong là em về ngay mà. Tuấn rất khó xử trước tấm lòng của Liên, nên cuối cùng anh đành phải chấp nhận: - Xin lỗi Liên, chẳng phải tôi mất lịch sự không mời cô vào nhà. Tuy nhiên, mong cô hiểu cho... Liên nghĩ đơn giản nên nói: - Đàn ông độc thân luôn sợ phụ nữ tới nhà đột xuất chớ gì! Không sao, em hiểu bác sĩ mà... Và thật bất ngờ, Liên nhảy lên phía sau xe của Tuấn và giục: - Anh chạy lẹ lên, có người nhìn kìa! Anh chàng bác sĩ độc thân quả là không rành mánh của phụ nữ, nên rồ ga chạy tới, trong khi Liên nở nụ cười mãn nguyện. Vừa dựng xe ở sân, chợt Tuấn giật mình bởi những tiếng va đập mạnh trong nhà. Liên cũng ngạc nhiên: - Có ai ở nhà nữa vậy bác sĩ? - Làm gì có. Tuấn đáp mà không yên tâm, bởi anh nghĩ có thể khi đi làm anh đã quên khóa cửa sau. Tuy nhiên, khi mở cửa vào thì cửa nẻo vẫn còn nguyên. Vật ngã đổ vừa rồi là chiếc bình hoa lớn đặt trên bàn cạnh cửa sổ. Tuấn hơi lạ, bởi bình hoa đầy nước, lại đặt vững chắc ở giữa bàn, mà nhà lại không nuôi mèo. Vậy tại sao chiếc bình bị rơi xuống và vỡ toang? Liên giải tỏa giúp Tuấn sự khó xử bằng cách nhanh chóng đi dọn dẹp những mảnh vỡ và lau sạch nước đổ tràn cả phòng khách. Nhưng chuyện đó chưa làm cho Tuấn kinh ngạc bằng khi bước xuống bếp. Cảnh tượng bày ra trước mắt là một cuộc hỗn chiến! Hầu như tất cả đồ dùng nhà bếp đều bị dập nát, bẹp giúm! Ai đã làm chuyện này khi cửa nhà đang khóa kín? Tuấn đứng yên khá lâu, trong khi Liên thì ngoan ngoãn dọn dẹp. Khi mọi việc đã tạm xong thì lại có chuyện khác tiếp theo. Ngay cửa sổ nhà bếp thông ra vườn, dù cửa vẫn cài chốt bên trong, nhưng lại có một nửa vạt áo phụ nữ kẹt ở khe cửa. Cầm mảnh vải trên tay, bỗng Tuấn nhớ lại đã có lần anh đã nhìn thấy nó. - Của Tuyết Ngân! Đúng là lần cuối cùng Tuyết Ngân gặp anh rồi ra đi biền biệt là lần cô mặc chiếc áo lụa màu cánh sen này. Cái màu đặc trưng mà ít người con gái trẻ nào thích mặc. Liên thấy Tuấn đứng ngẩn ngơ liền hỏi: - Có chuyện gì vậy? Tuấn giấu mảnh vải vào túi quần: - Không có gì, mà này, cô Liên, có lẽ cô nên về. Lúc này tôi đang có chuyện rồi, không còn lòng dạ đâu để ăn. Lúc khác gặp lại cô nhé. Tuấn nói xong bỏ ra ngoài sân, biểu lộ ý muốn đuổi khách. Liên hơi phật ý nhưng cũng lặng lẽ bước ra ngoài đón xích lô. Đợi khách về rồi, Tuấn mới bước ra chỗ nhà mồ. Anh đẩy cửa vào và một lần nữa trố mắt nhìn một mảnh vải khác, cũng giống như mảnh vải lúc nãy, nằm gần bên nắp quan tài thủy tinh! - Tuyết Ngân! Anh kêu lên, vừa ngồi xuống bên quan tài. Tuấn nghĩ ngay tới hồn phách của người chết vừa xuất hiện, anh gọi khẽ: - Tuyết Ngân! Có phải em vừa mới về? Thân thể cô gái trong quan tài vẫn không có gì thay đổi, chỉ có điều hơi lạ là ánh sáng chiếu từ nắp quan tài xuống cái xác, vốn từ khi mai táng, Tuấn đã cố ý dùng màu hồng để giúp màu xác lúc nào cũng hồng hào, y như người sống, còn bây giờ, ánh sáng đó lại là màu xanh lục! - Hay là... Tuấn nghĩ hay là có trục trặc gì đó từ hệ thống ánh sáng, nên ngồi xuống, nhìn vào bên trong. Bỗng nhiên đèn trong phòng tắt ngấm. Tuấn đang ngồi chợt như có ai đẩy mạnh làm bật ngửa ra sau. Rồi như có một luồng hơi lạnh khác thường từ trong quan tài bay ra, chạm vào cơ thể Tuấn, khiến anh rùng mình rồi tứ chi hầu như tê liệt. Loáng thoáng bên tai Tuấn hình như có tiếng ai đó thở dài... *** Vừa dẫn xe ra khỏi cổng bệnh viện, Tuấn đã nghe tiếng ai đó gọi mình từ bên kia đường. Do xe quá đông nên khi Tuấn nhìn kỹ lại thì đã thấy người gọi anh đã băng qua đường, vừa đưa tay vẫy. Cứ tưởng mình bị hoa mắt, nên Tuấn phải dụi mắt mấy lần rồi mới nhìn kỹ lại. Và lần này anh phải buột miệng kêu lên: - Tuyết Ngân! Rõ ràng người bên đường đang vẫy tay với anh là Tuyết Ngân! Tuấn đứng sựng lại như trời trồng, khiến mấy người đi xe phía sau phải la lên: - Sao ngơ ngáo giữa đường vậy cha nội! Bị la nhưng Tuấn vẫn không chớp mắt, nhìn Tuyết Ngân đang mỗi lúc tiến gần về phía anh hơn. - Anh làm gì nhìn em dữ vậy, bộ không nhận ra sao? Tuấn lắp bắp: - Tôi... tôi... Nàng bước sát bên và chụp lấy tay Tuấn, khiến lúc ấy anh mới hoàn hồn. - Bộ em lạ lắm sao mà anh nhìn như mất hồn vậy? - Em... em là... là Tuyết Ngân? - Thì em đây chớ ai! Mới xa có mấy năm mà đã quên rồi, tệ thiệt. Tuấn không thể nào tin nổi vào mắt mình, nên để cho Tuyết Ngân nói một lúc, anh mới hỏi lại: - Em... có phải là em... hiện về không? Tuyết Ngân trố mắt nhìn Tuấn: - Anh nói gì giống như đang nằm mơ vậy? Anh có làm sao không vậy Tuấn? Lúc ấy từ bên kia đường có một người đàn ông dẫn xe đi đến gần, Tuyết Ngân quay lại gọi: - Tới đây, Thành! Người này đi tới, vừa cúi chào Tuấn: - Chào anh, tôi là Thành, đã được nghe vợ tôi nhắc về anh lâu nay, giờ mới hân hạnh gặp. Trong lúc Tuấn còn ngơ ngác, thì Tuyết đã nói thêm: - Đây là chồng em. Vừa rồi đi qua đây tình cờ trông thấy anh từ trong đi ra nên em gọi. Như từ trên trời rơi xuống, Tuấn hết nhìn Tuyết Ngân rồi nhìn sang anh chàng kia. Rồi hình ảnh người nằm trong quan tài thủy tinh như đang nhảy múa trước mặt, khiến Tuấn hoa mắt, anh lảo đảo... - Kìa, sao vậy anh Tuấn? Tuấn buông chiếc xe ra, hình như có người đỡ và cả anh nữa, Tuấn có cảm giác như mình ngã xuống và rơi vào vòng tay của ai đó... Đến khi tỉnh lại, Tuấn ngơ ngác khi thấy mình nằm trong bệnh viện. Bên cạnh là Liên và cả Tuyết Ngân nữa! - Sao lại... Tuấn chưa nói hết câu thì đã nghe Liên nói: - Em đang sửa soạn ra về thì thấy chị này đưa anh trở vô, nên em ở lại. Em đã đo huyết áp rồi, anh bị hạ áp khá thấp. Tuyết Ngân dịu dàng: - Anh Thành cùng đưa anh vào, rồi em bảo anh ấy về nhà trước để lo cho mấy đứa con, còn em ở lại. Tuấn bật dậy ngay, vừa lay tay Ngân: - Em giải thích cho anh biết, tại sao? Ý câu hỏi của Tuấn bao gồm luôn cả nguyên nhân... đội mồ sống dậy của Tuyết Ngân, nhưng cô nàng thì chỉ hiểu đơn giản anh muốn biết tại sao Ngân đi lấy chồng? Nên sau vài giây đắn đo, cô đáp: - Chuyện cũng đơn giản thôi. Khi xa anh là em trở về quê, khi đó mẹ đang hấp hối. Nhà em đơn chiếc như có lần em nói với anh, em chỉ còn hai mẹ con, ngoài ra không còn thân nhân nào nữa. Lúc em về thì mẹ phải cấp cứu ở bệnh viện suốt hơn một tháng bởi căn bệnh hiểm nghèo. Em không còn tiền lo cho mẹ nên định ôm mẹ rồi hai mẹ con cùng chết, may nhờ có Thành. Anh ấy nuôi bệnh ở giường bên cạnh, thấy hoàn cảnh em, anh ấy cảm thông, giúp mẹ con em vượt qua cơn hoạn nạn. Ban đầu em không hề có ý nghĩ gì khác ngoài lòng biết ơn một người đã có tấm lòng như Thành. Nhưng sau một thời gian khá dài, khi em phải ở lại nhà nuôi mẹ thì từ chỗ ân nghĩa, giữa em và Thành đã nảy sinh tình cảm lúc nào em cũng không biết. Phụ anh thì em không muốn bởi chúng ta đã có với nhau mấy năm trời bên nhau, nhưng thực tế đã giục em phải quyết định khác. Trong quá trình lo cho mẹ, em đã nợ Thành số tiền quá lớn, đồng thời mẹ cũng muốn em phải đền đáp lại tấm lòng của người ta. Thế là em chấp nhận lấy Thành. Em biệt tăm luôn là vì nguyên nhân ấy. Lần này vào đây mục đích chính của em là tìm gặp anh để nói rõ và xin lỗi. Tuấn lại lắc tay Ngân lần nữa: - Nhưng em... sao lại ra khỏi mồ? Câu hỏi của Tuấn khiến Tuyết Ngân kinh ngạc: - Kìa, anh nói gì vậy Tuấn? Nghĩ Tuấn có vấn đề về tâm thần, nên Ngân quay sang tìm y tá Liên để hỏi, nhưng lúc ấy Liên đã bước ra ngoài. - Tuấn, anh hãy nhìn em nè. Em xin lỗi đã làm anh thất vọng. Nhưng em vẫn còn sống bằng xương bằng thịt trước mắt anh đây. Em có chết đâu mà ở dưới mồ! Tuấn vụt bật dậy, nhảy xuống giường bệnh, người chưa vững vàng, nhưng cũng thoát chạy nhanh ra hành lang. - Tuấn! Tuyết Ngân định đuổi theo, nhưng chân cô vướng phải vật gì đó, ngã sõng soài ở cửa phòng. Tuấn chạy bộ ra ngoài và không đợi đón xe, anh cứ cắm đầu nhắm hướng nhà mình chạy như đuổi theo ai đó... Đến khi chợt có ai đó gọi lớn tên mình, Tuấn nghe nhưng không còn tỉnh táo để nhìn xem đó là ai, anh cứ chạy. Và khi qua một góc đường Tuấn lảo đảo, rồi ngã xuống... *** Lúc tỉnh lại thì Tuấn nhận ra đang nằm trong phòng khách nhà mình. Ngồi bên cạnh là một người đàn ông râu tóc xồm xoàm, trông hơi quen quen, nhưng nhất thời anh chưa nhớ rõ là ai.- Cậu tỉnh rồi, may quá. - Tôi... tôi... Ông ta chặn lời: - Cậu cứ nằm nghỉ. Vừa rồi khi đi tới góc phố kia tôi chợt thấy cậu chạy như điên, tưởng bị ai đuổi nên tôi vòng xe chạy theo. Đến chỗ ngã tư thì cậu bị ngã, tôi kịp cứu đưa cậu về nhà. Tôi lấy chìa khóa trong túi cậu mở cửa đưa cậu vô. Cậu không nhớ tôi sao, đã có lần cách đây mấy tháng, tôi tặng cho cậu quyển sách viết về tâm linh, quyển "Những bí ẩn của thế giới tâm linh". Tôi ở ngay cạnh nhà cậu đây mà. Lúc này thì Tuấn đã nhớ ra và đầu óc anh cũng quân bình trở lại, anh nhẹ giọng: - Dạ, cám ơn chú. - Nói tôi nghe xem, có chuyện gì mà chạy thục mạng vậy? Tuấn chợt vùng dậy, anh không để ý đang có mặt của khách, đã thoát chạy bay ra sau vườn. Nhằm hướng ngôi nhà mồ. Vừa đẩy cửa vào Tuấn đã khựng lại. Bởi trước mặt anh, trong quan tài thủy tinh, cô gái mà anh nghĩ là Tuyết Ngân vẫn còn nằm im đó. Ánh sáng trong quan tài giờ đã trở lại màu hồng như trước. - Như thế này là sao? Tuấn tự hỏi và không tự trả lời được, nên cứ đứng lặng người, nhìn vào quan tài... - Cậu gặp rắc rối gì phải không? Vị khách đã đứng sau lưng Tuấn. Khi chợt nhìn thấy quang cảnh trước mắt, ông hiểu một phần, nên nhẹ giọng: - Thi thể của người yêu phải không? Tuấn nhớ đọc trong sách của ông viết, cũng có kể vài chuyện về ướp xác người yêu. Anh quay sang ông, hỏi như để giải tỏa gút mắc trong lòng: - Làm sao bây giờ chú? Anh kéo ông ra ngoài, kể lại đầu đuôi chuyện lầm lẫn tai hại của mình và chuyện đem xác cô gái lạ về đây ướp trong quan tài thủy tinh... Nghe xong vị khách già chép miệng: - Người chết vẫn còn linh hồn cậu ạ. Việc cậu mang xác cô gái này về đây và ướp cẩn thận, giữ gìn chu đáo như thế là việc làm tốt. Nhưng chính lòng tốt ấy sẽ khiến cậu gặp rắc rối. - Thế nghĩa là... - Tôi đã nghiên cứu hàng ngàn trường hợp và rút ra kết luận rằng, trường hợp như cậu đây thì chắc chắn người con gái trong quan tài kia sẽ đeo theo ám cậu cho mà coi! Tuấn bắt đầu lo: - Giờ cháu phải làm sao chú Tùng Linh? Nhà viết sách tâm linh trầm ngâm một lúc: - Nhất thời, tôi cũng chưa thể nói cụ thể cậu phải làm gì có lẽ cậu vào nhà, giở cuốn sách của tôi, xem lại bài viết về "Sự giao hoà giữa hai thế giới", nó sẽ có ích trong trường hợp này. Khi vị khách ra về rồi Tuấn mới tìm lại quyển sách để đọc. Anh tìm gặp bài viết mà ông khách vừa nói một cách dễ dàng. Đọc xong anh thất vọng, thở dài: - Làm gì tìm được như trong sách. Trong sách kể chuyện một anh chàng cũng vì quá thương người yêu, nên sau khi người yêu chết mất xác trong một vụ đắm tàu, anh ta đã cố công tìm và ăn cắp xác của một cô gái trong nhà xác bệnh viện, mà anh ta cho là giống với người mình yêu, đem về ướp và để trong phòng riêng. Sau này linh hồn của xác chết hiện về và đeo dính anh chàng đó, khiến anh ta gần như suốt đời không lấy vợ được. Mãi cho đến khi có sự xuất hiện tình cờ của một cô gái khác, mà cô ấy lại chính là em song sinh của xác chết. Kỳ lạ thay, kể từ khi có sự xuất hiện đó thì xác chết không quấy phá gì anh chàng kia nữa! Các nhà nghiên cứu cho rằng do linh hồn người chết lầm tưởng người em song sinh kia tới là để thay thế cho cô ta, sống bên cạnh anh chàng. Oan hồn bỏ đi... Tuấn đọc hết đoạn sách, vừa thất vọng vừa mệt mỏi, anh ngả đầu trên ghế nệm ngủ một giấc... - Ngủ mà để cửa ngõ thế này, có ngày mất luôn cả chủ nhà! Tuấn choàng tỉnh. Anh ngạc nhiên khi thấy Tuyết Ngân xuất hiện. Cô giải thích ngay: - Lúc anh bỏ chạy em đuổi theo không kịp, cũng may có cô Liên, cô ấy đã cho em địa chỉ để lần tới đây. Thấy vẻ mệt mỏi của Tuấn, Tuyết Ngân hỏi ngay: - Anh bị sao vậy Tuấn, hay là anh giận em? Tuấn nhẹ lắc đầu: - Không... Rồi anh bật dậy, kéo tay Tuyết Ngân ra sau vườn: - Em xem cái này sẽ hiểu. Anh muốn Ngân nhìn tận mắt cô gái nằm trong quan tài, nên mở cửa nhà mồ ra, dẫn Ngân vào. - Cái gì đây, Tuấn? Tuấn đành phải kể hết mọi chuyện. Nghe xong Tuyết Ngân lặng người đi, đôi dòng lệ lăn dài... Nhưng bỗng cô chạy đến sát chỗ quan tài, cúi xuống nhìn vào ngực xác chết và kêu lớn: - Tuyết Nhi. Trời ơi, chính là nó rồi! Tuấn ngơ ngác: - Em nói gì, Ngân? Ngồi xuống ôm lấy quan tài, Tuyết Ngân khóc nức nở: - Tuyết Nhi là em sinh đôi với em. Nó bị thất lạc từ nhỏ, nhưng mẹ em nói chỉ cần nhìn thấy ba nốt ruồi trên ngực nó là chắc chắn đó là nó, không sai! Nó cũng giống như em vậy, cũng có... - Cũng có "ba giọt nước mắt thiên thần" như em. Bởi vậy anh mới lầm! Tuyết Ngân không muốn rời quan tài, Tuấn phải kéo cô ra: - Mọi việc như thế rồi, cũng may là có sự trùng hợp này nên mình sẽ mai táng cô ấy với chiếc quan tài thủy tinh này luôn. Họ vừa ra đến ngoài sân, thì bỗng trong nhà vang lên những tiếng đổ vỡ mạnh, như có ai đập phá nhà. Tuấn hốt hoảng chạy trở vô và kêu lên: - Trời ơi! Trước mắt anh là chiếc quan tài thủy tinh đã bị đập vỡ tan tành, còn cái xác thì... không còn thấy đâu nữa! Tuyết Ngân gào lên: - Tuyết Nhi! Tuấn còn đang ngẩn ngơ thì đã có người nói sau lưng: - Linh hồn người chết đã siêu thoát rồi đó. Có lẽ cậu gặp may. Tuấn nhìn sang Tuyết Ngân, giới thiệu: - Đây là chị ruột của... xác chết! Ông Tùng Linh kêu lên: - Đúng rồi, y như trong sách! Tuấn không biết mình đang buồn hay vui. Chỉ có cảm giác là người nhẹ nhõm... *** Ba tháng sau, cả bệnh viện ngạc nhiên khi nhận được tin báo lễ đính hôn giữa bác sĩ Tuấn và y tá Liên! Sáu tháng sau nữa thì lễ cưới diễn ra. Sau ngày cưới, trong bữa nấu ăn đầu tiên phục vụ chồng, Liên vô tư lo o bế các món ăn cho ngon lành, trong lúc đó Tuấn hồi hộp theo dõi, cho đến khi Liên hoàn thành các món ăn, dọn lên xong thì anh mới thở phào. Tuấn cứ bị ám ảnh bởi lần cả nhà bếp bị đập phá tan tành khi Liên mang thức ăn tới. Nhà nghiên cứu tâm linh đã quả quyết: Đó là hành động ghen tuông của hồn người chết. Chính cô gái trong quan tài đã phản ứng khi có người phụ nữ khác xuất hiện trong nhà? Bây giờ thì hết rồi. Oan hồn đã rời đi. Từ nay Tuấn có thể sống hạnh phúc bên cô y tá ngoan hiền của mình. Trong ngày cưới anh có mời cả vợ chồng Tuyết Ngân đến dự... Phần 4 Thuần thắc mắc mãi về một đoạn trong lá thư của bạn mình gửi từ Huế vào: "... Cô nàng rất hiền, ngoan và rất đẹp. Nhưng có điều là tính hơi khó gần. Tuy nhiên mình vẫn muốn cậu nên làm quen. Mình đã kể về cậu cho cô ấy nghe và hình như cô ấy rất muốn được tiếp cận cậu. Mình nói sơ qua về tính cách cô ấy cho cậu nghe: Đó là người chuộng sự thật thà, không ưa dối trá, không thích mẫu đàn ông sống lãng mạn... nhưng cô ấy lại sống bằng nội tâm nhiều, ưa đọc truyện Bồ Tùng Linh, Hồn Bướm Mơ Tiên v.v... Cô ấy mới vào sống ở cùng thành phố với cậu, không có bạn bè, nên sự lui tới của cậu sẽ giúp cho cô đỡ cô đơn nơi đất lạ. Cậu nhớ kỹ, chỉ mình cậu quen cô ta thôi, tuyệt đối không được giới thiệu với người khác...". Từ lúc nhận được thư của bạn, đến nay đã qua một tuần rồi mà Thuần vẫn chưa có ý định liên lạc với người đẹp bạn định môi giới cho mình. Ngoài việc còn thắc mắc về cá tính của cô gái, Thuần còn chưa tìm được lý do để tiếp cận. Chẳng lẽ tìm tới và bảo: Bạn tôi tên là Phú, giục tôi tới gặp cô, xin được làm quen... Mà điều ấy Thuần không quen làm. Mãi cho đến sáng nay, chủ nhật, một cơ hội ngàn vàng đã tới một cách thật bất ngờ: Thuần nhận được một lá thư của ai đó gửi tới địa chỉ: 18 A cư xá Hồng Hà, quận TĐ, nhưng bưu điện lại nhầm với địa chỉ 18 A cư xá Hoàng Hà, nơi ở của Thuần. Có lẽ người ta nhầm giữa quận TĐ với TB và Hồng Hà với Hoàng Hà! Thuần cầm lá thư tới nhầm địa chỉ kia xem qua và chợt reo lên: - Cư xá Hồng Hà ở TĐ ư? Đúng là nơi đây rồi! Lấy lá thư của bạn ra, lúc này Thuần càng kinh ngạc hơn khi địa chỉ mà Phú ghi cho và giục Thuần đi tìm cũng chính là cư xá Hồng Hà này. Và còn lạ lùng hơn, số nhà và đường trong cư xá cũng trùng y nguyên như nhà của Thuần: 18 A đường Hoa Hướng Dương! Lúc này thay vì trách cứ đơn vị xây cư xá đã lấy trùng tên đường giữa hai nơi khác nhau, để gây ra sự nhầm lẫm này, Thuần lại thầm cám ơn họ, bởi nhờ có sự trùng hợp này nên sẽ có cớ cho Thuần tìm tới đây với lý do đầy thuyết phục: Trả lại bức thư bị phát nhầm! Sau hơn nửa giờ đắn đo, cuối cùng Thuần đã cầm lá thư và quyết định đi tìm chủ nhân thật của nó. Việc tìm ra cư xá Hồng Hà không khó. Nhưng khi hỏi đường Hoa Hướng Dương thì mọi người trong cư xá đều lắc đầu: - Cư xá này chỉ có các con đường nội bộ từ số 1 đến số 18, chứ làm gì có tên Hoa Hướng Dương! Thuần thất vọng vô cùng, vừa định trở ra thì chợt có một người đàn ông chạy ô tô ngang qua, chị chủ nhà đang trả lời Thuần chỉ và nói: - Ông đó là phó giám đốc xây dựng cư xá này, đâu hỏi thử coi. Bà ta vẫy tay gọi ông ta giúp Thuần, rồi lên tiếng hỏi: - Cậu này tìm địa chỉ trong cư xá này mà hỏi đường Hoa Hướng Dương, cư xá mình làm gì có tên đó, phải không ông phó giám đốc! Không ngờ người kia đáp ngay: - Có chứ! Cư xá này lúc xây xong chúng tôi đã từng đặt cho những cái tên toàn các loài hoa. Tên Hoa Hướng Dương là con đường số 8, phía dãy sau của nhà này. Sau đó nghĩ lại, chúng tôi mới đổi thành chữ số, cho dễ nhớ hơn. Thuần nghe nói mừng quýnh. Anh cám ơn họ rồi chạy vòng ra dãy nhà phía sau. Anh tìm được số nhà không khó. Bấm chuông và đứng đợi chỉ vài chục giây thì có một người phụ nữ trung niên bước ra. Bà ta nhìn qua Thuần và hỏi: - Cậu tìm ai? - Dạ, cho tôi hỏi, có phải đây là nhà của cô Yến Vĩ? Chỉ tay vào trong, người phụ nữ đáp: - Cô chủ có ở nhà, nhưng đang có tiệc. Cậu có phải là người được mời tới dự tiệc thì vào. Còn nếu không thì có lẽ... nên về, bữa khác tới. Thuần hơi lúng túng: - Tôi... tôi không phải tới dự tiệc. Số là... Anh chợt nhớ lá thư nằm trong túi, nên lấy ra và mạnh dạn lên: - Có một lá thư gửi cho cô Yến Vĩ ở nhà này, nhưng bưu điện lại phát nhầm địa chỉ của tôi ở tận trung tâm thành phố. Tôi đem đến trả. Đồng thời... Anh chưa nói dứt lời thì từ trong nhà có tiếng vọng ra: - Sao không mời khách vào nhà nói chuyện, dì Hai? Người phụ nữ trung niên nói vọng vào trong: - Thưa cô, đây là khách lạ, chỉ tới để trả lá thư thôi. - Người ta là ân nhân của mình, sao gọi là khách lạ. Mời khách vào đi. Thuần được mời vào trong. Vừa bước tới phòng khách, Thuần đã đứng sựng lại ngay. Bởi trước mặt anh là một cô gái tuổi khoảng mười tám đôi mươi, mà sắc đẹp thì làm lóa mắt bất cứ ai thoạt nhìn! - Mời cậu vào. Bà giúp việc phải nhắc lại khi thấy Thuần cứ ngẩn ngơ nhìn. Lúc này Thuần mới tỉnh lại, anh vụng về đưa phong thư tới trước, vừa nói: - Tôi nhận một lá thư phát nhầm. Tôi có thể gửi trả lại qua đường bưu điện, nhưng lại sợ nó bị lạc, nên nhân tiện tôi tìm tới đưa trực tiếp cho người nhận. Chẳng hay có phải cô là... Yến Vĩ? Cô gái đẹp như tiên nga cười rất tươi với Thuần: - Đúng là em. Bà người làm vội lên tiếng: - Kìa, cô Hạnh. Cô đâu phải là... Cô gái phá lên cười thành tiếng, trong trẻo: - Dì Hai nói kiểu đó, không khéo con lại mang tiếng là mạo nhận thì khốn? Tên Yến Vĩ là tên lúc còn đi học bạn bè đặt cho, ở nhà ít người gọi. Thuần buột miệng: - Đúng rồi, bạn tôi cũng nói như vậy! Cô gái ngạc nhiên: - Bạn anh biết em? Thuần kể lại một phần câu chuyện của Phú. Vừa nghe nhắc đến Phú, cô gái tên Hạnh đã reo lên: - Em có quen anh Phú. Khi ở Huế tụi em nhiều lần tới ăn ở quán cơm Âm Phủ ngoài đó. Em và Phú khá thân, cho đến khi... Cô nàng bỏ lửng câu nói, giúp Thuần dễ diễn đạt ý của mình hơn: - Phú có giới thiệu tôi gặp cô. Tôi cũng sống xa nhà, nên cũng cần có những người bạn đồng hương... Nàng phá lên cười hồn nhiên: - Anh ấy thì lúc nào cũng thế. Luôn luôn muốn bạn bè mình hạnh phúc, còn bản thân mình thì muôn năm đi tìm sự cô đơn. Câu chuyện giữa họ trở nên gần gũi và thân mật hơn, cho đến lúc Thuần chợt nhớ, anh đứng lên cáo từ: - Tôi quên là nhà đang có tiệc, xin lỗi Hạnh, để dịp khác chúng ta có thời giờ ôn lại chuyện quê nhà hơn. Bỗng từ nhà sau bước ra hai cô gái nữa, mà thoạt nhìn Thuần đã sững sờ! Cả ba người họ giống nhau đến đỗi Thuần không thể nào phân biệt được ai mới là cô Hạnh vừa nói chuyện với mình! Một cô lên tiếng: - Đã là khách đồng hương sao lại khách sáo như vậy! Cô còn lại cũng nói: - Bọn em ở trong nhà nãy giờ đã nghe hết rồi. Đã là bạn của anh Phú thì cũng là bạn của tụi này. Bữa nay chỉ là tiệc gia đình giữa ba đứa tụi em với nhau thôi, tại sao anh Thuần không là khách riêng, để tụi này có dịp thử tửu lượng! Cả ba cùng reo lên: - Phải vậy thôi! Họ rất tự nhiên kéo tay Thuần vào nhà trong. Lúc này Thuần mới biết là tiệc đang được bày ở sân sau ngôi nhà, nơi có một mảnh vườn nhỏ, xinh xắn. Mải mê lo ngắm cảnh vật, đến khi quay lại thì Thuần không còn phân biệt được ai là Hạnh nữa. Anh hơi lúng túng thì cũng may, một cô gái đã nói: - Em Tư, là khách của em, hãy mời một ly đi chớ! Thuần cố để ý dấu vết riêng của từng người, nhất là Hạnh, nhưng trong nhất thời chưa thể tìm ra, mà cả ba người họ lại mặc cùng màu quần áo, một kiểu may, tóc lại chải cùng cách với nhau, nên càng trông càng hoa mắt. Có lẽ hiểu được sự lúng túng của Thuần nên cô Tư quay sang chỉ từng người giới thiệu: - Đây là chị Hai, gọi là Hạnh nhất nương, còn đây là Hạnh nhị nương... Nhất nương mau mắn: - Người đang nói là cô Tư, tức Hạnh tứ nương. Tuy là út nhưng lanh nhất nhà, nên được bầu làm thủ lĩnh! Thuần e dè hỏi: - Thế còn... tam nương? Giọng họ chùn xuống: - Bữa tiệc hôm nay là giành cho Hạnh tam nương. Cô ấy đã ra đi trước chúng tôi rồi! - Xin lỗi. Tôi vô tình... Hạnh tứ nương lanh trí đúng như lời hai chị giới thiệu: - Người không biết thì không có lỗi! Họ nói chuyện giống như trong các phim võ hiệp Trung Hoa, khiến Thuần cũng thấy thích thú, anh pha trò: - Tại hạ không đa lễ nữa, nào ta cụng ly! - Trăm phần trăm đi huynh đài! Họ uống ngọt đến không ngờ! Và sau khi cạn ly, chính tứ nương đã nói: - Nếu huynh không chê đám gái quê này thì bữa tiệc này coi như lễ kết giao được không? Bọn này gọi là đại huynh nhé! Đã vô một ly nên Thuần mạnh dạn hơn: - Xin tuân lệnh. Lại một ly nữa. Thuần mới hai ly đã hơi nóng mặt, còn họ có lẽ đã uống với nhau trước khá nhiều, vậy mà lúc này trông họ vẫn không chút gì biểu lộ sự chuếnh choáng. Hơi men khiến cho hai má của ba chị em hồng lên, đẹp đến mê mẫn tâm thần người nhìn. Thuần không đừng được, đã buột miệng: - Khác nào Từ Thức lạc Thiên Thai! Cô chị lớn cũng pha trò: - Coi chừng nghen khi trở về dương thế Từ Thức râu tóc bạc phơ đó nghen! Họ lại phá lên cười. Thuần hứng chí quá, tự động rót một ly đưa tới trước mặt nhất nương: - Xin được uống với chị cả! Cô nàng chỉ tay sang Hạnh tứ nương: - Là khách thì phải uống riêng với người ấy, rồi mới tới bọn này! Không hổ danh là thủ lĩnh, tứ nương cũng rót đầy một ly, hưởng ứng ngay: - Tiếp đại huynh! Sau ly đó, đến lượt hai cô chị, họ uống xong và tấm tắc khen Thuần: - Quả xứng danh đại huynh của bọn này, bội phục, bội phục! Trước sau Thuần uống đã chục ly, tuy chưa say, nhưng người đã bắt đầu lâng lâng. Uống thêm ly nữa, anh chàng hứng chí đứng lên, như muốn nói gì đó, nhưng vừa định nói thì lảo đảo và suýt nữa đã đổ nhào vào người bên cạnh, ba cô gái cũng trong tình trạng như vậy, họ đồng thanh nói: - Đừng để huynh ấy té! Tuy miệng nói vậy, nhưng cuối cùng cả ba người họ lại cùng ngã nhào lên người của Thuần lúc ấy đã nằm sóng soài trên bàn tiệc! *** Trời tối dần...Bà giúp việc lúc ban ngày hầu như không thấy bóng từ lâu. Cả bốn người họ vừa tỉnh giấc. Thuần bật dậy đầu tiên, anh chàng sửng sốt khi nhìn thấy ba cô nàng đều trong tình trạng trang phục xốc xếch như vừa bị ai đó cưỡng bức! Khi nhìn lại mình, Thuần hốt hoảng kêu lên: - Sao thế này? Anh thấy mình cũng trong tình trạng như vậy. Thậm chí còn lạc mất chiếc quần dài! - Trời ơi! Chị... Một cô kêu lên, rồi cả ba đều thảng thốt kêu và đều bật dậy, tay chụp lấy ngực và giương mắt nhìn Thuần đang ngơ ngác. - Anh... anh đã... Lúc này Thuần hoàn toàn không nhận ra ai là chị ai là em, nhưng nghe một cô lớn tiếng hỏi, anh đoán đó là cô chị lớn: - Anh đã làm gì chị em chúng tôi? - Tôi không... tôi cũng... Cả ba cô gái đồng loạt khóc nức nở, khiến Thuần càng hoảng hốt hơn: - Các cô hiểu lầm rồi, tôi cũng vừa mới tỉnh lại, tôi đâu có biết gì, tôi không hề... Mặc cho lời biện bạch của Thuần, ba cô cứ khóc và quên hẳn việc phải xốc lại xiêm y. Cũng may lúc ấy chung quanh họ là màn đêm và không có một ai khác. Thuần đưa mắt nhìn quanh và bất chợt nhìn thấy chiếc quần dài của mình máng trên cành cây gần đó. Anh rón rén đứng dậy, định lấy quần mặc vào thì đã nghe một tiếng quát: - Anh tính chạy làng phải không! Vừa kêu họ vừa đồng loạt kéo Thuần trở lại. Thuần bị té sấp lên họ và chẳng biết tại sao anh lại như mê đi... Bên tai Thuần nghe văng vẳng tiếng nói của họ. Một người bảo: - Xử anh ta sao đây? - Gây ra cái gì thì phải lấy cái đó mà trả! - Anh ta đã làm nhục em chưa? Không nghe câu trả lời. Lại giọng nói ấy lên tiếng: - Mấy chị thế nào cũng được, chỉ sợ em tư thôi. Một giọng nũng nịu: - Sao cứ gọi là tư này tư nọ, người ta được gọi là tứ nương, quên rồi sao? - Ờ thì Tứ Nương. Hạnh tứ nương! - Như vậy có phải nghe hay hơn không! - Thôi được rồi. Giờ nhường cho em xử lý hắn ta. - Nhớ phải mạnh tay đấy nhé! Một tràng cười khoái trá: - Muội muội sẽ không làm các tỷ thất vọng đâu! Dường như có hai bóng người đứng lên, rời nơi ấy. Chỉ còn Thuần và cô út. Tuy đầu óc vẫn còn nhận biết, nhưng hầu như cơ thể Thuần đã bất động. Anh cảm thấy nhột từ bàn chân trở lên và rồi như bị cù vào chỗ nhạy cảm, anh gồng mình lên để chịu đựng, nhưng càng lúc cảm giác nhột, khó chịu càng tăng thêm. Đến một lúc không còn chịu nổi nữa, Thuần cố thét thật to. Tuy nhiên mọi phản ứng lúc đó đều vô hiệu. Anh chàng mềm như bún, lã đi, nhưng vẫn còn cảm giác, đi từ chỗ nhột đến không thể chịu được, chuyển sang một cảm giác lạ lùng, khó tả... Đến khi Thuần có cảm giác như có ai đó lay gọi mình. Anh từ từ mở mắt ra... - Anh ta tỉnh lại rồi! Ai đó reo lên, cùng lúc Thuần mở mắt và ngơ ngác khi thấy trước mặt mình có khá đông người! - Sao... thế này? Một người lớn tuổi đứng cạnh lên tiếng: - Chú em chắc tối qua xỉn quá nên quên trời đất, hả! Thuần ngước lên nhìn, khi thấy có nhiều người nhìn chăm chú vào mình, anh vội bật dậy và phát hiện chỗ mình nằm là một bãi cỏ ven đường! - Sao tôi... Ông lão bên cạnh lại lên tiếng: - Vừa rồi chính tôi đi tập thể dục sớm ngang qua đây, phát hiện cậu nằm ngủ say chỗ này nên hoảng hốt, tưởng cậu bị tai nạn, đến khi lay cậu mới biết cậu còn sống. Sao cậu liều quá xe cộ cứ bỏ mặc đó, nằm ngủ ngon lành ở đây. Lúc này Thuần mới nhớ lại chiếc xe gắn máy của mình, anh kêu lên: - Xe của tôi! Cụ già chỉ tay phía gần đó, bảo: - Sợ kẻ xấu lấy, nên tôi cho dẫn tới để chỗ kia. Cậu xem lại coi có mất cái gì nữa không? Thuần sờ vào túi quần, áo, thấy mọi thứ vẫn còn nguyên. Anh hỏi: - Đây là đâu vậy bác? Chỉ tay về phía trước mặt, ông cụ đáp: - Đây là nghĩa địa là chỗ ban đêm không ai dám vào nên cậu mới may mắn không bị mất xe. Nhưng sao cậu lại vào chốn này? Nhớ lại mọi việc, Thuần kêu lên: - Chị em họ! Ông cụ ngạc nhiên: - Ngoài cậu ra còn có ai đi cùng nữa sao? - Dạ không... Nhưng mà... Anh nhìn quanh thấy toàn là mồ mả, hoảng hốt: - Thế nhà họ đâu? - Nhà ai? - Họ có ba chị em. Họ... Thấy mọi người không hiểu, Thuần sau một phút lưỡng lự, đã đột ngột hỏi: - Cư xá Hồng Hà ở đâu? Ai cũng ngơ ngác: - Ở đây làm gì có cư xá đó. Thuần nhớ như in mọi chuyện đêm qua, kể cả cái cảm giác lâng lâng vẫn còn trong người. Anh chẳng nói thêm lời nào, chạy thẳng tới chỗ chiếc xe của mình, rồ ga chạy một mạch. Mấy người đứng đó lắc đầu ngao ngán: - Thằng này chắc là tâm thần rồi! Thuần chạy quanh đó nhiều vòng, anh cố tìm lại cư xá và số nhà... Nhưng chẳng hề có nơi nào như anh đã gặp hôm qua. Hỏi thăm thì có người bảo: - Ở đây gần nghĩa địa, coi chừng gặp ma đó! Thuần thẫn thờ đứng ở góc đường như một kẻ tâm thần thật sự... *** Rời khỏi sân bay Phú Bài trong tâm trạng nôn nóng, nên Thuần gọi ngay chiếc xe ôm đi về Gia Hội. Vừa tới trước cổng nhà Phú anh đã cất tiếng gọi to:- Có nhà không Phú ơi! Phải gọi lần thứ hai thì mới có người ra mở cổng. Đó là bà Lụa, mẹ Phú. Nhác trông thấy Thuần bà đã òa lên khóc! Thuần ngơ ngác: - Kìa bác! Bác sao vậy? Bà Lụa không trả lời càng khóc lớn hơn. Thuần phải tự đẩy cổng vào, anh cầm tay người mà xưa nay anh vẫn coi là mẹ thứ hai của mình: - Có chuyện gì vậy bác Tư? Còn thằng Phú đâu? Lúc này bà mới nói được mấy tiếng: - Thằng Phú... bỏ đi rồi! - Đi đâu? Thằng Phú... Bỗng bà đấm mạnh vào vai của Thuần: - Mày ác lắm! Mày ở lại mà không cho nó cùng ở, để nó bỏ đi mất, đi biệt rồi! Thuần hoảng hốt: - Mà nó đi đâu? - Phải rồi, đến ngày đi chôn nó mà mày cũng không về, nên làm sao mày cứu nó ở lại được! Như nghe một tiếng sét đánh mang tai, Thuần kêu to: - Bác nói gì, ai chết? Thuần tốc chạy thẳng vào nhà và khựng lại khi thấy trên bàn thờ mới là bức ảnh chân dung của Phú! - Trời ơi! Giọng bà Lụa lạc đi: - Nó chết đã mấy tháng nay rồi, tại sao mày không hay? Thuần hỏi lại: - Bác nói sao? Phú chết bao giờ? - Còn hai ngày nữa là đủ bốn mươi chín ngày. Thuần lẩm nhẩm tính rồi kêu lên lần nữa: - Không thể nào! Chính con mới vừa nhận thư của nó cách nay mấy ngày... Anh móc cái thư trong túi nhìn lại cả dấu bưu điện đi và đến rồi đưa cho bà Lụa xem: - Ngày gửi chỉ cách đây mười ngày, còn ngày nhận thì ba bữa trước. Như vậy sao bác nói Phú chết gần hai tháng? Nghe Thuần nhắc, bà Lụa mới nín khóc, bà cầm lấy lá thư nhìn thật kỹ, có lẽ nhằm kiểm tra lại nét chữ, xem có nhầm lẫn gì không. Nhưng hoàn toàn đúng nét chữ của Phú khó mà lẫn lộn với ai, dẫu cho có viết tháo hay cách nào thì thoạt trông qua bà mẹ đã nhận ra ngay. Khi cơn xúc động hạ bớt, bà Lụa kể cho Thuần nghe mọi chuyện, mà trong đó có một chi tiết vừa nghe qua Thuần đã kêu lên ngay: - Bác nói Phú đi cùng với ba cô gái rồi bị nạn? Bà Lụa gật đầu: - Trước hôm mất, có một cô gái tên là Hạnh nói là từ Sài Gòn ra thăm nó, thằng Phú dẫn vô giới thiệu với bác và còn mời ở lại ăn cơm nữa. Nhưng cô gái ấy từ chối, nói là phải về nhà người quen ngay, bởi đang có hai người chị đang đợi cơm. Thế rồi thằng Phú lấy xe đưa cô ấy về, nghe nói là ở gần Lăng Cô. Và hôm sau bác hay tin nó chết ở chỗ đó! - Lăng Cô? Thuần lẩm nhẩm trong miệng hai từ đó vài lần, hình như anh đang cố nhớ ra điều gì đó... Rồi chợt Thuần reo lên: - Đúng rồi! Bà Lụa ngạc nhiên: - Con nói cái gì đúng? - Lúc con ra đây hồi năm rồi, chính Phú đã kể cho con nghe, nó có quen một cô gái ở Lăng Cô, nhưng cô ấy đã chết cách đó mấy năm. Bà Lụa xác nhận: - Đúng, đó là con Hoa Lê, người yêu của nó. Chính cái chết của con nhỏ này mà khiến cho thằng Phú mất ăn mất ngủ cả năm trời. Nhưng chuyện đó với chuyện cái chết của nó có gì liên quan nhau đâu? Thuần thừ người ra một lúc, rồi chợt nói: - Con ngờ ngợ chuyện này... Mà bác nói Phú chết khi đi chung xe với mấy cô gái rồi xe bị rơi xuống vực lúc qua đèo Hải Vân? - Bác nghe dân quanh đó nói vậy. Nhưng khi tìm xác thì chỉ thấy mỗi mình thằng Phú, bác chẳng thấy dấu vết gì của bạn nó. - Bác biết nhà của cô Hoa Lê ở đâu không? Bà Lụa nhẹ lắc đầu: - Bác có nghe nói là ở ngay cuối làng chài, nhưng do già cả rồi nên bác đâu có dịp tới đó. - Hoa Lê... nhất định con sẽ tìm ra! Thuần vừa nói vừa vụt đứng lên định đi. Bà Lụa ngạc nhiên: - Con mới ra, sao không ở lại với nó, mà tính đi đâu? - Dạ, con đi tìm nhà cô Hoa Lê! - Để làm gì? - Con ngờ ngợ thế nào ấy... Muốn tìm cách ngăn, nhưng trước sự cương quyết của Thuần, bà Lụa chỉ lắc đầu nhìn theo bóng của anh ta khuất ở ngoài cổng. Thuần gọi một chiếc xe ôm, bảo chở về hướng đèo Hải Vân. Khi đến khúc quanh nhìn xuống Lăng Cô, anh bảo: - Nếu có thể được thì anh đợi tôi trên này, tôi ra thăm một người quen bên Lăng, chừng hơn tiếng đồng hồ. Lúc về tôi sẽ trả cả tiền đợi cho anh. Người chạy xe ôm vui vẻ: - Cậu cứ đi, tôi ngồi ở quán nước ven đường kia uống cà phê đợi. Chứ giờ này xách xe không chạy về Huế thì cũng phí mà lát nữa khi cậu về cũng khó mà đón xe ở đoạn này. Thuần một mình qua làng chài Lăng Cô. Anh lần mò hỏi thăm nhà Hoa Lê thì thật bất ngờ, hầu như ai cũng biết. Một bà già chỉ hướng cho Thuần: - Cậu đi theo lối này, qua hết hơn chục cột phơi lưới thì thấy căn nhà sơn màu xanh nằm cheo leo gần bờ biển, đó là nhà của con Hoa Lê. Nhưng cậu kiếm nó làm gì, khi con bé đã chết lâu rồi? Thuần lúng túng: - Dạ... cháu muốn... tìm người nhà cô ấy. Bà cụ thở dài: - Có còn ai đâu mà tìm! Thuần trố mắt nhìn: - Sao vậy bác? Thế cha mẹ, anh em cô ấy? - Nhà đó chỉ có hai mẹ con. Sau khi Hoa Lê chết được một năm thì do đau buồn nên bà mẹ cũng ngã bệnh nặng, bỏ vào chân đèo ở một mình. Từ đó căn nhà này bỏ hoang, không ai ở. Mãi cho đến khi cách đây gần hai tháng thì bỗng có ba cô gái lạ, từ Sài Gòn ra, họ cũng tìm tới ngôi nhà của Hoa Lê, nói là bạn thân, do không biết tin Hoa Lê chết nên ra thăm. Họ cũng gặp tôi, nhờ tôi cho vào ở nhờ nhà không chủ đó, do lỡ độ đường. Tôi thấy không có gì trở ngại nên để cho họ vào ở. Không ngờ... Ngừng lại một lúc, rồi bà tiếp lời, làm cho Thuần giật bắn người: - Ngày hôm sau một trong ba cô gái đó đi đâu trở về, có dẫn theo một chàng trai. Họ vào nhà một lúc rồi cùng kéo nhau đi. Nghe nói họ cùng lên một chiếc xe hơi đậu chờ sẵn trên đèo. Thế rồi chỉ nửa tiếng sau, tôi nghe tin cả bọn họ đều tử nạn, do xe lạc tay lái, rơi xuống vực! Bà cụ kể trong nước mắt, khiến Thuần cũng rưng rưng. Rồi bà tiếp lời: - Hình như mấy người con gái lạ đó còn để nguyên hành lý trong nhà con Hoa Lê. Không đợi nghe thêm, Thuần vội chạy tới chỗ ngôi nhà. Cổng chỉ chốt chớ không khóa, cửa bên trong cũng thế. Nên Thuần vô nhà khá dễ. Anh cũng tìm được ngay một chiếc xách tay khá lớn nằm ở góc nhà. Trong giỏ xách ngoài một số quần áo nữ, còn có một quyển sổ xinh xắn, ngoài bìa có ghi mấy chữ khá nắn nót: Hạnh tứ nương. - Đúng là họ rồi! Thuần lặng người đi một lúc rồi mới cầm quyển sổ đó bước ra ngoài. Bà cụ vẫn còn đứng đó, bà hỏi ngay: - Cậu có tìm thấy gì không? Thuần đưa quyển sổ và nói: - Đây là kỷ vật của bạn cháu. Xin phép bác, cháu muốn được cầm về. Bà cụ mau mắn: - Còn quần áo, đồ đạc gì đó cậu cứ mang đi, bởi từ lúc tai nạn xảy ra tôi cứ chờ hoài mà chẳng thấy thân nhân họ ra đây tìm, nên những gì trong ngôi nhà đó vẫn còn nguyên. - Dạ, cháu chỉ xin lấy quyển sổ này thôi. Điều Thuần nôn nóng nhất muốn hiểu thêm là dòng địa chỉ ghi dưới trang đầu của quyển sổ. Địa chỉ khác của Hạnh Tứ Nương. *** Dòng địa chỉ 128 đường Hoa Hướng Dương khiến cho Thuần mất toi hai ngày để tìm mà cuối cùng vẫn phải bó tay. Cư xá Hồng Hà đã là một nơi ảo, ngoài ra chẳng nơi nào có tên như vậy. Chạy xe lòng vòng mất bốn bình xăng mà vẫn tìm chưa ra, Thuần hơi nản, định ra về thì đến phiên chiếc xe trở chứng, chết máy khi chạy tới một đoạn vắng có nhiều xe container đậu nối đuôi nhau.Vừa dẫn xe Thuần vừa càu nhàu, bỗng có ai đó gọi anh từ sau lưng: - Cậu ơi! Quay lại nhìn, Thuần quá bất ngờ khi gặp bà giúp việc nhà của chị em Hạnh hôm trước! - Bà... bà là... - Tôi là người làm của các cô Hạnh, cậu gọi tôi là Dì Tư. Cậu đi tìm các cô ấy phải không? Không ngờ buồn ngủ lại gặp chiếu manh, Thuần mừng quá, quên cả cơn mệt trong người: - Dạ, cháu tìm mấy ngày rồi, mà cái địa chỉ này... Dì Tư lặng lẽ bước đi trước, bảo khẽ: - Cậu theo tôi ắt gặp. Dẫn xe đi không xa lắm, đến cuối hàng xe tải đậu, họ quẹo vào một con đường mòn nhỏ, lúc này Thuần mới lờ mờ nhận ra có cái gì đó quen quen trước mắt... Khi qua khỏi một hàng me tây tàng lá rậm rạp, Thuần chợt nhận ra, anh kêu lên: - Chỗ này rồi! Thì ra từ chỗ Thuần đang dừng xe, nhìn xuyên qua một hàng rào gỗ cao là khu vườn mà hôm trước anh đã cùng ba cô gái ngồi nhậu với nhau! Không thể lầm được, bởi bộ bàn ghế đá màu trắng bên cạnh giàn hoa hướng dương cao gần ngang ngực. Thấy Thuần còn ngơ ngác đứng nhìn, bà Dì Tư giục: - Cậu vào đi, tới nhà rồi đó. - Cháu nhớ ra rồi. - Thuần nói. Lúc mở cửa cho Thuần vào trong rồi, bà người làm mới bảo: - Đây là cổng sau, bữa trước ngồi trong vườn chắc cậu nhìn ra đây rồi phải không? Còn cổng trước là cư xá, hôm cậu đi vô, nhưng ngay chiều hôm đó do người ta đào hệ thống cống nên đã chận ngang không cho vào lối đó. - Nhưng sao cháu hỏi, không ai biết cư xá Hồng Hà? - Cậu không biết, chứ ở đây người ta kỵ cái tên đó. Bởi trước kia khu đất này nguyên là nghĩa địa Hồng Hà, bây giờ thành khu dân cư rồi, không ai còn muốn nhắc tới cái tên cũ, nên hễ nghe ai hỏi tên Hồng Hà thì người ta không chỉ. Hình như đã đoán biết việc Thuần trở lại đây nên bà Tư nhìn anh một lúc rồi ngập ngừng: - Cậu đã biết chuyện về ba cô Hạnh? Thuần nhìn quanh một lượt, rồi nhìn thẳng vào mắt bà: - Có đúng là cả ba cô đều đã... chết? Bà Tư thở dài: - Tội nghiệp họ. Đúng là hồng nhan bạc phận! - Nhưng họ chết ở đèo Hải Vân, sao lại hiện ra ở chỗ này? Giọng bà thật buồn: - Tôi đã đưa họ về đây và tôi đã nguyện là sẽ sống cùng họ suốt đời... Bà nói xong thì khóc nức nở, khiến Thuần cũng xót xa trong lòng. Hồi lâu anh mới hỏi: - Bác là thế nào với ba cô ấy? Bà hỏi ngược lại: - Cậu biết nhà Hoa Lê ở Lăng Cô chưa? - Dạ biết. Cháu mới về chỗ ấy xong. - Tôi là mẹ của Hoa Lê. Nhớ lại lời kể của bà hàng xóm ở làng chài, Thuần hỏi: - Có phải sau khi Hoa Lê mất, bác đã bỏ vào chân đèo ở và không trở về nhà nữa? Lại một lần nữa bà thở dài: - Không phải tôi tự vào đó ở, mà là con Hoa Lê cứ giục mãi. Nó muốn tôi vào đó, nơi căn lều kiểm lâm trước kia của cha nó. Lúc đầu tôi không biết để làm gì, cho đến khi vụ tai nạn xảy ra, cả chiếc xe rơi xuống vực, trong đó có ba cô con gái và một anh chàng, thì tôi hiểu, bởi trước đó đêm nào vong linh con Hoa Lê cũng về báo cho tôi biết, sắp có bạn nó đi tìm nó và dặn tôi là sau khi tiếp nhận họ thì tôi phải mang xác họ ra khỏi nơi đó, không để ai biết tung tích họ ở đâu! Thuần buột miệng: - Thảo nào chẳng ai tìm thấy xác họ đâu! Lát sau bà Tư tuần tự kể lại câu chuyện mà Thuần đang muốn biết: - Con Hoa Lê nhà tôi vốn cùng với ba cô gái tên Hạnh trong một buổi lễ cầu hồn đã kết bạn với nhau. Nó không liên hệ huyết thống gì với họ, nhưng lại nhận mình là chị em, mang tên là Hạnh Tam Nương... Thuần chợt kêu lên: - Hạnh tam nương! Nhân vật vắng mặt hôm bữa tiệc? Lời giải thích của bà khiến Thuần lạnh cả người: - Hồn con tôi bị một cái vong trong buổi cầu hồn ám nên dẫn dụ ba cô gái sinh ba tên Hạnh cùng chết theo mình và cùng kết bạn thành nhóm Tứ Nương. Nhưng từ khi về đây lập ra cái vườn Âm Hồn này thì con tôi bỏ đi, theo người yêu nó. - Theo Phú? Bà gật đầu: - Đúng là Phú. Chính nó đã bắt Phú đi theo. Tôi buồn lắm vì chuyện đó. Bị nó làm cậu Phú chết oan. Nhưng biết làm sao, khi luật của cõi âm là như vậy, khi oan hồn yêu ai thì muốn người yêu ở dương thế đi theo... Chợt quay sang Thuần, bà nói: - Cậu may mắn nên giờ này còn ngồi đây. - Bác nói vậy là sao? - Thuần ngạc nhiên. - Khi cậu tìm tới đây hôm đó là do mấy cái oan hồn này muốn cậu tới. Có phải cậu tới sau khi nhận được tin của bạn cháu? - Phải, cháu nhận được thư của bạn cháu. - Trong lúc cậu Phú đã chết trước đó lâu rồi! - Dạ... Bà lại thở dài: - Tôi đã can ngăn mãi mà chúng không nghe. Nhất là con Hạnh tứ nương, nó cứ nằng nặc đòi chiêu dụ cho bằng được một người con trai, để nó được siêu thoát khỏi kiếp oan hồn! Trong cõi âm, những cô gái chết oan nếu muốn thoát kiếp thì cần có một người con trai tới, để cùng đi với họ. Cậu đáng lẽ đã chết ngay sau bữa tiệc ở khu vườn này đêm hôm đó, nếu không có cuộc cãi nhau rồi sinh huyết chiến giữa con Hoa Lê nhà tôi với ba cô Hạnh đó... chính người bạn tên Phú của cậu, đã cùng với con Hoa Lê chống lại ba chị em họ, giải thoát cho cậu khỏi bị bắt hồn. Và cũng từ đó những oan hồn tụ họp ở đây cũng vĩnh viễn ra đi. Tôi cũng không muốn lưu lại đây làm gì, bởi nhiệm vụ không cưỡng lại được trước đây, nay đã được giải thoát. Nhưng nghĩ đến cậu, nên tôi nán lại, gặp cậu lần nữa, nói cho cậu hiểu mọi chuyện, để cậu đừng đi tìm chị em nhà ấy nữa, họ là hồn ma cả đó... Nghe kể tới đâu Thuần lạnh người đến đó. Anh xót xa: - Dẫu sao cũng tội nghiệp họ. Bà Tư cũng đồng tình: - Chính vì thương họ nên tôi mới chịu đựng sự khống chế của họ, để giúp họ sống yên trong khu vườn này thôi, không ra ngoài phá phách thiên hạ. Bà ra dấu bảo Thuần đi theo. Dẫn anh vào trong nhà, bà chỉ bàn thờ có năm bát nhang: - Tôi thờ hết bọn họ ở đây, kể cả bạn cậu. Cậu cũng nên thắp cho chúng nó một nén nhang. Cậu yên tâm, từ nay chúng đã siêu thoát cả rồi, không hiện về nữa đâu. Đốt nén nhang, Thuần khấn rất thành khẩn và đứng rất lâu trước bàn thờ họ... Khi ra về, đi ngang qua khu vườn "Âm Hồn", tự nhiên Thuần bắt rùng mình... Phần 5 Gánh hát đến đây hơn bốn ngày rồi mà trời thì mưa suốt do có một cơn bão lớn ngoài biển Đông, trời đất ủ dột, mây đen che phủ bầu trời, gió giông tơi tả những cành cây còi cọc. Chung quanh là núi, núi hiện ra với màu sắc lạ lẫm, nhăn nhó trong các ánh chớp lòe. Anh em nghệ sĩ đói meo. Ở trong ngôi chợ chật hẹp, mưa lại dột tứ bề nên Minh Kim tự ý dọn vào một ngôi nhà vô chủ cách đó vài trăm thước và ở đó một mình. Nhà hoang nhưng vẫn còn mái che tốt, vách bốn bên chưa rách lắm nên Minh Kim có thể an ổn tránh được những cơn mưa làm nản lòng người. Tuy ở một mình có buồn thật nhưng Minh Kim vẫn thích thú khi nghĩ mình mới là người khôn ngoan, trong khi chờ đợi ngày đẹp trời đoàn sẽ có một ngày khua chiêng gõ trống để có một chút lương còm thì thà nằm bẹp dí ở đây còn hơn là cứ ngồi ủ rũ ở giữa chợ huyện bốn bề mưa tạt. Theo Minh Kim, anh đã đi lưu diễn khắp bốn phương trời rồi nhưng chưa đâu có cảnh mưa lại buồn như ở đây. Gió mưa cứ phủ mờ trời đất. Xa xa là những dãy núi đen thẫm, mịt mờ trong bóng mưa trắng xóa. Ngay đêm đầu tiên Minh Kim dọn ra ngôi nhà này nhiều nghệ sĩ đã dọa: "Mày có biết cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận chưa? Coi chừng!". Xếp đồ đạc vào một góc xong. Minh Kim ôm mền gối leo lên chiếc chõng tre ngồi đốt thuốc nhìn cảnh mưa giông lạnh lẽo đang xao động bên ngoài. Thấy lạnh anh chàng lại nhảy xuống mò vào bếp ăn cũ, may sao còn một số củi than. Loay hoay một hồi Minh Kim cũng gầy được lò than cháy đỏ tỏa hơi ấm. Minh Kim thích thú ca mấy câu "xàng xê" rồi nằm dài trên giường đợi chờ giấc ngủ. Mưa vẫn xối xả bên ngoài. Minh Kim cứ nằm đó trằn trọc mãi. Tâm trí chàng ta thả trôi đâu đâu, có lúc thấy như mình vẫn thức. Có lúc lại thấy như đang mơ... Nửa khuya hình như cơn bão hơi tan mưa chỉ còn những hạt nhẹ. Bỗng dưng trong lúc nửa thức, nửa ngủ Minh Kim nghe có tiếng giọng nói của một phụ nữ: - Anh kia ở đâu sao dám ngủ ở giường ta? - Tôi là nghệ sĩ lang thang, xin cho tôi ở tạm đôi ngày rồi đi. - Minh Kim nói trong vô thức. - Phải đi ngay. - Tiếng cười xa xăm. - Trời mưa gió làm sao đi được? Thôi xin cho tôi được ngủ qua đêm rồi mai tôi sẽ dọn đi. - Minh Kim năn nỉ. Một giọng cười nhạt: - Ai tin nổi bọn đàn ông các người. Minh Kim muốn trở dậy nhưng hai mắt cứ ríu lại. Rồi đột nhiên trong cảnh mông lung nửa hư, nửa thật Minh Kim thấy một khuôn mặt một người con gái với hai mắt sâu thẳm, đôi chân mày lá liễu với chiếc mũi dài thanh tú hiện ra. Đôi môi con gái đỏ mấp máy: - Lâu rồi ta chẳng có đàn ông, chắc chàng là duyên số. Ta ở dưới này đã năm mươi năm rồi, ta lạnh lắm. Ta mong có ai ôm ấp ta. - Dưới này là đâu? Minh Kim lắp bắp hỏi. Cái miệng với đôi môi đỏ như máu thổi một hơi dài vào lò than sắp tắt. Lửa lại lóe sáng lên, ánh lửa tí tách nổ và bóng tối hòa trộn thành một thứ ánh sáng chập chờn có màu huyền bí kỳ dị. Và giữa làn ánh sáng ma quái ấy toàn thân người con gái dần dần hiện ra giống như pho tượng khỏa thân mà Minh Kim đã có lần nhìn thấy bên một ngôi tháp cổ. Song tất cả tấm thân gợi cảm ấy hình như được quấn quanh bởi một làn sương trắng lay động mờ ảo. Người Minh Kim nổi gai ốc, tóc dựng đứng. Đây là ma quái yêu tinh rồi! Minh Kim quấn chặt tấm chăn lùi vào sát vách. Con mắt màu xanh chợt chớp lóe giống mắt con rắn lục thôi miên. Cái miệng mở ra tối tăm một nụ cười. - Chàng định chạy trốn ta ư? Chàng đã đến đây rồi, ta yêu chàng thì chàng chạy đâu cho thoát? Thế giới của loài ma đâu có không gian, dù chàng có chạy xa ngàn dặm chỉ chớp mắt là ta vẫn ở bên chàng. Không sao đâu người yêu dấu, ta đâu có làm hại người. Minh Kim líu ríu van xin: - Cô ơi hãy tha cho tôi, tôi chỉ vô tình mạo phạm vào đây. Xin cho tôi được đi ngay! Khuôn mặt xanh mét từ từ di chuyển đến sát mặt Minh Kim: - Đi đâu hỡi chàng kép đẹp. Ở đây đêm khuya thanh vắng chỉ có ta và chàng, sao lại nỡ bỏ khoảnh khắc ngàn vàng này? Tự nhiên chiếc chăn quấn quanh người Minh Kim như có ai kéo ra khỏi người anh ta và bay là đà lên trần nhà. Rồi cả áo quần Minh Kim cũng tự nhiên bung ra và bay vút lên cao. Một thân người con gái trắng nà như sương khói từ từ quấn lấy Minh Kim. Một bàn tay nhẹ như làn gió thoảng đẩy chàng ta ngã xuống tấm chõng tre nứa. Minh Kim nghe tiếng thở dồn dập nhưng anh không rõ đó là tiếng thở của mình hay của ai. Hình như trời đất đang đảo lộn, hình như giữa mây và mưa đang quấn vào nhau trong một cơn bão lặng yên ma quái. *** Buổi sáng Minh Kim thức dậy thấy mình trần truồng trong tấm chăn mỏng. Anh nghe người bải hoải như thể suốt đêm qua mình không ngủ được. Câu chuyện đêm qua hiện về Minh Kim chẳng biết chuyện đó là chuyện thật hay chỉ là giấc mơ ma quái? Đầu Minh Kim nặng trĩu, hai mắt mở không muốn lên.Thấy đói, Minh Kim định đi ra chợ với đoàn hát song hai chân anh nặng trịch, người lảo đảo. Bỗng dưng Minh Kim thấy trên chiếc bàn tre xiêu vẹo có một rá cơm và mấy miếng khô rừng. Không nghĩ ngợi, Minh Kim ngấu nghiến ăn, hạt cơm thơm giống như cơm lam, còn mấy miếng khô rừng thì béo ngậy, rất hợp khẩu vị. Đang ăn Minh Kim thấy mấy người bạn trong gánh hát đang đi tìm mình chỉ cách nhau có vài mét nhưng hình như họ không thấy anh. Minh Kim lên tiếng gọi họ nhưng tiếng anh lạc đâu vào một chốn xa xôi nào đó khiến chẳng ai nghe thấy. Dường như giữa anh và họ có một bức tường vô hình ngăn cách. Minh Kim thất vọng nằm xuống. Bất chợt anh nghe đâu từ ở dưới lưng anh sâu dưới lòng đất có một tiếng cười giòn tan sảng khoái: - Đừng gọi họ vô ích chàng ơi! Bây giờ chàng là của em rồi, như vậy hai ta đã là của nhau. Chàng sẽ mãi mãi ở đây cùng thiếp. Tiếng cười, tiếng nói như mơ hồ, văng vẳng chợt xa, chợt gần mà chẳng biết xuất phát từ nơi đâu. Cơn bão vẫn chưa tan. Mới nắng ráo được một chút thì mây đen lại bao phủ, sấm chớp đầy trời. Rồi chỉ mươi phút sau cả bầu trời trở thành biển nước ào ào đổ xuống. Chung quanh là một làn mưa trắng xóa. Căn nhà hoang chìm trong một thứ ánh sáng lờ mờ lạnh lẽo. Chợt dưới ánh sáng của một tia chớp Minh Kim lại thấy cô gái ban đêm xuất hiện. Cô gái ngồi trên chiếc ghế tre, đôi mắt buồn bã. Hình như từ hồi có cô gái xuất hiện đến giờ ngôi nhà không còn lắc lư dù mưa gió bên ngoài đang gào thét dữ dội. Minh Kim lo lắng nhìn cô thiếu nữ ma: - Em ơi, em tên gì và từ đâu đến? Hôm nay sao người tôi bải hoải như sắp đau. - Tại anh đêm rồi quá ham mê tửu sắc. Không sao đâu em có sẵn cái này cho anh uống. Uống xong sẽ khỏe ngay thôi. - Thiếu nữ hơi mỉm cười. Rồi cô nàng vẩy tay, một cái chén màu lục từ từ bay về phía Minh Kim, một mùi hương như mùi hoa lài tỏa ra thơm ngát, sẵn đang khát, Minh Kim bưng lấy uống một hơi. Chỉ nửa khắc, chàng nghệ sĩ tha hương nghe một hơi nóng từ vùng đan điền dâng lên ngùn ngụt, đồng thời chàng cũng thấy một sự thèm muốn bốc cháy. Đôi mắt xanh màu rắn lục cũng lao về phía Minh Kim và họ quấn lấy nhau giữa tiếng gió mưa sấm chớp... Sau một giấc ngủ ngắn nhưng Minh Kim lại ngỡ như mình đã thiếp đi lâu lắm, trời bắt đầu ngớt tạnh. Người con gái vẫn còn ở trong chăn với anh, Minh Kim nghe hương hoa lài sực nức bao trùm giữa hai người. Minh Kim mân mê ôm hôn cô gái: - Hôm qua đến giờ chúng mình đã chung chăn gối với nhau mà em vẫn chưa cho biết tên em? Tiếng cười giòn tan: - Hai ngày qua em thấy chàng hạnh phúc quá nên tạm chưa nói đó thôi. Em là Sami mới tròn hai mươi lăm tuổi. - Sao em nói em đã ở dưới ba, bốn chục năm rồi? - Vâng đúng thế. Lúc chết em mới vừa hai mươi lăm tuổi. Nhưng chết cách nay đã ba bốn mươi năm rồi. - Anh không tin em là ma đâu. Anh đang ôm em trong vòng tay đây này. Da em mịn màng, tóc thơm mùi hoa lài. Em phải là một tiên nữ mới đúng. Tiên nữ Sami ơi, đừng có dối anh. - Minh Kim cười sặc. Sami cục cựa trong vòng tay của Minh Kim: - Không, ma đấy... Bất chợt trong chăn có tiếng gì đó lục cục và Minh Kim thấy như thể mình đang ôm một bộ xương người lạnh cóng. Minh Kim kinh hoàng định tung chăn bỏ chạy, song tiếng Sami lại ở bên tai Minh Kim: - Anh làm gì thế, em đây mà. Minh Kim sờ lại, vẫn là Sami với da thịt căng tròn và mùi hương lài nồng nặc bên mũi. Sami vuốt ve nhè nhẹ sống lưng Minh Kim vỗ về: - Anh ơi, đừng sợ, em sẽ kể cho anh nghe về cuộc đời bất hạnh của em. Em không phải là tiên nữ như anh bảo đâu. Xưa kia em chỉ là một cô gái chăn bò thuê nhưng có chút nhan sắc thế thôi. Em với đàn bò có khi cả mấy tháng ròng rong ruổi trong các thung lũng bên rừng, trong núi. Bò của em luôn mập khỏe hơn bò của đám bạn đồng nghiệp bởi vì chỉ có em mới biết mùa nào, tháng nào cỏ ở đâu ngon nhất. Tuy là con gái song em như con trai, chẳng sợ gì cả, luôn một mình trong rừng sâu núi thẳm với bầy bò rất khôn ngoan. Anh chưa biết đâu, đi chăn bò như em thú vị lắm. Đêm một mình trong núi mới thấy cái đẹp của vầng trăng, mới thấy rõ từng vì sao di chuyển trên bầu trời trong vắt... - Ôi em kể chuyện nghe hay quá! Một bàn tay trong chăn đè lên miệng Minh Kim. - Đừng ngắt lời em. Hồi đó em mới đôi mươi thôi, tuổi con gái dậy thì mà, như hoa đồng cỏ dại trong rừng. Có những đêm trăng em nằm thao thức mãi với những ước mơ cháy bỏng trong đầu, không ai biết đâu, em từng mơ có đêm nào đó có một chàng hoàng tử từ một tinh cầu nào đó đi lạc đến chỗ em, chàng ấy sẽ gọi em là cô công chúa của rừng xanh và rồi chàng sẽ cúi xuống ôm hôn em. Và em đã chuẩn bị sẵn trong đầu những tư thế để mời gọi chàng ban cho em những cơn mưa tình ái. Thật vậy, còn gì sung sướng và hạnh phúc bằng khi người ta được tự do yêu đương, ân ái với nhau giữa cảnh rừng sâu núi thẳm? Trên trời có trăng sao vằng vặc, dưới lưng là nệm cỏ khô êm ái, bốn bề chỉ nghe cây rừng xào xạc trong gió thì đời người có mấy ai có những cuộc yêu đương huy hoàng tráng lệ như thế? - Rồi có lần nào em gặp một hoàng tử như thế không? Bàn tay trong chăn vả nhẹ má Minh Kim: - Em đã bảo là đừng ngắt lời em mà. Vâng, giữa núi rừng hoang sơ, một cô gái tuổi dậy thì căng tràn sức sống làm sao lại chẳng mơ có được một người yêu tràn đầy sinh lực như thế đến với mình? Chắc chắn em sẽ không e dè, e lệ mà sẽ sẵn sàng nồng nhiệt buông thả. Và hình như trời đất không phụ em, chẳng những chỉ một hoàng tử mà có đến cả chục hoàng tử như thế. Đó là bọn vô công rỗi nghề dắt nhau đi đào vàng, kể cả đào mả mồ lâu đời mà chúng nghi có vàng ở dưới. Mưa lại càng to, sấm chớp liên hồi. Trong chiếc chăn trùm kín hai người, Minh Kim nghe Sami run lẩy bẩy song cô nàng ma quái này vẫn thủ thỉ kể: - Bọn đào vàng phát hiện ra em nên hôm nào chúng cũng lượn lờ chung quanh chiếc lều của em nằm bên chân núi giữa đàn bò. Có một tên mặt mày bậm trợn đến tán tỉnh em. Hắn hứa hẹn nếu đào được nhiều vàng thì hắn sẽ cưới em làm vợ. Và em tin hắn, ai ngờ hắn lừa đưa em lên núi để cả bọn cưỡng hiếp em. Rồi sợ em tố cáo bọn chúng đã giết em giấu xác dưới kia. Từ đó em là con ma lạc lõng giữa nơi này. Tuy giọng nói nghe như sầu như thảm nhưng chỉ một lúc sau Sami vẫn tìm cách rủ rê Minh Kim vào chuyện mây mưa. *** Từ đó Minh Kim như một người tù bị giam lỏng, mỗi ngày khi sáng thức dậy đều có một mâm cơm để sẵn đó, Minh Kim ăn xong rồi chỉ có nằm, sức khỏe ngày một yếu, Minh Kim nghĩ mình sẽ chết nếu chẳng tìm cách trốn đi. Có một buổi sáng trời quang đãng khi thấy con ma Sami không xuất hiện, Minh Kim tìm cách bò ra ngoài. May sao có người đi qua anh năn nỉ người ta chở anh về đoàn hát. Bạn bè đồng nghiệp thấy anh thân tàn ma dại vội đưa anh đến một trạm xá huyện nhờ cứu chữa. Ai cũng cho rằng Minh Kim do ham mê chơi bời nên vướng nhằm bệnh hiểm. "Vậy mà đêm ấy..." Minh Kim bồi hồi kể lại: - Đêm ấy tôi nằm nơi trạm xá, trời trong trăng tỏ, giường tôi nằm ở kế bên cửa sổ nên có thể nhìn ra bên ngoài. Chỉ có mấy ngày đêm ân ái với Sami mà tôi thấy như tôi đã già thêm chục tuổi. Tay chân nhấc không lên, hai mắt trỏm lơ vô hồn mặc dù người ta có vô cho tôi mấy chai nước biển. Tôi nghĩ mình sắp chết đến nơi rồi, nước mắt chảy dài khi tự hỏi mình còn được mấy lần nhìn con trăng nơi đất khách quê người này nữa? Vào khoảng một giờ đêm tôi nghe tiếng cú rúc ở phía đầu hồi trạm xá. Vầng trăng đang tròn sáng bất chợt có một đám mây đen như tấm áo choàng của những tay phù thủy từ từ bay tới che khuất. Ngay lúc đó một giọng cười đanh như đang giận dữ nổi lên: - Chàng định bỏ trốn thiếp phải chăng? Mà ai có thể trốn được bạch cốt Sami này chứ? Ta lại về tổ ấm thôi chàng ạ, ta cần chàng, ta đang thèm chàng. Môi Minh Kim run run xúc động, khuôn mặt như tái đi khi anh hồi tưởng lại chuyện xưa: - Rồi tự nhiên tôi thấy người tôi nhẹ hẫng như đang từ từ bay qua khung cửa sổ. Gió bên tai nhè nhẹ thổi, người tôi chông chênh như con thuyền trên sóng hay như một bóng mây bay bồng bềnh trên không. Thời gian có lẽ chưa uống cạn tuần trà tôi bỗng thấy người mình rơi mạnh xuống. Toàn thân đau nhức. Mở mắt ra tôi lại thấy mình nằm trên chiếc chõng tre của căn nhà hoang. Sami đã ngồi ở đó hồi nào, đầu đội chiếc khăn trắng, hai mắt xanh màu lục, chiếc mũi hếch lên cười lạnh lẽo: - Thấy chưa, anh lại về đây rồi. Bây giờ hãy uống một chút thuốc tiên cho cường dương bổ thận nhé. Tôi biết cô ta muốn gì nên cắn chặt hai hàm răng lại. Nhưng cánh tay cứng như thép của Sami đã bóp mạnh vào quai hàm tôi và tôi nghe có một thứ nước thơm mùi hoa lài chảy tọt vào mồm. Thôi chết rồi, lại cái thứ nước làm cho con người mê sảng trong thú vui nhục cảm. Quả vậy, chất nước đó mới tràn vào đến bụng của tôi chưa đến một phút đã thấy một làn hơi ấm nóng dâng lên, cả người tôi đột nhiên phấn chấn ham muốn. Tấm áo choàng màu đen của Sami chợt từ từ rơi xuống để lộ tấm thân nõn nà và trắng như sương tuyết. Và như bị ma ám, quỷ giục tôi lao vào cô ấy như thể mình chưa hề bệnh hoạn. Cả đêm như thế đã mấy lần Sami đổ thuốc và tôi đã mấy lần đắm đuối trong vòng tay siết chặt của Sami mặc dù trong thâm tâm của tôi vẫn hiểu rằng, càng ân ái với Sami bao nhiêu thì tôi sẽ đi gần đến cái chết bấy nhiêu. *** Con ma Sami đã ba đêm liền hành hạ Minh Kim như thế, song đến ngày thứ tư chẳng biết vì sao nó lại không đến. Ráng chút sức tàn Minh Kim bò lết ra đường rồi nằm vật ra dưới bóng một góc cây.Đang lúc thoi thóp chợt Minh Kim nghe có bàn tay ai đó đặt lên bụng mình và một giọng nói thảng thốt cất lên: - Chú em này đã bị ma quỷ ám nặng rồi. Nếu không gặp ta thì chẳng còn ai cứu nổi. Minh Kim mở mắt và trông thấy một cụ già quắc thước mình mặc áo chàm lưng mang một bầu rượu. Ông lấy chiếc bầu vạch miệng đổ cho Minh Kim một chất rượu màu hồng hồng thơm thơm mùi quế. Uống xong độ nửa khắc Minh Kim nghe người tỉnh táo lại, đầu óc có sáng hơn. Ông cụ hỏi nguyên do, Minh Kim thật tình kể lại đuôi đầu câu chuyện. Ông cụ lấy bàn tay xoa xoa vào trán Minh Kim rồi bảo: - Nếu không có ta, chỉ đêm mai là người phải chết. Hồn ma con Sami đã biến thành quỷ rồi. Nó chết không phải do ai cưỡng hiếp mà là do bị hổ vồ, loại ma này là ma trành, luôn dẫn dụ nạn nhân khác đến để cho hổ tinh vồ tiếp để thay cho hồn nó. Nhưng con ma trành này đã thành tinh rồi nên nó quyến dụ người để hút lấy tinh khí. Nếu hút đủ trăm người nó sẽ hóa thành yêu quái. Minh Kim kể rằng sau đó ông cụ mang anh ta về ở trong cái am của mình bên chân núi và dặn anh không được bước chân ra ngoài. Mười ngày sau ông đeo cho Minh Kim một lá bùa rồi dẫn về ngôi nhà hoang cũ. Ông đóng từ trên chiếc chõng tre xuống sâu mặt đất một cây sắt nhọn và dài rồi bắt anh ngồi sau lưng, còn ông thì lâm râm đọc một bài kinh kệ gì đó rất lâu. Minh Kim lơ mơ ngồi im nghe tiếng tụng niệm mơ màng của ông cụ già khi như gần lúc như xa. Độ ba giờ mấy khắc, chợt thấy mây đen kéo tới chớp giật đầy trời. Rồi bất ngờ một luồng sét sáng xanh đánh xuống thanh sắt vang lên một tiếng nổ long trời lở đất. Sau đó mây tan gió ngừng. Ông cụ kéo chàng đứng dậy. - Xong rồi, con ma đã bị thiên lôi đánh chết, con đã được an toàn rồi. Minh Kim kể rằng, khi ông cụ đưa anh đến chỗ ngôi nhà hoang, căn nhà đã cháy, chỉ còn lại một đống tro than âm ỉ. Chung quanh ngôi nhà vung vãi những mảnh xương trắng hếu. Một chiếc đầu lâu nằm lăn lóc, hàm mở hoác ra như đang cười. Ông cụ mặc áo chàm mắt lộ hào quang, khều một mảnh xương rồi nói với Minh Kim: - Con xem đây, xương của nó nhờ hấp thu sinh khí của những người đàn ông mà có những vân máu đây. Nếu như xương nó mà hoàn toàn hấp thu đủ một trăm người đàn ông thì nó sẽ hóa màu hồng, chừng đó con ma trành này sẽ biến thành yêu tinh, khó ai trừ nổi. *** Năm nay người nghệ sĩ già Minh Kim đã giải nghệ. Anh nói tuy không còn dám đi đâu ở những vùng rừng núi, tuy nhiên lâu lâu trong những giấc mơ anh vẫn còn trông thấy Sami với đôi mắt xanh màu rắn lục vẫn nhìn anh chằm chằm như hờn oán rồi chỉ phút giây sau là tan biến.Nhắc lại chuyện xưa mà khuôn mặt Minh Kim vẫn còn tái xanh vì sợ, song anh lại thở dài sườn sượt: - Sau mỗi giấc mơ dù sợ hãi vì những ám ảnh khó quên, song tôi vẫn còn những hoài niệm về cô gái ma tên Sami, hoài niệm về những đêm yêu đương ma quái của một thời trai trẻ lang bạt kỳ hồ đã qua... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 32
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXII: Tình Ma - Phần I Bà giáo Nhơn ngăn không cho cô con gái lớn gọi Thiện dậy: - Hãy để cho nó ngủ nướng thêm chút nữa. Có mấy khi về nhà nghỉ hè mà bắt thức sớm như dân nhà quê tụi mình, tội nghiệp tụi nó. Thoa, cô chị lớn chỉ mâm thức ăn đã dọn sẵn: - Thức ăn nguội hết rồi kìa má. Thằng Thiện khoái ăn món trứng chiên với củ cải mặn, dặn con hễ sáng dậy là cho nó ăn liền. Má quên là tối qua tụi nó nhậu suốt, có ăn uống gì đâu. - Ừ, thì để năm mười phút nữa. Vừa chợt có tiếng của Thiện sau lưng: - Nói xấu gì con đó! Anh vươn vai sà lại chỗ mẹ, nhõng nhẽo: - Phải cho con trai má ăn ngon à nghen, chị Hai! Kim Thoa ganh tị: - Má cưng con trai, cái gì cũng để cho thằng Thiện, dành cho thằng Thiện! Đúng là con trai rượu không bằng! Thiện cười lớn: - Người ta nói con gái rượu, chứ thuở đời làm gì có con trai rượu? Thoa được dịp kể lể: - Vậy mà bà già coi mày còn hơn là con trai rượu nữa! Bữa kia chính má nói với vợ chồng ông Cả Thì là má còn thằng con trai rượu, ai kêu gả con cách mấy cũng chưa nhận lời? Thiện cười càng to hơn: - Như vậy phen này thằng con trai má sẽ uống rượu mệt nghỉ, ai rắp ranh thì hãy nhào vô, rượu khui tràn bàn mới mong nói chuyện cưới xin nghe chưa! Kim Thoa xỉ xỉ vào mặt em: - Chưa gì đã lớn lối rồi, coi chừng ế dài ra đó nghe không cưng! Cả nhà đúng là ai cũng cưng chiều, thương yêu Thiện, bởi anh là con trai độc nhất trong số năm người con của ông bà giáo Nhơn. Mà cũng phải thôi, bởi Thiện là người duy nhất của dòng họ, nếu không muốn nói là độc nhất của làng này có được bằng cấp tú tài, lại đang học tại Sài Gòn nữa. Khỏi phải nói cũng hiểu là Thiện được cả làng chú ý. Đã nhiều nhà ngắm nghía anh để nhằm gả con gái họ! - Thằng Thiện chơi xấu bác ơi, hứa kêu tụi cháu dậy sớm ăn điểm tâm mà không kêu! Hai người bạn của Thiện cùng về chơi kỳ hè này, họ là Bảo và Trung. Bảo còn nói: - Bữa nay Thiện còn hứa dẫn tụi con đi chơi khắp vùng này nữa đó bác! Bà giáo cười hiền hoà: - Ở đây là vùng quê nghèo, sợ e tụi con mới đi một chút đã chán rồi! Trung ra chiều thích thú: - Ngoài ra, Thiện còn hứa là sẽ làm mai cho tụi con mấy cô nữa đó bác! Kim Thoa nguýt yêu em trai mình: - Thân nó còn chưa xong, làm tài lanh hứa hẹn với người khác! Trung mau miệng: - Nó đã có rồi, còn giấu đó chị Hai. Thấy bạn tài lanh, Thiện lừ mắt: - Ai mượn mày vậy, thằng khỉ gió! Kim Thoa đâu chịu yên: - Thật vậy hả Trung? Quá cỡ thằng này rồi má ơi, nó có bồ mà giấu! Bà giáo cũng nhìn con, hỏi nghiêm túc: - Phải không con? Thiện xua tay lia lịa: - Nó nói xàm mà má cũng tin! Cái thằng... Thiện đuổi Trung chạy vòng vòng, cho đến khi Kim Thoa nhắc: - Vào ăn đi kẻo thức ăn nguội hết kìa! Món trứng chiên với củ cải mặn là đặc sản của nhà này, nó lạ miệng nên ba chàng trai ăn một hơi đã hết dĩa thức ăn lớn, mà còn đòi thêm: - Còn không chị Hai, ngon quá! Kim Thoa đã chuẩn bị sẵn một chảo nữa, nên đáp ứng được ngay cho ba cái tàu há mồm. Họ vừa ăn vừa hứng chí bàn chuyện bao đồng: - Phải chi có mấy cô quen xứ này mình rủ cùng chơi cho vui há! Trung bảo: - Gái xứ này thì phải hỏi thằng Thiện. Kim Thoa che miệng cười: - Nó dám quen đứa nào tao cùi liền! Bảo ngạc nhiên: - Sao vậy chị Hai? Thằng Thiện nổi tiếng trong trường là đào hoa, cua gái bá phát bá trúng đó! Bà giáo cười vui, thêm vào: - Vậy mà về đây nó im re, không dám nói chuyện với đứa con gái nào hết! - Tại vì nó có... Bảo định nói, nhưng kịp ngừng lại với cái nhìn sắc như dao cạo của Thiện. Lần này chính bà giáo lên tiếng hỏi: - Chuyện gì vậy con? Thiện hơi ngập ngừng: - Dạ... đâu có gì đâu má... Chừng như để tránh lôi thôi, Thiện ngừng ngang bữa ăn, giục hai bạn: - Mình đi cho sớm! Cả ba chỉ mang theo mỗi người một chiếc nón rồi chạy bay ra ngoài. Kim Thoa phải gọi giật lại: - Đem theo bình nước mà uống, ngoài đồng nước mặn, không uống được đâu! Bảo nói với lại: - Tụi con sẽ ghé nhà mấy cô gái uống nhờ! - Không có nhà nào ngoài đó hết! Thiện cũng biết vậy nên trở lại nhờ chị mình lấy cho bình nước mang theo. Kim Thoa dặn: - Đi chơi nhớ trưa về ăn cơm. Bà giáo cũng bảo: - Ăn uống dọc đường nên coi chừng, bụng dạ con không tốt... Thiện vừa chạy đi vừa nói với lại: - Con má đã lớn rồi mà, có còn là thằng Thiện con nít nữa đâu. Thoát ra khỏi nhà vừa hơn trăm bước thì Thiện đã nghe có người gọi tên mình: - Thiện ơi, về hồi nào mà không báo cho anh em gì hết. Quay lại, Thiện reo lên: - Ô Tùng, Sanh, tụi bay lớn như người lớn rồi! Hai người bạn quê của Thiện tuy bằng tuổi, nhưng do là nông dân nên tướng tá bặm trợn, to lớn. Họ nhìn mấy người bạn của Thiện có vẻ ngưỡng mộ. Thiện giới thiệu: - Đây là Bảo và Trung, hai người bạn trên Sài Gòn của mình. Sanh và Tùng hơi rụt rè khi bắt tay. Thiện phải phá tan sự e dè đó: - Tụi bay có rảnh không, dẫn tụi này đi chơi xuồng với? Sanh hào hứng ngay: - Được liền! Tụi này cũng đang ra đồng, sẵn mình đi theo luôn! Thích thú nhất là Bảo và Trung. Hai anh chàng lần đầu được về quê và đi xuồng len lỏi qua những rừng dừa nước, tha hồ nhìn ngắm những con cá lội tung tăng, những con chim dạn dĩ bay lượn ngay trước mũi xuồng. Tùng đề nghị: - Mình bơi xuồng qua bên cồn ông Hội đồng chơi. Bên đó có nhiều trứng rùa, mình đào trứng luộc ăn chơi! Bảo nghe là khoái liền: - Vụ này nghe đã à nghen! Thiện hỏi: - Bên đó vẫn còn cái nghĩa trang chớ? Sanh nói: - Thì cái cồn đó nằm trong đất của ông Hội Đồng nên ổng lấy nguyên cái cù lao rộng bằng chục cái sân banh làm nghĩa địa riêng cho dòng họ mình. Nghĩa trang nhà giàu nên cái mả nào cũng lát đá cẩm thạch láng bóng, ngôi mộ nào cũng khang trang, bề thế, chẳng khác nào nhà xây cho người sống ở! Chỉ một lúc sau, họ đã có mặt ở cồn ông Hội đồng. Quả đúng như lời của bọn Sanh, Tùng kể, khung cảnh cồn thật thú vị, nó biệt lập và yên tĩnh một cách đáng ngạc nhiên. Khu nghĩa trang nhà ông Hội đồng đúng nghĩa trang của nhà giàu. Dù nhiều ngôi mộ đã chôn khá lâu, nhưng xem ra ngôi nào cũng mới và bóng như gương đến đỗi Trung phải buột miệng: - Nghĩa trang này còn sạch hơn là khu nhà ở của tao nữa? Sau khi đi một vòng giáp chung quanh cồn, chính Thiện đề nghị: - Mình dọn sạch chỗ kia, ngồi nghỉ chân chơi! Chỗ Thiện chọn là một khoảnh đất trống nằm dưới tàn một cây cổ thụ, mà vừa nhìn lên thấy có nhiều trái! Bảo đã reo lên: - Ồ, trái đầy hết, để tao leo lên hái xuống ăn! Tùng nói: - Đây là cây sabôchê lâu đời, trái ăn rất ngọt, nhưng có lẽ nằm hẻo lánh bên này nên hầu như chẳng ai hái trái. Nhưng... Anh ta muốn ngăn không cho hái, tuy nhiên vừa lúc ấy Bảo đã nhanh chân phóng lên ôm chặt thân cây to. Anh chàng còn khoe: - Tôi là vô địch về leo cây mà! Nhìn anh chàng thoăn thoắt leo lên, đến Sanh cũng phải khen: - Anh bạn leo hay thật! Nhưng lời khen chưa dứt thì đã thấy tự dưng Bảo buông tay rơi từ khoảng trên ba mét xuống! Thiện hốt hoảng, vừa nhảy tới đón ngay nơi Bảo rơi vừa la lớn: - Trời ơi, Bảo! Cũng may là Thiện lao tới kịp thời, cả thân người anh làm tấm đệm lót cho Bảo rơi xuống. Cả hai cùng ngã, nhưng xem ra Thiện bị đau hơn! Cả bọn chạy ùa tới, lo lắng hỏi: - Có sao không? Bảo nhăn nhó bò dậy, trong lúc Thiện phải được đỡ lên. Anh càu nhàu: - Thằng Bảo này nặng thấy cha luôn, chắc tao gãy mấy cái xương sườn rồi! Nhưng cũng may, cả hai đều không hề hấn gì. Lúc ấy Bảo mới kể lại: - Tôi đang leo ngon lành, bỗng như có ai dùng chân đạp mạnh vào mặt làm tôi đau điếng, phải buông tay ra ngay! Sanh nói như vừa phát hiện ra điều gì: - Phải rồi, giống y như năm ngoái thằng Tửng con chú Hía cũng bị như vậy, phải nằm nhà thương mấy tháng đó! Thiện quan tâm, hỏi: - Mày nói nghe coi, nó bị sao vậy? - Thì nó cũng leo cây giống bạn này, lên tới nửa cây thì như bị ai xô, ngã nhào xuống, cắm đầu xuống đất bùn. Cũng may là đất mềm nên không chết, chứ độ cao đó thì khó mà sống được! Thiện trách: - Đã từng có chuyện như vậy sao lúc nãy mày không nói, để nó... Tùng chêm vào: - Thằng Tửng sau đó thuật lại rằng, nó đang leo thì có cảm giác như có ai đó dùng tay kéo nó. Mà bàn tay đó như tay con gái, vừa mềm vừa lạnh như băng! Một dịp để cả bọn tán hươu tán vượn quanh chuyện đó. Trung là người luôn quan trọng hóa mọi chuyện, anh chàng bảo: - Người ta nói những cây trồng trong nghĩa địa thường bị các hồn ma nhập, nên không dễ cho người ngoài leo lên! Thiện đùa nhằm làm dịu đi câu chuyện đang đi vào huyền bí: - Thay vì hái trái phá phách, bây giờ ta đem đồ ăn ra, trước khi ăn ta cúng vái thì chắc sẽ không ai quở trách gì... Anh có mang theo mấy bịch bánh ngọt liền bày ra tờ giấy báo rồi bảo Sanh: - Cậu coi có ngôi mộ nào còn sót lại nhang cúng không? Thường thì người đi cúng mộ hay bỏ lại số nhang cúng thừa. Và quả Sanh tìm được hơn nửa ốp nhang, luôn cả cái hộp quẹt: - Có sẵn đây! Đích thân Thiện đốt nhang vái khá dài, nhưng không ai nghe được lời vái của anh. Bảo phải lên tiếng: - Tao không biết vái, mày phải vái lớn lên để tao còn bắt chước nữa chứ! Tùng chen vào: - Một người đại diện cúng vái được rồi! Một cách tự nhiên, sau cuộc cúng vái đó, không khí cuộc vui hơi chùng xuống. Bảo cứ thắc mắc mãi chuyện mình bị ngã, anh nói: - Tôi leo cây từ lúc sáu tuổi, chưa bao giờ bị ngã, dẫu có nhiều cây còn cao và khó leo hơn cây này nhiều. Tôi có cảm giác như là... Mặc dù không muốn nhắc lại hiện tượng huyền bí, nhưng đó là đề tài hấp dẫn, nên không hẹn mà mọi ý nghĩ đều tập trung vào một ý: - Oan hồn thường bám trên cây lắm! Đó là nhận xét của Tùng. Anh ta còn nói thêm: - Sau vụ ngã của thằng Tửng năm ngoái, hầu như chẳng ai dám leo lên cây ở đây nữa. Mấy bồ không thấy người ta còn lập cái miếu thờ ở gốc cây bên kia sao? Tùng đưa tay chỉ sang một gốc cây gần đó. Lúc này Bảo mới chợt rùng mình, anh nói khẽ với Thiện: - Sao tao muốn nằm ngủ quá! - Sao vậy? - Chẳng sao hết, chỉ thấy buồn ngủ thôi có lẽ tại tối qua thằng Trung ngáy quá làm tao ngủ không được. Rồi không đợi ai có ý kiến gì, Bảo đã xách một tờ báo chạy đi tìm một nơi mát mẻ, bằng phẳng, trải tờ báo và nằm ngủ một cách ngon lành! Thiện nói: - Kệ nó, thằng ấy dễ ngủ như vậy đó. Cứ để mặc cho nó ngủ một lát. Còn tụi mình bỏ chuyện kia đi, ta hát hò cho không khí vui lên. Sanh nảy ra một ý: - Sao ta không kiếm chút gì cay cay cho vui? Thiện lắc đầu: - Tụi này không đem theo rượu. Vả lại... Nhưng Sanh đã đứng lên nói: - Mấy bồ ở đây, tôi bơi xuồng về bên nhà lấy chai rượu sang, có cả chùm khô sặt nữa, chơi hết ý nghen! Dĩ nhiên không ai phản đối ý kiến đó, nên Sanh thực hiện ngay. Chỉ chưa đầy hai mươi phút sau, Sanh đã trở lại với chùm khô sặt rằn và chai rượu đế trên tay. Anh chàng còn khoe thêm: - Có cả mấy trái xoài sống, tao lấy theo luôn! Thế là đủ bộ ăn chi! Thiện phải nói: - Lỡ rồi mình chơi luôn, chứ má tao mà biết mình uống rượu bả chửi chết! Có rượu vào, không khí xôm tụ lên ngay. Tùng nhắc: - Sao không kêu anh bạn kia dậy, chơi cho vui! Chợt nhớ tới Bảo, Trung vừa định chạy đi kêu thì đã thấy Bảo vừa chạy về vừa hớt hải: - Kỳ... kỳ quá tụi bay ơi! Tao... tao... Mọi người ngạc nhiên: - Gì nữa vậy? Bảo lắp bắp: - Tao đang ngủ thì... có... có ai đè lên tao! Bọn họ cười rộ lên: - Bị ma đè rồi! Bảo nghiêm giọng: - Tao bị đè thật. Người đè tao còn muốn bóp cổ tao nữa! Tùng nhận xét: - Đó là bị bóng đè thôi! Thường thì khi ngủ ở những nơi không bình thường hay chỗ lạ, người ta hay bị bóng đè, bóng có thể là ma hay cũng có thể là cái vía của mình yếu. Mặc dù cách giải thích của Tùng không thuyết phục lắm, nhưng để cho Bảo bớt hoang mang, Thiện đã nói: - Tại thằng Bảo hay mơ thấy người đẹp nên bây giờ người đẹp tìm nó đó! Mọi người cùng phá lên cười, khiến Bảo đổ quạu: - Tao nói thật mà tụi bay không tin, để chừng tụi bay bị thì biết! Lít rượu đế chẳng mấy chốc đã cạn, hầu hết đều đã ngà say, ngoại trừ Bảo do bần thần trong người nên không uống và còn tỉnh, nhưng chỉ ngồi dựa gốc cây mà lim dim chớ không còn hoạt bát như lúc đầu. Riêng Thiện thì tuy có bừng bừng hơi men, nhưng anh vẫn còn tỉnh hơn các bạn, anh rủ Bảo: - Mình đi một vòng quanh đây chơi đi. Bảo xua tay: - Tao chỉ muốn ngủ thôi. Anh chàng lại như muốn ngủ, còn các bạn kia thì mạnh ai nấy nguẹo đầu vào nhau mà hát nhừa nhựa như dĩa hát bị rè. Thiện đứng dậy thả bộ về phía trước mặt. Thật ra, anh đang đi sâu vào bên trong khu nghĩa địa không rộng lắm. Dừng chân lại bên một ngôi mộ màu trắng toát, khác với những mộ chung quanh, Thiện đưa mắt nhìn lên mộ bia và giật mình, lẩm bẩm: - Đẹp quá! Anh đọc được dòng chữ ghi bên dưới bức chân dung cô gái thật đẹp: Lê Thị Anh Đào. Một lần nữa, Thiện lại buột miệng khen: - Người đẹp mà cái tên cũng đẹp! Có lẽ trong đời Thiện, đây là lần đầu anh nhìn thấy một cô gái có khuôn mặt vừa đẹp lại vừa phúc hậu như cô gái có ảnh chân dung trên ngôi mộ này! Nhìn ngắm có hơn mười phút, nhưng vừa định bỏ đi thì hai chân Thiện cứ như bị chôn chặt, anh lại tiếp tục nhìn. Đôi lúc Thiện có cảm giác như bức ảnh có sức hút gì kỳ lạ lắm! - Thiện ơi, về thôi, trời sắp mưa rồi đó! Tiếng kêu của Tùng khiến Thiện giật mình, anh phải đưa tay dụi mắt mấy lượt thì người mới tỉnh lại. Anh có cảm giác như mình vừa trong cơn mơ... Quay bước đi mà Thiện không cưỡng được, cứ ngoắt lại nhìn... - Về đi cha ơi, bộ khoái cảnh nghĩa địa sao chứ! Sanh chạy tới chỉ vài ngôi mộ chung quanh nói: - Mộ này ngôi nào cũng xây cách đây hơn chục năm. Chỉ có vài ngôi trong kia là mới. Thiện hỏi đột ngột: - Mộ đó là của ai vậy? Sanh ngơ ngác: - Mộ nào? Chỉ tay vào trong, Thiện nói: - Ngôi mộ trắng của cô gì đó. Sanh tỏ ra rành rẽ: - Đó là mộ cô con gái út ông Hội đồng, mới chết cách đây hơn ba năm. - Có phải tên là Anh Đào không? - Mày biết? - Sao không biết. Hồi đó tao còn học chung với nó nữa. Con nhỏ đẹp hết ý luôn vậy mà yểu mạng. Thiện lại càng tò mò thêm: - Năm nay nếu còn sống thì cô ấy bao nhiêu tuổi? Sanh không cần suy nghĩ, đáp liền: - Thì cỡ tuổi tụi mình. Mày không nhớ, chứ hồi tao, mày, Anh Đào có chơi chung với nhau. Thiện cố nhớ nhưng lắc đầu: - Lâu quá rồi tao không nhớ... Sanh reo lên: - Tao nhớ rồi, hồi tụi mình học lớp Tư, có bữa đứa con gái chơi chuyền chuyền thảy trái banh lên, mày đi ngang chụp lấy rồi đem giấu làm con nhỏ mất banh khóc mù trời. Mày nhớ sau đó mày phải đem trái trả rồi còn phải xin lỗi nó, và còn phải đưa cái khăn của mày cho nó lau nước mắt... Thiện cũng leo lên: - Đúng rồi! Sau đó tao đi lên Sài Gòn học luôn không kịp lấy lại cái khăn tay! - Rồi, mày nhớ ra rồi. Con nhỏ đó đó. Hồi nhỏ cũng bình thường, nhưng càng lớn càng đẹp. Đẹp não nùng luôn, làm cho bao nhiêu trai tráng xứ này phải hồn lạc phách xiêu vì nó! Vậy mà con nhỏ không thèm tới ai cả, thế mới lạ! - Chắc tại cô ấy có người nào khác... Sanh quả quyết: - Chắc chắn là không! Tao dám nói chắc như vậy vì ngày nó chết không có ai tới đưa tiễn cả! Thiện nhớ lại gương mặt như tiên nga trong bức ảnh, anh lẩm bẩm: - Hồng nhan bạc phận! Sanh nghe không rõ, hỏi lại: - Mày nói ai? - Cô Anh Đào! Một người đẹp như thế mà lại chết trẻ, có phải trời bất công lắm không? Nghe giọng điệu hơi lạ của bạn, Sanh ngạc nhiên nhưng không hỏi lại, anh ta giục: - Thôi, mau về đi, trời sắp mưa rồi! Đi được vài bước, Sanh bỗng hỏi: - Mày có vợ chưa Thiện? Thiện cười, nhún vai: - Học trò nghèo như tao thì làm sao lấy được vợ như ý trong thời buổi này! Sanh kề tai bạn nói nhỏ: - Phải mày còn ở xứ này mấy năm trước thì dám tụi bay là cặp đôi của nhau lắm à. - Mày nói cặp đôi với ai? - Thì con Anh Đào! Con nhỏ con nhà giàu mà lại không thích đám công tử con nhà quyền quý. Đã có biết bao nhiêu đám tới dạm hỏi mà đều bị nó khước từ. Thậm chí nó nói thẳng là chỉ ai học giỏi nó mới ưng! Mà học giỏi thì xứ này e rằng chỉ có mày thôi! Suốt gần hai mươi phút ngồi xuồng trở về, hầu như lúc nào trong đầu Thiện cũng ẩn hiện gương mặt thanh tú ấy. Có lúc mải mê theo đuổi ý nghĩ riêng tư mà Thiện quên cả trả lời câu hỏi của mấy người bạn. Bảo phải lên tiếng: - Mày sao vậy Thiện? Thiện giật mình quay lại, đáp chẳng ăn nhập gì câu hỏi của bạn: - Trời đêm nay mưa lớn phải biết! Trung phải cảnh báo: - Hết thằng Bảo rồi lại tới thằng Thiện tụi bay giống mấy đứa bị ma bắt hồn quá! Sanh và Tùng đều cười và phụ họa: - Coi chừng tụi nó ma nữ về nhập hồn cũng không chừng! Ai bảo tụi bay đẹp trai lại học giỏi làm chi! Bảo nhún vai: - Ma không dám bắt được hồn tao đâu, chỉ có tao đi tìm hồn chúng để bắt đấy! Thiện lừ mắt nhìn bạn: - Mày giỏi tài nói tào lao! Cả bọn về tới nhà đã bị một trận rầy nên thân. Bà giáo nhìn thấy Thiện và hai người bạn đều ngà ngà say nên càng la dữ: - Từ ngày mai tao cấm mấy đứa đi chơi mà uống rượu nghe chưa! Thiện biết lỗi nên sau khi tắm rửa đã rút vô phòng nằm im re. Nửa đêm hôm đó, bỗng nghe Kim Thoa la to: - Thằng Thiện sao vậy má ơi! Bà giáo chạy vào phòng thì thấy Thíện nằm im, người sốt thật cao! Tri hô lên, nhiều người chạy tới thì hầu như Thiện không còn biết gì nữa... *** Một cô gái lạ vừa xuống xe đò ở ngã ba Thầy Cai thì đã gây chú ý tới mọi người. Bởi cách ăn mặc của cô nàng nổi bật giữa mọi người bình dị xứ này. Cô chưa lên tiếng hỏi thì một anh chàng đạp xe lôi đã lên tiếng hỏi ngay:- Cô Hai về đâu vậy? - Xóm nhà máy xay. - Đi bộ thì hơi xa, còn nếu cô Hai lên xe tôi sẽ đạp chỉ hai hơi là tới liền! Mà cô Hai kiếm nhà ai ở đó? Cô gái phải lật cuốn sổ tay ra thì mới hỏi đúng người cần tìm: - Nhà bà giáo Nhơn, anh biết không? Anh chàng đạp xe reo lên: - Tưởng ai chứ nhà bà giáo thì tôi rành sáu câu! Nhà đó có cậu con trai đi học Sài Gòn mới về phải không? Cô gái mừng vui ra mặt: - Vậy là đúng rồi! Anh làm ơn đưa tới đó giùm. Được đạp xe cho người đẹp nên anh chàng có vẻ hứng chí lắm, vừa đạp nhanh vừa huýt sáo vang đường. Vừa qua khỏi ngã ba thì có người đi ngược chiều hỏi lớn: - Mày có đi vào xóm nhà máy xay thì lượt về chở người trong nhà bà giáo Nhơn ra bến xe, họ chờ nãy giờ mà chưa có xe đó. Nghe tới tên bà giáo Nhơn, cô gái hỏi liền: - Có phải bà giáo mà tôi vừa hỏi anh không? Anh chàng đáp ngay: - Đúng rồi, ở đây chỉ có mỗi bà giáo Nhơn đó chẳng hiểu sao nhà đó từ hôm qua đến nay có khách liên tục, giống như sắp đám cưới vậy! Cô gái như bị điện giật: - Đám cưới? Mà cưới ai vậy? - Tôi cũng không rõ. Nhà đó chỉ có hai người con một là cô Thoa con gái lớn năm nay đã lỡ thời rồi, chắc là không phải cưới cô ấy. Chỉ còn cậu con trai, cậu Thiện học Sài Gòn, nghe nói được nhiều con gái xứ này mê lắm. Không chừng là đám cưới cậu ta cũng nên! Cô gái thấp thỏm không yên: - Anh đạp nhanh nhanh giùm! Anh chàng đạp xe vốn nhiều chuyện, thích tò mò nên hỏi: - Cô quen với nhà bà giáo sao vậy? Về việc đám cưới phải không? Đang sốt ruột, lại bị hỏi lung tung, cô gái đâm quạu: - Anh đạp nhanh giùm, hỏi hoài tôi mệt quá! Bị cụt hứng, anh chàng chẳng những không giận mà trái lại còn muốn chọc quê: - Nghĩ làm con trai học giỏi, đẹp trai cũng sướng, hết con gái quê thương lại tới con gái thành thị. Gặp tôi, tôi quơ hết. Không nghe cô gái nói gì, anh chàng lại thêm: - Mà coi bộ anh chàng Thiện đó không ngon lành gì đâu nghen, bữa mới về đi chơi với đám bạn bè rồi bị sao đó phải gọi thầy thuốc tới cấp cứu! Quả anh ta đánh đúng sự quan tâm của cô gái: - Anh ấy bây giờ sao rồi? - Mà cô là gì của anh chàng Thiện đó mới được? - Là... là gì... mà anh hỏi chi vậy. Tôi chỉ... Cũng may, lúc đó đã tới nơi. Tấp vào lề trước ngôi nhà ngói xưa, anh chàng nói nịnh câu cuối cùng: - Nghĩ cũng lạ, cùng tạng người, chắc là cùng cân lượng, nhưng chở người đẹp thì đạp xe nhẹ tênh. Mình cứ mong được đạp hoài thì lại mau tới! Nở cho anh ta một nụ cười, cô gái đưa tờ giấy bạc chẵn mà không cần thối lại. Vừa bước vào cổng, cô ta lên tiếng ngay: - Bác giáo ơi, cháu là Mỹ Lan, bạn anh Thiện từ Sài Gòn về... Từ trong nhà, Kim Thoa bước ra, chào cô gái rồi quay vào trong gọi lớn: - Có bạn thằng Thiện về nè má! Rồi cô quay sang anh chàng đạp xe bảo: - Sẵn cậu đạp xe đưa ông thầy thuốc ra bến xe giùm! Ông thầy thuốc khá già, vừa leo lên xe vừa dặn lại: - Nhớ cho cậu ấy uống đủ mấy thang thuốc tôi để lại nếu bớt thì cứ ra nhà thuốc mà hốt thêm, còn nếu... Ông nói chưa hết lời thì anh chàng đạp xe đã ấn bàn đạp, vừa chen vào: - Không hết thì lo hậu sự! May là anh ta nói không để chủ nhà nghe. Trong khi ấy thì bà giáo Nhơn đang ra đón người khách mới. Bà ngỡ ngàng trước cô gái: - Cháu đây là... - Dạ cháu là Mỹ Lan, bạn gái của anh Thiện. - Cháu từ Sài Gòn về ? - Dạ! Kim Thoa xen vào hỏi: - Em nghe tin thằng Thiện nên về hay sao? Mỹ Lan ngạc nhiên: - Chuyện gì vậy chị? Chẳng lẽ ảnh... cưới vợ? Bà giáo bỗng òa khóc khiến Mỹ Lan càng hốt hoảng: - Kìa bác, anh Thiện sao vậy? Cả Thoa cũng khóc. Trong nhà lúc ấy còn có vài người nữa xem chừng là bà con, một người nói: - Bệnh nó càng lúc càng nặng hơn, có lẽ phải chở đi bệnh viện thôi. Bà giáo nức nở: - Gần chục ông thầy rồi mà có thấy bớt chút nào đâu! Kim Thoa quay sang Mỹ Lan: - Thằng Thiện bị sốt rồi mê man suốt ba ngày nay, thuốc thang đủ hết mà không thấy bớt. Mỹ Lan nói liền: - Em học trường y, em có mang theo dụng cụ khám, để em vào xem anh ấy bị gì. Vừa trông thấy Thiện nằm thoi thóp, Mỹ Lan chạnh lòng, cô gọi khẽ: - Thiện, em đây. Mỹ Lan đây? Nhưng Thiện vẫn mê man không biết gì. Sờ tay lên trán, Mỹ Lan phải giật mình rụt tay về. Nhiệt độ trong người của Thiện khiến cho tay người sờ vào cảm giác như muốn phỏng! Mỹ Lan lo lắng: - Nhiệt độ như thế này là nguy lắm! Chuyển đi bệnh viện lúc này e cũng không kịp. Câu nói của cô nàng làm cho bà giáo càng khóc lớn. Bà nắm tay Mỹ Lan lắc mạnh: - Làm cách nào cứu nó cháu ơi! Mỹ Lan đo mạch xong thì lại càng ngạc nhiên: - Sốt cao như vậy mà mạch lại bình thường, kỳ lạ thật! Cô cầm lòng bàn tay của Thiện và thật bất ngờ, bàn tay Thiện siết chặt lại. Bàn tay lạnh như băng! Mỹ Lan hốt hoảng: - Kỳ lạ lắm bác ơi! Sự nóng lạnh khác thường giữa trán và lòng bàn tay như trường hợp này là lần đầu tiên Mỹ Lan gặp được trong nghề y. - Anh Đào! Tiếng phát ra từ miệng của Thiện tuy nhỏ nhưng Mỹ Lan vẫn nghe rất rõ. Cô quá đỗi ngạc nhiên: - Thiện, anh gọi ai? Bà giáo thấy con mình lên tiếng được thì mừng lắm, bà nhào tới liền, chụp lấy con: - Thiện, con tỉnh rồi phải không? - Anh Đào! Anh Đào... Giọng của Thiện lạc hẳn đi, nhưng hai tiếng Anh Đào anh gọi vẫn rõ... Kim Thoa đứng bên cạnh chợt lên tiếng: - Hai hôm trước nó cũng kêu mấy tiếng như vậy rồi mê luôn tới bữa nay! Bà giáo cũng ngạc nhiên: - Anh Đào là ai? Có phải cháu không? Bà quay sang Mỹ Lan hỏi, cô nàng giãy nảy: - Con là Mỹ Lan mà. Trung và Bảo từ ngoài bước vào, Trung lên tiếng: - Anh Đào là tên của... Bảo đứng bên bạn vội thúc cùi chỏ vào hông Trung: - Nói tầm phào! Nhưng Mỹ Lan đâu để yên: - Là ai anh Trung? Giữa Mỹ Lan và hai người vốn đã quen nhau, nên Trung sau một lúc lúng túng, đã phải nói ra: - Anh Đào là tên cô gái có hình trên mộ bia ngoài nghĩa địa! Sự hoảng hốt của bà giáo lên tới tột độ: - Thánh thần ơi, con trai tôi... Bà lảo đảo suýt ngã, Kim Thoa phải đỡ mẹ mình lại, cô hỏi Trung: - Sao thằng Thiện có liên quan gì tới cô Anh Đào đó? Bảo đáp thay bạn: - Bữa hôm trước tụi này đi chơi qua cồn ông Hội đồng, ngồi nhậu ở đó, rồi thằng Thiện tình cờ đi vào nghĩa địa và gặp. Thoa la lên: - Vậy mà mấy bữa nay không nói! Trời ơi, thằng Thiện gặp tà ma rồi má ơi! Bà giáo Nhơn thất thần: - Con ơi là con! Mỹ Lan lay tay Thiện: - Anh Thiện, em Mỹ Lan đây! Anh tỉnh lại đi, chỉ có Mỹ Lan thôi! Bảo bước đến gần Kim Thoa, nói khẽ: - Mỹ Lan là người yêu của thằng Thiện ở Sài Gòn. Bữa trước em giấu chị! Bỗng Mỹ Lan kêu lên: - Bây giờ bàn tay của anh ấy lại nóng! Cô sờ lên trán thì một lần nữa hốt hoảng: - Trán bây giờ lạnh như bàn tay lúc nãy! Trong lúc miệng của Thiện vẫn mấp máy: - Anh Đào! Anh.... Lúc ấy có một người bước vào, Trung leo lên: - Anh này rành chuyện cô Anh Đào lắm! Sanh và Tùng đâu lạ gì gia đình Thiện, nên vừa thấy mặt họ Kim Thoa đã lên tiếng: - Tụi bay dẫn nó đi đâu mà ra nông nỗi như thế này hả Sanh, Tùng? Bảo hỏi Sanh: - Anh biết về cô Anh Đào thì nói cho mọi người biết đi chứ! Sanh nhìn sang Mỹ Lan rồi nói: - Cô ấy còn đẹp hơn cô này nữa! Kim Thoa quá sốt ruột: - Nhưng nó là đứa nào? - Là con gái út ông Hội đồng, chị Thoa quên rồi sao? - Con nhỏ chết năm kia hả? - Đúng rồi. Chết trẻ nên linh lắm... - Nhưng sao lại liên quan tới thằng Thiện? Lúc Thiện đi học Sài Gòn nhiều năm liền về đây đâu có gặp con ấy. Vả lại, có thời gian nhiều năm nó theo mẹ qua sống ở Cần Thơ, vậy sao Thiện biết nó? - Thằng Thiện chỉ mới biết con Anh Đào cách đây hơn mấy ngày! Bà giáo đang khóc cũng phải ngừng lại, ngẩng lên hỏi: - Mày nói gặp là sao? Chẳng lẽ con ấy hiện hồn về. Tùng phải nói chen vào: - Dạ không phải. Chẳng là thằng Thiện cùng bọn cháu qua cồn Hội đồng chơi, Thiện vô tình nhìn thấy ảnh của con Anh Đào trên mộ bia, rồi chẳng hiểu sao nó lại như vậy. Kim Thoa là người rất nhạy cảm với chuyện này, cô run giọng nói: - Không xong rồi. Thằng Thiện nó bị... Cô không dám nói tiếp, nhưng Mỹ Lan đã giục: - Chị nói xem, anh Thiện bị sao? Sanh là dân quê mùa, nên ăn nói đâu biết giữ ý: - Chị nói nó bị ma nhập hả? Mà cũng lạ, nó với con Anh Đào đâu có quan hệ gì...? Chợt Tùng kêu lên: - Đúng rồi mày ơi, con Anh Đào vốn chỉ thích những người học giỏi như thằng Thiện thôi! Mỹ Lan không nhịn được, phải lên tiếng: - Thích gì khi người ta đã có... người yêu rồi! Bà giáo Nhơn giục Thoa: - Mày đi mua liền cho má nải chuối và một con gà, rồi ghé rước ông thầy Tám qua đây cúng cho nó. Mỹ Lan nãy giờ đã rất khó chịu khi nghe chuyện Thiện để ý tới một cô gái khác, dù đó là người trong mộ, giờ nghe bà giáo và Thoa sắp cúng tà ma, cô lên tiếng: - Theo con thì bác và chị không nên rước thầy bà cúng vái chi cho mất công. Chuyện này có lẽ anh Thiện bị ám ảnh, cộng với bị khí hậu ẩm thấp nơi nghĩa địa làm cho cảm gió thôi, để con cho toa ra chợ mua thuốc về uống ắt khỏi thôi! Rồi cô quay sang mấy thanh niên đứng gần đó, nói như cố tình muốn cho họ nghe: - Ma quỷ, oan hồn là chuyện xưa rồi, sao có người còn tin cũng lạ! Bà giáo Nhơn nghe thì phật ý, nhưng do mới biết Mỹ Lan, nên bà im lặng không nói gì, bà ra dấu cho Bảo bước ra nhà sau, hỏi: - Con nhỏ này là thế nào với thằng Thiện? - Thì cô ta vừa xưng đó, là bạn gái của Thiện. Cô ta tấn công Thiện, muốn lấy Thiện từ mấy năm trước mà thằng Thiện còn lưỡng lự... Bà giáo trề môi: - Con tôi muốn cưới hỏi phải có ý kiến của tôi chứ! Đồ con gái... Bà định nói nặng, nhưng kịp nghĩ nên dừng lại. Bà nói với Bảo: - Cháu tìm cách rủ nó ra nhà bên chơi đi, chỉ cho nó căn phòng còn trống, bảo ở tạm đó, chờ coi bệnh tình thằng Thiện... Bà lại ngừng nói vì Mỹ Lan đã bước ra, cô chủ động nói trước ý của mình: - Cháu xin phép bác để đưa anh Thiện lên Sài Gòn. Cháu sẽ bao nguyên một chiếc xe vào tận đây. Bà giáo phản đối liền: - Không được! Bệnh tà ma này mà đi khác nào giết con tôi. Mỹ Lan rất cực đoan: - Cháu không thể chiều theo ý bác đâu. Cháu phải... Bà giáo không còn nể nang nữa, bà gắt lên: - Cô là mẹ nó hay là tôi? Lúc này Mỹ Lan mới xuống giọng: - Con năn nỉ bác, hãy vì tính mạng của Thiện, bác hãy để cháu đưa anh ấy đi, kẻo không còn kịp nữa. Bà giáo vẫn cương quyết: - Không bao giờ có chuyện đó! Cô là bạn nó, đã đến đây rồi thì cứ ở đó chơi, cầu mong cho nó mau bình phục là tốt rồi. Mọi việc để tôi lo. Biết có nói cách mấy cũng không thuyết phục được bà già. Mỹ Lan tranh thủ nói với Trung ở nhà ngoài: - Sao anh không giải thích với bà già, nếu cứ để tin bùa chú thì không sớm thì muộn cũng... Vừa khi ấy, bỗng phía sau lưng họ có tiếng chân chạy rất nhanh và một tiếng quát khá quen thuộc: - Anh Đào, chờ với! Họ quay lại thì thấy Thiện với quần áo xốc xếch đang chạy bay tới! Mỹ Lan chưa kịp có phản ứng gì đã bị Thiện ôm chầm lấy: - Anh Đào! Mỹ Lan cảm nhận nhiệt độ cơ thể của Thiện lúc ấy bình thường như mọi người, chỉ có sắc mặt thì đờ ra, hai mắt long lên rất khác thường! Cô phải nhẹ giọng gí sát vào tai người yêu: - Em là Mỹ Lan nè! Em về tìm anh... Nhưng Thiện hầu như không nhận ra, vẫn luôn mồm gọi: - Anh Đào, hãy đợi với! Rồi anh vùng chạy nhanh ra cửa. Cũng may là Trung đứng gần đó đã chụp lại kịp. Có thêm Mỹ Lan và cả Bảo cũng chạy vào hợp sức mới giữ Thiện lại được. Lúc này Thiện gần như kiệt sức, anh ngả đầu vào vòng tay của Mỹ Lan, da mặt xanh ngắt khiến bà giáo nhìn thấy đã phát hoảng: - Thiện ơi, con làm cho má sợ quá? Tỉnh lại đi con. Bà giằng Thiện ra khỏi tay Mỹ Lan, vừa gọi liên hồi. Cũng may là sau đó thì Thiện có vẻ tỉnh lại, anh mở mắt nhìn mẹ, hình như nhận ra, nhưng không nói gì. Tuyệt nhiên anh không chút cảm nhận gì khi Mỹ Lan đến gần. Trái lại, mỗi khi Mỹ Lan lên tiếng thì anh lại nhắm nghiền đôi mắt lại, như cố tình ngủ thiếp đi... Mỹ Lan nghe đau nhói trong lòng trước thái độ của bà mẹ và cả Thiện nữa. Là thầy thuốc nhưng trước bệnh trạng của Thiện cô cũng có chút gì đó ngờ ngợ... - Chị Thoa rước thầy về kìa! Mỹ Lan nhìn ra cửa, thấy Thoa đi vào với một ông thầy mà vừa thoạt trông điệu bộ cô đã phát sợ. Biết mình có lên tiếng can thiệp thì trong nhà cũng chẳng ai nghe, mà ở lại chứng kiến cảnh làm bùa phép thì Lan không thể, nên cô đứng lên ra dấu cho Bảo bước ra theo. Cô hỏi Bảo: - Anh ngủ ở đâu? Bảo chỉ tay vào căn phòng trống mà gia đình dành cho khách: - Mẹ Thiện muốn Lan ngủ ở đây. Theo mình thì Lan cũng đừng can thiệp vào việc nhà của họ, tình hình này chắc là Thiện không sao, để mai rồi hẵng hay. Mỹ Lan lẳng lặng đi theo Bảo vào phòng được dành cho khách. Tuy không hài lòng lắm, nhưng cũng tạm thư giãn đầu óc. Đến lúc này cô mới thấm mệt, thấy cần một giấc ngủ vô cùng. Lúc đầu lắng tai nghe động tĩnh bên ngoài, nhưng chỉ một lát sau thì cơn buồn ngủ đã khiến Lan hầu như không còn nghe thấy gì nữa. Cô tiểu thư chốn thị thành đã đi vào giấc ngủ một cách ngon lành... Phần II Có lẽ đã khá khuya thì Mỹ Lan choàng tỉnh dậy. Cô nhìn đồng hồ tay và giật mình: - 12 giờ rồi sao? Thì ra cô nàng đã ngủ một giấc đến hơn 6 giờ liền! Bên ngoài lúc ấy đã im lìm, hình như mọi người cũng đã đi ngủ. Thấy một cây đèn dầu ai đó đốt và đặt ở đầu bàn, Mỹ Lan đoán là lúc mình ngủ chắc chị của Thiện đã vào đây. Lại có cả một mâm cơm dọn sẵn, đậy lồng bàn để cạnh ngọn đèn. Bước lại xem thấy cơm còn hơi nóng, sẵn bụng đói Mỹ Lan định ngồi xuống ăn đại, nhưng kịp nghĩ, cô bước ra cửa và đảo mắt tìm ai đó trong nhà, ít ra cũng nói với họ một tiếng về lý do ngủ quên của mình. Nhưng đi thẳng lên nhà trên, trở xuống nhà dưới cũng chẳng thấy một ai. Trong phòng của Thiện đèn còn sáng, nhưng im phăng phắc. Sau khi lưỡng lự một vài giây, Mỹ Lan bước trở về phòng của mình. Và cô khựng lại! Trước mặt cô mâm cơm còn nguyên lúc nãy giờ đã hết sạch, giống như ai đó vừa ăn! - Ai vậy? Vừa tự hỏi, Mỹ Lan vừa nhìn chung quanh, không thấy ai, cô nghĩ tới con chó hay mèo gì đó nhân lúc cô đi ra ngoài đã ăn vụng. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ lại thì cách ăn là của con người chớ không phải con vật. Đũa, chén không hề xô lệch và phần thức ăn thừa đã được tém gọn gàng chớ không vung vãi như chó mèo ăn! Dẫu chưa từng biết sợ chuyện ma quỷ, nhưng trước hiện tượng kỳ lạ này tự dưng Mỹ Lan bắt rùng mình! Cô ngồi thừ người ra một lúc rồi đành để bụng đói, trở lại giường tiếp tục ngủ. Vừa đặt mình nằm xuống, bàn tay trái của Mỹ Lan đã chạm vào một người nằm sẵn trên giường! Trong bóng tối không nhìn thấy rõ, nhưng qua cảm nhận Lan biết chắc người nằm đó là một phụ nữ! Bởi làn da mát mịn và quần áo mặc của người ấy là loại lụa mỏng, láng. Có muốn kêu lên thì lúc ấy Lan cũng không làm được. Mà người nọ cũng không nói gì, từ từ siết chặt lấy tay của Mỹ Lan và nhẹ người quay sang đưa tay còn lại đặt lên miệng Lan, như muốn ra lệnh không được kêu la! Rồi chậm rãi hơn, người ấy bật ngồi dậy và nhẹ nhàng cởi bỏ y phục của Mỹ Lan! Trong đời, có lẽ đây là giây phút mà Mỹ Lan kinh hoàng nhất, nhưng cô không làm sao phản ứng được gì bởi tay chân và miệng hầu như bị tê liệt. Chỉ một lúc sau thì toàn thân Mỹ Lan không còn một mảnh vải, cô run rẩy chờ cơn ác mộng ập tới! Tuy nhiên xem ra người nọ không hề muốn xâm phạm tới Lan, mà lại nhẹ nhàng bước khỏi giường. Khoảng hơn năm phút sau thì Mỹ Lan mới cử động được, cô thử kêu lên: - Bớ... Thì mới biết là mình đã hoàn toàn thoát khỏi trạng thái lúc nãy. Cô định kêu rõ hơn để cầu cứu, nhưng chợt nhớ là mình còn đang tênh hênh nên vội sờ bên cạnh để tìm y phục. - Trời ơi! Lan kêu khẽ với sự kinh ngạc. Bởi quần áo bị cởi ra của cô đã không còn ở đó. Theo bản năng, Mỹ Lan cố sức tìm kiếm, nhưng đúng là con người lúc nãy đã cố tình lấy đi hết quần áo, mà lúc này dù cho Lan có muốn lấy quần áo khác để mặc cũng không có, bởi lúc chiều khi vào phòng vội, cô chưa kịp lấy giỏ quần áo để ở phòng khách! Nhìn ra bên ngoài thấy trời bắt đầu rạng sáng, Mỹ Lan càng run hơn, cô quơ vội chiếc mền bên cạnh quấn vào người rồi thu hết can đảm la lên: - Bảo ơi. Trung ơi, giúp mình với! Phòng của hai người ở gần bên, nên chỉ gọi lần thứ hai là đã nghe tiếng chân chạy sang. Tiếng của Trung: - Gì vậy Lan? - Mình... mình... Lại có tiếng của Bảo: - Lan, sao lại… Lúc ấy Mỹ Lan nghe rõ bên ngoài là cuộc đối thoại giữa Bảo và Trung: - Mày cầm quần áo của ai vậy? Câu hỏi của Trung và Bảo đáp khá lúng túng: - Là... là của... Mỹ Lan. - Sao mày giữ quần áo của cô ấy? Bộ đồ này tao thấy cô ấy mặc lúc tới đây mà? Bảo lại càng lúng túng hơn: - Tao... tao thấy nó... ở trong phòng. Trung la lớn: - Mày với Mỹ Lan! Thật vậy sao Bảo? Bảo gần như líu lưỡi lại: - Bậy... bậy nè! Tao... tao chỉ... Vừa lúc ấy, có cả tiếng của Kim Thoa: - Chuyện gì ồn ào vậy hai cậu? Bảo nhanh trí hơn, anh chàng gọi nhanh vào phòng: - Bị sao vậy Lan? Mỹ Lan cũng ứng phó khá nhạy: - Mình bị... trúng gió! Làm ơn lấy cái giỏ mình để ở ngoài phòng khách đưa vào đây giùm! Trung chạy đi rất nhanh, vừa đưa mắt ra hiệu cho Bảo. Anh chàng bị hàm oan này hiểu ý nên vội ném bộ đồ trên tay vào phòng, vừa nói: - Quần áo đó, còn cái giỏ thì chờ thằng Trung một chút! Ngay lúc đó, có giọng hớt hải của Trung: - Đâu có thấy giỏ nào đâu? Bên trong Mỹ Lan đã mặc lại đồ, cô nói vọng ra: - Em để ở góc phòng khách, chỗ gần cái bàn lớn đó! - Không thấy! Mỹ Lan bước ra nét mặt vẫn còn sợ hãi nhưng trước mặt Kim Thoa cô phải làm ra vẻ tỉnh táo: - Để em đi lấy. Đi ngang qua chỗ Kim Thoa đứng, Lan lễ phép nói: - Em cám ơn chị về mâm cơm tối qua. Kim Thoa ngạc nhiên: - Mâm cơm gì? Chị thức chờ em dậy để dọn cơm cho ăn mà thấy em vẫn ngủ say rồi nên chị cũng ngủ quên luôn. Mỹ Lan khựng lại trố mắt nhìn, vừa lẩm bẩm: - Vậy thì ai đã... Cô nghĩ có thể là bà mẹ của Thiện hoặc người làm trong nhà, nhưng vừa khi ấy Kim Thoa lại nói rõ: - Má chị bị bệnh nằm liệt từ chiều qua, còn đứa em bà con thì đã về quê từ mấy hôm rồi, nên nhà không có ai cả... Mỹ Lan muốn thuật lại chuyện đêm qua nhưng kịp nghĩ lại nên thôi, lẳng lặng đi tìm giỏ đồ của mình. Tuy nhiên, chỉ một lúc sau cô đã chạy trở lại, hốt hoảng: - Cái giỏ đồ của tôi... Kim Thoa lên tiếng ngay: - Sao mất được? Nhà này không có ai khác ngoài chúng tôi nên không thể có chuyện mất đồ đạc trong nhà! Cô xem lại đi. Thoa có vẻ giận dỗi, cô quay bước bỏ đi khiến cho Mỹ Lan không kịp đính chính lời nói không khéo của mình. Nhưng cô vẫn quay sang Bảo và Trung, hỏi: - Hai anh có thấy giỏ đồ của em không? Trung chỉ sang Bảo: - Nó chỉ có giữ mỗi bộ đồ của em mặc hôm qua, có lẽ lúc em qua phòng nó... Bảo lao tới bụm ngay miệng của Trung lại: - Đừng có nói bậy? Tao với Mỹ Lan đâu có. Mỹ Lan nhớ lại bộ đồ lúc nãy, liền hỏi: - Sao anh có được bộ đồ này? Em bị mất nó bởi... - Anh cũng không biết, lúc ngủ dậy đã thấy nó ở đầu giường. Anh tưởng em... Mỹ Lan ngượng đỏ mặt: - Em làm sao dám làm chuyện ấy! Vả lại, anh và anh Trung ngủ chung mà! Trung nói nghiêm túc: - Nãy giờ đùa vậy thôi, mình cũng đang tự hỏi sao bộ đồ của Lan lại ở bên phòng của bọn mình. Việc này ắt có điều gì đó. Định giấu luôn chuyện xảy ra đêm qua, nhưng nghe Trung hỏi vậy, Mỹ Lan phải kể lại đầu đuôi. Kể xong, cô hỏi: - Phải chăng đó là ma? Bảo nhớ lại chuyện mình bị bóng đè hôm ngủ ngoài nghĩa địa, liền nói: - Giống y như mình bữa đó! Cũng là con ma nữ... Trung có tính hay bông đùa nên pha trò: - Thằng Bảo là nam thì thấy bóng ma nữ dè, còn Mỹ Lan thì đáng lý ra phải là ma nam chứ! - Em cảm nhận rất rõ, đó là một cô gái. Tuy không thấy mặt, nhưng em có thể tưởng tượng rằng đó là một người rất đẹp, ăn mặc sang trọng nữa... Tự dưng Bảo buột miệng: - Anh Đào! Mỹ Lan nghe lạnh sống lưng: - Cô ấy linh đến như vậy sao? Bảo tiết lộ điều mà từ hôm đó tới nay chưa nói với ai: - Đêm hôm đó, khi từ nghĩa địa về mình còn thấy cô ấy một lần nữa! Cô ta đòi mình phải làm rể phụ trong lễ cưới của cô ta! Mỹ Lan nghe rung động tinh thần: - Cưới ai? Bảo lắc đầu: - Cô ấy không nói lễ cưới ai, nhưng sao mình có cảm giác như là... Bảo bỏ lửng câu nói càng làm cho Mỹ Lan tò mò thêm: - Anh nói xem, ai vậy? - Mình không dám chắc, nhưng người đó giống như Thiện! Tiếng kêu của Mỹ Lan cũng vừa lúc từ phòng bên kia có một tiếng thét thật to: - Anh Đào! Tiếp theo là giọng thảng thốt của bà giáo Nhơn: - Thiện, má đây con! Đừng làm má sợ. Khi Mỹ Lan và mấy người bạn chạy sang thì ngạc nhiên vô cùng khi thấy Thiện đang ôm một bộ áo cưới trong lòng. Anh nói trong niềm hoan lạc: - Tối nay là ngày con cưới vợ, sao má chưa sửa soạn nhà cửa cho đẹp? Phải kết hoa, giăng đèn chớ! Mỹ Lan kêu lên: - Thiện! Em đây mà... Nhưng Thiện chừng như không nhận ra, anh nói theo ý của mình: - Cô và anh bạn này là phụ dâu, phụ rể. Phải mặc quần áo đẹp nhé! Rồi anh lại ôm bộ áo cưới và hát nghêu ngao bài tình ca mà trong các lễ cưới người ta hay hát. Bảo đưa mắt nhìn Mỹ Lan, ái ngại: - Nó nói giống như trong giấc mơ mà mình thấy. Cũng chiếc áo cưới này. Bà giáo ngạc nhiên hỏi: - Con mơ thấy gì? - Dạ, thấy Anh Đào! Bà giáo thất thần: - Lại con Anh Đào đó nữa! Vậy mà ông thầy Tám nói là đã trục được nó đi rồi! Bà đang nói thì con Luyến, đứa bé thường bưng bánh bông lan đi bán dạo quanh xóm, nó từ ngoài cửa chạy vào và la lớn: - Ông thầy Tám bị hộc máu chết rồi bà giáo ơi! Mọí người sững sờ, riêng Kim Thoa thì chạy thẳng ra cửa. Lát sau cô về và thất thần nói: - Ông thầy Tám chết chật rồi. Ông ấy từ nhà mình về thì bị sốt cao, có lúc lạnh toàn thân, nằm ngủ từ tối hôm qua không dậy, lúc đó người nhà vào coi thì thấy ông đã chết trong vũng máu. Hộc máu tươi ra một đống! Bảo là người nhạy cảm với câu chuyện vừa nghe hơn ai hết, anh lẩm bẩm: - Lại là Anh Đào... Rồi như con thú bị thương, Bảo rút vào một góc ngồi im, vừa run rẩy... Trong khi đó, Thiện vẫn nghêu ngao hát và hầu như chẳng chú ý đến ai chung quanh. Mỹ Lan gần muốn phát khóc trước cảnh đó. Cô mím chặt môi, đứng lặng người đi một lúc lâu, rồi thất thểu trở về phòng của mình. Nhưng vừa bước vào phòng thì đã phải khựng lại và rụng rời tay chân. Trước mắt cô, ở giữa phòng là một người phụ nữ toàn thân nguyên vẹn, chỉ có cái mặt là trơ xương. Một chiếc đầu lâu trên thân người! Như thân cây bị đốn ngã. Mỹ Lan ngã sấp ngay dưới chân bóng ma... *** Rầu rĩ chuyện con trai lâm vào trạng thái nửa mê nửa tỉnh nên bà giáo Nhơn năng đi chùa. Ngoài mục đích cầu nguyện cho bệnh trạng của con, bà còn van vái vong hồn của Anh Đào, mong cô đừng quấy phá...Ngôi chùa Thiện An có vị hòa thượng Chơn Tánh là người lâu nay bà giáo rất sùng bái. Nhân việc này, bà tới viếng và trình bày với ông mọi chuyện đang xảy ra trong nhà mình. Nghe xong, ông chau mày một lúc rồi gọi chú tiểu vào trai phòng lấy ra một chiếc hộp gỗ nhỏ. Mở hộp ra, ông lấy đưa cho bà giáo xem một xâu chuỗi hạt huyền, vừa bảo: - Đây là vật mà người đem ký gửi cho bần tăng đã nói rằng của chính con gái bà ấy. Tôi thấy xâu chuỗi đẹp nên hỏi bà ấy mua ở đâu, thì bà cho biết là không hề mua, mà chính con gái bà trước khi chết đã nhặt được nó trong một chuyến đi chơi. Xâu chuỗi đen tuyền, đúng là bằng hạt huyền nguyên chất, nhưng càng quý hơn là trên mỗi hạt đều nổi lên chữ Thiện rõ như cầm bút viết. Bần đạo đã nhìn thật kỹ, chữ Thiện này không phải do bàn tay con người tạo nên. Nó tự nhiên mà có! Bà giáo nhìn kỹ và dù không biết chữ Hán, nhưng cũng thấy được trên mỗi hạt huyền đều hiện lên một chữ giống nhau, khi ẩn khi hiện. Bà giật mình nói: - Sao nó giống với chỗ mỏ ác của thằng con nhà này, lúc nó vừa sinh ra thì ở mỏ ác cũng nổi lên một chữ giống như vậy. Ba nó thấy vậy nên đặt cho nó tên là Thiện, ổng nói tên ấy trùng với chữ trên mỏ ác! Sư Chơn Tánh cũng ngạc nhiên: - Sao lại có chuyện trùng hợp lạ kỳ như thế này? Người đem gửi xâu chuỗi này cũng kể chuyện gần giống như vậy. Bà ấy bảo rằng trên mỏ ác con gái bà lúc mới sinh ra cũng có một chữ Thiện như thế! Bà giáo chưa thể tin có chuyện trùng hợp như thế, nên hỏi lại: - Người đem gửi xâu chuỗi là ai vậy, thưa thầy? Nhà sư không giấu: - Là bà Hội đồng ở làng mình. Bà giáo kinh hãi kêu lên: - Con gái đã chết của bà là Anh Đào! - Thì ra bà cũng biết mẹ con họ. Tội nghiệp, cô con gái còn trẻ quá mà đã yểu mạng. Nhưng có chuyện này. Ông lấy ra một quyển sách cũ, lật vài trang rồi ngẩng lên bảo: - Theo sách thì trên đời này nếu hai người có cùng đặc điểm giống nhau thì sẽ không cùng gần nhau được. Cũng may giữa con trai bà và cô gái cùng làng này không có quan hệ gì với nhau, nên... Vừa nói tới đó, ông chợt nhớ ra, nên vội bảo: - Mà không phải, giữa họ có dính tới nhau đấy chứ? Theo lời bà kể thì hiện cô Anh Đào và cậu con bà gặp nhau... Ông suy nghĩ một lúc rồi nói tiếp: - Theo sách thần toán thì nếu một cặp giống đặc điểm với nhau mà một trong họ chết thì mọi việc coi như đã được hóa giải. Ở đây người nữ đã thác rồi... Bà giáo thở dài: - Vậy mà vong hồn của con nhỏ đang ám thằng con nhà này. Thầy xem có cách nào chỉ giúp con với. Sư Chơn Tánh bộc bạch: - Người tu hành không tin tà ma, cũng không đối đầu với chúng. Nhưng trong chuyện này, do tình cờ bần tăng được ký thác xâu chuỗi có liên quan tới vong linh người nữ tên Anh Đào, cho nên bần tăng cứ tạm gửi cho bà xâu chuỗi. Bà thử đem xâu chuỗi này về, đưa cho cậu nhà giữ trong mình coi có tác dụng gì không? Bà giáo phấn khởi hẳn lên: - Xin tạ ơn thầy, ngàn lần tạ ơn thầy! Bà lấy xâu chuỗi và bọc nó trong chiếc khăn đội đầu một cách cẩn thận, chẳng khác gì giữ một báu vật. Sư Chơn Tánh còn dặn: - Thầy cũng không dám chắc có kết quả gì, nhưng sau khi thử để cậu nhà giữ trong ba hôm, thì đem lên đây trả lại cho ta. - Dạ, con xin hứa! Bà rời khỏi chùa một đoạn thì chợt có người gọi phía sau: - Bác ơi! Quay lại thì bà giáo vô cùng ngạc nhiên khi thấy Mỹ Lan với gương mặt tiều tụy, thất thểu bước một mình. - Cháu đi đâu vậy? Lan bỗng khóc oà: - Con khổ quá bác ơi. Anh Thiện vừa rồi đuổi con đi, anh ấy nói con không thể ở trong nhà được, bởi tối nay anh ấy cưới vợ! Vẫn không ưa cô gái này, tuy nhiên khi thấy tình cảnh Mỹ Lan như vậy, bà giáo cũng phải an ủi: - Cháu cứ về với bác, mọi việc rồi để bác lo. Mỹ Lan lắc đầu: - Cảm ơn bác. Cháu muốn vào chùa một chút, bác cứ về trước. Với xâu chuỗi hạt huyền trong tay, bà giáo cũng không không muốn giữ Lan lại, bà bước đi nhanh, bỏ lại cô gái ở đó. Mỹ Lan lững thững bước vào chùa. Đang đi, bỗng có ai đó nắm tay Lan kéo lại. Bực mình, vừa định lên tiếng thì chợt một giọng nói vừa đủ cho cô nghe: - Cô đang "dơ mình" thì làm sao vào chùa được! Mỹ Lan giật mình khi bị nói đúng tình trạng cơ thể mình, cô quay lại nhìn thì suýt kêu thét lên, bởi đang đứng trước mặt cô lúc ấy là... cô gái với cái đầu lâu hôm trước! - Cô... cô... Hôm đó ở trong phòng khi vừa nhìn thấy con người này, Mỹ Lan đã ngất xỉu. Hôm nay có lẽ do đã gặp một lần, nên Lan chỉ run rẩy, định bước lùi lại, thì đã nghe một giọng nói tuy nhẹ nhàng, nhưng hàm ý như ra lệnh: - Bước ra góc sân kia vắng vẻ, dễ nói chuyện hơn. Như bị thôi miên, Mỹ Lan bước theo. Cô gái kia đi nhẹ nhàng, nhưng lại bước rất nhanh. Dẫu cố gắng, nhưng Lan không tài nào theo kịp. Khi bước tới cuối sân chùa phía sau, thì đã thấy cô nàng nọ ngồi sẵn trên một ghế đá, quay lưng lại như chờ đợi. Bước tới sát bên, nhưng Mỹ Lan không dám ngồi xuống, phải đợi nhắc: - Ngồi xuống đi! Mỹ Lan vừa ngồi xuống thì bất thần người ấy quay lại. Lần này Mỹ Lan không sửng sốt nữa, mà đúng hơn là sững sờ trước gương mặt đẹp như tranh vẽ của cô ta! - Cô... cô... Cô gái cười rất tươi: - Sao cô Mỹ Lan có vẻ ngạc nhiên vậy? Vẫn là tôi đây thôi. Cô có muốn biết tên tôi không? Tôi là... Chẳng hiểu ai xúi giục mà Mỹ Lan đã buột miệng: - Anh Đào! Một tiếng cười trong trẻo phát ra từ đôi môi Anh Đào: - Cô khá thông minh. Bởi vậy sự quan tâm của tôi với cô không phải là chuyện thừa. Mỹ Lan muốn nhìn thẳng vào mặt người đối diện, nhưng mỗi khi liếc mắt nhìn thì cô có cảm giác như ánh mắt ấy đang muốn nuốt chửng mình, bởi vậy cô vừa cúi mặt vừa nói: - Vừa rồi cô... Ý Mỹ Lan muốn nhắc tới gương mặt ghê sợ lúc nãy, nhưng chưa kịp nói thì đã bị chặn ngang: - Cô muốn tôi với gương mặt quỷ ấy lắm sao? Tôi vốn là người như thế này và bây giờ tôi vẫn như vậy, ngoại trừ... Nàng vừa nói vừa đứng lên, và bất thần vung tay lên cao. Khi hạ tay xuống thì nàng ta vụt biến mất! Mỹ Lan rung động thật sự, cô lắp bắp: - Tôi... tôi... Lần đầu tiên biết chắc mình đang gặp ma, nên phải mất mấy chục giây sau cô mới hoàn hồn. Tuy nhiên, phải một lúc lâu sau Mỹ Lan mới có thể đứng dậy và lảo đảo bước đi. Chợt có ai đó nói một cách vô tình ngay phía sau: - Mới rồi tôi nhìn thấy đứa con gái nào ngồi ở băng đá kia giống hệt như con Anh Đào con ông Hội đồng! Một người khác nói thêm: - Con nhỏ chết trẻ, lại bất đắc kỳ tử nên linh lắm, nghe nói nó cứ hiện hồn về hoài. Mày lạng quạng mà gặp phải nó thì có mà toi mạng! Hai người nọ đi rồi mà Mỹ Lan vẫn còn bàng hoàng. Cô nhìn lại cánh tay mình, nơi cô vừa bị Anh Đào nắm, dường như cảm giác lạnh và tê rần đang lan ra... Nỗi sợ hãi càng lúc càng lớn, cuối cùng thay vì trở lại nhà của Thiện, Mỹ Lan quyết định đi luôn ra bến xe đò. Cách tốt nhất lúc này đối với Lan là phải rời khỏi chốn này. Mất Thiện dẫu đau lòng, nhưng mạng sống của mình, Mỹ Lan nghĩ, không thể để mất trong tay một hồn ma được! Mỹ Lan bước lên xe đò lúc ấy là hai giờ chiều... *** Chiếc xe nhà ngừng ngay cửa khiến cho bà giáo ngạc nhiên nhìn ra. Do mắc kém nên chưa nhận ra ai, bà bảo Kim Thoa: - Con ra coi ai vậy? Thoa vừa bước ra đã quay trở vào liền, giọng hớt hải: - Bà Hội đồng má ơi! Từ nào đến giờ tuy là ở chung làng, nhà cũng không cách nhau xa lắm, nhưng bà giáo Nhơn chưa một lần gặp gỡ với con người mang tiếng là giàu có và quyền uy nhất vùng này. Bởi vậy nghe bà ta ghé lại nhà mình thì bà giáo ngạc nhiên, chưa biết phải làm sao. Vừa khi Kim Thoa nhắc: - Bà ấy là má con Anh Đào đó! Chi tiết này làm bà giáo nhớ lại chuyện thực tại của con trai mình, bà vội đứng lên. Nhưng bà chưa kịp ra cửa đón khách, thì khách đã bước vào phòng ngoài rồi. Chính cô con gái lớn bà Hội đồng là Vân Anh dìu mẹ mình đi. Thay vì thái độ hách dịch như xưa kia nhưng bây giờ bà Hội đồng rất dịu dàng, bà lên tiếng: - Tôi muốn gặp bà giáo Nhơn. Bà giáo mau mắn: - Dạ, tôi là vợ giáo Nhơn đây. Bà Hội đồng chụp ngay tay chủ nhà và siết chặt như người thân lâu năm mới gặp lại, bà ríu rít: - May mắn cho tôi. Cứ tưởng không gặp được bà! Rồi không đợi chủ nhà mời, bà đã ngồi ngay xuống ghế trường kỷ, dúi nhanh vào tay bà giáo một gói bọc nhung đỏ, vừa nói nhanh: - Bà cứ giữ lấy, coi như đây là của hồi môn tôi cho tụi nó làm ăn! Bà giáo ngơ ngác: - Chuyện gì vậy bà Hội đồng? Kim Thoa phải bước tới giúp mẹ mình mở bọc nhung ra, cả hai mẹ con đều sững sờ trước nhiều món nữ trang sáng lóa! - Cái... cái này... Trong lúc bà giáo lúng túng thì bà Hội đồng đã bình tĩnh nói: - Con gái tôi nó bắt phải đem qua đây cho bằng được. Nó bảo rằng nhà chồng nó không có sẵn, mà đám cưới thì phải có nữ trang để mẹ chồng trao cho cô dâu trong lễ lạy xuất giá. Đây là chút thành ý của gia đình chúng tôi, cũng là ý nguyện của con gái tôi nữa, xin chị đừng từ chối. Bởi nếu không... Vân Anh bây giờ mới lên tiếng: - Suốt đêm qua, con Anh Đào hiện hồn về cứ đòi má tôi phải đi qua đây ngay, má tôi bảo để sáng tính lại thì nó quậy tưng bừng, làm cả nhà không ai ngủ nghê gì được! Con nhỏ này ngang bướng, nó mà muốn chuyện gì thì đố ai cản được. Bởi vậy, bác và chị đây nên làm theo ý nó. Bà Hội đồng nói thêm: - Vong của nó về bảo rằng nó có duyên với thằng Thiện nhà này, duyên tiền kiếp chứ không phải mới đây, nên bằng giá nào chúng cũng phải lấy nhau. Bà giáo ngập ngừng: - Nhưng mà... tụi nó làm sao ăn ở với nhau được? Vân Anh quả quyết: - Anh Đào đoan chắc là nếu chúng ta cử hành hôn lễ cho đúng với nghi thức thì nhất định hai đứa nó sẽ ăn đời ở kiếp với nhau được! Kim Thoa nói nhỏ bên tai mẹ: - Thì cũng giống như thằng Thiện, nó cũng nói vậy... Bà giáo dịu giọng: - Tôi cũng đâu biết làm sao khác... Bà Hội đồng mừng rỡ: - Như vậy được rồi! Chúng ta tiến hành hôn lễ cho chúng nó ngay đi. Chính con Anh Đào chọn ngày, tối hôm nay là lễ đưa dâu... Kim Thoa buột miệng: - Sao được! Ai lại rước dâu vào ban đêm? Vân Anh giải thích: - Nó là hồn ma thì làm sao đi ban ngày được. Vả lại hôm nay là ngày giờ tốt, con Anh Đào bảo ở cõi âm chuyện ngày giờ là quan trọng lắm, không thể làm khác được. - Đón dâu ngay tối nay được chứ sao không, má. Câu nói bất ngờ khiến mọi người quay lại. Thiện bước ra với chiếc áo cưới trong tay. Trông anh tỉnh táo hơn mấy ngày qua. Bà Hội đồng vừa trông thấy đã reo lên: - Con ơi, giúp má với. Thiện hầu như đã trở lại bình thường, anh nhìn mẹ và nói: - Đây là duyên nợ của tụi con má à, má nên làm theo ý má vợ con. Đó cũng là ý của Anh Đào... Thấy con mình đã bình thường, bà giáo mừng lắm, nhưng còn rất khó xử với chuyện cưới xin, bà nhìn sang con gái như nhờ sự góp ý thì Kim Thoa lại gật đầu: - Cứ làm thế đi má. Thiện đưa lại cho bà Hội đồng cái hộp gỗ đựng xâu chuỗi huyền: - Con tạm giữ vật này, gởi trả lại cho má, để má đưa cho Anh Đào. Cũng chính nhờ nó mà con trở lại bình thường. Con cảm ơn má, cảm ơn Anh Đào. Kim Thoa cũng mừng khôn xiết: - Thằng Thiện đâu còn gì phải lo nữa má! Hay là... Hiểu ý chị mình, chính Thiện nói liền: - Với Anh Đào thì một là một, không cãi lời cô ấy được đâu. Mà tại sao lại làm khác, khi con và cô ấy có duyên nợ với nhau. Hai mẹ con bà giáo im lặng. Trong lúc bà Hội đồng lại giục: - Không còn thì giờ nữa đâu, bây giờ tôi phải trở về lo chuyện hôn lễ. Bà giáo vẫn còn lúng túng: - Nhưng... nhà cửa tôi như vậy, làm sao đây? Thiện trấn an: - Đâu phải đám cưới bình thường đâu mà má phải lo. Cứ để con. Anh đứng lên đi về phía góc nhà, rồi xách tới một chiếc vali mà vừa nhìn thấy Kim Thoa đã reo lên: - Vali quần áo của con Mỹ Lan, nó bị mất... Thiện mở vali ra trước sự kinh ngạc của mọi người. Trong đó chứa một bộ áo dài khăn đóng của nam và một bộ áo gối thêu rồng phượng bằng lụa rất đẹp! Vân Anh là người lên tiếng đầu tiên: - Hôm qua mấy thứ này còn bên nhà, ai đem qua đây hồi nào vậy? Rồi cô kể: - Chính bởi những vật này mà ba năm trước con Anh Đào tự tử! Nó phản đối cuộc hôn nhân do ba má tôi ép nó. Khi nó chết rồi, tôi tiếc của nên xếp mấy thứ này vào tủ cất, hôm nay tự nhiên thấy nó xuất hiện trên giường Anh Đào, rồi bây giờ lại ở đây. Thiện nói một cách tự nhiên: - Mọi vật đều có chủ, mà phải đúng là chủ nó thì mới hưởng được lâu bền. Cái này là dành cho em. Anh ướm thử bộ đồ và reo lên: - Đồ này sắm là để cho con đây chứ! Nhìn con mình trong bộ đồ lễ, bà giáo xúc động nói: - Con tôi! Bộ đồ vừa vặn đến kinh ngạc! Đến Vân Anh cũng phải kêu lên: - Như đo cắt cho cậu Thiện vậy! Kim Thoa thấy bên dưới bộ đồ cưới còn có vài thứ nữa, nhìn kỹ cô kêu lên mà quên sự có mặt của hai người khách: - Quần áo của Mỹ Lan! Quả đúng như vậy. Đây rõ ràng là vali của Mỹ Lan bị mất hôm qua. - Chị Hai giúp em đem cất vali này vào phòng. Nhớ chuyện mình giận Mỹ Lan về chuyện mất chiếc vali này, Kim Thoa hơi hối hận. Lúc này cô mới chợt nhớ ra là Mỹ Lan đã không có ở nhà từ trưa hôm qua đến giờ. Cô gọi Bảo và Trung hỏi: - Mấy đứa có thấy Mỹ Lan đâu không? Bảo đưa ra mảnh giấy nhỏ: - Lan về Sài Gòn rồi. Giấy này em cũng không phải nhận trực tiếp từ cô ấy, mà do thằng Sanh bạn của Thiện đưa lại. Thoa lẩm bẩm: - Cũng tại chị... Trong đầu Thoa đang hiện lên một hình ảnh rắc rối mới. Chuyện tình cảm của Thiện và Mỹ Lan sẽ ra sao đây khi Thiện làm đám cưới, mặc dù là đám cưới với... hồn ma. Xem ra Mỹ Lan yêu Thiện thật lòng và chắc bây giờ cô ta đau khổ lắm... Trung chép miệng: - Yêu đương làm gì cho rắc rối! Bảo chống nạnh nhìn bạn: - Để rồi coi. Rồi anh ta hỏi khẽ Kim Thoa: - Bộ để cho thằng Thiện lấy... hồn ma thật hả chị? Thoa nhẹ thở dài: - Chứ biết sao bây giờ. Hai đứa không thấy sao, nếu không cho nó cưới thì bệnh tình thằng Thiện biết chữa thế nào đây? Bảo rùng mình: - Chắc em không dám ở lại dự lễ cưới này quá! Trung trừng mắt nhìn bạn: - Bạn bè vậy đó hả? - Ngoài ra còn Mỹ Lan nữa... Ý Bảo muốn nói rằng dẫu sao giữa họ và Mỹ Lan là bạn lâu năm, giờ đây chẳng lẽ đứng nhìn bạn mình phản bội? Hiểu ý, nên Kim Thoa nhẹ giọng bảo: - Hai đứa cũng không nhất thiết phải ở lại... Tuy nhiên Trung đã quyết định: - Bọn này sẽ ở lại. Và cũng chính bọn này sẽ về giải thích lại cho Lan hiểu. Lúc này đã xế chiều. Mẹ con bà Hội đồng cũng đã lên xe về. Còn lại toàn người nhà, bà giáo mới lo lắng hỏi Thiện: - Con chấp nhận lấy con Anh Đào, con không nhớ nó là...? Thiện hào hứng: - Con không thấy có gì trở ngại cả! Mấy ngày qua trong cơn mê con đã biết thế nào là sống với một người cõi âm, nên con có cảm giác như giữa chúng con không có gì khác biệt. Vả lại, Anh Đào nói với con rằng cô ấy sẽ dành cho con một sự ngạc nhiên lớn. Con tin cô ấy. Bà Hội đồng chỉ biết lắc đầu, thở dài... *** Chiếc xe hơi quen thuộc của bà Hội đang đi trước, theo sau là hai chiếc nữa. Họ lặng lẽ ngừng ngay trước cổng nhà. Trong này, bà giáo Nhơn cũng đã chuẩn bị sẵn, nên giục Kim Thoa: - Đưa má ra ngoài đón người ta! Vừa bước ra tới cửa, mẹ con bà giáo đã sững sờ đứng khựng lại! Trước mặt họ là bà Hội đồng đi cùng cô con gái lớn và bốn năm người lớn tuổi nữa, có lẽ là trong thân tộc. Đặc biệt hơn là... có cả cô dâu đi kèm! Kim Thoa bắt đầu run: - Sao... sao hồn ma mà cũng... cũng hiện hình giữa ban ngày được? Bà giáo cũng không hơn gì, giọng bà run còn hơn con gái: - Vịn giùm má, má thấy chóng mặt... Nhóm người nhà bà Hội đồng bước thẳng vào nhà một cách rất tự nhiên. Vân Anh là người đại diện cho nhà gái, lên tiếng: - Thưa bác giáo, giữ đúng lời giao ước, nay giờ lành, ngày lành tháng tốt, má con và bà con họ nhà gái, xin đưa dâu về nhà chồng. Đúng ra lẽ này phải khác đi, nhưng bác giáo thông cảm cho, hoàn cảnh không cho phép, nên tạm cử hành như thế này. Mời chú rể ra đón cô dâu vào nhà để lạy gia tiên luôn! Thiện từ trong bước ra, anh hơi khựng lại một chút khi nhìn thấy cô dâu đang trùm kín mặt. Rồi anh cũng tiến tới cúi chào nhà gái, xong đưa tay nắm lấy bàn tay cô dâu. Họ sóng đôi bước vào nhà trong. Tuy nhà không trang hoàng gì, nhưng do mới sơn phết hồi Tết, tường còn mới, lại được tăng cường đốt mấy ngọn đèn manchon nên cũng rực rỡ, sáng choang. Trước khi bắt đầu lạy bàn thờ, một người trong thân tộc nhà gái nhắc: - Cô dâu phải giở khăn trùm ra rồi hãy lạy! Chiếc khăn được chính Thiện giở ra từ từ... Và anh sững sờ khi gương mặt cô dâu hiện ra! Đó là... Mỹ Lan? - Hả! Thiện hơi lùi lại nửa bước, nhưng liền lúc đó anh nghe một giọng nói thật khẽ, chỉ đủ cho mình anh nghe: - Bình tĩnh. Cứ làm như những gì em đã dặn! Giọng nói không phải là của Mỹ Lan! Giọng này Thiện đã nghe quen trong suốt mấy ngày hôn mê... Đó là giọng của Anh Đào! Buổi lễ gia tiên diễn ra êm thấm trước con mắt kinh ngạc của mẹ con bà giáo và cả hai người bạn của Thiện đứng ngoài cửa! Bảo nói khẽ với Trung: - Tao không thể hiểu nổi... Trung cũng lắc đầu: - Để lát nữa gặp Mỹ Lan tao hỏi xem. Khi cuộc lễ chấm dứt thì Thiện xin phép hai bà mẹ được đưa vợ vào phòng riêng. Vừa vào tới trong, anh nhận được một câu nói rót vào tai: - Ban ngày anh sẽ sống với em bằng gương mặt này, còn ban đêm thì em sẽ là Anh Đào trọn vẹn! Trong lúc quyện chặt lấy nhau trên giường, giọng nàng tha thiết hơn: - Em đã thương lượng với Mỹ Lan rồi, cô ấy cũng đồng tình với cuộc sống này. Bọn em phải hy sinh nhiều lắm đó. Chỉ có anh là sướng thôi, được một lúc đến... hai vợ! Thiện có lẽ quá bất ngờ nên nhất thời anh không thốt được thành lời. Mà cần gì phải nói, khi trong tay anh đã có được một cuộc tình không thể có trường hợp thứ hai trong cõi đời này! |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 32
OAN HỒN NÀNG HẠNH Người tài xế chỉ hướng và bảo: - Cậu đi theo hướng này khoảng ba trăm mét thì nhìn thấy một ngôi nhà ngói xưa bên tay trái, cậu rẽ vào đó nếu gặp người thì hỏi nhà ông Trùm đạo Hoàng Bửu, nếu không gặp ai thì cứ đi thẳng vào trong ắt sẽ gặp người cần hỏi. Thuận cám ơn bác tài rồi xách vali đi theo hướng được chỉ. Khi nhìn thấy ngôi nhà, Thuận khá bất ngờ bởi sự to lớn của nó. Trong hình dung của Thuận thì nhà sẽ nhỏ hơn, bình thường như những ngôi nhà ngói xưa đơn sơ của vùng quê. Nhưng ngôi nhà này thì đồ sộ chẳng khác một dinh thự của các mệnh quan triều đình xưa. - Thì ra nhà của ông Trùm Bửu là thế! Trùm Bửu là tên ông nội của một người bạn thân, mà việc anh ta giới thiệu Thuận về đây cũng đầy bí ẩn, anh ta nói trước ngày Thuận lên đường: - Nếu cần tìm hiểu về nghệ thuật cổ thì không nơi đâu tốt bằng nhà ông nội mình. Ngoài những tác phẩm cổ còn lưu giữ, nơi đó còn có những tài liệu bằng giấy mà chính mình cũng chưa biết hết giá trị của chúng. - Cậu là Thuận? Việc người quản gia già bước ra và hỏi đúng tên của mình đã khiến Thuận ngạc nhiên. Anh đáp: - Dạ, đúng. Nhưng sao bác biết tên cháu? Ông già cười hiền hòa: - Có gì lạ đâu, lúc sáng nay tôi nhận được cái điện tín, báo là có người tên là Thuận sẽ tới ở lại nhà một thời gian. Do chữ trong điện tín không có dấu, nên tôi đã đoán già đoán non cả buổi mới quyết định gọi cậu là Thuận thay vì là Thuần hay Thuẫn, không ngờ lại đúng! Thấy ông ta vui vẻ, Thuận cũng mừng, anh nói luôn: - Cháu được anh Châu giới thiệu. Mục đích của cháu là ở lại đây một thời gian ngắn... Ông quản gia cũng tự giới thiệu mình: - Tôi là ông già Hai, còn có tên là Hai Bình, làm quản gia nhà này đã hai mươi năm rồi, kể từ thời cụ Trùm còn sống. Mà vừa rồi cậu nói do cậu Châu giới thiệu, nhưng sao điện tín gởi ra lại ký tên cô Hạnh. Mà nhà này sao lại còn có Hạnh nào nữa? Thuận cau mày: - Cháu đâu quen ai là Hạnh? Chợt ông già Hai kêu lên: - Phải rồi, đó là cô ba nhà này? Mà cô ấy đã... đi cách đây cả chục năm rồi làm sao đánh điện được! À, hay là cậu Châu đùa với cậu rồi... Thuận thoáng thắc mắc, nhưng do phải vào nhà chào hỏi, rồi đi xem chỗ mới, nên sau đó ít phút thì hầu như anh quên bẵng chuyện cái điện tín. Ông già Hai sau khi dẫn Thuận đi một vòng, ông chỉ dãy phòng trên lầu và bảo: - Nguyên dãy này, có sáu phòng, đều đang bỏ trống, từ lâu không ai ở, mặc dù lâu lâu tôi có đến quét dọn, nhưng chắc khi cậu chọn phòng nào ở thì phải dọn cả buổi mới tươm tất được. Theo tôi thì cậu nên chọn cái phòng gần cầu thang này để dễ lên xuống, mà trong phòng ấy còn có sẵn giường còn mới và bộ ghế sa lông nữa, cậu có thể tiếp khách ngay trong phòng. Thuận cười: - Cháu lên đây là để tránh phải tiếp bạn bè một thời gian, nên chuyện tiếp khách chắc là không có rồi. - Biết đâu. Cậu còn ở đây lâu mà. Có cậu tôi thích lắm, bởi lâu nay muốn kiếm một người để nói chuyện cũng không có, nhiều khi tôi cứ sợ vài năm nữa mình quên tiếng người quá! Thuận bật cười với ông. Cuối cùng nghe ông, anh chọn căn phòng sát lối cầu thang. Quả là đầy đủ tiện nghi, còn vượt quá mong đợi của Thuận nữa! Ông già Hai đi xuống dưới nhà lúc sau trở lên dặn: - Trong phòng có cái tủ áo quần ngủ, ngày xưa khi ông thân sinh cậu Châu còn sống thì căn phòng này dành để đón khách xa tới ở lại, nên có sẵn một tủ quần áo mát mặc trong nhà, từ lâu khóa tủ để đó, không có ai rớ tới, chắc là còn nguyên, nếu cần thì cậu cứ lấy mà mặc. Mặc xong cứ bỏ vào giỏ để ngoài hành lang, tôi sẽ nhờ người giặt cho. Cả quần áo của cậu cũng vậy. Ông đưa cả chìa khóa tủ. Thuận không có ý định mặc những loại quần áo đó, tuy nhiên lát sau anh lại có nhu cầu mang mấy bộ quần áo, nên nghĩ tận dụng tủ ấy cũng tốt và anh mở ra xem. Trong tủ không hề có bộ đồ mát nào như ông già nói, có lẽ ông ta lộn với cái tủ ở phòng khác. Mà trong tủ lại toàn là giấy tờ, sổ sách và khung hình chất cả chục cái. Một trong đống khung ảnh đó có một cái khi Thuận vô tình chạm vào đã rơi ra, đè lên chân của anh. Sợ nó vỡ, Thuận nhẹ tay cầm lên và giật mình khi thấy chân dung một cô gái, mà Thuận phải buột miệng khen: - Đẹp! Cô gái trong ảnh còn rất trẻ, tuy ăn mặc theo phong cách xưa, nhưng gương mặt trái xoan, đôi mắt sáng ngời, đặc biệt là cặp môi chúm chím cực kỳ xinh xắn, mà bất cứ ai nhìn cũng phải tấm tắc! Điều khiến cho Thuận càng kinh ngạc hơn là bên dưới cùng của bức hình có dòng chữ viết tay khá nắn nót: - Ngọc Hạnh, năm mười tám tuổi. - Hạnh? Đây là cô Hạnh? Thuận kinh ngạc là bởi cái tên Hạnh trong bức điện tín mà ông già Hai vừa nói. - Cô ta đã... Không đợi đến chiều, sau đó vài phút Thuận đã cầm bức ảnh đi thẳng xuống nhà, tìm ông quản gia. Đưa cho ông xem bức ảnh, Thuận hỏi: - Phải đây là cô Hạnh mà bác nói không? Thấy bức ảnh, ông già Hai kêu lên: - Cậu lấy đâu ra ảnh ấy? - Dạ, cháu gặp trong phòng. - Ủa, sao trong phòng đó lại có... Rồi chợt nhớ ra, ông vỗ trán nói: - Tôi lộn rồi, phòng cậu ở trước đây là của... cô Ba Hạnh. Lâu quá rồi nên tôi không nhớ. - Bác nói cô ấy đã đi xa, mà đi đâu vậy? - Lâu rồi. Năm đó cô ấy mới mười tám tuổi. Hình đó chụp trước lúc cô ấy đi vài tháng. Bây giờ đã ngót mười năm rồi! Thuận trầm ngâm một lúc rồi quay lại phòng, ông già Hai nói với theo: - Hay là cậu ngại thì đổi sang phòng khác. Thuận xua tay: - Dạ không cần. Anh trở về phòng và đặt bức ảnh trở lại chỗ cũ. Như vậy là không có tủ để máng quần áo rồi. Đổi sang phòng khác thì Thuận lại không muốn. Cũng chẳng hiểu tại sao nữa... Buổi cơm chiều chỉ có Thuận và ông già Hai ăn với nhau. Anh ái ngại nói: - Để bác phải lo cơm nước cháu ngại quá. Hay là mai để cháu lo... Ông già Hai chỉ mâm cơm: - Cậu thấy tài nấu nướng của tôi chưa, chỉ có vài thứ mà tôi chế biến thành bốn món ăn, đâu thua gì mấy bà nội trợ giỏi! Rồi ông nói thêm: - Ngày trước khi ông Trùm còn sống tôi vốn là đầu bếp của ông, sau tới ông cụ bố cậu Châu thì tôi mới chuyển qua làm quản gia. Nghề cũ đâu dễ gì quên cậu! Thuận phải tấm tắc khen: - Bác nấu ăn ngon thật! Nhất là món sườn ram này, hương vị như nhà hàng Tàu! Được dịp khoe, ông già gân cổ lên: - Hồi trước anh em nhà cậu Châu người nào cũng khoái mấy món này! Có bữa cậu Châu ăn đến năm chén cơm chỉ với nửa dĩa sườn ram đó! - Cô Hạnh gì đó có thích món này không? Thuận cố tình nhắc tới người tên Hạnh, như chờ một sự tiết lộ thêm. Nhưng hình như ông già Hai có điều gì đó muốn tránh, ông vội nói lảng sang chuyện khác: - Ngày mai tôi sẽ cho cậu ăn một món khác, ngon hơn! Sau bữa cơm, Thuận tỏ ý muốn đi ra sau vườn thì ông già Hai khuyến khích một cách thật tình: - Cậu nên đi lại để thư giãn. Đây là đất riêng của nhà mình bên ngoài không ai vào được. Tuy nhiên trời đêm xứ này khá lạnh, cậu không nên ở lâu bên ngoài nếu không mang theo áo ấm. Thuận chỉ định đi một vòng ngắn rồi quay trở vào. Nhưng càng đi sâu vào khu vườn rộng, anh càng bị cuốn hút và cứ muốn đi nữa. Chung quanh anh có nhiều loại hoa rất lạ, có lẽ được trồng khá lâu và được cắt tỉa công phu, nên dù là ban đêm, Thuận cũng có thể thấy được cái đẹp của nó và phải buột miệng khen: - Đẹp quá! Qua hết con đường có nhiều luống hoa đẹp lại tới một khu chất những tảng đá lạ mắt, một cách rất mỹ thuật giống như những khu vườn Nhật mà Thuận đã từng thấy trên phim ảnh, sách báo. Anh thầm khen chủ nhân ngôi nhà, mà thì nghĩ có thể nó đã có từ thời ông nội của Châu. Ngôi nhà đã rộng mà khu vườn còn rộng gấp nhiều lần, nên Thuận đã đi ngót nửa tiếng mà chỉ mới được một nửa. Anh vừa định đi tiếp nữa thì chợt nghe có một tiếng kêu rất lạ, cách đó không xa. Lắng nghe một lúc, Thuận nhận ra tiếng ấy là của một loài chim đêm. Bước theo hướng có âm thanh ấy, bỗng Thuận giật mình khựng lại. Trước mặt anh là một con chó mực khá lớn đang hụt đầu xuống một ngôi mộ đá bị moi một lỗ to. Thấy sự xuất hiện của Thuận, con chó mực quay lại nhìn, đôi mắt của nó tròn và sáng như hai ngọn đèn pha, khiến cho Thuận suýt kêu lên. Anh không dám lùi, bởi thường nghe nói gặp chó mà lùi thì nó sẽ tấn công! Quả như vậy, con chó thấy Thuận nhìn chăm chú vào, nó không sủa, mà từ từ quay đi và bất thần bỏ chạy! Nhìn kỹ chỗ nó vừa đào lên, Thuận kêu khẽ: - Một cái sọ người! Thì ra con chó đang đào mộ, lôi lên hài cốt của người chết! Chẳng Iẽ là người mới chôn? Thuận liếc nhìn vào mộ bia, do trời tối nên nửa phần trên chỗ có tên người đã bị che khuất không thể đọc được, chỉ thấy dòng ghi ngày tháng tử: 14-4-1918 - Chết đã mười năm rồi! Có nghĩa cái sọ kia đã là sọ khô lâu năm, chẳng hiểu sao con chó lại đào lên làm gì. Nó đâu có ăn được? Tự dưng Thuận nghe bần thần, anh cứ đăm đăm nhìn cái sọ, trong lòng như muốn có một hành động gì đó như cầm nó lên hay chôn nó trở xuống huyệt! Cảm giác đó chợt đến mà Thuận cũng chẳng hiểu sao mình lại bị cuốn hút vào đó như thế! Anh cảm thấy khó xử nên cứ đứng tần ngần ở đó hơn một phút. Chợt trời gầm to, sấm chớp liên hồi và có vài giọt mưa rơi xuống! Lúc này Thuận như được ai đó tiếp thêm sức mạnh, anh cúi xuống nhặt cái sọ người lên, rồi chẳng cần suy nghĩ, đã nhẹ tay đặt nó xuống cái lỗ mà con chó vừa bươi lên lúc nãy. Anh lấp đất lại rất nhanh và còn cẩn thận lấy thêm hai tảng đá gần đó đè lên chỗ mới lấp! Làm xong Thuận cảm thấy nhẹ nhõm, anh xoa tay đứng nhìn ra vẻ đắc ý. Trước khi bỏ đi anh còn chấp tay xá liền mấy cái. Anh đi được chưa hơn chục bước thì con chó mực lúc nãy quay trở lại. Lần này nó không bươi đất nữa, mà chui tọt xuống mồ rồi mất dạng luôn! *** Trong bóng tối như mực, Thuận quờ tay đụng một người nằm bên cạnh mình và chỉ cảm nhận được giới tính của người đó qua da thịt của họ, anh kêu lên thật khẽ:- Một phụ nữ! Bàn tay Thuận chạm vào cánh tay của nàng ta và giật mình bởi nó lạnh và quần áo hình như đang ướt đẫm. Lần này Thuận lên tiếng rõ ràng: - Ai đây? Một ngón tay của nàng ta đưa lên đúng vào miệng của Thuận: - Đừng nói lớn, em đang trốn! - Cô là... - Gấp lắm, xin cho em nương náu đỡ một lúc, em đang bị người ta đuổi bắt. Họ mà tóm được thì chắc là em chết mất! Em lạy người... Giọng nàng ta tha thiết khiến Thuận cũng không nỡ, anh hỏi khẽ: - Cô làm gì trong nhà này? - Em... em ở xa lắm. Em tới đây do tình cờ và em bị người ta đuổi. Họ cho em là trộm, mà nào em có làm được chuyện đó đâu. Thuận định ngồi dậy mở đèn thì nàng hoảng hốt ngăn lại: - Đừng! Đừng! Nếu mở đèn lên thì thà giao em cho họ còn hơn! - Nhưng... có ai trong nhà này ngoài ông quản gia và tôi? Cô bị ông quản gia truy đuổi hả, để tôi nói giúp cho. Nàng ta tỏ ra sợ hãi hơn: - Đừng! Ông ấy... à mà không, tôi bị... con chó mực! Nghĩ tới con chó mực ở đầu mộ lúc đầu hôm, Thuận ngạc nhiên hỏi: - Cô làm gì ở ngoài mộ mà bị con chó... Anh ngừng ngang câu hỏi vì nguyên bàn tay cô nàng đã che kín miệng, giọng nàng như van lơn: - Xin anh đừng hỏi nữa, em sợ lắm! Bấy giờ Thuận mới cảm nhận được cái ướt từ thân thể nàng ta lan sang mình, anh hỏi: - Sao người cô ướt hết thế này? - Tại vì... Nàng ta đáp chưa hết câu thì từ bên ngoài ông già Hai lên tiếng: - Ngủ chưa cậu Thuận? - Dạ... Anh lại bị chận tay ngang miệng, nên tiếng vừa rồi chỉ đủ hai người trong phòng nghe. Bên ngoài ông già Hai không nghe đáp nên đã bỏ đi. - Cám ơn anh. Rất nhanh, cô nàng phóng khỏi giường, hình như tới ngồi ở ghế. Thuận muốn bước xuống theo thì nàng ngăn lại: - Anh không nên lại đây. Tốt nhất là có bộ quần áo nào còn sạch thì làm ơn cho tôi mượn mặc đỡ. Tôi đang bị lạnh. Đúng là nàng ta lạnh lắm, Thuận nghĩ vậy nên bước lần qua chỗ chiếc rương còn nguyên chưa mở từ khi tới đây. Anh bảo: - Cô phải bật đèn lên giùm thì tôi mới lấy quần áo cho được chứ, tối quá. Nhưng nàng cương quyết: - Anh mò và lấy đại, quần áo gì cũng được, miễn là... Nửa phút sau Thuận cũng lấy ra được một bộ pyjama, định bước tới đưa thì như đoán được ý của anh, cô nàng lại lên tiếng: - Anh cứ ném nó sang đây, tôi đang ngồi ở bàn viết. - Rồi anh ở yên đó, để tôi thay đồ! Lâm vào hoàn cảnh toàn để phụ nữ sai bảo như thế này là lần đầu Thuận gặp phải, tuy nhiên anh lại cảm thấy thích thú, nên răm rắp nghe theo. Chỉ nghe tiếng xột xoạt của quần áo ướt bị cởi ra, vài phút sau nàng lên tiếng: - Xong rồi đó, anh có thể mở đèn lên. Nhưng em nói trước, đã giúp em thì phải giúp cho trót, có ai hỏi thì anh không được nói có em trong này! - Rồi, yên tâm. Thuận bước tới bật công tắc điện lên, đèn sáng choang và... - Ủa, cô ta đâu? Ở bàn viết không có ai ngồi, chỉ trên đáy ghế có bộ đồ ướt vất ở đó thôi... - Cô ơi! Thuận kêu lên khẽ và bước khắp phòng tìm. Chốt cửa vẫn còn cài bên trong, như vậy chắc chắn nàng ta không ra bằng cửa ấy được. Mà cửa sổ thì vẫn đóng kín. Nghĩ là cô ta muốn đùa với mình, anh nhẹ bước tới gần tủ áo và bất thần kéo mạnh nó ra! Tủ trống không. Đứng thừ người một lúc Thuận mới có phản ứng. Anh chạy ra cửa gọi lớn: - Bác Hai ơi! Ông già quản gia ở nhà dưới, nghe gọi lên tiếng ngay: - Gì đó cậu Thuận? Thuận đã chạy bay xuống nhà, trên tay còn cầm bộ quần áo ướt, anh hớt hải nói: - Cháu đang ngủ thì có ai đó vào phòng, cháu không thấy mặt, chỉ nghe tiếng nói, cô ấy mượn cháu bộ đồ thay rồi... biến mất, bỏ lại bộ đồ ướt này! Vừa cầm bộ quần áo xem, ông già Hai đã kêu lên: - Bộ đồ này hình như là của... của... Ông định nói nhưng kịp dừng lại. Thuận hỏi dồn: - Của ai vậy? Ông già nhẹ lắc đầu bảo: - Thôi, không sao đâu, chắc là ai chạy trốn... Thuận nói liền: - Đúng là cô ta đang chạy trốn ai đó. Hình như trốn con chó mực! Ông già Hai lại một lần nữa giật mình: - Cậu thấy con chó? Thuận lắc đầu: - Chỉ nghe cô ta nói. Ông già lặp lại rất khẽ: - Con chó Mi Nô, con mực ngày xưa... - Bác biết con chó mực? Không đáp thẳng, ông quay đi, giọng buồn bã: - Nó vẫn còn bên cô ấy... Thuận quá tò mò, anh hỏi: - Bác biết cô ấy? - Biết... Nhưng mà... Ông đáp chưa dứt lời đã vội bước ra ngoài. Thuận định đuổi theo thì ông già xua tay ngăn lại: - Cậu chờ tôi một lát. Ông ta đi khoảng mười lăm phút thì trở lại, vẻ mặt bớt căng thẳng: - Đêm qua cậu ngủ không được? - Dạ không, cháu ngủ rất say, ngoại trừ lúc cô ấy vào giường cháu nằm và cháu giật mình! Ông già chỉ thở dài, không nói. Từ phút đó dù Thuận có hỏi mấy ông ta cũng không nói lại chuyện liên quan đến cô gái có bộ đồ ướt. Trong suốt bữa ăn sáng ông toàn nói chuyện bâng quơ. - Hôm nay cậu có cần đi đâu không, tôi thuê cho một người dẫn đường. Thuận bật cười: - Ở đây có chút xíu, cháu tự đi được rồi, đâu phải đi rừng đi suối gì mà cần hướng dẫn bác. Chỉ xin bác cho cháu mượn cây roi da mà cháu thấy treo ở phòng khách. Ông già cười: - Roi đó là của ông Trùm, ngày xưa nhiều người sợ chết khiếp mỗi khi thấy cây roi ấy. Bộ cậu cũng muốn làm... trùm sao? Thuận vô tình nói: - Cháu mượn cầm đi trong vườn thôi, phòng khi con chó mực. Bỗng ông già sa sầm ngay nét mặt: - Không được phép! Thuận ngạc nhiên: - Bác nói cháu không được phép mà phép gì ạ? - Không được chạm đến con chó! Ông vừa đáp xong đã bật đứng dậy ngay, nét mặt giận dữ! Thuận ngơ ngác chẳng hiểu tại sao. Cho mãi đến chiều tối hôm đó ông quản gia hầu như tránh mặt Thuận. Đến bữa cơm ông chỉ dọn để đó chứ không cùng ăn như hai bữa trước. Thuận áy náy lắm, nhưng cũng không chủ động tìm ông già để hỏi cho ra lẽ. Tối đó buồn tình nên anh đi ngủ sớm. Nhưng vừa đặt lưng xuống anh đã nghe tiếng ông già Hai ngoài cửa phòng: - Tôi gặp cậu một chút, cậu Thuận! Thuận ra mở cửa thì bắt gặp một ông già Hai say khước, đứng không muốn vững, anh phải dìu vào trong, vừa hỏi: - Bác uống ở đâu mà say quá vậy, bác Hai? - Ừ, tôi say... mà không say thì làm sao nói chuyện được với cậu! Cậu cho tôi nói không cậu Thuận? Thuận đỡ ông nằm xuống giường, nhưng ông ta lại bật ngay dậy, bất ngờ ôm chầm lấy Thuận và oà lên khóc! Quá bất ngờ trước hành động của ông, Thuận hơi lúng túng: - Bác... bác sao vậy? Ông già Hai cố trấn tỉnh, nhưng giọng ông cứ bị nghẹn lại. Phải mất hơn nửa phút sau thì ông mới nói được trọn vẹn ý của mình: - Cậu có muốn nghe tôi nói không? - Bác cứ nói, cháu sẵn sàng nghe. Nhưng trước khi kể bác để cháu lấy viên thuốc cho bác uống, nó sẽ giã rượu. Ông già Hai kéo ghì Thuận lại: - Khỏi, tôi đâu có say. Tôi chỉ buồn thôi... Ông chỉ vào trong tủ áo: - Cậu hãy lấy hết những khung ảnh trong đó ra đây, tôi sẽ chỉ cho cậu thấy... Thuận ôm khệ nệ cả chục khung ảnh, có cái có ảnh cái không. Dĩ nhiên trong đó có ảnh chân dung của người mà ông già Hai nói là cô Ba Hạnh. Vẫn cầm riêng bức ảnh đó, ông già đưa trước mặt Thuận: - Cậu gặp nó rồi phải không? Thuận lắc đầu: - Dạ chưa. - Gặp rồi! Cậu gặp ngoài nghĩa địa và gặp cả ở đây. Bộ đồ ướt hôm qua là của cô ấy! Thuận thảng thốt: - Bác nói đó là cô Hạnh? Giọng ông trầm hẳn xuống: - Chính là cô ấy. Và cả con chó nữa, nó chính là... Ông nói tới đó thì đột nhiên đôi mắt trợn trừng và ngã xuống sàn trước sự kinh ngạc của Thuận! - Kìa bác! Anh đỡ ông lên thì thấy hai dòng máu ứa ra ở hai khóe miệng. Đầu ông ta ngoẹo sang một bên. Thuận kêu lên: - Bác Hai! Nhưng ông ta đã không còn thở nữa. Thuận không biết phải làm gì trước sự việc quá đỗi bất ngờ này, nên cứ ngây người ra. Phải một lúc sau anh mới chạy qua nhà lân cận cách đó hơn trăm mét. Những người này cùng chạy qua xem và lắc đầu nói: - Ổng tuổi già, trước đây có tiền sử bệnh tim, từng mấy lần đi bệnh viện. Lâu nay bỏ rượu nên đỡ, sao bây giờ lại uống rượu lại. Tội nghiệp thân già không con cái, không gia đình riêng... Họ làm chứng cho Thuận nên sau đó anh không gặp rắc rối gì về cái chết lạ lùng này. Thuận đứng ra lo ma chay cho ông và buộc lòng phải lưu lại ngôi nhà, bởi ngoài anh thì giờ đây không có ai khác. Thuận dự trù ngày mai sẽ đánh điện tín cho Châu báo mọi việc rồi chờ Châu lên, lúc ấy anh mới về Sài Gòn. *** Châu lên và chỉ ở lại đúng một ngày và anh ta đã năn nỉ Thuận hết lời, xin anh hãy tiếp tục ở lại. Châu nói: - Ngôi nhà này là kỷ niệm cuối cùng của dòng họ tôi. Nghe nói trong các phòng trên lầu còn lưu giữ nhiều cổ vật quý giá, đáng lý tôi phải trực tiếp lên đây canh giữ hoặc tính toán cách bảo quản nó, tuy nhiên công việc kinh doanh của tôi dưới đó hiện đang rối rắm, tôi mà bỏ đi là loạn ngay. Cậu là bạn thân của tớ, vậy hãy giúp tớ trong lúc nguy ngập này. Nếu cần, mình sẽ tìm thuê cho cậu một người giúp việc. Cậu ráng ở chừng một tháng, được không? Thuận đành phải chìu theo ý bạn. Anh cũng không hỏi gì về những điều kỳ lạ đã chứng kiến, bởi theo Thuận thì Châu chẳng hề biết gì chuyện ở ngôi nhà này, có hỏi cũng vô ích. Châu về được nửa buổi thì Thuận khám phá một điều mà anh tiếc là nếu còn bạn mình ở lại chắc là phải ngạc nhiên! Số là trong số khung ảnh và tập vở cũ kia, Thuận tình cờ nhặt được một bức ảnh của Châu chụp chung với một cô gái nhỏ hơn anh chỉ vài tuổi, mặt cô gái này giống hệch như cô Hạnh trong ảnh kia. - Chắc là anh em họ. Nhưng khi lật phía sau ảnh thì Thuận giật mình! Có dòng chữ ghi: Không phải anh em mà sống như anh em, liệu rồi đây hai đứa sẽ ra sao khi phải chia lìa nhau. Chữ viết là của một người có vẻ lớn tuổi. Hơi giống nét của một phụ nữ, phải chăng là của thân sinh ra Châu hoặc Hạnh? Mà tại sao họ không là anh em ruột? ảnh cô gái này có đúng là Hạnh hay là của một người khác? Biết hỏi ai bây giờ, khi mà ông già Hai và cả Châu đều không có mặt ở đây. Khi xem tới một tập giấy bìa cứng, dạng nhật ký thì Thuận phải bàng hoàng kêu lên: - Có chuyện này sao? Trong quyển vở đó ghi vắn tắt mấy dòng: Tội nghiệp con Hạnh! Làm sao con nhỏ yếu đuối như thế mà chịu nổi trận đòn chí tử của lão Trùm. Lão ta sau khi hay biết việc Hai Bình cố tình gán ghép con gái mình cho thằng Châu thì đã nổi điên, nhốt thằng Châu vô hầm kín, còn con Hạnh thì bị trói vào cột dừa chịu liên tiếp nhiều trận đòn. Cây roi da ngày trước lão trùm dùng tra tấn nô lệ thì nay lại đùng để hành hạ đứa con gái liễu yếu, hỏi làm sao nó chịu cho nổi! Nếu không có con mực thì chắc con nhỏ đã chết ngay từ trận đòn đầu tiên! Những dòng chữ chấm dứt ở đó. Nhưng cũng đủ cho Thuận bắt đầu hiểu sự việc. Anh lẩm bẩm: - Thảo nào ông ấy cấm mình không được động tới con chó! Thuận dọn dẹp hết những vật dụng vào tủ, chỉ chừa lại mấy bức ảnh của Hạnh và ảnh chụp Hạnh và Châu. Đêm đó anh ngủ một giấc khá ngon. Cho mãi đến lúc gần sáng... lúc ấy bỗng Thuận nghe có tiếng động bất thường từ dưới dãy phòng mà ông già Hai ở. Tò mò, Thuận cầm đèn soi đi xuống. Tới gần anh mới giật mình vì có tiếng khóc phát ra từ đó. - Trong phòng của ông già Hai! Từ hôm ông ta chết thì căn phòng riêng của ông được đích thân Thuận khóa lại. Vậy mà lúc này cửa phòng mở và bên trong có ánh sáng và tiếng khóc của ai đó! - Bà là... Thuận cất tiếng hỏi khi nhìn thấy một người phụ nữ tuổi trung niên đang ngồi xếp bằng dưới sàn, trước di ảnh của ông già Hai. Nghe hỏi, người đàn bà không nhìn lại, mà cất tiếng hỏi: - Cậu là Thuận phải không? - Sao bà biết tôi? - Tôi biết cậu nên mới ngồi đây chờ cậu tới. Biết cậu nên mới để lão già này chết thay cho cậu! Câu nói làm cho Thuận tròn mắt kinh ngạc: - Bà vừa nói gì? Tại sao ông già Hai chết thay tôi? Lúc này người phụ nữ mới quay hẳn lại, nhìn thẳng vào Thuận. Anh ngạc nhiên bởi nhan sắc khác thường của bà ta! Tuổi tác thì rõ ràng không còn trẻ nữa, nhưng sắc đẹp thì vẫn quyến rũ, chẳng khác những cô gái mười tám đôi mươi. Thấy Thuận bàng hoàng khi nhìn thấy mình, người phụ nữ vội lên tiếng: - Chỉ có cậu mới dám nhìn tôi lâu như vậy. Và cậu cũng là người đầu tiên nhìn thấy tôi mà không ngã ra hộc máu! - Vậy bà là... Bà ta nhắc: - Cậu chưa quên cái chết của lão quản gia. Hôm đó cậu có mặt lúc lão ta chết, phải không? - Đúng, tôi có chứng kiến... - Vậy cậu có biết tại sao ông ta chết không? Thuận ngập ngừng: - Điều đó thì... Bất ngờ, bà ta vung mạnh tay một cái, có một vật thể màu đen lao vút từ ngoài cửa sổ vào và đứng trụ ngay trước mặt. - Con chó mực! Thì ra vật vừa lao vào ấy là con chó mực to có đôi mắt sáng như hai ngọn đèn pha. Nó chiếu thẳng ánh hung quang vào Thuận như chực ăn tươi nuốt sống, khiến anh hơi nao núng. - Cậu đừng sợ. Nếu hại cậu thì nó đã làm ngay từ hôm đầu tiên khi cậu nhìn thấy nó với chiếc đầu lâu ở sau vườn rồi! Chính vì hành động của cậu hôm đó, nên nó mới để cậu yên. Cậu nhớ khi cậu chôn chiếc đầu lâu không, đó là cậu đã cứu mạng con Hạnh lần thứ hai đó! Thuận ngơ ngác: - Chuyện ấy... là sao ạ? Người phụ nữ trở nên dịu dàng hơn: - Hôm ấy nếu không có cậu tới kịp thì lão đã thực hiện được ý đồ rồi và như vậy thì oan hồn con gái tôi đã vĩnh viễn bị bơ vơ, không nơi nương tựa, phải sống kiếp lưu đày trong cõi âm ty! Thuận càng nghe càng không hiểu, phải đợi bà ta giải thích rõ: - Cậu đã đọc những trang viết về thân thế của Hạnh rồi phải không? Cậu hiểu nó là con của lão già quản gia chứ gì? Thuận gật đầu: - Dạ, hình như là vậy, theo những gì trong nhật ký viết. Có phải bà là người viết những dòng ấy? Bà ta gật đầu: - Không sai. Nhưng là viết theo lệnh của lão ta. - Ai ạ? Bà ta rít lên. - Lão quản gia chứ còn ai nữa! Thuận thì ngơ ngác chuyển thành sửng sốt. - Sao lại có chuyện đó? - Vậy mà có đó cậu! Tôi là mẹ đẻ của Hạnh, là nàng hầu của ông Trùm nhà này. Cậu từng nghe nói về ông Trùm? - Dạ, có nghe. Nhưng sao... Thuận muốn hỏi về tuổi tác, bà ta tiếp liền: - Cậu thắc mắc cũng phải, bởi khi làm hầu thiếp cho ông Trùm thì tuổi tôi chỉ mới có mười tám, mà ông ấy đã trên tám mươi! Bởi vậy mới xảy ra điều tệ hại... Thuận bạo gan hỏi: - Với người con trai ông trùm, tức cha của Châu...? Bà ta lắc đầu: - Anh ấy không hề để ý đến tôi, vả lại ba của Châu không ở chung. Người gây rắc rối cho tôi lại là... lão quản gia! - Lão già Hai? Bà ta gật đầu, ngừng một lát rồi kể tiếp: - Cũng có nguyên nhân thế này, thuở mới tám tuổi tôi đã được cha mẹ vì nghèo nên đem ký thác cho nhà ông Trùm. Lúc ấy lão quản gia Hai Bình đã mười sáu tuổi, lão ta làm đầu bếp trong ngôi nhà này. Lão bắt đầu để ý tôi mà tôi không hề hay biết, cho đến một hôm khi tôi mười sáu tuổi, trong một buổi tối nằm ngủ trong phòng một mình tôi đã bị lão ấy cưỡng bức! Khi tỉnh lại tôi định la lên thì bị lão ta đe dọa, nếu la lão ta sẽ giết chết! Tôi bị làm nhục, đang có ý định tự tử thì may nhờ ông Trùm ra tay giúp đỡ cứu sống. Ông ấy ban đầu chỉ đơn thuần là cứu tôi thôi, nhưng chính tôi đã chủ động hiến dâng cho ông ta, chỉ nhằm mục đích trả thù kẻ đã lấy mất tiết trinh của mình! Lão Hai Bình sau khi biết ý định của tôi đã tìm cách hăm dọa rằng nếu tôi tố cáo thì lão sẽ giết cả nhà tôi chứ không riêng gì tôi! Tôi đành ngậm miệng trong uất hận, chờ ngày sinh đứa con đầu. Đứa con ấy chính là Hạnh. Dòng máu của... Thuận không dừng được, phải hỏi liền: - Giọt máu của lão quản gia? Người phụ nữ nhẹ lắc đầu: - Không. Nó là của... ông Trùm! - Sao lại...? - Chính lão Hai Bình cũng nghĩ đó là giọt máu của mình, bởi lão ta chiếm đoạt tôi trước. Nhưng chính tôi mới hiểu rõ, khi lão ta cưỡng hiếp tôi thì đúng vào chu kỳ thường lệ của người phụ nữ, làm sao mang thai được? Tôi có học làm y tá do ông Trùm buột phải học để chăm sóc sức khỏe trong nhà, nên tôi hiểu về chu kỳ thụ thai, sinh nở. Tôi có thai với ông Trùm, sau khi sinh con tôi đã một lần nói rõ với Hai Bình, để lão không còn vọng tưởng nữa, nhưng lão ta cứ quả quyết đó là con mình và một hôm lão ta viết một lá thư nặc danh gửi cho ông Trùm tố cáo rằng tôi đã ngoại tình với ai đó! Tính của ông Trùm thì cả nhà ai cũng biết, nóng như lửa, không thể chấp nhận bất cứ ai phản bội mình, bởi vậy khi hay tin ấy đã ra lệnh trói tôi vào gốc cây trong vườn, bỏ đói khát trong hai ngày liền, cấm không cho ai tới gần để cứu giúp. Tôi bị chết trong lần đó, trong khi con Hạnh mới có năm tuổi! Bà quá xúc động lúc kể tới đó, phải ngừng lại để lấy bình tĩnh rồi mới tiếp: - Con Hạnh lớn lên trong nỗi khổ tâm vì bị ông Trùm ghét bỏ bởi sự gieo rắc nghi kỵ của Hai Bình. Khi nó được mười sáu tuổi thì lộ rõ ý đồ của lão ta, khi lão ta dùng thủ đoạn đê tiện, giả chữ viết của tôi, ghi vào sau bức ảnh chụp chung của Hạnh và cậu Châu, khiến ai đọc vào cũng nghĩ đó là người không phải cùng huyết thống. - Mục đích là gì cậu biết không? - Là để... hai người sau này lấy nhau và... Lão ta nhắm vào cái tài sản khổng lồ này sau khi ông Trùm và cả bố của Châu mất đi! Lão ta nghĩ rằng khi để Hạnh lấy Châu thì lão sẽ danh chánh ngôn thuận làm chủ cơ ngơi này, vì lúc ấy lão là cha vợ của Châu rồi. Thuận buột miệng kêu lên: - Nếu đúng lời bà kể thì làm sao để xảy ra chuyện ấy được! Bà ta thở dài, chép miệng: - Đúng là như vậy! Về huyết thống thì chính thức Hạnh vai cô của Châu, làm sao để chúng phạm tội tày trời được. Bởi vậy lúc ấy tôi mới nhờ đến con mực Mi Nô giúp ngăn chặn lão ta! - Con chó mực. - Đúng. Khi ấy do hồn phách tôi chưa thể hiện về để hành động, nên chỉ còn cách mượn con chó mà lúc sinh thời tôi nuôi và Hạnh cũng cưng yêu nó. Con chó rất khôn, nó có được linh cảm giữa hồn người chết và kẻ dương gian, nên ngày đêm nó theo sát con Hạnh, không để lão Hai ấy ra tay. Nó luôn gầm gừ và xua đuổi mỗi khi lão ta tạo cơ hội cho Châu tiếp cận với con Hạnh. Và nó đã thành công. Một lần kia, chính lão Hai Bình đã dàn cảnh để Châu vào phòng của Hạnh trên tầng lầu thượng, trong khi nhà đi vắng hết. Lão còn cho Châu uống rượu có hạ thuốc kích dục, quyết để Châu chiếm đoạt Hạnh cho bằng được, Hạnh bị Châu tấn công, suýt mất đời con gái thì bất thần con chó mực xuất hiện, nó lao vào cắn Châu để lôi ra. Trong lúc dằn co thì Châu trượt chân, sắp ngã ra ngoài lan can của lầu thượng, Hạnh cũng chới với ngã theo! Lão Hai nhào tới chụp lại, nhưng chỉ chụp được Châu, còn Hạnh thì rơi từ trên cao đó xuống đất, chết liền tại chỗ! Bà ngừng kể, khóc sướt mướt như chuyện ấy vừa mới xảy ra. Hồi lâu sau mới tiếp lời được: - Tội nghiệp con chó mực, thấy chủ bị như vậy nó lao từ trên cao xuống theo, và cũng mạng vong theo Hạnh. Hai Bình không ngờ sự thể tồi tệ như vậy nên chỉ biết ôm đầu rên rỉ. Trong lúc Châu thì hoảng sợ, tỉnh cả rượu. Cậu ta bỏ trốn khỏi nhà ngay sau đó. Và đó cũng là nguyên do khiến về sau này Châu không bao giờ dám ở trong nhà này lâu. Việc Châu khiến cậu về đây hình như là có ý muốn nhờ cậu khám phá chuyện bí ẩn trong dòng họ nhà mình. Và cậu đã làm được điều ấy. Thuận vẫn chưa hiểu: - Cháu đâu làm gì? - Có! Chuyện cậu chôn cái sọ trở xuống huyệt và việc cậu khám phá những trang viết, những bức ảnh trong phòng đã giúp giảm nỗi nghi ngờ từ lâu. Chính hành động đó của cậu đã khiến vong hồn tôi bấy lâu bị giam kín ở đáy mộ, được trở về đây hôm nay và có dịp nói lên hết sự thật! Thuận ngỡ ngàng: - Thì ra là như vậy... Anh hơi ái ngại đưa mắt nhìn người đàn bà. Hiểu ý, bà ta nhẹ giọng nói: - Có những oan hồn chỉ hiện ra để làm việc minh oan như tôi. Chứ không phải hồn ma nào cũng dữ, cũng ác. Mẹ con tôi xin cám ơn cậu nhiều và từ nay mong cậu hãy ở lại đây cùng chúng tôi. Thuận hơi yên tâm, anh nói thật lòng: - Xin phép bà, tôi chỉ ở lại một thời gian ngắn giúp cho Châu thôi. Nơi này không thuộc về tôi. - Không, bây giờ nó đã thuộc về cậu rồi. Tôi và Hạnh nguyện sẽ ủng hộ cậu, giúp cậu định cư an lành chốn này. Không phải cậu cần một nơi để làm chỗ đón tiếp bạn bè, các nhà khoa học chuyên về khảo cổ sao? Nhất là cậu sắp phải đón cô người yêu thích phong cảnh thiên nhiên trở về từ nước ngoài sao? Cô ấy đang muốn cậu cưới ngay và tìm một chỗ ở yên tĩnh như thế này, đúng không? Thuận quá đỗi ngạc nhiên: - Sao bà biết? Bà ta cười hiền hòa: - Người cõi âm biết được nhiều chuyện trước người sống mà. Cậu tin lời tôi đi, nội nhật ngày hôm nay cô Ái Vân đó sẽ tìm tới tận đây cho coi! Nói tới đó đột nhiên bà ta biến mất. Cả con chó cũng không còn... *** Việc ngoài dự kiến của Thuận. Quả đúng như lời người đàn bà nói, chiều hôm đó Ái Vân xuất hiện khiến Thuận kinh ngạc! Cô giải thích chuyện mình tới được chốn này:- Liên tiếp mấy đêm qua em đều mơ thấy một người con gái trẻ, rồi một phụ nữ lớn tuổi báo cho biết em phải tới ngay ngôi nhà này, kẻo chậm chân thì có nguy cơ sẽ mất anh! Lúc đầu em không tin, cho rằng chỉ là mộng mị, nhưng sáng qua, lúc em đang ngủ thì có người gõ cửa phòng, em ra mở cửa thì chẳng thấy ai, chỉ nhận được một mảnh giấy ghi rõ địa chỉ ngôi nhà này cùng lời ghi vắn tắt: Hồn ma không biết nói dối. Nếu cô không tới thì người con gái tên Hạnh sẽ về sống với Thuận như cuộc tình âm dương! Nghe và hoảng quá nên em lên máy bay về nước liền. Từ phi trường em đi thẳng lên đây! Thuận ngồi thừ người ra, khiến Ái Vân phải sốt ruột: - Có chuyện anh sẽ... lấy cô Hạnh nào đó không? Cô ta là ai vậy? Thuận phải kể lại đầu đuôi câu chuyện dài cho Vân nghe và cuối cùng đề nghị: - Anh với em ra mộ cô ấy thắp nén hương. Cô ta là một oan hồn tốt, một con người đáng kính trọng. Tuy ngại, nhưng nghe theo Thuận, Ái Vân theo ra sau vườn. Chính Thuận phải ngạc nhiên khi thấy con chó mực đang nằm phục trước mộ, nó đưa mắt nhìn hai người khách. Thuận sợ, nên đứng áng ngang trước Ái Vân, vừa chấp tay vái: - Xin bác và cô Hạnh chứng giám cho chúng tôi. Ái Vân tới đây theo sự cho phép của bác và chúng cháu... Con chó mực đột nhiên phóng về phía sau ngôi mộ và biến mất trước sự ngạc nhiên của hai người. Thuận giải thích: - Nó là con vật trung thành với chủ, nó chết theo và bây giờ là vật bảo vệ họ. Chỉ một lúc sau bỗng con chó trở lại. Nó ngậm một chùm hoa thật đẹp, đặt ngay trước mặt Thuận và Ái Vân. Trong lúc Ái Vân chưa hiểu gì thì Thuận reo lên: - Nó tặng hoa cưới cho chúng ta! Lời của Thuận vừa dứt thì con chó cũng nhảy vụt đi và biến mất bóng! Thuận nói một mình: - Cám ơn cô Hạnh. Ái Vân cũng nói theo: - Mong cô giúp chúng tôi. Chúng tôi nguyện sẽ là những người nhang khói mãi mãi cho các vị. Thuận và Ái Vân chia hai bó hoa, đặt trước hai ngôi mộ và khấn: - Đây là lòng thành của chúng cháu. Xin bác và cô Hạnh hãy nhận. Nắng chiều sắp tắt, đột nhiên mặt trời nhô ra từ đám mây và le lói ánh thái dương chiếu xuống. Ái Vân buột miệng khen: - Trời hoàng hôn đẹp quá! Họ vái thêm mấy lạy nữa rồi nắm tay nhau song bước vào nhà... *** Họ sống trong ngôi nhà mà tưởng chừng như là cơn ác mộng, nay trở nên yên ắng, bình an. Thuận dọn khỏi căn phòng đang ở, chuyển xuống bên dưới nhà. Còn căn phòng đó anh cho đặt một tủ thờ, lấy ảnh của Hạnh cùng một bức ảnh khá cũ anh tìm được trong đống khung ảnh cũ mà anh cho là ảnh của mẹ Hạnh. Đặt hai ảnh lên tủ thờ và ngày ngày nhang khói.Không hề có bất cứ hiện tượng ma quái nào xảy ra kể từ sau đó... THỦY TÁNG Trận mưa dữ dội kéo sang ngày thứ ba mà vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt. Nước trên cánh đồng cỏ năng đã tràn như mặt biển mênh mông. Từ chỗ neo xuồng, Tứ đưa mắt nhìn ra chẳng khác nào đang lênh đênh giữa đại dương ngàn trùng... Ôm xác người vợ trẻ chết từ nửa đêm hôm qua mà lòng Tứ nát như tương. Anh đã khóc cạn nước mắt và van vái cho trời ngừng mưa, để anh còn có thể kéo chiếc xuồng bể nát, không còn khả năng chèo chống, hầu đưa xác vợ vào nơi nào đó khô ráo để an táng. Vậy mà ước nguyện đó tới giờ này Tứ vẫn chưa thể thực hiện được. Mà xem ra khó mà làm theo ý, bởi nước càng lúc càng dâng cao, từng cơn sóng cao hơn nửa thước cứ đánh ập tới theo cơn gió rít từng hồi. Tứ đâu lạ gì mùa nước lũ vùng Đồng Tháp Mười này, nhưng đây là lần đầu tiên anh kẹt giữa muôn trùng biển nước, mà lại trong hoàn cảnh ngặt nghèo này. Kim Lệ, cô vợ vừa cưới chưa được một năm của anh nhè giữa trời mưa lũ lại lâm bạo bệnh và chết chỉ sau nửa giờ vật lộn với cơn đau lạ. Kẹt giữa biển nước, trong lúc chiếc xuồng ba lá của anh lại vướng phải cọc bể mũi, không thể chèo chống được, và Tứ chỉ còn biết neo lại gốc cây gáo nằm trơ trọi giữa đồng mà chịu trận. Lạy trời cho mưa ngừng lại, cho có ai đó đi qua đây. Tứ đã van vái cả trăm lần mà vẫn chưa có hiệu quả gì. Mưa vẫn nặng hạt, bóng dáng các xuồng ghe khác thì hầu như không thể có, bởi chẳng ai dám đi giữa biển nước như thế này, nếu không muốn vong mạng. - Đành thôi! Tuy nhiên, khi nhìn lại xác vợ đã bắt đầu tái nhợt, lòng Tứ lại nhói đau. Nàng đã vong mạng rồi mà còn phải chịu đựng nằm trơ ra như thế này đến bao giờ nữa? Đã nghĩ tới cách táng bằng cột xác treo lên cháng ba cây, đợi khi nước rút thì đem xuống mai táng lại. Nhưng ngặt nỗi chung quanh Tứ bây giờ một sợi dây cũng không có, chỉ có chiếc mền duy nhất thì làm sao thực hiện được việc treo xác vợ lên cây. Nghĩ nát óc, cuối cùng Tứ đành phải ôm chặt vợ vào lòng, khóc rống lên cho nỗi thống khổ vơi bớt và cũng để có sức mà chống chọi lại với cái lạnh đã bắt đầu thấm vào thịt da chàng trai cường tráng như Tứ. Lần đầu tiên sau ba ngày đêm chịu trận, Tứ mới cảm thấy lạnh và kiệt sức. Trong một thoáng bi quan, Tứ lẩm bẩm: - Thôi thì đành chết theo cô ấy cho xong. Anh dụi đầu vào xác vợ, lịm đi... *** - Nè, cậu kia, người đã bớt sốt rồi, tỉnh chưa?Tứ nghe văng vẳng ai gọi mình mà không tài nào mở mắt ra được. Tiếng gọi kia lặp lại: - Cậu kia...! Lần này thì Tứ choàng tỉnh. Anh vừa mở mắt ra đã thảng thốt kêu lên: - Kim Lệ! Tứ không thấy xác vợ bên cạnh nên hốt hoảng. Chợt nhìn thấy người đàn ông lạ đang chăm chú nhìn mình, Tứ hỏi liền: - Vợ tôi đâu? Người đàn ông lớn tuổi, mình trần, đầu tóc dài, da sạm nắng, nhẹ lắc đầu: - Tôi tới đây chỉ còn kịp nhìn thấy cậu đang chới với giữa sóng nước, còn chiếc xuồng thì lật úp, tôi kéo cậu được thì một cơn gió lớn ập tới, mọi thứ chẳng còn lại gì! Tứ gào lên: - Trời ơi, vợ tôi! Anh bất kể sức mình đang yếu, đã nhào đại xuống nước, quơ tay mò tìm xác vợ. Ông lão quát lớn: - Cậu muốn chết phải không! Vừa nói, ông vừa phóng theo và bằng một động tác thành thạo, đã chụp được tay Tứ, xốc anh từ phía sau, kéo trở lại cây gáo to, nơi mà mấy ngày rồi Tứ đã bám víu. Tứ vẫn vùng vẫy và gào to hơn: - Mình ơi! Lệ ơi! Ông già trấn an: - Dẫu sao thì cô ấy cũng đã mất tích rồi. Nước lũ mênh mông như thế này thì làm sao mà kiếm tìm cho được lúc này. Chỉ cầu trời cho cô ấy bám víu được vật gì đó để sống sót... Tứ gào lên thê lương hơn: - Cô ấy đã chết rồi, còn bám víu nơi đâu nữa mà bám, trời ơi! Ông già im bặt, đưa mắt nhìn Tứ, rồi nhẹ lắc đầu: - Thì ra là vậy... Một lúc nữa, khi thấy Tứ im lặng, ông lại tiếp: - Mùa lũ này mà gặp cảnh như cậu thì ai cũng chịu bó tay thôi. Cầu trời cho xác cô ấy trôi tấp vào đâu đó, rồi một là có người chôn giúp, còn không thì đợi trời êm một chút, tôi sẽ giúp cậu đi tìm. Tôi rành vùng này lắm, phía dưới gió kia là cánh đồng tràm dày đặc, mọi thứ đều có thể bị vướng lại khi trôi dạt vào đó. Tứ reo lên: - Đúng vậy phải không? Nơi đó có xa không chú? Ông già gật đầu: - Chừng năm cây số thôi, nhưng do nước tràn đồng nên giờ đây ta không nhìn thấy gì. Đợi mưa tạnh bớt đã... Lúc này ông già mới hỏi kỹ và Tứ thuật lại mọi chuyện. Nghe xong ông nói: - Cư dân sống trong vùng này vẫn thường gặp cảnh như cậu, và người ta có một cách để mai táng người chứ không chỉ riêng treo xác trên cây đâu. Cậu đã nghe nói cách đào huyệt ngay khi nước ngập quá đầu chưa? Tứ lắc đầu: - Dạ chưa. - Đó gọi là thủy táng. Tức chôn trong nước, chôn giữa khi nước còn tràn đồng. Rồi ông giải thích cặn kẽ hơn: - Cách không táng, tức treo xác trên cành cây chờ nước rút sẽ chôn lại thì tuy có khô ráo, tiện lợi, nhưng đâu phải người nào cũng có điều kiện để làm, vì nó đòi hỏi phải có ván làm quan tài cho kỹ, rồi phải biết cách và có dây cột chặt, để treo, để giữ cho quan tài không rớt, không bốc mùi hôi. Đó là chưa nói lũ quạ diều quái quỷ xứ này, chúng hung hăng, dữ dằn, có thể cả ngàn con bâu tới mổ thủng ván quan tài để moi xác chết! Cho nên người ta nghĩ tới và chọn cách thủy táng nhiều hơn. - Nhưng nước ngập quá đầu thế này làm sao đào huyệt mà chôn? - Vậy mà có cách! Ông già còn kể vài cách nữa, như bó xác trong lá chuối, bẹ chuối ràng buộc thật chặt, giống như người gói bánh tét rồi thả trôi theo xuồng, kéo về chỗ đất liền... Nghe đến đâu Tứ đau lòng đến đó, bởi nếu biết trước thì anh có thể làm theo và chắc chắn là không để mất xác vợ như thế này. Trời tối dần. Lúc này ông già mới kể chuyện mình: - Tôi đi lấy củi bên Mộc Hóa rồi gặp mưa bão, chiếc ghe chở củi hơn 5 tấn đã bị gió thổi bạt vào rừng vỡ ra từng mảnh. Tôi bơi lội giỏi, nhưng cũng chịu được có nửa ngày rồi may bám được một cây chuối, và mặc cho nó trôi. Hơn một ngày đêm như vậy, cho đến khi vô tình tấp vô đây, vừa lúc tôi thấy cậu đang chới với sắp chìm, tôi kéo được cậu và cây chuối cũng vướng lại, và... tôi chịu chung số phận với cậu như giờ đây. Nhờ có kinh nghiệm nên ông ta bày cho Tứ cách bám thân cây, mỗi người một cháng ba, đu ngang như cách mấy con khỉ, vượn ngủ trên cành. Ông dặn: - Mình không thể thức mãi khi còn kẹt lại đây, nhưng phải biết cách quàng tay thế nào để lỡ có ngủ quên thì không bị ngã xuống nước. Cậu biết rồi đó, với nước chảy cuồn cuộn thế này, chỉ cần rơi xuống thì vài chục giây sau mình đã bị đẩy đi cả trăm, cả ngàn thước rồi! Tứ đâu còn thiết gì sự sống lúc này, nhưng sợ nói ra sẽ bị ông già chê trách, nên anh chỉ im lặng và ứa nước mắt khi nhớ tới cô vợ trẻ mình giờ đây thân xác đang bập bềnh trên sóng nước, chẳng biết trôi về đâu? - Cậu lại khóc đó sao? Chuyện đã lỡ rồi, phải bình tĩnh để còn nghĩ cách đi tìm xác vợ nữa chứ! Nhắm mắt lại ngủ một giấc đi, để tôi thức canh cho. Ngoài ra tôi còn đang nghĩ cách để bắt con chuột, con rắn gì đó ăn cầm hơi. Cậu biết làm sao mình bắt mấy con đó không. Dẫu đang nẫu ruột, nhưng nghe ông ta hỏi vậy, Tứ cũng tò mò: - Không còn chỗ nào thì làm sao bắt được chúng? - Vậy mà có đó. Cậu đừng động đậy, tôi sẽ bắt con rắn đang ở ngay sau lưng cậu cho coi! Ông ta vừa dứt lời thì cánh tay đã vươn nhanh về phía cành cây sau đầu của Tứ, vừa reo lên: - Có thứ để cầm hơi rồi! Ông ta nắm trong tay một con rắn to bằng ngón chân cái nó đang ra sức vùng vẫy để thoát thân, nhưng do bị chộp ngang cổ nên sau một lúc cựa quậy đã phải nằm yên. Ông già bảo: - Đây là rắn hổ đất, để nó cắn thì chỉ vài phút sau là vong mạng liền! Cũng may, con này nó lên cây trước ta và cũng đang mất cảnh giác, chứ nếu không thì lúc nãy cậu đã bị nó mổ rồi! Bây giờ cậu há miệng ra, hút ít máu của nó, rồi sau đó tôi lấy mật, đầu lòng của nó ra chia nhau mà ăn. Còn thịt thì ăn sau. Nó sẽ giúp ta qua cơn đói đêm nay. Chắc là cậu đói lắm rồi! Đúng là Tứ đã đói quá, bởi mấy hôm rồi anh có ăn uống gì đâu, nhưng nghe ông ta nói cách ăn thịt rắn như thế tự dưng Tứ muốn lợm giọng, anh lắc đầu: - Cháu không ăn được. Ông già cười ngất: - Không được cũng ráng mà ăn! Lúc này có bất cứ cái gì bỏ vào bụng đều tốt cả. Nào, há miệng ra! Bằng động tác thuần thục. Ông ta dùng móng tay bấm ngang đuôi con rắn, phần đuôi gần đứt lìa ra, máu từ trong đó vọt ra. Và nhanh ngoài sức tưởng tượng của Tứ, ông cho ngay tia máu đó vào miệng đang há to ra vì ngạc nhiên của Tứ, anh chàng bị tia máu bắn vào và nuốt ực một cái! Hớp đầu tiên Tứ muốn nôn ra ngay, nhưng liền đó thì như có ai bơm vào, anh nuốt gần không kịp! - Xong rồi đó, phần tim gan, mật của nó để tôi! Ông ta dùng tay moi mấy thứ đó ra và cho vào miệng nuốt một cách ngon lành mà không cần nhai! Tứ cảm giác như huyết quản mình cuộn lên bởi có thêm máu rắn, trong vài giây, anh suýt nôn ra, nhưng ngay lập tức cảm giác ấy chấm dứt, cùng lúc anh thiếp đi... *** Cũng không biết là bao lâu...Khi Tứ bừng tỉnh lại thì thấy ở chân trời phía xa một màu hồng lóe lên. Cùng lúc là tiếng kêu của ông già: - Hết mưa rồi! Tuy là hết mưa, nhưng nước vẫn còn chảy cuồn cuộn, gió vẫn mạnh, tạo ra những đợt sóng cao vỗ vào gốc cây chỗ Tứ và ông già đang bám, khiến thân cây rung lên từng hồi. Tứ chống tay vừa định ngồi dậy trên cháng ba cây thì ông già đưa tay lên miệng, ra dấu cho anh không được cử động. Đoán là có một con rắn nữa, nên Tứ trân người không dám nhúc nhích. Ông già lại một lần nữa vươn tay ra, và... có tiếng kêu chí chóe. Ông ta cười khoái chí: - Lão tý này nộp mạng hơi muộn đây! Một con chuột cống nhum thật to, có lẽ đã bò lên cây trong lúc hai người ngủ say. Ông già thích thú: - Con rắn mình phơi khô chưa ăn tới thì lại có thêm lương thực dự trữ nữa, lo gì đói! Có lẽ do mải nói nên ông ta hơi lơi tay, con chuột thật nhanh, nó vùng thoát và nhảy ngay xuống nước! Tứ kêu lên: - Nó chạy mất rồi! Cũng vừa khi ấy, bỗng mắt Tứ dán chặt vào một vật gì đó khá lớn đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước, bị vướng vào gốc cây gáo. - Xác người! Ông già cũng đã nhìn thấy, ông bảo: - Một phụ nữ! Tứ như mũi tên, lao ngược từ trên xuống, nhanh đến nỗi ông già không kịp có phản ứng gì. Tiếng reo như bắt được vàng của Tứ: - Vợ tôi! Bất kể hiểm nguy, Tứ nhảy ngay xuống nước và ôm chặt lấy cái xác đang lềnh bềnh kia. Đúng là Kim Lệ! - Trời còn thương con mà! Từ trên cây, ông già nhanh nhảu tuột xuống và bảo: - Cậu giữ một tay, còn tay kia thì bám vào thân cây kẻo sóng vỗ bung ra ngoài bây giờ! Nhờ được nhắc nên Tứ giữ được xác vợ, đồng thời cũng không bị dòng nước cuốn đi. Nhưng anh vẫn lo: - Làm sao đem xác vợ cháu lên cây hả chú? - Cậu cố giữ lấy đi, để tôi bẻ mấy cành cây dài, mình cắm xuống đất để giữ xác lại. Ông già rất nhanh, leo lên ngọn cây và kéo mạnh mấy cái, lần lượt bốn cành cây dài trên hai thước được bẻ gãy. Nhờ trời tạnh mưa, nên ông già thực hiện cắm bốn nhánh cây xuống nước, rào một vòng quanh gốc cây gáo được dễ dàng. Rồi ông giục Tứ: - Cậu phải dứt khoát không được chần chừ, phải nghĩ việc giữ được xác cô ấy ở lại đây là chính, chớ đừng ngại việc cô ấy có bị ngâm nước hay không. Cậu chấp nhận thủy táng? Tìm lại được xác vợ là niềm vui mừng lớn đối với Tứ, nên anh chịu liền: - Sao cũng được! Ông già hình như đã quen với việc chôn người trong hoàn cảnh như vậy, nên ông vừa lặn xuống cắm cọc vừa luôn miệng nói: - Tấm lòng của cậu đã đánh động cõi âm phủ, nên mới khiến xác cô nhà quay trở lại đây. Một việc mà hầu như là không tưởng! Sau khi cắm được bốn cành cây tạm thời giữ cái xác không để sóng cuốn đi, ông già vừa đeo vào gốc cây vừa khấn: - Linh hồn cô... Kim Lệ sống khôn thác thiêng, phù hộ cho tôi và anh bạn này đây mai táng cho cô tại gốc cây này. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo này, thì xin cô hãy vui lòng chấp nhận ở tạm dưới nước. Đợi đến khi nước rút thì cậu ấy sẽ đưa cô lên, cải táng đến một nơi đàng hoàng hơn. Tứ cũng khấn: - Nếu thương anh thì em hãy ráng chịu lạnh, Lệ ơi! Nếu cần thì anh cũng ở lại đây mãi mãi với em... Ông già nghiêm giọng: - Giờ phút này cậu không được bi quan, nói càn. Cứ chôn xác cho cô ấy đã. Cuộc thủy táng diễn ra suôn sẻ. Nhờ có kinh nghiệm, nên chỉ sau một giờ, ông già đã giúp Tứ đào được ngay dưới gốc cây gáo một hố huyệt khá sâu, ước chừng đã vừa cái xác ông bảo Tứ: - Cậu vái lần nữa, xin cô ấy giúp cho mình chôn được dễ dàng đi! Tứ với hai hàng nước mắt ôm xác vợ mếu máo: - Xin em cho anh được gửi em lại đây! Mong em hãy... Lời Tứ nói chưa dứt thì thật bất ngờ, cái xác như bị ai kéo ghì xuống, nó chìm từ từ... Tứ hốt hoảng: - Chú Hai ơi! Ông già giục: - Cậu giữ cái đầu cô ấy, tôi giữ hai chân! Cái xác chìm nhẹ nhàng xuống và thật kỳ diệu, nhắm đúng cái lỗ huyệt mới đào dưới nước và... nằm gọn trong đó! Ông già làm các động tác thật nhanh, chỉ một lúc sau thì những đất bùn được đào lên đã lấp trở lại. Đồng thời, ông dùng bốn cành cây to kia, hợp với Tứ cắm chéo góc, gài trên phần mộ, không cho xác trôi lên. Công việc không dễ, nhưng cuối cùng họ cũng làm được. Công việc vừa xong thì mặt trời đã lên ngay đỉnh đầu. Ông già bảo: - Bây giờ cậu có thể nghỉ ngơi, và đợi xem nếu có vật gì trôi ngang đây mình có thể bám vào và rời đi được rồi. Tôi đã làm dấu thân cây gáo này, đợi khi nước rút mình trở lại tìm cũng không khó. Tứ cương quyết: - Cháu sẽ ở lại đây. Ông già biết có nói thêm gì thì cũng khó lòng thuyết phục được anh ta, nên chỉ khẽ lắc đầu rồi im lặng. Trên khóe mắt ông, hai hàng lệ lần đầu tiên tuôn chảy... Phải hơn một tháng sau thì nước mới rút hết. Hai tuần trước khi nước rút thì Tứ lại ngã bệnh, sốt cao, suýt chết ngay trên cháng ba cây gáo, nếu không có ông già Hai thì Tứ đã không còn. Số là trước đó hơn một tuần, vào một đêm tối trời, chẳng hiểu sao khi đang cùng nằm ngủ với Tứ trên cây, lão già Hai bỗng bị rơi xuống nước và mất tích! Điều này cũng hơi lạ, bởi ông già là dân thiện nghệ, đâu dễ bị một tai nạn như thế. Sau cú sốc đó, nếu là người khác thì Tứ đã bỏ cuộc, không còn bám lại thân cây để chịu trận nữa, tuy nhiên chẳng hiểu nhờ sức mạnh vô hình nào thúc đẩy, anh chàng vẫn tiếp tục tồn tại, với chỉ hai thức ăn lặp đi lặp lại khá quen thuộc đó là những con rắn và chuột. Nhờ bắt chước được ông già Hai nên chuyện bắt rắn độc đối với Tứ trở nên quá dễ dàng. Mà những con vật này cũng lạ, cứ cách một đêm thì một con lại bò lên cây và... chờ được Tứ hóa kiếp! Có thể nói, việc ăn thịt sống của Tứ đã thành bình thường, mà nếu không có nó thì anh đã theo vợ từ mấy tuần qua rồi! Tuy nhiên, sức chịu đựng của con người cũng có giới hạn, mà với Tứ thì bấy nhiêu thời gian ấy đã là quá nhiều. Hai tuần sau khi nước bắt đầu rút thì vào một đêm, Tứ hôn mê do cơn sốt dữ. Khi tỉnh lại thì Tứ thấy mình nằm ở một trạm xá, chung quanh toàn những người lạ. Hỏi ra thì một người nằm gần giường cho Tứ biết rằng anh được một cô gái đưa vào đây trong tình trạng hầu như không còn sự sống. Cơ thể suy nhược, người nóng sốt cao độ và hôn mê sâu. Người ta đã tính chuyển anh lên bệnh viện tuyến trên, nhưng chẳng hiểu sao, khi cô gái kia cho anh uống một thứ nước nấu từ củ mài thì bỗng nhiên Tứ tỉnh lại. Tứ quá đỗi ngạc nhiên, hỏi thăm cô gái: - Cô ấy đâu rồi? Người nằm cạnh giường Tứ bảo: - Sáng sớm nay còn thấy cô ấy ở đây. Nhưng hồi nãy, trước khi cậu tỉnh lại thì cô ấy ôm mấy bộ quần áo rồi bước ra ngoài, mất biệt luôn. Chắc là về nhà rồi. Đó là vợ cậu hay ai mà tận tình quá, ở đây suốt. Nếu không có cô ta thì cậu khó lòng qua khỏi! Tứ bận tâm tìm hiểu xem cô gái ấy là ai thì ít, mà đầu óc mãi quay cuồng nhớ lại coi cây gáo giữa đồng mà anh đã bám suốt tháng trời kia là ở đâu? - Đồng Tháp Mười có bao nhiêu cây gáo? Tứ hỏi một bệnh nhân gần bên thì được anh ta cười, lắc đầu: - Ông nội tôi nhớ cũng không hết nữa! Tháp Mười là rừng tràm, nhưng chen lẫn là các loại cây khác như gáo, dừa cũng không phải ít. Biết đâu mà nói! Tứ lẩm bẩm: - Ông già Hai có làm dấu, chắc là kiếm được... - Nhưng lỡ cây bị trốc gốc, nước cuốn đi mất thì sao? Câu nói bất ngờ của ai đó khiến Tứ giật mình quay lại, và anh mừng rú lên: - Kìa, chú Hai! Ông già Hai xuất hiện thật đột ngột, và còn lạ hơn khi đi theo sau ông là một cô gái, mà vừa nhìn thấy cô, anh chàng bệnh nhân giường bên cạnh đã reo lên: - Cô này đó! Cô gái không lộ chút gì là quen biết những người trong phòng bệnh, mà trái lại, cô còn đứng nép sau lưng ông già với sự e ấp... Ông già Hai phải lên tiếng giải thích: - Đây là đứa cháu tôi, chính nó đã đưa tôi tới đây và gặp cậu. Anh bệnh nhân bên cạnh ngạc nhiên hỏi: - Ủa, cô này ở đây mấy hôm nay mà? Ông già Hai nhìn đứa cháu gái của mình rồi nói: - Có thể quý vị đã nhìn lầm. Người ở đây mấy hôm nay là đứa em song sinh của nó. Chúng là cháu gọi tôi bằng ông ngoại. Rồi ông quay sang Tứ, kể: - Tôi phải bỏ đi trong khi nước chưa rút là để định hướng chính xác cây gáo đó. Bởi khi nước rút rồi thì từ bờ kinh vào đó rất xa, lại khó lòng tìm được. Chị em Mai Linh, Mai Lý này là người đi tìm chỗ của cậu, bởi khi ấy tôi bị trọng bệnh không đi được. Chính nhờ nó mà cậu mới được cứu thoát. Nó ở đây nuôi cậu theo ý của tôi đó. Bây giờ tới phiên con em. Mai Lý, nó sẽ ở lại đây cho đến lúc cậu khỏe, có thể đi được thì sẽ cùng với nó trở lại chỗ chôn xác vợ cậu. Cứ yên tâm mà dưỡng bệnh đi, sắp gặp lại vợ rồi! Lời nói của ông già Hai khiến Tứ mừng khôn xiết, anh hỏi dồn: - Ngay chiều nay đi được không chú Hai? Ông già lắc đầu: - Nước mới rút, đồng ruộng còn bùn sình nhiều, xuồng ghe đi không được, mà lội bộ thì cũng không xong. Phải đợi vài tuần nữa. Vả lại, lúc này cậu còn quá yếu mà đi cái nỗi gì! Ông dặn cô cháu gái: - Mỗi ngày ba lần, con mang cơm vào cho cậu Tứ đây. Hỏi không được thì ra dấu, hỏi coi cậu ấy thích món gì, cần dặn điều gì, nhớ làm theo cho đúng nghe chưa! Rồi ông giải thích: - Con nhỏ bị câm điếc bẩm sinh, nhưng được cái là rất nhạy, chỉ cần ra dấu là nó hiểu mình muốn nói gì. Nó tên là Mai Lý. Ông già còn bày ra vô số thức ăn và vài món đồ dùng cá nhân dành cho Tứ, ông bảo: - Biết cậu thiếu thốn mấy thứ này, nên tôi đem vào. Cậu nhớ cái này không? Ông đưa cho Tứ cây lược sừng mà vừa nhìn là Tứ đã kêu lên: - Của vợ cháu! - Tôi đoán là vậy, bởi hôm rồi trên đường trở lại tìm cậu, tình cờ tôi gặp một chiếc xuồng ba lá vỡ đôi nằm trên một gò đất cao, trong xuồng không có vật gì quý, chỉ có cây lược này nằm kẹt dưới khoang xuồng, bên cạnh còn có một cái quần xà lỏn màu nâu, có vá một miếng vải sọc mà vừa nhìn cách vá và màu vải, tôi nghĩ ngay tới cậu. Bởi cậu cũng có một cái quần vá y kiểu đó. Đúng không? Tứ gật đầu: - Dạ, chính vợ cháu đã vá hai cái quần đó bằng vải vạt áo của cô ấy. Vừa vá xong lúc trên xuồng, trước lúc cô ấy chết chỉ nửa buổi! - Tội nghiệp... Ông già buông tiếng thở dài rồi quay đi chỗ khác như tránh không cho Tứ thấy hai giọt nước mắt của mình. Những người bệnh cùng phòng sau khi biết chuyện đã không ngớt lời ca ngợi lòng tốt của ông già Hai. Họ bảo rằng giữa thời buổi này khó mà kiếm được một người có lương tâm như ông ta. Tuy nhiên, cũng có người xầm xì: - Biết đâu được. Lão ta có đến hai cô cháu gái chưa chồng, một cô lại tật nguyền, nay thấy chàng trai chết vợ như Tứ thì chắc là có ý muốn kiếm cháu rể đây! Tuy nói vậy, nhưng trong mấy ngày sau đó, ai cũng phải công nhận rằng cô gái câm cháu ngoại ông già Hai là một người siêng năng, tính tình ôn hòa và rất tử tế. Cô nàng làm đúng những gì ông dặn, ngày ba lần đưa cơm vào bệnh viện rồi thì đi về, ai hỏi gì cũng không quan tâm. Chính Tứ cũng ngạc nhiên và áy náy. Anh ngỏ ý qua ra dấu rằng muốn gặp ông già Hai, thì cô ta chỉ xua tay từ chối. Cho đến một buổi sáng, khi ấy có một người lạ xách cặp lồng cơm đưa vào cho Tứ và nói: - Cô Mai Lý đưa cơm thường ngày vừa bị nạn, cô ấy bước từ dưới xuồng lên chẳng may hụt chân, ngã xuống và va đầu vào cọc nhọn, máu chảy ra nhiều và chìm lỉm luôn, mọi người ra sức mò tìm mà chưa được! Tôi là người đi chung xuồng với cô ấy từ trong kinh ra, nên biết cô đưa cơm vào cho bệnh nhân, tôi đem tới giùm. Nói xong người ấy đi mất, khiến cho Tứ hốt hoảng, nhảy đại xuống giường và chạy bay đi ra bến chợ. Tuy nhiên, gần nửa buổi sau đó, Tứ đã hỏi khắp khu vực đó về tai nạn như người nọ đã nói thì chẳng một ai biết. Họ còn ngạc nhiên hỏi lại: - Sao anh không bảo người báo tin dẫn ra đây chỉ coi tai nạn ở chỗ nào? Vừa lo lắng, vừa thất vọng, Tứ đành thất thểu quay về bệnh viện. Tới nơi, anh càng ngạc nhiên hơn khi nghe mấy người chung phòng kể lại: - Cô gái câm mới vừa ở đây đi ra, có chết chóc gì đâu. Tứ định chạy theo tìm, thì một người đưa cho anh gói giấy nhỏ và bảo: - Cô ấy không nói được, nhưng qua cử chỉ tụi tôi biết cô ta muốn nhờ đưa cho anh cái này. Tứ mở ra xem thì kinh ngạc: - Bộ quần áo của vợ tôi! Anh nhớ hôm xảy ra cái chết cho Kim Lệ thì cô đang mặc bộ đồ này, vậy sao bây giờ nó lại ở đây? Không hỏi thêm gì nữa, cầm bộ quần áo đó Tứ chạy bừa ra cửa. Vừa chạy anh vừa gọi to: - Cô Mai Lý! Cô ở đâu? Trở ra bến đò, còn đang ngơ ngác tìm thì chợt Tứ thấy một chiếc xuồng nhỏ đậu ở bên, trên xuồng có một người ngồi như chờ khách. Anh hỏi lớn: - Xuồng này là xuồng chở khách phải không? Người đội nón lá che kín khuôn mặt đáp vừa đủ cho Tứ nghe: - Phải. Tứ nhảy xuống xuồng và bảo: - Làm ơn đưa tôi dọc theo sông này, đi mấy vòng bến chợ để tôi tìm người quen. Tôi sẽ trả tiền như một chuyến đi xa! Người nọ lẳng lặng đẩy xuồng ra giữa dòng, lúc ấy mới cất tiếng nói: - Không có tiền trong túi mà dám bao đò, kể cũng gan thật! Tứ hơi giật mình. Đúng là trong túi anh lúc ấy chẳng có đồng xu dính túi. Mấy tháng bị nạn, rồi nằm bệnh viện đều nhờ người khác, Tứ làm gì có tiền! - Tôi... Người chèo đò bỗng cất tiếng cười giòn: - Tôi sẽ chở anh đi miễn phí, miễn là anh trả lời tôi câu hỏi này. Bằng không tôi cho anh lội sông mà trở vô bờ. Giọng cô ta không phải đùa. Tứ cũng nghiêm giọng: - Tôi không quịt, chỉ vì không sẵn tiền thôi. Nhưng rồi tôi sẽ trả công đàng hoàng. Chị hỏi gì? - Anh đi kiếm con gái hay tìm vợ? Câu hỏi bất ngờ, nhưng trong lòng của Tứ đã định sẵn ý tứ rồi, anh đáp không do dự: - Tìm vợ, nhưng âm dương cách trở biết làm sao tìm? Nhưng tìm người lấy cắp mấy thứ của vợ thì đúng là tôi đang đi tìm họ! Câu trả lời của Tứ quả là khó hiểu với người lạ, nhưng chẳng ngờ người chèo đò lại hiểu: - Nói đúng, không dối trá. Vậy tôi tặng luôn cho chiếc xuồng, cứ đi thẳng phía trước mặt, thế nào cũng gặp! Vừa dứt lời thì chợt như một làn khói vút lên, phút chốc Tứ không còn nhìn thấy nàng ta đâu...! - Kìa, chị! Chiếc xuồng không có người bơi nên quay tròn theo dòng nước. Tứ phải bước ra sau cầm cây dầm và điều khiển cho nó xuôi dòng. Vô tình anh đi đúng theo hướng người ấy chỉ. Nước xuôi nên chẳng mấy chốc, xuồng của Tứ đi khá xa xuống phía hạ lưu. Nhìn thấy cái cồn lớn phía trước và con sông chia làm hai ngả, Tứ chưa biết phải rẽ về ngả nào, thì chợt có người từ bên kia cồn đưa tay ngoắt và gọi ơi ới. Ngỡ gọi ai, nhưng sau đó thấy họ cứ nhằm vào mình mà vẫy tay nên Tứ hỏi lớn: - Hỏi tôi phải không? Đúng là họ gọi anh, nên sau vài giây lưỡng lự, Tứ chèo xuồng hướng qua đó. Đến gần, anh mới nghe người phụ nữ lớn tuổi lên tiếng hỏi: - Cậu đi tìm cô gái câm phải không? Tứ giật mình: - Tôi... đúng là tôi... - Người ta đang đợi anh tới. Nói xong, bà ta quay bước và mất hút sau đám lau sậy. Dẫu không muốn, nhưng chẳng hiểu sao Tứ vẫn cột xuồng lại rồi nhảy lên bờ, men theo con đường có lát đá thẳng tắp, đi lên một ngôi nhà ngói xưa khá lớn. Không thấy bóng người nào, Tứ khựng lại, nhưng từ trong đã có tiếng nói vọng ra: - Muốn gặp vợ mà không vào đây thì làm sao gặp? Tứ như đang mơ, anh không chút suy nghĩ, đã chạy rất nhanh vào nhà. Nhưng khi vừa bước lên bậc thềm anh đã phải khựng lại. Bởi trước mặt anh là một cỗ quan tài nằm án ngữ giữ nhà, nhưng có ai chung quanh! Căng mắt nhìn khắp nơi, vẫn chẳng có bóng người, Tứ cất tiếng hỏi: - Ai trong nhà vậy? Không ai đáp, Tứ không dám bước tới, thì vừa lúc anh thấy một bóng người xuất hiện phía sau cỗ quan tài. - Cô Mai Lý! Đúng là cô gái câm Mai Lý. Cô ta chỉ nhìn thoáng qua rồi đi thẳng tới bên quan tài, và thật bất ngờ, đưa tay đẩy nắp quan tài sang một bên, Tứ nhìn vào và không khỏi rùng mình khi thấy trong đó hai bộ xương người nằm sóng đôi. Tứ bước lùi một bước, chưa kịp hỏi thì đã nghe một giọng thật quen vang lên: - Nếu còn thương vợ thì chọn đúng hài cốt của cô ấy. Chọn sai tức là cậu không còn duyên nợ với người ta nữa, mà điều đó cũng có nghĩa là bao nhiêu công sức của tôi cũng bỏ sông bỏ biển cả. Tứ quay lại và kêu lên: - Chú Hai! Người vừa tới chính là ông già Hai. Ông ta bước tránh khỏi chỗ đó vừa giục: - Cậu cứ chạm tay vào hài cốt nào thì số phận cậu nằm ở đó. Trong số hai hài cốt có một cái là vợ cậu. Tứ ngơ ngác: - Sao vợ tôi lại ở đây? Ông già kéo ghế ngồi xuống gần đó, lạnh lùng nói tiếp: - Lúc này cậu cần làm hơn là hỏi. Nhanh lên, kẻo không còn kịp nữa! Tứ còn chần chừ thì đột nhiên như có ai đó xô từ sau, và... hai tay anh ngẫu nhiên chụp lên bộ xương người nằm bên trái. - Trời ơi! Tiếng kêu đó là của ông già Hai. Tứ linh tính như có điều gì đó, anh bật dậy thật nhanh, nhưng cũng không còn kịp nữa, khi anh quay lại nhìn thì ông già đã bật ngửa ra sau và... hộc máu, nằm bất động! - Chú Hai! Trước sự kinh ngạc của Tứ, thân xác ông già Hai từ từ tan biến và chỉ trong phút chốc, chỉ còn lại bộ xương. Tứ còn chưa kịp phản ứng gì thì đã nghe có tiếng động từ sau lưng. Vừa quay lại thì cỗ quan tài chẳng còn thấy nữa, thay vào đó là chiếc xuồng ba lá bể làm đôi. - Xuồng của mình...? Nhìn kỹ lại thì đó chính là chiếc xuồng mà vợ chồng Tứ đã đi và gặp bão lũ. Trên xuồng vẫn còn nguyên cái túi mà trong đó có mấy bộ quần áo của Kim Lệ. Và dĩ nhiên, có cả bộ xương khô lúc nãy nữa! - Chuyện gì thế này? Mặc dù không tin đây là sự thật, nhưng trước những bằng chứng đó, Tứ cũng không thể nào bỏ qua, anh ngồi xuống vịn vào chiếc xuồng và mắt thì cứ nhìn chằm chằm vào bộ xương. Không còn ông già Hai thì lấy ai để anh hỏi rõ ngọn nguồn? Phải chăng chính ông đã đào hài cốt Kim Lệ đem về đây? Bao nhiêu câu hỏi mà Tứ không làm sao giải được. Anh đành ngồi giữa ngôi nhà hoang đó với nỗi hoang mang... Trời tối dần.. Chợt nhớ tới cô gái câm, Tứ tức tốc chạy ra nhà sau tìm và lại một phen ngẩn người ra khi nhìn thấy cỗ quan tài thứ hai đang nằm ở gian nhà sau! Nãy giờ Tứ bình tĩnh bao nhiêu thì giờ đây anh cảm thấy run bấy nhiêu. Anh không sợ ma, nhưng lại nghĩ mình đang lọt vào một mưu đồ gì đó mà với sức mình Tứ không thể nào đương cự lại nổi. Anh nói như cố ý nói với ai đó chung quanh: - Tôi chỉ có cái tội duy nhất là mất vợ, tôi thương vợ tôi nên đi tìm. Vậy nếu ai đó thương thì để cho tôi tìm được vợ, bằng không thì tôi xin chết tại đây cũng được, tôi xin chấp nhận! Anh nói xong thì ngồi bệt xuống đất, nhắm nghiền mắt lại, chờ... *** - Oan nghiệt! Đúng là oan nghiệt mà!Giọng nói đó khiến cho Tứ giật mình mở mắt ra, và anh há hốc mồm: - Bà ngoại! Tứ tưởng mình còn trong mơ, anh lúng túng: - Ngoại, sao ngoại... Bà ngoại anh ôm chầm lấy cháu, mắt vẫn không rời khung cảnh trước mắt. Bà lặp lại lời nói: - Đúng là oan nghiệt mà! Tứ ngạc nhiên: - Ngoại nói gì? - Con biết đây là đâu không? Rồi không đợi cháu trả lời, bà nói luôn: - Đây chính là nhà chồng của má con, tức là nhà ông nội con đó! Tứ ngơ ngác: - Sao kỳ vậy ngoại? Từ nào đến giờ con nghe ngoại nói nhà nội con ở xa lắm mà...? Bà Tám Trầu thở dài: - Ngoại giấu con. Chỉ vì bên nội con đâu có nhận mẹ con và con đâu mà con cần biết. Tứ chỉ những cỗ quan tài: - Tại sao nhà này toàn là áo quan không vậy ngoại? Bà không đáp, mà lên tiếng thay bà là một người lạ khác, chính là người phụ nữ đứng vẫy tay ra dấu cho Tứ lúc ở ngoài bờ sông. Bà ta bước ra từ nhà bếp, lại gần bên bà Tám Trầu, nhẹ giọng: - Chị để tôi kể cho nó nghe. Rồi bà quay sang Tứ: - Ta là cô út của con. Chính ta mà ra cớ sự như thế này! Bà nhìn bà Tám như chờ sự cảm thông, và bà được lời động viên: - Cô cứ nói hết cho nó nghe đi. Út Chanh vốn người xưa nay lắm mồm mép vậy mà giờ đây cô ta cũng tỏ ra ấp úng: - Nhà này kể cả má con là năm. Ngày xưa đông vui nhất trong làng này. Nhưng chỉ có một đêm thôi thì mọi thứ ra nông nỗi này và chấm dứt hết! Bà ta nói tới đó thì oà lên khóc ngất, khiến cho Tứ càng thêm khó hiểu: - Con không hiểu gì hết! Giọng bà ta trở nên thê lương khôn tả: - Chỉ có những người nằm trong các quan tài này mới có thể hiểu thôi. Nhưng khi họ thành xác chết thì họ lại không nói gì, mặc dù ta đã van lơn họ, yêu cầu họ về nói cho ta biết ta phải làm sao... Biết là cứ để bà ta tiếp tục nói kiểu đó thì Tứ thêm rối trí mà thôi, nên bà Tám Trầu chặn lời: - Để ngoại nói. Đúng ra chuyện này ngoại hoàn toàn không biết. Cho mãi tới ngày hôm kia, má con về báo mộng, nói rõ đầu đuôi thì ngoại mới bàng hoàng! Thì ra từ gần mười năm nay, ngoại cứ ngỡ là má con đi buôn xa rồi chết mất tích khi băng xuồng qua sông cái, ngờ đâu lại chết ngay trong nhà này. Mà người gây ra những cái chết đó lại là người này, cô út của con! Bà cô già của Tứ ngừng khóc, nhưng giọng thì vẫn còn run: - Đầu tiên là ông bà nội con. Họ chết đột ngột sau khi ăn bữa cơm do má con nấu, với mấy món ăn má con mua được và muốn đãi cha mẹ chồng. Ta vốn ganh ghét má con kể từ ngày bà về làm dâu nhà này, không muốn chị ấy càng ngày càng được lòng cha mẹ ta, nên ta đã lén bỏ thêm vào thức ăn một thứ thuốc mà ông thầy bán cho ta bảo rằng chỉ có tác dụng làm cho đi tiêu chảy. Mục đích của ta là chỉ làm cho cha mẹ ta chửi chị dâu một trận cho bõ ghét! Nào ngờ do ta bỏ quá liều nên thuốc tiêu chảy trở thành thuốc độc. Cho nên sau một đêm, cả cha mẹ ta đều chết hết! Bà ngừng lại một lúc rồi tiếp: - Mặc cảm tội lỗi càng khiến cho ta thêm thù ghét má con, ta cho rằng má con vào nhà này chỉ toàn đem đến điều rủi, vận xui, nên thay vì hối hận, ta lại quay sang quyết tâm phải loại trừ luôn má con ra khỏi nhà này. Và rồi ngay sáng hôm đó, trong lúc cả nhà đang bận lo tang lễ, ta đã âm thầm bảo cặp rằn Hai chèo ghe đưa má con đi xuống kinh Thầy Cai ở Đồng Tháp Mười với nhiệm vụ thu lúa ruộng. Thật ra chuyện ấy có thể để sau đám tang làm cũng được, nhưng ta có ý đồ, nên giục thằng Hai cặp rằn đi gấp. Con có biết tại sao không? Bởi ta biết Hai cặp rằng vốn đem lòng thương má con mà không dám thổ lộ, nên dịp đó là lửa gần rơm, giữa cảnh đồng vắng người thưa, chắc chắn sẽ xảy ra chuyện. Và chuyện đã xảy ra thật... Nhưng lại không chỉ xảy ra cho mình má con... Bà ta lại ôm mặt khóc. Lần này sự xúc động đã không cho bà ta tiếp tục nói được nữa. Bà ngoại của Tứ phải chen vào: - Kể từ khi má con lấy chồng nhà giàu thì ít khi về nhà. Do nhà chồng khó, mà ngoại cũng không đi thăm được, bởi không lần nào ngoại xách giỏ tới thăm mà được gặp má con. Bởi con người này. Cô út con đây là người nắm quyền trong nhà, muốn quyết cái gì thì mọi người phải nghe theo, kể cả việc cho chị dâu mình được quyền tiếp thân nhân hay không! Bởi vậy, lâu ngày rồi ngoại cũng chán, nghĩ thôi, miễn con gái mình có chỗ nương thân, còn sống khỏe là được rồi... Cho đến một đêm, khi ngoại đang ngủ thì nghe có tiếng ai kêu lên dưới bến sông, ngoại giật mình chạy xuống thì thấy có một chiếc xuồng nhỏ tấp vào bờ, trên xuồng có một đứa trẻ chừng vài tháng tuổi đang nằm khóc oe oe! Ngoại chưa biết là con ai thì chợt nhìn thấy trên chiếc khăn quấn ngang mình của đứa bé có viết dòng chữ: "Nó là cháu ngoại của má, hãy giữ và nuôi nó lớn khôn. Đừng nói cho nó biết gì về bên nội nó cả. Nếu má không làm được như vậy thì con chết không nhắm mắt!" Bà Tám lại phải ngừng kể do nước mắt ràn rụa, mãi một lúc bà mới tiếp: - Con đã về với ngoại như vậy đó. Rồi từ đó, bà cháu mình không hề biết thêm gì về tin tức của má con nữa. Chỉ nghe nói má con chết trong một chuyến đi buôn xa, thế thôi... Tứ đưa mắt nhìn sang bà cô già. Út Chanh bằng một động tác bất ngờ, đã quỳ sụp xuống dưới chân hai bà cháu Tứ: - Cho tôi tạ tội! Bà Tám đỡ chị ta dậy: - Mười năm nay tôi chưa nghe má thằng Tứ nói cụ thể về cái chết của nó. Tôi nghĩ có lẽ do nó chết dưới sông nước nên ắt đường về. Bỗng mới đây, nó về trong đêm và báo cho tôi biết là phải tìm tới đây để cứu vợ chồng thằng Tứ! Nó bảo người cô già ích kỷ của thằng Tứ lại tiếp tục muốn diệt tận gốc rễ giọt máu cuối cùng là thằng Tứ và vợ nó. Tôi già cả nên chậm chân, mãi tới bữa nay mới mò tới được đây. Chỉ may còn gặp cháu ngoại mình, chứ con vợ nó... Bà nói tới đó thì hốt hoảng nhìn quanh: - Vợ con đâu, Tứ? Tứ đau buồn: - Không kịp rồi ngoại ơi, vợ con đã chết trong mưa bão rồi! Đến trời cũng không thương dòng họ nhà mình nữa mà... Bất chợt, bà cô già của Tứ nói: - Không phải do trời đâu, mà là do người đó. Tứ nhíu mày: - Bà nói vậy là sao? Chỉ mấy cỗ quan tài, bà ta nói: - Tôi mù quáng, nghe theo lời một tay thầy số, hắn ta xúi tôi gom hết xác chết của dòng họ, kể cả dâu rể, sau đó đem phân tán mỗi người một nơi để chôn, chứ không được chôn trong đất nhà. Bởi vậy mới có chuyện mả ba má tôi thì chôn trên đất giồng cách đây mấy chục cây số, còn mả anh Hai tôi thì lại chôn ở đất chùa bên Trà Vinh. Còn mả của... Bà ta ngừng lại, đưa mắt nhìn Tứ và bà Tám, một lúc lâu mới nói tiếp: - Mộ của má thằng Tứ thì chôn ở... cây gáo trong đồng. Tứ vừa nghe tới đó thì hốt hoảng: - Cây gáo trong đồng nào? Út Chanh nói mà như khóc: - Tôi cũng không nhớ rõ là ở đồng hào. Chỉ biết là thằng Hai cặp rằn nó giết rồi vùi xác ở đó. Tứ hỏi lại: - Hai cặp rằn là ai? Út Chanh chỉ lên nhà trên: - Già Hai mới vừa hộc máu chết đó. Tứ kêu lên: - Chính ông ta sao. Anh đứng bật dậy định chạy đi, nhưng bà ngoại anh đã kêu lại, nói: - Má mày đã về nói hết với ngoại rồi. Nó bảo ngày trước Hai cặp rằn nghe theo lời xúi của Út Chanh đây, còn dọc đường đã cưỡng bức má con, dĩ nhiên là nó không chịu, chống cự quyết liệt và cuối cùng đã cắn lưỡi tự tử chết. Xác nó được Hai cặp rằn chôn dưới gốc cây gáo. Tứ bàng hoàng: - Gốc cây gáo, phải chăng đúng là cây gáo đó? Như vậy thì... Út Chanh lại chỉ tay về phía một trong hai cỗ quan tài: - Một cái là của má cậu, còn cái kia chính là... của vợ cậu đó! Tưởng mình nghe lầm nên Tứ hỏi lại: - Bà nói thật chứ? - Người sắp chết không dám nói dối! Bà ta nói xong đứng dậy liền. Lúc này Tứ mới để ý thấy dáng đi của bà ta không được vững vàng lắm. Và thay vì đi trở lên nhà trên, bà ta lại thẳng ra phía sau, nơi có một khoảng vườn rộng, cây cối um tùm. Vừa đi bà ta vừa nói to, cốt cho bà cháu của Tứ nghe: - Trước đây tôi không cho chôn ai cùng dòng họ trong đất nhà, chỉ sợ họ làm chủ vĩnh viễn mảnh đất này. Nhưng tôi đã lầm, đâu cần phải bám giữ nó thì nó mới thuộc về mình. Như má cậu, dẫu chôn tận ngoài đồng hoang, vậy mà cuối cùng cũng lại về đây. Tôi xin thua và xin vĩnh biệt! Bà ta đi nhanh và biến mất trong vòm cây... Tứ muốn chạy theo để hỏi thêm, nhưng vừa khi ấy thì cô gái câm xuất hiện, khiến cho Tứ lại một lần nữa kinh ngạc. Anh kinh ngạc bởi lúc này cô ta không ra dấu, mà lại lên tiếng: - Bà ấy đáng lẽ phải có ngày này từ lâu rồi mới phải! Nhưng chậm cũng không phải là không tới. Thấy Tứ nhìn mình, cô gái nói thêm: - Em là đứa con gái câm, mồ côi cha mẹ, bà Út Chanh tiếng là nuôi làm con, nhưng thật ra em ở đợ trong nhà này để trừ nợ lúa cho ba má em từ mấy chục năm trước. Em không nghĩ mình sẽ có ngày nói được nhưng chẳng hiểu sao kể từ khi em theo ông già Hai vào chỗ cây gáo để đào hai bó hài cốt đem về đây thì bỗng hết câm! Tứ quá đỗi ngạc nhiên: - Cô đào hài cốt của ai? - Thì của hai người thân mà anh đang trông đợi! Mẹ và vợ anh đó! Trong lúc Tứ và bà ngoại anh đang ngơ ngác thì cô gái nói thêm: - Em tin người chết đã giúp em có được điều kỳ diệu này! Mà cụ thể là vợ anh. Hôm đào xuống gốc cây gáo, chính em đã gặp được chiếc lược của chị ấy, vừa khi cầm chiếc lược ấy lên thì tự nhiên em bật thành tiếng reo, là tiếng đầu tiên trong đời! Em cám ơn chị ấy... Cô ta lại nói ra điều mà ai nấy đều sửng sốt: - Mụ Út Chanh nghe theo lời ông thầy tướng số, bảo phải gom hết hài cốt những người từng bị mụ ta hại về, để lão ta làm phép trừ hậu họa. Nhưng lạ lùng làm sao, kể từ khi hai bộ hài cốt mà em lấy lên từ gốc cây gáo đem về thì không đêm nào mụ ta ngủ được yên. Đêm nào cũng nghe mụ ấy khóc van và có lúc kêu thét lên vì sợ! Em đã rình coi và thấy mụ ấy quỳ lạy hai người đàn bà mà em đoán đó là mẹ và vợ anh! Mụ ta đi đến kết cuộc như lúc này có lẽ do ý của hai người ấy. Em tin là oan hồn đã báo được thù rồi. *** Vậy là vụ tai nạn ở gốc cây gáo giữa Đồng Tháp Mười đã có hồi kết. Mà cũng không phải vô tình mà Tứ bị mất vợ và kẹt hơn nửa tháng ở giữa vùng nước lũ đó. Tất cả là định mệnh. Tứ đã tìm lại được hài cốt của mẹ mình sau ngót mười năm thất lạc, và cái xác trôi sông của Kim Lệ lại là cánh cửa mở toang màn bí ẩn chung quanh một nghi án, mà nếu không có sự huyền bí đó thì xem như vĩnh viễn chìm vào quên lãng...Bà Tám Trầu nói với Tứ: - Ngoại không biết gì chuyện tâm linh, nhưng qua vụ này, ngoại có thể quả quyết với con rằng đời sống con người ta không chỉ có kiếp sống hiện thời. Nó còn có một kiếp nữa. Bởi vậy, ngoại muốn con hãy lấy đó mà tự răn mình. Có luân hồi hay không ngoại không biết, nhưng quả báo thì có. Nhất định có... HỒN MA LIÊN CHI Thấy đò đã rời khỏi bến khá lâu rồi mà anh chàng vẫn còn ngồi mãi bên ly nước có một mình, bà Sáu chủ quán cất tiếng hỏi: - Ủa, sao cậu không về chuyến đò vừa rồi? Đó là chuyến cuối về Tân Thành, cậu không đi thì chẳng còn chuyến nào nữa. Trời sắp tối rồi đó. Anh chàng bấy giờ mới ngẩng lên cười gượng: - Dạ, cháu chờ... Bà chủ quán đang lúc rảnh việc, nên bước tới kéo ghế ngồi gần và hỏi, vẻ tò mò: - Cậu chờ ai khi chẳng còn chuyến đò nào? - Nhưng, có thể người ta cũng tới ngồi chờ như cháu. Bà chủ quán cười ngất trước sự ngây ngô của anh chàng ra dáng học trò này: - Cậu đi học ngoài tỉnh phải không? Vậy nhà ở đâu bên kia sông, hay ở làng nào phía dưới? Anh chàng lắc đầu: - Dạ không. Nhà cháu không ở vùng này. Bà Sáu ngạc nhiên: - Cậu không ở vùng này mà còn ngồi đây khi trời sắp tối, bộ có nhà quen ở gần sao? Anh ta lại lắc đầu: - Dạ, cũng không. Tưởng anh ta đùa, bà Sáu trợn mắt: - Tôi hỏi thật mà cậu cứ đùa! Quán tôi cũng sắp dẹp rồi, không còn chỗ đâu mà cà kê đó. Chàng trai bây giờ mới đứng lên, móc tiền trả và nói: - Tưởng dì còn bán thì cháu đợi bạn, còn không thì cháu xin đi. Thấy cậu ta có vẻ thật thà, bà Sáu không nỡ: - Nói vậy chứ tới hơn sáu giờ tôi mới dẹp tiệm. Mà tôi hỏi thật, cậu đợi ai vậy? - Con gái ông Cả Dư. Lời anh chàng vừa dứt thì bà Sáu há hốc mồm, vừa bước lùi mấy bước. Giọng run như lên cơn sốt rét: - Cậu... cậu là... - Cháu là bạn học của cô ấy hồi mấy năm trước. Vừa rồi gặp lại, cô ấy có hẹn với cháu ở bến đò này. - Cô ấy tên Liên Chi phải không? - Dạ đúng. Thật ra bà Sáu hỏi cũng bằng thừa, bởi nhà ông Cả Dư chỉ có cô con gái duy nhất, đâu có người thứ hai. - Cậu... cậu gặp cô ấy lâu chưa? - Dạ, mới tuần rồi. Câu trả lời của cậu ta không ngờ lại khiến cho bà chủ quán tái mặt! Bà nhìn vị khách trẻ mà như nhìn một con quái vật. Phải vài mươi giây sau, bà mới lùi được hẳn vào quầy hàng và bất thần nói: - Tôi dọn hàng, nghỉ bán! Bất ngờ trước thái độ của bà ta, nhưng chàng trai vẫn lịch sự trả tiền xong, cúi chào và bước ra khỏi quán. Thay vì đi trở lại là con đường anh ta tới lúc nãy, đàng này anh chàng lại bước thẳng xuống bờ sông, nơi con đò đã rời bến, bỏ lại bến nước vắng lặng, đìu hiu... Trước khi đi khuất, anh chàng còn quay lại dặn với: - Nếu lát nữa có cô ấy tới và hỏi Thành Tâm, thì dì làm ơn nói cháu đi ngắm cảnh ở bờ sông một lát. Anh chàng không để ý, lúc ấy bà chủ quán vừa dẹp hàng vừa run rẩy. Miệng bà ta cứ lẩm bẩm: - Con Liên Chi... con Cả Dư! Liên Chi... Chỉ vài phút sau thì quán đã được đóng cửa. Chẳng ai hiểu vì sao bà chủ quán lại hấp tấp rời quán và đi rất nhanh như chạy trốn chỗ đó... Khi ấy trời chưa tối. Và hình như bà chủ quán nhớ lầm. Thật ra còn một chuyến đò nữa mới là chuyến cuối. Bởi lúc bà ta vừa rời quán, chừng mười phút sau thì từ bên kia sông, con đò đã trở lại. Trên đò chỉ duy nhất một người khách. Vừa bước lên bờ, vị khách nữ duy nhất đó quay khắp nơi tìm, và tỏ ra thất vọng khi thấy quán đóng cửa. Cô lẩm bẩm: - Sao hẹn mà không tới? Chợt nhìn ra bờ sông, cô reo lên: - Kia rồi! Cô bước ngay ra đó và bắt gặp người đang đợi mình ngồi ngắm sông nước. - Sao lại ngồi đây? Thành Tâm quay lại và reo lên: - Cứ tưởng là tối nay phải ngủ bờ ngủ bụi rồi chứ! Họ nắm tay nhau mừng khôn xiết kể, và anh chàng sôi nổi như trẻ con: - Nào, để anh ngắm Liên Chi xem, có gì thay đổi không? Cô gái ấy chính là Liên Chi. Cô chỉ xuống xuồng rồi bảo: - Chúng ta đi ngay, kẻo mưa tới. Con đò chợt quay trở lại. Liên Chi giải thích: - Đúng ra là hết đò rồi. Đây là ghe nhà, em đặc biệt ra đón anh. Ta đi nhanh về kẻo không kịp. - Bộ nhà xa lắm sao? Đưa tay chỉ về phía hạ nguồn: - Ở cách đây ba cây số. Chiếc đò lại đi ngược về phía thượng nguồn, Tâm ngạc nhiên hỏi: - Ủa, sao mình lại đi về hướng này? Con đò cứ băng băng tiến lên phía nước ngược. Nghe Tâm hỏi, nhưng Liên Chi vẫn không nói gì, mãi lát sau cô mới lên tiếng: - Mình tìm chỗ riêng tư chứ về nhà toàn người lớn không, làm sao mình vui chơi thoải mái được! Nghe có lý nên cho dù con đò có đi hơn nửa tiếng lên phía nước ngược, Tâm vẫn bình thản chờ. Mãi đến khi thấy trời bắt đầu tối, anh mới lo lắng hỏi: - Sắp tới chưa? Bàn tay mát rượi của Liên Chi đặt lên vai Tâm, giọng nàng nhẹ như hơi thở: - Không sợ phải ngủ bờ bụi đâu. Tới nơi rồi! Chiếc xuồng tấp vào một nơi mà chưa kịp nhìn lên, Tâm đã biết là rất vui. Bởi tiếng nhạc réo rắt từ trên vọng xuống cho Tâm biết là có một cuộc vui đang diễn ra nơi ấy. - Bộ đông người lắm sao? - Có ai đâu mà đông? - Sao tiếng nhạc rộn rã quá, chắc là đông người đang vui đó? Liên Chi xua tay: - Không có ai ngoài chúng mình ra. Đây là ngôi nhà mát của ba Liên Chi. Hầu như không có ai ở. Kể cả ông quản gia già chuyên lo chuyện nhà mình cũng vừa cho nghỉ. Chỉ có chúng ta thôi, và Tâm sẽ là người phục vụ cho Liên Chi đấy nhé! Anh chàng vui ra mặt: - Có làm hầu phòng hay đầy tớ sai vặt cũng được miễn phục vụ cho nàng công chúa là kẻ này xin tình nguyện! Liên Chi nắm tay Tâm chạy thẳng lên bờ, mãi đến khi đến trước một ngôi nhà lớn, Tâm mới chợt nhớ và hỏi: - Người chèo đò lúc nãy đâu? Liên Chi nhéo anh một cái đau điếng: - Cứ lo người chèo đò mà không để ý gì tới người ta cả! Nãy giờ chưa thấy hỏi thăm một tiếng. Tâm chợt nhớ, anh cười gượng: - Mình nghĩ đã gặp nhau rồi, hỏi cũng bằng thừa... Anh siết chặt tay người yêu và bất chợt kêu lên: - Sao em lạnh quá vậy? Nàng cười khúc khích: - Tại vì... nhớ! - Xạo. Họ đuổi bắt nhau trong ngôi nhà rộng thênh thang mà chẳng gặp ai khác. Đúng như cô nàng nói, có lẽ người nhà không có mặt. Liên Chi chỉ lên lầu bảo: - Ngày trước cả nhà em ở đây, sau mới chuyển về dưới kia, nên trên lầu em còn căn phòng với đầy đủ tiện nghi. Nếu cần, sau này khi có chồng em dùng làm nơi... động phòng hoa chúc! Nàng nói chơi mà như thật, vừa liếc mắt sang Tâm, khiến anh chàng nghe rộn lên trong lòng niềm vui khó tả. - Lên đây! Nắm tay Tâm, nàng kéo đi khá tự nhiên, như hai người yêu nhau từ lâu. Mặc dù cả hai chỉ mới gặp lại nhau vài tuần trước đây, sau hơn năm năm xa cách, kể từ khi học lên trung học đệ nhất cấp. - Đây là phòng ngày trước của mẹ. Còn kia là phòng của dì út, phòng của dì Năm, còn phòng này là của... em. Căn phòng được nàng giới thiệu là phòng của mình, khi vừa mở cửa bước vào Tâm đã hốt hoảng kêu lên: - Có cái gì! Một bầy dơi quạ từ trong bay ra khiến Tâm phải né sang bên, bởi chúng quá đông! - Sao chúng vào được vậy? Trong lúc Tâm chú ý đàn dơi thì Liên Chi lại bình thản, cô còn xua chúng ra nhanh, rồi quay sang bảo Tâm: - Nhà không người ở mà... Cô nàng định đóng cửa lại ngay thì chợt Tâm nhìn thấy gì đó bên trong phòng, anh ngăn lại: - Có cái gì kìa! Theo đà đẩy của Tâm, cánh cửa phòng được mở hẳn ra và... để lộ một bộ xương người còn nguyện vẹn chân tay, đầu cổ! - Trời ơi! Tâm kêu lên và lùi lại mấy bước. Liên Chi chỉ khựng lại rồi mím chặt đôi môi. Tưởng nàng sợ, Tâm vội nói: - Em đóng cửa lại và ta báo động cho mọi người! Nhưng thật bất ngờ, nàng lại lắc đầu: - Không cần. Thôi, ta xuống dưới nhà! Nàng lại kéo tay Tâm đi nhanh như lúc lên. Xuống tới dưới rồi vẫn chẳng nghe nàng nhắc tới chuyện bộ xương người, Tâm dò xét: - Bộ lâu lắm rồi em không tới đây sao? Nàng nhẹ lắc đầu, rồi nói lảng sang chuyện khác: - Làm hết cả tiếng nhạc, mất vui! Tâm nhớ ra tiếng nhạc lúc đầu mà nãy giờ im bặt, anh hỏi: - Ờ, sao không còn nghe tiếng nhạc như lúc mình mới tới? - Bay hết rồi còn đâu! Tâm ngạc nhiên: - Cái gì bay? - Mấy con dơi! Nàng trả lời xong có lẽ thấy chưa rõ, nên lại tiếp: - Chính mấy con dơi hòa tấu đã tạo ra âm thanh mà thoạt nghe ai cũng tưởng đó là tiếng nhạc! Đây là lần đầu tiên Tâm nghe lý giải như vậy, anh tỏ ra hoài nghi: - Xưa nay anh chưa từng nghe chuyện lạ này. Thì ra những con dơi ở đây khác thường... Anh còn định hỏi nữa thì bỗng Liên Chi tỏ ra bồn chồn và nói: - Anh đợi em ở đây, em hơi khó ở, cần vào trong một lát... Khi cô nàng đi rồi Tâm mới để ý quan sát kỹ chung quanh. Ngôi nhà nói là ít người ở, nhưng tường và trần nhà, sàn nhà đều sạch bóng, không có lấy một chút bụi hay mạng nhện nào. Mười phút... Hai mươi phút trôi qua... Tâm bắt đầu sốt ruột khi chưa thấy Liên Chi trở lại. Chờ đến nửa giờ, Tâm bước ra sau nhà thì cũng chẳng thấy ai và cũng chẳng có phòng vệ sinh riêng ở đó. - Liên Chi đi đâu? Sự tò mò cộng với một động lực vô hình thúc đẩy, Tâm lại bước trở lên lầu. Anh nhẹ bước tới chỗ căn phòng phát hiện ra bộ xương lúc nãy, và từ từ đẩy cửa vào... - Trời ơi! Hình ảnh trước mắt làm cho Tâm kinh hãi lùi lại. Liên Chi đang dùng dao chém xối xả vào bộ xương người nằm dưới sàn! Và quái lạ làm sao, máu từ trong hài cốt kia lại tuôn chảy ra có vòi! Liên Chi hình như quá say sưa, nên không để ý thấy Tâm. Nhờ vậy, anh chàng mới ba chân bốn cẳng chạy xuống lầu, rồi bất kể bên ngoài trời tối, anh phóng đại xuống sông, mặc dù không hề biết lội! Tâm rơi xuống một đáy nước và lạnh buốt, anh nhắm mắt lại khi nghĩ tới cái chết. Nhưng như thế này còn sướng hơn là chứng kiến hình ảnh người con gái anh thương đang vung dao chém loạn xạ như thế. Tâm nghe văng vẳng như có ai gọi mình, nhưng giây phút đó anh lại nghĩ tới chuyện kinh hoàng kia, nên không hề cho rằng có ai đó gọi với thiện ý... Có lẽ đêm đã khuya... *** Bà chủ quán phải gọi lại đến lần thứ mười:- Cậu gì ơi! Cậu... Lần này thì may mắn, Tâm mở mắt ra. Anh nhìn quanh, thấy trời vừa mờ sáng và có mấy người đứng cạnh mình thì lại hốt hoảng la lên: - Ma! Giọng bà Sáu trầm ấm: - Tôi đây chứ ma cỏ gì. Cậu nhớ tôi không, chủ quán ở bến đò nè! Tâm bắt đầu trấn tĩnh lại, anh cố nhìn thật kỹ và reo lên: - Đúng là dì rồi! Nhưng sao... Bà đưa tay ngăn không để Tâm nói tiếp: - Cậu còn mệt lắm, để lát nữa hãy nói. Tôi giải thích cho cậu hiểu, hồi hôm này, nếu tôi và mấy người nữa tới không kịp thì cậu không chết đuối cũng chết vì... ngôi nhà đó! Tâm lần nhớ lại chuyện đêm qua, anh chợt hỏi: - Liên Chi đâu? Bà Sáu lắc đầu: - Hôm qua vừa nghe cậu nhắc tới tên con nhỏ đó là tôi sợ thất thần rồi! Vậy mà cuối cùng cậu cũng bị lọt vào tay nó. Nó là... Một người đàn ông tên Chín Lành, chồng của bà chủ quán vội lên tiếng: - Vợ tôi bán quán ở đó đã chứng kiến cả chục trường hợp giống như cậu. Nhưng chưa có người nào lọt được tới ngôi nhà hoang ấy, bởi vậy khi nghe bà ấy về báo lại tôi đã đoán ắt có chuyện chẳng lành, nên gọi thêm mấy người nữa đi theo cậu tới nơi ấy. May quá... Tâm vẫn còn nhớ lờ mờ, hỏi: - Vậy ngôi nhà đó có gì? Mà cô Liên Chi ấy là con của một bá hộ vùng này mà? - Điều đó thì đúng, nhưng là đúng cách đây gần sáu năm, chứ bây giờ cô ta là... là... Bà Sáu chen ngang vào: - Là ma! Tâm ngơ ngác: - Sao lại là ma? - Cậu vào nhà đó không gặp điều gì sao? Muốn giấu chuyện về Liên Chi, nhưng Tâm đã được nghe chính bà Sáu kể thêm: - Nó là con gái độc nhất của ông Cả Dư trong làng này. Ngôi nhà đó được xây lên cách đây năm năm và vừa mừng tân gia thì xảy ra chuyện động trời, khiến nó bị bỏ hoang cho đến nay! - Nhưng cô ấy... tôi mới gặp lại mấy tuần nay mà? - Cô ta đã chết cách đây năm năm rồi, chết trong vụ thảm sát nhà Cả Dư lần đó! Những người chung quanh đó đều nói y như vậy, nhưng Tâm có vẻ còn ngờ ngợ... cho nên cuối cùng ông Chín Lành bảo: - Được rồi, tôi sẽ đưa cậu tới tận nhà Cả Dư bên Tân Thành, rồi cậu sẽ nghe hết mọi chuyện. Trước khi đi, Tâm cũng kể cho họ nghe chuyện quan hệ giữa anh và Liên Chi: - Ngày trước chúng tôi học chung với nhau ở trường tỉnh. Khi lên trung học thì chuyển lên Sài Gòn nên cả hai không còn học chung nữa. Bỗng cách đây ít lâu tôi nhận được tin qua một người bạn, họ nói rằng Liên Chi muốn gặp tôi để gửi trả lại một kỷ vật thuở học trò. Ngày trước tôi và Liên Chi vốn có tình ý với nhau, nên khi nghe tin nhắn như thế, tôi đã tìm gặp cô ấy và nhận được lời cô ấy mời về đây chơi nhân dịp nghỉ hè. Bà chủ quán thở dài: - Con trai nào cũng được cô ấy mời như vậy cả. Tôi đã ngăn chặn được bốn, năm trường hợp rồi, chỉ có duy nhất một cậu trước đây mà tôi sợ cậu cũng giống như cậu ta... Tâm nhớ lại bộ xương trong phòng Liên Chi, anh kêu lên: - Phải chăng chính là anh ta? Rồi Tâm giục: - Chú đưa cháu tới nhà cô ấy xem sao? *** Một ngôi nhà ngói còn đồ sộ hơn là ngôi nhà đêm qua, Tâm phải buột miệng khen:- Nhà lớn quá! Chín Lành chép miệng: - Vậy mà cũng bỏ hoang từ lâu rồi đó cậu! Tâm ngỏ ý muốn vào nhà, Chín Lành lưỡng lự một lúc rồi cũng đồng ý: - Tôi vào với cậu, nếu có ai gặp thì cậu nói giùm một tiếng là mình vào chỉ để xem, chứ không hề có ý trộm đồ đạc gì trong đó. Ở gian giữa nhà có một bàn thờ lớn, trên đó có bốn bức ảnh chân dung đặt song hàng nhau. Vừa nhìn thấy, Chín Lành nói ngay: - Hai người lớn là ông bà cả, con người kế bên thì cậu biết rồi, đó là cô Liên Chi, người con trai bên bìa trái đó chính là... kẻ gây ra tai họa cho nhà họ! Tâm ngơ ngác: - Kẻ gây ra họa sao lại được thờ chung? - Đó mới là chuyện để cả làng này bàn tán. Sau khi xem qua hết ngôi nhà, dẫn Tâm ra ngoài. Chín Lành kể: - Tôi trước đây là quản gia cả hai ngôi nhà, bởi vậy tôi biết rành về nó. Ông bà Cả chỉ có mỗi cô con gái cưng là Liên Chi, nên khi có người tới dạm hỏi là hứa gả liền. Anh chàng kia chính là chàng rể tương lai của họ. Tuy nhiên, trong lúc hôn lễ chưa cử hành thì vào một đêm tiệc tùng ở ngôi nhà mới xây, đã xảy ra một thảm kịch kinh hoàng! Chính chàng rể tương lai đó trong cơn say xỉn đã lộ nguyên hình là một tay đào mỏ. Anh ta lớn tiếng cự cãi với ông bà Cả, đòi phải hứa chia cho anh ta toàn bộ tài sản thì anh ta mới chịu tiến hành lễ cưới! Còn không thì anh ta sẽ bỏ, không cưới! Trong khi đó thì cô Liên Chi đã lỡ ăn nằm với anh ta rồi, mà hình như cũng đang có thai nữa... Chín Lành ngừng lại một chút rồi kể tiếp, giọng bùi ngùi nói: - Khi bị ông bà Cả từ chối, rồi bị Liên Chi vạch mặt thì anh chàng đó nổi điên, cầm dao chém chết hết cả nhà rồi sau đó tự sát theo. Tôi là người đưa hài cốt nhà ấy về thờ ở đây, ban đầu chỉ có ba người thôi. Nhưng tay hung thần kia đã thành quỷ thành tinh, cứ hiện về đòi phải đặt ảnh của anh ta lên chung bàn thờ mới chịu! Ông ngừng lại, thêm một lần thở dài: - Anh ta thành tinh thành quỷ nên cả làng này ai cũng sợ, cô Liên Chi bị anh ta điều khiển, nên mấy năm nay cứ dụ các chàng trai quen biết về, để rồi sau đó hạ sát. Theo tôi biết thì cô ta làm như vậy là bởi anh chàng kia ghen, không muốn ai lui tới nhà này. Cách đây gần một năm, có một chàng trai nghe nói trước đây cũng là bạn học, theo Liên Chi về ngôi nhà đó, để rồi chẳng bao giờ thấy trở ra... Tâm buột miệng: - Anh ta đã thành bộ xương khô trong đó rồi. - Đáng lẽ đã tới phiên cậu ngày hôm qua! Theo tôi dự đoán, sở dĩ cậu thoát chết được có lẽ nhờ đàn dơi quạ bay ra lúc cậu vào nhà! Tâm ngạc nhiên: - Đúng là có đàn dơi quạ! Nhưng tại sao chúng lại cứu cháu? - Tôi đã chứng kiến nhiều lần, hễ ai chưa tới số chết thì khi mở cửa căn phòng có bộ xương ra thì cả đàn dơi sẽ bay hết ra ngoài, điều đó có nghĩa là người ấy thoát nạn! Tâm ngẩn người ra rất lâu. Những gì anh đã chứng kiến, cùng với lời kể của Chín Lành đã làm cho Tâm cảm giác lạnh cả người… |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 33
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXIII: Phần I TRĂNG LẠNH NHÀ MỒ Chuyến xe đò rời bến Sài Gòn vào 5 giờ sáng. Vậy mà mãi tới hơn 3 giờ chiều mới tới bên này Bắc Bassac (Bắc Cần Thơ sau này - TG). Tất cả hành khách đều mệt lả người sau hơn mười tiếng đồng hồ ngồi nêm cứng trên xe. Mà người mệt nhất có lẽ là cô gái ngồi cạnh Đức, bởi suốt lộ trình cô nàng ói liên tục và hầu như không ăn uống gì dọc đường, dẫu Đức đã rất lịch sự mua thức ăn mang lên mời. Một bà ngồi băng trước quay lại bảo Đức: - Cậu nên xuống mua ly sữa đem lên cho vợ cậu uống, chứ nhịn đói mà lại ói suốt như vậy chịu sao nổi. Đức hốt hoảng lên tiếng liền: - Dạ, không phải đâu! Tôi... tôi chỉ... Anh muốn đính chính về cách ghép đôi như vậy của bà nọ, nhưng anh chưa kịp nói hết lời thì lơ xe đã la lớn, cắt ngang lời anh: - Tất cả xuống xe qua phà! Không được ai ở lại! Đức chưa kịp đứng dậy thì cô gái lại ói lần nữa. Đã biết ý rồi, lần này Đức dùng ngay chiếc khăn mà lúc nãy anh lấy ra sẵn, hứng nước ói của cô gái và dùng một đầu lau cho cô nàng. Cô gái hầu như không còn tự chủ được, cô ói xong thì cứ dựa đại vào vai Đức mà chịu trận. Bà ngồi trước nói với lơ xe: - Để cho vợ chồng cậu này ở đây. Cậu ấy phải săn sóc cho vợ, cô ấy ói quá trời xuống sao được! Rồi bà vừa rời xe vừa nói: - Cậu cứ ngồi đó đi, để tôi mua giùm sữa cho. Đức chẳng còn hơi sức đâu mà đính chính, anh móc tiền ra đưa cho bà ta, nhưng bà này xua tay: - Tiền bạc gì cậu ơi! Rồi bà ta đi thẳng vào một quán nước phía bên trong lề. Lát sau trở ra với một lon sữa đầy còn nóng hổi bảo Đức: - Cậu ngồi lại đó cố đút cho cô ấy uống được muỗng nào hay muỗng nấy. Có ít muỗng sữa sẽ đỡ hơn. Rồi bà vừa lắc đầu vừa cười vui với Đức: - Thấy cậu chăm sóc cho vợ mà phát chán với ông chồng tôi ở nhà, đời nào ông ấy đút cho tôi được muỗng sữa nào dù đã sống với nhau đã hơn hai chục năm rồi! - Tôi không phải... Nhưng bà ta đã bỏ đi, đâu cần nghe lời trần tình của Đức. Hành khách trên xe đã xuống hết, trên xe chỉ còn lại Đức và cô nàng. Lúc này anh có ý muốn đẩy cô ta ra khỏi vai mình, nhưng vô vọng, bởi nàng ta hầu như chẳng biết gì nữa. Nhìn cảnh đó ai mà không nghĩ như bà hành khách nọ. Trông Đức khác nào một anh chồng trẻ với cô vợ mới ốm đau đang cần sự che chở! Lâm vào cảnh dở khóc dở cười này, Đức đành phải chấp nhận và càng lúc anh càng tỏ ra có trách nhiệm thật, chứ không phải là người đóng vai bất đắc dĩ. Thậm chí người tài xế cũng phải lên tiếng: - Cậu đóng cửa lại để cô đỡ phải gió và cứ ngồi yên đó để lát nữa tôi cho xe xuống phà. Chà, vợ trẻ mà yếu dữ a! Đức muốn đính chính, nhưng nhìn cô nàng hầu như chẳng nghe thấy gì, nên anh cũng lờ luôn. Thấy lon sữa trên tay đã bắt đầu nguội, Đức múc từng muỗng nhỏ rồi nhẹ nhàng đưa vào miệng cô nàng, chỉ hy vọng cô nàng không gạt tay ra làm đổ văng tung tóe, chứ không mong gì đút được muỗng nào. Vậy mà lại có kết quả ngoài mong đợi. Cô nàng chép chép mấy cái rồi ngoan ngoãn nuốt từng hớp nhỏ như một đứa trẻ! Đức vốn khéo tay trong việc chăm sóc trẻ con và đã từng được mấy đứa cháu con của anh chị mình thích thú mỗi lần được anh chăm sóc, nên bây giờ anh có làm cho cô nàng hài lòng cũng không phải lạ. Một lúc sau, sau khi uống được hơn chục muỗng sữa thì cô nàng đã có vẻ tỉnh táo nhưng khi vừa mở mắt ra thì lại hốt hoảng kêu lên: - Anh... anh... sao anh? Đức bước hẳn xuống xe, chợt cô ta kêu lên: - Anh đi đâu vậy? - Cô hết bệnh rồi thì tôi phải xuống xe, kẻo bị người ta đuổi xuống! - Vậy tôi còn bệnh thì sao? - Thì... Đức chưa kịp trả lời thì lúc ấy người tài xế từ xa đang chạy ngược lại, la lên: - Anh lên xe ngồi với chị đi, xe xuống phà ngay đây! Đức lại phải miễn cưỡng leo trở lên xe và anh nhận được một nụ cười khó hiểu của cô nàng. Và rõ ràng là nàng ta cố ý lại ngả đầu vào vai Đức như lúc nãy kèm câu nói: - Dẫu sao được dựa đầu thế này cũng đỡ chóng mặt hơn, như vậy chắc là sẽ hết ói! Rõ ràng là cô ta biết những việc mình gây ra từ sáng đến giờ, vậy mà nói tỉnh như không! Đức hỏi gặng lại: - Cô không ói nữa thật chứ? - Cũng còn tùy... tùy anh có cho mượn vai nữa không! Đức nhổm người dậy, định đẩy cô nàng ra, nhưng cô ta đã nói khẽ vào tai: - Ông tài xế nhìn thấy đuổi cả hai xuống bây giờ! Đức đưa lon sữa cho cô ta: - Cô uống cho hết đi, để chắc ăn không ói nữa. Nàng lại cười cười: - Nuôi bệnh dở ẹt vậy mà cũng được khen! Dù nói vậy nhưng nàng ta vẫn cầm lấy lon sữa và uống một hơi cạn! Bây giờ Đức mới đùa: - Giống thuốc tiên quá! - Thuốc tiên cũng không bằng tay tiên! Nếu không nhờ bàn tay đút sữa điệu nghệ của anh thì chắc em không thể nuốt trôi giọt nào! Nàng ta đổi sang gọi Đức bằng anh xưng em ngọt xớt khiến anh phải dịu giọng: - Cô khỏe hẳn rồi phải không? Bỗng cô nàng nói nhanh: - Chúng ta phải biết tên nhau và xưng hô cho đúng cách, kẻo lát nữa mọi người lên xe biết chúng ta đóng kịch thì họ cười cho! - Cười cô chứ đâu phải cười tôi! Tuy nói vậy chứ Đức cũng tự giới thiệu: - Tôi tên Đức, nhà ở Ô Môn. Nàng reo lên: - Em cũng ở gần đó, ở Thốt Nốt! Em là Oanh, Kiều Oanh đây. Phà cập bến, xe di chuyển lên bờ, thấy hành khách sắp sửa leo trở lên xe, nàng tranh thủ nói nhanh: - Hồi nãy họ nói chúng ta là... vợ chồng, anh chưa kịp đính chính phải không? Vậy thì... đừng đính chính nữa, người ta không tin đâu! - Nhưng mà... Nàng lại cười: - Người mắc cỡ, đính chính phải là em kia! Nhưng thôi kệ... chỉ chút nữa là xuống xe rồi mà! Nghe nàng ta nói có lý, nên Đức im lặng cho đến lúc hành khách lên xe đầy đủ. Lúc ấy bà khách ngồi băng trên quay lại nhìn Oanh và reo lên: - Cô tươi tỉnh lại rồi kìa, may quá! Rồi bà ta nói tiếp đủ cho hai người nghe: - Có hơi vợ chồng nó kỳ diệu vậy đó! Đức ngượng chín người, anh lại định lên tiếng thì Oanh đã kịp nói thay: - Dạ, con cám ơn dì. Nhờ có dì nên con mới... - Có gì đâu, đi đường xa giúp nhau khi qua khi lại mà. Chỉ mười phút sau thì đã tới bến xe. Lúc này cô nàng mới hỏi Đức: - Anh về luôn nhà hay có cần ở lại đây sáng mai về sớm? Em có nhà quen, có thể ngụ lại được. Đức vội xua tay nói: - Không được, tôi phải về ngay, ngày mai... Đức định nói ngày mai là lễ hỏi của mình, mọi người đang chờ ở nhà nhưng kịp dừng lại. Kiều Oanh cũng nói: - Ngày mai em cũng có việc ở nhà, nhưng sáng về sớm có sao đâu! Đức định gọi chiếc xe lôi thì cô nàng chỉ tay về phía bên trái: - Về Ô Môn thì phải đi xe đó, chứ xe lôi chạy sao nổi? Đức lại chỉ tay về hướng bến đò sông: - Ra bến đò đi về, chứ quê ở tận trong xa, xe đâu chạy tới mà đi! Nàng tỏ ra giật mình: - Anh ở tận đâu lận? - Kênh Ô Môn, gần ngọn cùn. - Vậy ra... Nàng định hỏi gì đó nhưng kịp ngừng lại, cho đến lúc Đức đã leo lên xe lôi rồi, cô mới nói với theo: - Em biết chỗ đó! Nhưng hình như Đức không nghe... *** Vợ chồng ông Phán Hòa vẫn chưa thông chuyện bà mai nói. Bà ấm ức nói:- Hồi họ hứa với mình thì ngon ngọt lắm, sao bây giờ lại đổi ý, gây khó khăn vậy? Ông Phán cũng nói chen vào: - Tôi nhớ chính bà ấy nói với tôi lúc lễ coi mắt là bỏ hết mọi nghi lễ rườm rà, chế luôn cho chuyện phải có đôi bông hột xoàn 6 li như đòi hỏi ban đầu, vậy mà nay lại bắt phải có đủ. Gấp gáp quá làm sao xoay cho ra! Bà mai Lệ là người luôn linh hoạt trong mọi chuyện: - Họ làm khó vì chuyện xảy ra ngay hôm nay, mới hồi trưa này thôi. Bà Phán chau mày: - Chuyện gì? - Bà Cả có người quen bắt gặp cậu Đức cặp kè với gái ở trên xe đò! Bà Phán Hòa như giẫm phải lửa: - Thánh thần ơi, có chuyện đó sao? Đức, con vào đây xem sao? Đang ở ngoài sân sửa sang lại bàn ghế, Đức vội bước vào lễ phép hỏi: - Má cho kêu con? Ông Phán mau miệng: - Bữa nay mày đi với con nào? Bà cũng hỏi dồn: - Người ta nói con cặp kè với con nào đó trên xe đò, có hông? Đức cười xòa: - Tưởng chuyện gì. Có một cô... Bà Phán gần muốn líu cả lưỡi: - Mày...mày... vậy hả Đức? Đức vẫn bình tĩnh: - Có gì đâu má. Cô ấy là khách đi chung, cô ấy bị ói, mệt lả người, nên con giúp, chứ cặp kè gì đâu! Bà mai Lệ nói rành rẽ: - Có người thấy rõ ràng cậu với cô gái đó vai kề vai, mà còn tình tứ lắm trên xe đò, họ về mách lại với... Bà Phan Hòa nhanh trí: - Chắc là nói lại với chị phải không, rồi chị đi học lại cho bên kia họ biết chứ gì? Bị bắt đúng thóp, bà ta lúng túng: - Thì... thì tôi sợ cậu Đức đây bậy bạ làm hư việc nên có nói chút đỉnh... nhưng nói vậy thôi chứ bên kia người ta cũng đâu có bắt bẻ gì. Ông Phán nổi giận: - Không bắt bẻ mà thay đổi đòi hỏi. Bữa trước nói không cần đôi bông, nay lại đòi! Mà đòi gấp như vậy thì lấy đâu sáng mai có để đem qua? Có phải là chị hại nhà này không! Bà mai cứng họng. Cũng may là Đức đã lên tiếng: - Không hề gì, con có sẵn đôi bông tai sắm hồi năm ngoái, tính để dành... Ông Phán Hòa nói nhỏ bên tai bà: - Hồi đó nó yêu con Lan Ngọc ở Sài Gòn, đáng lẽ hai đứa lấy nhau, kế con nhỏ nghe lời cha mẹ đi lấy mối khác. Tưởng nó đã chán đời đem bán đôi bông rồi, ai ngờ còn... Bà Phán bấy giờ mới cười: - Dữ hóa lành, nhờ ơn trời đó con! Thôi, đi nghỉ sớm để mai còn đi. Phải đi thật sớm thì tới mười giờ mới tới được bên Thốt Nốt. Nghe nhắc Thốt Nốt làm Đức chợt nhớ tới cô gái trên xe đò, cô ta nói nhà cũng ở bên đó... và trong suốt giấc ngủ, hầu như Đức cứ bị ám ảnh mãi hình ảnh cô nàng dựa đầu trên vai mình ngủ ngon lành. *** Có lẽ ảnh hưởng của chuyến đi mười mấy tiếng đồng hồ nên vừa nằm xuống là Đức ngủ say. Ngoài những hình ảnh về cô gái ám ảnh, Đức hầu như không nhớ gì khác, mãi cho đến lúc anh choàng tỉnh dậy do có tiếng ai đó gọi bên ngoài cửa sổ!- Lạnh quá... giúp tôi với! Ban đầu Đức cứ tưởng là mình chiêm bao, nhưng sau khi nhìn kỹ anh giật mình, bởi bên ngoài kia có một người đang ôm bụng, đứng không vững. Lại là một cô gái! - Kìa, cô... Đức quên hết mọi cảnh giác, anh bước tới bên cửa sổ và nhìn rõ hơn, đó là một cô gái còn rất trẻ, toàn thân ướt đẫm. - Em lạnh... em chết... Cô ta vừa nói tới đó thì ngã lăn ra và bất động. Đức hốt hoảng, anh tung cửa chạy ra. Đến nơi, anh cúi xuống nhìn và giật mình kêu khẽ: - Quế Anh! Quế Anh là người vợ chưa cưới của Đức, người mà ngày mai anh sẽ đưa sính lễ sang để làm lễ hỏi! - Tại sao như thế này? Đức đưa tay định đỡ cô lên thì bỗng anh như bị điện giật, người bị bắn ra đến hơn một thước! Đến khi bò dậy được thì chẳng còn thấy cô nàng đâu? Ở chỗ nàng nằm vừa rồi còn lại một cái khăn quàng cổ mà vừa cầm lên, Đức đã nhận ra ngay đó chính là khăn mà trước đây mấy tháng chính anh đã mua tặng. - Quế Anh! Đức gọi quá lớn làm cho ba má anh đều giật mình tỉnh giấc. Ông Phán hỏi vọng ra: - Gì vậy con? Giọng Đức vẫn còn run: - Dạ... con... con thấy... Anh kịp ngừng lại, không tiện nói ra. Lát sau nói lảng ra chuyện khác: - Dạ, con nghe có tiếng động gì lạ ngoài này nên ra. Nhưng không thấy gì... Bà phán hỏi thêm: - Má nghe con kêu tên Quế Anh? - Dạ, con đâu có... Đức chạy nhanh về phía sau khu vườn cam của cha mình, trăng lúc này đang sáng nên có thể nhìn rõ mọi vật. Chẳng hề thấy bóng dáng của nàng đâu! - Kỳ lạ! Anh tìm kiếm một lúc thì chán nản quay vào. Nghĩ có lẽ mình còn chưa tỉnh, ảo giác cũng nên... Nhìn đồng hồ tay thấy mới một giờ sáng, Đức vội lên giường ngủ tiếp. Nhưng chưa kịp chợp mắt thì anh chợt nghe có tiếng của một ai đó ngay trong phòng mình! - Ai vậy? Ba hả? Anh bật dậy định tìm xem ai thì bỗng cảm giác một bên tay của mình tê rần và lạnh buốt! Một giọng nói sát mang tai: - Hãy rời xa nàng ta ngay, nếu không muốn chết! Trong bóng tối, nhưng Đức cũng nhìn thấy, thấy đôi mắt của người ấy sáng như hai đốm lửa màu xanh! Và hơi lạnh từ bàn tay anh ta truyền sang Đức càng lúc càng lạnh buốt, khiến anh suýt phải kêu lên đau đớn! Cũng may vừa lúc đó có tiếng của ông Phán Hòa bên ngoài: - Ngủ chưa con? Người đó buông tay ra. Đức ngã nhào trở lại giường cũng vừa lúc ông Phán đẩy cửa vào. - Có chuyện gì phải không con? Đức hoàn hồn, đáp: - Dạ, có... có người ở trong này... Ông Phán đưa cây đèn dầu lớn vào phòng, căn phòng sáng lên vừa hỏi: - Ai đâu? Đức nhìn khắp nơi, anh vẫn chưa hết run: - Một người đàn ông. Anh ta nắm tay con... Lúc này bà Phán cũng đã chạy sang. Bà đích thân cúi xuống tìm dưới gầm giường, trong kẹt tủ, không nơi nào là không lục tung lên. Bà ngạc nhiên hỏi: - Có thấy gì đâu con? Đức nhìn ra cửa sổ, anh cảm giác như còn có hơi thở của ai đó rất gần bên... Anh đột ngột nói lớn: - Ai đã dám tới thì có gan ra mặt đi! Không có ai trả lời, bà Phán giờ mới hơi run: - Bộ có người vào phòng con thật hả? Coi chừng ăn trộm đó... Bà đi xem lại đồ đạc, nhưng Đức đã nói: - Không phải ăn trộm đâu má. Đây là... người cõi âm hay sao đó, tay chân của họ lạnh ngắt, họ chụp con chỗ này này... Anh đưa tay lên xem và hốt hoảng kêu lên: - Má coi nè! Trên cổ tay của Đức hằn lên những vết bầm tím khác thường. Ông Phán Hòa lo lắng: - Con coi có đau đớn gì không? Đức sờ thử thì chẳng có cảm giác đau, anh lắc đầu: - Không đau. Anh thuật lại đầu đuôi chuyện vừa rồi, nhưng không nói ra chuyện mình gặp Quế Anh. Anh chỉ hỏi: - Mấy hôm nay bên nhà Quế Anh có ai qua nhà mình không? - Họ không ai qua, nhưng bà mai ngày nào không tới lui. Nghe nói con Quế Anh cũng mới từ Cần Thơ về hôm qua. Con nhỏ năm nay thi đậu bằng thành chung, giỏi thật! Bà còn nói thêm: - Nhà bên đó má không ưa ai, chỉ mình con Quế Anh là được! Mà con nhỏ cũng kỳ, nó nhắn với bà mai là nếu nó không làm dâu được nhà này thì nó... thà chết còn hơn! Đức sửng sốt: - Cô ấy nhắn lúc nào? - Thì mới mấy bữa trước. Má nghe nói gở như thế nên tính bữa nào gặp, má sẽ rầy nó. Hay là tại nó nghi kỵ con điều gì đó? Đức lắc đầu: - Con có làm gì đâu mà nghi với kỵ. - Thì chuyện con với đứa nào trên xe đó! - Đó là chuyện mới xảy ra hồi trưa hôm qua. Chợt Đức nhớ lại lời nói của con người kỳ dị lúc nãy, anh kêu khẽ: - Phải chăng... Bà Phán ngạc nhiên: - Con nói phải cái gì? - Dạ... à mà không có gì! Ông Phán nhận xét: - Ba coi mòi con nhỏ thương con lắm, tuy có phần kín đáo giữ ý. Như cách đây mấy tuần, nó có gửi về cho con vật này mà ba quên chưa đưa lại cho con. Ông trở về phòng lấy ra một cái hộp giấy nhỏ: - Ba chưa coi nên không biết cái gì trong này. Con mở ra xem. Đức mở ra và hết sức ngạc nhiên khi thấy đó là một chiếc khăn quàng cổ giống y chiếc khăn anh vừa nhặt được ngoài vườn. Bà Phán nói liền: - Hôm rồi nó đi Đà Lạt, chắc là mua trên đó rồi gửi tặng con, vậy mà ba con lại không đưa. Đức nói làm cho cha mẹ anh đều ngạc nhiên: - Đây là chiếc khăn chính con tặng cho cô ấy! Chẳng hiểu sao... Anh chạy vào phòng tìm chiếc khăn lượm được lúc nãy, nhưng quá đỗi ngạc nhiên khi không còn thấy trong phòng nữa! - Ủa ba lấy khăn này ở đâu vậy? - Thì ba giữ từ bữa đó đến giờ. - Nhưng... mới hồi nãy... Anh đành phải kể lại chuyện gặp Quế Anh lúc nãy cho cha mẹ nghe. Vừa nghe xong, họ đều hốt hoảng: - Không xong rồi! Họ lặng người đi rất lâu với bao nỗi hoang mang trong lòng... *** Khi đoàn nhà trai tới thì Quế Anh đã mất tích hơn nửa ngày rồi. Lúc đầu, trong nhà cứ ngỡ cô nàng bỏ đi đâu đó rồi về, nhưng khi có người báo tin thì mọi người mới tá hỏa:- Đôi hài cô Quế Anh mang còn nằm trên xuồng, mà chẳng thấy cô ấy đâu. Chuyện Quế Anh tuy là người ở vùng sông nước mà chỉ biết bơi lõm bõm là điều ai trong nhà cũng hiểu, bởi vậy bà Cả lo sốt vó: - Tụi bay chia nhau đi tìm kiếm nó coi! Trời ơi, tôi đã nói rồi, phải để mắt tới nó trong mấy bữa này mà... Bà định nói gì đó nhưng thấy nhiều người quá nên thôi, đợi một lúc khi đã kéo ông chồng ra ngoài rồi, bà mới nói: - Hay là ông rầy la gì nó nữa? Ông Cả trợn mắt nhìn bà: - Có bà ép nó vụ con trai chủ nhà máy xay lúa thì có! Tôi đã nói rồi, hôm nay thì bên cánh Phán Hòa qua tới và lễ hỏi cử hành rồi, còn nói tới lui nỗi gì nữa, bà cứ không nghe... Bà lừ mắt nhìn ông: - Chưa nhận sính lễ thì đâu có gì phải lo! Vả lại tôi cũng phân tích lợi hại cho nó nghe thôi, chứ có ép uổng gì đâu! - Cái giọng điệu chì chiết của bà thì còn hơn là ép uổng. Mà hỏi thật, con trai thằng chệt Tỷ thì có gì hay ho đâu mà bà ham vậy chứ? Bà cũng thừa biết là con Quế Anh nhà mình nó ghét cay ghét đắng loại người đó nên mỗi lần bà nhắc tới là nó tìm cách bỏ đi, vậy mà chiều hôm qua bà vẫn còn oang oang cái miệng! Bây giờ bà có khóc thì cũng trễ rồi, xuống hà bá mà tìm nó! Ông nói xong bỏ đi thẳng xuống bến rồi mất dạng luôn. Bà Cả vừa lo lắng vừa rối trong lòng. Khi vợ chồng Phán Hòa và Đức bước vào nhà thì bà mai Lệ mới thay mặt giải thích: - Chẳng biết cô Quế Anh đi đâu mà từ đầu hôm qua tới giờ chưa về? Bà Phán Hòa nói liền: - Hay là nó bị như mình thấy? Nghe bà nói vậy bà Cả hỏi dồn: - Chị thấy nó ở đâu? Đức phải đỡ lời cho mẹ: - Dạ... tối qua má con chiêm bao thấy Quế Anh, chứ đâu phải... Nãy giờ không để ý, giờ nghe Đức lên tiếng, bà Cả quay sang anh: - Hôm qua nó một hai nói đi tìm con, đúng vậy không? Đức ngơ ngác: - Đâu có bác! Nhưng mà... Nhớ lại chuyện đêm rồi, Đức kêu lên: - Đúng rồi, người của Quế Anh đẫm nước, cô ấy ngã xuống sông rồi! Bà Cả càng quýnh hơn: - Sao nãy giờ con không nói! Hầu như mọi người dự lễ hỏi đều chia nhau đi tìm Quế Anh. Đức ngồi riêng một xuồng nhỏ, anh vừa bơi dọc con sông vừa khấn: - Xin cho tôi tìm được cô ấy, rồi muốn chuyện gì tôi cũng chịu! Lời anh vừa dứt thì bất chợt ngay phía sau lưng anh có người lên tiếng: - Người chung tình như vậy, thảo nào người ta không chết mê chết mệt! Quay nhanh lại, Đức sửng sốt kêu lên: - Kìa, cô! Đang ngồi chung xuồng với Đức lúc ấy là... Kiều Oanh, cô gái bị ói trên xe đò! Cô nàng cười rất tự nhiên và giải thích sự có mặt của mình: - Người ta xuống xuồng mà không hay biết gì hết! Đúng là lúc lòng dạ đang nghĩ và lo lắng cho ai đó thì đâu còn chú ý gì nữa chung quanh! Đức chống chế: - Lúc lui xuồng ra đâu thấy cô? - Cái đầu anh bận nghĩ tới cô Quế Anh thì đâu cần gì thấy ai khác! Mà sao mọi người mãi đi tìm ở dọc con sông này, lỡ cô ấy không ở đây thì sao? Đức nhìn sững cô nàng: - Sao cô biết Quế Anh? Cô nàng vẫn giữ nụ cười bí hiểm trên môi: - Xứ Thốt Nốt này nhỏ xíu, mà vợ chưa cưới của anh lại đẹp và nổi tiếng khắp vùng, ai mà chẳng biết! Với lại anh quên là tôi cũng là người xứ này sao? - Tôi quên... Anh chưa kịp hỏi thêm là tại sao cô nàng leo lên xuồng mình, thì Kiều Oanh đã chỉ tay về bên trái và nói: - Anh rẽ về phía này đi. - Chi vậy? Nàng ta nghiêm giọng: - Anh có muốn tìm vợ chưa cưới của mình không? Đức còn đang ngơ ngác thì cô nàng đã giằng cây dầm, tự bơi vừa nói: - Anh cứ ngồi đó rồi sẽ biết. Thái độ của cô nàng khiến Đức quá đỗi ngạc nhiên. Hình như Kiều Oanh biết hết chuyện của anh, thậm chí chuyện Quế Anh mất tích? - Sao cô biết tôi và Quế Anh...? Nàng cười thành tiếng: - Nhà em ở đối diện nhà Quế Anh, chỉ cách con sông nhỏ. Hôm qua về tới đây em đã nghe nói chuyện Quế Anh sắp đám hỏi mà chưa biết lấy ai, cho đến khi thấy anh đi ghe có mâm quả tới thì em đã giật mình, không ngờ chú rể lại là anh! Đúng là suýt nữa em đã... Nàng nói tới đó thì ngừng ngang, không phải ngại mà chừng như sợ điều gì đó, mặt tự dưng biến sắc! Đức ngạc nhiên: - Cô sao vậy? Kiều Oanh càng cố bơi nhanh, cuối cùng đến một khúc cua của con sông, mà phía bên tay phải có một cái miếu lớn, cô chỉ lên và nói: - Anh mau lên đó thì rõ! Đức còn đang lừng khừng thì tự dưng có ai đó xô mạnh một cái khiến anh chúi nhủi suýt ngã. Quay lại tính cự, nhưng thấy cô nàng vẫn ngồi ở lái xuồng, tay đang giữ dầm, không có vẻ gì là vừa mới xô anh. - Sao cô xô mạnh vậy? Kiều Oanh gắt lên: - Không ai xô anh cả. Anh mau lên trên đó đi kẻo không kịp! Đức đành phải bước lên chỗ cái miếu. Từ xa nhìn thì nghĩ đây là một miếu hoang, khi lên tới gần mới thấy là nhang khói tỏa hương thơm lừng. Chứng tỏ miếu đang có người thờ cúng. Tuy nhiên khi nhìn kỹ thì ngoài mấy bát hương đang cháy và hai mâm trái cây tươi thì không có ai ở đó. Nhìn lên bệ thờ, bỗng Đức kêu lên: - Quế Anh! Rõ ràng là Quế Anh đang ngồi xếp bằng trên bệ thờ, mắt nhắm nghiền, vẻ mặt đờ đẫn khác thường... - Quế Anh! Đức kêu một tiếng lớn, Quế Anh mở mắt ra, rồi như thân cây đổ, cô nàng ngã ngang qua, nằm dài trên bệ thờ! - Quế Anh! Đức phải nhảy bổ vào đỡ lấy cô nàng, bởi lúc ngã thì thân người nàng nằm trên bát nhang đang cháy! Bế xốc Quế Anh lên, Đức chạy ngay xuống xuồng vừa định gọi Kiều Oanh tiếp một tay, nhưng nhìn chẳng thấy cô nàng đâu? - Cô Kiều Oanh ơi! Kêu mãi chẳng nghe trả lời, mà nhìn Quế Anh trong tình trạng đó Đức không thể chần chừ được, anh vội đẩy xuồng lui ra và bơi nhanh về nhà ông bà Cả. Vừa nhìn thấy anh chở con gái về, bà Cả gào lên: - Con ơi là con! Bà ôm chầm lấy con gái, thấy lạnh ngắt thì càng gào to hơn: - Con ơi, con có mệnh hệ nào thì má... Ông Cả nạt ngang: - Để yên cho người ta cứu nó coi! Đức giải thích sơ qua cho mọi người nghe rồi giục: - Mau thoa dầu làm ấm cho cô ấy đi! Mẹ anh hỏi nhỏ con: - Con gặp nó ở miếu mà mình mẩy có ướt không? Đức lắc đầu: - Không! Con thấy quần áo vẫn bình thường mà, chỉ có điều... Bà Phán nói bằng giọng lo lắng: - Mấy chiếc xuồng chài quả quyết là họ nhìn thấy Quế Anh lao mình xuống sông rồi mất tích luôn! Chuyện ấy xảy ra tối hôm qua lận, giống với thời điểm mà con nói gặp nó lạnh run trong vườn nhà mình đó! Đức ngẩn ngơ một lúc rồi nhẹ lắc đầu: - Không tin được những chuyện lạ lùng như vậy! Có thể là một điềm báo thì đúng hơn... Họ không có thì giờ để bàn thêm, vì lúc đó Quế Anh khi được thoa dầu thì có dấu hiệu hồi tỉnh. Cô nói ú ớ gì đó trong miệng không nghe rõ, nhưng mấy tiếng cuối cùng thì hình như có tên của Đức! Bà Cả gọi Đức: - Con hỏi nó coi, nói gì? Đức ghé sát vào Quế Anh hỏi đủ cho nàng nghe: - Em có nghe được anh nói gì không? Có phải em muốn nói gì với anh không, Quế Anh? Anh là Đức đây. Quế Anh chớp mắt mấy cái, nhưng vẫn im lặng... Nửa giờ sau vẫn như vậy. Quá sốt ruột nên bà Cả phải nhờ Đức: - Nó chưa tỉnh, nhưng xem ra chỉ có con là có thể giúp cho nó thôi. Má nhờ con ở lại đây đêm nay. Trong lúc nguy cấp này bà mới chịu dịu ngọt với Đức. Thật ra trong lòng Đức cũng không đành lòng nhìn Quế Anh như vậy, nên anh nhận lời ngay: - Con sẽ ở lại. Xin phép má để cho con ngồi đây một mình với em nó. Hình như Quế Anh không thích có đông người. Tối đó chỉ mình Đức ngồi bên cạnh canh cho Quế Anh ngủ. Thỉnh thoảng anh nghe cô ấy gọi khe khẽ tên mình và hai dòng lệ chảy dài hai khóe mắt. Không thấy ai bên cạnh nên Đức đưa tay nắm lấy nàng như một cách truyền hơi ấm. Đột nhiên Đức phát hiện trong lòng bàn tay của Quế Anh có một vật gì đó giống như đạo bùa chú bằng vải màu vàng. - Cái gì vậy? Đức hỏi khẽ và tất nhiên là không ai trả lời. Anh tiện tay lấy vật ấy đưa xem và giật mình! Bởi đó thật sự là một loại bùa chú gì đó rất lạ. Anh không suy nghĩ gì thêm, vội cầm vật lạ ấy thuận tay ném thẳng nó vào đĩa đèn dầu đang cháy. Một ánh lửa xanh bùng lên, cùng lúc với một tiếng thét thật to của Quế Anh! Vợ chồng ông Cả đang ở nhà trong vội chạy ra hỏi: - Chuyện gì vậy? Dĩa đèn dầu sau khi bùng cháy đã tắt tối đen, ông Cả giục gia nhân: - Tụi bay đốt đèn lên coi! Bà Cả thì hỏi lần nữa: - Chuyện gì vậy Đức? Chẳng nghe Đức lên tiếng, bà hoảng hốt: - Có chuyện rồi ông ơi! Khi đèn đốt sáng trở lại thì cả hai Quế Anh và Đức không còn đó nữa! - Trời ơi! Bà Cả chỉ kêu được mấy tiếng rồi ngất xỉu... Phần II Kiều Oanh lúc mê lúc tỉnh suốt cả đêm khiến cả nhà lo lắng, sợ hãi. Vào nửa đêm khi vừa tỉnh lại, cô đã chỉ tay qua bên kia sông mà la lên: - Đừng hại người ta, họ có làm gì đâu mà ác với họ quá lắm vậy! Ông bà Hai Tâm chẳng hiểu chuyện gì nên vội hỏi: - Con nói ai, Kiều Oanh? Nhưng cô nàng không trả lời, mà lại nằm xuống và rơi vào hôn mê như trước đó. Khoảng nửa giờ sau Kiều Oanh lại tỉnh lần nữa. Nhưng lần này thì giọng điệu khác hẳn: - Họ đã chết chưa? Sao không ai qua bên đó xem hai đứa nó ra sao rồi? Ông Hai Tâm hỏi: - Con nói họ là ai? Kiều Oanh chỉ tay qua chỗ ngôi nhà có đèn sáng bên kia sông: - Nhà đó đó! Bà Hai giật mình nói: - Đó là nhà ông Cả Sử, sao con lại... Kiều Oanh nghiến răng: - Phải để họ chết hết đi! Nói xong cô ta lại ngã ra và hầu như không biết gì nữa! Vợ chồng Hai Tâm lo lắng quá đỗi, bà nhớ lại chuyện tối qua, mà càng sợ thêm: - Chiều qua đang ăn cơm bỗng nó bỏ đi xuống bến rồi đi đâu chẳng hiểu, đến đêm mới về mình mẩy ướt đẫm, người lạnh cóng rồi sau đó thì mê man luôn! Đây là lần đầu tiên nó bị như vậy. Ông Hai thêm: - Ngay bữa ở Sài Gòn về nó đã có biểu hiện kỳ kỳ rồi... Cứ hỏi là có thấy thằng Hiếu tới thăm không? Mà thằng Hiếu thì đã chết mấy năm rồi... Bà Hai cũng nhớ lại: - Nó hầu như không nhớ gì chuyện thằng Hiếu đã chết, mà cứ sợ thằng ấy tới nhà tìm! Hình như nó bị cái gì đó ám hay sao mà tính tình thay đổi, chứ từ nào nó có như vậy đâu? Vừa khi ấy từ ngoài sân có người bước vào nhanh và hỏi oang oang: - Có chuyện gì vậy anh chị? Nhìn ra thì bà Hai reo lên: - Cô Tiên! Trời ơi, sao lại bất ngờ vậy? Ông Tâm cũng ngạc nhiên không kém: - Nghe nói cô ở bên Tây, về hồi nào vậy? - Mới về hôm qua. Sáng nay phải hỏi thăm mãi mới nhớ đường qua đây thăm anh chị. Bây giờ xứ mình thay đổi nhiều quá! Rồi bà ôm chầm lấy bà Tâm, ràn rụa nước mắt: - Sui gia hụt của em đây mà! Phải chi năm đó bên Pháp em không bị bệnh liệt giường và kịp về để lo đám cưới cho thằng Hiếu thì nó đâu có chết oan uổng như vậy! Bà Tâm chỉ tay lên bộ ván gỗ nơi Kiều Oanh đang nằm thiêm thiếp, nói: - Cũng từ khi thằng Hiếu chết đột ngột thì con nhỏ tôi cũng như người mất hồn, bỏ đi và ở biệt trên Sài Gòn, ít khi về đây. Người đàn bà mẹ của chàng trai tên Hiếu nhìn sang, chị thấy Oanh nằm quay mặt vào vách nên nói: - Từ ngày thằng Hiếu báo tin là ba nó tìm được cô gái nó ưng ý thì tôi chưa một lần gặp mặt con dâu tương lai, nghe nói con gái chị dễ thương và hiền hậu lắm phải không? Bà Tâm chép miệng: - Phải chi nó dậy được thì cô sẽ thấy... - Cháu nó bệnh gì vậy? - Có bệnh hoạn gì đâu. Tối hôm qua... Bà do dự một chút rồi kể lại mọi chuyện cho vị khách nghe. Nghe xong, bà ta tắc lưỡi: - Tội nghiệp không! Dẫu nó không trở thành con dâu của tôi, nhưng vẫn là người mà con trai tôi thương, nên tôi tính chuyến này về qua gặp anh chị để xin cho nó đi theo tôi qua Pháp. Tôi ở bên đó với đứa con gái đầu, bây giờ nó lấy chồng xa nên tôi ở một mình buồn quá. Con Kiều Oanh này mà chịu theo tôi thì qua bên đó sẽ có nhà giàu cưới nó ngay! Bà ta vừa dứt lời thì thật bất ngờ. Kiều Oanh bật dậy la lớn: - Đừng nói chuyện đó! Vị khách chợt nhìn thấy Oanh, bà ta kinh ngạc: - Thì ra là... là cô sao? Là... là... Vợ chồng Hai Tâm ngạc nhiên: - Cô Sáu biết con Oanh? Kiều Oanh cũng vùa nhận ra vị khách: - Bà... bà là người trên xe đò? Bà khách kêu lên: - Hôm qua tôi về cùng chuyến xe với nó mà đâu có biết! Trời ơi, mẹ chồng gặp nàng dâu mà nhìn như người lạ, tức cười chưa! Nhưng chợt bà khựng lại, lắp bắp hỏi: - Con... con lấy chồng hồi nào? Trong lúc Kiều Oanh còn ngơ ngác thì mẹ cô hỏi liền: - Cô nói gì vậy cô Sáu? Con gái tôi kể từ khi thằng Hiếu của cô chết, nó có ai đâu! - Có... Tôi mới gặp... Lời bà chưa dứt thì một lần nữa, Kiều Oanh lại ngã vật ra rồi trở lại trạng thái trước đó. Bà Tâm hốt hoảng: - Con! Con! Rồi bà quay sang trách: - Cô Sáu nói gì để nó mới tỉnh đã lại như vậy rồi! Bà mẹ của Hiếu ngập ngừng một lúc mới nói thẳng: - Hôm qua tôi về cùng chuyến xe với nó, nó ngồi băng sau kế tôi với... thằng chồng nó nữa. Giữa đường nó ói tới mật xanh mật vàng, cũng may là có thằng ấy nó lo. Thằng coi bộ được à, hiền hậu, đẹp trai và biết thương vợ nữa! Ông Tâm nãy giờ không nói, giờ phải chen vào: - Nhà tôi đã nói rồi cô Sáu, con Kiều Oanh chưa có gia đình! - Nhưng... Bà định nói tiếp thì bỗng ôm lấy đầu rồi phải ngồi xuống ghế mới không bị ngã. Bà ngạc nhiên: - Sao khi không tôi lại bị... Phải một lúc khá lâu, bà ta mới trở lại bình thường, nhưng lại tỏ ra sợ sệt điều gì đó. Bà kiếu từ: - Thôi, để bữa nào tôi trở qua thăm. Bữa nay tôi... tôi... Bà vừa nói vừa bước nhanh ra ngoài trước sự ngạc nhiên của vợ chồng Hai Tâm, bà hỏi chồng: - Bà ta nói gì hồi nãy vậy? Nói con Kiều Oanh nhà mình đi với ai trên xe? Ông Tâm nhìn lại chỗ con gái nằm và thở dài: - Ai mà biết... Lời ông chưa dứt thì bỗng Kiều Oanh thét to lên: - Anh Hiếu, đừng làm vậy! Rồi cô từ trên bộ ngựa gỗ nhảy gọn xuống và chẳng nói thêm gì, cắm đầu chạy một mạch ra ngoài! Bà Tâm gào lên: - Oanh! Con đi đâu vậy? Bà quay sang giục chồng: - Ông làm ơn chạy theo bắt nó lại coi, con nhỏ đang bị bệnh mà! Hai Tâm chạy khá nhanh, nhưng cũng không kịp, bởi Kiều Oanh đã nhảy xuống xuồng và bơi rất mau hướng qua sông. Chính ông Tâm nhìn theo thấy rõ ràng, con gái ông ngồi yên không hề chèo xuồng, vậy mà chiếc xuồng vẫn băng băng lướt tới như có ai đó đẩy hay kéo! - Oanh ơi, đừng đi, con mới biết lội, nguy hiểm lắm! Ông cũng nhảy xuống một chiếc xuồng khác bơi theo. Nhưng khi qua tới bờ bên kia thì không còn nhìn thấy xuồng của con gái nữa. Mà sông nước vùng này mênh mông, nhiều rạch, kênh chia nhiều hướng, biết đi theo đường nào? Cuối cùng ông cũng bơi đại theo con kênh phía tay phải. Trong khi đó thì chiếc xuồng chở Kiều Oanh đang phăng phăng tiến về gần cuối con sông nhỏ, nơi có ngôi miếu thổ thần bữa trước. Lần trước chính Kiều Oanh đã đưa Đức tới đây, nhưng cũng giống như lần này, cô không hề chủ động, cho nên khi nhìn lại cảnh cũ mà cô vẫn tỉnh như không. Cho đến khi cô chậm bước lên nhìn vào trong miếu lúc ấy chợt cô như hoàn hồn, kêu lên: - Trời ơi, đừng hại người ta! Trước mắt cô là hai người đang nằm dài trong miếu. Đó là Đức và Quế Anh! Cả hai trong tình trạng như say ngủ. - Đừng! Em nói đừng mà. Họ vô tội mà! Lúc ấy Kiều Oanh như đang giằng co với ai đó. Mặc dù cô đứng đó một mình. Phải đến khi cô lên tiếng rõ hơn: - Em lạy anh Hiếu ơi, người con trai này chỉ giúp em lúc em bị ói trên xe đò thôi, chứ anh ta nào phải là bồ hay chồng của em đâu! Anh hiểu lầm rồi... Cô nói chưa dứt lời thì đã nghe một cái tát mạnh vào má, Kiều Oanh lảo đảo rồi ngã sấp vào chỗ bày nhang đèn cúng trước miếu. Cô gào lên: - Anh quá đáng, chết rồi mà vẫn còn ghen tuông vô lý như vậy, bảo người ta chung tình với anh sao được! Lời nói này có tác dụng ngay, bởi liền lúc đó bỗng có tiếng rú lên của một người đàn ông và tiếp theo là tất cả những vật dụng, cây cối chung quanh đó đều bị ném tung lên, ngã đổ ngổn ngang. Nhưng tuyệt nhiên không thấy người gây ra chuyện ấy! Giữa lúc Kiều Oanh còn chưa kịp ngồi dậy thì có một bóng đen lao vút tới như một cơn giông bão! Chẳng kịp suy nghĩ, thuận tay Oanh chụp ngay chiếc bình bằng sành dùng cắm hoa quơ lên thật mạnh. Bốp! Một tiếng va đập thật mạnh vang lên, cùng lúc đó một tiếng rú kéo dài... Tiếng rú hình như là của một người đàn ông! Cùng lúc có một vật thật to ngã xuống. Đó là... một người toàn thân đầy máu! Kiều Oanh bật dậy và cô cũng kịp kêu lên: - Hiếu! Người đầy máu kia sau tiếng gọi tên của Kiều Oanh đã từ từ tan biến giống như một khối nước đá để giữa trời nắng! Chỉ nửa phút sau thì nơi đó chỉ còn lại một vũng nước sền sệt, đen ngòm... - Hiếu! Oanh lại gọi tên Hiếu một lần nữa với nỗi ân hận dữ dội, cô chỉ muốn chạy theo hướng mà cô đoán là Hiếu vừa rời khỏi. Nhưng vừa kịp lúc, nhìn lại, thấy hai người vẫn đang nằm im đó thì Oanh lại la lớn: - Hai người hãy đi ngay đi, anh ta có thể trở lại bất cứ lúc nào! Hãy xuống xuồng về ngay nhà đi, mọi việc ở đây để tôi lo! Lời cô vừa dứt thì Đức và Quế Anh cũng vừa tỉnh lại. Họ ngơ ngác nhìn quanh, đến khi thấy Kiều Oanh thì Đức hốt hoảng: - Cô là... người hay ma? Hôm trước cô đã... Kiều Oanh nói nhanh: - Đừng hỏi lôi thôi nữa, hay dẫn cô ấy trốn đi. Đúng là hôm trước tôi đã bị Hiếu sai khiến để dẫn dụ anh tới đây và hôm nay cũng thế, chính người yêu tôi vì ghen nên đã khiến tôi cùng tới đây để ra tay sát hại hai người, nhưng tôi không đành như vậy nên vừa rồi tôi đã làm tổn thương anh ấy, để anh ấy đi mà không biết đi đâu. Tuy nhiên, lúc này hai anh chị hãy đi đi, về nhà và lập tức cử hành ngay hôn lễ, động phòng hoa chúc ngay tối nay, như vậy mới có cơ may sống sót! Chứ người yêu tôi, anh Hiếu là một hồn ma ghen dữ dội, sẵn sàng giết cả hai người nếu còn cho anh chị chưa là vợ chồng với nhau. Mau đi đi, anh ta sẽ trở lại đây ngay bây giờ! Đức nhìn Quế Anh rồi không chần chừ, anh bế thốc người yêu lên, chạy nhanh xuống chiếc xuồng mà Kiều Oanh vừa mang tới. Ra sức bơi rất nhanh ra giữa dòng... Ở trong miếu một mình. Kiều Oanh bất thần chụp lấy mảnh sành bị vỡ lúc nãy và đâm thẳng vào hai mắt của mình, trước khi gục ngã xuống... *** Việc Đức và Quế Anh trở về đột ngột trong đêm đã là một bất ngờ của đôi bên cha mẹ hai người. Nhưng họ chưa bất ngờ bằng lời yêu cầu của chính Quế Anh:- Ba má cho tụi con làm lễ cưới ngay trong đêm nay đi, nếu không cả hai đứa con đều phải chết! Bà Cả trợn tròn mắt: - Con nói gì vậy Quế Anh? Lễ hỏi còn chưa cử hành, làm sao có thể... Đức vội giải thích: - Tụi con vừa bị nhốt ở miếu thổ địa, suýt chết bởi hồn ma, nếu không nhờ cô gái ấy cứu thì không toàn mạng về đây. Tụi con bị một hồn ma ghen dữ dằn, sẵn sàng giết chết nếu con và Quế Anh không thành vợ chồng trong đêm nay! Bà Phán Hòa nghe cũng không xuôi tai, bà hỏi lại: - Sao có chuyện kỳ lạ vậy? Mình đâu thể chiều theo... Bỗng Quế Anh sụp xuống, cô lạy cả hai bên cha mẹ: - Con xin cha mẹ hai bên, hãy cứu tụi con kẻo không kịp! Con lạy ba má... Đức cũng sụp xuống lạy y như vậy làm cho bốn ông bà già sững sờ đưa mắt nhìn nhau. Trong lúc họ còn đang lưỡng lự thì Quế Anh sắp sửa trở lại trạng thái cũ, cô co rúm người như sắp hôn mê. Ông Cả hốt hoảng: - Không xong rồi bà ơi! Mau... mau cho tụi nó... Sau khi hội ý chớp nhoáng, hai bên cha mẹ đồng ý cho làm lễ lạy gia tiên ngay trong đêm và âm thầm khấn vái: - Ở thế chẳng đặng đừng nên buộc lòng chúng con phải chấp nhận cho tụi nó làm chuyện này... Kể từ bây giờ tụi nó được là vợ chồng của nhau, xin ơn trên độ trì cho mọi điều tốt đẹp... Sau khi lễ lạy gia tiên xong, chính Quế Anh giục Đức rất khẽ: - Mau đi... Nửa đêm hôm đó, có lẽ lúc ấy chuyện động phòng của hai người đã qua, bất chợt ở phía sau vườn có một tiếng gầm rú chẳng khác con mãnh thú bị thương nặng! Quế Anh là người run sợ hơn ai hết, cô rúc vào lòng Đức vừa thều thào: - Lại nữa rồi! Đức cũng hiểu đó là oan hồn, giống như anh và vợ đã gặp lúc ở miếu thổ thần. Nhưng chẳng còn cách nào hơn, anh cố trấn an: - Không sao, nếu chết thì cùng chết! Nhưng họ chờ rất lâu mà chẳng có việc gì xảy ra... Tiếng hú cũng không vang lên nữa. Cho đến gần sáng, trong lúc mọi người đang ngủ say thì chỉ mình Đức nghe được một tiếng khóc bên ngoài cửa sổ vọng vào. - Ai? Đức sợ làm cho Quế Anh tỉnh giấc nên anh nhẹ bước một mình, bước đến gần cửa sổ nhìn ra. - Kiều Oanh! Rõ ràng Kiều Oanh đang ôm ngang đôi mắt đầy máu, nói vọng vào vừa đủ cho Đức nghe: - Anh cầm lấy vật này và cùng với quần áo hai người mặc ban chiều hãy đốt ngay, bởi tất cả đã bị ma nhập, mặc vào lại sẽ vong mạng ngay! Đức đón lấy vật mà cô gái vừa ném vào, anh nhận ra đó là chiếc lược cài tóc của Quế Anh. Anh chưa kịp hỏi thì nàng ta đã tiếp lời: - Trước đây cô Quế Anh làm rơi chiếc khăn quàng và lọt vào tay Hiếu, anh ấy đã dùng vật ấy để khống chế, sai khiến cô Quế Anh, suýt nữa cô ấy đã thành ma rồi! Bây giờ phải giữ kỹ mọi thứ, chờ đến khi nào tôi tới nơi đã, lúc đó mới yên... Nàng ta nói dứt lời thì cắm đầu chạy rất nhanh về phía bờ sông, Đức hiểu là cô nàng còn sống, nên quên cả hiểm nguy, vội đuổi theo. *** Đức rất bất ngờ khi nhìn thấy trước mặt mình là một ngôi nhà khá lớn, nơi mà Kiều Oanh đã chạy vào mấy giây trước đó. Nhà của ai? Đó là câu hỏi mà Đức đang hoang mang và chưa có câu trả lời, bởi với anh thì nơi này hoàn toàn xa lạ...Anh không định đột nhập vào trong, nhưng nhìn thấy Kiều Oanh ôm mặt đầy máu chạy vào đó trong trạng thái gần như không thấy đường đi, Đức tức tốc đuổi theo nhanh hơn. Anh lọt vào phía sau ngôi nhà lớn như cái dinh thự mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Cho đến khi... - Thưa bà, những gì bà dặn lâu nay con luôn làm đúng. Ngôi nhà này dẫu không ai ở, nhưng con vẫn hằng ngày quét dọn tươm tất, các phòng ngủ của bà, của các cô cậu ngày trước con vẫn chăm sóc như trước đây. Đặc biệt là phòng cậu Hiếu, mỗi ngày con đều thay bình hoa mới, thay áo gối, thay drap nệm hai ngày một lần. Nhưng lạ quá bà ơi... Đó là những lời của Ba Tiền, người quản gia lâu năm của gia đình Phủ Xuân, chủ nhân ngôi nhà đồ sộ này, anh ta nói với một người phụ nữ mà vừa thoạt nhìn thấy Đức đã suýt kêu lên, bởi đó chính là người đàn bà đã mua cho Kiều Oanh lon sữa lúc ở trên xe đò! Nhờ đứng trong bóng tối, nên Đức không bị phát hiện và nhờ vậy anh tiếp tục nghe được câu chuyện giữa hai người. Ba Tiền hạ thấp giọng như sợ người ngoài nghe: - Từ ngày cậu Hiếu chết, đêm nào con cũng nghe có tiếng hát và thổi kèn Tây từ phòng cậu vọng ra! Rồi áo gối, hay drap trải giường, cứ hai ngày con thay theo lời bà dặn thì đều thấy gối bị dơ, drap nhăn nheo và... có mùi mồ hôi! Riêng cơm nước bà dặn con dọn cho cậu mỗi ngày ở ngoài nhà mồ, con đã làm y như vậy và... hầu như bữa nào cậu ấy cũng ăn sạch! Lúc này bà Sáu Anna, tên người phụ nữ, kinh ngạc: - Có phải chú quá sợ nên không dám vào nhà mồ rồi để cho chó mèo gì lẻn vào ăn hết chứ gì? Ba Tiền cãi liền: - Dạ không phải đâu bà? Nhà mồ kín như bưng, một khi đóng cửa lại thì con gián, con ruồi vào cũng không được, làm gì có mèo chó! Chính cậu Hiếu ăn đó bà! Tuy Hiếu là con của bà, nhưng bà Sáu Anna nghe nói vậy cũng bắt rùng mình! Bà nhìn sững Ba Tiền rồi run run giọng hỏi lại: - Ngoài ra nó có phá phách gì không? - Dạ có! Nhất là cách đây mấy ngày, đúng vào lúc bà về đây thì ngày nào cậu ấy cũng... nhậu nhẹt say khướt rồi đập phá nhà mồ lung tung! Con muốn báo cho bà hay nhưng e bà sợ nên chưa dám nói... Rồi anh ta lại hạ thấp giọng hơn: - Mà hình như cậu ấy ghen hay sao đó! Con nghe cậu cứ kêu tên người con gái nào đó là Kiều Oanh rồi gầm thét dữ dội! Tối nay, lúc con bưng mâm cơm xuống thì cũng vừa lúc cậu ấy tung cửa chạy ra, suýt nữa đã xô con ngã! Không biết giờ này đã về chưa nữa... Bà Sáu Anna hơi chùn bước, vừa nói: - Lâu ngày tao không về thăm nó, chẳng biết nó còn nhớ không? Lỡ nó lên cơn điên như vậy có sao không? Ba Tiền trấn an bà: - Bà là mẹ cậu ấy mà, làm sao cậu ấy dám làm gì! Nhờ được khích lệ nên bà Anna mới dám theo Ba Tiền bước vào nhà mồ. Anh ta giải thích thêm cho bà nghe về ngôi nhà mồ này: - Bà biết không, lúc cậu Hiếu chết thì ông nhà cũng còn khỏe, nên ông quyết định đứng ra tự trông coi việc xây ngôi nhà mồ này! Mà chẳng hiểu sao ông lại cho xây đến hai cái huyệt trong này? Một cái thì đã dành chôn cậu ấy rồi, cái còn lại con có mạo muội hỏi thì ông đã nói một câu rất khó hiểu là "để chôn con vợ nó!", mà làm gì cậu Hiếu có vợ? Bà Anna bỗng kêu lên: - Con Kiều Oanh! Ba Tiền ngơ ngác: - Bà nói Kiều Oanh là ai? Sao trùng với cái tên mà cậu Hiếu cứ gọi hoài mấy hôm nay? - Con nhỏ đó... thật tội nghiệp! - Bà nói ai? Bà Anna gạt ngang: - Mày không hiểu đâu, đừng hỏi! Lúc này hai người đã mở cửa nhà mồ bước hẳn vào trong. Tối đen như mực, cho đến khi Ba Tiền bật đèn pin lên, anh ta nói khẽ: - Có cây đèn măng-sông ở chỗ kia, để con đốt lên. Đây là lần đầu tiên bà Anna bước vào đây, và mặc dù biết đây là nơi chôn con trai mình nhưng bà cũng nghe lạnh người, đứng yên một chỗ không dám bước tới. Khi đèn măng-sông cháy sáng lên thì Ba Tiền giục: - Bà bước vào đây, mộ của cậu Hiếu kia! Anh ta vừa dứt lời thì bỗng thét lên một tiếng, suýt nữa đã làm rơi cây đèn đang cầm trên tay! Trước mắt anh, có một người con gái đang ngồi trong cái huyệt trống. - Bà... bà... Bà Anna cũng đã thấy, bà chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi ngã người trên sàn! Lúc ấy cô gái tuy không thấy được người chung quanh, nhưng cô vẫn còn tỉnh táo để lên tiếng: - Con là Kiều Oanh đây! Con tới với anh Hiếu để cho anh ấy thấy là con không phản bội anh ấy, con vẫn mãi mãi ở bên anh ấy! Con là vợ của anh ấy mà... Bà Anna bừng tỉnh, bà kêu lên: - Kiều Oanh! Sao... sao cháu như vậy? Lúc ấy, bà đã nhìn rõ hai hốc mắt đầy máu của Oanh! - Con phải lấy đi đôi mắt của mình trước khi chết theo anh Hiếu, để anh ấy thấy rằng ngoài anh ấy ra con chẳng muốn nhìn một ai nữa! Hãy nói với Hiếu, Kiều Oanh này không bao giờ một dạ hai lòng... Lời vừa dứt thì nắp huyệt cũng vừa đóng sập xuống, nhốt trong đó một cô gái tuổi thanh xuân! Cũng đồng thời lúc ấy, bà Anna và Ba Tiền như bị ai đó nhấc bổng lên và ném nhanh ra ngoài. Khi họ chưa kịp bò dậy thì đã nghe rầm một tiếng, nhìn lại đã thấy cánh cửa nặng nề của ngôi nhà mồ bị đóng chặt lại! - Trời ơi, Hiếu! Bà Anna gào lên, cố gắng dậy và chạy tới nắm chốt cửa kéo ra, nhưng vô vọng, cửa đã bị khóa chặt bên trong! Lúc đó đêm đã dần khuya. Vầng trăng trên đỉnh đầu bắt đầu ngả về hướng tây, lạnh lùng soi ánh sáng mê ảo xuống khu nhà mồ, tạo thành một khung cảnh nửa hư nửa thực, khiến cho Ba Tiền vốn lâu nay đã quá quen thuộc với hình ảnh này cũng phải bắt rùng mình! Anh run run giọng hỏi bà chủ: - Rồi mình phải làm sao với cô Kiều Oanh đây bà? Bà Anna chỉ biết buông một tiếng thở dài và im lặng... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 33
YÊU NGƯỜI CÕI CHẾT Lần thứ hai, khi sợi dây câu chùng xuống thì Phi đã rút kinh nghiệm không giật lên ngay như lần trước, mà để cho đầu cần câu nặng hơn rồi mới giật mạnh! Sức trì rất mạnh, Phi phải lấy lại tư thế để không bị mất thăng bằng, anh buột miệng: - Con này to hơn! Lúc nãy anh đã bị sẩy một con khi đã giật lên khỏi mặt nước, nên lúc này Phi quyết không để bị hụt lần nữa, anh cố ghì chặt tay một chỗ để cho lưỡi câu bám sâu vào mép con cá. Mặc dù vậy, hình như con cá bị mắc câu cũng đáo để lắm, nó kéo sợi dây câu chạy vòng vòng dưới mặt nước. Sức mạnh của nó khiến Phi đôi lần tưởng chừng không giữ nổi con cá. Anh ghì mạnh thêm một chút, và lúc ấy con cá từ dưới mặt nước vọt thẳng lên cao làm cho Phi phải kêu lên: - Trời ơi, lớn quá! Con cá dính câu lớn đến ngoài sức tưởng tượng của Phi và cả những người đậu ghe gần đó. Họ la lên: - Quấn cần câu vào gốc cây chịu nó lại! Phi chưa kịp làm thì một lần nữa con cá lại vọt lên như chọc tức anh và rồi... dây câu nhẹ tênh! - Sẩy rồi! Phi kéo vội sợi dây câu lên và chán nản lầm bầm: - Đứt dây rồi! Sợi dây câu bị đứt ngang, mất luôn lưỡi câu! Phi vứt luôn cần câu, đứng ngay dậy trước sự tiếc rẻ của mấy người chung quanh, họ bảo: - Cậu sát cá lắm, nối lưỡi câu câu tiếp đi! Nói thật, tụi tôi ở xứ này mà câu cả chục năm nay chưa từng có được con cá cắn câu nào lớn đến như vậy! Chỉ tại dây câu nhỏ quá thôi. Hay là cậu đổi dây câu lớn của tôi đây mà câu... Nhưng Phi vẫn lắc đầu: - Không đến quá tam ba bận đâu, thôi tôi về đây! Anh lên xe đạp đi thẳng. Tiếc thì có tiếc hai con cá câu hụt, nhưng đã xác định đi câu chỉ để giết thì giờ, nên vài phút sau thì Phi đã quên chuyện câu cá và ghé vào quán nước ven sông mà từ hôm về đây tới nay ngày nào anh cũng ghé qua. Không phải bởi thức uống ngon hay khung cảnh nên thơ, mà chỉ vì cô chủ quán... Sống ở thành phố lâu năm, quen nhiều cô gái đẹp, nhưng phải công nhận là chưa bao giờ Phi nhìn thấy một cô gái nào xinh xắn và quyến rũ đến lạ thường như cô gái này! Vừa dừng xe lại thì Phi đã nghe từ trong quán có tiếng nói vọng ra: - Cậu làm cho người đẹp giận rồi! Phi bước vào quán và hỏi ngay: - Mỹ Lan đâu? Chị chủ quán nghiêm giọng: - Nó giận cậu nên từ sáng tới giờ không ra bán. Giận thật đó! Phi ngạc nhiên: - Em đâu có làm gì mà giận? - Chuyện cậu đi câu cá! Hôm qua cậu nói sáng nay đi câu cá là nó giận liền, bỏ bán luôn cả buổi tối! Phi phân trần: - Đi câu là thú vui của em mà, cô ấy cũng biết, sao lại giận... - Nhưng tôi nghe cậu hứa với nó là bỏ câu, nên hôm qua nghe cậu quyết đi câu bữa nay, nó đùng đùng bỏ về luôn, cho tới giờ này vẫn không ra! Con nhỏ này tính khí nó vậy đó, hễ ai làm không vừa lòng là bỏ luôn không nói chuyện nữa. Đặc biệt là cậu... Bà chủ quán biết giữa vị khách trẻ này và cô gái phụ bán với mình có cảm tình đặc biệt với nhau, mà ý bà cũng tán đồng chuyện đó, nên ngầm vun vén cho họ. Mỹ Lan là cô gái hiền lành, đẹp người, đẹp nết nên hầu như khách khứa tới quán đều mến mộ cô nàng, trong số đó có không ít những tay chơi, những tay hiếu sắc, nên khi thấy Lan và Phi thích nhau thì bà ngầm hài lòng. Bà thương Mỹ Lan như con nên muốn được một người như anh chàng Phi này để gọi là cháu rể! Đã thất vọng vụ con cá, giờ lại thêm nỗi thất vọng lớn hơn, nên Phi không buồn ngồi lâu, anh vừa sửa soạn đứng lên thì bà chủ quán ghé tai nói nhỏ: - Cậu đi vòng ra cửa sau, con Mỹ Lan nằm dưỡng bệnh trong đó! Phi giật mình: - Cô ấy bị sao vậy? - Nó bảo giấu, nhưng với cậu thì tôi nói, nó bị ngã dập cái môi hơi nặng! Không đợi bà ta nói thêm, Phi đã bỏ xe đạp đó, chạy một mạch vòng ra cửa sau cách đó không xa. Đây là nhà riêng của bà chủ quán nên ngoài bà thì không còn ai, ngoại trừ một người mà bà cho biết đang nằm trong đó. - Mỹ Lan ơi! Một tiếng thảng thốt từ bên trong: - Đừng vào! Nhưng Phi đã bước nhanh vào nhà, vừa kịp nhìn thấy Mỹ Lan mới quay mặt vào trong, tay còn che miệng: - Em bị sao vậy? - Đừng... đừng nhìn! Cô nói xong thì bước hẳn vào trong, nói với ra: - Anh về đi, để em nghỉ ngơi! - Nhưng mà... Giọng nàng gắt lên: - Anh về đi kiếm mấy con cá của anh đi! Cửa phòng bên trong đóng sầm lại. Phi không còn cách nào khác, anh lững thững bước ra. Anh gặp bà chủ quán ở bên ngoài, bà nói khẽ với Phi: - Cậu yên tâm về đi, để rồi chị tìm cách nói cho. Con nhỏ coi bộ "kết" cậu lắm rồi đó, vậy liệu mà tính tới đi... Đồng ý không, chị ủng hộ! Phi cười nửa muốn gật đầu, nhưng nửa còn ngượng... Hiểu ý, bà chủ quán bảo: - Cậu về đi rồi nếu tối nay có rảnh thì mua mấy hộp sữa tới cho con nhỏ bồi dưỡng, nó bỏ ăn từ sáng đến giờ! Phi đạp xe về chỗ trọ mà lòng cứ lo lo... Chẳng hiểu Mỹ Lan bị thương tích thế nào mà cô nàng có vẻ khó chịu bẳn gắt? Khi về tới nhà rồi, anh nghe người chủ nhà trọ bảo: - Lúc nãy có một cô gái trẻ lắm tới đây, cô ấy bảo tôi đưa cậu cái này rồi đi liền. Phi tiếp nhận gói giấy và mở ra xem ngay. Anh giật mình kêu lên: - Trời ơi! Ông chủ nhà ngạc nhiên: - Gì vậy cậu? - Dạ... dạ không. Mà cô gái đó đi lâu chưa? - Lâu rồi. Tôi có để ý xem cô ta đi hướng nào, nhưng bước ra thì cô ta đã biến đâu mất! Phi nắm chặt vật trên tay, anh sững sờ. Bởi đó là chiếc lưỡi câu anh vừa bị đứt lúc giật con cá lên! Sao nó lại ở đây? Không để lão chủ nhà nhìn thấy, Phi bước hẳn vào phòng mình rồi mới lấy chiếc lưỡi câu còn dính một khúc dây câu ra xem lại. Không thể lầm được, chiếc lưỡi câu do chính Phi giũa lại lưỡi cho nhọn hơn, đúng là chiếc này! - Kỳ lạ... Phi cứ lầm bầm mãi, cho đến khi trời vừa chập choạng tối thì anh lại đạp xe ra ngoài. Mua năm hộp sữa, một chục trứng gà, Phi mang tới quán ven sông. Nhưng chưa kịp vòng ra sau nhà thì bà chủ quán đã chặn anh lại và bảo: - Không biết đi đâu mà nó ra ngoài từ khi trời còn nắng. Đi về hướng chỗ cậu câu cá hồi sáng... Phi gửi trứng và sữa ở đó, rồi đạp nhanh theo hướng bà ta chỉ. Chỗ bờ sông mà buổi sáng dân câu cá hay ngồi câu bây giờ vắng lặng, không một bóng người, không một tàu ghe nào neo đậu. Phi vừa muốn trở về thì bất chợt anh nhìn thấy mộc bóng người từ dưới sông bước lên, cái bóng quen quen... - Ai mà giờ này... Phi có chủ ý nên bám theo mà không gây tiếng động. Người kia sau khi bước từ mé nước lên đã đi thẳng lên bờ và dừng lại giũ quần áo cho khô, trước khi bước đi rất nhanh. Phi bám sát theo và anh thảng thốt kêu lên: - Mỹ Lan! Tiếng kêu của Phi không lớn lắm, nhưng hình như cô nàng nghe được, bởi vậy rất nhanh, cô ta đi như chạy và chỉ phút chốc là đã biến mất ở phía cuối đường. Phi tức tốc đuổi theo và mặc dù anh cố đạp xe khá nhanh, nhưng vẫn không làm sao thấy được nàng ta đi hướng nào? Anh phải quay trở lại quán. Nghe kể lại thì bà chủ quán sau một lúc suy nghĩ đã bảo: - Hay là cậu thử đi tìm nhà ba mẹ của nó coi. - Ở đâu vậy chị? Bà chủ quán lắc đầu: - Từ lúc tới quán làm nó chỉ nói là trú ngụ ở làng chài ven biển phía Gò Công, biển Tân Thành thì phải, còn cụ thể thế nào tôi cũng không rõ. Cậu chờ đến mai xem sao rồi hãy đi. Không thể chờ qua một đêm, nên ngay tối hôm đó Phi đã ra bến xe đò mua vé đi Gò Công. Xứ này có lần anh đã tới, nên dù trời mới mờ sáng Phi cũng đi ngay ra phía biển... Dò hỏi mãi, cuối cùng Phi cũng tới được làng chài ven biển Tân Thành. Chỉ vài trăm nóc nhà, nhưng việc đi hỏi tên một cô gái mà mình mới quen, đã rời xứ đi tha hương là một việc vô cùng khó khăn. Phi đã hỏi trên một chục nơi, nhưng ai cũng lắc đầu bảo: - Ở đây đâu có ai tên Mỹ Lan mà cỡ tuổi đó! Phi vẫn kiên nhẫn lần dò hỏi thêm, và trời cũng còn thương anh khi một bà lớn tuổi xác nhận: - Ở xóm trên có một đứa con gái tuổi đôi mươi tên đó, nhưng hình như không có ở nhà. Phi mừng quá hỏi tới: - Nhà chỗ nào bác? Ba má cô ấy tên gì? Bà lão tốt bụng, sốt sắng chỉ: - Cậu đi lên xóm chài phía trên, hỏi nhà Tám Ri làm nghề cào nghêu, đó là nhà cha mẹ con nhỏ tên Mỹ Lan. Mừng quýnh, Phi đi nhanh tới đó và gặp ngay một người đàn ông có gương mặt khắc khổ đang đứng trước nhà, anh hỏi: - Bác cho cháu hỏi, đây có phải nhà bác Tám Ri không? - Tôi là Tám Ri đây. Cậu là ai mà biết tôi? - Dạ, may quá, cháu đã đi tìm nhà bác từ sáng tới giờ! Bác cho cháu hỏi thăm, chẳng hay cô Mỹ Lan có về đây không? Người đàn ông nhìn sững Phi, môi ông ta mấp máy: - Cậu... cậu kiếm... Mỹ Lan? - Dạ, cháu là bạn của cô ấy, cháu... - Cậu biết nó lâu chưa? - Dạ mới đây... Ông chụp lấy vai Phi lắc mạnh: - Cậu gặp nó ở đâu? Nó còn sống phải không? Thấy ông hỏi dồn dập, Phi phải nói rõ ràng hơn: - Dạ, chỉ mới hôm qua thôi, cô ấy còn gặp cháu. Ông già reo lên: - Trời Phật còn thương tôi rồi! Mỹ Lan ơi, ba cứ tưởng... Ông chợt kéo tay Phi lôi tuột vào nhà, chỉ tay lên bàn thờ giữa nhà: - Tôi thờ nó đó! Phi sửng sốt: - Sao lại thế này? Kéo ghế mời Phi ngồi, giọng ông chủ nhà đầy xúc động: - Cách đây gần hai năm, trong lần ngồi xuồng đi cào nghêu với tôi, con Mỹ Lan bị sóng vỗ làm lật xuồng, nó rớt xuống sông rồi mất tích luôn! Sau bao ngày tìm kiếm mà không thấy xác con, tôi cứ nghĩ là nó đã chết chìm và xác đã giạt ra biển, nên về nhà làm lễ cầu siêu cho nó và thờ cho đến nay. Trời ơi, đúng là cậu mang tin lành đến cho gia đình chúng tôi! Vậy cậu hãy nói cho tôi biết, nó đang ở đâu? Phi cũng vui lây với ông già, anh bảo: - Ở bên Hàm Luông. - Bến Tre hả? Đúng rồi, nó rớt xuống nước rồi trôi giạt qua bên đó mà tôi không nghĩ ra, cứ tưởng nó trôi ra biển mất xác! Rồi ông chỉ lên tấm ảnh thờ lần nữa và nói: - Sinh nó ra được có nửa tháng thì má nó bệnh sản hậu mà chết. Tôi đã ẵm đi cho bú nhờ mà nuôi nó tới khôn lớn. Không ngờ con nhà nghèo mà con nhỏ càng lớn càng đẹp ra, đẹp đến nỗi tôi phải lo... Cậu có nghe người ta nói hồng nhan bạc phận không? Thấy nó đẹp bất thường nên nhiều người trong làng này đã đôi lần quở, sợ e nó khó sống thọ! Tôi thương con nên rất ghét ai nói như vậy, tuy nhiên cũng cứ phập phồng lo sợ hoài. Cho đến khi xảy ra vụ chìm xuồng đó thì tôi lại càng nghĩ thiên hạ nói đúng, tôi khóc hết nước mắt luôn! Nhìn ảnh chân dung trên bàn thờ Phi bất giác nói: - Chưa chết mà đã được lên đó ngồi rồi, Mỹ Lan sẽ bất tử cho bác coi! Ông già cũng vui lây: - Chết hụt thì khó mà chết nữa lắm! Cám ơn trời Phật. Ông mau mắn bước ra cửa vừa bảo Phi: - Cậu ngồi chơi đợi tôi một lát, tôi chạy đi bắt con gà làm thịt mình ăn mừng! Tính cản, nhưng trước niềm vui lớn của ông già, Phi phải chấp nhận. Lát sau, khi đã ngồi vào bàn ăn rồi anh mới nói thật: - Tuy cháu mới gặp Mỹ Lan hôm trước, nhưng do cô ấy giận cháu nên bỏ nhà trọ đi đâu chưa rõ... Ông già vẫn lạc quan: - Cũng chẳng đi đâu mà lo. Con gái mà, giận đi quanh quẩn đâu đó rồi sẽ quay về thôi! Sẵn đang vui trong lòng, ông buông đũa và bước vào nhà trong lấy ra một cuốn sổ bìa dày, đưa cho Phi xem: - Cậu coi, con nhà nghèo, học chỉ mới đệ thất rồi nghỉ, vậy mà nó viết chữ đẹp còn hơn là mấy đứa học tú tài nữa! Phi giở từng trang sổ ra, anh thấy tiêu đề là lưu bút thì khá thích thú, bởi ít ra anh cũng hiểu được đôi chút về cô gái này. Anh lật tiếp trang kế và lần này kêu lên: - Sao kỳ vậy bác? - Chuyện gì vậy cậu? Phi ngỡ mắt mình đọc lầm, nên đọc lại lần nữa dòng chữ viết nắn nót: "Nếu người đó có duyên ắt sẽ biết đường mà tới nhà mình! Hãy tới đi Phi ơi!". Phi đưa cho ông già xem và hỏi nhanh: - Lúc còn đi học cô ấy có quen ai tên Phi không? Ông già Tám lắc đầu đáp ngay: - Không bao giờ! Con gái tôi từ nhỏ tới lớn, đến chết, chưa bao giờ quen với đứa con trai nào cả! - Vậy tại sao... Anh đưa cuốn lưu bút cho ông già xem và nói: - Cháu cũng tên Phi. Nhưng quyển lưu bút này viết cách đây mấy năm. Lúc đó cháu và Mỹ Lan nào có quen biết nhau? Ông Tám vừa nhìn thấy dòng chữ cũng kêu lên kinh ngạc: - Sao kỳ lạ vậy? Ông lại nhìn Phi và hỏi gặng: - Đúng là cậu mới quen với con Mỹ Lan gần đây hả? - Dạ đúng, chính xác là chỉ mới gần một tháng nay thôi. Vậy tại sao có chuyện trùng hợp lạ lùng thế này? Bác nhớ kỹ lại coi, trong đám bạn của Mỹ Lan ngày xưa có ai tên Phi không? Ông Tám vẫn quả quyết: - Hoàn toàn không! Phi đánh bạo đề nghị: - Bây giờ biết chắc là Mỹ Lan còn sống, vậy có thể nào bác cho con mượn tấm ảnh thờ này được không? Con chỉ mượn thôi, rồi sẽ đem trả lại bác sau này... Tám Ri cũng có cảm tình với chàng trai này, nên ông gật đầu ngay: - Được, cháu cứ lấy đi. Bây giờ ăn xong mình đi qua Hàm Luông liền. Tôi sẽ lấy ghe đi cho tiện. Phi ôm bức ảnh trong lòng mà lâng lâng nhiều cảm xúc... *** Bà chủ quán lắc đầu nói: - Từ hôm cậu đi tới nay tôi không thấy con Mỹ Lan trở về. Phi chỉ sang ông Tám, giới thiệu: - Đây là bác Tám, cha ruột của Mỹ Lan. Bà chủ quán chỉ vào phòng phía trong vừa nói: - Mỹ Lan ở đây, được tôi coi như con, nên mặc dù là làm công, nhưng nó muốn làm lúc nào thì làm, nghỉ lúc nào cũng được. Mà con nhỏ dễ thương lắm, được khách hàng thương mến, nên hai bữa nay vắng mặt nó làm cho tôi điên đầu vì khách đòi bỏ đi quán khác. Bà đích thân đưa ông Tám vào phòng, coi nơi ăn ngủ của con gái, Phi cũng bước theo. Khi vào trong phòng, vừa nhìn qua mấy món để trên bàn, anh chợt kêu lên: - Cuốn sổ y như cuốn ở nhà bác đây, bác Tám! Ông Tám Ri cũng vô cùng ngạc nhiên khi thấy đúng quyển sổ lưu bút đang nằm ở đây! Ông cầm lên và xác nhận: - Quyển sổ này đây rồi! Phi lật ra xem và càng kinh ngạc hơn: - Quyển sổ đó, không sai bác Tám ơi! Anh lật ra trang có dòng chữ: "Nếu người đó có duyên ắt biết đường mà tới nhà mình. Hãy tới đi Phi ơi!" Phi đưa cho ông già xem: - Bác coi, đúng dòng chữ này! Họ thuật cho bà chủ quán nghe, bà ta lắc đầu: - Từ hôm qua đến giờ nó không trở về đây. Không có Mỹ Lan ở nhà thì tôi luôn khóa cửa sau này lại. Như vậy... Ông Tám thừ người ra một lúc rồi bảo Phi: - Làm gì thì bác cũng ở lại đây chờ nó... Được sự đồng ý của bà chủ quán, tối đó ông Tám và Phi đều ngủ lại đúng trong phòng của Mỹ Lan. Phi trằn trọc mãi không ngủ được, vì mỗi lần nhắm mắt lại thì anh lại thấy hình ảnh của Mỹ Lan từ dưới sông leo lên... Bất chợt vào lúc nửa đêm, Phi bật dậy và nói như trong cơn mơ: - Đúng rồi! Đúng là Mỹ Lan bị thương ở miệng, cô ấy... Bất kể sự có mặt của ông Tám và bà chủ quán đang ở nhà trong, Phi tốc chạy ra ngoài, vừa chạy vừa kêu to: - Mỹ Lan! Phi chạy một mạch ra bờ sông, chỗ anh câu cá, cũng là nơi anh đã nhìn thấy Mỹ Lan đi từ dưới nước lên, ngồi thấp xuống chỗ bờ kè, ẩn mình trong bóng tối, Phi chờ và hy vọng những gì mình nghĩ trong đầu là đúng... Có hơn nửa giờ trôi qua... và cuối cùng điều chờ đợi của Phi không hề hoài công. Anh reo lên khẽ khi người đó từ dưới sông vừa ngoi lên: - Mỹ Lan! Không sai. Người đi lên bờ trong bộ quần áo ướt đẫm kia chính là Mỹ Lan! Cô không biết là có người theo dõi mình, nên sau khi giũ quần áo cho bớt ướt, cô bước thẳng về phía trước. Phi bám theo và chưa vội ra tay. Đợi cho cô nàng bước tới một chỗ tối và vắng thì bất ngờ Phi xuất hiện. Anh chụp ngay cánh tay của nàng, nói đủ nghe: - Anh sẽ không để mọi người thấy, nhưng em phải ở lại đây để nghe anh hỏi. Mỹ Lan hốt hoảng thấy rõ, nhưng quá bất ngờ, nên cô chỉ quay mặt đi chỗ khác để giấu vết thương trên môi. Phi đột ngột hỏi: - Có phải miệng em vướng phải lưỡi câu không? Câu hỏi đó khiến cho cô co rúm người lại, may mà có tay kéo lại của Phi, chứ nếu không thì cô nàng đã ngã quỵ xuống. - Anh đã về nhà em, gặp ba em và đã đọc trang lưu bút do em viết. Như vậy em cần gì phải giấu anh nữa. Chỉ có điều... Phi nhìn thẳng vào mắt Mỹ Lan và anh chợt sững sờ, bởi đôi mắt ấy đang đẫm đầy nước mắt và như đang lạc thần, đờ dại như mắt loài cá bị bắt lên khỏi nước! - Kìa, em không nên... Trong lúc lo nói, anh đã lơi tay ra và chỉ chờ có thế, Mỹ Lan rút tay ra và biến rất nhanh vào trong bóng tối! Phi gọi theo: - Ba đang ở quán chờ em! Em phải về thăm ba, anh sẽ không nói gì chuyện của em cả! Trong bóng tối vang lên giọng của Mỹ Lan: - Em sẽ về đó, nhưng anh phải tới nơi mà em lưu địa chỉ lại trên bàn tay anh đó, nếu còn muốn gặp em! Phi bật diêm lên và đọc được mấy chữ nổi rõ trong lòng bàn tay: Gần nhà máy xay lúa An Hòa, Bình Đại. Những chữ này có lẽ nàng đã để lại lúc Phi nắm tay nàng siết chặt. Nó không phải viết bằng mực, nhưng hằn rõ và sắc nét. Nhưng khi Phi đọc vừa xong thì nhìn lại tất cả chữ đã biến mất! Anh bất chợt rùng mình... *** Nhà máy An Hòa...Vừa bước vào nhà bên cạnh nhà máy xay lúa, Phi phải khựng lại, bởi ở giữa nhà có một bàn thờ khói hương nghi ngút và có hai ông bà già đang ngồi khóc. Chưa biết phải chào hỏi ra sao thì bỗng bà già đã reo lên: - Nó tới kìa! Con là Phi phải không? Ngạc nhiên quá đỗi, Phi ngập ngừng hỏi lại: - Cháu là Phi... nhưng sao bác lại biết cháu? Bà mừng rú lên: - Vậy là nó nói đúng ông ơi! Con Ngọc Liên nhà mình đã có chồng rồi. Có chồng rồi! Phi nghe bà la hoảng như vậy thì giật mình, nhìn quanh cố tìm xem có ai đứng sau lưng mình không. Nhưng tuyệt nhiên không, chỉ có mỗi mình anh đứng đó. Như vậy có nghĩa là bà ấy đang nói... mình! Phi lúng túng: - Dạ... dạ cháu... Bấy giờ ông già mới lên tiếng: - Bà nhà tôi đang mừng cậu đó! Nói để cậu bớt thắc mắc, vợ chồng tôi đang đứng đây để đợi cậu tới. Bởi đêm qua con Ngọc Liên về báo là bữa nay cậu thế nào cũng tới đây! Ngọc Liên là con gái tôi, nó chết đã hơn tuần nay rồi mà đêm nào cũng về kêu khóc, bảo tụi tôi đi tìm xác nó! Nhưng tôi đã tìm khắp vùng này rồi mà chẳng thấy đâu... Bà già nói chen vào: - Tối qua nó nói rõ, muốn kiếm được xác nó thì chỉ có cậu thôi. Phải tìm cho ra cậu... Nhìn lên bàn thờ, Phi giật mình, bởi ảnh thờ đúng là ảnh của... Mỹ Lan! - Sao lại... Biết ý của Phi, ông già giải thích: - Chính vì cái hình này mà vợ chồng tôi khóc hết nước mắt từ nửa khuya đến giờ! Hình của con gái tôi đâu phải hình này, vậy mà tự nhiên khi thức dậy tôi đã thấy sự thể như vậy rồi! Nhà tôi lấy hình này xuống, để ảnh con gái tôi lên, thì chẳng hiểu sao lần nào ảnh con tôi cũng bị giật văng ra, thay ảnh này vào! Đó, cậu nhìn xem, ảnh con gái tôi đằng kia... Ông bước tới lấy tấm ảnh rộng khung kính đàng hoàng, chân dung một cô gái tuy cũng đẹp, nhưng không sắc sảo bằng Mỹ Lan. Phi lẩm bẩm: - Ảnh kia là Mỹ Lan mà! - Cậu biết cô gái đó? Phi thật lòng: - Dạ biết. Cô ấy chính là bạn gái của cháu! Chính cô ấy xui cháu tới đây tìm... Thật ra thì Mỹ Lan chỉ cho anh địa chỉ và bảo tới tìm mà không biết tìm ai và để làm gì... Bởi vậy Phi còn ngập ngừng. Bà già lại reo lên: - Đúng rồi! Con Ngọc Liên có nói, nó và cô Mỹ Lan nào đó đang yêu một người tên Phi. Đúng là cậu rồi! - Dạ... nhưng mà cháu đâu biết gì về con gái hai bác. Tại sao cô ấy lại như thế này? Câu hỏi chạm tới nỗi đau của họ, nên bà già khóc nức nở vừa nghẹn ngào: - Con gái tôi nó bơi xuồng qua bên Hàm Luông thăm thân nhân, nửa đường bị gió bão chìm xuồng và mất tích cả tuần nay. Phi chợt buột miệng: - Lại cũng chết chìm! - Cậu nói gì? Ông già thấy Phi lẩm bẩm thì hỏi. Phi nhẹ lắc đầu: - Dạ, không có gì... Phi bước tới gần bàn thờ, nhìn bức ảnh anh chợt kêu lên: - Tấm ảnh này ở nhà cháu mà? Ở góc tấm ảnh của Mỹ Lan mà Phi mượn từ nhà của cô ấy, lúc cầm về khi ngồi trên ghe chính Phi đã dùng bút ký tên lên đó như biểu tỏ quyền sở hữu. Mà bức ảnh đang thờ này lại y như vậy! Phi lặp lại lần nữa: - Ảnh này của cháu. Anh tiện tay lấy bức ảnh xuống và ôm trong lòng. Bà già thấy vậy liền cầm ảnh con gái mình đặt thay vào chỗ trống và hai vợ chồng mừng quá đỗi: - Nó ở yên rồi! Phi ngẫm nghĩ một lúc rồi nói: - Chuyện này có nhiều uẩn khúc, mà theo cháu nghĩ thì hồn con gái bác và người bạn của cháu đây đang gặp nhau. Cô bạn cháu cũng chết dưới sông... Bà già chợt nhắc lại chuyện hồi nãy: - Tôi không hiểu tại sao nó hoàn toàn xa lạ với cậu mà lại nói cậu sẽ là... chồng nó? Phi kinh ngạc: - Bác nói ai? - Con Ngọc Liên, con gái tôi! Phi xua tay: - Không đâu bác! Cháu làm sao có thể. Anh định nói thẳng ý mình là từ chối, nhưng lúc ấy bỗng mắt anh chạm vào ánh mắt từ bức ảnh chân dung của cô gái trên bàn thờ, Phi chợt rùng mình! Đôi mắt của cô nàng hình như là đang long lên, như muốn nói thành lời! - Dạ thưa hai bác... Phi định nói lời kiếu từ nhưng bỗng bụng anh nhói đau dữ dội! Người lảo đảo như muốn ngã, khiến ông già hốt hoảng: - Cậu làm sao vậy? Phi tối tăm mặt mũi, vịn vào thành ghế rồi hầu như không còn sức nữa, anh ngã khuỵu xuống đất. Trong mơ hồ, anh nghe như có tiếng kêu thảng thốt của chủ nhà, rồi hình như mọi người dìu anh lên... *** Có lẽ khá lâu Phi mới tỉnh lại. Trời tối đen chung quanh và qua khung cửa sổ, anh có thể nhìn ra bên ngoài và nhận biết trời đang mưa rất lớn. - Mình đang ở đâu? Nhớ lại dần mọi việc. Phi sửng sốt kêu khẽ: - Nhà cô gái ấy! Quơ tay sang bên thì chạm vào cái khung ảnh, Phi cầm lên xem, trong bóng tối lờ mờ nhưng anh vẫn nhận ra trong ảnh là Mỹ Lan. Yên tâm phần nào. Phi định bước xuống giường, nhưng người anh như bị đóng đinh xuống giường, không tài nào xoay sở được. Vừa khi ấy, ở tay bên này của Phi như có ai vừa đặt vào đó một khung hình thứ hai. Hai tay hai khung ảnh và Phi chợt hiểu, anh thầm kêu lên: - Ảnh hai người! Khi nhảy được xuống giường, Phi đốt đèn lên thì rõ ràng hai khung hình của Mỹ Lan và Ngọc Liên đều nằm trên giường anh! Lúc anh còn đang ngơ ngác thì ba má Ngọc Liên đã bước vào, họ hỏi bằng giọng ngạc nhiên: - Cậu có hẹn với người nào tới đây không? Phi lắc đầu: - Dạ đâu có. - Cậu ra ngoài coi, có người đang đợi cậu từ nãy giờ. Phi hấp tấp bước theo họ ra nhà ngoài thì phải kêu lên: - Mỹ Lan! Cô gái tên Mỹ Lan đã ngồi ở phòng khách từ lúc nào rồi. Khi thấy Phi bước ra, cô vẫn bình thản đưa tay chỉ về phía bàn thờ: - Trên bàn thờ phải thờ đủ hai người chứ sao chỉ có một người? Phi nhìn lên thì không còn ảnh của Ngọc Liên, anh nhớ tới hai tấm ảnh đều trong phòng mình thì muốn nói, nhưng đã chậm hơn so với cô nàng. Cô quay sang ông bà già: - Ba má cứ để cho anh ấy thờ cả hai ảnh trên bàn thờ, như vậy anh ấy mới yên lòng mà nghe lời ba má. Bà già kêu lên: - Kìa, sao cô lại kêu tụi tôi bằng ba má? Tôi đâu có... Mỹ Lan bỗng sụp xuống lạy dài hai người: - Con lạy ba má, hãy để cho anh ấy làm rể nhà này, thì cả hai đứa con mới được cùng nhau. Bằng không thì... Cô quay sang Phi, nói với anh: - Sao không lạy ba má đi! Phi còn đang chưa biết phải làm sao thì tự dưng đôi chân anh tự động khuỵu xuống trong tư thế quỳ! Chẳng hẹn mà anh và Mỹ Lan cùng quỳ trước ông bà già Ngọc Liên, mà cũng là trước bàn thờ còn khói hương nghi ngút! Ba má Ngọc Liên cũng chẳng biết sao, họ đành phải nói: - Hai đứa đứng lên đi. Đó như một lời công nhận, lúc đó Mỹ Lan mới kéo Phi đứng lên và nói: - Con là Ngọc Liên đây, ba má làm như vậy là giải khó cho tụi con rồi! Con xin nói để ba má rõ, con đã chết chìm, hồn con sắp lạc vào mê cung địa phủ thì gặp được người con gái cùng cảnh ngộ với con cũng đang vật vờ sau khi trôi giạt từ xa đến. Cái số ở cõi âm của tụi con là như vậy, kẻ mất xác, người mất hồn, cuối cùng chỉ còn lại một mà thôi. Hồn con đây, trong xác của chị Mỹ Lan và hai chúng con đều có duyên với chỉ một người... này! Nói xong, cô chỉ tay về phía Phi. Anh giật mình: - Là tôi? Mỹ Lan không trả lời, cô rất tự nhiên đi vào phòng nơi Phi vừa ngủ, khi trở ra trên tay cầm hai khung ảnh. Trịnh trọng đặt cả hai khung ảnh lên bàn thờ, vừa nói: - Coi như ba má có hai đứa con gái. Cả hai tuy đã chết, nhưng thực tế thì ngày ngày vẫn sống với ba má tại đây. Còn bây giờ để tụi con, còn phải về thăm cha con bên kia nữa! Cô kéo tay Phi: - Đi anh, ba đang đợi ở quán bên Hàm Luông! Họ đi ra trước sự thảng thốt của hai ông bà: - Kìa, rồi ba má làm sao đây? Họ vẫn đi thẳng như không có chuyện gì xảy ra. Khi ra tới ngoài rồi Phi mới hỏi: - Có phải em là... Mỹ Lan đáp tỉnh queo: - Là hồn ma! Khi đã xuống chiếc xuồng đậu sẵn ở bờ sông rồi, nàng mới nói tiếp: - Một hồn ma không biết hại người. Mà trái lại còn bị người hại, suýt chết! Nàng đưa tay lên sờ vết thương trên môi vẫn còn chưa lành: - Cái lưỡi câu đó nếu em không thoát ra được, không chết vì đau thì cũng chết vì lên bờ không có nước thở! Nhớ lại bữa câu cá đó, Phi hỏi: - Em là hồn ma sao dính câu được? Bấy giờ nàng mới cười: - Cái nợ tình nó buộc em phải dính đó thôi. Em nói thật tại cái số của em phải trở thành vợ anh, cho nên anh câu hai lần em đều dính câu và phải đến kết cuộc này... Đẩy xuồng ra giữa dòng, chợt Mỹ Lan nói tiếp: - Anh về nhanh đi, để ông già đợi ở quán. Còn em... Cô vừa dứt lời thì lao nhanh xuống nước. - Kìa, Mỹ Lan! Phi muốn phóng theo, nhưng chợt khựng lại. Anh lẩm bẩm: - Cô ấy trở về với thế giới của mình! *** Ông Tám Ri đã sốt ruột chờ đợi suốt ba ngày rồi mà vẫn chưa thấy con gái mình trở về. Ông cũng thắc mắc về sự vắng mặt của Phi. Phi chỉ nói với ông là đi có việc riêng và sẽ trở về ngay, vậy mà anh ta vẫn bặt vô âm tín.Chiều hôm đó, chị chủ quán trấn an ông Tám: - Chú Tám cứ ở đây nghỉ ngơi, thế nào rồi Mỹ Lan cũng trở về thôi. Mấy tháng làm ở đây chưa bao giờ nó đi lâu. Lần này có lẽ có chút chuyện gì đó... Ông Tám không an tâm: - Tối qua tôi cứ nhắm mắt lại là thấy nó ngồi khóc trên xuồng, miệng nó đầy máu. Tôi lo quá. Thật ra chị chủ quán Tư Quắn cũng lo không kém. Chính chị cũng chiêm bao thấy giống như vậy. Chị còn nhìn thấy Mỹ Lan hụp lặn dưới nước mà mỗi khi trồi lên thì mặt cô cũng đầy máu? Chị không dám nói ra điều này sợ làm ông Tám lo thêm... Đến bữa cơm chiều, mời đến lần thứ ba thì ông Tám Ri mới chịu ngồi vào bàn ăn, ông chưa kịp gắp thức ăn thì đã thấy trong chén mình có nửa miếng cá rô kho nằm sẵn. Ông ngạc nhiên hỏi: - Cô Tư gắp cho tôi hả? Tư Quắn lúc đó mới ngồi xuống ghế, cô trả lời: - Dạ, đâu có. Con mới vào ngồi mà. - Vậy sao... Ông Tám nhìn nửa con cá toàn nạc, không lẫn miếng xương, vừa ngạc nhiên vừa thích thú: - Tôi vốn rất sợ mắc xương, mà miếng cá này thì rất giống với những miếng cá mà thường ngày con Mỹ Lan vẫn thường hay gắp cho tôi mỗi khi ăn món cá! Tuy ngạc nhiên, thắc mắc, nhưng ông Tám vẫn ăn. Ông còn nói: - Con Mỹ Lan thích nhất là đọt lang chấm nước cá kho. Bữa nào dẫu trời mưa gió tầm tã nó vẫn đi hái đem về luộc để cha con ăn. Mà đọt lang luộc chấm nước cá kho ăn ngon miệng lắm, cô Tư đã ăn thử chưa? Tư Quắn giở chiếc lồng bàn để cạnh bàn ra và nói: - Không có đọt lang, cháu luộc đọt bí đây, chú dùng đỡ. Nhưng khi chiếc lồng bàn giở ra thì Tư Quắn quá đỗi ngạc nhiên: - Ủa, sao như thế này? Thay vì dĩa đọt bí, trong đó lại là dĩa... đọt lang! Tư Quắn không tin vào mắt mình, chị cầm lên xem kỹ rồi lẩm bẩm: - Chính tôi hái và luộc mà. Sao lại... Ông Tám có ngạc nhiên, nhưng lại thích thú: - Đúng là hai thứ mà con gái tôi thích. Dẫu vẫn ăn, nhưng Tư Quắn vẫn không hết thắc mắc: - Bữa nay lạ quá, chẳng khác nào như Mỹ Lan trực tiếp làm bữa cơm hôm nay. Ông Tám cũng có cảm giác ấy nhưng ông vốn không nghĩ gì khác mà vẫn cứ ăn ngon lành. Lúc bữa ăn gần chấm dứt thì bỗng ở sau nhà bếp có tiếng va chạm mạnh, khiến Tư Quắn phải buông đũa và chạy xuống xem. Chị quá đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy hai chén chè đậu xanh ai đó đã múc sẵn còn bốc khói để trên chiếc mâm. Lúc này Tư Quắn không còn bình tĩnh nữa, chị hỏi: - Ai trong này vậy? Chị quay tìm khắp nơi mà không thấy ai. Lúc ấy ông Tám cũng bước xuống, ông reo lên khi thấy mấy chén chè: - Chè đậu xanh là món cha con tôi ưa thích đây mà. Tư Quắn nghe tim mình đập liên hồi, chị đang nghĩ tới Mỹ Lan. Linh tính hình như cho chị biết có điều gì đó. Tuy nhiên nhất thời chị chưa dám nói thẳng ý mình ra... Ăn xong bữa cơm, ông Tám có vẻ hài lòng: - Lâu lắm rồi tôi mới được ăn một bữa giống như nhà mình. Đúng hơn là giống như cách nấu của con Mỹ Lan. Cô Tư nấu ăn khéo thật! Tối đó thì Phi về tới. Vừa thấy anh, ông Tám đã hỏi: - Con Mỹ Lan đâu? Phi đã suy tính kỹ trên đường về, nên không giấu giếm: - Dạ thưa bác, Mỹ Lan chẳng may... Anh chưa kịp nói hết lời thì từ trong nhà bếp, một giọng nói quen thuộc đã vang lên: - Dạ, con đây ba! Mỹ Lan xuất hiện giữa sự ngạc nhiên chẳng riêng gì ông Tám và chủ quán, mà cả Phi cũng tròn mắt: - Em... em... Từ lúc Mỹ Lan nhào xuống sông thì Phi không nghĩ cô sẽ trở về gặp cha. Nhưng bây giờ cô đã có mặt, khiến Phi lúng túng. Cũng may là anh chỉ mới nói còn chưa rõ ràng và ông Tám cũng không kịp thắc mắc, mà chỉ vui mừng khôn xiết: - Ba đã đợi con từ mấy bữa rồi! Mỹ Lan, con nói cho ba nghe coi, hôm con bị chìm xuồng rồi làm sao sống sót và trôi giạt qua tận đây? - Dạ... con nhờ người ta cứu. Cô hình như muốn né tránh kể lại sự việc, nhưng lúc này ông Tám bị niềm vui trong lòng lấn át cả mọi sự hoài nghi, ông phấn khởi nên nói huyên thuyên: - Con đi ăn cơm đi, có cá rô kho tiêu, có cả chè đậu xanh nữa. Cô Tư đây nấu giống y như con vậy, ngon lắm! Bất ngờ Mỹ Lan nhăn mặt: - Cá rô hả? Con sợ món cá này, ăn dễ mắc xương! Còn chè đậu hả, đó là món con ghét nhất! Câu nói làm cho ông Tám quá đỗi ngạc nhiên. Ông không ngờ chỉ một thời gian ngắn xa nhà mà cô con gái cưng của ông đã thay đổi tính tình quá nhiều như vậy. Ông trách: - Con mới đi có mấy tháng mà sao không còn giống con chút nào hết vậy Lan? Chỉ có Phi là hiểu nguyên nhân. Anh không còn muốn nói ra sự thật nữa, nên tìm cách khỏa lấp: - Con nghĩ có lẽ xa nhà lâu nên Mỹ Lan có nhiều thay đổi. Hơn nữa, cô ấy mới vừa trải qua một cơn bệnh, cho nên... Anh tìm cách kéo Lan vào nhà sau, dặn khẽ: - Em bây giờ chỉ có cái xác là của Mỹ Lan, còn phần hồn là Ngọc Liên, do vậy mọi thứ đều sẽ không hợp với ông già. Tốt hơn hết là hãy tìm cách tránh tiếp xúc với ông ấy. Phi chủ động bàn với ông Tám: - Bác Tám đã gặp được Mỹ Lan rồi, nhưng hiện nay cô ấy đang có giao ước làm việc với người ta dài hạn. Vậy bác ở chơi đây ít hôm rồi về bên nhà. Lâu lâu, khi nào rảnh Lan sẽ về thăm bác. Con sẽ... Ông Tám bất ngờ nói: - Ta có ý này... hay là ta gả con Mỹ Lan cho cậu! Có như vậy thì việc nó xa nhà ta mới yên tâm. Cậu chịu không? Phi tuy đã có ý đó, nhưng anh vẫn làm ra vẻ: - Dạ... chỉ sợ e... Ông Tám gọi Mỹ Lan ra: - Đây, có trước mặt cả cô Tư, ba quyết định gả con cho cậu Phi này, con ưng không? Mỹ Lan cúi đầu e thẹn. Tư Quắn nói thêm vào: - Ông Tám quyết định như vậy là hợp ý tụi nó rồi. Cậu Phi đây tuy nhà ở xa tới đây trọ, nhưng tôi biết chắc cậu ấy chưa vợ con gì. Mà lâu nay lui tới đây cậu ấy với Mỹ Lan cũng đã vừa ý nhau, hai đứa lại xứng lứa vừa đôi nữa, còn gì hơn! Ông Tám lại có một quyết định gây ngạc nhiên hơn: - Không cần lễ tiệc chi cho rườm rà. Ngay sáng mai nhờ cô Tư nấu cho ít món, mời một ít khách quen với cô, quen với con Mỹ Lan và bạn bè cậu Phi đây tới dự, tôi sẽ cho tổ chức một lễ cưới cho hai đứa nó! Phi liếc mắt nhìn Mỹ Lan, anh muốn nói gì đó nhưng kịp dừng lại... Sáng hôm sau, lễ cưới theo đúng ý ông Tám đã diễn ra. Qua ngày hôm sau thì ông Tám được Phi mướn người ngồi cùng ghe đưa về tận nhà. Chị chủ quán không hiểu sự tình, nên đề nghị: - Hay là tôi nhường phần sau nhà này cho cô cậu ở, tôi dọn ra phần trước ở coi quán luôn? Phi tế nhị từ chối: - Cám ơn dì Tư, có lẽ để tụi này mướn một chỗ ở riêng cho yên tĩnh. Bởi... cô ấy đã có thai, cần nghỉ ngơi! Tư Quắn trố mắt kinh ngạc: - Thật vậy sao? Trong khi đó thì Mỹ Lan lánh vào trong rất nhanh. Chờ cho Phi bước vào, cô trách: - Sao anh ẩu vậy, em có thai hồi nào? Phi cười: - Phải nói như vậy bà ấy mới cho em nghỉ làm chứ. Bằng không thì làm sao giải thích... Mỹ Lan hiểu thực trạng của mình nên nín thinh. Nhờ vậy mọi việc được giữ kín... *** Chuyện của Mỹ Lan và Phi được giấu kín, không một ai nghi ngờ gì. Bởi họ mướn một căn nhà ở rất xa, nên cũng chẳng mấy ai lui tới thăm viếng. Thực tế thì Phi sống một mình suốt ngày. Chỉ vào ban đêm thì Mỹ Lan mới xuất hiện.Một hôm nàng nói: - Anh phải về bên nhà ba má em gấp, ông bà sắp hết số rồi. Về đứng ra làm đám cho đúng lễ. Phi tưởng mình phải về Gò Công, anh đang chuẩn bị đi thì nàng nhắc: - Em nói ba má tức ba má em ở Bình Đại, anh quên rồi sao! Lúc này Phi mới nhớ là mình đang làm rể đến hai nhà. Anh ngượng nghịu nói: - Ờ, anh biết rồi... Từ đó về sau, cứ lâu lâu Phi lại về nhà, khi thì Gò Công, lúc thì Bình Đại. Anh đóng vai chàng rể... ảo một cách đáng khen. Một năm sau... Bỗng một đêm Mỹ Lan về, cô ẵm về một đứa bé còn trong tháng và nói: - Anh hãy nuôi cho kỹ, con chúng ta đó! Phi tưởng mình đang mơ: - Thật... hả? - Sao lại không thật, đã sống với nhau, dẫu là với hồn ma, cũng có con như thường chứ! Phi một mình nuôi con rất chu đáo. Nếu có ai cắc cớ hỏi mẹ đứa bé đâu, nó sẽ vô tư trả lời: - Hai mẹ của con đi làm ăn xa! PHO TƯỢNG ĐỒNG BÁO OÁN Lần mò cả buổi, cuối cùng Sinh mới mở được chiếc két sắt cũ của cha mình ra. Anh thở phào và tự cho mình cái quyền ngả người ra ghế sofa nghỉ lưng một lúc. Sở dĩ Sinh quyết phải mở cho bằng được cái két sắt này là do lá thư để lại của cha, ông căn dặn rất kỹ: "Bằng giá nào con cũng phải giữ cho được cái tủ sắt trong phòng của ba. Nó không chứa tiền bạc gì hết, mà trong đó chỉ có một thứ mà ba muốn trao tận tay con. Nó sẽ do con sở hữu và quyết định làm gì với nó thì làm, miễn ba được ngậm cười nơi chín suối là đủ! Ba kỳ vọng ở con...” Từ ngày cha mất, Sinh hầu như quán xuyến hết mọi công việc vốn trước đây thuộc về ông Thanh Long, cha mình. Kể cả những công việc mà anh rất ghét như trông coi việc kinh doanh các cửa hàng, điều hành các công ty. Là con người có bản lĩnh, phóng khoáng, thích hoạt động, tự do nên khi được cha gọi về và ấn vào tay tờ di chúc, Sinh đã phát hoảng với trách nhiệm trước mắt! Anh muốn từ chối, nhưng ngay sau đó thì cha anh mất. Mà trong nhà thì Sinh là người nối dõi duy nhất còn lại. Sau một lúc nghỉ mệt, Sinh bật dậy và bắt đầu mở hẳn chiếc tủ ra theo khóa số. Cánh cửa tủ sắt vừa bật ra thì Sinh hơi bất ngờ trước pho tượng đồng duy nhất nằm bên trong! Đã biết trước là bên trong không có tiền, nhưng Sinh lại bất ngờ về pho tượng cũ kỹ này. Là người không sành về đồ cổ, nên khi cầm pho tượng lên, nhìn trên dưới mấy lượt Sinh vẫn không hiểu nó thuộc niên đại nào, gốc ở đâu. Cuối cùng anh đặt nó lại trong tủ, định đóng cửa tủ lại và để đó... Tuy nhiên, khi dùng sức xê dịch chiếc tủ sát vào tường thì chợt Sinh nghe một âm thanh phát ra từ bên trong, giống như một tiếng thở dài! - Gì vậy? Nghĩ mình nghe lầm, nên Sinh lại đẩy tủ thêm lần nữa và lần này cũng thế, Sinh lại nghe kèm theo tiếng thở dài là một tiếng nấc! - Ai? Sinh lại tưởng ai đó nấp trong phòng hay từ ngoài cửa sổ! Nhưng khi nhìn kỹ thì chẳng phát hiện gì, anh còn đang hoang mang thì cánh cửa tủ sắt nặng nề bỗng mở ra, giống như có người kéo! Và tiếng thở dài lần nữa phát ra từ trong ấy! Sinh nhìn thấy pho tượng đồng đang nằm trong tư thế ngã nghiêng, đầu chạm vào vách tủ, chẳng khác một người bị ngã va đầu vào tường! - Phải chăng... Sinh nghĩ ngay tới sự linh thiêng của những pho tượng cổ mà lâu nay anh đã từng nghe kể, anh bước tới và nhẹ nhàng đỡ pho tượng cho ngay ngắn lại và đóng cửa két sắt lại một cách nhẹ nhàng. Sau đó thì không còn nghe âm thanh kỳ lạ kia nữa! Sinh cố hiểu ý nghĩa bức thư của cha, nhưng nghĩ mãi mà vẫn chưa thể nào hiểu nổi. Tại sao cha lại căn dặn anh kỹ như vậy với một pho tượng đồng cổ. Hay là chúng có giá trị lớn đến đỗi dược cất giữ cẩn thận đến vậy? Không tìm được câu trả lời thỏa đáng, Sinh cứ để nguyên đồ như vậy nằm lim dim, tính lát sau sẽ đi thay quần áo và ăn cơm chiều. Nhưng chỉ được một lúc thì cơn buồn ngủ kéo đến... Sinh ngủ một cách ngon lành. *** Khi Sinh giật mình tỉnh giấc thì lại vô cùng sửng sốt khi thấy ngồi giữa phòng mình là một người phụ nữ mặc bộ áo choàng màu đen!- Ai? Sinh hỏi vừa dứt thì người đó từ từ quay mặt lại. Một gương mặt quen thuộc, khiến Sinh kêu lên: - Mẹ! Đúng! Trước mặt anh là bà mẹ đã quá cố từ hơn mười năm trước! Sinh chồm lên, nhưng anh bị dội ngược trở lại như bị ai đó kéo ghì rất mạnh. Vẫn không rời mắt khỏi mẹ mình, Sinh lại gọi: - Mẹ! Mẹ về thăm con phải không? Bà mẹ anh không lên tiếng mà ở hai khóe mắt bà có hai dòng lệ tuôn ra. Gương mặt bà cực kỳ đau khổ khiến cho Sinh nhìn thấy phải đau lòng theo. Anh lại lên tiếng: - Mẹ có điều gì dạy con phải không? Bà vẫn im lặng không nói gì, nhưng lần này lại đứng lên, đi về phía chiếc két sắt và định đưa tay thò vào tủ. Bỗng bà bị bật trở ra, người lảo đảo... - Mẹ! Mẹ có sao không? Tiếng kêu của Sinh hơi lớn, đồng thời anh bước tới và vô tình chạm phải chiếc ghế làm nó ngã ngang, gây ra một tiếng động khác. Khi Sinh nhìn lại thì mẹ anh không còn ở đó nữa! - Mẹ! Không có chút dấu vết nào để lại. Sinh bàng hoàng đứng thừ ra một lúc rồi thở dài... Anh bước lại chỗ tủ sắt và càng kinh ngạc hơn khi pho tượng đồng không còn ở trong tủ! Lúc này Sinh mới thật sự lo. Ai đã lấy pho tượng đi? Mẹ anh đột ngột hiện về liệu có liên quan gì tới chuyện này? Trong nhà còn có mấy người giúp việc và chú Mười, tài xế, nhưng không muốn họ biết gì về chuyện này, nên Sinh không gọi họ dậy. Anh cứ chong đèn như vậy đến sáng, không hề chợp mắt thêm chút nào... Vừa mờ sáng... - Cậu Hai ơi, cậu thức dậy chưa? Tiếng chú Mười lái xe bên ngoài, Sinh hỏi vọng ra: - Có gì không chú Mười? Bữa nay chú có thể nghỉ ngơi, tôi không đi... - Có chuyện này cậu ơi, cậu bước ra coi. Sinh vừa mở cửa ra thì chú tài xế chỉ tay ra sân, giọng lo lắng: - Hồi tối này khi đi ngủ tôi đã cho xe vào ga-ra cẩn thận, khóa cả cửa ga-ra nữa, vậy mà vừa mới đây tôi thức dậy đã thấy chiếc xe nằm ở ngoài sân kìa. Máy xe còn nóng như mới chạy về, tôi muốn hỏi cậu coi hồi đêm có đi xe không? - Đâu có! Tối qua đến giờ tôi đâu có ra ngoài. - Vậy tại sao... Sinh bước hẳn ra chỗ chiếc xe, anh quan sát kỹ và công nhận lời nói của chú tài xế là đúng, chiếc xe mới vừa ngừng máy, còn nóng. Anh mở cửa xe và càng ngạc nhiên hơn khi bắt gặp ở ghế lái còn để lại một chiếc lắc tay của phụ nữ và cạnh đó còn có một chiếc khăn tay thêu chữ Hồ Điệp với con bướm màu. Chìa khóa xe còn gắn ở công tắc. - Chiếc chìa khóa! Chú Mười chạy vào trong nhà lấy ra xâu chìa khóa đưa cho Sinh coi: - Chìa khóa tôi giữ còn nguyên ở đây! Sinh cầm cái xắc tay lên xem, anh kêu khẽ: - Của mẹ! Năm năm trước khi mất, mẹ anh còn xài cái xắc này. Nó còn là món quà sinh nhật mà cha anh đã tặng cho mẹ. Mà Sinh nhớ không lầm thì ngày tẩm liệm mẹ, chính cha anh đã đem cái xắc này theo, ông còn nói với Sinh: - Đây là vật mẹ con thích nhất, ba đem theo cho bà ấy! Hai năm sau khi bà mất thì cha cũng qua đời. Ngày tẩm liệm cho cha, chính Sinh đã phát hiện ra trong tay ông còn nắm chặt một vật mà anh biết chắc chắn đó không phải là của mẹ. Đó là chiếc khăn tay thêu mấy chữ Hồ Điệp với con bướm nhiều màu sắc! Sở dĩ Sinh biết chắc đó không phải là chiếc khăn của mẹ là bởi mẹ không bao giờ xài khăn tay, mẹ cũng không phải tên là Hồ Điệp. Hai vật chôn theo cha và mẹ khác huyệt nhau, cách xa thời điểm với nhau, sao giờ này lại ở chung trên xe là sao? Sinh hỏi lại chú lái xe: - Chú chắc chắn là cổng ngoài vẫn còn khóa chứ? - Dạ còn. Tôi mới coi lại đây cậu. Tôi cũng hỏi mấy người làm khác, họ quả quyết là không hề mở cửa. Suy nghĩ rất nhanh, Sinh dặn: - Không được bàn tán gì chuyện này. Để tôi âm thầm xác minh lại. Anh cầm lấy cái xắc tay và chiếc khăn đi trở về phòng ngủ. Nhìn chiếc khăn tay còn mới nguyên, không ai nghĩ nó là vật từng khâm liệm vào quan tài và nằm dưới lòng huyệt mộ mấy năm trời? Cũng như chiếc xắc tay này, nó được chôn còn lâu hơn nữa, vậy mà vẫn còn y như đang được sử dụng! Tò mò, Sinh mở luôn cái xắc ra, bên trong trống rỗng, chỉ có duy nhất một mảnh giấy nhỏ ghi dòng chữ: Hồ Điệp, cây số 5, tỉnh lộ 25. Bất chợt Sinh hiểu ra, anh kêu lên: - Mẹ! Rồi như nghe lửa cháy, Sinh phóng ra sân, vừa gọi chú tài xế: - Chú Mười, lấy chìa khóa xe cho tôi! Chú Mười ngơ ngác: - Cậu đi đâu vậy cậu Hai, để tôi lái cho... Nhưng Sinh đã gạt ngang: - Không, để tôi tự lái. Chú ở nhà giữ nhà. Có ai hỏi thì nói mai tôi mới về. Anh rồ máy phóng đi như bị ma đuổi. Hình ảnh gương mặt đau khổ của mẹ đang hiện ra trong tâm trí Sinh, chốc chốc lại nhòe đi bởi ánh mắt long lên như giận dữ của bà khiến Sinh đâm lo. Và mối lo đó lại xoáy vào cái tên Hồ Điệp mà cho tới lúc này Sinh chỉ mới nghe chứ chưa hề biết đó là ai... *** Tiếp Sinh trong ngôi nhà rộng lớn, không khí vắng lạnh, là một người đàn ông tuổi trung niên. Ông nhìn Sinh có vẻ dò xét một lúc rồi mới hỏi thẳng:- Cậu tìm người tên Hồ Điệp với mục đích gì? Và cậu biết gì về chị tôi? Sinh ngạc nhiên: - Hồ Điệp là chị của chú? Vậy bà ấy bây giờ ra sao? - Ý cậu muốn hỏi chị tôi còn sống hay đã chết chứ gì? - Dạ, đó là điều cháu muốn biết. Người đàn ông dựa người ra sau thành ghế salon, vài giây sau mới nói, giọng hơi chùng xuống: - Chưa chết! Sinh mừng rỡ: - May quá! Vậy có thể cháu xin gặp được không? - Cậu chưa nói rõ với tôi cậu gặp để làm gì? Và cậu là ai mới được? - Dạ, cháu là... con trai ông Thanh Long, người chủ đồn điền cà phê trước kia ở huyện này. Vừa nghe Sinh nói, ông ta bật thẳng người lên, nhìn sững Sinh một lúc rồi chợt thở dài: - Đúng là oan gia! Điều này không ngoài dự đoán của tôi rồi... Sinh ngạc nhiên: - Ông muốn nói... Sợ ông ta chưa tin hẳn, nên Sinh móc trong túi lấy ra chiếc khăn tay có thêu hình con bướm: - Đây là bằng chứng của bà Hồ Điệp. Không cần nhìn vào vật chứng, người đàn ông lại thở dài: - Chuyện đời bất cứ điều gì càng muốn lãng quên đi thì nó luôn bị khơi lại. Đã hơn năm năm rồi còn gì... Ông ta lặng lẽ đứng lên và đi thẳng ra nhà sau. Sinh ngồi đó chờ... Anh chờ rất lâu vẫn chưa thấy chủ nhà trở ra, mà trời bên ngoài thì đang tối dần. Một lúc, quá sốt ruột. Sinh đứng lên và cất tiếng gọi: - Chú ơi, chú! Không nghe tiếng trả lời. Nghĩ là nhà quá rộng, có thể người ta chưa nghe, nên Sinh lại gọi lớn hơn: - Chú ơi! Lần này đáp lại Sinh là một điệu kèn kỳ lạ, mà vừa nghe Sinh đã phát rùng mình! Nghe qua một đoạn nữa chợt anh kêu lên khẽ: - Bản nhạc ma! Lời thốt của Sinh tuy rất nhỏ, nhưng hình như có người đã nghe, nên một giọng lạnh lùng vang lên: - Sao gọi là nhạc ma khi người chơi còn sống? Sinh quay nhìn bốn phía vẫn không thấy người vừa lên tiếng, anh phải hỏi: - Ai vậy? Điệu nhạc lại vang lên, lần này rất gần, như ngay phía sau lưng của Sinh. Anh còn có cảm giác như có tiếng động của ai đó... Nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng. Ngôi nhà lúc đó đã hoàn toàn chìm trong bóng tối. Càng nghe tiếng kèn Sinh càng nhớ tới cha, bởi đã nhiều lần khi đang ngủ, ông vội thức giấc và bàng hoàng hỏi Sinh: - Con có nghe tiếng nhạc kia không? Của ma đó! Do vậy, Sinh cứ bị ám ảnh với loại kèn này... Và nó chỉ chấm dứt từ khi cha anh chết. Mà sao bây giờ nó lại vang lên ở đây? Bất giác anh gọi lớn: - Ba! Không ngờ lại có tiếng hồi âm: - Cuối cùng thì con cũng đã tới! Ngoài sức tưởng tượng của Sinh, nên phải gần nửa giây anh mới thảng thốt kêu lên: - Ba! Sao ba lại... - Sao ba lại ở đây phải không? Con hỏi mà không nhớ rằng, chính con đã đưa ba tới đây! Từ trong bóng tối, một chiếc xe lăn từ từ nhô ra, tiến đến gần bên Sinh. Anh nghe cả hơi thở quen thuộc: - Ba! Anh định chụp lấy vai người ngồi trên xe lăn, nhưng đã bị ngăn lại: - Ba đã là người cõi khác. Một hồn ma già nua, không đủ sức hồi sinh, con chạm vào sẽ lập tức làm tan biến chút tồn tại mong manh mà thôi! Hãy nghe ba nói... - Sao ba lại ở đây? - Ba không ở đây, mà ba theo chiếc khăn tay con vừa mang tới. Chính người chủ chiếc khăn mới là người sẽ cho con biết tại sao con phải tới chốn này. - Nhưng... Sinh nghe một tiếng thở dài trong bóng tối: - Ba hiện giờ cũng như con thôi, khó lòng mà gặp được người ấy... Sinh hơi lớn tiếng: - Ba đang bị người trong nhà khống chế phải không? - Chẳng ai khống chế ba ở đây cả. Mà người khống chế chính là... Ông vừa nói tới đó thì nghe vang lên một tiếng lớn, hình như chiếc xe lăn bị ngã đổ. Sinh hốt hoảng: - Kìa, ba! Anh lao tới và đỡ chiếc xe đang lăn kềnh lên. Chiếc xe trống không! - Ba! Ba đâu rồi? Chợt ánh sáng bừng lên sáng choang cả gian phòng. Người đàn ông lúc đầu xuất hiện đúng lúc với chiếc đèn măng-sông trên tay. Ông ta lạnh lùng bảo Sinh: - Ba cậu nói rồi, ông ấy mỏng manh như sương khói. Thương cậu nên ông mới hiện về, nhưng bây giờ người ta không cho nữa, nên ông lại trở về với cát bụi rồi... - Không, ba tôi! Người đàn ông đưa tay chỉ về phía chiếc xe lăn: - Cậu xem, hình như trên xe có vật gì kìa! Sinh thấy trên đó là chiếc khăn tay mà lúc nãy anh đưa cho chủ nhà xem chưa kịp lấy lại, anh chưa kịp hỏi sao nó lại nằm trên xe lăn của ba anh thì anh đã vội cầm lên xem. Có mấy chữ hiện ra trên chiếc khăn: Con đã để mất vật mà ba cố ý để lại cho con rồi, làm sao con có thể giúp gì cho ba! Rồi con cũng sẽ chẳng còn gì... Hãy tìm lại cho được! Bất giác Sinh kêu lên: - Pho tượng đồng! Người đàn ông chủ nhà không hiểu Sinh nói gì, nhưng không hỏi lại, mà một lần nữa bỏ vào trong, sau khi để lại chiếc đèn. Sinh đọc lại lần nữa những chữ trên chiếc khăn, anh nhận ra đó là nét chữ của cha mình. Chẳng hiểu ông viết lúc nào mà nét mực còn mới nguyên. Sau một hồi ngẫm nghĩ, chợt Sinh hiểu ra, anh nói: - Mẹ! Chính mẹ! Anh nhớ đêm hôm đó mẹ xuất hiện trong phòng, rồi khi bà đi thì pho tượng cũng biến mất theo. Mà trong việc này thì lờ mờ, hình như hiện ra bóng dáng của mẹ ngày càng rõ... Phải chăng... Sinh không dám nghĩ tiếp, nhưng trong đầu anh biết phải làm gì. Anh nói với vào trong: - Cháu không cản nữa, xin phép chú, cháu đi đây! Anh vừa bước ra cửa thì từ trong lại vọng ra tiếng kèn kỳ lạ lúc nãy. Chừng như giữa người thổi kèn với cha anh không phải là một. Hay đúng ra, theo Sinh nghĩ, người nào đó cố ý trỗi lên tiếng kèn đó là để cho anh và cha anh nghe! Nghĩ vậy nên Sinh dừng lại lắng nghe. Hình như người thổi kèn biết được có người đang lắng nghe thì hứng khởi lên, càng thổi càng da diết, càng như ru lòng người... Không thể không hỏi, nên dù không nhìn thấy ai trong nhà lúc đó, nhưng Sinh vẫn hỏi vọng vào: - Tôi muốn nghe nữa vào một hôm nào đó, vậy có được không? Anh nói xong thì bước đi mà không cần nghe câu trả lời. Lúc ấy ánh sáng trong ngôi nhà bỗng vụt tắt, trả nó về với bóng tối cố hữu... *** Đã khá lâu rồi kể từ ngày đi du học trở về, Sinh chưa về thăm ngôi nhà cũ, nơi có phần mộ cha mẹ. Vừa thấy anh thì bà xẩm già Lý Anh đã reo lên:- Cậu Hai về kịp lúc quá, tôi chờ cậu Hai quá trời! Bà Lý là người Tàu, nhưng đã sống lâu đời với gia đình anh, nên bà hầu như nói tiếng Việt rành không thua bất cứ người bản xứ nào. Bà cũng chính là người đã từng chăm sóc anh, nuôi nấng từ miếng sữa, miếng cơm thuở anh còn nhỏ. Thời ấy mẹ anh luôn đi đây đi đó lo kinh doanh, nên mọi việc nhà đều do một tay bà Lý. - Sao cậu không về qua nhà? Câu hỏi cũng là lời trách, nên Sinh nhẹ giọng: - Dạ, con xin lỗi vú, do con bận quá. - Bận gì thì cũng về thăm mồ mả ông bà chứ. Chỉ vì vắng cậu mà xảy ra bao nhiêu chuyện, già này làm sao lo cho kham! Sinh ngạc nhiên: - Chuyện gì vậy vú? Bà thở dài: - Liên tục xảy ra chuyện. Hết bà rồi lại tới ông. Người nào cũng quấy động lên không ai chịu nổi! Nhất là bà, chẳng hiểu sao từ mấy hôm nay bà lồng lộn lên dữ quá, cứ cúng vái bao nhiêu trên bàn thờ bà đều quăng xuống hết và hồi nửa đêm qua còn ném luôn cả những thứ thờ trên bàn thờ ông nữa! Mà tôi biết chắc việc ném đồ thờ trên chỗ thờ của ông không phải do ông làm, mà là... do bà. Cậu biết tính nộ khí xung thiên của bà lúc còn sống mà, khi giận lên thì bà bất kể trời đất! Sinh bước vào coi thì quả như mô tả của bà. Đặc biệt là ở phần mộ của ông đàng sau vườn, hầu như những chữ trên mộ bia đều bị xóa be bét! Vừa xem qua thì Sinh đã phần nào hiểu, anh lắc đầu ngán ngẩm: - Con người ta một khi máu ghen nổi lên thì còn kể gì nữa! Bà Lý ngạc nhiên: - Cậu nói gì vậy, ai ghen? - Thì mẹ con chứ còn ai. - Nhưng, bà chết rồi, mà ông cũng đã mất, vậy ghen với ai? Sinh đột nhiên hỏi: - Vú biết có ai quen với ba con tên là Hồ Điệp không? Bà Lý giật mình: - Cậu cũng biết sao? - Vú biết? Bà Lý bỗng hạ thấp giọng, như sợ có người nghe được: - Người ấy là người tình của ông từ mười năm trước! - Vú biết bà ấy bây giờ ở đâu không? - Ở gần đồn điền cũ của ông. Lâu quá rồi tôi không nghe tin. Bà ấy trẻ hơn mẹ cậu nhiều tuổi, nguyên là hoa khôi một trường đầm ở Đà Lạt thời ấy! Nghe bà tiết lộ những điều chứng tỏ bà biết khá nhiều về người đàn bà kia, Sinh kéo bà ra một chỗ vắng, hỏi tới: - Vú biết gì nữa, nói hết cho con nghe đi! Bà Lý sau một lúc trầm ngâm, đã kể tiếp: - Thời bà còn sống, lúc cậu đi du học thì đã nhiều lần bà từng làm dữ lên vì chuyện này! Bà ghen ông với cô đó, và nếu không ngăn kịp thì có lần bà đã tạt acid vào mặt cô ấy rồi! Nghe nói lần đó chính ông đã hứng trọn một lon acid vào lưng thay cho cô gái kia! Sinh bất giác kêu lên: - Trời ơi! Bà Lý giọng đầy xúc động: - Ngày đó giữa ông và bà căng thẳng lắm. Ông bị acid làm phỏng nguyên cái lưng, phải nằm bệnh viện khá lâu, vậy mà ở nhà bà vẫn không để yên, vẫn tiếp tục... Bà kể tới đó thì ngừng lại như ngại... Bỗng Sinh tiếp lời bà: - Vẫn không buông tha người phụ nữ kia sao? Rồi người ấy thế nào? Bà Lý nhẹ lắc đầu: - Tôi không dám biết tiếp câu chuyện... Hơn nữa, thời ấy tôi còn phải lo cho bệnh tình của ông ở bệnh viện. Tôi tính gửi thư qua cho cậu, nhưng ông chủ nhất quyết không cho, còn dặn là phải giấu biệt luôn, đừng bao giờ kể cho cậu nghe câu chuyện này! - Sao cách đây ba năm con về mà đâu có nghe ba con nói gì chuyện ấy? Lúc đó mẹ con mới vừa chết. Mà sao lúc mẹ con mất ba con không cho con hay, mà đợi khi làm tuần 49 ngày con mới được báo tin? Bà Lý lại lắc đầu: - Chuyện đó là do ông. Theo ý ông thì không muốn cậu phải phân tâm, bởi năm đó là năm cậu thi tốt nghiệp. Bà ngừng nói, như vẫn còn sợ điều gì đó... Sinh phải gắt lên: - Vú giấu con nhiều lắm. Chuyện vú không nói thật thì con không hỏi vú nữa, tại sao mẹ con chết? Đúng là gây khó cho bà vú, bà phải ngập ngừng một lúc rồi mới nói lơ lửng: - Gieo gì thì gặt nấy thôi! - Vú nói vậy là sao? Ai gieo, ai gặt? Bà Lý bất ngờ hỏi: - Theo cậu thì ai là người gieo trong vụ này? Sinh nhìn vào bà rồi một lúc mới trả lời: - Mẹ con là người gieo quả! Bà Lý đáp thật nhỏ: - Cậu nói không sai. Chính bà đã tiếp tục gieo tội, dẫu lần trước đã gây ra thương tật lớn cho ông chủ, vậy mà khi ông chủ còn nằm trong bệnh viện bà lại tiếp tục đi lên đồn điền, và... hậu quả là... Bà nói tới đây thì có lẽ quá xúc động đã nghẹn ngào... Sinh phải lay vai bà hỏi: - Hậu quả thế nào? Giọng của bà Lý đẫm trong nước mắt: - Cô tên Hồ Điệp đó nhận trọn một ca acid! - Trời ơi! Lần này tiếng kêu của Sinh vừa thảng thốt vừa đau đớn! Anh lặng đi một lúc, mới run run giọng nói: - Ác giả ác báo mà! Bà Lý nói tiếp: - Tôi nói gieo gì gặt nấy là thế này: sau khi gây ra vụ việc tày trời đó được gần một năm, thì ông chủ xuất viện về nhà và hay tin! Giữa ông bà đã nổ ra một trận cãi long trời lở đất và cả hai đều bỏ nhà đi. Đến hai ngày sau thì tin dữ dội về, bà chủ trong lúc trở lại nhà cô Hồ Điệp để "đào mồ cuốc mả" cô ấy thì chẳng may, trong lúc giận quá mất khôn, bà đã tự lái xe và lao xuống vực! Phi lại lặng người đi khá lâu. Hồi sau, anh buông một câu: - Chuyện nhà con rối rắm quá! Anh tiếp tay với bà Lý dọn dẹp lại hai bàn thờ. Trong lúc dọn, anh giật mình khi nhìn thấy pho tượng đồng mà anh bị mất mấy hôm trước! - Vú, vật này sao ở đây? Bà Lý ngạc nhiên: - Vật gì? Khi Sinh lấy pho tượng đưa lên thì bà lại càng kinh ngạc hơn: - Vật này... cách đây trên ba năm, khi ông chủ còn sống thì tôi thấy... hình như tôi thấy... nó nằm trong phòng riêng của bà chủ! À mà phải rồi, lúc ông bà cãi vã nhau dữ dội thì cũng xoay quanh pho tượng này! Khi bà chết rồi thì nó biến đâu mất tiêu, bây giờ lại thấy ở đây. Mà mấy hôm nay ngày nào cũng đốt nhang cho ông bà, mà tôi có nhìn thấy nó đâu? - Nó ở chỗ của con! Câu nói của Sinh khiến bà Lý tròn mắt nhìn anh: - Nó bị ai lấy mang về đây sao? Tôi không có à... Sinh nói khẽ đủ cho bà vú nghe: - Mẹ con lấy! Rồi anh đột ngột hỏi: - Vú có biết gì nữa về pho tượng này không? - Nhiều thì không biết, nhưng tôi biết nó từ một ông thầy tướng số người Hoa, tên Lưu Tường. Sinh sáng mắt lên: - Ông ta là thế nào với ba mẹ con? Bà Lý im bặt, sắc mặt bà hơi biến đổi và Sinh nhìn thấy ngay: - Có chuyện gì sao vú? - Có... Bà im lặng thêm một lúc nữa, rồi đột nhiên hạ giọng: - Người đó là đầu mối của mọi rắc rối! Chính ông ta đã bán tượng ấy đầu tiên cho bà chủ, rồi sau lại chuyển cho ông chủ... Sinh cau mày: - Đây là pho tượng cổ quý giá lắm sao? Bà Lý lắc đầu: - Tôi không biết có quý hay không, nhưng... hình như nó được làm phép hay yểm bùa sao đó! Sinh ngạc nhiên: - Làm phép là sao? - Điều này tôi cũng không rõ. Nhưng có lúc bà giữ nó kỹ lắm, rồi khi qua tay ông nó cũng được ông giữ như báu vật! Nhưng từ khi ông chết thì tôi không còn thấy nó đâu, chẳng biết ông cất chỗ nào. Thì ra là ở chỗ cậu. - Vú biết nhà lão Lưu Tường gì đó không? Bà Lý lại tỏ ra căng thẳng, rồi đột nhiên bà nói: - Chắc cậu biết mẹ cậu vốn là người gốc Hoa chứ? Sinh gật đầu: - Dạ biết. Nhưng có liên quan gì tới vụ này sao? - Có. Ông Lưu Tường là một người Hoa, từng là... người yêu cũ của mẹ cậu lúc bà chưa lấy chồng! Lời tiết lộ này không khiến Sinh sửng sốt. Anh chỉ im lặng rồi vụt đứng lên, tay giữ khư khư pho tượng. Bà Lý hỏi: - Cậu tính sao? Sinh vẫn không nói gì, anh hỏi lại: - Vú có chìa khóa phòng riêng của mẹ con không? Bà Lý đích thân mở cửa phòng nhưng không vào, bà vội nói: - Từ nào đến giờ tôi không có vào trong. Nói thật, tôi sợ... Sinh không sợ, nhưng anh cũng có hơi e dè. Căn phòng đúng là từ lâu không được quét dọn, tuy nhiên cũng không đến nỗi bề bộn, luộm thuộm lắm. Một vật khiến Sinh chú ý đầu tiên lại là... một pho tượng đồng khác, đang nằm trên bàn phấn! - Sao lại...? Sinh hết nhìn pho tượng trên tay anh rồi đến pho tượng kia. Cả hai giống nhau như đúc cùng khuôn! Vừa đưa tay chạm vào thì có một tiếng kêu thét lên, như tiếng của ai đó kêu cứu! Mà giọng đó lại giống như của cha... Sinh thảng thốt kêu lên: - Ba! *** Anh chàng tuổi cỡ trên dưới ba mươi bước ra tiếp Sinh, khiến anh hơi thất vọng, anh hỏi liền:- Tôi muốn gặp ông Lưu Tường? Chàng trai kia trố mắt nhìn Sinh: - Có chuyện gì? - Đây là nhà ông Lưu Tường, ông thầy tướng...? Anh ta mở rộng cửa ra mời Sinh vào. Khi đã bước vào nhà rồi Sinh mới xác định là mình tìm đúng chỗ, bởi khắp phòng hầu như chỗ nào cũng bày đầy những trang thờ cùng những hình vẽ quái dị. Không khí căn phòng đầy huyền bí, âm u... Anh chàng kia không đợi Sinh hỏi thêm, đã nói ngay: - Ba tôi đã mất rồi. Tôi là con trai ông ấy. Sinh hơi thất vọng: - Ông Lưu Tường mất lâu chưa? Chỉ về phía bàn thờ đặt sát tường, lẫn vào những bệ thờ khác, anh ta bình thản nói: - Chỉ mới đây thôi. Xin hỏi, anh tìm ba tôi có việc gì? Sinh hơi ngập ngừng: - Chẳng là thế này... Tôi là con của một người bạn của ông Lưu. Có một vài việc... Anh chàng kia đột nhiên hỏi thẳng: - Anh là con của bà Lan Vi? Nghe anh ta hỏi đúng tên mẹ mình, Sinh ngạc nhiên: - Anh... biết mẹ tôi? Anh chàng thở dài thườn thượt: - Thảo nào... Anh ta đứng lên, đi về phía bàn thờ và lấy một phong thư còn mới, đưa cho Sinh: - Anh đọc đi. Sinh lắc đầu: - Tôi không đọc được tiếng Hoa. - Không, ba tôi viết bằng tiếng Việt. "Gửi ông Thanh Long, Phải đến bây giờ, sau gần mười năm, tôi mới viết những dòng này cho ông. Chắc ông biết tôi là ai rồi, người mà ông luôn cho rằng đã gây ra xào xáo hạnh phúc gia đình ông bấy lâu nay! Và điều mà tôi sắp nói đây có liên quan đến cái hạnh phúc đó! Tôi không chối bỏ tôi chính là người yêu của Lan Vi, vợ ông! Là một kẻ mất vợ sắp cưới vào tay ông, một thương gia giàu có và là kẻ nuôi trong lòng mối uất hận mười năm! Và chính vì lẽ đó mà suốt hơn mười năm qua, tôi đúng là người luôn chen vào để phá tan cái hạnh phúc gia đình mà ông vốn có! Tôi đã làm được với đủ mọi cách. Từ ly gián giữa ông với Lan Vi, đến dùng bùa chú để can thiệp vào, cho đến phá luôn cả mối tình vụng trộm giữa ông và cô người yêu bé nhỏ của ông ở Đơn Dương, cô Hồ Điệp gì đó... Tôi hầu như sắp đạt mục đích cuối cùng là loại ông ra khỏi cuộc tranh chấp tình cảm này để chiếm lại Lan Vi của tôi. Nhưng tôi không ngờ số mạng lại trớ trêu, người chết trong cuộc trả thù của tôi không là ông mà lại là Lan Vi! Chính tôi đã biến Lan Vi đem pho tượng đồng đã bị yểm bùa để đặt vào nhà cô Hồ Điệp, nơi mà tôi biết sau khi rời bệnh viện thế nào ông cũng mò về đó, để ông phải bị bùa mà điên cuồng, rồi chính tay ông sẽ giết hại người yêu của mình và vì vậy mà bị kết án sẽ rục xương trong nhà tù! Nhưng người tính không bằng trời tính, nên Lan Vi chưa làm được chuyện ấy thì cô ấy lại lao xe xuống vực mà chết! Tôi hận ông thấu xương, nên thay vì Lan Vi chết rồi, tôi phải bỏ mọi ý định trả thù, đằng này tôi vẫn tiếp tục cuộc truy đuổi ông. Những pho tượng đồng báo oán vẫn bám sát gia đình ông, đã khiến được ông chết bởi cơn bệnh dai dẳng hành hạ, và rồi điều đó sẽ lặp lại với chính đứa con trai duy nhất đang nối nghiệp ông! Nhưng, chuyện đời đâu phải cái gì mình muốn cũng theo đúng ý mình đâu! Vừa rồi, trong lúc tôi sắp đạt được mục đích cuối cùng, khi thằng con trai ông nó đã bắt đầu chạm vào pho tượng thiêng đó, thì một bất ngờ đã xảy ra, điều mà chính tôi cũng không ngờ tới! Ông biết ai đã phá hỏng hết mọi cố gắng của tôi không? Đó chính là... Lan Vi! Chính cô đã lấy hai pho tượng, một do ông cất giữ, một của cô ấy, đem về tận nhà tôi, rồi trước sự bất ngờ của tôi, cô ấy ném cả hai vật ấy vào nơi ô uế, khiến cho mọi phép thiêng yểm trong đó đều tiêu tan hết! Tôi đã hỏi tại sao cô ấy làm như vậy thì cô ấy chỉ khóc mà không nói, rồi biến mất luôn. Oan hồn cô đã vĩnh viễn không bao giờ trở lại đây nữa... Và tôi cũng đã đoán ra tại sao cô ấy lại hành động như vậy. Chỉ bởi lương tâm làm mẹ của cô ấy thức tỉnh kịp thời trong cõi âm hồn, và cô ấy biết là mình không thể hại con ruột của mình được! Cô ấy đã và thà chấp nhận oan hồn mình vĩnh viễn tiêu tan, chứ không làm ác thêm lần nữa... Với tôi như vậy thì còn gì để theo đuổi cuộc trả thù điên cuồng của mình nữa! Tôi đã hiểu ra, mọi thù hằn rồi cũng chỉ hằn thù triền miên mà thôi. Bởi dẫu tôi có hại nốt giọt máu cuối cùng của ông, thì rồi tôi vẫn còn có đứa con trai của mình. Lấy gì bảo đảm là vong hồn ông, vong hồn con trai ông nó sẽ không tìm cách trả hận chúng tôi. Lan Vi đã không còn tin tôi nữa, vậy thử hỏi tôi còn sống mà làm gì! Tôi viết những dòng này, biết là ông không còn trên thế gian này để đọc, nhưng tôi mong con trai ông nó sẽ đọc, và sau đó đem đốt để ở suối vàng ông cũng đọc được và tha thứ cho tôi... Lưu Tường.” Buông lá thư xuống, Sinh nhìn chàng trai kia, chưa kịp nói gì thì anh ta đã lên tiếng: - Ba tôi chết bởi tự mình kết liễu cuộc đời. Tôi tuy không rõ lắm về chuyện rắc rối giữa ông với cha mẹ anh, nhưng qua lá thư này tôi cũng hiểu ra là mọi việc đã kết thúc. Phần anh thì sao, anh có hận thù gì tôi không? Sinh gượng cười và bắt tay anh ta: - Chuyện ấy đã là quá khứ. Những gì ba anh nói đã quá đủ để chúng ta khép lại mọi việc. Họ siết chặt tay nhau trong niềm cảm thông. Sinh xách trên tay hai pho tượng đồng nặng gần mười ký lô trong giỏ xách, mà lúc tới anh kỳ vọng sẽ buộc ông Lưu Tường làm cho ra lẽ, nhưng giờ này nó trở thành một gánh nặng thật sự. Anh muốn bỏ nó ở giữa đường, nhưng suy nghĩ lại, anh mang nó về nhà. Anh đốt nhang bàn thờ cha mẹ, rồi dặn bà Lý: - Vú làm một mâm cơm để trưa nay cúng giùm con. Bà Lý ngạc nhiên: - Sao cậu còn sửa soạn đi đâu nữa? - Con có chút việc phải đi ngay. Khi về con sẽ nói với vú nhiều việc. Lúc Sinh cất hai pho tượng vào tủ, anh có cảm giác như những pho tượng ấy giờ chỉ còn là hai khối đồng nặng nề mà thôi, mọi điều thần bí không còn nữa... Bằng chứng là trong lúc sắp xếp, Sinh vô tình làm rơi một pho tượng xuống sàn, chỉ một tiếng vang khô khan rồi thôi, không có một biểu hiện gì khác thường! Bỗng một ý nghĩ lóe lên trong đầu, Sinh tự nhủ: - Tại sao mình lại không đặt tượng lên đầu mộ của từng người? Anh đem hai pho tượng ra ngoài mộ, thay vì bỏ vào tủ cất. Và tuần tự, Sinh đặt trước đầu mộ từng cái một. Vừa đặt xong thì thật bất ngờ, pho tượng bên mộ cha anh vụt chuyển động, rồi chỉ trong chớp mắt, nó chuyển dịch nhanh và đổi vị trí sang đầu mộ của mẹ. Riêng pho tượng của mẹ anh thì vẫn đứng yên. Sinh chợt hiểu ra, anh thử lấy pho tượng vốn đặt mộ mẹ trước đó, chuyển sang mộ của cha, thì nó đứng yên! Để thử lại xem suy nghĩ của mình có đúng không, Sinh lại chuyển pho tượng mới bị dịch chuyển từ mộ cha sang, để nó trở lại cạnh pho tượng kia, ngay đầu mộ của cha. Lập tức pho tượng đó bị hất tung. Trong lúc pho tượng kia thì vẫn đứng yên! Sinh chắp tay trước mộ cha, khấn: - Con xin ba, giờ thì mọi việc đã đổi thay rồi. Mẹ đã biết lỗi và đã vĩnh viễn tan biến vào hư không rồi. Xin cha hãy rộng lượng, bỏ qua... Nói xong, anh lấy bức thư của ông Lưu Tường, bật diêm quẹt đốt liền. Rồi anh lại khấn thêm: - Bây giờ con sẽ thay ba đi làm một việc cuối cùng. Ba cứ yên lòng nhắm mắt... Anh đốt thêm hai nén nhang nữa và chờ cho lá thư cháy hết rồi mới quay lưng đi. Ở phía sau Sinh, làn khói xanh từ lá thư đang đốt bỗng hóa thành màu đỏ, bay là đà quanh hai ngôi mộ. Cuối cùng, làn khói ấy sà xuống sát ngôi mộ của bà Lan Vi rồi tỏa ra lớn dần, lớn dần, sau cùng nó như một đám mây óng ánh sắc màu chụp xuống ngôi mộ! *** Người đàn ông hôm trước đón sự trở lại của Sinh khác lần đầu. Ông nở nụ cười thân thiện:- Cậu trở lại đây sớm hơn tôi dự kiến. Sinh lễ phép: - Thưa chú, chú không khó chịu vì sự hiện diện của cháu chứ? - Trái lại là khác. Cứ gọi tôi là Ba Vĩnh, tôi là em ruột của Hồ Điệp. Tôi đã được người ta báo trước là cậu sẽ trở lại đây, nhưng nghĩ ít ra cũng năm ba ngày nữa... - Cháu đi xe đêm để kịp tới đây sáng nay. Bởi hôm nay là sinh nhật thứ 42 của bà Hồ Điệp, phải không ạ? Anh vừa nói vừa đặt xuống một lẵng hoa tươi, không ra dáng hoa tang, mà cũng chẳng ra hoa cưới, vì trên đầu lẵng hoa có gắn một dòng chữ khá to: Ngàn lần tạ tội! Thay mặt gia đình Thanh Long. Hoàng Sinh. Vừa lúc đó, Sinh quỳ xuống trước sự ngỡ ngàng của ông Ba Vĩnh: - Kìa, sao cậu lại... Nhưng rồi ông chợt hiểu: - Đêm qua ba cậu đã về đây báo cho biết cậu sẽ tới để tạ lỗi. Ba cậu cũng đã nói hết mọi chuyện về hành vi của mẹ cậu và ông thầy tướng số nào đó... Nhưng cậu không phải làm như vậy. Bởi mọi việc đã qua rồi, dẫu sao thì chị tôi cũng đã nhận hết mọi khổ đau rồi, còn hận ai làm gì... Ông đỡ Sinh đứng lên, rồi nói: - Cậu theo tôi ra sau này. Ông đưa Sinh ra phía sau nhà, nơi có một khu vườn trồng những cây ăn trái sum sê. Đến một ngôi nhà nhỏ biệt lập với nhà lớn phía ngoài, từ bên trong vọng ra điệu kèn kỳ bí hôm trước! Sinh thảng thốt: - Đây là... Ba Vĩnh bảo: - Chị tôi thổi đó. Chị ấy từ nhỏ đã mê loại kèn này và tập thổi cho đến khi chơi được nhiều bản nhạc, nhưng chỉ duy nhất có bản này thì hầu như năm bảy năm nay chị ấy chỉ chơi có một. Cậu biết bài nhạc này? - Bài "Rose de Chine". - Đúng, đây là bản nhạc định mệnh của chị ấy. Bởi thiếu gì bài hay mà chị ấy không thổi, lại chỉ chơi có mỗi bài này. Tôi có hỏi thì chị bảo, bởi vì đấy là bài Cánh Hồng Trung Hoa mà anh Thanh Long thích nhất! Đó, tình yêu nó làm cho người ta lãng mạn và bảo thủ như thế đó! - Cô ấy thổi hay quá, cháu cũng phát mê! - Vậy mà... Ba Vĩnh định nói gì đó nhưng lại thôi. Ông cất tiếng gọi vào trong: - Chị Hai ơi, có cậu ấy tới! Hình như việc Sinh tới đây đã được người trong kia hay biết trước, nên có một giọng yếu ớt và hơi run vọng ra: - Mời cậu ấy vào phòng khách. Ba Vĩnh mời Sinh vào nhà, vừa giải thích thêm: - Từ ngày bị nạn chị tôi không tiếp ai ở đây cả, ngoại trừ cậu. Căn phòng chìm trong bóng tối, do tất cả cửa nẻo đều đóng kín. Ngăn giữa phòng khách và phòng bên trong chỉ bằng một tấm màn che màu sậm. Giọng từ bên trong lại vọng ra: - Cậu là Sinh? - Dạ, con là Sinh. Con xin cúi đầu trước cô để nhận tội cho má con! Anh lại bất thần quỳ xuống và mọp đầu sát sàn nhà. Bên trong, giọng nói vẫn từ tốn: - Cậu không phải làm vậy đâu. Mọi việc đã qua rồi mà hôm nay được nghe cậu nói tôi đã mãn nguyện lắm, tôi không mong gì hơn... Bà nấc lên thành tiếng! Ba Vĩnh hốt hoảng: - Kìa, chị Hai! Chị làm khổ con tim của chị nữa rồi. Giọng nói vẫn vang ra: - Không sao. Cậu Ba có thể bước ra ngoài, để tôi nói với cậu đây mấy lời không? - Dạ... nhưng chị Hai đừng để ảnh hưởng sức khỏe. Ba Vĩnh lui ra thì tấm màn lay động nhẹ, rồi Sinh có cảm giác như có tiếng xe lăn chuyển động và... giọng nói gần sát bên: - Cậu là người duy nhất được nhìn thấy dung nhan tôi, trong khi kể cả em trai tôi, nó nuôi tôi từ bao nhiêu năm nay cũng chưa từng nhìn thấy! Tôi chào cậu. Sinh vừa ngước nhìn và suýt nữa anh đã kêu rú lên, bởi con người ngồi trên xe lăn đang ở trước mặt anh có một bộ mặt chẳng khác gì một ác quỷ! - Bà là... bà Hồ Điệp? Một tiếng cười giống như tiếng khóc cất lên: - Cậu cũng nhận ra tôi rồi! Cám ơn cậu, dù sao thì dưới bộ mặt quỷ tôi vẫn còn có cái tên! Tôi đang đợi cậu tới đây để nói với cậu câu này... Bà dừng lại, hình như để lấy hơi, rồi mới tiếp: - Tôi chỉ mong ước một điều duy nhất trước khi nhắm mắt, mà chỉ có cậu mới quyết được: Tôi muốn được chôn cạnh ba cậu! Sinh phản ứng ngay: - Sao được! Mẹ tôi... Người phụ nữ trên xe lăn chợt thở dài... Riêng Sinh, sau câu nói dở dang, anh chợt nhận ra, vội tiếp liền: - À, mà không sao! Được, được cô ạ! Nhưng, con muốn phụng dưỡng cô dài lâu. Cô đừng chết... Người phụ nữ long lanh ánh mắt trên khuôn mặt sần sùi, nhăn nheo giọng bà như reo lên: - Cô cám ơn con! Cám ơn Phật trời... Sau câu nói, bà đẩy nhanh chiếc xe lăn trở vào sau bức màn che, và... bà khóc nức nở từ trong đó. Sinh cố lên tiếng xin nói chuyện, nhưng bà không trả lời. Tuy vậy, Sinh thoáng hiểu tiếng nấc kia là niềm vui chứ không phải nỗi thống khổ như từ bao lâu nay... Anh lặng lẽ bước ra ngoài và quyết định sẽ ở lại đó vài hôm... Và quyết định đó rất đúng. Bởi ngay sáng hôm sau thì Ba Vĩnh, em trai bà đã phát hiện Hồ Điệp nằm chết trên giường với tư thế thanh thản. Hình như bà tự tìm lấy sự ra đi... Thể theo ý nguyện của bà, Sinh và Ba Vĩnh đã đưa thi thể bà về chôn trong vườn nhà, nằm bên cạnh mộ của cha mẹ anh. Sau khi mai táng, Sinh chờ đợi xem có phản ứng gì không từ mẹ. Nhưng tuyệt nhiên không có gì... LỜI THỀ ĐỘC Hưng không hứng thú gì khi theo mẹ vào chùa. Nhưng bà Thái thì lại phấn khởi lắm, cứ hối hoài: - Con đi nhanh lên, sư cụ chỉ có thời giờ ít thôi, ông còn phải đi dự trai đàn ở xa mà cố gắng đợi mẹ con mình đó! Hưng càu nhàu: - Con nói rồi, chuyện cầu xin làm chi cho mất công, bề nào cũng... Anh muốn nói điều gì đó, nhưng kịp ngừng lại. Bà Thái không để ý lắm, bà chỉ gấp gáp thôi: - Nhanh chút nữa con! Từ ngoài đường cái vào tuy là quãng đường đất khá xa, vậy mà chỉ mất chưa đầy năm phút là hai mẹ con vào tới nơi. Ngửi được mùi hương nhang từ trong tỏa ra, bà Thái vui hẳn lên: - Sư cụ còn chờ mình trong đó! Bà vừa dứt lời thì từ trong chánh điện đã có tiếng vọng ra: - Mời bà và cậu vào trong này. Bà Thái nói nhanh với con: - Nhớ là phải lễ phép với sư cụ đó, không được hỏi lôi thôi! Hưng bỏ giày ra rồi theo mẹ bước tới sau lưng vị sư già đang ngồi xếp bằng trước bàn thờ Phật. - A di đà Phật, con kính lễ thầy! Hưng cũng chấp tay xá theo chứ không nói được như mẹ. Lúc này vị sư già mới ngẩng mặt lên, quay lại. Ông cất tiếng hiền từ: - Thầy tưởng phải chờ lâu. Bà Thái mau mắn: - Dạ, đã được thầy cho phép thì đệ tử đâu dám chần chừ. - Không phải bà, mà là cậu đây... Hưng giật mình, anh lí nhí: - Dạ... con... con... Nhà sư vẫn giữ nụ cười hiền hòa, ông vừa đứng lên vừa đưa tay chỉ ra sau: - Mình ra ngoài nói chuyện cho thoáng mát. Theo ông ra hoa viên phía sau chùa và không đợi bà Thái lên tiếng, sư cụ Chơn Phước đã chủ động nói: - Sao, có chuyện gì hai vị cứ nói tự nhiên, thầy nghe. Bà Thái nói liền: - Bạch thầy, như đệ tử thưa với thầy hôm qua, thằng con trai của con nó có vấn đề... Không để bà nói hết, nhà sư đã nói: - Chuyện cái tâm không được an trước ngày lấy vợ phải không? Bà Thái giật mình: - Sao thầy biết? Nhà sư nói mà không nhìn Hưng: - Sắc diện cậu đây đã nói hết điều trong lòng. Cậu không hài lòng điều gì ở người con dâu mà mẹ cậu chọn? Bà Thái định nói thay con, nhưng sư Chơn Phước đã chận lời: - Thầy muốn nghe chính cậu đây nói thôi. Bấy giờ Hưng mói thật sự lúng túng: - Dạ... bạch thầy, con... Bà Thái khuyến khích: - Thầy đã hỏi thì con nói thật hết cho thầy nghe. - Cậu không phải nói hết. Chỉ trả lời thầy tại sao cậu không thích người mẹ cậu chọn? - Dạ... không phải con không thích. Nhưng... không dám thích thì đúng hơn! Câu trả lời của Hưng làm cho bà Thái ngạc nhiên, trái lại nhà sư thì không, ông gật gù nói: - Đây là lời thật lòng của cậu. Vậy điều gì khiến cho cậu sợ? - Dạ... Bà Thái lại chen vào: - Con sợ cái gì? Con nhỏ này là con nhà gia giáo, nó lại nết na đằm thắm mà chính con cũng nhiều lần khen. Hơn nữa con và nó từng quen biết nhau nhiều năm, từng hẹn ước nữa... Hưng chừng như không muốn mẹ mình nói ra những điều đó, anh hơi xẵng giọng: - Chuyện đó là của con... Nhà sư nghiêm giọng: - Chuyện này không đơn giản đâu. Nghe ông nói thế, bà Thái lo lắng: - Có gì nghiêm trọng sao thầy? Nhà sư lại nhìn Hưng: - Thầy nói không đơn giản không phải về phía cô gái, cũng không phải từ đôi bên cha mẹ, cũng không phải do bản thân cậu. Mà do một nguyên nhân khác... Hơi giật mình bởi câu nói, Hưng lần đầu tiên dám nhìn thẳng vào mắt nhà sư, nhưng mới vừa nhìn anh đã vội tránh đi ngay, bởi hình như trong ánh mắt ấy như có cái gì đó khiến Hưng phát sợ! Thấy sự lúng túng của Hưng, sư Chơn Phước nhắc: - Hơn lúc nào hết, giờ đây cậu cần phải bình tĩnh. Bởi việc cậu sợ có liên quan tới tâm linh, nên thái độ của cậu sẽ quyết định cả cuộc đời cậu! Vừa nghe tới đó bà Thái đã kêu lên: - Có gì nghiêm trọng sao thầy? Trời ơi, con tôi... Nhà sư dịu giọng: - Chuyện này chỉ có mình cậu đây giải quyết được thôi, xin bà cứ bình tĩnh. Mà thôi, để cho dễ cả hai mẹ con, xin bà tạm ra hậu điện ngồi uống nước. Thầy cần nói thêm với cậu đây vài câu... Bà Thái đành phải tránh đi, nhưng vẫn hướng mắt đầy lo lắng về phía con trai. Trong khi đó sư Chơn Phước chỉ nhìn về phía Hưng, không nói gì, nhưng hình như đang khuyến khích anh nói. Và Hưng nói rất thật lòng: - Con sợ một cái gì đó vô hình! Cụ thể là mỗi khi con có ý định tới gặp Diệu Hương, người mà mẹ con định cưới cho con thì y như là con bị cái gì đó hành xác con dữ lắm, đến nỗi có lần con đang ngồi trên xe mà bị rớt xuống đất lúc nào không hay! Mà không phải một lần, nó cứ xảy ra hoài mỗi lần con gặp hay nghĩ tới cô gái ấy. Lúc đầu con tưởng mình bị bệnh, nhưng sau này ngẫm lại con mới hiểu, nếu con không nghĩ tới ai khác phái thì không có chuyện gì... Con đã đi khám bệnh tâm thần, thầy thuốc không phát hiện bất cứ bệnh tật gì ở con. Con hoang mang quá, mà ngày mẹ con muốn con cưới vợ cũng không còn xa nữa. Vậy con phải làm sao? Nhà sư trầm ngâm một lúc rồi nói: - Thầy không rành chuyện thần bí đó, nhưng nhìn khí sắc con ta đoán chắc con bị một ám ảnh gì đó lớn lắm. Ta hỏi thật, từ nào đến giờ con đã từng qua đời vợ nào chưa? Hưng đáp ngay: - Dạ chưa! Từ nào đến giờ con ở nhà cha mẹ, con đi học, rồi bây giờ mẹ con bắt đi lấy vợ. Con chưa hề... Nhà sư lại thêm một phút trầm ngâm: - Ta có nghiên cứu quẻ dịch, cho nên khi mẹ cậu và cậu chưa tới đây ta đã có bói một quẻ, ta lấy làm lạ là sao... cậu còn trẻ như vầy mà đã vướng chuyện tình trường? Hưng lại chối bai bải: - Không có đâu thầy! Năm nay con mới có mười tám, mà mấy năm trước con chỉ biết lo học hành... Nhưng chợt anh khựng lại, bởi trong đầu Hưng dường như đang có một tiếng khóc nức nở của ai đó, lúc thì như vọng lại từ bên ngoài, lúc lại như đang ở trong đầu... đủ khiến cho Hưng vừa sợ hãi lại vừa như tò mò... - Cậu sao vậy? Có phải... Hưng đành thú thật: - Con đang nghe ai đó khóc! Mà điều này cũng thường xảy ra! Người ta chỉ khóc văng vẳng thôi, vậy mà con nghe như triệu triệu lời trách móc, đay nghiến... Con làm sao bây giờ đây thầy? Nhà sư đột ngột đặt tay lên giữa trán của Hưng trong vài giây rồi nói nhanh: - Cậu mắc nợ ai đó một lời thề hay một lời hứa gì đó quan trọng lắm! Hưng chợt thoát ra khỏi trạng thái đang mắc phải sau câu nói của nhà sư. Nhưng anh vẫn không thừa nhận: - Con không hề có điều gì với ai hết! Hay là... Trong đầu anh lại tiếp tục nghe những âm thanh như lúc nãy, điều này khiến Hưng hiểu rằng hễ anh chối bỏ điều như nhà sư nói thì anh bị... ai đó làm cho rơi vào tình trạng khó chịu này! Sư Chơn Phước bỗng đứng dậy, ông nói dứt khoát: - Cậu về suy nghĩ kỹ lại coi, mình có phạm điều gì như thầy vừa nói không? Phải tìm ra căn nguyên thì mới hy vọng giúp cậu thoát qua trạng thái này. Ông ra ngoài báo cho bà Thái: - Bà đưa cậu ấy về đi, không có gì đáng lo cả. Nhưng theo thầy thì bà nên hoãn chuyện tính cưới vợ cho cậu ấy, cho đến khi nào tự cậu ấy thấy cần. Bà Thái lo lắng định hỏi thêm, nhưng nhà sư đã lặng lẽ bước về chánh điện, bắt đầu buổi kinh sáng như thường lệ. Mà một buổi cầu kinh của thầy thì kéo dài đến giữa trưa, không gì làm cho ông bỏ dở buổi kinh... Hưng giục mẹ mình: - Mình về thôi, má! Suốt trên quãng đường về dù bà cố dò hỏi, nhưng Hưng không hé răng nửa lời về buổi trò chuyện với nhà sư. Chỉ khi về đến gần nhà Hưng mới đột nhiên nói: - Con muốn đi qua bà nội! Bà Thái ngạc nhiên: - Qua bên đó làm gì con, để bữa khác đi cho sớm, bây giờ gần giữa trưa rồi, đây qua đó đến hơn trăm cây số. Nhưng Hưng vẫn cương quyết: - Con có việc này cần lắm, con phải đi! Chưa bao giờ bà Thái thấy con như vậy! Bà nghĩ có lẽ nhà sư đã nói gì đó nên Hưng mới gấp đi như thế. Bà đành phải chấp thuận, nhưng căn dặn: - Nếu liệu không về sớm được thì con ở bên đó ngủ với nội, bữa sau về cũng được. Hưng đáp gọn lỏn: - Vài bữa con mới về! *** Thấy cháu nội về bất ngờ, bà nội Năm đã ngạc nhiên, mà bà còn ngạc nhiên hơn khi Hưng hỏi:- Nội nhớ ông giáo Luận không nội? - Giáo Luận nào, phải ông giáo ngày trước dạy con và mấy đứa trong nhà rồi chết bất đắc kỳ tử đó không? - Dạ, đúng rồi nội. Ông giáo chẳng biết tại sao chết, nhưng nội cấm tụi con không đứa nào được qua nhà đó nữa từ sau khi ông ấy chết! Bà nội Năm gục gật đầu: - Nhớ chứ. Mà sao tự nhiên con hỏi thăm nhà đó làm gì? - Dạ... con muốn biết coi bây giờ còn ở chỗ cũ không? - Còn. Nhưng con không nhớ lời nội dặn sao, nhà đó... có vong, không nên tới! Hưng ngơ ngác: - Có vong là sao nội? - Là có người chết bởi... âm hồn, nên âm khí nơi đó nặng nề lắm! - Thì ra chỉ vì chuyện ấy mà ngày trước nội cấm không cho tụi con qua đó, đến nỗi bây giờ con muốn quên đường qua nhà của thầy luôn. Mà nè nội, sao nội tin làm gì chuyện vong hồn gì đó. Thầy Luận là người tốt, thầy được học sinh kính yêu, rồi thầy chẳng may chết sớm, vậy có gì đâu gọi là vong với âm hồn? Bà nội Năm hạ thấp giọng như sợ có người nghe: - Chính vì ông giáo chết bất đắc nên người ta mới nói... Mà thôi, chuyện nhà đó đã lâu rồi không qua lại, con còn nhắc tới làm gì. Mà chuyến này con về là để lo việc gì, sao má mày đâu không về? Hưng đáp khiến bà nội giật mình: - Con về chỉ vì chuyện nhà ông giáo! Bà nội trố mắt: - Chuyện gì? Hưng gấp gáp đứng lên: - Để con đi xong việc rồi về chơi mấy bữa. Anh đi thẳng ra cửa trước sự lo lắng của nội: - Mà con đi đâu? - Việc riêng của con mà! Nơi Hưng tìm tới đúng là ngôi nhà của ông giáo Luận. Lâu ngày không ghé qua, quả là có nhiều thay đổi, nên Hưng phải hỏi mấy lượt người ta mới chỉ cho: - Nhà thầy giáo Luận từ khi ông ấy mất thì có nhiều thay đổi. Hồi xưa đường vào nhà thầy là đi bên cạnh đình làng, nhưng những năm trước người ta bít con đường đó, mở con đường mới đi từ bến sông lên gần hơn. Bây giờ cậu cứ theo lộ xe đây, đi tới chỗ bến đò, thấy có cái cổng xi măng đề mấy chữ: Từ đường ông Hội Đồng, cậu cứ theo đó mà đi chừng vài trăm mét, hỏi nhà giáo Luận ai cũng biết. Hưng còn nhớ thời anh còn nhỏ đã từng đi qua ngõ này, nhà hội đồng Kinh lớn nhất vùng, có nuôi nhiều chó dữ, nên tuy con đường qua lại đã có từ lâu, nhưng bọn trẻ như anh không thích đi, bởi sợ chó. Mà người thường nhắc Hưng không nên đi lối này lại là một cô gái, bạn học với Hưng, mà lúc này Hưng đang chợt nhớ tới, Lan Huệ! Chuyện Hưng trở về đây đột ngột là cũng bởi Lan Huệ. Cô bạn học này ngày xưa suýt nữa đã cùng với Hưng lên Sài Gòn học tiếp bằng Tú Tài, nếu không vì cái chết đột ngột của ông giáo. Rồi từ đó Hưng không còn liên lạc gì, dẫu khi học ở Sài Gòn trong mấy năm đầu anh cũng đã có gửi về năm sáu lá thư mà không thấy hồi âm... - Cậu tìm nhà ai? Thấy Hưng ăn mặc ra dáng công tử nên một chị gánh hàng rong lên tiếng hỏi. Hưng đã nhớ lối vào nhà thầy Luận, nên chỉ tay và đáp: - Nhà thầy giáo Luận. Chị đó buông gánh hàng xuống, nhìn Hưng một lượt rồi nói: - Chắc lâu lắm cậu không tới đây phải không? - Dạ đúng. Tôi học ở Sài Gòn... - Thảo nào... Hưng ngạc nhiên: - Có gì vậy chị? - Cậu biết ông giáo đã chết? - Dạ biết. Hồi ông giáo chết tôi còn ở xứ này. - Nhưng... những cái chết sau đó cậu có biết? - Ai chết? Những cái chết nào? Chị bán hàng chưa kịp nói thì bỗng Hưng vụt chạy về hướng ngôi nhà mà anh đang đi tìm. Trong đầu anh dường như đang có một linh tính gì đó... Lúc đẩy cánh cổng cây đã mục nát Hưng mới chợt nhận ra sự hoang vắng của ngôi nhà. Ngoài cánh cổng mục, cái sân rộng cũng mọc đầy cỏ um tùm. Khi Hưng bước vào cửa trong thì đã hiểu ngôi nhà không có người ở từ lâu. Cửa đóng kín, khóa bên ngoài bằng một ống khóa to đã rỉ sét. - Sao kỳ vậy? Hưng đang tự hỏi thì chợt anh nghe tiếng bước chân từ phía bên hông nhà, cùng lúc có người cất tiếng gọi: - Cậu tìm gì trong này? Hưng quay lại bắt gặp một người đàn ông lớn tuổi, ăn mặc kiểu một nông dân vừa đi đồng về, trên tay ông còn cầm cây cuốc đầy bùn. - Dạ, cháu muốn tìm nhà thầy Luận. Tìm... cô Lan Huệ? Bỗng người nọ kêu lên: - Cậu là cậu Hưng cháu bà nội Năm phải không? Hưng ngơ ngác: - Chú đây là... Vị lão nông lột chiếc nón lá đang đội trên đầu xuống, lộ ra một khuôn mặt khá quen thuộc với Hưng: - Cậu Sáu! Thì ra người đang đứng trước mặt Hưng là cậu thứ Sáu trong nhà này, tức em vợ thầy Luận, mà hồi trước khi còn qua đây chơi, Hưng thường được cậu hái ổi cho ăn. - Thằng bây giờ lớn đại! Mà sao tới bây giờ con mới về hả Hưng? Trong câu hỏi dường như có sự trách móc. Hưng cũng cố ngượng: - Dạ, do con đi học ở Sài Gòn, con có viết thư về cho Lan Huệ, mà không thấy trả lời. Cậu Sáu nhẹ thở dài, rồi chỉ tay ra sau bảo Hưng: - Bây giờ cậu ở ngôi nhà phía sau vườn. Hồi xưa nó là phía sau, nhưng bây giờ trở thành cửa trước, bởi nhà không còn ai nên cậu đóng cửa trước này lại, chỉ ra vào cửa sau thôi. Qua nhà đi rồi cậu kể chuyện cho nghe. Ông đi trước dẫn đường, đến khi lọt vào phía vườn sau, Hưng mới nhớ ra, hồi đó ở sau vườn này anh và Lan Huệ đã từng chơi đùa, hái trái và đôi khi còn tắm sông. Ngõ sau này đúng là còn có một lối đi thông ra phía đình làng. - Sao cậu ở một mình? Không trả lời Hưng, chờ khi vào nhà rồi ông mới nói: - Cậu bây giờ sống ở đây một mình để hương khói cho cả nhà. Hưng hốt hoảng: - Cả nhà nào? Chỉ tay về tủ thờ lớn, cậu Sáu đáp, giọng buồn hiu: - Cả nhà anh chị tôi đều chết hết cách nay hơn ba năm rồi! - Trời ơi! Hưng nhìn lên tủ thờ, anh còn sửng sốt hơn khi thấy có ảnh của Lan Huệ: - Huệ... Huệ cũng... chết rồi sao cậu? Giọng cậu Sáu chùn xuống: - Sau khi ba nó chết đột ngột thì hơn một năm sau thì bỗng nửa đêm đến phiên chị tôi cũng chết theo. Tôi cứ tưởng là chuyện bình thường, nhưng vừa chôn cất chị tôi được vài tuần thì bỗng con Lan Huệ cũng lăn đùng ra chết mà chẳng có bệnh hoạn gì! Mà nào có hết, hai đứa chị của nó đi dạy học xa cũng bị tai nạn chết cùng lúc, sau đó chỉ mấy tháng! Hưng không còn giữ được bình tĩnh, anh thảng thốt kêu lên: - Trời ơi! Cậu Sáu có lẽ lâu lắm không được kể với ai về chuyện nhà, một bi kịch mà vì nó hầu như cả làng này không còn ai dám lui tới nhà ông nữa: - Đúng là những cái chết không bình thường. Một bi kịch mà không hiểu ông trời có ghét bỏ gì nhà này không mà lại rơi xuống thảm khốc như vậy! Từ đó nhà này tiêu điều luôn, tôi nhiều lần rao bán nhà nhưng chẳng ai dám mua, mà càng ngày càng xa lánh nữa. Tôi đành phải thui thủi sống một mình để nhang khói cho họ. - Nhưng tại sao lại có chuyện bi thảm vậy, cậu Sáu? Cậu đứng lên, đi lấy ra một hộp giấy nhỏ, trong đó chứa nhiều thư từ, giấy tờ cũ. Trong số này có cả mấy lá thư của Hưng, còn nguyên chưa được xé ra. Hưng hiểu ra, anh chép miệng: - Thảo nào con chờ hồi âm mãi mà không có. Cậu Sáu còn lấy ra một tờ giấy cũ khác đưa cho Hưng: - Con có đọc được chữ này không? Hưng cầm lấy xem qua rồi lắc đầu: - Đây giống như chữ Cao Miên, con không đọc được. - Đúng đây là chữ Miên. Tờ giấy này do một đạo sĩ người Miên, trong lễ an táng anh giáo Luận thì ông này ghé lại đốt nén hương trước quan tài và xin giấy bút, viết một hơi và bảo người nhà đi tìm người đọc và làm theo. Sau khi an táng anh rể tôi rồi do lu bu, vả lại xứ này có ai biết đọc chữ Miên, nên tờ giấy này phải hơn một năm sau mới được dịch nghĩa ra và... bi kịch đã xảy ra rồi! Hưng giật mình: - Trong giấy nói gì vậy? - Đó là lời của vị đạo sĩ giỏi về bắt vong gọi hồn, ông ấy biết trước sự việc sẽ xảy ra sau cái chết của giáo Luận và khuyên người nhà nên cúng vái, ngăn ngừa... Nhưng do không đọc được tờ giấy này nên thảm họa đã xảy ra! - Trong đó nói gì? - Ông ta nói giáo Luận chết vì đúng giờ trùng, lại gặp đúng hung tinh tác động, nên từ một cái chết sẽ kéo theo nhiều cái chết nữa của người trong nhà, nếu không kịp ngăn ngừa! - Nhưng ngăn bằng cách nào? Ông nhìn thẳng vào mặt Hưng, giọng đầy lo lắng: - Bất cứ ai có liên hệ đến người chết đều có thể bị nguy. Anh rể tôi chết vào giờ trùng, gặp hung tinh Bạch Hổ, nên vợ rồi con đều phải liên lụy, trong số những đứa con của anh chị tôi có con Lan Huệ, nó ẩn tuổi cha, lại cùng mạng hỏa với cha nó, nên khả năng gây họa của nó cao hơn hết trong nhà! Bởi vậy kể từ khi nó chết tôi đã rà soát trong nhà coi có ai có thể bị ảnh hưởng bởi sao xấu của nó không mà chưa thấy. Nghe nói, nếu khi còn sống mà con Lan Huệ có quan hệ tình cảm với ai thì người đó sẽ không yên. Ông nói xong cầm mấy lá thư của Hưng trả lại cho anh ta: - May là những lá thư này nó chưa đọc, chứ nếu không thì... Bỗng ông giật mình kêu lên: - Mà không xong rồi! Cậu có tên trong sổ lưu bút của nó, lại đứng đầu sổ nữa. Ông chạy đi lấy ra quyển sổ lưu bút đã cũ, đưa cho Hưng xem: - Đây nè, cậu xem! Hưng nhớ ngay quyển lưu bút này. Hồi đó chính Lan Huệ đã đưa cho anh và còn nói: - Trong sổ này em chỉ muốn anh và hai người bạn nữa viết thôi, em không thích cho nhiều người viết. Anh là bạn thân duy nhất của Huệ, còn hai người kia là anh họ xa, đều là những người thân thiết nhất của Huệ! Hưng vừa nhìn vào và kêu lên sửng sốt: - Anh Hòa, thằng Lương, cả hai người cũng lên Sài Gòn học với con và... cả hai đã chết hết rồi! Cậu Sáu không kìm chế được đã run run thốt lên: - Chỉ còn mình con... Hưng lặng người đi. Anh đang nhớ tới những tiếng khóc kỳ lạ trong đầu, rồi những lần anh bị cản trở trong khi nghĩ tới người con gái nào đó, anh đứng bật dậy, trên tay vẫn còn cầm quyển lưu bút, anh chạy bay ra cửa. Cậu Sáu kêu theo: - Con phải cẩn thận! *** Kể hết mọi chuyện cho sư Chơn Phước nghe, rồi Hưng đặt quyển lưu bút xuống trước mặt ông, nói tiếp:- Con nghĩ điều thầy nói con có quan hệ tình cảm với ai đó rồi bị người ta bám theo phá, có lẽ là người này. Nhà sư nhẹ lắc đầu: - Chuyện tà ma thì không có trong cửa Phật, nhưng tà ma ở chung quanh ta cũng không thể nào biết hết được. Tuy nhiên chuyện của con ta nghĩ cũng không quá nghiêm trọng, theo suy đoán của ta thì cô gái này tuy vậy vẫn còn lòng tin nơi con, nên những gì cô ấy báo ứng cho con thấy đủ biết là cô ấy không muốn hại con như những người khác. - Vậy con phải làm sao bây giờ đây thầy? Đưa trả lại quyển lưu bút cho Hưng, nhà sư bảo: - Con thử đem đốt quyển sổ này xem, có thể nó có tác dụng gì đó... Hưng lo lắng: - Nhưng trong đó có ảnh của con. Có phải gỡ ảnh ra không sư thầy? - Không cần. Con nên đốt luôn thử xem. Ông còn nói thêm: - Con nên thực hiện việc này ngoài khuôn viên chùa. Hưng nghe lời, anh cầm quyển lưu bút đem ra bờ sông cách chùa hơn nửa cây số và châm lửa đốt. Một làn khói xanh bay lên không trung và cứ quyện mãi theo gió, lâu lắm mới tan... Không biết chuyện gì đã xảy ra. Chỉ biết rằng sau đó Hưng không còn thấy những hiện tượng kỳ lạ nữa. Cũng không còn nghe tiếng khóc mơ hồ kia nữa... Sáu tháng sau thì cái tin Hưng cưới vợ chẳng những cha mẹ anh mừng, mà ngay như nhà sư Chơn Phước cũng vui trong lòng. Ít ra thì ông cũng đã giúp được một kiếp nạn được hóa giải... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 34
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXIV: Phấn 1 GIỌT LỆ HOÀN HỒN Vừa thả người khách cuối cùng xuống xong, Sáu Lập lột chiếc nón lá xuống quạt lia lịa mà vẫn không xua hết cái nóng đang hừng hực. - Trời nóng kiểu này chiều nay thế nào cũng mưa, liệu mà về sớm thôi, Sáu ơi! Chú Tư Thôi vừa vươn vai ngáp dài vừa ra roi cho con ngựa kéo chiếc xe rời bến. Lập nhìn theo và nói với: - Tui cũng về thôi, ế ẩm quá trời, ở đây mà làm gì cho cực, về nhà ngủ sướng hơn! Là tay đánh xe thổ mộ trẻ tuổi nhất ở bến Long Điền, Đất Đỏ này. Nhưng cũng là người nổi tiếng nhất vùng, bởi tính gan lì và tinh thần trọng nghĩa. Hỏi bất cứ ai về Lập đánh xe thổ mộ, người trong vùng sẽ nói vanh vách: - Sáu Lập một mình diệt bốn tên cướp có hung khí, cứu cả nhà ông bá hộ trong làng. Nếu không có cậu Lập đó là cả nhà ấy đều chầu Diêm Vương cả rồi! Còn độc thân, nhưng Sáu Lập sống chân chất hiền lành, không rượu chè, bài bạc hay tụ tập đàn đúm như đa số con trai khác trong làng. Hỏi Lập sao chưa kiếm mối nào đó để có người bầu bạn, thì luôn nhận được ở anh cái rùn vai, lắc đầu: - Đàn bà hả? Đem nó về để nó trèo lên đầu, cưỡi lên cổ mình sao? Có người hiểu chuyện thì nói về Lập rằng: - Thằng này bị chuyện của cha nó ám ảnh, nên chắc suốt đời nó sẽ không dám gần đàn bà! Nguyên cha của Lập trước đây cũng làm nghề đánh xe thổ mộ, nhưng có lẽ là số đào hoa, nên sau đó vớ được một cô vợ đẹp như tiên và giàu có nữa. Nhưng đó cũng là nỗi bất hạnh! Thiên hạ nói lơ lửng như vậy, ai muốn biết thêm hỏi Lập thì anh chàng lại nổi quạu ngay. Hình như chuyện gia đình anh, nhất là những gì liên quan đến mẹ là một bi kịch, nên lúc nào Lập cũng né tránh. Có lẽ vì vậy nên càng ngày Lập càng lầm lì, ít nói và lại càng ít giao du với mọi người. Ngày nào cũng vậy, hễ hết giờ chạy xe thì y như rằng Sáu Lập đem xe về nhà cất rồi đi ngủ thật sớm. Kiểu sống như vậy, chuyện ế vợ là lẽ đương nhiên thôi! - Về đi Lập ơi! Năm Vệ, người đánh xe cần cù nhất cũng vừa cho xe rời bến. Lập vừa ra roi vừa nói một mình: - Thì về chớ ở lại làm gì! Nhà Lập ở xóm giữa, nên chỉ ra khỏi chợ một đỗi là anh cho xe rẽ vào con đường đất rộng để về nhà. Qua đoạn có hàng cây cổ thụ, nơi thường ngày bọn xe phu như Lập vẫn thường dừng xe nghỉ tránh nắng, thấy có người đưa tay vẫy, Lập xua tay nói lớn: - Về nghỉ, không chở khách nữa! Lập nghe người đón xe bên đường nhìn sau xe anh vừa lầm bầm: - Xe gì người chở người không! Lập đã quen với chín người mười ý của khách hàng nên không để ý tới câu nói, cứ thả xe chạy tới. Bỗng có một tiếng cười khẽ phía sau lưng, Lập giật mình quay lại. Và… anh ngớ người ra, bởi đang ngồi phía sau là một cô gái lạ, có vẻ là người thành thị qua cách ăn mặc sang trọng, đẹp mắt. - Cô… cô là? Sao lại ở trên xe tôi? Cô nàng nhoẻn miệng cười rất xinh, vô tư đáp: - Xe chở khách đang trống, người ta leo lên đi không phản đối, sao giờ lại hỏi cô là ai là sao? Lập lúng túng: - Tôi... xe tôi nghỉ, đâu có chở khách. Mà cô lên lúc nào vậy? Vẫn không tỏ vẻ bực bội, cô nàng đáp: - Lên ở bến ra. Anh đi về Bến Cỏ phải không? - Phải rồi. Nhà tôi ở đó. - Tôi cũng đi về gần đó. Thế là tiện quá rồi. Hay là anh muốn bỏ khách xuống dọc đường? - À, không. Tôi chỉ... Lập đang cố nhớ lại xem cô ta lên xe lúc nào? Bởi khi rời bến anh còn nhìn lại phía sau và đâu có thấy ai. Vả lại, hơn năm năm chạy xe đã cho Lập những kinh nghiệm mà không cần ngoái nhìn lại anh cũng có thể biết người hay vật vừa đặt lên xe là nặng bao nhiêu ký. Kể cả khách vừa bước lên là nam hay nữ nữa! Khách nam bước lên xe nhanh, gọn và ít làm sàn xe dao động, trái lại phụ nữ dù nhẹ ký hơn, nhưng mỗi lần leo lên xe thế nào cũng làm xe rung lên, con ngựa luôn có phản ứng. - Sao, anh vẫn cho tôi đi tiếp chớ? Lập đành phải nói xuôi: - Thì phải chở chớ sao. Vậy cô về tới đâu? - Thì tôi đã nói rồi, hướng Bến Cỏ. Bây giờ Lập mới tò mò: - Cô ở xóm đó, mà bà con nhà ai vậy? - Nhà Hai Mạnh. Lập kêu lên: - Hai Mạnh? Cô là... gì của ba tui? Hai Mạnh là cha của Lập. Có nghĩa là cô ta đang tới nhà của anh! Vốn ít nói nhưng không phải nhát gái, vậy mà lúc này Lập quá đỗi lúng túng: - Cô… cô là gì với ba tui? Cô gái không hề ngạc nhiên khi biết Lập là con Hai Mạnh, cô ta vẫn giữ nụ cười trên môi: - Giờ thì chắc anh không còn muốn đuổi tôi xuống xe nữa rồi chớ? - Tui... tui có đuổi hồi nào đâu. Mà cô là sao với ba tui? - Bà con. Anh thật tệ, đến bà con mình mà cũng không biết. Do phải nhìn đường phía trước để đánh xe nên Lập không dám quay lại nhìn, nhưng anh vẫn nhớ gương mặt trắng trẻo, xinh đẹp của cô nàng. Tự dưng tim Lập đập mạnh... Hồi lâu, anh mới hỏi thêm được một câu: - Cô là bà con với ba tui, mà bà con thế nào? Cô con của ai? Cô nàng cười trong trẻo: - Dữ hôn! Bây giờ mới nghe anh nói được một câu suôn sẻ. Anh muốn biết tôi bà con sao phải không, tôi nói đây chỉ sợ anh không biết thôi. Tôi là con của cô Tám Xuân, em ruột của ba anh. Có nghĩa là tôi vai em, gọi anh bằng anh. Chịu chưa! Từ nào đến giờ ít nghe cha nhắc tới cô em gái có tên như vậy. Nhưng trước cách nói rành rẽ của cô nàng, Lập không thể không tin, anh đáp: - Vậy là bà con ruột rồi! Tới một ngã ba, chợt cô gái chỉ tay và nói: - Tuy chưa về đây lần nào, nhưng tôi biết đây là ngã ba Cây Sung nè! Đường này có một ngôi nhà lớn lắm! - Đúng rồi! Đó là đường Cây Sung và ngôi nhà cô nói là nhà ông hội đồng Thiệp. Nhà đó bây giờ... Lập lúc này mới quay nhìn lại. Nhưng… Anh không tin vào mắt mình nữa, cô gái không còn ngồi sau nữa, mặc dù cô ta vừa mới nói huyên thuyên… - Cô... cô… Lập vừa gọi vừa nhìn quanh. Chẳng lẽ cô ta nhảy xuống xe được? Đang còn ngơ ngác thì chợt có ai đó hỏi: - Mày mắc bệnh sao mà vừa đánh xe mà lẩm bẩm nói một mình vậy Lập? Nhìn lại thấy chú Tư Thôi, một đồng nghiệp đánh xe đang kè xe bên cạnh. - Dạ... dạ... Thấy Lập bối rối, Tư Thôi chợt cười lớn: - Tao đậu xe nghỉ bên đường thấy mày chạy ngang mà miệng nói liên hồi, nhìn trên xe chẳng thấy có khách nào, tao tưởng mày điên nên vụt phóng xe theo. Hay là mày tương tư, phát cuồng vì con nào hả Lập? Lập không đáp mà hỏi lại: - Nãy giờ chú Tư có thấy ai nhảy xuống xe không? Đến lượt Tư Thôi ngạc nhiên: - Đúng là đầu óc mày có chuyện rồi Sáu Lập! Xe mày ngựa chạy bon bon thì ai nhảy được! Vả lại theo sau mày hơn cây số tao có thấy ai trên xe mày đâu! Lập dừng hẳn xe lại, lẩm bẩm: - Sao lạ vậy... không thể nào... Rồi có lẽ sợ Tư Thôi hỏi thêm, nên Lập vờ nói cho qua: - Không có gì… có lẽ tại trời nóng quá! Anh ta ra roi cho con ngựa tiếp tục chạy. Về đến nhà, việc đầu tiên của Lập là tìm cha mình. Ông Hai Mạnh lâu nay không được khỏe nên chỉ làm việc vặt ở nhà. Hôm nay ông nghe bứt rứt trong người nên mới giờ đó đã đi tắm, ra pha ấm trà ngồi nhâm nhi một mình. Lập vừa trông thấy cha đã hỏi ngay: - Ba có người em gái tên Xuân không? Ông Hai ngẩng lên, nhìn con với vẻ hơi ngạc nhiên: - Sao con biết? - Vậy là ba có cô em... Ông Hai gật đầu: - Đó là người em thứ tám của ba. Tám Xuân. - Vậy sao nào giờ có khi nào con nghe ba nhắc tới đâu? Cô ấy bây giờ ở đâu ba? Lại nhìn sửng con lần nữa, ông Hai nhẹ giọng đáp: - Nó chết hồi còn con gái. - Vậy…. sao con cái cổ từ nào giờ sao không thấy về đây? Ông Hai lắc đầu: - Khi chết nó chưa có chồng thì làm gì có con! Lập há hốc mồm một lúc rồi run giọng nói: - Chẳng lẽ... chẳng lẽ... Ông Hai gạn hỏi: - Chuyện gì vậy? Phải một lúc sau Lập mới bình tĩnh lại, anh ta kể lại đầu đuôi câu chuyện. Vừa nghe xong, ông Hai như người gặp ác mộng, kêu lên: - Ngôi nhà đường Cây Sung! Lập hỏi lại: - Nhà ở đường Cây Sung là nhà ai? Ông Hai gần như thất thần: - Nhà đó… nhà đó... Ông hầu như không còn nói được nữa. Mặt ông tái xanh, người run rẩy lạ thường... - Ba! Ba sao vậy? Hai Mạnh không còn tỉnh nữa, người ông lạnh như băng. Lập hốt hoảng tri hô lên: - Có ai ở nhà không, ba bị... bị... Lập gọi cũng bằng thừa, bởi trong nhà ngoài cha con Lập ra thì đâu còn ai nữa. Mồ côi mẹ từ khi lên mười đến giờ, chỉ có người chị thì cũng đã đi lấy chồng xa từ mấy năm rồi. Còn lại những anh chị em khác thì khó nuôi, nên đã chết hoặc sẩy thai ngay từ nhỏ. Chỉ có một bà cô họ xa, nhưng mắc chứng nghễnh ngãng nên lúc ở lúc đi, chẳng khi nào thấy mặt. Cũng may, ông Hai chỉ bị choáng một lúc, sau đó tỉnh lại ông nhìn con hỏi trong nỗi sợ sệt: - Nó... nó đâu? Lập ngạc nhiên: - Nó nào ba? - Con nhỏ đi nhờ xe con? - Thì con kể rồi, khi tới ngã ba Cây Sung thì bỗng cô ấy biến mất... y như là ma vậy! Con nghĩ chắc cô ta sợ con đòi tiền xe nên nhảy nhanh xuống. Ông Hai nhẹ thở dài: - Không phải vậy đâu. Tai họa đó... Lập tưởng cha mình mệt nên nói sảng, anh hỏi lại: - Ba nói tai họa gì? Ông Hai đứng lên, lảo đảo bước khiến Lập hốt hoảng: - Ba! Ba ngồi nghỉ đã. Nhưng ông Hai Mạnh xua tay: - Để ba... Ông suýt ngã mấy lượt rồi mới lần về tới phòng mình. Vừa vào phòng thì ông đóng sầm cửa lại trước sự lo lắng của Lập. Anh muốn gõ cửa, nhưng biết cha mình sẽ không mở, nên chỉ biết đứng tần ngần một lúc rồi bước ra sân. Từ ngoài, bà cô Tư Lượm của Lập chạy nhanh vào, vừa chỉ tay ra hàng rào râm bụt vừa nói nhỏ như sợ ai đó nghe thấy: - Có… có cô gái... cô gái đẹp lắm, kiếm mày đó Lập! Vừa nghe nói Lập đã giật mình: - Cô gái đẹp? Cô ta đâu? Anh chạy đi ngay mà không cần câu trả lời của bà cô họ nghễnh ngãng. Ra ngoài nhìn hướng trên, hướng dưới không thấy ai, Lập lẩm bẩm: - Có ai đâu? Thoang thoảng mùi thơm đưa lại, Lập phát hiện có một chiếc khăn choàng vướng ở cổng rào. - Khăn của cô ta! Đúng là chiếc khăn mà Lập nhìn thấy cô gái lạ choàng trên cổ khi ngồi xe. - Cô ta chăng? Lập bất kể, cắm đầu chạy một mạch về hướng ngã ba Cây Sung, nơi cô gái biến mất lúc trưa. Đường Cây Sung tuy chỉ cách nhà anh chưa đầy hai cây số, nhưng đã lâu lắm Lập chưa đi qua. Phần vì nơi đó đường hư khó chạy xe, ngựa hay bị sụp ổ trâu què chân, nên cánh xe thổ mộ như Lập luôn tránh đưa khách qua đó. Người trong xóm Cây Sung muốn đi xe ra chợ thường phải lội bộ qua ngã ba. Đứng ngay ngã ba quan sát một lúc, cuối cùng Lập quyết định men theo con đường đất đi vào. Cách chừng năm trăm thước thì trước mắt Lập hiện ra ngôi nhà ngói ba gian xây theo lối cổ, cất trên nền cao, nổi bật giữa khu vườn trồng nhiều loại hoa mà trong đó chắc là nhiều bông lài, nên hương thơm tỏa ra tận ngoài ngõ. - Cậu tìm ai? Ai đó hỏi phía sau, Lập quay lại thì thấy một cụ già đang quan sát mình rất kỹ, anh phải lên tiếng giải thích: - Dạ, cháu tìm một người quen, cứ nghĩ là cô ấy ở trong nhà này… Cụ già tắc lưỡi: - Nhà này bỏ hoang từ lâu rồi, có ai ở đâu mà kiếm tìm! - Dạ, cháu không biết... Lập cúi chào cụ già, rồi bước sang ngôi nhà khác. Nhưng con đường có đến hàng trăm ngôi nhà, phần nhiều nhỏ hơn, nhưng hầu như giống nhau, không làm sao tìm ra dấu vết. Anh lại phải dừng chân hỏi thăm một chị tuổi trung niên: - Ở xóm này chị có biết một cô gái ăn mặc theo người thành thị… Lập hỏi chưa hết câu thì chị kia đã nói nhanh: - Có phải cô bận áo dài màu hồng, đi giày cao gót không? Cô ta mới vào trong ngôi nhà hoang của ông hội đồng Thiệp. Có lẽ tính mua nhà đó hay sao mà mấy hôm nay đã thấy có mấy người tới lui... Lập mừng rơn: - Dạ, cám ơn chị! Chạy trở lại ngôi nhà lớn, cổng vẫn khóa chặt, tuy nhiên có hương thơm thoang thoảng. Mà hương thơm này không phải là hương lài từ trong vườn. Hương rất quen thuộc… - Cô ta! Lập nhớ ra chính mùi hương này là của cô gái. Anh cho tay vào túi áo định lấy ra chiếc khăn choàng lụa, nhưng... nó không còn trong đó! Không thể được, lúc nãy chính Lập đã xếp gọn cất kỹ trong túi mà... Còn đang loay hoay tìm thì chợt mắt Lập sáng lên! Chiếc khăn choàng đã rơi nằm trên lối đi bên trong cổng nhà! Đoán chắc cô nàng đang ở trong đó, nhưng làm cách nào để vào được, Lập nghĩ mãi… Cuối cùng anh định cất tiếng gọi, nhưng một lần nữa nghe giọng của cụ già: - Đã nói với cậu rồi, nhà này bỏ hoang. Lập đưa tay chỉ chiếc khăn choàng: - Có người quen của tôi trong đó, chiếc khăn này là của cô ấy. Ông già vẫn lắc đầu: - Tôi dám nói chắc là không có ai. Tôi ở đối diện nhà này từ nào đến giờ, chưa từng thấy có ai ra vào kể từ ngày ông hội đồng bỏ đi về Sài Gòn sống. Lập vẫn cố cãi: - Nhưng, người ta là người tới xem nhà để mua. Cụ già thấy Lập ngoan cố, ông ta phải nói thẳng: - Cậu không chịu nhìn gì cả. Có tấm bảng lớn treo bên cột nhà đó, cậu đi đi! Bấy giờ Lập mới nhìn kỹ và quả thấy có tấm bảng ghi: Nhà này không bán... Cụ già giải thích thêm: - Tôi trước đây vốn là quản gia của ngôi nhà này. Đến khi ông hội đồng quyết định dọn đi thì tôi cũng ra ngoài ở. Nhà tôi ở đối diện đây, nên tuy không còn làm nữa, nhưng tôi vẫn để mắt dòm ngó. Lập vẫn thắc mắc: - Vậy tại sao chiếc khăn này lại ở bên trong? Cụ già đáp: - Có thể của ai rơi bên ngoài rồi gió thổi bay vào trong đó. Lập muốn cãi nhưng nghĩ lại, anh vội cám ơn cụ già rồi đi nhanh trở ra. Mục đích của Lập là tránh sự theo dõi của ông ta để tìm cách khác tiếp cận ngôi nhà. Chính hành tung bí ẩn của cô gái đó thôi thúc Lập cương quyết hơn. May cho Lập, vòng rào ngôi nhà khá rộng, ngoài cổng chính ở bên hông trái còn có một hẻm nhỏ có thể đưa vào cổng sau. Quả như vậy, phía bên hông còn có một cổng phụ nữa. Nơi đây hoàn toàn khuất nên sau khi nhìn trước sau, Lập nhanh tay đu lên tường và leo vào trong. Leo trèo là nghề của Lập từ nhỏ nên không khó lắm, chỉ nửa phút sau anh chàng đã lọt vào bên trong khu vườn hoang phế. Trời lúc đó cũng tối dần, nên càng thuận tiện cho cuộc đột nhập của Lập. Anh chàng tiếc là không có đèn soi đường, tuy nhiên vốn gan dạ, và quen lần theo bóng tối bằng những chuyến đi soi ếch, bắt cá đêm, nên Lập cũng không khó lắm để đến gần ngôi nhà lớn. Quả thật ngôi nhà quá lớn, đúng là của một tay trọc phú một thời ở xứ này. Ngày xưa nghe nói người làng khi đi ngang qua cửa còn không dám nhìn vào nhà nữa. Phần thì lũ chó dữ năm bảy con sủa nồ như đe dọa thiên hạ, mà đám lâu la trong nhà còn cậy thế chủ gia, hay bắt nạt, hành hung bất cứ ai tò mò dòm ngó. Tất cả cửa nẻo đều đóng kín, duy nhất có một cửa sổ phía sau là mở hé. Có một chút ánh sáng phát ra từ đó. Lập bước tới gần, anh len lén nhìn vào. - Trời ơi! Lập kêu khẽ nhưng suýt nữa đã làm cho người bên trong phát hiện. Trước mặt anh, trong phòng có một bộ xương người treo cổ, thòng từ trên xuống, còn có một người nữa là người sống thì đang quỳ bên dưới. Người quỳ đó chính là cô gái đi xe ngựa! Cô gái đang khóc. Tiếng khóc nhỏ, nhưng cũng đủ cho Lập nghe rõ. Càng lúc tiếng khóc càng rõ hơn và trong âm thanh có từng cơn uất nghẹn. Chứng tỏ tâm trạng cô nàng lúc ấy đau đớn, bi thương lắm. Tự dưng Lập nghe tim mình nhói đau. Anh nhớ lại thái độ vô tư, hồn nhiên của cô nàng lúc trưa và so sánh với hiện tại, nó có sự khác biệt rõ ràng. Chứng tỏ cô ấy chỉ mới về đây là lần đầu, và mới gặp con người còn lại bộ xương khô kia. Vừa lúc đó, có lẽ quá xúc động nên cô gái đang khóc thì gục xuống. Lập quên cả hiểm nguy, anh bung cửa sổ ra, nhón người định đu lên trèo vào trong. Nhưng vừa lúc đó có một bàn tay của ai đặt lên vai Lập kéo lại. Bàn tay thô và lạnh. Họ không đánh, không bóp mạnh, vậy mà chẳng hiểu sao Lập hầu như tê liệt, mềm nhũn ra, rồi không còn biết gì nữa… *** Lập mở mắt ra và vô cùng ngạc nhiên khi thấy ông cụ ban chiều. Ông ta vẫn giữ bộ mặt lạnh lùng, đưa mắt nhìn Lập và lên tiếng trước: - Cậu vậy là không sao rồi? Quay nhìn một lượt, ông ta nói tiếp: - Cậu không nhận ra sao? Đây là ngôi nhà mà cậu vừa muốn đột nhập. Nhớ lại chuyện trước khi bị ngất. Lập lo lắng: - Cô ấy... sao rồi? Vờ như không biết, ông lão hỏi lại: - Cậu hỏi cô nào? - Cô gái ở trong phòng với bộ xương người! Ông già nhẹ lắc đầu, chép miệng: - Tốt hơn hết là cậu không nên biết những gì không cần thiết. Cậu đâu có liên quan gì đến ngôi nhà này, vậy cớ gì... - Thưa ông… - Lúc nãy nếu tôi tới không kịp thì cậu đã bị nhập thổ mà chết rồi. Lúc ấy cậu đang nằm sấp trên mặt đất ẩm. Lập lúng túng: - Dạ... lúc ấy cháu đang... thì bị ai đó chụp lên vai. Cháu không kịp có phản ứng gì thì đã ngất đi. Ông lão giải thích: - Tôi thỉnh thoảng vẫn sang đây để trông chừng. Lúc đó tôi nghe có tiếng động giống như tiếng chân người chạy, nên tôi đi nhanh vào. Không gặp ai khác ngoài một người nằm dưới đất là cậu. - Vậy còn... cô ấy? - Cô nào? - Rõ ràng con thấy cô ấy quỳ gối và khóc trong phòng cùng với một bộ xương. Ông lão bước tới mở cửa sổ căn phòng ra vừa nói: - Đây chính là gian phòng mà lúc nãy tôi bắt gặp cậu nằm bên ngoài. Cậu xem, có gì đâu… Trong lúc Lập bật dậy quan sát, thì ông tiếp lời: - Tôi thấy cửa sổ phòng này mở nên kéo cậu vào đây. Nhờ có chiếc thang tre ngoài kia nên tôi mới đưa cậu vào được, chớ còn cửa chính thì đã đóng chặt bằng thanh gỗ lớn, không làm sao mà mở ra được. Lập nhìn kỹ, quả nhiên cửa chính của gian phòng được gài chắc từ lâu, chứng tỏ không có người ra vào. Anh lẩm bẩm: - Rõ ràng cháu thấy... Ông lão lại lắc đầu: - Cũng có người từng ảo giác như cậu. Nhà này tuy bỏ hoang từ lâu nhưng chưa bao giờ xảy ra chuyện gì. Lập nhìn kỹ lên rầm nhà, xem có lưu lại dấu vết gì của sợi dây treo cổ không. Anh thất vọng. Ông lão hỏi lại: - Sao cậu tò mò về ngôi nhà này và cô gái nào đó vậy? - Dạ... hồi trưa... Tính là không nói, nhưng ở thế chẳng đặng đừng, nên Lập đành thuật lại: - Con làm nghề đánh xe ngựa, nhà ở bên xóm Bến Cỏ. Hồi sáng này con đang cho xe chạy về nhà thì bất ngờ có một cô lên ngồi trên xe mà con không hay biết. Đến khi quay lại thì cô ấy nói xin đi về cùng xóm với cháu. Nhưng khi đến ngang ngã ba Cây Sung thì tự dưng cô ta biến mất, trong lúc xe con còn đang bon bon chạy! Nghe đến đó, ông cụ cười ngất: - Nghe cậu kể sao giống chuyện Liêu Trai của ông Bồ Tùng Linh quá! Vậy sao cậu lại nghĩ là cô ấy ở đây? Lập lại phải kể chuyện cô gái xuất hiện trước nhà mình, bỏ quên lại chiếc khăn choàng, rồi khiến anh tìm tới đây. Ông lão nhẹ lắc đầu: - Lúc chiều cậu nói có chiếc khăn choàng nằm trong sân nhà này, nhưng hồi nãy tôi mở cửa vào đây mà có thấy gì đâu! Lập vẫn còn hoang mang. Anh muốn leo ra ngoài cửa sổ thì ông già cảnh báo: - Nhà này bỏ hoang nhưng còn một cặp chó rất dữ. Bình thường chúng ngủ yên trong nhà kho, nhưng có động hoặc hơi người lạ thì khó lường được sự hung hãn của nó. Cậu nên ở lại đây chờ đến sáng, hoặc đi ra cùng với tôi thì tốt hơn. Thấy Lập lưỡng lự, ông nói cương quyết: - Theo tôi thì cậu nên ở lại đây. Gian phòng tuy bỏ lâu không ai ở, nhưng mọi tiện nghi vẫn còn đủ. Nếu cậu thấy đói thì tôi về bên nhà đem cơm qua cho cậu ăn. Lập lắc đầu: - Cám ơn ông, con cần về nhà, ba con đợi. Đích thân ông lão đưa Lập ra bằng cổng trước. Khi ra ngoài rồi ông mới xưng tên: - Cậu kêu tôi là Ba Hưng. Lập từ giã mà cứ ngoái lại nhìn ngôi nhà mãi. Anh không thể nào quên được hình ảnh cô gái ngồi khóc dưới bộ xương khô được. Anh biết chắc là mình không bị ảo giác, nhưng tại sao lúc ở trong phòng thì không thấy dấu vết gì cả? Chẳng lẽ đó là… ma? Mang tâm trạng nặng trĩu đó, Lập về tới nhà lúc nào không hay. Vừa vào tới bên trong thì Lập đã nghe bà cô anh la lớn: - Mày đi đâu cả đêm, bỏ ba mày nằm chết trong đó, vào mà coi! Lập hốt hoảng chạy bay vào phòng của cha. Cửa phòng mở toang, nhưng trên giường không có cha, mà thay vào đó là một… bộ xương khô! - Bộ xương này... Lập nhớ lại bộ xương treo lủng lẳng trong ngôi nhà hoang, anh kêu lên: - Ba đâu rồi? Không thấy bóng dáng cha đâu, Lập hỏi bà cô: - Tại sao thế này? Bà cô nhìn thấy bộ xương khô thì trợn trừng đôi mắt và ngã xuống ngất đi. Lập quýnh lên, vừa đỡ bà cô dậy lo cứu tỉnh lại vừa dõi theo bộ xương trong phòng. Thoang thoảng đâu đó Lập ngửi được hương thơm quen thuộc. - Cô ta? Lập quay tìm mọi nơi trong nhà vì nghĩ là cô gái đang có mặt. Nhưng tuyệt nhiên không thấy gì khác. Đưa bà cô xuống phòng riêng của bà, lát sau bà tỉnh lại và vẫn còn sợ hãi: - Ba...ba mày... sao lại thành ma? Lập chạy trở lên nhà trên, và lần này anh thật sự bàng hoàng khi... bộ xương không còn nằm chỗ cũ! Trên giường bây giờ chỉ có chiếc khăn choàng! - Trời ơi! Nghĩ tới tình huống chẳng lành xảy ra, Lập cuống cuồng mãi mà chưa biết phải làm sao. Anh ôm mặt đứng yên đó hồi lâu... Bỗng ngoài ngõ có người gọi. Lập bước ra thì Tư Thôi, anh ta chỉ về phía chợ bảo: - Chú Hai đi đâu mà chạy như ma đuổi về phía đường Cây Sung, tui kêu quá trời mà chú không thèm nghe! Lập hốt hoảng: - Chạy về hướng đường Cây Sung? Linh tính báo điềm chẳng lành, Lập tức tốc chạy ra khỏi nhà và một lần nữa anh nhằm hướng ngôi nhà ông hội đồng Thiệp. Trước đó hơn nửa giờ, ông Hai Mạnh đã đi thẳng vào nhà đó như vào chính nhà của mình. Đến khi Lập vào theo thì mọi sự đều khác. Nhà hoang vắng, im ắng như tự bao giờ... Lập bước tới gian phòng cũ thì chẳng thấy gì. Chỉ có tiếng vài con dơi bay ra từ một phòng ở hướng tây. Đang định bước ra thì chợt nhìn thấy một đôi dép đàn ông dính đầy bùn đất, Lập hốt hoảng: - Ba! Đó là đôi dép của ông Hai Mạnh thường mang mỗi ngày. Điều đó chứng tỏ ông đã tới đây! - Ba ơi! Quên cả giữ ý, Lập gọi to đến mấy lần. Nhiều con dơi lại bay ra gây những tiếng động bất thường, như báo có điều gì đó đang xảy ra. Vốn tính gan lì, lại đang sốt ruột cho mạng sống của cha, Lập phóng vội ra cửa sổ, hướng anh tìm không khó để tới căn phòng đó. Đêm qua Lập thấy cửa sổ đóng, nhưng giờ đây một cánh đang mở hé. Ghé sát mặt và nhìn vào trong, trước mắt Lập là cha anh đang ôm một chiếc đầu lâu, vừa khóc không thành tiếng, nhưng qua đôi vai run lên từng hồi, đủ thấy là ông đang bị kích động dữ dội! - Ba! Tiếng gọi của Lập khiến có thêm vài con dơi nữa bay ra, riêng ông Mạnh thì hầu như không nghe thấy gì, vẫn tiếp tục nấc lên từng hồi. Bỗng Lập sững sờ khi nhìn thấy trên bàn thờ có bức ảnh chân dung, anh kêu lên: - Má! Bức ảnh này giống hệt như ảnh thờ ở nhà Lập. - Ba ơi, chuyện này là sao? Lúc này ông Hai Mạnh mới ngước lên. Nhưng ánh mắt của ông như đờ đẫn, không nhìn thấy gì trước mắt. Lập phải gọi lần nữa lớn hơn: - Ba, con là Lập nè! Ông Hai Mạnh để rơi chiếc đầu lâu xuống sàn nhà và ông hốt hoảng nhào theo chụp lại. Rồi thật bất ngờ, ông quay sang con trai quát lớn: - Tránh ra! Đụng tới người này tao sẽ giết mày! Biết cha đang mê sảng, nên Lập vội im lặng tránh sang một bên. Ông Mạnh nhặt chiếc sọ lên, và một cách trịnh trọng ông đặt nó trở lại bàn thờ. Ông đứng im như pho tượng, hai tay chắp lại, miệng lâm râm những gì mà Lập chỉ đứng cách chưa đầy ba thước cũng không nghe được. - Tại sao người ta thờ má ở đây? Vậy mà lâu nay ba chỉ nói là má mất trong âm thầm lặng lẽ, không một thân nhân nào bên ngoại tới viếng lần cuối... Lập không biết phải làm gì cho đúng lúc này. Anh rất lo cho cha mình, trông dáng đứng và đôi chân run run của ông chứng tỏ ông không khỏe, có nguy cơ ngã nhào bất cứ lúc nào. Bệnh đột quỵ bất thần cũng là căn bệnh lâu nay của cha... Đột nhiên, bên tai Lập vang lên một giọng ai đó khóc thật thê lương! Tiếng khóc không phải của một người bình thường! Thoạt nghe Lập cứ ngỡ nó ở đâu bên ngoài, nhưng nghe kỹ thì rõ ràng âm thanh phát ra từ bàn thờ có bức ảnh của mẹ! Lập run lên. Đây là lần đầu tiên anh nghe được tiếng khóc của mẹ, bởi khi bà mất thì Lập mới mười tuổi, nào biết gì… Cha Lập lại khóc theo. Hai âm thanh hòa vào nhau, tạo thành một thứ tiếng nghe đến rợn người! Cũng may đây là giữa ngôi nhà hoang nên chắc người bên ngoài không ai nghe thấy. Và quả đúng như sự lo ngại của Lập, ông Hai Mạnh chỉ đứng được vài chục giây, rồi đột nhiên ngã sóng soài trên nền gạch. - Ba! Bất kể, Lập lao qua cửa sổ nhào tới chụp lấy thân thể cha mình. Đột nhiên có một vật từ trên bàn thờ rơi xuống trúng ngay vào ngực ông Mạnh. Lập nhìn thấy bức ảnh bán thân của mẹ thì hốt hoảng: - Ba! Ông Mạnh đưa đôi bàn tay gầy gò choàng qua ôm cái khung ảnh, giọng ông thều thào: - Bà... như vậy bà đã... tha cho tôi rồi... Ông nở nụ cười héo hắt trên môi rồi đưa mắt nhìn lên Lập. Hình như ông muốn nói gì đó mà không nói được… - Ba! Không còn kịp nữa rồi. Ông Hai Mạnh đã ngừng thở... *** Đám tang ông Hai Mạnh vừa xong thì đột nhiên bà cô của Lập lên cơn đồng bóng rất lạ. Lâu nay bà vốn có tính nghễnh ngãng nên lúc đầu Lập không để ý những lời nói kỳ lạ của bà, nhưng sau đó vào lúc nửa đêm, bà bỗng khóc ré lên, rồi chỉ vào mặt Lập mà nói:- Thằng con bất hiếu. Mày có biết là tại vì mày mà ba mày phải mất mạng không? Lập ngơ ngác: - Cô! Sao cô nói vậy? Bà hầu như đối với Lập là người xa lạ: - Mày tránh xa tao ra! Chính mày đã đưa cha mày tới hang ổ của tụi nó. Nơi mà từ lâu nay cha mày đã tránh được. Đồ con bất hiếu! - Kìa, cô! Lập vừa bước tới thì bất thần bị một sức mạnh vô hình nào đó đẩy ngã ngửa. Bà cô thì vẫn lớn tiếng quát: - Đi tìm nó mà báo thù cho cha mày! Bà quát xong thì tự dưng bật ra, người run lên như bị kinh phong. Lập phải gọi mấy lượt bà mới tỉnh lại. Lúc này lại hoàn toàn khác với lúc nãy, bà nhìn Lập có vẻ thân thiện hơn: - Cô đang làm gì đây con? Từ lâu, bà cô họ chưa bao giờ nói với Lập hay người trong nhà được một câu ra đầu ra đuôi và đầy tình cảm như vậy. Đó là chưa nói nó trái ngược với những câu khó nghe cách mấy phút trước. Phải chăng sau cơn co giật vừa rồi đã khiến bà thay đổi? Lập muốn hỏi nhưng chưa kịp thì bà cô đã lên tiếng: - Hồi nãy chút xíu nữa thì ta đã bị nó hại. Cũng nhờ ba con tới kịp nên cô mới thoát. Tội nghiệp ba con... Lập trố mắt: - Cô vừa nói gì? Ba con... - Ba con còn ở đây. Đang ở trong phòng kia kìa! Bà nói y như thật khiến cho Lập không tin không được. Anh chạy lên nhà. Nhưng chưa bước vào phòng thì anh đã khựng lại trước trang thờ mới lập. Bức ảnh thờ của ba anh đang bốc cháy! Hốt hoảng, Lập chạy tới ra sức dập tắt ngọn lửa. Tay anh vừa chạm vào cạnh tủ thờ thì phải rụt ngay lại bởi bị nóng như thọc vào lửa, dù nơi đó không hề bị cháy! Chỉ trong nháy mắt, bức ảnh chân dung của ông Hai Mạnh đã bị cháy thành tro. Cố gắng lắm Lập mới dập tắt được ngọn lửa. Tuy nhiên, hầu như tất cả những gì có trên bàn thờ đều bị hủy hoại. Không quan tâm tới điều đó lắm, Lập lại chạy thẳng vào phòng riêng của cha. Lúc này không phải bộ xương khô như lần trước, mà nằm trên giường là một cái tráp bằng gỗ được đặt ngay trên gối nằm. Chiếc tráp này chưa bao giờ Lập nhìn thấy, nên anh hơi lưỡng lự trước khi mở nắp ra. Bên trong chỉ duy nhất một quyển tập học trò khá dày, đã cũ, bìa sờn bốn góc, chứng tỏ đã được sử dụng nhiều năm. Dòng chữ đập ngay vào mắt Lập. “Nỗi lòng Hai Mạnh”. Việc cha mình là người hay chữ, từng là một công chức thời trai trẻ thì Lập biết, nhưng việc ông viết nhật ký hay hồi ký là điều Lập không bao giờ ngờ tới. Dẫu vậy, Lập vẫn cẩn thận giở từng trang và đọc rất kỹ. Lần đầu tiên, Lập như sống trong tâm trạng của một người khác. Những điều riêng tư của cha mình, anh tưởng chừng như là của một ai đó... Phấn 2 Vừa thấy anh mình về tới, Tám Xuân mừng như bắt được vàng: - Dữ hôn, tưởng ở luôn ngoài dinh quận rồi chớ! Người ta đợi dài cổ ra luôn... Nhìn cô em gái út của mình, Hai Mạnh nghiêm giọng: - Con gái con lứa gì mà nhảy cẫng lên vậy! Anh mày đi làm chứ phải má đi chợ đâu mà trông như em bé trông sữa vậy! Tám Xuân đưa tay lên miệng ra dấu im lặng: - Có khách ở nhà! Hai Mạnh ngạc nhiên: - Khách nào vậy? - Bí mật. Anh đừng thay đồ, chờ tiếp khách rồi biết là ai liền! Vốn sống khép kín nên Hai Mạnh ít tiếp xúc với người lạ, đặc biệt là hầu như chưa tiếp khách ở nhà. Không để ý lắm tới lời dặn của em gái, Mạnh vẫn vô nhà xong, định đi về phòng riêng thì Tám Xuân gọi giật ngược: - Anh Hai, có khách! Chưa kịp quay lại, Mạnh đã nghe có tiếng người lạ sau lưng: - Thầy ký Mạnh làm việc cần mẫn quá, thảo nào chẳng thăng tiến đều đều. Một tập sự chưa đầy một năm mà nay đã chính ngạch rồi! Hai Mạnh quay lại và giật mình khi nhận ra một cô gái ăn mặc sang trọng, sắc đẹp kiêu sa, đang nhoẻn miệng cười rất tươi với mình. - Cô... cô... là… Tám Xuân nói chen vào: - Anh Hai hổng nhớ cô Thể Loan sao? Cô Loan con gái ông bà hội đồng... Lúc này Hai Mạnh mới nhớ ra, tuy không quen, nhưng đã đôi lần đi đường anh có nhìn thấy cô ta ngồi xe mui kiếng chạy ngang. Thật tình Mạnh không ưa loại con gái nhà giàu ngồi xe hơi vênh vênh cái mặt như cô này. Nhưng chẳng hiểu sao bây giờ cô ta lại ở trong nhà mình? - Xuân, em với cô đây... Chặn ngay lời Mạnh, cô nàng rất dạn dĩ: - Định dùng quyền làm anh hạch hỏi em gái hay sao thầy ký? Cô Tám nhân hôm nay từ thị xã về, em cho quá giang xe rồi kết làm chị em, mình tuy không ở cùng xóm nhưng chung làng, mà lâu nay chẳng hề qua lại với nhau. Tám Xuân mau miệng nói: - Đúng vậy anh Hai. Nào giờ em chỉ biết mặt chỉ thôi, hổng ngờ chỉ biết em. Đang chạy xe chỉ ngừng lại khi em từ chợ về đang đợi xe thổ mộ. Chỉ một hai mời em lên xe rồi chở về đây luôn. Chỉ biết rành anh Hai lắm đó. - Thầy ký Mạnh tự cao nhất dinh quận Đất Đỏ này ai mà không biết! Hai Mạnh ậm ừ cho qua chuyện: - Tự cao tự thấp gì. Chẳng qua mình phận thấp hèn, tài mọn nên lầm lũi mà làm việc chớ nào có dám lên mặt lên mày gì với ai đâu! Thôi, cô ngồi chơi với em gái tôi. Định bỏ đi thì Tám Xuân lần nữa đã gọi giật: - Anh Hai. Chị Thể Loan có việc muốn nhờ... Thể Loan nhẹ giọng: - Cái này không phải em nhờ, mà chính ba em bảo. Số là em đang làm hồ sơ thi Diplomme mà có mấy khoản chưa rõ, không biết nhờ ai, vì người biết thì ở tận Sài Gòn. Sáng nay ba em bảo ghé anh quận gặp anh mà nhờ, nhưng chưa kịp ghé thì đã gặp cô Tám đây. Hai Mạnh nói thẳng: - Tôi phải thi hai lần mới đậu được Diplomme, cô chưa thi nổi tú tài đây, tài cán gì… Cô nàng xịu mặt trông rất tội nghiệp: - Em biết mà, hạng dốt như em mà mong gì nhờ được anh. Vậy mà ba em cứ một hai nói rằng thầy ký Mạnh giỏi giang, tốt bụng, hiền lành, dân ở đây nhờ bất cứ việc gì thầy đều làm giúp không nề hà. Em cứ tưởng... Tám Xuân nói thêm: - Anh Hai! Nãy giờ chị ấy chờ chỉ có bấy nhiêu đó. Thể Loan vẻ giận dỗi: - Thôi đi Xuân, chị đành phải đi Sài Gòn thôi. Thầy Mạnh vẫn coi thường chị mà! Mạnh bị chạm tự ái, anh phải nói: - Cô đừng hiểu lầm, chẳng qua… - Thôi, cám ơn anh. Em phải đi ngay cho kịp giờ. Độ này cướp đường hơi nhiều, mà từ đây về Sài Gòn phải qua nhiều đoạn vắng vẻ. Cô ta quay qua Xuân, chưa kịp chào thì đã nghe Hai Mạnh nói: - Thôi được, vậy cô nhờ gì? Thể Loan chỉ chờ có thế: - Hồ sơ em để ở nhà. Để em về nhà lấy. Tám Xuân chen vào: - Vậy sao mình không tới nhà chị Loan một thể. Vừa giúp chị ấy, vừa cho biết nhà. Hai Mạnh nạt ngang: - Không được. Thể Loan giọng ngọt lịm: - Với thầy ký Mạnh thì phải để chị mời cho đúng phép may ra thầy mới nể tình. Em xin mời anh sẵn xe, mình về nhà em. Hôm nay ba má em đi Sài Gòn vắng nhà, mình vui với nhau một bữa, chẳng hay anh Hai nghĩ sao? Có cho đứa em mới này được hân hạnh đón tiếp không? Kiểu mời mọc khéo léo đó, nên dẫu tính khí lạnh lùng Hai Mạnh cũng thấy xiêu lòng: - Tôi e bất tiện, bởi xưa nay... - Xưa nay anh ít tới nhà người lạ, nhưng bây giờ em có còn là người lạ nữa đâu, Em và Tám Xuân đã kết làm chị em rồi, còn gì! Tám Xuân xem ra rất muốn tới nhà Thể Loan, nên dù biết anh mình khó tính cũng cố nài nỉ: - Đi đi anh Hai. Vả lại chiều nay em đâu có nấu cơm, anh ở nhà cũng đâu có gì ăn! Thể Loan tấn công dứt điểm: - Nhà em có sẵn thức ăn dự trữ, để em trổ tài làm bếp đãi hai anh em! Hai Mạnh đành phải thuận theo: - Thôi cũng được. Nhưng tôi phải chạy xe đạp theo để lát nữa còn về sớm. - Coi kìa, chê xe hơi của em à? Tám Xuân bảo khẽ: - Kệ ảnh, miễn trục ảnh đi là được rồi! Họ rời nhà, lúc đó khoảng hơn sáu giờ chiều... Lần đầu tiên, Hai Mạnh tới ngôi dinh thự “nhà giàu”, nơi mà lâu nay anh luôn có thành kiến. Cũng may là không có vợ chồng hội đồng Thiệp ở nhà nên Mạnh cũng đỡ lúng túng. Tám Xuân thì có vẻ thích thú với ngôi nhà quá sang trọng nên cô cứ hết nhìn ngắm rồi lại tấm tắc khen khiến cho Mạnh phải đôi lần ra hiệu cho tốp bớt. Anh hỏi ngay: - Đâu, có tài liệu gì cô Loan đem ra tôi xem? Thể Loan khá tự nhiên khi ở trong nhà mình: - Tụi em mỗi người một phòng riêng. Em ở góc bên trái, hay là mời anh Mạnh qua bên đó. Trong phòng em có sẵn tủ lạnh, em sẽ mời anh uống nước, rồi vừa chỉ giúp em. Riêng Xuân, nếu thích thì có thể đi lên lầu, trên ấy có cái sân thượng trồng nhiều hoa đẹp lắm, tha hồ ngắm, thích thì có thể hái bao nhiêu cũng được. Tám Xuân thích quá reo lên: - Hay quá, em sẽ lên đó! Cô ta chạy đi ngay, Hai Mạnh gọi theo: - Xuân! Nhưng anh không ngăn được cô em gái. Thể Loan giục: - Mình vào đây anh. Nhà không có ai mà. Cô nàng quá sức tự nhiên, nắm lấy tay Hai Mạnh kéo đi. Đây là lần đầu tiên Hai Mạnh được tiếp xúc với da thịt phụ nữ, nên qua cái nắm tay đó đã khiến cho anh vừa bước đi vừa rùng mình. Khi bước vào căn phòng sang trọng cách bài trí giống như trong phim ảnh, Mạnh hơi rụt rè, tuy nhiên, Thể Loan đã giúp anh đỡ bối rối, bằng cách mở tủ lạnh lấy nước cam: - Anh cứ ngồi xuống đây, chờ em vào lấy tài liệu. Anh uống nước đi, em mới pha đá lạnh. Cô ta lướt qua mặt Hai Mạnh, hình như cố tình đi sát và khiến mùi thơm cơ thể phả vào mũi, Mạnh lại phát rùng mình lần nữa! Năm phút sau, cô ta lại xuất hiện với bộ đồ mát mặc trong nhà, mà vừa chạm mắt vào Hai Mạnh đã phát đỏ mặt và run! Bộ đồ bằng lụa bóng màu mỡ gà gần như giới thiệu hết những gì kín đáo của phụ nữ ra! - Coi kìa, sao lại đỏ mặt lên vậy… thầy ký? Em đây mà, chứ phải người lạ đâu... Bất thần, trong lúc Mạnh còn đang lúng túng thì Thể Loan đã sà xuống ngay cạnh và bằng một động tác nhanh và thuần thục, cô ta kéo ngửa Mạnh ra. Bị bất ngờ nên Hai Mạnh không kịp có phản ứng gì thì tiếp theo đó, lại bị cô nàng nằm đè lên người. Một vài giây bị đờ người vì mất cảnh giác, rồi Hai Mạnh cũng lấy lại được tự chủ, anh vụng về đẩy nàng ta ra. Nhưng sao lạ quá, hai tay Mạnh vừa đưa lên thì như bị mất hết lực, cố lắm cũng không thể đẩy nổi cơ thể mềm mại đó ra. Trong khi ấy thì Thể Loan càng lúc càng tấn công Mạnh thêm. Những gì đáng ra là do đàn ông chủ động, thì lúc này cô ta đã làm thay. Hai Mạnh biết hết, chỉ có điều không còn sức để phản ứng lại. Anh lờ mờ hiểu có lẽ do uống ly nước cam lúc nãy mà ra cớ sự này. Có nghĩa là trong nước cam có thuốc ngủ hay cái gì đó... *** Hai Mạnh tỉnh lại thì hoảng hồn khi nhận ra những người đang đứng trước mặt mình gồm vợ chồng hội đồng Thiệp và hai tay bộ hạ lực lưỡng!Bà hội đồng lên tiếng: - Thằng khốn nạn đã chịu tỉnh lại rồi kìa! Hai Mạnh định bật dậy nhưng phát hiện tay chân mình đang bị trói và còn tệ hại hơn, toàn thân anh đang trong tình trạng trần truồng như nhộng! - Trời ơi! Lúc này cố vùng vẫy, Mạnh mới hiểu là nãy giờ mình đã bị đánh nên cơ thể đau nhức dữ dội. Anh gào lên: - Mấy người làm gì tôi? Ông hội đồng Thiệp quát to: - Nó còn già mồm thì đánh gãy răng nó cho tao. Hai tên bộ hạ xông tới, thì bà Hội lên tiếng: - Đánh nó chết thì lấy ai bắt đền trinh tiết con gái mình? Cứ trói nó vậy rồi chờ mình coi sức khỏe con Thể Loan thế nào đã. Lúc ấy có tiếng khóc tức tưởi từ phía cửa sổ, rồi giọng nói của Thể Loan: - Đời con đã tan nát hết rồi vì thằng khốn nạn này, bây giờ giết nó thì cũng đâu cứu vãn được gì. Con bắt nó phải chịu trách nhiệm! Ông hội đồng quát lớn hơn: - Thằng chó chết này mà xứng đáng lấy con gái tao sao? Bà vợ hạ thấp giọng: - Để rồi tính... Bà quay sang hai tên bộ hạ: - Tụi bay tạm thời lui ra ngoài kia đợi. Bọn chúng đi rồi, bà mới nói với chồng: - Ý con Thể Loan là đúng. Nếu bây giờ mà làm um sùm ra thì cả nhà mình bị nhục, mà con Thể Loan đâu còn mặt mũi nào sống trên đời này. Thôi, thà cắn răng mà chịu đi. Bà quay sang con gái: - Con nghĩ kỹ chưa? Thể Loan vừa khóc vừa đáp: - Vậy còn hơn. Ông hội đồng dịu giọng: - Tao muối mặt mà tha cho bay lần này. Con ơi là con, đồ oan gia mà! Trước khi ra khỏi phòng, ông lớn tiếng ra lệnh: - Bắt nó lăn tay, ký tên vào bản thú tội rồi thả nó ra. Bắt nó phải làm đám cưới con Thể Loan nội trong tuần này! Mạnh như con thuyền đắm giữa dòng. Anh có cố cách nào thì càng lúc càng chìm nghỉm sâu hơn. Đến lúc đầu óc chẳng còn chút phản xạ nào thì anh nhớ mơ hồ rằng mình đặt mấy ngón tay vào một tờ giấy và cầm lấy cây bút… *** Ngày đám cưới của Hai Mạnh cũng là ngày anh vô cùng tuyệt vọng khi mấy người do anh nhờ đi tìm đã lắc đầu báo tin: - Chẳng biết cô Tám Xuân đi đâu mà chúng tôi kiếm tìm hầu như không sót chỗ nào mà chẳng thấy! Tám Xuân đã biến mất từ sau cái đêm “tày trời” đó. Mạnh nghĩ rằng em gái mình chắc là sau khi hay tin anh trai mình bị bắt tại trận đang ân ái cùng Thể Loan trong phòng, đã quá xấu hổ mà bỏ đi. Chờ đến gần chục ngày vẫn không thấy tin tức gì của em gái, lại quá đau đầu chuyện bản thân mình bị bắt ép phải cưới cô vợ mà mình bị quy cho tội “hiếp dâm” cô ta. Cho nên Hai Mạnh ngã bệnh liệt giường suốt cả tháng trời. Mà cũng lạ, sau lễ cưới chưa đầy một buổi thì Thể Loan một mình lái xe hơi về Sài Gòn, như chẳng có gì xảy ra! Cô ta ở Sài Gòn chẳng biết làm gì mà cả một tuần sau mới về. Khi về tới nhà thì cô ta vào phòng riêng đóng cửa ở miết trong đó, không đếm xỉa gì tới Hai Mạnh. Lúc đó Hai Mạnh theo lệnh ông hội đồng phải tới làm việc tại nhà ông ta, nghỉ việc ở dinh quận. Dù không muốn, nhưng ở thế kẹt nên Hai Mạnh như cái xác không hồn, phải ngày ngày tới đó. Đêm anh ta về nhà mình thì mọi chuyện sẽ chẳng có gì rắc rối, bởi giữa Hai Mạnh và Thể Loan đã có một bức tường ngăn cách ngay những phút giây đầu tiên chung sống. Những cuộc đi về Sài Gòn bất thường, khó hiểu của cô vợ, cũng như những đêm sống riêng, lặng lẽ một bóng của anh chồng hờ. Cho đến một tối kia, 28 ngày sau lễ cưới, đã xảy ra một sự cố. Số là khi vừa lái xe về, sau chuyến đi bốn năm ngày mà chẳng biết là đi đâu, Thể Loan bước từ trên xe xuống thì bỗng ôm bụng kêu đau rồi ngã lăn ra đất. Nhìn kỹ lại thì nửa thân dưới của cô nàng nhuộm đầy máu. Hai Mạnh lúc đó đang lên xe đạp về nhà ngủ như thường lệ, đã chứng kiến cảnh vợ bị ngã ngay từ đầu vội chạy tới đỡ cô nàng lên, lúc này dù đang đau đớn, nhưng Thể Loan vẫn tỏ ra đanh đá: - Không ai mượn anh, đi đi! Dù trong thâm tâm không muốn dính tới cô vợ hờ này, nhưng trước tình cảnh này chỉ vì lòng nhân đạo, nên Mạnh vẫn xốc Thể Loan dậy đưa vào phòng riêng. Gia đình hội đồng Thiệp giàu có nên đã sẵn bác sĩ riêng ở thị xã, trong đó một người chuyên khoa phụ nữ được tới ngay sau đó chưa đầy hai mươi phút. Sau khi khám xong, bà chích thuốc cầm máu rồi quay tìm người nhà. Lúc ấy vợ chồng hội đồng Thiệp dự tiệc cưới chưa về nên chỉ có mỗi Mạnh, bà ta hỏi: - Thầy là chồng cô Ba đây phải không? Hai Mạnh miễn cưỡng gật đầu. Bà ta nói, giọng đầy lo lắng: - Cô nhà có thai đã trên năm tháng mà sao không dưỡng thai cho kỹ. Để bây giờ có dấu hiệu sẩy thai và đang có biến chứng nặng rất nguy hiểm, phải đưa ngay ra nhà thương tỉnh thì may ra. Hai Mạnh kinh hoảng: - Thai... thai mấy tháng? - Trên năm tháng. Hồi tháng sáu, khi cô ấy ghé khám chỗ tôi thì thai đã được gần ba tháng rồi, nay là giữa tháng chín rồi. Thai bị động không chỉ vì chấn động mà còn vì lý do khác, bởi… Bà vừa nói tới đó thì Thể Loan ụa lên một tiếng lớn, rồi lăn người qua, nôn một hơi đầy cả giường. Mùi hôi tanh, đặc biệt là mùi rượu nồng nặc, khiến cho bà bác sĩ phải hốt hoảng: - Trời ơi, cô ấy uống nhiều rượu! Bộ thầy không biết sao mà để… Hai Mạnh không để ý câu hỏi, mà chỉ một mình lặp lại câu hỏi: - Cái thai hơn năm tháng? Vừa lẩm bẩm, Mạnh vừa bước ra ngoài: - Vậy là họ lừa mình. Thiên hạ ăn ốc mình thì đổ vỏ nè trời! Cái thai trong bụng Thể Loan chắc chắn không phải là của Hai Mạnh rồi. Và như vậy vụ “hiếp dâm” mà họ dàn cảnh đêm đó là để gài bẫy cho Mạnh phải lãnh đủ! - Trời ơi! Vừa kêu lên, Hai Mạnh vừa cắm đầu chạy bay ra dường như bị ma đuổi... *** Sáng hôm sau thì có tin Thể Loan chết khi chưa kịp đưa đi bệnh viện tỉnh. Lúc vợ chồng hội đồng Thiệp về tới thì chính bà bác sĩ sản khoa xác nhận:- Trong việc này mọi lỗi lầm là do người chồng của cô Ba cả. Khi tôi tới đây thì đã thấy cô Ba người đầy máu, có mặt cả thầy Hai Mạnh, vậy mà thầy ấy tắc trách, bỏ mặc vợ trong tình trạng ngặt nghèo, chạy đi một mình. Ông hội đồng gầm lên: - Thằng chó đẻ đó trả thù con gái tôi đây mà! Bà hội đồng cũng tru tréo lên: - Nó giết con tôi rồi! Phải gô đầu nó lại bắt đền mạng! Họ hô hào bộ hạ chạy đi tìm bắt Hai Mạnh. Khi Mạnh bị bắt dẫn tới thì vẫn còn nghe bà hội đồng vô tình nói mà Mạnh nghe rất rõ: - Cũng tại cha con ông cả. Bắt ép nó làm gì để nó trả thù như vậy? Nhất là thằng con trai cả của ông nữa. Đã khùng điên nhốt trong phòng kín rồi mà còn bắt con gái người ta vào đó nhốt và làm càn làm bậy suốt tháng trời, vậy mà ông cũng để vậy. Ông biết con nhỏ bị nó lôi vào phòng nhốt lại đó là ai không? Đó là con em gái thằng Hai Mạnh! - Tám Xuân! Đang bị hai tên lực lưỡng canh giữ, nhưng vừa nghe bà hội đồng nói tới đó, Hai Mạnh đã vùng ra, rồi trước sự sững sờ của mọi người, anh chạy bay lên lầu! Lầu có bốn phòng, Mạnh tung cửa từng phòng một đến phòng thứ ba thì anh khựng lại! Trong phòng, từ trần nhà có một thân thể lõa lồ của một phụ nữ treo lơ lửng. - Tám Xuân! Rõ ràng người treo cổ là Tám Xuân! Và còn một gã đàn ông đang ôm chân cái xác, vừa cười nham nhở. Gã là con trai cả của hội đồng Thiệp! - Trời ơi. Trong cơn phẫn uất tột cùng, Hai Mạnh lao vào chụp lấy cổ tên công tử nọ và siết... siết thật mạnh! Đến khi mấy tên bộ hạ nhà ông hội đồng kịp chạy lên thì tên tâm thần cũng vừa hết cử động. Có tiếng la thất thanh của mụ hội đồng: - Nó giết thằng Hai rồi ông ơi! Hai Mạnh không biết rõ chuyện xảy ra sau đó, chỉ mơ hồ cảm giác mình bị đánh dữ dội, đau đớn và gục xuống... *** Lập buông tập giấy viết tay của cha xuống. Hai khóe mắt anh đỏ hoe. Sự việc không ngờ lại tồi tệ đến như thế này! Thảo nào cách đây trên hai chục năm, khi cha mãn hạn tù gặp mẹ anh, một người phụ nữ bình thường trong làng và hai người chấp thuận ở với nhau, liên tiếp mẹ anh sinh đến lần thứ năm thì mới nuôi được con. Bởi vậy tuy là thứ sáu, Sáu Lập, nhưng anh lại là con một. Ông Hai Mạnh từ đó không hề nhắc tới việc tại sao ông đi tù. Khi Lập lớn lên, có lần anh hỏi thì cha anh chỉ thở dài và nói:- Ở đời có những chuyện mình không nên biết làm gì. Bây giờ thì anh đã hiểu, do sự cố đó, người ta bắt cha anh và kêu án mười năm tù. Thì ra cha anh đã giết người vì phẫn uất khi nhìn thấy cô Tám Xuân bị giết một cách dã man. Mười năm ở trong tù đã biến cha anh thành một con người lầm lì, ít nói và yếm thế. Khi nuôi Lập khôn lớn, ông Hai Mạnh luôn căn dặn anh chỉ một điều: - Đừng bao giờ chơi với con gái nhà giàu! Có lẽ vì vậy mà ông không cho Lập học đến nơi đến chốn. Chỉ học hết tiểu học thì Lập đã phải nghỉ để làm nghề đánh xe thổ mộ. - Đem đốt quyển tập ấy đi! Lập giật mình quay lại thì thấy bà cô họ đang đứng ở cửa phòng. Sắc mặt bà khác hẳn ngày thường. Tỉnh táo và nghiêm nghị hơn. - Nhưng đây là bút tích của ba con. - Bút tích ấy là mối họa cho cha con. Những chuyện kể về một đoạn đời khốn nạn, ô nhục ấy mà đáng gì! Chính vong hồn ba con bảo cô lấy nó ra cho con xem. Coi xong rồi thì đốt bỏ. Mọi chuyện đã thuộc về quá khứ rồi. Lập vẫn chưa yên tâm: - Nhưng con vẫn còn thắc mắc. Tại sao có cô gái nào đó xưng là con của cô Tám Xuân? Và tại sao có chuyện hai lần con thấy bộ xương khô và cô gái khóc bên bộ hài cốt. Bà cô kéo ghế ngồi xuống, giọng bà trầm hẳn: - Cô Tám con chết do bị thằng con trai điên của hội đồng Thiệp hãm hiếp, cô ấy xấu hổ, phẫn uất nên treo cổ. Lập chặn ngang: - Như vậy lúc ấy cô Tám con còn con gái, đâu có con? - Thì đúng là như vậy. - Vậy sao cô gái nào đó xưng là con của cô ấy? Bà cô đưa tay chỉ ra ngoài: - Con nói cô gái này phải không? Vừa khi cô gái bước vào. - Đúng là cô ta! Cô gái lần này nghiêm sắc mặt, cúi chào Lập: - Dạ, chào anh. - Hôm trước cô đi xe tôi, giữa đường rồi biến mất? - Dạ đúng. - Rồi cũng chính cô quỳ dưới bộ xương khô? - Dạ đúng. Lập la lên: - Cái gì cô cũng trả lời đúng. Vậy cô là gì? Cô là... Cô gái cười nhẹ: - Là Ánh Xuân. Người chớ không phải ma! - Nhưng tại sao cô có mặt trong ngôi nhà của hội đồng Thiệp? Cô gái lặng đi một lúc rồi tiếp, giọng buồn bã: - Em vốn là con người bạn tù của ba anh. Khi ở trong tù ba anh thường tâm sự chuyện bi kịch của cuộc đời và khi ba anh ra tù chẳng biết vô tình hay cố ý đã bỏ quên quyển hồi ký ghi lại mọi chuyện. Ba em ra tù sau, do thương cảm hoàn cảnh của ba anh, nên một hôm ông đích thân mang quyển tập ghi chép này tìm tới tận nơi đây. Ba em không gặp ba anh, mà lại tới ngôi mộ thấy vong hồn của một người tự xưng là cô Tám Xuân, cô ấy nhờ ba em bằng cách nào đó đưa ba anh và anh tới ngôi nhà, đúng chỗ căn phòng cô ấy bị giết chết để cứu oan hồn cô ấy ra khỏi nơi đó, chớ nếu không thì vĩnh viễn cô ấy sẽ không đầu thai được. Lập kêu lên: - Do đó, cô đã nói gạt tôi cô là con của cô Tám Xuân? Cô gái gật đầu: - Ba em thương hoàn cảnh của ba anh, thương vong linh người thác oan nên sai em sang đây tìm cách để đưa cho bằng được bác Hai và anh tới đó. Em đã thành công, nhưng cái giá trả thì quá đắt. Bác Hai đã… Bà cô giờ mới lại lên tiếng: - Thật ra anh Hai tôi chết để giải cái nghiệp đã vay. Một mạng người dù gì cũng là vợ và cả cái bào thai. Dẫu anh Hai tôi không giết họ, nhưng chính hành động bỏ mặc họ đêm hôm đó đã gián tiếp giết họ. Cô Thể Loan chết là đáng kiếp, nhưng… Lập không đồng tình: - Ba con trước sau chỉ là nạn nhân của cái nhà đó! Cô gái tán thành: - Khi nghe lệnh ba em tới đây, em không ngờ lại được vong linh của cô Tám anh giúp, để em lọt được vào ngôi nhà đó một cách dễ dàng, từ đó em khám phá ra chẳng phải riêng cha anh, cô Tám Xuân, mà còn nhiều người khác đã là nạn nhân của họ. Hội đồng Thiệp bỏ nhà ra đi bởi ông ta sợ bị báo oán bởi hậu quả tội ác ông ta và con cái gây ra! Nói xong, cô đứng dậy cầm lấy cuốn sổ, nói dứt khoát: - Theo em nghĩ nếu anh Lập không muốn giữ bút tích này, thì em sẽ đưa về cho ba em giữ. Nó là bằng chứng của một tội ác, để người đời còn biết bộ mặt thật của bọn cường hào ác bá! Bà cô muốn ngăn, nhưng Lập đã nói: - Cám ơn lòng tốt của cô. Tôi sẽ đích thân giữ bút tích của ba tôi. Tôi sẽ ghi nhớ lời ông. Không bao giờ quan hệ với con gái nhà giàu! Cô gái cười hồn nhiên: - Nhưng em không phải con gái nhà giàu đâu! Em chỉ đóng giả vai thôi… Lập hơi ngượng: - Ờ, nếu vậy thì... Cô gái chặn lời: - Anh cứ gọi tôi là Ánh Xuân. Tôi làm nghề bán hàng hóa nhỏ, lẻ ở ngoài thị xã, chớ chẳng hề là con gái nhà giàu đâu! Lập dịu giọng: - Vậy thì tôi xin lỗi. Ánh Xuân đột ngột hỏi: - Anh có muốn tới nhà tôi không? Ba tôi là bạn tù của ba anh, ông đang muốn gặp anh… Lập quyết định cũng đột ngột: - Cũng được. Vậy để tôi đánh xe đưa cô đi! Nhìn hai người bước ra, bà cô nhẹ mỉm cười... *** Ông Ba Thới, cha của Ánh Xuân tuy mới gặp Lập lần đầu nhưng đã tỏ ra thân thiện, ông bảo: - Từ hôm ba cháu mất, chú muốn vào thăm cháu mà chưa tiện, bởi chú bây giờ đôi chân hơi yếu. Rồi ông chỉ lên tủ thờ: - Cháu biết hình thờ đó là ai không? Lập nhìn người con gái còn rất trẻ, cỡ tuổi của Ánh Xuân, anh lắc đầu: - Dạ, con không biết... Ông Thới nói mà Lập tưởng mình nghe lầm: - Đó là cô Tám Xuân của con! - Bác nói... - Tấm ảnh này chỉ mình bác có. Bởi hồi còn con gái Tám Xuân nhút nhát, không chịu chụp hình, lần đó chú rình chụp được và giấu không cho cô ấy biết... Lập quá đỗi ngạc nhiên: - Chú biết cô Tám con? Trầm ngâm một lúc, ông Thới gật đầu nói: - Chẳng những biết mà còn… biết nhiều nữa kìa! Rồi không đợi Lập thắc mắc thêm, ông tiếp: - Không giấu gì cháu, chú đây chính là người yêu của cô Tám con trước lúc cô ấy chết. Bởi vậy khi hay tin cô Tám bị nhà hội đồng Thiệp hại chết, nhất là khi biết ba cháu bị họ bắt bỏ tù, chú đã tới tận đó nổi loạn và cũng bị họ tống giam luôn. Vào tù chú gặp ba con, hai bên đồng cảm nhau, thương yêu giúp đỡ nhau trong suốt những ngày hoạn nạn. Khi ra tù, trong lúc ba cháu muốn quên hết chuyện cũ, còn chú thì vẫn sôi sục chuyện trả thù. Chính chú đã tìm tới tận ngôi nhà hoang đó, tìm hiểu được oan hồn cô Tám bị giam hãm không siêu thoát được nên mới xui con Ánh Xuân này tới khiến cho ba cháu và cháu tìm tới ngôi nhà hoang và giải thoát được cho cô ấy… Lập ngạc nhiên: - Giải thoát... là sao? Ông Thới lại nhìn lên bàn thờ rồi hỏi Lập: - Con có nhớ hôm con nhìn thấy cha con ôm cái đầu lâu mà khóc trong ngôi nhà hoang không? - Dạ nhớ. Và hôm đó ba cháu quá xúc động nên ba cháu đã chết. - Ba cháu thì chết rồi, nhưng cô Tám con thì được hoàn hồn! - Chú nói…? - Chính nhờ giọt lệ của ba con nhỏ xuống nên Tám Xuân được hoàn hồn. Tuy không sống lại được như người nhưng từ hôm đó, hồn phách cô ấy luôn hiện hữu. Chú đưa cô ấy về đây thờ là vì vậy. Lập ngẩn ngơ như lạc vào cõi nào đó. Hồi lâu sau, anh nói khẽ: - Con cám ơn chú. Ông Thới nhẹ giọng: - Nhờ trời chúng ta có được kết cuộc này. Nhân đây chú cũng nói cho cháu biết, con Ánh Xuân đây không phải là con ruột của chú, mà chỉ là con nuôi kể từ khi Tám Xuân chết. Cháu có thể cùng với Xuân... Ông bỏ lửng câu nói, nhìn sang Ánh Xuân nhẹ mỉm cười. Cô gái cũng cười thật tươi và liếc sang Lập… |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 34
NÀNG HOA Suốt mấy đêm liền, hễ chợp mắt là Trọng mơ thấy có người gọi tên mình. Lần nào cũng vậy, khi tỉnh giấc thì Trọng lại nghe văng vẳng bên tai những âm thanh kỳ bí. Thứ âm thanh mà dường như Trọng đã nghe ở đâu đó... Ngày thứ ba, khi vừa mờ sáng thì Trọng lên đường tham dự một chuyến du lịch xa với gia đình. Trước khi lên đường, người anh rể của Trọng hơi lo lắng cho sắc diện kém tươi của anh: - Đi chơi xa mà sao em giống như người mất hồn vậy? Đau bệnh gì hay sao? Trọng cười gượng: - Dạ đâu có. Vừa đáp xong anh lại ngáp dài một hơi. Anh Hậu lắc đầu: - Trai tráng như cậu thật là chán! Ai lại ngáp dài ngáp ngắn như thế? Lúc lên xe, Trọng chọn băng ghế sau cùng, anh giải thích rằng: - Đường xa, thủ sẵn một chỗ ngả lưng chắc ăn hơn! Và quả đúng như vậy, xe chạy chưa tới hai chục cây số thì Trọng đã ngủ khì. Người nhà thông cảm nên cũng không chọc phá, cứ để cho Trọng ngủ một giấc dài. Chuyến đi xa tới trên ba trăm cây số, nên dọc đường xe phải dừng lại nghỉ để ăn uống. Thấy gọi hoài không được nên mọi người lại để mặc. Mãi cho đến khi gần tới nơi thì thật bất ngờ, Trọng ngồi bật dậy và hỏi một câu làm ai nấy đều ngạc nhiên: - Nàng ta đâu? Bà chị thứ tư của Trọng, chị Lan lắc đầu ngao ngán: - Hết chịu nổi thằng này luôn. Hết ngủ rồi lại gái! Có mấy nàng trên xe đây, còn nàng nào nữa! Trọng vẫn ra vẻ nghiêm trọng: - Tôi hỏi thật mà, nàng ấy đâu? Lan gắt lên: - Nàng nào? - Nàng Hoa! Trọng đáp ngắn gọn, ra vẻ như mới vừa nhìn thấy nàng Hoa nào đó! Anh Hậu ôm bụng cười: - Con trai tới tuổi lấy vợ thường hay mơ đủ thứ như vậy lắm! Lan trợn mắt nhìn chồng: - Anh chắc cũng mơ nhiều người rồi chớ gì? Trọng cắt ngang sự cãi vã của hai người: - Nàng ta đang gặp nguy, hãy cứu nàng ta với! Bà Diệp ngồi băng trước quay lại nói: - Tụi bay sờ đầu nó coi có bị sốt không? Trọng bực tức la lớn: - Thôi, mọi người im đi! Nói gì cũng không tin, đợi người ta chết rồi mới thương tiếc, muộn rồi. Những lời nói không đầu không đuôi càng khiến cho mọi người trên xe càng thêm khó hiểu và bực mình. Chỉ duy có ông Diệp là dịu giọng: - Để nghe nó kể chuyện đầu đuôi coi sao đã. Bộ con ngủ thấy gì phải không Trọng? Trọng trầm ngâm một chút rồi nói với cha mình: - Hễ con nhắm mắt lại là thấy người ta trói nàng ta rồi nhấn chìm xuống nước. Nàng ấy không chống cự được, chỉ biết kêu ú ớ, tội nghiệp lắm! Ông Diệp ra dấu cho mọi người không nên châm chọc Trọng nữa, rồi ông lại ngọt ngào với con: - Được rồi, con hãy bình tĩnh lại, chờ tới nơi đã. Nhưng nàng đó ở đâu? Trọng lắc đầu: - Con cũng không biết. Chỉ mỗi khi con nhắm mắt ngủ thì nghe tiếng kêu thảm thiết của nàng ấy! Rót cho Trọng ly cà phê trong bình, ông Diệp giục: - Con uống chút cà phê cho tỉnh người đi. Sau khi uống hết cốc cà phê, Trọng có vẻ bình tĩnh lại, anh lại lim dim như muốn ngủ tiếp. Nhìn thấy con như vậy bà Diệp hơi lo, bà hỏi nhỏ chồng: - Nó có sao không ông? Ông Diệp rất tâm lý, dặn khẽ mấy đứa con: - Không có chuyện gì đâu. Cứ để yên cho nó... Hơn nửa giờ sau thì tới nơi. Xe vừa rẽ vào khu đồn điền rộng mênh mông thì mấy cô con gái nhà ông bà Diệp đã reo lên: - Ồ, đẹp quá! Những đồi thông thẳng tắp chạy dài tới tận chân núi xa xa, khí hậu mát dịu và trong lành, khiến ngay cả bà Diệp cũng phải buột miệng khen: - Hổm rày nghe nói tui chưa nghĩ là nó đẹp cỡ này. Được đó, mình sẽ ra đây thường xuyên để đổi gió! Đây là khu đồn điền mà ông Diệp mới mua chưa lâu, và hôm nay là lần đầu tiên ông cho cả nhà tới thăm lần đầu. Để động viên Trọng, ông vỗ vai con: - Con thích cưỡi ngựa thì nơi đây có ngựa. Thích câu cá thì có nhiều hồ, suối. Kể cả thích đi săn thú ban đêm cũng có. Nghe chuyện săn thú, bà Diệp phản đối ngay: - Thôi đi! Không được chơi cái trò đó! Trọng thì reo lên: - Con khoái câu cá! Thấy con hết tình trạng lờ đờ lúc nãy, ông Diệp phấn khởi: - Mấy người thấy không, ra tới đây với không khí này thì lừ đừ như thằng Trọng cũng phải linh hoạt ngay thôi! Ngôi nhà gỗ khang trang đã được ông Diệp cho xây vài tháng trước với mấy người giúp việc vốn là cư dân địa phương. Họ đón chủ mới với sự trọng thị đúng mực. Trong số gia nhân bốn người, có người đàn ông đứng tuổi đã từng giúp việc cho gia đình một người Pháp trước kia nên rất biết phép tắc: - Dạ, kính chào ông bà chủ và các cô cậu. Tôi là Phan Hiếu, tên dân tộc là Y Phang. Còn hai đứa con và bà vợ nữa, nhưng chúng đang bận đi đám tang một người quen mới mất sáng nay ở thôn gần bên. Bà Diệp hỏi: - Có nhiều nhà cửa quanh đây không? - Dạ có nhiều, nhưng đều ở ngoài phạm vi đồn điền của ta cả. Chẳng hiểu tại sao Trọng lại quan tâm đến đám tang, anh hỏi dồn: - Đám tang của ai vậy chú? Ông Phan Hiếu thở dài vừa đáp: - Tội nghiệp, con nhỏ mới mười tám tuổi mà đã chết thảm! Trọng như không thể chờ được: - Chú nói xem đó là ai vậy? - A Hoa. Mà người ta quen gọi là nàng Hoa! - Trời ơi! Tự dưng Trọng kêu thét lên một tiếng rồi ngã lăn ra bất tỉnh. Ông bà Diệp hốt hoảng giục các con: - Mau lên, đỡ nó dậy! Họ đưa Trọng vào nhà, cũng vừa lúc anh tỉnh lại và thảng thốt kêu lên: - Tôi đã giết nàng rồi! Phan Hiếu cũng phải ngạc nhiên: - Cậu ấy nói gì vậy? Ông Diệp phải giải thích: - Thằng con tôi bị ám ảnh bởi cái chết của cô gái nào đó, nên hễ nghe nói cô gái nào chết… là như vậy đó. Ông cố tình kéo Trọng vào nhà, ông nghiêm giọng nhắc: - Con đừng có như vậy! Trọng im lặng, nhưng trong lòng anh như có cái gì đó thôi thúc không yên. Đến một lúc, khi ông Diệp gọi rủ Trọng đi câu cá thì chẳng thấy anh chàng đâu! Ông hỏi Hậu: - Con thấy thằng Trọng đâu không? Hậu lắc đầu: - Dạ không. Con tưởng cậu ấy ngủ trong phòng. Khi hỏi Phan Hiếu thì ông này thú thật: - Lúc nãy cậu gì đó hỏi tôi nhà của nàng Hoa. Tôi chỉ nhà và cậu ấy chắc là đi qua đó. - Ở đâu? Ông ta chỉ tay về phía bên kia hồ nước: - Bên bản Lia, cũng không xa lắm. Ông Diệp lo lắng bảo Hậu: - Hay là con đi với chú Hiếu tìm nó xem. Nhưng Phan Hiếu xua tay: - Ông chủ đừng lo. Bên đó là bản làng chân chất lắm. Họ nổi tiếng là nơi hiếu khách nhất vùng này. Ai lạ, nhất là các chàng trai tới sẽ được tiếp đãi đàng hoàng. Cậu Út nhà ông chủ vừa đẹp trai, lại có lòng như vậy chắc chắn sẽ là thượng khách bên đó cho coi! Lan chen vào nói đùa: - Để nó qua bên đó kiếm được một cô sơn nữ nào đó rồi đem về, không chừng lại bớt hâm! Bà Diệp cũng nói: - Thằng này từ nào đến giờ nhát con gái lắm. Không biết kỳ này ông ứng bà hành gì lại chiêm bao thấy cô nào đó. Mà nè chú Hiếu, cô gái mới chết tên là gì mà vừa nghe thằng con tôi đã ngây người ra vậy? - Dạ là A Hoa, còn gọi là nàng Hoa. - Là con cái nhà ai vậy? Mà sao lại chết? Phan Hiếu hạ thấp giọng, chừng như sợ lời nói của mình bị người khác nghe được: - Cô ta đẹp lắm, mà bị chết do bị dìm dưới nước! Bà Diệp lè lưỡi: - Trời đất ơi, ai mà ác dữ vậy. - Chính thầy mo trong làng làm chuyện đó! Cũng do tục lệ lâu đời. Người ta nghi cô ấy bị ma lai nhập, cho nên... Ông Diệp gật đầu: - Tôi có nghe người ta kể nhiều chuyện hủ tục ở các bản làng. Như chôn sống cô gái hay đứa con mà cô ta lỡ sinh ra mà không có cha. Nhưng việc trấn nước vì nghi ma lai nhập thì mới nghe đây. Ngọc Lan chen vào: - Hồi nãy trên xe ba má không nghe thằng Trọng kêu lên là hãy cứu cô gái nào đó, đừng để người ta dìm dưới nước sao? Bà Diệp nhớ lại: - Đúng rồi, tôi còn nghe nó kêu tên là nàng Hoa nữa! Ông Diệp nghe lạnh cả người: - Sao lại có chuyện lạ lùng thế này? Phan Hiếu nói thêm: - Sáng sớm hôm nay, trước khi mặt trời lên, dân làng đều tụ tập gần hồ để chứng kiến cảnh “trừng phạt” đó. A Hoa đã bị dìm cho đến chết chỉ vì cách đây một tuần, nó đã đang đêm đi ra ngoài rừng, vừa đi vừa cất tiếng gọi ai đó tên là Trong hay Trọng gì đó. Dân trong bản nhìn thấy, người ta báo thầy mo và ông ta quả quyết A Hoa bị ma lai bắt hồn! Bà Diệp kinh hãi: - Trời ơi. Đúng là... đúng là có dính tới thằng con mình rồi ông ơi! Linh tính chẳng lành, ông Diệp kéo tay Phan Hiếu và cả chàng rể: - Đi cứu nó mau! Họ băng rừng vượt suối, phải mất hơn một giờ sau mới tới được phía bên kia hồ. Nhưng lúc ấy thì mọi việc đã xong rồi, chỉ còn lại bên bờ hồ một quang cảnh tiêu điều: nhiều cành hoa rừng vứt tứ tung, cây cỏ ở vạt đất bị giẫm đạp rạp xuống. Và ở phía xa xa, trên mặt nước có những bông hoa dại trôi lững lờ. Hình như ai đó đã thả hoa để tiễn đưa người chết, hoặc cũng có thể là để tống khứ một hồn ma... Không thấy bóng dáng Trọng ở đâu… *** Trọng phải nép mình ở bụi rậm chờ khá lâu thì mọi người mới từ từ rút đi hết. Anh sốt ruột từ nãy giờ, bởi từ khi có mặt ở đây, anh cố giương mắt tìm mà vẫn không thấy bóng dáng của “nạn nhân” đâu. Mà theo lời ông Phan Hiếu nói thì sáng nay thầy mo đã dìm chết nàng Hoa dưới dòng nước, họ chờ mặt trời đứng bóng như lúc này thì đem xác nạn nhân lên đốt thành tro rồi rải tro đó xuống hồ, coi như tống khứ được yêu ma ra khỏi làng.Nhưng khi nãy rất đông dân làng tiến hành buổi lễ gì đó, họ nhảy múa, ca hát và cả cầu nguyện nữa, nhưng tuyệt nhiên không có một ai bị xử tội, có nghĩa là nàng Hoa không có mặt! Trọng vái thầm: - Lạy trời cho nàng đừng bị... Vừa nghĩ đến đó thì Trọng nhìn thấy cha mình và hai người nữa chạy tới. Anh không muốn đối mặt với họ khi chưa biết tin tức mà mình cần biết, nên cố nín thở trốn thêm một lúc nữa. Đến khi ông Phan Hiếu giải thích gì đó với cha, ông Diệp đồng ý rút lui thì Trọng mới thở phào nhẹ nhõm. Anh nhìn trước sau không còn thấy ai thì mới dám mò ra tận bờ hồ. Nhìn thấy một thân chuối trôi cùng những bông hoa rừng, Trọng liên tưởng đến một xác người bị cột theo đó, anh kêu khẽ: - Trời ơi! Và chẳng cần nghĩ ngợi thêm, Trọng nhảy thẳng xuống nước, nhắm chỗ cây chuối đang trôi mà bơi tới. Tuy nhiên, đó chỉ là một thân chuối trơ trọi, không mang theo vật gì khác. Thất vọng, Trọng bơi vào bờ và cứ để nguyên quần áo ướt như vậy, nằm vật ra trên bãi cỏ. Bên tai anh lại văng vẳng cái âm thanh mà từ ba bốn bữa nay cứ vọng về! - Nàng Hoa! Trọng chồm dậy, cứ ngỡ cô gái tên Hoa đang đứng gần đâu đó, nên đảo mắt nhìn. Tuyệt nhiên không. Chỉ có cây rừng và gió rít từng cơn. - Hay là... Trọng đang nghĩ tới chuyện có thể cô gái chưa bị chết? Có thể lắm, bởi nếu chết thì lúc nãy anh đã thấy xác. Người ta còn phải đem xác đi thiêu kia mà! - Đúng rồi! Trọng lại nghĩ, có thể lúc anh tới thì đã quá trễ, có thể họ đã đưa xác nàng Hoa đi đến giàn hỏa. Vừa lúc ấy, Trọng nhìn thấy một cột khói khá gần. - Trời ơi, trễ rồi! Bất kể hiểm nguy, Trọng cứ theo hướng cột khói mà lao tới. Anh chàng có thể bị mất mạng bởi bẫy chông người dân bản bẫy thú dữ, nhưng cũng may, sau hơn nửa giờ Trọng đã tới gần chỗ cột khói đang bốc lên. Nhưng một lần nữa, Trọng bị trễ. Cột khói vừa tàn, ông thầy mo và bốn năm người đàn ông đang gom nhặt những gì còn lại sau đám cháy, cho vào một cái hũ. - Tro cốt của nàng Hoa! Trọng định lao tới cướp lấy, nhưng kịp nghĩ lại, nếu xuất hiện lúc này sẽ biến thành mồi ngon của bọn người kia thôi. Anh cố nén, trốn kỹ vào bụi rậm. Bọn người kia sau khi gom đủ những mảnh vụn, họ dùng một chiếc khăn đỏ bịt kín miệng hũ lại rồi đem đặt ở mộ đá rất gần với chỗ Trọng nấp. Chúng chỉ trỏ và nói với nhau bằng thổ ngữ, Trọng không rõ, nhưng cũng có thể đoán được là chúng chờ cho mặt trời xế bóng thì đem trở lại hồ để “hóa sinh”. Đúng là dịp may trời cho! Trọng nín thở, chờ cho hai tên nọ quay đi hơi xa, bèn nhoài người lên ôm gọn chiếc hũ vào lòng, bò đi một đoạn rồi chạy thật nhanh. Lúc nãy trên đường tới đây Trọng đi phải mất cả giờ, nhưng khi chạy về anh chỉ cần nửa tiếng. Lúc thấy bóng Trọng ngoài ngõ, cả nhà reo lên: - Trọng! Ông Phan Hiếu nói vui: - Tui nói rồi mà, cậu này đâu có sao! Bà Diệp mừng quá mắng yêu con: - Thằng quỷ, làm mọi người hết hồn! Trọng không quan tâm tới ai hết, chỉ khư khư giữ chiếc hũ, lúc này ông Diệp mới để ý: - Cái gì vậy con? Trọng không đáp mà đi thẳng vào phòng riêng. Phan Hiếu thì hiểu chuyện, nói khẽ với ông chủ: - Cái hũ đó người ta đựng tro cốt của người chết. Có thể là của con A Hoa! Nghe vậy, bà Diệp ré lên: - Trời ơi, mày điên rồi sao Trọng! Trọng không đáp lại, rút mãi trong phòng. Lát sau anh bước ra, vẫn ôm chặt chiếc hũ: - Ba cho con về ngay Sài Gòn! Hình như đoán được ý của Trọng, ông Phan Hiếu chen vào nói: - Có phải cậu đánh cắp tro cốt của A Hoa không? Có ai đuổi theo cậu về đây không? Trọng lắc đầu chứ không nói, Phan Hiếu hạ thấp giọng: - Nếu không ai đuổi theo thì cậu đừng sợ. Cậu ở trong nhà này cũng an toàn như về Sài Gòn vậy. Ông Diệp thấy con có vẻ căng thẳng, nên bước tới trấn an: - Ba đã hiểu chuyện của con rồi. Giữa con và cô gái ấy có thần giao cách cảm nên mới khiến cho hai người chưa hề quen biết nhau, lại ở xa ba bốn trăm dặm báo mộng cho nhau như vậy. Và bây giờ chuyện đã dĩ lỡ rồi, cô gái ấy vì con mà bị chết thảm. Vậy con cần làm cái gì đó để vong linh cô ấy đỡ khổ chốn suối vàng? Nghe cha hỏi Trọng cảm động. Anh gục đầu vào vai cha khóc nức nở: - Con có tội cha à! Nếu con tới sớm hơn một chút thì nàng đâu ra nông nỗi này. Phan Hiếu cũng nói: - Người ta mới xử A Hoa hồi sáng sớm nay. Nếu hôm qua cậu Út này tới thì mọi sự đã khác. Ngọc Lan đứng gần đó nói chen vào: - Xuất hiện sớm thì họ giết luôn chớ khác gì! Phan Hiếu giải thích: - Phong tục ở đây nếu chàng trai mà A Hoa mơ thấy xuất hiện kịp thời thì họ sẽ không bắt tội, mà trái lại còn tác hợp cho hai người nữa! Ngọc Lan cười phá lên: - Không lẽ cưới con nhỏ người thiểu số đó về làm dâu! Trọng trừng mắt nhìn chị mình: - Tôi cấm không cho chị nói cô ấy bằng giọng đó! Còn một lần nữa là hết tình chị em đó! Không ngờ Trọng phản ứng dữ quá, Lan hơi sượng. Ông Diệp phải lên tiếng: - Con Lan đừng can thiệp chuyện của em. Để đó ba giải quyết. Bà Diệp thấy Trọng như vậy cũng không còn lớn tiếng như lúc nãy, mà chỉ nói riêng với chồng: - Ông tính sao, chớ ai lại để nó giữ cái... cái của nợ đó trong nhà. Bà nói rất khẽ, không ngờ Trọng cũng nghe được: - Nếu gọi đây là của nợ thì con trai ba má sẽ đưa của nợ này đi liền bây giờ! Ông Diệp phải gắt lên: - Tôi bảo không ai được xía vào chuyện của thằng Trọng hết. Khi mọi người đã im lặng, lúc này ông Diệp mới kéo con trai lại gần rồi ôn tồn hỏi: - Con thuật rõ cho ba nghe coi, trong giấc mơ con thấy gì? Trọng chừng như cần tuôn ra những điều còn giấu trong lòng: - Con nghe có những âm thanh kỳ lạ lắm trong giấc ngủ. Ban đầu con không phân biệt được là gì. Mãi đến khi tới đây rồi con mới hiểu được âm thanh đó là tiếng gió rừng rít từng cơn. Và chen vào đó là tiếng khóc của người con gái. Con nghe đến như vậy mà vẫn không biết là nàng ở đâu và làm sao để tới được! Có phải tại con quá chậm trễ không ba? Ông Diệp chép miệng: - Cũng tại ba một phần. Phải chi chiều hôm qua ba không bận ký hợp đồng thì mình đã kịp lên tới đây từ tối hôm qua rồi. Phan Hiếu vội nói: - Nếu tối qua cậu Út có mặt thì còn kịp! Nghe nói suốt tối qua con A Hoa còn chạy ra rừng gọi tên Trọng ơi Trọng hỡi, cho đến khi bị thầy mo vây bắt, tội nghiệp con nhỏ nó khóc chết lên chết xuống. Nó thề là trong giấc mơ nó thấy, người con trai đó mà theo nó thì chính người ấy là duyên nợ của nó! Lan không nhịn được, lại nói: - Người ta đã nói như vậy rồi mà còn trị tội là sao? Đúng là hủ tục! Ông Phan Hiếu thở dài: - Người thiểu số còn nhiều hủ tục lắm. Đặc biệt là người con gái một khi bị nghi dính tới ma lai thì một là bỏ làng ra đi, hai là phải chết? Ông Diệp ra dấu cho Lan không nói nữa, vừa kéo Trọng trở vào phòng: - Con cứ ở lại đây. Trong nhà mình, đất rừng thì không ai có thể làm gì được. Trọng có vẻ yên tâm. Anh nhịn bữa cơm chiều, mặc dù đích thân bà Diệp dọn và mời gọi đến mấy lần. Cửa phòng đóng kín nên không ai có thể nhìn tận mắt Trọng trân trọng với cái hũ đựng tro cốt đến mức nào. Có ai nhìn thì Trọng chắc cũng không ngượng khi vẫn ôm chặt hũ tro cốt, kể cả khi đã ngủ say. Đêm hôm đó trái với Trọng, ông Diệp lại là người mất ngủ. Ông không tài nào chợp mắt được, bởi vừa mơ màng thì ông lại nghe tiếng khóc của ai đó vọng lại từ bên ngoài. Ông cứ lén nhìn từ cửa sổ mà không thấy gì ngoài bóng tối. Ông cũng không báo cho vợ biết, sợ bà lo lắng. Tuy nhiên sau đó thì cả nhà đều hay. Bà Diệp bàn với chồng: - Hay là ông để tôi đốt nhang van vái, chớ kiểu này tôi nghi là... oan hồn uổng tử chi đây! Tuy nhiên, do nhà mới, lại ở vùng rừng núi nên tìm hoài cũng không có nhang đèn. Ông Diệp đành phải nói: - Mình cứ khấn nguyện là được rồi. Ngọc Lan là người không tin chuyện ma quỷ, nhưng sau khi nghe tiếng khóc một lúc cũng phải nói: - Tiếng khóc này là của phụ nữ. Hay là... Ý nghĩ của cô trùng khớp với mẹ, nên hai mẹ con cùng hốt hoảng: - Nàng... Nàng Hoa! Không ai bảo ai, họ nghe lạnh khắp người và cùng ôm nhau rút vào một góc. Hai năm sau... Nỗi buồn lớn nhất của vợ chồng ông Diệp là tình trạng của Trọng. Kể từ khi xảy ra vụ “nàng Hoa” thì anh chàng như cái bóng của chính mình. Suốt ngày rút trong phòng riêng, cắt hết mọi giao tiếp với bạn bè. Trọng là người con trai duy nhất trong nhà, tuổi cũng đã gần ba mươi, nên tình hình đó lại càng làm cho ông bà Diệp lo lắng, bồn chồn. Cơ ngơi của họ rồi lấy ai cáng đáng, bởi ông Diệp đã bắt đầu có dấu hiệu bệnh hoạn, chậm chạp. Mộng ước duy nhất của ông về cậu con trai hầu như chỉ còn là sự thất vọng. Hôm nay, cũng giống như mọi ngày từ hai năm nay, ông Diệp lặng lẽ ngồi ở trường kỷ, nhâm nhi chén trà sen mà buồn cho gia thế. Chợt có tiếng dép lê tới gần một cách hấp tấp, rồi giọng phấn khởi của bà vợ: - Có chuyện này hay lắm ông ơi! Không buồn nhìn lên, giọng ông đầy chán nản: - Có gì đâu mà hay… Bà Diệp ngồi xuống, giọng sôi nổi: - Cưới vợ cho thằng Trọng đi ông! Buông tràng cười đầy chua chát, ông Diệp lúc này mới ngẩng lên: - Bà ấm đầu hay nằm mơ vậy? Bà Diệp vẫn với giọng lạc quan: - Tôi mới được mách mối này hay lắm, mà tôi tin thằng Trọng nhà mình sẽ không thể chê được! Bà chỉ cho chồng xem tấm ảnh cô gái có gương mặt thùy mị, nhan sắc mặn mà trong tờ lịch treo trên tường: - Giống y con nhỏ này nè! Mà lạ quá, sao lại có hai người trùng tên nhau? - Tên gì? - A Hoa! Đúng như cái tên của con nhỏ mà thằng Trọng đam mê, tơ tưởng. Bây giờ ông Diệp mới thật sự chú ý. Nhìn ảnh cô gái, ông phải nhận là đẹp và vừa ý. Tuy nhiên, ông vẫn nói: - Nếu là người thiểu số thì việc trùng tên là chuyện thường. A Hoa, A Lan, A Miện là cái tên phổ biến của bản làng người thượng. Bà Diệp không chịu thua: - Nếu chỉ có vậy thì tôi đâu có nói làm gì. Có chuyện này hay lắm... Bà lại hạ thấp giọng hơn: - Nó đang ở đây nè! Ông Diệp giật mình: - Ở đây là ở đâu? Bà chỉ tay ra phía trước nhà: - Ngay ở cửa nhà mình! Ông Diệp như người trên trời rớt xuống: - Bà nói chuyện gì tôi không hiểu? - Thì ông ra ngoài này xem sẽ biết. Bà nắm tay ông dẫn ra ngoài. Ngay ở tường rào cổng nhà ông có vợ chồng người thiểu số và một cô con gái tuổi đôi mươi đang ngồi bán các loại lá, cây thuốc và một số sản phẩm của vùng rừng núi. Bà Diệp nói: - Con nhỏ con gái đó tên là A Hoa. Lúc nãy tôi hỏi và nghe nó trả lời tôi giật mình! Tôi cứ tưởng hồn con A Hoa, nàng Hoa gì đó của thằng Trọng hiện về chớ! Ông Diệp lén nhìn kỹ cô gái ăn mặc quần áo người Thượng ngồi ngoài kia và phải tấm tấc khen: - Sao lại có đứa con gái Thượng đẹp còn hơn cả người Kinh nữa! Bà Diệp nói khẽ hơn: - Để tôi ra kêu nó vào nhà, mình hỏi chuyện nó xem. Bà bước ra và bỏ tiền mua một lúc hết cả đống cây cỏ và cả mấy cái răng nanh heo rừng nữa. Bà nói gì đó với hai vợ chồng người Thượng mà đứng bên trong ông Diệp không nghe rõ. Lát sau, ông ngạc nhiên khi thấy họ cùng bước vào nhà. Bà hí hửng khoe: - Họ chịu vào nhà nói chuyện rồi ông! Khi ngồi ghế rồi, người đàn ông thượng mới lên tiếng giọng Kinh tuy lơ lớ nhưng khá rành: - Tui ở Madagui xuống đây hoài để bán thuốc. Bữa nay có dẫn theo con nhỏ này, nó ở chung bản, có bụng muốn kiếm chỗ làm. Nhà nghèo quá mà. Thấy nhà ông bà lớn quá, có cần người làm không? Bà Diệp mừng quá không nén được: - Có! Có! Ông Diệp ra dấu bằng mắt cho bà, rồi ôn tồn hỏi: - Cô này biết nói tiếng Kinh không? - Biết. Biết nhiều nữa! Nó từng đi làm đồn điền ở trên đó mấy năm rồi! Nói chuyện đi A Hoa. Cô gái bấy giờ mới lên tiếng: - Cháu từng đi làm ở đồn điền trà. Cháu biết nhiều tiếng Kinh. Cháu cũng thích người Kinh nữa. Bà Diệp chen lời: - Cha mẹ, nhà của cháu ở đâu? - Dạ, ở Madagui. Mà chết hết rồi. Người đàn ông Thượng nói vào: - Nó mất cha mẹ hồi ba tuổi, khi đó người bản tôi vớt được nó trên một bè chuối trôi theo dòng suối. Người ta nói nó ra đời bởi mẹ nó quan hệ với ma lai, nên người ta xử mẹ nó, rồi thả nó trôi sông cho chết luôn! Nhưng nó còn sống nhăn tới bây giờ, có phải là ma gì đâu! Ông Diệp ngẩn người ra: - Sao lại trùng khớp như vậy? Người đàn ông Thượng không hiểu, hỏi lại: - Trùng khớp gì? - Ý tôi muốn nói là... sao người Thượng thường xảy ra chuyện ma lai gì đó quá. Có thật không? Người đàn ông thật thà đáp: - Có. Nhưng đâu phải cái nào cũng đúng. Như con nhỏ này, tui nuôi nó từ nhỏ tới giờ, đâu có gì là ma đâu? Nó là đứa giỏi làm, ngoan ngoãn nữa. Ai mà được nó làm cho là được ông trời thương đó! Hài lòng về cô gái, nhưng nghe dính tới ma quỷ thì ông Diệp lại ngại: - Nhưng mà... Trái lại, bà thì quyết ngay: - Thôi được. Tụi tôi sẽ nhận cho con nhỏ ở đây làm, với điều kiện anh và vợ phải viết giấy cam kết. Người đàn ông cười trơ ra hàng nướu răng: - Tui đâu có biết chữ Kinh. Tôi chỉ biết thề thôi! Ông Diệp thấy vợ thích thì cũng chiều, ông nói: - Vậy tôi sẽ viết và đọc lại, hai vợ chồng nếu thuận thì lăn tay vào. - Được! Được! Cô gái xen vào: - Con biết tiếng Kinh. Để con viết rồi ba má con lăn tay. Thủ tục làm xong ngay sau đó. Cô gái đọc lại cho cha mẹ mình nghe rồi ký tên trước một bên. Ông Diệp đi lấy hộp mực đóng dấu cho vợ chồng người Thượng lăn tay vào. Xong, bà Diệp phấn khởi lắm: - Nó đã được ở đây rồi, mỗi lần ông bà xuống bán thuốc có thể ghé thăm nó. Khi mọi việc xong xuôi, tiễn khách về, lúc quay vào ông bà Diệp ngây người kinh ngạc khi thấy Trọng đã xuất hiện từ lúc nào rồi và đang đứng nhìn đắm đuối cô gái thiểu số! - Kìa, Trọng... Bà Diệp kêu lên, nhưng Trọng hầu như không nghe, cứ dán mắt vào người trước mặt. Cô gái tên A Hoa cũng lạ, cứ nhìn sững Trọng rồi đờ ra. - Trọng, con sao vậy? - Cô gái này? - Đây là người từ nay sẽ ở lại nhà mình! Cô ấy cũng là người thiểu số. Cũng có tên là... Bà nói còn dang dở thì Trọng đã tiếp ngay: - Tên là A Hoa! Ông Diệp kinh ngạc: - Sao con biết? Trọng đưa tay chỉ vào phòng mình, nói: - Vong linh của nàng Hoa mách cho con biết. Tối qua nàng đã về, dặn con sáng nay chuẩn bị để đón... vợ! Cả hai ông bà đều ngơ ngác: - Vợ? Ai là... Trọng đưa tay chỉ cô gái: - Đây. Cô gái chỉ cúi đầu thẹn thùng chớ không phản đối gì. Trọng lại nói: - Duyên nợ không phải tìm mà được. Tự nó sẽ tới. Nàng Hoa nói với con rồi. Nhất nhất chuyện gì Trọng cũng đưa nàng Hoa ra. Nhưng thay vì phật ý như trước đây, ông bà Diệp lại đồng tình: - Được rồi, nếu nàng ấy muốn thì con cứ làm theo. Hình như hai ông bà được sự tác động siêu hình nào đó xúi giục, nên trong cách nói cũng khác đi. Trọng thì vẫn say sưa nói theo ý của mình: - Đêm qua con được vong linh của nàng Hoa đồng ý để con lấy vợ. Người con gái này có chung số phận như nàng, nên nàng cảm thông. Hoa nói nàng sẽ sống lại qua cô gái này. Trọng nói xong, rất tự nhiên bước tới nắm tay cô gái: - Ba má chấp thuận cho chúng con thành hôn. Như vậy là ba má cứu cả hai mạng người, con và nàng Hoa! Từ chỗ kinh ngạc đến ngỡ ngàng, ông bà Diệp chỉ biết đưa mắt nhìn nhau. Rồi cuối cùng ông nói: - Tùy con. Nắm tay vợ bước về phòng riêng, lúc này ông mới bảo khẽ: - Thôi, kệ tụi nó. Âu cũng là số trời. Bà Diệp có vẻ âu lo, nhưng rồi cũng gật đầu: - Cũng được. Đám cưới của Trọng thật quá bất ngờ với mọi người. Ngay cả chị em trong nhà như Lan và Hậu cũng không thể ngờ. Lan hỏi chồng: - Thằng Trọng tìm đâu ra một con nhỏ người Thượng như vậy? Hậu lắc đầu: - Ai mà biết. Mà phải công nhận số cậu Út hên thật! - Hên cái gì? Hậu hơi lúng túng: - Thì... thì hên ở chỗ có... người con gái đẹp, một bông hoa rừng! Lan nhéo chồng một cái đau điếng. - Cấm từ nay không được khen gái trước mặt tui nghe chưa! - Kỳ cục! Ai mà... Từ ngày cưới vợ thì tính tình Trọng thay đổi hẳn. Không còn mơ mộng vẩn vơ nữa. Anh cũng chứng tỏ là một cậu con trai nối nghiệp có bản lĩnh: Mọi công việc được cha giao Trọng đều hoàn thành thật tốt. Cô gái tên A Hoa cũng hòa nhập thật hoàn hảo với nhà chồng. Ăn ở thảo kính với cha mẹ chồng, đối xử khéo léo với chị em chồng trong nhà, nên ai nấy đều yêu mến. Lạ một điều nữa mà ít người biết: Thường ngày, trong những lúc riêng tư với nhau, Trọng thường gọi vợ bằng... nàng Hoa! Và cô nàng cũng dạ thưa ngọt xớt! Duyên tiền định chăng? KIẾP PHÙ DUNG Vốn thích ăn xôi nếp vào mỗi sáng, nên kể cả lúc còn đi làm chức trưởng phòng một sở ở tỉnh lỵ, ông Quan cũng chỉ thích mỗi sáng ngồi ăn xôi nóng muối mè cùng với vợ trước khi đi làm. Nay đã về hưu, ông Quan lại càng có thì giờ ngồi điểm tâm với bà vợ vốn chăm chỉ, hiền lành và khéo tay nội trợ. Sáng hôm đó, lúc đang ăn thì ông nheo mắt hỏi vợ: - Mới sáng sớm mà có ai tới nhà mình vậy? Mà là một cô gái nữa. Coi tướng đi quen quen... con nhà ai coi đẹp và sang quá! Lời ông nói chưa dứt thì bà vợ đã phá lên cười: - Thánh thần thiên địa ơi, coi ổng kìa! Con gái ổng mà ổng khen cô nào đẹp quá trời! Lúc này cô gái cũng vừa bước tới, cô cất tiếng hỏi: - Ba má nói gì con vậy? Ông Quan ngớ người ra: - Ủa, con Dung hả? Trời đất ơi... Bà Quan vẫn còn ôm bụng cười: - Mày coi đó Dung, ba mày tưởng là cô nào tới tìm nên ngẩn ngơ, khen đẹp! Dung thẹn đỏ mặt: - Ba má chọc con hoài! Bà Quan nhìn con gái rồi cũng tấm tắc: - Mà ba mày lầm cũng phải. Mày bận đồ mới này có khác gì tiểu thư đâu! Ông Quan lâu nay ít quan tâm tới con cái, nay sau khi nhìn kỹ lại Dung, ông phải tắc lưỡi: - Con nhỏ trổ mã rồi! Quả nhiên với tuổi mười sáu, nhưng Ngọc Dung lại phát triển, nở nang như mười tám, đôi mươi. Mà đặc biệt gương mặt đẹp như vầng trăng, nước da trắng ngần như trứng gà bóc, khó ai có thể nghĩ Dung là con nhà bình dân. Ngọc Dung thấy cha mẹ quan tâm, cô phải giải thích: - Bên cô Chín mời con qua phụ dâu giùm cho con Lý đi lấy chồng. Bộ đồ này má mua cho từ hôm Tết mà con đâu có mặc, tới hôm nay sợ chật nên mới... Bà Quan xoa đầu con: - Con mặc đẹp thì tốt chớ sao. Chỉ bởi con đẹp quá ba má không ngờ. Dung lại thẹn thùng: - Má chọc con hoài! Nói xong cô ù té chạy vào trong nhà. Nhìn theo con, bỗng ông Quan thở dài: - Thấy con gái mình mau lớn, lại quá đẹp mà tôi phát lo. Bà hình như cũng có ý nghĩ như chồng nên phụ họa: - Nhan sắc nó phát tiết sớm quá, tôi cũng lo. Ở xứ này đâu có đứa con gái đẹp nào mà được yên ổn đâu! Lời bà như một tiếng than, nên ông cũng lo lắng: - Nào giờ cứ ngỡ con nó còn nhỏ nên mình không để ý. Vả lại con nhỏ có chịu ăn diện với ai đâu, bây giờ phát hiện nhan sắc của nó, tôi thêm lo. Trầm ngâm một lúc, chợt ông nói: - Bà vào nói con Dung không được đi đám cưới bên đó. Nhất là không được làm phù dâu! Bà chưa hiểu ý nên hỏi lại: - Sao vậy ông? Ông Quan hạ thấp giọng: - Cái nhan sắc đó mà đem khoe ra thì có nước đút mồi cho sói dữ thôi! Bà không nhớ cánh bên Chín Hường toàn là dân làm quan làm tá tướng. Những người đang có quyền thế và... hung hiểm nổi tiếng à! Bà vẫn vô tư: - Là chỗ bà con, họ hung ác hay làm gì đó là với người ngoài, chớ với mình thì... Ông cắt ngang: - Tôi nói không cho đi! Vốn ngán tính nóng như lửa của chồng, nên bà Quan đành ngồi im. Hồi lâu bà mới nhẹ bước vào phòng riêng của con gái. Bà sững người khi không còn thấy Ngọc Dung trong phòng. Nhìn bóng mặt trời, bà hiểu chuyện gì đã xảy ra. Ngọc Dung có lẽ nghe rõ lời cha, nên đã lặng lẽ trốn khỏi nhà. Bà Quan than thầm: - Rồi đây rắc rối cho coi! Chưa hình dung được chuyện gì, nhưng những lời của chồng vừa rồi bà nghĩ là không sai. Và lại càng đúng hơn khi hình dung lại nhan sắc của con gái mình mà xuất hiện giữa lũ người kia thì khác nào con cừu lạc giữa bầy sói dữ! *** Điều lo sợ của vợ chồng ông Quan đã tới nhanh hơn là họ nghĩ. Một tuần sau…Khi vừa bước từ nhà ra sân định chăm sóc mấy cây kiểng thì ông Quan chợt nghe có tiếng đằng hắng. Ngẩng nhìn lên, ông kinh ngạc không thể ngờ được trước mặt ông là ngài quận trưởng Hoàng Quy! - Dạ… dạ thưa ngài… Thấy điệu bộ lúng túng của ông, ngài quận trưởng lên tiếng ngay: - Chào ông chủ sự. Không ngờ ông chủ sự cũng có vườn kiểng nhiều và đẹp còn hơn vườn nhà tôi nữa! Ông Quan càng lúng túng hơn: - Dạ, đâu dám. Sao bì được vườn kiểng quý của nhà ngài. Chẳng hay hôm nay rồng đến nhà tôm có việc gì dạy bảo? Thật là không phải, do không biết trước nên không kịp ra nghênh đón. Xin ngài thứ lỗi cho. Quận trưởng cười lớn: - Quả thật không hổ danh hổ phụ sinh hổ tử. Hổ tử ở đây tuy không có tài ăn nói khéo bậc nhất huyện này, nhưng lại có ưu điểm vượt trội khác! Chưa hiểu ý ông ta nói gì thì đã nghe tiếp: - Cha hay chữ đẻ con nhan sắc, thật là quý vô song! Ông Quan giật mình! Cái gì có nhan sắc ở đây? - Thưa ngài… Quận trưởng vỗ vai chủ nhà, kéo vô nhà: - Bữa nay thật ra tôi cũng không rảnh để đi thăm viếng. Chẳng qua là có chuyện này... Rồi ông ta hạ thấp giọng: - Mỹ nhân đâu rồi? - Mỹ nhân nào? Thấy ông Quan ngơ ngác, quận Quy cười khành khạch: - Giỏi giấu lắm ông Quan! Cái tội lớn của ông là ở chỗ này. Nếu ông không giấu như mèo giấu cứt thì đâu đến nỗi bông hoa thơm tho này lọt vào tay người ở xa dữ vậy! Rồi để cho chủ nhà hiểu nhanh hơn, quận Quy búng hai ngón tay vào nhau, bảo: - Gọi con gái rượu Ngọc Dung của ông ra đây! Đến lúc này thì ông Quan đã hiểu lờ mờ. Ông vờ hỏi lại: - Quan hỏi con gái nhỏ của vợ chồng tui để làm gì? Quận Quy phá ra cười: - Bậy, lớn rồi còn nhỏ nỗi gì! Tui thấy mà còn mê nữa là... Ông ta ngừng ngay câu nói, có lẽ thấy lời mình lộ liễu quá. Nhưng ngay sau đó thì tiếp ngay: - Ông có bông hoa quý mà cứ giấu kỹ, uổng quá! Nhưng mà không sao, dẫu gì đi nữa không dưới thì trên. Những câu nói lấp lửng đó càng khiến ông Quan thêm sốt ruột, khó chịu, nhưng sợ cái uy của quận trưởng nên ông nhẹ giọng hỏi lại: - Ngài nói con gái tôi mà chẳng hay nó có đắc tội gì không? Tôi xin nghe ngài dạy bảo. Giọng quận Quy trở nên dứt khoát: - Chưa đắc tội gì. Nhưng nếu ông lắc đầu một cái thì chắc chắn là nó có tội! - Thưa ngài... Lão ta giở giọng ân nghĩa: - Nào giờ tôi chỉ có giúp ông thôi, chứ chưa nhờ việc gì. Hôm nay thì vừa nhờ vừa ra lệnh. Ông kêu cô Ngọc Dung ra đây! Mặc dù biết Dung ở nhà trong, nhưng ông Quan vẫn nói trớ đi: - Con gái tôi sáng sớm có việc đem đồ ra nhà ngoại nó, chiều mới về. Quận Quy quắc mắt: - Ông đùa với tôi phải không? Lúc nãy trước khi vào đây tôi đã đứng ngoài cổng cả buổi, có thấy đứa nào ra khỏi nhà đâu. Mà cho dù nó có đi đâu thì ông phải cho người đi kêu về ngay. Tôi cần gặp! Nghe tiếng ồn ở nhà trước, bà Quan bước ra thì khựng lại khi thấy bóng quận Quy. Bà ấp úng: - Dạ... dạ chào quan quận. Quận Quy quắc mắt: - Bà vào dẫn cô con gái bữa trước ra đây mau! - Dạ... dạ... Thấy bà lúng túng, quận Quy càng hét lớn: - Hai vợ chồng đều giấu giếm! Giấu đầu lòi đuôi thì có! Ông ta còn định nặng lời hơn thì Ngọc Dung xuất hiện từ ngoài cửa đi vào: - Dạ chào quận trưởng... Sao ngài không tin lời người ngài hỏi? Con đi công chuyện cũng may là về kịp. Quận Quy có vẻ sượng, nhưng ông ta vẫn giọng kẻ cả: - Con nhỏ đó vào đây! Ngọc Dung ăn mặc lam lũ như thường khi ở nhà, nhưng nhan sắc của cô gái mười sáu này quả là như đóa hàm tiếu, khó thể che mắt được ai, dù nấp dưới bộ cánh nào. Ông Quan thoáng nghĩ và biết ngay là tai họa khó mà thoát cho được! Ngọc Dung đến đứng sau lưng mẹ như sẵn sàng chờ đợi. Quận Quy hất hàm: - Ngồi xuống đó! Dung tỏ ra bản lĩnh: - Dạ, ngài tha tội cho. Nhà con xưa nay ba má con có dạy, trong lúc ba má ngồi tiếp khách thì con cái không được ngồi ngang hàng. - Nhưng tao... ta bảo... - Không lẽ quan quận bảo con làm chuyện vô lễ sao? Bị bắt bí, nên quận Quy hầm hừ: - Hừm! Thôi kệ... kệ mày! Thừa lúc lão ta đang lúng túng, bà Quan hỏi khẽ con: - Lúc nãy má còn thấy con ở nhà bếp mà? - Dạ, con đi vòng cửa rào phía sau, thì con nghe ba má nói con đi công chuyện sớm mà! Quận Quy không để cho họ có cơ hội nói chuyện: - Bây giờ đã có đủ mặt rồi, nghe tôi nói đây. Cô Ngọc Dung này mau chuẩn bị để mười hai giờ trưa nay cùng đi với tôi lên tỉnh, quan đầu tỉnh có lệnh triệu tập hết thảy con gái tuổi mười sáu trở lên ra tỉnh để tham dự hội chợ. Không ai được từ chối! Ông Quan hốt hoảng: - Con gái tôi còn nhỏ, từ nào đến giờ chưa từng xa nhà. Nó làm sao đi một mình được! Quận Quy móc trong túi ra tờ giấy có đóng dấu ký tên, gí vào mặt chủ nhà hỏi lớn: - Ông có thấy chữ ký và con dấu của cơ quan đầu tỉnh không? Ông muốn cãi phải không? Hay là ông muốn tôi kêu xe bít bùng tới chở ông cùng đi! Biết xe bít bùng là xe chở tù, nên bà Quan kêu lên: - Đừng! Nhà tôi đâu làm nên tội gì... Ngọc Dung vội lên tiếng: - Đã là triệu tập thì phải từ từ để người ta lo và chuẩn bị đi chớ, đâu phải lệnh bắt đâu mà ngài hăm he quát nạt dữ vậy? Được rồi, tôi sẽ đi. Bà Quan chụp tay con: - Kìa con! Sao con... Dung tỉnh táo: - Con biết rồi, bữa đám cưới bọn họ đã tính toán cả. Chẳng riêng mình con đâu, má đừng sợ. Quận Quy đứng lên ra lệnh: - Cô này theo tôi ngay! Dung trợn mắt: - Bây giờ mới bảy giờ sáng, mà mười hai giờ xe mới đi, tôi còn phải ở nhà sửa soạn đồ đạc đã, miễn sao đến giờ đó tôi có mặt trước dinh quận là được rồi! - Không được, lỡ tụi bay trốn hết thì sao? Ông ta định bước tới kéo tay Dung, nhưng cô bé đã khôn ngoan lách qua chỗ của cha và nghiêm giọng: - Nếu ngài bắt ép quá đáng thì tôi sẽ la làng lên cho mọi người tới để chứng kiến cảnh ngài định cưỡng bức tôi, rồi sau đó tôi cắn lưỡi tự tử cho ngài coi! Quan Quy hơi chột dạ, nhưng vốn là người nham hiểm, nhiều thủ đoạn, nên nhất thời ông ta dịu giọng: - Thôi, cũng được. Ông ta bước ra ngoài nói gì đó với vài tên bộ hạ và đi thẳng ra xe về mà không căn dặn gì thêm. Vợ chồng ông Quan và Ngọc Dung biết lão ta còn giở thủ đoạn nữa, nhưng chưa biết là gì nên chỉ ngồi ôm nhau mà khóc… Ông Quan giận lắm, chuyện Dung cãi lời đi dự đám cưới để rồi bị bọn quan nha nhìn thấy và nảy ý đồ đen tối. Nếu bình thường thì ông đã rầy, thậm chí đánh đòn nữa. Nhưng nay trong tình cảnh này ông chỉ thở dài, rồi bàn tính chuyện cứu vãn tình thế... Ngọc Dung đã sa bẫy mà không ngờ. Sau khi quận Quy về rồi Dung bàn tính kỹ với cha mẹ, một mình lẻn ra cổng sau với ý định đi sang nhà bà ngoại ở cách đó hơn chục cây số, rồi từ đó sẽ liệu đường trốn đi. Bởi ông Quan đã quyết rằng nếu nghe lời quận Quy thì khó lòng thoát khỏi móng vuốt của tên quan đầu tỉnh tây lai rất háo sắc. Đã bao nhiêu gái tân được triệu tập đi như vậy, mà có cô nào về an lành đâu! Nhưng khi Dung vừa bước ra khỏi cổng sau thì đã bị ngay mấy tên lính bảo an to như hộ pháp chụp bao bố lên đầu, rồi đẩy lên xe bít bùng đậu sẵn, chở ngay về dinh quận. Lúc tỉnh lại thì Dung đã thấy mình ngồi trên xe bị phủ kín, cách ly với bên ngoài. Cùng với Dung còn có bốn năm cô khác cũng trạc tuổi cô. Họ chỉ biết ôm nhau khóc chớ còn biết làm gì hơn... Quả đúng như lo sợ của họ. Khi đến tỉnh lỵ, cả năm cô gái tội nghiệp bị nhốt cách ly mỗi người một nơi. Họ không hề được cho đi làm tiếp tân hội chợ như lời hứa của quận Quy gì cả. Suốt ngày hôm đó, họ chỉ được ăn cơm tại phòng riêng, gần nửa đêm thì có người tới đưa cho mỗi cô một tờ giấy ghi toàn bằng chữ Pháp và buộc phải ký tên vào, Viên thông ngôn giải thích: - Đây là bản cam kết làm việc cho ngài tỉnh trưởng. Các cô ký tên xong thì được tự do. Làm việc có ăn lương, được cho chỗ ở, cấp cho quần áo đẹp. Sướng quá rồi, còn gì hơn! Riêng Ngọc Dung thì không chịu ký. Cô lồng lên: - Thả tôi ra ngay, nếu không tôi cắn lưỡi chết liền cho mấy người coi! Viên thông ngôn nghĩ là Dung chỉ cứng đầu nói bừa, nên thách thức: - Cô giỏi thì cứ làm, ởđây chưa ai dám cãi lại mệnh lệnh cả! Nói xong, anh ta đặt tờ giấy cùng cây bút ở đó, vừa đe dọa: - Khi tôi trở lại thì tờ giấy phải được ký xong! Anh ta đi rồi nên không nghe được tiếng gào khóc dữ dội của Ngọc Dung. Và anh ta cũng đâu có ngờ, tuy gái nhà quê, nhưng Ngọc Dung vốn là con của ông Quan một chủ sự phòng làm việc cho Tây nhiều năm, tiếng Pháp rất khá, vả lại bản thân Dung còn được học tiếng Pháp ngay từ tiểu học, nên khi tốt nghiệp cô đã có thể đọc và hiểu được nội dung tờ giấy mà tên thông ngôn để lại. Đó chỉ là tờ giấy thuận tình làm nhân viên phục vụ mua vui cho một câu lạc bộ giải trí cho lính Pháp. Đó là một hình thức ngụy trang của một loại hình bán dâm cho lính viễn chinh Pháp! Dung đã xé nát tờ giấy đó và đóng chặt cửa phòng, khóa lại bên trong. Cô tuy nhỏ, nhưng lòng dạ thì sắt đá hơn người. Trong đầu cô vừa lóe lên một ý định táo bạo. Trước khi thực hiện Dung đã xõa tóc, ngồi chắp tay lạy về hướng nhà mình nhiều lạy và khóc... Nhận tin con chết chưa đầy một buổi thì bà Quan cũng trút hơi thở cuối cùng do suy tim cấp. Đúng ra Ngọc Dung đã chết trước đó cả nửa tháng, ngay đêm đầu tiên cô tới dinh tỉnh trưởng. Cô đã cắn lưỡi tự vẫn ngay trong phòng giam kín cửa. Nhưng bọn thuộc hạ của tên tỉnh trưởng phát hiện đã giấu nhẹm. Mãi sau chúng mới truy tìm Dung chết khi cố tình ăn cắp đồ trong dinh, định leo tường trốn đi rồi bị ngã mà chết. Sau hai tuần, chúng mới báo tin về nhà và còn de dọa vợ chồng ông Quan: - Con gái mấy người làm chuyện gian trá đó, đúng ra cả hai người cũng bị tội, nhưng quan chủ tỉnh thương tình tha cho. Cấm không được khiếu nại, yêu sách gì. Ngay lúc nhận được tin thì bà Quan đã ngã ra ngất xỉu. Và sau đó chưa đầy nửa ngày bà tắt thở luôn. Ông Quan thì như người mất trí, cứ ngồi một mình gào khóc, gọi tên vợ, tên con gái! Thậm chí xác của Ngọc Dung còn không được đưa về nhà. Người ta nói: - Do nạn nhân phạm tội, chết trong đồn binh Pháp, nên xác còn phải để lại đó, chờ quyết định sau. Mà cũng có thể sẽ cho mai táng trong nghĩa địa công cộng được chỉ định. Hai tháng sau thì ông Quan cũng lâm trọng bệnh rồi qua đời. Do không có đứa con nào ngoài Ngọc Dung, nên một người họ hàng của ông đứng ra cai quản ngôi nhà. Rồi theo lời trăng trối của ông, người bà con đem căn nhà bán đi, một phần tiền phân chia cho thân nhân, phần còn lại đem cúng chùa. Thế là chỉ trong tích tắc, một gia đình đang bình yên bỗng bị xóa sổ! Treo bảng bán nhà được hai ngày thì có một thanh niên lạ mặt đến hỏi. Chú Tám, em họ ông Quan tiếp khách và hết sức ngạc nhiên khi nghe thanh niên hỏi: - Đây có phải là nhà của cô Ngọc Dung? Tám Tân hỏi: - Anh là gì của Ngọc Dung? Chàng trai có vẻ thật thà: - Dạ, cháu chưa quen cô Ngọc Dung, nhưng tình cờ cháu nằm mơ thấy cô ấy nên cháu muốn gặp. Cha mẹ của chàng trai đi cùng đã lên tiếng giải thích: - Thằng con tôi vốn bị câm bẩm sinh từ nhỏ, bỗng nhiên ba hôm trước nó phát lên nói được! Người đầu tiên được nó gọi chẳng phải là ba nó hay tôi, mà là cô Ngọc Dung nào đó! Rồi nó hối thúc vợ chồng tôi tới đây liền, nói Ngọc Dung chính là vợ của nó! Chúng tôi phải hỏi thăm đường khá lâu mới tới được đây… Tám Tân buồn bã lắc đầu: - Đúng đây là nhà Ngọc Dung. Nhưng cháu tôi đâu còn nữa mà tìm. Chàng trai vẫn tỉnh khô, nói với cha mẹ mình: - Nhân nhà này bán, mình mua luôn đi. Khi mua xong nhà, chàng trai thắp nhang lên bàn thờ với ảnh chân dung của Ngọc Dung do Tám Tân tặng lại, và khấn rất chân thành: - Anh tới đây tìm em mà không gặp, nhưng anh vẫn tin chắc là thế nào cũng gặp được em. Bà mẹ anh can: - Thôi con à, bây giờ con đã hết bệnh rồi, muốn lấy vợ thì để ba má kiếm cho, thiếu gì. Chàng trai gay gắt: - Má còn nói vậy thì con tức mà trở bệnh, hết nói được bây giờ. Con chỉ có mỗi Ngọc Dung là vợ thôi! Rồi anh dịu giọng phân trần, để mẹ anh an tâm: - Thời gian con bệnh như sống trong thế giới khác. Thế rồi tình cờ con gặp được nàng, chính nàng đã cứu con. Như vậy làm sao con có thể rời xa nàng được. Số con với nàng là do trời định, nên bây giờ có âm dương cách trở con cũng quyết ở đây cùng nàng. Nghe con nói vậy, ông bà Hữu Châu đành nghe theo. Bà chỉ ngại: - Xưa nay con chỉ ở nhà và được má lo cho, bây giờ ở riêng như vậy làm sao được? Con nên để má ở lại đây, được không Hữu Phước? Hữu Phước là tên của chàng trai, chàng trấn an mẹ: - Con đã ngót ba chục tuổi đầu rồi, có còn con nít nữa đâu, má đừng lo. Má còn phải lo cho ba và mấy đứa em nữa, ba má cứ về đi, khi nào ổn định thì con sẽ về báo tin vui cho ba má! Ông Châu cười buồn: - Ba má lo mất ăn mất ngủ chứ vui nỗi gì! Phước lại phải trấn an: - Ba đừng lo. Con bây giờ khác với thằng Phước câm, Phước khùng như trước đây rồi! Ngôi nhà sau khi mua xong, thay vì phải sửa chữa như lệ thường khi đổi chủ, nhưng Phước vẫn giữ nguyên. Và ngạc nhiên hơn nữa là anh ta lại cho giữ nguyên bàn thờ ông bà Quan trong nhà. Anh giải thích với cha mẹ: - Tuy chưa là con rể, nhưng con vẫn coi mình là người của gia đình này rồi, vậy con xin được phép thờ phụng ông bà ấy. Chiều lòng con nên ông bà Châu ra về, lần đầu tiên để đứa con trai tật nguyền ở lại một mình. Nhưng trái với sự lo lắng của cha mẹ, Hữu Phước sống một mình trong ngôi nhà đó như sống ở chính nhà mình! Anh sinh hoạt hằng ngày một cách khá tự nhiên đến đỗi những người láng giềng có cảm giác anh chính là con rể của ông bà Quan, chứ không phải kẻ mua nhà. Vào một buổi sáng, khi thấy có xe hơi của quận Quy ngừng trước cửa thì người hàng xóm hốt hoảng chạy sang gọi Phước: - Nguy rồi cậu Phước ơi. Phước đã nhìn thấy xe quan, nhưng anh vẫn tỉnh như không: - Có gì mà phải sợ? Người kia hạ thấp giọng: - Lão ta là người đã bắt con Ngọc Dung đi ngày trước đó. Lão ác ôn khét tiếng xứ này! Phước đứng chống nạnh, hất hàm về phía quận Quy bảo: - Cần gì thì vào đây! Quận Quy không còn vênh mặt hung hăng như mấy tháng trước, mà trái lại khi thấy mặt Phước thì dịu giọng ngay: - Dạ, tôi... tôi là quận trưởng Quy. Tôi tới theo lệnh của… của… Lão ta nói mà khúm núm như đang đứng trước cấp trên. Bà hàng xóm tròn xoe mắt nhìn, không tin vào mắt và tai mình nữa. Vừa khi ấy, Phước cất tiếng dõng dạc: - Vào đây! Đúng là trời đất sắp đảo lộn tới nơi rồi! Bà hàng xóm sợ quá tìm cách rút lui, bởi sợ lão quận nổi trận lôi đình. Nhưng trái với suy nghĩ của bà, quận Quy riu ríu bước vào sân, có cả hai tên lính hầu đi theo. Chúng đang khệ nệ khiêng vật gì đó... - Đặt lên đây! Phước ra lệnh cho đặt chiếc hộp gỗ sơn son thếp vàng lên bàn thờ có ảnh chân dung của Ngọc Dung. Hai tên lính răm rắp làm theo. Sau đó chúng lùi ra ngoài, không dám nhìn lại. Chỉ còn lại Phước và quận Quy. Phước nói như quát: - Quỳ xuống! Chuyện khó tin mà có thật. Quận Quy quỳ xuống trước hai bàn thờ. Mặt lão ta như không còn thần sắc! Và càng bất ngờ hơn, ngay sau đó lão ta dập đầu lạy một cách nghiêm túc và thành kính! Phước thì đứng khoanh tay nhìn, như giám sát hành động đó. Lát sau, anh mới lên tiếng: - Chưa xong đâu! Lời của anh vừa dứt thì lập tức quận Quy đặt ngay bàn tay trái của hắn xuống nền nhà, tay kia lấy con dao thủ sẵn trong áo ra và nhanh như chớp, phập mạnh xuống! Nguyên bàn tay của hắn đứt lìa, văng ra cả thước! Lão quận lúc đó bật ngửa ra đau đớn, nhưng không dám cất tiếng kêu! Phước quay ra ngoài sân, quát lớn: - Đưa nó về! Hai tên lính hầu răm rắp tuân lời. Chúng kè tên quận trưởng ra xe và vù đi một nước, không dám nhìn lại! Lúc này Phước mới bước tới mở chiếc hộp gỗ trên bàn thờ ra. Trong đó đựng tro cốt của Ngọc Dung! Một tuần sau, lại có xe hơi tới đậu trước cổng. Lần này có người hàng xóm khác nhận diện đó là xe của tên tỉnh trưởng! Cũng hai tên lính hầu mang vào nhà một chiếc hộp gỗ. Chúng kính cẩn nói với Phước: - Quan tôi trả nợ cho ngài! Phước mở ngay hộp ra, trong đó có một lọ thủy tinh chứa đầy nước trong suốt, giữa lọ có một vật gì đó dài gần gang tay, giống hình quả chuối. Vừa trông thấy, Phước phá lên cười: - Phải vậy chớ! Khi hai tên lính trở ra rồi, Phước mới lấy một lọ thủy tinh khác đặt sẵn dưới gầm bàn thờ. Trong lọ có một bàn tay người tím tái! Phước rất hài lòng. Anh khấn trước bàn thờ Ngọc Dung: - Nợ anh đã đòi cho em rồi. Từ nay em có thể yên ổn ở cõi u linh đó. Mừng cho em! Ngày hôm sau, cả tỉnh lỵ đều xôn xao trước tin quan đầu tỉnh bỗng dưng bị nạn. Mà tai nạn lại xảy ra đúng lúc ông ta đang ngủ mới lạ! Một tay thân tín tiết lộ bí mật: - Nửa đêm, bỗng người nhà nghe lão ta thét lên một tiếng. Khi mọi người chạy vào thì thấy trên tay lão ta còn cầm con dao, mà hạ bộ thì đã bị cắt lìa! Chẳng ai biết nguyên nhân. Hỏi thì lão ta chỉ im lặng như sợ hãi điều gì đó... Có một đạo sĩ lạ, xuất hiện trước cổng nhà của Hữu Phước. Ông ta nói vang vào trong: - Như thế là đủ rồi. Oán thù nên mở chứ không nên buộc. Việc đã xong thì nhà này cũng nên trả lại cho họ. Nói xong, lão biến đi rất nhanh. Từ trong nhà Phước nhìn ra, im lặng không nói gì. Sau đó, anh bước tới ôm hũ tro cốt của Ngọc Dung rồi lặng lẽ rời khỏi nhà... Phước trở về nhà cha mẹ ruột. Lần này anh lại trở thành một người khác: Sống khép kín, không nói gì với ai. Mẹ anh hỏi nhiều điều về Ngọc Dung thì anh chỉ đáp gọn: - Kiếp nàng như đóa phù dung. Sớm nở tối tàn. Con sẽ đợi ở kiếp khác... CHUYỆN CON MA “TRƯỜNG NHŨ” Từ chiều đến giờ, Tư Miên đã lai rai đến gần hai xị đế. Nếu ai biết tửu lượng của Miên thì biết là uống tới đó anh ta đã bắt đầu gục ngã. Nhưng lạ quá, bữa nay sao uống hoài Miên thấy càng uống càng tỉnh, và miệng như mỗi lúc một khát thêm cái vị cay xé lưỡi này. - Cho xị nữa đi chị Tám. Chị Tám Hà vốn có cảm tình với con người cô độc dễ thương này, nên có vẻ ái ngại: - Uống nhiều quá rồi anh Tư. Hay là ăn tô mì cho chắc bụng đã? Tư Miên cười nửa miệng: - Cái bụng tôi bây giờ mà cho ba cái thứ đó vào nó làm sao thì biết bắt đền ai đây! Tám Hà nheo mắt: - Thiếu gì người muốn được bắt đền! - Cho cái thằng tù không ra tù, tội không ra tội như tôi hả? Tám Hà liếc dài: - Anh cứ cái giọng đó hoài, bởi vậy ra tù đã gần ba năm rồi mà vẫn chưa chịu làm lại cuộc đời. Tù đày thì có gì đâu mà nhớ hoài vậy chớ! Tư Miên chợt phá lên cười, tiếng cười rất khó hiểu. Rồi sau đó hạ thấp giọng: - Không nhớ sao được khi một nửa cuộc đời mình đã gửi lại trong đó! Cười xong anh lại bật khóc! Anh ta là như vậy đó, nếu không cười không biết đâu mà lường. Ở khu mỏ đá này ai mà không biết. Nhưng hôm nay thì lạ hơn. Sau khi cười và khóc thì anh ta lại nhìn chị chủ quán rồi đột ngột hỏi: - Cô Tám có yêu bao giờ chưa? Câu hỏi này đúng ra phải là: “Cô đang yêu ai vậy?” thì Tám Hà dễ trả lời hơn. Tuy vậy, cô vẫn đáp: - Yêu thì có, nhưng có mấy ai hiểu mình đâu! Giọng Tư Miên gay gắt: - Sao lại không hiểu một người như Tám? Tám Hà khuấy cà phê, ngẩng lên nhìn Tư Miên: - Chính anh đó! Câu nói Miên nghe trong lúc đầu óc đang say túy lúy, vậy mà anh vẫn kinh ngạc: - Cô Tám nói... tui? - Thì anh chớ ai! Bởi vậy, tối ngày cứ ôm chai rượu hoài thì còn biết tới ai nữa? Có lẽ lâu lắm rồi Miên mới nghe được một người nói yêu mình, nên phải mất cả phút thẫn thờ, anh mới nói được: - Có đáng gì cái thằng tôi mà yêu với đương. Tha cho tôi đi cô Tám ơi! Bị chạm vào tự ái, Tám Hà ngừng hẳn công việc, bước tới kéo ghế ngồi ngay trước mặt Tư Miên: - Tôi biết anh tên thật là Mến, nhưng bởi cái tính lang bang, liên miên, không đâu ra đâu nên mới chết danh với tên Tư Miên như ngày nay. Mà tui nói thật, nhằm nhò gì cái án tù ba năm của anh, chỉ bởi anh làm ăn bị bể hụi, người ta giật tiền anh, rồi anh mới giật nợ thiên hạ. Xấu xa gì cho cam! Bất chợt, chị cầm tay Tư Miên siết mạnh: - Về ở với em đi. Mình xây dựng lại từ đầu. Em có ít vốn liếng, anh phụ em phát triển cái quán này. Hoặc anh muốn làm ăn gì đó, em cũng chịu. Rồi chị nói thêm: - Em biết anh đã đứt gánh với người vợ trước, trước khi đi tù. Con cái cũng không có thì có gì đâu mà bận tâm. Tư Miên thật sự cảm động với tấm chân tình của người phụ nữ này. Tuy nhiên, anh bất ngờ hỏi: - Tôi không dám phụ tấm lòng của cô Tám, nhưng tôi hỏi thật nếu cô biết, chính vì tôi mà một người đàn bà đã chết trong tù, cô có còn thương tôi không? Câu hỏi bất ngờ của Miên làm cho Tám Hà sửng sốt: - Có chuyện đó sao? Tư Miên trầm ngâm một lúc lâu rồi nhẹ giọng kể: - Chuyện này đúng ra tôi giấu kín trong lòng, để cho nó gặm nhấm tan nác lòng tôi, cho đến khi nào tôi đi theo cô ấy. Nhưng mà thôi, kể làm gì chuyện đau lòng này. Tám Hà tha thiết: - Em muốn nghe, kể đi anh Tư! Tư Miên lại suy tư... Cuối cùng, khi nhìn vào đôi mắt rưng rưng lệ của Tám Hà, anh cầm lòng không được, nên nhẹ gật đầu: - Tôi kể. Nhưng cô phải hứa với tôi một điều... Tám Hà gật đầu rất nhanh: - Em hứa! Tư Miên tỏ ra hài lòng: - Được rồi... Chuyện tình trong tù. Thế là Tư Miên lãnh án ba năm tù giam! Khi nghe tòa tuyên án, Miên không chút dao động, bởi anh biết trước thế nào rồi cũng sẽ tới nước này. Nhưng tim anh bỗng đau nhói khi tầm mắt anh chạm phải hình ảnh ở cuối hàng ghế của phòng xử án: vợ anh cặp tay người đàn ông nhỏ hơn cô ấy đến gần chục tuổi! Họ có vẻ nhẹ nhõm khi nghe tòa tuyên án. Như vậy có nghĩa ít nhất là ba năm liên tiếp, họ sẽ được thảnh thơi! Trước hôm đó, Tư Miên đã nghe phong phanh về mối tình bất chính của vợ với người tài xế giao hàng cho anh, nhưng mải mê lo làm ăn nên Miên chưa có thì giờ theo dõi. Cho đến khi bị vỡ hụi và ra tòa... Lên xe bít bùng về trại giam mà lòng Tư Miên nặng trĩu bởi sự chán chường. Đã hai hôm rồi anh bị mất ngủ, giờ đây cộng với nỗi chán chường, nên xe chỉ chạy một đoạn ngắn thì cơn buồn ngủ đã kéo đến. Đến một ngã tư, xe đang chạy bỗng thắng gấp, khiến cho mấy tù nhân trong xe ngã dồn vào nhau. Tư Miên choàng tỉnh và... anh ngỡ ngàng khi thấy mình đang dụi đầu vào một phụ nữ! Cái ngã người đó đúng là cú ngã định mệnh. Bởi người nữ tù đó cũng bị kêu án bảy năm tù, loại tù thường phạm như Tư Miên. Ngay sau đó, hai người biết tên nhau. Tư Miên nói tên mình cho nàng. Và được biết nàng tên là Hạnh. Trong nhà giam, tù nam và nữ bị giam riêng, ở hai khu nhà khác nhau, có rào ngăn cách. Tuy nhiên bệnh xá thì chung. Nửa tháng sau... Hôm đó do bất cẩn trong lúc lao động, Tư Miên bị một vết cắt khá sâu ở bàn tay nên được đưa tới trạm xá. Sau khi băng bó và lãnh thuốc, vừa định ra về thì anh nghe cô y tá trực lo lắng nói với bác sĩ phụ trách về trường hợp một bệnh nhân bị xuất huyết nặng, cần phải tiếp máu ngay, mà bệnh xá lại không có loại máu O khá hiếm! Thật ra Tư Miên có thể bỏ đi mà không cần quan tâm trường hợp đó, nếu cô y tá không nói tên bệnh nhân: - Nữ phạm nhân Nguyễn Thị Hạnh này đã hai lần bị băng huyết, mà lần này nặng hơn, do xảy ra vào lúc nửa đêm, người chung phòng không hay nên đưa tới bệnh xá quá trễ, máu bị mất quá nhiều, sợ e... Chị ta bỏ lửng câu nói, trong lúc vị bác sĩ cũng chỉ biết đứng nhìn và nhẹ lắc đầu. Nhà tù này ở xa trung tâm thành phố, lại không có xe cấp cứu, mỗi lần cần đưa bệnh nhân đi phải báo cho trung tâm và chờ đợi khá lâu. Tư Miên quyết định rất nhanh. Anh bước tới chặn cô y tá: - Cô nói bệnh nhân cần tiếp máu O? - Đúng vậy. Anh biết trong số phạm nhân ở đây có ai thuộc nhóm máu đó không? - Tôi. Nhìn Tư Miên từ đầu đến chân một lượt, cô ta quay về phía bác sĩ nói lớn: - Có anh này thuộc nhóm máu O nè, bác sĩ ơi! Thế là Tư Miên được làm “ân nhân” với người phụ nữ gặp tình cờ sau phiên tòa. Lúc tỉnh dậy sau khi được tiếp máu, cô phạm nhân tên Hạnh đó đã hỏi ngay ân nhân của mình. Khi được biết đó cũng là một bạn tù thì cô nàng đã tha thiết xin được diện kiến để cám ơn. Đúng ra nội quy của trại giam không cho phép như vậy, tuy nhiên vị bác sĩ đã phá lệ và dặn: - Chị chỉ được gặp ở ngay giường bệnh và cũng không được tiếp xúc lâu. Tôi sẽ đề nghị cho người đó tới đây ngay. Khi Tư Miên tới thì Hạnh ngỡ ngàng: - Là anh sao? Họ mừng vui, trò chuyện và cảm thông ngay hoàn cảnh của nhau. Trước khi Tư Miên bị đưa trở lại trại giam, anh nghe Hạnh nói nhanh: - Mỗi tháng em được tái khám một lần ở đây. Có cách nào gặp anh không? Tư Miên đáp rất nhanh: - Có. Em tái khám định kỳ vào những ngày nào? - Thứ hai tuần đầu tiên của tháng. Em quen thân với cô y tá tên An đó, nếu lần nào em không gặp được anh thì em nhờ chị ấy nhắn. Thế là họ đều đặn gặp nhau hằng tháng. Nửa năm như vậy... Mỗi lần gặp, họ chỉ nói vài câu chào hỏi ngắn, nhưng họ nghĩ ra cách để trao đổi với nhau nhiều lời bằng cách viết những lá thư dài và trao vội cho nhau mỗi khi gặp. Hoặc lần nào không gặp được thì cô y tá An là chiếc cầu nối. Hoàn cảnh của Hạnh cũng rất đáng thương. Cô có chồng và có hai con, vợ chồng chia cách nhau, người chồng bỏ đi lấy vợ khác. Quá uất hận đâm quẫn trí, nên một ngày kia nhân lúc anh chồng bội bạc trở về thăm con và đòi bán căn nhà duy nhất mà Hạnh đang ở để nuôi nấng con cái, Hạnh đã giết chết tên chồng xấu xa đó bằng can xăng. Lửa cháy bùng lên ngoài dự liệu của Hạnh, chẳng những giết chết tên khốn kiếp mà còn thiêu cháy luôn cả hai đứa con đang ngủ, trong đó có một đứa còn nằm nôi! Điên loạn, Hạnh đã lao vào lửa tự tử. Nhưng rủi thay, Hạnh không thể chết, bởi có người cứu kịp. Sống trong hoàn cảnh đó thì khác nào chết, bởi vậy đã nhiều lần Hạnh tìm cách chết nữa mà không xong. Cho đến ngày ra tòa lãnh án. Ở trong tù, Hạnh là người tù nổi tiếng, bởi suốt ngày đêm lúc nào chị cũng khóc gào, kêu tên hai đứa con! Từ đó sinh ra bệnh và bệnh ngày càng nặng thêm... Cũng may, khi gặp Tư Miên thì Hạnh như được hồi sinh! Chị thường nói với y tá An là chẳng hiểu sao chị có cảm giác là đã tìm lại được tình yêu đích thực, chị muốn nói với Miên, nếu anh có mãn tù trước thì hãy đợi chị ra, hai người sẽ xây dựng gia đình chung! An đã nhiều lần tìm cách nói chuyện với Tư Miên và tìm cách xin cho Miên chuyển tới làm tạp dịch tại trạm xá để dễ bề liên lạc với Hạnh. Chuyện tưởng sẽ êm đẹp như vậy, cho tới ngày Tư Miên sắp mãn hạn tù. Tối hôm đó, y tá An báo tin vui: - Tối nay Hạnh được nằm lại bệnh xá do tôi tạo ra bệnh án giả, để hai người có dịp gần nhau. Tối nay anh cũng được ở lại đây để giúp khiêng xác hai phạm nhân vừa chết. Xong việc, hai người có thể vào phòng riêng của tôi mà tâm sự, tôi ở ngoài canh cho. Đêm đó thật bất ngờ, Hạnh đề nghị một việc mà vừa nghe Tư Miên đã giật mình: - Em muốn có con? Chính xác hơn là em muốn tìm lại hai giọt máu của mình! Mấy hôm nay tối nào em cũng nằm mơ thấy anh là người cho em được ước mơ đó! Hãy cho em đứa con đi! Không người đàn ông nào có thể chối từ lời đề nghị hấp dẫn như vậy, dù đang là phạm nhân. Nhưng Tư Miên đã lưỡng lự... Lý do Miên làm như vậy là bởi anh bị ám ảnh sâu nặng về hành động phản bội của người vợ trước! Cô ta cũng tha thiết đến với anh từ ngày hai người còn nghèo, còn cơ cực... Vậy mà khi đã bắt đầu có của đã sinh tâm... Với Hạnh thì khác. Bắt đầu hiểu cô, nhận ra cô có nhiều điểm nổi trội hơn vợ mình, nhất là tính cách. Nhưng dù sao lý trí của Tư Miên lúc ấy nó mạnh hơn là tình cảm. Đặc biệt, nếu lúc ấy có ai hỏi anh có nghĩ ngợi gì về cái chết của chồng con Hạnh hay không thì chắc chắn Miên đáp là không! Tuy nhiên, trong tận tiềm thức của anh, làm sao tránh khỏi những gợn sóng hoang mang... Vậy là suốt ba giờ ôm nhau trong phòng của y tá An, Tư Miên đã rất khó khăn, nhưng cuối cùng cũng đã nói: - Anh thương em nhiều, thông cảm hoàn cảnh của em... Tuy nhiên, dẫu sao thì trong lòng anh vẫn còn bị ám ảnh bởi sự bội phản của người phụ nữ đầu ấp tay gối với anh ngày trước. Vết thương lòng mà bà ấy gây ra cho anh đến bây giờ vẫn còn đau nhức... Tư Miên nói thật lòng và vẫn xiết chặt Hạnh vào lòng như bảo đảm cho cô ấy rằng cuộc đời này mãi mãi họ sẽ chẳng chia lìa nhau! Nhưng chẳng hiểu sao, bỗng dưng Hạnh im lặng và nhẹ thở dài khi y tá An ra hiệu, Miên đi ra và còn không quên dặn: - Chỉ còn hai tháng nữa anh mãn hạn tù, lúc ra ngoài anh hứa chắc chắn là chạy tìm luật sư thật giỏi để gỡ tội cho em. Hạnh vẫn chẳng nói lời nào, ngoài nụ cười khó hiểu trong bóng tối… Như bị sét đánh mang tai! Sáng hôm sau, cả bệnh xá bàng hoàng khi hay tin có một nữ bệnh nhân treo cổ tự tử trong nhà vệ sinh! Nạn nhân chính là Hạnh! Tư Miên lúc ấy còn ở đó, đang phụ việc ở nhà xác. Nghe tin dữ, anh chạy tới và chỉ kịp gào lên trước cái xác tím tái của Hạnh: - Trời ơi, Hạnh ơi! Y tá An nghi ngờ đưa mắt nhìn Miên. Cô có quyền nghĩ nguyên nhân cái chết kia là sự góp phần của Tư Miên. Anh chỉ lặng lẽ lắc đầu. Lát sau đó anh nói thật lòng với An: - Chị có thể nghĩ thế nào về tôi cũng được, nhưng tôi xin nói bằng danh dự của mình rằng tôi yêu Hạnh, tôn trọng Hạnh, chỉ muốn Hạnh được hạnh phúc. Đêm đó về trại giam, Tư Miên đã suy nghĩ về cái chết của Hạnh. Bởi thái độ hững hờ của anh với lời đề nghị muốn có con mà Hạnh tha thiết đưa ra? Hay còn nguyên nhân nào khác? Không tìm ra ngay lý giải, Tư Miên thức gần trắng đêm. Mãi gần sáng mới chợp mắt được. Đang chập chờn, bỗng Tư Miên có cảm giác như có bàn tay của ai đó chạm vào má mình. Anh choàng mở mắt thì nhận ra toàn phòng giam rộng, có đến trên ba chục phạm nhân ngủ chung, không một ai thức. Phần nhiều phạm nhân suốt ngày phải lao động cực nhọc, nên đêm đến họ ngủ rất say, phải tới năm giờ rưỡi mới dậy theo tiếng keng. Bây giờ mới có ba giờ... Tư Miên cố ngủ lại để lấy sức. Nhưng vừa mơ màng thì anh nghe rất rõ có ai đó nói bên tai, giọng nghe rất quen: - Nằm sang chỗ khác, hoặc là lấy mền đắp lại giả như đang ngủ, rồi đi vào nhà vệ sinh mà ngồi. Một lát hãy ra! Tư Miên mở mắt ra, anh kêu khẽ: - Tiếng nói của Hạnh! Anh nhìn quanh, không thấy động tĩnh gì, nhưng nhớ lời dặn vừa rồi, anh nhẹ nhàng lăn đi chỗ khác, sau khi thực hiện y như lời dặn. Thời khắc trôi qua thật chậm… Bỗng lúc ấy từ đầu phòng giam, phía sau lưng tên gác ngục đang ngủ gà ngủ gật, có hai cái bóng đen nhẹ nhàng bước vào. Bọn chúng chừng như đã khá quen thuộc với phòng giam, nên di chuyển trong bóng tối không chút khó khăn. Nằm cách đó khoảng vài mét, Tư Miên quan sát rất rõ. Bọn chúng trên tay cầm vật gì đó như cái lọ thủy tinh, chúng bước thẳng tới chỗ nằm lúc nãy của Miên. Nhanh nhẹn và thuần thục, một trong hai tên đổ nhanh cái lọ thủy tinh xuống đúng vào phần mặt của người ngủ, đồng thời tên còn lại đổ bồi thêm một lọ như vậy nữa vào phần dưới. Không nghe tiếng động, chỉ thấy có khói bốc lên từ chiếc mền và mùi khét! Xong, cả hai đi nhanh ra ngoài mà không gặp trở ngại gì. Tư Miên biết chắc là có người trong phòng nhìn thấy, nhưng có lẽ do sợ nên họ không dám lên tiếng. Bỗng sát bên chỗ Miên nấp, có người nói rất khẽ: - Bọn này là đàn em của cai tù. Chúng chuyên thực hiện các vụ thanh toán trong trại giam khi được ai đó thuê! Người nói là Sáu Khả, một bạn tù tốt bụng. Tư Miên thẫn thờ, tim đập nhanh. Anh vừa thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, nếu không nhờ Hạnh báo tin. Sáng hôm sau, nhờ sự tố cáo của Sáu Khả nên người tù tìm ra ngay thủ phạm thanh toán hụt bằng acid đó. Chính là băng đâm thuê chém mướn Tư Rỗ. Bọn chúng được thuê để thanh toán Tư Miên trước khi anh được thả ra! Ai là người đứng sau vụ đó không khó để biết, chính là người vợ phản bội của Miên và thằng nhân tình của ả! Để bảo vệ tính mạng cho Tư Miên, quản lý trại giam đã chuyển anh sang khu vực gần với các nhân viên an ninh. Chỗ này chỉ cách khu giam giữ nữ một hàng rào kẽm gai. Đêm nằm có thể nhìn qua ô cửa nhỏ, thấy sân bên khu nữ. Tư Miên càng ngậm ngùi khi nhớ về Hạnh. Đêm đó anh cũng thức rất khuya, mắt cứ nhìn qua bên kia sân... Bỗng anh thấy một bóng người đi lướt qua sân rất nhanh, rồi dừng lại cách ô cửa sổ chỉ vài thước. - Hạnh! Tư Miên kêu lên khi nhìn rõ mặt người đang đứng đó, nhờ ánh trăng chiếu xuống. Chỉ lạ một điều là Hạnh lại không mặc áo. Ngực để trần, lộ ra bộ ngực… dài lòng thòng! - Trời ơi, chuyện gì thế này? Miên kêu khẽ, cũng vừa lúc đó có tiếng kẻng đánh liên hồi bên dãy trại giam nữ. Rồi lát sau lan sang tận dãy trại nam. Đèn trại giam bật sáng. Có nhiều tiếng huyên náo. Lát sau, Tư Miên nghe từ phía bên kia có người la lớn: - Có con ma vú dài chạy khắp các phòng bên này! Bên dãy nam cũng nghe có người nói: - Hồi nãy trong lúc đang ngủ chúng tôi thấy có một người đàn bà để ngực trần, chạy tới từng chỗ nằm của nhiều người cất tiếng hỏi: Con tôi đâu? Trả con tôi đây, để tôi cho nó bú! Người đó nắm đôi vú của mình lên, như chuẩn bị cho con bú! Sáng ra, các chị bên nhà giam nữ thuật rõ hơn: - Có một hồn ma vào nửa đêm cất tiếng khóc, sau đó vừa chạy vừa gào lên đòi con! Nhìn kỹ lại thì người đó giống như cô Hạnh vừa mới chết! Nhiều người không tin chuyện dị thường đó. Riêng Tư Miên thì hoàn toàn tin. Anh còn tự nhủ: - Cô ấy thật sự muốn đi tìm con của mình. Từ hôm đó, chuyện về hồn ma vú dài, hay nói tránh đi là “con ma trường nhũ” đã loan truyền rất nhanh. Riêng Tư Miên hầu như đêm nào anh cũng thấy cái bóng của Hạnh đứng cạnh chỗ mình nằm. Có hôm nàng còn ngồi xuống bên cạnh, nhiều lần lặp lại câu hỏi: - Sao không cho em có con? Y tá An còn kể với Miên: - Hai đêm rồi, Hạnh đều về đây, ngồi trong phòng tôi khóc than, nói rằng chỉ có một nguyện vọng duy nhất mà cũng không được đáp ứng! Nhưng nó nói, nó không trách gì anh cả, chỉ buồn cho số phận mình thôi. Cô ấy nói rằng dẫu bao nhiêu năm cũng vẫn muốn được cùng anh giữ mãi tình cảm. Phần anh thì tùy, cô ấy không ép... Kể xong, y tá An buồn bã thở dài... Tư Miên lặng người đi rất lâu… *** Tư Miên ngừng kể. Tám Hà len lén nhìn anh và giật mình khi nhìn thấy hai hàng nước mắt đang chảy dài trên đôi má đen sạm của người đàn ông. Chị muốn lên tiếng hỏi mà không dám...Một hồi rất lâu, câu nói của Tư Miên kèm theo một tiếng thở dài: - Chính tôi đã giết nàng. Con ma vú dài mà bây giờ người ta đang bàn tán đó là do tội lỗi của tôi. Tôi đã từ chối lời đề nghị muôn phần đúng của nàng, để rồi... Tám Hà chợt òa lên khóc. Thái độ của chị khiến Tư Miên ngẩng lên nhìn: - Cô Tám sao vậy? Tám Hà bỗng ôm mặt chạy thẳng vào bên trong. Tiếng khóc của chị vọng ra từng hồi.Tư Miên bất nhẫn than: - Chỉ mình tôi mà làm khổ bao nhiêu người. Lại là một cái tội nữa đây! Anh cầm nguyên chai rượu tu một hơi hết sạch. Rồi trong cơn túy lúy hơi men, nỗi thống khổ dồn lên, khiến Miên như một anh kép độc diễn trên sân khấu: - Hạnh ơi, anh đi theo em đây! Anh không còn biết phương hướng, nhưng lại đi thẳng vào phía trong, nơi Tám Hà đang nằm khóc. - Chuyện gì đã xảy ra? Bất ngờ, ngay sau đó! Từ trong, Tám Hà dìu Tư Miên ra, trong tình trạng Miên hầu như đã mê man. Vừa khi ấy có người bưu tá phát thư dừng lại trước: - Có cô Tám Hà, Lê Thị Hà ở đây không? Tám Hà nhìn ra, đáp rất gọn: - Chị Hà không có nhà. Có gì tôi nhận thay cũng được. Chị nhận một phong thư ghi gửi chị Lê Thị Hà mà như thư của ai chớ không phải của mình! Lúc đó có một khách quen tới mua hàng: - Cho mười xu đá chị Tám. Tám Hà gắt lên: - Đã nói là Tám Hà không có nhà mà! Khách vọt xe đi lẩm bẩm: - Mẹ Tám Hà bữa nay điên rồi chắc. Thật ra anh ta không nhìn thấy lúc ấy Tư Miên đang nắm chặt tay Hà mà miệng thì gọi: - Hạnh ơi, cho anh xin lỗi! Tám Hà nhẹ giọng, trìu mến: - Em không giận anh nên mới theo về đấy! Bây giờ em chỉ có thể cùng anh trong lốt như thế này thôi. Em sẽ mãi mãi ở lại đây... Câu chuyện khó tin mà có thật! Thân xác của Tám Hà, chị chủ quán nhỏ, giờ lúc nào cũng ở bên Tư Miên và mỗi khi xưng hô với nhau người ta nghe thấy: - Hạnh ơi, cho anh ly cà phê! - Mình ơi, cho em đứa con, sớm sớm chút! Lúc đầu thiên hạ đồn ầm cả lên chuyện quái dị của hai người. Nhưng dần dần họ hiểu ra. Chính oan hồn của Hạnh, người nổi danh “con ma vú dài” trong trại giam đã nhập vào Tám Hà. Và Tư Miên vừa tạ lỗi với Hạnh, vừa yêu nàng và yêu cả thể xác của bà chủ quán tốt bụng. Chuyện của cõi âm thì đâu bình thường như dương thế… CHUÔNG GỌI HỒN Đã ba lần chuông điện thoại đổ vang trong đêm, cả ba lần Vọng đều bật dậy cầm ống nghe hỏi nhỏ nhẹ: - Alô, ai ở đầu dây. Nhưng cả ba lần bên kia đều im lặng. Nhưng ống nghe bên đó vẫn chưa chịu gác máy. Vọng dù rất kiên nhẫn, đến lần thứ tư thì anh phải gắt lên: - Này, phép lịch sự tối thiểu của người gọi là phải lên tiếng nhé! Mà bây giờ có biết là mấy giờ không? Đặt ống nghe xuống lúc ấy Vọng mới nhìn đồng hồ tay hai giờ sáng. Anh lẩm bẩm: - Kỳ cục! Bấy giờ Vọng mới soát lại trí nhớ. Rõ ràng số điện thoại nhà riêng của anh hầu như không cho ai ngoài vài người bạn thân. Mà những người ấy thì họ đâu rảnh để gọi điện giờ này, mà gọi rồi không nói nữa… Chắc chắn là có sự nhầm lẫn nào đó... nhưng nếu có gọi nhầm số thì chỉ một hai lần thôi, chớ đâu đến lần thứ tư như vầy… Re... eng... re... cưng! Lần thứ năm chuông reo. Vọng định không nhấc ống nghe. Nhưng chuông cứ reo liên tục không ngừng. Quá bực, Vọng cầm ống nghe lên vừa quát: - Có điên không! Giờ này... Nhưng anh khựng lại ngay, bởi bên kia đầu dây giọng của đứa em gái anh: - Anh Hai, sao anh la em! Vọng chưa hết bực: - Mầy gọi hoài như vậy ai không bực! - Ủa em mới gọi một lần mà! Có chuyện gấp em mới gọi chớ… Vọng ngạc nhiên: - Chớ nãy giờ ai gọi? - Em đâu biết. Rồi cô nói nhanh: - Má trở bệnh nặng, em vừa đưa vô bệnh viện, anh tới ngay! Vọng hốt hoảng: - Sao không báo liền trước lúc chở má đi! Hằng giận dỗi: - Mới gọi đã bị anh chửi rồi, gọi sớm hơn để bị anh... Cô gác máy. Vọng chợt nhớ là mình chưa hỏi bệnh viện nào, nên gọi về nhà. Bên kia đầu dây chuông reo mà chẳng có ai trả lời. Có lẽ cả nhà đã vào bệnh viện hết. Bây giờ biết tìm ở đâu trong cả chục bệnh viện? Còn đang lúng túng thì chuông điện thoại lại reo. Vọng mừng vì ngỡ là Hằng gọi lại, anh lên tiếng ngay: - Má nằm ở đâu? Bên kia đầu dây một giọng rất lạ cất lên: - Bệnh viện lần trước đã nằm! - Biết rồi. Nhưng... cô là ai? Máy cúp. Vọng suy nghĩ mãi mà vẫn không biết ai vừa trả lời thay cho Hằng. Cho đến khi vào tới bệnh viện, gặp Hằng ở cửa phòng, anh hỏi ngay: - Hồi nãy ai thay em gọi điện về nhà chỉ bệnh viện má đang nằm vậy? Hằng ngơ ngác: - Có ai đâu. Em vừa mới chợt nhớ là lúc nãy chưa chỉ cho anh, nên tính ra phòng trực gọi đây nè! Vọng biết Hằng không phải là người thích đùa, anh vừa bước vào phòng bệnh vừa lẩm bẩm: - Điên đầu thật! Bà Muôn, mẹ của Vọng trong tình trạng nửa mê nửa tỉnh, nhưng vẫn nói được dù là không rõ ràng: - Nó... cô ấy nói... đã báo tin rồi. Cô ấy đang chờ rước má đi... - Kìa, má. Má nói nhảm gì vậy? Con, Vọng đây! Bà Muôn hầu như không nhận ra Vọng, bà vẫn liên tục lảm nhảm: - Cô đừng gấp… hãy chờ đó... chờ tôi với... Nói dứt câu đó thì bà đi vào hôn mê như ban đầu. Hằng lo lắng: - Suốt từ chiều đến giờ má cứ nói nhảm như vậy. Nhất là từ khi má nghe điện thoại của ai đó gọi. Vọng không giữ được bình tĩnh: - Điện thoại? - Có đến gần chục cú điện thoại gọi tới vào lúc đầu hôm. Lúc ấy em bận học bài nên để má nghe. Lúc nghe xong mấy lần đầu em hỏi ai gọi thì má tỏ ra bực dọc, càu nhàu. Mãi đến mấy lần sau thì bỗng nhiên má đổi thái độ, mặt biến sắc khi buông ống nghe xuống. - Ai gọi đến vậy? Hằng lắc đầu: - Em hỏi nhưng má không nói. Rồi bỗng nhiên lúc đang ngồi ăn cơm thì má gục đầu lên bàn. Lúc ấy có chuông điện thoại reo. Em bận lo cho má nên không nghe, nên chẳng biết là ai đã gọi. Vọng thất thần: - Điều này không lẽ lại trùng hợp? Thấy thái độ của anh, Hằng càng ngạc nhiên: - Cái gì trùng hợp? Bộ anh cũng nghe điện thoại như vậy sao? Đó là ai? Vọng không đáp. Anh thừ người một lúc lâu, quên cả mẹ đang co giật tay chân lúc ấy. Hằng gọi giật: - Anh Vọng, coi mẹ bị sao kìa. Vọng gọi y tá. Lát sau rất đông bác sĩ, y tá chạy vào. Họ yêu cầu thân nhân ra hết. Hơn mười lăm phút sau một cô y tá bước ra thông báo: - Bà cụ có triệu chứng liệt não, cần phải chuyển sang phòng phẫu thuật ngay. Hằng cuống cuồng lên: - Anh Hai, má có sao không? Vọng trấn an em, nhưng thật ra trong lòng anh cũng đang rối như tơ vò. Khi các cô y tá cho xe đẩy bà Muôn ra thì bà nhắm nghiền đôi mắt. Chẳng khác một người đã chết. Hằng bật khóc, Vọng phải giữ em gái lại, trong lúc người ta đẩy mẹ vào phòng phẫu thuật. Một y tá đến bên Vọng: - Anh là con lớn của bà cụ phải không? Mời anh vào phòng trực để ký tờ cam kết phẫu thuật. Vọng làm theo như người vô thức. Anh thẫn thờ khi bước ra, ngồi ở băng ghế đợi với Hằng. Bây giờ cơn sợ hãi bắt đầu trùm lên họ. Nếu lúc này có ai hỏi nguyên nhân bệnh của mẹ, cả hai anh em đều mù tịt. Lúc ấy đã bốn giờ sáng... Bỗng cánh cửa phòng mổ xịt mở, người ta đẩy chiếc xe chở bệnh nhân ra. Hằng nhìn thấy trước, cô lay Vọng: - Sao… sao họ đẩy má trở ra kìa! Vọng bật dậy, anh phải chạy tới gần để nhìn và… kêu lên: - Má! Bà Muôn lúc ấy mở mắt, tỉnh táo như bình thường: - Tao có bệnh hoạn gì đâu, sao tụi bây đưa tao vô đây chi vậy? Vị bác sĩ đứng tuổi đưa mắt nhìn Vọng: - Bà cụ có bao giờ bị như vậy chưa? - Bị thế nào bác sĩ? - Vừa mê đã tỉnh như chẳng có chuyện gì xảy ra! Hằng mừng quá, quên cả câu hỏi của bác sĩ, cô nhào tới ôm chầm lấy mẹ. Bà Muôn như để chứng minh lời nói của bác sĩ, đã ngồi bật dậy ngay trên chiếc giường đẩy. Vọng kêu lên: - Kìa, mẹ! Vị bác sĩ lắc đầu nói: - Hơn hai mươi năm làm nghề, tôi mới gặp đây là trường hợp đầu tiên! Nói xong ông bỏ đi về phòng trực. Vọng hỏi với theo: - Má tôi có cần mổ nữa không, bác sĩ? Bà Muôn trả lời bằng cách nhảy xuống khỏi xe đẩy. Bà giục: - Đi về chớ còn ở đó làm gì! Hai cô y tá đẩy xe cũng lắc đầu nói: - Bà cụ này thật lạ. Đang hôn mê sâu, mạch trụy đến đo không được, vậy mà vừa vào đến phòng mổ bà đã tỉnh lại và phản đối việc mổ mình! Bà Muôn tự đi thẳng tới thang máy, khiến cho anh em Vọng phải chạy theo. Quên cả lấy hành lý trong phòng bệnh. Xuống tới dưới nhà, bà Muôn lại cằn nhằn: - Mấy đứa bây quá hồ đồ, đưa tao vô đây làm chút nữa thì họ bổ sọ tao ra rồi! Bà đi nhanh ra cửa bệnh viện như sợ bị bắt lại. Vọng bảo Hằng: - Em trở lên lấy đồ rồi về sau. Anh đưa má về nhà. Trong lúc ngồi trên xe taxi, bà Muôn bất ngờ hỏi: - Nó gọi điện cho con chưa? Vọng ngạc nhiên: - Ai gọi? Bà Muôn tỏ vẻ hằn học: - Mầy học thói vô tình lúc nào vậy? Rồi bà bất thần bảo tài xế: - Ngừng cho tôi xuống đây! Vọng hốt hoảng: - Chưa tới nhà mà má! Nhưng bà vẫn cương quyết: - Cho tôi xuống chỗ này, ngay ngã tư đó! Mặc cho Vọng ngăn cản, bà Muôn vẫn mở cửa xe, rồi bằng động tác nhanh nhẹn như một người trẻ, bà bước nhanh lẫn vào dòng người trên vỉa hè. Vọng phải dặn người tài xế: - Anh làm ơn đợi ở đây! Rồi lao theo hướng bà Muôn vừa đi. Nhưng chẳng còn thấy bóng dáng bà đâu nữa... Còn đang lúng túng ở góc đường thì chợt có một phụ nữ ăn xin bồng đứa bé trên tay, bước lại gần nói vừa đủ cho Vọng nghe: - Gieo gì thì gặt nấy thôi! Bà ta bước thẳng đi, nên Vọng không hiểu có phải nói với mình không. Tuy nhiên khi nhìn lại thì quanh anh không có ai khác. Vọng định chạy theo, nhưng đôi chân như bị ai đó kéo ghì lại. Nên anh chỉ biết hỏi theo: - Chị vừa nói gì? Đến khi Vọng nhấc được chân lên thì đã không còn thấy người kia nữa. Anh chán nản trở lại xe taxi và giục: - Anh chạy nhanh cho tôi về nhà. Khi Vọng mở cổng rào mới giật mình, bởi cổng chỉ khép chứ không khóa. Cả cửa nhà trong cũng thế, anh vừa đẩy cửa đã mở toang. Có hai người ngồi ở ghế salông mà vừa nhìn thấy Vọng đã vô cùng ngạc nhiên. - Má. Bà Muôn đang ngồi yên, ngắm nhìn người trước mặt. Mà người đó chính là… phụ nữ ăn mày lúc nãy. - Kìa, má! Con đi tìm má, sao má không đi taxi mà lại về đây? Bà Muôn chỉ về phía khách: - Tao đi tìm người này. Sao mầy không chào người ơn của mầy đi, thằng bất hiếu kia! Vọng ngơ ngác: - Kìa má! Sao lại… Bà Muôn chợt ra dấu: - Giao con cho nó! Người phụ nữ ăn mày chẳng nói chẳng rằng, thật nhanh tay chuyền đứa bé đang bế trên tay sang cho Vọng. Bà ta vừa đưa sang đã buông tay ra, mà nếu Vọng không đỡ lấy thì đứa trẻ sẽ rơi xuống đất. Bắt buộc phải nhận, Vọng bế gọn đứa nhỏ trong lòng, vừa lúc bà Muôn nói: - Con cái mầy đem bỏ rơi, người ta nuôi nấng giùm, chớ nếu không thì quạ tha, hổ xé mất rồi! Sao còn đực mặt ra đó, không cảm ơn người ta đi! Trong lúc Vọng còn bối rối thì người phụ nữ ăn xin đã đứng lên, vừa bước ra cửa vừa lẩm bẩm: - Gieo gì sẽ gặt nấy thôi! Khi chị ta ra khỏi cửa rồi Vọng mới lúng túng hỏi mẹ: - Má, tại sao chị ta bỏ con ở đây? Bà Muôn lạnh lùng nói: - Nó giao con lại cho mầy đó! Vọng hốt hoảng: - Con gì? - Thì đứa con còn trong bụng mẹ, mới bảy tháng tuổi mầy đã bỏ mẹ con nó, còn hỏi! - Kìa, má! Vọng bây giờ mới nhìn thẳng vào mặt đứa trẻ trên tay mình. Anh giật mình, bởi đứa bé có nét giống anh như khuôn đúc! Nhất là đôi lông mày rậm và gần giao nhau ở trán. - Con... con gì của con? Bà Muôn quay mặt đi chỗ khác, giọng bà chùn xuống. - Của con Bảo Ngọc! Câu nói ngắn của bà đủ làm cho Vọng thất thần, suýt nữa anh đã để rơi đứa bé khỏi tay. - Má nói gì? Bà Muôn phải la lên: - Coi chừng nó té! Vọng đờ người ra, miệng lảm nhảm: - Bảo Ngọc... tại sao lại là... Bảo Ngọc! Trời ơi... Anh ta lảo đảo, suýt té ngang qua ghế. Bà Muôn phải đỡ lấy đứa bé. - Gieo gì gặt nấy, họ đã nói vậy mà... Hai mẹ con lặng im. Không khí nặng nề. Vừa lúc ấy đứa bé cất tiếng khóc ré lên… *** Hằng từ trong bệnh viện bước ra thì gặp ngay chiếc xích lô trờ tới. Cô không định đi xích lô, bởi đang vội, nhưng người đạp xe không nói không rằng, đã hạ càng xe xuống, như một cử chỉ mời đi xe. Không đành từ chối nên Hằng bước lên và giục: - Đi nhanh lên! Hằng đang rất sốt ruột, chẳng biết mẹ mình về nhà, rồi có trở bệnh gì nữa không. Bởi vị bác sĩ điều trị khi gặp Hằng trước lúc ra về, đã dè dặt nói: - Bà cụ tuy tỉnh táo lại, nhưng mạch bất thường lắm. Có lúc huyết áp tăng lên 18-19, có lúc lại tuột dưới 10. Tôi chưa thấy ai như vậy mà còn tỉnh táo cả. Cô nên theo dõi sát sức khỏe bà cụ. Biết Vọng là người vô tâm, nhất là từ khi chuyện hôn nhân anh đỗ vỡ, khiến Vọng đôi khi như người cõi trên. Chuyện Vọng chuyển ra ở riêng cũng là một vấn đề. Giữa Vọng và mẹ có gì đó lấn cấn nhau... Mãi nghĩ ngợi, lúc nhìn lên Hằng giật mình: - Ủa đi đâu vậy? Lúc ấy xe đang hướng về con đường ngoại ô. Người đạp xe lên tiếng: - Hồi nãy cô không nói là đi đâu, tôi tưởng hướng này... Hằng càng ngạc nhiên hơn: - Chị là... phụ nữ? Người đạp xe cười: - Chị tức là phụ nữ rồi! - Nhưng mà ý tôi muốn hỏi sao đàn bà mà đạp xích lô? - Đàn bà cũng phải ăn như đàn ông, nên cái gì đàn ông làm được thì đàn bà cũng làm được! Hằng làu bàu: - Phải biết vậy hồi nãy... - Cô hối tiếc vì đã đi xe do đàn bà đạp phải không? Vậy cô có cần xuống đi xe khác? Hằng bực bội: - Chị nói nhiều quá. Quay lại đi về khu Xã Tây. Xích lô rẽ tay trái, nhưng lại bất ngờ tấp vào lề, rồi phóng thẳng vào một cổng nhà lớn đang mở cửa. - Đi đâu vậy? Lúc này người đàn bà đạp xe không đáp, cứ lao vút xe vào sân, rồi ngừng lại nói như ra lệnh: - Xuống đi! Hằng gắt lên: - Sao lại xuống đây? Nhưng người này không trả lời, lại đi thẳng vào trong. Lúc này Hằng mới nhìn kỹ, cô thấy trên vách phía tay mặt có dòng chữ vừa Hoa vừa Việt: Tang Nghi Quán. Cô hốt hoảng: - Sao lại là đây? Vừa khi ấy người phụ nữ trở lại, trên tay xách một chiếc giỏ cũ, đưa cho Hằng: - Cô đem về đưa cho thằng anh của cô. Thằng Vọng đó! - Cái này là… Hằng nhìn chiếc giỏ xách thấy quen, thì kịp lúc cô được giải thích: - Của chị dâu cô đó, nhớ chưa! Lúc này Hằng mới kêu lên: - Của chị Bảo Ngọc? Đúng rồi, cái giỏ này... - Cô có trí nhớ tốt hơn mẹ và thằng anh vô tâm của cô nhiều. Đúng, đây là quần áo và tư trang của người ấy, được mang vào đây trước khi chết. Hằng cảm giác lạnh khắp người, cô nhìn người đạp xe: - Sao... sao chị biết chuyện nhà của tôi? Chị ta lại cười rất khó hiểu: - Chuyện tùm lum ra đó, ai mà không biết. Cô còn nhớ lần cuối cùng cô chị dâu cô rời khỏi nhà bao lâu rồi không? Hằng hơi run. - Chuyện... chuyện đó cả năm rồi. Chị Bảo Ngọc đi sinh, mà sinh khó nữa. Hôm đó anh tôi đưa chị đi mà, vào chiều tối… Bất ngờ chỉ tay lên tường, người phụ nữ hỏi: - Cô đọc được dòng chữ kia không? - Tang Nghi Quán. Nó là… - Là nhà xác của người Hoa. Nơi đây những người quản xác người chết để chuẩn bị mai táng. Gọi là nhà tang lễ theo người Việt. - Vậy sao dính tới chị dâu tôi? Người phụ nữ cười khẩy: - Vậy mới có chuyện để nói! Cô nói ngày đó anh trai cô đưa vợ mình đi nhà bảo sinh chứ gì? Vậy sao lại đưa vào đây? Hằng cãi: - Làm sao có chuyện ấy! Chị dâu tôi chết do sinh khó, ở nhà bảo sinh mà. - Vậy sao hành lý mang theo lại nằm ở đây? Hằng lắp bắp: - Có lẽ… có lẽ… Giọng người kia đanh lại: - Anh ta cùng với bà ấy đã đẩy một người chưa chết vô đây rồi bỏ mặc hai ba ngày đêm! Câu nói của chị ta khiến Hằng lùng bùng lỗ tai, cô phải hỏi lại: - Chị... chị nói ai đẩy ai? Chẳng đáp, chị ta đẩy xe trở ra, lặng im đạp đi. Hằng hỏi dồn: - Chị vừa nói chuyện nhảm nhí gì đó? Thật ra chị là ai? - Tôi là ai chị không cần thiết biết. Điều cần là bây giờ cô cứ đem cái giỏ hành lý này về. Người nhà cô ắt sẽ cho cô biết tôi là ai. - Nhưng mà... Chợt chị ta thắng gấp làm chiếc xe suýt lộn mèo tới trước. Hằng bực tức la lên: - Chạy xe kiểu gì vậy? Khi lấy lại bình tĩnh thì Hằng vô cùng ngạc nhiên khi thấy chiếc xe xích lô chở mình đang đậu giữa tim đường, mà bên tay phải chính là nhà của mình! Nhìn ra sau thì Hằng càng ngạc nhiên hơn, bởi người phụ nữ đạp xe đã biến đi đàng nào rồi! - Chị... chị… Ở phía sau nhiều tiếng còi xe thúc giục inh ỏi, khiến Hằng quýnh lên, cô nhảy đại xuống xe và chạy một mạch vào nhà. Vừa bước vô phòng khách Hằng đã nghe mẹ mình hỏi vọng ra: - Có lấy đồ đạc về cho nó không? - Má hỏi... Nhìn thấy cái giỏ trên tay Hằng, bà Muôn mừng rỡ: - Ừ, đúng là nó rồi! Bà chụp lấy chiếc giỏ và mở tung ra liền. Trong giỏ có ba bộ quần áo phụ nữ và một số khá nhiều tã lót, quần áo trẻ sơ sinh. Cái nào cũng còn sạch sẽ. Lúc ấy Vọng mới ngước lên nhìn, anh ta hơi bị kích động khi thấy mấy vật kia. Hằng lên tiếng hỏi: - Sao má biết con mang mấy thứ này về đây? - Chớ không phải người ta chở mầy vô đó lấy về sao? - Vậy ra... má thuê bà ta đi đón con? Bà Muôn đáp tỉnh queo: - Má đâu có biết gì! Họ mới báo qua điện thoại cho tao. Hằng lay vai Vọng hỏi: - Người đó nói giỏ đồ này là của chị Bảo Ngọc xách đi hôm anh đưa đi nhà bảo sinh, nhưng tại sao nó lại nằm trong nhà tang lễ người Hoa? Đột nhiên Vọng quát to: - Đừng hỏi tao chuyện đó! Anh ta ôm mặt, như không muốn đối mặt với những người thân của mình. Vừa khi ấy có tiếng trẻ khóc ré lên. Bà Muôn bực bội: - Khó khăn lắm mới dỗ nó ngủ được, giờ thì thức nữa rồi! Hằng ngạc nhiên: - Con nít nhà ai vậy má? Bà chỉ sang Vọng: - Con của nó! Vọng không còn chịu đựng nổi nữa, anh ta vụt bật dậy rồi cắm đầu chạy thẳng ra ngoài. Tiếng của bà Muôn: - Mày để của nợ đó lại cho ai, thằng quỷ kia! Nhưng Vọng đã biến mất ngoài đường... *** Vọng hơi mất tự tin, nên dù đã bàn cả giờ rồi mà anh ta vẫn còn lưỡng lự:- Liệu có ổn không? Ông thầy Ma-chu-yang tự tin gật đầu: - Tôi hứa là phải xong. Qua xem thần sắc, tướng tinh của cậu, tôi đoán chắc hiện nay cậu bị một cái vong nữ đeo bám và quyết hại cậu. Chuyện này nặng lắm chớ không chỉ dọa suôn như vừa qua đâu... Nếu cậu không cương quyết thì hậu quả khôn lường. - Nhưng... liệu có ngăn chặn được không? Chu-yang quả quyết: - Chắc chắn là được. Vọng xiêu lòng: - Vậy bây giờ tôi phải làm sao? Chu-yang xoa hai tay của lão vào nhau, chà một lúc rồi bất ngờ chụp lấy tay Vọng. Sức nóng do ma sát từ bàn tay lão ta khiến Vọng suýt phải kêu lên vì nóng. Giọng lão như có ma thuật: - Hãy kể hết đầu đuôi cho ta nghe! Kể hết, không được giấu. Chỉ có như vậy thì ta mới có thể gỡ mọi rắc rối mà anh đã gây ra. Ta đang lắng nghe... Vọng khó khăn lắm, cuối cùng đành phải tiết lộ điều mà gần ba năm qua anh cố giấu kín: “Hôm đó tôi đi làm về thì má tôi gọi vô phòng riêng, nói cho tôi nghe một chuyện động trời: Vợ tôi ngoại tình! Khác nào bị sét đánh, tôi hỏi lại: - Bằng chứng đâu má nói vậy? Ném tới trước mặt tôi một xấp ảnh mới toanh, bà hằn học: - Như vầy đã đủ chưa? Chỉ có đui mù như mày mới không hay không biết thôi! Tôi cầm xấp ảnh lên xem và tái mặt! Bởi trong ảnh là Bảo Ngọc, vợ tôi đang lõa lồ cùng với một người đàn ông khác! - Làm sao má có những tấm ảnh này? Má tôi cười khẩy: - Chịu khó theo dõi là có thôi. Vậy mày còn nói con vợ mày đoan chính, chung tình nữa thôi? Tôi hầu như suy sụp hoàn toàn: - Nhưng mà… nhưng mà Bảo Ngọc đang… đang có bầu gần ngày sinh mà? Má tôi nói như thét vào mặt tôi: - Con cái gì của mày mà mày khéo tin! Mày có biết nó cắm sừng mày đã trên một năm nay rồi không! Coi cái ngày trên lịch tường của mấy tấm ảnh thì biết! Lúc này tôi mới để ý tờ lịch trong các bức ảnh. Mỗi ảnh có ngày khác nhau, rõ ràng là cách hơn một năm trước. Tôi buông thõng xấp hình xuống gào lên: - Khốn nạn! Quân chó chết! Má tôi đã sắp xếp cho tôi gặp một người, mà chính người này gợi ý: - Tôi sẽ lo đầu đến đuôi, xin ông mười triệu! - Lo là lo làm sao? Có ổn không? Má tôi chen vào: - Đã nói cậu đây là chuyên nghiệp mà! Cứ để người ta làm. Rồi như sợ tôi hối hận, má tôi trấn an: - Mình sẽ nhờ cậu ấy giúp trục cái thai của con Bảo Ngọc ra rồi sau đó giấu biệt đi mình phải trừ hậu họa, chứ nếu để nó sinh ra thì càng nhục cho dòng họ mình hơn nữa! Tôi lo lắng: - Nhưng liệu cái thai lớn quá rồi, lấy ra có nguy hiểm không? Sao mình không đợi cho nó sinh xong rồi đem cho đứa nhỏ đi, đỡ nguy hiểm hơn? Má tôi cương quyết: - Một khi để người phụ nữ sinh đứa nhỏ ra họ sẽ không đành lòng vứt bỏ nó. Mà mình đem giấu nó thì cả đời con Ngọc sẽ chẳng bao giờ quên con được! Má muốn nó xem như mình bị hư thai thôi… Tôi đành phải nghe theo mẹ mình. Hôm đó, sau khi cho Bảo Ngọc uống ly sữa mà trong đó má tôi lén bỏ chất gì đó vào, Ngọc kêu đau bụng, tôi vội giục cô ấy đi nhà bảo sinh. Tôi làm như đưa đi sinh thật, nhưng khi ra tới bên ngoài, gã lưu manh mà má tôi thuê đã chờ sẵn, hắn thay tôi đón Bảo Ngọc và đưa đi. Hắn hứa với tôi: - Nội buổi chiều sẽ đưa cô ấy về yên ổn! Tôi tin như vậy. Nhưng qua một đêm, đến ngày hôm sau vẫn chưa thấy Bảo Ngọc trở về. Hỏi má tôi thì bà có vẻ lúng túng. Đoán có chuyện chẳng lành, tôi truy hỏi thì cuối cùng má tôi thú nhận: - Tụi kia phá thai cho con Bảo Ngọc, làm quá tay nên con nhỏ đã… chết! Xác được đưa đi và xử lý gọn gàng rồi. Ai cũng biết là ca sinh khó… Tôi điên lên, nhưng má tôi đã trấn an: - Cũng tốt thôi con. Nó mà còn sống liệu con có lòng dạ nào sống đời sống kiếp với nó không? Tôi lặng người đi, vừa hối hận vừa đau khổ... Nhưng chỉ một tuần sau thì tôi phát hiện một sự thật hoàn toàn khác hẳn! Má tôi tiếp một đôi vợ chồng lạ và gọi tôi ra cùng nói chuyện. Bà giới thiệu: - Đây là hai bác chủ đồn điền ở Đà Lạt. Hai bác đang giúp gia đình ta đủ mọi thứ. Và còn tốt hơn nữa, hai bác ấy còn có ý định gả con gái mình cho con. Tôi phản đối ngay, nhưng mẹ tôi đã gọi tôi ra ngoài, nói rất cương quyết: - Má đang nợ họ số tiền rất lớn. Má có bán hết sản nghiệp mình cũng không trả hết được. Nay hai bác ấy hứa, nếu hai nhà làm thông gia với nhau thì sẽ đồng ý xóa hết nợ nần, lại còn giao sản nghiệp lớn nữa! Hãy nghe lời má, thương má... Tôi chợt hiểu! Thì ra vì muốn tôi bỏ vợ đi lấy con gái ông bà chủ đồn điền nên má tôi đã bằng mọi giá loại Bảo Ngọc ra khỏi cuộc đời tôi! Và vô tình, tôi đã góp tay vào tội ác! Còn chuyện những tấm ảnh, đến lúc đó tôi mới hiểu, đó chỉ là ảnh ghép!”. Ông thầy Chu - yang chăm chú nghe Vọng kể. Ông có vẻ xúc động, nhưng chừng như cố nén lòng. Trước khi chia tay, ông ta nói một câu làm Vọng phải suy nghĩ: - Ở đời, bất cứ hành động nào đều cũng có cái giá của nó. Cậu phạm vào tội ác tày trời, nhưng dẫu sao cũng chỉ là con rối. Hình phạt nặng nề nhất của cậu bây giờ là lương tâm! Thật bất ngờ, Vọng và bà Muôn nhận được trát hầu tòa! Lý do ghi trong trát tòa là liên quan đến vụ án Bảo Ngọc! Bà Muôn hoảng lên: - Ai thưa mình chuyện này? Vọng sững sờ: - Con không rõ. Và càng bất ngờ hơn, lúc ngồi chờ phiên tòa, Vọng thấy ông thầy Tàu Chu - Yang! Ông ta lại trong vai trò một luật sư phía nguyên cáo. Mà nguyên cáo không ai khác ngoài cha mẹ của Bảo Ngọc! Bà Muôn thất thần, ngất ngay tại phiên tòa. Tuy nhiên tòa vẫn tiếp tục xét xử, sau khi bộ phận y tế giúp làm hồi tỉnh bà Muôn. Ông Ma - chu - yang đứng lên trình bày khi tòa hỏi: - Đóng giả vai một ông thầy tướng số nhờ thế tôi mới phăng ra ánh sáng vụ giết người dã man này. Tuy một trong hai người bị cáo là anh Nguyễn Vọng chỉ hành động theo xếp đặt của người mẹ, nhưng qua vụ này cho thấy rằng một con người ích kỷ, cố chấp và mềm yếu như Vọng đã vô tình đẩy vợ mình vào chỗ chết! Khi được tòa cho phép nói, Vọng đã cúi đầu nhận hết tội về mình. - Luật sư bên nguyên cáo nói đúng. Tôi là thằng chồng hèn, là con người ích kỷ, nhu nhược. Tôi đã ngu muội tin lời mẹ tôi để giết chết vợ con mình. Tuy nhiên mẹ tôi đã già, lại cạn nghĩ, cho nên tôi xin tòa cho nhận hết tội thay cho mẹ. Tôi mới là người đáng chết! Nhiều người có mặt tại phiên tòa đều cảm thông cho Vọng và đều hướng về bà Muôn buông ra những lời xỉa xói mắng mỏ. Nhưng lúc ấy một bảo vệ phiên tòa đã kêu lên: - Bà ta tắt thở rồi! Vọng nhìn lại, anh hiểu đúng là mẹ mình đã chết. Tòa sau khi nghị án đã tuyên bố tha bổng Vọng. Còn thủ phạm chính đã chết nên không còn bị truy cứu trách nhiệm nữa… Mọi chuyện được sáng tỏ. Nhưng có những điều sau đó vẫn còn là bí ẩn. Nó thuộc về tâm linh. Khi Vọng trở về nhà sau lễ an táng mẹ mình, anh vẫn tiếp tục nhận được những cú điện thoại y như lúc trước. Đầu dây bên kia vẫn không có người lên tiếng, mà chỉ có tiếng thở dài. Có hôm Vọng còn nghe cả tiếng khóc nữa! Giọng khóc rất quen… - Bảo Ngọc! Hiện tượng đó cứ tiếp diễn, khiến cho Vọng ngày càng bơ phờ do mất ngủ và lo lắng. Cho đến một hôm Hằng phát hiện anh trai mình chạy ngoài đường, lảm nhảm kêu tên vợ rồi một cách ngẫu nhiên, anh ta đi thẳng tới chỗ Tang Nghi Quán bữa trước. Vọng quỳ ở đó đến lúc ngất xỉu. Từ đó Vọng thành người mất trí. Suốt ngày cứ ngồi trước máy điện thoại. Nhưng nghe tiếng điện thoại reo là anh ta lại hốt hoảng la hét om sòm! Người ta bảo rằng, Vọng đã bị những hồi chuông điện thoại hớp mất hồn rồi. Và anh ta sẽ mãi mãi như vậy. Bởi có trong trạng thái như thế anh ta mới nghĩ là mình đang ở bên Bảo Ngọc... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 35
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXV: NÀNG HAI BÁO OÁN Phần I Cô gái chăn vịt Chờ hoài mà cơn mưa từ chiều vẫn chưa dứt, bà Tư Bường quá sốt ruột nên lấy cái thúng xúc lúa đội lên đầu và bước nhanh ra ngoài. Chú Tư bệnh đang nằm từ trong nhìn thấy, chú kêu lên: - Bà đi đâu giữa trời mưa lớn như thế này? Bà Tư nói với lại: - Tôi đi kiếm con Hai! Bà vừa nói vừa cố chạy nhanh, bởi bà biết, nếu chậm chân thì thế nào cũng bị ông ngăn cản. Ông Tư ngồi dậy không nổi, nhưng vẫn cố gượng dậy và bị ngã mấy lượt, trước khi gào được mấy tiếng đứt đoạn: - Bà... đừng... đi... Hình như ông muốn nói thêm điều gì đó, nhưng sức cạn, nên đành lịm đi... Trong khi ấy, bà Tư cố chịu từng cơn gió thổi đưa những hạt mưa như roi quật vào người, trân mình chịu trận và đi nhanh hơn. Bởi bà biết, chậm giây phút nào thì tính mạng con gái bà sẽ nguy thêm. Con đường làng thường ngày rất dễ đi, nhưng sao hôm nay bà đi cứ ngã lên ngã xuống và đi mãi mà chưa thấy tới đích đến của bà là cái chòi chăn vịt nằm sâu trong ruộng lúa cách mặt đường hơn năm trăm thước. Con Xinh, con gái bà ở đó chăn vịt mướn từ sáng sớm, đáng lẽ đã về nhà từ trước khi mặt trời lặn, vậy mà bây giờ đã quá nửa đêm rồi... Thường khi việc Xinh về nhà trễ cũng vẫn có xảy ra, nhưng trễ một vài tiếng thôi, chứ không cả buổi như thế này. Vả lại lúc chiều tối, trong cơn mưa lớn bà đã nghe như có tiếng khóc thét của ai đó giống như giọng của con gái mình, khiến bà sợ điếng hồn! Linh tính như báo cho bà Tư biết con gái mình đang gặp chuyện gì đó bất an. Bà khá hồi hộp khi bước tới gần chòi vịt. Bà hy vọng Xinh đang mắc mưa lạnh cóng trong đó... Tuy nhiên, khi bà đưa hẳn đầu vào trong chòi nhìn và lên tiếng gọi: - Xinh ơi, má đây con! Trong căn chòi vắng tanh, chẳng có tiếng con gái trả lời. Nghĩ là Xinh có thể ngủ quên, bà bước hẳn vào chòi. Căn chòi chỉ có mấy thước vuông, nên chỉ cần quơ tay là có thể đụng vào bất cứ ai trong đó. Trên chiếc sạp tre ọp ẹp trống không! - Hai ơi! Bà Tư thảng thốt gọi to, rồi lẩm bẩm trong sợ hãi: - Con đâu rồi, Xinh ơi! Trong cơn hoảng loạn, một tay của bà Tư chạm phải một bộ quần áo vương vãi trên sạp tre, bà hốt hoảng cầm lên, mặc dù không nhìn thấy, nhưng linh tính của người mẹ cho bà biết đó là quần áo của Xinh. - Xinh ơi! Bà Tư tiếc là mình không mang theo đuốc để soi cho rõ, nhưng quýnh quá bà quơ tay khắp căn chòi, mò luôn dưới cái sạp và sau đó chạy ra ngoài, cứ thế vừa chạy vừa gào hầu như khắp chung quanh căn chòi. Bà lội, lặn xuống mấy cái ao bên cạnh, rồi càng lúc càng mở rộng phạm vi tìm kiếm ra khá xa căn chòi. Vẫn chẳng có tăm hơi gì của Xinh! Cho mãi tới rạng sáng... Khi mấy người đi bắt cá sớm phát hiện ra bà Tư nằm ngất trên bờ ruộng thì họ giật mình bảo nhau: - Vợ của Tư Bường đây mà! Họ giúp đưa bà về nhà trong tình trạng lạnh cóng và mê man. Tám Đối, một trong hai người cứu được bà Tư, nói với Tư Bường lúc ấy đang nằm sốt cao trên giường: - Chẳng biết bà ấy đi đâu mà nằm dài trên bờ ruộng gần trại vịt của cai tổng Tài, tôi mà không cứu kịp lát nữa nhập thổ thì toi mạng đó! Thấy Tư Bường không dậy nổi, họ đành phải gọi thêm vài chị nữa ở gần qua giúp. Lát sau bà Tư tỉnh lại, đầu tiên bà gào lên: - Xinh ơi, con ở đâu? Khi thấy có đông người chung quanh, bà lại gào to hơn nữa: - Làm ơn kiếm giùm con Xinh, nó mất rồi. Nó bị nguy rồi mà quần áo còn đây... Bà gần như kiệt sức, mọi người phải xúm lại cấp cứu lần nữa. Lúc này ông Tư Bường mới gắng gượng nói: - Đừng tìm... con Xinh ở nhà ông... Ông ta chỉ nói được bấy nhiêu đó rồi cổ bị nghẹn lại, không thốt thành lời nữa... Bà Ba Trầu, người làm lâu năm trong nhà cai tổng Tài, đã nhạy cảm, buột miệng nói: - Hay là bị thằng Paul, con lão cai tổng? Tám Đối cũng ồ lên: - Đúng rồi! Có thể lắm... Bà Tư hồi tỉnh, nghe vậy bà lại càng sợ hơn: - Phải rồi, vậy mà tôi nghĩ không ra. Hồi sáng này trước khi đi làm, con Xinh còn nói là nó muốn xin nghỉ việc mà ông cai không cho, nhất là thằng Paul hăm dọa nếu con Xinh nghỉ thì nó sẽ tới tận nhà cho người khiêng đi! Tám Đối là người thẳng tính, nghe vậy nổi nóng liền: - Nó là con chủ chứ phải ông trời đâu mà muốn làm gì thì làm! Mà con Xinh làm ăn công, chứ đâu phải ở đợ có mượn nợ nhà nó đâu! Chỉ thấy Tư Bường quay mặt đi chỗ khác, nhẹ thở dài... - Chị Tư ráng khỏe lại đi, rồi còn tới nhà cai tổng Tài kiếm con Xinh. Vụ này xem ra lành ít dữ nhiều rồi! Tất cả đều lo lắng cho số phận Xinh, cô gái mười bảy, tuy làm công ở đợ nhưng nhan sắc hơn người. Tuy vậy họ cũng chẳng làm gì hơn ngoài than vắn thở dài... bởi nhà cai tổng Tài có thế lực nhất ở vùng này, lại ở ác không ai bằng, mà xưa nay làng này chưa ai dám tố cáo hay ra mặt phản đối. Chỉ vì lão ta có được thằng con rể làm mật thám cho Tây, có súng, có quyền bắt người thủ tiêu mà không ai dám chống đối! Bà Tư nghĩ quẫn trí, chỉ biết kêu trời: - Trời ơi, làm sao cứu con tôi đây! Bà gượng đứng dậy, tiện tay chụp cây mác vót ở vách nhà đưa lên cổ, khiến cho mọi người đều hốt hoảng: - Đừng, chị Tư! Tư Bường cũng tỉnh người, ông ta chồm tới giật cây mác trong tay vợ: - Bà có chết thì hãy cho tôi một dao trước đi! Trời ơi... Ông ảo não gục xuống. Lát sau, ông thều thào nói chỉ cho vợ nghe thôi: - Tội là ở tôi... hôm qua tôi bảo con Xinh tới nhà cai tổng mượn tiền... Bà Tư la lên: - Sao ông làm chuyện đó! Vậy là ông đem con làm mồi cho sói lang ăn rồi, ông ơi là ông! Tư Bường gục mặt trong lòng bàn tay: - Chỉ bởi... tiền nợ bên Hai Tửng quá hạn quá lâu rồi, mình không trả thì tới mùa này người ta đâu có cho lấy lúa. Rồi có đâu tiền mua thuốc trị bệnh cho bà... Bà Tư gào lên: - Ông cứ để cho tôi chết, chứ đâu đem con mình dâng cho hùm beo như vậy! Trời ơi, con gái tôi... Bà như điên lên, chụp vội cây mác lần nữa rồi chạy bay ra ngoài. Tám Đối lao theo ngăn lại: - Không được đâu chị Tư. Chuyện gì cũng phải từ từ rồi tính. Chị mà tới đó sinh sự thì chưa làm gì được ai đã bị đám đầu trâu mặt ngựa ở đó sát hại chị rồi! - Tôi chết cũng được, miễn là cứu được con tôi thôi! Tám Đối phải giải thích thêm: - Cứu con Xinh thì tôi và bà con đây đều muốn làm như chị vậy, nhưng mình thế cô sức yếu, lại không có bằng chứng gì cả thì làm sao xông vào nhà đó được. Chi bằng nhờ chị Ba Trầu đây... Bà Ba Trầu sốt sắng: - Để tôi lo cho. Tôi trước đây ở hầu hạ mụ cai tổng, nay tuy nghỉ rồi, nhưng lâu lâu tôi cũng có ghé thăm, đem tặng mụ ta trầu cau, là món mụ ta rất mê. Sẵn tôi vừa hái trầu tươi, cau ngon, lát nữa tôi sẽ giả vờ đem tới và ở chơi lâu lâu... tiện thể tôi dò la coi thằng Paul có ở nhà không. Nó mà có nhà tức là nó đang làm chuyện mờ ám gì đó... Ba Tư nghe lời, nhưng vẫn nói thêm: - Nếu con Xinh mà có chuyện gì thì tôi thề là sẽ ăn thua đủ với chúng nó! Bà Ba Trầu về nhà lấy theo giỏ trầu cau tươi và ngay trưa hôm đó, bà qua nhà cai tổng Tài. Mụ cai chữ nghĩa không đầy lá mít, nhưng rất khoái nghe chuyện Tàu như Thuyết Đường, Tây Du Ký... do người khác đọc. Khi bà Ba Trầu bước vào thì mụ không ngẩng lên, đã hỏi: - Đứa nào tới giờ này vậy bay? Ba Trầu vốn đã quen tính mụ ta, nên lên tiếng liền: - Dạ, biết giờ ghiền trầu của bà nên kịp thời Ba Trầu này có mặt! Con Tám Nỉ đang đọc đến hồi gay cấn, phải ngừng lại để cho bà chủ nói chuyện. Nếu gặp ai khác mà cắt ngang như vậy ắt sẽ bị la cho một trận, nhưng Ba Trầu thì khác. Hôm nay mụ cai có ý đợi không riêng gì trầu, cau tươi, mà còn một chuyện khác nữa, nên bà bật ngồi dậy ngay, xua tay đuổi con Nỉ ra ngoài. Mụ ta kêu Ba Trầu lại gần: - Mày lại đây tao hỏi cái này. Mụ ta ghé sát tai đứa đầy tớ cũ của mình, hỏi rất khẽ: - Mày biết gì về vợ chồng thằng Tư Bường không? Được gãi đúng chỗ ngứa, nên Ba Trầu quên giữ ý, la lên suýt nữa đã lộ chuyện: - Ồ may quá, đúng rồi! Mụ cai ngạc nhiên: - Mày nói đúng cái gì? Mày chưa nghe tao hỏi hết mà? Ba Trầu kịp sửa lại: - Dạ con muốn nói là con có quen với vợ chồng đó. Bà hỏi con mừng quá, vì con có thể... - Tao muốn qua nhà gặp tụi đó, mày dẫn tao đi. Ba Trầu ngạc nhiên: - Để làm gì bà? Nhà họ nghèo rớt mồng tơi, làm sao đủ sức tiếp bà! - Thì cứ dẫn tao đi, tao muốn nói chuyện với họ. Mà theo mày thì tụi nó có xứng làm sui gia nhà tao không? Câu hỏi làm cho Ba Trầu ngơ ngác: - Bà nói... Mụ cai nói rõ hơn: - Tao muốn làm sui với nhà đó! - Thưa bà... chắc con nhỏ Xinh làm bà hài lòng? Mụ cai trố mắt nhìn Ba Trầu: - Mày nói con Xinh nào? - Dạ, con nhỏ con gái của vợ chồng Tư Bường, tức con nhỏ ở chăn vịt cho bà đó! Mụ cai như bị phỏng lửa: - Mày có điên không Ba Trầu? Tao thế này mà đi cưới con nhỏ chăn vịt hả? - Thì... thì con gái của Tư Bường chính là con nhỏ đó! Vợ chồng họ chỉ có một đứa con gái duy nhất đó thôi! - Không phải! Thằng Paul đưa về một đứa con gái đẹp như tiên, nói là con gái của Tư Bường nào đó. Con nhỏ đó đâu phải là đứa chăn vịt! - Vậy con đó ở đâu? Mụ cai có vẻ không hài lòng: - Nó là con dâu tương lai của tao, sao mày kêu con này con nọ? Rồi mụ ngoe nguẩy bỏ đi vào trong ngay. Ba Trầu quay sang mấy đứa giúp việc hỏi khéo: - Mấy bữa nay mấy đứa có thấy ai về nhà này không? Con nhỏ đó đó... Sáu Mi là đứa lanh lợi, lắm mồm nhất trong nhà, đã như được khai thông mạch chảy: - Chỉ mới sáng nay thôi, chứ đâu phải mấy ngày. Cậu Paul dẫn về một cô gái đẹp mê hồn, lúc đầu bà cai tưởng là gái Sài Gòn, nhưng khi hỏi ra thì cậu Paul nói cô ta là người ở xứ này, con của Tư Bường! - Bộ mấy người không biết con Xinh con gái Tư Bường, đứa chăn vịt cho nhà bà cai lâu nay hay sao? Sáu Mi lắc đầu: - Mấy năm rồi không gặp mặt nó, nhưng không phải là không nhớ. Đằng này con nhỏ đi với cậu Paul không phải là con Xinh, bởi nó đẹp và sang trọng như một tiểu thư, tôi cứ tưởng Tư Bường còn có đứa con gái khác! Ba Trầu lẩm bẩm: - Kỳ vậy? Không lẽ... Vừa khi ấy bà nghe có tiếng oang oang của Hai Paul: - Đứa nào ở đó, lấy cho cô Xinh đôi dép coi! Ba Trầu nhìn ra ngoài sân thì thấy một cô gái mặc nguyên bộ đồ màu vàng rực rỡ đang đi cạnh Paul. Bà thốt lên: - Con Xinh thật mà! Bà là chỗ thân tình với nhà Tư Bường, hầu như gặp mặt Xinh hằng ngày, nên bà đâu có lạ gì con nhỏ... Nhưng sao bữa nay nó lại ăn mặc diêm dúa, lại có cử chỉ thái độ không giống với đứa con chân chất thật thà của Tư Bường chút nào? Thấy chưa có ai nghe lời mình, Paul lại hét to: - Đứa nào đó, bảo lấy đôi dép cho cô Xinh mang sao còn ở đó! Sáu Mi nhanh nhảu lên tiếng: - Dạ, cậu Hai để con lấy. Lúc này Paul đã ẵm Xinh trên tay bước vào phòng, nơi Ba Trầu và mấy người đang nói chuyện. - Xinh! Dì Ba nè... Thấy Xinh giương mắt nhìn mình mà không chào hỏi, Ba Trầu lên tiếng, nhưng cô gái vẫn tỉnh như không, trái lại còn hỏi Paul: - Ai mà ăn nói trịch thượng vậy? Paul có nhớ Ba Trầu, nhưng anh ta muốn lấy oai với người đẹp, nên quát lớn: - Bà nhà quê này là ai vậy? Ba Trầu đáp ngay: - Tôi là Ba Trầu đây cậu Hai, lúc trước nhiều năm tôi ở đây hầu hạ bà... - Ai cho bà vào đây ăn nói linh tinh vậy, đi ra. Cô gái còn bồi thêm: - Nhà anh sang trọng vậy mà cho mấy bà già trầu quê mùa vào chi cho mất giá trị! Nếu bà ấy là người làm thì đuổi cổ đi! Bất ngờ quá đỗi, bà Ba Trầu tức nghẹn lên tới cổ, bà run run: - Xinh, mày... mày... Paul quát một tiếng nữa: - Đuổi cổ bà này ra mau, tụi bay đâu! Mấy tay vốn bám theo Paul để được cà phê thuốc lá, lúc nào cũng có mặt gần đó, hai tên bước tới hất hàm bảo: - Bà già kia, ra chưa! Tên đó là Sáu Thẹo, vốn ở sát nhà bà, nên Ba Trần quắc mắt nhìn hắn: - Mày hỗn với tao hả Thẹo! Nhưng Sáu Thẹo không màng tới bà, hắn bước xốc ngang người bà cùng với tên kia kéo lê bà ra ngoài. Bà Trầu la ầm lên: - Mày ăn cơm thừa cá cặn của hắn phải không Thẹo! Đồ côn đồ, đồ... Trước sự việc đó, Xinh vẫn bình thản. Ba Trầu tức lắm, nhưng đã bị Sáu Thẹo bụm miệng, nên không còn la lối nữa. Mãi khi ra tới ngoài, bất ngờ bà nghe Thẹo nói khẽ: - Dì Ba về đi, chọc giận thằng điên đó nó bắn dì chết mà không ai dám can đâu! - Thẹo, mày... Thẹo lại nói nhanh: - Cả nhà nó đang điên, dì về đi! Ba Trầu vẫn cố nhìn Xinh và nói: - Còn con Xinh... - Con đó cũng điên, dì mặc nó! Ba Trầu chẳng còn cách nào hơn, nên tần ngần một lúc rồi mới chịu đi... Bà đi thẳng về nhà vợ chồng Tư Bường, vừa tức vừa kể lại mọi việc. Tư Bường đang mệt mà nghe bà Ba Trầu kể chuyện ông cũng phải bật dậy: - Cô nói sao, con Xinh tôi... Chú bị mệt nên ho một tràng dài, rồi thều thào: - Nó... nó làm sao? - Không phải là nó nữa! Nó nhìn tôi như người lạ... Bà Tư tỉnh nãy giờ, nhưng do không còn sức nên bà chỉ im lặng lắng nghe, tới đây bà cũng như ông, không còn chịu đựng nổi, đã lên tiếng: - Con gái tôi chưa bao giờ như vậy cả. Chắc nó bị... Ba Trầu phải nói rõ hơn: - Chính thằng Sáu Thẹo nó nói cả nhà bên đó đều điên hết rồi! Cả con Xinh nữa... - Nhưng có đúng là họ bắt cóc con Xinh của tôi không? - Thì tôi chạm mặt nó, đúng là nó, nhưng chẳng hiểu sao nó ăn mặc như gái thành thị và thái độ xấc xược chẳng khác đám con nhà giàu hay bọn gái làng chơi. Bà Tư la lên: - Chị không được nói về con tôi như vậy! Nhưng bà Ba Trầu vẫn nói: - Tôi nhìn ánh mắt của nó thấy khác thường lắm. Có thể là bị ép buộc hoặc bị... quỷ ám hay ma hớp hồn sao đó! Bà Tư hốt hoảng: - Còn gì con tôi, trời ơi! Ba Trầu hỏi: - Nếu bây giờ bên đó qua tính hỏi cưới con Xinh cho thằng Hai Paul, chị chịu không? - Không! Không đời nào! Nhưng chú Tư thì lại nói: - Người ta có lòng thì cũng tốt. Nhất là bây giờ mình biết được nó đang an toàn và còn thay đổi đời nữa... Bà Tư vẫn la lên: - Tôi biết tính con gái tôi, nó không bao giờ chịu sống trong cái nhà đó! Ba Trầu bàn thêm: - Theo tôi thì trong vụ này không chỉ bên nhà cai tổng Tài muốn, mà hình như con Xinh cũng thuận nữa. Biết đâu chuyện nó biến mất khỏi trại chăn vịt là do chính nó... Một lần nữa, bà Tư gào lên: - Không phải! Con gái tôi nó bị hại, có thể là... Bà định nói nữa, nhưng bất chợt hai mắt trợn trừng, người run lên vì cơn lạnh phát ra đột ngột! Bà quá uất ức, nên bất kể tình trạng sức khỏe của mình đã lao ra cửa, miệng thì cứ gào tên con. Bà cũng không ngờ người nhà của cai tổng lại hết sức dễ dãi, không hạch hỏi lôi thôi gì khi bà xưng tên mình ra. Họ còn mở cửa cho vào trong một cách nhanh chóng. Chỉ có khi bà lên tiếng hỏi Xinh ở đâu thì mọi người chỉ nhìn nhau mà không đáp. Bà phải hỏi lớn tiếng mấy lượt nữa thì mới có tiếng ai đó nói từ trong vọng ra: - Cứ cho bà ta vào gặp đi! Và bà gặp được con trong căn phòng kín, chẳng một ai chứng kiến. Họ gặp nhau khoảng hơn nửa giờ. Chẳng hiểu đã nói với nhau những gì, chỉ thấy khi trở ra thì bà Tư như người mất hồn... Bà chết lên chết xuống bởi thái độ của con. Khi gặp bà, Xinh đã chẳng những không nhìn mà còn lớn tiếng xua đuổi. Mà không phải xua đuổi suông, cô còn tỏ ra sợ hãi khi nhìn thấy mẹ mình! Bà Tư đau khổ tột cùng, bà bước ra khỏi nhà cai tổng Tài mà bước đi không muốn nổi. Bà không tin sự thể lại như thế. Bởi vậy gần một giờ sau đó, bà đi mà chẳng biết là mình đi đâu. - Nè cô... Có ai đó gọi, bà Tư cũng chẳng buồn ngoái lại nhìn, đến khi có bàn tay người chạm vào vai mình lúc ấy bà mới dừng bước. Giọng một ông cụ hiền từ: - Sắc mặt xanh, bước đi loạng choạng thế này, chẳng phải là người sắp chết ư? Bà Tư chợt phá lên cười: - Chết? Thì chết chứ còn sống làm gì nữa! Làm cách nào cho tôi chết đi! Ông lão rõ ràng không phải người làng này, bằng chứng là ông ta nhìn bà Tư hoàn toàn xa lạ, và ngược lại bà Tư Bường cũng dửng dưng trước ông ta. - Bà nói muốn tìm cái chết? - Ông có không, cho tôi với! Bà Tư vừa dứt lời thì đột nhiên bước nhanh tới như có ai đẩy đi, giọng ông lão vẫn bám theo phía sau: - Bà sẽ được toại nguyện ngay thôi! Một lát sau, bỗng trước mắt hiện ra căn chòi chăn vịt, khiến bà Tư hoàn hồn, bà ngơ ngác: - Sao lại ở đây? Ông lão vẫn giọng trầm tĩnh: - Có phải bà muốn chết không? Lúc này bà Tư đã tỉnh táo hẳn, bà nhớ ra mọi chuyện: - Con gái tôi, Xinh ơi! Ông lão đứng ngoài cửa bảo bà: - Bà bước vào mà gặp con gái! Bà Tư reo lên: - Con tôi đâu? - Bà biết mình mất con là ở chỗ nào? Chỉ tay vào chòi, bà đáp ngay: - Ở trong này! - Vậy sao không vào đó mà tìm nó! Lời ông vừa dứt thì bà Tư đã như bị ai xô, ngã nhào vào trong. Người bà đè lên một vật mà vừa chạm phải, bà đã kêu lên: - Bộ đồ của con tôi! Ông lão lại lên tiếng: - Đâu chỉ là bộ quần áo! Khi ấy, bỗng bà Tư la lớn: - Con... con Xinh! Lúc đầu chỉ là bộ quần áo, nhưng sau lời của ông lão, bà Tư cảm giác là mình đang ôm cả thân thể của ai đó! Người mẹ đã nuôi con mình từ lúc lọt lòng đến nay nó đã hơn mười bảy tuổi thì làm sao bà lầm thân thể nó với ai khác được, mặc dù lúc ấy trong chòi vịt không có chút ánh sáng nào. - Xinh! Ông lão vẫn chậm rãi nói: - Nó chết rồi, bà có muốn đi theo nó thì cứ nằm xuống đó, lát nữa ắt sẽ toại nguyện. Ông dứt lời thì im bặt. Tưởng ông chờ mình trả lời, nên bà Tư vội lên tiếng: - Tôi sẽ chết theo con tôi! Bà nói xong nằm xuống ngay bên cạnh con. Tay bà sờ sang chỗ lỗ mũi và một lần nữa, bà hét lên: - Trời ơi! Không còn hơi thở nơi Xinh, có nghĩa là... - Ông ơi, cứu con tôi! Bà gào lên rát cổ họng mà chẳng nghe ông lão trả lời. Bởi khi ấy ông ta đã đi mất rồi... - Ông ơi! Con ơi... Bà lịm đi... Lúc tỉnh lại thì mặt trời bên ngoài đã lên khá cao. Chợt nghe có người nói chuyện gần đó, bà Tư kêu lớn: - Ai ngoài đó, làm ơn giúp con tôi với! Mấy người đi cấy lúa nghe kêu thì bâu lại chòi vịt nhìn vào. Họ ngạc nhiên khi thấy bà Tư nằm trong đó, hai tay đang ôm cứng một bộ quần áo. Một người hỏi: - Ủa, bà Tư sao lại ngủ trong đó? Bộ được cai tổng mướn làm thay con Xinh hả? Nghe hỏi bà Tư mới hoàn hồn, nhìn lại vật mình ôm trong tay. Bà kinh hãi kêu lên: - Con tôi đâu? Bảy Lý là người ở gần nhà cai tổng Tài, có nghe thoáng qua chuyện của Xinh nên lên tiếng: - Nó đang ở nhà bà cai tổng, sao dì ra đây tìm? Bà Tư xua tay lia lịa: - Không phải! Đừng nói bậy! Bỗng người thứ hai cùng đi với Bảy Lý vội lên tiếng: - Bộ mấy bà không hay chuyện gì sao? Sáng nay người ta phát hiện ông cai tổng bị giết chết, có lính đang làm ồn ào ngoài đó! Bảy Lý kinh ngạc: - Sáng nay tôi đi sớm nên đâu có để ý. Mà ai giết ông ta? - Con Hai Xinh con Tư Bường! Bà Tư đang nằm, vội bật dậy: - Lại nói bậy nữa rồi! Con gái tôi nó đang nằm ngủ với tôi ở đây mà. Bà vừa nói vừa đưa tay sờ soạng, khi cầm bộ quần áo lên thì lại la lớn: - Ai bắt con tôi đi đâu rồi? Lúc này trời sáng nên có thể nhìn khắp chòi không sót chỗ nào. Chẳng hề có dấu vết gì của Xinh, Bà Tư lại càng hốt hoảng: - Nó đâu rồi? Người kia đáp: - Nghe nói giết chết ông cai tổng là nó bỏ trốn biệt rồi. Chắc là giờ này làng lính đang tới nhà bà để lục soát, sao bà còn ở đây? Bộ tính trốn hả? Bà Tư phớt lờ lời nói của họ, bà cứ tìm kiếm hoài tung tích con mình. Đến khi chợt nghe ra chuyện người nọ nói, bà thảng thốt kêu lên: - Con Xinh giết ai? Khi nghe rõ lại, bà vùng chạy ra ngoài. Bảy Lý nói với theo: - Dì chạy về nhà đi, người ta đang đi tìm bắt con Xinh đó! Như người bị mộng du, bà Tư nhắm hướng nhà mình, nhưng khi chạy tới nơi mà cũng không nhớ quẹo vào, phải có người kêu lớn: - Dì Tư, nhà đây mà! Khi bà vào nhà thì quả là có hương quản Lân và cả chục người lính làng đang vây quanh ngôi nhà. Họ vừa thấy bà đã la lên: - Bà giấu con Xinh ở đâu? Bất ngờ, bà hỏi ngược lại: - Mấy người bắt con tôi đem đi đâu? Hương quản Lân quát lớn: - Con mẹ già mồm! Tôi hỏi bà giấu con nhỏ giết người ở đâu? Không khai báo thì khi về nhà làng, bị kẹp hai bàn tay nát nhừ thì cũng phải khai thôi! Ông Tư nãy bị hạch hỏi nãy giờ, bị luôn mấy thoi của Hương quản Lân rồi, nên sợ sệt nói vọng ra: - Bà biết nó ở đâu thì chỉ đi, kẻo họ đánh chết bây giờ! Làm sao bà biết? Bởi vậy sau đó bọn lính lệ đã trói gô cả hai ông bà già bệnh tật lại, khiêng như khiêng heo về nhà làng. Ở đó chẳng cần hỏi han gì thêm, hương quản Lân đã cho nhốt hai người vào cái nhà kho bít bùng, nóng như lò nung! Suốt ngày hôm đó, chỉ một lần vào buổi chiều, họ đưa vào hai tô cơm với hai miếng khô cá nguội ngắt. Quá đói nên ông Tư còn ráng gặm vài miếng, còn bà thì tuyệt nhiên không. Bà đã không ăn mà còn gào khóc, chửi bới om sòm. Mà thật ra cũng vô ích thôi, bởi nhà làng giờ đó không còn ai làm việc. Chỉ có một anh hương tuần lo việc trật tự, nhưng biết được hai tội phạm là người già, chẳng sợ họ bỏ trốn, nên anh ta cũng bỏ về ngủ với vợ luôn. Nửa đêm... Trong lúc chập chờn, bỗng bà Tư nghe có tiếng ai đó nói rất khẽ bên tai: - Má đưa tay ra đây con đưa cái này! Rõ ràng là giọng của Hai Xinh! Bà Tư mừng hơn bắt được vàng: - Con hả Hai? Trời ơi, cứu ba má ra với con! - Con không thể vào trong đó được, nhưng con sẽ chờ ba má ở khúc sông lớn vào rạng sáng hôm nay. Họ sẽ đưa ba má tới đó... Bà Tư hốt hoảng: - Họ đưa đi đâu? Giọng Xinh nhỏ hơn lúc nãy, chứng tỏ cô đang lùi bước lại: - Giải lên tỉnh. Má cứ cầm lấy vật con mới đưa và giấu cho kỹ, đừng để họ thấy. Họ sắp tới rồi đó, con chờ ba má! Quả nhiên, sau đó chừng mười lăm phút thì cả lũ làng lính kéo tới. Có giọng oang oang của Hai Paul, anh ta quát: - Sao chưa đưa tụi nó ra, còn đợi gì nữa! Có tiếng dạ của hương quản Lân. Tên này tuổi đáng cha chú của Paul, vậy mà lại răm rắp nghe lời và còn lễ phép nói: - Cậu Hai cứ về nghỉ, chuyện này để tôi lo... Paul vẫn lớn lối: - Tôi phải đích thân tính vụ này mới được. Phải trước tiên thủ tiêu hai con khỉ già này, rồi sau đó truy lùng con quỷ cái kia cho bằng được. - Dạ, tụi này sẽ làm ngay. Tôi đã cho đón các ngả đường sông, đường bộ, nó chẳng còn chạy đâu được nữa! - Vậy sao cả ngày rồi vẫn chưa bắt được nó? Hương quản Lân ấp úng: - Dạ... việc này... Paul hét lên: - Ngày mai lên gặp thằng Ba thì mấy ông liệu mà giữ cái đầu! Ba Dữ là anh rể của hắn, tay mật thám nổi tiếng là ác nhân, giết người không gớm tay. Chỉ cần dọa tên hắn ra thì cả lũ đều sợ xanh mặt. Hương quản Lân riu ríu: - Dạ, cậu Hai yên tâm... Cậu Hai cứ về nhà nghỉ, tụi này sẽ hoàn thành nhiệm vụ! Khi chúng mở cửa nhà kho ra thì đã thấy vợ chồng Tư Bường nằm thẳng cẳng, có lẽ vì kiệt sức, hoặc cũng có thể do quá sợ hãi. Quản Lân hét thuộc hạ: - Khiêng tụi nó ném xuống xuồng mau lên! Vợ chồng Tư Bường như hai cái xác chết, nên dẫu bị khiêng cũng chẳng kêu la gì. Tuy vậy Paul căn dặn: - Tụi bây lấy nùi giẻ nhét thêm vào miệng chúng, phòng khi... hành sự chúng la hét lôi thôi. Đích thân hương quản Lân lấy hai nùi giẻ dơ nhét vào miệng hai nạn nhân. Chỉ mấy phút sau thì cuộc áp giải bắt đầu. Ban đêm, đường sông vắng vẻ, nên việc chở hai phạm nhân đã bị bịt miệng diễn ra êm xuôi. Mười phút sau thì ra tới ngã ba sông lớn. Quản Lân nháy mắt cho hai tên thuộc hạ. Bọn này hiểu ý nên chúng đứa chụp hai tay, đứa nắm hai chân của ông Tư trước rồi nhất loạt ném ông xuống dòng sông đang chảy xiết! Rồi tới phiên bà Tư cũng thế. Chỉ trong vòng chưa đầy một phút, bọn ác nhân đã giải quyết xong hai con người vô tội! Dòng sông đêm vẫn cuồng nộ chảy xiết, có lẽ đưa hai con người lương thiện kia ra rất xa khi trời sáng... Nhưng... Khi cả bọn chưa kịp quay xuồng lại, thì chợt một tên đứng đầu mũi la lên: - Ai nắm chân tôi vậy? Ai... Hắn ta chưa dứt lời thì đã nghe ùm một cái, cả thân thể hắn ngã nhào xuống nước. Hương quản Lân hốt hoảng la lớn: - Đưa dầm cho nó nắm mau lên! Tên đứng gần vội đưa mái dầm xuống nước, và tới lượt hắn cũng nhào theo luôn! Đoán là có điều chẳng ổn Hương quản Lân vội hò hét mấy tên còn lại: - Tụi bay mau bơi xuồng vào bờ! Mau lên... Hắn còn đang la hét thì tới phiên chân trái của hắn bị một bàn tay của ai từ dưới nước thò lên, nắm chặt và kéo mạnh! Sau hương quản, còn lại hai tên nữa, chúng hốt hoảng bơi xuồng nhanh vào bờ. Nhưng khi xuồng còn cách bờ hơn chục thước thì chiếc xuồng bỗng lật ngang, và chẳng còn thấy tên nào bò lên! Dòng sông hình như chảy mạnh hơn, cuồng nộ hơn, và trong phút chốc có một cơn gió mạnh thổi lên. Rồi một tràng cười man dại vang lên bay theo gió đi rất xa... Phần II Người tỉnh lại đầu tiên là bà Tư Bường. Nhìn sang thấy chồng mình còn nằm đó, bà hốt hoảng kêu lên: - Chúng tôi chết hay sống? Một giọng người già cất lên: - Bà đâu có sợ chết phải không? Vậy thì bà đã toại nguyện... Nghe giọng nói quen quen, bà Tư nhìn lại và vô cùng ngạc nhiên khi thấy đó là ông lão ở chòi vịt hôm trước. - Ông... sao lại ở đây? Còn con tôi đâu? - Bà chỉ nghĩ đến con mà không cần sự sống chết của chồng? Ông ta đã chết, để cho bà sống đó! Bà Tư gào lên: - Tôi muốn chết theo con tôi thôi! Bà đưa tay sờ lên mũi ông chồng và yên tâm khi biết ông còn thở. Nhìn quanh lần nữa, bất chợt bà nhận ra có một đứa con gái đứng quay lưng lại, nó mặc bộ đồ mà vừa nhìn thấy bà đã nhận ra ngay: - Đứa này... nó là con Hai của tôi! Cô gái quay lại, và quả nhiên đó là Xinh mà bà Tư đã gặp ở nhà cai tổng Tài. Bà mừng quýnh: - Nó đây mà, Xinh ơi! Bà lao tới thì gặp ngay sự ngăn cản của ông lão: - Bà chạm vào nó là cả bà và nó đều chết hết! Bà nhận ra nó rồi phải không? Nhưng nó không hề là con bà! Bà Tư không chịu nổi cách nói của ông lão, nên la lớn: - Hãy để con tôi nó nhìn mẹ. Xinh, con hãy lên tiếng đi! Nhưng một lần nữa giống như bữa trước, cô gái lắc đầu: - Bà đâu phải là má tôi! Rồi cô ta bước thẳng vào nhà trong. Bà Tư gọi với theo: - Con Hai, má đây mà! Bà định bước theo, nhưng chân vấp phải vật gì đó ngã chúi tới trước. Nhìn lại, bà hốt hoảng: - Ai nằm đây? Ông lão giờ mới cất giọng nghiêm túc: - Bà thấy rồi đó, đứa con gái kia không phải là con bà. Nó làm xong việc mà con gái bà muốn nó làm, còn giờ thì nó... chết. Chưa hiểu sự tình, nên bà Tư kêu lên: - Không được để con tôi chết! - Bà nhìn kỹ lại xem, có phải con gái bà đây không? Lúc này bà Tư mới nhìn xuống xác người nằm dưới chân, rõ ràng đó là Hai Xinh! - Con ơi! Ông lão thở dài: - Nếu vợ chồng bà không nhờ vật trong túi áo kia thì đã chết khi bị chúng nó xô xuống sông rồi. Bà xem nó còn hay không? Lúc này bà Tư mới chợt nhớ lại, bà chụp tay lên túi áo và reo lên: - Nó còn đây! Bà tiện tay móc ra, và sau khi mở lớp vải gói bà không khỏi sững sờ, bởi đó là cái mặt dây chuyền hình Phật làm bằng vỏ gáo dừa mà tự tay bà làm cho con đeo khi nó lên ba tuổi. Nhà người ta giàu có mua cho con dây chuyền vàng bạc, còn bà chỉ có thể cho con đeo thứ như thế này. Nhưng lạ là từ khi đeo vật này, Xinh lại rất thích và không hề rời ra. Và kỳ diệu thay, có lần do lau mình, vướng khăn đứt dây làm tượng Phật rơi ra, thế là Xinh bị bệnh suốt mấy ngày! Từ đó nó không bao giờ dám để mặt dây chuyền ấy xa mình. Vậy mà... Giọng ông lão như một lời giải thích: - Cô ấy buộc phải lột tượng Phật ra, trong khi biết làm như vậy là có thể sẽ không còn giữ được thân xác cho đến khi gặp lại cha mẹ, nhưng vì sự an nguy của ông bà nên cô ấy đã phải mạo hiểm. Cũng may, Phật trời còn thương nên giờ đây... Ông nói tới đó thì vội đứng lên, dợm bỏ đi thì bà Tư gọi giật lại: - Tôi phải làm sao với con đây? Ông lão nhẹ thở dài: - Tôi cũng chỉ là người làm giúp cháu nó, chuyện duy nhất là báo tin và đưa cô ấy tới bên ông bà. Còn những gì tiếp theo thì tôi không có quyền biết... Cũng như cô gái lúc nãy, cô ấy cũng chỉ giúp cô Xinh làm xong việc, rồi trở lại với kiếp riêng của mình. Chúng tôi hết nhiệm vụ nên xin phép ông bà, tôi phải đi... Ông nói dứt lời thì như làn khói, biến mất. Ôm xác con mình, bà Tư gào lên: - Con ơi, Hai ơi? Ông Tư cũng đã tỉnh hẳn, ông bật dậy khi nhìn thấy xác con và ông kêu thét lên: - Ba hại con rồi Hai ơi? Bà Tư ngạc nhiên: - Ông nói vậy là sao? Giọng ông trầm xuống: - Bà nhớ đứa sinh đôi với con Xinh ngày trước không? Bà Tư giật mình: - Nó ra đời chỉ được hơn một tháng thì đã bị người ta ăn cắp mang đi mất, nó là con Đẹp, tên do chính tôi đặt mà! - Thật ra... nó không bị bắt cóc! Nó đã... Bà Tư như bị điện giật, bà sửng sốt nhìn ông: - Chứ nó ở đâu? Mà sao từ nào đến giờ ông không nói cho tôi biết? Ông gần như suy sụp: - Chỉ vì tôi... hối hận! - Ông đã làm gì nó? Bây giờ nó ở đâu? - Chính tôi đã... bán nó cho người ta! Trời đánh cũng không làm cho bà Tư choáng váng bằng nghe tin này! Bà run lẩy bẩy: - Trời ơi... ông ơi là ông! Ông Tư Bường ơi... Bà lạnh cả người, trong khi chồng vẫn run giọng kể: - Bà có nhớ ngày đó tôi nợ nần quá nhiều do cờ bạc không? Chính từ đó... Bà Tư rên rỉ: - Tôi đã biết mà... thế nào rồi ông cũng làm chuyện bậy bạ! Nhưng đâu có ngờ... Ông Tư chừng như đã hối hận tột cùng, nên giọng ông đầy nước mắt: - Tôi bán con cho một người không con, tội thì có tội, nhưng cũng giải quyết được thực tế lúc đó. Bởi bà nghĩ coi, với cái nghèo rớt mồng tơi như vợ chồng mình lúc ấy thì làm sao nuôi nổi một lúc hai đứa con! Chỉ có điều là tội ác của tôi không dừng lại ở đó, đầu năm nay khi nợ lúa của mình với Hai Tửng quá hạn trả đã lâu nếu không trả thì có thể bị người ta thưa ở tù rục xương! Nên tôi đã... Bà lại run giọng hỏi: - Ông đã làm gì nữa? - Thì... Ông không dám nói thẳng phải ngập ngừng một lúc: - Ông cai tổng gặp tôi nhân chuyến ông ta đi thăm đồng, và cũng xui cho con Hai... Chợt hiểu, bà gào lên: - Ông bán con Xinh luôn cho nhà đó? Ông Tư ôm mặt khóc nức nở: - Tôi không bán mà họ ép tôi phải bán! - Trời ơi! Giọng ông ta vẫn đều đều: - Con Xinh ở chăn vịt cho nhà đó từ lâu nhưng cai tổng Tài không hề gặp nó, cho nên bữa đó vừa trông thấy nó, lão ta đã sáng con mắt lên, run giọng hỏi tôi nó là con nhà ai? Sau khi tôi nói nó là con mình thì lão ta vỗ vai tôi bảo: "Nếu mày chịu cho con nhỏ về hầu hạ tao thì tao trả giùm mày món nợ lúa của Hai Tửng!". Lúc đầu tôi không chịu, nhưng sau đó nghĩ con gái mình dẫu sao cũng đã là thân ở đợ rồi thì ở chăn vịt với ở đợ phục vụ trong nhà họ cũng có khác gì đâu! Vậy là tôi chịu. Nhưng dặn con Xinh là không được nói cho bà biết, vẫn cứ ngày ngày ra chòi vịt rồi lén tới nhà cai tổng mà làm việc. Chẳng ngờ cai tổng Tài sinh tâm... Bà Tư hốt hoảng: - Ông ta đã làm gì con Xinh? - Tôi cũng không rõ... nhưng đêm hôm đó tôi đang nằm ngủ thì cái vong của con Xinh hiện về, báo cho biết là nó đã... chết dưới bàn tay thô bạo của cai tổng Tài! Tôi sợ điếng hồn, chạy đi tìm nó thì cai tổng Tài giấu giếm, chối tội. Sợ bà biết chuyện, nên tôi chạy vội qua chỗ mà ngày trước tôi cho con Đẹp, năn nỉ người ta cho tôi mượn con nhỏ mấy bữa. Mục đích của tôi là nhờ con nhỏ đó đóng thế vai con Xinh, vì hai đứa giống nhau như khuôn đúc, để giúp bà yên lòng. Nó sẽ làm được, bởi từ khi lớn lên con đó tâm thần không bình thường lúc tỉnh, lúc điên khùng... Nhưng khi tôi qua tới nơi thì nghe nói con nhỏ đã đi đâu mất. Cho tới khi tôi nghe bà nói nó ở nhà cai tổng Tài. Chẳng hiểu là thế nào? Bà Tư đay nghiến: - Ông giết con, hết đứa này tới đứa khác, nay ông sắp giết tới tôi nữa rồi! Tôi sẽ chết để cho ông được sống mà tiếp tục lún sâu vào tội lỗi! Sau này có chết ông cũng không còn mặt mũi nào mà gặp con cái nữa! Bà nói xong gục xuống ôm xác của Xinh. Bỗng bà bật dậy, kêu lên: - Nó... còn sống! Cái xác lúc nãy lạnh ngắt, bây giờ tự dưng có hơi ấm trở lại! Tuy nhiên, nó vẫn bất động. Bà Tư nắm lấy tay con lắc mạnh: - Tỉnh dậy đi con, Xinh ơi! Bà gọi lạc cả giọng mà Xinh vẫn trơ trơ. Chợt bà nhìn thấy trong tay con có mảnh giấy nhỏ mà nãy giờ Xinh cầm chặt. Gỡ mảnh giấy ra, trên đó chỉ có bốn chữ mà bà Tư không đọc được, phải đưa qua cho ông: - Ông coi trong này viết cái gì nè! Ông Tư Bường đọc nhanh và giật mình: - Hãy cứu em Đẹp! Ông Tư buông tờ giấy xuống, thất thần: - Họ làm gì con nhỏ rồi! Chẳng cần nghe vợ hỏi, ông phóng nhanh ra cửa, mặc dù hai chân còn yếu vì bệnh tật lâu ngày, nhưng như có một sức mạnh phi thường nào đó trợ giúp, ông đã chạy một mạch mà không thấy mệt! Khi đến nơi thì đúng vào lúc có cả chục người, trong số đó có Hai Paul và Ba Dữ, con và rể cai tổng Tài, đang nắm đầu tóc của Đẹp vừa hét lớn: - Mày giết cha tao phải không? Tiếng hét lớn đó là của Ba Dữ, lúc ấy trên tay hắn đang lăm lăm khẩu súng lục với ngón tay đặt trong cò. Paul thì nói thêm vào: - Nó chứ còn ai. Khi tôi bước vào phòng thì thấy nó vừa chạy ra, còn ba thì đã gục xuống sàn nhà! Ba Dữ lên đạn, vừa hét lần nữa: - Tao hỏi lại, mày giết ba tao phải không? Đẹp vẫn im lặng với ánh mắt đang lạc thần. Hình như cô không ý thức được là người ta sắp sửa bắn mình, nên dẫu họng súng đang chĩa về mình, cô vẫn xem như không! Tên Ba Dữ thì không như thế, hắn bắt đầu đưa cơn say máu lên đến cao độ và ngón tay của hắn ấn vào cò súng mà đôi mắt không chớp! Đoàng! Phát súng nổ! Nhưng viên đạn thay vì ghim vào đầu cô gái, đã ghim thẳng vào một bên vai của một người khác: Tư Bường! Lão vừa kịp tới và cũng kịp lao vào che ngang trước mặt con gái, đồng thời gào lên: - Chính tao đã giết! Chính tao... Lão đau đớn bởi viên đạn, nhưng vẫn cố che trước mặt con. Tên Ba Dữ như con thú đang vồ mồi mà bị chặn ngang, hắn hét to: - Thằng này là ai? Paul đứng cạnh đó vội lên tiếng: - Thằng này là ba của con này! - Chính nó đã giết ba? Tư Bường cố nói thật lớn: - Chính tao đã giết tên háo sắc đó! Một phát súng thứ hai nổ vang! Và Tư Bường gục xuống, trong lúc cô gái hoảng loạn gào lên, vừa chạy đi. Ba Dữ sau khi nổ hai phát súng hạ được người thì có vẻ thỏa mãn: - Được rồi, chỉ cần hạ được kẻ đã giết ba là xong! Hắn ra lệnh cho thuộc hạ rút lui, không truy đuổi theo cô gái. Trong khi đó thì Paul đứng yên một lúc, rồi anh ta bước theo hướng Đẹp vừa chạy. Quả nhiên chỉ vài trăm bước chân hắn đã bắt gặp cô gái nằm gục ở một bụi cây. Đứng nhìn cô gái một lúc, rồi bằng động tác nhẹ nhàng, hắn đỡ cô dậy âu yếm: - Tội nghiệp cưng quá... Thật tình, từ lúc được cha hứa giao cho riêng con nhỏ này, tuy thấy cô ta khờ khạo, nhưng sắc đẹp mặn mà của cô đã hớp hồn anh ta ngay từ phút đó! Kế xảy ra vụ cha mình bị giết, cả nhà ai cũng đổ vấy cho cô ta giết người, lòng Paul hoang mang... Cho đến lúc nãy, khi nghe Tư Bường nhận là ông ta đã giết người, thì Paul thở phào nhẹ nhõm. Anh tự hỏi, sao mình không lấy cô gái này làm vợ? Thứ nhất, khó tìm nhan sắc nào qua nổi cô gái hoa đồng cỏ nội này, thứ hai anh ta ăn chơi nhiều, gặp và lấy không biết bao nhiêu là gái làng chơi, gái làm tiền và cả những đứa con gái ham tiền, chanh chua đanh đá rồi, thấy chán! Cái anh ta cần lúc này là mẫu con gái như thế này... Không cần suy nghĩ gì thêm, Paul bế xốc Đẹp lên tay và quyết định đưa về nhà... Bà cai tổng tuy có khó chịu, nhưng sau khi nghe cả Paul và Ba Dữ tường thuật chuyện Tư Bường nhận mình là thủ phạm, rồi bị Ba Dữ trừng trị thì bà cũng nguôi giận. Bà chỉ nói với Paul: - Muốn cưới nó thì tao cũng cho, nhưng không được làm đám cưới và cũng không được cho nó có mối liên hệ gì với nhà Tư Bường... Paul đồng ý ngay. Anh ta còn nói riêng với mẹ: - Con này là đứa con song sinh với đứa ở đợ chăn vịt nhà mình. Mà con nghe nói... Anh ta hạ thấp giọng, nói chỉ cho mình mẹ nghe: - Con nghe nói chính ba đã... hại chết con nhỏ chăn vịt, cho nên... Bà cai tổng lắc đầu ngao ngán: - Tao còn lạ gì cái tính của ông ấy. Nhưng mà thôi, mọi việc cũng đã xong rồi. Họ chấp nhận cho Đẹp ở lại như trước đó mấy ngày. Lạ một điều là kể từ khi chứng kiến cảnh ông Tư bị bắn chết, hình như cô ta đã thay đổi. Cô đã tỉnh lại, không còn điên khùng như trước đây... Tuy chấp nhận ở lại nhà đó, nhưng cô ta suốt ngày không nói chuyện với ai, cũng không nhắc gì tới chuyện riêng tư. Nhất là chuyện nhà Tư Bường, hầu như cô gái không có chút gì trong đầu... Bi kịch nhà Tư Bường là bi kịch lớn, nhưng ở vào thời mà cái ác luôn ngự trị và lộng hành bởi những kẻ có quyền thế thuộc cường hào ác bá nông thôn, thì việc dù lớn đến mấy rồi cũng chìm xuống, qua mau... Sau khi Tư Bường chết thì mấy bữa sau bà Tư cũng chết theo do quá đau buồn, kiệt sức. Mà cũng có thể nói là bà đã theo con gái thương yêu nhất của mình: Hai Xinh. Hôm đó, sau hơn một đêm ôm xác Xinh gào khóc, sáng hôm sau người ta thấy bà Tư nằm chết bên cạnh xác con và chồng. Chẳng biết ai đã đem xác ông Tư về đây từ lúc nào, đặt nằm song song với vợ... Chẳng còn ai trong nhà để chứng kiến việc diễn ra sau đó... Bởi khi người hàng xóm thương tình đem chôn xác họ thì chỉ thấy có xác vợ chồng Tư Bường. Còn xác của Xinh thì chẳng thấy đâu, mặc dù khi chết, bà Tư vẫn ôm xác con trong lòng... Chỗ cái xác Hai Xinh nằm vẫn còn lại bộ quần áo của cô, và nếu ai nhìn kỹ sẽ thấy dưới đất còn có một tượng Phật làm bằng gáo dừa... Chính cái tượng đó đã làm nên điều kỳ diệu sau này. Sau đêm chôn xác vừa xong ngôi nhà của ông bà Tư chẳng còn một ai, vậy mà vẫn sáng đèn! Lúc đầu người quanh xóm tưởng đèn cũ còn lại, nên họ nghĩ khi cháy hết dầu nó sẽ tự động tắt. Nào ngờ sang đêm sau ngọn đèn vẫn cháy. Và nhiều đêm sau nữa, ánh sáng đó vẫn còn trong ngôi nhà bỏ hoang. Người ta đồn ngôi nhà ấy có ma! *** Việc Paul lấy vợ và ở nhà, không đi lăng nhăng nữa đã là một việc lạ. Nhưng còn lạ hơn nữa là anh ta tự dưng đâm ra hiền, ngoan, không hung hăng như trước. Chính bà cai tổng cũng phải ngạc nhiên: - Mày sao vậy Paul? Bộ con nhỏ đó nó hớp hồn mày rồi hả? Paul không giải thích, nhưng rõ ràng anh ta đã thay đổi lớn. Đẹp tuy không đanh đá, dữ dằn, nhưng ánh mắt của cô lúc nào như cũng có thần, có lửa, khiến chẳng riêng gì Paul, mà ngay cả bà cai tổng, vốn tối ngày cái miệng không ngớt la người này mắng người kia mà cũng phải e dè, ít khi dám nhìn vào mắt con dâu! Một lần bà hỏi riêng Paul: - Con đó nó có cái gì hấp dẫn đâu mà mày mê dữ vậy? Câu hỏi đó thường khi thì Paul chỉ ậm ừ hoặc trả lời chiếu lệ, nhưng lần này anh sừng sộ lại mẹ mình: - Con không muốn má có ý nghĩ về cô ấy như vậy! Bà cai ngạc nhiên: - Mày dám ăn nói với tao vậy hả Paul? Paul tỉnh bơ: - Vợ con thì để con lo, má cứ lo chuyện của mình đi! Mà con cũng cho má biết, từ nay con sẽ dọn ra căn phố ngoài chợ ở, con cũng quản lý luôn dãy phố cho mướn ngoài đó và cái nhà máy bánh kẹo. Má đừng bận tâm tới những thứ đó nữa! Bà cai lồng lộn lên: - Mày dám vậy hả Paul? Cha mày mới nằm xuống có mấy bữa mà mày đã... đã... Bà uất ức đến nghẹn cả họng. Trong lúc Paul vẫn điềm nhiên: - Lâu nay con chỉ lo ăn chơi, không dính tới chuyện quản lý tài sản này, bây giờ đã đến lúc con trực tiếp lo cho tương lai của mình. - Mày... mày... Bà có bệnh tim, nên mỗi khi giận lên là làm bà mệt. Paul không lạ gì chuyện ấy nhưng anh ta vẫn thản nhiên bỏ đi trong khi mẹ mình gục xuống đó, thở hơi lên. Cũng may, có mấy đứa hầu đỡ bà vào phòng cấp cứu. Bà ngất đi có lẽ cũng khá lâu, đến khi tỉnh lại thì vô cùng ngạc nhiên khi thấy có một cô gái đang ngồi cạnh giường. Một cô gái lạ. - Cô là ai mà sao vào đây? Bà cai định gọi mấy đứa ở để hỏi thì cô gái kia đã lên tiếng: - Bà đừng hỏi, con là Sáu Na, được cậu Hai mướn về để phục vụ bà. Bà cai còn chưa hết giận thằng con, nên xẵng giọng: - Nó còn muốn tôi chết chứ thương yêu gì mà chăm sóc! Nhưng cô gái đã khéo léo nói: - Bà đừng lo, con trai mê vợ trẻ thì có gì lạ đâu. Chừng vài tháng nữa là chán thôi. Nhất là khi chị ta có bầu, treo mỏ thì cậu Hai sẽ quay về thôi. - Tôi còn cầu cho nó đi luôn cho đỡ chướng mắt. Mà con vợ nó nữa, thứ bơ vơ, mới được cưng yêu mà đã xúi chồng ra riêng rồi, bất kể đạo lý con dâu! Cô gái tên Sáu Na có vẻ sành tâm lý: - Trẻ lòng non dạ mà bà. Ai bảo bà cưới cho cậu Hai làm chi, bây giờ phải chịu... Bà cai "xí" một tiếng lớn: - Ai mà cưới đồ đó! Sáu Na tỏ ra sành chuyện: - Hồi mấy tuần trước chính bà tuyên bố muốn qua nhà cô ta để hỏi cưới cho cậu Hai mà! Chợt giật mình, bà cai hỏi lại: - Cô ở đâu mà rành chuyện dữ vậy? - Chẳng riêng gì con, mà người ở xứ này ai mà chẳng biết bà muốn làm sui gia với nhà Tư Bường! Bây giờ toại nguyện rồi, sao bà... Bà cai chặn ngang: - Cô không biết rõ thì đừng xen vào chuyện nhà tôi! Nàng ta vẫn nói: - Con chỉ muốn giúp bà thôi. Hiện nay cậu Hai đã dẫn vợ ra riêng, còn cô Ba thì theo chồng ở Sài Gòn, vậy nếu không ai chăm sóc thì liệu bà có chống chọi nổi với bệnh tim ngày càng nặng không? Có phải hiện nay mỗi khi giận lên là bà phát mệt không? Và còn nữa, nửa đêm bà thường khó thở, nếu không có người đỡ dậy thì bà có thể chết luôn trong giấc ngủ! Thấy cô ta nói đúng hết những bệnh trong người mình, bà cai kinh ngạc: - Sao cô biết? Sáu Na nhẹ giọng: - Thật ra trước khi được cậu Hai mướn, con đã tìm hiểu về nhà này, về bà. Lúc đầu con từ chối, bởi con ngại ông cai và cậu Hai. Nhưng giờ đây cả hai người đó đều không còn ở nhà, cho nên con mới... Thật ra trong lòng bà cai lúc này đang hụt hẫng, sau khi thằng con trai duy nhất dám tách ra riêng khi cha nó vừa chết đang làm cho bà đau đớn... Bởi vậy, cô gái này xuất hiện thật là đúng lúc. Bà không ngần ngại nói: - Dẫu chưa biết lai lịch cô, nhưng nếu cô thật lòng thì tôi cần có cô giúp đỡ. Cô gái nhanh nhảu: - Con sẽ làm hết sức mình để bà hài lòng, nhưng tốt nhất là bà đừng để con gặp cậu Hai. Con sợ... - Được rồi, tôi sẽ không cho nó biết. Mà con yên tâm, nó ra chợ ở rồi, không về nữa đâu. Sự thân thiện nhanh chóng đó chính bà cai tổng cũng không ngờ. Bà cảm thấy gần gũi và tin tưởng cô ta... Đêm đó, bà còn gợi ý: - Hay là con ngủ lại trong phòng này với ta. Như con biết đó, bệnh của ta lâu nay cứ nửa đêm là phát lên. Ông ấy còn sống tuy không giúp được gì nhiều, nhưng trong những lúc như vậy cũng khiến cho ta yên tâm hơn. Bà tha thiết quá nên Sáu Na mới nhận lời. Tuy nhiên cô nói: - Cái tật của con khi ngủ hay nghiến răng, e bà ngủ không được. Vậy bà cho phép con ngủ ở gian phòng bên trong kia, con thấy có cánh cửa ăn thông qua... Bà cai tổng giật mình! Thật ra đó là phòng chứa tiền, mỗi khi thu tiền lúa ruộng về, mọi thứ đều dồn vào đó rồi kiểm lại từ từ... Tuy lúc này tiền đã được cho vào tủ sắt khóa cẩn thận, nhưng người ngoài làm sao cho vào đó ngủ được! Bà hơi ngần ngại: - Phòng đó thật ra... Bà chưa nói dứt lời thì Sáu Na đã nói: - Cũng không sao. Thôi, để con bắc ghế bố ra ngoài cửa ngủ, khi nào bà có cần gì thì con có mặt ngay! Sau mấy giây suy nghĩ, bà cai quyết định ngay: - Mà cũng không sao, con cứ vào đó ngủ. Chỉ có điều do là phòng cất đồ riêng, nên có hơi chật và không có cửa sổ, e con ngủ sẽ hơi bí. Na hí hửng: - Con ngủ cực quen rồi, nên có được căn phòng ấy đã là tốt lắm! Thấy Na không đem theo quần áo chi, bà ái ngại: - Rồi làm sao con có đồ thay? Bà bảo mấy đứa ở sang phòng của Paul, tìm được hai bộ đồ ngủ rất mới đem về. Bà ngắm nhìn rồi nói: - Có thể thằng Paul mới mua cho con vợ nó. Vậy con lấy mặc tạm đi, rồi mai ra chợ sắm một số đồ mới. Sáu Na mặc vào và thật bất ngờ, bộ đồ ngủ vừa y, chẳng khác nào quần áo của mình. Bà cai cũng ngạc nhiên: - Vậy ra con với vợ thằng Paul cùng cỡ với nhau. Mấy đứa ở khác thấy cô gái lạ được trọng dụng ngay thì có ý so bì. Bọn họ bàn với nhau: - Không khéo mai mốt bà chủ cưới luôn cô này cho cậu Hai lắm à! Nhờ có Na ngủ với bà cai nên đêm hôm đó, đám tôi tớ khác được yên giấc, chẳng phải bị gọi giật dậy lúc nửa đêm như trước đây! Mà bà cai cũng vậy, bà ngủ một giấc ngon lành, mãi đến gần chín giờ sáng hôm sau... Việc đầu tiên của bà cai là gọi Sáu Na: - Con dậy chưa Sáu? Chẳng nghe đáp, đích thân bà cai phải bước vào phòng nhỏ và... bà há hốc mồm ra, điếng hồn khi nhìn thấy một xác người treo lơ lửng giữa phòng! - Bớ... Bà chỉ kêu được đúng một tiếng rồi đứng chết lặng. Phải khá lâu sau, bà mới ráng bò lê ra ngoài và ú ớ la lên. Lúc tôi tớ bâu lại và nhìn kỹ thì có người thảng thốt kêu: - Con Hai Xinh đây mà! Bà cai kinh hãi: - Sao sao nó lại ở đây? Một đứa giúp việc rành chuyện: - Nó bị mất tích từ trước khi ba má nó chết, mọi người đã kiếm nó tứ tung, không ngờ lại ở đây! Mà sao nó lại... Bà cai tổng vẫn chưa tin: - Vậy còn con Sáu đâu? - Sáu nào? Đây là con Xinh, con Tư Bường, con nhỏ chăn vịt... Bà cai nhớ lại chuyện đêm qua, bà vẫn quả quyết: - Nó đòi ngủ trong phòng đó, lúc nửa đêm nó còn ra đỡ tao dậy... Chợt nghĩ tới cái két sắt trong phòng, bà hối hả chạy vào, nhưng khi nhìn thấy cái xác còn đó thì dội ra, bà giục một đứa làm công: - Mày chạy vào coi cái tủ sắt của tao có... có bị gì không? Đứa ở chạy vào nhìn rồi hốt hoảng kêu lên: - Cửa tủ mở tung bà ơi! - Trời ơi! Bà cai hét lên và bất kể sợ sệt, bà tung cửa phòng chạy vào và đứng khựng lại trước cái tủ sắt đựng tiền bạc, nữ trang chỉ còn lại tủ trống không! Và chẳng hiểu sao, lúc ấy có khá đông người lạ mặt xuất hiện. Một người dõng dạc nói: - Chúng tôi nhận được lời tố cáo ở đây có xảy ra án mạng, vậy mọi người hãy bước ra để chúng tôi khám hiện trường! Bà cai đã ngất lịm... *** Dù Ba Dữ có thế lực, nhưng người đứng ra điều tra nội vụ lại là một đối thủ cạnh tranh quyền lực trực tiếp của anh ta, nên vụ việc không thể xếp lại theo như yêu cầu của Ba Dữ. Bà cai là người bị bắt giữ đầu tiên, sau đó tới Hai Paul.Ánh Nguyệt, con gái bà cai phải về nhà lo quản lý. Chị ta giống y tính của mẹ, đanh đá, hung ác, nên xưa nay không được ai ưa. Và dù có sợ oai Ba Dữ nhưng lần này mọi người thảy đều tỏ thái độ ra mặt. Họ bảo nhỏ với nhau: - Để coi con quỷ cái này nó làm sao trong vụ này! Tôi vái cho... Cái xác của Xinh đúng ra phải được quàn lại vài hôm để chờ điều tra, nhưng chỉ đến chiều hôm đó thì nó bốc mùi thối không chịu nổi, nên Ánh Nguyệt yêu cầu cho chôn ngay. Buộc lòng nhà chức trách chấp nhận cho chôn trên mảnh vườn sau nhà, để nếu cần thì có thể bốc mộ lên khám nghiệm lại. Xác chôn chưa đầy hai mươi bốn giờ đã phải bốc lên theo yêu cầu của pháp y. Bởi người ta nhận được lời tố cáo là Hai Xinh đã chết do bị bức tử sau khi bị... cưỡng hiếp! Kết quả kiểm tra đã minh chứng cho điều đó! Mà trong nhà cai tổng Tài lúc xảy ra án mạng đâu có ai là đàn ông ngoài Hai Paul? Cho dù Paul chối tội nói rằng mình dẫn vợ mới cưới về sống ở ngôi nhà ngoài chợ, nhưng khi gọi cô Đẹp ra đối chứng thì chẳng tìm thấy cô nàng. Do vậy, nhân viên điều tra đã kết luận: Paul đã dụ dỗ, cưỡng bức nạn nhân, rồi với sự tiếp tay của mẹ, đem xác vào phòng riêng, ngụy tạo cảnh treo cổ tự tử! Chi tiết bà cai cung cấp thêm về một cô gái tên Sáu Na vào ở giúp việc lại càng cho thấy là bà ta nói dối, bởi chẳng tìm thấy một chứng cớ nào về sự hiện diện của một người như vậy. Hội đủ các yếu tố lại, việc nhóm điều tra kết luận hai thủ phạm chính là Paul và bà cai tổng được sự đồng tình cao. Nhưng những bất lợi cho nhà cai tổng Tài chưa dừng lại ở đó. Sáng hôm sau nữa bỗng thật bất ngờ, người ta bắt gặp Ánh Nguyệt đang cầm cuốc đào ngôi mộ mới chôn của Hai Xinh! Hỏi tại sao làm vậy thì Nguyệt quắc mắt lên, nói khiến ai cũng sửng sốt: - Phải diệt nó tận gốc! Tôi phải thiêu đất nó ra thành tro mới hả dạ! Dĩ nhiên là nàng ta bị bắt giữ. Như vậy nhà cai tổng Tài cho đến lúc đó toàn bộ đã ở trong tù. Người còn lại duy nhất bên ngoài lại chỉ là chàng rể. Ba Dữ thường khi hét ra lửa, bỗng dưng lại xếp vó, co càng. Ai hỏi gì về vụ việc thì anh ta chỉ lắc đầu đáp gọn: - Tôi không biết! Anh ta nghĩ là mình đứng ngoài cuộc vụ này. Tuy nhiên, đối thủ của anh ta là một tay còn hiểm ác gấp bội, anh ta đã cố moi ra chuyện Ba Dữ bắn chết Tư Bường mà không có một bằng chứng nào. Do vậy, cuối cùng Ba Dữ cũng bị cách chức và nặng nề hơn, còn bị bắt giam về tội giết người! Luật trời chăng? Một tháng sau... Diễn biến quá đột ngột, đến nỗi những người quen biết với gia đình cai tổng Tài cũng không thể ngờ được! Cái tin cả mấy người nhà cai tổng lúc bị giam trong khám đã chết gần như cùng một lúc, đã làm rúng động thiên hạ! Bà cai, Paul và vợ chồng Ánh Nguyệt đều bị giam riêng bốn phòng khác nhau của khám lớn. Đến nửa đêm hôm đó, bạn tù phát hiện là cả bốn người họ đều tự treo cổ và chết tự lúc nào rồi! Một dòng họ nổi tiếng, những con người giàu nứt đố đổ vách một thời, lại chết lạ thường, hầu như bị xóa sổ khỏi thế gian này mà không để lại chút hoài nghi nào trong thiên hạ? Điều này là như vậy, và rồi cũng phôi pha trong tâm trí mọi người. Chỉ bởi đơn giản, những con người ấy khi sống đã gây quá nhiều tai tiếng, tội ác ngập đầu... Âu cũng là luật đời: Gieo gì gặt nấy! *** Vào một ngày cuối thu. Tại ngôi nhà của vợ chồng Tư Bường. Nhà vốn vắng chủ từ khi chủ nhà chết, bỗng có sự xuất hiện của một người. Người đó là Đẹp, cô em gái song sinh với Hai Xinh. Người mà giờ đây trên danh nghĩa là kẻ duy nhất còn lại của dòng họ cai tổng Tài, để quản lý số tài sản khổng lồ của họ. Cô nàng trở về nhà thật lặng lẽ, hầu như chẳng một ai hay biết. Cô đốt hương lên bàn thờ cha mẹ do chính cô mang vật dụng về tạo dựng lên, và khấn rất tôn kính: - Con bất hiếu Nguyễn thị Xinh mà cha mẹ vẫn thường gọi là con Hai, con Hai Xinh, xin cúi đầu tạ tội cùng vong linh cha mẹ! Chính vì con mà cha mẹ phải mạng vong, và cũng vì con mà đứa em song sinh của con cũng phải mất mạng để con được ẩn trong lốt nó mà tiếp tục sống. Mạng con giờ đây là của ba người, đúng ra con không được quyền nhận, nhưng số trời như vậy, con xin làm theo... Cô khấn vừa xong thì một người nữa xuất hiện. Đó là ông lão mà cha mẹ cô đã gặp trước khi chết. Ông lặng lẽ lạy trước bàn thờ rồi quay sang cô gái: - Ta thay mặt người được cha con giao con, đã nuôi con khôn lớn từ khi người ấy qua đời. Ta cũng không biết sự thể ra thế này, chỉ làm theo những gì lương tâm mách bảo. Ta cũng không hề biết chuyện đã làm vừa rồi... Chẳng hiểu ta đã góp một phần vào cái chết của cha mẹ con hay không, khi chính ta đã tới và dẫn dắt họ... Cô gái chặn ngang lời ông: - Ông không hề có lỗi trong vụ này. Mọi thứ là do con, do Hai Xinh này khiến ông như vậy. Chính ông đã giúp cho con một phần trong việc báo oán. Nếu không có ông thì chưa chắc ngày nay mọi việc được như vậy. Một lần nữa, con cám ơn và xin ông nhận cho một lạy này... Cô sụp lạy rồi vái vong linh cha mẹ mình: - Thưa ba má, ông lão này tuy với con không cùng chung máu mủ, nhưng ông đã thương con, nuôi dưỡng con khôn lớn, nên con kêu ông bằng ông ngoại, và con xem ông như ông ngoại ruột của mình. Ông không còn ai là thân nhân, do vậy từ nay ông sẽ ở đây cùng hủ hỉ với ba má, và nhờ ông mà con đỡ tủi thân trong những ngày sắp tới... *** Cũng từ đó, trong ngôi nhà lá rách nát của vợ chồng Tư Bường, có hai người mới tới ở. Mới, nhưng họ không lạ với chòm xóm. Mà trái lại, họ được mọi người yêu thương.Thấy Đẹp quá giống chị mình, nên mọi người đều gọi cô là Xinh. Cô chỉ cười và nói: - Con chính là Xinh, nhưng từ nay con thích được gọi bằng thứ hơn. Cứ gọi con là con Hai. Người ta lại gọi một cách trìu mến hơn: Nàng Hai. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 35
NƯỚC MẮT BA CÔ Tuy chỉ mới ra khỏi thành phố khoảng năm chục cây số, nhưng tự dưng Hiển buồn ngủ đến nhướng mắt không lên. Anh lại là người lái xe, nên cuối cùng đành phải tấp xe vào lề, nói với mấy người đi chung xe: - Tự dưng buồn ngủ quá, có lẽ kiếm ly cà phê uống rồi mới đi tiếp được. Một người lên tiếng hỏi: - Đây về Gò Công còn bao xa nữa? Hiển đáp: - Còn khoảng bằng này cây số nữa. Người vừa hỏi là Thu Nguyệt, cô em họ vừa thi đậu đại học, là người được thưởng chuyến đi nghỉ mát này. Nghe Hiển đáp, cô ngao ngán: - Còn xa mà trời đang chuyển mưa nữa... Cô định đề nghị tìm chỗ nghỉ ngơi, nhưng nhìn chung quanh thấy đồng trống nhiều hơn là nhà, nên cô im lặng. Chợt Hiển chỉ tay về phía xa: - Có mấy căn nhà ngói ở đằng kia, ta tới đó dừng xe nghỉ một lúc và nếu lỡ trời có đổ mưa thì cũng có nơi mà trú tạm. Ai trên xe cũng tán đồng. Hiển cố căng mắt ra, cho xe chạy tới đó cách khoảng non cây số. Tới nơi, anh nhận ra mấy ngôi nhà ngói mà anh nhìn thấy đằng xa là một cụm ba ngôi biệt thự mới cất, mái ngói còn đỏ mới, nhưng cửa cả ba ngôi nhà đều đóng kín, cả cổng ngoài cũng khóa chặt. Hơi thất vọng, Hiển bảo: - Cũng như không. Chắc nhà vắng chủ... Anh định lùi xe ra lộ lớn thì bất chợt trời đổ mưa! Cơn mưa lúc đầu tưởng đâu nhỏ, nhưng chỉ chưa đầy năm phút sau thì nặng hạt và mịt mù trời đất! Thu Nguyệt hơi hoảng: - Người ta nói trời mưa lớn mà ngồi trong xe hơi đậu giữa đồng trống thế này dễ bị... sét đánh lắm đó. Hiển cũng hiểu như vậy, nên anh lên tiếng: - Chạy đi tìm nơi khác thì không còn kịp nữa rồi, mà vào nhà này lại cũng không xong. Bây giờ có ai dám leo rào vào không? Vinh là anh chàng bám theo Thu Nguyệt chuyến này, cũng muốn chứng tỏ bản chất người hùng của mình nên lên tiếng ngay: - Chuyện đó mình làm được. Nhưng chỉ ngại nhà có chó dữ... Tuy nói vậy nhưng anh ta cũng mở cửa xe bước xuống. Nguyệt đưa cho cây dù và dặn: - Anh che dù cho đỡ ướt, đồng thời dù cũng là phương tiện tự vệ hữu hiệu nữa. Anh nhớ bài học võ Vovinam chứ? Được người yêu động viên, nên Vinh không chút ngại ngần, anh che dù và đầu tiên bước tới cổng lắc thật mạnh rồi gọi lớn vào trong: - Nhà có ai không cho hỏi thăm? Dĩ nhiên là không hề có ai đáp, bởi mưa gió quá lớn, nhà lại thụt xa bên trong, nên tiếng kêu đó dù cho có người trong nhà cũng chẳng ai nghe thấy. Bỗng thấy Vinh gỡ ống khóa ra cầm trên tay, sau đó anh mở cánh cổng rộng ra, đủ cho Hiển lái xe hơi vào. Khi mọi người vào trong rồi, Vinh mới giải thích: - Cái ống khóa chỉ móc đó chứ không bấm lại, nên chắc là chủ nhà mới đi đâu đó ra ngoài. Lát nữa có gì mình sẽ giải thích là mạo muội vào khi chưa xin phép... Thu Nguyệt nói: - Trú mưa mà, chắc chẳng ai trách cứ mình đâu! Lúc này Hiển mới đưa mắt quan sát một lượt. Chợt anh ngạc nhiên khi thấy sau cánh cửa kính đóng chặt là một... cỗ quan tài nằm giữa nhà! - Trời ơi! Nghe tiếng kêu sửng sốt của Hiển. Nguyệt quay lại nhìn và tới phiên cô cũng gần như líu lưỡi... - Quan... quan tài... Cô bám chặt lấy Vinh, khiến anh chàng được dịp chứng tỏ bản chất người hùng của mình: - Có gì mà sợ dữ vậy? Anh ta nhìn theo ánh mắt của Hiển và Nguyệt, đến khi thấy cỗ quan tài thì cố chứng tỏ là mình không sợ: - Thì có gì đâu, chắc nhà mới có người chết... Anh ta rời hàng hiên, bước tới bên cánh cửa đóng kín, quan sát kỹ hơn. Quanh quan tài không có nhang đèn hay bất cứ đồ lễ nào như các cuộc quàn xác khác, thêm vào đó là sự vắng vẻ đến kỳ lạ... - Sao không có ai vậy kìa? Hiển nhìn kỹ và nói: - Cũng có thể quan tài không có xác ai. Bởi mấy nhà giàu thường hay mua trước áo quan cho người già chưa chết... Nguyệt rùng mình: - Áo quan mua sẵn thì người ta để ngoài, chứ ai để giữa nhà như vậy! Hiển nhìn sang hai tòa nhà gần đó, anh bàn: - Hay là ta qua bên kia, đỡ ớn hơn! Thu Nguyệt ủng hộ ngay. Cô còn nói: - Phải biết nhà có quan tài như vậy thì thà ở ngoài mưa còn hơn. Cả ba đội mưa chạy sang ngôi nhà đối diện. Cũng là một biệt thự giống như ngôi nhà kia. Cửa cũng đóng kín... Lần này thì Vinh là người vào trong trước tiên, và anh cũng la lên trước nhất: - Bên này cũng có nữa! Nguyệt không hiểu, hỏi lại: - Có cái gì? - Cỗ quan tài! Hiển nghe nói thì quay lại và nhìn thấy cũng một quan tài giống hệt bên nhà kia! Anh hơi rúng động: - Sao kỳ lạ vậy? Nguyệt tái xanh mặt mày, cô ôm cứng lấy Vinh, vừa run giọng nói: - Mình đi ra đi anh... Hiển bước gần cửa kính nhìn vào, lần này anh lại nói khác: - Đúng là trong quan tài có xác! Anh chỉ tay về phía ngọn đèn dầu đặt dưới quan tài rồi nói: - Như thế đó là quan tài có chứa xác. Người ta đốt ngọn đèn để cho xác không thành... ma! Nguyệt nghe nói cô càng quýnh lên: - Đi mấy ông ơi! Cô kéo tay Vinh chạy thẳng ra ngoài mưa, nhắm hướng chiếc xe đậu định mở cửa leo lên, nhưng bỗng cô va phải một ai đó rồi cả hai đều ngã nhào! - Trời ơi! Vinh không bị ngã, anh đỡ Nguyệt dậy vừa hỏi: - Em đụng cái gì vậy? Nguyệt bò dậy, chưa kịp trả lời đã nghe ai đó lên tiếng: - Mấy người là ai? Nghe giọng lạ, Vinh hỏi lại: - Ông là ai vậy? Giọng kia khó chịu: - Mấy người là ai, vào nhà người ta mà còn hỏi nữa là sao? Lúc này Hiển đi sau, anh vừa tới nghe được, điềm tĩnh nói: - Thưa chú, chúng cháu bị cơn mưa lớn quá không thể đậu xe ngoài kia được, nên mạo muội mở cổng vào. Không ngờ... Một người đàn ông đứng tuổi đang lò mò đứng dậy sau cú ngã do bị Thu Nguyệt đụng. Ông nhìn không rõ những người trước mặt mình, nên vừa chạy thẳng vào ngôi nhà thứ ba vừa nói với lại: - Mấy anh vào đây! Thu Nguyệt đã bị ướt nên nhất quyết không chịu trở vào, cô bảo: - Mình ra ngoài đi anh Hiển! Vinh cũng chiều theo ý người yêu: - Hay là mình đi Hiển ạ! Hiển thấy đã có người, nên anh yên tâm, vội bước theo ông già. Lúc ấy người anh cũng đã ướt đẫm, nên vừa bước vào nhà thì đã phải dùng tay vuốt vội nước đọng trên tóc, khắp mặt. Vừa vuốt xong, bỗng anh hốt hoảng khi nhìn vào trong cửa kính. Cũng vẫn là một cỗ quan tài, giống hệt như hai cỗ quan tài ở hai ngôi nhà kia! - Sao... sao lại... Ông già mở cửa phòng kính và mời: - Nếu thật sự cậu muốn trú mưa thì vào đây. Thấy Hiển lưỡng lự, ông ta nói: - Cậu ngại cỗ quan tài này phải không? Vậy thôi mời cậu sang đây, nơi ở của tôi. Nói xong, ông ta đóng cửa lại và dẫn Hiển chạy qua một căn nhà nhỏ gần đó. Chẳng hiểu sao, Hiển ngoan ngoãn chạy theo mà quên cả hai người bạn còn ngoài mưa. Cơn mưa càng lúc càng nặng hạt, lúc bước vào gian nhà nhỏ hơn, chưa kịp ngồi xuống thì chợt Hiển nghe có tiếng hét rất lớn từ bên ngoài. Anh hốt hoảng: - Tiếng của Thu Nguyệt! Anh tuôn chạy ra, phía sau là tiếng hỏi lớn của ông già: - Cậu chạy đi đâu vậy? Coi chừng nguy hiểm! Hiển chạy trở lại sân, nơi Thu Nguyệt và Vinh còn ở đó. Lờ mờ trong màn mưa, Hiển thấy chiếc xe đậu nhưng không nhìn thấy hai người bạn. Anh lên tiếng gọi lớn: - Nguyệt ơi! Vinh ơi! Không có tiếng đáp. Chợt khi ấy lại một tiếng thét lớn của Vinh từ phía sau lưng, Hiển hốt hoảng: - Họ ở trong đó! Nơi phát ra tiếng hét là chỗ ngôi nhà thứ ba mà Hiển vừa rời khỏi. Anh không suy nghĩ thêm, vội chạy bay về hướng đó: - Các bạn ở đâu? Không có tiếng trả lời và cũng không còn nghe la hét nữa... Lúc này chỉ có tiếng mưa, tiếng gió thổi. - Bác ơi! Lần này Hiển gọi ông già lúc nãy. Nhưng cũng không nghe tiếng đáp lại. Anh phải gọi lớn hơn: - Bác ơi, giúp cho mấy người bạn cháu với! Lời anh vừa dứt thì cũng là lúc chân anh giẫm lên một xác người, khiến anh bị ngã nhào. Rồi hầu như Hiển không còn biết gì nữa... *** Khi tỉnh lại, Hiển và hai bạn rất đỗi ngạc nhiên khi thấy mình đang nằm trên xe, mà chiếc xe lúc ấy đang đậu ở giữa đoạn đường vắng. Trời đã hết mưa và mặt trời vừa nhô lên sau rặng tre. Hiển ngạc nhiên kêu lên:- Không lẽ mình đã ở đây suốt đêm? Nhìn đồng hồ tay, Vinh sửng sốt: - Đúng là qua một đêm rồi! Thu Nguyệt cảm thấy ê ẩm cả người, cô nhớ lại chuyện hôm qua thì cảm giác sợ hãi vẫn còn, nên giọng hơi run: - Ngôi nhà đêm qua... Làm sao mình thoát ra được? Hiển nhìn lại phía sau, anh kêu lên: - Nó ở kia kìa! Hai người nhìn theo tay chỉ của Hiển, nhận ra mái ngói của ba ngôi nhà ở cách đó không xa lắm. Thu Nguyệt giục: - Mình đi đi Hiển! Vinh cũng mất vẻ tự tin: - Đúng là không nên ở đây... Vừa khi ấy có một người đi ngang, Hiển lên tiếng hỏi: - Phiền chị cho hỏi thăm, ba ngôi nhà ngói đằng kia là của ai vậy? Chị đàn bà nghe hỏi thì nhìn sững ba người trên xe rồi nhẹ lắc đầu: - Tôi cũng... không biết. Chị ta định bỏ đi, nhưng chẳng hiểu sao lại quay lại và hỏi: - Cậu ở xa đến phải không? - Dạ phải. Chúng tôi muốn biết... Chị ta đáp thật gọn: - Nhà ma! Hiển ngạc nhiên thì ít, mà Thu Nguyệt lại nghe lạnh cả người, cô líu lưỡi: - Nhà... nhà có... ma là sao? Chị nọ lặp lại: - Thì nhà của ma! Do ma ở... Chị ta bước đi rất nhanh nên Hiển không kịp hỏi thêm. Hiển thẫn thờ nhìn theo, anh lặp lại như không tin: - Nhà có ma... phải chăng... Nhớ lại ba cỗ quan tài trong ba gian nhà, Hiển lẩm bẩm nói: - Phải chăng... đó là nhà mồ? Anh thay vì chạy thẳng ra đường lớn, lại rồ ga cho chạy trở lại gần ngôi nhà hơn, Thu Nguyệt la to: - Anh chạy tới đó tôi nhảy xuống xe bây giờ! Nhưng lúc ấy chiếc xe đã tới cách ba ngôi nhà khoảng chưa đầy trăm thước, Hiển ngừng lại cạnh một người đàn ông đang xách cần câu từ ruộng bước lên và hỏi: - Chú ơi cho cháu hỏi thăm... Anh đưa tay chỉ vào ngôi nhà ngói, chưa kịp hỏi thì người kia đã lên tiếng trước: - Cậu muốn hỏi ngôi nhà ma hả? Ở đây ai mà không biết nó... - Nhưng... sao chẳng ai sợ? Hay làm gì để ma không ở... Nghe Hiển hỏi ngớ ngẩn, ông ta vừa đưa tay quệt mồ hôi trán vừa nói tiếp: - Ma nhưng chưa thấy phá phách gì ai, nên dân ở đây cũng đã quen... Tuy ông ta nói thế, nhưng Thu Nguyệt vẫn sợ: - Đi đi anh Hiển! Người đàn ông nọ tỏ ra thích thú kể chuyện ma, nên nói một hồi: - Ở đây ai mà không biết chuyện hồn ma ba cô! Người ta gọi là tam cô trinh nữ! Câu chuyện đã hấp dẫn Hiển, một người khoái chuyện lạ, anh hỏi tới: - Bộ họ chết trẻ lắm sao mà gọi là trinh nữ? Người nọ nhìn vào xe thấy Thu Nguyệt nên bảo: - Có lẽ trẻ hơn cô này và cũng đẹp như vậy! Thu Nguyệt nghe mình bị đem so sánh với ma thì la lên oai oái: - Tôi không phải là ma! Tôi... tôi... Cô đưa cả hai tay ôm lấy mặt, nhích sát vào người Vinh. Người nông dân kia bật cười: - Ma mà nhát thì càng trốn nó càng nhát dữ hơn! Hiển còn tính hỏi thêm, nhưng cũng như chị lúc nãy, bác nông dân bỏ đi rất nhanh. Hiển rồ ga tới nữa, nhưng lần này Thu Nguyệt quyết liệt hơn: - Anh mà tới nữa thì em chết liền cho anh coi! Cô mở cửa xe, Hiển hốt hoảng: - Thôi thì để anh cho xe quay lại! Hiển đành phải chạy ra đường lớn, anh vẫn liếc nhìn về phía ba ngôi nhà ngói, tiếc rẻ: - Phải chi mình có thì giờ tìm hiểu thêm, có lẽ thú vị lắm... Thu Nguyệt la lên: - Anh điên rồi sao cứ nhắc chuyện ma quỷ đó hoài vậy! Ma mà thú vị gì! Cũng may là đêm qua... Giờ Vinh mới lên tiếng: - Lúc tụi này bước vào nhà thứ ba, vừa nhìn thấy cỗ quan tài trong đó, chưa kịp lùi ra thì như có ai đó ngáng chân, làm cả hai ngã cùng lúc! Hiển kể lại: - Lúc mình vừa chạy tới thì giẫm phải ai đó, mình cũng ngã! Thu Nguyệt càu nhàu: - Anh đạp phải em chứ còn ai nữa, người em giờ vẫn còn ê ẩm! - Anh cứ tưởng cả hai đang bị nguy... Nguyệt làu bàu: - Thấy ba cỗ quan tài cùng lúc mà còn gì nữa! Em không tưởng tượng nổi... Nghe hai bạn phàn nàn, Hiển không nói gì, bởi lúc đó trong đầu anh đang có một ý nghĩ gì đó chưa tiện nói ra... Họ về tới Gò Công vào trưa hôm đó. Đáng lý ra Hiển phải ở lại cùng vui với cô em họ Thu Nguyệt và bà con ở đó, nhưng hơi bất ngờ, anh nói: - Anh có một việc rất cần phải về Mỹ Tho. Vậy Nguyệt và Vinh ở lại chơi, ngày mai anh sẽ về đón. Thu Nguyệt không vui: - Em ở đây mà thiếu anh thì còn gì là vui nữa! Đầu têu mà vắng mặt... Hiển đành cười trừ rồi vội vọt xe đi nhanh. Ra ngoài thay vì hướng về Mỹ Tho, Hiển ngược đường về hướng vừa qua. Anh đã quyết định tìm lại ba ngôi nhà... ma! Nguyên nhân nào khiến Hiển quyết định như vậy, ngay lúc này anh cũng không thể lý giải được, chỉ thấy trong lòng mình như có sự thôi thúc khó hiểu... Gần hai tiếng sau, anh đã có mặt ở trước cổng ba ngôi nhà. Sau một lúc suy tính, cuối cùng Hiển cho xe hơi tới gởi ở sân một ngôi nhà cách đó vài trăm thước, rồi đi bộ trở lại. Trời lúc ấy vừa mới tối, nên việc xuất hiện của Hiển không gây sự chú ý của những người lân cận. Nhờ vậy, khi Hiển lách qua cánh cổng mở hé thì vào bên trong được trót lọt, ở cả ba ngôi nhà đều có ánh đèn chỉ đủ sáng cho ba phòng khách, nơi mà lần trước Hiển đã nhìn thấy ba cỗ quan tài. Nép mình vào một bồn hoa, Hiển bỗng giật mình khi nhìn thấy một người đang lom khom trước quan tài. - Ông già bữa trước! Ông ta đang cúi xuống làm gì đó trước quan tài, lát sau khi ông ta ngẩng lên thì Hiển nhìn rõ là ông vừa đặt một mâm cơm xuống cúng. Đứng cách hơn chục mét, nhưng Hiển cũng nhìn thấy được trong mâm cơm có khá nhiều thức ăn còn bốc khói, chẳng khác gì mâm dọn cho một người còn sống ăn! Bất chợt ông già bước ra khỏi phòng, suýt nữa thì Hiển đã bị ông ta nhìn thấy. Anh vội ngồi thụp xuống. Ông già bước qua rất nhanh, hướng về ngôi nhà thứ hai. Hiển tò mò bám sát theo và thật ngạc nhiên, anh thấy ông già ghé lại chỗ một ghế đá, bưng lên một mâm cơm giống như mâm cơm kia. - Ông ta làm gì? Trả lời cho thắc mắc của Hiển là việc ông già bưng mâm cơm đi thẳng vào phòng, đặt nó xuống trước quan tài giống y như mâm cơm vừa rồi. - Ông ta cúng? Quả là như vậy. Ông già trịnh trọng cúng vái và đốt một nén hương. Mâm cơm cũng đầy thức ăn ngon và bốc khói! Xong rất nhanh, ông già lại bước ra khỏi phòng và hướng về ngôi nhà còn lại. - Thì ra ông ta cúng thường nhật! Cúng xong trước cỗ quan tài cuối cùng thì ông già bước ra, và lần này đi thẳng về phía ngôi nhà nhỏ, tức chỗ ở của ông mà Hiển đã có dịp biết đêm qua. Vừa định bước theo, chợt Hiển kịp nghĩ, anh lưỡng lự một chút rồi lần bước về phía ngôi nhà đầu tiên. Những gì diễn ra đã khiến Hiển trố mắt kinh ngạc! Mâm cơm với thức ăn đầy lúc nãy, giờ đây hầu như hết sạch! - Ai ăn? Hiển kêu lên khẽ, may mà anh kịp kiềm chế chứ không thì ai đó đứng gần có thể nghe được! Chợt nghĩ tới hai mâm cơm còn lại, Hiển bước len qua các bụi cây và hướng về ngôi nhà thứ hai. Cũng giống như mâm cơm vừa rồi, mâm cơm này cũng không còn! Tim Hiển bắt đầu đập mạnh, anh chạy sang ngôi nhà thứ ba và... sững sờ khi thấy mâm này cũng chỉ còn lại những chén đĩa không! - Trời ơi! Lần này không kìm được, Hiển đã buột miệng thành lời và anh suýt đứng tim khi có ai đó vỗ lên vai mình từ phía sau! - Cậu đừng nhìn như vậy sẽ không hay... Đó là ông già vừa bưng cơm cúng. Ông ta kéo tay Hiển đi nhanh về phía gian nhà của mình với câu nói: - Hôm qua các cô cậu đã mạo hiểm vào đây, nếu tôi không kịp thời đưa ra thì... không biết chuyện gì đã xảy ra! Sao hôm nay cậu lại trở vào nữa? Cậu có biết hành động này sẽ không hay lắm không? Khi vào tới nhà riêng của ông ta rồi, Hiển mới đánh bạo hỏi: - Những mâm cơm hết sạch vừa rồi có phải do người chết ăn không chú? Ông già không đáp ngay mà nhìn ra ngoài bầu trời đêm, một lúc sau mới lên tiếng: - Chứ theo cậu thì ai vào đây ăn? - Nhưng… xưa nay cơm cúng cho người chết thì chỉ tượng trưng, chứ làm sao ăn như thật được? - Vậy mà được... Ông già trả lời xong thì đứng lên đi vào phía trong. Nửa phút sau ông trở ra, trên tay cầm một đĩa trái cây tươi, ngon, vừa bảo Hiển: - Cậu cứ ngồi đây chơi chờ tôi một chút, tôi cho các cô tráng miệng xong đã. Hiển nói: - Cháu muốn đi theo chú... Ông già lắc đầu: - Để cậu vào đây là quá rồi, làm sao cậu có thể vào trong đó được. Ông đi khoảng năm phút. Khi trở lại thì mang về ba cái mâm với chén đĩa dùng xong như Hiển đã thấy lúc nãy. Lúc này ông già mới nói rõ hơn: - Ba cô này chẳng khác nào con ruột của tôi. Các cô xem tôi như cha chú, bởi vậy cho nên khi các cô chết thì tôi không nỡ rời xa. Và các cô cũng chỉ để mình tôi gần gũi, chăm sóc... - Tại sao họ chết vậy chú? Ông già vừa định trả lời, thì có một tiếng động lớn vang ra từ trong nhà. Ông thất sắc: - Cậu đi đi! Hiển chưa hiểu sao mình bị đuổi ngang, anh hỏi lại: - Sao vậy chú? Lời anh vừa dứt thì có mấy vật gì đó từ trong bay ra rơi xuống ngay trước mặt vỡ toang. Ông già hốt hoảng: - Các cô giận lên rồi, cậu đi nhanh đi kẻo không kịp... Ông sợ Hiển không đi nên đích thân kéo tay anh dậy và lôi nhanh ra sân, vừa nói trong nỗi sợ hãi: - Các cô ấy chưa bao giờ giận đến như vậy cả, không xong rồi! Lúc Hiển ra gần tới cổng rồi mà vẫn nghe tiếng rổn rảng từ trong nhà. Ông già đẩy anh ra cửa và nói nhanh: - Lần tới mà cậu vào đây khi chưa được phép thì tôi không chịu trách nhiệm đâu! Hiển ra rồi ông khóa chặt cổng từ bên trong, chứ không bấm hờ khóa từ bên ngoài như hai lần trước. Ông già biến rất nhanh trong khu vườn vắng... Hiển hiểu là hôm nay anh chỉ nên chấp nhận những gì ông già khuyên, mặc dù khi trở lại đây anh còn có ý định táo bạo hơn... Khi trở lại xe, vừa mở cửa xe ra anh đã ngạc nhiên khi thấy một nải chuối tươi ngon nằm ở ngay ghế lái xe! - Mình đã khóa cửa xe rồi mà! Nhìn vào ngôi nhà nhỏ nơi anh gửi xe thì trong nhà chẳng có ai ngoài vài đứa trẻ đang nằm ngủ, mà bọn chúng thì không thể là thủ phạm để chuối vào xe anh được! Hiển lưỡng lự một chút rồi để nải chuối sang một bên, cho xe trở ra lộ lớn. Dừng lại một quán cà phê đang vắng khách, Hiển khéo léo hỏi thăm: - Cô cho cháu hỏi thăm, ba căn nhà trong kia hiện giờ chủ còn ở không vậy? Bà chủ quán nhìn Hiển một lượt rồi chợt nói: - Hình như cậu mới từ trong đó ra phải không? Tìm chủ nhà mà không gặp chứ gì? Cậu quen với gia đình ông bà Phạm gia đó như thế nào? Vô tình Hiển biết được chủ nhà họ Phạm, nên anh bịa chuyện: - Dạ... bác Phạm ngày trước là bạn của ba cháu. Kể từ khi... Hiển chưa nói hết lời thì chủ quán đã mau miệng: - Chắc kể từ ngày ông bà đó định cư ở nước ngoài cậu không ghé nhà chứ gì! Nhất là từ lúc nhà xây lại và ba cô con gái... Hiển làm ra vẻ ngớ ngẩn: - Ba chị em nhà đó bây giờ chắc lớn lắm rồi? Bà chủ quán thở dài: - Tội nghiệp, số kiếp hồng nhan... Bà ta nói giọng điệu ra vẻ những người xem tuồng kịch cải lương nhiều, nên câu chữ đượm hơi hướm sân khấu lắm: - Hồng nhan bạc phận mà. Tội nghiệp, mới hai mươi tuổi đời mà đã rủ nhau chết hết! Hiển làm như sửng sốt lắm: - Chết cả ba cô? Bà gật đầu: - Cả ba chết một lượt! Rồi hình như thấy chưa đủ, bà chủ quán lại nói thêm chi tiết hơn: - Cách đây hơn ba năm, trong một dịp đi chơi Nha Trang bằng xe hơi nhà, ba cô Diệp, Thúy, Nga bị tai nạn đụng xe, chết cả ba người. Đau đớn hơn là khi ấy ba cô đều đã có giấy tờ xuất cảnh đoàn tụ gia đình với cha mẹ ở nước ngoài, tính là sau chuyến đi Nha Trang sẽ lên máy bay... - Trời ơi! Đó là tiếng kêu xuất phát từ tấm lòng của Hiển. Anh sững sờ thật sự khi nghe kể. Và trong một giây không kiềm chế được, anh thốt lên: - Chẳng trách các cô ấy thành ma! Câu nói của Hiển tuy nhỏ, nhưng cũng đủ cho bà chủ quán nghe: - Cậu cũng biết các cô ấy thành ma? - Dạ... Bà không giấu giếm: - Ông bà Phạm ở nước ngoài về khóc chết lên chết xuống, và sau cùng định thiêu xác các con đem đi đoàn tụ, nhưng hồn các cô không chịu. Hai lần ông bà Phạm tính thiêu xác thì cả hai lần xe chở ba cỗ quan tài đi thiêu đều không thể nổ máy được! Cuối cùng họ phải cầu vong các cô về, và biết được các cô chỉ muốn ở lại trên mảnh đất vườn của ông cha. Do đó mới có chuyện xây ba ngôi nhà rộng cho ba cô... Hiển đã nhìn thấy ba cỗ quan tài trong ba ngôi nhà, nên anh reo lên: - Đúng là như vậy! - Cậu nói đúng cái gì? Không muốn để bà ta biết mình đã vào nhà và biết nhiều chuyện, nên Hiển nói lảng sang chuyện khác: - Hai ông bà Phạm gần đây có về không cô? - Thấy năm nào họ cũng về. Họ thương ba đứa con lắm, nên các cô chết đi thì hầu như bà Phạm chỉ muốn chết theo. Nghe nói năm tới có thể bà ấy sẽ trở về ở luôn đây với các con. Rồi bà nói thêm: - Tôi cũng chưa từng thấy người đầy tớ nào trung thành và thương con chủ như ông Tư hiện nay ở giữ nhà mồ. - Ông ta có bà con gì với gia đình họ không cô? - Hoàn toàn không, chỉ có điều là ông ấy ở giúp việc trong nhà từ lúc các cô mới sinh, nên có lẽ vì vậy mà khi ông bà chủ nhờ ông ở lại chăm sóc nhà mồ cho con họ thì ông ta nhận lời liền! Nội chuyện chỉ một người sống ở chung với ba người chết như vậy đã thấy là ông già Tư can đảm cùng mình rồi! Mà nghe nói là vong hồn ba cô còn linh hiển lắm, chẳng khác nào người sống... Bà hạ thấp giọng, ra điều quan trọng: - Ông già Tư không kể, nhưng nghe nói bữa nào ông cũng đi chợ nấu ăn thật ngon để cúng vong hồn các cô! Nghe nói họ ăn được thức ăn như khi còn sống vậy! Thiên hạ ở đây đồn đãi dữ lắm, nhưng chưa một ai thấy được tận mắt, bởi đâu có ai lọt được vào trong nhà đó mà an toàn trở ra! Hiển tò mò: - Sao vậy cô? - Ma bắt, ma vặn họng bất cứ ai vào nhìn thấy nhà mồ của họ! Đã có không ít người bị rồi. Chứ nếu không thì làm sao nhà mồ đó yên ổn được với bọn người tham lam gần xa. Hiển bất chợt rùng mình. Anh lắp bắp hỏi lại: - Chuyện đó có thật sao cô? - Sao lại không thật? Bởi vậy cánh cổng sắt tuy có ổ khóa, nhưng không bao giờ bấm ống khóa, vậy mà chẳng một ai lọt vào trong được, ngoại trừ... - Ngoại trừ sao cô? - Nghe nói chỉ ai đó mà các cô chờ và cho phép thì mới vào được và an toàn trở ra! Một lần nữa Hiển rùng mình. Anh cảm thấy lạnh ở sống lưng... - Nè cậu... Thấy Hiển cứ thừ người ra, bà chủ quán phải gọi giật: - Cậu có ý định vào nhà đó không? Nếu có thì thử kêu cửa coi ông già Tư là người quyết định giùm cậu. Nhưng theo tôi nếu chỉ tới thăm thôi thì cậu không nên vào. Tôi ở đây và ngày trước cũng thân thiết với gia đình đó lắm, vậy mà ba năm nay chưa bao giờ tôi bước vào trong ấy! Hiển giả vờ: - Dạ, có lẽ vậy... Anh hỏi thêm vài chi tiết nữa rồi rời nơi ấy. Trong lòng anh còn nhiều hoang mang, nhưng tạm thời anh không muốn quan tâm thêm... Phần 2 Trời lúc ấy đã quá xế chiều, đường về Gò Công tương đối vắng vẻ, nên Hiển sau khi đậu xe trên phà rồi, anh mở cửa xe bước xuống ngắm sông nước. Mười lăm phút sau, khi đã nhìn thấy bờ bên kia, Hiển trở lại xe và giật mình khi thấy trên xe, chỗ ghế cạnh tài xế có một cô gái đã ngồi sẵn! - Cô là... Cô gái cười rất tươi: - Thấy xe anh ngừng mà không tắt máy, lại không kéo thắng tay, cho nên tôi phải làm giùm. Bộ anh quên là xuống phà không được để xe như vậy sao? Hiển ngạc nhiên: - Ủa, vừa rồi tôi đã tắt máy rồi mà? Chỉ xâu chìa khóa còn ở ổ công tắc, cô gái lắc đầu: - Còn trẻ mà mau quên quá. Nếu tắt máy rồi sao chìa khóa còn đây? Hiển giật mình: - Tôi xin lỗi. Tôi... Cô gái bước xuống xe và đi thẳng tới phía sau phà, trước sự ngạc nhiên của Hiển. Anh định gọi lại nhưng chỉ nhận được một cái khoát tay và câu nói ngắn của nàng: - Anh nên ngồi lên xe, coi chừng tai nạn! Hiển còn chưa hiểu nàng ta nói với ý gì thì chợt chiếc phà lắc lư dữ dội, hình như do va chạm với vật gì đó! Nhiều xe xô vào nhau, người ngã và cảnh hỗn loạn diễn ra. Có tiếng hô lớn của tài công: - Ai ở đâu ở đó, đừng chạy lung tung, coi chừng phà chìm đó! Hành khách sau đó hiểu được phà vừa đụng phải một sà lan chở cát, sà lan bị chìm, còn phà thì chao đảo, vài chiếc xe đậu gần mũi đã lao xuống sông. Cũng may, xe của Hiển không sao, bởi lúc đó anh kịp thời giữ thăng bằng, sẵn ngồi trước tay lái nên đã lách được mũi xe vào cột rào chắn, giữ được xe lại, thoát nạn trong đường tơ kẽ tóc! - Cô ta... Ngầm cám ơn cô gái nên Hiển quay lại tìm, nhưng trong cảnh nhốn nháo của mọi người, anh không tài nào tìm thấy. Mãi đến lúc phà vào tới bến, Hiển tìm lại lần nữa bằng cách đứng ngay thang lên xuống mà cũng chẳng thấy cô nàng đâu! Cho đến khi có một đứa bé bán bánh dạo tới đưa cho Hiển mảnh giấy nhỏ: - Có người gửi cho chú. Hiển cầm và đọc được mấy chữ: - Xe sắp tuột thắng, sửa lại trước khi đi! Dưới dòng chữ viết không có ký tên, Hiển định hỏi thằng bé xem cô nàng ở đâu thì thằng bé cũng biến mất rất nhanh. Lúc này Hiển mới cho xe ra khỏi khu vực chờ của bến phà, cũng may cách đó không xa có một ga-ra sửa chữa xe, anh ghé vào đó và kêu cần kiểm tra lại thắng. Người thợ vừa nhấp thử vài lần rồi chui xuống gầm xe và kêu lên: - Trời ơi! Xe anh chỉ chút xíu nữa thôi là con ốc sắt bộ phận thắng sút ra rồi! Hiển ngẩn người ra, anh lẩm bẩm: - Sao nàng ta biết? Dẫu cô nàng không ký tên dưới dòng chữ, nhưng anh đoán chắc người viết đúng là cô nàng lúc nãy! Anh nhờ sửa lại bộ thắng xong thì vọt xe trở lại bến phà. Cũng kịp lúc anh nhìn thấy dáng một cô gái vừa bước lên chiếc xe đò chạy về hướng Gò Công. Hiển gọi lớn: - Cô gì ơi! Nhưng chiếc xe đò chạy quá nhanh nên tiếng kêu của Hiển bay theo gió. Anh chàng lại nhấn ga, vọt xe theo. Chạy đến hơn chục cây số Hiển mới chặn được chiếc xe lại, tài xế và lơ xe đều bực mình cự nự: - Anh làm gì mà chặn xe tụi tôi lại? Hiển xin lỗi rồi nhảy lên xe nhìn dáo dác tìm kiếm... Chẳng hề thấy cô gái mà anh thoáng trông thấy lúc nãy? - Cô ta... Lơ xe giục Hiển: - Yêu cầu anh xuống xe cho, tụi tôi còn chạy cho kịp giờ! Hiển thẫn thờ bước xuống. Anh quay lại xe mình mà vẫn còn ấm ức... Nhưng khi vừa mở cửa xe bước lên thì Hiển đã phải trố mắt: - Cô... Cô gái chẳng biết ngồi trên xe từ lúc nào rồi! - Người gì vô tâm, vẫn chứng nào tật nấy, xuống xe mà không tắt máy! Nếu vừa rồi tôi là kẻ gian thì anh còn đâu xe để đi? Hiển thật sự lúng túng: - Tôi... tôi... Giờ cô gái mới nghiêm túc: - Tôi cần về Mỹ Tho, anh có thể cho quá giang được hay không? Hiển hơi ngập ngừng: - Tôi chỉ đi tới Gò Công... Nhưng sao về Mỹ Tho mà cô đi hướng này? Cô lên xe từ đâu? Cô gái trả lời rành rọt, chứng tỏ là dân địa phương: - Ở giữa đường từ Cần Đước đi Mỹ Tho thì ngoài đường này chỉ còn cách quay lại Chợ Lớn rồi đi ngược xuống. Cự ly đường cũng bằng nhau, nên đi thế nào cũng vậy. Nếu anh không tiện thì thôi, tôi chỉ xin quá giang tới Gò Công, rồi từ đó tôi đi xe đò cũng được. Xin cám ơn trước. - Nãy giờ toàn là cô nói, chưa cho phép tôi... Cô ta mỉm cười: - Vậy tới phiên anh nói. Tôi chờ nghe... - Tên cô là gì? Cô ta cười xòa: - Quên, xin lỗi. Em tên Hà, Thu Hà. - Tôi tên Hiển. Được rồi, nếu cô chịu nói rõ hơn cô về Mỹ Tho làm gì thì tôi xin tình nguyện đưa cô về tới chỗ? Cô nàng tên Thu Hà vẫn cười rất tươi: - Về để... lấy chồng! Thế anh có sẵn lòng cho quá giang không? Hiển nhìn sững cô ta: - Nhà cô ở đâu? - Cần Đước! - Kể cũng lạ. Con gái mà phải thân chinh đi lấy chồng, thay vì phải đợi chồng tới nhà mình để cưới! Cô nói như thế mà nghe được sao? - Yêu nhau thì sá gì ai tới cưới ai? Xách gói theo trai cũng đâu phải là chuyện lạ! Thấy cô nàng vui vẻ, biết nói đùa, Hiển thích thú: - Hôm nay tôi hên nên ra đường gặp cô. Có được một người đồng hành vui vẻ như vậy thì đỡ buồn ngủ biết mấy! Nàng nghiêm giọng: - Anh chưa nói cám ơn về lời nhắc cứu mạng! Hiển giật mình: - À sao cô biết trước điều mà tưởng chừng như vô phương vậy? - Nếu em nói là do... nhìn sắc mặt của anh mà đoán được chuyện sắp xảy ra, anh có tin không? Hiển nhìn cô nàng với ánh mắt hoài nghi: - Không lẽ cô là thầy bói? Thật bất ngờ, cô nàng gật đầu: - Em có thể đoán chuyện tương lai, quá khứ được! Bằng chứng là vừa rồi, lúc ở trên phà em nhìn thấy anh cứ thẫn thờ khi từ trên xe bước xuống... Hiển lắc đầu: - Tôi vẫn chưa tin. Nhưng thôi, chuyện cũng xảy ra rồi và cô đã đoán đúng. Tôi thành thật cám ơn. Nhưng cô thử đoán xem... tôi có vợ chưa? Nàng không ngạc nhiên chút nào trước câu hỏi của Hiển và trả lời ngay, không cần suy nghĩ: - Có rồi và cũng mất rồi. Hiện nay coi như không có vợ! Hiển giật mình: - Cô... cô là... Nàng cười: - Biết tên em rồi mà, sao vẫn là cô này cô nọ? Hiển lại một phen lúng túng: - Cô... Thu Hà làm tôi bất ngờ... - Nhưng anh xác nhận xem em nói có đúng không? - Ờ thì... đúng. Nhưng mà... - Không cần nhưng nhị gì cả. Em nói không sai là được rồi. Và anh có muốn nghe chuyện tương lai không? Hiển trố mắt: - Cô dám nói... tôi sắp lấy vợ lắm à? Nàng gật đầu: - Điều đó không sai. Hiển cười to: - Lần này cô sai rồi. Cô nàng vẫn bình thản: - Sai hay không thì đợi chuyện đến mới chứng minh! - Nhưng... riêng chuyện lấy vợ lần nữa thì e khó! Cô có biết là với lần dang dở vừa rồi của tôi đã là một vết thương lòng không thể lành được, vậy làm sao có can đảm để bị thương thêm lần nữa! Lần này người cười to lại là cô nàng: - Vậy mà sẽ xảy ra đó! Hiển vừa định nói, chợt nàng la lớn: - Tấp vào lề, dừng xe lại! Hiển kịp làm theo thì chỉ chưa đầy mười giây sau đã có một chiếc xe tải lớn chạy ngược chiều bị đứt thắng và đâm sầm vào đường lưu thông của Hiển. Nhờ đã tấp kịp vào sát lề và dừng lại, nên anh đã tránh được cú va chạm mạnh! Nhiều người đi gần đó hốt hoảng, cứ tưởng xe Hiển đã lãnh đủ. Khi họ chạy tới nhìn thấy thì kêu lên: - Đúng là được trời Phật che chở! Người khác thì nói: - Ông này vừa rồi coi như chết chắc! Hiển vẫn chưa hoàn hồn, anh gục đầu xuống tay lái mà lồng ngực hầu như không còn không khí để thở. Mãi tới khi có ai đó bên ngoài nói to lên: - Thoát rồi, chạy đi chứ! Hiển hoàn hồn ngẩng lên thì lại quá đỗi ngạc nhiên khi tìm không thấy Thu Hà đâu. Anh gọi to: - Cô Hà ơi! Không nghe tiếng trả lời, Hiển phải mở cửa xe bước xuống. Đó là quãng đường vắng, chung quanh toàn là đồng lúa. Các xe cộ khác thì sau tai nạn hụt đã chạy đi hết. Hiển vẫn cất tiếng gọi: - Cô Thu Hà ơi! Cô ta biến mất cũng giống như lúc đột ngột hiện ra khiến cho Hiển bàng hoàng: - Không lẽ cô ta là... ma? Ngoại trừ là ma, chứ người thật thì làm sao ẩn hiện lạ thường như thế? *** Hiển trở lại Gò Công vào nửa đêm, cả nhà sửng sốt khi thấy anh bước vào. Bà cô anh trố mắt nhìn, vừa hỏi mà giọng run run:- Con có bị gì không? Hiển ngạc nhiên: - Bị gì là sao? Thu Nguyệt cũng đang sốt ruột, cô nói chen vào: - Cả nhà đang lo cho anh khi nghe tin anh bị đụng xe! Hiển ngơ ngác: - Đụng hồi nào? Cô Tư của Hiển lại nhìn anh từ đầu đến chân, rồi nói mà giọng vẫn chưa hết run: - Cô ấy nói con bị đụng xe, không biết sống chết ra sao nên cả nhà lo quá chừng, dượng Tư con đã đi với mấy đứa trong nhà lên trên đó rồi. Hiển phải gắt lên: - Cô nào nói? - Cô... cô gì đó... Bà quay sang Thu Nguyệt: - Cô ấy nói tên gì? Nguyệt đáp: - Thu Hà! Hiển kêu lên: - Thu Hà! Cô ta tới đây sao? - Tới hồi đầu hôm. - Đâu rồi? Cô Tư ngạc nhiên: - Con hỏi cái gì đâu rồi? Hiển la lớn: - Thì cô Thu Hà đó! Thu Nguyệt phải đáp thay cô: - Đi rồi. Nhưng có nói là sẽ trở lại vào sáng mai, khi nào anh an toàn trở về! Hiển muốn điên đầu: - Cô này... cô này... Anh định nói cô ta là ma! Nhưng kịp ngừng lại... - Cô này hơi lạ, em chưa từng gặp. Quen sao với anh vậy anh Hiển, mà lại biết nhà dưới này? Hiển không đáp mà lại lẩm bẩm đủ nghe: - Cô ta muốn gì nữa đây? Nghe không rõ, Thu Nguyệt tò mò: - Bạn gái của anh hả? Lúc chiều khi ra tiếp cô ta, anh Vinh đã ngẩn ngơ vì sắc đẹp và quả quyết đó là bạn gái của anh, phải không? - Bậy! Ai dám... Suýt nữa Hiển đã nói ra ý của mình. Chợt nhớ tới Vinh, anh hỏi: - Vinh đâu rồi? - Cô ấy nhờ đưa ra bến xe, nói là cần trở về Mỹ Tho gấp lắm! Hiển hốt hoảng: - Nguy rồi! Thu Nguyệt ngạc nhiên: - Chuyện gì vậy? Hiển quýnh lên: - Vinh đi lâu chưa? - Khoảng hơn nửa tiếng. Cô Tư chợt lo: - Đây ra bến xe đâu có xa, mà sao tới giờ này chưa về? Hồi nãy mày cho nó đưa làm gì. Tao thấy con nhỏ đó đẹp quá tao cũng ngại... Thu Nguyệt cười: - Con cũng biết vậy, nhưng con muốn nhân dịp này thử lòng dạ của chàng ta coi sao? Nếu mê nữ sắc đến nỗi theo tán tỉnh cô ấy thì... con chia tay luôn. Hiển phóng ra xe, nói với lại: - Em có đi kiếm nó về không, hay là để... lấy xác nó? Cô Tư hốt hoảng: - Con nói điên gì vậy Hiển? Thu Nguyệt nhìn thái độ của Hiển thì đoán biết có chuyện không ổn, cô vọt theo ngay. Khi ngồi trên xe rồi cô hỏi dồn: - Chuyện gì vậy anh Hiển? - Cô ấy là ma đó! Thu Nguyệt tưởng mình nghe lầm: - Anh nói cái gì? Hiển lặp lại rõ ràng hơn: - Anh nói cô Thu Hà đó là hồn ma. Chính anh đã chở cô ấy về, tới chỗ xe suýt bị tai nạn thì cô ấy biến mất! Anh... Vừa khi ấy có tiếng từ ngay băng sau xe: - Hai anh em lại nói xấu người vắng mặt rồi! Phải chăng hồn ma biết cứu người thoát chết trong đường tơ kẽ tóc trong tai nạn vừa rồi? Hiển suýt nữa đã tông xe vào cột đèn đường khi nghe tiếng nói đó! Anh kịp dừng xe lại, quay nhìn ra sau và kêu lên: - Cô Thu Hà! Thu Nguyệt há hốc mồm, chưa kịp nói gì thì Thu Hà đã lên tiếng: - Tôi vội chạy đi ngay lúc chiếc xe tải đâm vào xe anh, rồi leo lên một xe khác là để về nhà báo tin, vậy mà anh lại cho tôi là hồn ma, nghĩ cũng vui! - Nhưng vừa rồi... - Tôi thấy anh vào nhà, tôi không tiện vào, ngồi lên xe chờ anh ra. Hai người ra không hề để ý có người ngồi phía sau, và... tôi biến thành hồn ma phải không? Nghe cô nàng hỏi mắc mỏ, Hiển hơi lúng túng: - Thật ra tôi... tôi cũng hoang mang... Ai bảo cô khi ẩn khi hiện làm tôi chẳng biết đâu mà lần! Thu Nguyệt vội hỏi: - Vậy anh bạn của tôi đâu? - Anh ta vừa mới về, bước vào nhà thì cô đi ra, cô còn hỏi gì nữa? Nghe thế, Nguyệt bảo Hiển: - Anh Hiển cho em trở về nhà, em xem Vinh ra sao! Hiển vẫn chưa hoàn hồn, anh còn thừ người ra thì Nguyệt đã nhảy xuống xe, cô bảo: - Em đi xe lôi về đây! Nguyệt đi một đoạn xa rồi, lúc đó Hiển mới hỏi lại: - Thật ra cô... cô là... Thu Hà móc trong túi ra một phong thư: - Cái này em định đưa cho anh ngay lúc gặp dưới phà, nhưng chưa kịp thì... Nhìn nét chữ ngoài phong bì, Hiển giật mình: - Của... Diễm Chi? Thu Hà cười nhẹ: - Vẫn còn nhớ người tình cũ sao? - Cô là gì của Diễm Chi? - Là em họ. Có lần nào anh nghe chị Chi nói về người em họ học trường mỹ thuật không? Hiển chợt nhớ ra: - Cô học vẽ tranh lụa? Người có bức tranh lụa vẽ hình thiếu nữ với hoa sen đoạt giải nhất cuộc thi toàn quốc? Thu Hà cười thích thú: - Trí nhớ anh không tồi chút nào! Và anh còn nhớ có lần chị Diễm Chi nói rằng khi nào chị ấy chết, hoặc anh và chị ấy không lấy nhau được thì chị ấy sẽ làm mai đứa em họ cho anh không? - À... có... - Và anh cũng đã hứa với chị ấy là suốt đời sẽ yêu thương chẳng những chị ấy, mà còn cả những người thân của chị ấy nữa, đúng không? - À... chuyện ấy có... - Vậy anh hãy đọc lá thư này đi. - Diễm Chi chỉ cho em biết nhà dưới quê của anh? - Và cả số xe hơi của anh nữa. Chưa gặp anh lần nào, nhưng qua ảnh trong album của chị Diễm Chi, em đã nhớ mặt anh nên khi gặp trên bến phà em nhận ra ngay. Thấy Hiển có vẻ hiểu ra, cô nàng nheo mắt hỏi: - Bây giờ còn cho em là... ma nữa thôi? Hiển hơi ngượng: - Anh xin lỗi... Anh bóc thư ra đọc. Trong thư Diễm Chi xin lỗi anh về việc đột ngột bỏ đi mà không nói lý do, cho rằng mình có một lý do đặc biệt khó giải thích, và mong rằng Hiển hãy làm bạn với Thu Hà và coi Hà như là mình. Cô nhấn mạnh đoạn cuối thư: "Thu Hà rất ngoan và có hoàn cảnh tội nghiệp, nó lâu nay cô đơn, nên em mong rằng anh sẽ làm cho nó vui trở lại. Còn riêng em thì anh hãy coi như em đã... chết. Bởi em...". Thư không có đoạn cuối. Hiển ngẩng lên hỏi: - Diễm Chi đang ở đâu? Cô ấy... - Chị ấy... bị bệnh nan y, không bao giờ gặp anh nữa. Và anh cũng đừng hy vọng gặp lại, bởi chị ấy thề nếu để cho anh gặp thì thà chết còn hơn! Hiển hốt hoảng: - Diễm Chi bệnh gì? Hà lắc đầu, giọng buồn bã: - Em đã thề với chị ấy rồi, thà anh giết em chết, chứ không bao giờ em chỉ chỗ. Thôi, nếu anh không có ý gì khác thì em xin kiếu... Cô mở cửa xe bước xuống, Hiển vội chụp tay lại. - Khoan đã! Anh không nói gì thêm, nhưng Thu Hà lại ngả người xuống băng ghế xe, rồi ôm mặt khóc nức nở! Diễn biến sự việc quá nhanh, khiến cho Hiển chẳng kịp đối phó. Anh lúng túng buông tay cô nàng ra. Cuối cùng, anh đóng hẳn cửa xe lại, nói khẽ: - Mình đi rồi sẽ tính! Anh thay vì chạy về nhà lại hướng xe về phía bến phà, nơi cách đó khá xa. Đi được một đoạn, Hiển định quay ra sau hỏi chuyện thì thấy Thu Hà đã ngủ ngon lành. Có lẽ cô nàng đã quá mệt với một ngày vất vả, bao nhiêu chuyện... Không nỡ để cô nàng giật mình, nên Hiển lái chậm lại. Một giờ sau thì đến bến phà. Lúc này đã gần sáng nên chuyến phà đầu tiên của ngày rất vắng khách, chỉ có chiếc xe của Hiển và một số khách bộ hành nhưng phà vẫn chạy. Qua đến bờ bên kia trời mới sáng hẳn, Hiển muốn dừng xe nghỉ và ăn lót dạ, nhưng nhìn thấy Thu Hà vẫn ngủ say, nên anh quyết định đi tiếp. Và chẳng hiểu vô tình hay số phận, mà khi đi ngang qua chỗ rẽ vào nơi có ba ngôi biệt thự... ma thì xe hết xăng! Nghĩ là có thể nhờ ai đó đi mua giúp xăng rồi trả họ thù lao. Nhưng mất gần nửa giờ mà Hiển vẫn không nhờ được chuyện đó. Cuối cùng, anh đành phải bảo Thu Hà lúc đó vừa mới thức dậy: - Cô ngồi tạm trên xe, tôi sẽ xách can đi mua xăng, xong rồi mình sẽ đi tiếp. Cô nàng uể oải đáp: - Được rồi, em tranh thủ ngủ thêm một chút. Hiển đi gần một tiếng đồng hồ mới mua được can xăng. Nhưng khi trở lại xe thì chẳng còn thấy cô nàng đâu! - Lại thế nữa, cô này giỡn mặt với mình chắc? Phát hiện một mảnh giấy nhỏ trên băng ghế với mấy chữ viết vội: "Em có bệnh riêng nên phải về nhà gấp mới chữa được. Cám ơn anh đã giúp đỡ, hẹn gặp lại sớm". Hiển càu nhàu rồi châm xăng vào xe. Anh tính sau đó sẽ trở lại Gò Công. Nhưng xăng đã có rồi mà xe vẫn chưa chịu nổ máy. Hiển đang bực dọc thì một người đi ngang có vẻ rành về máy móc xe đã bảo: - Xe chạy đến hết sạch xăng có thể bị cặn của xăng làm nghẹt bình xăng con rồi! Cậu phải đi ngược lại khoảng vài cây số nhờ thợ tới súc bình xăng cho thì mới nổ máy được. Ông ta chạy xe đạp nên Hiển ngỏ ý nhờ gọi thợ giùm, ông gật đầu: - Tôi cũng biết về máy, chút nữa có thợ tới tôi cũng có thể giúp cậu một tay! Cậu cứ nghỉ tay đi, hoặc đi ăn uống lót dạ, để tôi lo cái xe cho. Bà chủ quán bữa trước cũng ở ngay đó, bà nhớ ra Hiển liền nói: - Cậu cứ để xe đó vào trong quán tôi ngồi nghỉ, cần ăn gì tôi làm cho ăn, chú Sáu này là người quen trong xóm, có thể giao xe cho chú được. Hiển cũng đã quá mệt rồi nên nghe vậy anh bước ngay vào quán, để chìa khóa công tắc lại. Bà chủ quán hỏi: - Cậu đi một mình sao, còn mấy người hôm trước đâu? - Cháu đi với một người bạn nữa. Lúc nãy cháu đi mua xăng thì cô ấy còn ở đây, bộ dì không thấy sao? Bà chủ quán lắc đầu: - Tôi đâu thấy gì. Nãy giờ tôi ngồi đây, chỉ thấy duy nhất có một cô gái lạ đi vào phía ba ngôi nhà trong kia... Hiển giật mình: - Cô gái lạ nào? - Tôi đâu biết. Mà ở đây thỉnh thoảng cũng có vài cô đi vào trong đó, chẳng biết con cái ai trong xóm này, nên tôi cũng không để ý. Tự dưng Hiển thoáng có ý nghĩ trở lại ba ngôi nhà ma trong kia. Anh dặn bà chủ quán: - Tôi có việc vào trong này một lát, nếu mấy người thợ sửa xe có tới dì nói họ cứ làm, lát nữa tôi sẽ ra thanh toán tiền. Hiển đi rất nhanh vào phía trong trước sự tò mò của bà chủ quán, bởi vậy khi ngang qua cổng ba ngôi nhà, anh tạt vào ngay khi thấy cổng chỉ khép chứ không khóa. Cũng giống như lần trước, dù giữa ban ngày, nhưng nhà vẫn vắng lặng, không thấy bóng ông già giữ nhà đâu. Thoang thoảng có mùi hương nhang tỏa ra, Hiển đoán chắc là ông già mới vừa đốt nhang xong, đang quanh quẩn đâu đó, nên anh cất tiếng gọi khẽ: - Chú Tư ơi? Không có tiếng trả lời nên Hiển đi thẳng về phía căn nhà nhỏ, nơi ở của ông. Vẫn chẳng thấy đâu, mà cửa lại khóa, chứng tỏ là ông ta đã đi ra khỏi nhà. - À, ông ấy đi chợ mua thức ăn! Nhớ lại những mâm cơm dọn lên hằng ngày, Hiển hiểu ra sự vắng mặt của ông ta lúc này. Còn đang cân nhắc xem có nên ở lại trong khi không có mặt ông già hay là đi ra, thì chợt anh nghe có tiếng động phía ngôi nhà bên trái. Tiếng động giống như ai đó mở, đập cánh cửa, đồng thời lại như có tiếng bước chân dồn dập nữa. Hiển kêu khẽ: - Có thể có kẻ trộm lắm! Anh quên cảnh giác, phóng thẳng về hướng ấy. Khi đến trước cửa kính thì mới chợt nhớ, anh khựng lại. Thì ra tiếng động phát ra từ cánh cửa kính khép không chặt, bị gió làm va đập. Mùi nhang từ trong bay ra thơm lừng. Chợt Hiển giật mình khi thấy ngọn đèn dầu để phía dưới quan tài đang bừng cháy lên một cách bất thường, như sắp sém vào phần gỗ cỗ áo quan! - Không khéo nó làm cháy quan tài mất! Không nghĩ ngợi thêm, Hiển tung cửa vào và kịp vặn cái bấc đèn xuống. Thì ra có lẽ ông già giữ nhà mới châm thêm dầu, dầu nhiều tràn ra, gặp gió làm lửa cháy bùng lên vừa rồi! - Để đèn này quanh năm nguy hiểm chết! Hiển vừa càu nhàu vừa định bước lui ra ngay, chợt mắt anh nhìn thấy tấm ảnh bán thân đặt trước đầu quan tài, anh tái mặt! - Cô ta? Cô gái trong ảnh thờ kia giống với Thu Hà vừa rồi như khuôn đúc! Mà ngay phía dưới ảnh còn có dòng chữ đề tên: Đoàn Thị Thu Hà. - Trời ơi... Hiển kêu lên được mấy tiếng rồi tối tăm mặt mũi, cố quay lưng chạy ra ngoài, nhưng hình như anh chỉ chạy được tới cổng rồi gục ngã... *** Buộc lòng Hiển phải tìm đến nhà của Diễm Chi, sau khi anh tỉnh lại từ nhà mồ ba cô gái. Theo lời kể của Thu Hà thì cô ta là em họ của Diễm Chi, nên dù đã chia tay và thề không bao giờ gặp lại, nhưng hôm nay Hiển vẫn phải tìm tới. Tiếp Hiển là bà mẹ của Diễm Chi, người trước đây từng thương Hiển như con ruột. Bà vừa trông thấy Hiển đã òa lên khóc! Hiển bình tĩnh hỏi: - Thưa bác, con muốn gặp Diễm Chi. Bà Hằng nhìn Hiển đầy ngạc nhiên: - Con thật sự không biết tin gì về con Chi? Hiển ngơ ngác: - Tin gì về Diễm Chi? Kể từ khi Diễm Chi rời xa con mà không một lời giải thích, con đã tới đây gần chục lần, mà lần nào cũng bị hết Chi rồi tới bác xua đuổi, thì thử hỏi con còn mặt mũi nào để tới nữa. Do đó làm sao con biết được những gì xảy ra chung quanh Chi? Bà Hằng thở dài: - Nó chết rồi! Câu nói khiến Hiển tưởng như mình từ trên trời rơi xuống đất: - Bác nói... ai chết? - Con Diễm Chi mắc chứng bệnh nan y, biết không qua khỏi nên nó chủ động rời xa con. Sau đó về ở trên đất rẫy của ông bà nội trên Lâm Đồng, tuyệt giao luôn với mọi người... Hôm đó, sau một thời gian bị căn bệnh hành hạ, nó biết sắp lìa đời nên nhắn cho bác hay, bác cho mấy đứa em bà con của nó biết tin, chúng tựu về thăm. Nhưng không còn kịp nữa. Diễm Chi chết, có viết lại cho con một lá thư, giao cho con nhỏ em nhờ chuyển tới con. Nhưng... Bà nói tới đó thì do quá xúc động, đã khóc ngất rồi không nói được nữa... Lát sau Hiển đột ngột hỏi: - Phải người chuyển lá thư tên là Thu Hà không? Bà Hằng kinh ngạc: - Sao con biết? - Và cô ấy cũng đã chết? Giọng bà Hằng trở nên bi thảm: - Chết thật thương tâm! Chúng nó chết cả ba chị em, chỉ vì đi thăm con Diễm Chi! Trời ơi... Bà gục xuống khóc và không còn sức ngẩng lên nữa. Hiển phải an ủi: - Bác đừng quá xúc động mà ảnh hưởng đến sức khỏe. Hôm nay con đến đây cũng vì chuyện của Diễm Chi và người tên là Thu Hà này. Nhưng trước tiên, xin bác nhận lời tạ lỗi của con, chỉ vì vô tình mà con không biết nỗi khổ của Diễm Chi, để cho cô ấy chịu đựng nỗi đau một mình. Chợt nhớ ra, bà Hằng hỏi: - Con Thu Hà đã chết chung chuyến xe cùng hai em của nó khi lên Lâm Đồng thăm Diễm Chi trở về, vậy con gặp nó lúc nào mà biết có lá thư? Hiển phải kể lại mọi chuyện. Vừa nghe xong, bà Hằng đã hốt hoảng: - Như vậy là linh hồn tụi nó hiển linh sao? - Con không biết, nhưng rõ ràng một trong ba cô gái đó đã gặp con như một người sống. Vậy giữa họ và Diễm Chi có mối liên hệ thế nào vậy bác? - Bà con gần, mà riêng con Thu Hà với con Diễm Chi còn có mối quan hệ mật thiết bởi tụi nó cùng một sở thích, cùng đi học chung trường một thời gian, cùng tuổi và đặc biệt là cùng hẹn ước có phước cùng hưởng, có họa cùng chia, nhất là trong chuyện tình yêu... - Thảo nào! Hiển kêu lên khiến bà Hằng một lần nữa ngạc nhiên: - Là sao vậy con? - Trong lá Chi gửi cho con, có dặn con là phải... thương cô Thu Hà! Bà Hằng hình như hiểu chuyện đó, bà chỉ nhẹ lắc đầu rồi lặng lẽ đi vào trong, lát sau trở ra, bà đưa Hiển một gói vải nhỏ: - Ở đây còn có những gì con và Diễm Chi có với nhau, thời hai đứa con mặn nồng. Đáng lẽ bác giữ lại, nhưng bây giờ thấy không còn cần nữa, nên tốt nhất là con nên giữ. Và biết đâu nó sẽ tốt cho con hơn khi gặp lại Thu Hà... Bà nói xong quay vào hẳn trong nhà, không quay ra nữa, Hiển đứng một hồi lâu rồi lẳng lặng rời nơi đó. Khi xe anh chạy đi rồi thì có một đôi mắt nhìn lén qua khe cửa buồng, nhìn theo cho đến khi bóng Hiển khuất hẳn. Lúc này, người có đôi mắt ấy mới bật khóc! Giọng của bà Hằng đẫm nước mắt: - Xong rồi con. Từ nay con có thể yên tâm ở đây với mẹ. Mẹ sẽ không bao giờ bỏ con, dù con bây giờ chỉ còn là hồn ma bóng quế thì mẹ vẫn cần con bên mình. Và cũng từ nay con đừng mang ý định giành lại thằng Hiển nữa. Những gì con thử thách nó, mượn vong hồn của mấy đứa con gái chết oan giữa đường thử nó thì nào có kết quả gì. Nó vẫn là một đứa con trai tốt. Từ khi xa con nó có ai khác đâu. Kể cả cô gái tên Thu Hà mà con nhờ đóng vai em họ, đẹp như vậy mà nào có mê hoặc được nó. Giọng người con gái cũng đầy nước mắt như mẹ: - Con cũng đâu có hằn thù gì với anh Hiển. Chỉ vì con giận là khi con nông nổi bỏ đi để mong anh ấy theo cầu cạnh, nào ngờ anh ấy lờ con luôn, con nghĩ chắc lúc đó anh ấy có người khác nên con mới tự tử chết. Chết rồi con mới hối tiếc, mới thấy mình dại. Mà cũng tại mẹ hết, tại sao lúc anh Hiển đi tìm con nhiều lần mà mẹ không cho anh ấy gặp con? Bà Hằng thở dài não ruột: - Lúc ấy má tưởng giận dỗi và lời nói của con là thật, nên má quyết liệt không cho nó gặp con. Ai ngờ sau đó mới biết là con giả vờ. Biết thì đã muộn! Khi ấy con đã tự tử, còn thằng Hiển thì giận luôn, bỏ đi mất tăm! Con thấy không chỉ một chút hờn giận mà hậu quả không thể tưởng tượng nổi! Ngừng một lát bà lại tiếp, giọng có vẻ bùi ngùi: - Cho tới bây giờ mẹ vẫn chưa hết hối tiếc, tội nghiệp cho ba đứa con gái vô tội kia. Nó chết oan là phần số của nó, nhưng chuyện mình dựng lên nói nó có bà con với mình, chỉ vì đi thăm mình mà chết, nếu lỡ thằng Hiển nó tin thật, rồi nó bị tai họa gì với những hồn ma ấy thì sao? - Con cũng đang suy nghĩ là liệu có nên đưa anh Hiển về đây mãi mãi với con không? Bà Hằng hoảng hốt: - Con đừng hại người ta! Một mình con lỡ chết rồi thì thôi, nó còn có gia đình, còn có sự nghiệp, đừng gây ra thêm oan nghiệt nữa con! Việc con kéo ba cô gái chết cùng một cái vực ở đường đèo, mẹ đã thấy ăn năn rồi. - Không! Con đâu muốn anh Hiển chết theo. Con chỉ muốn làm cho anh ấy về xứ này lập nghiệp, ở lại đây. Dù sau này có lấy người khác con cũng chấp nhận, cũng phù hộ cho anh ấy... Bà Hằng chép miệng: - Thôi đi con, níu kéo mà làm gì nữa! Âm dương cách trở, có nhớ nhau thì ngầm phù hộ cho nó là đủ rồi. Má vẫn thương thằng đó, nó hiền... Im lặng hồi lâu, bỗng giọng của Diễm Chi cất lên: - Thôi được rồi, chuyện anh Hiển có còn nhớ tình con mà về thăm con hay không thì để anh ấy tự nguyện. Nhưng con sẽ tác động để sau này anh ấy thường xuyên về chỗ nhà mồ ba cô thăm và cúng vái thường xuyên! Bởi dẫu sao thì cũng tại con mà ba cô ấy mới chết, nay anh Hiển thay con chuộc lỗi với họ. Bà Hằng hỏi lại: - Lâu nay mẹ không nghe con nói chi tiết này, sao lại do con mà ba cô ấy chết? Giọng Diễm Chi chùng xuống: - Hôm đó ba cô gái ấy đi xe chung với những người bạn khác, khi đi qua đèo chỗ con tự tử, con đã hiện ra đón xe họ lại, bởi con thoáng thấy có một thanh niên vóc dáng giống y như anh Hiển. Chính vì sự lầm lẫn đó mà tài xế hoảng sợ, mất thăng bằng và để xe lao xuống vực, nên các cô ấy mới chết! Kể từ đó con cứ ân hận hoài, nên tìm cách bù đắp cho họ, mà Hiển là một cách... Lại im lặng thêm một lúc... Sau đó, giọng của cô nàng lại càng buồn hơn: - Con sẽ trả ơn sòng phẳng. Thôi, mẹ ra ngoài đi, để con được yên. Bà Hằng buồn bã bước ra. Đã từ lâu nay bà phải chịu cảnh như vậy. Gần được con chỉ qua tiếng nói với cảnh âm dương cách trở thế này... Mà lần nào Diễm Chi hiện về hầu như cô cũng khóc sướt mướt... *** Chẳng hiểu Diễm Chi tác động thế nào mà kể từ sau đó không lâu, cứ nửa tháng, một tuần, đã thấy Hiển đích thân lái xe về chỗ nhà mồ ba cô thăm viếng. Về đó chỉ để thắp hương và cúng hoa trái. Có lẽ do được ông già thông tin, Hiển biết được sở thích của từng cô gái nên vật cúng của Hiển luôn khác nhau cho ba cô. Người thì thích ổi, kẻ thích me chua và riêng Thu Hà thì luôn được cúng xoài tượng.Ông già Tư cũng chẳng hỏi Hiển tại sao lại làm vậy nhưng hình như ông ngầm chấp nhận việc đó. Và quan trọng là vong hồn các cô gái cũng không phản ứng gì với chàng trai tội nghiệp này. Nên việc Hiển lui tới là việc đương nhiên... Với Diễm Chi thì ngôi nhà nhỏ của mẹ cô ở Lâm Đồng đã được Hiển cho xây lại khang trang hơn. Ngoài gian nhà lớn dành cho bà mẹ, Hiển còn xây riêng cho mình một gian nhỏ hơn, xinh xắn và riêng biệt cả về màu sắc lẫn kiểu cách. Thì ra, đó là theo ý thích của Diễm Chi lúc cô còn sống. Hầu như Hiển ở đó suốt, chỉ trừ phi có công việc làm ăn mới về Sài Gòn. Cuộc sống của Hiển cứ tiếp diễn như vậy. Không một ai bên ngoài biết câu chuyện và cuộc sống kỳ lạ đó của anh... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 35
NGƯỜI VỢ HÓA KHỈ -Phần I Năm 1936... Thời ấy con đường nhựa từ Rạch Giá về Hà Tiên vừa mới làm xong. Tuy đường mới, nhưng lưu lượng xe cộ rất ít, bởi tuy không còn đi trên đường mòn gập ghềnh nữa, nhưng dân bản xưa làm gì có phương tiện để lưu thông, ngoại trừ những chiếc xe bò lăn bánh như rùa và một ít xe đạp của các công chức chạy cà rịch cà tang... Còn xe hơi thì mỗi ngày chưa quá trăm chiếc đi lại, chủ yếu là của các quan chức ở hai tỉnh Rạch Giá, Hà Tiên. Bởi vậy hôm đó khi thấy có chiếc xe màu đen bóng loáng dừng lại ở đầu cầu ngã ba Hòn thì cả chục người quanh đó bâu lại xem. Đám con nít thì chỉ trỏ lấy làm thích thú, còn người lớn thì hết trầm trồ xe lại xuýt xoa người ngồi trên xe! Mà họ xuýt xoa cũng phải, bởi ngồi trên xe ở băng sau là một cô gái đẹp đến nỗi mấy chàng trai nông dân đứng xem hỏi nhau: - Có phải đó là người hay búp bê vậy? - Người chứ búp bê gì! Không thấy nàng ta ngả đầu vào cái lão bên cạnh rồi cười nói đó sao... Xe dừng lại do tài xế phát hiện có khói bốc lên từ đầu xe. Anh ta bước xuống coi rồi thưa với chủ: - Thưa ngài, xe cạn nước. Sáng nay em mới đổ nước mà chẳng hiểu sao... Người ngồi phía sau là chủ xe, vừa là chủ nhân công việc của tài xế Sang, người ta gọi ông ta là cò mi Thuận, một quan chức có cỡ của Rạch Giá. Bực mình vì xe phải dừng lại giữa đường để thiên hạ dòm ngó, ông ta càu nhàu: - Dặn mày nhiều lần rồi mà không để ý gì hết, xe cộ mới mà như xe cũ... Tài xế Sang muốn giải thích thêm, nhưng biết có nói thêm thì càng bị rầy nhiều hơn thôi, nên đành lặng thinh, xách xô đi múc nước. Khi bình nước giải nhiệt được đổ đầy, lúc đó Sang mới phát hiện có một lỗ rò bên hông bình, anh trình với chủ: - Thưa ngài, bình nước bị thủng một lỗ nên nước mau hết ạ. Cò mi Thuận cau mày: - Vậy có chạy được nữa không? - Dạ được nhưng lâu lâu phải ngừng để châm thêm nước. - Được rồi, đi cho nhanh kẻo trễ giờ. Xe chạy đi rồi mà mấy thanh niên đứng bên đường còn ngẩn ngơ. Có anh chàng còn chép miệng: - Có vợ đẹp như vậy có chết cũng sướng... Một chàng khác lại nói: - Có con vợ như tiên đó chắc là phải đội nó trên đầu suốt ngày quá! Bởi đặt nó xuống cái chõng tre của mày nó đâu có chịu! Họ cùng phá ra cười, trong lúc chiếc xe hơi mất dần trong đám bụi đường... Xe chạy tới gần Vàm Rầy thì lại bốc khói lần nữa. Sang cho xe chạy chậm lại rồi càu nhàu: - Lại hết nước! Cò mi Thuận rất bực mình, nhưng biết đây là khuyết tật của xe chứ không phải lỗi ở tài xế, cho nên ông chỉ nhẹ lắc đầu rồi ngồi im, trong lúc Sang chạy đi tìm nước. Lát sau, anh ta trở lại xe vẻ thất vọng: - Ở đây toàn nước mặn, không làm sao có nước ngọt đổ vào xe, để em đi tìm. Anh lại xách xô đi xa hơn xóm nhà đó. Phải mất khá lâu, Sang mới xin được nước xách về. Tuy nhiên, sau khi đổ thêm nước thì xe lại giở chứng, không chịu nổ máy. Sang là người có kinh nghiệm về máy móc mà cũng chịu thua, không hiểu được tại sao lại xảy ra trục trặc này. Anh ta loay hoay hơn một tiếng mà vẫn chưa làm cho máy nổ lại được, trời đang tối dần... Cò mi Thuận đã sốt ruột thấy rõ, anh ta phải tính chuyện quá giang xe về Hà Tiên trước. Nhưng đón hơn một giờ vẫn chẳng có chiếc xe nào chạy qua. Người phụ nữ ngồi cạnh từ sớm đến giờ vẫn im lặng, nhưng giờ cũng phải lo lắng: - Như vậy liệu chúng ta có phải ngủ giữa đường không? Cò mi Thuận phải trấn an: - Không sao đâu em. Chúng ta sẽ kịp về Hà Tiên để dự buổi tiếp tân của ngài tỉnh trưởng mà. Đừng lo, Mỹ Tiên. Cô gái tên Mỹ Tiên nhìn đồng hồ tay rồi giãy nảy lên: - Bây giờ là bảy giờ rồi, tới giờ buổi tiếp tân khai mạc rồi mà ta còn ở đây thì làm sao không lo! Anh nói coi, chúng ta có thể bay về đó không? Cò mi Thuận chán nản, quay sang tài xế: - Anh liệu nếu sửa xong ngay thì chạy về Hà Tiên kịp 8 giờ không? Sang lắc đầu: - Không sao kịp được. Mỹ Tiên nghe nói thì từ trên xe đã bước xuống ngay và giậm chân: - Ba má tôi đã hẹn rồi, phải có mặt để còn đón mấy khách ở Sài Gòn về nữa. Chỉ có tôi mới quen với họ thôi, người khác biết gì mà tiếp! Cô bước đi từng bước nặng nề, giận dỗi và càng lúc càng đi xa khỏi chiếc xe hư. Cò mi Thuận biết tính tình cô vợ trẻ khá nóng nảy, cô ta đang tính đón xe đi nhờ. Anh ta cũng chỉ biết lững thững đi theo sau... Tuy nhiên, một lúc sau thì không còn thấy bóng cô nàng đâu nữa trong bóng tối của đoạn đường vắng. Thuận hốt hoảng gọi lớn: - Mỹ Tiên! Anh ta gọi đến gần chục tiếng mà chẳng hề nghe tiếng trả lời. Nỗi sợ hãi khiến anh ta phải ba chân bốn cẳng chạy nhanh lên để tìm. Cô nàng vốn đi giày cao gót, nên không thể nào đi nhanh hơn được, mà nãy giờ cũng không hề có chiếc xe nào chạy ngang để còn leo lên xe quá giang đi. Như vậy nàng đi đâu? Gặp người nào đi ngược chiều Cò mi Thuận cũng hỏi: - Anh có thấy một cô gái đi bộ qua đây không? Ai cũng lắc đầu. Thuận càng quýnh lên, anh lại chạy trở về, lát sau khi về đến xe thì Sang đã reo lên: - Nổ được máy rồi! Cò mi Thuận không mừng mà lo lắng hỏi: - Vợ tôi đâu? Sang lắc đầu: - Nãy giờ em lo sửa xe, đâu có để ý. Thuận nhảy lên xe, giục: - Chạy nhanh lên! Sang phóng thật nhanh, chạy gần chục cây số mà chẳng hề thấy bóng dáng Mỹ Tiên đâu. Sau đó lại quay xe chạy ngược chiều, cũng đến cả chục cây số. Vẫn bặt vô âm tín! Đến lúc này thì Thuận đã cuống cuồng lên, anh ta giục tài xế: - Làm sao kiếm cho ra vợ tôi, nhanh lên! Sang có là thánh cũng không thể tìm, bởi trời tối và... làm sao biết cô nàng biến đi đâu? Anh chàng chạy quanh quẩn một lúc thì đành chịu thua: - Thầy nhờ người quanh đây tìm giùm, chứ mình chạy một lát hết xăng thì chẳng biết phải đổ xăng ở đâu nữa! Cò mi Thuận thật sự tuyệt vọng, anh ta gặp ai cũng hỏi. Chẳng một ai biết. Chỉ duy nhất có một cậu bé khi nghe hỏi đã chỉ tay vào phía rừng tràm: - Hồi nãy cháu thấy có một cô đẹp lắm đi về hướng này nè! Sang buột miệng nói: - Làm sao có chuyện cô đi vào rừng được! Cò mi Thuận run giọng hỏi: - Cô ấy đi với ai? Thằng bé đáp nhanh, vừa chạy đi: - Đi một mình! Nó chạy xa rồi mà Thuận vẫn còn đứng ngẩn ngơ đó. Khi chợt tỉnh, anh ta giục Sang: - Chạy vào rừng! Sang kêu lên: - Đường đâu mà chạy! Thuận như kẻ mất hồn, chẳng còn biết phải làm sao. Sang phải nhắc: - Thầy mướn người đi tìm cô ấy thử coi! *** Sau ba ngày tìm kiếm hầu như khắp khu rừng tràm ở Vàm Rầy, nơi mà cái địa danh Cà Bay Ngộp (theo nghĩa tiếng Cao Miên xưa là Con Trâu Chết) đã nói lên tính chất nguy hiểm của nó: "Trâu mà lội qua vùng này cũng chết nói chi người", cũng chẳng có kết quả gì... Kể cả với thân thế của mình, đã nhờ vả cả làng lính cũng đành bó tay. Cò mi Thuận đau khổ trở về Rạch Giá rồi ngã bệnh và nghỉ làm cả tháng trời!Trong khi đó thì lời đồn đại trong dư luận rất nhiều về chuyện mất tích lạ lùng đó. Có người ác miệng nói rằng cô vợ Cò mi Thuận đã lén trốn theo nhân tình đi biệt! Cũng có người bảo rằng đêm hôm đó có một bọn cướp đã chặn đường và thay vì cướp của, đã bắt cô vợ xinh đẹp đó đi để đòi tiền chuộc! Về lời đồn thứ hai đó tuy ban đầu Cò mi Thuận không tin, nhưng suy ra có lý, nên anh ta có ý chờ... một cuộc trao đổi của ai đó. Nhưng chờ hoài mà vẫn chẳng thấy ai đòi tiền chuộc hay ra điều kiện gì khác... Hai tháng sau... Vào một buổi sáng, theo thói quen Cò mi Thuận thức dậy sớm tập thể dục ngay tại sân ngôi nhà riêng của mình. Khi vừa bước ra sân, anh ta đã ngạc nhiên khi thấy có một vật gì đó đựng trong một cái túi bàng đặt giữa sân. Đúng ra sự cảnh giác cần thiết, Thuận phải gọi người tới mở ra, nhưng chẳng hiểu sao anh ta lại nôn nóng, tự ngồi xuống mở ra xem. - Đồ của Mỹ Tiên! Trong giỏ là bộ quần áo Mỹ Tiên mặc hôm mất tích. Bộ đồ còn sạch, không dính một chút bùn đất nào chứng tỏ nàng không hề lạc vào rừng. Thuận vừa sợ vừa mừng, reo lên: - Nàng còn sống! Nhưng nghĩ tới việc nàng đang nằm trong tay ai đó thì Thuận điên tiết lên, anh ta định đi báo động để mở cuộc "hành quân" đại quy mô lần nữa. Tuy nhiên, khi lấy hẳn bộ quần áo ra khỏi thì ở tận dưới đáy giỏ lại có thêm một lọn tóc lớn của phụ nữ. - Tóc của... Mỹ Tiên! Đúng là mái tóc dài hấp dẫn của cô vợ trẻ mà Thuận từng mê mẩn tâm thần mỗi khi nhìn trước đây. Bây giờ... - Trời ơi, đã mất mái tóc ấy rồi! Thuận vừa gào vừa ôm lấy lọn tóc mà khóc rống lên! Vậy là nàng đã xuống tóc quy y rồi chăng? Nghĩ tới đó Thuận tái mặt! Vài tuần trước trong một lần ghen tuông, chính Mỹ Tiên đã nói là nếu Thuận làm nàng giận lần nữa thì nàng sẽ xuống tóc vào chùa! Phải chăng... Với tâm trạng đang hoang mang mà nghĩ tới đó, Thuận thốt lên: - Đúng rồi! Anh ta một mình lái xe đi tới từng ngôi chùa để tìm. Đi suốt ngày hôm đó đến mệt lả người mà chẳng có chút tin tức gì. Đến chiều quay về nhà thì Thuận lại một phen điên tiết, bởi bộ đồ của Mỹ Tiên anh đem để trong phòng riêng, giờ chẳng còn thấy đâu! Nghĩ là bị trộm, nhưng xem lại mọi cửa nẻo trong nhà vẫn đóng chặt, không hề có dấu vết bị cạy, bị mở khóa. Mà thời gian này Thuận không hề thuê mướn người làm, vậy có ai vào để lấy? Sáng hôm sau, Thuận gọi lại tài xế Sang, bảo anh ta lái xe đưa mình đi trở lại Vàm Rầy, bởi đêm hôm qua trong giấc ngủ nửa tỉnh nửa say, Thuận nghe như có ai gọi tên mình. Khi mở choàng mắt ra thì anh còn nghe văng vẳng ngoài cửa sổ có ai đó nói: - Muốn tìm vợ thì phải trở lại chỗ bị lạc mất, chứ sao chỉ ở nhà! Cái giọng nói lạ, hình như của một ông già. Trên xe, Thuận hỏi Sang: - Ở khu Vàm Rầy có ngôi chùa nào không? Sang đáp: - Em cũng không để ý, nhưng chắc là có, bởi chùa hình như có khắp nơi. - Hễ thấy đâu có chùa là ghé vào! Từ Rạch Giá lên, xe ghé lại đến chục ngôi chùa lớn nhỏ. Vẫn chẳng tìm ra tung tích gì... Khi tới Vàm Rầy, qua khỏi địa phận xảy ra chuyện hôm trước thì chợt Thuận nhìn thấy một cái am nhỏ, anh ta bảo: - Ngừng lại đây coi! Sang nhìn sâu vào cách đường lộ hơn trăm thước, thấy có một ngôi nhà nhỏ cất theo kiểu mái chùa, nhưng nhỏ hơn nhiều. Đúng là cái miếu hay am. Anh ta nói: - Nơi này đâu có gì ra vẻ... Thuận bước xuống xe và dặn: - Cứ chờ ở đây. Anh ta đi bộ vào trong đó một cách khó khăn, bởi không có lối đi, mà chỉ là men theo bờ đất cỏ mọc tràn lan, chứng tỏ đây là cái am rất ít người lui tới. Quả đúng như vậy. Khi Thuận bước vào thì chỉ có con chó mực duy nhất có mặt ở sân am, thay vì sủa vang khi có khách lạ thì trái lại, nó đứng lên và... ngoắt đuôi mừng rỡ như mừng người thân đi xa mới về! Chính Thuận cũng ngạc nhiên, anh khựng lại nhìn, cứ sợ con chó sau khi mừng lầm sẽ lại tấn công! Nhưng càng lúc con vật càng mừng dữ hơn, nó gần như chồm lên người Thuận, khiến anh phải lùi lại, suýt nữa đã rớt xuống cái ao bên cạnh am. - Mực! Không được hỗn! Tiếng la của một người đàn ông đứng tuổi đã ngăn chặn kịp thời sự vui mừng quá lố của con chó. Một tu sĩ mặc áo nâu xuất hiện khiến con chó đang hăng phải xìu xuống, nằm bẹp y như trước đó! Thuận lúng túng: - Dạ, cháu chào bác... Dạ không, chào thầy! Con là... Tu sĩ chắp tay, giọng thân thiện: - Nơi quanh năm không có khách viếng nay lại hân hạnh đón một quý khách thế này, bảo sao con mực nó không mừng! Mời đạo hữu ngồi tạm lên khúc cây, bởi am không tiếp khách thường xuyên nên không có bàn ghế cho đàng hoàng. Cò mi Thuận sốt ruột nên hỏi liền: - Thầy ở đây từ lâu, vậy chẳng hay thầy có từng thấy một cô gái trẻ bị đi lạc trong rừng tràm này không? Vị tu sĩ không hề ngạc nhiên trước câu hỏi, trái lại ông hết sức sốt sắng, vừa đứng lên vừa hỏi: - Có phải cô này không? Ông bước vào trong chỗ bệ thờ, lấy ra một chiếc giỏ đệm, mà vừa nhìn thấy Thuận đã kêu lên: - Chiếc giỏ có bộ đồ! Đặt nó xuống đất, vị đạo sĩ hỏi lại: - Đạo hữu kiếm người này phải không? Thuận nhanh tay kéo bộ quần áo ra, lôi luôn mớ tóc, anh hỏi: - Sao nó lại ở đây? - Sáng hôm nay khi tôi dậy ra tưới cây thì thấy vật này do ai đó đặt ngoài sân. Tôi biết ngay là của một cô gái, mà là cô gái đẹp, sang trọng nữa, bởi nhìn bộ quần áo lụa may theo kiểu thị thành, thêm vào đó là mái tóc dài này, gái thôn quê không có được người trắng da dài tóc như thế... Ông nhìn lại một lần nữa rồi tiếp: - Theo tôi thì mái tóc này không phải do cạo hay cắt mà có. Nó... rụng một cách tự nhiên. - Sao lại rụng được? - Thuận sửng sốt. Vị tu sĩ đáp một cách tự nhiên: - Chỉ có chết thì tóc mới rụng như thế này! Đây, đạo hữu coi, chân tóc còn nguyên, không phải dao cạo cắt ngang như những người xuống tóc quy y... Câu nói của ông chưa dứt thì Cò mi Thuận đã kêu lên thất thanh: - Trời ơi, Mỹ Tiên! Anh ta xúc động mạnh, tay chân run rẩy, người lảo đảo, suýt nữa đã ngã xuống đất. Vị tu sĩ phải gọi giật: - Đạo hữu sao vậy? - Cô... cô ấy là vợ tôi. - Thuận thều thào. Tu sĩ nhẹ lắc đầu: - Sáng nay tôi nhận được vật này, bấm độn tôi đã đoán ngay là sẽ có đạo hữu tới, và càng lo hơn khi biết điều oan nghiệt đang có mặt chốn này... Thuận hốt hoảng: - Thầy nói thế là sao? Vợ tôi liệu có còn... - Nhìn mớ tóc kia thì không thể nào của người còn sống được. Bởi người sống thì không làm sao nhổ ra được từng sợi tóc. Nhưng theo quẻ độn của tôi thì lại có cái vong của một người còn quanh quẩn đâu đây... Lạ lắm, từ ngày theo học đạo, biết bấm độn đến nay thì tôi chưa đoán lầm bao giờ. Vậy mà sao lần này... Ông trầm ngâm rất lâu rồi mới nói tiếp: - Có điều gì đó không bình thường ở đây... Thuận kể chuyện giỏ đồ này từng ở nhà của anh cho vị tu sĩ nghe, ông bảo: - Ở chỗ đạo hữu, rồi một cách bí mật chuyển tới đây thì không thể do đạo hữu hay do tôi làm được. Mà phải do... Cò mi Thuận buột miệng: - Do người của cõi âm! - Có những điều ta không thể biết chắc được, nhưng nó đã xảy ra... - Con xin thầy giúp tìm hiểu xem vợ của con có thật sự còn sống không? - Thuận nói gần như van lơn. Trầm ngâm một lúc, vị tu sĩ nhẹ thở dài: - Tôi đã nói lúc nãy, vẫn còn có điều tôi đang mơ hồ... Nhưng tôi hứa với đạo hữu, tôi sẽ dốc hết sức mình để tìm hiểu việc này. Nếu có thể, đạo hữu hãy trở lại đây vài hôm nữa, thế nào tôi cũng có cách... Ông đưa chiếc giỏ cho Thuận: - Của đạo hữu thì cứ giữ lấy. Thuận ngập ngừng: - Nó từng ở bên con rồi bị mất. Liệu lần này... - Nó tự nhiên hiện ra với đạo hữu, rồi lại bị lấy đi, như vậy ắt có nguyên nhân của nó. Vậy cứ giữ nó lần nữa xem sao... Cò mi Thuận thật lòng muốn giữ lại vật của vợ mình, nên anh ôm nó vào lòng và lững thững bước trở ra xe. Tài xế Sang đưa cho anh một đôi giày cao gót: - Em cũng chẳng biết của ai, khi em rời xe đi vệ sinh trở lại thì thấy nó nằm trên băng phía sau. Giống như của cô Mỹ Tiên? - Của cô ấy chứ ai nữa! - Thuận reo lên. Đôi giày này hôm đó Mỹ Tiên đã mang. Như thế đã quá đủ để hiểu rằng nàng đã... chết! *** Bà Mỹ Dung, mẹ của Mỹ Tiên khóc vì chuyện mất đứa con gái duy nhất của mình suốt một tháng trời vẫn chưa nguôi. Đêm nào bà cũng gặp ác mộng, mà trong đó hầu như bà luôn nhìn thấy con gái hiện về mình mẩy đầy máu, và chỉ đứng trong tư thế chống cả hai tay xuống đất giống như một con vật bốn chân!Qua nhiều lần mơ thấy như vậy khiến cho bà Dung lo sợ, đem chuyện nói lại với ông chồng. Nhưng vốn là một viên thẩm phán thấm nhuần nền tây học, nên ông Lợi gạt ngang: - Bà nhớ nó quá rồi đâm ra mộng mị lung tung thôi! Nhưng bà Mỹ Dung vẫn cố nói: - Tôi có linh tính là con Mỹ Tiên chết không bình thường. Tôi muốn nhờ thầy cầu hồn nó về xem sao. Ông thẩm phán Lợi nổi xung thiên: - Tôi cấm bà làm chuyện mê tín đó! Không có thầy bà gì hết! Để ngăn vợ không cho nghĩ ngợi, buồn lo chuyện của Mỹ Tiên, ông ta ngầm bảo tài xế riêng chở vợ về thẳng Rạch Giá, rồi dự tính sẽ đưa bà đi luôn Sài Gòn. Bà Mỹ Dung không muốn rời nhà người quen ở Hà Tiên, nhưng do tài xế lái xe đưa bà đi Kiên Lương, rồi chạy thẳng về Rạch Giá trong đêm, nên tối đó bà đành phải trở về nhà ở thị xã Rạch Giá. Người nhà hơn tháng qua không thấy chủ thì tuy có lo, bởi vậy thấy bà Mỹ Dung về họ mừng lắm. Con Thẩm vốn là đứa hầu hạ tâm phúc cho bà chủ, được dịp tâng công: - Ngày nào con cũng mong bà về. Phòng riêng của bà mỗi ngày con cũng lau dọn và thay hoa bà ưa thích. Bà vào coi, hoa cúc vàng khó mua mấy con cũng kiếm cho được! Sáng nay con thay đúng sáu bông, bởi bữa nay là ngày thứ sáu, mà ý của bà con đâu quên, hễ ngày thứ mấy trong tuần là cắm mấy bông hoa. Dẫu đang sầu lòng, nhưng trước tấm lòng của những người làm, bà Mỹ Dung cũng gật đầu khen nó một câu: - Được lắm! Bà vào phòng định sẽ ngủ ngay một giấc, bởi hầu như cả tuần rồi bà luôn bị mất ngủ với những cơn ác mộng triền miên... Vừa bật đèn điện lên, bà đã kêu thét: - Bớ!... Trước mặt bà, nằm trên giường là một... con khỉ trắng to gần bằng người thật! Con khỉ lại giương mắt nhìn bà mà không chút sợ hãi nào! - Bớ!... Lần kêu thứ hai của bà Mỹ Dung bị nghẹn lại bởi lúc ấy con vật lạ thường kia đã bật dậy, đôi mắt vẫn nhìn chằm chằm vào bà bằng ánh mắt kỳ lạ. Những người làm nghe bà la vội chạy vào, nhưng gõ cửa mãi vẫn chẳng nghe bà lên tiếng. Con Thắm phải nói to hơn: - Bà có chuyện gì để con vào giúp bà với! Mãi một lúc sau, cánh cửa mới bật mở. Nhưng khi nhìn vào thì bọn người làm hốt hoảng: - Bà chủ, sao vậy nè? Họ thấy bà Mỹ Dung nằm ngất dưới sàn nhà. Ngoài ra chẳng hề thấy cái gì khác. Phải mất khá lâu họ mới cứu tỉnh được bà chủ. Vừa choàng mắt ra, bà đã nói trong hoảng sợ: - Có... có ai làm gì nó không? Con Thắm ngạc nhiên: - Bà nói làm gì ai? - Con... con... Bà ngừng bặt, chừng như sợ hãi điều gì. Con Thắm tinh ý nên hỏi: - Bộ bà thấy gì hả? Không trả lời, mà bà lại hỏi: - Nó đâu? Rồi bà thu người lại ngồi vào một góc bảo mấy đứa đầy tớ: - Hãy đóng hết cửa nẻo lại, kể cả cửa sổ! Thấy bà quá sợ như vậy nên con Thắm chủ động nói: - Để con ở lại với bà trong phòng. Con mở đèn sáng lên như vầy thì đâu có gì bà phải sợ. Nhưng bà Mỹ Dung vẫn như đang nhìn thấy cái gì đó, bà cứ đưa tay chỉ ra ngoài khoảng không và lắp bắp nói: - Nó... nó ở chỗ đó! Nó... Phải mất cả buổi bà mới hồi tỉnh hoàn toàn. Tuy nhiên tâm thần bà bất an, cứ thỉnh thoảng lại hỏi: - Con khỉ nó còn vào đây nữa không? Hỏi con khỉ nào thì bà không nói, mà chỉ nhẹ thở dài rồi nhìn ra ngoài trời và nói thật khẽ trong miệng, chẳng ai nghe thấy được gì... Ông thẩm phán Lợi được báo tin, ông từ Hà Tiên về và cũng thật bất ngờ, ông nói: - Tối qua cũng có một con khỉ trắng lớn gần bằng con người, nó từ trong phòng tôi nhảy qua cửa sổ rồi chạy mất dạng! Tôi sợ quá nên cho mấy tay súng nằm rình ngoài vườn, định bắn hạ... Lời ông chưa dứt thì bà đã gào lên: - Không được bắn! Mấy người mà bắn nó thì... thì hãy bắn tôi đây nè! Trước thái độ kỳ lạ của vợ, ông Lợi quá đỗi ngạc nhiên, nhưng cũng chiều lòng bà, ông điện thoại về Hà Tiên dặn mấy tên lính giữ nhà không được sát hại con khỉ trắng, nếu nó có trở lại thì tìm cách bắt giữ thôi! Bà Mỹ Dung nghe vậy cũng phản đối: - Cũng không được bắt giữ! Tôi thấy nó hiền và tội nghiệp lắm. Bữa qua tuy tôi sợ phải ngất đi, nhưng lúc đó tôi cũng thấy rõ ràng là đôi mắt nó ươn ướt, như đang khóc! Một con khỉ như vậy sao mình nỡ giết chứ! Ông thẩm phán cũng bắt đầu hoang mang về sự việc lạ kỳ này. Phải chăng có hai con khỉ giống nhau, vậy nên chúng mới xuất hiện cùng lúc ở hai nơi xa nhau gần trăm cây số? Mà tại sao chúng lại xuất hiện trong phòng riêng? Có lẽ vì thương nhớ con nhiều và nghĩ ngợi lắm, nên bà Mỹ Dung nhạy cảm hơn, bà buột miệng nói: - Phải chăng... oan hồn con Mỹ Tiên là... là... Bà không dám nói hết câu, nhưng ông Lợi cũng hiểu, ông thốt lên: - Oan hồn! Đây là lần đầu tiên ông ta thừa nhận có oan hồn! Ông ta còn nói: - Nhưng... hồn người chết sao là khỉ? Không thể nào... Bà vợ thì hình như khẳng định được điều gì đó, bà bật dậy và nói nhanh: - Phải báo cho thằng Thuận biết để đi tìm vợ nó! Nhưng khi họ tới tìm Thuận thì anh ta đã đi đâu mà người nhà cũng không biết rõ. Tài xế Sang đậu xe đợi ở ngoài cửa như thường lệ, nhưng từ sáng đến giữa trưa vẫn không thấy bóng dáng chủ đâu. Anh ta nói với vợ chồng ông thẩm phán: - Tối qua con còn đưa cậu đi "nhậu" về. Mấy hôm nay cậu ấy "nhậu" dữ lắm. Cậu ấy vào nhà xong, con cũng là người khóa cửa ngoài và ngủ ở ga-ra, phòng khi cậu có cần gì thì gọi cho dễ. Nhưng chẳng nghe cậu gọi gì cả, sáng sớm ra con tưởng cậu còn ngủ sau cơn say, mà chờ hoài tới giờ cũng không thấy. Ông bà thẩm phán đã vô tận phòng riêng gọi cửa thì Thuận không có trong đó. Coi lại đồ đạc trong phòng thì họ phát hiện ra trên giường nệm, nhất là trên một cái gối có lưu lại khá nhiều lông màu trắng, mà vừa trông thấy bà Mỹ Dung đã la lên: - Lông khỉ! Ông thẩm phán cũng nhận ra điều đó. Ông lẩm bẩm: - Không lẽ nó cũng... có con khỉ? Khi họ trở ra hỏi thêm Sang thì anh ta chợt nhớ ra: - Từ hôm qua, đã nhiều lần cậu Thuận cứ nhắc hoài cái am ở Vàm Rầy... Tự dưng ông thẩm phán hỏi: - Cái am ở giữa đồng phải không? - Dạ phải, cách Vàm Rầy chừng hai trăm thước. Cái am nằm sâu giữa đồng, chẳng có đường vào. - Trời ơi! Ông Lợi kêu lên mấy tiếng rồi đứng chết lặng khá lâu. Bà Mỹ Dung phải lên tiếng hỏi: - Ông sao vậy? Bất chợt, ông quay qua tài xế Sang: - Mày đưa tao trở lên đó coi! Bà vợ cũng đòi theo: - Tôi cũng đi nữa! Ông Lợi gạt ngang: - Bà không đi được, để tôi đi tìm... Tìm thằng Thuận! Bà quyết liệt: - Tôi tìm con gái tôi! Bà leo đại lên xe, nên buộc lòng ông phải chấp nhận: - Đi, nhưng lên đó bà không được để ý chuyện gì chung quanh. Chuyện... Ông định nói gì đó lại thôi. Từ đó lên Vàm Rầy, hầu như cả hai vợ chồng đều im lặng. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng... Khi tới nơi, trước sự ngạc nhiên của bà vợ, ông Lợi bước xuống xe lội băng đồng, tiến vào cái am mà lần trước Sang đã dừng xe chờ Cò mi Thuận. Bà Mỹ Dung có muốn đi theo cũng ngại, bởi bà đi hài nhung thì làm sao băng qua ruộng đầy sình lầy kia được! Rồi đột nhiên bà gợi ý: - Nè Sang, mày có dám... cõng tao vào trong đó không? Sang hơi bất ngờ trước đề nghị đó, nhưng trong lòng anh chàng đang rộn lên ý nghĩ thích thú. Tuy gọi là bà chủ, chứ thật ra bà Mỹ Dung chỉ lớn hơn Sang sáu tuổi... Cơ thể một mệnh phụ như bà ta lại được chải chuốt, ăn diện sang trọng, nên trông chẳng cách biệt tuổi với Sang là mấy. Anh chàng nghĩ nhanh: Cõng thì cõng, như cõng... một nàng nào đó, có sao đâu. Vả lại, suy cho cùng một khi bà chủ lớn mà muốn như vậy thì có cãi cũng không được! Cho nên Sang nói liền: - Dạ, nếu bà muốn... Bà Mỹ Dung bá lấy cổ anh chàng tài xế khỏe mạnh ngay và giục: - Theo ông ấy nhanh lên! Tuy cõng một người ngót năm chục ký có nặng, nhưng tài xế Sang do thích thú nhiều, nên anh vừa bước nhanh vừa nghĩ: - Đời tài xế mà kiêm luôn... cõng xế thế này thì mấy ai được như mình! Khi Sang cõng bà chủ vào tới am thì vừa lúc vị tu sĩ từ trong bước ra, giáp mặt với thẩm phán Lợi. Vừa chợt trông thấy người trước mặt, ông Lợi thảng thốt kêu lên: - Ông đây là... đây là... Vị tu sĩ vẫn điềm tĩnh: - Mời quý đạo hữu ngồi. Dẫu là cố nhân thì cũng ngồi nói chuyện đã chứ! Thấy giọng điệu bình tĩnh của vị tu sĩ, thẩm phán Lợi càng lúng túng hơn: - Thì ra... ông ở đây... Lúc này chủ am mới lên tiếng, mạch lạc hơn: - Người quân tử trả thù thì mười năm cũng chưa muộn, phải không ngài thẩm phán! Thẩm phán Lợi tái mặt, giọng run run: - Anh Lượng... tôi và anh... nên gác qua một bên chuyện cũ... Vừa trông thấy bà Mỹ Dung vào tới, vị tu sĩ nói lớn: - Hay quá, có mặt cả người mà tôi tưởng là sẽ không bao giờ gặp lại thì còn gì bằng! Ông Lợi thấy sự xuất hiện của vợ thì càng quýnh lên: - Bà... bà không nên... Mà nè anh Lượng, chuyện giữa mình với nhau, đừng để người ngoài... Vị tu sĩ quay sang phía tài xế Sang: - Theo cậu thì chuyện lạ về đôi vợ chồng quyền thế mà cậu đang làm công đây có đáng nghe không? Sang cũng rất tò mò, nhưng đành phải lắc đầu: - Dạ, để con ra ngoài. Thẩm phán Lợi lại rất cần có Sang, nên ông cố nói: - Anh cho nó đưa vợ tôi ra, bà ấy đang bệnh. Nhưng bà Mỹ Dung lại nói: - Tôi muốn ở lại! Bà nói bằng giọng kích động, bởi lúc ấy bà vừa nhận ra người tu sĩ trước mặt mình. Bà không thể bình tĩnh được, nên lại nói: - Tại sao anh lại... Bà nhìn chăm chú vào bộ áo nâu sồng của người đàn ông trước mặt. Ông này hướng về phía Sang xua tay: - Thôi, cậu ra ngoài đi. Hai người này sẽ không hứng thú khi có cậu nghe chuyện của họ lắm đâu. Khi cần tôi sẽ gọi vào. Sang đi ra rồi thì bà Mỹ Dung lại càng kích động dữ hơn: - Anh Lượng, xin anh... Vị tu sĩ mà cả hai người đều gọi là Lượng vẫn bình thản: - Tôi bây giờ đã khoác áo nâu sồng, vậy hãy gọi tôi là tu sĩ Thành Lượng. - Anh... à mà thầy Lượng, xin hãy... - Bà muốn nói tôi hãy bỏ qua chuyện cũ chứ gì? Vậy chuyện cũ đó là gì, bà thử nhắc lại nghe xem, có thể bỏ được không? Ông thẩm phán lúc này mới lại lên tiếng: - Xin anh Lượng bỏ qua chuyện cũ, tôi xin chịu tội, tôi sẽ... Bất chợt vị tu sĩ cất tiếng cười! Giọng cười lúc đầu lớn, sau nhỏ dần và đột nhiên biến thành một tràng tiếng khóc, nghe thê lương lạ thường! Tiếng khóc đó khiến cho cả hai vợ chồng thẩm phán đều rúng động và họ co rúm lại, như biết sắp có chuyện gì đó ghê gớm lắm sẽ xảy ra... Rồi đột nhiên cả hai vợ chồng ông ta đều quỳ sụp xuống, lạy như tế sao: - Xin anh Lượng tha tội! Xin lạy anh! - Tội lỗi! Tội lỗi! Hai người để sức mà lạy người kia kìa, đừng lạy tôi! Lời ông vừa dứt thì từ nhà sau bước ra một người trùm kín trong chiếc áo tơi, loại áo bằng lá kết thành của những người đi làm nông. Rồi đột nhiên người đó đưa tay gỡ từng mảng lá trên người ra, để lộ... một người khỉ lông xám! Bà Mỹ Dung hét lên trước tiên rồi bò lăn dưới đất, hồn phi phách tán! Ông thẩm phán Lợi thì bình tĩnh hơn, chỉ hơi né sang bên khi người khỉ đó bước tới gần! Giọng của vị tu sĩ trở nên gay gắt hơn: - Ông bà hãy nhìn kỹ xem đây là ai? Bà Mỹ Dung luôn là người nhạy cảm hơn, bà nhìn vào đôi mắt con khỉ tỏ như người, bất chợt bà kêu lên: - Lệ! Ngọc Lệ! NGƯỜI VỢ HÓA KHỈ -Phần II Ông Lợi vừa nghe vợ kêu tên Ngọc Lệ thì giật mình: - Ai... ai là Ngọc Lệ? Trả lời cho ông là một tiếng rú kinh người phát ra từ con người khỉ kia. Đồng thời người ấy phóng mình thẳng qua cửa sổ và mất dạng sau cánh rừng tràm. Vị tu sĩ thảng thốt: - Lệ, em đừng đi, phải ở lại đây đòi món nợ năm xưa! Nhưng bóng người khỉ đó đã mất hút trong cánh rừng dày đặc. Cũng lúc đó, giọng nói như tiếng khóc của tu sĩ Lượng: - Nó có thể giết chết hai người để trả thù, nhưng tính nó vốn vậy đó, không thể ra tay tàn ác được! Ông ta ngừng lại một chút, rồi tiếp với giọng đầy uất hận: - Đã hơn mười năm rồi, ngày nào nó cũng ra lộ cái mà ngồi, để chờ đợi người mà nó cho là đã gây ra cái chết của nó, hại cả đời con gái của nó. Vậy mà đã trên mấy chục lần rồi, nó đối diện với hai người, để rồi lại âm thầm quay về mà chẳng thể nào hoàn thành được tâm nguyện... Nó đã tha cho hai người bao nhiêu lần rồi và lần này, sau khi tôi giúp nó rửa được một phần mối hận, chỉ một chút nữa thôi là nó làm xong những gì hơn mười năm nay luôn canh cánh bên lòng. Bà Mỹ Dung vội chen vào: - Ngọc Lệ chắc là hiểu cho chúng tôi, ngày đó chúng tôi đâu cố ý. Chúng tôi chỉ... Lợi cũng hùa theo vợ: - Anh Lượng hiểu cho bọn này, mình đâu có ý hại Ngọc Lệ. Chẳng qua... Bỗng giọng của vị tu sĩ đanh lại: - Vậy ai đã cưỡng bức Ngọc Lệ với sự tiếp sức của con đàn bà lòng lang dạ sói này! Ai, hai người nói xem? Cả hai tái mặt: - Dạ... dạ... - Tôi đã xuất gia tu hành sau cái chết tức tưởi của em gái mình. Tôi không muốn mang thù hận lâu dài... Nhưng chính các người đã khơi dậy lòng oán thù khi cho thằng rể phá cái miếu thờ nó, khiến nó không có chỗ nương tựa. Bà My Dung ngơ ngác: - Thằng Cò mi Thuận thì dính gì vụ này? - Về mà hỏi nó coi, có phải nó mua miếng đất xây ngôi biệt thự nghỉ mát ở Kiên Lương rồi trước khi xây đã phá cái miếu âm hồn hay không? Ông Lợi giật mình: - Quả là có chuyện đó! Nhưng khi ấy nó đâu có biết là miếu của ai? - Phá chùa phá miếu là tội tày đình mà lại phá ngay cái miếu mà tôi đã cho xây để tưởng nhớ con Ngọc Lệ. Thử hỏi... Ông mở tung cánh của sổ, chỉ tay ra phía rừng tràm: - Hai người có nhìn thấy ai đứng ngoài kia không? Hai vợ chồng cũng nhìn ra và đều sửng sốt: - Ngọc Lệ! Ông ta lắc đầu: - Ngọc Lệ là con khỉ màu xám, còn ở kia là... con khỉ màu trắng. Hai người không nhớ gì sao? Bà Mỹ Dung kêu lên: - Con Mỹ Tiên! Ông Lợi cũng nói theo: - Đúng là con khỉ đã về báo cho mình hôm qua! - Làm ác thì gặp ác thôi! Em gái tôi bởi mấy người mà mạng vong, thì nay tới phiên con gái mấy người phải trả giá! Bà Mỹ Dung gào lên: - Con gái tôi! Anh đã làm gì nó hả Lượng? Anh quá tàn ác... - Tôi không làm, nhưng đó là hậu quả tất yếu của việc mà vợ chồng bà đã gây ra mà thôi! Bà có nhớ cái đêm mưa gió tháng tám năm ấy không? Cũng ở một cánh rừng tràm như thế này... Ông Lợi nghe tới đó thì bịt tai lại, rên rỉ: - Đừng nói... xin anh đừng... Nhưng vị tu sĩ vẫn nói: - Em gái tôi lúc ấy đang là người hầu cho ngài thẩm phán mới được bổ nhiệm Lê Tấn Lợi. Hôm đó ngài đi săn khỉ cùng với người yêu tại cánh rừng Cà Bay Ngộp này, có con Ngọc Lệ đi theo để hầu nước nôi, và nửa đêm hôm đó thì xảy ra chuyện! Khi ấy ngài thẩm phán Lợi sau khi uống say với mấy tên quan Pháp trên chiếc ca-nô lớn, đã bắt cóc em gái tôi đem xuống chiếc xuồng nhỏ và đưa ra xa, nơi đó có một cái chòi lá và có cả cô tiểu thư Mỹ Dung nữa! Thì ra những con người giàu có ăn no rửng mỡ, họ bày ra cái trò chơi bẩn thỉu, tội lỗi, gọi là đạt được mục tiêu do lời thách đố của mấy tên quan Tây. Họ thách rằng, nếu thẩm phán Lợi mà không cưỡng hiếp được cô hầu gái xinh đẹp Ngọc Lệ thì chính bọn quan Tây kia sẽ hiếp cô vợ trẻ của hắn. Do vậy mà khi tên Lợi bắt cóc được Lệ đem tới chòi lá đó thì chính người yêu của hắn tiếp sức, để cho hắn thực hiện hành vi đồi bại, đốn mạt kia! Bà Mỹ Dung hoàn toàn suy sụp, bà ngã quỵ xuống đất, thều thào: - Ngày đó... chẳng qua tôi sợ... tôi sợ bị hiếp bởi mấy tên Tây say, nên mới... - Mới trói tay Ngọc Lệ, để cho tên khốn Lợi làm chuyện tội lỗi. Mà phải vậy thôi sao. Sau khi thực hiện xong thú tính, hai người đã đem vứt xác em tôi ở giữa rừng, thay vì thả nó ở ngay chỗ đó thì nó còn có thể bò trở ra ngoài sẽ có người cứu giúp. Chính bởi bị bỏ rơi cho nên nửa đêm hôm đó, lũ khỉ đông đến hàng trăm con đã kéo đến. Bọn khỉ đực sẽ chẳng bao giờ hiếp con người nếu... người đó không trong tư thế lõa lồ, nhất là người ấy vừa trải qua cơn mây mưa dục tình, cái mùi dục tình sẽ khiến lũ khỉ đực ham muốn, và thế là... Ngừng lại với tiếng nấc qua màn nước mắt, hồi lâu sau, vị tu sĩ mới nói tiếp được: - Ngọc Lệ đã chết sau sự cưỡng hiếp tập thể của đàn khỉ, và tôi chỉ hay tin sau bảy ngày vong hồn nó về báo cho biết! Nói thật, lúc ấy tôi quá uất hận, đã cầm dao ra Rạch Giá đôi lần để quyết trả thù cho em gái mình! Tuy nhiên, cũng đôi ba lần, em gái tôi đã tìm cách ngăn cản, khi thì nó khiến cho hai người đi vắng lúc tôi đột nhập vào nhà, khi thì khiến xe đò tôi đi báo thù bị hư dọc đường, để rồi sau đó hai người không đến nơi thường ở. Sau mấy năm, cuối cùng tôi nghiệm ra rằng: lòng thù hận sẽ dẫn tới cuộc báo oán triền miên, rồi sẽ có thêm cái chết của hai người, và sau đó còn tiếp nối dài dài... Oan nghiệt chất chồng oan nghiệt! Bởi vậy cuối cùng tôi đã quyết định khoác áo nâu sồng và quên hết mọi chuyện... Ông nói tới đó thì ngừng lại hơn nửa phút, đến khi tiếp lời thì giọng trở nên buồn thảm: - Nhưng chuyện đời đâu như ý mình muốn! Cây muốn lặng mà gió chẳng chịu ngừng. Bởi vậy khi Cò mi Thuận ủi sập cái miếu thờ thì tôi không còn ngăn cơn thịnh nộ của Ngọc Lệ được nữa! Bà Mỹ Dung đã đoán ra chuyện ông ta sắp nói: - Và con gái tôi đã bị hại? Giọng vị tu sĩ bùi ngùi: - Đáng tiếc, nhưng không làm sao hơn! Đêm hôm ấy, trời xui khiến cho xe của Cò mi Thuận bị hư ở gần đây, và cô vợ trẻ của anh ta đã bị cái vong của Mỹ Lệ xui khiến bước xuống xe, đi thẳng tới nơi này... Vừa nghe tới đó, bà Mỹ Dung đã kêu lên: - Vậy con tôi đâu? Ai đã làm gì nó rồi? - Rất tiếc... đêm đó tôi đã hết lời khuyên mà Ngọc Lệ không nghe, nó quyết đưa con gái bà đi vào rừng. Và chuyện gì sau đó ắt hai người biết rồi... Cả hai đều kêu lên một lượt: - Trời ơi! Họ gục xuống. Trong khi ở bên ngoài cửa sổ có bóng một con khỉ trắng đứng lặng im... *** Sau khi trở về từ Vàm Rầy thì hầu như bà Mỹ Dung đi vào hôn mê luôn. Các bác sĩ tây y đã chẩn đoán và kê toa đủ loại thuốc, nhưng bệnh tình của bà ngày càng tệ đi. Có người nói bà bị tâm bệnh hay một thứ bệnh của cõi âm gì đó, nhưng ông thẩm phán Lợi thì nhất định không tin.Trong suốt thời gian bà nằm bệnh, thẩm phán Lợi bỗng dưng nổi cơn thèm muốn của đàn ông. Nếu bình tâm suy nghĩ một chút thì chắc ông thẩm phán đã sáu mươi tuổi sẽ không khỏi ngạc nhiên tại sao mình lại như vậy? Trong khi chuyện ấy giữa ông và vợ đã ngừng từ vài năm rồi. Tuy nhiên, trong lúc này thì như một trai tơ, ông Lợi cứ rạo rực hoài và có nhu cầu như bao nhiêu đàn ông còn sung mãn khác. Ông lại giở chứng như cách đây trên mười năm... Hôm đó là buổi chiều cuối tuần, thay vì ở nhà chăm sóc vợ, thẩm phán Lợi lại bảo tài xế riêng: - Mày biết chỗ nào vui vẻ, chở tao tới đó coi! Tài xế Hai là người lái xe cho ông lâu năm, kín tiếng và trung thành, nghe chủ nói anh ta đáp rất khẽ: - Có chỗ này kín đáo lắm. Ông có thể tới được. Nơi mà tài xế Hai nói thật ra anh ta chỉ biết hai hôm nay, do một người mới quen chỉ cho. Số là sáng thứ năm rồi, trong lúc chạy xe về nhà sau khi đưa chủ đi một vòng. - Anh Hai! Nghe kêu, tài xế Hai quay lại nhìn thì thấy có một người đàn bà tuổi trên dưới bốn mươi, đang đưa tay vẫy mình bên lề trái. Thấy không quen, Hai định chạy luôn thì chị kia chạy băng qua lộ, tiến sát anh, nói lớn: - Em kêu anh đó, phải anh Hai Vĩnh không? Cái tên Hai Vĩnh ít người biết, ngoại trừ thân cận. Nên anh phải tấp xe vào lề, rồi hỏi: - Chị là ai mà biết tôi? Người phụ nữ cười rất tươi: - Mới mấy năm mà đã quên người quen cũ rồi. Phải rồi, bây giờ lái xe cho ông thẩm phán nên đâu thèm nhớ tới con Sáu Tuyết này nữa! Hai Vĩnh nhìn sững chị ta: - Phải Tuyết cơm tấm ở bến bắc không? - Dữ hôn, giờ mới nhớ! Tuyết bắc Vàm Cống mà ngày xưa khi còn chạy xe đò, ngày nào anh cũng ghé ăn và... ghi sổ dài dài đây! Quả thật Hai Vĩnh có biết một người như vậy, nhưng hình như chị ta thay đổi nhiều, nên anh chàng chỉ biết cười hòa và nói: - Bận rộn quá đâu có nhớ. Mà sao cô lại ở đây, không ở Long Xuyên sao? - Đâu có, em bán hàng ở bắc Vàm Cống, nhưng quê quán thì ở xứ này, nên sau khi nghỉ bán em trở về đây, chuyển nghề... - Chắc lấy chồng giàu, làm bà chủ? - Chồng con đâu mà lấy! Nhưng làm bà chủ thì có. Bà chủ nhỏ thôi... Rồi chị ta cười tít mắt: - Gặp anh, em mừng quá! Dẫu gì cũng là người quen cũ, vậy ghé ủng hộ em đi! Hai Vĩnh ngạc nhiên: - Em làm gì mà bắt anh ủng hộ? Chị ta ghé sát tai Vĩnh nói nhỏ: - Bán... bia có gái! Hai Vĩnh giật mình: - Cái vụ này tôi không hạp à nghen. Có bao giờ tôi ghé mấy cái quán loại đó đâu. Vả lại... Chị ta nheo mắt rồi móc túi lấy ra tờ danh thiếp: - Đây là địa chỉ quán của em. Anh không thích đi thì chỉ cho bạn bè hay... ông chủ anh đi. Bảo đảm với anh, ở chỗ em có một con nhỏ trẻ đẹp mà bất cứ đàn ông nào cũng phải mê. Chị ta còn nói huyên thuyên đủ thứ chuyện, Hai Vĩnh chỉ ậm ừ cho qua rồi tìm cách thoát thân. Anh ta nghĩ bụng sẽ không bao giờ tới chỗ chị ta. Nhưng mọi việc lại đổi khác khi bữa nay lại nghe chính ông chủ nghiêm khắc đề nghị đi vui vẻ! Thấy Hai Vĩnh hứa hẹn thẩm phán Lợi hạ giọng: - Đừng để ai nhìn thấy nghe mày! Từ bữa được chào mời, bữa nay là lần đầu Hai Vĩnh mới tới. Tuy nhiên, anh không ngờ khi vừa cho xe đậu trước cổng ngôi nhà ngói cũ, anh đã thấy Sáu Tuyết từ trong cổng chạy ra đon đả: - Em biết thế nào anh Hai cũng tới, mà lại tới với... ông lớn nữa! Vậy mời vào, cho xe vào luôn trong này, có chỗ đậu kín đáo lắm. Chưa gặp chị ta bao giờ, nhưng tự dưng ông Lợi cảm thấy quen quen... Ông được mời vào trong một phòng riêng, chỉ mỗi mình ông. Nhưng chờ không lâu, đã thấy xuất hiện một giai nhân, mà vừa thoạt nhìn thấy ông thẩm phán gần như hồn phi phách tán! - Chào ngài thẩm phán! Trốn đi chơi lén mà bị người ta phát hiện, gọi đúng chức vụ, đáng lẽ ông Lợi e ngại lắm, nhưng chẳng hiểu sao ông cứ tỉnh như không. Có lẽ tâm trí ông gần như bị hút vào cô gái có nhan sắc lạ lùng này! - Ngài không vừa lòng em sao mà cứ ngây ra như vậy? Hay là để em nói bà chủ đổi người khác? - Không, không phải... - Thẩm phán Lợi quýnh lên. Ông ta như một chàng trai mới lớn, bị cô nàng làm cho ngất ngây, quên cả những lời tán tỉnh mà thường khi ông ta rất nhạy bén. Cô gái phải bẹo vào má ông, nũng nịu: - Không thèm mời người ta ngồi gì hết hà! Bấy giờ lão mới vụng về kéo tay nàng ta xuống, vô tình khiến nàng ta ngã gọn vào lòng lão! - Ối, em xin lỗi! Và khi lão ta vừa cúi xuống thì nàng ta đã bất thần kéo ghì đầu lão, rồi gắn chặt môi mình lên đôi môi đang thèm khát kia. Chỉ cần có thế, thật nhanh chóng để họ trở thành tri kỷ của nhau. Cho đến khi tuần rượu thứ hai đưa lên thì thẩm phán Lợi dõng dạc tuyên bố: - Từ nay cô nàng tên Bích Liên này đã thuộc về ta! Bà chủ quán xuất hiện đúng lúc và được vị khách sộp này móc ra một số tiền lớn đưa cho: - Chị cầm lấy số này, coi như tiền ta chuộc Bích Liên. Thấy chị ta có vẻ do dự, ông Lợi bồi thêm: - Đây chỉ là tiền lót tay, rồi ta sẽ đưa thêm gấp đôi! Dĩ nhiên là lời đề nghị hấp dẫn đó được chấp thuận. Cho đến khi tiệc tàn, thẩm phán Lợi ra lệnh cho Hai Vĩnh: - Chở luôn nàng ấy về cho ta! Hai Vĩnh lưỡng lự: - Nhưng thưa ông... Hiểu ý, lão ta chỉ tay về hướng ngoại ô thị xã: - Mày đưa nàng về căn phố tao mới mua chưa ở. Từ nay cho nàng ở luôn nơi đó. Bích Liên cảm động dựa đầu vào vai anh kép già, kín đáo nhoẻn miệng cười... Riêng Hai Vĩnh thì kêu thầm: - Khổ tới rồi! Rồi ngay tối đó, lão thẩm phán đã ở lại luôn với người đẹp tại ngôi nhà mà khi mua, lão từng nói là dành cho bà vợ làm chỗ thờ cúng, tụng kinh gõ mõ! Hai Vĩnh cũng không ngờ ông chủ mình say mê cô nàng nhanh đến như vậy, cho nên anh ta cũng chưa tính được cách trả lời nếu bà chủ hạch hỏi. Cũng may là đêm đó cũng giống như mấy đêm trước, bà Mỹ Dung vẫn còn mê man... Ở một góc tối ngoài vườn, có một bóng trắng đứng lặng nhìn vào nhà, đôi vai run run theo tiếng nấc... Người ấy đang khóc. Và nếu có ai nhìn kỹ sẽ nhận ra, bóng đó là một con khỉ màu trắng! Nàng ta khóc và thỉnh thoảng khẽ kêu lên: - Mẹ ơi! *** Bà Mỹ Dung đã trị đủ loại thuốc, đủ loại thầy mà bệnh tình vẫn trơ trơ.Vậy mà chỉ sau đêm hôm đó, khi tài xế Hai Vĩnh ngủ giữ xe ngoài hàng hiên nhìn thấy một bóng trắng to lớn phóng từ phòng bà ra ngoài, thì sau đó nghe tiếng bà ú ớ kêu vọng ra! Không tiện vào phòng bà chủ, nên Hai Vĩnh đã báo động để những tôi tớ khác chạy vào. Lúc ấy bà đã tỉnh lại, đang ngồi trên giường và thốt nhiên hỏi: - Con gái tôi đâu? Ai nấy ngơ ngác: - Thưa bà... cô Mỹ Tiên đã... Bà gắt lên: - Ai không biết nó đã chết! Nhưng... nó mới về đây, chính nó đã cứu tôi tỉnh lại. Nó đâu rồi? Bà bảo mọi người cùng tìm khắp nơi. Hai Vĩnh đoán ra, anh nói riêng với bà: - Con mới thấy một cái bóng trắng thoát ra từ phòng bà! Bà Mỹ Dung bật ngay dậy, lâu ngày không bước xuống đất nên bà lảo đảo suýt ngã. Cũng may là sau đó bà lấy lại thăng bằng và quát to: - Đưa tao đi! Nhìn đồng hồ tay thấy đã hơn hai giờ sáng, Hai Vĩnh vừa chạy ra mở cửa xe vừa lắp bắp nói: - Thưa bà, giờ này... Bà ra lệnh: - Đưa tao tới ngay ngôi nhà ở bên Vĩnh Thanh Vân! - Thưa bà... dạ thưa bà... - Hai Vĩnh quýnh lên. Bà lại quát to hơn: - Sợ tao lột mặt nạ chủ tớ tụi bay ra phải không! - Dạ... con đâu dám... - Con gái tao đã nói hết rồi, đừng giấu nữa! Không còn cách nào hơn nên Hai Vĩnh đành lái xe về hướng căn phố ở ngoại ô, nơi hắn đã đưa ông chủ tới đó hồi đầu hôm... Tuy nhiên, vốn có ý bênh ông chủ mình, nên Hai Vĩnh cố tình như quên chỗ, lái xe đi vòng vòng và chạy thật chậm... Nhưng thật bất ngờ, tay lái như bị ai đó điều khiển, ga bị nhấn mạnh và chiếc xe lao tới vun vút! Đến nỗi Vĩnh phải la lên: - Xe kỳ quá, tôi không điều khiển được nữa rồi! Cũng may là chỉ một lúc sau thì đến nơi. Xe đã dừng lại trước cửa căn phố rồi mà Hai Vĩnh vẫn còn hoang mang ngồi yên trên xe. Lúc đó, bà Mỹ Dung tự mở cửa xuống và ra lệnh: - Mày lùi xe lại đằng kia chờ tao! Mày mà báo động cho ông ấy chạy thoát thì mày thế mạng đó! Bà hùng hổ bước vào trong. Cánh cửa do Hai Vĩnh khóa trái lúc đi ra theo lời dặn của thẩm phán Lợi, giờ đây chẳng hiểu ai đã mở sẵn! Bởi vậy, đến khi bà Mỹ Dung xông vào tận phòng trong rồi mà người trong ấy vẫn không hay biết! Tiếng quát của bà khiến cho người nằm trên giường hốt hoảng bật dậy. Đó là... một con khỉ đột to bằng người, bộ lông màu xám! - Trời ơi! Bà Mỹ Dung vừa kêu vừa cố bước lùi... Tuy nhiên, đôi chân của bà hầu như không cất lên được, trái lại như còn bị đẩy đi tới. Trước mắt bà, rõ ràng người đang nằm cạnh con khỉ là ông chồng thẩm phán! Ông ta còn ngủ say, chẳng hề hay biết gì. Trong lúc con khỉ bước xuống giường, tiến về phía bà Mỹ Dung. Miệng nó nhe ra, hai chiếc răng nanh nhô dài như chực cắn cổ người trước mặt! Bà Mỹ Dung thét lên một tiếng rồi đổ người xuống chờ chết... Vừa lúc ấy, cái bóng trắng quen thuộc lao nhanh vào, rồi bằng một động tác dứt khoát, người ấy cắp hai bên hai người, một là bà Mỹ Dung, còn bên kia là ông thẩm phán, nhảy vút ra ngoài và mất dạng! Còn lại trong phòng, con khỉ xám điên tiết lồng lên! Nó đập phá đồ đạc chung quanh và hình như chưa hả giận, nó xé nát cái nệm giường, vừa ngửa cổ hú lên những tràng dài, kinh động cả một vùng! Hai Vĩnh đậu xe cách hơn trăm thước, nghe được tiếng hú, anh ta hốt hoảng lùi xe lại nghe ngóng... Bất chợt anh ta nhìn thấy ngọn lửa bùng lên từ ngôi nhà, lửa càng lúc càng dữ dội mà không nhìn thấy ai trong đó chạy ra. Hai Vĩnh hốt hoảng kêu to: - Ông bà chủ ơi! Nghe tiếng anh ta la, nhiều người quanh đó bâu lại, họ hỏi dồn: - Chuyện gì vậy? Vĩnh đưa tay chỉ vào trong, quýnh lên: - Cứu! Cứu giùm với... Có người kẹt trong đó! Lửa cháy quá lớn, nên có người muốn vào cứu cũng không vào được. Phải đợi hơn mười phút sau, khi có lính cứu hỏa tới thì họ mới phá cửa xông vào. Cuối cùng, họ chỉ cứu ra được đúng một người. Nhưng khi mọi người nhìn thấy người đó thì thảy đều kinh hãi. Bởi đó là một người mà nửa phần trên là mặt và thân thể của một cô gái, còn nửa phần dưới là một con khỉ đột thật lớn! - Trời ơi! Ai nấy kêu lên và trố mắt nhìn. Tuy nhiên, chỉ hơn một phút sau thì thân thể ấy từ từ biến dạng... Cuối cùng chỉ còn lại một bộ xương trắng! Mấy người lính cứu hỏa cũng không còn bình tĩnh, họ đặt hài cốt đó xuống sân rồi lo đi cứu lửa. Mọi người cũng tạm quên bộ xương, để tiếp tay lo dập lửa đang bắt đầu lan sang mấy căn nhà bên cạnh. Đến khi họ chợt nhớ, quay lại thì chẳng còn thấy bộ xương đâu? Một người nói: - Tôi mới thấy đây mà! - Có ai dời đi đâu không? - Người khác hỏi. Chẳng một ai biết. Hai Vĩnh cũng có mặt ở đó, anh cố chen mọi người vào trong nhìn. Khi thấy ngôi nhà của chủ tàn lụi theo ngọn lửa, anh ngao ngán lắc đầu rồi quay ra ngoài, giọng đẫm nước mắt: - Cả hai ông bà đều ở trong đó! Anh ta vừa mở cửa xe leo lên thì bất chợt nghe một giọng nói từ băng sau: - Họ không chết đâu, đừng lo! Hai Vĩnh giật mình quay lại thì bắt gặp vị tu sĩ mặc áo nâu, đang ngồi bên cạnh một bộ hài cốt. Quá đỗi ngạc nhiên, Vĩnh định hỏi thì vị đạo sĩ đã nói như ra lệnh: - Đi đi, ắt gặp họ. Vĩnh không hỏi là đi đâu, nhưng khi anh lái về hướng trước mặt, con đường dẫn về Hà Tiên thì người ngồi sau vẫn im lặng, có nghĩa là xe đi đúng hướng! Cứ như thế, xe chạy với tốc độ nhanh, mất gần hai tiếng thì tới nơi. Đó là lần đầu tới đây, nên Vĩnh phải lên tiếng hỏi: - Đây là đâu? - Vàm Rầy. Anh không biết, chứ những người thân trong nhà chủ anh đều biết. Anh có muốn ngồi đây đợi hay vào trong đó giúp đưa chủ anh về? Nghe nói thế, Hai Vĩnh mừng và reo lên: - Chủ tôi còn sống sao? Vị tu sĩ ôm bộ hài cốt trên tay, vừa đi vào phía am vừa đáp: - Họ ở trong kia! Hai Vĩnh chạy theo định giúp một tay, nhưng vị tu sĩ đã lắc đầu: - Đây là hài cốt của một vong hồn, người trần đụng vào là không toàn mạng! Câu nói đó làm cho Vĩnh sợ hãi, lùi lại phía sau. Đến khi anh ta theo vào được trong am thì vô cùng kinh ngạc, bởi trước mắt là ông bà chủ của anh đang ngồi ủ rũ trông rất thảm hại! - Kìa, ông bà! Anh ta lo cho họ, nhưng cũng mừng, bởi như vậy là họ không chết trong biển lửa như anh lo từ nãy giờ. Tuy nhiên, khi nhìn sắc diện của hai người thì Vĩnh không khỏi ái ngại, bởi da mặt họ vàng như nghệ, mà cặp mắt thì lờ đờ, không còn chút thần khí. Vị tu sĩ đặt bộ hài cốt xuống trước mặt họ, giọng nhẹ nhàng: - Lại một lần nữa nó thất bại. Bà Mỹ Dung đang gục mặt đã vội ngẩng lên, ngơ ngác nhìn bộ xương, rồi giọng run run hầu như không thành tiếng: - Tôi... tôi xin... Vị tu sĩ nghiêm giọng tiếp: - Em gái tôi dẫu thành ma nhưng vẫn không thể hại người! Nếu không thì ông chồng bà đã chết ngay từ đêm qua rồi! Ông thẩm phán mới giương cặp mắt lờ đờ lên nhìn và hốt hoảng khi nhìn thấy bộ hài cốt, ông ta cố lùi lại, nhưng không cách nào nhấc người lên. Chỉ biết lắp bắp: - Tôi... xin chịu tội... Vị tu sĩ nhẹ thở dài: - Em tôi giờ đây chỉ còn lại bộ hài cốt đó, thân xác trong lốt khỉ không còn, mà hồn phách cũng tiêu tan. Nó trả lại cuộc sống cho hai người đó... Ông ta nói xong bước nhanh vào trong. Lát sau trở ra, ông đưa một cái quách nhỏ cho vợ chồng thẩm phán Lợi: - Tôi biết sẽ có ngày này nên đã chuẩn bị. Vậy bây giờ hai người hãy chở hài cốt em tôi về nơi có cái miếu thờ chôn cất nó ở đó, tiện thì cất cho nó một cái am. Nó sẽ không đòi hỏi gì nhiều hơn đâu... Vợ chồng thẩm phán Lợi riu ríu làm theo. Vừa làm mà trong lòng không yên, cứ lo chuyện chẳng lành sẽ xảy ra sau đó... Tuy nhiên, khi họ đặt bộ hài cốt vào quách xong thì nhìn lên chẳng còn thấy vị tu sĩ đâu. Bà Mỹ cất tiếng gọi thử: - Thầy Lượng ơi! Chẳng có ai trả lời. Sau nửa giờ chờ đợi, cuối cùng hai người cùng nhau khiêng cái quách ra xe. Hai Vĩnh chờ ở đó, anh bảo: - Ông đạo sĩ vừa ra đây, ông dặn là không được chôn chỗ nào khác ngoài chỗ ông đã dặn. Họ lẳng lặng khiêng cái quách lên xe và chỉ hướng cho Vĩnh: - Về Kiên Lương, chỗ cậu Thuận xây cái biệt thự mới. Đó là một ngôi nhà mát mới vừa hoàn thành, gần Hòn Chông. Dừng xe, nhìn thấy cổng không khóa, Hai Vĩnh ngạc nhiên: - Sao cậu Thuận không khóa cổng lại, chưa ai ở mà để ngỏ như vậy tụi nó vào phá phách hết đồ đạc! Nhưng khi họ bước vào trong rồi mới phát hiện là có người! Ở sân sau có một người đang quỳ gối trước một bãi đất đầy cỏ. Người ấy là Cò mi Thuận! Ông thẩm phán kêu lên: - Sao con về đây? Thuận không ngẩng lên, mà lại hỏi: - Sao tới giờ này ba má mới về tới? Vợ con nó chờ không được nên vào trong ngủ rồi... Bà Mỹ Dung kinh ngạc: - Vợ con... thế nào? - Cô ấy ngủ trong kia. Vừa buông cái quách xuống, bà mỹ Dung đã chạy bay vào trong, ở căn phòng mở hé cửa, khi nhìn vào bà đã há hốc mồm, kêu lên: - Con... con... Bà không biết phải gọi là gì. Bởi trước mắt bà, đang nằm trên giường là một con khỉ trắng cực to! - Mỹ... Mỹ Tiên! Bà thu hết can đảm gọi khẽ, con khỉ cựa mình rồi bật ngồi dậy. Giương đôi mắt nhìn. Bà Mỹ Dung không còn nghi ngờ gì nữa, bà gọi lớn: - Mỹ Tiên, con của mẹ! Đôi mắt ấy bà làm sao nhầm lẫn được, nó là đôi mắt của con gái bà! Và nó đang... chảy nước mắt! - Con ơi... Bà tính lao tới, nhưng vừa lúc đó có giọng của Thuận ở phía sau: - Cô ấy đã là người cõi âm rồi, mẹ đụng vào là vĩnh viễn cô ấy sẽ không hiện diện với chúng ta được nữa! - Con ơi! Bà gào lên, Thuận phải giải thích thêm: - Mỹ Tiên đã cố sức cứu cha mẹ khỏi đám lửa hận thù của Ngọc Lệ, đưa ba mẹ về cái am của tu sĩ Thành Lượng, để ba mẹ có dịp thể hiện lòng thành của mình trước hài cốt của cô Lệ. Riêng Mỹ Tiên thì may mắn, không tiêu hồn phách tán như Ngọc Lệ, nhưng cô ấy không đủ sức nữa... Hãy để cho cô ấy nghỉ ngơi, hy vọng cô ấy còn ở lại với chúng ta. Con khỉ trắng cứ ngồi khóc trên giường mãi, không nói được lời nào. Thuận phải kéo cha mẹ vợ ra ngoài, rồi bảo: - Con đã phạm tội khi san bằng ngôi miếu trên mảnh đất này nên mới gây ra chuyện, chứ thật ra oan hồn của cô Ngọc Lệ không ác. Tuy vợ con đã thay mặt ba má và con để chịu chết, hóa thành khỉ, nhưng dẫu sao ta cũng phải cám ơn cô Ngọc Lệ đã còn nương tay... Anh dẫn cha mẹ vợ trở ra chỗ mảnh đất hồi nãy, định chỉ chỗ để cất lại ngôi miếu thì quá đỗi ngạc nhiên khi chẳng thấy cái quách đâu? - Lúc nãy để đây cơ mà? Mà nãy giờ cũng đâu có ai vào nhà? - Ông Lợi kinh ngạc. Nhìn thấy một mô đất gò lên, Thuận hiểu, anh nói: - Cô ấy muốn thân xác được chôn ở đây, thay vì mình tính chôn chỗ bên kia. Bà Mỹ Dung có ý: - Tôi muốn lập một lúc hai cái miếu, một cái cho cô Ngọc Lệ, còn cái kia cho Mỹ Tiên... - Chỉ một cái cho cô Lệ thôi, còn Mỹ Tiên thì đã có ngôi nhà này rồi... - Cò mi Thuận nói ngay. Anh quay sang cha mẹ vợ nói nghiêm túc: - Để chuộc lỗi, con sẽ xây lại cái miếu cho cô Ngọc Lệ thật khang trang. Còn Mỹ Tiên thì sẽ ở với con trong ngôi nhà này. Con cũng xin thông báo với cha mẹ, ngày hôm nay con đã xin nghỉ việc, để về đây sống vĩnh viễn với Mỹ Tiên. Ông Lợi kêu lên: - Con đã suy nghĩ kỹ chưa? Tuổi con còn trẻ, lại mới lên chức Cò mi, mai mốt còn lên cao nữa, dễ gì có được! Nhưng Thuận đã dứt khoát: - Nghĩa lý gì đâu khi không còn có vợ bên cạnh. Con quyết sẽ ở đây, cùng sống kiếp âm dương giao hòa với vợ con... *** Thuận đã thực hiện được ước nguyện của mình. Từ đó, anh sống hẳn ở ngôi nhà mát gần Hòn Chông, hầu như quên hết chuyện thế tục chung quanh.Riêng vợ chồng thẩm phán Lợi dù chẳng đau bệnh gì, nhưng vài tháng sau bỗng nằm ngủ rồi không dậy nữa. Thuận chôn cất cha mẹ vợ chu đáo. Khi anh trở về nhà mình thì thấy trên giường ngủ có một mảnh giấy của ai đó, chữ rất lạ, viết: "Vợ anh chưa phải là một hồn ma. Cô ấy bị truyền máu ma khỉ từ cô Ngọc Lệ nên hóa khỉ. Tuy nhiên, hy vọng đến một ngày nào đó do gần được người, nhận được tình yêu nơi chồng thì cô ấy có thể hoàn lại kiếp người! Anh hy vọng đi...". Thuận mừng hơn bắt được vàng! Anh ngóng trông từng giây từng phút cho đêm đến và Mỹ Tiên trở về để báo cái tin này... Có đôi mắt khỉ nhìn anh âu yếm từ trong bóng tối... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 36
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXVI: Ngôi Nhà Huyền Bí -Phần 1 K...é...t.... K...ẹ...t... Tiếng mở cửa vang lên thật lớn giữa đêm khuya thanh vắng gây cảm giác rờn rợn cho những ai nghe thấy. Nằm im trên giường không dám thở, Tuyền cố ngóng tai chờ xem động tĩnh gì tiếp tục xảy ra. Cô thầm nhủ: "Ngôi nhà hoang phế này mà cũng có trộm viếng thăm ư? Có gì giá trị đâu ngoài mấy vật dụng cũ kỹ bị vứt lại đã lâu không ai thèm lấy. Hay là bọn trộm để ý đến mớ hành lý của chị em cô? Chà, vấn đề này thì phải cẩn trọng đây, bởi toàn bộ số tài sản còn lại để sinh sống đều nằm trong cái va li kia cả. Nếu mất nó thì chị em Tuyền sẽ ra sao?" Nghĩ tới đó, Tuyền thu hết can đảm ngồi bật dậy, cô rón rén mò tìm cây đèn pin mà vú Dần đã mua dự trữ sẵn hồi sáng. Sờ soạng mãi một lúc mới đụng được tay vào nó, nhưng cây đèn lại nhẹ hẫng vì chưa được gắn pin làm cho Tuyền thoáng bực mình. Cứ điệu này trộm nó rinh hết cả đồ đạc ra ngoài đồi trà mất thôi. Tuyền không thể để mất thời gian mò mẫm những cục pin chưa biết nằm ở đâu. Một... hai... ba, Tuyền bước đến bên cánh cửa phòng toan đưa tay kéo chốt thì... cộp... cộp... cộp... Ôi, rõ ràng là tiếng gót giày nện xuống nền gạch nghe thật gần nhưng cũng thật xa. Dường như có người đã đến đây, nhưng sao họ lại đến giữa đêm khuya thế này? Ai vậy? Người tốt hay kẻ xấu? Tuyền thầm run trong dạ khi hình dung bên ngoài là một tên côn đồ nào đó đang muốn trêu chọc mình, vì biết trong nhà chỉ toàn là phụ nữ chân yếu tay mềm. Vừa mới dọn đến đây sáng nay, chị em Tuyền và bà vú đã biết gì về vùng đất sương mù giăng phủ này. Họ đến do sự nhiệt tình giúp đỡ của ông bà Thành Danh, bạn rất thân của cha mẹ họ ngày trước, nay thấy hoàn cảnh mồ côi, bơ vơ của con bạn mà động lòng. Khi mới đặt chân đến, nhỏ Tú, em gái Tuyền đã kêu ầm lên rằng nơi này quá buồn. Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, chị em cô đành phải chấp nhận thôi, vì đâu còn chỗ nào cho chị em họ nương thân lúc này được. Ngôi nhà mới họ đang trú ngụ thuộc loại biệt thự sang trọng nhưng đã bỏ hoang phế nhiều năm, nên chỗ nào cũng ẩm mốc và xuống cấp trầm trọng. Đã vậy nó còn nằm trên một ngọn đồi cao biệt lập với mọi người, dường như chỉ làm bạn với gió và chim muông. Nếu như lúc trước còn sống trong ấm no, hạnh phúc, thì dẫu có cho vàng chị em Tuyền cũng không dám ở một đêm. Còn bây giờ, có được chỗ ở này là quá tốt, chị em cô không mong mỏi gì hơn. Điều họ được an ủi trong lúc tứ cố vô thân là còn có được bà vú trung thành theo hầu hạ. Cộp... cộp... cộp... Tiếng nện của gót giày vang lên theo lộ trình vòng quanh ngôi nhà rồi tắt hẳn. Lúc này Tuyền không đủ can đảm để xông ra bên ngoài nữa mà cô trở vào vặn lớn ngọn đèn dầu lên, lòng nơm nớp bất an. Nhỏ Tú bỗng mở mắt. - Có gì vừa xảy ra phải không chị? Tuyền không muốn làm em gái phải sợ nên lắc đầu: - Không có gì. Tại khó ngủ nên chị thức dậy định xem sách đó mà. Song nhỏ Tú đã thấy được gương mặt lo âu của chị nó. Con nhỏ bèn trề môi: - Chị nói dối. Em thấy chị thức đã lâu sao bây giờ mới vặn đèn? Tuyền lúng túng: - Thì tại... bây giờ chị mới muốn đọc sách. Nhỏ Tú tiếp: - Chứ không phải chị thức là vì... vì... - Vì cái gì... sao không nói luôn đi? Bất giác nhỏ Tú trùm mền kín đầu, nó nói vọng ra nghe thật nhỏ: - Vì sợ ma. Chị có nghe thấy tiếng mở cửa lúc nãy không? - Nói bậy. Làm gì có ai mở cửa... Nhỏ Tú cãi lại bên trong mền: - Em nghe rõ ràng mà... cả tiếng chân người nữa. - Thôi đi nhỏ. Ăn no, ngủ kỹ rồi mơ màng nói tùm lum. - Không phải mơ... mà là em nghe thật. Tuyền hơi gắt: - Thật cái gì? - Dường như nhà này có ma! Từ lúc đặt chân vào đây tới giờ em luôn cảm thấy ớn lạnh. Mọi can đảm trong người Tuyền bị tiêu tan bởi lá gan nhỏ xíu của đứa em, cô soi đèn tìm chiếc va li rồi nhấc hẳn nó bỏ vào mùng ngay sát vách đầu giường cho chắc ăn rồi mới chịu đi nằm. Song tiếng động vừa qua làm Tuyền thao thức mãi, dù bên cạnh nhỏ Tú lại chìm sâu vào giấc ngủ. Tại sao lại có tiếng người mở cửa giữa đêm hôm như vậy chứ? Vú Dần thì chắc chắn là không rồi, bởi Tuyền biết tính vú hễ đặt mình xuống giường là ngủ liền, chẳng bao giờ ra ngoài vào ban đêm. Tuyền cố lảng tránh không nghĩ đến vấn đề nhỏ Tú đã gợi lên, nhưng lại bắt đầu hình dung tới những điều không bình thường làm cho người ta sợ hãi nhất. Ma! Phải chăng ngôi nhà này có ma nên người ta mới bỏ hoang nó? Giả thuyết này có lẽ đúng, song nếu thế thì lại gay cho chị em Tuyền rồi đây. U... u... u... Tiếng gió rít ở bên ngoài sao nghe cũng thật là kỳ quái. Tuyền kéo mền đắp lên người rồi nhắm mắt để cảm giác căng thẳng hạ bớt xuống, nhưng những âm thanh hỗn hợp chung quanh ngôi nhà cứ nối tiếp nhau trỗi dậy... trỗi dậy... Không có người trấn an Tuyền vì nhỏ Tú đã ngủ rất say sưa, còn vú Dần thì ở phòng riêng. Tuyền thật sự cảm thấy đơn độc trước hoàn cảnh hiện tại. Vừa tốt nghiệp chương trình phổ thông với hy vọng sẽ đậu cao vào đại học thì gặp nhiều biến cố. Bởi ba mẹ cô chết đi để lại một khoản nợ khá lớn khiến ngôi nhà lầu khang trang của gia đình bị người ta xiết mất, tống cổ hai chị em cô ra ngoài đường. May sao Tuyền còn nhanh trí thu gom được ít nữ trang của mẹ để lại là của hai chị em giấu đi, nên mới có thể tồn tại tới hôm nay. Nhưng nếu không có công việc làm để sinh nhai thì chẳng bao lâu nữa họ sẽ bị chết đói mất thôi vì nguồn sống đã cạn kiệt. Giữa lúc sự đe dọa sắp đến thì ông bà Thành Danh xuất hiện kịp thời đưa chị em Tuyền về cái xứ sở lạnh ngắt hơi sương này với đề nghị nhờ Tuyền dạy kèm cho hai đứa con gái nhỏ. Mừng rỡ, chị em Tuyền đã cùng với bà vú dắt díu nhau lên đây. Song khi tiếp cận với chỗ ở mới thì chị em Tuyền hết sức ngỡ ngàng, khi thấy đó là một ngôi nhà hoang phế nằm giữa đồi mênh mông cả ngày chẳng thấy bóng người qua. Mặc dù vậy, họ vẫn không thể khen hoặc chê hay có sự lựa chọn nào khác trong lúc này. Tuyền đã ra sức động viên em gái chấp nhận hoàn cảnh mới để có cơ hội sống. Và đêm nay là đêm đầu tiên họ bước vào cuộc sống tự lực cánh sinh. Cộp... cộp... cộp... Lại tiếng gót giày nện ngoài thềm. Rồi u... u... u... tiếng gió rít tựa âm thanh của oan hồn uổng tử đang lang thang vất vưởng. Tiếp đến là k...é....t… k...é...t... như có tiếng người mở cửa... Ôi, chừng đó âm thanh hòa tấu lại thành giai điệu đủ giết chết những người yếu bóng vía rồi. Còn Tuyền, cô không nhát nhưng cũng đang sợ điếng cả người. Từ nhỏ đến lớn ở thành phố với cuộc sống sung sướng, có bao giờ cô phải đối diện với sự khủng hoảng thế này đâu. Vậy mà hôm nay suốt một đêm phải thức, phải nghe, phải run, phải sợ... Tuyền co người lại thành một khối tròn bên cạnh em. Những giọt nước mắt đã ngừng chảy song trái tim trong ngực thì càng dội mạnh hơn khi tiếng gót giày cộp... cộp... vang lên ở trước cửa phòng cô. Trời... Phật ơi... phải làm sao bây giờ đây? Trong lúc Tuyền chưa kịp nghĩ gì thêm thì k...é....t... k...ẹ...t... ôi, Tuyền chỉ thốt lên được một tiếng tắc nghẽn ấy rồi ngất đi, trong cơn sợ hãi tột cùng chưa từng thấy. Và không biết trải qua bao lâu với những sự kiện gì đã xảy ra... Khi Tuyền tỉnh dậy thì đã thấy em gái và vú Dần đang xúm xít bên cạnh, vẻ mặt đầy lo lắng. Vẫn còn lưu giữ ấn tượng trước khi ngất nên vừa mở mắt Tuyền đã hét toáng lên: - Á...á...á... - Làm cái gì mà la ghê quá vậy chị Hai? Bộ đêm qua mơ thấy ác mộng hả? Nhỏ Tú ôm chầm lấy chị lay. Vú Dần cũng cất tiếng gọi chủ: - Cô Tuyền à... trời sáng rồi chứ không còn là ban đêm đâu. Bị nhỏ Tú vỗ mấy cái vào mặt, Tuyền mới tỉnh lại ngơ ngác hỏi: - Sao? Sáng rồi ư...? Nhỏ Tú cười vô tư trước bộ dạng của chị: - Mới ngủ có một đêm ở nhà mới mà nhìn chị giống như mấy người trong bệnh viện tâm thần vậy. Chắc gặp ma rồi chứ gì? Trước câu nói tỉnh bơ của em gái, Tuyền máy môi lặp lại: - Gặp ma... Nhỏ Tú khẽ gật đầu: - Ừa... Đôi chân mày của Tuyền nhíu lại tựa người đang suy nghĩ, và ngay lập tức cô thay đổi thái độ bằng ánh mắt vừa trợn tròn như vừa gặp phải một điều gì kinh khủng lắm! *** Ăn xong bữa điểm tâm sáng đơn giản do vú Dần làm, chị em Tuyền đưa nhau đi xung quanh khu vực ngôi biệt thự mà họ miễn cưỡng phải nhận đó là nhà. Tuy đã hơn tám giờ mà sương mù vẫn mù mịt cả bầu trời, nếu cách xa chừng mười mét thì chỉ nhìn thấy bóng chứ không nhận dạng rõ. Nhỏ Tú hắt hơi mấy cái liền khiến cho Tuyền lo lắng. - Hay là chúng ta quay về nhà? Nhưng nhỏ Tú đã lắc đầu trước lời đề nghị này: - Phải tập cho quen dần thôi chị Hai. Dù muốn hay không chúng ta cũng phải ở đây mà. Tuyền nhớ lại những gì đêm qua. Cô làm bộ hỏi em gái: - Mi thấy ở đây thoải mái không? Nhỏ Tú đưa một bàn tay lên vuốt mặt. Nó nói như người lớn: - Nếu không buồn thì cũng sống tạm được. - Đêm qua mi có ngủ ngon không? - Chập tối hơi trằn trọc vì lạ nhà, nhưng sau đó buồn ngủ quá nên em ngủ một giấc tới gần sáng. Chừng gọi chị không thấy ừ hử gì nên em mở cửa phòng gọi vú Dần. Rồi nó ngước mắt lên nhìn chăm chăm vào chị gái. Nhỏ Tú hỏi: - Có chuyện gì xảy ra với chị đêm hôm qua vậy? Tuyền cố tình gạt đi: - Không có gì. - Em không tin. - Sao mi lại nói thế? - Cứ nhìn chị thì blết. Trong mặt chị nét khủng hoảng vẫn còn rõ rệt kìa. Phải chăng tiếng mở cửa đêm qua đã làm cho chị sợ. Cả những bước chân của ai đó? Thì ra nhỏ Tú cũng hiểu được vấn đề, nhưng có lẽ vì còn nhỏ, ở lứa tuổi vô tư nên nó không quá ấn tượng như chị. Khoảng thời gian Tuyền ngập ngừng chưa tìm được câu giải đáp thì nhỏ Tú phát hiện ra nét đẹp của quang cảnh chung quanh nó. Mà sao có thể bảo rằng không đẹp chứ khi ẩn hiện trong sương mù là những hình bóng mờ ảo của cả một đồi trà mênh mông có đan chen màu sắc nhiều loại hoa. Thật là một bối cảnh thiên nhiên tuyệt diệu mà chỉ nơi đây mới có được. Nhỏ Tú reo một mình: - Nơi đây cũng hữu tình quá. Nếu có bạn thì không đến nỗi buồn đâu. Tuyền động viên: - Rồi sẽ có ngay thôi, chỉ tại chúng ta mới đến nên chưa quen biết... Tú đảo mắt: - Nhưng quanh đây em chẳng thấy bóng dáng một người nào cả. Tuyền cũng thầm lo ngại trong lòng song không dám nói ra. Cô hứa hẹn: - Hay ta với mi sang nhà bác Thành Danh chơi. Tất nhiên thái độ của nhỏ Tú thay đổi liền tức thời. Nó tíu tít: - Phải đó! Nhưng ngay lúc ấy thì có tiếng vú Dần gọi từ nhà ra. Tuyền bảo em: - Quay về đã rồi tính sau. Cả hai về đến nơi thì trông thấy một giỏ thức ăn lớn để trên bàn. Tuyền ngạc nhiên hỏi vú Dần: - Làm cách nào mà vú đi chợ mau quá vậy? Vú Dần đang co người trong chiếc áo len vì lạnh, nhìn cô rồi lắc đầu: - Không phải tôi đi mua đâu, mà là của ông bà Thành Danh sai người đem qua cho chúng ta đó! Tuyền thở dài suy tư: - Chắc họ muốn giúp đỡ chúng ta đây. Thoạt đầu cô cảm thấy rất áy náy, nhưng sau đó nghĩ lại nghe lòng nhẹ nhõm hơn, vì sự giúp đỡ của ông bà Thành Danh chỉ là một khoản nhỏ không đáng kể so với những gì họ đang sống và có. Là một phú nông giàu có, làm chủ cả hàng trăm mẫu trà và là giám đốc một công ty tư doanh thì tài sản của họ làm sao cho hết chứ. Tuyền bảo với vú Dần: - Họ đã cho thì chúng ta cứ dùng. Tiết kiệm được khoản chi tiêu nào thì càng đỡ... Hiểu lòng cô chủ, vú Dần gật gù: - Chừng này mình sống cũng được cả tuần lễ rồi đây. *** Tuyền không ngờ mình được ông bà Thành Danh tiếp đón khá chu đáo trong buổi đầu tiên đến ra mắt và nhận việc. Khi được người giúp việc báo tin, đích thân bà Thành Danh đã ra tận ngoài sân dẫn Tuyền vào. Bà tỏ ra thân tình hơn cô đã nghĩ.- Cháu đừng khách sáo với hai bác. Có thiếu thốn gì thì cứ nói, hai bác sẽ giúp cho. Tuyền cố giữ khoảng cách: - Dạ... chị em cháu chỉ dám nhờ hai bác chỗ ở thôi. Cháu xin cám ơn giỏ thức ăn hồi nãy hai bác đã gửi cho ạ. Bà Thành Danh mắng yêu Tuyền: - Đã bảo không được khách sáo mà... Những gì bác cho thì cứ nhận. Rồi bà lôi thốc Tuyền đi theo mình vào tận gian phòng khách. Ở đó có ông Thành Danh và hai cô bé trạc tuổi nhỏ Tú đang ngồi chơi trên salon. Trông thấy khách, chúng giương mắt nhìn. Tuyền vội vàng thủ lễ: - Thưa bác ạ. Ông Thành Danh nhếch môi cười nhẹ chứ không quá vồn vã như vợ. Ông chỉ tay vào chiếc ghế đối diện: - Ngồi đi cháu. Tuyền rón rén ngồi xuống rồi lấm lét đưa mắt quan sát gian phòng khách. Thật là lộng lẫy từ cách xây dựng thiết kế và bài trí. Bà Thành Danh vốn vẫn nhanh nhẹn hơn chồng, đẩy tới cho Tuyền tách trà thơm ngào ngạt: - Uống nước rồi bác giới thiệu học trò với cô giáo. Tuyền khẽ liếc sang phía hai cô bé, chúng có vẻ rất giống nhau như một cặp song sinh. Tuyền nhạy cảm hỏi trước: - Thưa... có phải đây? Bà Thành Danh gật đầu: - Đúng rồi. Nhìn dáng dấp cả hai thật khỏe mạnh. Tuyền bèn hỏi: - Thưa... hai em có đi học ở trường không ạ? Lần này thì bà Thành Danh lắc đầu, âm điệu khá nghẹn ngào: - Nếu đi học được ở trường thì hai bác đâu nhờ cháu làm gì. Tuyền chớp mắt ngạc nhiên song cô chưa kịp hỏi thì bà Thành Danh đã tiếp: - Chúng bị câm đó cháu à. Lúc trước hai bác có gửi chúng vào trường khuyết tật để các giáo viên chuyên môn dạy dỗ. Song chúng không chịu, cứ trốn ra nhiều lần, khiến mọi người phải tốn công sức đi tìm. Bất đắc dĩ hai bác phải để chúng ở nhà rồi kiếm thầy cô về dạy, nhưng cũng đã trải qua mấy người rồi, họ đều chịu thua vì chúng không chịu học. Bây giờ hai bác chỉ còn trông chờ ở cháu. Lời bà Thành Danh vừa dứt thì Tuyền cũng cảm nhận công việc sắp được giao sẽ nặng nhọc ra sao. Ôi, một cô giáo chưa hề được trải qua trường lớp huấn luyện nào lại phải đảm trách việc dạy dỗ hai đứa học trò bị khuyết tật ư? Tuyền thấy thất vọng dâng cao khi vừa ra đời tự lập đã phải làm một việc không cân sức. Giá mà được làm một công nhân đi hái trà thì Tuyền cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Nhưng cô lấy cớ gì để từ chối làm cô giáo dạy học đây? Chị em cô đã thọ ân người ta rồi, biết tính sao hơn là phải cố gắng đáp trả lại. Tuyền nói như người bị ngạt thở: - Cháu chỉ sợ làm hai bác phải thất vọng. Bà Thành Danh động viên cô: - Từ từ rồi cũng sẽ ổn thôi. Vấn đề ở chỗ là cần phải kiên nhẫn cháu ạ. Nói tới đây, bà sụt sùi rơi lệ: - Cháu thấy đó! Hai đứa con bác xinh xắn thế này chứ có tệ lắm đâu. Vậy mà cớ sao ông trời lại đày ải chúng bắt phải chịu cảnh câm, không thể thốt thành lời chứ? Tuyền bật ra câu hỏi: - Thưa bác... các em bị bẩm sinh hay là do tai nạn? Bà Thành Danh đưa chiếc khăn tay lên để ngăn dòng lệ. Tiếng bà thật ảo não: - Nếu chúng bị bẩm sinh thì bác bớt đau lòng hơn. Đằng này bác đã tập cho chúng biết nói năng đàng hoàng, thế mà năm lên sáu tuổi chẳng hiểu sao chúng lại biến đổi... mới đầu thì lầm lì ít nói, rồi sau đó câm luôn cho đến tận bây giờ. - Cả hai cùng có triệu chứng như thế sao bác? - Phải. Bởi chúng là một cặp song sinh nên mọi thứ đều giống nhau. Hai người nói chuyện tới đây thì bị ông Thành Danh chặn lại: - Thôi, nhắc chuyện đã qua làm chi nữa. Hãy bàn cách dạy chữ cho mấy đứa nhỏ sao cho có hiệu quả kìa. Điều trước nhất bây giờ là cháu Tuyền hãy làm quen với chúng đã... Rồi ông đưa tay về phía những đứa con: - Lại đây chào cô giáo mới nè... Diễm và Kiều. Nghe gọi, cả hai đứa đang chơi bèn thảng thốt, chẳng những chúng không lại mà còn ôm lấy nhau tỏ thái độ khiếp hãi như thể cha chúng là vị hung thần vậy. Tuyền quan sát rồi hỏi bà Thành Danh: - Các em biết nghe ư? Bà Thành Danh buồn bã đáp: - Chúng chỉ bị câm thôi chứ không điếc. Khi dạy học, cháu cứ việc giảng giải bằng miệng mà không cần phải ra hiệu bằng tay. Tự dưng Tuyền muốn thử sức mình ngay lúc này: - Cháu sẽ tự mình làm quen với các em. Ông Thành Danh tế nhị kéo tay vợ: - Chúng ta ra thăm công nhân ngoài đồi trà một chút. Hãy để cho cô và trò tự do thoải mái với nhau đi. Không cãi lời chồng, bà Thành Danh lẳng lặng đi theo ông sau khi để lại cho Tuyền ánh mắt như gửi gắm. Chờ chủ nhà đi khuất, Tuyền mới bắt đầu công việc cần thiết nhất của mình. Cô tiến lại gần hai đứa nhỏ với nụ cười hiền hậu: - Nào... Diễm và Kiều... chúng ta làm quen nhau đi. Song, trái với sự thân thiện của cô, hai đứa nhỏ càng ghì chặt lấy nhau lộ nét kinh hoàng hơn. Chúng ré lên thứ âm thanh mà Tuyền hoàn toàn không thể hiểu. Cô từ tốn nói: - Chị đâu làm gì các em. Chị đến đây là để dạy các em học chữ mà... Nhưng một đứa đã lắc đầu, chúng làm những động tác mà Tuyền cho rằng đó là sự phản đối. Cô cảm thấy hơi tự ái: - Các em chê chị không đủ tư cách để dạy học phải không? Chúng lại lắc đầu, song lần này ánh mắt của chúng chăm chú vào cô hơn. - Sao? Hay các em muốn làm người dốt, suốt đời không biết chữ? Lại những cái lắc đầu làm Tuyền bối rối không thể dự đoán được ý muốn của hai cô học trò khuyết tật này. Tuyền lại hỏi: - Các em thấy chị có thể làm cô giáo được không? Dường như hai đứa nhỏ đang quan sát cô, nên chúng ở trong trạng thái im lặng, chỉ hoạt động bằng ánh mắt. Sau một hồi chờ đợi, Tuyền nhận được tín hiệu đáng mừng từ phía hai đứa học trò. Chúng gật gật đầu làm Tuyền không ngăn được mình và nhào người tới. - Các em đồng ý để chị dạy học chứ? Nhưng lạ thay, chúng lại thụt lùi rồi lưỡng lự trước câu hỏi của Tuyền khiến cô tiu nghỉu phải buông ra lời than thở: - Nếu các em không chịu học thì kể như chị mất cơ hội ở đây rồi. Diễm và Kiều đưa mắt nhìn nhau như hội ý điều gì. Một lúc sau, một trong hai đứa bỗng chậm rãi bước tới cầm tay Tuyền ra dáng trân trọng. Đang thất vọng, Tuyền không màng đến thái độ làm thân này nên bặm môi: - Các em khỏi cần thương hại tôi. Nếu không làm được cô giáo thì tôi sẽ xin đi làm công nhân vườn trà vậy. Tuyền vừa dứt lời thì một đứa nữa từ xa bỗng chạy lại bên cô, cả hai giữ chặt tay Tuyền đầu gật lia khiến cô phải hoang mang trố mắt. - Vậy các em có chịu nhận tôi làm cô giáo dạy học không? Những cái gật kèm theo âm thanh ú ớ của người câm làm ruột gan Tuyền rúng động lên vì mừng. Cô lắp bắp: - Thế... có nghĩa là... các em chịu... học... Hai chiếc miệng cùng nhoẻn cười một lúc, chứng tỏ sự thân thiện như thể giữa họ đã có tình thân. Ngay lúc đó thì ông bà Thành Danh từ bên ngoài bước vô, trông thấy cảnh ấy họ mừng vui rối rít: - Ồ, cháu Tuyền quả là tài tình! Mới chỉ trong khoảng thời gian ngắn có một giờ đồng hồ đã thuyết phục được hai con "ngựa chứng" này rồi phải không? Bà Thành Danh chữa lời chồng: - Sao mình lại gọi các con là "ngựa chứng"? Chẳng qua vì mặc cảm tật nguyền nên chúng mới khác thường một chút thôi. Ông Thành Danh đưa mắt về phía hai đứa con, giọng cứng nhắc không tình cảm: - Chỉ khác thường thôi ư? Chẳng lẽ mình còn chưa điên đầu lên vì chúng? Thấy không khí giữa vợ chồng ông Thành Danh hơi nặng nề, Tuyền bèn chủ động xin cáo lui: - Thưa hai bác... cháu về ạ. Nhưng bà Thành Danh đã giữ chân cô ở lại: - Cháu đừng về vội mà hãy gần gũi với mấy đứa nhỏ thêm chút nữa. Dường như chúng đang bắt đầu mến cháu rồi. Lời bà Thành Danh quả không sai vì lúc này hai cô bé Diễm và Kiều đã xoắn xuýt bên Tuyền như không muốn rời xa. Chúng làm những động tác bằng tay và đầu mà Tuyền phải nhờ đến sự thông ngôn của bà Thành Danh mới hiểu. - Hai đứa con bác muốn mời cháu lên phòng của chúng... Nhận được cái nháy mắt của chủ nhà, Tuyền đành phải gật đầu: - Vâng... cháu xin phép... Bà Thành Danh phẩy tay: - Thôi, đừng quá lễ nghĩa như vậy. Là người nhà cả mà. *** Vừa mới đi chợ về, vú Dần đã vứt chiếc giỏ thức ăn nặng trịch xuống rồi tất tả chạy đi tìm chị em Tuyền. Trông thấy cô đang nhổ cỏ cho mấy khóm hoa trước sân nhà, vú ào tới kể rối rít: - Hai cô ơi... có chuyện với chúng ta rồi... Tuyền ngạc nhiên ngẩng lên: - Vấn đề gì làm vú hồi hộp quá vậy? Vú Dần thở hào hển: - Tôi không biết... có nên... nói lại hay không nữa? Chuyện này... chuyện này... cũng chẳng hay ho gì... Nhưng nhỏ Tú không chịu nổi kiểu lấp lửng ấy của vú nên hối thúc: - Không hay ho gì thì vú cũng phải nói lại cho tụi con biết chứ. Mọi vấn đề bây giờ đều cần sự giải quyết của cả ba người. Vú Dần đưa mắt nhìn sang Tuyền dò ý, song cô đã làm hiệu bảo không nên giấu điều gì. Thế là vú đành miễn cưỡng nói: - Lúc nãy ngoài chợ tôi nghe mọi người đồn với nhau rằng ngôi biệt thự chúng ta đang tá túc có... m...a... Vừa nghe thấy thế, chị em Tuyền ai cũng nổi da gà. Tuyền cố trấn tĩnh nhưng sắc mặt thì không thể giấu được ai. - Vú nghe bậy không hà. Mấy ngày vừa qua chúng ta ở đây có thấy động tĩnh gì đâu. Nhỏ Tú bỗng vọt miệng: - Chị còn giấu làm chi. Chẳng phải hôm mới đến hiện tượng lạ xảy ra cho chúng ta nghe là gì à? Tới đây thì kẻ rùng mình là vú Dần, vú nhích sát lại gần Tuyền đầu ngoái nhìn lung tung: - Úi... có chuyện đó xảy ra sao hai cô không nói với tôi? Tuyền bật cười: - Nói với vú thì giải quyết được gì nào. Liệu vú có dám soi đèn để thử coi mặt con ma không? Vú Dần run giọng nói: - Ồ không. Tôi sẽ dọn giường qua phòng của hai cô ngủ cho ấm áp. Tuyền không chịu, lắc đầu: - Thôi... chật lắm. Vú già rồi còn sợ hãi chi ba cái chuyện nhảm nhí ấy! Ma cỏ ở đâu ra vào cái thời buổi này. Dù đã nghe cô chủ trấn an, vú Dần cũng nghe gai ốc trong người mình nổi dậy. Tuyền bỗng khơi mào lại: - Vú nghe người ta đồn thế nào về ngôi nhà mà ta đang ở này? Vú Dần nhăn vầng trán như cố nhớ lại đầy đủ câu chuyện ngoài chợ: - Người ta nói ngôi biệt thự này bị bỏ hoang vì có ma quấy nhiễu. Đã từ lâu không ai dám dọn đến đây ở dù là những công nhân hái trà... Nghe thấy vậy, nhỏ Tú lanh chanh nói: - Nguy hiểm thế mà ông bà Thành Danh lại cho chúng ta đến ở nhờ. Thật ra họ cũng chẳng tốt lành gì. Dù trong lòng rất hoang mang, Tuyền cũng không để em phủ nhận lòng tốt của người khác. Cô mắng Tú: - Mi nói năng không suy nghĩ, bác Thành Danh nghe được sẽ buồn. - Ấy là em nghĩ thế thôi. Ở đây vẫn hơn lang thang ở vỉa hè gấp nhiều lần. Tuyền co tay cốc nhẹ lên đầu Tú: - Mi nhận định được như thế thì đừng có lải nhải nữa. - Nhưng ở chung với ma liệu có được yên thân không? - Tú rụt cổ đỡ đòn. Tuyền hất cằm: - Nó làm gì được chúng ta? - Mỗi đêm mở cửa vài ba lần bộ không làm chị bị đau tim hả? Còn nữa... những bước chân cộp... cộp... Chỉ nghe nhỏ Tú diễn tả, vú Dần đã sợ muốn ngất đi rồi. Vú ngăn cô chủ nhỏ: - Cô Tú làm ơn đừng có nói thêm nữa. Song Tú đang được đà, không chịu dừng: - Không nói sao được vú. Nhà mình có ba người, nhưng cộng tất cả lá gan lại thì chỉ có một cái. Thấy vú Dần và em gái càng lúc càng làm cho tinh thần mọi người xuống cấp, Tuyền bèn nạt: - Bây giờ ai cũng sợ hết thì đi nơi nào mà ở. Đúng là được voi đòi tiên mà. Dù câu nói của Tuyền khá nặng nhưng không ai dám cãi, bởi lẽ hiện tại mọi gánh nặng sinh kế giờ chỉ trông vào mỗi mình cô. Với đồng lương dạy học mà ông bà Thành Danh hứa trả mỗi tháng tạm đủ nuôi sống ba người trong điều kiện hết sức tiện tặn. Tuy đã làm thân được với hai con bé bị câm kia, nhưng việc dạy chúng học cũng không phải là chuyện dễ. Ngày đầu tiên đảm nhận vai trò cô giáo Tuyền đã hết sức lúng túng, bởi lẽ học trò của cô là trẻ khuyết tật chỉ nghe mà không thể nói được. May thay, chúng cũng rất ngoan... nếu không, chắc Tuyền đến phải đầu hàng thôi. Có điều lạ là chị em cô bé Diễm và Kiều này lại rất sợ cha mình. Mỗi lần ông Thành Danh đến gần là chúng cứ co rúm lại với nhau vẻ mặt đầy khiếp hãi. - Chị Hai à, nắng quá rồi chúng ta vào nhà đi chị. Tiếng nhỏ Tú phá tan sự im lặng nãy giờ giữa ba người khiến cho Tuyền giật mình nhận ra tất cả đang phơi nắng. Cô vội vã chạy vào trong nhà nhưng lại bị vấp ngã ngay bậc thềm. - Ôi... đau quá...! Nhỏ Tú từ phía sau dấn tới đã không đỡ còn cười: - Chưa gì chị Hai đã rủn chân trước tiên rồi đó. Tuyền quắc mắt nhìn lại nó: - Ta vấp ngã chứ không phải sợ ma đâu. Nói xong, Tuyền cảm giác bóng mát của ngôi biệt thự lạnh hơn ở ngoài trời. Không biết có phải tự bản thân ngôi nhà mát hay nó lạnh vì đang ẩn chứa một oan hồn lẩn khuất bên trong? *** - Diễm... em sửa lại nét chữ này đi! Tuyền khom người vừa nói vừa hoạt động đôi tay bên cạnh hai cô học trò đang lúi húi viết bài. Tuy chúng đã mười bốn với cơ thể sắp dậy thì, song nét mặt hồn nhiên cứ như mới lên sáu, lên bảy vậy. Chúng học thật chăm chỉ không hề giở chứng giống như những lần trước khiến ông bà Thành Danh rất đỗi vui mừng. Họ liên tục sai người làm đem tặng quà và còn hứa sẽ tăng lương cho Tuyền nữa. - Thế... Kiều viết xấu hơn Diễm rồi! Đứa em bị chê ngước mặt lên phụng phịu. Thấy vậy, Tuyền lại phải dỗ dành: - Ý chị muốn nói là Kiều cố gắng thêm một chút sẽ vượt qua mặt Diễm. Nghe sự động viên ấy, cô bé bèn tiếp tục cúi xuống trang vở viết nốt những dòng chữ còn lại. Gần một tháng trôi qua trong vai trò cô giáo, Tuyền được tự do lui tới ngôi biệt thự của gia đình ông bà Thành Danh mỗi ngày và được coi như người nhà. Tình cảm giữa cô và trò bây giờ thật khắng khít, ngày nào Tuyền đến muộn là cả hai chị em kéo ra sân nhóng mắt có ý chờ. - Cô giáo dùng nước sâm cho khỏi khô cổ. Chị giúp việc mang vào phòng một khay nước artichaud vừa nấu tỏa mùi thơm dịu ngọt, là thức uống vừa mang tính cách dược liệu của vùng này. Tuyền cất lời cảm ơn rồi bưng một ly lên nhấp giọng, cô nghe chị giúp việc bảo mình: - Cô quả thật là tài. Tuyền mỉm cười đáp lại: - Tài cán gì đâu... chẳng qua là biết cách chinh phục con người thôi. Chị giúp việc có vẻ cũng hay chuyện, nhân lúc hai cô bé đang cắm cúi viết bài kéo Tuyền ra bên ngoài phòng hỏi: - Tôi chưa thấy ai cừ khôi mọi mặt như cô cả. Dám đến ở trong một ngôi nhà có ma mà không sợ sệt gì. Tuyền hơi sợ hãi trong lòng nhưng cũng làm bộ ra vẻ: - Ma nó chê tôi không xứng đáng cho nó nhát. Đôi mắt chị giúp việc mở to pha lẫn nét hãi hùng: - Đừng nói vậy không nên đâu cô giáo à. Chẳng qua là vì vía của cô cao lại thêm bạo dạn nên nó gờm chưa chọc đó! Mà cô nghe tôi xúi dại đi, xin với ông bà chủ dọn về đây ở cho bảo đảm chắc ăn hơn. Ngôi nhà hoang đó vừa đáng sợ, vừa nguy hiểm... Trước những lời thổ lộ của chị giúp việc, Tuyền không bỏ lỡ cơ hội khai thác. Cô đảo mắt nhìn quanh rồi thì thầm: - Chị nói tôi nghe những gì mà tôi chưa được biết đi. - Ngôi nhà ma đó hả? - Vâng. - Nhưng thời gian rảnh của tôi ít lắm! Tôi sắp phải đi chuẩn bị bữa cơm trưa rồi đây. Tuyền ngó xuống đồng hồ đeo tay: - Xin chị năm phút thôi. Chị giúp việc đồng ý: - Vậy cô hỏi mau đi. Tuyền bối rối tìm câu để mở đầu: - Chị có thể cho biết con ma trong ngôi nhà chúng tôi đang ở thuộc dạng nào? Vừa nghe hỏi, chị giúp việc đã gãi đầu: - Câu này chắc phải dành cho lão pháp sư chuyên ếm tà họa may mới có thể trả lời được. Tôi chỉ biết qua những lời truyền miệng của mấy người bị nó nhát thôi, cô ơi! Họ bảo rằng lúc thì nó to lớn, lúc lại bé cỏn con... - Nhưng là đàn bà hay đàn ông? Chị giúp việc nheo đuôi mắt, dáng dấp như suy nghĩ: - Đàn ông... mà dường như là con trai. Có lần tôi được nghe kể lại từ miệng của người bị nó nhát là họ đã thấy rõ ràng nó hiện lên nguyên hình. Tới đây Tuyền thật sự lạnh gáy dù bên ngoài phải cố tình làm tỉnh. Tiếng chị giúp việc đều đều: - Tại cô mới đến nên không biết đó thôi, chứ cả cái vùng này từ công nhân đến người dân quanh đây không ai dám tới ngôi nhà ấy để ở. - Hai bác Thành Danh có biết chuyện này xảy ra không? - Tất nhiên là họ phải biết trước tiên rồi nên mới bỏ ngôi nhà cũ mà xây nhà mới ở chứ. - Chị đến đây giúp việc đã lâu chưa? Chị người làm xòe bàn tay ra đếm ngón: - Năm năm rồi. Kể từ khi ngôi nhà này được xây xong. - Hai bác Thành Danh đối xử với chị cũng tốt chứ? - Tuyền vẫn tranh thủ hỏi. Giọng nói của chị người làm ngập ngừng: - Thì... cũng tốt. Nhưng bà chủ tốt hơn ông chủ. - Chị nói rõ hơn đi. - Cụ thể là con người ông chủ khá độc đoán và ích kỷ, trong khi bà chủ thì biết thương người, bản tính vui vẻ hòa đồng. - Họ chỉ có hai đứa con gái này thôi ư? - Vâng. Đó là con chung... Tuyền ngạc nhiên trố mắt: - Chẳng lẽ họ còn có con riêng nữa sao? Chị giúp việc gật đầu: - Chuyện này người ngoài chỉ có mình tôi biết thôi nha. Bởi tại tôi nghe lén hai người cãi lộn nên mới hay bà chủ có con riêng trước khi lấy ông chủ. Nhưng mà nè, cô đừng nói lại kẻo tôi bị mắng... không chừng còn bị mất việc vì tội tò mò, tọc mạch đó! Rất ngỡ ngàng trước những điều vừa nghe thấy, Tuyền đứng ngẩn ngơ cho đến lúc chị giúp việc giật mình sực nhớ chuyện bếp núc đang chờ: - Ấy, đã mấy chục phút rồi còn gì. Cô thông cảm, tôi phải đi lo chuyện của tôi. Và rồi không dám chờ bị gọi lại hỏi thêm, chị giúp việc lật đật trở xuống nhà dưới trong khi Tuyền vẫn còn quá nhiều thắc mắc. Ngồi suy nghĩ một hồi, Tuyền chợt nảy ra ý định khám phá đời tư chủ nhà qua hai đứa con họ. Chắc chắn chúng phải biết tí chút gì đó nếu như chúng thật sự có một người chị hoặc anh. Cô chọn con bé Kiều để hỏi bằng sự khôn ngoan của chính mình: - Nhà em có mấy người? Nhỏ Kiều xòe bốn ngón tay đưa lên thay cho lời đáp song Tuyền cố tình nói thêm vào. - Không phải, những năm cơ. Con bé tròn xoe mắt huơ bốn ngón tay như khẳng định, nhưng Tuyền đã chủ động kéo thêm một ngón nữa đang cụp xuống để đứng thẳng rồi nhấn mạnh: - Nhà em có năm người. Da mặt nhỏ Kiều đang bình thường bỗng dưng biến sắc sau vài giây ngẫm nghĩ. Nó lộ nét hoảng hốt qua vài cái lắc đầu lia lịa. Thấy vậy, Tuyền quay qua nhỏ Diễm: - Còn em... em khẳng định nhà mình có mấy người? Ánh mắt con bé Diễm chựng lại nhìn chăm chú vào Tuyền rồi nó từ từ đưa tay. - Năm người lận ư? Câu thốt đầy hoang mang của Tuyền vừa dứt thì nhỏ Kiều đã chồm tới bên Diễm dùng tay bẻ cụp một ngón xuống, miệng ú ớ như cải chính. Hiện trạng trước mắt và thái độ của chị em Kiều, Diễm đã tạo cho Tuyền một nghi vấn chắc nịch rằng gia đình Thành Danh có ẩn chứa điều bí mật nào đó... và sự bí mật ấy có liên quan đến sự vắng mặt của một người... cùng nhiều điều huyền hoặc ở ngôi biệt thự cũ mà mình đang trú ngụ. Phần 2 Chiều nay Tuyền bỗng có ý định dạo chơi ngắm cảnh ở khu vực xa hơn thường ngày. Cô rủ nhỏ Tú nhưng nó đã lười biếng từ chối. Mặc dù vậy, Tuyền vẫn hành động theo sở thích sau khi đã cầm theo chiếc áo lạnh và một khăn quàng cổ. Cô dặn với bà vú: - Một lát nữa vú và nhỏ Tú cứ ăn cơm trước, đừng có chờ con. Không đi theo con đường mòn dẫn đến nhà ông bà Thành Danh, Tuyền rẽ phải tiến thẳng lên đồi trà, nhưng nơi đây thật yên tĩnh không còn bóng dáng công nhân nào vì đã hết giờ làm việc. Đi xa thêm một chút nữa Tuyền mới chịu dừng lại, đứng ở độ cao nhất, cô đưa mắt ngắm nhìn toàn bộ khu vực quanh mình và cảm nhận được hết sự trù phú của nông trường trà Thành Danh. Hèn chi họ giàu có rất nhanh với mức doanh thu hằng năm tính bằng tiền tỷ. Vừa phóng tầm nhìn, vừa suy nghĩ, Tuyền không hề hay biết phía sau lưng mình đang có một đôi mắt dán chặt vào người cô. Gió lúc này đang bắt đầu nổi lên làm không khí dịu xuống dần, Tuyền đưa tay hái vài búp trà cho vào miệng nhấm, cảm thấy vị chan chát. - Trà xanh không độc đáo bằng trà đã được sấy khô, sao tẩm rồi cô à. Nghe tiếng nói bất thình lình vang lên ngay bên cạnh, Tuyền giật thót cả người. Cô run rẩy quay nhanh lại thì trông thấy một khuôn mặt đang nhìn mình bằng thái độ rất thản nhiên: - Sao cô có vẻ hoảng hốt vậy? Tôi có phải là con quái vật thời tiền sử xuất hiện đột ngột để ăn thịt cô đâu. Giọng nói khá trầm tĩnh của người thanh niên đã trấn an Tuyền được phần nào, song nghĩ lại thấy âm điệu của nó cũng đầy vẻ giễu cợt. Cô đặt tay lên ngực để trấn tĩnh rồi nghiêm mặt: - Anh là ai... sao lại nấp sau lưng tôi? Người thanh niên chỉnh lại câu hỏi của Tuyền ngay lập tức: - Cô nói sai. Tôi đã ở đây trước khi cô hiện diện. Tuyền vội cãi: - Vậy cớ sao tôi không nhìn thấy được anh chứ? Bờ môi người thanh niên hơi hé cười: - Tại đôi mắt của cô không tinh tường đó thôi, đâu phải lỗi ở tôi. - Vậy anh đang làm gì ở đây? - Nhìn trời, trông mây... Chắc cô không có ý bảo khoảng không gian bao la này chỉ độc quyền cô tận hưởng chứ? Vẻ mặt Tuyền thoáng gượng: - Tôi... tôi không phải là chủ nhân của vườn trà này. Người thanh niên nhìn vào cô đăm đăm: - Điều ấy tôi đã biết. Tôi còn biết cô là một cô giáo vừa dọn đến ở đây. Tuyền giễu lại trả đũa: - Anh biết nhiều vậy sao? Người thanh niên nhún nhẹ vai: - Chuyện cô đến ở đây có gì là bí mật đâu, ngược lại cả vùng này đều biết chứ chẳng phải riêng tôi. Rồi anh ta nói một mình, nhưng cố ý lại để cho Tuyền nghe: - Lòng tốt của người ta cần được phô trương rộng rãi mà... Tuyền có cảm tưởng đang bị xúc phạm, cô đỏ mặt: - Tôi nghĩ bác Thành Danh không xấu như anh tưởng đâu... Việc tôi đến ở ngôi biệt thự hoang kia rất công khai, mọi người đều thấy cả. Người thanh niên bỗng chuyển hướng câu chuyện: - Cô có lá gan hơi lớn đấy. Tuyền cố tình lờ đi: - Anh vừa nói gì cơ? Người thanh niên khoanh tay, hất hàm về phía ngôi biệt thự Tuyền đang trú ngụ: - Cô ở đó mà không cảm thấy sợ hãi điều gì sao? Tuyền làm ra vẻ thản nhiên: - Có gì đáng sợ đâu. - Cô bạo gan thật. - Đừng khen tôi sớm như vậy. Chẳng qua là tôi chỉ chưa phát hiện ra điều gì để khiếp đảm cả. - Nếu có thì cô dám lưu lại đó nữa không? Bất giác, Tuyền thở than: - Không lưu lại đó thì chúng tôi biết phải đi đâu? - Cô không có nhà để ở sao? - Không... nếu có thì chị em tôi đâu phải đến cái xứ sở núi non này để ẩn náu, làm bạn với những nỗi buồn triền miên chứ? - Thế cha mẹ cô đâu hết rồi? Nghe hỏi, Tuyền ngậm ngùi: - Đã chết hết. Chúng tôi hiện giờ là những kẻ mồ côi. Lúc này dường như người thanh niên đã biết thông cảm cho hoàn cảnh của Tuyền. Anh ta nhỏ giọng nói: - Thì ra là như thế! - Phải. Chúng tôi không có sự Iựa chọn nào tốt hơn. - Sống ở ngôi biệt thự hoang ấy, cô cảm thấy thế nào? Tuyền nói thật lòng: - Khá cô đơn và rất buồn bởi chúng tôi không có bạn. Đột nhiên người thanh niên tỏ ra thân thiện với Tuyền hơn: - Cô có muốn tôi thường xuyên lui tới trò chuyện không? Tuyền ngước mắt nhìn lên: - Anh ở đâu? Người thanh niên chỉ tay: - Ngoài xóm đằng kia, cách đây cũng không xa là bao. Đến lượt Tuyền điều tra lai lịch người đối diện: - Anh là công nhân của nông trường này? - Đúng. Tên tôi là Sinh. - Anh có gia đình chưa? Vẫn với nụ cười trên môi, Sinh hóm hỉnh: - Cô muốn hỏi tôi có vợ con chưa chứ gì? Nhưng Tuyền không quan tâm tới lời nói của anh mà cuống quýt chỉ tay về phía trước, giọng run sợ: - Ôi người hay ma...? Sinh nhìn theo rồi cả cười: - Ha... ha... coi bộ cô bị ám ảnh nặng nề rồi. - Nhưng... tôi vừa mới thấy... - Thấy gì nào? Giọng Tuyền như lạc đi: - Một... khuôn mặt... dị dạng... Sinh tỉnh bơ: - Có gì đáng sợ đâu, họ cũng là người như ta mà... - Sao anh biết? - Bởi tôi và họ cùng ở chung một căn nhà. Nghe tới đây, Tuyền rùng mình mấy cái liền: - Họ là người thân của anh à? Sinh gật đầu: - Đại khái là như vậy. - Sao không thể nói chính xác? Bị hạch lại, Sinh bạnh miệng: - Tôi gọi ông ta bằng chú... cô biết như thế là quá đủ rồi. Trong lúc Tuyền còn đang gợn lên những thắc mắc thì Sinh vẫy tay về hướng một bụi cây, anh cất tiếng: - Chú Nhị à... ra đây đi, kẻo người ta lầm tưởng chú là con ma sống đó! Không có lời đáp lại, chỉ có tiếng sột soạt của lá cây một lúc rồi im. Sinh quay lại bảo Tuyền: - Chú ấy không muốn ai nhìn thấy bộ mặt xấu xí của mình. Chú luôn bị mặc cảm... Chẳng biết từ bao giờ Tuyền đã nắm lấy tay Sinh, có lẽ trong lúc sợ hãi cô đã vô ý định nhờ anh che chở chăng? Và khi bình tĩnh lại, Tuyền hết sức thẹn thùng thu nhanh bàn tay của mình về, trước tia nhìn tinh nghịch của Sinh như đang trêu chọc cô: - Tối rồi, tôi về đây. Nhưng đôi chân của cô chưa kịp hoạt động thì Tuyền lại phải lùi sát vào người Sinh. Cô la toáng lên và yêu cầu: - Anh phải đưa tôi về. Sinh ngó lơ đi nơi khác: - Đâu có chuyện lạ đời vậy? Tôi nhớ lúc đến đây ngắm cảnh cô tự đi được mà. Tuyền nhìn vào từng bụi cây, gương mặt như sắp khóc: - Lúc đó, tôi chưa nhìn thấy điều gì khiếp đảm cả. - Nhưng chú tôi không phải là ma... Lời nhấn mạnh của Sinh không làm Tuyền nguôi sợ. Cô lắp bắp: - Liệu ông ta có làm hại tôi không? - Hãy đi mà hỏi ông ấy. - Tôi không dám. Rồi thu hết can đảm, Tuyền ù chạy về hướng ngôi biệt thự cũ thật nhanh đến độ không còn thở ra hơi. Khi dừng lại, cô đã ngã vào vòng tay của ai đó mà không thể nhận dạng được. Tuyền chỉ mơ hồ nghe thấy tiếng mình hét và cảm giác toàn thân nhẹ hẫng... bềnh bồng... *** - A... cô Hai đã tỉnh rồi...Tuyền vừa cựa quậy mở mắt thì đã nghe tiếng reo của vú Dần. Cô gượng ngồi dậy hỏi: - Đã mấy giờ rồi hả vú? Vú Dần đáp gọn gàng: - Bảy giờ tối rồi... nghĩa là cô đã ngất đi hơn một tiếng đồng hồ. Nghe thấy vậy, Tuyền thảng thốt: - Tôi bị ngất? Vú Dần lại đáp: - Đúng. - Ở đâu vậy? - Ngoài đồi trà. Nếu không nhờ cậu công nhân ấy đưa về thì tôi và cô Tú sẽ không biết đâu mà tìm cả. Từ nay cô đừng có đi dạo xa như thế nữa, sức khỏe của cô không cho phép đâu. Tuyền tiếp lời vú Dần khi bà chưa kịp dứt: - Vú vừa nói... ai đã đưa con về? Vú Dần nheo mắt lại vì bị chói ánh đèn: - Một cậu công nhân còn rất trẻ. Cậu ta bồng cô từ vườn trà về đây bảo tôi chăm sóc rồi đi ngay. Cô có đói bụng không để tôi đi hâm nóng thức ăn. Tuyền ngơ ngẩn nói một mình: - Hắn đã bồng ta về... Tuyền chộp tay vú lay mạnh: - Vú thấy hắn có tỏ thái độ gì sàm sỡ không? Câu hỏi này làm vú Dần trố mắt: - Làm gì có chuyện đó? Tôi thấy cậu ta rất đàng hoàng, còn chỉ cho tôi cách làm cho cô mau tỉnh lại nữa. Vẫn chưa thật sự yên tâm, Tuyền vội kiểm soát lại người mình. Khi thấy không có dấu hiệu gì khác lạ cô mới thở ra nhẹ nhõm. Thì ra anh ta cũng có chút lòng tốt đã theo bảo vệ và đưa cô về nhà. Nhưng... Tuyền nhớ là lúc ấy mình đã chạy thật nhanh mà. Làm sao anh ta có thể theo kịp nếu chậm chân hơn mình chứ? Như vậy là anh ta cũng phải ra sức chạy... Tuyền cảm thấy hả dạ rời khỏi giường đảo mắt tìm em gái. Không thấy nó, cô bèn hỏi: - Nhỏ Tú đâu rồi vú? Vú Dần nhìn ra khoảng tối bên ngoài cửa, giọng nói lo âu: - Cô Tú theo cậu công nhân ấy đi lấy thuốc nãy giờ... - Sao vú lại để em con đi như vậy? Bộ vú không biết ở bên ngoài có bao nhiêu điều nguy hiểm đang rình rập đó hay sao? Ôi, nó là con gái lại đi ra ngoài trời tối lâu như vậy. Ngộ nhỡ... - Em không sao đâu chị ạ... Tiếng nhỏ Tú vang lên khi nó chưa kịp xuất đầu lộ diện làm ai nấy hoảng hồn. Vú Dần và Tuyền áp lưng vào nhau nhìn ra cửa. - Mi về rồi hả Tú? Bây giờ nhỏ Tú mới bước vào với một cái gói nho nhỏ cầm trên tay. Trông nó tỉnh bơ chẳng lộ nét gì sợ hãi. - Thì em đã về rồi đây nè. Tuyền dấn tới một vài bước: - Mi theo anh ta đến tận đâu? Tú ngồi phịch xuống ghế, dùng hai tay xoa nắn đùi: - Ối... đi xa thật là xa. Qua tới mấy ngọn đồi vào trong xóm lận. - Rồi khi trở về, có ai dẫn mi đi không? - Tất nhiên là phải có. Bộ chị cho rằng em dám ngang nhiên trở về đây một mình ư? Tuyền ngồi xuống cạnh em: - Ta không nghĩ như thế, nhưng người đưa mi đâu rồi? Tú nhóng mắt nhìn ra ngoài. Nó cắn môi: - Ảnh không chịu vô nhà. Chắc là còn đang đứng ngoài sân. Tuyền bảo em: - Mi xách đèn đi ra mời người ta vào. Song nhỏ Tú đã lắc đầu: - Em mời rát lưỡi rồi, họa chăng chị lên tiếng. Nhưng vú Dần vội ngăn lại: - Cô Tuyền còn yếu, không nên đi ra ngoài. Được thể, Tuyền bèn sai: - Nếu thế thì cả hai hãy bước ra mời khách đi. Không dám cãi, nhỏ Tú liền kéo tay vú Dần bước ra ngoài với ngọn đèn dầu vặn hết cỡ. Cả hai vừa đi vừa lên tiếng như để trấn át cơn sợ hãi khi phải tiếp cận với bóng tối bên ngoài. Song tuyệt đối không có ai đáp lại, cũng chẳng thấy người nào. Vú Dần huơ huơ đèn lên cao rồi hỏi Tú: - Lúc nãy cậu ấy đứng ở đâu? Nhỏ Tú hất cằm về phía trước: - Chỗ đó mà... - Sao bây giờ không thấy? - Hay là anh ấy về rồi. - Cái cậu lúc nãy có phải không? - Vâng. Chính anh ấy. Khi nhìn trước, nhìn sau không thấy, cả hai bèn dợm quay người lại định trở vào. Chợt họ rú lên rồi quẳng đèn chạy ngược vào trong: - Á... á... á... Đang bưng ly nước toan uống, Tuyền giật mình dừng lại hỏi: - Cái gì vậy? Phải nói rằng thần sắc vú Dần và nhỏ Tú đều giống y như nhau... xám ngắt, toàn thân run lập cập... môi và răng họ đánh bò cạp vào nhau, miệng nói không thành câu: - Ma... m... a... Tuyền cũng nghe tóc gáy mình dựng đứng, muốn làm tỉnh mà không xong: - Nói... bậy... không... hà... Vú Dần bập bẹ như con nít đang tập nói: - Không... bậy... đâu... c... ô... ma... thật mà... Nhỏ Tú tiếp giọng trệu trạo: - Ừa... th....ấy... ghê... quá... Hiểu những gì em và vú Dần vừa trông thấy, nhưng Tuyền lại không thèm đính chính. Bởi cô biết lúc này có nói cũng chẳng làm giảm bớt sự sợ hãi của họ được. Tuyền bất mãn thốt lên: - Cứ nhát nhau thế này thì đến phải giảm tuổi thọ mất thôi. Vú Dần vội thanh minh khi đã bình tĩnh: - Không phải nhát... mà là tôi với cô Tú trông thấy rõ ràng. Tuyền gạt phăng: - Con không thích nghe chuyện ma. - Nhưng... đó là con ma thật. - Nó thế nào? - Khủng khiếp đến độ không tả nổi. - Nó đã làm gì vú? - Chưa kịp. Bởi tôi và cô Tú nhanh tay quẳng đèn ù té chạy mất rồi. - Vậy mà con cứ tuởng nó đã chộp được gáy một người. Nghe nói, vú Dần rùng mình trông tức cười: - Ối... nếu mà tôi bị chộp thì linh hồn tôi sẽ lìa khỏi xác ngay tức khắc chứ không thể sống thêm một phút nào đâu. Tôi bị bệnh tim mà cô Hai. Tiếng rên của vú Dần làm cho Tuyền thương hại, cô dùng tay xoa chiếc bụng đang đói meo của mình làm bộ than: - Nghe vú nói con thấy tội nghiệp cho vú ghê, nhưng nếu thương vú thì cái bao tử của con sẽ khổ suốt đêm vì nhịn đói. - Như thế tôi cũng áy náy quá. Ngộ nhỡ cô ngã bệnh thì cả nhà mình sẽ phải sống ra sao đây? Hiện giờ mọi thứ đều trông vào tiền lương dạy học của cô. Tuyền thừa cơ: - Biết vậy thì vú hãy mau chóng xuống bếp với con đi. Thấy không còn cớ gì trì hoãn được, vú Dần bèn gom hết mớ can đảm ít ỏi của mình toan đặt tay lên then cửa định mở thì... cộp... cộp... cộp... Trời đất, tiếng giày nện ở bên ngoài và ngay cả trong gian phòng khách khiến vú giật lùi xô ngã cả vào Tuyền. Một lần nữa, Tuyền bủn rủn người muốn ngất đi. Cô thều thào: - Con xỉu đây vú ơi... Vú Dần cũng chẳng hơn gì cô, ngồi bệt xuống nền nhà từ bao giờ vì đôi chân không còn sức để đứng. Tiếng vú như hơi gió: - Đừng... đ...ừ...n...g... xỉu... cô Hai ơi... Tuyền cảm thấy mệt tựa người vừa phải lao động cực nhọc. Cô nói giọng đứt quãng: - Con... con... sợ... quá...! Dường như là... Vú Dần dùng tay bịt miệng Tuyền: - Giữ im lặng... đừng nói gì... - Liệu có phải có người muốn trêu chọc chúng ta không hả vú? - Theo tôi thì không phải là người đâu. Tuyền hỏi nhỏ vào tai vú: - Vậy thì ai? - Kinh nghiệm cho biết... đó là ma... - Vú lúc nào cũng tưởng tượng bậy bạ. - Không hề bậy bạ đâu cô Tuyền à. Theo người xưa kể lại thì cảm giác của chúng ta rất chính xác. Nghĩa là khi chúng ta thấy ớn lạnh đột ngột, tóc gáy dựng đứng lên, gai ốc mọc cùng người thì chắc chắn trăm phần trăm đang tiếp cận với thế giới vô hình... Tuyền vòng tay trước ngực để đè nén độ nhảy của trái tim. Cô cố nói gạt đi: - Lỡ đó là triệu chứng của người vừa bị cảm mạo thì sao? - Hoàn toàn không trùng hợp vậy đâu. Cô nghe đấy tiếng chân người từ trong ra ngoài rồi mất hẳn... - Hay họ đã bỏ đi? - Biết đâu một hình bóng dật dờ nào đó chẳng đứng ở phía bên kia cánh cửa đợi chúng ta để nhát. Nhìn điệu bộ quá khiếp sợ của vú Dần, Tuyền không nỡ làm cho bà phải hãi hùng thêm, nên thở dài lia mắt vào túi bánh mì sấy khô treo trên tường: - Thôi... để con ăn tạm một miếng bánh dằn bụng vậy. Dù sao thì trong nhà cũng chỉ có ba người phụ nữ yếu đuối không thể chống cự lại được với bất cứ điều gì... Thấy cô chủ đã biết nghĩ xa, vú Dần khấp khởi mừng. Vú khêu to hơn ngọn đèn, gài chặt cánh cửa rồi lo cho Tuyền bữa ăn tạm bợ để cô đỡ đói. Lúc này chỉ có hai người còn thao thức vì nhỏ Tú đã chìm vào giấc ngủ. *** - Cô Tuyền... dậy ăn điểm tâm đi kẻo không còn phần bây giờ.Tiếng gọi của vú Dần làm Tuyền choàng tỉnh thức trong cơn đói sôi sục. Cô không nằm nướng mà bật ngay dậy khi nhìn thấy tia nắng ban mai lọt vào phòng. Việc trước tiên là Tuyền đảo mắt tìm nhỏ Tú nhưng có lẽ nó đã ra khỏi giường từ lâu. Xỏ chân vào đôi dép, Tuyền thong thả rời phòng. Cô ngửi thấy mùi thức ăn từ nhà bếp xộc lên mũi thơm tận trong buồng phổi. Làm vệ sinh mau chóng, Tuyền hối thúc vú Dần khi cô chưa kịp ngồi vào bàn: - Mau lên đi vú ơi... chắc là con phải ăn luôn khẩu phần tối qua mới có thể hết đói. Vú Dần bưng lên cho Tuyền một tô xúp nấu thịt thêm lòng đỏ trứng gà. Vú nhìn cô cười cười: - Bồi dưỡng để cô khỏi bị sút ký vì sự kiện tối qua. Để tô xúp đã ăn xong sang một bên. Tuyền rời chỗ đứng lên. Vú Dần từ bên ngoài bước vô báo: - Có khách tới thăm cô Hai kìa. Hơi ngạc nhiên Tuyền chầm chậm bước ra. Cô nhìn thấy người khách ngay ở bậc tam cấp: - Chào cô. Cô đã khỏe hẳn rồi chứ? Tuyền đứng sững người trả lời: - Vâng... cám ơn. Sinh nhếch mép cười: - Khách sáo vừa thôi cô Tuyền à. Ở đây người ta không quá lễ nghĩa như thế đâu. Tuyền cố giữ nét mặt nghiêm: - Thì ra anh đã biết tên tôi. Rồi không để Tuyền kịp phản ứng, Sinh đề nghị: - Cô có thể đi đạo với tôi vòng quanh đây một chút được không? Tuyền lắc đầu không suy nghĩ: - Tôi còn bệnh. Anh thanh niên không hụt hẫng mà cười: - Đừng từ chối vội vàng như thế chứ cô Tuyền. Tôi nghĩ cô sẽ ân hận sau câu nói của mình. Tuyền muốn phản ứng ngay lập tức nhưng cô bị Sinh chặn lại: - Đã bảo đừng có vội. Mặc áo khoác rồi cùng đi với tôi. Tuyền bất mãn: - Anh có quyền gì mà ra lệnh cho tôi? - Cô lại căng thẳng rồi. - Tôi còn phải đi dạy nữa. - Cô quên hôm nay là ngày chủ nhật sao? Không có lý do gì để đưa ra, Tuyền đành chấp nhận: - Thôi được... đi thì đi... Nói xong cô quay trở vào phòng lấy áo và khăn quàng, mọi hành động của Tuyền như đang bị kẻ khác sai khiến. Sánh vai cùng Sinh rời khỏi ngôi biệt thự trước sự kinh ngạc của nhỏ Tú và vú Dần, Tuyền có nghe họ xì xầm song cô không buồn ngoái lại. Đưa tay lên che miệng ngáp vì giấc ngủ muộn đêm qua chưa đã mắt, Tuyền bước đi thật nặng như thể không nhấc nổi đôi chân, dù rằng chung quanh cô cảnh sắc thật đẹp đang đón chào: - Thế nào? Có cần tôi phải dìu không? Tuyền cà nhắc một cách cố tình: - Tại anh. - Sao lại là lỗi của tôi? Hôm qua cô vấp ngã rồi ngất đi là do cô tự chạy. - Thế không phải là anh đã đuổi theo tôi sao? - Công nhận rằng tôi đã chạy theo cô, nhưng không phải là đuổi mà là để đỡ... Nếu không có tôi lúc ấy thì ai sẽ đưa cô về nhà nằm trong chăn êm nệm ấm tối qua. Tuyền miễn cưỡng nhìn nhận: - Tôi đã mắc nợ anh chuyện này. - Bây giờ thì tôi đang cảm thấy hối tiếc đây. Nhưng không sao... mọi chuyện đều có thể trở lại từ đầu. Cô trả nợ cho tôi... từ nay chúng ta không còn gì vướng mắc nữa. Thay vì nói lời xin lỗi để làm lành, Tuyền buột miệng: - Anh muốn gì thì cứ việc nói đi. Sinh yêu cầu thẳng thừng giống như cô lúc nãy: - Hãy nhắm mắt lại cho tới khi tôi bảo mở ra. Rất lạ song Tuyền không dám đặt câu hỏi, cô chấp nhận trong trạng thái hoang mang: - Nhắm mắt thì có gì là khó đâu! Sinh làm mặt nghiêm, không hề cười: - Tôi sẽ không cho cô có cơ hội khiếu nại đâu cô giáo. Yên chí, Tuyền bắt đầu nhắm mắt, cô cố vận động thính giác để nghe ngóng xem người thanh niên kia đang toan tính giở trò gì. Nhưng tuyệt nhiên đôi tai Tuyền không phát hiện ra điều chi ngoài tiếng gió và tiếng động của thiên nhiên luôn có sẵn. Một phút... rồi hai phút trong sự hồi hộp, giữa lúc Tuyền không thể nào ngờ được thì cô cảm thấy một luồng hơi nóng ấm phà vào mặt và bờ môi như đang bị mơn man. Gió cao nguyên hỗn hào với cô chăng? Hay giọt nắng đầu ngày đã thừa cơ lợi dụng? Tuyền bâng khuâng toan mở mắt song sợ đánh mất giây phút thần tiên ấy nên thụ động để yên. Chừng cảm giác đột ngột bị ngưng ngang, Tuyền hụt hẫng mở choàng ra định níu kéo thì mới hay rõ vấn đề. Cô sửng sốt trước ánh mắt đê mê và bờ môi thỏa mãn của người thanh niên thì đã quá muộn. Sinh quay lưng bỏ đi để mặc cô ngồi lại đó với gương mặt nóng lên vì giận. *** Trở về nhà, Tuyền buông người xuống chiếc ghế cũ chắp vá lại để ngồi tạm. Cô thừ ra nguyền rủa Sinh đủ mọi lời lẽ thậm tệ nhất vì anh ta đã dám làm ô uế bờ môi trong trắng của cô. Tuyền giận mình bất cẩn, dễ tin người nên mới bị đánh lừa. Nếu không, anh ta dễ gì có cơ hội ngàn vàng ấy. Mà suy cho cùng là ở cô cả. Cô đã để yên cho anh ta thực hiện hoàn chỉnh nụ hôn mà không hề phản ứng. Lại còn muốn lịm đi vì cảm giác lạ lẫm của nụ hôn đầu đời. Ôi... tức chết đi được mà. Tuyền định khóc nhưng nước mắt không thể ứa ra bởi sự kiện kia đâu có gì đáng khổ. Còn cười thì không nổi vì cô làm sao vui trước cái dại của mình.- Chị Hai... có học trò của chị đến thăm kìa. Tiếng nhỏ Tú lanh lảnh báo vọng vào đưa Tuyền thoát khỏi cơn bực bội. Cô đứng đậy bước ra ngoài thì trông thấy hai chị em Kiều và Diễm đang đứng ở trước sân. Tuyền vẫy tay: - Vào đây đi! Nhưng hai đứa lại nhìn nhau rồi lắc đầu. Vẻ mặt chúng gợn lên một nét gì đó như sợ hãi. Chúng làm hiệu tỏ ý không chịu vào. Thấy vậy, Tuyền đành phải đích thân ra tận nơi. Nhỏ Kiều đặt vào tay cô bọc trái cây to tướng có ghi dòng chữ nguệch ngoạc của chúng vừa học được trong khoảng thời gian qua. "Chúc cô giáo mau lành bệnh"... À, thì ra hai đứa học trò đi thăm mình. Nhưng sao chúng lại biết mau như vậy chứ? Chắc có lẽ con Tú đã lẻo mép rồi đây. Tuyền phác cử chỉ cám ơn bằng tay, cô lại rủ: - Hai em vào nhà chơi với nhỏ Tú. Nó chỉ có một mình và đang nằm buồn trong kia. Cả hai đứa nhóng mắt nhìn vào nhà coi bộ rất muốn vào, song nghĩ sao đó chúng lại tỏ thái độ không đồng ý. Nhỏ Kiều nắm chặt tay nhỏ Diễm như để cản em nó. Tuyền phải ra sức thuyết phục: - Trời đã bắt đầu nắng gắt, hai em mà đứng đây coi chừng bị ốm nữa đấy! Có chuyện gì cứ vào nhà một chút rồi về cũng chưa muộn mà. Nhỏ Kiều bỗng ngồi sụp, lấy ngón tay vẽ thành chữ trên mặt đất: "Tụi em sợ...". Tuyền lia mắt rồi hỏi dồn: - Sợ gì nào? Vẫn nhỏ Kiều đáp lại bằng dòng chữ ghi trên đất "Sợ ma"... Tuyền bèn lục vấn tiếp: - Ma ở đâu ra? Kiều hí hoáy: "Ở trong nhà...". Tuyền nghe tim mình đập thật mạnh. Cô cố ngăn cảm giác ơn ớn đang trỗi lên: - Sao em biết? Nhỏ Kiều cắm cúi viết: "Em nhìn thấy!". - Nó thế nào? Có đáng sợ lắm không? Bất giác nhỏ Kiều bật khóc. Nó phát ra một thứ âm thanh mà Tuyền đoán rằng đó là sự tức tưởi, ức chế pha lẫn khiếp sợ... Phải chăng con bé này đã là nhân chứng một vấn đề gì đó mà cô chưa thể biết. Kéo tay cả hai đứa đứng sát vào mái hiên để tránh nắng Tuyền nghĩ cách khai thác như hôm nọ. Cô vỗ nhẹ lên lưng nhỏ Kiều, giọng dỗ dành: - Nín đi em, có gì khó xử cứ cho chị biết. Nhỏ Diễm đứng nãy giờ bỗng nhúc nhích cựa quậy, trông nó có vẻ rất muốn nói chuyện với Tuyền. Cô mau chóng chủ động: - Diễm viết xuống đất cho chị đọc cũng hiểu được. Con bé liếc chị nó rồi bắt đầu cử động ngón tay nhưng nó chưa giỏi bằng chị nên viết sai chính tả lung tung khiến Tuyền phải mò mẫm đọc từng chữ: "Có ngư...ời... chết... t...ại đây". Tuyền nghe có luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, cô run giọng lặp lại: - Có người chết phải không? Nhỏ Kiều gật đầu, mắt lấm lét nhìn vào trong. Nó nhấn mạnh thêm câu nữa trên mặt đất: "Phải, ở trong nhà...". Ôi... giá vú Dần và nhỏ Tú nghe được điều này. Chắc chắn họ sẽ bắt cô phải dọn đi chỗ khác ở ngay chứ không nấn ná thêm phút giây nào nữa. Nhưng mà sao có thể tin được hai con bé này chứ. Chẳng lẽ chính mắt chúng đã thấy người ta chết...? Ồ, rất có thể lắm! Cứ trông dáng dấp của chúng mà xem, giống như chúng đã chứng kiến rõ ràng. Tuyền lắp bắp hỏi thêm: - Hai đứa biết... người chết là ai... không? Nhỏ Diễm toan viết chữ lên đất thì bị nhỏ Kiều dùng chân đá nhẹ vào cánh tay. Hiểu ý, nó bèn lắc mạnh tỏ cử chỉ không biết. Song Tuyền đã cố ép bằng sự khôn ngoan của chính mình: - Nếu các em biết mà không chịu nói ra là đã mắc lỗi với người chết. Họ sẽ oán các em, biến các em thành... thành con ma luôn... Lời Tuyền chưa kịp dứt thì nhỏ Diễm đã ré lên sợ hãi: - É... é... é...! Tuyền quay qua Kiều dọa dẫm thêm: - Làm ma thì sẽ không được ở trong nhà sống chung với người đâu. Các em sẽ bị gởi vào tận trong rừng sâu hoặc vất vưởng lang thang không có nơi để đến. Quả nhiên sắc mặt nhỏ Kiều xám ngắt lại. Nó bặm môi nghĩ ngợi điều gì đó rồi hoạt động ngón tay: "Tụi em không giấu nhưng bị buộc phải giữ kín... Xin chị thông cảm giùm". Tuyền lay tay nhỏ Kiều: - Ai bắt buộc các em? Diễm cũng xanh mặt y như chị. Nó giành đáp sự thắc mắc của Tuyền: "Ba em..." Tuyền hết sức ngạc nhiên song lúc này nhỏ Tú đã vô tình làm hỏng mất cơ hội điều tra của cô. Nó ào đến phá đám: - Kiều và Diễm đừng về sớm. Chúng ta bày trò chơi một lúc như hôm trước có được không? Trong khi Kiều chưa nhận lời thì nhỏ Diễm đã gật đầu. Nó thúc cùi tay vào hông chị ra ý bảo không nên từ chối rồi lo ngại chỉ vòng quanh. Chẳng biết có hiểu hay không, nhỏ Tú cũng lanh chanh nói bừa: - Chơi ngoài trời thích hơn ở trong nhà. Tuy nắng một chút nhưng được chạy nhảy không vướng đồ đạc. Kiều cũng nhận ra điều ấy nên nhoẻn cười. Sự sợ hãi trong câu chuyện với Tuyền dường như đã tan biến. Hai cô bé trở lại trạng thái vui vẻ, hồn nhiên chạy theo nhỏ Tú để bắt đầu cuộc chơi. Có lẽ với chúng, được đùa vui là một điều rất hiếm, bởi chúng chẳng biết làm bạn cùng ai trong khu vực đồi trà này. Ôm bọc trái cây vào nhà đưa cho vú Dần đem cất, Tuyền nghe tiếng của vú: - Toàn là cam sành với nho, lâu rồi chúng ta không được thưởng thức những thứ này. Tự nhiên Tuyền cảm thấy ngậm ngùi. Lúc cha mẹ còn sống, chị em cô đâu phải khát khao bất cứ một thứ gì, dù là những món ăn sang trọng nhất. Vậy mà giờ đây khi nhắc đến một quả táo cũng phải ứa nước miếng vì đã lâu không được ăn. Tuyền bảo với vú Dần: - Con nhớ những thứ này vú rất thích phải không? Vú cứ việc lấy dùng đi, để có sức chăm sóc chị em con. Vú lớn tuổi rồi mà phải chịu đựng kham khổ quá ngã bệnh thì nguy. Chị em con còn trẻ sức khỏe bền bỉ hơn. Nhưng vú Dần đã gạt đi: - Ối, cô không phải lo gì cho tôi đâu. Tuy tôi già song dẻo dai hơn các cô gấp nhiều lần. Trong hoàn cảnh thế này, tôi chỉ sợ các cô không chịu nổi mà thôi. Tuyền rưng rưng: - Con có đủ nghị lực để vượt qua, vú đừng quá lo. Điều con ray rứt bây giờ là nhỏ Tú không có cơ hội đến trường học. Vú Dần động viên cô: - Rồi chúng ta sẽ mau chóng ổn định thôi. Tuyền thở dài não ruột: - Công việc hằng ngày chỉ đủ chúng ta no cái bụng. Còn vấn đề vươn lên thì không biết đến bao giờ? Đang chơi, nhỏ Tú bỗng chạy vào nhà uống một hơi hai ly nước liền. Nó cất tiếng bảo Tuyền: - Không hiểu sao hai con nhỏ kia nhất định không chịu vào nhà mình. Tụi nó làm hiệu bảo em mang nước ra ngoài cho nó uống. Tuyền vụt xúi: - Mi cố tìm cách điệu chúng vào đây đi. Song nhỏ Tú đầu hàng: - Em nói hết lời rồi. Dường như bọn chúng có vẻ sợ hãi ngôi nhà này dữ lắm. Chẳng phải cô đã nhìn thấy một khe hở to tướng qua sự tiết lộ của chị em Kiều, Diễm ư? Ngôi biệt thự này từng có người chết, điều ấy có chi là quá gớm ghiếc đâu khi vạn vật trên cõi đời đều có sinh, có tử theo quy luật. Nhưng tại sao lại phải giấu giếm chứ? Mà kẻ bắt mọi người phải giữ kín bí mật lại là ông Thành Danh. Những câu hỏi đầy thắc mắc bắt đầu xoay quanh Tuyền làm cô bối rối. Cô tự hỏi phải tìm hiểu từ đâu... Ông bà Thành Danh... Hai cô bé câm tội nghiệp... Hay người thanh niên đang làm cô bực mình? Ai cũng có thể lý giải được ít nhiều... nhưng đâu sẽ là sự thật, đâu là giả? Và cái chết của kẻ xấu số nào đó có điều gì bí ẩn mà tại sao ông Thành Danh phải bắt con mình giấu kín không được công bố trước mọi người? |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 36
Phần 3 Như thường lệ, cứ đúng tám giờ sáng là Tuyền có mặt tại ngôi biệt thự của ông bà Thành Danh để đảm nhận vai trò cô giáo, dù thời tiết xấu hay không. Hôm nay trời cũng tràn ngập sương mù, đứng cách nhau vài mét là đã không còn nhìn thấy bóng. Xong bữa điểm tâm sáng đạm bạc cùng em gái và vú Dần, Tuyền miễn cưỡng khoác chiếc áo măng tô dài quá gối vào người rồi đội mũ len lên đầu chuẩn bị đến nơi dạy. Chợt nhỏ Tú gọi giật lại: - Chị Hai... Có người gửi cho chị cái này nè. Tuyền ngạc nhiên ngẩng lên nhìn: - Ta có quen biết với ai ở đây đâu. Mi đừng bày đặt xạo... - Em không xạo đâu chị Hai ơi. Nếu chê thì cứ cho hết em, đừng trả lại nhé! Tuyền trợn mắt: - Ai gửi tới? Nhỏ Tú lắc đầu nói: - Chị phải hứa... - Ta không hứa gì hết. - Vậy thì có nói cũng bằng không. Trước sự úp mở của em, Tuyền nóng lòng nạt lên: - Ta không chờ nữa đâu nghen. Lúc này Tú mới chịu bật mí. Nó nói mà như đùa: - Một anh công nhân đem tới bảo đưa cho chị. Sắc mặt Tuyền thật lạnh lùng: - Quen hay lạ? Tú đáp lại gọn lỏn: - Vừa quen mà cũng vừa lạ. Em nói thật. Trông anh ấy quen vì đã từng biết chúng ta, còn lạ là vì... chúng ta chưa chịu tiếp nhận ảnh. Nhưng nhỏ Tú cũng rất là bản lĩnh. Nó lật tới lật lui gói quà: - Có người để ý đến chị rồi đó! Tuyền quắc mắt: - Nói tầm bậy. Tú nhoẻn miệng cười duyên: - Không bậy chút nào đâu. Bằng chứng có đây nè. Nói rồi nó lại chuyền tay cái gói như nhà ảo thuật gây cho Tuyền sự bực bội không thể tả. Cô chộp lấy xé tung gói giấy bên ngoài ra: - Ồ... đừng... Tiếng hét của nhỏ Tú không kịp ngăn chặn hành động của chị nó nên cái ruột của gói quà đã bị phơi bày trước mắt mọi người đó là một cái bọc mứt màu đỏ nâu trông thật ngon và hấp dẫn. Vú Dần vội bước tới nhận diện: - Giống như là mứt mận. Vì chưa từng được xem qua thứ này nên Tú không dám vồ vập mà chỉ đưa mắt nhìn: - Cái tên sao nghe lạ quá trời ha vú? Vú Dần cầm lấy đưa qua cho nhỏ Tú thấy, vú nói tiếp: - Đây là loại mứt đặc sản của vùng đất lạnh này đó! Nghe vú Dần nói vậy nhỏ Tú bèn liếm mép. Nó quay sang phía chị gạ: - Mở ăn thử đi chị Hai. Song Tuyền đã ngoảnh đi: - Ta không ăn khi chưa biết nó xuất xứ từ nơi đâu. - Trời ơi, thế nãy giờ chị không nghe sao? - Ta muốn biết chính xác người gửi. - Người gửi là anh Sinh. Tưởng chị gái sẽ mừng, nào ngờ Tuyền còn mắng: - Ai cho phép mi nhận? - Chị mới là người kỳ cục. Anh ấy tha thiết muốn gửi thì em từ chối thế nào được. Tuyền vẫn cố ghép tội: - Thôi đừng có nói nhiều nữa. Mi hãy đem trả lại cho người ta đi. Tú vươn cao chiếc cằm: - Bây giờ thì không thể rồi chị à, bởi vì chị đã xé toang gói quà của người ta ra làm sao mà đem trả được. Chi bằng cứ ăn quách đi cho rồi. Tuyền càu nhàu: - Mi không cảnh giác một chút nào. Lỡ trong gói mứt này có bỏ bùa thì mi sẽ là nạn nhân đầu tiên đó! Rồi cô nhìn xuống đồng hồ đeo tay kêu hoảng hốt: - Trễ giờ của ta rồi đó nhỏ. Mi chỉ tạo ra lắm chuyện tầm phào làm mất thời gian của ta thôi. Ta phải đi dạy! Nói xong, Tuyền cuống cuồng bước nhanh ra bên ngoài. Cô đi mà như chạy vì đã để muộn mất mười lăm phút. Chắc chắn ông Thành Danh sẽ không hài lòng nếu như ông có mặt ở nhà, vì ông vốn rất nghiêm khắc trong bất cứ mọi việc. Tuyền tự nhủ phải tìm cớ biện hộ cho mình thôi. Vừa đi, vừa suy nghĩ nên Tuyền đã vô ý đá phải một nhánh cây khô nằm chỏng chơ trên đường. Những tưởng sẽ không có gì xảy ra, nào ngờ khi xem lại một móng chân của Tuyền đã bị xước sâu vào thịt và tuôn chảy máu. Cô òa khóc vì sợ... và cả đau nữa... Hu... hu... hu... Tuyền ngồi khóc chưa lâu thì bỗng có tiếng nói ở đằng sau nghe thật ấm: - Khăn đây... cô hãy lau nước mắt đi. Mới chỉ bị đau một chút mà đã khóc thì còn làm được việc gì lớn. Không ngước mắt lên, Tuyền đón lấy chiếc khăn một cách máy móc. Cô lau nhẹ những dòng lệ đang thi nhau túa xuống rồi đưa trả lại chiếc khăn: - Cám ơn anh. - Cô không nhìn coi tôi là ai ư? Tuyền ngồi im không cử động: - Nghe tiếng nói là tôi đã biết rồi. - Ngộ nhỡ nhầm người thì sao? - Không đời nào... - Kìa... chân cô chảy máu cũng khá nhiều, chắc cô không phản đối tôi giúp cô băng lại chứ? Người thanh niên bước lên trước tầm nhìn của Tuyền rồi ngồi xuống, nét mặt anh ta buồn hiu: - Ở chỗ này không có băng cứu thương và bông gòn. Tôi chỉ có thể dùng lá cây để cầm máu cho cô thôi. Rồi không chờ Tuyền đồng ý hay không, anh ta với tay sang hai bên hái vài ngọn cỏ lá tròn màu xanh bỏ vào miệng nhai nát, nhả ra đắp vào chỗ vết thương cho Tuyền. Mọi động tác có vẻ rất thành thạo: - Xong rồi dó. Nó sẽ cầm máu ngay thôi. Tuyền mấp máy bờ môi: - Anh cứ làm như là thuốc tiên. Những lá cây này mà linh nghiệm dữ vậy sao? - Thì cô hãy chờ coi. Thuốc tiên thì không phải, nhưng nó sẽ cho cô thấy tác dụng của nó liền tức khắc. Xem, máu đã ngừng chảy rồi phải không? Tuyền quan sát chỗ đau rồi gật đầu nhìn nhận: - Ồ hay thật... - Có cần cám ơn tôi thêm lần nữa không cô Tuyền? Tuyền đột nhiên bướng bỉnh: - Tôi đang muốn mắng anh thì có. - Vì chuyện gói quà tôi gửi sáng nay ư? - Không phải. Vấn đề khác. Đôi chân mày anh khẽ nhướng lên: - Tôi không nhớ mình đã gây ra cho cô điều gì. Rồi những giọt nước mắt tức tưởi của Tuyền lại ứa ra, trông cứ như vừa bị người ta ăn hiếp vậy khiến Sinh không nín được phải bật cười. Anh gọi cô bằng tên: - Tuyền trẻ con quá xá. Nghe thấy vậy, Tuyền càng khóc lớn hơn. Ánh mắt Sinh đầy buồn phiền, anh buông lời than thở: - Tuyền không hiểu tôi gì hết. Tuyền la ầm ĩ lên: - Tôi cần gì phải hiểu anh? Sinh cắn mạnh vào môi sững sờ nói: - Thì ra tôi đã quá nhầm lẫn khi dành cho cô một chỗ đứng trong tim mình. Xin chào! Tuyền dự định sẽ quay về rồi sai nhỏ Tú qua nhà ông bà Thành Danh xin phép nghỉ ít bữa, song cô chưa kịp rời khỏi chỗ ngồi thì bỗng có một tiếng sột soạt nghe rất gần làm Tuyền phải quan tâm. Cô đảo mắt với tia nhìn cảnh giác: - Anh đừng có giở trò với tôi nghe. Cứ tưởng là Sinh quay trở lại nên Tuyền đã buột miệng. Nào ngờ, ánh mắt cô chợt thấy một hình hài mà bất cứ ai nhìn thấy cũng đều giật mình kinh hãi. Nhất là ở chỗ vắng không người qua lại. Tuyền toan khụy xuống vì tay chân bủn rủn, song phản xạ tự nhiên đã tiếp thêm cho cô sức mạnh... và Tuyền ù té chạy bán sống bán chết cho đến ngôi biệt thự Thành Danh mà không hề cảm thấy cái chân đang bị đau. Từ trong nhà bước ra, bà Thành Danh đã bị Tuyền tông thẳng vào người thật mạnh đến độ phải ngã ngồi. Bà vừa nén đau vừa giương mắt nhìn Tuyền đầy kinh ngạc: - Làm gì mà hấp tấp dữ vậy cháu? Gương mặt Tuyền chất chứa sự hãi hùng. Cô lắp bắp nói câu được câu mất: - Thưa... thưa bác ghê... ghê quá... thật kinh hồn! Không hiểu ất giáp gì, bà Thành Danh ngơ ngác lay tay Tuyền: - Bộ có chuyện chi nghiêm trọng lắm hả cháu? Sao giờ này mới tới đây? Tuyền ngọng nghịu dù biết đã thoát khỏi sự nguy hiểm. Cô thở không ra hơi: - Cháu... vừa... gặp... Bà Thành Danh hỏi lấn tới: - Gặp gì vậy? Bộ nơi này có thú dữ hay sao? Tuyền lắc đầu, khắp người cô toát mồ hôi lạnh: - Thú dữ còn đỡ sợ, đây là người đó bác à. Nghe nói, bà Thành Danh chau mày: - Người thì có gì đáng làm cho cháu phải khiếp hãi đến như vậy? Quanh đây chỉ có công nhân của nông trường trà Thành Danh thôi. Chẳng lẽ họ lại dám sàm sỡ với cháu? Tuyền vội vàng đính chính: - Không phải ạ... - Vậy điều gì khiến cháu sợ thế này? Tuyền nói nhanh vì sợ không đủ can đảm lặp lại: - Cháu vừa trông thấy một người có dáng dấp khuôn mặt dị dạng lắm! Hắn đã xuất hiện trên đường từ chỗ ở của cháu đến đây. Bà Thành Danh ngẩn người ra: - Thật là chuyện lạ. - Thưa... cháu không hề nói dối ạ. Phải chăng hắn cũng là công nhân của nông trường trà này? - Cháu hãy tả lại hình dáng cụ thể cho bác nghe thử xem. Công nhân ở đây bác cũng rõ từng mặt. Nghe hỏi, Tuyền cắn môi phác một cử chỉ chậm chạp: - Cháu không thấy kỹ lắm, nhưng trên đời này chưa ai xấu bằng hắn. Ôi, một bộ mặt nhăn nhúm như ma quỷ lại đi khập khiễng giống như hình ảnh của những bức tranh biếm họa về lão Thần Chết ấy! Cháu thật không ngờ ở ngoài đời cũng có một con người sống như vậy. Lời Tuyền khiến bà Thành Danh ngạc nhiên không thể tả, bởi bấy lâu sống ở đây bà chưa từng nghe ai nói về điều này. Bà Thành Danh muốn hỏi Tuyền thêm nhiều điều thắc mắc nữa, song chợt nhìn thấy ngón chân đau của cô nên lộ vẻ quan tâm: - Hậu quả của sự sợ hãi lúc nãy có phải không? Tuyền ngượng ngập gật đầu đại: - Thưa... vâng ạ. Bà Thành Danh với nét mặt lo âu: - Không hề gì chứ cháu? Tuyền líu ríu: - Dạ... cũng đau đau. Chắc việc đi lại sẽ khó khăn nếu như ngày mai nó bắt đầu sưng tấy lên. Bà Thành Danh nhiệt tình: - Vậy thì cháu hãy nghỉ dạy ít hôm đi. Để bác nói lại với bác trai, cháu đừng ngại gì cả. *** Tối nay Tuyền thức khuya nhưng trong lòng cô thật bình yên. Cô không còn cảm thấy sợ hãi mơ hồ về những điều chỉ cách đó một ngày cô đã sợ đến mất ăn, mất ngủ.Ngón chân đau vẫn không thôi nhức buốt vì khí lạnh ngày càng xuống thấp. Tuy vậy, Tuyền lại nghe dễ chịu hơn nên ca hát vang nhà. Cô cố làm cho vú Dần và em gái thay đổi cách nghĩ về ngôi nhà mình đang ở. K...é...t... k...ẹ...t... tiếng kêu nghe rợn óc giữa đêm khuya làm Tuyền giật thót người, dù rằng cô đã tự trấn an nỗi sợ từ lâu. Sao lại còn sự kiện này xảy ra khi cô đã rõ trên đời này không hề có ma. Người đàn ông quái dị ấy vẫn tiếp tục giở trò nhát ta chăng? Hay Sinh có ý muốn trêu chọc cô nên thừa nước đục thả câu, làm cho người ta phải sợ? Vậy làm thế nào? Rõ ràng cô đã nghe tiếng mở cửa thật to mà. Tâm trạng về sự khủng hoảng ban đầu khi cảm giác ớn lạnh cứ liên tục trỗi lên. Một con ma khác xuất hiện nữa chăng? Chẳng lẽ ngoài người đàn ông quái dị kia, còn có thêm một oan hồn lẩn khuất ở trong ngôi biệt thự này để tiếp tục làm cho những ai ẩn náu nơi đây phải sợ? Ôi, như thế thì Tuyền cứ phải đến chịu thua, đầu hàng mất. Cô trở lại giường nằm song trằn trọc mãi vẫn không tài nào ngủ được. K...é...t... k...é...t... tiếng mở cửa bên ngoài lặp lại lần thứ hai cùng với âm thanh ặc... ặc... nghe thật kỳ quái, khác với những lần trước. Ôi, cứ thế này thì đến đau tim mà chết mất thôi, Tuyền nhắm mắt lại cố nhẩm đọc số từ một... hai... ba... và phải đến mấy trăm cô mới có thể thiếp đi trong giấc ngủ khá nặng nề. Sáng hôm sau khi thức dậy cô hỏi vú Dần rối rít: - Đêm qua nhà mình có bị mất thứ gì không hả vú? Vú Dần ngẩn người ra rồi lắc đầu: - Làm sao mất được khi cửa nẻo đều đóng kín. Tuyền buột miệng: - Rõ ràng con nghe tiếng mở cửa hai lần mà... - Cô có nằm mơ không? - Lúc đó con còn thức. - Nhưng sáng nay cửa vẫn còn cài then cẩn thận. Tuyền cảm giác sống lưng mình thật lạnh dù cô đã mặc áo ấm và choàng khăn. Đích thị ngôi biệt thự này có vấn đề, mà sự kiện dường như nghiêm trọng hơn. Phải tìm anh chàng Sinh hỏi cho ra lẽ rồi mới khẳng định được, vì chỉ anh ta là biết rõ... Ăn sáng qua loa bằng một quả trứng luộc và miếng bánh mì sấy rắc đường, Tuyền lên tiếng rủ em gái: - Nè, Tú. Mi có thể dẫn ta đi tới nhà anh chàng từng đến đây tặng mứt mận cho chúng ta được không? Nhỏ Tú hóm hỉnh nheo đuôi mắt: - Mới bảnh mắt chị đã có ý định thăm người ta sớm quá vậy? Tuyền ngượng nghịu tìm lời: - Không phải đi thăm mà là có chuyện muốn hỏi... - Bộ có vấn đề nghiêm trọng hả? - Ta không có thời gian đàm luận với mi nữa. Hãy lên đường ngay đi. Mặc cho chị thúc giục, nhỏ Tú vẫn lề mề. Nhỏ Tú thầm cầu mong một điều mà nó vừa hình dung, song đó là ý trời... nó chỉ có nhiệm vụ đẩy họ lại gần thôi. *** - Đó. Ngôi nhà gỗ đằng trước có giàn hoa thiên lý màu vàng mà chúng ta đang nhìn thấy... là nhà của anh ấy! Chị vào đi, em ngồi ở ngoài này.Cô dấn bước về phía trước sau khi để lại câu dặn dò: - Mi đừng có đi đâu nghe. Ngộ nhỡ ta bị ức hiếp thì cũng còn có một đồng minh. Nhỏ Tú lè lưỡi nháy với theo: - Không dám đâu, đụng chuyện em sẽ co giò chạy trước đó! Lời nhỏ Tú chưa kịp dứt thì phía trước Tuyền đã được đón tiếp. Sinh xuất hiện với bộ mặt khá thân thiện: - Liệu có phải rồng đến nhà tôm không đây? Định trả đũa lại những lời trêu chọc của Sinh, nhưng có vài cặp mắt tò mò của các nhà bên cạnh phóng ra nên Tuyền đành nhượng bộ. Cô vừa lườm vừa nhẹ bước chân. - Á... đau... Tiếng kêu của Sinh gây cho Tuyền sự ngạc nhiên: - Sao? Sinh liếc qua hóm hỉnh: - Cô vừa đâm vào ngực tôi một dao mà còn hỏi nữa hả? Vô tình Tuyền nhìn xuống tay mình và phát hiện Sinh đang tiếp tục nhạo bằng lời. Cô mím môi quay phắt lại: - Yêu cầu anh nghiêm chỉnh. Sinh cũng chẳng chịu thua cô: - Thì tôi có giỡn mặt với Tuyền đâu. Được Tuyền tới thăm tôi thấy cảm động lắm! - Anh đừng có mừng vội. Tôi không có lòng tốt đi thăm hỏi người khác đâu. - Vậy Tuyền đi đến nhà tôi để làm chi? Chắc không phải muốn gặp chú Nhị của tôi chứ? Nào ngờ Tuyền lại nói: - Tôi muốn gặp chú ấy! Sinh rụt cổ vào vai: - Cô đã hết sợ rồi ư? Tuyền cố giữ cho giọng mình đừng run: - Với ông ấy thì tôi không còn sợ, nhưng lại có một bóng ma nữa vừa xuất hiện đêm hôm qua. - Cô trông thấy nó à? Tuyền lắc đầu: - Không thấy gì, song nó đã nhát tôi chết khiếp suốt cả đêm. Cặp chân mày Sinh chau nhẹ: - Bằng cách nào? Hai tay Tuyền phát ra những động tác: - Tiếng mở cửa kèn kẹt nhưng cánh cửa vẫn cài then. Chẳng biết có ý dọa Tuyền hay không mà Sinh lại gật đầu: - Như vậy là ngôi nhà đó có oan hồn chết thật rồi. Tôi bảo đảm đêm qua chú Nhị đã ở bên tôi đến sáng. - Anh lấy gì làm bằng chứng? Sinh cười hiền: - Tôi cho chú ấy uống thuốc ngủ. Tới giờ này chú ấy còn chưa thức nổi nữa kìa. Không tin cô hãy bước vào bên trong mà xem. - Biết đâu ông ấy đi cả đêm nên giờ mới ngủ mệt. Tuyền vẫn tỏ ý nghi ngờ. Sinh dang rộng cánh tay: - Tin hay không là tùy cô. Nhưng tôi cũng xin nhấn mạnh ngôi biệt thự cô đang ở không tốt đâu, cả chủ nhà của nó cũng thế! Tuyền hơi bất mãn nhưng Sinh không cho cô cơ hội mở miệng, anh nói tiếp: - Cô hãy khoan phản ứng. Cứ chờ thời gian trả lời rồi mắng tôi cũng chưa muộn mà. Thật tình thì tôi không có tật nói và nghĩ xấu về người ta. Chẳng lẽ cô không thắc mắc gì về câu chuyện nghe lỏm được của chú Nhị hay sao? Trước kia chú ấy cũng là một con người đẹp đẽ lắm. Tới đây Sinh mới đưa mắt nhìn Tuyền: - Cô có muốn đặt câu hỏi hay không? Tuyền ngần ngừ: - Tôi nghĩ mình không có liên quan gì về thân thế của người khác. - Nhưng cô cũng có quyền thắc mắc chứ? - Anh gài tôi vào chuyện đó để làm chi? Sinh rót một ly nước đẩy tới cho Tuyền rồi biểu lộ thái độ của mình. Trông anh thật là buồn: - Tôi muốn cô hiểu về nỗi thống khổ của một con người đang sống mà phải bị biến thành ma. Đôi mắt đẹp của Tuyền mở thật to: - Anh đang nói... Sinh cắn môi: - Tôi nói về chú Nhị đấy! Chú ấy không phải là chú ruột của tôi, mà là người đã cưu mang giúp đỡ gia đình thuở trước nên tôi coi như người thân... Khi mẹ tôi mất đi, tôi chỉ còn có chú ấy bên cạnh. Tôi tự hứa là sẽ trông nom săn sóc và bảo bọc cho chú ấy đến hết đời. Sự tò mò trong Tuyền đang được khơi dậy từ từ. Cô bắt đầu muốn biết về thân phận của người đàn ông quái dị. Tuyền buột miệng: - Ông ấy bị tai nạn gì mà biến dạng đến như vậy? Sinh bồi hồi một lúc rồi mới nói: - Một tai nạn khủng khiếp do con người tạo ra. Chú Nhị bị chính em trai mình làm hại để chiếm đoạt tài sản... Chú ấy bị người ta đánh đến thừa sống thiếu chết rồi bỏ lên một chiếc xe hơi đẩy lao xuống vực nhằm tạo ra tai nạn do bất cẩn. Nhưng trong sổ thiên tào, số chú ấy chưa hết hạn nên vẫn chưa chết, gặp người tốt cứu mạng và chú đã tìm về nhà tôi với thân xác thế này. Lẽ ra Tuyền lặng yên chỉ ngồi nghe, song bản năng đã xúi cô lên tiếng: - Tại sao em trai của ông ấy lại dã man như vậy chứ? Của cải sao sánh được với tình cảm ruột thịt... Sinh ngắt lời Tuyền ở chỗ này. Anh nói sau khi tự đốt cho mình một điếu thuốc: - Đó không phải châm ngôn của những con người tàn bạo. Vì sự giàu sang lẫn ước muốn tội lỗi, họ có thể làm bất cứ điều gì. - Anh nói rõ hơn đi. Sinh nhìn Tuyền dò ý: - Sự việc trên lẽ ra tôi phải giấu để giữ an toàn cho chú Nhị. Nhưng tôi tin cô nên mới kể lại cho cô nghe. Tuyền bỗng thấy lo lắng: - Ông ấy vẫn còn bị truy đuổi để sát hại nữa sao? - Đúng, chú ấy bị săn đuổi. - Anh có thể cho tôi biết kẻ đó là ai không? Thay vì đáp câu hỏi của Tuyền, Sinh lại cầm tay cô vẻ mặt thật hiền hòa: - Rồi Tuyền sẽ biết mà không phải do tôi nói. Tôi muốn Tuyền thay đổi cách nghĩ về tôi thôi. Tuyền cố rút tay về nhưng không được. Cô cảm thấy mình như đang chịu ảnh hưởng cuồng nhiệt từ người Sinh truyền sang. Sinh dùng hai tay giữ chặt lấy người cô: - Anh đang nói chuyện rất nghiêm chỉnh với em. Tuyền ra sức vùng vẫy: - Tôi không nghe. Anh hãy buông tôi ra. - Tuyền... đừng cứng lòng như vậy. Anh yêu em thật tình mà... Toàn thân Tuyền như bốc khói trước lời tỏ tình này dù không khí bên ngoài đang còn lạnh, cô thở hào hển: - Tôi... tôi... - Hãy nói một tiếng em đi Tuyền. Lời yêu cầu của Sinh đã không được Tuyền đáp ứng. - Nếu còn thắc mắc gì thì cứ hỏi tiếp đi. Sinh vừa nói tới đây thì người đàn ông quái dị thức giấc lò dò ra. Trông thấy ông ta xuất hiện, Tuyền không tránh khỏi hoảng hốt dù bụng đã trấn an, đã bảo đừng sợ. Cô phải chạy tới nép sát vào người Sinh. Tuy trong lòng rất não nề, Sinh vẫn không để Tuyền có cảm giác bị đe dọa. Anh tạo vòng đai bảo vệ ngay: - Chú Nhị à, đây là cô Tuyền. Người đến ở trọ trong ngôi biệt thự của chú đó! Chú Nhị gật đầu vẻ hiểu biết: - Không cần cháu giới thiệu. Cô bé này thì chú quá quen rồi. Tuyền giữ nguyên tư thế cũ, cô bật thốt với Sinh: - Vừa rồi anh bảo ngôi biệt thự cũ kia là của ông ta ư? Sinh ngẩng lên nhìn rồi tư lự: - Đúng như vậy. - Không phải. - Thế Tuyền cho nó là của người đang làm ơn cho em hả? - Thì sự thật là thế, không thể phủ nhận được. - Ôi... quá bậy... Tuyền nghiêng nghiêng một bên đầu: - Anh đừng châm biếm nữa. Anh không có tài làm thay đổi sự thật đâu. - Tuyền... em nghĩ anh xấu như vậy sao? - Tôi không có quyền bình luận về ai cả. - Cô hơi quá đáng! Sinh nóng mặt. Tuyền nhích người giữ khoảng cách với Sinh: - Mong anh hiểu mà thông cảm giùm cho tôi không thể có cái nhìn sai về người đã cưu mang tôi được. Sinh gằn giọng: - Ngay cả khi họ làm một kẻ thủ ác? - Anh vừa nói cái gì? - Mắt Tuyền xoe tròn lên. Nhưng Sinh không giải thích mà phẩy tay như xua đuổi: - Thôi, cô hãy rời khỏi ngôi nhà này và đừng đến đây nữa. Chuyện về chú Nhị cô muốn giữ bí mật hay nói toạc ra thì tùy ý. Bây giờ tôi có việc phải làm đây. Nói xong, Sinh bước nhanh ra ngoài rồi khuất bóng sau một lùm cây. Còn lại một mình với người đàn ông quái dị, Tuyền chợt nghe run rẩy dù biết ông ta là con người thật sự chứ không phải bóng ma từng làm cho cô sợ. Và Tuyền phải đối diện với ông ta: - Ngồi xuống đi. Ta tuy xấu xí nhưng không biết ăn thịt đồng loại đâu. Thế nào? Cô quen biết sao với gia đình Thành Danh? Bất đắc dĩ, Tuyền phải mở miệng để đáp lại: - Dạ, tôi là con cái của bạn bác ấy! Ba má tôi vắn số vì tai nạn, chị em tôi bơ vơ nên bác ấy đã nhận lãnh cưu mang. Chú Nhị nhìn chăm chú vào Tuyền, đôi mắt ông rất sáng phát ra từ bộ mặt luôn làm cô kinh hãi: - Hắn cũng tốt quá hả? Hèn chi cô ngộ nhận là phải rồi. Nhưng ba má cô tên là gì? Tuyền không định nói, nhưng chẳng hiểu sao âm thanh cứ thoát ra: - Ba tôi tên là Vĩnh Khương, bạn rất thân với bác Thành Danh. Vừa chợt nghe, chú Nhị đã kêu lên: - Trời... vợ chồng Vĩnh Khương đã chết hết rồi sao? Tuyền ngạc nhiên: - Ông cũng biết ba tôi ư? Giọng chú Nhị buông thõng: - Rất thân là đằng khác. - Vậy thì ông là ai? - Ta nghĩ cô cũng đã biết ít nhiều về ta rồi. Còn về cái lý lịch gốc của ta bây giờ chưa phải lúc ta tiết lộ. Tuyền tỏ ra là cao thủ: - Ông không nói thì tôi cũng đoán được. Phải chăng ông là nhân tình cũ của bà Thành Danh? Tức thì Tuyền bị mắng: - Con bé này nói năng hàm hồ quá. Trong đời ta chưa từng biết hai chữ "nhân tình" là gì. Trước khi gặp nạn, ta có vợ con đàng hoàng mà... - Ông bào chữa làm chi. Hôm trước tôi có nghe lỏm chuyện giữa ông và anh Sinh ở chỗ ngôi biệt thự cũ. Ông đã chẳng muốn gặp bà Thành Danh để đòi con là gì? Chú Nhị lộ nét đau khổ tột cùng cho Tuyền thấy: - Cháu đã nghe thì ta không giấu. Nhưng cháu hãy hứa giúp ta một chuyện, ta sẽ kể hết về ta cho cháu rõ. Tuy đã biết phần nào về người đàn ông tàn phế này, song tò mò vẫn luôn là cố tật mà phụ nữ ít khi tránh khỏi. Tuyền cắn ngón tay vài cái rồi bằng lòng: - Được... tôi sẽ giúp ông nếu như có đủ khả năng. Chú Nhị mừng rỡ thấy rõ: - Chuyện nhỏ, không quá khả năng của cháu đâu. - Vậy ông muốn gì nào? - Cháu tạo cơ hội giúp ta gặp riêng bà Thành Danh. Tuyền nhíu mày suy nghĩ: - Ở đâu cho tiện đây? Chú Nhị cuống quýt nói: - Đâu cũng được. Nhưng cháu hãy sắp xếp cho sự gặp gỡ thật tình cờ. Tuyền than thở: - Chà, khó thật. Sao ông không nhờ anh Sinh? - Nếu cháu đã nghe lỏm chuyện thì cháu biết nó không muốn ta gặp nguy hiểm. Tội nghiệp... Ta cũng không muốn nó phải lo lắng và nuôi nấng ta cả đời. Nếu không vì ta, nó đã có cuộc sống khá hơn là làm công nhân kỹ thuật ở cái nông trường trà này. - Thế tôi giúp ông, anh ấy có phiền hà gì không? - Đừng nói gì cho nó biết. Tuyền miễn cưỡng gật đầu: - Thôi được. Và liền sau đó, cô nghe chú Nhị kể về lai lịch và thân thế. Cô không ngờ và cũng chẳng dám tin điều ấy là thật khi chưa có sự đối chứng rõ ràng. *** Sau ba ngày nghỉ với lý do bị đau chân, hôm nay Tuyền phải bắt đầu đi dạy lại. Học trò và cô giáo gặp nhau mừng tíu tít nên buổi học thật hào hứng dù hai cô bé Diễm, Kiều không thể phát âm được bằng lời. Hết giờ rồi, chúng vẫn bám chặt lấy Tuyền như không muốn tiễn cô về. Thấy vậy, Tuyền đành nán lại bày trò chơi với chúng cho tới tận giờ cơm trưa.- Cháu Tuyền ở lại dùng cơm với bác nghe? Tiếng bà Thành Danh nơi cầu thang làm cô và trò phải ngừng chơi. Tuyền vội đáp: - Thưa... để cháu về nhà ăn cơm cũng được mà. Song bà Thành Danh đã phẩy tay: - Ăn ở đây với bác và các em đi. Trưa nay bác trai không về, có mấy mẹ con buồn lắm. Toan từ chối thêm lần nữa nhưng sực nhớ đến lời hứa với chú Nhị, Tuyền nhận thấy đây là cơ hội để cô thực hiện yêu cầu. - Vâng ạ. Bác đã mời, cháu không dám từ chối. Cùng với hai cô bé Kiều và Diễm, Tuyền ngồi vào bàn. Cô được bà Thành Danh tự tay gắp thức ăn giống như mẹ cô khi còn sống khiến lòng cô nghẹn lên xúc động: - Ăn đi cháu. Món mực sốt chua ngon lắm! Ở vùng đất cao nguyên này có được đồ biển tươi để ăn cũng là hiếm chứ không dễ đâu nghe. Bà Thành Danh trò chuyện rất thân tình: - Có cháu lui tới dạy học cho các em thì cái nhà này mới được chút sinh khí để vui lên. Bằng không, từ người đến cảnh vật tất cả đều u buồn, ảm đạm. Tội nghiệp cho hai đứa con gái của bác... chính vì thế mà chúng không năng động, hồn nhiên như các bạn cùng trang lứa với mình. Theo đà, Tuyền ngừng ăn tiếp nối câu chuyện: - Thưa bác, sao lại xảy ra vấn đề như vậy? Cháu thấy hai bác có đủ điều kiện để tạo ra cuộc sống vui vẻ cho các em mà. Khóe mắt bà Thành Danh rưng rưng những giọt buồn: - Bộ cháu tưởng cứ giàu sang là đã sung sướng mãn nguyện à. Thú thật, bác không hề thấy hạnh phúc. Tuyền như bị nghẹt thở: - Không phải về vấn đề tình cảm chứ, thưa bác? Ngập ngừng một chút, bà Thành Danh thú nhận: - Là nó đó. - Bác và bác trai có chuyện xích mích ư? Bà Thành Danh lắc đầu: - Đời nào bác dám đụng đến ông ta. Bác chỉ là một phụ nữ yếu đuối. Nói tới đây, thấy không khí chùng xuống theo mình, bà Thành Danh vội sửa lại thần sắc tươi tỉnh hơn. Bà mỉm cười gượng gạo: - Thôi đừng nói chuyện của bác nữa. Cháu hãy nói về mình đi. Thế nào... nông trường trà này đã có gì thu hút được cháu chưa? Tuyền bẽn lẽn: - Thưa, mọi sự vẫn bình thường thôi bác ạ. Cháu vừa quen được một công nhân có tên là Sinh. - À... anh chàng này thì bác biết. Cháu cũng khéo quen, anh ta là công nhân kỹ thuật giỏi nhất của nông trường trà Thành Danh đó! Tính tình hơi nóng nảy một chút nhưng rất tốt. Rồi bà tỏ ra khôi hài: - Giá ông tơ bà nguyệt mà biết được, xe sợi chỉ hồng cho hai đứa nhỉ? Đôi má Tuyền chợt gợn sắc hồng của sự thẹn thùng. Cô kêu lên nho nhỏ: - Kìa, bác... Bà Thành Danh nói thêm: - Nếu thật sự hai đứa đã quen và thích nhau, bác sẽ tình nguyện làm bà mai giúp đỡ. Tuyền càng mắc cỡ: - Chưa đến giai đoạn ấy đâu bác. Hơn nữa anh ta giận cháu rồi. - Chuyện trai gái vấn đề đó là thường. Ghét rồi thương... thương rồi giận... hết giận lại hờn... lẩn quẩn chỉ bấy nhiêu. - Bác tâm lý quá cỡ. Bà Thành Danh cười ôn tồn: - Thì tại bác đã trải qua mà. Tình yêu thời tuổi trẻ luôn tuyệt vời và mãnh liệt. Có đôi lúc bác ao ước mình được sống lại giây phút ấy chết cũng cam lòng. Bữa cơm đã xong, bà Thành Danh kéo Tuyền ra hành lang ngồi tâm sự. Có lẽ bà cho rằng cô là người mà bà có thể trút cạn mọi nỗi niềm. Tuy nhiên, bà cũng chỉ nói những điều mà Tuyền không hề chờ đợi. Thấy cơ hội không đến, Tuyền bộc phát mở lời: - Thời trẻ bác có yêu ai đắm đuối không? Bà Thành Danh hơi thay đổi sắc diện trước khi gật đầu: - Có... Thời con gái ai mà tránh được chuyện vấn vương tình cảm. - Thế bác có lấy được người ấy làm chồng không? Dường như khóe mắt của bà Thành Danh đang bắt đầu long lanh. Bà nói như muốn mếu: - Lấy được. Tuyền cảm thấy hồi hộp: - Người ấy là bác trai hiện giờ? Tới đây, bà Thành Danh bỗng khóc ròng nhưng vẫn nói: - Không phải. Cô nhẹ nhàng đặt tay mình lên tay bà Thành Danh: - Cháu xin lỗi đã quá tọc mạch vào đời tư của bác. Chỉ tại cháu có quá nhiều thắc mắc... - Không phải tại cháu, mà chỉ tại bác xúc động khi hồi tưởng lại dĩ vãng. Tuyền tiếp tục công việc dò hỏi một cách khôn khéo: - Dĩ vãng của bác chắc là không được vui vẻ lắm? - Cháu đoán đúng chỉ một phần. Thật ra thì bác có một thời gian hạnh phúc vô cùng. Nhưng tiếc là ngắn ngủi quá, chỉ kéo dài được một năm. Lặng người đi để đè nén nỗi buồn, bà Thành Danh lại kể: - Sau một năm vui vẻ là cả chuỗi thời gian dài đau khổ. Nhiều lúc bác muốn tự giải thoát cho mình, song nghịch cảnh trò đời cứ trói buộc, bắt bác phải chịu đựng điều mà bác kinh tởm nhất. - Dường như trong giọng nói, bác không có tình yêu với bác trai? - Lần này thì cháu đúng trăm phần trăm. Đã đoán trước song Tuyền vẫn ngỡ ngàng: - Không yêu sao bác lại có thể lấy làm chồng? Những giọt nước mắt không kìm hãm được của bà Thành Danh tuôn như suối. Bà khẽ nấc: - Chuyện gì cũng có vấn đề của nó cả. Cháu không thể hiểu được khi chưa biết rõ đâu Tuyền. Đến đây thì Tuyền hiểu mình không nên lấn sâu thêm, dù thật lòng cô rất muốn được biết hết về đời tư của một người phụ nữ có cuộc sống cao sang. Tuyền đề nghị một cách rụt rè: - Nếu bác có bí mật cần giấu kín thì không nên thổ lộ. Cháu trẻ người non dạ chẳng giúp gì được cho bác ngoài ý muốn chia sẻ rất chân thành. Bà Thành Danh dùng khăn thấm khô lệ rồi cười buồn, vành môi phớt màu son nhưng trông thật héo hắt: - Bác cám ơn cháu đã có tấm lòng cảm thông với cuộc đời bất hạnh của bác. Có lẽ trong thế giới bao la này bác chỉ gặp được một người là cháu thôi. Tuyền rất đỗi khiêm tốn: - Chỉ tại bác ưu ái cho cháu quá, chứ tấm lòng thì ai ai cũng có mà. Bà Thành Danh siết chặt bàn tay nhỏ nhắn của Tuyền: - Không đâu. Suốt bao nhiêu năm nay bác chưa hề có dịp để tâm sự với ai về nỗi thống khổ của mình. Ngay cả hai đứa con gái của bác, bởi trò chuyện với chúng là cả một vấn đề rất khó. - Theo như cháu được biết thì bác còn có thêm một người con. Câu nói bất ngờ này làm bà Thành Danh hoảng hốt: - Nguồn tin từ đâu vậy? Tuyền bình tĩnh: - Bác khoan hỏi mà xin bác hãy xác nhận. Bà Thành Danh cúi đầu: - Phải. Nó là con riêng của bác với người chồng trước. - Vậy hiện giờ người con ấy ở đâu mà không cùng sống chung tại đây? Bà Thành Danh lại khóc: - Bác không biết. Bác đã bỏ công tìm nó cả năm, sáu năm nay, nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy tung tích gì. Bây giờ chắc nó đã lớn lắm. Có thể bằng hoặc hơn cháu một tuổi. - Cậu ấy là con trai. - Đúng rồi. Nó là đứa con trai duy nhất được sinh bằng tình yêu đích thực. Nhưng phần số nó cũng không may mắn nên vừa mới chào đời đã chịu cảnh mất cha. Tuyền xúc động theo từng lời kể và những giọt lệ đau buồn của bà Thành Danh: - Cháu biết không? Vì thương chồng và muốn giữ mãi trong tim hình ảnh người đàn ông đầu tiên của đời mình bác đã lấy tên anh ấy đặt cho con. Nó là Đạt... Thành Đạt... Nếu sau này cháu có gặp người nào mang tên đó thì hỏi giùm bác... Không biết từ bao giờ, Tuyền đã khóc theo bà. Có lẽ tại cả hai có cùng chung tâm trạng yếu đuối của một người phụ nữ: - Thưa bác... con trai bác bỏ nhà đi vì không chịu sống chung với dượng ghẻ hay nguyên do nào khác? Bà Thành Danh nghẹn ngào nước mắt: - Con trai bác là một đứa trẻ vô tư, nó không hay biết gì về việc cha nó đã chết. Trong tâm tưởng nó từ nhỏ đến lớn vẫn chỉ có một người cha là người đang sống với bác hiện thời. Nó yêu ông ta lắm và luôn xoắn xuýt bên cạnh... Tuyền nghe sự hồi hộp trong người gia tăng: - Thế còn phía ông ta? Bà Thành Danh nuốt nước bọt một cách khó khăn: - Bề ngoài thì không ai có thể nghĩ ông ta là dượng ghẻ. Còn trong lòng bác thật sự không hiểu ông ta có yêu nó hay không? Cho đến một ngày năm thằng Đạt tròn mười lăm, nó bỗng dưng biến mất để lại cho bác nhiều nghi vấn. Bác đã cật vấn ông ta rồi lăn lộn khóc lóc, nhưng ông ta luôn đưa ra một lý do rất xác đáng là có lẽ thằng Đạt phát hiện ra nó đã bị lừa dối tình cảm nên buồn mà bỏ nhà đi. Cho tới tận bây giờ nó không về và bác cũng chẳng biết nó ở đâu. - Việc này bên ngoài có ai hay biết gì không hả bác? - Để giữ vững thanh thế, ông ta bắt bác phải giấu nhẹm việc thằng con mất tích. Trước kia cả nhà sống ngoài phố để tiện việc cho các em đi học. Nhưng sau đó ông đã cho xây dựng ngôi biệt thự mới tại đây rồi dọn về ở luôn, nên bác và các em như bị tuyệt giao với thế giới bên ngoài. - Còn ngôi biệt thự cũ hai bác đang cho chị em cháu nương náu xây dựng từ bao giờ? Tại sao lại bỏ hoang uổng quá vậy? Giọng bà Thành Danh nghe u uất: - Ngôi biệt thự đó là của gia đình chồng bác. Nó bị bỏ hoang vì... vì... Thấy bà Thành Danh mở miệng khó khăn, Tuyền bèn ngăn: - Có lẽ nãy giờ cháu đã đi quá phạm vi của mình. Cháu thành thật xin lỗi, cháu chỉ muốn mình hiểu bác hơn như một người con hiểu mẹ. Bà Thành Danh có vẻ mệt nên hơi thở thật nặng nhọc: - Vậy là cuộc sống của bác vẫn còn gặp may đấy. Cháu hãy thường xuyên gần gũi bác để nỗi buồn trong lòng bác được có người chia sẻ nghe cháu. Tuyền dành cho bà Thành Danh tia nhìn ấm áp của một người con: - Chiều nay bác có thể tới chơi với cháu được không? - Tất nhiên là phải được rồi. Bác sẽ tìm tới cho cháu một ít lương thực để dùng trong những ngày rét mướt. - Ồ, cháu không dám làm phiền bác nhiều như vậy. Được bác thương là cháu cảm thấy ấm lòng rồi. - Đừng khách khí nữa mà. "Có thực mới vực được đạo" chứ! Thấy đã muộn, Tuyền bèn đứng dậy cáo từ. Cô biết chắc ở nhà vú Dần và nhỏ Tú đã đứng ngồi không yên vì sự chậm trễ bất thường của cô ngày hôm nay. Nhưng dẫu sao cô cũng thấy rất vui vì chiếm được tình cảm của bà Thành Danh. Trên đường về, Tuyền còn gặp phải một người đang đặt hết niềm hy vọng ở cô. Đó là chú Nhị, kẻ mà cô đã phần nào tin tưởng lẫn xót xa cho cuộc đời của ông. Phần 4 Chiều nay không gian bỗng trở nên u ám hơn dù trời còn rất sớm. Ngồi trong nhà nhìn ra, Tuyền đoán bà Thành Danh không thể đến khi thời tiết thế này! Vậy là uổng công cô đã sắp xếp cuộc gặp gỡ theo lời hứa với chú Nhị. Biết tới chừng nào Tuyền mới thực hiện được lần nữa đây? Tuyền khoác thêm chiếc áo nữa rồi đi tới, đi lui. Trông cô cũng nôn nóng như người đang muốn gặp bà Thành Danh vậy. - Chị Hai ơi... chị làm ơn ngồi xuống giùm em đi. Tú vừa nói tới đây thì có tiếng rũ phành phạch ở bên ngoài. Cả hai chị em giật mình nhìn ra thì thấy bà Thành Danh đang giũ cây dù nơi thềm cửa bà mỉm cười nhìn hai chị em: - Bác không sai hẹn chứ? Tuyền vội chạy đến bên người phụ nữ mà cô có ý ngóng chờ: - Cháu cứ ngỡ mưa thế này bác không ra khỏi nhà đâu. Bà Thành Danh có vẻ lạnh nên đã giấu vội hai tay vào túi áo măng tô dài màu đỏ đang mặc sẵn trên người. Bà dùng ánh mắt chỉ cho Tuyền giỏ thức ăn đầy ắp mà bà đã đem tới. - Cất nó đi mà dùng từ từ cháu. Trước kia dù thời tiết đẹp hay xấu bác cũng không thích ra bên ngoài. Còn bây giờ dẫu có bão bác cũng giữ đúng lời hứa của mình mà. Nói xong, bà đi thẳng vào trong nhà không khách sáo đợi Tuyền mời. Chọn một chỗ ngồi có thể nhìn ra ngoài, bà Thành Danh từ từ buông người xuống. Bà đảo mắt ngó vòng quanh: - Ở đây coi vậy mà đỡ buồn hơn chỗ bác. Tuy chỉ có ba người nhưng còn trò chuyện được với nhau. Tuyền ra hiệu cho nhỏ Tú đem giỏ thức ăn cất đi rồi bước lại ngồi gần bà. Trông cứ như mẹ và con gái. - Sao bác không vui đùa với chị em Kiều và Diễm chứ? Hai đứa không nói được nhưng đã có thể đàm thoại bằng cách viết ra chữ rồi. Bà Thành Danh thở dài: - Cám ơn cháu đã làm được điều ấy cho hai đứa con gái tội nghiệp của bác. Nhưng bản tính chúng kỳ quặc lắm. Bác không hiểu tại sao từ khi anh trai chúng biến mất chúng lại ra nông nỗi này. - Đó là cái giá phải trả của cô và thằng em bất nghĩa của tôi gây ra. Tố Lan à. Ông trời tuy cao nhưng không có mù đâu. Tiếng nói bất thình lình từ bên ngoài ập vào làm cho tất cả cùng sửng sốt, bàng hoàng. Ngay cả Tuyền đã biết trước cũng không tránh khỏi sững sờ khi bóng dáng của người đàn ông ấy xuất hiện chặn ngay ngưỡng cửa. Cô thầm trách chú Nhị quá nôn nóng, không chịu chờ cô kịp đãi bà Thành Danh món chè trôi nước. Và cô biết bắt đầu từ bây giờ, không khí trong nhà sẽ trở nên nặng nề hơn. Quả đúng như cô nghĩ, bà Thành Danh đã hét lên vì sợ hãi: - Á... - Cô sợ tôi lắm à? Sắc mặt bà Thành Danh tái nhợt, tay chân run lẩy bẩy: - Ông... ông... là ai? Chú Nhị ngửa cổ cười một tràng dài song âm điệu đầy đau khổ: - Hà... hà... hà... tôi là con ma đội mồ về đây để bới móc lại cái gọi là tội ác của những người còn sống. - Ông nói gì tôi không hiểu? Phải chăng ông đã từng là một người quen... Chú Nhị nhấc mạnh đôi chân vào giữa phòng tạo khoảng cách rất gần bà Thành Danh khiến cho bà quíu người phải bám chặt lấy Tuyềm mới đứng vững. Bà lắp bắp: - Ông... là... là... Chú Nhị gằn giọng lên: - Là người đã từng sống những tháng ngày hương lửa yêu đương với cô đây. Cặp đồng tử của bà Thành Danh như muốn bắn tung ra khỏi hố mắt đang mở lớn. Bà ngọng nghịu: - Ông... là... Thành... Đ...ạ...t... Chú Nhị khoanh tay, hơi thở khá nặng nhọc: - Đúng. Tôi là Thành Đạt, người chồng khốn khổ của cô gần hai chục năm về trước đây. Nghe thấy vậy, bà Thành Danh lảo đảo tựa như mặt đất dưới chân đang lung lay chuyển động. Đứng bên cạnh, Tuyền vội choàng tay đỡ lấy bà. Cô cảnh cáo chú Nhị: - Ông không được gây tác hại gì cho bác ấy! Nhưng chú Nhị phẩy cánh tay đã tàn tật: - Yên tâm đi, tôi chỉ muốn gặp người vợ cũ của tôi để hỏi han cuộc sống của họ có hạnh phúc không thôi. Bất ngờ, bà Thành Danh chồm lên như có một động lực nào đó thúc đẩy. Bà thét lớn: - Ông nói dối... ông mạo nhận. - Thế theo cô thì Thành Đạt đã ra sao? Bà Thành Danh ôm lấy ngực trấn áp sự đau đớn: - Anh ấy đã chết. Một cái chết không toàn thây, chiếc xe lao từ đèo cao xuống vực thẳm. - Đó là lời của thằng Thành Danh có phải không? Bà Thành Danh thở hổn hển: - Không phải chỉ bằng lời, mà xác anh ấy được đem về nhà chôn cất đàng hoàng. Giọng chú Nhị đầy ai oán: - Một đám ma giả tạo để khai tử một người đang còn sống kể cũng dã man quá. Hèn gì gần hai chục năm nay các người đã yên ổn trong sự khốn khổ của thằng này. - Ông... ông là ai? - Thì tôi chẳng giới thiệu rồi đó sao? - Nhưng bằng chứng đâu mà ông dám nhận mình là Thành Đạt? Chú Nhị nhìn xuống hình hài mình rồi lắc đầu: - Bây giờ thì thân xác tôi giống như một con ma thực thụ vậy, làm sao cô có thể nhận dạng được điểm nào của Thành Đạt ngày xưa? Tuy chưa tin những sự kiện vừa xảy ra với mình, song mức độ căng thẳng đã làm tinh thần bà Thành Danh khủng hoảng. Bà nói không ra hơi: - Nếu... là Thành Đạt thì... ông phải biết những dấu ấn kỷ niệm của chúng ta. - Cám ơn cô đã gợi ra điều đó! Cô còn nhớ lần đầu tiên khi Thành Đạt tỏ tình với cô hắn đã nói gì không? Có phải hắn nói: "Tố Lan ơi... trên cuộc đời này chỉ có em là người phụ nữ duy nhất mà anh yêu ngoài mẹ ruột của anh ra. Em sẽ là điểm tựa để cho anh bước đến sự thành đạt mai sau...", và rồi đêm tân hôn của cả hai diễn ra là một sự kiện khó quên, họ không thể động phòng vì cha mẹ của Thành Đạt đột ngột qua đời ngay buổi tối hôm đó. Chú Nhị nói tới đây thì bà Thành Danh ôm lấy đầu mình lắc lư. - Đủ rồi... đủ rồi... Chú Nhị vẫn tiếp tục làm bà Thành Danh chới với: - Thành Đạt thích nhất là được ngắm và mân mê cái nốt ruồi trên ngực trái của Tố Lan. Bà Thành Danh bàng hoàng: - Trời ơi... Thành Đạt... đúng ông là Thành Đạt rồi... Thành Đạt của em... Tuyền toan níu giữ song đã bị bà Thành Danh xô ngã để lao về phía chú Nhị. Cả hai ôm lấy nhau trong tư thế đứng chết lặng một hồi, rồi tiếng khóc của người phụ nữ tỏa ra: - Anh ơi! Tại sao anh còn sống mà tới bây giờ mới chịu tìm về? Anh ác quá... anh đã để em sống trong khốn khổ mỏi mòn nhung nhớ. Chú Nhị đẩy nhẹ bà Thành Danh ra khỏi sự va chạm, nhếch môi cười héo hắt: - Em sống khổ sở ư? Thế thằng Thành Danh nó không quan tâm, chăm sóc em cẩn thận như anh trước kia à? Nước mắt bà Thành Danh lại tuôn trào: - Thành Đạt ơi, anh làm sao hiểu được em phải trải qua những giây phút khốn khổ thế nào khi nghe tin anh chết. Nếu không vì đứa con trong bụng, em đã theo cho trọn nghĩa. Chú Nhị thoáng mỉa mai: - Vậy sao hiện giờ em lại trở thành bà Thành Danh? Chị dâu lấy em chồng chắc không để giữ gìn nòi giống chứ? Bà Thành Danh uất nghẹn: - Đừng nghi ngờ lòng dạ của em, anh Thành Đạt! Phải lấy Thành Danh và sống chung với hắn đã là một cực hình đối với em. - Em nói sao hả Tố Lan? - Hãy bình tĩnh mà nghe em nói đi Thành Đạt. Nếu biết anh còn sống thì em không đời nào... Chú Nhị cay đắng thốt: - Còn sống hay đã chết với tôi không còn ý nghĩa nữa. Tôi về đây không phải để buộc em về làm vợ, mà là chỉ muốn nhìn mặt thằng con trai của tôi thôi. Nếu các người đối xử với nó tốt, tôi hứa sẽ không truy cứu lại chuyện gì, dù tôi đã bị hại đến thân tàn, ma dại. Bà Thành Danh mở to mắt: - Ai đã hại anh hả Thành Đạt? Chú Nhị cắn môi mình rướm máu: - Kẻ đang sống chung với em đó! Thêm một lần nữa, bà Thành Danh sửng sốt bàng hoàng. Bà gần như há hốc miệng: - Thành Danh ư? Chú Nhị gật đầu, sự đau khổ trào dâng trong giọng nói: - Chính nó. Thằng em bất nghĩa, vô nghĩa của tôi. Thành Danh đã bỏ tiền ra thuê bọn bất lương chặn đường về của tôi trên lưng chừng ngọn đèo Prenn. Chúng đã lôi tôi ra khỏi xe đánh đập rất dã man, làm bàn tay tôi bị gãy nát... Vừa kể chú Nhị vừa chìa cánh tay tàn phế ra cho bà Thành Danh nhìn thấy rồi nuốt lệ nói tiếp: - Lúc ấy tôi tưởng rằng mình đã gặp phải bọn cướp nên van xin chúng cứ lấy đi thứ gì chúng cần, với điều kiện tha cho tôi được sống. Nhưng chúng đã cười rú lên với nhau và nói rằng mạng sống của tôi đã được người ta mua với giá cao. Không tin, tôi đã mắng chúng là bọn cướp bất lương. Song chúng đã ném vào mặt tôi tờ giấy cam kết của Thành Danh hứa trả cho chúng mười cân vàng sau khi loại tôi ra khỏi cuộc sống. Phải nói lúc đó tôi như bị rơi từ trên trời cao xuống vực thẳm, vì không ngờ thằng em ruột của mình lại thuê kẻ giết mình. Bởi thế, khi bị chúng ấn trở lại xe rồi đẩy xuống vực thẳm, tôi đã không còn cảm giác sống hay chết. Tiếc thay ông trời còn muốn tiếp tay hành hạ tôi thêm nữa nên khiến tôi được người ta cứu, để rồi phải đứng trước em với hình hài như thế này! Nghe xong, bà Thành Danh rũ người buông thõng hai cánh tay. Bà cảm thấy khiếp đảm tột độ trước những gì người chồng xưa đã kể: - Trời ơi... sao lại có thể xảy ra sự tác tệ như vậy? - Em hãy đi mà hỏi thằng Thành Danh ấy? Cho tới tận bây giờ tôi cũng chưa rõ nó giết anh trai nó với mục đích gì? Phải chăng, chỉ là để được thừa kế sản nghiệp? Ngừng lại một chút, chú Nhị lẩm bẩm nói: - Mà cũng có thể vì... cả em nữa Tố Lan à... - Không... không... Bà Thành Danh đập hai tay lên bờ vai người chồng cũ tỏ thái độ phản đối kịch liệt vấn đề này, và bà đã ngất xỉu vì không còn chịu nổi. Mọi người phải quýnh quáng đổ xô tới đưa bà vào phòng trong để cứu chữa. Giữa lúc ấy thì Sinh từ bên ngoài xông vào lôi thốc chú Nhị đi: - Hãy theo cháu ra khỏi nơi đây ngay. Nhưng chú Nhị đã ghì lại: - Ta chưa thể đi được. Ta còn chưa hỏi được gì về con trai ta. Giọng Sinh đầy hối hả: - Chờ dịp khác cũng chưa muộn mà chú. Ông Thành Danh và người nhà của ông ta sắp sửa tới đây rồi. - Cháu đừng có dọa ta. - Ôi, cháu dọa chú làm chi. Trên đường đến đây cháu đã trông thấy họ. Kìa... chú xem, đèn đuốc sáng trưng đằng kia. Tưởng chú Nhị sẽ hoảng lên mà theo mình, nào ngờ ông còn nói: - Vậy cũng tốt. Để ta đối điện với thằng khốn đó hỏi cho ra lẽ một phen. Sinh cuống quýt khuyên: - Cháu nghĩ chưa phải lúc này đâu. Chú nên nghe cháu chờ cơ hội khác đến, đừng để cô Tuyền bị vạ lây vì đã có lòng giúp chú gặp bà Thành Danh. Lời Sinh không có tác dụng bằng ánh mắt khẩn khoản của Tuyền. Khi chú Nhị tiếp nhận tia nhìn ấy, chú liền đồng ý: - Thôi được... ta về. Không chậm trễ, Sinh kéo phăng chú Nhị ra khỏi phòng băng mình vào bóng tối dày đặc ở bên ngoài, trước sự hồi hộp của Tuyền khi cô phát hiện cách đó không xa ánh đèn pin đang loang loáng. *** Bà Thành Danh vừa tỉnh lại sau cơn ngất đã nghe tiếng người cật vấn:- Mình đến đây làm gì? Không đáp lại, bà Thành Danh từ từ ngồi dậy đảo ánh mắt thất thần nhìn chung quanh. Thấy vậy, ông Thành Danh lại hỏi: - Mình đang muốn tìm gì vậy? Lần này bà Thành Danh bỗng chộp lấy ngực áo ông: - Hãy nói mau, con trai của tôi đang ở đâu? Ông Thành Danh gỡ tay vợ ra một cách phũ phàng. Ông gắt toáng lên: - Đã nói bao nhiêu lần rồi mà còn cứ hỏi mãi... Bộ muốn lên cơn điên rồi hay sao? Vốn yếu đuối nên bà Thành Danh khóc to lên: - Phải, tôi điên rồi đây. Tôi làm sao tỉnh được khi thằng con trai của tôi biệt tích chứ? - Việc đó bà hãy bắc thang mà hỏi ông trời thử. Có thể ông ấy ngồi trên cao sẽ thấy được thằng con của bà nó đi lang thang nơi nào. Rồi ông quay phắt sang phía chị em Tuyền đang ở bên cạnh bà Thành Danh chăm sóc nãy giờ. Ông chỉ vào từng đứa: - Nói... Có chuyện gì vừa xảy ra ở đây? Nhỏ Tú run bắn lên trước bộ mặt gườm gườm của ông Thành Danh nên chực mở miệng, nhưng Tuyền nhanh nhảu hơn nó nên vội cướp lời: - Thưa bác, không có chi đâu ạ. Bác gái thấy chị em cháu thiếu thốn nên đem thức ăn lại cho. Tiện thể vú Dần nấu chè trôi nước nên cháu đã giữ bác gái ở lại dùng. Nào ngờ chè chưa ăn bác ấy bỗng dưng bị ngất... và sau đó là bác đến đây và... Nhỏ Tú theo đà nói của chị nhưng không bình tĩnh: - Dạ... đúng là như vậy. Trong bếp có chè trôi nước để cháu bưng lên mời bác cùng ăn luôn. Ánh mắt ông Thành Danh đầy khả nghi quét theo lưng nhỏ Tú và dán chặt vào nó khi nó trở lên. Mùi thơm của gừng và đậu phộng rang rất hấp dẫn làm không khí căng thẳng trong gian phòng khách dịu xuống. Tiếng ông Thành Danh dễ nghe hơn: - Ta không hảo mấy thứ đồ ngọt này đâu. Tuyền cố tỏ ra láu lỉnh: - Vậy bác cho phép cháu mời bác gái ăn nhé! - Nếu chỉ là việc ăn thì ta đâu có cấm. Rồi ông dịu dàng với vợ hơn: - Mình thích chè thì ăn chè đi rồi về. Nhưng bà Thành Danh đã gạt đi: - Hết còn hứng rồi. Ăn một chén chè mà phải xin với xỏ thì nuốt trôi được ư? - Mình nói quá lời. Thôi để tôi về trước vậy. Nói xong, ông Thành Danh bước ra ngoài thì thầm gì đó với những người đã đi theo. Có lẽ ông đang dặn dò họ canh chừng ngôi biệt thự. Hiểu chuyện, bà Thành Danh thấy mình cũng không nên ở lại. Bà nói khẽ vào tai Tuyền: - Hãy tạo cho bác một cơ hội gặp gỡ khác nhé. Tuyền không dám đáp mà nhận lời bằng cái gật đầu rất nhẹ, cô tiễn bà Thành Danh ra về rồi quay trở vào. *** Nói về bà Thành Danh, sau khi biết được người chồng cũ còn sống thì lòng dạ bà tựa con thuyền đang gặp bão tố giữa đại dương. Bà không thể ngờ rằng kẻ đang sống chung với mình bấy lâu nay lại quá đỗi hiểm ác, còn thua loài cầm thú. Ôi, tội nghiệp cho Thành Đạt của bà quá. Cả đời ông ấy nhân từ, đức độ thế mà sao lại có một thằng em bất nghĩa vô lương. Cứ hình dung đến hình hài tàn tạ, thảm thương của Thành Đạt dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu là nước mắt bà Thành Danh lại ứa ra. Bà muốn túm lấy cổ kẻ ác ôn để hỏi cho ra lẽ vì sao anh em ruột lại có thể hại chết lẫn nhau? Nguyên nhân vì tiền thì không đến nỗi thế đâu, bởi Thành Danh cũng được chia một phần tài sản. Còn vì tình ư? Ôi, bà tự xét mình rồi lẩm bẩm: "Ta có quá đẹp, quá quyến rũ hay không mà lại khiến cho hai người đàn ông phải điêu đứng vì ta?". Không! Tình yêu là một sự thiêng liêng chứ không phải do sắc đẹp, và càng không thể chiếm lĩnh nó bằng bạo lực. Việc bà và ông Thành Đạt gặp nhau, yêu nhau rồi đi đến hôn nhân là sự sắp đặt của Thượng Đế. Còn Thành Danh có để ý đến bà hay không đó là chuyện của ông ta. Vậy thì tại sao lại xảy ra vấn đề của ngày hôm nay? Thành Danh nỡ vì một người đàn bà mà gạt bỏ tình cốt nhục sao chứ? Bà nhớ lại cái ngày nhận được tin Thành Đạt chết. Bà đã ngất đi nhiều lần nhưng đều ở trên tay của Thành Danh. Rồi sau khi chôn cất xong, chưa được trăm ngày Thành Danh đã lấy cớ phải bảo bọc cho mẹ con bà và duy trì sản nghiệp của dòng họ, ép bà phải làm vợ hắn. Ôi...! Tại sao bà không nghĩ đến lòng tốt của một gã em chồng vào cái ngày ấy chứ. Bà lại còn cảm động đến nghẹn lời vì được hắn lo lắng, bảo bọc mới là chuyện nực cười. Bà giận mình ngu ngốc nhất trên đời. Tuy cũng được nhận tình yêu từ nơi hắn, song làm sao có thể sánh với những gì Thành Đạt đã cho bà. Hắn là một người đàn ông ích kỷ số một mà. Ở hắn ít khi có sự dịu dàng, đằm thắm... mà nếu có thì dường như đầy giả tạo. Không biết việc mất tích của con trai bà có liên quan gì tới hắn chăng? Một nỗi lo lắng tột độ trào dâng, bà biết phải trả lời với Thành Đạt ra sao về nó? Cần gạn hỏi kỹ lại Thành Danh mới được. Hắn đã dám làm điều ác lớn thì việc ác nhỏ hắn cũng không từ đâu. Nghĩ tới đây, bà Thành Danh khoác thêm áo ấm vào người rồi đẩy cửa phòng ngủ đi ra. Bước xuống phòng khách thì bắt gặp ông Thành Danh đang nói chuyện với những người đi theo ông lúc nãy. Thấy bà, họ liền lảng tránh bỏ đi. Không chịu nổi sự thôi thúc trong lòng, bà đã bước nhanh tới:- Sao? Ông mướn người theo dõi tôi đó hả? Ông Thành Danh buông giọng nói ôn tồn: - Mình nghĩ xấu về tôi rồi. Tôi làm chuyện này vì gần đây khu vực nông trường trà của chúng ta không được an ninh như trước. Bà Thành Danh cười mỉa: - Có bọn cướp xuất hiện ư? Vẻ mặt ông Thành Danh hơi ngượng: - Đại khái là như vậy. - Ông có biết chúng là ai không? - Tất nhiên là không rồi. Vì nếu biết, tôi sẽ không để chúng có cơ hội lộng hành. - Ông sẽ làm gì chúng nếu như tóm cổ được? Câu hỏi này làm ông Thành Danh phải nhìn bà bằng đôi mắt khác: - Mình quan tâm tới điều đó làm gì chứ? Bà Thành Danh mím môi: - Chẳng lẽ tôi không thể biết được ý định của ông? - Nhưng bọn chúng có liên quan gì tới mình đâu mà tìm hiểu? Song lúc này, bà Thành Danh tỏ ra rất khôn ngoan: - Bộ ông tưởng tôi là đàn bà chỉ biết ở trong xó bếp để hầu hạ thôi sao? Ông Thành Danh cười hà hà, ánh mắt dịu hẳn xuống: - Thì tôi có dám coi thường mình hồi nào đâu. Chẳng qua tôi sợ mình đụng chạm với những vấn đề mang tính chất bạo lực sẽ không tốt... - Ông nói như vậy là có ý gì chứ? - Mình không cần thắc mắc. Mình chỉ cần biết tôi luôn bảo vệ mình là được rồi. Bà Thành Danh cười giọng mỉa mai: - Bảo vệ hay là giam lỏng tôi? Lẽ ra bà Thành Danh nên nhịn để tìm hiểu, nhưng sự thật về câu chuyện ngày xưa đau lòng quá khiến bà không thể giữ im lặng được lâu. - Hãy nói cho tôi nghe đi. Thằng Đạt hiện giờ đang ở đâu? Vẻ mặt ông Thành Danh thay đổi sắc diện bởi câu hỏi: - Lại nhắc đến thằng mất dạy ấy làm gì chứ? Ở từng tuổi hiện giờ, nó cũng đã đủ sức để tự lo cho nó được rồi. Bà Thành Danh gằn giọng: - Nhưng tôi muốn biết nó ở đâu? Dẫu nó có làm được gì để sống nó cũng không nên mất liên lạc với mẹ nó trong suốt bấy lâu chứ. Tỏ ra thông cảm với nỗi đau của vợ, ông Thành Danh bước lại gần an ủi: - Đừng lo buồn nữa mình ạ. Rồi sẽ có ngày nó biết hối hận quay về thôi. - Nhưng đã năm, sáu năm, không lẽ nó còn chưa biết nghĩ lại? - Hay để tôi đăng báo tìm nó thêm lần nữa vậy? Bà Thành Danh bỗng buột miệng: - Tôi có cảm giác nó sẽ không bao giờ còn đọc được những dòng tin đó nữa. Nghe vợ nói vậy, ông Thành Danh giật thót người, mặt tái lại: - Mình vừa nói gì vậy? Có lẽ tôi phải đưa mình đi khám bác sĩ thần kinh thôi. Song bà Thành Danh đã giật lùi nhìn vào mặt ông trân trối: - Đừng lo tôi bị điên sớm như vậy. Tôi phải tỉnh táo để coi hậu vận của ông tốt hay xấu nữa mà... Lần này ông Thành Danh thật sự mất bình tĩnh, chộp lấy vai vợ lay mạnh: - Bà biết gì về tôi mà phát ngôn như thế? Phải chăng lúc nãy ở ngôi nhà cũ đã xảy ra chuyện gì? Không tự lượng sự cô thế của mình, bà Thành Danh quyết định phanh phui mọi chuyện. Bà mạnh dạn hất mặt: - Đúng như vậy. Ở tại đó tôi vừa gặp một người đã chết gần hai mươi năm rồi đội mồ sống dậy đó... Ông Thành Danh quả là một kẻ đáng gờm, đã kịp trấn tĩnh lại mình nên bộ mặt lạnh băng. Dường như ông đã hiểu được chút ít của sự việc: - Sao? Người chết đội mồ à? Hoang đường quá... Bà Thành Danh cố giữ mình thật cứng rắn để đừng run: - Không hoang tưởng chút nào đâu. Mà chuyện có thật đã xảy ra. Ông có muốn nghe không? Ông Thành Danh cười gằn trong cổ họng: - Tôi không có thời gian. Hơn nữa, một kẻ đã chết đi sống lại thì có gì hấp dẫn đâu. Sự bình tĩnh đến độ coi như không có gì của ông Thành Danh làm bà điên tiết. Bà dùng bàn tay yếu ớt của mình tát mạnh vào mặt ông: - Đồ khốn! Sững sờ trước những hành động của vợ, nhưng ông Thành Danh không xoa chỗ đau mà phản công ngay tức thời. Ông dang rộng bàn tay chộp vào yết hầu của vợ rồi đè xuống: - Bà... dám hả? Song lòng căm thù của bà Thành Danh đã tạo cho bà sức lực để gồng lên. Bà trừng mắt nhìn thẳng vào mặt ông ta mắng: - Tại sao tôi lại không dám với một con người đã lừa dối tôi gần hai mươi năm nay chứ? Ông tưởng rằng cái kim trong bọc không thể lòi ra được ư? Lầm to rồi Thành Danh ơi. Tôi thật kinh khiếp vì đã sống chung với con người có lòng dạ dã thú như ông. Ông Thành Danh cũng mím môi tức giận: - Dã thú thì sao chứ? Hừm, tôi đối xử với bà như thế mà còn chưa tốt à? Bà cho rằng mình là thứ gì nếu không lấy được thằng Thành Danh này? Hừ... một con đàn bà góa có cái bụng chửa vượt mặt kiếm đâu ra một tên khờ khom lưng gánh của nợ? Thế mà bây giờ lại mở miệng vong ân. Bị chửi lại, bà Thành Danh có cảm tưởng máu trong người mình dồn hết cả lên mặt và nó buộc phải bộc phá để bắn tung ra ngoài: - Không biết ai đã phải mắc nợ ai. Và ngày nay tôi buộc ông phải trả... Rồi bà hất ngược tay ông Thành Danh đang đè chặt nơi cổ vùng thoát được. Bà chỉ tay vào mặt ông: - Tôi sẽ tố cáo ông chuyện vụ án năm xưa. Ông chính là tên chủ mưu đã hãm hại anh trai mình để chiếm đoạt tài sản. Vẻ mặt ông Thành Danh tràn đầy sát khí, ông tiến tới từ từ: - Ai nói cho bà nghe điều này? Bà Thành Danh lại dại dột: - Người đã bị ông hại. - Ý bà muốn nói Thành Đạt sống lại à? - Ông có thừa thông minh, không cần tôi lặp lại. - Và bà cũng gặp hắn ở ngôi nhà cũ lúc nãy phải không? Tỏ thái độ khinh khi người đàn ông đã từng sống chung, bà Thành Danh im lặng quay mặt đi nơi khác. Thấy vậy, ông Thành Danh khẽ gật: - Dự doán của tôi không bao giờ sai cả. Nhưng các người đừng tưởng sẽ dễ lật ngược thế cờ với thằng Thành Danh này đâu. Thành Đạt đã được chôn dưới mồ, đã khai tử từ lâu rồi... một cách rất đàng hoàng, và vợ của hắn cũng đi lấy chồng sinh ra mấy đứa con với người ta. Việc hắn sống và trở về là điều không nên có. Bà Thành Danh gào thét: - Như vậy có nghĩa là ông hoàn toàn nhìn nhận? Ông Thành Danh giả tảng: - Nhận gì chứ? Bà hoang tưởng vừa vừa thôi... Không chịu nổi thái độ vờ vĩnh ấy của người chồng sau, bà Thành Danh lao vào cấu xé ông thì liền bị đánh tới tấp: - A... a... a... - Đồ điên... Tôi sẽ nhốt bà luôn ở trong phòng cho mà xem. Để xem bà còn tơ tưởng gì đến cái thằng chồng cũ đã chết... Bà Thành Danh hứng một trận đòn đau bởi những cái đấm dã man vào lưng và ngực. Thế nhưng lúc này bà không thể khóc lên được một tiếng, và đây là lần đầu tiên bà bị đối xử bởi người chồng vũ phu. Bà chỉ co rút người lại rồi bặm môi chịu trận, vì nỗi đau trong lòng gấp mười lần như thế. Ông lôi bà vào phòng ngủ rồi khóa cửa. *** Đưa được ông Thành Đạt về đến nhà, Sinh thật sự cảm thấy mừng. Anh thở phào nhẹ nhõm nhìn ông nói:- Chú làm cháu hú hồn. Nếu lúc nãy không nhanh chân thì chắc đã xảy ra chuyện lớn. Ông Thành Đạt tỏ ra không chịu hiểu, trách khẽ Sinh: - Lẽ ra cháu đừng ép ta rời khỏi chỗ đó sớm như vậy. Ta còn rất nhiều việc cần phải làm. - Nhưng có thể đợi đến lúc khác được mà. Trả thù cũng cần phải có cơ hội chứ? Ánh mắt ông Thành Đạt gợn nhiều nỗi khổ tâm. Ông chép miệng than van: - Lúc trước ta có ý trả thù Thành Danh mãnh liệt lắm! Sao bây giờ ta lại cứ quay quắt vì hai chữ tình thâm? Phải chăng lý trí đang nhắc nhở ta và Thành Danh là hai núm ruột cùng một mẹ sinh ra? Sinh ngạc nhiên trước thái độ lúc này của ông Thành Đạt. Chẳng phải bấy lâu nay ông đã nung nấu nỗi oán hận thằng em bất nghĩa giết hại mình để đoạt vợ hay sao? Vậy mà giờ đây ông lại dằn vặt lương tâm. Liệu ông có thể tha thứ được không khi bản thân mình đã phải chịu đựng quá nhiều thiệt thòi, mất mát? Anh ngồi im chờ nghe ông Thành Đạt nói tiếp: - Nhiều lúc nghĩ lại những việc làm của thằng em khốn kiếp ấy, ta chỉ muốn nghiền nát nó cho hả giận. Song ông trời lại phú cho mỗi người có một bộ óc để suy tính điều hơn lẽ thiệt. Bởi thế cho nên ta mới lâm vào tình cảnh bối rối, khổ tâm như hiện giờ. Sinh lên tiếng: - Vậy theo chú, những việc làm của ông Thành Danh có thể tha thứ được hay không? Ông Thành Đạt thở hơi dài sầu não: - Nếu như nó biết ăn năn sám hối thì dẫu tội lớn đến đâu cũng gột sạch được thôi. Khi ta gặp được thằng con trai của ta rồi, ta sẽ xét lại mà tha hay buộc tội. Sinh châm lửa đốt cho mình một điếu thuốc, anh thật sự không muốn can thiệp vào chuyện riêng của ông Thành Đạt, mặc dù anh luôn coi ông như một người cha. Anh chỉ nói lên ý nghĩ của mình: - Phải sống trong hận thù dai dẳng cũng không mấy dễ thở. Nhưng ông Thành Danh không phải là người dễ dàng khuất phục nhìn nhận lỗi lầm của mình đâu. Cháu làm việc cho ông ta nên cháu hiểu rõ về bản chất con người ông ta mà. - Ta cũng hiểu như cháu đó Sinh à, bởi ta và Thành Danh cùng sống và lớn lên trong một mái nhà. Nhưng ta hy vọng thời gian dài vừa qua đã làm biến đổi con người nó. Nghe ông Thành Đạt bảo thế, Sinh bèn cười nửa miệng: - Cháu cầu chúc cho niềm hy vọng của chú trở thành hiện thực. Chỉ e tình thế sẽ đảo ngược lại thôi. Rồi anh nói lảng sang chuyện khác: - Dường như chú có quen biết với cha mẹ của cô Tuyền? Ông Thành Đạt hơi khựng lại: - Phải! Ta với họ là bạn thân... thân hơn cả Thành Danh. - Chú nghĩ sao về hoàn cảnh của chị em cô Tuyền hiện giờ? - Đáng thương lắm! Ta không ngờ vợ chồng Vĩnh Khương lại chết sớm, bỏ con cái côi cút. - Phải ở trong ngôi biệt thự cũ ấy, họ cũng khổ sở lắm nhưng vì không còn chỗ nương thân nên mới đành chấp nhận thôi. Giá như có điều kiện cô ta được tiếp tục đi học thì hay biết mấy. Ông Thành Đạt chợt hiểu: - Ta hiểu nỗi lòng của cháu đối với con bé như thế nào rồi. Cháu đã yêu nó chứ gì, kể ra cũng xứng đôi vừa lứa đấy! Nếu còn là một Thành Đạt khi xưa, nhất định sẽ tác hợp được cho hai đứa. Sinh rít mạnh một hơi thuốc rồi nhả khói từ từ: - Cần gì phải là một ông chủ khi xưa hả chú Nhị? Cháu chỉ muốn chú là một chú Nhị như hiện giờ thôi. Ông Thành Đạt ôm vai Sinh trìu mến: - Cám ơn cháu đã quý ta như người cha của mình. Nhưng dẫu có thay đổi hình dạng tới đâu, ta vẫn là ta... một Thành Đạt khốn khổ như ngày nào. - Chú lại mặc cảm nữa rồi. Có lúc nào cháu nhìn chú bằng ánh mắt phân biệt rẻ rúng đâu. Với cháu, người thân duy nhất hiện giờ là chú đó! Thú thật, cháu cũng không mong chú được người ta nhìn nhận là ông Thành Đạt. Vì như thế, chú không còn là chú Nhị từng sống với cháu bao nhiêu năm. - Ồ... cái thằng này thật trẻ con. Bộ cháu tưởng chú là hạng người tồi tệ, chóng quên những ngày tháng gian khổ khi được sống sung sướng sao? Không bao giờ có vấn đề ấy xảy ra đâu. Chú cháu ta vẫn sống chung dù trong hoàn cảnh nào đi nữa. Nét mặt Sinh trầm tư: - Cháu thì lại có ý nghĩ khi chú tìm về gia đình của mình, cháu sẽ sống lãng tử một phen. Ông Thành Đạt nghiêm khắc: - Không được. Ta không nhất trí vấn đề này, làm người phiêu bạt thì có gì hay đâu. Ta khuyên cháu nên lập gia đình đi, con bé Tuyền cũng là một người phụ nữ tốt trong mắt của ta đó! Phải chi Vĩnh Khương còn sống ta sẽ tự tới xin ông ta gả con gái cho cháu ngay. Song giờ không được rồi, cháu phải tự chinh phục nó chứ? Sinh bật cười trước những lời nói thật thà nhưng chứa đựng đầy tình thương của ông Thành Đạt. Chuyện tình cảm, tất nhiên anh không thể nhờ cậy người nào nói giùm cho mình được. - Cháu đang nghĩ gì vậy Sinh? Tiếng ông Thành Đạt làm cho Sinh giật mình bối rối: - Dạ, cháu đang nghĩ đến một chuyện vui. - Thế à. Có cô gái ở ngôi nhà cũ kia không? Trong lúc Sinh chưa tìm được câu để đáp thì nghe có tiếng nói chuyện ở ngoài đường, âm thanh rất lớn nên vọng vào tận trong nhà. Anh lắng tai rồi đưa tay làm hiệu với ông Thành Đạt ra ý bảo im lặng. Sinh tiến lại sát bên cánh cửa hơn, tiếng bên ngoài vẫn đều đều: - Ông Thành Danh giám đốc nông trường trà sục sạo gì trong cái xóm này vậy ta? Cứ như là công an truy bắt kẻ gian ấy! Giọng người thứ hai tiếp: - Tôi bị ông ta chặn lại hỏi rằng có thấy ai lạ xuất hiện ở đây không? Kỳ thật nha, xóm này hầu hết là công nhân của nông trường trà bao nhiêu năm, chẳng lẽ ông ấy còn chưa thuộc nằm lòng? Có người nào mới đến ở đây đâu? Tiếng nói chuyện nhỏ dần rồi mất hút trong nỗi lo lắng của Sinh. Anh quay bảo ông Thành Đạt: - Chú à, có lẽ từ hôm nay chú không nên ra khỏi nhà một mình. - Nhưng ta còn nhiều việc phải làm. - Chú có thể sai cháu... - Sinh gạt đi. Ông Thành Đạt lắc đầu: - Có những việc phải tự ta đi mới được cháu à. Chẳng hạn như gặp vợ của ta... - Bây giờ thì việc gặp riêng bà ấy rất khó khăn. Chắc chú cũng đã nghe thấy những lời vừa rồi chứ? - Ta không sợ... - Nhưng mọi người sợ cho chú. - Thành Danh dám giết ta lần nữa không? Sinh nhún vai trước cơn gàn dở của ông Thành Đạt: - Có thể ông ta sẽ dám đấy! Ông Thành Đạt cười khà khà: - Chết lần thứ hai chắc sẽ không đau hơn lần trước. Câu nói của ông Thành Đạt chưa kịp dứt thì có tiếng chân chạy rầm rập ở bên ngoài. Phản ứng của Sinh rất nhanh, anh đẩy ông Thành Đạt vào căn buồng, buông màn cửa rồi đứng im chờ đợi sự việc đến. Quả nhiên, tiếng ông Thành Danh vang lên ở ngoài sân: - Cậu Sinh... đã ngủ chưa? Sinh giữ thái độ bình tĩnh bước ra hỏi: - Thưa ông có việc gì mà ông đến đây vào giờ này? Giọng ông Thành Danh đầy trịch thượng: - Nhà cậu có mấy người? - Hai người. Dường như ông có ý kiểm tra hộ khẩu của chúng tôi. - Sinh lộ vẻ khó chịu song vẫn nói. Ông Thành Danh phóng tia nhìn vào trong nhà: - Cậu nói hơi quá lời. Tôi chỉ muốn biết để coi sĩ số công nhân là bao nhiêu? Sinh chế giễu: - Bao nhiêu thì đã có ghi trong sổ sách, ông muốn biết thì cứ giở ra xem, tội gì đi kiểm tra thế này cho mệt? Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu hắt ra, đôi mắt ông Thành Danh gợn lên nét hung ác. Giọng ông ta thật đanh: - Cậu nên nhớ, tôi là ông chủ làm việc rất có kỷ cương. Sinh cũng không để mình bị xỏ mũi: - Tôi nghĩ mình chẳng làm điều gì vi phạm nguyên tắc của nông trường đề ra cả. Hơn nữa tôi xin nhắc cho ông biết rõ là nhà này chỉ có mình tôi là công nhân của ông thôi. - Vậy còn một người nữa làm gì? - Đó là chú tôi. Ông ta ngoài tuổi lao động rồi, chỉ ở nhà nghỉ ngơi. Cặp chân mày ông Thành Danh nhíu lại: - Ông ta đến đây ở lâu chưa? - Từ khi tôi bắt đầu làm công nhân cho ông. - Có khai báo nhân khẩu với địa phương không? - Tất nhiên là có rồi. Mà ông điều tra gì gớm vậy? Sao không nhờ công an họ phối hợp cho dễ dàng? Ông Thành Danh không quan tâm tới câu nói của Sinh: - Cậu hãy gọi ông chú ra đây cho tôi nhận diện thử. Sinh bực bội: - Ông tình nghi chú tôi là hạng người gì chứ? Chú tôi đang bị ốm... nằm liệt giường cả tháng trời nay rồi. Nếu ông không sợ ngửi mùi xú uế thì hãy theo tôi. Nói rồi anh dợm quay lưng đi, thái độ dứt khoát này của Sinh làm ông Thành Danh bỏ ý định. Ông cất tiếng: - Thôi... cậu Sinh. Xin lỗi đã làm phiền. Đứng nhìn ông Thành Danh và hai người nữa bỏ đi. Sinh nghe nhẹ cả lòng. Suýt chút nữa thì anh em họ gặp nhau, để rồi không biết niềm vui hay bi kịch sẽ xảy ra tiếp tục. Đóng cửa lại, Sinh bước nhanh vào căn buồng dành làm chỗ ngủ cho ông Thành Đạt. Nhưng anh đã phải đứng khựng lại vì chẳng hề thấy bóng dáng của ông đâu? Lạ thật, chú ấy không ở đây mà lại đi đâu giữa đêm hôm khuya khoắt như vậy? Đến ngôi biệt thự cũ hay theo sau ông Thành Danh để thanh toán câu chuyện giữa họ? Điều gì thì Sinh cũng chẳng thể an lòng được, anh vặn to đèn, tìm áo khoác mặc vào người rồi lao ra màn đêm lạnh cắt da dù bản thân đang rất mệt. Phần 5 Suốt một đêm tìm ông Thành Đạt khắp nơi không thấy, Sinh trở về nhà với thân hình rời rã. Anh nghe mệt và buồn ngủ đến độ không thể cưỡng lại được, dù giờ phải làm việc trên đồi trà. Nấu một gói mì ăn qua loa, anh đi tắm cho tinh thần sảng khoái. Nhưng làn nước lạnh buổi sớm chỉ làm Sinh tỉnh táo được một ít khi anh mặc bộ đồ lao động vào người, những cái ngáp thật dài thi nhau hành hạ anh. Cố gắng lắm anh mới đến được chỗ con suối gần ngôi biệt thự cũ, song cơn buồn ngủ đã thắng thế, buộc Sinh phải tìm nơi nào đó để ngã lưng. Mặt trời lên làm tan loãng màn sương, trong khoảng không gian ấm áp đó Sinh ngủ thật ngon lành... và giấc ngủ ngày hiếm có đã cho anh một giấc mơ thú vị. - Anh Sinh... anh thật lòng yêu em chứ? - Thế chẳng lẽ em nghĩ anh nói dối để lừa gạt em sao? - Nhưng ở đây không có sự bình yên đâu. Em sợ lắm! - Yên tâm đi cô bé. Anh sẽ bảo vệ em bằng chính sức mạnh của mình. - Em vẫn chưa thể an lòng vì cái ác trên đời còn tồn tại. - Dẫu sao thì điều thiện cũng chế ngự được những dã tâm của con người em ạ. Vấn đề là chúng ta có sức chịu đựng hay không thôi. - Anh Sinh... anh đã làm em mềm lòng rồi. - Anh chờ em nói một câu dễ thương hơn. - Không được. - Tại sao vậy? - Bởi em là phụ nữ. - Phụ nữ cũng có thể biểu lộ tình cảm của mình chứ. - Nhưng em... thì không dám... Ôi... ôi... mình đang ở mặt đất hay trên mây? Trần gian hay thiên đường hạnh phúc? Giữa lúc ấy thì... - Anh Sinh... sao lại nằm ở đây như thế này? Choàng tỉnh nhìn dáo dác mới biết mình nằm mơ, Sinh tiếc hùi hụi mắng kẻ đã phá đám mà không thèm nhìn mặt: - Khỉ thật. Tôi nằm ở đâu thì có phiền hà chi đến người nào? Tiếng con gái thánh thót: - Đành là thế. Nhưng ai cho phép anh réo gọi tên tôi. Sinh quay phắt lại cãi: - Hồi nào? Và sau đó anh thật sự ngỡ ngàng: - Ủa, cô Tuyền... cô đến đây bao giờ vậy? Tuyền vờ dỗi ngoảnh mặt đi: - Đến lâu rồi... bởi tôi biết có kẻ ngủ ngày và nằm mơ ở đây. - Tôi thật không hiểu có làm gì cho Tuyền giận hay chăng? - Sinh ngượng nghịu dò hỏi. Tuyền mím môi trong bụng rất buồn cười: - Có thì sao? - Xin lỗi vậy. - Suông thế ai mà chịu. Sinh vỗ tay vào trán mấy cái cho tỉnh táo rồi nhìn đăm đăm Tuyền: - Muốn đòi hỏi tôi điều gì? Tuyền mau miệng: - Kể lại giấc mơ vừa rồi của anh cho tôi nghe. Ánh mắt Sinh khẽ nhìn đi hướng khác: - Chỉ sợ tôi nói Tuyền lại cho là đùa. - Có thú vị lắm không mà trông anh lúc ấy ngộ nghĩnh quá. Cứ như là... - Là gì... Tuyền lắc đầu: - Tôi không thể diễn tả được. Mà sao anh lại ngủ vào lúc này? Hôm nay anh không phải đi làm ư? Càng mệt hơn bởi giấc ngủ quá ngắn không đã mắt, Sinh cố ngăn những cái ngáp nhưng nó cứ xuất hiện liên tục. Anh giải thích ngắn gọn: - Tôi đã phải đi tìm chú Nhị suốt cả đêm hôm qua. Nghe thấy vậy, Tuyền tròn mắt: - Sao? Ông ấy bỏ đi à? Sinh mệt mỏi kể lại chuyện tối qua sau khi về nhà. Nghe xong, Tuyền tắc lưỡi hòa chung tâm trạng với Sinh. Dự đoán của cô thông minh hơn: - Rất có thể ông Thành Đạt đang ẩn nấp đâu đó để chờ cơ hội gặp riêng bà Thành Danh. Sinh lộ nét lo âu: - Chú ấy sẽ bị nguy hiểm nếu như bọn người ông Thành Danh thuê theo dõi phát hiện được. Tuyền gật gù: - Phải đó. Nhưng biết ông ta đang ở đâu mà bảo vệ được đây. - Mình chia nhau đi tìm chăng? Tuyền ngần ngại: - Tôi không rảnh lúc này. Đã tới giờ tôi phải đi dạy... Sinh vụt nói: - Hay là Tuyền đến gặp bà Thành Danh rồi nói rõ giùm tôi. Tôi hy vọng bà ấy sẽ có cách bảo vệ cho chú ấy. Điều này thì Tuyền phải nhận lời, bởi cô thừa hiểu mình gặp bà Thành Danh dễ hơn Sinh: - Được! Tôi sẽ cho bà ấy biết chuyện ngay. Nói rồi Tuyền toan dợm bước chân đi liền bị Sinh kéo lại: - Gì nữa vậy? - Tuyền không có câu nói nào dành riêng cho tôi sao? Gương mặt Tuyền lúc này trông ngây ngô quá cỡ. Cô giương mắt nhìn Sinh rồi nhoẻn miệng cười: - Anh lộn xộn quá. Tôi thấy anh nên về nhà ngủ một giấc tới chiều tối thì hơn. - Điều đó tất nhiên tôi sẽ phải làm ngay. Nhưng cô phải bồi thường cho tôi giấc mộng ban nãy. - Anh lạ thật... mộng thì làm sao đền? - Chỉ cần cô bằng lòng nó sẽ tự khắc đến. Ngạc nhiên lẫn thích thú, Tuyền không nghĩ ngợi lâu. Cô gật đầu: - Bằng lòng thì bằng lòng... song anh không được đánh lừa tôi. Tức thì Sinh vòng tay ôm lấy Tuyền đẩy cô vào thế thụ động cùng nụ hôn rất dài. Khi được buông ra, Tuyền khẽ trách: - Đã nói trước mà còn... Sinh nghiêng đầu ngắm Tuyền: - Đúng "hợp đồng" đàng hoàng. Bởi giấc mơ của tôi y như vậy. Tuyền thẹn thùng như cô dâu ngày cưới: - Anh nói dối... Sinh đưa một cánh tay lên thật cao: - Tôi xin thề... - Thôi đừng. - Sợ gì nào? Tuyền khúc khích: - Sợ lời thề linh thiêng, anh bị quở phạt tội nghiệp. Sinh nhướng nhẹ cặp chân mày: - Có đáng chi một kẻ ít may mắn như tôi. - Sao cơ? - Tuyền đừng giả vờ thương hại tôi. Là một thằng đàn ông, tôi không chấp nhận sự miễn cưỡng. Tuyền trở nên nghiêm chỉnh: - Nhưng nếu là sự tự nguyện... Câu nói gây cho Sinh nỗi bất ngờ. Khuôn mặt anh rạng rỡ hơn: - Tôi muốn Tuyền nói rõ hơn. Tuyền cắn ngón tay e lệ: - Hãy thay đổi cách xưng hô trước đi đã. Sinh nhanh nhạy đáp ứng liền: - Em nói cho anh nghe đi Tuyền. Song cô gái lại mắc cỡ lí nhí trong miệng: - Xin hãy để ánh mắt em lên tiếng. - Cả trái tim nữa chứ. - Vâng... Anh nghe nè, nó đã bắt đầu rồi. Sinh cúi xuống thật gần áp tai vào ngực Tuyền, anh sung sướng muốn reo lên khi nghe được những nhịp tim của cô gái mà mình yêu thương nhất. Vậy là từ nay tình cảm của anh không còn đơn phương nữa. Nó đã có nơi tiếp nhận như con người có chốn để về. Chuyện vui làm cả hai quên mất cả thời gian, chừng sực nhớ Tuyền hốt hoảng: - Chết... muộn giờ dạy học của em rồi. Không nán lại thêm giây phút nào, Tuyền vừa đi vừa chạy về hướng ngôi biệt thự Thành Danh trước tia nhìn vời vợi của Sinh ở phía sau. Đến nơi, Tuyền chợt phát hiện ra một điều gì đó bất thường lẫn trong không khí tại đây. Người cô chạm mặt đầu tiên là chị giúp việc đang lấm la, lấm lét nơi phòng khách. Tuyền bước tới gần hỏi: - Chị ơi... học trò của tôi sẵn sàng chưa? Chị giúp việc nhìn Tuyền rồi khẽ suỵt: - Nói nhỏ thôi. Giờ này cô mới tới là trễ mất cả hơn một tiếng đồng hồ rồi đó! Biết lỗi, Tuyền cúi đầu: - Tôi hiểu. Ông bà chủ có nhà không hả chị? Chị giúp việc lại dáo dác rồi mới nói: - Có lẽ ông ấy vừa đi khỏi. Còn bà chủ thì... - Thì sao chị? Bà ấy mắng tôi đến muộn à? Chị giúp việc xua tay rối rít lên: - Ồ, không. Có chuyện vừa xảy ra ở đây hồi đêm. Vừa nghe thấy thế, Tuyền đã nghĩ ngay đến sự an nguy của ông Thành Đạt. Cô âm thầm lo lắng trong bụng: - Bắt bớ hay giết người hả chị? Chị giúp việc trợn mắt: - Cô nói gì kinh khủng vậy. Chỉ mới chứng kiến ông chủ đánh người thôi mà tôi đã sợ muốn đứt hơi nữa là... Tuyền hối hả hỏi dồn: - Ông Thành Danh đã đánh ai? Chị giúp việc vừa nói, vừa chỉ tay lên lầu: - Đánh bà chủ. Tuyền hết sức kinh ngạc: - Sao kỳ vậy? Chẳng lẽ ông ấy đã phát điên? Chiếc môi dưới của chị giúp việc trề dài ra, chị lôi Tuyền lại sát bên mới nói: - Không điên một chút nào. Ngược lại tôi thấy ông ấy tỉnh táo là đằng khác. - Nếu tỉnh sao ông ấy lại đánh vợ? - Cô đi mà hỏi ông ấy chứ sao tôi biết được. - Bây giờ bà Thành Danh ra sao rồi? - Đang bị nhốt ở trên lầu. Đúng là một chuyện quá bất ngờ mà Tuyền không thể nào hình dung được. Ông Thành Danh bắt đầu cư xử tồi tệ với vợ bằng vũ lực. Ôi, có cần báo tin này cho ông Thành Đạt biết không? Nhưng suốt đêm qua ông Thành Đạt đã đi đâu? Liệu có phải do họ lén lút gặp nhau nên mới xảy ra cớ sự? Tuyền thấy mình thật hoang mang, rối rắm trước những chuyện chẳng thuộc về mình. Không hỏi chuyện thêm nữa, Tuyền bước nhanh lên phòng học của hai cô bé Kiều, Diễm để làm tròn phận sự. Song khi cánh cửa bật mở thì trước mắt cô là hình ảnh rất đáng thương. Hai chị em cô bé đang ôm nhau gục khóc ở góc phòng. Dường như chúng cũng đã thấu hiểu hết những nỗi đau mà mẹ chúng đang chịu đựng. *** Không có tinh thần để dạy học khi chị em Kiều và Diễm đang trong cơn khủng hoảng bởi biến cố của gia đình. Tuyền lẳng lặng bỏ ra về với nỗi ưu tư nặng nề. Làm gì để giết khoảng thời gian trống trải này chứ? Chẳng lẽ lại tìm đến nhà Sinh khi vừa gặp mặt anh. Hay về nhà ngủ một giấc hoặc rủ nhỏ Tú bày trò chơi gì đó cho vui. Nghĩ tới nghĩ lui, Tuyền lại thấy không thích nên để đôi chân thơ thẩn theo con đường mòn dẫn đến một nơi mà cô chưa hề đặt chân tới. Đó là khu nghĩa trang, có thể do dân địa phương tại đây thành lập nên không được rộng rãi cho lắm! Với khoảng vài chục ngôi mộ đã đắp nhưng lúp xúp vì toàn là mộ đất, chỉ duy có một ngôi được xây cất khá công phu song nằm mãi tít đằng kia.Thoạt đầu thấy nơi này hoang vắng, Tuyền có ý ngần ngại, song không hiểu động lực nào thúc đẩy cô đã tỏ ra bạo dạn hơn. Chợt một cái đầu lấp ló từ bụi cỏ lau làm cho cô hoảng kinh toan chạy thì nghe gọi: - Cháu Tuyền... tôi đây mà... Tuyền dừng chân ngoái đầu lại thì nhận ra ôngThành Đạt. Ông đưa tay vẫy cô: - Lại đây. Tuyền bước tới như người bị sai khiến: - Ông đi đâu mà để anh Sinh tìm suốt cả đêm hôm qua? Ông Thành Đạt ủ dột: - Ta đi đào mồ của ta lên coi xương cốt có còn không. Cảm giác rờn rợn của Tuyền nổi lên theo câu nói của ông. Cô thấy hơi hối hận vì đã dám mạo hiểm. Ông Thành Đạt nói tiếp: - Cháu có thể giúp ta không? Nhiệt tình của Tuyền không dám xuất hiện trong lúc này. Cô mạnh dạn lắc đầu: - Thưa... không được ạ! - Vì sao vậy? Tuyền cố kiếm cớ để thoái thác. Cô nhớ đến chuyện của bà Thành Danh: - Ông không biết đó thôi. Ở ngôi biệt thự Thành Danh đang xảy ra sự cố nghiêm trọng lắm. Câu nói này làm ông Thành Đạt phải tạm dừng ý nghĩ điên khùng của mình. Ông hỏi dồn: - Lại có điều gì nghiêm trọng trong lúc này? Tuyền nói nhanh như sợ không có cơ hội nói: - Đêm qua bà Thành Danh đã bị ông ấy hành hạ. Hiện giờ bà ta đang bị nhốt trong phòng riêng. Đúng là một cái tin giật gân khiến ông Thành Đạt phải chết lặng hồi lâu mới trấn tĩnh lại được: - Tại sao Thành Danh lại phải làm thế nhỉ? Chẳng lẽ vì sự sống của ta mà nó lại làm khổ người đàn bà mà nó đã cố tình chiếm đoạt sao? Tuyền xen vào: - Chắc tại bà Thành Danh truy cứu ông ta chuyện ngày xưa. Từ đáy lòng ông Thành Đạt nỗi đau đớn bùng dậy. Ôi... một bên là tình máu mủ, một bên nghĩa vợ chồng. Giá mà ngày ấy ông chết quách dưới chân đèo thì còn hay hơn là phải sống để đối diện với sự thật hôm nay. - Đi... Nghe câu nói cụt ngủn, Tuyền chẳng hiểu ất giáp gì. Cô bèn hỏi: - Đi đâu cơ? Ông Thành Đạt cáu gắt: - Đến biệt thự Thành Danh... - Để cứu bà ấy ư? - Cứ cho là như vậy. Còn nhiều điều cần giải quyết ở đó nữa. Tuyền thấp thỏm trong lòng: - Có một mình ông đến đó e không còn đường để sống. Ông Thành Đạt gằn giọng: - Lẽ nào ta lại để người ta giết mình lần thứ hai sao? Mà cảm giác bị chết ta đã từng quen rồi, sẽ không đau nữa đâu. Tuyền cố giữ chân ông Thành Đạt bằng cách ngăn cản: - Nếu muốn đến biệt thự Thành Danh thì ông nên về nhà cùng đi với anh Sinh. Song ông Thành Đạt lại phản đối: - Kéo nó vào chuyện này làm chi cho rắc rối. Cứ để ta đến đó một mình. (??) Bguy anh có biết hay không? Anh bảo cô: - Chúng mình phải đi ngay. Và chỉ trong một giây, anh đã buột miệng thốt: - Tại sao chúng ta không lôi kéo cánh công nhân đang làm việc trên đồi trà vào cuộc nhỉ? Dù có là cọp cũng không dám ăn thịt người trước cả một đám đông. Nghe thấy vậy, Tuyền bèn đẩy vai Sinh: - Anh đi đi, để em tới biệt thự Thành Danh xem sao! *** Ánh nắng mặt trời đầu tiên chiếu vào phòng nhưng bà Thành Danh vẫn nằm im, mặc dù bà thức giấc đã lâu. Bởi lẽ trận đòn đêm qua làm toàn thân bà bị sưng tấy lên nhiều chỗ, nhức nhối không thể tả. "Cộc... cộc... cộc...", bà Thành Danh nhổm đầu dậy, ánh mắt láo liên. Bà chợt trông thấy một mảnh giấy đang luồn qua khe cửa bèn cố lết lại để lấy. Mở ra coi, bà nhận ra nét chữ của con gái. Lướt mắt trên tờ giấy, bà Thành Danh đọc nhỏ: "Má đã bớt đau chưa? Có cần chúng con giúp đỡ gì không? Ba đã đi từ sớm... má đừng sợ. Hãy chỉ cho chúng con cách cứu má ra bên ngoài...". Nước mắt bà Thành Danh ứa ra vì thương cho hai đứa con gái. Giá mà chúng nói được bằng lời thì bà sẽ xúc động biết dường nào. Dùng hai tay gạt những giọt nước mắt rồi lấy sức đứng lên. Bà Thành Danh ghé miệng qua khe hở nói lớn: - Kiều, Diễm... các con của má... các con đừng mạo hiểm kẻo bị trừng phạt nặng nề đấy! Một tờ giấy nữa được nhét vào phòng, và bà Thành Danh đã đón đọc: "Má... anh Thành Đạt không có ở xa chúng ta đâu. Nếu má muốn, tụi con sẽ đưa má đến... Nhưng trước tiên má phải ra khỏi căn phòng này". Quả là một sự kinh ngạc khôn cùng, hai con bé này đã biết chỗ ở của anh nó bấy lâu nay... vậy mà nó lại kín miệng không chịu nói. Chắc bây giờ thằng Thành Đạt đã lớn, nó có thừa sức bảo vệ mẹ và em gái trước bạo lực xảy ra từ phía nào. Nghĩ tới đó, bà Thành Danh như được tăng thêm sức lực, bắt đầu tìm cách để thoát thân. Bà cố hét lên để hai đứa con gái bên ngoài nghe thấy: - Hãy mau đi kiếm một cái thang dựng ngay cửa sổ phía bên trái căn phòng của má, má sẽ cố gắng trèo ra... Ở trong phòng, bà Thành Danh không thể hiểu hết nỗi khó khăn của chị em Kiều, Diễm trước một sự việc mà chúng chưa từng làm. Là con gái chân yếu tay mềm, lại không nói dược, chỉ làm hiệu cho nhau, giờ phải đối mặt với những tình cảnh nghiệt ngã thế này thật khó mà chấp nhận. Không hiểu có phải do tình mẫu tử quá lớn hay còn nguyên nhân nào khác nữa đã khiến hai cô bé mạnh mẽ lên trong công việc đưa mẹ thoát khỏi căn phòng giam. Kiều và Diễm kéo nhau chạy xuống nhà kho để kiếm thang, nhưng nó quá dài và nặng, cả hai không tài nào khiêng đi nổi. Hì hục rồi kéo thêm cả chị giúp việc, mất cả tiếng đồng hồ họ mới dựng được cái thang vào đúng chỗ bà Thành Danh yêu cầu, song nó lại thấp hơn cửa sổ cả một quãng dài... Đã mở được cửa sổ, nhưng từ trên cao nhìn xuống bà Thành Danh cũng phát ớn. Bà cảm thấy lỡ trượt chân rơi xuống thì cái chết sẽ cầm chắc trong tay. Mà nếu gặp may sống sót cũng què quặt chứ không thể an toàn. Ôi... thế thì sẽ khổ lắm! Làm một người tàn tật thà chết quách còn hơn. Hình ảnh người chồng cũ bỗng hiện ra trong tâm não bà Thành Danh. Tội quá... thương quá... nhưng ông vẫn phải sống dù ao ước được ngủ yên vĩnh viễn. Lại thêm ít phút mủi lòng, bà Thành Danh chần chừ mãi trên khung cửa sổ cao, cho đến khi chị giúp việc sốt ruột vì sợ ông chủ mình quay về, luôn miệng hối thúc thì bà mới thu hết can đảm để trèo xuống. Không riêng gì trái tim của bà Thành Danh muốn bắn ra khỏi ngực mà những người bên dưới cũng hồi hộp lo sợ giống như bà. Họ nín thở theo từng cái nhích chân của bà Thành Danh trên bậc thang, và cùng thở phào nhẹ nhõm khi bà đã xuống thật thấp: - Ôi... đã thoát...! Tiếng reo đầu tiên của ai đó vang lên trong số bốn người đang có mặt nghe ngồ ngộ như trẻ em vừa tập nói làm bà Thành Danh ngơ ngác. Bà nhìn chị giúp việc khi vừa đặt chân xuống mặt đất: - Chị... Song chị giúp việc cũng kinh ngạc nhìn lại bà. Bốn mắt nhìn sững nhau rồi mỗi người cùng quay đi một phía. Bà Thành Danh chọn Kiều, còn chị giúp việc thì trỏ tay vào bé Diễm đồng thanh hỏi: - Ai vừa nói? Kiều mấp máy bờ môi: - C...on... Sự bất ngờ đến đột ngột làm bà Thành Danh há hốc mồm. Bà lắp bắp giống con gái: - Trời... ơ...ơi... con... nói... được... rồi... sao? Cô bé Diễm cũng bắt chước chị tạo ra sự kiện lạ: - Má... m...má... Bà Thành Danh có cảm giác mình đang bay bổng lên trời vì niềm vui quá đỗi lớn lao. Bà dang tay ôm cả hai đứa con gái, miệng cười mà mắt đẫm lệ: - Ôi... tôi hạnh phúc quá! Nép đầu trong ngực mẹ, hai cô bé cũng bật khóc. Nhưng có lẽ đây là nước mắt vui sướng của những tâm hồn vừa được tái sinh. Bà Thành Danh yêu cầu con: - Hãy lặp lại lần nữa cho má nghe đi Diễm, Kiều. Diễm giành nói song phát âm thật chậm: - Con... hết bị... câm rồi... Kiều tiếp luôn: - Tụi con không nói được là tại ba cấm... - Tại sao ông ấy lại cấm? - Bà Thành Danh trố mắt. Cả hai đứa đều lắc đầu, dáng vẻ đầy sợ sệt. Thấy vậy, bà Thành Danh vội dỗ dành: - Nói đi con. Chỉ mình má nghe thôi mà. Song chúng không chịu mở miệng thêm, mỗi đứa nắm một bên tay lôi bà Thành Danh chạy về hướng ngôi biệt thự cũ. *** Mẹ con bà Thành Danh đến được ngôi biệt thự cũ vào lúc gần mười một giờ trưa, khi vú Dần đã nấu xong bữa cơm đang chuẩn bị dọn lên bàn. Trông thấy họ, vú cười tươi: - Tiếc quá... bà tới chơi, cô Hai tôi lại không có ở nhà. Bà Thành Danh không quan tâm tới điều này, chỉ nhếch môi đáp rồi quay sang hỏi lại đứa con: - Lúc nãy các con bảo anh Đạt con đang ở đâu? Chẳng lẽ nó lại trốn má trong ngôi nhà này? Con bé Diễm bỗng gật đầu, chỉ tay vào phòng khách: - Trong đó! Kiều cũng nói: - Phải! Bà Thành Danh lay mạnh các con, vẻ mặt như vẫn không tin: - Đừng đùa với má như vậy chứ. Căn phòng này trống trải, nó nấp chỗ nào? Kiều và Diễm chạy ào vào giữa phòng rồi cả hai cùng giậm chân của mình xuống nền gạch, cử chỉ thật ngộ nghĩnh và khó hiểu. Vú Dần không biết ất giáp gì cũng vào cuộc: - Ủa, bà và các cô tính tìm chi chỗ này? Không muốn giải thích dông dài, bà Thành Danh vắn tắt: - Tôi tìm thằng con trai của tôi. Vú Dần càng ngạc nhiên hơn nữa: - Không hề có người lạ nào đến đây cả. Rồi vú chau vầng trán đã có nhiều nếp nhăn như nhớ điều gì: - À, đêm qua khu vực quanh nhà này bị người ta theo dõi. Bà Thành Danh sợ vú Dần làm lạc mất ý định chính của mình, vội gắt: - Chuyện đó để bàn luận sau đi. Tôi đang bận tìm tung tích của con tôi, mong vú đừng có hỏi... Cụt hứng, vú Dần bèn đứng nép một bên giương mắt, lên theo dõi. Nhưng sự thắc mắc của vú không lâu khi cô bé Kiều lên tiếng: - Đúng chỗ này nè má. Mặt bà Thành Danh bỗng trở nên xám ngắt: - Con nói thế nghĩa là sao? Diễm đáp thay cho Kiều: - Ảnh bị ba bóp cổ chết rồi chôn xuống chỗ này. Vừa thoạt nghe, bà Thành Danh đã không còn sức đứng vững trên đôi chân. Bà khuỵu xuống, miệng lưỡi cứng đờ... Con bé Diễm vừa nói gì mà bà không nghe rõ. Dường như nó đang đùa thì phải? Toàn thân bà Thành Danh lạnh toát rồi run lên. Bà có cảm tưởng mình bị nhét vào giữa một tảng băng và những mạch máu lưu thông đang đông đặc, không còn hơi nóng của một người đang sống, Thành Đạt... Thành Đạt... đứa con trai khốn khổ của mẹ! Không hiểu âm thanh của tiếng gọi có thoát ra bên ngoài không mà người vừa đến đã nghe thấy: - Tôi đây... Tố Lan... Đó là ông Thành Đạt, ông tức thời bị người vợ cũ ôm chầm. Bà rên rỉ thảm thiết: - Hết... hết rồi... con... con... của chúng ta... Ông Thành Đạt hỏi tới: - Nó đâu? Bà Thành Danh lắc đầu, điệu bộ thẫn thờ: - Nó đâu? - Tôi đang hỏi em mà. Bà Thành Danh nhìn xuống nền gạch, nói lắp bắp: - Nó đó! - Sao tôi không nhìn thấy? - Bởi nó đã... ngủ giấc ngàn thu rồi còn đâu... Giọng bà Thành Danh nấc lên rồi vỡ òa theo câu nói sau cùng. Bà rũ xuống tựa một thân cây bị đốn gãy phải đoạn tuyệt với sự sống. Nhưng ông Thành Đạt đã không chịu để bà yên, gào thét lên: - Em nói sao? Thằng con tôi ngủ giấc ngàn thu là thế nào? Bà Thành Danh không cất nổi tiếng nói mà bất thần nhìn thẳng về phía trước một cách vô thức. Hồi lâu, bà bị ông Thành Đạt buộc phải trả lời: - Em nói đi. Em không phải là một người mẹ tồi tệ chứ? Bà Thành Danh khóc rưng rức: - Em không biết... không tự khẳng định được. - Thôi đừng dông dài nữa. Tôi chỉ cần em nói một câu là thằng con của tôi đang ở đâu? - Không biết mà... Trong lúc bà Thành Danh vật vã vì không dám nhìn thẳng vào sự thật thì hai cô bé Kiều, Diễm lại có đủ bình tĩnh. Chúng bước ra đứng chắn trước mặt mẹ như không muốn ông Thành Đạt làm khó bà. Nhỏ Kiều hơi hất mặt: - Má tôi không biết thật. Chuyện này chỉ có hai chị em tôi là chứng kiến tỏ tường thôi. Diễm tiếp lời khi thấy Kiều có vẻ mệt khi phải phát âm dài: - Hồi đó... chị em tôi còn nhỏ xíu... cỡ chừng này... Vừa nói, Diễm vừa đưa tay ngang tầm ngực để diễn tả, và cô bé thật sự làm mọi người xúc động qua cách kể thật chậm rãi của mình: - Hôm ấy... má tôi có việc phải về thành phố mấy ngày, để ba anh em chúng tôi ở nhà với một bà giúp việc đã lớn tuổi. Ngày đầu không có gì xảy ra cả, nhưng chẳng hiểu sao ba tôi lại cho bà giúp việc nghỉ làm. Ngày hôm sau thì chính ba tôi phải tự nấu ăn và săn sóc chúng tôi, vì trong nhà chẳng còn ai. Kiều chen vào tường thuật tiếp: - Tối đó... sau khi ăn uống xong, ba tôi bắt chị em tôi đi ngủ sớm, còn anh Thành Đạt thì ba tôi giữ lại để kiểm tra bài vở. Vì để quên con búp bê nơi phòng khách nên đã vào phòng lâu rồi mà chị em tôi không ngủ được, bèn rủ nhau trở ra lấy. Nhưng thật là khủng khiếp, ló đầu ra phòng khách chúng tôi thấy ba tôi đang bóp cổ anh Đạt... - Trời khốn nạn quá... Tiếng kêu của ông Thành Đạt làm cô bé phải tạm dừng câu chuyện, ngơ ngác nhìn lúc này trong nhà có thêm nhiều người xuất hiện, nhưng thấy họ là những công nhân vườn trà nên chị em Kiều Diễm không hoảng sợ. Chúng cố nhớ lại mọi chi tiết đã qua rồi thay phiên nhau nói: - Ông đừng có ngắt lời... để chị em tôi kể xong đã... Chứng kiến cảnh ba tôi giết anh Đạt, chị em tôi sợ hãi đến độ không nhúc nhích hay la hét gì nổi. Cứ nhớ lại hình ảnh anh Đạt giãy giụa, đôi tay chới với, hai mắt trợn ngược, miệng há hốc rồi sau đó duỗi thẳng buông xuôi mà tới giờ này chị em tôi vẫn còn bị ám ảnh. - Câm miệng... Chặn đứng câu chuyện của chị em Kiều, Diễm lúc này không phải ông Thành Đạt mà là ông Thành Danh. Ông ta xuất hiện đột ngột nhưng không làm ai sợ, ngoại trừ hai đứa con gái của ông ta. Ông Thành Danh xông tới tát thẳng tay vào mặt chị em Kiều, Diễm rồi quát mắng: - Đồ khốn kiếp... Tụi bay là con tao hay con của bọn bá vơ kia mà ăn nói lung tung như thế? Khôn hồn thì câm trở lại như xưa đi. Mặc dù hai cô bé Kiều và Diễm đang co rúm người lại vì bị đánh, Sinh và Tuyền vẫn bước tới động viên: - Đừng sợ... cứ nói hết đi các em. Phải chăng bấy lâu nay các em biến thành người câm là vì bị sức ép của người cha tàn bạo? Ông Thành Danh to tiếng không để cho hai đứa con gái kịp mở miệng. Ông trừng mắt về phía chúng: - Hừm... tụi bay mà phát ngôn bừa bãi tao cắt lưỡi. Rồi quay qua phía Sinh và Tuyền, ông gầm lên: - Thì ra bọn chúng mày cấu kết với nhau để hại ta à? Rõ là nuôi ong tay áo mà... Song ông Thành Đạt đã đứng ra đính chính cho những người vì ông, ông chỉ tay vào mặt thằng em trai đốn mạt: - Không phải nuôi ong tay áo đâu, mà là sự trừng phạt của ông trời đó Thành Danh. Sự trùng phùng này gây tác động khá mạnh mẽ. Ông Thành Danh phải lùi lại mấy bước chứ không dám đứng gần khiến ông Thành Đạt cả cười: - Mày không nhận ra tao à? - Ô... ông... - Ông Thành Danh lắp bắp. - Anh trai của mày nè. Chẳng lẽ tao còn sống trở về mà mày không tỏ thái độ mừng rỡ chút nào sao? Nhưng chỉ chấn động tâm lý một chút thôi, ông Thành Danh đã lấy lại tư thế ngay tức thì. Ông quắc mắt nhìn tất cả mọi người: - Định bày trò gì ra thế này? Sinh lên tiếng: - Lật lại vụ án năm xưa để đem đứa em bất nghĩa giết anh ra trước vành móng ngựa... Ông Thành Danh nạt vội: - Một lũ khùng đang nghĩ cách tống tiền bằng biện pháp vu oan giá họa cho người khác hả? Song Tuyền đã nhanh nhảu đọc "bản cáo trạng" thứ hai: - Nếu ông cho vụ án hai mươi năm đã cũ rồi thì còn chuyện mới đây. Ông nghĩ sao về lời tố cáo của con ông? Không nao núng, ông Thành Danh nói: - Bọn chúng mày không có đủ tư cách để thẩm tra tao điều gì cả. Bà Thành Danh đang khuỵu trên nền gạch từ nãy giờ vụt ngẩng mặt lên: - Thế còn tôi thì sao?... Có đủ tư cách để hỏi ông về thằng con trai của tôi không? Trong lúc ông Thàng Danh lúng túng thì bà rời chỗ bước lại gần túm ngực áo ông giật mạnh. Nỗi đau đớn của người mẹ mất con trút cả ra: - Ông nói đi! Có phải ông đã giết chết con tôi không? Dù biết khó lòng mà chối được, ông Thành Danh vẫn không chịu nhìn nhận: - Đừng gieo tiếng ác cho tôi chứ. Chẳng phải bà đã từng thấy tôi đối xử tốt với nó trong suốt bao nhiêu năm trời đó sao? - Tình cảm của ông là sự giả dối chứ không hề thật lòng. Chừng nào ông trả nó lại cho tôi thì tôi mới tin ông được. - Bà Thành Danh gào lên. Ông Thành Danh dang hai bàn tay phân bua: - Tôi biết tìm nó ở đâu được chứ? - Tự ông biết ông đừng có vờ vĩnh... Tới đây, ông Thành Danh bỗng hạ giọng tình cảm: - Kìa, mình... chẳng lẽ bấy nhiêu năm chung sống mình không coi tôi là chồng của mình ư? Tôi đã từng thương yêu mình và các con chân thật mà... Gương mặt của bà Thành Danh đẫm lệ giận dữ: - Phải, ông thương yêu tôi nhiều lắm, nhiều đến nỗi ông đã hành hạ tôi như thế này đây. Nói chưa dứt câu, bà Thành Danh nhanh tay vạch những khoảng da thịt bầm tím của mình làm bằng chứng trước mọi người. Bà nhìn ông Thành Danh bằng sự căm thù: - Chắc ông không ngờ rằng tôi đã thoát ra khỏi cái nơi ông cầm tù tôi chứ? Ông Thành Danh trơ tráo: - Mình nói gì nặng lời vậy? Tôi chỉ muốn mình được bảo đảm an toàn thôi mà. - Hừ... miệng lưỡi của một con mãng xà. Chẳng qua ông chưa dám giết thêm một mạng người nữa thôi. Đôi co tới đây ông Thành Danh tự kết thúc câu chuyện bằng cách vung mạnh cánh tay lên. Nhưng ông chưa kịp giáng xuống thì đã bị Sinh và một công nhân nữa giữ chặt: - Ông đã để lộ bản chất của mình rồi đó! Ông Thành Danh gầm lên: - Buông ra mau, kẻo tao ra lệnh cho người của tao đánh chết bọn mày bây giờ! - Người của ông có đông bằng số anh em công nhân đang hiện diện ở đây không? - Đồ phản chủ. - Ông cần phải điều chỉnh lại lời nói của mình kẻo chúng tôi không để yên cho ông đâu. Những công nhân cũng ào đến và la lên: - Chúng tôi làm việc cho ông bằng sức lao động để lấy tiền chứ không phải làm nô lệ, chấp nhận cả những điều xấu xa tồi tệ. Sinh hất mặt: - Bây giờ ông hãy thú nhận tội lỗi của mình đi. May ra sự thành khẩn của ông còn có thể cứu vãn được. Chẳng thể chờ được lâu, bà Thành Danh bèn lên tiếng yêu cầu: - Xin mọi người hãy giúp tôi. Theo như lời hai đứa nhỏ nói thì... căn phòng này... căn phòng này. - Lời bà Thành Danh uất nghẹn không thể nói tiếp được, nhưng tất cả đã hiểu ý. Khoảng hơn chục thanh niên trai tráng của đồn điền trà chạy đi tìm cuốc và xà beng đem tới trước sự hoảng hốt của ông Thành Danh. - Bọn mày làm cái quái gì vậy? Sinh nhấn mạnh: - Khai quật căn phòng này để tìm đứa trẻ bị mất tích! - Bọn mày quả là khùng... - Để xem bọn khùng này có được việc hay không? Rồi anh phất tay như ra hiệu: - Đào xới lên đi các bạn. Ông Thành Danh vùng vẫy: - Muốn đào gì thì đào nhưng phải bỏ tao ra... - Ông định trốn hả? Không kịp đâu, chính quyền địa phương sắp sửa có mặt để chứng kiến rồi. Nào, ông hãy ngồi lên chiếc ghế kia mà coi mọi người làm việc. Bị đẩy vào giữa một vòng vây người dày đặc, ông Thành Danh nghe lòng nao núng tận cùng. Ông tự hỏi chẳng lẽ số phận ông kết thúc ở chỗ này? Mà lại kết thúc trong tay bọn công nhân mới là nhục nhã chứ! Không... Thành Danh không thể nào bị hạ gục một cách dễ dàng như vậy. Chỉ tại hai đứa con gái khốn kiếp của ông đã không chịu câm vĩnh viễn, hay tại ả đàn bà mà ông chiếm được sau khi đã hạ thủ thằng anh trai? Thành Đạt ơi! Sao cái mạng của anh lớn quá vậy? Độ cao của ngọn đèo Prenn không làm cho anh tan da nát thịt được, để hôm nay anh có cơ hội về đây tố cáo lại tôi sao? Không... Thành Đạt... lẽ ra anh phải chết quách đi. Anh đâu có xứng đáng được hưởng mọi thứ trên đời này như tôi, nên tôi buộc phải loại trừ anh chứ không hề có ác ý. Thành Đạt... Anh hãy biết nhường nhịn tôi một chút đi. Đừng đào bới những gì đã thuộc về dĩ vãng. Tôi có thể trả cho anh người đàn bà của anh ngày cũ, nhưng... còn thằng con trai của anh thì... Dòng suy nghĩ, tính toán của ông Thành Danh bị gián đoạn bởi tiếng nói của ai đó: - Chắc không có gì đâu. Đã xới đất lên từng này... Song Thành Danh chưa kịp mừng thì nỗi lo khác lại đến khi một trong hai đứa con gái ông đưa tay chỉ: - Hãy đào chỗ ngang bộ ghế đó! Tuyền nghe mà giật thót cả người. Phải chăng nơi đây thật sự đã xảy ra án mạng, và bên dưới nền gạch kiên cố kia là một cái xác người? Nếu đúng như vậy thì bấy lâu nay chị em cô đã sống chung cùng người chết. Ôi, khủng khiếp! Hèn chi đã bao đêm cô phải nghe những tiếng mở cửa chẳng bình thường. Và trông thấy những hiện tượng tưởng thật mà như giả tưởng, có mà lại không. - Đây rồi...! Không hiểu người nào reo lên mà bao nhiêu cặp mắt hiếu kỳ cùng đổ xô vào một chỗ. Những nhát cuốc bập xuống rồi nẩy lên hất văng mấy khúc xương chân nằm trơ trên mặt đất. Ồ... à... tiếng xuýt xoa trỗi lên cùng lời bàn luận lẫn giả thuyết tạo âm thanh ồn ào như cái chợ. Sinh và Tuyền phải ra sức giữ trật tự cho đến lúc bộ hài cốt bên dưới được nhặt nhạnh đưa lên đầy đủ. Mặt ông Thành Danh lúc này xám ngắt như màu chì, cúi gằm mặt xuống không dám ngẩng nhìn ai. Bà Thành Danh vừa trông thấy bộ xương của con trai liền ngất xỉu trong tay chị em Tuyền. Riêng ông Thành Đạt thì có lẽ sức chịu đựng mạnh mẽ hơn, ông đứng chết lặng một hồi lâu, nghe nỗi đau lan tràn khắp thân thể. Vậy là giọt máu duy nhất của ông cũng không còn lưu lại trên dương thế. Nó đã bị người chú ruột giết chết rồi vùi xác dưới lòng đất lạnh từ lâu. Thế mà bấy lâu ông vẫn hy vọng có ngày cha con gặp lại nhau. Để ông có cơ hội cưới con dâu và được nghe đứa cháu nội đầu tiên bập bẹ gọi hai tiếng "ông ơi". Nhưng bây giờ thì niềm hy vọng đã vụt tan rồi. Ôi, tại sao ông trời lại bất công như vậy chứ? Ông chỉ có mỗi một đứa con thôi, song ông không thể bảo vệ cho nó được, để nó bị người ta giết, để nó biến thành bộ hài cốt thế này! Sau những giây phút đau khổ tột cùng là tiếng khóc vỡ ra. Ông Thành Đạt nức nở như con nít làm ai nấy đang chứng kiến đều động lòng quay đi. Rồi tiếp theo sự yếu đuối là nỗi căm thù ngùn ngụt bốc lên. Ông đã sấn tới bên người em, dùng đôi cánh tay tật nguyền thụi mạnh vào ngực, vào mặt, khiến ông Thành Danh phải liên tục chống đỡ. Ông Thành Đạt gầm lên tựa con thú bị thương: - Thành Danh ơi...! Tao không ngờ mày quá táng tận lương tâm. Ngay một đứa trẻ con mà mày cũng dám giết để trừ hậu hoạn. Vậy thì tao sẽ không nương tay với mày nữa! Mày sẽ phải trả giá mọi hành động của mày đã gây cho tao và con tao. Rồi những lời xầm xì, cười chê của mọi người tiếp theo: - Là anh em ruột sao có thể hại nhau đến dường này? - Đúng là quỷ vương đầu thai lên trần gian rồi... - Người như thế ai mà dám gần gũi hay cộng tác làm ăn nữa. Chỉ bắn bỏ... *** Dẫu đau thương dồn nén thế nào thì sự thật vẫn phải đối đầu. Ông Thành Đạt lo cải táng hài cốt con trai xong, bèn tỏ ý định từ giã: - Tố Lan à, có lẽ thu xếp xong mọi chuyện tôi sẽ đi xa... Bà Thành Danh gầy hẳn đi, đôi mắt trũng sâu buồn bã: - Anh không thương hại đời em một chút nào sao? Ông Thành Đạt nghe tim mình đau nhói. Ông không biết phải diễn tả tình cảm như thế nào trước ngườl xưa. Tại sao lại dùng chữ "thương hại" ở đây? Chuyện xảy ra nào do lỗi của ông hoặc Tố Lan, vậy mà khi gặp lại người nào cũng như đánh mất chính mình: - Thành Đạt... Anh nên ở lại đây vì mọi thứ là của anh. - Tiền bạc, của cải thì có nghĩa gì đâu. Sự trở về của tôi chỉ là vì đứa con, nhưng rất tiếc... nó đã không còn... Khóe mắt bà Thành Danh ngân ngấn nước: - Mất núm ruột của mình em cũng đau xót lắm. Em biết mình có lỗi vì đã... Ông Thành Đạt ngắt lời bà: - Trời không cho ta hưởng hạnh phúc thì đành vậy Tố Lan à. Dẫu trách em mọi việc cũng không thể thay đổi được. Chi bằng ta phải chấp nhận nó... - Nhưng em không muốn anh lại tiếp tục ra đi. Hãy ở lại đi Thành Đạt... Em van anh! Tiếp theo lời thỉnh cầu là những dòng lệ tuôn tràn, bà Thành Danh gục đầu trên vai người chồng cũ thổn thức khiến trái tim đầy thương tích của ông thêm một phen nhức buốt. Ông như bị mềm lòng: - Đừng khóc nữa Tố Lan ơi. Dù sao thì thời gian chung sống giữa em và Thành Danh cũng lâu dài hơn. Tuy nó là một kẻ dã tâm, nhưng em cũng không nên bỏ rơi nó vào lúc này. Hiện giờ ở trong tù rất có thể nó biết ăn năn và đang mong chờ em... Nghe vậy, bà Thành Danh cười chua xót: - Anh có quá nhiều lòng nhân ái. Thành Danh không phải là kẻ dễ bị khuất phục đâu. Sống với hắn bấy lâu, em đã hiểu rõ về hắn hơn cả anh. Nếu bây giờ thoát ra được khỏi tù thì rất có thể Thành Danh sẽ làm hại nhiều người phải lao đao, khốn khổ đó. Thành Đạt... Anh đừng quan tâm tới hắn nữa. Cứ mặc kệ hắn với pháp luật xét xử. - Em sẽ không đau lòng nếu như Thành Danh lãnh mức án cao nhất chứ? Người phụ nữ nuốt nước bọt một cách khó khăn: - Anh thử em làm chi. Sự lừa dối không thể giữ được bất cứ điều gì dù có là tình cảm. Gần hai chục năm sống với Thành Danh, chưa bao giờ em cảm thấy mình yêu và được yêu. Giọng ông Thành Đạt chùng hẳn xuống: - Tội nghiệp cho em quá! - Sự thương hại của anh chỉ làm em tủi thân thêm mà thôi. - Tố Lan... Anh rất muốn làm điều gì đó cho em... Người phụ nữ ôm chặt lấy chồng: - Vậy thì anh hãy làm đi, đừng nói suông Thành Đạt ạ. - Chúng ta sẽ trở lại những ngày tháng ban đầu, em có đồng ý không? Còn hai cháu Diễm và Kiều, anh có bổn phận phải chăm sóc. Hơn nữa, anh là bác ruột của chúng khi cha chúng đang trả giá trong tù. Dù sao thì anh cũng rất cần tình yêu thương từ mọi phía. - Thành Đạt... Anh quả là người đàn ông cao thượng. Thành Danh dẫu có chết đi nhiều lần cũng không trả hết nợ cho anh. Chuyện giữa hai người tới đây thì Kiều, Diễm từ bên ngoài vào. Chúng có vẻ hối hả: - Má...! Chị Tuyền đang định dọn đi kìa. Có cả anh Sinh nữa. Nghe thấy vậy, ông Thành Đạt vội kéo vợ: - Mau lên... suýt nữa thì ta quên hai đứa này. Thế là bốn người cùng rảo bước về hướng ngôi nhà cũ, nơi đã chứa đựng và xảy ra quá nhiều điều. Còn cách khoảng vài chục mét, họ trông thấy chị em Tuyền và bà vú đang xách va ly đi ra ngoài, phía sau có cả Sinh. Ông Thành Đạt là người lên tiếng trước: - Ai cho phép mấy đứa dám tự tiện rời chỗ ở của mình vậy? Nhỏ Tú giành đáp lại: - Một ngôi nhà đã từng xảy ra án mạng và chôn lấp xác chết thì tụi cháu làm sao dám ở nữa chứ? Ông Thành Đạt bước tới: - Nhưng nó có làm hại gì các cháu đâu. Vẫn ấm cúng đấy chứ. Sinh càng trêu: - Có gì đáng sợ đâu. Theo anh được biết thì cậu Thành Đạt kia rất đẹp trai... - Xí... đẹp trai mấy cũng là ma, đâu có sánh vai cùng em dạo phố được. Mà cái anh chàng này nghịch ngợm vô kể đấy. Đêm nào cũng mở cửa ken két trêu ghẹo người ta sợ đến sút mấy ký lô. Lời nhỏ Tú không nghĩ không suy khiến Tuyền e nó sẽ làm phật lòng những người lớn. Cô vội mắng: - Tú... nói năng đàng hoàng chứ! Song ông Thành Đạt đã bảo cô: - Cứ mặc kệ em nó. Chúng đang ở tuổi hồn nhiên mà. Rồi ông đẩy lưng hai chị em Kiều, Diễm: - Các con hãy hòa đồng với bạn đi. Tỏ ra vâng lời ông, Kiều và Diễm tới giữ chân nhỏ Tú bằng cách rủ: - Mình đi hái hoa kết lại đeo cho cô dâu, chú rể nhé. Tú ngơ ngác: - Nhưng ở đây ai đóng vai trò quan trọng ấy? Kiều chỉ vào hai người lớn nhất, vui vẻ nói: - Đây một cặp. Diễm cũng không chịu chậm trễ kéo tay Tuyền đặt vào tay Sinh: - Đây một căp. Niềm vui vụt nhân đôi trong ánh mắt mọi người. Tú nhoẻn cười dí dỏm: - Thế có nghĩa là ở đây sắp sửa có đám cưới. Ông Thành Đạt liền nói: - Ta sẽ đứng chủ hôn cho anh Sinh hỏi cưới chị cháu, cháu có bằng lòng không? Nhỏ Tú chớp mắt: - Cháu làm sao dám bảo không ạ. Nhỏ Tú chợt quay qua Sinh: - Anh Sinh... anh thật sự muốn lấy chị Hai của em sao? Nè, suy nghĩ cho kỹ nghen. Sinh với tay ngắt đại một chùm hoa dại mọc ở trước sân trịnh trọng trao cho cô trước những tiếng vỗ tay tán thưởng của mọi người: - Anh xin lỗi... đã làm em sắp khóc. Anh thật sự yêu và muốn cưới em làm vợ. Tuyền bật cười để lộ hai hàm răng trắng đều: - Khóc hồi nào. Anh quả là vô duyên tệ! Chị em Diễm, Kiều nãy giờ phải lúi húi ở chỗ lùm hoa dại bỗng tiến lại gần Tuyền và Sinh. Trên tay hai cô bé là một vòng hoa đủ màu sắc, chúng kéo hai anh chị xuống rồi choàng vào cổ: - Xin chúc mừng... cô dâu, chú rể. Tuyền hốt hoảng khiếu nại: - Chưa được. Các em phải chúc mừng mẹ của các em và bác Thành Đạt kìa. Nhưng hai người lớn đã nhìn nhau bẽn lẽn: - Chúng tôi già rồi, không cần thiết phải rườm rà vậy đâu. Ông Thành Đạt buông một câu đầy ý nhị: - Nếu không có những điều tồi tệ, thì ta biết lấy gì so sánh những điều tuyệt diệu đang diễn ra ở đây. Kể từ nay tất cả các con đều là con của ta. Ta sẽ cho tu sửa ngôi nhà cũ này để nó không còn bị hoang phế, không còn gây ấn tượng sợ hãi đối với một ai. Sinh tự nguyện: - Con sẽ đến ở đây với Tuyền sau khi chúng con làm lễ thành hôn. Diễm và Kiều cùng giơ tay: - Hai đứa con cũng đến. Ông Thành Đạt gật gù: - Tốt rồi... Linh hồn thằng nhỏ bây giờ chắc đã vui, bởi nó đã được siêu thoát từ nay không làm phiền ai nữa. Quả là thế! Từ đó về sau tiếng mở cửa giữa đêm không còn diễn ra nữa. Mọi người sống ở đó thật vui vẻ, nhất là sau khi Tuyền cho ra đời một thằng nhóc bụ bẫm vào buổi sáng mùa đông. Hạnh phúc bao trùm lên cuộc sống của tất cả mọi người sau những biến cố bi thương. Hoa pensée nở rộ khắp sân vườn như lời chúc tốt lành cho các tâm hồn nhân ái, dù luôn bị vây quanh bởi những đám sương mù... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 37
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXVII:Oan Hồn Người Vợ Trẻ -Phần I Về đây đã hai ngày rồi mà Thiện vẫn chưa bước ra tới đầu ngõ. Suốt ngày anh chỉ quanh quẩn trong khuôn viên ngôi nhà mà người bạn đã có nhã ý cho mượn để Thiện ở trong hai tháng hầu hoàn thành luận án tiến sĩ mà anh sẽ trình trong tháng sau, có nghĩa là sau lễ cưới chưa đầy hai tuần. - Cậu gì ơi! Thiện quay lại đã thấy một ông lão đang vẫy tay về phía mình. Ngạc nhiên, nhưng Thiện vẫn bước ra cổng lễ phép hỏi: - Dạ, bác kêu cháu? - Phải. Thấy cậu là người lạ, hình như mới tới nơi này sao chưa đi chơi quanh đây, cảnh ở đây đẹp lắm. Thiện hơi bất ngờ về sự quan tâm của ông lão, tuy nhiên anh vẫn thấy thích thú bởi sự quan tâm này: - Dạ thưa bác, mấy bữa này cháu còn hơi mệt nên chưa ra ngoài. Có lẽ lát nữa cháu sẽ đi. Cháu cũng nghe nói nơi này cảnh quang đẹp lắm. - Nếu cậu có hứng thú thì đi theo lão, lão có biết một nơi lạ lắm, chắc là cậu sẽ thích! Tự dưng Thiện đâm ra tò mò và anh cũng bất ngờ với chính mình khi nhận lời: - Dạ, cháu sẽ đi với bác. Anh định trở vào lấy theo chiếc máy ảnh, nhưng như biết ý ông lão nói: - Cậu không nên chụp hình nơi nào mình thấy nó không thích hợp để chụp hình. Tuy thắc mắc, nhưng thấy chưa tiện hỏi nên Thiện im lặng đi theo. Chừng hơn mười lăm phút sau, Thiện đã phải ồ lên: - Đẹp quá! Ông lão cười hiền hòa: - Chỉ mới một phần thôi, cái thác này càng bước sâu vào bên trong càng đẹp. Cậu thích ở đây hay còn muốn tới chỗ kia, nơi có một hang động rất ngộ nghĩnh? Vừa nghe, Thiện đã thích thú ngay: - Gần không bác? - Cách chỉ chưa đầy hai trăm mét. Nếu muốn cậu có thể theo tôi. - Dạ, bác cho cháu đi với! Thiện chạy theo được một đoạn thì lại phải reo lên: - Đẹp quá! Cái thác nước này quá đẹp nhưng chỉ tiếc là con người chưa biết khai thác nó. - Ở Đà Lạt này người ta chưa biết tới nó, chỉ quanh quẩn nào Datanla, Cam Ly, Prenn, Gougah, Pongour. Nó bị bỏ quên cậu ơi! Đây là thác Dambri, nó đẹp nhất trong các thác ở vùng này vậy mà cho tới năm Tân Hợi này vẫn chưa ai nghĩ tới huyện khai thác nó. Đó, cậu thử nhìn xem. Thiện mải mê nhìn ngắm, khi quay lại thì chẳng còn thấy ông lão đâu. Anh kêu lên: - Bác ơi! Không nghe tiếng đáp, Thiện đành phải một mình bước tới. Nghĩ là ông lão ở trong động đá trước mặt, nên Thiện lại gọi: - Bác ơi! Lần này không có tiếng đáp của ông cụ, mà chỉ có tiếng dội lại từ tiếng gọi của anh. Thiện bước vào hang động với đầu óc trống rỗng, cho đến khi anh giật mình bởi trước mắt là một tảng đá rất to, chứ chẳng còn lối đi nữa. Thì ra đây chỉ là một hang động rất nông, không thể gọi là một hang động như nhiều hang động sâu hun hút khác. Hơi thất vọng bởi lời giới thiệu về hang động của ông lão, anh vừa định quay ra thì chợt thoáng thấy có những dòng chữ trên vách đá chắn ngang. Những dòng chữ này lúc mới vào chưa quen nhìn trong bóng tối thì không thể nhìn thấy, còn bây giờ Thiện có thể đọc được từng chữ một... "Một thuở yêu người, ngàn năm không hết nhớ... Nửa tuần trăng mật, suốt kiếp khó phôi pha...". Bài thơ còn khá dài, nhưng trong bóng tối không thể đọc hết được một lúc, nên Thiện phải mò mẫm khá lâu... Cuối cùng anh phải ngừng lại vì ở đoạn sau do màu đá sậm nên rất khó đọc. Tuy nhiên với hai câu trên Thiện cảm giác thích thú, anh cứ lẩm nhẩm đọc lại nhiều lần, đến thuộc lòng. Một thuở yêu người, ngàn năm không hết nhớ... Nửa tuần trăng mật, suốt kiếp khó phôi pha... Mải mê đọc thơ mà Thiện quên cả thời gian. Khi anh bước ra ngoài thấy mặt trời đã lên khỏi đỉnh đầu. Nhìn đồng đồ tay, Thiện giật mình: - Đã hơn ba giờ rồi! Thiện tìm ông lão một lần nữa nhưng cũng chẳng thấy đâu. Khi anh về nhà thì chị giúp việc đã đưa một cái túi bằng thổ cẩm và nói rất rõ ràng: - Của một cô gái lạ gửi cho cậu. Cô ấy nhắn rằng, cậu đừng mất công tìm hiểu xem cô ấy là ai, bởi rồi đây cô ấy sẽ trở lại gặp cậu. Đã nghe chị ấy nói như vậy thì Thiện còn hỏi gì nữa. Anh cầm cái túi định xem bên trong chứa vật gì, nhưng chị giúp việc đã nói: - Cô ấy dặn cậu chỉ được mở ra khi ở phòng riêng. Thiện về phòng mở chiếc túi ra ngay và thật bất ngờ khi thấy có một bộ quần áo nữ bằng lụa rất đẹp trong đó. Lại là bộ đồ ngủ! Hầu như suốt từ đó đến tối Thiện không tài nào nghĩ ra người gửi giỏ đồ cho mình là ai. Có hỏi lại chị người làm Tư Thủy thì cũng chẳng hiểu thêm được thêm chút gì, nên Thiện chỉ biết mang thắc mắc đó cho đến lúc đi ngủ. Mà nào có dễ ngủ đâu, phải đến hơn mười hai giờ thì Thiện mới chợp mắt được... *** - Người gì mà ngủ như chết, khách vào nhà cũng không hay! Lúc đầu tuy có nghe giọng nói đó, nhưng Thiện cứ tưởng mình nằm mơ, nên anh vẫn nằm im. Sau nửa phút thì giọng ấy lại cất lên: - Giữ đồ của người ta mà không trả thì làm sao đây? Lạnh lắm! Thiện cảm giác như có ai đó chạm vào chân mình, rất nhột, nên phải bật dậy. Và một lần nữa giọng nói lại cất lên, lần này ngay sát tai anh: - Trả bộ đồ cho em! Thiện lạnh cả người, anh còn đang lúng túng thì bàn tay của một phụ nữ đã chạm vào tay mình, cùng với lời thúc giục: - Mau trả lại bộ đồ cho em, em lạnh lắm! - Cô... cô là... Câu nói của Thiện chưa dứt thì vô tình trong lúc sờ soạng anh đã chạm vào một tấm thân với quần áo đẫm nước, lạnh như băng! - Cô... Thiện chỉ nói được tới đó, rồi người như bất động, chỉ cử động được khi đã có sự tiếp sức của người con gái lúc ấy gần như đã ghì chặt lấy anh, đầu nàng ta gục vào cổ anh như đang hút máu! Trong khi Thiện như bị điện giật, máu trong người như tuôn chảy ra không kiểm soát được thì giọng nàng thân thiết hơn: - Lát nữa em lấy lại bộ đồ đó nghe! Thiện cố nói cho rõ ràng, bởi lúc ấy anh hầu như không còn kiểm soát được mình: - Cô là người gửi tôi cái giỏ? - Chứ còn ai dám vào đây khi anh nợ em bộ đồ! - Nhưng... cô gửi, chứ nào tôi có ý lấy đâu? - Nhưng tại sao em lại gửi cho anh chứ không phải là ai khác? - Cái đó... Thiện ấp úng đến tội nghiệp, trong lúc cô nàng chủ động đẩy anh nằm xuống và nói một cách cương quyết: - Lát nữa chính anh phải mặc đồ lại cho em, nếu không thì em lại... tồng ngồng như lúc đến mà ra về đó. Thiện giật mình: - Cô tới đây mà không... mặc gì hết? Cô gái cười khúc khích: - Mặc, nhưng ướt hết rồi! - Nhưng... nhưng lỡ có ai thấy thì sao? Nàng đáp tỉnh khô: - Có người thấy rồi! Thiện hốt hoảng: - Trời ơi, người ta thấy thì... Nàng lại cười ngặt nghẽo: - Người duy nhất nếu có thấy thì là anh! Như bây giờ... Thiện thở phào: - Vậy mà cứ tưởng... Thiện không nói thêm được lời nào nữa và hầu như hoàn toàn bất động. Cô gái lại nói thì thầm bên tai anh: - Anh còn nợ em điều này nữa. Bài thơ mà anh thuộc lòng là của em. Thiện reo lên: - Em đã viết lên vách đá, thảo nào nét chữ bay bướm quá nhỉ! - Thuộc thơ của người ta vậy mà chẳng nghe đọc lại gì hết! Hay là đã quên ngay rồi? Thiện buột miệng đọc ngay hai câu thơ thuộc từ vách đá. Xong, anh đột ngột hỏi: - Cô là gái đã có chồng? Cô nàng chợt thở dài rồi im lặng, chứ không luôn miệng liến thoắng như lúc đầu. Thiện nghĩ có lẽ mình đã chạm vào tự ái cô ta nên lên tiếng: - Tôi xin lỗi... Anh muốn bật dậy nhưng lúc ấy tuy cô nàng không đè cắn cổ anh nữa, nhưng Thiện cũng không làm sao nhúc nhích được. Anh đành lặp lại câu nói: - Tôi xin lỗi... - Chỉ xin lỗi suông vậy thôi sao? Nợ người đến hai lần, mà bây giờ... - Thế cô muốn tôi phải làm sao nữa? - Anh phải cưới em! Câu nói đó khiến cho Thiện hốt hoảng: - Cô nói sao? - Anh phải cưới em để trả hết nợ! Nàng vừa nói xong thì nhảy xuống giường liền. Lúc này Thiện mới cử động được, anh nhảy theo. Nhưng thoắt một gái, nàng đã rất nhanh bước ra khỏi phòng. Lúc này Thiện mới hoàn hồn bước theo. Chẳng thấy bóng dáng nàng ta đâu... Chợt nhớ đến bộ quần áo trong giỏ xách, Thiện lấy và chạy theo ra tới vườn ngoài. Anh gọi lớn: - Cô... cô gì ơi! *** Sáng hôm sau khi tỉnh dậy, Thiện nhìn thấy chiếc giỏ xách vẫn còn đó, nhưng khi xem lại thì bên trong không có bộ quần áo mà thay vào đó là một đôi dép nữ. Như vậy có nghĩa là lúc anh ngủ cô gái đã trở lại.- Cô gì ơi! Thiện gọi lần nữa nhưng cũng như lần trước, anh lại thất vọng. Đặt chân xuống giường, tính bước ra ngoài và Thiện phát hiện là toàn thân mình đau nhức như vừa trải qua cơn bạo bệnh. Phải đến hơn sáu giờ thì cơn choáng váng trong anh mới đỡ dần, Thiện lại gấp gáp trở ra thác nước. Dưới chân tảng đá bài thơ, có bộ quần áo vứt bừa ra đó, bên cạnh có một chiếc lá to nằm đè lên. Thiện định vứt chiếc lá đi để cầm bộ đồ lên xem thì chợt nhìn thấy trên lá có dòng chữ viết vội: "Giặt sạch rồi mắc trong phòng, em sẽ tới lấy! Cám ơn trước - Yến Vỹ". Thiện giật mình: - Cô nàng tên là Yến Vỹ? Nhìn kỹ lại bài thơ trên vách đá, bên dưới có hai chữ viết tắt YV. - Thơ của cô ấy! Thiện còn đang tần ngần thì chợt nghe có tiếng nói phía sau lưng: - Sao bây giờ cậu mới ra? Quay lại thì thấy ông lão hôm qua đang đứng nhìn mình chăm chú, Thiện reo lên: - Kìa bác, cháu đang muốn tìm... Ông lão vẫn nụ cười hiền hòa: - Bác biết. Nhưng phải để cho cậu gặp cô ấy đã... - Cô Yến Vỹ? Ông lão nhẹ gật đầu: - Phải. - Bác biết cô ấy? - Chẳng những biết mà còn thân nữa. - Bác và cô ấy có quan hệ thế nào? Tại sao... Giọng ông lão buồn buồn: - Ta chính là... ông ngoại của nó. Tội nghiệp con nhỏ, chỉ một ngần ấy tuổi đầu mà đã vướng bao nhiêu khổ đau cho đến lúc chết vẫn không yên thân! Câu nói của ông ta khiến Thiện giật mình: - Bác nói sao? Cô... cô ấy đã chết? Cô Yến Vỹ... Giọng ông gần như khóc: - Nó đã là người cõi âm rồi! Thiện nhớ lại cuộc gặp gỡ đêm qua mà bắt rùng mình. Giọng anh run run: - Vậy sao cháu và cô ấy mới gặp đêm qua? Cô ấy... Ông lão chợt nói: - Tốt hơn hết là cậu hãy chấm dứt quan hệ với nó... - Nhưng thưa bác, cháu muốn gặp một lần nữa để... Xua tay nhanh, ông lão nghiêm giọng: - Không nên! Một lần là quá đủ. Cậu đã giúp cháu nó như vậy là coi như cậu đã hy sinh rồi. Tôi không muốn lại có thêm một mạng người nữa... Thiện hốt hoảng: - Bác nói mạng người nào? Ông lão bỗng ôm mặt như đang ân hận điều gì, giọng ông trở nên khó nghe: - Tôi chẳng qua là... chiều lòng nó... nó bảo phải tìm cho ra người nhà họ Đoàn... mà cậu là người đầu tiên và chắc cũng là người duy nhất... Thiện quá đỗi ngạc nhiên: - Người họ Đoàn? Nhưng cháu đâu phải người họ ấy. Cháu họ Dương mà. Cháu là bạn của nhà ấy. Ông lão vụt ngẩng lên, sắc mặt biến đổi: - Cậu nói... cậu không phải họ Đoàn? - Dạ, hoàn toàn không. Cháu chỉ tới ở trọ trong nhà ấy một thời gian thôi. Nhưng có chuyện gì vậy bác? Ông lão kêu lên hai tiếng trời ơi, rồi lại ôm lấy đầu: - Tôi đã sai rồi! Tôi hại cậu rồi! Thiện ngơ ngác: - Chuyện gì vậy bác? Bác có làm gì cháu đâu? Ông già bất thần chụp tay Thiện, hỏi lớn: - Cháu và nó đã có... làm gì với nhau chưa? Thiện không định nói, nhưng sau khi nghe ông lặp lại lần thứ hai với vẻ mặt hốt hoảng, anh đành phải gật đầu: - Dạ có... Ông lão buông tay ra, thảng thốt: - Trời ơi! Ông như muốn bỏ chạy đi, cũng may là Thiện chụp lại kịp: - Bác nói rõ hơn cho cháu nghe. Hại là hại thế nào? Ông lão suy sụp hoàn toàn. Người ông co rúm lại, giọng trở nên thều thào: - Chỉ vì quá thương cháu, thấy nó chịu cảnh thảm thương đó nên ta mới đành lòng... chứ ta đâu có muốn thêm một mạng người nữa bị chết oan... Một mình nó là đủ rồi... - Bác nói gì cháu không hiểu? Bất chợt lão đưa tay chỉ vào Thiện và nói: - Cậu chính là... người tiếp theo! Thiện ngơ ngác: - Cháu! Nhưng tiếp theo để làm gì? - Để chết! Câu trả lời rất rõ ràng, nhưng Thiện cứ nghĩ mình nghe lầm: - Bác nói... Không để cho Thiện nói thêm, ông lão nói một hơi: - Con Yến Vỹ bị người ta hại phải chết oan, hồn phách nó lang thang không nơi nương tựa nên ta phải luôn theo nó, nuôi nó hết chốn này đến chốn khác, cũng chỉ muốn có cái ăn, cái mặc để không phải làm con ma đói. Nhưng chính ta cũng không ngờ là sự lang thang của vong hồn nó là có ý đồ... Nó muốn tầm thù. Nó muốn trả thù nhà họ Đoàn! - Vậy cô ấy đã làm được chưa? Lại chỉ vào Thiện một lần nữa: - Gặp rồi, là cậu đó! Thiện trợn tròn mắt: - Sao lại là cháu? Ông già thở dài: - Có thể do lầm lẫn thôi. Con Yến Vỹ bảo ta đi tìm người nhà họ Đoàn, một nam nhân, khi thấy cậu xuất hiện trong ngôi nhà đó sau hơn hai chục năm không có ai ở, ta cứ tưởng đó chính là người mà cháu ta đang cần tìm, nên ta đã gặp cậu thuyết phục cậu tới nơi này để cho Yến Vỹ tiếp xúc và... Chợt hiểu ra, Thiện chép miệng: - Cháu bị hiểu lầm. Nhưng cháu nghĩ, rồi cô ấy sẽ nhớ ra, cô ấy đâu nỡ hại cháu! Ông lão lại thở dài: - Chậm mất rồi. Sau khi cậu và nó có quan hệ thân xác với nhau thì đã chậm quá rồi! Thiện giật mình: - Cháu đâu có ngờ... vả lại đó là cô ấy chủ động... Ông lão gật đầu: - Tất nhiên là do nó muốn rồi. Mà cậu có muốn biết tại sao nó lại làm vậy không? Ông ngừng một lúc rồi nói tiếp: - Vong hồn nó về báo cho ta biết rằng nó muốn được sớm đi đầu thai kiếp khác mà không được. Bởi ở cõi âm chỉ cho phép những người chết bình thường, chết do tuổi già hay đau bệnh được sớm tiêu diêu. Còn những người như nó thì phải kiếm người thế mạng mới được ra đi. Nó chọn nhà họ Đoàn, bởi nhà đó có mối hận thiên thu với nó. Chính họ đã cưỡng bức nó rồi giết chết, thả trôi theo dòng thác này. Chính nó... Ông lão hình như không còn sức để nói nữa... Rồi bất thần ông đứng lên, bước đi khập khiễng nhưng vẫn cố bước. Thiện lo sợ: - Vậy cháu phải làm sao đây bác? Ông nói vọng lại: - Để ta cố. Cậu gặp ta ở lầu... lầu... Chỉ nói được tới đó rồi ông ta gần như kiệt sức, ngã nằm dài trên đá. Thiện hốt hoảng chạy tới đỡ ông dậy: - Kìa bác, bác có sao không? Ông lão không động đậy nữa. Mắt ông ta nhắm nghiền chẳng khác người đã chết, Thiện hoảng quá, anh không kịp suy nghĩ thêm, đã bế xốc ông lên chạy bay về xóm dân cư gần đó. Đang chạy bỗng có người nhận ra, đã kêu lên: - Ông lão lang thang đây mà! Thiện dừng lại hỏi: - Chị biết ông lão này? Người phụ nữ kia đáp: - Biết chứ. Ông ấy là ông già cô đơn, không thân nhân, không biết nhà cửa ở đâu, nhưng về xóm này và cư ngụ trong ngôi nhà hoang gần nghĩa địa đằng kia. Ông lão bị sao vậy? - Ông bị ngất ở ngoài thác nước, tôi tình cờ... Chị nọ nói: - Cậu đã làm ơn thì làm ơn cho trót, đưa giùm ông ấy về nhà đi. Ngôi nhà hoang đó người ta hay gọi là lầu ma, gần nghĩa địa! Nói xong chị ta đi ngay. Thiện đành phải bế ông lão đi tiếp. Cũng may ngôi nhà gọi là lầu ma đó không xa, nên trước khi kiệt sức thì Thiện cũng đã đưa được ông lão vào nhà, sau khi một cậu bé đánh xe bò đi ngang qua đã xác định ông lão ngụ ở đây. Vừa ngẩng lên sau khi đặt ông lão xuống chiếc chõng tre, Thiện đã giật mình kêu lên: - Cô nàng? Anh thấy ở góc nhà có một chiếc bàn thờ, trên đó có một khung ảnh bán thân của một cô gái mà vừa chợt nhìn thấy Thiện đã kêu lên: - Yến Vỹ! Tiếng kêu của Thiện rất khẽ, gần như là kêu chỉ mình anh nghe, nhưng chẳng hiểu sao lại làm cho khung ảnh rơi xuống đất và vỡ toang! Hốt hoảng, Thiện vội cúi xuống nhặt nó lên. Trong lúc nhặt vội, một ngón tay của anh đã bị cứa đứt khá sâu. Thiện cố nén đau để cầm được bức ảnh lên. Lúc này một bên khung kính đã bị bể, lộ ra một góc ảnh đã bị một vết máu rơi làm nhòe đi. Bằng phản ứng tự nhiên, Thiện lại chạm tay vào đó như để chặn vết máu loang nhiều hơn lên ảnh. Nhưng hành động của Thiện lại khiến cho vết máu loang ra rộng hơn, phút chốc nó loang tới trán và mắt. Chẳng hiểu sao, tự dưng vết máu đó chảy xuôi theo hai khóe mắt của tấm ảnh và... tạo thành hai giọt nước mắt màu đỏ như máu! - Trời ơi! Thiện không phải ngạc nhiên mà là sợ! Anh gọi khẽ: - Cô Yến Vỹ, tôi xin lỗi... Anh định nói nữa, nhưng lúc ấy chẳng hiểu quá xúc động hay tay run vì mất máu, Thiện lại để khung ảnh rớt xuống lần nữa. Nhưng lần này nó không vỡ, trái lại khi vừa chạm đất thì tự nhiên nó bay trở lên và... đứng đúng vị trí ban đầu. Thiện chắp hai tay lại, khấn rất thành tâm: - Tôi xin lỗi đã xúc phạm tới cô. Lòng tôi không muốn... Lời nói đó của Thiện chưa dứt đã nhận ngay một cái tát vào mặt, mà chẳng thấy người tát là ai? Muốn kêu lên, nhưng lúc ấy chợt Thiện nhìn vào đôi mắt của cô gái, sau màu máu hình như hai tròng mắt đang lay động. Anh im lặng, bước lùi như muốn kiếm đường tháo lui! Bỗng phía sau lưng Thiện có người lên tiếng: - Cứu người là quan trọng, cớ sao lại để người ta nằm đó chứ? Quay lại không thấy ai, chỉ có ông lão nằm im như chết ở đó. Thiện không dám chần chừ, anh định bước ra ngoài để tìm mua lọ dầu, nhưng thật bất ngờ, anh nhìn thấy ai đó đã để lọ dầu gió và một ly sữa nóng ngay bên cạnh ông lão. Thiện xoa dầu, lát sau ông lão tỉnh lại. Vừa nhìn thấy anh, ông đã nhẹ giọng nói: - Cậu đã thoát nạn bước đầu. Nhưng tốt hơn hết là đi đi. Cậu nên rời khỏi chỗ này sớm chừng nào tốt chừng ấy! Tôi xin lỗi cậu... Thiện vẫn chưa hết thắc mắc: - Nhưng bác xin lỗi về chuyện gì? - Chuyện tôi nhìn lầm cậu, cứ tưởng cậu là con cái nhà họ Đoàn. Để cậu lâm vào cảnh ngộ này là điều ngoài ý muốn. Nhìn thấy vết máu trên ngón tay Thiện, ông lão hốt hoảng nói: - Ai làm cậu chảy máu vậy? - Dạ, vừa rồi cháu vô tình làm rơi khung hình trên bàn thờ, mảnh kính vỡ đâm vào cháu... Ông lão bật ngồi dậy và nhìn về bức ảnh còn thấm máu, ông kêu lên: - Cậu cần phải đi ngay đi, kẻo không kịp nữa! Thiện kinh ngạc: - Chuyện gì vậy bác? - Máu của cậu đã thấm vào hồn ma của nó thì cậu nhập vào nó rồi, nó sẽ... Ông nói tới đó thì gần như nghẹt thở, giống như bị ai đó bóp cổ. Thiện phải hỏi to: - Bác làm sao vậy? Ông lão gần như líu lưỡi: - Đi... đi liền đi! Cậu đừng... Ông vội kéo mạnh Thiện xuống, khiến cho anh mất thăng bằng ngã nhoài đè lên thân thể ông. Anh chợt nghe một giọng nói rất khẽ từ miệng ông lão: - Được rồi, tôi trả nợ cho cậu... Tôi chết để cho cậu được sống... Rồi ông ta im lặng, hai tay xuôi xuống... Thiện hốt hoảng: - Bác! Anh đưa tay sờ lên mũi ông lão thì phát hiện ông đã ngừng thở... *** Từ Bảo Lộc về, Thiện bị bệnh nằm gần hai tuần. Người anh lúc nóng lúc lạnh và hễ cứ nhắm mắt thì lại như nghe có ai đó gọi tên mình! Thiện phải uống thuốc an thần liên tục thì tình trạng đó mới chấm dứt. Nhưng có những điều mà Thiện chẳng thể nào hiểu nổi, đó là mỗi khi anh được mẹ nhắc tới ngày cưới thì anh nghe tiếng khóc nức nở ở đâu đó rất gần mà chẳng biết là ai.Bởi vậy sáng nay vừa thấy bóng mẹ bước vào phòng, Thiện đã phải lên tiếng trước: - Con biết rồi... bữa nay mình phải qua bên nhà Diệu Hương để lo cho lễ cưới. Má đừng nói gì hết, để con chuẩn bị. Thiện âm thầm chuẩn bị, thay quần áo và tự mang sính lễ rồi ra dấu cho mẹ cùng đi mà không dám nói gì. Như thế mà yên. Cho đến khi diễn ra cuộc nói chuyện giữa hai bên sui gia thì xảy ra một bất ngờ! Cô chị Diệu Hạnh chạy ra nói với mẹ: - Con Diệu Hương bỗng nhiên phát sốt rồi bứt tóc bứt tai la hét om sòm trong phòng! Bà Hai Phấn kinh hãi chạy vào ngay. Vừa nhìn thấy mẹ, Diệu Hương đã ôm chầm lấy và tiếp tục gào khóc. Bà Phấn lo sợ: - Con bị bệnh gì nói má nghe coi, đừng làm má sợ. Có má chồng con và thằng chồng... Bà nói tới đó thì Hương đã la lớn: - Đuổi anh ta về đi! Bảo anh ta đi đi! Bà Năm, mẹ của Thiện cũng có mặt ở ngoài, bà vội lên tiếng: - Có má đây con, thằng Thiện nó đang bị bệnh mà cũng ráng qua đây, nếu con bệnh nhiều thì để nó đưa đi khám thầy thuốc. Diệu Hương vùng la lớn: - Mấy người đi hết đi, tôi sợ mấy người! Bà Phấn thất thần: - Con sao vậy Hương? Bà nhìn sang Thiện cầu cứu: - Con coi nó bị sao vậy? Thiện nắm lấy tay Diệu Hương, bỗng anh kêu lên: - Tay em sao vậy? Cảm giác lạnh như băng đang chạy rần khắp thân thể Thiện, đồng thời anh bị đẩy lùi ra xa đến mấy mét! Hai bà mẹ đều kêu lên: - Sao vậy? Bà Năm kịp đỡ con mình, nhưng phải buông tay ra ngay, bởi hơi lạnh từ người Thiện truyền sang khiến bà phải kêu thét lên: - Con sao vậy Thiện? Thiện đang ngơ ngác nhìn Diệu Hương thì nàng đã lên tiếng: - Mấy người đi ra khỏi chỗ này ngay! Cả mẹ mình, Hương cũng xua đuổi: - Bà cũng đi ra luôn! Tôi bảo đi! Nhìn con với vẻ ái ngại, nhưng bà Phấn cũng đành phải kéo tay bà sui gia ra ngoài. Giọng bà run run: - Lạy trời lạy Phật, xin cho con tôi bình yên! Rồi bà gần như năn nỉ Thiện: - Con có cách nào giúp má với! Mẹ sợ quá... Thiện có một linh tính hơi lạ, anh lẩm bẩm: - Không lẽ... Rồi anh nói riêng với mẹ: - Má ở đây chờ con một lát. Anh bước vội ra ngoài trước sự ngạc nhiên của bà Phấn: - Nó đi đâu vậy chị sui? Bà Năm lắc đầu: - Tôi cũng không biết. Thiện bước thật nhanh về phía trước mặt, con đường hoàn toàn xa lạ nhưng như được ai đó đưa lối nên anh đi không chút lúng túng. Lát sau, dừng lại bên một cây to, nhìn xuống có một cái miếu nhỏ nằm dưới gốc cây, Thiện cúi xuống nhặt lên một chiếc khăn tay của ai đó, rồi nhanh tay cho vào túi quần và bước thật nhanh trở lại nhà. Bước vào nhà trước sự ngạc nhiên của hai bà mẹ: - Con đi đâu vậy? Thiện không đáp, anh đi thẳng vào phòng chỗ Diệu Hương đang nằm. Nhìn thấy cô nàng nhắm nghiền mắt như đang ngủ, Thiện nhẹ đặt chiếc khăn đó lên mặt cô, rồi bước lui ra khỏi phòng mà chẳng nói lời nào. Chừng năm phút sau, bỗng từ trong Diệu Hương bước ra, sắc diện bình thường, tươi tỉnh như chẳng có gì xảy ra. Bà Phấn kinh ngạc: - Con đây hả, Hương? Cô nàng cười tươi: - Chứ má tưởng con là ai? Chợt nhìn thấy chiếc khăn tay con đang cầm, bà Phấn càng ngạc nhiên hơn: - Phải chiếc khăn mà sáng sớm nay con quát ầm lên nói là phơi rồi bị mất đây không? Diệu Hương đáp tỉnh táo: - Anh Thiện mới vừa đem về cho con! Bà Năm hỏi con: - Con lấy nó ở đâu vậy? Thiện đáp: - Nơi người ta cố tình đem giấu. Bà Phấn ngạc nhiên: - Ai đem giấu? Thiện chưa kịp trả lời thì Diệu Hương đã nói: - Con cám ơn người đã trả lại cho con vật tưởng đã mất! Rồi cô như chẳng có chuyện gì xảy ra, quay sang mẹ: - Sao chưa lo đám cưới cho con vậy? Bà Phấn mừng khôn tả: - Con thật sự không còn... như lúc nãy phải không? Con làm má sợ quá... Diệu Hương giục: - Ngày mai là rước dâu rồi sao má còn ở đó nói lung tung gì vậy! Con có sao đâu? Bà Năm kề tai nói khẽ với bà sui: - Chắc nó bị cái gì ám lúc nãy, giờ thì chắc hết rồi. Cám ơn bề trên. Bà hỏi khẽ Thiện: - Con làm gì mà nó tỉnh lại vậy? Thiện lắc đầu: - Con đâu biết. Con chỉ đi lấy vật cô ấy mất đem về... - Sao con biết nơi chiếc khăn bị giấu? Thiện vẫn lắc đầu: - Con cũng không biết. Mà thật sự Thiện hoàn toàn không biết, bởi anh hành động như bị ai đó sai khiến. Mãi đến khi hai người đứng riêng ra ở một góc sân, Diệu Hương mới nói khẽ với anh: - Anh chậm một chút nữa thì đám cưới ngày mai coi như bỏ! Giọng nói của Hương nghe hơi lạ, nhưng ngoài Thiện ra khó ai mà hiểu được... Bà Phấn bàn tiếp với bà sui trai chuyện đám rước dâu ngày mai: - Như mình tính rồi, ngày mai khi bên chị qua thì bên này sẽ theo đưa dâu khoảng hai chục người. Nhưng cái khó cho bên tôi là hiện giờ ông cậu con Diệu Hương, người sẽ giúp đứng ra chủ hôn, đáng lý đã đến từ hôm qua, mà tới giờ này vẫn chưa thấy đến. Vậy nếu giờ chót mà cậu ấy vẫn chưa có mặt thì chắc phải nhờ người khác. Ngặt nỗi con Hương lại không chịu nhờ ai trong dòng họ ở đây cả, nó đòi phải đúng ông cậu đó thôi. Tôi đang lo... Vừa lúc ấy, từ ngoài cửa bước vào một người mà vừa trông thấy bà Phấn đã reo lên: - Cậu Tư, chờ cậu dài cổ ra, sao bây giờ mới qua? Một ông lão mà chẳng riêng bà Phấn ngạc nhiên, sự xuất hiện của ông đã làm cho Thiện trợn tròn mắt, kinh hoảng: - Kìa, sao... sao lại là bác? Đó là ông ngoại của Yến Vỹ, người đã chết khi bị Thiện ngã đè ở Dambri! Chính Thiện đích thân chôn cất cho ông trước khi về, sao bây giờ lại ở đây và... Anh không nghe ông lão nói, liền hỏi lại: - Sao bác lại... sống? Ông già ngơ ngác: - Cậu là ai? Mà sao tôi lại... không sống? Cả hai câu hỏi và đáp đó khiến cho hai bà mẹ đều ngơ ngác: - Con nói gì vậy Thiện? Con... quen với cậu Tư? Thiện không đáp câu hỏi của bà mẹ vợ, mà quay sang hỏi ông lão: - Bác thật sự không nhớ cháu? Chính con đã ở Dambri, đã chôn... Ông lão quay sang bà Phấn: - Phải thằng này là chồng con Diệu Hương không? Nó nói gì mà tôi không hiểu? Thiện nghi là ông ta không nhớ, nên cố nói: - Bác là ông ngoại của Yến Vỹ mà! Chính bác đã... Vừa nói tới đó thì Thiện nghẹn lại, như có ai chặn họng mình. Anh cố nói tiếp, nhưng càng cố thì có cảm giác ngạt thở. Trong khi đó thì giọng ông già vẫn thản nhiên: - Trai tráng bây giờ mới ngần này tuổi mà đã lẫn rồi! Tôi có gặp nó bao giờ đâu và tôi có ở Dambri gì đó đâu mà nó cứ cả quyết... Bà Năm phải nhắc con: - Chắc là con lầm với ai đó rồi. Thiện từ phút đó như người mất hồn. Ngồi nói chuyện mà thỉnh thoảng anh cứ liếc nhìn ông lão, khiến cho Diệu Hương cũng phải nói riêng với anh: - Để ý làm gì chuyện đó. Chúng ta đi ra sau vườn đi. Em hái mấy thứ trái cây gửi về cho mấy đứa cháu bên nhà. Thiện theo cô ra ngoài mà vẫn không hết thắc mắc về ông lão. Lát sau anh không dừng được, phải nói: - Anh không thể lầm dược, ông ấy chính là... Lại một lần nữa, cổ họng anh như bị nghẹn lại và đầu óc Thiện quay cuồng! Anh lại nghe có tiếng khóc văng vẳng bên tai. Phần II Sau buổi sáng rước dâu về nhà, trong lúc cả nhà đang vui vẻ tiệc tùng thì ông cậu Tư, tức ông lão mà Thiện nhìn lầm là ông ngoại của Yến Vỹ đã đột ngột biến mất! Sau bữa tiệc, bà Phấn đã đợi khá lâu rồi mới chịu về, sau khi nhắn lại với Thiện: - Có thể cậu ấy già rồi mà còn uống rượu nhiều nên đi đâu đó rồi bị lạc. Nếu cậu có về con nhờ người đưa cậu qua nhà giùm má. Thiện không thể nào hiểu nổi con người kỳ lạ này, nên anh quả quyết với vợ: - Anh chắc chắn ông cậu này có điều gì đó không bình thường! Diệu Hương vẫn dửng dưng: - Thì mặc cậu ấy. Bây giờ mình lo chuyện mình. Em muốn đi ngủ thật sớm và anh nhớ dặn má và người nhà không được đánh thức mình dậy trước chín giờ sáng hôm sau! Thiện ngơ ngác: - Ngủ tới giờ đó bộ em muốn má chửi cho sao? Con dâu mới về nhà chồng phải dậy sớm chứ! Diệu Hương vẫn tỉnh bơ: - Con dâu này khác! Nói xong, cô đi ngay vào phòng mặc cho tiệc tùng còn đang diễn ra. Bà Năm nhìn thấy, nhưng thương con nên bà cười bảo Thiện: - Nó mệt, để cho nó nghỉ ngơi. Má hiểu... Bà còn nói thêm: - Qua vụ hồi sáng hôm qua, má biết nó chưa khỏe hẳn đâu, vậy mà vẫn cố gắng, tội nghiệp con nhỏ. Thiện thì không nghĩ vậy anh lặng lẽ bước theo vợ vào phòng. Chỉ sau Diệu Hương có nửa phút, vậy mà khi Thiện vào tới nơi thì cô nàng đã nằm yên trên giường ngủ say. Thử gọi và lay nhưng Hương vẫn chẳng hề hay biết. Đêm tân hôn của Thiện sẽ trọn vẹn nếu vào nửa đêm hôm đó anh không chợt nghe có tiếng thì thầm bên tai: - Hưởng rồi bây giờ chán, không thèm nữa phải không? Giật mình, toan bật dậy thì Thiện đã bị vợ kéo lại: - Muốn trốn trách nhiệm phải không! Nghe giọng nói quen quen nhưng khác với giọng của Diệu Hương, Thiện hốt hoảng: - Cô là... - Người đã hiến thân cho anh rồi, nay anh tính phủ nhận để chiếm đoạt thêm người nữa phải không? Tới lúc này thì Thiện không còn lầm lẫn nữa, anh kêu khẽ: - Yến Vỹ! - Không phải Yến Vỹ nào cả. Là hồn ma được cô ấy nhờ về đây đòi nợ! Vay gì phải trả nấy! Thiện định vùng dậy thì nàng ta quát: - Yên nào! Thiện lo lắng: - Diệu Hương đâu? Giọng bên tai anh đanh lại: - Anh mà còn nhắc tới tên cô nàng lần nữa thì đừng có trách! Trong đêm tân hôn mà biết mình đang ngủ với một hồn ma thì còn cảm giác nào rùng rợn hơn! Bởi vậy Thiện nằm xuống mà người cứng đờ, hầu như không có một cử động nào của một người chồng... Nhưng điều đó là về phần anh, chớ cô nàng thì đâu chịu như vậy. Cô ta chủ động hết mọi việc, đưa Thiện trở về với cảm giác bị mất máu như đêm ở Dambri, đến nỗi sau cùng Thiện chỉ còn biết nằm thở dốc, thân thể rã rời... Sáng sớm hôm sau... Mãi tới hơn chín giờ thì bà Phấn mới cho người vào gọi vợ chồng Thiện dậy. Nhưng gọi mãi mà vẫn không nghe ai trả lời. Phải đích thân bà Phấn gọi lớn: - Dậy đi chứ tụi bay? Vẫn im lặng. Sau ba lần gọi nửa, bà Phấn bắt đầu lo, đẩy mạnh cửa vào và... Trong phòng không thấy Diệu Hương, chỉ có Thiện nằm nửa người trên giường, còn nửa người thòng xuống sàn, sắc mặt tái xanh! - Con! Bà Phấn kêu to rồi lao tới chạm vào Thiện. Toàn thân anh lạnh như băng và hầu như không còn chút sinh lực nào. - Con ơi! Thiện được đưa ra ngoài để cấp cứu. Trong khi những người khác thì chạy đi tìm Diệu Hương. Đến chiều hôm đó thì người ta chỉ tìm thấy một đôi guốc của Hương nằm bờ sông gần nhà. Ai cũng nghĩ là Diệu Hương đã bị chết đuối, nên ra sức tìm khắp đoạn sông gần đó. Tuy nhiên tìm cả buổi vẫn chẳng có kết quả. Thiện được cấp cứu đã tỉnh, nhưng trong trạng thái như người mất hồn... Đến giữa trưa ngày hôm sau thì bên nhà bà Phấn có người qua báo tin là người ta đã tìm thấy xác của Diệu Hương nằm chết ở gốc cây cổ thụ, cạnh miếu cổ, nơi Thiện đã tìm được chiếc khăn tay bữa trước! Đang kiệt sức, nhưng vừa nghe điều đó Thiện đã bật dậy đòi đi. Khi sang tới chỗ, Thiện đã bật khóc khi thấy xác vợ được mang về nằm ở nhà mà sắc diện vẫn còn nguyên như khi sống. Bà Phấn vừa khóc vừa kể lại: - Má đang ngủ thì nghe có tiếng gọi và khóc ở ngoài, má ra mở cửa thì chỉ thấy một cái bóng vụt chạy nhanh. Nhìn cái bóng đó tự dưng má nghĩ tới con Diệu Hương! Má chạy theo và cuối cùng tới chỗ miếu cô hồn, và... đã thấy xác nó nằm ở đó. Bà khóc hết nước mắt, trong lúc Thiện thẫn thờ, anh lẩm bẩm: - Người ta đã hại em rồi. Bà Phấn nghe loáng thoáng không rõ nên hỏi lại: - Ai hại ai? Thiện không đáp, anh lặng im bước ra ngoài rồi âm thầm đi về hướng miếu cô hồn. Có điều gì uẩn khúc khiến cho Thiện nghĩ anh có thể tìm ra ở đây... Đang lúc còn đang nhìn ngắm, chợt Thiện giật mình khi phát hiện trên vách phía trong tòa miếu cô hồn có hai dòng chữ viết bằng thứ máu đỏ mà lâu ngày đã trở thành màu nâu sẫm. Vừa thấy dòng chữ Thiện đã tái mặt, bởi nó giống y như hai câu thơ trên vách đá ở thác Dambri: "Một thuở yêu người, ngàn năm không hết nhớ, Nửa tuần trăng mật, suốt kiếp khó phôi pha..." - Yến Vỹ! Thiện chết điếng. Như vậy là anh đã không thoát được nàng ấy. Vậy mà khi đè chết ông lão hôm đó, chính ông lão cho biết là anh đã thoát được sự báo oán, bởi chính ông đã hy sinh để cứu mạng cho anh, sao bây giờ vẫn còn cuộc tầm thù này? - Tại sao giữa chốn quê này và Dambri xa xôi lại có sự trùng hợp ngẫu nhiên này? Không lẽ nơi này là quê hương của Yến Vỹ mà ngôi miếu này là để thờ nàng? Đầu óc Thiện càng lúc càng thêm hoang mang. Anh đứng tần ngần đọc đi đọc lại hai câu thơ mà không để ý có người đang quan sát mình rất lâu, đến khi người đó cất tiếng hỏi: - Cậu tìm gì ở đó vậy? Ngẩng lên thấy một bà cụ, Thiện vội nói: - Thưa bà, cháu thấy lạ vì trong miếu có mấy câu thơ... Bà già hình như am hiểu về ngôi miếu hoang: - Chuyện chỉ liên quan tới người ta, cậu việc gì phải tò mò... Câu nói đó làm cho Thiện càng tò mò thêm: - Bà nói liên quan tới ai? - Tại sao cậu muốn biết? - Dạ, xin bà cho biết, cháu muốn... Bà già vừa quay bước vừa nói: - Lâu rồi ta không nói với ai chuyện này, nhưng mấy hôm nay ta cảm thấy trong người gần như không còn sức nữa, ta hiểu rằng cũng nên nói cho ai đó biết chuyện của ngôi miếu này, kẻo rồi chẳng còn ai biết mà kể... Thiện bước theo, anh năn nỉ: - Bà kể cho cháu nghe đi, cháu cần biết... Ra dấu cho Thiện theo mình về một ngôi nhà ngói cũ gần đó, khi về đến nơi bà mới nói tiếp: - Cậu là người đầu tiên nghe tôi nói chuyện này, cậu vào nhà đi. Thiện ngoan ngoãn bước theo vào. Vào bên trong rồi anh chưa kịp hỏi gì thì đã nghe bà già lên tiếng: - Cậu là người xứ nào tới? - Dạ... cháu ở xã bên kia sông, cháu tới đây để làm rể nhà Hai Phấn. Vừa nghe nói bà già đã trố mắt: - Nhà có đứa con gái vừa mới chết? - Dạ. - Chết bởi dính tới nhà họ Đoàn? Thiện hốt hoảng: - Bà biết chuyện đó? Không nhìn Thiện, bà lão đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, giọng trầm buồn: - Chuyện này tưởng đã trôi qua rồi, sao bây giờ lại tái diễn nữa, oan oan tương báo đây mà... Thiện cố ý lắng nghe, nhưng bà già ngừng nói khá lâu rồi mới tiếp: - Tưởng nhà họ Đoàn đó bỏ đi thì hết chuyện, nào ngờ khi cái miếu âm hồn còn đó thì vẫn còn chuyện oán thù... - Nhà họ Đoàn ở xứ này sao? Chỉ tay ra phía ngôi miếu âm hồn, bà nói: - Chính chỗ cây đa cổ thụ đó ngày xưa là cổng nhà của họ. Chính ngôi miếu đó là nguyên nhân khiến họ bỏ nhà đi biệt cho đến nay không nghe tin tức gì! - Ai bỏ đi vậy bà? - Thì nhà họ Đoàn! Trước kia, khoảng hơn hai mươi năm họ là một bá hộ trong vùng này, có ngôi nhà lớn nhất làng, ngoài ra nghe nói còn vài ngôi nhà nghỉ mát ở những nơi xa xôi nữa... bởi ông chủ họ Đoàn là người làm nghề khai thác gỗ rừng ở vùng cao nguyên, giàu có lớn lắm! Thiện thêm tò mò: - Giữa chuyện bỏ xứ ra đi của họ Đoàn đó có liên quan gì tới ngôi miếu âm hồn đó vậy bà? - Có chứ. Cái miếu đó là do chính họ Đoàn lập nên trước khi trốn đi! Rồi không đợi Thiện hỏi, bà nói tiếp: - Họ lập miếu vì bị oan hồn phá dữ quá! Nghe nói họ gây tội ác gì đó với một cô trinh nữ ở đâu đó trên miệt rừng, rồi khi trở về đây oan hồn theo về. Hồi đó ở đây đã từng nghe chuyện cả hai đứa con do vợ ông chủ họ Đoàn vừa sinh ra đã bị chết một cách đầy bí ẩn, khiến cho bà vợ sợ quá phải đem đứa con thứ ba vừa sinh ở thành phố gửi đi biệt luôn, chẳng biết là đi đâu, cho đến khi họ rời khỏi làng này. Thiên hạ nói sau đó nhà họ Đoàn chẳng những trốn đi xứ khác mà còn thay họ đổi tên nữa! Có lẽ nhờ vậy mà từ đó nơi này không còn chuyện đêm đêm hồn ma một cô gái hiện về ở miếu âm hồn để kêu khóc, đòi mạng nữa. Vậy mà nay lại xảy ra chuyện con gái Hai Phấn bị hại, xác lại ở ngay miếu đó. Chẳng lẽ... Bà già chợt nhìn sững vào Thiện: - Cậu có liên quan gì tới họ Đoàn không? Thiện hốt hoảng: - Dạ không! Cháu họ Dương. - Kỳ lạ... Bà già buông câu nói rồi im lặng. Hình như bà đang suy nghĩ điều gì đó... Hồi lâu, bà chợt hỏi: - Sao cậu biết gia đình bà Hai Phấn mà cưới con gái bà ấy? - Dạ, do má cháu quen biết. Trước đây nghe nói má cháu có ở xứ này. - Má cậu tên gì? - Dạ... người ta hay gọi là bà Năm. - Phải Năm Hường không? Nghe bà hỏi Thiện giật mình, bởi cái tên Hường là tên tục của mẹ mà lâu lắm rồi ít nghe ai gọi. Anh lúng túng: - Bà... bà biết má cháu? Bà già sửng sốt nhìn Thiện: - Chẳng lẽ cậu là...là... Bà không nói hết câu đã đứng vụt dậy. Đột ngột hỏi: - Cậu là con trai của Đoàn Trung? Thiện lắc đầu: - Dạ không. Cha cháu là Dương Hòa. Sau câu trả lời của Thiện, bà già mới bớt căng thẳng: - Vậy là không phải rồi, nhưng cậu về hỏi bà mẹ cậu xem bà có biết ông Đoàn Trung không? Và bà có phải là Năm Hường ngày xưa là con của nghiệp chủ Lợi ở Cần Thơ không? Tuy bớt căng thẳng, nhưng bà cụ vẫn không thôi nhìn Thiện với đôi mắt tò tò: - Sao mẹ cậu lại là Năm Hường? Thiện lắc đầu: - Cháu cũng không biết. Bà già lẩm bẩm một mình: - Chuyện này không lẽ... Rồi có lẽ do đã ngồi nhiều, nói nhiều nãy giờ, nên bà già nhẹ lắc đầu bảo Thiện: - Thôi, cậu biết bao nhiêu đó đủ rồi. Nếu không phải là người của họ Đoàn thì tôi khuyên cậu không nên tò mò ở cái miếu đó làm gì. Đã có biết bao nhiêu rắc rối xung quanh nó rồi, mà làng này cũng không còn muốn xảy ra thêm những cái chết oan uổng nữa! Thôi, cậu về đi. Nói tôi gửi lời chia buồn với bà Hai Phấn. Bà ta nói xong thì lặng lẽ đi vào nhà trong để lại Thiện với những thắc mắc trong lòng... *** Chôn cất vợ xong thì Thiện trở về nhà ngay. Và việc đầu tiên là anh hỏi ngay mẹ mình: - Có phải trước đây má ở Cần Thơ không? Ông ngoại con là nghiệp chủ Lợi? Tuy có ngạc nhiên, nhưng bà Năm vẫn nhẹ nhàng đáp: - Phải. Con hỏi chi vậy? - Tại vì lâu nay con ít có dịp hỏi chuyện dòng họ mình. - Cũng bởi ngay từ nhỏ con đã xa nhà, sống tận bên Pháp, nên đâu có dịp nào... Thiện chợt hỏi: - Sao con phải xa nhà từ lúc con nhỏ xíu vậy má? Câu hỏi đó khiến bà Năm phải nhìn sững vào con trai, rồi lát sau bà mới đáp: - Anh em con thuộc dạng khó nuôi, cho nên ba má phải gửi con cho chú Sáu ở bên Pháp nuôi. - Má nói con khó nuôi là sao? Bộ hồi mới sinh ra con bệnh hoạn dữ lắm sao? Bà Năm lắc đầu: - Không. Trái lại lúc sinh ra con nặng trên ba ký và bụ bẫm lắm, má tính giữ lại, nhưng ba con quyết không cho. Cũng bởi hai anh chị con trước đó đã... Bà ngừng nói, nhưng Thiện đã đột ngột hỏi: - Anh chị con có phải đã chết hết ngay từ khi mới sinh ra không? Bà Năm nhìn con ngạc nhiên: - Sao con biết? - Vậy là đúng phải không? Nhưng sao từ lâu nay con không nghe má nói? Nếu con không nhờ người ta cho biết thì... Rồi bất chợt Thiện hỏi: - Mình thật ra là họ gì má? Bà Năm hốt hoảng thấy rõ: - Con... con hỏi để làm gì? - Nhưng má chưa trả lời con. Con có phải thật sự họ Dương không, hay là... họ Đoàn? Câu hỏi này đã làm cho bà Năm run lên, biến sắc liền: - Con... con đừng hỏi! Thiện mới là người hoảng loạn trong lúc này. Anh run giọng nói: - Như vậy thật sự là họ Đoàn rồi. Rồi như thân cây đổ xuống, Thiện ngã ngồi xuống sàn nhà trước sự hoảng hốt của bà Năm: - Kìa, con làm sao vậy Thiện? Thiện nói như người tâm thần: - Vậy ra con là người nhà họ Đoàn. Cha con là Đoàn Trung chứ đâu phải là Dương Hòa, phải không má? Bà Năm cũng như chiếc bong bóng xì hơi: - Con biết hết rồi còn gì phải hỏi má nữa... Một sự im lặng đến khó thở... mãi một lúc sau Thiện mới thở dài: - Con nhận hậu quả là phải rồi, cớ sao lại bắt vợ con phải chết, hở trời! Bà Năm ấp úng: - Chuyện ngày xưa đó... đã qua rồi.. ba con cũng đã chết rồi. Hơn hai mươi năm rồi còn gì... - Nhưng rõ ràng là chưa hết. Má có biết Diệu Hương chết là do ai không? Do oan hồn người con gái tên là Yến Vỹ! Vừa nghe tới cái tên ấy, bà Năm đã kêu thét lên: - Sao con biết tên đó? Sao con... - Chẳng những biết mà còn gặp nữa. Và còn... Anh lặng người đi, rồi lát sau òa lên khóc! Bà Năm sợ hãi: - Chuyện gì đến nỗi vậy con? Má nghĩ đây là chuyện do ba con làm ngày xưa. Mà tội ai làm nấy chịu chứ? Vả lại lâu nay má đâu có thấy vong hồn của cô ấy về nữa đâu? - Má có biết hai câu thơ này không: Một thuở yêu người ngàn năm không hết nhớ - Nửa tuần trăng mật suốt kiếp khó phôi pha... Bà Năm suy sụp hoàn toàn: - Vậy là con hiểu hết rồi... Bà gục xuống ôm mặt khóc ròng. Thiện dịu giọng: - Con muốn biết nhiều hơn về chuyện nhà mình, má đừng giấu con nữa. Bà Năm khóc một lúc rồi chợt ngẩng lên hỏi: - Ai nói cho con hết chuyện này? - Chính con đã gặp cô ấy! - Ở đâu? - Ở thác Dambri. - Trời ơi! Bà Năm kêu lên như vậy rồi lại khóc. Hồi lâu sau, bà mới nói qua làn nước mắt: - Tội ác của ba con xảy ra ở trên ấy, đúng rồi! - Má kể hết cho con nghe đi. Bà Năm vụt đứng lên, rồi thay vì bước vào phòng riêng, bà lại đi ra bên hông nhà. Thiện đi theo, hỏi mẹ: - Má đi đâu vậy? Cầm lấy cây thuổng đào đất dựng bên hông nhà, bà Năm đi thẳng tới gốc cây mít lớn nhất trong vườn rồi bảo con: - Má đào không nổi, con giúp má đào nó lên. Thiện ngạc nhiên: - Cái gì ở dưới? - Tất cả sự thật mà con muốn biết! Thiện đào từng nhát thuổng mà lòng rối bời. Lát sau, anh phát hiện một chiếc rương sắt nhỏ nằm dưới lớp đất sâu, hơi ngạc nhiên thì bà Năm đã nói: - Con lấy nó lên, không có tiền bạc gì hết trong ấy, chỉ có một quyển sổ mà má đã đốt, nhưng đốt năm lần bảy lượt nó vẫn không cháy, nên đành phải chôn, hy vọng thời gian sẽ làm nó tiêu hủy... Mở rương sắt ra thì quả nhiên chỉ có đúng một quyển sổ bìa cứng đã khá cũ nằm trong đó. Thiện chưa dám cầm lên thì bà Năm đã nhắc: - Con cứ mang đề phòng riêng mà đọc. Đọc rồi tùy con muốn hủy bỏ hay chôn lại cũng được. Má sợ nó lắm rồi! Bà quay lưng bỏ đi. Thiện cầm quyển sổ một lúc lâu rồi mới bước về phòng. Mặc dù đã khá mệt sau những gì từ sáng đến giờ, nhưng Thiện vẫn cố mở quyển sổ ra và đọc ngấu nghiến: Ngày... tháng... năm... Đúng ra hôm nay mình không lên Blao. Nhưng có lẽ duyên số trời định nên mình đột ngột từ Gia Nghĩa đã quay xe về đó qua con đường đi tắt và... đã gặp được nàng! Người con gái hai dòng máu Kinh - Thượng mà sao đẹp đến lạ thường! Khi mình hỏi nàng tên gì, nàng chỉ đáp gọn hai chữ: Yến Vỹ! Mình tự giải thích: - Yến Vỹ là cái đuôi con chim én! Mà con chim én (hay yến) có duyên và đẹp nhất là ở cái đuôi ngúng nguẩy! Nàng cười tít mắt rồi đột ngột hỏi lại mình: - Anh có muốn nuôi con chim én này trong lồng không? Trong lúc ngẫu hứng mình đã đáp nhanh: - Muốn quá đi chứ! Thế là chỉ trong vòng một buổi ngắn ngủi gặp nhau, mình và Yến Vỹ đã yêu nhau. Mà cũng đâu có gì là sai trái, bởi mình là trai chưa vợ và nàng là gái chưa chồng, cả hai đều có quyền đến với nhau, yêu nhau! Hai tháng sau khi mình trở lên Blao lần nữa thì mình đã đi tới một quyết định khá bất ngờ đối với nàng: - Anh sẽ cất nhà và ở lại đây lập nghiệp. Yến Vỹ ngạc nhiên không tin: - Nơi đây đâu có cơ sở làm ăn gì của anh đâu mà anh quyết định ở lại? Mình cười đáp: - Sao lại không? Cơ sở vững chắc đó là em! Anh sẽ cưới em và vợ chồng mình xây tổ ấm nơi đây, ngay gần cái thác nước này. Anh đã tới thác Cam Ly, thác Prenn, Pongour... nhưng chỉ thấy nơi đây là đẹp hơn cả. Có lẽ tại vì có em! Vậy là mình gắn cuộc đời với vùng đất có dòng thác Dambri đẹp mê hồn. Thiên tình sử đẹp như tranh vẽ đã bắt đầu với lời hứa hẹn của hai đứa bên dòng thác tuôn chảy ì ầm, mình đã hứa với nàng: - Suốt đời này anh chỉ có mình em mà thôi! Dù cho vật đổi sao dời thì vẫn chỉ một cái tên Yến Vỹ trong đời Đoàn Trung này! Nàng cũng đã long trọng hứa vào buổi chiều ánh hoàng hôn vắt qua ngọn thác: - Trong đời này nếu trời còn, đất còn thì tình của Yến Vỹ dành cho Trung mãi mãi còn! Nếu sai lời thì trời tru đất diệt! Mình đã rợn người trước câu thề thốt nặng nề đó, nhưng biết sao khi tình của nàng ấy đối với mình phút chốc đã quá sâu nặng rồi! Và mình cũng đã phải thề lại cho nàng tin: - Anh nguyện suốt đời bên em, nếu bội ước thì sẽ phải trả bằng cả tương lai của mình! Ngày... tháng... năm... Vậy là hai đứa hoàn thành được ước nguyện. Mặc dù cha mẹ mình từ quê nhà nghe tin đã phản đối cuộc tình mà họ cho là trái chiều, không hợp lẽ, bởi theo họ thì người Kinh không thể thành vợ chồng với người con gái Thượng. Mà phía gia đình Yến Vỹ cũng phản đối. Họ cho rằng tình yêu mình dành cho Yến Vỹ là không thật, họ nghi ngờ... Chỉ có một người duy nhất là ông ngoại của cô ấy luôn ủng hộ, nhưng ông cũng không có được ảnh hưởng lớn trong nhà. Cho nên cuối cùng tụi mình đã chọn giải pháp tự quyết định tương lai bằng cuộc hôn nhân không có hai bên cha mẹ chứng kiến! Yến Vỹ nhờ có học tiếng Kinh nên cô ấy hiểu biết luật lệ về nếp sống người Kinh, nhờ vậy khi hai đứa sống với nhau trong ngôi nhà mình mới xây, gần khu vực toàn người Kinh sinh sống, chẳng một ai biết nàng là người dân tộc. Cái tên Yến Vỹ là một cái tên Việt hoàn toàn do nàng tự đặt khi đi học trường Kinh, chớ tên dân tộc Châu Ro của nàng Th'ơ Ria. Nàng bảo rằng từ nay nàng chỉ muốn được gọi là Yến Vỹ! Ngày... tháng... năm... Không ngờ tai nạn ập đến với hai đứa quá sớm! Lại tới từ phía gia đình mình: Khi hay tin mình xây nhà ở riêng với Yến Vỹ, cha mẹ mình đã lên tận nơi tìm và cương quyết phản đối, bắt mình phải bỏ ngay cô ấy! Mình không nghe thì cha mình đã mạnh tay, cắt đứt hết mọi nguồn tiền bạc mà từ lâu cho mình kinh doanh gỗ và lâm sản. Điều này cũng chẳng sao, nếu không thêm việc ba mình cho tổ chức bắt cóc Yến Vỹ đem giấu biệt đến hơn một tháng, khiến mình phát điên lên, tìm kiếm khắp nơi! Sau cùng mình giải thoát được cho Yến Vỹ, nhưng khi trở về thì cô ấy bỗng phát bệnh và gần như câm và điên loạn! Mình tìm đủ mọi cách để cứu chữa, nhưng cũng vô hiệu, bởi sau đó mình biết được là ba mình đã nhờ một ông thầy mo, cho Yến Vỹ uống một loại thuốc gì đó mà ông ta nói là khi uống vào, người uống sẽ bị mất hết trí nhớ về những gì xảy ra trước đó. Có nghĩa buộc nàng phải quên mình đi! Ngày... tháng... năm... Thấy mình vẫn không chịu rời xa nàng, ba mình lại ra tay mạnh hơn. Ông tung tin, vu cho nàng là cô gái ma lai! Với sự giúp sức của một ông thầy mo vô lương tâm, Yến Vỹ bị người trong làng, bản xa lánh, xua đuổi. Kể cả những người xóm Kinh gần ngôi nhà của mình xây cho nàng ở cũng ghét bỏ, tẩy chay, khiến Yến Vỹ càng điên nặng hơn, và một ngày kia nàng biến mất không để lại chút tung tích gì! Mình đã tìm khắp nơi, vào tận buôn làng của nàng để tìm nữa mà vẫn không thấy... Ba tháng trôi qua... Ngày... tháng... năm... Mình trở lại Dambri sau mấy tháng đi khắp nơi tìm kiếm thì thật bất ngờ khi nhìn thấy những câu thơ trên vách đá. Mình biết ngay đó là do chính Yến Vỹ viết, điều đó lại càng khiến lòng mình tan nát. Mình ở lại vách đá đó suốt ba ngày đêm, mong được gặp nàng, nhưng vẫn bặt vô âm tín... Cho đến một buổi chiều kia, mình nghe tin sét đánh: có một xác chết trôi phía hạ nguồn dòng thác là phụ nữ! Khi mình tìm đến nơi thì chính đó là xác của Yến Vỹ! Mình đem xác nàng về định chôn ngay trong vườn nhà, nhưng xác nàng đến nửa đêm hôm đó thì đột nhiên biến mất! Ngày... tháng... năm... *** Thiện buông quyển sổ nhật ký xuống, anh thảng thốt kêu lên:- Trời ơi! Rồi anh ngồi thừ người ra. Làm sao anh có thể tưởng tượng ra câu chuyện lại đến nông nỗi này! Cũng may, khi hồn ma Yến Vỹ gặp anh lần đầu nàng ta chỉ muốn trả thù nên hút máu, chứ không làm chuyện gì đó xằng bậy... Thiện quay lại hỏi mẹ: - Thời gian đó má đã có quen với ba chưa? Bà Năm lắc đầu: - Cũng may là chưa. Khi ông ấy bị vụ đó làm cho bấn loạn, bỏ nhà đi đến gần cả năm sau mới về nhà trong tình trạng không ra người ngợm gì cả. Ông nội con nhân cơ hội đó đã đi hỏi cưới má cho ông ấy! Ban đầu ông ấy không chịu, nhưng sau cùng có lẽ quá chán ngán với chuyện giang hồ, cho nên ông ấy đã bằng lòng. Má là gái nhà quê, đâu có biết gì ngoài việc vâng lời cha mẹ. Khi về ở với ba con được hai năm thì má sinh đứa con đầu. Má mừng lắm, nhưng chưa kịp vui trọn vẹn thì vào một đêm khuya, lúc má đang cho con bú thì bỗng có một bóng người đầu tóc rối bời, mình mẩy ướt đẫm, đã từ ngoài cửa sổ nhảy xổ vào cướp lấy đứa con trên tay má và chạy mất! Má gào khóc lên, nhưng khi mọi người chạy vào thì chẳng ai biết phải tìm ở đâu? Đến sáng hôm đó thì chính ba con tìm gặp xác chị con nằm chết ở miệng giếng cạnh cây đa cổ thụ trước nhà! Hình như xác chị con mới được vớt lên từ dưới giếng. Bà phải ngừng lại mấy lần bởi cơn xúc động cắt ngang lời nói. Hồi lâu mới nói tiếp: - Hai năm sau đến lượt anh con. Nó vừa được sinh ra, lúc còn đang nằm trên tay bà mụ sinh thì đã bị cướp đi lần nữa, cũng bởi một bóng trắng xõa tóc! Và sau đó xác thằng bé cũng được tìm thấy ở bờ giếng như lần trước. Mà lần này còn táo tợn hơn, kẻ sát nhân còn lớn tiếng báo cho biết nó sẽ tiếp tục giết bất cứ đứa bé nào chào đời trong nhà họ Đoàn! Thiện không dừng được, vội chen vào: - Người đó là ai? Bà Năm nói trong nước mắt: - Ba con đã biết ngay là Yến Vỹ! Chính oan hồn cô ấy còn ngồi dưới gốc cây cổ thụ mấy đêm liền sau đó. Bởi vậy khi má mang thai con thì ba con vì không muốn mất con nên đã quyết định chuyển nhà đi nơi khác, rồi sau khi má sinh con ra, ba má liền quyết định gửi con cho chú Sáu ở bên Pháp nuôi giùm. Rồi cũng từ ấy theo lời khuyên của một ông thầy, ba con thay đổi luôn tên họ, đoạn tuyệt luôn với quá khứ, bỏ luôn quê nhà và không bao giờ còn trở lại những nơi mà trước kia ba con đã từng ở. Thiện cắt ngang: - Nhưng sao khi con trở về nước và có ý định lên Bảo Lộc má lại không cản? Bà Năm lắc đầu: - Má nào hay con đi lên đó! Thiện nhớ lại khi anh có ý định tìm nơi yên tĩnh để soạn luận án tiến sĩ mà sau khi lấy vợ anh sẽ trở qua Pháp để trình thì có người bà con đã âm thầm cho anh địa chỉ ở Dambri. Thiện cũng không nhớ rõ đó là ai, anh hỏi mẹ: - Cái chú gì đem xe chở con lên Bảo Lộc hôm trước, má có nhớ không? Bà Năm lại lắc đầu: - Má tưởng là bạn con ở bên Pháp cùng về. Thiện chép miệng: - Con nào có bạn cỡ tuổi đó. Chính ông ta xưng là bà con với nhà mình, tình nguyện đưa con ra Bảo Lộc và còn chỉ cho căn nhà mà ông ta nói là nhà của mình đang bỏ trống, có ý cho con ở miễn phí thời gian dài! Bà Năm kêu lên: - Con đã bị hồn ma nó dẫn đường đưa lối rồi! Ngôi nhà đó từ khi ba con chết má cũng bỏ luôn, không bao giờ nhắc tới, cũng chẳng biết ra sao nữa. Thiện lẩm bẩm: - Con mang họ Dương, vậy làm sao oan hồn cô Yến Vỹ lại biết con là họ Đoàn? Bà Năm chợt hiểu: - Do má chủ quan thôi. Má nghĩ chắc đã quá lâu rồi, vả lại mấy chục năm nay không hề thấy oan hồn cô ấy hiện về quấy phá nữa, nên khi nghe bà Hai Phấn ngỏ ý muốn gả con, má đã vội dẫn con sang bên ấy gặp ngay, mà quên rằng chốn cũ đó là nơi vẫn còn cái miếu âm hồn mà má đã nhờ người ta xây để thờ oan hồn cô Yến Vỹ! Có lẽ việc trả thù của vong hồn cô ấy vẫn chưa dứt. Kể xong, bà nói khẽ với con: - Quyển sổ nhật ký không hay ho này má đã bao nhiêu lần tìm cách đốt, nhưng không lần nào làm được, dẫu bỏ vào lò lửa nó vẫn không cháy, bởi vậy má mới chôn. Bây giờ con thử đốt lại lần nữa coi, nếu được thì coi như mình hủy nó luôn! Thiện làm theo. Anh đốt một đống lửa ngoài vườn và tự tay ném quyển nhật ký vào đó. Anh cứ nghĩ nó sẽ không cháy như lời kể của mẹ. Tuy nhiên, thật bất ngờ, quyển sổ bùng cháy một hơi, ngọn lửa cao hơn bình thường và tỏa ra ngọn khói màu đen kỳ dị. Vài phút sau thì không còn lại gì. Chính bà Năm cũng kinh ngạc: - Vậy là sao? Thiện nói khẽ: - Có lẽ mọi việc đã được hóa giải rồi. Diệu Hương đã chết thay cho con và oan hồn cô Yến Vỹ đã hài lòng, thôi không truy cứu nữa... *** Ngay chiều hôm đó đích thân Thiện trở qua nhà vợ. Anh thắp nhang cúng Diệu Hương và khóc nức nở trước bàn thờ:- Chính anh đã hại chết em và em đã cho anh được sống Hương ơi! Em sống khôn thác thiêng, xin hãy phù hộ cho anh được ở lại đây cùng em sống cảnh âm dương chia xa nhưng không cách lòng. Anh xin được mãi mãi ở vậy cùng em tại ngôi nhà này... Anh xin phép mẹ vợ để về sống trong căn phòng mà Diệu Hương trước khi chết đã sống. Bà Hai Phấn dẫu không muốn nhưng cũng chiều lòng Thiện. Từ hôm đó, Thiện sắm vai người ở rể chăm chỉ, cần cù và mẫu mực. Trước sự ngạc nhiên của nhiều người, Thiện một mình tới ngôi miếu âm hồn để quét dọn, sơn phết lại khang trang, sạch sẽ. Anh đã khấn rất thật lòng: - Cô Yến Vỹ đã biết rõ rồi, tôi không giấu nữa, tôi là dòng máu của Đoàn gia. Tôi đã hiểu được việc làm của ông cha tôi ngày trước, đó là một tội lỗi khó tha và việc cô tầm thù, trả thù là chính đáng, tôi không trách gì cô cả, chỉ tội cho người con gái vô tội đã vì tôi mà phải mất mạng. Kính mong cô từ bi hỉ xả, tha cho chúng tôi. Từ nay tôi nguyện làm người hầu hạ vong hồn cô, làm ông từ giữ miếu cho cô. Nếu cô chấp nhận thì để tôi sống và làm nhiệm vụ đã hứa. Còn bằng không thì xin cho tôi chết ngay tại nơi này, ngay lúc này! Anh quỳ xuống và chờ đợi... Nhưng suốt một buổi, trước sự ngạc nhiên của người qua kẻ lại, Thiện vẫn yên ổn. Khi anh xá xong ba xá đứng dậy thì ngôi miếu bỗng nhiên bốc cháy dữ dội! Thiện kinh hoảng định lao vào chữa, nhưng anh không làm kịp, bởi lửa mới chỉ bùng lên là đã thiêu rụi hoàn toàn ngôi miếu có tuổi thọ gần ba mươi năm! Thiện lẩm bẩm: - Đúng là dứt thật sự rồi. Xin cám ơn và cầu chúc cho hương hồn cô Yến Vỹ sớm siêu thoát... Từ hôm ấy, Thiện sống yên lành bên nhà vợ và cũng không giấu giếm mình là người mang họ Đoàn. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 37
Oan Hồn Người Vợ Trẻ 2 - Phần 1 Rời tiệm uốn tóc mà Ngọc Hà phải giữ chặt chiếc nón trên đầu, tuy không có gió nhưng cô vẫn không dám buông tay ra, chỉ bởi... mái tóc trên đầu bây giờ nếu ai nhìn thấy thì chắc là Hà sẽ... tự tử! Một tai nạn từ trên trời rơi xuống ngày hôm qua đã khiến cho Ngọc Hà bị nguyên một thùng sơn rơi từ mấy người thợ sửa nhà xuống đã giội trọn lên đầu, và Hà chỉ còn biết đau khổ lãnh trọn phần sơn đó lên mái tóc dài và mượt mà xưa nay là niềm tự hào của cô! Sau khi cật lực dùng dầu hôi và nhiều cách, Ngọc Hà không dám nhìn mặt mình trong gương, bởi mái tóc bây giờ chỉ còn lại là mớ bòng bong xù xì, xơ xác. Đến nỗi sáng nay Hà phải trùm nón và tìm tới tiệm uốn tóc gần nhà để nhờ cứu! Tuy nhiên, sau gần hai giờ cố gắng, người thợ chính của tiệm cũng chỉ làm được một phần. Tóc gốc được cứu, nhưng phải cắt ngắn từng mảng, nham nhở chẳng khác miếng ruộng bị cày xới vô tội vạ! - Ủa, con Hà đây mà! Con đi đâu đến giờ này trời tối rồi mà vẫn còn đội nón sùm sụp vậy con? Nhìn lại thấy bà dì Hai em họ của mẹ, Ngọc Hà thở phào, bởi cô chỉ ngại gặp phải người lạ. - Dạ... con đi uốn tóc... Bà dì Hai xuýt xoa: - Tóc con đẹp nhất làng này mà sao còn đi uốn chi cho uổng vậy. Thấy Hà ấp úng, dì Hai chợt nhớ ra: - À, có phải vụ đổ sơn hồi sáng không? Dì quên... Rồi bà hỏi nhanh: - Con có muốn đội tóc giả không? Ngọc Hà nhìn sững dì mình: - Tóc giả mua ngoài tiệm hả? Bà Hai Dung kéo tay Hà: - Con ghé qua dì, tao có tóc đẹp lắm! Ngọc Hà miễn cưỡng đi theo bà dì. Khi vào nhà, bà Dung chạy vào buồng lấy ra một cái hộp giấy tuy đã cũ nhưng còn sạch sẽ, đưa cho Hà: - Hồi dì còn trẻ, có lần ham muốn tóc dài nên đã ước có được một đầu tóc mượn, và dì được như ý khi người yêu của dì là một thầy giáo dạy tiếng Pháp đã đem tặng cho dì cái đầu tóc này. Đây là đầu tóc giả của tiệm làm tóc lớn của người Tây, nên không sợ tóc xấu, tóc bệnh của người mình... Nhưng rồi sau đó dì lấy chồng, không cần đến nó, nên từ ấy đến nay dì cất trong tủ luôn, chưa dùng lần nào! Ngọc Hà vốn không thích dùng tóc giả, nhất là tóc của người khác, nhưng bây giờ, trong tình cảnh này, cô đành phải lấy hộp tóc ra xem thử. Vừa nhìn thấy mái tóc dài chẳng thua gì tóc cũ của mình, cô reo lên: - Đẹp quá! Dì Dung thật tình: - Dì cho con, cứ đội lên trong khi cho tóc ra trở lại! Dì còn trấn an: - Đây là tóc mua mắc tiền, lại của tiệm lớn nên con yên tâm, không phải tóc của người chết đâu! Bà còn moi phía dưới chiếc hộp, lấy ra một tờ giấy đưa cho Hà: - Đây là tờ giấy cam kết của tiệm uốn tóc, họ nói rõ tóc này là của một cô gái hai mươi tuổi, sau khi lấy chồng, ở nhà chồng không thích tóc dài nên cô ấy đã nhờ tiệm cắt ngắn giùm và tặng luôn cho tiệm. Hà đọc sơ qua tờ giấy rồi có vẻ hài lòng, cô nói: - Dì cho con... Dì Dung phấn khởi: - Có được người dùng thứ mà dì thích là điều dì rất vui. Vậy con có cần mang nó liền bây giờ không, dì biết kết tóc giả, để dì làm giùm cho! Hà gật đầu ngay: - Dạ, con nhờ dì! Dì Dung là người khéo tay nên sau nửa giờ, mớ tóc giả đã được kết nối một cách hài hòa với số tóc nham nhở còn lại trên đầu. Khi nhìn vào gương, chính Hà cũng quá đỗi ngạc nhiên: - Giống y như thật dì Hai ơi! Nhìn cháu gái mình, dì Dung cũng rất hài lòng: - Đúng là của này dành riêng cho con rồi! Buổi tối đó về nhà, bà Tú Lệ, mẹ của Hà cũng ngạc nhiên về sự tươi vui của con gái, khác với khi mái tóc bị nạn. Sau khi xem mái tóc giả, bà đã phải kêu lên: - Nhìn con như một công chúa! Ngọc Hà cảm động ôm vai mẹ, cô nói rất khẽ: - Như vậy không phải hoãn đám cưới hả má? Bà Lệ phấn khởi: - Nó đã giải tỏa được nỗi lo của má từ sáng đến giờ! Cũng may là má chưa báo cho bên kia biết chuyện xin hoãn ngày cưới. Thôi được rồi, sáng mai đích thân mẹ con mình qua bên nhà thằng Tuấn bàn thêm về chuyện đám cưới. Nỗi lo sợ Tuấn nhìn thấy cái đầu nham nhở của mình giờ đã tan biến, nên đêm hôm đó Ngọc Hà đã ngủ một giấc thật say đến nửa đêm. Trước khi ngủ, Hà phải gỡ đầu tóc giả ra, mắc cẩn thận trên cao, nên lúc thức giấc Hà phải bước xuống giường nhìn thăm chừng. Sau khi nhìn xong, khi trở lại giường ngủ tiếp, Hà không dám nhìn mặt mình trong gương, bởi cô biết giờ mà nhìn thì chắc chắn cô sẽ phải thất vọng lắm. Nhưng chỉ nằm được trên giường khoảng nửa giờ thì Hà lại bật dậy. Nhìn đồng hồ theo tường thấy mới có hai giờ sáng. Hà không muốn ngủ tiếp, cô mày mò đầu tóc giả rồi bắt chước theo dì Dung, cô tự trùm lên và tỉ mỉ gắn, kết. Tuy có lâu hơn dì mình nhưng cuối cùng Hà cũng hoàn thành được. Điều đó giúp cho cô từ nay sẽ không phải làm phiền dì Dung nữa. - Ít ra cũng phải như vậy. Ngọc Hà định để nguyên đầu tóc như vậy chờ sáng. Tuy nhiên chỉ được hơn mười phút thì hai mí mắt cô nặng trĩu, cơn buồn ngủ khiến Hà không tài nào cưỡng được, mặc dù lúc ấy đã hơn ba giờ... - Hà ơi! Trưa rồi con, dậy để còn đi... Nghe tiếng mẹ gọi đến hai lần Hà mới choàng dậy được, cô giật mình khi nhìn thấy đồng hồ chỉ 9 giờ! - Sao má không kêu con sớm! Bà Lệ ở ngoài nói vọng vào: - Kêu rát cổ họng mà cô nương có nghe đâu! Mai mốt về nhà chồng mà ngủ kiểu đó mẹ chồng họ chửi cho! Hà bước lại gương trang điểm, cô vừa nhìn vào trong gương đã kêu thét lên: - Trời ơi! Bà Lệ từ bên ngoài chạy vào, hốt hoảng: - Chuyện gì vậy con? Rồi chính bà cũng phải thét lên: - Trời ơi! Trước mặt bà, đứa con gái yêu của mình đang có bộ mặt như quỷ. Da mặt xanh dờn, mái tóc dài dựng đứng như cây chổi sể! - Con... con sao vậy Hà? Bà Lệ vừa hỏi vừa bước lùi ra: - Có phải là con không Hà? - Con... con... Bà Lệ run đến muốn ngã, trong khi Ngọc Hà thì gần như bị tê liệt, cô lắp bắp không thành lời: - Chuyện... chuyện gì vậy... chuyện gì... Rồi trước mắt Hà tối sầm lại, cô ngã nhoài tới trước... *** Nhà lúc ấy không có ai ngoài hai mẹ con, nên khi cả hai tỉnh dậy đã ngơ ngác nhìn nhau, rồi Hà hỏi:- Con bị sao vậy má? Bà Lệ nhìn con gái mình và mừng rỡ: - Ủa, con đâu có gì? Gương mặt của Hà giờ đã trở lại bình thường, khi nhìn vào gương chính cô cũng ngạc nhiên: - Mặt con đâu có gì hả má? Bà Lệ vẫn chưa hết run: - Lúc nãy... mà có lẽ mình hoa mắt... Hà cũng nói: - Có lẽ con mất ngủ và lo lắng... Nhớ lại gương mặt quỷ tối qua, Hà vẫn còn hoài nghi, nên săm soi mặt mình trong gương khá lâu, cho đến khi bà Lệ nhắc: - Tuy trễ, nhưng mình đã nhắn qua bên đó rồi, phải đi ngay thôi con à! Ngọc Hà trang điểm hơi kỹ, bởi cô sợ nét hốc hác lộ ra trước mặt người yêu. Nhất là cô vẫn còn bị ám ảnh về bộ mặt như quỷ của mình! Ra tới đường rồi mà Hà còn khẽ hỏi mẹ mình: - Má coi trên mặt con có gì bất thường không? Bà Lệ cười tươi: - Còn đủ sức hớp hồn thằng Tuấn được mà! Vuốt mái tóc giả của con, bà lại khen: - Nó còn mượt mà hơn là tóc cũ của con nữa! Họ sang nhà Tuấn, trong lúc anh chàng đi ra chợ chưa về thì bà Sương, mẹ Tuấn đã kể liền câu chuyện mà lúc đó vẫn còn chưa lấy lại bình tĩnh: - Tối qua nhà này có ma chị ơi! Bà Lệ ngạc nhiên: - Ma thế nào? - Thằng Tuấn gặp ma mới kỳ lạ chứ! Tôi đang ngủ nửa đêm thì nghe nó la hoảng lên. Khi tôi chạy qua gọi nó dậy thì nó chỉ tay ra phía cửa sổ vừa la lớn, tôi hỏi nó thấy gì, nó nói có cô nào đó cứ đòi nó phải đi với cô ta! Rồi bà hạ thấp giọng: - Nghe thằng Tuấn kể thì cô gái đó có mái tóc dài, nhưng gương mặt khi thì đẹp như tiên nga, lúc lại như quỷ dạ xoa. Từ sáng tới giờ nó vẫn còn chưa hoàn hồn, nên phải đi bác sĩ lấy thuốc uống giờ vẫn chưa về! Vừa nghe tới đó bỗng Ngọc Hà hơi run, cô hỏi lại: - Anh Tuấn thấy ác mộng đó lúc mấy giờ? - Quá nửa đêm, hình như là hơn ba giờ sáng gì đó... Bà Lệ chợt kêu lên: - Đúng giờ đó! Bà Sương ngạc nhiên: - Chị nói đúng giờ là sao? Ngọc Hà buột miệng nói thay mẹ: - Giờ đó con cũng gặp chuyện lạ! Bà Sương vừa nhìn sang Hà định hỏi thì lúc ấy Tuấn từ ngoài bước vào. Anh chàng khựng lại ngay và nhìn trân trối vào Ngọc Hà, với vẻ bàng hoàng: - Chẳng lẽ lại là... em? Mọi người chưng hửng, trong lúc Hà kinh ngạc: - Anh... nói em? Tuấn không rời mắt khỏi Hà, anh lắp bắp: - Đúng... đúng là... Rồi anh vùng la to: - Chính là em... Rồi anh bước tới gần hơn, chụp lấy vai Hà lắc mạnh: - Em vào phòng anh đêm qua phải không? Lúc này bà Lệ không nhịn được, bà la lên: - Nè, nó là con gái tôi, không cho phép ai nói xấu nó! Cậu nhìn thấy quỷ ma gì là chuyện của cậu, chứ còn con gái tôi suốt đêm qua ở nhà với tôi, và mới qua đây nãy giờ! Bà Sương cũng chen vào: - Con đừng trông gà hóa cuốc. Hãy bình tĩnh lại con... Tuấn vẫn nhìn Hà như nhìn một người lạ, phải mất một lúc anh mới kéo ghế ngồi xuống và bình tâm lại: - Con xin lỗi má, xin lỗi Hà. Chỉ vì đêm qua là một cơn ác mộng mà lần đầu con gặp phải? Rồi Tuấn quay sang nhẹ giọng với Hà: - Nửa đêm tự dưng anh có cảm giác như có người gọi tên mình, khi anh mở mắt ra thì thấy một dáng người giống hệt như em đang đứng ngay cửa sổ. Anh vừa định cất tiếng gọi thì bỗng người ấy quay lại nhìn, và anh... muốn đứng tim bởi bộ mặt quỷ của cô ta! Anh chưa từng nhìn thấy một gương mặt như vậy nên nhất thời gần như á khẩu không kêu lên được tiếng nào. Cho đến khi anh lấy lại thần hồn, vừa tính mở miệng ra kêu thì chợt người ấy nhìn anh cười và... gương mặt lại trở nên hiền hòa, đẹp như một thiên thần! Có lúc cô ta đẹp y như em, lại có nét của em... Tuấn siết chặt tay Hà: - Cho anh xin lỗi. Ngọc Hà vụt nói: - Em cũng thấy gần giống như anh vậy! Cũng một bộ mặt như quỷ... Cô kể lại đầu đuôi câu chuyện. Vừa nghe xong, bà Sương kêu lên: - Như vậy là cả hai đứa đều thấy một lượt! Bà Lệ cũng nói: - Chính mắt tôi cũng nhìn thấy đúng như vậy. Tuấn kể lại chuyện mình đi khám thầy thuốc: - Ông bác sĩ này giỏi lắm, chuyên trị bệnh tâm thần. Sau khi nghe anh kể, ông ấy bắt mạch, rồi khi nhìn vào mắt anh, ông nói rằng anh đang bị một cái gì đó ám! Ngọc Hà ngạc nhiên: - Bác sĩ tây y đâu có tin chuyện quỷ ma, sao có chuyện quỷ ám ở đây? - Ông bác sĩ này còn kiêm luôn nghiên cứu về tâm linh học, nên ông nói không thể bỏ qua yếu tố duy tâm này. Ông ấy còn dặn anh nếu có người yêu thì nên dẫn tới để ông coi sắc diện, ông có thể kết hợp tây y và tâm linh để tìm ra manh mối chuyện kỳ lạ này. Ngọc Hà tuy lo ngại, nhưng cô vẫn muốn được nghe chính ông bác sĩ nói, nên cô nói nhỏ với Tuấn: - Lát nữa nếu được thì anh dẫn em tới đó với! Tuấn biết nếu đồng ý thì sẽ gặp sự phản đối của hai bà mẹ, nên anh chỉ ngầm nhận lời với Hà. Lát sau khi xong giờ cơm, anh tìm cách rủ Hà ra ngoài: - Má cho phép con dẫn Hà đi coi mấy thứ nữ trang một chút. Hai bà mẹ ưng thuận ngay và còn dặn: - Đi đâu cũng được, miễn là nhớ về trước trời tối để còn về bên nhà cho kịp. Vị bác sĩ tiếp Hà với sự có mặt của Tuấn. Khi bắt mạch xong, ông bảo Hà nhìn vào mắt ông và bất chợt ông kêu lên: - Nhãn quan cô còn đáng lo ngại hơn cậu Tuấn nữa! - Đây là vợ sắp cưới của con, bác sĩ xem kỹ giùm con! - Mạch không ổn định, nhưng đáng ngại hơn là ánh mắt thiếu thần, như vừa trải qua một chuyện gì đó dữ lắm! Cô nói thật lòng, cô vừa bị gì? Hà không giấu: - Dạ, đêm qua con cũng thấy ác mộng như anh Tuấn. Chỉ có điều hình ảnh quỷ quái lại ở chính... gương mặt con. Vị bác sĩ trầm ngâm một lúc rồi giở một quyển sách bằng tiếng Pháp, lật ra một đoạn được ông đánh dấu bằng bút đỏ, ông nói: - Trường hợp của cô cậu gần giống với trong này, ở châu Âu đã từng xảy ra những hiện tượng như vậy, người ta gọi đó là bị ma ám, mà dân ta gọi nôm na là ma nhập! Tuấn hỏi: - Nhưng sao ma lại nhập cùng lúc cả hai chúng tôi? - Không có gì lạ cả. Khi một cái vong hiện về thì nó tìm đúng cái mà ta gọi là vía hạp với nó nhất để cho vía đó thấy. Vong hồn không phải là vật thể hiện hữu, nên việc cùng lúc cho cả hai người ở hai nơi xa cách nhau nhìn thấy là điều có thể xảy ra. Giữa vong hồn và vía người sống giao lưu với nhau qua thế giới tâm linh chứ không phải hiện thực! Ông trấn an: - Tuy nhiên cô cậu cũng chớ quá lo lắng. Sẽ không có việc gì nữa, miễn là đừng nghĩ về nó nữa. Thật ra trong đầu của hai người có nghĩ gì về ai đó đang làm cho họ bị ám ảnh đâu? Thậm chí Ngọc Hà còn chưa hiểu tại sao mình bị như vậy? Cô dò hỏi Tuấn: - Anh có gặp hay bị ám ảnh gì về cô gái nào đó không? Tuấn lắc đầu rất dứt khoát: - Không hề có! Họ trở về nhà thì trời hơi tối, bà Sương bàn: - Tối rồi, mà đường từ đây về bên nhà cũng khó đi, hay là chị sui với Ngọc Hà cứ ở lại ngủ rồi sáng mai thằng Tuấn nó đưa về sớm. Bà Lệ muốn đồng ý, nhưng Hà lại tỏ ra bồn chồn: - Có lẽ con xin phép về. Đây về bên đó cũng không xa, chỉ đi chừng nửa tiếng là tới, mà trời cũng chưa tối lắm. Con xin phép. Thấy vậy, bà Lệ cũng nói: - Thôi, để mẹ con tôi về. Sáng mai con Hà còn phải đi đo áo cưới nữa. Chỉ còn một tuần nữa thôi chứ mấy! Bà Sương bảo Tuấn: - Vậy con lấy ghe chạy theo, đưa chị sui và Hà về. Con kêu đứa nào đó cùng đi, để lượt về nó chèo cho con. Tuấn cười: - Con đi một mình được chứ bộ. Đưa vợ về mà cũng cần vệ sĩ nữa sao má! Lúc qua, mẹ con bà Lệ đi bằng xe lôi, bây giờ đi bằng ghe an toàn hơn, nên bà nói với Tuấn: - Con chèo chậm thôi, lâu lắm má không đi ghe nên muốn nhìn sông nước một chút. Tuấn chỉ cái máy đuôi tôm: - Ghe chạy bằng máy, nhưng con sẽ chạy chậm để má đủ thời gian ngắm cảnh. Ngọc Hà chen vào: - Chỉ má ngắm thôi, còn vợ bỏ đâu? - Ừ, thì vợ cũng ngắm. Vợ lo ngắm cảnh mà quên cả chồng phải lái ghe! Thấy hai đứa đùa vui với nhau bà Lệ hài lòng, bà nhìn chúng với ánh mắt yêu thương. Nhờ vậy suốt quãng đường năm cây số qua mau. Đến nơi, bà bảo Tuấn: - Con lên nhà uống nước, nghỉ một lát rồi hãy về. Tuấn vội nói: - Con phải về kẻo má con trông. Anh đưa bà mẹ vợ lên tận nhà, sau đó mới quay xuống ghe đi về. Lúc sửa soạn lui ghe, anh ngạc nhiên khi không thấy Ngọc Hà ra tiễn. Nghĩ có lẽ cô nàng bận việc gì đó nên sau mấy giây tần ngần, Tuấn lui ghe ra giữa dòng, nổ máy chạy nhanh vì trời đã bắt đầu tối. Gió hơi mạnh nên Tuấn cho ghe chạy cặp sát bờ, mặt trời vừa khuất sau ngọn tre nên Tuấn phải căng mắt ra mà chạy, không để ý đến một vật đang cử động nhè nhẹ ở phía giữa ghe. Cho đến khi một chuỗi cười khúc khích vang lên khiến cho Tuấn giật mình: - Ủa, ai vậy? - Mỹ nhân đây! Cho thiếp quá giang một đoạn, thiếp bị lạnh! Tuấn định tắt máy cho ghe ngừng lại thì đã bị giọng cô gái ra lệnh: - Đang chạy nước ngược mà tắt máy cho ghe trôi sao! Cứ chạy đi! Lúc này giọng nói nghe đã rõ ràng hơn, Tuấn kêu lên: - Hà! Sao em lại ở đây? Hồi nãy anh thấy em lên rồi, và sau đó anh tìm để từ giã về mà không thấy... Nàng lại cười khúc khích: - Người ta trốn dưới ghe mà không biết, chắc là tưởng người đẹp nào khác phải không? - Trời tối rồi để cho anh về, làm thế này anh phải đưa em trở lại chắc tới khuya mới về tới nhà quá! Nàng nũng nịu: - Muốn đuổi người ta lên phải hôn? Được người ta nhảy xuống lội vào bờ cho coi! Tuấn hốt hoảng: - Đừng! Để anh quay ghe lại. Ngọc Hà lúc này mới nói nghiêm túc: - Không cần đâu, em đã xin phép má rồi, em có việc cần ở ngoài chợ tối nay nên em phải ra đó, rồi sáng mai đi đo áo cưới luôn! - Ủa, lúc nãy anh đâu có nghe má cho phép như vậy? Hà nheo mắt: - Em chỉ cần rỉ tai là má chịu liền! Nhất là khi có anh đi cùng... - Nhưng... anh còn phải về nhà mà. Đâu có theo em ra chợ được. Mà anh cũng đâu có nghe em nói có nhà quen ngoài chợ bao giờ đâu? Giọng của Tuấn đầy vẻ hoài nghi, đáng lý Hà phải giải thích, đằng này cô lại cố nói: - Đâu phải người quen nào cũng phải nói ra hết. Anh không tin em có nhà quen ngoài chợ phải không? Nếu vậy... anh có dám cùng với em tới đó ở qua đêm không? Tuấn đâu ngờ cô vợ sắp cưới của mình ăn nói bạo miệng như vậy, nên trố mắt ngạc nhiên: - Em nói gì vậy Hà? - Thì em nói điều em đang nghĩ trong đầu. Anh không chịu thì thôi, em sẽ đi một mình! Hà giận dỗi bò ra mũi ghe ngồi một mình. Tuấn không thể bỏ tay lái ghe nên đành phải xuống nước: - Thôi, anh chịu. Để lát nữa anh ghé nhà báo cho má biết, rồi cùng đi với em. Hà vẫn còn giận: - Không cần đâu! Nếu về nhà báo thì đời nào bà già cho anh đi, và như thế em sẽ biến thành đứa con gái hư hỏng bỏ nhà đi qua đêm với trai! - Nhưng... anh là chồng sắp cưới của em chứ phải trai nào đâu! Tuy có ngạc nhiên về thái độ, cách ăn nói bạo miệng hơn thường khi, nhưng sợ nàng giận, nên cuối cùng Tuấn cũng chấp nhận cùng đi với Ngọc Hà. Họ gửi ghe ở một nơi tại bến chợ, rồi dắt nhau tới một phòng trọ... *** Sáng ra khi tỉnh giấc, Tuấn ngơ ngác tìm quanh thì không thấy Ngọc Hà. Anh gọi liền mấy tiếng không nghe trả lời nên vội chạy ra ngoài tìm. Lúc đó người chủ nhà trọ ngạc nhiên hỏi Tuấn:- Tối qua cậu làm gì uống say dữ vậy? Tuấn ngơ ngác: - Tôi say hồi nào? Sáng nay ông có thấy cô gái đi chung với tôi không? Đến lượt ông chủ ngạc nhiên: - Cô nào? - Thì cô đi với tôi tối qua? - Làm gì có ai. Chính tôi đã tìm thấy cậu say bí tỉ nằm ở trước cửa nhà trọ này. Tôi đã phải vất vả lắm mới kéo cậu vào phòng được, rồi cậu nghỉ mê man tới giờ này... Nghĩ tới sự an nguy của Hà, Tuấn hốt hoảng: - Chẳng biết nàng ra sao rồi? Rõ ràng lúc tới đây tôi với nàng cùng đi, nàng mặc bộ quần áo màu xanh, giống như màu tấm màn cửa kia kìa! Anh đưa tay chỉ thì ông chủ trọ lắc đầu: - Tôi đã nói là cậu tới đây chỉ một mình, nằm say khướt ở ngoài kia kìa. Tuấn chạy trở vào phòng, anh chợt nhìn thấy nguyên một đầu tóc giả còn nằm trên giường thì cầm lên xem và la lớn: - Tóc của Hà đây mà! Anh cầm chạy trở ra và hỏi với giọng đầy kích động: - Anh đã làm gì vợ tôi? Lão chủ nhà ngơ ngác: - Làm gì là sao? Tóc này của ai vậy? Tuấn hét lớn: - Mấy người làm gì vợ tôi mà cắt nguyên đầu tóc của cô ấy bỏ lại đây? Mấy người giết cô ấy rồi phải không? Thấy Tuấn lồng lộn, ông chủ điềm tĩnh nói: - Cậu không nên nóng nảy nói bừa như vậy! Tôi nghĩ là cậu nên về nhà tìm lại xem, có thể bây giờ vợ cậu cũng đang tìm cậu đó! Tuấn quên cả cám ơn ông ta, vội chạy bay về nhà. Bà Sương nhìn thấy con về thì mừng lắm: - Trời ơi, con đi đâu mà suốt đêm rồi má kiếm khắp nơi? Cứ tưởng con chạy ghe bị tai nạn, nên má cho người qua bên nhà con Ngọc Hà tìm, thì bên nó cũng ngạc nhiên nói con đã về đây ngay từ chiều tối! Tuấn hỏi liền: - Ngọc Hà đang ở đâu? Bà Sương chỉ tay ra ngoài nói: - Kìa, má con nó qua tới kìa! Tuấn nhìn ra thì thấy Ngọc Hà đang tất tả đi bên mẹ bước vào nhà. Anh hỏi lớn: - Từ đêm đến giờ em đi đâu? Hà ngơ ngác: - Em ở nhà với má chứ đi đâu? Tuấn gay gắt: - Sao em bỏ anh mà không nói lời nào hết, làm sáng ra anh lo hết sức! Bà Lệ phải chen vào, lên tiếng: - Con nói cái gì vậy, Ngọc Hà nó ở nhà, ngủ với má từ lúc con chèo ghe về tới sáng. Khi nãy nghe tin con mất tích nó còn giục má qua đây gấp, mà bây giờ con ăn nói gì vậy? Tuấn vẫn quả quyết: - Tối qua Hà xuống ghe với con, bảo phải ra chợ ngủ để sáng đi đo áo cưới, con sợ Hà ở một mình nên mới đi theo... Hà kêu lên: - Anh Tuấn điên rồi má ơi! Má coi anh ấy ăn nói như người cõi trên vậy. Bà Sương cũng nói: - Hồi sáng mấy đứa nó qua nhà báo tin thì còn thấy Ngọc Hà ở bên nhà, con nói gì vậy? Tuấn sững sờ hết nhìn Hà rồi nhìn lại mình. Bà Sương bắt đầu hoảng: - Từ hôm qua tới nay con toàn làm cho má sợ, sao vậy Tuấn? Trong đầu con có chuyện gì không? Tuấn ngồi bệt xuống sàn nhà, thẫn thờ như người mất hồn. Trong lúc giọng bà Lệ vẫn đều đều: - Đêm qua tôi sợ nên không cho con Hà ngủ một mình, mà cũng may, nhờ vậy mà chuyện thằng Tuấn nói tôi không nghi ngờ con gái tôi được. Tôi nghĩ, cần phải đưa nó đi khám bệnh lại, không chừng có gì đó không bình thường! Ngọc Hà bước tới bên Tuấn, nhẹ giọng nói: - Chắc là có chuyện gì đó, anh hãy bình tĩnh nhớ lại xem. Tuấn hỏi lại: - Có đúng là không phải em không? Hà phải khéo léo lắm mới khơi cho Tuấn kể lại đầu đuôi. Khi anh bảo là còn có cái đầu tóc giả ở chỗ nhà trọ thì Hà giật mình: - Đầu tóc đó ra sao? Cô đưa tay lên sờ tóc mình rồi ái ngại bước lùi một chút, sợ Tuấn sờ lên đầu. Tuấn vụt nói: - Để anh đi lấy cái đầu tóc của em về! Bà Sương liền nói: - Tóc nó còn đây mà con nói gì vậy? Tuấn khựng lại, nhưng anh vẫn lẩm bẩm: - Rõ ràng mình thấy... Hà bỗng nói: - Cho em đi tìm chỗ đó với! Cả hai bà mẹ đều không cho, nên cuối cùng chỉ một mình Tuấn gọi xe lôi đi. Lát sau trở về, trên mặt của Tuấn còn nguyên nét thất vọng: - Không có... Hà hỏi: - Anh nói không có là sao? Tuấn bực dọc kể: - Rõ ràng lúc nãy anh cầm cái đầu tóc giả ấy trên tay, xem rất kỹ, vậy mà khi trở lại thì chẳng thấy đâu! Lão chủ nhà trọ cũng phủ nhận, nói là không thấy gì. Cứ nghe Tuấn nhắc tới tóc giả là Ngọc Hà cảm thấy như mình bị soi mói, cô quay mặt đi, cố tránh ánh mắt nhìn của mọi người. Nhưng thật ra lúc ấy họ nào để ý đến cô... Bà Sương bảo con: - Con đừng làm má sợ nữa, hãy đi nghỉ đi! Khi ra về, chính Hà đã bất ngờ nói với mẹ: - Anh Tuấn gặp chuyện gì đó thật, chứ không phải anh ấy bịa chuyện đâu. Bà Lệ thắc mắc: - Nhưng là chuyện gì? Má thấy thằng này càng lúc càng giống như người cõi trên chứ không phải bình thường. Có khi nào nó bị... ma nhập không? Hay là... nó đi chơi với gái rồi sợ nên bịa chuyện? Hà lắc đầu: - Con không tin như vậy. Con nghĩ... Thấy con gái cứ ngập ngừng hoài, bà Lệ buột miệng: - Hay tụi bay có điều gì giấu tao? - Làm gì có, má... Hà cứ thẫn thờ mãi về chuyện của Tuấn. Những lời nói của vị bác sĩ hôm qua khiến cho Hà càng suy nghĩ nhiều hơn. Cô liên tưởng mọi chuyện xảy ra từ mấy hôm nay, cuối cùng cô nói với mẹ: - Con muốn hoãn đám cưới! Bà Lệ sửng sốt nhìn con: - Con điên rồi hay sao vậy? Hà nói thật: - Chính con cũng có cảm giác kỳ lắm... nhất là mỗi khi con nhớ tới chuyện cái mặt quỷ của con đêm hôm trước. Hình như... Cô sờ lên tóc của mình, lúc đó bà Lệ mới chợt nhớ tới chuyện cái đầu tóc giả mà Tuấn nói: - Cái đầu tóc mà nó nói là sao má không hiểu? Chẳng lẽ cũng có người xài tóc giả y như con hay sao? Hay là... nó nghi ngờ gì về con? Hà lắc đầu: - Không phải vậy đâu. Con nghĩ là Tuấn gặp ai đó thật. Thí dụ như gặp một cô gái giống y như con chẳng hạn... Bà Lệ la lên: - Nó gặp ma sao chứ? Hà hạ thấp giọng: - Cũng không chừng... Bà Lệ rùng mình: - Con đừng nói làm má sợ! Mà sao con biết? - Má không nghe anh ấy kể rành rọt đó sao? Không phải ma thì làm sao có một người giống con như đúc xuất hiện trên ghe khi con còn ở nhà với má? Bà Lệ gật đầu: - Ờ há, hồi nãy nó kể chuyện mà vì mải mê lo hỏi nó chuyện khác nên mình quên không nghĩ đó là ma. Đúng rồi, chỉ có ma mới như vậy! Hà trầm ngâm một lúc, bất chợt cô bảo mẹ: - Con phải đi gặp dì Dung thôi! Bà Lệ ngạc nhiên: - Dì Dung con thì dính gì tới chuyện này? Hà chỉ lên tóc mình rồi nói: - Chính dì ấy cho con mái tóc giả này! - Nhưng... đó chỉ là tóc, nó có gì liên quan đâu? - Có! Con nghĩ ra rồi, kể từ khi con mang tóc này tới nay đã xảy ra bao nhiêu chuyện rồi. Hà quay sang người đạp xe lôi: - Anh cho xe chạy về ấp 4, chỗ nhà máy xay lúa Hiệp Thành. Bà Lệ hoang mang lắm, nhưng vẫn đi theo con gái.. Phần 2 Dì Dung lắng nghe kỹ những lời kể của Hà. Nghe xong, bà mất hẳn sự tự tin như thường lệ, và chợt kêu lên: - Vậy là đúng rồi! Bà Lệ ngạc nhiên: - Dì nói đúng chuyện gì? Quay sang Hà, dì nói mà giọng còn hơi run: - Đêm qua và mấy đêm trước, đêm nào dì cũng chiêm bao thấy có một đứa con gái với cái đầu trọc lóc, cứ gào khóc, đòi dì phải trả lại tóc cho nó! Ngọc Hà tái mặt: - Tóc gì? - Dì cũng đâu có biết. Chỉ thấy con nhỏ đẹp lắm, nhưng da mặt xanh xao, cái đầu không có tóc lại nham nhở còn hơn cái đầu con bữa trước! Lần nào trong mơ nó cũng khóc và đòi lại tóc, mà dì đâu nhớ ra có thể là mớ tóc mà dì đã cho con! - Sao bữa trước dì nói đây là tóc mua từ tiệm, có giấy chứng nhận? - Thì đó, dì đã cho con coi giấy chứng nhận hẳn hoi. Mà cái này là của ông hiệu trưởng trường Tây cho dì... Nói tới đây, bỗng bà kêu lên: - Đúng rồi, ông ta! - Dì nói ông nào? - Ông Henri, hiệu trưởng... - Người cho dì mớ tóc? Dì Dung hơi ngại khi nói ra: - Ông ấy nghỉ hưu lâu rồi, hiện sống ở Sài Gòn... Vừa rồi dì nghe tin ông ấy bị tố cáo một chuyện động trời lắm, dì không tin, nhưng người ta lại quả quyết chuyện ấy có thật! Hà tò mò: - Chuyện gì vậy dì? - Cưỡng bức một cô gái nhỏ hơn ông ta trên mười tuổi! Cả bà Lệ và Ngọc Hà đều kêu lên: - Trời ơi! Hà còn hỏi: - Mới đây hả dì? Bà Dung lắc đầu: - Chuyện cũ chứ không phải mới đây. Chuyện hồi ông ấy còn làm hiệu trưởng. Nghe nói cô gái là một nữ sinh lớp lớn... Bà Lệ tắc lưỡi: - Mấy ông Tây già thường sinh tật lắm! Dì Dung kể thêm: - Mà không chỉ cưỡng hiếp thôi đâu. Ông ta còn nhẫn tâm đẩy cô gái ấy vào chỗ quẫn trí rồi đi tìm cái chết nữa! Ngọc Hà không thể ngồi yên: - Có chuyện đó nữa sao dì? Dì Dung nhìn Hà, bà hơi mất tự tin: - Nghe câu chuyện đó dì lo. Nhất là mớ tóc này... Hà ngơ ngác: - Dì nói mớ tóc của con? - Ừ... dì sợ e... Bà quay sang bà Lệ: - Chị không dời đám cưới lại ít tháng được sao? Thí dụ như mình nại lý do con Hà phải né ngày tháng kỵ của ông bà gì đó... Đợi cho tóc nó mọc dài dài một chút... Chứ chị tưởng tượng xem, lỡ trong đêm tân hôn mà thằng chồng con Hà phát hiện vợ mình đội tóc giả thì biết ăn nói ra sao? Hà không lo chuyện đó bằng chuyện của ông hiệu trưởng trường Tây. Cô hỏi tới: - Dì biết nhà ông ấy không? - Chi vậy con? - Tự dưng con muốn tìm hiểu chuyện ông ấy bị tố cáo! Bà Lệ rầy: - Con lo chuyện bao đồng chi cho mệt. Ông ta làm gì thì mặc ông ấy, hơi sức đâu... Hà không cãi mẹ, nhưng cô vẫn không thôi suy nghĩ về chuyện ấy. Mãi cho tới chiều hôm đó khi đã trở về nhà rồi mà Hà vẫn còn thắc mắc, cô hỏi mẹ: - Mấy người bị chết oan nghe nói linh lắm phải không má? - Thì đã chết oan mà, hồn phách đâu siêu thoát được nên linh hiển thôi. - Như nạn nhân của ông đốc Tây đó có phải là oan hồn không? Sợ con hỏi linh tinh nên bà Lệ gạt ngang: - Con quan tâm đến chuyện ấy làm gì? Bà giục Hà đi ngủ sớm, cô nghe lời. Nhưng đến sáng hôm sau thì Hà biến mất! Bà Lệ hốt hoảng chạy đi tìm kiếm khắp nơi. Cuối cùng bà bắt gặp một phong thư của Hà để lại. Đại khái cô báo cho mẹ biết là có việc phải đi Sài Gòn gấp, xin bà cứ yên tâm, đừng đi tìm và lo lắng! Đã biết như vậy rồi, nhưng bà Lệ vẫn như ngồi trên lửa. Bà linh tính chuyện này ắt có liên quan tới vụ ông đốc Tây. Cuối cùng vẫn không yên tâm. Bà Lệ tức tốc đi tìm con. Rủ cả dì Dung cùng đi, bởi bà Lệ nghi Ngọc Hà sẽ tới chỗ ông đốc Tây nghỉ hưu. Và quả đúng như vậy. Khi hai bà tới nơi thì gặp lúc Hà đang tiếp xúc với chị người làm của ông Henri. Bà Tám Ni, một người giúp việc trung thực, rất bức xúc chuyện đó. Bà kể lại mà giọng vẫn còn bị kích động: - Chuyện xảy ra đã lâu rồi, ai cũng tưởng nó đã chìm vào quên lãng, bỗng gần đây nó lại sống dậy và khiến cho ông Tây ăn ngủ không yên. Mà chính tôi cũng tận mắt... Bà hạ thấp giọng như sợ có người nghe: - Cách đây không lâu, tôi còn nhìn thấy một cô gái có cái đầu trọc lóc đứng giữa nhà gào khóc! Nhìn kỹ lại tôi nhận ra chính là... nó. Hà hỏi lại: - Nó là ai? - Là đứa con gái, cô ấy là nạn nhân! Cô này là cô thư ký riêng của ông Henri. Ngày đó tôi còn nhớ, cô ấy đẹp lắm và cũng hiền lắm... Bỗng một hôm tôi nghe tin cô ấy mất tích. Ban đầu tôi cứ nghĩ cô ấy yêu ai đó rồi bỏ nhà đi xây tổ ấm. Nhưng hai tháng sau thì một tin động trời đã nổ ra: Cô thư ký Mỹ Dung đó được phát hiện treo cổ chết phía sau ngôi chùa lớn gần nhà ông Henri! Mà chết trong tình trạng thương tâm lắm, ngoài nhan sắc tiều tụy ra, cô ấy còn có cái đầu nhẵn thín, không còn sợi tóc nào! Bà Lệ ngơ ngác: - Sao vậy? Ngọc Hà cũng sững sờ: - Ai đã làm gì cô ấy? Tám Ni nói như sắp khóc: - Cô ấy đã xuống tóc xin quy y cửa Phật trước khi chết. Hà bị sốc dữ dội: - Trời ơi, đã quy y rồi sao còn tìm cái chết! - Đó là điều Làm cho ông Henri hối hận và đau khổ vô cùng! Hà buột miệng: - Phải chăng ông ta biết trước sự việc mà không ngăn cản được? Tám Ni gật đầu: - Cô nói đúng. Khi sự việc về mối quan hệ giữa ông ấy và cô Mỹ Dung xảy ra, chính ông ấy đã dàn xếp để cô ấy bỏ việc, lánh đi. Họ thuê một căn nhà để ở và dự tính chờ sau khi ông Henri làm thủ tục ly dị xong với bà vợ đầm xong sẽ chính thức cưới cô Mỹ Dung, thì đùng một cái, chẳng biết có ai tiết lộ, nên bà vợ già của ông Henri đã tìm tới tận nơi và quậy tung lên, làm nhục cô Mỹ Dung, đến nỗi cô ấy phải chạy vào chùa xin tá túc. Rồi đêm hôm đó sau khi xin quy y, cạo mái tóc dài quá lưng của mình, gói nó lại, nhờ nhà chùa gửi lại cho người yêu và sau đó cô lẻn ra ngoài phía sau chùa treo cổ tự tử! Ngọc Hà bỗng kêu lên: - Mái tóc này! Rồi cô quay sang dì Dung: - Dì nói chính ông Henri đã tặng cho dì đầu tóc này? Dì Dung gật đầu: - Đúng vậy. Nhưng ông ấy nói là mua ở một tiệm lớn... Tám Ni ngạc nhiên: - Tóc gì? Hà vuốt lên tóc của mình và nói: - Tóc tôi đang mang! Nhìn kỹ rồi chị ta kêu lên: - Đúng rồi! Hồi trước cô Mỹ Dung có mái tóc giống y như thế này! Rồi chị tiết lộ: - Tôi nhớ ra rồi, hồi đó có một hôm ông Henri nhờ tôi đem số tóc dài của cô Mỹ Dung ra một tiệm uốn tóc nhờ họ kết lại, rồi cho vào hộp, ông ấy nói để dành kỷ niệm... Hà nói mà cảm giác lạnh cả người: - Đúng rồi! Cô nhìn sang dì Dung, run run giọng: - Làm sao bây giờ hả dì? Bà Lệ cũng lo sợ: - Phải mau lột đầu tóc ra đi! Lúc này Tám Ni mới rõ mọi việc, chị nói: - Cô đây nếu sợ thì tôi có cách. Ở tiệm uốn tóc gần đây họ có nhiều kiểu tóc giả khác, chi bằng cô tới đó để họ thay, lấy đầu tóc này trả lại cho ông Henri. Dì Dung cũng đồng tình: - Hay là con làm vậy đi Hà... Ngọc Hà đi với Tám Ni tới tiệm uốn tóc, và thật bất ngờ, người chủ tiệm khi vừa thấy Hà bước vào đã nói liền: - Có người tới đây nhắn cô Ngọc Hà, rằng nếu cô muốn trả lại tóc thì hãy về ngay nhà chồng, có người đang đợi cô ở đó! Hà hỏi lại: - Người thân tôi là ai vậy? Người chủ tiệm lấy ra một mảnh giấy nhỏ trên đó có ghi mấy chữ. Hà đọc đủ cho mấy người chung quanh cùng nghe: - "Mỹ Dung"! Tám Ni kêu lên sửng sốt: - Cô ấy đây mà! Hà lặng người đi trong nỗi sợ hãi... Tuy nhiên cô vẫn phải thay tóc khác, bởi cô không tài nào dám mang lại mớ tóc dài mà cô rất thích kia. Tuy vẫn còn muốn ở lại, nhưng nhớ đến lời trong mảnh giấy, Hà giục mẹ đi về. Hà cùng với mẹ lên xe đò trở về nhà ngay, nhưng xui cho họ, chiếc xe họ đi lại gặp tai nạn, trên xe có đến gần chục người bị thương, trong số đó có Hà và mẹ. Hà lại bị thương ở vùng đầu, nên hôn mê đến hai ngày hai đêm, đến khi tỉnh lại thì cô hoảng sợ vô cùng khi thấy tóc trên đầu mình không còn sợi nào! - Trời ơi! Cô y tá chăm sóc cô giải thích: - Vết thương của cô nặng lắm, nếu không vào kịp bệnh viện thì có thể đã nguy tới tính mạng! Các bác sĩ đã phải làm hết sức mình. Bây giờ thì cô hết nguy hiểm rồi, nhưng phải nằm lại bệnh viện vài tuần để theo dõi. Hà chợt nhớ tới mẹ, liền hỏi: - Má tôi đâu? Cô y tá đáp: - Bà không sao, nhưng cũng bị gãy chân, đang nằm ở một phòng khác. Và cô y tá thắc mắc: - Theo địa chỉ của má cô cho, bệnh viện đã cho người đi đánh điện tín về nhà, vậy mà đã hai ngày rồi chẳng thấy ai lên nuôi bệnh hết! Kể cả nhà bên chồng cô nữa... Hà hoảng hồn: - Sao cho bên chồng tôi hay làm gì! Cái đầu tôi... Cô đưa tay sờ lên tóc, e ngại. Bỗng cô y tá nói: - Khi điều trị vết thương cần phải cạo tóc để dễ phẫu thuật, lúc ấy tụi này mới biết là cô mang tóc giả. Chính tôi đã gỡ búi tóc của cô, đặt ở đầu giường này, nhưng sáng hôm sau thì chẳng hiểu sao lại biến mất! Hà sững sờ một lúc lâu, cho đến khi cô y tá hỏi: - Cô có tính làm lại tóc giả không? Nếu cần thì vừa rồi có người đem vào tặng cho cô một hộp tóc giả, tôi để ở đầu giường kìa... Chị ta vừa nói vừa lấy chiếc hộp giấy lại. Vừa định mở ra thì Hà đã kêu thét lên: - Đừng! Trong hộp chứa một đầu tóc giả mà thoạt trông Hà đã nhận ra ngay, chính là đầu tóc mà cô đã gửi lại cho Tám Ni giao cho ông Henri! - Sao nó lại ở đây? Cô y tá nói: - Tôi nghĩ có lẽ ai đó biết cô mất đầu tóc nên đem cho tóc mới. - Người mang hộp này tới là ai vậy? Cô y tá lắc đầu: - Tôi cũng không biết, chỉ thấy nó nằm sẵn ở phòng trực, trên hộp có ghi nhờ chuyển cho bệnh nhân tên Ngọc Hà ở phòng số 3, nên tôi biết là gửi cho cô. Hà sợ sệt: - Chị làm ơn đem nó ra ngoài giùm, tôi không cần! Chợt cô y tá nhìn thấy một mảnh giấy dưới đáy hộp, cô lấy ra đưa cho Hà, có mấy chữ: "Đừng từ chối, hãy mang nó vào khi xuất viện. Không có tóc sẽ mất luôn chồng!". Ngọc Hà bàng hoàng, cô lẩm bẩm: - Ai vậy? Nhìn kỹ lần nữa thì rõ ràng đúng là tóc mình đã mang thời gian gần đây. Hà còn đang lưỡng lự thì cô y tá giục: - Cô nên nhận rồi bỏ vào tủ kia khóa lại, để ngoài coi chừng mất nữa! Không còn cách nào khác nên Hà đành phải chấp nhận như vậy và một lần nữa cô lại phải canh cánh bên lòng về cái tên Mỹ Dung. Nằm bệnh viện đến mười ngày mà vẫn không thấy ai bên nhà chồng, kể cả Tuấn lên thăm. Chính bà Lệ cũng ngạc nhiên: - Má đã nhờ người đi đánh hai lần điện tín rồi mà sao họ vẫn không lên thăm? Qua ngày thứ mười hai thì má con bà Lệ được xuất viện. Ngọc Hà ở thế bắt buộc nên lại phải đeo bộ tóc giả... của Mỹ Dung. Bà Lệ lo lắng khi nhớ đã qua ngày đám cưới, bà nói: - Không liên lạc được với nhà chồng con, chẳng biết dưới đó họ tính sao, tự nhiên má thấy lo... Hà cũng bồn chồn: - Linh tính cho con hay hình như có chuyện gì đó... Và điều gì đó đã xảy ra! Khi họ về tới thì nghe người nhà báo tin: - Đám cưới đã diễn ra rồi. Anh Tuấn đã lấy vợ, đám cưới đúng ngày quy định mà sao nhà gái mình không có má, chỉ có tụi con được rước qua bên đó cùng với chị Hà. Mà má nữa, sao ngày hôm đó má không về, để chị Hà một mình, chị ấy buồn lắm! Bà Lệ ngơ ngác: - Sao có vụ đó? Tao với con Hà bị tai nạn tưởng chết, nằm bệnh viện bữa nay mới về, vậy đám cưới với ai? Ngọc Liên, em Hà, cũng ngơ ngác: - Bữa đám cưới con thấy chị Hà mặc bộ đồ cưới lộng lẫy, con nghĩ chắc chỉ đi Sài Gòn mua về, chị Hà còn đưa tay vẫy con nữa, má nói gì kỳ vậy? Bên nhà đó còn nói do má đi đâu không biết mà lâu quá, sợ lỡ việc nên họ cử hành lễ cưới luôn. Khi nào má về sẽ tính sau! Bà Lệ tức giận quát nên: - Đồ quân tráo trở, bạc tình! Lợi dụng lúc người ta bị tai nạn lại đi cưới vợ khác! Nhưng đứa em của Hà lại nói: - Con thấy đó là chị Hà, chứ có ai khác đâu? Hà vùng đứng dậy, cô nói giọng nghiêm trọng: - Vụ này không đơn giản nữa rồi! Nó dính tới việc an nguy của con nữa, má để con đi qua bên đó! Cô nói xong đi liền, bà Lệ không kịp cản, nên phải giục Ngọc Liên cùng bà đi theo sau. Khi họ qua tới nơi thì thấy nhà sạp che làm đám cưới vẫn còn đó, trong nhà tuy bớt rộn ràng, nhưng vẫn còn đông. Mọi người vừa thấy Hà bước vào đã ngạc nhiên hỏi: - Ủa, mợ Ba mới đi hưởng tuần trăng mật sao về nhanh vậy? Ngọc Hà trố mắt: - Tuần trăng mật của ai? - Thì của mợ... Vừa lúc ấy bà Sương bước ra, bà chau mày hỏi: - Sao con về, còn thằng Tuấn đâu? Hà vốn đã bực tức về việc Tuấn làm đám cưới mà cô dâu không phải là cô, nên xẵng giọng: - Má còn hỏi được sao? Tuấn đi đâu hẳn má biết rõ hơn ai hết mà? Bà Sương ngạc nhiên: - Kìa, con sao vậy Hà? Hà xổ ra bao nhiêu uất ức: - Con không ngờ má là người lớn mà lại xử sự như vậy. Sao chưa hỏi rõ đầu đuôi, trong lúc con vắng nhà có mấy ngày mà má đã đi cưới vợ cho anh Tuấn! Má biết mấy bữa nay con bị tai nạn thập tử nhất sinh, suýt nữa đã không trở về được rồi không! Bà Sương ngơ ngác: - Con nói gì má không hiểu? Cái gì mà tai nạn, rồi cái gì là má đi cưới vợ khác cho thằng Tuấn? Vậy chớ đứa nào làm cô dâu rồi cùng thằng Tuấn đi hưởng tuần trăng mật? Ngọc Liên cùng với mẹ chạy vừa tới, cô lên tiếng liền: - Chị Hà con nói không phải chị là người trong đám cưới! Chị ấy với má con nằm bệnh viện hơn mười ngày mới về tới đây! Bà Sương như từ trên trời rơi xuống, bà lắp bắp: - Chuyện... chuyện đó... có chuyện đó sao? Rồi bà quay vào nhà hỏi mấy người giúp việc: - Tụi bay biết thằng Tuấn đưa vợ nó đi đâu không? Một người nói: - Dạ, nghe cậu Ba nói đưa mợ Ba đi Sài Gòn ở một tuần! Đây, cậu Ba có để lại địa chỉ, nói đây là nhà quen của mợ Ba. Hà chụp lấy mảnh giấy ghi địa chỉ, cô hốt hoảng: - Đường Hai Mươi, má có nhớ ngôi chùa Phước Hòa cũng ở đường này không? Nơi đó... cô Mỹ Dung treo cổ tự tử! Cả mấy mẹ con đều sững sờ. Sau đó Hà vụt chạy đi trong hoảng loạn, vừa gào lên: - Không xong rồi, anh Tuấn... Hà chạy ra bến xe đò... Cũng may là còn chuyến xe đêm, nên Hà không phải đợi qua sáng hôm sau. Chuyến xe tốc hành đó đưa Hà trở lại Sài Gòn rất sớm. Vừa tới bến xe, Hà đã gọi chiếc xe kéo về đường Hai Mươi. Sợ không nhớ chỗ, Hà hỏi người phu xe: - Chú biết chùa Phước Hòa ở đường Hai Mươi không? Người kéo xe tỏ ra am hiểu: - Ngôi chùa có cô gái tự tử chứ gì! Ở đây ai mà không biết chùa đó. Nhất là gần đây thiên hạ lại càng biết nó nhiều hơn, bởi cái hồn ma đêm nào cũng hiện ra nhát người qua lại, khiến ai nấy điếng hồn, thót tim luôn. Hà tò mò: - Chuyện đó có thật sao chú? Người kéo xe rùng mình: - Chuyện ma quỷ đâu phải chuyện giỡn đâu mà nói chơi! Mới hôm qua đây thôi, chính mắt tôi đây khi chở khách ngang qua đó còn nhìn thấy một người đàn ông ăn mặc như một chú rể, chạy từ bên ngoài vào sân chùa, rồi từ đó bò lê ra phía sau chùa, là nơi mà trước đây nghe nói có cô gái treo cổ tự tử! Tôi không dám chạy vào coi, nhưng nghe người ta đồn là hễ đàn ông nào mà chạy vào đó thì coi như đi nạp mạng cho oan hồn con ma thắt cổ ấy! Tội nghiệp cho người đàn ông nào đó... Hà hốt hoảng: - Sao chú không giúp cho người ta? Cô xuống xe trước chùa và đầu óc nghĩ tới Tuấn đang gặp nguy! Chạy thẳng vào chùa, chẳng nhìn thấy ai, Hà đi luôn ra phía sau chùa. Ở gốc cây cổ thụ, rõ ràng là Tuấn đang quỳ gối một mình! Hà bước tới, vừa định lên tiếng gọi thì chợt nhìn thấy trước mặt Tuấn, thòng từ cành cây xuống là thi thể của một người nữ. Nhìn kỹ hơn, Hà phát hiện người đang treo lơ lửng kia có cái đầu hầu như không có sợi tóc nào! Tuấn thì như đang ngây dại, đôi mắt nhìn về phía thi thể kia mà như đang nhìn vào một nơi xa xăm nào đó... Thậm chí anh chẳng hề nghe tiếng bước chân rất gần của Hà. Cho đến khi Hà lên tiếng gọi: - Anh Tuấn! Vẫn như pho tượng gỗ, qua hai lần Hà gọi mà Tuấn chẳng có phản ứng gì. Bỗng nhiên anh ngã chúi về phía trước khi Hà gọi lần thứ ba! Tuấn vừa ngã xong thì thi thể kia cũng từ trên cây rơi xuống đất. Hà chưa kịp có phản ứng gì thì trước mắt cô tối sầm lại, người cô lảo đảo... *** Một người Pháp già nói tiếng Việt rất trôi chảy, reo lên khi thấy Hà và Tuấn tỉnh lại:- May quá! Tuấn ngơ ngác nhìn ông ta, trong khi Hà thì bật ngồi dậy liền: - Ông là... Giọng nói quen thuộc của Tám Ni: - Đây là ông Henri mà lần trước tôi đã kể. Ông ấy được vong hồn cô Mỹ Dung về báo nên kịp tới đây cứu hai cô cậu đó! Hà nhìn ông ta đang ôm khư khư một cái túi thì nghi ngờ: - Ông này là thủ phạm gây ra cái chết cho cô Mỹ Dung, thì làm sao hồn ma cô ấy lại để cho ông ấy cứu người được? Tám Ni chỉ tay vào chiếc túi ông Henri đang ôm bên mình nói: - Ông ấy đã tới kịp và ôm cái xác của cô Mỹ Dung vào trong túi kia, để cô ấy không còn quấy phá ai nữa! Chính ông Henri lên tiếng: - Mỹ Dung là hồn ma, nhưng không phải lúc nào cô ấy cũng ác hay hại người. Bằng chứng là mới rồi, chính cái hồn thiện trong cô ấy đã không để cho anh này bị chết! Hà gay gắt: - Nhưng chính cô ta đã giả đóng vai tôi để gạt chồng tôi làm đám cưới với cô ấy và đưa chồng tôi về đây. Nếu tôi tới không kịp thì có phải chồng tôi đã bị cô ấy hại rồi không! Giọng ông Henri vẫn nhẹ nhàng: - Đúng là cô ấy có làm việc đó. Nhưng đó là cái hồn ác trong Mỹ Dung đã làm. Còn khi đã dẫn cậu này về đây rồi thì chính cái hồn thiện trong cô đã thắng được mặt ác nhờ vậy mà chồng cô mới thoát được chết, chứ nếu không thì anh ấy sẽ là người phải treo cổ trên cành cây, thay cho cô Mỹ Dung. Hà nghe lạ, nhưng không thể tin được ngay, cô còn đang tính hỏi lại thì chợt nghe một giọng nói cũng khá quen thuộc vang lên sau lưng: - Điều đó là đúng hoàn toàn! Quay lại nhìn, cả hai Hà và Tuấn đều kêu lên: - Bác sĩ! Bác sĩ Thuần khoa tâm thần, người đã điều trị cho Tuấn vừa xuất hiện. Ông hướng về Hà giải thích: - Cô khó mà tin được lời ông Henri nói, nhưng đó là sự thật. Tôi nghiên cứu sách vở về tâm linh đã có biết những chuyện như ông Henri vừa nói. Trong hồn phách người chết có hai trạng thái, lúc hiện về hay nhập vào ai đó. Có lúc thiện, lúc ác! Bây giờ Tuấn mới lên tiếng: - Tôi đã trải qua với cô ấy vào những giai đoạn như vậy! Lúc cô ấy hiện ra trong vai của Ngọc Hà vợ tôi, thì cô ấy rất dịu dàng để tôi tin đó là sự thật. Nhưng đến khi cần khống chế tôi dẫn đi thì cô ấy đanh đá, dữ dằn đến đỗi tôi không dám cãi lời! Như lúc về đây, cô ấy bắt tôi quỳ dưới gốc cổ thụ này và bảo rằng cô ấy phải trả thù, phải tìm ra người phải chết để thế mạng cho cô ấy đi đầu thai! Đến khi vợ tôi xuất hiện thì bỗng dưng hồn ma lại biến đổi thái độ rất nhanh, chuyển sang là một oan hồn yếu đuối, ngã ra đất bất động như một người ở cõi trần! Ông Henri vuốt nhẹ chiếc túi vải bên mình: - Nhờ thế mà tôi mới có thể thu hồi hài cốt cô ấy về mai táng lại. Hy vọng từ nay hồn phách cô ấy không còn về quấy phá ai nữa cả. Ông nói xong đứng lên bắt tay bác sĩ Thuần: - Cám ơn ông bạn già đã không quản ngại đường xa mà tới đây giúp tôi giải tỏa được gánh nặng này. Ông ta bước đi xiêu vẹo, ôm cứng chiếc túi như sợ có người giành lấy... Bác sĩ Thuần chép miệng: - Tội nghiệp họ! Người ta lên án ông ấy là không công bằng. Thật ra ông ấy yêu cô Mỹ Dung tha thiết, yêu chân thành. Và ngược lại cô ấy cũng yêu ông một cách trong sáng, bằng thứ tình yêu mà mãi đến chết vẫn không nguôi! Hà chen vào: - Nhưng chính ông ấy đã khiến cho cô ấy tự tử! Bác sĩ Thuần lắc đầu: - Tôi quen ông ta từ lâu, biết rõ mối tình của ông ấy với cô Mỹ Dung. Tôi biết chắc cô Mỹ Dung chết do quá phẫn uất chuyện bị đánh ghen, bị bôi nhọ danh dự nên bồng bột nhất thời mà tìm đến cái chết, chứ thật ra cô ấy vẫn yêu Henri tha thiết, yêu đến bứt không rời, xé không tan! Bằng chứng như chúng ta thấy đó, xác một hồn ma thì làm gì còn, vậy mà vì tình yêu, hồn phách kia đã tích tụ lại còn cho ông lấy được hài cốt kia. Ông ta hy vọng đúng, từ nay hồn phách cô Mỹ Dung sẽ không còn xuất hiện nữa! Ông quay sang Tuấn và Hà: - Cô cậu cũng mừng đi, từ nay đã thoát được sự quấy nhiễu rồi. Cô cậu có thể yên ổn mà sống bên nhau. Tuấn thắc mắc: - Tôi vẫn chưa hiểu, tại sao giữa chúng tôi và cô ấy chẳng hề có liên quan gì với nhau, thế tại sao hồn cô ấy lại đeo theo quấy phá? Bác sĩ Thuần nhìn Hà và nói: - Chính bởi cái đầu tóc giả kia. Tóc này nếu tôi không lầm là của cô Mỹ Dung? Hồn người chết luôn bám theo bất cứ vật gì mà khi chết mình còn để lại dương gian! Đặc biệt là tóc. Bởi tóc có liên quan tới máu của con người. Nó là một phần cơ thể của cô Mỹ Dung khi sống. Nó được cắt ra trước khi cô ấy chết, tức phần sự sống trong tóc đó vẫn còn sống. Đúng hơn là còn cái hồn sống của người đó! Cho nên khi có người khác đeo vào cơ thể họ thì sự giao thoa giữa người sống và người chết lập tức được theo nhau. Có thể gọi đây là hồn của tóc đã giúp cho Mỹ Dung bám theo cô Hà này, và từ cô Hà đã dính đến cậu Tuấn! Những lời ông nói làm cho cả Hà và Tuấn rùng mình! Họ nhìn nhau rồi cùng siết chặt tay nhau, như sợ bị chia cắt lần nữa! Tám Ni cũng lạnh người khi nói: - Vậy còn ai dám dùng tóc giả nữa! Bác sĩ Thuần lắc đầu bảo: - Không đúng đâu. Trường hợp xảy ra hiện tượng như tôi vừa kể là khi nào người để lại tóc mà bị chết oan, bị bức tử! Chứ người chết bình thường thì có sao đâu. Trước khi đi khỏi chỗ đó, vị bác sĩ tâm thần vỗ vai Tuấn nói thêm: - Là một bác sĩ tây y mà nói chuyện tâm linh, hoang đường, không khéo người ta cười cho! Nhưng tôi còn là một nhà tâm linh học. Tôi nghiên cứu và biết nhiều về linh hồn, về thế giới tâm linh... Ông ta đi lâu rồi mà Tuấn và Hà vẫn còn đứng yên. Lát sau chợt nhớ ra, Tuấn nhẹ giọng bảo vợ: - Mình về nhà ngay kẻo má ở nhà lo. Hà nói rất khẽ: - Lấy vợ ma rồi bây giờ bắt người ta thế vai phải không! Tuấn ôm chặt Hà vào lòng: - Còn vợ này tướng tinh còn dữ hơn ma nữa, cho nên hồn ma phải nhường tình yêu lại cho! Bây giờ mời... nương nương! Họ tay trong tay bước đi mà lòng tràn ngập hạnh phúc. Có lẽ nhờ những gì đã xảy ra mà họ cảm thấy thương yêu nhau hơn... *** Bà Sương thấy hai con về thì mừng lắm. Có cả bà Lệ và Ngọc Liên ở đó nữa. Họ cùng nói: - Hai người đi hưởng tuần trăng mật về có khác! Sau đó, hai bà mẹ dè dặt nói đủ cho Hà và Tuấn nghe: - Để tránh những rắc rối nữa xảy ra, có lẽ mình phải rước thầy về trừ khử cái vong lâu nay theo quấy phá! Hà nghiêm giọng nói: - Không cần đâu má! Tuấn nói thêm: - Chẳng những không cần rước thầy bà gì hết, mà trái lại tụi con sẽ lập một cái trang để thờ vong hồn cô ấy. Một con người đáng thương, đáng quý... Hà cũng đồng tình: - Con sẽ là người ngày ngày cúng vái cho cô ấy... Không ai phản đối. Và kể từ hôm ấy, trong phòng riêng của vợ chồng Tuấn có thêm một trang thờ. Họ không có ảnh của Mỹ Dung, nên thay cho ảnh chân dung, Hà đặt lên trang thờ chính lọn tóc mà cô từng mượn một thời gian... Một năm sau thì Hà sinh đứa con đầu lòng. Vào trước ngày sinh, Hà mơ thấy một cô gái với chiếc đầu trọc, gọi cô và nói: - Đặt cho đứa con đầu lòng là Mỹ Hạnh, đó là tên đáng lẽ tôi đã có mà chưa kịp. Thức dậy, Hà nói cho Tuấn nghe, anh gật đầu đồng ý ngay: - Dẫu sao mình cũng còn nợ cô ấy. Vậy thì nên theo ý cô ấy mà lấy tên Mỹ Hạnh cho đứa bé, nếu nó là con gái. - Em nghi nó là con gái. Cái bụng nhỏ xíu... Quả nhiên Hà sinh một bé gái thật xinh. Con bé mang tên Mỹ Hạnh! |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 37
CÁI CHẾT CÔ VŨ NỮ Ông Phát Sanh gọi người quản gia tới hỏi lại lần nữa: - Mọi việc chuẩn bị đã xong hết chưa? Quản gia Bảy Thành tự tin đáp: - Dạ bẩm ông, xong cả rồi. - Vụ rước ban nhạc xong chưa? - Dạ, chuyện rước dàn nhạc và các cô vũ nữ do cậu Hai lo, nhưng con biết chắc là đã xong hết rồi. Bởi lúc sáng cậu Hai gọi điện về nhờ con đưa xe lên đón mấy người đó. Con đã cho thằng Chín Sự đem xe đi, chắc chút nữa là về tới. Ông Phát Sanh là người làm việc gì cũng cẩn thận, ông dặn lại: - Tuy mọi việc đã coi như xong, nhưng để chắc ăn, mày coi lại lần nữa rồi có gì báo cho tao liền. Tao không muốn có một sơ suất nhỏ, bởi tối nay có tới gần chục người khách quan trọng, để họ phiền lòng là chẳng những tao mất mặt, mà cả công việc làm ăn của tao cũng tiêu đời luôn! Chín Sự biết trong số khách mời có ông tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng, biện lý, ông cảnh sát trưởng, người hét ra lửa ở xứ này và nhiều quan chức khác. Ông Phát Sanh làm bữa tiệc mừng thọ cho mình lớn như thế này là có ý đồ, bởi nếu được sự hậu thuẫn của số quan chức kia, thì việc làm ăn của ông sẽ thuận buồm xuôi gió và lợi nhuận không biết cơ man nào mà kể cho hết! - Thưa ông chủ, có khách muốn gặp ông. Ông Phát Sanh cau mày: - Khách nào vậy? Người làm đáp: - Dạ, một phụ nữ ăn mặc sang trọng, đi chiếc xe hơi đen đậu ngoài cổng. Đúng ra ông không tiếp khách vào giờ này, nhưng nghe khách là nữ sang trọng, lại đi xe hơi, nên ông Phát Sanh bảo: - Mời người ta vào phòng khách. - Dạ, bà ấy đã đợi sẵn ở phòng khách rồi. Ông Phát Sanh vừa bước ra phòng khách đã thấy một phụ nữ lạ, phục sức sang trọng, tỏ ra là một quý bà, đang ngồi nhìn ngắm khắp gian phòng. - Xin lỗi, bà là... Người phụ nữ vội đứng lên và rất lịch sự cúi chào: - Kính chào ông chủ Phát Sanh. Xin tự giới thiệu, tôi là Anna Kiều, được ngài chánh án Robert Trần giới thiệu đến. Đại diện cho ông ấy để dự buổi tiệc hôm nay. - Rất vinh dự cho chúng tôi, vậy xin mời bà ở đây chơi, bởi buổi tiệc đến bảy giờ tối nay mới bắt đầu. Hay là mời bà lên phòng trên lầu nghỉ, nhà có sẵn phòng cho khách. Người phụ nữ rất tự nhiên: - Thưa ông chủ Phát Sanh, tôi còn một số công việc phải làm, nên có lẽ tối nay đúng giờ tôi sẽ trở lại. Tuy nhiên, sở dĩ tôi ghé sớm là có một chút việc. Đúng hơn là có một món quà đặc biệt mà ngài chánh án gửi riêng cho ông, dặn phải đích thân tôi giao cho ông. Mong ông nhận cho! Bà ta nói xong quay đằng sau phất tay ra dấu, người tài xế cùng một người nữa hình như đã đợi sẵn, nên vội khiêng một cái thùng giấy lớn vào. Ngoài thùng có bao giấy và gắn ru-băng rất đẹp, đúng điệu là một gói quà, chỉ có điều là nó quá to, chẳng khác nào cái tủ lạnh. Ông Phát Sanh hơi ngạc nhiên, nhưng không tiện hỏi, liền ra lệnh cho gia nhân: - Bay đâu, nhận quà của bà đây, đem vào trong đợi một lát sẽ khui ra! Bà ta đưa tay ngăn lại: - Đây là quà đặc biệt dành riêng cho ông chủ, vậy phải để lúc ông vào phòng riêng và tự tay ông khui ra! Ông Phát Sanh cười lớn: - Chà, quà của quan chánh án có khác, nó đầy bí mật! Bà Anna cười tươi: - Như vậy mới gọi là quà quý hiếm chứ. Nói xong, bà ta đứng lên ngay: - Bây giờ xin kiếu ông chủ, đúng bảy giờ tôi sẽ trở lại. Bà ta đưa tay ra bắt với vẻ sành điệu khiến ông Phát Sanh cũng phải nể nang. Khi bà ta đi rồi, ông buột miệng: - Đúng là mẫu phụ nữ có tài giao tế! - Phải chi ba có được bà đầm như bà này, giao cho bà ấy đi ngoại giao thì nhất trần đời! Quay lại thấy thằng con cả nhà mình, ông Phát Sanh, điểm mặt anh ta: - Cái miệng oang oang của mày mà lọt tới tai "bà chằn" má mày thì có mà cháy nhà! Hai Sung cười tít mắt: - Con chỉ nói đúng tim đen ba thôi mà! Vả lại, má con chỉ ru rú trong nhà, ba cũng phải kiếm một bà để thay mặt đi ngoại giao chứ! Ông Phát Sanh nạt anh ta: - Nín đi mày, thằng khỉ! Phải rồi, nếu gặp mày thì chắc mày quơ hết chứ chẳng chừa! Hai Sung lại cười hô hố: - Phải chi bà ta còn trẻ thì con xin ba nhường cho! Anh ta nói xong thì định biến ra ngoài, ông Phát Sanh phải gọi giật lại: - Vụ dàn nhạc và đám vũ nữ xong chưa? - Thằng tài xế đang chở về. Có mấy con nhỏ ác chiến luôn, bảo đảm mấy cha quan chức sẽ híp con mắt, nhểu nước miếng ừng ực cho coi! - Chừng nào đưa tụi nó về thì bảo tụi nó đưa vào nhà bên kia cho ở tạm, dọn cơm nước cho tụi nó ăn trước, nhớ đừng để cho má mày thấy và biết. Hai Sung lắc đầu: - Tiếp khách theo kiểu ba thì làm sao rước được đám này! Trên đường về con đã chiêu đãi cho cả bọn một bữa cơm trưa, hai cữ cà phê thuốc lá, và còn đưa trước cho mỗi đứa một ít để dằn túi nữa! Nếu không tụi nó đâu có chịu, bởi bỏ một đêm ở vũ trường tụi nó mất "sở hụi" biết bao nhiêu. - Cậu Hai chịu chơi thì ráng móc tiền túi ra mà chi! Hai Sung nheo mắt cười: - Sao lại là tiền của con? Việc của ba thì ba phải chịu chứ! Con lấy tạm tiền thu nợ lúa được kha khá, nên con chi cũng bạo tay... Ông Phát Sanh kêu lên: - Trời ơi, mày xài hết tiền của tao rồi! Tiền đó... Hai Sung thản nhiên: - Thì trước sau gì cũng chi. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn mà! Nói xong anh ta biến rất nhanh, để lại nỗi ấm ức của ông bố! Thằng con trời đánh này thật ra phá của ông gấp trăm lần hơn số đó, mà từ lâu nay ông nào có nói được. Nói ra thì chính bà vợ ông cũng bảo: - Thì cha nào con nấy mà. 7 giờ tối... Các quan khách tới rất đúng giờ. Tiệc được bày ở sân vườn rộng trên nửa mẫu tây của ngôi nhà, đèn đuốc sáng choang, chẳng khác một ngày hội lớn! Đón xong các quan khách chủ chốt, đáng lý ông Phát Sanh đã yên lòng, nhưng chẳng hiểu sao ông lại bồn chồn, như còn chờ đợi mong ngóng một ai đó... Cuối cùng ông cũng phải buột miệng: - Sao bà ta chưa tới? Thì ra ông đang ngóng đợi Anna Kiều! Chợt quản gia Chín Sự hấp tấp chạy vào đưa ông một tấm danh thiếp: - Thưa ông, có người gửi ông cái này. Tấm danh thiếp ở mặt trước có dòng chữ: Anna Kiều - nguyên hoa hậu Sài thành. Còn mặt sau thì đầy chữ: "Thành thật cáo lỗi cùng ông chủ, Do có việc đột ngột phải quay về Sài Gòn ngay, nên không dự buổi tiệc của ông được. Xin chúc ông sống thọ trăm tuổi, sức khỏe dồi dào! Cũng xin nhắc ông, nên mở món quà ra ngay thời khắc khai mạc buổi tiệc. Chúc ông hài lòng! Anna Kiều." Bị hụt hẫng, ông Phát Sanh vụt đứng dậy, bỏ bàn tiệc đang có các yếu nhân và đi thẳng vào nhà, tự mở cửa phòng riêng và không nhờ một ai vào phụ. Ông cắt dây buộc bên ngoài cái thùng giấy. Lòng tự dưng hồi hộp... Cái thùng giấy được mở bung ra. Có tất cả hai lớp thùng, nên ông ta phải cắt hai lần dây thì mới tới lớp trong cùng. Và... - Trời ơi! Lão ta bật ngửa ra sau, mồm há hốc và suýt đứng tim! Trước mặt ông ta, nằm gọn trong thùng là... xác chết của một cô gái! Trong phòng không có ai, nên việc xảy ra chỉ một mình ông ta biết. Mà sự biết lúc ấy cũng chẳng có nghĩa gì, khi chỉ sau tiếng kêu không thành tiếng thì ông chủ Phát Sanh đã không còn biết gì nữa... *** Người đầu tiên phát hiện ra sự thể là quản gia Chín Sự. Số là do ông Phát Sanh vắng mặt khá lâu ở bàn tiệc, nên ngài tỉnh trưởng đã thắc mắc. Ông ta gọi quản gia lại và hỏi, Chín Sự lúng túng, nhưng nhờ kinh nghiệm nhiều năm phục vụ chủ mình, nên anh ta đã nói khéo rằng ông chủ bị đau bụng bất ngờ nên phải đi giải quyết...Nói xong, Chín Sự vội đi tìm chủ và khi anh ta mở cửa phòng riêng thì gặp ông Phát Sanh nằm ngất trong đó! Anh ta vội đỡ chủ dậy mà chưa kịp nhìn vật trong cái thùng. Ông Phát Sanh nhờ vậy đã tỉnh lại. Ông ta bật dậy và hỏi ngay: - Nó đâu rồi? Chín Sợ ngạc nhiên: - Thưa ông, ông hỏi ai ạ? Nhìn thấy cái thùng còn đó, ông ta chồm lên và một lần nữa sửng sốt! Nhưng lần này ông ta không ngất xỉu, mà trái lại đã kịp nhìn rõ mặt xác chết. Một tiếng kêu thảng thốt: - Kiều Mi! Thì ra đó là một người quen của ông ta! Đúng hơn đó là một trong những người mà ông Phát Sanh đã quen biết... đã từng có quan hệ tình cảm! Chín Sự lúc này mới chú ý tới thùng giấy, và anh điếng hồn khi nhận ra xác chết! - Ai... ai vậy ông chủ? Lần đầu tiên ông Phát Sanh hạ thấp giọng trước thuộc hạ của mình: - Mày... mày đừng la lớn. Mày coi có cách nào... Ông ta cố trấn tĩnh: - Mày coi lại coi, có phải cô ta... chết thật rồi không? Chín Sự hơi run, nhưng cũng không dám cãi, vội đưa tay lên mũi xác chết rồi hốt hoảng: - Chết rồi! - Mày... mày đừng nói cho ai biết! Mày ra ngoài và đóng chặt cửa lại... Ông ta cùng ra với Sự và cửa phòng được khóa chặt lại, nhốt trong đó một bí mật mà chính ông Phát Sanh cũng không hiểu... Buổi tiệc bên ngoài vẫn tiếp diễn... Chỉ có điều là suốt trong buổi tiệc đó, chủ nhân như kẻ mất hồn. Ông ta tiếp khách mà đầu óc cứ để đâu đâu, thậm chí còn ăn nói không đầu không đuôi, cứ quên trước, quên sau... Đến đỗi mấy khách lớn phải nói riêng với nhau: - Lão này chắc bị lẫn rồi, đâu còn minh mẫn như trước đây nữa! Họ bàn với nhau một lúc, rồi cùng nháy mắt ra hiệu và rút hết trong lúc chưa đến hồi kết thúc. Cái màn hấp dẫn nhất là khiêu vũ với mấy chục vũ nữ xinh đẹp rước từ Sài Gòn về vẫn chưa bắt đầu... Không ai biết chuyện gì đang xảy ra... Ngay trong đêm đó, khi bữa tiệc vừa tan thì quản gia Chín Sự đã phải làm một việc mà bản thân anh ta không hề muốn: chôn cái xác ngay trong vườn nhà! Do bị ông chủ nghiêm cấm không cho bất cứ ai ngoài anh ta biết chuyện, nên suốt hơn một giờ đồng hồ, chỉ bằng cây cuốc chim mà Chín Sự đã vừa đào huyệt vừa kéo cái xác ra, chôn luôn cả xác và cái thùng giấy lớn. Vừa làm xong, do quá mệt, anh ta ngả lưng đại bên nấm mồ vừa chôn. Nhưng chưa kịp thở lấy hơi thì Chín Sự đã suýt kêu lên, bởi có một người xuất hiện lù lù trước mặt anh ta, chẳng khác một hồn ma! Người ấy cất tiếng thanh trong nhưng có phần đanh đá: - Chuyện ai làm nấy lo, sao anh lại cáng đáng việc này? Đến lúc này Sự mới nhận ra người đứng sát bên mình là một phụ nữ ăn mặc sang trọng, mà dù trong ánh sáng lờ mờ, Sự vẫn nhận ra đó chính là bà khách ban chiều! - Bà... bà... Lời anh ta chưa trọn câu thì giọng nói sắc lạnh lại vang lên: - Gọi chủ anh ra đây! Giờ này mà gọi ông chủ ra quả là việc khó. Bởi sau tiệc thì lão Phát Sanh đã rút vào trong phòng riêng với bà vợ già và đố ai dám gọi. Anh ta lưỡng lự thì người kia quát: - Mày có muốn tao la ầm lên để mọi người cùng biết là mày đang giết người rồi chôn xác phi tang không? Chín Sự đành phải vừa bước lùi vừa lắp bắp nói: - Để... để tôi kêu! - Mày mà trốn luôn thì sẽ như cái xác này, nghe chưa! Sự riu ríu chạy đi và làm đúng như lời. Anh ta phải gõ cửa nhè nhẹ mấy lượt thì bên trong mới có tiếng càu nhàu của bà chủ: - Chuyện gì mà làm phiền vậy? Chín Sự phải dùng cách hù dọa: - Có trộm leo tường phía sau, chúng nó đông lắm, ông dậy lấy súng săn ra đối phó ngay đi ông! Bà chủ cùng chạy ra với ông, nhưng Sự nhanh trí nói: - Cướp có vũ khí, bà đừng ra mà nên ở trong phòng khóa cửa lại, để con với ông đi thôi! Ông Phát Sanh tưởng cướp thật nên run rẩy: - Mày... mày lấy súng... bắn nó, chứ tao ra làm chi? Chín Sự phải nheo mắt mấy lượt, lão ta mới hơi hiểu và dè dặt bước theo ra ngoài với khẩu súng hai nòng trên tay. Ra khỏi nhà, Sự mới nói nhanh: - Không có cướp, nhưng có người muốn gặp ông! Lão Phát Sanh chưa kịp hỏi thêm thì đã ra tới chỗ chôn xác, lão vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi đến bước đi không vững: - Mày... mày đưa tao ra đây chi vậy? Lão định tháo lui, nhưng vừa khi ấy giọng người đàn bà đã cất lên: - Sao bạc tình bạc nghĩa đến vậy hả ông chủ? Đến người tình chết mà cũng không được ông đến nhỏ cho vài giọt nước mắt nữa sao! Vừa nghe giọng nói là ông Phát Sanh đã điếng hồn. Ông lắp bắp: - Bà... bà là... - Anna Kiều xin chào tái ngộ ông chủ! Sao, không muốn tiếp tôi hả? Ông Phát Sanh líu cả lưỡi: - Tôi... tôi không hề làm chuyện này... Tại sao cô... cô đem cái xác này... Bấy giờ, giọng bà ta trở nên sắc lạnh hơn: - Chối tội thì tôi, ông hay anh quản gia này đều có thể chối được! Nhưng cái xác này chết ở đâu, ai đem chôn nó và chôn chỗ nào? Bấy nhiêu đó ông trả lời trôi hay không? - Tôi... tôi không... Hất hàm về phía Chín Sự, bà ta ra lệnh: - Hãy đào thêm cái huyệt nữa! Chín Sự cuống lên: - Thưa bà... đào chi nữa? - Để cho ông chủ của anh! Ông ta không muốn nhận cái xác này thì phải chôn ông ta theo với nó, may ra ông ấy sẽ hiểu việc ông ấy đã làm và tội của ông ấy tới đâu! Nhanh lên! Chín Sự đủ sức để chống lại mụ đàn bà yểu điệu kia, nhưng chẳng hiểu sao anh ta lại ngoan ngoãn nghe lời, mà còn cóng tay chân trước bà ta nữa! - Đào nhanh lên, và chính anh xô ông ta xuống huyệt, chừng nào ông ta không chịu lên tiếng nhận là mình đã giết cô gái dưới mồ này! - Dạ... Chín Sự vừa đào đất, thỉnh thoảng lại liếc về phía ông chủ mình... Bỗng nghe ông ta lên tiếng: - Ừ... tôi chịu... - Chịu là chịu thế nào? Dám ra trước nhà chức trách mà nhận tội giết người không? - Tôi... tôi đâu có giết Kiều Mi? Tôi chỉ... Bấy giờ bà ta mới rít lên: - Không cầm dao cầm súng giết, nhưng lấy con người ta có thai, rồi ép người ta phá thai, trong lúc cái thai đã năm tháng tuổi, như vậy còn hơn cả tội sát nhân nữa! Bởi chẳng phải chỉ giết một mạng người, mà có đến hai mạng cùng chết! Lúc này ông Phát Sanh mới hốt hoảng: - Có... có chuyện đó sao? Kiều Mi... cô ấy... Người phụ nữ phá lên cười đắc ý: - Cuối cùng thì ông cũng đã nhận ra người chết rồi! Kiều Mi, cái tên đẹp giống như người, đẹp đến khách làng chơi đều phải ngẩn ngơ, thèm muốn. Vậy mà chẳng một ai sở hữu được người đẹp, chỉ vì lão trọc phú Phát Sanh đã độc chiếm, đã dùng đồng tiền mua đứt cô ta! Nhưng sao dám chơi mà không dám nhận hậu quả? Sao lại nhẫn tâm xúi người ta phá thai khi cái thai đã thành người! Đến đỗi cô ấy phải vong mạng... Mỗi lời nói của bà ta như hàng vạn mũi kim xuyên vào thịt da lão, khiến lão Phát Sanh run lên bần bật: - Đừng nói... đừng nói nữa. Tôi... tôi biết... tôi có tội... - Vậy hãy đền tội đi! Lời bà ta vừa dứt thì chẳng còn thấy bóng dáng đâu! Lão Phát Sanh thay vì mừng thì lại càng run rẩy hơn: - Tôi... tôi không... Chín Sự thấy mụ kia đi rồi thì dừng tay, hỏi ông chủ: - Bà ấy đi rồi sao ông không chạy đi? Bấy giờ ông Phát Sanh mới chợt hoàn hồn, ông ta vừa định bước đi thì chợt có ai đó nói từ phía sau: - Chờ em với chứ! Nhìn lại không thấy ai chung quanh, ông Phát Sanh phát hoảng: - Ai... ai vậy? - Em lạnh lắm, sao để em nằm dưới này một mình? Xuống đây với em! Chín Sự nghe rõ giọng nói đó vang lên từ dưới nấm mồ! Anh ta hốt hoảng nhảy lên khỏi hố huyệt đang đào và định bỏ chạy. Nhưng giọng nói kia lại cất lên: - Khoan đã! Phải đẩy lão ta xuống rồi muốn đi đâu thì đi! Lão Phát Sanh kêu lên: - Kiều Mi! Lão ta đã nhận ra giọng nói của người tình, nên càng sợ hãi hơn: - Em... em đó sao, Kiều Mi? Em đừng... Lão ta định bước lùi, nhưng chẳng hiểu sao lại luống cuống và ngã sấp người tới trước, gần rơi xuống cái hố huyệt Chín Sự đang đào, suýt nữa nhát cuốc của anh này bổ trúng vào đầu lão ta! - Ông chủ! Ông đừng... Chín Sự buông tay cuốc đỡ chủ mình dậy, nhưng vừa lúc đó anh ta đã nhận ra đang có một bàn tay chụp cánh tay lão ta ghì mạnh xuống lòng đất! - Ông chủ! Chín Sự chỉ kêu lên được mấy tiếng rồi người lảo đảo, mắt tối sầm lại... *** Bà vợ ông Phát Sanh tiếp người khách mà bà hoàn toàn chưa biết mặt.Một cô gái còn trẻ, nhưng dáng vẻ tiều tụy và già trước tuổi. Cô ta ngập ngừng bước vào phòng khách trong khi bà chủ nhà đang ngồi trên bộ ghế trường kỷ. - Thưa bà, cháu tới để đưa thư của bà Phán Thơ ở Cà Mau. Nghe tới tên người bà con mà lâu ngày chưa gặp lại, bà Sanh mừng rỡ: - Vậy sao? Cháu là gì của chị Phán? - Dạ, cháu là... cháu kêu bằng mợ. Bà Phán Thơ là vợ của cậu cháu. Cô ta đưa một phong thư dán kín, bà Phát Sanh tiếp nhận và quay ra sau gọi lớn: - Con Tư Lài đâu, ra đọc thư cho bà coi. Con nhỏ giúp việc Tư Lài là đứa có học trong đám tôi tớ, nên mọi việc liên quan tới chữ nghĩa của bà chủ nó đều là đứa đảm nhận. Cầm lấy phong thư còn dán kính nó đưa mắt nhìn chủ thì được cho phép: - Xé ra coi nói gì ở trong đó? Con Tư Lài xé ra và đọc lớn. Thì ra trong thư bà Phán Thơ giới thiệu cô gái tên Ngọc Diện với một đoạn nói rõ: "... nó là cháu ruột của chồng tôi, có nghề làm thuốc rất giỏi, mà ở quê thì không có điều kiện để làm nghề. Vừa qua nghe người nhà của chồng tôi đi về nói có quen biết với chị, bảo rằng chị bị bệnh thấp khớp nặng, đi đứng khó khăn, nên tôi mới mạo muội gởi con Ngọc Diện này lên, nó sẽ ở bên chị, giúp theo dõi bệnh, điều trị thường xuyên... Thù lao, công cán thì nó không cần đâu, chỉ ở giúp thôi. Mai này nếu được, chị cứ coi nó như con cháu, xem được mối nào thì tính chuyện chồng con cho nó luôn cũng được. Con nhỏ mồ côi đáng thương lắm!". Việc trị bệnh phong thấp là gãi đúng chỗ ngứa của bà Phát Sanh. Bởi từ hơn ba năm nay, bà đã khổ sở bởi chứng bệnh này, thuốc thang thầy bà biết bao nhiêu rồi mà vẫn không khỏi. Tự dưng bà có cảm tình ngay với cô gái: - Cháu biết trị bệnh sao không mở phòng mạch? - Dạ, nhà cháu nghèo, nơi ở còn không có thì lấy đâu ra vốn liếng mở tiệm. Hơn nữa, cháu xưa nay chỉ chữa bệnh miễn phí. Giúp người chứ chưa ăn tiền ai. Bà Phát Sanh càng mừng rỡ hơn: - Đúng là tôi gặp được quý nhân rồi! Thôi được rồi, cháu cứ ở đây, coi như con cháu trong nhà. Ngoài việc trị bệnh cho thím, cháu không phải làm việc gì hết! Cô gái mừng rơn: - Dạ, cám ơn bà chủ. Con còn biết nấu ăn, may vá. Con sẽ phụ lo cơm nước cho ông bà. Mà nghe nói ông cũng bị chứng đau nhức nửa đầu nữa phải không? Bà Sanh ngạc nhiên: - Ủa, sao cháu biết? - Dạ, cháu nghe mợ cháu nói. - Ờ, chứng bệnh đó cũng làm cho ông ấy khó chịu lắm, lâu nay thầy ta thầy tây gì đủ thứ mà bệnh vẫn trơ trơ. Cháu mà trị được cho ông thì ông tôn làm sư phụ cho coi! Chợt bà nhìn sắc diện cô gái và hơi yên tâm: - Cháu không có nhan sắc mặn mà, chắc là được... Cô gái không hiểu, hỏi lại: - Bà nói vậy là sao? Bà Phát Sanh muốn nói thẳng ra là bà mướn người trong nhà này đều lựa những người không có nhan sắc, hoặc người lớn tuổi, bởi từ ông cha cho tới thằng con trai, đều là những tay háo sắc! Thấy bà có vẻ ngập ngừng, cô gái nói: - Cháu mát tay lắm, trị bệnh cho ai là hết liền. Nhưng với một điều kiện, đã uống thuốc của cháu rồi thì không được uống bất cứ thuốc gì khác! Bà Sanh chịu liền: - Thím sợ thuốc lắm, chỉ cần uống một thứ thôi đã ngán, còn sức đâu mà uống cho nhiều! Mà thuốc bắc hả? - Dạ không, của cháu là thuốc nam. Từ lá cây bông trái... nên rất dễ uống. Hơn nữa, cháu còn có cách trị bệnh mà không cần uống thuốc! Nghe vậy, bà Phát Sanh reo lên: - Có chuyện đó nữa sao? Trời ơi, đúng là Phật trời cử con nhỏ này tới giúp thím đây mà! Bà ôm chầm lấy Ngọc Diện mà tưởng chừng như là con cháu ruột hay người thân thiết lâu đời! Bà bảo Tư Lài: - Mày dẫn chị này ra chỗ dãy nhà khách, lấy căn phòng ở bìa ngoài cho nó ở. Nó là khách chứ không phải người làm trong nhà, nên tụi bay phải đối đãi như khách của tao vậy, nghe chưa! Vừa đi, Tư Lài nói khẽ với khách: - Chị là ngoại lệ đó, chứ trong nhà ít ai được như vậy lắm. Bà con của bà ấy dưới quê lên mà bà ấy còn cho ngủ ở nhà ngang dành cho bồi bếp! Ngọc Diện chỉ cười không đáp. Thế là từ một người hoàn toàn xa lạ, cô gái tên Ngọc Diện đã nghiễm nhiên trở thành một người trong nhà, lại càng lạ hơn nữa là chỉ sau một lần trị bệnh, bà Phát Sanh đã hết lời khen ngợi và tuyên bố thẳng với mọi người: - Nó là con nuôi của tôi đó nghen! Thời gian này, ông Phát Sanh đang nằm bệnh viện. Sau vụ xảy ra đêm đó thì ông ta phát bệnh và nằm liệt một chỗ luôn. Các bạn bè khuyên nên đưa lên Sài Gòn, cho vào nằm bệnh viện Grall của Pháp. Người ta không tìm được chứng bệnh chính thức của ông ta là gì, chỉ ghi nhận là ông ta bị chấn động thần kinh bởi một nguyên nhân nào đó chưa rõ... Ông ta nằm bệnh viện được mấy ngày thì sốt ruột hỏi đứa gia nhân nuôi bệnh: - Thằng Chín Sự đâu không thấy? - Dạ, chẳng hiểu sao anh ấy phát điên, quậy phá nhiều chuyện nên bà chủ ra lệnh không cho ở trong nhà nữa. Bây giờ chẳng hiểu anh ấy ở đâu! Ông Phát Sanh lo ngại: - Có ai biết nó đi đâu thì bảo đi tìm nó, cho tiền nó trị bệnh rồi bảo nó về trại ruộng dưới Phong Điền mà ở, chờ tao hết bệnh về sẽ tính. Ông đưa một số tiền kha khá cho thằng Hai Xê, bảo nó đi tìm Chín Sự ngay. Điều lo ngay ngáy trong lòng ông ta lúc này là cái miệng của thằng quản gia. Nó mà bép xép thì tiêu đời! Cũng may là nó phát điên... Qua một tuần điều trị, chứng hoảng loạn trong ông đã có phần thuyên giảm, nhưng chứng nhức nửa đầu thì hình như có phần tăng thêm. Cứ nửa đêm thì cơn đau lại đến và hành hạ ông đến sáng. Ông Phát Sanh đã báo cho bác sĩ Tây, nhưng họ cũng chỉ làm cho ông cắt cơn đau tạm thời thôi, sau đó mọi việc lại như cũ. Bỗng một buổi tối, khi ông đang nằm trong phòng bệnh một mình thì có một người đứng lấp ló bên ngoài, sau đó nhẹ bước đi vào. Nhìn lên thấy người lạ, ông giật mình hỏi: - Cô là ai mà vào đây? Đi lộn phòng phải không? Cô gái trùm kín mặt bằng chiếc khăn choàng theo kiểu dân nhà quê, nhỏ nhẹ đáp: - Cháu theo lệnh bà ở nhà đem thuốc vào cho ông. Chứng bệnh đau nửa đầu của ông mà không trị kịp thời thì đứt mạch máu não mà chết đó! - Nhưng... cô là ai? Cô gái không đáp, chỉ đặt lên bàn cạnh đầu nằm của bệnh nhân một chén thuốc còn nóng và quay ra ngay... Ông Phát Sanh gọi giật ngược lại: - Cô kia, làm sao tôi dám uống thuốc này khi cô không nói rõ cô là ai? Cô gái không dừng lại, chỉ nói với: - Không uống thì nội đêm nay ông sẽ bị hôn mê! Ông Phát Sanh muốn đứng dậy, nhưng nửa bên đầu của ông lại đau nhói lên, lần này đau dữ dội, chưa từng bị như vậy! Rồi từ phút đó, cơn đau cứ gia tăng, đau đến độ không tài nào chịu nổi, định lên tiếng gọi y tá, nhưng cũng không làm sao gọi được! Mà lạ thay, mỗi lần hít được mùi thuốc từ chén thuốc nóng thì cơn đau có vẻ dịu đi trong chốc lát. Đến khi không còn chịu đựng nổi nữa, lúc này ông ta mới chụp chén thuốc và uống đại, thuốc chỉ vào miệng được phân nửa, còn nửa kia thì đổ ra ngoài. Tuy nhiên, chỉ trong vài chục giây thì... như thuốc tiên, cơn đau nửa đầu của ông biến mất! Chưa tin đó là sự thật, ông Phát Sanh bật ngồi dậy rồi đưa tay sờ đầu. Trước đó một phút thì chỉ một cơn gió lùa qua, tóc lay động nhẹ cũng đủ làm cho ông đau buốt tới tận óc! Còn bây giờ, ông thử lùa tay vào tóc mà vẫn chẳng có cảm giác đau đớn nào! Phần 2 Sáng hôm sau, lúc ông Phát Sanh còn đang ngủ thì Hai Xê vào tới. Anh ta báo tin: - Chín Sự đột nhiên khỏi bệnh. Anh ta đã trở về nhà và được bà chủ cho làm việc lại! Hôm nay anh ta lên thăm ông! Chín Sự vừa bước vào đã đưa cho ông bốn thang thuốc nam và nói: - Của cô Ngọc Diện gửi cho ông, nói ông cứ uống hết bốn thang này thì ra viện được. Cô ấy nói hôm qua vào đây mà chưa kịp chào ông, chỉ sợ ông trách! Ông Phát Sanh ngạc nhiên: - Thì ra là con nhỏ đó! Mà nó là ai vậy? - Là con gái nuôi của bà chủ! - Con gái nuôi? Hồi nào đến giờ có nghe bà ấy nói tới đứa con gái nuôi nào đâu? Chín Sự hạ giọng nói: - Cô này lạ lắm ông chủ, cô ấy mới vào nhà mình ở có mấy ngày mà hầu như biết hết chuyện trong nhà. Kể cả chuyện cái xác chết nữa... Vừa nghe tới đó, ông Sanh đã giật bắn người: - Mày nói sao? Nó biết gì? Chín Sự trấn an: - Không có gì đâu. Nó chỉ nói là trong vườn nhà mình có oan hồn! Con hỏi nó tại sao nói vậy thì nó trả lời là nó có thể biết được chuyện quá khứ vị lai và rành chuyện âm dương... Chỉ vậy thôi chứ nó nào có biết chuyện gì khác! Ông Phát Sanh cũng hạ thấp giọng, không muốn cho Hai Xê nghe: - Mày đã san bằng nấm mộ đó chưa? - Dạ xong rồi. Chẳng những san bằng mà con còn trồng liếp rau lên đó nữa. Bữa nay rau mọc xanh rì, đố ai biết bên dưới có gì! Ông Sanh thở phào nhẹ nhõm: - Tao cứ lo... Chợt Hai Xê lấy trong túi ra tờ giấy nhỏ đưa: - Có người gửi cho ông ở phòng y tá trực. - Gì vậy? Ông Phát Sanh vừa mở ra đã sững sờ: - Trời ơi! Chín Sự ngạc nhiên: - Gì vậy ông? Trong tờ giấy nhỏ đó chỉ có hai chữ mà vừa trông thấy ông Phát Sanh đã điếng hồn. Bởi đó là hai chữ "Kiều Mi" viết hoa. - Mày... mày... Ông lắp bắp đến líu cả lưỡi. Trong khi Chín Sự vẫn vô tư: - Mọi việc xem ra ổn rồi ông. Chuyến này về con sẽ rước thầy yểm cho dứt nọc luôn! Con nghĩ có ai đó muốn phá ông nên mới đem... cái ấy về nhà... Anh ta quay lại nhìn thấy Hai Xê thì vội nói: - Mày bước ra ngoài để tao nói chuyện với ông chủ một chút. Nhưng ông Phát Sanh không chú ý lời nói của Sự, giọng ông run run khi buông tờ giấy xuống. Chín Sự cầm tờ giấy lên, vô tình hỏi: - Kiều Mi là ai vậy ông? Ông Phát Sanh quay sang hỏi Hai Xê: - Mày ra hỏi coi người gửi này là ai, gửi hồi nào? Cô y tá lúc ấy vừa bước vào đã trả lời thay: - Một cô gái rất đẹp xưng tên là Kiều Mi, nói có việc phải đi gấp nên chỉ gửi lại tên chứ không vào thăm ông được! Cô ấy nói chúc ông mau bình phục! Ông Phát Sanh rụng rời tay chân, ông nói lắp bắp: - Kiều... Kiều Mi, sao lại... Ông ta nhìn sang Chín Sự, rồi nói như muốn khóc: - Cô ta... là người mày đã chôn dưới mộ! Chín Sự trợn tròn mắt, người anh ta toát mồ hôi lạnh và cũng lắp bắp nói: - Sao... sao lại có chuyện này? Hai chủ tớ còn đang xanh mặt, thất thần thì chợt có tiếng của bà Sanh từ ngoài cửa phòng bệnh: - Nằm bệnh viện mà cũng tụ tập đông vui quá cỡ há. Bà bước vào với Ngọc Diện đi kèm bên. Vừa trông thấy ông, bà đã nói liền: - Sao cử người lên chăm sóc cho ông mà ông lại đuổi về? Nhìn sang Ngọc Diện, ông chỉ ngờ ngợ về dáng vóc chứ không biết là ai. Nghe vợ hỏi vậy, ông nói liền: - Bà cử ai đâu mà nói vậy? Mấy bữa nay thằng Hai Xê đi về dưới, tôi ở một mình, nửa đêm đau muốn tắt thở luôn, phải chi có ai thì đỡ biết mấy. - Vậy sao tối qua con nhỏ này vào ông không cho ở lại? - Vào hồi nào? Cô gái nhỏ nhẹ nói: - Con đem thuốc vào cho ông, tính nói lệnh của bà bảo ở lại thì lúc đó con thấy hình như có ai trong phòng này, nên sợ quá con đi ra ngay chưa kịp nói gì! - Lúc đó tôi đau gần chết, có ai trong phòng đâu? Cô y tá buột miệng: - Có lúc nửa khuya có một bà ăn mặc sang trọng đến đứng trước cửa phòng này rất lâu. Khi tôi ra hỏi thì bà ta vụt đi ngay, không nói mình là ai. Tôi cứ tưởng đó là người nhà của ông... Ông Phát Sanh hốt hoảng: - Lại mụ ta! Bà Sanh vừa nghe nói đã chanh chua lên ngay: - Thấy chưa, còn chối nữa thôi... Cô y tá còn bồi thêm một câu: - Cô gái hồi nãy hình như đi cùng với bà tới đây hồi khuya! Cô ta gửi mảnh giấy này rồi ra ngoài đường có chiếc xe đen của bà nọ chở đi liền! Bà Sanh như phỏng nước sôi: - Trời ơi, bệnh hoạn nằm bệnh viện gần chết tới nơi mà còn hẹn hò nữa nè trời! Rồi bà đột ngột quay sang Chín Sự: - Có phải mày dẫn mối cho ông ấy không? Cũng do mày hết, chính đêm lễ mừng thọ ông ấy, tao nghe nói là mày dẫn gái về hẹn ông ấy ở ngoài vườn, cho nên mày gạt tao là có cướp, để ông ấy ra gặp nó! Có phải con này không? Trong lúc bất cập, lại bị hỏi dồn, Chín Sự vô tình để lộ ra điều cần giấu: - Dạ, đâu có. Đêm đó con chỉ đào mộ chôn người thôi! Câu nói của anh ta khiến bà Sanh kinh ngạc mà ông cũng điếng hồn: - Mày... mày... Bà quát lớn: - Mày chôn cái gì? Chôn của để dành cho nó à? - Dạ... dạ... đâu có... Chôn người! - Trời ơi, mày hại tao rồi Sự ơi. Tiếng gào lên là của ông Phát Sanh, còn bà thì run rẩy: - Mày... mày nói chôn ai? Ai giết người mà chôn? Thấy có cô y tá ở đó không tiện, bà yêu cầu cô ra ngoài, rồi nghiến răng: - Ông và thằng này làm chuyện mờ ám gì, nói tôi nghe coi? Chín Sự là người yếu bóng vía, nên chỉ mới dọa sơ sơ đã gần như nói hết ra: - Dạ đâu có gì mờ ám. Chỉ bởi đêm đó ông và con bắt gặp một xác chết của ai đó để trong phòng, nên mới đem đi phi tang, sợ gặp rắc rối đến cò bót... - Ai chết? - Dạ... một cô gái! - Chết ở đâu? - Dạ... trong phòng đọc sách của ông! Tất cả những lời khai của Sự như lời cáo trạng của tòa án phán xuống cho ông Phát Sanh, khiến ông ta cứng họng, chẳng làm sao nói được lời nào... Phần bà Sanh thì sau khi nghe Sự nói xong, bà đứng dậy, nói như ra lệnh: - Đi về! Chín Sự lúng túng: - Con... con còn phải... - Mình đi về, còn ông ấy thì mặc kệ, cứ để ông ấy ở đây mà chờ gặp mấy con quỷ cái đó! Bà ngoe nguẩy bỏ đi ra. Chín Sự còn đang chưa biết phải làm sao thì đã nghe bà quay lại hét lớn: - Mày phải về mà đào mả đó lên? Bằng không thì chớ trách tao! Ông Phát Sanh đành phải nói xuôi: - Mày cứ về với bà ấy đi, rồi liệu mà làm... Chính Sự bước ra thì đã thấy chiếc xe nhà đợi sẵn. Bà chủ ra lệnh: - Chạy thẳng về nhà! Phải mất hơn sáu tiếng đồng hồ họ mới về tới nơi. Việc đầu tiên là làm theo lệnh của bà chủ: - Thằng Chín Sự đã đào mả chôn người, thì bây giờ chính mày phải đào đem nó lên và nói cho tao rõ nó là ai! Chín Sự run rẩy: - Đào lên thì con đào được. Nhưng nói đó là ai thì làm sao con biết được... Trước sự chứng kiến của một mình bà ta, Chín Sự hì hục đào nấm mộ mới chôn chưa đầy một tháng lên. Anh ta hồi hộp chờ chứng kiến một hình ảnh ghê rợn, nhất là cái xác chỉ chôn bằng cái thùng giấy đơn sơ. Anh ta nói: - Bà đứng xa xa một chút và lấy khăn che mũi lại, coi chừng mùi hôi thối dữ dội lắm! Tuy cơn ghen tức làm cho bà lồng lộn lên, chứ thật sự bà ta đang lo sợ. Nghe Sự nói thế, bà bảo: - Khi nào đào tới đó thì cho tao biết... Bà bước lùi mấy bước và chờ đợi... Chín Sự lại hì hục đào... Lát sau, anh ta kêu khẽ: - Tới rồi! Cái thùng giấy vẫn còn nguyên, nhưng sao lạ quá, không hề có mùi hôi thối của xác chết? Chín Sự cố nín thở và dùng tay kéo nắp thùng giấy ra, anh ta chờ đợi nhìn thấy cái thây ma trương to lên! Nhưng... - Sao lạ quá? Đâu rồi? Trước mắt anh ta, cái thùng giấy trống không! Bà Sanh nghe anh ta kêu như vậy cũng ngạc nhiên: - Cái gì? Xác nó đâu? Chín Sự đưa tay chỉ vào cái thùng giấy vừa nói: - Mất rồi! - Cái gì mất? - Bà tới mà coi! Bà Phát Sanh bây giờ mới dám rón rén bước tới. Bà nhìn chăm chú vào và ngạc nhiên hỏi: - Nó đâu? Sự buông thõng một câu rồi ngồi thừ ra: - Biến mất rồi! *** Bỗng nhiên có tin ông Phát Sanh giết người rồi phi tang xác được tung ra làm chấn động dư luận! Ban đầu nhiều người không tin, bởi với một người giàu sang tột bậc, lại chưa từng có tai tiếng gì về những vụ lôi thôi, thì làm sao ông ta có thể mang tội giết người được! Vậy mà có bằng chứng! Bằng chứng đó do một người tên là Anna Kiều tung ra. Mụ ta lúc này mới ra mặt là một trùm vũ trường. Làm chủ ba cái vũ trường lớn nhất ở Hồng Kông và Chợ Lớn, tuy đứng trong bóng tối kinh doanh, nhưng giới tài phiệt thì không ai là không biết. Bởi vậy khi báo chí đăng lời tố cáo của mụ ta nhắm vào trọc phú Phát Sanh thì dù là người tin tưởng lão trọc phú này cũng phải xét lại. Người ta tự hỏi: - Nếu vì tình thì ai cũng có thể hành động mà không làm chủ bản thân mình! Mụ Anna Kiều đứng ra tố cáo ông Phát Sanh giết người yêu là cô vũ nữ Kiều Mi, một hoa khôi vũ trường làm việc dưới quyền của mụ. Bằng chứng mà mụ đưa ra những tấm hỉnh chụp cảnh Phát Sanh âu yếm với Kiều Mi trong vũ trường, trong phòng riêng và cả khi lão đang mở cái thùng giấy đựng thi hài Kiều Mi, và cảnh Phát Sanh chứng kiến lúc Chín Sự đào huyệt chôn xác cô vũ nữ hoa khôi kia! Trước những bằng chứng như vậy, nên dẫu có quen biết nhiều, nhưng lão Phát Sanh vẫn bị bắt tạm giam dù lúc ấy lão vẫn còn nằm điều trị trong bệnh viện. Hay tin, dù còn đang ấm ức chuyện chồng lăng nhăng mèo chuột, nhưng bà Sanh cũng cuống cuồng chạy lo. Những quan chức địa phương lúc đầu hứa hẹn giúp đỡ, nhưng sau đó có lẽ biết được đằng sau vụ này còn có bàn tay của một cấp cao hơn, nên họ từ từ lảng ra hết. Sau cùng, có người chỉ cho bà tới một nơi mà bà không ngờ tới, đó là lão chánh án Robert! - Sao lại dính tới lão này? Dù ngạc nhiên nhưng bà Sanh cũng nhờ người dẫn dắt, tiếp xúc được với lão này. Thật bất ngờ, trong cuộc nói chuyện, một phụ tá của lão ta đã đưa ra một đề nghị thẳng thừng: - Đây là một vụ đại hình, ông Phát Sanh muốn thoát thì phải tốn kém lớn. Bà đồng ý? Bà Sanh lúc này đã gần như suy sụp tinh thần, bà nói buông xuôi: - Tốn bao nhiêu cũng được, miễn là lo cho chồng tôi khỏi tù tội. Ông cho giá đi. Tay phụ tá nói rõ số tiền phải chi, mà vừa nghe bà Sanh đã sửng sốt: - Trời ơi. Ông có biết là số tiền đó tôi bán cả sản nghiệp chưa chắc đã có đủ. Ông ta vẫn thản nhiên: - Tùy bà thôi. Cuộc thảo luận chấm dứt ngang. Bà Sanh hốt hoảng: - Xin ông nói với ngài Robert châm chước cho vợ chồng tôi nhờ! Ông ta vẫn lạnh lùng: - Phải suy nghĩ lại là bà chứ không phải chúng tôi. Bà quyết định sớm thì còn kịp, bằng để ra tòa xử công khai thì lúc đó có một chục ông Robert cũng không cứu nổi! Bà Phát Sanh đành phải chấp nhận. Hẹn sau khi có bản án, tất nhiên chồng bà được trắng án, thì sẽ giao tiền. Rời chỗ tiếp xúc bước ra, bà Sanh vô cùng ngạc nhiên khi thấy Ngọc Diện đã đứng đợi bên ngoài. Việc này là chuyện riêng, bà đã bí mật đi thương thảo, vậy tại sao cô gái này biết được? Bà ngập ngừng hỏi: - Sao con biết má ở đây? Ngọc Diện cười tươi: - Chẳng những biết mà con còn biết rõ là má đang bị người ta ép để lấy tài sản nữa! Bà giật mình: - Sao con biết? - Biết nên mới đợi ở đây để nhắc má rằng, cái bằng chứng quan trọng nhất là xác người bị hại, tức cô vũ nữ Kiều Mi, đã không có dưới mồ, thì lấy gì họ kết án được mà má lo? Lời nhắc nhở này khiến cho bà Sanh chợt nhớ! Thì ra do quá sợ trước các bằng chứng và dư luận, cho nên mấy hôm nay bà quên bẵng chuyện đào mộ không thấy xác của cô vũ nữ! Bà run giọng nói: - Con nhắc má mới nhớ. Trời ơi, chút nữa là nguy rồi! Vậy... vậy mình làm cách nào đây? - Má cứ phản cung, yêu cầu giám định pháp y, lúc đó đương nhiên người ta sẽ cho khai quật tử thi lên, và... Bà Sanh reo lên mừng rỡ: - Có vậy mà má cũng không biết! Ba ngày sau... Trong lúc cuộc khai quật tử thi chưa tiến hành thì thật bất ngờ, tại vũ trường Paradise có sự xuất hiện của một người mà vừa trông thấy cô, thiên hạ đã sửng sốt, suýt đứng tim! - Kiều Mi! Vũ nữ Kiều Mi vẫn lộng lẫy như ngày nào, cô bước lên sân khấu, nơi ban nhạc đang đệm đàn, dõng dạc tuyên bố: - Sau mấy ngày lánh mặt, nay Kiều Mi tái ngộ, xin gửi lời chào quý vị thân hữu! Mọi người ồ lên kinh ngạc, rồi sau đó họ xúm lại tiếp xúc với cô nàng. Tuy nhiên quản lý vũ trường đã ngăn lại, tuyên bố ai muốn nhảy với Kiều Mi thì phải mua tích-kê. Nhờ vậy mà chỉ trong khoảnh khắc, số tích-kê bán ra dành cho người muốn được nhảy với Kiều Mi đã vượt qua con số cao ngất, mà dù cho có nhảy liền ba đêm cô vũ nữ hoa khôi này cũng không thể nhảy hết với số lượng khách! Trong khi đó, nguồn tin lạ lùng truyền tới tai người điều hành trong bóng tối dịch vụ vũ trường là mụ Anna Kiều! Mụ ta vừa nghe tin đã sững sờ: - Làm sao có chuyện đó được? Chính tao đã... tao đã cho nó uống thuốc phá thai và... mạng vong rồi, làm sao sống lại được? Tay côn đồ Ba Búa, người giúp chủ mình thực hiện các hành động bảo kê, đã vội lên tiếng: - Chị để em tới coi ra sao đã. Có thể có ai muốn phá công việc của mình! Mụ Anna Kiều dặn nhỏ: - Dù con nào đó giả dạng thì cũng bắt ngay nó về đây cho tao! Bây giờ tao nhớ ra rồi, mới đây cái tin xác con Kiều Mi chôn trong vườn nhà lão Phát Sanh không cánh mà bay, chắc là có liên quan tới vụ này! Ba Búa tự tin: - Em đã làm đúng theo lời chị, mướn thợ ảnh rình chụp hết mọi việc xảy ra, nên dù cho có phi tang được xác thì cũng còn có ảnh, làm sao chúng thoát được! Mụ Anna giục: - Nhưng phải tới coi đứa nào dám tự nhận là Kiều Mi đã! Ba Búa đi ngay. Hắn ta là bảo kê của vũ trường nên sự xuất hiện của hắn khiến đám đàn em bâu lại báo cáo: - Lạ quá anh Ba, con nhỏ Kiều Mi sao lại xuất hiện khi có tin là nó đã chết rồi? Ba Búa vẹt đám đàn em xong đi thẳng vào sàn nhảy. Lúc đó Kiều Mi đang nhảy với một đại gia, bị Ba Búa thô bạo nắm tay kéo ra. Kiều Mi không phản ứng, chỉ nhỏ nhẹ nói: - Làm gì dữ vậy anh Ba? Ba Búa quát lên khi đẩy cô nàng vào phòng riêng: - Mày nói đi, mày là ai? Kiều Mi cười giòn: - Lâu ngày không gặp, tưởng Ba Búa có khôn ra chút đỉnh, nào ngờ vẫn chỉ là tên côn đồ, đầu bã đậu! Mày không nhìn thấy cô nương của mày đây sao mà còn hỏi? Tao là ai hả, tao là... má mày! Vừa nói cô nàng thẳng tay tát mấy cái liền, khiến cho Ba Búa lảo đảo! Trong đời hắn có lẽ đây là lần đầu tiên hắn bị một người đánh, mà người đó lại là con vũ nữ thường khi vẫn sợ oai của hắn như sợ cọp. - Mày... mày... Hắn lồng lên, định giáng cho cô nàng mấy cái tát, nhưng sao tay hắn nặng như đeo chì, không tài nào cất lên được! Trong khi ấy Kiều Mi thản nhiên bước ra cửa phòng, nói với lại: - Muốn yên thân thì để tao yên! Sớm muộn gì cũng tới phiên mày thôi, thằng khốn! Cô nàng đi thẳng ra sàn nhảy, tiếp tục cuộc vui và xem như chẳng có chuyện gì xảy ra! Tên Ba Búa sau khi hoàn hồn, tự dưng hắn co vòi, lẳng lặng rời khỏi vũ trường và... đi luôn chứ không trở lại báo cáo cho mụ Anna! Chờ hơn một tiếng đồng hồ mà chưa thấy hắn về, mụ Kiều sốt ruột bảo tài xế Tư: - Mày lấy xe đưa tao tới vũ trường Paradise. Tới nơi, mụ ta không khéo léo ẩn mặt nữa, mà công khai đến quầy, vừa ra lệnh cho tài-pán Linh Nga: - Mày kêu con nhỏ xưng là Kiều Mi tới đây. Bảo nó vào phòng quản lý, tao chờ ở đó! Mụ ta không phải chờ lâu, chỉ vài phút sau thì Kiều Mi bước vào. Nhưng cô ta không vào một mình, mà bên cạnh còn có mấy người nữa. Trong số người này, có hai người mà vừa trông thấy mụ Anna đã giật mình: - Sao mấy người này vào đây? Người thứ nhất là ông cò cảnh sát đô thành, gọi là cò Sĩ, còn người kia là phóng viên Anh Quốc của tờ nhật báo bán chạy nhất thời ấy, báo Diễn Đàn. Cả hai đều lên tiếng: - Chúng tôi được cô Kiều Mi mời tới để chứng kiến một màn vui! Kiều Mi lên tiếng trước: - Thế nào, bà chủ còn tính giở trò gì nữa đây? Các trò ác của bà chưa đủ sao? Biết nếu để cô nàng ta nói trước thì sẽ lôi thôi, nên mụ Anna nói một hơi: - Cô là ai mà dám giả dạng Kiều Mi? Cô nên nhớ Kiều Mi đã chết rồi... Nhưng lời nói của mụ đã bị chặn ngang bởi giọng đanh thép của Kiều Mi: - Chết do bàn tay độc ác của bà chứ gì! Chết bởi gói thuốc bà nói là dưỡng thai mà thật ra đó là thuốc phá thai! Bà cho tôi uống thuốc phá thai trong lúc cái thai đã hơn năm tháng, và... tôi chết để cho bà thực hiện ý đồ vu oan cho ông Phát Sanh, người mà bà muốn chiếm đoạt tài sản! Đúng ra với miệng lưỡi của một trùm kinh doanh vũ trường, mụ ta thừa sức cãi lại, nhưng chẳng hiểu sao lại lặng im nghe tiếp những lời tố cáo nữa của Kiều Mi: - Sau khi giết tôi chết, bà đã mướn Ba Búa đưa tôi về nhà ông Phát Sanh, bắt ông ta phải chịu hàm oan! Tội nghiệp cho người đàn ông đó, ông ta có tính hảo ngọt, là tác giả bào thai trong bụng tôi, nhưng tôi không hận ông ta, bởi từ đầu ông ta đã chu cấp cho tôi đầy đủ, rồi khi thấy xác tôi, ông ta cũng cho mai táng đàng hoàng, chứ không bỏ mặc! Sao, những lời tôi nói có đúng không? Sau một hồi im lặng, mụ Anna đáp thật nhỏ, nhưng mọi người cũng nghe được: - Phải, tôi nhận. Ông cò Sĩ quay sang phóng viên Quốc: - Anh cũng đã nghe rồi đó. Chỉ cần thu thập thêm vài chi tiết nữa thì chúng tôi đã đủ bằng chứng để truy tố bà này rồi! Quốc cũng nói: - Giờ thì chúng tôi mới hiểu, nhân đây chúng tôi có lời xin lỗi cô Kiều Mi, nhất là rồi đây chúng tôi sẽ đăng lời xin lỗi ông Phát Sanh. Ông cò Sĩ quay sang hỏi Kiều Mi: - Cô có thể nói rõ về nguyên do mà cô không chết, mặc dù đã uống nhằm thuốc và đã bị chôn xuống mộ rồi? - Số trời cả các ông ạ. Tôi sống được là do... nợ duyên của tôi với người tôi yêu chưa dứt. Nhất là vì đứa con trong bụng tôi... Cò Sỹ ngạc nhiên: - Cô nói đã mang thai hơn năm tháng, mà sao... Kiều Mi cười: - Mà sao cái bụng tôi nhỏ xíu chứ gì? Thưa với ông cò, khi bị ép uống thuốc, đúng ra thuốc đó đã làm cho chẳng những tôi chết, mà bào thai trong bụng cũng phải chết theo! Nhưng kỳ lạ thay, nhờ cái thai quá lớn, quá khỏe, nó vùng vẫy, nó chòi đạp mạnh quá, khiến cho tôi nôn ra gần hết số thuốc phá thai kia, và... nhờ vậy mà tôi sống! Khi bị chôn, do anh chàng chôn tôi quá sợ, chỉ chôn sơ sài, lại không có hòm gỗ, nên sau nửa giờ là tôi đã moi đất chui lên được! Những lời nói xác thực đã thuyết phục được hai người nghe quan trọng. Họ ghi nhận và trước khi ra về còn nói: - Chúng tôi sẽ cho công luận biết sự thật, còn bây giờ để cho bà Anna đây có thì giờ sám hối tội lỗi, tôi tạm để cho bà tại ngoại, khi nào cần thiết chúng tôi sẽ mời bà. Khi họ ra về hết, mụ Anna vẫn còn ngồi lại một mình. Nửa giờ sau, khi mụ ta định bước ra thì một người xuất hiện khiến mụ bực mình: - Sao bảo mày đi lo vụ con Kiều Mi mày lại biến mất? Rồi bây giờ tới đây làm gì khi tao đã bị lộ tẩy rồi! Ba Búa trông có vẻ thảm não: - Em báo cho bà hay, em phải bỏ trốn thôi! Mụ Anna hốt hoảng: - Mày mà trốn thì tao sẽ nhận án một mình sao, không được! Ba Búa lạnh lùng nói: - Mọi chuyện do bà gây ra thì bây giờ bà phải một mình gánh chịu thôi! Nói xong, anh ta còn lấy trong túi ra một bịch giấy. Đặt trước mặt mụ, anh ta nói: - Đây là thang thuốc độc của bà đặt mua để đề phòng con Kiều Mi chưa chết thì cho uống thêm. Nay không còn dùng nữa thì tôi trả lại cho bà để... bà có dùng thì dùng! Đây, cả địa chỉ bà thầy chuyên phá thai nữa, bà giữ lấy! Anh ta bỏ đi nhanh khiến cho mụ Anna có muốn gọi lại cũng không còn kịp nữa. Sắc mặt đầy phấn son của mụ giờ đây cũng không che nổi sự nhợt nhạt vì biến sắc, cho nên trông mụ ta rất thảm hại... Khi mụ ta bước qua sàn nhảy để ra về thì nhìn thấy Kiều Mi vẫn đang nhảy nhót tưng bừng. Cô nàng trông thấy và nheo mắt với mụ, như cố tình chọc tức! Mụ ta vẫn còn cái máu ác trong người, nên trợn mắt nghiến răng: - Tao mà ăn tươi nuốt sống được mày lúc này tao sẽ nuốt ngay! Đồ... đồ... Tự nhiên mụ cảm thấy cổ họng mình có chất nhờn tràn lên, rồi không ngăn được nó trào ra khóe miệng: Máu! *** Bà Sanh quá bất ngờ khi thấy Ngọc Diện tay ôm một đứa trẻ sơ sinh từ ngoài bước vào. Bà trố mắt:- Con ai vậy? Ngọc Diện với thái độ bất thường, đang nhìn thẳng vào bà, giọng rõ ràng: - Nó là con của tôi. Nó sống được nhờ tôi uống thuốc phá thai! - Diện, mày... Bà Phát Sanh nghĩ đứa con nuôi của mình bị tâm thần: - Mày ăn nhằm thứ gì mà kỳ vậy Ngọc Diện? Giọng cô nàng vẫn bình tĩnh: - Con tỉnh táo đây bà. Hôm nay con muốn nói ra một sự thật, mà có lẽ nghe xong bà sẽ ngạc nhiên lắm. Con chỉ xin bà nghĩ tới công chữa hết bệnh cho bà và ông mà tha cho những gì con phạm phải... Lời cô ta càng nói càng bí hiểm, nên bà Sanh gắt lên: - Có gì con nói đại đi, lòng vòng hoài! Ngọc Diện đặt đứa bé xuống, vừa nhìn nó và hỏi: - Bà coi nó có giống con không? Liếc nhìn sang đứa bé, bà nói đại: - Giống. - Còn giống ai nữa? Bà Sanh nói đại lần nữa: - Không lẽ nó giống tao! Không ngờ Ngọc Diện cười to và nói: - Giống bà thì không, nhưng nó... giống ông chủ! Câu nói này một lần nữa khiến bà Sanh giật mình, bà nhìn sững đứa trẻ và thảng thốt kêu lên: - Nó... nó giống thật! Giống nhất là cái mũi lân và hai dái tai dài, trông chẳng khác ông Phát Sanh chút nào! - Sao... sao lại như vậy? Cô nàng lạnh lùng nói: - Bởi nó là giọt máu của ông thì phải giống cha nó chứ sao! - Kìa, con Diện... Bà đứng dậy nhìn vào đứa bé lần nữa, rồi hỏi lớn: - Có phải ai đó bảo mày ẵm đứa nhỏ này về nằm vạ đây không? Giọng của Diện vẫn đều đều: - Nó là con của ông thì giao lại cho ông nuôi, đó là điều hợp lý. Bà Sanh thét lên: - Mẹ nó đâu? Vẫn giọng bình thản: - Là con đây. Bà nhĩn kỹ con coi. Bà Sanh ngẩng lên nhìn và bà hốt hoảng khi thấy trước mắt mặt mình giờ đây không phải là Ngọc Diện nữa, mà là... một cô gái khác! - Bà ngạc nhiên cũng phải, bởi bà chưa một lần gặp tôi! Xin tự giới thiệu, tôi là... Kiều Mi, người tình của ông Phát Sanh! Nếu như thường khi thì bà Sanh đã gầm lên, nhào tới cấu xé kẻ trước mặt mình. Nhưng bây giờ bà lại đứng bất động, mặt tái mét! - Bà đừng ghen, cũng đừng làm ầm ĩ. Bởi tôi tuy có lỗi là giành chồng với bà, nhưng tôi lại có hai công lớn: Công thứ nhất là sinh cho ông nhà một đứa trẻ kháu khỉnh, ngoan hiền, chính đứa bé này về sau sẽ nối dõi tông đường, thừa kế xứng đáng cho dòng họ này, chứ không phải là thằng anh cả trác táng, phá của Hai Sung đâu! Công thứ hai là đã cứu cho tài sản nhà này không bị mất về tay mụ Anna Kiều. Bà nhớ vụ ông bị vu cáo vừa rồi không, ai đã cứu nhà này? - Tôi... tôi... - Chắc bà nghe kể lại rồi, chính nhờ sự xuất hiện của tôi đã làm đảo lộn hết mọi mưu mô của bọn người xấu, hóa giải được chuyện ông Phát Sanh giết người chôn xác ở ngoài vườn... - Chuyện đó là âm mưu của con Anna Kiều? - Âm mưu thì có, nhưng với bằng chứng là cái xác trong vườn, thử hỏi làm sao ông nhà thoát tội? Bà Sanh lớn tiếng: - Nhưng tôi đã đào mồ lên rồi, không có xác nào dưới đó! Và bằng chứng là cô vẫn còn sống nhăn ra đây, lấy gì buộc tội chồng tôi chứ! Kiều Mi cười gằn: - Bà vẫn tự tin quá đáng. Vậy bây giờ bà có dám ra xem ngôi mộ lần nữa không? Bà Sanh phát bực lên: - Tôi không rảnh! Nhưng Kiều Mi đã đứng lên và nói như ra lệnh: - Đi ra xem! Tự dưng bà Sanh ngoan ngoãn bước theo. Đến nơi, đã thấy nấm mộ đất đã được đào lên sẵn, chỉ có cái thùng giấy là còn đậy nắp. Kiều Mi chỉ tay và nói: - Bà có muốn xem cái thi thể trong thùng không? Bà Sanh hơi khựng lại, đứng im. Bất ngờ, Kiều Mi đá chân một cái, nắp thùng giấy bật tung ra, và... trong đó có một thi thể phụ nữ! Và còn bất ngờ hơn khi bà Sanh nhìn kỹ và la lên: - Con Ngọc Diện! Người nằm chết trong thùng đúng là Ngọc Diện! Giọng của Kiều Mi vang lên: - Ngọc Diện cũng chính là tôi. Tôi là Ngọc Diện. Và xin nói ngay để bà biết, tôi thật sự đã chết rồi, chết đúng là do uống thuốc phá thai. Nhưng có điều là khi chết hồn phách tôi không tiêu diêu được bởi cái bào thai chưa tới số. Tôi phải sanh cho được đứa con, gửi nó lại cho bà nuôi giùm, bởi dẫu sao nó cũng là giọt máu của chồng bà! Vừa qua, cám cảnh ông đã giúp tôi nhiều khi sống, cho nên tôi đã hiện về và giải oan cho ông, cứu nhà bà không bị phá sản. Bây giờ nhiệm vụ tôi đã xong, tôi xin kiếu! Dứt lời, cô ta thoắt một cái đã biến mất! Nhìn lại thì trong thùng giấy cũng chẳng còn xác Ngọc Diện. - Cô... cô... Bà Phát Sanh đứng im như bị trời trồng... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 38
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXVIII: Người Mượn Hồn- Phần 1 Bà chủ ngôi biệt thự Xuân Lan nhờ Trọng giúp một tay thì mới đẩy được cánh cổng sắt vô. Bà giải thích như sợ anh chàng ngại: - Mùa này trời mưa thường xuyên và độ ẩm cao, nên cổng sắt bị rỉ sét, chớ thật ra nhà này không có người chỉ chưa đầy hai năm. Nhưng Trọng lại có vẻ thích điều ấy, anh vui vẻ nói: - Cháu lại khoái ở những nơi lâu lắm không có ai như vậy mọi hơi hám của người khác sẽ không còn chút gì... Nghe cách nói lạ của anh chàng khá điển trai và có chút phong trần, bà chủ nhà tuy tuổi đã gần sáu mươi cũng phải liếc nhìn. Và chẳng hiểu nghĩ sao, bà chỉ nhẹ mỉm cười... Dẫn khách đi xem qua một lượt khắp nơi, đến các căn phòng đóng kín cửa, bà Xuân Lan mở từng phòng, phòng nào cũng đầy đủ tiện nghi, trang bị hiện đại, nên chắc chắn là rất thích hợp với những người trẻ tuổi. Trọng cười: - Tuy trông bụi vậy chớ cháu chỉ mới ba mươi, còn có thể gọi là trẻ sao? - Cỡ như tôi đây mới đúng là già, phải không cậu! Hình như mình vô tình đã chạm vào điều cấm kỵ của một phụ nữ lớn tuổi, nên Trọng chữa lại ngay: - Trẻ nghĩa thông thường chỉ những người tuổi dưới ba mươi, còn hiểu rộng ra thì ở tuổi sáu mươi trở xuống vẫn còn được gọi là trẻ. Bởi một công chức phải tuổi sáu mươi mới bị cho nghỉ hưu kia mà! Mải lo nói chuyện Trọng quên nhìn kỹ một căn phòng có cách trang trí lạ hơn các phòng khác, đến khi bà chủ sắp đóng cửa phòng lại, anh mới kêu lên: - Bà cho tôi xem lại căn phòng này. Cửa mở ra, Trọng lại suýt xoa: - Như vầy không công bằng. Tại sao chỉ riêng có phòng này là toàn bộ đều màu hồng, nổi bật hơn tất cả các phòng kia? Biết Trọng hỏi đùa, nhưng bà chủ vẫn vui vẻ trả lời: - Đây là căn phòng riêng mà mới tháng trước tôi cho trang trí, sơn phết lại đúng theo ý người tới thuê. Tiếc là giờ chót cô ấy bỏ cả sáu tháng tiền đặt cọc, vì một lý do bất khả kháng, cô ấy kẹt ở nước ngoài không về được. - À, ra thế... Trọng có vẻ thích thú trước việc có một cô gái nào đó cũng có ý định thuê một biệt thự ở xa thành phố giống như mình. Như vậy ít ra anh cũng không phải là người duy nhất có ý tưởng khác người, chỉ thích những nơi thật ít người, sống biệt lập. - Như vậy lỡ khi cháu vào ở rồi mà cô ấy về đột ngột thì sao? Bà chủ Xuân Lan cười: - Cần đuổi là tôi đuổi, nhưng với một người hoạt bát, hiểu biết nhiều như cậu thì tôi đâu đủ sức làm càn, đuổi đi khi hợp đồng còn hiệu lực! Trọng cũng đùa: - Nhưng nếu cô ta về, bà không đuổi tôi đi! - Cô nào? - Thì cô gì bà vừa nói, đã đặt tiền cọc mà bỏ, không ở. Bà Xuân Lan cười thành tiếng: - Cậu này nịnh đầm thuộc loại dữ đây! - Chẳng qua do tôi sợ phụ nữ thôi. Nơi nào có phụ nữ là tôi tránh xa. - Thiệt hông? - Bằng chứng là tôi chỉ thích ở một mình nơi nào thật vắng vẻ. Và đó là lý do tôi chấp nhận thuê một ngôi nhà rộng đến tám phòng, giá thật cao, chỉ để ôm gối ôm mà ngủ. Bà Xuân Lan lại nhìn khách như dò xét: - Điều này chắc là phải chờ thời gian trả lời. Bởi trong điều khoản thuê nhà, đâu có điều nào quy định người thuê chỉ ở một mình? Thấy bà chủ cũng vui tính, nên sau khi xem xong nhà, nhận chìa khóa. Trọng đã vui vẻ nói nửa đùa nửa thật: - Nói vậy chớ nếu cần, bà có thể báo trước vài tuần là tôi có thể hủy hợp đồng. Với điều kiện là chỉ nhường lại nhà cho cô nào đó đã lỡ hạn hợp đồng trước đây thôi. Trước khi ra về, bà chủ nhà còn nói vói lại: - Chiều nay tôi sẽ giới thiệu cho cậu một người giúp việc rất tốt. Trước đây chị ta từng làm ở nhà này. Trọng chỉ định sau khi xem nhà xong sẽ ra về, và đợi khi nào nhờ người dọn dẹp xong mới dọn đến ở, tuy nhiên chẳng hiểu sao anh lại tò mò, muốn xem lại cho kỹ căn phòng màu hồng lúc nãy. Dẫu sao thì giờ đây ngôi nhà này cũng đã thuộc về mình, tại sao không xem những gì mình muốn? Nghĩ vậy nên Trọng bước trở lại căn phòng lúc nãy. Sau vài giây lưỡng lự, Trọng bước thẳng vào bên trong. Chỉ còn lại một mình nên Trọng có thì giờ xem tỉ mỉ hơn, lúc này anh mới thầm phục óc thẩm mỹ của người trang trí căn phòng, bởi từng chi tiết nhỏ nhặt, cũng được thực hiện một cách hoàn hảo, chứng tỏ giữa người có ý tưởng và người thực hiện có sự đồng cảm sâu sắc. Đi một lượt khắp phòng, điều làm cho Trọng ngạc nhiên hơn cả là sự sạch sẽ đến tuyệt đối ở mọi nơi, còn hơn những căn phòng đang có người ở. Trong lúc bà chủ nhà nói là cô ấy từ ngày đặt cọc trên một năm nay rồi chưa hề đặt chân đến đây lần nào... Càng ngạc nhiên hơn khi ở dưới chiếc gối còn thẳng nếp, có một mảnh giấy nhỏ với dòng chữ rất đẹp, nắn nót: Nơi hò hẹn của chúng ta. Cầm tờ giấy trên tay Trọng không khỏi băn khoăn. Không phải nội dung của nó, mà là bởi hương thơm mà nó đang toát ra. Dù cho là loại dầu thơm nhân tạo đắt tiền cỡ nào, hay bông hoa thiên nhiên cực hiếm thế nào, thì cũng không thể lưu giữ hương lâu qua vài tháng. Đằng này đã hơn một năm, như lời bà chủ nhà nói... Trong đầu Trọng hình dung ra một cuộc hò hẹn vụng trộm nào đó của một đôi nam nữ mà căn phòng lý tưởng này là địa điểm họ dùng gặp mặt thường xuyên, trong lúc gia chủ vô tình không hay biết. Mà họ cũng khéo chọn một nơi tiện nghi và đẹp nhất như thế này, chứng tỏ họ cũng không phải hạng phàm phu tục tử. Thuận tay, Trọng vò mạnh giấy và vứt vào thùng rác đặt ở chân giường ngủ, vừa lẩm bẩm: - Trước khi dọn về mình phải cho thay hết tấm trải giường... Bước vào phòng vệ sinh, Trọng khá hài lòng về sự tươm tất của nơi này, anh nghĩ chắc mình không phải sửa đổi gì khi vào ở. Trở ra, vừa tính ngồi xuống chiếc ghế ở bàn trang điểm, chợt Trọng giật nảy mình khi nhìn thấy tờ giấy mình vò nhỏ và vất vào sọt rác, giờ lại nằm ngay ngắn trên gối như lúc đầu! Không tin vào mắt mình, Trọng bước lại cầm tờ giấy lên, thì nhận ra đúng là tờ giấy lúc nãy, không sai một chi tiết nào. Nhìn trong thùng rác thì... chẳng còn gì. - Cái này... Một cảm giác là lạ xâm chiếm thần kinh Trọng, nhưng vốn là con người bướng bỉnh, ít khi sợ hãi bất cứ chuyện linh tinh nào, nên Trọng lại một lần nữa vò nát tờ giấy, mà lần này chẳng những vò, anh còn xé nó nát ra từng mảnh, không vất thùng rác như lúc nãy, mà cho luôn vào túi quần. Xong, anh bước ra ngoài, đóng cửa phòng lại. Tuy nhiên, đó chỉ là động tác giả, chỉ sau vài phút, Trọng bất thần mở cửa phòng ra và... lần này thì Trọng thật sự sửng sốt, khi... tờ giấy giống hệt lại nằm y chang. Thọc tay vào túi quần, Trọng kêu lên khẽ: - Lạ thiệt! Bởi trong túi Trọng chẳng hề còn mảnh giấy vụn nào! Nếu là người khác có lẽ họ đã phát hoảng. Còn Trọng, sau vài giây lặng đi, anh nhẹ nhàng khép cửa lại và đi ra. Việc đầu tiên Trọng làm sau đó là lái xe thẳng vào Chợ Lớn, tìm ông thầy Tướng số mà đã từ lâu có người bạn đã giới thiệu rằng ông ta là bậc thầy của thế giới cõi âm. Trọng vốn không tin, nhưng hôm nay anh lại muốn kiểm tra lại điều nghi vấn đang gặp phải. Dò tìm khá lâu Trọng mới mò ra được nơi trú ngụ của lão FengXiao. Lão ngụ trong một ngôi nhà xưa ở một con đường nhỏ, mà chung quanh toàn là người Hoa. Khi Trọng vừa xuất hiện ở cửa phòng, thì lão Feng đã từ trong nói vọng ra: - Anh hãy lấy tờ giấy trong túi ra trước khi bước vào đây! Trọng theo phản xạ tự nhiên vội cho tay vào túi quần, chạm phải mảnh giấy nhỏ, anh rút ra ngay và... tái mặt khi thấy đó chính là mảnh giấy lúc nãy! Chưa biết phải làm gì, thì thật bất ngờ mảnh giấy như bị ai đó thổi bay ra khỏi tay và biến mất trong nháy mắt. Lúc này từ trong nhà một ông lão tuổi khá cao nhưng trông còn rất tráng kiện, nhẹ bước đi ra. Không nhìn Trọng, lão lên tiếng: - Cậu tìm tôi về chuyện ngôi nhà mới vừa mướn? Tlọng ngơngác: - Ông biết chuyện ấy? Rất điềm tĩnh, lão Feng mời Trọng ngồi, rồi châm trà mời khách: - Cậu không tìm tới đây thì nội nhật này tôi cũng đi tìm cậu. Chỉ vì mảnh giấy lúc nãy. Trọng càng ngạc nhiên hơn: - Ông cũng biết? - Nếu không biết thì chính cậu là người đem tai họa đến cho tôi vừa mới rồi đó! Câu nói lạ của ông lão làm cho Trọng thắc mắc: - Ông nói thế, nghĩa là...? - Do đâu cậu biết đây mà tới? Chắc có người chỉ hay do... mảnh giấy đó khiến cậu tìm đến chính xác nơi mà họ muốn? - Họ là ai, ông nói gì cháu không biết? Quả đúng là có người bạn đã chỉ cho cháu địa chỉ này. - Người đó chỉ cậu sau khi cậu có ý định thuê ngôi nhà? Nhớ lại khi người bạn mách cho mình địa chỉ này, đúng lúc Trọng vừa đọc báo xong, đang có ý định tìm ngôi nhà cho thuê. Trọng gật đầu: - Đúng là như vậy. Ông lão gục gặc đầu: - Họ muốn phá tôi đó. Trọng cau mày: - Sao lại phá ông và có liên quan gì tới ngôi nhà tôi đang thuê? Lão Feng càng làm cho Trọng ngạc nhiên hơn: - Vì tôi chính là người đã ếm ngôi nhà đó! - Ông nói...? - Cậu đã từng nghe người ta nói về việc những ngôi nhà mới xây bị ếm, không thể ở được chưa? - Có! Nhưng không lẽ... Giọng ông ta trở nên nghiêm trọng hơn: - Không ai thuê tôi làm chuyện ấy. Mà đơn giản chỉ vì tôi phải làm. Đúng ra tôi giữ kín chuyện này, nhưng hôm nay cậu đã tới đây thì dù tôi có giữ cũng không được. Tôi đã ếm ngôi nhà nên từ lúc xây xong đến nay không ai có thể vào ở được. Người chủ của nó phải trả giá cho những gì bà ta đã gây ra cho tôi. Trọng quan sát thật kỹ lão già đang ngồi trước mặt. Anh không hoàn toàn tin lời một người chưa gì đã khai toạc ra hết mọi chuyện như vậy. Tuy nhiên đến khi lão ta lấy ra một cuộn giấy nhỏ mà trên đó có những chữ viết thoạt trông Trọng đã giật mình. Dòng chữ viết tháo, nhưng đọc được dễ dàng: Không ai được ở, cho đến khi nó trở thành nhà hoang... Lão đột nhiên hỏi: - Cậu có biết ai đã viết những chữ này không? Trọng chưa kịp đáp thì lão đã trả lời thay: - Chính người chồng của bà chủ nhà. Bà Xuân Lan, cậu biết rồi chớ? - Chồng bà ấy đã chết? Vậy thì... người nào đang ở nhà bà ta? Chính tôi... Lão Feng ngửa mặt lên trời cười một tràng cười rất khó hiểu, giọng ông ta trở nên bí hiểm hơn: - Chẳng riêng gì cậu, mà hầu như ai tới liên hệ thuê nhà đều được bà chủ nhà giới thiệu là chồng bà ta đã chết. Bàn thờ và di ảnh người đàn ông mà cậu nhìn thấy đó là... Lão ngừng nói, đứng lên đi vào trong rồi mãi hơn mười phút sau vẫn không trở ra. Trọng chờ mãi không được, anh phải gọi lớn: - Tôi về đây, ông thầy ơi! Vẫn không có tiếng trả lời. Trọng đành phải bước hơi sâu vào trong nhà và rất đỗi ngạc nhiên, bởi ngoài ông Feng ra thì hầu như chẳng có bóng người nào khác. Mà kể cả lão Feng, giờ này lão cũng biến đi đâu mất, trong khi Trọng tìm kỹ vẫn không thấy một lối ra nào khác, ngoài lối vào như anh đã tới. Lão ta đi đâu? Nửa giờ sau, không tiện ở lâu, Trọng bước ra ngoài và lần này anh lại một phen kinh dị, khi gặp một người hàng xóm, anh ta hỏi: - Ông tìm ai trong ngôi nhà hoang đó? Trọng ngơ ngác: - Đây là nhà hoang? Người đàn ông tỏ ra rành rẽ: - Từ hơn năm năm nay chẳng có người nào ở, không gọi là nhà hoang thì gọi là gì? Trọng lẩm bẩm: - Vậy ai mới vừa rồi? Người kia nghe câu nói của Trọng: - Anh gặp một ông lão người Hoa phải không? Không đợi Trọng trả lời, anh ta nói ngay: - Nhiều người đã từng gặp lão như anh vậy. Ma đó! Sau câu nói, anh ta bỏ đi luôn, nên dù có muốn hỏi gì thêm, Trọng cũng đành phải chịu. Nhìn lại ngôi nhà một lúc, Trọng càng thêm tò mò, anh tìm thêm vài người hàng xóm nữa để hỏi, nhưng chẳng một ai biết gì. Có một chị lớn tuổi, sau khi nghe Trọng hỏi, đã hỏi lại anh: - Nếu có ai đó hỏi nhà anh có phải là nhà hoang không, thì anh nghĩ gì? Hình như họ không muốn vây vào chuyện của ngôi nhà đó... *** Trọng ngồi đợi khá lâu thì bà Xuân Lan mới về tới. Nhìn sắc mặt căng thẳng của Trọng, bà ta ngạc nhiên hỏi:- Có chuyện gì vậy, cậu Trọng? Trọng cố giữ bình tĩnh, nhưng vẫn khó giấu cảm xúc: - Có lẽ tôi sẽ không thể tiếp tục thuê ngôi nhà... Bà Xuân Lan nhìn khách, dò hỏi: - Có chuyện gì phải không? Hay là cậu không hài lòng về điểm nào trong ngôi nhà? - Đơn giản chỉ bởi... Trọng đưa trả lại chìa khóa nhà: - Bà có thể trừ ba tháng tiền nhà do tôi phá vỡ hợp đồng, số còn lại tôi lấy lúc nào cũng được, không nhất thiết phải là bây giờ. Trọng đứng dậy ngay, chợt bà Xuân Lan hỏi: - Có phải cậu nghe ai nói gì về ngôi nhà? Chuyện ma chẳng hạn... Thấy bà ta đã đề cập thẳng, Trọng ngồi lại và hỏi không rào đón: - Bà biết trong nhà bà có ma? Bà chủ nhà vẫn rất bình tĩnh: - Tôi đoán ra ngay mà. Có phải một ông gọi là FengXiao? - Bà biết ông ta? Bà Xuân Lan không trả lời ngay, mà ra dấu cho khách chờ, bà bước vào phòng riêng, lát sau trở ra, đưa cho Trọng một gói giấy nhỏ: - Cậu nhìn xem, cái này có phải là vật người ta thường hay ếm khi xây nhà? Không rành lắm chuyện thư ếm, nhưng nhìn tờ giấy màu vàng, trên đó có nhiều chữ viết theo dạng tượng hình ngoằn ngoèo, Trọng nghi nghi: - Có vẻ như vậy... Bà Xuân Lan chậm rãi kể: - Khi tôi vừa ăn tân gia ngôi nhà đó thì tình cờ phát hiện tờ giấy bùa này được ai đó đặt trong tường bên trên cửa ra vào. Địa điểm đặt không dễ phát hiện, nếu hôm đó tôi không có một giấc mơ kỳ lạ và nghe một người nào đó mách rằng nhà tôi bị ếm, do có ai tư thù.. Tôi không tin chuyện mê tín, nhưng một buổi chiều khi từ ngôi nhà mới đi ra, tôi gặp một lão già người Hoa... Trọng chen ngang: - Lão Feng Xiao! - Chắc cậu cũng đã gặp lão ta. Lúc đầu tôi cũng chưa biết lão ta là ai, cứ tưởng đó là người hàng xóm, nhưng sau mấy câu chào hỏi thông thường, lão ta đã nói thẳng rằng lão ta sẽ ngăn không cho bất cứ ai vào ở ngôi nhà mới của tôi! Hỏi lý do thì lão cũng không giấu giếm bảo rằng ngôi nhà đã bị thư ếm mà lão ta là tác giả. Nói xong lão ta đi mất. Tuy không tin lắm, nhưng tôi vẫn cho người đi dò hỏi thì phát hiện là ở Chợ Lớn quả có một ông thầy như vậy, lão ta tên Feng Xiao. - Bà đã gặp lão ta? Bà Xuân Lan lắc đầu: - Tôi chưa gặp nhưng nghe người ta kể rành mạch rằng có một ông thầy tướng số chuyên làm việc đó. Hình như lão ta được ai đó thuê mướn để phá tôi. Trọng trầm ngâm một lúc rồi nói: - Lão ta không phải là người hiện hữu trên đời này. Câu nói của Trọng thật sự làm cho bà chủ nhà kinh ngạc: - Sao cậu biết? - Tôi đã gặp ông ta. Và... Sau một lúc đắn đo, Trọng thuật lại chuyện mình gặp lão tướng số người Hoa. Cuối cùng anh hỏi: - Có phải từ chuyện đó mà ngôi nhà mới của bà không một ai ở được không? Chừng như muốn giấu, nhưng nghĩ là Trọng đã biết hết, nên bà Xuân Lan gật đầu: - Gần như vậy. Tuy nhiên, đó là trước khi tôi tìm ra vật ếm này. Bà kể: - Tôi phải sang tận Hồng Kông, tốn khá nhiều tiền để rước ông thầy này. Ông ta sau khi lấy được vật giấu trong tường ra, đã quả quyết là coi như yên ổn. Do vậy tôi mới dám cho cậu thuê. Sau khi nói mọi điều, bà Xuân Lan tỏ ra là không bắt ép người thuê, bà hỏi lại Trọng: - Bây giờ cậu còn có ý trả lại nhà không? Nếu cậu trả thì tôi sẽ gởi lại đủ tiền cậu ứng trước, không trừ một xu nào, bởi đơn giản là cậu chưa ở ngày nào. Trọng có chút áy náy, nên sau một lúc suy nghĩ, anh cương quyết: - Nếu thế thì tôi sẽ tiếp tục thuê. Xưa nay tôi chưa từng sợ bất cứ gì liên quan đến thế giới tâm linh. - Tôi không ép, như cậu thấy đó, tôt rất kén người thuê, nếu cậu không hội đủ những điều kiện thì tôi đã chẳng đồng ý. Trọng nhớ, hôm tới hỏi thuê nhà, bà ta đã hạch hỏi đủ điều, sau khi anh trả lời xuôi mọi điều khoản chủ nhà mới cho thuê và còn dặn: - Khi đã thuê, thì trong suốt thời gian hợp đồng, cậu là chủ toàn quyền ngôi nhà thuê đó. Kể cả chủ nhà cũng không được quyền can thiệp vào những chuyện xảy ra trong nhà đó. Trọng lấy lại xâu chìa khóa, anh đứng lên cáo từ bằng quyết tâm: - Tôi sẽ ở cho đến khi nào bà đuổi mới đi.Với điều kiện là bà đừng tăng tiền thuê theo kiểu mỗi tháng một lần. Bà Xuân Lan cũng nổi hứng: - Tôi thích tính cách của cậu, nên xin miễn cho cậu sáu tháng tiền nhà đầu tiên. Có nghĩa là, thay vì ở một năm, nay cậu có quyền ở đến mười tám tháng luôn! Trọng cười: - Xin cám ơn lòng tốt của bà. Tuy nhiên xưa nay tôi không thích nhận những ân huệ như vậy. Thay vào đó, tôi muốn bà lắp một đường điện thoại nữa vào tận phòng riêng với chức năng gọi được cả ra nước ngoài. - Ồ, cậu quên là phòng dành cho cậu, tôi đã cho kéo đường dây riêng sẵn rồi. - Tôi muốn lắp thêm ở căn phòng sơn màu hồng phấn kia. Phòng của... Bà Xuân Lan ngạc nhiên: - Cậu thích ở căn phòng của cô gái thuê hụt đó hả? Nó đâu rộng bằng phòng ở phía ngoài. Vả lại phòng ấy thiết kế riêng cho nữ mà... Trọng cười nhẹ: - Tôi lại thích phong cách ấy... - Thôi được, tôi sẽ cho thực hiện ngay. Mong là cậu sẽ không mau chán. Trọng chào bà chủ nhà, nhưng khi vừa bước ra tới ngoài anh chợt nhớ đến chuyện mảnh giấy trên gối, nên quay lại vừa móc trong túi quần ra mẩu giấy gấp tư, hỏi: - Bà có nhớ tuồng chữ này không? Vừa nhìn vào bà Xuân Lan nói ngay: - Chữ của cô Dạ Hương, người ký hợp đồng thuê nhà mà không ở. Tôi còn mẫu chữ của cô ấy đây. Bà bước ngay vào phòng, lấy ra tờ hợp đồng đưa cho Trọng. Vừa thoạt nhìn Trọng đã kêu lên: - Đúng rồi! Hai mẫu chữ giống nhau như đúc, mà bất cứ ai nhìn vào cũng đều không thể nhầm lẫn được. Mà mảnh giấy trong túi của Trọng lúc này là mảnh thứ tư anh nhặt được mới đây thôi... *** Ba đêm liền Trọng ngủ yên giấc, không mộng mị, cũng không điều gì xảy ra trong căn phòng màu hồng phấn. Điều đó khiến Trọng không tin cũng không được khi nhớ lại câu anh đọc được một cách tình cờ trong quyển sách mới mua: “Muốn ngủ yên giấc, bạn nên đặt cạnh gối mình một đóa hoa mà bạn ưa thích.” Trọng đã chọn hoa trà mi là loại hoa mà từ khi đọc tác phẩm Trà Hoa Nữ anh đã đâm ra yêu mến. Nhất là từ khi có cái tên Trà My trong cuộc đời chàng sinh viên nghèo tên Hoàng Trọng.Thì ra yếu tố tâm lý rất quan trọng. Nó giúp thần kinh bớt dao động, từ đó con người có thể vượt qua được những điều mà bình thường họ thấy khó vượt qua. Như trường hợp này, Trọng tin rằng hoa trà mi chính là yếu tố giúp củng cố tinh thần và đẩy lùi mọi suy nghĩ viễn vông để đưa anh vào giấc ngủ ngon lành... Từ niềm tin đó, tự dưng Trọng ao ước mình có được một cây trà mi ngay trong nhà. Và anh quyết định tìm ở những nơi bán hoa kiểng. Cái khó của Trọng là việc anh chưa từng biết hình dáng cây trà mi là như thế nào, chỉ ngẫu nhiên anh được người bạn tặng cho đóa trà mi đã hái sẵn, không cành không lá, nên việc tự đi tìm có lẽ sẽ khó. Dẫu vậy Trọng vẫn không muốn hỏi chủ vườn hoa, mà anh thử tự tìm và tin chắc là mình sẽ nhận ra cây hoa lạ này qua hoa của nó. Tuy nhiên, đã đi hai vòng trong vườn kiểng mà Trọng vẫn không thể tìm ra. Bởi ngoài những loại hoa phổ biến như hồng, cúc, mẫu đơn, lan, thược dược đang nở, còn phần nhiều loài hoa khác thì chỉ ở dạng nụ, thậm chí có nhiều cây chưa có nụ. Cuối cùng Trọng dừng chân trước một lùm cây xanh tốt, định sẽ chờ người trong vườn tới và nhờ họ tìm hộ. - Ông cần lấy chậu trà mi lớn đó phải không? Trọng giật mình nhìn lại thì thấy người phụ nữ đứng tuổi ra dáng chủ vườn, đang nhìn khách mỉm cười. - Dạ, đây là... trà mi? - Đúng là trà mi, giống này của Pháp nên rất hiếm. Vườn tôi chỉ còn đúng hai cây loại đó. Nhưng đã được người mua và còn gởi lại. Trọng nhìn thật kỹ hai cây trước mặt mình, anh không ngờ ngẫu nhiên mình lại chọn đúng nơi có cây hoa mình đang cần để đứng nhìn. Anh tiếc rẻ: - Bà không còn cây nào khác? Bà chủ vườn tươi cười: - Nếu có thì cũng phải mất một tháng nữa thì vườn ươm của tôi trên Dalat mới kịp mang về. Tuy nhiên... Bà quay lại gọi một công nhân. - Em bưng một trong hai chậu trà mi này ra đây coi. Chậu trà mi được bê ra đặt ngay trước mặt Trọng. Bà chủ vườn bảo: - Đây có lẽ là một cơ may hiếm gặp, nó lại rơi đúng vào ông! Trong lúc Trọng chưa hiểu ý bà ta nói gì thì bà chủ vườn đã tiếp lời: - Hôm qua tôi đã được người ta trả tiền mua hai chậu trà mi này và họ có dặn, họ chỉ lấy một chậu, còn chậu còn lại thì tặng cho bất cứ ai tìm mua. Tôi thắc mắc nhưng không tiện hỏi, nên từ sáng đến giờ có ý trông xem ai là người tới mua. Không ngờ là ông... Trọng vô cùng ngạc nhiên: - Người mua là ai vậy? Bà chủ lắc đầu: - Tôi không gặp mặt. Chỉ thấy một anh đạp xích lô tới nói có người đưa tiền nhờ anh ta mua và dặn như vậy. Trọng chép miệng: - Tiếc quá, phải chi tôi tới sớm hơn. Tôi đang rất cần chậu trà mi như vầy... - Ông cần mua cả hai chậu? Trọng lắc đầu: - Dạ không, chỉ một cây là đủ. - Vậy thì cây trà mi này đã là của ông rồi. Trọng lẳng lặng bỏ đi, khiến bà chủ vườn phải gọi : - Nè ông, người ta đã có nhã ý tặng cho bất cứ ai yêu hoa trà mi mà! Trọng vẫn không quay lại. Với Trọng, anh rất ngại chuyện nhận không của ai bất cứ cái gì, mặc dù lúc này anh tiếc rẻ vô cùng chậu hoa trà mi đó... Anh tới bốn điểm hoa kiểng khác, nhưng không nơi nào có hoa trà mi, chủ vườn rất ngạc nhiên hỏi với Trọng: - Hôm qua có người đã tới mua hết số chậu trà mi mà chúng tôi có. Loại này kén khách nên chúng tôi ươm rất ít, phải vài tuần nữa mới có. Cho là chuyện ngẫu nhiên nên Trọng thất vọng ra về, tự an ủi khoảng vài tuần nữa sẽ trở lại mua. Nhưng lúc vừa về đến cổng nhà Trọng đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy chậu hoa trà mi ai đã đặt ngay trước cổng. Nhìn quanh không thấy ai, Trọng ngẩn người ra khá lâu trước khi quyết định gọi xích lô chở trở lại vườn hoa kiểng lúc nãy. Vừa trông thấy anh, bà chủ vườn nói ngay: - Ông vừa đi vài phút thì người mua đã tới chở cả hai chậu hoa đi. Tôi đâu biết là họ biết chỗ của ông... Trọng yêu cầu được trả lại chậu hoa, anh nói: - Tôi sẽ không nhận cái gì không phải của mình. Nhưng bà chủ vườn đã nghiêm giọng: - Ở đây một khi hàng đã chở ra khỏi nơi bán thì không nhận lại. Nhất là chậu hoa này không hề có một khuyết điểm nào. Bà bỏ đi vào trong có lẽ sợ Trọng nói lôi thôi thêm. Sau vài phút lúng túng, cuối cùng Trọng đành phải đưa chậu hoa về nhà với nỗi thắc mắc đang lớn dần trong đầu. Anh tự hỏi: - Ai chơi trò cắc cớ như thế này? Dẫu vậy Trọng cũng tìm chỗ để đặt chậu hoa. Ngôi biệt thự đã được trồng khá nhiều loại hoa khác và mọi nơi hầu như đều đã có sự sắp xếp hài hòa, khó tìm một nơi để chen thêm vào. Nên cuối cùng Trọng chọn bên ngoài cửa sổ của căn phòng màu hồng phấn. Anh tự hài lòng, bởi ở đó bất cứ lúc nào hễ mở cửa sổ ra, hoặc nằm trong phòng là anh cũng có thể nhìn thấy hoặc ngửi được hương thơm của hoa. Hôm đó, buổi tối cuối tuần... Đã từ lâu lắm rồi, Trọng hầu như quên hẳn cái thú tiêu khiển đêm bên ngoài, đặc biệt là những cuộc hẹn hò nhảy nhót ở một vũ trường nào đó với người yêu, để rồi khi tàn cuộc, nắm tay nhau ra khỏi vũ trường thì trời đã gần sáng. Những cuộc hò hẹn như vậy hầu như mất hẳn với Trọng, kể từ khi người con gái mang tên loài hoa mà anh đang thích, Trà My biến mất khỏi cuộc đời anh mà không một lời giải thích. Trọng thích cô đơn và chọn lối sống khép kín là bởi đó... Nhưng hôm nay tự dưng Trọng nghĩ khác. Chẳng hiểu sao anh lại muốn ra ngoài, đi đâu đó một vòng, tìm chỗ nào đó uống vài ly rượu chẳng hạn, có thể là do tâm trạng bớt căng thẳng sau khi ổn định được chỗ ở, hay do... tìm được chậu hoa trà mi? Trọng không thích liên tưởng chuyện này sang chuyện kia, chỉ đơn giản là hiện tại anh có nhu cầu muốn thư giãn. Tuy nhiên, lúc Trọng vừa thay quần áo xong thì chợt chuông điện thoại reo. Không nghĩ là khách của mình, bởi từ khi dọn về nhà mới Trọng chưa hề cho ai số điện thoại ngôi nhà này, mà thậm chí anh còn chưa thuộc số nữa là... - A lô! Trọng chỉ nghe từ đầu dây bên kia lên tiếng có bấy nhiêu đó, rồi lặng im, không nói thêm gì, mặc dù Trọng đã hỏi lại đến lần thứ ba. - Ai vậy? Hỏi lại lần thứ tư, bên kia vẫn không đáp, Trọng bắt đầu bực, muốn gắt lên, nhưng bởi người bên kia đầu dây là một phụ nữ, nên Trọng khẽ lắc đầu rồi định đặt máy xuống. - Trọng phải không? Lúc này bên kia mới chịu lên tiếng. Mà sao giọng nói nghe như... - Ai vậy? Phải chăng... Trọng suýt rú lên bởi giọng nói như từ trong giấc mơ vọng về! - Trọng hả? - Trà My, anh đây! Trọng mừng đến quýnh lên, tay chân run rẩy đến nỗi làm rơi chiếc ống nghe. Đến khi nhặt lên thì chỉ còn nghe bên kia nói nhanh: - Ở đó, em sẽ tới! Mọi chuyện đúng là như một giấc mơ. Trọng đã mất Trà My từ hơn sáu năm nay. Buổi chiều cuối năm ấy Trà My lên xe đò về quê ở một tỉnh miền Trung rồi không bao giờ trở lại. Trọng đợi chờ trong vô vọng đến ba tháng sau và đã về tận quê của nàng để tìm, nhưng ngoài đó người ta bảo Trà My không về quê, cũng không có tin tức gì! Ban đầu Trọng nghĩ là nàng phản bội anh, đi theo tiếng gọi của một mối tình khác, bởi thời điểm đó Trọng đang thất nghiệp, túng bấn... Nhưng sau một thời gian, tình cờ Trọng đọc lại một tờ báo cũ, anh chết điếng khi đọc tin một vụ lật xe ở đèo Cả, làm chết gần chục người, trong số đó có tên Trà My! Vậy mà... Nhìn đồng hồ, lúc ấy mới hơn chín giờ, Trọng hồi hộp như chàng trai mới lớn lần đầu hẹn hò với người yêu. Anh hết ra rồi lại vào, dọn cái này, dẹp cái kia cố để cho khi Trà My tới nàng thấy mọi thứ đều tươm tất, đẹp như ngôi nhà hạnh phúc mà ngày xưa khi bắt đầu yêu nhau hai người thường mơ ước... Mười giờ... Vẫn chưa nghe tiếng gọi cổng. Có lẽ nàng còn phải đi tìm nhà... Mười một giờ... Lúc này Trọng như tỉnh giấc mơ, anh bình tâm lại và tự hỏi: - Có đúng nàng là Trà My? Giọng thì không sai rồi. Nhưng... Bao nhiêu thắc mắc trong đầu, nhưng niềm náo nức thì vẫn không vơi theo kim đồng hồ... Mười một giờ rưỡi… Điện nhà tự dưng tắt phụp. Mà hình như cả khu phố đều mất điện. Trọng lúng túng chẳng biết làm sao, bởi mới dọn về, nên anh không hề chuẩn bị đèn dầu hay nến dự phòng. Lỡ nàng tới thì làm sao? Không do dự, Trọng bước ra mở khóa cổng, chỉ khép hờ, phòng khi Trà My tới không bấm được chuông cổng thì cũng có thể vào được nhà. Hồi hộp trở vào ngồi đợi thêm. Mười hai giờ... Chẳng hiểu do chờ đợi lâu quá mệt mỏi, hay do ly rượu thuốc uống sau giờ ăn chiều, mà Trọng đã gục ngủ ngay tại salon, nơi anh đang ngồi đợi. Cho đến khi... - Đợi khách mà như thế này sao! Nghe tiếng, Trọng choàng tỉnh dậy, anh ngơ ngác nhìn quanh. Toàn một màu tối đen. - Trà My phải không? Em đâu...? Trọng như kẻ mộng du, bật dậy và đưa tay quờ quạng vào khoảng không. Anh chạm phải đôi tay của người con gái. - Em đây mà! Ngủ mà không khóa cổng, lỡ không phải em vào thì sao... Nàng ôm chầm lấy người yêu và nụ hôn của họ đã thay bao nhiều lời nói mà đáng lẽ lúc ấy họ đã phải nói với nhau. Giọng nàng nồng nàn: - Anh đừng hỏi gì hết lúc này. Em chỉ muốn tận hưởng... Em chỉ muốn mãi mãi trong vòng tay anh như thế này... Đừng rời em ra, em... chết mất. Siết chặt em đi... ôm em nữa đi... Nàng chủ động đẩy Trọng lùi dần vào phòng ngủ và đôi môi không rời ra khỏi môi anh chàng. Họ quấn lấy nhau, lúc ấy chỉ còn hơi thở gấp là còn có thể nghe trong màn đêm... Khá lâu sau... - Em nói cho anh nghe xem, chuyện gì đã xảy ra gần sáu năm trước? - Chuyện em xa anh đột ngột? - Cả chuyện báo đăng... Giọng nàng cười ríu rít trong bóng tối, hồn nhiên và dễ thương như ngày nào... - Cho rằng em chết nên anh... mừng phải không? Thảo nào không lo đi tìm người ta... - Sao lại không tìm. Anh về quê em hai lần, đi khắp nơi quen biết để hỏi nữa. Nhưng không nơi nào... - Tại sao không lên am Cô Ba, anh không nghĩ em ở đó sao? - Am Cô Ba! Thảo nào... - Em bị bệnh hiểm nghèo, chán nản, em không muốn cho anh biết nên trốn lên đó. Nghĩ là trước sau gì anh cũng tìm ra em. Vậy mà... Nàng lại ghì lấy Trọng như để bù đắp thời gian xa nhau quá lâu. Giọng nàng qua hơi thở: - Đến khi em biết chắc mình không còn bệnh nữa mới dám đi tìm anh. Chừng như lúc này Trọng cũng không quá quan tâm đến những lời giải thích. Với anh điều quan trọng nhất là một Trà My bằng xương bằng thịt đã trở về. - Anh không hỏi làm sao em biết được nơi anh ở? Anh cũng không hỏi tại sao em có tên trong danh sách người tử nạn trên chuyến xe đò rơi xuống vực mà vẫn còn sống? - Rồi mình sẽ nói sau... - Nếu anh không hỏi bây giờ thì sau này đừng bắt em trả lời. Nhớ đấy... - Ừ... Đúng là Trọng không còn biết gì khác. Đã quá lâu rồi, cái cảm giác như lúc này thiếu vắng nơi một chàng trai đang độ sung sức, nên Trọng có quên hết mọi thứ trên đời cũng là điều dễ hiểu. Và việc mất điện kéo dài hình như ngẫu nhiên mà vô cùng hữu lý, nó hỗ trợ cho cuộc trùng phùng kỳ lạ trở nên tuyệt vời, vô tận... Nhưng rồi việc gì cũng đến hồi kết thúc. Trọng trong trạng thái ngụp lặn sâu vào thế giới như mơ như thực, đã phải choàng tỉnh lại khi ánh mặt trời từ cửa sổ xuyên thẳng vào giường ngủ. Vừa mở mắt ra Trọng đã chạm vào một thân thể bên cạnh. Nhớ lại chuvện vừa qua, Trọng bật dậy ngay, và việc đầu tiên của anh là ôm choàng lấy cô gái đang ngồi ủ rũ với mái tóc dài phủ kín khuôn mặt... - Trà My! Anh muốn nhìn lại em... Nàng ngẩng lên và lần đầu tiên Trọng nhìn rõ mặt. - Cô là... Trọng trợn tròn mắt, buông nàng ta ra và hấp tấp tìm cách bước xuống giường, suýt nữa đã vấp té. Trước mặt Trọng là một cô gái hoàn toàn xa lạ, chớ không phải là Trà My! - Sao lại như thế này? Cô gái oà lên khóc, giọng nghẹn ngào, nhưng vẫn còn nghe rất rõ: - Em biết rồi sẽ có giây phút này mà. Đời con gái nó phũ phàng giống nhau cả, trao thân cho người ta để rồi... Lạ làm sao, giọng nói ấy đúng là của Trà My! Dẫu đã cách xa nhau bao nhiêu năm, nhưng làm sao Trọng quên được cái âm điệu từng đã khắc sâu vào tâm trí anh. - Cô là...? Cô nàng không đáp, vụt bước khỏi giường và vồ lấy quần áo đang vươn vãi dưới sàn nhà, chạy biến ra khỏi phòng, mà tiếng khóc nức nở vẫn còn vọng lại. Sau vài giây sững sờ, Trọng chạy theo. Nhưng khi ấy anh chàng phát hiện là mình trong tình trạng gần như chẳng có gì che thân, nên khựng lại. Đến khi mặc lại quần áo, Trọng ra tới ngoài thì chẳng còn thấy cô nàng đâu. Ở ngay cửa ra vào có một vật gì đó rơi nằm ngay tầm mắt, Trọng cúi xuống nhặt và kêu lên: - Trà My! Miếng ngọc bội bằng cẩm chạch này là của mẹ Trọng, chính tay anh đã đeo vào cổ Trà My gần mười năm trước, nó không thể lẫn vào với thứ nào khác, bởi nó là của gia bảo nhà Trọng, truyền từ đời bà cố, đến bà ngoại, rồi mẹ anh và chính bà trước khi mất đã tin tưởng giao cho Trọng, dặn là chỉ trao lại cho người con gái sẽ là dâu bà. - Trà My! Trọng lặng người đi, đầu óc đang quay cuồng với những gì diễn ra đêm qua... Vừa lúc ấy có tiếng chuông điện thoại reo vang. Trọng đợi chuông reo đến lần thứ ba anh mới bước tới nghe. Nhưng đôi chân của anh hầu như không thể cất lên được. Nó như bị ai đó ghì kéo lại... Chuông đổ liên hồi... Phần 2 Bà Xuân Lan ái ngại hỏi cô y tá: - Tình trạng cậu ấy ra sao rồi cô? Cô y tá rút cây đo nhiệt độ ra, vừa lắc đầu: - Không khả quan hơn chút nào. Sáng nay khi chúng tôi nhận bệnh nhân vào thì ông ấy đã trong tình trạng này rồi. Bác sĩ đã khám, cho thuốc, đích thân tôi đã chích hai lần nhưng ông ấy vẫn không tỉnh lại và nhiệt độ thì vẫn rất cao. Hình như người nhà chở vào quá chậm... Bà Xuân Lan thở dài: - Tôi gọi điện thoại tới nhà cậu ấy rất lâu mà không nghe trả lời, lúc đầu tôi cứ tưởng là cậu ấy ngủ quên, nên phải một giờ sau tôi mới gọi lại, lần này có người nhấc ống nghe lên, nhưng không trả lời, rồi tôi nghe có vật gì đó đổ vỡ mạnh. Tôi bảo tài xế chạy tới thì phát hiện cậu ta nằm ngất đi ở cạnh điện thoại nhấc lên mà không kịp nghe... Vừa lúc ấy vị bác sĩ điều trị bước vô, ông hỏi liền: - Bà là gì của anh này? - Tôi là chủ nhà, cậu ấy là người thuê. - Nghe bà nói thì anh ấy ở một mình lúc xảy ra chuyện? Bà Xuân Lan gật đầu: - Cậu ấy một mình mướn nguyên ngôi biệt thự của tôi. Cậu ấy độc thân. Vị bác sĩ nghiêm giọng: - Một người đàn ông độc thân không đồng nghĩa với việc họ có quan hệ nam nữ. Trong trường hợp này, tôi có thể kết luận, anh ấy đã... quá tải chuyện tế nhị... Tuy là lớn tuổi, nhiều kinh nghiệm, nhưng bà Xuân Lan vẫn không hiểu hết ý của bác sĩ, bà hỏi lại: - Bác sĩ nói thế nghĩa là sao? Vị bác sĩ giờ mới cười: - Nói cho dễ hiểu, anh này bị lâm vào tình trạng kiệt lực do quan hệ nam nữ quá độ, cộng thêm cơ thể đang yếu. May cho anh ta đã vào đây kịp, nếu không thì... Trước khi bước ra khỏi phòng bệnh, vị bác sĩ trấn an: - Đã qua hiểm nguy rồi. Tôi sẽ cho truyền dịch với đạm và thuốc bổ liều cao, chỉ sau một ngày nữa là anh ấy có thể về nhà. Nhưng tôi dặn riêng bà, phải ngăn cấm anh ấy tránh xa chuyện kia. Nếu không... Bà Xuân Lan lúng túng: - Thưa bác sĩ, tôi chỉ là... Cô y tá che miệng cười vừa bước nhanh ra ngoài như chạy trốn... trong lúc ấy bỗng Trọng cử động nhẹ mi mắt và từ từ mở mắt ra. Anh ta vừa hồi tỉnh... - Trà My! Bà Xuân Lan ngạc nhiên. - Tôi đây mà. Cậu vừa gọi ai vậy, cậu Trọng? Nhận ra người trước mắt mình, Trọng muốn gượng dậy mà không được, anh nói rất khẽ: - Nàng đâu rồi, tìm nàng ta giúp tôi... Tằng hắng một tiếng lớn, bà Xuân Lan nghiêm giọng: - Bác sĩ vừa cảnh cáo, nếu cậu không biết giữ mình thì... chết không kịp hối đó! Trọng ngơ ngác: - Tôi làm gì? - Làm gì thì cậu biết! Đúng là đàn ông, người nào cũng y như nhau. Vậy mà cậu nói với tôi, cậu sợ đàn bà, ghét phụ nữ, chỉ muốn sống độc thân. - Thì tôi... Bà Xuân Lan không muốn chạm vào điều tế nhị mà chính bà cũng đang cố quên nó. Bà nhẹ bước ra ngoài, khiến Trọng phải kêu lên: - Kìa, bà chủ. Tôi cần nhờ bà... Chợt nhớ ra, bà Xuân Lan quay lại dặn: - Nghe tài xế tôi kể lại, lúc nó tới cứu cậu thì thấy cửa trong, cửa ngoài cổng gì cũng mở toang hoác ra hết trong lúc cậu ngủ. Bộ cậu tưởng đây là chốn thiên đàng sao chớ? Trọng định nói rõ, nhưng lại thôi. Đợi khi bà Xuân Lan đi rồi, anh nhắm mắt lại cố xua hết những hình ảnh đang rối tung trong đầu ra, thậm chí là tìm một giấc ngủ dài... Tuy nhiên, chỉ nửa phút sau Trọng đã nghe ai đó càu nhàu: - Lại ngủ nữa rồi... Trọng mở mắt ra và gặp ngay cô y tá. Anh chưa kịp hỏi gì thì cô đã đặt lên bàn một bó hoa hồng vàng tươi thắm vừa nói: - Có người gởi cho anh. Đào hoa quá, thảo nào... Trọng vừa nhìn thấy bó hoa, anh đã kêu lên: - Trà My! - Kìa, anh làm sút dây truyền dịch ra rồi! Trong lúc phản ứng tức thời sau khi nhìn thấy bó hoa, Trọng đã bật dậy, tính nhảy xuống khỏi giường bệnh. - Tôi xin lỗi... Thấy anh lảo đảo, cô y tá phải làm nhiệm vụ, đỡ một bên, nhưng càu nhàu lần nữa: - Anh quên là đang kiệt sức hay sao chớ. Người gì mà... Chợt thấy mình quá lời, cô ta nín ngang, nhưng vẫn không quên liếc xéo một cái. Cũng may là Trọng không nhìn thấy: - Ai gởi cho tôi bó hoa này? Cô y tá đáp và nhìn Trọng với ánh mắt là lạ: - Hình như chung quanh anh chỉ toàn những người như thế? - Người nào? - Các cô gái đẹp! Cô ta nói dứt lời đã bước nhanh ra ngoài, khiến Trọng phải kêu lên: - Kìa cô! Người nào đã gởi... Cô ta đi khuất rồi. Trọng thắc mắc trong đầu, đợi cô ta trở lại hỏi cho ra xem ai gởi. Nhưng cho đến hơn một giờ sau vẫn chẳng thấy bóng dáng cô ta đâu. Đến giữa trưa thì một cô y tá khác, trẻ hơn đến thay ca. Trọng hỏi ngay: - Ai đã gởi cho tôi bó hoa này? Cô y tá mới ngơ ngác: - Tôi mới tới thay ca, đâu biết gì. Chỉ có Trà My là biết sở thích của Trọng. Ưa trà mi trong chậu, nhưng lại thích hoa hồng vàng cắm trong lọ. Ngày xưa, mỗi khi sinh nhật Trọng, Trà My đều tặng số hoa theo tuổi của anh và chỉ cần nhìn bó hoa cắm trong lọ mà không cần nhìn thấy người tặng, Trọng cũng hiểu ngay đó là nàng. - Cô có thể giúp tháo ống truyền dịch ra, tôi cần ra ngoài một chút, được không? Cô y tá lắc đầu ngay: - Bác sĩ có ghi trong bệnh án của anh như thế này: Không để bệnh nhân này ra khỏi giường khi nào chưa có ý kiến của bác sĩ điều trị. Như vậy làm sao tôi dám. Trọng bực bội: - Tôi có bệnh gì đâu mà phải nằm đây cho tốn thì giờ! Cô y tá nhìn vào bệnh án rồi nói ngay: - Bệnh kiệt sức cấp hai thì đâu phải là nhẹ. Bộ anh lao lực nặng mà thiếu dinh dưỡng hay sao vậy? Trọng đang cáu, nên vừa nghe hỏi đã gắt lên: - Đúng là mấy ông thầy thuốc khám ai cũng ra bệnh cả! Sức tôi bẻ cổ voi còn được, sao lại suy dinh dưỡng? Cô y tá nhìn Trọng rồi lắc đầu: - Mặt mày anh xanh rờn thế kia, không phải bác sĩ cũng đoán ra bệnh! Chắc là anh chưa nhìn vô gương hả. Cô ta bước ra khỏi phòng, lúc ấy Trọng mới vào phòng vệ sinh và nhìn vào gương soi. Anh giật mình cúi sát mặt vào, vừa lẩm bẩm: - Sao... sao lại thế này? Trong gương, sắc mặt Trọng xanh dờn, hốc hác thấy rõ. Chính anh cũng không thể ngờ. - Thế nào, anh còn đủ sức bẻ cổ voi chớ? Cô y tá trở lại với vị bác sĩ lúc sáng. Ông nhìn Trọng với nụ cười: - Anh lúc này chỉ đủ sức bẻ cổ voi trên giấy thôi! Nếu anh muốn xuất viện lúc này cũng có thể được, với điều kiện là khi trở lại đây sẽ không được nằm phòng săn sóc riêng. Trọng vẫn cãi: - Tôi đâu có bệnh gì, thưa bác sĩ? - Nếu tôi không lầm thì trước đây anh rất phong độ, hồng hào, tráng kiện? Trọng đáp ngay: - Tôi cao 1,72 mét, nặng 72 ký, ít khi đau bệnh gì. Vị bác sĩ lại cười: - Để tôi bảo cô Yến đây đi lấy cân bàn tới, anh cân thử xem bây giờ còn mấy ký. Yến, cô y tá chạy đi ngay, vài phút sau đã trở lại với chiếc cân bàn đặt ngay dưới chân Trọng. Anh chàng bước lên ngay bàn cân và kêu lên: - Sao kỳ vậy? Tôi mới cân cách đây mấy ngày mà! Cô y tá Yến đọc to lên: - 56 ký! Không tin, Trọng cúi sát xuống nhìn và con số 56 lạnh lùng hiện ra trước mắt, khiến cho anh sững sờ. Chỉ mới qua một đêm mà đã như thế... Vị bác sĩ hỏi rất khẽ, để tránh cho Trọng sự ngại ngùng: - Anh trác táng hay phung phí sức vào việc gì mà mau xuống vậy? Lúc anh 72 ký là khi nào. - Mới hôm qua đây thôi! Ngay như bác sĩ cũng không tin: - Con người ta chỉ xuống sức, mất cân khi trải qua năm ba ngày, thậm chí là cả tháng mới như vậy. Còn anh... Ông ngừng lại nhìn Trọng, rồi nhìn sang bó hoa hồng, rồi nói như một kết luận: - Những nhan sắc như thế, thảo nào.... Trọng nhìn ông, hỏi lại: - Bác sĩ nói gì? Vừa bắt tay Trọng, bác sĩ vừa đáp: - Sáng nay tôi đã nhìn thấy cô gái đẹp như hoa hậu đến gởi cho anh bó hoa này. Anh có diễm phúc, nhưng cũng... Có lẽ sợ nói ra điều không đúng chức năng một bác sĩ, nên ông ngừng lại, nheo mắt với Trọng rồi bước ra. Nhưng Trọng thì đời nào chịu tin: - Bác sĩ nhìn thấy cô gái đó ra sao? Cô ấy... - Một cô gái rất trẻ, mặc chiếc áo lụa màu vàng giống như màu những đóa hồng kia. Còn là ai thì làm sao tôi biết được, hả ông đào hoa! Ông ta đi khỏi rồi, cô y tá Yến nói chen vô: - Hồi sáng, lúc tôi vào thay ca, tôi có thấy cô gái ấy cầm bó hoa đưa cho chị Hạnh, y tá trực ca trước. Cô ấy đẹp mê hồn luôn! Tôi tưởng khách nào, ai dè là... là...của anh. Trọng không còn kiên nhẫn nữa, anh thay ngay bộ đồ bệnh viện ra, mặc lại quần áo của mình và nói với cô y tá: - Cô đi làm thủ tục xuất viện giùm tôi rồi lát nữa tôi trở lại lấy. Trọng để lại một số tiền vượt quá tiền viện phí, rồi chạy ngay ra ngoài. Cái bóng áo vàng ám ảnh Trọng, khiến cho ai xuất hiện trước mặt anh cũng đều có sắc vàng. Suốt hơn nửa giờ tìm kiếm khắp nơi trong bệnh viện, cuối cùng Trọng đành tiu nghỉu bước ra khỏi bệnh viện, như một kẻ mất hồn... Trọng quên là chưa làm thủ tục xuất viện, giấy tờ, tiền bạc vẫn còn trong đó. Anh gọi xe taxi và bảo: - Cho tôi ra bến xe đò đi Bảo Lộc. *** Không phải nhất thời ngẫu hứng, mà bằng sự tính toán, Trọng tìm về Bảo Lộc, nơi mà anh và Trà My đều biết: Am Cô Ba!Nhưng tại sao lại là nơi này? Trọng còn nhớ, đêm vừa gặp lại nhau, chính Trà My đã nhắc cho anh nhớ nơi này. Đó không phải là quê hương bản quán gì của cả hai, mà chính là một cái am thờ vong hồn ba cô gái bị tai nạn chết đã lâu đời, mà một lần khi đi chơi Đà Lạt về, hai người đã buột miệng nói đùa một câu: "Khi nào một trong hai đứa bị đứa kia phụ thì sẽ tìm về ẩn cư nơi này". Gần sáu năm xa cách phải chăng Trà My đã về đây như nàng nói đêm hôm ấy! Lạy trời đúng là như vậy... Trọng đi chuyến xe khá trễ, nên khi tới ngang am Ba Cô (thay vì là Am Ba Cô, Trọng lại gọi là am Cô Ba) thì đã gần nhá nhem tối. Thấy anh bảo cho xuống ở đó, người tài xế ái ngại: - Nơi này chỉ có mấy cái miếu, rồi làm sao ông đón được xe đi tiếp hay trở về vào giờ này? Trọng chỉ khẽ mỉm cười rồi bước thẳng lên núi. Chưa từng đặt chân tới đây bao giờ, nên Trọng hơi dè dặt bước từng bậc đá, nhắm nơi có ánh đèn dầu leo lét mà lần tới. Một hồi chuông ngân nga, vang ra từ trong ngôi miếu, khiến Trọng dừng lại trong giây lát, trước khi bước tiếp. Anh yên tâm, vì trong am có người. Vừa bước tới thềm am, bỗng Trọng nghe có người hỏi: - Ngài viếng am muộn quá! Trọng quay lại và hơi ngạc nhiên khi thấy một sư cô khá trẻ. - Dạ, do trễ xe... Sư cô nói vọng vào trong: - Giờ này vẫn có người viếng am, thầy ạ. Tiếng chuông trong am cũng vừa dứt. Một sư cô lớn tuổi hơn nhẹ bước ra. Vừa nhìn thấy Trọng bà nói ngay: - Mô Phật, cửa thiền, cửa am luôn rộng mở cho mọi người. Nhưng chắc tín hữu không chỉ viếng am? Trọng lúng túng: - Dạ, con có việc... Ni cô trẻ lịch sự mời khách: - Dạ, mời ngài vào. Vị sư cô nhìn qua Trọng một lượt rồi bỗng lên tiếng: - Chắc là về chuyện gần sáu năm trước! Trọng ngơ ngác: - Dạ, sư cô nói... - Gần sáu năm trước, một hôm có người mang tới tận am này một gói đồ.... Sư cô ra dấu cho ni cô trẻ đi lấy một chiếc ba lô nhỏ mang tới. - Vật này đây... Vừa trông thấy Trọng đã kêu lên: - Của Trà My! - Đúng là người mà chúng tôi đợi rồi! Đặt chiếc ba lô trước mặt khách, sư cô nhẹ giọng: - Người mang chiếc ba lô này tới chỉ nói rằng, ông ta cùng đi chung trên chuyến xe đò qua Đèo Cả, ngồi chung băng ghế với chủ chiếc ba lô này. Khi xe bị nạn rơi xuống vực thì cô gái còn sống, cô ấy biết mình không thể qua được nên đã đưa ba lô này cho người ngồi bên cạnh may mắn sống sót và dặn hãy giúp mang nó đến am ba cô, gởi ở đó, chờ đến khi nào có người tên là Trọng đến thì đưa... Tôi đã giữ nó từ ấy đến nay mà chưa thấy người nào tới tìm. Bởi am này ít khách, nên lúc nãy khi nhìn thấy ông, tôi đã nghĩ ngay tới người tên là Trọng... Trọng run run giọng: - Dạ, chính tôi là Trọng. Chiếc ba lô này đúng là của Trà My, người tôi yêu đã mất tích gần sáu năm rồi. Vừa rồi... Trọng không tiện nói ra chuyện mấy hôm trước. Tuy nhiên vị sư cô đã nói: - Cách đây hai hôm, tôi nằm mơ thấy có một cô gái mặt mày đầy máu me, vừa khóc vừa nói rằng cô ấy cám ơn tôi lâu nay đã giữ giùm những kỷ vật và nhờ vậy mà ngày nay cô ấy sắp được gặp lại người yêu. Nhưng có điều này hơi lạ, mà hai hôm nay tôi cứ nghĩ ngợi mãi không ra. Bà ngừng nói một lúc rồi kể tiếp: - Trong giấc mơ ấy tôi thấy cô gái mặt đầy máu lại đi chung với một cô gái khác rất đẹp, mà vài tuần trước đã từng ghé am này... Bà lại ngừng kể, quay sang ni cô trẻ: - Diệu Thiện sẽ kể cho ông nghe chuyện ấy... Ni cô được gọi là Diệu Thiện thật thà kể: - Cách đây hơn hai tuần, có một cô gái đẹp, ăn mặc sang trọng ghé am này. Lúc ấy sư cô đi hái thuốc sau núi nên tôi đã tiếp. Trong lúc nói chuyện cô ấy nói mình gốc Sài Gòn, đi xa mới về, nhân đi chơi Đà Lạt về ghé qua viếng am, nơi mà cô ấy chưa hề biết, nếu không có giấc mơ lạ, mà trong giấc mơ ai đó đã khuyên cô nên ghé qua am này. Bởi tò mò nên sau khi hỏi thăm đường cô ấy mới ghé được nơi đây. Nghe nói thế tôi nghĩ tới chiếc ba lô mà lâu nay sư cô vẫn chờ chủ tới lấy, nên vội đem nó ra, kể qua chuyện lai lịch chiếc ba lô. Cô gái ấy muốn xem những thứ bên trong ba lô, mà thú thật từ nào đến giờ tôi chưa hề xem qua. Thấy yêu cầu không có gì quá đáng nên tôi đã đánh bạo mở ba lô ra. Bên trong chỉ có vài bộ quần áo, một số sách, tập vở và một album ảnh, gồm toàn ảnh chụp một đôi trai gái và chân dung riêng của một cô gái, chừng như đó là của chủ nhân chiếc ba lô này. Chẳng hiểu sao khi vừa nhìn thấy ảnh trong album ấy bỗng dưng cô gái đẹp kia sững sờ nhìn trân trối rồi sau chừng nửa phút bỗng ôm đầu kêu chóng mặt rồi ngã vật ra chỗ này, cho tới lúc sư cô về tới. Sư cô tiếp ngay: - Tôi không hài lòng chuyện Diệu Thiện cho người khác xem ba lô, nhưng khi ấy thấy tình trạng vị khách kia tôi hơi hoảng nên giục lấy dầu bôi để cứu chữa. Cũng may nữ thí chủ ấy đã tỉnh lại. Vừa tỉnh cô ấy đã kiếu đi ngay. Đến khi cô ấy đi hồi lâu Diệu Hiền mới phát hiện là cô ấy cầm theo luôn cuốn album ảnh. Trọng chép miệng: - Tiếc quá, đó là ảnh của tôi và Trà My. Trọng xin phép xem lại những vật trong ba lô. Anh bồi hồi khi nhìn quyển nhật ký đang viết dở dang của nàng, bên cạnh còn có hai quyển sách mà chính Trọng đã mua và đề tặng mấy hôm trước khi xảy ra tai nạn. Anh thắc mắc: - Tại sao cô gái lạ kia lại lấy quyển album? Cô ta không lẽ là người nhà của Trà My ư? Ni cô Diệu Thiện nhận xét: - Trước lúc mở ba lô ra tôi không thấy cô ấy có biểu hiện gì quan tâm lắm, cho đến khi nhìn thấy quyển album với những bức ảnh. Lúc ấy tôi nghe không rõ lắm, nhưng hình như cô ấy có kêu lên khẽ trong miệng như là đúng cô ấy đây mà... rồi nhìn sửng sốt. Trọng lúc này mới chợt nhớ ra, anh hỏi: - Cô ấy có nói là người ở đâu không? - Không nói, mà chúng tôi cũng chưa kịp hỏi. Nhưng hình như là Việt kiều ở nước ngoài. Qua cách ăn mặc và qua giọng nói. Đóng ba lô lại, Trọng hỏi: - Sư cô có thể cho tôi nhận vật này được không ạ? Sợ bị từ chối, Trọng móc túi lấy ra giấy tờ tùy thân: - Tôi đúng là Trọng. Sư cô cười hiền hòa: - Cậu đúng là người mà chủ nhân ba lô đã phó thác thì cứ nhận, chúng tôi giữ làm gì, chỉ tiếc là quyển album, đó là sơ xuất của chúng tôi... - Dạ, không có gì. Chắc là người đó trong lúc bị bấn loạn sao đó nên quên. Hy vọng lúc nào đó họ sẽ đem trả lại đây, tôi xin để lại địa chỉ, nếu họ gởi trả quyển album thì phiền sư cô báo tin giùm. Trọng ghi vội địa chỉ rồi xin phép cáo từ. Sư cô ngăn lại ngay: - Giờ này quá tối, mà đường đèo ở đây lại không có xe đi vào giờ này. Ngoại trừ cậu có xe riêng... Trọng đành phải nói cho qua chuyện: - Dạ không sao, tôi có quen trạm kiểm lâm trên đèo. Tôi sẽ... Anh đi nhanh xuống đèo. Lúc ấy đồng hồ tay đã chỉ chín giờ... Đúng là Trọng quá liều. Vào giờ này không mấy ai dám đi bộ trên đèo vắng này. Bởi sự hoang vắng đến rợn người của nó, mà còn có sự nguy hiểm đang chực chờ đi trong bóng đêm dày đặt như thế này. Nhũng chiếc xe chở gỗ, xe tải nặng lên đèo thường ép sát vách núi và là mối đe dọa mạng sống người đi bộ như Trọng. Tuy nhiên lúc ấy Trọng quên hết mọi hiểm nguy, anh cứ cắm đầu đi xuống dốc, hướng về phía Sài Gòn. Cho đến lúc bất chợt mắt Trọng mờ đi, một phần vì sương đêm xuống nhanh, một phần có lẽ do quá mệt. Trong mơ hồ, Trọng thấy hình như có một chiếc xe dừng bên cạnh và anh chỉ kịp đưa tay chạm vào thành xe... *** Sau chuyến đi Bảo Lộc về Trọng ngã bệnh nằm liệt giường đến ba bốn ngày liền. Sáng nay khi vừa cảm thấy trong người sảng khoái hơn thì nhà anh có khách. Nghe tiếng chuông gọi cổng Trọng hấp tấp chạy ra với một hy vọng. Nhưng khi nhìn thấy một lão già đợi ở ngoài, Trọng thất vọng. Người anh đợi đã không tới.- Cậu không mở cửa mời khách sao? Câu hỏi đó làm cho Trọng giật mình. Anh còn chưa kịp hỏi thì người đàn ông đang đứng đợi ngẩng mặt lên, nhìn thẳng vào Trọng. - Ông... ông là... Vị khách cười nhẹ: - Là ông thầy tướng số mà cậu đã từng tìm tới nhà! Trọng còn tròn xoe mắt nhìn, thì ông ta đã tự động đưa tay về phía Trọng: - Nếu cậu còn yếu không mở cổng được thì đưa chìa khóa đây, tôi mở cho. Trọng còn chưa định thần kịp thì như bị sai khiến, anh đưa ngay xâu chìa khóa cho lão ta, rồi bước vào nhà như kẻ mất hồn. Lão già bước theo rất nhanh, giọng lão nghe khỏe và bình tĩnh: - Tôi đợi cậu hai ngày rồi. Hôm nay là ngày cuối cùng, nếu không gặp được thì cậu sẽ là người hối hận. Trọng quay lại nhìn lão để xác định xem lão ta là người hay là... ma. Trọng nhớ lại hôm lão biến mất trong ngôi nhà hoang. - Thật sự ông là ai? Lão tướng số hình như hiểu ý của Trọng: - Cậu nghĩ tôi là ma cũng được. Nhưng bữa nay tôi tới đây không phải với tư cách một... âm hồn. Mà là người sẽ cứu cậu thoát khỏi một tai ách. Lão ta tự nhiên ngồi xuống ghế, lấy từ trong túi ra một gói giấy nhỏ, mở ra trước mặt Trọng: - Cậu đã từng nhìn thấy vật này? Trọng trố mắt: - Lá... bùa ếm của ông? Trọng đã nhìn thấy lá bùa này một lần do bà Xuân Lan đưa cho xem, nên nhận ra ngay. Tuy nhiên lão tướng số lắc đầu bảo: - Cái này không phải của tôi, mà là của bà chủ nhà cậu đang mướn! Nghĩ là Trọng không hiểu, lão ta giải thích thêm: - Đúng là trước đây tôi có ếm ngôi nhà này, nhưng không phải phá hay trù cho chủ nhà tàn mạt, mà chỉ nhằm mục đích ngăn cản không cho người khác thuê. Tôi không muốn... Trọng chợt nhớ: - Thảo nào đã từng có người đặt cọc cả năm tiền thuê rồi mà phải bỏ! Lão ta trầm ngâm một lúc rồi thở dài: - Điều đó trái lại mới đúng. Người duy nhất tôi muốn cho vào thuê ngôi nhà này chính là người phải bỏ tiền cọc đó! Trọng càng lúc càng rối: - Vậy ông ếm để làm gì? - Là ngăn không cho ai khác được thuê, kể cả cậu! Nhớ lại những mảnh giấy để trên gối, Trọng hỏi: - Có phải ông là tác giả những mảnh giấy đó? Lão ta nhìn Trọng một lúc rồi lắc đầu: - Không phải tôi, mà chính do lá bùa này. Lão ta lấy ra thêm một mảnh giấy nữa, đưa cho Trọng xem: - Cậu nhìn kỹ xem, đây có phải là chữ viết của bà chủ nhà Xuân Lan không? Đã từng thấy bút tích của bà chủ nhà trong tờ hợp đồng, nên Trọng nhận ra ngay: - Đúng là chữ của bà ấy. - Còn chữ ở đây, có phải cũng là của cùng một người không? Lão ta đưa thêm một tờ giấy khác có nhiều chữ hơn. Vẫn là tuồng chữ của bà Xuân Lan và có cả ký tên và ghi đầy đủ họ tên của bà nữa. Trọng ngạc nhiên khi đọc thấy nội dung tờ giấy: Tờ thuận tình ly hôn. - Cậu đọc xem, có phải bà ấy và tôi đã ly hôn cách đây ba năm không? Đúng là nội dung tờ giấy đề cập chuyện ly hôn giữa bà Xuân Lan và FengXiao, lỗi thuộc về người chồng, nên bà vợ được quyền hưởng trọn số tài sản ở Việt Nam! - Thì ra ông và bà Xuân Lan... - Chúng tôi là vợ chồng. Từ Hồng Kông chúng tôi sang đây làm ăn lúc còn hàn vi. Đến khi phất lên thì bà ấy tìm cách tống cổ tôi ra khỏi nhà. Tờ thuận tình ly hôn này là do bà ấy ép tôi phải ký, chỉ vì tôi phạm phải một lỗi lầm do hớ hênh. Ngôi nhà này do tôi đứng ra xây, khi gần xong thì chuyện ly hôn xảy ra, tôi không còn cách nào khác hơn là tự mình làm lá bùa ếm, để bà ấy không bán hoặc cho ai khác thuê, ngoại trừ đứa con riêng của tôi. Vậy mà... Lão ta lại cầm lá bùa trên tay: - Bà ta cao tay hơn tôi. Khi biết được tôi ếm ngôi nhà, bà ta đã về tận Hồng Kông nhờ một lão thầy số giỏi hơn tôi, làm đạo bùa này về và phá tác dụng đạo bùa tôi làm. Chính đạo bùa của bà ta đã ngăn không cho đứa con gái riêng của tôi, khiến nó phải bỏ ngang số tiền cọc khá lớn! Trọng ngạc nhiên: - Người bỏ tiền cọc thuê nhà kia là con gái của ông? - Nó là con riêng đời vợ trước của tôi. Tôi đưa nó về đây là nhằm tính kế lấy lại số tài sản đã mất về tay người đàn bà quá quắt mà cậu vẫn gọi là bà chủ Xuân Lan! Bà ta đã lừa, lấy hết sản nghiệp của tôi như cậu vừa nghe đó. Trọng đã dần hiểu ra sự việc, lúc này anh mới đánh bạo hỏi: - Ông là người vẫn còn.. sống? Không trả lời Trọng ngay, lão ta đứng dậy bước ra cửa mới nói: - Giờ thì tôi đã làm được điều mình muốn. Tôi đã gỡ được lá bùa của bà ta gài trong căn phòng màu hồng mà cậu vẫn ngủ. Từ nay con gái tôi có thể trở về và sẽ là chủ nhân của ngôi nhà này. Điều này cũng có nghĩa là cậu phải dọn đi ngay, nếu không muốn nguy đến sinh mạng. Bởi thú thật với cậu, tôi đã lỡ ếm bùa hơi nặng tay, người ngăn cản con gái tôi tất sẽ bị nguy hiểm mà không có cách nào cứu được! Lão ta bước luôn ra cổng sau khi buông ra những lời lẽ đầy hăm dọa đó. Trọng không quên nhìn theo bước chân lão đi, xem có gì khác thường như thiên hạ lâu nay vẫn nói ma luôn đi lướt trên mặt đất. Tuy nhiên Trọng đã không kịp nhìn kỹ thì lão già đã biến rất nhanh, chẳng thể nào kết luận được. Trọng tính khóa cổng lại rồi chẳng tiếp khách nào nữa, cho tới lúc khỏe lại hoàn toàn. Anh viết một mảnh giấy dán lên cổng với dòng chữ: "Chủ nhà đi vắng", đang tìm cách dán lên thì có chiếc xe hơi ngừng lại. - Cậu Trọng lại tính đi nữa à? Bà Xuân Lan bước xuống xe, nhìn Trọng với cặp mắt dò xét. Trọng đành phải phịa chuyện: - Tôi có chút việc phải đi... Chợt lúc ấy có người lên tiếng từ trong xe: - Vậy thì sẵn xe, mời đi luôn! Một cô gái rất trẻ bước xuống. Vừa trông thấy Trọng đã trố mắt nhìn! - Sao... sao lại là… Trọng làm sao quên được cô gái mà anh tưởng lầm là Trà My đêm hôm trước. Cô gái này đang đứng trước mặt anh. - Hai người đã quen nhau rồi sao? Vậy mà cô Dạ Hương đây cứ đòi tôi dẫn tới gặp cho được người chủ mới của ngôi nhà mà đáng lý ra là của cô. Tôi làm phiền cậu một ít phút, được chớ cậu Trọng? Không để Trọng nói, cô gái đã tiếp: - Anh đã nhớ lại lúc nửa đêm ở đèo Bảo Lộc anh về đây bằng gì chưa? Trọng như người bừng tỉnh từ giấc mơ: - Cô là... Anh nhìn chiếc xe hơi, đầu óc đang lộn xộn của Trọng từ từ nhớ lại... - Cô đã chở tôi về? Cô gái mỉm cười: - Nếu tối đó tôi không tình cờ từ Đà Lạt về ngang đó giờ ấy thì có lẽ... Trọng bỗng rùng mình, cảm giác lạnh lan cả toàn thân. Cả một chuỗi sự việc rời rạc giờ đây hình như đang được xâu chuỗi lại và trong đầu Trọng đang lờ mờ hiện ra tất cả... - Anh không mời chúng tôi vào nhà sao? Trọng còn đang lúng túng thì bà Xuân Lan đã nói đỡ: - Cô Dạ Hương này chỉ muốn nói với cậu một chút chuyện gì đó rồi đi ngay, không phiền cậu lâu đâu. Lúc ấy Trọng mới mời khách vào nhà. Càng nhìn cô gái này Trọng càng khẳng định cô nàng chính là người đã cùng với anh. Nhưng chỉ có giọng nói thì không có chút âm hưởng nào của Trà My như đêm hôm đó. Cô gái chợt nói, làm cho Trọng ngơ ngác: - Trước mặt bà chủ nhà đây có lẽ anh Trọng không dám thú thật là đã từng tiếp tôi trong nhà này cách nay không lâu. Tiếp vào ban đêm nữa... Cả bà Xuân Lan cũng tròn mắt nhìn hai người. Trọng thì như con gà mắc tóc: - Tôi... tôi... Nàng lại tiếp: - Đàn ông mau quên, chớ phụ nữ chúng tôi thì nhớ dai và cũng thù dai nữa! Những câu nói không đầu đuôi của cô ta khiến bà Xuân Lan càng lúc càng mù tịt, bà quay sang Trọng định hỏi, thì chợt cô gái lấy từ trong túi xách ra một vật mà vừa nhìn thấy Trọng đã kêu lên: - Quyển album! Đúng là quyển album của anh và người yêu quá cố. - Tôi vô tình cầm nhầm ở am Ba Cô, nay hoàn lại cho anh. Cũng nhờ có nó... Nàng ta không nói hết câu, thái độ hơi lạ... Tuy nhiên vì lúc này Trọng chỉ để ý đến quyển album, nên anh chụp lấy ngay và giở liền ra xem. Ở ngay trang đầu tiên, bức ảnh chân dung của Trà My đang cười rất tươi, sống động đến nỗi Trọng có cảm giác như nàng đang muốn nói gì đó với mình! Trong ảnh Trà My mặc chiếc áo dài lụa màu vàng anh mà ngày xưa lúc nào hẹn hò cùng nhau, lúc nào nàng cũng mặc màu áo này. - Anh không cám ơn tôi về việc có lại tập ảnh này? Lúc này Trọng mới nhớ ra, anh hỏi: - Chính cô là người tới am và lấy đi. Tại sao cô biết chốn đó? Câu hỏi thật đúng lúc. Lúc này cô gái mới hết vẻ thách thức như nãy giờ: - Tôi làm theo lệnh của con tim mách bảo. Tôi cũng không biết tại sao nữa. Bà Xuân Lan không còn đủ kiên nhẫn: - Giữa hai người đã có chuyện gì? Này cô Dạ Hương, cô nói với tôi là chỉ muốn gặp người chủ mới của ngôi nhà để dặn một chút về căn phòng sơn màu hồng phấn mà cô đã cố công bỏ tiền ra cho thợ thực hiện trước kia. Chớ đâu có nói việc hai người từng qua lại với nhau. Bây giờ... Hầu như không để ý đến sự có mặt của bà chủ nhà, Trọng cố hỏi cho ra lẽ câu nói còn bỏ lửng của cô gái: - Cô nói con tim mách bảo việc gì? Tại sao cô ghé am chỉ để nghe kể về cái ba lô của Trà My và bị kích động khi xem thấy ảnh của chúng tôi trong album? Trước những câu hỏi dồn dập của Trọng, rõ ràng cô gái không còn tự chủ nữa, cô hấp tấp đứng lên và bước thẳng về phía căn phòng, vừa nói như lời xin phép: - Anh có thể cho tôi vào phòng riêng một chút, tôi cần... Trọng nói đại, theo trực giác của mình: - Có phải cô đi tìm vật người ta ếm trong phòng đó không? Nếu thế thì đã có người lấy đi rồi. Cha cô đã lấy! Cô gái đứng khựng lại, trong lúc bà Xuân Lan thì hoảng hốt: - Cậu nói ai lấy vật gì trong phòng kia? - Lão Feng Xiao! Vừa nghe tới tên con người này thì bà Xuân Lan tái mặt, bà run run giọng: - Lão ta... tới... tới đây? - Đúng. Lão ấy vừa ra khỏi đây thì bà tới. Lão đã lấy đi vật mà bà đã giấu trong căn phòng màu hồng. Lão ta đã nói vật đó do chính bà đem về từ Hồng Kông với mục đích để... Không muốn Trọng nói hết ý, bà Xuân Lan chận ngang: - Cậu có biết là đã rước họa vào thân không! Lão ấy là người... đã chết! - Bà nói.... Không để bà ta trả lời, cô gái đã chen vô: - Một người chết, một hồn ma không hại ai, chỉ muốn đòi sự công bằng cho con gái mình thôi! Người con gái đó là chính tôi đây, bà Xảo Lan! Nghe cô ta gọi đúng tên tộc của mình, bà Xuân Lan giật nảy mình: - Cô là... là XiangWa? - Bà cứ gọi tôi là Giáng Hương như lâu nay cho dễ. Chắc bà còn nhớ lúc tôi tới làm hợp đồng thuê nhà một năm trước chớ? Lúc ấy bà có nói là sẽ chỉ cho người nào thích sơn phòng ngủ với màu hồng phấn và sau khi tôi nói ra ý của mình là tôi chỉ thích màu đó thì bà lại nhờ thầy tướng số ếm căn phòng đó, nhằm không để cho tôi thực hiện việc thuê nhà. Thì ra bà đã biết là ba tôi có cô con gái riêng sống ở nước ngoài, người đó cũng là một hồn ma từ mấy năm trước do tự tử sau khi nghe tin cha mình bị mất cả sản nghiệp về tay bà vợ kế nhiều mưu mẹo như bà! Hồn tôi đã hiển hiện về đôi lần dọa sẽ trở về báo thù khi nào tôi lọt được vô nhà, sống trong căn phòng sơn màu hồng phấn. Biết được điều đó nên bà đã ra tay trước, rước thầy về làm phép, khiến tôi đành phải rút lui, bỏ cả số tiền đặt cọc lớn. Nhưng trời còn thương cha con tôi, nhờ người con trai tên Trọng này, mà ở cõi âm tình cờ tôi gặp được người yêu chết oan của anh ta và chúng tôi đã hứa giúp nhau... Cô ta quay sang Trọng, nhẹ giọng: - Tôi cám ơn anh nhiều lắm. Qua một đêm thử thách, tôi đã biết được lòng dạ anh. Biết rằng anh xứng đáng được tôi trả ơn và anh cũng rất xứng đáng để trùng phùng với người yêu, cô Trà My! Cô nàng nói xong bước thẳng vào phòng. Ở trong đó khá lâu, trong lúc bà Xuân Lan đứng im bên ngoài như người bị thôi miên, chẳng nói lời nào, cũng chẳng cử động. Trọng thì không bị gì, nhưng anh cũng nhẫn nại chờ... Lát sau cô nàng trở ra, trên tay cầm chiếc áo lụa màu vàng anh đưa cho Trọng: - Anh nhận ra chiếc áo này chứ? Trọng kêu lên: - Áo của Trà My! - Đúng như vậy. Lúc tới am ngoài quyển album tôi còn lấy đi chiếc áo này. Mục đích của tôi là hóa thân thành Trà My, để qua anh sẽ thâm nhập được vào nhà này. Nhưng bà ta quá cao tay, đã phát hiện được ý đồ ấy qua mách nước của tay tướng số từ Hồng Kông, mụ ta đã nhờ lão ấy đánh cắp chiếc áo này và đem nó đặt bên trong gối của anh, nhằm một lần nữa ngăn không cho anh đón tôi vô phòng. Cũng may, từ nay chủ thật sự của chiếc áo này có thể về với anh. Trọng quá đỗi ngạc nhiên: - Trà My? - Anh cứ bình tĩnh, việc gì tới rồi nó sẽ tới. Nhưng Trọng làm sao không sốt ruột: - Tôi muốn biết, Trà My giờ ở đâu? - Bà này sẽ cho anh biết lúc nào thì anh gặp được cô ấy. Nói gặp thì cũng chưa chính xác, phải nói là sẽ mãi mãi ở bên anh! Trọng nhìn sang bà Xuân Lan hỏi: - Thế nào, bà chủ? Trái với thái độ kẻ cả lúc trước, giờ bà ta nói, giọng yếu xìu: - Cậu muốn làm gì cũng được. Nhưng cô nàng đã gắt lên: - Bà phải lấy hết giấy tờ nhà ra đây, ký tên vào tờ "đoạn mãi" như bà từng làm với ba tôi ngày xưa. Bà làm ngay đi, như thế tôi còn để cho bà con đường sống, bằng không... Vừa nói, cô nàng vừa lấy ra một tờ giấy nhỏ màu vàng, chữ viết đen, đưa ngay trước mặt bà Xuân Lan: - Bà nhìn ra vật này rồi phải không Chính bà đã thuê tên tướng số ở Hồng Kông làm để hại cha con tôi bấy lâu nay linh hồn không siêu thoát được, nhưng giờ đây tôi sẽ dùng nó để đốt và rắc lên đầu bà, bà biết tác dụng của nó như thế nào rồi chứ! Bà Xuân Lan tái mặt, run lẩy bẩy: - Xin... tha... tha cho tôi. Tôi sẽ làm, sẽ làm... Cô nàng rười rít lên, giọng cười lạnh như băng: - Bà rõ hơn ai hết, nếu giờ đây tôi đốt tờ giấy này thì bà sẽ ngã lăn ra chết tức khắc! Bà hãy chọn đi, trả lại những gì lấy của chúng tôi hay là chết? - Dạ... dạ... tôi xin nghe. Đây, toàn bộ giấy tờ nhà và đây, cô cứ đọc đi, tôi sẽ viết tờ đoạn mãi. Mọi việc được làm rất nhanh. Xong xuôi, cô nàng cầm cả số giấy tờ đó đưa cho Trọng: - Anh giữ lấy. Bởi chỉ có anh mới giữ được chúng. Trọng xua tay: - Sao được! Những thứ này là của cô mà. - Nãy giờ tôi nói hết rồi mà anh vẫn chưa hiểu sao? Tôi, cha tôi đã là người của cõi âm thì làm sao sở hữu tài sản của dương thế được! Chúng tôi đòi lại của là vì sự công bằng, chớ đâu để hưởng. - Nhưng tôi thì... - Anh hãy nghe lời, rồi anh sẽ hiểu và chắc chắn là không hối hận. Cứ tin tôi đi. Bà Xuân Lan sau khi làm theo lời cô gái, đã lầm lũi bước ra cổng, đi như cái xác không hồn... *** Ngày hôm sau...Có một câu chuyện mà ngoài cô gái tên Dạ Hương, Trọng và bà Xuân Lan ra, thì chẳng một ai nữa biết. Nhưng bà Xuân Lan thì từ lúc ấy đã trở thành một người bị tâm thần nặng, hầu như không nhớ chuyện gì hết, còn Trọng và cô nàng thì đã như hai mà một: Từ phút ấy họ chính thức sống với nhau như đôi vợ chồng vô cùng hạnh phúc. Trọng luôn gọi nàng là Trà My và nàng thì hầu như không còn nhớ đến tên mình là Dạ Hương nữa. Trọng biết rất rõ, hồn Trà My đã nhập vào xác của Dạ Hương và mãi mãi sống bên người yêu, không biến đi nữa. Trọng hỏi thì cô nàng giải thích: - Do khi chết ở bên nước ngoài xác của Dạ Hương được ướp lạnh theo phương pháp cấp đông nên sau hơn một năm xác vẫn còn nguyên và nhờ vậy hồn Trà My mới may mắn nhập được vào đó, sống lại. Tuy nhiên, chuyện này chỉ hai người mình biết thôi, nếu để người ngoài biết thì tức khắc hồn người cõi âm sẽ tan biến vào hư vô ngay! |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyển 38
Người Chết Trở Về Ông bà Phạm trước đây cư ngụ ở thành phố, nhưng trước khi ông Phạm hồi hưu, hai ông bà quyết định về sống tại miền quê để được hưởng bầu không khí trong lành và sự yên tĩnh cần thiết cho tuổi già. Họ mua một mảnh đất xinh xắn nằm trên một sườn đồi. Và vừa dọn vào, công việc đầu tiên của bà Phạm là cho trồng ngay một vườn rau với đủ những loại rau cải mà ông bà ưa thích. Với một vườn rau xanh tươi, mỗi tuần ông bà chỉ cần mua sắm thêm một ít thực phẩm và một vài thứ lặt vặt là đã có thể sống thoải mái suốt tuần. Một hôm trong khi đang làm việc ngoài vườn, bà Phạm có cảm tưởng như mình đang bị ai đó theo dõi. Ngước mắt nhìn lên, bà thấy một thiếu niên ốm yếu với đôi mắt trũng sâu đang đứng nhìn bà. Cậu bé mặc một chiếc quần Jean cũ và đi chân không. Bà giơ tay vẫy chào nhưng cậu bé cứ đứng bất động. Bà thầm nghĩ có lẽ cậu ta yếu ớt quá tới độ không đủ sức đưa tay lên vẫy lại. Cậu bé gầy trơ xương và bà Phạm có thể đếm được từng cái xương sườn của nó. Đứng theo dõi bà làm việc trong vài phút, cậu bé quay mình rảo bước và chẳng mấy chốc đã biến dạng sau những bụi cây rậm rạp. Hai hôm sau cậu ta trở lại và đi cùng là một người đàn bà khoảng bốn mươi tuổi, cũng ăn mặc rách rưới, mặt mũi hom hem. Người đàn bà tiến tới sát hàng rào, lên tiếng hỏi bà Phạm trong khi cậu bé cúi đầu lẽo đẽo theo sau: - Bà là người mới mua mảnh đất này phải không? - Dạ đúng đó. Bà có cần tôi giúp gì không? Người đàn bà nói với vẻ cứng cỏi: - Tôi tới đây xem có giúp được gì cho bà hay không. Đây là Mẫn, con trai tôi. Nó làm việc rất giỏi và rất khỏe mạnh chứ không yếu ớt như cái dáng vẻ bề ngoài của nó đâu. Nếu bà cần, nó sẽ phụ bà trong công việc vườn tược cũng như để bà sai vặt. Mỗi ngày chỉ xin bà cho cháu năm ngàn đồng. Bà Phạm toan từ chối vì bà không cần có ai phụ giúp mà trái lại bà rất thích hoạt động một mình trong bầu không khí trong lành tại đây. Tuy nhiên thấy hình ảnh tiều tụy của cậu bé với đôi tay buông xuôi và đôi mắt trũng lơ, bà hơi ngập ngừng: - Con bà coi bộ còn nhỏ quá, và hình như nó cũng không được khỏe mạnh lắm.... Người đàn bà giơ tay ngắt lời: - Năm nay nó đã mười sáu tuổi tuy coi nó có vẻ nhỏ hơn tuổi của nó. Như tôi đã nói, nó rất mạnh khỏe chứ không yếu đuối như hình dáng của nó đâu. Tôi bảo đảm là bà sẽ không có điều gì than phiền. Mẫn là một người giúp việc rất giỏi. Năm ngàn đồng một ngày đối với bà Phạm không nghĩa lý gì và bà nghĩ rằng nếu cho cậu bé này phụ giúp bà một tay, bà sẽ có cơ hội cho cậu ta ăn uống đầy đủ. Nghĩ thế bà Phạm bèn đáp: - Được thôl! Mỗi ngày cháu Mẫn có thể tới đây vào lúc mười giờ sáng và đi về vào lúc năm giờ chiều. Tôi sẽ cho cháu ăn trưa luôn. Rồi bà Phạm quay sang phía cậu bé: - Sao Mẫn cháu thấy như vậy có được không? Mẫn không trả lời khiến bà Phạm tự hỏi không biết cậu ta có nghe bà nói hay không vì cậu ta vẫn đứng yên cúi đầu, không hề ngước mắt. Mẹ của Mẫn ra hiệu cho bà Phạm bước ra xa với bà rồi bà thầm thì: - Thưa bà, tôi không muốn con tôi phải đi đi về về vì nhà chúng tôi ở đây khá xa. Nó có thể ngủ trong căn chòi nhỏ đằng kia và xin bà đừng bận tâm gì về việc cho nó ăn uống, tôi sẽ đem đồ ăn tới cho nó mỗi ngày. Nó ăn uống khó khăn lắm. Tôi biết nó muốn ăn món gì và sẽ lo cho nó. Mỗi lần tôi tới, xin bà cho tôi năm ngàn đồng. - Thế còn cháu Mẫn thì sao? Nếu cháu ấy làm việc cho tôi, tôi phải trả tiền cho cháu mới phải! Người đàn bà lắc đầu: - Thưa bà, bà không hiểu. Tôi cần tiền để nuôi mấy đứa nhỏ ở nhà. Ba của cháu Mẫn mất rồi và bây giờ chỉ còn mình nó là người có thể làm việc được để nuôi gia đình. Nó muốn làm việc để giúp đỡ tôi và bà sẽ không ân hận khi nhận cho nó giúp việc. Nó rất siêng năng, làm việc không biết mệt và không bao giờ than phiền bất cứ điều gì cả. - Thôi được rồi. Nhưng tôi nghĩ rằng có lẽ nó không nên ngủ ngoài lều, để tôi sửa soạn một phòng trong nhà dành cho nó. Nhà tôi rất rộng! - Thưa bà, không sao đâu. Nó không cần ngủ trong nhà đâu. Nó khó ngủ lắm và tôi không muốn nó làm phiền bà. Nó ngủ trong cái chòi tranh kia là tốt nhất. Thế là ngày hôm sau Mẫn đến làm việc cho bà Phạm. Chẳng bao lâu, bà Phạm nhận thấy những gì mẹ cậu ta nói với bà hoàn toàn đúng. Mẫn không bao giờ than phiền cũng như không bao giờ tỏ ra mệt mỏi. Mỗi buổi sáng dù ông bà Phạm dậy sớm tới đâu đi nữa. Mẫn đã đang làm việc hăng say, khi thì cho gà vịt cho cá ăn, khi thì làm vườn... Dần dần bà cho Mẫn làm một vài việc vặt trong nhà và bất cứ việc gì bà sai cậu ta, không bao giờ bà phải nhắc lại lần thứ hai. Một hôm bà nói với ông Phạm: - Thằng bé Mẫn nó giỏi thật! Nhưng nó không giống một đứa con trai mà giống như... một cái máy vậy. Ông có biết là nó không hề nói một lời nào với tôi hay không. Nó cũng không bao giờ nhìn tôi mà chỉ luôn luôn nhìn xuống đất. Ông Phạm càu nhàu: - Hừ! Tôi chỉ biết một điều là nó làm tôi nổi da gà. Có thể nó bị câm hay sao đó. Và theo ý tôi, có thể tâm trí nó không bình thường cho lắm. Bà Phạm lắc đầu: - Không thế đâu, tôi thấy nó rất thông minh. Tôi có cảm tưởng như nó là một kẻ mộng du, làm việc trong khi đang ngủ... Ông Phạm ngắt lời: - Ờ, thì... giá thuê mướn như vậy cũng được... à, mà không được! Chỉ có năm ngàn đồng một ngày quả là không thể chấp nhận được khi nó làm việc thật sự siêng năng. Mình cho nó lên mười ngàn đồng đi. Tôi không bực bội gì vì sự hiện diện của nó, nhưng để coi việc tăng lương có khiến nó phản ứng gì hay không. Bà Phạm thì không nghĩ rằng Mẫn để ý tới vấn đề tiền bạc vì cậu ta không bao giờ đụng chạm tới. Mỗi ngày, sau buổi trưa cậu bé ngưng làm việc, đứng yên tại chỗ nghiêng đầu như nghe ngóng. Chỉ mấy phút sau mẹ cậu xuất hiện từ sau hàng cây dâm bụt dày đặc, mang đồ ăn trên một cái gà mên đậy kín tới cho cậu. Bà ta chờ tới khi bà Phạm trả tiền rồi mới dẫn con tới lều và ngồi chờ trong khi con bà ăn uống. Bà Phạm nói với chồng bằng một giọng bất bình: - Tại sao bà ta không chịu để tôi cho nó ăn uống? Tôi đã thấy món ăn của bà ta mang tới cho nó, trông giống như một loại cháo lỏng. Đó không phải món ăn thích hợp cho một đứa bé làm việc vất vả như vậy. Tôi thấy hình như nó còn ốm hơn khi vừa mới tới đây nữa. Ông Phạm hoàn toàn đồng ý. Xương mặt của Mẫn bây giờ lộ ra rõ rệt. Khi cậu ta cúi xuống, những đốt xương sống hiện lên thật rõ sau làn vải áo. Bà Phạm cố gắng một lần nữa khi gặp mẹ Mẫn: - Tôi muốn cho cháu Mẫn ăn đồ nóng hàng ngày. Nếu không, tôi không thể để nó tiếp tục làm việc như hiện tại, nó mỗi ngày một gầy yếu. Tôi sợ rằng nó có thể bị bệnh hay là bị suy dinh dưỡng. Một nét hoảng hốt hiện lên trong đôi mắt người đàn bà: - Thưa bà! Bà không hiểu đâu. Mẫn giống y như cha nó. Nó không ăn được những món ăn của bà và của tôi. Nó không thể ăn muối được. Cơ thể của nó không chịu đựng được muối. Xin bà cứ để mọi việc diễn tiến như hiện tại và xin cho cháu nó tiếp tục được làm việc với bà. Nó là đứa con duy nhất mà tôi nhờ cậy được. Nếu không có số tiền mà nó kiếm được ở đây, mấy đứa em nó ở nhà sẽ chết đói hết cả. Bà Phạm đành phải nhượng bộ: - Thôi được. Nó có thể tiếp tục làm việc với tôi. Phải nhìn nhận rằng nó làm việc rất giỏi nhưng nó có vẻ không được vui lắm khi ở với chúng tôi. Nó không bao giờ cười và cũng không bao giờ nói một lời nào với tôi hoặc nhà tôi. Người đàn bà nhún vai: - Thưa bà, điều đó không có nghĩa gì hết. Mẫn là đứa trẻ rất khác người. Nó không có cùng sự xúc cảm như những đứa trẻ khác. Nó chỉ biết một việc duy nhất là giúp đỡ tôi và các em nó. Xin ông bà đừng thắc mắc gì về nó. Nó luôn luôn làm những gì nó muốn. Xin hãy để yên cho Mẫn... Tuy nhiên bà Phạm vẫn tự hỏi "Có phải đó là việc Mẫn muốn làm hay không?". Rồi buổi tối hôm đó bà đứng ở cửa sổ phòng ngủ nhìn ra căn chòi tranh nơi Mẫn thường ngủ. Cậu bé không ngủ mà ngồi ngay ở cửa, hai tay bó gối nhìn ánh trăng không chớp mắt. Bà nói lớn: - Chắc có điều gì lạ lắm thì phải. Ông Phạm đang ngái ngủ lên tiếng: - Bà nói cái gì thế? - Thằng Mẫn đó. Tôi đứng theo dõi nó đã nửa tiếng đồng hồ rồi. Nó ngồi yên như phỗng đá vậy. Với những việc nó làm ban ngày, đáng lẽ nó đã phải ngủ từ lâu rồi. Nhưng mà không, nó vẫn ngồi bó gối ngoài kia kìa. Ông Phạm vừa ngáp vừa tiến tới bên vợ: - Đáng lẽ tôi phải cho bà biết điều này từ lâu rồi. Tôi thấy nó vẫn luôn luôn ngồi đó suốt đêm. Theo tôi biết, nó hình như không bao giờ ngủ. Thú thực với bà, tôi thấy thằng bé này có vẻ ma quái quá! Nhưng thực ra nó đâu có làm phiền ai đâu! Bà Phạm không nói nhưng biết rõ rằng Mẫn đã khiến bà lo nghĩ rất nhiều. Sáng hôm sau, hình dáng cậu bé khiến bà cảm thấy bất nhẫn. Làn da xanh xao của Mẫn bây giờ đã trở thành vàng khè, bóng loáng. Xương trán và xương má của Mẫn như lộ rõ ra. Bà còn lo lắng hơn nữa khi thấy Mẫn có vẻ chậm chạp hơn và mệt mỏi hơn thường lệ, bà hỏi: - Sao, cháu thấy không được khỏe trong người có phải không? Mẫn không đáp lại, lặng thinh cúi đầu đi qua trước mặt bà. Cảm thấy bứt rứt, bà Phạm nói với chồng: - Ông coi nó kìa. Tôi nghĩ rằng nó bị bệnh. Nó di chuyển như một ông già vậy. Ông Phạm chăm chú nhìn Mẫn đang cắt cỏ một cách chậm chạp: - Bà nói đúng. Sao da nó bị đen ở nhiều chỗ thế nhỉ? - Tôi không biết nhưng chắc chắn một điều là nó thiếu dinh dưỡng quá độ. Tôi không cần biết mẹ nó nói những gì và tôi sẽ chuẩn bị một vài món ăn ngon lành và bổ dưỡng cho nó. Rồi ngày mai ông đưa nó lên tỉnh gặp bác sĩ xem sao. Nghĩ rằng có lẽ Mẫn thiếu chất protein, bà Phạm bèn làm một món súp khoai tây, cà rốt, sườn heo, hột gà, còn làm thêm một ly sữa tươi và một cái bánh ngọt. Xong xuôi bà gọi Mẫn vào, đưa cậu ta vào phòng ăn và nói thật ngọt ngào: - Cháu mau ngồi vào bàn đi. Tôi sửa soạn một bữa ăn thật đặc biệt cho cháu vì hôm nay là đúng ba tháng cháu làm việc với tôi. Đây là một kỷ niệm dành cho cháu. Mẫn cắn một miếng, rồi một miếng nữa. Cậu nhai miếng sườn heo chầm chậm trước khi nuốt. Rồi cậu ta từ từ đứng lên. Bà Phạm lên tiếng với vẻ lo lắng: - Sao vậy? Cháu chưa ăn xong mà muốn đi đâu vậy? Nhưng Mẫn đã đi ra ngoài rồi. Bà Phạm chạy tới mở tung cánh cửa. Mẫn đã đi tới hàng cây bao quanh mảnh đất với những bước chân thật dài. Bà Phạm lớn tiếng gọi nhưng Mẫn vẫn không hề nhìn lại. Ông Phạm cầm tay vợ: - Thôi cứ để nó yên. Chắc là nó muốn đi về nhà. Có lẽ mẹ nó nói đúng. Đáng lẽ bà không nên cho nó ăn những món đó. Đêm hôm đó bà Phạm trằn trọc suốt đêm. Hôm sau khi trời mới tờ mờ sáng bà đã dậy, ra vườn đi tới, đi lui. Đúng như bà lo ngại, Mẫn đã không quay trở lại. Tuy nhiên ngay trước buổi trưa, mẹ cậu ta tới nơi, tiến thẳng tới trước mặt bà Phạm, khuôn mặt bà ta đanh lại: - Bà đã làm việc đó phải không? Bà cho nó ăn sau khi tôi đã dặn bà không được làm như vậy. Bà cho nó ăn cái gì thế? - Thì... tôi cho nó ăn súp khoai tây và sữa tươi, là những thứ đồ ăn cần thiết cho Mẫn. Người đàn bà rên lên: - Súp khoai tây! Trời ơi! Bà cho nó ăn muối rồi! Rồi bà ta rít lên the thé: - Bà điên rồi hay sao? Tại sao bà không để cho nó được yên? Bà Phạm có vẻ bối rối: - Tôi rất tiếc nếu đồ ăn của tôi khiến cho cháu Mẫn bị bệnh. Đột nhiên bà Phạm đổi giọng nặng nề: - Nhưng... nó thiếu ăn đến độ gần chết đói ngay trước mắt tôi. Tôi không thể nhắm mắt làm ngơ được. Tôi sẽ trả tiền thuốc men và sẽ nhờ một bác sĩ săn sóc cho nó. Người đàn bà kia im lặng trong một phút trước khi lên tiếng bằng một giọng khá buồn bã: - Thưa bà xin bà vui lòng đi theo tôi để xem những gì bà đã làm cho con tôi. Người đàn bà quay lưng. Bà Phạm đi theo bà ta xuyên qua cánh rừng trước khi tiến tới một chân đồi. Khoảng nửa tiếng sau, hai người tới một túp lều xiêu vẹo nơi ba đứa nhỏ ngồi yên ngoài cửa. Khi bà Phạm dừng lại, người đàn bà nắm tay bà tiếp tục kéo lôi đi. Bà Phạm hỏi: - Đây không phải nhà bà hay sao? Cháu Mẫn không có trong căn nhà này hay sao? Người đàn bà lắc đầu tiếp tục đi tới. Mấy phút sau cả hai vượt qua một hàng cây trước khi tiến tới một khoảng đất trống với một vài ụ đất cỏ mọc um tùm. Một vài ụ đất có cắm cây thánh giá, những ụ khác thì không. Bà Phạm rùng mình: - Đây là chỗ nào vậy bà? Người đàn bà thản nhiên đáp: - Một khu nghĩa trang cũ. Không còn ai dùng đến nữa. Đây mời bà tới đây. Rồi bà ta chỉ vào một ụ đất. Bà Phạm giật mình nổi gai ốc khi thấy đám cỏ phía trên như bị xé bung ra và dường như có người tìm cách đào một cái hố ở phía dưới. Không một ai hoặc một sức mạnh nào có thể buộc bà tới gần ngôi mộ bị đào tung lên đó. Tuy nhiên từ nơi bà đứng, bà Phạm nhìn thấy dưới hố một hình thù co quắp trong chiếc quần Jean sờn rách và cái áo thun bẩn thỉu. Người đàn bà rên rỉ: - Đó, thằng Mẫn đó. Đó là chỗ bà đưa nó tới đó. Chồng tôi và nó chết từ hai năm nay giữa một mùa đông lạnh lẽo vì chứng sưng phổi. Tôi cầu khẩn cả hai trở lại nhưng chỉ có thằng Mẫn đáp lại lời cầu xin của tôi. Nó biết là tôi cần nó. Nó muốn săn sóc cho tôi và mấy em của nó. Nó luôn luôn là một đứa con ngoan ngoãn. Bà Phạm ngẩn ngơ: - Bà nói gì thế? Tôi... tôi không hiểu gì cả... Người đàn bà không để ý, lẩm bẩm: - Tôi phải săn sóc cho nó thật cẩn thận.Bà có biết là bà không thể cho người chết ăn muối hay không? Muối làm cho người chết quên tất cả mà chỉ nhớ chỗ nghỉ ngơi cuối cùng của họ mà thôi. Chính bà đã khiến cho thằng Mẫn phải trở về nắm mồ cũ của nó, và từ bây giờ trở đi, chắc chắn nó sẽ không bao giờ rời khỏi nơi đó nữa. Trăng Ngàn Nanh Sói Mùa thu. Bên kia đèo Rù Rì là khu rừng nhiệt đới đang ở vào mùa mưa. Mưa rừng như trút nước, mưa như chẳng bao giờ biết tạnh. Gió rừng vù vù thổi, bầy thú lạc đàn kêu vang. Khung cảnh ảm đạm thê lương bao trùm. Mới năm giờ chiều mà trời tối đặc như lúc nửa đêm. Đám đào vàng tuy có bảy tám người lực lưỡng bậm trợn nhưng trước cảnh rừng chiều mưa gió bão bùng trông họ ủ dột giống như những con thỏ non chết nhát. Cả bọn rút lên cái lán trại cất kiểu nhà sàn bằng những khúc gỗ rừng to, xung quanh được rào bằng những cây tre già vát nhọn đầu giống như thành lũy của bọn sơn tặc. Sở dĩ họ cần có một nơi trú ẩn an toàn, vững chắc như vậy vì khu vực đại ngàn này thường có những đàn voi dữ, những bầy hổ tinh ma, những con chó mắt đỏ ăn thịt người thường hay xuất hiện.. Cư, gã đàn ông lớn tuổi nhất xuống nhà sàn đốt một đống củi nhỏ nhằm mục đích, thứ nữa là phòng ngừa đám thú hay lảng vảng xung quanh. Nhìn ngọn lửa đã bắt cháy Cư trở lên cầu thang thì thấy mấy thằng bạn đang ngồi quanh một bàn nhậu. Một đĩa to thịt heo rừng luộc cùng một ít lá cây dại trong rừng thay rau. Thịt luộc chấm muối ớt bên cạnh một can rượu trắng. Để chống lại lam sơn chướng khí, đàn ông đi rừng nào cũng phải biết uống rượu. Rượu giúp người chống lạnh, cũng như làm cho người ta thêm can đảm trước những hiểm nguy luôn rình rập đợi chờ. - Vào đi anh Cư, giờ này chỉ còn nhậu thôi. Một người lên tiếng. Một gã khác mặt xanh tái nhớt đang bị sốt rét kinh niên hành đẩy cái chén sành sứt mẻ và đôi đũa tre sang Cư: - Mai chắc chúng ta vẫn phải ở nhà. Nghe nói bên hầm bọn thằng Quý "khùng" bị lũ bùn chôn hết mấy đứa. May mà bọn mình cất lán trại ở trên đồi cao... nè làm một miếng mở hàng đi đại ca Cư! Một gã đầu trọc tuếch trên ngực xăm hình một con linh cẩu báo cáo: - Nghe nói bên trại bọn "Châu" điên hôm kia có đứa bị ông Ba Mươi vồ mang vô rừng, hai ngày sau bọn họ mới tìm thấy một đống xương và chiếc đầu lâu nham nhở máu của thằng Sơn "hủi". Gã tóc bù xù vừa mới tu xong một chén rượu báo cáo tiếp: - Em mới gặp đám vận lương cho hầm thằng Chắt "điếc", xì ra rằng bọn chúng vừa mới trúng một mạch vàng khẳm lắm. Nghe nói mỗi đứa vận lương đều được Chắt "điếc" cho một bụm vàng nát có cả lượng. Mình qua đó khoắng một mớ được không Đại ca Cư? Cư lơ đãng gắp một miếng thịt chấm muối ớt bỏ vào miệng nhai nhóp nhép. Không phải Cư không muốn nghe mấy thằng đàn em báo cáo nhưng kinh nghiệm đi rừng và sống ở rừng còn nhiều hơn thời gian sống ở nhà đã cho Cư biết đêm nay rừng có chuyện lạ. Hôm qua lúc ra bờ suối tắm giặt Cư đã phát hiện nhiều dấu chân dẫm trên bãi cát. Ngoài dấu chân của cọp còn có những dấu chân mới rõ ràng của một loài lang sói. Hổ coi vậy chớ chưa đáng sợ bằng loài linh cẩu mắt đỏ này. Cư từng thấy một bầy lang sói đào bới một ngôi mộ của dân đi rừng bị chết mới chôn và chúng thi nhau cấu xé xác người xấu số. Chỉ mới vừa tàn điếu thuốc thì thi hài người xấu số chỉ còn lại đống xương trắng hếu. Loài lang sói này có con vì ăn thịt người quá nhiều nên chúng đã thành tinh, biết giả giọng người nửa khuya vào các làng bản gọi cửa những nhà ở sát bìa rừng. Ai vô tình không xem xét trước mà mở cửa là nó nhào vô cắn cổ và tha đi. Loài sói tinh này có đôi mắt đỏ như lửa, tiếng tru của nó như tiếng xé lụa, như tiếng bốc vãi của mảnh vỡ thủy tinh. Cư đang lắng tai nghe. Bên ngoài hàng rào tre vạt nhọn nghe có tiếng chạm nhẹ. Cư xoay người nhìn xuyên qua khe hở. Trong bóng đêm dày đặc của đại ngàn Cư nhìn thấy một đôi mắt đỏ vượt cao hơn tầm hàng rào chừng một gang tay. Đây có lẽ đúng là con sói tinh từng ăn thịt mấy tay đào vàng do bị sốt rét nặng quá bị đồng bọn bỏ lại giữa rừng. Lần ấy Cư đi theo đám săn trầm, kỳ nam vô mãi tận rừng sâu. Nơi đây tưởng là chốn không người, vậy mà sau cùng họ cũng gặp một cái lán trại bỏ hoang chắc đã qua mấy mùa mưa nắng. Mái tranh đã nát tả tơi, vách phên xiêu vẹo. Khi bọn người săn trầm vừa leo lên khỏi chiếc thang gỗ đã rùng mình sởn gáy khi nhìn thấy rải rác trên sàn nhà là những khúc xương người bị nhai gặm nham nhở. Xương sọ bị vỡ ra thành từng mảnh vụn. Nghe nói con sói tinh đầu đàn là con được quyền ăn óc người mà nó giết trước. Hàm răng sắc như dao của nó bập vào xương sọ người cũng dễ như người ta cắn vào hạt dưa. Đám săn trầm, kỳ nam từng kể cho Cư nghe chuyện chính mắt họ trông thấy một con sói tinh cắn gỗ chiếc quan tài rào rạo để lôi ra cho được xác người xấu số. Những người đó kể rằng, cả bầy sói kéo xúm lại cắn vào cổ áo quan, tiếng cắn nghe rào rạo như người ta nhai cốm. Hút chưa tàn điếu thuốc nắp quan tài đã bị lũ sói mắt đỏ cắn bung ra và nhanh như chớp cái xác sắp phân hủy bị chúng tha đi... Cư quan sát hai con mắt đỏ đang đi dài theo bờ rào tre vạt nhọn. Chứng tỏ con sói tinh này đang đi bằng hai chân đang tìm cách để nhảy vào. Cư chui qua lỗ hở của vách phên nhặt một viên đá. Chờ cái đầu của con quái vật nhô lên cao, Cư ném vào đầu nó đánh bốp một tiếng, đôi mắt đỏ biến mất đồng thời một tiếng tru sắc lạnh như tiếng mảnh vỡ thủy tinh kéo dài mất hút tận rừng xa. Mấy gã đồng bọn với Cư đã thấm rượu. Gã bị bệnh sốt rét bắt đầu bị cái lạnh của núi rừng ban đêm hành hạ, gã chụp một tấm chăn vá chằng vá đụp trùm vào người rồi ngồi run. Cư nói: - Tao không dám đốt một lò lửa cho mầy đâu Hũ. Ngoài kia vừa mới xuất hiện một con sài tinh mắt đỏ. Đây là một con sài rất ranh ma tinh quái vì nó ăn thịt quá nhiều người rồi. Hưng mãng xà bỏ ly rượu xuống hỏi: - Con sài tinh xuất hiện bao giờ? - Mới đây thôi, tao đã ném đá đuổi nó đi rồi. Gã đầu trọc rùng mình nói giọng mái: - Cách đây hai tháng cánh đi săn kỳ nam của Bảy "hòn" đi suốt bảy ngày băng rừng, lội suối đã gần hết lương thực mà vẫn chưa thấy hình dạng một cây kỳ nam nào thì trong đoàn có một gã sốt rét nặng như thằng Hũ. Cả bọn hội ý chọn một cây cổ thụ cất trên đó một mái lều cho người bệnh tạm trú cho an toàn trong lúc cả đoàn dắt nhau đi săn. Thời may được thần rừng độ, họ trúng một cây kỳ nam nặng cả trăm ký. Để tránh bị các toán khác phát hiện nên họ tranh thủ mải mê bới đào, cưa đục để mong khi trời tối thì chia nhau mang về tập kết ở căn lều nằm trên một chạc cây cổ thụ sum xuê um tùm cành lá. Gã đầu trọc tạm dừng câu chuyện, húng hắng ho. Hưng - gã xâm mình hình con mãng xà trên ngực thúc: - Rồi sao nữa mày? Gã đầu trọc lắp bắp: - Đến khoảng tám giờ tối... rừng xuống một màu đen đặc.... tiếng tắc kè ở đây kêu nghe lắt nhắt từng tiếng thật buồn. Cả bọn bật đèn săn bỏ kỳ nam vào bao rồi hối hả quay trở về lán. Chỉ còn độ hơn hai trăm mét nữa thì về đến gốc cây dựng lán chợt nghe tiếng hú xoải dọc theo bờ suối như ai vốc mảnh chai vỡ đi mà ném. Biết là gặp đám sài đi săn đêm rồi nên cả bọn hối hả vừa đi vừa chạy mong cho chóng về đến trại. Dù mỗi người phải mang vác hàng hai ba chục ký kỳ nam nhưng không ai biết mệt vì nghĩ đến ngày mai mọi người sẽ có một khoản tiền tỷ trước mắt. Họ đi mà như chạy. Về đến leo lên lều mọi người tưởng đâu gã sốt rét vẫn còn nằm trên võng. Nhưng đến khi giở tấm chăn ra thì chỉ thấy nhầy nhụa một vũng máu còn gã bị sốt rét hành thì biến mất. Xuống chân cầu thang rọi đèn xem chỉ thấy lố nhố dấu chân sài... như vậy, con sài tinh đã leo được lên cây rồi lôi xác gã sốt rét đang lên cơn sốt xuống đất và tha về hang ổ của chúng. Nghe gã đầu trọc kể chuyện, gã tên Hũ càng run lên bần bật. Gã lắp bắp: - Xin các bạn đừng bỏ tôi một mình khi lo khui mẻ vàng ở bên suối, Sài tinh đang lảng vảng đâu đây. Em sợ quá! Đúng lúc đó ba người đi vận lương thực cũng vừa về đến, quần áo họ đầy bụi đỏ với mỗi người một ba lô nặng trĩu. Gã đội chiếc nón rộng vành vừa quăng ba lô xuống sàn lều vừa chỉ tay ra ngoài rừng nói với Cư: - Bọn tôi vừa gặp con Sài cao to. Đầu có bờm, hai con mắt đỏ như hai hòn than, con sài đi hai chân như người, rất quái quỷ. Gã chột mắt mặc bộ đồ rằn ri đi rừng đã bạc màu mặt như còn in vẻ bàng hoàng phụ họa: - Cũng may là bọn tôi qua được bên này suối rồi nếu không, chắc đã chết với lũ sói quân lính của con sài đầu đàn mắt đỏ đó. Gã vác chiếc xà gạc trên vai nói với vẻ sợ hãi: - Vậy mà chúng còn hùa nhau qua suối. Bọn tôi phải dùng đá bên bờ suối tấn công lại bọn chúng, cũng nhờ suối chảy khá xiết nên có con bị trôi tuột theo dòng nước. Nếu không giờ này chưa biết sẽ ra sao? Cư mỉm cười hất đầu qua phía hàng rào: - Vậy mà nó lại vừa đến đây trước bọn mầy đấy. Cách đây mươi phút con sài tinh ấy đã xuất hiện ở ngoài kia. Đêm nay phải chia nhau ra kẻ canh người ngủ. Đứa nào lấy ra đây cho tao khẩu súng săn, mấy quả pháo và vài cây chĩa. Đợt canh đầu tiên để cho tao và thằng Hưng. Phiên canh sau tất cả mấy thằng bây phải thức. Thôi mấy đứa mới về ăn chút gì đi rồi đi ngủ, mọi chuyện để đó cho tao với thằng Hưng "mãng xà" lo. Ú ớ tiếng người. Quá nửa khuya một cơn mưa rừng bất chợt ào đến một cách xối xả. Tiếng gió rừng thổi trùng trùng trong đại ngàn, những tia chớp kèm theo tiếng sét đinh tai, nhức óc càng làm cho rừng khuya thêm vẻ thần bí ma quái. Căn lều trại mặc dù được cất trên những cột gỗ vững chắc nhưng với những cơn gió thốc hung bạo như muốn xô ngã, hất tung nó. Ngọn lửa dưới sàn nhà đã tắt ngấm từ bao giờ. Chung quanh trời tối đen như mực. Thỉnh thoảng dưới làn tia chớp như xé bầu trời thành những mảnh rạn vỡ Cư mới nhìn thấy được Hưng "mãng xà" cũng ngồi lặng lẽ ngó mông lung ra phía rừng sâu. Bên trong lều tiếng ngáy, tiếng mớ của mấy gã đàn ông tạo thành một thứ âm thanh kỳ quái. Mưa kéo dài độ hơn một giờ đồng hồ thì ngưng tạnh. Từ sau đám mây đen sũng nước đã tan rã, một vầng trăng như vừa được tắm sạch, tròn lẳn hiện ra dãi ánh sáng trong vắt xuống khu rừng già, tiếng động của rừng khuya lại bắt đầu. Tiếng con hoẵng, con cheo bên rừng nghe sao buồn đến não ruột. Hình như bên con suối có tiếng rống của một đàn voi ở khu rừng le dày dặc như một thành lũy bất khả xâm phạm. Cư đang nghĩ đến bãi vàng của mình chẳng biết có bị ngập nước hay không Cư biết lực lượng của mình yếu hơn những cánh đào vàng khác nên anh và mấy bạn chọn một bãi ở tận rừng sâu núi thẳm xa dấu chân người để không ai có thể phát hiện được sự có mặt của họ. Dân đào vàng là loại dân giang hồ đang ở tận cùng của xã hội. Vì thế họ sẵn sàng chém giết nhau một khi khám phá có một đối tác cùng làm ăn ở bên cạnh mình. Nhất là những khi nghe tin bên đối phương đã tìm thấy mạch vàng thì chắc chắn sẽ có cuộc... "gió tanh, mưa máu" xảy ra. Vì vậy, biết lực lượng mình yếu thế Cư dắt đám bạn đi đường vòng bí mật tránh bọn họ đi xa tận những cánh rừng sâu chưa từng có dấu chân người. Chính vì thế mà ở nơi sơn cùng thủy tận này bọn họ phải đối mặt với những hiểm nguy khác là sơn lam chướng khí, thú dữ và kể cả yêu ma của chốn rừng thiêng nước độc. Sau cơn mưa, ánh trăng rừng sáng rỡ soi xuống những tàn lá ướt đọng những hạt mưa lấp lánh. Bỗng dưng Cư nghe một tràng tiếng tru từ bên kia dòng suối lướt sang phía bên này nhanh như một luồng gió. Bầy thú yêu tinh này đã phát hiện ra nơi ẩn náu của bọn Cư rồi. Có lẽ món thịt người là món ăn sơn hào hải vị của bọn chúng nên bọn chúng khó lòng bỏ qua. Cư lên đạn cho khẩu súng săn, đưa mũi súng hướng ra phía hàng rào tre vạt nhọn. Người ta bảo ở trong rừng sâu thì hổ là chúa tể sơn lâm, nhưng mấy ai biết được chính loài sài lang, linh cẩu mới là loài hung bạo. Chúng xem bọn cọp beo vớ vẩn như loài cỏ rác. Nhiều đám sài lang đã tấn công cả hổ báo làm cho bọn chúa tể sơn lâm này phải cuốn vó chạy dài. Đúng lúc Cư ngồi chờ đám sài xuất hiện thì Hũ lên cơn sốt nặng. Anh ta chồm dậy, hai tay đánh vào ngực mình binh binh như mấy con dã nhân khi nổi giận. Rồi như nổi cơn điên Hũ lao ra cửa lán và như được cơn điên hỗ trợ hắn phóng như bay qua hàng rào cao hai thước và biến mất vào trong rừng khuya. Cả bọn đang ngủ bật dậy. Hưng "mãng xà" như chết điếng hỏi Cư. - Thằng này bị sao rồi anh Hai? Cư đứng lên cầm súng trên tay chỉ thị: - Tất cả mặc quần áo, giầy ủng, mang đèn vào rồi theo tao! Năm phút sau, cả bọn biến vào màn đêm cô tịch. Sau cơn mưa, rừng trở nên ẩm ướt, ánh trăng sáng tỏ vậy mà vẫn không sao lọt qua từng đám lá rừng đan xen vào nhau. Cư soi đèn cố tìm dấu chân của Hũ. Đây rồi, dấu chân Hũ đang chạy băng về hướng bờ suối. Sau mấy giờ đồng hồ mưa xối xả, nước từ thượng nguồn đổ về như được tăng thêm cả về thể tích và khối lượng, nên suối chảy xiết và vô cùng hung hãn, gã điên này nếu vượt suối ắt sẽ phải chết, tiếng một gã lẩm nhẩm ở phía sau Cư. - Đừng nói chuyện, lũ sói sẽ nghe thấy chúng ta. Nó không chết vì dòng suối thì cũng có thể rơi vào miệng con sài mắt đỏ đã biến thành tinh. Đi thầm trong bóng đêm dầy đặc độ nửa giờ, cả bọn đã nghe tiếng suối chảy ầm ầm trước mặt. Cư lại chiếu đèn dưới con đường mòn, dấu chân Hũ vẫn còn làm đục nước đây. Độ hai mươi phút sau, cả bọn dừng lại bên bờ suối. Dấu chân Hũ đã mất nhưng cái áo bông của hắn lại bị vất ở trên một tảng đá. - Nó đâu rồi? Hưng "mãng xà" chỉ vào chiếc áo và hỏi bâng quơ. Đúng lúc đó bên kia suối chỗ khoảng rừng le có tiếng xào xạc và tiếng gì đó vang lên như một tiếng cười rất là quái dị. Gã mắt chột và gã tóc bù xù dừng chân lại thì thào: - Ai cười? Người hay ma vậy anh Cư? Thoáng qua một góc rừng le Cư thấy chớp rất nhanh hai đốm sáng đỏ. Cư nhỏ giọng: - Không phải tiếng người cũng chẳng phải tiếng ma mà đó là tiếng của sói tinh. Hưng “mãng xà” sợ hãi: - Hay là con tinh này đã bắt được thằng Hủ rồi. Vì sao đang nửa đêm mà nó lại lên cơn mê loạn? Cư kéo mọi người ngồi xuống sau một tảng đá to: - Tao với thằng Hũ đã phiêu bạt với nhau hồi mới mười mấy tuổi đầu, hai đứa đã từng trôi dạt qua Miên theo đám cửu vạn vác hàng lậu, và tại đây thằng Hũ đã có thời nó nghiện bồ đà. Tánh tình nó thay đổi từ đó, lúc vui, lúc buồn rất thất thường. Có những đêm nó không ngủ, một mình nó lang thang ra giữa những cánh đồng hoang. Những khi no thuốc, nó nói đang bay trên bảy sắc cầu vồng! Nó thấy được cả ma, cả quỷ làm cho ai nghe cũng sợ. Thằng này... - Sao anh Cư? - gã đầu xù lo lắng. Cư chép miệng quả quyết: - Phải cứu nó thôi. Tao sẽ qua suối, thằng nào theo thì đi, bằng không thì phục nơi đây chờ. Cả bọn nhao nhao lên: - Anh đi thì bọn em đi, sống chết có nhau. Cư đanh giọng: - Nhưng suối chảy xiết lắm, rất nguy hiểm. Để tao đi trước bắt cầu dây cho tụi bây theo sau. Nói xong Cư mở cái túi vải sau lưng lấy ra một khoanh dây dù to tướng. Một đầu dây, Cư cột vào một thân cây to, còn khoanh dây ước chừng cả sáu bảy chục thước thì mang vào vai. Cư ra hiệu: - Khi nào bọn bây thấy tao nhá đèn ba cái là tao đã sang tới bên ấy rồi thì bọn bây sẽ lần theo dây mà sang. Gã đầu xù lắp bắp: - Nhưng nhỡ bọn em không nhìn thấy ánh đèn? Cư vò đầu thằng đồng bạn cười: - Nếu như thế thì có nghĩa là thằng anh mầy đã bị dòng suối nhai sống rồi. Thế thôi. - Đừng nói gở làm bọn em sợ mà anh Cư. Anh lội giỏi như nhái mà làm sao không qua được chứ! - Gã mắt chột nói riu ríu. Cư cười: - Thôi yên tâm, tao qua suối đây. Nói rồi Cư lặng lẽ đi xuống mép bờ suối. Nước suối lạnh quá. Bây giờ trăng hiện lên phía trên dòng suối soi xuống dòng nước trắng bạc đang chảy xiết. Cây súng săn mang một bên vai. Cư lần từng bước. Có lẽ dòng suối cạn. Cư cứ đi xiên xiên theo dòng nước, có lúc gặp luồng nước chảy mạnh nước hất tung anh ta lên rồi rơi xuống, tuy vậy Cư vẫn cố gắng đều đặn thả từng mối dây. Ra càng xa lòng suối càng sâu dần. Nước chảy mạnh như cắt, nhiều lúc Cư nghĩ chắc mình sẽ không sao sang được tới bờ bên kia. May sao chính những lúc thập tử nhất sinh anh lại được những tảng đá to giữa dòng suối cứu mạng. Cuối cùng vào lúc đuối sức nhất Cư lại được một luồng nước mạnh xô dạt vào bờ. Cư nằm xoải trên bờ cát ven suối để thở, ánh trăng chếch sang phía mấy quả đồi trọc. Đột nhiên Cư nghe một tràng những tiếng sói tru kéo dài từ rừng le lên mấy quả đồi. Tiếng tru gồm nhiều cung bậc, âm sắc tạo nên một giai điệu ma quái, dễ sợ. Nghỉ độ mươi phút, Cư vội ngồi dậy tìm một gốc cây, căng thẳng cái sợi dây rồi buộc vào. Quay qua bên kia suối, Cư nhá đèn ba cái. Phía bên kia cũng nhá đèn đáp lại. Như vậy là bọn kia đang sắp sửa men theo sợi dây để qua suối. Trong lúc chờ đợi đồng bạn, Cư móc một bọc thuốc được gói trong cái gói da dê ra vấn hút và thẫn thờ ngồi nhìn trăng rừng. Bỗng dưng đúng lúc đó trên quả đồi trọc cách chỗ Cư ngồi độ hai trăm thước hiện lên những cái đầu sói vươn cao cùng cất lên những tiếng hú trăng quái đản. Rồi từ dưới chân đồi có một đôi mắt đỏ như lửa vượt lên và theo sau là một bóng người cũng chạy nhanh như gió. Mười lăm phút sau, cả bọn đeo dây đã vượt qua dòng suối cùng ngồi lại quây quần bên Cư. Cư chỉ lên quả đồi, Hưng "mãng xà" nhìn một lúc rồi nói thì thào: - Có một bóng người chạy theo sau bầy sói. Gã chột mắt sợ hãi: - Hình như bóng của thằng Hũ thì phải. Một gã đồng bọn lên tiếng: - Đúng là nó rồi. Mà vì sao lũ sói chưa ăn thịt nó? Một gã khác nói trong tiếng thở: - Tôi nghe thằng Hũ cũng tru lên giống như bầy sói. Kìa, cái bóng của nó chạy theo phía sau sát với con sói tinh mắt đỏ. Lẽ nào nó đã hóa thành sói. Cư lặng thinh vất mẩu thuốc lá, khoát tay ra hiệu: - Chúng ta bò lên nhưng phải yên lặng. Rồi Cư dẫn đầu, cả bọn chạy lúp xúp men theo những bụi cỏ cao dưới chân đồi trọc. Càng đến gần chân đồi trong tiếng hú trăng của đám sói rừng còn có tiếng cười, tiếng rú man dại của Hũ. Để tránh sự phát hiện hơi người của bầy sói tinh, Cư ra hiệu cho cả bọn bọc vòng hướng ngược chiều gió. Còn độ năm mươi thước đến đỉnh đồi cả bọn nhìn thấy con sói tinh mắt đỏ đầu đàn đứng dựng hai chân bên cạnh Hũ và cả hai hú lên một tràng dài man dại. Gần một giờ sau đám sói lẳng lặng đi xuống đồi hướng về phía rừng khộp trước mặt. Con sói tinh đầu đàn mắt đỏ cũng phóng theo chỉ còn Hũ đứng lại tru lên những tiếng thật quái dị. Cư đề nghị: - Chúng ta phải tìm cách cứu nó. Gã đầu trọc đề nghị: - Phải chăng dây trên lối nó đi mới được vì thằng này đã hóa thành sói mất rồi! Gã đầu xù quay lại mấy đứa phía sau ra lệnh: - Mấy đứa bây chuẩn bị căng dây đi. Khi nào nó chạy theo bầy sói qua ngang dây thì căng thẳng sợi dây cho nó té ngã, lúc đó phải xông vào trói nó lại. Trăng đã xuống thấp thoáng bên kia quả đồi... Cả bọn đưa Hũ về được căn lán thì trời đã sáng. Bấy giờ mọi người mới nhìn rõ Hũ. Mặt mày anh ta xanh xám, một bên mép nước bọt chảy thành dòng, đôi mắt ngầu đỏ long lên trông thật dễ sợ. Tuy đã bị trói chặt hai tay nhưng Hũ giãy giụa hết sức hung hãn, hai hàm răng nhe ra như muốn cắn mọi người. Cư căn dặn: - Thằng này đã bị bệnh sói điên rồi, tụi bây phải cẩn thận với nó. Bất chợt Hũ lại cất tiếng tru lên như đang muốn kêu cứu với bọn sói tinh. Lúc Hũ ngửa cổ lên kêu, Cư kịp nhìn thấy có hai dấu răng nanh rướm máu trên cổ hắn, vết máu chưa kịp khô, Cư kêu lên: - Thôi rồi, thằng này đã bị sói tinh hút máu và truyền cho nó con vi trùng sói dại rồi.Trong người nó lúc này là nửa người nửa sói, hết mong cứu chữa giữa chốn rừng hoang này. Cả ngày hôm đó Hũ ngồi trong bóng tối ở góc lều, miệng luôn gầm gừ. Đến đêm lúc trăng vừa mới mọc khi nghe tiếng bầy sói tinh kêu hú phía bên kia bờ suối, Hũ chợt chồm đứng dậy dùng răng cắn đứt dây, hú lên một tiếng dài rồi phóng qua hàng rào chạy biến vào rừng. Cư nhìn theo Hũ ứa nước mắt, từ đêm nay toán đào vàng của anh sẽ mất một thành viên. Người bạn thuở thiếu thời với một lần lầm lỡ nghiện bồ đà. Bản chất con người từ đó đã thay đổi, nay lại bị một con sói tinh hút máu truyền bệnh nên cái chủ thể con người mong manh còn sót lại của anh ta cũng biến mất và anh ta đã hóa sói. Cư buồn bã thở dài... Trăng rừng khuya vẫn lung linh trên cánh rừng hoang dại, phía đồi trọc bên kia suối vang lên tiếng bầy sói man dại gọi trăng. Ma Rắn Câu chuyện ma rắn được cha tôi kể lại cho nghe từ khi tôi còn tấm bé, ông vẫn thường kể đi, kể lại câu chuyện lạ lùng này trong gia đình cho đến khi tôi lớn lên. Cha tôi không phải là người ưa thích những câu chuyện hoang đường. Trước sau ông chỉ kể một câu chuyện này thôi bởi nó đã xảy ra trong chính gia đình ông cố tôi tức là ông nội của cha tôi. Những tình tiết ly kỳ của chuyện ma rắn cứ ám ảnh mãi anh em chúng tôi cho đến bây giờ. Nó hấp dẫn vì câu chuyện người thật, việc thật đã để lại dấu ấn đậm nét như một mảng màu bám mãi vào ký ức trong suốt quãng đời niên thiếu của mấy anh em tôi. Bây giờ đã khôn lớn, trưởng thành nhưng mảng màu đó vẫn chưa rơi rụng nhạt nhòa. Chuyện xảy ra trong gia đình ông bà cố nội tôi cách đây gần trăm năm... Thuở ấy vùng quê ông cố tôi trồng mía nấu đường. Những phú hộ, phú nông thuở ấy nhiều ruộng mía đều dựng lò đường thủ công trong nhà để sản xuất đường mía. Khi mía đã già ngoài ruộng, người ta chặt đem ép lấy nước đưa vào lò nấu cô đặc lại thành đường. Ông cố tôi là một phú nông, đất ruộng nhiều nên kẻ ăn người làm trong nhà rất đông. Bà cố vừa lo ăn uống cho đám thầy thợ trong nhà vừa ra ruộng coi ngó người làm. Hầu như trong suốt mùa thu hoạch mía ngày nào bà cũng phải đi về giữa nhà và ruộng. Quãng đường từ nhà ra ruộng cũng khá xa, đi ngang qua một ngôi miếu hoang. Một hôm, đang lúc trưa nắng khi đi ngang qua chỗ miếu hoang bà nghe tiếng thở phì phò cùng tiếng rào rào như tiếng quạt giê lúa. Liếc mắt nhìn vào bà điếng hồn. Một con rắn to như gốc cột nhà nằm cuộn tròn mấy vòng trên nền gạch cạnh các bát nhang. Đầu rắn có mống mào đỏ tía lắc lư qua lại, những chiếc vảy rắn to như nửa bàn tay ánh lên những sắc xanh đỏ. Bà cố bỏ chạy thục mạng. Đến chỗ ruộng mía có đông người bà mới kịp dừng lại thở không ra hơi, mặt mày tái ngắt. Một lúc sau bà mới hoàn hồn. Vốn là người trầm tĩnh và có bản lĩnh, bà cố im lặng không hé lộ cho đám người làm biết chuyện gì vừa xảy ra. Khi những trai tráng chuyển mía về nhà, bà đi lẫn vào giữa đám người đi ngang qua chỗ ngôi miếu hoang. Lén nhìn vào, bà thấy cái nền gạch giữa miếu trống không vẫn như thường ngày không có chuvện gì xảy ra. Bà giữ kín câu chuyện không cho ai biết cho đến sau này mới kể lại cho ông cố nghe. Cũng từ đó mỗi khi đi ngang qua ngôi miếu hoang này, bà luôn bảo người khác theo bên cạnh chứ không dám đi một mình nữa. Khoảng mươi hôm sau trên con đường đi chợ trở về nghe tiếng sột soạt phía sau lưng, bà quay lại thì thấy con rắn lửa. Đây là loại rắn nhỏ rất hiền lành chiều dài khoảng ba gang tay, thân chỉ bằng ngón chân cái, sở dĩ gọi tên rắn lửa vì cổ nó có cái khoang dài khoảng mười phân màu đỏ như lửa. Thường ngày có thể thấy rắn lửa ở trong vườn, bụi cây, bờ ruộng nên sự xuất hiện của nó không làm bà ngạc nhiên. Đi được một đoạn lại nghe tiếng sột soạt bà quay lại nhìn cũng chính là nó. Bà thật sự lo lắng khi thấy nó bám đuổi theo mình. Kinh ngạc hơn khi bà bước vào cổng ngõ vào sân, vào nhà nó vẫn lặng lẽ bò sát bên chân. Bà ra sau nhà nó vẫn theo, đám gia nhân thấy vậy tóm lấy nó hất bay vèo ra ngoài bờ rào. Nó lại nhanh chóng vào lại theo sau chân bà. Người ta liền báo cho ông cố biết, ông vội chạy xuống xem, ông sai người làm bắt con rắn lửa đem bỏ ra bàu nước cách xa nhà một khoảng, ở vùng quê tôi thời ấy cho đến bây giờ người ta không giết rắn lửa vì niềm tin trong dân gian rằng mỗi con rắn lửa như thế là hiện thân của một hồn ai đó. Một lát sau con rắn vẫn bò vào, lẩn quẩn theo quanh chân bà cố, ông lại đích thân tóm nó đem bỏ ở nơi xa hơn. Nhưng rồi nó lại hiện diện trong nhà. Năm lần bảy lượt bắt nó ra khỏi nhà bỏ ở những nơi mỗi lúc một xa hơn, có khi cách nhà cả buổi đi đường nhưng nó vẫn về được làm ông cố bực mình. Mấy hôm sau thấy con rắn vẫn ngang nhiên bò theo bước chân bà chẳng sợ sệt ai, hễ bà lên nhà trên nó theo lên, hễ bà xuống nhà dưới nó theo xuống, ông nổi giận chộp lấy nó vất mạnh ra giữa sân gạch. Đang cơn giận dữ ông vớ chiếc vồ đập đất giáng liên tục lên nó đến khi đầu mình nó giập nát ra từng mảnh nhỏ vẫn chưa thôi. Ông vất cái vồ không quên chửi theo một câu: "Tiên sư mầy! Thử xem mày còn sống lại bò theo chân bà nhà tao nữa không?". Chưa hết lời, ông bỗng giật mình, ngoài bờ rào có hai con rắn lửa y chang như con rắn vừa rồi bò vào sân ngay chỗ ông giần nát con rắn trước đó. Cơn giận lại trào dâng, ông vớ lấy cái vồ nện tiếp. Trong chốc lát, hai con rắn nát bấy. Định quẳng cái vồ, phủi tay xong việc nào ngờ thêm bốn con nữa từ đâu bò đến tiếp. Tức khí xung thiên, với sức mạnh của người hay luyện võ ông lại cầm cái vồ lên giần chúng. Ngay tức khắc, lại hàng chục con nối tiếp nhau từ ngoài bờ rào bò vào. Chúng như thách thức ông, ông lại càng điên tiết, cái vồ trên tay càng vung lên kịch liệt nhắm vào đám rắn. Những âm thanh bình bịch, bèm bẹp náo động một khoảng sân. Máu và thịt rắn tóe ra, vung vãi khắp sân bốc mùi tanh tưởi... Mọi người trong nhà hốt hoảng kéo nhau đến xem ông kịch chiến với đám rắn. Như ma hiện ra, lũ rắn ngoài vườn liên tục bò vào. Chúng bò hàng năm, hàng bảy. Mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, xác rắn chất chồng cao đến đầu gối có đến hàng ngàn con. Dòng rắn tiến vào hầu như vô tận, ông thì mồ hôi, mồ kê ướt đẫm cả người. Ông khỏe thế nhưng cái vồ vung lên cũng chậm chạp dần. Đến một lúc ông không còn sức liền vất cái vồ đứng thở hổn hển coi như đầu hàng chúng. Đám rắn tỏa ra khắp nhà. Chúng bò ngang, bờ dọc một hồi rồi tản ra ngoài vườn đi đâu mất hết. Đống rắn chết còn nguyên đó bốc mùi tanh lợm giọng. Ông cố ra lệnh cho đám gia nhân đem xác rắn vất ra ngoài bàu nước... Hôm sau con rắn lửa hôm qua lại thấy trong nhà. Nó vẫn bám theo sau chân bà. Đến đêm bà lên giường ngủ nó cũng bò theo lên. Ông cố nổi tiếng là người ương ngạnh. Sự kiện hôm qua không làm cho ông cố sợ sệt con ma rắn này. Ông liền tóm lấy nó đem đến chỗ lò đường đang nấu. Lò đường đun những chảo đường được đốt bằng củi hay bã mía khô cháy hừng hực tỏa ra sức nóng ghê gớm. Ông vứt con rắn vào giữa lò. Vậy là nó sẽ cháy ra tro thôi. Nhưng thật kinh hãi, con rắn lại thong thả bò trở ra xem như một chuyến đi... dạo mát. Rõ ràng nó là con rắn ma. Bây giờ ông mới hoảng kinh thật sự. Con rắn lửa lại lẽo đẽo bò theo sau bà cố nội tôi ở trong nhà hay đi bất cứ đâu... xem ra ông cố không làm gì được nó. Từ khi có con rắn lửa hiện diện trong nhà mọi người luôn lo lắng bất an, nhất là ông cố, không biết tai họa gì sẽ xảy ra đây. Đêm đêm ai nấy đều nín thở lắng nghe bên ngoài cửa hay đâu đó trong vườn, trên mái nhà có tiếng thở phì phì như trâu lặn nước và trong rào rào như quạt giê lúa. Ai cũng sợ đến nổi da gà, run cầm cập. Không hé miệng với ai ngoài ông cố, bà cố biết rằng những âm thanh kia là từ con rắn to như gốc cột nhà có mống mào đỏ tía mà bà nhìn thấy trong ngôi miếu hoang hôm trước. Buổi trưa hôm ấy mùa hè trời nắng như thiêu đốt. Trong vườn, ngoài ruộng đâu đâu cũng không có lấy một cơn gió thoảng. Tiếng ve kêu rền rĩ trên những ngọn me cao một hồi rồi nín bặt, trả lại không gian yên ắng hoang sơ cho cái làng quê hẻo lánh chuyên nghề trồng mía nấu đường. Trên con đường làng vắng vẻ có một ông cụ già đang rảo bước. Cụ đi guốc mộc, mặc bộ quần áo bà ba màu đà, đầu đội nón lá, tay nải quàng sau vai. Hình như cụ đang bôn ba vượt đường xa dưới cơn nắng gay gắt nên mồ hôi thấm tất cả lưng áo. Đến cổng ngõ ngót cạnh bụi tre già có bóng râm cụ dừng lại giở nón lá xuống phe phẩy quạt. Cụ thoắt nhìn cái cổng ngói rồi rảo bước luôn vào bên trong. Đây chính là nhà ông cố tôi. Đang trên đường đi, giữa cơn nắng trưa mùa hè nóng bức, tình cờ gặp được nhà dân cụ tạt vào xin miếng nước uống. Ông cố tôi tiếp cụ rất niềm nở. Ông sai người làm đem nước chè tươi ra mời cụ. Thấy ông cụ tóc bạc trắng như cước trán rộng, mắt sáng, tay chân dài hơn người bình thường như một dị nhân, vóc dáng phương phi đạo mạo, ông cố biết vị khách này không phải là người tầm thường. Ông cố liền đem sự việc con rắn lửa trong nhà kể cho cụ nghe với mong muốn nhờ cụ giúp đỡ hoặc cụ đi đây đi đó nhiều, hiểu biết rộng có thể mách bảo những vị cao nhân nào đâu có phép thuật hay phương pháp gì giúp cho gia chủ trục con rắn lửa ra khỏi nhà. Hiện nay gia đình ông cố tôi như đang gặp nạn lớn, miệng thế gian đồn đại ông nhà có rắn ma khiến công việc làm ăn bị ảnh hưởng nghiêm trọng, gia nhân phần lớn sợ hãi bỏ đi, người làm công thì không dám đến, các lò nấu mía đường ngưng nghỉ... Ông cụ nghe xong mỉm cười bảo: - Bây giờ thì con rắn sẽ không có ở trong nhà này! Ông cố nghe vậy liền gọi bà cố lên. Quả nhiên không thấy con rắn lửa bò theo sau, ông bảo mọi người tìm kiếm khắp trong nhà vẫn không thấy con rắn đâu. Ông cố mừng rỡ vô cùng, rõ ràng vị khách không phải con người bình thường. Ông chấp tay kính cẩn trước mặt cụ già: - Thầy quả thật bậc cao nhân. Uy linh của thầy đã khiến cho loại tà ma trong nhà phải né tránh, vạn lần phúc đức cho gia chủ được may mắn gặp thầy. Xin thầy ra tay cứu giúp diệt trừ con rắn ma! Cụ già khoát tay vui vẻ như không có chuyện gì xảy ra: - Có gì đâu mà anh phải nhiều lời, để ta giúp cho! Rồi cụ già căn dặn ông cố lát nữa đây khi cụ ra khỏi nhà con rắn sẽ trở vào lại. Ngày mai gia chủ ra chợ mua một cái hủ mới và một con gà trống trắng, rang một bát nổ từ lúa nếp để sẵn. Bắt con rắn bỏ vào hủ, hơ lá chuối tiêu bịt miệng hũ lại. Lấy dây mây to thắt nhiều chiếc bóng cho thật chắc, bền. Lưu ý là phải chọn loại dây mây tốt, dẻo bền vô cùng, nếu không sẽ hỏng việc. Ra vườn chặt hai gốc tre già to cứng cáp làm đòn. Chọn năm, bảy người lực điền mạnh mẽ nhất túc trực chờ lệnh trong nhà. Ba ngày sau cụ sẽ trở lại giúp cho gia chủ. Khi cụ già bước ra khỏi nhà quả nhiên con rắn bò vào lại. Ông cố thực hiện đúng y lời dặn của cụ già. Ba hôm sau y hẹn cụ đến. Đích thân cụ mở miếng lá chuối tiêu bịt miệng hũ ra. Bên trong hũ trống không. Cả nhà lo lắng, cụ già thì tủm tỉm cười: - Con đại xà yêu này cũng cao tay đây, nhưng không sao, sẽ có cách! Nói rồi cụ mở tay nải lấy một tờ giấy ra, dùng ngón tay khoắn mấy chữ đưa cho ông cố và bảo rằng ba hôm nữa ông sẽ trở lại. Khi con rắn xuất hiện bắt bỏ vào hũ và bịt miệng lại bằng lá bùa này. Quả nhiên ba hôm sau cụ già trở lại thì con rắn vẫn còn nằm im trong lòng hũ. Cụ già cho bày bàn nhang đèn ra. Cụ già cắt tiết con gà trống trắng đổ vào trong bát nổ trắng được rang từ lúa nếp. Cụ đọc lầm thầm những câu thần chú rồi bưng bát nếp nổ thảy lên không. Kỳ lạ thay, những hoa nếp tan biến nhanh trong không khí chẳng còn gì. Bây giờ những trai điền được lệnh bê chiếc hũ đặt vào những chiếc gióng mây lồng vào nhau. Cây đòn gốc tre gài rắn chắc được xỏ vào. Hai người trai điền lực lưỡng khiêng cái hũ ra khỏi nhà. Cụ già bảo những trai điền khác cùng tháp tùng và đem theo cái đòn tre và những chiếc gióng còn sót lại. Họ được lệnh tiến thẳng về phía sông lớn cách nhà một buổi đường. Lúc đầu hai trai điền khiêng cái hủ đi rất nhẹ nhàng. Ông cố và những người đi theo không hiểu cụ già bảo họ đem theo gióng mây và đòn tre nữa làm gì. Ra khỏi nhà một đoạn cái hủ bắt đầu nặng dần. Những sợi gióng mây căng ra, chiếc đòn bằng gốc tre già võng xuống. Hai người trai điền mạnh mẽ thế mà bắt đầu thở dốc. Hai người trai điền khác vào thay. Đi một đoạn nữa cái hũ trở nên nặng một cách kỳ lạ, những sợi gióng mây căng hết cỡ muốn đứt không biết lúc nào. Nhớ lời dặn của cụ già đừng bao giờ để gióng đứt rơi vỡ hũ sẽ hỏng việc, ông cố cho đám trai điền còn bao nhiêu chiếc gióng thì lồng hết vào. Đến bây giờ thì hũ nặng đến nỗi hai trai điền khiêng không nỗi nữa. Ông cố cho luồn thêm vào cân đòn gốc tre còn lại. Bốn người khiêng nhưng, xem ra cũng phải nhấc từng bước một vì hũ càng trở nên quá nặng. Càng gần đến bờ sông thì hũ như trĩu xuống sát mặt đất gây khó khăn cho những bước di chuyển của bốn người khiêng vốn đã quằn lưng vì sức nặng tưởng chừng như khiêng hòn đá núi mấy nghìn cân. Cách bờ sông một đoạn ngắn cái hũ đã trì xuống sát mặt đất, nặng như một tảng đá lớn hầu như không nhấc lên được nữa. Ông cố cùng đám trai điền vận hết sức lực vừa nhích vừa xê đít hũ lên trên mặt đất từng tấc một. Ai nấy mồ hôi mồ kê đổ giọt, lưng vai, tay chân tím bầm. Cuối cùng, họ đã đem được cái hũ ra được mé sông chỗ vực thẳm. Dồn hết sức vào những cánh tay, bờ vai, đôi chân lực lưỡng, gần chục cái miệng lấy hơi hò lên một tiếng đẩy cái hũ rơi ầm xuống vực. Ông cố quày quả trở về nhà hậu tạ cụ già có quyền phép đã giúp đỡ mình tống khứ con rắn ma nhưng cụ đã lặng lẽ rời khỏi nhà tự lúc nào mà người nhà chẳng ai hay biết. Từ đó không thấy con rắn lửa và những âm thanh kỳ quái đêm đêm trong khu vườn nhà nữa. Cái Đầu Báo Oán - Tại sao lại có nhiều máu đến thế này! Tiếng la thất thanh của cụ Sáu Thọ làm cho mọi người trong xóm đều đổ ra bờ sông để cùng nhìn xem. Lại có tiếng nói: - Trời ơi! Đây chính là máu người đó! Và câu nói ấy càng làm cho hầu hết mọi người đang đổ tới xem đều tỏ ra vô cùng hoảng sợ. Một vài người đàn bà phải đứng dựa vào nhau với khuôn mặt nhớn nhác sợ hãi. - Chị Bảy Thắm đã chết! Chị ta đã bị ai đó chặt đứt mất cái đầu! Thêm một câu nói hoảng hốt như mất hơi của cụ Tám già từ trong xóm cũng vừa chạy ra. Tiếng kêu rên: - Giêsu-ma! Lạy chúa tôi! Thoát ra từ miệng mọi người và tay chân của một số người mềm ra như không thể cất bước, còn một số người khác tỏ ra mạnh dạn hơn thì đang nhanh chân chạy về hướng nhà của chị Bảy Thắm. Xác của chị Bảy Thắm nằm đó nhưng cái đầu thì hầu như đã hoàn toàn biến mất. Tại sao lại như vậy? Câu hỏi này hầu như đều nằm trong đầu mọi người nhưng không một ai dám chính miệng mình thốt lên. Chung quanh nhà chị Bảy Thắm, tiếng bàn tán xôn xao của những người tò mò và tiếng khóc rên của những người thân làm cho khung cảnh làng xóm càng thêm bi đát và lạnh lẽo. Lẽ từ xưa đến nay chưa bao giờ dân trong làng Dìn lại nhận thấy tình trạng ghê gớm như thế này xảy ra nên ai nấy đều vô cùng hoang mang lo sợ... Buổi chiều tối hôm ấy, mới có gần bảy giờ mà nhà mọi người đều đóng cửa kín mít. Có một vài gia đình phải tụ tập chung với nhau cho đỡ sợ hãi. Riêng đám tuần đinh do anh Năm Lâm đứng đầu được dân làng ủy nhiệm canh giữ cái xác của chị Bảy Thắm, đồng thời cũng canh gác cho mọi người dân trong làng Dìn. Tuy toàn là trai tráng trong làng nhưng bọn anh Năm Lâm thật ra với tám người có cái gan cũng tương đối nhỏ lắm. Trời càng về đêm thì càng lạnh lẽo. Ngồi gần bên một cái xác người không đầu càng làm cho anh Năm Lâm cảm thấy lạnh run mặc dù anh đã khoác vào người một cái áo bông rất to. Cứ mỗi một cơn gió thổi vào người Năm Lâm là một cơn ác mộng thoảng đến trong đầu anh. Lúc thì anh tưởng tượng ra một người nào đó đang giơ cái búa phía sau lưng, lúc thì anh tưởng tượng ra cái đầu của chị Bảy Thắm đang bay đâu đó quanh đây... - Mấy người kia sao lâu về quá vậy, Tư Nhôm? Anh Năm Lâm vờ quay qua hỏi người cùng ngồi canh cái xác với mình. Thì ra chỉ có anh Tư Nhôm và anh Năm Lâm có nhiệm vụ canh giữ cái xác, còn những người khác thì đã chia ra hai tốp đi xem xét mọi ngóc ngách trong làng. - Có lẽ đêm nay họ sẽ không kịp trở về đây đâu anh Năm Lâm à! Tiếng trả lời của anh Tư Nhôm càng làm cho Năm Lâm thêm ngay ngáy lo sợ. Tới lúc khoảng gần nửa đêm thì gió bắt đầu thổi mạnh thêm. Những cơn gió thổi làm cho cây cối xung quanh nhà phát lên những tiếng như tiếng ma kêu quỷ gào, cộng với đôi lúc căn nhà tranh tuềnh toàng phát lên những tiếng ken két làm cho khung cảnh càng tăng thêm sự ma quái huyền ảo. Giá mà không có Tư Nhôm ngồi ở kế bên thì có cho vàng chắc Năm Lâm cũng không còn hồn vía nào mà ngồi đây. Anh Năm Lâm bèn hớp một hớp rượu Bàu Đá đoạn cất giọng hát nho nhỏ để tự trấn an lòng mình, nhưng thật sự thì chỉ cần một tiếng động nhỏ sau lưng cũng làm cho anh ta giật bắn mình quay lại ngay lập tức. Thời gian cứ âm thầm lặng lẽ trôi qua cho tới khoảng hơn một giờ sáng thì anh Năm Lâm nghe thấy một tiếng rên nho nhỏ phía ngoài cửa sổ nhưng anh cứ giả vờ như không nghe thấy. Anh nhắm chặt hai mắt lại, miệng lâm râm khấn vái rồi bất chợt, Năm Lâm giật mình hoảng sợ khi anh cảm thấy dường như đang có một bàn tay ai đó khẽ khàng vỗ nhẹ lên vai mình. Năm Lâm lấy hết bình tĩnh mở mắt: - Trời đất! Thì ra là mày hả? Chuyện gì vậy Tư Nhôm? - Hình như tui vừa nghe có tiếng động ngoài cửa sổ. Tư Nhôm cố nài nỉ Năm Lâm, một phần vì sợ Tư Nhôm biết là mình nhát gan nên Năm Lâm cũng miễn cưỡng bước tới cái cửa sổ đâm ra hướng bắc. Năm Lâm lấy hết bình tĩnh mở hé cánh cửa sổ ra nhưng không thấy gì nên thử làm liều, mở toang cả cánh cửa sổ ra. Năm Lâm bỗng hồn kinh kéo cửa sổ trở vào một cái đánh rầm khi anh mơ hồ nhìn thấy chiếc đầu của chị Bảy Thắm đang lơ lửng bay bay ở ngoài sân. Cả người như đông cứng lại nên anh xoay người lại tìm Tư Nhôm cho bớt sợ nhưng hình như anh Tư Nhôm cũng đã biến mất từ hồi nào. Năm Lâm liền la hoảng lên một tiếng và chụp vội lấy cây đòn gánh, đưa mắt cố tìm kiếm Tư Nhôm nhưng ngoài cái xác người không đầu vẫn nằm đấy thì không còn thấy ai cả. Mỗi một lần ánh mắt của Năm Lâm vô tình chạm đến cái xác người kia thì lại tưởng tượng đến cái đầu bay lơ lửng ngoài sân làm anh ta càng run rẩy thêm. Cuối cùng Năm Lâm lại mò tìm được chai rượu Bàu Đá, đưa lên miệng tu một hớp lớn cho đỡ sợ rồi nép vào góc nhà ngồi đọc kinh. Bất thình lình "rầm" một tiếng khiến cho cánh cửa sổ bật mở tung ra. Và kìa, một khuôn mặt quen thuộc bỗng vừa xuất hiện, nhe hai hàm răng trắng toát ra với một giọng nói khàn khàn. Thì ra là Tư Nhôm. - Sao? Có thấy gì lạ không anh Năm Lâm? Năm Lâm bấy giờ vẫn còn đang run nhưng cố cất giọng lớn hỏi dồn: - Trời! Nãy giờ mày bỏ đi đâu vậy Tư Nhôm? Mày có thấy gì ngoài đó không? Và như vớ được chiếc phao cấp cứu, Năm Lâm chạy vội ra mở cửa chính để đón Tư Nhôm vào nhà. Ở bên ngoài gió đã ngưng thổi làm cho không gian chìm trong một sự tĩch mịch rất đáng sợ. Mặt trăng cũng đã thoát ra khỏi những cụm mây che, le lói chiếu qua những khe hở của căn nhà gỗ tựa như ánh mắt sáng ngời của ai đó đang cố nhìn vào tận bên trong căn nhà. Sương cũng bắt đầu xuống nặng hạt tăng thêm sự mờ ảo ma quái. Ở trong nhà, Năm Lâm vẫn ngồi đó với đôi mắt nhắm nghiền, tay chân ướt đẫm mồ hôi và thịt trên gò má anh ta cứ giật giật liên hồi. Nhìn sơ qua thì trông giống như Năm Lâm đang ngủ, nhưng mỗi một tiếng động nhỏ anh ta cũng nghe thấy được.Thời gian cứ lặng lẽ trôi, tuy rất chậm nhưng cũng đã tới hơn 2 giờ sáng... - Gâuuuuuuuuuuuuuuu! Gâuuuuuuuuuuuuuuuuuu ! Gâuuuuuuuuuuu...! Tiếng chó tru đâu đó bên ngoài làm cho Năm Lâm giật mình hoảng hốt đưa mắt nhìn xung quanh. Anh Tư Nhôm lúc này hình như đã ngủ mê lắm rồi nên không thấy anh ta nhúc nhích gì cả. Năm Lâm lại với lấy chai rượu Bàu Đá tu một hơi dài đoạn móc túi lấy ra điếu thuốc đưa lên môi. Lục lọi một hồi trong túi cũng không thấy cái hộp quẹt diêm ở đâu nên Năm Lâm đành phải đi lại chỗ bàn thờ để mồi thuốc. Bất ngờ "Phụt!" cái đèn dầu chợt tắt ngấm, không biết tại do Năm Lâm hay là có ai đó đã cố tình thổi tắt. Căn nhà tối om càng trở lên rùng rợn hơn. Mò mẫm mãi cũng trở về được chỗ cũ ngồi, Năm Lâm làm thêm một ngụm Bàu Đá nữa và lại nhắm mắt cầu nguyện. "Kẽo kẹt Kẽo kẹt...!" Tiếng kêu đó làm tim Năm Lâm như muốn nhảy vọt ra ngoài, tuy vậy, anh ta vẫn cứ vờ nhắm mắt bất động chờ đợi xem chuyện gì sẽ xảy ra. Một phút, rồi hai phút qua đi nhưng tuyệt nhiên không có tiếng gì nữa nên Năm Lâm từ từ mở mắt ra. Không có tiếng gì nữa nên đến nỗi anh muốn la to lên nhưng không thể thoát ra tiếng được. Anh nhìn thấy cái đầu của chị Bảy Thắm đang dừng lại trên không ngay phía trước mặt, đang chăm chú nhìn vào cái xác không đầu của chị ta. Năm Lâm nắm chặt hai tay và nhắm mắt lại cố giữ im lặng để cho cái đầu của chị Bảy Thắm không biết anh đang ngồi dậy. Thế nhưng dường như cái đầu kia bất thình lình trợn trừng cặp mắt xanh lè và nhe hai hàm răng trắng phếu phì phò bay tới trước mặt Năm Lâm. Trời ơi quả là đáng kinh sợ quá. Mắt mũi miệng của cái đầu đang dính đầy những máu và chiếc cổ vẫn còn phun phọt từng tia máu tươi ra ngoài. Quá hãi hùng, Năm Lâm la lên một tiếng: - Giêsu-ma! Xin cứu con! Và rồi anh bèn mở cặp mắt của mình thật lớn nhìn lên cái đầu chị Bảy Thắm. Anh Năm Lâm thở phào nhẹ nhõm, thì ra đó là chỉ vì anh tưởng tượng ra mà thôi chứ cái đầu chị Bảy Thắm vẫn còn xoay cái ót của nó về phía anh. Nhưng ngay lúc này thì Năm Lâm mới thật sự run sợ vì hình như cái đầu kia cũng đã kịp nghe thấy tiếng la của anh nên nó đang từ từ xoay lại. Năm Lâm đã hoảng lại càng thêm hoảng kinh đến độ muốn chạy bay ngay ra cửa nhưng chân anh như đã đông cứng lại từ khi nào, không còn nghe theo ý muốn của chủ nhân nữa. Quả tim của Năm Lâm mỗi lúc một đập mạnh và như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực khi cái đầu người mỗi lúc một xoay gần về phía anh... Không gian chung quanh như bị đông cứng lại. Không có một tiếng gì ngoài tiếng thở hổn hển của Năm Lâm. Khuôn mặt trắng xanh của chị Bảy Thắm vẫn bay lơ lửng trong bóng đêm mờ ảo tạo nên một khung cảnh rùng rợn ghê gớm. Nhưng lạ thay, lúc nhìn thẳng vào cái mặt xanh xao của chị Bảy Thắm cũng là lúc Năm Lâm cảm thấy hết còn sợ hãi. Khuôn mặt của chị Bảy Thắm trông khá hiền từ và đáng thuơng. Cặp mắt và cặp môi của chị như muốn nói với Năm Lâm điều gì đó rồi từ từ bay ra ngoài. Nhìn vào cặp mắt của chị Bảy Thắm, Năm Lâm giống hệt như người đang bị thôi miên và bất giác anh mở cửa ra đi theo cái đầu. Khi ra đến gần bờ sông thì cái đầu dừng lại và mấp máy cặp môi khô với Năm Lâm. Tuy không biết chắc chị Bảy Thắm muốn nói gì nhưng căn cứ vào những gì Năm Lâm biết được lúc sáng thì anh đoán chắc là cái đầu thật của chị Bảy Thắm còn ở quanh quẩn đâu đây và chắc là chị ta đang muốn ám chỉ điều đó. Năm Lâm nhắm theo tia mắt của chị Bảy Thắm thì liền trông thấy chiếc đầu thật của chị Bảy Thắm đang bị sóng đùa lay qua lay lại ở bên bờ sông, gần chỗ anh đang đứng. Năm Lâm liền cởi chiếc áo khoác bông ra bọc lấy cái đầu của chị Bảy Thắm và mang trở lại căn nhà. Sau khi Năm Lâm bỏ chiếc đầu của chị Bảy Thắm vào gần chỗ cái xác thì ánh mắt của chị Bảy Thắm ngoài cửa sổ tỏ ra một sự biết ơn sâu sắc và từ từ biến mất... Đã hơn mười năm nay, câu chuyện chị Bảy Thắm bị ai đó chặt đầu đã từ từ đi vào quên lãng. Khu xóm đã trở lại mức sinh hoạt bình thường như trước khi chuyện xảy ra đối với chị Bảy Thắm. Cũng từ cái ngày mà Năm Lâm kiếm được cái đầu cho chị Bảy Thắm thì hình như chị đã an giấc cũng như từ đó không còn chuyện gì ghê gớm xảy ra nữa... Hôm nay, xóm làng Dìu hân hạnh đón tiếp anh Tám Tàng dọn vào trong một ngôi biệt thự đẹp đẽ và to lớn. Không ai biết anh Tám Tàng từ đâu tới và cũng chẳng ai thèm để ý chuyện đó làm gì. Mọi người ở xóm làng Dìu chỉ biết anh ta là một người to con, đẹp trai và giàu có. Lý trưởng chắc đã được anh Tám Tàng tặng cho quà hậu hĩ nên đã tổ chức một bữa ăn rất trịnh trọng mời tất cả những người có máu mặt đến cùng tham dự. Năm Lâm vốn là đội trưởng tuần đinh chuyên về công tác giữ gìn trật tự an ninh trong xóm nên cũng được hân hạnh đến tham gia buổi tiệc ra mắt của anh Tám Tàng. Buổi tiệc diễn ra rất vui vẻ và ồn ào. Vì Năm Lâm có tính tình phóng khoáng và cũng là một bợm nhậu có cỡ nên anh uống rất nhiều rượu và luôn nói cười oang oang trong suốt bữa tiệc. Nhưng bữa tiệc vui nào rồi cũng có lúc phải tàn, riêng Năm Lâm tuy vẫn không nỡ rời bàn nhưng mà vì đã gần quá nửa đêm nên anh bèn nốc một hơi cạn một ly rượu lớn và xin phép từ biệt gia chủ ra về.... Ánh trăng đêm nay lúc tỏ lúc mờ nhịp theo những cành lá đong đưa đùa theo những cơn gió mát làm tâm hồn anh Năm Lâm cảm thấy vô cùng khoan khoái. Anh vừa đi vừa ngân nga hát câu vọng cổ: Từ là từ phu tướng... nghe cũng rất hay và thú vị. Khi Năm Lâm đi ngang qua bờ sông thì tự nhiên anh im bặt tiếng hát và lắng tai nghe ngóng vì hình như anh vừa nghe được tiếng nức nở của ai đó chung quanh đây. Anh dừng lại nghe ngóng một hồi rồi ngoái ngoái lỗ tai bước đi và lẩm bẩm: Có lẽ tại mình uống nhiều rượu quá nên bị ù tai chăng? Nhưng hình như không phải vì tiếng nức nở đó lại văng vẳng lên bên tai. Năm Lâm thử đưa mắt liếc chung quanh. Lúc này tự nhiên anh bị nổi gai óc, người anh cảm thấy lành lạnh. Anh liền móc túi lấy ra điếu thuốc đưa lên môi, tay run run bật cái diêm quẹt mà mắt thì không ngừng liếc qua liếc lại. Một đám mây đâu đó đã đến che khuất chỗ của ánh trăng, không gian trở nên u tối mờ mịt. Lúc này anh trông thấy có một ánh lửa hồng chợt sáng bừng lên rồi lại từ từ nhạt dần rồi lại sáng bừng lên tạo nên một khung cảnh ma quái hão huyền... Và kìa, một bóng trắng xuất hiện bên bờ sông với làn tóc xõa xuống tận đến chân. Anh Năm Lâm tự hỏi: Ai mà giữa đêm khuya khoắt ra ngồi đây làm gì? và tự nhiên anh nghĩ ngay đến ma. Năm Lâm từ từ bước tới bờ sông. "Phựt!" ánh lửa hồng chợt tắt ngúm đúng khi điếu thuốc trên môi anh rớt xuống đất, ấn tượng ma quái mỗi lúc một ám ảnh Năm Lâm. Tuy nhiên, anh cũng cố bước gần người áo trắng đó để tìm hiểu sự tình. Càng tới gần, Năm Lâm càng cảm thấy sờ sợ. Thế rồi cuối cùng anh toan quay đầu định bỏ chạy và thầm nghĩ trong đầu khi anh nhìn thấy chân của người áo trắng đó không hề chấm đất. "Ma!... Trời ơi đúng là ma! Mình phải chạy khi nó chưa nhìn thấy mình!" Nhưng đã quá trễ khi bóng ma đó đã xoay người lại nhìn anh. Năm Lâm té sấp xuống và xoa xoa cái đầu còn đang nhức như búa bổ, Năm Lâm mường tượng đến bóng ma đêm qua và tự nghĩ: "Ai đã đem mình về nhà vậy...?" Không lẽ chính là người đó?... Tiếng "đinh đoong" làm Năm Lâm giật mình nhìn lên chiếc đồng hồ treo tường. Đã mười giờ đêm rồi, vậy là Năm Lâm đã ngủ suốt cả một ngày trời.... Trời lại về đêm, nhưng đêm nay thì không gian u ám hơn đêm trước. Trời không có ánh trăng vì mây đen từng cụm từng cụm đua nhau che phủ, gió lốc thì cứ từng cơn từng cơn thổi ào ào uốn cong những cành lá bên hiên nhà miết vào mái tôn nghe kêu ken két rờn rợn như ai đó nghiến răng từng chập. Ở trong nhà, dưới ánh đèn dầu le lói phất qua phất lại, Năm Lâm nằm trên phản mà mắt cứ mở thao láo. Chuyện xảy ra đêm qua còn đang ám ảnh trong đầu... Tiếng đinh đoong lại vang lên làm Năm Lâm một lần nữa đưa mắt ngó mông vào chiếc đồng hồ treo tường và lẩm bẩm: "Không biết đêm nay làm sao mà khó ngủ đến vậy?” Và tiếng "đinh đoong" của chiếc đồng hồ cứ lần lượt văng vẳng vang lên trong đêm vắng làm Năm Lâm cảm thấy sốt cả ruột.... Đã hai giờ sáng. Ngoài trời mưa đã bắt đầu lất phất, không gian bắt đầu trở lạnh, và gió thì vẫn không ngừng thổi... Trời đất! Giờ phút này mà Năm Lâm chợt thấy buồn tiểu! Vậy là anh liền khoác vào người chiếc áo mưa, mở cửa đi ra bụi chuối sau hè. Khi Năm Lâm định đi trở lại nhà thì anh nghe thấy có tiếng rên rỉ giống tiếng hồi đêm qua lại vọng đến. Năm Lâm rùng mình, đôi mắt ngó ngang ngó ngửa và chợt bắt gặp một ánh đèn pin đang lay động trong đêm tối. Thử mò mẫm đi theo ánh đèn, Năm Lâm không khó khăn gì để nhận ra đây chính là sân sau của nhà cô Chín Tước. Cánh cửa sau của nhà cô Chín Tước từ từ mở ra. Bên trong, cô Chín Tước đang ngủ say với khuôn mặt mịn màng chất phác dưới ánh đèn dầu le lói. Đột nhiên, một chiếc búa được đưa lên phía trên cái cổ trắng ngần của cô Chín Tóc, tựa như bàn tay sắc bén của Diêm vương đang tính đùa giỡn trước một người con gái sắp sửa lìa trần. Lưỡi búa từ từ bốc lên cao, cao thêm chút nữa và sắp sửa phập mạnh xuống cổ cô Chín Tước. Từ trong bóng tối, Năm Lâm nhắm nghiền mắt lại và run lên từng hồi như thể anh sẽ là người lãnh nhận cái chém ấy. Song một bàn tay vô hình nào đó đã đẩy bật Năm Lâm ra ngoài. Anh liều mạng phóng tới cản lấy cán búa và lúc này thì cô Chín Tước cũng vừa tỉnh dậy la to lên. Vô tình thay, đầu cô lại chạm phải cái gì đó cùng với sự quá hoảng sợ nên cô Chín Tước cuối cùng đã té xỉu... Lăn lộn vật vã với sức mạnh của người cầm búa, Năm Lâm càng lúc càng cảm thấy quá mệt mỏi, đuối sức. Sau đó Năm Lâm chỉ biết rên lên một tiếng thảm thiết và té ngã nhoài xuống đất. Lưỡi búa lại một lần nữa được nhấc lên cao, cao nữa nhưng lần này không phải nhắm vào cái cổ ngọc ngà của cô Chín Tước mà là ngay ở chiếc cần cổ đen sậm đang ướt đẫm mồ hôi của anh Năm Lâm. Năm Lâm trợn trừng hai mắt đã mất hết dũng khí nhìn vào lưỡi búa đang chực kết liễu đời mình. Lưỡi búa bén ngót vẫn vô tình giáng xuống, giáng xuống từ từ. Và khi lưỡi búa chỉ còn cách cổ Năm Lâm trong gang tấc thì bỗng nhiên nó khựng lai. Năm Lâm thoáng thấy "con ma áo trắng" đêm qua xuất hiện và đang giơ hai tay giữ lại chiếc búa. Trong lúc người cầm búa đang giằng co giật lại chiếc búa thì Năm Lâm kịp thời lăn người ra đằng sau chụp được một cây đòn gánh và ráng sức phang mạnh vào phía sau ót của người cầm búa. Trúng đòn, hắn ta ngã té xỉu. Anh Năm Lâm ngước mắt lên nói: - Cám ơn chị Bảy Thắm đã cứu mạng! Cũng chính đôi mắt hiền từ như hơn một năm về trước, chị Bảy Thắm quay nhìn Năm Lâm một lần nữa và từ từ biến mất. Khi này, cô Chín Tước cũng đã tỉnh lại và nhóm tuần đinh của làng đã được báo đến. Anh Năm Lâm được băng bó những vết thương. Mọi người cùng xúm nhìn kẻ gian trong tay còn giữ chặt chiếc cán búa. Hóa ra kẻ đã chặt đầu Bảy Thắm hơn mười năm về trước là gã Tám Tàng. Trước áp lực của dân làng, gã Tám Tàng được chuyển lên tỉnh để điều tra và kết án. Thế nhưng cuối cùng cũng không một ai có thể biết được nguyên do tại sao gã tám Tàng lại làm những chuyện kinh tởm như vậy vì chỉ sau khi bị bắt giam khoảng một tuần lễ, gã Tám Tàng đã kịp tự cắt cổ kết liễu đời mình ở nhà lao... Người Về Từ Đáy Mộ Lão Ba cố hả miệng thều thào hỏi một cách đau đớn: - Mày đầu độc tao hả? Đúng không? Mày đầu độc tao! Đồ quỷ cái! Bà Ba gật đầu, đáp bằng một giọng thật lạnh lùng: - Đúng vậy! Chính tôi đã đầu độc ông. Trước sau gì thì ông cũng chết, bác sĩ đã nói như vậy, chỉ còn vấn đề thời gian. Có thể một vài tháng, có thể một vài năm, và ông hiểu rằng tôi không thể chịu đựng lâu hơn nữa. Mười lăm năm nhọc nhằn! Mười lăm năm quá nhiều điều cay đắng. Lão Ba nghiến chặt hai hàm răng vì đau đớn nhưng cũng ráng gừ lên một tiếng chửi rủa như lão vẫn chửi rủa vợ lão mỗi ngày trong suốt mười lăm năm qua: - Con khốn nạn! Rồi đây Trời sẽ phạt mày. Bà Ba vẫn lạnh lùng: - Đáng lẽ chúng ta không nên lấy nhau. Tôi không hề yêu ông và ông cũng chẳng ưa gì tôi. Ông căm hận tôi vì việc ông không lấy được con Tư cháo lòng. Còn tôi, ông cũng biết rằng tôi chỉ muốn làm vợ anh Sáu thợ hồ. Chỉ vì mấy thửa ruộng của hai nhà sát bên nhau mà cha mẹ ông và cha mẹ tôi buộc tôi phải lấy ông và ông phải lấy tôi. Tôi biết đó là một cực hình cho ông cũng như cho tôi. Lão Ba lại vừa tiếp tục lăn lộn vừa không ngớt buông lời chửi rủa: - Khốn nạn! Bà Ba vẫn nói bằng giọng đều đều: - Tôi đã có ý định đầu độc ông từ khi ông mới ngã bệnh. Bác sĩ nói tình trạng ông có thể sống lây lất thêm hàng năm nên tôi không thể nào chịu nổi. Tôi không còn muốn bị ông cứ đánh đập, chửi rủa mỗi ngày nữa. Lão Ba rên rỉ: - Tao cầu mong rồi đây có lúc lũ quỷ mặt xanh nanh vàng tra tấn mày dưới địa ngục. - Có thể đấy... Nhưng dù sao tôi cũng tìm được sự bình an trên cõi đời này trước đã. Còn tiếp tục chung sống với ông đâu có khác gì đang bị ác quỷ hành hạ tra tấn! Lão Ba vặn mình đau đớn, hai bàn tay lão nắm chặt lại chịu đựng. Là một người cứng rắn và mạnh mẽ, lão cố thu hết tàn lực, quát lớn: - Tao sẽ trở về! Trở về từ đáy mộ... Hãy chờ đó con quỷ cái! Rồi lão còn ráng giơ một nắm tay về phía bà vợ: - Tao sẽ chờ mày xuống địa ngục... Nói xong lão kiệt lực, buông tay xuống, mồ hôi tháo ra như tắm, toàn thân run rẩy: - Trời đất ơi! Đau bụng quá! Hệt như dao đang đâm vào ruột... Đột nhiên bà Ba ngẩng đầu lên nghe ngóng. Có tiếng xe gắn máy. Bà bước vội tới bên cửa sổ, nhìn ra ngoài lẩm bẩm: - Sao ông bác sĩ hôm nay tới sớm quá vậy kìa? Rồi bà bước tới bên gương, nhặt lấy chiếc khăn lông nằm dưới chân giường cuộn thành bó đè cứng vào mặt cho lão Ba ngột thở. Lão Ba cố sức vùng vẫy nhưng bà Ba còn đè nguyên người mình lên tấm khăn... chân tay lão Ba giật mạnh mấy cái rồi dần dần buông xuôi... Biết lão Ba đã tắt thở, bà Ba bèn đứng lên thở phào nhẹ nhõm. Bà ném cái khăn lông lên lưng ghế trước khi bước ra mở cửa. Bà nói với ông bác sĩ vừa bước vào bằng một giọng điệu khá lạnh lùng: - Ông ấy đã đi rồi sau khi bị bất tỉnh giống như mấy kỳ trước. Tụi nhỏ đi học hết nên tôi không biết làm sao kêu thầy. Nhưng dẫu sao tôi cũng mừng khi lão ấy không còn hành hạ tôi được nữa. Vị bác sĩ lắc đầu tỏ vẻ thông cảm. Ngôi làng hẻo lánh này xem ra mọi người đều biết chuyện gia đình của nhau. Ông bác sĩ già đứng nhìn thi thể của lão Ba trước khi kéo cái mền phủ kín mặt lão rồi quay sang bà Ba: - Hãy ngồi nghỉ ngơi một chút đi bà Ba. Đừng lo nghĩ gì thêm nhiều, để tôi cho ông Tám Tàng trại hòm hay trước khi nói với thầy giáo cho con Hoa và thằng Đực về ngay bây giờ. Bà Ba còn muốn kêu ai nữa không? Bà Ba lắc đầu: - Nhờ bác sĩ nói dùm với ông Tám Tàng tới đem lão ấy đi ngay giùm tôi. Bây giờ căn nhà này là của tôi. Lão đi khuất mắt tôi sớm phút nào hai phút ấy. Tôi không muốn nhìn mặt lão thêm chút nào nữa. Bà Ba nói tiếp bằng một giọng đầy cay đắng: - Suốt đời lão ấy đã làm khổ tôi. Tôi thù ghét lão từ ngày phải về với lão. Bây giờ căn nhà này là của tôi. Tôi sẽ khóa chặt căn phòng của lão ngay khi ông Tám Tàng đem lão đi. Tôi không bao giờ muốn nhìn thấy bên trong căn phòng đó nữa. Chỉ toàn là kỷ niệm đớn đau, những lời chửi rủa, hận thù. Tôi sẽ thiêu rụi căn phòng của lão nếu như căn nhà này không bị ảnh hưởng gì. Rồi bà Ba ngồi xuống ghế ngước nhìn vị bác sĩ bằng đôi mắt lạnh lùng ráo hoảnh. Ông bác sĩ cũng ngồi nhìn bà Ba, nói bằng một giọng dịu dàng, thông cảm: - Có lẽ bà đã quá mệt mỏi rồi. Để tôi về lấy chai thuốc bổ mang tới cho bà. - Tôi không cần thuốc bổ. Cái chết của lão là liều thuốc bổ tốt nhất đối với tôi rồi... Ông bác sĩ già gạt ngang: - Thôi bà à, chúng ta không nên nói xấu người quá cố nữa. Ai cũng biết ông Ba luôn đối xử với bà ra sao rồi. Thôi để tôi giúp bà đi kêu ông Tám Tàng đây... Chưa đầy nửa giờ sau, ông Tám Tàng và một thanh niên phụ việc đẩy xe ba gác mang theo một chiếc quan tài lớn tới. Bà Ba đứng ngay cửa phòng chờ cho hai người vừa khiêng lão Ba tẩm liệm xong liền nói: - Ngày mai sẽ tiến hành hỏa táng ông ta. Nhưng tôi thề với lòng mình cũng sẽ không bao giờ đặt chân vào căn phòng này sau khi đã hỏa thiêu ông ấy cho tới khi tôi tắt thở... Hai người đàn ông nọ cũng lắc đầu thông cảm, họ hiểu rõ cuộc sống khốn khổ nhọc nhằn của bà Ba bên ông Ba từ nhiều năm qua. Những năm kế tiếp, bà Ba thường ngày ra đồng làm việc cùng các lực điền và dành dụm mua thêm được khá nhiều vào cái vốn đã tương đối đồ sộ của ông Ba để lại. Nhưng cuộc sống bà vẫn lạnh lùng, không hề mở môi và không hề có bạn, hệt như lão Ba đã không hề có bạn. Rồi hai đứa con bà cũng dần lớn lên, trưởng thành. Con Hoa lập gia đình rồi theo chồng về làng kế bên, thằng Đực lớn lên ra đồng làm việc phụ mẹ khiến bà giảm được một gánh nặng. Rồi thằng Đực lấy vợ và mang cô dâu mới về ở chung với bà Ba. Rồi một lũ con nít theo nhau ra đời, cả sáu đứa hết thẩy. Nếu những tiếng cười vô tư của bầy trẻ có khiến tâm hồn bà nội chúng mềm đi một chút, bà không hề để lộ ra ngoài. Trong suốt những năm tháng dài đó, có một cái phòng, được gọi là phòng của nội, vẫn luôn luôn được khóa chặt. Cả gia đình không một ai nhắc nhở tới. Lũ trẻ tự cảm nhận thấy dường như có một cái gì mà chúng cho là rất kinh khủng đang ở bên trong nên mỗi lúc phải đi ngang căn phòng ấy, chúng vẫn cố tình đi thật nhanh, và khi bóng tối bao phủ căn nhà, ánh đèn dầu lung linh tạo nên những hình nhân lắc lư rung động trên tường chúng cũng không bao giờ dám bước tới gần căn phòng của nội. Dĩ nhiên đầu óc trẻ thơ của chúng luôn tưởng tượng ra thật nhiều điều... Rồi một năm châu chấu xuất hiện tràn lan phá hoại mùa màng. Và năm sau đó trời hạn hán khiến giá thóc gia tăng trong khi lương bổng bị cắt giảm. Nhiều chủ điền buộc phải cho thợ nghỉ việc. Gia đình cô Hoa là một trong những nạn nhân đầu tiên. Mùa màng thất bát, chồng đau ốm rồi một đứa con nhỏ chào đời. Vợ chồng cô Hoa liền bồng con về xin bà Ba cho ở chung. Tuy vẫn lạnh lùng như thường lệ, nhưng bà Ba vẫn quyết định nhường cho vợ chồng Hoa một phòng. Lại tới phiên người anh vợ của Đực cũng bị chủ điền cho nghỉ việc. Không có công ăn việc làm, không tiền trả tiền mướn, anh ta cầu cứu vợ Đực. Nàng dâu bèn thưa chuyện với mẹ chồng. Bà Ba, lúc này đã già, nói với con dâu bằng một giọng cương quyết trong bữa ăn chiều: - Thêm bốn miệng ăn nữa cũng chẳng sao. Má đồng ý cho tụi nó tới đây, nhưng... không biết phải cho tụi nó ngủ ở đâu? Cô Hoa liếc nhìn anh Đực trước khi ngập ngừng nói lên cái ý nghĩ của tất cả mọi người: - Căn phòng của nội. Mình có nên mở cửa phòng cho thoáng khí trước khi cho mấy người họ dọn vào ở đó được không má? Bầu không khí đột nhiên yên lặng, nặng nề. Bà Ba liếc nhìn đứa con gái trước khi lần lượt nhìn vào mặt từng người, đoạn gằn giọng: - Má đã thề sẽ không bao giờ bước chân vào phòng đó cho tới ngày má nhắm mắt. Cô Hoa thu hết can đảm: - Nhưng má cũng đâu có cần bước vào đó làm gì. Nhà mình chật quá đâu còn chỗ nào khác nữa đâu má? Bà Ba đặt đôi đũa xuống bàn nói thật chậm rãi: - Nếu có ai ngủ trong phòng đó, người đó phải là má. Má đã ở với cha tụi bây mười lăm năm trời, mười lăm năm trời đầy đắng cay thù hận. Cha tụi bây ghét má hơn má thù ghét ông ấy. Căn phòng đó đầy những sự thù ghét và sau mấy chục năm trời đóng kín, những sự thù ghét đó hiện đang sôi sục chỉ chờ cửa mở là tràn ra phủ ngập căn nhà này. Nhưng cũng không sao đâu! Má sẽ dọn vào đó... Cô Hoa nói bằng một giọng đầy hối hận. - Má ơi! Phải chi con đừng đưa ra đề nghị đó. Con biết là có một cái gì giữa ba và má nằm trong căn phòng đó nhưng con không biết... Bà Ba ngắt lời đứa con gái: - Một cái gì đó mà con nói đó chính là sự thù ghét giữa má và ông ấy. Nhưng má nói rồi. Cũng chẳng sao đâu! Má giờ đã già rồi, hơn bảy mươi rồi. Chắc má cũng chẳng còn sống được bao nhiêu lâu nữa đâu... Bà ngưng lại, đôi mắt già mỏi mệt nhìn thật xa xôi: - Có thể đây là sự tiền định! Trước khi chết ông ấy đã nói rằng ông ấy sẽ chờ má... Có thể lắm... Ai biết được! Rồi bà Ba đứng lên: - Má sẽ cho mở cửa phòng vào sáng ngày mai. Dứt lời, bà mím chặt đôi môi, bước lên cầu thang về phòng ngủ trên lầu. Bước vào phòng, bà Ba đóng sầm cửa lại, ngồi yên lặng trên cái ghế nhỏ bên giường, đôi mắt mệt mỏi nhìn vào hư không trong khi cuốn phim dĩ vãng hiện lên thật rõ. Bây giờ, bà đang bị thúc giục mạnh mẽ bởi một ước muốn mà bà vẫn chôn chặt trong lòng từ gần một nửa thế kỷ, ước muốn của tất cả những kẻ sát nhân muốn nhìn lại hiện trường. Uớc muốn ấy đã tới với bà hàng ngàn lần trước đó nhưng lần nào bà cũng nén lòng được. Bây giờ, chỉ còn có mấy tiếng đồng hồ nữa căn phòng kia sẽ được mở ra, ước muốn lại trở về, mãnh liệt hơn bao giờ hết, căn phòng đóng kín kia đang réo gọi bà. Trong óc bà, một tiếng nói vô cùng mạnh mẽ vang lên: Bây giờ! Bây giờ! Tiếng nói này rất quen thuộc với bà vì đó là tiếng nói của chính ông Ba, người bà thù ghét, người mà bà đã đang tâm giết chết. Bà Ba lặng lẽ đứng dậy, bước tới tủ áo, ngồi xuống mò dưới đáy tủ lấy chiếc chìa khóa mà bà đã giấu kín hàng mấy chục năm trời. Rồi bà trở lại ngồi trên ghế lắng nghe những tiếng chân lần lượt về phòng. Một lúc sau, căn nhà tối om đã hoàn toàn yên tĩnh. Bà Ba đứng dậy hé cửa nhìn ra dãy hành lang. Tất cả đều ngủ yên. Bà bèn trở vào phòng cầm cây đèn dầu, mở cửa thật nhẹ rồi rón rén bước xuống cầu thang. Ngoài trời không khí bỗng nhiên trở nên nặng nề dường như muốn bão. Bà nghe tiếng gió rít qua những cành cây. Có cái gì tương tự như tiếng gió than van ngoài đêm tối? Bà Ba dừng lại, nghiêng tai lắng nghe và đột nhiên ký ức trở về thật rõ. Bà lẩm bẩm: - Giống y như cái đêm trước khi lão ấy chết. Tim bà đập mạnh hơn khi đứng trước cánh cửa đen ngòm, lạnh lùng của căn phòng chứa đầy thù hận. Sau một thoáng ngập ngừng, bà chuyển cây đèn sang tay trái tay phải lấy chìa khóa đút vào ổ khóa... bà vặn nhẹ... Chiếc ổ khóa không chuyển động. Bà vặn mạnh tay hơn... Cạch một tiếng ổ khóa bật ra. Bà đứng yên một lát, bàn tay đặt trên nắm cửa. Tự nhiên bà run lên vì lý do gì không rõ. Bà lẩm bẩm một mình: - Lão ấy đã nói là lão sẽ trở về từ đáy mồ... Chắc là lão ấy sẽ chờ... Bà vặn nắm cửa, đẩy mạnh... Cái bản lề cũ kêu rít lên phản đối trước khi cánh cửa mở bung ra. Một làn sóng hận thù từ trong phòng tràn ra phủ kín người bà. Bà chậm chạp bước vào, đôi môi mím chặt. Giơ cao ngọn đèn dầu, bà quan sát mọi vật trong phòng. Đó chính là cái giường với tấm khăn trải giường nhăn nheo, nơi ông Ba đã trút hơi thở cuối cùng hay không thể là hơi thở cuối cùng? Đó là cái gối mà ông Ba từng gối đầu trước khi nhắm mắt. Mọi vật không hề thay đổi. Bà Ba thoáng nhớ cả vị bác sĩ lẫn ông Tám Tàng, những người cuối cùng đặt chân vào căn phòng này bây giờ đây đều đã ra người thiên cổ. Kế bên đầu giường là một chiếc bàn nhỏ nơi vẫn còn cái ly mà bà pha thuốc độc cho ông Ba uống. Bà Ba lẩm bẩm: - Lão ấy đã nói là lão sẽ chờ mình... Căn phòng thật ẩm thấp và bụi bặm. Bà Ba khép cửa lại, đặt ngọn đèn dầu lên cái bàn nhỏ bên cạnh cái ly rồi bước tới bên cửa sổ, mở toang cánh cửa. Một ngọn gió từ bên ngoài lùa vào, rít lên... ngọn đèn chợt lung linh vì gió tạo nên những bóng đen quái đản nhảy múa trên tường. Trên lưng ghế, chiếc khăn lông mà bà dùng đè cho ông Ba chết ngợp nay đã trở thành vàng khè, tuy bà vẫn nhìn thấy thật rõ một đốm đen ở chính giữa, đốm đen mà bà biết đấy chính là những giọt nước dãi cuối cùng của ông Ba. Bà bước tới giữa phòng, đôi mắt vẫn không rời khỏi đốm đen trên chiếc khăn lông. Rồi bà lặp đi lặp lại: - Lão ấy đã nói là lão sẽ trở về từ đáy mồ... lão sẽ chờ mình... Đột nhiên một cơn gió mạnh thổi vào qua khung cửa sổ. Ngọn đèn chao lên trước khi tắt ngấm. Bóng tối bất ngờ khiến bà Ba hoảng hốt. Lần đầu tiên trong đời bà biết sợ hãi! Bà liếc về cái giường, và chợt nhận thấy dường như có một người nào đó đang nằm, mặt quay về phía bà đưa tay vẫy vẫy. Bà run rẩy bước lui trước khi té ngồi xuống ghế. Một cơn gió mạnh thổi chiếc khăn lông như một con bạch tuộc với những cái vòi gớm ghiếc đang siết mạnh quanh cổ bà. Bà đưa hai tay lên cố kéo mạnh chiếc khăn lông ra trong khi bên tai bà, tiếng ông Ba vang lên mồn một: "Tao sẽ trở về từ đáy mồ... Tao chờ mày..." Sáng sớm hôm sau, người ta thấy bà Ba nằm chết cứng đờ trong căn phòng của nội. Quanh cổ bà là chiếc khăn lông vàng khè, y như chiếc vòi bạch tuộc! Chiếc Xe Trở Chứng Tuấn khởi động cách nào nó cũng không chịu nổ máy. Anh xem đồng hồ, hơn sáu giờ chiều. Bực bội, Tuấn đóng cửa nhà xe, xách cặp ra ngoài đón taxi. Đây là lần thứ ba chiếc xe bị như vậy. Hai lần trước Tuấn cũng có hẹn vào khoảng giờ này và cũng không khởi động được chiếc xe. Sáng hôm sau khi chuẩn bị đi làm, chiếc xe lại nổ máy và chạy bình thường. Lần thứ hai, anh đã điện thoại cho người chủ ga ra, cũng là bạn anh, nhờ xem lại. Sau khi kiểm tra,chiếc xe được xác nhận là bình thường, thậm chí còn ở trạng thái hoàn hảo nữa là khác. Mà cũng lạ, chỉ có trên dưới khoảng sáu giờ chiều thì chiếc xe mới không nổ. Còn lúc khác thì không sao cả. Có lẽ thợ sửa xe chưa tìm được bệnh. Triệu chứng này chỉ mới xảy ra trong thời gian gần đây, sau lần Tuấn đưa xe nhờ ga ra theo dõi và chăm sóc chiếc xe hôm cuối tuần. Trong lúc chờ taxi, Tuấn lại điện cho ông bạn sửa xe: - Nó lại chứng nữa rồi ông ơi! Tôi làm cách nào nó cũng không chịu nổ máy. Ừ. Đích thân ông coi kỹ lại dùm! Tối hôm đó, sau khi quan hệ với khách hàng xong, Tuấn về đến nhà thì đã hơn mười một giờ đêm. Tuấn mở cửa rào vào nhà. Anh thấy chiếc xe nằm ngoài sân. Có lẽ ông bạn đã đến sửa và để xe ở đây. Anh mở cửa đề máy và đưa xe vào nhà xe, khóa cẩn thận. Sáng hôm sau, trong lúc điểm tâm, Tuấn hỏi vợ: - Hồi tối anh Khải lại sửa xe cho anh hả? - Đâu có đâu anh. - Vậy sao chiếc xe nằm ngoài sân? - Vậy hả, em đâu có biết. - Kỳ vậy. Hồi anh đi, anh đề máy xe không nổ, anh phải đi bằng taxi. Đến chừng về, anh thấy xe đậu ngoài sân. Anh phải đưa xe vô nhà xe mà. - Đâu có ai chạy xe đâu. Nếu anh Khải tới sửa thì phải kêu em mở khóa nhà, rồi mở cửa nhà xe chớ. Tuấn điện thoại cho Khải: - A lô, chừng nào ông mới tới coi xe giùm tôi? Đầu kia có giọng trả lời vừa mệt mỏi và như ngáy ngủ: - Xin lỗi Tuấn. Mình chưa tới được. Chiều hôm qua mình có khách nên xỉn quá. Giờ này dậy còn chưa nổi đây. Mà mình thấy xe ông có vấn đề gì đâu. Thông cảm nghe, chiều nay mình tới. - Vậy thì ai đưa xe ra sân? Không lẽ trộm. Là một nhà kinh doanh, chuyện xe cộ đối với Tuấn hết sức quan trọng, xe phải tốt để bảo đảm giờ hẹn. Chiếc xe còn thể hiện phong cách làm việc của chủ nhân. Chiếc xe nay hư, mai hỏng vừa làm người đi bực mình, vừa làm xấu đi hình ảnh trước đối tác. Ý thức như vậy, Tuấn mới mua chiếc xe đắt tiền này và luôn bảo trì cẩn thận. Mỗi tháng anh đều giao cho Khải kiểm tra một lần. Nhờ vậy, từ trước đến nay anh luôn hài lòng với nó. Hơn nữa, anh không mướn tài xế, anh luôn tự lái mỗi khi đi đâu.Trong nhà chỉ có vợ anh, hai con nhỏ và bà mẹ. Tất cả đều không biết lái xe. Nếu anh có thì giờ, anh sẽ đưa họ đi khi cần, còn không thì cả nhà đi taxi. Tại sao xe anh có lúc nổ máy, lúc không? Tại sao tối hôm qua chiếc xe anh lại đậu ở sân? Tạm thời anh chưa trả lời được câu hỏi nào cả. Tuấn mở cửa xe. Bước vào. Đút chìa khóa công tắc. Đề máy. Chiếc xe nổ máy với âm thanh êm ái một cách vừa ý. Anh hôn vợ và dặn: - Đóng cửa giùm anh nghen. Chiếc xe nhẹ nhàng ra đường hòa vào dòng xe cộ đang hối hả của thành phố chuyển mình. Chiều hôm đó, khi Tuấn đang sắp xếp chuẩn bị về thì có điện thoại của vợ anh: - Anh Khải tới coi xe cho anh, em trả lời sao đây? - Được rồi. Em nói anh Khải đợi anh, anh về tới liền. Khi Tuấn về đến nhà Khải mở cổng. Anh lái một đường cong nhẹ để đưa xe đậu ở thềm. Khải ra dấu bảo Tuấn đừng tắt máy. Khải ép sát tai vào ca-pô. Thang máy nổ chậm đều và rất ngọt. Khải nhắm mắt, chăm chú lắng nghe. Tuyệt đối không có một âm thanh lạ, dù rất nhỏ. Khải lại giở ca-pô, nhìn thật kỹ và nghe thật kỹ. - Không có gì hết. Tất cả đều hoàn hảo. Tuấn yên tâm khi nghe bạn nói. Tuấn và Khải là bạn học chung thời trung học. Hai người chơi với nhau khá thân. Lên đại học, Khải chọn ngành kỹ thuật, tốt nghiệp kỹ sư cơ khí, Khải tiếp quản cơ sở sửa chữa xe hơi của cha. Với tay nghề kinh nghiệm gia truyền cộng với kiến thức khoa học kỹ thuật của Khải, cơ sở sửa xe ngày một phát triển và rất uy tín của thành phố này. Còn Tuấn thì lao vào kinh doanh và cũng là một doanh nhân tương đối thành đạt. Mặc dù hiện nay do điều kiện công việc họ không còn cặp đôi như xưa nữa, nhưng tình cảm thân thiết vẫn không hề sứt mẻ tí nào. Mỗi khi người nào cần thì chỉ cần ới một tiếng, người kia có mặt ngay. Ngay cả khi đi mua chiếc xe này Khải cũng đích thân đi và chọn lựa. Tuấn tắt máy, mở cửa bước xuống. Khải lên xe khởi động. Chiếc xe nổ máy êm như ru. Khải đánh nhẹ tay lái đưa xe vào nhà xe. - Em cho anh món gì ngon ngon để anh với anh Khải lai rai một chút. Tuấn đưa Khải lên lan can tầng một. Nơi đó có cái bàn nhỏ rất hữu tình được thiết kế dành riêng cho các cuộc hội ngộ bạn bè chí cốt. Cũng như những người bạn khác, lâu lâu mới có dịp thư thả ngồi với nhau, hai người thăm hỏi gia đình, vợ con. Kế đó là trao đổi cho nhau những tin tức về sự thành công hay thất bại của những người bạn chung. Khi vợ Tuấn mang đĩa thức ăn, đột ngột Khải đổi đề tài: - Ông nói chiếc xe thường khởi động không được trong khoảng thời gian nào? Vừa khui chai rượu, Tuấn vừa trả lời: - Tôi thấy là khoảng sáu tới bảy giờ. Những lúc có chuyện đi trong giờ này thì y thường... - Hay là bà chủ xe không muốn ông đi giờ đó? Vợ Tuấn cười: - Không có đâu anh. Em đâu có biết gì về xe cộ. - Đùa thôi. Thế này thì lạ thật. Họ nâng ly. Chất rượu màu mật ong sóng sánh. Thời gian chầm chậm trôi qua. Lâu sau, bất ngờ Khải hỏi: - Mấy giờ rồi? - Sáu giờ hai mươi. - Mình xuống thử xe. Hai người xuống nhà để xe, mở cửa, lao lên xe, khởi động máy. Chỉ có tiếng khởi động. Máy xe không nổ. Khải kiểm tra thật kỹ, xem máy, thử điện, thử lửa, thử xăng tất cả đều tốt. - Kỳ à nghen. Khải trầm ngâm nhìn chiếc xe một lúc, bất ngờ nói: - Thôi mình lên nhậu tiếp. Hai người lại tiếp tục uống lai rai. Bảy giờ mười phút. Họ trở xuống nhà xe. Chiếc xe khởi động ngọt ngào như chưa bao giờ trở chứng. Khải lắc đầu, nhún vai, cười và từ giã bạn ra về. Tuấn hoàn toàn không thể tưởng tượng được khi sáng hôm sau anh xuống nhà đi làm thì chiếc xe đã đậu ở ngoài sân, thay vì trong nhà xe. Chiếc xe đậu bên thềm. Cái dáng đậu đó chưa phải là vị trí của chiếc xe sắp ra cổng. - Chuyện gì đã xảy ra? Tuấn không thể nào dự đoán được một điều gì. Trong đầu anh có biết bao nhiêu nghi hoặc, thắc mắc mà không hề giải thích nổi. Cuối cùng thì Tuấn cũng có được một kế hoạch. Chiều hôm đó, anh mắc dây đặt chiếc Camera trên lan can lầu một hướng xuống sân. Tối đến anh cố thức thật khuya quan sát nhưng không có chuyện gì xảy ra. Anh đi ngủ sau khi bật camera. Sáng hôm sau chiếc xe đậu sẵn ở sân. Tuấn vào phòng mở đoạn phim thu được. Trong bóng tối, không một bóng người, hình ảnh chiếc xe mờ mờ di chuyển tới sân. Anh thấy dường như trên nắp xe có một bóng trắng mờ mờ hình người nằm trên đó. Anh tua đi quay lại nhìn thật kỹ và xác định đúng như vậy. Tuấn chạy xuống nhìn vào nắp xe. Không thấy có gì lạ. Hôm sau Tuấn thay đổi vị trí lắp camera. Chiếc máy được lắp sát vào chậu cây cảnh dưới sân. Từ vị trí này góc nhìn của máy rất rộng, có thể thấy từ cửa nhà để xe đến sân. Chiếc camera này là loại mới, có thể nhìn thấy rõ hình ảnh trong đêm tối mà anh mới mượn được của người bạn trưa nay. Đến hơn mười một giờ Tuấn đi ngủ và mở máy quay. Thức dậy, việc đầu tiên là Tuấn chạy ra lan can nhìn xuống. Chiếc xe đã đậu ở sân. Anh xuống chỗ đặt máy quay lấy phim thu được. Hình ảnh lần này khá rõ. Cái khóa nhà xe tự mở, hai cánh cửa sắt bung rộng ra, chiếc xe không người lái di chuyển từ từ. Không phải, nói đúng hơn là chiếc xe đang trôi chầm chậm. Đầu tiên là nó lùi ra khỏi nhà xe để trở đầu, qua một khúc cua dễ dàng và đến đậu trước sân. Trong xe không có người lái. Quan trọng hơn là trên nắp xe có người. Hình ảnh cho thấy một người đang nằm trên nắp xe. Xem lại nhiều lần, Tuấn thấy rõ đó là thân một người con gái, nằm bất động và có cả máu. Cô gái mặc bộ quần áo trắng, mái tóc dài bện máu. Máu trên nắp xe, máu dính vào cản xe. Anh thấy rõ máu còn nhểu từng giọt trên khuôn mặt người con gái tội nghiệp. Toát mồ hôi Tuấn điện thoại cho Khải. Khải đi sửa xe cho người quen ở tỉnh. Khải hẹn tối nay gặp. Tối hôm đó vào khoảng bảy giờ rưỡi, Tuấn lái xe đến nhà Khải. Đây là con đường khá tối trong thành phố, đèn đường rất thưa và có cái hư, nên hai bên đường tối và đường vắng. Đèn đỏ, Tuấn ngừng xe. Bất ngờ anh ngước lên kính chiếu hậu. Cái gì vậy? Một người con gái ngồi nép băng sau xe anh. Đó lại đúng là cô gái mà anh nhìn thấy trong phim thu được. Cô gái mặc bộ quần áo trắng, mái tóc dài bị bện máu. Có cả những giọt máu. Anh cảm thấy ớn lạnh. Mồ hôi tuôn trơn ướt hai bàn tay đang cầm vô lăng. Anh phải hết sức mình để giữ bình tĩnh. Bất thần anh quay lại nhìn phía sau. Không có gì cả. Anh nhìn lại kính chiếu hậu, cô gái vẫn còn ngồi đó. Thật tình thì anh định mở cửa xe bỏ chạy. Có tiếng còi xe phía sau. Đèn đã chuyển sang xanh. Tuấn tăng ga cho xe chạy chầm chậm và nhìn lên kính chiếu hậu. Hình ảnh cô gái đã biến mất. Vượt qua một ngã tư nữa, anh từ từ tấp xe vào lề trước nhà Khải. Đây lại là đoạn đường tối. Trời ơi, trong ánh đèn pha cô gái lại hiện ra trước mắt Tuấn. Vẫn bộ quần áo trắng. Vẫn mái tóc dài bay thấp thoáng còn bện máu. Nghe tiếng xe ngừng, biết anh tới, Khải mở cửa nhà. Cô gái biến mất. *** Vợ chồng Khải im lặng khi nghe Tuấn kể câu chuyện. Từ việc anh quay phim đến việc anh thấy người con gái ma trong xe, trong ánh đèn pha. Nhưng không hiểu sao cả hai đoạn phim đều không chiếu được trên máy nhà Khải.Vợ Khải có vẻ sợ. Khải trầm ngâm hút thuốc. Sau một lúc suy nghĩ đầy căng thẳng, Khải đứng dậy vào phòng. Khi trở ra anh cầm theo một tờ báo. Mở trang cuối, Khải chỉ cho anh một cột báo có đóng khung. Tuấn đọc. Đó là thông báo truy tìm chủ xe và người lái xe gây tai nạn. Chiếc xe màu xanh lợt, có hai số sau là 09, gây tai nạn làm chết một cô gái rồi bỏ chạy vào tối thứ bảy tuần rồi... Tuấn chợt hiểu ra: - Là xe anh. Khải nói, giọng trầm và chậm rãi: - Tôi vừa mới đọc được chiều nay. Tối thứ bảy vợ chồng tôi đi Vũng Tàu. Cơ sở nghỉ. Chỉ có một thằng thợ trực ở tiệm. Khải quay qua bảo vợ: - Em kêu thằng Thành qua cho anh. Ít phút sau vợ Khải và anh thợ sửa xe Thành bước vào. Không khí im lặng và căng thẳng, cái nhìn của ông chủ cơ sở và ông chủ xe quen thuộc, Thành ngơ ngác như mất hồn một chút rồi ngã bệt dưới đất: - Em lỡ... Tối thứ bảy, em lén lấy xe đi uống cà phê rồi lỡ... Thành khóc như mưa... |
| Múi giờ GMT. Hiện tại là 03:46 AM. |
Powered by: vBulletin Version 3.6.1 Copyright © 2000 - 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.