Vina Forums

Vina Forums (http://forums.vinagames.org/index.php)
-   Truyện Kiếm Hiệp (http://forums.vinagames.org/forumdisplay.php?f=39)
-   -   Bao Công xử án (http://forums.vinagames.org/showthread.php?t=8223)

vui_la_chinh 06-14-2005 02:30 PM

Hồi 18

TÙ VÌ BẠN


Ngày xưa ở bên Tàu có huyện Đinh Hải, thuộc phủ Ninh Ba, tỉnh Triết Giang có quan kiểm sự tên Cao Khoa và quan Thị Lang tên Hạ Chánh là đôi bạn chí thân và ngụ cùng một làng.
Hai người thường qua lại nhà nhau, “khi chén rượu, khi cuộc cờ, khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên”, đàm đạo với nhau ra chiều tương đắc lắm.
Một bữa hạ Chánh sưa soạn sang nhà Cao Khoa sẩy thấy bạn đến chơi, nét mặt hớn hở.
Hạ Chách lật đật ra rước:
- Tôi định sang bên bác đây. Bữa nay bác có chi mà vui tươi vậy?
- Sang báo bác rõ nhà tôi đã có tin mừng và mời bác sang nhà chơi.
Hạ Chánh vỗ tay reo:
- Thiệt hả. Vậy thì tốt quá. Vợ tôi có tin vui và tôi đang sửa soạn sang nói để bác mừng cho thì bác đã sang.
Cao Khoa tươi cười đáp:
- Hay lắm, hay lắm. Bên tôi sẵn có tiệc rượu rồi, mời bác qua ăn mừng luông thể.
Tới nhà Cao Khoa đôi bạn nhập tiệc nâng ly mừng nhau rồi cùng ước hẹn nếu sau này đôi bên sanh con trai và con gái thì sẽ cho chúng kết hôn với nhau. Tiệc rượu “chỉ phúc giao hôn” (làm sui khi con còn trong bụng mẹ) kéo dài đến khuya mới tan.
Cuối năm ấy, vợ Hạ Chánh sanh con trai đặt tên là Hạ Xương Thời còn vợ Cao Khoa sanh con gái đặt tên là Quí Ngọc.
Hạ Chách cậy bà mai thay mặt nhà trai đem đôi kim thoa đến làm lễ vật nơi nhà gái. Cao Khoa vui vẻ thâu nhận rồi trao lại một cặp trâm ngọc để làm tin.Từ đó hai nhà đi lại với nhau càng thêm thắm thiết.
Sau Hạ Chách đổi về làm việc tại kinh thành. Tuy làm quan nhưng Hạ Chánh rất thanh liêm nên gia cảnh xem ra cũng thanh bạch lắm, trong khi ấy Cao Khoa khéo xoay xở nên ngày càng thêm giàu có.
Ít năm sau, Hạ Chánh lâm bạo bệnh và từ trần tại kinh đô. Được tin cấp báo, Cao Khoa vội lên phúng điếu sui gia. Khi biết gia cảnh bạn, Cao Khoa liền xuất tiền giúp đỡ vợ Hạ Chánh mới đem được xác chồng về xứ chôn cất.
Mấy năm sau, Cao Khoa đến tuổi về hưu. Vì giàu có nên ngày lại ngày ông ta chỉ ngao du sơn thủy, đi dưỡng tuổi già.
Nói về Hạ Xương Thời tuy nhà nghèo và cha mất sớm nhưng nhờ tư chất thông minh lại siêng năng chăm chỉ nên học hành ngày càng lấn tới, nổi tiếng khắp vùng.
Đến nănm Hạ xương Thời được mười sáu tuổi, Bà quả phụ Hạ Chánh cậy người mai tới nhà Cao Khoa hỏi cưới Quí Ngọc cho con trai.
Cao Khoa nghe xong, cười lớn mà rằng:
- Trước ta có hứa gả con Ngọc cho thằng Thời nhưng phàm việc cưới xin ph3i giữ cho đủ lễ để con gái ta khỏi hờn duyên tủi phận. Vậy ngươi há về nói với thằng thời so sắm cho đủ sáu lễ ta mới thuận gả con gái ta cho nó. Còn như nghèo túng không kham nổi, thì nên hồi đi là hơn rồi ta sẽ ban cho chút tiền bạc đặng đi kiếm vợ khác. Thôi ngươi về báo cho mẹ con nó hay. Ý ta đã nhất định rồi, đừng nài nỉ vô ích.
Người mai lủi thủi về thuật lại cho mẹ con Hạ Xương Thời nghe. Bà quả phụ Hạ Chánh thở dài, ứa lệ nhìn con.
Hạ Xương Thời kiếm lời an ủi mẹ già rồi từ đó, chỉ chăm lo dùi mài kinh sử.
Về phần Quí Ngọc được mẹ cho biết quyết định của cha, nàng đau khổ vô cùng, bèn vào can cha:
- Xin phụ thân chơ ùqua khắt khe, kẻo người ngoài cười chê cha con mình bội ước.
Cao Khoa gắt:
- Cứ đủ một trăm lượng bạc vàng sính lễ là ta cho mi theo nó còn không thì thôi. Đừng có nhiều lời.
Quí Ngọc òa lên khóc, rồi chạy vô phòng. Nữ tỳ Thu Hương kiếm lời an ủi cô chủ:
- Tiểu thơ cũng chẳng nên buồn rầu làm chi. Quan muốn tiểu thơ vào nhà quyền quí cao sang đặng sung sướng tấm thân. Nay phải từ hôn Hạ Xương thời, quan cũng biết là không phải đạo song vì thương tiểu thơ…
Quí Ngọc ngắt lời nữ tỳ:
- Như vậy cha mẹ ta sẽ mang tiếng tiếng là người bội ước. Vả lại, Hạ Xương Thời tuy nghèo song học giỏi lại điềm đạm dễ thương, diện mạo khôi ngô, tất sau này cũng mở mày mở mặt với thiên hạ được. Sự nghèo nàn của chàng nhất thời. Nếu ta không giúp đỡ chàng thì uổng mất một nhân tài. Em nghĩ sao.
Nữ tỳ Thu Hương đáp:
- Tiểu thơ nghĩ thế cũng phải hiềm một điều Hạ Công tử lấy đâu ra một trăm lạng bạc vàng dẫn lễ bây giờ?
Quí Ngọc nghĩ thế dài không đáp. Hồi lâu nàng lẩm bẩm:
- Ta đã có cách.
Nữ tỳ nghe không rõ mới hỏi lại:
- tiểu thơ dạy điều chi.
- Ta nói ta có cách rồi, miễn là cha ta dừng sớm nhận lời gả ta cho người khác là được.
Từ sau bữa đó, Quí Ngọc lén lấy trộm vàng của cha đem giấu vô phòng. Sợ bại lộ, lâu lâu nàng mới dám lấy chút ít, thành ra trong suốt một năm trường nàng mới gom góp được lối vài lượng quý kim.
Trong khi đó nàng vẫn sai nữ tỳ Thu Hương lén tới thăm hỏi Hạ Xương Thời để chàng thư sinh đừng thất vọng.
Nhưng tuyệt nhiên nàng không tiết lộ kế hoạch của nàng cho nữ tỳ hay biết.
Nói về công tử Hạ Xương Thời từ ngày bị Cao Khoa thách thức quá nhiều, chàng làm thinh luôn, không nghĩ tới việc lấy vợ nữa.
Nhờ mẹ chàng vất vả sớm hôm tần tảo quyết tâm nuôi con ăn học đến thành tài nên trong nhà cũng không đến nỗi túng thiếu lắm.
Hạ công tử suốt ngày quanh quẩn nơi thư phòng, đọc sách ngâm thơ, ít khi đi ra đến ngoài. Chàng chỉ có một người bạn tâm giao là Lý Thiện Phụ, bạn đồng môn, thường hay lui tới nhà chàng cùng chung học tập.
Thấm thoát đã ba thu kể từ ngày Cao Khoa có ý từ hôn Hạ công tử.
Thấy mẹ con Hạ Xương Thời im lặng đã lâu, nhiều gia đình khá giả lân la ngỏ ý hỏi xin Quiù Ngọc cho con trai họ. Và Cao Khoa cũng kén rể cho xong năm ấy.
Thấy nguy cơ đã gần kề, nàng Quí Ngọc hốt hoảng kêu nữ tỳ Thu Hương vô dặn nhỏ một hồi. Nghe xong, con Thu Hương trợn mắt lè lưỡi bảo Quí Ngọc:
- Tiểu thơ làm thế lỡ quan biết thì khốn cả hai chị em mình. Nhưng thôi em hết lòng giúp đỡ chị.
Nói đoạn nó lén sang thư phòng Hạ Xương Thời và bẩm rằng:
- Thưa công tử Cao lão gia chê công tử nghèo muốn từ hôn, nên cố ý đòi một trăm lượng bạc vàng làm sính lễ. Cô tôi không nỡ nên đã can gián lão gia nhiều phen mà chẳng được. Nay sắp có đám khác đến hỏi cô tôi. Vì vậy cô tôi đã góp nhặt được hơn môït trăm lượng bạc vàng biểu tôi qua mời công tử mai cuối canh một đến cổng sau dinh tư Cao lão gi vô Hoa đình lấy về đặng dẫn lễ cưới cô tôi. Xin công tử đừng sai hẹn. Tiện thiếp sẽ mặc quần áo trắng chờ công tử ở Hoa đình.
Hạ công tử cảm động đáp:
- Ta cảm phục lòng to61tcu3a Cao tiểu thơ. Vậy nàng về thưa lại, tối mai ta xin y hẹn.
Tỳ nữ của Thu Hương vừa ra khỏi phòng thì bạn của Hạ công tử là Lý Thiện Phu đến.
Lý Thiện Phu cười hề hề, nheo mắt hỏi bạn:
- Chà trông anh hớn hở quá ta. Chắc là vì người đẹp vừa đi ra đó chăng? Ai thế?
Hạ công tử đỏ mặt, lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì Phụ đã hỏi dồn:
- Thôi mà, có điều vui mừng cứ cho anh em hay để chia vui chứ.
Hạ công tử thiệt thà thuật lại cho bạn nghe. Lý Thiện Phụ vốn là đứa gian ngoan, quỷ quyệt, liền tính kế phỗng tay trên số bạc một trăm lượng của Hạ công tử.
Hắn giả bộ vỗ tay reo:
- Anh có phước lắm đó. Được mỹ nhân lo cho đến thế là nhứt rồi. Mừng anh nhé.
Qua sáng sau, Lý Thiện Phụ tới mời công tử tối nay lúc lên đèn sang nhà hắn uống rượu chơi. Hạ công tử nhận lời liền.
Lý Thiện Phụ cả mừng, ra chợ sắm rượu thịt làm cơm. Trên đường về hắn ghé qua tiệm thuốc bắc mua một gói bột nhỏ chi đó rồi tất tả về nhà.
Tối lại, Hạ công tử khăn gói chỉnh tề đến nhà họ Lý.
Lý Thiện Phụ rót rượu mừng bạn. Hai người ăn uống cười đùa vui vẻ. Qua một tuần rượu, Phụ làm bộ chợt nhớ ra điều chi vỗ đùi bạn:
- Chút xíu quên mất. Có chai rượu quý, người ta cho từ lâu vẫn để dành nay có dịp vui mừng của anh không bỏ ra uống thì uổng quá.
Nói đoạn hắn cười hề hề đứng lên mở tủ lôi ra một hũ sành mầu da lươn đầy hai bát. Hắn lén bỏ chất bột trắng mua hồi sáng vô một bát rồi trao cho Hạ công tử và mời bạn cạn chén.
Hạ Xương Thời vô tình nốc thẳng một hơi.
Lát sau thuốc ngấm, họ Hạ phục bên mâm rượu ngủ vùi. Lý Thiện Phụ mỉm cười lẩm bẩm: “Thuốc mê này công hiệu thiệt. Thằng này còn lâu mới tỉnh lại được, dư thì giờ cho mình hành động”.
Nói rồi hắn châm thêm đèn và lo dọn dẹp tiệc rượu. Sau đó hắn đặt bạn nằm ngay ngắn trên giường nhưng không quên để thêm một chiếc gối nữa bên cạnh bạn.
Xong xuôi Lý Thiện Phụ sửa sang lại áo quần và đi đến nhà Cao lão gia. Lúc ấy đã cuối canh một (khoảng mười giờ tối).
Thấy cửa sau vườn hé mở, hắn lẻn vô và len qua các luống bông tới thẳng chỗ hẹn.
Hắn còn đang ngó quanh bỗng thấy một bóng tha thướt bước xuống thềm Hoa đình. Hắn phóng tới thì thấy một cô gái vận quần áo trắng tay cầm một gói lớn.
Nhờ được nghe Xương Thời thuật lại nên Lý Thiện Phụ bình tĩnh cất tiếng hỏi:
- Phải tỳ nữ Thu Hương của Cao tiểu thơ đó không?
Có tiếng đàn bà trong tréo đáp lại:
- Dạ tiện thiếp đây.
- Vậy mau đưa bạc cho ta.
- Ngươi không phải là Hạ công tử.
Lý Thiện Phụ giựt mình nhưng vẫn liều đáp:
- Chẳng phải ta thì còn ai nữa.
- Giọng nói không giống. Thôi để tiện thiếp vô hỏi lại tiểu thơ đã.
Nói rồi, thị nữ ôm gói bạc chạy tuốt về trình chủ:
- Tiểu thơ ơi! Kẻ đó đòi lấy gói bạc không phải lạ Hạ công tử.
Quí Ngọc đáp:
- Em thiệt là vô ý quá. Trời tối em phải xáp lại gần nhận diện cho trúng chớ đứng xa nghe giọng nói thì chắc sao đặng. Thôi em trở lại Hoa đình coi lại đi chớ để công tử mất công chờ đợi.
Thu Hương toan quay ra thì Cao tiểu thơ gọi giật lại:
- À này Thu Hương. Trao bạc xong em về phòng đi nghỉ, không cần trở lại đây nữa lỡ quan bắt gặp sợ nghe khó trả lời nghe.
Thị nữ “dạ” một tiếng rồi lủi vào vườn, trở lại chỗ hẹn.
Tới nơi, thấy bóng đen vẫn còn đứng đó, thị mạnh bạo tiến đến sát bên nhìn rồi nói:
- Ngươi không phải là Hạ công tử mà là kẻ gian rồi.
Thu Hương chưa dứt lời thì Lý Thiện Phụ đã vung tay đấm thiệt mạnh vào bụng thị nữ. Đứa tớ gái của cao tiểu thơ lăn ra chết tức thì, không kịp kêu một tiếng.
Lý Thiện Phụ cúi xuống lượm gói bạc rồi lần ra cửa chuồn êm. Về tới nhà, hắn giấu lẹ gói bạc một nơi rồi leo lên giường nằm nghỉ bên Hạ Xương Thời.
Tiếng trống cầm canh thong thả buông hai tiếng, Lý Thiện Phụ lẩm bẩm : “Cho tỉnh lại thì vừa” . Hắn lấy khăn thấm nước lạnh lau mặt Hạ Xương Thời.
Lát sau Hạ công tử mở mắt rồi nhỏm dậy, hốt hoảng bảo bạn:
- Đã tới canh hai chưa anh ? Tôi tính đi việc ấy kẻo người ta mất công chờ đợi.



vui_la_chinh 06-14-2005 02:31 PM

Tên phản bạn chặc lưỡi, làm bộ nói:
- Không dè tửu lượng của anh kém quá vậy. Rượu mới xoàng xoàng đã ngã gục. Thôi bây giờ mới qua canh hai, lúc này vắng vẻ anh đi càng tiện và cũng không trễ lắm đâu.
Hạ Xương Thời sửa lại khăn áo rồi cáo từ Lý Thiện Phụ mà đi đến nhà họ Cao.
Tới nơi thấy cửa vườn sau hé mở, Thời tiến thẳng tới chỗ hẹn. Thấy một bóng trắng nằm gục trên thềm Hoa đình, chàng đoán là Thu Hương liền cất tiếng gọi. Không thấy trả lời, chàng cho là thị ngủ quên liền đến gần lay gọi.
Thấy nó vẫn im lìm, chàng xem lại kỹ mới hay thi thể thị nữ đã lạnh ngắt. Hạ công tử hoảng sợ vùng bỏ chạy về nhà, trong bụng lo sợ vô cùng cho là cha vợ âm mưu hại mình, nhưng không mảy may nghi ngờ chi Lý Thiện Phụ cả.
Sáng sớm, Cao tiểu thơ chờ mãi không thấy nữ tỳ lên hầu mới kêu gia nhân biểu đi kiếm. Lát sau họ tìm thấy Thu Hương nằm chết cong queo ở ngoài vườn.
Thấy nữ tỳ vì mình mà bỏ mạng, Cao tiểu thơ liền vào thú thật với Cao Khoa:
- Thưa cha, tối qua con có sai nữ tỳ Thu Hương đem vàng bạc nữ trang ra cho Hạ Xương Thời để hắn làm lễ cưới con. Ai dè y sanh lòng lang thú đoạt quí vật rồi lại hạ sát nữ tỳ. Như vậy là không có ý cưới con.
Cao Khoa nổi giận rầy la con gái một hồi rồi làm đơn cáo với huyện quan đại ý như sau:
- Nguyên tên Hạ Xương Thời tuy là học trò nhưng lỗi đạo thánh hiền, hắn nghèo túng sanh lòng gian dụ dỗ tỳ nữ Thu Hương lấy trộm bạc vàng và nữ trang của gia đình tôi đem cho hắn. Được bạc rồi, y đang tâm sát hại con Thu Hương ngay trong vườn hoa nhà tôi để khỏi bị bại lộ. Xin quan chiếu phép nước nghiêm trị tên Hạ Xương Thời để làm gương răn dạy người đời.
Huyện quan tiếp đặng đơn liền cho lính đi bắt Hạ công tử đem về cho ông xét hỏi.
Họ Hạ bị bắt khi còn đan nằm nghỉ trong thư phòng.
Huyện quan hỏi:
- Mang danh là con quan Thị lang lại theo đòi bút nghiên sao anh chẳng biết giữ mình lại cướp của giết người làm ô danh cha mẹ.
Hạ công tử thưa:
- Xin quan minh xét cho. Tôi bị cha vợ phản phúc lập mưu làm hại để tiện bề từ hôn. Quả thiệt tôi oan.
Nhưng Hạ công tử không chịu tiết lộ chuyện Cao tiểu thơ sai Thu Hương mời đến Huê viên để trao bạc vàng dẫn cưới vì chàng cho là làm như vậy sẽ mất danh dự và phụ lòng tốt của vị hôn thê.
Huyện quan vốn cũng nể Hạ công tử là dòng dõi quan quyền nay lại nghe khai vậy mới cho mời Cao Khoa đến hỏi:
- Họ Hạ kêu rằng nay ông muốn từ hôn nên lập mưu hại anh ta. Vậy chớ sự thực thế nào phải khai cho thiệt.
- Nữ tỳ Thu Hương đêm trước đem bạc vàng cho hắn. Hai đứa hẹn nhau tại Huê đình làm nơ trao bạc. Chắc hắn muốn nuốt trọn không chia cho con Thu Hương nên giết đi cho khỏi bại lộ.
Huyện quan hỏi:
- Chớ ông có bằng chứng gì không?
- Có chứ. Việc Thu Hương đem bạc vàng cho Hạ Xương Thời,con gái tôi là Quí Ngọc có thấy. Nếu như Thời không đánh chết nữ tỳ thì tôi cũng bỏ qua, chẳng cáo làm chi. Còn điều hắn vu cho tôi mưu hại hắn để hồi hôn xét ra vô lý. Vì tôi có thù oán chi hắn mà phải tận tình đến mức giết một nhân mạng để hại hắn? Muốn từ hôn hắn, tôi có nhiều cách, hà tất phải làm vậy.
Huyện quan nghe có lý, xẵng giọng hỏi Hạ công tử:
- Thế nào có nhận tội không?
- Dạ, thưa tôi không hề giết Thu Hương. Họ Cao vu vạ cho tôi…
Cao Khoa ngắt lời:
- Hắn gian ngoan xin quan chớ tin lời hắn.
Huyện quan đáp:
- Việc đâu còn có đó. Lính đâu đi mời Cao tiểu thơ đến ta hỏi chuyện.
Lát sau Cao tiểu thơ đến trước công đường. Quan hỏi:
- Tình tiết nội vụ thế nào tiểu thơ phải chứng cho thiệt chớ có khai man mà bị hình phạt.
Cao tiểu thơ đáp:
- Thưa quan, vì có sự chỉ phúc giao hôn ngày trước nên tôi và Hạ công tử bị ràng buộc bởi lời hứa hôn đó. Thấy nhà vị hôn phu nghèo không đủ tiền dẫn cưới, tôi có góp nhặt được hơn một trăm lạng bạc vàng và sai nữ tỳ Thu Hương qua dặn họ Hạ tối qua tới sau vườn mà lấy. Sau khi lấy được bạc rồi họ Hạ lại đang tâm giết Thu Hương, mãi sáng ra, tôi mới hay biết.
Huyện quan hỏi:
- Theo ý tiểu thơ, vì sao mà Thu Hương bị giết?
- Có lẽ họ Hạ muốn cưỡng gian nữ tỳ của tôi nhưng nó chẳng chịu nên giết cho bõ ghét. Cũng có thể họ Hạ giận cha tôi đã từ hôn nên đánh chết con Thu Hương để gieo vạ cho cha tôi. Xin quan minh xét.
Huyện quan gật đầu nói:
- Lời nàng khai hợp lý lắm. Rồi ông trỏ Hạ công tử mà quát rằng:
- Quí Ngọc đối chứng những việc trước thì đúng còn việc nữ tỳ Thu Hương quả thực tôi không có làm. Chắc có tiền oan nghiệp chướng chi đây nên tôi mới bị cảnh này…
Quan huyện cắt lời:
- Sao lúc trước chối nay lại nhận?
- Tôi không hề nhận đã giết Thu Hương. Tôi chỉ nhận là nàng có sai nữ tỳ đến hẹn tôi đi lấy bạc…
- Thế sao không khai ngay lại chờ Cao tiểu thơ nói rồi mới nhận?
- Dạ… thưa… tôi không muốn nàng phải mang tiếng vì tôi.
Huyện quan la:
- Thôi ngươi chớ có nhiều lời. Chối quanh vô ích. Chẳng qua là nhà ngươi thấy chối không được nữa mới phải nhận chịu. Đúng là ngươi đã giết Thu Hương vì ngoài ngươi ra còn ai biết nữa? Ta lên án ngươi phải chịu tử hình còn về phần quí Ngọc con gái họ Cao, ta huỷ lời hứa hôn và cho phép đi lấy chồng khác. Lính đâu, đem Hạ Xương Thời hạ ngục cho ta.
Lính dạ rân Hạ công tử nhốt vào khu tử tội. Sau đó huyện quan chạy giấy về Thượng Ty xin xử tử. Thượng Ty hạ giảm xuống án tù.
Hạ công tử bị bạn phản, lâm vào vòng lao lý kể đã tới hai năm thì Bao Công tuần tra vừa tới huyện Đinh Hải.
Để biết rõ thực trạng của địa phương, Bao Công mặc giả làm anh lái buôn đi quan sát khắp nơi.
Huyện quan trông thấy tưởng kẻ gian phi liền sai lính bắt giam vào ngục. Bao Công chẳng nói chi cứ lặng lẽ vào ngồi với các tù nhân. Chờ cho quân coi ngục ra khỏi. Bao Công mới lên tiếng bảo đám tội nhơn:
- Tôi có biết đôi ba chữ đi làm công giữ sổ sách cho người ta, ai dè bị chủ vu cáo mà phải vào đây. Quan chưa xét xử. Tôi tính làm đơn khiếu oan nên có mang theo sẵn đồ viết đây. Như ai có điều chi oan ức cứ nói thiệt ra tôi làm dùm cho luôn thể.
Hạ công tử nghe nói liền đem việc mình tỏ ra. Bao Công ghi vào giấy, đóng ấn tín của mình bên dưới rồi kêu lính gác biểu đem ra trình quan.
Đọc xong, huyện quan sợ xanh mặt chạy vội vào ngục thất xá dài Bao Công mà xin lỗi. Bao Công cười nói: “Quan không có lỗi chi” rồi theo huyện quan về dinh thay y phục đại thần.
Lát sau. Bao Công đăng đường lấy hồ sơ Hạ Xương Thời ra coi lại rồi hỏi huyện quan:
- Thiệt tình quan vẫn tin Thời là thủ phạm giết nữ tỳ Thu Hương?
- Thưa Thượng quan, thiểm chức chắc chắn là y chứ không ai khác. Hắn chối dài mãi tới khi Cao tiểu thơ ra khai hắn mới chịu nhận.
- Họ Hạ không nhận đã giết thu Hương chỉ nhận có được Cao tiểu thơ cho nữ tỳ thu Hương đến hẹn đi lấy bạc thôi. À mà quan có hỏi Hạ Xương Thời coi y có đến chỗ hẹn không sao không thấy ghi vô biên bản?
- Dạ thưa… không. Vả lại thấy y lúng túng quá nên thiểm chức cho là có hỏi cũng vô ích, hắn sẽ tìm cách chối quanh.
- Quan có thấy lời khai của quan Kiểm Sự Cao Khoa cũng có vẻ lúng túng không?
- Thưa… kể ra thì cũng không được minh bạch lắm. Dường như ông ta cố che đậy việc con gái đưa bạc cho họ Hạ.
Bao Công gật đầu nói:
- Nếu không thể vì thế mà nghi oan cho cao Khoa đã hạ sát nữ tỳ để vu vạ cho Hạ Xương Thời thì cũng không nên vội kết tội họ Hạ. Ta không võ đoán là họ Hạ vô tội nhưng ta trách quan đã ngưng cuộc điều tra lại ở nửa chừng, khiến cho người ta có thể bị oan.
Suy nghĩ một lát, Bao Công nói tiếp:
- Bây giờ quan phải làm gấp bốn việc ta dặn đây: Thứ nhất là dẫn Hạ Xương Thời lên để ta hỏi lại, thứ hai là cho mời Cao tiểu thơ tới cho ta hỏi chuyện, thứ ba là cho mật điều tra đám gia nhân của Cao Khoa coi có đứa nào tự nhiên xin thôi hoặc có chi khác ý không, thứ bốn mật điều tra trong giới bạn học của Thời xem tánh nết ra sao và có ai có vẻ chi khác lạ chăng. Bốn việc này đáng lẽ quan phải làm rồi.
Nhưng thôi ta cũng miễn thứ cho vì quan còn trẻ, ít kinh nghiệm, vả lại việc này cũng khó. Quan khá lui ra và thi hành mau lẹ các điều ta dặn.
Lát sau, lính dẫn Hạ Công tử vô, Bao Công hỏi:
- Ngươi hãy thuật rõ lại mọi việc từ lúc Cao Khoa từ hôn khéo cho đến phút ngươi bị bắt. Có thế nào phải khai cho thiệt.
Hạ công tử nhất nhất thuật lại đầu đuôi câu chuyện đúng với sự thật nhất là lúc chàng vô vườn hoa họ Cao thế sự thể ra sao.
Họ Hạ vừa thuật xong thì lính vào bẩm có Cao tiểu thơ đến. Bao Công truyền cho Hạ công tử ra chờ bên ngoài để lát nữa ông còn xét hỏi thêm. Đoạn ông cho mời Cao tiểu thơ vô và hỏi liền:
- Tiểu thơ vẫn giữ vững lời khai năm trước chứ?
- Thưa, không có chi thay đổi. Chính Thời đã giết nữ tỳ Thu Hương.
- Vì sao?
- Vì anh ta không muốn lấy tôi nên đoạt bạc rồi hạ thủ nữ tỳ đăng gieo vạ cho cha tôi để trả thù vì đã bị cha tôi làm xấu mặt.
Bao Công lặng thinh một lát rồi đột ngột hỏi:
- Ngoài nữ tỳ Thu Hương còn có ai biết tiểu thơ hẹn Thời đến lấy bạc vàng nữ trang không?
- Thưa không.
- Tiểu thơ có nói chuyện với ai không?
- Không.
- Ngay cả với Cao lão gia cũng không?
- Dạ, cũng không.
- Tiểu thơ có tin là nữ tỳ Thu Hương tiết lộ câu chuyện cho một người khác ngoài Hạ Xương Thời không?
- Thưa tôi không tin. Nó là người kín tiếng và rất mựng trung thành.
- Thôi được, cho tiểu thơ về nhưng không được kể lại cho ai nghe các điều ta đã hỏi.
Quí Ngọc vái chào ra về.
Bao Công cho gọi Hạ công tử và hỏi rằng:
- Bữa nữ tỳ Thu Hương tới hẹn ngươi đi lấy bạc có ai biết không?
- Thưa không.
- Ngươi có tiết lộ cho ai không?
- Thưa có.
- Ai?
- Dạ, Lý Thiện Phụ, bạn đồng môn với tôi.
- Khi nghe nươi cho hay câu chuyện, thái độ của họ Lý ra sao?
- Anh ấy ngỏ lời mừng tôi.
- Ngươi có nghi hắn đã giết Thu Hương mà đoạt bạc rồi để tội cho ngươi không?
- Dạ, không.
Bao Công vẫn kiên nhẫn hỏi:
- Trước khi đến nhà họ Cao, ngươi có gặp lại Lý Thiện Phụ không?
- Dạ, có. Chiều đó anh ấy mời tôi uống rượu tại nhà anh nói là để mừng tôi.
- Rồi sao nữa?
- Tôi vì tửu lượng kém nên qua hai tuần rượu đã say gục xuống bên mâm ngủ vùi…
Bao Công ngắt lời:
- Ngủ lâu mau.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:32 PM

- Dạ cũng khá. Khi nhập tiệc thì lên đèn, lúc tỉnh dậy đã sang canh hai.
- Lúc tỉnh dậy thấy Lý Thiện Phụ làm gì?
- Dạ thấy anh ấy cũng nằm nghỉ bên tôi.
- Nó thức hay ngủ.
- Dạ, thức.
- Nó nói chi?
- Dạ, anh chê tôi tửu lượng kém và bảo tôi đi bấy giờ thì vắng vẻ và còn kịp.
Hỏi tới đây, Bao Công ra lệnh cho lính dẫn Hạ công tử trở lại ngục thất. Đoạn ông nói với huyện quan mời hết học trò tại phủ Ninh Ba sáng mai đến huyện để ông khảo duyệt chữ nghĩa.
Sau đó ông kêu một thám tử thân tín cô dặn nhỏ một hồi.
Sáng sau mấy chục thư sinh trong toàn phủ đã tề tựu đông đủ.
Bao Công cho gọi tất cả vô rồi hỏi thăm sơ qua từng người một. Mãi mới tới phiên Lý Thiện Phụ. Bao Công nhận diện rồi hỏi qua người khác. Lát sau, ông ra bài phú cho mọi người cùng làm.
Đúng ngọ, Bao Công cho góp bài rồi truyền học trò mai sớm lại coi bảng.
Kết quả:Lý Thiện Phụ đậu đầu. Đám sĩ tử xúm lại mừng họ Lý cùng với Hạ Xương Thời và đôi ba người nữa vẫn được tiếng được giỏi.
Bao Công ngồi đối ẩm với huyện quan. Nhân bàn về trình độ học vấn của sĩ tử hàng huyện, huyện quan hỏi:
- Thượng quan thấy Lý Thiện Phụ học lực và tánh tình ra sao?
Sức học thì khá, còn về tánh tình thì ta định hỏi ý kiến quan đây.
- Dạ, hắn là người hiền lành, lương thiện.
Hai người đàm đạo tới đây thì viên thám tử thân tín của Bao Công vô bẩm rằng:
- Thưa đại quan, kẻ thuộc hạ xin nhắc đại quan mai về tỉnh tiếp người đến mai cho tiểu thơ.
Bao Công vui vẻ đáp:
- Tốt lắm, chút xíu ngươi không nhắc ta quên phức đi rồi.
Rồi ông quay lại bảo huyện quan:
- Nội trong ngày nay ta sẽ xét nốt mấy hồ sơ còn lại để mai lên đường về tỉnh sớm. Tối nay quan đặt tiệc mời thân hào nhân sĩ làng huyện và Lý Thiện Phụ tới dự trước là để ban khen họ Lý sau là khuyến khích sĩ tử trong vùng.
Bữa tiệc tiếp diễn trong bầu không khí tưng bừng, vẻ hân hoan hiện trên nét mặt mọi người riêng Lý Thiện Phụ thì lòng như mở hội.Lúc thấy Bao Công tới tuần tra, họ Lý đã hơi chột dạ vì nhớ tới lời đồn Thiết diện đại nhơn xử án như thần. Qua mấy bữa nghe ngóng, họ Lý không thấy ai nghi ngờ gì mình nay lại thấy Bao Công tiếp đãi niềm nở, trọng hậu, nên Phụ càng đắc ý, trong bụng có ý chê người đời đã phóng đại tài tra án của Bao Công. Theo họ Lý, đó cũng chỉ là một lối “rung cây nhát khỉ”.
Lại nói về Bao Công tuy nói chuyện với mọi người nhưng vẫn để ý dò xét Lý Thiện Phụ qua lời ăn, tiếng nói song ông không đả động gì đến vụ án Hạ xương Thời cả.
Qua sáng sau, Bao Công dậy sớm, sửa soạn về tỉnh. Trước khi lên đường, ông bảo huyện quan:
- Vụ án Hạ công tử, chưa có đầu mối chi rõ rệt.Quan cho điều tra kỹ lại về đám gia nhân họ Cao.
Về tỉnh lỵ được ít bữa. Bao Công viết thư xuống huyện tỏ ý khen ngợi Lý Thiện Phụ và nhờ huyện quan mời họ Lý lên tỉnh dự tiệc. Khắp huyện lấy làm hãnh diện và họ Lý cũng mừng rỡ lắm.
Chuyến đó Lý Thiện Phụ lên tỉnh được Bao Công tiếp đãi hậu hỹ và chuyện trò rất thân mật khiến họ Lý cảm động vô cùng càng tin là Bao Công không nghi ngờ gì mình cả.
Ít lâu sau Bao Công lại cho mời Lý Thiện Phụ lên dự tiệc, Khi rượu đã xoàng, Bao Công buồn rầu nói với họ Lý:
- Ta làm quan thanh liêm như thế nào, tất ngươi cũng đã nghe nói. Cửa nhà thanh bạch nay lại sắp cho con gái đi lấy chồng, không có tư trang nó sẽ tủi thân.
Bao Công ngưng một chút rồi thở dài nói tiếp:
- Phần ta cũng đau khổ vì không lo nổi cho con để nó phải thua bạn, kém em. Nỗi lòng không biết tỏ cùng ai, nay thấy ngươi học rộng tài cao, rồi ra thế nào cũng được bảng hổ đề danh, đường hoạn lộ thênh thang cử bước. Đem tâm sự kể ra cho ngươi, ta cũng hổ thẹn vô cùng.
Tới đây,Bao Công chậm rãi châm thêm rượu cho Lý Thiện Phụ và ngập ngừng nói:
- Ngươi là bạch diện thư sinh… còn ăn nhờ vào cha mẹ… dù có muốn cũng không thể giúp đỡ ta được. Vậy nếu biết ai có mượn tạm dùm ngày sau ta lo báo bổ xứng đáng cho ngươi. Thôi ngươi hãy cố giúp ta, được thì càng hay, bằng không được thì cũng thôi. Điều cần là đừng tiết lộ cho ai hay biết.
Lý Thiện Phụ vâng dạ rồi lui về. Dọc đường y tự hỏi:
- Có thể ông ta bày mẹo để bẫy mình chăng? Vô lý. Nếu ông ta nghi ngờ mình thì đâu có hậu đãi như thế. Vả lại chuyện cưới gả là chuyện có thiệt và có trước mà. Có lẽ ông ta nghèo thật. Chi bằng ta cứ lấy ngay nữ trang đã cướp được đem đến hiến cho ông ta để sau này được lợi là hơn. Tuy vậy cũng để vài ba bữa hãy đem dâng kẻo bao Công thấy lẹ quá sinh nghi.
Bốn ngày sau, Lý Thiện Phụ lên tỉnh yết kiến Bao Công mang theo một gói vải điều trong có trâm ngọc, trâm vàng của Cao tiểu thơ mà y đã đoạt được lúc trước, sau khi hạ sát nữ tỳ Thu Hương.
Bao Công cảm ơn Lý Thiện Phụ rồi vừa cười vừa nói
- Ngươi cứ yên tâm ra về. Ta sẽ trả công ngươi thích đáng.
Phụ đi khỏi. Bao Công xem xét đồ nữ trang rất kỹ rồi sai lính hoả bài cấp tốc đi đòi huyện quan đem trình hồ sơ vụ án nữ tỳ Thu Hương và áp giải Hạ Xương Thời lên luôn thể.
Lát sau huyện quan và toán lính giải Hạ công tử về tới Nha môn.
Bao Công truyền tạm giam Hạ Xương Thời vào lao thất rồi hỏi huyện quan:
- Theo chỗ quan biết thì gia cảnh Lý Thiện Phụ ra sao?
- Dạ, chỉ đủ ăn thôi.
- Y có bà con cô bác chi giàu lớn không?
- Dạ không.
Bao Công gật đầu nói:
- Ta nghi ngờ như vậy. Thôi được bây giờ quan cho đòi Quí Ngọc con Cao Khoa tới hầu gấp. Quan cho mời Lý Thiện Phụ đến huyện giả bộ đàm đạo văn chương thi phú, hễ ta cho kêu thì đưa y lên gặp ta ngay, chớ chậm trễ mà nó trốn mất.
Huyện quan tuân lệnh lui về. Hơn một tiếng đồng hồ sau lính hầu vào bẩm có Cao Quí Ngọc tuân lệnh đòi đã tới trước công môn.
Bao Công truyền cho vào. Vừa thấy mặt Cao tiểu thơ, Bao Công đã hỏi:
- Năm trước, trong gói bạc vàng châu báu nàng uỷ cho tỳ nữ Thu Hương đem trao lại Hạ Xương Thời, có những gì?
- Dạ thưa có đôi trâm ngọc đôi trâm vàng và mộ số thoi vàng, thoi bạc, tất cả trị giá hơn trăm lượng vàng.
- Liệu bây giờ nàng có nhận ra nữ trang bị mất không.
Vừa nói Bao Công vừa bầy các tài vật mà Lý Thiện Phụ dâng ông lúc nẫy.
Quí Ngọc cầm lên xem qua rồi nói, giọng quả quyết:
- Thưa Thượng quan, đúng đây là nữ trang của tôi rồi. Vì là đồ gia bảo có những đặc điểm riêng biệt nên tôi nhận ra ngay.
Bao Công cười đáp:
- Ta cũng nghĩ như vậy. Vả lại trên các món đồ đều có chữ “Cao” khắc rất nhỏ trên mặt trái, ai không để ý tất không thấy được.
Nói đoạn Bao Công viết mấy chữ rồi kêu lính hầu vô trao thư và dặn rằng:
- Ngươi khá đưa tiểu thư ra ngoài chờ lệnh và kêu lính hoả bài đem giấy này xuống quan huyện Đinh Hải ngay lập tức.
Huyện quan tiếp được công văn, lật đật mở ra coi thấy bao Công ra lệnh áp giải Lý Thiện Phụ lên tỉnh và cho mời Cao Khoa lên hầu luôn thể.
Lý Thiện Phụ thấy huyện quan sai lính áp giải y lên Nha của Bao Công thì chột dạ, lo lắng hỏi:
- Có chuyện gì vậy quan?
- Cái đó thì chờ mà hỏi Bao đại nhơn.
Lý Thiện Phụ hồi hộp bước vô công đường. Thấy Bao Công nhìn y bằng đôi mắt khác thường. Phụ đoán có chuyện chẳng lành.
Bao Công không hỏi Phụ vội ông quay ra bảo thơ lại cho dẫn quí Ngọc, Hạ Xương Thời và cao Khoa cùng vô hầu một lượt.
Lý Thiện Phụ lo sợ tim đập như trống làng, nhưng y cũng cố làm ra vẻ bình tĩnh.
Chờ cho Quí Ngọc, Hạ Công Tử và Cao Khoa đến trước án. Bao Công mới chậm rãi giơ các đồ nữ trang lên mà hỏi Lý Thiện Phụ:
- Những món này của nhà ngươi?
- Dạ phải.
Bao Công nhìn Quí Ngọc:
- Tiểu thơ thấy thế nào?
- Dạ thưa hắn nhận bậy. Những món này là đồ gia bảo của tôi bị mất trong đêm nữ tỳ Thu Hương bị hạ sát.
Lý Thiện Phụ thất kinh nhưng còn chối cãi:
- Đồ này của tôi mua năm nọ của khách qua đường sao tiểu thơ dám nhận bất tử vậy.
Hạ Công Tử chứng kiến từ nãy đến giờ, tới đây bỗng như chợt tỉnh giấc mơ, điểm ngay mặt Lý Thiện Phụ mà nói rằng:
- Ngươi chẳng mua của ai hết. Chính ngươi được ta quá thiệt thà cho biết buổi hẹn nên đã chuốc rượu cho ta say rồi lén đến Huê đình của Cao Lão gia, đánh chết nữ tỳ Thu Hương mà đoạt gói bảo vật quý kim.
Lý Thiện Phụ nghe nói hết hồn, chưa biết chống đỡ ra sao thì Bao Công đã hạ luôn một đòn chí tử:
- Cũng khá khen cho nhà ngươi khéo bầy ra mưu mô thâm độc, bỏ thuốc mê vô rượu để hại bạn. Khôn hồn thì nhận tội đi đừng để ta phải nhọc lòng tra khảo.
Lý Thiện Phụ cãi không lại đành phải công khai hết sự thật và chỉ chỗ giấu số vàng còn lại. Bao Công truyền lính đến ngay nhà Phụ tịch thâu tang vật .
Sau khi nghe Lý Thiện Phụ nhận tội lỗi, Cao Khoa hổ thẹn vô cùng, mặt cúi gầm, không dám nhìn Bao Công.
Bao Công hắng giọng rồi cất tiếng sang sảng phán rằng:
- Lý Thiện Phụ, mi tham lam gian trá dùng thuốc mê gạt người giữa tiệc, lại phạm tội cướp của giết người, mi đáng tội tử hình để làm gương răn phường tàn bạo. May mà ta điều tra ra nếu không thì Hạ Công tử đã bị hàm oan và chết mòn trong ngục thất còn chi. Việc ta gả con gái và việc ta nhờ mi quơ dùm vài món nữ trang để dùng vào lễ cưới cho con gái ta cũng như việc ta cho mi đậu đầu trong kỳ khảo hạch chẳng qua chỉ là mẹo để đưa dần mi vào bẫy của ta mà thôi.
Rồi quay sang phía Cao Khoa, Bao Công nói:
- Ông từng là phụ mẫu chi dân mà sao chẳng biết giữ ngũ thường lại tham sang phụ kẻ bần hàn, nuốt lời “chỉ phúc giao hôn” năm xưa, sự bội ước của ông thật đáng bị trừng phạt nhưng xét vì ông là dòng dõi quan quyền nên ta chiếu phép vua mà rộng tình dung thứ. Nhưng cũng răn ông tự hậu nên ăn ở cho phải đạo làm người: lấy nhân, nghĩa, lễ, tri, tín làm trọng.
Hướng về phíc Cao tiểu thơ và Hạ Xương Thời, Bao Công dịu giọng nói:
- Hạ công tử hiền hậu, thiệt thà, chỉ vì quá tin bạn mà mang hoạ vào thân. Nay xét ra công tử vô tội, nên ta truyền trả lại tự do. Về phần Cao tiểu thơ, ta có lời khen nàng tuy gặp nghịch cảnh mà vẫn không quên điều nghĩa, một dạ tiết trinh chẳng chịu ôm cầm thuyền khác. Nay ta xét hai trẻ vẫn xứng đáng với nhau nên ta truyền cho hai họ Hạ và Cao giao hôn với nhau đặng sớm cho hai trẻ kết duyên tần tấn.
Bao Công phán xong truyền tống giamLý Thiện Phụ vào khu tử tội đoạn ông giao trả nữ trang và gói bạc vàng (mà lính đã đi lấy đem về) cho Quí Ngọc rồi truyền cho nàng cùng phụ thân và vị hôn phu tự do ra về.
Sách cho chép rằng sau khi được tha về ít lâu. Hạ Công Tử thành hôn với Quí Ngọc. Cảm cái ơn đức cao dày của Bao Công, hai vợ chồng Hạ Xương Thời cho vẽ hình và tạc tượng Bao Công để sớm tối đèn nhang thờ phụng như bậc thần linh vậy.
Hạ Công Tử tiếp tục học hành vè sau thi đậu làm quan đến chức cấp sự. Hai vợ chồng sanh con cháu đầy đàn, tiền bạc danh vọng chứa chan. Suốt một đời, họ chuyên cưu mang giúp đỡ kẻ khốn cùng và rất ghét bọn sui gia và bằng hữu phi nghĩa. Thật là trời có mắt vậy.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:33 PM

Hồi 19

RƯỢU VÀO, CỦA RA


Ngày xưa, tại một huyện Nhơn Hòa thuộc phủ Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang bên Tàu, có vợ chồng thương gia họ Sài, tiền bạc rất nhiều mà ruộng nương cũng lắm. Họ Sài có hai con trai tên là Sài Thắng mười tám tuổi và Sài Tổ mười sáu tuổi.
Thắng và Tổ không thoát khỏi tục lệ tảo hôn hồi đó nên cả hai đều đã lập gia đình, tuy vẫn ngày ngày cắp sách đến trường học chữ thánh hiền.
Hai anh em nhà ấy hiền lành, thiệt thà lại lấy được vợ nết na, thuần tục, nên chi cảnh nhà rất là đầm ấm yên vui.
Về sự học, Sài Thắng có phần kém em nhiều. Sài lão gia dư biết nên từ lâu ông có ý muốn cho con cả xếp bút nghiên bỏ đường hoạn lộ bước qua thương trường. Nhưng vì Sài bà can gián nhiều phen nên ông lần lữa mãi đến nay mới nhất định bắt Sài Thắng thôi học đặng kế nghiệp ông.
Quen như mọi lần, Sài bà nói:
- Nó mới mười tám tuổi đầu, buôn chi mà bán chi cho đặng. Thôi ông cứ để nó đi học.
Sài ông gạt phắt:
- Tôi đã để nó đi học thêm ba bốn năm rồi. Như vậy nó dư đủ chữ nghĩa để giao dịch giấy tờ, sổ sách làm ăn.
- Ông làm thế không sợ con nó oán mình thương đứa này ghét đứa nọ.
- Đâu có. Phận làm cha mẹ, con nào chẳng là con. Bà đừng nghĩ là tôi ghét bỏ gì thằng Thắng đâu. Nó tối dạ, học mãi chẳng thông, mình phải lo hướng nó sang nghành thực nghiệp làm ăn thì hơn.
- Thì ông thư thả vài năm cũng được, nhà ta giàu có cần chi bắt con sớm vất vả. Nó còn trẻ mà.
- Bà nói chẳng đáo lý chút nào. Aida1m chắc mình có của trọn đời? Vả lại để nó quá lớn thì nó lại càng thêm đau khổ về sự dở dang của nó. Nếu định cho nó doanh thương thì nên cho ra đụng chạm với đời vào tuổi mười tám cũng không sớm gì, hơn nữa tôi sẽ cho người đi theo hầu nó thì lo gì. Cho dù nó có thất bại những lần đầu càng thêm kinh nghiệm có sao?
Sài bà thở dài đáp:
- Cái đó tùy ông. Nhưng ông liệu lời chỉ bảo cho con nó hiểu. Tôi thiết tưởng mình không nên nói đến sự học hành kém cỏi của nó.
Sài ông cả cười:
- Bà không phải lo điều đó. Tôi đã có cách nói cho nó thuận chớ. Khi nào tôi lại làm cho nó mất sự tự tin đi chớ. Ai mà dại vậy.
Mấy bữa sau, Sài ông kêu Sài Thắng đến mà bảo rằng:
- Nhà ta tuy giàu sang nhưng vẫn lo lắng vô cùng. Lo là vì làm ra tiền thì khó mà tiêu mòn đi thì dễ. Cổ nhân có câu “miệng ăn núi lở”. Nay ta và mẹ con đều già rồi, tất nhiên hết lộc, sự buôn bán chẳng lanh lợi như xưa. Ta thấy đời nay lớp thanh niên như con hay ỷ vào cha mẹ có chức quyền địa vị hay tiền bạc mà ưa mặc đẹp, ăn ngon, kiêu căng, lãng phí mà không biết rằng bạc tiền là do ông cha phải cực nhọc làm ra, đâu phải tự nhiên mà có. Ta biết con là người khí phách, có khiếu về doanh thương lại muốn tự lập không khi nào lại bắt chước bọn ỷ lại vào cha mẹ. Với sự học của con, ta thấy đủ để con có thể bướn sang thương trường mà không sợ sau này bị chê cười là hàng trọc phú. Vậy ta định cho con đi buôn bán nơi xa đặng thâu nhập kinh nghiệm, trong một thời gian, trước khi về ở hẳn nhà thay ta quán xuyến mọi việc làm ăn. Con nghĩ có hạp ý con không?
Sài Thắng thưa:
- Cha dạy rất phải. Con xin tuân lời. Hiềm một nỗi, cha mẹ nay tuổi đã cao, mà em con còn nhỏ nay đã ra đi, vì thế lòng con áy náy.
Sài ông chậm rãi đáp:
- Con hiếu đễ thế cũng phải. Nếu con biết thương cha mẹ, thời con nên sớm hun đúc ý chí tự lập, tự cường để ta khỏi phải lo lắng. Còn việc ở nhà d9a4co1 vợ con và vợ chồng Sài Tổ là đủ rồi.
- Con xin tuân lời cha. Xin chabiếtcon cần phải đi xứ nào trước?
- Hiện nay phủ Khai Phong ở miệt Đông Kinh đang khan vải, trong khi phủ Hàng Châu ta có vải nhiều. Vậy con đem vốn buôn vải Hàng Châu qua phủ Khai Phong bán lại, hẳn là phải được lời. Con cứ đi lối dăm bảy tháng hay một năm hãy về cũng được.
Sài bà đau khổ hỏi chồng:
- Ông xem vùng con nó sắp đi tới, có yên không?
Sài ông cười hề hề đáp:
- Làm gì mà chẳng yên. Phủ hàng Châu là vùng ta đây gồm toàn dân làm ăn lương thiện còn phủ Khai Phong là nơi Bao Đại nhơn đang trị nhậm. Quãng đường giữa hai phủ rất là yên ổn, người ta đi như đi chợ. Bà đừng lo lắng hão huyền cho con nó sợ.
Nói đoạn ông quay ra bảo Sài Thắng:
- Thôi con sửa soạn cuối tuần trăng này đi thì vừa. Tasẽ cho một gia nhân mạnh khoẻ và trung tín theo hầu. Con phải biết tin cậy nó nhiều kinh nghiệm biết chọn hàng và trả giá.
Hạ tuần tháng ấy, Sài Thắng cùng một gia nhân, mang tiền bạc dạo khắp phủ Hàng Châu mua được ba gánh vải đem về nhà.
Sài ông liền bảo con đem các vải mua được cho ông coi. Ông dạy cho con cách phân biệt các loại hàng, chỉ vẽ cho con cách xem nhãn hiệu, đo ni tấc các súc vải vóc cùng cách tính giá bán sỉ và lẻ. Ông bắt con lặp đi lặp lại cho đến thuộc lòng mới nghe. Cẩn thận hơn nữa, ông lại bắt con ghi dấu các hiệu hàng và vô sổ đầy đủ.
Sau mấy bữa nghỉ ngơi, Sài Thắng cùng gia nhân áp tải đám mã phu chở hàng qua bán bên phủ Khai Phong. Bữa Sài Thắng lên đường, Sài bà và vợ Thắng là Lương thị khóc như mưa. Sài Thắng bồi hồi tấc dạ, dùng dằng chẳng dứt mà đi cho đặng. Sài ông thấy vậy chống gậy trúc đi ra quát mắng om sòm. Hai người đàn bà ngưng tiếng khóc nép bên hiên nhà nhìn chồng con ra đi. Vì là lần đầu tiên xa nhà nên sài Thắng chân bước đi mà mặt còn nghoảnh lại, mối sầu tràn ngập tâm hồn.
Anh gia nhân vốn là người từng trải, tìm mọi cách gợi chuyện để cậu chủ vui với cảnh vật bên đường mà vơi bớt mỗi buồn xa nhà.
Mấy bữa đầu, Sài Thắng còn biếng ăn, ít nói nhưng qua vài ngày sau bản tính hiếu động của tuổi thanh niên như sống lại trong lòng người trai trẻ. Chàng say sưa ngắm cảnh đẹp và thấy đời sống giang hồ, rầy đây mai đó cũng có cái thú riêng của nó.
Gia nhân thấy vậy thì mừng lắm nhưng lại sợ chủ mải vui quên việc làm ăn nên thỉnh thoảng lại lựa lời đem chuyện buôn bán ra bàn.
Hai thầy trò và toán mã phu chở hàng ngày đi đêm nghỉ, thấm thoát được gần một tháng mới tới phủ Khai Phong.
Họ theo phía cửa Đông đi vào phố phủ và ghé nghỉ tại nhà ngủ của Tử thâm.
Hai thầy trò xếp ba gánh vải vô phòng ngủ rồi thay quần áo lên nhà trên nói chuyện với chủ tiệm Tử Thâm.
Qua tuần nước, chủ tiệm hỏi sài Thắng:
- Cậu từ đâu lại mang hàng vải chi lên bán vậy?
- Tôi đem vải vóc tơ lụa ở Hàng Châu lên.
- Chà, thế thì gặp dịp quá. Vải Hàng Châu rất ăn khách lại đang khan hiếm. Ai mách nước cho cậu vậy?
- Cha tôi.
- Cậu mới đi buôn lần đầu sao?
- Dạ phải.
Chủ tiệm chăm chú nhìn Sài Thắng và anh gia nhân đứng hầu hồi lâu rồi có lẽ vì tính tọc mạch tự nhiên của nghề nghiệp thúc đẩy, ông ta có ý muốn “sát hạch” Sài Thắng nên hỏi:
- Chắc cậu rành rẽ về mặt hàng này lắm nhỉ.
Sài Thắng khiêm tốn đáp:
- Dạ cũng biết tạm đủ mà thôi.
Nói đoạn chàng sai gia nhân về phòng lấy mẫu hàng đem lên.
Chàng giải thích cặn kẽ đặc tính của từng loại hàng một: thứ này mỏng nhưng chắc sợi, thứ kia dày hơn nhưng không được mịn lắm, thứ này kém thứ kia về ni tấc nhưng lại hơn về màu lâu phai v.v… chàng cũng lại nói rõ sản phẩm đặc biệt của mỗi phường dệt cùng ý nghĩa các nhãn hiệu.
Chủ tiệm Tử Thâm yên lặng ngồi nghe, thỉnh thoảng lại gật đầu tán thưởng. Sài Thắng dứt lời, Tử Thâm đứng dậy vỗ vai chàng và nói:
- Tôi không hề quen biết cha cậu nhưng qua các lời cậu vừa trình bày, tôi cũng đoán cha cậu phải là một tay buôn có hạng lắm. Thiệt là hổ phụ sinh hổ tử.
Trong khi gia nhân thu xếp hàng đem cất vô phòng, Sài Thắng hỏi thăm chủ tiệm về nhân văn địa lý của phủ Khai Phong.
Tử Thâm nói:
- Đất vùng này phì nhiêu, dân phủ này giàu có và co chân khoa bảng cũng nhiều. Từ ngày Bao Đại nhơn trị nhậm phủ này, dân chúng sống yên ổn làm ăn lại càng sung túc.
- Thế còn Thiết diện đại nhơn ở phủ Khai Phong là ai mà nghe đồn xử án như thần vậy?
Tử Thâm cả cười đáp:
- Thiết diện đại nhơn hay Bao Công là hai danh hiệu để chỉ quan phủ nơi này… (rồi y hạ thấp giọng nói tiếp) … tục danh của ngài, là Bao Chửng. Thôi tôi có việc phải ra ngoài một chút, cậu có đi dạo cảnh xem phố xá thì cứ đi. Ở đây nghiêm lắm, không sợ mất mát đồ vật đâu.
Hai thầy trò Sài Thắng thong thả đi dạo khắp phố phường. Xem mãi không chán mắt. Phủ Hàng Châu đã là đẹp mà còn thu phủ Khai Phong nhiều.
Qua Nha của Bao Công, hai người lén nhìn vô. Bỗng Sài Thắng bảo nhỏ gia nhân:
- Không biết mặt mũi ông ta ra sao mà thiên hạ gọi là Thiết Diện.
- Nghĩa là sao cậu?
- Thiết Diện là mặt sắt, chắc là mặt ông ta đen sì.
- Người gì mà cổ quái vậy cậu?
- Aáy dị nhân, dị tài mà. Ông ta xử đoán như thần. Ước gì mình có việc vào đây nhìn tận mặt cho rõ thực hư.
Gia nhân trợn mắt, lè lưỡi:
- Thôi con van cậu. Mong chi ba cái điều đó. sui lắm đa, cậu. Cậu đói bụng chưa, ta ghé tiệm ăn là vừa.
Sài Thắng gật đầu. Hai thầy trò ghé tiệm dùng cơm chiều rồi lại dắt nhau đi dạo phố mãi tới khuya mới trở về nhà trọ.
Xem mãi cũng hết. Rong chơi mấy bữa rồi cũng chán. Bữa nay Sài Thắng cùng gia nhân ở nhà đem hàng vải ra sắp xếp lại để ba ngày nữa đem ra phiên chợ bán.
Hai người bày la liệt vải vóc ra đầy hai giường. Giữa lúc ấy có tên Hạ Nhựt Hạo ở gần đó đi qua nhìn thấy ngốt của, sanh lòng tham muốn lấy trộm hết.
Hắn rình suốt ngày hôm đó không thấy hai người đi ra phố như mọi bận. Đêm ấy đôi ba lần hắn toan lẻn vô ăn trộm mà chẳng xong vì sài thắng và gia nhân rất tỉnh ngủ, hơi động dạng một chút là cất tiếng hỏi liền.
Hạ Nhựt Hạo lẩm bẩm:
- Bữa nay chưa được, bữa mai được biết đâu? Nó có bán hết vải này cũng còn phải vài tháng là ít.
Nghĩ vậy hắn quyết tâm rình rập, chờ cơ hội thuận tiện.
Qua sáng sau, Sài Thắng và gia nhân định bụng nghỉ vì còn hai bữa nữa đã tới phiên chợ, nên không đi đâu chơi cả.
Nằm chán lại ngồi, ngồi chán lại nằm, thét một hồi Sài Thắng thấy nỗi nhớ nhà tràn ngập tâm hồn. Nỗi buồn xa quê hương càng dâng lên mãnh liệt khi nắng chiều thoi thóp trên ngọn cây cau trong sân nhà trọ. Tiếng chim sào sạc gọi nhau về tổ ấm càng khiến cho chàng trai trẻ sót sa tất dạ.
Sau cái thở dài não ruột chàng bảo gia nhân:
- Chú ra phố mua rượu và đồ nhậu về ăn chơi. Có phải bữa nay trời trở lạnh không chú?
- Trời mới cuối thu mà cậu đã kêu lạnh. Hay là cậu đau? Để tôi kiếm thuốc cho cậu uống, chớ uống rượu vô làm trọng bệnh thì khốn.
Không muốn cho gia nhân biết ý định của chàng mượn rượu giải sầu, Sài Thắng gượng cười nói tránh đi:
- Có đau đâu mà phải thuốc men. Tôi không quen dãi nắng dầm sương như chú nên thấy lạnh, chớ có gì đâu. Thôi chú mau đi kiếm rượu về mình nhậu chơi.
- Cậu muốn thế, tôi cũng chiều cậu. Nhưng cậu không quen uống rượu mà tôi thì tử lượng kém lắm thôi để tôi lên nhà mua lại của chủ quán hai ly nhỏ cũng đủ, khỏi phải ra phố. Còn đồ nhậu tôi có sẵn rồi.
- Không nên làm phiền người ta. Chú cứ đi mua một hũ rượu ngon về đây, chẳng uống hết thì để dành uống dần có sao.
Anh gia nhân thấy chủ nói vậy, đành phải ra phố mua một hũ rượu đem về.
Rồi chủ và tớ ngồi cùng mâm nhắm rượu vui vẻ lắm. Được thứ rượu tốtcàng uống càng ngọt giọng, không say ngay nên hai người vui miệng uống tràn. Một tuần, hai tuần rồi ba, bốn tuần… thét một hồi cả hai đều say khướt. Sài Thắng phục ngay xuống bên mâm rượu ngủ vùi. Anh gia nhân tuy đã lảo đảo song còn cố gắng thu dọn được tiệc rượu rồi mới lăn ra ngủ, ngáy ầm ầm như sấm. Nhưng anh ta chỉ cài cửa sơ sài chớ không chặn cẩn thận như thường lệ.



Lại nói về Hạ Nhựt Hạo, vẫn rình mò bên ngoài, thấy vậy soạn đồ nghề rồi chờ đến nửa đêm, nhà nhà đều ngủ say mới lần ra nhà trọ, lén tới phòng Sài Thắng cậy cửa chun vô khuôn sạch cả ba gánh vải chất bên bụi chuối sau hè rồi chuyển dần về nhà, tới canh tư thì hoàn tất mà chẳng ai hay biết gì.
Sáng sau Sài Thắng tỉnh rượu thấy cửa mở toang, nhìn sang giường bên thấy gia nhân vẫn nằm ngủ say mới giật mình chồm dậy thì than ôi ba gánh vải đã không cánh mà bay.



vui_la_chinh 06-14-2005 02:33 PM

Sài Thắng tái mặt trong khi anh gia nhân vừa khóc vừa nói:
- Lỗi tại tôi không cản ngăn cậu nên mới ra cớ sự này. Biết nói làm sao với sài lão gia đây.
Rồi y toan đấm ngực, miệng mếu máo:
- Quân phản chủ là tôi. Quân phản chủ là tôi.
Sài Thắng thở dài vỗ vai người đày tớ trung thành và bảo:
- Thôi, chú chẳng nên phiền muộn làm chi. Việc đã lỡ rồi. Hối cũng bất cập mà than vãn cũng chẳng ích gì. Ráng đi tìm kiếm lại là hơn.
Nói đoạn Sài Thắng xăm xăm bước lên nhà trên, gọi củ quán Tử Thâm ra mà hỏi rằng:
- Tại sao hồi hôm ông lại thừa dịp tôi say rượu mà lấy trộm hết ba gánh vải của tôi?
Tử Thâm ngạc nhiên đáp:
Cậu nói chi kỳ lạ vậy. Ai lấy trộm vải, mà cậu mất trộm hồi nào tôi đâu có hay biết gì.
- Ông là chủ quán, tôi trọ ở nhà ông, nay tôi mất hàng, lỗi ở nơi ôn không trông nom. Nếu ông không kiếm ra, thì phải thường cho tôi.
- Tôi không lấy sao bắt tôi thường.
- Ông xúi người ta trộm hàng của tôi.
- Trời ơi, tôi là chủ tiệm lấy khách là căn bản cơm áo lẽ nào lại xúi người khác trộm đồ của cậu thì còn ai tới lưi nhà trọ này nữa.
- Mặc ông, tôi ở trọ nhà ông mà mất đồ, ông có lỗi.
- Tôi không có lỗi chi cả.
Sài Thắng tức quáhét lớn:
- Ông có lỗi.
Chủ tiệm Tử Thâm bực mình la lại:
- Đừng có nói hàm hồ. Ta không lấy trộm, ta không có lỗi chi cả.
Đôi bên lời qua tiếng lại mỗi lúc một găng. Sau cùng sài Thắng túm ngay lấy Tử Thâm đẩy ra đường, miệng nói lớn:
- Lên quan, Lên Bao Công đại nhơn phân xử.
Tử Thâm giằng co một lúc rồi cũng thuận lên nhờ Bao Công đem đèn trờisoi xét.
Tới Nha của Bao Công, cả hai kéo nhau vào xin phân xử.
Thơ lại vô bẩn, Bao Công truyền cho dẫn Sài Thắng là nguyên đơn vô trình bày tự sự.
Nghe xong, Bao Công lắc đầu nói:
- Ngươi là người có học, ta không cần phải dài dòng. Phàm muốn bắt người ta vì tội trộm phải có tang chứng mới có lý mà đoán ra. Nay không có tang chứng biết đâu mà đoán cho đặng?
- Xin Thượng quan cứ bắt giữ Tử Thâm để xét hỏi. Tôi chắc là y chớ chẳng còn ai nữa.
- Không được. Không bằng chứng sao ta bắt giữ y được. Ta chỉ có thể xét hỏi cả nhà ngươi lẫn cả Tử Thâm rồi sau sẽ hay.
Nói đoạn, ông sai lính kêu Tử Thâm vô nha hỏi rằng:
- Ngươi là chủ quán Tử Thâm?
- Dạ phải.
- Ngươi đã cho Sài Thắng trọ sao lại trộm hàng của khách để hắn phải đi cáo với ta.
- Tôi không lấy chi của hắn cả. Hắn mất hồi nào tôi đâu có hay. Nhà trọ khách ra vô tấp nập, y có của mà chẳng giữ, mất ráng chịu chớ tôi nào có lỗi gì?
Sài Thắng cãi:
- Thưa thượng quan, chính hắn lấy trộm vải tôi, người lạ làm sao vô nhà trọ được.
Tử Thâm vẫn quả quyết là, không lấy. Đôi bên cãi lộn trước mặt Bao Công.
Bao Công nổi giận mắng cả hai rằng:
- Hay cho các ngươi dám đem nhau tới trước mặt ta mà đấu khẩu. Việc thế nào đã có ta phân xử, sao dám làm ồn ào như vậy. Bây giờ y cũng cho là có lý. Ta tạm giữ cả hai lại xem thực hư thế nào đã.
Nói đoạn ông truyền lính dẫn hai người xuống trại giam rồi sai thám tử đi điều tra.
Sau ba ngày dò la, các thám tử chịu, không tìm ra được manh mối vụ trộm.
Bao Công bất lực lắm. Buổi chiều đó Bao Công trở về nhà riêng ở sau công đường, nét mặt không vui. Đi ngang gian nhà trái thấy quan bà đang ngồi dệt vải. Bao Công ghé vô cầm tấm vải đã dệt xong xem một lát rồi chậc lưỡi nói:
- Thiệt là nan giải.
Quan bà ngưng tay dệt hỏi chồng:
- Quan nói sao?
- Ta gặp một vụ ăn trộm vải mà không tra ra được thủ phạm vì không có bằng chứng chi cả. Thiệt là nan giải.
- Người mất vải từ đâu lại?
- Từ phủ Hàng Châu.
- Thế lại càng khó nữa. Vì một ngày các phường dệt Hàng Châu dệt biết bao nhiêu là vải và cũng biết bao nhiêu người buôn vải từ Hàng Châu qua đây bán.
- Ta cũng biết vậy. Rắc rối hơn nữa là theo thông lệ kẻ lái buôn vải nào cũng có quyền bôi bỏ nhãn hiệu của người lái buôn trước rồi áp dấu của mình vô. Như vậy thì còn biết đằng nào mà lần ra nữa.
- Trừ khi kẻ mất vải có nhớ được cả đến thước tấc của mỗi cây vải bị mất…
- Phải, nhưng với điều kiện là phải bắt y nguyên cả tấm hay là trọn ba gánh vải.
Phố phủ này rộng lớn có cả trăm tiệm vải chẳng lẽ khi không vô cớ khám xét hết nhà người ta. Vả lại tên trộm vải cũng chẳng dại gì mà bán tháo cả một lúc tới ba gánh vải. Thế nào hắn cũng bán dần dần từng gánh một. Ta chắc là kẻ trộm vải phải là người trong giới buôn vải. Mà như thế lại càng khó tìm ra nữa. Vì họ đông tới cả trăm người và đi về luôn luôn, biết nghi ai mà bắt?
Nói đoạn Bao Công chắp tay sau lưng lững thững đi ra vườn hoa, nét mặt đăm chiêu.
Quan bà nhìn theo, lắc đầu ái ngại.
Bao Công suy nghĩ suốt đêm đó. Sáng sau ông đăng đường sớm kêu hai thám tử Trương Long và Triệu Hổ lên mà phán rằng:
Vùng này đã từ lâu không xảy ra trộm cướp. Nay Sài Thắng từ xa đến lại xảy ra vụ mất trộm vải. Vụ này phải ra ra bằng được, và lại phải dùng mẹo mới xong. Vậy hai người khá làm theo lời ta dặn đây.
Rồi Bao Công dặn nhỏ hai thám tử một hồi. Cả hai nhận lệnh, vái chào lui ra.
Liền sau đó Bao Công cho dẫn Sài Thắng và Tử Thâm tới trước công đường rồi làm mặt giận, la lối Sài Thắng rằng:
- Ta cho điều tra đã ba ngày rồi không tìm ra manh mối chi cả.
Sài Thắng xót của, nài nỉ:
- Xin quan thương tình giúp cho.
Bao Công cau mày đáp:
- Bộ nhà ngươi tưởng ta không muốn tra cho ra sao? Ngặt một điều không thấy chi thì biết phán đoán làm sao.
Nói đoạn ông sai lính đuổi cả hai về.
Hai người đi khỏi, Bao Công kêu hai thám tử Trương Long, Triệu Hổ vô hỏi rằng:
- Có kiếm được vật ta dặn không?
- Thưa, có. Chúng tôi chờ đến sáng mai sẽ khởi sự.
Bao Công gật đầu đáp:
- Tốt lắm, cứ làm như thế ta đã bảo nghe.
Hai thám tử dạ rân rồi đi rồi lui ra.
Lại nói về Hạ Nhựt Hạo, lấy được vải của sài Thắng đem về tơi nhà ở ngoai ô liền lập tức bôi nhãn hiệu của các phường dệt ở Hàng châu cùng dấu hiệu của họ Sài đi, đoạn hắn mở túi lấy con dấu của hắn vị vô các súc vải (thì ra hắn cũng là một tay buôn vải nhưng kiêm… đạo tặc).
Xong đâu đấy hắn giấu hàng kín một chỗ rồi đi nghe ngóng tình hình.
Thấy Bao Công thả cả Tử Thâm lẫn Sài Thắng ra. Hạ Nhựt Hạo trà trộn vào đám người hiếu kỳ bu quanh cả hai mà hỏi thăm.
Nghe nói Bao Công tuyên bố chịu, không tìm ra thủ phạm, Hạ Nhựt Hạo cả mừng lủi mau về nhà, lấy một phần vải vào gánh tính đem vô phố phủ bán cho tiệm quen, ngay sáng ấy.
Vợ Hạo can chồng:
- Thiếp nghĩ chàng nên để thư thả rồi hãy đem bán. Nhỡ Bao đại nhơn truy ra thì khốn.
Hạo nhún vai nói:
- Nàng chỉ hay lo xa, Bao Công chịu không tra ra thủ phạm và đuổi cả Sài Thắng lẫn Tử Thâm về rồi.
- Thiếp sợ lắm, chàng ơi! Bao đại nơn mưu kế như thần. Chàng bán gấp thế này thế nào cũng mắc mẹo ông ta mất thôi.
- Ta đã nói không sao mà. Ta hỏi nàng chớ Sài Thắng mấ trộm vải có gì làm bằng chứng là Hạ Nhựt Hạo này lấy không? Dẽ thường khắp bàn dân thiên hạ này chỉ một mình Sài Thắng biết buôn vải ở Hàng Châu về đất Khai Phong này bán sao? Thế còn ta, từ trước đến nay ta không thường buôn vải về bán cho các tiệm quen trong thành đây là gì?
Vợ Hạo vẫn e ngại:
- Thiếp vẫn thấy rờn rợn thế nào ấy. Thiệt là khó nói quá.
- Nàng thấy sao?
- Thiếp có linh cảm chàng sẽ bị bắt…
- Thôi đi bà, đừng có dại miệng. Rõ bụng dạ đàn bà có khác. Thôi để yên cho tôi đi.
Hạ Nhựt Hạo vừa nói vừa cột lại gánh vải cho chắc. Vợ Hạo chưa chịu thôi, ngập ngừng hỏi chồng.
- Thế … Thế còn đống vải vóc trong kia… Lỡ có ai biết mách với quan thì chàng trả lời làm sao?
- thì ta trả lời là vải của ta chớ sao nữa. Trên vải có in dấu nhà rồi còn lo chi?
- Chàng ôi, lỡ quan quân dò hỏi biết là từ bao lâu nay, lực vợ chồng ta chỉ có đủ tiền buôn một gánh thôi, còn hai gánh kia tiền đâu ra mà buôn, thì biết trả lời làm sao?
Hạ Nhựt cười bảo vợ:
- Nàng nói có lý. Thôi để ta giấu hai gánh vải còn lại đi nơi khác.
Nói rồi hắn cùng vợ lén đem hết hai gánh vải ra giấu trong cây rơm ở sau nhà, rồi cột chó dữ ở gần cho canh gác. Vì Hạ Nhựt Hạo ở vùng ngoại ô phủ Khai Phong nên nhà nọ cách nhà kia khá xa lại thêm bị che khuất bởi vườn cây rộng lớn nên lân bang không ai biết việc làm của hắn.
Trở vào nhà, Hạo bảo vợ:
- Làm vậy cho nàng bớt lo ngại chứ thực ra Bao Công chẳng có lý do gì khám xét nhà ta cả.
Nói đoạn, hắn quẩy gánh vải vào thành bán cho tiệm Uông Thành là chỗ bạn hàng quen biết lâu năm.
Thâu xong bạc, Hạo tất tả về nhà, giơ túi bạc và bảo vợ rằng:
- Nàng thấy chưa? Bạc đây nè. Ở nhà có quan quân đến hỏi gì không?
Vợ Hạo cười xoà không đáp. Chiều đó hai vợ chồng giết chồng ăn mừng.
Sáng sau, trong khi vợ chồng Hạ Nhựt Hạo còn đang hoan hỉ tính chuyện khuếch trương sự làm ăn buôn bán thì tại nhân Nha của Bao Công, viên cai lính lệ cũng đang kiểm điểm hai toán công sai.
Sau khi dặn dò cặn kẽ, viên cai ra lệnh cho các toán lính lên đường. Toán thứ nhất đi khắp hang cùng ngõ hẻm trong phố phủ Khai Phong rao cho dân chúng biết rằng: “Sáng nay quan sẽ cho khảo bia đá trước sân Nha để lấy lại ba gánh vải cho Sài Thắng”.
Mọi người lấy làm lạ rủ nhau lũ lượt kéo đến trước Nha coi sự thể ra sao. Tới nơi họ thấy một toán lính (toán thứ hai) đang ì ạch khiêng tấm bia đá lớn bỏ hoang trên bãi cỏ gần đó về.
Cửa Nha mở rộng, phía trong sân một toán lính gươm giáo sáng loà đứng thành hình cánh cung, lưng quay ra cửa, mặt trông vào chiếc án thư bày trước thềm công đường. Sau bàn có kê chiếc ghế phủ da cọp. Đó là nơi lát nữa Bao Công sẽ ra ngồi xử án.
Toán công sai khiêng tấm bia đá đặt giữa sân, trước án thư rồi xếp mấy bó roi song bên cạnh.
Lát sau một hồi trống nổi lên vang dậy. Bao Cong từ trong công đường uy nghi lẫm liệt bước xuống thềm đến ngồi trước án thư. Thơ lại khúm núm đặt bút nghiên và chồng hồ sơ lên bàn rồi lui về chắp tay đứng hầu sau lưng Bao Công.
Thấy trước cửa Nha chỉ loáng thoáng có vài người đi qua liếc mắt dòm vào, Bao Công liền kêu viên thơ lại già đến bên và dặn rằng:
- Ngươi ra bảo lính canh lui vô hết trong sân và mở thật rộng cửa Nha ra. Sau đó, ngươi bảo Trương và Triệu Hổ lẻn ra ngoài trà trộn trong đám người hiếu kỳ. Hễ nghe thấy trong này có tiếng chiêng trống và binh sĩ reo hò thì hai người cứ đến đứng trước cửa Nha mà dòm vào. Chừng nào thấy quá đông thì nhích dần lên và vô hẳn trong sân Nha giả bộ để coi cho rõ. Đến khi ta vỗ tay ra hiệu, hai thám tử sẽ từ từ rút ra ngoài và bảo lính đóng cửa Nha lại.
Nói tới đây, Bao Công ngưng lại nhìn viên thơ lại già một lúc, rồi như muốn thử tài viên thuộc hạ, ông chậm rãi hỏi:
- Ngươi có đoán ra mục đích của ta không?
- Thưa có…
- Có thì nói đi.
- Dạ, nếu kẻ thuộc hạ này đoán không lầm thì quan cho là tên trộm vải của Sài Thắng phải ở trong đám người sẽ vô sân Nha.
- Vì sao?
- Thưa, tên trộm vải tự biết y là thủ phạm mà không bị bắt nay thấy quan khảo cái bia là vật vô tri vô giác đẻ mong tra ra hắn thì thật là là đời lắm vậy. Nếu người khác tò mò một phần thì hắn sẽ tò mò tới mười phần. Nhưng…
- Nhưng sao?
- Nhưng nếu hắn không đến thì quan tính sao? Và nếu hắn có đến thì quan làm sao tra ra hắn được?
Bao Công cười đáp: -Cái đó thì… hạ hồi phân giải. Thôi ngươi khá đi lo công việc cho rồi
Viên thơ lại quay ra, Bao Công vuốt râu, lẩm bẩm:
- Ta có cách rồi. Tuy nhiên ta cũng chịu bó tay nếu gặp phải tên trộm gian ngoan, không mắc vào bẫy của ta. Vụ Sài Thắng mật vải này lẽ ra có thể bỏ qua vì không tìm thấy manh mối chi cả. Bây giờ đây dù có lập đến kế này nhưng cũng trông nhờ ở sự tình cờ bắt được đầu mối mà thôi. Biết đâu trời lại chẳng run rủi cho ta tìm ra tên trộm.
Lát sau viên thơ lại trở lại bên Bao Công và bẩm rằng:
- Thưa quan, mọi sự đã sắp đặt xong.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:34 PM

Bao Công gật đầu và ắng giọng quát lớn:
- Lính đâu, hãy đánh cho tên Bia đáng ghét kia hai mươi roi cho ta.
Một chú lính dạ thật lớn rồi bước tới rút roi song quật đủ hai mươi roi vào tấm bia giữa tiếng chiêng trống đổ hồi và tiếng quân lính reo hò ầm ĩ.
Thấy không có lính gác lại thấy Trương Long và Triệu Hổ (mặc giả làm lái buôn) đứng chình ình trước cửa Nha mà dòm vô, Đám người hiếu kỳ hùa nhau kéo đến mỗi lúc một đông.
Bao Công giả bộ cúi xuống coi lại hồ sơ một lát rồi ngửng lên thét vang như sấm:
- Tên Bia này to gan thực. Lính đâu đánh cho nó hai mươi roi nữa.
Lại một chú lính khác tiến ra lấy roi song đập đủ hai mươi roi vào tấm bia. Chiêng trống và tiếng reo hò của quân lính lại nổi lên như sóng cồn.
Hai thám tử của Bao Công bước tuốt vô trong sân Nha. Đám người ào vô theo. Phút chốc sân Nha đầy nhóc người xem Bao Công khảo bia để tra ra kẻ trộm vải của Sài Thắng.
Bao Công cứ tái diễn mãi tấn tuồng tra bia đá tới lần thư tư thì ông vỗ tay làm hiệu. Nhanh như cắt bọn lính gác đóng ập cửa Nha lại và ra lệnh cho dân chúng phải đứng yên tại chỗ. Bao Công kêu lính dẫn bốn người đứng ở hàng đầu tới trước án như cho ông xét hỏi.
Bốn người ríu rít tuân lờ, Bao Công giả làm mặt giận, vỗ bàn, la rằng:
- Ta đang xét xử, cớ sao các ngươi dám dắt những người kia vô đây làm mất trật tự? Tội các ngươi đáng đánh đòn, nhưng ta làm phước tha cho nhưng phải chịu phạt theo lối khác, chịu không?
Cả bốn dạ rân đáp:
- Xin chịu.
Bao Công gật đầu phán rằng:
- Tốt lắm. Bây giờ bốn người hãy khai tên họ địa chỉ cho thơ lại rồi sau đó sẽ ra thu xếp với đám người đứng ở góc sân kia, coi xem ai bán gì thì phải nộp phạt bằng vật ấy: Thịt phạt thịt, vải phạt vải, gạo phạt gạo, bốn người liệu phải thâu phạt cho đủ rồi đem đến. Hiểu chưa.
- Dạ hiểu.
- Vậy thì mau ra cắt nghĩa cho những người kia rồi an phận nấy lo đem đến nộp phật cho đủ. Bốn người sẽõ tự đứng ra ghi tên tuổi địa chỉ của người nạp phạt cùng số loại hàng nạp. Thôi các ngươi đi lo ciệc cho xong đi.
Bốn người vái dài Bao Công rồi đi về phía cuối sân Nha loan tin cho mọi người hay trong khi Bao Công từ từ đứng dậy lui vô bên trong công đường.
Chừng một tiếng đồng hồ sau, họ thâu đủ số phạt, không sót một ai và đem trình Bao Công.
Bao Công xem qua các món thấy có mấy tấm vải liền sai lính để riêng ra đoạn ông kêu bốn người đại diện vô mà hỏi rằng:
- Trong bốn người có ai buôn bán vải lụakhông?
- Dạ không?
- Thế có bà con, cô bác hay bạn hữu làm chi nghề đó không?
- Thưa, cũng không.
- Khai cho thiệt nghe, chớ có dấu quanh mà ta tra ra thì bị tội nặng nghe.
- Dạ, chúng tôi khai thiệt.
- Tốt lắm. Bây giờ ta tạm giữ lại ba tấm vải mai sẽ hoàn lại, còn các món khác các ngươi đem về trả hết lại cho người ta.
Bốn người vừa lãnh đồ đem ra khỏi Nha thì Bao Công kêu ngay lính xuống nhà dưới nói với quan bà cho mượn vài ba cây vải nhà dệt đem lên để cùng với đống vải nộp phạt. Đoạn ông sai lính hoả bài đi đòi Sài Thắng và Tử Thâm đến hầu gấp.
Bao Công lấy tấm vải mà quan bà dệt ra và hỏi Sài Thắng:
- Phải vải này của ngươi bị mất không?
- Dạ không. Vải này chẳng phải của tôi.
Bao Công lại chìa tấm vải khác ra hỏi, Sài Thắng cũng không nhận. Tới lần thứ năm, nhìn một tấm vải nộp phạt, Sài Thắng coi kỹ một lát rồi reo lên:
- Thưa quan, vải này đúng là của tôi, sao quan tìm ra?
Bao Công đòi lại tấm vải rồi chậm rãi hỏi Sài Thắng:
- Có chắc không?
- Dạ chắc lắm.
- Nhãn hiệu khác mà sao dám là chắc?
- Tên trộm đã bôi bỏ nhãn hiệu cũ xong đúng là vải của tôi bị mất trộm. Xin quan lật lại mặt trái, nơi mép trên có ghi chữ “bát” và chữ “tam” nhỏ li ti. Đây là cây vải thứ tám trong loại vải thứ ba chúng tôi buôn từ Hàng Châu qua đây để bán. Tôi xin đọc ra đây thước tấc mỗi cây, xin quan cho đo lại, nếu không đúng, tôi xin chịu tội.



Nghe xong, Bao Công truyền thơ lại, đo lại thấy đúng như lời khai của Sài Thắng, không sai một phân.
Ông trỏ những cây vải còn lại biểu sài Thắng coi còn tấm nào của y nữa không. Sài Thắng xem mọt lượt rồi trả lời:
- Thưa quan chỉ có một cây vải ấy mà thôi.
Bao Công truyền lính đưa Sài Thắng và Tử Thâm ra sân chờ lệnh ông sai người đi kêu bốn người dân lúc trước đến hầu gấp.
Bao Công trỏ tấm vải của Sài Thắng và hỏi bốn người rằng:
- Tấm vải này do ai nộp phạt đây?
- Dạ, của chủ tiệm Uông Thành.
- Có đúng không?
- Thưa đúng lắm. Tất cả chỉ có ba tiệm vải đi coi thì bị phạt. Tấm vải quan vừa hỏi đó là tấm trắng nhất của tiệm Uông Thành. Còn hai tấm kia khác mầu và xấu hơn.
Bao Công dạy lính công sai đi bắt chủ tiệm Uông Thành về Nha xét hỏi:
- Phải tấm vải này của nhà ngươi không?
- Dạ phải.
- Nhà ngươi đi Hàng Châu buôn về sao?
- Thưa không, xưa nay tôi chỉ mua lại của các lái buôn thôi.
- Cây vải này mua của ai?
- Dạ, của người lái tên là Hạ Nhựt Hạo.
- Mua nhiều ít và lâu mau rồi?
- Dạ, mua một gánh, mới bữa qua thôi.
- Nhà ngươi có biết vải này là của Sài Thắng bị mất trộm không?
- Thưa không, thường ngày tiệm tôi mua đi bán lại cũng nhiều. Vả lại Hạ Nhựt Hạo với tôi là chỗ bạn hàng lâu năm.
Bao Công suy nghĩ một lát rồi vuốt râu hỏi tiếp:
- Những chuyến trước… Tên Hạo có buôn về nhiều như vậy không?
- Y vẫn thường buôn về một gánh, từ mấy năm nay rồi.
- Ngươi biết địa chỉ của Hạ Nhựt Hạo chớ?
- Dạ biết. Trước đây tôi có ghé qua nhà y đôi ba lần dự ti65c.
Bao Công trỏ Uông Thành mà bảo viên thơ lại già rằng:
- Nhà ngươi hãy lấy lính đi cùng với người này lại tiệm đem chỗ vải y đã mua được đem về Nha cho ta.Sau đó ngươi lại dẫn lính đi cùng anh ta bắt Hạ Nhựt Hạo và lục soát kỹ nhà tên Hạo xem sự thể ra sao.
Viên thơ lại tuân lời điểm một toán lính và lên đường tức tốc.
Lại nói về Hạ Nhựt Hạo vì ở ngoại ô nên không hay biết gì về các sự xẩy ra ở thành cả nên vẫn đắc chí ngồi nhà nhậu nhẹt, tính chuyện tương lai cùng vợ.
Lúc rượu đã xoàng xoàng, Hạ Nhựt Hạo bảo vợ:
- Bây giờ, nàng hãy giúp ta đem hai gánh vải giấu nơi cây rơm sau vườn vào nhà, kẻo để lâu hư hết.
Vợ Hạo can:
- Thiếp nghĩ chàng nên để qua vài bữa nghe ngóng ra sao cho chắc ăn đã đừng nên hấp tấp. Thiếp vẫn thấy… thế nào ấy.
Hạo gắt:
- Còn gì nữa mà không chắc ăn. Nàng chỉ hay lo quẩn, lo quanh.
Vợ Hạo thấy chồng gắt, vội đấu dịu:
- Thì chắc ăn rồi, thiếp có nói sao. Nhưng thôi đề chiều nay lấy vào cũng chẳng muộn gì. Chàng hãy nhậu tiếp đi cho vui vẻ đã.
Hạo hài lòng, cười hề đáp:
- Ờ nói vậy nghe xuông tai hơn…
Hắn chưa dứt lời xẩy có con trai lớn của người bạn ở đầu xóm hớt hải chạy xồng xộc vào nhà, vừa thở vừa nói rằng:
- Bác Hạo ơi, các quân lính trên Nha về bắt bác kia kìa. Họ sắp vô tới nơi đó, bác.
Nói rồi, thằng bé lủi nhanh như cắt ra cửa và chạy mất dạng.
Vợ Hạo mặt tái mét, run rẩy bảo chồng:
- Đấy, thiếp nói có sao đâu.
Hạ Nhựt Hạo tuy có chột dạ nhưng vẫn cố bình tĩnh bảo vợ:
- Nàng đừng có hốt hoảng cứ làm mặt thản nhiên như không để mặc ta đối phó. Nếu họ có xét nhà và hạch hỏi cứ khai là đờn bà không hay biết gì cả.
Nói đoạn Hạo ung dung ngồi nhắm rượu.
Khi quân lính và chủ tiệm Uông Thành ập vô nhà thì Hạo giả bộ ngạc nhiên hỏi:
- Kìa bác Uông Thành đi đâu mà có quân lính theo rầm rộ vậy?
Chủ tiệm Uông Thành không dám trả lời chỉ đưa mắt nhìn viên thơ lại. Người này nạt nộ Hạo rằng:
- Ngươi lấy trộm ba gánh vải của Sài Thắng rồi đem bán cho tiệm Uông Thành hết một gánh. Biết điều thì nhận tội và nộp trả hai gánh còn lại ngay đi.
Hạo cứng cỏi chỉ maặt Uông Thành nói:
- Hay cho anh này, khi không vu vạ cho người ta.
Nào ai lấy trộm vải của Sài Thắng? Dễ thường tới mấu năm nay tôi cũng bán vải ăn trộm cho anh ấy hẳn!
Chủ tiệm Uông Thành chưa biết trả lời ra sao thì viên thơ lại đã quát lớn:
- Việc thế nào đã có bao Đại nhơn phân xử. Lính đâu xét nhà tên này cho ta.
Vợ Hạo nghe vậy thất kinh đưa mắt nhìn chồng rồi nhìn về phía cây rơm sau vườn. Hạo trừng mắt nhìn vợ. Vợ Hạo cúi mặt nhìn xuống đất, tay hơi run run. Nhưng may quân lính không ai để ý đến mụ cả, chỉ hối nhau đi lục soát khắp nhà Hạo. Dĩ nhiên là họ không thấy gì cả.
Viên thơ lại bực tức hô hai lính công sai ra kiếm sau vườn. Con chó mực cột gần cây rơm cất tiếng sủa rầm ĩ. Hai chú kli1nh đến gần cây rơm ngó quanh một lúc rồi bảo nhau:
- Thôi vô cho được việc, đứa nào dại mà giấu vải ngoài vườn cho mưa nắng làm hư đi sao:
Thế là cả hai kéo nhau trở vô nhà và lắc đầu nói với viên thơ lại:
- Ngoài vườn cũng chẳng có gì lạ cả.
Viên thơ lại quay rabảo Hạ Nhựt Hạo:
- Thôi được anh theo tôi về trình qan.
- Tôi làm gì mà bắt tôi.
- Thì lệnh quan, trên bảo đưa anh về Nha thì cứ phải tuân theo đã.
Hạo đành phải theo quân lính lên đường…
Trước mặt Bao Công, Hạo vẫn chối dài. Bao Công bình tĩnh hỏi:
- Nhà ngươi qua Hàng Châu buôn chuyến vải này lâu mau?
Hạo lúng túng đáp liền:
- Dạ cách đây một tuần.
Mọi lần trước đi về mấy bữa thì đem bán cho tiệm Uông Thành?
- Dạ lối đôi ba bữa.
- Sao kỳ này chậm bán vậy.
Hạo lúng túng đáp:
- Dạ …. Vì đau.
Bao Công nhanh ý nhận ra ngay sự thiếu thành thật của Hạ Nhựt Hạo nên quát lớn:
- Nói láo. Mi không ra khỏi làng từ hai tuần nay. Lính đâu vật nó ra đánh mười roi cho ta.
Hạo bị đòn chịu không thấu đành thú nhận lấy trộm ba gánh vải của sài Thắng.
Bao Công hỏi:
- Còn hai gánh vải dấu ở đâu?
- Dạ, trong cây rơm ở sau vườn.
Bao Công trợn mắt quát viên thơ lại:
- Đồ ăn hại, bảo xét nhà nó cũng không xét kỹ.
Nói rồi ông sai lính đi lấy chỗ vải đem về Nha.
Sài Thắng nhận là ba gánh vải của mình. Bao Công quở mắng sài Thắng:
- Lần này ta tha cho nhà ngươi. Lần sau không nên hồ đồ gán tội cho người ngay nữa nghe.
Nếu không tra ra có phải là oan cho Tử Thâm không?
Sài Thắng và Tử Thâm vái tạ Bao Công rồi vui vẻ chia nhau gánh vải ra về.
Còn Hạ Nhựt Hạo bị bao Công kết án đày đi xứ xa.


vui_la_chinh 06-14-2005 02:34 PM

Hồi 20

VỤ ÁN CÁI CHỔI


Xưa, tại quận Hà Nam Huyện Hà Chiêu bên tàu, có hai anh em họ Huỳnh, Huỳnh sĩ Lương là anh, em là Huỳnh Sĩ Mỹ.
Năm Sĩ Lương mười sáu xuân xanh và Sĩ Mỹ mới mười bố thì Huỳnh bà rồi đến Huỳnh ông lần lượt cưỡi hạc quy tiên, cách nhau chưa đầy một năm.
Bữa cất đám Huỳnh ông trời sầu đất thảm, mưa lai rai từ sớm tới chiều không dứt hột khiến ông già bà cả trong làng càng thêm xót thương cho hai mái đầu xanh.
Dân làng chẳng ai bảo ai, tìm mọi cách giúp đỡ anh em họ Huỳnh. Nhưng với ai Sĩ Lương cũng lễ phép khước từ và nói:
- Nhờ trời, ba má cháu quy tiên có để lại cho anh em cháu ít tài sản. Cháu sẽ cố gắng gây dựng lại cơ đồ, và nuôi em cháu. Chừng nào thất bại, cháu xin cô bác giúp đỡ sau.
Mọi người chẳng biết nói sao đành yên lặng ra về, lòng không khỏi khâm phục chàng trai trẻ có chí khí hiên ngang, có đầu óc tự cường.
Sau khi lo cho cha mồ yên mả đẹp, Sĩ Lương ngày ngày dắt trâu ra đồng tiếp tục công việc đồng áng trên mảnh ruộng do cha để lại. Còn Sĩ Mỹ ở lại nhà, lo cơm nước, nấu cám, băm bèo nuôi đôi lợn, thế cho Sĩ Lương. (công việc này do Sĩ Lương cáng đáng từ lúc Huỳnh bà qua đời).
Nhờ Huỳnh ông, lúc sanh tiền, khéo lo xa, chỉ dạy cho việc cấy cày nên nay Sĩ Lương cũng không bỡ ngỡ lắm.
Năm ấy, nhờ trời, vụ lúa được mùa, lại thêm dân làng sẵn có cảm tình với Sĩ Lương bảo nahu giúp đỡ bằng cách mua lại thóc với giá cao, nên Sĩ Lương có được một số vốn khá để tiếp tục làm ăn.
Thấm thoát đã tới kỳ giỗ đầu Huỳnh ông. Bữa đó, trên đường đi thăm một cha về, Sĩ Lương bảo em:
- Em cố gắng chăm nom việc nhà. Hôm nọ em mải chơi để heo đói, anh có rầy la em và em có ý giận hờn anh, như thế là không phải.
Sĩ Mỹ vẫn lặng lẽ đi bên anh.
- Em nên biết rằng lúc cha còn sống, anh cũng đã nhiều lần oán cha trách mẹ bắt anh phải bớt rong chơi mà tập làm việc cho quen. Từ lúc mẹ cha đều khuất núi, anh mới nhận thấy là anh đã lầm. Càng nghĩ lại, anh thấy thương cha nhớ mẹ. Giả tỉ các người không răn dạy anh thì chúng ta đâu có ngày nay. Phải trách mắng em, lòng anh đâu có vui sướng gì…
Sĩ Mỹ ôm lấy anh khóc nức nở, như muốn tạ lỗi mà chẳng nói lên lời, Sĩ Lương biết ý, vỗ về em mà rằng:
- Nay em đã hiểu ra, anh rất mừng. Thôi em nín đi.
Từ bữa đó, hai anh em càng thương yêu nhau hơn và Sĩ Mỹ không bao giờ dám trái lời anh.
Ba năm sau, mãn tang cha, Sĩ Lương nay đã mười chín tuổi được bà con cô bác mến thương làm mai hết đám này tới đám khác.
Nhưng Sĩ Lương cương quyết chối từ mà rằng:
- Cô bác có lòng thương muốn gây dựng cho cháu, cháu rất đội ơn, hiềm một nỗi em cháu còn nhỏ dại. Nay cháu lập gia đình tất nó lủi thủi một mình một bóng, nghĩ mà tội nghiệp…
Ông chú Sĩ Lương xua tay nói:
- Chú có khuyên anh lấy vợ mà ruồng bỏ em đâu. Anh có vợ thì vợ anh nó đỡ đần, nhà thêm người, thêm chân thêm tay, em anh có rảnh tay làm việc đồng áng chung với anh có hơn không?
Sĩ Lương chẳng chịu:
- Ôi thôi, khổ thân nó chú ơi…
Bà cô Sĩ Lương đáp:
- Thằng này lạ thiệt. Không biết lo thân, ở già mãi sao?
Sĩ Lương cười xoà:
- Cô bác thư thả cho cháu “ở giá” vài năm nữa, chờ em cháu lớn khôn, cháu lo cho nó xong rồi sẽ tính đến chuyệ cháu cũng chẳng muộn nào.
Giữ đúng lời hứa, đến năm Sĩ Mỹ hai mươi tuổi, Sĩ Lương nhờ người mai mối hỏi nàng Trương Nguyệt Anh làm vợ cho Sĩ Mỹ. Về nhà chồng ít lâu, nàng Nguyệt Anh tỏ ra rất đảm đang, hiền hậu, đoan trang và rất mực thương chồng kính anh, khiến ahi anh em họ Huỳnh rất đẹp lòng.
Hai Năm sau, Sĩ Lương cũng kết duyên tần tấn với nàng Lý Thị. Trước cảnh anh em họ Huỳnh thương nhau như thể chân tay, hai chị em dâu cũng :Dng trở nên thân thiết với nhau.
Xem ra thì Lý thị nhan sắc có phần thua kém Nguyệt Anh và lại vụng về, không chăm bằng em dâu. Thành thử bao nhiêu công việc do Nguyệt Anh lãnh đủ. Có lần Nguyệt Anh than phiền với Sĩ Mỹ thì bị chồng mắng cho một trận nên thân. Từ đó nàng khôn giám suy bì, ganh tỵ với chị dâu nữa.
Sĩ Lương thấy vợ ỷ mình phận trên có ý làm biếng nên một bữa nhân lúc cùng Sĩ Mỹ đi làm đồng mới bàn với em rằng:
- Anh em ta bây giờ còn ở chung với nhau nhưng mai sau có con cái, nhà cửa chật hẹp tất phải ở riêng mỗi người một nơi. Anh không muốn vợ anh lười biếng quen thân nên anh định từ nay công việc trong nhà đều bắt Lý thị và Nguyệt Anh phân công đảm nhiệm. Chẳng hay ý em thế nào?
- Em chịu ơn anh đã nhiều nay vợ em có phải cực nhọc cũng chẳng có chi mà phàn màn. Xin anh đừng nghĩ vậy, mà đau lòng em.
- Em hiểu lầm anh rồi. Anh đâu có định thử lòng em. Nếu em muốn giúp lại anh thì em nên chiều theo ý anh.
- Anh dạy sao em xin tuân lời.
Thế là ngay chiều đó, lúc đi làm về, Sĩ Lương gọi vợ và em dâu lên bảo hai người từ nay phải san sẻ đồng đều mọi công việc trong nhà. Chàng nói tiếp:
- Ngay cả đến việc dễ nhất là việc quét nhà, hai người cũng phải chia nhau, mỗi người quét một ngày.
Cả hai vâng dạ tuân theo. Anh em họ Huỳnh lấy làm mừng lắm. Nhưng họ có ngờ đâu, chính vì sự phân công ấy mà tai hoạ đổ xuống gia đình họ.
Số là Lý thị đã vụng lại lười, bất kỳ việc gì tới phiên thị làm cũng không được chu đáo, hoàn bị bằng Nguyệt Anh.
Sĩ Lương biết vậy và chàng thực lòng muốn dạy vợ nên thỉnh thoảng có hay khuyên bảo Lý thị. Ả này vốn vẫn ghen tài, ố sắc Nguyệt Anh,
Lòng ghen nung nấu tâm can, Lý thị để ý rình mò nhưng không thấy chi cả. Như người khác thì cũng thôi nhưng gặp phải Lý thị tánh tình nông nổi lại thêm bị sự vụng về của chồng làm nàng cứ hiểu lầm mãi, nên y thị càng ngày càng tin rằng Sĩ Lương và Nguyệt Anh có tình ý với nhau. Thị lẩm bẩm:
- Đúng là anh chị mê nhau rồi. Một là họ chưa đi sâu vào vòng tội lỗi. Hai làhọ khéo che đậy, giấu giếm. Để thủng thẳng mình bắt được bằng chứng sẽ làm cho ra nhẽ.
Trong khi Lý thị để tâm theo dõi mọi cử chỉ, lời ăn tiếng nói của chồng và em dâu thì hai người này vô tình, không hay biết gì. Vì thực ra cả hai đều đàng hoàng, đối xử với nhau trong vòng lễ giáo, chẳng bợn chút tà tâm.
Cách đó mấy tháng sau, một sáng tinh mơ, bên nhà Lý thị cho người sang kêu nàng về gấp để đi thăm bà dì đau nặng.
Cả nhà còn đang ngủ, trừ có Nguyệt Anh đã dậy và đang sửa soạn quét nhà vì bữa nay tới phiên của nàng.
Nghe tin chẳng lành, Nguyệt Anh vội chạy vô nhà gõ cửa buồng vợ chồng Sĩ Lương cấp báo cho chị dâu hay.
Vì trời trở lạnh dữ dội từ mấy bữa nay nên Lý thị có ý chần chừ, phần vì nàng tính chờ có mặt trời ấm áp sẽ đi, phần vì nàng cũng hơi mệt mỏi bởi cái bào thai được hơn 2 tháng.
Sĩ Lương vốn trọng điều nhân nghĩa, thấy vậy liền khuyên vợ:
- Chắc là cấp kíp lắm, bên nhà mới cho gọi như vậy. thôi nàng cũng nên lên đường ngay đi, lỡ chậm về đến nơi dì có mệnh hệ nào thì mình ân hận suốt đời và họ hàng biết được tất sẽ cười chê.
Lý thị nghe có lý vội thu xếp đi liền. Lúc chia tay nhau ở cổng nhà, Sĩ Lương bảo vợ:
- Nàng cho ta gởi lời thăm dì và ba má nghe. Nếu có điều chi nàng hãy cho người về cấp báo, ta sang ngay.
Đoạn Sĩ Lươn âu yếm nhìn vợ nói tiếp:
- Nàng cứ thủng thẳng mà đi không nên hấp tấp cho thêm mệt mỏi. Từ đây về nhà mất lối hai tiếng, nàng cứ ở lại chơi bên nhà, mai về cho thong thả.
Lý thị thấy Nguyệt Anh đang nhanh nhẹn quét sân. Thị nở một nụ cười khó hiểu và chậm rãi trả lời chồng:
- Để thiếp coi xem sao đã. Có lẽ thiếp xin chàngở chơi bên nhà dăm bữa nữa cũng nên.
Sĩ Lương vô tình, cười đáp:
- Tùy nàng. Từ ngày xuất giá nàng về nhà lần đầu, muốn nán lại vài ngày cho ba má và các em mừng, cũng được. Nhưng chớ đi quá lâu, ta sốt ruột nghe.
Lý thị gật đầu theo người anh họ ra đi.
Nói về Nguyệt Anh thu dọn xong sân trước nàng quay xuống bếp nấu cơm, và lo cho đàn lợn và bầy gà ăn sáng. Được cái dạo này lúa tháng mười sắp trổ bông nên công việc đồng áng thư thái đôi chút, chồng nàng và anh chồng không phải ra::145ơ7::62ng từ sớm.
Khi mặt trời lên được một lát Nguyệt anh mới kêu anh em họ Huỳnh dậy ăn lưng chén cơm lót lòng.
Nàng hỏi nhỏ chồng:
- Trưa và tối nay chàng muốn ăn cơm có những món gì?
- Bữa qua nghe nói anh chị Lương muốn ăn cá mà không mua được đó. Nàng liệu ra chợ coi có thì mua về.
- Chị Lương có ăn cơm chiều ở nhà không chàng?
- Không nghe nói. Sao nàng không hỏi thẳng chị ấy lúc nãy?
- Tiếp không kịp hỏi vì chị mắc nói chuyện với anh.
- Ta chắc chị ấy không ở bên ấy lâu đâu. Nàng cứ coi như chị có về ăn cơm chiều.
Vừa ngồi vào mâm cơm, Sĩ Lương bảo em:
- Bữa nay em đi thăm ruộng một mình nghe. Anh chạy loanh quanh một lát rồi còn phải về nhà, nhỡ bên nhạc gia có qua kêu về chuyện bà dì đau nặng không.
- Được, anh yên trí ở nhà, mình em cũng đủ rồi.
Cơm nước xong, Sĩ Mỹ đội nón ra đồng. Lát sau Nguyệt Anh lên xin phép anh chồng chạy ra chợ mua thức ăn về làm cơm trưa và chìeu.
Chặp sau, Nguyệt Anh trở về, tay xách con cá lóc lớn. Sĩ Lương dặn em dâu chàng lên xóm trên giúp ông tư hoạn heo, nếu bên nhà Lý thị sang kiếm thì lên đó mà kêu.
Sĩ Lương đi khỏi. Nguyệt Anh bắt đầu dọn trong nhà. Sau khi dọn buồng vợ chồng nàng Nguyệt anh qua bên phòng anh chồng rồi ra quét nhà khách.
Nàng hốt rác bỏ vào cái giỏ rác nhỏ đem ra đổ nơi gốc cây mãng cầu sau vườn. Nàng đập chổi và giỏ rác sạch sẽ và toan đem đựng góc bếp như thường lệ. Bỗng có tiếng trẻ sơ sanh ở nhà bên khóc vang lên. Nguyệt anh đứng sững lại vuốt bụng thở dài, miệng lẩm bẩm:
- Kiếp mình muộn mằn mãi chẳng có con. Nghĩ cũng tội nghiệp cho chị Sĩ Lương đang thai nghén lại được tin chẳng lành phải vất vả đi về. Chiều nay chị về tới, sáng mai lại đến phiên chị quét nhà. Hay là mình mang chổi và giỏ rác dựng nơi buồng chị ấy để mai chị khỏi mất công xuống bếp kiếm.
Nói đoạn, Nguyệt Anh đem chổi và giỏ rác đựng trong phòng vợ chồng Sĩ lương.
Nàng vừa quay thì chẳng biết bay từ đâulại, đến đâu ngay trên nóc nha2va2 buông mấy tiếng “quạ, quạ” lạnh lẽo và buồn thảm.
Nguyệt Anh bắt rùng mình. Nàng chạy vội ra sân, vớ hòn đất ném lên mái nhà miệng chửu rủa con quạ ầm ĩ: “Cút ngay! Cút ngay! Phỉ thui! Phỉ thui!”.
Con quạ bay vọt lên cao, lượn một vòng trên sân nhà, cố buông thêm một tiếng “quạ” dài lê thê rồi mới chịu bay đi mất dạng.
Nguyệt Anh mặt tái mét lẩm bẩm:
- Điều chẳng lành. Không biết có chuyện chi đây.
Trưa đó hai anh em họ Huỳnh về nhà ăn cơm. Họ vừa dùng bữa xong anh bẩy con người bác ruột của Sĩ Lương và Sĩ Mỹ tới.
Sĩ Lương chạy ra đón chào:
- Kìa, anh bẩy, anh sang kiếm bọn em có chuyện chi vậy?
- À, sáng mai bên tôi cất nóc nhà mới, bác biểu một anh sang giúp dùm. Không biết hai anh có bận chi không?
Sĩ Lương sốt sắng đáp:
- Dạo này cũng rảnh rang đôi chút. Vả lại bác đã kêu thì dù có bận mấy cũng phải đi gấp chớ, Mỹ à, em ở nhà để anh qua bên đó nghe. Anh bẩy, liệu mấy bữa rồi đặng tôi tính coi phải đem quần áo chi đó theo không?
- Chừng ba bữa mới rồi anh à.
Sĩ Mỹ chợt nhớ ra vụ dì Lý thị đau liền bảo Sĩ Lương:
- Anh đi sao tiện. Lỡ bên nhạc gia kêu về chuyện bà dì thì khó lòng quá. Thôi để em đi cho.
- Ờ nhỉ, chút xíu anh quên mất. Vậy em sửa soạn sang ngay kẻo bác ấy trông.
Sĩ Mỹ đi khỏi, Sĩ Lương cũng lấy nón sang nhà bác Tư ở xóm trên xem con lợn hoạn sáng nay có biến chứng gì không.
Tới xế chiều Lương trở về nhà, nhắc theo người bạn về nhậu chơi. Chờ anh chồng rửa chân tay xong, Nguyệt Anh mới hỏi:
- Thưa anh, chị có ăn cơm nhà không?
- Bây giờ sắp tối rồi mà chị chưa về, chắc là còn ở lại chơi bên đó.
- Thưa anh đã dùng cơm chưa để dọn?
- Ờ thì dọn lên ăn phức cho rồi.
Nguyệt Anh bưng cơm lên chờ anh chồng và khách ăn xong mới dọn xuống bếp ngồi ăn một mình. Nàng thu dọn xong xuôi thì trời nhá nhem tối. Trên nhà có tiếng Sĩ Lương kêu nàng đem chai dầu phộng lên châm đèn.
Nguyệt Anh chạy vội lên. Sĩ Lương đang đứng chờ bên án thư, ông khách đã về rồi.
Vì cạn dầu nên ngọn đèn thoi thóp như muốn tắt.
Nguyệt Anh đặt chai dầu lên án thư gần chỗ anh chồng thì bên ngoài có tiếng chó sủa. Nguyệt Anh chạy ra thì vừa lúc ấy Lý thị ở ngoài bước vô nhà.
Nguyệt Anh reo lên:
- Kìa chị đã về.
Rồi nàng chạy toan đỡ dùm bọc đồ cho chị dâu thì Lý thị đã lạnh lùng gạt tay nàng ra.
Sĩ Lương đang mải châm dầu vào dĩa cất tiếng hỏi mà không ngẩng đầu lên:
- Tưởng mai nàng mới về chớ. Dì có sao không?
Có lẽ vì tính đa nghi lại hay ghen nên Lý thị đáp giọng bực tức:
- Dì không sao. Bộ mong tôi không về sao?
Sĩ Lương ngạc nhiên về câu trả lời của vợ nhưng chàng cho là vợ bị mệt mỏi nên không chấp. Chàng vui vẻ hỏi vợ:
- Thế đã cơm chưa?
Lý thị đáp một tiếng “chưa”cộc lốc rồi đi thẳng vào phòng.
Nguyệt Anh nghe vậy liềnpho1ng xuống bếp dọn cơm bưng lên.
Sĩ Lương cũng đốt thêm hai dãi đèn dâu. Căn nhàn sáng choang. Lý thị vô đến phòng thấy cây chổi và giỏ rác để ở góc nhà. Thị nhìn xuống chổi chán rồi lại nhìn lên giường ngủ của hai vợ chồng.
Lý thị vất mạnh chiếc nón xuống đất, nhíu đôi lông mày, lẩm bẩm:
- Hôm nay đến lượt nó quét nhà…lạ thiệt tạo sao nó không dựng chổi và giỏ rác dưới bếp như mọi lần, khi quét xong? Chắc là nó đang quét nhà thì chồng mình gọi vô phòng này để gian dâm. Chừng sau đó ả quên đem đồ này về chớ gì.



vui_la_chinh 06-14-2005 02:35 PM

Tay vân vê cán chổi, lòng bừng bừng lửa ghen, Lý thị rít giọng nói một mình:
- Hừ quân này gớm thiệt. Rồi sẽ biết tay ta.
Thị vừa nói tới đây thì có tiếng guốc đàn bà đi tới cửa phòng rồi tiếng Nguyệt Anh vang lên.
- Mời chị ra dùng cơm. Em đã dọn lên rồi đó.
Lý thị gắt:
- Cứ để đấy. Làm gì mà hối dữ vậy.
Nguyệt Anh tiu nghỉu lủi xuống bếp tiếp tục nốt công việc.
Lát sau vợ Sĩ Lương lầm lì ra ngồi vào mâm xới cơm ăn. Sĩ Lương toan gợi chuyện nhưng thấy nét mặt vợ khó đăm đăm nên lại thôi. Một chú mối trách tặc lưỡi một hồi như than phiền bầu không khí nặng nề khó thở. Sĩ Lương ngáp dài một cái rồi cất giọng nói bâng quơ:
- Chà bữa nay mệt quá ta.
Lý thị hằn học nhìn chồng, cố gằn cơn ghen…. Bỗng thị với lấy chai rượu đế rót đầy chén rồi nốc thẳng một hơi.
Sĩ Lương lẳng lặng nhìn vợ mà không nói chi cả. Thỉnh thoảng Lý thị cũng có uống rượu, nhưng chút đỉnh thôi. Hôm nay chàng không hiểu sao vợ uống hơi nhiều. Vì mệt, có lẽ. Chàng nghĩ vậy.
Lý thị uể oải đụng đũa vào đĩa cá ồi lại thôi. Thị chan canh cá dấm vào bát, nuốt vội lưng chén cơm rồi hầm hầm đứng dậy đi thẳng vô buồng.
Vừa đặt lưng xuống giường thị đã ngồi nhổm dậy như bị lửa đốt. Thị bực mình nhìn chiếc chiếu hoa trải giường….
Bên ngoài có tiếng bát đĩa lạch cạch. Nguyệt Anh đang thu dọn mâm cơm. Rồi thì yên lặng. Bỗng từ xa vẳng lại tiếng sáo nhà ai. Người nghệ sĩ vô danh nào đó đang đi bài lưu thuỷ, Sĩ Lương cất tiếng khàn khàn ca theo. Lý thị nhẩy phắt xuống đất, xỏ chân vào guốc, rồi đẩy cửa phòng ra khoang ngoài.
Thị đến bên chồng và nói:
- Đắc ý lắm nhỉ. Đi vô cho tôi hỏi một chút.
Sĩ Lương ngạc nhiên nhìn vợ. Chưa bao giờ chàng nghe vợ ăn nói như vậy. Hai người nhìn nhau trừng trừng. Lý thị quay phắt đi về phòng. Sĩ Lương nhìn dáng điệu nặng nề của người vợ đang mang thai rồi chàng nén giận, chậm chạp đứng dậy theo chân vợ.
Vừa bước vô tới phòng, Sĩ Lương đã bị vợ xẵng giọng hạch hỏi:
- Hôm nay ở nhà làm gì, phải khai cho thiệt.
Sĩ Lương tức mình đáp cụt ngủn:
- Chẳng làm gì hết!
- Hừ, hôm nay lấy em dâu rồi sao còn chối?
- Này đừng có nói bậy. Uống cho lắm rượu vào để rồi nói như mẹ điên ấy.
Lý thị mặt đỏ gay sấn sổ n1oi:
- Đứa nào điên? Có mi lấy em dâu mới là điên.
Sĩ Lương giận tím mặt, mắng rằng:
- Lục súc! Chứng cớ đâu mà ghen bậy đổ tội cho ta câm mồm ngay không ta đập cho mất mạng bây giờ.
Lý thị chồm lên la lớn:
- Đồ vô liêm sỉ! Đã loạn luân còn lớn miệng nói phách. Nếu không gì với nhau sao khi không dựng chổi và giỏ rác ở đây.
Nó đang quét nhà thì dắt nó vô làm chuyện đồi ại rồi quên luôn ở đây. Chứng cớ đấy chứ còn đâu.
Sĩ Lương quát:
- Người ta đem vô hồi nào, ta đâu có biết.
Vả lại ta đi vắng suốt ngày, mi nói bậy không sợ người ta chê cười à.
Nguyệt Anh ở nhà dưới nghe vậy chạy lên toan phân trần… Nàng chưa lên tới nhà trên thì đã nghe tiếng vợ chồng Sĩ Lương đánh nhau kịch liệt.
Nguyệt Anh lật đật chạy tới cửa phòng anh chồng. Vừa lúc ấy Sĩ Lương hét to một tiếng đẩy mạnh cô vợ té lăn cù ra đất rồi vớ ngay cái chổi đánh Lý thị một trận tơi bời.
Nguyệt Anh thất kinh ù té chạy về phòng đóng sầm cửa lại.
Sĩ Lương đánh vợ chán tayrồi mới quăng cây chổi xuống đất và bỏ ra ngồi phía sân trước.
Lý thị bị đòn, la khóc, chửi bới ầm ĩ. Chửi rủa chồng đã nư rồi, thị réo Nguyệt Anh lên mà nguyền rủa, sỉ nhục.
Đôi ba lần, vợ Sĩ Mỹ toan mở cửa đi ra kiếm cách phân trần nhưng nàng lại ngại chị dâu đang cơn ghen nói quàng xiên thì càng xấu hổ thêm.
Nàng đành bưng mặt khóc ròng.
Bên ngoài, Lý thị vẫn cứ xa xả gọi tên nàng lên mà thoá mạ.
Quá uất ức Nguyệt Anh liền lấy dây lưng bằng vải treo cổ lên xà nhà mà tự vẫn chết.
Qua sáng hôm sau, Lý thị hả hơi men, trở lại lo công việc như thường lệ. Có lẽ thị cũng nhận thấy tối qua thị qu1a lăng loàn, cho nên thị cũng hơi ngượng ngùng.
Thị có ý trông Nguyệt Anh mà không thấy. Lúc nấu cơm xong. Lý thị mới lên nhà kiếm em dâu. Vừa đẩy cửa vô phòng Nguyệt Anh, thị đã la thất thanh gọi chồng.
Sĩ Lương lật đật chạy vào biểu vợ giúp một tay hạ xác em dâu xuống.
Lý thị hấp tấp hỏi chồng:
- Còn sống không?
Sĩ Lương lắc đầu.
Nguyệt Anh mắt mở trừng trừng mặt sưng tím lưỡi lè ra ngoài, Lý thị sợ run người.
Chừng lúc chồng bồng Nguyệt Anh đặt lên giường, Lý thị ại thấy cơn ghen sôi sục. Hị ghen cả với người đã chết. Sự tự vẫn của em dâu càng khiến Lý thị nghi ngờ:
- Nếu chẳng gian dâm với chồng ta, cớ sao nó lại tự tử? Chắc là đúng rồi, nên nó quá xấu hổ mà liều thân.
Lý thị lẩm bẩm đi theo chồng ra ngoài. Sĩ Lương thẫn thờ ngồi xuống ghế rít một hơi thuốc lào.
Rồi chàng thay áo đội nón đi kiếm bác tư ở xóm trên, nhờ qua kêu Sĩ Mỹ về gấp tiện đường chàng ghé mấy nhà lân bang mời sang giúp việc ma chay, nhân thể coi xem họ có hay biết gì về chuyện Lý thị ghen nhau với Nguyệt Anh không.
Ai cũng ngạc nhiên hỏi:
- Vợ Sĩ Mỹ bịnh hồi nào mà qua đời mau vậy? Bữa qua còn thấy đi chợ mà!
Sĩ Lương mắt đỏ hoe, giọng buồn rầu đáp:
Vợ Sĩ Mỹ thắt cổ tự tử hồi đêm, sáng nay vợ chồng tôi mới biết thì quá muộn rồi.
- Trời, tội nghiệp. Vì sao nàng lại làm vậy. Bên nhà yên ấm có chuyện gì đâu.
Sĩ Lương ngập ngừng nói:
- Tôi… tôi cũng không biết nữa. Nói rồi chàng tất tả về nhà. Vừa thấy mặt chồng, Lý thị lo lắng hỏi:
Có ai biết chuyện cãi lộn nhà mình đâm qua không?
- Dường như không.
- Thiệt không?
- Có thể lắm. Vì nhà ở gần sông, lại cách xa nhà khác.
- Vậy thì may rồi.
- Chưa chắc. Thế nào Sĩ Mỹ cũng hỏi về lý do tại sao Nguyệt Anh tự tử. Biết trảû lời ra sao.
- Nếu không ai hay chuyện cãi lộn hồi hôm thì cứ trả lời không rõ lý do vợ y tự vẫn chớ còn gì nữa.
Lý thị vừa nói đến đây thì nghe lối xóm rủ nhau kéo đến hỏi thăm đầy nhà.
Người ta tỏ vẻ tiếc thương người quá cố, rồi mỗi người đưa ra một giả thuyết về cái chết của Nguyệt Anh nhưng tuyệt nhiên không ai hay biết gì về chuyện Lý thị ghen tuông cả.
Rút cuộc ai cũng trông Sĩ Mỹ về.
Tới gần trưa, Sĩ Mỹ về tới.
Chàng chạy bổ về phòng lật mảnh giấy che mặt vợ ra rồi đứng lặng hồi lâu, sự đau khổ hiện lên nét mặt.
Một dòng máu ứ từ miệng Nguyệt Anh ra, từ từ chảy xuống cổ. Sĩ Mỹ cố vuốt mắt cho vợ nhưng cặp mắt thất thần vẫn hé mở…
Ông chú Sĩ Mỹ (mà mọi người thường kêu là cụ Bá) khẽ kéo tay chàng rồi nói:
- Thôi anh ạ, chị ấy đã chết rồi không làm sống lại được. Anh nên ra ngoài nầy kẻo tử khí nặng nề.
Sĩ Mỹ theo chú đi ra. Chàng thẫn thờ ngồi xuống ghế đối diện với anh. Lý thị vi chạy lại đứng sau lưng chồng. Sĩ Mỹ buồn rầu hỏi anh:
- Vì đâu mà nhà em ra nông nỗi này?
- Anh không biết vì sao thím ấy lại liều thân như vậy. Sáng nay dậy mới hay là thím tự tử từ đêm.
- Ở nhà có chuyện chi không anh?
- Chẳng có chuyện chi.
Một người bà con đứng bên hỏi Sĩ Mỹ:
- Anh có làm điều chi cho chị ấy uất ức không?
- Không. Tới trưa hôm qua, lúc tôi theo anh bảy qua bên giúp bác cất nhà, tôi thấy nhà tôi vẫn vui vẻ lắm. Nếu có điều chi… chắc là ở nhà.
Lý thị vội cãi:
- Aáy chú chớ nói vậu mà để tiếng cho vợ chồng tôi. Tôi đi vắng từ sáng đến tối mới về, còn nhà tôi thì đối xử với chú thím như bát nước đầy, ai cũng biết đấy.
Nói rồi Lý thị bưng mặt khóc hu hu, miệng kể lễ:
- Ơùi thím Mỹ ơi, thím chết đã đành an phận thím nhưng để khổ cho vợ chồng tôi. Bây giờ tới lượt chú ấy dổ vạ cho chúng tôi. Thí ra người ta trả ơn chồng tôi là thế đấy…ới thím Mỹ ơi!…


Mấy bà mấy cô ngồi quanh cũng cất tiếng khóc theo. Cụ Bá đứng phắt dậy trỏ Lý thị mà la rằng:
- Chị này hay nhỉ. Đã phát tan đâu mà khóc lóc lôi thôi. Và các bà này nữa, im cả.
Mọi người nín bặt, chỉ con vài tiếng sụt sịt nhỏ rồi tắt hẳn.
Cụ Bá dõng dạc nói:
- thôi anh Lương đứng lên đi lo công việc đi, còn anh Mỹ liệu làm đơn trình quan mà xin phép chôn cất chứ để đấy à.
Sĩ Mỹ cũng như anh trước có theo học trường làng nên cũng biết đôi chút chữ nghĩa liền làm đơn kể rõ Nguyệt Anh tự tử chết nhưng không biết vì lý do gì.
Huyện quan tiếp đơn xem xong liền cho đòi vợ chồng sĩ Lương đến hầu.
Ông hỏi Sĩ Lương:
- Bữa qua Sĩ Mỹ đi vắng, chỉ có hai vợ chồng ngươi ở nhà vậy chớ ngươi có biết vì sao Nguyệt Anh tự tử không?
- Dạ… thưa không rõ.
- Hừ, vô lý. Thói thường người ta tự tử là vì có điều chi uất ức không minh oan, giãi bày ra được, hai là vì quá xấu hổ, ba là vì bịnh hoạn thất vọng chán đơi và…
Nghe huyện quan nói vậy Sĩ Lương chột dạ lo lắng, đưa mắt nhìn Lý thị. Huyện quan tinh mắt nhận thấy liền quát to:
- Sĩ Lương, có thế nào phải khai cho thiệt, chớ giấu quanh mà mang lụy. Vì cớ gì Nguyệt Anh tự vẫn?
Sĩ Lương lúng túng đáp liều:
- Dạ, thưa…Nguyệt Anh mắc đau bụng không thuốc chữa, đau quá thì tự tử.
Huyện quan chưa kịp nói chi thì Sĩ Mỹ đã nói:
- Thưa quan, tôi không tin. Không thuốc thì kêu người đi kiếm, việc chi phải tự tử.
Lý thị chen vô:
- Chú vắng nhà, thím mắc cỡ không kêu ai. Chừng đến lúc vợ chồng tôi hay thì thím giận hờn cho chúng tôi không thương thím nên tự vẫn. Tánh thím nóng như lửa ấy.
Sĩ Mỹ không chịu cãi:
- Điều chị nói khó tin quá. Trước hết là vợ tôi tánh tình thuần huận, không nóng nẩy như chị nói không biết vợ tôi tự tử vì lý do gì.
Hướng về phía huyện quan, Sĩ Mỹ nói:
- Thưa quan, trong vụ này có uẩn khúc chi đây. Xin quan minh xét để vợ tôi được ngậm cười nơi chín suối.
Huyện quan gật đầu phán:
- Ta nghĩ cũng như vậy. Lính đâu, lôi hai vợ chồng tê này ra tra tấn cho ta.
Bọn lính “dạ” ran xúm lại lấy roi đánh hai vợ chồng Sĩ Lương túi bụi.
Lý thị chịu đòn không thấu vừa khóc vừa la lên:
- Xin ngừng tay, tôi xin khai thiệt.
Huyện quan truyền lính rãn ra. Lý thị mếu máo thuật lại câu chuyện ghen trong đêm qua rồi kết luận:
- Vì thấy nhà quét sạch sẽ và chổi cùng giỏ rác trống dựng trong buồng nên tôi nghi hai người có bậy bạ với nhau, trong lúc tôi và Sĩ Mỹ vắng nhà. Dọ đó tôi có gây lộn với chồng tôi rồi chồng tôi đánh đập tôi. Tôi tức giận có réo Nguyệt Anh lên mà thoá mạ còn sự y tự tử thì quả tình tôi không hiểu vì sao cả! Chắc là hai người có thông dâm nên thị xấu hổ mà liều thân.
Huyện quan vỗ án la:
- Sĩ Lương, mi có nghe rõ lới khai của vợ mi đó không?
- Dạ…thưa có.


vui_la_chinh 06-14-2005 02:36 PM

- Mi có nhận đã thông dâm với em dâu không?
- Dạ…. Thưa không…
- Thế ai để chổi vàgiỏ rác trong phòng vợ chồng mi?
- Có lẽ, là Nguyệt Anh, vì bữa đó tới phiên thị quét nhà.
- Tại sao thị không cất dưới bếp như mọi lần lại đem để trong phòng mi.
- Dạ… thưa cái đó thì tôi không hiểu nổi.
- Thôi mi đừng chối nữa vô ích, chỉ có mi và Nguyệt Anh ở nhà. Chắc là nó đang quét nhà thì mi gọi vô làm chuyện đồi bại. Nó tiện tay mang luôn cả chổi và giỏ rác vô,chừng sau bỏ quên lại và Lý thị bắt được bằng chứng này mới nổi cơn ghen. Phải không?
- Dạ… thưa oan cho tôi. Bữa đó tôi vắng nhà gần hết ngày. Vả lại nếu Nguyệt Anh bị tôi kêu lúc đang quét nhà, tất nhiên nhà và giỏ rác đâu có sạch được như thế .Hơn nữa khi vợ và em tôi đi khỏi, thì Nguyệt Anh đi chợ luôn. Kịp tới khi em dâu về tôi lại đi lên nhà bác tư xóm trên ngay để hoạn heo…
Huyện quan bựa mình ngắt lời Sĩ Lương.
- Tên này gớm thiệt. Dám cãi lý với ta. Dù em dâu mi chưa quét nhà xong hay đang quét nhà hoặc quét nhà đã xong thì mi kêu vô phòng, điều đó không quan hệ. Điểm đáng nói là cớ sao có chôi và giỏ rác để trong phòng mi.
Ngưng một lát. Huyện quan nói tiếp:
- Đích thị là y có thông dâm với Nguyệt Anh nên y thị sợ bị bại lộ mới tự tử. Mi sẽ bị chém đầu về tội lấu em dâu. Lính đâu, đem tên này hạ ngục cho ta, chờ ngày đền tội hạ ngục cho ta, chờ ngày đền tội còn Sĩ Mỹ và Lý thị được thong thả ra lo về việc ma chay cho Nguyệt Anh.
Hai người vái tạ huyện quan rồi lui khỏi công đường.
Sau đó huyện quan đệ đơn lên Thượng Ty xin cho trảm quyết Sĩ Lương để làm gương cho kẻ khác.
Ngày tháng lặng lẽ qua. Sĩ Lương bị giam chờ lệnh Thượng Ty, đã được hơn một năm, xảy bữa đó Bao Công đi tuần án các nơi, ghé tới huyện hà Chiêu.
Theo thường lệ, sau khi hỏi huyện quan về dân tình sở tại Bao Công truyền đem hồ sơ các vụ án còn lòng vòng ra coi lại.
Tới vụ Nguyệt Anh, bao Công đọc xong biên bản, liền cho mời quan huyện vô phòng nói chuyện.
Bao Công chậm rãi hỏi:
- Theo quan thì tại sao Nguyệt Anh tự tử.
- Thưa thượng quan, y thị thông dâm với anh chồng nay bại lộ, quá xấu hổ nên tự tử?
- Căn cứ vào đâu mà quan quả quyết như vậy?
- Dạ, bằng chứng hiển nhiên là chổi và giỏ rác để trong phòng Sĩ Lương.
- Có bao giờ quan nghĩ rằng Nguyệt Anh có thể vì bị hiểu lầm nên uất ức mà tự tử không?
- Dạ, thưa không.Thượng quan cho là y thị tình ngay lý gian?
Ta mới đặt một giả thiết, chớ chưa quả quyết là như vậy. À biên bản có ghi quan cho rằng việc Sĩ Lương kêu Nguyệt Anh vô buồng trước, đang hay sau khi quét nhà không quan hệ, phải không?
- Dạ phải, thưa tượng quan có chi sai lầm?
- Chính đấy là điểm quan trọng. Mặt khác, quan có cho điều tra về Sĩ Lương khai lên xóm trên hoạn heo nhà ông Tư không?
- Thưa không!
- Chà, sao sơ suất quá vậy. Bây giờ ông cho đòi tên tư đến hỏi cho rõ. À luông tiện ông cũng hỏi Sĩ Mỹ và Lý thị về giờ giấc đi về của họ bữa đó ra sao rồi trình gấp cho tôi nghe.


Huyện quan tuân lệnh lui ra. Hồi lâu sau ông đem nạp Bao Công tờ trình đầy đủ về các điểm trên đây.
Bao Công coi qua rồi bảo:
- Bây giờ đã xế chiều rồi, mai sáng quan cho đòi nội bọn lên ta xét hỏi lại một lượt.
Qua sáng sau, Bao Công đăng đường cho kêu lần lượt: Bác Tư, Sĩ Mỹ, Lý thị vô hỏi về giờ giấc đi về và công việc làm cua họ trong ngày đó. Đoạn ông dạy họ ra chờ ngoài sân rồi cho áp giải Sĩ Lương lên.
Ông nhìn Sĩ Lương hồi lâu mới cất tiếng hỏi rằng:
- Ngươi sẽ bị chém đầu về tội thông gian với em dâu. Vậy ngươi nghĩ sao?
- Thưa thượng quan, chét thì ai cũng có ngày phải chết, bằng cách này hay cách khác. Nhưng tôi không khỏi đau lòng vì bị chết một cách oan uổng, chết mà bị ô danh, chết nhục nhã.
Ngạc nhiên vì câu trả lời của anh nông dân nên Bao Công tò mò hỏi:
- Trước kia ngươi có học hành gì không?
- Dạ thưa hồi nhỏ tôi có được cha mẹ cho đi học ít lâu.
Bao Công liền hỏi thăm gia cảnh Sĩ Lương và giờ giấc đi về của chàng cùng các sự việc xảy ra trước và sau khi Nguyệt Anh tự tử.
Sĩ Lương thiệt tình khai hết.
Nghe xong, Bao Công trỏ đống hồ sơ nói:
- Về vụ Nguyệt Anh này, Lý thị khai rõ tội loạn luân của ngươi, còn kêu oan cho đặng?
Sĩ Lương bình tĩnh đáp:
- Thưa, quả tình là oan. Tôi vô phước lấy phải người vợ hay ghen bậy. Vì nó mà tôi nhơ danh, Nguyệt Anh nhơ tiết và em ruột tôi ngờ vực tôi. Ba điều oan tầy trời như vậy, sao thượng quan bảo tôi không oan cho đành.
- Để ta coi lại xem sao.
Nói đoạn Bao Công truyền lính gọi Lý thị vô và hỏi:
- Thị khai chồng thị gian dâm với em dâu và trưng bằng cớ là cây chổi và giỏ rác đựng trong phòng phải không?
- Dạ phải.
- Lúc ngươi về nhà đã được quét dọn sạch sẽ chưa?
- Dạ thưa trong ngoài đều sạch sẽ.
- Thế giỏ rác và cây chổi ra sao?
- Dạ dựng trong phòng vợ chồng tôi.
- Biết rồi, ý ta muốn hỏi chổi có sạch và giỏ có còn rác không?
- Thưa chổi và giỏ đều sạch. Rác đã đổ hết rồi.
- Chắc đúng như vậy không?
- Dạ đúng vì tôi rất chú ý đến hai vật đó lúc vô phòng. Hơn nữa chính chồng tôi trong lúc xô xác với tôi, đã đá trúng giỏ rác và cầm chổi đánh tôi túi bụi.
- Ý thị muốn nói là hai vật đó đã được Nguyệt anh đập sạch sẽ trước khi dựng vô phòng nếu không thì lúc chồng thị đá giỏ, tất rác đã vung cùng nhàvà lúc chồng chị quơ chổi đánh thị thì thị đã bị dơ bẩn nếu chổi không sạch. Phải vậy không?
- Dạ phải.
- Bao Công quát lớn:
- Nếu như vậy thì mi đáng tội chết rồi.
Lý thị xanh mặt, run rẩy thưa:
- hưa thượng quan, tôi nào có tội chi. Nguyệt Anh tự tử là tại ý thị chớ đâu phải tại tôi.
- Mi hãy vểnh tai mà nghe cho rõ đây. Giỏ rác đã đổ, nhà đã quét sạch sẽ thế thì rõ ràng Nguyệt Anh đem chổi và giỏ rác qua dựng bên phòng mi để mi khỏi mất công đi kiếm. Nó thương mi mà làm vậy chớ đâu phải tại nó gian dâm với chồng mi rồi bỏ quên ở đó.
Bao Công ngưng một chút rồi cao giọng phán tiếp rằng:
- Nếu chồn mi kéo Nguyệt Anh vô phòng khi nó lên thu dọn thì nhà chưa thể quét sạch được. Trái lại nếu nó quét sạch rồi chồng mi mới kéo vô phòng thì giỏ rác tất chưa kịp đổ. Còn nếu nó quét sạch rồi và cũng đổ rác rến xon xuôi thì chồng mi mới kêu nó lên và kéo nó vô phòng thì chẳng lẽ nó đem theo cả chổi lẫn giỏ rác ngờ ngờ làm chi? Nay giỏ chổi để vô buồng một chỗ, sau khiquét tước xong, thiệt đã quá rõ ràng là Nguyệt Anh có ý để sẵn cho mi khỏi phải tìm kiếm, đâu phải vì gian dâm.
Vả lại, xét theo giờ giấc đi về của mọi người, ta thấy từ sau lúc mi ra đi, tới lúc mi quay về nhà, Sĩ Lương cũng không có ở nhà, thì làm sao thông dâm với em dâu cho đặng.
Còn về việc Nguyệt Anh tự tử, ta chắc là y uất ức vì tình ngay mà lý gian, cãi chẳng lại nên liều mình để trỏ tiết trinh. Chắc chắn không phải là thông dâm với anh chồng rồi sợ bại lo mà tự vẫn.
Rồi Bao Công trỏ mặt Lý thị mà mắng rằng:
- Cũng tại mi ghen bậy lại vu vạ cho Nguyệt Anh đến nỗi người ta uất ức mà ự tử. Rồi cũng vì mi mà Sĩ Mỹ nghi nờ vợ, em nghi anh, chồn mi lâm vào còng lao lý chút xíu bay đầu về một tội do mi tưởng tượng. Ta xét mi đáng tội tử hình.
Lý thị nghe vậy thất kinh sụp xuống lạy Bao Công rồi vừa khóc vừa thưa rằng:
- Xin thượng quan tha cho tội chết. Tôi đàn bà ngu dại, nông nổi nên ghen bậy thành ra mang tội.
Sĩ Lương cũng cất tiếng xin dùm vợ:
- Thưa thượng quan, tôi tự xét cũng có lỗi phần nào trong vụ này vì thực ra tôi không biết răn dạy vợ và kém sự giải thích phân minh. Xin đại quan ngó lại, vì đứa con thơ của tôi mà tha tội chết cho mẹ nó.
Sĩ Lương vừa dứt lời thì Sĩ Mỹ cũng chắp tay xá dài Bao Công và thưa rằng:
- Thưa thượng quan, nhờ ơn trời xoi xét, vợ tôi đã được giải oan. Tài xử án của đại quan đã phục hồi danh dự cho vợ tôi, cho anh tôi và cả tôi nữa. Lý thị đáng tội thật nhưng xét vì y thị nông nổi và vì hoàn cảnh gia đình nên cúi xin đại quan dung tha cho y thị.
Bao Công suy nghĩ một lát rồi phán rằng:
- Lẽ raLý thị phải bị chém đầu về tội vu cáo đến nỗi người ta phải chết. Nay xét vì y thị còn trẻ lại nông nổi quá ghen vả lại đã có lời nài xin của chồng và em chồng nên ta cũng khoan dung phạt tù y thị mà thôi.
Phán rồi Bao Công truyền hạ ngục Lý thị và trả tự do cho Sĩ Lương.



LỜI BÀN
Huyện quan khi thẩm vấn nôi vụ đã nói ngay rằng:
- Thói thường người ta tự tử một là có điều chi uất ức không minh oan phơi bày ra được, hay là vì quá xấu hổ, ba là bị binh hoạn thất vọng chán đời.
Trong ba nguyên nhân đưa đến việc tự tử của người ta, thì nguyên nhân thứ ba phải loại bỏ trong nội vụ bởi lẽ Nguyệt nh chẳng phải là kẻ chán đời bệnh hoạn và thất vọng, trái lại là một thiếu phụ lạc quan yêu đời, còn lại hai nguyên nhân, hyện quan không do dự để phỏng đoán rằng Nguyệt Anh đã tự tử vì nguyên nhân thứ hai: quá xấu hổ vì thông gian với anh chồng. Tội loạn luân ngay trong pháp chế kim thời khi luật pháp và luân lý chỉ là một. Vì thế huyện quan khi hướng cuộc điều tra về tội thông gian, ra lệnh hạ ngục Sĩ Lương và báo trước cho nghi phạm biết: “mi sẽ bị chém đầu về tội lấy em dâu” cũng không có chi đáng ngạc nhiên.
Nhưng ông thẩm phán thượng thẩm Bao Công không suy luận như ông thẩm phán sơ thẩm huyện quan. Bao Công cho rằng Nguyệt Anh tự tử do nguyên nhân thứ nhất: có điều chi uất ức không minh oan giải bày ra được. Thế nên cuộc điều tra thượng thẩm lại hướng vào việc tìm lý do của sự uất ức khiến nạn nhân phải kết lieui cuộc đời, hay nói khác đi hướng về tội búc tử, để tìm thủ phạm này, Bao Công đã có định ý ông phán:
Còn về Nguyệt Anh tự tử ta chắc Y thị uất ức vì tình ngay mà lý gian cãi không lại nên liều mình để tỏ triết trinh chớ không phải vì thông dâm với anh chồng rồi sợ bại lộ mà tự vẫn”
Nghĩ như thế rồi, Bao Công phải thử lại bài toán bằng một chứng minh cụ thể để loại trừ một cách chắc chắn giả thuyết thông dâm. Và tới đây Bao Công mới dựa vào những chi tiết về cái chổi và giỏ rác để suy luận một cách thần tình. Cách suy luận của Bao Công khiến ta liên tưởng tới cách suy luận độc đáo của Sherlock Holmès một nhân sự nổi tiếng trong các tiểu thuyết trinh thám Anh Cát Lợi (cho nên hậu sinh chưa hẳn đã là hơn được cổ nhân) Do sự suy luận, giả thuyết thông dâm bị gat bỏ vĩnh viễn. Vậy thì, Bao Công chỉ việc trỏ mặt Lý thị mà mắng rằng:
“Cũng tại vì mi ghen bậy, lại vu vạ cho Nguyệt Anh đến đỗi người ta uất ức mà tự tử” Thế mà cái ghen bậy này, cái sự vu vạ này cộng thêm với sự tự vẫn của nạn nhân hội đầy đủ điều kiện của tội bức tử (nếu Nguyệt Anh chỉ vì xấu hổ, hối hận mà tự tử thì Lý thị chẳng có tội này. Và kẻ ra khám (Sĩ Lương) người vào khám (Lý thị) cũng là nhờ biệt tài suy luận của ông thẩm phán. Sự thẩm án của Bao Công còn đáng khen ở chỗ khỏi dùng đến cực hình tra tấn như huyện quan mà sự thật vẫn được phơi bày, một lần nữa lại thấy: Bạo tàn chưa phải là thượng sách.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:37 PM

Hồi 21

GIANG NGẠN HẮC LONG


Đất Tây Hộ bên Tàu, có người Trìng Vĩnh ỷ cha mẹ có chút của cải, nên tuy hắn còn trẻ mà đã ham cờ bạc rượu chè, ưa rong chơi hơn là làm việc.
Cha mẹ răn dạy nhiều lần mà chẳng được, hắn vẫn chứng nào tật ấy. Tới khi song thân lần lượt cưỡi hạc quy tiên, hắn hết chỗ nương tựa, mới cuống cuồng lo lập thân.
Tính tới tính lui, hắn không biết làm gì để sống bây giờ. Muốn làm thầy thì chữ không đủ. Tính xoay làm thợ thì chẳng cò chuyên môn. Cũng muốn đi buôn nhưng buôn nhỏ thì hắn chê là vất vả ít lời, mà buôn lớn thì không đủ vốn. Thật là nan giải. Hắn bèn đến vấn kế mấy tên sâu rượu và đệ tử của thần đổ bác. Trong bọn có một tên râu rậm cười ngất rồi bảo Trình Vĩnh:
- Cái chuyện đó dễ ợt mà anh phải băn khoăn lo lắng, trông tức cười quá. Mất chầu rượu cho cả bọn thì ta mách nước cho. Chịu không?
Mấy tên khác khoái trí hoan nghênh ầm ĩ.
Trình Vĩng cũng sốt sắng đáp:
- Chịu chớ! Nói đi, nói đi!
Tên râu rậm chậm rãi hỏi Vĩnh:
- Hiện giờ anh có số vốn là bao nhiêu?
- Tôi thì chẳng có đồng nào. Còn về của cải cha mẹ để lại, thì tiền mặt không có, nhưng có ba đám ruộng và một căn nhà.
- Vậy cũng tạm đủ với cái nghề ta sẽ chỉ cho anh. Gần đây có một bến đò, khách qua lại đông lắm, thường không có chỗ trọ. Vậy anh hãy bán ruộng và nhà đi tới đó mà mở tiệm ngủ ắt phải sống được. Ta xem ra chỉ có nghề đó hợp với khả năng anh thôi.
Mọi người đều khen là phải. Thế là ít lâu sau, Trình Vĩnh bán hết ruộng nhà đem tiền lên mở nhà ngủ nơi bờ sông.
Vốn lười lại quen chạy dông nên hắn bực bội lắm vì cứ phải cầm chân ở nhà lo hết khách nọ đến khách kia. Cuối cùng, hắn mướn một người tài phú tên là Trương Vạn trông nom thế cho hắn, để được rảnh rang. Hắn bắt tài phú lập sổ sách phân minh ghi tên họ khách trọ cùng các khoản tiền thâu xuất của nhà ngủ, mà muốn khuếch trương tất nhiên cần có thêm vốn.
Để giải quyết vấn đề này, hắn ngấp nghé mấy cô gái nhà giàu tính lấy làm vợ, nhưng chẳng ai chịu cả. Đối với hắn lẽ sống chỉ thu gọn vào có một chữ: “tiền”, phải, tiền thật nhiều, bất cứ bằng cách nào cũng được.
Một khi đã có định kiến như vậy, dĩ nhiên là hắn rình cơ hội để thực hiện ý muốn.
Và cơ hội ấy đã đến cho hắn.
Chiều hôm đó Vĩnh trở về tiệm ngủ sau khi rượu đã xoàng xoàng. Lúc đi ngang qua dãy phòng trọ, hắn bỗng đứng phắt lại, miệng lẩm bẩm:
- Hình như mìng vừa nghe thấy tiếng khua bạc lanh canh ở đâu đây.
Hắn lắng tai nghe một lát rồi nhẹ nhàng tiến đến căn phòng cuối, ghé mắt vào khe mắt dòm vô.
Trên chiếc giường gỗ kê ở góc nphòng, một ông thầy chùa, quần áo nâu sồng, đang kiểm lại một túi bạc đầy.
Trình Vĩng lẩm bẩm: “chà lắm bạc quá. Phen này ta giàu to rồi”. Đoạn hắn lùi lại rồi bước mạnh tới, đẩy cửa vô phòng nhà sư và lớn tiếng nói:
- Nhà chùa đem bạc đi đâu mà lắm thế. Thầy tên chi, ở đâu tới vậy?
- A di đà Phật, tôi là Tiểu Giang Long vâng lệnh sư thầy của tôi đem một trăm lượng bạc của thập phương cúng giàng về xây chùa mới.
- Sao thầy không đi thẳng lại ghé đây làm chi?
- Gần tết nên đò không chịu đi xa thành ra phải đi từng chặng ngắn, biết sao bây giờ. Mai tôi lại ra đón đò khác đi tiếp.
- Thầy đi như vầy… một mình hay là còn ai nữa?
- Không, tôi đi có một mình thôi. Sư thầy tôi đã về trước rồi.
Trình Vĩnh mắt long lanh nhìn túi bạc, miệng giả bộ nói với nhà chùa:
- Thầy nên coi chừng. May tôi là chủ trọ biết thầy lắm bạc thì không sao, chớ kẻ khác dòm thấy có thể động lòng tham tìm cách hại thầy để cướp đó. Vậy thầy nên đề phòng rủi ro, chớ để ai biết thầy có bạc nhé. Cửa phòng này không có chốt cài bên trong nhưng thầy cứ yên tâm vì khi đã biết thầy có bạc thì tôi có bổn phận trông nom cho thầy.
Sãi Giang Long nghe vậy vội vã thu hết bạc vào túi vải rồi giấu xuống gầm giường miệng không ngớt cám ơn Trình vĩnh.
Tên chủ trọ khoác tay đáp:
“Có chi mà ơn với huệ” rồi hắn mỉm cười lui ra.
Rời phòng Sài Giang Long, Trình Vĩnh đi ra phía trước tiệm ngủ kiếm tài phú Trương Vạn và hỏi rằng:
- Tối nay được mấy khách trọ?
- Chỉ có một mạng thôi là ông thầy chùa.
- Uûa có ba người đến bữa qua đi rồi sao?
- Đi từ sáng nay rồi.
- Thiệt sao.
Trương Vạn mở tủ lấy cuốn nhật ký lật trang ghi bữa nay và nói với chủ:
- Ông coi tôi có vô sổ đàng hoàng, đâu dám làm điều bậy bạ.
Trình Vĩnh mắt nhìn xuống sổ miệng đọc:
- Ngày hai sáu tháng mười hai, ba khác đến một đàn ông là Nguyễn Tạo, hai đàn bà là Vương thị và Phan thị. Ngày hai bảy tháng chạp sáng ba khách nữa qua đi, chiều một khách đến là Sãi Giang Long. Thâu vô tiền trọ… Trình Vĩnh đọc đến đây gập sổ vào và nói:
- Lời ghi rành mạch đầy đủ, sổ sách lại đóng tốt thế này, để cả mấy chục năm cũng chưa hư. Anh thiệt là cẩn thận và hơi kỹ quá đó. Thôi được lắm rồi.
Trương Vạn thấy chủ khen cười đáp:
- Đã không sổ sách thì thôi, chớ đã làm thì phải cho đàng hoàng chớ, chẳng những để ông coi mà còn khi quan quân hỏi đến biết đâu. Tôi chọn mua thứ sổ tốt để lưu giữ lâu được. Cứ mỗi năm lại làm một cuốn. Cuốn này là “đệ nhất niên”. Tết ra mở cuốn “đệ nhị niên” và cứ thế tiếp tục mãi.
- Bộ anh tính lưu nên vạn đại sổ này sao? Chỗ đâu mà để.
- Mỗi năm một cuốn nhật ký nhỏ này, cứ hết năm thì khoá sổ cất cô tủ, qua một năm mới lại mở cuốn khác, như thế thì ba chục năm cũng chỉ mới có ba mươi cuốn sổ nhỏ, một ngăn tủ dư sức chứa đựng.
- Coi bộ anh có óc tổ chức lắm. Ta rất mừng có được người giúp việc chăm chỉ tài ba như anh. Nếu thêm vốn khuếch trương chắc chắn ta sẽ ngày càng phát đạt.
- Tôi cũng mong như vậy.
- Thôi bây giờ anh thu dọn giấy tờ rồi ra phố mua rượu về nhậu tất niên chơi.
À mai anh cũng lo sang sửa trang hoàng lại nhà cửa để ăn tết. Cứ như thông lệ thì từ bữa hai ba tháng chạp trở đi cho tới ngoài khai hạ nhà trọ không có khách phải không?
- Thưa phải. Trừ khi có việc cấp bách còn thì ngày tết ai chẳng ở nhà du xuân!
Nói đoạn trương vạn tất tả đi ra phố. Lát sau y trở về thì thấy Trình Vĩnh đã châm đèn sáng choang, dọn sẵn bàn tiệc.
Trước khi ngồi vào mâm, Trình Vĩnh làm như chợt nhớ ra điều chi liền bảo tài phú:
- À này, anh vô hỏi Sãi Giang Long đã thụ trai chưa?
Thày ấy có cho biết là đã thụ trai trước khi tới nhà trọ vì biết thường thì chỉ tới nhà trọ mà không có lo cơm.
- Tuy thế anh ũng nên vô hỏi qua nhà chùa có cần chi khác không và luôn tiện đi đóng các cửa ngõ lại.
Lát sau, anh tài phú trở lại nói:
- Nhà chùa đáp không cần chi. Phần tôi đã đóng xong các cửa rồi.
Hai người nhập tiệc và trình vĩnh cố ý ép Trương Vạn uống hết chén này tới chén khác, trong khi hắn chỉ uống cầm chừng mà thôi.
Tới lúc mãn tiệc thì trương Vạn đã say khướt, đi không vững, Trình Vĩnh phải dìu vô giường. Vạn nằm ngủ mê man như người chết.
Sau đó, Trình Vĩnh cứ để bàn rượu y nguyên và lui về phòng riêng đóng cửa lại rồi lôi từ phía sau tủ ra một cây đoản đao, lưỡi bén vô cùng. Hắn vung tay chém thử mấy nhát vào không khí rôi đặt đoản đao xuống bàn, tắt đèn, leo lên giường nằm chờ canh khuya sẽ ra tay.
Canh một rồi canh hai lặng lẽ trôi qua, khi tiếng trống khô khan và cộc lốc từ xa vọng lại báo hiệu đã sang canh ba, Trình Vĩnh vùng dậy xách đoản đao, khẽ mở cửa buồng, lén đi về phía phòng Sãi Giang Long.
Hắn ghé mắt dòm qua khe cửa. Trên án thư, ngọn đèn dầu lạc còn leo lét cháy. Trên giường, Sãi Giang Long nằm quay mặt vào vách ngủ say, tiếng thở đều đều nổi lên.
Tên chủ trọ bất lương đẩy cửa nhẩy tới bên giường, miệng quát:
- Giang Long, đưa bạc đây không thì ta giết.
Sãi Giang Long giật mình choàng dậy, chưa kịp trở tay đã bị Trình Vĩnh vung đoản đao đâm chết liền.
Thi hành xong thủ đoạn dã man, tên chủ trọ lấy mền quấn chặt vết thương của nạn nhân cho máu khỏi chảy lan ra ngoài. Đoạn hắn ôm xác nhà chùa bỏ xuống nền đất, rồi kéo chiếc giường ra. Hắn nắm túi bạc xách lên đem về phòng bỏ vô rương khoá lại.
Sau đó hắn ra vườn lấy mai thuổng vào và ra công đào huyệt chôn ngay Sãi Giang Long ở dưới gầm giường. Đến lúc gà gáy lần đầu thì Trình Vĩnh cũng hoàn tất mọi việc. Hắn khêu đèn cho sáng thêm, kiểm soát lại một lượt. Hắn xoa tay tự bảo:
- Yên trí lớn. Khó mà tìm thấy vết tích gì.
Hắn ra ao sau nhà rửa sạch đoản đao cùng mặt mũi chân tay rồi lén trở về phòng nằm nghỉ. Hắn cố tình để cửa sau nhà hé mở.
Qua sáng sau, anh tài phú Trương Vạn tỉnh rượu trở dậy thấy cửa sau mở liền nhào vô phòng Sãi Giang Long thấy bỏ không thì hốt hoảng chạy tới đập cửa phòng gọi Trình Vĩnh , Vĩnh làm ra vẻ ngủ mệt, ú ớ một lát mới dậy mở cửa. Hắn giả bộ gắt tài phú:
- Anh thử coi kỹ trong phòng này xem có gì khác lạ không?
Trương Vạn lật chiếu, mở tủ dòm gầm giường, nhìn khắp mọi nơi nhưng không thấy gì “khác lạ” cả.
Vĩnh mừng lắm liền lôi Vạn ra vườn xem xét, cũng không có chi khác lạ cả. Lúc bấy giờ hắn mới bảo viên thuộc hạ:
- Ta chắc là Sãi Giang Long không có tiền trả trọ nên lẻn đi từ sớm. Thôi lần đầu ta tha cho ngươi, tự hậu phải cẩn thận nghe.
Trương Vạn cám ơn chủ rối rít.
Trình Vĩnh chờ ít ngày không nghe ai nói đến sãi Giang Long cả, mới tính kế sử dụng số bạc cướp được.
Vốn là đứa khôn ngoan, mưu mẹo, Vĩnh giả bộ đi làm ăn xa, trong một năm.
Trước khi lên đường vào đầu tháng giêng, Vĩnh trao cho tài phú lối năm lượng bạc nói là vay được.
Tới khi trở về chốn cũ, để che mắt thiên hạ, hắn kheo trúng nhiều mánh lớn trong lúc buôn ba nơi khác. Rồi hắn mới xuất chỗ bạc lấy của Sãi Giang Long mua thêm đất, khuếch trương tiệm ngủ, tậu ruộng cho cấy rẽ và buôn bán thêm. Chẳng bao lâu hắn trở nên một tay cự phú trong vùng.
Tài phú trương làm không xuể việc, phải mướn thêm người phụ giúp.
Ai cũng khen Trình Vĩnh và không mảy may nghi ngờ gì về hành động bất lương của hắn năm xưa. Những người thiệt thà còn lấy Trình Vĩnh ra làm gương răn dạy con cái. Nhiều nhà khá giả gọi gả con cho hắn.
Thế là chưa đầy hai năm sau ngày Sãi Giang Long bị giết, Trình Vĩngh nghiễm nhiên trở thành phú ông và cưới con gái Hứa nhị là Hứa thị về làm vợ. Năm sau, Hứa thị sẽ lâm bồn vào hạ tuền tháng chạp tứ là từ ngày hai mươi trở đi. Vĩnh nghe nói mừng lắm bảo vợ:
- Nếu vậy thì hay lắm. Thường lệ nhà trọ đã bớt khách từ sau ngày hai ba tháng chạp, khi ông táo lên chầu trời. Ta sẽ có thì giờ rảnh rang đôi chút, lo cho mẹ con nàng.
Thấm thoát đã gần tới ngày Hứa thị khai hoa mãn nguyệt, Trình Vĩnh sai người thu dọn một phòng riêng cho vợ, tại trái Đông, mới cất sau nhà trọ, cách một cái sân rộng.
Ngày hai mươi tháng chạp mọi sự được chuẩn bị xong xuôi, chờ đón đứa con đầu lòng của phú gia Trình Vĩnh. Một ngày rồi hai, ba ngày kế tiếp trôi qua, tới sáng hai bảy tết cũng không thấy Hứa thị có triệu chứng sắp lâm bồn.
Cô mụ cho là tính lộn ngày, có lẽ phải chờ ra giêng. Thế là tới trưa hai bảy tết, lệnh “báo động” được bãi bỏ. Cô mụ ra về. Tối lại, Trình Vĩnh và tài phú Trương Vạn bỏ đi dự tiệc tất niên với bạn bè, hẹn khuya mới về, vì khách trọ chẳng có người nào. Ở nhà chỉ còn một mình Hứa thị với lũ gia nhân. Cơm tối xong, vợ trình Vĩnh kêu người làm đem đèn theo thị lên nhà ngủ cũ soát lại cửa ngõ. Mới xem xong một phòng, bỗn dưng Hứa thị thấy đau bụng dữ dội. Thị hô nữ tỳ dìu về phòng ở trái Đông.



vui_la_chinh 06-14-2005 02:38 PM

Đi được lối mười bước, Hứa thị đau tưởng chết được liền, vô nằm đỡ một phòng trọ
Lúc đó đã gần hết canh một và bên ngoài gió ấc rít từng cơn. Năm nay trời rét hơn mọi năm nhiều. Cô mụ lật đật chạy tới, sai đốt dăm bảy lò than sưởi cho ấm cho hứa thị và cụ bị mọi thứ cho vợ Trình Vĩnh anh ngay trong phòng trọ.
Trình Vĩnh được cấp báo cũng bỏ tiệc chạy về. Hắn muốn đưa vợ xuống phòng riêng nhưng mụ cản vì sợ đi qua sân hứa thị nhiễm lạnh.
Nhà Trình Vĩnh vui như tết. Đèn thắp sáng choang, gia nhân chạy tới chạy lui, cười cười nói nói thiệt là vui vẻ. Trình Vĩn và tài phú Trương vạn ngồi đánh cờ cho đỡ sốt ruột…
Tiếng trống cầm canh thong thả buông ba tiếng ngắn ngủi vào đêm dài vô tận. Lát sau, có tiếng trẻ sơ sanh khóc ré lên. Trình Vĩnh đứng phắt dậy lật đật chạy tới trước phòng hỏi vọng vô: “Trai hay gái”. Cô mụ mau mắn đáp “Con trai, ông à!”.
Tài phú Trương Vạn vừa tới sau lưng chủ, nghe vậy reo lên:
- Tốt quá, tốt quá. Cái phòng này từ nay hết xui rồi.
Trình Vĩnh ngạc nhiên hỏi:
- Anh nói chi kỳ vậy? Cái phòng này làm sao mà hết xui?
- Uûa ông chủ quên rồi sao? Cũng ngày hai bảy tết này, cách đây ba năm, có Sãi Giang Long đến trọ tại phòng này rồi sớm hôm sau chuồn mất, không trả tiền trọ.Và cũng từ ngày đó, khách trọ nào ở phòng này sáng ra cũng xin đổi phòng. Người thì bảo có ma, kẻ thì bảo nó u uất thế nào ấy.
Trình Vĩnh giật mình nhớ lại chuyện năm xưa. Thôi đúng rồi, con trai đầu lòng của hắn vừa cất tiếng chào đời ngay trên giường mà trước đây hắn đã hạ sát một người để cướp của, mà kỳ dị hơn nữa là cũng vào cùng một ngày và gần như cùng một giờ!
Hắn tái mặt, cố làm ra vẻ bình tĩnh dò thử xem người làm có nghi ngờ gì không:
- Chuyện tầm bậy. Riêng anh, anh thấy sao?
- Tôi cứng bóng vía, ma nào mà nhát nổi tôi. Có lẽ cái phòng hơi tối và ẩm thấp, tôi nghĩ ông nên cho trổ thêm cửa sổ thì hết chuyện ngay.
- Cái đó thì được. Tết xong anh cho làm ngay đi.
- Tôi sẽ cho gọi thợ làm sau khi khai hạ. Bây giờ mời ông qua khoang ngoài uống rượu mừng quý tử.
Sau khi cạn chén, Trình Vĩnh về phòng nghỉ. Đêm đó hắn trằn trọc mãi không ngủ được. Những chuyện “đầu thai báo oán” mà hắn thường nghe kể lại hồi còn nhỏ, nay cứ quay cuồng trong đầu óc hắn. Tới gần sáng, mệt quá, hắn chợp mắt được một lúc. Trong lúc thiếp đi hắn mơ toàn là những cảnh hãi hùng.
Sáng dậy hắn thấy người mệt mỏi, tâm trí hoang mang. Nhưng sau hắn định thần lại và tự nhủ:
- Tất cả chỉ là một sự ngẫu nhiên, can chi mà phải lo âu, sợ hãi.
Từ bữa đó hắn cố không nghĩ đến chuyện cũ và rồi công việc hằng ngày quá bề bộn cũng giúp hắn quên dần vụ sãi Giang Long.
Đứa con trai của Trình Vĩnh thiệt là bụ bẫm và kháu khỉnh, ai trông thấy cũng phải khen. Khi nó đầy tháng, Trình Vĩnh mở tiệc ăn mừng và đặt tên con là Trình Tích.
Tích hay ăn :Dng lớn và ngày càng khôi ngô, dĩnh ngộ. Vợ chồng Vĩnh chiều con vô cùng, nhất là về sau Hứa thị không sanh thêm đứa nào nữa. Thôi thì Tích muốn gì được nấy, muốn sao được vậy. Năm nó lên bảy ,Vĩnh bắt nó đi học, nó chẳng chịu, la khóc ầm ĩ, làm mình làm mẩy. Vợ chồng Vĩnh đành chịu. Lớn hơn một chút, suốt ngày nó đánh bạn với lũ trẻ mất nết quanh vùng, tới bữa cơm gia nhân phải đi mời năm lần, bẩy lượt nó mới chịu về. Một hôm, nó đùng đùng chạy về nhà, kiếm Hứa thị và hỏi giật giọng:
- Ba đâu má?
Ít khi thấy Tích hỏi đến cha nó, nên Hứa thị ngạc nhiên đáp:
- Ba đi vắng. Có chi đó con?
- Ba là thằng ăn cướp!
Hứa thị ngỡ con nói đùa, vội ôm lấy nó mà nựng rằng:
- Con giai của má chớ nói nhảm. Ba biết, ba la à.
Tích quắt mắt bảo mẹ:
- La gì? Ba đúng là thằng ăn cướp mà.
Nói rồi nó lại bỏ chạy đi chơi.
Lúc Trình Vĩnh về thấy vợ ngồi khóc mới hỏi duyên cớ. Hứa thị thuật lại câu chuyện vừa xẩy ra. Vĩnh lặng thinh không nói chi cả. Hắn chờ lúc chỉ có hai cha con mới na6t nó:
- Lần sau không được nói bậy nữa nghe Tích.
- Cái chi mà bậy? Ba là thằng ăn cướp không phải sao?
Vĩnh vừa giận vừa sợ, bèn ngọt ngào dỗ Tích để biết ai sui nó nói bậy. Nó đáp, nghe tụi bạn nói.
Sau bữa đó, Vĩnh bắt con ở nhà học. Học được vài chữ, nó cự lại cả ông đồ rồi lại bỏ đi chơi. Vĩnh ahy tin la Hứa-thị ở nhà mà không biết dạy con. Hứa thị bưng mặt khóc ròng.Vợ chồng người bạn thân là Nghiêm Chánh đến chơi hay đặng câu chuyện mới nhận khuyên bảo Trình Tích giúp.
Hai người ra công khuyên nhủ con bạn nhưng vô ích, nó vẫn chứng nào tật ấy.
Trình Vĩnh cả giận la mắng con om sòm. Tích ngồi nhà được một lúc lại trốn đi chơi. Cứ như thế, đến năm mười sáu tuổi thì Trình Tích trở thành một tên du đãng có hạng. Qua năm sau nó lại biết uống rượu và đánh bạc như người lớn vậy. Nguy hại hơn nữa, nó còn đua đòi mấy tay ngỗ ngược trong vùng, tập múa gậy, đánh dao và thường bỏ đi đôi ba ngày mới về.
Trình Vĩnh ham đi đánh bạc không mấy khi có nhà. Khi về có hỏi đến con thì Hứa thị lại tìm cách bưng bít che đậy cho Tích.
Tuy vậy, một lần trình Vĩnh bắt gặp Tích la cà nơi tỉu điếm, Hắn nổi giận la mắng con một hồi rồi lôi nó về nhà nhốt trong phòng. Tích đập phá ầm ầm và réo tên cha lên và hăm giết. Vĩnh tím mặt toan lấy gậy đập con. Hứa thị nhẩy vào can, một mặt van xin Vĩnh, một mặt năn nỉ con. Từ bữa đó, Tích được thể, hễ mỗi lần bị rầy la hay bị trái ý là lại giở giọng sát phụ ra, ai khuyên thế nào cũng không được. Và cũng từ bữa đó, Tích ngang nhiên muốn đi lúc nào thì đi, về lúc nào thì về, không sợ ai chi nữa.
Tài phú Trương Vạn thấy Tích càng ngày càng ngỗ nghịch cũng cám cảnh, thốt tiếng than rằng:
- Cho hay, bé không vin cả gẫy ngành.
Rồi một hôm, Tích về nhà nạt mẹ lấy bạc và ra chợ mướn thợ rèn một cây đoản đao thật bén. Nó giấu đao vào túi vải đeo trên lưng rồi lần sang nhà vợ chồng Nghiêm Chánh, ở làng bên.
Thấy con trai bạn đến, Nghiêm chánh mừng rỡ, giữ lại ăn cơm. Mọi người và ngay cả vợ chồng Nghiêm Chánh đều lấy làm lạ về cách xử sự của trình Tích đối với vợ chồng nhà này. Nều Tích hỗn hào với cha bao nhiêu thì trái lại nó lễ phép với bạn cha nó bấy nhiêu.
Nghiêm Chánh vui vẻ hỏi con bạn:
- Cháu sang có việc chi không? Bên nhà ba má bình yên cả chứ, ba cháu có nhắn gì chú không?
Tích đang cười bỗng sa sầm nét mặt gay gắt đáp:
- Đừng nhắc đến cha tôi nữa. Nó là thằng ăn cướp, tôi muốn giết nó nên đã sắm đoản đao sắc bén đây rồi. Chú hay, ngày mai tôi sẽ ra tay đó.
Nói đoạn, nó lầm lì rút phắt đoản đao trong túi vải ra, múa lên trước mặt Nghiêm chánh. Ông này bình tĩnh đứng dậy, giơ tay nói lớn:
- Aáy chớ, cháu không nên làm thế. dẫu sao cũng còn tình cha con, cháu đừng để người đời chê cười.
Tích thu đao về và đáp:
- Thế nào cũng giết, nội ngày mai thôi. Chú nghe chưa?
Vợ Nghiêm Chánh là Huỳnh thị cũng chạy lại khuyên can con bạn nhưng nó đã giắt đao trong lưng vứt lại túi vải rồi lũi lũi đi ra. Huỳnh thị lắc đầu bảo chồng:
- Có bao giờ nó làm quá như thế đâu?
- Ừ, Những lần trước mình khuyên giải nó, tuy rằng nó không nghe lắm nhưng cũng còn giữ lễ độ đôi chút. Tôi xem ý nó tính giết bác Vĩnh thiệt, bà nghĩ sao?
- Tôi cũng nghi vậy.
- Bây giờ tính sao đây? Không lẽ để cha con họ Trình giết nhau. Hay là để tôi sang báo cho hai bác ấy biết mà đề phòng.
Huỳnh thị xua tay can:
- Ông qua nói thì cũng được ::146a7::, hiềm một mỗi hai bác ấy cũng không làm gì được. Muốn khỏi họa chỉ còn một cách… là đi báo quan.
- Thằng Tích nó mới mười lăm thôi mà đã đi báo quan sao đặng?
- Thế ông chờ nó đi giết cha nó rồi ông mới đi cáo quan à? Mà tới nước đó ông cáo cái gì? Ông có chứng kiến nó sát phụ đâu mà cáo, còn nếu ông khai có biết trước nó sẽ giết bác vĩnh thì ông lại bị quan hạch hỏi tại sao thấy nó nhất quyết giết cha mà không đi cáo ngay để quan ngăn chặn?
Nghiêm Chánh gật đầu nói:
- Bà nói có lý. Thôi để tôi làm đơn cáo ngay với Bao đại nhơn.
Tiếp được đơn của Nghiêm chánh, Bao Công cho lính hoả bài cấp tốc đi đòi vợ chồng Trình Vĩnh đến và hỏi rằng:
- Dạ phải.
- Nghiêm Chánh là thế nào với vợ chồng ngươi?
- Dạ, là bạn thân.
- Nay Nghiêm Chánh đệ đơn cáo với ta rằng Trình Tích vừa đến nhà y hắn sẽ giết cha, nội trong ngày mai. Tên Tích cũng đã sắm sẵn đoãn cây đoản đao bén giắt trong lưng. Vậy vợ chồng ngươi nghĩ sao?
Trình Vĩnh thưa:
- Con tôi đã từng nhiều lần hăm giết tôi, nay nó tới nhà Nghiêm Chánh nói vậy thì cũng không có chi là lạ.
Hứa thị tiếp lời chồng:
- Thưa thượng quan, nó thường hăm giết cha nó trước mặt tôi. Tôi có rầy la nó nhiều lần mà không được.Nhưng nó chỉ hăm thế thôi chớ chưa có thấy mang khí giới bao giờ.
Bao Công chậm rãi nói:
- Theo lời khai của Nghiêm chánh thì đây là lần đầu tiên hắn nghe nói như vậy và xem ra có vẻ quả quyết lắm.
Thế ra thằng Tích hăm doạ giết cha từ lâu rồi ta chắc lần này nó mần thiệt à. Nhưng tại sao nó lại ngỗ nghịch như vậy?
Vợ chồng Trình Vĩnh đều thưa không rõ nguyên nhâ. Có lẽ là tại quá nuông chiều nó vì nó là con một. Bao Công suy nghĩ một lát rồi truyền vợ chồng Vĩnh ra chờ ở ngoài. Đoạn ông sai lính đi bắt trình Tích và mời mấy người lân bang tới cho ông xét hỏi.
Lát sau, lính áp giải Trình Tích và bốn người lối xóm đến trước công đường.
Bao Công quát hỏi:
- Trình Tích, cớ sao mi lại có ý giết cha?
Tích cúi đầu đứng yên, chẳng nói chẳng rằng. Bao Công vỗ án la vang nhà, nó cũng vẫn lặng thinh. Bao Công liền hỏi mấy người lân bang:
- Các ngươi có thấy tên này hăm giết cha nó hồi nào không?
Họ đồng thanh “có”. Rồi mỗi người trình bày đầy đủ chi tiết về trường hợp đã được nghe Tích hăm như vậy. Họ còn khai thêm có thấy Tích giấu con dao trong lưng hồi sáng nay.
Bao Công hô lính khám người Tích. Không có vũ khí gì cả!
Một ông hàng xóm đưa ra ý kiến:
- Thưa thượng quan, chúng tôi không dám man khai. Nó hăm giết cha nó nội ngày mai. Chắc đao nó giấu ở trong phòna8
Lính được lệnh đền xét, quả thấy cây đoản đao sắc bén Trình Tích giấu dưới chiếu, ở đầu giường, liền đem về trình Bao Công. Bao Công hỏi Tích:
- Phải cây đao này mầy sắm để hạ sát ba mầy không?
Tích vẫn lặng thinh, không trả lời.
Bao Công tức giận sai tạm giam hai cha con họ Trình lại và ông gọi vợ chồng Nghiêm Chánh cùng bốn người lối xóm, riêng từng người một. Với ai Bao Công cũng đặt câu hỏi: “Có biết vì sao thằng Tích có ý định giết cha nó không”. Mọi người đều thưa:
- Dạ không biết đích xác, chỉ nghe Tích khai cha nó là thằng ăn cướp!
- Theo ngươi thì trình Vĩnh, cha đẻ của Tích là người thế nào?
- Da, hắn tuy có hay rượu chè cờ bạc nhưng là người biết làm ăn.
Hỏi xong, Bao Công truyền cho mọi người ra về. Ông tự bảo:
- Tình cha con thắm thiết, nay tên Tích có ý sát phụ, tất nhiên phải có điều chi uẩn khúc. Một là nó điên khùng, hai là nó có biết điều gì về cha nó đây. Ừ, mà tại sao nó nói khắp nơi cha nó là thằng ăn cướp? Vậy thì phải tìm biết dĩ vãng của trình Vĩnh mới được.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:38 PM

Nghĩ vậy, ông liền kêu hai thám tử vô dạy phải đi điều tra ngay về gia thế, nguồn gốc tài sản cùng tánh tình hạnh kiểm của cha con Vĩnh- Tích.
Chiều hôm sau, các thám tử phúc trình kết quả đầy đủ cuộc điều tra. Suốt đêm đó, Bao Công ngồi nghiên cứu hồ sơ và suy nghĩ dữ lắm. Bỗng Bao Công gật đầu, vuốt râu, ra chiều đắc ý, miệng lẩm bẩm:
- Trình Vĩnh lúa còn nhỏ cũng chơi bời lêu lỏng, kết bạn với phường du đãng, thích rượu chè cờ bạc. Tới lúc cha mẹ qua đời, hắn mới gom góp tiền bạc mở một tiệm ngủ nhỏ có bốn phòng gần bến đò làm phương tiện sinh nhai. Kể ra cũng tạm đủ sống là may vì vì hắn lười bếng không muốn vất vả lại ham chơi bời. Vậy mà đột nhiên ba năm sau hắn trở nên cự phú sau một thời gian vắng nhà lối một năm, nói là đi buôn bán nơi xa. Rất có thể y trúng mối nên mới :Dng giàu. Nhưng tiền đâu ra mà buôn bán đã chứ? Thằng Tích năm nay mười bảy tuổi, lại ra đời sau khi cha nó đã trở thành đại phú. Theo cuộc điều tra thì từ ngày có thằng Tích, cha nó đều đều chớ không có bộc phát nữa. Vậy thời kỳ khả nghi nằm trong khoảng từ mười tám đến hai mươi năm trước, tức là sau khi song thân Trình Vĩnh qua đời và trước khi thằng tích.
Nói đoạn bao Công lấy bút son phê lên hồ sơ một hàng chữ như sau: “Nếu hắn có ăn cướp thì là vào khoảng từ mười tám đến hai mươi năm trước. Cướp của ai? Ơû đâu? Lúc nào?”
Phê xong Bao Công xếp hồ sơ, thổi tắt cây bạch lạp và đi nằm.
Đang lúc mơ màng giấc điệp, Bao Công chiêm bao thấy mình đứng ngắm cảnh ở bờ sông. Đột nhiên ông thấy mặt nước sôi lên sùng sục. Rồi thì một con rồng đen từ từ nổi lên trên mặt nước. Nó phun nước ầm ầm một hồi, gương đôi mắt to tròn nhìn Bao Công trừng trừng.
Bỗng nó bay lại phía ông. Bao Công sợ hãi toan bỏ chạy nhưng không kịp, rồng đen đã đến trước mặt rồi. Giữa lúc Bao Công luống cuống thì có tiếng nói từ trên lưng rồng vọng xuống:
- Bao Đại nhơn đừng sợ. Con thần Long này tuy dữ tướng nhưng rất hiền lành, không làm hại Đại nhơn đâu. Bữa nay bổn thần muốn nói với Đại nhơn một điều.
Bao Công ngẩng lên thấy trên lưng rồng có một vị thần, mình vận áo rồng bào, tay cầm hốt bạc, đầu râu tóc bạc phơ.
- Xin Đại nhơn đừng trách thằng con bất hiếu ấy. Chẳng qua là hai mươi năm về trước mà ra như vậy. Nó là hậu thân của con hắc Long này.
Nói rồi, cỡi rồng bay đi mất. Bao Công giật mình tỉnh giấc thì trời cũng vừa hừng sáng, bèn sửa soạn đăng đường.
Ông cho kêu trình Vĩnh lên và hỏi rằng:
- Tài sản hiện nay của nhà ngươi ước độ bao nhiêu lượng bạc?
- Thưa thượng quan, lối hơn một trăm lượng.
- Cha nhiều dữ à. thế gia nghiệp ấy do ông bà để lại hay là do ngươi tạo lập ra?
- Thưa, cha mẹ chết đi để lại chút ít, chỉ để mua lại căn nhà nhỏ bé làm tiệm ngủ kiếm ăn.
- Ờ, nhưng nghe nói ngươi có đi buôn xa mà?
- Dạ có đi lối một năm, trúng lời nhiều mà thành giàu có.
- Tiền đâu ra mà vừa nhà ngủ lại vừa đi buôn.
- Dạ thưa dạ nhờ tiệm ngủ đông khách, nhiều lời nên có vốn đi buôn thêm.
- Nhà có nuôi tài phú phải không?
- Dạ phải, tên trương vạn là tài phú của tôi.
- Tiệm ngủ có giữ sổ sách không?
- Dạ có, vì có tài phú giỏi.
- Cha mẹ ngươi chết cách đây hai mươi năm, ngươi trở nên giàu có cách đây lâu mau?
- Dạ lối mười tám năm chi đó.
Hỏi tới đây Bao Công truyền dẫn Trình Vĩnh trở lại nhà giam rồi sai lính hoả bài đòi trương Vạn đem sổ sách về ba năm đầu tiên thành lập tiệm ngủ.
Lát sau Trương Vạn ôm ba cuốn sổ vô tới công đường. Bao Công mở cuốn có đề chữ “đệ nhất niên” và lật từng trang ra coi.
Xem xong ông gập sổ lại và bảo trương Vạn:
- Nhà ngươi giữ sổ sách phân minh lắm, ta có lời khen. Theo các điều ghi trong cuốn sổ này thì năm đầu cũng chẳng lời gì cho lắm, phải không?
- Dạ phải.
- Đã không lời mà chủ ngươi lại nuôi tài phú và hay rượu chè, cờ bạc, thì đủ ăn là hay phải không?
- Dạ, tệ hơn thế vì hụt vào vốn.
- Thế qua năm thứ nhì… thì có khá hơn không?
- Thưa khá hơn vì đầu năm thứ nhì, ăn tết xong, chủ tôi cho biết sẽ đi buôn bán nơi xa. Mới đầu tôi tưởng chủ tôi dẹp tiệm ngủ lấy vống đi buôn nên có ý buồn rầu. Nhưng không phải vì ông có đưa thêm vốn cho tôi…
- Bao nhiêu có nhớ không?
- Dạ năm lượng bạc chẵn.
- Đưa ngày mấy tháng giêng?
- Ngày bảy tháng giêng, sau khi khai hạ.
- Bữa trước có ai đến trọ không?
- Không, người khách nọ đầu tiên đến ngày mười tức là hai bữa sau khi chủ trao năm lượng bạc.
- Ngươi có trí nhớ tài nhỉ!
- Cái đó có ghi vô đầu sổ “đệ nhị niên” này. Khi quan đòi mang sổ lên, tôi có lật ngay trang đầu và trang cuối mỗi sổ coi qua lại để biết đường trả lời.
- Ngươi cũng thông minh đấy. Để ta coi có đúng không.
Bao Công vừa nói vừa mở sổ đệ nhị niên ra xem rồi gật đầu nói:
- Được rồi. Nhờ năm lượng bạc đó, ngươi ở nhà duy trì được nhà ngủ và cuối năm đó chủ ngươi trở về, hô là trung mối giàu to và qua năm thứ ba xuất thêm bạc ra khuếch trương nhà ngủ. Năm ấy chủ ngươi lấy vợ vá cuối năm sanh con trai đặt tên là Trình Tích. Phải vậy không?
- Dạ phải, thượng quan biết rõ mà chưa cần coi sổ đệ tam niên thì ngài quả có tài xét đoán như thần, đúng là lời đồn đại trong dân gian.
Bao Công không đáp chỉ lặng lẽ mở cuốn sổ thứ ba ra coi. Ông thấy ghi rõ số vốn Trình Vĩnh xuất thêm là tám mươi lượng bạc. Coi xong Bao Công hỏi trương Vạn:
- Trở về câu chuyện đầu năm thứ nhì, ngươi nói sau tết Trình Vĩnh có xuất năm lượng bạc để lại cho ngươi trước khi đi xa buôn bán. Ngươi có biết số bạc ấy hắn lấy ở đâu ra?
- Thưa, lâu ngày tôi quên rồi.
Bao Công cố hỏi:
- Ráng nhớ lại coi nào?
- Thưa hình như chủ tôi nói là vay được.
- Bây giờ ngươi tạm ra ngoài chờ ta sẽ hỏi yhe6m.
Trương vạn lui ra rồi, Bao Công mới thong thả xem kỹ lại ba cuốn nhật ký của tiệm ngủ Trình Vĩnh . Ông cau mày suy nghĩ hồi lâu rồi lẩm bẩm:
- Chỉ có hai giả thuyết. Một là Trình Vĩnh ăn cướp của ai ở ngay trong vùng vào khoảng cuối năm thứ nhất đầu năm thứ nhì. Hai là hắn làm điều chi phi pháp trong thời gian nói là đi buôn nơi xa, tức là năm thứ nhì. Thiệt là khó nghĩ quá. Làm sao tra ra manh mối bây giờ.
Ông đứng dậy chắp tay sau lưng đi bách bộ trong công đường. Bỗng ông nảy ra một ý kiến liền kêu thơ lại vô giao cho cuốn sổ “đệ nhất niên” của tiệm ngủ Trình Vĩnh và bảo rằng:
- Người chép riêng ra cho ta, tên họ cùng ngày đến và đi của các khách trọ nội trong tháng chạp. Khi làm xong kêu ngay Trương vạn vô cho ta hỏi nghe.
Lát sau, viên thơ lại cùng tài phú Trương Vạn trở vô. Bao Công xem qua danh sách khách trọ rồi trao cho Trương Vạn và hỏi rằng:
- Trong những người này, có ai than phiền bị mất bạc trong lúc trọ ở tiệm ngươi không?
- Dạ không, nếu có thì đã ghi trong sổ.
Bao Công soát lại sổ rồi đáp:
- Ờ không có thiệt. Thế còn cái ông Sãi Giang Long này đến chiều hai bảy tết rồi thấy ngươi ghi bỏ ra đi hồi nào không hay, tiền trọ không trả. Câu chuyện thế nào ngươi có nhớ không?
Thấy Trương Vạn có vẻ suy nghĩ, Bao Công nói tiếp:
- Câu chuyện đã lâu ngày, hai mươi năm còn chi. Ngươi cố ráng nhớ lại coi.
- Thưa, tôi nhớ ra rồi, Sãi Giang Long là khách cuối cùng của năm đó, vì là hai bảy tết rồi. Tối đó chủ tôi và tôi uống rượu quá say ra thấy cửa sau mở tôi mới kêu chủ cho hay.
- Nhà chùa này từ đâu đến và có mang theo tiền bạc chi không?
- Không nghe thấy từ đâu đến. Chỉ nghe sãi ấy cho hay theo lệnh thầy đi về chùa đang xây cất dở ở phía Đông Nam bến đò, lối chừng ba mươi dặm. Còn tiền bạc thì tôi không rõ. Nếu có ông ta đã trả tiền trọ, hà tất phải bỏ đi như vậy.
- Ngoài việc trên đây, ngươi có biết chủ ngươi đi buôn bán qua những vùng nào không?
- Dạ có nghe chủ nói đi làm ăn ở vùng Nam đất Tây Hộ này.
- Thôi được, bây giờ ta cho ngươi về. Hễ có lệnh đòi thì phải lên ngay và cấm ngặt không được tiết lộ cho ai những điều ta hỏi. Còn ba cuo61nnha65t ký này, ta cần giữ lại coi, chừng nào xong sẽ trả.
Trương Vạn vái chào ra về. Bao Công cho đòi gấp hai thám tử Trương Long và Triệu Hổ vô và truyền rằng:
- Hai ngươi nghe cho kỹ các điều ta dặn đây mà làm cho đúng. Trương Long khá đi ngay về phía Đông Nam bến đò, vô hỏi các chùa xem có vị sư sãi nào tw6n là Giang Long và xem người đó còn sống hay đã mất tích cách đây hai mươi năm và nếu mất tích thì hỏi có đem bạc chi không? Còn Triệu Hổ hãy xuống ngay vùng phía Nam đất Tây Hộ hỏi các quan sở tại xem lại sổ sách coi có vụ cướp bóc hay giết người cướp của xảy ra cách đây mười chín năm, mà tra không ra thủ phạm. Dù có hay không họ cũng phải lập tức phúc trình cho ta rõ.
Hai thám tử vâng lệnh lên đường ngay sáng hôm đó. Trong khi chờ đợi kết quả cuộc điều tra ở các nơi, Bao Công cũng ra lệnh cho thơ lại bổn đường lục hồ sơ các vụ trộm cướp sát nhân mười chín năm trước.
Thời gian lặng lẽ trôi qua. Cha con họ Trình bị tạm giam thấm thoát đã gần nửa tháng rồi. Cũng trong khoảng ấy Bao Công nhận được phúc trình của các nơi cho biết năm đó vì trúng mùa lại làm ăn dễ dàng nên các vụ trộm cướp hầu như không có xảy ra. Bao Công tự bảo:
- Nếu vậy thì Trình Vĩnh nói là trúng mối là trúng mối lớn nên giàu to cũng không phải là vô lý. Nếu Trương Long lại tìm ra sãi Giang Long thì đúng mình nghi oan cho Trình Vĩnh và thằng con nó phải bị chém đầu.
Nhưng hai bữa sau, mới sáng chưa tỏ mặt người, đã có lính vô bẩm với Bao Công có trương Long trở về xin vào trình gấp công việc.
Bao Công lật đật trở dậy ra công đường cho đòi Trương Long vào hầu.
Thám tử trình rằng:
- Tuân lệnh thượng quan, tôi đến dọ hỏi mấy chục chùa lớn nhỏ cách bến đò ba mươi dặm về phía Đông Nam, vì các chùa ở rải rác và có nhiều ngôi lập trên sườn núi nên thiểm chức phải mất nhiều ngày giờ…
Bao Công suốt ruột ngắt lời:
- Ta cũng dư biết như vậy rồi. Kết quả ra sao nói ngay đi đừng dài dòng nữa.
- Thưa thượng quan tôi đã tìm ra tung tích sãi Giang Long và có ghi đầy đủ vào phúc trình này.
Vừa nói thám tử vừa đệ lên án thư một tờ giấy viết đầy chữ.
Bao Công cầm lấy coi rồi gật đầu nói:
- Tốt lắm. Vậy là ngày hai bảy tết cách đây hai mươi năm, Hoà thượng củ trì chùa này có biểu sãi Giang Long đem về chùa một trăm lượng bạc do thiện nam tín nữ công quả nhà chùa để xây chùa mới, tô tượng, đúc chuông. Nhưng chờ mãi không thấy sãi ấy trở về. Có lẽ đúng là người đã đến trọ tại tiệm Trình Vĩnh đây.
Ủa mà sao ngươi không hỏi Hoà Thượng có trình báo cho quan quân biết không?
- Dạ có mà quên ghi vào tờ trình vì thiểm chức tưởng không quan hệ.
- Cũng được, thế Hoà Thượng trình ở đâu và kết quả ra sao?
- Dạ, trình với quan huyện sở tại, nhưng không rõ kết quả.
- Cái ông huyện này làm việc tắc trách quá. Ông ta đi đâu rồi.
- Dạ quan ấy hồi hưu rồi qua đời đã mười năm nay.
- Thôi cho ngươi về nghỉ. À khoan đi vội, chờ ta một chút. Nói đoạn Bao Công mở kéo lấy bạc ra thưởng cho thám tử.
Thám tử vái tạ lui ra. Bao Công đứng dậy toan vô thay áo đại thần để đăng đường bỗng chợt ông vỗ trán kêu:
- Trời! Hèn chi đêm nọ ta chiêm bao thấy con rồng đen ở sông nổi lên. Giang là sông Long là rồng. Giang ngạn Hắc long, rồng đen bên bờ sông. Thôi đúng là tên Vĩnh đã sát hại sãi giang Long để đoạt một trăm lượng bạc rồi.
Nói đoạn, Bao Công kêu lính sửa soạn bữa nay ông đăng đường xét hỏi Trìng Vĩnh sớm.
Lát sau, Bao Công vận áo đại thần ngồi uy nghi lẫm liệt trên ghế bành phủ da báo, hai bên có lính cầm gươm đứng hầu.
Ông truyền lính áp giải Trình Vĩnh vô và hỏi hắn rằng:
- Con ngươi có ý định giết bố, nó sẽ bị chém đầu, nhưng nhà ngươi cũng có tội… Vậy chuyện thật thế nào mau khai ra.
- Con tôi hung hăng, ngỗ nghịch tôi không thể dạy nó được nữa, nay thượng quan xử tử nó tôi cũng bằng lòng.
Bao Công cười nhạt, hỏi tiếp:
- Ngươi chưa hiểu ý ta. Ta muốn hỏi ngươi về một chuyện cũ kia.
- Thưa thượng quan có chuyện gì đâu?
Bao Công nhìn Trình Vĩnh không chớp mắt rồi chậm rải hỏi lớn:
- Chuyện sãi Giang Long cách đây hai mươi năm, nhớ không?
Tên chủ tiệm ngủ sợ quá tái mặt, chân tay run rẩy.
Bao Công thấy vậy liền vỗ án quát vang như sấm:
Giết sãi Giang Long đêm hai bảy tết để đoạt một trăm lượng bạc, đúng là mi. Mau nhận tội đi. Trương vạn cũng đã khai rồi. Có nhận tội không?
Trình Vĩnh luống cuống đáp:
- Dạ thưa có…
Rồi hắn ngưng bặt, trán đổ mồ hôi. Bao Công hô lính đem lò than hồng và kìm kẹp ra. Trình Vĩnh hết hồn đành khai ra hết.
Bao Công liền cho đào dưới gầm giường trong nhà ngủ thì quả nhiên bắt gặp xác sãi Giang Long còn nguyên không rã, chỉ khô quắt lại thôi. Gia nhân của Vĩnh đứng đó thấy vậy bảo nhau:
- Chắc là đầu thai báo oán đây. Năm xưa Hứa thị hạ sanh Trình Tích cũng tại phòng này.
Dân chúng hay tin kéo đến xem đông như kiến cỏ.
Bao Công nghe nói, cũng xuống tận nơi xem xét.
Trở về Nha, ông ra lệnh hạ ngục Trình Vĩnh rồi cho đòi Trình Tích lên hầu. Ông không đả động đến chuyện Trình Vĩnh giết sãi Giang long và hỏi liền:
- Bây giờ ngươi còn muốc giết cha nữa không?
Nó không trả lời.
Bao Công lại hỏi:
- Ta cho ngươi đi xứ khác làm ăn, không gặp mặt cha nữa chịu không?
Lúc đó Tích mới đáp cộc lốc:
- Tôi không có tiền.
- Ta cho một trăm quan làm vốn thì ngươi làm nghề gì?
- Cho một trăm quan thì tôi đem công quả vào chùa rồi thí phát quy y cửa phật.
Bao Công sai tịch thu tài sản của Trình Vĩnh xung vào công quỹ rồi trích xuất một trăm quan giao cho Trình Tích.
Tích cám ơn rồi lặng lẽ ra đi.
Bao Công ngồi suy nghĩ hồi lâu rồi cầm bút làm án tuyên xử đày Trình Vĩnh đi nơi biên địa.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:39 PM

Hồi 22

CON THIÊN MIÊU


(Lời tác giả – Đây là án lạ lùng nhất trong cuốn bao Công kỳ án của Trung Hoa, chúng tôi xin ghi lại đây để bạn đọc nhàn đàm trong dịp đầu xuân)
Xưa tại huyện trung Hà bên Tàu, tại một xóm làng cách núi Thiên Trước lối bốn dặm, có chàng Thi Tuấn, khôi ngô tuấn tú, tuổi mới hai mươi đã đâu tú tài. Vợ Thi Tuấn “khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”.
Hai vợ chồng rất tâm đầu ý hợp. Nhờ nhà khá giả, nên Thi Tuấn chỉ chăm lo dùi mài kinh sử chờ ngày vô kinh đô dự thi.
Tuy đã thuộc hết tứ thư, ngũ kinh nhưng chàng vẫn chưa dự thi, cố trao dồi kiến thức , cho ngày thêm tinh thông. Đến năm ba mươi tuổi, Thi Tuấn mới quyết định tranh tài với thiên hạ.
Nghe chồng nói, Hà Liễn lặng thinh không đáp. Thi Tuấn ngạc nhiên hỏi vợ:
- Uûa, anh ra đi lập công danh sao nàng lại có ý không vui?
- Sự lập công danh là nam nhi chi trí, thiếp lẽ nào không biết, và lẽ nào không vui. Tuy nhiên thiếp buồn vì phải xa chàng.
Thi Tuấn nhún vai cười đáp:
- Cho hay nhi nữ thường tình.
Nàng lại bị ám ảnh bởi các câu chuyện hoang đường ma quỷ chớ gì?
Hà Liễn lè lưỡi nói:
- Aáy chàng chớ bạo mồm như vậy. Tục truyền trong dãy Thiên trước mà chàng sẽ đi qua, thường có tàng tụ nhiều loài yêu quái.
- Mình là người, sợ chi loài ấy?
- Ngặt một điều là trên núi có năm con chuột từ bên xứ Thiên trước qua tu luyện đã lâu năm thành tinh, nên có tài biến hoá vô cùng. Chúng hay biến thành người để hãm hại kẻ lữ hành qua dãy núi rừng này. Bầy yêu tinh ấy ghê gớm lắm…
Hà Liễn vừa nói tới đây thì có gia nhân thân tín là Tiểu Nhị bưng nước lên, thoáng nghe nói mới hỏi Hà Liễn rằng:
- Mợ nói chi đến yêu tinh vậy?
Thi Tuấn cướp lời đáp:
- Mợ mày đang doạ tao về chuột yêu tinh ở núi Thiên Trước. Ta đâu có ngán. Để coi ta nạt lại tụi nó chơi.
Tiểu Nhị xua tay, trợn mắt nói:
- Mợ nói đúng đó. Chúng nó tài biến háo thần thông lắm, khi hiện thành ông gì đón khách qua đường giựt tài vật, lúc hoá ra gái đẹp mê hoặc những chàng trai có máu Tề Tuyên. Cũng có khi chúng biến thành đàn ông đẹp trai dụ dỗ đàn bà.
Thi Tuấn nghe nói cười rộ:
- Chà, ta cũng mong nó biến thành mỹ nhơn đó đường cho vui.
- Chớ giỡn mà cậu.
- Nói thiệt chớ nói giỡn đâu. Chuột chi mà hoá thành người đặng. Ta chắc đấy là một tổ chức bất lương gồm có đàn ông và đàn bà chuyên nghề cướp cạn trên quãng đường hẻo lánh mà quan quân chưa thanh trừng được thôi. Chuyến này ta đem mầy đi Tiểu Nhị à, để mày được mục kích sự thật. Mày dám đi không hay là ngán rồi.
- Thưa cậu, ngán thì có ngán thiệt nhưng theo bổn phận thì thầy đi đâu trò đó, dù có nguy hiểm tôi đâu dám từ nan.
Hà Liễn lắc đầu:
- Cũng không hẳn là như vậy. Thực ra thì thiếp lo ngại thế nào ấy… Có sự không hay sẽ xẩy ra cho đôi ta.
Thi Tuấn cười xòa:
- Nàng khéo vẽ vời, bày chuyện mê tín dị đoan. Chắc là nàng bị ảnh hưởng các câu chuyện yêu tinh hiện hình. Thôi nàng sửa soạn dần cho ta là vừa.
Ít tháng sau, Thi Tuấn từ biệt vợ lên đường vô kinh dự thi có gia tướng Tiểu Nhị mang hành lý và lều chõng đi theo.
Đường đến kinh đô xa tới ngàn dặm, ngày đi đêm nghỉ, khi cỡi ngựa lúc đáp thuyền, trèo non vượt suối, ít lắm cũng phải đôi ba tháng trời mới tới nơi.
Vất vả nhất là dãy núi dài sáu trăm dặm rừng cao, suối sâu, ít người qua lại. Được cái may là dãy núi này thuộc phần đầu cuộc hành trình của thầy trò Thi Tuấn.
Sau bốn ngày đường, hai người tới chân núi Thiến trước. Nhìn con đường lát đá tảng lớn bằng cái bàn, quanh co, âm u, vắng vẻ, Tiểu Nhị lo lắng nhìn chủ. Nhưng Thi Tuấn vẫn thản nhiên bước tới.
Lúc đó trời đã xế chiều. Tiểu Nhị nhớn nhác nhìn quanh rồi hỏi chủ:
- Đêm nay chắc ngủ trên cây quá cậu à!
Thi Tú tài giở giấy ra coi rồi nói:
- Theo người ta bảo thì qua khỏi dốc này có quán trọ hoặc nếu không thì cũng có nhà chòi để tạm trú.
Hai người lặng lẽ tiếp tục cuộc hành trình. Hồi lâu sau họ tới đỉnh dốc. Thi Tú tài reo lên:
- Kia rồi có quán trọ ở chân dốc, cạnh gốc cây to kia.
Cả hai hăng hái đi tới. Đây là một căn nhà làm bằng cây, rất chắc chắn, xung quanh có rào. Thi Tú tài vừa tới cửa đã thấy một thanh niên ăn vận sạch sẽ, mặt mũi sáng sủa chạy ra niềm nở rước vô nhà.
Thấy Thi Tú tài ăn vận sang trọng, chủ quán lân la hỏi chuyện.
- Chẳng hay tiên sinh quê quán ở đâu, có việc chi đi qua đây?
- Tôi từ huyện Thanh Hà, vô kinh dự kỳ thi Hội.
- Hay quá, hay quá, đã từ lâu tôi không có dịp bàn chuyện văn chương nay gặp tiên sinh thật là vạn hạnh.
- Vậy chớ tiên sinh cũng theo đòi chữ nghĩa thánh hiền sao? Hèn chi trong nhà nhiều câu đối quá. Đường xa gặp chủ tiệm có học như tiên sinh đây thiệt là hên quá.
- Tôi cũng có đua đòi đôi ba chữ. Cách đây bốn năm tôi có dự thi mà chẳng đậu nên bỏ văn nghiệp mở tiệm cho qua tháng ngày.
Nói rồi chủ quán dọn tiệc rượu khoản đãi. Hai người vừa ăn uống vừa đàm đạo chữ nghĩa, tích xưa. Thấy chủ quán ứng đáp trôi chảy, thi Tú tài không ngớt lời khen ngợi. Sau đó chủ quán thăm hỏi gia cảnh Thi Tú tài được chàng thư sinh thiệt thà lại hơi say rượu kể ra bằng hết. Nghe thi Tú tài tả dung nhan Hà Liễn, chủ quán trầm trồ khen ngợi:
- Thiệt là một trang quốc sắc thiên hương.
Thi Tú tài khoái trí kể lể mãi không thôi.
Chủ quán ngồi nghe mắt long lanh như thèm khát đến cực độ.
Đến khuya, Thi Tú tài đã say. Qua ánh đuốc nhựa bập bùng, chàng thấy hình như chủ quán có điều gì khác lạ. Chàng cố định thần nhưng thấy chới với như sắp xỉu đi. Mồn chủ quán dài ra như mõm chuột, hai tai to vểnh lên in hệt tai loài gặm nhấm vậy. Một làn khói đen bay từ miệng chủ quán ào vào lỗ mũi Thi Tú tài. Chàng thư sinh lảo đảo ngã gục xuống bên mâm rượu. Thì ra chủ quán là một trong năm chuột thành tinh biến ra người. Chưa biết nó định giở ngón gì đây.
Nói về Tiểu Nhị ăn cơm ở nhà dưới xong liền lên trên nhà vô sửa oạn phòng ngủ dành cho hai thầy trò. Xong xuôi Tiểu Nhị lên giường nằm chơi định bụng chờ chủ. Chẳng ngờ vì quá mệt mỏi nên ngủ quên lúc nào không hay. Tới lúc chuột yêu (chủ quán) kêu hắn mới choàng dậy ra mời chủ vô phòng nghỉ.
Tới nửa đêm, Thi Tú tài tỉnh dần lại và nổi cơn đau bụng dữ dội. Tiểu Nhị ra kiếm chủ quán lấy thuốc. Chuột yêu lắc đầu nói:
- Ở đâu không có thuốc, thôi ráng chịu, mai sáng sẽ hay.
Tiểu Nhị về phòng đấm bụng cho chủ. Lối một tiếng sau, Thi Tú tài bớt đau và nằm yên, mê mam như chết. Tiểu Nhị về giường một lát cũng ngủ say, ngáy như sấm.
Chuột yêu đẩy cửa phòng dòm vô thấy vậy mỉm nụ cười bí mật rồi lui ra miệng lẩm bẩm:
- Mình phải hạ độc kế để chiếm đoạt vợ thằng Thi Tuấn mới được. Cứ nghe nó tả lại thì Hà Liễn đẹp như tiên lại dịu hiền lắm.
Nói rồi chuột yêu đi về phòng riêng đóng chặt cửa lại. Lát sau một thanh niên giống như Thi Tú tài ở trong phòng chuột yêu đi ra.
Sáng hôm sau Tiểu Nhị tỉnh dậy thấy mình đang nằm trên bải cỏ cùng chủ, dưới gốc cây cổ thụ, bên bờ suối. Tiểu nhị hốt hoảng vùng dậy lay gọi chủ ầm ĩ. Thi Tú tài ú ớ một lát mới mở mắt lờ đờ nhìn gia nhân. Tiểu Nhị ghé tai chủ hỏi lớn:
- Cậu nghe trong mình ra sao?
Thi Tú tài mệt nhọc đáp:
- Còn yếu lắm…
- Liệu cậu có gắng dậy đi được không?
- Không đâu. Mà sao ta lại nằm ở đây?
- Cái đó tôi cũng không hiểu tại sao. Rõ ràng tối qua mình vào nhà trọ ngủ hẳn hoi mà sáng hoá ra nằm giữa rừng.
- Mày thử ngó xem gần đây có nhà cửa chi không? Gần suối thế nào cũng có người ta ở.
- Cậu cứ nằm yên đây nhé, tôi đi thử coi.
Thi Tú tài gật đầu. Tiểu Nhị theo con đường mòn đi một lát ra tới đường lớn lát toàn bằng đá tảng như hồi hôm. Nó xem hướng mặt trời mọc và nhận ra phía trước mặt là hướng Bắc là đường đi tới xứ Thiên Trước. Nó đi tới đi lui một hồi mà không tìm ra quán trọ đêm qua.
Tiểu Nhị trở về nói với chủ:
- Đường ở quãng này vướng cây nhìn không rõ phía trước nhưng cứ theo địa thế thì chỗ đất này bằng, có suối chảy tất làng mạc không bao xa.
Để tôi cõng cậu đi tới một hồi xem sao.
Rồi thì Tiểu Nhị lưng cõng chủ, tay ôm bọc đồ lần ra đường lớn mà đi.
Đi mãi, đi mãi cũng chưa thấy bản nào mà Tiểu Nhị thì đã thấm mệt rồi. Hắn đặt chủ ngồi xuống phiến đá bên đường rồi đứng thở dốc một hồi. Bỗng hắn chú ý nghe ngóng. Văng vẳng xa đưa tiếng nước đổ ùm rồi nghe thịch một cái, như ai nện mạnh xuống đất, cứ thế đều đều mãi. Đúng rồi, tiếng chày nước giã gạo.
Hắn mừng quá reo lên:
- Cậu ơi! Có bản ở gần đây rồi.
Nói đoạn hắn cõng chủ lên tiếp tục cuộc hành trình gian khổ. Được hơn trăm bước tới khúc quanh hắn thấy hiện ra một dãy nhà sàn…. Hắn vô xin dân làng chạy chữa dùm cho chủ.
Người ta bảo hắn đi sâu vô phía trong, tới gần bờ suối thỉnh vị đạo sĩ ra.
Vị đạo sĩ chống gậy trúc tới nhà trọ của Thi Tú tài chuẩn bệnh. Sau khi xem xét hồi lâu, vị đạo sĩ lặng lẽ dốc hồ lô lấy linh đơn mài ra cho Thi Tú tài uống.
Tiểu Nhị lén hỏi đạo sĩ:
- Chủ tôi mắc bệnh chi hở đạo sĩ?
- Người này bị yêu khí, e khó sống.
- Xin đạo sĩ hết lòng cứu chữa cho.
Vị đạo sĩ vuốt chòm râu bạc ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Đã gặp thì phải chữa. Nhưng bệnh này khó trị mà tài ta lại chưa tới độ cao siêu.
- Xin đạo sĩ cố ráng dùm.
- Không phải là ta làm khó dễ vì ta chữa đâu có đòi hỏi gì. Ta nói thiệt đó.
Bây giờ ngươi phải đi lên cái am trên kia thỉnh Đổng Chơn Nhơn xuống cứu mạng thì mới xong.
Vị đạo sĩ nhìn theo lẩm bẩm:
- Con bệnh này có phước lắm mới được người đầy tớ trung thành như vậy. Xin trời phật độ trì cho thầy trò hắn.
Tiểu Nhị leo lên tới cửa am đã thấy Đổng Chơn Nhơn từ trong ra đi. Không chờ Tiểu Nhị hỏi, Đổng Chơn Nhơn đã đưa cho gói thuốc và nói liền:
- Ta biết ngươi lên xin thuốc cho chủ bị yêu khí. Đây ngươi cầm gói linh đơn này về mài ra cho chủ ngươi uống mỗi ngày hai viên.


vui_la_chinh 06-14-2005 02:40 PM

Tiểu Nhị trố mắt nhìn Đổng Chơn Nhơn lòng kinh ngạc vô cùng. Đổng Chơn Nhơn cười bảo Tiểu Nhị:
- Nhà ngươi lấy làm lạ vì sao ta biết rõ chới gì. Đấy chẳng qua là một thuật nhỏ thường gọi là kỳ môn độn giáp. Thôi ngươi khá cầm thuốc về cho chủ uống đi kẻo muộn rồi.
Tiểu Nhị hỏi thêm:
- Thưa Chơn Nhơn, chủ tôi liệu có qua khỏi được không?
Mửa hết yêu khí, tĩnh dưỡng ít lâu thì lành bệnh. Nhưng đường công danh cản trở, gia đạo xào xáo nên đưa chủ về càng sớm càng tốt.
Tiểu Nhị vái tạ rồi lui xuống núi, về chạy chữa cho chủ. Nhờ linh dược, Thi Tú tài lần lần bình phục nhưng còn phải nằm nghỉ ít lâu.
Lại nói về con chuột yêu biến hình giống Thi Tú tài như tạc ngay đêm đó hoá phép làm tiêu quán trọ rồi đưa thầy trò Thi Tú tài đến chỗ xa bỏ giữa rừng như đã nói trên đây. Xong xuôi no đi về huyện Thanh Hà, Tới sáng bữa thứ năm thì đến nơi. Nhờ các chi tiết mà nó khéo léo dọ hỏi được nên chuột yêu tìm thấy nhà Thi Tú tài một cách dễ dàng.
Hà Liễn lúc ấy đã dậy, đang ngồi chải đầu, thấy chồng về thì lật đật ra đón và hỏi:
- Sao chàng đi mới hai mươi ngày đã về?
Chuột yêu đáp:
- Giữa đường hay tin năm nay bãi kỳ thi hội , sĩ tử về hết rồi. Còn qua làm chi nữa.
- Thế Tiểu Nhị đâu?
- À nó mắc mang đồ nhiều nên đi chậm, về sau.
Hai “vợ chồng” ngồi trò chuyện gia đạo hồi lâu. Chuột yêu nói chuyện rành rẻ, chẳng sai chút nào. Rồi chuột yêu và Hà Liễn vô phòng ân ái… Cuộc đời vợ tiệt, chồng giả ấy kéo dài được chừng nửa tháng thì Thi Tú tài nhờ được thuốc Đổng Chơn Nhơn nên thoát chết lại nghe tin bãi thi mới trở về nhà.
Hai thầy trò về tới đầu xóm thì Tiểu Nhị nói với chủ:
- Cậu thong thả đi sau, tôi chạy về báo tin cho mợ mùng, nghe cậu.
Thi Tú tài chưa kịp nói chi thì Tiểu Nhị đã phóng như bay lên trước. Hắn đẩy cửa rồi xăm xăm bước vô bắt gặt Hà Liễn va chuột yêu đang âu yếm nhau.
Tiểu Nhị xấu hổ quay trở ra. Hà thị chạy theo hỏi:
- Sao mày về trễ vậy Nhị?
Tiểu Nhị khủng khỉnh đáp:
- Tưởng cậu không còn sống về nữa chớ.
- Uûa, mày nói sao. Cậu nào nữa?
- Thì cậu… chủ tôi là Thi Tú tài chớ ai nữa.
Hà thị quắc mắt nói:
- Cho mày đi theo hầu cậu, dọc đường mày làm biếng không chịu về ngay. Cậu mày về đây đã gần một tháng rồi còn chi.
Tiểu Nhị thất kinh:
- Cô nói chi lạ vậy. Tôi đi với cậu, ăn một nơi nằm một chỗ không rời nhau một bước, cớ sao cô nói ai về trước?
- Cậu mày là Thi Tú tài về trước và đang ở trong nhà kia chớ ai.
Tiểu Nhị lắc đầu, chỉ tay về phía đầu ngõ:
- Cậu tôi bây giờ mới về tới kia, sao cô nói về trước cho đặng?
Hà thị nhìn ra quả thấy Thi Tú tài đi vô thiệt. Thị đứng lặng người dây lát rồi như chợt tỉnh, bước vội xuống thềm ôm lấy chồng khóc ròng mà nói:
- Nó giống chàng quá, thiếp lầm xin chàng tha thứ cho.
Thi Tú tài chưa rõ đầu đuôi câu chuyện, ngạc nhiên hỏi vợ:
- Nàng nói chi lạ vậy?
Hà thị chưa biết nói sao thì chuột yêu nghe ồn ào đã chạy ra hét lớn:
- Đứa nào dám ôm vợ ta vậy?
Thi Tú tài thấy một thanh niên giống mình như tạc chạy từ trong phòng ngủ ra mới vỡ nhẽ, nổi giận đùng đùng:
- Quân này láo thiệt, dám thừa dịp ta vắng nhà mà đánh lừa vợ ta.
Nói đoạn Thi Tú tài buông vợ ra, nhẩy vọt lên thềm hươi quyền đánh chuột yêu.
Chuột yêu cũng hét lên một tiếng lớn rồi xuống tấn tiếp chiến. Hai người đánh lộn nhau một hồi, Thi Tú tài vừa đau khổ lại mệt mỏi vì cuộc hành trình nên bị chuột yêu lấn đất dần.
Chồn Hà thị bị đòn tới tấp, đỡ không lại, cứ lùi dần, lùi dần ra cửa, bỗng chàng hụt chân té lăn cù từ thềm cao xuống đất. Chàng vừa lóp ngóp bò dậy đã bị chuột yêu phóng từ trên xuống, nhằm hạ bộ chàng mà đạp tới. Thi Tú tài nhào mình tránh được ngọn độc thủ rồi co giò chạy mất. Chuột yêu toan rược theo thì Tiểu Nhị đã nhảy ra cản đường. Hà thị chẳng biết làm sao, đành ôm mặt khóc ròng.
Nói về Thi Tú tài chạy thoát liền tìm đến nhà cha vợ, khóc mà trình bày tự sự.
Nhạc gia liền sai người đi coi hư thực. Lát sau gia nhân về báo:
- Quả thiệt ở bên nhà có một thanh niên giống y hệt Thi Tú tài đang khuyên giải Hà thị.
Nhạc gia không biết làm thế nào đành nói:
- Thôi bây giờ anh đi cáo với Vương Thừa tướng là hơn cả.
Thi Tú tài vâng lời, đệ đơn trình Thừa tướng.
Vương Thừa tướng coi xong đơn liền sai lính đến bắt chuột yêu, Thi Tú tài và Hà thị đến cho ông xét hỏi. Thừa tướng cho đòi riêng Hà thị vô trước và hỏi cặn kẽ mọi sự.
Vợ Thi Tuấn cứ tình thiệt khai ra. Thừa tướng hỏi:
- Chớ chồng chị có vết tích gì trong người, khả gĩ giúp ta tìm ra gỉ, thiệt chăng?
- Dạ, chồng tôi có nốt ruồi bên vai tả.
Thừa tướng kêu một lượt cả Tú tài lẫn chuột yêu vô và sai lính trật vai bên tả ra coi. Thi Tú tài có nốt ruồi còn chuột yêu thì không! Thừa tướng chỉ chuột yêu:
- Thằng này lộn sòng làm bậy, lính đâu bắt nó quỳ bên tả cho ta. Còn thi Tú tài khá qua bên hữu.
Hai người yên vị xong, Vương Thừa tướng truyền lính coi lại hễ ai không có nút ruồi ở vai tả thì cứ việc nọc cổ ra đánh năm mươi roi. Lính xúm lại coi rồi đứng yên. Thừa tướng quát:
- Tụi bây còn chờ gì ?
Viên cai lệ rụt rè:
- Bẩm Thừa tướng cả hai tên cùng có nút ruồi, biết đánh ai?
Thừa tướng xem lại cũng giật mình. Chuột yêu cũng có nút ruồi nơi vai tả. Ông nói:
- Lạ thiệt. Vừa rồi nó không có. Lính đâu, đem tống giam cả hai đứa lại chờ mai lại nghiệm xen sao.
Đêm đó, chuột yêu Ngũ (vì nó là con yêu thứ năm) hà khí bay về động cầu cứu. Bốn chuột anh đang ngồi đàm đạo thấy có gió lạ biết chuột Ngũ bị lâm nạn, chuột Nhứt kêu chuột Tứ lại gần dặn nhỏ một hồi.
Chuột Tứ vâng lệnh lên đường đến phủ Thừa tướng. Tới nơi thì trời đã sáng tỏ mặt người, nó đi vô hậu dinh núp một chỗ ngắm Thừa tướng rồi thừa lúc Thừa tướng đi ra công đường chuột Tứ lắc mình biến y hệt Thừa tướng rồi vô phòng kéo ghế ngồi đàng hoàng.
Nói về Vương Thừa tướng ra tới công đường ngắm Thi Tú tài và chuột Ngũ một hồi lâu rồi truyền:
- Đem tên này ra đánh một trăm côn cho ta.Nó là thứ giả.
Vừa nói Thừa tướng vừa lấy tay trỏ Thi Tú tài.
Lính hầu dạ rân vật chồng Hạ Liễn ra đất rồi thẳng tay đánh đập tơi bời. Thi Tú tài kêu oan và than khóc vang trời. Thừa tướng lại tống giam cả hai vô ngục rồi ông trở về hậu dinh. Vừa bước về phòng, Thừa tướng đứng sững lại. Ông dụi mắt tưởng mình nằm mơ. Không mà! Rõ ràng có một người mặt mũi quần áo giống hệt mình đang ngồi chình ình trên ghế ở giữa phòng.
Vương Thừa tướng thét lính hầu:
- Bây đâu, vô bắt tên kia cho ta.
Thừa tướng giả (là chuột yêu thứ tư hoá ra) cũng hô lính hầu trói vương Thừa tướng lại. Lính hầu nghe quan la chạy rần rần vô phòng. Chuột yêu thấy nguy vội nhẩy xuống đất chạy đến ôm lấy Vương Thừa tướng quay tít mầy vòng. Đến lúac chuột yêu buông Thừa tướng ra thì lính chịu không biết ai thiệt, giả nữa.
Người nọ hô lính bắt người kia.
Lính gương mắt ếch nhìn hai Thừa tướng, một thiệt một giả, đang giằng co nhau cãi lẫy om sòm.
Viên thơ lại lắc đầu bảo đám lính:
- Tụi bây đứng canh chừng đây, để ta làm biểu dâng lên Hoàng Thượng quyết định.
Vua Nhơn Tôn tiếp được biểu lấy làm lạ cho đòi cả hai Thừa tướng tới trước bệ rồng để phán xét:
Con chuột yêu liền hà khí khiến không thể phân biệt đâu là giả, đâu là thiệt. Vua đành truyền tống giam cả vào Thông Thiên lao chờ đến canh ba coi cho rõ.
(Vua Nhơn Tôn vốn là xích Khước Đại tiên trên Thượng giới, được Ngọc Hoàng Thượng Đế sai xuống trần gian trị vì thiên hạ, cho nên cứ đến nửa đêm vào giờ tý là hào quang :Di loà giúp nhà vua coi biết ai thiệt ai giả).
Chuột Tư biết vậy cả sợ, liền thổi khí bay về núi cầu cứu. Chuột Cả liền sai ngay chuột Ba xuống giải nguy. Chuột Ba bay ngay xuống Hoàng thành thì trời vừa hừng sáng. Nó hoá phép biến thành vua Nhơn Tôn rồi điềm nhiên bước ra ung điện, ngự trên ngai vàng. Văn võ bá quan vội tung hô vạn tuế. Vua Nhơn Tôn còn đang mặc áo ở hậu cung nghe tiếng hô vạn tuế lấy làm lạ vô cùng toan gọi quan hầu vô hỏi xẩy có quan Thái giám vô tâu rằng:
- Ngoài điện có một người giống hệt Hoàng Thượng từ dung mạo đến lễ phục đại trào, hiện ngự trên ngai. Xin Hoàng Thượng chỉ dạy.
Vua Nhơn Tông lật đật chạy ra, tiến đến trước ngai vàng. Chuột Tư vẫn nghiễm nhiên ngồi. Vua Nhơn Tôn điềm tĩnh ngồi xuống bên cạn chuột yr6u. Được cái ngai cũng rộng nên hai người ngồi vừa.
Các quan hoảng hồi vội kèo nhau vô trình Quốc mẫu. Mẹ vua cả kính theo các quan ra Càn Chánh Điện tra xét, thì thấy quả nhiên hai người giống nhau như tạc.
Quốc mẫu bảo các quan văn võ:
- Các khanh khá bình tĩnh, chớ có lo sợ thái quá. Ta đã có cách.
Nói đoạn mẹ vua tiến đến trước mặt hai “vua” và nói lớn:
- Hai ngươi hãy xoè tay ra cho ta coi. Ai có chữ Sơn Hà Xã Tắc trong lòng bàn tay, người ấy chính là vua Nhơn Tôn.
Các quan xúm lại, tay trái vua Nhơn Tôn có chữ Sơn Hà còn tay mặt có hai chữ Xã Tắc thiệt. Chuột yêu không có! Quốc mẫu ra lệnh hạ ngục chuột yêu ngay tức khắc và cấm ngặt không cho ai ra khỏi ngục .
Chuột Ba bị giam liền thổi khí về núi báo nguy. Chuột Nhì hạ sơn xuống cứu em. Nó biến hệt thành quốc mẫu ngồi ngay vào ngai và ra lệnh cho quan Thái giám phải thả chuột Ba ra.
Quan thái giám lắc đầu bảo lính:
- Mới có mấy ngày mà loạn quá xá. Bữa nọ hai Thừa Tướng, bữa qua hai vua, bữa nay lại hai Quốc Mẫu nữa. Ngặt một điều là không biết bà nào là giả, bà nào thiệt chớ. Mộ bà cứ hô giam vua giả lại, một bà lại nằng nặc đòi thả. Cái này lại phải nhờ Hoàng thượng coi giùm mới xong.
Vua cũng chịu thua luôn, đứng ngồi không yên, ăn mất ngon, ngủ mất yên. Hôm sau, Vua cho triệu Bao Công về trào gấp. Nhận được lệnh, Bao Công đi suốt ba đêm ngày mới về tới kinh đô.
Sau khi vào bệ kiến vua Nhơn Tôn, nhận chỉ thị xong, Bao Công lưu về tư dinh nghĩ phương cách tra ra sự thật.
Bữa sau ông chọn hai bốn người lính khoẻ mạnh sai bầy mười sau móm tra tấn dưới thềm rôi cho áp giải hai Tú tài, hai Thừa tướng, hai Quốc Mẫu và hai vua giả.
Bao Công xét hỏi một lúc cũng không tra ra manh mối gì, ông liền ra lệnh tống giam tất cả bảy người, hẹn sáng mai sẽ dùng cực hình tra tấn, tất sẽ rõ gian ngay. Bốn chuột yêu thất kinh vội thổi khí viện yêu cả xuống cứu.
Con Yêu Cả được tin cấp báo liền bay về phủ Bao Công đi lễ tại miễu Thần Hoàng nên vắng nhà.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:40 PM

Chuột Cả liền hoá phép biến thành Bao Công rồi vô ngồi chễm chệ trên ghế bành phủ da cọp. Bao Công đi về thấy vậy cười lớn, rồi điểm mặt Bao Công giả mà quát rằng:
- Đứa nào mà loạn phép vậy, dám cả gan giả dạng ra ta để làm điều ám muội. Lính đâu bắt nó cho ta.
Bọn lính dạ ran ào vô toan bắt chuột yêu. Chuột cả liền chạy đến ôm Bao Công quay tít một hồi. Đến lúc hia người buông nhau ra thì không còn biết ai thiệt ai giả nữa. Lính chịu chết không dám bắt ai cả.
Bao Công thiệt cả giận hô lính đóng tất cả cửa dinh lại, cấm không cho ai vô nữa. Bọn lính bảo nhau:
- Thứ thiệt hay giả vậy mầy?
- Giả thiệt giả chi mình không rõ nhưng lệnh chả ra cũng không có mắc mỏ thiệt hại chi.
Viên cai già gật đầu nói:
- Các chú nói phải. Nay chưa biết ai là thiệt ai là giả thì cứ vít kín cửa ngõ lại cho chắc ăn cái đã.
Bọn lính trẻ nhao nhao hỏi:
- Thế bây giờ nghe lệnh ai hở thầy?
- Không nghe lệnh ai là tốt hơn cả.
Rồi viên cai già lắc đầu nói:
- Chán quá, đón được Bao đại nhơn về tưởng tra ra vụ giả thì lại lòi thêm vụ hai ông mặt sắt. Nước này chỉ còn biết hỏi ông Tời mà thôi.
Không riêng gì viện cai già nghĩ vãy, mà Bao Công cũng nghĩ vậy, mà Bao Công cũng thấy chỉ còn cách đó mà thôi.
Nghĩ vậy nên ông thủng thẳng rời công đường đi vô hậu dinh. Oâng gọi gia nhân đóng hết mọi cửa phía trong nhà, và cấm vợ con không được giao dịch với ai cho đến khi có lệnh mới.
Đoạn ông gọi vợ là Lý phu nhơn lại mà bảo rằng:
- Ta gặp một vụ khó khăn quá sức, chắc phu nhơn cũng nghe nói chuớ?
Lý phu Nhơn gật đầu. Bao Công nói tiếp:
- Ta phải lên thiên đình tâu với Ngọc Hoàng Thượng đế, để xin ngài phân xử cho. Ta đi lối hai ngày sẽ tỉnh lại vậy phu nhơn ở nhà nhớ canh xác ta cẩn thận đừng cho ai đụng tới e khó hồi dương.
Nói đoạn Bao Công lấy máu khô con công nhai cho tan rồi nuốt hết. Sau đó ông leo lên giường nằm như người chết rồi.
Y theo lời dặn, Lý phu nhơn bỏ mùng cài chặt rồi giắt gia nhân canh gác cẩn mật, trong khi ở phía ngoài công đường Bao Công giả hò hét chán nhưng chẳng ai tuân lệnh cả.
Nói về hồn Bao Công lìa dương gian liền đi thẳng tới cửa trời. Vốn là Văn Khúc Tinh quân nên hồn bao Công được thiên sứ dẫn vô tâu trước Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng kêu quan Tư Tào:
- Khanh khá tra xét coi yêu quái ở đâu làm loạn vậy?
Quan Tư Tào giở sổ ra coi một lát rồi trình:
- Muôn tâu Ngọc Hoàng, đó là bầy chuột khi xưa ở chùa Lôi Aâm bên Thiên trúc, nay trốn xuống thế gian nhiễu hại.
- Vậy phải sai thiên binh đi bắt chúng nó về chớ.
- Thưa, cả vạn thiên binh cũng không bắt nổi…
- Khanh tính sao?
- Dạ, phải bàn với Phật Thế Tôn cho mượn Ngọc Diện Miêu (mèo mặt ngọc) đem xuống mới trừ được. Một mình nó bằng cả vạn thiên binh.
- Vậy bảo thiên sứ qua bên Lôi Aâm Tự cầu mượn.
Thiên sứ vâng lệnh qua chùa Lôi Aâm trình với Phật Thế Tôn. Đức Phật liền cho mời Phật Quảng Pháp Đại Sư ra hội ý.
Quảng Pháp bàn:
- Chùa ta nhiều kinh sách lắm. Nay cho mượn Ngọc Diện Miêu sợ e chuột cắn hết kinh. Nếu là việc không mấy quan hệ, tôi tưởng cho mượn con Kim Tinh Sư Tử cũng đủ rồi.
Phật Thế Tôn hỏi thiên sứ:
- Ngươi có biết Ngọc Hoàng mượn thần miêu làm gì không?
- Dạ, dường như để gởi xuống hạ giới.
- Như vậy ngươi đem con Kim Tinh Sư Tử về coi xài đỡ được không, nhược bằng phải có con thần miêu tì ngươi khá tâu với Ngọc Hoàng gởi người nào được phép sử dụng thần miêu qua đây.
Thiên sứ đem Kim Tinh Sư Tử về trình. Quan Tư Tào vội tâu lên Ngọc Hoàng:
- Thưa, con Kim Tinh Sư Tử này không trị nổi bầy chuột đã thành tinh. Phải có Ngọc Diện Miêu mới xong.
Thiên sứ cũng nhắc lại của Phật Thế Tôn. Ngọc Hoàng liền phán:
- Thôi bây giờ thei6n sứ khá đưa Văn Khúc Tinh qua bên Lôi Aâm Tự trình bày cho rõ. Ta chắc Phật Thế Tôn sẵn sàng giúp cho.
Thiên Sứ và Văn khúc tinh (đầu thai vào Bao Công) ến chùa Lôi Aâm xin vào ra mắt Phật Thế Tôn, khẩn cầu mượn thiên miêu.
Phật Thế Tôn Nghe xong ưng thuận cho mượn . Ngài liền vỗ tay gọi thần miêu to lớn như con cọp tới bên rồi lẩm nhẩm đọc kệ một lát. Đoạn đức Phật cầm phất trần phẩy nhẹ vào đầu con mèo mặt Ngọc. Linh miêu bị thu hình lại bé bằng con chuột lắt.
Phật Thế Tôn trỏ tay áo của Bao Công, bảo thiên miêu:
- Con khá theo Văn Khúc Tinh quân xuống trần dẹp bầy chuột yêu tinh đặng cứu khổ cho loài người.
Thiên miêu cúi đầu tỏ ý tuân lệnh rồi quất đuôi nhẩy tọt vào trong tay áo bao Công – Đức Phật dặn Bao Công cách gọi thiên miêu.
Bao Công vái tạ đức Phật rồi cùng thiên sứ lui ra.
Tới ngoài, thiên sứ lấy nước dương liễu cho Bao Công uống rồi nói:
- Tuân lệnh Ngọc Hoàng, tôi đưa bác xuống trần gian.
Nói đoạn, thiên sứ vỗ vai Bao Công. Bao Công giật mình tỉnh dậy kêu Lý phu nhơn hỏi chuyện mới biết đi đã năm ngày rồi.
Oâng vừa uống trà vừa thuật chuyện lên thiên đìn cho Lý phu nhơn nghe. Lát ông viết sớ trình vua nhơn Tôn xin cho lập đài cao mười trượng tại phía Nam kinh thành và ghi rõ các điều cần thiết. Xong xuôi ông cho người thân tín đem về trình nhà vua.
Vua Nhơn Tôn liền cho ti hành đúng như chương trình của Bao Công.
Ba bữa sau, mọi sự đã hoàn tất. Sáng ngày thứ tư Bao Công sai hai bốn người lính mạnh bạo trèo lên chấn giữ đài quan sát. Dân chúng hay tin kéo đến coi đông như kiến cỏ. Gần tới ngọ, Bao Công cũng thượng đài. Vua Nhơn Tôn dẫn văn võ bá quan đứng dưới chân đài. Theo sau là lính áp giải hai Thi Tú tài, hai Thừa tướng, hai Quốc Mẫu và một vua giả.
Bao Công giả đứng dưới chân đài trỏ lên phía Bao Công thiệt mà la lối om sòm. Bao Công thiệt lặng thinh không thèm đáp.
Đúng ngọ, Bao Công đứng thẳng trên đài, giơ tay áo ra niệm câu kệ đức Phật Thế Tôn.
Ngọc diện miêu từ trong tay áo Bao Công nhẩy ra, cong lưng rồi gào lên một tiếng lớn, hiện ra nguyên hình to như con bê. Con thiên miêu đứng ngó xuống một lát rồi quất đuôi nhẩy từ trên đài xuống. Một luồng hào quang xẹt từ miệng nó ra.
Vừa xuống tới đất, thầmn miêu nhẩy tới cắn ngay giữa cổ vua Nhơn Tôn giả tức là con chuột thứ Ba. Chuột yêu thứ Hai khi trước biến thành Quốc Mẫu thấy vậy hãi quá, hiện nguyên hình và cong đuôi toan chạy trốn nhưng chưa kịp thì đã bị Thiên Miêu nhào tới cắn ngay giữa bụng chết liền. Con chuột yêu thứ Tư tức là Thừa tướng giả và con chuột yêu thứ Năm tức Thi Tú tài giả cũng bị Thiên Miêu vồ cắn chết. Riêng chuột yêu đầu đàn giả làm Bao Công lúc trước, thấy cơ nguy liền phóng lêmn mây chạy trốn. Thiên Miêu gào lên một tiếng lớn rồi quất đuôi nhẩy vọt lên mây rược bắt.
Lát sau, Thiên Miêu từ trên trời nhẩy xuống, há miệng nhả con chuột yêu đầu đàn bị cắn chết queo xuống chân đài.
Đoạn Thiên Miêu phóng lên đài gương mắt nhìn Bao Công. Bao Công niệm câu kệ của Phật Thế Tôn rồi cám ơn Thiên Miêu. Linh Miêu gật đầu nhẩy tót lên mây trở về dưới chân Đức Phật Thế Tôn.
Bao Công xuống đài đến bên xác năm con yêu thấy con nào cũng mập mạp và dài hơn một trượng, có đủ chơn cẳng giống như người.
Vua Nhơn Tôn thong thả tới ngó xem qua rồi hỏi Bao Công:
- Chuột chi mà lớn như người vậy?
- Tâu Hoàng Thượng, nó ăn thịt nhiều người nên mới lớn mập như vậy và mới thành tinh.
- Bây giờ khanh định làm gì với năm xác chuột này?
- Xin Hoàng Thượng cho quân lính xẻ thịt ăn thêm sức.
Vua Nhơn Tôn chấp thuận rồi phản giá hồi trào, đặt tiệc linh đình thết đãi bao Công.
Chiều đó Thi Tú tài dẫn vợ là Hà Liễn đến lạy tạ Bao Công. Bao Công nhìn hai người một lát rồi nói:
- Thôi hai người khá trở về sum họp với nhau. Câu chuyện vừa rồi xảy ra ngoài ý muốn của Hà thị, cho nên không đáng trách.
Vợ chồng Thi Tú tài vái tạ rồi lui về. Ít bữa sau, Thi Tú tài bắt gặp vợ ôm bụng nhăn nhó liền hỏi nguyên do. Hà thị bẽn lẽn đáp:
- Từ ngày xẩy ra chuyện chuột yêu đến giờ thiếp cứ đau bụng hoài.
Thi Tú tài lặng lẽ lấy linh đơn của Đổng Chơn Nhơn cho bữa trước, mài ra đưa vợ uống. Hà thị mửa ra hết chất độc và khỏi bệnh.
Trong sách có kết thúc chuyện nầy bằng một câu: “Thiệt là một án lạ”.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:41 PM

Hồi 23

MẸ GHẺ CON CHỒNG


Ngày xưa tại phủ Khai Phong, có chàng Tôn Hựu họ Tần, dòng dõi trâm anh, nhà giàu có, hiền hậu và rất là dễ tính, thế nào cũng được, thế nào cũng xong.
Chính về cái bản tính xề xoè, chín bỏ làm mười, không muốn sinh sự lôi thôi mà ngay từ hồi nhỏ, lúc còn đi học, Tôn Hựu thường hay bị bạn bè ăn hiếp.
Tần ông lắm lúc phải bực mình vì con:
- Thằng Hựu lành quá đổi, sau này gặp phải con vợ đáo để tất đến bị nó sỏ mũi dắt đi mà thôi.
Tần bà cả cười xoa đầu con và bảo chồng:
- Ông cứ chê con giai tôi hoài. Tôi thấy nó giống tính ông như hệt. Thế ông có bị tôi xỏ mũi chưa?
Tần ông vểnh cầm, vuốt chòm râu muối tiêu, cười khà khà đáp:
- Chuyện cái bà này. Bà thì lại khác. Dễ đâu kiếm được người như bà.
Tần bà nhìn chồng nét mặt hân hoan.
Thấm thoát Tần Tôn Hựu đã mười sáu tuổi Tôn bà để tâm kiếm vợ cho con. Bà dò la khắp vùng, cốt ý kén đứa con dâu thuỳ mị, nết na. Kẻ mối người mai cũng được lắm, nhưng bà chưa ưng đám nào. Tần ông sốt ruột bảo vợ:
- Mình ngày càn trọng tuổi, cũng mong cho con nó yên bề gia thất và sớm có cháu bồng. Bà chớ quá rềnh rang mà sanh ra già kén kẹn hôm đó.
- Ông nói phải nhưng mình cũng phải chọn người tương xứng…
Tần ông khoái tay, ngắt lời vợ:
- Phàm lấy vợ cho con phải chọn con nhà nề nếp, gia phong, phải chú trọng đến gia đạo của nó, coi bố mẹ anh em nó ăn ở ra sao, tình hình hạnh kiểm thế nào, nhiên hiệu mới biết được ít nhiều về người con gái. Đã hay rằng, sự đời, biệt lệ cũng có, song nguyên tắc chung là như vậy. Bà nên nhớ là con cái chịu ảnh hưởng rất nhiều về nền giáo dục trong gia đình. Bà nghe kịp tôi nói không?
- Đã, tôi vẫn nằm lòng các điều ông vừa nhắc lại đó.
Tần ông hài lòng vui vẻ nói:
- Vậy thì tốt lắm.
Thế rồi người con gái được họ Tần chọn làm dâu là Trịnh thị, con Trình Mỹ. Quả là Tần bà có mắt tinh đời. Trình thị rất mực đoan trang, một lòng thờ cha mẹ chồng, một dạ kính mên chồng.
Qua năm sau Trình thị hạ sanh được một con trai được tần ông đặt tên là Tần Tôn Nhu. Vì nó là con đầu nên ngay từ bé trong nhà thường kêu là trưởng Nhu.
Ít lâu sau, Tần ông và tần bà lần lượt cưỡi hạc quy tiên. Trình thị gánh vác giang sơn nhà chồng, tỏ ra rất mực đảm đang và trị gia thật là nghiêm trang. Trong cách sử sự với chồng, Trình thị noi gương của tần bà, không mảy may sai lệch. Ai Cũng khen họ Tần tốt số. Tôn Hựu sống trong hạnh phúc đến khi Tôn Nhu được mười tuổi thì Trình thị bỗng lâm bạo bệnh qua đời vào tết trung Thu.
Tôn Hựu thương tiếc vô cùng, khóc than khôn xiết sự tình, và lo cho vợ được mộ yên mả đẹp.
Rồi từ đó chàng vốn dĩ đã hiền lành ít nói nay bị vết thương lòng quá nặng nên lại càng ít nói hơn.
Chàng lặng lẽ sống trong cảnh gà trống nuôi con thấm thoát đã được mấy năm. Cứ mỗi độ Thu về, nhìn bầy trẻ xóm giềng quây quần bên mẹ chúng nô đùa dưới ánh trăng rằm, bên mâm cỗ Trung Thu, Tôn Hựu trạnh nhớ đến vợ hiền mà héo ruột gan.
Tiết Trung Thu năm ấy, Trưởng Nhu kém sức khoẻ ngồi ủ rũ trước bàn cỗ trông trăng khiến Tôn Hựu càng thêm xót xa, thương tiếc Trình thị vô cùng. Chàng đỡ con vào giường nằm rồi lén ra sau nhà tựa gốc cây khế, bưng mặt khóc nức nở hồi lâu.
Đêm đã khuya sương xuống ướt cả hai vai mà Tôn Hựu vẫn ngồi thừ trên phiếm đá bên bờ ao, mắt lờ đờ nhìn đàn cá say mồi đớp bóng trăng Thu tan tành.
Một quả khế chín rơi bộp xuống mặt ao làm chàng giật mình trở về thực tại. Tôn Hựu ể oải đứng dậy đi về phòng ngủ.
Đêm ấy, chàng mơ thấy Trình thị về. Nàng quì xuống bên giường vùi đầu vào ngực chồng khóc lóc hồi lâu. Chàng nắm vai vợ, hai hàng lệ lã chả tuôn rơi.
Lát sau, Trình thị ngửng dậy, lấy vạt áo chấm nước mắt rồi nghẹn ngào nói với chồng:
- Thiếp nhớ chàng, thương con nên phải về đây, xin chàng khá bớt mối u sầu, kiếm người bạn trăm năm khác để hầu chàng, nuôi con, cho thiếp được an lòng nơi chín suối.
Tần Hựu buồn rầu đáp:
- Nàng lìa cõi thế, cha con ta khổ sở vô cùng. Nàng hãy trở về dương gian…
- Aâm dương đôi ngả, số trời định vậy, xin chàng bớt nỗi nhớ thương tục huyền với người hiền đức cho con đỡ khổ thì hồn thiếp mới được tiêu diêu ơi cục lạc. Thôi vĩnh biệt chàng, thiếp phải trở về.
- Nói đoạn, Trình thị đứng dậy quay lưng đi ra cửa. Tần Hựu giật mình tỉnh dậy thấy áo gối đẫm lệ và màn cửa còn nhẹ nhàng lay động.
Từ sau bữa đó, Tần Hựu không đến nỗi thờ ơ mỗi khi bạn bè, họ hàng khuyên chàng tục huyền. Theo quan niệm chung của xã hội thời bấy giờ, Tần Hựu khó mà lấy được vợ trẻ và gia thế như Trình thị. Vốn tính hiền lành thật thà, lại quen được mẹ cha và lúc vợ sanh tiền giúp đỡ quyết định trong mọi công việc nên chi tần Hựu rất lúng túng trong sự lựa chọn vợ kế.
Sau cùng chàng nhge theo bè bạn cưới Liễu thị xuất thân trong gia đình tầm thường, mặc dầu bà cô chàng hết sức can ngăn.
Bà cô chàng sợ Liễu thị theo gương mẹ đẻ về nhà chồng sẽ giở thói kém giáo dục, ẩu hỗn với Tần Hựu. Bà nói:
- Cháu chọn người gia tư kém cháu làm vợ. Điều đó cũng được. Tuy nhiên điều quan trọng khi kén vợ là chọn người hiền đức. Cứ xem tính cháu và nề nếp trong gia phong của Liễu thị, cô thấy nó sẽ lấn át cháu và để khổ cho hai bố con mật thôi.
Tần hựu chỉ vâng dạ cho qua câu chuyện rồi chàng vẫn cưới Liễu thị làm vợ kế. Có người cho rằng Tần Hựu ưa thích lấy vợ đẹp.
Quả đúng như lời bà côTần Hựu đã nói, về nhà chồng ít bữa, thấy chồng hiền lành chân thật. Liễu thị liền giở ngay thói độc dữ, ẩu hỗn, chẳng kính nể gì chồng cả. Tần Hựu bị đánh phủ đầu, nhưng vẫn chịu nhịn, thét rồi sanh ra sợ vợ.
Đối với con chồng, Liễu thị mới đầu tuy có săn sóc đôi chút nhưng tỏ vẻ không ưa ra mặt. Động một chút là Trưởng Nhu bị mẹ ghẻ la rầy, mắng chửi. Thoáng thấy cha con đến gần nhau là Liễu thị kiếm cớ đuổi Trưởng Nhu xuống nhà dưới và không quên ỉ eo chồng.
Trưởng Nhu năm nay tuy đã mười lăm nhưng vì là người chí hiếu nên chỉ cúi đầu ứa lệ đi về thư phòng ngồi rỏ lệ khóc thầm.
Đến khi Liễu thị cò thai càng tác yêu tác quái, coi Trưởng Nhu cái gai trong mắt. Những lúc Tần Hựu vắng nhà, Liễu thị thường điểm mặt Trưởng Nhu mà rủa rằng:
- Thằng kia, sao mày không chết theo mẹ mày đi cho tao rảnh nợ.
Một bữa Liễu thị vắng nhà, Trưởng Nhu mon men lên nhà trên tìm cha kể nỗi đau khổ cho cha nghe.
Tần Hữu đau đớn hỏi con:
- Sao con không cho cha biết sớm? Để cha lựa lời khuyên bảo ghẻ con.
Khi Liễu thị về nhà, Tần Hựu đem chuyện Trưởng Nhu ra nói, và ngỏ ý khuyên vợ nên đối xử với con chồng cho phải đạo. Chẳng dè thị vật mình la khóc ầm ĩ và lớn tiếng trách cha con tần Hựu những là: đồ vô ơn bạc nghĩa và đồ vu oan giáo hoạ.
Vốn người ăn nói nhỏ nhẹ, đa sầu đa cảm, lại nữa đây là lần đầu ti6n tron đời bị một vố kinh hoàng như vậy nên Tần Hựu sợ hãi nín khe, mặt xang như tàu lá.
Liễu thị biết thóp lại càng làm dữ tợn đến nỗi Tần Hựu phần thì ngỡ mình quá nghe con nghi oan cho vợ, phần thì quá sợ ồn ào tai tiếng nên vội xuống nước năn nỉ Liễu thị bỏ qua cho.
Sau trận đại thắng ấy, Liễu thị mặc sức làm mưa lám gió trong nhà họ Tần. Thấy “chủ soái” còn bị phuu nhân hạ sát ván bọn gia nhân đầy tớ sợ Liễu thị một phép. Trưởng Nhu hoàn toàn bị thế cô.
Ít bữa sau, Liễu thị hạ sanh được một đứa con traii được Tần Hựu đặt tên là thứ Nhu. Bữa đầy tháng Thứ Nhu, Liễu thị mở tiệc ăn uống linh đình.
Lời nói chẳng mất tiền mua, huống hồ nơi đây lại còn được đãi ăn uống nữa thì ai dại gì mà chẳng tiếc lời khen Thứ Nhu.
Thiên hạ đua nhau nịnh Liễu thị. Những là:
- Bác Hựu tốt phước quá, được bà kế có phần linh lợi hơn bà trước.
- Chú này tốt tiếng quá. Phen này hai bác lấy thúng ra mà hốt bạc. Tướng như vầy cha mẹ làm ăn không phấn chấn sao đặng.
Một vài người khác bắt con nữ tỳ bế Thứ Nhu lại gần làm bộ rành khoa tướng số rồi xuýt xoa nói với vợ chồng Tần Hựu:
- Tướng này ăn đứt thằng anh nó là trưởng Nhu rồi. Thằng anh rồi đến xách dép cho thằng em mất thôi.



vui_la_chinh 06-14-2005 02:41 PM

Tần Hựu mỉm cướp gạo. Còn Liễu thị bụm miệng cười thầm. Thị dư biết đứa bé mới được một tháng còn là khối thịt đỏ hỏn, làm chi mà đã nói được tướng số.
Tuy vậy thị vẫn mở cờ trong bụng. Nhất định là Thứ Nhu. Cái đó khỏi cần bàn đến, và cũng chẳng cần phải coi tướng số làm chi cho mệt.
Cứ theo kế hoạch của thị tất nhiên Trưởng Nhu phải xách dép cho em đứt rồi còn chi. Mà có khi con của Trình thị cũng không còn sống tới ngày Thứ Nhu biết đi để mà xách dép. Cái gia tài to tát của họ tần phải về tay con thị. Bằng cách nào?
Liễu thị lẩm bẩm: “rồi sẽ biết”.
Từ bữa đó, Liễu thị thẳng tay hành hạ con chồng, Trưởng Nhu không được đi học nữa, phải ở nhà tập việc đồng áng với bọn tá điền.
Đi làm đồng về, Trưởng Nhu lại bị mẹ ghẻ bắt dọn dẹp trong nhà và giặt tã lót cho em cùng quần áo cho mẹ ghẻ. Liễu thị lại theo dõi công việc làm của con chồng, động một chút là mắng chửi, đánh đập. Ôi thật là vất vả cay đắng trăm chiều. Tuy bị hành hạ quá đáng nhưng Nhu không dám mách cha vì biết chẳng ích gì, chỉ thêm khổ cho cha. Cho nên chàng chỉ âm thầm chịu đựng. Những đêm thanh vắng, Trưởng Nhu bưng mặt khóc thầm, khóc chán chàng gọi mẹ xin cho đi theo về chốn truyền đài, tránh cho cha con khỏi bị đau khổ.
Liễu thị cũng chọn những lúc đêm khuya thanh vắng năn nỉ ỉ eo với chồng đòi truất quyền thừa hưởng gia tài của trưởng Nhu.
Tuy sợ vợ, Tần Hữu cũng không đành tâm làm hại con đời vợ trước. Bị vợ thôi thúc quá, họ Tần chỉ ậm ừ cho qua, chớ không chịu làm giấy tờ chi cả. Liễu thị bực mình lắm nhưng không giám áp đảo chồng.
Thị bèn nghĩ độc kế loại trừ trưởng Như và chờ cơ hội thuận tiện để thi hành.
Cơ hội đã đến… Bữa đó Tần Hựu phải đi thăm người bà con gần đau nặng ở tỉnh xa.
Tần Hựu đã đi ra tới bụi tre đầu làng bỗng nghe tiếng chân huỳnh huỵch chạy theo. Hựu giật mình quay lại cảm động nhìn trưởng Nhu hổn hển chạy đến bên mình.
Cậu bé mười lăm tuổi mồ côi mẹ được năm năm và hiện nay đang sống trong cảnh đoạ đầy của người mẹ ghẻ, gương mắt nhìn cha không nói nên lời.
Tần Hựu nhẹ nhàng xoa đầu con và nói:
- Con ra tiễn cha à? Cha đi vài bữa thì về như mọi lần, có chi mà con phải lo âu như vậy?
Trưởng Nhu ngập ngừng:
- Cha… cha cho con đi với.
Tần Hựu cười xoà:
- Con đã lớn rồi đi theo cha làm chi?
Mọi lần con đâu có đòi đi như vậy.
- Lần này khác. Tự nhiên con thấy buồn quá.
- Thôi để lần sau cha sẽ hỏi mẹ Thứ Như rồi cho con đi, con về đi.
Trưởng Nhu lủi thủi qauy về trong khi Tần Hựu thở dài tiếp tục lên đường. Ai ngờ đây là lần cuối hai cha con giáp mặt nhau.
Biết tần Hựu đi cuyến này phải cả tuần lễ mới về, Liễu thị liền sắp đặt kế hoạch sát hại con chồng. Chiều thị lại bày thêm việc cốt ý cho gia nhân đầy tớ bận tốùi mắt ở dưới nhà hết.
Đoạn thị kêu Trưởng Nhu vô buồng kín sai dọn dẹp loanh quanh. Chờ lúc con chồng vừa cúi xuống. Liễu thị vung cây gậy đã thủ sẵn, nện thiệt mạnh vào gáy Trưởng Nhu. Trưởng Nhu đã gục xuống đất, chân giẫy tê tê. Liễu thị nhào tới cứ nhằn bụng con chồng mà đá liên hồi.
Khi con ác phụ ngừng chân thì Trưởng Nhu chỉ còn là cái xác không hồn.
Liễu thị lấy mền bọc xác Trưởng Nhu vác về buồng riêng của nó và đặt xuống chân giường. Đoạn thị lén trở về phòng…
Lát sau làm bộ tự nhiên, lũng thững đi xuống coi gia nhân làm việc. Thị giả vờ hỏi mọi người :
- Uûa, còn trưởng Nhu đâu?
Một gia nhân đáp:
- Dạ, chúng con mải làm, không để ý. Chắc cậu quanh quẩn đâu đây.
Liễu thị nghiêm giọng nói:
- Đi kiếm xem cậu ấy đâu bảo xuống làm việc chớ. Con trai lớn bằng ấy mà lười như hủi, sau đến đi ăn mày mất thôi.
- Thưa bà… con lên tìm thấy cậu… nằm dưới đất… gọi không thưa. Mời bà lên coi.
Liễu thị vờ ngạc nhiên:
- Vậy hả. Mấy đứa bây theo ta lên coi xem thế nào.
Nói đoạn thị làm bộ te tái chạy lên phòng Trưởng Nhu rồi hô gia nhân vác con chồng lên giường chạy chữa. Thị bảo gia nhân:
- Chắc là trúng gió rồi. Tụi bây lấy rượu và gường xoa bóp cho cậu. Lẹ lên, bây.
Gia nhân xúm lại kẻ góp rượu người lay gọi hồi lâu nhưng trưởng Nhu vẫn nằm ngay như khúc gỗ.
Liễu thị hô:
- Coi thử xem cậu còn thở không?
Dĩ nhiên là không rồi còn chi nữa. Liễu thị giả bộ bưng mặt khóc hu hu rồi thuên người lo liệu việc chôn cất và sai người lập bàn thờ cúng kiếng tự nhiên.
Trưởng Nhu bị chôn ngay tại thửa ruộng của cha, sát bên lề đường.
Mấy bữa sau, Tần Hựu về nhà, Liễu thị vờ khóc lóc thảm thiết, rồi kể với chồng: Chàng đi, ở nhà con nó chẳng may trúng gió độc chết, thiếp hết lòng cứu chữa mà không cải được với số Trời. Thiệt là đắc tội vời chàng.
Tần Hựu bàng hoàng đến bên bàn thờ con đốt nến thắp nhang khấn khứa hồi lâu. Người cha đau khổ quay ra, mắt đỏ ngầu, đẫm lệ, rồi hối gia nhân đưa ra đồng thăm mộ con.
Gia nhân dạ ran kéo nhau tới hai ba đứa đi theo chủ ra đồng. Dọc đường chúng không ngớt lời than tiếc cho con chủ. Chẳng qua đó chỉ là khóc mướn thương vay chớ thực ra họ chỉ mượn dịp để kể công với chủ một cách khéo léo. Nào là họ đã hết lòng cứu chữa, nào là họ đã lo cho trưởng Nhu được mồ yên mả đẹp.
Tần Hựu thấy lũ gia nhân cũng nói là trưởng Nhu chết vì gió độc nên không nghi ngờ chi cả.
Thấy chồng không tỏ vẻ thắc mắc về cái chết đột ngột của Trưởng Nhu. Liễu thị cũng mở cờ trong bụng. Thôi thế là từ nay, cái gia tài to tát của cha. Thị tự khen thầm mình đã khéo bầy ra mưu thần chước quỷ để loại trừ con ghẻ một cách êm thấm như vậy.
Hơn một tuần lễ sau ngày Trưởng Nhu bị mẹ ghẻ đập chết, xảy có Bao Công đi tuần tra cácquận trong phủ Khai Phong. Sáng đo Bao Công cỡi ngựa ra đồng quan sát công việc cầy cấy của dân.
Bao Công lỏng tay cương, cho ngựa đi bước một trên con đường đất băng qua cánh đồng bát ngát, đầy lúa mọc xanh rờn.
Lúc đi ngang qua thửa ruộng của Tần Hựu, thấy mấm mồ của Trưởng Nhu nằm bên lề đường, Bao Công dừng ngựa lại hỏi chức việc sở tại đi theo hầu:
- Mả ai mới chôn đây?
Chức sở tại đưa mắt nhìn nhau. Viên thơ lại già của Bao Công muốn cứu vãn tình thế, bèn trả lời đại:
- Dạ thưa không biết. Chắc là của người trong thành hay của người trong làng gần đây.
Bao Công bật cười nhìn viên thuộc hạ và nói:
- Thế ngươi muốn người chết rớt từ chín từng mây xuống ư?
Tất cả cười ồ vui vẻ, Bao Công chậm rãi nói:
- Mả chông lề đường theo nhẽ phải là kẻ tứ cố vô thân, chết đường chết chợ nên được chôn tại đây.
Quan sát một lúc, Bao Công nói tiếp:
- À mà không phải. Mả này lại chôn trong phạm vi thửa ruộng sát lề đường tức là thân nhân người chết thuộc hạng có tiền bạc. Mà cớ sao lại chọn chỗ úng thủy này mà táng nhỉ. Kiểu đất chỗ này không có chi lạ, lại là bại địa nữa. Lạ thiệt! Lạ thiệt!
Viên thơ lại già bạo phổi góp ý kiến:
- Thưa thượng quan hay là kẻ nằm dưới mồ không phải là thân tộc của chủ ruộng?
- Lại càng vô lý nữa. Vì đây không phải là kiểu đất lạ khó có thể kết phát, ai hoài tiền mua miếng đất này mà táng thân nhân? Ta chắc kẻ chết là thân tộc của chủ đất, nếu phải vậy tất là có sống cũng chẳng được trọng vọng, quý mến gì. Thôi ta lên đường.
Nói đoạn Bao Công giựt cương ngựa lên đường.
Được một quãng, Bao Công nghe tiếng văng vẳng bên tai như có tiếng trẻ con nói: “xin cáo oan cùng đại quan” Bao Công giật mình quay lại. Vô lý! Mình ngồi trên ngựa, ai mà nghé bên tai nói được?

vui_la_chinh 06-14-2005 02:42 PM

Hồi 24(a)

Ỷ THẾ HIẾP NGƯỜI


Ngày xưa, tại làng Thiết Khâu, xóm Hiếu Liêm, huyện Triều Thủy, thuộc phủ Triều Châu bên tàu, có thanh niên nọ tên là Viên Văn Chánh, dung mạo khôi ngô tuấn tú, trẻ tuổi tài cao, sớm đậu tú tài làm rạng sỡ tổ tông. Điểm đặc biệt của chàng là khí khái, tuy gia cảnh rất là thanh bạch.
Nhiều nhà giàu có muốn kén làm rẻ nhưng chàng chẳng chịu. Bạn bè chế giễu, liệt chàng vào hạng đồ gàn. Chàng chỉ cười đáp:
- Lấy người chớ ai lấy của. Các anh có ham thì mời nhào vô.
Còn tôi thì xin kiếu.
Một bạn đồng môn mới cưới vợ giàu, động lòng bĩu môi nói:
- Làm phách. Nghèo kiết xác còn làm bộ. Chỉ sợ rồi đây đói rã họng lại không đến lạy mà làm rể nhà giàu.
Một anh khác, thi mãi chẳng đậu tú tài, ghen ghét họ Viên, được dịp hùa theo.
- Uùi chà, may mà đậu chớ tài cán gì. Mặt ấy chỉ có chờ chết đói chớ vô kinh thi gì nổi.
Trước những lời phỉ báng của bạn bè, Viên Tú tài vẫn nở nụ cười tươi, không thèm cãi lại và cũng không nản chí, trái lại chàng ra công dùi mài kinh sử.
Cha mẹ chàng dư biết tính con vả lại thấy con còn sức ăn học và ông bà còn lo được nên cũng không hối thúc chàng kết hôn với con nhà giàu. Sau vì họ hàng nói ra nói vào, cụ bà xuôi tai bên lựa lời dọ ý cụ ông.
Cụ ông nhất định không nghe:
- Nhà mình thanh bạch nên chọn người cùng gia cảnh thì con nó đỡ bị kinh rẻ. Vả lại tôi xem ra thằng Chánh nhà ta tánh tình khí khái tất sẽ khổ cho nó.
Cụ ông chẳng chịu, cụ bà đành thôi. Từ đó bà mẹ để ý kiếm dâu hiền, trong các gia đình bằng vai phải vế. Bà chấm con gái họ Trương, là Trương thị, đẹp cả người lẫn nết, liền :báo cáo” cho cụ ông hay. Sau vài lần tới lui thăm hỏi họ Trương, Viên ông không tiếc lời khen ngợi Trương thị với Viên bà. Tú tài Viên Văn Chánh hay biết ý định của song thân cũng vui mừng khôn xiết: đã từ lâu chàng cũng yêu vụng nhớ thầm Trương thị.
Họ Viên nhờ người mai mối. Họ Trương vui vẻ nhận lời. Tin lành bay ra, người ta bàn tán xôn xao,nhưng xem ra khen nhiều chê ít.
Hôm lễ chạm ngõ Viên ông có mời cụ Tư, một ông bạn thâm giao cùng đi cho rậm đám. Sau gần một tiếng đồng hồ hàn huyên, nhà trai cáo từ ra về. Nửa đường, Viên ông hỏi cụ Tư:
- Thế nào bác, đám này được chứ bác?
- Được, được cả người lẫn nết, hiềm một nỗi…
Viên ông chợt nhớ lời đồn đại cụ Tư là một tay tử vi kiêm kỳ môn độn giáp có hạng nhưng Viên ông không hề coi bao giờ. Bữa nay cao hứng. Viên ông tò mò hỏi:
- Bác nói hiềm một mỗi là sao?
Cụ Tư vuốt chòm râu bạc, trầm ngâm một lát rồi thong thả đáp:
- Khó nói quá. Thôi bác cứ bảo cháu Viên Văn Chánh sau này đừng để vợ lọt vào mắt bọn hoàng thân quốc thích quyền cao chức trọng mà sanh đại hoạ…
Viên ông ngắt lời:
- Mà đại hoạ cho ai?
- Đại hoạ cho một vài người ngoài ra còn kiến toàn quốc bàn tán và hàng triệu người phải rơi luỵ xót thương.
- Chi mà dữ vậy.
- Định mệnh mà. Vả lại chưa biết thế nào mà nói.
Nói đoạn cụ Tư nói lảng sang chuyện khác mà Viên ông cũng chẳng vặn hỏi làm chi.
Ít lâu sau, lễ thành hôn giữa Văn Chánh –Trương thị được cử hành. Trương thị ra công thu vén giang sơn nhà chồng khiến cho ai cũng phải ghen với số phận Văn Chánh cưới được vợ đã đẹp lại đảm đang, thùy mị, nết na.
Mấy năm sau cha Trương thị rồi đến Viên ông và Viên bà lần lượt cưỡi hạt quy tiên.
Đoạn tang Viên bà xong, Trương thị mang thai và sau sanh hạ được một đứa con trai rất kháu kỉnh. Khi nó lên ba tuổi thì Văn Chánh cũng vừa tròn ba mươi còn Trương thị thì mới có hai bốn cái xuân xanh.
Một sáng, theo thường lệ, Văn Chánh cắp sách đến nhà một cụ nghè để trao dồi thêm kiến thức. Tới ửa, chàng thấy sĩ tử bàn tán lao xao về tin nhà vua sẽ mở kỳ thi tại Đông Kinh vào đầu thu năm ấy. Chàng lật đật lên huyện lỵ dọ hỏi lại cho chắc chắn rồi trở về nhà bàn tính với Trương thị:
- Nàng ơi, sắp đến ngày ta phải xa mẹ con nàng rồi.
Trương thị đang cho con ăn cơm, giật mình hỏi:
- Chàng nói chi gở vậy?
- Nàng khéo mê tín dị đoan. Ta sắp vô kinh dự thi, phải xa mẹ con nàng chẳng đúng hay sao?
Trương thị dịu dàng nhìn chồng:
- Thế là chàng tạm xa mẹ con thiếp chứ. Nhưng chàng ôi nhà nghèo, biết chạy đâu cho đủ tiền cho chàng vô Kinh dự thi?
- Nàng xem có cầm cố, phát mại được chi thì ráng lên một phen. Công mười năm đèn sách, bỏ thi thì uổng quá. Hay là nàng ngại ta không chiếm được bảng vàng.
- Thiếp đâu dám nghĩ vậy. Chàng là “vị vũ chi giao long, tại sơn chi hổ báo”. Với sức học uyên thâm, lo gì mà chẳng bảng hổ đề danh, ngựa chàng đi trước, võng thiếp theo sau? Nhưng thiếp e sợ một điều…
Văn Chánh ngắt lời cô vợ quý:
- Nàng còn lo sợ điều chi?
- Nhà ta nghèo, nay bán sạch cửa nhà cho chàng đủ tiền ăn đường và nằm chờ thi, ở nhà mẹ con thiếp biết nương tựa vào đâu.
Nghe vợ nói, Văn Chánh thở dài, buồn bã nói:
- Để thủng thẳng mình tính cách.
Thấy chồng nét mặt buồn hiu Trương thị ái ngại không dám nói chi hơn nhưng nàng cũng suy nghĩ, cố tìm một giải pháp.
Lát sau Văn Chánh bảo vợ:
- Nàng hãy xem gia sản có chi cầm bán được thì tính trước để ta đi dọ hỏi xem tổn phí hết bao nhiêu rồi sau sẽ định liệu. Nhất định phải đi thi phen này, bỏ thì uổng lắm phần thì ta tuổi ngày càng lớn phần vì không biết bao giờ mới lại mở khoa thi.
Nói đoạn, văn Chánh đi yết kiến các chân khoa bảng trong vùng để hỏi thăm các điều cần biết. Trương thị cũng bồng con chạy đi kiếm bà con cô bác thân tình xin giúp đỡ bằng cách mua dùm căn nhà lá đơn sơ và hơn sào ruộng với giá cao. Tôi nghiệp họ hàng cũng đồng cảnh với vợ chồng Văn Chánh chỉ đủ bát ăn là may có dư giả gì đâu mà nói chuyện mua bán cầm cô. Họ chỉ có thể khuyên Trương thị nên tìm đến mấy tay phú hộ trình bày hoàn cảnh may ra có người hảo tâm giúp đỡ cho chăng.
Trương thị bồng con đến gõ cửa mấy tay cự phú làng trên, xon dưới. Nàng nói đã khô cả cổ mà chẳng được kết quả gì: họ trả giá rẻ như bèo. Hơn nữa, qua những cái nhìn cú vọ của họ, cùng những lời nói ỡm ờ nàng hiểu rằng họ sẵn sàng … mua nàng với giá đắt gấp trăm lần ngôi nhà và sào đất.
Trương thị buồn bèn quay về nhà. Càng thương chồng bao nhiêu, nàng lại căm giận bọn phú hào bấy nhiêu. Nàng về nhà được một lát thì chồng nàng cũng lủi thủi bước vào.
Trương thị toan nói cho chồng biết kết quả sự thăm dò của nàng thì Văn Chánh đã uể oải bảo vợ:
- Ta đã hỏi kỹ rồi. Thôi phen này đành bó tay. Ta tính có bán hết gia sản cũng chưa đủ tiền ăn đường. Còn sự vay mượn cũng vô hy vọng. Bạn bè lánh mặt hết.
Hai vợ chồng nhìn nhau thương cảm. Thôi thế là hết hy vọng. Để phá tan bầu không khí nặng nề, Văn Chánh bồng đứa con trai đầu lòng rồi cù cho nó cười như nắc nẻ. Chàng cũng cất tiếng cười theo rồi hai cha con ngồi đùa với nhau thật là vui vẻ.
Giữa lúc ấy có tiếng chó sủa ran, nơi sân nhà.
Trương thị đã trở xuống bếp lo nấu cơm chiều liền chạy vội ra cổng.
Văn Chánh lắng tai nghe. Tiếng vợ chàng nói gần như reo lên:
- Trời, cụ tư, lạy cụ ạ, nhà cháu có nhà xin rước cụ vô. Xa xôi thế mà cụ còn đến thăm chún cháu luôn.
Giọng cụ Tư ấm áp vang lên:
- Chà, có điều chi mà cha con nó cười đùa vui vẻ làm vậy!
Vừa nói, cụ vừa tiến vô nhà. Văn Chánh cũng lật đật trao con cho vợ, sửa lại áo rồi vòng tay thi lễ.
Cụ Tư thong thả ngồi xuống giường rồi chậm rãi hỏi Văn Chánh:
- Thế nào, anh nhất định vô kinh dự thi chứ?
- Dạ thưa cụ cháu muốn đi lắm, ngặt một điều…
Cụ Tư cười khà khà ngắt lời:
- Thôi lão biết rồi. Anh thiếu tiền phải không. Đây lảo có đem bạc sang mua nhà và ruộng giúp anh đây.
Miệng nói tay cụ Tư mở túi vải xếp ra mấy lạng bạc và hàng chuỗi tiền kẽm.
Văn Chánh ngạc nhiên:
- Cụ ở xa lại, sao cụ biết cháu tính bán gia sản để có tiền đi thi? Cụ giả thế này là quá đáng, cháu không dám nhận.
Cụ Tư vuốt chòm râu bạc nhìn Văn Chánh và nói:
- Làm sao lão biết, cái đó dễ hiểu. Cha anh với lão là chỗ thâm giao mà. Còn nhà và ruộng lão trả giá mắc vì không muốn gia sản của cha anh rơi vào tay kẻ khác. Từ ngày cha anh qua đời, lão vẫn năng tới lui đây trước là để nhìn cảnh cũ, nhớ đến người xưa sau nữa là để thăm gia đình anh mà lão coi như con.
Văn Chánh cảm động nhìn cụ Tư. Chàng ngẹn ngào nói:
- Cụ đối với cháu thế này thì thật là chu đáo quá, cháu biết lấy gì trả ơn.
Cụ Tư khoát tay đáp:
- Anh đừng nói chi tới ân với huệ. Đây là bổn phận của tôi. Ta tiếc là không được dư dả để giúp anh nhiều hơn. À mà chuyến này anh có đi thì cho chị ấy và cháu qua bên lão mà ở với lũ cháu gái của lão. Tiện lắm. Anh nghĩ sao?
- Thưa cụ cháu tính cho hai mẹ con nó đi cùng.
Cụ Tư giật mình:
- Uûa, anh đem cả vợ con đi theo thì làm sao đủ tiền?
- Chẳng nói giấu gì cụ, nhà cháu còn ít tư trang và cháu cũng có ít đồ gia bảo mang theo, lên tới kinh đô sẽ bán sau.
- Chà, anh đừng tính quẩn, cứ để vợ con sang ăn ở bên tôi, có tốn kém là bao.
- Thưa cụ, cháu không dám. Cụ giúp cho thế này là quá đủ rồi.
- Anh khí khái giống hệt cha anh vậy. Thôi thế này thì anh hết thắc mắc nhé. Vợ con anh cứ sang nhà tôi nuôi cho. Chừng nào anh vinh quy bái tổ, được hưởng ân vua lộc nước rồi thì muốn trả tiền trọ cũng không muộn.
Văn Chánh một mực không chịu. Cụ Tư không biết nói sao đành chịu, nhưng nếu ai chú ý sẽ thấy nét mặt cụ trở nên đăm chiêu hơn. Cụ ngồi yên lặng hồi lâu rồi lẩm bẩm một mình: “số trời đã định”.
Tối đó cụ Tư ngủ lại nhà văn Chánh. Cụ vẫy đứa con văn Chánh lại gần, xoa đầu, hỏi chuyện nói hồi lâu rồi khẽ thở dài, nói qua hơi thở: “Tội nghiệp thằng bé đầu xanh tuổi trẻ”.
Đêm ấy cụ thức rất khuya, chăm chú ngồi đọc mấy cuốn sách nhỏ chi chít những chữ.
Lâu lâu, cụ lại ngửng đầu nhìn lên vách, nhíu lông mày, ra chiều suy nghĩ lung lắm.
Sáng sau, cụ dậy sớm sửa soạn ra về. Trong lúc ngồi uống trà, cụ dặn văn Chánh:
- Nếu như anh nhất định cho vợ con đi theo thì lão khuyên hai vợ chồng nên ăn mặc xoàng xĩnh thôi.
Riêng về phần vợ anh lại càng phải thận trọng lắm mới được. Cho tới khi anh hiển vinh anh phải bắt nó mặc áo rộng, che bớt mặt đi và nếu cần làm cho nó xấu xí đi. Đường trường nhiều cảnh nguy nan và khi tới kinh đô lại cần phải đề phòng bọn quan quyền ỷ thế hiếp người.
Văn Chánh lãnh ý rồi cả hai vợ chồng tiễn đưa cụ Tư đến tận đầu làng mới trở về. Lúc chia tay cụ tư còn dặn con bạn thêm lần :Dt:
- Anh nhớ làm theo lời tôi dặn nhé… Có chuyện chi thì …vợ hay chồng… cho tôi biết nghe. Thôi lão chúc cho anh công thành danh toại.
Văn Chánh chợt nhớ ra điều gì vội móc túi lấy cuộn giấy đưa cho cụ Tư:
- Thưa cụ, đây là văn tự bán nhà và ruộng xin cụ cầm giùm cho.
- Chà, anh khéo vẽ vời. Thôi được đưa tôi.
- Thưa bao giờ cụ sang nhận nhà và ruộng?
- Chừng nào anh đi?
- Thưa cụ cũng ngày này tháng sau.
- Được đúng ngày đó tôi sẽ cho người sang.
Nói đoạn cụ chống gậy trúc, thong thả bước đi.
Vợ chồng Văn Chánh đứng trông theo đến khi cụ Tư khuất dạng mới quay về. Dọc đường Trương thị hỏi chồng:
- Cụ Tư dặn gì anh mà xem ra có vẻ nghiêm trọng quá vậy?
Văn Chánh thuật lại đầu đủ cho vợ nghe rồi kết luận:
- Ta thấy cụ nói có lý lắm. Đờn bà đẹp đi đường xa nên làm cho xấu xí đi để khỏi có kẻ động tà tâm…
Trương thị gật đầu:
- Thiếp cũng cho là phải. Tuy hiên có điều thiếp hơi thắc mắc. Lúc đi đường vắng vẻ sợ có đứa ẩu hỗn làm bậy. Cái đó đã đành.
Nhưng một khi tới kinh đô, đông đảo người ta lại có quan quân trật tự nghiêm minh, cần chi phải ngụy trang làm xấu đi?
- Nàng nói có lý một phần thôi. Cụ Tư ngại rằng với sắc đẹp tuyệt trần của nàng, tuy ở kinh đô không sợ phường hạ tiện làm hại nhưng lại phải đề phòng bọn phong kiến mũ cao áo dài.
Thứ đó còn đáng sợ hơn.
- Chàng làm như thiếp là Hằng Nga tái thế không bằng, ở ruộng thì khá chớ lên kinh đô nhà vua thì thiếp còn kém xa.
Văn Chánh nhìn vợ rồi mỉm cười đáp:
- Chưa chắc gái đế đo đã hơn nàng. Mà thôi cứ để lên tới chốn thị thành sẽ hay.
Trương thị sung sướng, má đỏ hây, miệng chúm chím cười khiến Văn Chánh cũng phải ngây ngất.
Tháng sau Văn Chánh cùng vợ con lên đường sau khi giao nhà và ruộng cho người nhà cụ Tư.
Chồng đi trước đeo ống quyển, vai mang bọc hành lý và sách vở. Vợ đi theo sau, con cột trên lưng, tay xách bọc quần áo. Lúc đó mặt trời đã lên khỏi ngọn tre. Tới đầu làng vợ chồng Văn Chánh gặp mấy bà lối xóm đi chợ thôn bên về.
Họ ngạc nhiên:
- Làm sao mà ăn vận lôi thôi thế này? Trông như con lọ lem vậy.
Trương thị cười xoà chưa kịp đáp thì một bà đã bô bô nói:
- À bà chị khôn thiệt. Thế này thì đến quỷ sứ cũng lắc đầu khỏi phải lo gì nữa.
Mọi người cười ồ vui vẻ rồi sau mấy câu chúc tụng thường lệ họ chia tayd9e63 vợ chồng Văn Chánh tiếp tục lên đường.
Ngày đi đêm nghỉ, sau nhiều ngày trèo đèo lội suối, Văn Chánh và vợ con lên tới Đông Kinhbình yên vô sự.
Vợ chồng Văn Chánh vô tiệm Huỳnh bàhỏi thăm giá cả. Thấy tiệm ngủ cũng sạch sẽ có thổi cơm trọ giá phải chăng lại thêm Huỳnh bà tánh tình vui vẻ, đứng đắn, vợ chồng Văn Chánh thuê liềm một phòng nhỏ trông ra sân sau.
Hai vợ chồng vô cùng mừng rỡ vì nhờ ăn tiêu dè sẻn lúc đi đường nên tiền lưng còn đủ cho vợ chồng và đứa con sinh sống tới lúc chàng thi xong.
Sau khi sắp đặt xong nơi ăn chốn ở, vợ chồng văn chánh tắm rửa thay quần áo sạch sẽ rồi bồng con ra phố phường Đông Kinh, quên cả lời dặn của cụ Tư.
Khi Trương thị đi qua trước mặt nữ chủ quán họ Huỳnh, bà này ngạc nhiên trỏ nàng hỏi Văn Chánh:
- Kìa, lạ quá nhỉ, có phải cô lúc nãy vô cùng với thầy không?
Văn Chánh cười đáp:
- Dạ phải, chắc bác thấy nhà cháu thay hình đổi dạnh hoàn toàn phải không?
- Phải, nếu không có thằng nhỏ đeo trên lưng thì tôi không tin lời thầy nói đâu. Thầy cẩn thận thế là đúng lắm. Thân gái dặm trường kỵ nhất là phô bày nhan sắc và đồ trang sức. Đã lâu lắm tôi mới lại gặp một người đẹp như vợ thầy đây. Thầy và cô tốt đôi thế này, chắc là phen này thầy phải đậu cao và ra làm quan rồi.
- Bác quá khen, cháu thì tài hèn chí mọn, còn nhà cháu đây đẹp đâu bằng các cô gái đế đô.
- Tôi đã nói là đẹp hơn mà. Rồi thầy nghiệm xem lời tôi nói không phải là nịnh bợ đâu nhé. Phen này tiệm ngủ tôi hên rồi đa.
Vợ chồng Văn Chánh vui vẻ dắt nhau ra phố nhàn du. Cái gì đối với họ cũng là lạ mắt, là đẹp cả. Thấy thiên hạ cứ ngó hết chàng rồi đến vợ chàng, Văn Chánh mới đầu rất hãnh diện vì có cô vợ đẹp. Nhưng thét rồi chàng lại hơi… ghen, nhất là từ lúc lời bình phẩm tục tĩu của đôi ba chàng trai kém giáo dục bay đến tai chàng.
Hai vợ chồng đi mãi, đi mãi hết phố này qua phố khác rồi cả hai tới trước một cây cầu xây bằng đá bắc qua con rạch nhỏ. Thành cầu có khắc hai chữ “Thạch Kiều”.
Vui chân, hai vợ chồng rủ nhau vượt qua cầu sang bên kia thấy nhà cửa không nằm san sát như bát úp nữa, nhà nào cũng khang trang sạch sẽ với vường cây chạy xung quanh. Rõ ràng là khu của những tay quyền quý cao sang. Văn Chánh thấy một toà nhà nguy nga lộng lẫy, bốn bề có tường cao bao bọc, cửa ra vào đóng kín, trên cổng có chòi lính gác. Bên cổng có tấm biển ghi mấy hàng chữ nho. Vừa thoáng đọc xong Văn Chánh giật mình quay phắt lại, bảo vợ hãy về nhà ngay.



vui_la_chinh 06-14-2005 02:43 PM

Trương thị chẳng hiểu ất giáp gì cũng vội vã đi theo chồng trở lại cầu Thạch Kiều.
Được vài bước nàng khẽ hỏi chồng:
- Chi mà gấp vậy chàng?
- Không nên qua đó kẻo sơ ý thì bị khoét mắt, chặt tay như không.
Trương thị bắt rùng mình vội rảo cẳng đi mau. Khi hai vợ chồng sắp lên tới chân cầu, xảy có tiếng quân lính hô dẹp đường. Cũng như các bộ hành kh1c, vợ chồng Văn Chánh phải đứng nép bên lề đường. Phút sau, một toán chừng mười tên lính rầm rộ đổ từ trên cầu xuống mở đường cho một thanh niên mặt trái xoan, đôi mắt lẳng lơ, mặc áo đại thần cỡi ngựa bạch thong thả tiền tới. Phía sau lại có một toán lính khác đi tập hậu. Một ông già đứng bên văn Chánh lẩm bẩm: “Hoàng thân”. Gã thanh niên cưỡi con bạch mã nhìn Trương thị chằm chằm. Không biết hắn nghĩ gì chỉ thấy hắn vẫy tay gọi tên hầu cận bận thường phục lại gần và cúi xuống nói nhỏ một hồi.
Tên hầu cận cúi rạp ra chiều tuân lệnh rồi chậm bước lại để cho toán quân hậu tập đi vượt lên, mắt liếc nhìn về phía Trương thị.
Vợ chồng Văn Chánh vô tình không hay biết gì cả, cứ thản nhiên đi lên cầu. Văn Chánh hỏi nhỏ cụ già lúc nãy đứng bên cạnh:
- Thưa lão trượng, chẳng hy người vừa rồi cụ gọi là “Hoàng thân” là ai vậy?
- Chắc câu ở xa về đây chơi hẳn?
- Dạ cháu từ phủ Triều Châu về đây dự thi.
- À thế thì cậu không biết thì phải. Người vừa đi qua là Tào Nhị Quốc Cựu. Nguyên vợ vua Nhơn Tôn là Tào Hậu, con gái Thái phụ phu nhơn.bà này còn có hai con trai được phong là Đại quốc Cựu và Nhị Quốc Cựu, và liệt vào hàng Hoàng Thân.
Ông già vừa nói tới đây thì hai người cũng vừa qua khỏi cầu Thạch Kiều. Ông già chào Văn Chánh rồi rẽ qua tay mặt còn vợ chồng văn Chánh thì cứ thẳng đường về nhà trọ.
Cả hai đều không biết có tên hầu cận của Nhị Quốc Cựu đeo sát sau lưng. Đến nhà trọ của Huỳnh bà, nó dòm theo biết phòng của vợ chồng Văn Chánh liền đi loanh quanh một lát rồi lại tiệm ngủ thuê một phòng.
Tới đó, hắn lân la bắt chuyện với Văn Chánh, sáng sau hắn dời nhà trọ từ sáng sớm với đầu đủ tin tức về vợ chồng nhà này.
Tới tư dinh Nhị Quốc Cựu, hắn vô thẳng phòng chủ phúc trình kết quả cuộc điều tra. Nghe xong Nhị Quốc Cựu mở ô kéo lấy một đĩnh bạc ném cho tên hầu cận rồi nói:
- Tốt lắm, ta đã có cách chiếm người ngọc ấy.
Tên hầu cận được bạc, hót thêm:
- Được cậu chiếu cố, mụ ấy thật là đại phước. Nhưng còn thằng chồng nó cậu tính sao!
- Ta nói đã có cách mà. À bây trông kỹ nó có đẹp thiệt không? hay là ta hoa mắt trông lầm?
- Dạ thưa cậu nó đẹp lắm, gái kinh đô này dễ thường chưa ai sánh kịp. Con mà lấy đặng nó cậu có chém bay đầu con cũng cam tâm.
Nhị Quốc Cựu lim dim đôi mắt, mở một nụ cười khả ố ném cho tên hầu cận một đĩnh bạc nữa rồi truyền cho lui ra.
Ngay sáng đó, Nhị Quốc Cựu đuổi hết cung tần mỹ nữ ước đến hai chục người, sang ở bên Tây cung để nghinh đón Trương thị. Nhi Quốc Cựu cũng chọn sáu tỳ nữ kín tiếng giữ lại để hầu hạ bên Đông cung.
Đoạn Nhị Quốc Cựu truyền cho đầu bếp chuẩn bị mở tiệc rượu đêm nay.
Chiều lại, Nhị Quốc Cựu chọn hai tên lính ăn nói hoạt bát, kêu vô phòng cùng với tên hầu cận mà bảo rằng:
- Hai người khá theo tên này (trỏ hầu cận) đến tiệm ngủ Huỳnh bà vô nói với Tú tài Viên Văn Chánh rằng ta nghe người quen ở phủ Triều Châu ca tục sức học uyên thâm của Văn Chánh từ lâu nay được biết tú tài mới cùng vợ lên kinh đô để chờ ngày thi, ta có lời mời cả ba đến phủ ta, trước là để có dịp hiểu biết thêm về tài năng sau là để tiện tiến cử. Phải nói là ta xưa nay vẫn có tính trọng hiềm đãi sĩ, thường hay vì đức Vua mà chiêu mộ hiền tài, nghe chưa?
Chú lính dạ ran:
- Dạ chúng con nghe rõ rồi.
Nhị Quốc Cựu gật đầu:
- Tốt. Nhưng chưa hết đâu. Bảo họ đem tất cả hành lý lên đây ta có trú ngụ tại phủ này cho đến ngày hiển đạt. Nhớ đón vợ chồng và đứa con lên tất cả nghe.
Nói đoạn, Nhị Quốc Cựu mở tủ lấy bạc trao cho hai người lính và dặn thêm:
- Trả hết phí tổn ở tiệm ngủ Huỳnh bà cho họ và thuê cáng đưa họ về đây. Còn dư bao nhiêu cho tụi bây chia nhau mà xài. Còn tên này (trỏ hầu cận) ngươi chỉ đưa họ tới nơi, trỏ nhà cho biết rồi rút lẹ về đây, ẩn mặt đi vài bữa chớ để hai vợ chồng nó nhận diện được, hỏng việc của ta thì tù mọt gông đó. Thôi tụi bây đi ngay cho được việc.
Ba người vái Nhị Quốc Cựu rồi lui ra sửa soạn lên đường ngay tức khắc.
Ra khỏi phủ, một chú lính hỏi anh hầu cận:
- Nè bác, chiêu phụ sát phu chớ chiêu hiền sĩ gì phải không? Con mụ này đẹp lắm sao bác?
Anh hầu cận mỉm cười bí mật:
- Chia bớt cho tớ ít bạc, tớ sẽ nói cho mà nghe.
- Chẳng nói thì đừng, lát nữa tụi này cũng biết.
- Được. nhưng coi chừng ta mét ngươi phỉ báng Hoàng Than cho mà coi.
Chú lính nọ đấu dịu và thuận chia chút bạc cho anh hầu cận.
Tên này cười nói tiếp:
- Có thế chứ. Bây giờ vểnh tai mà nghe. Con mụ này đẹp lắm tên là Trương thị. Hoàng thân mê lắm rồi đấy.
Chú lính nọ thở dài đáp:
- Tôi sợ cái thói dập liễu vùi hoa của Hoàng thân, khéo mụ này lại theo số phận như hàng chục mỹ nhân từ trước đến nay.
Tên hầu cận trợn mắt la:
- Này, xin ông ngậm bớt cái miệng lại kẻo thấu tai Hoàng Thân thì lôi thôi đấy. Muốn làm ma không đầu sao?
Chú lính nọ im bặt, lấm lét nhìn hai bạn đồng hành. Ba người lặng lẽ nhắm thẳng tiệm ngủ huỳnh bà mà tiến tới.
Nói về Tú tài Văn Chánh sáng đó trở dậy có ý tìm tên hầu cận của tào Nhị Quốc Cựu mà chẳng thấy đâu. Chàng liền lên nhà hỏi thăm nơi Huỳnh bà:



- Khách trọ ở phòng cận cháu đi ròi sao bác?
- À anh tanói có việc ở quê phải đi ngay từ sớm rồi.
- Tiếc quá, cháu tính nhờ anh ấy dẫn d8i vãng cảnh nơi đế đô.
Nói đoạn, chàng trở về phòng ngồi bó gối uống trà một mình. Trương thị hỏi chồng:
- Bữa nay chàng tính cho mẹ con thiếp đi đâu?
Văn Chánh uể oải đáp:
- Ta thấy mệt mỏi, để lát nữa sẽ hay.
Trương thị nhìn chồng rồi giật mình hỏi:
- Uûa, sao khí sắc chàng bỗng nhiên kém hẳn đi vậy?
- Nàng nói thiệt sao? Thực ra từ lúc ta dậy đến giờ ta thấy tâm thần bất định, lòng bồn chồn như lửa đốt, tự nhiên ta có cảm tưởng ở nơi này không được an vui lắm.
Trương thị dịu dàng đáp:
- Có lẽ bây giờ chàng mới thấm mệt vì cuộc hành trình quá vất vả. Thiếp nghĩ chàng nên tĩnh dưỡng vài ngày cho lại sức còn ôn lại văn bài.
Suốt ngày hôm đó, Văn Chánh đứng ngồi không yên, cho tới chiều giữa lúc chàng đang nằm khàn trong phòng xảy có tiếng Huỳnh bà gọi rối rít:
- Thầy Tú ơi! Thầy Tú ơ! Có các cậu lính đằng hoàng thân lại mời vợ chồng cậu vô phủ chơi đây nè.
Văn Chánh choàng dậy, chạy vội lên. Hai tên lính chắp tay xá dài chàng rồi lễ phép nói:
- Quốc Cựu sai bọn tôi đến rước Tú tài và phu nhân cùng công tử lên phủ ở chơi cho đến ngày thi.
Văn chánh chưa kịp trả lời thì một chú lính nhanh miệng nói luôn:
- Xin Tú tài đừng khước từ. Quốc Cựu vốn trọng hiền đãi sĩ nay nghe danh Tú tài tuổi trẻ tài cao muốn mời tới tương kiến để đường tiến cử sau này. Hiện võng đã thuê chờ ở cửa xin Tú tài đi cho. Tiền trọ tôi đã trả đủ rồi.
Huỳnh bà nghe nói chắp tay xuýt xoa:
- Quốc Cựu thiệt là nhơn ái. Thôi thầy Tú hãy mau sửa soạn lên đường chớ để Ngài phải chờ lâu. Thiệt là hên cho tiệm tui quá.
Văn Chánh trở về phòng nói qua cho vợ biết rồi cả hai thay quần áo đẹp nhứt đi lên nhà.
Vừa trông thấy Trương thị hai chú lính nháy mắt nhìn nhau thì thầm: “Đẹp quá ta”.
Rồi chúng xúm lại mang hộ hành lý của vợ chồng Văn Chánh ra cổng.
Hồi lâu sau, vợ chồng Văn Chánh tới nơi. Tào Nhị Quốc Cựu sai lính mở cổng giữa và đích thân ra tận ngoài đón rước dẫn vô dinh.
Sau khi phân ngôi chủ khách, Quốc Cựu quát lính hầu trà và cho kêu thị tỳ lên bồng con cho trương thị.
Quốc Cựu giả bộ hỏi gia cảnh Văn Chánh. Rồi câu chuyện xoay qua vấn đề vấn đề văn chương thi phú. Quốc cựu làm bộ chăm chú nghe Văn Chánh phun châu nhả ngọc nhưng thực ra đầu óc đang quay cuồng trước sắc đẹp mê hồng của trương thị.
Nắng đã xé chiều rồi tắt hẳn. Trong dinh Quốc Cựu đèn thắp sáng như ban ngày. Quốc Cựu mời Văn Chánh ra ngoài huê viên dự dạ yến cho mát. Lấy cớ mình chưa có vợ, Quốc Cựu xin lỗi rồi kêu nữ tỳ rước trương thị vô Đông cung dùng cơm, lại sai người đem con văn chánh qua Tây cung săn sóc.
Vì đã có lệnh trước nên khi trương thị vừa bước vào hậu cung, bọn tỳ nữ đã đóng sập cửa lại rồi xúm nhau mời Trương thị:
- Tâu lịnh bà, xin lệnh bà tắm mát rồi thay xiêm y mới trước khi dùng bữa.
Thiếu phụ đồng ruộng chẳng hiểu ất giáp gì cứ răm rắp theo sự chỉ dẫn của bọn nữ tỳ nữ.
Khi Trương thị trở ra với y phục lộng lẫy trông như Hằng Nga tái thế, bọn hầu gái không tiếc lời tâng bốc nàng:
- Tâu lịnh bà,lịnh bà đẹp như tiên nga, chắc là Quốc Cựu phải hài lòng.
Trương thị liếc nhìn vào gương. Nàng cũng giật mình, không ngờ nàng lại xinh đẹp đến thế. Rồi nàng ngồi vào dùng cơm một mình, lòng tràn ngập niềm hân hoan vô tận. Nàng yên trí Quốc Cựu thấy Văn Chánh có tài nên vì nể mà hậu đãi nàng.
Giữa lúc ấy, ở ngoài huê viên, Quốc Cựu ra công phục rượu cho Văn Chánh. Chàng trí thức miền quê thực tình uống hết chén này qua chén khác. Gặp thứ rượu mạnh nên tới tuần thứ mười, Văn Chánh gục xuống bàn ngủ vùi. Quốc Cựu mỉm cười rũ áo đứng dậy vẫy bốn tên tâm phúc lại gần và bảo rằng:
- Tụi bây khiêng tên này ra sau vườn thủ tiêu cho ta. Còn đứa con nhỏ của nó cũng … đi theo bố nó luôn thể, cho tiện việc. Nhớ làm cho lẹ rồi vô trình ta mà lãnh thưởng.
Ra lệnh xong, Quốc Cựu trở về phòng riêng.
Bốn tên quân tâm phúc chia nhau thi hành lệnh chủ. Hai đức khiêng Tú tài văn Chánh ra vườn sau còn hai đứa đi kiếm con văn Chánh. Vườn này mênh mông, rộng tới mấy chục mẫu, có chỗ cây mọc như rừng, âm u ghê rợn, đến ban ngày cũng không ai dám tới làm chi.
Hai tên khiêng Văn Chánh đi được một quãng, bỗng tên đi đầu vấp phải rễ cây lảo đảo suýt rồi ngã. Hắn chửu thề một hồi rồi bảo bạn:
- Nè anh, mọi lần trước tụi mình thường thủ tiêu các mỹ nhân vào lúc tờ mờ sáng, nay phải thủ tiêu cha này trong đêm tối nghĩ mà khó quá. Hay là…
Tên đi sau hỏi mau:
- Hay là … sao?
- Hay ta cũng siết cổ như mọi bận rồi xô xác nó xuống giếng Quỳnh Hoa ở gần đây là hơn cả.
Tên đi sau phản đối:
- Không được giếng này ở gần nhà quá, sợ e bại lộ mất, phải đem nó ra chỗ mọi khi.
Tên đi trước đứng dừng lại nói:
- Nếu vậy thì anh chịu khó cõng thằng này đi một mình ra ngoài đó mà giết nó rồi chôn đi như mọi bận. Tôi chờ anh ở đây nghe. Tiền thưởng thì anh cứ việc lãnh cả.
Nói đoạn hắn ngưng lại chờ phản ứng của tên đi sau. Sợ tên này tham bạc làm thiệc, hắn doạ liền:
- Chẳng phải tôi làm biếng đâu mà vì đêm tối ra tận đó. Sợ oan hồn uổng tử hiện lên đòi thường mạng thì nguy. Anh có nhớ tổng số mỹ nhân bị thủ tiêu là bao nhiêu rồi không?… Đúng bốn mươi mạng rồi nghe. Anh chàng này là bốn mốt, đứa bé con là bốn hai và mụ trương thị sẽ là nạn nhơn thứ bốn ba trong ít bữa. Aáy là chưa kể tới những bào thai mà một số mang theo xuống cõi âm ty.
Tên đi sau bắt rùng mình, sợ quá đến lạc cả giọng:
- Anh nói có lý. Tôi bằng lòng xô nó xuống giếng Quỳnh Hoa. Bây giờ tụi mình tạm đặt thằng văn Chánh này xuống đây rồi chờ bọn kia đem con hắn đến mần luôn thể đặng về cùng, kẻo đức trước đứa sau Quốc cựu sinh nghi thì chết.
Tên đi trước tán thành. Thế là cả hai bỏ Văn Chánh xuống đất, đứng chờ.
Lát sau hai tên quân đi kiếm con Trương thị cũng mò tới.
Chúng hỏi nhau:
- Các cậu tài thiệt, làm thế nào mà thằng bé không khóc… Bịt miệng hả?
- Đâu có. Tớ đập cho nó một gậy sau ót chết còng queo từ lâu rồi. Mình vừa rờ đến nó thì đã khóc thét lên cho nên phải xuống tay tay gấp kẻo bại lộ. Còn anh chàng Tú tài đâu?
Hai tên đến trước cắt nghĩa cho hai tên đến sau nghe. Chúng đều đồng ý. Văn Chánh bị khiêng đến bờ giếng Quỳnh Hoa rồi bị siết cổ cho đến chết. Sau khi xô xác chồng Trương thị xuống giếng, chúng liệng luôn đứa con ba tuổi…
Thi hành xong thủ đoạn sát nhân, bốn tên quay về trình Quốc Cựu để lãnh thưởng.
Tên Hoàng Thân độc thân và dâm ô này vứt mấy nén bạc ra bàn rồi hất hàm hỏi:
- Tụi bây chôn ở chỗ cũ chứ?
- Dạ ở chỗ cũ.
- Chôn kỹ không?
- Dạ kỹ, có bó chiếu cột hai đầu và đầm đất cẩn thận lắm.
- Tốt, mai nhớ ra làm lại cho kỹ nghe. Thôi cho bây lui.
Bốn tên dạ ran, lượm bạc rồi quay trở ra.
Lúc bấy giờ mới bắt đầu sang canh hai.
Lại nói về Trương thị, cơm nước xong nàng được một tỳ nữ áo xanh rước vô phòng ngủ của Quốc Cựu. Phòng này trưng bày cực kỳ lộng lẫy, giữa phòng có kê giường bát bảo, gấm rủ màn che.
Trương thị ngồi xuống chiếc cẩm đôn ở góc phòng rồi bảo tỳ nữ:
- Nhị Quốc cựu thật là đấng hiền nhân.
Còn tỳ nữ mỉm cười đáp:
- Lệnh bà ở với Hoàng Thân thật là xứng đáng.
Trương thị chột dạ:
- Phòng này không phải của Hoàng thân dành cho vợ chồng chị ở đậu cho đến ngày thi sao?
Biết mình lỡ lời, tiết lộ quá sớm kế hoạch của chủ, nữ tỳ nói chữa:
- Tâu lệnh bà, ý em muốn nói lệnh bà ở phòng này của Hoàng Thân mới là xứng đáng với sắc đẹp kiều diễm của lệnh bà.
- Sao em cứ gọi chị là lệnh bà hoài. Thôi kêu bằng chị cho tiện. Ta đâu phải là mệnh phụ phu nhơn?
- Tâu lệnh bà, Đó là lệnh của Hoàng Thân. Vả lại rồi lệnh bà cũng tiến đến địa vị đó.
Tới đây tỳ nữ sợ bị vặn hỏi lôi thôi liền xin phép lui ra. Lát sau, nó dẫn vào sáu cung tần mang theo đờn phách để ca hát giải trí cho Trương thị.
Trương thị càng ngẫm nghĩ về lời con tỳ nữ, càng lo lắng vô cùng. Có lẽ nàng xa vào cạm bẫy của Hoàng Thân chăng? Chồng con hiện giờ ở đâu? Tự nhiên nàng thấy bồn chồn, lòng như lửa đốt.
Giữa lúc ấy mấy ngọn bạch lạp bỗng nhiên lung lay cơ hồ như muốn tắt mặc dầu trời lặng gió yên. Và trong bóng lửa chợp chờn Trương thị thoáng thấy hiện lên nơi khung cửa sổ, chồng nàng mặt sưng, tay bồng đứa con yêu quí đầu quật ra đằng sau như gẫy cổ, miệng tràn máu tươi…
Nàng sợ quá khẽ rú lên thì hình ảnh rùng rợn đó biến mất và ánh bạch lạp lại sáng tỏ như ban ngày. Bọn cung phi vẫn nghịp nhàng ca hát. Trương thị nhìn quanh có ý kiếm tỳ nữ áo xanh song chẳng thấy nó đâu cả. Nàng toan bảo bọn cung phi ngừng ca hát thì tỳ nữ áo xanh đã mở cửa vô phòng và tiến đến bên trương thị. Nó vừa ra gặp Nhị Quốc cựu để xin chỉ thị.
Trương thị mừng rỡ nắm tay tỳ nữ và bảo:
- Em đưa chị gắp chồng con.


vui_la_chinh 06-14-2005 02:44 PM

Vì được chủ dặn trước, tỳ nữ nói gạt Trương thị:
- Tú tài uống rượu say quá, Hoàng Thân dìu về phòng ngủ ở Tây cung rồi.
- Sao không đưa chàng vào đây?
- Em không biết. Đó là lệnh Hoàng Thân.
- Còn cháu bé của chị đâu?
- Cháu cũng ở bên tây cung có người chăm sóc, lệnh bà khỏi lo.
Trương thị năn nỉ:
- Em làm phước co chị gặp chồng con, chị đội ơn em muôn vàn.
- Em nói thiệt mà. Xin lệnh bà cứ yên tâm.
- Lạ hơi con chị nó khóc hết nước mắt, tội nghiệp, em cho chị gặp con chị đi. Chị van em.
Nữ tỳ lúng túng:
- Cháu nó khóc nhớ lệnh bà… Chừng đem đặt bên Tú tài thì nó … nín khe và ngủ rồi. Lệnh bà hãy tin em và đi nghỉ cho đỡ mệt.
Nói đoạn tỳ nữ ra lệnh cho đám cung phi lui ra ngoài.
Mặc dù tỳ nữ thúc giục đôi ba lần, Trương thị cứ vẫn ngồi yên trên cẩm đôn và một mực đòi gặp chồng con.
Cuối cùng thấy tỳ nữ có vẻ lúng túng, Trương thị đứng phắt dậy đi ra cửa toan mở ra ngoài. Tỳ nữ áo xanh vội níu nàng lại:
- Xin lệnh bà chớ hấp tấp làm kinh động Hoàng Thân e sợ ngài giận. Lệnh bà vui lòng nán lại đây, em xin trình Hoàng Thân quyết định.
Nói đoạn nó đẩy trương thị trở về giường rồi mở cửa đi kiếm Nhị Quốc Cựu trình bày tự sự.
Nhị Quốc Cựu cau mày đáp:
- Mi vô nói với mụ ấy là ta muốn mụ là vợ của ta. Xưa nay không ai dám trái lệnh ta bao giờ. Nếu nó không chịu thì nói thẳng cho nó biết là chồng con nó đã chết cả rồi. Trái lời ta, ta sẽ giết nốt.
Tỳ nữ áo xanh trở vô phòng. Trương thị lo lắng hỏi:
- Thế nào em? Hoàng Thân dạy sao?
- Tâu lệnh bà.. Hoàng Thân muốn từ nay cùng chung sống với lệnh bà như vợ chồng.
Trương thị tái mặt hỏi lại:
- Sao? Em nói gì chị chưa hiểu. Chị là gái có chồng và lại có con rồi. Chắc em nghe lầm.
- Tâu lệnh bà, em không lầm đâu. Hoàng Thân muốn lấy lệnh bà làm vợ.
Trương thị quắt mắt:
- Không khi nào. Hãy thả ta cùng với chồng con ta ra. Nếu không ta sẽ phá cửa cho mà coi.
Tỳ nữ lắc đầu:
- Vô ích lệnh bà ơi. Tú tài và con đã chết cả rồi, lệnh bà hết nơi nương tựa, nên ở lại kết nghĩa với hoàng Thân là hơn cả.
Trương thị nghe vậy vật mình than khóc ầm ĩ rồi toan đập đầu vào cột nhà mà tự vẫn. Tỳ nữ áo xanh nhanh tay níu lại, miệng la cầu cứu :Di lói.
Nhị Quốc Cựu vội sai người tỳ nữ khác vô trợ lực tỳ nữ áo xanh dìu Trương thị đem giam trong phòng kín, và thay phiên nhau canh giữ, khuyên dỗ.
Chúng dùng mọi thủ đoạn: hết ngọt đến xẵng, hết ve vãn đến doạ nạt, mà Trương thị chẳng nguôi tấc dạ, vẫn một hai toan tự tử chết theo chồng con.
Thấy vậy Nhị Quốc Cựu bèn cho mời lương y đến bốc thuốc an thần va ra lệnh cho tỳ nữ ép buộc trương thị uống. Thuốc ngấm, làm nàng ngủ thiếp đến hơn mọt ngày mới lại tỉnh.
Bọn tỳ nữ lại xúm lại khuyên giải. Nàng không vật mình than khóc nữa. Trái lại trở nên trầm lặng.
Nàng nằm yên suy nghĩ. Nàng nhớ lại tích xưa ghi trong sách thánh hiền mà hồi sanh tiền Văn Chánh thường đọc và giảng giải cho nàng nghe. Nàng phải thủ tiết với chồng. Điều đó rất đúng. Nhưng nàng phải sống. Sống để trả thù cho chồng con và nhất là để tố cáo với Bao Công hầu loại trừ tên quỉ dâm ô, ỷ thế hiếp người, dẹp bỏ một hiểm hoạ cho phụ nữ có đôi chút nhan sắc.
Nghĩ vậy nàng gượng sầu làm vui.
Nhị Quốc Cựu hay tin cười ha hả lấy bạc vàng gấm vóc thưởng cho đám tỳ nữ và truyền cho rước trương thị trở lại Đông cung. Rồi thì Trương thị đành chịu thất thân với tên Hoàng Thân dâm đãng, độc ác, để chờ dịp báo cừu.
Nàng lấy trộm bạc vàng mua chuộc tỳ nữ để tìm cách trốn ra ngoài phủ.
Chừng một tuần sau ngày bố con Văn Chánh bị sát hại, và bị xô thây xuống giếng, một sáng từng đàn quạ ngửi mùi tử khí, kéo đến đầy khu vườn sau phủ, kêu “quạ, quạ”suốt ngày.
Nhị Quốc Cựu sợ hãi gọi một tên quân tâm phúc vô phòng riêng và hỏi rằng:
- Tụi bây chôn nó ra sao mà quạ đến đông như vậy?
Một tên vội thưa:
- Dạ, chôn chặt dưới ba thước đất.
- Thiệt không hay là trong đêm tối làm ẩu? Có ra xem lại chưa?
- Dạ có xem lại rồi. Nếu Hoàng thân không tin xin mời ra coi. Tay chúng con chôn có hơn bốn chục mạng qua mấy năm nay rồi, đâu có phải lần đầu.
Thực ra thì sáng hôm có quạ kéo đến, bốn tên đã nháy nhau chạy ra giếng thấy xác bố con Văn Chánh nổi lên lờ mờ dưới đáy giếng nên đã lấy đá tảng thả xuống để nhận chìm đi. Bởi vậy cúng mới dám quả quyết như trên.
Nghe nhắc đến số nạn nhân đã qua tay mình, Nhị Quốc Cựu chột dạ nhìn bốn tên thủ túc bằng cặp mắt khó hiểu. Phút sau Nhị Quốc Cựu ra lệnh:
- Tụi bây trở ngay ra chõ đó hun khói cho đàn quạ bay đi. Mà phải kín miệng không thì chớ có trách ta.
Bốn đứa dạ ran, chạy đi thi hành lệnh chủ. Từng đám khói đen bốc lên từ vườn cây, sau dinh Nhị Quốc cựu. Bầy quạ bay tứ tán nhưng lát sau dường như quen với khói chẳng những chúng tụ lại như trước mà còn kêu to hơn như để phản đối nữa.
Trước tình thế ấy, Nhị Quốc Cựu suy nghĩ trọn một ngày đêm rồi qua sáng sau y ra lệnh dời toàn bộ cơ sở về vùng Trịnh Châu. Kể ra thì hắn cũng khôn ngoan. Nếu ở lại đây, người quanh vùng tất sinh nghi. Nay bỏ dinh thự hoang phế thì dù quạ có kéo đến đông gấp mười lần, cũng chẳng có gì phải ngại.
Cho được chắc chắn hơn. Nhị Quốc Cựu ngầm ra lệnh thủ tiêu bốn tên quân tâm phúc, trên con đường từ Thạch Kiều về đất Trịnh Châu.
Y yên trí từ nay không ai có thể tìm ra tội ác của y.
Nhưng mà ông trời có mắt.
Ba tháng sau ngày Nhị Quốc Cựu bỏ dinh mà đi, xẩy có Bao Công nhân khi tuần tra về, có việc trọng đại phải ghé qua Kinh Đô vào triều kiến vua Nhơn Tôn.
Bao Công cỡi con bạch mã thong thả tiến qua vùng Thạch kiều để vào đất đế đô.
Lúc bao Công đi gần tới Phủ cũ của Nhị Quốc Cựu, bỗng một cơn gió trốt thổi ào qua, làm ông suýt bay cả mũ. Cơn sốt soáy trên đầu ngựa của Bao Công rồi di chuyển dần dần đến trên miệng giếng nơi sau vườn Nhị Quốc Cựu thì dừng lại và xoáy mạnh hơn. Bầy quạ sợ hãi bốc cánh bay lên trời và cứ lượn quanh con trốt.
Bao Công dừng ngựa nhìn địa thế hồi lâu rồi trỏ tay về phía con trốt bảo hai anh lính đứng bên:
- Lạ nhỉ. Ta xem chỗ này không đất trống hay sông lớn mà sao con trốt cứ xoáy mãi vào chỗ kia. Chắc là nơi dó có giếng sâu lắm hoặc hang hốc chi đó. Lại thêm có quạ nhiều như vậy hẳn là có chi xu uế. Vây hai người đi ra phía đó coi sự thể thế nào rồi về trình cho ta rõ. Đi lẹ lên, ta chờ ở đây.
Nói đoạn Bao Công xuống ngựa đến dưới bóng mát nghỉ chân.
Hai chú lính công sai hướng theo phía con trốt mà đi. Hồi sau, họ tới phủ của Nhị Quốc Cựu. Thấy bốn bề tường cao vòi vọi, hai chú lính lần tới trước cửa phủ định bụng dòm vô. Bất ngờ thấy cửa đóng im ỉm lại có bảng lớn đề mấy hàng chữ.
Hai lính công sai hoảng hồn, co giò chạy về phi báo với Bao Công:
- Tuân lệnh thượng quan chúng tôi dò theo con trốt thì thấy có tụ ở phía trong dinh thự có tường cao bo bọc.
Bao Công tai nghe, mắt nhìn theo con trốt thấy nó tan dần. Ông liền hỏi thuộc hạ:
- Sao không dòm vô coi sự thể ra sao?
- Dạ, chúng tôi không dám vì ở cổng có bảng đề “Nếu ai dòm ngó thì khoét mắt, còn ai chỉ trỏ thì chặt tay”.
(Bạn đọc còn nhớ chính vì mấy hàng chữ này mà bữa trước Văn chánh sợ hãi kêu vợ quay về không dám đi tới nữa).
Bao Công nghe nói, cau mày, nổi giận:
- Không phải là cung điện Đức Vua mà sao dám đề như vậy?
Viên thơ lại già đứng bên góp ý kiến:
- Thưa thượng quan, chắc là Vương phủ của bậc nào đó.
Bao Công gắt:
- Ngoại trừ Hoàng Cung , không nơi nào được phép đề như vậy dù là Hoàng Thân quốc thích hay quan nhất phẩm trào đình. Bây đâu, dắt ngựa lại đây để ta đích thân đến coi xem ai mà lộng hành như vậy?
Tới trước phủ Nhị Quốc Cựu, Bao Công thấy cửa đóng im ỉm. Ngoại trừ tấm bảng đe doạ trên đây, không thấy có bảng hiệu chi cho biết danh chức tước của chủ nhân dinh cơ này.
Bao Công sai lính gõ cửa hồi lâu cũng không thấy bên trong động tĩnh gì . Ông bảo viên thơ lại cho quân đi kiếm quanh đó xem có ông già bà cả nào thì mời đến cho ông hỏi chuyện.
Lát sau lính dẫn một ông già lối sáu mươi tuổi nhưng còn quắt thước, về trình.
Bao Công liền cho tả hữu lui ra xa rồi ông xuống ngựa ôn tồn hỏi ông già:
- Lão cho biết phủ này của ai không?
- Dạ, của một Hoàng thân là Tào nhị Quốc Cựu.
Bao Công cau mày:
- Dẫu cho Hoàng thân đi nữa, cũng không cất nhà lớn như vậy được.
Ông già thiệt thà nói thêm:
- Hoàng thân xây dinh thự lớn như vầy ở ngay đất thần kinh, chắc hẳn có sự ưng thuận với đức Vua.
- Triều đình có đặt ra phẩm trật, luật lệ hẳn hoi. Nếu biết tất Hoàng thượng không khi nào chịu để như vậy, dù người đó là Nhị Quốc Cựu.
Ông già thở dài:
- Thượng quan đi tuần tra các nơi ít về chốn kinh đô nên chưa biết rõ Nhị Quốc cựu đó thôi…
- Lão nói sao?
- Quyền thế của Nhị Quốc Cựu xem ra còn lớn hơn nhà vua.
Nói đến đây ông nín bặt, nhìn Bao Công như dò xét. Bao Công cười bảo:
- Lão cứ nói đi. Cứ trông dinh cơ rộng lớn huy hoàng thế này ta cũng đã đoán ra phần nào rồi. Lão hãy nói tất cả sự thật đặng giúp ta loại trừ bớt bọn phản thần, hại vua, hại dân.
- Thưa thượng quan… Đây là Nhị Quốc Cựu…
- Lão cứ nói, ta sẽ làm theo lẽ phải. Nếu vua không nghe ta thì ta sẽ phải chết. Nhưng ta chắc không đến nỗi nào. Ta biết tánh đức vua lắm. Lão hãy nói mau đi.
- Đại nhân có hỏi tôi mới dám nói. Nhị Quốc Cựu này lộng hành quá lắm. Mỗi lần ông ta ra đường dân phải kép nép cung kính như đối với vua. Kẻ nào phạm tới ông ta là bị bắt giam, xiềng xích liền. Ông ta lại là người dâm đãng vô cùng. Tuy còn là độc thân mà trong dinh chia ra Đông Cung và Tây cung với hàng chục mỹ nữ. Vậy mà hễ gặp đàn bà con gái có nhan sắc là ông ta lại cho theo dò rồi dụ vào trong phủ thoả mãn thú tính. Người ta đồn nạn nhân không bao giờ thấy trở về nhà.
- Theo lão thì họ đã bị Nhị Quốc cựu giết chết?
- Thưa không rõ. Giết hay giữ lại nuôi trong phủ điều đó tôi không rành lắm.
- Thế sao không thấy gia đình nạn nhân khiếu nại?
- Thưa đại nhân, phần thì họ sợ vua đã không chạm được Nhị Quốc Cựu mà còn bị trả thù là khác phần thì có nhiều người hoặc bị bắt từ xa đưa về hoặc bị sa vào bẫy của Hoàng thân khi đi ngang qua kinh đô này, như thế mà người nhà biết đâu và biết ai mà cáo?
- Chà, bọn này quỷ quyệt thật.
- Dạ, mưu mẹo lắm. Riêng tôi, tôi có biết trường hợp vợ chồng nhà nọ có đứa con ba tuổi cách đây hơn ba tháng được mời vô phủ chơi, chừng tới bữa Nhị Quốc Cựu dọn đi, tôi không thấy cha con nhà ấy.
- Còn người vợ đâu? Họ làm nghề gì?
- Tôi không biết? Có lẽ vợ đi theo đám mỹ nữ của Nhị Quốc Cựu. Nghe nói người vợ đẹp lắm còn chồng là học trò.
- Đi đâu?
- Dạ không biết rõ, nghe nói về vịnh Trịnh Châu.
- Lão có chắc chồng con người đó bị giết không?
- Dạ không biết đích xác.
- Thế là khó tra quá. Chỉ còn cách khám xét Phủ này mà thôi.
- Tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng nêu nhỡ không tìm thấy bằng chứng gì thì đại nhân sẽ bị nguy hiểm.
Bao Công lắc đầu:
- Lão chớ ngại cho ta, dù không tìm thấy chi khả nghi. Nội một cái Phủ xây cất như Hoàng cung lại bỏ phế thế này, ta cũng có quyền vào xem rồi.
Ông già chưa hết thắc mắc:
- Xin đại nhân giữ kín cho kẻ họ biết tôi tọc mạch thì tính mạng chẳng còn.
Bao Công gật đầu:
- Ta có cách khiến không ai nghi ngờ cho lão cả. Tuy nhiên để đề phòng, ta thưởng cho lão một số bạc đi vùng khác làm ăn.
Nói đoạn Bao Công ngầm lấy bạc trao tặng cho ông lão rồi cho ông ta lui gấp. Ông già vừa quay lưng đi, Bao Công chợt nhớ ra điều gì liền gọi giật lại hỏi nhỏ:
- Lão có thấy đàn quạ đang bu kín vòm cây phía sau dinh không?
- Dạ có.
- Mới có hay lâu nay vẫn thế?
- Dạ mới co lối ba tháng ngoài.
- Dưới chỗ đó có chi không?
- Dạ nghe nói có giếng Quỳnh Hoa.
Bao Công suy nghĩ một lát rồi lẩm bẩm:
- Giếng Quỳnh Hoa, cách đây ba tháng, vào thời kỳ vợ chồng anh học trò bị sa bẫy. Lạ thiệt.
Khi ông già đi khỏi, Bao Công vẫy đám quân hầu lại mà bảo rằng:
- Lão già này chẳng cho được tin tức gì cả. Thôi tụi bây cứ bẻ khoá, phá cửa cho ta vô.
Bọn sai xúm lại bẩy chiếc khoá đồng to bằng cườm tay nơi cửa ra vào.
Lát sau,khoá bật tung, Bao Công điềm nhiên cỡi ngựa thong thả tiến vào, theo sau là toán quân hầu và đám thơ lại.
Tới trước phòng có bảng đề “chánh điện” Bao Công lần lượt sục sạo khắp nhà, từ Đông cung sang Tây cung. Đồ đạc để lại khá nhiều, chỉ những thứ cần thiết được dọn đi mà thôi. Sau khi xem xét kỹ các phòng, Bao Công trở lại Chánh điện tức là phòng khách của Nhị Quốc Cựu.
Ông ngồi vào án thư rồi gọi thơ lại sắp bút nghiên cho ông làm việc.
Bao Công ngồi viết một lát rồi kêu hai thám tử Vương Hưng và Lý Triết vô mà dạy rằng:
- Hai người mở rộng tất cả các cửa trong ngoài rồi ra trước cổng phủ thay phiên nhau rao thật to như sau cho ta:
“Hỡi các vonng hồn uổng tử, hỡi những kẻ bị hàm oan hay bị ức hiếp, nay Bao Đại nhơn tuần tra tới phủ Tảo Nhị Quốc Cựu “có mượn tạm nơi đây làm chổ đăng đường. Vậy ai có điều chi cứ đôi đơn vào khiếu oan. Đặt biệt con ma trốt, Bao đại nhơn truyền cho vào trước nhất”.
Hai người nhớ rõ chưa?
Vương Hưng và Lý Kiết sửng sốt, đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng ngập ngừng thưa:
- Dạ… chúng tôi…nhớ rồi.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:44 PM

Bao Công gật đầu:
- Vậy tốt lắm. Hai người ra cửa phủ thi hành ngay lệnh của ta mau. Nhớ hướng về tứ phía mà rao cho to, đến chừng nào ta bảo thôi hay thấy nổi gió to thì hãy trở vào.
Vương Hưng và Lý Kiết vừa lui ra khỏi Chánh điện thì Bao Công đã kêu viên thơ lại già vào và ra lệnh:
- Ngươi cho bảo các thơ lại vô sửa soạn làm việc và kêu bốn lính hầu vác gươm đứng hai bên án thư của ta đây. Còn bao nhiêu công sai khác chia nhau dọn dẹp chỗ nghỉ và làm cơm tối, đêm nay ta ở lại đây.
Viên thơ lại hỏi:
- Thưa thượng quan, mai sớm lại đi luôn?
- Cái đó chưa biết. Đến mai sẽ hay. Có khi đi ngay mà cũng có khi ở lại đôi ba ngày cũng nên. Thôi ngươi thi hành lậnh ta ngay kẻo chiều xuống rồi.
Viên thơ lại vái chào lui ra và lối một khắc đồng hồ sau, ai đã vào việc nấy. “Chánh điện” của toà Nhị Quốc Cựu biến thành công đường của Bao Công.
Bao Công ngồi nghiêm trang trước án thư, mắt nhìn thẳng ra cổng phủ, tai lắng nghe lời rao của vương Hưng Lý Kiết.
Thơ lại và quân hầu hết nhìn Bao Công lại dòm ra cửa, lòng nghi hoặc chẳng hiểu ra sao.
Vương Hưng và Lý Kiết rao được một lát vẫn thấy trời lặng gió yên. Mặt trời đã xuống tới ngọn tre. Nắng vàng thoi thóp trên hàng cau trước nơi “Chánh điện”. Chẳng thấy ma nào đến khiếu oan cả, kể cả con ma trốt. Mọi người thất vọng liếc nhìn Bao Công. Ông vẫn thản nhiên như không, tay vuốt vuốt chòm râu, mắt vẫn đăm đăm nhìn ra cửa.
Bỗng bức rèm nơi Chánh điện lay động. Một làn gió nhẹ từ ngoài thổi vào rồi liền theo đó một trận gió cuốn cờ ầm ầm chạy tới. Một con trốt cuốn cát bụi mịt mù chạy vào cửa phủ rồi tràn vào chánh điện.
Giọng Bao Công vang lên như sấm giữa tiếng gió ào ào:
- Anh kia bồng con đi đâu?
Lính hầu và thơ lại không trông thấy bóng ai và cũng chẳng nghe thấy ai trả lời, ngoài tiếng gió ù ù.
Phút sau tiếng Bao Công lại vang lên:
- Vậy là anh và con anh bị sát hại cách đây ba tháng còn vợ anh thì bị đem đi nơi khác nên không làm đơn tố cáo được phải không? Thôi được ta chấp đơn của hồn và cho hồn lui để ta làm việc.
Ngọn gió yếu dần, yếu dần rồi tắt hẳn. Lúc đó trời đã sẩm tối, Bao Công bãi phiên đăng đường.
Đêm đó Bao Công thức khuya lắm. Ngồi vào án thư viết lách chán, ông lại đứng dậy đi bách bộ trong phòng hoặc ra sân ngắm tinh tú trên trời đến cả giờ đồng hồ. Xem chừng Bao Công suy nghĩ nhiều lắm. Đến khi ông vô giường nằm thì canh ba đã hầu tàn.
Sáng sau, Bao Công trở dậy sớm, ra sau dinh, đứng nhìn về phía vườn một lát rồi quay trở vào Chánh điện. Ông lẩm bẩm:
- Thiệt là khó quá. Khám nhà một Hoàng Thân đâu phải chuyện chơi. Lại phải khéo léo lắm mới xong. Tốt hơn hết là không đả động gì tới việc tìm xác chết vì lỡ ra không thấy chi thì sẽ không bị phiền luỵ không ít. Làm thế nào bây giờ?
Bao Công cau mày suy nghĩ hồi lâu, bỗng ông xoa tay mỉm cười đi thẳng vào phòng ngồi trước án thư rồi cho thơ lại kêu tất cả lính công sai đến nghe lệnh.
Lát sau, công sai tề tựu đông đủ trước công đường.
Bao Công chậm rãi nói:
- Chiều qua, có con ma trốt đưa đơn khiếu nại. Tới đêm oan hồn lại hiện về mách ta là tại nơi vườn Tào Phủ này có giếng Quỳnh Hoa. Dưới giếng có mấy lượng vàng ròng của oan hồn bỏ rớt, ai xuống lấy được mang lên thì cho một nửa. Chẳng hay trong bọc các ngươi có ai tình nguyện không?
Bọn công sai đưa mắt nhìn nhau. Lát sau các thám tử Vương Hưng vàLý Kiết chịu đi. Hai người đem dây và thang tre ra giếng Quỳnh Hoa. Khi gần tới nơi, Vương Hưng đi trước bỗng la lên:
- Cha,ø giếng này hôi thúi quá.
Lý Kiết gật đầu:
- Ừ hôi thiệt. Chắc là giếng bỏ lâu có con gì chết ở dưới chăng.
Cả hai dòm xuống đáy giếng thấy lờ mờ bóng nước. Chuẩn bị xong. Vương Hưng bám theo dây tụt xuống trước, Lý Kiết theo liền sau.
Giếng khá sâu xong mực nước chỉ tới đầu gối. Hai người mò một lát thì cùng đụng phải xác Văn Chánh và đứa con ba tuổi. Họ kinh hoảng leo vội trở lên và chạy về gấp báo với Bao Công.
Bao Công khẽ thốt: “vậy là đúng rồi” nhưng vẫn giả bộ không tin, la hai công sai:
- Các ngươi đừng để hồn nát thần tính. Giếng trong Tào phủ này làm gì có xác chết được. Tụi bây rủ thêm người ra coi lại, nếu phải thì hãy vớt lên cho ta coi, ta sẽ thưởng, nhược bằng không phải thì sẽ bị hình phạt đó nghe.
Vương Hưng và Lý Kiết tuân lệnh, chạy ra hô thêm mấy công sai đi theo ra vớt xác cha con Văn Chánh đem lên đặt trên bờ giếng.
Bao Công hay tin vội chạy ra xem xét hai tử thi và cho kêu Lý trưởng sở tại đến chứng kiến và lập biên bản. Sau đó ông sai lính mua áo quan liệm xác cha con Văn Chánh lại rồi cho khiêng về tạm quàn tại phía vườn sau phủ Khai Phong và là nơi ông trị nhẫm. Ông ra lệnh cấm không cho ai được đụng đến và phải canh chừng cẩn thận.
Đoạn Bao Công kêu một thám tử thân tín vô dạy rằng:
- Ngươi khá coi xem Thái Quận phu nhơn và Tào Đại Quốc cựu hiện giờ ở đâu. Ta nghe nói dọn về nhà mới từ ít tháng nay mà không biết rõ địa điểm. Luôn tiện ngươi coi lại xem có phải tào Nhị Quốc Cựu dời về trịnh Châu không?
Thám tử tuân lệnh mở cuộc điều tra cấp tốc. Chiều lại, hắn trở về báo cáo:
- Thưa thựng quan, Thái phụ phu nhơn và Tào Đại Quốc Cựu đã về ở nhà mới tại Sư Nhị Cảng còn tào Nhị Quốc Cựu thì dọn về Trịnh Châu thật rồi.
Bao Công gật đầu đáp:
- Ngươi ra ngoài chờ lát nữa dẫn đường cho ta. À nhớ kêu Trương Thiên và Mã Vạn vô ngay có việc gấp.
Thám tử vái chào lui ra. Lát sau hai công lại lật đật vào hầu. Bao Công đẩy túi bạc nhỏ trên án thư và bảo họ:
- Các ngươi đi mua ngay cho ta một con dê đực mập và khẻo, cùng hai chai rượu cúc. Đi lẹ lên mà về cho kịp ta lên đường. Lúc ra biểu đóng ngựa sẵn nghe.
Trương thiên và Mã Vạn dạ ran, lãnh bạc, hối hả đi ngay.
Chừng một tiếng sau, mọi sự đã chuẩn bị xong xuôi, Bao Công sai thám tử đi trước dẫn đường còn ông cỡi ngựa thủng thẳng đi sau với hai công sai đứa dắt chú dê xồm, đức ôm hai chai rượu cúc.
Tới dinh của Thái Quận phu nhơn, Bao Công xuống ngựa vái chào mẹ vợ vua Nhơn Tôn. Lúc này Tào Quốc Đại Cựu còn ở trong trào chưa về. Bao Công kêu lính dắt dê và bưng rượu tới rồi ông thản nhiên nói với Thái Quận phu nhơn:
- Thưa phu nhơn, gọi là có chút lễ mọn mừng Đại Quốc Cựu nay dọn về nhà mới.
Liếc nhìn lễ vật, mẹ vợ vua Nhơn Tôn nổi giận đùng đùng trỏ mặt Bao Công mà quở rằng:
- Sao ông dám kinh con ta, đem lễ vật không xứng đáng tới mừng như vậy? Thôi ông về đi.
Bao Công làm thinh không đáp chỉ lạnh lùng ra hiệu cho hai lính công sai đem lễ vật về. Đoạn ông lững thững quay gót trở ra nhảy lên ngựa về nhà, được nửa đường thì gặp Tào đại Quốc Cựu tan chầu, cỡi ngực trắng đi tới.
Hai bên cùng hạ mà thi lễ. Tào đại Quốc Cựu vui vẻ hỏi Bao Công:
- Chẳng hay đại nhơn đi đâu mà tới đây?
Bao Công mỉm cười đáp:
- Bổn chức vừa được biết Thái Quận Phu nhơn và Đại Quốc Cựu dọn về nhà mới nên đem chút lễ vật này đến mừng chẳng may xuất hành gặp giờ đại hung nên bị phu nhơn mắng đuổi đem về.
Miệng nói tay Bao Công trỏ vào chú dê xồm và hai chai rượu.
Tào Đại Quốc Cựu vốn biết tánh hạnh em mình (tức Tào Nhị Quốc Cựu) nên giật mình hiểu thâm ý của Bao Công. Ông ta cố giữ vẻ bình tĩnh ân cần xin lỗi Bao Công:
- Xin đại nhơn thứ lỗi cho. Mẫu thân tôi tuổi già hay khó tính. Chẳng mấy khi rồng đến nhà tôm xin mời đại nhơn quá bộ trở lại cho tôi được thù tiếp, thực là vạn hạnh.
Bao Công lựa lời khước từ rồi hai bên chia tay nhau.
Về tới nhà, Tào Đại Quốc Cựu vội vào bảo mẹ:
- Dọc đường con gặp Bao Công. Ông ta nói đem lễ vật đến mừng con, sao mẹ làm nhục ông ta làm chi.
Thái Quận phu nhơn chưa nguôi cơn giận, gay gắt nói:
- Nó dâng lễ vật như thế là có ý miệt thị con và em con. Khi nào ta lại làm ngơ được.
Tào Đại Quốc Cựu thở dài đáp:
- Hẳn mẹ đã rõ em con thường hay làm điều ngang trái, gây chuyện oán cừu. Bao Công mà chưa biết thì mẹ con ta cũng còn phải lo gây cảm tình với ông. Huống chi nay ông ta đã ám chỉ đến em con mà mẹ lại còn làm mất lòng ông ta. Ông tức mình thẳng tay điều tra phanh phui sự thật thì tánh mạng em con ắt chẳng còn.
Thái Quận phu nhơn cả cười bảo con:
- Gái ta là Chánh cung Hoàng Hậu, ta há gì sợ gì thằng Bao Công?
Tào Đại Quốc Cựu giơ tay lên than trời rằng:
Thôi rồi, mẹ đã đánh giá Bao Công quá thấp đến vua lầm lẫn mà ông ta còn chẳng e ngại, cứ thẳng lời vạch rõ điều hơn lẽ thiệt thì Hoàng Hậu mà che chở cho em trai làm bậy, ông ta há cả sợ sao? Mẹ có biết là Bao Công vừa tìm được xác haicha con Van Chánh mà em con đã ra lệnh giết và ném xuống giếng Quỳnh Hoa trong phủ nó không?
Thái Quận phụ nhơn giật mình hỏi:
- Con nói cha con Văn Chánh nào? Mà em con đã bỏ nơi đó từ ba tháng ngoài rồi mà.
- Mẹ còn nhớ bữa em con ghé qua đây trên đường dọn về Trịnh Châu, Trong đám mỹ nữ đi theo em con, có một thiếu phụ nhan sắc tuyệt trần mà mẹ hỏi chuyện mãi đó không?
- À, phải người ấy tên là Trương thị không?
- Chính nó ấy mẹ à. Chồn nó là Văn Chánh, có đứa con ba tuổi, từ phủ Triều châu lặn lội về đây dự thị.
- Sao con không nói ngay lá anh Tú tài Triều Châu thì mẹ nhớ ngay mà lại hô Văn Chánh, Văn Chánh thì mẹ đâu có biết.
- Thì Văn Chánh là tên chàng Tú tài triều Châu, chồng trương thị đó.
Thái Quận phu nhơn bắt đầu lo sợ:
- Mà có chắc đó là xác hai cha con Văn chánh không đã chớ?
- Thì lính Bao Công nó vớt được ở dưới đáy giếng trong phủ của em con, ác một người đàn ông và đứa nhỏ thì chẳng phải là bố con Văn Chánh thì còn ai nữa.
- Liệu Bao Công nó có biết xác chết là ai chưa?
- Con chắc là chưa. Và hắn phải tìm cho ra. Do đó hắm mới dò đến đây. Con lo lắm mẹ ơi, hắn có tài tra án như thần, con ngại cho con em lắm.
Thái Quận phu nhơn mất hết nhuệ khí, lo lắng hỏi con:
- Con có cách nào cứu em con không?
Tuy Bao Công tìm ra xác cha con Văn Chánh nhưng chắc ông ta chưa biết tông tích nạn nhân. Nay chỉ còn một cách là viết thư báo cho em con biết và bảo nó giết trương thị để khỏi lo hậu hoạ vì theo em con thì trương thị vẫn tìm cách trốn đi.
- Mẹ thấy nguy hiểm quá. Lỡ ra Bao Công nó cho rình mò rồi chận xét lấy được thư thì chết.
- Bởi thế mẹ cần viết ngay và cho đem đi gấp. Hiện giờ thì Bao Công chưa dám làm vậy đâu vì chưa rõ thực hư vụ này ra sao. Cho được cẩn thận mẹ cứ dặn em con thủ tiêu luôn cả những tên hầu cận nào biết qúa rõ chuyện làm của em con. Và khi đọc thư xong nó nên huỷ đi. Mẹ nhớ bảo em con chớ vì sắc đẹp của trương thị mà chùn tay. Trương thị bắt được tin trên, thế nào cũng tìm cách đi cáo với Bao Công. Lúc đo khó lường được tai hoạ cho gia đình ta.
- Thái Quận phu nhơn xanh mặt, lật đật lấy giấy bút viết mật thư rồi sai kẻ tâm phúc phóng ngự đi ngay chiều đo đến Trịnh Châu, giao tận tay Nhị Quốc Cựu. Tên tâm phúc vô tới phòng Nhị Quốc cựu vừa lúc lên đèn.
Đọc xong thư, Nhị Quốc Cựu ngồi lặng người trên ghế một lát, trán đổ mồ hôi hột. Hắn đọc lại bức thư rồi châm vào ngọn bạch lạp. Sau đó hắn viết ba chữ cho Thái Quận phu nhân rồi kêu tên tâm phúc vô thưởng bạc và sai đem hồi âm về.
Đoạn hắn kêu nữ tỳ áo xanh vẫn thường lo hầu hạ Trương thị vô lấy bạc ra cho và bảo rằng:
- Đây là ta thưởng công cho ngươi đã vì ta mà phải khó nhọc trông nom lệnh bà. Nay ta sắp chính thức lấy lệnh bà làm vợ vậy ngươi khá lấy rượu ép nàng uống cho thực say tối nay. Nếu nàng không say, nhà ngươi sẽ bị trừng phạt nặng nề đó.
Tì nữ được bạc vái chào Nhị Quốc cựu rồi thưa:
- Xin Hoàng Thân cứ tin nơi tiện thiếp.
- Vậy ngươi hãy về mời lệnh bà sửa soạn lát nữa ra huê viên dự tiệc.
Tỳ nữ quay vô, Nhị Quốc Cựu truyền đầu bếp dọn tiệc rượu nơi huê viên trước nhà.
Lát sau, Trương thị và Nhị Quốc Cựu cùng ngồi vô bàn. Dưới ánh đèn lồng, Trương thị hiện ra rực rỡ trong bộ xiêm y. Nhị Quốc Cựu nhìn nàng say đắm. Hắn tự bảo thầm: “Nó đẹp quá, giết đi thì uổng mà để lại tất sanh hoạ với Bao Công. Thôi cũng đành vậy”.
Nhị Quốc Cựu nâng ly rượu nhìn tỳ nữ rồi nói với Trương thị:
- Mời nàng uống với ta đêm nay… cho trọn mối lương duyên… giữa nàng và ta.
Vì có lời dặn trước của chủ nhân nên tỳ nữ ép Trương thị cạn hết chén này sang chén khác. Khi Trương thị đã chếnh choáng hơi men, Nhị Quốc Cựu ra hiệu cho tỳ nữ dìu nàng về phòng.
Sau đo,ù hắn trở vô nhà, chờ đến gần canh ba, mọi người đã ngủ say mới xách đoản đao vô phòng trương thị.
Nhị Quốc Cựu nhẹ nhàng tiến đến bên giường. Tay trái y khẽ vén mùng tay phải giơ cao thanh đoản đao. Nhìn dung nhan kiều diễm của trương thị hắn thở dài, buông mùng xuống, dắt đoản đao vào lưng rồi nhẹ nhàng quay gót trở ra. Hắn ra thẳng huê viên, đi tới đi lui, nét mặt đăm chiêu. Hơi men thấm vào huyết quản làm cho hắn mệt mỏi vô cùng. Hẳn lẩm bẩm:
- Mình ngu quá, chưa gì đã cho thủ tiêu bốn tên tâm phúc bữa trước. Phải chi còn bọn nó thì nhẹ xác cho mình bao nhiêu. Bây giờ biết đứa nào chịu hạ thủ Trương thị cho ta? Mà biết kêu đứa nào đây?
Hắn òn đang loay hoay suy tính xảy có một lính hầu là Trương Công xách đèn đi tuần, tiến tới. Anh này được là tiếng đứng đắn vá kín tiếng. Trương Công thấy có bóng người thấp thoáng giữa huê viên liền đánh tiếng hỏi:
- Ai đó?
Nhị Quốc Cựu giật mình quay lại nhận ra Trương Công liền nói như reolên:
- À,ta đây.
- Sao giờ này Hoàng Thân chưa đi nghỉ còn dạo mát ngoài vườn cây?
Nhị Quốc Cựu tiến lại gần nói:
- Ta có chút việc khó xử quá, chỉ có ngươi mới giúp được ta thôi.
- Xin Hoàng thân cứ dạy, tôisẵn sàng tuân lệnh.
Nhị Quốc Cựu liền đem việc thủ tiêu Trương thị nói cho trương Công nghe rồi rút đoản đao trao cho thuộc hạ.
Trương Công nói:
- Hoàng Thân đã tín nhiện ủy cho tôi thi hành công việc đặc biệt này. Nhưng tôi thiết nghĩ chém chết nó chẳng xong đâu vì nó lại sanh yêu quái quấy phá. Chi bằng nhân lúc nó say rượu, đem trói gô lại liệng xuống giếng là xong. Xin Hoàng Thân cất đoản đao đi.
Nhị Quốc Cựu khen là diệu kế rồi kéo Trương Công vô nhà mở tủ lấy mười lượng bạc trao cho và bảo:
- Đây ta thưởng công cho ngươi. Bây giờ ngươi theo ta vô phòng trương thị trói nó lại rồi vác đi ném xuống giếng hoang nào ở quanh vùng cho ta.
Nói đoạn Nhị Quốc Cựu dẫn Trương Công đi về phía phòng trương thị. Được vài bước hắn chợt nghĩ ra điều chi liền bảo anh lính hầu đứng chờ nơi hành lang rồi hắn tất tả đi kêu tỳ nữ và ra lệnh cho họ lột hết xiêm y trên người trương thị và mặc thế vào đó quần áo thường dân của nàng lúc trước.
Xong xuôi Nhị Quốc Cựu đuổi hết tỳ nữ ra ngoài rồi kêu trương Công vô trói gô Trương thị lại.
Lúc Trương Công vác Trương thị ra tới vườn sau thì trống cầm canh đã điểm ba tiếng.
Trương Công đi lần trong đêm tối tới cổng hậu sau vườn thì đặt trương thị xuống đất rồi cởi trói cho nàng .Đoạn anh ta ngồi xuống bên cạnh chờ người đẹp tỉnh lại.
Năm nay trời trở rét sớm. Mặt đất lạnh băng. Gió bấc rít từng cơn.
Lối mười lăm phút sau, Trương thị đã ú ớ rồi choàng dậy. Thấy mình ngồi trên bại đất giữa đêm khuya lạnh lẽo, bên một bóng đen, nàng hoảng hồn toan la lên thì trương Công đã ôn tồn nói:
- Xin nàng hãy bình tâm. Tôi là trương Công, lính hầu của Nhị Quốc Cựu nay thấy chủ vô cớ muốn sát hại nàng nên tôi vờ nhận để có dịp cứu nàng. Vậy nàng hãy theo toi6 ra cửa hậu mà đi.
Trương thị đặng oà lên khóc và thuật lại bước trầm luân khổ ái của mình cho Trương Công nghe.
Trương Công thở dài:
- Tôi được giới thiệu về làm với Quốc Cựu mới hai tháng nay thành ra không hay biết chi về dĩ vãng của Quốc cựu. Phải nàng nói bị sa vào bẫy Quốc Cựu cùng với chồng và đức con ba tuổi không?
- Phải, nhưng chẳng biết chồng và con tôi sóng chết ra sao? Bác có nghe đặng tin gì không?
Trương Công buồn rầu đáp:
- Nàng hãy bình tĩnh và can đảm lên. Chiều nay toi6 có người bà con ở vùng Thạch Kiều ghé qua nhàcho biết là Bao đại nhơn mới tìm thấy dưới giếng Quỳnh Hoa sau vường Tào phủ xác một người đàn ông và một đứa nhỏ. Không biết có phải đó là chồng nàng không.
Trương thị khóc nức nở:
- Đích thị rồi, bác ơi.
Trương Công an ủi:
- Đêm khuya vắng vẻ nàng đừng khóc lóc kẻo có người nghe thấy thì nàng và tôi cùng mất mạng. Nếu thực tâm nàng muốn báo cừu thì kiếm cách gặp đặng Bao đại nhơn mà cáo. Đừng khóc than, chẳng có ích gì.
Trương thị mếu máo:
- Biết phủ Bao Công ở đâu mà tìm và tiền đâu mà đi tới đó cho đặng?
- Nàng hãy cầm lấy mười lạc bạc của Quốc Cựu thưởng tôi làm tiền ăn đường. Còn Bao đại nhơn hiện đã về phủ Khai Phong ở gần Đông Kinh đó. Như nàng nói co trọ ở tiệm Huỳnh bà thì hay lắm. Vì từ tiệm ngủ đó tới phủ Khai phong cũng gần. Nàng phải cẩn thận chớ tiết lộ cho ai kẻo lọt vào tai tay chân Quốc Cựu thì khó toàn mạng đó.
- Thế còn bác ở lại đây, bọn họ biết tôi còn sống thì cũng nguy hiểm.
- Nàng đừng lo. Tôi cũng sẽ bỏ đi nơi khác. Cứ xem tánh tình Quốc Cựu thì dù tôi có giết nàng ông ta cũng sẽ tìm cách loại trừ tôi sau này. Đi trước là hơn.
Nói đoạn, Trương Công móc túi lấy bạc trao cho Trương thị.
Trương thị trả lại một nửa và nói:
- Tôi xin bác năm lượng là quá đủ rồi.
Trương Công gạt đi:
- Nàng cứ cầm cả thì hơn. Tôi không cần dùng đến. Vả lại nàng cũng nên phòng trường hợp Bao đại nhơn vắng nhà phải ăn chực nằm chờ ở đó. Mà nhớ phải cáo với chính Bao đại nhơn đừng có lộn mà mang hoạ. Nàng đừng quên cải trang cho không ai để ý… kẻo rồi thoát được tay Nhị Quốc Cựu lại rơi vào tay bọn khác…
Trương thị quỳ lạy tạ Trương Công:
- Đa tạ những lời vàng ngọc của bác. Xin bác sẽ cho biết sẽ về đâu để sau này tôi được đền ân bác đã giúp tôi báo thù nhà.
- Không có chi mà ân với huệ. Thôi bây giờ gần sáng rồi, nàng hãy đi cho được việc
Vừa nói, Trương Công vừa đứng dậy mở cửa hậu cho Trương thị ra rồi lại đóng lại và trở về trình Quốc cựu là mình đã … hoàn thành sứ mạng giết trương thị.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:45 PM

Hồi 24(B)

Ỷ THẾ HIẾP NGƯỜI


Sáng sau, Trương Công lén thu xếp quần áo tiền bạc rồi thừa lúc không ai để ý, bác trốn ra khỏi dinh Nhị Quốc Cựu và đi mất.
Nói về Trương thị sau khi từ biệt Trương Công liền lần theo lộ ra tới đường cái thì trời đã sáng tỏ mặt người. Nàng ghé vào ngôi chợ nhỏ mua ít đồ dùng rồi lén ra ngoài đồng hoá trang thành mụ đàn bà quần áo lôi thôi, hôi hám, mặt mũ, chơn tay vàng như nghệ, trông thật là thiểu não.
Sau đó nàng hỏi thăm đường về vùng Thạch Kiều và chiều hôm sau, nàng về tới tiệm ngủ huỳnh bà.
Nàng đến bên Huỳnh bà và nói:
- Thưa bác, cháu là vợ Tú tài văn Chánh mới trốn về được đây.
Huỳnh bà hốt hoảng đứng dậy, kéo trương thị vô phòng riêng và bảo:
- Mấy bữa nay bác nghe đồn Bao đại nhơn có tìm thấy dưới giếng Quỳnh Hoa sau vườn tào phủ xác một thanh niên và một đứa bé ba tuổi. Vậy sự thể ra sao, cháu nói bác nghe.
Trương thị ứa nước mắt, thuật lại nguồn cơn. Huỳnh bà nghe xong cũng sa giọt lệ:
- Thế thì tàn ác quá chừng. Cháu hãy tạm ẩn trong phòng này để bác đi dòxem Bao đại nhơn có ở phủ không. Cháu phải thận trọng vì hiện nay khắp vùng ai cũng biết là Bao Công đang truy ra tung tích hai nạn nhơn. Nếu bọn thủ túc của Quốc Cựu biết cháu còn sống và hiện có mặt ở đây, chúng sẽ tìm cách giết cháu để triệt đường Bao Công.
Huỳnh bà tất tả ra phố. Tới lúc lên đèn, bà trở về và bảo Trương thị:
- May cho cháu quá. Bao đại nhơn có nhà và sáng mai hồi canh năm, ngài đi hành hương nơi miễu Thành Hoàng ở gần đây.
Trương thị vội hỏi:
- Thưa bác, biết nhờ ai làm đơn bây giờ. Cháu chỉ võ vẽ đôi ba chữ…
- Ừ nhỉ, còn cái đó mới khó chứ. Biết nhờ ai đây.
- Cháu nghĩ có thể nhờ mấy cậu khoá…
- Cháu nói phải, bác có quen một câu, để bác đi hỏi thử xem.
Huỳnh bà lật đật chạy đi kiếm một câu cũng đã đỗ Tú tài và thuật lại đầu đuôi câu chuyện. Thấy cậu ta có vẻ ngần ngại, Huỳnh bà tiếp luôn:
- Sở dĩ già nhờ cậy đến cậu là vì già nghĩ rằng nạn nhân cũng là một sĩ tử như cậu. Cổ nhân có nói: “Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ”. Nay trong giới sĩ phu có người lâm nạn, cậu nỡ ngoảnh mặt làm ngơ sao đành…
Nghe tới đây, cậu thư sinh nọ mặt đỏ bừng, cướp lời Huỳnh bà:
- Thôi được, để cháu làm dùm.
Rồi cậu lấy bút thảo mọt hồi xong lá đơn. Huỳnh bà cảm tạ ra về.
Sáng hôm sau, mới canh tư Trương thị trở dậy kêu Huỳnh bà mở cửa. Bên ngoài trời lạnh thấu xương, Trương thị cứ lầm lũi tiến theo con lộ mà Huỳnh bà đã chỉ hồi hôm. Nửa giờ sau, nàng dừng chân bên gốc cây gạo, cách miễu thành Hoàng không xa.
Nàng đứng lặng yên như pho tượng, hai tay ấp lá đơn vào ngực như sợ cơn gió bấc vô tình và giật cuốn đi mất. Trong đêm trường tĩnh mịch, không một tiếng động, ngoài tiếng gió rít trên ngọn cây và tiếng dế khóc than dưới đám cỏ.
Bỗng có tiếng vó ngựa từ xa vẳng đưa lại. Nàng chú ý nghe. Tiếng vó ngựa kèm theo tiếng chân người đi rầm rập tiến gần lại phía nàng. Nàng nhớn nhác ngó quanh. Phía tay mặt nàng, hoàn toàn im lặng. Theo lời Huỳnh bà. Bao Công sẽ từ phía mặt đi tới.Trương thị đứng ra giữa lộ dán mắt nhìn về phía trên. Phút sau nàng thấy có anh đèn lồng xuất hiện rồi thì tới toán lính cầm đuốc sáng rực, đi hai bên một vị quan cưỡi con bạch mã: Đúng là Bao Công rồi, Trương thị vùng chạy tới quỳ trước chân ngựa, hai tay nâng lá đơn lên khỏi đầu.
Đoàn quan quân dừng lại. Hàng chục bó đuốc rọi vào phía Trương thị. Giữa lúc ấy, một bóng đen nhẹ nhàng lướt bên bờ đường tới nấp sau bụi rậm, cách đó lối hơn mười bước.
Viên quan quay lưng ngựa, tay phải nắn cây roi sắt, còn tay trái cầm lá đơn của trương thị do lính hầu vừa dâng lên. Ông ta hô lính giơ cao ngọn đuốc. Viên quan mặc áo đại thần, mặt trắng như thoa phấn, môi đỏ :Dt như son. Bóng đen trông thấy khẽ giậm chơn thốt lên ba tiếng: “Trờ, lầm rồi”.
Vừa lúc ấy viên quan cũng vò nát lá đơn rồi quắc mắt la Trương thị:
- Hay cho con tiện tỳ này khi không dám chặn đầu ngựa ta. Phen này ta phải đánh chết mi.
Miệng nói tay ông ta vung roi sắt nhằm Trương thị quất xuống liên hồi.
Trương thị ngã gục xuống đất mê man bất tỉnh, máu chảy đỏ một bên mặt.
- Bây đâu lục soát nó cho ta.
Hai tên lính không mang đuốc cúi xuống. Chúng tìm thấy mười lạng bạc trong túi áo của Trương thị liền nạp cho chủ:
- Tâu Hoàng Thân, có số bạc này trong mình nó.
- Đưa đây, rồi xách cổ nó vứt vào bụi rậm bên đường cho ta.
Lính hầu dạ ran xúm lại khiêng Trương thị vứt ngay gần bụi rậm có bóng đen đứng núp nẫy.
Viên quan được lính kêu là Hoàng Thân ấy, đốt ngay lá đơn rồi lầm bầm nói:
- Không hiểu em ta làm ăn thế nào mà để cho con mụ này xổng ra. May mà gặp ta chứ gặp phải Bao Công thì khốn rồi.
Thì ra viên quan ấy là Tào Đại Quốc Cựu! ! Hèn chi. Nghĩ mà tội nghiệp cho Trương thị.
Bốn tên lính vất Trương thị vào bụi râm xong liền trở lại mặt đường.
Tào Đại Quốc Cựu hất hàm hỏi:
- Xong chưa?
Một tên mau miệng thưa:
- Dạ xong rồi.
- Liệu nó đã chết chưa?
- Dạ, chắc chết chứ sống gì nổi với ngọn roi sắt của Hoàng Thân. Vả lại nó hết cựa quậy lại không thấy rên la gì.
Một tên khác góp ý kiến:
- Tâu Hoàng Thân, với cái rét này thì nó cũng phải chết.
Tào Đại Quốc Cựu gật đầu tán thưởng rồi chia mười lạng bạc cho đám thủ túc. Xong hắn ra lệnh:
- Thôi lên đường gấp kéo không kịp vào triều kiến Hoàng thượng. Bữa nay đức vua lâm trào bất thường.
À thì ra có cuộc hội bất thường này mà Bao Công phải bỏ cuộc hành hương tại miễu Thành Hoàng va Trương thị mất cơ hội trả thù nhà
Chờ cho bọn Tào Đại Quốc đi đã khá xa, bóng đem mới từ bụi rậm chui ra, chạy đến bên Trương thị cúi xuống nghe ngóng một lát rồi lẩm bẩm:
- Còn thoi thóp thở, may ra cứu sống được.
Nói đoạn, bóng đen cõng Trương thị lần theo lề đường và thẳng tiệm ngủ của Huỳnh bà:
Bóng đen đó chẳng phải ai xa lạ, chính là Huỳnh bà. Số là khi mở cửa cho Trương thịra đi, Huỳnh bà lén gọi đứa cháu trai dạy trông nhà rồi bà cũng đi theo hút Trương thị nên được chứng kiến cảnh tượng trên từ đầu đến cuối.
Về tới nha,ø Huỳnh bà hô cháu đem nước nóng rửa vết thương cho Trương thị rồi bà đi kiếm lương y về chạy chữa. Nhờ thầy giỏi lại được Huỳnh bà tận tâm săn sóc, nên trương thị, sau một ngày mê man đã tỉnh lại và qua mấy bữa vết thương trên đầu se lại và nàng đã ngồi dậy đi lại được như thường.
Trương thị quỳ xuống ta ơn Huỳnh bà rồi khóc mà rằng:
- May nhờ có bác chớ không thì cháu đã ra người thiên cổ, chẳng báo được thù nhà. Ơn cứu tử biết bao giờ đáp được.
Huỳnh bà lật đật đỡ Trương thị dậy và bảo:
- Cháu chớ nói đến ân huệ. Ở đời giúp đỡ nhau , có cho mà cháu phải bận tâm. Cháu khá bình tĩnh, lo ăn uống cho mau lại sức mà báo thù cừu.
Trương thị nghen ngào đáp:
- Cháu có mười lạng bạc ròng nó lột mất, nay nhờ vả bác mãi cháu áy náy vô cùng. Thôi răm sự nhờ bác…
Huỳnh bà khoác tay ngắt lời trương thị:
- Bác đã nói là bác giúp mà. Bây giờ cháu cứ tĩnh dưỡng đi. Bác đã nhờ cậu khoá làm lại cái đơn khác rồi. Để tới ngày rằm đây Bao đại nhơn qua miễu Thành Hoàng hành hương cháu sẽ ra đón đường đệ đơn cáo.
- Cháu nghĩ hya là đem đơn vô phủ nạp còn tiện và chắc ăn hơn. Lần này mà lầm nữa thì chắc chết quá bác à.
- Có lúc bác cũng nghĩ như cháu song thấy bất tiện vì giờ này bọn thủ túc của hai Quốc Cựu tất rình rập xung quanh phủ Bao Công để bắt cháu.
- Họ chắc là cháu chết rồi còn chi.
Huỳnh bà lắc đầu:
- Chúng nghe ngóng mấy bữa nầy không thấy ai nói đến xác chết ên đường tất sinh nghi đoán là cháu còn sống nên sẽ lùng kiếm cháu. Cũng vì vậy nên bác sẽ đưa cháu qua lánh nạn tại một nơi khác. Đến sáng ngày rằm bác sẽ đến đưa cháu đi đón đường Bao Công. Lần này bác có kế rồi, không sợ bị lầm nữa. Cháu hãy yên tâm.
Cuối canh tư ngày rằm, cảnh vật hãy còn chìm trong bóng đêm, bỗng trên con đường tới miếu Thành Hoàng, có ba bóng đem lầm lũi tiến bước.
Tới gốc cây gạo đứng núp bữa trước, cả ba dừng lại. Cứ trông hình dáng thì hai người trước là đàn bà còn người đi tập hậu là đàn ông.
- Cháu hãy cầm sẵn lá đơn nơi tay và núp sau gốc cây gạo này, bác sẽ đi xuống phía dưới miễu Thành Hoàng còn thằng cháu trai của bác đây sẽ đi lần lên phía trên. Hễ có đèn đuốc quan quân đi tới, thì bác hay thằng cháu đây sẽ nhận diện. Nếu đúng là Bao đại nhơn, bác hay nó sẽ đứng lên làm hiệu, cháu cứ việc tiền tới mà cản ngựa dâng đơn. Hai cháu đã hiểu chưa?
Hai bóng đen gật đầu. Thế rồi cả ba chia nhau đứng vào vị trí ấn định.
Trời bắt đầu rạng sáng. Xa xa có tiếng trống cầm canh thong thả điểm năm tiếng. Ông thủ từ miễu Thành Hoàng đã trở dậy lên đèn thắp nhang và thỉnh thoảng một hồi chuông. Tiếng chuông rền rĩ ngân vang, lúc đầu còn khoan thai sau trở nên dồn dập và chấm dứt bằng ba tiếng mạnh và rời rạc. Tiếng chuông vừa tan trong không gian thì xa xa từ phía tay trái Trương thị có ánh đèn đuốc nổi lên đỏ rực. Lát sau một vị quan cưỡi ngựa đi giữa đoàn quân mang đuốc sáng choang.
Có lẽ Bao đại nhơn vì lần này đoàn quân đi từ dưới lên. Lần trước Tào đại Quốc Cựu và đám thủ túc đổ từ trên xuống. Trương thị cầm chắc lá đơn trong tay, sửa soạn lại quần áo cho tề chỉnh rồi ngóng trông về phía Huỳnh bà ẩn núp.
Đoàn quan quân gần tới rồi, Trương thị sốt ruột lẩm bẩm:
- Quái sao mãi không thấy Huỳnh bà làm hiệu. Hay là không phải.
Tiếng chân người hoà lẫn tiếng vó ngựa va tiếng đuốc nổ tanh tách càng lúc càng nghe rõ. Vầng ánh sáng của hơn hai chục bó đuốc toả ra tiến dần tới miếu Thành Hoàng. Trương thị dán mắt nhìn về phía Huỳnh bà. Vị quan đã sắp tới trước bụi rậm Huỳnh bà ẩn núp. Vẫn chưa thấy bà đứng dậy ra hiệu. Trương thị miệng lâm râm khấn vong hồn chồng về giúp.
Bỗng nàng thấy bóng Huỳnh bà nổi bật trên vùng ánh đuốc đỏ hồng. Trương thị băng ra lộ cắm cổ chạy tới trước đoàn quân và quỳ xuống giữa đường, tay nâng cao lá đơn lên khỏi con bạch mã của vị đường quan. Thoáng thấy bóng người quỳ trước mặt, con ngựa liền hí lên một hồi rồi đứng dừng lại.
Lính hầu đổ xô đến chĩa giáo rọi đuốc vào người Trương thị. Quan ngồi trên mình ngựa, mặt sắt đen sì, mình bận áo đại bào, mắt sáng như sao, đầu đội bình thiên trông thật oan phong lẫm liệt. Đúng là Bao Công rồi. Thật là may cho Trương thị.
Bao Công cất tiếng sang sảng gọi quân hầu:
- Tụi bây chớ làm người ta sợ.
Thơ lại mau ra tiếp lá đơn đem ta coi.
Một anh thơ lại trẻ tuổi phóng trước cầm lá đơn đem đến trao Bao Công.
Bao Công đón lấy mở ra coi rồi bảo Trương thị:
- Nhà ngươi hãy đứng dậy theo lính của ta về phủ trước để ta hành hương về sẽ hỏi sau.
Đoạn ông ra lệnh cho bốn chú đứng bên:
- Các ngươi khá dẫn người về phủ cho ta. Cấm ng81t không được tò mò hỏi han chi và phải cẩn thận không cho xâm phạm đến y thị. Trái lệnh sẽ bị xử trảm tức khắc nghe chưa?
Bốn anh lính dạ ran áp giải Trương thị về phủ, Bao Công cất lá đơn vào túi thúc ngựa tiến về phía miếu Thành Hoàng.



vui_la_chinh 06-14-2005 02:45 PM

Hành hương xong, Bao Công vội vã lên ngựa trở về phủ, lúc này trời đã sáng tỏ mặt rồi.
Huỳnh bà chui ra khỏi bụi rậm lên lộ thì đứa cháu trai từ trên cũng huỳnh huỵch chạy lại hỏi:
- Đúng là Bao đại nhơn rồi phải không bà?
Huỳnh bà gật đầu:
- Lần này thì không còn lầm được nữa. Thôi thế là đỡ khổ cho Trương thị. Bây giờ bà cháu ta hãy đi lễ trước khi về nhà.
Hai bà cháu theo nhau vô miễu Thành Hoàng làm lễ rồi trở về tiệm ngủ.
Nói về Bao Công khi vừa tới phủ đã đăng đường ngay. Oâng đuổi hết tả hữu ra ngoài rồi lấy lá đơn của Trương thị ra coi kỹ từ đầu đên cuối. Đoạn ông lấy hồ sơ hai xác chết dưới giếng Quỳnh Hoa ra coi lại.
Bao Công chống cằm suy nghĩ hồi lâu rồi cầm bút viết lia viết lịa trên lá đơn. Sau đó ông kêu lính dẫn Trương thị lên xét hỏi:
Vừa trông thấy Trương thị đầu còn mang thương tích chưa lành Bao Công liền hỏi:
- Làn sao nhà ngươi đến nông nỗi này?
- Dạ, bị Tào Đại Quốc Cựu đánh bằng roi sắt.
- Tào Đại Quốc hay Nhị Quốc ?
- Dạ, Tào Đại, vì bữa trước tiện thiếp lầm thượng quan với Quốc Cựu, nên đệ đơn và bị đòn.
- Sao không kể trong đơn một thể?
- Dạ… vì chỉ nghĩ đến thù chồng con ph3i trả nên tiện thiếp quên việc nhỏ mọn này.
Bao Công ái gại nhìn Trương thị rồi nói:
- Việc này rất quan hệ… Nhưng thôi nhà ngươi hãy trả lời các câu ta hỏi đây. Vì vụ này quan trọng, ta sẽ đích thân lấy cung ngươi cứ khai cho thật, đừng sợ hãi chi cả.
Rồi Bao Công hỏi tỉ mỉ Trương thị về các sự việc đã xẩy ra. Sau môt tiếng đồng hồ hỏi cung, Bao Công hỏi tiếp:
- Việc ngưoi bị Tào Đại Quốc Cựu đánh, chẳng hay có ai sẵn sàng làm chứng không?
- Dạ, có Huỳnh bà chủ tiệm ngủ.
- Thôi được, bây giờ ngươi hãy theo lính xuống phía sau phủ coi hai thi hài có đúng là chồng con ngươi không.
Dứt lời, Bao Công vỗ tay làm hiệu, lính hầu tiến vào chờ lệnh. Bao Công truyền:
- Bây đưa người này ra bảo thơ lại dẩn đi nhìn hai xác đem về bữa nọ.
Trương thị vừa lui ra, Bao Công đã kêu ngay hai thám tử thân tín vô mà dạy rằng:
Hai người đi theo người đàn bà vừa ra khỏi đây, xem phản ứng của y thị lúc coi hai xác chết ra sao, rồi về trình ta tức khắc nghe.
Lát sau hai thám tử vô bẩm:
- Thưa thượng quan, sau khi thơ lại cho mở nắp quan tài ra, y thị xem xét kỹ rồi oà lên khóc nhận chắc là hai thi hài là chồng y thị bị Tào Nhị Quốc Cựu sát hại.
Bao Công cho thám tử lui ra rồi đòi viên thơ lại vô mà bảo rằng:
- Ngươi cho làm ngy bốn việc sau đây cho ta: Một là cho chôn hai quan tài cha con Văn Chánh nơi nghĩa địa, hai là cho lính hoả bài đòi Huỳnh bà đến hầu ngay, ba là cho săn sóc Trương thị và giữ y ở lại trong phủ, bốn là bảo lính kiểm soát chắt chẽ mọi sự ra vô và tuyệt đối cấm tiết lộ các điều hay biết ra ngoài. Ai trái lệnh sẽ bị nghiêm trị.
Viên thơ lại già vái chào rồi ra ngoài phân công cho thuộc hạ thi hành.
Nửa giờ sau, Huỳnh bà theo chân lính hầu đến trình diện và trả lời rành rẽ các câu hỏi của Bao Công. Sau khi ghi chép đầy đủ. Bao Công ôn tồn bảo Huỳnh bà:
- Ta có lời khen ngợi bà lão đã nhân từ lại can đảm và thiết tha với công lý. Chính nhờ những người như bà lão mà triều đình mới có thể bền vững. Đây ta cho bà lão ít lượng bạc gọi là để thưởng công.
Miệng nói, tay Bao Công kéo ô kéo lấy mười lượng bạc trao cho Huỳnh bà và dặn thêm:
- Ra về ai có hỏi cứ nói là ta gọi hỏi thăm và ngợi khen về công việc làm ăn đứng đắn. Chớ có tiết lộ điều chi, một là có thể vì thế mà mang hoạ đó, hai là để ta tiện tiến hành cuộc điều tra.
Huỳnh bà vái tạ lui ra về.
Suốt chiều và đêm hôm đó Bao Công đóng cửa phòng cặm cụi làm việc. Việc chán ông lại ngồi lặng yên suy nghĩ. Đến khuya Bao Công, mới làm xong tờ cáo trạng hài rõ tội ác của tào Đại Quốc Cựu và Tào Nhị Quốc Cựu. Ông đọc lại một lượt rồi áp triện xuống cuối tờ cáo trạng, niêm kín và cất vào tủ khoá lại. Xong xuôi Bao Công lững thững đi ra ngắm trăng sao một lát rồi trở vô phòng, miệng lẩm bẩm:
- Giờ phải tính kế bắt Tào Đại Quốc Cựu trước đã, sau mới tóm em hắn. Đến nhà bắt thì không xong rồi, phải lừa cho hắn đến phủ này mới được.
Sáng sau, Bao Công dậy sớm sai lính bày biện tại phòng khách. Ông cho khiêng một tấm bình phong lớn đặt bên bộ bàn ghế. Đoạn ông gọi hai thám tử Vương Trung, Lý Kiết vô dặn nhỏ một hồi. Cả hai tuân lệnh chia nhau, một người chạy ra nói nhỏ với viên đội gác, một người xuống hậu dinh thì thào hồi lâu với Trương thị.
Trong khi ấy Bao Công lấy giấy bút thảo một tờ biểu dâng lên vua rồi sai thơ lại đem vô Hoàng cung nạp quan thái giám. Viên thuộc hạ đi khỏi. Bao Công mỉm cười lẩm bẩm “thế nào hắn cũng đến”.
Tiếp được tờ biểu của Bao Công, Vua Nhơn Tôn liền hội đình thần lại và phán rằng:
- Nay trẫm được tin Bao Công khang mang bịnh không vào chầu được vậy trẫm muốn đến thăm, các khanh nghĩ sao?
Tào đại Quốc Cựu lúc đó có mặt tại trào muốn mình là người trước nhất để lấy lòng Bao Công liền bước ra bệ rồng và tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ, xin bệ hạ cho kẻ hạ thần ngày mai tới trước xem sự thể ra sao. Nếu quả thật Bao Công đau nặng thì lúc thần trở về, bệ hạ đi cũng không muộn.
Vua Nhơn Tôn khen phải. Thế là hôm sau Tào Đại Quốc Cựu ngồi kiệu tới phủ Bao Công. Hai thám tử theo lệnh Bao Công đứng rình ở ngoài, thấy Quốc Cựu đi tới liền chạy về cấp báo.
Bao Công cả cười nói:
- Trúng kế ta rồi. Thôi hai ngươi mau làm theo lời ta dặn.
Tào Đại Quốc Cựu đã tới trước phủ Bao Công. Lính canh nổi một hồi trống lệnh. Cửa phủ từ từ mở ra cho Quốc Cựu và đoàn quân hầu vô rồi đóng sập lại. Có điều lạ là lính gác đã được tăng cường gấp đôi và cổng phủ được khoá chặt.
Viên thơ lại già ra nghênh đón và hướng dẫn Tào Đại Quốc Cựu vô nơi phòng khách. Lúc đó Bao Công mới khoan thai bước ra thi lễ.
Tào Đại Quốc Cựu ân cần thăm hỏi:
- Nghe tin đại nhân đau, tôi vộisang ngay. Chẳng hay đại nhân thấy trong người thế nào? Có cần ngự y thì để tôi tâu với Hoàng thượng.
Bao Công mỉm cười đáp:
- Đa tạ lòng tốt của quí quan. Tôi đau xoàng thôi. Bữa nay đã đỡ nhiều. Xin mời quí quan ngồi chơi cùng tôi uống chén rượu nhạt trước là để tôi tạ ơn quí qun sau là tôi có việc trình bày một việc… có liên quan đến ngài.
Tào Đại Quốc Cựu ngồi xuống cẩm đôn trong khi Bao Công lớn tiếng hỏi:
- Bây đâu đã chuẩn bị xong chưa?
Thám tử Vương Hưng dạ ran rồi dẫn lính hầu bưng mâm rượu và đồ nhậu vào đặt lên bàn.
Quốc Cựu nhìn Bao Công như dò xét. Bao Công vẫn thản nhiên rót rượu mời khách:
- Nào mời quí qun cạn chén.
Qua ba tuần rượu chưa thấy Bao Công nói chi cả, quốc Cựu mới ngập ngừng hỏi:
- Vừa rồi, đại nhơn nói… có việc liên quan tới tôi… chẳng hay việc chi vậy, xin ho biết.
Bao Công đặt ly rượu xuống mâm rồi chậm rãi đáp:
- Nếu quí quasn không nhắc thì tôi cũng… sắp nói đây. Số là bữa qua, ngày rằm, tôi đi hành hương tại miễu Thành Hoàng… quí quan biết miễu Thành Hoàng chứ?
- Biết.
- Lúc ấy vào đầu canh năm. Tôi cỡi ngựa cho mát. Ngựa tôi cũng giống con bạch mã của quí quan nhưng có một điều tôi không mang roi sắt khi cưỡi ngựa như quí quan…
Tới đây Bao Công ngừng lại nhắp một hớp rượu và liếc mắt nhìn Quốc Cựu để dò phản ứng. Quốc Cựu hơi chột dạ song vẫn bình tĩnh, mỉm cười nói:
- Đại nhơn quả có tài nhận xét.
Bao Công cũng mỉm cười đáp:
- Tài nhận xét thì chưa dám. Vì lẽ chuyện cây roi sắt của quan mà tôi được biết lại là do một người đàn bà thuật lại…
Đại Quốc Cựu hơi run tay Bao Công nhận thấy, nói mau:
- Người đàn bà đó quì trước ngựa tôi à đệ đơn nói chồng bị giết, thị bị hãm hiếp và bị giam mới trốn được sang Đông Kinh làm trạng cáo chẳng dè lại dâng trạng nhầm nơi quí quan dùng roi sắt đánh may nhờ Huỳnh bà cứu sống. Tôi đã chấp đơn của người. Quí quan có biết ai không? Tào Đại Quốc Cựu tái mặt lúng túng chưa biết đối đáp ra sao thì Bao Công đã vỗ tay làm hiệu. Trương thị và Huỳnh bà theo lời dặn của Bao Công núp từ bình phong từ nãy, bước ra đến trước mặt hai người. Bao Công hất hàm ý hỏi. Huỳnh bà trỏ Quốc Cựu nói:
- Chính người này đã cầm roi sắt đánh chết ngất Trương thị.
Trương thị cũng khai tiếp:
- Người này và người hôm nọ đánh tôi, giọng giống hệt nhau, tôi nhớ lắm.
Quốc Cựu vùng đứng dậy trỏ mặt Trương thị mà quát rằng:
- Hay cho con tiện tỳ này, vô cớ phao vu cho ta là một Quốc Cựu. Rồi ta sẽ cắt lưỡi cho mi chừa thói ăn nói không nói có.
Hướng về Bao Công, Quốc Cựu nói:
- Đại nhơn bắt giam hai con tiện tỳ này lại cho tôi.
Bao Công vẫn ngồi vuốt râu mỉm cười, không nói chi cả.
Quốc Cựu vừa sợ vừa tức, nạt luôn Bao Công:
- Tôi sẽ tâu lên Hoàng thượng rõ tôi của đại nhơn đã để con tiện tỳ này vu cáo, sỉ nhục một Quốc Cựu. Đại nhơn không làm thì tôi phải ra tay.
Nói rồi, Quốc Cựu quay mặt ra cửa gọi quân tâm phúc theo hầu:
- Bây đâu, vô trói cổ hai mụ này đem về dinh cho ta.
Hắn hô tới hai ba lần mà chẳng thấy tên lính nao cả. Hắn toan đi ra cửa thì Bao Công đứng dậy giơ tay cản mà rằng:
- Phàm bắt người làm tội thì phải có chứng cớ hẳn hoi. Ai phải ai trái đã có ta phân xử, quí quan chớ lộng hành mà thêm nặng tội. Vả lại tôi đã mạn phép tước khí giới binh lính của quí quan rồi. Tôi tưởng quí quan hãy chịu khó ngồi lại đây…
Quốc Cựu gay gắt đáp:
- Thế là đại nhơn bắt giữ tôi như kẻ tội nhân phải không? Chứng cớ đâu? Không lẽ đại nhân tin lới hai con tiện tỳ này sao?
Bao Công nghiêm mặt nói:
- Nói là bắt giữ quí quan chưa đúng. Quí quan có thể tự do đi lại … trong phủ này, chờ tôi hội đủ bằng chứng xét xem nên làm tội hai người đàn bà hay là phải làm tội… người khác!
Nói đoạn Bao Côngkêu thám tử Vương Hưng vô hỏi:
- Ngoài ấy sắp đặt xong chưa?
- Thưa thượng quan, đã xong cả rồi.
Bao Công bảo Quốc Cựu:
- Quí quan vui lòng ngồi chơi một lát, tôi sẽ tin quí quan biết quyết định của tôi.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:46 PM

Rồi ông đứng dậy đi thẳng lên công đường. Tào Đại Quốc Cựu cũng lững thững ra khỏi phòng khách. Hắn vừa lo vừa sợ vừa bực tức khi thấy hai chú công sai của Bao Công cứ lẽo đẽo theo hắn bén gót. Hắn còng ra cửa thấy đóng chặt lại có lính canh phòng cẩn mật. Hắn trở lại phía công đường thấy mấy tên lính tâm phúc đang ngồi bó gối trước thềm. Hắn toan bước tới thì lính gác giơ giáo cản đường và lễ phép mời hắn trở lại.
Hắn quay lại hỏi hai công sai của Bao Công vẫn theo sát hắn:
- Bắt lính của ta làm gì đó?
- Dạ, để Bao Đại nhơn hỏi cung.
- Tào Đại Quốc Cựu xanh mặt cúi đầu trở lại phòng khách.
Trong khií©y tại công đường. Bao Công tiếp tục hạch hỏi mười tên quân tâm phúc của Quốc Cựu. Trong số mười đứa, hết tám đứa có mặt bữa Quốc Cựu đánh Trương thị. Hồi lâu sau Bao Công cho đòi Quốc Cựu, Trương thị và Huỳnh bà lên đối chất.
Tào Đại Quốc Cựu cứng họng hết đường chối cãi. Bao Công hô quân lột mũ áo da95i thần của Quốc Cựu rồi truyền tống giam y vào ngục thất.
Đoạn ông cho Huỳnh bà và Trương thị lui ra rồi gom tất cả lính tâm phúc của Quốc Cựu lại mà dạy rằng:
- Các ngươi là lính thi hành lệnh của chủ soái. Lẽ ra ta phải thả ngay các ngươi nhưng vì chưa muốn tin bắt Tào Đại Quốc Cựu bị tiết lộ quá sớm mà hư mất kế hoạch nên ta truyền cho các ngươi tạm ở lại đây với lính của ta chừng nào xong công việc ta sẽ cho về.
Bọn lính dạ ran rúi rúi kéo nhau theo công sai của Bao Công về nơi hậu dinh.
Ngồi một mình nơi công đường, Bao Công vươn vai thở dài khoan khoái nói một mình:
- Xong một trự, còn một trự nữa phải xuống tay nội trong ngày hôm nay. Lại phải dùng kế điệu hổ ly sơn mới mong úp được nó.
Suy nghĩ một lát, Bao Công kêu thám tử Vương Hưng trao cho mẫu ấn tín của Đại Quốc Cựu va bảo rằng:
- Người cấp tốc làm một bộ giả cho ta.
Thám tử lui ra, Bao Công lấy giấy bút bắt chước tuồng chữ của Đại Quốc Cựu, thảo lá thư gởi Nhị Quốc Cựu.
Thư chỉ vẻn vẹn có một hàng chữ “thân mẫu đau nặng, về mau”
Lát sau thám tử trở vô, Bao Công liền lấy ấn tín giả do thuộc hạ đệ trình, áp xuống là thư rồi bảo một cong sai ăn mặc giả lính của Đại Quốc Cựu phóng ngựa đi suốt đêm đó tới Trịnh Châu trao cho Nhị Quốc Cựu.
Tiếp đọc thư, Nhị Quốc Cựu chẳng kịp hỏi han căn dặn chi lập tức sai thủ túc đóng ngựa về thăm mẹ. Lúc ấy đêm đã hầu tàn
Nhị Quốc Cựu đi miết, tới trưa thì về tới Kinh đô. Tới quãnh đường chia làm hai, một đi thẳng vào đế đô, một rẽ vào phủ Khai Phong là nơi Bao Công trị nhậm, xảy có Bao Công lù lù cỡi ngựa đi tới.
Thì ra Bao Công đã được thám tử báo cho biết trước nên kịp thời ra đón đường để bắt Nhị uốc Cựu.
Hai bên cùng xuống ngựa thi lễ nhau.
Bao Công vờ hỏi Nhị Quốc Cựu:
- Quí quan về vấn an Thái Quận phu nhơn phải không?
- Thưa phải, tôi mới nhận được tin hồi đem nay.
- Sớm mai này tôi cũng hay tin có ghé qua thăm thì thấy phu nhơn đã đỡ rồi. Không sao đâu.
- Chà, nếu vậy thì phước quá.
Bao Công trở về phía phủ mình, bảo Nhị Quốc Cựu:
- Không mấy khi gặp quí quan xin mời ngài quá bộ về phủ uống chơi ba chémn rượu với tôi đã.
Nhị Quốc Cựu nể lời theo Bao Công về nhà.
Sau ba tuần rượu và một hồi chuyện trên trời dưới đất, Nhị Quốc Cựu đứng dậu nói:
- Xin đa tạ đại nhơn, cho toi6 về, bữa khác sẽ sang chơi lâu.
Bao Công xua tay đáp:
- Mời quí quan hãy nán lại dăm ba phút cho tôi hỏi một điều này đã.
Nhị Quốc Cựu đành ngồi xuống ghế. Bao Công chậm rãi hỏi:
- Quí quan còn nhớ… Tú tài Văn Chánh không nhỉ?
Nhị Quốc Cựu tái mặt nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh đáp:
- Đại nhơn nói Văn Chánh nào? Tôi không hề quen biết người đó.
Bao Công nhìn Nhị Quốc Cựu trừng trừng và dằn giọng nói:
- Quí quan không biết Tú tài Văn Chánh nhưng chắc là quí quan biết một người này.
Vừa nói Bao Công vừa vỗ tay làm hiệu.
Trương thị núp sau bình phong liền bước ra quỳ trước mặt Bao Công rồi khóc rồi kể tội Nhị Quốc Cựu.
Vợ Văn Chánh càng nói thì Nhị Quốc Cựu lại càng xanh mặt, Đến khi nàng dứt lời thì hắn đã len lén nhìn Bao Công, trán đổ mồ hôi.
Bao Công truyền cho Trương thị lui ra rồi hất hàm hỏi Nhị Quốc Cựu:
- Thế nào có nhận tội không?
Nhị Quốc Cựu lắp bắp nói:
- Xin đại nhơn vì Hoàng thượng mà bỏ qua vụ này cho.
Bao Công cười gằn:
- Chính vì Hoàng thượng và triều đình mà ta không thể bỏ qua vụ này được. Vả lại ta biết còn có nhiều người khác bị mạng vong nơi Tào Phủ. Biết điều thì thú nhận hết đi cho ta đỡ phải nhọc lòng… tra tấn! Vả lại Tào Đại Quốc Cựu cũng bị ta bắt giam.
Nhị Quốc Cựu thất kinh tưởng Bao Công biết rõ tất cả hành vi của mình, bèn thú nhận hết tội lỗi. Nghe xong Bao Công đứng dậy hô lính lột mũ áo Nhị Quốc Cựu, rồi cùm lại đem giam nơi ngục thất.
Bọn quân hầu Nhị Quốc Cựu đứng ngoài chưa kịp có phản ứng gì đã bị lính Bao Công tước khí giới và trói gô cả lại giải ngay lên cong đường theo lời dặn trước của chủ tướng.
Bao Công lật đật đăng đường gọi từng tên quân hầu của Nhị Quốc Cựu vô xét hỏi. Chúng đều khai đại để có biết Nhị Quốc Cựu dâm ô, độc ác, đã từng sát hại nhiều người và khi giáp mặt Trương thị, chúng đều nhận đúng là nàng đã bị Nhị Quốc Cựu bắt cóc làm vợ sau khi đã át hại chồng con y thị.
Bao Công cấp tốc cho lính bắt hết đám cung phi của Nhị Quốc Cựu về xét hỏi. Đồng thời ông sai lính đi gom phu ở kế cận Tào phủ vô vườn sau đào gần mười bộ xương người.
Sau khi đã thâu thập đủ yếu tố buộc tội. Bao Công truyền thả tự do cho trọn đám chân tay của hai Quốc Cựu.
Chúng ùa chạy về phi báo cho Thái Quận phu nhơn hay.
Phu Nhơn nghe nói rụng rời bèn làm cáo văn hối hả lên kiệu đi gấp tìm đến Bao Công.
Tới phủ, phu nhơn vô thẳng đường van nài Bao Công dung chế, châm chước cho hai con mình.
Bao Công xé nát cáo văn nghiêm sắc mặt nói:
- Phu nhơn đừng nhiều lời vô ích. Giết người thì phải đền mạng, lẽ ấy xưa nay vẫn thường phu nhơn nên về lo liệu ma chay cho hai người thì vừa.
Thái Quận phu nhơn oà khóc, chạy vào Hoàng cung thuật lại cho con gái là Tào Hậu.
Tào Hậu rớt lệ bảo mẹ:
- Con đã nhiều lần khuyên can cả hai em con nhất là Quốc Cựu chớ ỷ thế hiếp người rủi thấu tai Bao Công thì mang hoạ. Con cũng lại nói với mẹ nhiều lần mà mẹ chẳng chịu khuyên nhủ em con. Nay nông nỗi này, con e khó cứu quá. Xin mẹ chớ quá âu sầu, còn nước còn ta1t, mẹ để con gặp Hoàng thượng may ra có được chăng?
Nói đoạn Tào Hậu kiếm Vua Nhơn Tôn để xin che chở cho hai em.
Nghe xong lời khẩn nài của Tào Hậu, vua nhơn Tôn không nói gì. Tào hậu quá thương em, chẳng nghĩ nông sâu, liền lén trốn ra khỏi Hoàng Cung đến phủ Khai Phong.
Bao Công hay tin ra nghênh tiếp và mời vô phòng khách. Sau khi phân ngôi chủ khách. Bao Công tấn công liền:
- Tôi biết nương nương đến đây làm gì rồi. Hai Quốc Cựu phạm tội trọng đáng bị tử hình nay Nương nương lại cũng phạm tội lén bỏ cung mà đi. Sáng mai tôi sẽ tâu vua. Giờ xin Nương nương hãy trở về ngay.
Hoàng Hậu nghẹo ngào không nói lên lời, đành nuốt lệ lên kiệu trở về Hoàng thành.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:46 PM

Thái Quận phu nhơn hay tin biết là tình thế nguy ngập liền nhờ các quan đại thần tìm cách cứu giải.
Các quan đều lắc đầu:
- Việc này khó lắm. Xin phu nhơn đích thân tâu với đức Vua may ra mới xong.
Thái Quận phu nhơn gây sự với các quan:
- Thế quí ngài không phải là đại thần cả sao mà không can nổi Bao Công đặng cứu Quốc Cựu.
Thông cảm hoàn cảnh của người mẹ đang lồng lộn giành giựt con với lưỡi gươm của đao phủ, các quan đưa mắt nhìn nhau, không muốn cãi lại làm chi. Sau một vị mau miệng nói:
- Thưa phu nhơn việc này quá tầm sức chúng tôi, xin phu nhơn nhờ Vương thừa tướng ắt là phải xong.
Thái Quận phu nhơn lại chạy bổ đến dinh Thừa tướng. Họ Vương nghe xong lắc đầu đáp:
- Đến Hoàng Hậu xin mà đức Vua chẳng nghe thì tôi cũng khó nói quá.
- Xin Thừa tướng cứ nói dùm một phen, không lẽ đức Vua và các quan lại cùng sợ Bao Công sao?
- Xin phu nhơn chớ nóng nẩy. Đây không phải là ai sợ ai. Bao đại nhơn một lòng vì Vua vì triều đình mà gìn giữ phép Vua luật nước. Đến Vua làm sai ông ta còn thẳng lời can gián đến bằng được mới nghe. Rủi trong hàng các quan có ai làm bậy cũng đều bị Bao đại nhơn trừng trị, có khi còn nặng nề hơn thường dân nữa là khác. Tôi rất sẵn sàng tâu Vua để cứu giải cho hai Quốc Cựu. Xin phu nhơn cứ về, tôi xin đi ngay.
Thái Quận phu nhơn đi khỏi. Vương thừa tướng cũng ra kiệu đến Hoàng Cung. Tới xế chiều Vương Thừa tướng mới trở về phủ.
Vừa vào tới nhà, Thừa tướng thấy Thái Quận phu nhơn ngồi chờ. Ông lắc đầu nói:
- Hoàng thượng cho biết có coi hồ sơ do quan Thương Thư bộ Hình đệ trình. Tội trạng của hai Quốc Cựu quá rõ rệt,dù có thương hai người cách mấy, Hoàng thượng cũng không thể bắt buộc Bao Công xử theo ý Hoàng thượng được.
Thái Quận phu nhơn vừa khóc vừa hỏi:
- Vậy là hế hy vọng rồi còn chi.
Vương Thừa tướng ái ngại đáp:
- Theo tôi chỉ còn một cách là phu nhơn năn nỉ xin Hoàng Thượng ân xá cho hai Quốc Cựu. Phu nhơn nghe lời tôi mai sớm vô xin Hoàng thượng.
Thừa tướng đang nói tới đây xảy có quan Thái giám vô thăm. Thái Quận phu nhơn cáo từ ra về. Quan Thái giám bảo Thừa tướng:
- Thừa tướng khuyên phu nhơn như vậy là chí phải.
Thừa tướng lắc đầu đáp:
- Khuyên là khuyên vậy thôi chớ khó lắm. Chúng tôi đều biết tánh Hoàng Thượng và tánh Bao đại nhơn. Nếu cả hai Quốc Cựu đều khỏi chết thì nhà Tống ta mất một vị công thần.
- Thừa tướng nói sao tôi chưa hiểu.
- Tôi muốn nói là Hoàng Thượng phải cách chức Bao đại nhơn nếu như người muốn tha cả hai Quốc Cựu. Còn nếu người không cách chức Bao Công thì hai Quốc Cựu khó mà toàn mạng cả.
Sáng sau, Thái Quận phu nhơn đích thân vô trào khóc lóc xin vua nể tình ra lênh tha cho hai Quốc Cựu. Vua Nhơn Tôn còn lưỡng lự thì các quan đại thần đã xuất ban tâu Vua cho phéo họ đến can thiệp dùm Bao Công.
Vua Nhơn Tôn không biết nói sao, cựa chẳng đã phải hạ sắc chỉ khiến các quan đại thần đến khuyên giải Bao Công!
Bao Công hay tin liền tức tốc viết yết thị lớn sai quân dán trước Nha. Các quan đại thần lãnh sắc Vua, rùng rùng kéo nhau đến phủ Bao Công thì đụng phả cáo thị nói trên. Một vị chép nguyên văn lời rao rồi cả bọn lại rùng rùng kéo nhau trở về trào tâu Vua rằng:
- Muôn tâu bệ hạ, chúng hạ thần phụng thánh chỉ đến phủ Bao Công thấy cửa đóng chặt ngoài có bảng lớn ghi lời rao mà chúng thần có chép về đây để tâu Bệ Hạ.
Vua Nhơn Tôn nhìn tấm giấy thấy có ghi hàng chữ sau đây: “các quan nội trào, ai có nhà nấy, ai có việc nấy,chớ nên đặt chân tới đây lo việc người mà mang tội đồng loã với hai Quốc Cựu”.
Vua thở dài phán rằng:
- Bao khanh đã nhất quyết rồi. Tội trạng của hai Quốc Cựu đã quá rõ rệt. Ta nghĩ không nên can làm chi.
Các quan thây vậy nín khe không ai dám ho he gì nữa. Riêng Hoàng Hậu và Thái Quận phu nhơn vì tình cốt nhục nên cứ suốt ngày khóc lóc năn nỉ van xin Vua Nhơn Tôn. Cầm lòng chẳng đặng vua Nhơn Tôn truyền bầy xa giá đến phủ Khai Phong để can thiệp cho hai Quốc Cựu.
Bao Công đang ngồi nơi công đường làm việc thấy lính vào cấp báo có Vua ngự giá tới thăm bèn lật đật ra tận ngoài cổng phủ quì xuống tiếp giá.
Vua Nhơn Tông đỡ Bao Công dậy rồi cùng đi vô phủ.
Chờ cho vua an vị xong, Bao Công mới tâu rằng:
- Muôn tâu bệ hạ, bữa nay không nhằm bữa khuyến cáo thiên hạ mà cũng chẳng phải là ngày khuyến nông, sao bệ Hạ lại xuất giá khiến cho nh6n tâm phải xao xuyến. Cúi xin Bệ Hạ chỉ dạy cho kẻ hạ thần đặng rõ.
Nhà Vua cười đáp:
- Trẫm ra đây vì việc hai Quốc cựu. Khanh nên nghĩ lại mà tha cho hai hoàng thân.
Bao Công tâu:
- Nếu Bệ Hạ muốn tha xin Bệ Hạ cứ ban cho một đạo xá văn là đủ rồi, hà tất phải hạ mình đền thiểm phủ cho hao tổn mình rồng.
Vua Nhơn Tôn chậm rãi nói:
- Trẫm có coi hồ sơ hai Quốc Cựu. Tội hai người, nhất là Nhị Quốc Cựu thật là đáng chết, nhưng khanh nên nghĩ lại… cả hai đều là … Hoàng Thân.
Nói tới đây nhà Vua ngưng nhìn Bao Công như dò xét.
Bao Công tháo ngay thanh kiếm Vua ban cho ngày trước dâng lên và tâu rằng:
- Thần trộm nghĩ trị nước phải nghiêm minh. Phép Vua, luật nước phải được mọi người tôn trọng. Nếu luật lệ đặt ra chỉ dân phải theo còn quan quyền cùng người Hoàng Thân quốc thích được miễn và hành động theo dục vọng sở cùng thích cá nhân mình thì nước tất loạn. Nay tha hai Quốc Cựu tất nhiên nhân dân mất mãn và kẻ hạ thần cũng không thấy còn lý do gì giam giữ bọn thường dân phạm tội. Nếu Bệ Hạ nhất định tha cho hai Quốc Cựu thì hạ thần chỉ còn cách là xin từ chức. Vậy thần xin nạp lại Bệ Hạ thanh gươm này.
Vua Nhơn Tôn nhì thanh kiếm báu, một gia bảo của Hoàng triều do tiên đế để lại. Trên đốc kiếm có khắc bốn chữ “Tiền trảm hậu tấu”.
Nhà Vua suy nghĩ một lát rồi nói:
- Khanh hãy giữ lấy bảo kiếm này và hãy tiếp tục hoàn thành sứ mạng thiêng liêng, gìn giũ kỷ cương trong nước. Trẫm chỉ ước mong khanh tuỳ theo tội trạng mà định hình cho hợp lẽ. Trẫm rất khổ tâm về trường hợp hai quốc cựu. Nhưng thôi khanh hãy xét kỹ trước khi hành động.
Bao Công bái tạ tấu rằng:
- Kẻ hạ thần xin tuân lời Thánh thượng.
Vua Nhơn Tôn gật đầu đứng dậy truyền xa giá hồi cung. Bao Công tiễn Vua ra khỏi địa phận phủ Khai Phong mới trở lại Nha.
Về tới phủ, Bao Công vô thẳng công đường lấy hồ sơ hai Quốc Cựu ra xem kỹ lại rồi ông lấy bút phê trên hồ sơ Nhị Quốc Cựu hai chữ “Tử hình”. Nhưng không phê gì cả trên hồ sơ Tào Đại Quốc Cựu.
Sau đó ông lên bản án xử chém đầu Nhị Quốc Cựu rồi gọi viên thơ lại già vô mà bảo rằng:
- Nhà ngươi cho sao bản án này niêm yết khắp nơi cho dân chúng biết rồi cho quân đao phủ chuẩn bị sớm ngày mai đúng giờ Mão ra pháp trường làm việc.
Viên thơ lại liếc nhìn bản án rồi rụt rè hỏi:
- Thưa thượng quan… sớm mai hành quyết… Nhị Quốc Cựu.
- Phải, còn tào Đại Quốc Cựu thì để sau sẽ hay. Nhà ngươi hãy cụ bị như mọi khi. Nhớ hải tử tội về ý muốn cuối cùng của y . Cứ cho lính truyền trong dân gian là chém Nhị Quốc Cựu trước rồi Đai Quốc Cựu sau.
Viên thơ lại già lui ra. Tin sắp hành quyết Nhị Quốc Cựu truyền đi rất mau. Đến chiều hôm đó toàn thể dân chúng Đông kinh va vùng phụ cận đều hay biết. Hàng triệu người theo dõi vụ án này từ đầu, nô nức sửa soạn đi coi. Ai cũng thương hại Trương thị và không ngớt lời ca ngợi Bao Công.
Những tên đầu trộm đuôi cướp nghe nói cũng giật mình, lè lưỡi. Quả là quân pháp bất vị thân.
Dĩ nhiên là Thái Quận phu nhơn hay tin sét đánh ngang trời này sớm hơn ai hết. Bà ta lật lật đật chạy vô Hoàng Cung kêu khóc với vua Nhơn Tôn xin hạ xá thơ cứu Nhị Quốc Cựu.
Mới đầu nhà vua lặng thinh không nói gì, nhưng sau vì tào Hậu và Thái Quận phu nhơn van nài thảm thiết quá, vua mủi lòng truyền lấy giấy bút thảo xá văn rồi lại kêu sứ thần dặn sáng mai đem ra pháp trường tuyên đọc.
Hôm sau, lúc trời mới mờ sáng mà thiên hạ đã bu kín pháp trường.
Lúc trời sáng tỏ thì quân lính của Bao Công gươm giáo sáng loà áp tải tới pháp trường chiếc cũi lớn trong đó có Nhị Quốc Cựu bị trói ngồi chồm hổm.
Gần tới giờ mão, Bao Công mặc áo đại thần, thanh bảo kiếm đeo bên hông, cỡi ngựa bạch thong thả tiến về pháp trường.
Lát sau đoàn quân hộ tống quan sứ thần của vua Nhơn Tôn rầm rộ kéo đến với cờ hiệu của nhà vua. Bao Công lật đật quì xuống nghe xứ thần tuyên đọc xá văn truyền tha hết tội nhơn trong phủ với hai Quốc Cựu.
Bao Công nghe xong nói với xứ thần:
- Nhị Quốc Cựu tội ác tầy trời khó mà tha được. Xin quí qun tâu dùm lên Hoàng Thượng. Tôi thấy chém đầu Nhị Quốc Cựu là hợp ý trời, hợp lòng người. Còn Đại Quốc Cựu đến giờ Ngọ thì cũng phải khai đao.
Nói đoạn Bao Công hối đao phủ mau đem Nhị Quốc Cựu ra hành quyết. Tiếng loa truyền đi bốn phía. Ba hồi trống nổi lên như thôi thúc như giục giã. Mọi người nín thở, hồi hộp nhìn viên đao phủ múa thanh mã tấu sáng ngời, tiến đến bên tử tội.
Rứt ba hồi trống, viên đao phủ xuống tấn, hai tay nâng cao thanh mã tấu. Một tiếng trống nổi lên, viên đao phủ cắn môi lên gân tay. Liền theo đó tiếng chiêng rền rĩ hai tiếng “bi li”. Viên đao phủ xuống tay thật mau. Aùnh thép sáng loà trong tia nắng ban mai. Một tiếng “Phập” khô khan… Đầu Nhị Quốc Cựu đã lìa khỏi cổ. Máu phun ra có vòi tưới đỏ cả một vùng cỏ xanh. Viên đao phủ lấy tay chấm hút máu tử tội dính trên thanh đao rồi đưa nhanh lên miệng. Anh ta tin rằng làm vậy thì tử tội khỏi oán hờn.
Sứ thần thấy Nhị Quốc Cựu đã bay đầu, hãi quá liền dông lên ngựa phi thẳng về Hoàng Cung tâu với vua Nhơn Tôn.
Thái Quận phu nhơn cũng vừa vô tới, quỳ xuống khóc lóc thảm thương xin nhà vua cố cứu lấy Đại Quốc Cựu.
Vua Nhơn Tôn lúng túng chưa biết sử trí ra sao thì Vương Thừa tướng vội quỳ xuống tâu rằng:
- Bao Công đ4 thi hành đúng quyền hạn Thánh triều đã ban cho ôn ta. Xét ra thì tội của Đại Quốc Cựu nhẹ hơn Nhị Quốc Cựu nhiều, có thể ân xá được. Vả lại xem ý Bao Công cũng không muốn xử Đại Quốc Cựu bởi không thì ông ta đã cho hành quyết cùng một lượt rồi. Nay Bệ Hạ muốn cứu Đại Quốc Cựu xin hạ chiếu chỉ tha hết tội nhơn trong thiên hạ thì mới xong.
Vua nhơn Tôn khen là phải, và truyền chiếu tuyên bố đại xá cho tất cả phạm nhơn trong nước, bất luận là tội nặng hay nhẹ.
Một bổn được sứ thần cấp tốc đem đến cho Bao Công Tuân hành. Đồng thời bộ hình cũng cho lính hoả bài mang lệnh trên đi phổ biến khắp nơi.
Bao Công tiếp được chiếu chỉ liền sai tháo gông cùm cho Tào Đại Quốc Cựu và toàn thể tội nhơn, bất kể là kinh tội hay trọng tội, dù đã thành án hay chưa.
Có người mừng quá bưng mặt khóc rưng rức. Đa số thì không tin là thiệt nên thì thầm hỏi nhau. Một tội nhân bảo bạn:
- Tôi nghe các cụ kể rằng đại ân xá thế này thường được ban bố ân lễ đăn quang của tân Vương, hay nhân lúc thắng trận hoặc nữa nhân dịp Hoàng Hậu hiếm muộn sanh hạ Hoàng namv.v… Không hiểu kỳ đại xá này vì lý do gì?
- Tôi nghe mấy thầy lệ trong phủ kháo nhau rằng vì đức vau muốn cựu Tào Đại Quốc Cựu nên phải ân xá cho các tội phạm trong thiên hạ.
Tin được lan truyền mau :Dng. Các tù nhân vui vẻ chờ lệnh để được về nhà. Họ không ngớt lời ca tụng ân đức của Bao Công.
Thái Quận phu nhơn vừa về tới nhà một lát thì Tào Đại Quốc Cựu cũng tới. Hai mẹ con ôm nhau khóc ròng.
Qua cơn xúc cẩm. Đại Quốc CưÏu quỳ xuống lạy mẹ và thưa rằng:
- Con bất hiếu làm nhục đến tổ tông, lẽ racon đã thác rồi nay còn sống mà về đây thiệt cũng là đại phước. Aâu cũng là luật nhân quả, gieo gió thì gặp bão, lòng con nayhối hận vô cùng. Con xin nạp chức từ quan để vào núi tu hành. Xin mẹ rộng lòng tha thứ cho con.
Thái Quận phu nhơn khóc lóc thảm thiết can khuyên thế nào cũng chẳng được nên đành phải để cho con ra đi.
Đại Quốc Cựu xa lánh bụi trần, lên núi tầm thầy học đạo may gặp đặng dị nhơn hết lòng chỉ dẫn nên về sau đắc đạo và được liệt vào hàng bát tiên. (Trong sự tích bát Tiên Quá Hải, có một ông kêu là Tào Đại Quốc Cựu chính là ông này vậy).
Nói về Bao Công sau khi kết thúc vụ án nói tên liền cho đòi trương thị lên mà dạy rằng:
- Nhị Quốc Cựu gây nên tội đã phải đền mạng. Tuy nhiên, xét vì người quá bị thiệt thòi nên ta thay mặt triều đình trích xuất năm mươi lạng bạc để có vốn trở về quê cũ gây dựng lại cuộc đời và hương khói cho chồng con.
Đoạn Bao Công kêu thơ lại đếm bạc tro cho Trương thị. Vợ Văn Chánh bái tạ trở về làng cũ.
Ít tháng sau, thiên hạ đều rõ vụ án hai Quốc Cựu và khắp nơi đều ca tụng tài tra án cùng tinh thần trọng pháp của Bao Công. Trông gương Nhị Quốc Cựu là một Hoàng thân mà còn bị mất đầu,các tay “anh chị” đầu trộm đuôi cướp cũng sinh ngán và trong thời gian khá lâu các tội phạm giảm đi nhiều.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:46 PM

Hồi 25

ĐÔI HÀI CHÔN DƯỚI BÙN


Tại xứ Cận Giang, cách phủ Khai Phong bốn lăm dặm, có Vương Tam Lang là một tay giang hồ từng trải. Sau nhiều năm ngược xuôi buôn bán một nắng hai sương, họ Vương thâu thập được một số vốn khá lớn bèn tậu một miếng đất ở ven sông, cất một ngôi nhà ngói, rộng rãi khang trang. Để đề phòng những năm nước dâng lên bất tử. Vương Tam Lang cho đắt nền nhà thật cao, có bậc đi lên nhà. Ngoài ra, vốn là lãng tử, ưa cảnh vật thiên nhiên, ghét sự tù túng, họ Vương cho làm hành lang chạy xung quanh nhà để sớm chiều, những lúc nhàn rỗi, ra ngồi tựa bên lan can ngắm cảnh trời cao lồng lộng, sông dài uốn khúc…
Xét mình đã bốn mươi xuân xanh, cần lập gia đình để nối dõi tông đường, Tam Lang sau khi xây dựng xong nơi ăn chốn ở, liền để ý kén bạn trăm năm. Sau có người làm mai cho một thiếu nữ tuổi ngoài hai mươi, xinh đẹp, hiền từ, đoan trang, thuỳ mị, tên là Châu thị.
Tam Lang cả mừng, thu xếp làm lễ cưới ngay trong năm ấy. Hai vợ chồng rất mực thương yêu nhau. Tuy chồng giàu có. Châu thị cũng không vì thế mà trở nên lười biếng hay đài các rởm. Thị vẫn tự lo liệu hết mọi việc trong nhà, không mướn người làm hay tỳ nữ chi cả.
Tam Lang thương vợ, nhiều lần khuyên bảo nhưng nàng chẳng chịu. Do đó chàng càng quý vợ hơn nữa.
Được vài tháng, máu giang hồ lại dâng lên trong huyết quản Tam lang. Một hôm chồng bảo vợ:
- Nay ta có nhà cửa hẳn hoi và nàng đã hiền lại đảm, ta muốn nối lại việc ngược xuôi buôn bán, hầu có th6m vốn, mai hậu sanh con đẻ cái khỏi lo túng thiếu. Chẳng hay nàng nghĩ sao?
Châu thị buồn rầu nói:
- Xuất gía tòng phu, thiếp đâu dám cản trở chàng, nhất là trong việc gây dựng tương lai. Thiếp thiểm nghĩ nhà ta tiền bạc cũng dư xài hà tất chàng phải quá cực nhọc. Sự buôn bán quanh quẩn trong xứ cũng đủ để chàng thêm nhiều tiền bạc. Vả lại, chàng đi xa lâu ngày mới về, khi cần, thiếp biết trông cậy vào ai vì nay thiếp đã có tin mừng…
Đến đây Châu thị ngưng bặt, cúi đầu e lệ, hai má đỏ hây. Tam Lang âu yếm bảo vợ:
- Nàng không nói ta đâu có biết. Thôi ta nghe nàng, giới hạn phạm vi hoạt động trong tỉnh nhà thôi. Vậy nàng hãy sửa soạn hành trang tháng sau ta sẽ trở lại nghề cũ.
Từ bữa đó, Vợ chồng tam Lang càng quyến luyến với nhau hơn trước và đôi uyên ương ấy đã khiến bao người phải ước mơ. Kế nhà Tam Lang có tên Lý Tân trước làm nhà thơ sau lại bị cách chức vì thiếu tư cách phục vụ. Lý Tân tính tình độc ác, tham dâm, háo sắc, nay thấy Châu thị xinh đẹp, lại ở nơi hẻo lánh, nên y đêm ngày mơ tưởng, nuôi ý muốn thông dâm cùng vợ người.
Hắn lân la làm quen với Tam Lang. Mới đầu hắn đón đường Tam Lang chào hỏi ra chiều vồn vã lắm. Sau vài lần như vậy hắn mon men bò đến nhà bạn mới. Trước còn đôi ba ngày một lần, sau gần như cơm bữa. Hắn lại thường rình lúc tam Lang đi vắng lần sang, thả lời bóng gió, thử lòng Châu thị. Thấy cá chẳng cắn câu, Lý Tân bực mình lẩm bẩm chửi thề:
- Mình bảnh trai lại trẻ hơn thằng chồng nó mà nó chẳng xiêu lòng là tại sao? Một tay ta chinh phụ biết bao trái tim phụ nữ, há chụi bỏ món này ư? Không lẽ con người đẹp đẽ như thế mà lại chậm hiểu quá vậy. Một là nó ngu, hai là nó hổ thẹn. Dù thế nào ta cũng có cách.
Sự thực thì Châu thị không ngu đần mà cũng không có tính cả thẹn như Lý Tân lầm tưởng. Nàng là người đoan trang và lịch sự, có thế thôi. Nàng liệt Lý Tân vào hạng lẳng lơ ăn nói bờm xờm nhưng vô hại nên nàng cũng không chấp nhất, chỉ làm như không hiểu hay không nghe thấy lời Lý Tân. Bởi nghĩ thế nên nàng chỉ tỏ ra lạnh nhạt với bạn chồng tuy vẫn lễ phép va nàng cũng không thuật lại cho chồng biết thái độ bất chính của Lý tân. Nàng đã đánh giá quá thấp mối nguy cơ đang đe doạ nàng và tiếc thay thái độ của nàng bị Lý Tân ngộ nhận, cho là “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”. Tai hoạ bắt đầu đổ xuống đầu nàng từ đây.
Một chiều, Lý Tân sang chơi nhà Tam Lang vừa đúng lúc Châu thị đang giúp chồng sửa soạn hành lý và tiền bạc để đi buôn quanh trong xứ như đã định.
Lý Tân giật mình hỏi:
- Uûa, hai bác sắp dọn nhà đi chỗ khác sao?
Tam Lang thực thà, quá tin bạn xóm giềng, bèn kể rõ công việc làm ăn cho Lý tân nghe rồi trỏ vợ nói tiếp:
- Aáy tôi tính đi ngược xuôi buô bán nơi xa một thời gian nữa trước khi ly dị với nghề, về sống an nhàn, sung túc. Nhưng vợ tôi chẳng chịu vì nàng đã có tin mừng, nên tôi đành đi buôn quanh vài ngày lại về nhà một lần.
Lý Tân nghe nói tam Lang sắp vắng nhà lâu ngày, lòng mừng rên nhưng làm bộ nói:
- Chà, cực quá ta. Hay là bác để sau này bác gái mẹ tròn con vuông rồi bác hãy đi.
- Tôi nghĩ không cần, bác ạ. Tôi đi vài ngày lại về nhà ít bữa rồi lại đi, cứ thế, có đi biền biệt tháng này qua tháng khác đâu mà lo. Tuy vùng này hẻo lánh chớ cũng yên ổn vả lại xung quanh lại có những người tử tế như bác đây thì dù nhà tôi có ở nhà một mình cũng không ngại.
Lý Tân lên giọng nghĩa hiệp:
- Bác cứ yên tâm. Chúng tôi lúc nào cũng sẵn sàng giúp hai bác.
Nói xong hắn liếc trộm Châu thị, lòng như mở hội. Vợ Tam Lng mải lo xếp hành trang cho chồng nên không trông thấy. Nếu nàng bắt gặp cái nhìn bừng bừng lửa dục của Lý tân tất nàng đã bày tỏ nỗi lo ngại cho chồng nghe.
Sáng sau gà vừa gáy sáng Vương tam Lang đã trở dậy lên đường. Châu thị tiễn chân chồng ra cửa, nghẹo ngào nói:
- Chàng đi :Dng mà về. Thiếp thấy bồn chồn quá, sợ e có sự không hay.
Họ Vương cười khì âu yếm bảo vợ:
- Nàng chớ quá bịn rịn. Ta đổi ý rồi, bữa nay đi dò đường đất, tới khuya sẽ về. Lần sau mới đi thiệt nhưng cũng chỉ dăm ba ngày lại về.
Hai vợ chồng chia tay nhau. Châu thị trở vô nhà lên giường nằm ngủ lại nhưng không sao chợp mắt được. Đến khi trời sáng rõ mặt người, Châu thị trở dậy mở toang cửa ngõ thu dọn quét tước trong ngoài. Xong xuôi thị rửa mặt mũi, chải đầu tóc rồi sửa soạn đi chợ. Vừa xong xảy có tiếng Lý Tân léo nhéo nơi hiên trước nhà.
- Vương huynh đã đi chưa?
Châu thị vội ra đáp:
- Nhà tôi đi rồi, bác ạ.
Thấy Châu thị trắng trẻo đẹp đẽ, đôi mắt bồ câu đen nháy, môi đỏ như son, thân hình cân đối, Lý Tân cầm lòng chẳng đặng liền bước nhanh vô nhà quài tay khép cửa lại rồi vồ lấy tay Châu thị kéo mạnh lại gần, miệng lả lơi nói:
- Chị ngồi chung với tôi xuống ghế, tôi có chút việc muốn bàn với chị.
Châu thị mặt đỏ bừng, giựt vội tay lại rồi quắc mắt, điểm mặt Lý Tân mà mắng lớn rằng:
- đường đường là kẻ mày râu thông hiểu chữ nghĩa thánh hiền, sao quên điều phải quấy, giữa ban ngày dám vô nhà ghẹo vợ người? Đồ súc vật!
La xong, Châu thị bỏ đi tuốt vô nhà trong, đóng sầm cửa lại. Lý Tân ra về trong lòng vừa giận vừa sợ. Dọc đường hẳn lẩm bẩm:
- Mình lầm rồi. Mụ này đoan trang không phải phường mất nết. Phen này Tam Lang về sợ nó học lại, sanh oán cừu, chi bằng giết phức nó đi cho hả giận.Phải ra tay tức thì mới được.
Nghĩ vậy hắn vô bếp quơ con đao bén nhọn, giấu vào bọc rồi hấp tấp trở lại nhà Vương Tam Lang. Hắn nấp ngoài hàng rào vạch lá cây dòm vô. Thấy Châu thị yên lặng đứng tựa lan can nơi hành lang tay trái như suy nghĩ điều gì, Lý Tân rón rén bước vào nhà, rồi nhẹ nhàng tiến đến sau lưng Châu thị.
Khi tên phản bạn còn cách Châu thị chừng hai bước, bỗng Châu thị giật mình quay lại. Lý Tân cũng rút vội đao ra, vung trước mặt Châu thị, miệng nói:
- Chị thấy cái gì đây không? Phen này chị hết làm phách nữa nghe. Chịu không, nói mau.
Châu thị tái mặt nhưng trấn tĩnh được ngay. Thị nổi giận mắng tên bất lương:
- Gian tặc, mi còn vác mặt đền đây doạ nạt ta nữa sao? không thể áp đảo ta được đâu.
Lý Tân giận tím mặt, chĩa dao nhằm yết hầu của Châu thị mà phóng tới. Châu thị ngã gục xuống đất, chết không kịp la. Thực hiện xong xuống lột đôi giày thêu của nạn nhân rồi cả dao lẫn giầy chạy đường tắt sang sông, sau khi đã khép trái tất cả cửa ngoài lại.
Tới bờ sông, hắn ngó quanh một lát rồi núp vào bụi rậm gần gốc cây đa,đào hố chôn cả cây đao lẫn giầy xuống đất. Sau đó hắn lẩn ra lộ dông một mạch về nhà.
Châu thị nằm chết trên vũng máu từ sáng đến chiều mà không ai hay biềt gì cả, phần vì nền nhà cao, lại thêm cò hàng rào cây chạy phía trước nhà, phần vì cửa ngõ đếu khép kín, người qua lại không ai dòm thấy bên trong được.
Cứ đà này phải chờ đến lúc Vương Tam Lang về, thì vụ sát hại Châu thị mới bị phát giác. Như vậy sự suy tìm thủ phạm sẽ càng khó khăn và Lý Tân càng có đủ thì giờ sắp đặt, khiến không ai nghi ngờ gì cho hắn cả.
Tên này sau khi hại vợ bạn, về tới nhà, liến tắm rửa thay quần áo sạch sẽ rồi tới lui nhà mấy người có việc đáo công môn nói là để lo chạy việc dùm nhưng chính là để chứng tỏ cho sự vô tội của mình.
Thói thường những tên gian manh độc ác thường đa mưu túc trí, gây tội song lại chạy tội như không, trong khi có người lương thiện, thật thà vô tình đem đầu chịu tội thế cho chúng. Tới khi muốn làm sáng tỏ nỗi oan khiên của mình, cũng còn là khó. Sự đời, tình ngay mà ý gian là thế đó.
Anh chàng Châu Niên Lục mà chúng tôi sắp nói tới đây khi không, nhè ngay bữa Châu thị bị giết lại đến thăm vợ chồng Tam Lang nên rước hoạ vào thân.
Nguyên Châu Niên Lục là em họ Châu thị, Lục cũng là tay giang hồ như Tam Lang, ngược xuôi buôn bán, kiếm ăn trên các dòng sông. Tối hôm Châu thị bị hại sát, Lục đi thuyền ngang qua xứ Cận Giang liền ghé bờ, lên kiếm vợ chồng tam Lang mà từ ngày cưới tới nay, Lục chưa gặp lại.
Tới trước cửa nhà, Lục thấy tối om, liền cất tiếng gọi. Chờ một lát chẳng thấy trong nhà động tĩnh gì, Lục thầm nghĩ: chắc anh chị ấy ở phía sau nên không nghe thấy. Mình vô lại cho rồi.
Nghĩ sao làm vậy, Lục đấy cửa rào bước vào sân rồi lên nhà. Đêm nay gần cuối tháng, trời tối đen như mặt, tay giơ trước mặt cũng không thấy gì.
Sờ thấy cửa khép, Lục ngỡ cửa đóng nên chỉ ghé miệng réo tên anh chị qua khe ván. Vẫn chẳng thấy ai trả lời, Lục men vách nhà đi theo hành lang.
Chốc chốc Lục lại cất tiếng gọi. Anh đi sát ngay thây chị họ mà không biết, và đôi giày của anh ngập máu chưa khô của Châu thị mà anh cũng chẳng hay.
Châu Niên Lục trỏ ra cổng. Tự bảo:
- Vắng nhà cả hai thôi mình cứ xuống thuyền nghỉ, mai sớm trở lên.
Rồi thì, Lục thong thả đi vế phía bờ sông. Một vài nhà mở cửa, rọi đèn đuốc dòm ra đường, bàn tán lao xao. Thì ra tiếng chó rủa ran lại thêm tuếng gọi như: “hò đò” của Châu Niên Lục làm cho mọi người phải chú ý đến Lục khi anh ta bình thản tiến bước. Lý Tân nhìn theo, nở một nụ chười khó hiểu.
Về tới ghe, nhận thấy dày ướt. Lục liền tháo ra, hơ lên lửa cho khô nhưng không biết đó là máu.
Đến khuya, Vương tam Lang trở về, thấy nhà cửa im lìm, không thấy có một ánh đèn, chàng nghĩ là vợ đã đi nghỉ rồi nên cứ lặng lẽ đẩy cổng, lần theo thang lên nhà. Tới cửa nhà Tam Lang giơ tay đập cửa, cửa mở toang. Chàng giật mình cất tiếng gọi vợ. Không có tiếng trả lời. Chợt nhớ tới câu nói gở của vợ sáng nay, Tam Lang hốt hoảng chạy xuống bếp nổi lửa, đốt đèn bưng lên nhà để xem xét sự tình. Cửa các phòng mở toang. Không thấy Châu thị đâu cả. Tam Lang soi đèn ra tới hành lang thì đụng phải xác vợ nằm còng queo gần lan can. Máu từ cổ nạn nhân chảy ra đọng thành vũng lớn tới tận chân vách.
Tam Lang khóc rống lên rồi kêu cứu ầm ĩ. Lối xóm hay tin gọi nhau châm đèn, đốt đuốc kéo đến đầy nhà Vương Tam Lang để xem có chuyện gì.
Thấy cảnh, mỗi người mỗi ý, nhưng không ai hiểu Châu thị bị chết vì cớ gì và thủ phạm là hạng người nào? Mỗi người đưa ra mỗi giả thuyết và chẳng ai chịu ai cả.



vui_la_chinh 06-14-2005 02:47 PM

Lý Tân đứng coi thiên hạ võ đoán mà suýt bật cười. Để làm lạc hướng cuộc điều tra, hắn nghĩ ngay đến biện pháp “chụp mũ” sát nhân cho Châu Niên Lục. Hắn trỏ vềt giày đẫm máu từ phía xác Châu thị ra cửa rồi thì thào bảo người đứng bên:
- Bác có thấy vết giầy kia không? vết giàu đẫm máu của sát nhân đó. Bác có nhờ hồi chập tối có một kẻ lạ mặt đến nhà này không?
- Có, có.
- Chắc là thủ phạm là nó đó chứ ai.
- Trông lối ăn mặc có vẻ là một tay giang hồ, lại đi về phía sông chắc có ghe ở đó.
- Nhỡ nó đi mất rồi thì sao?
- Thì mình cứ khai ra, quan sẽ tìm sau. Nếu đi bắt ngay, may ra còn kịp.
- Bác nói đi.
Lý Tân lắc đầu đáp:
- Thôi xin nhường bác, bác hơn tuổi tôi.
Người đứng bên Lý Tân liền bô bô phát biểu ý kiến mà Lý Tân vừa “thổi” cho. Mọi người nhao lên tán thành.
Thế là họ cùng nhau mang đuốc đi theo tam Lang ra bờ sông.
Tới nơi, mọi người nhìn quanh. Chỉ có một con thuyền neo gần bờ, nằm yên trên mặt nước. Lý Tân bảo Tam Lang:
- Chắc là thằng này đây. Để tôi hô nó còn bác với anh em khác cứ kéo dây lôi thuyền vào bờ rồi túm cổ nó.
Châu Niên Lục bò ra mạn thuyền hỏi to:
- Ai hỏi chi đó? Cớ gì lại kéo thuyền tôi.
Vương Tam Lang giật mình khi nhận ra Lục, nên cất tiếng hỏi mau:
- Chú Lục về đây hồi nào vậy, sao không thấy lên chơi?
- Em có lên hồi tối mà không được gặp anh chị.
- Vậy hả. Ngoài thuyền chú còn ai nữa không?
- Không, anh ạ.
Đáng đông đứng trên cũng reo “đúng là thằng này rồi”.
Châu Niên Lục ngạc nhiên hỏi:
- Chi vậy, anh Tam Lang?
Tam Lang không thèm đáp. Thuyến chưa sát bờ, Lang đã nhún chân nhẩy phắt xuống mũi thuyền. Quá đau khổ về cái chết của vợ, Tam Lang vít đầu Châu Niên Lục xuống đấm đá liên hồi miệng không ngớt la:
- Không thù oán sao giết vợ ta ! Sao giết vợ ta!
Châu Niên Lục thất kinh vừa đỡ đòn vừa nói:
- Anh lầm rồi. Em đâu có giết ai bao giờ?
Tam Lang hét lên:
- À mày còn chối à. Để rồi xem mày còn chối được nữa không?
Thế là Lục bị trói gô lại và điệu lên bờ. Một trận đòn hội chợ diễn ra, khiến Lục đứng không vững nữ. May có kẻđế nghị:
- Bác Lang và bà con hãy ngưng tay, đánh vậy dủ rồi. Kẻo quá tay xẩy ra án mạng thì lôi thôi. Xin đem nó về nhà bác tam Lang cho nhìn lại tội ác nó đã làm rồi sau dẫn giải lên Bao đại nhơn trừng trị.
Mọingườiø đều khen là phải.
Được tin có vụ án mạng trong hạt địa mình, Bao Công tức tốc phái nhân viên tới xứ Cận Giang lập biên bản và mở cuộc điều tra cấp tốc ngay đêm đó. Bao Công cho lệnh họ khám kỹ thuyền của Châu Niên Lục. Các thám tử không tìm thấy khí giới chi nhưng có lượm đôi giày đẫm máu của Châu Lục. Mọi chi tiết cùng lời khai của chồng nạn nhân , của bị cáo và nhân chứng đều được ghi đầy đủ. Có một điều không ai để ý là Lý Tân chỉ thúc đẩy người khác làm nhân chứng trong khi chính y thì lẩn trốn.
Tới sáng Bao Công đăng đường cho đòi các người lối xóm đến để hỏi trước tiên.Đối với ai, Bao Công cũng dó hỏi về nếp sống và tư cách của vợ chồng Tam Lang. Còn về câu hỏi “Có nghi ai là thủ phạm” họ đều khai quyết cho Châu Niên Lục. Rồi họ xác nhận những điều tai nghe mắt thấy tối qua. Sau đó Bao Công gọi hai thám tử vô dạy rằng:
- Hai người đi đến ngay các nơi mà Tam Lang khai tới bữa qua, kiểm sáot lại xem có đúng thật không và nhất là phải vặn hỏi các nhân chứng do tam Lang nại ra.
Hai thám tử tuân lệnh lui ra lấy ngựa đi liền, Bao Công cho đòi Tam Lang vô và hỏi rằng:
- Tên Lục là bà con với nạn nhân. Nay ngươi quả quyết gán cho hắn tội giết người, vậy chớ có lý do vững chắc không?
- Thưa thượng quan, hắn đến nhà tôi tối qua nhiều người nom thấy và chính hắn cũng nhận như vậy. Rồi tới đêm tôi về, thì khám phá ra vụ án mạng.
- Ngoài lý do ấy, có còn lý do nào khác không? Chẳng hạn như Châu thị và tên Lục có điều chi xích mích từ trước đến nay không?
- Dạ không. Hai người quí mến nhau lắm.
- Gia Cảnh tên Lục ra sao? Có vợ chưa? Có khá giả không?
- Dạ hắn chưa có vợ, làm nghề buôn bán ngược xuôi trên các dòng sông để kiếm ăn. Gia cư cũng vào bậc trung.
- Trong biên bản có ghi nạn nhâ quần áo chỉnh tề, và không có gì là bị hãm hiếp trước khi bị giết. Tuy nhiên thì y thị bị chết quá nhanh nên trên ắc mặt hình như còn có vẻ giận dữ điều chi. Ngươi có nhận thấy không?
- Thưa đúng vậy và còn thiếu đôi hài của vợ tôi thường mang khi ở trong nhà.
- Ừ phải, nhưng đôi chân nạn nhân không lấm đất cát chi. Điều đó chứng tỏ tên sát nhân lột giày y thị sau khi hạ sát. Ngươi nói đôi hài bị mất là dùng trong nhà sao?
- Thưa phải. Hồi cưới, tôi có mua cho vợ tôi hai đôi hài bằng vải, một đôi xanh, một đôi đỏ.
- Như vậy là lúc phải ra đường y thị mang giầy khác?
- Thưa phải và các đôi giầy đó cũng còn ở nhà.
- Có mất mát chi không?
- Thưa không. Tiền bạc tôi cất giấu kỹ còn vật dụng đồ đạc vẫn còn y nguyên. Tôi đã soát rồi.
Bao công trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi hỏi tiếp:
- Lúc về tới nhà rồi có xuống bếp đánh lửa châm đèn, phải không?
- Thưa phải.
- Có nhận thấy thức ăn gì trong bếp không?
- Dạ tôi không để ý.
- Thôi được, ngươi tạm xuống nhà sau chờ ta điều tra thêm rồi sẽ định liệu.
Nói đoạn Bao Công sai lính đưa Tam Lang xuống hậu dinh và áp giải Châu Niên Lục vô công đường rồi quát hỏi rằng:
- Vì cớ gì ngươi giết Châu thị? Lục oà lê khóc thưa rằng:
- Oan cho tôi. Xin thượng quan minh xét, khi nào tôi lại giết chị họ tôi? Tối qua nhân đi ngang vùng này, tôi lên bờ thăm anh chị tôi, chẳng dè sui sẻo gặp vụ án mạng mà tôi không hay biết vì tối trời .
- Tam Lang tánh hạnh ra sao? Vợ chồng hắn ăn ở thế nào?
- Là kẻ giang hồ lâu năm, chúng tôi mới quen biết nhau.
Chính tôi mai mối cho Tam Lang chị họ tôi. Cả hai đều trung thực, kính trọng nhau như khách thực là đáng quí.
- Người có nghĩ tam Lang có thể giết vợ không?
- Thưa không. Chị tôi là người đoan trang, Tam lang lại là người thương vọ hết mực. Tôi nghĩ không thể nào có thảm cảnh ấy được.
- Tại sao đến nhà thấy tối om lại còn cố vào làm chi?
- Dạ lâu ngày không gặp lai chị tôi. Tôi thương chị tôi như ruột thịt nên muốn ghé thăm coi chị tôi có hạnh phúc không. Vì nghĩ anh chị tôi ở cả dưới bếp nên tôi lần vô nhà kêu. Thực tình tôi không hay biết gì về vụ án mạng cả.
- Có biết là giầy ngươi đẫm máu không?
- Thưa thật tình không biết. Vì lẽ giầy bằng vải màu ngỡ rằng dẫm phải nước nên về ghe có đem hơ trên lò than cho khô.
Tới khuya thì bị trói và bị gán cho tội giết Châu thị. Sáng nay tôi mới được cho coi lại đôi giày mới biết có máu đóng khô cứng. Xin thượng quan mainh xét cho. Nếu quả thực tôi giết chị tôi thì đã tìm cách trốn đi và cũg không dại gì mà kêu gọi anh chị tôi tại nhà để cho mọi người biết là có tôi đến đó.
Bao Công lim dim đôi mắt, ngồi yên lặng một lát rồi bảo hai lính công sai:
- Đem tên này tạm giam vào ngục thất cho ta đã. Còn Tam lang cũng giữ lại nơi hậu dinh. Riêng các nhân chứng thì ai vềnhà nấy.
Châu Niên Lục khóc ròng theo lính xuống nhà giam. Bao Công đứng dậy, chắp tay sau lưng đi đi lại lại trong công đường, có vẻ suy nghĩ dữ lắm.
Lát sau, Bao Công gọi một cong sai lại vô hỏi rằng:
- Hai thám tử hồi nãy đi về tới chưa.
- Thưa chưa.
- Hễ họ về tới, bảo họ tới gặp ta gấp nghe. Bây giờ ngươi hãy tìm cho t hai thám tử. Viên thơ lại “dạ” rồi lui ra, hai thám tử khác vô. Bao công bảo hai thuộc hạ trình bày.
- Các ngươi cấp tốc đi xà tiền xóm Tam lang ngụ mở cuộc điều tra bổ túc về các điểm sau đây.
Rồi Bao Công hạ giọng dặn nhỏ hai thám tử một hồi. Mấy phút sau, hai thám tử phóng ngựa, nhằm xứ Cận giang mà tiến phát.
Tới trưa bốn thám tử lần lượt về trình kết quả cuộc điều tra.
Hai thám tử đi hồi sáng sớm xác nhận Vương Tam lang có ghé qua các địa điểm mà y đã khai. Như vậy, giả thuyết Tam lang giết vợ phải bị gạt bỏ. Bao Công chú trọng đặc biệt đến lời trình của hai thám tử đi chuyến sau. Một người thưa:
- Tuân lệnh thượng quan, tôi có đến nhà tam lang quan sát trong và ngoài căn bếp. Giỏ đi chợ còn treo trên vách, trống rỗng. Trong nhà không có đồ ăn hay rau cỏ chi cả. Nơi bếp núc được quét dọn sạch sẽ, không có vết than củi mới đốt nào.
Bao công hỏi:
- Thế còn nơi hố rác?
- Thưa đại nhơn, tại nơi hốc rác, tôi có thấy mộ mớ lông gà, một ít cuống rau đã khô héo.
- Còn gì khác lạ nữa không?
- Dạ,ï hết.
Bao Công day qua hỏi viên thám tử khác:
- Còn nhà ngươi, thâu lượm được gì không?
- Thưa thượng quan, theo lời dặn của ngài, tôi có dọ hỏi các nhà dọc theo đường tới chợ cùng những người bán hàng tại chợ thì được biết Châu thị thường ngày vẫn đi chợ vào quãng tám giờ sáng. Sáng qua, tuyệtnhiên không ai gặp y thị ra chợ mua bán như mọi lần.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:47 PM

Nghe xong Bao Công ra hiệu cho hai thám tử ra rồi cho dẫn Tam Lang lên hầu. Ông hỏi chồng nạn nhân:
- Sáng qua có ăn gì ở nhà trước khi ra đi không?
- Dạ, không.
Tối trước ăn cơm với gì?
- Dạ,với thịt gà hầm với rau xào.
- Châu thị có hay mua trữ đồ ăn đôi ba ngày không?
- Dạ, không vì nhà gần chợ, thường nhật thị vẫn đi mua thức ăn,vì tính tôi giang hồ đã lâu phải ăn đồ khô đồ nguội nên nay muốn cho tôi được dùng thức ăn tươi luôn luôn.
Bao Công gật đầu:
- Người đàn bà ấy thật là ý tứ. Ngươi có nghi ai giết Châu thị không? Có nghe vợ than phiền hay tỏ ý không bằng lòng vế người nào không?
- Dạ, không. Lối xóm đều là người lương thiện cả.
- Có ai biết làngươi trở lại nghề lái buôn không?
- Dạ có. Hầu hết bạn bè đều hay biết.
- Thôi được, cho ngươi về nhà. Nhưng đừng đi đâu cả, phòng khi ta cần hỏi đến.
Vương Tam Lang vái chào lui ra. Bao Công ngồi vào án thư viết một hồi rồi đứng dậy cau mày, nói một mình:
- Chắc là Châu thị bị giết sau khi chồng thị ra đi và treức giờ thị đichợ. Không phải là Châu Niên Lục rồi. Vậy thì ai là thủ phạm? Của cải không mất mát chút gì, chắc là án mạng vì tư thù hay vì tình chi đó. Vì cớ gì hung thủ lột giầy nạn nhân? Hừ khó hiểu thiệt.
Suốt chiều đó Bao Công nghĩ mãi không tìm ra câu giải đáp thích ứng… Cuối cùng ông lại thở dài tự bảo “Lại phải bầy kế mới xong”.
Sáng sau ông kêu thơ lại vô dạy rằng:
- Ngươi viết yết thị dán khắp trong vùng Tam Lang cư ngụ, đại ý nói Niên Lục can tội giết Châu thị,bằng chứng rành rành sẽ bị tử hình. Hung thủ khai có lột giầy nạn nhân nhưng không biết để thất lạc nơi nào. Vậy ai bắt được đem nạp, sẽ được lãnh được năm mươi quan tiền thưởng.
Viên thơ lại tuân lệnh huy động tất cả thuộc hạ xúm lại viết một hồi được mấy chục tờ cáo thị rồi cho lính đi niêm yết khắp nơi.
Sau mấy ngày yết thị, không có ai trình báo gì cả. Bao Công vẫn cho thuộc hạ tiếp tục dò la.
Ông dặn các thám tử:
- Dù có thấy đôi giầy thì cũng để ý rình chung quanh, chớ đem về. Ta muốn thủ phạm lầm lẫn mà sa lưới. Thế nào nó cũng mắc bẫy ta.
Lại nói về Lý Tân khi thấy yết thị của Bao Công thì mừng rơn, tự khen mình là tài giỏi và có ý chê thiên hạ quá tâng bốc Bao Công:
- Thế mà cứ khen lão ta có tài xét đoán như thần. Mẹo của lão lại tầm thường hết sức. Có đời nào ta lại dại dột đem nạp đôi giày để lãnh… án mất đầu?
Thế rồi hắn tiếp tục công việc thường ngày và vụ án Châu thị cũng ít được thiên hạ nhắc đến nữa, và ai cũng cho rằng khó mà tra ra thủ phạm.
Nhưng còn có ông trời…
Số là gần xóm Lý tân cư ngụ, có một làng khá lớn. Đầu làng có cái quán rượu nhỏ do một người đàn bà xinh đẹp làm chủ. Chồng mụ ta bận đi làm mướn nên vắng nhà suốt ngày.
Lý Tân thường hay bò đến quán này uống rượu. Gặp Lý Tân khéo ve vãn, mụ đàn bà ngả lòng và hai người trở nên đôi nhân tình thắm thiết mà ít người hay biết.
Từ bữa sau hạ sát Châu thị, Lý tân không ra khỏi xóm mấy khi, ý chừng để nghe ngóng động tĩnh ra sao. Đến nay thấy êm êm, hắn liền trở lại quán rượu của nhân tình, để thoả lòng mong nhớ.
Hứng trí, Lý Tân uống hết chén này qua chén khác, chẳng mấy chốc hắn đã say đừ. Trong phút ma men ámảnh, hắn lắc lư cái đầu, tay nâng ly rượu, hề hề bảo tình nhân:
- Để tạ ân tình của nàng, bữa nay ta có mối lợi to muốn dành cho nàng, chẳng hay nàng thuận hay không?
Mụ chủ quán lả lơi đáp:
- Thôi đi chàng. Nghèo kiết xác lắm lúc một xu dính túi chẳng có lại còn mỹ tự. Thôi xin chàng hãy giữ mối lợi to đó mà xài, chớ khéo gạt ta.
Lý Tân vỗ tay lên bàn, lè nhè nói:
- Nói thiệt mà, nói thiệt mà. Ta mách cho một vụ này lãnh tiền thưởng to, tha hồ mà xài. Nhưng ta đến chơi thì đừng có làm lơ, nghe.
Nghe nói tiền thưởng mụ chủ quán mắt sáng ngời, vồn vã hỏi:
- Chàng nói thiệt sao? Tiền thưởng nào? về vụ gì?
Lý Tân ực một hơi cạn chén rượu rồi khập khuyễn đáp:
- Bộ tưởng ta rỡn chơi sao? Nàng biết vụ Châu thị, vợ Vương Tam Lang, bị chém đứt cổ chết bữa nọ chớ?
- Có, có chớ. Nhưng ăn nhằm gì đến chúng ta.
- Aên thua đủ chớ. Tam Lang đi báo với Bao công là Châu Niên Lục giết chị họ. Lục bị giam và sẽ bị tử hình. Bao Công treo giải thưởng cho ai tìm thấy đôi hài thêu của nạn nhân mà kẻ sát nhân đã lột mất. Yết thị mãi chưa có ai…
Mụ chủ quán sốt ruột cắt lời Lý Tân:
- Tưởng gì, chớ điều đó ai mà không biết. Thôi đừng rỡn nữa đi, cha nội. Say quá rồi đó.
Lý Tân gục gặc cái đầu rồi khoát tay nói lớn:
- Nhưng chưa ai kiếm ra đôi hài đó để lãnh thưởng!
Mụ chủ quán sốt sắng hỏi:
- Vậy chàng biết ư? Vì sao biết?
- Biết chớ. Sau bữa Châu thị bị giết ta đi xuống mé sông thấy gần gốc cây đã có vết đất mới đào. Ta nghi có ai chôn vật gì nên móc lên coi thì thấy đôi hài thêu của đàn bà mà Niên Lục đã vùi. Ta lại lấp y như cũ. Hai bữa rày thấy có yết thị của bao công, ta tính trở lại đó đào lên đem về nạp lãnh thưởng nhưng bữa nay gặp nàng ta tặng lại nàng gọi là để đền ơn tri ngộ.
- Tiền thưởng bao nhiêu hở chàng?
- Không mấy. Bao đại nhơn hứa cho năm mươi quan tiền thưởng.
- Trời, năm mươi quan tiền mà chàng cho là không mấy!
Thế chàng nhường cho thiếpđó ư?
- Thiệt chớ ai nói đùa.
Mụ chủ quán sà ngay vào lòng Lý tân vuốt ve mơn trớn người tình rồi nũng nịu nói:
- Chàng thiệt là mã thượng, trọng nghĩa kinh tài, chẳng bù với thằng chồng thiếp mới thấp hèn làm sao.
Thiếp biết lấy gì trả ơn chàng đây?
Lý Tân lè nhè đáp:
- Lãnh bạc nhớ đãi một bữa nhậu là đủ rồi.
Nói rồi hắn lảo đảo đứng dậy ra về. Tới cửa hắn còn ngoái cổ lại mụ chủ quán:
- Nhớ địa điểm chưa? Gốc cây đa bên bờ sông, gần con đường mòn đi về phía nhà tam lang đó. Nhớ chưa?
- Dạ, thiếp nhớ rồi. Xin đa tạ tình quân.
Lý tân chân nam đá chân xiêu đi về nhà. Mụ chủ quán trông theo, nử tin nửa ngờ.
Đến xế chiều, chồn mụ đi làm về vừa bước chân vô nhà, mụ vội thuật lại câu chuyện rồi hối thúc đi kiếm đôi hài. Chồn chưa kịp trở ra mụ đã la rần lên:
- đi đi cha nội. Cứ lừng khừng thế này thì đứa khác nó lấy mất lại trơ mắt ếch ra. Chồng với con chán chết, chẳng thấm gót chân người ta. Mà nhớ làm cho khéo đừng để ai nom thấy đó. Kiếm được rồi thì thủ vào bọc cho kín mà đem về cho tôi coi đã. Thôi đi đi, hễ để lỡ việc đừng có trách tôi.
Anh chồng hiền lành hấp tấp lần theo con lộ đi ra phía sông. Hồi lâu anh ta trở về giơ đôi hài thêu có dính bùn lem nhem và cây đoản đao cho vợ coi.
Mụ chủ quán ngắm đôi hài miệng nói tía lia:
- Bảo ông lấy đôi hài thôi, ai bảo ông tha cái của nợ kia về làm gì. Mà sao không biết lấy rơm gột bớt bùn đi, ai đời đề dơ vậy mà đi trình quan .
Ah chồng chống chế:
- Đôi hài để lãnh thưởng còn cái đoản đao này bén lắm dùng vào việc gì cũng tiện.
Mụ chủ quán rùng mình,gắt chồng:
- Thôi đi ông, thứ đó đã uống máu người, ác vào nhà oan hồn nó theo về. Thôiông đi chôn nó ngoài vườn cho rồi. Lẹ lên, còn chùi hài đi lãnh thưởng chớ. Mà quan có hỏi chớ có khai tìm thấy cây đao nhé.
Lát sau, chồng mụ chủ quán đa tình ôm gói vải trong có đôi hài thêu lên phủ Bao Công xin yết kiến.
Lính hầu vào bẩm. Bao Công cho đòi vào gấp.
Sai khi xem qua đôi hài, Bao Công hỏi chồng mụ chủ quán:
- Ngươi kiếm đặng đôi hài này ở đâu?
- Dạ, ở gần gốc cây đa bên bờ sông.
- Làm sao biết chỗ mà tìm?
- Dạ, vợ tôi chỉ chỗ.
- Làm sao biết đôi hài thêu này là của Châu thị.
- Dạ, vợ tôi bảo vậy.
- Ai bảo đem đây lãnh thưởng.
- Dạ… cũng vợ tôi.
Bao Công suýt bật cười vì giọng nói quá thành thật đến độquá ngây ngô của chồng mụ chủ quán. Bao Công gương đôi mắt sáng như sao nhìn gã từ đầu đến chân rồi không hiều sao ông nghĩ sao lại mỉm cưới bảo đương sự:
- Tốt lắm, tiền thưởng về phần mi rồi. Phen này gã Châu Niên Lục phải rơi đầu. Ngươi ra ngoài chờ một lát rồi thơ lại sẽ trao năm mươi quan tiền thưởng cho.
Chồng mụ chủ quán vái chào theo lính lui ra ngoài sân đứng chờ. BaoCông lập tức cho lính hoả bài đi đòi Vương Tam Lang đến hầu. Rồi ông lại kêu hai thám tử Trương Long và Triệu Hổ lên và bảo rằng:
- Gã đàn ông đứng ngoài sân kia vừa đem nạp đôi hài thêu lãnh thưởng. Hai người lẻn ra ngoài phủ trước để theo dõi nó cho ta. Nhớ phải kín đáo, đừng để cho ai thấy. Ta xem ra nó ngớ ngẩn lắm nhưng mụ vợ thì có vẻbiết ít nhiều về kẻ sát nhân. Cứ theo dõi vợ chồng thì tìm ra tên sát nhân. Vậy hễ các ngươi thấy vợ nó đi gặp ai hay ăn uống với ai thì cứ lượm trọn ổ đem về ngay cho ta.
Hai thám tử đi khỏi một lát thì tam Lang vào trình diện và nhìn nậhn đôi hài đúng là cửa vợ hắn. Bao Công truyền thơ lại mở cho đếm đủ năm mươi quan tiền trao cho chồng mụ chủ quán.
Anh này hí hửng vác tiền về cho vợ nhưng không biết rằng phía sau có hai thám tử của Bao Công đeo sát nách.
Mụ chủ quán mừng rỡ vô cùng, kiểm lại bạc xếp vào rương khoá lại rồi vui vẻ bảo chồng:
- Trời còn sáng, mình khá qua ngay nhà Lý đại lang mời người qua dự tiệc và lãnh một phần tiền thưởng.
Thấy chồng trố mắt nhìn như không hiểu, mụ chủ quán bực mình nói:
- Mình đội ơn Lý quân nhiều nay được tiền thưởng thì phải trả ơn người chớ.
Chồng mụ chủ quán lại tất tả đến nhà Lý tân. Hai thám tử rình ở ngoài thì thào với nhau một hồi rồi thám tử trương Long đi theo hút người chống trong khi thám tử triệu Hổ canh chừng mụ vợ.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:48 PM

Lúc này mặt trời đã xuống tới ngọn tre. Đến khi buông xuống và nhà đã lên đèn thì mụ chủ quán cũng đã bầy xong tiệc rượu nơi phòng trong. Được một lát, người chồng và Lý tân theo nhau bước vào nhà. Mụ chủ quán chạy ra đón Lý tân, miệng cười chúm chím, mắt liếc đưa tình, cẻ trùi mến thiết tha hiện lên nét mặt. Lý tân cũng đưa mắt tống tình.
Thế rồi bộ ba ngồi vào tiệc rượu. Bên ngoài hai thám tử bò lần vào tới trong sân, lấy đao khoét vách dòm vô.
Mụ chủ quán rót rượu mời chồng bé trước rồi chồng lớn sau. Qua hai tuần rượu, mụ ta đôi má hây hây, miệng tươi như hoa, tay nâng ly rượu lên ngang mày rồi âu yếm hướng về Lý tân mà nói rằng:
- Thiếp đội ơn đại lang nhiều. Nay được món tiền, tiện thiếp mời đại lang qua để chia nhau chung hưởng. Xin đại lang chớ chối từ kẻo phụ lòng tiện thiếp.
Lý Tân khoát tay đáp:
- Chia chác làm chi cho mất công. Hôi nàng cứ giữ cả mà làm vốn. Nếu có lòng tốt thỉnh thoảng cho ta nhậu là quí lắm rồi.
Mụ chủ quán cười xoà. Hai gã đàn ông cũng cười theo rồi cùng nhau cạn chén.
Đoạn chúng bàn đến chuyện khuyết trương làm ăn buôn bán với số tiền thưởng. Bốn mắt chủ quán và Lý Tân giao nhau như đổ lửa, chân chúng quấn quýt nhau như đôi rắn dưới gầm bàn, miệng cười rúc rích, trong khi gã chồng lớn xem chừng tỉu lượng kém, cố gương đôi mắt lờ đờ, và ngớ ngẩn thỉnh thoảng lại cười ruồi cho đỡ tẻ lạnh.
Thám tử trương Long thì thoà bảo bạn đồng nghiệp Triệu Hổ:
- Nè anh, dòm bộ chúng hết bàn đến chuyện đôi hài của Châu thị rồi…
Triệu Hổ gật đầu nói nhỏ:
- Đúng… và tấn tuồng hai ông một bà sắp qua giai đoạn :Dt. Tụi mình ập vô lượm cả ba đứa đem nạp Bao đại nhơn cho rồi. Anh khoẻ hơn tôi vậy nhường anh thằng cha mà mụ chủ quán kêu là Lý đại lang còn hai đức kia thì không đáng ngại, mình tôi là đủ.
- Đồng ý. Võ khí là và dây đã sẵn chưa?… Rồi hả…Nào nhào vô cho rồi.
Hai thám tử men theo vách đi vòng ra phía trước rồi cùng đạp cửa ào vô nhà. Trương Long nhẩy đến sau lưng Lý tân và quát lớn:
- Tuân lệnh Bao đại nhơn ta đến bắt tụi bây. Khôn hồn thì để yên cho ta làm phận sự, chớ có kháng cự mà uổng mạng.
Cả ba như kẻ sét đánh, ngồi chết trân trên ghế và bị hai thám tử trói gô lại một cách dễ dàng.
Sau khi hỏi lý lịch ba người, Triệu Hổ hất hàm hỏi mụ chủ quán:
- Năm chục tiền thưởng cất ở đâu?
- Thưa… ở trong rương, kê nơi phòng ngủ.
Triệu Hổ xếp tiền vào cái túi vải rồi đặt lên bàn, miệng bảo Trương Long:
- Anh trông ba đứa và gói bạc, tôi chạy đi cho viên chức sở tại hay.
Lát sau, viên Lý trưởng đi cùng Triệu Hổ và bốn tuần đinh đến.
Sau khi trao hà cho Lý trưởng làm mọi thủ tục niêm phong, hai thám tử áp giải vợ chồng chủ quán và Lý Tân về phủ.
Tới nơi, hai thám tử vào trình chủ tướng, thuật lại các điều tai nghe mắt thấy.
Nghe xong, Bao Công hỏi thuộc hạ:
- Có nghe chúng nói chôn đôi hài trong trường hợp nào không?
- Dạ không.
- Có nghe mụ đàn bà khai ai đã chỉ chỗ không???
- Dạkhông.
- Nó cũng không nói lý do tại sao mời Lý tân sang ăn uống và chia tiền bạc?
- Dạ chỉ có nói đã chịu ơn tên kia nhiều. Không biết ơn gì?
- Thôi được, các ngươi báo cho thơ lại biết ta đăng đường ngay đêm nay để tra hỏi ba đứa này. Nhớ bảo công sai sắp sẵn dụng cụ tra khảo nghe. Aø các ngươi có hỏi thăm lý trưởng sở tại về hạnh kiểm của bọn chúng ra sao không?
- Dạ có, mụ chủ quán lanh lợi nhưng có thói trăng hoa còn chồng y thị là người hiền lành, chất phác, chuyên sống về nghề làm mướn và thường hay bị vợ lấn át. Trong lúc rình rập chúng tôi cũng được dịp chứng kiến…
Bao Công ngắt lời:
- Còn Lý Tân?
- Theo lời viên lý trưởng thì tuy Lý tân khác làng nhưng ông ta biết rõ hắnlà cựu thơ lại bị sa thải vì thiếu tư cách, lại là đức tham dâm, háo sắc. Hắn ờ gần nhà tam lang.
Bao Công gật đầu nói:
- Vậy tạm đủ rồi, nhưng chưa có bằng chứng để kết tội Lý tân là thủ phạm.
Thôi hai người khá đi làm những điều ta dặn, rồi sớm mai lên ta sẽ thưởng công cho.
Hai thám tử trương Long và Triệu Hổ vái chào lui ra.
Lát sau, Bao Công đăng đường cho đòi mụ chủ quán vào xét hỏi trước tiên:
- Gã đàn ông đem đôi giày lãnh thưởng là chồng mi phải không?
- Dạ phải.
- Ai tìm ra chỗ giấy đôi giày?
- Chồng tôi.
Bao Công vỗ án la:
- Không phải. Chính nhà mi chỉ chỗ cho nó móc lên đem về lĩnh thưởng.
- Dạ oan cho tôi. Tôi là đờn bà có ra khỏi nhà mà biết việc ở xa hàng nửa dặm đường.
Bao Công quát:
- À quân này giỏi thiệt. Lính đâu lôi cổ chồng nó vào đây cho ta.
Lính hầu dạ ran rồi áp giải chồng mụ chủ quán vô. Bao công hỏi hắn:
- Sao bữa trước dám khai bậy là vợ chỉ chỗ đào đôi giầy?
Thưa thượng quan, tôi đâu dq1m khai man chính y thị chỉ chỗ cho tôi.
Bao Công hất hàm hỏi mụ chủ quán:
- Thế nào, đúng không?
- Dạ không phải, chính hắn tìm ra, tôi nào có biết.
Bao Công dằn giọng nói:
- Một trong hai đức bây biết chỗ giấu đôi giày. Nếu không khai cho thiệt ta cũng chém đầu tuốt.
Cả hai xanh mặt nhưng gã đàn ông thì run rẩy còn mụ đàn bà liếc mắt nhìn ra sân. Bao công tinh mắt nhận thấy liền vỗ án quát hỏi mụ chủ quán:
- Đứa nào chỉ chỗ nói mau! Lý Tân phải không?
Mụ đàn bà giật mình lúng túng đáp:
- Thưa… thưa tôi không biết…
Bao Công cười gằn bảo:
- Để xem mi còn chối được nữa không. Lính đâu đem đồ tra tấn ra đây mau.
Lính công khai khiêng kìm kẹp ra trước công đường. Bao Công hất hàm làm hiệu. Lính công sai sấn vào nắm tay mụ chủ quán ấn vào bàn kẹp. Mụ đàn bà hét lên một tiếng đau đớn rồi lạy van rối rít xin khai.
Bao công ra lệnh ngưng tra khảo rồi quát hỏi:
- Đứa nào, khai mau?
- Dạ… thưa…Lý Tân.
- Vì cớ gì Lý tân chỉ chỗ cho mi? Mi cũng nhúng tay vào vụ sát hạiChâu thị sao?
- Thưa đại nhơn tôi không hề sát hại Châu thị, xin quan minh xét. Còn Lý Tân chỉ chỗ cho tôi vì…
- Vì cớ gì nói mau.
- Dạ… vì hắn có tư thông với tôi từ lâu nhưng không có gì cho tôi cả, nay chỉ chỗ để tôi lãnh thưởng đặng trả ơn.
- Phải Lý Tân giết Châu thị không?
- Thưa, điều đó tôi không rõ.
Bao Công la:
- Dù cho mi không đồng loã với Lý Tân trong vụ giết Châu thị nhưng mi cũng bị trừng trị về tội khác: Tội gian dâm… Lính đâu đem hạ nhục mụ này cho ta.
Lính xúm vào lôi mụ chủ quán đi. Bao Công nhìn người chồng, rồi ôn tồn bảo:
- Nhà ngươi hiền lành, và cũng vô can, vậy hãy khai cho thiệt. Ngoàiđôi giày, có tìm thấy gì dưới hố không?
- Dạ có cây đoản đao.
- Đâu.
- Chôn tại vườn nhà.
- Mau cùng lính về lấy lên cho ta. Rồi cho ngươi ở nhà luôn khỏi đến đây nữa.
Chồng mụ chủ quán ngồi ké trên lưng ngựa, theo lính hoả bài tức tốc đi thẳng về làng.
Trong khi ấy Bao Công truyền giải Lý Tân tới trước công đường. ông điểm mặt Lý Tân, quàt hỏi rằng:
- Có tư thông với mụ chủ quán không?
- Thưa… có
- Có chỉ chỗ chôn đôi gầy cho nó không?
- Dạ có.
- Làm sao biết?
- Tôi biết vì tình cờ dừng chân gần gốc cây đa, thấy vết đất mới đào nên moi lên chẳng dè gặp đôi giầy.
Bao Công hỏi dồn:
- Sao không đem lãnh thưởng?
Lý Tân nhanh trí đáp liền:
- Vì lúc tìm thấy chưa có yết thị của thượng quan nên không đoán ra đó là đôi giầy của Châu thị.
Biết là đụng phải đứa mưu mẹo và mau trí khôn, Bao Công xoay hướng tấn công:
- Có quen Vương Tam Lang không?
- Dạ có.
- Có hay tới nhà Tam Lang chơi không?
- Dạ có.
- Hắn có thể giết vợ không?
- Có thể.
- Vì sao?
- Có thể vì ghen.
- Với ai.
- Thưa… thưa tôi…không rõ.
- Lúc đào hố có thấy gì nữa không, ngoài đôi giầy thêu?
- Chỉ có đôi giầy thêu mà thôi.
- Đừng có khai man, ta biết rồi. Khôn hồn thì thú tội đi.
- Dạ thưa đại quan, tôi oan.
Bao công quắc mắt nói rằng:
- Hai điều khai bậy chứg tỏ sự phạm tội của mi rồi. Một là cùng chôn với đôi giầy thêu còn có cây đoản đao. Hai là nơi chôn các thứ đó là đất bùm mà đã là đất bùn thì chôn một lát khó mà nhận ra nơi chôn chớ đừng nói là vết đào mới. Đúng mi là thủ phạm giết Châu thị, mau thú tội đi.
Lý Tân tái mặt nhưng vẫn cãi liều:
- Thưa quan chỗ đó đất cứng không có bùn.
Bao Công nổi giận la:
- hay cho tên này to gan thiệt. Sự thực rành rành như vậy mà còn cố cãi. Lính đâu đem đôi giầy ra đây cho nó coi.
Lính hầu chìa đôi giầy dính bùn cứng ngắt trước mặt Lý Tân.
- Cãi nữa thôi… Đúng mi là thủ phạm giết Châu thị rồi, mau nhận tộ đi.
- Thưa thượng quan, tôi oan.
Bao Công cười nhạt, hô lính lôi Ly ùTân ra tra khảo. Chịu đau không nổi, hắn phải thú nhận hết tội lỗi.
Bao Công hỏi thêm:
- Tại sao mi lột đôi giầy của nạn nhân.
- Thưa vì tôi phải đi vứt cây đoản đao để phi tang nơi mé sông nên sợ giầy tôi lấm bùn ai trông thấy sẽ nghi. Tôi đã tháo giầy của tôi và mang đôi giầy của Châu thịvào chân để đi tới bờ sông. Lúc về tôi chùi chân sạch sẽ mới dùng giầy của tôi mang về.
Bao Công truyền tống giam Lý Tân vào khu tử tội rồi lên án xử chém đầu Lý Tân. Mụ chủ quán mắc tội gian dâm thì bị lưu đầy đi xứ xa.
Về phần Châu Niên Lục, chàng được Bao Công trả tự do liền.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:48 PM

Hồi 26

ĐẦY TỚ PHẢN CHỦ


Tại Vĩnh An trấn, cách thành Tây Kinh đô lối năm dặm, có phú hộ Trương Thoại, tài giỏi, lại được vợ là Dương thị vốn là người hiền đức, trị gi đạo rất nghiêm minh.
Hai vợ chồng hiếm hoi, chỉ có một mụn con gái đặt tên là DiệuNương, năm nay mười lăm tuổi. Diệu Nương xinh đẹp, thông minh tuy được cha mẹ cưng chiều, nhưng nàng lại tỏ ra hết sức nết na hiền hậu chăm chỉ và biết đủ thứ nữ công trái hẳn với các cô gái nhà giàu, thường hay lười biếng, kiêu kỳ. Người trong họ ngoài làng đều không tiếc lời ca ngợi nàng và ai cũng ước mơ được làm sui gia với Trương Thoại.
Nhiều nhà sợ chậm chân, hoa quý sẽ về tay người khác nên tranh nhau nhờ người mai đến dạm hỏi.
Thời xưa, với tục tảo hôn, con gái lấy chồng vào tuổi mười lăm chẳng những là chuyện thường mà lại còn vin dự cho nhà gái là đằng khác.
Nhưng vợ chồng Trương Thoại có ý muốn chọn rể hiền mà trong các đám đến xin cưới hỏi Diệu Nương chưa có mặt nào đáng được “chấm đậu”, cho nên họ trương còn lần khân.
Là người khôn ngoan, Trương Thoại ngầm dặn vợ không chê mà cũng chẳng khen ai cả, cứ một điệp khúc “xin cho thư thả, cháu nó còn nhỏ dại” mà tấu lên cho êm tai, vui vẻ cả làng!
Nhờ khéo xử thế như vậy, vợ chồng Trương Thoại càng được mọi người nể vì hơn. Tuy thế có kẻ chẳng ưa vợ chồng Trương Thoại. Người đó tên là Uông Mỗ từ trước vẫn thua họ Trương về tiền bạc nên không lấy được Dương thị nay cứ đm lòng thù ghét mãi.
Song Uông Mỗ cũng chẳng làm được gì Trương Thoại cả vì chồng Dương thị không hề kiếm chuyện với ai va lại là người tốt nhịn. Nhưng than ôi! Sự đời lắm nỗi éo le. Mình không sinh sự có lúc lại bị sự sanh, bằng cách này hay cách khác như trong cảnh nhà Trương Thoại sau này.
Cái đại hoạ đổ xuống làm tan nát gia đình Trương Thoại và gây tang tóc đau thương không bắt nguồi từ chuyện cưới xin Diệu Nương mà là từ lòng uóan thù phi lý của một kẻ gia nhân.
Nguyên họ Trương có nuôi hai đầy tớ trai là Viên và Ưng để phụ lực trông coi đám tá điền và người làm mướn trong nhà.
Ưng trung hậu, siêng năng bao nhiêu thì Viên lại lười biếng và xảo trá bấy nhiêu. Trương Thoại biết vậy nên đã nhiều lần răn bảo Viên, nhưng hắn vẫn chứng nào tật ấy. Thói thường tức nước vỡ bờ. Lòng khoan dung của Trương Thoại cũng có chừng. Một bữa Viên phạm lỗi nặng bị chủ rầy la, mắng đuổi không cho làm nữa.
Vốn là kẻ tiểu nhân, hắn đam lòng oán chủ và căm tức đồng nghiệp Ưng mà hắn ngờ là đã gièm pha, nói xấu hắn để được một mình một chợ, thảnh thơi ngồi.
Trên quãng đường từ trang trại của chủ về nhà tranh tồi tàn của y, tên Viên không ngớt lời nguyền rủa hai người và thề sẽ có dịp trả thù.
Qua hai năm, một chiều trương Thoại đang đi thăm đồng về bị cảm nặng, nằm liệt giường liệt chiếu. Thuốc hay, thầy giỏi đã nhiều mà bệnh tình Trương Thoại vẫn ngày thêm trầm trọng.
Họ Trương biết mình khó qua khỏi liền gọi Dương thị đến bên giường bệnh mà bảo rằng:
- Ta nghe trong người đã kiệt sức rồi, chắc chẳng còn bao lâu đâu. Nay con Diệu Nương cũng đã lớn rồi, hễ ta nhắm mắt thì nàng hãy gả chồng liền cho nó, chớ có chần chờ sau này trắc trở, tội nghiệp nó…
Nói đên đây, Trương Thoại ôm ngực thở hổn hển một lát rồi cất giọng yếu ớt nói tiếp:
- Ta xem có con trai ông Bá hiền lành ngoan ngoãn, xứng đáng với con Diệu Nương nhà ta, vậy nàng hãy nhắn tin nhà trai họ lo liệu đi thì vừa. Sau khi ta chết, việc trong nhà có thể phó thác cho thằng Ưng trông coi. Bây giờ nàng kêu nó vô ta biểu. Dương thị sụt sùi đi ra. Lát sau gia nhân Ưng hấp tấp đến khoanh tay chờ lệnh chủ.
Trương Thoại ra hiệu cho Ưng đến gần và nói với giọng mệt nhọc:
- Chú trung thành với gia đình ta, ta rất biết ơn chú. Vậy sau khi ta qua đời, chú hãy tiếp tục công việc giúp vợ ta con ta duy trì sản nghiệp. Ta đặt hết lòng tin nơi chú.
Ưng ngẹn ngào thưa với chủ:
- Xin ôn cứ yên lòng, thuốc men cho :Dng bình phục. Con xin lo hết mọi sự.
Sáng sau, bên nhà ông bá chưa kịp lo liệu việc xin cưới hỏi Diệu Nương thì Trương Thoại đã thở hơi cuối cùng.
Dương thị tuân lời chồng dặn, kêu Diệu Nương vô phòng rồi khóc bảo con rằng:
- Phàm cha mẹ ai cũng mong dựng vợ gả chồng cho con trong sự hân hoan tưng bừng. Nay phải cưới chạy tang cho con là chuyện bất đắc dĩ, con hãy vui lòng.
Diệu Nương ôm lấy mẹ vừa khóc nức nở vừa nói:
- Cha con vừa mất, nhà lại chỉ có mình con nay gả con đi, riêng con an phận, một mình mẹ phải đơn độc, lấy ai săn sóc, an ủi mẹ lúc đau buồn này. Xin mẹ cho con ở nhà, đôi ba năm nữa lấy chồng cũng chưa muộn.
Thấy lòng con đã nhất quyết, Dương thị đành phải hoãn cuộc hôn nhân của con và lo ma chay cho chồng.
Từ ngày chủ chết, chú Ưng trung thành với lòng chủ phó thác lúc lâm chung, chú ra tay quán xuyến hết mọi việc trong ngoài được Dương thị ngày càng tín nhiệm phong làm quản gia với toàn quyền thu xếp trong tay.
Nói về tên Viên hận thù chủ cũ và đồng nghiệp Ưng, vẫn tìm dịp trả thù. Ba năm sau ngày Trương Thoại chết hắn mới tính cách hạ độc kế:
- Họ Trương chết đã mãn tang, chuyện mình bị đuổi năm xưa cũng bị lãng quên trong ký ức mọi người. Nay ta đột nhập nhà chủ cũ rồi giết thằng Ưng thì nhất cử lưỡng tiện, vừa ấy bạc vừa gieo vạ cho chủ.
Nghĩ vậy, hắn bèn để tâm rình rập dò la nơi trang trại mẹ con Dương thị, chờ cơ hội thuận tiện sẽ ra tay.
Cơ hội ấy đã đến. Kỳ đóng thuế ruộng năm nay đã được quan trên ra lệnh nạp. Dương thị hối thúc quản gia Ưng thâu nợ khắp nơi về để trả thuế.
Chiều đó, Dương thị xuất thêm chục lượng bạc trao cho quản gia Ưng để sớm mai đi đóng thuế cho quan huyện sở tại. Chủ và tớ sắp sửa cân lại bạc cho đúng số lượng xảy có người bà con thân thích ở xóm bên qua mời hai mẹ con Dương thị đến xế chiều đi dự tiệc. Dương thị bảo người làm:
- Chú Ưng à. Mẹ con tôi sắp đi dự tiệc vậy chú hãy dẹp bạc vô rương lát nữa cân lại. Bây giờ chú ra trông hộ tôi đám ta điền quây nốt vựa thóc cho tôi đã.
Bắt được tin này, tên Viên giắt dao vào bọc rồi lẻn vô vườn chủ cũ ẩn nấp.
Khi quản gia Ưng thu xếp xong công việc thì trời đã xế chiều và mẹ con bà chủ cũng đã đi dự tiệc được một lát. Tá điền kẻ ra về người lùi về phía sau. Phía nhà trên chỉ còn một mình quản gia Ưng.
Ưng đóng xong cửa ngõ liền trở vô phòng lấy bạc ra cân lại. Giữa lúc Ưng đang khua bạc lanh canh thì tên Viên cũng từ chỗ nấp trong vườn lẻn dần vô nhà rồi lẹ làng đẩy cửa phòng bạn đồng nghiệp cũ mà bước vô. Nhờ biết rõ đường đi lối lại, hắn tránh được các chỗ có cột chó giữ nhà và khu đầy tớ ở.
Ưng mải làm việc không hay biết gì cả.
Chừng tới khi bóng người lạ đến bên, Ưng mới giật mình ngửng đầu lên thì chao ôi! Tên Viên đã chỉa dao vào người anh rồi.
Bị tấ công bất ngờ. Ưng rủn rủn tay chân chưa kịp có phản ứng gì thì tên Viên đã xáp lại gần cất tiếng mắng rằng:
- Mày kiếm lời xúc xiểm, gièm pha đặng chủ đuổi ta để một mình tung hoành cho xướng. Bữa nay ta đến đây trả mối thù xưa.
Nói rồi tên Viên vung dao đâm loạn xạ vào người bạn cũ. Quản gia Ưng chống đỡ không lại bị một nhát trúng tim ngã lăn ra đất chết liền tại chỗ.
Tên lừa thầy phản bạn quơ hết bạc trong phòng cho vào túi vải rồi lẻn ra vườn dông mất dạng.
Khi trới nhá nhem tối thì mẹ con Dương thị trở Về, luồn tay mở cửa ngoài vô sân. Thấy trong nhà chưa lên đèn, Dương thị lên tiếng gọi quản gia Ưng.
Không nghe tiếng trả lời. Dương thị liền đi vô trong nhà mới hay cớ sự. Hai mẹ con thất kinh la làng cầu cứu ầm ĩ. Lũ đầy tớ vừa trai vừa gái hơn mười đứa ở nhàphía sau nghe chủ la thất thanh cũng chạy ùa lên nhà. Chúng cũng bàng hoàng chưa biết phải làm sao. Lối xóm hay tin đổ đến đầy sân.
Dương thị vừa khóc vừa than thở với xóm giềng:
- Cửa họ trương sao lắm rủi ro thế này. Chồng tôi chết vừa mãn tang thì nay thằng Ưng lại bị giết chết, tôi biết làm sao đây hỡi trời.
Diệu Nương thấy mẹ than vãn cũng bưng mặt khóc ròng. Lối xóm đứng ngó, trong lòng nghi hoặc chẳng hiểu ra sao, chỉ bàn tán xôn xao.
Uông Mỗ hay tin cũng lật đật tới coi. Trông thấy Trương thị, máu hờn ghen của hắn lại nổi lên, mạnh như hồi còn trẻ. Hắn liền tất tả lên ngay huyện cáo với tri huyện họ Hoàng rằng:
- Thưa quan, tại trương gia trang mới xẩy ravụ án mạng.
Tên Ưng, quản gia của họ Trương bị đâm chết.
Tôi chắc hung thủ đối với Dương thị không phải là người xa lạ.
Hoàng tri huyện hỏi:
- Người nói thế là thế nào?
- Thưa quan, từ ngày chồng chết, Dương thị còn trẻ đẹp nên đã tư thông với trai. Chắc là tên ưng hay biết nên đã bị dâm phụ xúi gian phu giết chết. Xin quan cứ cho bắt cả nhà nó mà tra sẽ tìm ra thủ phạm.
Hoàng tri huyện gật gù bảo Uông Mỗ:
- Ngươi nói có lý. Đẻ ta cho lính đi bắt chúng.
Thế là ngay đêm đó lính huyện đổ về bắt trói mẹ con Dương thị và tất cả gia nhân đầy tớ trong nhà giải ngay lên huyện.
Sáng sau, huyện quan đăng đường hạch hỏi Dương thị:
- Dâm phụ, đã tư thông với giai sao còn sát hại quản gia Ưng?
Dương thị dập đầu khóc lóc kêu oan:
- Xin quan minh xét, tôi một dạ thờ chồng nuôi con, xin quan cho hỏi gia nhân và bà con lối xóm.
Huyện quan đập bàn la:
Hay cho tiện tỳ này, đã làm bậy bạ, còn nỏ mồm chối cãi. Lính đâu đem nó ra tra tấn cho ta.
Lính dạ ran xúm vào đánh đập, kìm kẹp hềt sức tàn nhẫn khiến Dương thị chết đi sống lại mấy lần, nhưng nàng vẫn một mực kêu oan và nhất địng không chịu ký vào tớ nhận tội do huyện quan làm sẵn.
Cuối cùng huyện quan đành hạ lệnh tống giam Dương thị và truyền cho lính lôi Diệu Nương cùng đám gia nhân đầy tớcủa Dương thị ra tra khảo suốt lượt.
Máu chảy, thịt rơi, tiếng la khóc vang cả công đường nhưng không một ai chịu vu oan cho Dương thị cả. Trước sau họ đều khai chủ họ là người đoan trang. Không hề có chuyện bậy bạ với bất kỳ ai.
Huyện quan cả giận dạy hạ ngục cả bọn chung với Dương thị. Chủ, con gái và đầy tớ, tất cả là mười ba người bị giam chung một nơi.
Liên tiếp mấy bữa sau, Hoàng tri huyện lại lôi từng người lên công đường tra hỏi. Vẫn câu trả lòi cũ: không biết ai giết quản gia Ưng nhưng quả tình là oan cho Dương thị.
Trước tình thế đó, Hoàng tri huyện bảo thơ lại:
- Dương thị to gan lắm không chịu nhận tội và cũng chẳng chịu khai tên dâm phu sát nhân, còn đám tôi tớ thì chịu ơn chủ nhiều nên một dạ trung thành, không cáo tố chủ. Vậy ta khoan chạy vô thượng ty, hãy cứ giam cả bọn lại, lâu lâu lại đem tra khảo một lần. Để xem chúng còn sức chối cãi được tới đâu.
Bọn thơ lại hùa nhau, tâng bốc quan trên, đồng thanh khen là phải.
Cả nhà dương thị bị giam cầm thấm thoát đã gần một năm.
Vì Hoàng tri huyện gà mờ lại quá tin lời Uông Mỗ chẳng chịu điều tra cho rõ thực hư, nay lại thấy cả mẹ con Dương thị và mười một gia nhân quá gan dạ, đánh đập tra tấn thế nào cũng vẫn nhất tề không chịu khai theo ý mình nên ông ta càng tức giận ra lệnh cho quân coi ngục cho ăn uống cực khổ và giam hãm trong gian phòng ẩm thấp, chật hẹp và tối tăm. May nhờ có họ hàng bà con tận tình giúp đỡ, dùng tiền bạc mua chuộc quân canh, lén lút tiếp tế đồ ăn, thứ mặc nên mẹ con Dương thị và gia nhân xem ra cũng chưa đến nỗi kiệt lực.
Mùa đông năm ấy, trời lại rét mướt vô cùng. thiệt là phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí. Dương thị sa mắt bảo con rằng:
- Nay mẹ cũng đã già, nếu trời để yên hàn cũng chẳng sống được bao năm, bây giờ mắc vòng lao lý một cách oan uổng thế này, mẹ nghĩ thàhy sinh chuỗi ngày tàn, nhận bậy cho rồi để con và gia nhân được trả tự do như lời huyện quan đã hứa. Chẳng hay con nghĩ sao?
Diệu Nương ôm lấy mẹ, oà lên khóc và thưa rằng:
- Sự hy sinh của mẹ thật là cao đẹp nhưng con không thiết sống khi mẹ bị hàm oan mà ô danh muôn thuở.
Dương thị thở dài đáp:
- Con nên nghĩ lại đi. Thà để một mình mẹ chết còn hơn là để mười hai mạng chết oan theo. Sự đánh đập giam cầm kham khổ thế nàycũng làm cho chúng ta chết dần chết mòm mà thôi. chi bằng con và gia nhân thoát ra rồi cố tìm cho ra thủ phạm đã giết quản gia Ưng thì mẹ cũng được rửa hờn nơi chín suối.
Diệu Nương khăng khăng nói:
- Lòng con đã quyết, nếu mẹ nhận tội con cũng tự tử chết theo.
Dương thị chậm rãi bảo con:
- Con nghĩ một mà chẳng biết hai. Điều cầnnthiết là phải minh oan để khỏi ô danh cho nhà ta chớ chết uổng phỏng có ích gì? Mẹ mong con nghĩ lại mà nhậnlời để mẹ chết con sẽ được thoát vòng lao lý cho gia nhân có nơi nương tựa đặng rửa hờn sau.



vui_la_chinh 06-14-2005 02:48 PM

Một gia nhân lớn tuổi nhứt liền đỡ lời Diệu Nương:
- Thưa bà, chúng tôi đa tạ bà luôn luôn nghĩ đến chúng tôi. Đến như quan mà còn không tra ra thủ phạm để bà và cô bị hàm oan thì chúng tôi làm sao tìm ra được kẻ sát nhân? Mà dù có tìm ra được thì chưa biết quan chịu nghe.
Ngưng một lát, ông ta nói tiếp:
- Nếu mà nhận bừa thì chúng tôi cũng ch8ảng sống làm chi. Mang thân đi hầu hạ trương gia, chúng tôi chịu ơn đã nhiều, nay bất tài chẳng ngăn nổi tai hoạ cho chủ thì có lý nào chúng tôi chịu để bà bị hàm oan một mình. Chúng tôi xin tình nguyện chết tất cả để danh tiếng cho trương gia. Xin bà xét lại.
Các gia nhân khác nghe vậy cũng xúm lại khuyên can bà dương thị. Cuối cùng vợ trương Thoại đành phải bỏ ý định nhận liều. Nàng nhìn gương mặt gầy ốm của mọi người rồi thở dài, lệ trào xuống đôi má hóp và nhăn nheo.
Thế rồii mười ba tù nhơn tiếp tục kéo dài chuỗi ngày buồn thảm trong ngục thất. Gần tết Nguyên Đán, Diệu Nương bỗng nhuốm bệnh nặng. Đến chiếu ba mươi, Diệu Nương bảo mẹ đỡ nàng đến trước bàn thờ đơn sơ, thiết lập bằng tấm ván mục kê lên hai chồng gạch, tại góc phòng. Đó là bàn thờ do đám gia nhân lập để dương thị có nơi cúng chồn và họ có nơi thủ lễ chủ trong đêm giao thừa thiêng liêng này.
Trên bàn thờ đôi bạch lạp leo lét cháy giữa chiếc bát mẻ đựng đầy gạo thay bát bình hương. Phía trong có bày mấy dĩa đựng trái cây và bánh mứt.
Diệu Nương chắp hai bàn tay gầy guộc lễ trước bàn thờ cha. Lễ xong nàng cố nở nụ cười hhéo hắt trên đôi môi trắng bệch rồi nói với dương thị rằng:
- Con đã tưởng không kịp lễ cha nữa, mẹ ạ.
Dương thị thấy con tỉnh táo hơn mọi ngày thì vui vẻ nói:
- Nhảm nào. Cha sẽ phù hộcho mẹ con ta và các gia nhân. Bữa nay mẹ con ta khoẻ rồi. Thôi con ráng thuốc men qua năm mới sẽ nhiều may mắn.
Nói đoạn bà va hai đầy tớ gái dìu Diệu Nương trở về nằm trên ỏ rơm. Mọi người đều mừng rỡ khi thấy diệu Nương đòi ăn hết thứ này tới thứ kia. Nhưng mỗi thứ nàng chỉ nếm chút đỉnh rồi lại bỏ. Aên xong nàng ngủ thiếp đến lúc canh một hầu tà thì nàng tỉnh dậy gọi dương thị và tất cả gia đinh lại gần và nói một hơi không nghỉ:
- Mẹ ơi, con nghe trong mình đã kiệt lực rồi.Trong giấc ngủ vừa qua, conmơ thấy cha về đón. Con nghĩ mà thương mẹ vô cùng. Từ nay mẹ đơn chiếc, lấy ai nâng giấc sớm hôm, lấy ai hầu hạ lúc trái nắng, trở giời? Chỉ tại quan huyện kém sáng suốt mà đến nỗi gia đình ta phải tan nát. Con chết đi sẽ tìm thần linh minh oan cho mẹ, xin mẹ chớ sợ mà đón nhận liều làm hư danh tiếng họ Trương.
Nói đoạn nàng bưng mặt khóc nức nở. Mọi người xúm lại vỗ về, an ủi nàng. Qua cơn xúc cảm, Diệu Nương gọi tên từng gia nhân một là cám ơn. Sau cùng hoàn toàn kiệt lực, nàng thều thào nói:
- Cha… cha đã về đón con.. Mẹ ở lại… Các bác ở lại… Con đi… Huyện quan ác độc…
Tới đây nàng nấc lên một tiếng rồi thở hắt ra, hồn lìa khỏi xác.
Dương thị ôm chầm lấy thây con mà gào thét lên. Đám gia nhân bưng mặt khóc nhi7 ri. Lính canh lật đật mở cửa qát hỏi:
- Có cho người ta ăn tết không? Làm gì mà ồn lên vậy?
Lính canh hùng hổ đến bên ổ rơm toan lấy roi đánh đập mọi người nhưng khi nhìn thấy thi hài Diệu Nương mắt mở trừng trừng như oán hờn, như uất hận, anh ta hoảng hồn co giò chạy vọt ra ngoài gọi cai ngục rối rít.
Hồi sau cai ngục đi vô với bốn người phu và hai người lính. Cai ngục nói lớn:
- lệnh quan truyền đem chôn con nhỏ trước giờ giao thừa. Vậy mọi người hãy dãn ra cho phu làm phận sự.
Không ai nhúc nhích và Dương thị cứ ôm xác con nhất định không cho đem đi.
Viên cai ngục hất hàm ra lệnh, chú lính xáp vô kéo Dương thị ra trong khi bốn người phu lẹ làng đặt xác Diệu Nương vào trong cái chiếu cũ họ mang theo rồi bó lại khiêng đi. Dương thị gào thét như điên như dại và nhào tới giựt con lại. Hai chú lính xô mạnh Dương thị về phía sau. Dương thị té nhào vào bàn thờ rồi lăn ra đất. Hương, đèn cầy, tráicây, rượu, bánh mứt, văng tứ tung.
Dương thị khóc than thảm thiết những một hai toan tử tử chết theo con, may nhờ mọi người xúm lại can gián mãi mới nguôi.
Dương thị và mười một gia nhân khắc khoải trong tù thêm một năm nữa. Qua cái tết thứ nhì, Hoàng tri huyện được chuyển bổ đi cai trị một huyện lớn hơn.
Lợi dụng lúc quan mới chưa đến, họ hàng Dương thị lo lót thơ lại nhờ xin với Hoàng tri huyện trả tự do cho Dương thị và đám gia nhân.
Chẳng may họ Hoàng quá căm tức Dương thị mà ông ta cho là vừa keo kiệt vừa cứng đậu, nên nhất định chẳng chịu thả ra. Tới khi vị quan mới đến, gia đình Dương thị lại mở cuộc vận động lần thứ hai nhưng ông này chân ướt chân ráo, chưa biết giải quyết ra sao chỉ ừ hử hứa “sẽ xem xét lại”.
Thế là hy vọng. Hai năm đã trôi qua kẻ từ ngày quản gia ưng bị giết. Phải là người tha thiết với công lý và giàu kinh nghiệm lắm mới có can đảm xét lại vụ án từ đầu đến cuối.
Dân chúng trong vùng haytin dương thị và gia nhân khăng khăngmột mực không chịu nhận tội, trở lại tin rằng họ bị hàm oan và đều đem lòng thương xót tuy chẳng ai dám nói ra.
Phải nhìn nhận tân huyện quan là người có nhiều thiện chí. Sau khi xem xét hồ sơ vụ án quản gia Ưng, ông cũng cho thẩm vấn lại Uông Mỗ và dương thị cùng đám gia nhân. Nhưng vì mới bước chân vào nghề, nên ông còn bỡ ngỡ lại thêm bị ảnh hưởng bởi lời phê phán của vị tiền nhiệm nên thét một hồi, ông ta cũng cho lời tố cáo của Uông Mỗ hợp lý. Ông bảo thơ lại:
- Bây giờ phải đều chỉnh tình trạng bằng cách chạy giấy về Thượng Ty xin lên án đày dương thị ra nơi biên ải.
Giữa lúc thơ lại lo lập tờ trình xảy có Bao Công tuần án đến Vĩnh An trấn. Huyện quan lật đật ra tận cổng huyện rước Bao Công vô, sau khi thăm hỏi về tình hình trong vùng, Bao Công nói:
- Quan mới đến chưa đầy một tháng, chắc cũng chưa thấu đáo dân tình vậy nên chịu khó xem xét cho kỹ. Tôi mong rằng mỗi lần thay đổi vị quan nhậm là một điếu hay vì người mới có thể nhận ra những cái sai lầm mà người trước vì quen tai quen mắtkhông nhận ra.
Ngưng một lát. Bao Công nói tiếp:
- Nhiệm vụ chính yếu của tôi là tra lại các vụ án, vậy để cho mau lẹ, quan hãy truyền cho các phạm nhân ái có điều gì oan ức cứ làm đơn giãi bày.
Gia đình Dương thị bắt được tin này liền làm sẵn đơn rồi lo lót tiền bạc cho quân coi ngục đem vào nạp dùm. Nhờ vậy, đến sáng hôm sau, lá đơn khiếu oan đã tới tay bao Công.
Đọc xong đơn, Bao Công truyền lấy hồ sơ vụ án cho ông xét, Bao Công hỏi huyện quan:
- Ý quan thế nào?
- Thưa thượng quan, đúng là Dương thị thị gian dâm bị quản gia Ưng biết nên thị xúi dục gian phu hạ sát cho êm chuyện.
- Quan đã tra hỏi lại chưa?
- Dạ rồi. Tôi có hỏi lại Dương Mỗ và Dương thị cùng gia nhân.
Bao Công cau mày nói:
- Chưa đủ. Cái sơ hở của Hoàng tri huyện lúc trước là đã căn cứ hoàn toàn vào lời khai của tên Uông Mỗ mà bắt giam cả nhà Dương thị. Mặt khác Dương thị không chịu nhận tội. Đành rằng ta có quyền nghi rằng đám gia nhân chịu ơn chủ nên không hại chủ nhưng khi họ bị giam cầm, tra khảo như thế mà vẫn không buộc tội chủ thì ta phải suy nghĩ lại. Vậy quan làm ngay hai việc này cho tôi: cho áp giải dương thị và gia nhân lên cho tôi hỏi lại, sau đó cho người đòi những người liên bang của Dương thị đến hầu.
Cuộc thẩm vấn bắt đầu. Sau cuộc căn dặn từng gia nhân một, Bao Công đến hỏi Dương thị. Vợ Trương Thoại khóc lóc kêu oan, Bao Công truyền cho Dương thị lui rồi bảo huyện quan:
- Cứ theo thái độ của Dương thị qua lời khai của gi nhân, có thể là Dương thị vô tội. Tiếc một điều Diệu Nương đã chết rồi nên ta khó xét đoán thực hư, sợ e họ bịa đặt. Vậy quanra xem trong đám lân bang của họ Trương có ai lớn tuổi và đáng tin nhất thì kêu vào cho ta.
Lát sau một lão ông theo huyện quan vào công đường. Bao công chậm rãi hỏi:
- Lão có biết ai giết quản gia Ưng không?
- Thưa không.
- Dương thị gian díu với ai?
- Thị là người đoan trang. Một dạ thờ chồng nuôi con, không làm chuyện xấu bao giờ.
- Lão có chắc không?
- Dạ chắc. Ơû tỉnh nhỏ bé này, làm gì mà giấu nổi tai mắt thiên hạ.
- Còn Diệu Nương ra sao?
- Nó nết na, tử tế, có hiếu và rất cương trực.
- Lão có nghi ai giết tên ưng không?
- Dạ điều đó tôi xin chịu.
- Uông Mỗ là người thế nào?
- Thưa thượng quan, hắn là người đúng đắn, biết lo làm ăn.
- Hắn có hiềm khích gì với họ trương không?
- Dạ không.
- Bao Công truyền cho ông lão lui ra và lần lượt hỏi những người trong xóm những câu tương tự như trên. Gần hai chục người lối xóm đều nhất loạt khen mẹ con dương thị.
Khi người chứng cuối cùng đi khỏi, Bao Công suy nghĩ một lát rồi kêu một thám tử thân tín vào dạy đi điều tra gấp về họ trương va Uông Mỗ. Ông đặc biệt nhấn mạnh:
- Phải xem cho kỹ giữa hai người có điều hiềm khích chi từ trước đến nay không. Nếu giữa họ không có thì phải đi ngược lên đời cha mẹ, ông bà hai bên có chuyện chi không? nên biết rằng Uông Mỗ là người duy nhất tố cáo dương thị thông dâm với trai rồi xúi gian phu giết tên Ưng cho được tự do đi lại với nhau. Bởi vậy điều ta cần biết là hệ trọng.
Thám tử tuân lệnh đi thi hành phận sự.
Bữa sau, thám tử về trình:
- Tuân lệnh thượng quan, tôi đã kiểnm soát lời khai của các nhân chứng. Quả thự dương thị là một goá bụa đoan trang, hiền hậu, chỉ biết chăm lo nối nghiệp chồng và nuôi con. Dân chúng trong vùng có ý chê trách Hoàng tri huyện đã tin lời Uông Mỗ.
Bao Công gật gù đáp:
- Ta đã có nghi như vậy, giữa Uông Mỗ và vợ chồng Trương Thoại có điều chi hiềm khích không?
- Lúc còn trai trẻ hai người thân nhau lắm nhưng từ ngày Trương Thoại lấy được Dương thị thì tình bạn phai dần và Uông Mỗ như có vẻ tránh mặt Trương Thoại trong các cuộc hội hè đình đám.
- Có người biềt nguyên do không?
- Theo ông giàbà cả thì Uông Mỗ ngượng vì hắn không lấy được Dương thị trong khi Dương Thoại hỏi sau thì lại được vợ xinh đẹp và đảm đang.
- Có ai nghi Uông mỗ giết quản gia Ưng không?
- Dạ không. hắn gầy ôm và không phải hắn hung hãn. Hơn nữa theo chỗ tôi dọ hỏi, nạn nhân bị đâm bảy tám nhát dao mà nhát nào cũng sâu, chứng tỏ…
Nói đến đây, thám tử bỗng ngưng lại và nhìn thượng cấp như cho mình hơi nhiều lời, có ý muốn dạy quan trên.
Bao Công biềt ý, cười xoà khuyến khích thuộc hạ:
- Chứng tỏ cái gì? Nói ta nghe, đừng ngại.
Thám tử chớp chớp mắt rồi nói tiếp:
- Thưa thượng quan, điều đó chứng tỏ kẻ sát nhân là tay khoẻ mạnh và có thù riêng gì đó với quản gia Ưng. Vậy kẻ giết người không thể là người không thể là Uông Mỗ được.
Bao Công nghe nói, cười khà khà rồi bảo:
- Khá lắm, khá lắm!
Rồi ông lấy bạc thưởng công cho thám tử.
Huyện quan chứng kiến cuộc đối đáp giữahai người, cũng khẽ thốt rằng: “Thiệt là thầy nào, trò ấy”.
Thám tử đi khỏi, Bao Công liền truyền lệnh đòi Uông Mỗ đến hầu cấp tốc.
Lát sau, lính dẫnhọ Uông về trình diện. Vừa thấy mặt uông Mỗ, Bao Công biết ngay là thuộc hạ mình nhận xét đúng. Tuy vậy ông vẫn thận trọng tránh mọi sự võ đoán.
Bao Công vỗ án la phủ đầu họ Uông:
- Không lấy được Dương thị, chẳng qua là chuyện duyên số bất thành cớ sao mi lại sanh lòng thù oán, hạ sát tên Ưng để gieo hoạ cho người ta? Ta biết rõ cả rồi, mau thụ nhận đi, đừng để ra nhọc lòng tra tấn.
Uông Mỗ xanh mặt, run lẩy bẩy nói:
- Thưa thượng quan, tôi không hề giết tên quản gia ấy. Thực tình là vì ghét Dương thị đã chêtôi vu cáo để trả thù y thị. Xin đại nhơn thương dùm minh xét, kẻo oan phận này.

vui_la_chinh 06-14-2005 02:49 PM

Bao Công cười đáp:
- Hừ, vu vạ khiến cả một gia đình tan nát, mi có thương dùm người ta đâu?? Nếu mi vhứng minh được là không phạm tội giết tên Ưng thì ta tha, bằng không thì ta sẽ chém đầu.
Uông Mỗ thất kinh, quỳ sụp xuống lạy bao Công như tế sao. bao Công lạnh lùng hỏi:
- Bữa quản gia Ưng bị giết mi làm gì? Có ai biết không?
Họ Uông suy nghĩ một lát rồi nói như reo lên:
- Thưa đại nhơn, chiều đó tôi có mặt tại đám tiệc mà mẹ con dương thị cũng được mời dự.
- Được để kiểm soát lại lời khai mi. Dù sao mi cũng sẽ bị trừng phạt về tội vu cáo Dương thị.
Nói đoạn, Bao Công hô lính tống giam Uông Mỗ vào ngục thất rồi bảo huyện quan:
- Quan cho hỏi Dương thị và nhà chủ bữa tiệc coi có đúng không? Nếu là đúng thì sáng mai cho giải Dương thị và đám gia nhân lên lên cho ta hỏi, bây giờ đãvề chiều rồi, hỏi không kịp. À quancho phao truyền trong dân gian là ta đã tra ra Uông Mỗ là thủ phạm giết tên Ưng.
Huyện quan tuân lệnh ra, Bao Công rũ áo đứng dậy thong thả đi ra vườn dạo mát. Vừa đi ông vừa lẩm bẩm:
- Ta chắc họ Uông không phải là thủ phạm. Vậy kẻ sát nhân có lẽ ở trong đám gia nhân của họ Trương.
Đêm đó, Bao Công bên án thư đọc sách. Đến canh ba ông toan đứng dậy đi ngủ xảy có trận gió mạnh thổi ào vào phòng làm tắt sạch cả đèn đuốc rồi một bóng trắng hiện ra trước mặt ông.
Bao Công giật mình cất tiếng hỏi:
- Ai đó? Ai đó? hỏigì?
Một tiếng hú dài thê thảm đáp lại câu hỏicủa Bao Công. Ông định thần nhìn lại thì ra đó là một con vượn bạch. Oâng liền xô ghế đứng phắt dậy. Con vượn phóng mình ra cửa sổ rồi đu lên cành cây chuyền đi mất dạng.
Vừa lúc ấy, chú lính huyện xách đèn lồng vô châm lại đèn trong phòng. Bao Công liền hỏi:
- Ở huyện này có nuôi bạch viên à?
Chú lính ngạc nhiên đáp:
- Thưa thượng quan, chúng con sinh trưởng ở đây từ bé, mắt chưa hề nom thấy con vượn trắng nào cả. Thưa đại nhơn, có chuyện chi dạy bảo?
Bao Công đáp:
- Ta vừa thấy có con bạch viên nhẩy vô phòng này liền sau khi có cơn gió lớn thổi tắt cả đèn đuốc. Tới lúc ta quát hỏi và đứng dậy thì nó bỏ chạy.
Chú lính rụt rè nói:
- Ta vừa thấy có con bạch viên nhẩy vô phòng này liền sau khi cơn gió thổi tắt cảđèn đuôc. Tới lúc ta quát hỏi và đứng dậy thì nó bỏ chạy.
Chú lính rụt rèn nói:
- Thưa đại nhơn, bạch viên linh thiêng lắm, chắc là có oan hồn về mách bảo thượng quan.
Bao Công mỉm cười không đáp rồi lên giường ngủ một giấc ngon lành cho tới sáng bạch mới trở dậy đăng đường.
Khi mặt trời lên tới ngọn tre thì huyện quan sang trình rằng:
- Thưa đại quan, tên Uông Mỗ nói đúng. Hắc có dự bữatiệc hôm đó. Hắn đến trước Dương thị khá lâu.
Bao Công gật đầu đáp:
- Ta cũng đoán chừng như vậy. Bây giờ ta qua côg đường xét hỏi các tù nhơn lần :Dt, nếu không tìm ra manh mối gì thì cũng đành tha Dương thị và đám gia nhân. Hoàn gtri huyện để lỡ cơ hội, sự truy tìm thủ phạm xét ra khó khăn lắm vì đã quá lâu ngày. Còn điều kia quan đã làm chưa?
- Dạ rồi. Ngay chiều qua, dân chúng đều hay biết là đại nhơn đã hạ ngục Uông Mỗ về tội giết quản gia Ưng.
Bao Công nhìn chăm chăm huyện quan và hỏi:
- Quan có thấy sự mâu thuẫn giữa lời ta vừa nói và việc ta bảo quan làm không?
- Thượng quan tống giam họ Uông không phải về tội sát nhơn mà lại phao tin như vậy chắc là có kế gì?
- Đúng là một kế nhỏ. Thế quan có biết phản ứng của dân chúng đối với tin đó ra soa không?
- Dạ không.
- Vậy thì sơ suất rồi đó.
Nói rồi Bao Công cho đòi hai thám tử Trương Long và Tiệu hổ vô mà bảo rằng:
- Hai người chia nhau đi dò la xem dân chúng nghĩ sao về việc ta hạ ngục họ Uông. Còn một việc nữa: hai người qua hỏi thơ lại danh sách gia nhân họ Trương hiện đang bị giam rồi điều tra ngay thân quyến họ xem ai bỗng nhiên trở nên giàu có từ sau vụ quản gia Ưng bị giết không.
Hai thám tử vái chào rồi lủi ra, bắt tay ngay vào việc. Bao Công đi cùng huyện quan qua bên công đường bắt đầu cuộc thẩm vấn bổ túc.
Dương thị gọi vào trước tiên. Bao Công hỏi:
- Trong đám gia nhân hiện bị giam, nhà ngươi có nghi cho tên nào giết quản gia Ưng không?
- Dạ không. Tôi biết rõ họ mà.
- Theo các sự kiện đã xẩy ra, tên sát nhân phải biết rõ đường đi lối lại trong nhà. Vậy trước kia có tên gia nhân nào thù oán vì bất cứ một lý do nào không?
- Chỉ có một gia nhân tên là Viên bị đuổi vì lười biếng, gian xảo còn thì không có ai cả.
- Đuổi hồi nào?
- Dạ bẩm năm trước khi chồng tôi chết.
- Hiện giờ nó ở đâu?
- Dạ tôi không được biết.
- Giữa Ưng và Viên có xích mích không?
- Chúng thường gấu ó nhau luôn. Mỗi lần bị chồng tôi mắng thì Viên lại gây sự với Ưng cho là vì Ưng mà chủ ghét bỏ.
- Nhà ngươi có khai tên sát nhân lấy mất một chục quan tiền và mười nén bạc đựng trong một cái hộp lớn bằng cuối sách giầy phải không?
- Dạ phải. Bữa đó quản gia Ưng có thu một số nợ gồm tiền quan và nén bạc nhưng chưa đủ để nộp thuế, tôi có đưa đưa cho y cái rương nhỏ đựng đầy bạc để y cân thêm cho đủ số. Cái hộp ấy hình cái rương và là vật gia bảo của dòng họ tôi.
Bao Công truyền cho Trương thị lui ra rồi kêu từng gia nhân một vào tra hỏi. Hỏi đến đứa thứ mười, đứa nào cũng xác nhận chỉ có một tên Viên bị đuổi nhưng không biết rõ hắn ngụ tại đâu sau khi thôi việc. Bao Công thở dài bảo huyện quan:
- Còn một đứa nữa là hết. Nế nó cũng không biết địa chỉ đích xác của tên Viên thì đành phải nhờ lý trưởng các làng trong huyện kiếm ra và giải lên đây.
Huyện quan đưa ý kiến:
- Thiểm chức nghĩ thượng quan nên ra lệnh để lý trưởng họ kiếm thì :Dng hơn.
- Quan chưa biết rõ cách làm việc của ta. Sở dĩ ta căn dặn từng gia nhân một là để xem có đứa nào hay liên lạc với tên Viên. Đứa đó một là đồng loã hai là vô tình bị lợi dụng để cho tin tức.
Nói đoạn Bao Công cho đòi gia nhân thứ mười một vào. Đây là một người tớ gái lối mười lăm tuổi, bị giam từ năm mười ba. Bao Công chắc lưỡi hỏi:
- Biết tên Viên không?
- Dạ biết.
- Nhà nó ở đâu?
- Ở làng Tân Lý, cách Vĩnh An trấn này chừng lối ba dặm về hướng Tây.
- Sao biết?
- Vì hắn thường gặp tôi hỏi chuyện.
- Hỏi gì?
- Dạ hỏi về quản gia Ưng, về sinh hoạt trong nhà.
- Hỏi lâu mau thì xẩy ra vụ án mạng?
Người tớ gái đứng yên suy nghĩ Bao Công liền ôn tồn bảo:
- Ráng nhớ lại coi. Việc xẩy ra đã hai năm nhưng ngươi còn trẻ trí nhớ minh mẫn. Ráng một chút coi.
- Thưa nhớ rồi. Lần hỏi cuối cùng ngay chiều hôm xảy ra án mạng.
- Nó hỏi gì?
- Hắn hỏi thăm về quản gia Ưng rồi hỏi sang vụ đóng thuế và nhà đã nộp thuế chưa.
- Mi trả lời sao?
- Tôi nói quản gia Ưng đang cân bạc, có lẽ chiều mai mới đi nộp thuế được vì chiều nay chủ tôi đi dự tiệc. Dạ chỉ có vậy thôi.
- Sao không khai ngay hồi trước.
- Dạ vì không ai hỏi đến.
Vừa lúc ấy hai thám tử Trương Long Triệu hổ về trình kết quả cuộc điều tra. Bao Công truyền đứa tớ gái của dương thị lui ra rồi ông chăm chú nghe báo cáo của các thám tử. Dân chúng nhiều người ngạc nhiên về tên Uông Mỗ là thủ phạm giết quản gia Ưng. Còn gia khuyến mười một gia nhân bị giam thì đều bị túng thiếu thật sự.
Nghe đoạn, Bao Công bảo huyện quan cho lính hoả bài đem lệnh bắt tên Viên về gấp.
Lối một giờ sau, tên đầy tớ phản chủ theo lính vào hầu.
Bao Công vỗ án la:
- Làm lỗi chủ đuổi cớ sao đem lòng thù oán tìm cách hạ sát đồng nghiệp là quản gia Ưng.
Tên Viên gân cổ cãi:
- Thưa thượng quan, tôi không giết hắn. Tôi có bị đuổi thật nếu có oán thù thì đổ vào chủ chớ sao lại trả thù hắn. Xin quan xét lại.
Mi và tên Ưng xung khắc nhau. Nều ta không lầm thì mi thù oán cả tên Ưng vì cho là tự y mà mi bị đuổi, cũng như trước mỗi khi bị chủ mắng thì mi lại nghi oan cho hắn. Có giết nó thì nhận tội đi.
Tên Ưng một mực kêu oan.
Bao Công đánh sai tạm giam Viên vào ngục thầt rồi bảo huyện quan rằng:
- Quan cho lính xét ngay nhà tên Viên cho ta. Dặn chúng tìm kỹ xem có thấy tiền bạc và cái hòm nhỏ mà Dương thị kêu mất thì đem về trình gấp.
Rồi ông lại kêu hai thám tử Trương Long, Triệu Hổ vô dạy rằng:
- Hai người cấp tốc xuống nhà tên Viên hỏi xem y có đi đâu xa trong thời gian từ hai năm trở lại đây. Đồng thời cũng dọ hỏi nơi lối xóm về lối sống của hắn ít lâu nay, có thấy mau sắm, tiêu xài, đổi chác chi không?
Mọi người tuân lệnh lên đường.
Hơn một tiếng sau, lính đi xét nhà tên Viên đem về trình một ít bạc và tiền đồng cùng với hộp nhỏ tìm thấy giấu kín dưới đáy một cái rương dưới đống quần áo.
Bao Công cầm cái hộp bạc xem kỹ lưỡng. Phía trong nắp hộp thấy có khắc một dòng chữ nhỏ li ti “Dương gia chi bảo” Bao Công trao hộp cho huyện quan rồi nói:
Riêng cái hộp này cũng đủ khép tội tên Viên rồi. Nhưng ta còn chờ hai tên thám tử đi về sẽ quyết định luôn thể.
Đến chiều, hai thám tử trở về để nạp danh sách những người được tên Viên cho vay mượn tiền bạc và tờ phúc trình đầy đủ chi tiết.
Bao Công xem xong lập tức đăng đường sai dẫn tên Viên và Dương thị cùng mười một gia nhân lên hầu.
Ông cho kêu Dương thị vô trước đưa cái hộp nhỏ cho coi và hỏi:
- Phải hộp này thị khai là mất không?
Thị xem qua rồi nói:
- Thưa thượng quan, hộp này đúng là của tôi. Bên trong nắp có bốn chữ “Dương gia chi bảo”. Hộp này do thân mẫu tôi cho tôi khi về nhà chồng.
Bao Công bảo Dương thị ra chờ ngoài sân rồi cho đòi tên Viên vào. Ông đọc lên những người đã vay mượn của Viên lên rồi hỏi:
- Mi biết những người này không?
- Dạ có.
- Có liên hệ gì không?
- Dạ, quen thôi.
- Nói láo. Tiền đâu cho họ vay vậy?
Tên Viên tái mặt xong vẫn cố cãi:
- Dạ, nhờ trúng mối? Đi làm ruộng thì chỉ có trúng mùa, sao lại trúng mối?
Không để cho Viên kịp trả lời, Bao Công giơ cái hộp của Dương thị lên và hỏi:
- Cái này trúng mối thì có. Đã chịu nhận tội giết quản gia Ưng chưa?
Tên Viên sợ run lên nhưng vẫn còn bảo là oan. Bao Công nổi giận hô lính tra tấn. Tên Viên chịu đau chẳng thấu, đành phải thú nhậnhết tội lỗi.
Bao Công liền lên án chém đầu hắn và ra lệnh tịch thâu tòn bộ tài sản của tên đầy tớ phản chủ trả cho Dương thị.
Đoạn ông dẫn Uông Mỗ vào. Bao Công điểm mặt họ Uông mà la rằng:
- Vì một tị hiềm nhỏ, mà nhẫn tâm vu cáo người ta khiến cho mười hai người lâm vào vòng lao lý và một mạng thác oan. Lính đâu vật cổ nó ra đánh cho năm nươi hèo rồi đày đi nơi biên ải xung vào binh đội biên phòng.
Lính xúm lại đánh đập Uông Mỗ một hồi rồi lôi đi. Bao Công trả tự do cho Dương thị cùng mười một gia nhân.
Về phần Hoàng tri huyện, quá gà mờ làm tan nát bao gia đình, Bao Công ký giấy cắt chức luôn.


Múi giờ GMT. Hiện tại là 12:24 AM.

Powered by: vBulletin Version 3.6.1 Copyright © 2000 - 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.