![]() |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 39
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXIX: Ba NỐT RUỒI TRÊN XÁC NGƯỜI YÊU -Phần 1 Lần đầu tiên từ cả chục năm rồi, Phước mới có được một kỳ nghỉ trọn vẹn và ở nhà được đúng đêm giao thừa. Kể từ khi ra trường, chuyển về một trung tâm y tế huyện miền xa, cứ tưởng làm bác sĩ nơi đó sẽ được nhàn hơn là những bệnh viện cấp tỉnh, thành phố lớn. Nào ngờ đó là một huyện có mật độ dân cư đông, lại là nơi thường xảy ra nhiều trận dịch, nên người dân đã quen với cảnh ôm con tới bệnh viện dù bất cứ bệnh gì. Nên hai năm ra nghề của Phước đúng là hai năm tích lũy kinh nghiệm vô cùng quý giá. Qua năm thứ ba thì Phước đã nổi danh như một bác sĩ tận tụy, có lương tâm và đặc biệt là có tay nghề cao trong lĩnh vực các bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết, thương hàn, thủy đậu v.v... Và cũng chính vì thế, nên một bệnh viện lớn ở thành phố đã nghe tiếng và bằng mọi cách đã xin Phước về cho bệnh viện của mình. Phước đành phải tuân theo lệnh điều động, và trước Tết năm ngày, anh đã được phép về nghỉ ở nhà, trước khi nhận công tác ở bệnh viện mới. Lan Hương, cô em họ của Phước là người vui nhất khi hay tin anh được chuyển công tác về thành phố. Cô đã ra tận bến xe đón Phước chở anh về nhà, và khi Phước chưa kịp tắm rửa thay quần áo thì Hương đã giục anh lên xe: - Anh đi ngay kẻo muộn. Bọn bạn em đang đợi anh ngoài... quán bánh xèo! Phước ngạc nhiên: - Sao lại có vụ ai đợi ngoài quán bánh xèo? Mà họ là ai? Lan Hương làm ra vẻ bí mật: - Ai thì lát nữa đây anh sẽ biết! Hương vù xe như bay khiến Phước phải nhắc chừng: - Chạy xe giống mấy tay “yên hùng” xa lộ quá cô ơi! Lan Hương cười vui: - Chạy như vậy cho quen, để mai mốt tốt nghiệp ra trường còn chạy “sô” nữa chứ! Phước tỏ ra ngờ nghệch: - Chạy “sô” gì? Em đang học y mà, chứ phải ca sĩ, diễn viên đâu mà chạy “sô”? Lan Hương lại cười to: - Ông anh tội nghiệp của tôi, chỉ mới đi vùng sâu vùng xa mấy năm mà lạc hậu quá chừng rồi! Anh tưởng bác sĩ bây giờ không vắt giò lên cổ để chạy đi làm giàu à? Phước hoàn toàn không biết: - Bác sĩ có tiếng, mở phòng mạch thì mới hy vọng phát lên được. Nhưng số đó đâu phải nhiều. - Không nhiều thì mình làm cho nhiều! Lời nói của Lan Hương ẩn ý rắc rối, mà tính của Phước thì thích đơn giản, nên anh không hỏi tiếp. Lát sau, anh được đưa tới một đường phố quen thuộc. Phước hỏi: - Có phải Đinh Công Tráng không? - Anh chưa quên sao! Đây là phố bánh xèo mà! Ở một bàn rộng, đã có sẵn ba người bạn gái chờ trước. Họ vừa thấy Phước tới đã cùng reo lên: - Chào ông bác sĩ sắp nhận nhiệm sở! Trong số này chỉ có một người vốn là bạn của Lan Hương là Phước có quen mặt, còn hai cô kia thì anh hoàn toàn xa lạ. Do vậy, anh chỉ gật đầu chào chứ không hỏi chuyện. Lan Hương phải làm người dẫn chương trình: - Ông anh mình sau khi ở ba năm trong làng xã xa xôi thì hầu như quên hết chuyện đời ở chốn thị thành rồi, các bồ thông cảm. Riêng Ái Mỹ, nếu trong ba mươi giây nữa mà anh mình không nhớ ra và hỏi chuyện bạn thì bạn có quyền phạt thế nào cũng được. Ái Mỹ phải mất vài mươi giây mới nói được: - Biết người ta có chấp nhận chuyện phạt hay không đó mới là vấn đề. Lan Hương vẫn cố chọc Phước: - Vậy anh Phước nói đi chứ, chịu phạt hay không nào? Lâu lắm rồi Phước mới lại có được cái không khí vui đùa trẻ trung như thế này, nên chất trẻ trong anh cũng bùng lên rất nhanh, anh hòa nhập vào họ một cách dễ dàng, vừa nói vừa đưa mắt nhìn sang Ái Mỹ: - Có anh đàn ông nào có thể cưỡng lại được mệnh lệnh của đàn bà đâu? Tôi cũng còn là đàn ông mà! Nghe Phước nói vậy, ba cô bạn thích thú cười ầm lên, khiến cả quán quay lại nhìn. Lan Hương làm mặt lì. - Kệ họ, mình vui mà! Nhất là bữa nay sinh nhật người ta mà. Phước ngạc nhiên: - Ủa, sinh nhật em hả, Lan Hương? Lại được dịp để cô em nghịch ngợm càu nhàu: - Có cô em gái mà sinh nhật ngày nào cũng không nhớ nữa! Của em thì phải gần hè kia, còn bữa nay thì... Hương nhìn vào Ái Mỹ và chỉ chiếc bánh sinh nhật đang để ở bàn bên cạnh: - Chủ nhân của nó là đây. Rồi Hương nói thẳng ra: - Hôm nay sinh nhật của Ái Mỹ, lại trùng vào ngày anh Phước về nhận nhiệm sở mới, như vậy niềm vui nhân đôi đấy nhé! Mà đã nhân đôi thì cũng có nghĩa là nhân hai người chịu chi bữa tiệc này đó! Một cuộc gài độ rõ ràng, nhưng Phước lại thấy thích, anh tự nguyện: - Ông anh này xin tuân lệnh! Nói xong, anh lại đưa mắt kín đáo nhìn Ái Mỹ, mà nếu các bạn tinh ý sẽ thấy trong cái nhìn đó hàm ý sâu xa hơn là cái liếc nhìn thông thường. Ái Mỹ cũng kín đáo nhìn sang, rồi vội quay đi chỗ khác ngay khi thấy mọi người để ý. Lúc này thì Phước đã nhận rõ ý đồ của cô em Lan Hương. Cô nàng muốn ráp nối cho anh và Ái Mỹ, người mà trong những lá thư gửi cho anh, Hương đã có đề cập, có nói bóng gió là nếu anh không kịp tính thì có thể sẽ không có dịp để Hương gọi bạn mình là chị dâu. - Ôi chà, mơ mộng gì mà chẳng mời ai cả, ai dám ăn! Vô tình mà cả Ái Mỹ và Phước đều thả hồn đâu đâu. Mãi đến khi Lan Hương nhắc thì cả hai mới giật mình, lúng túng: - Mời... mời! Nào, hôm nay cho “người về từ ngàn trùng” mời nhé! Ái Mỹ cũng hào hứng: - Đâu có được. Lan Hương nói rồi mà, nhân đôi chứ! Mọi người được dịp tán thưởng: - Vậy là thừa nhận rồi nhé. Hoan hô cặp đôi! Vậy thì bữa nay không chỉ là tiệc sinh nhật mà còn là ngày... Cô bạn còn ngập ngừng thì Lan Hương đã bạo miệng: - Lễ ra mắt luôn! Cả hai, Ái Mỹ và Phước đều ngượng nhưng trong lòng họ có chút gì là lạ, mà chẳng ai trong bàn hiểu. Phước cố lắm mới nói được một câu: - Cám ơn các bạn! Lan Hương vẫn không buông tha: - Nhân danh ai mà cám ơn một mình vậy? Phải nói là chúng tôi. Ái Mỹ phát vào vai bạn một cái rõ mạnh: - Con quỷ cái! Lan Hương vừa né sang bên, vừa nheo mắt nói: - Nếu không nhờ con quỷ cái này thì chưa chắc quỷ đã gặp ma à nhe. Bữa tiệc tuy đơn sơ, nhưng không khí vui vẻ đó kéo dài đến gần mười giờ đêm. Ái Mỹ là người lên tiếng trước: - Phải để anh Phước về nghỉ, anh đã đi suốt ngày rồi. Mấy người kia cũng có ý như vậy, nhưng hứng chí, Phước quay sang Lan Hương nói: - Em đi với mấy bạn về trước, mang cả giỏ đồ của anh về luôn, anh mượn xe em đưa Ái Mỹ đi một vòng. Được chứ, bà mai? Lan Hương cũng không ngờ tình hình chuyển biến nhanh đến như vậy. Dĩ nhiên là cô nàng đồng ý liền và còn nói: - Em sẽ nói với cô Tư là anh bận đi nhậu với mấy người bạn tới tận nửa đêm mới về. Nói xong, họ chủ động đi trước, để cho hai người được tự nhiên. Bấy giờ Phước mới bộc lộ rõ ý của mình: - Lúc nãy có tụi nó anh không dám lộ chuyện của mình. Anh cám ơn về lá thư thăm hỏi của em mới đây, nhất là món quà mừng sinh nhật gửi trước. Nàng đột nhiên hỏi: - Anh không buồn vì món quà đó chứ? - Đóa hoa cúc khô ép trong lá thư? Hàm ý nói lời chia tay sớm? Nàng không đáp ngay, mà từ sau gáy mình, Phước cảm nhận có một tiếng thở dài. - Em sao vậy? Có lẽ chưa muốn phải nói những lời không vui, nên Ái Mỹ nói liền: - Mình kiếm chỗ nào vắng ngồi nói chuyện đi anh. Vào một quán vắng, không để Phước đợi lâu, cô đã nói liền: - Cho em xin lỗi anh về món quà đó. - Xin Iỗi, nhưng sao em lại gửi nó cho anh? - Chỉ vì... Cô lấy từ trong túi ra một chiếc hộp nhỏ, chưa mở ra thì Phước đã nói ngay: - Nhẫn cưới! Giọng của Ái Mỹ trầm hẳn xuống: - Gửi cho anh đến bốn lá thư, nhưng sao anh không trả lời? Phước quá đỗi ngạc nhiên: - Anh chỉ nhận được đúng một lá thư gần đây nhất, kèm món quà đáng ghét này! - Không lẽ... - Em gửi theo đường bưu điện? - Không, ba lá kia em nhờ Lan Hương chuyển. Phước đăm chiêu một lúc rồi lẩm bẩm: - Chẳng lẽ Lan Hương... Ái Mỹ cũng có ý nghĩ đó: - Hay là Lan Hương không muốn em báo những điều không hay đến anh? - Cũng có thể... Em biết đó, Lan Hương lúc nào cũng muốn chúng ta gắn bó, nên nó giấu hết mọi chuyện về em, nó sợ anh lo lắng. Ái Mỹ thở dài: - Chẳng thà nó cứ gửi hết những thư từ đó cho anh mà lại hay. Đỡ cho em... Phước không cầm hộp nhẫn cưới lên, anh hỏi, giọng lạc hẳn đi: - Em đã nhận lời người ta? Ái Mỹ quay nhìn ra chỗ khác: - Không phải em nhận, mà mẹ em... Rồi nàng kể lể: - Mẹ đang sống những ngày cuối đời bởi căn bệnh nan y, ý mẹ muốn được nhìn thấy em thành gia thất trước khi bà nhắm mắt. Mà anh thì cứ biền biệt. Em đã giải thích, năn nỉ nhiều lần, nhưng tội mẹ quá, nhiều hôm bà chỉ nằm thiêm thiếp, không ăn uống gì... Ái Mỹ khóc, nước mắt chảy dài mà Phước cảm giác như mình đang nuốt thứ nước mặn đắng ấy vào lòng. Cuối cùng anh chép miệng: - Anh chỉ xin em một điều... Anh không thể nói hết câu. Bởi nước mắt của anh cũng thật sự chảy ra. Anh nhẹ lắc đầu không nói thêm gì, mà cả những gì Ái Mỹ muốn nói anh cũng ngăn lại, không can đảm nghe tiếp. Suốt gần một giờ ngồi trong quán, hai người hầu như im lặng. Hộp nhẫn cưới đặt trên bàn giữa hai người, vô tình trở thành một vật ngăn cách tuy nhỏ bằng nửa nắm tay, nhưng chẳng khác một khoảng cách ngàn trùng... - Thôi, chúng ta về. Em cảm thấy mệt... Phước nghe theo, anh dẫn xe ra trong tâm trạng nặng nề, tưởng chừng như không thể đưa Ái Mỹ về được. Suốt dọc đường, anh nghe Ái Mỹ khóc trên lưng mình, những giọt nước mắt thấm ướt cả lưng áo... Gần 11 giờ đêm họ mới chia tay. Đứng nhìn theo bóng Ái Mỹ khuất dần sau cổng nhà cô, tự dưng Phước có cảm giác như mình vừa mất một thứ mà trong đời này anh sẽ không bao giờ có lại được. Trong một giây bàng hoàng, Phước quên cả thực tại anh quăng chiếc xe bên đường, lao theo tới trước cổng nhà và gào lên một tiếng thật to: - Ái Mỹ. Nhưng tự dưng tiếng của Phước như lạc vào một nơi nào đó mà âm thanh không hề phát ra, không hề có phản hồi. Phước biết điều đó và lại cố gào to hơn, nhưng hầu như mọi thứ đều không chịu theo lòng anh. Phước tưởng chừng như mình đang bị dìm xuống nước hay nhấc bổng lên không trung... Trong một tích tắc, Phước không còn tự chủ được, anh ngã chúi xuống và nghe văng vẳng có người nào đó gọi... mà chẳng phân biệt được tiếng của ai. Đến một lúc, Phước nghe như bên tai mình có một giọng nói rất khẽ, như hơi thở: - Bên nhau thì tồn tại, chia ly là đoản mệnh! Câu nói đó vừa dứt thì cũng là lúc Phước bàng hoàng tỉnh lại. Anh ngơ ngác nhìn quanh và hốt hoảng, bởi lúc ấy anh thấy chung quanh mình là một khung cảnh hoàn toàn khác lạ, không phải ở trước cổng nhà của Ái Mỹ như vừa rồi! - Sao kỳ vậy? Phước tự hỏi vừa quay nhìn khắp chung quanh, và anh càng kinh hãi hơn khi nhận ra mình đang đứng trong một bãi đất hoang, toàn cây cỏ, không có một bóng nhà. - Kỳ quái.. Phước cứ lặp lại câu nói và không thể nào tin vào mắt mình. Cho đến khi anh chợt nhìn xuống chân và đọc được trên một bia đá mấy dòng chữ: Phần mộ Yến Lan. Vừa đọc xong mấy chữ này thì một lần nữa, hai mắt của Phước hoa lên và anh hầu như không còn nhận ra chung quanh nữa. *** Lan Hương vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy một cô gái lạ đang dẫn chiếc xe Velo Solex rất giống xe của mình vào cổng. Cô gái lạ e dè lên tiếng hỏi:- Có phải nhà của cô Lan Hương? Hương bước ra ngay và không nghi ngờ gì nữa, chính chiếc xe kia là của chính cô bởi những đặc điểm riêng không lẫn lộn với xe của ai. Cô hỏi nhanh: - Sao cô lại... Cô gái lạ giải thích liền, có lẽ để tránh hiểu lầm: - Tôi đưa chiếc xe này tới đây, bởi có người chỉ nhà. Cô là Lan Hương? Lan Hương gật đầu: - Đúng tôi là Lan Hương. Nhưng tại sao... - Chiếc xe này tôi được một người dặn đưa tới đây giao cho cô. Chợt nhớ tới Phước, Hương hốt hoảng: - Vậy anh Phước đâu? Người chạy chiếc xe này... Cô gái lắc đầu: - Tôi không biết! Chỉ nghe người nhờ tôi bảo rằng chiếc xe này là của cô, phải đem trả lại cho cô ngay và hãy tới nghĩa địa Tiều Châu đưa ai đó về! Nói xong, cô gái quay đi ngay, không đợi hỏi thêm câu nào nữa. Lan Hương lấy xe đuổi theo định hỏi thêm chi tiết, nhưng chẳng còn thấy bóng cô ta đâu. - Nghĩa địa Tiều Châu? Không lẽ anh Phước... Không kịp suy nghĩ thêm, Hương phóng xe tới đó ngay. Khu nghĩa địa này nằm không xa trung tâm, nên chỉ một lúc sau thì Hương đã chạy thẳng vào trong. Cô không gặp ai, bởi nghĩa địa này hình như lâu nay bị bỏ hoang, chẳng có quán trang. Và không khó để Hương nhìn thấy một người nằm sóng soài trước một ngôi mộ xây còn tương đối mới hơn những mộ chung quanh. - Anh Phước! Lan Hương bỏ xe cách hơn chục mét, chạy tới chỗ người nằm vừa kêu lên, bởi cô đã nhận ra màu quần áo Phước mặc. Và đúng như vậy, Phước nằm im như chết! - Anh Phước! Phải gọi đến lần thứ ba thì Phước mới khẽ cử động, chứng tỏ anh còn sống. Lan Hương mừng quá: - Lan Hương nè, anh sao vậy? Phước bật dậy, anh cũng ngơ ngác: - Anh vẫn còn nằm đây sao? - Nhưng sao anh vào nghĩa địa làm gì? Nhìn thấy chiếc xe đằng kia, Phước ngạc nhiên: - Ủa, lúc nãy anh có chạy xe tới đây sao? Lan Hương kể lại. Phước càng không hiểu: - Sao lại có cô gái nào đưa xe tới nhà em? Anh đâu hề quen cô nào, tại sao cô ta lại... Anh chợt nhớ, thảng thốt kêu lên: - Không lẽ anh bỏ xe trước cổng nhà Ái Mỹ? Anh kể lại cho Lan Hương nghe diễn biến chuyện vừa qua, Hương hỏi lại: - Lúc ấy Ái Mỹ có thấy anh bị ngất không? - Chắc là không. Tuy nhiên, hình như có ai đó đứng gần bên anh nói điều gì mà bây giờ anh không còn nhớ... Bỗng Lan Hương kêu khẽ: - Yến Lan? Có phải... Lan Hương ghé mắt sát vào mộ bia ghi tên Yến Lan, nhìn kỹ ngày mất và ngày sinh trong đó, rồi hốt hoảng: - Đây đúng là mộ của người chị Ái Mỹ rồi. Phước cũng chợt nhớ ra điều gì đó: - Có phải cô chị cùng cha khác mẹ với Ái Mỹ, đã chết cách đây bốn năm năm, mà hồi đó em có đi đám đó không? Lan Hương gật đầu: - Đúng là chị ấy! Cái chết của người chị này từng gây ra bao xáo trộn trong nhà Ái Mỹ, đến đỗi cha của Mỹ đã đau buồn mà chết theo mấy năm sau đó. - Nhưng sao lại chôn cô ấy trong nghĩa địa hoang vắng này? - Em không rõ. Hình như... Ngập ngừng một lát Lan Hương kể: - Em từng nghe nói giữa mẹ của Ái Mỹ và Yến Lan này không thuận thảo với nhau. Kể cả Ái Mỹ cũng thế. Phước có phần hiểu: - Mẹ ghẻ con chồng chứ gì! - Có lẽ vậy... Rồi Lan Hương lại thắc mắc: - Mà sao tự dưng anh lại vào đây làm gì? Phước nhắc lại: - Thì như anh vừa kể cho em nghe, khi ngất thì trước nhà Ái Mỹ, nhưng khi tỉnh lại thì anh đã thấy mình nằm đây rồi. Anh đang thắc mắc thì chẳng hiểu sao người như bị say, lảo đảo và một lần nữa anh lại rơi vào cơn mê sâu. Chẳng hiểu ai đã nói câu “gần nhau thì tồn tại, chia ly thì đoản mệnh”, anh nghe văng vẳng nên không thể phân biệt được giọng của ai. Lan Hương cứ nhìn mãi vào mộ bia và thỉnh thoảng lại lẩm bẩm: - Sao lại là Yến Lan? Mãi đến lúc ra về rồi mà Lan Hương vẫn chưa hết nghĩ về cô gái này. Nên khi đưa Phước về nhà xong, cô đã chạy ngay tới nhà Ái Mỹ gọi cửa. Mẹ của Mỹ ra mở cổng, vừa thấy Hương bà đã mừng rỡ: - Bác đang tính cho người đi tìm con thì may quá con tới! Ái Mỹ bị bệnh nặng lắm! Lan Hương vào thăm thì phải giật mình, bởi chỉ sau một đêm mà trông Ái Mỹ tiều tụy hẳn, da mặt xanh xao một cách kỳ lạ. - Sao vậy Mỹ? Ái Mỹ không đáp được, chỉ khẽ khẽ lắc đầu rồi nằm im. Hai dòng lệ lăn dài trên má. Bà Châu, mẹ Mỹ kể: - Chẳng hiểu sao trong cơn mê sảng đêm qua, nó cứ gọi tên con chị nó. Bà nói chưa dứt thì Lan Hương đã nói liền: - Yến Lan! Bà Châu gật đầu: - Nó cứ kêu tên con Yến Lan rồi thỉnh thoảng lại gào lên như sợ con ấy làm gì nó vậy! Lan Hương muốn kể lại chuyện của Phước, nhưng nhớ tới việc bà Châu không thích Phước, nên im lặng quay đi. Đợi đến khi bà bước ra ngoài, Hương mới kề tai nói nhỏ với Mỹ: - Anh Phước cũng gặp chị Yến Lan! Ái Mỹ không phản ứng nhanh nhẹn được, nhưng một tay cô cũng chụp được tay của Hương, siết rất yếu ớt và thều thào: - Anh... Phước... - Anh ấy khỏe lại rồi. Mỹ nói mình nghe coi, bồ bị sao vậy? Chị Yến Lan đã làm gì bồ? Hình như Mỹ không nói được điều cô đang nghĩ, nên đôi lần cô mím chặt môi và cứ để cho nước mắt chảy ra hầu như không dứt. Nhìn cảnh tượng đó, Lan Hương linh tính có điều gì đó không ổn. Cô định về gọi Phước tới, nhưng vừa khi ấy ngoài cửa đã có người lên tiếng hỏi: - Mỹ ra sao rồi má? Người đó là Toàn, anh chàng đang là “người thứ ba” đáng ghét chen vào tình cảm giữa Ái Mỹ và Phước. Không muốn gặp anh ta nên Lan Hương bước ra ngoài, tránh xuống nhà sau. Đợi lúc anh chàng bước vào phòng của Ái Mỹ rồi, cô mới ra ngoài, dẫn xe đi mà không chào bà Châu. Phóng xe trên đường mà đầu óc Hương để đâu đâu. Mãi đến khi chợt bên tai vang lên câu nói của ai đó: - Đừng xía vào chuyện của thiên hạ, trong khi chuyện của mình vẫn chưa xong! Tốt hơn là nên quay về nhà, những gì đang đợi sẽ đáng tốn sức hơn nhiều. Quay lại nhìn trước sau, không thấy ai là người đang nói câu đó. Lan Hương nói cố cho ai đó nghe: - Là người đàng hoàng thì nên đối mặt mà nói chuyện! Không nghe trả lời. Hương nghĩ là họ đã nghe được mình, nên tiếp tục nói: - Tôi tuy là con gái nhưng không hề sợ chuyện quỷ ma. Nếu thật sự đây là hồn ma bóng quế thì nên gặp trực tiếp tôi sẽ hay hơn! Vẫn không có lời đáp, nhưng bất ngờ có một vật gì đó rơi đúng vào ghi đông xe của Lan Hương khiến cô hơi đảo tay lái, buộc lòng phải tấp vào lề. Lúc ấy, cô mới nhận ra vật vừa rơi và máng trên tay lái là... một con mèo con thật đẹp! Vốn thích súc vật, đặc biệt là mèo, nên thay vì bực mình, Lan Hương lại chụp lấy con vật, ôm vào lòng vừa xuýt xoa: - Ai mà ác quá, ném con mèo, chút nữa nó chết rồi! Con mèo hình như cảm thấy được cưng, nên tỏ thái độ thân thiện ngay với Hương bằng cách dụi đầu vào ngực cô, đồng thời phát ra tiếng kêu khe khẽ như biểu thị sự thích thú, vui mừng. Nhìn trước sau một lần nữa, Lan Hương lẩm bẩm: - Không thể bỏ con mèo này lại đây được, xe cộ quá nhiều sẽ gây nguy hiểm cho nó ngay! Cô một tay ôm con mèo, một tay chạy xe, tuy có bất tiện, nhưng rồi Lan Hương cũng đem được nó về nhà. Mang vào phòng riêng, Hương lấy cái mền còn mới, úm nó lại, chăm sóc như một đứa trẻ: - Ngoan đi cưng, chị mày sẽ nhận làm em nuôi, sẽ cho mày chung phòng từ nay nhé! Con mèo chừng như hiểu, nó càng tỏ ra trìu mến hơn với Hương, khiến cô nàng càng lúc càng thích thú, nằm vuốt ve nó mãi trên giường. Ngủ một giấc dài, cho đến khi đồng hồ treo tường đổ ba tiếng thì Lan Hương mới thức giấc. Việc đầu tiên của cô là đưa tay mò trong bóng tối để tìm con mèo cưng, nhưng chẳng hề thấy đâu. Nghĩ nó chạy đi đâu đó, chắc chắn chỉ nội trong phòng thôi, bởi cửa sổ, cửa lớn đều đóng kín trước lúc đi ngủ. Vậy mà sau gần chục phút cố sức tìm, vẫn biệt tăm con vật bé xíu đáng yêu kia. Lan Hương mở cửa gọi to ra ngoài: - Mẹ ơi, có thấy con mèo nhỏ của con không? Bà Bảo Tín, mẹ Lan Hương từ phòng riêng bước ra ngạc nhiên hỏi: - Con mèo nào? Nhà mình từ khi con Miu Miu mất trộm đến giờ có nuôi thêm con nào đâu? - Có! Con mèo con mới đem về. Mèo nhị thể đẹp lắm. - Mèo nhị thể là mèo gì? - Con mèo có hai màu đen, trắng. Bà Tín lắc đầu: - Mẹ ngủ sớm, con về mẹ còn không hay, thì làm sao thấy con nhị thể, tam thể gì! Con thử hỏi con Sáu Lanh coi. Sáu Lanh là chị người làm, đã chạy từ ngoài vào mà không cần chủ gọi. Chị ta hớt hải: - Có cái này bà chủ ơi! Trên tay chị ta ôm một cái hộp giấy được đóng gói cẩn thận. Bà Bảo Tín ngạc nhiên hỏi: - Hộp gì của ai vậy? - Dạ, không biết của ai, con thấy đặt ngay trước cổng nhà mình, mà ngoài hộp lại đề gửi cho cô Lan Hương, nên con... Lan Hương giật mình: - Gửi cho tôi? Cô bước tới nhìn vào thì rõ ràng người nhận chính là cô, không đề tên người gửi. - Cái này để ngoài cửa lâu chưa? - Tôi cũng không biết. Nhưng chắc là không lâu, bởi nếu lâu thì chắc gì còn, vì họ để khơi khơi ngoài cổng. Chẳng biết cái gì bên trong nữa. Đích thân Lan Hương khui thùng ra. - Trời ơi, quân ác nhân! Nghe con gái kêu thất thanh, cả bà Tín và Sáu Lanh đều bước tới nhìn. Trong thùng có ba con mèo với hai sắc lông đen, trắng đang nằm im như chết! Lan Hương bị kích động dữ dội: - Ai? Ai đã giết chúng thế này? Ai mà ác hơn loài cầm thú, trời ơi! Trong số ba con mèo chết có con mà Lan Hương đã đem về. Sở dĩ cô nhận ra nó là nhờ sợi dây rubăng đỏ mà cô đã tự tay đeo vào cho nó. Bà Bảo Tín sợ con gái mình vì quá xúc động mà có thể xảy ra chuyện không hay, nên vội đưa tay đóng nắp thùng lại. Nhưng đó cũng là một tai họa, vì tay bà vừa chạm vào thùng thì cả ba con mèo đồng loạt bật dậy phóng ra khỏi thùng. Chúng không chạy đi, mà mỗi con chọn một người đang có mặt, rồi bất thần cắn mạnh vào cổ tay cả ba. Bà Bảo Tín thét lên trước một tiếng rồi ngã lăn ra, kêu đau! Sáu Lanh cũng làm y như vậy. Chỉ có Lan Hương, mặc dù cũng đau buốt, tê cứng cánh tay, nhưng cô ráng sức bóp chặt chỗ vết cắn lại, hô to: - Đi lấy thuốc sát trùng mau lên! Sáu Lanh biết là bảo mình, nhưng do cơn đau nhức quá dữ dội, nên chị ta không thể ngồi dậy được. Lan Hương phải tự tay mình bò vào phòng mình tìm thuốc. Lấy được lọ thuốc sát trùng bôi vào vết thương xong, Lan Hương cố đứng lên bằng cách vịn vào chiếc tủ đứng. Và vô tình, cô nhìn bóng mình trong tấm gương soi, Hương kêu thét lên: - Sao thế này? Ngay giữa sống mũi của cô, có một nốt ruồi cỡ như con ruồi trâu mọc lên ở đó. Nghĩ mình bị vật gì đó bám phải nên Lan Hương lấy tay gỡ nó ra. Nhưng vật ấy hầu như đã dính chặt vào da thịt, không thể tách ra được! Đồng thời toàn thân của Hương bỗng dưng sốt lên rất cao, khiến cô choáng váng, lảo đảo. Tuy nhiên, cô vẫn cố đi trở ra nhà ngoài và phải kêu thét lên: - Trời ơi, má. Trên mũi của bà Bảo Tín và Sáu Lanh đều có một nốt ruồi giống hệt như của Lan Hương. Lan Hương chỉ kịp chứng kiến tới đó, rồi cô lịm đi. Hai người kia hầu như cũng trong tình trạng đó. Trong phút chót thì cả ba người đều nằm im như ba cái xác chết giữa phòng khách. Ba con mèo như ba cái bóng ma lao vút ra cửa và mất dạng. Phần 2 Nhiều biến cố dồn dập khiến cho Phước choáng váng. Muốn đến thăm người yêu mà không dám. Trong lúc đó lại nghe tin về Ái Mỹ làm cho Phước càng thêm lo. Cuối cùng, anh đành thu hết can đảm tới nhà Mỹ. Trái với sự lo lắng của anh, vừa bước vào nhà, anh đã được bà Châu săn đón: - Cháu ơi, giúp bác với! Phước ngạc nhiên: - Thưa bác, chẳng hay có chuyện gì? - Con Ái Mỹ... Bà nói tới đó thì òa lên khóc. - Thưa bác. Phước nhìn vào trong, cố ý đợi Ái Mỹ xuất hiện. Nhưng câu nói của bà Châu đã làm cho anh chới với: - Con Mỹ đã bỏ nhà đi rồi! - Mỹ đi đâu? Bà Châu nhìn thẳng vào Phước: - Bác đang muốn hỏi cháu. Bác nói thật bác chỉ có mình nó, xưa nay nó luôn nghe lời bác, ngoan ngoãn chưa bao giờ làm trái ý. Vậy mà lần này nó lại cãi, nó chỉ nói một câu rồi bỏ nhà đi liền. Bác nghĩ nó đi với cháu. Phước xua tay lia lịa: - Dạ, con xin thề với bác, con không hề biết gì chuyện Mỹ bỏ nhà đi! Chính con đang sốt ruột muốn gặp được Mỹ nên mới mạo muội tới đây thăm. Bà Châu thất vọng: - Vậy mà bác cứ nghi. Bây giờ bác phải làm sao đây? Nếu nó làm chuyện dại dột gì thì chắc là bác không sống nổi. Bà lại khóc sướt mướt. Phước tìm cách an ủi và hỏi rõ hơn: - Thưa bác, tại sao Mỹ làm chuyện dại dột đó? Đúng ra bà Châu không nói với Phước chuyện riêng tư của con, nhưng trong tình thế này, bà quên cả giữ gìn: - Chỉ vì bác ép nó lấy thằng Toàn. Mà con cái nó dại dột quá, nếu không chịu thì để bác còn tính lại, chứ đâu phải bác không thương con cái... Lâu nay Phước không có thiện cảm với người đàn bà này, nhưng giờ đây nhìn thấy bà đau khổ, anh đâm ra áy náy: - Thưa bác, cháu có thể làm được gì, xin bác cứ dạy, cháu nguyện làm hết sức mình. Bà Châu cầm tay Phước, giọng thành khẩn: - Cháu làm cách nào tìm giùm nó về cho bác. Nói với nó là bác tha thứ hết kể cả việc bác không ép nó nữa. Nó muốn làm theo ý gì bác cũng chịu! Phước sốt sắng: - Dạ, cháu sẽ làm theo lời bác. Nhưng có điều này, cháu muốn hỏi: bác có một người con tên Yến Lan phải không? Cô ấy và Ái Mỹ có điều gì... Tuy Phước không nói hết ý, nhưng bà Châu đã hiểu, bà đáp ngay: - Chị em nó không thuận thảo nhau. Nhưng con Yến Lan đã chết từ lâu rồi... Phước thấy không cần phải giấu: - Vừa rồi cháu đã vào nghĩa địa và gặp ngôi mộ của Yến Lan. Cháu thấy có những điều khác thường nhưng chưa thể lý giải được... Bà Châu đăm chiêu một lúc rồi nói: - Con Yến Lan đã chết lâu rồi, chẳng hiểu sao mấy bữa nay con Ái Mỹ lại nhắc nó hoài, bác lo quá! - Bác có nghĩ giữa họ đang có việc gì đó không bình thường hay không? Bà Châu lắc đầu: - Bác không biết nữa. Chỉ thấy lo lo thôi... Hai người đang nói chuyện ở phòng khách thì chợt có tiếng động khác thường phòng trong. Bà Châu giật mình nói: - Ủa có chuyện gì trong phòng con Ái Mỹ? Bà chạy vào và ngay sau đó là tiếng la thất thanh: - Trời ơi! Phước chạy vào theo và anh khựng lại khi nhìn thấy trong phòng có ba con mèo đang nằm trên giường như đang ngủ say! Bà Châu lắp bắp: - Nhà đâu có nuôi mèo mà sao chúng nó lại ở đây? Đã nghe Lan Hương báo tin vụ ba con mèo này nên giờ đây nhìn thấy nó, Phước lo lắng: - Những con mèo nhị thể... Những con mèo đen trắng này phải chăng là... Phước không dám nói hết ý, nhưng trong thâm tâm anh đang nghĩ tới điều không hay. Mà điều này nếu nói ra lúc này e sẽ khiến bà Châu lo lắng thêm nên anh im lặng, chỉ đưa mắt chăm chú nhìn ba con mèo. - Cháu... đuổi nó đi giùm bác. Phước ngần ngại, nhưng không từ chối được nên phải bước hẳn vào phòng, vỗ mạnh tay và xua: - Đi! Đi ra! Ba con mèo không động đậy, Phước phải bước tới gần hơn và vỗ tay mạnh hơn. Lần này có tác dụng, bởi một trong ba con mèo nhúc nhích và bất ngờ phóng thẳng lên, gần đụng trần nhà! Bà Châu hốt hoảng: - Coi chừng! Bà vừa kịp lùi lại thì một vật gì đó rơi xuống ngay trước mặt. Phước vừa kịp nhìn thấy, anh kêu lên: - Con mèo! Vẫn là con mèo trắng đen, nhưng lúc này nó cụt mất cái đầu mà thân mình thì đầy những máu. Thấy máu, bà Châu run lẩy bẩy, vừa lảo đảo. Phước phải chạy tới đỡ bà và dìu lại ngồi xuống chỗ bàn phấn. Nhưng bà Châu đã không còn có thể ngồi được, người bà đổ về một bên khiến Phước hốt hoảng, phải dìu bà ra phòng ngoài. Phải gần nửa giờ sau, bà Châu mới hồi tỉnh. Vừa mở mắt ra bà kêu lên: - Con Yến Lan! Phước ngạc nhiên: - Bác nói Yến Lan ở đâu? Chỉ vào khoảng không, bà run run giọng: - Nó... nó ở chỗ kia! Nói xong, bà ôm lấy mặt sợ hãi. Phước ngước nhìn theo hướng tay bà chỉ vừa rồi, và anh điếng hồn khi thấy trên cánh quạt trần có hai con mèo treo lơ lửng. Máu từ miệng chúng đang tuôn chảy, rơi xuống đỏ cả một khoảng sàn nhà! - Bác! Phước cảm thấy luồng khí lạnh đang chạy theo sống lưng của mình... *** Phải mất hơn một tuần sau, Phước mới lấy lại cân bằng, anh trình diện nhiệm sở mới. Người ta chuyển anh về một bệnh viện khá nổi tiếng và ngay buổi làm việc đầu tiên, Phước đã gặp một ca bệnh khó. Người trợ lý khoa cho biết:- Có một bệnh nhân tuy đã chết lâm sàng rồi, nhưng người vẫn ấm, đồng tử chưa giãn nở, do đó ta chưa thể chuyển xuống nhà xác được, ý anh thế nào? Tuy được phân công trưởng khoa, nhưng là người mới, nên Phước dè dặt: - Các anh em, nếu cần thì ta cứ để xem lại. Tôi sẽ trực tiếp xem. Anh vào phòng cấp cứu, chỉ có một bệnh nhân duy nhất còn lại đó. - Nam hay nữ? Cô y tá hướng dẫn Phước đến bên giường bệnh nhân vừa bảo: - Cô gái còn khá trẻ, người ta chuyển vào đây lúc chiều trong tình trạng hôn mê sâu. Ai cũng ngỡ cô bị chấn thương gì đó, nhưng sau khi xem kỹ thì không thấy thương tích gì, cũng không có dấu hiệu gì là tự tử. Chẳng hiểu sao lại như thế này. Phước vừa nhìn vào người bệnh đã thất thần khi nhận ra đó là Ái Mỹ! - Trời ơi! Cô y tá ngạc nhiên: - Người quen của bác sĩ? Phước giục: - Chị lấy ống nghe giúp tôi! Anh mất bình tĩnh đến đỗi đặt ống nghe trật vuột mấy lượt. Phát hiện có dấu hiệu còn mạch, Phước phấn khích: - Còn sống! Cô y tá Sương cũng phấn khởi: - Còn có thể cứu được phải không bác sĩ? Từ chiều đến giờ tụi em cứ sợ lại phải thêm một lần chuyển người bệnh xuống nhà xác! Phước kề sát tai Mỹ gọi khẽ: - Anh đây, Phước đây, Mỹ! Cô nàng vẫn không có phản ứng gì. Phước vẫn gọi: - Ái Mỹ! Anh cầm bàn tay nàng và lạ sao bàn tay xanh tái kia từ từ nắm chặt lại và giữ tay Phước như không muốn rời ra. - Em không sao rồi, Mỹ ơi. Phước lúc này là một người thân chứ không phải là anh quên sự có mặt của cô y tá bên cạnh, vội áp mặt mình vào mặt bệnh nhân. - Thưa bác sĩ, có cần làm cấp cứu không? Phước giật mình, vội bảo: - Chị lấy ống thuốc trợ tim, chích cho cô ấy. Nhưng cô y tá chưa lấy được ống thuốc thì đã nghe Phước hốt hoảng: - Mỹ! Ái Mỹ! Ái Mỹ lồng lên dữ dội, xô ngã Phước ra và hai tay bứt tung cả nút áo ngực, để lộ ra ngực trần. Phước lại kêu: - Mỹ, em đừng... Nhưng tiếng kêu của Phước chưa dứt thì Ái Mỹ đã bất động trở lại, như một xác chết. Mà là xác chết thật sự khi Phước đưa tay đặt lên mũi cô: - Ái Mỹ! Phước đang chụp lấy vai cô vừa lắc mạnh thì đã phải ngừng lại, sửng sốt khi nhìn lên bộ ngực trần. Từ đầu nhũ bên này kéo dài sang đầu nhũ bên kia có ba nốt ruồi đen, tròn, giống như ba hạt đậu nằm rải đều nhau! Đây không phải lần đầu Phước nhìn thấy ngực người yêu, nên anh vừa sững sờ vừa sợ hãi. Mãi một lúc anh mới cất tiếng được: - Chị gọi thêm... Anh định bảo cô y tá gọi thêm bác sĩ tăng cường, nhưng kịp nghĩ lại, anh ngăn lại: - Thôi, không cần! Rồi tự tay anh kéo áo nàng lại một cách cẩn thận. Dù không cố ý, nhưng tay Phước cũng chạm vào một trong ba nốt ruồi ấy, và như có luồng điện cực mạnh truyền sang, khiến Phước bị bắn bật ra, ngã hẳn xuống sàn! - Ái Mỹ! Khi một số bác sĩ khác chạy vào tiếp cứu thì đều nhận xét: - Bệnh nhân đã chết hẳn rồi! Phước tuy không dám chạm vào thân xác của người yêu, nhưng anh vẫn chưa muốn rời nàng, do vậy anh chưa cho chuyển Ái Mỹ xuống nhà xác. Anh ngồi rất lâu, thỉnh thoảng cứ muốn nhìn lại ba cái nốt ruồi kỳ lạ ấy, nhưng lại cũng không dám... Chính Phước là người nhận xác người yêu về ngay đêm hôm đó mà không để bệnh viện chuyển xuống nhà xác. Bà Châu đau buồn vì mất con bao nhiêu thì Phước đau cũng không kém, ngoài ra anh còn nỗi ray rứt không yên là không cứu được nàng, dù phút cuối anh cận kề bên cạnh. Khi tang lễ chấm dứt, đưa quan tài Ái Mỹ ra nghĩa địa, anh quyết liệt chống đối việc thiêu xác. Anh cố thuyết phục bà Châu: - Con xin bác đừng thiêu xác Mỹ, con muốn cô ấy được nguyên vẹn. Bà Châu phải nghe theo, dù mọi thủ tục thiêu xác đã được chuẩn bị. Phước còn đề nghị và được chấp thuận: - Ở phần vườn nhà con nhiều khoảng trống, con xin bác hãy cho chôn Ái Mỹ ngay trong đó. Bà Châu lại nghe theo và còn bảo Phước: - Bác muốn con qua bên này lo giúp bác một thời gian. Nhà hiện nay không còn ai. Bác thì có bệnh tim. Phước nhận lời ngay. Trước mắt, gần như suốt ngày anh ở ngoài phần mộ. Cứ đốt hết đợt nhang này đến đợt nhang khác hầu như không bao giờ dứt khói hương. Hằng ngày cho mãi đến khi trời tối mịt Phước mới vào nhà. Anh xin phép được ngủ ở phòng của Ái Mỹ và được bà Châu chấp thuận, bà còn bảo: - Con coi trước khi chết nó có để lại di bút gì không? Phước cố tìm, nhưng không thấy gì. Cả hai đêm liền Phước đều khó ngủ và lại tìm khắp các phòng trong, mong thấy được một cái gì đó chứng tỏ Ái Mỹ chán chường và tuyệt vọng, mà vẫn không có. Qua đêm thứ ba, tức tròn một tuần từ ngày Mỹ chết, Phước quá kiệt sức nên đi ngủ sớm. Ngay khi từ ngoài mộ Ái Mỹ về, chưa kịp thay quần áo Phước đã ngả lưng ngủ ngay. Không biết giấc ngủ kéo dài bao lâu, cho đến khi Phước nghe có một tiếng ho khan của ai đó ngay trong phòng mình, đồng thời anh ngửi được mùi thuốc lá rất lạ. - Ai vậy? Phước vừa bật dậy thì đã nghe có người lên tiếng, giọng đàn ông: - Ngày nào cũng ăn ngủ chập chờn như vậy thì liệu sống được bao lâu nữa? Trong phòng lúc ấy không có ánh sáng, nhưng qua giọng nói Phước biết người ấy đang ngồi bàn cạnh cửa sổ. Ông ta lại tiếp: - Cậu cứ ở đó không cần phải mở đèn lên, ta sợ ánh sáng. Lúc này Phước mới hỏi: - Ông là ai? Tôi nhớ lúc đi ngủ đã chốt cửa phòng lại rồi mà! Một tiếng cười khẽ cất lên: - Cửa chốt lại là để ngăn người trần, chứ người trong thế giới vô hình thì cửa khóa có nghĩa gì với họ! Phước hốt hoảng: - Ông là... - Cậu có sợ cũng chẳng có ý nghĩa gì nữa, bởi ta đã ở đây, cận kề bên cậu rồi. Cậu sợ thì cũng không thể thoát được, nếu ta muốn ra tay... Câu nói có tính hăm dọa thật sự không làm cho Phước sợ, tự dưng anh cảm thấy tự tin hơn, nên nói liền ý nghĩ của mình: - Giờ phút này tôi còn đang muốn được chết, bởi người yêu tôi không còn hiện hữu trên cõi đời này nữa thì sự sống cũng đâu còn nghĩa lý gì với tôi nữa! Người đàn ông im lặng một lúc mới lên tiếng trở lại, giọng có hơi khác: - Cậu yêu người con gái ấy đến thế sao? Đó là lòng thành hay chỉ là... - Tôi không việc gì phải dối lòng. Vả lại ông không là gì để tôi phải bày tỏ... - Khá khen cho cậu. Nhưng có một điều tôi thấy tiếc... Ông ta ngừng nói một lúc nữa, rồi đột ngột hỏi: - Cậu có chắc là đã chôn người yêu của mình? - Kìa ông, chuyện ấy là của tôi. Chính tôi đã... - Đã chôn nàng ngoài sau vườn nhà này chứ gì? Tôi nghiệp cho một con người si tình nhưng thiếu sáng suốt! Cậu có nghĩ là mình chỉ chôn xác ba con mèo không? Câu hỏi khiến cho Phước giật mình: - Ông nói sao? Làm gì có chuyện ấy! Chính tôi... Có tiếng xô ghế đứng lên của người kia, kèm theo lời nói: - Tin hay không thì cậu ra mà xem. Tôi chỉ muốn giúp cậu thôi. Im lặng hoàn toàn sau đó. Phước hỏi to: - Ông còn đó không? Chẳng nghe tiếng trả lời. Phước chạy tới công tắc đèn, bậc lên thì chẳng thấy ai trong phòng mình nữa. Cửa vẫn chốt chặt từ bên trong. Nhớ lại câu nói của ông ta, Phước lặp lại một mình: - Không có xác của Ái Mỹ... Anh tốc cửa chạy ra ngoài. Lúc này Phước mới biết trời vừa sáng. Việc đầu tiên của Phước là chạy ra phần mộ của Ái Mỹ và sau đó tìm mấy vật dụng để đào đất. Phước hành động một mình, bởi sợ kinh động đến bà Châu thì sẽ bị phản đối. Đào mộ mới chôn nên cũng không khó để Phước đào tới nắp quan tài chỉ sau mười lăm phút. Không chần chừ, Phước tìm cách nạy nắp quan tài lên. Cũng không khó. Khi nắp quan lộ ra, Phước đã sửng sốt kêu lên: - Trời ơi! Trong quan tài rõ ràng có ba con mèo nhị thể nằm rải đều ra từ đầu đến cuối. Ngoài ra không có xác của Ái Mỹ! Điều này không thể nào xảy ra, bởi khi liệm xác Mỹ thì chính tay Phước đã làm. Vậy thì tại sao? Không thể nào lý giải được, nên Phước chỉ còn biết đứng thừ người ra, chưa biết phải làm sao, thì bỗng có một cơn lốc xoáy thổi lên khiến Phước phải lảo đảo lùi ra mấy bước. Đến khi cơn lốc qua rồi, Phước nhìn lại thì trong quan tài không còn xác ba con mèo nữa, mà đất của phần mộ cũng được lấp lại nguyên vẹn như lúc chưa đào! Vẫn còn chưa hết bàng hoàng, nên Phước cứ lầm bầm: - Không thể nào, không thể là như thế này được! Phải hơn một giờ sau anh mới trở vào nhà, gặp bà Châu ngay cửa ra vào, bà reo lên khi thấy Phước: - Bác đợi cháu nãy giờ. Có chuyện này... Bà hạ thấp giọng như sợ có người nghe: - Ba con Ái Mỹ về báo mộng cho bác biết con Ái Mỹ chưa chết sao bữa mình đem chôn nó? Phước không thể giấu chuyện vừa rồi, liền thú thật: - Cháu cũng được biết chuyện đó nên mới đây cháu đã đào mộ lên. Bà Châu hỏi dồn: - Vậy có cứu được nó không? - Không có xác của Mỹ dưới mộ. Câu nói của Phước làm cho bà Châu tròn xoe mắt: - Vậy nó ở đâu? Không lẽ chỗ ba nó nói? - Bác trai bảo thế nào? - Ở chỗ mộ con Yến Lan. Phước giật mình: - Sao lại ở chỗ ấy? Tuy nói vậy, nhưng Phước lại vừa bước ra cửa, bà Châu hỏi: - Con đi đâu vậy? Không trả lời, Phước gọi xích lô đi thẳng tới chỗ nghĩa địa vắng hôm trước. Đến trước ngôi mộ Yến Lan, nhìn trước sau không thấy gì khác lạ, Phước vừa định bước trở ra thì chợt nghe văng vẳng trong gió giọng người đàn ông quen quen: - Phải tìm thì mới gặp chứ cớ sao chỉ đứng đó mà nhìn! Chẳng hiểu có động lực nào thúc đẩy mà Phước lại bước về hướng bên trái. Có lẽ anh theo giọng nói vừa phát ra. Năm phút sau, Phước đã đứng trước một ngôi nhà xiêu vẹo, cửa đóng nhưng không khóa. Nghĩ là có người bên trong nên Phước cất tiếng gọi: - Có ai trong nhà cho tôi hỏi thăm... Chẳng có ai lên tiếng, nên gọi đến lần thứ hai thì Phước mạnh dạn đẩy cửa vào. Bên trong có ánh sáng từ chiếc đèn dầu hắt ra, chiếc giường tre ọp ẹp có một người nằm. - Ái Mỹ! Vừa trông thấy người trên giường, Phước đã nhận ra ngay là người yêu. Anh chạy tới thật nhanh và quả đúng là Ái Mỹ đang nằm im. Chạm tay vào nàng, Phước mừng rú: - Còn sống. Thân thể còn ấm. Chỉ có điều là bất động như xác chết. Là một bác sĩ, Phước hiểu điều đó có nghĩa là nàng còn sống. Anh nắm chặt bàn tay nàng, gọi khẽ: - Mỹ, anh đây. Phước đây. Nàng vẫn bất động. Chợt giọng nói lúc nãy vang lên: - Áp thân cậu vào thân nó, Mỹ sẽ tỉnh lại! Như một mệnh lệnh, Phước làm theo mà không chút e dè. Và anh cảm thấy máu trong người mình chuyển động mạnh. Hơi nóng từ thân thể Mỹ từng lúc ấm thêm lên... Đến một lúc, Phước bị hất tung ra, suýt văng xuống sàn. Nhưng khi nhìn lại anh mừng quá, reo lên: - Mỹ! Em tỉnh lại rồi! Ái Mỹ bật dậy rất nhanh và lên tiếng ngay: - Tôi đang ở đâu? - Anh đây! Nhìn thấy Phước, nàng òa lên khóc! Chợt giọng nói lúc nãy thúc giục: - Đưa nó rời khỏi đây ngay. Không biết Ái Mỹ có thể đi được hay không, Phước bế xốc nàng lên và chạy như bị ma đuổi ra khỏi nơi đó! Mãi khi lên taxi rồi, Phước mới để ý mình đang ở một khu ngoại ô vắng vẻ... Khi về đến nhà rồi, Phước vẫn chưa tin là sự thật. Anh quay sang định hỏi thì thấy Ái Mỹ đang dựa vào vai mình ngủ thiếp đi. Có lẽ quá mệt chứ không phải ngất. Hơi thở của nàng đều đều... Khỏi nói thì cũng biết, khi nhìn thấy cả hai bước xuống xe ngoài cổng, bà Châu đã gần như muốn đứng tim. Mãi đến khi Phước dìu Ái Mỹ vào đến bậc thềm bước vào nhà, bà mới lắp bắp: - Có phải... có phải… Phước nói ngay để bà an tâm: - Ái Mỹ còn sống bác ạ! Ái Mỹ ôm chầm lấy mẹ, chỉ có khóc chứ không nói được lời nào! Bà Châu cũng thế. Phước bước về phòng định dọn dẹp để Ái Mỹ vào được thoải mái. Tuy nhiên vừa khi ấy anh khựng lại, bởi mùi thuốc lá bay phả vào mũi đến khó chịu. Mùi này đã một lần Phước ngửi được, anh vừa định lên tiếng hỏi thì đã nghe giọng nói quen thuộc của người đàn ông: - Cậu vừa cứu nó khỏi cái chết cầm chắc mười mươi! Bây giờ còn một việc cuối cùng nữa, cậu làm được thì vĩnh viễn nó là của cậu. Cậu phải trở lại nghĩa địa, đem xác ba con mèo và chôn bên cạnh mộ con Yến Lan. Chỉ có cậu làm được việc đó, và cậu làm thì mới có hiệu quả. Hãy làm ngay đi, xác ba con mèo đã được đem lên khỏi mộ trống của Ái Mỹ, cậu cứ mạnh dạn mang đi, không việc gì phải ngại. Không chờ Ái Mỹ vào phòng, Phước vội ra sau vườn và quả nhiên anh nhìn thấy cái thùng giấy đặt sẵn ở đó. Ba con mèo nằm im trong thùng như đang ngủ say. Đã từng chứng kến điều kỳ lạ từ ba con mèo này, nên Phước cẩn thận nhặt sợi dây gai gần đó cột chặt nắp thùng lại rồi mới nhanh chóng mang đi. Đến nghĩa địa, Phước chưa biết phải làm sao đào đất thì đã nhìn thấy một chiếc xẻng ai đã đặt sẵn ở đó. Anh đào một lỗ rất vừa, chôn cái thùng giấy xuống và lấp đất lại, có nấm nhô lên chẳng khác một ngôi mộ nhỏ. Làm vừa xong thì Phước có cảm giác như đất dưới chân mình rung chuyển nhẹ, và hình như có tiếng khóc từ dưới mộ của Yến Lan vọng lên. Anh hơi hoảng, tuy nhiên nhớ đến lời dặn của người đàn ông, anh bình tĩnh bước nhanh ra khỏi nơi ấy. Phước nghe văng vẳng phía sau mình tiếng khóc rất lạ... *** Việc Ái Mỹ sống lại sau hơn một tuần chết, chính Phước cũng không hiểu tại sao. Anh chỉ ngầm hiểu rằng có điều thần bí gì đó. Đến khi nghe bà Châu kể chuyện bà gặp chồng trong giấc mộng đêm qua thì Phước mới tin là thật sự có chuyện cõi âm trong việc này. Bà Châu bảo:- Ông nhà tôi thương con Yến Lan, bởi mẹ nó mất là do ông gây ra, nên kể từ khi ông ấy chết sau khi con Yến Lan tự tử thì chưa lúc nào ông ấy về báo mộng cho bác hay Ái Mỹ. Vậy mà vừa rồi hết về gặp cậu, rồi gặp bác, khi nào ông ấy cũng lo lắng chuyện con Yến Lan định bắt hồn Ái Mỹ! Nhà tôi bảo rằng nếu không có cậu thì ông ấy không ngăn con Yến Lan ra tay. - Cháu không quan tâm lắm chuyện oan hồn cô Yến Lan, chỉ thắc mắc chẳng hiểu sao Ái Mỹ chết đã hơn một lần mà tim vẫn còn hoạt động, và tại sao ra khỏi mộ được? Bà Châu kể tiếp: - Ông nhà tôi nói rằng, do không muốn thêm một đứa con của mình chết nữa, nên ông đã kịp thời ra tay cứu Ái Mỹ khi mình vừa hạ huyệt xong. Ái Mỹ chưa kịp chết hẳn, đã được ông cứu và đưa tới ngôi nhà hoang. Yến Lan thì nhất quyết phải đòi cho được mạng của Mỹ, bởi có như thế nó mới trả được mối hận. Nó là một hồn ma thật sự, nó có thể ra tay hại người rửa hận, còn ông nhà tôi chỉ là một vong hồn. Vong hồn khác với hồn ma. Vong không hại người, chỉ hiện về báo điều lành dữ cho người sống mà thôi. Chính ông ấy đã gặp cháu mấy lần đó. Phước nhớ lại giọng nói đầy thiện cảm của người đàn ông, anh lặng người một lúc rồi nhẹ giọng nói: - Bây giờ cháu đã hiểu. Cháu xin cảm ơn vong hồn của bác trai. Anh tỏ ý muốn trở về nhà mình thì bà Châu chân tình nói: - Bây giờ bác đã hiểu điều tệ hại của việc ép duyên con. Bác muốn cháu giúp con Ái Mỹ trở lại tình trạng cân bằng. Vậy tốt nhất là cháu nên ở đây thêm một thời gian nữa. Rồi sau đó về thưa chuyện với bà thân, mời bà sang đây nói vài lời, bác sẽ đồng ý cho hai đứa hết hợp với nhau. Ý cháu thế nào? Phước chưa kịp đáp thì Ái Mỹ đã từ nhà trong chạy ra ôm lấy mẹ, ríu rít: - Con cám ơn mẹ! Anh Phước cũng vậy, anh ấy cũng như con. Bà Châu mắng yêu con gái: - Sao lại nói thay cậu ấy được, con khỉ này chỉ tài lanh! Phước nói nhanh: - Đây là điều con mong đợi từ lâu rồi! Một tháng sau. Đám cưới của Ái Mỹ và Phước diễn ra trong sự lo lắng của bà Châu và cả Lan Hương nữa. Những người biết chuyện báo thù của hồn ma Yến Lan đều nơm nớp lo sợ điều chẳng lành sẽ xảy ra trong lễ cưới. Nhưng may mắn, lễ cưới đã diễn ra êm thấm. Cả ba, bà Châu, Ái Mỹ và Phước ngầm hiểu là có sự che chở của ông Châu. Họ khấn vái ông ngay trong lễ cưới. Và cũng không quên khấn hương hồn Yến Lan. Ái Mỹ đã nắm chặt tay chồng, nói vọng vào khoảng không: - Em cám ơn chị Yến Lan. Tụi em sẽ sống hạnh phúc và mong được chị mãi mãi phù hộ... Và họ đã có những ngày hạnh phúc sau đó. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 39
HỒN TRĂNG Ông thầy thuốc bước ra khỏi phòng bệnh nhân với tâm trạng phấn khởi. Ông xoa tay nói với bà mẹ: - Bà cứ yên tâm, cô nhà xem như đã khỏi bệnh hẳn rồi, mà về đây có điều kiện tịnh dưỡng tốt nữa thì chắc chắn chỉ sau vài tuần là trở lại bình thường và có thể... Biết ông ta sắp nói gì, nên bà Cẩm Tú đưa tay ngăn lại: - Cả nhà này bây giờ chẳng ai nhắc tới điều đó nữa. Vậy lần sau có tới khám thì ông cũng không nên nói. Tiễn ông bác sĩ tâm thần ra về rồi, bà Cẩm Tú đem tâm trạng vui lây đó trở vào phòng con gái, tính chúc mừng. Nhưng vừa đẩy cửa bước vào bà đã phải sững người lại, bởi ngay trước mặt bà là một người đang treo cổ trên sợi dây thòng lọng. - Trời ơi! Bớ... Sự xất hiện của bà Tú đã làm cho hai chân của người đó chưa kịp đá văng chiếc ghế thì đã phải dừng lại. - Má phá đám con hoài! Chẳng nói thêm lời nào, bà Tú nhào lên giường, chụp lấy hai chân con gái ôm chặt vừa van lơn: - Đừng làm vậy con! Mẹ đây, con gái... Từ từ cởi sợi dây thòng lọng ra khỏi cổ, bình tĩnh như không có chuyện gì xảy ra, cô nàng quay sang trách mẹ: - Mẹ không để con thử một chút. Bà Cẩm Tú sờ trán con, vừa dìu Thu Hoa xuống, bà lo lắng: - Sao thầy thuốc nói con đã khỏe hẳn rồi? Thu Hoa vẫn tỉnh queo: - Thì con có sao đâu? Con thử coi cảm giác của một người đưa cổ vào dây nó thế nào, mà tại sao mấy người kia người nào cũng thích chui vào đó! Bà Tú ngạc nhiên: - Mấy người kia là ai? - Trong nhà mình đây nè! Bà Tú giật mình: - Con gặp ai trong nhà này? Đưa tay chỉ ra cửa sổ, rồi lại chỉ lên trần nhà: - Họ ở mọi nơi, chỗ nào cũng có, mà người nào cũng treo cổ lè lưỡi dài cả tấc luôn! - Trời ơi, con tôi... Bà Cẩm Tú chưa kịp vui đã phải buồn hơn, bà quay đi giấu đôi dòng lệ vừa tuôn ra, cố không cho con thấy, nhưng Thu Hoa đã phát hiện, cô nàng phá lên cười: - Mẹ lại khóc nữa rồi! Vừa rồi con hù mẹ chơi mà chứ có phải làm thật đâu. Mẹ coi kìa, chiếc thòng lọng con làm bằng giấy mà làm sao siết cổ được.. Cô và mẹ cùng nhìn lên trần một lượt và cùng kêu thét lên: - Trời ơi, sao vậy? Sợi dây thòng lọng mà Thu Hoa nói là bằng giấy lúc ấy đang lay động và xoay vòng như được ai đó điều khiển. Chính Hoa cũng quá đỗi ngạc nhiên: - Sao vậy mẹ? Bà Cẩm Tú run giọng: - Con làm gì nó? Thu Hoa xua tay lia lịa: - Con đâu có làm gì, con chỉ vo tròn mấy tờ giấy lại giả bộ như treo cổ, sao bây giờ nó... nó... Việc đó chỉ diễn ra trong vòng mấy mươi giây rồi sau đó thì chẳng còn thấy gì nữa. Bà Cẩm Tú sợ hãi bảo con gái: - Hay là con qua ngủ chung với mẹ? Thu Hoa ngoan ngoãn nghe theo, điều đó chứng tỏ cô đã thật sự hết bệnh. Khi sang phòng mẹ rồi, Hoa còn nói: - Chắc tại con ở bên đó một mình nên bị ám ảnh. Mà chẳng hiểu sao con cứ nhìn thấy những sợi dây thòng lọng đó mãi chứ không phải cái gì khác. Bà Tú ngại con sợ thêm nên nói cho qua: - Có lẽ con bị một hình ảnh nào đó trước đây tác động. Mà thôi, con đừng bao giờ suy nghĩ lung tung nữa thì sẽ ổn thôi. Bà Tú còn cẩn thận gọi chú Mười làm vườn và Cảnh tài xế dặn thật kỹ: - Con Thu Hoa trong thời kỳ dưỡng bệnh, không ai được làm gì gây ra tiếng động lớn. Hai người chú ý, hễ nghe gì bất thường thì chạy tới ngay. Mười Hưởng đã sống lâu năm trong nhà nên biết ý, ông nói ngay: - Tôi ở đây lâu, phân biệt được cả tiếng mèo chạy hay chó rình mồi, không có gì qua được tai tôi đâu! Hai mẹ con yên tâm, nên đóng cửa đi ngủ sớm. Tuy nhiên, hình ảnh chiếc thòng lọng quái dị lúc nãy cứ ám ảnh bà Cẩm Tú hoài. Ngoài mặt trấn an con, nhưng trong lòng bà thắc mắc ngày càng lớn. Nó gợi cho bà nhớ tới câu chuyện khi bà mới bước chân về nhà này làm dâu. Ngày đó có người nói với bà rằng gia đình họ Vương này có nhiều người chết do thắt cổ nhưng sống lâu trong nhà mà không thấy có gì khác lạ, nên dần dần chuyện ấy đi vào quên lãng. - Mẹ chưa ngủ sao? Nghe con hỏi, bà Tú vờ như buồn ngủ, đáp: - Mẹ sắp ngủ... Một lát sau bà đã nghe Thu Hoa ngáy đều. Mười một giờ, đột nhiên bà Tú bật dậy, trong đầu bà vừa lóe lên một việc mà không thể đợi trời sáng. Bà nhẹ nhàng bước xuống giường và tin chắc là Thu Hoa không phát hiện bởi liều thuốc ngủ con bé uống mỗi tối ít nhất cũng giúp nó ngủ đến gần sáng. Nơi bà tới là căn phòng ở phía đông. Trước đây nó từng là phòng riêng của vợ chồng bà khi còn ở đây. Sau khi cả nhà chuyển về thành phố, lúc sinh tiền chồng bà đã dùng phòng này làm nơi lưu giữ nhiều thứ có giá trị, trong đó có cả giấy tờ và hình ảnh gia đình. Xâu chìa khóa riêng của bà mở được tất cả phòng trong nhà, nhưng từ mấy năm nay, khi lui tới trở lại ngôi nhà này bà Tú chưa bao giờ đặt chân vào đây. Tuy nhiên, do đã ở trong mấy năm liền, nên bà Cẩm Tú không cần bật đèn lên cũng có thể mò trong bóng tối đi mà không đụng vào đồ vật để trong. Khi đến sát tủ quần áo mà bà biết chắc còn lại trong phòng và yên chỗ cũ bởi nó to lớn khó chuyển đổi vị trí. Bà Tú mở đèn pin lên. Cánh cửa tủ vẫn còn nguyên chiếc chìa khóa cắm trong ổ khóa. Nhẹ tay bà kéo cánh cửa tủ ra, bà nghĩ trong đó chứa đầy những vật dụng linh tinh. Nhưng hoàn toàn ngoài sức tưởng tượng của bà, trong khoang tủ lớn treo một dọc những bộ quần áo phụ nữ đủ màu sắc. Hình ảnh đó khiến bà Cẩm Tú giật mình, bà bước thẳng tới mở công tắc đèn. Đèn vừa sáng lên thì càng kinh ngạc hơn khi căn phòng thật lộng lẫy, khang trang và sạch bóng như đang có người. - Kỳ vậy? Bà không thể nào tưởng tượng được, bởi đây là nhà bà, tuy bỏ không ở, nhưng làm sao lại có người vào ở mà bà không biết? - Chú Mười... Bà vừa cất tiếng định gọi ông làm vườn, cũng là người được giao nhiệm vụ quản gia bấy lâu nay. Tuy nhiên, tiếng gọi chưa thoát ra ngoài thì mắt bà Cẩm Tú đã dừng lại chiếc giường ngủ trải ra trắng tinh. Trên giường có một người đang nằm im, màn màu hồng nhạt buông phủ xuống. - Ai? Bà Tú hỏi hơi to. Không có tiếng hồi đáp, cũng chẳng thấy người nọ cử động. Bà lại bước tới gần và dừng lại sát mép giường, lên tiếng lần nữa: - Ai đây, tôi muốn nói chuyện. Không nghe trả lời, bà Tú hơi bực mình nên đưa tay đụng vào góc mùng, không ngờ chỉ vừa chạm nhẹ thì vải mùng đã rệu rã ra và rơi xuống từng mảng. Có thể mùng đã được giăng quá lâu và người nằm trong đó... - Trời ơi! Bà quay người chạy nhưng do quá vội nên chân vướng vào thành giường, bất ngờ ngã sóng soài, tay chạm vào cái mền người nằm đang đắp, một bên mền tốc ra để lộ nguyên mái tóc dài và một gương mặt mà bà Tú vừa nhác thấy đã hồn phi phách tán. Một cái đầu lâu còn tóc! Cố bò, lết nhưng hình như chỉ một quãng ngắn thì bà Tú đã ngã người ra và ngất đi. - Bà chủ! Bà chủ! Mở mắt ra vừa thấy ông Mười làm vườn, bà Cẩm Tú vẫn còn bàng hoàng: - Cứu... cứu tôi! - Bà không sao rồi. Lúc nãy nghe tiếng động, tôi với chú Cảnh tài xế cùng chạy lên chỉ thấy bà đang nằm trước cửa phòng đằng kia. Sao khuya rồi bà còn đi đâu để xảy ra chuyện vậy? - Nó đâu rồi? Ông Mười ngạc nhiên: - Nó nào? Đưa tay chỉ vào căn phòng, bà vẫn còn sợ hãi: - Nó... trong phòng... Tài xế Cảnh đứng gần đó tới mở cửa phòng ra và nói: - Đâu có gì trong này! Mặc dù còn choáng váng nhưng bà Cẩm Tú cũng gượng đi về phía đó, bà đưa mắt nhìn vào và vẫn thấy khung cảnh y như hồi nãy, chỉ có cái giường thì trống không, chiếc mùng buông xuống vẫn còn đó nguyên vẹn. - Không thể nào... Bà lẩm bẩm và đảo mắt khắp nơi như tìm kiếm. Ông Mười bảo: - Căn phòng này từ nhiều năm nay tôi không có chìa khóa nên không mở cửa để dọn dẹp. Mà sao bây giờ nó lại mở ra như thế này? Bà Tú muốn giấu chuyện vừa rồi, nhưng bà lại lỡ lời: - Cái xác trên giường... Ông Mười ngạc nhiên: - Bà chủ nói xác gì? Bà đành phải thuật lại chuyện, nghe xong ông Mười cũng quá đỗi kinh ngạc: - Làm sao có chuyện đó được, từ nào đến giờ tôi ở đây giữ nhà, có hề thấy chuyện gì xảy ra đâu? Mà rõ ràng, trên giường đâu có ai. Dù đang sợ, nhưng bà Cẩm Tú cũng trở lại bên giường quan sát thật kỹ, không hề có một dấu vết gì chứng tỏ mới vừa có một người nằm, mà lại là một xác chết nữa. - Không thể được... Bà cứ lặp lại nhiều lần câu nói. Ông Mười bảo: - Hay là bà bị ám ảnh chăng? Bà Tú nổi giận: - Bộ ông cho rằng tôi bịa đặt chắc! - Dạ, tôi đâu dám... Thấy bà định bỏ về phòng riêng, ông Mười nhắc: - Bà khóa cửa phòng này lại. Đích thân bà khóa cửa lại rồi dặn tài xế Cảnh: - Chuẩn bị xe cho tôi về Sài Gòn. Con Thu Hoa cùng đi nữa. Bà trở về phòng mình, cất tiếng gọi con gái: - Hoa ơi, dậy chưa con? Không nghe Hoa đáp, bà Tú đẩy cửa vào, bà hốt hoảng kêu lên: - Nó đâu rồi? Lúc ấy chỉ mới hơn một giờ sáng, bên ngài trời tối đen, nên bà Tú càng lo sợ hơn, đi khắp các phòng coi có nó trong đó không. Bà bước qua căn phòng mà Thu Hoa mấy hôm nay ở, trong phòng cũng trống không. Tìm kiếm một lát, ông Mười và Cảnh đều báo: - Dạ, không thấy cô Hoa đâu cả! Nghĩ tới cơn bệnh tái phát của con, bà Tú quýnh lên: - Không xong rồi, mọi người kiếm khắp vườn xem! Một cuộc tìm kiếm quy mô được tung ra, có sự tham gia của những người ở xóm lân cận nữa. Cho đến sáng hôm sau... - Vẫn chẳng thấy tăm hơi gì. - Ông Mười bảo - Cửa cổng khóa chặt, tường lại cao, dứt khoát cô ấy không thể leo ra được. Mấy người hàng xóm cũng sốt sắng: - Để tụi tôi tìm xa hơn một chút xem. Cách đây ba bốn cây số mới ra đường xe ôtô nên có đi ra ngoài đó thì giờ này chưa chắc cô ấy đón được xe. Cho đến gần trưa mà cuộc tìm kiếm cũng chưa đem lại kết quả gì. Bà Cẩm Tú bắt đầu nghĩ tới điều tệ hại nhất, nên chỉ còn biết ngồi ôm mặt khóc ròng. Nhìn bà như thế, ông Mười cũng bất nhẫn: - Sao toàn những chuyện rắc rối không vậy trời! Quá kiệt sức bà Tú định trở về phòng nghỉ ngơi thì chợt bà nghe như có ai gọi mình. Bà dừng lại lắng nghe kỹ hơn và xác định tiếng kêu đó phát ra phía đông. Bà theo quán tính đi về hướng đó và cuối cùng, bà dừng lại bên căn phòng vừa xảy ra chuyện. - Sao lại đây? Tuy tự hỏi với vẻ lưỡng lự, nhưng cuối cùng bà Tú cũng đưa tay mở cửa phòng lần nữa. Tiếng kêu của ai đó chấm dứt. Cũng vừa lúc bà Tú kêu lên: - Con Thu Hoa! Con gái bà đang ngồi bật dậy ngay trên chiếc giường kia khi bà mở cửa. - Mẹ! Cô gọi trong trạng thái bình thường, nhưng cũng khiến bà Tú sợ hãi: - Sao... con lại ở đây? Thu Hoa bình thản đáp: - Thì con ngủ. - Con đang ở phòng mẹ mà, sao bây giờ lại ở đây? Nghe mẹ nhắc, Thư Hoa mới nhìn chung quanh rồi ngỡ ngàng: - Ủa con cứ tưởng... - Ra, ra khỏi đây mau! Bà nắm tay Thu Hoa lôi nhanh ra khỏi phòng trước sự ngạc nhiên của cô gái: - Sao vậy mẹ? Ra ngoài rồi, bà mới hỏi lại: - Ai đưa con vào đó? - Đâu có ai. Con ngủ trong phòng mẹ, đâu biết gì. Nỗi sợ hãi khiến bà Cẩm Tú run hai đầu gối, bước đi một cách khó khăn. Bà giục: - Đi nhanh đi con. - Đi đâu mẹ? - Rời khỏi đây, về Sài Gòn ngay, đi nào! Từ khi bị bệnh, không khi nào Thu Hoa cãi lại mẹ, nhưng lúc này cô giằng tay ra khỏi bàn tay bà Tú, nghiêm giọng: - Con không thích về, con thích ở đây thôi! - Kìa, Thu Hoa... Vừa nói xong tức thì cô nàng lập tức trở lại căn phòng khiến bà Tú kinh hãi: - Đừng. Đừng vào đó, không được. Nhưng bằng động tác rất nhanh Thu Hoa đã bước vào phòng và đóng sầm cửa lại. Bà Tú đập cửa, kêu to: - Thu Hoa! Con phải nghe mẹ, trong đó có... Bà nói tới đó thì như bị ai bóp ngang cổ, khiến lời bà không phát ra được nữa. Bà lảo đảo và ngã chúi xuống. - Bà chủ... Tài xế Cảnh từ ngoài hốt hoảng chạy vào, thấy vậy anh ta định đỡ bà dậy, nhưng bà Tú vừa chỉ tay vào: - Mở... mở ra. Cảnh chưa biết chuyện gì thì từ bên trong có giọng Thu Hoa: - Để tôi nghỉ ngơi đừng ồn ào! Cảnh ngỡ bà chủ chưa biết Thu Hoa ở trong đó nên mừng quýnh, lay mạnh bà dậy: - Bà chủ, cô Hoa ở trong kia. Nhưng đến lượt anh ta im bặt sau đó, bởi hình như anh ta cũng bị cái gì đó làm cho sợ hãi, trợn tròn mắt và chỉ muốn chạy khỏi nơi đó mà chẳng làm sao nhúc nhích được... Việc để cho Thu Hoa ở lại là điều bà Cẩm Tú không hề muốn. Tuy nhiên, kể từ khi đóng cửa phòng lại và quyết liệt từ chối không chịu ra của Hoa, bà Tú hiểu rằng bà đã không còn kiểm soát được con gái. Qua hai ngày sau Thu Hoa mới chịu mở cửa và cô tỏ ra như chẳng có việc gì khi nói với mẹ: - Con cảm thấy thoải mái khi ở trong căn phòng đó, vậy mẹ đừng thắc mắc gì nữa. Cứ đà này chỉ vài tuần là con sẽ trở lại bình thường thôi. Nhìn sắc diện của con, lại nghe Hoa nói thế, mặc dù vẫn còn chưa yên tâm, nhưng bà Tú cũng tạm chấp nhận: - Thôi thì cũng được. Nhưng mẹ hỏi thật con, lúc trong phòng đó con có thấy điều gì bất thường không? Thu Hoa lắc đầu: - Con ngủ yên và cảm thấy thoải mái còn hơn là ở phòng mẹ hay phòng riêng của con nữa. Rồi cô còn khoe: - Con tìm được mấy cái này... Cô đưa ra một cái khung ảnh có hình hai người chụp chung, mà vừa thấy nó bà Tú đã thất thần: - Ở đâu con có cái này? - Con lấy được trong tủ áo. Mặt ba hồi trẻ so với lúc già không khác mấy, chỉ có mẹ... Bà Tú rít lên: - Không phải! Hoa ngơ ngác: - Mẹ nói cái gì không phải? - Cái hình này! Đó không phải mẹ. Bà giằng lấy và tiện tay ném mạnh ra ngoài cửa sổ! Tiếp theo là một tiếng kêu thất thanh và bà ôm lấy mặt, đau đớn. Chiếc khung ảnh vừa bị ném, chẳng hiểu sao lại bay trở lại và nhắm trúng vào mặt bà Tú, khiến bà gục xuống, máu me đầm đìa. - Kìa mẹ! Đoán được phần nào cơn thịnh nộ của mẹ vừa rồi, Thu Hoa cầm tấm ảnh lên, hỏi: - Vậy ai trong hình với ba vậy? Bà Tú rũ người xuống trông thật thảm hại, Hoa thấy thương mẹ vô cùng: - Mẹ nói con nghe đi, có chuyện gì vậy? Mãi một lúc sau bà Tú mới nói, giọng đứt quãng: - Người đó nào có buông tha ba con ra như ba con đã nói. Họ vẫn là một cặp đôi đó thôi! - Nhưng... đây là chuyện cũ rồi mà mẹ, hồi ba còn trẻ. Vả lại bây giờ ba đã chết rồi. Bà Cẩm Tú cầm khung ảnh lật ra phía sau và gỡ ảnh ra khỏi khung, chỉ cho Hoa xem: - Con đọc dòng chữ sau này sẽ rõ! Thu Hoa chú ý tới dòng chữ viết khá nắn nót, nét chữ của cha cô: “Mùa Xuân Canh Thân, đánh dấu ngày mặt trăng của chúng ta ra đời! Cám ơn em Thu Hà!” - Thu Hà là người trong ảnh này? Bà Cẩm Tú không đáp thẳng, nhưng câu nói tiếp theo của bà đã như câu trả lời: - Đã lấy tôi rồi mà lúc nào cũng Thu Hà, cũng em ơi, em hỡi! Và cũng đi tìm vầng trăng non cho bằng được, trời ơi! - Trăng non là gì mẹ? Ai là mặt trăng của ba như lời trong ảnh này? - Hãy tìm cha con mà hỏi! Vừa nói bà vừa vụt chạy bay ra ngoài. - Mẹ! Ông già Mười hình như đã chứng kiến từ đầu đối thoại giữa hai mẹ con, ông nhẹ giọng nói: - Cô hãy để cho bà tĩnh tâm đã. Chính bức ảnh này đã khiến cho bà bị sốc đó! - Nhưng... sao lại sốc? Người trong ảnh là ai ông Mười biết không? Ông già nhìn thẳng vào Thu Hoa một lúc, rồi hỏi: - Cô có thật sự muốn biết không? - Ông Mười biết thì kể cho con nghe đi. Bà ta tên Thu Hà phải không? - Phải! Bà ta tên Thu Hà, bởi vậy bà đặt tên cho các con đều bắt đầu cũng bằng chữ Thu. Thu Nguyệt, Thu... Ông lại nhìn Thu Hoa và ngừng lại. Linh tính của Hoa hiểu đang có điều gì đó liên quan tới mình, cô hỏi nhanh: - Còn Thu gì nữa? Ông già Mười trầm ngâm một lúc mới tiếp lời: - Trước khi kể tới những tên Thu khác tôi xin kể cho cô nghe chuyện về cái chết của cô Thu Nguyệt, con gái lớn của bà Thu Hà này. Ông đằng hắng lấy giọng, mà có lẽ cũng để lấy bình tĩnh. - Hôm đó là một đêm trăng sáng vằng vặc, cũng tại một ngôi nhà giống như nhà này, nhưng ở cách đây hơn trăm cây số. Một trong hai đứa bé song sinh đã chết do bị rơi từ trên lầu cao xuống đất. Nó chết, bởi vì nó có tên là Trăng, là Thu Nguyệt. Thu Hoa chặn ngang: - Là con của bà Thu Hà này? - Phải! Cũng may là đứa bé kia còn sống sót. - Nhưng sao lại rơi từ trên cao xuống? Bà ấy lỡ tay làm rơi chăng? Giọng ông Mười đầy bi phẫn: - Bị người ta ném! - Trời ơi! Ai mà dã man vậy chứ? - Chỉ vì ghen mà người ta nỡ nhẫn tâm như vậy, bất kể đó là một đứa trẻ vô tội! Bởi vậy trời cao có mắt, kẻ đã gây họa thì chẳng bao giờ được quyền làm mẹ, mà phải suốt đời mượn con thiên hạ làm con của mình. Thu Hoa càng nghe càng không hiểu, cô hỏi thẳng: - Ông Mười nói gì vậy? Ông già nhẹ lắc đầu rồi bỏ đi. Hoa định chạy theo thì đã nghe ông nói vọng lại: - Cô tự mà tìm hiểu. Mọi thứ đều có ngay trong phòng ngủ của cô đó. Ông đi khuất rồi mà Thu Hoa vẫn còn chưa hết thắc mắc. Chợt nhớ tới mẹ, cô chạy theo hướng bà đã đi lúc nãy. Nhưng vừa ra tới cổng thì đã gặp tài xế Cảnh chạy xe về, anh chặn Hoa lại và nói: - Bà bảo cô đừng đi tìm, bà đang ở ngoài kia chờ đi chung xe với một người quen về Sài Gòn luôn. Vài hôm bà sẽ lên. Anh ta móc túi đưa cho Hoa gói giấy nhỏ: - Bà dặn cô cất kỹ vật này. Nó sẽ cần cho cô lắm. Thu Hoa mở ngay gói ra và ngạc nhiên khi đó là chiếc vòng ngọc thạch có chạm hình mặt trăng giữa nền trời mây bay. Không kịp hỏi gì thêm thì tài xế Cảnh đã rồ xe đi. Thu Hoa ngẩn ngơ nhìn theo, sau đó cô lững thững trở vào nhà mà lòng dạ bồn chồn không yên. Thu Hoa về phòng ngồi thừ ra rất lâu, rồi cô theo quán tính lại lục lọi tủ áo. Lần này cô gặp thêm một bức ảnh chân dung khác, trong đó chỉ có ba người: người đàn bà mà mẹ cô gọi là bà Thu Hà và hai đứa trẻ khoảng lên 5, một đứa có khuôn mặt bầu bầu, đôi mắt tròn như hai hạt nhãn, còn đứa kia cũng y như vậy, nhưng tóc lại cột cao, nhờ vậy mà thoạt nhìn có thể phân biệt được là hai đứa khác nhau, chứ thật ra chúng giống nhau như hai giọt nước. - Sao đứa có tóc để dài này giống y như mình? Lật phía sau bức ảnh, mắt Thu Hoa dán chặt ngay vào dòng chữ: Hai mặt trăng mùa thu của mẹ: Thu Nguyệt, Thu Hoa! - Cái gì? Sao lại là... Thu Hoa? Trời đất như đang quay cuồng trước mặt Hoa. Cô phải vịn vào thân tủ mới đứng vững được. Nhìn lại bức ảnh lần nữa, và Hoa không còn giữ được bình tĩnh, cô kêu lên: - Thu Hà, Thu Nguyệt, Thu Hoa, cả ba đều là Thu! Cả ba... Đôi tay Hoa run khiến không cầm được bức ảnh, để nó rơi xuống chân. Vừa cúi xuống nhặt lên thì tay Hoa chạm phải một gói giấy nhỏ bên cạnh hộp đựng ảnh, vừa mở nó ra cô đã sững sờ: lại một chiếc vòng ngọc thạch khác có hình dáng và màu sắc giống y như chiếc vòng mà tài xế Cảnh vừa mới đưa. Nhìn lại nét chạm khắc trên đó thì cũng giống, ngoài ra còn có một khóm hoa cúc trong bức tranh chạm hình trăng, mây và hoa. - Hoa mùa thu, Thu Hoa. Hai chiếc vòng này nhỏ xíu, dành cho trẻ con đeo. Mà trong bức ảnh kia, trên cổ tay hai đứa bé đều có đeo hai chiếc giống như nhau. - Hai chiếc vòng này! Thu Hoa chợt hiểu, cô lạnh cả người khi ý nghĩ chạy qua trong đầu: - Mình là... con của người đàn bà này? Thấy một chiếc hộp thiếc thứ hai trong tủ, Thu Hoa chụp lấy và mở tung nó ra. Trong đó vẫn là bức ảnh giống như vậy, nhưng được phóng lớn ra và bôi lem luốc cả vì những vệt giống như máu lâu ngày biến thành màu nâu sậm. Thu Hoa đọc được mấy chữ: “Nó giết con rồi Nguyệt ơi!” Ngoài ra còn có một cuộn dây gai khá to, thắt hình cái thòng lọng mà vừa trông thấy Thu Hoa đã kêu lên: - Chiếc thòng lọng! Cô đã từng bị ám ảnh bởi sợi dây thòng lọng mà nên vừa thấy nó Thu Hoa đã lùi lại, sợ hãi! Khiến cho chiếc hộp thiếc trong tay cô lại bị rơi xuống sàn. Từ trong đó bay ra một mảnh giấy nhỏ mà vừa trông thấy chữ viết là Hoa biết ngay là của cha mình: “Trong hai mặt trăng bé bỏng của chúng ta chỉ còn có một, nhưng sao em không ở lại cùng với nó mà lại vội ra đi, Thu Hà ơi!” - Ba! Ba nói gì con không hiểu? Thu Hoa gào lên như đang đứng trước mặt người cha đã quá cố của mình. Cô lặp lại câu hỏi đến ba lần, đến khi khàn cổ họng thì quay ra gọi lớn: - Ông Mười ơi! - Tôi đây, cô Hoa! Ông già Mười đã đứng ngài cửa phòng từ lúc nào rồi. Ông lên tiếng: - Tôi định để cô một mình, nhưng biết có những điều cô chưa rõ, nên tôi phải trở lại. Đó, mọi việc đang bày ra trước mắt cô đó, cô tìm hiểu đi... Thu Hoa nhào tới chụp lấy ông: - Ông nói cho con biết, con và người đàn bà tên Thu Hà kia là thế nào? Bà ấy... - Mọi thứ đã nói hết rồi, sao cô còn hỏi. Cô là một trong hai Thu mà bà ấy đã nhắc. - Như vậy con là... là con của bà ấy? - Cùng với người chị song sinh đã chết là con đẻ của bà ấy và cha là... người mà từ trước đến giờ cô vẫn gọi là cha! Thu Hoa vẫn chưa tin hẳn: - Không thể nào! - Cô có biết sợi dây thòng lọng đó là gì không? Câu hỏi nhắc Hoa điều mà cô muốn biết. Thu Hoa nhìn dưới chân, nhưng Hoa vẫn chưa dám cầm, thì giọng ông Mười lại vang lên: - Đó là sợi dây oan nghiệt đã giết chết một mạng người! - Bà Thu Hà? Ông Mười không đáp, nhưng sự im lặng của ông đã như xác nhận. Thu Hoa nhìn ông, hỏi lại: - Sao nghe nói là bà ấy chết vì lý do khác? Ông Mười lắc đầu: - Trong nhà này có nhiều việc tưởng vậy mà không phải vậy! Giống như cô đâu phải muốn chết, vậy mà cô vẫn đưa đầu vào dây thòng lọng. Bị chạm đúng vào điều mà mình đang bị ám ảnh, Thu Hoa có vẻ sợ, nên im lặng. Ông già Mười ngừng một lúc, lại nói tiếp: - Cô không muốn biết tại sao người sinh ra cô lại chết như vậy sao? - Nhưng mà... - Kể cả cha cô nữa, tại sao ông cũng chết sau khi chị và mẹ cô chết không lâu. Thu Hoa im lặng. Trong cô đang có cuộc xáo trộn lớn. Từ nào đến giờ không khi nào cô có gợn một chút gì không hay về người cô vẫn quen gọi là mẹ: bà Cẩm Tú. Vậy làm sao trong một vài giây cô có thể nghĩ khác về bà. - Được rồi, cô cần có thời gian suy nghĩ. Mà cũng nên hiểu kỹ mới được. Chuyện không đơn giản đâu. Giọng ông già Mười xa dần, đến khi Hoa nhìn lại thì không còn thấy ông đâu nữa. Cô vẫn còn muốn tìm hiểu thêm, nên lại xốc tung quần áo trong tủ lên. Tuy nhiên, bỗng dưng cánh cửa phòng đóng sầm lại và ngọn đèn duy nhất trong phòng tắt ngấm, bóng tối bao trùm. Thu Hoa bước tới mở công tắc thì mới biết là cúp điện. Cô lò mò tìm hộp diêm và cây nến, nhưng phải thất vọng, bởi hai vật đó không có ở nơi thường lệ. - Ông Mười ơi! Hoa gọi đến mấy lượt mà không nghe ông già Mười lên tiếng. Đoán ông đã ra ngoài vườn nên tự Hoa phải đi xuống nhà bếp tìm cách đốt đèn. Khi cô trở lại phòng mình thì chẳng cách nào mở được cửa. Chúng đã bị khóa bên trong. - Ủa, mình đâu có khóa? Thu Hoa rất ngạc nhiên, bởi khi nãy đi ra cô vẫn để cửa mở. Phải mất hơn mười lăm phút sau mới tìm được ông Mười. Ông cũng phải dùng xà beng mới nạy được cửa ra. Lúc bung cửa, ông bảo: - Căn phòng này đã nhiều lần tự đóng và tự khóa như vậy. Hình như đây là cõi riêng của bà ấy vậy. Lúc cửa mở bung ra, Thu Hoa nhìn thấy có một người treo cổ lơ lửng phía trên giường ngủ. - Trời ơi. Ông già Mười hốt hoảng kêu lên: - Bà chủ! Thì ra người đang treo cổ kia chính là bà Cẩm Tú! - Mẹ. Họ chạy tới thì may quá, có lẽ bà Tú mới vừa thực hiện hành vi đó, nên thân thể còn cử động. Ông Mười kịp gỡ dây xuống và làm cấp cứu ngay. Bà Tú mở mắt ra thấy họ mà như nhìn thấy quỷ ma, bà thét lớn: - Để tôi tự làm! Hãy để tôi làm. Bà quơ tay như tìm vật gì, đến khi chạm phải sợi dây thòng lọng mà ông Mười vừa cởi ra, bà ta lập tức lấy tròng vào cổ mình. Thu Hoa phải giằng lại và nói to: - Mẹ làm gì vậy, con đây mà! Con cứu mẹ được rồi! Bà Cẩm Tú hình như không màng đến Thu Hoa, bà chồm dậy vừa gào lên: - Hãy chờ tôi với. Hãy chờ tôi! Bà bật dậy rất nhanh và tung chạy ra ngoài trước sự bất ngờ của Thu Hoa và cả ông già Mười. Đến khi cô có phản ứng kêu lên thì bóng bà ta đã khuất ngoài cửa. Màn trời đêm tối đen như mực... Ông Mười chỉ tay lên trần nhà và bảo Thu Hoa: - Cô hãy nhìn kỹ xem, có phải sợi dây thòng lọng lúc nãy kia không? Hoa không phải quan sát lâu, cô đã nhận ra chính là sợi dây được cất trong hộp thiếc. Lúc nãy nó được gỡ ra, nhưng bâỵ giờ tự nó dựng đứng lên như cây sào và quay nhiều vòng như có người điều khiển. Để rồi sau cùng bay vút xuyên ra ngoài cửa sổ như một cây lao được ném đi! Bỗng dưng Thu Hoa nhìn theo và thét lên một tiếng kinh hoàng: - Mẹ! Rồi cô ngã nhoài xuống, hai tay chới với đưa về phía trước như bất lực trước nỗi tuyệt vọng và đau khổ. - Mẹ ơi! Cô cố gào lần nữa rồi lịm đi. Đến quá nửa đêm thì trăng mới xuất hiện và xua đi màn đêm dày đặc. Ông già Mười sau khi nhìn cô chủ ngủ yên thì mới an tâm rời khỏi phòng. Cũng giống như Thu Hoa, kể từ lúc này bỗng dưng ông có cảm giác như đang có điều gì đó... Đúng ra lúc nãy ông phải là người đuổi theo bà Cẩm Tú khi bà ta chạy trong đêm tối. Nhưng phần vì quá bất ngờ, phần vì lo cho an nguy của Thu Hoa, nên mãi cho đến bây giờ ông mới có ý định đi ra khu vườn nhiều cây cối, và không cần suy nghĩ, ông cũng tìm tới đúng tàn cây cổ thụ duy nhất, mà nơi đó đã nhiều năm người ta từng tạo ra mấy cái xích đu dành riêng cho hai cô con gái nhà này. Chỉ kể từ khi xảy ra tấn thảm kịch năm đó, một trong hai cô gái chết đi, cô còn lại bị đưa đi khỏi nơi này thì ông mới không còn hứng thú ra gốc cây này để chăm sóc cho chiếc xích đu nữa. Đã hơn mười năm rồi còn gì. Chiếc xích đu giờ chắc cũng đã mục nát, đứt dây rồi... Tuy cũng ở trong khu vườn rộng chưa quá hai hécta, và nằm dưới sự cai quản của chính ông, đã từ lâu lắm, chỉ riêng khu vực cây cổ thụ này ông già Mười chừa ra, không bước tới. Chính ông cũng chẳng hiểu tại sao vậy. - Dữ hôn, đến hôm nay ông Mười mới tới thăm mẹ con mình kìa Nguyệt ơi! Đang lầm lũi bước, chợt nghe giọng nói quen quen ấy, ông Mười ngẩng lên và trố mắt kinh ngạc. Trước mắt ông, ngồi vắt vẻo trên chiếc xích đu là hai người một lớn, một bé. - Là... là... bà đó sao? - Lâu quá rồi nên giọng nói của tôi ông cũng quên mất rồi! Mà cũng phải, hơn mười năm rồi còn gì. À bây giờ ông quen với giọng người khác hơn. - Bà Thu Hà! Rồi tiếng reo của đứa bé: - Ông Mười! - Cô... Thu Nguyệt! Chiếc xích đu rung lắc thật mạnh, lao vun vút trong không trung, chứng tỏ hai người ngồi trên đó đang xúc động mạnh. Ông già Mười hoa cả mắt, không nhìn rõ mặt họ. Ông phải nói lớn: - Sao bây giờ bà và cô mới về? Một tiếng cười ngắn, khô khan: - Đêm nào có trăng là chúng tôi về, chỉ có ông là không bao giờ tới đây thôi. Vậy làm sao gặp nhau được! - Mà ai cấm ông vậy, sao ông không tới chỗ này? Ông già Mười lúng túng, ấp úng: - Cũng... cũng chẳng hiểu tại sao nữa... Giọng đứa trẻ cất lên thật trong trẻo: - Bây giờ không cần ông Mười đưa xích đu nữa, con đã có người đưa rồi! Sau câu nói đó, chiếc xích đu lại lao vun vút đi như có người đưa. Khi nhìn kỹ lại, ông Mười vội kêu lên: - Kìa. Ông thấy ở một cành cây khác có một người bị treo lơ lửng, nhưng vẫn đưa tay ra đẩy chiếc xích đu mỗi lần nó đi qua. Người đó... - Bà... bà Cẩm Tú! Nhờ ánh trăng chiếu vào nên ông Mười đã nhận ra người bị treo kia chính là bà Cẩm Tú! Bà ta chẳng khác một xác chết treo cổ, chỉ có mỗi lần dang tay ra là biểu hiện đó là một con người... Quá kích động ông Mười định chạy tới và leo lên cây, nhưng giọng của người trên xích đu lạnh và sắc: - Ông thương người là đúng, nhưng ở trường hợp này thì không nên. Chắc ông đâu lạ gì chuyện của bà ta đã gây ra cho mẹ con tôi phải không? Đây là sự trả giá mà. Chúng tôi phải đợi đến hơn mười năm. Quá lâu! Con bé Thu Nguyệt cũng tiếp lời: - Đáng lý ra con cũng đã lớn như em Thu Hoa bây giờ, nhưng do chưa hiện được thành người, nên cho đến giờ con vẫn là đứa trẻ con năm tuổi! Có phải từ nay, khi con được hiện về mỗi đêm trăng như thế này thì thân xác con sẽ phát triển như một người bình thường không? Con sẽ gặp lại em Thu Hoa phải không mẹ? - Phải. Rồi bà quay sang bà Cẩm Tú, nói với ông già Mười: - Bà ta đã hại chết cả hai mẹ con tôi, đáng lý chúng tôi đã trả được thù rồi, nhưng cũng chỉ vì con Thu Hoa. Chính mạng con bé phải gắn liền với người đàn bà này, cho nên chúng tôi phải đợi đến bây giờ. Bao nhiêu năm nay, Cẩm Tú có chịu đưa con bé trở về đây đâu. Chúng tôi thì bất lực trong việc tác động, giục bà ta dắt cháu trở về. Phải đến vừa rồi do Thu Hoa bị phụ tình, nó phát điên phát rồ thì chúng tôi mới dẫn dụ nó về đây được. Và có như vậy thì nó mới vào được phòng của chúng tôi, nằm lên giường tôi, và... mẹ con tôi mới gặp lại nhau! Cám ơn ông Mười, chính nhờ ông mà Thu Hoa nó mới hiểu được thân phận mình... Nhớ tới Thu Hoa, ông Mười nói: - Để tôi về kêu cô ấy ra đây, chắc là cô ấy mừng lắm! Ông ta bị ngăn lại: - Không nên. Từ nay mẹ con chúng tôi muốn gặp nhau lúc nào cũng được. Nhưng tôi không muốn nó nhìn thấy cảnh người đã nuôi nó bấy lâu nay trong hình ảnh như thế này. Nếu còn thương mẹ con tôi thì xin ông Mười cứ tiếp tục ở lại trong nhà này như từ nào đến giờ, và ông đừng nói gì hết chuyện ngày hôm nay. Cần thì ông có thể kể lại chuyện cái chết của chúng tôi, kể hết chuyện bà Cẩm Tú vì ghen tuông, ích kỷ, đã hại chết mẹ con chúng tôi cho nó nghe. Như thế đủ rồi. Ông Mười định nói mấy lời xin cho bà Cẩm Tú, nhưng nhìn cảnh bà ta chỉ còn là cái xác, và tự nguyện đung đưa như thế, ông chỉ khẽ lắc đầu rồi đứng im. Lát sau, chính bà Thu Hà lên tiếng: - Ông quay về đi, con Thu Hoa sắp tỉnh lại rồi đó. Hãy kể cho nó nghe và bảo nó cứ yên tâm ở lại đây, ở lại trong vòng tay của mẹ và chị nó... Lúc đó, trên nền trời có một áng mây đen lớn đang che khuất ánh trăng, ông Mười không còn nhìn thấy họ nữa, nghĩ là sau khi mây tan sẽ lại gặp, nên ông đứng đó đợi. Tuy nhiên, khi trăng hiện ra trở lại thì trước mắt ông chỉ còn lại chiếc xích đu trống không. Kể cả bà Cẩm Tú cũng không còn. *** Thu Hoa chăm chú lắng nghe lời kể của ông già Mười, thỉnh thoảng cô chen vào hỏi:- Vậy ba con đâu, sao để sự việc xảy ra như vậy? Ông Mười thở dài: - Bà Cẩm Tú coi bề ngoài hiền lành vậy mà thâm hiểm lắm. Khi dan díu với ông Lộc cha cô, thì lúc đó mẹ cô đang có thai gần ngày sinh. Chính bà đã lấy thuốc gì đó của một ông thầy làm thuốc ngải trong rừng, cho cha cô uống, gây cho ông bệnh liệt giường suốt năm trời, sau đó bệnh tật kéo dài, cho đến lúc hai chị em cô lên năm tuổi. Năm đó, tôi nhớ lúc cha cô đi chữa bệnh ờ Sài Gòn thì ở nhà xảy ra chuyện! Mẹ cô, bà Thu Hà đang bế hai đứa con ngồi chơi trên phòng thì bà Cẩm Tú xuất hiện. Xảy ra cuộc đấu khẩu kịch liệt giữa hai người, rồi dẫn đến xô xát. Mẹ cô trên tay đang bế bé Thu Nguyệ bỗng bị bà Cẩm Tú giằng lấy, rồi như một người điên, mụ ta ném mạnh đứa bé ra ngoài như ném một con búp bê! Có lẽ đó là hành động trong lúc điên loạn, nên ngay sau đó chính bà ta đã lao người ra định chụp đứa bé lại và mất đà ngã chúi ra khỏi cửa sổ! Cũng may là khi ấy tôi vừa trờ tới, kịp đỡ bà ta lại khi bị rơi xuống đất. Tôi thất thần nhìn con bé Thu Nguyệt nằm chết mà người đầy máu me. Mẹ cô gào lên, leo lên cửa sổ định nhảy theo con, thì chợt trong phòng có tiếng khóc. Tiếng khóc thét của cô! Do vậy, tôi thấy bà buông rơi mình trở vào phòng. Khi tôi chạy lên thì thấy bà Thu Hà đang quằn quại do bị ngã. Cô thì ôm lấy mẹ mà khóc không thôi. Ngừng lại một chút, ông Mười kể tiếp: - Tưởng mọi chuyện đến đó là hết, nào ngờ khi tôi lo mai táng cho chị cô thì bà Thu Hà đã treo cổ chết trong phòng này! Khi tôi phát hiện thì không còn kịp nữa! Ông lại ngừng kể, khóc như đứa trẻ. Lát sau ông nhìn Thu Hoa, nhẹ giọng nói: - Trong lúc mọi người đang rối rắm thì bà Cẩm Tú biến mất cùng với cô. Bà ta ẵm theo cô và từ đó không hề nghe tin tức gì. Cho đến khi cha cô chết vì đau buồn cảnh mất vợ, mất con, thì tôi hay tin bà ta xuất hiện ở Sài Còn, chứ không dám về đây. Tôi cũng hay tin cô lớn lên cùng bà ta và xem bà ấy như mẹ ruột của mình. Vừa rồi khi bà ta đột ngột trở về đây thì tôi lên tiếng phản đối, nhưng bà ta đã lạy lục, năn nỉ tôi để cho bà ta chuộc lại lỗi lầm và cũng để chữa bệnh cho cô, khi nào cô lành bệnh thì bà ta ra đi. Kể tới đây, ông Mười đứng lên và bằng giọng chân thành, ông nói: - Cô Hoa cứ yên tâm ở lại đây. Mẹ cô và Thu Nguyệt luôn ở cạnh, họ sẽ phù hộ cho cô mãi mãi. Còn tôi, như bao giờ, tôi cũng là người đầy tớ trung thành trong ngôi nhà này. Ông đi ra rồi mà Thu Hoa vẫn còn ngẩn ngơ. Tuy nhiên, trong lòng cô lúc ấy lại không có chút gì là lo lắng. Mà trái lại, cô thầm khấn: - Nếu linh hiển thì mẹ và chị Nguyệt cho con gặp một lần... MIẾU HAI CÔ Ông bá hộ Tụng bảo dừng xe lại ở rãnh đất phía mặt trời lặn, vừa đưa tay chỉ cho mấy người đi theo: - Đo từ chỗ này vào tận rặng tre bên trong đó, coi có đúng ba trăm công không. Đo đúng thì cắm mốc, có bao nhiêu nhà cửa, mồ mả chôn trên đó cũng đếm cho kỹ rồi báo ngay cho tao. Cậu con trai cả tên gọi Hai Thạnh đứng bên cạnh nãy giờ bỗng lên tiếng: - Mồ mả thì cần gì đếm, bởi bao nhiêu cái cũng kệ họ, mình cứ cho san bằng theo ý mình thôi! Bộ ba muốn đếm mả để bồi thường tiền di dời cho người ta hả? Ông bá hộ Tụng gật đầu: - Mồ mả là thứ linh thiêng, bảo họ dời đi khi bán đất cho mình là chuyện đương nhiên, nhưng xem ra dân đây quá nghèo thì họ lấy tiền đâu mà di dời mồ mả, mình phải hỗ trợ cho họ phần nào. Hai Thạnh mạnh miệng: - Theo con thì không hỗ trợ. Đất mình mua có hợp đồng, trong đó có ghi rõ phần giải tỏa nhà, di dời mồ mả là của chủ bán. Vả lại theo con thấy thì xóm này đâu phải toàn ghèo. Nghèo sao có ngôi nhà ngói to đùng kia kìa! Một người đi theo đoàn vội nói: - Nhà đó tuy là nhà ngói, nhưng theo tôi biết thì qua trận dịch tả cách đây gần năm năm, đã giết sạch người trong nhà đó cùng bà con cả xóm, nên ngôi nhà từ ấy bỏ hoang. Xóm này đâu còn mấy người. Hai Thạnh reo lên: - Như vậy còn tiện hơn nữa! Ta cứ xúc tiến việc san ủi đất thôi. Toàn mồ mả hoang cả, đâu cần bồi thường hay di dời chi cho mất công! Ông bá hộ Tụng tuy không hài lòng cách tính của con trai, nhưng ông chỉ nhẹ lắc đầu rồi bỏ đi về hướng khác. Hôm nay ông và con ông tới đây đo đạc khu đất vừa rồi, ngoài ra còn vài khu nữa trong kế hoạch mở rộng điền sản và khuếch trương kinh doanh. Ông chỉ tay về phía khu đất bên này, bảo: - Phía này là ruộng trống, hay là ta lấy bên này để lập chợ, đỡ phải giải tỏa hơn. Hai Thạnh nói liền: - Bên kia tuy vướng nhà cửa, mồ mả nhiều nhưng thuận lợi cho việc lập chợ hơn, lại gần sông. Ba không nhớ là xưa nay chợ của xứ mình đều xây dựng sát bờ sông sao. Nó thuận tiện cho giao thông, cung cấp hàng hóa. Ngoài ra nó còn hợp địa lý nữa. Con đã cho mời một thầy địa lý tài giỏi, vừa từ Hồng Kông sang, về đây giúp mình lập hướng xây chợ. Không chừng lát nữa lão ta cũng tới đây! Ông bá hộ cũng không bàn thêm, bởi tính ông xưa nay vậy, ít nói và cái tâm khác đứa con trai. Vả lại, công việc mở rộng kinh doanh lần này là ông làm cho con, chuẩn bị cho Hai Thạnh kế nghiệp mình sau khi anh ta học xong bằng Thành chung ở Sài Gòn về. Ra một quán nước ven bờ ngồi uống cà phê, đợi đám công nhân đo đạc trở lại, Hai Thạnh nói huyên thuyên: - Mai mốt nơi này sẽ mọc lên một ngôi chợ bề thế với nhà lồng chợ rộng, chứa đến vài trăm sạp hàng, hai bên là hai dãy phố lầu thuộc loại sang nhất xứ mình! Ba để con làm cho ba coi, không ăn được chợ Ô Môn con không là con ba! Vừa khi đó, có một chiếc xe thổ mộ ngừng lại, Hai Thạnh reo lên: - Ông thầy địa lý tới kìa! Một ông thầy Tàu mặc bộ đồ lụa nút thắt quen thuộc bước tới xá chào mọi người rồi quay sang Hai Thạnh nói liền bằng tiếng Việt khá rành: - Cuộc đất này đẹp lắm, nhất là phía đất bên tay trái. Tuy nhiên âm khí nơi đấy quá nặng nề, e rằng... Hai Thạnh lớn tiếng: - Tôi biết thế nào thầy cũng nói vậy, biết thế tôi đã có kế hoạch rồi. Anh ta chỉ tay về phía cuộc đất: - Có một số mồ mả, nhà cửa bỏ hoang trên đất, nhưng không sao, tôi sẽ cho ủi thành bình địa trong một vài ngày! Quan sát một lượt bằng mắt lão thầy địa lý gục gặt đầu: - Nếu thế thì được... Vừa khi ấy đám chuyên viên đo đạc trở về. Một người báo cáo công việc: - Chúng tôi đo rồi, đúng là ba trăm công. Có hai chục ngôi nhà nát, một nhà ngói bị bỏ hoang, 91 ngôi mộ lớn nhỏ và một ngôi miếu. Lời anh ta vừa dứt thì ông thầy địa lý nói liền: - Rắc rối là cái miếu đó! Ông bá hộ cũng quan tâm: - Đụng cái gì thì được, chớ chùa miếu là không xong rồi, phải giữ lại thôi! Nhưng Hai Thạnh vẫn lớn tiếng: - Nhằm nhò gì mấy cái miếu hoang đó ba! Cùng lắm mình sẽ cúng kiến tử tế trước khi dỡ nó đi chớ gì! Chợt nhớ nãy giờ mình quên giới hiệu ông thầy địa lý với cha, Hai Thạnh nói: - Đây là thầy Gia Lợi một thầy địa lý kiêm tướng số hàng đầu ở Hồng Kông. Con rước về đây để đặc biệt lo cho cuộc đất mới của mình! Ông bá hộ chào chào lấy lệ, bởi ông vốn không thích mấy ông thầy tướng số kể cả thầy gọi là địa lý loại này. Thấy cha như vậy nên Hai Thạnh kéo tay ông thầy đi: - Thầy đi với tôi vào xem tận mắt cuộc dất. Nhất là xem cái miếu hoang đó. Ông bá hộ vội nói: - Tao không cho đụng tới chùa miếu nghe chưa! Mày có làm gì thì làm, riêng cái miếu đó thì phải để nguyên, cần thì trùng tu thêm. Hai Thạnh vừa đi vừa nói với lại: - Tôi biết rồi mà! Cùng ông thầy Gia Lợi đi sâu vào khu đất, tiến gần sát ngôi nhà ngói bỏ hoang, Hai Thạnh nói: - Nhà lớn thế này mà lại bỏ phế, đúng là con người ta chết là hết đâu có đem theo được gì. Bởi vậy tôi nói với ông già, còn sống thì cứ hưởng, để mai mốt như chủ ngôi nhà này... Ông thầy xem kỹ ngôi nhà rồi lắc đầu: - Người xây ngôi nhà này không coi địa lý. Ai lại xây nhà mà cửa chính lại hướng thẳng về ngôi miếu kia! Chính cái miếu đã ám, khiến chủ nhân nhà này nếu không chết bất đắc kỳ tử thì cũng làm ăn suy sụp, nhà luôn có tai họa. Hai Thạnh phục quá, reo lên: - Mới nhìn qua mà thầy đã biết hết mọi chuyện! Bây giờ nếu muốn hóa giải ngôi nhà này thì ta cứ dỡ bỏ ngôi miếu chớ gì? Ông thầy lắc đầu: - Không phải. Cái phải dỡ bỏ đi chính là ngôi nhà! Miếu xây thì dễ, nhưng dỡ bỏ lại khó vô cùng. Ba cậu nói đúng, ngôi miếu này không dỡ bỏ được! Hai Thạnh bực bội: - Vì một ngôi miếu hoang mà phải phá nguyên căn nhà, vô lý vậy! Thí dụ như nhà mình đang ở mà bị ngôi miếu kế bên chiếu vào, mình không làm cách nào hóa giải nó sao? - Có cách nhưng không phải dỡ bỏ miếu. Miếu là nơi thờ người cõi âm, thánh thần, mình người trần mắt thịt làm sao tự tiện dỡ bỏ được. - Vậy cách nào? - Cậu tính xây ngôi chợ tại khu đất này? - Đúng vậy! Ngôi chợ khang trang kèm hai dãy phố hai bên. - Đất này còn rộng, hay là cậu dời địa điểm về phía kia một quãng. Hai Thạnh xua tay, lắc đầu: - Nhất định không. Tôi nghĩ cái miếu này chẳng qua là miếu nhỏ, do ai đó dị đoan xây nên, rồi lâu nay bỏ hoang chẳng ai thờ cúng thì thật sự nó có còn linh thiêng gì nữa không? Nó chỉ như... Ông thầy ngăn Thạnh lại: - Cậu ăn nói coi chừng. Cái gì chứ đụng tới cõi âm thì không đơn giản đâu. Ông ta ra tận ngôi miếu, rêu phong cỏ mọc phủ gần hết mái miếu, nhìn ngắm một hồi, rồi trở vào nói: - Ngôi miếu này lập nên để thờ oan hồn, nhưng lâu nay không ai cúng kiến, tuy nhiên, chẳng hiểu sao âm khí còn nặng nề lắm. Tôi e... Hai Thạnh rất cực đoan: - Ông nói e này e nọ nãy giờ mấy lần rồi, vậy ông có còn là thầy tướng số nữa không? Thầy sợ mấy hồn ma à? Bị chê, lão ta hơi phật ý, nhưng vẫn giữ vẻ điềm nhiên: - Chuyện cũng phải từ từ tính. Bây giờ ý cậu muốn gì? Thạnh đáp dứt khoát: - Muốn thầy triệt hạ ngôi miếu đó ngay! Ông thầy trầm ngâm một lúc, rồi đột ngột bước đi, không nói tiếng nào. Thạnh phải gọi theo: - Thầy! Thầy sao vậy? Nhưng ông ta không trả lời, cũng không quay lại, đi một nước ra lộ cái, đón xe thổ mộ đi luôn. Hai Thạnh bực dọc, nói trổng: - Được rồi, để coi thằng này làm có được không! Hai Thạnh bàn với mấy tay bặm trợn trong một quán nhậu ngoại ô: - Tụi bay dám làm chuyện đó không? Tên Tám Bò ực xong ly rượu, nói to: - Nhằm nhò gì ba cái miếu hoang đó! Được rồi, miễn là thầy Hai chi cho tụi này kha khá một chút, nhậu cho đã đời một chút là xong ngay! Móc ngay ra hai tờ giấy bạc. Hai Thạnh đặt xuống bàn: - Đây chỉ là tiền bôi trơn thôi, làm xong tụi bay sẽ có gấp mười lần nữa! Nhìn thấy rõ hai tờ tiền mệnh giá lớn, cả bọn bốn người đều đồng thanh: - Hoan hô thầy Hai chơi sộp! Tụi này làm liền tối nay cho thầy coi! Thạnh bàn cụ thể: - Cái miếu đó nhỏ, nhưng xây bằng gạch, tụi bay phá nhưng không được đập, mà làm cách nào đó kéo cho nó đổ. Có cách nào không? - Ờ, thì... Tám Bò vỗ đùi: - Được rồi, để tôi đem hai con trâu tới, cột dây xích rồi cho nó kéo mạnh thì cái gì mà không đổ! - Nghe được đó. Vậy thì uống hết đi rồi chuẩn bị. Tao sẽ ra lộ ngồi trên xe chờ, một giờ sau tụi bay làm xong ra báo cáo kết quả! Tám Bò quay sang mấy tên đàn em: - “Dô” hết rồi đi tụi bay! Bọn chúng rầm rộ kéo nhau đi, Hai Thạnh cũng bước theo nhưng về hướng khác. Vừa đi hắn vừa làu bàu: - Có gì đâu mà ngại với ngùng! Hai Thạnh này đã muốn là làm mà. Trong khi đó, khoảng nửa giờ sau thì nhóm của Tám Bò đã có mặt tại hiện trường. Bọn chúng gồm sáu đứa, thêm hai con trâu cộ. Sau khi quan sát kỹ, Tám Bò hạ lệnh: - Cột dây thừng vào cổ trâu, đầu kia thì choàng qua hết cái miếu nhỏ, hễ tao hô kéo thì thằng Hai Hùm ra roi mạnh cho hai con trâu chạy tới. Cái miếu nhỏ này ta nghĩ giật một cái là sập ngay thôi! Mấy tên đàn em làm y theo lời, chúng còn phụ đẩy chiếc cộ trâu tới. Sau tiếng hô “kéo”, chúng đồng loạt hô theo: - Kéo. Một tiếng rống thật to, bỗng nhiên hai con trâu kêu lên rồi ngã bật ra, khiến chiếc cộ trâu ngã lăn theo, mấy tên đẩy hai bên và tên Hai Hùm ngồi trên cộ đều bị bắn tung lên trời. Đứng ngoài nhìn thấy hết, Tám Bò hốt hoảng: - Sao vậy? Hắn chạy tới thì trố mắt kinh ngạc khi nhìn thấy cả hai con trâu đều ngoẹo đầu sang bên, miệng trào máu: - Trời ơi! Cả mấy tên kia cũng tình trạng như vậy, đứa nào cũng hộc máu và nằm bất động! Tám Bò hoảng quá, hắn nhìn lại ngôi miếu thì thấy nó vẫn còn nguyên như thách thức. Không dám lưu lại đó giây nào, Tám Bò nhanh chóng chạy trở ra lộ cái. Hai Thạnh ngồi trên xe từ xa đã hỏi lớn: - Xong chưa? Tám Bò mặt xanh dờn, vừa thở dồn dập vừa đưa tay chỉ ra sau: - Ngôi... ngôi miếu đó... Hắn nói bị đứt quãng, bởi cơn sợ hãi đang làm cho cổ họng hắn nghẹn lại. Hai Thạnh sốt ruột: - Sao rồi? - Chết. Chết hết rồi! Tám Bò chỉ nói được mấy tiếng đó rồi ngồi phịch xuống đất. Khiến cho Thạnh càng hoảng hơn: - Chuyện gì đã xảy ra? Tám Bò lặp lại, rõ ràng hơn: - Tụi nó sáu thằng, đã... chết hết rồi! - Sao? Không nói gì thêm, Tám Bò chỉ đưa tay về phía bãi đất hoang. Thạnh sốt ruột nên không đợi dẫn đường, anh ta chạy thẳng tới nơi thấy trước mặt hắn là cảnh tượng kinh hoàng mà thoạt nhìn hắn đã hồn phi phách tán đứng như trời trồng một lúc lâu. Cũng may là số tay em của Tám Bò không đứa nào chết chỉ có hai con trâu là phải đền tiền để người ta xẻ thịt. Hai Thạnh chỉ dám hỏi nhỏ mấy tên nằm dưỡng thương: - Tụi bay bị ai làm gì vậy? Cả mấy tên đều nói: - Có thấy cái gì dâu. Tụi này vừa hô kéo một cái thì đã bị hất tung lên trời, khi ngã xuống thì ngất đi. Thạnh hỏi Tám Bò: - Theo mày thì chuyện đó là gì? Có phải... cái miếu hiển linh không? Tám Bò vẫn còn sợ hãi: - Tôi không biết. Chỉ có điều là vụ này thôi đi, tụi tôi xin rút lui. Thạnh rút ra thêm một xấp tiền: - Tao trả tụi bay gấp đôi, làm không? Tám Bò đưa mắt nhìn mấy tên đàn em, chúng thảy đều lắc đầu. Dĩ nhiên Tám Bò đâu dám: - Tụi này chịu thua. Đụng tới chùa miếu thì xin không dám! Chúng dù còn yếu mà cũng đứng lên cùng rút lui một lượt. Hai Thạnh bất nhẫn, than trời: - Kiểu này thì hư bột hư đường hết! Hắn ta định leo lên xe thì đã thấy một chiếc xe lôi ngừng lại, lão thầy địa lý Gia Lợi xuất hiện thật bất ngờ: - Biết thế nào cậu cũng ở đây, nên tôi tới thẳng từ bến xe. - Mấy hôm nay ông bỏ tôi một mình, sao nay lại đổi ý rồi? Ông thầy nghiêm giọng: - Tôi trở xuống đây không phải để giúp cậu dỡ ngôi miếu, mà vì một chuyện khác. Tôi muốn cứu cậu khỏi một vụ còn dữ hơn. Ông ta bước hẳn lên ngồi trong xe hơi của Thạnh mà không đợi mời. - Cậu vào đây rồi tôi nói chuyện này. Quan trọng lắm. Ông ta đưa ra một tờ báo chữ Hoa, vừa nói: - Đây là một tờ báo chuyên về chuyện tâm linh, xuất bản ở Hồng Kông mà một người bạn tôi mới gửi qua, nó có liên quan tới câu chuyện về một ngôi miếu. Nghe tới chuyện này, Hai Thạnh quan tâm ngay: - Sao? Có giống ngôi miếu ở đây không? - Giống. Câu trả lời của ông ta khiến Thạnh giật mình. Cùng lúc, ông đưa cho Thạnh xem bức ảnh in kèm theo trong bài báo. Vừa nhìn thấy thì Thạnh đã kêu lên liền: - Nó đây mà! Ngôi miếu nhỏ trong ảnh giống hệt cái miếu hoang mà Thạnh đang quan tâm. Giống từ hình dáng cho tới màu sắc rêu phong và đặc biệt là hàng chữ số 1958 khắc trên cửa miếu nữa. Như vậy thì đúng là ngôi miếu ấy rồi! Không biết chữ Hoa nên Thạnh hỏi: - Trong bài này người ta viết cái gì vậy? Ông thầy nhìn Thạnh một lúc rồi mới nói: - Tôi hỏi thật, cậu có tin chuyện tâm linh ma quỷ hay không? Hai Thạnh hơi bị khựng. Anh ta từ nào đến giờ rất bướng bỉnh, không hề tin chuyện gọi là hồn ma bóng quế, tuy nhiên kể từ đêm đám đệ tử của Tám Bò bị cú sốc khi kéo ngôi miếu thì anh ta hơi có phần nao núng. Giờ nghe hỏi, phải mất gần nửa phút anh ta mới đáp: - Có, nhưng một phần thôi. Lúc này, ông thầy mới giải nghĩa nội dung bài viết: - Trong bài này, tác giả kể lại một câu chuyện được nghe từ một người bà con ở Chợ Lớn của xứ này. Người đó kể rằng vào một chuyến đi thăm chùa ở miệt núi Sam, khi đi ngang qua vùng của cậu đây, bà ấy vô tình xuống xe đi tiểu tiện bên bờ ruộng.. Khi về nhà bỗng vào nửa đêm, bà ta thấy có một người phụ nữ mình mẩy dính đầy máu và bùn đất, nói rằng bà ấy bị chôn vùi trong một hố huyệt của ai đó và chết thê thảm, rồi do bị kẹt trong huyệt lạ nên hồn không siêu thoát được, nay xin được cứu giúp bằng cách cúng cho một lễ. Mà phải cúng tại đúng chỗ miếu, ở gần chỗ bà ấy đi tiểu tiện. Người này thức dậy và nhớ lại, đúng là mình có đi tiểu tiện, nhưng không nhớ chỗ. Đêm sau, vẫn người đàn bà kia lại hiện về, chỉ chỗ thật rành mạch và bảo người nọ phải tới ngay bởi chỗ đó sắp có một đại dịch nếu tới không kịp thì đại dịch đó sẽ cướp đi sinh mạng nhiều người, cả vong hồn của bà ta nữa. Mà như vậy thì vĩnh viễn bà ấy sẽ không thể siêu thoát! Ông thầy ngừng kể một lúc để thở, bởi ông say sưa kể quên cả mệt. Lát sau ông tiếp: - Người nằm mơ nói rằng đáng lẽ bà ta đã đi ngay ngày hôm sau, nhưng do có đứa con bệnh nặng bất ngờ nên phải một tuần sau nữa, bà mới đi tới chỗ được hướng dẫn. Tới nơi thì mới hay cả ngôi làng đó đã bị bỏ hoang sau trận dịch tả tràn qua, giết gần sạch người trong làng! Không dám lưu lại đó lâu, bà chỉ kịp nhìn thấy một ngôi miếu nằm bên cạnh ngôi nhà gần làng, có cả dòng chữ số 1958 như lời hướng dẫn, sẵn đem theo máy ảnh bà ấy chụp ngay ảnh ngôi miếu rồi ra về với sự hối hận vô cùng. Hai Thạnh xen vào hỏi: - Như vậy ngôi miếu ấy thờ người đàn bà chết dưới huyệt? Ông thầy lắc đầu: - Theo bài viết này thì không phải vậy. Bởi đêm sau nữa, thì vong hồn của người chết lại hiện về. Lần này bà ta khóc lóc dữ lắm, nói rằng số của mình phải chịu hẩm hiu, chỉ mong được giúp lần nữa, đó là hãy lấy giùm cốt của bà lên khỏi huyệt lạnh, ngôi mộ đó ở cách miếu một trăm bước chân, bên cạnh một cây me lớn, mộ không có bia, nhưng đào xuống sẽ thấy một bộ hài cốt, trên cổ tay còn đeo cái lắc vàng có khắc chữ Jacqueline Liễu. Rồi đem mai táng một nơi khác. Hỏi tại sao phải làm vậy thì vong hồn người chết nói rằng bà ta bị hai oan hồn trấn giữ cái miếu kia canh ngày đêm, không cho đầu thai! Nghe giải thích xong, Thạnh chán nản hỏi: - Bài viết này cũng đã nói được điều gì liên quan đến việc làm sao mình triệt hạ được nó? Ông thầy lắc đầu: - Cậu vẫn chưa chịu hiểu, có lẽ tôi chưa nói đoạn kết của chuyện đó. Đoạn này có liên quan tới một tai họa cho ai đó ở vùng này. Rồi ông ta lật ra trang cuối của tờ tạp chí, đọc phần tiếp của bài: - Hồn người chết nói rằng nếu bà ta được cứu trước khi trận dịch xảy ra thì bà ta đã kịp báo động cho dòng họ của mình tránh được chuyện trả thù hết kiếp này sang kiếp khác của hai hồn ma trú trong ngôi miếu đó. - Trả thù kiếp này sang kiếp nọ là sao? - Người ta gọi đó là những mối thù truyền kiếp. Các oan hồn thường làm điều này, bởi đối với họ kẻ gieo thù oán phải trả trong nhiều kiếp mới hết! Nghe hết câu chuyện, Hai Thạnh lại nhìn lần nữa ảnh ngôi miếu. Hắn ta lẩm bẩm: - Chuyện truyền kiếp gì đó lại xảy ra ngay tại làng này chăng? Anh ta nói: - Ba tôi ở nhà biết chữ Hoa, hay là ông cho tôi mượn tờ báo này đem về cho ông ấy đọc. Ông thầy gật đầu: - Tặng luôn cho ông thân của cậu cũng được. Riêng cậu, tôi có lời khuyên thế này, hãy bỏ ý định triệt ngôi miếu đi. Thạnh mời lão ta về nhà mà không vừa lòng với lời khuyên vừa rồi. Anh gặp ngay ông bá hộ, đưa cho ông: - Có một bài báo ở Hồng Kông người ta viết về ngôi miếu trong miếng đất mình mới mua. Ba xem thử coi. Biết tiếng Hoa rất khá, bởi ông đã từng đi học và làm việc nhiều năm ở Hồng Kông, Thượng Hải vào những năm còn trẻ. Vừa cầm tờ báo lên, ông đã bị cuốn hút vào câu chuyện. Khi đọc đến một đoạn, ông bỗng thảng thốt kêu lên. - Cô Út mày đây mà! Cả Thạnh và ông thầy địa lý đều ngẩn ngơ. Thạnh hỏi: - Ba nói cô nào? - Cô Liễu của con! Trời ơi, đã gần bốn chục năm rồi ba đi tìm mà không gặp nó, nay lại gặp ở đây. Giọng ông run run và thất thần ngồi phịch xuống ghế trường kỷ. Thạnh ngạc nhiên quá đỗi: - Ba nói cô Liễu, mà cô ấy là ai? Sao từ nào đến giờ con không nghe nói bao giờ? Chỉ tay vào tờ báo, ông xúc động: - Người tên Jacqueline Liễu trong bài này chính là cô út của con, người em gái mà ba bị thất lạc trong chiến tranh. Jacqueline Liễu là chính nó chớ không ai khác, bởi cái tên này do chính ông nội con đặt cho. Bà nội con sinh cô Liễu ra chưa được một tuổi thì một hôm lọt vào giữa trận càn của lính Pháp, bà con bị chúng bắn chết, còn cô út thì mất tích luôn từ đó! Trời ơi... Thạnh vẫn cố chứng minh là không phải: - Ba chưa gặp mặt, chỉ có cái tên giống thôi thì lấy gì làm chắc đó là người nhà của mình? Lỡ trùng tên thì sao? Ông bá hộ quả quyết: - Tên có thể trùng, nhưng việc khắc tên lên mặt dây chuyền vàng thì không thể có hai người giống nhau. Dây chuyền đó do chính bà nội con nhờ thợ khắc, ba có nhìn thấy và nhớ rất rõ. Rồi ông quay sang hỏi lão Gia Lợi: - Ông có biết người nằm mơ trong câu chuyện này ở Chợ Lớn mà tại đâu không? - Cũng không rõ, nhưng đi tìm thì cũng có thể tìm ra. Ông bá hộ mừng rỡ: - Ông giúp giùm tôi đi, tôi cần tìm lại cô ấy lắm! Thạnh nói một câu khiến cho cha mình thất vọng: - Bà ta chết mất xác rồi, tìm đâu ra! Tuy nhiên lão thầy Gia Lợi lại nói khác: - Chẳng phải như trong bài viết nói rằng người nằm mơ sau đó đã về xứ này và tìm ra nơi chôn cất bà kia ư? Ông bá hộ reo lên như đứa trẻ: - Không cần đi tìm đâu xa. Tại sao mình không theo lời chỉ của oan hồn cô út con, ngôi mộ dưới gốc cây me, cách ngôi miếu vài chục bước. Phải rồi, ta tới nơi đó sớm đi. Ông gọi thêm gần chục gia nhân, rồi không đợi Thạnh tán thành, ông cùng ông thầy số đi trở lại đó. Họ tìm thấy cây me không khó, tuy nhà cửa ở khu đó đã không còn, nhưng cây me cổ thụ hết trái thì vẫn còn nguyên. Chung quanh gốc cây có bốn ngôi mộ, không ngôi nào có mộ bia. Sau khi bàn, ông bá hộ nói với mấy tên gia nhân: - Cứ tuần tự đào, ngôi mộ gần gốc cây nhất trước, rồi tới ba ngôi kia, đào cho kỹ! Tuy có hơi chùn tay, nhưng vì có mặt chủ ở đó nên người phu vẫn phải ra sức đào. Một lát sau, một người kêu lên: - Ngôi mộ này quan tài không có nắp! Họ cuốc thêm chục nhát nữa thì lòi nguyên phần trên quan tài ra, trong quan tài không có hài cốt, chỉ còn lại vài vật dụng linh tinh. Người thứ hai nhận xét: - Mộ này bị kẻ trộm đào trước đây rồi! Bỗng ông thầy lên tiếng: - Có thể đúng là ngôi mộ này. Bà nằm mơ trong truyện kể đã tới đây lấy cốt đem đi rồi cũng nên! Ông bá hộ thất vọng: - Ta chậm rồi. Bỗng một người đào mộ reo lên: - Có sợi dây chuyền kìa! Anh ta chụp lấy liền. Vừa lúc ông bá hộ quát lớn: - Không được lấy! Ông nhanh tay giật lại, đưa lên xem và reo lên: - Đúng là nó rồi, mọi người xem đây, tên của em tôi. Trên mặt dây chuyền vàng có khắc hai chữ Jacqueline Liễu còn rất rõ nét. Ông thầy bảo: - Có lẽ quá vội hoặc không còn bình tĩnh khi bốc mộ nên họ để rơi lại sợi dây chuyền. May cho ta! Ông bá hộ nói để đám gia nô yên tâm: - Để rồi tao cho tụi bay số tiền bằng hoặc hơn trị giá sợi dây chuyền này. Còn đây là vật kỷ niệm của em gái tao, không thể để mất được! Lúc đó trời đã bảy tám giờ đêm rồi, chung quanh vắng tanh, tối mịt nên không ai thấy họ. Cho đến lúc họ rời khỏi đó cũng lặng im. Chỉ có ở ngôi miếu bất chợt lóe lên một ngọn lửa xanh lè, lúc mờ lúc tỏ. Cũng may bọn người kia không nhìn thấy. *** Chưa bao giờ ông bá hộ có được niềm vui như vậy. Khi ông trở về nhà thì không có Hai Thạnh ở nhà, nên ông thoải mái ngồi xuống bộ trường kỷ, xem ngắm lại thật kỹ sợi dây chuyền vừa lấy được. Ngoài dòng chữ tên ra, ở mặt sau còn có hai hàng chữ nhỏ nữa: Tụng tức Tùng, Đỗ tức Hăngry và Liễu, ba đứa con nhà họ Phạm.- Đúng rồi. Tụng là ta, Đỗ là chú ruột con, cũng bỏ nhà đi mất từ mấy chục năm nay không có tin tức gì, còn Liễu là con út, là nó! Không còn nghi ngờ gì nữa, người chết mang sợi dây chuyền này là Jacqueline Liễu! - Chào người nhà họ Phạm! Ông Tụng bật đứng dậy, vừa lúc như bị ma lực đẩy mạnh, khiến ông phải ngồi yên. Giọng nói lại tiếp tục: - Đâu có gì phải vội, ông Phạm Bảo Tụng. - Cô... cô là ai? Cô là... - Ông không thể thấy được tôi, nhưng tôi thì thấy rõ ông và cả thằng con trai sắp về tới của ông nữa! Rồi ông Tụng có cảm giác như ai vừa ngồi xuống bên cạnh mình, hơi lạnh kỳ dị từ người này tỏa ra khiến cho chỉ trong nháy mắt toàn thân ông lạnh như băng! - C... ô... Ông Tụng chỉ phát ra được có bấy nhiêu rồi cảm thấy như nghẹt thở, như đang bị ai đó bóp cổ. - Kìa ba... Ba sao vậy? Hai Thạnh từ ngoài cửa lao nhanh vào kịp chạm vào người của ông Tụng thì ông đổ xuống, như trái mít rụng. - Ba! Có một luồng khí lạnh phả vào mặt của Thạnh, khiến anh ta choáng váng, lảo đảo. Khoảng nửa giờ sau... Cả hai cha con tỉnh lại cùng lúc. Thạnh có sức khỏe hơn nên hắn lên tiếng trước: - Ba bị sao vậy? Nếu con vào không kịp thì ba đã... ngạt thở! Ông bá hộ Tụng nhớ lại chuyện vừa rồi và hỏi lại Thạnh: - Con gặp ai không? - Đâu có ai! - Có! Họ muốn giết ba, cũng may là nhờ có con. Họ là hai người, mà là hai cô gái. Ba tuy không nhìn rõ mặt nhưng chắc là họ còn trẻ. Vừa lúc đó, bỗng Thạnh kêu lên: - Tờ báo tiếng Hoa sao vậy nè? Tờ báo có bài viết về chuyện Jacqueline Liễu và ngôi miếu hoang, chẳng hiểu ai đã cắt thật gọn mất tấm ảnh ngôi miếu, và dưới cái tên Jacqueline Liễu được gạch bằng mực đỏ nổi bật lên. Ông Tụng thảng thốt: - Đúng rồi. Hai cô gái đó đang ở trong ngôi miếu! Thạnh nghe nhắc tới ngôi miếu thì tỏ ý ngại, nhưng vẫn ương ngạnh: - Con vẫn quyết phải triệt hạ cái miếu! Phải làm ngay để mình còn kịp xây chợ chớ! Ông Tụng thì lộ vẻ sợ hãi: - Ba xin con, hãy bỏ ý định đó đi. Rồi ba sẽ mua cho con miếng đất khác rộng hơn, ngon hơn. Ba muốn xây cho cô út con một nhà mồ ở đó. Xong thì trùng tu lại miếu của hai cô gái lạ. Ba biết, mặc dù giữa họ và cô út con có một hận thù gì rất sâu đậm, nhưng ba nghĩ với việc làm của ba thì có hy vọng hòa giải được hận thù giữa họ. Thạnh hùng dũng đứng dậy, nói dứt khoát: - Con sẽ làm theo ý mình. Nhưng anh ta bước chưa được mấy bước thì bỗng người bị nhấc bổng lên trời và cứ thế lơ lửng trên không mà chẳng thấy dây cột hay móc tre. Thạnh la bài hãi: - Bỏ tôi xuống! Bỏ tôi... Có những tiếng bốp chát vang lên, như có ai đang đánh mạnh vào hai bên má hắn, khến hắn cứ lắc qua lắc lại và sau một hồi thì máu từ trong mép hắn tuôn ra! Ông Tụng hoảng hốt, van xin: - Tôi lạy các oan hồn, xin tha mạng cho nó, nó là đứa con ngỗ nghịch, quen thói ngang tàng vậy chớ còn dạy được. Xin để tôi dạy nó và bỏ ngay ý định xằng bậy kia đi! Tôi xin hứa sẽ làm theo tâm nguyện. Tôi có chết cũng làm. Thạnh rớt xuống sàn như bị ném, nhưng anh ta vẫn còn lên tiếng được, dù có biểu hiện đau đớn: - Tôi xin... xin chừa! Tôi xin.. Hắn gục xuống ngất đi. Ông Tụng cố gắng đứng lên và lê bước về phòng riêng, nhưng khi ngang qua phòng của Thạnh, ông nhìn vào và giật mình! Trong phòng đang có hai bóng người con gái đứng song hàng, nhưng chỉ có thân mà không có đầu và mặt! Tuy nhiên, vẫn có tiếng phát ra từ họ: - Tôi là Ánh Hồng! - Tôi là Xuân Hằng! - Hai chúng tôi là nạn nhân của hai người em của ông từ mấy chục năm trước. Nay tuy họ đều đã đền mạng, nhưng dòng họ Phạm của ông vẫn còn lại hai người mà chúng tôi chờ từ hơn mười lăm năm rồi, nay mới có dịp làm nốt ý nguyện! Ông Tụng thay vì sợ bỏ chạy, lại đứng khựng lại, rồi từ từ quỳ xuống, giọng thành khẩn: - Tôi tuy không tham gia vào tội ác của các em mình, nhưng dẫu sao thì cũng đáng chết. Tôi xin chịu hình phạt. Chỉ có điều thằng con tôi tuy lỗ mãng, bất kính, nhưng dòng họ Phạm này không còn ai nối dõi, vậy rất mong quý cô nương thương tình, tha mạng cho nó, muốn sai khiến làm gì cũng được! Một trong hai cô tặc lưỡi: - Thằng này thì khó tha, ông không nghe nó vẫn hung hăng đòi san bằng miếu của tụi tôi đó sao? Hắn ta có dòng máu giống với chú và cô hắn hơn là giống ông, nếu để hắn sống thì liệu gia sản của ông có còn giữ được không? Hơn ai hết, ông Tụng hiểu điều đó, nhưng làm sao ông dửng dưng trước sự an nguy của con. Nên ông vẫn cố năn nỉ: - Mạng tôi đây các cô muốn lấy lúc nào cũng được, chỉ xin... Một giọng the thé cất lên: - Không nói nhiều, hãy làm đi! Thân thể đang nằm bất động của Thạnh bỗng lao vút đi trong tư thế nằm sấp, phúc chốc không còn thấy bóng... Buồn vì chuyện mất tích của Hai Thạnh, nhưng ông Tụng vẫn giữ y lời hứa của mình. Ông bắt đầu cho trùng tu lại ngôi miếu hoang. Trước khi tiến hành, ông cẩn thận đặt một con heo quay lớn cùng nhiều hoa quả trước miếu, cúng và vái rất thành khẩn: - Mạng già của tôi dẫu sau đây có bị bắt đi, nhưng lời đã hứa thì tôi xin giữ. Hôm nay tôi xin phép cúng hai cô và được trùng tu ngôi miếu này. Tôi sẽ giữ nguyên ngôi miếu nhỏ này, chỉ xây trùm bên ngoài một ngôi miếu lớn, khang trang hơn, và cũng xin phép được ghi danh hai cô trên bài vị thờ trong miếu. Nếu đồng ý thì hai cô giáng xuống điều gì đó để tôi biết mà làm theo. Ông vừa dứt lời bỗng con heo quay đang đặt trước miếu vụt bay lên, rồi biến đi mất trước sự ngạc nhiên của mọi người! Chỉ còn lại số hoa quả. Chừng như hiểu ý, ông Tụng lại vái: - Nếu hai cô không đồng ý cúng đồ mặn thì tôi xin thay bằng hoa quả. Ông cho người chạy đi mua thêm nhiều trái cây và cúng vái lại lần nữa. Quả nhiên, lần này nhang cháy cho đến tàn mà không xảy ra chuyện gì. Mười ngày sau, một ngôi miếu mới được hình thành. Đứng ngắm nhìn ngôi miếu mới, ông Tụng hài lòng lắm, ông thầm khấn vái: - Tâm nguyện của tôi đã hoàn thành, vậy nay không còn gì để luyến tiếc nữa tôi xin với hai cô một điều thôi, cho phép tôi được về nhà, nằm trong phòng riêng và chờ chết. Tôi muốn được chết trong nhà mình. Ông vái xong lặng lẽ bước đi. Ông ta về nhà và làm đúng như lời đã nói. Nhưng nằm chờ hoài đến chiều, rồi đêm và mãi cho đến sáng ngày mai vẫn không có điều gì xảy ra cả! Vừa muốn ngồi dậy thì chợt ông nghe tiếng ai văng vẳng: - Ông là người duy nhất trong dòng họ có thể sống để làm điều tốt đẹp. Từ ngày hôm đó, người quanh vùng bỗng nhìn thấv một người lớn tuổi, từ sáng cho đến chiều tối, lặng lẽ cầm chổi quét lá chung quanh ngôi miếu. Ông cũng ngày ngày nhang khói, cúng vái như vai trò của một ông từ giữ miếu. Người đó chính là ông bá hộ Tụng! Ai hỏi ông tại sao làm vậy thì ông cười và nói: - Còn sống ngày nào thì nên làm điều thiện cần làm. Làm gì sẽ gặp nấy thôi. Và càng lạ hơn, ngày hôm sau nữa, chỗ dưới gốc cây me già bỗng hiện ra một mộ huyệt mới xây nhưng để trống không chôn ai trong đó. Nhiều ngườl thắc mắc không hiểu ai xây và xây để chôn ai. Chỉ mình ông Tụng là hiểu. Ông thường đứng trước mộ huyệt và nói thầm: - Anh em, con cái tôi làm ác, làm bậy nên chết không có mồ chôn là đúng. Phần mộ này có lẽ họ dành cho tôi khi nằm xuống. Xin cám ơn vong hồn hai cô. Ông Tụng sống đến hơn mười năm sau mới chết. Và đúng như lời ông, khi người ta liệm xác ông và quan tài, chưa kịp di quan thì bỗng quan tài biến mất! Chiều hôm đó có người phát hiện quan tài ông đã được ai đó đặt vào huyệt mộ. TÌNH MA DUYÊN TỤC Đoạn đường từ Rạch Giá về Hà Tiên không xa, chưa đầy một trăm cây số, nhưng đường sá vào năm 1945 còn quá hẹp và xấu, nên dù cố gắng tăng tốc mà chiếc Traction phải mất ba tiếng đồng hồ Hiệp mới tới Kiên Lương. Nhìn đồng hồ tay, Hiệp hơi sốt ruột, đã hơn 6 giờ chiều. Đến chợ Hà Tiên còn ngót ba chục cây số nữa mà trời tối thì liệu có kịp không? Không có hẹn với ai ở đó, nhưng Hiệp lại ngại lái xe đường lạ trong đêm tối. Vả lại trời đang chuyển mưa nữa mà. Lúc này Hiệp mới thấy hối hận khi không nghe lời khuyên của bạn bè rằng anh không nên đi, bởi lúc khởi hành đã hơn hai giờ chiều. Hiệp vốn tính bướng bỉnh, lại muốn sáng ngày mai khi tới trình diện nhà cha mẹ vợ tương lai ở gần Mũi Nai thì anh phải tươi tỉnh, chững chạc như hình ảnh một thầy ký tòa án Lê Hữu Hiệp vốn có dưới mắt của Nguyệt và gia đình cô. Việc Hiệp bỏ ngang công việc tòa án, đi về Hà Tiên vào những ngày giữa tuần cũng chỉ vì anh lỡ hứa với Nguyệt rằng anh sẽ có mặt tại nhà cô và dự đám giỗ, để nhân dịp có sự có mặt đông đủ thân nhân Nguyệt, sẽ là một dịp tốt nhất cho anh ra mắt bên vợ, những người vốn giàu có và trọng hình thức. Ông già của Nguyệt tuy không phải là quan chức, nhưng là một nghiệp chủ giàu nhất nhì Hà Tiên thời đó, chính ông là người đã âm thầm giúp đỡ cho Hiệp ăn học và khi ra trường với bằng Tú tài toàn phần, ông đã vận động để đưa anh chàng vào ngành tòa án, giữ ngay vai thư ký tòa, một địa vị mà không phải người trẻ mới ra trường nào cũng có được. Và để đền ơn người đã giúp đỡ mình, Hiệp đã long trọng hứa sẽ làm rể nhà nghiệp chủ Ma Đại Nhơn. Tuy gọi là trả ơn, nhưng cũng may cho Hiệp, vì Nguyệt - cô con gái của nghiệp chủ Nhơn lại là một mỹ nhân đúng nghĩa. Cô ta từng được mệnh danh là hoa khôi của vùng Tô Châu - Thạch Động. Khi hai người gặp nhau lần đầu tiên ở Rạch Giá, nơi Minh Nguyệt trọ học, thì cả hai đã ngỡ ngàng nhìn nhau sau vài giây, tự dưng họ đâm ra mến nhau, hợp nhãn nhau liền! Bởi vậy, chính Nguyệt đã từng nói với Hiệp rằng duyên của họ đúng là duyên tiền định! Cô nàng hầu như muốn giữ chặt lấy người tình, giục Hiệp nhanh chóng tiến hành hôn lễ, bằng cách thúc hối cha mua ngay cho hai người một căn phố lầu ở chợ Rạch Giá, và nội tháng 8 phải làm lễ thành hôn, mặc dù cô còn đang học dở dang lớp chuẩn bị thi bằng Thành chung. Ông Nhơn chiều ý con, nên đã yêu cầu Hiệp phải có mặt nhân ngày giỗ ông ngoại của Nguyệt. Hiệp về Hà Tiên với lý do như vậy. Dù đã đi về thị xã Hà Tiên mấy lần rồi, nhưng khi chạy ngang một ngã ba bên tay trái, nhìn thấy tấm bảng đề mấy chữ "82 km là Hòn Chông", Hiệp hơi ngạc nhiên: - Thì ra đường đó đi về Hòn Chông, một địa danh có thắng cảnh Chùa Hang, Hòn Phụ Tử! Anh rà xe chậm lại nhìn kỹ con đường, định bụng lượt về thế nào cũng rẽ vào đó xem cho biết Hòn Phụ Tử đẹp như thế nào. Vừa khi ấy chợt trời đổ mưa. Cơn mưa đã được báo trước, nhưng Hiệp không ngờ nó lại tới nhanh và lớn đến như vậy! Xe hơi thì có thể đi trong mưa dễ dàng, tuy nhiên chỉ với một người chưa quen lắm với đoạn đường quanh co trên lộ trình đến thị xã, nên Hiệp có hơi ngại. Anh nhìn thấy một ngôi nhà gần lộ, giống như cái quán ven đường nên không kịp nghĩ ngợi, đã lái xe thẳng vào khoảng sân hẹp, đậu lại định chờ cho bớt mưa. Hơn mười phút qua, ngồi trong xe đóng kín cửa cảm thấy bí, Hiệp quay kiếng xuống nhìn vào quán, vừa lúc mắt anh dừng lại chỗ một cô gái ngồi co ro trong quán. Toàn quán không có ai khác, ngoài cô gái là khách duy nhất. Cô ta đúng là khách, bởi ngay dưới chân cô, Hiệp nhìn thấy một túi xách của một người đi xa. Chỉ hơi ngạc nhiên bởi ở chỗ vắng vẻ này lại có một cô gái ngồi trong một quán ven đường, trong buổi chiều tối như thế này. Hiệp thôi không nhìn nữa, quay kiếng xe lên, định cứ ngồi trong xe như thế cho đến hết cơn mưa. Nhưng mưa càng lúc càng thêm nặng hạt mà không khí trong xe càng thêm bức bối, nên Hiệp quyết định mở cửa xe, chạy vụt vào trong quán với ý nghĩ rằng mình cũng nên trú mưa trong quán cho thoáng mát hơn. Có lẽ chủ quán đã thấy Hiệp đậu xe và ngồi trong đó khá lâu, nên khi anh vừa vào đã nghe lời chào hỏi: - Quý khách cần uống nóng hay lạnh. Lạnh thì hôm nay có nước đá mới chở từ Rạch Giá về. - Dạ, cho tôi một cà phê nóng. Hiệp đáp và nhìn lên, anh giật mình, bởi người hỏi anh không phải là chủ quán, mà lại là cô gái anh thấy ngồi co ro nãy giờ! - Tôi... tôi tưởng... Có giọng nói từ phía trong vang lên, lần này hình như đúng là của chủ quán thật: - Thầy Hai uống gì gọi nó cũng được, đó là đứa cháu của tôi, nó đang chờ xe, chớ không phải người ngoài. Lúc này Hiệp mới chợt giật mình khi nhìn kỹ cô gái! Cô nàng đẹp khác hẳn con gái ở xứ này mà lâu nay anh vẫn thấy. Cô ta lại ra vẻ là một người của thị thành với kiểu ăn mặc tuy giản dị mà đúng cách. Bộ đồ bà ba, quần lĩnh đen, áo màu hoa cà, hợp với làn da trắng muốt, khiến người nhìn phải sững sờ! Ly cà phê nóng được bưng ra, mùi thơm lừng chẳng khiến cho Hiệp bị quyến rũ bằng đôi bàn tay nõn nà, đang nhẹ nhàng đặt ly xuống và cất tiếng mời như rót mật vào tai: - Dạ, mời... anh! Rồi cô nàng quay trở lại chỗ ngồi cũ, vẫn co ro như lúc đầu, mắt nhìn ra ngoài như chẳng để ý tới ai chung quanh. Hiệp uống chưa hết ly cà phê thì trời đột ngột ngừng mưa. Bất ngờ như lúc bắt đầu, cơn mưa lại khiến cho Hiệp vừa ngạc nhiên vừa hài lòng. Anh nhìn đồng hồ đã hơn 7 giờ, anh nhẩm tính: - Phải cỡ chín giờ thì mới tới nơi được. Hiệp vừa đứng lên kêu tính tiền thì bà chủ quán xuất hiện, bà hỏi thẳng vị khách trẻ: - Cậu có về Hòn Chông không? Rồi không đợi anh trả lời, bà ta nói luôn: - Con nhỏ cháu đi Sài Gòn về, tới đây thì trễ giờ nên hết xe lam về nhà nó ở nửa đường đi Hòn Chông. Nếu cậu có về qua đó thì làm ơn... Bỗng cô nàng lên tiếng: - Dì hỏi mất công. Người ta về Hà Tiên mà. Thôi, tạnh mưa rồi để con đi bộ từ từ về nhà cũng được. Sáu bảy cây số thôi mà. Hiệp ngước nhìn cô nàng đang đứng dậy, tay xách giỏ chuẩn bị đi, anh vụt nói: - Để tôi đưa cô về! Bà chủ quán reo lên: - Gặp được người tốt bụng như cậu quả là trời thương cháu tôi rồi! Hiệp ra mở cửa xe phía trước cho cô gái lên ngồi, anh giải thích: - Tôi không rành đường, cô ngồi trước chỉ đường cho. - Dạ, cám ơn anh. Cô nàng ngồi gần, phả hương thơm rất lạ vào mũi Hiệp, khiến anh thích thú. Mặc dù không ưa phụ nữ xức nước hoa, nhưng hương thơm từ cô gái không phải do nước hoa, nên ngay giây đầu tiên Hiệp đã có thiện cảm và thầm nghĩ, nước hoa đâu có gì mà không ưa! - Anh không phải là người xứ Hà Tiên này? - Sao cô biết? - Thấy cách anh dò đường. Người gốc Hà Tiên thì không ai là không biết đường vào Chùa Hang, Hòn Phụ Tử. - Thú thật, tôi từ Rạch Giá qua đây. - Đi chơi thì không đúng rồi, vì không ai đi tham quan, du ngoạn mà đi một mình. Còn thăm bà con thì chắc cũng không đúng, bởi thăm viếng thì phải có quà cáp. - Vậy theo cô thì tôi đi đâu? - Đi coi mắt vợ phải không? Câu hỏi khiến Hiệp giật mình, ngơ ngác: - Cô... cô lại biết... Cô gái phá lên cười, giọng cười giòn tan rồi không nói gì thêm, đưa mắt nhìn ra ngoài. Hiệp biết mình hố nên nói chữa: - Tôi... tôi chỉ có ý... Cô nàng quay lại, cười nhẹ: - Tôi chỉ cười suông thôi chớ có ý gì đâu. Vả lại, chuyện anh đi coi mắt vợ hay đi đâu đó là chuyện riêng của anh có mắc mớ gì đến tôi đâu. Xe chạy được mười phút, Hiệp bớt tốc độ và hỏi: - Đã sắp tới chưa? Cô nàng không cần nhìn đã nói ngay: - Dạ chưa, phải hơn cây số nữa. Khi nào thấy ngôi nhà bên trái có giàn hoa giấy chạy hoài theo bờ rào, đó là nhà... em. Nàng đổi cách xưng hô một cách đột ngột, khiến Hiệp phải lúng túng: - Cô... cô... - Em là Mỹ Dung. - Còn tôi… là Hiệp. Thấy nàng dạn dĩ, Hiệp nói đùa. - Tên cô giống với tên một cô gái trong truyền thuyết của xứ Hà Tiên này quá. Nàng Phù... Cô nàng Mỹ Dung cũng đùa: - Nàng ta khác chữ lót. Mỹ Dung là nhan sắc đẹp, còn Phù Dung là loài hoa mau tàn. - À, tôi không để ý. Mà tôi cũng sơ suất nữa, ai lại ví tên cô với một cô gái trong truyền thuyết đã ra người thiên cổ từ lâu rồi. Người hiện tại mới đáng nói hơn phải không? Tưởng mình nịnh một câu như vậy sẽ được hưởng ứng nào ngờ Hiệp lại nhận được câu nói: - Chắc gì thực tại hay hơn cái đã mất! Theo em... Nàng kịp ngừng lại điều đang muốn nói ra. Hiệp hơi ngạc nhiên: - Cô định nói gì? Nàng lắc đầu nhanh: - Dạ không. Kìa anh cho em xuống đây. Quả là có một ngôi nhà ngói xưa nằm khuất sau hàng rào dài với nhiều hoa giấy che phủ. Hiệp cho xe ngừng lại và lịch sự bước xuống mở cửa cho nàng. Anh không quên nói nịnh một câu nữa: - Nhờ có cô mà tôi biết thêm đường vào Hòn Chông. Lượt về thế nào tôi cũng ghé qua thắng cảnh này, cô sẵn sàng mời tôi ghé nhà chớ? Nàng cười rất tươi: - Đâu đợi gì ngày mai, nếu bây giờ em mời thì anh có ghé không? Hiệp lúng túng: - Tôi... tôi còn phải về Hà Tiên. Trời quá tối rồi. - Vậy cám ơn anh. Anh đi cẩn thận. Hiệp vẫy tay chào rồi leo lên xe ngay. Mở máy như thường lệ, nhưng sao máy xe lại không chịu nổ. Kỳ vậy, mới chạy ngon đây mà... Thử đề lại lần nữa, tiếng è è phát ra rồi tắt ngấm. Hiệp coi lại xăng, vẫn còn hơn nửa bình, cũng không phải hết bình điện, vậy tại sao không khởi động được máy. Loay hoay làm một mình đến gần mấy phút, chợt anh nghe từ phía sau lưng mình, giọng lo lắng của cô nàng: - Xe anh bị sao vậy? Hiệp hơi ngượng: - Cũng chẳng hiểu sao. Có lẽ... tại vì... Anh muốn tìm một lý do để nói, nhưng vốn không rành về chiếc xe mới mua này lắm, nên cuối cùng anh chỉ biết lắc đầu: - Chịu thua. Và đúng là Hiệp chịu thua thật, bởi sau gần hai mươi phút hì hục mà vẫn không sao thay đổi được tình hình. Trời lại đổ mưa trở lại. Cô nàng Mỹ Dung đề nghị: - Anh phải nghỉ tạm lại nhà em thôi. Rồi sáng mai về bên đó sớm, như thế tiện hơn. Hiệp áy náy: - Như vậy e không tiện... Cô nàng trấn an: - Anh không phải lo, ba má em hôm nay đi qua Hòn Me, nên nhà chỉ còn mỗi mình em. Người sợ chính là em, nhưng mà... Hiệp lại càng ngại hơn: - Như thế lại càng không nên. Anh còn đang phân vân thì trời mưa thật lớn, Mỹ Dung nói như ra lệnh: - Anh cứ để xe đó đi, vào nhà đi! Không còn cách nào khác, Hiệp đành phải nghe theo. Khi vào nhà rồi anh chàng mới yên tâm phần nào. Nhà rộng và khang trang, Mỹ Dung lại không có vẻ gì là ngại sự có mặt của khách lạ. Cô giục Hiệp: - Dù gì anh cũng phải ngủ ở đây tối nay rồi, vậy lấy dù của em ra ngoài xe lấy đồ đạc vào, tắm rửa rồi em làm cơm cho ăn. Vừa ăn ta vừa nói cnuyện. Em cũng cần một người bạn để hàn huyên trong khi nhà vắng thế này. Phải đợi nàng giục lần thứ hai Hiệp mới làm theo. Khi trở vào anh đã thấy một mâm thức ăn nóng nấu sẵn, cô nàng thân mật nói: - Trong lúc anh tắm thì em nấu cơm. Nhà còn thức ăn tươi và ngon. Có lẽ má em đoán em sẽ về hôm nay! Hiệp thấy nàng tự nhiên thì cũng đỡ phải e ngại. Anh tắm xong thì đã thấy một mâm cơm dọn sẵn. Anh tự hỏi sao cô ta có thể nấu thức ăn nhanh như vậy. Tuy nhiên, Hiệp cũng không còn thời gian suy nghĩ, nàng đã giục cầm đũa: - Anh ăn đi, như thế mới không chê cơm nhà nghèo chứ! Mỹ Dung vừa ăn vừa tiếp thức ăn cho khách, nàng còn nói huyên thuyên đủ thứ chuyện, khiến cho bữa cơm qua nhanh và Hiệp ăn rất ngon! Ăn vừa xong thì chẳng hiểu sao, anh lại cảm giác như mình buồn ngủ từ thuở nào vậy, mắt nhướn không lên: - Tôi... tôi... - Dậy! Dậy nhanh đi anh, má em về tới! Tiếng giục của cô nàng khiến dù đang say ngủ, Hiệp cũng phải bật dậy ngay. Anh hỏi: - Mấy giờ rồi? - Chắc là gần sáng. Má em đột ngột về mà không báo trước, may mà vừa rồi có người đưa đồ đạc về trước, nói khoảng vài chục phút nữa má về tới. Hiệp nhớ lại những gì xảy ra đêm qua, anh ái ngại: - Tối qua bỗng dưng tôi buồn ngủ quá, chắc cô không trách chớ! Mỹ Dung càng hối thúc: - Anh thay đồ nhanh rồi đi đi. Bữa về ghé lại em, em sẽ nói với má anh là bạn học từ Rạch Giá về chơi. Còn bây giờ... Hiệp thay đồ xong anh chợt nhớ ra: - Ờ còn chiếc xe nữa không biết khởi động nó có được không? Anh ra xe, chuẩn bị tinh thần là sẽ đẩy hay nhờ người đi rước thợ tới sửa. Tuy nhiên, vừa đề lần thứ nhất máy xe đã nổ giòn tan, êm ru. Hiệp ngơ ngác: - Chiếc xe này điên chắc! Lái xe đi được một quãng. Hiệp quay lại nhìn, anh ngỡ mắt mình bị hoa, bởi đi chưa xa lắm nhưng chẳng hiểu sao nhìn lại đã không còn thấy ngôi nhà đâu? Chỉ toàn là ruộng và xa xa là rừng... Hiệp muốn quay xe lại để xác minh, nhưng thấy mặt trời vừa ló dạng, sợ chạm mặt bà mẹ của Mỹ Dung. Nên anh nhấn ga, xe vọt tới với nguyên nỗi thắc mắc trong lòng. Ra tới ngã ba Kiên Lương, cố nhìn nhưng Hiệp cũng không thấy cái quán lá ven đường hôm qua đâu. Anh nghĩ có thể mình lộn chỗ, nhưng rõ ràng hôm qua nó nằm ngay ngã ba này mà? Mải lo nhìn tìm, suýt nữa xe của Hiệp chạm phải một xe khác chạy trờ tới. Anh hú vía vội rồ ga thẳng về Hà Tiên. Trời sáng mát mẻ, nên Hiệp chạy rất nhanh, chỉ khoảng nửa giờ sau là anh đã vào thị xã. Nhờ ngủ được một giấc đầy, lại mới thay quần áo sạch, nên Hiệp mạnh dạn chạy thẳng tới nhà vợ tương lai. Vừa đậu xe ngay cổng, Hiệp đã thấy một người đàn bà lớn tuổi từ trong bước ra, trên tay bà ta ôm khư khư cái khung ảnh mới. Khi bà ta đi ngang rất gần với mình, Hiệp chợt nhìn vào tấm ảnh lộng trong khung, và thảng thốt kêu lên: - Kìa, sao lại như vậy? Khuôn mặt người trong ảnh đập vào mắt Hiệp, anh tưởng chừng như mình đang mơ ngủ, phải nhướng đến lần thứ hai anh mới lại kêu lên lần nữa: - Mỹ Dung! Nghe anh gọi, người phụ nữ kia khựng lại và hỏi: - Cậu gọi ai? - Mỹ Dung! Phải đây là… là Mỹ Dung? Thật bất ngờ, bà ta đáp ngay: - Đúng. Nó là Mỹ Dung, con gái tôi! Bước ngay xuống xe và không cần giữ ý. Hiệp chụp ngay cái khung ảnh, hỏi lại người phụ nữ: - Cô gái trong ảnh này đúng là Mỹ Dung, nhà ở đường ra Hòn Chông? Kinh ngạc trước thái độ của Hiệp, bà ta nhíu mày hỏi: - Cậu biết con gái tôi? Vừa khi ấy, có tiếng oang oang từ trong nhà: - Hiệp về tới phải không con? Ra đón anh Hiệp, Nguyệt ơi! Họ ùa ra, khiến cho câu chuyện giữa Hiệp với người đàn bà kia phải gián đoạn. Bà ta vụt đi thật nhanh, phút chốc đã khuất ở góc đường. Thấy Hiệp nói chuyện với bà ta, ông Nhơn hỏi: - Con bị bà ý làm gì vậy? Hiệp hỏi luôn: - Bà ta là ai vậy và cái khung hình trên tay bà ấy? Ông Nhơn tặc lưỡi: - Oan gia đấy mà! Chị ta gây rối, khùng điên. Bữa nay biết con sẽ về nên ba không đuổi chị ta đi, chớ gặp bữa khác thì... Minh Nguyệt kịp bước ra, đã vội lên tiếng: - Anh để ý làm gì chuyện tầm phào đó. Ối, xứ này họ thấy nhà em giàu nên hễ có bất cứ chuyện nhỏ chuyện to gì họ cũng kéo tới. Bà này có đứa con bị xe nhà mình gây tai nạn, nên mới... Cô ta nói tới đó thì cũng ngừng ngang, Ông Nhơn phá tan không khí mà ông cảm thấy khó chịu đó: - Thôi, vào nhà đi con. Để xe đó chút nữa tụi tài xế đem rửa. Minh Nguyệt tự nhiên như Tây, cặp tay Hiệp đi sóng đôi với cha mình vừa hỏi huyên thuyên: - Bộ đi vào nửa đêm sao giờ này đã về tới đây rồi? Biết không thể bịa chuyện hoàn toàn được, nên Hiệp tìm cách nói khéo: - Anh về quá trễ, lại quên đường vào nhà, nên phải ghé hotel ở tạm. Minh Nguyệt ré lên: - Sao một mình mà dám ngủ ở khách sạn! Hay là đã ngủ với... Ông Nhơn phải nói đỡ cho con rể tương lai: - Nó làm vậy là đúng đó. Bộ con nghĩ ai ngủ khách sạn cũng đều ngủ với ai đó hay sao! Nguyệt nhéo chồng tương lai một cái đau điếng: - Được cha vợ bênh, sướng há! Hiệp bước theo họ mà đầu óc cứ nghĩ về chuyện bức ảnh lúc nãy. Khi đã vào nhà rồi, nhân lúc Minh Nguyệt ra nhà sau pha trà. Hiệp mới hỏi ông bố vợ: - Hồi nãy ba nói người đàn bà ôm khuôn hình đó tới đây phá, mà phá cái gì vậy? Hơi ngạc nhiên về sự quan tâm của con rể, nhưng ông Nhơn vẫn đáp: - Số là anh của con Nguyệt, thằng RôBe lỡ vụng trộm với một cô gì mà ba không chấp nhận, ba ngăn không cho chúng nó lấy nhau. Không ngờ một bữa kia nghe tin con nhỏ nhảy sông tự tử! Chuyện này làm sao ba ngăn được, và ba cũng đâu có xúi giục hay nhúng tay vào cái chết của con nhỏ đâu. Vậy mà năm nào cũng vậy, hễ tới ngày giỗ con nhỏ đó thì mụ ta lại cầm tấm hình tới đây làm trận làm thượng. Mà thằng RôBe thì đã đi lấy vợ từ lâu rồi, ở xa lắc xa lơ. - Nhưng... có phải nhà cô ấy ở trên đường vào Hòn Chông không? Ông Nhơn ngạc nhiên: - Sao con biết? - Nhưng con nói là có phải cô ấy ở đường đi Hòn Chông không? Mà nhà cô ấy có mấy chị em? Còn có ai cỡ tuổi nàng không? Trước một loạt câu hỏi như tra vấn của Hiệp, ông Nhơn phải hỏi lại: - Con sao vậy, Hiệp. Chuyện của họ thì mắc mớ gì đến con? Hiệp chợt giật mình, anh ấp úng: - Dạ con... con... Minh Nguyệt đem trà lên, chỉ nghe loáng thoáng nên hỏi lại: - Chuyện gì vậy? Ông Nhơn hình như cũng không muốn con gái mình bàn sâu thêm câu chuyện giữa ông và Hiệp đang bàn, nên vội nói: - Ba hỏi nó chuyện chuẩn bị lễ cưới mà. Minh Nguyệt sà xuống bên cạnh Hiệp, chẩu môi ra nũng nịu: - Em muốn phải có hai phù dâu, hai phù rể hà! Anh kiếm đâu đủ hai người đi. Còn em kiếm phù dâu. Để cho qua chuyện, Hiệp gật đại: - Thì có gì khó đâu. Anh sẽ lo. Suốt trong bữa cơm trưa hôm ấy, hầu như Hiệp chỉ ậm ừ cho qua, ai nói gì anh cũng gật. Đến nỗi Minh Nguyệt phải cảnh cáo: - Anh tơ tưởng đến ai mà đầu óc như kẻ mộng du vậy? Coi chừng em đó nghen! Hiệp lại phải xuống nước: - Anh muốn cảm mà. Có lẽ tại tối qua không quen chỗ lạ nên mất ngủ. Ăn cơm xong, thay vì phải ở lại chơi một ngày nữa như đã hứa, nhưng Hiệp viện lẽ: - Sáng sớm mai con phải nộp và báo cáo với cơ quan biện lý về một vụ án lớn, nên tối nay con phải về để nghiên cứu tài Iiệu. Con xin phép ba con về. Anh quay sang trấn an Nguyệt: - Đầu tuần này, tức ba bữa nữa anh sẽ trở lên và chở em đi may áo cưới. Nguyệt cười híp mắt: - Em sẽ ra ngoài Rạch Giá bắt anh chở đi Sài Gòn mua đồ, chớ không thèm sắm đồ ở Rạch Giá đâu! - Cũng được. Vậy anh về nhé! Đưa Hiệp ra tận xe, cô nàng dặn đi dặn lại: - Đi mà ghé chỗ này chỗ nọ sẽ biết tay tôi! Tôi có mật thám đó nghe! Hiệp một phần đã quen đường, phần nữa là do quá nôn nóng, nên chỉ vài chục phút sau đã nuốt gọn quãng đường mấy chục cây số. Lần này vào ban ngày sáng rõ, anh quan sát kỹ lại chỗ cái quán bên đường. Đúng là không hề có. Chỉ có một mái lá tạm bợ của một người ngồi vá vỏ xe. Khi Hiệp hỏi về cái quán thì người đàn ông trung niên tỏ ra ngạc nhiên: - Ở đây Iàm gì có quán xá nào. Hiệp biết chắc là không có, bởi vài cây số quanh đó là đồng không mông quạnh, không làm sao có một cái quán mà đã biến mất chỉ trong một đêm. Anh tần ngần một lúc rồi quyết định chạy thẳng vào chỗ ngôi nhà nàng Mỹ Dung. Sự hồi hộp âu lo của Hiệp đã có ngay kết quả sau đó. Chẳng hề có ngôi nhà nào với giàn hoa giấy trước cổng như anh từng thấy! Hỏi một vài người qua đường thì có ngườt biết, người không. Người biết thì nói: - Nguyên cả đoạn đường này trước kia chỉ có duy nhất ngôi nhà của một người làm nghề đi biển. Nhưng vào mùa bão lớn ông ta đi mãi không về, ở nhà vợ con chờ đợi mỏi mòn, rồi lần lượt bỏ đi tìm phương sinh sống. Một người con lớn thì đi làm xa lâu ngày cũng không người nào trở lại. Riêng bà mẹ và cô con gái thì đi ở đợ cho một nhà giàu trên thị trấn Hà Tiên, nhưng sau nghe nói có chuyện gì đó mà họ trở về không đủ hai người. Nói tới đây, người ấy chỉ khẽ lắc đầu rồi đạp xe tới. Hiệp cố chạy theo năn nỉ lắm thì ông ta mới chỉ tay vào trong cánh đồng và nói: - Tôi chỉ biết có vậy. Còn muốn hiểu thêm thì cậu nên đi vào chỗ cánh đồng kia, nó có một nghĩa trang... Ông ta nhất quyết không nói gì thêm, đạp xe đạp thật nhanh rồi chỉ thoắt cái đã không còn thấy đâu. Hiệp lưỡng lự, bởi chỗ anh đang đậu xe muốn đi vào cánh đồng kia thì chỉ có cách duy nhất: xắn quần lội bộ qua một đoạn ruộng đồng mà anh biết chắc là sình lầy nhiều hơn là đất liền. Nhưng cuối cùng Hiệp cũng phải đi. Quả đúng như anh tiên liệu, phải hơn nửa tiếng đồng hồ sau anh mới tới được khu nghĩa địa chỉ có hơn chục nấm mồ, mà người muốn đem xác đi chôn chắc chắn là phải di chuyển bằng ghe xuồng, chớ không thể đi bộ được. Và Hiệp đã tìm ra điều không mong tìm, đó là một ngôi mộ mà trên mộ bia có lồng bức ảnh chân dung một người con gái đẹp: - Mỹ Dung. Bức chân dung ấy giống hệt như khung hình mà người đàn bà kia ôm trong lòng ngày hôm qua! - Trời đất ơi, Mỹ Dung sao? Hiệp lặng người đi rất lâu. Nhớ lại khoảng khắc ngồi chung xe với cô nàng, rồi một đêm ngủ lại nhà cô nữa. Hiệp bắt rùng mình. Anh đứng giữa khu nghĩa địa hoang vắng đó rất lâu với bao thắc mắc hoang mang ngổn ngang trong lòng. Trở ra xe, thay vì chạy đi ngay, Hiệp quyết định đậu lại đó chờ. Nếu hỏi anh chờ gì thì tức thời Hiệp sẽ chẳng trả lời cụ thể được, bởi có thể anh chờ xem may ra có thể gặp Mỹ Dung. Mà cũng có thể anh hy vọng sẽ chạm mặt lần nữa với người đàn bà ôm bức ảnh. Cuối cùng, Hiệp đành thất vọng. Bởi gần một buổi chiều chờ đợi như vậy, anh chỉ thêm bối rối và đành phải lủi thủi ra đi. Lúc Hiệp chạy xa rồi thì ở quãng đường anh vừa đậu xe có một cô gái đầu đội nón lá che khuất cả mặt xuất hiện, đứng nép vào một thân cây và gục xuống, đôi vai run run. Hình như cô ta khóc! *** Vừa ở tòa án bước ra, Hiệp đã thoáng thấy một người đàn bà hai tay ôm trước bụng vật gì đó, bước đi rất nhanh như đang chạy trốn. Anh thảng thốt gọi ngay:- Bà ơi! Hiệp chạy bộ qua đường rất nhanh, nhưng cũng không làm sao bắt kịp người kia, bà ta đi nhanh đến nỗi Hiệp cũng phải ngạc nhiên. Anh chỉ có nước gọi to hơn: - Bà ơi! Lần này Hiệp mừng rỡ bởi người đàn bà đã quay lại nhìn. Hiệp reo lên khẽ: - Chính là bà ấy! Bà ấy mà Hiệp nói ở đây chính là người ôm khung hình hôm trước, tức là bà mẹ của Mỹ Dung! - Bác, chờ con với! Hiệp không ngại có nhiều người đang nhìn mình, anh chạy nhanh thêm và cuối cùng bắt kịp người nọ. Anh thấy trên tay bà ta vẫn khư khư giữ bức ảnh như bữa trước: - Bác đi đâu ra tận đây? Cháu mời bác vào quán nước kia, cháu cần hỏi điều này một chút. Ngần ngừ chớ không từ chối, cuối cùng bà ta theo chân Hiệp bước vào một quán vắng gần đó. Vừa ngồi xuống, bỗng người phụ nữ lên tiếng: - Tôi đi tìm cậu đây! Hiệp ngạc nhiên: - Sao bác biết cháu ở ngoài này mà đi tìm? Mà tại sao... Bà ta đặt bức ảnh xuống bàn, hỏi đột ngột: - Cậu còn nhớ nó không? Hiệp không giấu nổi xúc động, đáp ngay: - Cô Mỹ Dung đây mà, sao cháu lại không nhớ! Bà ta nhẹ gật đầu: - Nó đó. Vậy cậu có sẵn lòng giúp nó không? Hiệp hơi bất ngờ, nhưng cũng kịp đáp: - Dạ, sao lại không! Nhưng cháu phải làm gì? - Báo thù! - Báo thù cho ai? - Hiệp trợn tròn đôi mắt, hỏi lại. - Cho Mỹ Dung mà cậu quen. - Giọng bà ta đanh lại. Không thể nào ngờ được, Hiệp lúng túng thấy rõ: - Cháu, cháu làm sao có thể... ý cháu muốn nói, cháu chỉ... Không để ý tới thái độ của Hiệp, bà vẫn tiếp tục nói: - Người ta đã vùi dập một đời con gái của nó, rồi khi nó có thai, họ lại nhẫn tâm bảo nó phá thai. Nó không chịu phá thì họ bắt ép, cho nó uống thuốc trục thai ra và nó đã chết do hành động đó của họ! Con tôi chết oan ức, tức tưởi như vậy mà họ nào có đoái hoài thương tiếc gì, còn phũ phàng đuổi mẹ nó ra khỏi nhà, nơi hai mẹ con tôi ở đợ kiếm miếng cơm từ lâu... Bà nói đến đó rồi quá xúc động, nghẹn lời không còn nói tiếp được nữa. Hiệp hiểu tất cả, anh lặng người đi một lúc rồi hỏi: - Có phải tác giả vụ này là tên RôBe không? Bà mẹ Mỹ Dung lắc đầu: - Không phải. Mà chính là... lão Nhơn. Câu tiết lộ khiến cho Hiệp như bị sét đánh ngang tai, anh run giọng hỏi: - Có đúng vậy không? Bà không đáp, vụt đứng dậy và nói gọn một câu: - Mỹ Dung nó kỳ vọng ở cậu nhiều Iắm. Nó bảo, chính nó mới có duyên nợ với cậu, vậy cậu làm sao đó thì làm. Bà bước đi nhanh, để lại đó khung ảnh. Hiệp định chạy theo thì bà ấy đã nói với lại: - Cậu hãy mang khuôn ảnh đó tới giao cho cô vợ chưa cưới của cậu, ắt mọi việc sẽ như ý! Bà ta đi khuất bóng rồi mà Hiệp vẫn chưa biết phải làm sao. Cuối cùng phải đành cầm bức ảnh đứng dậy vừa đi vừa tránh để mọi người nhìn... Cái khó nhất của Hiệp là làm sao dám đưa ảnh này cho Minh Nguyệt xem, như lời người đàn bà dặn? Mà không làm thì anh lại ngại vô cùng, nhất là sau khi nghe cả ông Nhơn nói về bà già này, như có điều gì đó khúc mắc, đáng thương cho cô gái tên Mỹ Dung... Đang đi băng qua đường, chợt có tiếng gọi to: - Anh Hiệp! Nhìn lại thấy Minh Nguyệt đứng đó, đang vẫy tay gọi. Hiệp điếng hồn. Anh còn lạ gì tính ghen khủng khiếp của cô vợ chưa cưới này! - Qua đây. Em đợi nãy giờ. Anh đi đâu vậy, em vào tòa án kiếm, người ta nói anh đi về sớm, hẹn với cô nào phải không? Bức ảnh trên tay Hiệp lúc này phải chi nó biến đi đâu được cho anh nhờ! Hiệp run thấy rõ, khiến cho Minh Nguyệt khi tiến lại gần đã vụt hỏi: - Anh bị bệnh hay sao vậy? Coi mặt mày anh tái xanh, còn tay chân sao run dữ vậy? Cô nhìn xuống tay Hiệp, thấy anh cứ ôm khư khư khuôn ảnh, liền định giằng lấy và hỏi: - Cái gì vậy? Hiệp như kẻ phạm tội bị bắt quả tang, luống cuống suýt làm rơi khuôn hình xuống đất! - À ảnh... ảnh của.. của người bà con. Minh Nguyệt giằng mạnh và cầm được khuôn ảnh trong tay. Cô vừa trông thấy người trong ảnh thì há hốc mồm, rồi tay chân như rụng rời, để rơi khung ảnh xuống đường, vỡ toang! - Nguyệt! Em sao vậy? Minh Nguyệt ngất xỉu ngay sau đó khiến cả Hiệp và nhiều người đi đường hoảng hốt đỡ cô dậy. Hiệp khó khăn lắm mới vừa cứu người yêu vừa nhặt khung ảnh bể lên. Anh tự trách: - Phải chi mình giấu kịp. Vừa khi ấy Minh Nguyệt tỉnh lại. Hiệp chờ đợi một cơn bão táp ập tới, nhưng hơi lạ, cô nàng đưa mắt nhìn Hiệp rồi nhẹ mỉm cười: - Cám ơn anh đã giúp cho em. Trong đời Hiệp có lẽ đây là điều bất ngờ nhất. Vợ sắp cưới của anh mà hiền dịu như vậy chắc mặt trời sắp mọc hướng tây đây! - Em... Không đợi Hiệp nói hết. Minh Nguyệt đã chủ động ngồi dậy, rồi thật bất ngờ, tự tay cô gom hết các mảnh vở của khuôn ảnh và nhẹ nhàng nói với Hiệp: - Mình về nhà anh, em đi đường hơi mệt, trưa nay anh có dẫn em đi ăn tiệm được không? Lại chuyện lạ đây! Thay vì xưa nay toàn là những lời ra lệnh và những câu nói bướng bỉnh, sao bây giờ Minh Nguyệt của mình lại thay đổi như vậy? Hiệp không tin vào mắt và tai mình, nên hỏi lại: - Em thật sự không sao chớ? Nàng lại cười và đáp nhẹ nhàng: - Dạ, em không sao. Rồi nàng kéo tay Htệp đi, âu yếm như nhiều cặp tình nhân khác mà lâu nay Hiệp thèm muốn. - Em... Nàng giục anh: - Về nhà đi, em nói chuyện này cho nghe! Hiệp bước đi mà cảm giác như mình đang nằm mơ. Anh bước vào nhà trọ mà quên cả đáp lại lời chào của bà chủ nhà. Bà phải lên tiếng lần nữa: - Cậu Hiệp bữa nay có vợ sắp cưới đi bên cạnh rồi quên hết mọi người há! Lúc ấy, chính Minh Nguyệt phải nói đỡ cho anh: - Xin lỗi dì Hai, tại ảnh đang bị bệnh. Con đưa ảnh về cạo gió. Nàng nói xong kéo nhanh Hiệp vào nhà và đóng cửa phòng lại. Bấy giờ Hiệp mới hoàn hồn, anh ngẩn ngơ hỏi: - Em... thay đổi tính, tuyệt vời vậy. Lần đầu tiên là ngày được ông Nhơn hứa gả tới nay, Hiệp mới bế cô nàng lên quay một vòng, vừa reo lên sung sướng: - Tính em như vậy anh khoái quá! Minh Nguyệr ghé sát vào tai Hiệp, nói rất khẽ nhưng đủ nghe: - Em là Mỹ Dung đây! Hiệp buông nàng ta xuống, suýt làm nàng ngã nhào, Minh Nguyệt kêu lên: - Anh làm sao vậy? Hiệp lắp bắp: - Em... em vừa nói... nói... - Em là Mỹ Dung đây! Xưa nay Minh Nguyệt ít khi đùa nên Hiệp còn chưa tin. Cho đến khi cô nàng lại sà vào lòng Hiệp lần nữa và nói thật rành rọt: - Cám ơn anh vừa rồi đã giúp má em mang khuôn hình đưa cho... Minh Nguyệt, và nhờ vậy mà hồn em đã nhập được vào cô ấy. Để từ nay trong xác Minh Nguyệt là hồn của em. Anh có thương em không? Hiệp thừ người ra, chưa biết nói thế nào cho phải. Nói không thì anh không nói được, mà nói có ngay tức khắc làm sao anh có thể... - Thôi, gần em đi, rồi anh sẽ hiểu. Đám cưới giữa Hiệp và Minh Nguyệt vẫn tiến hành y như dự tính. Trước ngày cưới một hôm, bỗng Minh Nguyệt nói nghiêm túc với cha: - Con muốn ba dựng lại ngôi nhà cho bà Hai Lễ ngoài Hòn Chông. Ông Nhơn trố mắt nhìn con và hỏi trong sự kinh ngạc: - Xây nhà cho má con Mỹ Dung? Bộ con không nhớ chuyện bà ấy luôn phá rối nhà mình. Đã tố giác ba ra quan trên, nếu không nhờ nhà mình có thế lực, chi nhiều tiền nên mới yên ổn tới ngày nay sao? - Nhưng con muốn trước khi lấy chồng. Ba không chiều con được sao? - Minh Nguyệt vẫn dịu gịong. - Ừ, thì được rồi... Đám cưới con gái rượu của nghiệp chủ Nhơn làm rầm rộ chưa từng thấy. Hầu như cả Hà Tiên thời đó chưa có đám gả con nào lại rình rang đến như thế. Do bắt rể, nên nhà trai từ Rạch Giá đưa chú rể lên Hà Tiên rồi khi về thì về mà không có Hiệp cùng đi theo. Ngay đêm cưới, Hiệp đã khiến mọi người ngạc nhiên khi cùng với Minh Nguyệt xuất hiện giữa mọi người và tuyên bố: - Sau khi chúng tôi cưới nhau thì sẽ hiến hết tài sản này cho công việc bác ái, từ thiện, cúng chùa. Chúng tôi giữ lại một số vốn nhỏ để làm ăn. Và cũng xin cáo biệt mọi người thân quen ở thị xã này, vợ chồng chúng tôi sẽ chuyển về Hòn Chông để ở. Ai nấy ngạc nhiên chưa hiết thực hư ra sao thì lúc đó ông Nhơn sắc diện tiều tụy, bước ra nói: - Tôi đồng ý cho con và rể làm chuyện đó, từ nay cái tên Đạt Nhơn chỉ xin mọi người đừng nhắc tới nữa. Ông nói xong thì biến mất vào nhà trong. Suốt buổi tiệc không ai nhìn thấy ông ở đâu nữa. Sáng hôm sau, mọi người bàng hoàng khi nghe tin ông Nhơn tự lái xe lao xuống biển ở gần ngã ba sông Dương Thành. Những biến cố đến dồn dập đó khiến mọi người sửng sốt, không hiểu tại sao lại có những chuyện lạ lùng ấy xảy ra. Chỉ có Hiệp và Minh Nguyệt là bình tĩnh. Họ tuy đứng ra lo toan mọi việc hậu sự cho ông Nhơn chu đáo, nhưng không hề thấy họ đau buồn thái quá... Mà cũng đúng thôi. Người mang xác thân là Minh Nguyệt kia lại là người bị con người vừa nằm xuống hại tan nát cuộc đời. Làm sao cô nàng có thể nhỏ lệ khóc thương được. Ngay khi chôn cất xong cho ông Nhơn, đôi vợ chồng trẻ rời bỏ ngay ngôi nhà và ra đi, chẳng biết là đi đâu. Bởi ngôi nhà mà họ có ý xây lại ở đường đi ra Hòn Chông cũng chỉ là dự tính mà thôi. Chẳng còn ai nhìn thấy họ xuất hiện nữa... MA CHUNG TÌNH Họ gồm sáu người trong nhà. Tất cả đều có mặt để tiếp khách. Tâm hơi hồi hộp trước sự đông đủ ấy, anh cười gượng với ông già Sáu, người đánh xe đưa anh từ chợ về đây. Cũng may ông đã lên tiếng phá tan bầu không khí còn chưa tự nhiên: - Cậu Tâm đây là người quen thân với bác Tám Dự, bác ấy gửi cậu tới nhà mình để giúp theo dõi việc xây dựng khu nhà nghỉ mà mình dự kiến xây. Cậu ấy là kiến trúc sư. Vậy trong thời gian cậu lưu lại đây, mong là mọi người giúp đỡ cậu ấy. Trong số sáu người đang có mặt, có hai cô gái. Vừa nghe ông Sáu nói, một cô đã nhanh nhẩu: - Tưởng chú Sáu bắt phải làm gì, chứ còn tiếp khách, hướng dẫn khách, đó là nghề của chị em con mà, cần gì căn dặn! Chỉ sợ ông kiến trúc sư không ưa hai con nhỏ lanh chanh này thôi! Tâm vui lây với tính cách của họ, đã làm quen ngay: - Chưa xưng danh tính mà đã nhận là người hướng dẫn sao? Cô vừa rồi lại nhanh nhẩu: - Em là Thu Dung, còn đây là đàn chị Thu Hương. Vừa có nhan sắc vừa thơm tho nữa, chắc là không tệ! Không ngờ cô nàng bạo dạn đến thế, nên Tâm cũng bạo miệng: - Có hướng dẫn viên như cỡ này chắc là có nhắm mắt đi lại ở vùng này cũng không sợ lạc đường! Nào, bây giờ hướng dẫn viên nào có thể cho kẻ này tham quan sơ qua hiện trường, được chứ? Cô gái tên Thu Hương im lặng nãy giờ, chợt lên tiếng: - Với điều kiện là khách phải cởi bỏ đôi giày tây đi, mang dép cao su thì mới được hướng dẫn! Hai vợ chồng chủ nhà từ đầu chỉ ngồi yên, giờ ông chủ mới lên tiếng: - Các con không được đùa giỡn quá mức, e làm phiền lòng cậu Tâm đây. Rồi ông quay sang Tâm, nói: - Cậu đừng chấp tụi nó. Còn trẻ, lại sống bó rọ ở xứ này lâu, nên gặp khách tới là huyên thuyên như thế. Bà chủ cũng lên tiếng: - Cậu mà giỡn mặt với tụi nó thì e sẽ bị chúng nó bắt phải chạy đua lên đồi, cậu chịu không nổi với chúng đâu! Hai cô gái không đợi lâu, đã thật tự nhiên, nắm tay Tâm kéo đi: - Mình ra ngoài một vòng đi, ở đây nghe các khứa lão nói e rằng chết mất! Trước mặt hai người lớn Tâm cảm thấy ngượng về sự lôi kéo đó, nhưng không thể cưỡng lại được, bởi cả hai cô cùng kéo. Ra tới ngoài rồi Thu Hương mới giải thích: - Ông bà tụi em còn nói nhiều hơn tụi em nữa anh mà ở lại đó một chút là... buồn ngủ chết thôi! Họ không rầy la về chuyện tụi em như thế này đâu... Tâm nghĩ đây cũng là dịp tốt để quan sát địa hình khu đất, bởi ngày hôm nay anh phải bắt tay và vẽ bản phác thảo rồi. Anh nhắc hai cô gái: - Hai cô phải chỉ cho tôi xem chính xác nơi sẽ xây khu nhà nghỉ, để tôi còn biết mà phác thảo cho hoàn chỉnh. Cô nàng Thu Dung liếng thoắng hơn, nheo mắt: - Biết rồi, thưa ngài kiến trúc sư! Vậy đất dưới chân ngài đây có đạt yêu cầu chưa? Tâm đã xem qua phần đất này khi mới tới, anh chỉ tay về phía trái, nơi có mấy ngôi mộ và hỏi: - Phía này thì hướng Đông Nam, hướng đẹp, đúng phong thủy, nhưng ngặt ở chỗ... vướng mồ mả, làm sao xây nhà? Kéo tay Tâm tới bên hai ngôi mộ nằm riêng lẻ, cách bốn ngôi mộ kia vài mét, Thu Hương lên tiếng: - Tụi em muốn khi khu nhà hoàn thành, phòng tụi em phải ở ngay chỗ này cơ! Tâm tròn mắt nhìn cô nàng: - Cô không thấy đây là mồ mả sao? Thu Hương gật đầu: - Biết. Nhưng năm rồi em xem bói, xem phong thủy đều nói tụi em hạp với nơi đây nhất. Có phải nơi đây là địa hình đắc địa nhất không? Tâm phải công nhận: - Nhìn toàn bộ khu đất thì đúng nơi đây là tốt nhất. Nhà xây nơi này, hướng cửa về phía mặt trời mọc thì là số một. Nhưng... Thu Dung nói trước cả ý nghĩ của Tâm: - Cần thì xây nhà chồng lên mấy ngôi mộ này, có sao đâu. Tâm trợn mắt nhìn họ: - Hai cô nói có biết phong thủy mà lập luận như vậy được sao? Ai lại xây nhà trên mộ, ngoại trừ không nhìn thấy mộ. Thu Hương thản nhiên: - Mồ mả cũng là nhà, nhà của người chết. Việc mình xây một ngôi nhà khác cho người sống chồng lên ngôi nhà cũ của người chết đâu có gì là không được. Miễn người trong mộ bằng lòng là được thôi! - Kìa cô. Nhìn thấy gương mặt thảng thốt của Tâm, hai cô gái phá lên cười: - Chưa chi mà ông kiến trúc sư nhà mình đã thất thần rồi. Bọn này nói đùa thôi, chứ nào đã làm gì đâu mà anh sợ dữ vậy. Tâm lắc đầu: - Chưa thấy ai dám đùa giỡn cả với mồ mả của người chết như hai cô! Mà nè, mả này có phải là thân nhân của hai cô không? Thu Dung lại kéo Tâm chạy đi, vừa nói: - Lát nữa anh nhìn mộ bia sẽ biết tụi này có quan hệ gì với những người dưới mộ kia ngay! Bây giờ mình lên ngọn đồi kia chơi một lúc! Tâm vốn không quen chạy nhảy, nhất là vùng đất cao như thế này, nên chỉ chạy được vài chục mét là anh thở hồng hộc. Thu Dung phá lên cười: - Không khéo vài bữa nữa là mình phải khiêng anh chàng này quá chị Thu Hương ơi. Quả đúng như lời, chỉ hơn mươi bước chạy nữa thôi, bỗng dưng Tâm hoa mắt, lảo đảo, rồi quỵ xuống. Do đang nắm chặt tay cô gái, nên khi quỵ xuống, Tâm đã kéo theo cô nàng. Thay vì buông tay Tâm ra thì sẽ không bị ngã theo, đằng này Thu Dung như cố ý không rời chàng, nên khi Tâm ngã xuống, anh chàng đè hẳn lên người cô nàng bé bỏng! Chẳng có một phản ứng gì, mặc dù thế đè của Tâm khiến mặt anh sát vào má nàng. Một cái kéo ghì xuống bất ngờ rồi chẳng còn cách nào khác, môi Tâm chạm sát vào môi cô nàng. Rồi hai đôi môi như nam châm gặp kim loại, chúng gắn chặt vào nhau lúc nào không hay. - Kìa, những kẻ xấu xa, làm chuyện ấy trước mặt người ta, lại làm... chỉ riêng mình thôi! Thu Hương là người phát ra câu nói đó, và thật nhanh, cô nàng nhào xuống đè lên cả hai, rồi cũng bất thần, cô ta đặt môi mình lên môi của chàng trai vừa giằng ra được khỏi cô em gái! Tâm như bị đờ người ra, khi nụ hôn thứ hai vừa xong thì cũng là lúc anh như mất hết cảm giác đề kháng. Anh cố vùng thoát ra, nhưng hoàn toàn không thể... - Sợ là tụi em chứ anh có gì đâu mà ngại. Tụi này thiếu tình cảm, thiếu được yêu thương, nên xin được thông cảm. Tụi em... Tâm ngộp trong hơi thở của cả hai cô gái và đến một lúc anh chẳng còn biết gì nữa.. - Kìa, cậu đã tỉnh rồi! Tâm mở mắt ra được, nhưng thân thể vẫn còn bất động. Anh nhận ra người đang trước mặt mình, gọi khẽ: - Chú Sáu! Ông già Sáu gật đầu: - Tôi đây. Cậu tỉnh lại là tôi nhẹ cả người! Ông ra dấu cho Tâm đừng cử động, rồi ông múc một muỗng nước từ chiếc cốc, vừa bảo: - Cậu há miệng ra uống thứ nước này, lát sau là tỉnh. Tâm cố gắng lắm mới làm theo lời được, nước mà anh uống là một loại thuốc khá đắng, nhưng uống xong thì Tâm có cảm giác dễ chịu ngay. Anh muốn lên tiếng hỏi thì ông già Sáu đã nói trước: - Cậu bị ngất đi ở ngoài mấy ngôi mộ, khi tôi phát hiện ra thì qua buổi cơm trưa rồi. Đem cậu vào nhà thì cậu mê man luôn tới bây giờ! - Bao lâu rồi chú? - Đã một ngày, một đêm rồi. Bây giờ là ngày hôm sau. Tâm nằm thêm một lúc nữa thì cảm giác chân tay nhẹ đi, bắt đầu cử động được. Anh vịn vào mép giường ngồi dậy. Nhìn quanh anh nhận ra mình vẫn còn trong ngôi nhà hôm truớc. Nhớ lại mọi chuyện. Tâm hốt hoảng hỏi: - Các cô ấy đâu? Ông già Sáu nhìn ra ngoài, có vẻ ngập ngừng. Lát sau ông mới nhẹ giọng bảo: - Cậu còn may lắm, chứ nếu không... Tâm trố mắt nhìn ông: - Cháu bị sao ngày hôm qua vậy chú? Tại sao các cô ấy... Ông già Sáu đứng lên, đưa tay dìu Tâm: - Cậu cố đi ra đây với tôi. Ông dẫn Tâm trở ra chỗ mấy ngôi mộ bữa trước, ông chỉ tay vào hai ngôi mộ nằm riêng lẻ: - Cậu nhìn xem, trên mộ bia... Tâm đưa mắt nhìn và hốt hoảng: - Sao... sao lại như thế này? Trên ngôi mộ bia ghi danh tính người chết: Bùi thị Thu Hương và Bùi Thị Thu Dung. Tâm quay sang định hỏi, thì chẳng còn thấy ông già Sáu đâu... - Kìa, chú Sáu. Anh nhìn khắp chung quanh vẫn chẳng thấy ai. Vừa khi ấy anh thấy dưới chân mình có những dòng chữ viết nguệch ngoạc trên nền đất: Bốn ngôi mộ chung quanh trong đó có mộ của tôi. Bùi Văn Sáu. Tôi là chú ruột của tụi nó... Tâm thẫn thờ hồi lâu, rồi như người mất hồn, anh rời ngôi nhà đi xuống chân đồi... Vừa xuống tới hết con đường nhiều bậc thang thì Tâm nghe có người gọi vừa đủ nghe. - Cậu gì ơi! Tâm quay lại thì thấy một cụ già mặc nguyên bộ đồ màu nâu, đầu tóc bạc phơ, bới một củ tỏi sau gáy. Ông cụ đưa tay vẫy anh lại: - Cậu tới đây! Tôi đợi cậu từ sáng đến giờ. Tâm hơi ngỡ ngàng nhưng vẫn bước tới. Ông cụ giọng thân mật: - Cậu chưa biết tôi, nhưng tôi thì biết cậu. Có phải cậu vừa ở ngôi nhà trên đồi xuống đây. Cậu là kiến trúc sư? - Dạ. - Mấy hôm trước thấy cậu đi lên, tôi tính chặn cậu lại mà không kịp, bởi ông già Sáu đó chạy xe nhanh quá, mà hình như ông ấy cố tình vượt qua khỏi tôi, vì ông ta biết thế nào tôi cũng ngăn cậu lại. Rồi ông chỉ thẳng vào mặt Tâm, nói: - Cậu vừa thoát. Người cứu cậu cũng chính là người đưa cậu về đây! - Ông già Sáu? - Phải. Ông ấy cũng là một người chết, một hồn ma. Nhưng ông là người duy nhất trong sáu người trên nhà đó gần như không muốn hại ai. Ông ấy cứu cậu là bởi thế... Ngừng lại một lúc, ông cụ tiếp: - Trong ngôi nhà đó có sáu người. Chủ nhân là một quan lại về hưu. Ông đưa vợ con, một ông bố và một người con trai về đây lập trang trại. Ngôi nhà vừa xây xong thì xảy ra thảm kịch! Chính anh chàng kiến trúc sư có ý định làm rể trong nhà, người được giao trách nhiệm xây cơ ngơi, đã sinh tâm phản trắc vì thấy nhà có khá nhiều của cải, đã ra tay thảm sát cả nhà chỉ trong một đêm. Anh ta gom hết tiền bạc và ra đi biền biệt từ ấy để lại ngôi nhà vô chủ, chỉ có những hồn ma cai quản. Từ đó anh ấy hận thù những người làm nghề kiến trúc, nên rắp tâm dẫn dụ những kiến trúc sư về để giết hại. Cậu là nạn nhân thứ năm, nếu hôm qua thằng Sáu Tùng không kịp ra tay. - Sao ông Sáu lại cứu cháu? - Tâm thất thần. Ông cụ mỉm cười: - Cũng do tôi. Tôi cũng chính là một trong sáu người của dòng họ Bùi đó. Tôi là ông nội của hai đứa Thu Dung, Thu Hương. Tôi không đành lòng nhìn chúng nó cứ trả thù những người vô tội, cho nên tôi tự tách mình sống ở chân đồi này, để may ra cứu ai được thì cứu. Tôi thấy cậu nhân đức, hiền lành, lại chưa tới số chết, nên hôm qua mới gọi thằng Sáu Tùng và dặn nó cứu cậu. Nếu không có nó ra kịp thời thì hai đứa kia đã hút hết máu của cậu, cậu sẽ chết tại ngôi mộ của nó. Tâm rùng mình, choáng váng. Một hồi lâu mới định thần lại, khi ấy ông cụ đã biến mất. Anh thừ người ra một lúc, rồi Tâm bước đi mà không dám quay lại… |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 40
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXX: Mộ Chàng Xác Thiếp Quán Bên Đường - Phần I Xuống xe ở một ga xếp dọc đường, Lý phải hỏi thăm mãi mới biết đường đi về nơi anh định đến. Tuy nhiên, có một người lớn tuổi bên đường sau khi nghe Lý hỏi chỗ anh đến, đã lo ngại nói: - Đường từ đây tới đó tuy chỉ khoảng chục cây số, nhưng đi bộ thì phải mất nửa ngày, mà giờ đã quá ngọ rồi, e rằng công tử đi chưa đi tới nơi đã bị... Ông ta ngừng ngang câu nói khiến Lý hơi thắc mắc: - Phải chăng bác muốn nói dọc đường nguy hiểm? Trầm ngâm một lúc, ông cụ gật đầu: - Còn hơn cả nguy hiểm nữa! Cậu đã có nghe chuyện người bị hổ vồ chưa? Lý cười: - Tưởng gì, chuyện đó thì miền núi nào chẳng có. Nhưng bác yên tâm, cháu có mang theo hai chiếc móng hổ, loại hổ tinh mà dân ở miền núi có được, chính là ông thầy mo trong bản thượng đã tặng cho cháu và bảo rằng hổ bình thường mà nhìn thấy ắt phải tránh xa! Vừa nói Lý vừa vạch cổ áo ra, khoe hai cái móng cọp đã lên nước bóng. Ông già khẽ lắc đầu: - Không ăn thua gì đâu. Hoặc có tác dụng thì cũng hạn chế thôi. Theo ta biết có nhiều người đeo móng hổ vẫn bị hổ vồ như thường. Lý không cãi, thật ra anh cũng không tin vào tác dụng của hai chiếc móng hổ lắm, chẳng qua do cần phải đi gấp tới nơi, đó là cái đồn điền của một người bạn chí thân, mà vừa rồi anh hay tin bạn mình bị bệnh quá nặng, cần có người tới giúp đỡ. Thấy Lý quá muốn đi, ông cụ đưa cho anh một cái bọc nhỏ và dặn: - Tôi tặng cậu vật này, nó là nhúm lông đuôi hổ, nó có tác dụng hơn mấy cái móng nhiều, bởi nó đã được làm phép. Thôi, chúc cậu lên đường bình an, khi trở về nếu có dịp ghé nhà lão chơi. Lý cám ơn ông rồi lên đường ngay. Do không có đường xe nên Lý phải vác ba lô đi bộ. Cũng may đã từng hoạt động đoàn hướng đạo nên Lý đi bộ vừa nhanh vừa không thấy mệt. Anh tính, cứ đi theo tốc độ ấy thì anh sẽ tới đồn điền của bạn trước lúc trời tối. Mà thậm chí, nếu có lỡ đường thì anh cũng có thừa khả năng mắc võng ngủ trên cây để chờ sáng đi tiếp. Đi được hơn một giờ thì nhìn xa xa Lý thấy một dòng sông, anh nhớ lời bạn dặn là đồn điền nằm bên bờ dòng sông lớn, Lý buột miệng: - Mình đi dọc sông này thì sẽ tới nơi thôi! Ước tính mình đã đi được hơn nửa đường, Lý tự hài lòng và định dừng chân ở gốc cây cổ thụ phía trước mặt để nghỉ chân và uống nước, nhưng đúng lúc đó anh chợt nhìn thấy có làn khói xanh bốc lên từ phía trước mặt, khá gần, anh lẩm bẩm: - Khói này là khói bếp, như vậy là có nhà người ở, may quá! Anh đi nhanh về phía đó và quả nhiên Lý nhìn thấy một túp lều bên đường. Nhà tuy nhỏ nhưng khá khang trang, khác với những lều tạm bợ của cánh thợ rừng che để trú chân. Và quan trọng hơn là hình như có người ở! Vừa tính cất tiếng hỏi thì chợt Lý nghe có nhiều tiếng roi vọt quất vào vật gì đó phía sau nhà, kèm theo là tiếng một phụ nữ lớn tuổi quát lên từng hồi: - Cho mày chừa! Cho mày bỏ cái tính ngang ngạnh nè! Ai đó bị đánh đòn! Lý lắc đầu ngao ngán, tự nhủ: - Ở giữa chốn thâm sơn cùng cốc này mà vẫn còn có roi vọt với nhau, nghĩ cũng lạ... Anh bước vào hiên nhà, thấy có mấy cái bàn và hơn chục chiếc ghế, anh chợt hiểu, nơi đây là một quán bên đường! Thì ra là vậy... Lúc ấy, tiếng roi quất càng mạnh và đến lúc ấy anh mới nghe tiếng người bị đòn ré lên, kêu van. - Một cô gái! Qua giọng van xin Lý biết đó là một cô gái, anh bức xúc và không kiềm chế được, đã xông đại vào nhà, đi thẳng đến chỗ phát ra tiếng roi quất. Trước mắt Lý là một cô gái tuổi khoảng mười lăm mười sáu, quần áo tả tơi, đang bị đè xuống đất và chịu những làn roi vút xuống thẳng tay! Một hình ảnh mà Lý không tài nào chịu được, anh quát lớn: - Sao đánh người dã man đến vậy? Người chứ có phải là vật đâu! Anh lao tới lấy thân mình đỡ những đường roi đang vụt xuống. Người đánh đang điên tiết nên không kịp dừng tay, đã quất thẳng vào người Lý mấy roi liền rồi mới chịu dừng lại: - Ơ, cái anh này, ai cho phép anh... Người vừa nói là một phụ nữ tuổi trung niên, người đang cầm roi. Bà ta trợn mắt nhìn Lý như nhìn con quái vật. Lúc ấy, Lý cũng đã nổi cáu bởi thấm cái đau của mấy roi vừa rồi, anh gắt lên: - Sức tôi mà còn chịu không nổi roi của bà, sao lại đánh một người yếu đuối thế này? Bà ta cất giọng đanh ác: - Con ta, ta đánh mắc mớ gì anh! Mà sao anh tự tiện xông vào nhà người khác mà không được phép vậy? Lúc này Lý mới đứng thẳng lên, phân trần: - Tôi là khách qua đường, nghe có người bị ức hiếp nên không đành làm ngơ. Mà cô gái này tội gì để bị đòn đến nông nỗi này? Lúc này bà ta mới chịu buông roi, nhưng vẫn nghiến răng hăm he: - Lần sau tao sẽ đánh gấp đôi! Rồi bà ta bỏ ra nhà ngoài, hầu như không quan tâm gì đến sự có mặt của khách lạ. Lúc ấy Lý mới quan sát kỹ cô gái bị đòn, tuy quần áo rách bươm, mặt mũi lấm lem và tóc tai bù xù, nhưng vẫn lộ ra đó là một cô gái có nhan sắc... Vừa khi ấy, cô nàng vụt lên tiếng: - Khách quan hãy mau mau ra nhà trước đi, không thì em sẽ bị đòn thêm! Lý muốn hỏi thêm, nhưng lúc ấy đã nghe tiếng oang oang của bà chủ quán: - Uống nước mà không ngồi ghế ở trước này, ra nhà sau làm gì thế? Lý đành phải bước trở ra. Anh phải giải thích thêm: - Tôi xin bà, cô ấy là con gái mà, có roi vọt thì cũng là tượng trưng thôi, đánh kiểu vừa rồi thì hổ cũng chịu không nổi, nữa là... Câu nói của Lý khiến bà chủ quán quắc mắt nhìn anh như muốn phản ứng gì đó, nhưng có lẽ kịp dừng. Chỉ nghe bà ta ''hừ'' lên một tiếng trong họng rồi ngoe nguẩy bỏ đi. Lý phải gọi: - Cho tôi bình trà ngon, mấy cái bánh ngọt. Mụ ta nói vọng ra: - Ở đây chỉ có trà xanh chớ làm gì có trà ngon. Còn bánh thì chỉ có bánh nếp ăn no bụng thôi! Lý bảo: - Cũng được! Anh uống một bình trà xanh mà cảm thấy ngon như uống trà sen trà lài. Riêng hai cái bánh nếp thì tuy đã nguội, có lẽ hàng hôm qua còn tồn lại, nhưng do đói nên Lý ăn một hơi hết sạch và còn cám ơn rối rít: - Cám ơn bà chủ đã cho ăn uống ngon. Lúc nãy có mạo phạm thì xin bà bỏ qua cho... Bấy giờ bà ta mới dịu giọng: - Cũng chẳng qua là dạy con mà thôi. Công tử thấy không, thân con gái ở giữa nơi thâm sơn này, nếu không quản lý chặt, để cho tự do ra ngoài giao du thì làm sao giữ nổi thân! Tôi là mẹ mà... Nghe bà ta nói vậy Lý cũng cảm thông, anh thật lòng khuyên: - Dẫu sao cô ấy cũng là con gái, mà roi vọt như vừa rồi là không nên. Cháu là người dưng, nhưng cám cảnh cô ấy, nên xin với bà nương nhẹ tay cho. Cháu ở trong đồn điền, nếu có dịp cháu sẽ ra đây nhờ bà và cô ấy giúp cho nhiều việc. Người đàn bà tỏ vẻ mừng vui: - Công tử ở gần đây thì tốt quá! Hay là... công tử coi ai thì làm mai cho con nhỏ giùm, nó đã tới tuổi rồi... Lý hứa cho qua chuyện chứ thật ra không quan tâm cho lắm: - Cháu sẽ lưu ý... Anh ăn uống xong thì từ giã, trước khi đi còn hỏi: - Đây tới đồn điền trà còn bao xa nữa? - Ở đây có ba đồn điền trà, nhưng lớn nhất là của nhà ông Đốc Lãnh. Vậy cậu hỏi đồn điền nào? Lý reo lên: - Chính là đồn điền của ông Đốc Lãnh. Bạn tôi ở đó! Mụ ta tỏ ra rành chuyện: - Con trai duy nhất của ông Đốc đang quản lý đồn điền đó. Anh ta đã chết ngày hôm qua rồi! Lý rụng rời: - Chết rồi sao? Trời ơi... Anh đứng lên chuẩn bị đi, nghe vậy lại ngồi phịch xuống, người thẫn thờ... Bà ta phải nhắc: - Nghe nói cậu ấy không thân nhân bên cạnh, đang chờ người nhà từ thành phố tới, nếu đúng là cậu thì mau tới đi để còn lo hậu sự cho người ta! Lý vừa bước đi mà đầu óc rối bời... *** Lo xong ma chay rồi, Lý có muốn về cũng không về được. Bởi đồn điền đang mùa thu hoạch, mà không có người trông nom thì coi như cho không thiên hạ những gì là công sức của Vọng bỏ ra. Hơn nữa, đây còn là tài sản lớn, không thể bỏ mặc được. Cuối cùng Lý quyết định ở lại.Đêm đầu tiên, Lý ngủ lại do phải tất bật lo chuyện hậu sự cho Vọng nên anh chưa thấy có gì khác thường. Qua đêm thứ hai, tức là sau khi chôn cất cho Vọng xong, vừa đặt lưng xuống là Lý đã ngủ say. Có lẽ đến quá nửa đêm.... Bỗng bên tai Lý nghe như có người gọi! Anh choàng dậy thì rõ ràng còn nghe văng vẳng: - Mình lạnh lắm, làm ơn... Giống như tiếng của Vọng? Lý hốt hoảng bật dậy, nhảy ngay xuống giường và mở cửa sổ nhìn ra. Từ đó, tầm mắt của Lý có thể thấy khu đất chôn Vọng. Đêm tối mịt mù... Nghĩ rằng mình nghe lầm, nên sau một lúc quan sát, anh đóng cửa sổ lại, đi ngủ tiếp. Nhưng lần này thì tiếng người rõ hơn: - Hãy giúp mình, hãy cứu cô ấy! Đúng là tiếng của Vọng rồi! Lý gọi to: - Vọng! Cậu ở đâu? Cậu còn sống phải không? Không có hồi đáp. Lý mở tung cửa sổ vừa gọi lớn lần nữa: - Vọng, mình tìm cậu đây! Thấp thoáng xa xa sau rặng cây, Lý thấy như có một bóng người đang lướt đi rất nhanh. Không kịp suy nghĩ thêm, Lý nhảy qua cửa sổ rồi cứ theo cái bóng phía trước mà chạy. Cũng khá xa, cuối cùng anh đã đến trước ngôi mộ của Vọng. Mộ còn mới, không có dấu hiệu gì khác thường, nên Lý đứng lặng người một lúc rồi mới lên tiếng: - Có phải cậu muốn nói gì không, Vọng? Mình đây mà… Vẫn yên lặng như tờ... Lý đành phải nói một mình: - Mình nghĩ là cậu đang có chuyện gì đó muốn nói, mình nghe đây và hứa là sẽ làm tất cả cho cậu. Bây giờ chúng ta chỉ còn có nhau thôi mà, đừng ngại gì hết nghe Vọng! Những lời nói thống thiết của Lý hình như có tác dụng, chợt có một luồng gió lớn thổi lên và trong phút chốc bụi bốc lên mù mịt chung quanh ngôi mộ. Khi gió lặng, bụi tan thì thật ngạc nhiên, có một người ngồi xếp bằng trước mộ! - Vọng! Rõ ràng là Vọng, nhưng đúng hơn đó là xác của anh! Lý hốt hoảng: - Sao thế này Vọng? Lý bước tới, vừa chạm đến thì cái xác đã ngã lăn ra. Một bàn tay của Vọng nắm chặt một mảnh giấy. Lý cầm lấy mảnh giấy, nhưng trời tối quá không thấy được những chữ gì viết trên đó, anh thầm trách sao lúc nãy không cầm theo cây đèn pin. Bỗng từ đâu có đến vài chục con đom đóm bay tới, sà gần mảnh giấy, khiến cho Lý nhìn thấy khá rõ một dòng chữ trên đó: ''Mình không còn lo cho nàng được nữa, cậu hãy giúp nàng, cứu lấy nàng!'' Chữ viết là của Vọng! Lý lúng túng chưa biết phải xoay sở ra sao với cái xác của Vọng, để lại đây và chạy về gọi người ra giúp có lẽ là giải pháp ổn nhất. Anh quyết định như vậy, nên chạy thật nhanh về trang trại. Có mấy người công nhân cất nhà ở gần đó, nên chỉ mấy phút sau Lý đã gọi được hai người cùng anh chạy trở ra, định khiêng xác Vọng vào nhà. Nhưng ra đến nơi thì mọi người ngơ ngác: - Xác đâu? Lý nhìn chung quanh, soi đèn ngay đầu mộ nơi Vọng ngã nằm lúc nãy cũng chẳng hề thấy một chút dấu vết gì. Duy chỉ có mảnh giấy trong tay anh thì vẫn còn nguyên với dòng chữ mơ hồ ấy... Không muốn mấy người kia hoang mang thêm, nên Lý tìm cách nói cho qua chuyện: - Có lẽ tôi bị hoa mắt... Anh cám ơn hai người hàng xóm rồi lững thững đi về với lòng nặng trĩu những suy nghĩ không lời giải... Vừa đẩy cửa phòng bước vào, Lý đã phải khựng lại tròn mắt nhìn một người đang đứng giữa phòng! - Cô là ai? Thoạt nhìn cô gái lạ, Ly chưa nhận ra là ai, nhưng anh ngờ ngợ như đã gặp ở đâu rồi... Cô nàng lên tiếng: - Khách tới nhà mà không hoan nghênh sao? Lý cau mày. - Cô là... Bất chợt nàng vạch một bên tay áo lên, chìa ra một cánh tay đầy những vết bầm tím, vừa hỏi: - Cũng chưa nhận ra sao? Lúc này Lý mới "ồ" lên: - A, phải rồi! Anh nhớ ra cô gái này chính là cô con gái bị đòn ở quán bên đường mấy hôm trước, nên hỏi lại: - Cô ở chỗ quán phải không? Nàng không đáp mà bước tới bên cửa sổ, nhìn ra hướng bóng đêm mịt mù, rồi chợt oà lên khóc! Lý hốt hoảng: - Kìa, cô sao vậy? Nhớ tới trận đòn anh đã chứng kiến hôm trước, Lý hỏi: - Cô lại bị đòn nữa phải không? Bất chợt, nàng vụt chạy ra ngoài. Lý gọi giật lại: - Cô ơi! Nhưng cô ta đã... biến nhanh vào đêm tối. Lý vừa ngỡ ngàng vừa lo sợ. Anh nhớ từ đây về chỗ ở của cô ta ít nhất cũng hai ba cây số, mà đường vắng, đêm khuya nữa... Lại nhớ tới lời dặn của Vọng: "Hãy lo cho nàng, hãy cứu nàng!" Chợt Lý hiểu ra, anh kêu lên: - Đúng nàng ta rồi! Anh tức tốc chạy theo hướng về con đường mòn mà mình đã đi qua bữa trước, bất chấp hiểm nguy đang chờ đợi... Và anh đã gặp nguy thật. Đang chạy, bỗng Lý nghe như có một tiếng lướt gió thật mạnh từ phía sau, và... cả người anh bị cuốn đổ về phía trước rồi ngất đi... *** - Tưởng là không dậy nữa chứ!Nghe giọng quen quen, Lý ngước nhìn và vô cùng sửng sốt khi thấy người đang ngồi ở cửa phòng lại chính là bà chủ quán bên đường! Bà ta không nhìn Lý nhưng rõ ràng là đang hỏi anh: - Đi đâu mà giữa đêm khuya như vậy, bộ hết muốn sống rồi sao? Lý bật dậy, khi nhớ ra cô gái: - Cô ấy đâu rồi? Sắc mặt người đàn bà đanh lại: - Sao anh cứ chú tâm vào nó làm gì? - Bà đã làm gì cô ấy rồi phải không? - Nếu làm gì thì mắc mớ gì tới nhà anh? Lý nói mà không cần giữ ý: - Tôi nói thật, nếu bà làm gì cô ấy tôi sẽ không để yên! Bà là gì của cô ấy cũng mặc, nhưng không thể hành hạ người ta tàn nhẫn đến như thế! Bỗng bà ta phá lên cười, giọng cười lanh lảnh giữa đêm khuya nghe mà lạnh cả người. Rồi bà ta quay vào trong gọi lớn: - Ra đây cho anh chàng hung hăng vô lý này xem mặt chút coi? Cô gái bước ra thái độ bình thản như chẳng có gì xảy ra. Cô ta đưa mắt nhìn Lý một cách dửng dưng khiến anh phải hỏi liền: - Cô có làm sao không? Nàng ta lại lẳng lặng quay vào trong mà không nói lời nào. Bây giờ bà chủ quán mới lên tiếng: - Anh có thấy sự lố bịch của mình chưa? Thế nào, còn muốn làm gì nữa? Rồi bà ta đứng lên, kể ơn: - Nếu lúc nãy tôi không đem anh về đây thì cọp béo đã xé xác giữa rừng rồi? Đúng là điếc không sợ súng mà! Bà ta lại bỏ vào trong nốt. Chỉ còn lại một mình Lý đứng đơn độc giữa căn phòng lạ. Một lúc sau, anh mới nhận ra phòng anh đang đứng là phòng của phụ nữ, bởi vài bộ quần áo máng ở móc đúng là của con gái. Như vậy... Chưa kịp suy nghĩ gì hết thì đã nghe bên ngoài có tiếng vọng vào: - Không ra uống một chút nước nóng cho tỉnh lại, định ở luôn trong giường của con gái tôi sao? Lý bẽn lẽn bước ra. Lúc này anh thấy chính cô nàng lúc nãy tự tay rót chén trà nóng rồi đặt trên bàn, ý là mời khách. Tranh thủ lúc không có mụ kia ở đó, Lý hỏi khẽ: - Cô có muốn nói gì không? Nàng không đáp, chỉ nhẹ lắc đầu rồi quay đi. Chợt có tiếng đằng hắng phía sau: - Phong tục xứ này nếu khách mà lén lút thì thầm với con gái chủ nhà thì sẽ bị cột ngoài gốc cây cho ma lai nó rút ruột đấy! - Tôi chỉ... Lý định giải thích thì cô gái đã rất nhanh biến mất vào trong. Rồi từ phút đó không hề thấy cô ta xuất hiện nữa. Chờ thêm một lúc, khi nhìn bên ngoài thấy trời đã sáng, Lý hỏi: - Bà và cô ấy ở đây với ai? Chỉ tay về phía vách nhà: - Ở với vật đó! Lý nhìn và phát hoảng, bởi trên vách treo một bộ da hổ còn nguyên vẹn, kể cả chiếc đầu đang nhe nanh! - Bà... bà... Thấy Lý lắp bắp, bà ta cười khẩy: - Ở đây mà không đủ sức đương đầu với cọp beo thì chỉ có nước làm mồi cho chúng thôi! - Chính bà đã... Bà ta lại phá lên cười: - Nếu không phải tôi thì ai vào đây? Mà cả con gái tôi nữa, nó cũng có thể... Bà ta hàm ý đe doạ Lý, bảo anh ta đừng có ve vãn con gái mình? Lý hiểu ý, nhưng vẫn chưa yên tâm về cô gái, nên lại phải hỏi: - Cô ấy đâu rồi, tôi muốn hỏi một chút.... Bà ta nhún vai rồi bỏ đi, vừa nói với lại: - Để coi anh có tài gì làm nó nói chuyện thì hãy thử! Bà ta rút luôn vào nhà sau, không trở lại nữa. Đã một lần xông vào đó nên Lý muốn liều lần nữa, nhưng lại không dám. Mặt trời đã lên ngang ngọn cây mà Lý vẫn chưa chịu về. Anh quyết đợi để gặp cho được cô gái và chỉ hỏi một câu. Cô có quen với Vọng không? Nhưng xem ra Lý đành phải thất vọng, vì lúc anh bước ra sân để đợi thì khi nhìn lại cửa quán đã đóng! Một cách để đuổi khách... Không còn cách nào hơn, Lý đành phải quay về. Vả lại, anh còn phải xem lại chuyện cái xác của Vọng nữa... Vừa thấy anh, hai người hàng xóm đêm qua đã nói ngay: - Có một cô nào đó đang đợi anh trong nhà. Lý ngạc nhiên: - Ai vậy? Họ lắc đầu: - Không phải là người ở xứ này. Đầu tiên hỏi cậu Vọng, nhưng sau khi nghe nói cậu Vọng mất thì cô ấy lại hỏi anh. Có phải anh là Lý không? Lý gật đầu: - Lý là tôi. - Vậy cậu mau vào tiếp khách đi. Hình như người thành phố. Vừa bước vào Lý đã ngạc nhiên kêu lên: - Phi Nga! Sao em biết nơi này? Cô gái tên Phi Nga đứng lên nhìn Lý với cặp mắt đỏ hoe, giọng nghẹn ngào: - Sao anh Vọng chết mà chẳng ai báo tin cho em vậy? Nếu không nhờ... - Vậy làm sao em biết tin mà về? - Em mơ thấy Vọng chết! Lý lại càng ngạc nhiên hơn: - Em mơ thế nào? - Nửa đêm, Vọng gọi em rõ như khi Vọng còn sống! Anh ấy đòi em phải trả lại cho anh ấy những gì em đã lấy mất! Mà em có lấy gì đâu? Chỉ có anh ấy lấy đi của em thì có... Nói tới đó thì nàng bật khóc. Lý không quen nghe đàn bà khóc, anh sốt ruột: - Em bình tĩnh nói cho anh nghe coi, chuyện gì? Phi Nga cố ngăn xúc động: - Anh Vọng đã lấy cả đời con gái của em, vừa qua lại phũ phàng tuyên bố huỷ bỏ hôn ước mà hai bên cha mẹ khi còn sống đã hứa với nhau. Anh xem, vậy ai mới là người phải trả nợ trong vụ này? Lý thở dài: - Bây giờ thì còn gì nữa mà trách móc. Vọng đã nằm xuống mà chính anh cũng không thể ngờ được, cậu ấy đâu có bệnh gì? Cũng không hề bị tai nạn, vậy chẳng hiểu sao chỉ trong một buổi chiều đã lăn ra chết mà không kịp trăng trối một lời! - Em đã khuyên anh ấy rồi, ham sống chi ở chốn thâm sơn cùng cốc này, chỉ không may một chút là dẫn tới hiểm nguy ngay. Nhất là bị chứng khí, tà độc... biết đâu mà lường! Biết đâu anh ấy bị ai đó thư, ếm cũng không chừng! - Em có vẻ rành? Thấy Lý có vẻ dò xét mình, Phi Nga nhắc: - Anh quên là trước đây em cũng từng có một đồn điền trà gần đây sao? Chính em đã chứng kiến nhiều chuyện rùng rợn, ly kỳ ở vùng này. Những điều đó còn ám ảnh em đến ngày nay. Trong lời nói của Phi Nga có cái gì đó khiến Lý hơi ngạc nhiên: - Từ ngày biết em qua Vọng đến nay, anh có nghe em nhắc tới chuyện em từng sống ở đồn điền bao giờ đâu? Phi Nga nói một câu làm Lý giật mình: - Chính anh Vọng không cho em kể! - Vọng giấu cả anh? - Em không biết, chỉ làm theo lời dặn của anh ấy thôi. Tụi em đã gặp nhau đầu tiên trên vùng đất này kia mà. Cho đến khi em về Sài Gòn... Lý đứng lên: - Em có muốn đi thăm mộ của Vọng? Phi Nga lắc đầu: - Trước khi ghé đây em đã ra thăm mộ rồi. - Em biết mộ? - Nhờ cái chú gì đó ở gần đây chỉ. Lý hỏi trở lại chuyện Nga nói lúc nãy: - Em nói Vọng về báo mộng bắt em trả lại cái gì đó, vậy là sao? Em có tin rằng đó chỉ là mộng mị, hay chuyện có thật? Lý nói tiếp cho cô ta nghe: - Chính anh cũng được Vọng về gọi mấy lần, và anh cũng đã gặp Vọng đêm qua! Câu nói của Lý khiến Phi Nga tái mặt: - Vọng còn sống, hay là... - Dĩ nhiên là vong hồn thôi. Nhưng rõ ràng Vọng chết linh, mới đó mà đã hiện hồn về rồi. Điều này ắt có uẩn khúc gì đây... Giọng của Phi Nga không còn tự nhiên: - Chắc là... tại anh bị ám ảnh chăng. Em không tin... Lý quả quyết: - Vọng hiện ra bằng xương bằng thịt, đòi anh phải cứu người nào đó.. Phi Nga bị kích động thật sự: - Cứu ai? Một cô gái phải không? - Em biết? Phi Nga tỏ ra lúng túng: - Em... em đoán... Lý nhìn thẳng vào mắt Nga: - Có chuyện gì giữa hai người phải không? Anh nhớ có lần Vọng nói rằng khi Vọng huỷ hôn thì em đã doạ sẽ giết Vọng, đúng không? Phi Nga chối liền: - Làm gì có chuyện đó! Em có bị sốc, lại giận nữa, nhưng đâu đến đỗi... - Anh cũng không biết nhiều chuyện của hai người. Cả năm nay anh bận đi xa nên cũng không liên lạc với Vọng, mới vừa rồi bất chợt anh nhận được một lá thư, Vọng tha thiết gọi anh về đây, bảo là có chuyện quan trọng để nói. Chỉ tiếc là khi anh về tới thì Vọng, vừa chết! Trong lá thư để lại Vọng cũng chỉ nói... Phi Nga giật bắn người: - Anh ấy nói gì trong đó? Hơi ngạc nhiên về thái độ của Nga, nhưng Lý không để lộ: - Chỉ dặn dò anh một số việc giữa anh và cậu ấy, không liên quan gì đến ai khác. - Không nói gì đến em? Lý lắc đầu: - Làm gì có. Có lẽ thời gian em và Vọng yêu nhau thì anh ít liên lạc với hai người. Em nhớ không, chúng ta chỉ gặp nhau hai ba lần gì đó, nhân chuyến Vọng về Sài Gòn lo cho ông già bệnh, một lần lúc đám tang ông cụ. Lần đó, vô tình anh còn được chứng kiến em và Vọng cãi nhau dữ dội, và có lẽ... - Tụi em chia tay nhau lúc đó. Anh ấy có người con gái khác, anh biết không? Lý ngạc nhiên: - Có chuyện đó sao? Khi nào? - Thì còn khi nào nữa, lúc đó em hay tin và hỏi thì ảnh không chối mà còn hỏi lại em. Vậy chứ em yêu ảnh được bao nhiêu mà đòi độc quyền? Kể lại mà giọng Phi Nga còn hằn học: - Chính lời nói đó của Vọng nên em điên tiết lên, em đòi lên trên này để tìm ra lẽ, nhưng Vọng không cho, còn hăm doạ là nếu em quậy thì anh ấy sẽ không để em yên! Chính vì lẽ đó mà em mới giận, em đòi sòng phẳng với Vọng! - Vọng có cô gái nào khác ở đồn điền này. - Không sai! Anh chưa nghe? Lý lắc đầu: - Anh mới lên thì làm sao biết. - Một đứa con gái địa phương này, là người thiểu số, chẳng biết có là tiên nữ hay hằng nga không mà Vọng lại mê đến vậy! Trong giọng nói của Phi Nga chứa đựng đầy sự hằn học, không giống với một người bình thường, nhất là khi cô và Vọng đã chấm dứt quan hệ từ lâu... Lý hỏi lại: - Em tính ở lại chờ mở cửa mả cho Vọng xong mới về chứ? Phi Nga lắc đầu: - Em sẽ về ngay trưa nay. Em lên để chứng tỏ cho Vọng biết là em không hề nợ anh ấy gì cả. Và cũng để cho "cô ấy" của Vọng hiểu rằng: nếu Vọng còn có em thì anh ấy không chết! Làm xong việc đó rồi em phải về gấp, xe đang đợi em ở bên đường liên tỉnh. Lý đã có nghe nói đường liên tỉnh ở cách chỗ này không xa, nơi đó xe hơi vào tận nơi, nhưng từ đồn điền của Vọng muốn đến đó phải băng qua một đồn điền khác; vốn có mối bất hoà với chỗ của Vọng, nên từ vài năm trở lại đây người ta đã khoá con đường tắt đó, khiến cho mọi sự đi lại của bên Vọng đều phải qua con đường mòn hẹp hơn, chỉ có xe thô sơ đi lại được. Tức là con đường mà Lý đã vào mấy hôm trước. Nghe Phi Nga nói đi bằng con đường tắt đó, Lý hỏi: - Sao em băng qua đồn điền bên cạnh được! - Đó là đồn điền của ba em mà! - Tức là của em? Vậy tại sao lâu nay Vọng không đi qua đó được? Phi Nga hơi lúng túng: - Tại... tại bởi... Vọng sĩ diện. Trót từ hôn em nên anh ấy không muốn... - Thì ra là vậy... Tuy tỏ ra đã hiểu, nhưng thật ra trong lòng Lý vẫn còn có điều gì đó ngờ ngợ... Anh đột nhiên hỏi: - Em đã biết được cô gái chiếm trái tim của Vọng? - À… à biết. Nhưng em coi thường, em không quan tâm tới. Cô ta so với em sao được! - Cô ta là ai, tên gì và ở đâu? Nga sững sờ nhìn Lý, cau mày hỏi: - Anh điều tra em đó à? - Nếu em hiểu như vậy cũng được. Bởi ít ra anh cũng muốn biết đôi chút về chuyện đó, để khi lưu lại nơi này anh có thể... - Anh muốn gặp cô ta? E rằng... Phi Nga đang nói bỗng ngừng ngang, như bị lỡ lời. Rồi cô bắt qua chuyện khác: - Anh tính bao giờ về? - Không. Có lẽ tôi còn ở lại một thời gian lâu để giúp Vọng giải quyết một số việc. Nga chợt cười khẩy: - Anh sẽ tốn công phí sức thôi! Đất này không hợp với những người như anh và Vọng. Tốt hơn là... Cô nàng đứng dậy và bước ra ngay mà không bắt tay Lý như cô vẫn làm trước đây. Khi ra đến sân còn nói với lại: - Vùng đất này nguy hiểm, tốt hơn hết là anh cũng nên bỏ đi là vừa! Nàng ta đi bộ xuyên qua khu đồn điền của Vọng một cách thành thạo, chứng tỏ đã quá quen thuộc với nơi đây. Nàng ta chưa khuất dạng thì Hai Tùng, người ở gần đó chạy sang nói với Lý: - Tôi nhớ ra rồi, cô này lúc trước có tới đây nhiều lần với cậu Vọng, mà đặc biệt là tới vào ban đêm. Hình như ở đâu bên trang trại của ông Phủ Hài cạnh đây. Cánh đó thì dữ dằn, nổi tiếng lắm. Nổi tiếng về giàu có mà cũng khét tiếng về sự tàn bạo nữa! Khi thấy mấy năm nay cậu Vọng không qua lại với nhà cô ta nữa tôi cũng mừng thầm. - Anh biết lý do tại sao hai nhà đó không chơi với nhau không? Hai Tùng đưa tay cứa ngang cổ: - Giết người. Lý trố mắt: - Giết ai? - Chuyện hơi dài, cậu ở đây lâu ắt sẽ nghe người ta kể. Mà vắn tắt thế này, ông Phủ Hài trước khi chết đã giết hai công nhân chỉ vì họ lỡ ăn cắp một ít trà đem bán. Lý bức xúc: - Quá đáng! Hai Tùng hạ giọng: - Chuyện đó còn là nhỏ. Cô con gái hồi nãy còn ghê hơn, nghe nói chỉ vì ghen tuông thế nào đó mà cô ta đã giết cả nhà tình địch của mình bằng cách trói cả mấy người rồi bỏ trong rừng cho hổ ăn thịt! Tôi không ngờ sau mấy năm lặn mất tăm, bây giờ cô ta lại dám dẫn xác về đây! - Anh chắc chắn có chuyện đó? Hai Tùng quả quyết: - Chuyện ấy ở xứ này ai mà chẳng biết. Chỉ có điều trước kia do sợ thế lực của Phủ Hài nên người ta không dám nói, không dám làm lớn chuyện. Rồi lâu ngày những chuyện ấy chìm vào quên lãng... Lý dò hỏi thêm: - Anh có biết gì về chuyện Vọng có người đàn bà khác không? Hai Tùng hơi có vẻ sợ sệt: - Chuyện đó... mà thôi, do không rõ lắm, nên tôi không thể nói. Cái gì mình biết rành hãy nói... Lý có hỏi thêm cách nào anh ta cũng không nói, và còn tìm cách thoái thác, tránh phải nói chuyện thêm với Lý. Sau khi Hai Tùng về rồi, Lý một mình đi ra ngoài phần mộ của Vọng. Tự dưng Lý có cảm giác như bạn mình còn có điều gì đó chưa được làm sáng tỏ. Phần II Lần này là ban ngày nên Lý có dịp quan sát kỹ quanh ngôi mộ. Chính Lý đã đắp mộ này, nên bất cứ một cái gì khác lạ anh phát hiện ngay. Vật lạ đó là một vuông vải lụa ngũ sắc của ai đó quấn quanh gốc một cây hoa cúng ngay trên đầu mộ. Không rành về bùa chú, nhưng vừa nhìn thấy thì Lý đã nghĩ ngay đến điều đó. Anh định đưa tay gỡ ra, nhưng chợt dừng lại kịp. Rồi sau mấy giây suy nghĩ, Lý gom một mớ cỏ khô quanh đó và châm lửa đốt. Đợi cho ngọn lửa bừng lên, Lý dùng chân đá nó vào chỗ có vòng vải ngũ sắc. Lửa bén rất nhanh, chỉ trong nháy mắt đã thành ngọn. Nửa phút sau thì cái vòng kia cùng với cỏ khô đã biến thành tro! Lý hài lòng với hành động của mình, anh đứng im nhìn ngọn lửa tàn và thầm khấn vong hồn Vọng: - Nếu cậu có linh thiêng thì báo cho mình biết, việc làm vừa rồi của mình đúng hay sai? Mình có giúp gì được cho cậu không? Bỗng đống tro tàn kia bốc lên cao như cơn lốc xoáy, như một cách đáp lại lời khấn của Lý! Anh phấn khích: - Như vậy vong linh của cậu hiểu được việc làm của mình rồi! Nếu mình không lầm thì cái vòng vải ngũ sắc lúc nãy là của ai đó ếm trước mộ cậu phải không? Lý ngồi xuống ngay đầu mộ giữa trời nắng chang chang, và anh như đang nói chuyện tay đôi với Vọng: - Cậu có biết không, vừa rồi tình cờ mình gặp Phi Nga ở đây. Cô ấy nói về thăm cậu, để chứng tỏ cho cậu thấy là cô ta không nợ nần gì cậu cả. Mình rất lạ là cô ấy vẫn tỏ ra cay cú với chuyện của cậu và ai đó... Phải chăng là cô ấy vẫn còn yêu cậu? Dĩ nhiên là không có lời đáp của Vọng, nhưng Lý vẫn có cảm giác là bạn mình đang nghe. Anh lại tiếp: - Mình có cảm giác rằng Phi Nga không chỉ về đây với mỗi lý do đó đâu. Mình cũng nghi vòng vải ngũ sắc vừa rồi là do cô ấy làm. Mình đã nghe người ta nói nhiều về những gì cô ấy làm trước đây, mình không hoàn toàn tin, nhưng dẫu sao mình cũng không có thiện cảm với cô nàng. Được rồi, mình sẽ lưu ý đến Phi Nga, cậu yên tâm. Trong lúc nói, Lý vô tình phát hiện ra ở cuối ngôi mộ còn có một vòng vải ngũ sắc khác được cắm rất khéo, lẫn vào đám cỏ rậm! - Lại còn có chuyện đây! Lần này, Lý giải quyết nhanh gọn hơn, anh bật lửa diêm đốt thẳng vào đám cỏ. Ngọn lửa cháy phát ra một màu xanh rất lạ, rồi bất chợt như có tiếng ai kêu thét lên gần đó! Lý ngơ ngác nhìn quanh, bởi anh nghĩ có thể lúc đốt đã vô tình làm phỏng ai đó chăng? Và Lý hốt hoảng khi nhìn thấy một người tuy đứng xa ngọn lửa, nhưng lại đang vùng vẫy, tỏ ra đau đớn lắm? - Kìa, là bà sao? Người kia chính là bà chủ quán bên đường. Chẳng hiểu sao bà ta lại ở đây và bị như vậy? Lý chạy đến định hỏi rõ thì bỗng bà ta vụt chạy thật nhanh và biến mất vào đám lá rừng gần đó. - Kỳ lạ cái bà này! Lý định đuổi theo, nhưng nghĩ là anh nên quay trở lại ngôi mộ, và anh ngơ ngác khi nhìn thấy có một bó hoa thật tươi của ai đó vừa mới đặt xuống. Lý kêu to: - Ai vừa đặt hoa ở đây, cho gặp mặt được không? Chẳng ai đáp lời anh, mà cũng chẳng thấy bóng dáng của ai. - Không lẽ là mụ kia! Điều đó là không thể, bởi lúc vừa thấy anh thì mụ ta đã chạy biến từ hướng đằng kia. Vậy phải chăng... Lý lại nghĩ tới Phi Nga. Anh bước về phía mấy ngôi nhà hàng xóm, gặp ngay Hai Tùng đang hớt hải chạy từ xa về, anh ta nói to: - Xảy ra chuyện rồi! Cô... cô gì đó... Anh ta phải thở gấp mấy hơi rồi mới trấn tĩnh lại, tiếp lời: - Xảy ra chuyện với cô gì mới ở đây ra! - Phi Nga! Lý kêu lên, vừa hỏi lại: - Cô ta bị gì vậy? - Bị cháy! Chẳng hiểu sao cô ta bị cháy như cây đuốc khi đi về gần tới chỗ đậu xe, đang chuẩn bị lên xe về Sài Gòn! Lý lặng người đi, anh đang liên tưởng tới cái vòng ngũ sắc và ngọn lửa bùng cháy vừa rồi... - Anh có muốn qua đó coi không? Hình như người ta sắp đưa cô ấy đi cấp cứu. Lý nhẹ lắc đầu rồi không nói gì, bước trở vào nhà... - Cậu Lý ơi, cháy ngoài kia dữ dội lắm, cậu xem kìa! Lý ngoái lại nhìn và giật mình, bởi nơi cháy là phía ngôi mộ của Vọng! - Lúc nãy mình đốt... Anh phóng chạy nhanh về phía đó. Hai Tùng gọi vài người nữa cùng chạy theo.. Ra tới nơi thì thấy ngọn lửa cháy bùng khá lớn, đã lan rộng đến gần vạt rừng kế bên. Hốt hoảng, Hai Tùng huy động mọi người: - Chặn lửa phía rừng đi! Họ dùng chà cây dập lửa. Lúc đó lửa đã lan hầu như khắp nơi quanh ngôi mộ, lửa trùm lên chẳng còn thấy nấm mộ đâu nữa. Cũng may, nhờ biết cách dập lửa, nên một lúc sau thì ngọn lửa đã được dập tắt hoàn toàn. Nhìn lại ngôi mộ, Lý quá đỗi ngạc nhiên, bó hoa tươi trước đầu mộ vẫn còn nguyên, trong lúc mọi vật khác đều cháy sém! - Lạ thật! Lý lẩm bẩm và đích thân cầm bó hoa lên, anh phát hiện có một nhánh hoa rừng trắng muốt, rất lạ, được đính kèm theo bó hoa, như một biểu tượng của người tặng hoa, thay vì đề tên. - Hoa trắng hay là bạch hoa? Có thể người nào đó tên này... Quay sang Hai Tùng, Lý hỏi: - Ở đây có cô gái nào tên là Bạch Hoa hay Hoa Trắng không? Suy nghĩ một lát, Hai Tùng lắc đầu: - Vùng này đa số là người thiểu số, họ không có tên Việt như vậy. Mà có chuyện gì không? Lý lắc đầu: - Không có gì. Tôi nhìn hoa nên liên tưởng thế thôi. Anh đặt bó hoa xuống chỗ cũ, Hai Tùng nhìn và nói: - Đây là hoa dại trong rừng, nhưng rất đẹp, chứng tỏ người hái bó hoa này rất có khiếu về mỹ thuật, mà lại khá công phu nữa, bởi lựa được toàn hoa đẹp như thế này không phải dễ kiếm một lúc đâu! Đến nhà rồi mà hầu như suốt buổi trưa hôm đó, Lý cứ thắc mắc hoài về chuyện bó hoa. Chuyện nó không cháy trong lửa đã là một điều lạ, nhưng như Hai Tùng nói, hoa đó là hoa rừng, tức do một người ở trong rừng hái tặng, thì là một chuyện đáng quan tâm hơn. Nó có liên quan đến người phụ nữ riêng của Vọng? Mải miết suy nghĩ mà Lý quên cả bữa cơm trưa do chị hàng xóm nấu giúp đã mang sang để ở nhà bếp từ lâu. Anh nằm vắt óc suy nghĩ cho đến lúc ngủ quên lúc nào không biết... Khi tỉnh dậy thì thấy trời đã tối, bụng lại đang đói cồn cào, Lý định xuống bếp kiếm cái gì ăn, nhưng vừa bước được mấy bước bỗng mắt Lý dán vào một bó hoa tươi nằm trên bàn! Hoa... rừng trắng! Lý bật đèn sáng lên, và vô cùng ngạc nhiên trước bó hoa y như bó hoa ngoài mộ của Vọng lúc trưa! Nghĩ tới ai đó đã lẻn vào phòng trong lúc anh ngủ, Lý chợt rùng mình... *** Vừa đặt chân tới cổng bản Klông Bức, thì điều đập vào mắt Lý trước tiên là một vòng hoa trắng quen thuộc treo lơ lửng ngay cổng làng.- Hoa trắng! Đúng là vòng hoa này giống hệt với hai bó hoa mà anh thấy trên mộ của Vọng và ở trong phòng anh. Lý đứng sững lại, nhìn không chớp mắt, cho đến khi có người lên tiếng hỏi: - Anh tìm già làng hay tìm An Liếng? Lý chẳng biết đáp thế nào, bởi già làng thì anh chưa biết gặp để làm gì, còn An Liếng nào đó thì anh đâu biết là ai? Vậy mà trong lúc lúng túng anh đã đáp bừa: - An Liếng? Người hỏi anh là một phụ nữ trung niên, thái độ thân thiện, đặc biệt là khi nghe Lý nói tìm An Liếng thì chị ta có vẻ thích thú và mau mắn: - Tìm An Liếng thì đi đường này! Lý hơi hối hận, bởi lỡ An Liếng nào đó là một thầy cúng hay một gã nào đó không thân thiện thì rắc rối. Cũng may, khi dẫn anh tới trước một nhà sàn thì chị nọ cất tiếng gọi: - An Liếng ơi, có người mang tin con mày tới đây rồi! Lý quay sang hỏi chị ta: - Tin con gì? Chị nọ nói khẽ: - Phải nói vậy nó mới tiếp khách. Kể từ khi con gái nó bị người ta hại thì nó không muốn gặp một ai cả, trừ phi... Có tiếng chân bước làm rung sàn nhà, rồi một khuôn mặt đàn bà xanh xao ló ra, kêu lên: - An Phờ Linh về đó ư? Chị dẫn đường nói nhỏ với Lý: - An Phờ Linh là tên đứa con gái đã chết của nó. Nó cứ nghĩ là con mình còn sống nên hỏi hoài như vậy, cậu cứ nói đại là Phờ Linh nhờ cậu nhắn tin về đi! Lý không thể nói dối một cách trắng trợn như thế được, nhưng vừa khi ấy người đàn bà tiều tuỵ kia lại hỏi nữa: - Con về phải không Phờ Linh? - Nó chưa về, nhưng có tin của nó về đây má Phờ Linh ơi! Chị ta giục Lý: - Cậu lên tiếng đi, như vậy nó mới mời cậu lên nhà. Nhà nó có nhiều chuyện để mấy người Kinh như cậu cần tìm lắm! Lần trước cũng có một cậu giống như cậu tới đây, nghe nói đó là người ở đồn điền An Viễn, chỉ vì nói năng ấp úng nên bị nó đuổi về! - Vọng? Chị nọ kêu lên: - Cậu biết cậu Vọng? - Tôi là bạn thân. Tôi ở bên đồn điền An Viễn. - Vậy là đúng rồi, con Phờ Linh vì cậu Vọng đó mà chết! Cậu đừng nói là ở bên đồn điền qua, sẽ làm cho nó nổi điên đó! Cậu nói giùm tôi là con Phờ Linh nhắn tin về, nói nó đang sống ở một nơi nào đó an lành lắm. Nói đi! Không cách nào khác hơn, Lý đành phải nói dối: - Cháu mang tin của Phờ Linh về. Cô ấy vẫn sống khoẻ, nhưng do phải đi học cái nghề để mai mốt về bản làng dạy lại cho bà con, nên chưa về được. Cô ấy khoẻ lắm. Không ngờ chỉ bấy nhiêu lời đó đã khiến cho người đàn bà tội nghiệp mừng rú lên: - Giàng ơi, con gái tôi còn khoẻ! Giàng ơi, nó sẽ trở về với tôi! Bà ta ra tận cầu thang và nắm tay Lý kéo lên nhà sàn: - Vào đi! Vào đây để ta tạ ơn. Giàng ơi, ta đã chờ đợi nó mấy chục con trăng rồi mà chưa thấy nó về. Cứ tưởng nó đã theo cái thằng ở bên đồn điền và bị con quỷ cái kia nó giết rồi! Những gì bà ta nói Lý ngờ ngợ như những điều anh có nghe qua, anh định hỏi rõ thì chị dẫn đường nói nhanh vừa đủ cho anh nghe: - Đừng bao giờ nhắc tới chuyện ở đồn điền, con này nó thù thâm căn cố đế những người ở bên đó. Lý hiểu ý, anh làm bộ hỏi: - Bà mẹ có muốn gửi gì cho Phờ Linh không? Bà ta reo lên: - Phải rồi, gửi chứ! Gửi chứ! Bà chạy ra nhà sau lấy đem ra một vòng hoa trắng, mà vừa thoạt trông thấy Lý đã buột miệng: - Hoa trắng! Chị dẫn đường nói khẽ: - Nó cuồng trí vì mất con gái nên ngày nào cũng vào rừng hái hoa Phờ Linh này về, rồi kết thành chùm treo máng khắp nơi, nó nói làm như vậy là để con Phờ Linh biết đường mà về! - Hoa Phờ Linh? Hoa này tên là Phờ Linh? - Đúng, người bản làng gọi là hoa Phờ Linh, còn tiếng Kinh có nghĩa là hoa trắng. Lý lại kêu lên: - Bạch Hoa! Cô gái này tên là Bạch Hoa! Người đàn bà nghe Lý cứ nhắc hoài tên con mình, bà cau mày hỏi: - Sao nói hoài tên con gái ta vậy? Lý phải giải thích: - Cháu muốn nói rằng Phờ Linh khoẻ mạnh, Phờ Linh nhớ mẹ và sẽ sớm về với mẹ! Bà ta hài lòng: - Vậy thì được. Nhờ nói dối mà Lý được tiếp đãi ân cần, anh được mời ở lại ăn cơm, nhưng anh từ chối: - Cháu phải về để còn sớm đem tin nhà cho Phờ Linh chứ! Lần khác cháu sẽ tới nữa. Trước khi Lý ra về, bà ta còn quàng lên cổ anh vòng hoa trắng và nói: - Đây là hoa may mắn, hoa mang tên con Phờ Linh. Cậu sẽ được giàng phù hộ. Chị dẫn đường theo tiễn chân Lý đến tận bìa rừng, chị ta tiết lộ: - Con gái nó là Phờ Linh thật ra đã chết trong rừng rồi, nó bị hổ xé xác! Lý hốt hoảng: - Bị người ta trói bỏ vào rừng? Chị ta ngạc nhiên: - Cậu cũng biết chuyện đó? - Có phải do một cô gái khác làm hại không? - Nó bị đánh ghen? Con Phờ Linh thương thằng bên đồn điền, rồi bị con vợ hay bồ gì của thằng đó ghen, ra tay độc ác làm cho con Phờ Linh chết không toàn thây! Tự dưng Lý buột miệng: - Phi Nga! - Cậu nói gì? - Dạ không... Lý bắt rùng mình khi biết mình đã dò ra đúng mạch câu chuyện. Anh chỉ muốn rời nhanh khỏi nơi này, nên chào và bước đi như chạy. Đằng sau anh có tiếng vọng theo: - Nhớ trở lại nhé! Ra khỏi cánh rừng già, bước vào khu vực đồi trà rồi mà Lý vẫn chưa hay, anh đang miên man nghĩ về cô gái tên Phờ Linh hoa trắng. Chợt có tiếng gọi: - Cậu Lý! Nhìn thấy Hai Tùng, Lý phải bịa chuyện: - Tôi đi tìm mấy thứ hoa lan trong rừng. Nhìn thấy vòng hoa trắng đang quàng trên cổ của anh, Hai Tùng cười: - Cậu lại cũng giống cậu Vọng ngày trước rồi, bữa nào đi về cũng có một vòng hoa như vậy. Hoa này người Thượng gọi là Phờ linh, nhưng người mình hay gọi là bạch hoa. Giống như hoa ở đầu mộ bữa trước mà cậu hỏi tôi đó. Lý hỏi đột ngột: - Anh biết gì về cô gái tên Phờ Linh không? - Không. - Vậy anh có biết bản Klông Bức bên cạnh? - Có biết, nhưng ít giao du. Họ không ưa bên này. - Không ưa là chỉ sau khi cô Phờ Linh bị hổ xé xác kia chứ! Hai Tùng không ngờ Lý biết quá nhiều chuyện như vậy, anh ta có vẻ ngạc nhiên: - Sao cậu biết những chuyện ấy? Cậu Vọng nói hả. Ly gật đại: - Đúng, Vọng có kể cho tôi nghe. Tôi nghĩ anh cũng biết nhiều chuyện đó mà muốn giấu tôi phải không? Tùng lộ ra sự lúng túng của mình: - Tôi... tôi không được phép nói... Lý trố mắt nhìn vào anh ta: - Ai cấm? Vọng thì đã chết rồi, còn ai nữa? Hai Tùng lại càng lúng túng thêm, anh ta lắp bắp: - Chuyện đó... chuyện đó... Rồi đột nhiên anh ta quay đi rất nhanh mà không nói thêm lời nào. Lý biết có cố hỏi gì đi nữa thì anh ta chưa chắc đã nói, nên anh nhẹ lắc đầu rồi bước về phòng mình. Sau gần một buổi băng rừng, giờ mà nằm nghỉ chân và ngủ một giấc thì còn gì bằng! Vừa bước vào phòng, lại một lần nữa Lý sững sờ. Trên bàn viết vừa có thêm một vòng hoa trắng nằm chồng lên vòng hoa đã héo bữa trước! - Cô ta lại tới! Lý nghĩ tới Phờ Linh, đúng hơn là hồn ma của cô ta! Anh lấy vòng hoa đang ở trên cổ mình xuống và so sánh: Cả ba vòng hoa giống nhau một cách lạ lùng, từ cách xếp đặt các cành hoa cho tới số bông hoa trong mỗi vòng, mười tám bông hoa! Thường thì oan hồn chỉ hiện ra vào lúc trời tối, vậy sao cô ta lại tới vào ban ngày! Lý cố suy nghĩ mà vẫn không hiểu tại sao, và anh chợt nghĩ tới Vọng, phải chăng nhờ Vọng lúc này là đúng nhất? Nhìn trời thấy còn sớm, Lý không nghĩ tới bữa cơm trưa, anh đi ngay ra mộ bạn. Lần này anh lại ngạc nhiên hơn, bởi ngay trên đầu mộ của Vọng không có vòng hoa trắng, mà là một chiếc áo thổ cẩm, loại áo các cô gái Thượng thường hay mặc. - Phờ Linh! Lý bất chợt kêu lên mà không nghĩ là phía sau lưng anh vừa có một bóng người vượt qua rất nhanh, rồi biến đi như sương khói. Khi Lý quay lại thì anh chỉ còn ngửi được một hương thơm rất lạ... hương rất quen... Rồi bất chợt Lý thốt lên: - Hương hoa Phờ linh! Không phải sợ, nhưng tự dưng Lý rùng mình. Anh liên tưởng đến việc luôn luôn có hai oan hồn theo sát anh và có thể nghe, thấy anh hành động, nói năng bất cứ điều gì. Lý nói to như cho hai người họ nghe: - Nếu hai bạn có điều gì uẩn khúc chưa kịp nói thì hãy nói nốt với mình. Mình tự nguyện ở lại đây, bỏ hết công việc ở thành phố, chờ nghe và giúp được cho các bạn xong mới về! Hãy tin tưởng mình, Vọng ơi! Không thấy ứng nghiệm điều gì, nhưng Lý vẫn không thôi, anh nói hết ý của mình, cả những việc anh đoán về Phi Nga và hành động của cô ta nữa. Cuối cùng, Lý nói thẳng: - Nếu một trong hai bạn tin mình, thì hãy hiện ra cho mình gặp ngay đi! Anh ngồi xuống cạnh mộ, lấy ra hai điếu thuốc, châm cả hai rồi hút một điếu, còn điếu kia thì cắm xuống ngay đầu mộ, vừa vái: - Mình chỉ có thứ này cho cậu, còn với cô gái tên Phờ Linh thì mình không có gì để cho, ngoại trừ tấm lòng. Vậy mình xin phép Linh, mình xin được mang tấm áo này về để trong phòng, nơi mình có đặt ảnh Vọng với bát nhang, coi như mình thờ cả Phờ Linh. Đừng trách mình nhé! Cứ mải mê nói mà trời xế chiều lúc nào không hay, Lý vẫn ngồi đó, mặc cho cơn đói đang cồn cào trong bụng. Có một cái gì đó, khiến cho Lý không muốn đứng dậy đi về. Anh thương bạn mình bao nhiêu thì cảm thấy thương nàng Phờ Linh bấy nhiêu, giá mà có thể làm được điều gì để làm sáng tỏ cái chết thương tâm của nàng thì Lý cũng sẽ làm. Lý giật mình khi không còn thấy điếu thuốc cúng, trong khi anh hút mới có một phần ba điếu! - Cậu chấp nhận lời đề nghị của mình rồi, phải không Vọng? Lý vui vô cùng; anh lại nói huyên thuyên: - Bây giờ việc đầu tiên mình phải làm là đi tìm Phờ Linh. Phải gặp cho được cô ấy, nói với Linh rằng mẹ cô ấy đang rất muốn thấy con một lần, nên dù gì cô ấy cũng nên về thăm mẹ, rồi sau đó giúp mình lột mặt nạ kẻ đã gieo tội ác. Lý còn nói nhiều nữa, đến khi nhìn thấy trời tối anh mới đứng lên: - Mình về, mai mình lại ra. Anh về tới nhà thì thấy đèn trong phòng đã bật sáng. Điều đó hơi lạ, bởi anh đã đi từ trưa, không đốt đèn, vậy sao đèn sáng? Còn đang suy nghĩ thì suýt nữa Lý đã kêu lên, bởi đang có một cô gái quỳ trước bức ảnh của Vọng đặt trên bàn. - Cô là...? Cô gái từ từ quay lại và lần này Lý còn kinh ngạc hơn: - Cô sao? Bởi cô ta chính là cô gái bị đòn ở quán bữa nọ. Kể từ hôm tình cờ gặp lại cô ta rồi bà mẹ xuất hiện đến nay, trông cô ta vẫn không có gì khác, chỉ khác duy nhất là bộ quần áo đang mặc, đó là một bộ bằng vải thổ cẩm của người thượng! Trên cổ cô nàng lại có quấn một vòng hoa trắng. Lý sững sờ: - Phờ Linh! Lúc này cô gái mới lên tiếng: - Người H' Mông chúng tôi luôn coi những người có lòng thành là bạn, dẫu người đó là người lạ. Em mang ơn anh đến hai lần, lần trước anh đã cứu em bớt bị đòn, còn lần này thì kéo một người từ cõi chết trở về! Nàng nói tới đó thì vụt quay ra cửa sổ, và chỉ thoáng qua như cái bóng đã không còn thấy nữa! - Kìa, Phờ Linh! Lý đứng ngẩn ngơ nhìn ra bóng tối dày đặc... Cuối cùng thì Lý cũng tìm được Phờ Linh, tại quán nước, ngay sáng sớm hôm sau. Sau khi chạy bộ một quãng đường rừng đến hơn bốn cây số mệt nhoài, nhưng khi vừa tới phía sau quán thì cái bóng quen thuộc của cô nàng thấp thoáng sau hàng cây đã làm cho Lý tỉnh lại ngay. Anh định cất tiếng gọi để Linh dừng bước, nhưng sợ gây tiếng động, nên anh cố bước thật nhẹ, thật nhanh và tiến sát cửa sau, chính là nơi cô nàng bị hành hạ hôm trước. Thật lạ, nàng mới bước vào đã không còn thấy bóng dáng đâu? Chợt có một vật gì đó bay từ trong ra, mà nếu né tránh không kịp chắc là Lý đã bị trúng vào mặt. Tránh được, Lý nhìn xuống đất nơi vật bị ném vừa rồi, anh phát hoảng, bởi đó là một con rắn cực lớn! Vừa khi ấy thì từ trong quán có tiếng gào lên: - Mày phản bội tao hả Phờ Linh? Mày dám lấy đi vật luyện phép của tao là mày tới số rồi, mày sẽ vĩnh viễn không thoát được kiếp quỷ đâu, đừng hòng! Hình như có một cuộc vật lộn khá dữ, Lý còn đang lưỡng lự thì bỗng Phờ Linh từ trong lao ra, người lảo đảo sắp ngã, mặt mày đầm đìa máu, nhưng vẫn cố đưa vật đang cầm trên tay đưa cho Lý và giục: - Hãy mau mau đem vật này về, đào mộ của anh Vọng lên, cạy nắp quan tài và ném thẳng lên người anh ấy. Nhanh lên đi, kẻo không còn kịp nữa! Lý cầm vật đó trên tay và càng hoảng hơn khi nhận ra đó là một quả tim tươi, còn đẫm máu! - Trời ơi, sao cô lại... Lý nói chưa dứt câu thì trước mặt anh, Phờ Linh đang khuỵ xuống, mặt xanh tái. Nàng chỉ còn thều thào: - Anh mà còn chần chừ thì... thì chẳng những... không cứu được Vọng, mà còn chứng kiến một lúc hai mạng người... à không... ba mạng người phải chết... Nàng im bặt sau câu nói... còn bên trong quán thì có tiếng rên the thé nghe rất ghê rợn. Không kịp suy nghĩ thêm, Lý chạy như bị ma đuổi về chỗ mộ của Vọng. Lúc đó, anh hành động như ai làm chứ không phải chính anh. Nhưng nhờ vậy mà chỉ một phút sau, Lý đã moi được cái quan tài lộ ra. Cũng vừa lúc Hai Tùng tiến đến, anh ta quá đỗi ngạc nhiên hỏi lớn: - Cậu làm gì vậy cậu Lý? Lý nói nhanh: - May quá, anh giúp đào cho quan tài lộ ra, rồi cạy nắp lên giùm tôi! Hai Tùng kinh ngạc: - Chi vậy cậu? - Anh cứ làm giùm đi, tôi cứu Vọng, anh ấy có thể sống mà? Hai Tùng làm theo, một lúc sau thì nắp quan tài được bật lên. Xác Vọng vẫn còn trong trạng thái như đang nằm ngủ. Hai Tùng hỏi: - Có đem lên không cậu? Lý không đáp, anh làm đúng như lời dặn của Phờ Linh, ném con tim đẫm máu lên giữa ngực của Vọng. Và... việc xảy ra sau đó thì Lý và cả Hai Tùng đều không thể tin vào mắt mình nữa! Vọng từ từ mở mắt và... ngồi dậy như người sau một giấc ngủ sâu. Anh ngơ ngác: - Sao mình lại ở đây? Lý và Tùng giúp kéo Vọng lên. Anh hình như nhớ ra nên hỏi: - Mình đã chết rồi mà? Lý bây giờ mới nhắc: - Cậu chết rồi, nhưng có lẽ chưa chết hẳn và đúng ra bị chôn mấy ngày nay thì đã chết luôn rồi, nhưng chẳng hiểu sao Phờ Linh bảo mình mang quả tim này về thì cậu lại sống? Vừa nghe nhắc tới Phờ Linh thì Vọng kêu lên: - Nàng nguy mất! Anh vụt chạy như người bình thường khiến Lý và Hai Tùng cũng phải chạy theo. Họ trở lại đúng con đường Lý vừa trở về. Hướng tới quán nước. Khi bước vào quán thì người ngạc nhiên nhất là Lý. Anh trố mắt nhìn và kêu lên: - Phờ Linh vừa nằm ở đây mà? Không thấy bóng dáng nàng đâu, chỉ còn lại đó bộ quần áo thổ cẩm mà vừa nhìn là Vọng nhận ra ngay: - Của cô ấy đây mà! Lý còn kinh hãi khi nhìn thấy một bộ xương trắng hếu nằm ở góc trong của quán. - Đây đâu phải là xương người? Vọng nhìn và nói ngay: - Xương của con mãnh thú, con hổ tinh đã giết Phờ Linh rồi! Lý nhớ lúc nãy tiếng rên the thé phát ra từ đó, và cuộc vật lộn của Phờ Linh, tiếng nguyền rủa, hăm he cũng ở đó... - Mụ chủ quán! Hai Tùng thở dài: - Cuối cùng thì cũng tới được lúc này! Lý quay sang hỏi: - Anh nói gì? Hai Tùng vỗ vai Lý: - Cậu đã làm được một việc mà cả bản làng này không ai làm nổi! Lý định hỏi thêm thì Vọng đã giục: - Mình về thôi. Tôi có thể yên tâm rồi, con hổ tinh như vậy không còn khống chế nàng được nữa rồi, tôi có thể sống với cô ấy! Lý không hiểu ý Vọng nói gì, nhưng anh chưa muốn hỏi thêm lúc này, mà chỉ lặng im đi bên bạn. Vọng có vẻ trầm ngâm, suy tư nhiều... Họ trở về nhà thì mặt trời đã gần đứng bóng. Hai Tùng muốn báo cho mọi người biết thì Vọng ngăn lại: - Khoan đã. Anh đăm chiêu một lúc rồi nói ra ý mình: - Tôi đoán Phờ Linh có thể đã trở về nhà, tôi muốn sang đó. Lý xua tay: - Cần phải qua đó, nhưng không phải lúc này. Theo tôi, việc bây giờ mình phải làm là đắp lại ngôi mộ... hụt, rồi nghỉ ngơi cho khoẻ, sau đó tính gì cũng được. Mình đuối lắm rồi! Hai Tùng tự nguyện: - Để tôi, lo vụ nấm mộ cho, hai cậu cứ nghỉ ngơi đi. Anh ta đi liền ra ngoài một lúc khoảng năm phút sau, bỗng hai người trong này nghe có tiếng kêu ngoài đó. Lý và Vọng cùng chạy ra và chứng kiến một điều kỳ lạ: Dưới huyệt cỗ quan tài mở nắp đang có một bộ xương nằm trong đó! - Ai vậy? Sao lại... Lý ngạc nhiên hỏi, trong lúc Vọng gật gù: - Phờ Linh đó! Vậy là cô ấy đã thay ta vào cái nơi mà đáng lý ta phải nằm. Tội nghiệp, cả một đời không một ngày sung sướng.... Đích thân Vọng đóng nắp quan tài lại, rồi cũng chính anh lấp đất cát đắp thành một nấm mộ còn đẹp hơn là mộ do Lý đắp cho anh. *** Chuyện không lạ với Vọng, nhưng là một ngạc nhiên lớn đối với Lý. Buổi chiều hôm sau, khi Lý và Vọng bước ra mộ thăm Phờ Linh thì gặp một người quỳ gối ở đó. Người ấy là Phi Nga!Vọng không nói một lời, bởi hình như anh đã đoán biết trước, nhưng Lý đã lên tiếng hỏi ngay: - Cô còn dám tới trước mộ người mà cô đã ra tay ác độc hay sao. Cô ta không đáp, cho đến khi Vọng đưa tay đẩy nhẹ một cái, cả thân thể cô ta ngã xuống bất động! Vọng lúc này mới lên tiếng: - Sự trả giá dù là muộn màng cũng cần thiết. Phi Nga đã chết ngay từ lúc quỳ! Hai Tùng chừng như đã trút được gánh nặng ngàn cân, anh ta thở phào và nói: - Tôi cũng được sống lại rồi! Vọng hiểu, chỉ có Lý là thắc mắc: - Anh nói thế là sao? Hai Tùng nhìn sang Vọng rồi mới trả lời: - Những gì cậu Vọng nếm trải qua, tôi sợ sẽ đến phiên mình, nên mấy hôm nay tôi không dám nói gì, kể cả khi cậu Lý hỏi. Giờ thì tôi hoàn toàn yên tâm rồi. Anh ta kéo tay Lý đi: - Cậu muốn biết chuyện thì theo tôi. Anh ta quay lại Vọng và dặn: - Cậu Vọng cứ ở nhà nghỉ ngơi, tôi dẫn cậu Lý đi đằng này chút nữa sẽ trở về. Hôm nay mình phải mở tiệc ăn mừng lớn. Lý quan tâm đến xác của Phi Nga, thì chính Vọng đã nói: - Cậu đừng lo cho con người cùng hung cực ác này. Thứ này có để giữa rừng thì thú dữ cũng chê, không ăn thịt đâu! Lý theo Hai Tùng đi về hướng bản Klông Bức: Tới một cây cổ thụ có tán lá rộng hầu như che khuất cả ánh mặt trời không chiếu được xuống mặt đất, Tùng chỉ và nói: - Đây chính là nơi cô Phờ Linh bị Phi Nga cho người trói vào chân cây rồi bỏ suốt đêm. Con hổ tinh nổi tiếng vùng này đã xuất hiện vào lúc nửa đêm, và chuyện tồi tệ nhất đã xảy ra. Sáng hôm sau, khi tôi đi bẫy thú ngang qua đây thì chỉ còn thấy xác Phờ Linh không trọn vẹn, bên cạnh đó là một mụ đàn bà lạ, mặt mũi hung ác đang cất tiếng cười như điên, vừa nhảy nhót như đang thoả mãn chuyện gì đó. Đúng lúc ấy thì cô Phi Nga xuất hiện cùng với vài người nữa. Tôi nghe chính miệng cô Phi Nga nói với mấy người kia: Hổ tinh sau khi ăn được con gái đồng trinh như con Phờ Linh thì được hoá kiếp, được trở thành người. Bà già kia chính là con hổ cái đó. Từ đó, mụ ta quản lý vong hồn Phờ Linh, sai đi làm việc gì mụ ta muốn, nếu không làm thì sẽ bị đánh đập, hành hạ. Hai Tùng ngừng một lúc rồi kể tiếp: - Tôi bị cô Phi Nga hăm doạ, nếu tôi kể lại chuyện mắt thấy tai nghe cho bất cứ ai thì sẽ bị hoạ như Phờ Linh, nên từ đó tôi không dám hé môi. Kể cả việc cậu Vọng bị hại, tôi cũng biết mà không dám nói. - Ai hại Vọng? - Vọng uống phải nước giải khát có pha nước dãi của hổ tinh? Nước đó ở chính cái quán nước bên đường mà cậu biết. Lý nghe kể mà lạnh cả người, bởi anh đã một lần uống nước ở đó! Cũng may, ngay lúc ấy Hai Tùng đã nói tiếp: - Vọng bị Phi Nga ghen nên mới bày ra cho cậu ấy uống thứ nước đó, do chính con hổ tinh là mụ chủ quán pha chế. Lòng ghen tuông đã làm cho cô Phi Nga mất cả lý trí, chứ với người khác thì cô ta chưa hề hại ai. Cậu có uống nước ở đó cũng không sao, như tôi, đã nhiều lần tôi đi qua đó và uống mà đâu có sao... Càng nghe kể Lý càng căm giận Phi Nga, anh cho rằng cô ta bị chết như vậy là đáng đời! Anh bảo Hai Tùng: - Anh cũng nên nói hết chuyện này cho Vọng nghe, để nó cảnh giác từ đây về sau. - Tôi nghĩ cậu Vọng không phải là không biết. Biết mà vẫn để cho bị hại, bởi cậu ấy quá yêu Phờ Linh, chỉ muốn bằng mọi cách được sống cùng với người mình yêu. Lý chỉ biết lắc đầu. Anh cho rằng Hai Tùng nói đúng... Hai người trở về nhà thì nghe Vọng hí hửng khoe: - Mình có thể không mất Phờ Linh! Vừa nói, Vọng vừa đưa ra một chiếc lá to, trên đó viết chi chít những chữ tuy không đẹp, nhưng cũng dễ đọc. - Vật này Phờ Linh lén để dưới gối tôi lúc nãy khi tôi chợp mắt một lúc. Chữ viết này là do tôi dạy cho cô ấy biết viết, và nói là chỉ viết cho tôi đọc thôi. Cô ấy mới viết đây, nên những lời này là nói cho tôi biết chuyện hiện tại giữa chúng tôi. Đây, cậu đọc đi! Lý cầm lấy và đọc. Phờ Linh viết đầy chiếc lá to, nhưng chỉ có câu cuối cùng khiến cho Lý quan tâm: "Anh cứ ở lại đây, đêm đêm chúng ta gặp nhau. Đợi khi hết hạn, hy vọng một ngày không xa, chúng ta có thể gần nhau ở chốn dương thế..." Vọng siết chặt tay Lý: - Mình tin điều này là thật! Mà cho dù như không thật, thì mình vẫn ở đây để rồi đêm đêm Phờ Linh về với mình. Bấy nhiêu đó đủ quá rồi! *** Lý trở về thành phố sau đó một tháng. Và thật đều đặn, tháng nào anh cũng nhận được thư của Vọng báo những tin vui: Mình hầu như có thể gặp Phờ Linh bất cứ lúc nào mình muốn. Chỉ việc đốt hương khấn là nàng về ngay…Còn Hai Tùng thì cũng báo cho Lý hay: - Không biết có đúng như lời cậu Vọng nói hay không, chỉ thấy hằng đêm cậu đều đi ngủ sớm và phòng riêng của cậu ấy nhiều lúc tôi nghe có tiếng cười trong trẻo của con gái! |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 40
HỒN AI TRÊN ĐÈO CẢ Qua khỏi Đại Lãnh một quãng không xa, Tường định tấp vào quán bán cháo đêm mà anh vẫn thường hay ăn, nhưng khi vừa dừng lại thì thấy treo bảng nghỉ bán. Anh chép miệng chán nản, bởi nếu không ăn và nghỉ xả hơi ở đây trước khi lên đèo Cả thì phải sang tận bên kia chân đèo mới có nơi để dừng lại. Còn đang phân vân, thì một phụ nữ lớn tuổi bước ra chỉ tay về phía trước. - Cách đây chừng mười phút chạy xe, trước khi lên đèo, nhìn bên trái có một quán mới mở bán đồ ăn ngon lắm. Tường cám ơn rồi cho xe chạy tiếp. Anh tính, nếu tới đó mà không vừa ý thì thà để bụng đói chạy qua bên kia đèo chứ không ghé quán nào khác. Chạy theo lời người ấy chỉ, mãi vẫn chưa thấy có quán nào, anh định chạy luôn thì bỗng có một chiếc xe nhỏ chạy ngược chiều như muốn đâm vào xe mình. Tường nhanh mắt bẻ tay lái cho xe quẹo gấp về phía tay trái, tấp hẳn vào một khoảng sân rộng. Hú hồn! Tường đang lầm bầm rủa tay chạy xe ẩu suýt gây tai nạn, thì chợt nhìn vào trong, anh thấy ngôi nhà có đèn sáng, bày vài cái bàn và ở thân cây phía trước có treo tấm bảng nhỏ đề mấy chữ: Cháo hải sản. - Đúng là trong cái rủi có cái may! Tường đoán quán mà người phụ nữ chỉ là quán này. Anh cho xe sát vào trong cùng của khoảng sân rộng và bước ngay xuống mà không cần hỏi, bởi anh đã nhìn thấy nồi cháo đang bốc khói và mùi thơm của cháo đang khiến bao tử anh cồn cào. Người chào hỏi Tường là một cô gái còn rất trẻ, tuy khuôn mặt trùm kín trong vuông khăn màu đậm: - Mời quý khách dùng món cháo mới chín. Có mực tươi, hàu sống và tôm he mới bắt về! Tường nghe giọng nói đã có cảm tình, nhưng chỉ tiếc là không nhìn được gương mặt để vừa ăn vừa tán tỉnh mấy câu cho đỡ buồn ngủ. Anh gọi: - Cô cho một tô cháo hàu, dĩa mực và tôm! - Chu cha, gọi chi dữ vậy, ăn sao hết. Giọng nói của dân vùng Phú Khánh nghe vừa mộc mạc vừa dễ thương khiến Tường bật cười! Anh đùa: - Nếu một mình ăn không hết thì ai đó cùng ăn cho đủ hai mình! Cô chủ quán cũng khá bạo miệng: - Muốn hai mình thì sẽ có hai mình ngay. Lúc đó đừng sợ nhé. - Việc chi mà phải sợ! Tường cũng bắt chước giọng của cô nàng và thật bất ngờ, anh nhận được một ân huệ, cô nàng lột nhanh khăn trùm đầu ra, lộ một khuôn mặt đẹp mê hồn! - Chu cha! Người thế này mà ngồi bán cháo ư? Ai dám ăn! Nàng cười giòn: - Mắc chi mà không dám ăn, bộ người đẹp rồi hớp hồn được thiên hạ sao! Quán lúc ấy không có khách nào khác ngoài Tường, nên anh có cớ chọc: - Có lẽ mấy người khác sợ bị hớp hồn nên không dám ăn. - Ngoại trừ anh phải không? Thấy nàng ta vui vẻ, dạn dĩ nên Tường không ngại hỏi: - Đẹp như thế này mà lại một mình buôn bán, sao không chọn đại một ông xã nào đó để sai vặt, cô chủ? Nàng lại cười giòn: - Nói chi mà nghe lạ thế! Đã sắm được ông xã thì phải cưng như cưng trứng chứ sao lại bắt làm! Tô cháo hàu thơm phức, kèm hai dĩa mực và tôm tươi ngon. Tường nhanh miệng mời: - Cô chủ nói có hai mình mà giờ vẫn chưa thấy, thế thì bắt đền đấy! - Đền thì đền chứ sợ chi! Cả hai cùng cười vui, khuấy động không khí đang vắng lặng của quán ăn giờ ít khách. Và người "ăn cho có đôi”, với Tường không ai khác hơn là cô chủ quán! Cô múc riêng cho mình tô cháo, vừa ăn vừa bảo Tường: - Cái này là tôi bắt đền đây! Tường liếc nhìn gương mặt bầu bĩnh, dễ thương, anh tò mò hỏi: - Cô đâu phải người gốc ở xứ này phải không? - Dạ đúng, em gốc Huế. - À, thảo nào... Đang ăn thì bất chợt một cơn mưa thật to ập đến. Tường lo lắng: - Chà, đêm mà mưa lớn thế này qua đèo mới gay đây! Cô chủ quán cũng phụ hoạ: - Mưa thế này mà qua đèo thì gay thật! - Chỉ có ngừng xe và... ăn cháo thôi! Câu nói đùa của Tường vô tình nhưng lại đúng, nên cô chủ cười đồng tình: - Ông trời thương người ta một chút mà cũng châm chọc nữa sao! Câu chuyện rôm rả giữa hai người có lẽ sẽ chấm dứt khi có nhiều xe dừng trú mưa, nhưng hơi lạ là đã khá lâu mà vẫn không có chiếc xe nào dừng lại. Tường phải lên tiếng: - Sao không có khách? Hay là tại quán của cô không treo bảng bên ngoài nên ít người biết? Cô chủ lắc đầu và vẫn hồn nhiên: - Nhiều khách chỉ thêm mệt, trong khi em chỉ muốn nghỉ sớm thôi. Bán cả ngày, còn sức đâu mà ngồi tới khuya. Phải chi ngồi mà đấu hót suông thì không ngán... Câu nói vui ấy không ngờ đã trở thành sự thật. Hơn nửa giờ sau vẫn không có thêm khách nào. Vừa khi đó, lại có một tin không hay do mấy người đi ngược chiều đường đèo báo về: - Đèo bị lở đá, xe không qua được! Cô chủ quán buột miệng nói: - May cho anh! Nếu không ngừng ăn cháo thì giờ này anh cũng đang ở trên đèo? Tường công nhận: - Đúng là đang ở lưng chừng đèo! Anh thầm cám ơn cô chủ quán và còn muốn bảo: Ngồi nói chuyện với người đẹp như thế này thì đèo không bị lở cũng nên ngồi, bao lâu cũng được! - Anh nói chi? Tường lắc đầu: - Đâu có chi mà nói. Ngồi nhìn không đủ rồi, cần gì nói! Cô nàng lại cười thật giòn: - Cánh tài xế các anh người nào cũng miệng lưỡi khéo nói, ai mà dám tin! - Chưa tin thử sao biết là không dám? - Tin để cho chết sao! Thấy cô nàng vui tính, Tường lấn thêm một bước: - Nãy giờ đã được ăn ngon, nghe nói chuyện có duyên nè, mà chưa biết tên cô chủ? - Ái Liên. Tên xấu thấy mồ! Cô nàng lại giọng giữa Trung và Nam khiến Tường bật cười: - Tên xấu thấy mồ mà cũng có người thích thấy mồ luôn! Hân hạnh được biết cô Ái Liên. Còn tôi là Tường. Họ như đã quen nhau lâu ngày, có thể do tương đồng một điểm nào đó. Nên sau khi tạnh mưa thì nàng là người đề nghị trước: - Không thể qua đèo ít nhất cho tới ngày mai, chờ người ta thông đường. Mà xe của anh chỉ để ngồi chứ không thể nằm ngủ, vậy thì tốt hơn hết hãy về nhà em nghỉ đỡ đêm nay. Tường áy náy: - Nhưng... còn người nhà của cô? Nàng cười tươi: - Điều đó thì khỏi lo, bởi em đang ở một mình! Tường cũng không ngờ mình lâm vào tình cảnh khó xử nhưng đầy thú vị này, nên sau vài giây lưỡng lự đã gật đầu ưng thuận. - Thôi, đã làm phiền thì phiền cho trót! Nhà của Ái Liên chỉ cách chỗ bán khoảng vài trăm mét, phía trong khu vườn cây rậm rạp. Tường đi bộ theo nàng, để xe lại đó. Bước vào nhà, điều đập vào mắt Tường đầu tiên là ảnh chân dung của một người con gái thoạt trông giống hệt như Ái Liên, nếu ảnh đó không đặt trên bàn thờ thì Tường đã ngỡ đó chính là ảnh của cô chủ quán? Thấy anh nhìn chăm chăm vào bàn thờ, nàng lên tiếng ngay: - Đó là người chị song sinh với em. Chị ấy chết bởi tai nạn trên đèo Cả. Tường buột miệng: - Giống nhau như hai giọt nước! Giọng nàng đượm buồn: - Người ta nói chị ấy chết để cho em sống, hoặc ngược lại. Chị em song sinh cũng khổ! Nàng muốn bày tiệc ra nhậu, nhưng Tường lại ngại: - Cô ở nhà một mình, tôi là đàn ông, ngồi "nhậu nhẹt" e không tiện lắm! Ái Liên mạnh dạn: - Em giữ mình lâu nay nhưng nào có ai khen tiếng nào. Bây giờ tiếp khách ngồi nhậu chơi thì có gì đâu mà ngại! Nàng cứ bày tiệc ra và rót rượu cụng ly với Tường: - Lâu lắm rồi, kể từ ngày chị em mất đến nay, đây là lần đầu tiên em uống rượu, lại uống với đàn ông nữa! - "Dô"! Tường chẳng nghĩ gì khác ngoài sự cảm thông, anh nâng ly cụng đến lần thứ ba thì nói thẳng: - Cô uống như vậy là vừa rồi. Như thế ngủ sẽ ngon. Nhưng Ái Liên dứt khoát: - Em một khi đã uống thì phải uống tới bến luôn! Anh sợ em không uống được rượu hả, lầm to! Ba em người Bình Định mà, nơi đó nổi tiếng rượu Bàu Đá, anh quên rồi sao! Nàng lại uống ba cốc nữa, ngang bằng với Tường, nhưng trong lúc Tường đã chếnh choáng thì xem ra nàng vẫn vững vàng. - "Dô" nữa đi? Tiếng thách của nàng lúc này Tường chỉ còn nghe văng vẳng, nhưng cũng cố nâng ly lên. Rổn! Một tiếng đổ vỡ vang lên. Chiếc ly từ tay của Tường do anh không còn điều khiển được, đã rơi xuống sàn. Ái Liên đưa tay vỗ nhẹ vào vai anh, gọi khẽ: - Dậy đi chớ, bỏ người ta uống một mình sao? Tường say như chưa bao giờ say như vậy. Anh hầu như không còn biết gì nữa... Ái Liên đứng dậy, tỉnh táo đi về phía bàn thờ, rồi nhẹ nhàng bê bức ảnh chân dung xuống, đi trở lại chỗ Tường đang nằm gục trên bàn, cô nàng cầm khung ảnh đưa lên quá đầu, miệng lâm râm những gì không nghe rõ, sau đó gần nửa phút mới từ từ đặt bức ảnh vào phía bên dưới mặt của Tường. Anh chàng hoàn toàn không hay biết... Ái Liên sau đó nhẹ nhàng ngồi xuống sàn, hướng mặt ra cửa, hai tay đặt ngang ngực rồi... bật khóc? Tiếng khóc nghe thê lương vô cùng và cứ thế vang vọng vào đêm trường. Chỉ tiếc là Tường đã đi vào cơn mê của hơi men, nên không nghe được... Vài tiếng cú kêu như đáp lại tiếng khóc của người trong nhà. Đêm dần khuya. Cơn mưa mới dứt lúc nãy, giờ đột ngột trở lại nặng hạt hơn và gió thổi mạnh hơn, như muốn bứng cả nóc nhà đi! *** - Này anh ơi, sao lại nằm đó?Nghe tiếng người hỏi, Tường bật dậy và hỏi lại: - Đây là đâu? Người hỏi anh là một nông dân đi cắt cỏ nuôi dê, ông ta nhìn Tường ngạc nhiên: - Anh đâu phải người xứ này? Mà tại sao lại nằm bãi tha ma mà ngủ? Tường giật mình nhìn lại sau lưng và phát hiện ra có đến hơn chục ngôi mộ cũ nằm rải rác. Anh lặp lại câu hỏi: - Chỗ này là nơi nào? - Nghĩa địa, bộ anh không thấy sao? - Tôi... tôi... đang ở.... Anh dần nhớ lại và thảng thốt kêu lên: - Ái Liên! Ông già cắt cỏ hỏi lại: - Anh kêu ai? - Ái Liên! Bác biết nhà cô Ái Liên bán cháo hải sản ở đâu không? Lão ta trố mắt nhìn Tường như nhìn một con quái vật vừa bước lùi trong tư thế chuẩn bị chạy. Đến lúc thấy Tường bước về phía mình thì lão vụt chạy như ma đuổi! Tường gọi giật lại: - Bác, cho cháu hỏi! Nhưng ông già đã chạy thục mạng, phút chốc đã biến mất sau lùm cây. Tường lẩm bẩm: - Vậy nhà của Ái Liên ở đâu? Chẳng lẽ mình uống say đến nỗi như người mộng du, ra nằm ngủ ở nghĩa địa này? Anh đi dần vào xóm. Cố nhớ lại những gì đã nhìn thấy trong đêm, nhưng tuyệt nhiên không thể nhận ra quán cháo, dấu tích của xóm nhà đêm qua. Anh hỏi một người khác: - Chị biết quán cháo hải sản của cô Ái Liên? Chị ta lắc đầu: - Ở đây đâu có ai là Ái Liên. Cũng chẳng có ai bán cháo cả. Dò hỏi đến hơn một tiếng đồng hồ vẫn chẳng ra manh mối. Cuối cùng, Tường phát hiện chiếc xe của mình nằm ở cạnh hai cái mộ đá! Anh lại hỏi thì một người gần đó trả lời: - Sau cơn mưa tối qua, có nhiều cây đổ, nhiều xe bị lật, sáng dậy thấy chiếc xe này nằm đây chúng tôi tưởng nó bị xô dạt vào đây, và chủ của nó chắc là bị nạn rồi... Tường nói: - Chủ chiếc xe là tôi. Nhưng đêm qua tôi đậu trước quán cháo hải sản của một cô tên là Ái Liên. Người nọ giương mắt nhìn Tường rồi lắc đầu: - Ở đây vốn là một nghĩa địa công cộng, nhưng lâu nay có vài người tới đây định cư, họ cất nhà bên ngoài nghĩa địa, nhưng cũng không ai ở được lâu, lần lượt chuyển đi hết. Nhà tôi là căn cuối cùng còn lại, nhưng chắc cũng phải chuyển đi sớm thôi. Tường quả quyết: - Chính tôi đêm qua đã ăn cháo ở đó, rồi còn về nhà cô Ái Liên ấy để ngủ nhờ mà! Anh đang nói tới đó thì bất chợt từ trong nhà, bác nông dân cắt cỏ lúc nãy xuất hiện! Ông ta bảo thẳng với Tường: - Lúc nãy nghe anh nói, tôi cứ tưởng anh là người đội mồ về! Anh có biết anh vừa nhắc tới ai đó không? Tường ngơ ngác: - Ai đâu? - Thì cô Ái Liên đó! Anh hãy nhìn bên trái kia xem, ai ở kia? Tường nhìn theo tay ông ta chỉ, và giật mình khi thấy một ngôi mộ đá có tên bia trắng ghi rõ dòng chữ: Ái Liên chi mộ! Tường lạnh toàn thân, anh đứng không còn vững nữa, phải vịn tay vào cạnh một ngôi mộ. - Không... không phải tên này... Người đàn ông nói tiếp: - Ở xứ này không ai dám nhắc tới tên tục của người đó, duy chỉ có anh! Muốn biết tại sao thì anh cứ chạy xe lên cây số 8 lưng chừng đèo sẽ rõ. Ông ta nói xong là bỏ đi ngay. Tường định quay tìm bà vợ ông ta, nhưng cũng chẳng thấy. Đứng ngẩn ngơ một lúc, Tường đành ra lấy xe đi lên đèo Cả. Dọc đường, anh nghe người ta kháo nhau chuyện đoạn đèo sạt lở đã được thông, nên xe cộ qua lại rất nhiều. Lên tới đoạn đường được chỉ, Tường không phải mất công hỏi lâu, anh đã nhìn thấy một ngôi miếu ngay khúc cua. Từ chỗ miếu có một lối mòn dẫn lên núi, Tường lưỡng lự vài giây rồi men theo đó đi lên. Đường hẹp nhưng không khó đi lắm. Lát sau, anh đã đứng trước một gian nhà lá, trông giống như một cái am hơn là nhà. - Ai lại ở trong này? Tường tự hỏi và dĩ nhiên là không thể tìm được câu trả lời nếu không gặp được người ở. - Tôi biết thế nào rồi anh cũng tới! Giọng nói của ai đó ngay phía sau lưng khiến Tường giật mình quay lại. Anh trố mắt kinh ngạc và reo lên: - Ái Liên! Một Ái Liên đang đứng đó, trên tay đang cầm một bó rau, hình như mới hái được ngoài bìa rừng. Nàng chỉ nhoẻn miệng cười nhẹ, rồi bước đi thẳng vào nhà mà không nói gì thêm. Tường bước theo hỏi dồn: - Tại sao người ta nói cô đã... chết rồi? Lúc này nàng mới nhẹ giọng đáp: - Người chết là làm sao sống lại được. Đúng là Ái Liên đã chết! Tường hốt hoảng: - Cô đừng bắt tim tôi phải ngừng đập lần nữa, Ái Liên! Nàng vẫn nhẹ giọng: - Em là Thuỳ Liên, chị gái của Ái Liên. Nhớ lúc uống rượu, Ái Liên đã kể về người chị song sinh của nàng bị tai nạn trên đèo, Tường vụt hỏi: - Có phải cô đã chết vì tai nạn trên đèo này. Cô gái lắc đầu: - Không phải tôi, mà là Ái Liên. Chị em song sinh quá giống nhau nên dễ bị nhầm lẫn. Tường trầm ngâm: - Vậy ra tôi đã... - Anh đã gặp oan hồn của nó đêm qua. Anh đã nhậu với nó cho đến lúc say mèm, gục ngủ tại bàn. - Đó đâu phải là bàn, là nghĩa địa! - Người sống có nhà thì người chết có nghĩa trang, đâu có gì lạ? Bây giờ anh sợ phải không? Vậy mà vong hồn của nó về báo ngay cho tôi rằng anh là người tốt, có tình cảm, có thể tin cậy được để phó thác chuyện riêng của mình. Nó kỳ vọng ở anh nên đã không dám làm phiền gì… trong khi anh cũng biết rồi, người ở chỗ đó sợ nó như thế nào! Chỉ cần nhắc tên Ái Liên là thiên hạ ở đó đã chết khiếp rồi! Nó không tha cho bất cứ người đàn ông nào đâu! Tường như người mất hồn: - Có chuyện đó sao? Nàng Thuỳ Liên chỉ một ảnh chân dung treo trên vách nhà: - Ảnh đó là của nó, còn ảnh này là của em. Hai bức ảnh chỉ khác nhau màu áo, còn thì giống nhau khó mà phân biệt được. - Hai chị em chụp ảnh này chỉ trước ngày nó bị nạn mười ngày. Hôm đó em mặc đúng chiếc áo này. Tường nhìn lại và nhận ra đúng chiếc áo cô nàng đang mặc giống y như trong ảnh. Anh thở dài: - Không ngờ. Thật là không thể tin được! Thuỳ Liên kể tiếp: - Ái Liên linh lắm, từ ngày chết nó luôn hiện hồn về ở chỗ mà anh gặp nó, mặc dù nó chết ở đoạn đèo này, đúng chỗ miếu mà anh thấy trước lúc lên đây. Tường định hỏi, thì nàng đã nói ra: - Chỉ vì nó muốn tìm kẻ đã gây ra cái chết cho nó! Mà người đó lại có vóc dáng giống y như anh vậy! Tường lại toát mồ hôi lần nữa, anh hơi run giọng hỏi: - Ai đã làm chuyện đó, cánh lái xe chăng? Thuỳ Liên nhẹ lắc đầu: - Không hề dính gì tới cánh lái xe đò hay xe tải, mà một người cũng có chiếc xe du lịch giống như của anh! - À, thì ra... Lúc ấy Tường chợt hiểu, anh lẩm bẩm: - Bởi vậy suốt buổi tối đó đâu có thấy tài xế xe đò hay xe tải nào ghé qua. - Nó canh nhiều đêm lắm mới có một người như anh ghé vào chỗ nó chờ. - Quán cháo là có thật? - Thật với người cõi âm, chứ thật ra đêm qua anh đã ăn... trái cây mà cứ tưởng là cháo hàu, cháo mực! Nhưng không sao, khi nhận diện anh không phải là người mà nó đợi, Ái Liên đã cho anh ăn cháo thật và cũng uống rượu thật. Chỉ có điều rượu ma thì mau say và say dữ lắm! - Thảo nào... - Bây giờ anh còn sợ không? Tường cười như mếu: - Có sợ thì mọi thứ đã vào bụng hết rồi! Tự dưng Tường muốn nôn ói, anh ôm lấy ngực thì Thuỳ Liên lại nói: - Anh yên tâm, trong bụng anh không có gì phải sợ đâu. Hồn ma một khi đã hại người thì đố ai thoát được, còn đã có cảm tình thì chỉ có giúp thôi, chứ không bao giờ hại. Ái Liên nó thật sự mến anh, dặn em phải giúp đỡ để anh qua đèo được an toàn, chứ thật ra số của anh là chuyến này sẽ bị tai nạn trên đoạn đường đèo này! Thấy Tường xanh mặt, nàng tiếp lời liền: - Bây giờ thì không sao rồi, kiếp nạn anh đã qua là nhờ Ái Liên đó! Rồi nàng đột ngột hỏi: - Anh có muốn đền đáp lại Ái Liên chút gì không? Tường ngập ngừng: - Chuyện ấy... Nàng thở dài: - Cũng không sao. Làm sao bắt người khác làm theo ý mình được! Tường nói nhanh: - Ý tôi không phải vậy! Đối với Ái Liên, tôi có cảm tình đặc biệt, bây giờ biết hoàn cảnh của cô ấy như thế lẽ nào tôi lại làm ngơ! Tôi xin tự nguyện... - Vậy tốt rồi. Chuyện chỉ đơn giản thế này thôi, anh ra tới Huế không? Tường gật: - Tôi đang trên đường đi Huế. - Tốt lắm. Ái Liên nhờ anh gửi giùm nó vật này một người ở An Cựu, anh sẵn lòng không? Vừa nói, nàng ta đi vào trong lấy ra một chiếc hộp nhỏ bằng sơn mài khá xinh, đưa cho Tường: - Anh đem vật này trao cho một người tên là Trọng, địa chỉ có ghi ở đáy hộp. Tường lặp lại: - Đưa cho Trọng ở An Cựu. Chỉ có thế thôi? - Anh đưa chiếc hộp này người ấy khắc biết. Rồi thôi, nếu không thích thì anh không cần hỏi gì thêm. Làm xong việc ấy lượt về hai chị em sẽ khao anh một chầu! Nói xong, cô nàng sợ Tường hiểu khác nên vội nói: - Lần này là em khao thật chứ không phải như Ái Liên đâu. Nhưng sẽ có mặt Ái Liên, anh không sợ chứ? Tường không đáp, anh cầm lấy chiếc hộp rồi cho vào túi ngay. - Được, tôi sẽ làm y như lời cô dặn! Tường định đi, nhưng bị gọi giật lại: - Anh đã lên nhà thì phải ở lại ăn bữa cơm rau rồi mới đi chứ, hay lại sợ? Tường không còn cách nào khác nên đành phải nhận lời. Quả nhiên, anh được ăn bữa cơm hết sức đạm bạc, nhưng lại vô cùng ngon miệng, một phần có lẽ vì cái bụng đói từ đêm qua đến giờ. Trong lúc ăn, Tường được Thuỳ Liên giải thích thêm: - Bọn em chỉ còn có hai chị em trên đời, nên khi Ái Liên mất đi em không biết phải đi đâu, bởi vậy đành phải chọn ở lại đây, như một cách tưởng nhớ em mình. Đồng thời ngăn không cho nó hành động quá trớn... Mãi khi gần xong bữa cơm, Tường mới mạnh dạn hỏi: - Tôi hỏi có hơi tò mò một chút, Trọng là người thế nào? Phải chăng anh ta là người mà Ái Liên đã chờ ở đây? Câu hỏi khiến Thuỳ Liên khó trả lời, nhưng sau một lúc ngập ngừng, nàng cũng đáp: - Với anh thì tôi không giấu. Con người đó là nguyên nhân mọi chuyện bi thảm ngày nay... Nhưng thôi, tốt hơn là anh đừng tìm hiểu gì thêm nữa. Để tránh không nói thêm, Thuỳ Liên đứng lên và bước ra ngoài. Tường cũng bước ra thềm, anh chào từ giã: - Tôi đi cho sớm. Cám ơn cô Thuỳ Liên nhiều và tôi sẽ nhớ rất lâu bữa cơm hôm nay. Xuống đến hơn hai phần ba đoạn đường núi, bỗng Tường chợt nhớ là mình quên chưa hỏi thăm nhà trước kia của hai người ở Huế là chỗ nào, để lỡ khi tìm không được Trọng anh còn có chỗ để gửi lại món quà. Tường vừa quay lại thì chợt nghe có người gọi lớn. - Phải anh là chủ chiếc xe Simca kia không? Tường nhìn ra đường, chỗ đậu xe lúc nãy thì không thấy xe mình đâu, hoảng hốt kêu lên: - Chiếc xe! Rồi nhìn xa chỗ đó chừng vài chục thước, Tường thấy chiếc xe đậu nép vào một hốc đá, y như là xe bị tai nạn. Anh chưa kịp hỏi thì người đàn ông lạ vừa nói chuyện với anh lên tiếng giải thích: - Chỉ cách đây vài phút có một chiếc xe tải trong lúc đổ đèo đã lạc tay lái, đâm sầm vào xe của anh đang đậu. Tôi chạy xe đằng sau thấy tự dưng xe của anh như có người lái, nó chạy một cách ngon lành, tới và dừng đúng vào chỗ nó đang dừng! - May quá! Người đàn ông kia tự giới thiệu: - Tôi là Quan, người lái xe qua đường đèo này hơn chục năm nay, và đây là lần đầu tiên thấy một người như anh dám lên trên đó. Tường cau mày: - Trên đó thì đã sao? Đâu có gì... Anh chàng tên Quan ấy lè lưỡi, rùn vai: - Cho vàng tôi cũng không dám lên! Anh có biết ngôi miếu này thờ ai không? Tường đáp cho qua chuyện: - Một cô gái chết do tai nạn giao thông. - Không phải một, mà là hai! Tường sững sờ: - Anh nói hai... là sao? - Thì là hai người chết chứ sao! Tường nghĩ anh ta chỉ biết qua tin đồn, nên quả quyết: - Chỉ có một người. Tôi vừa gặp cô chị và cả đêm qua, tôi cũng đã gặp hồn người chết! Anh chàng Quan xanh máu mặt, bước lùi một bước, lập cập hỏi: - Anh... anh nói giỡn hả cha nội? Vừa đi về xe của mình, Tường vừa nói: - Anh có muốn gặp cô Ái Liên thì cứ xuống chân đèo sẽ được như ý! Đã từng được nghe nhiều về oan hồn cô Ái Liên, nên anh chàng Quan chắp hai tay xá xá mấy lượt: - Cho con xin đi, để con làm ăn nuôi vợ con! Anh ta làm nốt công việc khi dừng xe lại đây là đốt nén nhang cho miếu. Vừa bật quẹt lên thì quẹt lại tắt ngay, mặc dù lúc ấy trời không có gió! Anh ta hoảng khấn: - Xin cho tôi tạ lỗi, nếu có xúc phạm gì tới quý cô. Khấn xong thì việc đốt nhang của anh ta mới thực hiện được. Vừa xong là anh ta xá liền mấy cái rồi rút lui ngay. Trong khi đó thì Tường quá đỗi ngạc nhiên, không hiểu sao chiếc xe của mình lại có thể nằm gọn trong hốc đá chật chỉ vừa đủ xe nằm yên thôi, chứ lái vào thì hầu như không thể! Phải mất hơn nửa giờ, sau khi cố sức đẩy hai hòn đá to đùng để dọn đường thì Tường mới thoát ra được. Tự dưng anh buột miệng: - Cám ơn Ái Liên! *** - Kiếm ai?Tường ngỡ đó là một cụ già nên đáp: - Dạ thưa bác, cháu muốn tìm anh Trọng. Một tiếng vật rơi và đổ vỡ vang lên, hình như vật gì bị rơi ra khỏi tay của người trong kia. Rồi im lặng... Tường phải lặp lại: - Cháu có món quà của người bạn cũ muốn gửi tặng cho anh Trọng. Cửa xịch mở, một khuôn mặt ló ra, lúc ấy Tường mới giật mình, bởi đó là một phụ nữ tuổi còn trẻ, chỉ khoảng ba mươi. Anh lúng túng: - Dạ xin lỗi, tôi... tôi muốn hỏi Trọng... Vẫn giọng khàn đục ấy cô ta lên tiếng: - Ở đây không có ai tên Trọng cả, mời anh đi cho. Tường lấy hộp quà ra, lật đáy hộp lên vừa đọc địa chỉ: - Số...thôn... An Cựu đây mà! Vậy chẳng lẽ nơi này còn có một địa chỉ giống như vậy ở chỗ khác? - Nhung tôi nói là không có! Chị ta gắt lên vừa định đóng cửa lại thì chợt có một giọng nói khác vang lên: - Ai muốn tìm Trọng? Chị ta quay lại nói to như quát: - Đã bảo không được ra mà? Nhưng người đàn ông nọ đã tiến sát ra cửa, vừa nhìn thấy chiếc hộp, anh ta đã rú lên: - Ái Liên! Trời ơi ... Anh ta nhảy tới chụp lấy vật trên tay Tường và mở nó ra ngay. Trong hộp có duy nhất một mặt dây chuyền bằng ngọc xanh, mà vừa trông thấy nó thì anh chàng đã ôm vào lòng như có được một báu vật! Cô nàng giọng khàn kia gào lên: - Buông nó ra! Bộ anh muốn chết hay sao chứ! Nhưng Trọng vẫn giữ chặt lấy vừa ngửa mặt lên, thét to: - Anh gặp lại em rồi Ái Liên ơi! Anh ta vừa nói xong thì vùng tháo chạy ra ngoài đường như kẻ tâm thần. Vừa chạy vừa reo lên: - Ái Liên! Em ở đâu? Người phụ nữ định chạy theo, nhưng chị ta vấp ngã ngay ngạch cửa. Tường phải đỡ dậy, vừa hỏi: - Anh Trọng bị sao vậy, mà sao chị không cho tôi gặp anh ấy? Phải chăng... Lúc này bỗng người phụ nữ oà lên khóc nức nở. Tiếng khóc bật ra như một cách giải bớt những điều chất chứa trong lòng. Tường để cho cô ta khóc một lúc rồi mới bảo: - Phải chạy đi tìm anh ấy về thôi, không thể để Trọng chạy đi trong tâm trạng như vậy được. Tuy nhiên, nhìn cái mắt cá chân của chị ta sưng vù, Tường không nỡ bỏ đi, phải dìu chị ta vào nhà. Bất chợt, chị ta hỏi: - Anh là gì của cô Ái Liên. Phải chăng... Tường đáp mà không suy nghĩ: - Tôi vừa gặp cô ấy và từ chỗ cô ấy về đây. Người phụ nữ dù đang đau cũng phải chống tay lùi mấy bước, miệng lắp bắp: - Anh... anh là... là... oan hồn! Rồi không để Tường nói, chị ta chắp hai tay lại xá liền mấy cái, vừa van lơn lia lịa: - Xin đừng giết tôi! Xin để tôi nói, tôi sẽ nói.... Tường còn đang ngơ ngác thì chị ta đã sụp xuống lạy sát đất, vừa tuôn ra những lời mà người nghe đi từ ngạc nhiên này đến sửng sốt khác: - Năm đó vì quá ghen nên tôi đã cho người phá gần hỏng thắng xe chở chị em Thuỳ Liên, Ái Liên đi. Quả nhiên khi xe qua đèo, vừa đổ dốc thì tai nạn xảy ra, cả chiếc xe lao xuống vực sâu! Tôi chỉ chủ tâm giết mỗi Ái Liên thôi, bởi nó là người yêu của chồng tôi, nó cướp tình yêu bấy lâu Trọng dành cho tôi! Không ngờ liên luỵ đến cả con chị nó nữa. Từ khi bay tin hai đứa nó chết ở đèo Cả, tôi đã nhốt chặt Trọng trong nhà, không hề cho đi ra ngoài, chỉ sợ anh ấy biết chuyện. Mãi vừa rồi khi anh đem món quà tới thì mọi việc mới lộ ra. Bây giờ tôi hối hận quá, xin anh đừng bắt tôi về, tôi sợ gặp Ái Liên lắm, cô ấy sẽ giết tôi mất! Tường biết chị ta nhầm mình cũng là một oan hồn, nên anh hỏi: - Lâu nay chị chưa gặp oan hồn của Ái Liên lần nào? - Dạ chưa. Chỉ có nằm mơ thấy thôi. Mà lần nào cô ấy cũng xoã tóc đứng nhìn tôi. Mặt mày cô ấy đầy những máu... - Bây giờ chị mới hối hận sao? - Không, tôi đã sống trong nỗi hối hận từ lâu nay, đêm nào tôi cũng gào khóc, van xin cô ấy tha tội cho. Bởi vậy giọng tôi bị khàn đục như anh thấy đây... - Thế chị biết gì về cái mặt dây chuyền ngọc bích lúc nãy? Chị ta gật đầu: - Đó là kỷ vật mà Trọng đã tặng cho Ái Liên. Cô ấy đeo nó lúc chết, nên vừa nhìn thấy là Trọng nhận ra ngay! - Bấy lâu nay sao Trọng chịu giam mình trong nhà này? - Trọng điên! - À, thì ra thế.... Lúc ấy, có lẽ sau những lời thú tội quá căng thẳng nên chị ta gục ngay xuống đó ngất đi. Tường lắc đầu rồi lặng lẽ quay bước... *** Bốn ngày sau, Tường trở lại đèo Cả. Khi vừa lên tới chỗ ngôi miếu thì anh vô cùng ngạc nhiên khi thấy có một ngôi mộ mới được chon bên cạnh miếu! Anh hỏi thì được một người đi bộ qua đó nói: - Cách đây mấy ngày, có một thằng cha giống như điên, leo từ dưới dốc lên tới đây rồi cứ đứng trước miếu vừa khóc vừa kêu tên ai đó... rồi đập đầu vào vách núi mà chết! Tường bị kích động: - Có biết anh ta kêu tên gì không? Người kia lè lưỡi rồi nói: - Lại kêu đúng tên mà dân ở đây ai cũng huý kỵ, đó là... Anh ta không dám nói ra, Tường phải tiếp: - Ái Liên! Anh ta rùn vai sợ hãi, vừa bước đi như chạy xuống chân đèo. Tường lẩm bẩm: - Họ đã gặp nhau rồi. Ơn trời... Tường thấy ai còn để lại bó nhang chưa đốt, anh châm lửa đốt ba cây nhang vừa khấn: - Anh đã làm giúp em điều mà em muốn. Cầu cho hương hồn em siêu thoát... Anh vái xong thì đi bộ lên núi như lần trước. Nhưng lên đến nơi thì chỉ thấy ngôi nhà lá trống không, chẳng có bóng dáng của Thuỳ Liên. Đứng tần ngần rất lâu, cuối cùng Tường đi trở xuống núi. Vừa đi anh vừa nói thầm: - Không biết là cô có còn sống hay đã là oan hồn, chỉ xin cô nhận cho Tường này lời cám ơn. Chính cô đã cho tôi biết thế nào là giá trị đích thực của tình yêu. Tôi xin hứa, mỗi lần qua đây sẽ thắp cho cô và Ái Liên một nén nhang... Tường chạy xe xuống đèo, và có ý định một lần nào đó nếu có dịp đi ngang qua đây vào ban đêm, thế nào anh cũng ghé lại chỗ đã ăn cháo, dù biết đó là khu nghĩa địa bỏ hoang... Goá Phụ Tuổi 17 -Phần 1 Vừa cưới nhau được hai mươi ngày thì một tin sét đánh đến với cô dâu trẻ Hà Thanh. Cô nhận điện tín báo rằng người chồng đang làm việc ở một nhà máy xa đã bỗng nhiên mất tích trong một vụ tai nạn nổ bình hơi. Người ta đoán Vượng, chồng của Hà Thanh bị chôn vùi dưới đống đổ nát. Khỏi phải nói Hà Thanh đau khổ đến cỡ nào. Cô chết ngất nhiều lần từ sau khi nhận được tin, và cứ đòi đi ra hiện trường ngay lúc nửa đêm, mặc dù từ nhà ra đó đến gần một ngàn cây số! Chiều ngày hôm sau, Hà Thanh và bà mẹ chồng mới ra tới nơi. Nhưng chỉ mới tới thị xã, muốn đi vào hiện trường, một nhà máy khai thác vàng, thì phải ngồi xe thồ hơn 5 giờ nữa. Đến hơn 9 giờ tối hôm đó, hai mẹ con mới tới được công ty khai thác vàng Vạn Phong, nằm giữa rừng già. Người ở công ty đón tin Hà Thanh tới bằng một thái độ dè dặt, khiến hai mẹ con lấy làm lạ. Hỏi một bác tài lái xe về hiện trường thì anh ta có vẻ không hào hứng lắm: - Ra hiện trường phải đi mất nửa buổi, mà bây giờ thì tối quá rồi, chẳng làm cách nào đi được. Bà mẹ của Vượng sốt ruột: - Tôi không thể chờ đợi đến sáng mai được. Nếu các anh không đưa tôi đi thì cho tôi mướn ai đó dẫn đường, chúng tôi đi bộ cũng được! Hà Thanh cũng nói: - Giá nào chúng tôi cũng phải ra đó ngay đêm nay! Họ phải đi báo ngay cho ban giám đốc và một lệnh được ban ra: - Không cho đi. Bởi đây là khu vực cấm đi lại ban đêm! Và hình như họ cũng ra lệnh cấm mọi nhân viên không ai được giúp mẹ con Hà Thanh. Bà Dung, mẹ Vượng bàn riêng với con dâu: - Mình đợi họ ngủ rồi lén ra nhà dân gần đây, mướn họ dẫn đi. Và họ đã được toại nguyện. Khoảng mười giờ đêm hôm đó, bà Dung và Hà Thanh đã lần tới được một nhà dân gần đó. Sau khi hỏi thăm, họ được chủ nhà nhiệt tình cung cấp thông tin: - Chỉ duy nhất ông kỹ sư Vượng là còn kẹt dưới đó. Đã có năm người khác được đưa ra khỏi, ba người chết, hai người sống. Nhưng chẳng biết sao từ trưa đến giờ, trong nhà máy lại ngừng hoàn toàn cuộc tìm kiếm người còn mất tích đó? Càng nghe kể, mẹ con Hà Thanh càng khóc dữ. Nhất là Hà Thanh, cô gào lên: - Họ giết chồng con rồi! Biết đâu nếu tích cực tìm kiếm, thì anh Vượng có cơ may còn sống sót! Bà Dung đề nghị thẳng: - Có ai ở đây đưa chúng tôi vào chỗ đó, tôi trả cho hai chỉ vàng? Một người trong nhà tình nguyện: - Tôi không lấy tiền, vàng của bà. Chỉ vì bức xúc nên tôi sẽ đưa bà và cô đây đi vô điều kiện. Chỉ có điều đường đi hơi cực, sợ e... Cả bà Dung và Hà Thanh đều cả quyết: - Cực mấy, khó mấy chúng tôi cũng đi! Có hai người đàn ông dẫn đường, và họ đã đi ngay sau đó. Trên đường đi, một người dẫn đường tiết lộ: - Nghe nói trước ngày xảy ra tai nạn thì giữa kỹ sư Vượng và nhóm người trong ban giám đốc đã xảy ra một cuộc cãi vã dữ dội lắm. Kỹ sư Vượng là người đứng về phía công nhân, phản đối chuyện tăng ca và bắt công nhân phải lao động ở hầm sâu mà không có các phương tiện bảo hộ. Cuộc cãi vã dẫn tới cuộc đình công hai ngày liền. Bữa bị tai nạn là bữa làm việc đầu tiên sau đình công. Kỹ sư Vượng đang xuống tận hầm sâu thu thập chứng cớ để phản đối ban giám đốc không cho mạng sống người lao động. Lúc đang làm việc dưới đó thì hầm sụp, kỹ sư Vương và gần chục công nhân bị mắc kẹt lại. Tới nơi, nhìn hiện trường còn ngổn ngang gạch đá, bà Dung kêu trời: - Làm việc trong điều kiện như vậy bảo sao không xảy ra tai nạn! Cũng tại con tôi cả sao lại đi làm ở một nơi xa xôi, hiểm trở và nguy hiểm như thế này! Bà khóc khiến cô con dâu cũng khóc theo. Hai người dẫn đường khuyên: - Lúc này mà khóc lóc thì chẳng giải quyết được gì, chỉ làm rối thêm mà thôi. Bây giờ bà và cô muốn ngủ lại đây hay là về rồi mai vào lại? Bà Dung cương quyết bảo: - Cứ ngủ lại. Ngủ ngồi ngủ đứng gì cũng được! Hai người dẫn đường nói: - Chúng tôi có một lán trại ở gần đây, bà và cô có thể tới đó ngủ tạm, tuy không tiện nghi, nhưng cũng đủ ấm. Cám ơn hai người tốt bụng, bà Dung động viên con dâu: - Ráng chịu đựng con! Hà Thanh siết chặt tay mẹ chồng, trấn an bà: - Con chịu được, chỉ sợ má... Bà Dung ôm con dâu vào lòng: - Tội nghiệp con dâu tôi, mới ngần này tuổi mà đã... Bà ngừng nói, bởi biết hễ nói thêm thì hai mẹ con lại khóc nữa. Khi về tới lán trại thì hai người đàn ông nói để họ an tâm: - Hai người cứ ngủ yên bên trong. Tụi tôi sẽ ở ngoài này ngồi uống rượu, hút thuốc chờ sáng, vừa để canh phòng. Bà Dung nằm ôm chặt Hà Thanh vào lòng, đến lúc này hai mẹ con mới khóc. Sự dồn nén nãy giờ đã được dịp trào ra. Nhất là Hà Thanh, cô khóc to đến nỗi những người ở ngoài cũng nghe được. Họ định ngăn cô lại, nhưng thương cảm, nên họ cứ để cho cô khóc. Đêm khuya dần... Bên trong tiếng khóc đã dứt, có lẽ quá mỏi mệt nên hai người đàn bà đã ngủ say... Hai người dẫn đường đã nhậu đến hơn nửa chai, một người nói: - Thôi, uống quá thức không nổi! Họ là dân đi rừng chuyên nghiệp, nên chuyện thức trắng hoặc ngủ ngồi giữa rừng là chuyện thường tình. Tuy nhiên hôm nay thì lại khác, khi ngừng uống bỗng một người nói: - Anh thấy sao Văn Hai? Chớ tôi sao... chóng mặt quá, đầu lại nhức như búa bổ! Người được gọi là Văn Hai giọng lè nhè: - Hồi nãy anh lấy chai rượu ở đâu vậy, Lý Mật? - Thì lá ở chỗ mình hay giấu rượu... Văn Hai hình như phát hiện ra điều gì đó, anh ta kêu lên mà không còn kêu nổi, chỉ lắp bắp: - Bị... bị... tụi nó... Rồi anh ta ngã lăn ra. Anh chàng tên Lý Mật cũng chẳng còn đứng vững nữa, ngã nhào theo. Vừa khi ấy có bốn người xuất hiện. Họ trùm kín mặt mày và chỉ nghe họ nói rất khẽ: - Lôi hai thằng này ra trói ngoài bụi kia, nhớ bịt miệng chúng lại? Hai tên thi hành ngay. Còn lại hai tên thì hất hàm bảo nhau: - Tính luôn hai con trong kia! Hai tên bước nhanh vào trong, nơi mẹ con bà Dung đang nằm ngủ. Không có đèn, nên chúng phải mò mẫm... Tuy nhiên, có lẽ đã quá quen với lán trại này, nên một trong hai tên đã rất nhanh tay, chụp ngay một người đang nằm, cho lên vai và chạy nhanh ra ngoài. Tên còn lại cũng làm như vậy, vác nốt người đang nằm ngủ kia. Không có một phản ứng nào. Ra tới một vạt rừng thưa, hai tên kia đặt hai người trên vai xuống. Nhờ ánh trăng vừa lên ngay đỉnh đầu, nên bọn chúng có thể nhìn rõ mặt hai người đang nằm dưới đất. Cả hai bỗng kêu thét lên: - Trời ơi! Rồi cả hai tên đều ngã lăn ra, bất động, có lẽ do quá sợ hãi! Trời đêm sáng dần... Gà gáy rộ ở chung quanh... Mặt trời đang lên... Khi trời sáng hẳn thì lại có đến gần chục tên khác kéo tới. Đi đầu là hai tên giám đốc và phó giám đốc công ty khai thác vàng. Hình như đã biết rõ những chuyện xảy ra đêm hôm trước, nên cả bọn đều kéo thẳng đến chỗ hai tên nọ vác người bỏ xuống. - Cái gì đây anh Tám ơi? Một tên thủ hạ thét lớn khi về nhìn thấy bốn người nằm im dưới đất. Mấy tên đầu lĩnh bước tới rất nhanh và chúng nhận ra ngay hai tên bịt mặt là thủ hạ của mình và hai cái xác đã gần rã thối! Người được gọi là anh Tám cũng phải bước thối lui và kêu lên thật thanh: - Sao có chuyện này tụi bay? Trước mặt họ hai cái xác kia hoàn toàn không phải là mẹ con bà Dung! Một tên thủ hạ nhận ra: - Đây là hai công nhân còn bị chôn vùi cùng với thằng kỹ sư Vượng đây anh Tám! Tám Thế, tên giám đốc hét bọn chúng: - Đi tìm coi hai đứa đàn bà kia ở đâu. Đồ ăn hại, bảo làm có chút việc mà cũng không xong! Bọn chúng chạy trở vào lán trại tìm thì chẳng thấy ai. Chạy ra ngoài rừng, chỗ hai người dẫn đường bị trói cũng chẳng hề thấy bóng dáng họ đâu... Tám Thế rụng rời cả chân. Linh tính báo cho hắn một điều chẳng lành... Phải mất gần một tiếng đồng hồ sau Tám Thế mới hoàn hồn và giục bọn thủ hạ kéo xác về, hắn thì nhanh chóng trở lại văn phòng công ty. Rồi từ đó tới hết giờ làm buổi chiều, hắn ở miết trong phòng làm việc, không bước ra ngoài. Hắn gọi mấy tên thủ hạ đi làm nhiệm vụ đêm qua, nghe chúng tường trình chuyện đã xảy ra. Một tên quả quyết: - Dạ, tụi em đã cho thuốc mê vào rượu, khiến cho hai tên dẫn đường nhiều chuyện phải gục tại chỗ. Sau đó tụi em khiêng nó ra ngoài, trói lại bỏ đó, rồi hai thằng Mạnh và Hợi tiến vào trong lán, vác hai con đàn bà còn say ngủ kia ra đúng nơi anh Tám dặn. Nhưng vừa lúc ấy nhờ có ánh trăng, nên bọn em nhìn rõ mặt thì ra... không phải là họ! Tụi em sợ quá nên... nên... Thấy chúng ấp úng, Tám Thế thuận chân đá cho mỗi đứa một đá, khiến cả bốn đứa ngã lăn cù. - Cút hết đi, đồ ăn hại! Sau khi bọn thủ hạ rút hết rồi, Tám Thế bóp trán suy nghĩ. Hắn chẳng thể nào hiểu nổi tại sao cả bọn kia đều thoát được màn bủa vây của hắn? Hay là có ai đến giải thoát chúng? Nghĩ mãi không ra, hắn tự càu nhàu: - Về nhà thôi. Mai tính... Tám Thế theo thói quen, cứ mỗi chiều sau giờ làm là về nhà ở gần công ty vàng. Bữa nay cũng vậy, hắn tự lái chiếc xe jeep qua vạch rừng thưa để về nhà, nơi có vài chiến hữu của hắn đang đợi với bữa nhậu thịt nai mới săn hứa hẹn linh đình... Vừa qua khỏi tàn cây cổ thụ, chợt hắn nghe có người gọi to: - Anh Tám! Ghé chơi có chút việc anh Tám! Tiếng kêu phát ra từ căn chòi của tên thủ quỹ thân tín mà đáng lẽ bữa nay cũng có mặt trong bữa tiệc tại nhà hắn. Ngạc nhiên về sự vẫn còn có mặt của tên thuộc hạ ở nhà, Tám Thế dừng xe và hỏi vọng vào: - Sao mày chưa qua nhà tao hả Võ? - Em đang định qua thì việc này quan trọng quá, nên có ý đợi anh về, gặp riêng anh một chút. Tám Thế bực mình: - Có chuyện để mai tính đi mày, anh em người ta đang đợi ở nhà tao. Nhưng tên Võ vẫn cứ nằn nì: - Chuyện liên quan đến tiền bạc, không để mai được. Mình bị mất đến vài trăm lượng vàng trong vụ này, anh bảo trì hoãn được không? Nghe tới mất tiền là Tám Thế rung động liền, hắn quẹo ngay xe vào và hỏi tới: - Làm sao mất? - Thì anh vào nhà đi, em sẽ trình bày. Tám Thế nhảy ngay xuống xe và đi trước cả chủ nhà. Chợt nhìn thấy một người đang ngồi sẵn trong nhà, quay lưng ra ngoài, Tám Thế khựng lại hỏi: - Ai vậy mày? Võ vừa đáp vừa bước hẳn vào nhà trong: - Người ta đang đợi anh đó! Người đàn ông quay lại và Tám Thế như chết điếng: - Kỹ sư Vượng! Trong lúc Vượng vẫn ngồi yên thì Tám Thế quỳ ngay xuống trước mặt anh, miệng chỉ ú ớ chứ không phát thành lời. Rất chậm rãi, Vượng từ từ đứng lên bước nhẹ về phía Thế, miệng nở nụ cười héo hắt và từ trong miệng ứa ra một dòng máu tươi tràn đầy khoé môi... Tám Thế run lên, cố lắm mới thốt thành lời: - Không... không phải tôi... không phải... Vượng lặng lẽ đứng khoanh tay trước mặt Tám Thế, miệng há ra, cho Tám Thế thấy trong miệng đó không có răng, cũng không có lưỡi! - Tôi... tôi... Tám Thế chỉ nói được mấy tiếng đó rồi lịm đi... Việc Tám Thế đột ngột mất tích đã gây xôn xao toàn công ty khai thác vàng. Người ta tìm thấy chiếc xe jeep của hắn ta tại nhà thủ quỹ Võ, nhưng cả anh chàng này cũng không cánh mà bay. Hôm đó hầu như toàn bộ ban giám đốc đều tập hợp tại nhà Tám Thế, bởi vậy khi xảy ra chuyện thì họ đều hay và tức tốc đi tìm. Tư Qui phó giám đốc, sau một hồi suy nghĩ đã nói: - Tốt hơn hết, chúng ta nên ai về nhà nấy để chờ động tĩnh. Vụ này tôi nghi có chi không ổn đây... Bản thân Tư Qui vừa trên đường về nhà vừa hoang mang. Hắn như có linh tính gì đó.... Khi mới bước chân vào nhà hắn đã ngờ ngợ... nhưng không lẽ nhà mình mà không vào? Tư Qui vừa vào tới phòng khách đã cất tiếng hỏi: - Giờ này tối mịt sao không đốt đèn lên tụi bay. Hắn đưa tay bật đèn và há hốc mồm khi nhìn thấy trước mặt mình một người treo cổ lơ lửng giữa nhà! - Trời ơi, thằng Vượng! *** Sáu Kế, một phó giám đốc khác, trấn an vợ Tư Qui:- Bây giờ không còn gì để sợ nữa. Thằng kỹ sư Vượng sau khi thành ma hiện hình chẳng làm được gì, và rồi treo cổ chết trở lại rồi. Tôi đã cho người chôn nó ở thật xa, rước thầy mo ếm mả nó không cho nó về nữa! Vợ Tư Qui vẫn chưa hết sợ: - Chẳng biết thằng kỹ sư đó đã làm gì ông Tư Qui mà từ đêm qua tới giờ, sau khi về nhà ông như người mất hồn. Cứ lâu lâu lại giật mình chới với rồi hét lên như người điên! - Chẳng qua anh ấy sợ hãi thôi. Thật ra ai mà không sợ trước một người chết hiện hồn về! Vợ Tư Qui hỏi thật khẽ: - Bộ thằng Vượng đã chết trước đó hả? Sao nói nó còn kẹt trong hầm vàng? Sáu Kế cũng thấp giọng như sợ có người nghe: - Chuyện này đúng ra chỉ có tụi này biết thôi. Thằng Vượng đã chết rồi, nhưng không phải chết trong hầm, mà là... Vừa lúc ấy, có tiếng gọi ở ngoài: - Có nhà không thím Tươi? - Bà Tám Thế! Vợ Tư Qui mừng rơn, bởi đang bấn mà gặp được đồng minh tới, nên bà ta chạy ào ra cửa đón người phụ nữ quyền lực nhất của công ty vào: - Vào đây chị, em đang muốn tìm chị đây, may quá! Thấy cả Sáu Kế cũng có mặt, vợ Tám Thế nói liền: - Mấy ông làm ăn thế nào mà để xảy ra tùm lum chuyện. Rồi chồng tôi mất tích mà cũng chẳng thấy cha nào đi tìm kiếm hết là sao? Không lạ với tính đanh đá dữ dằn của mụ ta, nên Sáu Kế phải xuống nước nhỏ: - Tụi này đã nhờ người đi tìm rồi, riêng tôi với Tư Qui vừa chuẩn bị đi thì xảy ra chuyện thằng Vượng... Vừa nghe tới tên Vượng thì mụ Lệ, vợ Tám Thế giật bắn lên: - Thằng... thằng Vượng cũng... cũng tới đây sao? Nhung, vợ Tư Qui ngạc nhiên: - Chị Tám sao vậy? Mụ Lệ chưa hết run: - Nó... nó cũng tới nhà tôi nữa! Sáu Kế hỏi lại: - Khi nào? - Mới sáng sớm này! - Không thể có! Mụ Lệ trừng mắt nhìn anh ta: - Sao, ông phó giám đốc cho rằng tôi nói dối hả! Vậy thì đi với tôi, về nhà tôi chôn giùm cái xác của nó! Sáu Kế hốt hoảng: - Xác của ai? - Thì của thằng kỹ sư mà các ông đã giết hại đó! Nhung vợ Tư Qui muốn đứng tim trước tin đó: - Sao... sao lại như vậy ông Sáu? Mấy ông đã đem chôn rồi còn ếm bùa nữa mà? Sáu Kế thất thần: - Không thể nào tin được. Chính tay tôi đem chôn nó mới hồi sáng qua, vậy làm sao nó trở về liền được? Tuy thắc mắc vậy nhưng trong lòng hắn ta đã rét run, nghĩ tới một viễn cảnh bi thảm khó lường... Mụ Lệ giục: - Mấy người mau qua tiếp tôi, làm cách nào đưa cái xác đó ra khỏi phòng giùm! Tôi không tưởng tượng nổi... Rồi mụ ta thuật lại: - Đang ngủ bỗng tôi giật mình bởi có nước gì đó nhểu lên mặt. Tôi chòng dậy mở đèn lên thì chẳng còn hồn vía gì nữa, khi ngay trên trần nhà thòng xuống một cái xác mà máu từ trong miệng nó còn tuôn ra xối xả. Đó là thằng kỹ sư Vượng! Tuy sợ nhưng trước lệnh của mụ Lệ, nên Sáu Kế và bà Nhung cũng phải theo mụ ta về nhà mình. Cùng đi với họ còn có thêm vài người nữa mới huy động. Trước khi bước vào nhà, mụ Lệ còn dặn: - Dùng cái mền lớn tôi đã để sẵn dưới sàn bao xác nó lại rồi đưa đi ngay, đừng để cho tôi thấy! Mấy người kia rụt rè bước vào phòng... - Đâu rồi? Từ trong, giọng của Sáu Kế vọng ra. Mụ Lệ hét lên: - Sờ sờ đó, bộ mấy người mù sao chứ! Cả vợ Tư Qui cũng nói ra từ trong phòng: - Có thấy gì đâu? Khi mụ Lệ đích thân bước vào thì mụ ta ngơ ngác: - Ủa... sao lại... Chẳng còn thấy cái xác nào hết! Chỉ còn sót lại trên nệm giường một vài giọt máu. Vừa ngượng vừa tức, mụ Lệ hét tướng lên: - Ai ở nhà đã đưa xác đi đâu? Nhưng nhà mụ ta lúc ấy đâu có người nào khác! Cuối cùng, mụ ta ngồi bệt xuống sàn, bắt đầu rơi vào trạng thái suy sụp. Giọng mụ mất đi sự đanh đá: - Ông Tám ơi, ông gây ra chi những việc rắc rối này để tôi phải chịu đựng, làm sao tôi sống nổi! Vợ Tư Qui đồng cảm nên hai người ôm nhau rên rỉ: - Chắc phải bỏ đây mà đi quá. Ai mà chịu nỗi cảnh cứ nhìn thấy xác chết như thế này hoài, hở trời! Sáu Kế cũng bắt đầu dao động, tuy nhiên hắn ta cáo già hơn nên làm bộ như đau bụng, hắn bước ra ngoài và nói: - Tôi đi ra ngoài này giải quyết chuyện. cái đã. Rồi hắn ta bỏ đi luôn, để mặc cho hai mụ đàn bà ôm nhau mà run! Quả Báo- Phần 2 Chiều hôm đó, người ta phát hiện xác của Sáu Kế nằm ở bìa rừng, gần một cái hồ huyệt còn bỏ trống. Khi mấy tên thủ hạ chạy tới thì chúng vô cùng sửng sốt, một tên nói: - Cái huyệt này do ông Sáu sai đào để chôn xác ông kỹ sư Vượng mà? Chẳng biết là do ngẫu nhiên hay trời xui khiến, sau đó đám thủ hạ cũng dùng hố huyệt đó chôn xác của phó giám đốc Sáu Kế! Khi bà vợ hắn ta hay được, có phản đối, nhưng đã lỡ chôn rồi không lẽ lại đào lên? Công ty khai thác vàng có một giám đốc, hai phó giám đốc, nhưng một người thì mất tích, một người chết, còn lại Tư Qui thì điên lọan! Do đó, công việc cứ rối tung lên. Không khí nghi ngờ, bàn tán xôn xao cả công ty. Lại thêm vụ sập hầm vàng mấy hôm trước vẫn giải quyết chưa xong... Có người ngại: - Công ty giờ như rắn mất đầu, biết làm ăn ra sao? Nhưng có một người khác lại nói ngược lại: - Không còn mấy cha trong ban giám đốc không chừng lại dễ làm ăn hơn. Bởi có họ chỉ tổ làm cho công việc thêm rắc rối với nhiều âm mưu tranh giành, bòn rút! Người nói chính là một trong hai người dẫn đường cho mẹ con bà Dung bữa trước. Anh ta nói thêm: - Trong vụ kỹ sư Vượng bị mất tích vẫn còn nhiều nghi vấn, tại sao ông ấy chết mà xác không có trong hầm? Nhắc tới đây, mọi người nhao nhao lên: - Mấy bữa nay cứ lu bu hết chuyện này đến chuyện kia, mình quên để ý, vợ và mẹ kỹ sư Vượng đâu? Họ vừa tới đây bữa chiều đó rồi biến mất luôn. Có khi nào... Cuộc bàn tán cứ lan ra dần. Đến chiều thì cả công ty lại càng xôn xao nhiều hơn, khi có tin sáng mai sẽ có đoàn thanh tra về để thanh tra những khuất tất tại đây. Lúc còn đang hoang mang thì lại có tin dữ: Đã tìm thấy người cuối cùng còn mắc kẹt dưới hầm! Ai cũng ngỡ là Vượng, nhưng sau đó lại ngẩn người ra, bởi đó lại là một người rất lạ, mà anh ta lại còn sống sau ba ngày kẹt dưới hầm tối? Khi được kéo lên, sau hơn một giờ cấp cứu thì anh ta tỉnh lại. Ban đầu hỏi anh ta là ai thì anh ta nhất định không nói. Mãi sau khi trưởng ban bảo vệ hăm he và doạ giao cho cảnh sát thì anh này mới chịu khai: - Tôi được ông Tám giám đốc mướn về đây để thi hành một nhiệm vụ... Những dấu hiệu khả nghi đã dần lộ ra, nên Hai Chiến, trưởng ban bảo vệ chụp lấy ngay: - Làm nhiệm vụ gì phải nói ra ngay, nếu không tụi tôi giải ra đồn cảnh sát bây giờ! Tên nọ cuối cùng phải nhận tội: - Ông Tám Thế trả tôi hai triệu đồng, bảo phải tìm cách đưa một người vào trong này rồi khoá cửa hầm lại. Tuy nhiên, người mà tôi sắp hại lúc đi nửa đường đã vùng chạy và sau đó hình như là bị nhiều người của ông Tám Thế bắt lại và đưa đi nơi nào đó, chứ không xuống hầm vàng. Còn tôi thì đã lỡ vào trong ấy rồi, trong lúc chưa kịp ra thì hầm bị sập, tôi kẹt lại đó cho tới nay... Ai đó nói sau lưng mọi người: - Hành động đó là để thủ tiêu đầu mối đó! Không biết là ai nói, mọi người dồn mắt nhìn về tên thủ ác, bất ngờ hắn gào lên: - Nói đúng đó! Mấy bữa nằm dưới hầm tôi mới nghĩ ra là mình bị lừa rồi, họ định thủ tiêu tôi luôn! Tôi nhớ ra rồi, người mà họ bảo tôi thủ tiêu là ông kỹ sư tên là Vượng gì đó! Ai đó lại nói: - Mấy người có tin là ông Vượng đã hiện hồn về chưa? Đám người này là công nhân, nên không hề hay tin diễn ra trong nhà của các thành viên ban giám đốc, họ sửng sốt: - Có chuyện đó sao? Bảy Sự, một tài xế lâu năm của giám đốc Thế cũng góp chuyện: - Chuyện ông Tám mất tích nghe nói cũng liên quan tới vụ kỹ sư Vượng. Nghe nói cái chết của Sáu Kế cũng dính tới nữa. Người nhà của Tám Thế nói họ thấy rõ ràng kỹ sư Vượng... treo cổ trong phòng bà Lệ! Trước những thông tin như vậy càng gây cho mọi người hoang mang hơn. Vài người nói: - Nếu vậy khi đoàn thanh tra đến thì lắm chuyện rắc rối! Sáng ngày hôm sau... Công nhân nào vào ca làm việc thì cứ đi làm, riêng ai chưa tới ca thì được triệu tập hết tại hội trường của công ty để nghe đoàn thanh tra làm việc. Người họ mời đầu tiên dĩ nhiên là Tám Thế. Khi nghe tin Tám Thế đã vắng mặt mấy ngày rồi thì một thanh tra viên có nhận xét: - Có thể ông ta muốn tránh trách nhiệm. Khi gọi đến Sáu Kế phó giám đốc thì ai nấy đều giật mình khi được biết ông này đã chết được hai hôm! Hỏi Tư Qui thì một người nói: - Ông ta phát điên đang bị nhốt ở nhà! Vị trưởng đoàn thanh tra hạ lệnh: - Bằng mọi cách, hãy đưa ông ta tới đây. Bởi ít ra cũng phải có một người trong ban giám đốc trả lời thanh tra chứ. Hai bảo vệ công ty được phái đi tới nhà Tư Qui. Tuy nhiên, họ chưa đi thì Tư Qui xuất hiện. Anh ta tiến thẳng về phía bàn của đoàn thanh tra, hất hàm nói kiểu ra lệnh: - Đi theo tôi! Các thanh tra viên dĩ nhiên không thể nghe lời, họ nghiêm giọng: - Mời anh ngồi xuống ghế và nghe thanh tra hỏi! Chẳng những không nghe, mà Tư Qui còn quay lưng đi và ra lệnh hẳn hoi: - Đi nhanh kẻo không kịp! Hắn ta cứ băng băng đi mặc cho những tiếng gọi giật lại từ phía sau. Chẳng còn cách nào hơn, cả bốn người trong đoàn thanh tra phải đứng dậy chạy theo. Cả một đám công nhân cũng tháp tùng. Họ được dẫn tới một nơi mà khi nhìn thấy, các công nhân đã nhao nhao lên: - Hang quỷ! Đấy là cái hang động bỏ hoang, là hang ổ của dơi, chim, rắn rết. Hầu như không có bước chân người ra vào. Vậy tại sao Tư Qui lại dẫn tới chỗ này? Chưa ai kịp hỏi thì Tư Qui đã nói lớn: - Bằng chứng là ở trong đó! Các ngài khỏi cần thanh tra chi cho mất công, cứ bước vào hang ắt rõ mọi việc! Các thanh tra viên vẫn còn lưỡng lự thì Tư Qui đã xông vào trước. Hang động tối đen như mực, bỗng có người hô lớn: - Chờ đốt đuốc đã! Anh ta quơ đại một mớ củi nhỏ rồi dùng dây cỏ khô cột lại thành một bó đuốc. Nhờ vậy đoàn người có đuốc dẫn đường, bước đi được dễ dàng. Vào không xa lắm thì mọi người phải giật mình dừng lại. Bởi trước mặt họ là một người bị treo cổ lủng lẳng giữa động. Nhìn kỹ, một người kêu lên: - Là Tám Thế! Ai cũng nhận ra đúng là giám đốc Tám Thế đang treo mình trên không trung, thân xác đã cứng đờ? Nhưng chưa hết, khi nhìn xuống dưới đất thì có thêm ba người nữa đang nằm bên nhau, hai người bị trói là đàn bà, còn người kia là... kỹ sư Vượng! Không tin vào mắt mình, mọi người nhao nhao lên: - Sao họ cùng ở đây? Một thanh tra viên bước tới mở trói cho hai phụ nữ thì mọi người mới phát hiện đó là vợ và mẹ của Vượng! Họ bất tỉnh, phải đưa ra ngoài cứu chữa một lúc sau mới tỉnh. Phải mất hơn ba mươi phút, bà Dung mới vừa khóc vừa kể: - Chẳng biết sao chúng tôi lọt được vào hang. Khi tỉnh lại, mẹ con tôi nhìn thấy thằng Vượng đang bị treo cổ chết tự lúc nào rồi trong đó. Khó khăn lắm chúng tôi mới gỡ được nó xuống và định đưa ra ngoài để đem về mai táng. Nhưng không được, xác con tôi tự dưng nặng đến không thể lay chuyển được. Nên mẹ con tôi đành ở đó với nó, chờ xem có ai tới để mà kêu cứu. Bất chợt có cái ông gì mà tôi nhớ khi tới đây chúng tôi có gặp, ông ấy là giám đốc công ty. Ông chạy tới như bị ma đuổi và quỳ mọp xuống trước xác thằng Vượng lạy lấy lạy để vừa van xin tha tội! Tôi còn chưa biết gì thì bỗng dưng trên trần hang có một sợi dây thòng xuống, lay động như một con rắn, rồi xoắn lấy thân thể của ông ấy kéo lên cao. Lão ấy vùng vẫy nhưng vẫn không thoát, cuối cùng bất động cho tới hôm nay... Bất chợt Tư Qui nói với mọi người: - Hãy kéo Tám Thế xuống. Dẫu sao ông ta cũng đã chết rồi. Mọi người lại kéo trở vào hang, lần này một người công kênh người nữa mới đứng lên ngang với sợi dây thòng lọng. Hai người nữa ở dưới đỡ hai chân xác Tám Thế, rồi một người hô to: - Chặt dây! Sợi dây thòng lọng vừa được chặt đứt thì thật bất ngờ, máu từ trong đó vọt ra có vòi! - Một con rắn! Thì ra sợi dây treo cổ Tám Thế là một con rắn cực to! Đến khi bị chặt đứt mà thân thể nó còn vùng vẫy dữ dội! Mẹ con bà Dung lúc này mới sợ đến toát mồ hôi. Hà Thanh nói khẽ với mẹ chồng: - Sao hai hôm nay nó không hại mình hả mẹ? Bà Dung ngồi xuống bên xác con trai, giọng bà cũng hạ thấp giọng: - Có nó che chở cho mình. Các thanh tra viên cho người mang cả xác của hai người về, nhưng riêng xác của Vượng thì chẳng ai nhấc lên nổi! Hà Thanh lên tiếng: - Mọi người hãy ra ngoài hết, để tôi xin phép chồng tôi đã. Lát sau, khi mọi người ra ngoài hết rồi, Hà Thanh chỉ nhẹ chạm vào cái xác của Vượng, lập tức nó gần như bay là đà trên mặt đất. Với thân thể ốm yếu như Hà Thanh mà đem được cái xác lúc nãy bốn người chuyển không nổi, khiến mọi người trố mắt nhìn! Bà Dung vừa khóc vừa nói: - Con tôi chết oan, nên nó linh lắm. Tối qua nó đã hiện về bảo rằng nó phải vạch tội được bọn người đục khoét của công ty tại đây thì mới chịu ở yên dưới mồ! Tư Qui nhớ lại chuyện đã xảy ra, hắn ta bỗng quỳ xuống bên xác của Vượng, van xin: - Tôi cũng có nhúng tay vào chuyện này, anh. Nhưng thật ra tất cả là do Tám Thế và Sáu Kế, hai người đó âm mưu hại anh chết chỉ vì anh là người biết việc bòn rút vàng khai thác được đem bán ra ngoài. Chúng muốn trừ khử hết mầm họa để dễ thao túng nơi đây. Tôi hèn nên không dám đứng về phía lẽ phải, và đã vô tình khiến anh phải chết. Việc bắt mẹ và vợ anh đem vào hang trói lại là do tôi làm. Đúng ra thì họ đã bị giết chết, nhưng tôi không nỡ nên trói lại bỏ đó. Xin anh lượng thứ cho tôi... Anh ta bất thần lao đầu vào khối đá to trước mặt. Nhưng cũng may, chính bà Dung đã kịp ngăn lại bằng cách chụp anh ta kéo lại. Giọng bà buồn nhưng đầy nhân hậu: - Không thể lấy cái chết này bù cho cái chết kia được. Con tôi đã không may chết rồi, cậu này tuy có nhúng vào tội ác, nhưng cũng chưa đến đỗi táng tận lương tâm. Vậy cậu hãy sống mà kiểm điểm lại lương tâm mình. Bà đứng lên nói lớn: - Xin quý vị cho chúng tôi yên trong một buổi. Chúng tôi muốn tự tay thiêu xác con mình rồi đem về quê nhà. Chúng tôi cũng không muốn làm khó dễ gì ai. Việc gì đã qua cho qua... Hà Thanh im lặng ngồi bên xác chồng. Thỉnh thoảng cô nấc lên... *** Việc Hà Thanh bất ngờ có thai ngoài bản thân cô ngạc nhiên, mà bà Dung cũng không tin nổi!Hà Thanh thú thật: - Con mới có... cách vài ngày trước khi hay tin anh Vượng mất, vậy làm sao có thể... Vốn tin tưởng cô con dâu, nên bà Dung cũng quả quyết: - Không thể có được! Vậy mà khi đi khám, bác sĩ xác nhận rằng Hà Thanh đã mang thai được hai tháng! Ray rứt, hoang mang, nên suốt đêm hôm đó Thanh không tài nào ngủ được. Cô cứ nằm đó khóc... đến nửa đêm, có lẽ trong giấc ngủ ngắn chập chờn, cô nghe rõ có người gọi: - Bộ không muốn giữ con anh sao mà khóc hoài vậy? Rõ ràng đó là tiếng của Vượng! Hà Thanh choàng dậy thất thanh gọi: - Anh Vượng! Vừa khi ấy, bà Dung từ phòng mình chạy sang, bà hớt hải: - Mẹ vừa gặp thằng Vượng! Rồi bà kể lại: - Đang ngủ, bỗng mẹ nghe có tiếng gọi giật ngược. Mẹ tỉnh dậy thì thấy thằng Vượng đứng ở đầu giường, mặt nghiêm lại, hỏi rõ ràng: Bộ mẹ không tin vợ con sao? Đứa con trong bụng Hà Thanh là của con. Đó là giọt máu của chính con, là cháu nội chính thống của mẹ đó! Nói xong, nó biến mất liền.... Hai mẹ con ôm nhau khóc ròng... Hơn bảy tháng sau, Hà Thanh sinh con. Song sinh mới tuyệt vời! Một trai và một gái. Cả hai giống Vượng như khuôn đúc, khiến cho bà Dung cũng sững sờ! Bà run giọng nói: - Đúng là trời còn thương, không nỡ để cho dòng họ nhà này tuyệt tự mà! GIỌT MÁU OAN CỪU Bằng mọi thủ đoạn, cuối cùng bà Xuân cũng được toại nguyện: Bắt được đứa cháu nội đích tôn về nuôi, sau khi mẹ nó chết ngay trên giường sinh! Sang, thằng con trai ăn chơi, đàng điếm vô tích sự của bà hầu như không hề hay biết chuyện vợ mình sinh con và hậu quả của cuộc vượt cạn đó. Cho đến khi anh ta được tin báo thì chỉ biết thẫn thờ, kêu trời: - Tạo hóa bất công làm sao, cô ấy chỉ mới có hai mươi tuổi! Mai Hoa đúng ra chỉ mười chín tuổi tám tháng, nhưng do tạng người nhỏ, nên dù mang thai nhưng vẫn ít có ai tin là cô có thể có con. Đến khi hay tin Mai Hoa yểu mạng, hầu như cả làng Vạn Hoa đều sững sờ! Có người thương cho cô con dâu bạc phận này, họ nói: - Nếu chết thì làng này thiếu gì kẻ đáng phải chết, sao lại bắt con nhỏ dễ thương, đẹp người đẹp nết ấy phải chịu số phận cay nghiệt như vậy chứ! Cái chết của Mai Hoa thật sự đáng ngờ, bởi trước khi sinh thì cô khỏe mạnh và hoạt bát, không có dấu hiệu gì của bệnh tật. Chỉ sau một đêm chuyển dạ, sáng lại có tin Mai Hoa bị băng huyết rồi chết ngay khi đứa con lọt lòng! Trong lúc mọi người tiếc thương, buồn rầu thì bà Kim Xuân lại hết sức hài lòng, hả dạ. Bởi mục đích duy nhất của bà khi cưới vợ Sang là để kiếm một đứa cháu nội trai, mà mục đích đó nay đã hoàn thành trọn vẹn, vậy chướng ngại vật duy nhất còn không tống đi thì sao yên tâm, đẹp dạ. Mai Hoa tuy hiền hậu, phục tùng, nhưng trong con mắt của người đàn bà giàu sang, thế lực như mụ Xuân, thì làm sao có thể chấp nhận một cô con dâu khác giai cấp, không môn đăng hộ đối như Hoa. Nhất là khi xui gia của bà lại là một tay cu-li vác mướn ở bến tàu! Những người độc mồm độc miệng đã kháu nhau: - Được đứa cháu nội đích tôn rồi thì mười mạng như con Mai Hoa cũng tiêu chứ đừng nói là thân cô thế cô như nó! Sở dĩ người ta ác miệng như vậy là bởi đã có tiền lệ. Trước khi cưới Mai Hoa, út Sang, đứa con cầu tự của bà Kim Xuân đã từng dan díu với nửa tá con gái ở trong làng. Có cô Sương giáo viên, yêu Sang thật tình, nhưng chỉ vì có thai mà mụ vườn nghi là sẽ sinh con gái, nên bị bà Xuân bắt phải đi phá thai khi bào thai đã đến tháng thứ năm. Ác thay, khi trục cái thai ra thì đó lại là một đứa con trai! Tất nhiên là việc làm ác đó đã gây ra cái chết thương tâm cho đứa hài nhi đã đầy đủ hình hài, tức là đã thành một sinh linh như mọi con người khác! Cô Sương đó sau khi thoát chết qua kỳ phá thai, đã bị bà Kim Xuân ép phải đi khỏi xứ và từ đó đến nay chẳng còn ai nghe tin tức gì! Sáng hôm đó, trên đường từ chợ Vàm ra chợ chị Ba Lụa gọi giật ngược người đàn ông vừa đạp xe chạy vút qua: - Anh Sáu Hảnh! Người được gọi thắng gấp chiếc xe đạp già như tuổi của ông ta lại, ngoáy nhìn ra sau: - Ai như cô Ba vậy? Ba Lụa vội bước tới bên, nhỏ giọng như sợ có người nghe thấy: - Anh lo cho con Mai Hoa xong chưa? Sáu Hảnh mặt sạm đen, nét khắc khổ hằn sâu, ngao ngán đáp: - Rồi cũng phải xong thôi! Ba Lụa thở dài: - Mụ ta ác quá? Một mạng người mà chỉ đưa có hai chục đồng, bảo sao cho tươm tất được! Sáu Hảnh nhẹ lắc đầu hỏi: - Chị đi đâu vậy, không ở nhà hầu mụ ta sao? - Chính bởi thằng cháu ngoại của anh mà tôi phải bị hành xác đây! Mới có ba ngày tuổi mà mồ côi mẹ, bây giờ tôi phải đi xin sữa về cho nó bú đây! Nếu không nghĩ tình nó là máu mủ của anh thì nói thật, tôi bóp mũi nó cái một! Sáu Hảnh thở dài: - Máu mủ gì đâu, má nó mà còn bị chết thì nó có nghĩa lý gì! Vả lại ai cho tôi nhận là ông ngoại đâu mà máu với mủ! Sáu Hảnh là cha của Mai Hoa, tức sui gia của mụ Kim Xuân mà còn giọng điệu đó ai nghe mà chẳng đau lòng! Bởi vậy Ba Lụa đưa tay quẹt nước mắt, nghẹn ngào nói: - Chắc có ngày tôi cũng lén ẵm thằng nhỏ đi cho mụ ta kêu trời không thấu! Ngày đó tôi sẽ báo cho anh hay! Nói xong, chị ta nhanh tay nhét vào túi áo của Sáu Hảnh vật gì đó: - Tôi dư được mấy đồng, anh cầm về hút thuốc! Sáu Hảnh định móc trả lại thì Ba Lụa đã bước đi xa, rồi bất ngờ quẹo vào một ngõ hẻm, như không để cho Sáu Hảnh đuổi theo. Sáu Hảnh áy náy, vừa đạp xe đi vừa lắc đầu hoài. Bỗng có chiếc xe kéo chặn ngang đầu, rồi một tên mặt mày bặm trợn hất hàm hỏi: - Cha vừa nói chuyện gì với con Ba Lụa đó? Sáu Hảnh vốn thật thà, đáp: - Anh em chòm xóm gặp nhau hỏi thăm chút, có gì đâu. Mà chú là ai? Tên kia dí thẳng nắm đấm vào tận mặt Sáu Hảnh: - Là người muốn đấm vào mặt mày, được chưa! Tao nói cho mà biết, chuyện của mày mày lo, chứ đừng có dò la tin tức nhà bà Xuân, sẽ lãnh đòn? Thì ra chúng là tay chân của mụ Kim Xuân. Sáu Hảnh ức lắm, muốn phản ứng, nhưng kịp dằn xuống, chỉ nói nhỏ nhẹ: - Con gái tôi chết tôi lo còn chưa xong, lo gì chuyện của ai. Nói xong ông đạp xe đi một nước. Tên đứng bên cạnh tên côn đồ vừa rồi vội lên tiếng: - Sao mày không đập cho lão ta một trận, bà Xuân cho phép mà! - Thôi, đủ rồi, con chó cùn đường nó sẽ cắn! Tên nọ vẫn chưa chịu: - Để tao rượt theo chơi cho nó câm luôn! Nói thật, mặt thằng cha này tuy là nhìn vậy chứ để trong bụng, mình không yên với nó đâu! - Ừa, thì mày muốn làm cũng được. Nhưng nhớ là chỉ làm cho què, cụt hay gì đó thôi, không được thịt nó bây giờ. Dẫu sao con gái nó mới chết, mình không nên làm quá tay. - Để tao quýnh cho nó đui một con mắt chơi! - Ừ. Tên nọ nhấn bàn đạp tới thật nhanh, trên tay đã thủ sẵn một khúc sắt nhọn! Nhưng hắn chưa đi được chục bước thì bỗng chiếc xe của hắn lật ngang, thanh sắt nhọn trên tay hắn lại chính là vũ khí đâm vào mắt bên trái của hắn ngọt xớt, hắn chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi lăn lộn, đau đớn... Tên côn đồ còn lại thấy lạ quá vội nhào tới, ngạc nhiên hỏi: - Mày sao vậy Hai Hùm? Tên kia đang quằn quại làm sao trả lời được. Khiến tên này càng lo: - Có sao không để tao chở đi nhà thương? - Con mắt tao! Mày không thấy sao còn hỏi. Phải lấy cây sắt ra mau! Máu từ trong hốc mắt của hắn tuôn ra có vòi. Lúc đó thiên hạ bu lại coi khá đông, có người nhận ra hắn, nên bảo nhau: - Kệ nó, mấy thằng đầu trâu mặt ngựa tay sai của mụ chủ tiệm vàng Kim Xuân. Ngày thường nó chuyên đi đòi nợ mướn cho chủ, đánh người không nương tay, nay trời trả báo đó! Trong lúc tên Hai Hùm còn đang quằn quại thì bỗng dưng tên còn lại cũng lảo đảo vừa ôm lấy mặt rồi kêu rống lên! Người chung quanh chưa ai biết chuyện gì xảy ra thì chợt thấy hắn khuỵ xuống, một bên mắt của hắn cũng đầy máu giống như tên kia! - Ai đâm hắn đui mắt vậy? Những người đứng gần từ nãy giờ đều nhìn rõ, họ bảo: - Đâu có ai làm gì hắn? Vừa khi ấy chợt có tiếng của Ba Lụa: - Tên này đúng là bị báo oán rồi! - Ai báo? - Lúc nãy chúng ức hiếp Sáu Hảnh, đòi đánh ổng đui con mắt, chúng chưa kịp làm thì đã bị y như vậy, thì chắc chắn là... do con gái ổng làm rồi! - Con Mai Hoa mới chết mà? - Thì chết rồi mới làm được chuyện đó! - Hồn ma! Ai đó kêu lên như vậy khiến mọi người đưa mắt nhìn nhau rồi cùng reo lên như bắt được vàng: - Hồn ma báo oán, đã quá thiên địa ơi! Như vậy mới thấy lòng người ở xứ này không một ai ưa con mụ nhà giàu ác độc Kim Xuân! Sở dĩ lâu nay họ chưa có phản ứng trước việc mụ ta làm là cũng do những tên tay sai đầu trâu mặt ngựa ác ôn này. Hễ ai hó hé chống đối thì sẽ lập tức bị chúng hành hung, thậm chí thủ tiêu hay ác hơn là đốt nhà thiêu rụi cả nhà! Do mụ ta quá nhiều tiền, mua đứt làng xã, quận huyện, nên mọi lời tố cáo đều như nước đổ lá môn: Thậm chí người tố cáo còn lãnh hậu quả nữa! Ba Lụa có vẻ hả hê lắm: - Đáng đời lũ chó này! Chị vừa quay bước đi thì có người lên tiếng: - Cô cũng cùng bè với mấy thằng này, có khác gì! Cũng là tay chân thân tín của mụ Kim Xuân đó thôi! Ba Lụa cười nhẹ: - Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn mới là khó. Nói xong chị bước đi nhanh. Một người khác có vẻ biết chuyện liền nói: - Người này không tệ đâu. Tuy là giúp việc, làm vú em trong nhà bà Kim Xuân, nhưng lâu nay vẫn thường giúp đỡ mọi người, đâu có hống hách như lũ chó săn kia! Chị ta nói đúng đó... Mấy người nữa thấy vậy vừa định đỡ hai tên nọ dậy, nhưng khi vừa chạm vào người chúng thì cả hai đều chấp tay lạy như tế sao, vừa cất tiếng van lớn: - Xin tha mạng cho con! Con xin ngàn lạy, vạn lạy cô, lạy bà! Thấy kỳ quá nên có người hỏi: - Bà cô nào ở đây? Người đỡ hai anh là đàn ông mà? Nhưng Hai Hùm vẫn chấp tay, thành kính: - Xin tha cho con? Con xin hứa là không bao giờ dám tái phạm? Tên kia cũng làm y như vậy, còn nói cụ thể hơn: - Thưa mợ út, em làm sai rồi, cũng chỉ vì làm theo lệnh của bà ấy thôi! Cả hai quỳ lạy nhiều hơn nữa, khiến cho hai người mới giúp đỡ hốt hoảng lùi lại: - Họ làm gì vậy! Điên rồi chắc! Nhưng có người quả quyết: - Chúng không điên đâu. Chúng đang bị oan hồn đòi mạng đó. - Oan hồn? - Con Mai Hoa về báo án đó. Chẳng thấy bóng dáng Mai Hoa đâu nên có người còn chưa tin: - Không Mai Hoa cũng chẳng sao miễn bọn này bị trừng trị là vui rồi! Nói xong mọi người lần lượt lui đi, để lại hiện trường hai nên ác ôn vẫn tiếp tục quằn quại... Lời đồn chạy nhanh về nhà mụ Kim Xuân. Mụ ta sai mấy tên gia nhân nữa chạy ra thì cũng bị đánh bò lăn mà không biết ai đánh! Cả bọn ăn đòn nhừ tử mà không hề thấy ai ra tay, khiến cho vài tên đứng đằng xa hoảng hốt, bỏ chạy có cờ! Cuối cùng đích thân mụ Xuân xuất hiện cùng với hai con chó berger to lớn kèm hai bên. Mụ hò hét: - Khiêng tụi nó về nhà, hễ ai can thiệp thì giết hết cho ta! Nhưng chẳng ai can thiệp vậy mà hai con chó và mấy tên nữa cũng đều bị đánh giục tại chỗ. Kể cả mụ ác cũng bị mấy tát tai nảy lửa, phải bỏ chạy, vừa chạy vừa hồn phi phách tán! Chuyện xảy ra quá đột ngột ngoài dự liệu của mụ Kim Xuân, nên khi về nhà rồi mà mụ vẫn chưa hoàn hồn. Đợi cho hai tên Hai Hùm và Sáu Chiến đỡ đau mụ mới dò hỏi: - Bữa qua đứa nào đánh tụi bây? Hai Hùm lắc đầu: - Chẳng có ai đánh cả. - Vậy sao tụi bây ra nông nỗi này? Sáu Chiến không kịp giữ lời: - Dạ lúc đó... Hắn chưa nói trọn câu thì bỗng nghe bốp chát mấy cái liền rồi hắn ta lại bị bật ngửa ra sau. Hắn sợ một mà bà Kim Xuân sợ đến mười, bà ta kêu lên: - Ai đánh vậy? Ai... Đến phiên bà ta bị liền hai cái tát nảy đom đóm! Chung quanh mụ ta lúc ấy chỉ có mụ và hai tên bộ hạ bị thương, điều ấy có nghĩa là... ma đánh! Mụ cũng làm giống như hai tên nọ bữa trước, chấp tay lạy lia lịa: - Xin thánh thần tha tội cho, con không dám nữa! Mụ ta cảm giác như có ai đó đứng trừng mắt nhìn như sắp hành hình mụ! Vừa lúc đó Ba Lụa bước vào, trên tay ẳm đứa bé còn đỏ hỏn. Chị khép nép thưa: - Cậu chủ không chịu bú. Chuyện bỏ bú của đứa trẻ sơ sinh đã diễn ra hai hôm rồi, nhưng giờ đây mụ Xuân càng lo lắng hơn: - Cố mà dụ ép nó, nếu không... Mụ ta nhìn thằng bé thiêm thiếp trên tay Ba Lụa mà đau lòng. Giọt máu duy nhất, đứa cháu đích tôn của mụ không lẽ lại nuôi không được! Mụ nói gần như năn nỉ: - Cố gắng đi Ba Lụa, rồi tao thưởng công. Cậu chủ mày cần sống còn hơn tao nữa, cố gắng lên... Mụ ta thường ngày hùng hổ, chanh chua, nay xuống nước thấy quá thảm hại, khiến Ba Lụa cũng xiêu lòng. Chị nhìn đứa bé rồi tự dưng buột miệng: - Phải chi có má nó. Câu nói này bình thường thì có thể mụ Xuân nổi tam bành, nhưng giờ đây mụ ta lại im lặng. Có lẽ mấy cái tát vừa rồi đang làm cho mụ mất hết nhuệ khí. Mà cũng có thể là do một nguyên nhân thần kín nào đó chỉ có mụ mới biết... Bỗng đứa trẻ khóc thét! Ba Lụa hốt hoảng: - Cậu chủ bị gì rồi bà ơi! Thằng bé bế vừa khó vừa nảy ngược người lên như bị phong giựt, khiến mụ Xuân cũng hốt hoảng: - Làm gì cứu nó đi Ba Lụa? Trong lúc Ba Lụa chưa biết phải làm sao thì bỗng như có ai đó giựt đứa bé khỏi tay chị, nó rơi ra và lơ lửng như nằm trên không khí! - Bà ơi! Chị la chưa dứt câu thì vội im bặt. Bởi lúc ấy thằng bé chẳng những không té, nằm như đưa võng, lại... nín khóc! Và rõ ràng nghe như tiếng nút vú chùt chụt! Ba Lụa trố mắt nhìn, mà cả mụ Xuân cũng không rời mắt. Thằng bé như có ai đó bế trên tay, đưa qua đưa lại, duy chỉ không thấy người ẵm mà thôi! Hình như nó được bú sữa, cho nên mê bú quên cả khóc. Lát sau chừng như no nê, nó quay ra nhoẻn miệng cười mãn nguyện, khiến cho mụ Xuân cũng phải kêu lên: - Nó tỉnh rồi! Ba Lụa hình như hiểu mình đang chứng kiến chuyện gì. Chị nhắm mắt lại lẩm bẩm đủ mình nghe: - Cám ơn Mai Hoa, em đã cứu con mình! Mụ Xuân không nghe được mà thấy Ba Lụa lép nhép miệng, nên hỏi: - Mày nói gì vậy Lụa? - Dạ không... Chị ta đưa tay đón lại đứa nhỏ, lúc này nó đã tươi tỉnh, quấy động tay chân như mừng rỡ. Mụ Xuân hỏi khẽ: - Vừa rồi ai làm gì vậy! Ba Lụa có chủ ý khi đáp: - Nó được hồn ma giúp cho đó? Mụ Xuân ngơ ngác: - Ma! Mà ma nào? - Mẹ nó! - Con Mai Hoa? Mụ thốt xong thì lảo đảo rồi ngã nhào, nằm bất động. *** Tuy ngồi xe hơi, bảo tài xế chạy nhanh vậy mà mụ Kim Xuân vẫn giục:- Lẹ lên chút nữa đi Tám. Tài xế Tám đáp: - Ở đây đường chật, lại phơi lúa tràn ra đường, rồi trẻ con chạy lung tung, làm sao em dám chạy nhanh hơn nữa. Nhìn đồng hồ tay, mụ lại làu bàu: - Trễ giờ thì ông thầy không chịu tiếp nữa. Cuối cùng thì cũng tới nơi, vừa bước xuống xe đã nghe từ trong có tiếng nói vọng ra: - Bà chậm một chút nữa thì để mai tới luôn? Đã ba lần bị đuổi về, nên mụ Xuân đâm hoảng: - Xin thầy làm ơn, nhà tôi ở xa! Bà bước hẳn vô nhà, bỗng khựng lại ngay, bởi có một người đang ngồi trong đó mà vừa nhìn thấy bà đã điếng hồn. - Mày...mày... con là... làm gì... Bà gần như á khẩu, bởi người ngồi trước mặt bà là Mai Hoa, đứa con dâu đã chết! Thấy mụ ta ngơ ngác, ông thầy Tư ngạc nhiên: - Sao vậy? Chẳng phải bà nói là cần tôi giúp gấp một việc? Mụ Xuân ú ớ: - Tôi... tôi... Cô gái mà mụ cho là Mai Hoa bỗng đứng lên, nhìn mụ soi mói: - Bà có quen tôi sao? Nghe tiếng nói thì không phải là giọng của Mai Hoa, kể cả lối nói chuyện ngang hàng cũng khác, nên mụ hơi yên tâm: - Cô đây là... Ông thầy Tư vội giới thiệu: - Đây là đứa cháu gái của tôi, từ xa mới đến. Nó cũng giỏi nghề như tôi, nên hôm nay tôi muốn nó cùng có mặt để giúp cho bà. Mụ Xuân vẫn còn ngờ ngợ, nên hỏi lại: - Cô tên gì? Cô gái đáp nhanh: - Tôi là Minh Nguyệt. - Cô có quen biết gì với... Mai Hoa không? Cô gái ngơ ngác: - Mai Hoa nào! - Mai Hoa... ờ mà không có gì. Trên đời này bà chưa từng thấy trường hợp người giống người nào mà như vầy. Giống từ khuôn mặt đến tóc tai, chỉ có giọng nói là khác. Bởi vậy dù đã được xác định rồi, nhưng khi ngồi đối diện mụ Xuân vẫn lo lo... thỉnh thoảng cứ lén liếc mắt nhìn. Ông thầy Tư vô đề ngay: - Bà gặp ma ám phải không? Giọng mụ Xuân run run: - Chẳng những ám, mà còn bị nó hành hạ nữa! Hai bên gò má tôi còn sưng đây, chỉ vì bị nó đánh! - Mà ai đánh? - Hồn ma! Không thấy nó, nhưng tôi biết đó là hồn ma của... - Của con dâu bà phải không? Mụ giật mình: - Thầy biết? - Sao lại không. Tôi còn biết bà đã giết chết nó nữa! Như bị chạm nộc, mụ Xuân giật nảy người: - Ông... ông đừng nói! Thầy Tư nghiêm giọng: - Giết người thì phải đền mạng! Bà biết quy luật đó chứ? Bị hỏi bí, mụ ta càng lúng túng hơn: - Tôi... tôi... không... không... Ông thầy ném ra trước mặt mụ một gói giấy: - Vật này có phải chính tay bà mua của lão lang vườn và đem về cho con dâu bà uống trước lúc cô ấy sinh không? Bị nhận diện chính xác, mụ Xuân ôm lấy đầu rồi oà lên khóc! Giọng của ông thầy vẫn tiếp tục, như một vị quan tòa: - Uống xong thứ thuốc độc này đáng lẽ con dâu bà chưa chết, nhưng bởi cùng lúc đó cô ấy lại chuyển dạ sinh, nên vừa sinh đứa bé là cô ấy đã băng huyết rồi chết luôn! Bà tránh được tội giết người bởi người ta chỉ nghĩ dâu bà chết đi do băng huyết! - Thôi, ông đừng nói nữa! - Vậy bà đã nhận tội giết con dâu chứ gì? - Đừng! Đừng nói! Mụ ta vùng thoát chạy ra ngoài và leo lên xe ngay, giục tài xế: - Chạy mau! Tài xế Tám ngạc nhiên: - Ủa, bà hổng rước ông thầy về làm phép sao? Bà sợ thất thần: - Thầy bà gì? Nó còn muốn hại ta nữa là khác. Chạy nhanh lên! Xe chạy rất nhanh. Nhưng bỗng dưng nó lủi vô lề rồi dừng hẳn lại trước sự ngơ ngác của mụ: - Mày sao vậy Tám? Tài xế Tám ngẩng lên, quay lại nhìn. Mụ Xuân thét lên: - Trời ơi! Mai... Mai Hoa! Người ngồi ở ghế lại không phải là tài xế Tám, mà chính là... Mai Hoa. Đúng cô gái vừa trong nhà thầy Tư. Cô ta đanh mặt lại: - Chào má! Giọng bây giờ đúng là của Mai Hoa? Mụ Xuân run rẩy: - Con... con đừng... Nàng cười khẩy: - Bà còn gọi được tôi là con sao. Là con sao bị bà hại đến chết? Là con sao bà ác với tôi như vậy chứ? Mỗi lời nói lúc này khác nào con dao đâm thấu tim gan mụ ta. Mụ Xuân líu cả lưỡi: - Má... má không chủ tâm...má chỉ... - Bà câm miệng ngay, không tôi cắt lưỡi bà bây giờ! Mụ Xuân rụt đầu cổ ngay, trong khi Mai Hoa gắt lên: - Bà dùng thuốc gì để hại tôi? - Tôi… tôi chỉ biết bỏ tiền nhờ họ làm. Tôi đâu có biết… - Tên thầy thuốc ở đâu? - Ở....ở... - Ở đâu? Mụ Xuân hoàn toàn khuất phục: - Ở...xóm sân banh! - Đưa tôi tới đó! Cô tự lái xe thành thạo như một tài xế chuyên nghiệp. Xe ngừng đứng trước một ngôi nhà và một người đàn ông ló mặt ra làm Mai Hoa cũng phải giật mình! Bởi anh ta chính là tay thợ bạc ruột của mụ Kim Xuân mà thường ngày vẫn tới lui nhà, Mai Hoa đã quen mặt! Vừa nhát thấy Mai Hoa tên Văn Thành này suýt rú lên! Hắn bước lùi và lắp bắp hỏi: - Như... như vầy... là sao? Mụ Xuân theo vào nhà, khép nép như kẻ tôi tớ. Mai Hoa ra lệnh: - Đem nó ra đây! Văn Thành hỏi trong sợ sệt: - Đem cái gì? - Số thuốc còn lại trong nhà này! - Dạ... Hắn ta còn lưỡng lự chưa chịu đi thì bỗng dưng cả thân thể hắn như bị ai nhấc bổng lên, ném mạnh văng vào vách cây, tạo ra một tiếng rầm lớn, cả tấm vách ngăn ngã đổ vào trong. Tên Văn Thành hồn phi phách tán, lồm cồm bò dậy rồi chạy vào ôm nguyên cái hộp thiếc ra, đưa tận tay Mai Hoa: - Đây thưa mợ út! - Lấy ra đây ấm nước và hai cái ly! Hắn đoán ra việc gì sẽ xảy đến nên vội quỳ xuống lạy lia lịa: - Xin mợ út tha tội cho, chẳng qua tôi cũng làm theo lời bà chủ đây, chứ giữa tôi với mợ đâu có thù oán gì! Mai Hoa nghiến răng trèo trẹo: - Làm theo lệnh hả! Chứ không phải mày cùng bày mưu hại tao để hai người dễ bề thực hiện ý đồ chung sống như vợ chồng sao? Mày tưởng qua mặt được đứa con gái khờ khạo này hả? - Dạ... tôi không... Quay lại mụ Xuân, Mai Hoa hỏi thẳng: - Bà trả lời xem, tôi nói đúng hay sai? Mụ ta run rẩy: - Dạ... à mà không. Má... má chỉ có ý... - Việc làm tội lỗi này chỉ có thằng con khờ khạo, bạc nhược của bà không hay biết thôi, chứ trong nhà ai mà không biết. Ý đồ chiếm trọn tài sản của tên Văn Thành này chính bà cũng không ngờ tới, bởi bà đang mê đắm trong trường tình. Bà biết trong số thuốc độc này có một lọ dành cho bà đó! Có lẽ sợ Mai Hoa nói ra hết bí mật, Văn Thành vội nhào tới định tấn công cô bất ngờ, nhưng làm sao con người như hắn có thể thực hiện được ý đồ đen tối đó. Thoắt cái đã chẳng còn thấy Mai Hoa đâu. Rồi chợt nghe cô lên tiếng ngay sau lưng tên khốn: - Mày đáng chết lắm! Sau câu nói thì đã thấy tay Mai Hoa cầm lấy chiếc ly, rồi trút một phần thuốc vào gằn giọng: - Uống! Văn Thành có muốn vùng vẫy cũng không tài nào làm được, bởi tuy là đàn bà, nhưng cú siết tay của Mai Hoa lại mạnh mẽ, vô phương vùng thoát! Ực! Hắn uống một hớp lớn. Khi được buông ra thì cả thân hình đồ sộ của hắn ngã sóng soài như con heo bị hạ thịt! Mụ Xuân đã chứng kiến từ đầu đến hết, vía bay đâu mất hết. Mụ vừa run vừa bò lê khắp nhà trong tâm trạng hoảng loạn! Mai Hoa lên tiếng: - Tôi không giết bà lúc này đâu, đừng sợ. Bà hãy bình tĩnh chứng kiến phút đền tội của người tình trẻ này đi rồi tới kẻ tiếp theo... Dù được trấn an như vậy, nhưng mụ ta vẫn cứ bò và bò... Đến một lúc Mai Hoa ra lệnh: - Đi! Cô bước ra, mụ Xuân riu ríu bò theo. Khi đã lên xe rồi mụ tự động nói: - Tới xóm Cầu quay! - Nhà Mười Thế phải không? - Đúng, Mười Thế! - Hắn đã tham gia gì trong việc giết tôi, tôi muốn nghe chính miệng bà nói, nói đi! - Ông ta cho người dàn cảnh để thằng Sang cưỡng hiếp con, lúc hai đứa bây chưa thành vợ chồng! Mai Hoa rít lên: - Thì ra bữa đi cưới về ngang cầu tự dưng có nhiều tên xông vào bịt mũi bịt miệng tôi, lôi lên một chiếc xe. Sau đó khi tỉnh lại tôi mới hay mình đang thân thể lõa lồ, Sang thì thoả mãn nằm bên cạnh! Cũng vì lỡ như vậy nên sau đó tôi mới chấp nhận về làm dâu nhà bà. Chứ nói thật, có cho vàng chất đầy nhà tôi cũng không ham! Mụ Xuân lại nói một hơi: - Mười Thế này còn là thủ phạm của những vụ dàn cảnh, thủ tiêu nhiều người tình khác của thằng Sang. Hiện hắn đang... Mai Hoa chặn lời: - Hắn sắp sửa thủ tiêu ba tôi, phải không? Mụ Xuân càng run dữ: - Má... má chỉ bảo nó... nó cảnh cáo thôi... - Cảnh cáo mà chuẩn bị sợi dây thừng và một bao chứa đầy đá để đập đầu rồi tròng dây vào cổ ba tôi và dìm ông xuống sông? Bị lật tẩy, mụ ta nghẹn họng. Mai Hoa bất nhẫn nói: - Mấy người tội ác trời không dung đất không tha! Tôi không ác, nhưng không còn cách nào hơn.... Cô gọi to vào nhà: - Mười Thế đâu, bà chủ Xuân biểu! Từ trong nhà vừa bước ra, Mười Thế đã há hốc mồm khi nhìn thấy Mai Hoa! Hắn ta vừa định thụt lùi tìm đường tháo chạy thì bỗng ngã nhào. Chưa kịp ngồi dậy thì bỗng có sợi dây thòng lọng chẳng biết do ai ném tới, đã ngẫu nhiên tròng vào cổ hắn gọn hơ! - Bớ! Hắn chỉ kịp kêu lên một tiếng thì dây đã xiết lại. Càng lúc càng chặt và... Quay ra ngoài, Mai Hoa hỏi mụ Xuân trong tình trạng mụ như cái xác không hồn: - Còn ai nữa? Hầu như mụ không còn khả năng nhận thức, nên Mai Hoa không cần hỏi nữa, cô lôi mụ ta trở ra xe, rồi lái về một hướng khác. Dừng xe lại một ngôi nhà khang trang, có chiếc xe hơi quen thuộc của út Sang đậu ngoài sân, Mai Hoa nghiêm giọng bảo: - Má vào kêu ảnh ra, hay để con vào? Mụ Xuân không còn đủ sức đi, nên nói buông xuôi: - Con muốn làm gì cũng được. Mai Hoa đi thẳng vào trong, nhà không khoá cửa, cô lại đi một lèo vào tận phòng riêng, nơi đang có những tiếng cười dâm dật từ trong vọng ra! Đứng ngay cửa phòng không cần đẩy, cửa phòng từ từ mở trước sự kinh hãi của hai người đang nằm trong phòng! Họ là út Sang và một cô gái trẻ đẹp, đang trong tình trạng không mảnh vải che thân! - Mặc đồ vào, cô kia ra đây! Út Sang chết điếng khi nhìn thấy vợ. Anh ta gần á khẩu luôn: - Sao... sao lại... lại... Rồi thì anh ta bủn rủn tay chân, không còn cử động được nữa. Cô gái chưa từng gặp Mai Hoa lần nào, nên giở giọng khó chịu: - Chị là ai mà đương nhiên xông vào phòng trong lúc người ta đang làm chuyện vợ chồng vậy? Có muốn chết không! Út Sang chưa kịp ngăn: - Đừng.... Rồi gục xuống. Mai Hoa phất tay một cái, cô gái đang ở trên giường bị tung lên rồi rơi xuống sàn, hai đầu gối khuỵu xuống trong tư thế quỳ. Lúc này Mai Hoa mới phán: - Đáng lý ra ta phải xử mày cái tội lấy chồng người tội phá hại gia cảnh, nhưng nghĩ mày cũng bị lừa, nên ta tha cho. Mày nên mau rời khỏi căn nhà này, nếu không rồi có ngày mày cũng chung số phận với ta mà thôi! Phất tay một cái nữa, cô gái văng ra tận ngoài sân. Mai Hoa vất ra bộ đồ cô ta còn vắt ở mép giường. Ra lệnh: - Mặc đồ vào rồi biến liền! Dù không muốn, nhưng bị hai cú ném khiến cô ta quá sợ vội ba chân bốn cẳng chạy một mạch mất dạng! Lúc này Mai Hoa mới ngồi lại và bỗng dưng ôm mặt khóc ròng! Mụ Xuân muốn lên tiếng hỏi nhưng mở miệng không được nên đành im lặng... Một lúc sau chính Mai Hoa lên tiếng: - Tôi đâu phải là người ác, tôi đâu phải kẻ giết người! Nhưng họ đã ác với tôi, bảo sao tôi không trả thù. Tôi báo oán không phải chỉ riêng tôi, mà còn cho những người khác nữa... Nếu để bọn người ấy sống thì sẽ còn bao nhiêu người như tôi phải chịu chung số phận! Xin hãy hiểu cho tôi… Cô khóc thật to và thật lâu. Đến khi ngừng khóc thì Mai Hoa giật mình, cô kêu lên. - Má! Mụ Xuân đã nằm thẳng cẳng, không còn thở nữa! Thì ra trong lúc Mai Hoa nói thì mụ ta đã cắn lưỡi tự tử! Có lẽ mụ sợ sau khi Mai Hoa nói dứt lời thì sẽ tới phiên mụ. Thật ra Mai Hoa không hề có ý định giết mụ độc ác này, chỉ cảnh cáo bà ta thôi… Nhưng mọi việc đã lỡ hết rồi... Bà Kim Xuân chết, còn út Sang thì bỏ nhà đi chẳng thấy trở về. Gia sản Kim Xuân đang làm ăn phát đạt bậc nhất như vậy bỗng không có người cai quản! Tôi tớ trong nhà đang hoang mang, có người định bỏ đi, có người lại nẩy ý tham lam, định nhân cơ hội kiếm chác chút đỉnh... Tuy nhiên, mọi mưu đồ hầu như không ai thực hiện được! Người định bỏ đi thì lúc nửa đêm nằm mơ thấy Mai Hoa hiện về khuyên bảo nên tiếp tục ở lại. Sáng ra mọi người đó đều thay đổi ý định, vui vẻ tiếp tục công việc! Riêng số người có lòng tham, thì cũng nửa đêm thấy có người hiện ra giữa phòng mình, nhe nanh và giương cặp mắt tóe lửa, quát nạt cho một hồi! Đến sáng lại thì tất cả họ đều xìu như quả bóng xì hơi, không dám hó hé gì. Thậm chí có người còn quỳ giữa trời vái lớn tiếng: - Thưa mợ út, tụi này không phải, xin mợ tha cho! Tất cả đều nể nang Mai Hoa. Một lòng một dạ tùng phục, mặc dù Mai Hoa không hề ra mặt! Từ hôm đó, mọi công việc trong nhà tuy không có chủ điều khiển, nhưng không sơ sót tí ti nào. Công việc còn tiến triển tốt hơn trước kia. Và hơn thế nữa, họ đồn nhau rằng bắt đầu từ đây làm ăn với Kim Xuân không còn sợ bị ức hiếp, chèn ép nữa! Một đồn mười, mười dồn trăm, chỉ một thời gian sau tiếng tốt về tiệm vàng Kim Xuân đã lan ra khắp nơi... Riêng đứa trẻ sơ sinh ngày nào nay đã ba tháng tuổi. Ba Lụa không cần đi mua sữa hay xin mọi người như trước, cũng không cần sữa bò sữa bột, cứ tới cử thì đặt thằng bé trên giường, lát sau nghe nó nút vú ừng ực! Ba Lụa hiểu rằng nó đang được mẹ nó cho bú! Chuyện ấy dần dần nhiều người biết, nhưng chẳng ai dị nghị gì, mà trái, lại còn thương cảm mẹ con Mai Hoa hơn. Có người còn tự mang tới cho nào giò heo, nào những món dành cho sản phụ ăn có nhiều sữa, họ bảo: - Cúng cô Mai Hoa, để cổ ăn, đặng có nhiều sữa cho con bú! Thằng bé lớn như thổi... Cũng không còn nghe chuyện hồn ma báo oán nữa. Có lẽ Mai Hoa đã mãn nguyện rồi... CHIẾC XE MA Khởi hành lúc hơn năm giờ chiều tại thành phố, vài người đã khuyên Luân: - Thiếu gì giờ đi Vũng Tàu, cớ gì phải đi vào giờ này? Luân cười nhẹ: - Đi ra Vũng Tàu chỉ khoảng 3 tiếng là tới, như vậy khoảng hơn 8 giờ mình đã có mặt ngoài ấy, còn sớm chán! - Nhưng ngại là ngại đường ban đêm kia. Quốc lộ 545 đâu đã sửa chữa, còn hẹp và gồ ghề, mà tính ông lại hay lái ẩu, tụi tôi lo lắm! Luân siết chặt tay bạn, quả quyết: - Ăn thua gì! Đà Lạt mà tôi còn dám lái đêm nữa là. Thật ra, sở dĩ Luân phải vội đi trong đêm là vì anh có cuộc hẹn làm ăn khá quan trọng ở Vũng Tàu. Anh phải có mặt ngoài đó trước 9 giờ đêm nay, nên vừa ra khỏi thành phố là anh tăng tốc độ ngay, bất chấp đoạn đường từ Thủ Đức, suối Xuân Trường hẹp và đông người qua lại. Lúc ngang qua núi Châu Thới, Luân định ghé Tấn Vạn rước thêm một người bạn cùng đi, nhưng nhìn đồng hồ tay, anh lại đổi ý, thời gian bây giờ quý như vàng, phải tranh thủ đi nhanh. Qua khỏi Biên Hoà lúc 6 giờ 15, Luân đắc ý: - Như thế này thì kịp chán? Anh lại tăng tốc. Chỉ một lúc sau đã thấy dốc 47 hiện ra. Mấy người lái xe đêm đi Vũng Tàu thường hay ngán cái dốc này, nó không cao lắm nhưng lại nguy hiểm, bởi có nhiều xe chở cát, đá hay đổ đốc ẩu. Hóa hơi cảnh giác, lái cẩn thận hơn và khi vượt qua dốc rồi mới thở phào, bởi trước mắt anh là hình ảnh một chiếc xe be bị lật nhào, có lẽ tuột thắng hay tránh gấp chiếc xe khác. Nhiều người còn lu bu cứu hộ. Thấy xe Luân trờ tới, một người chặn lại và đề nghị: - Anh giúp giùm cô gái này, cô ấy đi chiếc xe đó kìa, bị xe be này quẹt phải, chết máy không thể đi được nữa, mà cô ấy thì cần đi gấp ra Vũng Tàu. Luân không muốn vướng mắc, nhưng chợt nhìn thấy cô gái mặc nguyên chiếc áo dài nhung đen, anh bật rùng mình! Cô gái đẹp chưa từng thấy! Sắc đẹp mà bất cứ ai nhìn cũng phải bị hớp hồn? - Nhưng... Luân chưa kịp nói hết câu thì cô gái đã mở cửa trước leo lên ngồi, vừa quay sang gật đầu chào như thầm cám ơn. Rõ ràng Luân không thể nào từ chối. Anh vừa rồ xe vừa hỏi: - Cô đi tới Vũng Tàu? Cô gái giờ mới lên tiếng: - Dạ không, em chỉ xin quá giang tới cầu Cỏ May thôi. Luân ngạc nhiên: - Ban đêm mà cô đi tới đó làm gì, hay nhà ở đó? Cô gái nhẹ lắc đầu: - Dạ không. Em lái xe đi Vũng Tàu, tới đó thì xe hư, không sửa được nên em quay về Sài Gòn gọi thợ ra. Hy vọng quá giang được xe anh thì khi em ra còn kịp xe sửa chữa ra tới. - À thì ra vậy. Cô đi Vũng Tàu một mình sao? - Dạ không, còn hai người bạn gái nữa. Họ đang ở ngoài đó chờ. Sao anh đi biển mà chỉ một mình? - Tôi không đi chơi, mà có công việc gấp ngoài đó: Cô nàng giờ mới cười: - Nếu vậy khi sửa xe xong, sáng mai ra ngoài đó tụi này thế nào cũng gặp anh. Anh làm bạn với tụi em nhé? Luân nghe vui vui trong lòng: - Ý hay đó? Ngày mai tôi xong công việc cũng định ở lại chơi một buổi. - Em tên Hạnh, còn anh? - Hóa. Hân hạnh được quen với người đẹp nhất Vũng Tàu ngày mai! Thấy anh chàng biết nịnh, Hạnh cũng cởi mở: - Đẹp nhất trên xe lúc này thì chính xác hơn! Hóa cười phá lên: - Chắc chắn như vậy rồi, so với cô thì tôi là người xấu nhất rồi! Qua khỏi Long Thành, câu chuyện giữa hai người trở nên thân mật hơn, Hạnh hỏi: - Anh Hóa đã có người yêu rồi chứ? Hóa cười: - Nếu tôi nói là chưa thì Hạnh có tin không? Hạnh gật đầu ngay: - Tin. - Sao vậy? - Bởi nếu đã có vợ hoặc người yêu thì chắc chắn giờ này họ đã không để anh đi một mình. Đàn ông thời buổi này ra đường dễ bị... Nàng bỏ lửng câu nói, Hóa quay sang hỏi: - Theo Hạnh thì dễ bị cái gì? Con gái bắt cóc à? - Cũng có thể lắm! Đáp xong, nàng phá lên cười! Hóa cũng vui lây, anh nói to: - Cũng mong được cô gái đẹp nào đó bắt cóc thì sung sướng biết mấy! - Anh coi chừng đó! Nói xong, nàng quay mặt đi chỗ khác. Hóa nhìn từ phía sau, anh ngây ngất thật sự trước nhan sắc như liêu trai này. Lúc đầu, anh có vẻ không bằng lòng việc mình mất thời giờ cho quá giang, nhưng lúc này lại thấy là mình gặp may? - Nhà cô Hạnh ở Sài Gòn mà khu nào? - Đường Paul Blanchy, anh biết đường đó? - Biết chứ, người ta đang định đổi tên thành đường Trưng Nữ Vương hay Hai Bà Trưng đó! Nàng đột ngột hỏi: - Anh có sợ ma không? Hóa lại cười lớn: - Nếu ma mà đẹp cỡ như cô Hạnh này thì có một chục con tôi cũng xin quỳ xuống rước về nhà! - Dám không đó? - Sao lại không dám! Xưa nay người ta hay hình dung ma là kẻ gớm ghiếc, có nanh có vuốt, chớ nếu ma mà đẹp thì còn ai sợ ma nữa! Rồi nàng lại hỏi một câu khá bất ngờ: - Theo anh thì ma khổ hay sướng? - Sướng! Hóa đáp cũng bất ngờ. Nàng trố mắt nhìn anh: - Ma là hồn người chết, sao lại sướng? - Làm ma được mọi người sợ, thì sướng chớ sao! - Nhưng có anh không sợ! Hóa ném cho nàng cái nhìn sắc như dao: - Không sợ là ma đẹp cỡ như Hạnh kìa! Mải nói chuyện mà xe đã qua khỏi Bà Rịa lúc nào không hay, nàng chỉ tay phía trước nói: - Sắp phải nói lời cảm ơn anh rồi. Em không ngờ trong cái rủi hư xe lại có cái may là quen với một người thú vị như anh. Đó, anh thấy chiếc xe Peugelt 203 đậu bên lề kia không? Xe em đó. Hóa rà xe chậm lại rồi thắng bên cạnh chiếc xe đen, anh ngạc nhiên: - Các bạn Hạnh đâu? Nàng chỉ tay vào xóm nhà gần đó: - Chắc họ đi ăn uống gì đó quanh đây. Thôi, cám ơn anh. Hẹn gặp lại. Hóa hơi ái ngại: - Trời tối như vậy mà nhóm sửa xe cũng chưa thấy. Hay là... Anh tính trong đầu rồi nói: - Do có việc quá gấp ngoài đó, nên tôi không thể ở lại giúp cô được. Vậy bây giờ tôi đi, chừng một giờ sau tôi quay lại, có thể giúp gì đó cho cô... Xa xa trong xóm, Hóa nhìn thấy vài cô gái đang vẫy tay với Hạnh nên cũng yên tâm rồi rồ xe đi... *** Trở lại cầu Cỏ May lúc 10 giờ. Hóa ngạc nhiên khi không thấy chiếc Peugelt 203. Anh nghĩ có thể xe đã sửa xong và Hạnh cùng các bạn đã ra Vũng Tàu.Thất vọng, Hóa lưu lại đó một lúc rồi quay trở lại khách sạn ở bãi trước, nơi anh thuê một phòng ở Hotel Pacific. Vừa mở cửa phòng vào, Hóa đã nhận ra ngay có một mảnh giấy trên bàn viết. Nét chữ con gái trên đó: "Chào con người đẹp trai dễ thương! Quá tiếc vì duyên hạnh ngộ quá ngắn, mong sẽ gặp lại dịp nào đó! Mỹ Hạnh cầu Cỏ May." - Cô nàng làm sao lọt vào phòng mình được? Hóa thắc mắc và xuống hỏi tiếp tân, người ta lắc đầu: - Khách đi ra gửi lại chìa khóa, chúng tôi chỉ trả lại chìa cho đúng khách nghỉ trong phòng đó, làm gì có người nào khác vào được! Sáng lại... Sau khi kể lại câu chuyện cho một người bạn ở Vũng Tàu nghe, người ấy kêu lên: - Cậu gặp phải ma rồi! Hóa ngạc nhiên: - Sao lại có chuyện đó? Người kia quả quyết: - Cách đây mấy năm, có một vụ tai nạn ôtô xảy ra tại cầu Cỏ May, nạn nhân là cô Hạnh, con gái của một nhà tỷ phú, ở Sài Gòn. Cô ấy lái chiếc Peugeot 203 cùng mấy người bạn gái nữa đi tắm biển Vũng Tàu, ra tới cầu Cỏ May có lẽ do buồn ngủ hay đùa giỡn sao đó, chiếc xe đã lái thẳng xuống cầu, cả mấy người trên xe đều chết! Sau này, thỉnh thoảng người ta gặp một người con gái hay đứng bên cạnh chiếc xe ở chỗ đầu cầu vào lúc nửa đêm, nhiều người tưởng xe cô bị hư nên ngừng lại hỏi thăm, thì... xe và người đều biến mất! Có lần có người còn nhìn thấy một chiếc xe lao xuống cầu, nhưng khi nhìn lại thì chẳng thấy gì hết! Hóa lặng người đi. Tuy có chút rờn rợn, nhưng dẫu sao anh cũng cảm thấy nhớ nhớ người con gái đẹp như liêu trai ấy... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 41
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXXI: MA GHEN QUỶ HỜN - Phần 1 Cô Gái Áo Hồng Đã chuẩn bị kỹ cho chuyến đi sáng tác này nên ngoài những dụng cụ cần thiết cho chuyên môn ra, Hoàng còn mang theo tiền đủ cho chi phí suốt hai tháng. Do vậy khi chọn được một nhà trọ, anh đã đưa cho chị chủ nhà tiền ăn ở suốt sáu mươi ngày và còn dặn phòng thêm: - Nếu có thể thì tôi sẽ ở thêm cho đến lúc nào xong việc. Có gì tôi tính với chị sau. Chị chủ nhà vui vẻ ngay: - Nói thiệt với cậu, nếu không cần tiền cho tụi nhỏ đóng tiền học đầu năm thì tôi có thể cho cậu ở không cũng được. Tôi thích nhà có thêm người cho nó vui, chứ như cậu thấy đó nhà này lúc nào cũng vắng như... Có lẽ chị ta muốn nói vắng như chùa Bà Đanh nhưng kịp dừng lại. Hoàng cười: - Có thêm tôi chỉ mất công chị lo thêm cơm nước chứ có giúp ích gì đâu. Tôi đi suốt ở ngoài mà. - Nhưng có thêm người vẫn hơn. Mà nè cậu, bữa nay con tôi về bên ngoại chơi không chừng đến mai mới về. Tôi giao nhà cho cậu được không? Cậu dám ở một mình không? Hoàng cười to: - Chị không sợ tôi bán nhà rồi chuồn đi mất thì thôi, chứ tôi sợ gì ai mà không dám ở một mình! - Vậy tốt rồi, mẹ con tôi sẽ đi ngay sáng nay. Đồ ăn tôi nấu cho cả ngày, cậu chỉ việc hâm lại là ăn thôi. Cậu thông cảm cho một bữa nhé! Chị chủ nhà đi rồi, Hoàng cũng xách máy đi ra. Anh không quên khóa kỹ cửa trước cửa sau trước khi rời khỏi nhà. Ngày đầu tiên nên Hoàng không đi xa lắm, anh chụp được ngay nhiều bô ảnh khá ưng ý với cảnh chung quanh. Quả anh đã không chọn nhầm, nơi đây có cảnh đẹp mà không khí lại trong lành yên ả đến tuyệt vời. Là nhà nhiếp ảnh chuyên đi săn ảnh, Hoàng đã đi hầu như khắp mọi miền đất nước, nhưng chưa nơi nào anh thấy ưng ý như chỗ này. Bởi vậy việc quyết định sớm thời gian lưu lại đến hai tháng là điều xưa nay hiếm với cái chân đi như Hoàng. Hôm nay xách máy ra đây, Hoàng càng thấy quyết định của mình là hoàn toàn chính xác. Cho đến mười một giờ thì trong máy của Hoàng đã có bốn cảnh mà anh ưng ý. Đặc biệt là cảnh chiếc xuồng chèo đơn độc, không người, xung quanh là mặt nước lặng như tờ khiến cho Hoàng vừa cất máy lên đã bồi hồi rung động. Cảnh này Hoàng đã chụp trên chục lần nhưng chưa lần nào ưng ý như lần này. Có lẽ do sự tĩnh lặng của buổi ban mai, mà cũng có thể do hình ảnh đơn độc của con thuyền nhỏ giữa mặt hồ yên tĩnh bao la chẳng khác nào một bức tranh vẽ của một hoạ sĩ tài danh Trung Quốc mà Hoàng từng trông thấy. Hoàng có ý định ngay chiều mai sẽ cho tráng phim và phóng ngay tấm ảnh đặc sắc này bằng những máy móc và dụng cụ mang theo. Chụp thêm một lô ảnh nữa, đến gần mười hai giờ khi đói bụng Hoàng mới chịu quay về. Định bụng là sẽ ăn mì gói chứ không cần hâm lại thức ăn chị chủ nhà nấu sẵn.Nhưng khi vừa bước vô tới cổng, Hoàng đã ngửi được mùi thức ăn thơm lừng trong nhà. Không lẽ chị chủ nhà trở về sớm? Hoàng lên tiếng hỏi ngay: - Ủa, sao chị nói chiều hoặc sáng mai mới về mà? Đáp lại câu hỏi của Hoàng chỉ là tiếng gầm gừ của con chó già, vốn chỉ nằm trong bếp chứ không khi nào bước ra ngoài trước. Hoàng lại hỏi lần nữa: - Chị về sớm vậy chị Hai? Vẫn không có tiếng trả lời. Hoàng bước thẳng ra sau bếp và khựng lại khi thấy trên bàn đã dọn sẵn thức ăn và cả một chén cơm xới đầy còn nóng hổi bốc khói. - Chị về thật hả chị Hai? Nghĩ là chị chủ nhà dọn cơm xong rồi bước đi đâu đó phía sau nên Hoàng yên tâm đi dẹp giá và chuẩn bị ăn cơm. Nhưng khi ngồi lên mâm cơm thì Hoàng khựng lại, bởi những thức ăn trên bàn không phải do chị chủ nhà nấu. Bởi toàn thức ăn đắt tiền và thịnh soạn đến năm sáu món. - Chị Hai ơi! Hoàng gọi to hơn lúc nãy và bước ra cửa sau, mở cửa tìm quanh quất, vẫn chẳng hề thấy gì. Mà quả là chị chủ nhà không có nhà, bởi cửa sau vẫn còn gài chốt bên trong, mà cửa trước thì khi vào Hoàng đâu thấy ai. Quá đỗi ngạc nhiên, Hoàng ngồi xuống mâm cơm mà chưa dám ăn. Anh cố nhớ lại xem trong nhà này ngoài chủ nhà và anh ra, còn ai có chìa khóa mở cửa vào và nấu cơm. Không hề có, vì suốt mấy ngày qua ở đây Hoàng không thấy cũng như nghe nói có ai khác. Ngồi một lúc mà bao thắc mắc chưa làm sao giải đáp được, nên cuối cùng Hoàng quyết định lấy mì gói ra nấu ăn qua loa cho xong, rồi lên giường ngả lưng. Không buồn ngủ, nhưng chẳng hiểu sao vừa đặt lưng xuống giường chỉ trong chốc lát là Hoàng đã ngủ ngay. Có lẽ giấc ngủ của anh khá dài, bởi khi thức dậy Hoàng nhìn bên ngoài thấy trời đã tối hoàn toàn. Nhìn đồng hồ tay, Hoàng giật mình bật dậy ngay: - Hơn bảy giờ tối rồi sao? Anh nghe bụng đói cồn cào, tính xuống bếp hâm lại thức ăn của chị chủ nhà nhưng khi đi ngang qua chỗ bàn ăn, anh lại giật mình lần nữa khi nhìn thấy một mâm cơm khác hoàn toàn với bữa ăn buổi trưa. Mà các món ăn vẫn còn nghi ngút khói! - Ai trong nhà này vậy? Hoàng hỏi thật to. Nhưng cũng như lúc trưa, vẫn chẳng có ai đáp lại. Anh chàng vừa bực mình, nhưng lại có chút lo lắng. Không nghĩ là ma quỷ gì, Hoàng cho là trong lúc mình ngủ đã có ai đó lẻn vào, mà như thế thể nào đồ đạc trong nhà... Chạy đi xem thì hành lý, túi quần mọi thứ vẫn còn nguyên, cả máy ảnh đắt tiền cũng nguyên vẹn. - Như vầy là sao? Hoàng vẫn không chịu ăn những món trên bàn. Anh lại lần nữa ăn mì gói và sau đó chợt nhớ tới những bức ảnh chụp được buổi sáng, Hoàng lẩm nhẩm: - Kệ, làm việc đi đã! Lấy dụng cụ tráng phim ra, Hoàng cắt đoạn phim chụp lúc sáng ra, tráng ngay. Trong ánh sáng hơi mờ của cái phòng tối ghép tạm trong phòng ngủ, Hoàng hoa cả mắt khi nhìn vào đoạn phim vừa lấy ra khỏi thau nước thuốc, anh kêu lên: - Kỳ vậy? Trong cả ba kiểu ảnh chụp cảnh chiếc thuyền không có người, giờ đây bỗng hiện lên hình một cô gái đang đứng vịn cột chèo! Nghĩ mình vừa mới tỉnh nên hoa mắt, Hoàng đưa tay dụi mấy lần liền rồi nhìn thật gần. Vẫn có một cô gái trong phim! Rõ ràng lúc sáng khi chụp Hoàng đã quan sát rất kỹ, trên thuyền hay thậm chí là chung quanh đó không hề có bóng ai cả! Mà sao... Bao nhiêu thắc mắc dồn dập làm cho Hoàng hơi mất bình tĩnh. Anh quên là muốn phóng ảnh thì phải chờ cho phim khô hẳn, anh định cho vào máy. Khi chợt nhớ ra thì Hoàng treo đoạn phim lên rồi cầm chiếc quạt mo cũ, quạt lấy quạt để cho phim khô thật nhanh. Phải mất hơn hai mươi phút sau anh mới cho vào máy phóng và làm thật nhanh. Một phút sau, khi hình hiện lên trong thau nước thuốc, Hoàng không nén được, đã kêu thét lên: - Trời ơi! Trong ảnh rõ ràng hiện lên một cô gái mặc chiếc áo bà ba màu hồng thật tươi, nổi bật trên mặt nước hồ xanh biếc! Cả ba tấm ảnh chụp chiếc thuyền đều y như vậy. Gương mặt cô gái đẹp như thiên thần, da trắng mịn, môi đỏ thẫm và mái tóc đen tuyền phủ kín bờ vai. Chẳng khác một cô gái trong chuyện liêu trai! Đợi cho ảnh hiện lên đủ bộ màu, Hoàng bật đèn sáng lên, nhìn thật kỹ vào ảnh. Cô gái càng lúc hình như rõ hơn, cười tươi và sinh động hơn, chẳng khác nào một con người thật! Lúc này thì không còn nghi ngờ gì nữa, Hoàng ngồi phệch xuống giường nói một mình: - Có chuyện rồi! Anh tuy nói vậy, nhưng trong lòng cũng chưa nghĩ cụ thể đó là chuyện gì. Ma chăng? Hay lúc sáng anh bị ảo giác, nhìn người hóa ra không khí? Mãi cho đến hơn mười giờ mà Hoàng vẫn không làm sao lý giải được những gì đang xảy ra. Anh ngồi thừ người ra đó cho đến quá nửa khuya. Mỗi lần liếc mắt nhìn xuống mâm cơm còn nguyên đó, tự dưng Hoàng rùng mình, rồi như muốn tung cửa chạy ra ngoài, như có ai đó kêu gọi! Cũng may, lúc Hoàng bước chân xuống giường, anh giẫm phải con chó già, làm nó kêu lên một tiếng khá to, nhờ vậy anh tỉnh người lại rồi lả đi, hai mắt nhắm nghiền lại và ngủ rất say... - Cậu Hoàng. Dậy cậu Hoàng. Tiếng lay gọi khá lâu, Hoàng nghe nhưng không sao dậy được. Phải đến khi ai đó lay thật mạnh, thì Hoàng chới với và mở mắt ra. Nhận ra chị Hường chủ nhà đang đứng bên cạnh giường, Hoàng bật dậy được, vừa ngơ ngác hỏi: - Chuyện gì vậy? Chị chủ nhà lắc đầu: - Tôi đang muốn hỏi cậu, sao ngủ gì mà tới giờ này chưa dậy? Mà ngủ sao không gài cửa trong, lại khóa bên ngoài? Hoàng như chưa tỉnh hẳn: - Tôi ngủ sao? Tôi nhớ... Bé Tâm, con gái chị chủ nhà từ dưới bếp gọi lên: - Sao mâm cơm dọn lên mà để nguyên đây, không ai ăn vậy mẹ? Chị Hường nói với Hoàng: - Bộ cậu chê đồ ăn của tôi nấu sao từ qua đến giờ cơm dọn ra đó không hề ăn miếng nào. Uổng công tôi làm món mực xào dưa leo. Nghe nhắc tới cơm, Hoàng như bị chạm nọc, vội chạy thẳng xuống bếp. Anh quá đỗi ngạc nhiên khi thấy mâm cơm dọn sẵn toàn những món ăn không phải như anh đã thấy hôm qua! Chưa tiện nói ra những gì mình gặp phải, nên Hoàng vờ như còn mê ngủ, anh lẳng lặng trở lên nhà trên. Len lén lấy mấy bức ảnh ra để xem lại. Nhưng lần này Hoàng há hốc mồm, kinh ngạc tột độ bởi cả ba bức ảnh đều không còn cô gái áo hồng trong đó! - Chị Hường! Chị nhìn xem... Nghe gọi chị chủ nhà chạy lại thì thấy Hoàng chìa mấy tấm ảnh ra và hỏi: - Chị thấy gì không? Chị chủ nhà nhìn ba tấm ảnh rồi khen: - Cậu chụp đẹp quá. Cảnh này ít có ai chụp đẹp như cậu. Hoàng gắt lên: - Tôi đâu nhờ chị khen chê, tôi muốn nhờ chị xem có thấy ai trong hình không? Cầm tấm hình nhìn lại thật kỹ, chị ta lắc đầu: - Hình cảnh không chứ có ai đâu? Bộ cậu chụp ai hả? Hoàng tưởng phát điên lên, anh lắp bắp: - Tôi... tôi chụp... Không thể nói để người ta hiểu, Hoàng vội tìm đoạn phim còn lưu trong máy phóng đêm qua. Vừa lấy ra Hoàng lại kêu lên: - Sao vầy nè? Anh đưa đoạn phim lên phía ngược sáng và ngơ ngác, bởi tấm phim giờ đây chỉ toàn một màu đen. Phim hư hoàn toàn. Làm nghề này lâu năm, Hoàng tin chắc anh không ngớ ngẩn đến nỗi làm cho phim hỏng như thế này. Vả lại một khi phim đã tráng rọi, đã phóng ra ảnh rồi thì làm sao có thể toàn đen như thế này được? Hết vò đầu, bứt tóc, rồi chép miệng, nhưng Hoàng vẫn chưa giải thích chuyện gì đã xảy ra nên chị chủ nhà hỏi: - Có chuyện gì vậy cậu Hoàng? Bất ngờ, Hoàng quay sang bé Tâm, hỏi: - Nãy giờ con có lục phá gì của chú không? Con bé lắc đầu, đáp: - Con đâu có dám. Chị chủ nhà cũng nói vô: - Con Tâm chưa bao giờ dám phá phách đồ đạc của ai trong nhà này. Mà cậu bị mất cái gì hay sao? Hoàng nhẹ lắc đầu: - Dạ không! Anh cầm ba tấm ảnh xem lại lần nữa rồi nói: - Có mất là mất cô ta thôi! Chị chủ nhà nhíu mày hỏi: - Cậu nói cô nào? Mà sao lại mất? Không còn giấu được nữa, Hoàng thuật lại chuyện, anh nhấn mạnh: - Khi phóng ảnh ra tôi nhìn thấy rõ ràng cô gái áo hồng vịn cột chèo miệng cười rất tươi. Không tin vào mắt mình tôi xem đi xem lại hàng chục lần. Vậy mà... Chị chủ nhà hết nhìn ảnh rồi nhìn Hoàng, chị ta hoàn toàn không tin những gì anh nói: - Chắc hôm qua ở nhà cậu nhậu nhiều lắm phải không? Hoàng tức lên: - Hoàn toàn không có một giọt rượu nào cả. Anh quên cả việc ăn điểm tâm, vội xách máy ảnh đi ra ngoài. Hoàng quyết trở lại bờ hồ và phải chụp cho được con thuyền hôm qua. Nhưng khi trở lại chỗ cũ thì không còn thấy con thuyền đâu nữa. Toàn bộ mặt hồ rộng lớn vắng lặng, thậm chí không thấy con chim con bướm bay lượn như thường khi. Thất vọng Hoàng ngả lưng dựa gốc cây và lúc này anh mới cảm thấy cơn đói cồn cào trong bụng. Hai gói mì hôm qua làm sao đủ chất dinh dưỡng cho một cơ thể cường tráng như Hoàng. Anh nhắm mắt lại để ghìm cơn đói và cũng để trấn tĩnh lại tinh thần sau những gì đã xảy ra. Khi mở mắt ra, Hoàng suýt kêu lên bởi ngay bên cạnh chỗ anh ngồi, có một ổ bánh mì mà mùi ba tê thịt xông lên mũi, làm cho Hoàng tỉnh hẳn người. Anh nghĩ, có lẽ chị chủ nhà biết anh đói nên đem ra. Nghĩ vậy nên Hoàng cầm bánh mì ăn một cách ngon lành. Nhưng khi ăn xong thì Hoàng mới chợt nhớ là ở cái xóm vắng, xa chợ đến hơn chục cây số này thì làm gì có loại bánh mì thịt này. Anh bật dậy, chạy ngay vô nhà, hỏi ngay từ ngoài ngõ. - Chị mua bánh mì cho tôi hả chị Hai? Chị chủ nhà đang tưới rau bên hông nhà, nghe hỏi thì ngạc nhiên nói: - Ở đây thì làm gì có bánh mì mà mua. Tôi đã nấu cơm cho cậu ăn sáng với cá khô sặc. Ở đây ăn cực một chút nhưng rồi quen cũng thấy ngon. Cậu vô ăn với bé Tâm đi, nó đang chờ cậu trong nhà đó. Lúc này Hoàng mới cảm thấy trong bụng mình không ổn. Nó vừa sôi lên, lại như đang quặn đau. Anh chỉ bước đi mấy bước nữa đã ôm bụng và lăn lộn ngay dưới đất. Sợ quá, chị chủ nhà hỏi lớn: - Cậu sao vậy, cậu Hoàng? Lăn lộn dữ dội một lúc, bỗng Hoàng nôn ói ra toàn là một màu xanh pha chút nâu đen. Chị chủ nhà nhìn thấy đã phải kêu lên: - Toàn là cỏ và đất cát! Trời ơi, sao vậy? Hoàng ngất lịm sau cơn ói tới mật xanh mật vàng. Chị chủ nhà thì thẫn thờ đứng nhìn. Hồi lâu chị khẽ chép miệng: - Không lẽ... Không ai nghe mấy lời của chị. Chỉ có bé Tâm đứng từ trong nhà nhìn ra, nó sợ phát run khi thấy Hoàng như vậy. Và cũng giống như trước đây, mỗi khi có việc gì đó bất thường, con bé đều hướng về ngôi nhà nhỏ phía sau vườn lâm râm cầu khấn. Mà cầu cái gì bé Tâm cũng không biết cụ thể, chỉ nhớ mẹ nó dặn: "Vái cho yên nhà yên cửa...", vậy thôi. Ngoài sân, Hoàng đã được chị chủ nhà kè đứng dậy, đưa vô nhà. Lúc này anh mới tỉnh lại và rất tỉnh táo nói: - Lúc này tại tôi ăn ổ bánh mì mà tôi cứ tưởng là của chị. Ngập ngừng một lúc, chị chủ nhà nói: - Nói ra điều này cho cậu nghe thôi, chớ tôi cũng không biết nó thật hư ra sao nữa. Hồi cách nay một năm, cũng có một người xuống câu cá ở hồ và bị giống như cậu vậy. Nhưng họ nặng hơn, phải đưa đi bệnh viện cấp cứu! Hoàng nghe kể mà chừng như không quan tâm lắm. Anh chỉ ậm ừ: - Tôi may mắn hơn họ... Hình như chị định nói thêm gì đó nhưng thấy thái độ của Hoàng chị lại thôi. Bỗng bé Tâm từ trong nhà chạy ra vẻ hốt hoảng: - Mẹ! Con vừa thấy cô ấy! - Cô nào? - Cái cô mà cậu Hoàng nói, cô áo đỏ! Hoàng đang thừ người nghe thế đã bật dậy ngay: - Cô ấy đâu? Bé Tâm chỉ tay ra vườn: - Ở ngoài ngôi nhà nhỏ ngoài vườn! Lúc này mặt mày chị chủ nhà bắt đầu xanh tái, chị ôm con vào lòng run run: - Mẹ đã nói rồi. Con đừng có ra ngoài chỗ đó. - Dạ đâu có. Con đứng trong cửa sổ nhìn ra thấy. Cô ấy đi từ ngoài vào nhà và đưa tay vẫy con nữa. Nó càng kể thì mẹ nó càng sợ, chị muốn bịt miệng nó nhưng không kịp. Trong lúc Hoàng thì hỏi dồn: - Ngôi nhà nhỏ có phải là nhà cũ đóng kín cửa sau vườn không? Nhà ấy chị nói với tôi là nhà kho hay nhà thờ gì ấy đúng không? - Ờ nhà đó... Hôm Hoàng mới tới anh đã có ý định thuê gian nhà đó để ở cho riêng biệt nhưng chủ nhà không cho. Đã hai ngày qua, bởi nó quá cũ kỹ lại nằm khuất sau mấy gốc cây to nên Hoàng không còn để ý gì nữa. Nhưng bây giờ anh lại nôn nóng trong lòng. Cứ muốn chạy ra đó ngay. Chừng như hiểu ý, chị chủ nhà một lần nữa dặn: - Không ai được bén mạng tới chỗ đó, kể cả cậu Hoàng nữa, còn con, nhớ lời mẹ dặn chưa, lần sau cũng không được nhìn vào đó, cũng như... Bé Tâm ngây thơ nói: - Nhưng con đã nhìn thấy rồi. Đúng y như cậu Hoàng nói, cô ấy mặc áo đỏ, tóc dài. Lần này chị bắt buộc bụm miệng con lại và kéo nó vào nhà trong. Hoàng nhắm hướng sau vườn bước ra. Anh đứng trước ngôi nhà cũ cửa đóng kín, sau vài phút ngần ngừ, anh đưa tay lên gõ ba cái rồi đứng chờ. Có đến gần mười phút mà vẫn không nghe động tĩnh gì, Hoàng có hơi thất vọng, định quay đi, bỗng cả người anh như bị ai đó đẩy mạnh, té nhào vào trong, cánh cửa bật ra và nuốt Hoàng vào trong đó. Bóng tối bao trùm chung quanh. Hoàng vừa chồm dậy thì như bị sức ai đó đè xuống. Có một mùi thơm phả vào mũi và từ lúc ấy Hoàng nửa tỉnh nửa mê. Khi tỉnh lại... Hoàng nhìn quanh thì thấy mình nằm trên chiếc giường nệm trải drap trắng tinh, thoang thoảng trong phòng mùi thơm quen thuộc làm cho Hoàng muốn nằm mãi để tận hưởng... Nhìn đồng hồ tay, thấy đã hai giờ, Hoàng chẳng hiểu là hai giờ nào, bởi hình như anh đã ngủ một giấc khá dài mà căn phòng anh đang nằm lại kín bốn bề, không làm sao nhìn ra được bên ngoài. Cạnh anh lúc này cũng không có ai, nhưng hơi ấm của chiếc gối kế bên và chỗ nằm trên nệm chừng như còn nóng, nên Hoàng đoán là ai đó mới nằm. Mà là ai? Hoàng chỉ nhớ mang máng là lúc bị đẩy vào đây thì anh ngửi được mùi hương của phụ nữ. Và trong suốt giấc ngủ chập chờn anh cũng có cảm giác là mình đang nằm với một người khác phái... - Cậu Hoàng ơi. Cậu ở đâu? Rõ ràng có người đang gọi tên mình. Nghe rõ nhưng nhất thời Hoàng không làm sao lên tiếng được. Tuy tỉnh và nằm trên giường, nhưng người thì không cử động được miệng thì như người bị bệnh á khẩu. - Cậu Hoàng ơi! Lần này tiếng gọi lớn hơn và hình như có cả tiếng đập cửa. - Cậu có trong này không cậu Hoàng? Cánh cửa bật mạnh ra, ánh sáng lùa vào làm cho Hoàng hoảng hốt lấy tay che mặt lại! Bỗng có ai đó la lên: - Có người trong này. Có ánh đèn pin rọi vào và giọng reo lên của chị chủ nhà: - Đúng là cậu ấy rồi! Hoàng được mấy người nữa kéo ra từ căn phòng bỏ hoang. Họ ngạc nhiên hỏi: - Sao anh lại nằm trong này, coi kìa người dính đầy màng nhện và bụi bặm. Một người khác soi đèn kỹ hơn và phát hiện, trong phòng tối tăm đó có mấy tượng người bằng đất và thạch cao… Những tượng nguyên người và cả tượng bán thân nữa, hầu hết là tượng phụ nữ. Người khác có vẻ rành lên tiếng: - Đây là cái nhà kho chứa tác phẩm của nhà điêu khắc nguyên là chủ nhân của ngôi nhà này. Lúc chết đi không hiểu sao người nhà không dọn hết mà để lại như vậy? Chị chủ nhà có vẻ không muốn mọi người nói nhiều chuyện này nên nói lảng ra. - Ta mau đem cậu Hoàng vào nhà đi, coi cậu có bị gì không. Tôi đã nói rồi mà, ngôi nhà này có nhiều điều... còn chưa rõ ràng, nhất là những lúc như thế này... Chị nói mà chừng như giấu điều gì đó không tiện tiết lộ ra. Vả lại trong lúc này chị nhìn bộ dạng của Hoàng mà phát lo. Hình như Hoàng đang rơi vào trạng thái như mất hồn.. Những người giúp đi tìm Hoàng, sau khi cứu anh ra khỏi nhà kho rồi, họ từ từ giải tán hết. Còn lại với Hoàng chị chủ nhà nhìn thẳng vào anh, nói: - Anh có biết gần suốt một đêm rồi, tui và bé Tâm đi kiếm khắp nơi, quý anh quá nên báo động cho mọi người biết. Đâu ngờ anh lại vô trong nhà đó. Hoàng nói trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh: - Đó là căn phòng đầy đủ tiện nghi, phòng của cô gái đẹp như tiên nữ, sao gọi là nhà kho được. Như để chứng minh cho lời nói của mình, Hoàng đưa tay áo của mình lên trước mũi chị chủ nhà: - Hương thơm của nàng ta còn đây, rõ ràng chưa? Đúng là có mùi thơm rất lạ, nhưng vừa hít vô tức thời chị chủ nhà cảm thấy xây xẩm mặt mày, đầu óc lảo đảo... - Đừng cậu... Chị đóng hết cửa lại rồi rất nghiêm túc với Hoàng: - Tôi nói điều này xin cậu đừng giận. Có lẽ ngày mai cậu nên dọn đi chỗ khác ở. Mà ngay như mẹ con tôi phải về bên ngoại bé Tâm ở thôi. Tôi lo lắm... Chị ta nói thật lòng nhưng Hoàng rất lơ mơ, anh nói lảng qua chuyện khác: - Bữa nay tôi đi chụp ảnh đến chiều tối, đừng đợi cơm. Anh lấy máy ảnh đi như chạy ra ngoài, mặc dù lúc đó trời mới vừa hừng sáng. Nhìn theo bóng Hoàng chị muốn gọi lại, nhưng đành bất lực. Phần 2 Câu Chuyện Thương Tâm Cuối cùng, do nói cách gì Hoàng cũng không chịu dọn đi, nên mẹ con chị chủ nhà đành giao lại chìa khóa cho Hoàng và dặn: - Cậu ở vừa giữ nhà cho tôi luôn. Tiếc là tôi không ở để lo cơm cho cậu được. Có điều chúng tôi khuyên cậu không nên tơ tưởng đến cô gái mà cậu mô tả là người đẹp áo hồng của cậu. Tôi nghĩ có liên quan đến ông điêu khắc gia trước. Rồi chị hạ thấp giọng, như sợ có người nghe: - Mà ông ta cũng đã chết rồi. Kể từ hôm xảy ra chuyện ngủ trong nhà kho đến nay Hoàng trở nên lầm lì, ít nói và suốt ngày chỉ vùi đầu vào công việc. Anh đi chụp ảnh thật xa, và thường đi từ sáng sớm tới tối mịt mù về. Không nghe Hoàng nhắc tới cô áo hồng, nhưng con bé Tâm mách với mẹ có hôm nó vẫn thấy cậu Hoàng ra ngoài nhà kho và quỳ ở cửa, đợi rất lâu rồi mới thất vọng đi vô. Những lần như vậy Hoàng lại lầm lì hơn. Có điều là kể từ đó xem ra Hoàng có vẻ thoải mái hơn. Trong số ảnh mới chụp có đến trên ba mươi pô chụp cái nhà kho, mà chụp đúng một góc độ. Thì ra Hoàng đã mấy đêm liền ngồi trong phòng mình, xuyên qua cửa sổ mà chụp cánh cửa đóng kín như chờ sự xuất hiện của người mà anh mong đợi. Và đêm nay anh lại ngồi đợi và chụp đến kiểu thứ tám thì chợt Hoàng reo khẽ: - Nàng! Cô gái áo hồng vừa xuất hiện ở cửa nhà kho và Hoàng đã kịp chụp liền nhiều kiểu. Chụp xong, anh đứng lên định chạy ra thì bỗng có ai đó lên tiếng từ sau lưng: - Chụp lén đâu phải là nghề của một nhà nhiếp ảnh nghệ thuật! Hoàng chưa kịp quay lại thì một người đàn ông trung niên lạ mặt đã rất tự nhiên ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh. Ông ta giằng lấy chiếc máy ảnh trong tay Hoàng: - Cám ơn anh đã chụp cho tôi khá nhiều ảnh thế này! Ông đưa máy đến trước mặt Hoàng cho anh nhìn và Hoàng không thể tin vào mắt mình: trong sáu bức vừa chụp cô áo hồng, giờ tự dưng trong ảnh hiện lên ảnh của chính người đàn ông này! - Anh không nên ngạc nhiên. Bởi từ hổm nay, tất cả những gì anh nhìn thấy đều là... ảo cả. Tôi đây mới là thật! Ông ta bất chợt đưa tay chụp vào vai Hoàng khiến anh rùng mình suýt kêu lên, bởi cái lạnh buốt thấu thịt da ông ta truyền sang làm Hoàng không tài nào chịu nổi. Cũng may vừa lúc ấy ông ta đứng vụt dậy, nói gọn một câu trước khi bỏ đi: - Anh sẽ bắt đầu hiểu điều chưa hiểu! Khi Hoàng định thần lại thì bóng ông ta đã mất hút ngoài màn đêm. Cũng từ giây phút ấy Hoàng như một người khác, anh dẹp chiếc máy ảnh sang bên, đứng lên rồi đi thẳng ra ngoài, nhắm hướng hồ nước bước tới. Lúc đó là nửa đêm, nhưng hình như Hoàng không để ý, anh không cần quan sát, cứ thế lao thẳng xuống hồ và mất hút! Nếu giờ đó mà có ai nhìn cảnh ấy chắc là sẽ lo lắng lắm, bởi hồ nước này có tiếng là sâu và có lắm điều bí ẩn khó lường... Tuy nhiên chỉ chưa đầy năm phút sau đã thấy Hoàng trồi lên, trên tay đang kéo một vật gì đó khá nặng. Đó là một cái bao tải cột kín miệng. Hoàng chẳng cần mở ra xem, anh kéo lên bờ và đi nhanh về nhà. Một cách trân trọng, Hoàng lúc này mới mở miệng bao và lôi từ từ ra từng... khúc xương người! Phải mất mười lăm phút Hoàng mới lôi được hết những gì có trong bao tải và những khúc xương đó ráp lại đúng hài cốt một người không thiếu một chi tiết nào. Trong lúc quần áo mình vẫn còn đẫm nước thì Hoàng lại dùng khăn sạch lau kỹ từng khúc xương kia. Lau xong phần nào anh đặt chúng một cách cẩn thận vào chiếc rương vốn chứa dụng cụ. Xong hết anh đóng nắp lại và cẩn thận đẩy rương vào gầm giường, che khuất tầm mắt của mọi người. Lúc đó Hoàng mới nghĩ đến việc thay quần áo và leo lên giường nằm rất thoải mái, như vừa hoàn thành một nghĩa vụ quan trọng! Lúc này có lẽ khoảng hai giờ sáng. Hoàng như cố tìm một giấc ngủ bù, thì có một bóng người từ dưới gầm giường chui ra, nhẹ nhàng leo lên chỗ nằm của Hoàng. Hoàng chưa kịp lên tiếng thì đã nghe giọng rất khẽ và rất trẻ trung phát ra: - Em đây mà! Hoàng im lặng, chỉ có giọng của cô nàng: - Cám ơn anh đã giải thoát cho em. Nếu không có anh thì cả đời em phải nằm sâu dưới đáy hồ kia. Cho em lạy anh một lạy. Trong bóng tối vậy mà Hoàng đưa tay chụp một cách chính xác vào cổ tay cô nàng, ngăn lại: - Nếu lạy thì em nên lạy anh chàng điêu khắc gia kia! Cô nàng có vẻ hốt hoảng: - Sao vậy? Anh điêu khắc làm sao? Giọng Hoàng chùn xuống: - Chính anh ta tới đây và khiến anh lặn xuống hồ vớt em lên, chứ tự dưng làm sao biết chỗ em bị dìm dưới hồ. Giọng nàng thảng thốt: - Thôi rồi, anh ấy đã thay vào chỗ của em! Tội cho anh ta! Lúc này giọng ngạc nhiên là của Hoàng: - Sao lại có chuyện đó? Không phải anh ta muốn cứu em lên để cùng được giải thoát? Cô nàng khóc nức nở: - Tội nghiệp anh ấy! Chỉ vì em mà anh phải kiếp nạn nhưng dẫu sao thì cũng không phải nằm ở đáy hồ như em! Có lẽ đoán là Hoàng sẽ hỏi thêm, nên cô nàng chặn ngang: - Chuyện rắc rối lắm, tốt hơn anh đừng hỏi gì nữa! Nhưng Hoàng vốn bản tính chân thực, anh vẫn hỏi: - Nếu bây giờ xuống đem anh ta lên có được không? Giọng nàng hốt hoảng: - Không! - Sao vậy? Giống như anh mới lặn xuống đưa em lên đấy thôi. Câu nói của nàng làm Hoàng lạnh người: - Lúc ấy anh sẽ là người thay thế anh ấy nằm mãi mãi dưới đó! Cả hai người, em không muốn ai phải chịu như vậy cả, nhất là bây giờ em cần anh. Có lẽ vì không phải là người trong cõi âm nên Hoàng chưa làm sao hiểu được sự tình. - Em đi đây! Hoàng bật dậy kéo tay cô nàng lại: - Em đã về đây rồi, sao lại đi? - Em sẽ tìm cách đưa anh ấy lên. Nhưng người làm việc ấy không phải là anh mà chính là ả ta, con người nhẫn tâm đó! Hoàng chỉ muốn được có cô nàng bên cạnh lúc này, nên cố níu lại. Giọng nàng không còn căng thẳng như vừa rồi: - Hãy cho em đi, rồi em sẽ trở lại ngay khi xong việc. Từ nay em đã là của anh rồi, em ở ngay trong nhà này mà. Chỉ sợ là rồi anh sẽ chán em, sẽ lại như những người đàn ông khác trên cõi đời! Hoàng đành phải buông tay ra. Nhưng đến khi nàng bước khỏi giường thì bỗng trong đầu anh hiện lên hình ảnh của bé Tâm và mẹ nó. Cũng chẳng hiểu sao như vậy, nhưng linh tính như mách bảo cho Hoàng điều gì đó, anh lao người theo vừa gào lên: - Không được! Bị chụp bất ngờ nên cô gái ngã xuống đất và chỉ trong phút chốc tan biến, để chỉ còn lại bộ xương khô. - Xin lỗi! Anh không cố ý... Toàn căn phòng như sực nức mùi hương. Hương thơm quen thuộc của cô gái áo hồng. Rồi bộ xương người cũng dần tan theo không khí. Hoàng ôm mặt khóc nức nở. *** Tìm hơn một giờ, cuối cùng Hoàng mới tới được ngôi nhà ở ngã ba sông.Anh nhìn thấy bé Tâm đứng trước cửa thì mừng khôn xiết. - Chú đi tìm suốt sáng đến giờ! Tâm cũng ngạc nhiên lắm: - Cậu Hoàng đi tìm chi vậy? Mẹ con... Chị chủ nhà vừa từ trong bước ra, chị sửng sốt: - Sao cậu biết nơi này? - Tôi tìm chị và bé Tâm. Có chuyện này... Hoàng thấy có nhiều người nhìn nên nói nhanh: - Chị có thể về bên nhà một chút được không, chuyện này quan trọng lắm, tôi cần nói... Chị chủ nhà nói thẳng: - Tốt hơn hết là cậu nói ở đây. Bởi tôi sẽ không trở về bên ấy trừ khi cậu đem vật đó đi nơi khác! Hoàng ngạc nhiên: - Chị nói vật gì? - Cái rương chứa xương dưới gầm giường cậu! - Kìa chị... Hoàng không ngờ chị này biết điều mà đúng ra chỉ mình anh biết, anh vừa ngạc nhiên vừa sợ sệt, bước lùi lại hai bước, tròn mắt nhìn chị ta: - Sao chị biết? Chị chủ nhà sắc mặt đanh lại: - Không ngờ cậu trả ơn tôi bằng cách đó! Hay cậu muốn hại tôi? - Sao chị nói vậy? Chẳng qua tôi chỉ... - Nếu thế cậu tìm tới đây làm gì, nếu không để giết tôi như sự sai khiến của con đó? Lời lẽ chị này hoàn toàn xa lạ với một chị chủ nhà mà Hoàng biết từ vài tuần nay. Đúng hơn là một con người khác! Nhìn Hoàng đứng thừ ra, chị ta lặp lại câu hỏi: - Có phải cậu tới đây để giết chết tôi không? Hoàng lúng túng: - Dạ... Không! Không hề. - Cậu không giấu được tôi đâu. Bộ cậu tưởng tôi ra khỏi nhà rồi không biết gì hay sao? Nói cho cậu rõ, tôi còn biết cậu đem xác con nhỏ áo hồng từ hồ lên, cho nó ở ngay trong nhà tôi nữa và như vậy có nghĩa là vĩnh viễn cậu không cho tôi trở về nhà của mình. Nói xong chị ta quay vô nhà, để Hoàng đứng đó. Lát sau bé Tâm đi ra, cầm trên tay vật gì đó gói kín trong miếng vải nâu, nó đưa cho anh: - Mẹ con nói, nếu cậu còn muốn mẹ con về thì cậu đem vật này đặt lên nắp rương dưới giường cậu. Đặt và để đó luôn không được lấy đi. Cầm vật đó trên tay, Hoàng đoán được đó là một pho tượng. Anh định hỏi thì bé Tâm đã quay nhanh vào trong như đã được mẹ nó dặn trước. Chẳng còn cách nào hơn, Hoàng đành trở về. Về tới nhà Hoàng mới phát hiện pho tượng mà anh mang về là một tượng Phật Bà bằng đồng thau đã rất cũ nhưng vẫn còn nguyên vẹn. Chẳng hiểu ý nghĩa của việc mình làm, nhưng Hoàng vẫn y theo lời dặn, đem pho tượng định đặt lên nắp rương. Nhưng khi sắp thực hiện thì thấy không ổn, bởi ai lại để tượng Phật nằm dưới gầm giường! Nên suy nghĩ một lúc, Hoàng di chuyển chiếc rương ra ngoài, đẩy nó nằm sát một góc nhà và đem pho tượng đặt trịnh trọng trên đó, giống như cách người ta để thờ. Hoàng vừa nhấc tay lên thì bỗng có tiếng khóc thét từ trong rương vọng ra. Hoàng cảm giác xây xẩm, lảo đảo sắp té. Trong lúc đó tiếng khóc kèm theo giọng thảm thiết từ trong rương vọng ra: - Hãy thả em ra! Hãy cho em đi, tội em lắm... Những âm thanh kỳ lạ đó như vừa van xin vừa dọa dẫm, làm cho Hoàng đang trong trạng thái lờ mờ đó mà cứ muốn chạy tới mở nắp rương ra. Tuy nhiên anh chưa cất bước được thì thân thể như bị ai đó nhấc cao lên và ném mạnh về phía giường ngủ. Hoàng nằm bất động, không biết đến bao lâu, cho đến lúc có ai gọi cửa dồn dập. Hoàng nghe nhưng không cất người lên được, phải mất vài phút anh mới hỏi vọng ra: - Ai đó? Tiếng của một người đàn ông lạ: - Bọn tôi là khách du lịch, muốn xin phép đi qua vườn để ra ngoài hồ câu cá, xin phép anh! Hoàng muốn ngăn họ lại, nhưng chẳng thể nào làm được. Thấy im lặng, những du khách ngầm hiểu là được đồng ý nên họ vừa đi vô vườn vừa nói với nhau: - Nghe nói nơi này trước đây là khu vườn tượng của một ông họa sĩ kiêm điêu khắc. Ông ta nắn tượng đẹp lắm và thường nắn tặng không cho khách tham quan. Một người đi cùng reo lên: - Vậy là em sẽ được tạc tượng rồi, em thích lắm! Người đàn ông đi cùng lắc đầu bảo: - Em bị thất vọng rồi. Ông điêu khắc gia đó đã chết! Cô gái xinh xắn tiu nghỉu: - Chán quá... Họ gồm hai người, trên tay nào ba lô, nào cần câu, chứng tỏ là chuẩn bị cho một cuộc dã ngoại dài. Chàng trai đi qua khu vườn thấy nó có vẻ hoang phế thì có ý tiếc: - Chắc là từ lâu không ai chăm sóc nên xuống cấp quá. Phải vào tay anh thì khu vườn này đẹp phải biết! Chợt cô gái reo lên: - Ô xem kìa anh! Trước mặt họ hiện ra một cảnh hồ nước đẹp mê hồn. Chàng trai tấm tắc khen: - Cảnh này không phải là thi sĩ cũng làm được thơ! Cô gái trẻ thích thú quá, không đợi được đã chạy bay tới trước. Tới sát bên hồ cô lại một lần nữa reo lên: - Có cả chiếc xuồng nữa kìa! Mình bơi xuồng ra giữa hồ đi anh! Không thể nào cưỡng nổi sức quyến rũ của hồ nước, nên thay vì trải tấm nhựa ra làm chỗ nghỉ chân trước, chàng trai đã đồng tình với người yêu: - Anh sẽ bơi xuồng ra giữa hồ cho em hái sen. Em có nhìn thấy sen nở không? Lúc đó vào khoảng xế chiều. Chiếc xuồng con đậu sẵn với hai mái chèo như sẵn sàng cho một cuộc du ngoạn. Chàng trai cẩn thận dặn người yêu: - Em ngồi quay mặt ra phía trước và nhớ là vịn be xuồng cho chặt, đừng chồm ra ngoài, xuồng lật đó! Họ chèo xuồng ra giữa thì cô gái bị kích động mạnh bởi cảnh đẹp trước mắt nên liên tục reo lên: - Coi mặt trời xuống thấp kìa anh! Mặt nước lặng như tờ, anh thấy không? Ô, còn sen nữa, sao giữa hồ nước sâu mà sen mọc được hả anh? Những câu hỏi tới tấp mà không cần câu trả lời, mà cô gái cũng chỉ để hỏi mà thôi. Cô hết quay sang trái rồi phải và quên cả lời dặn của người yêu, thỉnh thoảng lại đưa tay chụp cái búp sen trong tầm tay, rồi lại một gương sen. Cô như lạc vào cảnh tiên, nên luôn miệng: - Đẹp quá anh ơi! Phải biết thế này mình tới đây sớm hơn. Họ đi một vòng sang tới tận gần bờ bên kia, cô gái giục: - Anh cho xuồng trở lại giữa hồ đi, em muốn ngắm cảnh hoàng hôn ngay trên mặt hồ cơ. Mặt trời dần xuống thấp, ánh chiều dần chuyển sang màu vàng cam cực đẹp. Cô gái gần như rú lên: - Trời ơi! Đẹp như chốn non bồng. Anh ơi, lấy máy ảnh ra chụp đi! Chàng trai chép miệng: - Quên máy ảnh trong balô rồi. Tại lúc nãy em hối quá... Cô gái không hài lòng: - Bơi trở về lấy đi, còn kịp để mình chụp ảnh mặt trời lặn trên hồ. Nhanh lên anh. Lại chiều người yêu, anh chàng cố sức chèo thật nhanh. Nhưng khi chiếc xuồng đang mơn trớn lướt trên mặt nước, thì chợt bị khựng lại và chao đảo như chạm phải vật gì dưới nước. - Sao vậy anh? Chàng trai chưa trả lời thì chiếc xuồng đã bị hất tung lên, bắn cả hai người ra ngoài! - Cứu em! Chỉ nghe đúng một tiếng như thế rồi thì im bặt... *** Hoàng vẫn chưa bước xuống giường được dù anh biết mình đã nằm qua một đêm, người cảm thấy khỏe hơn, tỉnh táo hơn.Nhìn qua cửa sổ thấy mặt trời đứng bóng, đoán là mình thiếp đi có đến hơn chục tiếng, Hoàng nhớ lại tiếng khóc từ trong rương, anh liếc nhìn thì thấy tượng phật vẫn còn nguyên vị trí, mà tiếng kêu khóc thì có lẽ đã im bặt từ lúc anh ngủ. Cố nhớ lại mọi việc, Hoàng hơi ngạc nhiên về thái độ của chị chủ nhà, cũng như việc chị đưa pho tượng bảo mang về, có nghĩa chị ta đã biết trước hiệu quả của pho tượng ấy. Hoàng đã từng nghe người ta kể về việc các hồn ma rất sợ các tượng Phật, Chúa hay hình chữ vạn, chữ thập. Phải chăng chị chủ nhà này đã biết rõ về các hồn ma trong nhà mình? Vậy tại sao lúc đầu xảy ra chuyện chị ấy vẫn tỏ ra thờ ơ, cho đến khi quyết định bỏ nhà đi? Bao nhiêu thắc mắc cho đến phút đó Hoàng hầu như không sao giải thích được. Mà đầu thì còn nặng trĩu, nên sau vài phút nhìn quanh, Hoàng lại nhắm nghiền mắt, cố định thần lại. Và bên ngoài lại có những tiếng lao xao. Hoàng mở mắt ra và giật mình khi thấy ngay cửa ra vào có hai người lạ mặt xuất hiện. Một người đang bế trên tay thi thể một cô gái mà quần áo còn ướt đẫm. Người còn lại lên tiếng: - Xin lỗi, chúng tôi phải đường đột vô nhà mà không xin phép trước. Chỉ bởi lúc sáng khi qua đây chúng tôi có gọi nhiều lần mà anh không nghe, nên nghĩ là anh đang ngủ quá say... Chúng tôi muốn nhờ chỗ để cấp cứu người nhà một chút, mong anh thương tình. Hoàng cố lắm mới ngồi dậy được, anh gật đầu ngay: - Mời quý vị cứ tự nhiên, tôi bị bệnh nên không thể. Người khách bế thi thể bước tới đặt cô gái xuống chiếc chõng tre gần hiên. - Chúng tôi không dám để thân thể cô em tôi xuống đất, sợ nhập thổ. Xin đặt nhờ ở đây, để sơ cứu. Hoàng tỉnh táo hơn, anh hỏi: - Cô ấy bị sao vậy? - Nó là em chúng tôi, đi cùng với người bạn trai nó ra hồ nước phía sau đây chơi từ chiều hôm qua rồi không thấy về. Trước khi đi nó có nói là tới chỗ này, nên sau khi chờ không thấy về, chúng tôi mới tới đây lúc mười giờ sáng nay. Gọi hoài mà thấy anh vẫn nằm ngủ, nên chúng tôi mới đi đại ra ngoài hồ nước. Khi nhìn thấy chiếc xuồng bị lật úp giữa hồ, chúng tôi nghĩ tới tình huống xấu nhất là em tôi bị chìm xuồng, chết đuối, nên cùng nhau nhảy xuống hồ mò tìm. Phải tới cách đây nửa giờ chúng tôi mới tìm được con bé. Còn thằng bạn trai thì... Người còn lại bổ sung thêm: - Nghĩ là nó đã chết, bởi từ lúc chúng mất tích đến sáng nay đã qua một đêm rồi, nhưng khi vớt xác đem lên thì tôi thấy tim còn đập. Tôi đã làm hô hấp nhân tạo, nhưng con bé không ói ra giọt nước nào, chứng tỏ khi rớt xuống nước nó không hề bị uống nước, hay nói một cách khác thì nó đã bị ngất đi trước khi chìm xuống đáy hồ. Họ cấp cứu tỏ ra khá rành rẽ, một lát sau cô gái có dấu hiệu hồi phục dần. Lúc này người đàn ông mới nói với Hoàng: - Tôi là một bác sĩ, nhưng nếu không nhờ được chủ nhà cho tá túc để cấp cứu thì chưa chắc đã có kết quả tốt như thế này! Người phụ nữ cũng nói: - Em tôi mà sống được là nhờ lòng tốt của anh đây. Lúc nãy chúng tôi cứ ngại là anh không cho vào nhà, bởi em tôi lúc ấy khác nào là một xác chết, mấy ai dám cho đưa người chết xa lạ vào nhà mình. Một lần nữa xin đội ơn anh! Cô gái đã gần như tỉnh hẳn, vừa mở mắt ra cô ta đã òa lên khóc và gào lên: - Trả lại anh ấy cho tôi! Cô chị phải cúi sát xuống mặt em mình, gọi lớn: - Nguyệt! Chị nè. Cô gái tên Nguyệt lay tay chị mình: - Toàn đâu rồi chị Hai? Toàn bị người ta lôi xuống cái hồ sâu có cái gốc cây to lắm dưới lòng hồ! Bây giờ anh chàng tự xưng là bác sĩ mới ngớ ra: - Thảo nào lúc nãy mình chỉ mò ở bên ngoài. Anh có thấy một hốc cây lớn dưới đó. Anh quay sang vợ, nói: - Anh phải lặn xuống đó lần nữa. May ra tìm được xác Toàn. Cô vợ vẻ lo lắng: - Em không an tâm, hay là... Hoàng cũng vụt nói: - Không được đâu! Vừa rồi là do anh chị may mắn, chứ còn... Anh định nói ra điều mình biết, nhưng lại ngập ngừng. Nhưng dẫu sao anh cũng không đành để một người nữa phải vướng vào bất trắc, nên sau một vài giây suy nghĩ anh gợi ý: - Tốt nhất anh chị nên ra xóm ngoài này nhờ ai đó bơi lặn giỏi, để họ lặn xuống tốt hơn. Bà vợ nghe có lý nên tán đồng liền: - Phải đó! Để em đi kêu cho. Chị đi khoảng gần nửa giờ thì trở lại với một thanh niên lực lưỡng. Anh này khoe: - Tôi chuyên lặn mò cá trên hồ này từ cả chục năm nay. Nếu trả công tôi năm chục ngàn, tôi sẽ lặn xuống cho. - Được rồi, nhờ anh lặn xuống. Mò trong hốc gốc cây. Nếu gặp một người chết chìm thì mang lên ngay giùm! Anh chàng nọ le lưỡi: - Mò tìm người chết à, vụ này... Sợ anh ta từ chối, nên người phụ nữ nói ngay: - Tôi sẽ trả công anh hai trăm ngàn, mong anh giúp cho. Chẳng là cậu bạn của em gái tôi mới rơi xuống đó, giống như cô em tôi đây, vớt lên vẫn còn sống. Cuộc mò tìm diễn ra chóng vánh và có lẽ chuyên nghiệp hơn, nên chỉ sau khoảng mười phút thì anh thợ lặn đã trồi lên báo: - Không có xác chết nào hết, chỉ có một bộ xương. Tôi lấy lên trước một ống xương tay cho mọi người xem. Ống xương được chuyền lên bờ cho mọi người xem. Vừa nhìn thấy thì cô gái đang còn rất yếu bỗng kêu rú lên: - Cái đồng hồ là của anh Toàn! Trong ống xương còn dính theo chiếc đồng hồ dây inox, vật mà chính tay cô gái đã mua tặng cho người yêu nhân dịp sinh nhật anh. Như vầy là... Trong lúc Nguyệt còn khóc nức nở thì anh chàng bác sĩ, anh rể cô lại không tin: - Làm sao chỉ mới tối qua đến giờ mà thi thể rã hết, chỉ còn lại xương cốt? Vợ anh thì giục: - Anh cứ lấy hết bộ xương lên đây. Đồng thời cố tìm kỹ xem có gặp thi thể của cậu ấy không. Người thợ lặn lại lặn xuống. Lát sau trồi lên, anh ta nói chắc nịch: - Không có ai khác ngoài bộ xương này. Đây tôi lấy hết lên. Sau cơn khóc ngất, Nguyệt tỉnh táo lại và kể: - Lúc rớt xuống thì em còn nắm tay anh Toàn, nhưng rồi bỗng như có ai đó kéo mạnh anh Toàn đi, còn đầu em thì va phải vật gì đó thật cứng nên ngất liền. Tuy nhiên trong lúc mê man thì em có cảm giác là anh Toàn bị lôi vào một hốc sâu lắm. Phần em cho đến lúc được vớt lên, em tưởng như mình vừa ngủ một giấc dài vậy. Tuy biết chắc là không còn hy vọng tìm ra xác còn nguyên vẹn của Toàn nữa, nhưng vợ chồng người bác sĩ và Nguyệt vẫn trả thêm tiền để anh thợ lặn tiếp tục mò tìm cho đến khi trời tối. Tuyệt vọng, họ quay trở vô nhà với Hoàng. Nãy giờ theo dõi cuộc mò tìm, Hoàng không hề hé răng, mãi đến khi về lại nhà anh mới nói: - Giờ cũng đã tối rồi, nếu không ngại nhà chật chội, thiếu thốn thì tôi mời quý vị nghỉ lại đây. Nguyệt thật sự chưa muốn về, nên đồng ý ngay: - Mình ở lại đây tới mai đi, anh chị. Chiều lòng em nên họ cùng kéo vô nhà trọ của Hoàng. Nhưng khi vừa bước vô nhà, Hoàng đã khựng lại: - Kìa, anh là... Một người đàn ông lạ đang ngồi trên nắp rương, trên tay cầm pho tượng Phật Quan Âm. Nguyệt bước vô sau cùng, chợt cô la lên: - Anh Toàn! Người thanh niên đang ngồi kia chính là Toàn, chàng trai đã cùng đi xuồng với Nguyệt trên hồ ngày hôm qua. Tuy nhiên anh ta vẫn tỉnh bơ khi nghe Nguyệt kêu tên mình. Chừng như hoàn toàn xa lạ... Nguyệt chạy sấn tới định ôm lấy người yêu thì anh chàng đã xua tay: - Tôi là Dũng, nhà điêu khắc Trần Dũng, chủ ngôi nhà này. Tôi cám ơn người yêu cô đã kịp thời xuống hồ để chết và thay tôi ở vĩnh viễn dưới đó. Tôi không sống lại được, nhưng hồn phách tôi không phải bị phân ly với hồn phách người tôi yêu. Tôi phải giải thoát cho cô ấy! Vừa nói anh ta vừa đứng lên và như có một tia sáng lóe lên từ trong rương, rồi chỉ trong chớp mắt, một người hiện ra, mặc chiếc áo màu đỏ hồng! - Cô là... Cô gái lên tiếng, giọng còn run run: - Tôi là người bị anh dùng tượng Phật dằn lên nắp rương không cho thoát ra ngoài. Mà anh có biết làm như vậy là anh đã tiếp tay cho người ta tiếp tục hại tôi không? Hoàng ngơ ngác: - Tôi đâu biết gì, tôi chỉ... Người trong xác của Toàn kéo cô gái đi: - Chuyện đó ta sẽ nói sau, giờ em phải về để còn lấy sinh khí mà tồn tại. Ta còn phải... Anh ta nói tới đó chừng như không còn sức nữa, mặt bắt đầu biến sắc. Họ kéo nhau đi mà người lảo đảo. Đã từng chứng kiến bộ xương mình vớt từ đáy hồ bữa trước biến thành cô gái áo hồng nên Hoàng nói: - Chuyện này người dương thế chúng ta không biết hết được. Nhưng tôi có thể nói chính người yêu của cô đã tận số và chết chìm xuống hồ để cho hồn của nhà điêu khắc chết trước đây vì lý do gì đó nhập hồn vào. Rồi anh nói chuyện trước đây cho mọi người nghe. Cuối cùng anh nói: - Có lẽ ngay ngày mai tôi cũng rời khỏi đây thôi. Tôi không còn đủ can đảm để tiếp tục ở trong ngôi nhà này. Nơi đây hình như còn có những điều gì đó khó hiểu quá... Nguyệt vẫn còn chưa muốn rời, nhưng nghe Hoàng nói thế nên cô cũng im lặng mà nuốt nỗi đau vào lòng... Họ quyết định rời ngay chớ không ở lại ngủ qua đêm như lời mời của Hoàng. Riêng Hoàng thì tối đó lo thu dọn đồ nghề và dự tính khi trời sáng thì đi mà không đợi chủ nhà, cũng như không cần lấy lại tiền nhà đã đóng trước. Nhưng đến nửa đêm thì mọi dự tính của Hoàng bị phá vỡ khi cô gái áo hồng và hồn phách của nhà điêu khắc trong xác của Toàn đã đột ngột xuất hiện. Họ tỏ ra thân thiện, không có biểu hiện gì là người của thế giới âm. Cô gái vừa khóc vừa nói: - Trước sau gì tụi này cũng phải kể cho anh nghe chuyện của mình. Tuy anh là người ngoài, nhưng lại là người đã có công mang hài cốt của em lên khỏi đáy hồ, giúp em có cơ may đòi được món nợ mà người ta đã vay của tụi em. - Đồng thời tôi cũng muốn nhờ anh để làm sao trả lại hồn phách cho người mà tôi đang vay mượn xác của anh ấy. Tôi hoàn toàn không muốn, nhưng hoàn cảnh bắt buộc phải thế. Họ càng nói thì Hoàng càng như rơi vào mớ tơ vò, anh lắc đầu: - Tôi chỉ muốn sớm rời khỏi đây thôi! Hai người kia đều nói: - Câu chuyện chỉ mới bắt đầu thôi, anh làm sao rời nơi đây được? Họ nói xong cùng nắm tay nhau dìu vào gian phòng mà thường khi mẹ con bé Tâm hay ngủ. Đêm đó dường như họ ngủ lại ở đó. Khỏi nói thì cũng biết là Hoàng thức trắng đêm vì nỗi sợ hãi càng lúc càng tăng thêm. Phần 3 Đền Tội Bé Tâm xách giỏ ra khỏi nhà chỉ một đoạn ngắn thì đã nghe có ai đó gọi tên mình. Con bé nhìn chung quanh không thấy có ai, định bước đi tiếp thì đã thấy một người xuất hiện ngay trước lối đi. Tâm trố mắt nhìn rồi kêu rú lên: - Cô! Xong con bé lùi lại ngay, bởi nó chợt nhớ chính người này đã hiện lên ở ngôi nhà hoang và đã từng bị mẹ dặn không bao giờ được gặp cô ấy nữa. Mẹ từng nói cô ta là ma mà. Thấy Tâm giương mắt nhìn mình với vẻ sợ hãi, cô gái mặc chiếc áo màu hồng cười tươi, bảo: - Cháu không phải sợ đâu, cô vẫn gặp cháu thường xuyên ở ngôi nhà chứa vật liệu đây mà! Cô là người chớ không phải ma đâu. Nào, để cô đi chợ cùng cháu nhé! Cô ta không đợi Tâm đồng ý, đã kéo tay con bé đi nhanh về phía chợ. Tâm lúc đầu có vẻ muốn từ chối, nhưng chỉ một lúc sau thì tự dưng ngoan ngoãn đi theo. Nhưng thay vì đi thẳng vào chợ, Tâm được dẫn đi về phía bến xe lam gần đó. Vía thì muốn hỏi đi đâu, nhưng không cách nào con bé mở miệng hỏi được. Mãi đến khi nhận biết là xe vừa ngừng lại trước cổng nhà mình, thì Tâm nghe cô áo hồng chỉ tay vào trong và hỏi: - Cháu có muốn gặp lại cha không? Nếu bình thường ai hỏi con bé câu đó, nó sẽ đáp ngay rằng nó không còn cha, bởi cha nó đã chết cách nay hơn ba năm rồi. Nhưng lúc này thì Tâm không thể nói gì ngoài việc bước theo người kia. Đã từ gần một tháng qua Tâm không trở về ngôi nhà của mình, nó vừa muốn cất tiếng gọi mẹ, nhưng lại chợt nhớ là mẹ đang ở nhà bà ngoại. - Ba cháu đang đợi trong kia. Lúc đi ngang qua phòng Hoàng, Tâm thấy rõ Hoàng đang nằm trên giường, nhưng nó không làm sao lên tiếng gọi được. Mà Hoàng thì chừng như không còn tỉnh táo. - Ra nhà kho, ba cháu đang đợi ngoài đó. Tâm bước như theo sự sai khiến của ma lực vô hình. Nó vừa bước vô nhà kho thì chợt nó khựng lại, bởi trước mắt nó là một người đàn ông mình mẩy đang ướt đẫm nước. Người ấy ngước nhìn nó với đôi môi đang mấp máy mà không thốt được tiếng nào. Lúc này bỗng dưng Tâm kêu lên được: - Ba! Người được nó gọi là ba, chợt như bừng tỉnh, cũng kêu lên: - Con! Tâm lao tới muốn chụp vào người đàn ông nhưng bị ngay một cái kéo mạnh làm chới với. Giọng cha nó cất lên: - Cha con ta bây giờ chỉ có thể nhìn nhau thôi, con đừng tới gần đây. Tâm la lên: - Không được, ba đã về với con thì phải để cha con mình ở với nhau thôi. Sao ba không vào nhà? Hay ba nghĩ người đàn ông trong kia là gì của mẹ? Không đâu, anh ta chỉ là khách trọ thôi. - Ba không nghĩ gì đâu. Mà bởi ba chỉ còn nguyên hình hài này khi ở trong này. Còn khi bước ra kia thì ba phải ở trong lốt người khác. Ba giờ đây là một hồn ma! Con bé vẫn gào lên: - Ba là cái gì cũng được. Ba vẫn là ba của con mà! Người đàn ông rơi nước mắt, mà đó hình như là hiếm xảy ra với người như ông ta. - Ba bị nhốt dưới đáy hồ, chỉ mới lên được vài hôm nay. Hồn phách của ba cũng không còn tồn tại lâu nữa, nên hôm nay có thể là lần cuối cha con mình gặp nhau. Ba muốn nói với con một chuyện để con hiểu và cũng để con không quá bất ngờ khi sự việc xảy ra. Con có muốn biết tại sao ba chết không? - Ba! Con nhớ rồi, ba đã bị chết đuối dưới hồ! Mẹ kể là chính mẹ đã nhờ người mò tìm cả mấy ngày liền mà không gặp. Mẹ khóc dữ lắm! Người đàn ông ngửa mặt lên trần nhà, cất tiếng cười nghe bi thảm lạ thường: - Khi người đàn bà họ nói dối thì vậy đó con! Bé Tâm hỏi lại: - Ba nói ai nói dối? - Mẹ con đấy! - Kìa ba! - Con hãy bình tĩnh nghe ba nói. Đã từ lâu rồi sở dĩ ba không về được với con là bởi ba và người mà con gọi là cô áo hồng kia, bị mẹ con dìm và nhốt dưới đáy hồ bằng chính pho tượng đồng mà khi sống ba đã tạc. Con nhớ hai pho tượng Phật Quan Âm không? - Dạ nhớ! Một pho mẹ nói mẹ lỡ tay làm rơi xuống hồ, còn pho nữa thì mẹ giữ bên mình, cho đến hôm rồi mẹ gửi cho chú Hoàng đem về nhà, có lẽ vẫn còn trong nhà mình. - Không phải là lỡ tay đánh rơi xuống hồ mà chính mẹ con đã cột pho tượng đó vào xác của ba với cô áo hồng. Chỉ bởi mẹ muốn hả dạ hận thù, đời đời kiếp kiếp ba không được siêu thoát. Bé Tâm gào lên. Làm sao tin được chuyện mẹ nó làm: - Con không tin! Mẹ nói ngày xưa ba có vợ bé, ba bỏ mẹ ra đi với người đàn bà kia rồi chẳng may chết chìm. - Con hãy nhìn khắp gian phòng này xem, có phải tất cả tượng đồng và tượng thạch cao đều là hình mẫu của mẹ con không? Bé Tâm từ nào đến giờ đâu bao giờ bước vào đây, bởi bị mẹ cấm, nay mới có dịp quan sát, nó kêu lên: - Đúng là toàn tượng của mẹ! Giọng người đàn ông bùi ngùi: - Ba vẫn luôn chủ trương là suốt cuộc đời làm nghệ thuật của mình, ba chỉ tạc đúng một người mẫu thôi, đó là mẹ của con. Bởi mẹ là tất cả của ba. Nhưng cho đến một ngày kia, khi ấy con vừa mới sinh ra được tròn một năm thì sóng gió nổi lên. Tự dưng mẹ con không chịu làm mẫu cho ba tạc tượng nữa, với một lý do rất khó hiểu là tạc quá nhiều tượng thì khi chết sẽ không đầu thai được. Ba cố thuyết phục, nhưng mẹ con nhất quyết không nghe, mà còn buộc ba phải bỏ nghề điêu khắc, đi làm nghề kinh doanh dễ kiếm tiền hơn. Tất nhiên là ba không bao giờ chịu, bởi cuộc đời ba sinh ra là để cho cái nghề mà ba đã chọn, giá nào ba cũng đeo nó tới cùng! Vậy là mẹ con giận, từ đó thề không bao giờ bước chân vào xưởng làm việc của ba nữa. Bé Tâm cắt ngang: - Vậy sao mẹ nói ba có vợ bé? - Chính con quỷ ghen tuông trong lòng mẹ con đã dựng lên chuyện đó. Và cũng chính bởi lòng ghen tuông mù quáng đó mà dẫn tới cái chết của ba và cả cô người mẫu mới nữa... - Cô người mẫu mới nào? Chỉ ra phía sau, chỗ cô Hồng đang đứng: - Chính là cô này. Số là khi mẹ không chịu làm mẫu nữa buộc lòng ba phải thuê người khác tới, để hoàn thành những tác phẩm mà ba lỡ ký hợp đồng với người ta. Mẹ con ghen với cô người mẫu này, dù là ba và cô ta không quan hệ bất chính với nhau, để rồi những trận đòn ghen vô lối, tàn nhẫn đã ập xuống đầu cô gái chỉ biết đi làm mẫu để kiếm tiền sinh nhai. Rồi cuối cùng con biết chuyện gì đã xảy ra cho cô Hồng và ba không? Không đợi bé Tâm trả lời, ngừng một chút ông kể tiếp: - Một bữa, khi cô Hồng đang đứng làm mẫu trong tình trạng lõa thể tại gian phòng này thì mẹ con ập vô, dùng nguyên một thùng nước sôi tạt vào người cô ấy! Trong lúc cô Hồng giẫy giụa, đau đớn thì mẹ con đã lấy chiếc bao bố dồn Hồng vào rồi lôi cô ấy ra hồ nước. Ba chạy theo không kịp, bởi khi ấy chân ba bị bó bột sau một tai nạn giao thông. Khi ba chạy ra tới hồ thì mẹ con đã dìm cô Hồng xuống giữa lòng hồ. Ba hoảng hốt nhảy đại theo mà quên là mình không biết bơi! Con cũng biết chuyện gì xảy ra rồi... - Sao mẹ không cứu ba lên? - Điều này con phải hỏi mẹ con, chứ ba làm sao trả lời được? - Thế tại sao ba nói mẹ dìm tượng Phật theo? - Lúc sống ba không tin điều này. Nhưng khi chết rồi thì mới hiểu nếu đặt một tượng Phật hay một vật gì hình chữ Vạn lên một thi thể thì người chết sẽ bị khống chế, không thể hiện hồn. Điều đó có nghĩa là mẹ con sợ ba và cô Hồng hiện về báo oán! Nói tới đó thì toàn thân ông run rẩy, thịt da như sắp sửa tan biến. Cô Hồng đứng phía sau kéo Tâm ra, vừa nói: - Cháu ra ngoài này, rồi chút nữa gặp lại ba cháu. Nhưng cô dặn trước, sau đây ba cháu chỉ có hồn phách thôi, còn thân xác là của người khác. Cháu đừng ngạc nhiên. Tâm theo vô nhà mình. Vừa tới cửa đã gặp một người lạ đứng đó. Chính là Toàn, chàng trai đã chết chìm mấy hôm trước. Lúc này chỉ còn giọng nói khiến Tâm nhận ra đó là cha mình: - Con cứ ở lại đây, rồi mẹ con sẽ về. Bé Tâm ngỡ ngàng nhìn cha rồi cô áo hồng, nó muốn biết bây giờ họ là gì của nhau? Chừng như hiểu điều đó, cô Hồng lên tiếng: - Cô và ba cháu mãi mãi chỉ là hai người không liên quan gì với nhau hết. Chỉ có mẹ con hiểu lầm mà thôi. Quay sang cha, Tâm ngập ngừng nói: - Con đâu thể gọi là cha khi người này... - Ba hiểu! Ba chỉ mượn tạm thân xác này không lâu rồi sẽ trả lại cho người ta. Chợt nhìn vào chỗ Hoàng nằm, bé Tâm hoảng hốt: - Hình như chú ấy bị chuyện gì đó phải không? - Chú ấy là ân nhân của cả ba và cô Hồng, do đó con an tâm. Chẳng ai làm gì chú ấy cả. - Như vậy phải chăng mẹ con sẽ bị trả thù, báo oán? - Ba không làm chuyện ấy! Nhưng còn phải chờ thái độ của mẹ con. Tâm thoáng hiểu, nó nói ngay: - Con sẽ nói cho mẹ biết chuyện, khuyên mẹ nên xin lỗi ba, xin lỗi cô Hồng. - Và cả người thanh niên mà ba mượn xác này nữa! Cô Hồng thở dài: - Nếu được như thế thì chẳng có chuyện gì xảy ra nữa. Ba con và cô chỉ muốn yên hồn phách chờ ngày được siêu thoát. Chỉ e mẹ con... Tâm bỗng quay người chạy một mạch ra ngoài, vừa chạy nó vừa nói vói lại: - Con sẽ đi tìm mẹ! Cả hai người đều nói vọng theo: - Khỏi phải tìm, rồi thế nào bà ta cũng tới! Nhưng con bé đã biến mất ngoài đường lớn. Nhà điêu khắc than: - Oan nghiệt đây mà! *** Chàng trai thợ lặn khó khăn lắm mới tìm được nhà. Vừa thấy chị ta anh chàng kêu giật ngược: - Cô Hường! Người được anh ta gọi là cô Hường chính là chị chủ nhà của Hoàng. Chị vừa thấy anh chàng thợ lặn thì có vẻ hoảng hốt: - Sao... sao cậu tới đây? Sợ có người nhìn thấy, chị kéo vội anh chàng vào nhà: - Vô đây rồi hãy nói chuyện. Vô nhà trong, chị hỏi ngay: - Có chuyện gì vậy? Tôi đã dặn là đừng bao giờ tìm nữa. Cậu không nhớ mọi chuyện giữa tôi với cậu đã sòng phẳng từ lâu rồi sao? Anh chàng hạ thấp giọng: - Pho tượng Phật dưới đáy hồ không còn nữa rồi. Nghe tới đó chị ta phát hoảng: - Sao cậu biết? - Tôi đã lặn xuống đó. Anh chàng thuật lại chuyện mình được thuê lặn tìm xác và nói thêm: - Nhân đó tôi đã mò tìm pho tượng mà ngày trước cô biểu tôi đặt xuống để làm gì đó. Nhưng không hiểu sao bây giờ không còn nữa. Nếu pho tượng đó là vật quý sao cô không cất ở đâu đó trên nhà, mà lại... Hường chận anh ta lại: - Tôi đã trả tiền công cậu hậu hĩnh và cậu chỉ biết vậy thôi. Vả lại cậu đã từng thề độc với tôi là sẽ không bao giờ động tới vật đó mà. Anh chàng thợ lặn nghĩ mình bị hiểu lầm, nên đưa tay lên trời: - Tôi thề độc lần nữa, tôi mà có đem pho tượng đó lên thì cho... Hường cắt ngang: - Đừng thề! Thôi tôi tin cậu. Vậy cậu nói rõ lại cho tôi nghe coi, tại sao ai đó bị chết dưới hồ? - Hình như chỉ là chuyện rủi ro thôi. Nhưng lạ lắm, anh chàng đó mới rớt xuống hồ có một ngày đêm mà thịt đã tan biến hết, chỉ còn lại bộ xương! Hường lẩm bẩm: - Lại một bộ xương... - Ngoài ra tôi còn nghe mấy người đang ở trong nhà cô đang làm điều gì đó như là... Anh ta hạ thấp giọng sát tai Hường: - Tôi thấy con gái cô nữa, nó đang ở đó! Hường xanh mặt hỏi lại: - Nó ở nhà? Không thể được, bởi hôm qua nó đi với bà ngoại về quê cậu nó mà. - Tôi nhìn thấy rõ ràng nó với một cô gái bận áo màu hồng và cả anh chàng mà tôi vớt từ dưới hồ lên nữa! Chính điều đó làm tôi phát hoảng nên mới tìm cô đây. Có chuyện gì đó không hay rồi cô Hường ơi. Hường tin ngay vì biết anh chàng này thật thà. Chị linh tính điều mà lâu nay cứ ám ảnh mình nay đã xảy ra. Chưa bao giờ Hường hoảng sợ như lúc này. - Cậu có cách nào giúp tôi đem con nhỏ về đây không? Chị móc trong túi ra một xấp tiền khá nhiều: - Cầm lấy uống cà phê, miễn sao cậu dẫn con tôi về đây cho được. Cậu làm ngay đi! Thấy thái độ hốt hoảng của Hường, anh chàng định từ chối mà không được. Vừa trả lại tiền anh vừa nói: - Tôi sẽ giúp cô, không tiền bạc gì hết! Rồi anh ta dè dặt hỏi: - Sao cô không về bên đó với nó, hay tự đem nó đi? Không muốn tiết lộ thêm, chị giấu: - Cậu đi ngay giùm tôi đi. Cậu không lấy tiền công thì cũng lấy tiền đi xe. Nhét vội tờ bạc cho cậu ta xong, Hường bước nhanh vào nhà như sợ điều gì đó. Nếu có ai nhìn thấy thì sẽ vô cùng ngạc nhiên, bởi lúc này Hường đang sợ hãi đóng cửa phòng riêng rồi quỳ trước bàn thờ Phật Bà, lâm râm khấn vái. *** Sau một hồi đứng lấp ló bên ngoài, anh chàng thợ lặn mới đánh bạo bước vô và lên tiếng hỏi:- Có ai trong nhà cho tui hỏi. Không có ai đáp lại! Hình như trong nhà không có người, nhưng anh chàng vẫn hỏi lần nữa: - Có ai trong nhà không? Vẫn im lặng. Anh chàng định thối lui ra thì chợt nghe có tiếng động ở chiếc giường. Anh ta chạy tới thì phát hiện Hoàng đang bị trói chặt chân tay, miệng bị bịt kín bởi dây vải. - Phải anh là... Vừa hỏi anh chàng thợ lặn vừa gỡ miếng vải ở miệng và mở trói: - Ai làm gì anh vậy? Hoàng trong tình trạng rất tồi tệ, không thể ngồi dậy được, nhưng vẫn cố nói nhanh: - Ra ngay hồ nước... cứu... cứu con bé! - Con bé nào? - Con của chị chủ nhà! Nói tới đó thì Hoàng đã quá kiệt sức. Anh chàng thợ lặn hốt hoảng, vừa chạy ra hồ nước vừa gọi: - Bé ơi! Bé ở đâu? Vừa ra tới bờ hồ, anh ta thấy con bé Tâm đang đứng trên thuyền một mình, người nó lảo đảo như say rượu, mắt thì nhắm nghiền và như chực lao xuống hồ. Vốn có sức khỏe, lại bơi giỏi, nên anh chàng không chút chần chừ, đã lao nhanh xuống hồ và bơi ra chỗ chiếc xuồng đang bồng bềnh trôi ra giữa hồ. Nhờ bơi nhanh, nên chỉ trong vòng chưa đầy một phút anh chàng đã theo kịp chiếc xuồng. Cũng vừa lúc bé Tâm như có ai đẩy, đã lao xuống hồ trong trạng thái mất cảm giác. Bằng một động tác nhanh nhẹn, anh thợ lặn nhoài người tới và chụp được con bé khi người nó vừa mới chạm mặt nước. Bé Tâm hầu như đã ngất đi, không hay biết gì. Đưa nó lên bờ xong, anh chàng giật mình khi nghe một tiếng gào thật to từ ngôi nhà kho. Tiếng gào của một phụ nữ... - Ai vậy? Từ ngôi nhà hoang chợt có một người đàn ông bế trên tay một người phụ nữ mặc chiếc áo màu hồng bước ra. - Anh chàng chết chìm! Đúng là anh ta, trên tay anh chàng không ai khác là cô gái áo hồng từ mấy hôm nay. Xem ra họ đang gặp chuyện gì đó... Bởi cô gái thì như đã ngất đi, còn anh chàng thì dáng đi lảo đảo, bước từng bước xiêu vẹo... Rồi chỉ đi được chưa hơn chục bước, bỗng anh ta ngã chúi về phía trước, đè lên thân thể cô gái. Sau một lúc chần chừ, anh chàng thợ lặn bế luôn bé Tâm tới chỗ hai người kia đang nằm. Chưa kịp có hành động gì, bỗng anh ta hoảng hốt lùi lại mấy bước. Trước mắt anh ta hai con người kia chẳng hiểu sao đã như bị chảy ra từ từ. Và chỉ một lúc sau thì nơi họ nằm chỉ còn lại hai bộ xương nằm chồng lên nhau! Bé Tâm lúc này vừa tỉnh lại, nó ngơ ngác nhìn quanh, khi thấy hai bộ xương, nó kêu rú lên: - Mẹ ơi! - Cháu đừng sợ, rồi chú sẽ đưa cháu về nhà. Tưởng là Hoàng, nhưng khi nhìn thấy người lạ, Tâm run giọng hỏi: - Mẹ cháu đâu? - Mẹ cháu đang ở nhà. Chú là người ở xóm trên được mẹ cháu nhờ tới đây đón cháu về. - Chú Hoàng đâu? - Chú Hoàng là ai chú không biết! - Là người mướn nhà cháu. Nhớ lại anh chàng bị trói lúc nãy, anh thợ lặn chỉ vô nhà: - Chú ấy nằm trong nhà. - Cháu vào trong đó với chú ấy! Tâm còn yếu nhưng nó vẫn bước đi. Tuy nhiên vừa bước được mấy bước, Tâm khựng lại vẻ sợ sệt: - Trong nhà còn có ai không chú? Chỉ lại phía đống xương, anh nói: - Họ đã như thế rồi, cháu thấy đó! Con bé sợ hãi, bước nhanh hơn... *** Đến chiều thì Hoàng mới tỉnh lại hoàn toàn. Từ gần bốn ngày nay, anh đã rơi vào trạng thái nửa mê nửa tỉnh. Biết hết những việc xảy ra chung quanh nhưng không thể phản ứng gì. Nhất là chuyện bé Tâm bị oan hồn cô Hồng dẫn tới đây với ý định dùng nó làm con tin, bắt mẹ nó phải tới để bắt mẹ nó phải tới chịu sự trả thù. Rồi sau khi con bé bỏ chạy thì bị Hồng khống chế, nhốt trong nhà kho. Sau đó đưa con bé xuống thuyền để đẩy con bé xuống hồ.Hoàng nằm như chết một chỗ đã vô tình nghe hai hồn ma bàn chuyện dùng hồn ma chị chủ nhà tên Hường hoặc của bé Tâm hầu để thế mạng họ nằm dưới đáy hồ. Do là người dương thế, lại bị làm cho bất động nên Hoàng chỉ biết nằm cầu trời cho họ không hại được con bé đáng thương. Cũng may oan hồn người điêu khắc thương con và tìm cách ngăn không cho Hồng ra tay với bé Tâm, nên mới kéo dài thời gian, nhờ vậy anh thợ lặn mới kịp tới cứu. Riêng chuyện hồn phách cô Hồng kêu thét lên rồi ngất lịm, Hoàng nằm ở đó nhìn qua cửa sổ đã thấy hết và cũng hiểu do bé Tâm không chết chìm đúng giờ đó, nên oan hồn không có người thế mạng là cô Hồng phải tiêu tan hồn phách sau thời gian tìm và chờ đợi mà không hại được người đã làm cho cô ta chết trước đây. Tức cuộc báo thù đã không thành. - Có ai ở nhà không, cho tôi xin miếng nước! Hoàng không còn sợ sệt như trước đây, anh bước ra mở cửa thì rất đỗi ngạc nhiên khi thấy một vị đạo sĩ mặc nguyên bộ đồ tu màu đen, thay vì màu vàng hay xám hoặc nâu. - Bạch thầy... Thấy Hoàng khó xưng hô, vị khách lên tiếng ngay: - Gọi ta là cụ ông cũng được. Ta cần ngụm nước, cậu cho được không? Hoàng mau mắn: - Dạ mời cụ vô nhà nghỉ, cháu sẽ rót nước. Vị đạo sĩ vừa bước vô phòng khách đã chép miệng: - Nghiệp chướng nặng nề quá! - Dạ, cụ muốn nói... Chỉ tay ra phía sau vườn, ông ta lắc đầu: - Suýt nữa xảy ra cha giết con, chồng giết vợ rồi. Cũng may... thiện tai, thiện tai! Nói xong ông ta nhắm nghiền mắt, lâm râm cầu khấn điều gì đó. Vài mươi giây sau, ông mở mắt ra chỉ thẳng vào Hoàng: - Ngay như cậu đây, nếu mạng số tận thì bây giờ cậu không còn sống. Cậu có biết là bốn ngày nay, họ giữ cậu lại đây để chuẩn bị đưa cậu về cõi âm để làm ma giữ ngục một khi họ bắt được hồn kẻ mà họ muốn giết hại và nhốt ở đáy hồ kia. Nghe nói Hoàng toát mồ hôi hột, sắc mặt tái nhợt như người đã mất hết máu. Anh run run giọng hỏi: - Liệu cháu có... thoát được không? - Bây giờ thì còn lo gì nữa. Hai bộ xương ngoài kia sẽ vĩnh viễn về với cát bụi. Nói tới đây bỗng ông kêu lên: - Không xong rồi! Mau cứu người chết oan kia lên, nếu để chậm trễ thì không còn sống lại được nữa! Hoàng ngạc nhiên: - Cụ nói ai? - Chàng trai bị chết chìm cách nay hơn một tuần. Ông bấm đốt ngón tay xong thì lại kêu lên: - Không khéo chậm mất rồi. Cậu ta chỉ còn sống chưa tới nửa giờ nữa. Có ai nhảy xuống hồ đưa cậu ấy lên ngay đi. Vừa nói ông vừa chạy bay ra hồ nước. Có cả Hoàng theo sau. Trước sự kinh ngạc của Hoàng, vị đạo sĩ lao vút xuống hồ và mất bóng dưới nước. Mãi hơn năm phút sau ông mới trồi lên, trên tay ôm xác một người. Khi ông bước hẳn lên bờ rồi Hoàng mới nhận ra người trên tay ông chính là chàng trai chết chìm mà mấy bữa nay hồn phách nhà điêu khắc đã nhập vào. Đặt cái xác xuống, ông dùng một ngón tay ấn mạnh vào đỉnh đầu chàng trai xấu số một cái rồi bước lùi ra mấy bước, bảo Hoàng: - Cậu giúp báo cho người nhà cậu ta tới, đưa cậu ta về! Cũng may là tôi tới kịp, nếu không thì vĩnh viễn cậu ấy sẽ nằm dưới kia. Chỉ tay về hai bộ xương đằng kia, ông nói: - Họ cũng đáng thương, nhưng dẫu sao thì họ cũng đã chết do một vụ sát hại, tức có hận thù. Họ đành phải chấp nhận thôi. Còn chàng trai này chết oan, phải giúp cho cậu ấy trở lại với kiếp sống của mình. Hoàng nhìn kỹ và rất đỗi ngạc nhiên khi thấy cả hai bộ xương chỉ trong loáng mắt đã biến mất, cùng lúc là sự tỉnh lại của chàng trai. Anh chàng ngơ ngác nhìn chung quanh rồi gọi to: - Nguyệt! Em đâu rồi? Hoàng lên tiếng trấn an: - Cô ấy đã an toàn trở về nhà mấy bữa trước rồi. Còn anh thì nhờ cụ ông đây cứu. Hoàng quay sang định giới thiệu vị đạo sĩ, nhưng không còn thấy ông ta đâu nữa! - Ủa? Anh chàng vừa hồi sinh hỏi Hoàng đủ thứ chuyện, nhưng anh chỉ lắc đầu: - Tôi cũng là khách phương xa tới đây như anh, chẳng biết gì nữa. Mà thôi, dù gì thì anh hãy nhanh chân về nhà, kẻo người nhà khóc thương tội lắm. Họ cứ đinh ninh anh đã chết rồi. Sau khi tiễn anh ta ra về rồi, Hoàng trở vào nhà và nghĩ đến việc đi tìm chị chủ nhà. Lần này Hoàng quyết định dứt khoát phải rời khỏi đây, càng sớm càng tốt. Tuy nhiên. Hoàng chưa kịp đi thì chị Hường đã về cùng với bé Tâm, chị giữ Hoàng ngay từ ngoài cửa: - Cậu Hoàng, chờ tôi đã. Nhìn thấy bé Tâm đang khóc sướt mướt, Hoàng ngạc nhiên: - Cháu sao vậy? Chị Hường lúc ấy nét mặt cũng đang u ám, nặng nề. Chị vừa ngồi xuống ghế thì đã không còn đè nén được nữa, đã òa lên khóc. Hoàng còn đang ngơ ngác thì bé Tâm bỗng sà vào lòng anh, gào lên: - Cứu giùm mẹ con, chú Hoàng ơi! - Mẹ cháu bị gì mà phải cứu? Hoàng nhìn lại thì cũng vừa lúc chị Hường sụp xuống trước bàn thờ, giọng nghẹn lại: - Mọi tội lỗi là ở nơi tôi hết, mình ơi! Giờ tôi chỉ muốn được theo mình thôi. Hãy chờ tôi với! Chờ tôi... Chị ta bất thần đập đầu vào cạnh tủ thờ. Cũng may Hoàng lao tới kịp, anh dùng cả thân người chận ngang chỗ trán chị ta va vào cạnh tủ. - Kìa, chị làm sao vậy? Bị ngăn lại, chị ta gào lên: - Hãy để tôi chết! Tôi không còn đáng sống trên đời này nữa. Tôi muốn chết... Bé Tâm nhào tới ôm mẹ, vừa kêu: - Đừng bỏ con mẹ ơi! Mẹ đừng chết! Mẹ đừng... Nó ôm ghì lấy mẹ không chịu rời ra, còn một tay thì chụp lấy tay Hoàng, lay mạnh: - Cậu ơi, đừng để mẹ cháu chết! Mẹ cháu muốn đi theo ba, mà ba thì đi theo cô gì đó rồi. Hoàng hỏi nhanh: - Có phải chị là vợ của anh điêu khắc không? Bé Tâm đáp ngay: - Dạ đúng rồi! Ba cháu là nhà điêu khắc, là chủ căn nhà này, là chồng của mẹ cháu. Hoàng nhẹ giọng với nó: - Chú biết rồi. Thật cũng may cho mẹ cháu, nay mọi chuyện đã qua và mẹ cháu khỏi phải lo gì nữa. Hoàng đem mọi chuyện đã chứng kiến thuật lại hết cho mẹ con bé Tâm nghe, rồi kết luận: - Theo lời vị đạo sĩ thì hồn phách định về đây báo thù đã tiêu tan hết rồi. Từ nay chị có thể yên tâm mà sống. Chị Hường vẫn khóc: - Nhưng tôi không còn đáng sống nữa. Cậu hãy nghe đây, tuy cậu là người dưng, mới về đây thuê nhà, nhưng bây giờ tôi không còn ai có thể lo cho tương lai bé Tâm nữa, ngoại nó thì già quá rồi, tôi muốn nhờ cậu nhận nó làm con nuôi, cậu bán căn nhà này đi, lấy tiền nuôi bé Tâm. Tôi phải đền tội lỗi đã gây ra... Hoàng chưa tiện hỏi rõ, thì chị đã kể hết: - Trước lúc chết, tôi muốn cậu là người duy nhất nghe hết câu chuyện này. Tôi chính là thủ phạm giết chết cả chồng tôi và con nhỏ tên Hồng đó! Chính tôi đã dìm đứa cướp chồng tôi xuống đáy hồ và khiến cho ba bé Tâm lao theo cứu nó rồi chết chìm theo nó, bởi anh ấy không biết bơi. Thì ra những gì nhà điêu khắc kể trước đây là hoàn toàn đúng. - Đồng ý đó là tội lỗi mà bất cứ ai gây ra cũng phải bị trừng phạt. Nhưng theo tôi thì hình phạt nặng nhất mà chị phải lãnh, đó là tòa án lương tâm chị. Nỗi khổ, sự ray rứt bấy lâu nay mà chị đã chịu còn nặng hơn là bản án của pháp luật. Vả lại hiện giờ mọi chuyện đã chìm vào quên lãng rồi, bé Tâm cũng đã lớn và rồi đây chị còn trách nhiệm nuôi nó trưởng thành, cho nó làm một người hữu ích, đó là cách chuộc lỗi tốt nhất mà chị cần làm. Chị chết đi bây giờ đồng ý là đền tội, nhưng chị lại gây ra một tội lỗi khác nặng hơn, đó là bỏ lại đứa con của mình bơ vơ trên cõi đời này. Tôi nghĩ, chị cứ phải sống. Ngoài tôi ra sẽ chẳng có ai biết điều bí mật này nữa. Mà tôi thề với chị, không bao giờ tôi tiết lộ với ai... Những lời của Hoàng chừng như đã làm cho chị ta thấm thía, nên vòng tay ôm con của chị chặt hơn, nồng nàn hơn... Bé Tâm nói rất khẽ: - Đừng bỏ con nghe mẹ! Giọng chị càng khẽ hơn: - Con của mẹ... Những giọt nước mắt lúc này của người đàn bà từng bị con quỷ trong người đẩy đưa tới tội ác, giờ đang bắt đầu khác đi. Những giọt lệ của một con người chân chính, một người mẹ như bao người mẹ khác. Hoàng muốn nói câu: "ghen tuông chính là một loại quỷ dữ, nó còn nguy hiểm hơn là sự báo oán của những oan hồn nữa, chị nên nhớ điều ấy...". Tuy nhiên, Hoàng đã thôi không nói vì không còn cần thiết nữa. Anh lặng lẽ xếp đồ nghề, chuẩn bị đi ngay... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 41
MA SÓI Rừng đêm vắng tanh, thử lắng tai nghe còn có thể nghe được cả tiếng loài kiến đang hành quân rời tổ kiếm thức ăn. Không một làn gió, không một tiếng động nào được phát ra. Ánh trăng yếu ớt xuyên từng kẽ lá hiếm hoi chiếu xuống mặt đất đầy lá và cành khô. Cảnh rừng đêm đầy bí ẩn cùng với cái lạnh khiến cho người can đảm nhất cũng phải run sợ. Một cơn gió len từng kẽ lá, xuyên qua những thân cây rít lên thành một tràng tiếng kêu rùng rợn. Minh cầm trên tay một thanh gỗ dài khoảng độ hơn một cánh tay, nhẹ nhàng bước từng bước, cố ý không phát ra một tiếng động nào. Không phải Minh đang tìm gì đó, hay rình rập gì mà vì cảnh đêm quá rùng rợn làm anh chàng phải luôn cảnh giác. Từ chiều tới giờ Minh luôn có cảm giác bị theo dõi. Tiếng cành khô gãy như có bước chân giẫm phải chợt vang lên sau lưng. Minh quay ngoắt người lại. Chẳng có gì cả, cố nhìn kỹ nhưng chẳng có gì hơn là những gốc cây với lá cây khô. Khu rừng này trước đây là nơi tụ họp của một đàn chó rừng, có biết bao nhiêu câu chuyện về những con sói ma, những đàn linh cẩu gieo rắc kinh hoàng từng được người đời kể lại. Có thể chúng cũng từng sống ở trong khu rừng này, nhưng đó là chuyện của ngày xưa. Những câu chuyện đó lại hiển hiện ra trong suy nghĩ của Minh, chàng tự động viên mình bằng suy nghĩ thời buổi này làm gì có nữa, trong khi mình lại đang ở nước Việt Nam chứ không phải châu Âu hay châu Phi. Lăm lăm cây gậy trong tay, Minh từ từ tiến tới. Lại cái cảm giác một ánh mắt nào đó theo dõi mình, Minh quay tứ phía, cố gắng nhìn theo ánh trăng yếu ớt khi xuyên từng khe lá, nhưng cũng chẳng có gì. - Hù!!! Minh chợt có cái cảm giác hai vai anh bị vịn lại, âm thanh phát ra ngay bên tai mình, như có một con thú nào nhảy xổ lên vai. Quá hoảng hốt, Minh nhảy tới trước, xoay người lại đồng thời đánh luôn mấy gậy vào đầu cái bóng đen vừa mới nhảy ra. Minh chẳng biết gì nữa, cứ việc đánh tới tấp. Trán vã mồ hôi, nhưng tay của Minh vẫn dùng hết sức cầm cây gỗ giáng xuống như điên loạn. Khi đã thấm mệt, Minh bắt đầu thấy tỉnh ra dừng tay lại. Cái vật đen kia nằm bất động, dưới ánh sáng mờ ảo của trăng, Minh nhận ra một vũng máu chảy ra. Lấy cái bật lửa trong người ra, Minh bật lên xem thử. Một ánh quang lóe lên rồi vụt tắt, ánh lửa chỉ lóe lên trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng cũng đủ cho Minh nhận ra đó là một con người. Một thi thể mặc đồ đen nằm bất động. Minh sợ hãi: - Tôi đã giết người rồi! Tôi đã giết người. - Minh lẩm bẩm trong nỗi sợ. Mồ hôi chảy thành từng dòng, áo ướt đẫm. Anh đứng yên, sợ hãi nhìn cái xác. Cái xác bị đánh nát cả đầu chỉ còn có thân mình. Sau một lát, Minh từ từ tiến lại thi thể bất động dưới đất. Lật thi thể lên. Minh bật cái bật lửa lên soi, ra là một thi thể phụ nữ. Ánh mắt Minh dừng lại ở gần cổ của thi thể, một cái gì đó lóe lên khi được ánh lửa chiếu vào. Minh cầm lên xem thử. Bỗng Minh hét lên: - Trời! Không! Không... Rồi anh ném lại tất cả, quay đầu chạy, vừa chạy vừa hét lên chỉ một từ "không". Tiếng thét của Minh xa dần. Vật lóe sáng đó chính là mặt dây chuyền mà Minh đã mua tặng Lan khi cả hai cùng nhóm bạn tới nơi đây để ăn mừng lễ Giáng Sinh. Lan là người mà Minh rất thương yêu và anh đã từng muốn ngỏ lời nhiều lần mà không dám. Khi đến đây vì muốn đi tìm cho Lan một loài hoa mà Lan rất thích nở vào mùa đông ở khu rừng này, nên Minh đã bạo gan đi sâu vào rừng tìm nhưng đi một hồi thì bị lạc. Lan cũng đã từng đến đây, đi theo Minh nhưng không muốn cho anh chàng biết, chỉ muốn hù cho anh chàng sợ một cái, nào ngờ lại ra nông nỗi này. Giữa cánh rừng đêm, còn vang xa xa tiếng thét kinh hoàng của Minh, một ánh mắt đỏ lừ chầm chậm tiến đến bên cái xác của Lan. Khi tiến đến cách cái xác chừng độ vài sải tay, ánh mắt kia bỗng dừng lại, lừ đừ nhìn cái xác, rồi tru lên một hồi. Đúng là giọng tru của loài chó sói. Tiếng tru nghe rùng rợn khiến cho cả khu rừng như nổi loạn. Những con thú ở gần đó thức giấc dáo dác chạy hoặc bay tứ tung. Mộc lúc sau, khu rừng lại bị bao trùm với không khí im lặng tới rợn người. Con chó sói tiến lại gần xác chết, đưa mũi ngửi ngửi. Bỗng cánh tay của xác chết cử động, đánh mạnh vào dưới hàm của con chó sói. Con chó sói bị bất ngờ nên nhảy lùi ra sau, giương con mắt đỏ như lửa nhìn cái xác. Con sói lớn ấy chỉ còn có một con mắt. Trong khi đó cái xác từ từ đứng dậy, không có đầu. Sau một phút ngỡ ngàng, con chó sói liền nhảy xổ tới, nhưng chưa kịp làm gì thì bị cái xác nắm lấy đầu nó rồi ném mạnh ra phía sau. Tiếng con chó sói rú lên thất thanh cùng với tiếng va đập của nó vào gốc cây như cùng một lúc. Con chó sói rơi bịch xuống nằm bất động, dường như nó đã chết. Cái xác nhặt cây gậy gỗ của Minh để lại, rờ rẫm rồi dừng lại cách đầu cây gỗ khoảng một gang tay, đoạn xẻ nhẹ một cái nghe rắc một tiếng, tiếp đó nó rút ra một vật như cây kiếm màu bạc từ cái vỏ gỗ bên ngoài. Thì ra khúc gỗ chỉ là nguỵ trang, còn đó chính thật là một thanh gươm. Cái xác cầm lấy thanh gươm lên tiến tới gần con chó sói, lắc lấy đầu con chó sói ấy và gắn lên cổ mình. Tiếp theo cái xác vuốt nhẹ chỗ ghép giữa đầu chó sói và thân hình của nó. Một làn sáng như lửa nhỏ chạy quanh chỗ nối, tiếp theo là cái đầu chó sói quay qua lại như thể kiểm tra xem đã nối lại hay chưa, cuối cùng nó tru lên một tràng dài. Tiếp đó là một giọng nói: "Ta sẽ báo thù! Ta sẽ báo thù!" rồi từ từ đi theo hướng mà Minh lúc đầu đã bỏ chạy. *** Trong ngôi nhà ở bìa rừng, các bạn của Minh đang nghe chủ nhà là một ông lão đang ngồi kể lại những câu chuyện rùng rợn về loài chó sói từng xuất hiện trong khu rừng xưa kia. Ông già kể đến một con sói ma, có khả năng biến hình thành người chuyên gieo rắc bao nỗi kinh hoàng. Ông kể về con chó sói vì quá hung tàn và ma mãnh, nên một pháp sư trẻ tuổi trong làng đã ra tay trừ khử. Hai bên giao chiến kịch liệt, cuối cùng con chó sói bị một nhát kiếm của pháp sư và chết đi. Trước khi biến lại thành hình sói, con chó sói nói: "Ta sẽ ở mãi trong thanh kiếm này, và ta sẽ trở lại báo thù". Người pháp sư sau khi nghe thế thì thiêu luôn xác con sói ma, đồng thời cũng hủy đi thanh kiếm báu. Thế nhưng dù bị chặt làm mấy khúc, nhưng hôm sau thanh kiếm lại liền lại. Sợ hãi, người pháp sư bèn dùng pháp thuật ếm vào thanh kiếm, bao bọc nó làm người ta ngỡ là một thanh gỗ bình thường rồi đem chôn xuống nơi đã thiêu con chó sói. Một đêm trăng rằm vào mùa đông, có một đàn chó sói đã tìm đến đó, đào bới và đào lên được thanh gươm kia, sau đó chúng lại bỏ đi mất. Người ta quá sợ hãi nên không ai dám vào khu rừng ấy nữa. Người ta đã kể cho nhau nghe rằng thanh gươm đã bị đào lên, và bất cứ ai bị thanh gươm đó chém trúng sẽ lập tức biến thành ma sói... Kể đến đây, mọi người bỗng nghe thấy tiếng Minh thét vang, nên ai nấy đổ xô ra ngoài xem. Thấy Minh chạy vào, thân mình ướt đẫm, dáng vẻ tỏ ra rất sợ hãi lẩm bẩm câu gì đó không ai hiểu. - Mau đưa Minh vào nhà đi! Bên ngoài trời lạnh lắm... Tiếng nói chưa dứt thì một tiếng tru của chó sói lại vang lên. Mọi người như hoảng hốt vội kéo Minh vào nhà, khóa chặt các cửa rồi nhóm lại ở phòng khách. Khuôn mặt mọi người lộ đầy vẻ lo lắng. Ông lão kia cũng lo âu không kém, ông ngạc nhiên sao vùng này lâu nay đã không ai còn trông thấy chó sói nữa, vậy mà giờ đây tiếng chó sói tru lại vọng lên. Tiếng chó sói tru mỗi lúc một gần. Ai cũng lo lắng, giữa đêm khuya nơi vắng vẻ. Quanh ánh đèn leo lét là một nhóm người đầy vẻ hoang mang. Vì dân nơi đây đã bỏ đi từ lâu nên cũng không có điện, nhà gần nhất cũng cách xa hơn hai mươi cây số. Tiếng tru mỗi lúc mỗi gần, ông lão chợt tái mặt, ôm đầu và hét lên: - Nó rồi! Chính là nó đó, con chó sói... ma... nó... nó... Tiếng ông lão như nghẹn dần đi, ông lảo đảo lùi lại phía cửa chính, tay ôm đầu, mặt lộ vẻ sợ hãi tột độ. - Còn cô Lan đi đâu rồi? - Một người chợt cất tiếng hỏi. - Không biết nữa! Cô ấy hồi chiều đi vào rừng một mình theo anh Minh mà! Mọi người quay lại nhìn Minh, thấy anh chàng vẫn chưa hoàn hồn, vẻ sợ hãi còn in trên nét mặt, nói không ra tiếng nữa. Bỗng "rầm" một tiếng, cánh cửa bật ra, gió lạnh ùa vào, một thân hình đầy lông xám trắng nhảy xổ vào chộp bắt lấy ông lão lôi ra ngoài. Ông lão chỉ kịp hét lên một tiếng rồi im bặt. Cả nhóm bạn cũng hét lên, mọi người nhóm lại vào nhau, thấy cái gì là chụp lấy ngay làm vũ khí tự vệ. - Chạy lên lầu mau! - Tiếng của Lâm hối thúc các bạn. Đám con gái tranh nhau chạy lên trước, riêng bọn con trai theo sát phía sau, nhưng đi thụt lùi để đề phòng con quái vật đó lại tiến vào. Khi đã lên hết trên lầu, vào một căn phòng và khóa trái cửa lại, cả nhóm bạn vẫn chưa hết sợ. - Hình như nó giết chết ông lão rồi! - Linh vừa khóc vừa nói, giọng lạc hẳn đi. - Liệu nó có giết hết chúng ta không nhỉ? - Tôi sợ quá đi mất! - Hiền cũng vừa khóc vừa nói. - Chết rồi! Còn Minh nữa, Minh đang ở dưới nhà! Lâm lại lên tiếng: - Khang, ta đi xuống đưa Minh lên đây luôn cho an toàn. - Yên lặng nào, chúng ta càng gây ít tiếng động càng tốt! Khang tỏ ra bình tĩnh nói, nhưng nghe qua giọng thì chắc anh chàng cũng đang run lắm. - Hai người xuống thì nguy hiểm lắm! Lâm, tôi và Diệu sẽ xuống đưa Minh lên đây, còn Linh, Hiền, Hân và Ngọc ở lại đây, mỗi người hãy tìm trong phòng cái gì có thể dùng để tự vệ. Tuấn lo việc bảo vệ các bạn nữ và mở cửa đúng lúc cho chúng tôi. Phân công xong, Khang từ từ mở cửa, ba người cùng nhẹ nhàng xuống dưới, nhưng chỉ dám đứng trên cầu thang. Khang và hai bạn không còn thấy Minh đâu, qua ánh nến chỉ thấy mấy vũng máu chỗ Minh nằm và vết máu kéo lê vào trong phòng. Ba người kinh hãi chạy ào lên cầu thang, tiếng bước chân chạy trên cầu thang rầm rầm làm cho mấy người bạn ở trên càng hoảng hốt. Tiếng đập cửa, và tiếng Khang giục: - Tuấn, mở cửa nhanh lên, nhanh lên! Trước khi bước vào trong phòng, Diệu còn kịp nhìn thấy thân hình của con quái vật đứng dưới chân cầu thang chực nhảy xổ lên. Cả nhóm theo lời Khang chất bàn ghế lại phía cửa, rồi nhóm lại ở một góc phòng, ai nấy đều lo sợ, tay lăm lăm bất cứ thứ vũ khí gì tìm thấy được. Tiếng bước chân lên cầu thang làm cho mọi người càng thêm hoang mang. - Bình tĩnh đi các bạn, chúng ta đông thế này, nó không làm gì nổi đâu. Lại là Khang trấn an các bạn. Ai cũng đều nhìn nhau, không nói một lời, nín thở chờ đợi. Tiếng đập cửa vang lên cùng với tiếng gầm gừ đặc trưng của loài chó sói khiến ai nấy mặt trắng bệch ra vì sợ hãi. Tiếng đập cửa mỗi lúc mỗi dữ dội, tiếng gầm gừ phát ra cũng lớn hơn. Không chịu nổi những cú đập, cánh cửa lung lay, và rồi bàn ghế đổ nhào xuống, cánh cửa bung ra. Trước mắt mọi người, một con quái vật hiện ra. Đầu nó hệt như đầu chó sói, còn thân thì đầy lông của loài sói, tay cầm một thanh kiếm dài độ hơn một cánh tay sáng lóa lừ đừ nhìn mọi người. Đó chính là một con ma sói không hơn kém. Con ma sói dần dần tiến lại chầm chậm, tay giơ thanh kiếm lên chĩa thẳng vào đám người lố nhố. Khoảng độ chừng một sải tay nữa là có thể chạm đến mấy người kia, con ma sói liền dừng lại, nhìn mọi người đang co rúm lại vì sợ hãi, rồi nó giơ thanh kiếm lên cao... *** Bây giờ lại nói về cái xác chết của Lan, sau khi gắn cái đầu chó sói vào, rồi đi theo hướng Minh chạy, đi được một đoạn, như nhớ ra việc gì. Nó liền quay trở lại chỗ xác con chó sói. Con quái vật đó cúi xuống, xé banh lồng ngực con chó sói, moi lấy tim, gan và bộ lòng ra ăn. Nó ăn ngấu nghiến toàn bộ những bộ phận bên trong của con chó sói, vừa ăn vừa gầm gừ. Ăn thịt con chó sói xong, nó bèn bỏ đi, dưới ánh trăng, loang loáng một vũng máu cùng với phần xương và phần bên ngoài của con chó sói. Con quái vật bước những bước nặng nề, tay cầm thanh gươm báu tiến về phía bìa rừng.Tay và mặt của nó mọc lên đầy lông xám trắng. Cả thân hình của nó giờ đây bao phủ bởi một lớp lông dày của loài chó sói. Con mắt đỏ au như chiếu sáng lối đi dẫn đường con quái vật ra khỏi rừng. Bây giờ con quái vật đã trở thành một con ma sói. Một con ma sói đầy hung tợn. Một con ma sói được ghép bởi thân thể một người bị cây gậy phù phép đánh chết và cái đầu của một con sói ma. Sự tàn bạo của nó khó ai có thể lường trước được. Cả khu rừng như nhận thấy điều nguy hiểm, con ma sói đi đến đâu là thú rừng dáo dác tìm đường chạy làm náo loạn cả một vùng. Khu rừng trở nên ồn ào, không yên tĩnh như lúc đầu nữa. Chợt con ma sói thấy một con nai mắc bẫy ở gần đó, khác với vẻ nặng nề khi đi, con ma sói nhanh như sóc, phóng lại chặt đứt đầu con nai, moi toàn bộ ruột gan ra ăn. Con ma sói vừa ăn vừa gầm gừ, thú rừng lại dáo dác tìm đường trốn thoát. Ăn xong, nó đứng dậy, với vẻ nặng nề, tiến ra bìa rừng, chợt nó nhìn thấy ngôi nhà mà các bạn trẻ đang ẩn náu ở trong đó... Trong khi con ma sói giơ thanh kiếm lên cao, ánh nến phản chiếu làm thanh kiếm lóe lên - đúng là một thanh kiếm báu - thì nhóm bạn trẻ vẫn co rúm lại vào nhau. Chợt Khang tay cầm cái ghế gần đó ném mạnh vào con ma sói, đồng thời hét lên: - Đánh chết nó đi! Lâm, Diệu, Tuấn cùng cầm gậy lao lên, con ma sói liền lùi lại, né tránh cái ghế đang bay tới, đồng thời khoa một đường kiếm tròn gạt mấy cây gậy vừa đánh tới, đồng thời nó lại tiến tới đá thẳng vào người Lâm một phát. - Con ma sói biết kiếm đạo và karate đó! Tiếng Khang thét lên, bởi vì Khang vốn là một võ sinh karateđo tứ đẳng, và kiếm đạo cấp sáu, nên khi nhìn thấy chiêu thế này thì anh đã phát hiện ra ngay. Tiếng thét của Khang vừa dứt thì con ma sói dừng lại, quay qua Khang và lao tới. Diệu, Lâm, Tuấn đứng chôn chân nhìn, không dám nhúc nhích, đám con gái mặt mày tái mét nói không ra lời. Khang với con ma sói giao đấu kiếm thuật với nhau, những đường kiếm loang loáng của ma sói, tiếng vút vút phát ra từ cây gậy của Khang. Giao đấu hơn chục chiêu, Khang bị ma sói đá trúng người, té ngã lăn xuống sàn. Ba người con trai còn lại bỗng sực tỉnh, cùng hét lên và lao tới con ma sói. Đúng như Khang nói, kiếm đạo cấp sáu quả không tồi, chỉ một chiêu cả ba người bạn trẻ đều té nhào xuống. Con ma sói dừng lại, nhìn đám con gái và đưa kiếm lên, từ từ hướng về Linh. Bỗng con ma sói cất tiếng nói: - Chúc mừng Giáng Sinh hạnh phúc! Nói xong rồi ma sói phá lên cười. Cả nhóm bạn chưa hoàn hồn thì phải há hốc miệng vì ngạc nhiên. Sau lưng con ma sói, ông lão tiến vào, nhìn đám bạn trẻ và cười to. Con ma sói đưa tay lên cổ, kéo mạnh một cái, lớp da bên ngoài tróc ra để lộ một khuôn mặt khá điển trai. - Ôi! Anh Thái Hùng! - Cả nhóm đồng thanh, nhưng vẫn còn rất ngạc nhiên. - Phải, chính tôi đây! Thái Hùng đây. Giới thiệu với các bạn đây là ông nội tôi, và chính tôi cũng đã bí mật gửi giấy mời mọi người trong nhóm tới đây ăn mừng lễ Giáng Sinh đó. Sao hả? Màn trình diễn ma sói của tôi ấn tượng không? - Bạn quả là độc ác lắm, làm chúng tôi sợ chết khiếp! - Linh nói mà như mếu. - Xin lỗi các bạn, tôi nghĩ rằng đó chỉ là một trò đùa thôi mà! - Lúc đánh kiếm tao đã nghi ngờ rồi! - Khang lên tiếng. - Vì chúng ta là bạn đồng môn mà, tao rành cách đánh của mày lắm. - Thôi, chúng ta xuống nhà đi nào! - Ông lão nói. Cả nhóm lũ lượt kéo nhau xuống dưới nhà, căn nhà lộng lẫy hẳn lên khi hàng chục cây nến được thắp lên. Minh vẫn nằm đó, hình như đang ngủ. - Vậy còn tiếng sói tru thì sao? - Rất đơn giản thôi. - Vừa nói, ông lão vừa đưa tay bật cái máy thu âm con con gần đó, một tiếng sói liền lập tức tru lên. Mọi người cùng nhau vui vẻ trò chuyện, mà cả bọn đều không biết nguy hiểm đang đến rất gần. Con ma sói đã tiến đến rất gần ngôi nhà. Nó đi từ từ, mắt chằm chằm nhìn về phía ngôi nhà, nơi phát ra ánh sáng ấm áp. - Mau đóng chặt cửa lại đi, lạnh lắm đó! - Linh kêu lên. Diệu nghe lời đi ra đóng các cửa lại. Còn cửa chính thì do Hân đóng. Trước khi cánh cửa được khép lại, Hân nhác nhìn thấy một bóng đen tiến lại từ xa, có một cảm giác sợ hãi tự nhiên len lỏi khắp người Hân, nên cô nhanh tay đóng sầm cửa lại, đoạn khóa trái. Cái cảm giác sợ hãi khó tả đó mãi không dứt nhưng Hân không dám nói với bạn bè, vì sợ bị chê là nhút nhát, và bởi từ trước tới nay Hân vẫn luôn bị bạn bè gọi như thế. Chợt nhớ tới Lan, Hân bèn lay Minh dậy và hỏi: - Anh Minh! Lan nó đi đâu rồi? Minh nghe gọi mơ màng tỉnh dậy, thấy Hân mà ngỡ như là Lan, lại nghe hỏi như thế, Minh sợ hãi xô Hân ra, hai tay ôm đầu và nói: - Không phải tôi, lỗi là do cô ấy, không phải tôi làm! Vừa nói, Minh vừa khóc. Hân vỗ về một lát, Minh như lấy lại được bình tĩnh, vừa khóc Minh kể lại chuyện Minh đã giết Lan như thế nào. Mọi người há hốc mồm ra khi nghe chuyện, ai cũng tỏ lòng đau buồn, và buồn nhất là ông lão, bởi ông cũng chính là ông ngoại của Lan, Lan là người ông rất yêu mến. Ông chạy đi kiếm cây đèn pin. Ông lão nói mà cố giấu tiếng nấc trong lòng. - Dù nó có chết đi, nhưng cũng phải đem xác nó về đây để trong rừng đến sáng thì bị thú ăn thịt hết mất. Cậu dẫn đường cho tôi đến đó mau lên! - Ông ơi! - Hùng ngăn ông lão lại. - Ông hãy ở nhà để cháu và các bạn lo việc này! Khang, Tuấn tụi mày đi với tao. Diệu và Lâm ở lại đây lo những vật dụng để sáng mai an táng cho Lan. Minh nữa, mày cũng đi để chỉ đường cho tụi tao. - Minh ở nhà đi, không nên cho Minh đi theo, vì lúc hoảng sợ thì con người ta chạy ào chứ ai biết được mình chạy đi đâu nữa. Dù có cậu ta đi theo cũng không giúp ích được gì. Theo tao thì tụi mình cứ đi vào trong đó tìm vậy. Lúc Minh kể, tao có để ý là Minh nói chỗ đó có một cây đại thụ lớn lắm. - Vậy thì tao biết chỗ đó rồi. Đi nhanh lên! Ba người bạn kéo nhau đi ra, hướng thẳng vào trong rừng. Ở trong nhà, không khí Giáng Sinh rộn rã được thay thế bằng một không khí ảm đạm, ai nấy đều cảm thấy khó chịu. Không ai nói với ai một lời. Họ cứ ngồi đó mà nhìn nhau. Ông lão ngồi trên ghế, bất động nhìn ánh trăng soi qua cửa sổ, hai dòng nước mắt lăn dài trên má ông. Ông nhớ tới những kỷ niệm khi Lan còn là một đứa nhóc, có lần bị mẹ la, Lan chạy vào rừng để rồi bị lạc, mãi tới khuya, mọi người mới tìm thấy Lan ngủ trên một thân cây cao, lần đó, ông đã lo lắng biết bao. Bao nhiêu hình ảnh của Lan hiện về làm tim ông đau nhói. - Đừng quá đau buồn ông ạ! - Hân ngồi kế bên ông từ lúc nào. - Người đã mất rồi không bao giờ quay trở lại được nữa, Lan là người chúng cháu rất yêu quý. Đó chỉ là một tai nạn. - Ông không sao đâu, ông cũng còn có các cháu đây mà! - Vừa nói ông vừa lau nước mắt. Căn nhà lại chìm ngập trong yên lặng. Vẳng xa xa tiếng chim cú kêu. Con ma sói vẫn đang đi về phía ngôi nhà, chợt thấy ba người con trai đi ra, tay cầm đèn pin, nó bèn nấp vào một bụi rậm. Hình như nó cố ý tránh né ánh đèn sáng lóe chiếu vào. Đợi mọi người đi khuất vào rừng, nó rời chỗ nấp, tiến vào ngôi nhà... Ở trong nhà không khí nặng nề vẫn bao trùm lên tất cả. Minh tiến lại phía ông lão. - Cháu xin lỗi, không phải do cháu cố ý giết Lan. Chỉ tại lúc đó cháu sợ quá! - Biết rồi! Ông không trách cháu đâu, đó chỉ là một tai nạn. Tội nghiệp con bé nó còn trẻ quá, chỉ vì muốn đùa với cháu một chút... Tiếng ông lão như nghẹn đi. Cái cảm giác sợ hãi bất chợt lại đến với Hân, cô gái xích lại gần với các bạn hơn. - Hân sao thế? - Ngọc thấy Hân có thái độ kỳ lạ nên hỏi thử. - Lạnh lắm hả? - Ừ! Không hiểu sao mình có cảm giác bất an, lúc đóng cửa lại mình nhìn thấy ngoài kia có một bóng đen, tay nó cầm cái gì đó như một thanh kiếm phát ra ánh sáng mờ mờ. Mình nghĩ là một người qua đường thôi, nhưng nhìn thấy cái bóng đó là mình tự nhiên thấy sợ. - Có phải cháu nhìn thấy thanh kiếm giống như thanh kiếm này không? Vừa nói ông lão vừa chỉ vào thanh kiếm Hùng cầm lúc nãy ở trên bàn. - Đúng rồi đó ông ạ. Trông giống lắm, cả cái ánh sáng mờ mờ mà nó phát ra nữa! Ông lão tái mặt đi khi nghe Hân nói. Rõ ràng có điều gì đó bí ẩn đến nỗi ông lão nghe nhắc tới thanh kiếm đã tái mặt đi. Ông bắt đầu kể: - Các cháu còn nhớ câu chuyện về con sói ma biến thành người không? Thanh kiếm bị phù phép trong truyện với thanh kiếm này là một cặp. Truyền thuyết kể lại rằng: có một người thợ rèn tài hoa đã rèn ra hai thanh kiếm báu. Một thanh đã giao cho người con trai, một thanh giao cho người con gái. Cả hai thanh kiếm giống hệt nhau, chỉ khác nhau về tính năng. Thanh kiếm của người con trai chuyên dùng để diệt trừ loài yêu ma, nếu ai bị nó chém trúng thì kẻ đó sẽ bị biến thành một cái xác khô ngay lập tức. Sau này, thanh kiếm được truyền lại đến tay vị pháp sư trẻ tuổi và vị pháp sư đó đã bao bọc nó bởi một lớp gỗ sau khi nó bị phù phép lại để thay đổi tính năng. Ai bị nó chém trúng sẽ biến thành ma sói hung bạo. Còn thanh kiếm thứ hai thì có tác dụng khác, đó là thu phục ma quỷ làm nô lệ cho mình. Thanh kiếm đó được truyền đến đời của ông, chính là thanh kiếm này. Có thể câu chuyện này mang màu sắc phép thuật nên các cháu không tin, nhưng truyền thuyết đã kể lại như thế. Rõ ràng ngoài ông ra chẳng ai biết đến thanh kiếm kia nữa, không ai biết là từ lâu đã bị biến thành gỗ. Chính ông cũng không biết rõ thanh kiếm kia nằm ở đâu nữa. Cách đây rất lâu có một đàn chó sói đào nó lên, nhưng từ đó không ai vào khu rừng đó nữa, thế nên chẳng ai biết được thanh kiếm đó đâu cả. Nếu thật sự có người lấy được nó thì đó là một con ma sói, chỉ có con ma sói kia mới biết được thanh kiếm ở đâu thôi, hay là nó đã bắt ai đó làm nô lệ cho nó để nó trả thù? - Cũng có thể lúc nãy Hân thấy nhầm thôi, thần hồn nát thần tính mà! - Không! Mình nhìn thấy rõ ràng mà, bóng đen đó thì không rõ, nhưng thanh kiếm thì vì nó phát sáng nên thấy được mà. - Dưới ánh trăng như đêm nay, mà ánh sáng của nó mờ mờ như thanh kiếm này thì làm sao mà thấy rõ chứ? - Ngọc tiếp tục bắt bẻ Hân. - Tại nó đứng dưới bụi cây mà! Vẳng xa xa tiếng chuông nhà thờ, mọi người nhìn lên đồng hồ, đã đúng mười hai giờ rồi. Tiếng chuông thánh thót báo hiệu lễ Giáng Sinh đã đến. Thế nhưng ở trong nhà, không khí vẫn nặng nề. Hân và ông lão thì lo lắng, băn khoăn không biết đó có phải là một con ma sói không. Ngọc thì nghĩ về Lan. Minh, Hiền, Lâm, Tuấn thì ngồi lại với nhau, chẳng ai nói một lời. Họ nhìn nhau. - Nến cháy gần hết rồi, cả cái đèn này cũng gần hết dầu rồi, để tôi xuống bếp lấy thêm dầu và nến. Ngọc đứng dậy tay cầm cây đèn dầu, đi xuống phía bếp. Ngọc đẩy cánh cửa nhà bếp ra, đi vào trong đặt cây đèn dầu lên trên bàn đồng thời lấy chiếc túi đựng nến ở trên kệ xuống, thắp lên mấy cây. Ngọc tắt đèn dầu đi và tháo nó ra, châm thêm dầu vào. Chợt có hai bàn tay ôm lấy Ngọc từ sau lưng. Chẳng cần suy nghĩ nhiều, Ngọc cũng biết đó chính là Lâm, anh chàng vẫn luôn làm thế với Ngọc, xuất hiện nhẹ nhàng rồi ôm lấy Ngọc từ sau lưng. Ngọc quay lại: - Kỳ cục quá, bây giờ không thể được đâu... Chưa nói dứt câu, Lâm đã đưa tay bịt miệng Ngọc lại và nói: - Có gì mà không được chứ em? - Nói rồi Lâm hôn Ngọc. Hai người đang hôn nhau mà không hề biết rằng có một bóng đen với một vật nhọn dài đang đứng ở góc nhà bếp nhìn họ. Bóng đen từ từ tiến lại. Ngọc nghe có tiếng bước chân thì mở mắt và qua ánh nến chiếu tới, Ngọc thấy một con quái vật, là một con ma sói thật sự. Nhưng nhớ lại lúc nãy, Ngọc nghi ngờ là Tuấn muốn dọa cho hai bạn sợ mà thôi. Ngọc đẩy Lâm ra, bị đẩy ra bất ngờ, Lâm không hiểu sao, nhưng nhìn theo ánh mắt Ngọc, Lâm thấy con ma sói lừ đừ đứng đó. Lâm cũng nghĩ đó chỉ là một trò đùa nên tiến lại gần. - Ê! Đừng có hù dọa bọn này nữa nhé... Chưa nói dứt câu, đầu của Lâm bị một nhát kiếm chém đứt phăng rơi xuống lại dưới chân Ngọc. Ngọc hét lên thảm thiết, bỏ chạy lên phía trên. Con ma sói chụp thi thể của Lâm, cũng xé banh lồng ngực ra rồi moi các nội tạng ra mà ăn. Máu chảy lênh láng sang bên. Nghe tiếng hét, mọi người đổ xô xuống nhà bếp. Thấy Ngọc chạy lên, mọi người hỏi, chỉ thấy Ngọc mặt tái mét. - Nó! Nó... Nó giết Lâm mất rồi. - Ngọc nói trong tiếng khóc nức nở. - Nó nào? Một thằng ăn trộm hả? - Tuấn hối thúc đồng thời giật lấy cây đèn trên tay Hân và vơ lấy khúc gỗ ở gần đó lao xuống nhà bếp. Ngọc kịp thời ngăn Tuấn, đóng sầm cánh cửa và khóa chặt nó lại. - Tuấn không được xuống, không phải ăn trộm mà là ma sói. Ma sói đó! Lúc này mọi người mới nghe thấy tiếng gầm gừ của con ma sói, qua kẽ hở của bức tường gỗ, mọi người nhìn thấy con ma sói đầy lông lá đang ăn thịt Lâm. - Chạy lên lầu! Chạy lên lầu mau, tìm vũ khí tự vệ nữa! - Tiếng Tuấn hối thúc. Mọi người nhanh chân lên trên lầu vào căn phòng lúc nãy. Cánh cửa được sập lại. Tuấn tìm trong phòng được mấy cây đinh và cây búa, đóng cánh cửa lại thật chắc chắn đồng thời kéo bàn ghế lại chận ngay cửa. - Đúng rồi! Nó đúng là một con ma sói thật sự! - Nó đã ăn thịt Lâm... - Ngọc vẫn còn khóc. - Thôi, tất cả hãy yên lặng nào, nó sắp lên đây rồi đó! Cùng với câu nói của Tuấn, tiếng đập cửa rầm rầm, rồi tiếng cửa bung ra. Con ma sói nặng nề lê những bước lên phía phòng khách. Trong phòng, mọi người nghe tiếng bước chân ngày càng gần của con ma sói thì càng thêm sợ hãi, co rúm vào nhau, nín thở chờ đợi một điều xấu nhất sắp xảy ra. Con quái vật đánh hơi, và bắt đầu lần mò lên cầu thang. Con ma sói bước lên cầu thang, đứng trước cửa phòng có mọi người ở trong, nó ngửi ngửi rồi xô mạnh cửa. Chẳng ăn thua gì, nó đấm rầm rầm vào cánh cửa, một mảnh gỗ văng ra để lộ một quang cảnh bên trong phòng. Con ma sói nhìn qua thấy mọi người, cơn thèm khát của nó như thúc giục nó hơn. Nó đấm vào cánh cửa càng mạnh và nhanh hơn... *** Trong khi ấy, Khang, Diệu và Hùng đi vào rừng, đến chỗ Lan bị Minh giết, chẳng thấy gì khác ngoài một cái xác sói bị mất đầu và các cơ quan nội tạng, vũng máu đã khô lại. Khang phát hiện có mấy vết máu rỉ xuống theo một hướng đi. Quan sát kỹ nơi đó, Khang khẳng định: - Có lẽ Minh đã đánh chết Lan ở chỗ này, Minh đứng đây, tay cầm khúc gỗ còn Lan nằm ở đây. Có thể sau đó, một con sói đi tới, bị một con gì đó giết chết và ăn hết nội tạng cùng cái đầu. Rồi nó tha xác Lan đi... - Không thể thế được! - Diệu nói - Ở đây không có vết kéo lê đi. Chẳng lẽ con gì đó biết bế Lan đi sao? Còn cây gậy Minh cầm đâu rồi? - Các bạn xem nè! - Hùng nhìn kỹ và nói - Đây là dấu chân của Minh sau khi giết chết Lan rồi bỏ chạy. Vậy còn dấu chân này là của ai? Đúng! Có tới hai loại dấu chân khác nhau rõ rệt để lại, cả hai dấu chân đều đi theo một hướng, đó là hướng về nhà. Cả ba người không nói không rằng cùng cảm thấy có gì bất an ở nhà liền cùng chạy về. Họ thắc mắc tại sao lại có dấu chân lạ, có kẻ nào đó đã lấy mất thi thể Lan và bộ đồ lòng của con sói sao? Lại đi về phía ngôi nhà nữa chứ? Khi ba người chạy về gần tới nhà thì thấy phòng khách tối thui, còn căn phòng trên lầu thì sáng. Lấp ló trong đó mấy bóng người, Hùng linh tính là có chuyện chẳng lành, tay cầm chắc cây gậy gỗ, lao tới. Khang và Diệu cũng làm theo. Chạy tới trước cửa, Hùng thấy rõ ràng bóng ông nội và các bạn, tay của ai cũng lăm lăm gậy chĩa ra. Ở trong phòng, hình như ông cũng thấy Hùng, vội xua tay, nhưng Hùng không hiểu ý ông, vẫn lao tới. Khang và Diệu đã đứng trước của chính, dùng hết sức Khang đạp mạnh làm cửa chính mở ra. Hùng nhanh như sóc phi thân lên chỗ cửa sổ, nhìn vào trong thấy con ma sói đã đứng trước mặt các bạn và ông nội, bàn ghế đổ ngổn ngang. Tay con ma sói cầm một thanh kiếm giống hệt thanh kiếm Hùng cầm lúc nãy. Bây giờ thì Hùng hiểu ra mọi chuyện. Đập vỡ cánh cửa kính. Hùng nhảy vào trong vừa kịp lúc đỡ được đường kiếm của con ma sói chém tới Hiền. Khúc gỗ bị đứt một đoạn ngắn. - Mau thoát ra bằng đường cửa sổ! - Hùng hét lên. - Vậy còn cháu thì sao? Ông không để cháu ở lại một mình đâu! - Ông mau đi đi, một mình cháu đối phó với nó được mà! Hùng phải ngừng lại, né tránh đường kiếm của con quái vật đồng thời đánh mạnh một gậy vào đầu của nó. Con ma sói loạng choạng, quay người lại, lao tới Hùng. Hùng cố ý dụ nó ra phía hành lang xuống phòng khách. Khi xuống đến phòng khách. Khang nhảy vào hỗ trợ tiếp cho Hùng. Diệu cũng xông vào. Ba người đánh con ma sói nhưng gậy gỗ đối với nó chẳng ăn thua gì cả. Hai bên giao đấu một hồi ra khỏi nhà lúc nào không hay. Dưới ánh trăng, con ma sói như khỏe hơn. Đánh nhau một hồi ba thanh gỗ chỉ còn lại ba mẩu ngắn ngủn chẳng làm nên cơm cháo gì cả. Chưa biết làm gì thì Diệu bị một nhát kiếm, cả thân hình Diệu ngã khuỵu xuống, Hùng nhanh chân đá văng thanh kiếm của con ma ra xa. Bị mất vũ khí, con ma sói hoảng hốt chạy đi. Khang đỡ Diệu ngồi dậy nhưng đã muộn, Diệu đã tắt thở. Hùng chạy vào nhà, thấy ông nội và các bạn đang ở trong phòng, khuôn mặt lộ vẻ sợ hãi tột cùng. - Con biết rồi ông ơi, con ma sói đó chính là Lan, nói chính xác chính là thi thể của Lan và cái đầu của con sói. Khi chúng con tới đó, chỉ thấy một cái xác sói bị mất hết nội tạng. Như thế là con ma sói đó là Lan! - Nó đã ăn thịt anh Lâm! - Ngọc nức nở. - Lâm? Lâm bị nó ăn thịt rồi sao? Mọi người không hề biết rằng, con ma sói bấy giờ đã nhặt thanh kiếm lên, từ từ tiến lại sau lưng Khang, khi nhận thấy được nguy hiểm thì đã quá muộn. Thanh kiếm giáng xuống, cái đầu Khang lăn lông lốc giữa bãi đất trước nhà. Con ma sói chụp lấy thi thể của Khang, định moi các cơ quan nội tạng ra ăn, thì bị một cú đánh trời giáng văng ra xa. Thì ra là Diệu, trên mình Diệu đã mọc đầy lông của loài sói. Diệu đã trở thành một con ma sói thực thụ. Hai con ma sói gầm lên, lao vào nhau như điên dại. Dưới ánh trăng, ánh kiếm loang loáng từ từ cắt rời từng phần trên cơ thể Diệu. Từng bộ phận rơi ra đều trở lại nguyên dạng cũ. Diệu bị một nhát kiếm chém đứt nửa người té xuống nằm bất động. Con ma sói từ từ tiến lại cũng moi các cơ quan nội tạng của Khang với Diệu. Trong nhà các bạn không hề hay biết chuyện ở ngoài. - Minh, tay bạn bị làm sao thế? - Linh hỏi. Mọi người chú ý nhìn cánh tay phải của Minh, nó cũng bắt đầu mọc đầy lông xám trắng. Minh hoảng loạn hét lên. - Có phải cậu đã cầm một khúc gậy đánh Lan bằng bàn tay này không? - Hùng cất tiếng hỏi. - Đúng vậy! Tôi vốn thuận tay phải mà! - Nói vậy thì chính cậu cũng sắp biến thành ma sói rồi! - Không thể nào! Sao lại thế được? Tôi không tin! Hãy nói là cậu chỉ nói đùa thôi đó! - Phải chặt đứt cánh tay này ngay, nếu không cậu sẽ bị biến thành ma sói! - Đừng! Đừng làm như thế! Vừa nói Minh vừa bỏ chạy ra ngoài cửa, Hùng đuổi theo nhưng khi ra đến cửa thì chẳng còn nhìn thấy Minh đâu nữa, trước mắt Hùng là một con ma sói, con ma sói gớm ghiếc đáng kinh sợ. Con ma sói quay lại nhìn Hùng, ánh mắt nó như van lơn một điều gì đó. Nó chần chừ rồi đi thụt lùi, lắc đầu và quay lưng chạy mất vào rừng. Hùng biết đó chính là Minh, tuy đã thành ma sói nhưng Minh vẫn còn có lý trí, vẫn phân biệt được ai là bạn bè của mình. Nhìn theo bóng Minh chạy đi, Hùng chợt nhìn thấy con ma sói kia, nó đang ăn thịt Khang và Diệu. Hùng tái mặt đi, định lao ra ngoài quyết một trận sống mái với nó, nhưng Linh đã kịp thời ngăn lại: - Bạn mà ra đó lúc này chẳng khác nào tự nạp mạng cho nó! - Nhưng nó đang ăn thịt Khang và Diệu, đó cũng là các bạn tôi! - Thì Khang và Diệu cũng là bạn của Linh mà, nhưng biết làm sao được. Bây giờ không phải lúc đau buồn hay thương tiếc mà phải tìm cách tiêu diệt con quái vật đó và cứu Minh trở lại như cũ. Hùng kéo Linh vào nhà, khóa chặt cửa lại và quay qua hỏi ông lão: - Bây giờ phải làm sao hả ông? - Ông cũng không biết làm sao! - Ông lão trầm ngâm. Mỗi người đăm chiêu suy nghĩ tìm cách tiêu diệt ma sói. - Hay là ta đốt nó? - Hiền rụt rè nói. - Ý kiến hay lắm! - Mắt ông lão vụt sáng lên - Đúng rồi đó! Lửa đốt cháy được mọi thứ mà. Hùng, cháu xuống lấy dầu lên đây, càng nhiều càng tốt. Bây giờ ta phải làm thế này. Một người sẽ ra dụ nó vào đây. Khi nó vào tới, ta sẽ bất ngờ tạt dầu vào người nó, ngay lập tức phải có một người châm lửa đốt nó liền. Phải phối hợp thật chính xác nếu không thì sẽ có thêm người chết oan nữa. Bây giờ phải có ai đó nhận nhiệm vụ ra dụ nó, đây là một việc rất nguy hiểm, cần một người chạy thật nhanh. - Cháu, cháu chạy nhanh nhất trong bọn. - Vừa nói Tuấn vừa đứng lên. - Được rồi. Các cháu nấp vào chỗ kia, khi nó chạy tới thì đồng loạt hắt dầu vào nó. Vừa nói ông lão vừa chỉ vào Hân, Hiền, Linh và Ngọc: - Khi nó bị hắt dầu, ông và Hùng sẽ châm lửa đốt nó ngay! Bàn bạc xong xuôi. Bố trí mọi việc thật chu đáo, Tuấn đi ra cửa, quay lại nhìn mọi người một lần nữa rồi lấy hết bình tĩnh mở cửa ra. Ma sói vừa ăn xong nội tạng của Khang và Diệu, bỗng thấy cánh cửa bật mở ra, Tuấn đứng đó dáng thách thức, nhanh như chớp nó chụp lấy thanh kiếm và lao tới. Đợi cho nó tới một khoảng Tuấn quay mình chạy vào nhà lại phía cầu thang. Con ma sói lao theo đến dưới chân cầu thang bỗng thấy dầu tứ phía bay ập vào người nó. Khựng lại một chút do quá bất ngờ chưa kịp hiểu ra chuyện gì thì một chiếc que diêm bật lửa sẵn lại lao tới. Thế là con ma sói trở thành một cây đuốc sống, nó lăn lộn dưới nhà, nó gào lên đầy đau đớn. Bàn ghế đổ ầm ầm mỗi khi nó lăn tới chạm phải. Mọi người đứng sững nhìn con ma sói mà không biết làm gì cũng chẳng nói nên lời nào. Con ma sói đau đớn giãy giụa và quơ quào loạn xạ. Bỗng một ánh quang do thanh kiếm phản chiếu ánh lửa lóe lên, và một tiếng thét đau đớn vang lên. Hùng thấy ông lão ngã xuống, lưng ướt đẫm máu. - Ông ơi! - Hùng hét lên và lao tới đỡ ông lão dậy. Ông lão chỉ kịp nói một câu gì đó không nghe rõ, chỉ loáng thoáng là hai chữ "kiếm... chém..." và trút hơi thở cuối cùng. Hùng đau đớn ôm ông khóc mà không hề biết rằng nguy hiểm đang cận kề. Con ma sói đã dập tắt được lửa trên người và đứng đó nhìn Hùng. Bộ lông của nó bị cháy sém đen bốc lên một mùi khét khó chịu. Ma sói cầm thanh gươm loạng choạng bước lại sau lưng Hùng. Ngọc hét to gọi Hùng nhưng Hùng vẫn bất động ôm lấy ông lão. Con ma sói chém xuống, Ngọc lao tới lấy thân mình ra che chắn cho Hùng bất chấp nguy hiểm. Một tiếng "phập" phát ra khi thanh kiếm giáng xuống. Ngọc nghĩ tới cái chết. Chưa hoàn hồn thì Ngọc thấy mình và Hùng bị hất văng sang một bên. Định thần nhìn lại thì Ngọc và Hùng nhận ra ông lão đã biến thành một con ma sói và kịp đưa tay đỡ đường kiếm cho hai người. Nhát kiếm chém vào giữa bàn tay của ông lão, máu rỉ ra. Con ma sói kia rút kiếm lại, đồng thời ông lão cũng lao lên. Hai con ma sói đánh nhau. Sau thoáng ngỡ ngàng, Hùng nhặt thanh kiếm của ông lão rơi trên nền nhà lao tới. Mặc dù là kiếm đạo cấp sáu, và có thêm cả ma sói là ông lão hỗ trợ, nhưng Hùng chẳng làm được gì con ma sói kia. Đang đánh nhau thì Hùng vấp phải một cái ghế đổ gần đó, té nhào xuống. Thừa dịp đó, con ma sói đâm thẳng vào người ông lão một nhát. Ông lão rú lên thất thanh, đồng thời bằng sức mạnh phi thường, con ma sói đưa đường kiếm lên trên cắt đôi ông lão ra làm hai từ phần bụng lên trên. Ông lão ngã quỵ xuống, trở lại thành một ông lão hiền hậu đáng thương. Máu từ người ông lão chảy ra lênh láng. Mọi người chưa kịp làm gì thì con ma sói lại tiếp tục lao tới, chém đứt luôn đầu của Linh, Tuấn và Hiền một lượt. Ba cái đầu rơi ra, lăn lông lóc xuống dưới chân của Hân, quá sợ hãi Hân ngất xỉu đi mà chẳng kịp nói tiếng nào. Con ma sói trong cơn điên dại lao tới Ngọc, giơ thanh kiếm lên và chém xuống, nhưng Hùng đã kịp giơ kiếm ra đỡ cho Ngọc một nhát kiếm chí mạng. Thuận đà Hùng đưa chân đá bay luôn thanh kiếm của con quái vật. Ma sói mất vũ khí, lùi lại và bỏ chạy ra ngoài. Trong phòng chỉ còn lại Hùng với Ngọc trong nỗi sợ hãi. Ngọc chạy lại phía Hân đỡ Hân dậy. Hùng bế xác từng người lại và đặt nằm ngay ngắn lên nền nhà lấy một tấm vải lớn phủ lên thi thể của từng người. Lòng đau như cắt. Bỗng nghe có tiếng gầm gừ ngoài cửa nên Hùng nhanh tay chụp lấy hai thanh kiếm lao ra cửa quyết trả thù cho mọi người. Ra đến cửa, Hùng đứng sững lại, ở bãi đất trống trước nhà là xác của Khang đã bị mất hết nội tạng và đầu, vương vãi gần đó là các bộ phận của thi thể Diệu, nhưng điều làm Hùng dừng lại chính là hai con ma sói đang đứng gần đó. Chúng hướng vào nhau, Hùng biết ngay là Minh và con ma sói đang định đánh nhau. Hai con ma sói nhìn nhau rồi cùng tru lên một hồi dài, sau đó là lao vào nhau như các đấu sĩ. Hùng đứng nhìn hai con ma sói đánh nhau kịch liệt, thấy Minh sắp thất thế, Hùng tay cầm hai thanh kiếm lao ra ngoài. Xông vào giữa hai con ma sói, Hùng chẳng còn biết gì nữa chém tới tấp vào con ma sói độc ác. Con ma sói bị chém máu chảy xuống. Hùng múa kiếm điêu luyện đánh tới tấp khiến con ma sói không kịp trở tay. Bỗng hai thanh kiếm chạm vào nhau nghe "choang" một tiếng và gãy vụn. Hai tia chớp chói lòa từ hai cái chuôi kiếm phát ra, quyện vào nhau thẳng vút lên trời đồng thời một tiếng nổ kinh thiên động địa vang lên. Hùng thấy dưới chân rung chuyển. Chói mắt quá nên Hùng phải nhắm mắt lại. Khi mở mắt ra, Hùng nhìn thấy dưới chân mình là những mảnh vụn của hai thanh kiếm, con ma sói cũng biến đâu mất, lăn lông lóc giữa đất một cái đầu sói, gần đó là một thi thể không đầu của một cô gái đầy máu. Hùng quay người nhìn lại thì thấy Minh đang nằm bất tỉnh ở đó. - Tiếng nổ gì vậy Hùng? - Ngọc và Hân từ trong nhà chạy ra đứng ở cửa. Trán vã mồ hôi, Hùng quay lại và nói: - Mọi chuyện xem như kết thúc rồi! Những tia nắng đầu tiên xuyên qua rừng cây trải lên căn nhà ở bìa rừng ánh nắng như xua tan đi bao nhiêu sợ hãi mà mọi người đã phải gánh chịu. Sợ hãi hết, nhưng còn lại đây là nỗi nhớ khôn nguôi của ba người bạn, họ đã mất ông nội, đã mất bạn bè và suýt nữa thì mất mạng. Hùng đứng đón ánh bình minh trong nỗi đau đớn tột cùng. Tiếng chim hót xa xăm vọng tới dưới tiếng gió, dưới ánh nắng yếu ớt vàng tươi của ngày Giáng Sinh. Sau đó ba người bạn đã âm thầm an táng cho những người xấu số ở nghĩa trang riêng của ông lão và quay trở về thành phố. Năm tháng trôi qua, họ đã bịa ra một câu chuyện về một tai nạn để che giấu việc không trở về của những người bạn. Mấy năm sau, câu chuyện và nỗi đau của họ cũng dịu lại, họ hầu như quên đi đêm Giáng Sinh đầy kinh hoàng ngày trước. Nhưng rồi đến một ngày kề cận ngày Giáng Sinh, cả ba người bạn cùng không hẹn mà gặp lại ở trước mộ của những người bạn cũ và ông lão. Ba người nhìn nhau không nói nên lời, ánh nắng chiều yếu ớt cố bám trụ lại nhưng không được, bóng đêm dần lên, họ nghe văng vẳng trong rừng một tiếng chó sói tru, và những cảnh tượng ngày xưa được tái hiện lại. Hôm sau, khi ra viếng mộ của mọi người thì thấy chúng bị đào bới lên, không còn nhìn thấy một thi thể nào nữa. Cả hai thanh kiếm được chôn gần đó cũng bị đào lên và đánh cắp. Nhưng đó là một câu chuyện khác rồi... LỜI NGUYỀN NĂM CŨ Ba mươi lăm năm về trước, Lan là luật sư cho một văn phòng luật có tiếng tăm tại thành phố Sài Gòn. Tuấn - chồng nàng, là kỹ sư điện của nhà máy Thủy cục tại Thủ Đức. Lúc ấy hai người chỉ vừa mới cưới nhau được gần một năm. Gia đình hai bên đều giàu có nên đám cưới đã được tổ chức rất lớn tại nhà hàng Đồng Khánh, khách dự tiệc có đến hơn bốn trăm người. Ai cũng phải khen họ thật là xứng đôi vừa lứa. Sau hai tuần trăng mật tại Đà Lạt, vợ chồng Tuấn Lan dọn về ở trong một ngôi biệt thự ngoại ô Sài Gòn, gần bên bờ sông, mà bên chồng đã mua cho sẵn. Lan rất thích nơi này. Chung quanh là tường xây bao quanh. Ngôi biệt thự nằm lẫn trong khu vườn cây ăn trái đủ loại với không khí trong lành. Nhất là khung cảnh yên tĩnh cộng với cảnh vật hữu tình rất hợp với Lan. Ở đây cũng thuận tiện vì không quá xa chỗ làm của cả hai vợ chồng, và khi cần chỉ việc lái xe vượt cầu Sài Gòn vào thành phố không quá mười lăm phút. Tuấn rất thích đồ cổ nên thường tìm mua những món đồ xưa để trang trí trong nhà dù phải trả giá cao thế nào đi chăng nữa. Trong số những đồ vật mua được có một chiếc gương cổ gắn trên giá chạm trổ rất cầu kỳ. Lan thích cái gương này lắm. Nàng đặt nó trong phòng ngủ và hàng ngày ngắm mình trong gương. Cuộc sống cứ thế êm đềm trôi đi. Nhưng chuyện đã xảy ra vào một đêm mà Tuấn phải trực tại sở còn Lan ngủ một mình ở nhà. Đêm đó Lan mơ thấy một thiếu phụ trẻ đẹp hiện đến nói chuyện với nàng. Người thiếu phụ đó nói bà ta chính là mẹ ruột của nàng, còn cha mẹ nàng hiện nay chỉ là cha mẹ nuôi mà thôi. Nếu không tin thì nàng có thể đi hỏi cha mẹ nàng cho ra lẽ. Sau đó thiếu phụ biến mất. Hôm sau Lan thức dậy và nhớ lại chuyện trong đêm, nhưng nàng chỉ nghĩ đó là giấc mơ nên không để ý gì cho lắm. Tuy nhiên, liền mấy đêm sau, người thiếu phụ ấy lại hiện ra trong giấc mơ của Lan và quả quyết nàng là con của bà ta. Lan đâm ra thắc mắc, không biết đó là sự thực hay chỉ là bị ám ảnh chuyện gì rồi mơ mộng thôi. Nàng tảng lờ đi. Sau đó thì đêm nào nàng cũng thấy thiếu phụ đó, lúc thì chân thành, lúc thì khóc lóc nức nở khi nàng từ chối không nhận bà ta là mẹ. Cuối cùng, vào một ngày chủ nhật, Lan về nhà cha mẹ chơi, lúc ở trong bếp một mình với mẹ, nàng bèn hỏi: - Mẹ à, có phải con chỉ là con nuôi của ba mẹ không? Mẹ nàng hơi biến sắc mặt nhưng cố trấn tĩnh: - Ai nói chuyện tầm bậy đó cho con vậy? Ba con mà nghe là chết với ông ấy đó, nghe chưa! Rồi mẹ nàng nói lảng qua chuyện khác. Lan không hài lòng lắm nhưng sợ làm phật lòng mẹ nên không dám hỏi thêm. Nàng lại tiếp tục gặp người thiếu phụ kia trong mơ. Lan quyết định hỏi riêng vú Ba, người đã chăm sóc nàng từ lúc sơ sinh cho đến ngày lấy chồng. Trước nay Lan vẫn xem vú Ba như một người mẹ thứ hai, bà vú Ba cũng yêu thương nàng như là con đẻ. Vú Ba vốn là người chất phát, thật thà, chẳng bao giờ nói dối hay làm phật lòng ai. Gặp vú Ba, Lan chận đầu: - Vú đừng có giấu con nữa nghe! Con biết con là con nuôi của ba mẹ con! Xin vú hãy nói cho con biết sự thật đi! Vú Ba mặt tái xanh lắp bắp: - Trời ơi làm sao cô biết được? Đời nào ông bà nói cho cô biết điều đó? Ai nói cho cô biết vậy? - Thì có người cho con biết, con chỉ cần vú xác nhận và cho con biết thêm những gì vú đã biết! - Cô biết rồi thì vú cũng không giấu làm gì. Nhưng vú cũng chẳng biết gì nhiều đâu. - Thì điều gì vú biết thì cứ kể cho con nghe. Biết đâu nhờ đó mà con tìm ra nguồn gốc của mình cũng nên! - Cô biết đó, ba mẹ cô chỉ có mình cô là con một mà thôi! Thật ra thì bác sĩ cho biết là ông bà không thể có con được! Vú chỉ biết là hai mươi hai năm về trước, ông nói là có chuyện phải đi xa vài ngày. Vú nhớ rõ lúc đó là mùa thu, khi trở về ông ẵm theo một bé gái. Ông nói là xin được của một người đàn bà ở dưới Long An. Bà ta vì nghèo quá không nuôi nổi đàn con quá đông nên đành lòng để con mình cho người khác nuôi. Đứa bé đó chính là con đó! Vú chỉ biết vậy thôi và vú đảm nhận việc nuôi dưỡng con từ đó. Vú cũng không dám hỏi thêm gì từ ông bà nên không biết thêm nữa! Lan biết rằng có hỏi ba mẹ nàng thì ông bà cũng không nói, nhưng xem ra nàng đã có được một chi tiết mà nàng cần. Đó chính là nơi ba nàng xin đứa con. Là một luật sư, Lan có thể dùng tài năng và điều kiện sẵn có của mình để truy ra nguồn cội. Nghĩ vậy nên Lan bèn lấy một tuần nghỉ phép và nói với chồng là nàng phải đi lo một công việc cho một thân chủ tại Long An. Khi đến nơi, nàng vào tòa án xin người lục sự tìm xem tài liệu về những ai đã cho con vào mùa Thu của hai mươi hai năm về trước. May mắn, nàng có được danh sách của những đứa trẻ được cho cùng tên của người cho và người nhận. Sau khi xem xét kỹ lưỡng và so sánh tên tuổi trong danh sách đó, nàng biết được tên của mẹ ruột nàng là Trần Thị Tuyết Liễu. Tiến hành công việc xa hơn. Lan còn yêu cầu ông lục sự cho xem lại hồ sơ của người đàn bà tên Tuyết Liễu này. Một sự thật bất ngờ là người này là một tử tội, vì mang thai nên được dời ngày xử tử cho đến sau khi sinh con. Đứa con được sinh ra trong khám đường và mang đi cho, sau đó bà ta bị xử bắn vì tội đã giết chồng! Trở lại Sài Gòn với tâm trạng đau khổ vì sự thật nàng đã tìm ra. Lan chán nản không muốn tìm kiếm thêm về thân thế của mình nữa. Đêm đó người thiếu phụ lại hiện ra trong giấc mơ và lần này bà ta kể cho nàng đầy đủ chi tiết về bà và vì sao bà phải bị xử bắn... *** Bà ngoại con là con của một điền chủ giàu có ở Cần Đước, Long An. Cần Đước chỉ cách thị xã Tân An chưa tới mười lăm cây số. Vùng này lúc ấy nổi tiếng có một trong những vựa lúa gạo của miền Tây.Bà có một sắc đẹp mặn mà với làn da trắng nõn của cô gái miệt vườn. Vì là con nhà giàu nên bà ngoại con được cha mẹ cho lên tỉnh thành ăn học. Trong một buổi dạ vũ mừng Tết, bà con đã gặp một công tử hào hoa phong nhã. Chàng là con cưng của quan Tham tố ở tòa bố tỉnh. Mới gặp nhau là họ đã bị tiếng sét ái tình đánh trúng. Sau đó họ hẹn hò với nhau rồi cuối cùng nhà trai lên xin cưới hỏi. Hai vợ chồng chung sống trong gia đình cha mẹ chồng. Trong hai năm đầu tình nghĩa họ rất mặn nồng nhưng đến năm thứ ba thì ông ngoại con theo bè bạn chơi bời nhậu nhẹt và bắt đầu lơ là với vợ. Bà con lúc đầu còn nói bóng gió nhỏ nhẹ để khuyên chồng nhưng đâu cũng về đấy. Về sau bà khóc lóc năn nỉ xin chồng hãy xa lánh bọn bạn bè xấu nhưng cũng không xong, còn bị chồng chửi rủa đánh đập nữa. Quá lắm nên bà ngoại con quay ra cầu cứu cha mẹ chồng. Chẳng những không được bênh vực mà còn bị cha chồng nói là: "Chồng mày nó là đàn ông, phải để cho nó giao du với người đời chứ! Còn nó có lăng nhăng với đứa nào thì đã có sao đâu? Trai thời năm thê bảy thiếp là chuyện thường tình mà". Bà con vốn rất yêu thương chồng nên chỉ cắn răng chịu đựng. Mà thời đó có gì đi nữa thì cũng phải chịu thôi. Đàn bà mà bỏ nhà đi thì không ai chứa, cũng chẳng biết làm gì ăn, và làm nhục cha mẹ của mình. Cứ thế mà bà con cố sống cho qua ngày. Nhưng rồi bà có thai mẹ. Gần ba tháng bà mới biết đúng là mình có thai. Đêm đó bà thức đợi chồng về để báo tin vui. Đến nửa đêm, ông ngoại con mới về nhà, hơi thở nồng nặc mùi rượu. Bà lấy khăn ướt lau người và mặt mày cho ông, thay quần áo và dìu ông vào giường. Lúc sau bà thủ thỉ với ông là bà có thai rồi. Đã không vui thì chớ ông ấy còn mắng bà là ông chưa muốn có con, bởi có nó chỉ làm bận bịu thêm thôi. Quá thất vọng bà chỉ biết ôm mặt khóc thầm trong đêm côi. Từ hôm đó ông càng đi chơi khuya nhiều hơn, về nhà thì gắt gỏng mắng nhiếc và có khi còn đánh đập bà nếu bà có lên tiếng cãi lại. Ông bây giờ công khai đi chơi với đào nhí cả ngay ban ngày ban mặt mà còn ra vẻ ta đây là đào hoa nữa. Bà nhiều lúc muốn tự tử chết đi cho xong cái kiếp bạc phận của mình nhưng lại thương đứa con trong bụng không có tội tình gì. Cha mẹ chồng và các em chồng đều về phe ông con, họ nói móc nói xói đủ điều. Cho đến một đêm kia sau khi đi nhậu nhẹt chơi bời về, ông con chửi và đánh bà một trận và còn nói là sẽ bỏ bà để lấy vợ khác. Sau đó ông lăn ra giường ngủ như chết. Bà nằm thao thức khóc ấm ức, suy nghĩ về số phận hẩm hiu của mình, tình yêu của mình dành cho chồng, và tương lai đen tối khi bị chồng ruồng bỏ. Cuối cùng bà quyết định chết và trước khi chết bà sẽ giết luôn cả ông con! Bà nghĩ là chắc sang thế giới bên kia thì có lẽ hai vợ chồng sẽ có hạnh phúc hơn. Thế rồi bà con nhè nhẹ đi ra phòng khách, nơi đó có treo một cây kiếm ngắn cổ xưa trên tường. Cha chồng hay nói rằng thanh kiếm này là báu vật từ triều đại nhà Lê nên ông ta rất quý và treo trong phòng khách làm cảnh. Bà con mang thanh kiếm đó vào phòng, rút kiếm ra khỏi vỏ, ánh thép xanh rợn người. Hai tay giơ cao nó lên bà đâm phập xuống ngay tim của ông. Thấy máu phọt mạnh ra, bà xây xẩm té xỉu. Khi tỉnh dậy bà không còn đủ can đảm để tự kết liễu đời mình. Ở đây cũng không xong, bà bèn cầm theo thanh kiếm tang vật, lấy ít vật dụng cần thiết và lẻn ra sau nhà đẩy chiếc tam bản ra lạch và kiếm đường chèo về nhà cha mẹ mình. Khi ra đến sông lớn bà quăng thanh kiếm xuống sông và cắm cúi chèo như kẻ mất hồn. Hơn một ngày sau bà mới về đến nhà. Vừa bước vào nhà thì đã có mấy ông cò trên tỉnh đợi sẵn, họ bắt còng bà và giải đi xử về tội giết chồng! Tại tòa, bà nhận hết tội mà họ gán cho. Tòa xử rất nhanh và bà lãnh án tử hình mặc dù họ không tìm được thanh kiếm hung khí. Nhưng bà đang có thai mẹ nên tòa cho đình án tử đến sau khi bà con sinh nở. Rồi thì cũng tới ngày đó, bà con sinh ra mẹ trong nhà lao. Họ mang mẹ về trao lại cho ông bà cố của con. Chỉ hôm sau họ mang bà con ra pháp trường xử bắn. Trước khi bắn họ hỏi bà con có điều gì trăng trối lại không. Bà con đã dõng dạc thét to vào đám đông đến coi xử bắn, trong đó có cả họ hàng nhà chồng, rằng: "Tôi chết đi rồi cũng nguyện thành ma về trả thù bọn đàn ông bội bạc, con cháu tôi cũng sẽ làm như vậy! Đó là lời nguyền của tôi trước khi chết! Hãy nhớ lấy!". Rồi họ nổ súng bắn chết bà con. Mẹ được ông bà ngoại của mẹ nuôi lớn lên, không ai hở môi cho mẹ biết gì về quá khứ của mình: ông bà chỉ nói là cha mẹ của mẹ bị chết trong một tai nạn sau khi sinh ra mẹ mà thôi. Mẹ lớn lên và trở thành một cô gái có nhan sắc nổi tiếng ở vùng Cần Đước. Chắc ông bà nhớ hậu quả khi xưa nên không cho mẹ lên tỉnh học. Mẹ chỉ học hết trung học đệ nhất cấp là phải ở nhà phụ việc cơm nước với bà ngoại rồi. Nhưng rồi tiếng đồn về mẹ bay xa, con trai của các điền chủ khác cũng tìm đến để dò hỏi. Mẹ cũng phải lòng một anh chàng đẹp trai con của một điền chủ ở thị xã Tân An. Tuy không ở gần nhau nhưng anh ta thường lặn lội xuống Cần Đước để gặp mẹ. Việc cưới hỏi cũng đến. Mẹ về ở bên nhà chồng ở gần cầu Voi. Đến khoảng hơn một năm thì có một trận dịch hạch tràn lan khắp các tỉnh và giết chết cả mấy ngàn người. Không may là trong đó có cả gia đình ông bà ngoại của mẹ. Mẹ trở thành kẻ không thân nhân. Người thân của mẹ bây giờ chỉ là những người bên gia đình chồng. Mẹ cũng làm quen được với một vài người bạn gái mới ở gần nhà. Họ với mẹ chơi thân và coi nhau như chị em trong nhà vậy. Cả ngày mẹ chỉ quanh quẩn ở nhà giúp bà nội con hoặc đi chơi với các bạn gái hàng xóm thôi chứ không đi đâu xa cả. Ba con đi cả ngày chiều tối mới về. Ba con nói phải đi lo công chuyện của ông con, mẹ luôn tin tưởng ở ba con nên cũng chẳng hỏi han gì nhiều. Cuối năm đó mẹ có bầu con. Ba con và mẹ rất vui mừng. Ông bà nội con lo mua mọi thứ đồ bổ cho mẹ để sau này con sanh ra được mạnh khỏe. Ba mẹ sắm sửa các vật dụng và quần áo cho con để chờ ngày con chào đời. Cuộc sống thật hạnh phúc. Nhưng một đêm kia mẹ mơ thấy một thiếu phụ trẻ đẹp hiện về trong giấc mơ. Bà ta cho mẹ biết mẹ là con của bà ta. Sau đó bà hiện về hàng đêm để trò chuyện với mẹ. Cho đến một đêm bà bảo mẹ là ba con không trung thành với mẹ đâu. Bọn đàn ông trên đời này luôn luôn phản bội. Bọn sở khanh đó đáng chết. Bà bảo mẹ phải giết ba con vì trước sau gì thì ba con cũng bỏ mẹ thôi. Mẹ chống đối lại và xác nhận là ba con rất trung thành và yêu thương mẹ. Nhưng bà ấy bảo cứ chờ xem. Bà kể lại chuyện bất hạnh của đời bà và lời nguyền bà đã nói trước khi chết. Bây giờ là thời gian để bà thực thi lời nguyền ấy. Mẹ rất kinh hoàng nhưng mãnh lực ma quái của bà con làm mẹ mềm nhũn cả ý chí mình. Thấm thoát mẹ đã có bầu được năm tháng. Bụng mẹ càng ngày càng lớn, đi lại cũng khó khăn hơn. Ông lang khuyên ba mẹ không nên làm chuyện vợ chồng với nhau nữa để giữ an toàn tuyệt đối cho con. Từ ấy ba con thỉnh thoảng lại vắng nhà cả đêm. Mẹ vẫn mơ thấy bà con hiện về thúc giục mẹ thi hành lời nguyền: phải giết chết ba con! Nhiều lúc mẹ bị quyền lực huyền bí của bà con sai khiến và hứa sẽ giết ba con nếu có dịp. Một đêm kia bà con bảo mẹ mở ngăn kéo của cái tủ gỗ trong phòng. Mẹ nhìn thấy cây kiếm ngắn cổ xưa nằm đó từ bao giờ. Bà con nói ngày xưa với chính thanh kiếm này bà đã giết chết kẻ phản bội. Sáng hôm sau, khi thu dọn quần áo của ba con đi giặt, mẹ thấy có vết son lạ trên áo và mùi nước hoa vẫn còn phảng phất trên đó. Mẹ mang đến hỏi ba con thì ông ấy chối quanh và còn nạt át giọng mẹ nữa. Mẹ trở về phòng và khóc một mình. Chẳng lẽ bà con nói đúng hay sao? Chẳng lẽ bọn đàn ông toàn là một lũ phản bội hay sao? Mẹ thiếp đi và bà con lại hiện về an ủi mẹ. Rồi với giọng đanh chắc bà bảo là đã tới giờ hành động, Rằng nó đã phản bội con từ lâu rồi, chỉ tại con quá ngây thơ mới tin vào sự trung thành của nó mà thôi. Hôm sau mẹ lại chơi nhà chị bạn, chuyện vãn một hồi mẹ hỏi: - Chị là hàng xóm với gia đình chồng em, em với chị coi nhau như chị em ruột! Em xin chị cho em biết chị có biết gì về cuộc sống của chồng em không? Người kia hỏi lại mẹ: - Sao em lại hỏi thế? Có gì xảy ra trong cuộc sống vợ chồng của tụi em à? Mẹ đáp: - Chồng em thỉnh thoảng đi suốt đêm. Hôm qua em còn thấy dấu son lạ và mùi nước hoa trên áo anh ấy nữa. Nếu chị biết gì thì làm ơn nói cho em biết với. Em là kẻ lạ từ xa đến và chỉ biết nhà chồng và mấy chị em gần đây thôi. Nếu chị biết gì thì làm ơn cho em biết, em đội ơn chị! - Chị luôn coi em như em gái ruột mình nên chị cũng không giấu gì em. Chồng em nổi tiếng là một công tử ăn chơi nức tiếng của vùng này. Đó cũng là lý do mà cậu ấy phải đi lấy vợ xa. Con gái của nhà giàu có ở đây đều biết tiếng cậu ấy nên đâu ai chịu gả cho cậu ta đâu. Hàng ngày cậu ấy tụm bè tụm đảng với mấy tên công tử khác, ăn chơi bài bạc và phá làng phá xóm! Ở đây ai cũng biết danh! Chỉ tội nghiệp em quá ngây thơ nên chẳng biết gì hết. Mẹ cám ơn chị bạn ấy rồi về. Thế ra là ba con luôn làm mặt giả dối với mẹ mà thôi. Đi ăn chơi mà nói là đi lo công việc, đêm ngủ với gái về nói là phải đi lên tỉnh lo giấy tờ. Mẹ chỉ biết khóc cho phận mình, sao nó oan trái giống hoàn cảnh của bà ngoại con quá! Một chiều mưa gió khi ba con về nhà mùi rượu nồng nặc, áo quần xốc xếch. Mẹ bèn đỡ ba con vào phòng rồi trách: - Sao anh nhậu nhẹt gì mà say quá độ như vậy? Say mà dầm mưa có bữa trúng gió chết dọc đường không ai hay đó! Ba con nạt mẹ: - Á à! Thì ra cô cầu cho tui chết chứ gì? Cô tưởng cô hay lắm ư? Cô chỉ là con bé mồ côi thôi! Tui thách cô đó! Chịu được thì ở không được thì đi đi! Không ai chứa cô đâu! Mẹ cô ấy à? Cũng là một con giết chồng thôi! Tui mà biết trước chuyện này thì đời nào tui cưới cô. Mẹ nào con nấy mà. Dang ra cho tui đi ngủ! Tui không cần đứa nào giúp hết. Ba con chửi bới mẹ một hồi nữa rồi nằm lăn ra ngủ như chết. Mẹ thay quần áo ướt cho ông ấy, thấy trong túi có gì cồm cộm mẹ lấy ra xem. Thì ra đó là một tấm hình của một cô gái trẻ ăn mặc hở hang giống như gái nhảy, phía sau có đề dòng chữ "tặng anh yêu" và chữ ký tên nguệch ngoạc. Mẹ buông rơi tấm hình xuống đất, ôm mặt khóc. Đúng rồi chẳng sai vào đâu được nữa. Ba con phản bội mẹ từ lâu mà mẹ có biết gì đâu! Đột nhiên mẹ nghe tiếng bà con ngay cạnh bên: "Mẹ đã nói mà con không tin! Bây giờ con sáng mắt ra chưa? Hãy giết chết tên phản bội kia đi!". Mẹ như bị thôi miên, từ từ đi đến bên tủ kéo ngăn lấy cây kiếm cầm trên tay. Trong đầu mẹ nghe toàn những câu chửi rủa đay nghiến của ba con. Xen lẫn vào đó là tiếng thúc giục của bà con. Mẹ như kẻ không hồn bước lại gần ba con, rút thanh kiếm khỏi vỏ, rồi cắm phập xuống tim của kẻ bạc tình. Như một kẻ mộng du, mẹ đúc thanh kiếm vào vỏ, mở cửa sau bước ra hông nhà. Mưa vẫn còn rơi xối xả, mẹ đẩy chiếc xe đạp và đạp như bay về hướng thị xã Tân An. Mẹ không còn ai là thân nhân trên đời này cả. Mẹ chỉ theo sự hướng dẫn vô hình nào đó mà đạp xe đi. Trong tiềm thức mẹ có nghe ai nói là hãy vất thanh kiếm xuống sông và mẹ làm theo lời bảo như một cái máy. Sau đó mẹ đạp xe vào cục cảnh sát Tân An. Chỉ có một viên cảnh sát đang ngồi gác và hút thuốc trong văn phòng. Thấy mẹ ông ta hỏi khuya khoắt thế này mà bà có việc gì đến báo cảnh sát vậy. Mẹ trả lời với giọng khô cứng: "Tôi đâm chết chồng tui rồi! Tui đến đây để nộp mạng!". Ông cảnh sát bán tín bán nghi không biết phải làm gì. Ngay lúc đó có mấy chiếc xe gắn máy vừa trờ tới, mấy người hồng hộc chạy vào la lớn: "Thầy cò ơi! Có án mạng ở nhà ông hội đồng Bảy! Con trai ổng bị người ta đâm chết trong nhà! Ông mau cho người tới làm an-kết đi!" Ông cảnh sát quay lại phía mẹ nói: "Cô đưa tay cho tui còng mau lên!". Rồi ông ta nhốt mẹ vào phòng giam và đánh thức mấy người khác dậy để đi theo mấy người báo tin. Hôm sau họ giải mẹ lên nhà khám tỉnh Long An đợi chờ ngày xử. Cũng giống như bà con, mẹ nhận hết lỗi và bị nhận án tử hình. Mẹ cũng được hoãn ngày bắn cho tới khi sinh con ra. Khi sinh con ra họ mang con đi nói là làm giấy tờ và tìm người để cho. Và rồi mẹ bị họ mang ra pháp trường bắn. Mẹ cũng mang theo lời nguyền là sẽ trả thù bọn đàn ông khốn nạn trên đời này. Và con chính là kẻ thi hành lời nguyền ấy! *** Lan thấy cảm thương cho số phận của hai người, nhưng nàng không muốn vì sự hận thù của họ mà nàng đành phải giết chết chồng mình. Hơn thế nữa, Tuấn rất hiền lành. Nàng biết rõ tính chồng vì hai người quen và tìm hiểu nhau suốt mấy năm lúc còn ở đại học. Hai người thật sự yêu nhau và tự ý kết hôn với nhau, đâu có bị ép buộc, hay gả bán cho một người xa lạ như mẹ và bà nàng xưa kia đâu?Nàng biết Tuấn rất rõ, một người đàn ông có trách nhiệm, yêu thương vợ và không hề dính líu đến tứ đổ tường như một số đông người có chức vị khác. Và một điểm nữa là Lan cũng yêu Tuấn tha thiết. Nàng không thể nào ra tay giết người mình yêu dấu được. Thế nhưng dù nàng có biện bạch cách mấy đi nữa thì mẹ nàng vẫn hiện về thúc đẩy nàng làm điều đó. Về vào ban đêm thì không xong mẹ nàng bèn về luôn ở nhà nàng, đóng đô trong cái gương cổ trong phòng ngủ. Mỗi khi nàng soi gương thì hình bóng mẹ nàng lại hiện ra nhắc nhở cái sứ mạng nàng cần phải thi hành. Nói nhẹ không xong, mẹ nàng lên tiếng đe dọa... Một sáng kia, Lan thức dậy để sửa soạn bữa sáng cho chồng trước khi đi làm, Tuấn cũng đã thức nhưng vẫn còn nằm ráng trong giường, mắt nhắm nhưng tai vẫn nghe mọi sự chung quanh. Lan đến soi gương và mẹ nàng lại hiện ra trong đó. Vẫn như trước, bà trách móc nàng sao không thi hành lệnh của bà. Lan bèn bực dọc nói: - Tại sao mẹ lại bắt con giết chết người con yêu dấu? Anh ấy có tội tình gì mà phải chết vì sự thù hận của người xưa chứ? - Đó là lời nguyền và con là người kế tục để làm việc đó! Không ai làm thay con được. Chính tay con phải dùng thanh kiếm để đâm chết người chồng của con. Con của con sau này cũng sẽ làm tròn lời nguyền này sau khi con bị xử chết. Đó là luật đã do bà ngoại con đã đặt ra. Con cháu phải biết tuân theo mà thôi! - Không! Con không bao giờ chịu làm những điều vô lý đó đâu! Một làn ánh sáng với luồng gió mạnh phát ra từ chiếc gương thổi bắn Lan vào vách. Nàng đau đớn la lên một tiếng và bất tỉnh. Tuấn nằm nghe hết mọi chuyện, khi thấy Lan bị hất văng vào tường chàng vùng dậy bế nàng lên giường. Nhìn vào gương chàng quát to: - Bà hãy cút đi đi! Hãy để cho chúng tôi yên! Tại sao bà lại nhẫn tâm phá hạnh phúc của con bà vậy? Hình bóng trong gương bỗng biến thành một con tinh dữ dằn với đôi mắt rực lửa: - Tao phải giết bọn đàn ông phản bội chúng mày! Mày cũng không thoát khỏi lời nguyền của chúng tao đâu! Tuấn với tay lấy chiếc guốc của vợ ném vào chiếc gương, nhưng chiếc guốc bật trở lại trúng vào thái dương anh. Thế là Tuấn cũng lăn ra bất tỉnh! Lúc tỉnh dậy thì Lan đã ngồi sẵn ở cạnh bên chàng. Trời đã trưa rồi. Hai vợ chồng sợ lắm. Tuấn gọi điện thoại tới sở làm của hai người xin nghỉ một ngày. Xong xuôi chàng chở Lan đi ra chợ Thị Nghè ăn trưa. Trong lúc ăn Lan nói với chồng: - Anh kêu người tới mang cái gương đó đi nghe anh! Bà ấy ám ảnh em mấy tháng nay rồi đó! Trên đường về, Tuấn ghé qua Hàng Xanh kêu người bán đồ cũ lại nhà để cho ông ta cái gương cổ đó. Họ về đến nhà, ông bán đồ cổ vào phòng khiêng cái gương đi. Lập tức một bóng hình dữ tợn hiện ra trong gương cười the thé và một trận cuồng phong cùng với ánh sáng tuôn ra từ cái gương thổi bay ông ta ra ngoài cửa sổ. Ông ta rớt xuống đất va đầu vào cục đá chết ngay lập tức. Giọng cười vẫn vang vọng xen lẫn tiếng gầm rú: - Chỉ khi nào hoàn tất lời nguyền tao mới ra khỏi đây! Lan, con phải thi hành việc đó rồi thay thế mẹ truyền lời nguyền này cho con con! Chỉ lúc đó mẹ mới đi đầu thai được thôi! Tuấn bèn gọi điện thoại cho cảnh sát báo tin tai nạn xảy ra. Chàng giấu không nói gì về con yêu tinh cả, mà dù có nói thì chắc là cũng chẳng ai chịu tin. Cảnh sát cho đây là tai nạn nên vợ chồng Lan không gặp rắc rối gì. Hôm sau, Tuấn xin nghỉ buổi chiều và đến Lăng Ông ở Gia Định. Nơi đây có một ông thầy chuyên coi tướng số kiêm thầy pháp nổi tiếng để nhờ xem quẻ về con yêu tinh ở trong nhà. Sau khi bấm độn và làm phù phép, ông thầy phán: - Con yêu tinh này rất dữ dằn! Hiện nay không có ai đủ tài để diệt được nó đâu. Nó chỉ đi đầu thai nếu có ai thay thế nó mà thôi! - Như thế thì tụi tôi đành phải chịu chết hay sao? - Đúng ra thì vẫn còn một cách duy nhất! Phải kiếm ra cho được thanh kiếm của nó và chính người con gái của nó dùng thanh kiếm này đâm vào ngực nó thì mới có thể tiêu diệt được nó mà thôi! Nói tới đây ông thầy pháp giống như bị ai đập vào đầu ngã lăn quay ra đất bất tỉnh nhân sự. Các đệ tử của ông phải làm mọi cách mới vực ông tỉnh dậy được. Ông nói: - Thôi thí chủ mau về đi! Có lẽ tôi không giúp ích gì được cho ông đâu. Nó còn định giết luôn cả tôi đó thí chủ thấy chưa? Tuấn ra về cũng không nói gì cho Lan biết về việc này. Chàng sợ phải làm cho nàng hoang mang thêm. Nhưng điều làm chàng suy nghĩ nhiều nhất là con yêu tinh đã biết chàng đang tìm cách tiêu diệt nó. Chàng sợ nó sẽ ra tay sớm tìm cách giết chàng. Nửa đêm đó như có linh tính, Tuấn mở mắt ra thì thấy Lan đang đứng ở bên giường, hai tay nắm chặt thanh gươm ngắn trong tư thế sắp đâm xuống ngực chàng. Ánh mắt Lan như ngây dại mất hồn, Tuấn vội vàng la lớn: - Lan! Mau tỉnh lại đi em! Đừng làm theo lời con yêu tinh đó. - Tao phải giết bọn đàn ông phản bội trên đời này! Lan trả lời với giọng điệu xa lạ như vọng về từ thế giới bên kia. - Em hãy mau tỉnh lại đi! Nhìn kỹ anh nè! Em biết anh yêu em nhất trên đời này mà! Không gì có thể làm anh xa em được. Em biết là anh luôn trung thành với em mà! Tỉnh dậy đi Lan. Hãy xét lại xem, có khi nào anh ruồng rẫy em hay đối xử lạnh nhạt với em không? Tỉnh lại đi em, đừng để con yêu tinh cái kia làm tan đi hạnh phúc của chúng mình! Còn đứa con vô tội của chúng ta nữa, đừng để nó lại phải đeo theo lời nguyền khủng khiếp ấy theo nó vào cuộc đời này! Lúc này, bóng con yêu tinh ở trong gương cũng gào lên: - Hãy giết bọn đàn ông phản bội đi con! Chúng nó không đáng được sống! Bây giờ là lúc con hoàn thành lời nguyền của chúng ta, hãy mau xuống tay đi! - Đừng nghe lời nó em! Lan hãy mau thức tỉnh lại đi! Vợ chồng ta đang hạnh phúc, chúng ta sắp có đứa con đầu lòng! Đừng để bọn ma quái yêu tinh kia phá đi hạnh phúc của chúng ta! Mặt Lan bấy giờ bỗng trở nên tỉnh táo hơn. Nàng như vừa thoát ra khỏi một cơn mộng du. Nàng đã nghe tiếng Tuấn kêu gào và có lẽ lời kêu gào thống thiết đã thắng được ma lực đang thống trị trong nàng. Nhìn mình tay đang giơ cao thanh kiếm chực đâm chồng, Lan hoảng hốt hạ rơi thanh kiếm xuống, miệng la lớn: - Trời ơi! Chuyện gì đang xảy ra vậy hả anh? Sao cây kiếm này lại trong tay em? Chút nữa là em đã giết chết anh rồi! - Hãy giết chết nó đi còn chần chờ gì nữa con! Giết nó mau đi cho lời nguyền được trọn vẹn. - Con yêu tinh lại gào gọi Lan. - Em hãy bình tâm tỉnh trí lại đi! Con yêu tinh kia muốn cắt đứt cuộc sống êm đềm của chúng ta. Nó dùng ma lực để khiến em làm chuyện điên rồ! Hãy nghĩ đến tương lai của chúng ta, đến con của chúng ta! - Em phải làm gì bây giờ đây? Trời ơi! - Lan nói như khóc. - Bây giờ em hãy phóng thanh kiếm đó vào ngực con yêu tinh kia để phá vỡ lời nguyền của nó mau đi em. - Tuấn vội trả lời vợ. - Đừng nghe lời bọn đàn ông khốn nạn con ơi! Con hãy giết nó ngay đi. Đừng nghe lời nó xúi xiểm mà giết mẹ con nghe chưa! - Con yêu tinh phản ứng lại tức thì. - Hãy mau phóng thanh gươm đi em. Chỉ có một mình em là có thể phá được lời nguyền này mà thôi! Em nghe rõ chưa? Chỉ có mình em thôi! - Tuấn càng gào to lên như muốn để át đi mọi ma lực còn sót lại trong Lan. Thình lình Lanvung tay lên và phóng nhanh thanh kiếm vào cái bóng con yêu tinh ở trong gương. Cái gương lập tức vỡ tan ra thành từng mảnh vụn cùng theo đó là một tiếng rú rợn người. Con yêu tinh và cả thanh gươm tiêu biến mất theo một làn khói mờ. Vợ chồng Lan ôm chầm lấy nhau mà khóc, mừng mừng tủi tủi. Tai nạn xem như đã qua đi rồi. Hai người ngồi tâm sự ôn lại các vui buồn trong đời cho đến sáng. Lúc này Tuấn mới đứng lên dọn dẹp nhà cửa, chàng mang cái khung gương ném xuống sông như để xóa đi cái ám ảnh đã qua. Từ đó về sau vợ chồng Lan sống hạnh phúc không còn bị khuấy phá gì nữa. Lời nguyền chính thức đã bị phá vỡ. Đến cuối năm đó Lan sinh được một bé gái giống nàng như đúc. Nàng lạy tạ ơn trời đất vì con nàng không phải chịu cảnh sinh trong tù và đeo theo lời nguyền như mẹ và bà ngoại của nàng nữa. Hai năm sau một bé trai lại ra đời và họ sống êm đềm trong hạnh phúc cùng nhau cho tới lúc đầu bạc răng long. MỘT CHUYỆN TÌNH BUỒN Tiếng đàn lạ vang lên như mọi ngày. Hàng xóm không cần nhìn đồng hồ cũng biết bây giờ là sáu giờ. Mùa này trời mau tối nên không gian đã có nơi đen thẫm. Trong cái xóm lao động, mà hầu hết là dân nhập cư nghèo cùng cực này, tiếng đàn quả là rất lạ, có thể nói đó là một mặt hàng xa xỉ. Trong những căn nhà trọ tạm bợ người ta không có cái khái niệm nghe nhạc nữa nói chi là học đàn. Trong mỗi một mảnh gia đình nhỏ đều là những con người khổ quá nên rời bỏ quê hương, để đi tìm một cách khổ khác hơn. Họ làm tất cả mọi việc vụn vặt nhất để kiếm những đồng bạc ít ỏi phục vụ cho cái ăn. Họ ở đây năm bảy tháng rồi lại bồng bế dắt dìu nhau đi chỗ khác. Người cư ngụ ở đây lâu lắm cũng chưa tới hai năm. Chừng thời gian ấy cũng đã là lão làng của cái xóm Mả Cũ này. Hồi anh công nhân mới mướn ngôi nhà, đánh đàn trong những ngày đầu tiên, người ta cảm thấy bực dọc. Có lẽ sau một ngày lao động cực nhọc và nhẫn nhục, bị chèn ép, bị hiếp đáp, con người đâm ra bực bội. Họ bực từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, dường như bao nhiêu dồn nén trong ngày cần được bung ra. Có như vậy trong lòng họ mới có chỗ chứa những dồn nén ngày mai. Câu cửa miệng của họ thường là: "đói không lo, đói còn bày đặt..." Phải nhìn nhận tiếng đàn của anh không hay lắm. Có lẽ vì vậy mà được bà con thông cảm. Vài hôm sau, có ông mang bình trà qua nhà anh công nhân, lại hú thêm ông khác. Ít hôm nữa, có ông lại cầm bình rượu. Thế là anh dần dần được công nhận là người trong xóm. Thêm vào đó anh rất hiền và có một cuộc đời cũng tội nghiệp như họ. Khi anh khoảng tám tuổi thì cha mẹ mất vì một tai nạn giao thông thê thảm, phải sống với chú thím. Nhà chú thím nghèo, đông con, nên vẫn phải tự bươn chải kiếm miếng ăn. Từ nhỏ đã làm đủ thứ nghề. Cách đây mấy năm, anh làm công cho một công trình xây nhà. Ở đó anh gặp được Loan, con gái chủ nhà. Không hiểu có phải duyên tiền định hay không mà họ yêu nhau tha thiết. Mối tình ấy đẹp và trong sáng. Họ cùng nhau hẹn hò, họ cùng nhau tâm sự, họ tính toán cho tương lai. Chàng trai nghèo bỗng dưng thấy mình nghèo và bất lực hơn. Nhưng may mắn, ước mơ của cô gái rất đơn sơ và thơ mộng: - Em chỉ cần một căn nhà nhỏ, hai vợ chồng sống chung. Tối tối, hai đứa đi làm về, cơm nước xong, anh đàn em hát. Vậy là hạnh phúc lắm rồi. Cô gái rất thích hát, dù không bao giờ cô ước mơ mình trở thành ca sĩ. Anh đã hứa với nàng sẽ cố gắng kiếm một việc làm ổn định và học đàn. Họ đã thấy màu hạnh phúc trong cuộc tình lãng mạn của mình trong tương lai. Nhưng một hôm, người chủ nhà, cũng chính là cha cô gái, bắt gặp họ đang âu yếm bên nhau. Sóng gió nổi lên. Ông nhà giàu đang phất lên không thể nào chấp nhận được một thằng rể là một lao động nghèo. Hôm sau, chàng trai bị đuổi khỏi công trường. Trong lần gặp cuối cùng, chàng trai hứa: - Anh sẽ cố gắng tìm cho mình một số vốn liếng và học đàn. Em hãy chờ anh. Tối hôm đó cô gái trao cho người yêu sự trong trắng của mình và họ cùng thề non hẹn biển. Bốn năm sau, chàng trai trở lại nơi cũ, mua lại căn nhà mà ngày xưa hai người ân ái. Căn nhà giờ đã cũ kỹ, hoang tàn lắm vì người ta đồn nhà này có ma. Thì ra, sau khi chàng trai ra đi được gần hai năm thì cha cô gái quyết định gả cô cho một anh Việt kiều. Sau bao nhiêu cơn khóc lóc, nhịn ăn và đủ mọi cách khác, cô gái vẫn không lay chuyển dược ý cha. Cuối cùng cô quyết định... Sáng hôm sau, trong căn phòng trọ mà chàng trai đã ở, người ta thấy cô gái thắt cổ tự tử. Thân thể cô gái trong bộ quần áo màu hồng xinh xắn treo lủng lẳng giữa nhà. Từ đó, người ta đồn với nhau rằng đêm đêm hàng xóm thấy một bóng người con gái đi lại trong căn nhà, thỉnh thoảng còn nghe tiếng hát thoang thoảng vút cao. Căn nhà để trống và xuống cấp. Lâu lâu có người lại mướn, nhưng ở được một hai ngày là người ta lại dọn đi vì sợ. Có người thì thấy cô gái đứng ở đầu giường nhìn mình lom lom, có người thấy cô đang ngồi hát... Anh công nhân ở đó khoảng mười ngày thì một đêm... Đang cúi mình đàn một bản nhạc tình, anh bỗng linh cảm như có ai đang nhìn mình. Anh ngẩng đầu lên. Một bóng người mặc áo hồng phất phơ trước mặt anh. Anh không nhìn thấy rõ mặt, nhưng qua cái dáng vẻ đó anh biết chắc đó chính là Loan của anh. Anh đứng dậy: - Loan! Cái bóng thụt lùi lại và tan biến. Cả đêm đó và mấy đêm sau nữa, anh không dám ngủ. Anh cố gắng thức để gặp được Loan, người anh yêu, người mà anh trở về tìm sau khi học đàn. Nhưng Loan vẫn không hiện ra với anh. Đêm đó, buồn chán lại có người hàng xóm đem rượu đến rủ rê. Anh uống thật nhiều và say khướt. Trong cơn say, Loan đến với anh. Trong giấc ngủ, anh thấy mình được Loan chăm sóc. Loan lấy nước đắp trán cho anh. Sửa mền gối và ngồi cạnh giường canh anh ngủ. Anh mở mắt nhìn. Đúng là cô gái anh yêu ngày nào, nhưng có vẻ xanh xao và u buồn hơn. Anh thều thào gọi: - Loan! Loan quay nhìn anh, mỉm cười, rồi nằm xuống bên anh. - Sao em bỏ anh đi? - Không, em vẫn chờ anh đó chứ. Anh về em mừng lắm! - Nhưng sao mấy hôm nay em tránh mặt anh? Giọng Loan bùi ngùi: - Em không muốn làm anh sợ. Dù sao thì em... em cũng đã chết rồi! Trong bóng tối anh cảm nhận được những giọt nước mắt. Anh ghì chặt thân mình mảnh mai của người yêu. Anh sợ mất cô lần nữa. - Không, anh không sợ! Anh về đây là để tìm em, là để sống với em. Em hãy ở lại với anh nghe Loan! Loan choàng tay ôm ghì lấy người yêu: - Em về. Em về với anh mỗi đêm, nhưng... chỉ trong mơ thôi. Họ xoắn lấy nhau, yêu nhau... Một đêm tân hôn muộn màng. *** Sáng hôm sau, những người hàng xóm gọi đi làm anh mới thức dậy. Trời đã sáng hẳn. Anh thấy trong người khoan khoái vô cùng. Nhớ tới chuyện đêm qua, anh bật người ngồi dậy nhìn quanh. Loan đâu? Chỉ một mình anh trong căn nhà trống vắng. Anh quơ tay trên giường hy vọng tìm được hơi hướng của Loan. Tay anh đụng một chiếc kẹp. Anh cầm lên. Đây rồi! Đây là chiếc kẹp cài cóc mà anh đã tặng Loan ngày ấy. Đúng là Loan đã đến với anh. Anh thay quần áo đi làm trong tâm trạng vui vẻ nhưng hồi hộp. Anh lo vì không biết tối hôm nay Loan có lại đến với anh không. Mối tình được ngăn cách gần bốn năm được nối lại, dù rằng hơi khác bình thường một chút. Nhưng với anh công nhân việc này hoàn toàn không quan trọng. Anh đã có Loan, đó là hạnh phúc tuyệt vời nhất. Họ sống với nhau hàng đêm trong nồng nàn. Mỗi chiều, khi xong việc, anh vội vàng về căn nhà nhỏ của mình. Anh lại đàn những bài hát mà Loan yêu thích. Trong lúc đàn, anh nghe thoang thoảng tiếng hát đơn giản nhưng đầy ấm áp của Loan. Hình như chỉ có anh nghe được tiếng hát này và anh rất vui vì điều đó. Chính vì nếp sống gần như xa cách với mọi người mà mọi người để ý đến anh. Anh không bài bạc, không nhậu nhẹt, cũng tốt thôi. Nhưng anh rất ít nói chuyện với ai, thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười, nụ cười ngây ngô của người... từ trên trời xuống. Thêm nữa mọi người đều nhận thấy mỗi ngày anh một gầy đi và xanh xao hơn. Cho đến một hôm một người thợ già đã phải hỏi anh: - Mày có bệnh hoạn gì không mà sao tao thấy xanh xao quá vậy? - Không có gì chú. Cháu vẫn bình thường mà! Người thợ già không chấp nhận câu trả lời đó. Ông là người đã giúp đỡ từ ngày đầu tiên anh công nhân vào làm ở công trường này. Ông đã nghe anh kể về cuộc đời, về mối tình của anh công nhân. Ông rất thương anh. Trước đây, hai người thợ, một trẻ một già, thường ngồi bên nhau tâm sự lúc rảnh tay hay những buổi chiều về. Thỉnh thoảng anh công nhân cũng về nhà ông thợ già chơi. Một tình cảm thân thiết đã nẩy nở trong họ. Nhưng thời gian gần đây thì khác hẳn. Ông thợ già vừa bực mình vừa nghi ngờ về hành động của anh công nhân. Tuổi già, kinh nghiệm sống suốt cuộc đời từng trải truân chuyên và sự quan sát tinh tế, ông thợ già kết luận: - Anh công nhân đang bị ma ám. Ông âm thầm sắp xếp mọi việc. Một hôm, người thợ già nói với anh công nhân: - Bữa nay nhà ta có khách. Chiều nay sau khi làm xong mầy qua nhà tao chơi. Phản ứng đầu tiên của anh công nhân là định từ chối. Nhưng tình cảnh trước đây không cho phép, anh chần chừ một chút rồi gật đầu với giao hẹn: - Nhưng cháu không nhậu nhẹt gì nổi nghen. Cháu phải về sớm! Anh nghĩ đến Loan và sợ Loan phải đợi. - Cái thằng, ai ép mà mầy sợ? Chiều hôm đó, hai người về nhà ông thợ già. Người nhà đã chuẩn bị sẵn một bữa ăn tương đối tươm tất. Mâm cơm đã được dọn lên. Anh công nhân trẻ ngạc nhiên vì chưa thấy khách khứa gì. Anh hỏi, ông thợ già trả lời: - Có chớ! Tới liền bây giờ. Lúc đó từ ngoài một ông già mặc bộ bà ba màu nâu bước vào. Vào nhà, ông già lột chiếc nón lá xuống. Đó là một người có khuôn mặt phúc hậu, với bộ râu dài, mái tóc búi củ tỏi sau gáy. Tóc và râu đều bạc trắng. Ông già chào người thợ già rồi quay qua chào anh công nhân trong cái nhìn chăm chú. - Chào chú! Không hiểu sao cái nhìn và giọng nói của ông già làm anh công nhân ơn ớn. Anh thấy sống lưng mình có một luồng khí lạnh chạy dọc lên. Sau một lúc im lặng quan sát, ông già nói: - Nặng lắm rồi. Cậu bị nặng lắm rồi đó! Lấy lại được bình tĩnh một phần, anh công nhân hỏi nhỏ nhẹ: - Thưa ông cái gì nặng? - Chú đang bị ma khí rất nặng. Có phải chú đang chung sống với một linh hồn không? Chú nói thật đi tôi giúp cho. Tôi nói thiệt nghen, theo tôi thấy, chú không còn chịu đựng được bao lâu nữa đâu. Cố lắm là nửa tháng nữa thôi. - Nửa tháng nữa thì sao? - Thì chết chứ sao. Ông công nhân già mời hai người khách vào bàn. Anh công nhân không uống rượu. Hai ông già nhấm nháp bằng hai chiếc ly sậy. Bữa cơm trôi qua chầm chậm với những câu chuyện bình thường. Sau đó, lúc uống nước trà, câu chuyện dang dở lúc nãy mới chính thức được tiếp tục. Ông già nắm tay anh công nhân: - Tôi nói thiệt, nhìn chú tôi đã thấy hết rồi. Chú đang khó lắm chớ chẳng phải thường đâu. Nhưng may còn kịp. Bây giờ tôi thấy cách tốt nhất là chú phải kể thiệt mọi chuyện với tôi. Nhìn vẻ mặt phúc hậu và đầy thành thật của ông già, xúc động vì tình cảm của ông thợ già dành cho mình, một người mà trước đây anh luôn coi như một người cha thân yêu, anh công nhân bắt đầu kể. Anh kể về chuyện tình của mình, về lần trở về, về khoảng thời gian từ ngày gặp lại Loan đến nay. Cả hai người già chăm chú nghe. Thỉnh thoảng họ trao đổi cho nhau những ánh mắt ngạc nhiên hay thương cảm. Khi anh công nhân dứt lời. Im lặng một chút giữa ba người. Cuối cùng ông già lên tiếng: - Vậy là chú tự nguyện. Tình yêu đã làm chú quên hết tất cả! Quên luôn mạng của chính mình. Người ta và ma không thể nào hòa hợp được với nhau, chú cũng biết vậy mà... Nhưng trên đời này không có gì quý hơn mạng sống con người, đúng hơn bây giờ là mạng sống của chú. Chú nghĩ sao nếu tôi khuyên chú chấm dứt chuyện tình trên? Anh công nhân phản ứng nhanh như máy: - Không! - Tôi cũng biết vậy. Đó mới là cái khó. Chú không muốn thì không ai làm gì được. Tôi cũng bó tay. Ông già vấn thêm một điếu thuốc nữa. Khói bốc lên chầm chậm, là đà. Ông thợ già lo lắng: - Không lẽ không còn cách nào nữa sao? Ông cố gắng nghĩ cách giùm. Tội nghiệp nó quá. Ông già trầm ngâm quá. Những đám khói thuốc bay lên cuồn cuộn. Ông già lơ đãng nhìn qua ông thợ già. Ông già chớp mắt và khẽ gật đầu: - Thôi thì vầy. Tôi giúp kéo dài được lúc nào hay lúc nấy. Nhưng... - Nhưng sao ạ? - Chú phải nhiệt tình hợp tác. - Nhưng cháu nói trước cháu không xa Loan dù thế nào đi nữa. Hai ông già lại nhìn nhau thất vọng. Bằng cử chỉ thể hiện sự cương quyết, ông già đứng dậy: - Thôi được. Vậy thì làm cách này đi. Ông già vuốt lại mái tóc và chòm râu bạc, sửa sang lại quần áo, từ từ đi lại bàn thờ giữa nhà. Mọi hành động của ông lúc này hết sức chậm rãi và đầy trang trọng. Ông đốt nhang, đưa lên trán khấn. Mấy phút trôi qua lặng lẽ. Ông lấy trong túi ra một miếng giấy màu vàng có vẽ những nét chữ. Ông già nhắm mắt, cầm ba cây nhang vẽ ngoằn ngoèo phía bên trên miếng giấy. Vài ba làn khói uốn éo bốc lên. Thời gian trôi qua ông già vẫn tiếp tục lim dim khấn vái. Cuối cùng ông xá một cái thật sâu cắm nhang lên bàn thờ, thở mạnh. Ông đã hoàn tất phần nghi thức. Ông đi chầm chậm đến bên anh công nhân, nhẹ ra hiệu cho anh đứng dậy. Xòe hai tay ra đưa ngang mặt, anh công nhân làm theo như máy. Ông già cúi xuống như hôn vào lòng bàn tay, ông thổi một hơi vào đó. - Xong rồi. Chú cất lá bùa này vào túi áo. Vậy thôi! Khi anh công nhân cất xong, ông quay mặt bước ra khỏi nhà, không một lời từ giã. Mặt ông buồn, buồn lắm. Khi anh công nhân về đến nhà thì trời đã tối. Tiếng đàn hôm nay hơi trễ và âm thanh có vẻ gì là lạ. Chính anh cũng cảm thấy như thế nên không đàn nữa. Anh nằm im trên giường chờ Loan. Miên man suy nghĩ về chuyện xảy ra lúc chiều, anh thiếp đi lúc nào không hay. - Á! Một tiếng hét thất thanh, căn nhà như chớp sáng, anh công nhân choàng dậy nghe tim mình đập liên hồi. Có tiếng rên ngoài hè. Anh mở cửa bước ra. Loan nằm đó hốt hoảng, quần áo cháy xém. - Sao anh đánh em? Cái gì trong túi anh vậy? Chợt hiểu ra, anh công nhân chạy vội vào nhà, móc túi lấy miếng bùa của ông già chạy ra ngoài xa đốt bỏ. Xong, anh đỡ Loan vào nhà. Anh cảm thấy hai tay mình bỏng rát vô cùng khó chịu. Đặt Loan ngồi lên giường, anh kể hết mọi chuyện. Nghe xong, Loan trả lời giọng buồn buồn: - Em cũng biết vậy. Nhưng không có cách nào khác. Chắc là em phải xa anh vĩnh viễn. Anh ơi... Sợ mất người yêu, anh ôm chầm lấy Loan. Cảm giác bỏng rát lại xuất hiện ở hai tay, càng lúc càng nhiều hơn. Anh biết kể từ lúc này anh và Loan đã không còn được như trước nữa. Loan không hay biết gì, cô hạnh phúc vùi đầu vào người yêu. Họ đắm đuối ái ân. Hai bàn tay anh quờ quạng trên thân thể người yêu. Anh cắn răng chấp nhận cảm giác bỏng rát mỗi khi chạm vào Loan. Sao cũng được, anh bất chấp và cam chịu. Hôm sau Loan không đến. Anh công nhân mong đợi cả đêm trong thao thức, nhớ nhung. Khuya lắm, anh nghe tiếng khóc bên hông nhà. Tiếng khóc thổn thức, u buồn. Anh vùng dậy chạy ra ngoài. Anh thấy bóng hồng tan dần trong không gian. Anh cất tiếng gọi thống thiết: - Loan ơi! Chiều hôm sau chòm xóm mới phát hiện anh công nhân đã chết. Anh thắt cổ treo tòng teng giữa nhà. Người ta đỡ anh xuống gỡ dây ra. Có một điều mà không ai hiểu tại sao là hai tay anh sưng đỏ, phỏng dộp như phỏng nước sôi. Người ta chôn cất anh đơn sơ như cuộc sống của những con người nghèo khổ xóm này. Tối hôm sau căn nhà anh ở bỗng nhiên bốc cháy... LẦN GẶP CUỐI Lê Mân mất bình tĩnh hất chồng hồ sơ trên bàn xuống đất, những trang giấy rời nhau rơi tung tóe khắp nơi. Mặt đỏ bừng, anh dồn cơn giận xuống nắm tay và giáng mạnh vào vách tường, miệng lẩm nhẩm hậm hực: - Đình chỉ công tác tôi. Những tên sếp tồi! Chỉ biết khua tay với việc và tận dụng tư duy để vắt kiệt chất xám của người khác, chẳng động não để tìm hiểu vấn đề gì cả. Bán được nhiều xe hơi là cách làm của người chiến thắng. Nhưng công việc bị đình đốn do sự sa sút kinh tế chung, số lượng xe bán ra ít hơn so với dự kiến đâu phải vì tôi thiếu năng lực lãnh đạo... Mân buồn bực với tay giật lấy chiếc cặp từ trong hộc bàn rồi hầm hầm bước ra ngoài. Các nhân viên dừng việc ngẩng nhìn anh. Họ quý Mân ở tài năng, lối sống bình đẳng với mọi người. Tuy nhiên trong lúc làm việc anh rất khắt khe, nguyên tắc và thỉnh thoảng còn nóng tính quát tháo. Họ rất "hoảng" anh về khoản này. Nhưng không ai để bụng chuyện đó cả. Bởi họ hiểu Mân chỉ muốn tốt cho mọi người, cho nhịp độ của công việc và cho sự phát triển của công ty. Có người ngầm đặt cho Mân rất nhiều biệt danh, có người truyền tai nhau so sánh "giống hệt các sếp trong phim Hàn Quốc". Thế nên, trông thái độ "đóng sầm cửa phòng" của anh, họ biết sếp Mân của mình đang không vui. Mân đọc được ánh mắt dò xét của mọi người, không la hét ai, anh tiến đến bàn thư ký nhẹ giọng: "Cô vào dọn lại mớ giấy tờ vung vãi dưới đất giúp tôi". Cô thư ký khẽ khàng nhận lệnh. Cả không gian im lìm. Mân quay bước đi, bỏ lại phía sau những tiếng xì xào xen lẫn trong tiếng thở phào nhẹ nhõm. Mân đã gần bốn mươi tuổi. Lứa tuổi chín chắn, dày dạn gió sương và đang ở đỉnh cao của sự thành đạt. Anh tốt nghiệp đại học kinh tế khoa quản trị kinh doanh loại giỏi. Sau khi ra trường được một năm, Mân lao vào thực tế cuộc sống. Khi thực hành lý thuyết đã học, anh cảm thấy kiến thức mình còn khá nhiều hạn chế. Không ngừng cầu tiến, anh đọc thêm, học thêm rất nhiều thậm chí là ở các lĩnh vực khác. Ann bị chuyển công tác lên vùng sâu, nơi mà mọi phương tiện sinh hoạt thiếu thốn nhưng Mân vẫn kiên trì làm việc một cách hăng say. Kỷ niệm sống động nhất của anh thời còn ở rừng là một lần để tóc thật dài như con gái, một lần cạo đầu trọc lóc như các nhà sư tu khổ hạnh trong chốn hoang vu. Bằng tất cả sự nỗ lực, nhiệt huyết của tuổi trẻ, theo tháng năm Mân dần khẳng định vị trí của mình với xã hội. Và hiện nay anh đang làm giám đốc điều hành của công ty kinh doanh ngành xe hơi, chi nhánh đặt tại Đồng Nai. Thời tiết hôm nay oi bức, có lẽ trời sắp mưa chiều. Mân lái xe chầm chậm như thả nổi giữa dòng người tấp nập ngược xuôi. Nhìn những người buôn bán từ cửa hàng to, nhỏ đến các quầy hàng di động trên vỉa hè, Mân mỉm cười. Anh cười cho niềm hạnh phúc của họ, cười cho sự chua chát của chính anh. Anh cảm thấy họ đang an vui hơn anh. Bởi họ được làm chủ chính mình, còn anh phải thực thi quyết định của kẻ nắm tiền. Nhiều người mong sở hữu được địa vị của anh, vì họ nghĩ chức vụ ấy đi đôi với quyền lực và sự giàu sang có đẳng cấp. Nhưng mấy ai hay anh luôn ý thức rằng anh chỉ là kẻ "làm thuê cao cấp" cho người chủ cực kỳ khó tính. Chẳng hạn như trưa nay, nếu anh chính thức bị sa thải thì tài sản thuộc về anh chỉ là chiếc xách tay và một phong bì gọi là tiền "chia tay". Anh lại đi tìm chiếc ghế giám đốc mới. Và nếu anh lại tiếp tục bị đuổi việc... cũng chỉ tạo thành vòng lẩn quẩn cho sự tồn tại của đời sống. Bất chợt Mân suy nghĩ sẽ chọn hướng kinh doanh mới cho bản thân đầy tính tư nhân. Còn hai con đường nữa là về đến nhà, Mân sực nhớ mình không nên đối diện với vợ bằng bộ dạng thiểu não như thế này. Anh cần một người bạn để tâm sự, để trút nỗi lòng qua những ly bia. Mân đỗ xe vào vệ đường gọi điện cho Dũng và họ hẹn nhau đến quán bia quen thuộc trong khu vực Bình Chánh. Được gặp bạn, được sẻ chia nỗi niềm, Mân uống rất nhiều bia. Anh cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng hẳn đi. Sảng khoái, say sưa, Mân vỗ vào đùi Dũng cười hả hê: - May mà có bia đời còn dễ thương Dũng nhỉ? Dũng say khướt cũng ngả nghiêng cười: - Đúng đúng... Ờ mà Mân này, ông vẫn còn nhớ Kim Thơ chớ? - Thơ nào cơ? - Làm bộ hoài. Con bé tuổi sinh viên, xinh như mộng mà ba năm trước yêu ông muốn điên lên đấy. Một tuần trước tôi có gặp Thơ, con bé trông vẫn dịu dàng như xưa Mân ạ. Ông có cái mã nghệ sĩ, rất đẹp trai, lại cộng thêm chức danh nghề nghiệp nghe khá cộm tai nên khối cô chạy theo ông là phải. Nhưng tôi thấy chỉ có cô bé ấy là được tính nhất và đồng cảm với ông nữa. Uổng nhỉ, cả hai rất xứng đôi. Mân thở dài, uống cạn ly bia: - Nhưng tôi chào đời trước Thơ đến mười bốn năm và sau sáu năm cưới vợ, chúng tôi mới gặp nhau. Sự khắc nghiệt của thời gian và nhân duyên! Thơ yêu tôi quên mất bản thân, tôi cũng thương và tôn trọng Thơ nên tự rút lui. Xa nhau là giải pháp đúng đắn giúp cô bé thoát khỏi sự mù quáng của một tình yêu không lối thoát. Đồng hồ điểm 11 giờ khuya. Mân và Dũng tạm biệt nhau, mỗi người mỗi lối về. Hai chiếc bóng của họ đổ dài dưới ánh đèn vàng vọt. Trời bỗng dưng đổ mưa to. Mân cố vọt hết tốc lực để rút ngắn quãng đường về nhưng mưa càng lúc càng nặng hạt, quất vào mặt anh rát buốt, đôi mắt nhíu lại không tài nào mở ra được. Mân vội vã tấp xe vào một mái hiên nhà lá, co ro núp những cơn gió thốc mạnh. Mân nhìn ra mênh mông, một màu nước trắng xóa nổi lên giữa màn đêm. - Biết bao giờ mới tạnh đây? Đường về thì ôi quá xa... Nghĩ đoạn, thình lình cánh cửa ngôi nhà ấy mở ra khiến Mân giật thót. - Thì vào nhà em trú mưa đi! Nhận ra giọng nói quen thuộc, Mân xoay người nhìn cô gái nhỏ nhắn trong chiếc váy trắng dài thướt tha. Anh đưa tay vuốt mặt không ngừng: - Ồ Kim Thơ! Em ở đâu ra thế này? Thơ cười rất tươi, ánh mắt ấm áp diệu kỳ, tay cầm chắc chiếc đèn cầy: - Em giữ nhà hộ người dì ruột. Anh vô nhanh kẻo lạnh. Mân đẩy xe vào trong, tay chân run lẩy bẩy. Thơ vừa khép cửa vừa nói: - Cúp điện anh à. Thông cảm cho hai cây đèn cầy của em nhé. Nó không sáng như bóng đèn điện phải không? Mân tiến đến bộ bàn ghế bằng tre cũ kỹ. Anh quan sát xung quanh thật lâu: - Căn nhà bé xíu, ọp ẹp như vầy, có bỏ hoang mười năm cũng không ai vào lấy trộm. Cớ gì em phải nhọc công canh giữ? - Em chờ anh. - Thơ cười và đặt nhẹ lên bàn một tách trà nóng, một đĩa chanh xắt lát mỏng, một ít muối... - Anh uống vài ngụm trà cho ấm người. Em chắc cơn mưa này sẽ kéo dài đến sáng. Còn chanh chấm muối, đó là món mà anh thích nhất mỗi khi ngà ngà say. - Mưa tới sáng? Em là con của Thủy Thần à? - Em còn biết anh đang bị ông "sếp tổng" khiển trách và đình chỉ công tác cơ. - Em thấy không anh cũng chỉ là thằng làm thuê. Cái gì là "giám" với "đốc" chứ. Họ đuổi anh nhanh như lúc họ nhận anh vào công ty. - Chỉ là tạm đình chỉ, một hình thức kỷ luật thông thường thôi mà anh! - Đình chỉ và đuổi hẳn, khoảng cách của hai sự việc cách nhau một gang tay, nếu anh không may mắn cô bé ạ. - Em chắc sáng mai mọi việc sẽ trở lại bình thường. Anh vẫn là giám đốc Nguyễn Lê Mân oai phong như xưa. - Em đoán cứ như bà tiên vậy! Ủa sao em biết? Thơ lại cười rất tươi, một nụ cười nghịch ngợm pha chút bí ẩn. Khi đối diện gần ánh sáng, Mân thấy trên mặt, trên tay cô ấy có nhiều vết bầm tím và những vết trầy xước. Anh với tay chạm vào những chỗ đau xót xa: - Sao vậy? Ai đánh em hả? - Không! Chỉ tại em bất cẩn... - Thơ lúng túng. Thơ dìu anh đến chiếc giường tre đặt ở góc nhà, nơi có hai chiếc gối hoa đang nằm đợi. - Thơ! Tay em lạnh quá... - Để cho tình mình ấm mà! - Cô cười. - Dường như anh có cảm giác em đang lướt đi trong không gian, tóc và da em bồng bềnh như mây vậy! - Mân, anh đang say đấy. Người ta bảo rằng mắt người say thường có ảnh ảo. Thôi anh ngủ đi, khi nào mưa tạnh em sẽ gọi anh về. Thơ kéo chăn đắp ngang ngực Mân. Bên ngoài trời vẫn mưa như trút nước. Thơ ngồi nhìn anh ngủ, mắt đẫm lệ. Ba năm xa nhau nay gặp lại cô muốn nhìn anh cho thỏa mắt. Cô đã từng ước ao được là vợ anh, được cùng anh thưởng thức những món ăn do cô nấu và từng đêm được nhìn anh ngủ như thế này. Thơ vuốt nhẹ lên mặt anh rồi ngã đầu xuống ngực anh, những dòng nước mắt chảy dài làm Mân tỉnh giấc. - Xin lỗi! Lẽ ra anh không nên cố chinh phục em khi biết rõ mình đã có vợ. - Anh không có lỗi. Em yêu anh! Nếu ngày mai hay ngàn sau, khi không còn thấy em nữa anh có buồn và nhớ em không? - Sẽ nhớ như đã từng nhớ em. Nhưng từ ngày mai anh sẽ không để em xa anh lâu như thế, dĩ nhiên là chúng ta nên duy trì một tình bạn thân. - Muộn rồi Mân ơi! - Không bao giờ muộn nếu ta ý thức được điểm bắt đầu. Thơ cười mãn nguyện, cô giữ chặt tay anh rất lâu rồi giơ cao tay trái của Mân sang phía ngọn nến đang cháy rực. Thơ mân mê chiếc nhẫn ở ngón út và áp út: - Nhẫn ở ngón áp út điểm chỉ rằng anh đã có vợ. Còn chiếc nhẫn ở ngón út thì nói lên điều gì? - Kỷ niệm! - Của một cô gái? - Của một tình yêu không thành, trước khi lấy vợ và quen em. - Anh có thể tặng nó cho em không? Mân kéo Thơ cùng ngồi dậy: - Chiều mai anh tặng em một chiếc khác nhé! - Không kịp đâu, em sẽ rời khỏi đây từ rất sớm. Em chỉ thích chiếc này. Em sẽ giữ quá khứ giúp anh và bây giờ là của chúng ta. Thấy Thơ quyết tâm muốn có nên Mân cũng chiều ý cô. Thơ cười rạng rỡ, nũng nịu xòe bàn tay phải và giương ngón tay áp út đón nhẫn. Vừa vặn như tài sản của chính mình, cô sung sướng hát vang giai điệu lễ cưới. Mân đặt nhẹ nụ hôn lên tay và môi Thơ. Anh cười: - Chúng ta đang chơi trò đám cưới! Nhưng không có đêm tân hôn đâu nhé. Bọn mình phải nhắm mắt ngủ bé cưng, đã hai giờ sáng rồi còn gì. Mân ngủ say. Mưa ru anh ngủ. Sáu giờ rưỡi sáng, tiếng chuông báo thức từ chiếc điện thoại làm Mân thức giấc và anh liên tục nhận các cuộc gọi của vợ, của lãnh đạo mời anh trở lại cơ quan. Anh vui mừng định chia sẻ với Thơ nhưng nhìn quanh chẳng thấy cô đâu cả. Nắng xuyên qua vách lá rọi vào nhà lộ rõ những lớp bụi dày đặc trên bàn, trên những vật dụng thô sơ. Mân mệt đờ người và cảm giác đau ê ẩm khắp lưng. Anh quơ quào mái tóc cho gọn gàng rồi lái xe chạy thẳng ra ngoài. Những người láng giềng trừng to đôi mắt ngạc nhiên nhìn anh lạ lẫm. Mân không lấy làm khó chịu về điều đó, vì anh biết, họ biết, anh là vị khách lạ đã trọ đêm cùng cô bé giữ nhà tối qua. Mân cười thầm và phóng xe lao đi. Mân đã trở lại với công việc thường nhận và trở nên dễ chịu hơn với nhân viên. Anh thầm cám ơn Thơ đã tặng anh những lời khuyên tốt đẹp và cả tình yêu nồng nàn. Nhưng suốt hai hôm nay Mân liên tục gọi điện, máy của Thơ vẫn thông báo "ngoài vùng phủ sóng". Sang ngày thứ ba. Cầm tờ báo trên ray, lướt qua một mẩu tin ngắn, Mân không thể tin vào mắt mình: "Nạn nhân tên Lê Kim Thơ, hai mươi sáu tuổi. Qua điều tra ban đầu đây là vụ giết người cướp tài sản...". Mân đánh rơi tờ báo, huơ tay hất chồng hồ sơ trên bàn xuống đất. Tim anh đập mạnh, lồng ngực như muốn vỡ tung, nỗi xót thương trào dâng theo những dòng nước mắt. Mân tựa người vào cửa kính, vén rèm nhìn xuống đường. Người và xe tấp nập nối đuôi nhau không ngớt. Nắng dần lên cao... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 42
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXXII: Chiếc Khăn Định Mệnh -Phần 1 Một bóng đen bay vút qua cửa sổ, rồi mất hút trong lùm cây vú sữa cạnh nhà bên. Lâm Giang đưa tay dụi mắt, lắc mạnh đầu lẩm nhẩm: "Mình vừa thấy gì vậy? Một con chim ư? Không phải, chim gì mà to thế. Một con người ư...? Người sao biết bay...?" - Giang à! - Tiếng gọi từ phía sau làm cô giật bắn cả người, xoay nhanh lại, thấy mẹ đang bước vào, trên tay cầm ly sữa. - Mẹ! Mẹ làm con hết cả hồn. Bà Lâm Ngọc đặt ly sữa xuống bàn, thoáng nhìn qua mặt con gái, nét mặt bà chợt lo lắng. - Lâm Giang! Sao mặt con tái xanh vậy? - Rồi bà liếc nhìn qua cánh cửa sổ đang mở tung, bước lại thò tay ra ngoài kéo cửa đóng mạnh vào, bà nói giọng đầy trách cứ.- Đã bảo bị bệnh thì phải nằm trên giường, sao lại mở toang cửa thế này mà đứng, gió lạnh vào cảm nặng cho coi. Lâm Giang vừa nghe mẹ nói vừa đưa mắt nhìn qua cây vú sữa nhà bên cạnh. Bà Lâm Ngọc thấy lời nói của mình dường như không lọt vào lỗ tai con gái, Lâm Giang đang chú ý vào một điều gì đó bên ngoài. Bà Lâm Ngọc bước tới gần con rồi cùng nhìn về hướng con đang nhìn. Có thấy gì đâu, ngoài kia trời tối như mực. Gió chỉ có gió lao xao lay động những cành cây trước mặt. - Lâm Giang! Con đang nhìn gì vậy? - Bà Lâm Ngọc lên tiếng hỏi con. - Mẹ ơi! Hình như con vừa thấy một điều gì đó. - Con nhìn thấy gì hả? Trông con thật căng thẳng. - Con thấy một vật gì đó vừa bay qua trước mặt con. - Chắc là một con dơi ăn đêm... - Không! Không phải là con dơi. Bà Lâm Ngọc kéo tay Lâm Giang ấn con gái ngồi xuống giường. - Nếu không phải là dơi thì là một con chim nào đó thôi mà. Lâm Giang khẽ lắc đầu, giọng thì thào: - Không phải dơi, không phải chim mà giống như một con người vậy. Con thấy bóng đen ấy bay ào xuống rồi mất dạng sau lùm cây vú sữa nhà cạnh bên. Bà Lâm Ngọc đặt tay lên trán con: - Con sốt rồi. Chắc con hoa mắt nên nhìn nhầm đó thôi. Con người làm sao biết bay được. Nào! Thôi uống thuốc đi rồi ngủ. Ngủ một giấc dậy sẽ tỉnh táo thôi. Vừa nói bà vừa trao ly sữa cho con gái, vừa đặt vào tay kia mấy viên thuốc tây. Lâm Giang khẽ lắc nhẹ đầu: - Ừ nhỉ! Có lẽ con hoa mắt thật. Chứ làm gì có người biết bay hả mẹ. - Ừ! Con nghĩ vậy là đúng. Nào uống đi. Lâm Giang ngoan ngoãn cho thuốc vào miệng, rồi bưng ly sữa uống một hơi. Bà Lâm Ngọc rót một cốc nước đưa cho con. Lâm Giang uống một ngụm rồi trả lại cho mẹ. Bà Ngọc cẩn thận đặt Lâm Giang nằm ngay ngắn lên gối. Kéo chăn bông đắp ngang người cho con. Rồi hôn nhẹ lên mắt con gái. - Chúc con ngủ ngon. - Chúc mẹ ngủ ngon. - Lâm Giang âu yếm vòng tay qua cổ, kéo đầu mẹ xuống hôn thật kêu lên hai má của bà. Hạnh phúc ngập tràn trong đôi mắt người mẹ. Bà Lâm Ngọc vỗ yêu lên má con trước khi với tay tắt đèn. Màu hồng của chiếc đèn ngủ tỏa ra một vùng ánh sáng dìu dịu ấm cúng. - Ngủ đi con. Mẹ về phòng đây. Bà Lâm Ngọc bước đến bưng ly sữa ra cửa, chợt Lâm Giang gọi giật giọng. - Mẹ ơi. Bà Lâm Ngọc hết hồn quay lại, chạy đến bên con. - Gì vậy Lâm Giang? - Mẹ... con sợ... - Vừa nói cô vừa liếc nhìn ra cửa sổ, cái bóng đen lúc nãy vẫn còn ám ảnh trong đầu cô. - Con sợ gì chứ? - Mẹ... người thì không biết bay... nhưng ma thì biết bay phải không mẹ? Bất giác bà Ngọc quay đầu nhìn ra cửa sổ, nói để trấn an con. Nhưng bà nghe tim mình đang đập mạnh trong lồng ngực. - Con nói bậy, làm gì có ma. Ma nào ma biết bay. - Có mà. Con coi phim Hồng Kông "Liêu Trai Chí Dị';" thấy mấy con ma nữ bay qua, bay lại ghê lắm. - Ừ! Đó chỉ là phim thôi mà. Lâm Giang níu áo mẹ: - Mẹ ơi! Tối nay mẹ ngủ với con đi. - Thôi được, để mẹ cất ly sữa, rồi về phòng tắt đèn đã. Con chờ mẹ một chút nha. - Bà Ngọc gật đầu. Nói rồi bà Lâm Ngọc vội vã đứng lên đi ra ngoài. Còn lại một mình, Lâm Giang nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ. Mặc dù trời tối đen như mực, nhưng ánh đèn từ căn nhà ba tầng kế bên vẫn tỏa ra ánh sáng nhàn nhạt trên những ngọn cây. Không biết mãnh lực nào đã cuốn hút đôi mắt của cô, nó cứ như dán chặt vào cây vú sữa nhà kế bên, nơi bóng đen biến mất vào trong đó. Chẳng lẽ mình thấy ma. Lâm Giang lại tự nói chuyện một mình. Không thể... làm sao mình thấy ma được chứ...? Nhưng chắc đó là một bóng người, cũng cao lớn, hình dáng có vẻ khỏe mạnh. Mình chẳng nhìn thấy gì rõ, ngoài một khối đen bay vụt qua trước mắt... Chợt có tiếng hét thất thanh phát ra từ căn nhà bên cạnh. Theo phản xạ tự nhiên, Lâm Giang bật dậy chạy đến bên cửa sổ mở cửa toang ra, rồi thò đầu nhìn qua căn nhà bên cạnh. Tiếng thét kinh hoàng vang lên. Mặt Lâm Giang thoáng biến sắc khi thấy một bóng đen bay vút từ cây này qua cây kia rồi vụt bay ra khỏi bức tường nhà cô và biến mất trong màn đêm. - Mẹ!... Mẹ! Lâm Giang lùi lại và hét lên. Bà Lâm Ngọc cũng vừa từ dưới cầu thang bước lên, nghe tiếng hét của con vội tông cửa xông vào, Lâm Giang ôm chầm lấy mẹ, người ướt đẫm mồ hôi. Bà Lâm Ngọc vỗ về con: - Mẹ đây... mẹ đây... Rồi bà cau mày khi nghe tiếng thét phát ra từ nhà bên cạnh. - Sao ai lại hét to thế? - Mẹ ơi! Ma... ma... ngoài kia có bóng ma. Bà Lâm Ngọc ôm siết con vào vòng tay, nghe rõ tim con gái nhảy loạn xạ trong lồng ngực. Bà rùng mình nhìn xuyên qua màn đêm như cố tìm kiếm cái bóng đen kia. Lâm Giang vẫn run cầm cập trong tay mẹ. Nhà bên cạnh tiếng thét đã lắng xuống, nhưng kèm theo là tiếng khóc nức nở. Bà Lâm Ngọc kéo con ngồi xuống, vỗ nhẹ vào lưng con: - Đừng sợ... đừng sợ, đã có mẹ ở đây! - Mẹ ơi! Giọng Lâm Giang đứt quãng. Con đã trông thấy ma mẹ ạ... Lần này thì không phải con hoa mắt đâu, con nhìn rõ lắm. - Nào. Con nằm xuống đây. - Bà Ngọc đỡ con nằm xuống, khẽ vuốt tóc con, trán Lâm Giang lấm tấm mồ hôi, bà nói tiếp. Chắc là một kẻ trộm trèo tường nào đó, mẹ nghĩ như vậy. - Không phải đâu. Lâm Giang cãi lại. Chắc chắn không phải là con người. Kẻ trộm dù có tài giỏi mấy cũng không thể bay vút từ cây này sang cây khác được. - Con thấy mặt bóng đen ấy không? - Không, từ đầu đến chân chỉ là một màu đen bao phủ. - Mẹ vẫn nghĩ đó là kẻ trộm, một kẻ trộm có tài phi thân. - Mẹ cứ làm như phim kiếm hiệp vậy. Thời buổi này làm gì có người như thế. Bà Lâm Ngọc đứng lên. - Để mẹ đóng cửa sổ lại kẻo gió lùa vào phòng không tốt cho sức khỏe của con. Nói rồi bà đứng lên, lấy hết can đảm đi về phía cánh cửa sổ đang mở toang. Dù ngoài mặt cố làm ra vẻ can đảm để trấn an con gái, nhưng trong lòng bà Lâm Ngọc không tránh khỏi lo sợ mơ hồ. Khi quyết định mua căn nhà này, bà đã có nghe nhiều tiếng đồn chẳng lành. Người ta đồn rằng khu vực này ngày xửa ngày xưa là nghĩa địa. Nhưng chuyện đó xảy ra lâu lắm rồi. Mồ mả đã được bốc đi hàng mấy chục năm nay. Thế nhưng những oan hồn thì vẫn còn lảng vảng quanh đây. Họ không thể rời khỏi ngôi nhà cuối cùng của đời mình, dù đó chỉ là một nấm mộ. Một nấm đất hoang tàn. Bóng đen là thế giới của họ, nơi mà những âm hồn trú ngụ, than khóc cho số mệnh của mình. Có người còn quả quyết rằng, chính họ đã nhìn thấy những bóng ma trắng toát lượn lờ, đi lại trong đêm. Bóng ma kinh hãi với dáng dấp ẻo lả, choàng những bộ áo màu trắng toát. Những bóng ma cô độc ăn mặc rách rưới, thân thể chỉ là những bộ xương gầy nhom với hai hốc mắt sâu hoắm tối thui. Những oan hồn già nua với gương mặt nhọn hoắt như phù thủy. Thôi thì đủ dạng. Mỗi người mô tả bóng ma mà mình thấy một cách khác nhau, và họ luôn luôn khẳng định điều họ nhìn thấy là sự thật một trăm phần trăm, nghe mà phát khiếp. Người can đảm nhất cũng phải nổi gai ốc. Bà Lâm Ngọc thoáng rùng mình, đưa tay ra kéo nhanh cửa sổ dập thật mạnh, rồi vội vã quay về giường. Lâm Giang nhìn thấy mặt mẹ thất sắc, vội hỏi: - Mẹ! Mẹ trông thấy gì ngoài kia hả mẹ? Bà Lâm Ngọc lắc đầu mỉm cười gượng: - Đâu có, mẹ đâu có thấy gì đâu. - Sao mặt mẹ tái xanh vậy? Bất giác bà Ngọc đưa tay sờ lên má mình, một cảm giác lành lạnh lan truyền khắp cơ thể. Không biết tại cái lạnh bên ngài cửa sổ ập vào hay nỗi sợ hãi làm bà đóng băng lại. Bà Lâm Ngọc lắc nhẹ đầu: - Đừng lo lắng con gái. Mẹ không sao đâu, chắc tại gió lạnh ngoài kia, làm cho da mặt mẹ tái đi. Nào con nằm vô trong đi. Lâm Giang nhích người, bà Ngọc ngồi xuống giường, cẩn thận kéo mền đắp tận ngực con, rồi ngả người nằm xuống giường. - Mẹ ơi! Chừng nào thì ba đi công tác về hả mẹ? Lâm Giang choàng qua ôm lấy mẹ. - Chắc hai ngày nữa. - Con mong ba về quá, ở nhà này vắng ba, con cảm thấy sợ. Căn nhà không có đàn ông, con có cảm giác không được an toàn. Lúc trước con sống chung với gia đình nội, thế mà hay mẹ nhỉ. - Con thấy đó, trong cuộc sống hàng ngày, sự va chạm dễ làm cho con người mất bình tĩnh, xảy ra tranh chấp, và điều tệ hại sẽ xảy ra. Mẹ không muốn như thế. Ngày trước chú út chưa lấy vợ, ba mẹ cũng đâu muốn ra riêng. Nhưng nay thì khác, nhà nội lại thêm một nhân khẩu mới, ba mẹ muốn nhường cái nhà từ đường đó lại cho chú út. Và cũng để tránh những rắc rối có thể xảy ra. - Con hiểu - Lâm Giang ôm hôn mẹ - Con biết mẹ mơ ước có một căn nhà cho riêng mình lâu lắm rồi. Hai mươi năm làm dâu của mình, đã đến lúc mẹ cần phải nghỉ ngơi, sống cho mình một chút chứ. Bà Lâm Ngọc vỗ nhẹ vào tay con: - Cám ơn con đã hiểu cho mẹ. Lâm Giang úp mặt vào ngực mẹ hít hít cái mùi mồ hôi thơm thơm của mẹ. Với cô, trên đời này chưa có mùi nước hoa nào quyến rũ như mùi thơm tỏa ra từ người mẹ. Mỗi ngày, mỗi ngày, Lâm Giang đều ôm lấy mẹ, hít thật sâu, thật sâu mùi hương ấy. Đi xa một ngày, vắng mẹ một ngày, Giang cảm thấy mình nhớ quay quắt cái mùi hương của mẹ. Cũng thật ngộ mẹ không dùng nước hoa sao người mẹ vẫn thơm phức. Có phải mùi hương ấy toát ra từ tình mẫu tử không nhỉ? Lâm Giang nhắm mắt lại, cô quên bẵng đi nỗi sợ lúc nãy. Cảm thấy thật an toàn khi nằm cạnh mẹ, cô khẽ nói: - Mẹ! Mẹ nghe thấy gì không? - Gì hả con? - Biển đang hát đấy mẹ ạ. - Ừ, nhỉ! Biển đang ru con ngủ đấy. Ngoài kia tiếng sóng biển rì rào, như đang thì thầm với gió hòa khúc hát muôn đời của biển cả. Con bé cũng lãng mạn thật. - Bà Lâm Ngọc thầm nghĩ. - Có lẽ nó giống mình. Ngày xưa khi còn là một thiếu nữ, bà mê biển đắm say. Sáng sớm bà đón ánh mặt trời từ biển, cái cảm giác được chiêm ngưỡng vầng dương đỏ lộng lẫy, nhô lên khỏi mặt nước tạo ra muôn vàn hạt trân châu lấp lánh trên mặt biển. Thật là tuyệt biết bao. Lúc ấy bà đã cảm thấy một sức sống mãnh liệt, như đang tuôn trào trong từng mạch máu của mình. Cảm giác yêu đời bừng lên trước thiên nhiên huyền diệu. Rồi khi đêm về bà đam mê với ánh trăng ngọc ngà lãng mạn. Gió, sóng biển và trăng như ru bà vào khu vườn thiên thai đầy mơ mộng lá hoa. Khi yêu bà, ba của Lâm Giang có lần đã nói: "Em ngắm biển, còn anh ngắm em. Em lúc ấy thật là tuyệt vời. Trông em thật là quyến rũ...". Rồi như đã giữ lời hứa với người tình và cũng là người vợ yêu, ông đã làm việc cật lực, chắt chiu dành dụm, cuối cùng đã tậu được một căn nhà nằm sát biển. Để bà tha hồ được ngắm biển, nghe tiếng sóng vỗ mỗi ngày. - Cám ơn anh yêu. Cám ơn người chồng tuyệt vời của em. Bà khẽ nói. Quay sang ngắm con gái, mới đó mà nó đã ngủ rồi. Sao nó xinh thế nhỉ? Hai mươi tuổi đầu mà cứ như một đứa trẻ bé bỏng. Là cô sinh viên trường đại học y năm thứ hai thế mà vẫn làm nũng với ba mẹ, như một đứa trẻ lên ba. Con gái của tôi thật là đáng yêu. Tôi chưa từng thấy sinh vật nào dễ thương, đẹp tuyệt vời trên hành tinh này như con bé. Bà nghĩ thầm, mẹ yêu con biết bao con gái bé bỏng, duy nhất của mẹ. Báu vật quý giá nhất trong đời mẹ. Hôn khẽ lên đôi bờ mi cong vút của con. Bà khép mắt lại, cố vỗ về giấc ngủ theo hơi thở nồng ấm của con gái. Nhưng sao bà không ngủ được. Cái bóng đen vất vưởng nào đó cứ ám ảnh lấy bà. Chẳng lẽ những câu chuyện ma quái hoang đường là có thật ư? Một thế giới khác, như mọi người vẫn thầm nghĩ đó là thế giới của sự vĩnh hằng, vẫn đang tồn tại song song với thế giới sống động của mình thật sao? Vậy những oan hồn ấy trú ngụ ở đâu? Trong nhà mình, nhà bên cạnh... ngoài bãi biển hay trong những hang đá sâu? Ồ, có lẽ màn đêm mới chính là ngôi nhà chung của họ. Thoắt hiện rồi thoắt biến, bóng đêm là người bạn đồng hành của những điều ma quái, của những nỗi âu lo sợ hãi tăm tối. Bà Lâm Ngọc lắc mạnh đầu, cố xua đuổi những ý nghĩ hắc ám đó ra khỏi đầu mình. - Ngủ đi, hãy ngủ đi. - Bà tự vỗ giấc ngủ. *** Sáng nay thức dậy, bà Lâm Ngọc thấy đầu nhức như bị búa bổ. Có lẽ đêm qua mình thức khuya quá. Định cố nằm thêm tí nữa, nhưng rồi theo thói quen bà vẫn ngồi dậy xuống bếp xem qua món điểm tâm cho con bé. Mặc dù đã có chị Loan, người giúp việc, nhưng bà vẫn tự tay lo cho con gái bữa ăn sáng.- Chào bà! Đêm qua bà ngủ ngon không?- Chị Loan trông thấy bà chủ thì lễ phép. - Tôi gần như thức trắng đêm, không tài nào chợp mắt được. Chị Loan nghiêng đầu, nhìn kỹ bà chủ. - Ừ phải đó! Nhìn kỹ thấy mắt bà chủ thâm quầng. - Vậy sao? - Bà Lâm Ngọc vội đưa đôi tay sờ vào vùng mi mắt. - Cứ mất ngủ một đêm là mắt tôi có quầng thâm. Thật là bực mình. - Phải rồi, đêm qua bà có nghe tiếng hét của nhà bên cạnh không. Thật là khủng khiếp. - Có, tôi có nghe. Không biết là chuyện gì đã xảy ra cho nhà bên ấy. - Cứ như là tiếng hét của người sắp chết vậy. Phải không bà? - Ừ! Nhưng tôi nghĩ là họ đánh nhau. - Không! Bà nhầm rồi gia đình bác sĩ Bảo sống rất hòa thuận. Bà mới về đây ở nên không biết đó thôi. Con lớn lên từ nhỏ ở đây. Con chưa thấy gia đình nào hạnh phúc như gia đình ấy. - Hình như vị bác sĩ trẻ vẫn chưa lập gia đình? - Đúng vậy, thưa bà, bác sĩ Vũ đã ba mươi tuổi rồi nhưng vẫn còn độc thân. Nghe nói hình như anh ta hơi khó tính, nhìn bề ngoài trông có vẻ nghiêm khắc lắm. - Nghe nói người mẹ cũng là bác sĩ? - Dạ phải! Bà Minh Tuyền là một bác sĩ giỏi. Nhưng con không thích bà ấy. - Tại sao? - Gương mặt bà ấy lạnh lùng, hơi khắc khổ. Và điều đặc biệt là bà ấy ít nói, gần như không giao du với ai. Kể từ khi cậu con trai mở phòng mạch tại nhà, căn nhà ấy mới mở cửa để đón khách đến khám bệnh. Còn trước kia thì cánh cổng nặng nề ấy luôn đóng im ỉm. Rồi chợt cô Loan nói thêm.- Đêm qua tiếng thét ấy có lẽ là tiếng thét của bà ta. - Sao cô lại nghĩ như vậy? - Không biết, nhưng con nghĩ là đúng, bởi cái giọng thét vang lanh lảnh như kim khí rất trùng hợp với giọng nói của bà ta. Bà Lâm Ngọc vừa đập cái trứng gà vào chảo vừa nói: - Ủa. Sao cô nói bà ta là người ít nói, làm sao cô biết được giọng của bà ấy. - Ý, con quên nói cho bà biết à. Đã có một thời gian con giúp việc cho nhà bên ấy, con biết chứ. - Thì ra là thế! Bà Lâm Ngọc gật đầu. Từ bên ngoài Lâm Giang đi vào, khăn tắm choàng qua vai. - Mẹ! Sáng nay mẹ cho con ăn món gì? - Là bánh mì với trứng ốp la, xúc xích, sữa tươi. - Ôi! Ngon quá. - Con vừa mới chạy bộ xuống biển à? - Dạ phải. Mẹ cũng siêng dậy sớm tập thể dục đi. Cái eo của mẹ có chiều hướng to ra rồi đó. Bà Lâm Ngọc mỉm cười: - Mẹ già rồi. Cần gì phải làm đẹp nữa. - Mẹ chưa già đâu, trông mẹ cứ như ngoài ba mươi thôi. Có phải không chị Loan? Cô Loan cười gật đầu phụ họa: - Cô Giang nói phải đó, thoạt mới nhìn tôi cũng không nghĩ là bà đã gần năm mươi. Bà Lâm Ngọc cười phát nhẹ vào mông con gái: - Thôi, vô tắm nhanh đi, còn ăn sáng mà đi học. Đứng đó mà líu lo như chim chích. Lâm Giang bật cười rồi nhanh chân biến mất sau cánh cửa phòng tắm. Chờ cho con gái đi khuất, bà Lâm Ngọc ghé tai chị người làm nói nhỏ: - Trong bữa ăn sáng, chị đừng nhắc lại chuyện đêm qua. Cô Loan dường như chưa hiểu hẳn câu nói, vội hỏi lại: - Thưa bà! Chuyện đêm qua là chuyện gì ạ? - Tiếng thét! - Bà Lâm Ngọc đáp ngắn gọn. Cô Loan có vẻ ngạc nhiên, nhưng nhìn gương mặt có vẻ căng thẳng của bà chủ, cô không dám hỏi thêm gì nữa. Thực ra bà Ngọc không muốn gợi lại chuyện, để Lâm Giang không bị cái bóng đen kia ám ảnh. Không hiểu sao bà tin chắc rằng điều Lâm Giang nhìn thấy là sự thật. Con bé không thể nào hoa mắt tới hai lần. Mình chưa nhìn thấy nhưng nghe con bé kể, mình cũng đã bị bóng ma kia ám ảnh suốt đêm, huống chi là nó, chắc nó sợ lắm nhưng không nói ra. Lâm Giang ngồi vào bàn ăn sáng. Cô cũng giống như mẹ, không muốn nhắc tới điều kinh khủng tối qua. Rồi những câu chuyện tán gẫu trong bữa ăn, cũng làm khỏa lấp điều ám ảnh tệ hại ấy. Đã đến giờ đi học, như thường lệ, bà Lâm Ngọc lại dặn dò con khi thấy Lâm Giang dắt chiếc xe Dream ra khỏi cửa. - Đi đường cẩn thận nghe con, dạo này xe cộ đông quá, người chạy xe cứ như là đan lưới vậy. Con lại đang bị cảm. - Dạ con biết rồi mẹ. Thưa mẹ con đi học. - Ừ! Con đi đi. - Khi nào thì mẹ mới ra cửa hàng? - Một chút nữa. - Trưa nay con ghé cửa hàng của mẹ nha. - Ừ! Cũng được. Nếu vậy mẹ sẽ dặn chị Loan không nấu cơm trưa. Chúng ta ra ngoài ăn nhé. - Hoan hô mẹ. - Lâm Giang reo lên thích thú. Một ý tưởng thật là tuyệt vời. Bà Lâm Ngọc lườm yêu con trẻ: - Cứ như là đứa bé lên ba. Lâm Giang cười khúc khích rồi vẫy tay chào mẹ. Lên xe nổ máy chạy đi. Cô đến lớp và điều đầu tiên làm là tìm cô bạn thân để trút bầu tâm sự. Sự căng thẳng làm cho Lâm Gang khó chịu vô cùng, cô muốn bộc lộ với mẹ, nhưng thấy bà lo âu thế là Lâm Giang không dám. Cô vờ vui vẻ cả buổi sáng hôm nay hòng để cho mẹ yên tâm. Nhưng thực sự lòng cô luôn nơm nớp lo âu. *** - Thy Thy! - Lâm Giang gọi to lên khi vừa thoáng thấy cô bạn thân ở bãi gửi xe. Thy Thy nhận ra Lâm Giang, cô vẫy tay và chờ bạn ở cổng trường. - Chào bạn! Tối qua bạn ngủ có ngon không?- Thy Thy hỏi. - Không ngon lắm. - Lâm Giang lắc đầu. - Tại sao vậy? Lâm Giang thò tay nắm chặt tay Thy Thy. - Mình nói ra điều này, không biết Thy Thy có tin hay không? - Gì vậy?- Thy Thy nhìn vào mắt Lâm Giang hỏi. - Hình như bạn hơi căng thẳng, có chuyện gì nói cho mình nghe đi. - Đêm qua mình thấy ma. - Ma? - Thy Thy hét lên làm Lâm Giang phải vội vàng bịt miệng bạn lại. - Bạn đừng hét to thế. - Lâm Giang nói. - Coi chừng mọi người nghe thấy. - Bạn nói thật chứ? - Thy Thy hạ giọng. - Không bịa một tí nào. Thy Thy dừng lại, đối mặt với Lâm Giang, mắt nhìn bạn hồi hộp xen lẫn tò mò. - Bạn kể đi, kể nhanh đi. - Bạn phải hứa là đừng có hét toáng lên nữa nhé. Thy Thy gật đầu, Lâm Giang kéo bạn tới một ghế đá dưới gốc cây phượng già. Cô bắt đầu thuật lại câu chuyện đêm qua. Thy Thy mắt tròn xoe, lắng tai nghe chăm chú, lâu lâu lại lấy tay chặn lên ngực mình để nén sự sợ hãi. Nghe xong Thy Thy có vẻ nghi ngờ: - Này, có khi nào bạn bị cảm nên hoa mắt không hả? Lâm Giang lắc nhẹ đầu: - Không thể, mình nghĩ lần thứ nhất có thể là mình hoa mắt, nhưng lần thứ hai thì chắc chắn là không. Mình nhìn rất rõ cái bóng đen ấy cứ như lướt trước mắt mình, chỉ tức là đêm tối quá mình không thể nhìn rõ được gì, ngoài một bóng đen to lớn như một con người. - Có khi nào là kẻ trộm không? Lâm Giang nhặt một chiếc lá vàng rơi dưới đất, lắc nhẹ trên tay và nói: - Mẹ mình cũng đã nói như vậy, nhưng mình nghĩ là không phải đâu. Thy Thy lắc mạnh tay Lâm Giang: - Vậy bạn đã tìm hiểu tiếng thét ở nhà bên cạnh chưa? Tại sao lại có tiếng thét ấy? Người ta đã nhìn thấy gì? Có thấy giống như bạn không? - Mình cũng không biết nữa. Nhưng mình cũng không tiện qua hỏi thăm. Nghe nói nhà hàng xóm ấy là một gia đình trí thức. Cả nhà đều là bác sĩ. Họ có cách sống kín đáo, ít giao du với ai. Mình lại là hàng xóm mới nên thấy không tiện lắm. Lâm Giang chưa nói hết câu thì một chàng trai xuất hiện cắt ngang câu chuyện của hai người. Anh ta chìa ra trước mặt hai tấm thiệp mời. - Gì vậy Thiên Long? - Lâm Giang hỏi. Chàng sinh viên Thiên Long ấn vào tay hai người tấm thiệp: - Xem đi rồi biết! Cả Thy Thy và Lâm Giang đều cùng mở ra coi. Thy Thy reo lên: - Thì ra là sinh nhật của Long à? Thiên Long gật đầu: - Rất hân hạnh được đón tiếp hai bạn. - Chà, oách quá ta. Đãi tiệc ở nhà hàng Hải Yến...? Sao không đãi ở nhà có vui hơn không? - Lâm Giang lè lưỡi. Thiên Long cười: - Thời buổi này, cái gì cũng ra nhà hàng cho tiện. Có người phục vụ, lại có một khoảng không gian thích hợp cho tuổi trẻ của chúng ta, tha hồ mà quậy. Hôm đó mình sẽ bao nguyên một vũ trường. Các bạn có thể nhảy đầm thoải mái suốt đêm. - Vậy thì tốn kém lắm nhỉ. - Thy Thy hỏi. Thiên Long phẩy tay ra vẻ không bận tâm lắm: - Chuyện nhỏ ấy mà. Chủ yếu là vui thôi. Các bạn nhớ đến nhé. - Rồi Thiên Long tình tứ nhìn Lâm Giang. - Bữa tiệc sẽ mất đi ý nghĩa nếu vắng bóng hai người đẹp. Thy Thy cười tủm tỉm: - Này! Nói cho rõ ràng nghe, hai người mà người nào là chính. Đừng gây hiểu lầm, mất công bạn bè cãi nhau đó nghe. - Điều này mọi người đều biết. Đâu cần mình phải nói ra, có phải không Lâm Giang? Lâm Giang ngượng ngùng, mắt vờ nhìn chỗ khác: - Sao Thiên Long lại hỏi Giang. Làm sao Giang biết. - Giang mà không biết, thì ai vào đây mà biết cho được.- Thiên Long vẫn không buông tha cô bạn học bằng ánh mắt đắm đuối của mình. Lâm Giang đứng lên cắt đứt câu chuyện: - Thôi chúng mình vào lớp đi kẻo trễ học bây giờ. - Nói rồi Giang nắm tay Thy Thy kéo đi. Thiên Long cười tủm tỉm, đi theo sau lưng. Thy Thy giật khẽ tay bạn: - Này. Sao mặt người ta đỏ bừng vậy? Lâm Giang bất giác đưa tay lên sờ má mình chối nhanh: - Nói bậy này, làm gì có. Thy Thy ghé sát tai Lâm Giang nói nhỏ: - "Hắn" cũng được chứ, đẹp trai, con nhà bề thế, học hành cũng tạm ổn, không lười lắm. Bạn Oke đi. Lâm Giang vừa bỏ chạy vừa lắc lắc hai bím tóc: - Không nghe, không nghe bạn nói đâu. Thy Thy phá ra cười ngất trước thái độ trẻ con của Lâm Giang. Giang là một trong những hoa khôi của trường này. Có biết bao nhiêu chàng trai theo đuổi. Vậy mà không biết sao cô lại chưa "cảm" một ai. Và Thiên Long là một trong các chàng trai cố chiếm được trái tim người đẹp. Buổi học cũng trôi qua nhanh chóng, Lâm Giang tạm biệt bạn bè và hướng thẳng ra trung tâm thành phố, nơi có cửa hàng hoa tươi của mẹ. Trên đường đi một tai nạn bất ngờ xảy ra. Một chiếc xe ba gác máy chở đầy sắt thép xây dựng, đã bị đứt dây ràng, không may lúc đó xe của Lâm Giang vừa trờ tới bên cạnh, đống sắt rơi xuống đè ngã chiếc xe của Lâm Giang làm cô ngã đập đầu xuống đất bất tỉnh. Được người đi đường đưa vào bệnh viện. Khi tỉnh dậy, Lâm Giang thấy căn phòng toàn một màu trắng toát, cô hết hồn chống tay nhổm dậy. Một bàn tay nhẹ nhàng đỡ lấy cô. Lâm Giang thấy đầu choáng váng, mắt hoa lên. - Đừng, đừng cố ngồi làm gì, cô bị mất máu nhiều lắm. Lâm Giang khẽ mở mắt ra, gương mặt người đàn ông nhòe nhòe một lúc rồi mới hiện ra. Lâm Giang cau mày hỏi: - Ông là ai vậy? Tôi đang ở đâu đây? Người đàn ông nhìn cô một lúc rồi đáp: - Cô bé! Tôi là bác sĩ và nơi cô nằm là bệnh viện. Lâm Giang ngơ ngác hỏi: - Tại sao tôi lại ở đây nhỉ? - Cô bị tai nạn.- Giọng người đàn ông thật từ tốn. - Có người đưa cô vào đây. Cô không nhớ gì sao? Lâm Giang khép hờ mắt lại, cố nhớ những gì đã xảy ra. Toàn bộ vụ tai nạn dần dần hiện ra trong trí cô. - Thưa bác sĩ, cho tôi hỏi thăm bây giờ là mấy giờ rồi? Lâm Giang hỏi đầy lo lắng. Vị bác sĩ nhìn đồng hồ rồi trả lời: - Gần bốn giờ chiều rồi. - Thôi chết! Lâm Giang kêu lên. - Có việc gì không ổn hả cô bé? - Mẹ! Mẹ tôi... có ai báo cho mẹ tôi biết là tôi đang ở đây không? - Chưa, tôi cũng định bụng chờ cô tỉnh dậy thì hỏi địa chỉ liên lạc với người nhà của cô. Khi cô vào đây thì trong người không có một thứ giấy tờ gì. - Cái cặp, cái cặp đi học của tôi, trong đó có số điện thoại. - Tôi không thấy, có lẽ nó đã văng mất khi cô té xuống đường. Người thanh niên tốt bụng đã đưa cô vào đây, còn chiếc xe thì gửi bên ngoài bãi giữ xe của bệnh viện. Lâm Giang chống tay nhổm dậy, nhưng rồi mắt cô lại hoa lên, tối sầm lại. Choáng váng cô ngã ra giường. Vị bác sĩ đỡ cô nằm xuống và nói: - Cô cần gì tôi có thể giúp cho, cô còn đang yếu lắm, không thể ngồi lên được đâu. - Dạ! Lâm Giang ngập ngừng.- Xin làm phiền bác sĩ, làm ơn gọi điện về nhà giúp cháu. Chác chắc là mẹ cháu đang trông lắm. Bác sĩ khẽ cau mày: - Bộ tôi già lắm sao mà xưng bằng cháu? - Dạ... dạ không ạ. Lâm Giang lúng túng, cô nhìn kỹ vị bác sĩ hơn. Đó là một người đàn ông cao to, gương mặt hơi lạnh lùng, nhưng phải nói là rất đẹp, cái đẹp của người đàn ông mạnh mẽ, nước da hơi ngăm đen. Sống mũi cao và đôi mắt sáng ngời toát lên sự thông minh bản lĩnh. Thấy Lâm Giang nhìn mình, vị bác sĩ hỏi nhỏ: - Thế nào, tôi đâu đến nỗi già lắm phải không? - Dạ không ạ. Lâm Giang bất giác bật nói như xác định ý nghĩ trong đầu mình. Vị bác sĩ khẽ mỉm cười, nụ cười hiếm hoi từ nãy đến giờ Lâm Giang mới nhìn thấy. Giang phát hiện ra khi cười trông vị bác sĩ mới quyến rũ làm sao. Ông ta có một nét đẹp của bức tượng cổ thời La Mã. - Dạ thưa bác sĩ. - Lâm Giang tiếp lời. - Cháu... cháu... à không... em có thể nhờ bác sĩ gọi điện về nhà được không ạ? - Tất nhiên là được rồi. Cô đọc số điện thoại đi. Nói xong vị bác sĩ nọ rút chiếc điện thoại di động trong túi ra. Chờ đợi Lâm Giang đọc số, khi cô đọc số nào, ông ta liền bấm nút số đó. Đầu dây bên kia chuông đã reo. Bác sĩ đưa điện thoại cho Lâm Giang. - Cô nói chuyện với người nhà đi. - Dạ! Cám ơn bác sĩ. Lâm Giang đỡ chiếc điện thoại bằng cả hai tay, cô nhận ra giọng của mẹ ngay: - Alô. Mẹ phải không mẹ? Bên đầu dây kia, giọng bà Lâm Ngọc đầy lo lắng: - Trời ơi! Con hả Giang. Con đi đâu vậy? Làm cho mẹ lo muốn chết luôn. Từ trưa đến giờ mẹ đứng ngồi không yên. Sao giờ này mới điện thoại về cho mẹ. - Mẹ ơi! Mẹ bình tĩnh nghe con nói nha. - Nói đi. - Con không thể gọi điện cho mẹ được, vì lúc trưa con bị tai nạn giao thông nên hôn mê, bây giờ mới tỉnh lại. - Trời...! Giọng bà Lâm Ngọc thảng thốt bên kia.- Con... con có sao không? Bây giờ con đang ở đâu? - Con đang nằm phòng cấp cứu của bệnh viện. - Mẹ tới ngay, mẹ tới ngay. Giọng bà Lâm Ngọc run rẩy, gấp gáp cúp máy, Lâm Giang trả lại điện thoại cho vị bác sĩ. - Em cám ơn rất nhiều. - Ồ! Không có chi. Cô nghỉ đi, tôi sẽ theo dõi sức khỏe của cô. Nếu có gì thấy không ổn trong người nhớ báo cho tôi biết ngay nhé. - Dạ. Vị bác sĩ quay đi, ra tới cửa, ông ta chợt quay lại hỏi: - À, cho tôi biết địa chỉ để ghi vào hồ sơ bệnh án. - Dạ! Nhà em ở 25A đường Huyền Trân Công Chúa, phường 2. - 25A à!- Vị bác sĩ kêu lên. - Có phải gia đình nhà cô vừa mới dọn về đây? Lâm Giang tròn xoe mắt có vẻ ngạc nhiên: - Dạ đúng ạ! Nhưng làm sao mà bác sĩ biết được điều này. Vị bác sĩ trẻ khẽ mỉm cười, quay lại bước đến gần giường bệnh, chìa tay ra bắt tay với Lâm Giang: - Xin chào cô bé hàng xóm. Lâm Giang chớp chớp mắt, bẽn lẽn đưa tay ra nắm lấy tay bác sĩ. Anh ta tự giới thiệu: - Tôi ở nhà số 23, tên tôi là Hoàng Gia Thoại Vũ. Còn cô bé tên gì? - Dạ! Em là Hà Ngọc Lâm Giang. - Không ngờ chúng ta làm quen nhau trong hoàn cảnh này. Tôi nghe mẹ tôi nói có hàng xóm mới dọn tới, nhưng vì công việc bận quá, nên chưa sang làm quen được. Lâm Giang thoáng nhớ chuyện đêm qua. Cô ngần ngại hỏi: - Nhà bác sĩ, có phải là căn nhà có cây vú sữa thật to trong sân không? - Đúng rồi! Vị bác sĩ gật đầu. Bây giờ Thoại Vũ mới nhìn kỹ cô bé hàng xóm hơn. Cô bé trông thật xinh đẹp. Cứ như một đóa hồng đang hé nụ dưới ánh mặt trời, rạng ngời tinh khôi. Có lẽ chưa bao giờ Thoại Vũ thấy được một vẻ đẹp mỹ miều nào đến thế. - Hình như đêm qua em có nghe bên nhà bác sĩ có tiếng thét. Chuvện gì xảy ra vậy bác sĩ. Giọng Lâm Giang rụt rè. Bác sĩ Vũ nhún vai: - Tôi cũng không rõ nữa. Hình như mẹ tôi nói bà đã trông thấy một điều kinh khủng gì đó, nên đã thét lên. Lâm Giang không kìm được sự tò mò, bật hỏi: - Xin hỏi. Bác ấy đã nhìn thấy điều gì vậy? Bác sĩ Thoại Vũ lại nhún vai: - Bà nói với tôi là bà đã trông thấy một con quỷ. Một con quỷ đen gớm ghiếc. Nhưng tôi không tin. Có lẽ chỉ là ác mộng. Lâm Giang thoáng rùng mình. - Có lẽ là thật đó... Cô lẩm nhẩm khi nhớ lại bóng đen lao vút vút qua trước mặt mình đêm qua. Thoại Vũ nghe không rõ, anh hỏi lại: - Lâm Giang nói gì vậy? Lâm Giang ngẩng lên nhìn, bối rối: - Dạ... không ạ,... dạ không có gì. - Thôi cô bé nghỉ đi. Chắc mẹ Giang cũng sắp đến. Tôi phải đi thăm vài bệnh nhân đây. - Dạ! Bác sĩ đi ạ. Chờ cho bác sĩ Thoại Vũ đi ra ngoài, Lâm Giang mới nhắm mắt lại. Bây giờ cô mới nghe đầu nhức ong ong, như đang có hàng vạn tiếng ong bay trong đó. Khắp người đau nhức, ê ẩm. Đêm qua nỗi hoảng sợ đã làm cho Lâm Giang tưởng chừng như muốn ngất đi. Còn bây giờ thì lại bị tai nạn thế này. Sao mà xui xẻo quá vậy. - Giang! Giang ơi!- Tiếng gọi giật giọng của mẹ làm Lâm Giang choàng mở mắt ra. Cô trông thấy mẹ mặt hớt hãi, tái xanh, trán vã mồ hôi. Bà bật khóc khi thấy đầu Lâm Giang quấn băng trắng toát. - Con! Con có sao không? Trời ơi... sao lại ra nông nỗi này. Lâm Giang nắm tay mẹ, nước mắt rơi. - Mẹ! Con đau lắm! Bà Lâm Ngọc sờ nắn khắp người con gái: - Con có bị thương chỗ nào nữa không? - Hình như không, chỉ xây xát bên ngoài da thôi. Nhưng đầu con bị đập xuống đất, nghe bác sĩ nói máu ra nhiều lắm. Bà Lâm Ngọc ôm con vào lòng, nước mắt lăn dài trên má: - Tội nghiệp con gái của mẹ. Chắc là con đau lắm. Mẹ phải làm sao đây... Lâm Giang áp đầu vào ngực mẹ nũng nịu: - Chỉ cần ngửi được mùi thơm của mẹ, con cảm thấy bớt đau nhiều lắm. - Cô cố gượng cười để mẹ yên lòng. - Mẹ đừng khóc nữa, con không sao đâu. Bà Lâm Ngọc đặt con nằm ngay ngắn trên giường. - Con nằm đây để mẹ liên lạc với bệnh viện tìm cho con một bác sĩ giỏi nhất. Tiền bạc không thành vấn đề. Lâm Giang nắm tay mẹ kéo lại. - Thôi khỏi mẹ ạ. Con nghĩ là đã có một bác sĩ tốt nhất chăm sóc rồi. - Ai vậy con? - Bà Ngọc hỏi. - Dạ bác sĩ Thoại Vũ. - Thoạt Vũ à... - Bà Lâm Ngọc cau mày, cố lục lọi trong trí nhớ xem xem, mình có quen cái tên này không. Nhưng bà không nhớ được liền hỏi. - Bác sĩ Vũ là ai vậy con? Làm sao con biết được ông ta là một bác sĩ giỏi của bệnh viện? Lâm Giang nở nụ cười tươi ra vẻ bí mật: - Anh ấy là người hàng xóm của nhà mình đó mẹ. - Làm sao con biết? - Con cũng vừa mới phát hiện ra đây thôi. - Thế à! - Bà Ngọc kêu lên ngạc nhiên.- Vậy ông ta có biết con là hàng xóm mới đến không? - Dĩ nhiên là biết chứ mẹ. - Ừ! Mẹ cũng có nghe nói, bác sĩ Thoại Vũ là một bác sĩ giỏi. Phòng mạch tư của ông ta khá đông khách. Thảo nào mẹ nghe cái tên bác sĩ Vũ hơi quen quen. Thì ra lúc sáng ở nhà cô Loan đã nói cho mẹ nghe về bác sĩ Vũ nhà bên cạnh. - Vậy mẹ yên tâm đi, khỏi cần tìm bác sĩ khác nghe mẹ. - Ừ! Mẹ biết rồi. Vừa lúc đó, cánh cửa phòng bật mở. Bác sĩ Vũ bước vào. Trông thấy bà Lâm Ngọc anh nhã nhặn cúi chào: - Chắc bác đây là mẹ của Lâm Giang? Bà Ngọc lịch sự cúi chào lại rồi trả lời: - Dạ phải! Có lẽ anh là bác sĩ Vũ? - Dạ đúng. Cháu chào bác ạ. - Là hàng xóm mà mãi tới giờ mới biết mặt nhau. Bác sĩ Vũ ái ngại: - Dạ! Công việc của cháu cũng bận lắm. - Ừ! Tôi biết mà. Chỉ nói như vậy thôi. Bác sĩ Vũ bước tới giường bệnh từ tốn hỏi: - Lâm Giang! Em thấy trong người thế nào. Có nhức đầu có buồn nôn không? Lâm Giang trả lời: - Dạ buồn nôn thì không. Nhưng đầu thì rất đau. Em chóng mặt lắm. - Bác sĩ ơi! Cháu nó có bị nặng lắm không? Có ảnh hưởng gì tới não không hả bác sĩ? - Bà Ngọc vội vã xen vào. - Dạ! Cháu đã chụp X quang rồi, không sao ạ. Nhưng cần phải theo dõi kỹ trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Nếu có triệu chứng đau đầu nhiều, buồn nôn thì phải báo cho bác sĩ trực biết ngay để kịp xử lý. - Trăm sự nhờ bác sĩ giúp đỡ. Hãy cho cháu loại thuốc nào tốt nhất để điều trị. Tiền bạc đối với tôi không thành vấn đề. - Bác cứ yên tâm. Cháu sẽ cố hết sức mình vì ngã đập đầu mạnh xuống đường, nên ít nhiều cũng gây chấn động ở vùng đầu. Dĩ nhiên là bị đau rồi. Nhưng nếu không có những triệu chứng khác thì không sao đâu. Chỉ sợ bị chấn thương sọ não thì mới nguy hiểm. - Dạ! Bây giờ cháu có thể ăn được gì ạ? Bác sĩ Vũ cầm tay Lâm Giang bắt mạch vừa nghe nhịp mạch, vừa trả lời cho bà Ngọc: - Dạ! Bác cho Giang ăn những thức ăn nhẹ như sữa, cháo. Rồi quay sang Lâm Giang, anh nói: - Hãy cố lên cô bé nhé. Lâm Giang khẽ gật đầu, bác sĩ Thoại Vũ ghi vào hồ sơ bệnh án treo ở chân giường xong anh quay ra. - Cháu chào bác, bác ở đây theo dõi bệnh của Lâm Giang, có gì thì báo ngay cho cháu biết. - Dạ, cám ơn bác sĩ rất nhiều. - Không có gì đâu ạ. Anh khẽ gật đầu chào Lâm Giang. Cô cũng gật đầu đáp trả, khi còn lại hai mẹ con, Lâm Giang thì thào: - Mẹ! Bác sĩ Vũ đẹp trai thật mẹ nhỉ. Bà Lâm Ngọc lườm yêu con gái: - Sao, để ý người ta rồi à? - Không có. Lâm Giang đỏ mặt.- là con chỉ nhận xét vậy thôi mà. - Ừ! Cũng may là bác sĩ Vũ là hàng xóm. Sau này khi con xuất viện về, mẹ sẽ nhờ bác sĩ sang chăm sóc sức khỏe cho con. - Khi nào rảnh, mẹ nhớ sang thăm nhà người ta một chút mẹ nhé. - Ừ! Mẹ biết rồi. À! Không biết đêm qua nhà bác sĩ làm sao mà có tiếng thét to như thế không biết. Vừa nói xong câu này, bà Lâm Ngọc biết mình đã lỡ lời lẽ ra không nên nhắc lại câu chuyện này trong lúc tâm trí Lâm Giang đang bị đau. Lâm Giang đưa mắt sợ sệt nhìn ra cửa. Cô hạ giọng: - Bác sĩ Vũ nói mẹ anh ấy đã nhìn thấy một con quỷ. - Con quỷ... Bà Lâm Ngọc giật mình, đánh rơi cái bóp trên tay xuống đất, giọng như lạc hẳn đi. - Con nói sao...? Bà hỏi lại. - Một con quỷ hả? Lâm Giang nghe tim mình đập mạnh. Cô loáng thoáng nhớ lại cái bóng đen kinh khủng kia không thốt nên lời. Cô chỉ gật nhẹ đầu mà thôi. Phần 2 Gõ nhẹ vào cửa phòng, đẩy cửa bước vào, thấy mẹ nằm trên giường, Thoại Vũ bước đến: - Mẹ không được khỏe hả mẹ? Sao mẹ đi nghỉ sớm quá vậy? Bà Minh Tuyền quay lại, nhìn thấy con trai chống tay ngồi lên: - Con về rồi hả? Ăn cơm chưa? - Dạ chưa ạ. Bây giờ con phải sang nhà cô bé hàng xóm để khám lại cho cô ta. - Con bé về nhà rồi à? - Bà Minh Tuyền đã được con trai kể lại cho nghe về chuyện của Lâm Giang, cô bé hàng xóm bị tai nạn. Thoại Vũ ngồi xuống cạnh giường mẹ trả lời: - Dạ! Cô ấy vừa xuất viện sáng nay. Mẹ cô ấy có nhờ con sang khám cho Lâm Giang. Bà Minh Tuyền hơi khó chịu: - Mình là bác sĩ, người ta cần thì phải tìm đến mình, sao lại phải sang nhà người ta. Thoạl Vũ mỉm cười: - Thôi mẹ ạ! Là hàng xóm giúp nhau một chút có sao đâu. Cũng sát nhà ta thôi mà. Con qua bên ấy một lát rồi về ngay thôi mẹ ạ. - Ừ! Đi nhanh rồi về ăn cơm. Thoại Vũ đứng lên, ra ngoài khép phòng lại. Còn một mình, bà Minh Tuyền nằm xuống mắt nhìn đăm đăm lên trần nhà. Vài tháng nay tinh thần bà suy sụp hẳn đi. Cứ một tháng, vào những đêm tối trời, con quỷ ấy lại xuất hiện. Nó rình rập bà mọi lúc, mọi nơi. Nó xuất hiện bất ngờ, gương mặt lông lá, đôi mắt một màu rực đỏ như lửa. Bà nhớ lại, đêm gần đây nhất bà đang đứng ngoài ban công hóng mát, mắt nhìn đóa hồng nhung đang rung rinh trước gió. Bất ngờ từ phía lùm cây kiểng, một bóng đen cao to người đầy lông lá chồm tới, nó giơ bàn tay đầy vuốt nhọn hoắt chụp xuống đầu bà. Miệng phát ra những âm thanh khùng khục, đùng đục trong cổ họng. Bà Minh Tuyền hét lên kinh hoàng, quăng mạnh ly nước đang cầm trên tay về phía con quỷ. Ly nước rơi xuống vỡ tan tành, bà hớt hãi chỉ tay về phía trước, miệng ú ớ nói không nên lời. Lúc đó bóng đen kia đã biến mất. Bà nói như thế nào mọi người cũng không tin. Họ cho là bà hoa mắt, cho bà là thần hồn nhát thần tính... nhưng bà Minh Tuyền quả quyết rằng những điều bà nhìn thấy là sự thật. Và đây đâu phải là lần đầu tiên bà nhìn thấy con quỷ này. Đã nói là mấy tháng gần đây, bà đã đôi lần thấy sự xuất hiện của nó. Lúc đầu bà cũng không tin vào những gì mình đã thấy, nhưng với những lần kế tiếp, cũng hình dáng lông lá đó, cũng gương mặt gớm ghiếc kia, nó luôn muốn vồ lấy bà để ăn tươi nuốt sống... Trời ơi! Bà Minh Tuyền rên lên thành tiếng. - Tại sao tôi lại bị quỷ ám như thế này. Làm sao mà sống được đây? Bà mệt mỏi, đứng lên đi lảo đảo trong phòng. Tình cờ bà bước đến bên cửa sổ nhìn sang ngôi nhà bên cạnh. Tầng hai của nhà bà, cũng ngang tầm với nhà kế bên, bất ngờ bà nhìn thấy rõ Thoại Vũ đang trò chuyện với một cô gái. Vì khoảng cách khá xa nên bà không nghe rõ hai người đang nói gì. Thoại Vũ chỉ vào mấy viên thuốc trên bàn và nói: - Đây là thuốc giảm đau, khi nào em thấy khó chịu lắm thì hãy uống, đừng lạm dụng loại thuốc này nhiều không tốt nha. - Dạ! - Lâm Giang trả lời. - Vậy chừng nào em mới có thể đi học lại được ạ. - Cố gắng nghỉ ngơi, hai ba ngày nữa rồi hãy đi học. Anh sợ em đi nhiều sẽ bị chóng mặt. Cánh cửa phòng ngủ đẩy nhẹ vào, bà Lâm Ngọc xuất hiện với ly nước cam trong tay. - Mời bác sĩ dùng nước. Bà nói. - Dạ cám ơn bác, làm phiền bác quá. - Đâu có. Mẹ con tôi mới làm phiền bác sĩ. Rồi bà nhìn con gái hỏi. - Thế nào rồi, sức khỏe của cháu đã ổn định chưa, thưa bác sĩ? Bác sĩ Thoại Vũ trả lời: - Dạ! Bác yên tâm, chỉ cần nghỉ ngơi vài ngày là Lâm Giang khỏe hẳn. - Trông con bé còn xanh xao quá. - Không sao đâu, khi nào khỏe, bác bồi bổ nhiều vào. Tức khắc da dẻ hồng hào lại cho coi, chỉ sợ cô bé này nhõng nhẽo không chịu ăn thôi. Lâm Giang đỏ mặt: - Bác sĩ nói cứ như con trẻ con lắm vậy. Bà Ngọc cười xen vào: - Chứ còn gì nữa. Bác sĩ Vũ nói đúng quá đi chứ. Đôi khi con còn làm nũng với ba mẹ như đứa trẻ lên ba ấy. - Mẹ! - Lâm Giang giấu mặt vào lòng bàn tay thẹn thùng. - Mẹ lại nói xấu con gái mẹ nữa rồi. Chốc nữa ba về con lại mách ba cho mà coi. Bà Ngọc tủm tỉm cười nhìn Thoại Vũ: - Cậu thấy đó, vậy mà không công nhận mình là trẻ con. Thoại Vũ nhìn Lâm Giang, một cảm giác xúc động khó tả dâng trào. Chưa bao giờ anh thấy có một thiếu nữ nào có sự hồn nhiên của một đứa bé như thế. Ở Lâm Giang, Thoại Vũ phát hiện ra cô bé là một thế giới khác hẳn, một thế giới của sự tinh khiết, thanh tao, đầy thơ mộng, tại sao một thiếu nữ lại có thể tạo cho mình một thế giới trẻ thơ như thế được nhỉ. Thoại Vũ không nói gì chỉ nhìn Lâm Giang khẽ lắc đầu nhè nhẹ. Anh cáo từ ra về, trong lòng lâng lâng một cảm giác. Về tới nhà thấy mâm cơm đã dọn sẵn như chờ anh, Thoại Vũ hỏi chị giúp việc. - Ba má tôi đã ăn cơm chưa? - Dạ thưa ông đã ăn rồi, còn bà thì tôi đã nói mãi nhưng vẫn không ra ăn. Thoại Vũ quay đi vừa nói: - Chị coi hâm lại thức ăn đi, tôi sẽ gọi mẹ tôi xuống. - Dạ! Xin cậu đừng đánh thức bà dậy. Bà vừa mới chợp mắt. - Thế à! - Thoại Vũ thốt lên rồi quay lại bàn ăn, ngồi xuống và nói, chị nấu chút gì đó cho ngon ngon chốc nữa mẹ tôi dậy thì đem lên cho bà ăn. - Dạ! Thoại Vũ ăn cơm một mình. Anh thấy cơm chán ngắt, khô khan và khó nuốt, không khí bữa ăn gia đình cũng quan trọng lắm. Nó làm cho bao tử con người ta có cảm giác hứng thú bữa ăn hay không. Thoại Vũ gần như quen thuộc cái không khí gia đình lạnh lùng như thế này ngay khi còn là một đứa bé. Trong nhà này không thiếu một thứ gì. Duy chỉ có một thứ luôn thiếu, nếu không nói là khan hiếm. Đó là nụ cười. Các thành viên trong gia đình dường như rất ít biết cười. Họ đối xử với nhau rất nhã nhặn, lịch sự nhưng không bao giờ cởi mở thoải mái với nhau. Người ngoài nhìn vào cứ nghĩ rằng gia đình Thoại Vũ sống rất hạnh phúc, vì chẳng bao giờ nghe ai cãi vã to tiếng với nhau, nhưng thật ra ẩn sau cái màn nhung hạnh phúc ấy là cả một sự chạnh lòng, chán ngắt đến buồn tẻ. Công việc ai nấy làm, tối về sum hợp dưới một mái nhà để nghỉ ngơi chứ không phải để chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống. Thoại Vũ thở dài, anh buông đôi đũa, chị người làm đưa tay định xới chén cơm khác thì anh đưa tay ngăn lại, lắc đầu. - Sao cậu ăn ít thế. - Chị người làm quan tâm hỏi. - Một bát thì làm sao đủ sức khỏe mà làm việc. - Không sao. - Thoại Vũ đẩy ghế đứng lên. - Tôi no rồi. Anh quay về phòng mình. Sau khi tắm xong, mặc bộ đồ ngủ, theo thói quen anh sẽ leo lên giường bật tivi xem tin tức rồi quay sang đọc sách. Nhưng hôm nay thì khác, Thoại Vũ không biết có một sức mạnh vô hình nào đó cứ lôi anh đến bên cửa sổ, từ đó anh nhìn qua căn nhà kế bên, nhìn ngay vào hướng có phòng nghủ của Lâm Giang cô bé hàng xóm mới quen. Bỗng dưng nụ cười, ánh mắt đôi môi của cô hiện rõ trước mắt anh, giọng cười đôi khi rúc rích như trẻ con. Có lúc lại giòn tan như nắng. Bất giác Thoại Vũ mỉm cười một mình. Điều đó dường như chưa bao giờ xảy ra với anh. Có thể sống trong một gia đình có cách sống kín đáo như vậy, nên cũng đã hình thành tính cách lạnh lùng ít cởi mở nơi anh. Thoại Vũ len lén kéo tấm màn cửa sang một bên, một hành động lén lút ngay trong căn phòng của mình, Thoại Vũ cũng không biết tại sao mình lại làm như thế, chưa bao giờ anh nhìn trộm ai và cảm thấy mình đang làm một điều gì đó hết sức là con nít so với cái tuổi ba mươi của mình. Bên kia, căn phòng đã phủ một ánh hồng dịu dàng. - Chà! Chắc cô bé đã bị mẹ ép đi ngủ sớm đây. – Thoại Vũ nghĩ thầm. Anh đứng nhìn một lúc thật lâu, rồi mới quay vào giường. Xem sách giải trí một lúc thì anh lại thiếp đi, không biết là bao lâu, chắc là khoảng nửa đêm gì đó, Thoại Vũ nghe loáng thoáng tiếng con chó mực sủa inh ỏi. Nhưng vì buồn ngủ quá, anh cũng thiếp đi. Bất ngờ một lúc sau anh nghe có tiếng hét thất thanh của mẹ anh ở phòng kế bên cùng một lúc với tiếng cửa kính vỡ loảng xoảng. Thoại Vũ tung mền phóng ra khỏi phòng chạy như bay về phía có tiếng thét. Anh xô mạnh cửa phòng chạy ào vào. Một cảnh tượng kinh khủng hiện ra trước mắt. Cửa sổ kính vỡ tan tành, những mảnh gương rơi vãi khắp phòng và xác con mực bị xé toạc làm hai. Máu me đầm đìa nằm dưới sàn nhà. Con chó chết mà hai mắt vẫn trợn tròng lên. Nó đã phải chết, một cái chết thật là khủng khiếp, nên dấu ấn của sự hoảng sợ vẫn còn hằn sâu trong đôi mắt của nó. Thoại Vũ sau giây phút bàng hoàng, anh đảo mắt khắp phòng nhưng không thấy mẹ đâu. - Mẹ! Mẹ! – Anh hốt hoảng kêu lên. – mẹ đang ở đâu? Vừa lúc đó cha anh và chị giúp việc cũng lao vào phòng. Nhìn thấy cảnh tượng ấy, chị người làm ôm mặt rú lên, chạy vụt ra sau cánh cửa đứng nấp. Còn ông Nhật Tân thì đưa tay chặn ngang ngực mình thốt lên: - Trời! Chuyện gì kinh khủng vậy? Thoại Vũ nôn nóng tìm mẹ nên không để ý đến cảm xúc của mọi người. Anh tiếp tục tìm kiếm mẹ. - Mẹ! Mẹ ơi! Vừa gọi, Thoại Vũ vừa tung chăn gối khắp phòng, xới tung chiếc giường ra tìm mẹ. Bỗng anh nghe có tiếng thở mạnh dưới gầm giường, Thoại Vũ bò xuống đất, nghiêng đầu nhìn vào bên trong. Một hình ảnh thật tội nghiệp, mẹ anh đang nằm sấp dưới đất, người cứ run lên bần bật. Thoại Vũ thò tay nắm chân bà kéo ra. Bà Minh Tuyền hét lên hoảng loạn: - Đừng? Đừng! Tha cho tôi, tôi sợ lắm... tôi sợ lắm... - Mẹ! Con đây mà mẹ! Con đây. Dù cho Thoại Vũ cố nói thế nào, bà Minh Tuyền vẫn hét lên hoảng loạn. Phải khó khăn lắm anh và ông Nhật Tân mới lôi được bà ra khỏi gầm giường. Vừa nhìn thấy Thoại Vũ bà ôm mặt hét to: - Con quỷ đen, mày đi đi, tại sao mày ám tao. Thoại Vũ kinh ngạc nhìn mẹ anh: - Con đây mà, mẹ nói gì kỳ vậy. Con quỷ đen nào? Bà Minh Tuyền ôm đầu vụt chạy ra la hét hoảng loạn. Thoại Vũ chạy theo ôm chầm lấy mẹ. Ông Nhật Tân lên tiếng: - Mẹ con đang trong cơn hoảng loạn không biết gì đâu. Con mau về phòng đem thuốc an thần sang đây tiêm cho mẹ. - Dạ! Ba giữ chặt lấy mẹ giùm con. Nói rồi Thoại Vũ nhanh chân chạy đi. Khi anh quay lại, ba anh đã dìu được mẹ lên giường. Thoại Vũ tiêm cho bà một mũi thuốc an thần. Bà còn khóc lóc thêm một chút nữa rồi thiếp đi khi thuốc đã ngấm. Chờ cho bà Minh Tuyền chìm vào giấc ngủ sâu, Thoại Vũ và ba anh mới rời khỏi giường. Lúc bấy giờ họ mới có dịp nhìn kỹ lại căn phòng. Bất giác Thoại Vũ rùng mình khi nhìn kỹ cái xác con chó mực. - Thật là khủng khiếp. Làm sao thân thể con mực lại có thể bị xé toạc làm hai như thế này. - Anh kêu lên. Ông Nhật Tân tiến tới thêm một chút nữa, quan sát kỹ xác con mực. Ông nói: - Đúng là xác nó bị xé ra. - Quan sát những thớ thịt bầy nhầy, tua tủa, ông nói tiếp. - Nếu dùng dao xả con chó ra làm hai, cũng phải cần tới một sức mạnh ghê gớm lắm. Nhưng dùng dao thì các thớ thịt của con chó không bị bầy nhầy như thế này. Thoại Vũ cau mày: - Theo như con thấy, con mực đã bị một kẻ nào đó cầm hai chân sau dùng sức mạnh xé toạc thân nó ra làm hai. Ông Nhật Tân lấy hai tay bịt mũi lại, khi nghe mùi máu tanh trong xác con mực bốc lên nồng nặc. - Ai? Kẻ nào... - Ông nói gần như là lời thì thào. Tại sao lại tấn công nhà chúng ta, với mục đích gì chứ? Thoại Vũ lắc đầu: - Con cũng không biết nữa. Thời gian gần đây con hay thấy mẹ la hét hoảng loạn. Lúc nào hỏi mẹ, mẹ cũng nói đã trông thấy một con quỷ, người đầy lông lá, mắt đỏ đục ngầu. Con cứ nghĩ là mẹ gặp ác mộng. Thực hư ra sao chưa rõ. Nhưng chuyện này xảy ra nghiêm trọng thật. Ông Nhật Tân thở dài: - Chẳng biết còn điều bất hạnh gì nữa sẽ diễn ra trong ngôi nhà này. - Nói rồi ông đưa mắt nhìn quanh căn phòng. - Thôi! Chúng ta mỗi người một tay để dọn đi. Thoại Vũ nhìn xung quanh không thấy chị giúp việc đâu. - Chị Ba ơi! Chị Ba. - Tôi... tôi đây... Nghe giọng nói nhưng không thấy người đâu. Thoại Vũ hỏi: - Ủa, chị đang ở đâu vậy! Lúc bấy giờ, chị Ba mới từ sau cánh cửa phòng bước ra, mặt tái xanh, chân tay run lẩy bẩy. Chị quay mặt đi. Thấy dáng vẻ tội nghiệp của chị ta, Thoại Vũ nói: - Chị xuống nhà, tìm cho tôi một cái bao tải, lấy chổi. - Dạ. Chị người làm lấm lét nhìn xung quanh như sợ ai đó sẽ nhảy ra vồ lấy mình. Lúc chị ta mang những thứ đồ Thoại Vũ bảo đem lên, trông nét mặt sợ hãi của chị ta, Thoại Vũ nói: - Thôi chị ra ngoài đi, để đó tôi dọn cho. Chị Ba áy náy trong lòng. Vì lẽ ra nhiệm vụ dọn dẹp phải là của chị nhưng lại để cho cậu chủ làm, chị thấy coi không được. Nhưng khi nhìn vào xác con mực và vũng máu tươi, chị chỉ muốn nôn ra. Chị ôm ngực, cắm đầu chạy vào toilet của bà chủ để mặc các thứ tuôn ra. Thoại Vũ là một bác sĩ, anh từng tiếp xúc với xác chết, với máu rất nhiều nhưng chưa bao giờ anh thấy khó chịu cộng thêm cảm giác sợ hãi như thế này. - Ba. Ba giúp con một tay. - Anh nói. - Ba mở rộng miệng bao ra. Ông Nhật Tân cầm cái bao lên, mở to miệng bao ra. Đồng thời ngửa đầu ra sau, mắt nhắm lại. Thoại Vũ lấy hết can đảm, nắm một cái chân sau của con chó mực xách lên, máu từ trong cái xác tuôn ra òng ọc, bốc mùi tanh ói. Thoại Vũ bỏ một nửa cái xác con chó vào bao bố rồi tiếp tục xách nửa cái xác còn lại bỏ vào. - Được rồi, ba ra ngoài đi, coi chừng giẫm lên mảnh kính vỡ. Để con dọn cho. Ông Nhật Tân cũng muốn giúp con một tay, nhưng thật sự cái mùi tanh tưởi kia đã làm cho đầu ông choáng váng, ông bước ra ngoài. Thoại Vũ dùng chổi gom những mảnh kính vỡ lại, cho tất cả vào bao, khi hiện trường cơ bản đã dọn sạch, anh gọi chị giúp việc: - Chị Ba ơi. Cho tôi nhờ một chút. Chị Ba từ phòng tắm bước ra, trên gương mặt còn nét sợ hãi. - Chị làm ơn giúp tôi một tay. Tôi đã dọn sạch rồi. Bây giờ chị lau nhà lại cho thật sạch. Nhớ dùng Vim lau nhà, tẩy cho hết mùi máu tanh. - Dạ! Nhìn dáng chị Ba, Vũ nghi ngờ hỏi lại: - Chị có chắc là làm được không? Chị Ba liếc cái bao để giữa nhà và nói: - Cậu xách cái bao ra ngoài đi. Tôi làm được mà. Thoại Vũ đưa tay xách cái bao lên, máu chảy nhỏ giọt xuống sàn nhà, anh chắc lưỡi. - Chết rồi, làm sao đây, máu loang ra khắp nhà hết. - Không sao đâu. Cậu cứ xách đi, chỗ nào máu chảy ra tôi lau cho. Thoại Vũ gật đầu, anh xách cái bao đi nhanh ra khỏi phòng, chạy nhanh xuống cầu thang băng qua khoảng sân trống, mở cổng rồi quăng cái bao tải vào thùng rác dưới lòng đường. Xong anh chạy ào vào nhà, lao vào phòng tắm, dùng xà phòng thơm tắm thật kỹ khắp người. Đã tắm nhiều xà phòng, nhưng không hiểu sao, Thoại Vũ cứ nghe cái mùi máu tanh tanh của con chó bám chặt vào người anh. Anh thay bộ đồ mới, xịt một tí nước hoa lên người hòng át đi cái mùi tanh kia. Thoại Vũ mở cửa phòng bước ra ngoài. Anh định bụng lên xem mẹ ra sao bỗng anh thấy cha đang ngồi ở ghế salon, dáng vẻ trầm ngâm, suy tư. Thoại Vũ bước đến, đặt tay lên vai cha: - Ba! Sao ba không đi ngủ đi ba. Ông Nhật Tân quay lại nhìn con trai vỗ nhẹ tay lên tay con. - Ba không thể nào ngủ được. Con đừng lo cho ba. - Vậy ba ngồi đây. Chờ con lên xem mẹ ra sao rồi con sẽ xuống với ba. Ông Nhật Tân gật đầu. Thoại Vũ nhanh nhẹn bước từng hai bậc cầu thang một, đẩy cửa phòng mẹ vào. Anh ngồi xuống bên bà và quan sát nét mặt đang ngủ của mẹ. Dạo này mẹ anh trông sút hẳn, má hóp đi. Đôi mắt thâm quầng vì mất ngủ. Tinh thần dường như có vẻ suy sụp lắm. Tại sao vậy? Thoại Vũ thở dài. Anh cảm thấy dường như mình chưa bao giờ hiểu rõ được tâm trạng, tình cảm của cha mẹ cả. Hai người đều rất khó hiểu. Họ không bao giờ bộc lộ tình cảm của mình. Từ lúc còn rất nhỏ, anh nhớ rằng mình chưa bao giờ được hưởng những tình cảm nồng nàn của mẹ. Chưa bao giờ anh được mẹ ôm siết vào lòng. Bà chỉ hôn anh, những cái hôn phớt nhẹ qua má, nhưng cũng thật hiếm hoi. Mẹ anh quả là một người đàn bà lạnh lùng hiếm thấy. Đôi lúc anh thèm được mẹ vỗ về yêu thương như những đứa trẻ khác. Nhưng hình như không bao giờ có. Mặc dù thế nhưng anh phải công nhận trong cuộc sống hàng ngày, mẹ lo cho anh rất chu đáo, anh không hề thiếu một thứ gì. Có chăng thiếu là thiếu tình mẫu tử nồng nàn của mẹ. Tại sao mẹ lại lạnh lùng với mình như vậy? À, mà không phải một mình mình mà hình như với ai mẹ cũng vậy. Bà luôn luôn lạnh lùng và xa cách. Có lẽ đó là tính cách của bà. Thoại Vũ kéo cái chăn mỏng lên đắp ngang ngực cho mẹ, rồi đứng lên, khép cửa phòng lại. Anh thọc tay vào túi áo, lững thững đi xuống lầu. Anh đến ngồi đối diện ông Nhật Tân. Ông Nhật Tân vẫn nét mặt trầm ngâm đăm chiêu. Hình như ông đang suy nghĩ về một điều gì đó. - Ba à. Ba uống trà không con pha cho. Ông Nhật Tân khẽ gật đầu. Thoại Vũ mở bình trà ra xem, anh bỏ thêm một ít trà lài vào bình, rồi đổ nước sôi vô. Chờ một chút cho ra trà, anh rót một tách đầy rồi đưa qua cho ông Nhật Tân: - Mời ba uống trà. - Anh nói. Ông Nhật Tân khẽ gật gù, cũng không nói tiếng nào. Thoại Vũ cũng không dám quấy rầy cha. Anh ngồi lặng im. Anh cảm thấy chưa có người đàn ông nào ít nói như cha anh, ông gần như tiết kiệm từng lời nói một, chỉ nói khi nào thật cần thiết. Anh nhớ lại, tuổi thơ anh là một chuỗi ngày sống thiếu vắng bóng cha. Những chuyến công tác dài ngày ở nước ngoài, những lần về nhà vội vã, rồi lại vội vã ra đi. Khi anh lớn lên trở thành bác sĩ, cha anh không còn thường xuyên đi công tác xa nữa, nhưng ông lại lao vào công việc ở cơ quan. Dường như ông không thích quay về nhà. Sáng sớm ông ra khỏi cửa và thật tối ông mới quay về. Cơm nước xong, có khi ông vào phòng làm việc, có khi vào luôn phòng ngủ đóng cửa lại và ở luôn trong đó. Anh chẳng biết tại sao, nhưng từ khi anh trưởng thành, anh đã thấy cha mẹ hình như không bao giờ ngủ chung phòng với nhau có lần anh đánh bạo hỏi mẹ thì chỉ thấy mẹ nói: - Bố mẹ từ hồi còn trẻ ít sống gần nhau nên hầu như ai cũng có cuộc sống độc lập của mình. Ba mẹ thích sống thế. Nghe giải thích có vẻ như không hợp lý lắm, nhưng thôi, Thoại Vũ cũng không tiện hỏi nữa. Chưa bao giờ anh thấy cha mẹ lớn tiếng cãi vã nhau, nhưng anh cũng không thấy họ thân mật như những cặp vợ chồng khác. Họ luôn chào hỏi, nói chuyện về các vấn đề liên quan đến cuộc sống gia đình một cách rất khách sáo, nhẹ nhàng nhưng không thân thiện lắm. Anh biết, từ khi hiểu thế nào là cuộc sống, thế nào là hạnh phúc ở cuộc đời này, anh cảm thấy gia đình anh chỉ được cái vẻ bề ngoài. Nhưng thực tế bên trong là cái cảnh sống với nhau không có hạnh phúc. Còn lý do tại sao, đó là một câu hỏi luôn lởn vởn trong đầu anh. Tiếng chuông đồng hồ kêu lên binh... boong... Thoại Vũ ngước lên nhìn đồng hồ, anh lẩm bẩm: - Mới đó đã ba giờ sáng rồi. Nhanh quá. Ông Nhật Tân lên tiếng: - Con đi ngủ đi. Mai còn phải đi làm. Thoại Vũ nhìn ông rồi nói: - Ba nghĩ sao, về chuyện đã xảy ra trong nhà mình hôm nay? Ông Nhật Tân trầm ngâm giây lát: - Mọi việc diễn ra thật bất ngờ ba cũng không biết nữa. Và nếu là trộm, chúng càng lén lút chứ không ầm ĩ gây ra tiếng động như vậy. - Ông Nhật Tân xác nhận. Thoại Vũ nói tiếp những nghi ngờ của mình: - Hình như có ai đó đang cố tình phá phách nhà ta... Ông Nhật Tân phán xét. - Ba nghĩ mục tiêu tấn công là mẹ con. Thời gian gần đây mẹ con đã trông thấy điều gì đó. Đại loại như bị một con quỷ nào đó ám mình. Rồi sau đó xảy ra việc này. - Ba à! Nhà ta có gây thù chuốc oán với ai không hả ba? Ông Nhật Tân lắc nhẹ đầu: - Ba cũng không rõ nữa. Nhưng chắc là không. Con thấy đó, gia đình ta rất ít giao du với ai. Mà cũng không gây thù chuốc oán gì cả. Thoại Vũ chống tay lên cằm, như tự nói chính mình: - Vậy thì tại sao? Tại sao lại xảy ra chuyện kinh khủng thế này? - Thôi, con đi ngủ đi, đừng nghĩ ngợi gì nữa. Chuyện tới đâu hay tới đấy, có nghĩ cũng không ích gì. Thoại Vũ đứng lên: - Ba cũng đi ngủ đi. Con nghỉ một chút, sáng mai con còn phải đi làm. Anh đứng lên đi được mấy bước, chợt hỏi. - À, ba ơi! Chúng ta có cần báo cho cảnh sát không hả ba? - Thôi con ạ! Không cần đâu. Ba không thích ầm ĩ, vả lại nhà ta cũng chưa mất gì cả. Thoại Vũ nghe theo ý kiến của cha. Anh vào phòng ngủ ngả lưng xuống giường, đôi mắt ríu lại. Giấc ngủ ập đến đầy mộng mị, Thoại Vũ thiếp đi, anh mơ thấy mình đang bơi dưới biển, nhưng không phải với màu nước biển xanh ngọc ngà mà là một màu đỏ ối, như máu. Máu thấm vào người anh đỏ chót, máu đặc quện kéo tay chân anh lại, càng cố bơi, anh càng thấy mình dường như càng bị dính chặt, bị chìm xuống, chìm xuống… *** Một buổi sáng của thành phố biển, bắt đầu bằng những ngọn gió lành, ùa vào từ lòng đại dương sâu thẳm. Như mọi ngày chiếc xe rác của công ty vệ sinh dừng lại ở bên đường. Hai người mặc đồ màu vàng, đeo găng tay màu xanh bước xuống. Họ bưng các thùng rác đổ lên xe. Họ làm việc sớm vì muốn đến khi thức, người người sẽ được đi trên những con đường sạch sẽ. Đến nhà số 23 anh ta bỗng thấy bao rác nặng một cách khác thường: - Trời! Bỏ cái gì trong này nặng dữ vậy? Anh đứng phía trên xe nói xuống: - Thây kệ, nhưng chắc chắn không phải là vật quý giá gì đâu! Anh công nhân khệ nệ bưng thùng rác lên nói: - Mày để lên xem thử là cái gì? Nhiều khi là máy móc gì đó và còn có thể xài được và bán được thì sao? Vừa nói anh ta vừa dùng hết sức mình đỡ thùng rác đưa lên cao. Anh chàng ở trên kéo thật mạnh thùng rác ụp lên xe. Một cái bao tải nặng rơi xuống, nhìn kỹ thì cái bao nhuộm máu đỏ lòm. Anh ta thét lên: - Xác chết kìa! - Đâu, đâu! Người kia nhanh chóng trèo lên xe nhìn vào, anh ta bạo dạn nắm lấy miệng bao bố kéo kéo thử. Thấy nằng nặng, anh ta gật gù. - Có lẽ xác chết thật. Dạo này tao đọc báo nghe nói mấy vụ giết người phanh thây, chặt ra từng khúc nhiều lắm. Bây giờ tính sao đây, ghê quá! Anh chàng mập kia đứng xa ra một chút nói: - Mày đừng có đụng tay vô coi chừng dấu tay mày in trên đó thì nguy. - Tao đeo bao tay mà. - Ừ! Nhưng thôi cũng đừng đụng vô, rắc rối lắm. Điện thoại báo cho cảnh sát đi. - Khoan, đừng báo cảnh sát mà nên báo cho các tòa soạn báo. Sẽ có thưởng đó. - Ừ! Có lý ha. Mày đi gọi điện đi. Nhưng tao đâu có nhớ điện thoại của báo nào đâu mà gọi. - Cứ quay hỏi số điện thoại của mấy tờ báo lớn chắc là có. - Vậy vụ này tao với mày chia đôi nghe. - Dĩ nhiên rồi. Anh chàng có gương mặt xương xương, chạy qua điểm điện thoại bên kia đường. Một lúc anh ta quay lại, người kia hỏi: - Mày điện thoại cho báo nào. - "Tia Chớp", ở đây còn có mấy số điện thoại nữa nhưng chưa gặp họ được. - Sao mày không gọi nhiều báo tới luôn. - Tin phải độc quyền thì mới có thưởng chứ! Hai người kéo nhau đứng ra xa cái xe rác một chút, họ ngồi xuống vệ đường rút bao thuốc lá ra hút. Họ bàn ra tán vào một hồi, nào là xác chết tên kia là đàn ông hay đàn bà, bị phân ra làm mấy mảnh... sát thủ là ai...? Mãi một lúc lâu không thấy nhà báo nào đến. Anh chàng mập nóng ruột: - Sao lâu vậy - Thôi để tao đi gọi báo khác. Làm nhanh đi, còn lo công việc của mình nữa. Vừa lúc đó xuất hiện chiếc xe Dream trờ tới, trên xe một nam một nữ, máy chụp hình, ống kính đeo khắp người. Người thanh niên bước xuống xe tự giới thiệu: - Tôi là nhà báo Vạn Thành, còn đây là nhà báo Thiên Hương. Chúng tôi ở báo Tia Chớp, có phải các anh vừa gọi đến? Anh chàng mập nhanh nhảu đứng lên nói: - Dạ phải, đúng là tụi em gọi. Vậy tụi em được thưởng bao nhiêu vậy anh? Nhà báo Vạn Thành mỉm cười ý nhị: - Dạ! Trước hết chúng tôi phải xác minh tin tức được báo rồi sau đó mới đến mức thưởng cho các anh được. Nhà báo Thiên Hương lên tiếng: - Nghe các anh báo có xác chết bị phanh thây ra, có đúng không? Đâu rồi? Anh mặt xương chỉ tay lên thùng xe: - Nó nằm trên đó. Vạn Thành trao giỏ xách cho Thiên Hương, anh cầm máy chụp hình, leo lên thành xe. Nhìn thấy chiếc bao tải đẫm máu, Vạn Thành đưa máy chụp hình lên bấm liền mấy bô ảnh. Xong anh nhảy xuống xe chạy ra xa để hít thở. Từ lúc nãy đến giờ anh phải nín thở để chụp hình. Cái mùi xú uế của rác cộng với mùi máu tanh tưởi, chỉ làm cho anh muốn nôn ra. Thiên Hương đến bên hỏi: - Sao rồi anh Thành? Vạn Thành rút khăn tay ra che mũi, anh nói: - Không thể kiểm nghiệm xác chết trên đó được, hôi lắm. Anh chỉ mới chụp bên ngoài. Thiên Hương quay lại chỗ hai anh công nhân vệ sinh: - Các anh có thể giúp chúng tôi đưa cái bao tải đó xuống đây không? Hai người cùng nhìn nhau một lúc. Người này đẩy vai người kia: - Mày lên kéo nó xuống đi. - Mày đi. Thiên Hương cười hỏi: - Thế các anh có muốn nhận tiền thưởng không? - Có chứ. Cả hai cùng không hẹn mà đều nói lên một lúc. Nhà báo Thiên Hương bật cười, cô nói: - Muốn lấy tiền thì mau giúp tôi đi. Anh mặt xương lấy hết can đảm, hít sâu vào một hơi rồi nói: - Để tao hy sinh làm cho. Anh ta leo lên thùng xe, trước khi cầm chiếc bao tải vứt xuống đường, anh ta chấp tay lâm râm khấn vái. - Xin linh hồn của người chết hãy tha cho con. Con không muốn làm như vậy đâu. Nhưng con muốn cho báo điều tra rồi trả xác người về với thân nhân. Họ sẽ giúp người tìm lại công bằng. - Thôi nhanh đi, mày khấn gì mà lâu dữ vậy? - Lỡ người chết giận tao về bắt tao chết theo sao mày? Nói xong anh ta dùng hết sức lực nắm cái miệng bao kéo mạnh lên, rồi vứt xuống đất. Máu từ trong bao chảy ra loang đỏ cả một vùng. Bất giác cả hai nhà báo cùng lùi lại một bước. Vạn Thành là một nhà báo chuyên điều tra về các vụ giết người, cướp của. Anh đã đối mặt với rất nhiều xác chết. Nhưng lần này anh cũng thấy mình hơi mất bình tĩnh trước cái màu máu đỏ lòm này. - Sẵn tay anh cắt dây cột rồi đổ cái bao tải ra luôn đi - Vạn Thành nói: - Thôi, tôi không làm đâu, ghê lắm. - Làm đi, tôi sẽ thưởng thêm cho anh. - Thôi được, tôi cũng sẽ ráng thêm một chút nữa. Anh ta lấy con dao nhỏ trên xe xuống cắt sợi dây cột miệng bao. Trán anh ta lấm tấm mồ hôi. Mọi người đều nín thở căng mắt nhìn vào chiếc bao bố. Xong động tác cắt dây, anh ta nắm ngược cái bao xốc mạnh lên một cái. Xác con chó trôi ra. Mọi người hơi chưng hửng một lúc, họ cứ đinh ninh rằng trong cái bao tải kia là một cái xác người. Ai ngờ... chỉ là xác một con chó mực... Anh chàng mập phá ra cười: - Trời ơi. Té ra hồi nãy tới giờ mày lạy... một con chó. Anh chàng mặt xương sẵn tay đấm cho bạn một cái: - Mày còn đứng đó mà chọc tao hả. Làm thì không làm, chỉ giỏi... Thiên Hương lên tiếng: - Các anh báo với chúng tôi có xác người chết, nhưng chỉ là xác con chó... bây giờ tính sao? Mặt anh mập xụi lơ: - Vậy thì mất thưởng chứ còn biết sao. Nhà báo Vạn Thành từ lúc nãy đến giờ vẫn quan sát cái xác con chó, không nói một tiếng nào. Với kinh nghiệm làm báo lâu năm của mình, anh biết cái chết của con chó này không bình thường chút nào. Đằng sau cái chết thương tâm của nó sẽ kéo theo một chuỗi những bí ẩn... Hai anh công nhân nhìn cái xác con chó, bàn tán: - Sao xác nó lại bị xé ra làm hai vậy nhỉ? Nó chết thật thảm quá! - Ai mà có sức mạnh xé nó ra được. Chắc là nó bị người ta chém bằng đao. Vạn Thành lắc đầu, thêm ý kiến: - Nếu có bị chém, con chó sẽ bị chặt ngang người, không ai có thể chém dọc thân nó được. Nói như anh này đúng, nó bị xé toạc ra, nhìn xem các thớ thịt tua tủa kìa. Nhà báo Thiên Hương dường như cũng bắt kịp ý nghĩ của đồng nghiệp. Cô đưa máy ảnh lên, bấm liên tục, ánh sáng lóe lên như tia chớp. Nhà báo Vạn Thành lấy trong túi ra một trăm ngàn đồng đưa cho hai anh công nhân và nói: - Mặc dù tin tức của các anh không đúng, nhưng tôi vẫn thưởng cho hai anh. Cầm lấy uống cà phê và giúp tôi dọn dẹp chỗ này luôn. Anh chàng mập mặt sướng rơn lên: - Dạ...dạ... - Anh ta đưa tay ra nhận tiền ngay. - Để đó tụi em thu dọn "chiến trường" cho. Nhà báo Vạn Thành quay sang đồng nghiệp: - Thế nào? Linh cảm nghề nghiệp có mách bảo điều gì không? Nhà báo Thiên Hương lấy tay che mũi lại, nhìn cái xác con chó và nói: - Đúng là cái chết của con chó này kỳ lạ thật. Em nghĩ nếu chúng ta điều tra chắc chắn đằng sau cái chết của nó sẽ là một câu chuyện ly kỳ hấp dẫn. - Đồng ý với suy nghĩ của em. - Vạn Thành nói: - Chúng ta sẽ bắt đầu từ đâu nhỉ? - Anh vừa nói vừa trả lời luôn. - Trước tiên phải biết chủ nhân của nó là ai. Thiên Hương chỉ vào cái thùng rác trước cửa số nhà 23 và nói: - Thùng rác nằm trước nhà này, nhưng cũng không có nghĩa là khẳng định cái xác của con chó từ trong nhà này quẳng ra. Có thể là các nhà xung quanh nữa chứ. Và cũng có thể từ nơi khác người ta đem tới đây quẳng cũng có. Thiên Hương nhìn tới nhìn lui rồi nói: - Mới sáng sớm tinh mơ, chưa có ai ra khỏi nhà. Vậy thì chúng ta phải mai phục ở đây thôi. Chiếc xe rác đã chạy đi mất, chỉ còn lại hai người. Thiên Hương hướng mắt nhìn ra biển, nói giọng háo hức: - Nếu không có công vụ, giờ này xuống biển dạo một lúc thì thích nhỉ? - Em thích thì đi đi, anh có thể làm việc một mình. - Không dám đâu. Ai lại làm thế. Vừa lúc đó, từ căn nhà số 25 có người mở cửa bước ra. Cả Thiên Hương và Vạn Thành không ai bảo ai, cùng bước lại phía căn nhà kia. - Chị ơi, làm ơn cho tôi hỏi. - Thiên Hương lên tiếng: Cô Loan người giúp việc nhà cho nhà Lâm Giang chuẩn bị mua đồ điểm tâm sáng. Thấy có người hỏi nên đáp: - Chi vậy anh chị? - Chị cho em hỏi thăm. Thiên Hương tiến lại gần hơn. - Nhà chị có nuôi con chó mực nào không? - Có nhà tui có nuôi một con chó nhưng là chó nhật trắng phau à, không phải là chó đen. - Chẳng biết xung quanh đây có ai nuôi chó mực hay không nhỉ? - Làm sao tui biết được. Xóm này chó nuôi cũng nhiều lắm! Vạn Thành lên tiếng: - Chị cố nhớ giúp chúng tôi. Cô Loan nhíu mày suy nghĩ rồi à lên một tiếng: - À, tôi nhớ ra rồi, nhà bác sĩ Vũ có một con chó mực, nó khôn lắm. Nhà báo Thiên Hương vui mừng: - Chắc không chị? - Chắc chứ, lúc trước tôi giúp việc cho nhà đó mà. Con chó theo tui dữ lắm. Vạn Thành đưa tay sửa lại cái máy chụp hình đeo trước ngực rồi hỏi: - Vậy chị làm ơn cho chúng tôi hỏi, nhà bác sĩ Vũ ở đâu hả chị? Cô Loan đưa tay chỉ ngay: - Đây, nhà này. Số nhà 23 đó. - Cám ơn, cám ơn chị thật nhiều, mới sáng đã làm phiền chị quá. - Ồ! Không có gì đâu. Cô Loan mỉm cười, rồi hỏi nhỏ giọng. - Hai người kiếm con chó mực để làm gì vậy? Nhà báo Vạn Thành nửa đùa, nửa thật: - Định chụp hình đăng báo nó. Nghe nói nó rất thông minh, thôi chào chị nhé. Nhà báo nhanh ý cắt đứt câu chuyện với người đối diện. Rồi họ đi thẳng tới cánh cửa nhà số 23, Thiên Hương nhìn đồng hồ rồi đắn đo: - Có sớm quá làm phiền người ta không? Vạn Thành nhìn đồng hồ, đã sáu giờ rưỡi sáng rồi. Anh lắc đầu: - Không sớm lắm đâu, hơn nữa đã điều tra án thì phải làm nhanh chóng, có thể mình sẽ khám phá ra những tình tiết hấp dẫn khác. Nghe đồng nghiệp nói vậy, Thiên Hương liền đưa tay gõ cửa: Một lúc lâu có người phụ nữ đứng tuổi ra mở cửa. - Anh chị cần gặp ai ạ? - Chị ta nhìn hai nhà báo và hỏi: Vạn Thành đưa thẻ nhà báo ra: - Dạ, chúng tôi làm ở tờ báo Tia Chớp. Chúng tôi muốn gặp chủ nhà. - Xin anh chị vui lòng chờ một chút. Vừa nói xong chị đóng ngay cửa lại. Một lúc sau chị đi ra cùng một người đàn ông: - Xin lỗi... Tôi có thể giúp gì cho hai vị ? - Ông ta nói. Vạn Thành nhìn người đàn ông ngoài sáu mươi tóc bạc trắng như cước, đoán ra là chủ nhà, anh nói: - Dạ, chào bác. Chúng cháu có thể vào hỏi thăm bác về việc con chó mực được không ạ? Nhắc đến con chó, Vạn Thành thấy ông lão mặt hơi khác đi: - Con chó mực nào chứ? - Ông nhíu mày: - Dạ. Con chó mực nhà bác. Vạn Thành khẳng định ngay: - À... ừ... - Ông lão hơi lúng túng một chút: - Con chó mực... con chó mực... thì làm sao? Thiên Hương tế nhị: - Thưa bác, chúng ta có thể vào nhà nói chuyện được không. Đứng ngoài này không tiện lắm. Ông Nhật Tân gật đầu: - Ừ! Được chứ. Mời vào nhà. Khi cả ba vào bên trong nhà, Thoại Vũ xuất hiện. Anh vừa tắm xong thay đồ chuẩn bị đi làm. Thấy cha đi vào cùng hai người lạ mặt, trên người lại đeo máy chụp hình, túi xách... Thoại Vũ hơi ngạc nhiên. Ông Nhật Tân vội nói với con: - Đây là hai nhà báo ở tờ Tia Chớp, họ muốn hỏi chúng ta về chuyện con mực. - Con mực...? - Thoại Vũ kêu lên: - Làm sao mà các anh lại quan tâm đến con mực nhà tôi? Nhà báo Vạn Thành bước đến rút thẻ nhà báo ra và tự giới thiệu: - Tôi là nhà báo Vạn Thành, còn đây là đồng nghiệp của tôi Thiên Hương. Xin lỗi vì đã làm phiền nhà ta quá sớm. Ông Nhật Tân mời mọi người ngồi xuống ghế. Vạn Thành mở lời: - Cái chết của con chó mực nhà ta rất kỳ lạ. Tôi muốn tìm hiểu tại sao nó lại chết thảm như vậy? Thoại Vũ tròn mắt lên, tỏ vẻ ngạc nhiên: - Làm sao nhà báo biết tin nhanh như vậy hả? - Có hai anh công nhân gọi điện tới tòa soạn báo lúc sáng... - Thì ra là vậy. - Thoại Vũ thở nhẹ ra. Nhà báo Vạn Thành theo thói quen nghề nghiệp, rút cây bút và quyển sổ tay ra, bắt đầu bằng hàng loạt câu hỏi. - Xin lỗi. Nếu như chúng tôi phát hiện con chó chết bình thường thì có lẽ đã không nhọc công đi tìm hiểu nguyên nhân cái chết của nó. Đằng này... - anh bỏ lửng câu nói và hỏi: - Nhà ta có biết gì về cái chết của con chó không ạ? Ông Nhật Tân trả lời thay con trai: - Chúng tôi đương nhiên là đã biết con chó chết rồi, nhưng nguyên nhân tại sao nó chết thảm như vậy thì chúng tôi cũng không biết. Bác sĩ Thoại Vũ gật đầu, như xác nhận lời nói của cha. Vạn Thành hỏi tiếp: - Nhà ta phát hiện cái chết của con chó lúc nào ạ? - Khoảng nửa đêm, một hay hai giờ gì đó. - Ai là người phát hiện đầu tiên? Vừa lúc đó thì từ trên lầu một tiếng thét khủng khiếp vang lên. Cả Thoại Vũ và ông Nhật Tân cùng bật dậy chạy lao lên lầu. Vạn Thành và Thiên Hương đứng bật dậy, nhưng họ không dám lao theo, vì đây là nhà riêng, họ biết mình không có quyền xâm phạm khi chưa được sự đồng ý của chủ nhà. Tiếng thét hãi hùng càng làm cho nhà báo đặt thêm nhiều nghi vấn. Ngôi nhà bí ẩn này chứa đựng chuyện gì mà họ chưa biết. Nếu khám phá ra, họ sẽ cho đăng tải thành một phóng sự nhiều kỳ, thật hấp dẫn... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 42
Phần 3 - Sao? Hôm nay đã khỏe hẳn chưa mà đòi đi học? - Thy Thy chào bạn bằng một câu hỏi. Lâm Giang mỉm cười: - Khỏe rồi, có thể cùng một lúc ăn hết hai tô bún riêu và hai ly kem được. Thy Thy tròn mắt lên: - Qua... vậy thì khỏe như... voi rồi. Vậy mà mình cứ lo ngay ngáy. - Bạn lo gì? - Lâm Giang vừa khoác tay bạn kéo đi vừa hỏi. - Mình lo là sau khi bị tai nạn đập đầu xuống đất có thể bạn sẽ tưng tửng như người... - Thy Thy bật cười khúc khích bỏ lửng câu nói. Lâm Giang véo nhẹ vào hông bạn: - Chưa thấy ai ác độc như Thy Thy. - Ui da... Thy Thy ẹo người qua một bên mặt nhăn nhó. - Đau quá à. Nói đùa một chút thôi. Làm gì dữ vậy. Lâm Giang đưa chiếc cặp trong tay vừa cười vừa nói: - Nhưng mà sau tai nạn này mình cũng hơi có vấn đề. Đang bước song song với Lâm Giang, Thy Thy chợt đứng lại hỏi giọng lo âu: - Vấn đề gì vậy? Nói Thy Thy nghe với. Lâm Giang nói nhỏ giọng quan trọng: - Vì bị đập đầu xuống đất nên bây giờ mình không nhớ trước đây mình đã mượn ai cái gì, hay mắc nợ ai cái gì cũng không nhớ. Bây giờ Thy Thy mới biết mình bị hớ. Cô nắm đuôi tóc bạn giật khẽ: - Sao ha, dám đùa dai với người ta. Làm người ta tưởng thật lo muốn chết luôn à. Lâm Giang phá ra cười giòn tan. Thy Thy giật giật tay bạn hỏi nhỏ: - Này! Hết bệnh rồi, vậy vị bác sĩ đẹp trai kia có đến khám bệnh cho bạn nữa không? Lâm Giang mặt đỏ hồng lên. - Ê, tự nhiên sao lại hỏi câu này. - Hôm bữa mình đến thăm bạn, mình đã nhìn thấy ánh mắt của bác sĩ Vũ nhìn bạn lạ lắm. - Lạ là lạ làm sao? - Lâm Giang vờ ngây ngô hỏi lại. Thy Thy tát khẽ vào má bạn: - Điều này bạn phải cảm nhận rõ hơn mình chứ. Thôi đừng có giả bộ nữa, thú thật đi. Chỗ bạn bè thân ai lại giấu nhau. Lâm Giang kéo Thy Thy ngồi xuống ghế đá. - Ừ! Mình cũng cảm thấy mến anh ấy. So với bọn con trai lớp mình thì anh ấy chững chạc nghiêm túc hẳn đi. - Vũ còn rất chi là đàn ông nữa. - Thy Thy thêm vào - Gặp có một lần nhưng mình nhớ mãi gương mặt anh ấy. Bác sĩ Vũ có một gương mặt thật đẹp, th ật ấn tượng. Lâm Giang mơ mộng nhìn ra xa và nói: - Và anh ấy thật là dịu dàng, đối với mình cứ như một người anh cả với em út vậy. Ở bên cạnh anh ấy mình cảm thấy tâm trạng thật là dễ chịu. - Như vậy là bạn đã yêu rồi. Lâm Giang lại đỏ mặt: - Không đâu, mình không nghĩ là nhanh như vậy. Có lẽ chỉ là những cảm nhận thoáng qua ban đầu. Mình không dám nghĩ xa, ngộ nhỡ người ta đã có người yêu rồi thì sao? Có phải tự chuốc khổ vào thân không? Thy Thy phát biểu khá mạnh mẽ. - Có người yêu thì sao chứ? Có phải vợ đâu mà sợ. Bạn vẫn có năm mươi phần trăm cơ hội. - Mình không thích như thế. Tình cảm mà phải đi tranh giành thì còn gì là thơ mộng ý nghĩa nữa. - Bạn đừng lãng mạn quá. Mình thì thực tế hơn. Mình đã thích cái gì đó, thì quyết tâm giành cho bằng được. - Hai người đẹp đang bàn tán chuyện gì mà hào hứng dữ vậy, cho bọn này tham gia với. Thiên Long và Khánh Hùng xuất hiện cắt ngang câu chuyện của hai người. Thy Thy nhanh nhảu đáp: - Chuyện riêng của phái nữ các bạn không thể tham gia được. - Thế à! - Rồi Thiên Long nhìn Lâm Giang hỏi. - Giang đã khỏe chưa. Sao đi học sớm vậy. Nghỉ dưỡng sức vài ngày nữa có hơn không? - Cám ơn Thiên Long, Giang thấy mình khỏe rồi. Bỏ bài quá lâu sợ không hiểu. Khánh Hùng khẽ hất vai Thiên Long nói: - Giang à! Bạn nằm nhà có mấy hôm mà có nhiều người muốn bỏ học luôn. Thy Thy chớp chớp mắt nhìn quanh vờ hỏi: - Ai vậy? Ai vậy? Ai mà si con nhỏ Giang dữ vậy ta? Khánh Hùng nhìn bộ điệu của Thy Thy thì bật cười: - Thôi đi cụ... cụ đừng có giả nai. Thừa biết là ai rồi mà. Thiên Long ngần ngại một lúc rồi nói: - Trưa nay để Long đưa Giang về nhà. Nhìn Giang vẫn chưa khỏe hẳn đâu. Lâm Giang lắc đầu lia lịa: - Ôi! Không được đâu. Trưa nay mẹ đón Giang về rồi. - Thế à! Thế thì tiếc thật. - Thiên Long nhún vai ra vẻ tiếc rẻ. Khánh Hùng hỏi: - Không biết tối mai sinh nhật Thiên Long, Lâm Giang có đi được không? - Giang cũng không biết nữa. - Tại sao vậy? - Chỉ sợ mẹ không cho đi. - Sao mẹ Giang khó thế. - Không phải khó, mẹ chỉ lo cho sức khỏe của Giang thôi mà. - Hay để mình đến xin phép bác gái, mình sẽ đem xe hơi đến tận nhà đón Giang đi. - Thiên Long xen vào. - Thôi, không cần đâu. - Giang nói: - Nếu mình xin mẹ đi được, mình sẽ nhờ Thy Thy chở đi, không phiền đến Thiên Long đâu. - Có gì là phiền. Là hân hạnh đó chứ. Thy Thy cười ý nhị: - Này! Vậy mới biết muốn làm tài xế cho nhỏ Giang cũng không phải là dễ đâu nha. Hiện thời Thy là tài xế ruột. Ai muốn Thy chuyển nhượng phải có điều kiện đó. Thiên Long nheo nheo mắt: - Điều kiện gì, xin cứ nói ra. - Chỉ cần biết điều một chút thôi. - Thy Thy ngúc ngoắc hai bím tóc của mình trả lời. Vừa lúc đó tiếng chuông reo lên. Mọi người bước vào lớp. Bỏ dở câu chuyện đang nói. Qua ngày hôm sau, thuyết phục mãi mẹ mới đồng ý cho Thy Thy chở Lâm Giang đi. Nhưng trong bữa tiệc, nhạc ầm ĩ đã làm cho đầu Lâm Giang nhức ong lên. Có thể vết thương trên đầu Giang chưa lành hẳn. Lâm Giang xin phép ra về sớm hơn mọi người. Thy Thy và một vài người nữa trong đó có Thiên Long đã nằng nặc đòi đưa Giang về. Nhưng thấy các bạn đang vui Giang không nỡ làm phiền mọi người. Cô dứt khoát đón taxi về nhà một mình. Xe đậu trước nhà, thay vì đi vào trong, Lâm Giang bỗng nảy ra ý định, đi xuống biển dạo một vòng, cho đầu óc thư thái lại rồi hẵng ngủ. Nghĩ vậy Lâm Giang liền từ từ băng qua đường đi xuống biển. Lúc đó Thoại Vũ đứng ở trên tầng hai lầu nhà mình, anh thấy có chiếc taxi đậu lại trước cổng nhà hàng xóm. Một bóng người bước ra khỏi xe. Nhìn thoáng qua dưới ánh đèn đường. Thoại Vũ đã nhận ra Lâm Giang, bỗng dưng anh nghe tim mình đập rộn ràng trong lồng ngực. Một cảm giác thật là kỳ diệu. Tưởng cô hàng xóm sẽ đi vào nhà, thật bất ngờ, cô ấy đi thẳng hướng ra biển. Không có tính toán và cũng không kịp suy nghĩ, Thoại Vũ bước đến tủ lấy chiếc áo khoác mặc vào người và chạy như bay xuống dưới. Anh băng qua đường lao xuống bãi cát như một người say. Khi bắt kịp Lâm Giang anh mới hốt hoảng dừng lại, đi chầm chậm sau lưng cô bé. Thoại Vũ bây giờ mới nhìn lại hành động của mình. Ồ! Sao ta lại có thể như thế này. Nông nổi, vội vã và khờ khạo như chàng trai mười sáu. Sao lại phải len lén đi theo sau lưng một người con gái như thế chứ? Từ trước đến giờ ta luôn mang tiếng là sống nghiêm túc có hơi lạnh lùng một chút. Vậy thì điều gì đã khiến ta lại trở nên vụng về như một cậu học trò như thế này...? Một câu hỏi thật đơn giản nhưng cũng thật khó... giải đáp được. Phía trước dáng Lâm Giang thướt tha trong chiếc áo đầm màu trắng tinh khôi. Mái tóc dài tung bay trong gió. Cô xách đôi giày trên tay, chân lội sát mép sóng, vừa đi, vừa ngửa mặt ra sau hít thở không khí trong lành. Bãi cát mịn màng êm như nhung trong từng bước chân. Mỗi lần sóng vỗ nhẹ vào rồi vội vã rút ra để lại một lớp bọt trắng li ti như bong bóng xà phòng, chỉ trong chốc lát thôi lại nhòa đi trong cát. Gió từ biển thổi vào mát rượi. Lâm Giang nghe được cả cái mùi thơm nồng của muối thoáng qua. Cô dừng lại và xoay mặt ra biển, thả hồn bay theo những lớp sóng ngọt ngào. Gió từ biển khơi thổi mạnh vào làm dáng Lâm Giang như chao đảo hẳn đi. Cô so hai vai, tự quàng tay ôm lấy mình. Lạnh, cô cảm thấy người hơi run rẩy. Bất giác một chiếc áo khoác từ đâu không biết, choàng vào người Lâm Giang. Cô giật mình quay phắt lại. Dưới ánh trăng huyền ảo, cô nhận ra ngay người đối diện. Lâm Giang kêu lên mắt tròn xoe: - Bác sĩ Vũ! Là anh đó à. Thoại Vũ mỉm cười: - Xin lỗi, đã làm Lâm Giang giật mình. Lâm Giang dí dí ngón chân xuống cát khẽ mỉm cười: - Em sợ đến hết hồn, cứ tưởng mình gặp ma. - Em cũng còn tin chuyện ma quỷ sao? - Dạ tin chứ. - Lấy gì làm cơ sở, đã có lần nào em nhìn thấy tận mắt chưa. Lâm Giang chợt nhớ tới bóng đen vút qua trước mặt mình cách đây không lâu. Nhưng cũng không khẳng định đó là ma được. Ngộ nhỡ là người giả ma thì sao? Lâm Giang lắc nhẹ đầu: - Dạ chưa thấy. - Sao một mình mà dám đi dạo thế này. Không gặp ma, mà gặp người xấu thì còn nguy hơn. - Em nghĩ chỉ đi dạo một chút rồi về ngay. Em cũng đâu dám đi xa. - Lần sau nếu muốn đi dạo, nhớ điện thoại qua nhà rủ anh đi cho vui. Anh sẽ làm vệ sĩ bảo vệ cho Giang. Lâm Giang ngượng ngùng: - Dạ em không dám. - Sao lại không? Hay là Lâm Giang chê anh, không đủ tiêu chuẩn. Lâm Giang vội xua tay: - Dạ không... em nào dám có ý như vậy. Thấy thái độ lúng túng của Lâm Giang, Thoại Vũ bật cười: - Anh nói đùa thôi, không có ý gì đâu. Lâm Giang nhìn Thoại Vũ một lúc. Cô như khám phá ra điều gì đó mới mẻ nơi anh. Ẩn sau cái nét lạnh lùng nghiêm trang kia, anh ta cũng có óc khôi hài đó chứ. - Thế nào? - Thoại Vũ lên tiếng: - Có phát hiện gì mới ở anh? Lâm Giang thật ngạc nhiên khi thấy Thoại Vũ đoán được ý nghĩ của mình. Cô bối rối thú nhận: - Lúc đầu gặp anh em hơi sợ. Vì thấy anh có vẻ nghiêm nhưng bây giờ thì... Thoại Vũ thêm vào: - Bây giờ anh cũng đâu đến nỗi nào tệ phải không? - Dạ... dạ... Lâm Giang không biết nên trả lời thế nào. Tại sao cô lại lúng túng như thế, trong từng câu nói, cử chỉ cô thấy mình mất tự tin hẳn khi đứng trước mặt anh ấy. Thoại Vũ chủ động lên tiếng: - Nào! Bây giờ thì em có thể đi dạo thoải mái mà không sợ có ai bắt cóc cả. Anh làm vệ sĩ cho em nhé. Lâm Giang mỉm cười không nói gì, cô cùng Thoại Vũ bước đi song song bên nhau. Họ im lặng một lúc khá lâu như để thử đoán xem tâm trạng của đối phương đang nghĩ gì lúc bấy giờ. Thoại Vũ ước gì đêm nay dài ra, thời gian đọng lại để họ mãi bên nhau như thế này. Còn Lâm Giang thì sao? Cô ước gì ngày mai, ngày mốt và mãi mãi sau này cô sẽ được cùng với vị bác sĩ kia sẽ có những cuộc dạo chơi trên bờ biển đầy thú vị như đêm nay. - Em có lạnh lắm không? - Thoại Vũ hỏi. Lâm Giang kéo cái áo khoác của Thoại Vũ lại. Cô nghe hơi ấm tỏa ra từ chiếc áo của anh thấm vào da thịt mình. - Dạ không ạ. Chiếc áo của anh đã làm cho em ấm lên. - Sao em còn đang ốm mà đi dạo trên biển ban đêm? - Em vừa đi dự một buổi tiệc sinh nhật của một người bạn cùng lớp. Nhạc ầm ĩ quá, em thấy đầu mình như muốn nổ tung ra. Em ra về sớm hơn một chút, định xuống biển cho đầu óc thư thái rồi mới về nhà ngủ. Thoại Vũ dừng lại, anh đưa tay nắm lấy đôi giày của Lâm Giang. - Đưa đây anh xách cho. - Dạ thôi ạ. - Đưa cho anh nào. - Thoại Vũ nói như ra lệnh làm Lâm Giang vội vã trao cho anh. Chợt cả hai cùng nghe tiếng hét của ai đó từ xa vọng lại. - Cứu... cứu chúng tôi với... Thoại Vũ cau mày, tưởng mình nghe nhầm, anh hỏi Lâm Giang: - Em có nghe gì không? Lâm Giang khẽ nghiêng đầu trong gió, quả thật xen trong tiếng rì rầm của sóng biển là tiếng thét của ai đó: Cứu... cứu chúng tôi với... - Có... em có nghe. - Lâm Giang quay lại đằng sau. - Hình như hướng này có ai đó đang kêu cứu. Từ xa họ đã trông thấy hai người chạy lại, một nam, một nữ. Họ có vẻ như là một cặp tình nhân. Người con trai nắm tay người con gái kéo đi. Họ vừa chạy vừa la. Thoại Vũ và Lâm Giang vội đi về phía họ. Vừa trông thấy hai người, đôi trai gái mừng rỡ la: - Có người kìa. Có người kìa... - Họ nói rồi lao tới bên Thoại Vũ và Lâm Giang. - Có chuyện gì vậy các bạn. - Thoại Vũ hỏi. - Các bạn gặp cướp à? Cô gái như lả đi trong vòng tay của người yêu, cả hai cùng thở hổn hển. Chờ cho họ bình tĩnh lại một chút, Thoại Vũ hỏi anh thanh niên: - Thế nào, bình tĩnh lại chưa? - Ôi! Em sợ quá. - Anh thanh niên nói, mặt túa mồ hôi ướt đẫm. - Thật là khủng khiếp. Còn tệ hơn cướp nữa. - Vậy các bạn gặp ai? - Một con quỷ. - Anh thanh niên hạ giọng. Lâm Giang hoảng sợ, cô lảo đảo run rẩy ngã ập vào người Thoại Vũ và níu chặt lấy anh. Thoại Vũ hơi bất ngờ, anh không biết phải cư xử như thế nào cho phải. Nếu đẩy cô bé ra thì tồi tệ quá. Cô ấy đang sợ và tìm nơi nương tựa. Mình là đàn ông, sao lại làm như vậy. Còn ôm chặt lấy cô ấy ư? Liệu Lâm Giang có nghĩ mình là người lợi dụng cơ hội không nhỉ. Anh thận trọng vỗ nhẹ vai Lâm Giang: - Đừng sợ, đã có anh đây. Rồi anh hỏi lại đôi thanh niên: - Các bạn có chắc là mình đã nhìn thấy gì không? Hay... các bạn nhìn nhầm, chỉ là một người nào đó? - Không, không thể... - Cả hai cùng thốt lên một lần, cô gái vẫn ôm chặt người yêu. Anh thanh niên kể: - Lúc đầu tụi em cũng nghĩ là một người nào đó, nên vẫn cứ thong thả nắm tay nhau đi dạo. Nhưng thật bất ngờ, khi tới gần cái khối đen đó... chúng em thấy rõ đó là một con người, à không, một con quỷ mình đầy lông lá màu đen. Lúc chúng em tới gần, nó quay phắt lại nhìn, đôi mắt nó đỏ như lửa, to lộ ra ngoài. Thật là khủng khiếp. Cô gái níu tay người yêu: - Về thôi, em sợ quá. Chàng thanh niên gật đầu chào hai người rồi dìu cô gái đi. Thoại Vũ nghe rõ nhịp tim đập thình thịch trong lồng ngực Lâm Giang. Anh ôm nhẹ cô trong tay và nói: - Đừng sợ. Có thể họ nhìn nhầm thôi. - Không. Em cũng đã từng thấy... Lâm Giang thì thào. Thoại Vũ đẩy nhẹ Lâm Giang ra, đối mặt nhìn cô: - Em nói sao? Em đã nhìn thấy gì? - Em cũng đã từng nhìn thấy một bóng đen to lớn, lao vút từ lùm cây này sang cây khác. Lúc đó trời tối lắm, em không thể nhìn thấy lông lá gì trên người nó. Chỉ thấy một khối đen to lớn chuyển động. - Em thấy ở đâu? - Thoại Vũ hơi căng thẳng một chút. Lâm Giang ngập ngừng: - Từ... từ bên nhà anh. Trên cây vú sữa, nó nhảy sang nhà em rồi phóng ra bên ngoài biến mất trong màn đêm. Thoại Vũ khẽ rùng mình. Anh nhớ đến những câu chuyện mẹ kể về con quỷ đen, mà anh cho là gặp ác mộng hay chỉ là sản phẩm tưởng tượng. Rồi đến cái chết tàn nhẫn của con chó mực. Nay đến lời kể của đôi trai gái lúc nãy và lời nói của Lâm Giang bây giờ... Anh tổng hợp nhanh những tình tiết xoay quanh câu chuyện con quỷ đen. Bất giác anh rùng mình ớn lạnh. Chẳng lẽ chuyện con quỷ là có thật sao? - Mình về thôi! - Anh nói và dìu Lâm Giang đi. Cô vẫn còn run rẩy. Giọng Lâm Giang thoang thoảng bay trong gió. - Em... em sợ quá... Thoại Vũ khoác vai cô, để cho Lâm Giang tựa người vào thân thể rắn chắc của mình. Anh muốn được che chở cho cô, muốn cô được bình an khi ở bên cạnh anh. Về tới trước cổng, Lâm Giang bây giờ đã bình tĩnh trở lại. Cô ngượng ngùng khi thấy mình đứng tựa người vào Thoại Vũ. Cô lúng búng trong miệng: - Xin lỗi anh, vì em quá sợ hãi... Thoại Vũ vỗ nhẹ lên má cô: - Không có gì, đừng nghĩ lung tung. Thôi vào ngủ đi. Nhớ gạt mọi hình ảnh xấu sang một bên, hãy nghĩ tới những gì đẹp nhất xảy ra những ngày gần đây. Hãy mơ một giấc mơ thật tuyệt. - Cám ơn anh. Chúc anh ngủ ngon. Lâm Giang đưa tay bấm chuông. Chị Loan ra mở cửa. Lâm Giang gật đầu chào Thoại Vũ một lần nữa. Anh mỉm cười vẫy tay tạm biệt cô. Chờ cho Lâm Giang vào hẳn trong nhà, Thoại Vũ mới quay lưng đi về phía nhà mình. Vừa thấy Lâm Giang bước vào nhà, trên người khoác một chiếc áo khoác của đàn ông, mẹ cô nhận ra ngay và hỏi: - Áo của ai vậy con? Sao con về trễ vậy? Lâm Giang bây giờ mới nhìn lại mình. Thì ra cô đã quên trả chiếc áo cho bác sĩ Vũ. Một thoáng lúng túng hiện lên trên mặt Lâm Giang: - Dạ... dạ... đây là áo của bác sĩ Vũ ạ. - Bác sĩ Vũ... - bà Lâm Ngọc kêu lên nho nhỏ tỏ vẻ ngạc nhiên. - Sao lại có bác sĩ Vũ ở đây hả con. Con nói với mẹ là đi dự sinh nhật bạn mà. - Vâng... con đi dự sinh nhật... nhưng... - Cô ngừng nói và nhìn cô giúp việc. - Làm ơn cho em xin ly nước. Bây giờ bà Lâm Ngọc mới nhìn kỹ mặt con gái mình. Bà lo lắng lại gần bên con: - Hình như có chuyện không ổn. Sao mặt con tái xanh vậy? Lâm Giang đưa tay nhận ly nước, uống cạn một hơi. Cô trấn tỉnh mình, rồi thuật lại câu chuyện cho mẹ nghe. Cả bà Lâm Ngọc và cô Loan đều toát mồ hôi. Nghe xong câu chuyện, cô Loan co rúm người lại. - Trời! Có quỷ thật sao, nghe mà lạnh người quá. Bà Lâm Ngọc cố xua đuổi những ý nghĩ hắc ám ra khỏi đầu con gái: - Thôi đừng nghĩ ngợi gì nữa, đi ngủ đi con. Có thể họ nhìn nhầm thôi. - Không. Cả hai đều cả quyết như vậy mà. Vả lại... mẹ à... - Lâm Giang ngập ngừng. - Mẹ có nhớ không, cách đây không lâu, con cũng có kể cho mẹ nghe, con thấy một bóng đen cao to khác thường nhảy từ nhà bác sĩ Vũ sang nhà ta rồi phóng ra đường. Con chắc là lúc đó mình không nhìn lầm đâu. Bà Lâm Ngọc khoác tay con gái kéo đứng lên: - Thôi để mẹ đưa con lên phòng ngủ. - Ba về chưa mẹ? - Chưa, chắc ba cũng sắp về rồi. Hôm nay ba bận tiếp khách nước ngoài. Lâm Giang theo mẹ lên phòng, bà Ngọc đóng cửa sổ và kéo rèm lại. Bà nói: - Con đừng lo, con sẽ được an toàn trong căn phòng này. Hãy ngủ đi con. Lâm Giang ngoan ngoãn thay áo ngủ rồi lên giường nằm. Còn lại một mình cô không sao chợp mắt được. Những sự việc xảy ra hôm nay cứ hiện mãi trong đầu cô. Nỗi sợ hãi về con quỷ đen, lẫn niềm thú vị khi tình cờ dạo chơi trên bãi biển cùng bác sĩ Vũ cứ đan xen trong đầu Lâm Giang mãi. Rồi cô thiếp đi lúc nào không biết. Giấc ngủ chập chờn đầy mộng mị. Còn bên căn nhà kia, Thoại Vũ không sao chợp mắt được, anh nằm trằn trọc mãi không thôi. Sự kiện con quỷ phá phách trong nhà anh là có thật sao? Vậy những gì mà mẹ anh nói đều là sự thật, cả cái chết khủng khiếp của con chó nữa. Thoại Vũ nhớ lại hôm ấy sau tiếng thét của mẹ. Họ đã chạy lên và để hai nhà báo ngồi dưới phòng khách. Thì ra bà Minh Tuyền thức giấc thấy chiếc áo khoác màu đen của mình, còn đang ngái ngủ, bà nhìn không rõ, tưởng là con quỷ lại trở về thăm mình, bà hét lên. Sau khi bình tĩnh lại, bà đã kể câu chuyện đêm qua cho mọi người nghe. Trong đó có mặt cả hai nhà báo. Bà nói: - Lúc ấy đã quá nửa đêm rồi, tôi đang cố dỗ giấc ngủ, đang thiu thiu thì nghe tiếng con chó mực sủa inh ỏi. Tôi hơi giật mình, nhưng rồi cũng quay mặt vào tường ngủ. Vừa lúc ấy, nghe có tiếng gõ cộc cộc nơi cửa sổ, tôi quay phắt lại thì thật là khủng khiếp... tôi thấy nó lại xuất hiện. Nhà báo Vạn Thành hỏi: - Bác có thể cho cháu hỏi, "nó" là ai vậy? - Thì con quỷ đen. Người nó đầy lông lá, tôi đã từng thấy nó xuất hiện vài lần trước đây. Nhưng khi tôi kể thì mọi người chẳng ai tin. Nhà báo Thiên Hương ghi ghi chép chép vào sổ tay những lời kể của bà Minh Tuyền. Bà tiếp tục kể với giọng rất sợ hãi: - Khi tôi nhìn thấy nó đứng bên ngoài cửa sổ, thân cao lớn. Tôi sợ đến nổi á khẩu, không la lên được, mắt cứ trợn ngược lên. Các người có biết tôi nhìn thấy gì không? - Bà hỏi và dừng lại một lúc, quan sát nét mặt căng thẳng của mọi người. Rồi tiếp lời: - Trên tay nó là con chó mực, nó siết cổ con chó bằng một tay giơ lên cao. Con chó mực giãy đành đạch trong tay nó. Rồi nó từ từ xoay ngược con chó lại, trong khi con chó còn đang thở hồng hộc, chưa kịp kêu tiếng nào thì con quỷ túm hai chân sau của nó xé toạc ra làm hai. Con chó mực không kịp kêu lên một tiếng. Rồi nó giơ cao xác con chó lên ném mạnh qua cửa sổ phòng tôi. Lúc đó tôi tưởng chừng mình phát điên lên vì sợ. Khi nghe xong câu chuyện của bà Minh Tuyền, mọi người nửa tin nửa ngờ. Nhưng bằng chứng gần như đã rõ ràng ra đó. Xác con chó bị xé toạc ra ai cũng đã nhìn thấy. Thoại Vũ nhớ rõ câu nói của nhà báo Vạn Thành trước lúc chia tay: - Tôi đã từng điều tra rất nhiều vụ án giết người rùng rợn. Hạng sát nhân nào tôi cũng đã từng gặp qua. Nhưng quỷ ma thì tôi chưa bao giờ gặp. Tôi sẽ điều tra cho ra tung tích con quỷ này. Nếu có tin gì mới, xin anh thông báo liền cho tôi biết. Anh liền bật dậy gọi điện thoại di động cho nhà báo Vạn Thành. Anh kể lại câu chuyện lúc nãy ở dưới bờ biển cho Vạn Thành nghe. Mặc dù đã khuya nhưng nhà báo Vạn Thành không tỏ vẻ gì bực bội vì điện thoại reo, trái lại anh rất hào hứng với câu chuyện của Thoại Vũ. Vạn Thành nói từ đầu dây bên kia: - Cám ơn bác sĩ Vũ rất nhiều. Ngay ngày mai tôi sẽ bắt tay vào điều tra vụ án này. Câu chuyện của anh làm tôi thấy tò mò quá. Tôi cũng muốn nhìn mặt con quỷ ấy một lần cho biết. Vậy chào anh nhé. Một lần nữa rất cám ơn anh. Thoại Vũ cúp máy sau khi đã chào tạm biệt lại. Anh đứng lên vươn vai, nhưng đồng hồ đã hai giờ sáng rồi. Thoại Vũ bước đến bên cửa sổ, như một thói quen lâu nay, anh lại nhìn sang nhà kế bên, nơi có căn phòng ngủ tỏa ánh đèn màu hồng dịu dàng. - Không biết cô bé đã ngủ chưa hay vẫn còn đang bị câu chuyện của con quỷ ám ảnh. Thì ra Lâm Giang cũng đã nhìn thấy con quỷ. Vậy là nó có thật. Sự xuất hiện của nó đã có rất nhiều người trông thấy, không phải chỉ một mình mẹ mình nhìn thấy. - Anh thở ra nhè nhẹ. - Tội nghiệp cô bé, chắc là sợ hãi dữ lắm. Bất giác Thoại Vũ nhớ lại thân hình mảnh mai của Lâm Giang khi tựa vào mình. Sao mà cô bé mong manh yếu đuối như thế. Cứ như một nhành liễu rũ trước gió, hay chỉ là một cánh hoa bằng pha lê. Thoại Vũ nhắm nghiền mắt lại, cái cảm giác được ôm cô bé trong tay đã làm anh run lên sung sướng. Dù chỉ là một sự tình cờ, nhưng mùi thơm trong tóc cô bé và cả cái mùi thơm toát ra từ hơi thở, từ thân thể Lâm Giang cứ như vẫn còn phảng phất đâu đây. Anh thấy lòng đê mê với cái cảm giác kỳ lạ ấy. Anh biết mình đã yêu, đã rung động thật sự trước cô bạn hàng xóm. Thoại Vũ mong cho trời mau sáng. Anh sẽ kiếm cớ sang thăm nàng. *** Sáng hôm sau khi vừa chuẩn bị ngồi vào bàn ăn sáng thì chuông điện thoại reo. Cô Loan nhấc máy, sau đó gọi vào phòng ăn:- Cô Giang ơi! Có điện thoại. Lâm Giang ngạc nhiên: - Ai mà gọi mình sớm thế không biết. - Con ra nghe đi. - Mẹ cô giục. Lâm Giang quay ra phòng khách. Cô nhấc máy: - Alô! Lâm Giang nghe đây. - Giang hả? Đêm qua em ngủ ngon không? Lâm Giang ngạc nhiên khi nhận ra giọng nói bên kia đầu dây. Cô kêu lên khe khẽ: - Anh Vũ phải không? - Phải! Anh đây cô bé. Anh lo cho em quá nên mạo muội gọi điện sang hỏi thăm. Mới sáng anh chưa dám qua nhà. Giọng Lâm Giang run run xúc động: - Cám ơn anh đã quan tâm. Đêm qua em cũng sợ lắm, nhưng nằm mãi rồi cũng thiếp đi. Còn anh thì sao? - Anh hả? Anh gần như thức trắng đêm. - Anh nghĩ về con quỷ đen à? - Không! Anh nghĩ về nó thì ít mà nghĩ về em thì nhiều, rất nhiều. Mặt Lâm Giang nóng bừng lên. Cô nói: - Em đâu có gì đặc biệt đâu mà anh phải nghĩ. Em còn ngốc lắm. - Giang có ngại khi anh gọi điện cho em vào sáng sớm như thế này không? - Dạ không... nhưng mà có ạ. Cô thật thà như một đứa trẻ khi trả lời Thoại Vũ. Anh cười nho nhỏ: - Sao không rồi lại có... cô bé? - Dạ em thì không sao, nhưng ba mẹ em đang đợi em ăn sáng. - Thế à! - Thoại Vũ thốt lên. - Thôi em vào ăn sáng đi, rồi còn đến trường. Tạm biệt Giang nhé, tối nay anh sẽ gặp em. - Dạ! Chào anh! Chúc anh một ngày tốt đẹp. - Tạm biệt! Giang gác máy, cô đặt tay lên ngực nghe tim đập rộn ràng. Giang cũng không biết tại sao mình lại như vậy? Cô chưa bao giờ xúc động khi nghe giọng nói của ai như thế cả. Với Thoại Vũ, Lâm Giang như cảm thấy mình bắt gặp được một tần số rung động mạnh mẽ. Cô thấy má mình nóng hừng hực như lửa trên đó. Cô vào phòng ăn, ba cô phát hiện ngay điều khác lạ nơi con gái: - Mới sáng sớm mà ai đã gọi điện cho con gái thế? Chắc phải là một người đặc biệt lắm phải không con? - Dạ... không ạ... cũng chỉ là bạn bình thường thôi. - Sao má con hồng thế? Lâm Giang bất giác đưa tay ôm lấy mặt, cô chối quanh: - Đâu có, ba này kỳ ghê, ghẹo con hoài. Bà Ngọc tủm tỉm cười nói: - Tuổi con có bạn đặc biệt cũng vừa rồi, có gì mà phải mắc cỡ. - Nhưng con không có mà. Cả nhà cùng cười trước thái độ trẻ con của Lâm Giang. Ngày hôm ấy Lâm Giang sống trong một tâm trạng hồi hộp khó tả. Lâm Giang mong cho trời mau tối để lại được gặp ai đó. Nghe giọng nói ấm áp của ai... lòng cô bỗng có một cảm giác nhớ nhung kỳ lạ. Rồi chiều cũng tới. Lâm Giang đang ngồi xem tivi thì nghe tiếng chuông bỗng reo. Cô Loan định chạy ra thì Giang ngăn lại: - Chị để đó cho em. Nói rồi cô chạy ra, thấy thái độ hấp tấp của mình, Giang vội dừng lại, hai tay đè lên ngực, cố nén sự hồi hộp. Cô run run mở cổng. Bác sĩ Thoại Vũ hiện ra, anh mỉm cười: - Chào Lâm Giang! - Dạ! Em chào anh. Anh vừa mới đi làm về đó à? - Ừ! Anh từ bệnh viện tới thẳng đây. Lâm Giang mở rộng cửa cho Thoại Vũ dắt xe vào. Cô cài then cổng rồi đi vào sau. Cái dáng cao to, mạnh mẽ của Thoại Vũ như cuốn hút lấy ánh mắt của cô. Thoại Vũ dựng xe, quay lại bắt gặp cái nhìn của Lâm Giang anh chỉ cười mỉm. Lâm Giang hơi bối rối. Cô lấy tay vén mấy sợi tóc mai lên. - Mời anh vào nhà. Thoại Vũ xách cặp táp bước vào. Sau khi ngồi đối diện với Lâm Giang, anh nhìn cô thật lâu. - Sao anh nhìn em kỹ thế? - Lâm Giang cười ngượng ngùng hỏi. - Đêm qua em ngủ không ngon giấc phải không? - Sao anh biết. - Quầng mắt em hơi sậm màu. À! Từ sáng tới giờ em có thấy chóng mặt, nhức đầu gì không? - Dạ bình thường thì không. Nhưng nếu em tập trung nhiều thì thấy đầu hơi nhức. Thoại Vũ lấy từ trong cặp ra hộp dụng cụ khám bệnh. - Anh sẽ khám kỹ lại cho em. Lâm Giang ngoan ngoãn nghe theo, cô thật sự là một bệnh nhân đáng yêu trong mắt bác sĩ Vũ. Khám xong, anh đưa cho Lâm Giang thuốc uống. Cẩn thận dặn dò cô thật kỹ liều lượng cần dùng mỗi ngày. Họ ngồi đối diện một lúc nữa, rồi Thoại Vũ cáo từ, đứng lên ra về. Lâm Giang tiễn anh với một cảm giác quyến luyến. Hai người chỉ ở cách nhau một bức tường sao mà Giang thấy xa thế. Thật ra, họ rất muốn hẹn hò nhau nhưng cả hai chưa nghĩ ra được kế gì để thuyết phục bản thân mình. Chẳng lẽ chiều vừa mới gặp, cách hai ba giờ lại hẹn gặp nhau buổi tối. Dù trong lòng rất muốn gặp nhau, nhưng họ đành chia tay trong luyến tiếc. Chỉ biết nhìn vào mắt và trao cho nhau những tình cảm của mình. Đêm xuống. Thoại Vũ thơ thẩn đi dạo xung quanh nhà. Anh nhớ quay quắt gương mặt Lâm Giang. Không còn cách nào khác, anh đành đi ra biển, ngồi đó hồi tưởng lại những gì đã xảy ra tối qua. Đang ngồi anh bỗng nghe phía sau lưng mình có một đôi trai gái trò chuyện. Họ nói có vẻ hơi lớn nên anh nghe được. - Em có sợ không? - Cũng hơi sợ. - Vậy tại sao lại đi theo anh. Đã theo anh thì phải theo tới cùng. Không được bỏ anh nửa đường nghe. - Em theo anh mà. Bây giờ không theo anh, em biết theo ai bây giờ. - Giỏi, ngoan lắm. Khi nào xong việc, anh sẽ thưởng. - Anh thưởng em gì nào? - Em thích anh thưởng gì? - Anh biết ý em mà. - Ok! Vậy tối mai hẹn gặp nhau ở chỗ cũ nhé. - Không gặp, không về! - Cô gái nói xong cười giòn tan. Thoại Vũ cũng bật cười nhè nhẹ khi nghe được mẫu đối thoại của hai người. Có lẽ họ là một cặp tình nhân đang yêu nhau thắm thiết. Hoặc có thể họ chỉ là... một ý nghĩ kỳ cục chợt thoáng qua trong đầu Thoại Vũ. Vừa lúc đó, cô gái lại nói: - Anh nhìn kìa, có một người đàn ông đang ngồi đơn độc ngắm biển. - Vậy mà anh tưởng biển về đêm chỉ dành cho các cặp tình nhân thôi chứ. - Sao anh lại nghĩ thế. Bộ ai cũng giống anh à. Đàn ông cũng có người lãng mạn lắm chứ. - Anh chẳng biết, nhưng với anh, dạo biển là phải có nàng, nếu không thì hú vài thằng bạn làm ít ly rồi về, lăn ra mà ngủ cho sướng. Giọng cô gái reo lên nho nhỏ: - A! hay tụi mình lại nói chuyện với anh ta đi anh. Biết đâu, đêm qua anh ấy cũng đi dạo ở đây. Chắc ít nhiều cũng biết chuyện kia. Rồi Thoại Vũ nghe bước chân họ lạo xạo trên cát, tiến lại phía mình. Giọng chàng trai lên tiếng: - Anh ơi! Có thể cho bọn em hỏi thăm một chút được không ạ? Thoại Vũ quay lại. Anh thấy họ hơi quen quen, nhưng trời tối quá, ánh trăng đang bị một áng mây xám che khuất, nên không thấy rõ mặt. - Có việc gì, anh cứ nói. Thoại Vũ nói và đứng lên tiến gần đôi trai gái. Áng mây bay đi, để lộ một vùng ánh sáng nhạt nhòa. Gương mặt của hai người đối diện hiện rõ dần lên, bất chợt cả ba cùng reo lên: - Anh! Thì ra là anh. - Ồ! Chào bác sĩ Vũ. - Chào hai nhà báo. - Thật là may quá. Sao tụi em lại có thể gặp anh ở đây nhỉ? Thoại Vũ lấy chân hất nhẹ cát dưới biển. - Hai bạn cũng đi dạo đó à? - Đâu có! - nhà báo Thiên Hương đính chính ngay. - Bọn em đang đi làm nhiệm vụ đó chứ. Đi dạo với anh Thành thì chán chết. - Ơ! Sao em lại nói vậy. - Nhà báo Vạn Thành trợn tròn mắt lên. - Bao nhiêu cô đăng ký hàng dài, chờ tới lượt đi dạo với anh, mà anh còn chưa duyệt nữa. Em hân hạnh lắm mới được anh cho đi cùng. Vậy mà còn làm cao nữa. Ghét! Bữa sau có năn nỉ cũng chẳng cho đi theo. Thiên Hương bật cười, đấm nhẹ vào vai Vạn Thành: - Thèm mà đi với anh, làm như có giá lắm vậy. Thoại Vũ cười tủm tỉm: - Ấy vậy mà lúc nãy nghe hai người trò chuyện mùi mẫn quá. Tôi cứ ngỡ là một cặp tình nhân đó chứ. Thiên Hương xua xua tay: - Í, anh đừng nghĩ bậy. Giữa em với anh ấy không có gì đâu. Anh mà nói vậy có người tặng em lon acid thì nguy. Vạn Thành thọc tay vào túi quần, vai hơi so lại khi làn gió biển vừa thổi ào vào. - Thôi không đùa nữa. - Anh nói. - Mình nói chuyện nghiêm túc nhé! Anh Vũ này, anh có thể kể rõ câu chuyện tối qua cho bọn em nghe được không? Thoại Vũ khẽ gật đầu. Rồi anh thuật lại các tình tiết đã xảy ra tối hôm qua. Nghe xong, Thiên Hương nói: - Chắc cô bạn hàng xóm của anh hoảng lắm hả. Thảo nào cô ấy hôm nay không đi dạo cùng anh nữa. - Có một chi tiết quan trọng nữa tôi chưa nói với các bạn. Đó là cô ấy cũng đã từng thấy bóng dáng con quỷ ấy. - Vậy hả! - Vạn Thành thốt lên đầy ngạc nhiên. - Trời đất! Chẳng lẽ con quỷ này lại có thật. Sao nó lại hiện hình ở dương gian này để làm gì nhỉ? Trời đất động rồi hay sao mà quỷ lại sống chung với người? Thiên Hương bỗng dưng đứng sát lại Vạn Thành một chút. Cô nghe một luồng hơi lạnh chạy dọc theo sống lưng mình. Nhà báo Vạn Thành sửa lại cái máy chụp hình đeo trước ngực mình và nói: - Nếu như đêm nay tôi gặp được nó, bằng bất cứ giá nào tôi cũng sẽ chụp được một tấm hình. Hy vọng cái máy chụp hình hiện đại này sẽ có một tấm hình như ý. - Không biết đêm nay nó có xuất hiện không? - Thoại Vũ nói. - Có lẽ con quỷ này chỉ mới hiện lên gần đây thôi. Từ trước đến giờ tôi ở đây lâu rồi, có nghe nói tới chuyện ma quỷ hiện hình hồi nào đâu. Vạn Thành nhìn đồng hồ: - Đã mười giờ đêm rồi, nghe nói khoảng mười hai giờ là giờ linh đó. Những oan hồn quỷ dữ gì cũng hiện lên giờ này. Thoại Vũ chắc lưỡi: - Mới đó mà đã mười một giờ khuya rồi à. Nhanh thật. Thôi tôi xin phép về đây, nghỉ ngơi ngày mai còn đi làm nữa. - Vậy anh về. Có tin gì xin báo ngay cho bọn em biết. - Ừ! Chắc chắn rồi, thôi chào nhé. Thoại Vũ vẫy tay chào hai người rồi bước đi. Anh còn nghe thấy giọng đùa cợt của Vạn Thành. - Sao? Có sợ không? Sợ thì ôm anh chặt vào. - Còn lâu à nha. - Thiên Hương nói. - Em thà ôm cột đình còn hơn ôm anh. Đừng có lợi dụng cơ hội. - Được rồi, chút nữa gặp con quỷ đừng có ôm chầm lấy anh đấy, lúc đó anh sẽ chạy xa ra để cho em ôm con quỷ. - Đừng có hù Hương này. Hương không sợ đâu anh Thành à. - Ừ! Nói nghe ngon nhỉ. Nào, không sợ thì lên đường. Vạn Thành và Thiên Hương bước đi song song bên nhau. Thiên Hương nghịch ngợm dí sát mép sóng, khi sóng vỗ mạnh vào thì cô chạy ngược lên bờ, làm cho sóng không sao đuổi kịp gót hồng của cô. Vạn Thành lại trêu: - Này! Đi sát lại gần anh đi. Đi gần ở bờ biển, biết đâu con quỷ từ dưới thò tay lên tóm chặt chân em lôi tuột xuống biển thì nguy mất. Thiên Hương bĩu môi: - Có sợ. Anh đừng hù em. Rồi cô nghiêng đầu nhìn anh chàng đồng nghiệp. - Anh Thành này, nói thật đi, anh có cảm thấy sợ tí nào không. Sao em thấy anh đi gặp quỷ mà hồ hởi như đi gặp người yêu vậy? Vạn Thành so vai lại: - Sợ à! Cũng có chút chút. Nhưng sự tò mò lại kích thích anh mãnh liệt hơn. Em biết tính anh rồi mà. - Bởi vậy anh mới là một trong những nhà báo thành công. Người làm báo phải có một ít máu thám tử thì mới làm được việc, có phải vậy không anh. - Ừ! Có lẽ là thế. Hai người vừa đi dọc bờ biển vừa tán gẫu, họ đã đi được một khoảng khá xa. Thiên Hương thấy lác đác có vài cặp tình nhân. Và họ cũng đang ra về. Biển lặng. Chỉ còn có hai người. Đi thêm một đoạn nữa, Thiên Hương lên tiếng: - Hay ta về đi anh. Ngày mai lại đi tiếp. Có lẽ đêm nay nó không xuất hiện đâu. - Em buồn ngủ rồi à? Thiên Hương khẽ gật đầu. Rồi cô ngáp nhẹ ngay một cái. Vạn Thành cười: - Thôi được, ta quay trở lại thôi. Hai người trở ngược lại đi về. Gió từ ngoài biển thổi vào làm rối tung mớ tóc trước trán của Vạn Thành và tóc của Thiên Hương thì cứ bay ngược ra phía sau phần phật, họ im lặng đi bên nhau. Gần tới chỗ vừa lúc nãy nói chuyện với Thoại Vũ, bất giác một thân hình to cao ướt sũng từ dưới biển nhô lên. Thiên Hương thét to lên và chạy ra sau lưng Vạn Thành. Còn Thành, anh như đã chuẩn bị tư thế từ trước, đưa cao máy chụp hình lên. Một tia sáng lóe lên, con quỷ bị bất ngờ. Nhưng nó cũng phản xạ nhanh nhạy không kém. Nó giơ hai tay lên che mặt lại. Rồi quay đầu lao ùm xuống biển. Vạn Thành xách máy đuổi theo, nước ngập lên tới bụng anh, anh phải giơ cái máy chụp hình lên cao, sợ nước biển bắn vào hư máy. Trên bờ Thiên Hương hét toáng lên: - Đừng! Anh Thành, dừng lại đi. Đừng chạy theo nó, nguy hiểm lắm. Vạn Thành như sực tỉnh trước tiếng gào của Thiên Hương. Anh vội vàng quay vào bờ. Ừ nhỉ, sao mình có thể liều lĩnh như thế. Phút chốc quên luôn cả sinh mạng của mình. Nhỡ con quỷ ấy xé xác mình ra thì sao. Thành thấy mồ hôi vã ra trước trán, mặc dù người anh ướt sũng nước biển. Thiên Hương chạy xuống kéo tay Thành: - Sao anh liều thế. - Cô nói giọng đầy trách móc. - Anh có việc gì, em biết ăn nói sao với mọi người. - Bệnh nghề nghiệp làm anh quên cả chính mình. Thiên Hương sợ sệt đưa mắt nhìn xuống biển. Chỉ có sóng. Từng đợt, từng đợt tung bờ trắng xóa. Bóng dáng con quỷ mất hút trong lòng đại dương. Vạn Thành hỏi: - Em có nhìn rõ nó không? - Không rõ lắm, em chỉ thấy một thân hình cao to, đầy lông lá. Chắc nó cao khoảng gần hai mét. - Ừ! Có lẽ là thế. Còn anh, anh đã nhìn thấy đôi mắt nó. Một đôi mắt đỏ ngầu dữ tợn. Đúng là mắt quỷ. Rồi anh nhìn chiếc máy chụp hình và nói tiếp: - Bây giờ anh đã có trong tay một tấm ảnh độc nhất vô nhị. Đêm nay anh sẽ làm việc suốt đêm. Sáng mai bức hình này sẽ được đăng trên trang nhất của báo. Và cái tựa đề "Quỷ biển" sẽ được in thật to. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 42
Phần 4 Tờ báo Tia Chớp sáng nay bán đắt như tôm tươi. Như đã dự đoán từ trước. Vạn Thành đã đề nghị in số báo lên gấp đôi, mà vẫn không đủ cung cấp cho đọc giả. Chuông điện thoại réo vang từ tòa soạn. Mọi người ai ai cũng quan tâm tới câu chuyện đã đăng trên trang nhất. Ông Thăng, tổng biên tập tờ báo Tia Chớp cứ ngồi thừ ra nhìn tờ báo trước mặt. Hình con quỷ biển chiếm gần nửa trang báo. Do sử dụng máy chụp hình kỹ thuật cao, nên nhà báo Vạn Thành đã có một bức hình như ý. Mặc dù chụp vào ban đêm, nhưng bức hình thật rõ nét. Một thân hình cao to, đầy lông lá, hai bàn tay đầy vuốt nhọn giơ lên che khuất cả gương mặt nó. Dù không trông rõ mặt con quỷ, nhưng nhìn vào bức hình người ta cũng có cảm giác ớn lạnh. Cái tựa đề chạy thật lớn "Con quỷ biển" đập ngay vào mắt độc giả. Còn nội dung bài báo thì khá ly kỳ hấp dẫn. Đọc xong thì ai cũng nổi da gà. Ông Thăng cầm tờ báo bước đến phòng làm việc của nhà báo Vạn Thành. Thấy anh ta đang tiếp điện thoại, ông liền ngồi xuống ghế kế bên chờ đợi. Vạn Thành sau khi đặt máy xuống thì khẽ lắc đầu, cười cười: - Sếp ơi! - Anh nói. - Chắc em điên lên mất, từ sáng đến giờ trả lời điện thoại líu cả lưỡi, ù cả tai. - Cậu hãy đi nghỉ đi, làm việc cả đêm rồi. Để tôi cử người trả lời thay cậu. - Anh nhìn xem, tất cả các máy điện thoại trong tòa soạn cứ reo inh ỏi lên. Có máy nào nằm im đâu. Nhân viên ai cũng trả lời, còn ai mà trực thay em. - Không sao đâu, ngắt máy một chút đi. Tôi muốn nói chuyện với cậu. Vạn Thành nhấc máy lên, để qua một bên, rồi anh ngồi xuống đối diện với tổng biên tập. Ông Thăng nhìn nhân viên mình với đôi mắt đầy thán phục. - Cậu giỏi thật. Tôi không biết dùng lời lẽ nào để ca ngợi cậu cho xứng đáng. - Không có gì đâu sếp. Nghề nghiệp của em mà. - Vạn Thành khiêm tốn. - Trước đây cậu cũng là một nhà báo có tiếng tăm sau những vụ điều tra giết người. Nhưng có lẽ bây giờ cậu là nhà báo nổi tiếng nhất từ trước tới nay, bởi lẽ chưa có ai chụp hình được con quỷ cả, mà cậu thì đã làm được rồi. - Em nghĩ mình cũng liều thật. - Vạn Thành nói. - Đêm qua em lao theo nó, cố chụp một tấm nữa. Cũng may là nó bỏ chạy, nếu nó tóm được em mà xé ra làm hai, thì giờ này đâu còn thời gian mà nói chuyện với sếp nữa. - Đam mê nghề nghiệp luôn giúp người ta thành công. Nhưng cũng phải biết né tránh nguy hiểm để bảo toàn tính mạng chứ. Lần sau đừng có liều như vậy nữa nha. - Dạ! Bây giờ thì em có thể hứa với anh, nhưng rồi đụng chuyện không biết có giữ được lời hứa với anh không. Lúc ấy em như kẻ say tin vậy, chỉ muốn lao vào mà không còn kịp suy nghĩ điều gì khác. Ông Thăng mở tờ báo ra trước mặt và chỉ vào hình con quỷ nói: - Cậu có hy vọng gì điều tra về tung tích con quỷ này không? - Hy vọng mong manh, nhưng em sẽ cố. Điều tra một con quỷ, mà là quỷ biển thì khó gấp trăm vạn lần điều tra một con người. Nhưng mấu chốt là ở chỗ bác sĩ Thoại Vũ. Con quỷ đã xuất hiện từ trong căn nhà ấy. Và người mà nó luôn nhắm vào để tấn công là bà Minh Tuyền mẹ của bác sĩ Vũ. - Vậy hãy bám sát căn nhà ấy. Manh mối có lẽ từ đó mà ra. - Đã là quỷ thì nó hiện đó, rồi biến đó. Cũng thật khó lòng. Nếu như không chính mắt em chứng kiến cảnh con quỷ ngoi lên từ biển, nếu như em không chụp được tấm ảnh độc nhất vô nhị này, liệu nói ra có ai tin em không. Hay họ cho là mình đã tung tin đồn nhảm. Ông Thăng đứng dậy và nói: - Vậy cậu hãy tập trung vào việc điều tra tung tích con quỷ dữ này nhé. Các công việc khác cậu bàn giao lại cho đồng nghiệp. - Dạ! - Tin tức này hấp dẫn lắm đây. Cậu hãy viết thành một thiên phóng sự về con quỷ biển, kéo dài nhiều tập thu hút độc giả. Có được không? - Dạ được ạ! Tổng biên tập cứ yên tâm bàn giao cho em công việc này. - Tôi sẽ chính thức đề nghị khen thưởng và tăng lương cho cậu. Yên tâm công tác tốt nhé. - Dạ, cám ơn sếp rất nhiều. Vạn Thành tiễn ông Thăng ra cửa, anh quay vào phòng và ngả người xuống ghế salon. Mắt anh ríu lại. Anh đã thức trắng đêm, rửa phim, viết bài cho kịp đăng tin. Báo ra thì lại lo xem xem có lỗi kỹ thuật nào không. Báo vừa phát hành lại phải tiếp điện thoại của độc giả. Anh mệt phờ cả người, phút chốc Vạn Thành đã thiếp đi vì mê mệt. Thiên Hương từ ngoài đẩy cửa bước vào. Nhìn thấy Vạn Thành đang ngủ mê mệt, cô khẽ lắc đầu nhìn anh. Một chút thương cảm cộng với sự nể phục, Thiên Hương khẽ nói thầm: - Tội nghiệp, đêm qua anh đã thức trắng đêm. Giờ chắc mệt lắm. Em thật khâm phục anh. Em chưa từng thấy một nhà báo nào dũng cảm và đam mê nghề nghiệp như anh. Cô nhẹ nhàng đến bên bàn làm việc, sắp xếp các giấy tờ lại cho ngay ngắn. Vạn Thành trong công việc thì có thể không chê vào đâu được, nhưng trong cuộc sống, anh sống khá cẩu thả, không quan tâm tới bề ngoài của mình, thậm chí khi làm việc thì vứt đồ lung tung. Giấy rác xả đầy phòng. Đó là nhược điểm mà Thiên Hương ghét nhất ở anh. Có lần cô góp ý thì anh nói: - Anh là đàn ông mà. Gọn gàng ngăn nắp chỉ dành cho đàn bà, anh hơi đâu để ý ba cái chuyện cỏn con đó. Với anh, hiệu quả công việc là một, xếp hàng đầu. Còn mọi cái đều cho qua. - Bởi vậy tới giờ này mà chưa ai lấy, họ đâu dám nhào vô. - Thiên Hương đùa. - Đừng có giỡn mặt. Chỉ tại anh chưa cho phép thôi. Chỉ cần anh gật đầu không những cưới một vợ mà cưới một lần năm vợ nữa kìa. - Vạn Thành vênh mặt lên. - Con gái nhà ai mà ngu vậy ta? - Thiên Hương bĩu môi nói. - Chắc họ khùng mới làm bà hai, bà ba của anh. - Khùng hả! Cũng có thể, vậy mà em tin không, có người xin được khùng với anh, mà anh chưa cho đó. Còn em, em yên tâm đi. Em là người tỉnh táo nhất, anh sẽ dành cho em một vé đặc biệt, làm bà cả nha, chịu không? Thiên Hương đấm thùm thụp vào vai Thành, cô cười như nắc nẻ. - Còn lâu mới thèm. Ông tưởng ông có giá lắm hả. Thiên Hương nghĩ lại cuộc tranh luận vừa rồi, tủm tỉm cười một mình. Cô liếc mắt nhìn Vạn Thành. Anh ấy là người như thế đấy, luôn luôn có chất hài trong người. Cứ được trò chuyện với anh ấy là người dù mệt đến đâu, dù buồn đến đâu cũng thấy vui, thấy thoải mái ngay hà. Nhìn anh bụi bụi đầy tư chất của một người đàn ông, Thiên Hương nghe tim mình trào lên một cảm giác kỳ lạ. Mà cô không sao lý giải được đó là thứ cảm xúc gì. Vạn Thành mở mắt dậy, khi Thiên Hương vô tình đánh rơi hộp viết xuống đất. - Xin lỗi! - Cô nói. - Em không cố tình đánh thức anh dậy, em chỉ muốn dọn dẹp phòng anh một chút. - Không sao đâu. - Vạn Thành ngồi bật dậy, đưa tay vuốt ngược mái tóc của mình. Anh nhìn đồng hồ rồi kêu lên: - Ui cha! Mới đó mà trưa rồi à. Anh đã ngủ quên tới hai, ba tiếng đồng hồ. - Anh đã thức trắng đêm qua. Giờ thì anh cứ ngủ đi, có ai trách gì anh đâu. Vạn Thành đứng lên vươn vai, làm một vài động tác thể dục. Anh cười toét miệng. - Không ai trách anh. Nhưng anh sẽ tự trách anh, sẽ tự đá vào mông mình vài cái. Còn bao nhiêu việc phải làm, mà dám lăn kềnh ra ngủ. Thiên Hương phì cười: - Nào! Thì anh tự đá vào mông mình cho em coi. Vạn Thành nghéo chân lên tự đá vào mông mình mấy cái, làm cho Thiên Hương cười như nắc nẻ, Vạn Thành cũng bật cười thoải mái. Sau đó anh vơ vội tờ báo để lên bàn nhét vào túi xách và biến ra khỏi cửa, sau khi nói: - Anh đến nhà bác sĩ Vũ đây. Em trực điện thoại cho anh. Thiên Hương chưa kịp nói câu nào, thì bóng Vạn Thành đã mất hút sau cánh cửa. Anh lái xe chạy như bay đến nhà bác sĩ Vũ, cũng may bác sĩ Vũ vừa đi làm về. Thấy nhà báo đến, cả nhà bác sĩ Vũ vây lấy anh, họ hỏi đủ điều. Bà Minh Tuyền mặt cứ tái nhợt đi khi nhìn vào bức hình trên báo: - Đúng là nó rồi. Sáng nay đọc báo tôi thấy lạnh cả người. - Bác có chắc đây là con quỷ mà bác đã từng nhìn thấy không? - Vạn Thành đặt câu hỏi. Bà Minh Tuyền quả quyết gật đầu. - Chắc chắn là nó rồi, không sai đi đâu được. Mới thoáng nhìn qua là tôi đã nhận ra nó ngay. - Rồi bà chỉ vào bức hình và nói. - Cũng may là nó lấy tay che mặt lại, nếu chụp được cả cái mặt nó thì nhìn vào bức hình khủng khiếp cỡ nào. - Bác đã từng nhìn rõ mặt nó. - Nhìn rất rõ. - bà Minh Tuyền trả lời. - Có lần chỗ tôi và chỗ nó đứng cách nhau có vài bước chân. Khi nó nhe nanh ra, tôi thấy rất rõ. Vạn Thành quay ra nhìn mọi người hỏi: - Trong nhà này, ngoài bác gái ra, có ai đã từng nhìn thấy con quỷ ấy chưa? Mọi người đều lắc đầu. Ông Nhật Tân chậm rãi lên tiếng: - Tôi cũng không hiểu vì sao con quỷ chỉ uy hiếp mỗi mình bà nhà tôi. Có lúc tôi đã cố tình thức thật khuya, ra ngoài sân đi dạo, mong gặp được nó để xem sao, nhưng chưa bao giờ tôi thấy cả. Thoại Vũ nói: - Có lần khuya lắm, tôi không ngủ được, ra sân hóng mát, tôi thấy sau bụi cây kiểng có gì đó đang lay động. Tôi có cảm giác như có ai đó đang rình rập mình, nhưng rồi tất cả chỉ rơi vào một khoảng không gian tĩnh mịch. Tôi cũng đã quên chuyện đó. Vạn Thành bưng ly trà đá lên uống một hơi rồi ngừng lại hỏi tiếp: - Lần đầu tiên bác thấy "con quỷ" xuất hiện là khi nào? Bà Minh Tuyền nhíu mày cố nhớ lại: - Chắc khoảng chừng một năm trở lại đây. Lúc đầu tôi chỉ thấy loáng thoáng, rồi cứ nghĩ là mình hoa mắt, hay là bị ảo giác gì đó. Nhưng thời điểm gần đây thì nó xuất hiện nhiều hơn và luôn đe dọa, tấn công tôi khi có dịp. Điển hình là vụ giết con chó mực đó. Thoại Vũ lắc đầu nhè nhẹ: - Tại sao con quỷ lại tấn công mẹ nhỉ? Sao nó lại có thù với mẹ? - Làm sao mẹ biết được. - Bà Minh Tuyền tròn mắt lên nói. - Đã là quỷ thì muốn hại ai mà chả được. Ông Nhật Tân cầm tờ báo lên và nói: - Tin tức này lan truyền đi, chắc cũng làm cho mọi người hoang mang lắm. Từ đây ai mà dám xuống biển đi dạo vào ban đêm nữa. - Cháu đăng tin này cũng một phần muốn cảnh báo với mọi người. Đây là chuyện thật một trăm phần trăm về con quỷ, chứ không phải chuyện bịa. Đã có bao nhiêu người nhìn thấy nó. Nếu cháu không đăng tin cho mọi người cảnh giác lỡ nếu chạm mặt nó thì sao? Điều gì sẽ xảy ra. Lỡ nó xé xác người như xé xác con mực thì sao? - Cậu nói phải đó. - Bà Minh Tuyền gật đầu. - Nếu không đề phòng, nó mà tấn công thì chỉ có nước chết thôi. Với sức mạnh của nó không ai có thể chống trả nổi! Nhà báo Vạn Thành đặt vấn đề: - Thưa hai bác, thưa anh Vũ, chuyện này là chuyện rất hệ trọng. Nên cháu muốn thưa chuyện với cả nhà. - Có gì thì cháu cứ nói đi. - Ông Nhật Tân nói. - Dạ! Cháu muốn cả gia đình cho phép cháu thường xuyên lui tới đây để tiện cho việc điều tra vụ án. Cháu muốn tìm ra tung tích con quỷ này. Và nếu cần phải dẹp mối hiểm họa này cho dân. Nếu nó cứ ẩn hiện như thế này, sẽ gieo rắc bao nhiêu kinh hoàng cho mọi người. Ông Nhật Tân suy nghĩ một chút rồi trầm ngâm trả lời: - Thôi được, cháu cứ việc tới đây, gia đình sẽ hỗ trợ cho cháu, để cháu có điều kiện làm việc tốt. - Cám ơn bác. Cám ơn cả nhà rất nhiều. Bây giờ cháu xin phép cháu về. Thoại Vũ tiễn nhà báo ra tận cổng, Vạn Thành sau khi bắt tay tạm biệt bác sĩ nói khẽ: - Cô hàng xóm của anh đã hay tin này chưa vậy? - Tôi cũng không biết nữa. Để tôi điện thoại xem sao. - Ừ! Được đấy. Nếu cô ấy hoảng quá thì nhớ trấn an nhé! Thoại Vũ vỗ vai nhà báo không nói gì mà chỉ mỉm cười. Anh quay vào nhà và nhìn đồng hồ. Đã mười một giờ rưỡi rồi, không biết cô bé đã đi học về chưa? Thoại Vũ vào phòng và quay số điện thoại. Bên kia đầu dây một giọng nói dịu dàng vang lên: - Alô! Dạ nghe. Thoại Vũ nhận ra ngay giọng nói quen thuộc ấy, anh hỏi khẽ: - Dạ làm ơn cho tôi gặp cô Lâm Giang. - Dạ! Lâm Giang đây ạ. Xin lỗi ai đầu dây vậy? Giọng nói bên kia ngập ngừng: - Anh đây! Bác sĩ của Giang đây. - A! Anh Vũ hả. Vậy mà em không nhận ra. - Giọng Lâm Giang reo lên khe khẽ. - Em vừa mới đi học về hả? - Dạ! Em vừa mới vào nhà. - Em có mệt không? - Dạ! Cũng hơi mệt một tí thôi, nghỉ ngơi một chút là sẽ khỏe ngay. - Giang này! Sáng nay em đã đọc báo Tia Chớp chưa? Giang đang vui bỗng hạ tông xuống thì thầm sợ sệt: - Dạ có ạ! Cả trường ai cũng chuyền tay nhau đọc tờ báo này. - Em có nhận ra là mình đã từng nhìn thấy nó lần nào chưa? - Có ạ! Em chắc là đã nhìn thấy nó ít nhất một lần. - Bây giờ em có sợ không? - Dạ sợ. - Em ở nhà với ai? - Em ở nhà với chị giúp việc. Buổi trưa ba mẹ em ít có nhà lắm. - Em đừng sợ. Chắc nó không xuất hiện ở nhà em đâu. Nếu có thì cứ gọi điện sang đây cho anh nhé. Em biết số điện thoại của anh chưa, trong tấm danh thiếp đó. - Dạ biết rồi ạ. Giọng Thoại Vũ ngập ngừng một lúc rồi nói tiếp: - Chiều nay Giang có đi học không? - Dạ có ạ! - Anh đến trường đón em được không? Lâm Giang chợt e ngại trước lời đề nghị của Thoại Vũ: - Dạ... dạ... Thoại Vũ hiểu ý, anh nói: - Nếu như không tiện thì thôi vậy. - Dạ không ạ... - Lâm Giang thu hết can đảm nói. Cô chợt nghĩ tới các bạn học chung lớp, cũng đã có bạn trai tới đưa đón hàng ngày. Bây giờ mình đã là sinh viên rồi mà. Đâu phải là cô bé học phổ thông ngày nào nữa. Chuyện này đâu có gì là xấu. Mình quan hệ tình cảm trong sáng thì có gì phải sợ. Lâm Giang tự trấn áp mình bằng hàng loạt ý nghĩ nảy ra trong đầu. Thoại Vũ cười một mình, anh dường như cũng hiểu tâm trạng ngại ngùng của cô bé. - Vậy thì chiều nay anh đón em nhé. Nhưng không phải ở trước cổng trường, mà ở cây me gần ngã tư đèn xanh nha. Có được không? - Dạ... dạ được ạ! - Bây giờ thì em đi ăn cơm đi, rồi ngủ một giấc cho ngon lấy lại sức khỏe, chiều tiếp tục lên giảng đường. - Dạ! - Tạm biệt Lâm Giang. - Tạm biệt anh Vũ. Cúp máy xuống Thoại Vũ vẫn còn nghe văng vẳng bên tai giọng nói dịu dàng ngọt ngào của cô bé. Người đâu sao mà ngoan đến thế, Thoại Vũ nghĩ thầm trong đầu. Anh mong thời gian trôi thật mau để chiều nay được gặp cô bé hàng xóm. Rồi những lần sau đó họ đã có những cuộc hẹn hò nho nhỏ. Không ai nói với ai lời nào, nhưng cả hai cũng ngầm hiểu họ đang dành những tình cảm đặc biệt cho nhau. *** Chuyện con quỷ cũng chẳng còn làm cho hai người bận tâm. Và hình như dạo này nó đánh hơi được con người đang săn lùng nó nên nó ít xuất hiện. Nhà báo Vạn Thành đã cất công theo dõi căn nhà của bác sĩ Vũ, có những đêm anh rủ một vài người bạn đi dạo dọc bờ biển để xem con quỷ có xuất hiện nữa không. Nhưng tuyệt nhiên không thấy động tĩnh gì.Cho đến một hôm, sau buổi uống trà trò chuyện đến tận khuya, Vạn Thành chia tay bác sĩ Vũ ra về. Trời mưa lâm râm, đường khuya vắng tanh, không một bóng người. Thành so vai theo thói quen và lao xe đi trong mưa, mặc cho những hạt mưa li ti bám đầy tóc anh, thấm vào làn áo mong manh, tạo một cảm giác mát lạnh cả người. Sáng hôm sau anh thức giấc bởi tiếng chuông điện thoại báo động dồn dập, hé mắt ra nhìn đồng hồ mới năm giờ sáng. - Ai mà gọi sớm thế! - Anh làu bàu rồi quơ tay tìm chiếc điện thoại. - Alô! Thành nghe đây. - Tôi đây anh Thành. - À! Anh Vũ hả? Có chuyện gì không anh? - Có. Nhà tôi xảy ra chuyện. Đêm qua con quỷ lại xuất hiện. - Hả! - Vạn Thành gần như nhảy phốc ra khỏi giường với thông tin nóng hổi này. - Thật không anh Vũ? Giọng bác sĩ Vũ khá căng thẳng: - Chuyện nghiêm trọng như vậy mà tôi đùa với anh sao? - Anh thử nói sơ cho tôi nghe đi. Vừa nói Vạn Thành vừa kẹp máy vào tai, vừa lấy chiếc áo sơ mi khoác lên người. Anh tranh thủ mặc quần áo vào, trong khi vẫn đang nói chuyện bằng điện thoại với Thoại Vũ. - Con quỷ đã nhổ tất cả cây cối trong vườn nhà tôi. - Nhưng sao anh biết là con quỷ ấy làm. - Đêm qua trời mưa nho nhỏ, nền đất ướt nên đã để lại dấu chân khổng lồ của nó khắp trong vườn. - Được rồi, anh cố giữ nguyên hiện trường, tôi sẽ tới ngay. Chào anh nhé. Vạn Thành vội vàng cúp máy. Lao vào phòng tắm rửa mặt, rồi dắt xe ra, anh chạy hết tốc lực, chỉ khoảng mười phút sau đã có mặt ở nhà bác sĩ Vũ. Nghe tiếng chuông reo, chị giúp việc nhà ra mở cửa. Gương mặt chị đầy nỗi sợ hãi, chị nói nhỏ với nhà báo: - Chắc kiểu này tôi xin thôi việc quá. Ma quỷ lộng hành ở cái nhà này đến phát khiếp. Vạn Thành vội vàng dắt xe chạy vào trong sân, không kịp nói chuyện với chị giúp việc. Đón Vạn Thành có cả hai cha con Thoại Vũ, trong cái sáng mờ mờ của đất trời. Họ đưa tay chỉ: - Anh nhìn xem. Thành bàng hoàng nhìn toàn bộ khu vườn xung quanh nhà. Tất cả những cây cối đều bị nhổ bật cả gốc rễ lên. Cứ như là có một cơn bão dữ vừa mới càn quét qua khu vực này. Nhưng đêm hôm qua chỉ có vài giọt mưa li ti, đến gió to còn chẳng có thì làm gì có bão. Vạn Thành cẩn thận lấy máy chụp hình ra, anh chụp những dấu chân to in dưới đất. Chứng tỏ con quỷ khá nặng, độ lún sâu của bàn chân nó đã nói lên điều đó. Anh đi vòng quanh vườn, chụp hình ở nhiều góc độ khác nhau. Những thân cây bị bật cả gốc rễ, toàn bộ khu vườn là một bức ảnh hoang tàn. Vạn Thành nhìn cây vú sữa, thân to khoảng hơn một vòng tay người ôm cũng bị nhổ bật lên. Trên cây có nhiều quả non, nhìn mà thấy tiếc. Kia nữa là những cây ngọc lan trước cổng cũng khá to vậy mà cũng cùng chung số phận. Vạn Thành kêu lên: - Sao nó khỏe thế nhỉ! Có thể nhổ bật những cây to như thế này. - Nó là quỷ mà. - Bất giác Thoại Vũ cảm thấy khó chịu trước hành động của con quỷ gây ra cho nhà anh. - Nó làm như có thù ba đời với nhà tôi vậy. Cứ liên tục phá phách, hết chuyện này tới chuyện nọ. - Các nhà bên cạnh không biết có chuyện như nhà mình không nhỉ? - Không có đâu. - Thoại Vũ trả lời. - Chỉ có nhà tôi bị thôi. - Sao anh đoán chắc thế. - Thì anh cứ thử lên lầu, trên sân thượng nhà tôi mà quan sát. Chẳng có một cây nhỏ bị ngã, chứ đừng nói đến cây lớn. Ông Nhật Tân trầm ngâm, nhìn bao quát khu vườn lắc đầu, khẽ thở dài: - Sao lại có chuyện này xảy ra với gia đình tôi chứ. Từ hồi nào tới giờ, tôi có làm gì ác nhơn thất đức đâu. Sao ma quỷ lại hiện hình trong nhà tôi, phá phách cuộc sống bình yên của gia đình tôi thế. Vạn Thành chống tay lên một cành cây gần đó và nói: - Cháu nói thật, nếu bác có gây thù chuốc oán gì thì với con người chứ làm sao mà có khả năng gây thù với quỷ. Mà nhìn đi, cái sự trả thù này thì chỉ có con quỷ mới gây ra được, làm gì trên đời này có người nào mà có sức mạnh phi thường đến nỗi nhổ bật cả những gốc cây to thế kia. Nếu họ có phá vườn bác thì phải đem rựa, đem dao đến chặt hoặc cưa thì mới phá được khu vườn này. - Không! Tôi không nghe một tiếng động nào cả. - Thoại Vũ nói. - Ngay khi tiễn anh về, tôi vào ngủ, nhưng có ngủ được đâu. Nằm mãi rồi mới thiếp đi. Nhưng tôi tỉnh ngủ lắm. Ấy vậy mà chẳng nghe một chút động tĩnh gì. Tới sáng sớm, ba tôi thức dậy tập thể dục mới phát hiện ra khu vườn bị một bàn tay vô hình nào đó tàn phá. - Mẹ anh đã biết chuyện này chưa? - Vạn Thành hỏi sau khi quan sát không thấy sự có mặt của bà Minh Tuyền. Thoại Vũ nhìn lên lầu và nói: - Chưa! Mẹ tôi chưa hay biết việc này. Bà dạo này mất ngủ, nên thường thức dậy rất muộn. Cha con tôi cũng không muốn đánh thức bà làm gì. Gần đây tinh thần mẹ tôi suy sụp nhiều lắm, không biết bà có chịu đựng nổi không, khi biết con quỷ tấn công nhà tôi lần này. Nhà báo Vạn Thành nói vội vàng: - Bây giờ tôi xin phép về tòa soạn, nhất định sẽ có trong số báo ra ngày hôm nay. Chỉ là một mẩu tin tức thôi. - Anh Thành này! Tôi muốn yêu cầu anh một việc. - Anh cứ nói đi. - Xin anh đừng đăng địa chỉ nhà tôi lên báo. Tôi không muốn mọi người đổ xô lại đây để tìm dấu tích con quỷ. - Tôi biết rồi. Tôi sẽ không ghi một địa chỉ cụ thể nào đâu. - Vậy thì cám ơn anh nhé! - Không có gì. Chính tôi mới phải cám ơn anh. - Vạn Thành nói. - Anh đã cho tôi một tin khá sốt dẻo. Thoại Vũ lắc đầu: - Tôi chỉ muốn giúp anh mong anh sau khi điều tra rõ tung tích con quỷ, thì phải có biện pháp trừ khử nó đi. - Chắc chắn rồi. Mục đích cuối cùng của người làm báo chúng tôi là luôn luôn muốn trừ khử mọi hiểm họa cho dân chúng mà. Từ những kẻ giết người, cho đến bọn tham quan ô lại đều bị chúng tôi dùng ngòi bút mà đánh cho chí mạng. - Nhưng đánh với quỷ thì không dễ đâu. - Đành vậy rồi. Nhưng sẽ cố. Có thể kết hợp với nhiều ngành khác để tìm ra biện pháp trừ khử nó đi. Dùng vũ lực bắt sống. Hay phải dùng súng đạn để loại nó ra khỏi cuộc sống này đều phải thử làm xem. Thôi! Cháu chào bác, chào anh Vũ nha. - Xin chào! Thoại Vũ phóng xe chạy một mạch về tòa soạn, anh trình bày sự việc với ban giám đốc và đề nghị: - Số báo ngày hôm nay đã in xong rồi, sắp đến giờ phát hành. Không còn kịp nữa. Tôi muốn làm một tờ tin nhanh. Sau khi bàn bạc, mọi người không đồng ý, họ đưa ra ý kiến ém nhẹm sự việc này, chờ cho tới sáng mai sẽ tung ra trong trang nhất của báo. Đó cũng là nghệ thuật trong kinh doanh báo chí. Đúng như ban giám đốc dự định, báo vừa phát hành với số lượng gấp ba ngày thường đã được bán sạch trong vài tiếng đồng hồ. Các đại lý liên tục gọi điện tới tòa soạn yêu cầu được cung cấp thêm báo để bán cho độc giả. Lần này không những chỉ có độc giả mà các ban ngành chức năng cũng quan tâm đến chuyện này. Viện khoa học, viện y học, cơ quan pháp luật... đã cho người đến trực tiếp phỏng vấn nhà báo Vạn Thành. Họ không tin chuyện ma quỷ là chuyện có thật. Có chăng đó chẳng qua là những câu chuyện truyền miệng dân gian, mang tính chất hoang đường. Quỷ mà xuất hiện giữa đời thường là một chuyện hiếm có. Nhưng trước những chứng cớ và lập luận của nhà báo Vạn Thành mọi người gần như bị thuyết phục rằng sự có mặt của con quỷ ở trần gian này là chuyện hoàn toàn có thật. Không ai có thể bịa, thậm chí cũng không thể ghép hình, hay tạo một hiện trường cây bật gốc ngổn ngang trong khu vườn kia. Sau khi tờ báo phát hành, lập tức ngấm ngầm trong dân chúng thành lập ra những người săn bắt quỷ. Họ là những tay giang hồ, hoặc những tay chơi có máu mặt. Không tin hoặc chí ít là bị tính tò mò cám dỗ. Những thanh niên này tụ tập thành từng nhóm, họ xuống biển vào ban đêm để rình mò con quỷ. Họ đi với một tâm trạng hồi hộp, chen lấn lẫn lo sợ. Con người muốn giáp mặt con quỷ để đánh giá lòng can đảm của mình. Có người thì bị sự thách thức của bạn bè mà nhập cuộc. Bẵng đi một tuần không thấy con quỷ xuất hiện. Đêm nay là đêm thứ tám kể từ ngày nó phá phách khu vườn nhà bác sĩ Vũ. Trời hôm nay tối đen như mực chỉ có ánh đèn đường hắt từ xa xuống, bờ biển tranh tối tranh sáng. Nhóm những người săn bắt quỷ đã bắt đầu nản lòng ra về. Một vài tay săn ảnh của các tờ báo khác cũng lảng vảng ở bờ biển. Mong chộp được một vài tấm hình của con quỷ, hy vọng được đăng trên báo và cũng trở nên nổi tiếng như nhà báo Vạn Thành. Nhưng sự khước từ của con quỷ không xuất hiện đã làm họ nản chí. Bờ biển chỉ còn lại nhóm ba người thanh niên. Họ chỉ mới ngoài hai mươi. Vì sự tò mò và muốn thử thách lòng can đảm của mình, họ đã có mặt ở bãi biển này. Một người cầm súng trường, một người cầm cây mác dài, còn người kia thì xách máy chụp hình. Nghĩ rằng khi tiếp cận con quỷ sẽ chộp được một vài pô. Anh chàng sách súng nói lớn tiếng: - Hay con quỷ nó biết sự hiện diện của tao ở bờ biển này nên tránh mặt. - Thôi đi đại ca, đừng có nói dóc, nó mà sợ anh. - Nó không sợ tao thì tao cũng chẳng sợ nó. Từ hồi nhỏ đến giờ, tao chưa biết sợ một thứ gì. Nay nghe có quỷ, xem xem thử khi giáp mặt nó có run tí nào không? - Còn em thì khác, mong chụp được vài bức ảnh rồi đem bán đấu giá cho mấy tay làm báo, chắc sẽ hốt được bộn tiền chuyến này. - Mày đừng có mơ, tới lúc đó xách quần chạy không kịp nữa, chứ ở đó mà đứng bấm máy. - Sao anh coi thường em dữ vậy. - Ừ thì khi nào gặp nó khắc biết. Người cầm mác vừa nói vừa ngáp dài: - Thôi về thôi, tao buồn ngủ lắm rồi. Ngày mai lại đi săn quỷ tiếp. - Ừ về thôi. Họ đồng thanh nói và hướng ngược trở lại quay về. Đi được một đoạn dài, một người trong bọn họ nheo mắt nhìn ra xa. - Nhìn kìa, ở đằng kia hình như có ai đang ngồi một mình. - Đâu! Đâu! Sao tao không nhìn thấy gì cả. - Cả bọn dợm chân đứng lại. - Tuốt ở đằng kia kìa. Có lẽ trời tối quá nên nhìn không rõ. Cả bọn cùng căng mắt ra nhìn xuyên qua màn đêm. Bóng đen lúc ẩn lúc hiện. Người xách súng lên tiếng: - Đi tiếp đi, lại gần thì sẽ biết thôi mà. Cả bọn không ai bảo ai, tự dưng đi xáp lại gần nhau hơn. Người cầm máy thì thầm: - Nhỡ đó là con quỷ thì sao nhỉ? - Thì tốt chứ sao. - Người cầm súng nói mạnh miệng. - Mày chả trông được gặp nó là gì. Tốn công thức trắng mấy đêm, bỏ bồ ở nhà để đi săn nó, nếu gặp được thì hay biết mấy. Tự dưng họ nghe hơi lạnh chạy dọc sống lưng. Khi bóng đen ngày càng rõ dần. Nhưng chỉ là một khối đen ngồi im bất động, hướng mặt ra biển. Người cầm súng nói: - Có lẽ là ai đó đang thất tình nên ra đây ngồi. - Cẩn thận đó anh. Lỡ là con quỷ... Họ dừng lại khi cách bóng đen khoảng bốn, năm mét. Người cầm súng giơ lên quát khẽ: - Ai đó! Sao giờ này còn ngồi đây? Bóng đen nghe tiếng quát thì đứng dậy. Một thân hình cao to, đồ sộ. Bọn săn quỷ lùi lại vài bước, mắt trợn lên giật giật. Người cầm mác hét: - Quỷ biển, đúng là nó rồi. Người cầm súng trường nâng nó lên nhắm vào bóng đen bóp cò, một tia sáng lóe lên kèm theo một tiếng nổ chát chúa. Nhưng bóng đen còn nhanh hơn tia chớp của làn đạn, nó phóng mình nhảy thoát ra xa. Người cầm súng tiếp tục bóp cò. Bóng đen thoắt biến thoắt hiện cộng với đêm tối dày đặc nên bọn người săn quỷ không thể nhìn rõ mục tiêu. Bắn tới phát thứ ba thì họ không thấy bóng dáng con quỷ đâu nữa. Nó như hòa lẫn vào màn đêm đen kịt. Cả bọn run rẩy toát mồ hôi tay: - Nó đâu rồi! Nó biến mất rồi hả? - Làm sao tao biết được. Mày hỏi tao, tao biết hỏi ai, chia nhau quan sát tứ phía đi, phòng hờ sự xuất hiện của nó. - Tụi mình điên thật rồi. - Người cầm mác run lẩy bẩy nói. - Săn gì không săn lại dám đi săn quỷ. - Mày sợ rồi hả? Sợ thì về đi. - Tay cầm súng trường nạt khẽ. - Ừ! Tao sợ đến độ tè ra quần rồi đây. - Tay nhiếp ảnh thú nhận. - Cha mẹ ơi! Tao muốn về lắm. Nhưng làm sao mà thoát ra khỏi chỗ này đây. Người cầm súng khẽ nói: - Lúc nãy tao bắn nó ba phát không biết có trúng nó phát nào không? - Chưa chắc trúng phát nào đâu. Bà nội tao nói ma quỷ là loài vô hình, không có súng đạn nào bắn được nó. Nó đã là ma là quỷ thì không thể chết lần thứ hai được nữa. - Gừ... gừ... gừ... Tiếng rên bất chợt bật ra từ phía sau lưng ba người. Họ quay phắt lại, chỉ kịp nhận ra một bóng đen đang đứng sát họ. Trong bóng tối, đôi mắt con quỷ như hai hòn than, nanh nó nhe ra gầm gừ, hai tay giơ cao như chụp lấy ba người. Anh chàng cầm mác và tay săn ảnh quăng cả mác và máy chụp hình trong tay quay đầu tháo chạy và hét thất thanh: - Cứu tôi với, quỷ biển, quỷ biển xuất hiện. Họ chạy ngã sấp, ngã ngửa. Rồi cũng cố vừa bò vừa lê tấm thân mềm nhũn đi, vì nỗi kinh hoàng gần như nhấn chìm lấy họ. Chỉ có người cầm súng còn đủ can đảm, anh ta chĩa súng vào con quỷ và bóp cò. Nhưng nhanh như cắt con quỷ lao đi như một mũi tên bắn, giằng lấy cây súng. Khẩu súng chĩa ngược lên trời trong lúc giằng co và cướp cò, lại một tiếng nổ nữa xảy ra. Chỉ bằng một động tác nhẹ thôi, con quỷ đã giật phắt cây súng vứt xuống biển. Rồi nó túm chặt lấy anh ta, giơ lên cao qua khỏi đầu rồi quẳng mạnh xuống đất. Người thanh niên oằn mình, hét lên kinh hoàng. Con quỷ say máu, nó lao đến tát mạnh vào mặt anh ta, cứ sau một cái tát là một lớp da thịt rách toạc ra dưới bàn tay đầy móng vuốt sắt nhọn của nó. Tiếng thét gào la vang vọng cả một vùng. Con quỷ như trút nỗi căm hờn từ lâu đối với con người vào tấm thân đang oằn oại dưới tay mình. Nó xé toạc lồng ngực của nạn nhân ra làm hai, lôi bộ lòng vứt ra xa. Người thanh niên sau khi hét lên tiếng kêu đau đớn cuối cùng và tắt thở. Ngồi trong nhà Thoại Vũ uống trà, Vạn Thành đã nghe tiếng súng nổ ngay từ loạt đầu tiên. Anh bật dậy, Thoại Vũ cũng lao theo anh. Họ tông cửa cổng, chạy thẳng xuống biển. Vừa lúc đó gặp hai thanh niên chạy đến, Vạn Thành chặn họ lại. - Có việc gì vậy? Người thanh niên gần như ngã quỵ trong vòng tay Vạn Thành, anh ta chỉ tay ra phía sau nói được hai chữ: "Quỷ biển"... rồi ngất lả người đi. Còn người thanh niên kia thì cứ cắm đầu chạy lao lên đường, vừa chạy vừa hét như một người điên. Phía trước lại có tiếng kêu cứu của ai đó. Vạn Thành và Thoại Vũ bỏ anh thanh niên nằm trên cát và lao theo tiếng kêu cứu. Khi họ chạy đến nơi thì thoắt một cái bóng đen cao to lao ùm xuống biển, mất hút trong làn nước đen và bóng đêm. Vạn Thành chạy theo, nhưng không kịp. Anh đứng căng mắt nhìn như muốn chọc thủng màn đêm, cố tìm cho bằng được bóng dáng con quỷ biển. Tiếng bác sĩ Vũ gọi giật giọng: - Anh Thành, anh Thành... lại đây ngay! Vạn Thành chạy lại. Bác sĩ Vũ chỉ cái xác dưới chân, mặt nhăn lại: - Anh nhìn xem, anh ta vừa mới bị con quỷ sát hại. Thân thể anh ta vẫn còn nóng hổi. Vạn Thành cúi xuống nhìn kỹ hơn. Dưới ánh sáng lờ mờ, anh thấy xác chết thịt da tan nát, mặt anh ta bị tróc ra từng mảng da thịt, trông thật là khủng khiếp. - Thật kinh khủng. - Vạn Thành thốt lên. Thoại Vũ nói: - Anh dùng máy di động gọi điện cho cơ quan điều tra hình sự và bên pháp y đến đi. Vạn Thành nhanh chóng bấm máy, song anh nói: - Anh ở lại đây, tôi về nhà lấy máy chụp hình, lúc nãy tôi đã quên mang theo. Phải chụp một vài tấm hình trước cho báo sáng mai. Trước khi cơ quan điều tra đến tiếp thu hiện trường. Vạn Thành chạy đi, rồi khựng lại hỏi: - Anh có sợ không? Thoại Vũ ngần ngại nhìn xuống biển và nói: - Chắc nó không trở lại ngay đâu. Anh chạy về nhanh đi. Vạn Thành cắm đầu chạy, một lát sau anh trở lại với cái máy chụp hình trên tay. Ánh sáng từ cây đèn lấp lóe lên liên tục. Vạn Thành làm việc, trong khi Thoại Vũ ngồi cách xa một khoảng, hướng mắt nhìn ra biển. Anh tự đặt hàng loạt câu hỏi. Con quỷ biển được sinh ra từ đâu. Chẳng lẽ sinh ra từ lòng đại dương. Nó trú ngụ ở đâu? Dưới lòng biển sâu hay sao? Nó xuất hiện trên cõi dương gian này với mục đích gì? Tại sao nó lại chĩa mũi dùi phá phách vào nhà anh. Nó có thù với ai trong nhà này, tại sao nó lại giết người? Tiếng còi hú của xe cảnh sát lao tới, cắt ngang luồng suy nghĩ của anh. Tiếng chân người chạy rầm rập xuống làm nhiệm vụ. Họ lập biên bản lấy lời khai của Vạn Thành và Thoại Vũ, khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm tử thi xong, mọi việc kết thúc thì trời đã hừng sáng. Xác chết dần lộ ra hẳn dưới ánh sáng của bình minh. Bây giờ mới có dịp nhìn rõ hơn, cái chết thật là tàn khốc. Thoại Vũ và cả Vạn Thành cùng đưa mắt nhìn nhau. Cả hai không nói gì nhưng ánh mắt họ biểu lộ sự bất nhẫn trước cái chết của người thanh niên kia. Ngực anh ta bị xé toạc, máu đỏ lòm. Cơ quan chức năng vội thu xếp hiện trường. Họ cho xác chết vào một cái túi nylon, nhặt bộ lòng của nạn nhân cho chung vào bao. Dòng người hiếu kỳ đang tập trung lại ngày một đông, họ đang xôn xao bàn tán. Vạn Thành nhanh chóng về tòa soạn và một tin nhanh được ra đời với cái tựa đề: "Phóng sự điều tra về con quỷ biển". Và một dòng chữ nổi màu đỏ nổi lên: "Người săn quỷ đã bị quỷ sát hại". Minh chứng cho bài báo là hàng loạt tấm hình chụp cái xác chết của nạn nhân ở đủ mọi góc độ. Một tấm ảnh rùng rợn nhất là bộ đồ lòng của anh ta bị vứt kế bên xác chết. Những tấm ảnh thật ấn tượng. Đã gây nên một dư luận xôn xao khắp trong thành phố. Người người bàn tán, đi tới đâu cũng nghe thiên hạ bàn về con quỷ biển. Sự lo âu hiện rõ trên nét mặt của mọi người. Con quỷ xuất hiện, làm đời sống của mọi người càng bất an hơn. Những cú điện thoại gọi đến tòa soạn, yêu cầu báo phải phối hợp với cơ quan chức năng tìm ra biện pháp diệt trừ con quỷ để lấy lại sự bình yên cho dân chúng. Biện pháp đầu tiên là cấm mọi người dạo biển vào ban đêm, thứ hai là có những đội đặc nhiệm chia nhau đi tuần tra bờ biển. Họ được trang bị những khẩu súng hiện đại. Nếu như gặp quỷ biển chắc chắn họ sẽ đối đầu được với nó. Phần 5 Bẵng đi một thời gian khoảng nửa tháng, con quỷ không xuất hiện, nó không gây ra một cơn sốc nào nữa. Hình như nó cũng đã đánh hơi được điều gì rồi. Con người đang ra sức chống lại với nó. Tiêu diệt nó. Con quỷ dường như biến mất. Tâm lý của Thoại Vũ cũng dần dần thư giãn đi. Lúc trước, ngày nào anh cũng nơm nớp lo sợ sự xuất hiện của con quỷ trong căn nhà này. Sợ mẹ anh lại bị sốc khi con quỷ hoành hành. Bà gầy đi trông thấy rõ, hai hốc mắt trũng sâu vì mất ngủ. Không khí trong nhà Thoại Vũ lúc trước vốn lặng lẽ nay càng nặng nề hơn. Các thành viên thường khóa chặt mình trong phòng riêng, mỗi khi về nhà. Thoại Vũ thấy mình cô đơn quá. Anh chỉ thấy lòng ấm áp khi ở cạnh Lâm Giang. Tiếng cười của cô ấy làm anh cảm thấy mình như trẻ hẳn ra. Mặc dù với cái tuổi của anh, thiên hạ chưa ai gọi là già, nhưng anh thì luôn nghĩ mình đã già khi đứng trước cô bé vừa tròn hai mươi tuổi này. Thoại Vũ nhấc máy điện thoại lên và bấm số, đầu dây bên kia có người nhưng Thoại Vũ nhận ra ngay đó không phải là Lâm Giang, anh nói: - Dạ làm ơn cho tôi gặp Lâm Giang. - Xin anh chờ cho một chút. - Dạ, cám ơn nhiều. Một lúc sau, giọng nói nhỏ nhẹ quen thuộc vang lên: - Alô! Dạ Giang nghe đây ạ. - Em đang làm gì đó? - À! Anh Vũ phải không? - Ừ! Anh đây. - Em đang đọc sách. - Giang này! Tối nay anh mời em đi xem ca nhạc được không? - Dạ... dạ... - Giọng Giang ngập ngừng. Thoại Vũ cười nhẹ: - Sao thế cô bé? Khó trả lời anh hả? - Dạ không... nhưng mà em sợ ba mẹ em... Em không dám xin đâu. - Thế thì anh sang xin phép hộ em nhé, được không? - Dạ... cũng được... nhưng em lo quá. - Em lo gì nào. Lo ba má la hả? Em lớn rồi mà đâu còn là cô bé nữa. Hay lo sợ anh ăn thịt em? Ồ! Anh không biết ăn thịt người đâu. Lâm Giang cười khúc khích rồi trả lời: - Từ trước tới nay em chưa từng đi chơi ban đêm với một người con trai nào cả. Có chăng là tụi em đi chung một nhóm, nên lần đầu em cũng hơi ngại... - Lần đầu sẽ ngại, nhưng lần thứ hai, thứ ba, rồi tiếp theo nữa em sẽ không ngại đâu. Sau này anh sẽ cố gắng mời em đi chơi nhiều hơn nữa, có được không? - Em cũng không biết nữa. - Sao trả lời như vậy, em phải biết chứ? - Câu này để dành em trả lời sau cho chắc ăn nhé. Bây giờ em chưa thể trả lời anh được đâu. - Em khôn thật. - Thoại Vũ bật cười. - Thôi! Tạm biệt cô bé của anh. Nhớ sửa soạn sẵn, chiều nay anh sang xin phép ba mẹ em. - Dạ, chào anh. Lâm Giang cúp máy xuống, đưa tay ôm mặt, hai gò má cô nóng ran lên. Tim đập thình thịch trong ngực. Lần đầu tiên trong đời Giang hò hẹn với một người đàn ông. Cái cảm giác này thật lạ, vừa hồi hộp lo lo, nhưng đồng thời cũng cảm thấy thích thú, vui vui. Rồi sau đó là sự chờ đợi... đợi chờ từng giây, từng phút trôi qua... mau mau cho đến giờ hẹn với nhau. Chiều xuống khi ba mẹ Lâm Giang đi làm về, vừa tắm xong thì Thoại Vũ xuất hiện. Đã từ lâu họ đã coi anh như người hàng xóm thân thiết. Anh vẫn thường sang nhà chơi, đôi lúc trò chuyện với ba má Lâm Giang. Có lúc là khám bệnh cho mọi người. Ông bà Lâm Ngọc ngấm ngầm cũng đã có những tình cảm đặc biệt dành cho anh. Ba Lâm Giang thấy Thoại Vũ ăn mặc chỉnh tề thì hỏi to: - A! Chào bác sĩ. Hôm nay đi đâu mà ăn mặc đẹp thế? - Dạ chào cô chú. Cháu sang xin phép cô chú cho cháu mời Lâm Giang đi chơi tối nay có được không ạ? Cả hai ông bà ngớ người ra nhìn nhau trong giây lát. Họ không hề nghĩ bác sĩ Vũ lại để ý đến con bé nhà họ. Điều đó ngoài sức tưởng tượng của ông bà. Họ chỉ nghĩ Thoại Vũ xem Lâm Giang như là đứa em gái thôi. Nào ngờ... Thấy hai người cứ nhìn mình mãi Thoại Vũ lên tiếng: - Dạ có được không ạ? - Thoại Vũ nhắc lại câu hỏi. Cả hai cùng đồng thanh nói: - Được! Được chứ. Rồi họ quay sang nhìn nhau cười, ngầm hiểu ý nhau. Bà Lâm Ngọc đứng lên: - Bác sĩ ngồi chơi để tôi gọi Lâm Giang. Vừa lúc đó Lâm Giang xuất hiện ở cầu thang, cô mặc chiếc váy màu tím hoa cà, điểm những bông hoa dại li ti màu trắng, bên trên là chiếc áo cổ lọ cũng màu trắng. Tóc cột cao lên, trông cô mới xinh đẹp làm sao, làm Thoại Vũ phải ngẩn ngơ giây lát. Bà Lâm Ngọc nhìn con gái và thốt lên: - Ôi! Con tôi xinh quá. Thì ra đã hẹn trước với anh Vũ rồi hả? Sao sửa soạn đẹp thế. Vậy mà không báo trước cho mẹ biết. - Con chưa kịp nói ạ. - Mặt Giang lại đỏ lên. Bà Lâm Ngọc nói: - Con đi chơi đi. Con gái gì suốt ngày cứ ở trong nhà mãi. Phải ra đường mới học hỏi được chứ con. - Rồi quay sang Thoại Vũ. - Con bé nhà tôi nó nhát lắm, bác sĩ trông chừng nó giúp tôi nha. - Dạ, cô chú yên tâm ạ. Xin phép cô chú cháu đi. Lâm Giang khoanh tay lại: - Thưa ba mẹ con đi chơi ạ. - Ừ đi đi con. Chờ cho hai người đi khuất, bà Lâm Ngọc quay sang nhìn chồng và cười bằng mắt: - Anh nghĩ sao, thật bất ngờ nhỉ? Em không nghĩ bác sĩ Vũ lại chấm con gái mình. - Có gì mà lạ. - Ba Lâm Giang nói giọng tự hào. - Em không thấy con gái mình xinh đẹp biết bao... - Nhưng em nghĩ bác sĩ Vũ là người thành đạt, đẹp trai thì cũng sẽ chọn cho mình một người vợ cũng ngang tầm với mình chứ. - Em nói vậy là sai. Sau này con gái mình tốt nghiệp đại học cũng làm ông này, bà nọ như ai chứ. Chúng quả thật là đẹp đôi. Hai vợ chồng cùng nhìn nhau, ánh mắt đầy mãn nguyện. *** Vừa ra khỏi nhà, Thoại Vũ quay sang nhìn Lâm Giang. Cái nhìn của Vũ làm Lâm Giang bối rối. Cô vân vê tóc mai.- Sao anh nhìn em dữ vậy? - Em xinh quá! - Thoại Vũ thốt lên như không kìm được lòng. - Quả thật anh chưa từng nhìn thấy ai xinh đẹp quyến rũ như em. Lâm Giang lấy tay ôm đôi gò má đang ửng đỏ lên. Cô không biết nói gì, ngượng ngùng dí dí mũi giày xuống đất. Thoại Vũ đề nghị: - Hãy còn sớm, chúng ta đi ăn cơm nhé? - Dạ. - Em lên xe đi. Lâm Giang ý tứ ngồi cách xa ra một chút. Đây là lần đầu tiên cô đi chung xe với Thoại Vũ. Có mấy lần anh đón cô ở cổng trường nhưng hai người luôn đi hai xe. Thoại Vũ nhắc nhỏ: - Em ngồi cẩn thận, kẻo ngã. - Dạ. Vũ cho xe chạy chầm chậm hướng về nhà hàng Hải Yến. Hai người chọn một cái bàn ngồi hướng mặt ra biển. Sau khi người bồi bàn đem thực đơn tới, Thoại Vũ đẩy sang cho Giang: - Em "đi chợ" đi. Lâm Giang tròn mắt với cái từ "đi chợ". Thoại Vũ bật cười: - Em không hiểu à. "Đi chợ" là tiếng lóng dùng để gọi thức ăn đó. - Thôi, anh gọi đi. Em ăn gì cũng được. - Vậy anh chọn nhé. Lâm Giang khẽ gật đầu. Thoại Vũ gọi một ít hải sản biển. Họ vừa ăn vừa trò chuyện. Thoại Vũ lột từng con tôm, bóc vỏ càng cua rồi mới bỏ vào chén cho Lâm Giang. Anh chăm sóc cô bé chu đáo. Còn Lâm Giang thì nhỏ nhẹ ăn từng miếng một. Cả trong cái cử chỉ ăn uống của cô cũng để lại cho Thoại Vũ một ấn tượng đẹp. Ăn xong họ ngồi uống trà và thì thầm trò chuyện. - Lâm Giang này! Em có thấy dễ chịu khi đi chơi với anh không? Lâm Giang chớp chớp mắt nhìn xuống, đáp: - Dạ có! - Lần sau anh mời, em có đi nữa không? Lâm Giang cười khúc khích: - Lần sau, thì đợi lần sau trả lời. - A! Cô bé cũng lém lỉnh thật. Thôi được, không xa đâu, sẽ có một lần sau cho em trả lời. Thoại Vũ quay sang ngắm Lâm Giang thật kỹ rồi anh lắc đầu khe khẽ. - Sao thế? Sao lại lắc đầu khi nhìn em vậy? - Lâm Giang tròn mắt hỏi. - Anh muốn nhìn kỹ em và anh tự hỏi sao trên đời này lại có một người con gái như em nhỉ. Em duyên dáng và xinh đẹp vô ngần. Em cứ như người ở cõi tiên xuống đây vậy. Nhìn em tinh khiết, thanh cao như không hề vương vấn một chút bụi trần nào. - Anh đề cao em quá đó! - Lâm Giang lí nhí trong miệng. - Không, anh nói thật lòng đó, có thể lời nói không diễn đạt hết ý nghĩ của anh, vì từ trước tới giờ anh khá vụng về khi nói chuyện với người khác phái. Bởi thế nên có người nghĩ rằng anh rất khó tính. - Ừ! Lúc đầu em cũng thấy thế. Em thấy anh nghiêm lắm... nghĩ rằng rất khó gần anh được. Thoại Vũ nghiêng đầu một chút, nhìn Lâm Giang hỏi: - Còn bây giờ thì sao? - Bây giờ hả? - Lâm Giang hỏi lại. - Bây giờ thì anh Vũ tạo cho em một cảm giác rất thoải mái, rất tự tin khi đi chung với anh. Với anh, em thấy mình nhỏ bé kỳ lạ. Đi gần anh, em thấy mình được che chở, được an toàn tuyệt đối. Thoại Vũ xúc động: - Cám ơn những lời nói thật lòng của em. - Anh im lặng một lúc lâu rồi nói. - Anh cũng vậy. Cuộc sống của anh bây giờ có ý nghĩa nhất là khi gặp được em, được trò chuyện với em, được nghe em cười... Anh cảm thấy lòng ấm áp lạ thường. Anh chưa từng thấy thoải mái dễ chịu khi ở bên cạnh ai, như ở bên em Lâm Giang ạ! Bây giờ anh có tất cả, công danh, sự nghiệp, tiền tài. Nhưng anh vẫn thấy mình thiếu thiếu một cái gì đó. Anh luôn ở trong tâm trạng của một người cô độc, buồn bã. Giờ thì anh hiểu là anh thiếu gì. Anh thiếu một nửa còn lại của chính mình. Lâm Giang nhìn anh và hỏi nhỏ: - Vậy anh đã tìm ra nửa kia chưa? Thoại Vũ nhìn như thôi miên vào mắt của Lâm Giang. Cô như bị ánh mắt đầy uy lực kia quyến rũ. Lâm Giang thấy tim mình chới với. - Em có bằng lòng làm một nửa kia của anh không? Lâm Giang bối rối, cô run giọng: - Em sợ mình không đủ sức... - Đừng! - Thoại Vũ đưa tay ngăn lại, như không muốn cho Lâm Giang nói tiếp. - Anh chỉ cần biết em có bằng lòng không thôi. - Dạ... có ạ. Thoại Vũ gần như nín thở chờ đợi câu trả lời của Giang, giờ đây anh thở ra nhè nhẹ. Cảm thấy yên lòng vô hạn. Cô bé đã đồng ý làm bạn gái của anh rồi. Hoan hô, cảm ơn đất trời, cảm ơn thượng đế đã ban tặng cho con cô gái yêu kiều, mỹ miều này. Thoại Vũ muốn hét lên thật to cho mọi người nghe thấy. Nhưng anh đã kìm lòng bởi anh biết tuổi tác của mình, không cho phép anh hành động như một cậu choai choai mới lớn được. Anh chỉ nói khẽ một câu. - Cám ơn em... Cô bé của anh. Và anh cũng cám ơn thượng đế đã tạo ra em, để cho anh có được em hôm nay. Có được niềm hạnh phúc mà anh đã tìm kiếm bấy lâu nay. Rồi nhẹ nhàng, anh nắm lấy bàn tay của Lâm Giang. Cứ thế tay trong tay, họ ngồi ngắm biển, mà nghe tim mình cháy bỏng một ngọn lửa đam mê. Ngọn lửa của tình yêu, huyền ảo và đầy mãnh lực. Đêm hôm đó, họ đi xem ca nhạc và về nhà hơi khuya một chút. Tiễn Lâm Giang vào cổng rồi, Thoại Vũ mới quay về nhà mình. Anh mở cổng bằng chìa khóa riêng. Và dựng xe trước sân, anh chợt nghe một tiếng thét vang vọng từ trên lầu nhà mình. Đưa mắt nhìn lên lập tức anh thấy một bóng đen khổng lồ trên vai nó vác mẹ anh. Dường như bà đã ngất đi, khi cái tay con quỷ chạm vào người mình. Con quỷ bay từ trên lầu xuống, một tay bám vào cây cột tròn, rồi tụt xuống. Nó di chuyển nhẹ nhàng. Mặc dù trên vai đang vác một người. Nó nhún mình nhảy lên bức tường cao rồi phóng ra ngoài. Thoại Vũ sau phút giây bàng hoàng cực độ, vì đây là lần đầu tiên anh trực tiếp giáp mặt với con quỷ. Khi sực tỉnh lại, thì bóng con quỷ và mẹ anh đã mất hút sau bức tường. Thoại Vũ cắm đầu chạy đuổi theo, anh lao ra đến cổng thì thấy bóng con quỷ đang chạy dưới bãi biển. Thoại Vũ phóng theo, anh tuy sợ nó nhưng vì mẹ. Thoại Vũ gần như quên bẵng nỗi sợ hãi, anh chỉ muốn cứu được mẹ của mình. Con quỷ đã chạy tới mép nước. Thoại Vũ đuổi theo kịp. Nó dừng lại đột ngột và quay phắt lại nhìn anh. Thoại Vũ đứng tim, anh khựng lại trước cái nhìn của nó. Đôi mắt trong đêm có màu lửa. Nhìn kỹ một chút, Thoại Vũ phát hiện ra, ngoài thân hình cao lớn đầy lông lá, con quỷ có một gương mặt rất giống người, mắt, mũi, miệng đều bình thường. Nếu như nó không long mắt lên, thì đó cũng là một đôi mắt to tròn và cái miệng không nhe ra, thì cũng chẳng thấy nanh của nó. Gương mặt được bao phủ bởi một lớp lông đen, nên nhìn nó luôn có cảm giác rờn rợn cả người. Cả hai gườm nhìn nhau một lúc. Con quỷ tiếp tục bước xuống nước. Thoại Vũ dấn chân theo, anh không biết làm cách nào để đoạt lại mẹ mình. Với sức mạnh phi thường như nó, thì có đến mười người như Vũ cũng chưa chắc gì làm được chứ đừng nói chỉ có một mình anh. Thoại Vũ muốn hét lên cầu cứu, nhưng nhìn bãi biển vắng tanh, anh biết nếu mình có gào lên thì tiếng kêu cũng nhòa lẫn vào trong gió và sóng biển. Thấy Thoại Vũ bước theo, con quỷ phát ra giọng nói ồm ồm, âm thanh khàn đục: - Đứng lại! Tôi... không muốn... hại anh. Thoại Vũ bất ngờ nghe giọng nói của con quỷ, anh giật bắn người lên và gần như ngả ngửa xuống cát. Nỗi sợ hãi bóp nghẹt trái tim anh. Con quỷ bất thần lao xuống biển, nó dùng một tay giơ cao bà Minh Tuyền lên, rồi như một thân tàu rẽ sóng lướt đi. Thoại Vũ bật dậy lao theo xuống nước, anh gọi to: - Mẹ! Mẹ ơi! Trả mẹ cho tôi... Tiếng anh mất hút vào trong gió. Phút chốc con quỷ đã biến vào màn đêm đen kịt, bơi một khoảng khá xa, Thoại Vũ biết sức mình không thể bơi tiếp được, anh quay vào bờ ngồi ủ rũ, vai buông thõng xuống, mặc cho người ướt sũng, Vũ bật khóc ngon lành. Anh cảm thấy mình bất lực trước con quỷ. Anh không có cách nào cứu được mẹ, mặc dù với anh bà là một người mẹ có phần hơi lạnh lùng. Nhưng dù sao bà cũng là mẹ anh mà, Vũ thấy một sự mất mát to lớn, anh gào lên: - Mẹ! Mẹ ơi! Mẹ đâu rồi. Tại sao lại là mẹ mà không là ai khác? Tại sao con quỷ lại bắt mẹ tôi? Vũ ngã sụp xuống nằm úp mặt xuống cát. Anh ước gì con quỷ quay trở lại và bắt anh đi, ít ra thì anh cũng có dịp được ở cùng với mẹ. Nó bắt mẹ mình để làm gì? Có khi nào nó ăn thịt bà hay không? Nghe nói quỷ rất thèm ăn thịt người mà mẹ mình thì già lắm rồi, chỉ còn da bọc xương, thịt có béo bở gì đâu mà nó bắt đi. Nếu vậy, chắc nó sẽ nhốt mẹ mình ở đâu đó với ý đồ gì thì mình không thể hiểu được. Vũ vùng dậy. Nhất định phải tìm cho ra mẹ, nhất định mình phải tìm cho bằng được. Anh suy nghĩ và hành động ngay. Vũ bình tĩnh quay vào nhà, anh lên phòng cha anh gõ cửa. ông Nhật Tân ngạc nhiên vì không hiểu vì sao giờ này ông còn bị làm phiền. Ông bước ra mở cửa rồi hét lên nho nhỏ, nhảy lùi lại phía sau mấy bước. Trước mặt ông là một người cát trắng xóa, cát bám từ đầu đến chân, bám trắng cả mặt. Thoại Vũ lên tiếng: - Ba, con đây, ba đừng sợ Ông Nhật Tân định thần nhìn lại, ừ nhỉ, thằng Vũ con trai ông đây mà, nhưng sao người ngợm nó lại thế kia. - Vũ! Phải con đó không? - Ông hỏi giọng đầy vẻ nghi ngờ. - Con đây mà ba. - Thoại Vũ gật đầu. - Trời! Sao người con lại... - Ông bỏ dở câu nói đứng chết sững nhìn con. Thoại Vũ không kịp giải thích, anh nói ngắn gọn: - Ba! Mẹ đã bị con quỷ bắt đi rồi. - Hả! - Ông Nhật Tân lảo đảo, choáng váng trước hung tin đó. Thoại Vũ bước nhanh lại đỡ ấy cha. - Ba. Bình tĩnh lại đi ba. Anh dìu ba ngồi xuống giường, ông Nhật Tân lắp bắp: - Con... Con có thể... nói rõ cho ba... nghe được không? Thoại Vũ thuật lại câu chuyện một cách ngắn gọn cho ba anh nghe, anh kết một câu: - Bây giờ thì ba biết tại sao người con dính đầy đất cát rồi đó! Ông Nhật Tân đưa tay vuốt mồ hôi chảy ròng ròng trên trán. Ông thật sự bàng hoàng trước hung tin này. Thoại Vũ hiểu được tâm trạng lo lắng của ba, anh nói: - Ba à? Chuyện này con tính như thế này, gia đình mình cứ giấu chuyện mẹ bị quỷ bắt đi, con không muốn báo chí làm rùm beng lên, không muốn những kẻ hiếu kỳ sẽ đổ xô vào nhà ta. Con muốn tự tay mình điều tra chuyện này. Con sẽ tìm ra tung tích con quỷ và đưa mẹ trở về nhà. - Con không thể làm được đâu Vũ ạ. Làm sao một mình con có thể đối đầu với con quỷ. Nếu nó ăn thịt con thì sao. Thôi không được đâu. - Ba! Con năn nỉ ba, hãy để cho con đi cứu mẹ con. Con không thể ngồi khoanh tay mà chờ đợi được. Con sẽ nhờ nhà báo Vạn Thành cùng đi với con. Ông Nhật Tân ngập ngừng như muốn nói điều gì nhưng nghĩ sao lại thôi. Thoại Vũ nôn nóng: - Bây giờ ba nghỉ đi, mọi việc cứ để cho con lo. Nếu ngày mai chị giúp việc có hỏi mẹ, ba cứ nói đêm qua mẹ đến nhà một người bà con chơi có thể vài ngày mới trở về. Nói với cha xong Thoại Vũ chạy về phòng và điện thoại ngay cho nhà báo Vạn Thành. - Alô! Anh Thành hả? Anh đến nhà tôi ngay nhé, có việc rất gấp. Đến ngay nhé. Nghe giọng nói gấp gáp và nhấn mạnh của Thoại Vũ, Vạn Thành đã linh cảm có điều gì đó không hay lại xảy ra cho gia đình nhà bác sĩ. Anh cấp tốc lên đường ngay, mặc dù lúc đó đã hơn một giờ khuya. Tới nơi nghe lời kể của bác sĩ Vũ, Vạn Thành bóp trán suy nghĩ và đi tới đi lui. - Tôi đặt giả thuyết thế này, con quỷ này có thù sâu gì với bác gái, nên mới hành động từ trước tới nay nó luôn dồn về phía bác ấy. Thứ hai, nếu con quỷ muốn giết chết bác ấy thì thiếu gì cơ hội để ra tay. Nó có thể giết bà ngay tại đây, sao lại bắt bác ấy đi? - Bởi vậy, tôi hy vọng nó chưa giết mẹ tôi, có thể nó sẽ giam giữ bà ở đâu đó. - Anh nói đúng, con quỷ không thể sống dưới lòng đại dương. Nó có thể ở trong hang đá, hoặc trên những hoang đảo ngoài kia. - À! Điều mà tôi bất ngờ nhất. - Thoại Vũ nói. Tôi không ngờ con quỷ có thể nói được tiếng người. Mặc dù âm thanh của nó khàn đục, ồ ồ, nhưng tôi vẫn nghe được. - Ngày xưa, ông bà ta có những câu chuyện về ma quỷ. Ma, quỷ cho là hiện thân của người chết nên ma, quỷ cũng có thể nói được tiếng người. Anh không nghe kể chuyện ma khóc đến kể lể đến não nùng sao? - Ừ! Trước đây tôi cho là chuyện hoang đường. Nhưng bây giờ thì tôi không biết lý giải làm sao cho có lý. Con quỷ, giọng nói của nó chính tôi chứng kiến mà. Còn nữa, tại sao con quỷ lại không giết tôi. Tại sao? Đó là một câu hỏi cần có lời giải đáp. - Anh Thành này, anh có thể đi cùng tôi không? Vạn Thành nói không chút đắn đo: - Đi chứ, tôi đâu thể bỏ qua dịp này và tôi cũng rất muốn giúp anh. - Cám ơn anh, vậy để tôi liên hệ một người bạn, mượn tạm chiếc canô của anh ấy. - Nhưng dù sao thì cũng phải chờ đến sáng đã. Chúng ta không thể liều lĩnh đi vào ban đêm. - Thôi được. - Vũ thở dài. - Tôi sẽ lo canô và chúng ta sẽ lên đường ngay khi trời vừa hừng sáng. Như dự định, hai người lên canô khi trời còn tranh tối tranh sáng, họ hướng mũi canô ra biển. Nhấp nhô ngoài xa kia là những hòn đảo nho nhỏ, những vách đá cheo leo giăng đầy tổ yến. Thoại Vũ cho canô chạy vòng quanh vách đá, anh lựa chỗ cho canô đậu lại rồi cùng Vạn Thành leo lên vách đá, thám hiểm xung quanh. Có một cái hang nhỏ, hai người đi vào, càng đi vào sâu, hang càng tối om. Cũng may Vũ đã chuẩn bị đèn pin. Anh vừa lấy đèn ra thì... Bốp bốp... Cả Thoại Vũ và Vạn Thành chới với, xiểng niểng như có ai vừa dang tay tát vào mặt. Hai người ôm mặt chưa kịp hoàn hồn thì tiếp theo... bụp... bụp... cứ như có ai đó đang quất mạnh vào người của cả hai vậy. Vạn Thành và Thoại Vũ quay chân cắm đầu chạy ra bên ngoài. - Ôi! Chuyện gì xảy ra thế. - Hình như có ai vừa tát vào mặt tôi. - Thoại Vũ vừa thở vừa nói. - Tôi cũng cảm thấy như vậy. - Vạn Thành nói. - Chẳng lẽ ở đây có người? - Nói chính xác hơn là có quỷ. - Vậy mình có nên tiếp tục đi vào bên trong hay không? Vạn Thành nói. Thoại Vũ đắn đo một chút rồi anh quyết định: - Nếu anh ngại không vào thì tôi sẽ đi một mình. Vạn Thành xua xua tay: - Không! Không. Nếu anh vào thì tôi sẽ đi cùng chứ. Tôi đã đi cùng với anh rồi mà. - Thôi được, mình hãy chuẩn bị mọi thứ cần thiết rồi hãy vào. Thoại Vũ cầm đèn pin mở sẵn trên tay, tay bên kia anh cầm một con dao nhọn, tư thế sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống. Cả hai lại bước vô hang với một thái độ thận trọng hơn trước. Họ đi vào khoảng mười bước, và khi vùng ánh sáng nhạt màu đi, bóng tối bắt đầu bao phủ. Bất ngờ một bóng đen lao thẳng tới chiếc đèn, rồi tiếp theo là những bóng đen khác bay vụt qua đầu họ. Nhưng lần này nhờ chuẩn bị tinh thần từ trước, nên họ có phần nào bình tĩnh hơn. Thoại Vũ nhảy lùi lại mấy bước rồi liên tục quét đèn pin tứ phía, những bóng đen bay loạng choạng. Vạn Thành la lớn: - Dơi! Những con dơi. Ôi, sao mà chúng to thế. Thật là khủng khiếp. Thoại Vũ thở nhẹ một cái. Dơi, dù sao cũng chỉ là những con dơi, còn đỡ hơn con... nghĩ thế anh đã lấy lại tinh thần để đi tiếp. Họ đi sâu vào bên trong nhiều hơn và thấy trong hang trống rỗng. Họ quay ra và nhìn xung quanh. Vách đá cheo leo trên đó treo đầy những tổ yến, Vạn Thành đề nghị: - Vậy chúng ta ra những hòn đảo ngoài kia đi. Thoại Vũ đồng ý và cả hai tiếp tục lên canô. Họ chọn một hòn đảo gần nhất chạy canô đến. Lang thang trên đảo mấy tiếng đồng hồ, họ không tìm thấy gì. - Ta đến hòn đảo có nhiều cây cảnh kia đi. Vạn Thành đưa tay chỉ. Thoại Vũ nhìn ra xa, có một hòn đảo màu xanh mượt. Họ tiến lên. Thoại Vũ và Vạn Thành lên đảo. Họ cẩn thận kéo canô lên bờ. Cả hai tiến sâu lên hòn đảo. Không khí ở đây yên lặng đến ghê người, ngoài tiếng hú của gió, chẳng có một chút gì thể hiện sự sống của con người. Thoại Vũ thở dài: - Chẳng lẽ chúng ta lại quay về trong tuyệt vọng.Trời ơi! Tôi thật sự lo quá, không biết bây giờ mẹ tôi ra sao rồi. Vạn Thành lấy cái nón trên đầu xuống, cẩu thả lau mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt, ánh nắng như thiêu, như đốt. Vạn Thành nói: - Chúng ta cố một chút nữa xem sao. Đi quanh đảo thám hiểm thêm tí nữa. Thoại Vũ lắc chiếc bình nước đeo trên hông: - Thôi chết, hết nước rồi anh Thành ơi. Để tôi quay lại canô lấy nước nhé. - Thôi khỏi đi, anh đi ra lại mất thêm một khoảng thời gian nữa. Chúng ta cố một chút đi anh. Họ đi sâu vào hoang đảo hơn nữa, cây cối ở đây mọc xanh um, khác xa ở những hoang đảo họ vừa mới đi qua. Một vài con thú rừng lao vút qua trước mặt họ, chúng vỗ cánh bay xao xác khi thấy bóng người lạ. Vạn Thành đang đi, bỗng anh níu Thoại Vũ lại. - Anh Vũ. Anh có nghe thấy gì không? Thoại Vũ nhíu mày lắng nghe rồi anh lắc đầu khẽ. Vạn Thành nghiêng nghiêng đầu, tai như cố hứng những tạp âm ồn ào xung quanh, mà phân tích. - Hình như tôi nghe có tiếng suối chảy đâu đây. Tiếng nước róc rách, róc rách đó anh có nghe thấy không? - Hình như là vậy. Chúng ta thử tìm xem. Thoại Vũ gật gù. Cả Vạn Thành và Thoại Vũ đi về hướng có tiếng suối reo. Rồi cả hai cùng phát hiện ra một dòng suối nhỏ, nước trong veo. Họ chạy đến gần như vục mặt xuống dòng nước mát lạnh để tận hưởng cái cảm giác khoan khoái, dòng nước làm họ tỉnh hẳn người ra dưới cái nóng oi bức. Vạn Thành lấy tay vốc mộc vốc nước lên uống và kêu lên. - Ôi! Nước suối ngọt quá. Thật là kỳ diệu, tôi chưa từng uống loại nước nào mà ngon như vậy. Anh thử uống xem. Thoại Vũ ngần ngại, bởi anh vốn là bác sĩ, nên nhìn đâu cũng thấy vi trùng. Vạn Thành dường như hiểu ý, anh nói: - Cứ thử uống một ngụm đi bác sĩ, không chết đâu mà sợ. Hồi tôi còn trong quân đội, khi hành quân băng rừng lội suối, đã không biết bao nhiêu lần uống nước lã như thế này mà có chết đâu. Càng ngày càng khỏe như voi ấy chứ. Thoại Vũ cười, miễn cưỡng vốc một vốc nước lên uống, mặc dù anh cũng đang rất khát, ngụm nước vừa thấm vào cổ, Thoại Vũ cũng phải ồ lên: - Ồ! Thật là kỳ lạ, nước ở đây thật ngọt! Vạn Thành lội hẳn ra giữa dòng suối, anh mặc sức thỏa thuê vung nước lên khắp mặt. Tận hưởng cái cảm giác thoải mái đến tuyệt vời. Thoại Vũ kiếm một tảng đá, ngồi ngâm chân xuống nước. Anh quan sát cảnh vật xung quanh. Thiên nhiên thật kỳ diệu, cứ như một bức tranh toàn mỹ, một màu xanh cây cối làm nền ở giữa là dòng suối trong vắt róc rách buồn trôi. Hai bên hoa dại mọc đầy, màu sắc sặc sỡ như tô điểm thêm cho bức tranh càng sinh động. Thoại Vũ nghĩ thầm, ước gì mình không phải bận tâm về bất cứ chuyện gì thì đây sẽ là nơi anh tự mình thả hồn phiêu du, bay bổng cùng với những cảm xúc thật lãng mạn... Chợt Vũ nghĩ ngay tới Lâm Giang, giá như giờ này có cô bé ở đây thì hay biết mấy. Thoại Vũ tưởng tượng ra cảnh thấy Lâm Giang đang tung tăng chạy hái hoa bên bờ suối. Ôi! Đó sẽ là một bức tranh đẹp tuyệt vời. *** A... a... a...Một âm thanh vang vọng lên, làm cắt ngang luồng suy nghĩ của Thoại Vũ, anh đứng bật dậy như một cái lò xo. Hòa lẫn vào trong gió là một tiếng thét hãi hùng. Thoại Vũ quay sang Vạn Thành: - Anh có nghe thấy gì không? Thái độ của Vạn Thành cũng đang rất căng thẳng, anh đã nghe thấy tiếng thét. - Có, tôi có nghe. - Thả... thả... tôi ra... Tiếng thét của ai đó lại vang lên. Cả Vạn Thành và Thoại Vũ không ai bảo ai, họ cùng lao lên, chạy về phía có tiếng thét. Họ chạy ngược lên phía trên dòng suối và phát hiện ra một cái hang đá, tiếng thét xuất phát từ nơi đó. - Tôi... chết... mất... thôi... Thoại Vũ kêu lên: - Đó là tiếng của mẹ tôi. Anh cắm đầu chạy như bay vào trong hang. Vạn Thành có phần tỉnh táo hơn, anh gọi giật giọng: - Anh Vũ ơi, coi chừng, đề phòng con quỷ. Đây có thể là hang ổ của nó đó. Thoại Vũ khựng lại một lúc nhưng rồi anh lại bước đi ngay. Lòng thầm nghĩ: - Nếu có chết xin được chết cùng mẹ, mình không thể bỏ mặc mẹ trong lúc này. Nếu như con quỷ xuất hiện, mình đành chấp nhận đối đầu với nó. Lòng hiếu thảo của một đứa con đã giúp Thoại Vũ vượt qua mọi nỗi sợ hãi. Anh tiếp tục đi vào trong hang. Ánh sáng từ bên ngoài rọi vào soi tỏ một khoảng không gian bên trong hang đá. - Ai đó. Giọng nói run rẩy phát ra từ bên trong. Thoại Vũ nhíu mày quan sát, anh phát hiện ra một người, gần như nửa nằm, nửa ngồi dưới đất. Tay chân hình như bị trói chặt, anh lao tới: - Mẹ! Có phải là mẹ không? Bà Minh Tuyền òa lên khóc khi nhận ra Thoại Vũ. - Vũ! Có phải con không! Trời ơi, tôi có mơ không đây? Thoại Vũ ngồi xuống ôm mẹ vào lòng. - Mẹ! Anh nghẹn ngào, nước mắt tuôn trào ra. Mẹ ơi! Con đến để cứu mẹ đây. Vạn Thành đứng sau lưng, anh quay mặt giấu nhanh sự xúc động của mình, trước sự hội ngộ của hai mẹ con. Thoại Vũ ôm chặt lấy mẹ trong lòng, anh nghẹn ngào nói: - Mẹ, tha lỗi cho con, con đã không bảo vệ được mẹ để mẹ phải chịu khổ như thế này. - Mẹ không trách con đâu. - Giọng bà Minh Tuyền yếu ớt - Trời ơi! Mẹ cứ tưởng là mình sẽ chết mất xác ở đây mà không ai biết. Vạn Thành nói nhanh: - Hãy cởi trói cho bác gái đi anh Vũ. Thoại Vũ bây giờ mới sực nhớ, anh vội vàng buông mẹ ra. Cả Vạn Thành và Thoại Vũ cúi xuống gỡ đoạn dây trên người bà Minh Tuyền ra. Bỗng nhiên một vùng tối bao phủ lấy họ, chút ánh sáng ít ỏi từ bên ngoài miệng hang rọi vào dường như bị che kín đi. Thoại Vũ và Vạn Thành cùng nhìn lên. Họ giật bắn cả người như vừa chạm phải điện. Trước mặt họ là một bóng đen cao to lạ thường, đã che khuất lối vào. Họ nhận ra con quỷ. Cả Vạn Thành và Thoại Vũ cùng bật đậy, đứng ở thế thủ. Người họ toát mồ hôi hột. Những đôi mắt hướng về nhau, đầy lo sợ, ngờ vực xen lẫn kinh hoàng. Con quỷ tiến lên một bước, Vạn Thành nhảy lùi lại, Còn Thoại Vũ, anh quỳ sụp xuống ôm chầm lấy mẹ như cố che chở cho bà. Con quỷ dừng lại, nó nhìn Thoại Vũ rất lâu. Gần như không đếm xỉa gì đến sự có mặt của nhà báo Vạn Thành. Thoại Vũ nhìn lại nó, như cố đoán những ý đồ sắp tới sẽ xảy ra với con quỷ. Nhưng thật lạ, anh nhìn vào mắt nó không thấy sự giận dữ, không hề thấy sự đối đầu. Mà là một đôi mắt nhìn anh với cái nhìn da diết, đôi mắt như bộc lộ nỗi niềm thân thương sâu sắc. Không khí im lặng, căng thẳng đến ngộp thở. Thoại Vũ thấy người mình run lên bần bật. Anh nhắm mắt lại một chút, thầm cầu nguyện: xin trời phật giúp con thoát khỏi tai kiếp này. Giờ đây không ai có thể cứu con được ngoài phép màu của thượng đế. Xin người hãy rủ lòng thương cho ba sinh mạng bé nhỏ trong hang này. Chúng con không thể nào chống lại nổi con quỷ này. Bà Minh Tuyền run lẩy bẩy, hai tay bấu chặt vào người Thoại Vũ, anh thì thầm: - Mẹ đừng sợ, nếu có chết con sẽ chết cùng mẹ. Giọng nói ồm ồm chợt cất lên: - Đừng sợ... tôi không làm hại anh đâu. Cả Vạn Thành và Thoại Vũ cùng giật bắn người lên. Họ nhìn quanh quất, ngoài họ ra chỉ có con quỷ, đâu có ai. Vậy tiếng đó là tiếng con quỷ ư? Thoại Vũ run run giọng: - Ông... ông vừa nói với tôi. Con quỷ gật đầu. Nó tiếp tục bằng cái giọng ồm ồm đặc biệt: - Anh... Vũ... đừng sợ... Thoại Vũ hết ngạc nhiên này, đi đến ngạc nhiên khác. Anh đứng bật dậy: - Ông... ông cũng biết nói tiếng người... Làm sao ông biết tên tôi... Ông thật ra là ai?... Là người hay là... Anh ngưng lại giữa chừng, nhìn con quỷ đắn đo. Con quỷ như hiểu được sự thắc mắc của anh. Nó gật đầu rồi nói: - Anh có muốn biết sự thật không? Thoại Vũ gật đầu, không suy nghĩ, trong đầu anh bao nhiêu câu hỏi đang đặt ra mà anh không thể giải đáp được. Con quỷ quay lưng đi và nói: - Hãy đi theo tôi. Anh đã thấy bớt căng thẳng. Con quỷ giờ đây dưới mắt anh không hề có một sự hung hăng nào cả. - Để tôi cởi trói cho mẹ tôi. Con quỷ quay phắt lại, giọng nó rít lên giận dữ đến bất ngờ: - Bà ta không phải là mẹ anh... Thoại Vũ ngơ ngác trước sự phản kháng của con quỷ, anh lắp bắp: - Mẹ của tôi thật mà. - Không phải. - Con quỷ giận dữ khoát tay. - Bà ta không phải là mẹ ruột của anh. Anh hãy theo tôi gặp người này. Thoại Vũ nhanh tay cởi trói cho bà Minh Tuyền và nói nhỏ: - Mẹ hãy chờ con ở đây. Bà Minh Tuyền níu tay Vũ: - Đừng đi, con đừng đi Vũ ơi. - Bà câm đi, nếu nói thêm một lời nào nữa, tôi sẽ bóp chết bà ngay. - Con quỷ kêu rít lên. Giọng nó vang lên như sấm làm cho mọi người run lên lẩy bẩy. Bà Minh Tuyền rũ người xuống đất, Thoại Vũ thấy lòng rối bời, anh không hiểu chuyện gì sắp xảy ra cho mình. Và anh cũng không hiểu... không hiểu gì cả... tai cứ ù đặc đi Anh nhìn mẹ rồi bước theo con quỷ, Vạn Thành lao theo sau giờ đây anh như một người thừa, nhưng anh vẫn muốn là người được nghe tiếp câu chuyện huyền bí này. Ra khỏi hang, con quỷ đi lên phía trên dòng suối. Nó bước đi, hai vai rũ xuống, như có một nỗi buồn đang đè lên người nó. Sắp đến một gốc cây to, tỏa bóng mát bên dưới thảm cỏ có một người đang nằm, xung quanh bà phủ đầy hoa dại. Trên người bà đắp ngang một tấm da hổ lông vằn, mắt nhắm nghiền lại. Bà như không hay biết sự có mặt của ba người. Thoại Vũ nhìn kỹ người đàn bà nằm dưới cỏ. Bà ta gầy gò, dường như chỉ là da bọc xương. Gương mặt xanh tái giống như người đã chết. Bà ta là ai? Tại sao con quỷ lại đưa mình đến gặp bà ta? Con quỷ quỳ xuống, giọng nó dịu dàng nhỏ nhẹ: - Mẹ! Mẹ ơi! Mẹ xem con đưa ai đến cho mẹ đây. Cả Vạn Thành và Thoại Vũ hết sức ngạc nhiên khi thấy con quỷ gọi người đàn bà là mẹ. Họ không hiểu chuyện gì đang xảy ra? Người đàn bà mở mắt ra, yếu ớt nhìn xung quanh, bà ta thấy hai người lạ đang đứng trước mặt, đôi mắt bà ta lóe lên một tia sáng nhỏ. Con quỷ nắm lấy tay người đàn bà với bàn tay đầy móng vuốt của mình. Mắt nó chứa chan một tình yêu thương vô bờ bến. - Mẹ ơi. Con đưa Thoại Vũ về cho mẹ rồi đây. Anh ấy đang đứng trước mặt mẹ. - Thoại Vũ! Người đàn bà kêu lên nho nhỏ, âm thanh trìu mến, sung sướng khó tả. - Đâu, Thoại Vũ đâu rồi? Bà ta đưa mắt nhìn hai người và không thể xác định ngay ai là Thoại Vũ. Rồi một lúc mắt bà dừng hẳn lại nơi Thoại Vũ, giọng bà nghẹn ngào. - Có phải là Thoại Vũ đây không? Thoại Vũ ngơ ngác, nhìn chăm chăm vào mặt người đàn bà. Con quỷ nhìn hai người rồi gật đầu xác nhận: - Mẹ đã nhận ra anh ấy rồi đó. Rồi quay sang Thoại Vũ, mắt long lanh ngấn nước, giọng xúc động: - Anh Vũ... đây, người nằm đây mới chính là mẹ của anh. Thoại Vũ bàng hoàng, anh lắc mạnh đầu: - Tôi không hiểu...tôi.... không hiểu gì cả. Trời! Chuyện gì đang xảy ra với tôi vậy? - Rồi từ từ anh sẽ biết. Người đàn bà đưa tay với với vào không khí, như cố nắm lấy tay Thoại Vũ, mắt bà nhòa lệ, bà chồm lên như cố hết sức với chút hơi tàn của mình. - Vũ! Vũ con tôi... con của mẹ. Hãy lại đây, lại đây cho mẹ được nắm tay con một lần. Con quỷ nhìn Thoại Vũ như van xin: - Xin anh hãy đến với mẹ... mẹ đã chờ đợi giây phút này lâu lắm rồi... Tôi van anh... hãy tin đi, đây là sự thật, người nằm đây chính là mẹ của anh. Bà sắp đi xa... mãi mãi rồi. Thoại Vũ như bị thôi miên, anh bước về phía người đàn bà. Quỳ xuống rồi như có một tình cảm thiêng liêng kỳ lạ nào đó, Thoại Vũ cảm thấy người đàn bà này gần gũi vô cùng. Một tình cảm trào lên trong tim, anh nắm lấy tay bà run run. Người đàn bà khóc, nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo. Bà nhìn anh không chớp mắt. Đôi mắt chan chứa tình mẫu tử thiêng liêng. Bà nói sau một giây ngước lên nhìn trời: - Giờ đây, có chết tôi cũng đã mãn nguyện lắm rồi. Cảm ơn trời còn thương để cho mẹ con tôi có ngày gặp hôm nay. Thoại Vũ thấy tim mình nhói đau, người đàn bà nằm đây làm anh xúc động mãnh liệt. Tại sao bà biết tên mình. Tại sao.... tại sao? Người đàn bà đọc được những dấu hỏi trong đầu Thoại Vũ, bà bóp nhẹ tay anh, giọng run run: - Hãy tin đi, mẹ chính là mẹ ruột của con. - Mẹ chính là mẹ ruột của con? Thoại Vũ nhắc lại câu nói. Con không hiểu chuyện gì cả. - Đó là một câu chuyện rất dài, chuyện của ba mươi năm về trước. Anh nghe có tiếng nấc lên phía sau, Thoại Vũ quay lại, anh thấy con quỷ đang quay lưng về phía anh, vai nó run lên bần bật. Nó đang khóc... khóc như một đứa trẻ. Còn Vạn Thành, anh đứng chết trân nhìn những gì đang xảy ra xung quanh mình. Người đàn bà cất giọng yếu ớt. - Thoại Vũ, con có muốn biết rõ sự thật về con không? Con có muốn nghe một câu chuyện đã xảy ra cách đây ba mươi năm không? Thoại Vũ gật đầu: - Dạ có. Con rất muốn biết. Người đàn bà ngước mắt nhìn lên vòm cây xanh, một chuỗi sự kiện trong quá khứ hiện về. Bà như thấy mình sống lại thời xa xưa. Môi bà mỉm cười, nụ cười đầu tiên Thoại Vũ nhìn thấy: - Tất cả bắt đầu bằng một chiếc khăn choàng. Chiếc khăn định mệnh, vào một chiều rất đẹp, lúc ấy mẹ là một nữ sinh trung học, trên đường đi học về, chiếc khăn quàng cổ bằng voan mỏng màu trắng, có điểm những chùm hoa dại màu tím hoa cà, chợt bị gió cuốn bay đi, và nó đã quàng vào cổ của một khách qua đường. Chính chiếc khăn ấy là chiếc khăn định mệnh của đời ta. Lần gặp gỡ ấy tạo nên mối nhân duyên giữa mẹ và cha con, ông Nhật Tân. Thoại Vũ nghe tim mình đập mạnh. Trời! Người đàn bà này đã nói đúng tên cha mình. Vậy... bà ta là ai? Lời người phụ nữ nhè nhẹ, đều đều, bà ta nói tiếp: - Mẹ và cha con đến với nhau bằng một tình yêu hết sức mãnh liệt. Yêu như chưa bao giờ được yêu. Đó là những ngày tháng hạnh phúc nhất đời ta. Rồi sau đó ta mới được biết cha con đã có vợ. Người vợ do cha mẹ chỉ định mà không hề có một chút yêu thương. Họ đã sống với nhau năm năm rồi mà chưa có con. Cha con lại là con trai một, nên ông bà nội cần người nối dõi tông đường. Họ bắt ba con phải cưới thêm một người vợ nữa. Ba con lại là người nặng nợ ân tình, nên mặc dù người vợ ấy không sinh được con, nhưng để phụ bạc người ấy thì không đành lòng. Một bên phải buộc có hiếu với mẹ cha, một bên thì không nỡ phụ bạc. Cha con là người sống rất có tình, ông đã buồn bã, lang thang nhiều ngày, rồi vô tình gặp mẹ. Tình cảm nảy sinh. Sau đó ông bà nội và người vợ của cha con đã đem trầu cau đến nhà cưới mẹ về cho cha. Nói đến đây bà đưa mắt nhìn Thoại Vũ âu yếm. - Chỉ một năm sau đó thôi. Bà dịu dàng nói. - Mẹ đã hạ sinh một bé trai kháu khỉnh và đặt cho cái tên là Thoại Vũ. - Trời ơi! Là sự thật sao? Tôi không ngờ được trên đời này tôi còn có một người mẹ khác. Người đàn bà nắm áo Thoại Vũ, dùng chút hơi tàn của mình, cố gượng lên để nhìn anh cho rõ. - Mẹ... mẹ không hề nói dối con đâu. Thoại Vũ nhìn vào mắt bà, bỗng dưng trong tim anh dâng lên một tình cảm khó tả. Anh không thể giải thích được. Nhưng anh đã tin và tin thật lòng vào những gì người đàn bà xa lạ này nói. Khi sinh con ra, mẹ những tưởng rằng mình là người đàn bà hạnh phúc nhất trên trần gian này. Cả nhà ai cũng thương yêu và nhất là ông bà nội. Và cũng chính vì tình yêu mà mọi người dành cho mẹ con mình, đã tạo cho mẹ nghịch cảnh ngày hôm nay. - Tại sao? - Thoại Vũ nôn nóng hỏi. - Vì người vợ lớn của cha con đã đem lòng ganh ghét với mẹ. Bà ta kiếm cách dằn mặt mẹ rất nhiều, nhưng mẹ vì cha con nên cam tâm chịu đựng tất cả. Rồi mẹ lại có thai lần thứ hai, cả nhà vui mừng khôn xiết. Nhưng... - Người đàn bà nấc lên, giọng đau đớn. - Nhưng khi mẹ sinh ra đứa thứ hai thì... trời ơi... nó không bình thường như bao đứa trẻ khác. Mà... Bà đưa tay chỉ về phía con quỷ đen. Thoại Vũ quay lại nhìn. Cả Vạn Thành cũng vậy. Họ không ngờ con quỷ kia lại chính là do con người sinh ra. Giọng người phụ nữ đẫm nước mắt, bà kể: - Lúc đầu mẹ cũng chẳng biết tại sao mẹ lại có thể sinh ra một đứa con lông lá, mặt nửa người nửa quỷ kia. Cả nhà gần như sợ điếng hồn, mọi người bàn phải giết nó đi. Hoặc vứt nó đi đâu đó. Cha con thì khủng hoảng tinh thần trầm trọng, ông lang thang suốt đêm ngoài đường. Mẹ đã khóc hết nước mắt vì dù cho nó có là quái thai đi nữa nó cũng là một phần núm ruột của mẹ. Mẹ không dành lòng vứt nó. Và đêm hôm đó bà Minh Tuyền đã nói với mẹ nếu mẹ không vứt nó xuống biển bà ta sẽ làm việc đó. Còn nếu không thì mẹ sẽ ra đi mãi mãi với một đứa con quái thai này. Lúc đó, con chỉ là một đứa bé lên hai tuổi, mẹ đau như có ai đâm vào tim mình khi đành phải xa con. Nhưng mẹ nghĩ dù sao con cũng là một đứa trẻ bình thường, mọi người sẽ chăm sóc cho con. Còn đứa thứ hai, đứa con bất hạnh này chỉ có mẹ là người chăm sóc cho nó. Bà ngừng lại một chút như lấy hơi thở rồi nói tiếp: - Đêm hôm đó bà Minh Tuyền đã tạo ra một hiện trường giả ở bãi biển, dàn cảnh như mẹ đang ôm đứa con thứ hai tự tử. Rồi bà bỏ mẹ con ta lên canô với một cái thuyền thúng. Bà chở hai mẹ con ta ra khơi và cho hai mẹ con xuống thuyền. Bỏ thêm một ít thức ăn và nói: - Sinh mạng của mẹ con cô phụ thuộc vào trời, sống và chết chỉ cách nhau gang tấc. Mẹ đã quỳ xuống van xin bà ta chăm sóc Thoại Vũ. Bà ta hứa. Rồi cuối cùng trước khi đi, bà ta nói cho mẹ biết một điều bí mật khủng khiếp, là bà ta đã ghét cay, ghét đắng mẹ từ khi mẹ bước vào nhà. Bà ta đã rắp tâm trả thù. Vì là một bác sĩ sản khoa rất giỏi, nên một ngày kia bà đã lấy được tinh trùng của một con khỉ lớn gọi là hắc tinh tinh. Bà ta đã cho mẹ uống thuốc ngủ và thực hiện cuộc thí nghiệm trên người mẹ. Cuối cùng mẹ đã thụ thai và sinh ra một đứa con nửa người nửa khỉ kia. Thoại Vũ không biết mình đã khóc tự bao giờ. Nước mắt anh ướt đẫm áo. Câu chuyện đã làm cho anh xúc động. Thoại Vũ quỳ xuống, anh ôm lấy người đàn bà chỉ còn da bọc xương. - Mẹ! Trời ơi! Đây là mẹ của tôi sao? Mẹ ơi! Sao số phận khắc nghiệt lại đến với mẹ thế. Sao ông trời lại bất công quá vậy. Mẹ tôi có tội tình gì, sao đày đọa bà một kiếp người như vậy. - Thoại Vũ khóc như mưa, anh hoàn toàn tin vào sự thật câu chuyện này. Một người đàn bà xa lạ như thế này, không thể bịa ra một câu chuyện mà trong đó tên của mỗi người đều rất gần với Vũ. Người đàn bà khóc lặng lẽ: - Kiếp này mẹ tưởng chừng như không bao giờ còn được gặp con nữa. Vậy mà nhờ ơn trời... Thoại Vũ áp bàn tay gầy khô của bà lên má mình. Một tình cảm trìu mến anh dành cho mẹ. Tình mẫu tử thiêng liêng không có gì thay thế được. Từ trong sâu thẳm trái tim họ đã cảm nhận được điều đó. - Mẹ ơi! Con thật có lỗi con thật là bất hiếu đã để cho mẹ phải sống thế này. - Con nào có lỗi gì. Nếu không có ngày hôm nay, con cũng không biết được sự thật phũ phàng này. Lẽ ra mẹ cũng không nói đâu, nhưng nghĩ mình gần đất xa trời rồi, mẹ đành nói sự thật cho em con biết. Nhìn nó ghê gớm như vậy nhưng nó cũng có dòng máu của mẹ trong đó. Nó được mẹ dạy dỗ từ nhỏ nên cũng biết nói được tiếng người. Khi nghe mẹ kể câu chuyện, nó đã tìm cho bằng được đến nhà của cha con. Nó đã biết con là anh nó cũng như biết người đàn bà kia là ai. Nó đã trả thù, mặc dù mẹ hết sức can ngăn. Thoại Vũ nhìn về phía con người đằng kia. Anh không ngờ anh có một đứa em cùng mẹ như vậy. Người đàn bà thở hắt hơi, níu lấy tay Vũ và nói: - Cha con vẫn khỏe chứ? - Dạ, cha vẫn khỏe. - Cho mẹ gửi lời vĩnh... biệt cha con. Mẹ phải đi đây... các con...ở lại... Người đàn bà từ từ nghiêng đầu sang một bên trút hơi thở cuối cùng. Thoại Vũ hét lên: - Mẹ! Mẹ ơi! Đừng bỏ đi nhanh như vậy. Con còn chưa trả hiếu cho mẹ. Con quỷ lao tới, nó ôm chầm lấy bà đau đớn tột cùng. Nó không khóc, chỉ ôm xiết lấy mẹ. Tất cả nỗi đau như trút hết vào trong mắt nó. Vạn Thành ngồi vật xuống đất, mắt anh cay xè. Cả đời đi làm báo, chưa bao giờ anh nghe hoặc chứng kiến một câu chuyện đầy bi kịch như vậy. Chuyện tưởng chừng như không thể xảy ra được. Thoại Vũ bỗng nghe tiếng cười man dại từ xa vọng lại. Anh nhìn lên, đằng xa, bà Minh Tuyền vừa chạy vừa cười nắc nẻ, bà hái hoa vung lên cao, rồi cười, bà ta đã phát điên. Thoại Vũ có ý đưa xác mẹ vào đất liền. Nhưng con quỷ nhất định không cho và nói: - Cả một đời mẹ đã gắn bó với hòn đảo này. Vậy thì hãy để mẹ nằm lại đây mãi mãi. Để em được chăm sóc mẹ. Ngôi mộ được phủ đầy hoa dại. Trước lúc chia tay, Thoại Vũ nói với con quỷ, giờ đây anh nhìn kỹ ngoài vóc dáng to lớn, đầy lông lá, nó còn có một gương mặt rất giống người. Nó không dữ tợn như người ta nghĩ. - Em muốn vào đất liền ở không? Con quỷ buồn bã: - Với hình hài này, tôi có thể ở chung với con người sao? Thôi anh cứ về đi. Tôi ở lại đây với mẹ. - Thôi được. Thỉnh thoảng anh sẽ sang đây thăm mẹ và thăm...em. Thoại Vũ đưa bà Minh Tuyền lên canô bà ta giờ đây là một người điên. Vũ không biết mình nên thương hay nên ghét bà. Người đàn bà độc ác, đã vì lòng ganh tị, ghen ghét của mình mà hại đời một người khác. Giờ đây thì Vũ đã hiểu tại sao gia đình anh luôn có một không khí nặng nề và lạnh lùng như vậy, ba mẹ anh vì sao không hạnh phúc và tại sao anh chưa hề cảm thấy được mẹ yêu chiều như bao trẻ khác. Vạn Thành nhìn Thoại Vũ và nói: - Thỉnh thoảng chúng ta sẽ lại ra hòn đảo này. Tôi thật sự bàng hoàng với những gì vừa chứng kiến. Họ tạm biệt. Con quỷ đứng đó cho đến khi bóng nó chỉ là một chấm đen nhỏ xa tít. Vạn Thành lên tiếng: - Chắc cha anh chưa biết được sự thật của câu chuyện này đâu. Ông ấy cứ nghĩ là mẹ anh đã tự tử chết rồi. Thoại Vũ nhìn xa xăm: - Thảo nào, tôi thường thấy cha hay ngắm nghía một chiếc khăn voan màu trắng có điểm bông dại màu tím hoa cà. Thì ra đó chính là chiếc khăn định mệnh đã đưa mẹ về với cha. Nhưng cũng chính chiếc khăn đó đã làm cho cuộc đời của mẹ trở nên bất bạnh như thế này. - Và câu chuyện con quỷ đen, tôi kết thúc ở đây. Tôi không muốn mọi người biết chuyện này. Vạn Thành nói. - Nếu biết, người ta sẽ đổ xô tới đây và săn lùng nó, với nhiều mục đích khác nhau. - Phải đó. - Thoại Vũ nói. - Cuộc đời nó đã quá nhiều bất hạnh rồi. Nó được sản sinh từ lòng hận thù, ghen ghét của con người. Chúng ta không nên làm cho nó đau đớn thêm. Sự phẫn nộ của nó sẽ không lường trước được đâu. Cả hai cùng im lặng nhìn ra biển. Trong đầu Vạn Thành nghĩ, đây là lần đầu tiên án anh điều tra mà không viết thành báo để kết thúc câu chuyện. Còn Thoại Vũ, anh nghĩ rằng người mà anh có thể chia sẻ được câu chuyện này chỉ có một, người đó chính là Lâm Giang. Người con gái anh yêu, niềm hạnh phúc duy nhất của đời anh. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 43
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXXIII: Bí Mật Ánh Trăng Khuya -Phần I - Mẹ kiếp, nằm hoài không ngủ được, hay là dậy kể chuyện ma nghe đi. Tôi có biết chuyện này hay lắm. Lời đề nghị được hưởng ứng ngay. Cả toa xe nhao nhao ngồi dậy vây quanh người thanh niên vào giữa. Thích thú vì bỗng trở thành nhân vật quan trọng. Anh ta đằng hắng mấy tiếng trước khi lên giọng kể: - Xóm tôi, có một khu nghĩa địa nổi tiếng có lắm ma nhiều quỷ. Ai đi ngang qua đó không ít thì nhiều cũng một lần bị chúng nhát cho thất kinh hồn vía. Duy có bác Bảy của tôi là không t in. Một đêm theo lời thách thức của bạn bè, bác xăm xăm tiến vào nghĩa địa, tay cầm theo cây đèn pin nhỏ. Đi lòng vòng một hơi chẳng thấy gì, bác của tôi lầm bầm mắng: - Đúng là tin vịt. Ma quỷ gì đâu chứ! Vừa dứt lời, bác bỗng thấy xa xa trước mặt thấp thoáng bóng đèn vọng đến, tiếng cười nói xôn xao. Tò mò, bác bước nhanh về hướng ấy. Thì ra là một đám cưới. Chà! Ai mà mời khách vào cái giờ khuya khoắt như vầy nhỉ? Bác tôi lạ lẫm vô cùng. Một người bước ra, tình cờ nhìn thấy bác tôi liền mời chào, vui vẻ. Đang cơn khát, sẵn lời mời, bác tôi không khách sáo bước vào ngay. Vị chủ nhà này mới hiếu khách làm sao. Họ mời bác tôi ăn tới tấp. Xong rồi còn mời bác tôi lên giường ngủ nữa. No say, bác tôi vui vẻ lên giường đánh một giấc cho đến sáng. Đến khi tỉnh dậy... chà... người thanh niên chợt dừng, hạ giọng: - Mọi người có biết bác tôi nhìn thấy gì không? Trời ơi, bác tôi thấy mình đang nằm trên một ngôi mộ mới chôn. Miệng ngậm đầy đất sét. Lạ quá! Bác tôi chạy loạn ra đường cầu cứu. Bấy giờ những người bạn của bác tôi mới tìm thấy bác. Họ bảo suốt một đêm dài đốt đuốc đi tìm bác khắp nghĩa địa nhưng không thấy. Sau chuyện này, bác của tôi bị bệnh chẳng bao lâu thì chết, khủng khiếp chưa? - Xì! Người thanh niên chưa dứt tiếng, một người khác đã trề môi: - Chuyện vậy thì có gì mà ly kỳ, ghê gớm. Nghe tôi kể nè. Hồi đó, ngoại của tôi từng bán bánh cho ma đó. - Thật sao? Những đôi mắt hiếu kỳ quay lại: - Bán bánh cho ma à? Chuyện thế nào? Kể đi. - Ừ vầy nè! Người kia lên tiếng kể - Số là hồi đó, ngoại của tôi đi bán rất sớm. Mới ba bốn giờ bà đã quảy một gánh đầy bánh chuối ra chợ bán. Hôm nào trên đường đi, bà cũng bị mấy người chận lại mua. Bà bán, nhưng khi về đếm tiền thì thấy toàn là giấy tiền vàng bạc âm phủ. Bà tức quá mấy ngày sau đi bán, bà đem theo một xô nước. Ai mua là bà lấy tiền ném ngay vào, tiền chìm mới bán, tiền nổi thì trả lại ngay. - Sao tiền nổi lại không bán thế? - Một người không hiểu. Một người khác chen vào. - Có vậy mà cũng hỏi. Tiền nổi là tiền ma chứ sao. - Trời ơi, ghê quá! Người vừa tò mò lè lưỡi. - Chưa ghê lắm đâu. Một thanh niên rất đẹp trai, nãy giờ ngồi yên lặng trên ghế nghe mọi người xì xào bàn tán, giờ mới ngẩng đầu lên, cái giọng trầm trầm. - Chuyện tôi sắp kể đây còn kinh khiếp hơn gấp trăm lần câu chuyện mọi người vừa nghe nữa. - Chuyện gì mà ghê vậy? Một lần nữa đám người háu chuyện quay hết sang người thanh niên lạ. Nhẹ mỉm một nụ cười, anh ta từ tốn kể. Giọng anh ta trầm ấm, thật hay. Câu từ mạch lạc, nhấn nhá như một phát thanh viên kể chuyện trên đài. - Chuyện của thằng bạn tôi. Hôm đó, nó cũng đi xe lửa, trên một chuyến tàu đêm thế này. Nhưng... thằng bạn tôi giàu có lại sang trọng. Hắn mua toa nằm hạng nhất. Cả toa mà chỉ có một mình nó mà thôi. Ngưng lời kể, người thanh niên đưa mắt nhìn quanh một lượt. Thích thú thấy mọi người mở tròn đôi mắt, nghe như nuốt lấy từng lời mình kể. - Trên chiếc giường đơn êm ấm, gã ngủ thật ngon. Đến nửa đêm, bỗng nghe bàn tay mình chạm phải một vật gì lành lạnh. Chắc cô tiếp viên đem khăn ướp lạnh đến cho mình lau mặt, thằng bạn của tôi cầm lấy. Ủa? Không phải khăn lạnh mà là... một cục nước đá tròn tròn. Lạ quá! Thằng bạn của tôi mở mắt ra rồi hét lên một tiếng rụng rời. Trời ơi, trên tay nó không phải là cục nước đá mà là... một cái đầu lâu... - Ối trời... Ném mạnh luôn cái đầu lâu xuống đất, thằng bạn tôi ôm ngực rụng rời. Hồi lâu bình tâm lại, hắn oán thầm: "Hẳn là trò đùa của một kẻ muốn hại mình. Không thì sao tự nhiên trên giường lại có đầu lâu chứ? Hừ! Đùa gì ác độc kiểu này. Rủi gặp người yếu tim hẳn là đã sợ chết rồi". Lầm bầm mắng mấy câu, thằng bạn của tôi lồm cồm bò ra phía cạnh giường ngoài nhìn xuống. Cái đầu rơi mạnh như vậy chắc vỡ đôi rồi. - Ôi! Một lần nữa, thằng bạn của tôi té ngửa ra sau vì bất ngờ, không phải cái đầu lâu mà là một cô gái đẹp, đẹp tuyệt trần. Sau nụ cười xã giao, cô gái nói với bạn tôi bằng cái giọng trong như sương sớm. Rằng mình vì sa cơ lỡ vận, không tiền mua vé nên mới lén trốn vào trong toa xe của hắn đi nhờ. Thường ngày, thằng bạn của tôi cảnh giác rất cao. Nhưng hôm nay, không hiểu sao trước mặt giai nhân gã bỗng trở nên nhẹ dạ một cách bất ngờ. Dễ dàng nhận lời cho cô gái ở lại, xong gã như chợt nhớ ra, cúi xuống gầm giường tìm kiếm. Lạ thật, cái đầu lâu mới đó đã biến mất tiêu rồi! Thoáng hoang mang, nhưng thằng bạn của tôi gạt đi ngay. Sẵn có máu "ba mươi lăm", nó quay sang tán tỉnh giai nhân. Đến nửa khuya thì cô gái đồng ý lên giường với hắn. Ôm cô gái vào lòng, gã mới nhận ra thân thể cô ta lạnh như băng, chẳng khác gì cái đầu lâu lúc nãy. Bây giờ thằng bạn của tôi mới nhớ ra, cửa toa tàu bị mình cài chết bên trong, cô gái và cái đầu lâu sao có thể vào được nhỉ? Ôi! Có khi nào... là ma chăng? Chợt hiểu ra... đã quá muộn, thằng bạn tôi chưa kịp la đã thấy từ miệng cô gái mọc ra hai chiếc răng nanh nhọn hoắt. Đôi mắt ngầu tia máu, cô ta từ từ cúi xuống cổ bạn tôi toan hút máu. Thời may lúc đó tiếng gõ cửa vang lên. Mọi tiếng động đều vắng bặt. Thậm chí cả hơi thở cũng không còn. Chẳng hẹn mà tất cả mọi người đều ngồi sát vào nhau. Chân co cả lên ghế, như thể con ma trong câu chuyện kể của gã thanh niên kia có thể nhảy ra ngoài, dùng chiếc răng nanh cắm xuống cổ mình. Đây mới đúng là câu chuyện ma hãi hùng kinh dị nhất. Sợ, nhưng vẫn muốn nghe. Phần cuối câu chuyện thế nào? Người bạn ấy có được tiếng gõ cửa kia cứu thoát? Liệu anh ta có la lên và con ma có sợ người soát vé mà biến đi? Hay vẫn tiếp tục hút máu người bạn ấy, xong rồi lại chuyển sang hút máu người soát vé tàu? Ôi hồi hộp quá! Mà... gã thanh niên này, như thể trêu ngươi chọc tức cả đám đông, không kể tiếp mà chỉ cười cười nhìn mọi người. - Kể tiếp đi... - Cuối cùng, nôn nóng quá, một người lên tiếng giục. Đám đông nhao nhao theo. - Phải rồi, kể tiếp đi. Cuối cùng ra sao hả? Họ có chết không? - Cuối cùng thì... - Người thanh niên vui vẻ. - Tôi xin lỗi mọi người, tôi không được phép kể tiếp đâu. - Sao thế? Đám đông tức giận. Người thanh niên mỉm cười: - Ừ trong lúc nhất thời, tôi không kịp nghĩ ra. Và... dù có nghĩ ra tôi cũng phải bảo vệ quyền lợi cho tuần báo Tia sáng. Mọi người nếu muốn biết được hết câu chuyện, xin hãy đón đọc tiếp tuần báo "Tia sáng" sẽ phát hành vào chủ nhật này. Nó nằm trong câu chuyện ma "Chuyến tàu đêm" của tác giả Kỳ Phương. - Chỉ là chuyện ma được hư cấu thôi ư? - Giọng một người thất vọng. Một người khác biết chuyện xen vào: - Thì ra, anh là Kỳ Phương tác giả kiêm phóng viên nổi tiếng của tuần báo Tia Sáng. Thật là ngưỡng mộ. - Tôi thích các phóng sự điều tra cũng như thích đọc tiểu thuyết ma của anh lắm. - Xin cảm ơn. Kỳ Phương gật đầu cười khiêm tốn. Tôi không muốn lộ thân phận cũng không phải đem câu chuyện ma ra kể quảng cáo cho tuần báo của mình. Chỉ tại thấy mọi người thích nghe chuyện ma quá, nên mới ngứa miệng kể thôi. Thật ra... câu chuyện "Chuyến tàu đêm" này, tôi chỉ vừa viết được bảy kỳ. Phải còn hơn ba kỳ nữa mới hết. Hiện tại, tôi vẫn chưa nghĩ ra phần kết cuộc nên không kể tiếp được. Mong mọi người thông cảm. Ánh mắt chân thành, giọng nói hiền hòa của Kỳ Phương đã chinh phục được lòng người. Như quên mất kết cuộc câu chuyện còn đang hấp dẫn, mọi người hiếu kỳ vây kín lấy anh. Một tác giả lừng danh viết tiểu thuyết ma, làm rởn tóc, đứng tim hàng trăm khán giả. - Kỳ Phương nè, anh viết nhiều chuyện ma hay vậy, có khi nào gặp ma chưa? Một đứa bé trạc mười ba, mười bốn lên tiếng hỏi. Đám đông cũng nhìn chờ nghe câu trả lời kỳ thú. - Chưa! Kỳ Phương lắc đầu nói. Dù có một lần, tôi tưởng mình đã được gặp ma rồi. - Có phải lần anh về tìm hài cốt bà cô của mình rồi tình cờ tìm ra kho báu trong ngôi nhà mồ ông hội đồng không? - Một người ra vẻ thành thạo. Kỳ Phương gật đầu, người ấy lại hỏi: - Thế... anh có chinh phục được cô cháu gái ông hội đồng như đã hứa với khán giả không? Kỳ Phương nhẹ nhún ai, cười mỉm: - Nếu tôi phải thực hiện hết y như lời hứa của mình... chắc hẳn tôi có đến một trăm cô người yêu mất. - Anh lãng mạn, đào hoa quá đấy. - Một người như ganh tỵ Đứa bé lại chen vào: - Kỳ Phương ơi, anh nói cho em biết đi. Thế gian này có ma không hả? - Không có đâu bé cưng. Kỳ Phương nhẹ véo má nó. - Ma chỉ là một sản phẩm tưởng tượng của những nhà văn bọn anh thôi. - Thật sao? - Đứa bé như mừng rỡ. - Vậy mà mẹ của em lại bảo là thế gian này có ma. Bà không cho em về quê nghỉ hè như đã hứa. Bà bảo dưới quê bây giờ có một con ma, nó đang hoành hành ăn thịt người ta đấy. - Im đi... Một người đàn bà, có vẻ như là mẹ của đứa bé lên tiếng nạt. Con nít con nôi biết gì. Về chỗ ngồi mau... sắp đến rồi đấy. Nói rồi, bà nắm tay con lôi xệch đi, mặc cho nó có ngoái đầu nhìn lại. Dường như... còn nhiều chuyện để kể với Kỳ Phương lắm. Người mẹ và đứa bé đi rồi, mọi người cũng giải tán trở về vị trí của mình. Chà! Thời gian trôi nhanh thật, mới nói tào lao mấy chuyện đã sáng rồi. Đằng xa ánh dương hồng nhô cao lên khỏi ngọn cây, không đầy mười lăm phút nữa tàu sẽ về đến bến. Ngả đầu ra ghế, Kỳ Phương kín đáo che miệng ngáp. Vậy là mất đứt một đêm uổng phí, khô cả miệng, thức trắng cả mắt không thu hoạch được gì. Câu chuyện chuyến tàu đêm vẫn không tìm ra kết cuộc cho thỏa đáng. Chuyến đi này... xem ra vô bổ quá! Mọi người nếu ai từng đọc thời báo Tia sáng hẳn không lạ với cái tên Kỳ Phương. Từ sau bài phóng sự "Con ma truyền kiếp" tên tuổi của anh đã nổi càng thêm nổi. Nhận thấy đề tài ma đã khiến cho số lượng báo của mình bán chạy gấp đôi, ban biên tập quyết định chuyển hẳn Kỳ Phương từ chuyên mục Phóng sự điều tra sang chuyên mục "Ma". Không cần biết truyện hư cấu hay phóng sự thật trăm phần trăm. Họ chỉ cần những bài báo của anh liên quan đến những con vật vô hình, chưa ai gặp nhưng đều rất kinh sợ ấy là được. - Này anh... tôi không đồng ý với cách nói của anh đâu. Một thanh niên ngồi cạnh Kỳ Phương, chợt rụt rè lên tiếng sau hơn ba phút ngập ngừng. Kỳ Phương quay lại, lạ lùng: - Không đồng ý với cách nói của tôi ư? Vì sao thế? Đôi mắt mở to nhìn thẳng vào mặt Kỳ Phương, anh ta chậm rãi buông từng tiếng một. - Vì thế gian này thật sự có ma tồn tại. Chính mắt tôi đã thấy. - Chính mắt anh đã thấy ư? Ôi... - Đôi mắt sáng lên, Kỳ Phương dứt hẳn cơn buồn ngủ. - Lúc nào? Ở đâu thế? À... anh có thể vui lòng cho tôi biết tên không? Người thanh niên vẫn giữ thái độ chậm rãi, khoan thai: - Tôi tên là Vân Phi, người cùng làng với người mẹ và đứa bé kia. - Sao? - Đôi đồng tử trợn tròn, Kỳ Phương vụt nắm lấy tay người đối diện. - Cùng làng với đứa bé à? Không lẽ chuyện con ma hoành hành ăn thịt người là có thật? Vân Phi gật đầu. Đôi mắt mờ xa, anh đưa Kỳ Phương ngược dòng xe lửa trở về cái làng quê hút gió của mình. *** Lắc rắc, lắc rắc... Cơn mưa đêm dai dẳng, tưởng chừng không bao giờ dứt. Nép mình sau hàng rào dâm bụt, Vân Phi nghe hai hàm răng của mình va vào nhau lập cập. Lạnh quá! Nhưng anh quyết không bỏ cuộc. Bằng mọi giá, đêm nay Vân Phi phải bắt cho được con vật khốn kiếp kia. Ba ngày nữa là đám cưới của anh, mọi việc đã chuẩn bị, sắp đặt đâu vào đó. Vậy mà... đùng một cái, vào giờ chót lại xảy ra sự cố. Đó là chuyện bốn mươi chú gà giò, vàng ươm béo mập được nuôi để giành giết thịt đãi quan khách trong ngày hôn lễ bỗng lăn đùng ra chết. Không phải ngẫu nhiên, cũng không do dịch bệnh, Vân Phi biết rõ điều này từ ngày đầu tiên. Khi đàn gà của mình bị chết có năm con. Rõ ràng trên cổ chúng có những dấu răng cắm phập vào. Ngỡ chồn, chó. Đêm hôm sau Vân Phi cài kín chuồng trại. Đặt thêm bẫy gài, Vân Phi quyết trị cho con vật mất nết kia một trận cho bỏ tật. Đừng dại dột mò vào vật nuôi mà mang họa vào thân. Nhưng... con vật thật tinh khôn. Ba ngày liên tiếp, dù cho Vân Phi cài đặt tinh tế cách nào... nó vẫn biết đường né tránh. Không chỉ thế, nó còn xơi sạch chuồng gà của anh luôn. Sáng sáng ra, nhìn những con gà bị hút hết máu nằm chết la liệt khắp sân, Vân Phi đau lòng khủng khiếp. Vút! Một cái gì trăng trắng chợt xẹt ngang đầu làm cắt ngang dòng suy nghĩ của Vân Phi. Nó đấy! Giật mình, anh thầm nghĩ. Con dao nắm chặt trong tay, Vân Phi từ từ vạch tán lá bước vào. Ôi! Bàn chân còn lơ lửng trên không, Vân Phi đã chết điếng té nhào. Trời ơi... không phải chồn, không phải chó... mà là một con ma... Phải! Một con ma trắng toát từ đầu đến chân, gương mặt gớm ghiếc đầy nanh nhọn. Vừa bước vào đã chụp ngay một con gà đưa lên miệng mình cắn mạnh, hút máu tươi chùn chụt. Phải chạy khỏi nơi này lập tức. Bản năng sinh tồn bảo Vân Phi như thế. Nhưng... cơ thể của anh lại không còn nghe lời anh bảo nữa rồi. Nỗi sợ hãi khiếp đảm đã làm chân cẳng anh rụng rời, mềm nhũn không thể đứng lên để chạy. Vân Phi chỉ còn một cách thụt lùi. Rắc! Một cành cây gãy dưới chân. Điếng hồn, Vân Phi ngồi im, nín lặng, nhưng con ma đã nghe động quay đầu lại. Dưới ánh trăng mờ ảo, Vân Phi nhìn thấy rõ, hai con mắt nó lồi hẳn ra ngoài như hai cái chung to. Miệng đầy máu đỏ. - Đừng giết tôi... đừng giết tôi... Thấy con ma trừng mắt ngó mình, Vân Phi sợ quá, vội chắp tay sụp quỳ như thể tế sao. Một lúc, chợt nhớ ra, anh lại lầm rầm đọc câu thần chú từng thuộc nhờ nghe trộm của ông thầy Bảy. "Án ma ni bát nị hồng. Nam mô a di đà Phật". Câu thần chú lẫn lời niệm Phật đều không có tác dụng, con ma chẳng lộ chút sợ hãi nào. Từng bước, nó tiến tới gần Vân Phi hơn. - Không... - Chống tay xuống đất, Vân Phi thụt lùi về phía bờ sông, trong tích tắc giữa sự sống và cái chết, anh gom hết bình tâm gọi lớn: - Cứu tôi... bớ người ta... Vân Phi không hét được trọn câu. Bàn tay lông lá của con ma đã bịt miệng anh. Hơi thở phì phò, từ miệng nó tỏa ra một mùi tanh tưởi. Rồi một bàn tay nâng bổng Vân Phi lên như một con gà. Nó cắm phập chiếc răng vào cổ anh thật mạnh. - Á! Hét lên một tiếng to, Vân Phi té nhào bất tỉnh. Chuyện gì đã xảy ra với mình sau đó Vân Phi không nhớ nổi. Khi tỉnh lại, anh đã thấy mình đang nằm trong bệnh viện. - Ôi Vân Phi... anh đã tỉnh rồi... thật là may quá! Giọng một người con gái trong veo, mừng rỡ. Vân Phi quay đầu lại. Phải hơn một phút anh mới nhận ra cô là Trinh Trinh, vợ chưa cưới của mình. - Có chuyện gì vậy em, sao anh lại ở đây? Vân Phi ngơ ngác. Trinh Trinh trìu mến lau mặt cho anh: - Em không biết, sáng này qua nhà anh thì bắt gặp anh té xỉu dưới hàng dâm bụt. Sợ quá, em tri hô lên, mọi người ùa chạy lại mới hay anh đã bị con chó cấu vào cổ một vết sâu. - Chó sói ư? - Bây giờ Vân Phi mới nhớ ra. Anh lắc đầu la lớn. Không, không phải chó sói đâu. Mà là ma, một con ma. Chính mắt anh trông thấy rõ ràng. - Vâng. - Ngỡ anh tâm trí vẫn còn u mê sau cơn xỉu, Trinh Trinh không cãi. - Để em lấy nước cho anh uống? - Bác sĩ đang truyền nước biển cho anh đấy à? - Đưa mắt nhìn vào ống kim nơi cổ tay mình, Vân Phi nói. Trinh Trinh đút cho anh một muỗng nước. - Không phải nước biển đâu. Máu đấy. Bác sĩ bảo anh bị mất máu quá nhiều, chỉ cần đưa đến bệnh viện trễ một tí nữa thôi là mất mạng rồi. Ngưng một chút, đút cho anh thêm mấy muỗng nước, Trinh Trinh tặc lưỡi: - Hồi hôm anh rình đập con chó sói phải không? Thiệt khổ, em đã bảo anh rồi... thôi kệ nó đi... có mấy con gà, tiếc làm gì... để ra nông nổi... suýt nữa mất mạng rồi... Anh có biết lúc nãy em lo lắng thế nào không? - Xin lỗi em. - Vân Phi khẽ cầm tay Trinh Trinh. Anh đã bất cẩn. Nhưng không phải là chó sói, con ma đã tấn công và hút máu anh. Em nên bảo mọi người hãy dè chừng, cẩn thận. Đừng ra đường ban đêm nguy hiểm lắm! Cho dù Vân Phi lặp đi lặp lại nhiều lần câu nói ấy hàng trăm, hàng ngàn lần, Trinh Trinh và những người dân làng vẫn cười nói thản nhiên. Họ không tin vào chuyện con ma. Cứ nghĩ rằng anh vì quá sợ nên mới tưởng tượng ra. Thời gian thấm thoát trôi, cho đến tuần trăng tròn cuối tháng tiếp theo. Mọi người chỉ ùa ra, vỡ lẽ khi nghe lời kể của Mai Trâm giống hệt những lời kể của Vân Phi. Một con ma, đôi mắt to, cái miệng đầy răng nhọn và vết cắn duy nhất trên cổ. Nhưng... cũng thật lạ lùng. Con ma không cắn chết người. Nó chỉ hút một lượng máu vừa đủ làm người ta ngất xỉu. Tại sao như vậy nhỉ? Lòng nhân hậu chăng? Vô lý thật là vô lý quá... mọi người cứ xì xào bàn tán mãi. Cho đến tháng thứ ba thì Vân Phi bỗng thấy trong người mình có một sự đổi thay kỳ diệu. Đêm đó, anh đang cùng Trinh Trinh đi dạo dọc bờ sông (đám cưới của hai người vẫn chưa được tiến hành), bỗng nghe lòng xôn xao một cảm giác lạ lùng không giống như đói bụng. Tựa như cơn khát cháy khô cổ họng. Anh thấy mình thèm máu tươi kinh khủng. - Vân Phi, anh sao vậy? Thấy Vân Phi tự nhiên thờ người ra, mắt chăm chăm nhìn vào cái cổ trắng của mình, Trinh Trinh thẹn quá. Cứ ngỡ... anh nổi hứng ham muốn thân xác mình. - Anh... - Vân Phi mấp máy môi... Không... anh không muốn điều đó xảy ra một chút nào. Anh không muốn hút máu Trinh Trinh. Nhưng... anh lại không thể làm chủ bản thân. Ghì Trinh Trinh vào lòng mình, anh từ từ đặt môi xuống cổ cô cắn mạnh. - Ôi...! - Đang mơ màng trong cảm giác của nụ hôn, Trinh Trinh chợt nhảy nhổm lên đau điếng, vùng đẩy mạnh Vân Phi ra khỏi người mình rồi giận dữ. - Vân Phi, anh điên rồi hả? Tự nhiên sao lại cắn, chảy máu em rồi nè. Không còn cảm nhận được gì, mùi máu đã làm Vân Phi như điên dại. Nhào người lên chụp lấy Trinh Trinh, vật cô té nhào ra cỏ, Vân Phi ngoạm miệng vào cổ cô uống như điên dại dòng máu đỏ. - Ồ không! - Bây giờ mới nhận ra sự khác lạ của người yêu, Trinh Trinh sợ quá la to. - Buông ra... bớ người ta... cứu tôi... Một đôi nhân tình đang tâm sự trong một lùm cây gần đó, nghe tiếng người kêu cứu bước đến. Vân Phi như vẫn không nhận ra sự hiện diện của mọi người, cứ nhào lên cố đè Trinh Trinh nằm ra đất. - Vân Phi, buông cô Trinh Trinh ra. Người thanh niên bước đến nhẹ nắm tay Vân Phi lại. Trinh Trinh hét lớn: - Cứu tôi với, anh ấy muốn ăn thịt tôi. - Hả??? Bây giờ mới nhận ra miệng Vân Phi đầy máu, người thanh niên sợ quá, vội chụp một cái cây ven đường đánh vào đầu Vân Phi thật mạnh. - Trinh Trinh... có chuyện gì? Sao Vân Phi lại cắn cô? - Cô gái xé vội vạt áo băng tạm vết máu trên cổ Trinh Trinh và lo ngại hỏi. Dân làng nghe động kéo ra, vây kín lấy Trinh Trinh và Vân Phi vào giữa. Những cây đuốc trên tay họ sáng rực một góc trời. - Tôi cũng không biết nữa. Khi đã hoàn hồn, Trinh Trinh thút thít khóc trong lòng cô bạn gái. - Tự nhiên đang ngồi bên nhau tâm sự, anh Phi bỗng chồm lên, vật tôi xuống, cắn mạnh vào cổ tôi hút máu như thèm khát lắm. Trời ơi, nhìn mặt anh lúc ấy thật là khủng khiếp. Cứ như... đã bị biến thành ma vậy... - Ôi! Không hẹn mà đám đông đứng nép sát vào nhau sợ hãi. Đúng lúc đó, từ cuối góc làng, tiếng một người đàn bà hét lên thất thanh: - Cứu tôi với, con tôi nó muốn giết tôi. - Chuyện gì thế? - Đám đông quay đầu lại. Một người đàn bà hớt hải chạy nhanh đến, sau lưng bà là Mai Trâm (cô gái bị ma cắn sau Vân Phi) đang hung hăng đuổi theo. - Cứu tôi với, nó muốn hút máu tôi... Chạy ùa vào giữa đám đông, bà Tâm sợ hãi trốn sau lưng họ. Phía sau, Mai Trâm vẫn bám theo một bước. Đã có kinh nghiệm với Vân Phi, chàng thanh niên lúc nãy lại dùng cây đánh cho Mai Trâm té xỉu, rồi lắng nghe bà Tâm thuật lại đầu đuôi câu chuyện. Diễn biến xảy ra hệt như câu chuyện của Vân Phi. - Làm sao bây giờ? - Đám dân làng xôn xao bàn tán. Rõ ràng những người bị ma hút máu đều đã bị biến thành ma. Cái đà này... chẳng bao lâu nữa cái làng này sẽ biến thành ma hết mất, theo cấp số nhân. Suy nghĩ, suy nghĩ mãi không tìm ra cách giải quyết, đám đông đành chịu đưa Vân Phi và Mai Trâm vào bệnh viện. Hy vọng sẽ tìm ra thuốc chữa. - Có chuyện này thật sao? - Vị bác sĩ khám cho họ tỏ ý nghi ngờ về câu chuyện kể sặc mùi hoang đường. Đến khi xem kết quả khám nghiệm ông mới tặc lưỡi hít hà vì một hiện tượng quá lạ lùng.Cả Vân Phi và Mai Trâm đều bị thiếu hồng cầu một cách trầm trọng. Và... đây là lý do khiến họ thèm máu sống. Trong tình trạng của Vân Phi, Mai Trâm bây giờ thật nguy cấp. Hơi thở nhanh, mạch chậm và cách duy nhất để cứu cả hai bây giờ là phải truyền gấp cho mỗi người hai đơn vị máu. Giọt cuối cùng của bịch máu truyền hết vào người thì cũng là lúc Vân Phi mở bừng mắt dậy. Đầu óc anh tỉnh táo bình thường, anh như người vừa rơi từ cung trăng xuống. Tất cả sự việc đã diễn ra với mình lúc nãy, anh hoàn toàn không nhớ được nữa. Cả Mai Trâm cũng thế, cứ ngơ ngơ ngác ngác như mới vừa tỉnh mộng. Bác sĩ dặn mọi người giấu kín chuyện này nên Vân Phi và Mai Trâm cứ tin rằng mình chỉ bị một cơn bệnh xoàng thôi. Thời gian trôi, con ma vẫn tiếp tục hoành hành. Mỗi tháng tìm hút máu một người (từ khi hút máu Vân Phi, nó đã không còn tìm đến hút máu gà vịt nữa. Dường như nó thấy hút máu người thú vị hơn). Cả làng quê bé nhỏ sống trong tâm trạng hoang mang, lo sợ. Tới tối không một ai dám ra ngoài đường. Nhất là những đêm trăng tròn, cửa kín, then cài, đèn đuốc đều tắt hết đi. Cả ngôi làng như bất động, chìm lỉm trong bóng đêm ghê rợn. Nhưng... con ma thật tinh khôn quái quỷ, càng lúc nó càng lộng hành hơn, dám trổ cả mái nhà xuống để hút máu người. Hành tung của nó cũng trở nên kỳ ảo, bí mật hơn. Ngoài kẻ bị hút máu ra, không một ai nhìn thấy được. Một lần, để từ chối đi dạo với Vân Phi, Trinh Trinh đã để lộ cho anh biết điều bí mật bác sĩ đã dặn mình và mọi người giấu kín. - Có lẽ nào lại như thế! - Vân Phi nghe choáng váng trước tiết lộ của người yêu. Chạy tìm khắp hết các thầy bùa, thầy pháp, anh cầu mong họ hãy giúp mình giải trừ ma tính. Không... anh không muốn, không bao giờ muốn trở thành một con ma hút máu người. Thà chết còn hơn... Nhưng... ma thuật của con ma thật là siêu huyền bí. Các đạo bùa linh, các phép màu của những bậc thầy cao tay ấn đều tỏ ra vô hiệu. Mỗi tháng trăng tròn, Vân Phi phải vật vã với cơn khát máu của mình. Những lúc như thế, dân làng chỉ biết đập cho anh bất tỉnh rồi đưa vào bệnh viện. Bác sĩ lại phải truyền qua đường tĩnh mạch cho anh hai đơn vị máu. Truyền máu xong, Vân Phi trở lại làm một con người bình thường. Nhưng giờ đây, trong mắt mọi người anh không còn là một anh nông dân hiền lành chất phác, được trên yêu, dưới mến nữa. Họ xa lánh, sợ hãi không dám đến gần. Thậm chí những người ở cạnh nhà anh cũng vì sợ mà dọn đi nơi khác. Và điều làm cho Vân Phi phải đau lòng, khổ sở nhất vẫn là lời từ hôn của Trinh Trinh. Vì dù có rất yêu anh cô cũng không đủ can đảm làm vợ một con người có nửa phần ma như anh được. Đau khổ, buồn chán một thời gian, Vân Phi quyết định rời bỏ làng quê đi xứ khác. Anh không thể sống mãi trong mặc cảm bị xa lánh và ghê sợ.... Vân Phi kể xong câu chuyện, cũng đúng vào lúc con tàu cập bến. Mọi người xôn xao, ùn ùn kéo nhau ra cửa. Tiếng gọi con, tiếng chửi bới cằn nhằn vang động cả một góc trời. Vậy mà... trong góc con tàu, Kỳ Phương và Vân Phi vẫn cứ ngồi yên bất động. Mỗi người đuổi theo một suy nghĩ của riêng mình. Vân Phi nghĩ đến những tháng ngày sắp đến của mình. Trên bước đường lưu lạc tha phương, liệu anh có tìm được một quý nhân giúp mình cởi bỏ những phần ma trong bản thân. Có quên được Trinh Trinh, cô vợ sắp cưới đẹp nết, đẹp người? Trong lúc đó, Kỳ Phương lại thấy lòng đầy ắp nỗi nghi ngờ. Anh không tin ma quỷ... nhưng câu chuyện của Vân Phi vừa kể thì sao? Không thể không tin vào tính chân thật của câu chuyện được. Rõ ràng trên cổ Vân Phi còn hằn sâu vết thẹo. Lẽ nào... thế gian này... có tồn tại một sinh vật vô hình mà mọi người quen gọi là ma? Xưa nay... có ai trông thấy nó bao giờ đâu? - Tàu cập bến lâu rồi. Thôi chào anh, tôi đi nhé. Vân Phi chợt đứng lên, tay đập mạnh vào vai Kỳ Phương từ giã. - Khoan đã. Kỳ Phương giật mình ngẩng đầu lên. Trong lúc nhất thời không tìm ra được câu gì, anh chỉ nhớ đến mối bận tâm duy nhất của mình. - Anh có thể cho tôi xin địa chỉ làng quê của anh không? - Để làm gì? - Vân Phi ngơ ngác. - Anh định đến đấy à? Không trả lời, Kỳ Phương nhẹ gật đầu. Vân Phi xua tay sợ hãi: - Đừng... anh đừng đến đó làm gì. Mọi người đang kéo nhau bỏ làng mà đi đấy. Nguy hiểm lắm. - Không sao đâu. - Kỳ Phương mỉm cười. Nghề của tôi mà. - Vậy... - Ngập ngừng một chút, Vân Phi cầm lấy cây bút trên tay Kỳ Phương ghi vội vào quyển sổ của anh mấy chữ. - Anh đến đó nhớ cẩn thận. Có gặp Trinh Trinh xin nhắn lại giùm. Dù đi đâu... tôi cũng nhớ và yêu cô ấy lắm. - Tôi sẽ nhắn. - Kỳ Phương hứa hẹn. Vân Phi không chờ nghe anh nói dứt câu đã xách vali phóng vội qua khung cửa. Một chiếc honda ôm trờ tới. Chẳng cần nói giá và nói địa chỉ, anh nhảy lên bảo nó chở đi ngay. Sự việc diễn ra nhanh quá, Kỳ Phương chẳng kịp có phản ứng gì. Nhìn theo bóng Vân Phi khuất vào con đường trước mặt, Kỳ Phương giật mình chợt nhớ. Anh đã quên không hỏi địa chỉ nơi Vân Phi sẽ đến. Một chút ngậm ngùi rồi cũng trôi qua. Cúi nhìn dòng địa chỉ Vân Phi ghi trên quyển sổ tay, Kỳ Phương quyết định ngược vào nhà ga mua vé quay trở lại. Bài phóng sự của anh là ở vùng quê có ma kia, chẳng phải nơi này. Chắc hẳn sẽ ly kỳ và hấp dẫn lắm đây... linh tính đã bảo với Kỳ Phương như vậy... *** Chiều nay bác sĩ Tùng về sớm hơn ca trực một tiếng đồng hồ. Không phải vì lười biếng mà ông chỉ muốn dưỡng sức cho ngày mai có nhiều việc phải làm thôi.Tám tháng rồi, kể từ ngày con ma xuất hiện. Cứ đến ngày rằm là ông và tập thể y bác sĩ ở bệnh viện phải điên đầu, rối óc. Lớp cứu chữa nạn nhân mới, lớp lo truyền máu cho bệnh nhân cũ. Cấp cứu bệnh nhân, truyền máu chỉ là những thao tác quen thuộc, không lấy gì làm khó khăn. Cái làm cho ông, cho các bác sĩ ở đây rối trí là số lượng máu dự trữ không đủ truyền cho số bệnh nhân ngày cứ tăng lên. Mỗi ngày trăng tròn, con ma chỉ hút máu một người, nhưng... những người bị nó hút máu không chết. Tất cả đều mang chung một chứng bệnh là bị... cơn khát máu. Mỗi lúc như vậy... nếu không kịp truyền vào người họ một số lượng máu cần thiết là họ lập tức trở nên hung hăng, tìm người hút máu ngay. Họ rất nguy hiểm và cũng là người truyền bệnh lớn. Bởi... những bệnh nhân bị họ hút máu, cũng trở nên gần giống như vậy. - Nguy hiểm quá... phải giết họ chết để cắt đứt nguồn lây lan. Một lần trong cuộc họp, viên cảnh sát trưởng đã đưa ra yêu cầu nhưng ông bị bác bỏ đi ngay. - Không thể giết họ được. Dù hung hãn, dù đi hút máu người, họ vẫn không phải là ma. Cách duy nhất chấm dứt tình trạng này là phải tiêu diệt con ma và tìm ra phương pháp cứu chữa cho những bệnh nhân này. Không có vi rút, vi trùng hay một loại vi khuẩn lạ nào được phát hiện ra trong máu những người nhiễm bệnh. Kết quả xét nghiệm cho thấy máu của họ vẫn bình thường. Điều này đã làm cho mọi người thêm hoang mang tin tưởng đúng là ma ám thật rồi. Bác sĩ Thanh Tùng không tin vào ma quỷ. Nhưng chuyện này là thế nào? Ông không giải thích được... Cùng với mọi người, ông đã tìm đủ cách diệt trừ cái sinh vật được tạm gọi là ma. Song... con ma thật tinh khôn. Nó không bao giờ lọt bẫy, cũng chẳng để lại chút dấu vết nào. Cả bùa linh, cả súng đạn đều không chạm được vào người nó. Cuối cùng... chỉ còn một cách để giải quyết thôi. Theo lời ông, vào ngày rằm, mọi người phải trốn hết vào trong nhà. Cài kín then cửa để con ma không vào được. Hừ!... nếu đêm nay... nếu vẫn còn người bị con ma hút máu thì...có lẽ ông phải khuyên mọi người mau nhanh chân sơ tán khỏi nơi này. - Ba mới về. Giọng người con gái trong trẻo chợt cắt ngang dòng suy nghĩ của ông Tùng. Giật mình ngẩng dậy ông mới hay mình đang đứng trước cửa nhà. Như thường lệ, Nguyệt Cầm, cô con gái cưng duy nhất của ông đang đón cha ở cửa với nụ cười xinh như hàm tiếu. - Ờ... Bao giờ cũng vậy, mỗi lúc gặp con là ông nghe tinh thần phấn chấn hẳn lên. Những cơn mệt mỏi, những nỗi bực mình toan tính trong đầu đều biến cả. Môi ông nở nụ cười hiền hậu. - Ba đã về rồi đây, con yêu à. - Hôm nay ba về sớm! Nhưng có vẻ mệt mỏi hơn thường bữa. Ôm lấy tay cha, Nguyệt Cầm mừng ríu rít. Của đáng tội, cô năm nay đã mười chín tuổi rồi, nhưng lúc nào cũng nhõng nhẽo, đeo bám cha như con nít vậy. - Bệnh viện nhiều việc phải làm lắm phải không ba? - Không sao đâu, con cưng! - Ngồi xuống chiếc xích đu trước hòn non bộ, ông nheo mắt nhìn con. Trong bộ đồ lụa trắng, mái róc buông dài óng mượt trên lưng, Nguyệt Cầm đẹp tuyệt vời. Hệt như mẹ nó! Ông thầm nhủ rồi chợt nhận ra, con gái của mình nay lớn quá. Phổng phao, xinh đẹp, đầy sức sống. Chà! Đến lúc... ông phải lo chọn cho nó một tấm chồng xứng đáng rồi đây. - Ba uống nước đi rồi tắm rửa, ăn cơm. Con đã treo sẵn một bộ pijama cho ba trong phòng tắm đấy. - Trao ly nước cho ông, Nguyệt Cầm nói dịu dàng. Rồi thấy cha cứ ngồi im chăm chú nhìn mình, cô lạ lẫm: - Ba... làm gì mà nhìn con ghê vậy? - Con đẹp quá! - Chớp mắt, ông tự hào... - Ba thầm nghĩ, anh chàng nào diễm phúc được làm chủ đóa tử đinh hương đẹp nhất đời này... - Á! Đôi má ửng đỏ lên, Nguyệt Cầm đấm mạnh tay xuống người cha nũng nịu. - Không cho ba nói bậy, nghĩ bậy đâu... con còn nhỏ xíu mà... - Không nhỏ, không nhỏ nữa đâu. - Nghiêng mình né những cú đấm yêu của con, ông cười vui. - Quả thật con của ba đã lớn, lớn thật rồi. Nguyệt Cầm giậm mạnh chân hờn dỗi: - Ư... nếu ba còn nói nữa, con sẽ giận ba luôn đó. - Ồ không... không, đừng giận... - Nhìn mặt con xụ xuống, ngỡ nó giận thật, ông Tùng quýnh lên. - Ba không nói, không nói nữa mà. Vào tắm rồi ăn cơm phải không nào? - Dạ phải! - Nguyệt Cầm tươi ngay nét mặt. - Vào tắm lẹ đi ba, nước nguội hết cả rồi. Để con vào thay cho ba thau nước mới. - Không sao... ba tắm nước nguội cũng được mà! Ông đưa tay ngăn lại, nhưng không kịp, Nguyệt Cầm đã co chân chạy đi rồi. Sau một ngày mệt nhọc, được ngâm mình trong nước ấm thật thoải mái vô cùng. Bao mệt mỏi ưu phiền tan biến, ông thầm cảm ơn trời đã ban cho mình một đứa con hiếu thảo. Vợ mất khi hãy còn là một trung niên chưa đến tuổi bốn mươi, nhưng ông không đi bước nữa. Mặc cho bao người mai mối, bao cô gái đẹp thầm yêu, trộm nhớ. Cuộc đời của ông đã dành trọn cho con và sự nghiệp. Ông không phải là người xứ này, dù ông đến đây định cư hơn mười tám năm rồi. Mọi người ở đây đều yêu thương, quý trọng đức tính của ông. Nhưng... họ không thể nào hiểu được hoàn cảnh của ông, cũng như quê quán của ông nơi nào, tại sao lại đến đây cư ngụ. Họ chỉ thầm thắc mắc với nhau thôi. Rằng... một bác sĩ giỏi tay nghề như ông sao không tiến thân ở thành phố, ở những nơi dân cư đông đúc, đầy đủ tiện nghi, lại đến đây, đến cái làng quê nhỏ bé và lạc hậu này cư ngụ. Dẫu sao thắc mắc vẫn là thắc mắc. Mười tám năm rồi, mọi người như đã quen dần cách sinh hoạt khác người của cha con ông. Như một con ốc nhỏ, cha con ông sống trầm tư cách biệt mọi người. Ngoài những lúc ở bệnh viện ra, trở về nhà, ông hầu như chẳng tiếp xúc giao thiệp cùng ai cả. Cô con gái Nguyệt Cầm thì khỏi nói. Xinh như một đóa hồng nhung... Các gã trai làng đừng mơ mà để mắt. Cả cái nhìn chiêm ngưỡng dung nhan kiều diễm của cô cũng không có được. Cả ngày giam mình trong ngôi biệt thự, cô chỉ xuất hiện bên cửa rào một ngày đúng hai lần. Đó là lúc tiễn cha đi làm và lúc mở cửa đón ông về mà thôi. Khiến cho bao kẻ si tình, ngưỡng mộ đâm ra chán nản, không còn dám hy vọng nữa. Tất cả những lời bàn tán của mọi người, ông Tùng đều biết. Cũng như biết rõ cách sinh hoạt kỳ lạ của mình đã làm cho mọi người ở đây khó chịu. Nhưng... thà vậy. Ông không thể thay đổi nếp sống một khi đã trở thành thói quen rồi. Ông vẫn biết, một tài năng hiếm hoi như mình bị chôn vùi mãi ở cái vùng quê này là một sự phí phạm. Một thiệt thòi lớn cho mình và con gái. Lẽ ra... cha con ông không phải sống thiếu thốn thế này. Thật tội nghiệp Nguyệt Cầm, mười tám năm sống bên cha chẳng khác gì bị cầm tù. Ngoài căn biệt thự lớn này ra, nó chẳng biết thế gian còn bao điều thú vị. Nhiều lúc nhìn con nói những câu ngớ ngẩn, lòng ông đau nhói. Thương con quá. Cuộc đời nó đâu đáng bị thế này. Trong khó khăn nhưng ông vẫn có thể cho nó một cuộc sống khá hơn nhiều. Nó phải được đến trường, phải trở thành cô sinh viên đại học tương lai xán lạn. Vậy mà... nó chỉ là một cô gái quê ngốc nghếch chỉ học hết quyển đánh vần. Tại sao... tại sao ông không thể thả nó ra ngoài bầu trời rộng bao la làm con chim tự do mặc tình ca hát, tự làm chủ cuộc đời mình. Liệu... ông có còn sống mãi để bảo bọc cuộc đời con. Nó mỏng manh như hoa hồng, dễ vỡ như trứng mỏng, làm sao có thể đối phó với cuộc đời đầy sóng gió thăng trầm. Bao nhiêu lần rồi... ông muốn trở về với con người thật của mình. Rồi cũng bao nhiêu lần ông lắc đầu sợ hãi. Không... với những gì đã xảy ra trong quá khứ, ông không có quyền tồn tại. Giáo sư tiến sĩ Trịnh Thanh Tùng đã biến mất khỏi cuộc đời. Không phải bây giờ mà là từ hơn mười tám năm về trước. - Ba ơi, tắm xong chưa? Cơm canh nguội hết cả rồi. Tiếng Nguyệt Cầm vọng lên ngoài cửa, ông giật mình thoát cơn suy tưởng, khoác bộ pijama xanh biển vào người, ông bước ra vui vẻ. - Ừ, ba xong rồi đây, con cưng ạ. - Mời ba dùng cơm. - Nguyệt Cầm kéo nhẹ chiếc ghế ra khỏi bàn. - Hôm nay có món thịt bò bít-tết với khoai tây chiên, món ba thích ăn nhất đó. - Ồ, vậy sao? - Mắt ông sáng bừng lên thích thú. - Thật ngon quá! À... mà khoan đã, vừa ngồi xuống bưng chén cơm lên, ông như chợt nhớ vội đặt xuống bàn rồi đứng bật nhanh trở dậy. - Ba sao thế - Nguyệt Cầm nghiêng đầu lạ lẫm. - Có chuyện gì cứ bảo con làm. - Không được... Chuyện này ba phải tự tay làm mới cảm thấy an tâm. Vừa nói, ông vừa bước đến bên các cửa sổ cài then thật chặt. Nguyệt Cầm mỉm cười: - Chỉ có đóng cửa thôi mà ba làm con sợ hết hồn. Nhưng... tại sao hôm nay ba lại đóng cửa sớm như vậy hả? - Ờ...có gì đâu. - Không muốn đầu óc ngây thơ của con phải sợ hãi chuyện ngoài đời đang xảy ra, ông lắc đầu khỏa lấp. - Chẳng qua là ba nhớ lúc nào làm việc lúc đó thôi. Nào...con gái cưng, mau đến xới cho ba một chén cơm. - Con biết rồi... - Nguyệt Cầm bước trở về bàn, vừa xới cơm vừa ranh mãnh nói. - Có phải ba sợ con ma đêm nay sẽ vào nhà của mình không? - Hả? Ngụm cơm như nghẹn lại nửa chừng, ông nhìn con lo lắng. - Con nghe đâu mấy chuyện nhảm nhí như vậy hả? - Chẳng phải nhảm nhí đâu. Nguyệt Cầm ôm cổ cha cười nhí nhảnh. - Là sự thật đó, chính chị Lan đã kể cho con nghe đó. - Chị Lan nào? - Đôi mày chợt nhíu, ông giận dữ. - Con dám cãi lời ba giao du với dân làng phải không? - Con không dám cãi lời ba... nhưng... Hai bàn tay xoắn vào nhau, mắt Nguyệt Cầm hoe đỏ. - Suốt ngày bị nhốt trong nhà, con buồn quá. Mà chị Lan có phải là ai xa lạ... chị ở cạnh nhà mình đây nè. Chị vui tính lắm, kể cho con nghe đủ thứ chuyện. Nhất là chuyện con ma hút máu... Ba à!... có phải đêm nay trăng tròn ma lại xuất hiện không? Biết chẳng thể giấu con, ông đành nhẹ gật đầu: - Phải... nhưng con đừng sợ, nhà mình chắc chắn thế này, con ma chẳng thể vào được đâu. - Con không sợ đâu. Nguyệt Cầm nhẹ lắc đầu. - Con chỉ tò mò, muốn biết hình dạng con ma ấy thế nào thôi. Ba à... nó ra sao hả ba? - Nó ra sao thì mặc nó... - Chợt cảm thấy bất an, ông nạt con. - Con muốn biết làm gì, nguy hiểm lắm. - Ba à! - Nguyệt Cầm lại thỏ thẻ. - Con nghe chị Lan bảo mọi người đang muốn giết chết con ma đó phải không ba? Ông chưa kịp trả lời, cô đã nói luôn: - Nghe nó ác, giết nhiều người vậy, sao con muốn phụ một tay để giết con ma ấy quá. Mồ hôi chợt rịn ra khắp thái dương, ông buông chén cơm lắp bắp: - Thôi... thôi con đừng nói vậy. Mau vào phòng ngủ sớm cho ba nhờ... Từ nay cấm con nhắc đến chuyện con ma nữa đó. - Ba... - Nguyệt Cầm tỏ vẻ không đồng ý. - Trời còn sớm mà... con muốn... - Không muốn gì cả... - Nắm tay kéo con về phòng ngủ, ông ấn mạnh nó vào trong rồi cài kín cửa. - Ngủ đi... có động tĩnh gì cũng không được mở đâu. - Ba... - Nguyệt Cầm dộng tay vào cửa ầm ầm. - Thả con ra... con muốn đi giết con ma...con đã hẹn chị Lan rồi... Toàn là những lời nói khủng khiếp, ông chẳng muốn nghe một chút nào. Đứa con gái ngây thơ này, sao hôm nay lại tỏ ra liều lĩnh thế? Chắc cô gái tên Lan nào đó đã nhồi nhét nhiều thứ vào đầu óc nó lắm rồi. Ngày mai... ông phải bịt lối cửa rào, để nó không còn nói chuyện được nữa. Nghĩ rồi tạm an tâm, ông bước vào phòng tìm cây đèn pin kiểm tra cửa nẻo. Trời đã tối từ lúc nào và không bao lâu nữa, con ma sẽ xuất hiện trên đường. Mọi người đều vào nhà hết thảy. Thử xem đêm nay nó còn hút máu được ai nữa chứ? Bước ngang phòng con gái, lòng ông lại nao nao. Dường như lúc nãy ông kéo con hơi mạnh. Chắc nó... giận ông nhiều lắm. Nhưng... biết làm sao... Dám đòi đi giết ma... Nguyệt Cầm đúng là ngây thơ quá. Nghĩ đến cảnh cái cổ trắng ngần của con bị hàm răng nanh của con ma cắn phập vào, ông sợ quá, hai chân run rẩy đứng không vững nữa. - Nguyệt Cầm, Nguyệt Cầm... - Ông nhẹ gõ tay vào cánh cửa, thầm nghĩ để chắc ăn, để tuyệt đối an toàn, ông quyết định đêm nay sẽ ở lại phòng của con. - Mở cửa, ba có chuyện muốn nói với con đây... ngoan nào, đừng giận nữa. Một phút, hai phút, rồi ba phút trôi qua, mặc cho ông hết lời năn nỉ, bên trong cánh cửa vẫn im lìm. Nguyệt Cầm đã ngủ rồi ư? Không đâu... mồ hôi bắt đầu rịn ra khắp thân thể ông. Nguyệt Cầm không ngủ nhanh thế, càng không giận ông dài như vậy. Nhất định đã có chuyện gì rồi. Quýnh quáng, ông chạy đi tìm cây búa, cố hết sức bình sinh với tấm lòng cực mạnh của người cha lo lắng cho con, chưa tới năm phút, ông đã đập tan ổ khóa. - Nguyệt Cầm. - Cây búa rơi đúng chân ông làm giập một ngón nhưng không đủ khiến ông đau điếng. Mà hai mắt ông mở tròn, chết dại đi khi nhìn phòng con trống rỗng. Cánh cửa sổ mở toang hoang. Trời ơi... sao ông không nghĩ đến điều này nhỉ? Nguyệt Cầm đã dám trốn ông leo cửa sổ ra ngoài. *** Thường khi lên dốc, trèo đèo, đi chơi hàng trăm cây số không sao cả. Vậy mà, đùng một cái, vào thời điểm quan trọng nhất lại bộc phát ra hàng tỉ bệnh. Hết bể bánh đến hư suppap. Hỏi có điên được không trời? Co chân đá mạnh vào chiếc môtô 250 phân khối của mình, Kỳ Phương lầm bầm mắng. Suốt chặng đường dài từ Sài Gòn xuống đây, không quá hai trăm kilômét, chiếc xe khốn kiếp này đã hại anh bầm giập điêu đứng non bốn lần rồi. Tức nhất vẫn là chuyện hết xăng đúng vào lúc đoạn đường rừng vắng vẻ, cheo leo không ai bán xăng. Báo hại anh đẩy bộ hàng mấy cây số liền. Mệt bở hơi tai, chân lại phồng dộp cả lên đau chết người. Vậy là cuối cùng mình cũng đến được rồi. Kỳ Phương đưa tay lau mồ hôi trán thở phào mừng rỡ. May mà...trước khi đi, anh có đem theo vỏ ruột xơ cua, không thì... lỡ mất cơ hội được chứng kiến cảnh con ma hút máu người rồi. Chà! Không biết hôm nay nó xuất hiện hướng nào để còn phục kích chứng kiến cho tường tận. Chụp được một pô hình càng hay. Nếu đúng là ma thật, anh sẽ là người có được tấm ảnh độc nhất vô nhị. Ban biên tập sẽ tròn mắt ra nhìn anh thán phục. Tiếng tăm của anh càng nổi như cồn. Vui vì lời khen ngợi sắp có, Kỳ Phương cúi xuống xem lại chiếc máy ảnh treo lủng lẳng bên hông. Tuy nó cũ lắm rồi, nhưng Kỳ Phương không bao giờ có ý định thay nó. Vào hiểm ra nguy, bao phen anh và chiếc máy ảnh cận kề gắn bó. Lắm lúc tưởng nguy tính mạng, anh vẫn không định lìa xa người bạn thân nhất đời này, với độ chính xác cao, nó từng cho anh nhiều pô không thể nào ngờ được. - Lần này cũng thế nhé máy ảnh thân yêu! - Kỳ Phương nhẹ vỗ vào chiếc máy ảnh thầm thì. Rồi đẩy chiếc xe đi dọc trên con đường nhỏ, ánh trăng trên đầu lung linh sáng tỏ, soi rõ bóng Kỳ Phương chập chờn trên bóng lá. Đêm dần trở về khuya. Cả ngôi làng im lìm trong giấc ngủ. - Á!!! Một tiếng hét thất thanh chợt vang dài trong đêm vắng. Kỳ Phương giật mình nghiêng đầu định hướng. Nó dường như được phát ra từ một lùm cây gần đó. - Con ma! Ý nghĩ vụt lóe lên trong đầu. Không kịp suy nghĩ, anh phóng như bay đến nơi vừa vang lên tiếng thét. Chiếc mô tô ngã nhào xuống ruộng tạo nên một tiếng động kinh hồn. Những ngôi nhà cửa vẫn im lìm đóng kín chẳng ai dám phản ứng. - Ôi! Nếu không tận mắt nhìn, Kỳ Phương chẳng tin đâu. Rõ ràng trên thảm cỏ, một người, một ma đang quay tròn lăn lộn. Người bị hại là một người trung niên, tuổi đã cao, nhưng xem ra vẫn còn khỏe lắm. Nên... giằng co nãy giờ khá lâu rồi mà con ma vẫn chưa thể cắm phập chiếc răng nanh của mình vào. Lẽ ra... phải lo việc cứu người trước, nhưng phản xạ của một phóng viên đã khiến Kỳ Phương làm điều ngược lại. Không vội bước ra chỗ nấp, anh tìm một góc tốt, đưa máy ảnh ra chộp lẹ. Ánh đèn flash lóe sáng rực đã thu hút sự chú ý của con ma. Nó buông thõng tay, quay đầu tìm kiếm. Thừa cơ hội, người bị nạn vùng thoát ra, bỏ chạy. Con ma không đuổi theo, nó dường như phát hiện ra sự ốm yếu của Kỳ Phương, tấn công anh dễ dàng hơn. Con ma lừng lững tiến lên từng bước một, ánh trăng sáng tỏ đủ cho Kỳ Phương nhìn thấy mặt nó rõ ràng hơn. Không giống mặt người, cũng không giống như lời của Vân Phi. Con ma có gương mặt của một con vật quen thuộc. Nhưng con gì... trong lúc nhất thời quýnh quáng Kỳ Phương không kịp nhớ. Con ma tiến đến gần Kỳ Phương lắm rồi, Kỳ Phương đảo mắt nhìn quanh suy tính. Không thể đấu vật tay đôi được. Kỳ Phương tự biết sức mình. Người trung niên to con vạm vỡ lúc nãy đấu với nó còn chật vật, huống chi anh... Từ nhỏ đã không quen làm nặng, phải chạy thôi... Nghĩ đến đó, như bừng tỉnh, Kỳ Phương co chân chạy nhanh về phía chiếc môtô. Hy vọng con ma sẽ không đuổi kịp tốc độ của chiếc xe... chuyên dùng để đua này. Ôi trời! Nhìn chiếc môtô té ngã nhào nằm chỏng gọng dưới thửa ruộng đầy nước, Kỳ Phương than thầm trong bụng. Phóng ngược trở lên đường, anh chạy vòng quanh một lùm tre. Con ma chỉ biết chạy thẳng thôi. Kỳ Phương nhớ có lần một người đã nói với mình như vậy. Nhưng... Kỳ Phương đã tính lầm. Không chỉ việc chạy vòng tròn, mà cả việc dùng môtô để thoát khỏi sự săn đuổi của con ma cũng là khó. Bởi nó không chỉ dễ dàng chạy vòng tròn mà còn chạy với tốc độ lớn hơn tốc độ của chiếc môtô nhiều lần nữa. Sau khi chơi trò rượt đuổi với Kỳ Phương một lúc lâu. Con ma như thấm mệt, dừng chân không đuổi nữa. Kỳ Phương cũng dừng chân hồng hộc thở. Mồ hôi chảy đầm đìa khắp thái dương. Lần đầu tiên trong cuộc đời, anh biết thế nào là sợ hãi. Đứng yên một phút, con ma bất thần bay vọt lên cao và sà xuống người Kỳ Phương nhanh như tên bắn. Hai bàn tay đầy móng nhọn và lông lá của nó thít lấy Kỳ Phương siết chặt. - Trời ơi!... - Kỳ Phương té ngửa ra sau chới với, không hiểu sao tay anh lại quơ trúng nhằm chiếc máy ảnh bên hông, đưa chiếc máy ảnh lên ngang mặt con ma, không cần ngắm, chụp ngay một pô hình. Mong để lại cho đời một cái gì đó trước khi chết. Nhưng... thật bất ngờ... ánh đèn đã làm con ma sợ hãi. Hàm răng nhọn chưa kịp cắm xuống cổ Kỳ Phương đã rút về. Thừa thắng, Kỳ Phương giơ chiếc máy ảnh lên nhá đèn liên tục. Quả nhiên, con ma sợ hết hồn. Thụt lùi về sau mấy bước, nó phóng mình lên cây cao mất dạng. Cùng lúc, người trung niên kia quay trở lại cùng bốn thanh niên lực lưỡng. Thì ra... nãy giờ ông đi tìm người cứu viện. Thấy Kỳ Phương còn đứng ngẩn người ra nhìn bóng con ma, ông chạy đến bên anh mừng rỡ. - Cậu thanh niên trẻ cậu có sao không? - Dạ... không sao. Buông cho chiếc máy ảnh rơi lủng lẳng bên hông, Kỳ Phương quay đầu lại nhìn mọi người vui vẻ. - Con ma đã bị ánh đèn flash của tôi xua đi rồi. - May mắn. Thật là may mắn quá! Đưa tay ôm ngực, ông và mọi người cùng thở phào ra. Rồi nắm lấy tay Kỳ Phương ông nói với vẻ biết ơn. - Cậu thanh niên, vô tình cậu đã cứu tôi thoát đấy. Nếu lúc nãy không có cậu... có lẽ ta đã bị con ma hút máu rồi. - Bác sĩ... ông đi đâu giữa đêm khuya như vậy? - Một thanh niên tò mò hỏi. Ông đã bảo chúng tôi vào nhà đóng cửa rồi mà. - Tôi đi tìm con gái tôi. - Nói rồi như chợt nhớ, ông ngước đầu lên sợ hãi. - Trời ơi, Nguyệt Cầm, con gái của tôi, không khéo bây giờ nó đã bị con ma hút máu rồi... Mau... phụ tôi đi tìm nó. - Vâng. - Thái độ quýnh quáng của ông đã làm mọi người hốt hoảng theo. Quên mất sự sợ hãi của mình với con ma, bốn thanh niên hăng hái chia nhau mỗi người một hướng. Đứng nhìn theo họ một lúc lâu, Kỳ Phương quay sang ông: - Bác sĩ, tôi sẽ đi cùng ông. - Cám ơn cậu. - Cúi nhặt một cành cây to, ông Tùng lật đật bước đi trước dẫn đường. Kỳ Phương lẳng lặng theo sau. Linh tính một phóng viên lành nghề như báo cho anh biết mình đã điều tra đúng hướng. *** -Tôi phải vào bệnh viện đây, cậu cứ tự nhiên như ở nhà vậy... - Đẩy đĩa điểm tâm sang bên, bác sĩ Tùng thân mật bảo Kỳ Phương. - Chiều về, chúng ta sẽ cùng bàn luận vấn đề này. Chà! Lâu lắm tôi mới gặp được một người thông thái như cậu đấy. Nguyệt Cầm, ra đóng cửa cho ba, ở nhà nhớ tiếp đãi anh chu đáo.- Dạ... - Một tiếng dạ nhỏ, thanh thanh rồi Nguyệt Cầm bước ra sau bức rèm hồng. Thì ra... có người nãy giờ đã trộm nhìn mình và ông Tùng ăn sáng. Đưa tay lên che miệng. Kỳ Phương bỗng lo lo, thèn thẹn. Mình đã quá háu ăn trước mặt Nguyệt Cầm. Từng quen nhìn các cô gái mạnh dạn, tự tin ở thành phố, Kỳ Phương rất ngạc nhiên và thích thú trước vẻ rụt rè, nhút nhát của Nguyệt Cầm. Cô đúng là khuôn mẫu của lá ngọc cành vàng, một người con gái kín cổng cao tường, ngây thơ, toàn bích như một viên ngọc không tì vết. Chưa bao giờ Kỳ Phương được nhìn thấy một vẻ đẹp tinh khiết như vậy. Làn da trắng ngần, khuôn mặt trái xoan thanh tú. Đôi mắt liễu, chiếc mũi cao và đôi môi mọng đỏ, Nguyệt Cầm đẹp như tranh vẽ các nàng công chúa Trung Hoa thời cổ. Cô đẹp như Tây Thi vậy, Kỳ Phương thầm so sánh dù chưa từng gặp Tây Thi bao giờ cả. Chẳng phải phường háo sắc, nhưng không hiểu sao từ sáng đến giờ Kỳ Phương cứ nhìn mãi vào Nguyệt Cầm. Cô đúng là có một nét đẹp thu hút quá, khiến người ta khó có thể cầm lòng. Ồ không, đừng nghĩ bậy. Cái không thể cầm lòng ở đây là cầm lòng sáng tác. Cô đúng là một nguồn cảm hứng mênh mông cho các thi nhân nghệ khách. Kỳ Phương chỉ muốn chụp ngay nàng một pô hình... Nhưng không dám. - Mời anh dùng nước. Đặt ly trà nóng xuống bàn, trước mặt Kỳ Phương, Nguyệt Cầm vội nhanh chân lui bước. Mái tóc dài óng mượt trên lưng càng khiến Kỳ Phương bồi hồi nhớ chuyện đêm qua. Anh và ông Tùng đã tìm được cô trong tình huống buồn cười đến thế nào. Giữa lúc mọi người cuống cuồng lo lắng chia nhau đi tìm từng bụi cây, bụi rậm thì Nguyệt Cầm cùng cô bạn gái ôm nhau ngủ ngon lành trong một cái chòi canh lúa giữa đồng. Nghe tiếng chân người rộn rịp, cả hai mới giật mình mở choàng mắt dậy. Cây gậy trên tay đập tứ tung. Đập cả vào đầu anh giờ hãy còn nguyên một cục đây này. Thì ra... cả hai đi rình bắt con ma rồi ngủ quên đi. May mà... con ma chưa tìm tới. Không thì... nghĩ đến cái cổ cao trắng ngần của cô bị đôi hàm răng nanh của con ma cắm phập vào Kỳ Phương nghe xót lòng không chịu nổi. - Thôi, lạy trời, lạy trời... Ai nấy thở phào ra mừng rỡ, ông bác sĩ Tùng vội đưa con gái về nhà, không quên mời luôn Kỳ Phương về tạm nghỉ khi biết anh là khách quá đường lỡ bước. Trên đường về, họ không tìm thấy một nạn nhân nào, ngoại trừ một con chó bị hút hết máu chết tươi. Con ma không tìm được người buộc lòng đã phải hút máu chó. Về nhà... dùng mấy chung trà, đàm đạo vài câu, biết Kỳ Phương chính là phóng viên Minh Trí, người từng khám phá ra vụ con ma truyền kiếp và bác sĩ Tùng mừng rỡ như bắt được vàng. Suốt đêm không ngủ, ông cứ mải miết nói chuyện với anh như thể trong đời chưa từng được nói bao giờ. Kiến thức của ông thật uyên thâm, hiểu biết cũng hơn người. Qua trò chuyện, Kỳ Phương nhanh chóng nhận ra điều đó cũng như cảm nhận được từ ông những điều thật bất thường. Căn biệt thự của ông là điều bất thường thứ nhất. Đứng lên khỏi ghế, Kỳ Phương rảo bước quanh nó. Tuy cũ kỹ, xây cất từ lâu lắm, nhưng Kỳ Phương vẫn nhận ra vẻ kiên cố đáng ngờ. Linh cảm nghề nghiệp như báo cho anh biết, bên trong cái màu xám xịt, u ám, căn biệt thự ẩn chứa nhiều điều bí mật, cũng như bên trong cái vẻ nhân hòa, bác ái của vị bác sĩ kia. Giọng nói ông vui vẻ, cử chỉ hoạt bát, bình thường, nhưng thỉnh thoảng Kỳ Phương vẫn nhận ra từ mắt ông vẻ tối sầm lại như sợ hãi hay hoang mang một điều gì đó. - Thôi, cậu ra một mình đi, tớ không đám đâu... kỳ lắm. - Không sao đâu, ra đại đi... có gì đâu mà sợ... anh ta cũng là người như tụi mình mà. Tiếng con gái từ xa văng vẳng cắt ngang dòng suy nghĩ của Kỳ Phương. Ngẩng đầu lên, môi anh thoáng nở nụ cười, khi nhìn thấy trước thềm tam cấp của căn biệt thự, hai cô gái đang kéo đẩy nhau. Hai cô gái, một là Nguyệt Cầm mà anh đã biết, và... một cô nữa cũng không lạ với anh, đó là Lan, cô gái đã ngủ cùng với Nguyệt Cầm khi cả hai đi rình bắt con ma. Nghĩ cũng nực cười, hai cô gái này đúng là gan trời có một không hai. Giữa lúc bao nhiêu thanh niên trai làng rúc trong nhà trốn ma thì cả hai lại dám ra giữa chòi ruộng hoang rình đập con ma... Lòng dũng cảm ấy đến Kỳ Phương còn phải chịu thua luôn. Nhất là Nguyệt Cầm, với một người con trai trẻ đẹp như anh không dám gặp, lại dám gặp con ma. Đúng là kỳ lạ thật. Đang giằng qua, kéo lại, chợt bắt gặp tia nhìn từ Kỳ Phương, Nguyệt Cầm xấu hổ quá vội vàng giấu gương mặt đỏ bừng vào đôi bàn tay búp măng thon đẹp... - Anh ta nghe hết rồi kìa. Tất cả cũng tại cậu thôi. - Nguyệt Cầm thốt lên. - Nghe thì nghe, có sao đâu. - Trái với vẻ xấu hổ của Nguyệt Cầm, Thu Lan thản nhiên đưa mắt ngó Kỳ Phương. Rồi còn đưa tay lên vẫy. - Anh nhà báo ơi... làm gì đi lang thang một mình buồn vậy. Lại đây nói chuyện đi. Mỉm cười, Kỳ Phương chậm rãi bước về phía hai cô gái. Tay vung vẫy cành dạ lý anh nheo đôi mắt ngắm hai cô gái tương phản nhau trước mặt mình. Thật thú vị, thật khéo sắp đặt làm sao, Nguyệt Cầm, Thu Lan đúng là một sự tương phản hoàn toàn đồng diện. Nếu như Nguyệt Cầm là hiện thân của vẻ đẹp mỹ miều, toàn bích của một tiểu thơ khuê các thì Thu Lan là đại diện cho sức sống trẻ trung của một cô gái nông dân lao động cần cù. Gương mặt tròn, đôi mắt sáng dưới cặp chân mày rậm. Chiếc mũi gãy hỉnh lên, đôi môi dày không có vẻ gì đặc sắc ấy lại được tạo hóa sắp xếp một cách hài hòa khiến cô trở nên thu hút và có duyên một cách lạ lùng. Làn da màu đồng, thân hình tay chân thô kệch do phải lao động nhiều trên đồng ruộng, khiến cô trông xấu hơn Nguyệt Cầm đôi chút, nhưng bù lại cô có một sức khỏe dồi dào, nụ cười cùng phong thái tự tin đầy sức sống rất dễ thu hút người đối diện. - Anh nhà báo, anh mau giải thích đi. Nguyệt Cầm nó cứ cãi. Có phải chuyện "Chuyến tàu đêm" này do anh viết ra không? - Chìa một tờ báo trước mặt Kỳ Phương, Thu Lan hỏi với vẻ nắm chắc trong tay phần thắng. - À, phải rồi! - Đưa tay cầm tờ báo, Kỳ Phương nhận ra tờ thời báo Tin sáng của mình. - Là do tôi sáng tác đó. Hai cô thấy thế nào? Có được không? - Hay lắm. - Thu Lan khen ngay trong khi Nguyệt Cầm mở to đôi mắt nhìn anh đầy ngưỡng mộ. - Anh nhà báo biết không? - Kéo tay Nguyệt Cầm ngồi phệt luôn xuống cỏ, Thu Lan vui vẻ. - Hôm đó em đi mua thuốc bắc cho ba trên chợ, ông thầy gói bằng tờ báo này đó. - Vậy sao? - Kỳ Phương cảm thấy bất ngờ. Anh cứ ngỡ, họ vì mến mộ mà cất giữ tờ báo. Thì ra... là quê một cục! Cứ tưởng lúc nào người ta cũng mến mộ mình. - Dạ... - Như không để ý đến vẻ mặt thèn thẹn của Kỳ Phương, Thu Lan kể tiếp. - Thường khi, em không thích đọc báo đâu. Bỏ thuốc vào niêu xong là cho luôn mảnh giấy vào nhóm lửa. Nhưng hôm đó... buồn buồn, em cầm đọc thử. Thấy chuyện "Chuyến tàu đêm" hay quá em đem qua cho Nguyệt Cầm đọc. Sao câu chuyện trùng hợp với chuyện ma ở đây thế! Anh nhà báo à? Câu chuyện thế nào? Kể cho tụi em nghe đi... đọc mất đầu mất đuôi thế này... chẳng hiểu gì hết... - Đừng gọi tôi là anh nhà báo. - Kỳ Phương mỉm cười ngồi xuống cạnh hai cô gái. - Hãy gọi tôi là anh Phương cho thân mật. - Anh Phương. - Thu Lan gọi ngay không khách sáo. Nguyệt Cầm bẽn lẽn giấu tia nhìn vào sau mái tóc buông xòa. Đẹp như tranh tố nữ. - Anh kể đi, câu chuyện ra sao hả? Con ma cuối cùng có bị giết không? - Được rồi. - Kỳ Phương gật đầu hào hứng. Đừng nôn nóng... từ từ tôi sẽ kể. - Vâng! - Thu Lan thu gọn người lại ngay. Ngoan như một con thỏ, cả hai tay ôm lấy đôi má tròn bầu bĩnh, cô nghe như nuốt lấy từng lời. Đôi mắt của Nguyệt Cầm chơm chớp, không nói ra nhưng Kỳ Phương biết cô quan tâm đến câu chuyện của anh. Và... bỗng nhiên, điều đó làm anh miệt mài kể hay hơn... - Vậy đó... - Đúng vào lúc câu chuyện trở nên ly kỳ, hấp dẫn nhất, Kỳ Phương lại không thể nào kể tiếp. Nhìn hai đôi mắt mở to háo hức, anh muốn hư cấu kể luôn phần kết. Nhưng... không được. Cả phần kết cuộc này thật ra là khó quá. Giết con ma bằng cách nào đây? Anh tìm mãi không ra tình tiết hợp lý để dẫn dắt câu chuyện. - Anh chưa nghĩ được ư? - Thu Lan thở dài tiu nghỉu. Đôi mắt Nguyệt Cầm cụp nhanh đầy thất vọng. Kỳ Phương chuyển đề tài: - À... hay là ta chụp hình đi, cảnh ở đây đẹp quá. - Chụp hình ư? Ô tuyệt quá. Thu Lan nhảy cẫng lên mừng rỡ, nắm tay Nguyệt Cầm kéo đến bên một góc cau kiểng, cô hí hửng như một đứa trẻ. - Kỳ Phương chụp cho tụi em một pô đi. - Được rồi. Kỳ Phương đưa ống kính lên. Nào, cười... ánh đèn lóe lên rồi mà Kỳ Phương vẫn còn đứng yên trong bàng hoàng bất động. Nụ cười của Nguyệt Cầm... Sao mà đẹp, sao mà nên thơ quá! Nó làm cho nửa hồn anh xao động rụng rời. Ước gì cả đời này được nhìn nụ cười hồn nhiên ấy. - Anh Phương ơi, xong chưa? Sao mà lâu quá vậy? Tiếng Thu Lan nheo nhéo. Kỳ Phương giật mình, lơ lửng: - Ờ xong rồi... - Vậy mình đến khóm hoa này chụp nữa đi. Thu Lan lại hồn nhiên nắm tay Nguyệt Cầm chạy đi. Kỳ Phương bước theo như chiếc máy, tâm trí nhớ mãi nụ cười của Nguyệt Cầm. Phần II - Anh Phương ơi, có ai gởi bưu phẩm cho anh nè! Từ ngoài cửa, Nguyệt Cầm hí hửng chạy vào, tay cầm theo một gói giấy vuông vuông. - Lại của tay Văn ấy. - Đặt nhanh cây bút xuống mặt bản thảo còn trắng tinh, Kỳ Phương vui vẻ trả lời. - Sao anh biết? - Nhìn theo tay Kỳ Phương thoăn thoắt mở bao bì, Nguyệt Cầm tò mò. - Anh vẫn chưa mở ra mà. - Sao không biết. - Kỳ Phương vẫn đều tay xé giấy. - Anh bây giờ ngoài ban biên tập gởi giấy đòi bản thảo ra, chẳng còn ai gửi thư đâu, thấy chưa. - Lớp giấy gói bên ngoài đã xé hết, Kỳ Phương chìa cho Nguyệt Cầm xem cái bì thư có in địa chỉ tòa soạn trên góc trái. - Anh nói có sai đâu nào. Và... không cần đọc anh cũng biết tay Văn ấy viết gì nữa. Ngoài mấy câu cằn nhằn, thúc hối bài viết gã chẳng biết viết cái gì hay hơn đâu. Có mấy lời hỏi thăm sức khỏe cũng không biết nữa. - Sao cái anh Văn gì đó... Nguyệt Cầm nghiêng nghiêng đầu, thắc mắc. - Ghét anh dữ vậy? - Ghét ư? Kỳ Phương ngẩng nhanh đầu dậy rồi như chợt nhớ ra bật lên cười lớn. Sao anh lại không nhớ là Nguyệt Cầm ngây thơ lắm. Cô không hiểu hết ý tứ trong câu nói của anh, càng không hiểu tính chất của công việc anh đang làm. Phải tốn công dài dòng lắm anh mới giải thích cho cô biết được rằng Khải Văn không ghét anh, mà ngược lại... cả hai vốn là bạn rất thân với nhau. Ngoài đời, cả hai rất hiểu nhau, thân mật với nhau. Chỉ có trong công việc là luôn gây cãi với nhau thôi. Khải Văn không muốn thua lỗ với anh làm gì. Chẳng qua tính chất công việc đã đòi hỏi anh làm thế thôi. - Em hiểu rồi... - Nguyệt Cảm nhẹ gật đầu sau khi Kỳ Phương dông dài giải thích. - Thế sao... anh không chịu viết bài báo, để người ta phải nhắc như vậy chứ? - Ừ thì... - Kỳ Phương đưa tay gãi tóc. Câu hỏi của Nguyệt Cầm đúng là khó trả lời. Có phải anh lười biếng chẳng muốn viết đâu. Chỉ tại... tay muốn viết mà đầu óc thì hoàn toàn trống rỗng. - Thì sao hả anh? - Chẳng hiểu được tâm sự của Kỳ Phương, Nguyệt Cầm ngây thơ hỏi. - Có phải tại vì em và Thu Lan hay đến nói chuyện quấy rầy nên anh không viết được? - Không phải. - Kỳ Phương vội xua tay. - Anh không viết được là tại mình chưa tập trung đủ tài liệu cần thiết thôi. Mấy ngày nay đi khắp làng, dò hỏi lung tung anh cũng chẳng thu thập được gì hơn. Hệt lời Vân Phi đã kể hôm nào. Mà anh thì... không có thói quen viết phóng sự khi chưa điều tra xong manh mối. Những danh từ nghe ra cao siêu đối với Nguyệt Cầm, khiến mặt cô cứ nghệch ra ngơ ngác. Giây lâu như chợt nhớ, cô hỏi tiếp: - Thế sao anh không viết tiếp chuyện "Chuyến tàu đêm"? Cuối cùng con ma có chết không? - Có chứ! Kỳ Phương gật đầu. - Anh có viết tiếp chứ. Nhưng... em xem... kết quả chỉ là thế này thôi. Vừa nói anh vừa cầm mấy tờ bản thảo trắng lên chìa ra trước mặt Nguyệt Cầm. - Anh không tìm được tình tiết đặt cho cốt truyện. - Vâng... tại những danh từ cao siêu khó hiểu khiến Nguyệt Cầm không biết cách tham gia. Cúi nhìn xuống xấp bưu phẩm trên tay Kỳ Phương, cô chợt kêu lên mừng rỡ: - Ồ báo... anh Khải Văn gởi cho anh nhiều báo quá. Anh xem xong nhớ cho em và Thu Lan mượn nhé! Chăm chú đọc thư của Khải Văn gửi cho, Kỳ Phương không quan tâm đến chồng báo được gói gọn trong bưu phẩm, bây giờ nghe Nguyệt Cầm kêu lớn anh mới ngạc nhiên nhìn xuống. Là báo ư? Sao Khải Văn lại gởi báo cho anh nhiều thế? Lại toàn là nhật báo "Mặt trời". Anh ta quên đấy là đối thủ cạnh tranh với nhật báo "Tia Chớp" của bọn anh rồi chăng? Kỳ Phương không phải thắc mắc lâu. Nhìn vào hàng tít in đậm trên trang một, anh lập tức hiểu ra sự việc: "Ma hút máu người, chuyện không thể tin vào thế kỷ hai mươi". Tay phóng viên Trọng Hải này cũng khéo đặt tựa cho phóng sự của mình. Lướt mắt đọc nhanh phóng sự điều tra của phóng viên Trọng Hải, Kỳ Phương thầm trách mình đã quá chủ quan. Tại sao anh không nghĩ... Vân Phi kể được câu chuyện này với mình thì cũng còn nhiều người kể được câu chuyện này ra ngoài chứ? Khải Văn sôi gan lên cũng phải. Với bài phóng sự đầu tiên này, Trọng Khải và nhật báo "Mặt trời" đã lấy mất của anh và báo "Tia chớp" nhiều độc giả trung thành. Dù lượng thông tin trong bài phóng sự không nhiều. Nhưng chỉ cần mỗi tình tiết con ma hút máu người cũng đủ làm giật gân thiên hạ. Anh quả thật đã sai lầm khi chờ điều tra xong mọi chuyện mới bắt đầu thiên phóng sự. - Kỳ Phương, anh làm gì mà cứ ngẩn người ra vậy? Thấy anh cứ thừ người trên ghế, Nguyệt Cầm rụt rè lên tiếng nhắc. - Nghĩ không ra cốt truyện hay là... anh cùng em ra sân nói chuyện đi. Nhỏ Lan nó chờ mình nãy giờ ngoài đó rồi. - À... ờ - Giật mình ngẩng đầu lên, Kỳ Phương nhẹ mỉm cười. - Anh không ra cùng em được. Anh cần phải viết gấp một bài gởi cho Khải Văn đây. Em ra ngoài chơi với Thu Lan đi. Bao giờ xong chuyện anh ra ngay. - Vâng! - Nguyệt Cầm tiu nghỉu quay lưng bước đi chầm chậm, cô không hiểu sao dạo này mình thích nói chuyện với Kỳ Phương quá. - Ủa, đâu mất tiêu rồi? Nguyệt Cầm bước chân vừa đặt vô ngạch cửa, bất chợt nghe Kỳ Phương la lớn thất thanh, cô vội quay đầu lại. - Chuyện gì vậy anh? - Mấy tấm hình! - Kỳ Phương lật ngược chiếc túi phóng viên xuống bàn. Bao nhiêu vật dụng cá nhân cùng những đồ vật linh tinh xổ ra tung tóe. - Có hình rồi sao? - Nguyệt Cầm sà lại ngay, mừng rỡ. - Em có đẹp không? Cho em xem với. - À... ờ. Để kiếm được rồi anh sẽ cho em xem. Kỳ Phương lục tung đám lộn xộn lên. - Hình mà anh tìm như thể nó là cây kim vậy. Đẹp lắm... nhưng đâu mất tiêu rồi. Cả mấy tấm hình anh chụp con ma nữa. - Hình con ma...? - Đôi mắt Nguyệt Cầm tròn xoe chớp chớp. - Anh chụp cả hình ma nữa à? Chắc là kinh khiếp lắm. - Ừ... - Mồ hôi bắt đầu rịn ra khắp chân tóc, Kỳ Phương chui xuống luôn gầm bàn tìm kiếm. Mấy tấm hình này nếu mất... anh cũng kể như tiêu luôn bài phóng sự. Mà... lạ thật... làm sao mất được. Rõ ràng sau khi rửa xong anh cất kỹ vào chiếc túi này mà... - Vẫn không có hả anh? - Thò đầu vào gầm bàn, Nguyệt Cầm nhìn anh lo lắng. Kỳ Phương ngồi phịch xuống: - Không có! - Sao kỳ vậy ta?... Nghiêng nghiêng đầu, Nguyệt Cầm không hiểu hết tầm quan trọng của mấy bức hình. Cô chỉ nôn được xem ảnh của mình thôi. - Anh thử kiếm lại đi, xem nó có rơi rớt nơi nào không? - Anh đã xem kỹ lắm rồi... - Kỳ Phương lo lắng. - Nó không thể nào mất được, ngoại trừ có người lấy nó đi. - Lấy đi ư? - Đôi mày đẹp nhẹ chau, Nguyệt Cầm bỗng reo lên chợt nhớ. - A, phải rồi... đúng rồi... có phải mấy tấm hình anh đựng trong cái bao màu vàng không? - Phải! - Tim Kỳ Phương đập dồn, anh hỏi nhanh. - Em có nhìn thấy chúng à? - Có có! - Nguyệt Cầm gật đầu nhanh. - Ngày hôm qua, lúc anh đi tắm, ba em vào phòng anh lục lọi, khi trở ra, em thấy ông cầm một cái bao đựng ảnh màu vàng như anh nói. - Ba của em ư? - Kỳ Phương cảm thấy bất ngờ. - Tại sao bác sĩ lại làm như vậy? Ông cần mấy tấm ảnh đó để làm gì? - Em cũng không biết nữa. - Nguyệt Cầm nhẹ so vai. - Chắc tại ba thấy hình em đẹp quá nên đem về phòng để xem thôi. Không đơn giản như Nguyệt Cầm đã nghĩ đâu, Kỳ Phương thầm phán đoán. Nếu chỉ muốn coi, với quan hệ thân mật hiện nay giữa anh và bác sĩ, ông có thể tự nhiên lên tiếng mượn. Đằng này... ông lén lút đi ăn trộm. Phải... Kỳ Phương tin là ông đã cố tình trộm nó. Những bức ảnh quý của mình. Nếu Nguyệt Cầm không vô tình phát hiện ra, anh đành chịu mất tư liệu mà không tài nào tìm ra nguyên cớ. - Em có thể giúp anh sang phòng của ba tìm lại những bức ảnh không? - Quay nhìn Nguyệt Cầm, Kỳ Phương quyết định thật nhanh. - Sao lại không chứ? - Nguyệt Cầm gật đầu chẳng chút đắn đo. - Vậy... chúng ta đi ngay đi. - Kỳ Phương đưa mắt ngó đồng hồ. - Chỉ còn hai tiếng nữa là bác sĩ sẽ về đến, cần phải gấp rút tranh thủ thời gian. Nếu không muốn bị ông bắt gặp. - Anh theo em... - Nguyệt Cầm xăng xái dẫn đường. Lòng thật vui khi nghĩ mình đã giúp được Kỳ Phương. - Phòng làm việc của ba em đây. - Dừng chân trước một căn phòng, cửa làm bằng gỗ mun đen bóng, Nguyệt Cầm vui vẻ nói. - Anh chờ một chút để em tìm chìa khóa. - Em tìm nhanh lên nhé! - Kỳ Phương nôn nóng. Nguyệt Cầm hớn hở chạy đi. Còn lại một mình, Kỳ Phương đưa mắt nhìn kỹ hơn căn phòng trước mặt. Nó không có gì khác biệt ngoài cánh cửa trông thật dày, thật chắc. Mỗi ngày, đàm đạo với Kỳ Phương xong, dù khuya cách mấy ông cũng ghé vào đây ít nhất một tiếng đồng hồ. - Kỳ Phương, em có chìa khóa rồi đây. Anh mở cửa đi! Nguyệt Cầm đã trở ra, trên tay là một xâu chìa khóa nhỏ. Kỳ Phương cầm lấy tra vội vào cánh cửa, Nguyệt Cầm tròn mắt nhìn, nói như khoe. - Xâu chìa khóa này ba em cất kỹ lắm. Ngoài em ra không ai biết nữa đâu. Ba còn dặn em không được vào phòng làm việc của ba phá lung tung nữa. - Vậy thì... để tránh bị rầy, em đừng tiết lộ chuyện này nhé! - Mở tung được cánh cửa Kỳ Phương dặn khẽ Nguyệt Cầm. Cô gật đầu, lòng cảm thấy bâng khuâng: - Vâng... nhưng như vậy là nói dối. Ba bảo nói dối là không tốt đâu! Mình đã làm đầu óc tinh khiết của Nguyệt Cầm nhuốm một chấm đen, Kỳ Phương thoáng hối hận về lời dặn vừa xong. Nhưng... biết làm sao? Anh không thể để bác sĩ Tùng biết mình đã lục lọi phòng làm việc của ông. - Anh vào đi! - Cánh cửa đã mở, thấy Kỳ Phương còn đứng đó tần ngần, Nguyệt Cầm lên tiếng giục. - Nhanh kẻo ba em về tới đó. - À! - Như bừng tỉnh, Kỳ Phương mới bước vào rồi lại sững người ngơ ngác. Phòng làm việc ư? Thật là không tin nổi. Với tất cả trang thiết bị hiện đại tối tân này, cả một giáo sư tiến sĩ trường đại học còn chưa dám mơ rớ tới. Thật là một bất ngờ thú vị. Dù không hiểu biết nhiều về y học, Kỳ Phương cũng nhanh chóng nhận ra những trang thiết bị này dùng để trang bị cho một công trình nghiên cứu có tính chất tầm cỡ. Bước đến bên giá sách, Kỳ Phương lại một lần nữa ngỡ ngàng trước sự phong phú và giàu có về kiến thức của bác sĩ Thanh Tùng, ông là một người kỹ tính và rất yêu sách. Những quyển sách của ông tất cả đều được đóng bìa cứng, mạ chữ vàng trông rất đẹp, rất có giá trị. - Anh biết không. - Nguyệt Cầm bước đến, cầm một quyển sách lên, nói với vẻ tự hào. Ba của em là tác giả của một trong những quyển sách đẹp này đấy. - Thật ư, Kỳ Phương cầm lấy quyển sách trên tay Nguyệt Cầm đọc. - Gen cấu trúc di truyền và những phương pháp biến đổi, tác giả... giáo sư tiến sĩ Hữu Bằng. - Ba của em là giáo sư tiến sĩ Hữu Bằng ư? Không, anh không tin nổi. - Sao lại không tin nổi? - Nguyệt Cầm nghe tự ái. - Anh đừng có coi thường ba em quá, ông đúng là giáo sư tiến sĩ Hữu Bằng. Anh vẫn không tin hả? Được rồi... để em lấy giấy chứng nhận cho anh xem. Nói rồi, Nguyệt Cầm xăm xăm bước đến bên bàn làm việc của bác sĩ. Chỉ cần bấm vài con số là chiếc tủ kín chìm trong tường được mở ra. Kỳ Phương nhìn thấy cái bao đựng hình của mình nằm ngay trên xấp tài liệu của ông. - Hình của anh đây. Nguyệt Cầm cũng trông thấy. Cô cầm lấy trao cho Kỳ Phương rồi tiếp tục lục tìm trong đống hồ sơ. Giây lâu, cô tìm được một mảnh giấy được ép nhựa to bằng nửa quyển tập. Mừng rỡ, Nguyệt Cầm trao nó cho Kỳ Phương: - Anh xem đi, có phải chứng nhận của ba em không hả? Ảnh này ba em chụp lúc trẻ... nhưng cũng giống bây giờ lắm phải không? Cầm lấy tấm bằng tiến sĩ, Kỳ Phương chợt nghe lạnh cả người. Bác sĩ Thanh Tùng lại là giáo sư tiến sĩ Hữu Bằng. Vị giáo sư danh tiếng lẫy lừng, từng được giới khoa học đánh giá cao. Các tác phẩm của ông tuy chưa từng đọc nhưng qua dư luận, Kỳ Phương biết được rằng, đó là những tác phẩm có giá trị nghiên cứu. Đáng để cho các sinh viên, các nhà khoa học gối đầu nằm. Danh tiếng như thế, tên tuổi như thế... vậy mà...ông cam tâm sống ẩn dật ở một làng quê hẻo lánh, dưới bóng dáng một bác sĩ quê mùa đôn hậu... Tại sao vậy nhỉ? Chắc chắn là có ẩn tình. Liệu... cái ẩn tình của ông có liên quan gì đến con ma hút máu người không? Lòng Kỳ Phương đầy nghi hoặc. - Kỳ Phương, anh đã tin rồi chưa hả - Giọng Nguyệt Cầm nôn nóng làm Kỳ Phương gật mình ngẩng nhanh đầu dậy. - Tin, anh tin rồi. Ba của em đúng là giáo sư tiến sĩ Hữu Bằng. Nhưng tại sao ông không ở thành phố mà lại về đây ở, em có biết không? - Em không biết. - Nguyệt Cầm lắc đầu vô tội vạ. - Mà... bộ ở đây không tốt sao anh? - À... ờ tốt. Rồi bỗng nghe tiếng đồng hồ gõ nhịp thanh thanh, Kỳ Phương giật mình hốt hoảng. - Nguyệt Cầm khoan nói chuyện đã. Mau phụ anh dọn dẹp mọi thứ như cũ lại đi. Bác sĩ sắp về đến rồi đấy. Đây, em cất luôn cả xấp hình ảnh của anh vào tủ. Anh không muốn bác sĩ biết chúng mình đã lục lạo đồ đạc của ông đâu. - Thế... những tấm ảnh này với anh không còn quan trọng nữa à? - Cất tất cả vào ngăn tủ kín, Nguyệt Cầm tò mò. - À... ờ không cần nữa. Kỳ Phương nói dối cô. Thật ra... trong lúc Nguyệt Cầm không để ý, anh đã nhanh tay lấy được tấm phim trong bao ảnh. Có lẽ... không cần phải rửa đâu. Anh sẽ gởi thẳng tấm phim này về cho Khải Văn. Tự anh ta sẽ biết cách giải quyết. - Xong rồi... chúng ta đi thôi. Nguyệt Cầm lại lên tiếng nhắc. Kỳ Phương nhẹ gật đầu cùng lúc chuông cửa vang bên ngoài hiên. Bác sĩ Tùng vừa về đến nơi. *** - Kỳ Phương, anh làm sao hay vậy? Dạy em đi. Nhìn con cào cào được thắt bằng lá dừa trên tay Kỳ Phương, Nguyệt Cầm kêu to thích thú.- Được rồi anh dạy cho. Nhặt một cọng lá lên, Kỳ Phương chậm chạp thực hiện từng động tác trước đôi mắt mở tròn kinh ngạc của Nguyệt Cầm. Gương mặt nghệch ra đầy ngưỡng mộ của cô gái ngây thơ trông đẹp lạ lùng, khiến anh chỉ muốn hôn nhanh lên đôi má hồng một cái. - Rồi sao nữa hả anh? - Thấy Kỳ Phương dừng tay thắt lá, Nguyệt Cầm nôn nóng giục. Giật mình với cảm giác một tên trộm bị bắt quả tang, Kỳ Phương xấu hổ đan nhanh. Cúi đầu, những cảm xúc dâng tràn trong suy nghĩ. - Nguyệt Cầm ngây thơ quá! Non nớt chuyện đời lại chưa từng biết chuyện tình yêu là gì. Một gã sở khanh muốn lợi dụng cô không khó. Chỉ cần vờ vịt quan tâm ân cần một chút là có thể khiến cô trao hết trái tim mình cho gã đó. Nguyệt Cầm không biết nghi ngờ, càng không thể tin trên đời này đầy rẫy những lọc lừa, gian dối. Lúc nào cũng tin vào cái đẹp, cái dốt nhất của con người như một thiên thần toàn bích. Thế gian này không còn người con gái thứ hai xinh đẹp và dịu dàng như cô đâu. - Anh Phương ơi, để em làm thử anh xem có đúng không nhé! Giọng Nguyệt Cầm thánh thót, Kỳ Phương dứt mình khỏi cơn suy tưởng, thích thú ngắm đôi tay trắng ngần của Nguyệt Cầm vụng về bên cọng lá dừa. Bác sĩ Tùng vẫn chưa phát hiện ra việc anh và Nguyệt Cầm lục lọi phòng làm việc của ông. Mỗi ngày đi làm về, gặp anh ông vẫn vui vẻ chuyện trò. Thậm chí còn gợi ý muốn gả Nguyệt Cầm cho anh nữa. - Chuyện này... chuyện này... mặt Kỳ Phương đỏ bừng ấp úng. Thật không diễm phúc nào bằng được làm chủ đóa hoa quý không nhiễm chút bụi trần kia. Nhưng... không hiểu sao Kỳ Phương cứ ngập ngừng. Thời gian quá ngắn để tình yêu chưa đến kịp hay... anh cảm thấy một gã phóng viên quá lăn lóc, từng trải như mình không xứng với cô? Kỳ Phương cũng không biết nữa... Anh chỉ cảm thấy lời đề nghị của ông bác sĩ quá vội vàng, quá bất ngờ thôi. - Anh Phương, anh nhìn em nè. Em làm có đúng không? Nguyệt Cầm lại cắt ngang dòng suy nghĩ của anh bằng một động tác rất dễ thương. Kỳ Phương cầm lấy con cào cào của cô rồi bật cười lớn: - Trời ơi...! Cái này là sâu chứ cào cào châu chấu gì... - Ư... hổng biết đâu! - Thẹn thùng vì bị chê, Nguyệt Cầm quay người hờn dỗi. - Tại anh không, ai biểu anh hổng dạy em làm chi. Ghét anh quá, em giận anh luôn... - Thôi... thôi đừng giận, để anh đền cho em một con khác, đẹp hơn. - Kỳ Phương dỗ dành. Nguyệt Cầm vẫn không quay lại. - Không, em hổng thèm, em ra chơi với con Lan đây. - Thì... em cứ đi đi... Thôi không năn nỉ nữa. - Kỳ Phương nghĩ ra một cách thuyết phục khác... Anh sẽ không kể chuyện con ma đó nữa đâu. Quả nhiên, Nguyệt Cầm trở lại ngay. Trong tất cả các chuyện, cô quan tâm đến chuyện con ma nhiều nhất. Vì sao... Kỳ Phương không hiểu nổi. - Anh kể đi... em không đi nữa đâu. Sao hả... anh đã phát hiện được gì? Đưa một ngón tay lên, Kỳ Phương bí mật: - Hai hôm nữa, con ma sẽ xuất hiện đấy. - Em biết rồi. - Nguyệt Cầm tỉnh bơ. - Anh kể tiếp đi. - Nó sẽ đi hút máu người ta. Kỳ Phương tiếp tục giọng rùng rợn của mình. - Em có sợ không? - Không! - Nguyệt Cầm nhẹ lắc đầu. Kỳ Phương lại hỏi: - Thế lần này em có dám cùng Thu Lan đi rình đập con ma nữa không? Nguyệt Cầm cười bẽn lẽn: - Sao không dám? Thế anh có cùng đi với bọn em không? Reng... reng... reng... Chuông cửa vang lên, cắt ngang câu trả lời của Kỳ Phương. Ngẩng đầu nhìn lên, nhận ra ông Tùng về đến, anh và Nguyệt Cầm đồng đứng lên mừng rỡ: - Bác sĩ... - Ba... - Như thường lệ, cánh cửa vừa mở, Nguyệt Cầm đã chồm lên ôm cổ ông thật cứng. - Được rồi... Không vui vẻ đáp lại tình cảm của con, ông quay sang nhìn Kỳ Phương giận dữ: - Nói cho tôi biết, cái này có phải là tác phẩm của cậu không? Một tờ báo được ném ra sau câu nói. Không cúi xuống nhặt, cũng chẳng cần xem, Kỳ Phương cũng biết ông muốn nói đến điều gì. Rất bình tĩnh, anh gật đầu thừa nhận. - Vâng, là tác phẩm của tôi. - Cậu đã vào phòng tôi để lấy lại tấm phim có phải không? - Ông lại hét lên giận dữ. Nhìn Nguyệt Cầm một cái, Kỳ Phương gật đầu. - Vâng... xin lỗi bác sĩ, tôi buộc phải làm thế. - Ôi! - Giọng Nguyệt Cầm chợt vang to hốt hoảng. - Người ta đăng hình con ma lên báo nè. Trời ơi... mặt nó giống con dơi quá! - Con đã giúp Kỳ Phương vào phòng của ba lấy tấm ảnh phải không? Giật mạnh tờ báo trên tay con, ông giận dữ xé tan đi. Lần đầu tiên nhìn thấy ba giận dữ thế này, Nguyệt Cầm sợ quá òa lên khóc. Kỳ Phương nhẹ đưa tay đặt lên vai cô: - Không liên quan gì đến Nguyệt Cầm. Tự tôi bảo cô ấy làm như thế. Nhưng tại sao bác sĩ lại muốn hủy tư liệu của tôi. Ông thừa bết, những tấm ảnh kia với tôi vô cùng quý giá. Để được nó, tôi suýt phải đổi cả mạng của mình... - Tôi biết... - Như nhận ra sự nóng giận của mình là vô lý ông hạ giọng đi một chút. - Nhưng lẽ ra, trước khi công khai nó lên mặt báo cậu cũng nên... báo với tôi một tiếng. Những tấm ảnh này, không thể đăng lên báo một cách tùy tiện như vậy được. - Tại sao? Ông có thể nói rõ hơn một chút không? Kỳ Phương bắt đầu quan tâm hơn. Sự nóng giận của bác sĩ không bắt nguồn từ việc anh và Nguyệt Cầm vào lục tung phòng làm việc của ông. Nó liên quan đến tấm ảnh con ma được Khải Văn phóng to, in trên trang nhất của tờ nhật báo. Trong cái nóng giận bồn chồn, thái độ của ông như pha lẫn chút sợ hãi, hoang mang. - Tại sao những tấm ảnh này lại không thể tùy tiện đăng lên mặt báo? - Thấy ông cứ lặng im sững người ra, Kỳ Phương lặp lại câu hỏi. Lần này có vẻ gay gắt hơn. - Tại sao ông lại lấy trộm tư liệu của tôi đem hủy? Có phải ông muốn tôi không có mặt trong ngôi nhà này nữa? - Ba... Nguyệt Cầm quay nhìn ông sợ hãi. - Ba đâu có muốn như vậy phải không ba? - Phải. Tia mắt dịu đi, ông thở ra một hơi dài. - Tôi không hề có ý định đuổi cậu đi. Cũng không thể tiết lộ điều gì cùng cậu. Tôi chỉ có thể nói rằng cái làng quê yên tĩnh này sắp sửa bị những tấm hình của cậu làm huyên náo, ầm ĩ lên đấy. Bọn họ... sớm muộn gì cũng sẽ đến đây thôi. - Bọn họ...? - Kỳ Phương nghe tò mò trước cách nói úp mở của ông. - Là ai thế? Họ đến đây để làm gì? - Tôi không thể nói gì thêm. Xm lỗi, tôi... tôi nhức đầu quá phải vào nghỉ đây. Như cảm thấy mình đã nói những điều không nên nói, ông quay lưng bước vội vào nhà như trốn chạy. Nguyệt Cầm vội đuổi theo ông. - Ba ơi, vào tắm đi, con đã pha sẵn nước cho ba rồi... *** Đêm nay con ma sẽ xuất hiện! Nguyệt Cầm không hiểu sao mỗi lần nghĩ đến điều này, lòng cô lại khấp khởi y như được ai cho quà vậy. Cô không thấy sợ chút nào. Dù từ chiều tới giờ, ba với Kỳ Phương và mọi người hết sức căng thẳng vào ra, tới lui bàn tính. Họ quyết đêm nay phải bắt cho kỳ được con ma tinh khôn đó.Theo lời ba, đêm nay mọi người sẽ vào hết trong nhà. Cửa sổ, cửa cái, cả mái nhà cũng được gia cố cho chắc chắn. Ba đã bảo, Kỳ Phương và mọi người đào một cái hố sâu ở ngay giữa làng. Bên trên lớp vỉ tre mỏng được rắc đầy lá cây là một hình nhân bằng vải to như người thật. Để đánh lừa chíếc mũi thính của con ma, Kỳ Phương cho cột con gà sống vào bên trong người hình nhân nữa. Con ma háu đói nhảy tới chụp con mồi sẽ rơi ngay xuống hố. Chà! Ý kiến thật tuyệt vời. Nguyệt Cầm nghe mê quá, cô muốn tung cửa chạy ra tham gia với mọi người, nhưng lại sợ. Ngoài đó đông người quá, lại toàn đàn ông, con trai... cô không dám. - Hình nhân xong rồi à? Ồ! Thật đẹp, hệt như người thật. Ai mà làm đẹp thế? Tiếng người ta xôn xao ngoài cửa, Nguyệt Cầm lại nghe lòng dạ cồn cào. Cô tò mò quá. Muốn được nhìn thấy hình nhân ngay lập tức. - Dạ... con may đó. Bác thấy con cho nó mặc quần áo của con như vậy có được không? Giọng Thu Lan, mắt Nguyệt Cầm sáng bừng lên mừng rỡ, vội hé cửa ra, cô vẫy tay khẽ gọi rối rít: - Ê, Thu Lan, vào đây... vào đây... Nhưng... thật đáng giận, nhỏ Thu Lan quá ham vui. Nó chỉ đưa tay chào trả cô một cái rồi tiếp tục cùng mọi người bàn luận. Cái giọng oang oang, nó làm như mình là nhân vật chính không bằng. Tức quá, Nguyệt Cầm nhăn mặt với nhỏ Lan, không ngờ bị Kỳ Phương nhìn thấy. - Ra đây với mọi người nào. Em làm gì cứ trốn kín trong phòng thế? Đừng sợ hãi, đến khuya con ma mới xuất hiện mà. - Sợ? - Nguyệt Cầm hơi tự ái. Cô mà sợ con ma sao? Cô chỉ sợ đám đông mọi người thôi. Nhưng... giờ đây chẳng ai thèm nhận ra điều ấy, ức lòng quá, cô bước hẳn ra phòng khách. Bây giờ nhỏ Lan mới chạy đến bên cô tíu tít: - Đẹp không. Hình nhân này do tao tự tay may đấy. Vẫn còn giận chuyện lúc nãy, Nguyệt Cầm quay người đi không đáp. Kỳ Phương vô tình nói xen vào: - Thu Lan quả thật khéo tay. May hình nhân y như thật. - Xì! - Tự nhiên nghe ganh với lời khen của Kỳ Phương, Nguyệt Cầm quay người sang hờn dỗi. - Em biết lắm mà, anh bây giờ lúc nào cũng Thu Lan. Cho em ra rìa rồi có phải không? - Không có... không có đâu... - Nhìn đôi mắt hoe đỏ, biết cô sắp khóc đến nơi, Kỳ Phương nói vội. - Em làm sao ra rìa được. - Vậy... - Cô níu lấy tay Kỳ Phương, vòi vĩnh. Đêm nay anh cho em theo anh rình bắt con ma nhé? Câu nói vô tình lọt vào tai bác sĩ Tùng đứng gần đó. Ông lập tức quay người lại, nghiêm nét mặt: - Tuyệt đối không. Đêm nay con phải ở trong nhà. - Không... con không chịu ở trong nhà đâu. Nguyệt Cầm ngúng nguẩy. - Con phải theo ba và anh Kỳ Phương đi bắt con ma. - Đừng như thế. - Kỳ Phương dỗ dành. - Nguy hiểm lắm. Để xong chuyện rồi... anh sẽ kể cho em nghe. - Anh cho Thu Lan cùng đi với anh à? - Nguyệt Cầm phụng phịu. Kỳ Phương bật cười bẹo má cô. - Không... cả Thu Lan cũng phải ở kín trong nhà. Đêm nay gần khu vực con ma xuất hiện chỉ có anh và ba em, và các tráng đinh lực lưỡng thôi. - Anh không nói gạt em à? - Nguyệt Cầm vẫn chưa hài lòng lắm. Cô nói trong tức tối. - Xong chuyện phải kể cho em nghe, không được giấu chút nào. - Ừ... anh hứa! - Kỳ Phương gật đầu. Thu Lan ganh tị xen vào: - Nguyệt Cầm dạo này nhõng nhẽo anh Kỳ Phương quá. Đâu còn biết đến nhỏ bạn thân này. - Hồi nào đâu! Mày đừng nói bậy. - Thẹn quá, Nguyệt Cầm đấm mạnh tay vào vai Thu Lan khỏa lấp. - Ai bảo cậu lúc nãy bỏ mặc tớ trước làm gì? - Thôi, đừng nói dông dài nữa. Đến giờ rồi, chúng ta đi thôi Kỳ Phương! - Bác sĩ Tùng lên tiếng giục. Kỳ Phương bế con hình nhân đứng dậy: - Vâng. Rồi quay sang Nguyệt Cầm, anh vui vẻ. - Thôi, anh đi nhé! Cả Thu Lan cũng mau về nhà cài kín cửa lại đi, con ma sắp xuất hiện rồi đó. Hiểu ngay cái đá mắt của anh mang ý nghĩa gì, Thu Lan vội đứng lên không quên từ tạ Nguyệt Cầm: - Thôi, tớ về nhé. Bao giờ anh Kỳ Phương kể chuyện nhớ kêu tớ sang nghe với. Đừng ích kỷ nghe một mình đó. - Hay là... - Nguyệt Cầm nắm tay Thu Lan. - Cậu ở lại với tớ đi! - Không được đâu... - Thu Lan vội lắc đầu nguây nguẩy. - Ba tớ đêm nay không được khỏe, tớ phải về... Thôi, mọi người đã đi hết rồi, chào cậu. Nói xong, Thu Lan nhanh chân theo mọi người ra hết bên ngoài, Nguyệt Cầm buồn bã bước ra mở cửa. Nhưng... bác sĩ Tùng đã đưa tay ngăn lại. - Con hãy vào phòng của mình, ở ngoài này... ba không an tâm lắm. Đã bị bắt ở nhà, nên dù bị nhốt trong phòng hay trong nhà cũng vậy thôi. Nguyệt Cầm không buồn cãi, ngoan ngoãn theo cha trở về phòng, rút kinh nghiệm của lần trước. Ông đích thân khóa cửa sổ, bấm chốt ngoài rồi cẩn thận cầm theo xâu chìa khóa. - Lên giường ngủ một giấc đi con. Trìu mến bảo con một câu, ông bước ra ngoài, cánh cửa lớn đóng sập sau lưng. Con ma sẽ không vào được, ông cảm thấy an tâm khi nhìn vào cánh cửa chắc chắn được cài hai lần khóa. *** Bác sĩ, sao ông có vẻ bồn chồn, lo lắng vậy? - Thấy ông Tùng cứ nhấp nhỏm không yên trên ghế, Kỳ Phương quay sang trấn an ông. - Không sao đâu, mọi việc đã chuẩn bị chu tất lắm, con ma nhất định sẽ sập bẫy thôi. - Ta không lo lắng chuyện con ma. - Đưa mắt nhìn các tráng đinh một lượt, ông thở hắt ra một hơi dài. - Ta chỉ không an tâm cho Nguyệt Cầm thôi. Bỏ nó ở nhà một mình như vậy liệu có ổn không? - Ổn mà... - Kỳ Phương nắm lấy tay ông. - Cửa đã được khóa chắc chắn. Con ma không vào được đâu. - Nhưng không hiểu sao lòng ta lại cứ bất an. - Bỗng đứng dậy, ông quyết định nhanh. - Ta muốn về xem một chút rồi trở lại ngay. - Bây giờ ư? - Kỳ Phương nhìn đồng hồ rồi lắc đầu lo lắng. - Không được đâu. Chỉ còn không đầy ba phút nữa con ma đã xuất hiện rồi. Bác sĩ ra đường lúc này nguy hiểm lắm. - Nhưng ở nơi này ta không an lòng được. - Đưa tay nhặt một con dao to bản trong đống vũ khí lên, ông cương quyết. - Ta phải về với Nguyệt Cầm, không sao đâu. - Vậy.... tôi về với ông. - Kỳ Phương cũng đứng lên. - Nếu cậu cũng theo tôi thì ai chỉ đạo mọi người ở đây? - Ông xua tay. - Lỡ con ma xuất hiện thì sao? Tôi tự biết lo cho mình mà. Kỳ Phương vẫn không an tâm, anh kêu một tráng đinh tới gần: - Cậu cùng về với bác sĩ. - Tôi ư...? - Người tráng đinh khẽ rùng vai, lo ngại. - Con ma sắp ra rồi đó. - Đừng ầm ĩ, đừng làm lớn chuyện. - Ông đặt tay xuống vai Kỳ Phương dứt khoát. - Tôi đi đây. - Bác sĩ cẩn thận. - Kỳ Phương dặn với theo rồi như chợt nhớ, anh trao cho ông ngọn đèn flash. - Con ma dường như rất sợ ánh sáng lóe này. Bác sĩ cầm theo, lỡ gặp nó còn có thể vùng ra mà chạy. - Cảm ơn cậu. - Nhận ngọn đèn, ông Tùng gật đầu chào rồi băng nhanh ra cửa hậu, chạy tắt theo con đường đồng, ông trở về nhà gần hơn. Nhìn theo bóng ông chập chờn mất dần trong màn đêm, lòng Kỳ Phương bỗng dấy lên một cảm giác lạ lùng. Nửa nghi ngờ, nửa như thông cảm. Vị bác sĩ này thật khó mà đoán được. Nhiều bí ẩn, nhưng cũng hiền lành, đôn hậu lắm. Anh không biết mình đúng hay sai khi nghe theo lời ông như vậy. Hôm đó... sau một lúc đắn đo, anh quyết định gọi điện về tòa soạn, bảo Khải Văn ngừng phát hành số báo còn lại, cũng như lập tức thu hồi số báo đã bán ra. - Tại sao? - Giọng Khải Văn đầy kinh ngạc. - Cậu có biết tấm ảnh đó đã ảnh hưởng thế nào không? Số lượng báo bán tăng gấp ba lần so với bình thường đó. Thu về... e thiệt hại nặng nề lắm. - Không sao đâu. - Kỳ Phương nói đúng theo ý của ông. - Cậu cứ thu hồi về và hủy bỏ số báo đó đi... bao nhiêu tổn thất, tôi sẽ đền cho tòa soạn. - Nhưng tại sao? - Khải Văn vẫn hoang mang. - Tại... vì bức ảnh đã không đúng sự thật. - Và... tác giả Trọng Hải đã nhờ một người hóa trang để chụp tấm ảnh kia. Giờ nghĩ lại mới thấy mình liều lĩnh quá. Cậu mau đăng đính chính cáo lỗi giùm mình nhé. - Trời...! - Khải Văn kêu lên sợ hãi. - Kỳ Phương, cậu làm tớ bất ngờ quá. Tạo tư liệu giả. Xưa nay... đâu phải phong độ của cậu... giám đốc biết chuyện này... cậu sẽ bị cạo một trận ra trò đấy... - Một phút nông nỗi thôi. - Kỳ Phương cười mà nghe bầm tím cả ruột gan. Tự nhiên mang một tội danh động trời như vậy. Oan còn hơn thị Kính. - Tạm biệt cậu. Bao giờ có tin tớ sẽ gửi. - Nè... nè... thế bao giờ cậu cho tớ phần kết câu chuyện "Chuyến tàu đêm", độc giả hỏi... Không chờ nghe hết câu, Kỳ Phương úp nhanh điện thoại. Quay sang nhìn ông Tùng, anh nghiêm giọng: - Tôi đã làm đúng yêu cầu của ông, hủy số báo đó rồi. Bây giờ ông hãy nói đi... ông biết gì về con ma đó? - Vào lúc này, tôi chưa thể nói gì cùng cậu cả... - Rồi thấy mắt Kỳ Phương trợn lên, ông vội vàng giải thích. - Đừng hiểu lầm, tôi không có ý gạt hay giấu cậu đâu. Chỉ tại tôi chưa biết rõ. Chỉ mơ hồ nghi ngờ. Bao giờ điều tra xong... tôi nhất định sẽ nói cho cậu biết. - Nhưng... - Kỳ Phương hạ bớt giọng của mình. - Lý do khiến một giáo sư tên tuổi như ông về sống ẩn dật nơi này thì có thể cho tôi biết chứ? Suy nghĩ một lúc, ông chậm rãi gật đầu: - Có rất nhiều lý do. Nhưng cậu có thể hiểu, tôi về ẩn dật nơi này để lẩn tránh một kẻ thù. - Lẩn tránh kẻ thù ư? Kỳ Phương cảm thấy bị kích thích trước khám phá bất ngờ. - Tại sao họ lại thù ông? - Vì ta đã sai lầm trong một giây nông nỗi. - Giọng ông buồn thảm, nét mặt đầy ăn năn hối hận. - Ta đã làm một việc để mỗi lần nghĩ đến lòng lại bất ổn không yên. - Thế chuyện đó là chuyện gì? Kỳ Phương được nước hỏi già. - Cậu thanh niên trẻ, ta rất mến cậu. - Nắm bàn tay Kỳ Phương, ông nhẹ lắc đầu. - Nhưng... chuyện này ta không thể kể cho ai nghe được. Cậu chỉ nên biết, đây là nỗi khổ tâm lớn nhất của ta. Vì nó, bao nhiêu năm trời ta phải giấu bặt tuổi tên, sống âm thầm ẩn dật. Vì nó mà Nguyệt Cầm không được hòa nhập cuộc sống tiện nghi, văn minh thành thị mà phải làm một con chim nhỏ bị giam cầm giữa lồng son. Giọng của ông đầy thương tâm, Kỳ Phương cảm thấy động lòng anh nhẹ siết tay ông an ủi: - Bác sĩ, đừng bi quan, cũng đừng tự quá nghiêm khắc trách bản thân mình như thế. Sai lầm... ai không một lần mắc phải trong đời. Không nên cứ dày vò bản thân như thế. Thời gian cũng đã lâu rồi... thôi hãy cho tất cả trở thành quá khứ. - Lỗi lầm của ta không thể quên cũng không thể nào tha thứ được. - Úp mặt vào lòng bàn tay, ông bật khóc trong đau khổ. - Nó sẽ dày vò, ray rứt cho đến ngày ta nhắm mắt. Ta không sợ chết đâu. Ta chỉ tội nghiệp Nguyệt Cầm. Nó ngây thơ, vô tội... Không biết dùng từ gì an ủi, Kỳ Phương đành ngồi yên nhìn ông khóc. Trong cái dáng già nua, mái tóc trắng bạc phơ của ông run lên từng chập trong cơn nức nở. Anh nghe thương quá, không biết ông đã phạm sai lầm gì trong quá khứ, khủng khiếp đến độ nào... nhưng phút này nhìn ông ta ân hận, khổ đau như vậy, anh cảm thấy tội nghiệp và sẵn sàng tha thứ cho ông tất cả. Lạ thật. Đã mười hai giờ mười lăm sao con ma chưa xuất hiện? Hay nó biết mình đặt bẫy nên không thèm tới nữa. Hổng chừng nó hút máu ông bác sĩ rồi cũng nên... Những tiếng xì xào chợt dậy lên cắt ngang dòng suy nghĩ của Kỳ Phương. Giật mình đưa mắt ngó đồng hồ, anh bỗng thấy lo lo. Con ma đã không xuất hiện. Hay... đã xuất hiện và giống như những gì người ta đã bàn tán. - Bác sĩ... ông có gặp chuyện gì không? - Ôi... giá mà anh có phép thần đuổi theo ông nhỉ? *** Một mình độc hành trên con đường vắng nhưng bác sĩ Thanh Tùng không cảm thấy hoang mang, lo sợ. Dù bất cứ lúc nào, từ một bụi rậm trên đường con ma cũng có thể nhảy xổ ra chụp lấy ông.Lúc vật lộn với con ma, ông đã có ý nghi ngờ. Đến khi nhìn kỹ mấy tấm hình Kỳ Phương chụp được ông mới dám tin là mình đúng. Con ma đó quả thật là... Nghĩ đến đây trong lòng ông lại cảm thấy lo lo. Số báo phát hành hôm trước thu lại không nhiều. Nếu có tờ nào lọt vào tay bọn họ... Ôi!... cầu trời... cho tất cả hãy là dĩ vãng. Bọn người năm xưa theo năm tháng đã quên mất chuyện này... không thì... hậu quả thật khó lường. Kỳ Phương hẳn là đang thắc mắc lắm đây. Xong chuyện con ma... thế nào cậu ta cũng tìm cách đều tra ra manh mối. Tới chừng đó ông phải làm sao? Chậc... tới đâu hay tới đó. Nghĩ đến Nguyệt Cầm trước đã. Cửa vẫn còn cài then chốt thế này... hẳn chưa có điều gì xảy ra đâu. Nhẹ nhàng mở cửa lách mình vào, ông lập tức khóa lại ngay. Chầm chậm bước đến phòng khách ông ấm lòng nghĩ đến Nguyệt Cầm. Giờ này... hẳn con ông đã ngủ say rồi. Trong giấc ngủ thiên thần con nào nghĩ đến mối hiểm họa lúc nào cũng chập chờn đổ xuống đầu cha con mình. Nguyệt Cầm ơi, nếu một ngày chẳng may sự việc xảy ra, bao nhiêu tội tình, hậu quả cha xin một mình gánh lấy. Con cứ mãi hồn nhiên ngây thơ nhé. Cánh cửa phòng Nguyệt Cầm vẫn đóng im lìm. Không có dấu hiệu gì. Mỉm cười, ông thầm trách mình đã quá lo xa. Rồi chợt nhớ, ông lật tay xem đồng hồ. Mười hai giờ ba mươi. Con ma hẳn đã sa vào bẫy. Mình phải trở ra với Kỳ Phương và dân làng thôi. Quay lưng dợm bước, ông còn quay trở lại, ghé mắt nhìn qua lỗ khóa, ông muốn ngắm con thêm lần nữa. Cạch! Chùm chìa khóa rơi xuống đất. Tay chân bỗng rụng lời, run rẩy, ông sững người chết lặng. Như không tin những gì mình trông thấy, ông đưa tay dụi mắt nhìn qua lỗ khóa thật lâu. Đúng thật rồi... không thể nào lầm lẫn được. Trên giường trải tấm drap trắng toát, không phải Nguyệt Cầm đang ngủ mà là một con ma đang lồng lộn. Trong cơn khát máu nó hung hãn xé nát tấm drap giường. Những chiếc gối bị xé tung ra, bông văng tung tóe trắng toát. Nếu chẳng phải là ông thì không bao giờ tin con ma đó chính là Nguyệt Cầm biến thành đâu. Ngoài bộ đồ lụa trắng cô thường vẫn mặc, con ma chẳng có nét nào của Nguyệt Cầm. - Quả báo! Đúng là quả báo thật rồi... Chẳng còn chút sinh lực nào, ông té ngồi luôn xuống trước cửa phòng con và khóc. Tại sao điều ấy lại xảy ra trên chính người của Nguyệt Cầm? Lẽ sống duy nhất của cuộc đời ông? Tàn nhẫn quá! Con gái của ông là con ma hút máu người... làm sao ông có thể chịu đựng được sự trừng phạt khủng khiếp này? Trời ơi! Sao ông không giết con đi... Nguyệt Cầm đang lên cơn khát máu. Nếu không tìm thấy máu nó sẽ chết sau một giờ đồng hồ nữa! Không thể cứ ngồi đây than khóc. Phải làm một điều gì đó... Sức sống như bừng trở lại, ông vụt đứng lên chạy quanh nhà tìm kiếm. Máu, phải tìm thấy máu ngay lập tức. Gâu...gâu... Một chú chó nhỏ từ đâu bỗng chạy ra quấn lấy chân ông. Vướng víu, nhìn xuống, ông nhận ra nó là Lucky. Con chó Nhật lông xù màu trắng mà mình đã tặng Nguyệt Cầm vào lần sinh nhật thứ mười lăm. Ông dừng lại ngập ngừng. Nguyệt Cầm thương con Lucky này lắm. Lần trước, nó bị bệnh bỏ ăn, cô đã khóc suốt ngày. Lo lắng đổ cho nó từng muỗng sữa như thể nó là con mình vậy. Khi tỉnh lại... biết mình mất con chó, Nguyệt Cầm sẽ buồn lắm. Nghĩ đến giọt nước mắt của con... ông co chân đá con chó ra xa... Rồi nghĩ đến tính mạng của con đang nguy kịch, ông đành cúi xuống bế con chó lên tay. - Lucky... xin lỗi mày nhé! Lòng ông se thắt thương con chó nhỏ khi thấy nó vẫn vui mừng lè cái lưỡi hồng ra liếm tay mình. Vuốt ve nó thêm một lần nữa như vĩnh biệt, ông hé cửa ném con chó vào rồi nhắm nghiền đôi mắt lại. Tiếng con chó nhỏ sủa đuối dần... - Bác sĩ... bác sĩ ơi, ông có ở nhà không. Chúng tôi đang trở về đây. Trước cổng rào bỗng dậy lên tiếng chân người. Tếng đập cửa kêu inh ỏi. Chết! Bọn họ đã trở về. Đưa tay lau nhanh nước mắt, ông quýnh quáng sửa sang y phục, rồi lấy vẻ điềm tĩnh ra mở cửa. - Ồ mọi người đã về rồi à? Có bắt được con ma không? - Ông cố lấy giọng tự nhiên, nhưng nghe vẫn khàn đi. Kỳ Phương bước lên một bước: - Con ma đã không xuất hiện. Ngỡ nó đã tấn công bác sĩ trên đường đi, chúng tôi vội trở về đây. - Vậv à! - Nhướng mắt, ông làm ra vẻ ngạc nhiên. - Thật kỳ lạ, trên đường đi... tôi cũng không thấy gì? - Nguyệt Cầm vẫn ngủ, thưa bác sĩ? - Một người hỏi. Tưởng họ nghi ngờ, ông giật mình kinh sợ. Nếu Kỳ Phương đòi vô thăm Nguyệt Cầm lúc này... ông sẽ xử trí ra sao? - Bác sĩ? Ông sao thế? Sao mặt mày ông bỗng xanh lè vậy? - Kỳ Phương nắm lấy tay ông rồi kêu lên hốt hoảng. - Trời! Tay ông lạnh quá! Chắc bị cảm lạnh rồi. Mọi người mau phụ tôi dìu ông ấy vào phòng. - Ồ, không, không! Như bừng tỉnh mộng, ông xua tay vội vã. - Không sao đâu... không phiền đến mọi người phải quan tâm. Thôi, cũng khuya rồi, mọi người hãy về nghỉ đi, sáng còn phải đi làm sớm. Mọi người nhìn ông, chừng như nhận thấy sức khỏe ông đã phục hồi, thì đồng giải tán, Kỳ Phương dặn với theo: - Cẩn thận, coi chừng con ma nó quay trở lại đấy! Rồi anh quay lưng trở bước vô nhà. Được mấy bước, chợt nhận ra ông Tùng vẫn đứng ngây người bên cửa, không bước theo mình, anh ngạc nhiên quay lại: - Bác sĩ, vào nhà thôi. - À ờ! Giật mình ông bước vội theo Kỳ Phương như một cái xác không hồn. - Bác sĩ? Ông làm sao vậy? Từ lúc trở về nhà cứ như kẻ mất hồn. - Kỳ Phương nhìn ông lạ lẫm. - Không có gì... - Ông lắc đầu, lòng canh cánh nỗi lo. Kỳ Phương ngồi xuống ghế. - Đêm nay con ma không xuất hiện. Bác sĩ, ông nghĩ sao về vấn đề này? - Xin lỗi. - Ông không ngồi xuống ghế. - Tôi cảm thấy mệt mỏi quá... không thể bàn luận cùng cậu được. Nói rồi, ông bước vội vào phòng, sập nhanh cửa lại. Kỳ Phương nhìn theo ngơ ngác. Bảo mệt mỏi, sao ông không vào phòng ngủ mà lại vào phòng làm việc nhỉ? *** Mới sáng, vừa mở mắt ra đã nghe tiếng Nguyệt Cầm khóc lớn ngoài sân, Kỳ Phương hốt hoảng ngồi bật dậy ngay. Chẳng kịp đánh răng, rửa mặt, anh chạy vội xuống hoa viên, lạ lẫm nhìn Nguyệt Cầm ôm con chó nhỏ trong lòng khóc nghẹn ngào.- Nguyệt Cầm... có chuyện gì? - Con mắt còn bị chói nên Kỳ Phương không nhận ra con Lucky đã chết - Con chó... nó cắn em à? - Thà nó cắn em còn hơn - Nguyệt Cầm nói trong tiếng nấc. - Bây giờ nó đã không còn cắn em được nữa rồi. - Vì sao thế - Ngồi xuống cạnh bên cô, Kỳ Phương không hiểu gì cả. Nguyệt Cầm đưa con chó ra trước mặt anh và khóc: - Anh xem đi, con chó của em đã chết rồi! - Hả - Kỳ Phương té ngồi xuống cỏ. Đôi mắt mở tròn. Bây giờ anh mới nhận ra thân thể con chó cứng đơ. Chứng tỏ... nó đã chết lâu rồi. - Sao lại chết? Mới hồi hôm này... anh hãy còn thấy nó tung tăng chạy theo em mà... - Em cũng không biết nữa. - Nguyệt Cầm áp đôi má mình lên lớp lông mịn của con chó nhỏ. - Sáng này, bước ra cửa em đã thấy nó nằm chết dưới khóm hoa rồi. Em liền ẵm nó đến gặp ba để ông ấy cứu nó. Nhưng sau khi khám cho nó xong, ba em bảo không cứu nó được. Lucky đã bị con ma hút hết máu rồi! - Hả? - Kỳ Phương kêu lên sửng sốt. Gỡ con chó ra khỏi tay Nguyệt Cầm, anh lật nhanh mớ lông trên cổ nó. Quả thật... có hai dấu răng cắm vào sâu hoắm. Thương con chó đẹp, anh lẩm bẩm tự trách mình. - Thật tệ! Lo bao nhiêu việc, cuối cùng lại bỏ quên con chó ngoài sân. - Không có bỏ quên nó ngoài sân đâu. - Nguyệt Cầm ngước mắt nhìn anh cãi lại. - Hôm qua, lúc ba và anh đi rồi, nhìn qua ổ khóa, em còn thấy nó trong nhà. Nó còn khều cánh cửa đòi em mở cho nó vào nữa. Nhưng cửa bị khóa rồi, em không cho nó vào được. - Nếu vậy thì... sao sáng nay em lại thấy nó chết ngoài sân? Kỳ lạ thật. - Đôi mày Kỳ Phương chau lại. - Không có gì là lạ cả. - Giọng bác sĩ chợt vang sau lưng. Kỳ Phương và Nguyệt Cầm đồng giật mình quay lại. Ông nói tiếp bằng cái giọng trầm trầm. - Hẳn là nó đã lén chạy ra ngoài lúc ta mở cửa trở về. Câu giải thích nghe hợp lý, Kỳ Phương gật đầu lẩm bẩm: - Chắc là thế. Tội nghiệp con chó quá. - Cũng tại ba đó - Nguyệt Cầm lại òa lên khóc. - Sao ba hổng kêu nó vào nhà chứ để con ma hút máu nó rồi... Hổng biết đâu, con bắt đền ba. - Nín đi con. - Ngồi xuống cạnh bên Nguyệt Cầm, ông nhẹ vuốt đầu con âu yếm. Ba sẽ tìm mua cho con một con chó khác, đẹp hơn. - Con không muốn con chó khác, con chỉ muốn Lucky, con thương nó lắm. Nép đầu và ngực cha, Nguyệt Cầm nức nở. Ông rưng rưng đôi mắt sâu hoắm vì mất ngủ: - Ba cũng thương nó lắm. Nhưng biết làm sao. Đừng buồn nữa con à, Lucky không chết oan đâu... nó chết để cứu một mạng người đó con. - Phải rồi. - Kỳ Phương gật đầu nói chen vào. - Em cũng đừng buồn nữa, đừng trách ba nữa. Bác sĩ có muốn vậy đâu. Hãy tránh ra, để bác sĩ còn đi làm kẻo trễ quá rồi... - Hôm nay tôi không đến bệnh viện. - Nhưng ông đã lắc đầu cắt ngang câu nói của Kỳ Phương. Nguyệt Cầm ngẩng đầu lên ngơ ngác: - Sao ba không đến bệnh viện? Hôm nay... sẽ có nhiều bệnh nhân lắm. Ba quên những người bị ma hút máu rồi ư? - Ba không quên con à! Đôi mắt cụp xuống, ông nén tiếng thở dài. Nhưng ba còn có việc quan trọng phải làm hơn. - Việc gì vậy ba? Nguyệt Cầm tò mò. Ông nựng khẽ con trước khi đứng dậy. - Đừng hỏi. Bây giờ ba vào phòng làm việc đây. Nếu qua giờ cơm mà chưa thấy ba ra, con cũng đừng sợ, đừng làm phiền ba nhé! Ba cần phải tập trung cao độ. - Dạ. - Nguyệt Cầm gật đầu ngoan ngoãn. Kỳ Phương nghe hiếu kỳ trước thái độ của ông. Anh không hỏi, vì biết chắc ông sẽ chẳng bao giờ trả lời đâu. Tốt nhất là im lặng, âm thầm tự điều tra. Nguyệt Cầm lại thút thít khóc bên tai khiến Kỳ Phương quay đầu lại. Anh nhẹ lau cho cô dòng lệ tuôn tràn trên má, rồi cất giọng khẽ khàng: - Đừng khóc nữa Nguyệt Cầm. Bây giờ chúng ta cùng đi chôn Lucky. - Chôn Lucky à? Không đâu. - Nguyệt Cầm lắc đầu. - Em hổng chịu đâu... Em chỉ muốn ôm nó trong lòng như thế này thôi. - Không được. - Kỳ Phương dịu dàng. Như vậy sẽ mất vệ sinh lắm. Hãy nghe lời anh đem chôn nó. Em biết không, rồi chúng ta sẽ xây cho nó một ngôi mồ thật đẹp. - Xây mồ cho Lucky à? - Đôi mắt đẹp ngước lên. Biết Nguyệt Cầm đã xiêu lòng, Kỳ Phương dụ tiếp: - Phải rồi, chúng ta sẽ xây cho nó một ngôi mồ thật đẹp. Nào... em chọn đi... ta sẽ chôn nó ở nơi nào hả? Nghiêng nghiêng đầu, suy nghĩ một chút, Nguyệt Cầm quyết định: - Em sẽ chôn nó ở dưới khóm hoa hồng. - Được thôi. - Kỳ Phương vui vẻ. - Đi nào! Khải Văn trông thấy cảnh này hắn sẽ nghĩ sao nhỉ? - Loay hoay đào đất, Kỳ Phương mỉm cười thầm nghĩ. Đúng là điên rồ. Bài vở không lo viết, phóng sự chẳng điều tra... ở đây lo làm mồ chôn chó. Nhưng... cũng thật lạ lùng. Khi làm việc đó bên cạnh Nguyệt Cầm, anh không hề cảm thấy thừa, thấy vô nghĩa chút nào. Nhìn vẻ mặt đau khổ, đặt con chó vào huyệt, anh cũng thấy nao nao một cảm giác lạ lùng. Nguyệt Cầm nhân hậu quá. Anh ước mình có phép màu để cứu con Lucky sống lại, chắc Nguyệt Cầm mừng vô hạn. - Này cô cậu ơi, vui lòng cho hỏi thăm. Một người đàn ông đứng tuổi, ăn mặc đàng hoàng, không giống dân địa phương đứng ngoài cổng rào gọi lớn. - Vâng, ông muốn hỏi gì? - Phủi tay, Kỳ Phương từ tốn đứng lên. Nguyệt Cầm vẫn ngồi yên, đôi mắt cô mở to, ngơ ngác nhìn người khách lạ. - Tôi muốn hỏi thăm nhà bác sĩ Hữu Bằng. - Bác sĩ Hữu Bằng ư? Kỳ Phương chưa kịp trả lời. Nguyệt Cầm đã bật lên thảng thốt. Sợ cô làm lộ bí mật của cha mình, Kỳ Phương vội chen vào. Giọng anh đầy ngạc nhiên: - Bác sĩ Hữu Bằng ư? Cái tên nghe lạ quá! Chưa từng nghe bao giờ. - Vậy à! - Giọng ông ta đầy thất vọng. - Nhưng cô gái kia... sao có vẻ hốt hoảng như vậy chứ? Cô ơi, cô biết bác sĩ Hữu Bằng phải không? - Không... không... Nguyệt Cầm lắc đầu lia lịa. - Tôi không biết, tôi không biết gì hết. - Con chó cưng của cô ấy vừa chết, nên tâm hồn cô ấy chưa ổn định. - Đưa tay ôm lấy vai Nguyệt Cầm, Kỳ Phương trầm tĩnh. - Xin ông đừng làm phiền cô ấy. - Được, cám ơn. Gật đầu chào, người đàn ông bước đi chậm rãi không quên nhìn vào Nguyệt Cầm một cái. Đôi mắt ông ta sáng rực như ánh điện, xoáy vào tận tâm hồn người đối diện. - Ông ấy tìm ba em... để làm gì? - Nép sát vào vòng tay Kỳ Phương, Nguyệt Cầm hoang mang hỏi. Nhẹ ôm lấy vai cô, Kỳ Phương lặng yên không đáp. Đó cũng là điều anh muốn biết. *** Biết rằng ý nghĩ đột nhập vào phòng bác sĩ là mạo phạm, nhưng Kỳ Phương không sao ngăn được cái tính mạo hiểm của mình, nhất là từ khi phát hiện những điều lạ xung quanh ông. Sự việc tấm bằng, xấp ảnh cùng người khách lạ xuất hiện đã thôi thúc bàn chân thám tử hành động.Trăng mười sáu trong ngần vằng vặc. Bức tranh quê thu hồn khách lãng du. Bóng đen của lá của cây, của đụn rơm, chái nhà chẳng hiện ra một chút ma quái nào mà ngược lại nó như một bức tranh trầm tư của một đêm miền quê sâu lắng. Nép mình sau gối dạ lý hương, Kỳ Phương như nghe thấy rõ mọt hoạt động xung quanh, suy nghĩ của một kẻ trộm khiến anh đôi lần chùn bước. Nguyệt Cầm đã ngủ say. Bác sĩ vẫn chưa ra khỏi phòng làm việc. Cạch! Cánh cửa bỗng bật mở trước mắt Kỳ Phương. Cuối cùng sự chờ đợi của anh cũng được đáp trả. Nhanh như một con mèo, vốn đã tính trước, Kỳ Phương đột nhập vào phòng ông một cách an toàn. Căn phòng chẳng có gì lạ ngoài những vật dụng y tế bình thường mà có lần Kỳ Phương đã thấy. Duy chỉ có tất cả các đèn là được thắp sáng. Muốn tìm ra sự khác lạ với người không chuyên môn chẳng dễ tí nào. Biết thời gian không nhiều, Kỳ Phương đi ngay tới phòng làm việc của ông. Trên bàn là những chai lọ ngổn ngang. Cầm một ống nhỏ, Kỳ Phương nhận ra ngay đây là một ống máu. Bởi nó ghi đầy đủ ký hiệu về nhóm máu, về lượng hồng cầu, huyết tương và cả cấu trúc. Cũng chẳng có gì đặc biệt, đây là một công việc bình thường đối với một bác sĩ tài giỏi như ông. Nhưng điều làm Kỳ Phương thắc mắc là tại sao ông không làm việc này ở bệnh viện, ở đó sẽ có nhiều phương tiện hơn ở đây? Mắt Kỳ Phương bỗng chạm phải một miếng gương nhỏ, loại gương thường được dùng để lấy vài giọt máu của bệnh viện đem xét nghiệm. Dường như giọt máu đã khô. Mảnh giấy ghi chú nhỏ dán trên miếng gương đã khiến Kỳ Phương tò mò. Tiện tay anh cầm lên, để gần vào chiếc đèn bàn thì bỗng phựt. Tất cả đèn đều phựt tắt. Ánh điện tắt bất ngờ làm Kỳ Phương chỉ kịp đứng yên cùng lúc giọng bác sĩ Tùng vang lên nơi ngưỡng cửa: - Ai cho phép anh vào phòng tôi? Đã dự trù tình huống này nhưng mang tâm trạng một kẻ trộm bị bắt quả tang đã làm Kỳ Phương xấu hổ quay mặt lại ấp úng: - Dạ... xin lỗi! Trong một thứ ánh sáng xanh lờ mờ trông có vẻ ma quái, gương mặt bác sĩ Từng hiện ra giận dữ khác thường: - Thật đáng uổng công tôi đã yêu quý cậu! - Bác sĩ! - Kỳ Phương cúi đầu. - Tôi chỉ vì quá tò mò. Có phải ông đang nghiên cứu, cố tìm ra cách chữa trị cho các bệnh nhân bị ma hút máu? - Tôi không muốn nói nhiều với kẻ đã chẳng tôn trọng mình. - Vẻ mặt như đanh lại, ông cất giọng lạnh lùng. - Cậu ra khỏi phòng tôi ngay lập tức. Ông đang giận! Kỳ Phương biết khó có thể giải thích cho ông thông cảm ngay được vào lúc này. Gật đầu, anh chậm rãi bước dần ra cửa. - Và tránh để tình trạng này lặp lại thêm một lần nữa. Từ ngày mai, tôi muốn cậu dọn ra ngoài. - Bác sĩ? - Kỳ Phương quay trở lại ngay. - Xin ông đừng giận, tôi hứa đây là lần cuối cùng. - Tôi không tin cậu. - Cánh cửa sập lại ngay trước mặt, ông không quên lặp lại lần cuối quyết định của mình. - Đừng để lặp lại lần thứ hai đấy! - Bác sĩ... bác sĩ... - Kỳ Phương đập mạnh vào cánh cửa. Nhưng vô hiệu, ông không nghe thấy. Mà dù có nghe ông cũng chẳng bao giờ mở cửa đâu. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 43
Phần III Phùng mang, trợn mắt thổi muốn đứt hơi mà cái bếp chỉ tuôn ra toàn khói, với khói. Tức mình quá, Kỳ Phương ném luôn cây cời bếp xuống chân rồi thừ người ra thở. - Chán chết được. - Trong cuộc đời làm phóng viên của mình, chưa bao giờ Kỳ Phương bị xúi quẩy như lần này. Ăn nằm, nằm dề ở cái làng quê đèo heo hút gió hàng tháng trời để vẫn không tìm ra chút manh mối nào. Bị đuổi khỏi nhà như tên ăn trộm chưa hết ê cái mặt, đã nghe đầy tai những lời kêu réo, chửi bới của Khải Văn. Chắc hắn tưởng anh ở đây sung sướng ngon lành như đi du lịch nghỉ mát chắc? Hừ. Hắn có biết nỗi khổ của anh đang nếm chịu đoạn trường thế nào không? Cái khách sạn vừa ấm vừa êm mà hắn ngỡ, chỉ là chuồng bò cũ nát. Một người dân trong làng thương tình đã cho anh mượn tạm ở để điều tra. Thế sao cậu không vào khách sạn, vào nhà trọ mà kêu ca chứ? Thế nào hắn cũng phớt ăng lê bảo thế khi nghe anh than thở. Của đáng tội, có phải anh ngu lắm đâu. Chỉ kẹt nỗi, ở vùng quê này... dân trí quá nghèo nàn, lạc hậu. Cả cái bếp dầu cũng không thấy bán, lấy đâu ra khách sạn, nhà trọ tiện nghi cho anh thuê chứ? Nấu có mỗi nồi cơm, hì hục nãy giờ hơn nửa tiếng đồng hồ vẫn không có cách này làm cho đám củi tươi này chịu cháy. Cứ cái đà này chắc anh đành phải... cuốn gói trở về tòa soạn quá! Nói thì nói vậy, chứ Kỳ Phương biết mình không đời nào làm thế. Anh đâu phải hạng người dễ bỏ cuộc, gặp khó mà chùn bước như chuyện cơm với nước này... anh quyết bắt nó phải sôi lên, chứ quyết không chịu đói. Nghĩ rồi... Kỳ Phương cúi xuống bếp lửa tiếp tục phùng mang trợn mắt. - Trời, Kỳ Phương, anh làm gì mà bụi khói bay mù trời vậy? - Bóng Nguyệt Cầm xuất hiện sau làn khói. Kỳ Phương ngẩng nhanh đầu dậy mừng như bắt được vàng: - Nguyệt Cầm... anh đang nấu cơm đây. Em ngồi chơi với anh một chút. Tiếng Nguyệt Cầm dạ khẽ. Kỳ Phương cúi xuống bên bếp lửa rồi chợt nhớ mình đã bảo Nguyệt Cầm làm một điều không thể được. Cái chuồng bò trống rỗng, ngoài mảnh đệm mới mua trải tạm làm chỗ ngủ, anh chẳng có cái bàn, chiếc ghế nào. - Trời ơi, anh chất củi như vậy thì làm sao mà cháy được? - Nhìn thấy điệu bộ của anh, Nguyệt Cầm kêu lên lạ lẫm. - Ừ! - Kỳ Phương ngước lên, trên má anh xuất hiện một vết lọ nghẹ dài, Nguyệt Cầm không nhịn được mỉm cười. - Củi còn ướt quá, nhóm bao nhiêu giấy cũng không cháy nổi. - Không phải củi ướt đâu. - Ngồi xuống bên cạnh anh, Nguyệt Cầm nhẹ rút hết những cây củi chất lên đầy một bếp của anh ra. - Chỉ tại anh chất đầy quá, bấc bếp ngập không cháy được. - Vậy ư? - Kỳ Phương xum xoe. - Vậy em chất lại giùm anh đi! - Cho em xin tờ giấy. - Nguyệt Cầm nói. Kỳ Phương đặt luôn tờ giấy cuối cùng trong xấp bản thảo của mình cho cô. Không đầy hai phút, Nguyệt Cầm đã làm bếp lửa cháy bùng, Kỳ Phương kêu lên đầy thán phục: - Nguyệt Cầm, em thật tài giỏi quá! - Cảm ơn anh. - Cô cúi đầu bẽn lẽn rồi đáp khẽ. - Trên mặt anh có lọ nghẹ kìa! - Vậy sao? - Kỳ Phương vội đưa tay lên quẹt mạnh. Nhưng vì không thấy nên vết lọ bên này, anh quẹt bên kia. Nguyệt Cầm không nhịn được, đưa tay lên lau cho anh, rồi như chợt nhận ra như vậy là gần gũi quá! Cô thẹn thùng rụt nhanh tay mình lại. Cử chỉ thật đáng yêu. - Anh xin lỗi... - Cho một cây củi vào bếp lửa hồng đang cháy, Kỳ Phương trầm giọng. - Hôm đó... làm em bị ba rầy oan một trận. - Em không giận anh đâu. - Nguyệt Cầm rút đầu e thẹn. - Em chỉ không biết tại sao anh lại làm như vậy. Cả anh, cả ba... ai cũng khó hiểu như nhau. Tại sao phải úp úp, mở mở giấu giếm nhau? - Anh không có giấu em! - Kỳ Phương nhặt khỏi tóc Nguyệt Cầm một nhành cây nhỏ. - Anh tìm tư liệu để viết phóng sự. Anh chỉ không hiểu sao ba em lại giận dữ thôi. Công việc nghiên cứu tìm thuốc cứu người đâu là gì bí ẩn. - Em cũng không biết luôn. - Mắt Nguyệt Cầm buồn rượi. - Em chỉ biết là mình buồn lắm thôi. Anh đi rồi... căn nhà trở nên hoang phế, lạnh lùng hơn bao giờ hết. Ba không đến bệnh viện. Nhưng chẳng phải vì vậy mà em được gần ba hơn trước. Cả ngày lẫn đêm... ba chỉ nhốt mình trong phòng làm việc. Nét mặt lúc nào cũng trầm tư, buồn bã. Kỳ Phương!... Hay là... anh trở về nhà em ở như cũ đi. - Ngập ngừng giây phút, Nguyệt Cầm mở lời thật nhanh, thật nhỏ. Đây chính là cái lý do khiến cô phải leo rào trốn ba đến gặp Kỳ Phương. -Anh cũng muốn như vậy lắm nhưng e bác sĩ không đồng ý. - Kỳ Phương nhìn Nguyệt Cầm chăm chú. Tội nghiệp, chắc bây giờ cô buồn nhiều hơn. Anh đi, ba cô chỉ quan tâm đến công việc. Con chó nhỏ cũng đã không còn. Mới có mấy ngày mà trông cô tiều tuỵ thấy rõ. - Vậy thôi... em về đây. - Thở ra một cái đầy thất vọng, Nguyệt Cầm chậm rãi đứng lên. - Kẻo ba biết lại mắng em nữa đấy. - Ừ! Kỳ Phương không dám giữ cô ở lại, dù lòng còn lưu luyến. Anh muốn mời cô dùng cơm với mình, nhưng lại e cái hột vịt dầm nước tương lạt lẽo. Anh chỉ dám lấy từ nẹp vách một con cào cào vừa được thắt trao cho cô: - Tặng em nè! - Cảm ơn anh. - Nguyệt Cầm mừng rỡ đón lấy hí hửng như đứa trẻ. - Mấy con anh thắt trước đây đó héo hết rồi. À... Kỳ Phương... anh biết không, người đàn ông hôm nọ hỏi thăm đường đã quay trở lại. Ông ta biết ba em là bác sĩ Hữu Bằng. - Sao? - Mắt Kỳ Phương hấp háy. - Ông ta đã trở lại, khi nào? Chuyện gì đã xảy ra? - Em không biết! - Nguyệt Cầm lắc đầu bàng quang. - Chiều hôm đó, ông ta ghé nhà đòi gặp đích danh ba của em. Lúc gặp ông ta, em thấy ánh mắt ba rất lạ. Hai người vào phòng, đóng kín cửa nói chuyện rất lâu. Rồi ông ta trở ra, mặt hầm hầm, giận dữ. - Thế còn ba của em? Ông có thái độ gì sau khi người đó bỏ đi? - Ba em không nói gì. - Nguyệt Cầm khẽ nghiêng đầu. - Em chỉ thấy ông thở ra, gác tay lên trán... đăm chiêu như suy nghĩ nhiều lắm thôi. Kỳ Phương à! - Nắm lấy tay Kỳ Phương, Nguyệt Cầm lo lắng. - Anh có biết chuyện gì đang xảy ra với ba của em không? Sao mấy bữa nay, lòng em như có điều gì đó, phập phồng lo sợ. - Không có gì đâu. - Kỳ Phương trấn an Nguyệt Cầm. - Em hãy về nhà nghỉ đi. Bao giờ biết được gì, anh sẽ kể cho em nghe. - Vâng! Gật đầu chào, Nguyệt Cầm ngoan ngoãn bước đi ngay. Bóng cô khuất lâu rồi sau hàng dâm bụt mà Kỳ Phương vẫn còn đứng đó, dáng người bất động. Câu trả lời nằm ở đâu? Sao những gì anh biết rời rạc quá? Mãi đắm chìm trong suy nghĩ, anh không hay bếp lửa Nguyệt Cầm nhóm được đã bị nồi cơm trào tắt ngấm. *** -Thắt thế nào nhỉ? Cọng lá dừa cầm lên rồi bỏ xuống, Nguyệt Cầm thở ra một hơi dài buồn bã. Tiếng chim sơn ca ríu rít hót trên đầu, cánh vườn thưa nhộn nhịp mà cô nghe sao lạnh vắng. Cô nhớ Kỳ Phương. Nhớ cồn cào da diết. Hơn lúc nào hết, cô muốn chạy đến gặp anh. Nhưng... ngại ngùng không dám, ai đời con gái... mà cứ đến tìm con trai như vậy? Người ta sẽ khi dễ đấy. Nhỏ Lan khi nghe cô kể đã lắc đầu không tán thành hành động của cô rồi. Làm gì bây giờ. Cô cầm con cào cào đã khô của Kỳ Phương tặng. Giá có thể biến thành anh. Giá có thể chuyện trò cùng nó? Những ngày anh có mặt ở ngôi nhà này là những ngày Nguyệt Cầm vui nhất đời mình. Từ nhỏ sống lặng yên, bình dị bên cha, cô đâu biết thế gian này tồn tại một cảm giác tuyệt vời như thế! Tình yêu! Môi Nguyệt Cầm thoáng nở nụ cười. Mặc cho nhỏ Lan và mọi người chê trách, Nguyệt Cầm vẫn không cấm trái tim mình nói tiếng yêu anh. Bởi anh đáng thế... cả làng này có chàng trai nào hơn anh được? Còn Kỳ Phương! Anh có yêu mình không? Tim Nguyệt Cầm thoáng ngập ngừng, e ngại. Trông thái độ anh gần gũi, thân mật. Nhưng... với nhỏ Lan... anh cũng ân cần, dịu dàng giống như vậy. Hẳn là trong mắt anh, cô hay nhỏ Lan chỉ là những cô gái quê mùa không hơn không kém. Người yêu của anh phải là một cô gái thị thành, xinh đẹp, văn minh và giàu học thức. Nghĩ đến điều này... không hiểu sao, tim Nguyệt Cầm nghe đau nhói. Cô muốn òa lên khóc quá! - Nguyệt Cầm! Nguyệt Cầm!... Có tiếng Kỳ Phương văng vẳng gọi, hòa lẫn tiếng chim kêu. Nguyệt Cầm mừng rỡ ngẩng nhanh đầu dậy. Nhưng cô chợt thở ra ngay. Chỉ là ảo tưởng thôi. Kỳ Phương sẽ không bao giờ tìm đến cô đâu! - Nguyệt Cầm! Nguyệt Cầm!... Tiếng kêu nghe rõ quá, không giống ảo giác. Một lần nữa, Nguyệt Cầm ngẩng đầu lên. Nhận ra bàn tay anh đang vẫy mình cuối gờ tường, cô mừng quá, chạy ào ngay tới. - Kỳ Phương... ôi... em nằm mơ sao thế này? - Không phải nằm mơ đâu. - Tiếng Kỳ Phương vui vẻ. - Anh đến rủ em đi chơi. Em có dám đi không? - Dám, em dám. Nguyệt Cầm gật đầu ngay không suy nghĩ. Dù một lát nữa trở về bị ba đánh chết, cô cũng không bao giờ từ chối giây phút được ở gần bên anh. - Vậy thì em ra đây. - Kỳ Phương hớn hở. - Anh có điều thú vị tặng cho em. - Dạ... - Bàn tay đặt lên chốt cửa, Nguyệt Cầm chợt kêu lên thất vọng. - Thôi chết... ba đã khóa cửa lại rồi. - Em không có chìa khóa sao - Kỳ Phương lo lắng. - Từ lúc phát hiện ra việc em lén đến nhà anh. Ba của em đã lấy lại tất cả chìa khóa rồi. - Nguyệt Cầm thở ra buồn bã. - Vậy... đành bó tay à? - Đôi môi Kỳ Phương mím lại, anh thất vọng nhìn con diều lớn trên tay. Nó được dán bằng những trang bản thảo viết vội của anh đó. Nguyệt Cầm nhất định sẽ bất ngờ, thích thú khi nhìn thấy nó lượn bay lên bầu trời cao rộng. - Mình đứng đây nói chuyện đi anh. - Sợ Kỳ Phương giận dỗi bỏ về, Nguyệt Cầm năn nỉ. - Đứng đây nói chuyện ư.? - Kỳ Phương bật lên cười lớn. - Thú vị đấy, nhưng Nguyệt Cầm, anh hỏi em điều này, em có dám leo qua cổng ra ngoài với anh không? - Leo... Leo rào ư? Nguyệt Cầm rụt vai sợ hãi. - Cao quá anh ạ! - Không cao lắm đâu - Kỳ Phương đưa mắt nhìn những thanh sắt ngang trên cửa. - Chỉ cần em can đảm một chút thôi. Em có dám không? Ngập ngừng đưa mắt nhìn cánh cửa rồi đưa mắt nhìn lẹ vào nhà, Nguyệt Cầm thầm cân nhắc. Leo tường trốn ra ngoài, thật là kinh khủng. Nhưng... bây giờ... muốn gặp Kỳ Phương... chỉ còn cách duy nhất này thôi... Được rồi... cuối cùng... Nguyệt Cầm quyết liều để gặp anh. Hít sâu một hơi, thu hết hùng tâm dũng khí, cô bám tay vào thành cửa đu lên. Cao quá... Mấy lần suýt té rồi cũng qua. Cuối cùng cô lên được mặt thành. Kỳ Phương trông thấy, anh la to, động viên: - Ồ, Nguyệt Cầm, em đã làm được rồi... thật tuyệt vời. - Em không xuống được... - Bên ngoài mặt thành, cửa trơn tuột không có những thanh sắt ngang để leo xuống. Nguyệt Cầm kêu to sợ hãi. - Đừng hốt hoảng. - Nheo một con mắt lại, Kỳ Phương khom lưng xuống trước mặt cô. - Em hãy bước xuống lưng anh mà xuống. Nguyệt Cầm kêu to hốt hoảng: - Bước xuống lưng anh mà xuống ư? Em không dám đâu, sợ làm đau anh lắm. - Không đau đâu. - Kỳ Phường quay đầu lại. - Em cứ xuống đi, nhanh lên, kẻo ba em ra trông thấy bây giờ. Nghe nhắc đến ba, Nguyệt Cầm thôi không đùn đẩy nữa. Rụt rè... đặt chân xuống lưng Kỳ Phương, cô nhắm mắt buông mình ào xuống. Đau một chút thôi... Nguyệt Cầm nghĩ thầm như vậy. Nhưng...chẳng có cảm giác đau chút nào, chỉ có cảm giác bồng bềnh trong vòng tay nồng ấm. Lạ lùng, Nguyệt Cầm mở to đôi mắt... kinh hoàng nhận ra... Kỳ Phương đã bế bổng mình, gọn như một con mèo. Ôi!... Cánh tay của anh thật là rắn chắc, bờ ngực anh thật là vững chãi. Một cái gì như một luồng điện từ anh chạy rần khắp người cô. Đê mê, ngây ngất quá! Nguyệt Cầm chỉ muốn úp gương mặt mình vào vai anh, buông mình vào cái cảm giác lạ lùng cứ tuôn tràn như suối. - Em làm được rồi... anh nói có sai đâu. Không hiểu được tâm ý của Nguyệt Cầm, Kỳ Phương vui vẻ thả cô xuống đất. - Vâng... - Xấu hổ với ý định của mình. Nguyệt Cầm cúi đầu ửng hồng hai má. Kỳ Phương nắm lấy tay cô: - Đi nào. - Đi đâu? Nguyệt Cầm ngây thơ. Kỳ Phương nhẹ đặt một ngón tay xuống môi cô: - Đến nơi khắc biết thôi. Bây giờ... em cứ nhắm đôi mắt lại và chạy theo anh. - Vâng! Ngoan ngoãn, Nguyệt Cầm nhắm ngay đôi mắt lại.Cô không cần biết Kỳ Phương sẽ dắt mình đến nơi nào. Cô chỉ cần được ở bên anh, nhìn anh cười, nghe anh nói là đủ lắm rồi. Làn gió trên cao như cũng vui cùng cô, hét phần phật bên tai cô mát rượi, lại chui vào mái tóc của cô làm xổ tung ra bay lượn trong gió. - Tới rồi đây! - Kỳ Phương chợt dừng chân đột ngột. - Em mở mắt ra đi. Nghe lời anh, Nguyệt Cầm từ từ mở to đôi mắt, bỗng kêu lên một tiếng thích thú: - Trời ơi! Đẹp quá! Rồi như không kiềm chế nổi lòng mình, cô tung chân chạy đi ngay, miệng cười vui như trẻ con. Tựa lưng vào một thân cây lớn bên đường, Kỳ Phương thích thú nhìn Nguyệt Cầm tung tăng bên thảm lúa. Cô đang rất ngạc nhiên, Kỳ Phương mỉm cười nhớ lại cảm giác của mình lần đầu phát hiện ra điều bất ngờ thú vị này. Đi nhiều nơi, nhiều chốn, từng tham quan nhiều thắng cảnh, nhưng quả thật lần đầu tiên Kỳ Phương mới nhìn thấy một cánh đồng rộng dường kia, đẹp dường kia. Hơn cả kiệt tác của một thi nhân, đồng lúa trước mặt anh trải dài vô tận vàng rực một màu lúa chín. Nó như không có điểm dừng, chỉ có một đường tiếp giáp với chân trời xa khuất tầm nhìn. Không gian trước mắt, chỉ có hai màu vàng và xanh hòa trộn vào nhau. Thỉnh thoảng điểm một vài cánh cò trắng bay lên. Đẹp yên bình, thanh thoát đến lạ. - Kỳ Phương ơi... em chưa bao giờ được thấy một cánh đồng lúa to đến như vậy. - Nguyệt Cầm đã trở về, trên tay cô là chùm bông lúa chín. - Cảnh vật ở đây đẹp tuyệt luôn, ôi... gió mới mát làm sao! - Chờ anh một chút. Còn điều thú vị nữa đây. - Mỉm cười, Kỳ Phương hất tung con diều vào ngọn gió đồng đưa đến. Ngọn gió bốc lên, trong chớp mắt đã nâng con diều bay cao trên bầu trời xanh thẳm. - Ôi, con diều đuôi đã bay được rồi kìa... - Nguyệt Cầm vỗ tay mừng rỡ. Kỳ Phương,.. anh thật là giỏi quá. - Nó không phải là con diều đuôi đâu. - Ngồi xuống một cái rễ cây cạnh Nguyệt Cầm, Kỳ Phương vui vẻ bảo. - Nó là con diều. - Con diều ư? - Vẫn ngước cao đôi mắt lên bầu trời, Nguyệt Cầm lặp lại - Giời anh. Vậy...con diều đẹp quá. Bay cao ghê... chắc phải tốn nhiều pin lắm. Lại một câu ngớ ngẩn, nhưng lần này Kỳ Phương không cười nữa. Quay lại nhìn cô, tự dưng anh nghe sống mũi mình cay xé. Một niềm thương hại dâng trong lòng anh. Làm người như Nguyệt Cầm không phải là đáng thương, tội nghiệp lắm sao? Như một con ếch tối ngày nằm dưới đáy giếng sâu, suýt đời cứ ngỡ trời chỉ lớn bằng cái vung trên đỉnh đầu mình. Cô nào biết, bên ngoài cái giếng, cuộc đời còn bao điều tươi đẹp, bao nhiêu việc phải làm. Sinh trưởng ở nơi này mười tám năm rồi, vậy mà... cô không hề biết làng quê mình có một cánh đồng đẹp dường này. Nếu anh không đến đây có lẽ đến hết cuộc đời mình cô bé cũng yên lòng sống mãi trong cái biệt thự, ngắm bầu trời qua song cửa sắt không khác một kẻ tù nhân. Tự nhiên Kỳ Phương bỗng muốn có một ngày, mình đưa được Nguyệt Cầm về thành phố. Cho cô được nhìn những công trình của nền văn minh hiện đại. Để cô được biết thế nào là tiện nghi, là cuộc sống của một người dân thành thị. Anh muốn mời cô ngồi vào chiếc Nissan của mình. Chở cô đi dạo khắp nơi rồi mời cô một lần thưởng thức món kem ngon tuyệt. Hẳn là cô sẽ giật mình trước vị lạnh của kem, và cũng sẽ rất thú vị trước sự thơm ngon của nó. Anh sẽ mời cô đi xem ca nhạc, mời cô đi xem phim. Hẳn cô sẽ chết khiếp, sẽ khóc hết nước mắt trước số phận của những nhân vật, cô không bao giờ tin là chúng được tạo thành từ sự tưởng tượng của những nhà văn giống như anh. - Kỳ Phương... anh làm gì mà cứ tủm tỉm cười một mình hoài vậy hả? - Giọng Nguyệt Cầm, chợt vang lên cắt ngang dòng suy nghĩ của Kỳ Phương, anh nhìn chăm chú cô: - Anh đang cố tưởng tượng xem, trông chiếc đầm của em sẽ đẹp thế nào. - Áo đầm ư? - Nguyệt Cầm cúi nhìn bộ đồ lụa trắng của mình. - Nó như thế nào hả anh? - Ừ thì... như vầy nè! - Nhặt một hòn đá, Kỳ Phương vẽ xuống mặt đường một cô gái mặc áo đầm thật đẹp. Nguyệt Cầm chăm chú nhìn giây phút rồi chợt hỏi: - Sao anh không cho cô gái ấy mặc quần? - Hở? - Bị hỏi bất ngờ, Kỳ Phương sững người ra, không biết trả lời sao. - À, ờ... tại trang phục này như thế... người ta không cần phải mặc quần dài. Chỉ cần.... một cái quần nhỏ bên trong. - Trời... như vậy là kỳ cục lắm, em hổng chịu mặc đâu. - Đôi má chợt đỏ bừng, Nguyệt Cầm quay mặt đi, xấu hổ. - Chẳng có gì phải xấu hổ đâu. - Tay Kỳ Phương se se ngọn cỏ. - Các cô gái thành thị vẫn mặc như thế đi ngoài phố. Nguyệt Cầm, nếu anh mời em về thành phố chơi, em có thích không? - Không! - Nguyệt Cầm đáp không cần suy nghĩ. Kỳ Phương chưng hửng: - Vì sao? - Vì nơi ấy... có bạn gái của anh. - Nguyệt Cầm phụng phịu. - Em không thích. - Bạn gái ư? - Kỳ Phương chợt mỉm cười. - Anh không có bạn gái. Mà dù có cũng chẳng sao. Cô ấy sẽ thích em. Em dễ thương lắm mà. - Nhưng em không thích chị ta. - Nguyệt Cầm giận dỗi. Kỳ Phương cảm thấy ngẩn ngơ. Lẽ nào Thu Lan nói đúng, Nguyệt Cầm đã yêu mình? Nếu quả như vậy thì sao? Kỳ Phương bâng khuâng thầm hỏi. Anh có nên đáp lại tình cảm của Nguyệt Cầm không? Hai tháng trời gần gũi, anh thấy Nguyệt Cầm thật đáng thương biết bao. Rất muốn làm một điều gì đó cho cô, nhưng... tất cả chỉ là tình cảm của một người anh dành cho em gái nhỏ. Nguyệt Cầm ngây thơ, non nớt chuyện đời... liệu cô có chịu nổi cú sốc này? - Anh giận vì em bảo không thích bạn gái của anh hả? - Giọng Nguyệt Cầm run rẩy. - Xin lỗi anh, tại em lỡ lời thôi. - Không đâu. - Kỳ Phương nhóng mắt cười nhẹ. - Không có. Thôi anh em mình chơi thả diều tiếp tục đi. Em có thích không? Để anh dạy cho em nhé. - Dạ... - Nguyệt Cầm vui vẻ cầm lấy con điều. Theo hướng dẫn của Kỳ Phương, không bao lâu cô có thể tự mình điều khiển con diều bay tít lên cao. Vui thích quá, cô bật lên cười khanh khách... - Ái... ơi... Đang hướng mắt lên trời nhìn theo con diều, Nguyệt Cầm bỗng khuỵ chân té ngã, cuộn chỉ rơi khỏi tay lăn lông lốc trên mặt đất. Kỳ Phương chạy vội đến đỡ cô đứng dậy, bất chợt kêu to hốt hoảng: - Nguyệt Cầm em sao vậy? - Em... em khó thở quá... - Sắc mặt bỗng đỏ bừng. Nguyệt Cầm đưa tay ôm ngực, hơi thở gấp gáp. - Chắc là cảm nắng rồi! Kỳ Phương vội vã bế Nguyệt Cầm đến một bóng cây. Sẵn chai dầu trong túi, anh thoa lên thái dương của cô và lo lắng hỏi: - Em sao rồi? Có đỡ chút nào không? Chiếc đầu khẽ lắc, mi mắt khép lại, Nguyệt Cầm như bị mê đi. Hơi thở đuối dần, những đốm đỏ lan dần trên làn da trắng ngần của cô. Làm sao bây giờ? Kỳ Phương quýnh quáng. Biết không thể chần chờ, anh cúi xuống bế bổng cô lên cắm đầu chạy. Nguyệt Cầm, em đừng làm sao nhé. Không thì... anh sẽ ân hận lắm đấy. Tự dưng... sao lại trở bệnh như thế này. Trời ơi khổ! - Bác sĩ... bác sĩ... Hai tay ôm chặt Nguyệt Cầm, Kỳ Phương không thể nào nhấn vào chuông cửa, gấp rút quá, anh dùng chân đá mạnh vào cánh cửa rầm rầm. - Có chuyện gì? Bác sĩ Tùng ló đầu qua khe cửa với vẻ mặt lạnh lùng, Kỳ Phương lướt ngay vào, quýnh quáng: - Nguyệt Cầm... Bác sĩ... mau cứu Nguyệt Cầm. Cô ấy... - Trời ơi... sao thế này... - Vừa nhìn thấy sắc mặt Nguyệt Cầm, ông hoảng hốt cắt ngang lời Kỳ Phương. - Mau ẵm nó vào phòng. - Vâng... - Kỳ Phương bước như bay vào nhà. Dù vội vã anh vẫn kịp nhìn nhanh thấy ngoài phòng khách, người khách lạ hôm nào hỏi đường mình với Nguyệt Cầm đang ngồi trên ghế salon. Đôi mắt cú vọ của gã nhìn như nuốt chửng Nguyệt Cầm. - Đặt nó xuống giường mau! Nắm lấy tay con, bác sĩ chợt la to hớt hãi khi thấy mạch yếu dần. Chụp nhanh ống thở oxy vào mũi con, ông vội vã làm tất cả những động tác cấp cứu dành cho một bệnh nhân. Trong giây phút sắc mặt Nguyệt Cầm dần trở lại hồng hào. Mạch nhảy tốt hơn. Cơn nguy kịch không còn nữa. Kỳ Phương bây giờ mới dám thở mạnh, cất tiếng: - Thưa bác sĩ, tôi chỉ rủ Nguyệt Cầm đi dạo, không ngờ... - Cậu đừng nói gì cả... - Giọng bác sĩ lạnh lùng. - Lập tức rời khỏi nơi này... - Cháu... muốn chờ cho Nguyệt Cầm tỉnh lại... - Kỳ Phương nhìn ông van xin. - Tôi không cần... - Đôi mắt ông quắc lên giận dữ, tóm lấy cổ áo Kỳ Phương, lôi xệch anh ta ra cửa, ông quát lớn. - Lũ con trai vô tích sự, tối ngày chỉ biết tán gái với nhậu nhẹt. Lấy tư cách gì theo đuổi Nguyệt Cầm chứ. Cút mau... và đừng bao giờ bén mảng đến nơi này. Vung tay đẩy mạnh Kỳ Phương ra ngoài, ông sập nhanh cửa lại. Tất cả diễn biến xảy ra nhanh quá, Kỳ Phương chẳng kịp có phản ứng gì. Anh chỉ thấy thái độ của ông hôm nay thật lạ, thật khác thường. Cả câu mắng của ông, cũng như muốn ám chỉ điều gì. Dường như... ông muốn khẳng định gã khách có đôi mắt cú vọ kia về quan hệ của mình đối với anh. Tại sao ông làm như vậy chứ Kỳ Phương cảm thấy mình đần độn hơn bao giờ hết. *** Sáng ra, vừa mở mắt đã thấy mọi người tụ tập trước sân nhà của mình xì xào bàn tán, Kỳ Phương vui vẻ lên tiếng hỏi:- Mọi người có chuyện gì vui thế? Kể cho tôi nghe với nào! Nghe tiếng anh, đám đông quay lại, không phải tin vui như anh tưởng, một người hớt hải lên tiếng bảo: - Nguy rồi Kỳ Phương ơi, hồi hôm này con ma lại xuất hiện. - Con ma xuất hiện ư? - Kỳ Phương lẩm bẩm. - Hôm nay mùng ba, phải còn đúng mười hai ngày nữa mới đến ngày con ma xuất hiện cơ mà. - Không chỉ thế! - Một người khác chen vào. - Con ma còn trở nên hung hãn hơn nhiều so với trước. Nó đã giết người bị mình hút máu. - Sao? - Kỳ Phương giật thót người. - Có chết người ư? Thế bác sĩ Tùng biết chuyện này chưa? - Chúng tôi đã báo cho bác sĩ biết. Nhưng ông ấy bảo chuyện này không liên quan gì đến mình, nên không muốn giải quyết. Đám đông nhao nhao nói: - Chúng tôi phải tìm đến anh đây! - Được rồi, đưa tôi đến nhà người bị nạn mau. Xăng xái bước đi, Kỳ Phương quên mất mình chưa kịp đánh răng, rửa mặt. - Con ơi là con... trời ơi... con tôi chết oan ức quá! Chưa bước vào nhà, Kỳ Phương đã nghe tiếng người mẹ khóc con thảm thiết. Thật tội nghiệp. Cậu bé mới mười ba tuổi. Kỳ Phương nhận ra đứa bé, nó chính là người dạy anh dán con diều hôm trước. - Bác ơi, để cháu xem nào. Lách đám đông bước vào, Kỳ Phương nắm tay đứa bé, hy vọng tìm ra chút hơi thở mong manh nào. - Sao cậu... con tôi còn cứu được không? - Người mẹ ngưng khóc, ngước đôi mắt lên chờ đợi một phép màu. Nhưng Kỳ Phương lặng lẽ lắc đầu. Chẳng còn chút hy vọng nào. Toàn thân đứa bé đã cứng đờ, lạnh ngắt. Trên cổ áo vết răng cắn ngập vào bầm tím. Người mẹ nghẹn ngào kể lại: - Con ma đến lúc nửa đêm. Nó định tấn công tôi nhưng thằng Toàn cản lại, đấu vật tay đôi cùng với nó. Tôi sợ quá hét to lên cầu cứu, nhưng nhà tôi nằm ở sâu quá chẳng ai nghe. - Thế sao dì... không chạy đi kêu cứu? - Kỳ Phương thắc mắc. Người đàn bà kéo ống quần lau nước mắt: - Tôi không thể bỏ đi, để một mình con tôi với con ma được. Tôi phải giúp nó đánh trả con ma. Nhưng... con ma mạnh lắm. Giằng co được một lúc, tôi bị nó xô té đập đầu vào cạnh giường ngất xỉu. Đến khi tỉnh lại trời đã sáng. Con tôi cũng đã chết rồi... trời ơi... tôi phải làm sao... - Cậu Phương, cậu Phương...cứu tôi... cứu tôi với... Vừa ngồi xuống định nói vài lời an ủi với người mẹ bất hạnh, Kỳ Phương đã vụt đứng lên vì giọng một người kêu lớn thất thanh. - Cứu tôi với... Những người bị ma cắn đồng loạt lên cơn khát máu, họ tấn công tôi và sắp đến đây rồi. Một người, rồi nhiều người chạy vội vào nhà. Chưa kịp hiểu chuyện gì Kỳ Phương đã thấy sau lưng họ một đoàn nhiều người khác, mắt đỏ ngầu, mặt đằng đằng sát khí đuổi sát một bên. Nhận ra đó là đoàn người lên cơn khát máu. Kỳ Phương lanh trí kêu to: - Đóng cửa lại mau. Cánh cửa được đóng lại ngay lập tức. Cũng may là nhà này chỉ có một cửa thôi, lại vô cùng chắc chắn. Nếu như... ở cái chuồng bò trống huơ của mình, Kỳ Phương không biết xử trí thế nào. Nhưng đoàn người lên cơn khát máu thật tinh khôn. Cánh cửa được cài chặt bên trong vẫn không khiến họ chùn lòng. Họ tìm đủ mọi cách để lọt vào, cố phá cửa, cố trèo lên cả nóc nhà. Cứ trốn như thế này thì không phải cách. Sớm muộn gì thì họ cũng phá được nhà. Đám dân làng xôn xao, lo lắng. Tình thế cấp bách quá, bác sĩ lại không có mặt, túng cùng Kỳ Phương quyết định ra lệnh cho đám trai làng: - Hãy theo cách cũ, đánh cho họ ngất xỉu rồi hãy tính. Vâng lời anh, đám trai làng đem theo gậy gộc, cuốc xẻng, lẻn ra ngoài bằng cửa sau bất ngờ tập kích. Đoàn người đang khát máu do lo tấn công không phòng bị, nên đám trai làng dễ dàng đập cho ngất xỉu. Chưa đầy mười lăm phút, Kỳ Phương đã nghe họ gọi lớn: - Anh Phương ơi, chúng tôi đã giải quyết xong, anh mở cửa ra đi. Bước ra ngoài, nhìn đám người nằm ngổn ngang một đống ngoài sân, Kỳ Phương hỏi một trai làng: - Anh có biết bọn họ bao nhiêu người không? - Một trăm sáu chục người. - Anh trai làng trả lời ngay. - Chúng tôi vừa mới đếm xong. - Một trăm sáu chục người? Nhiều đến thế sao? - Kỳ Phương choáng giật mình. Bấy lâu nay, vì bọn họ nằm rải rác khắp làng... tấn công lẻ tẻ, anh ngỡ chỉ độ chừng vài ba chục người thôi. - Mình làm gì bây giờ anh Phương? - Một người như là thân nhân của người kia lo lắng hỏi. - Nếu không kịp truyền máu, bọn họ sẽ chết mất. - Cái này... - Kỳ Phương nghe rối rắm. Chúng ta nên đến gặp bác sĩ thì hơn. Tôi không tin là ông ta bỏ mặc, thấy chết không cứu đâu. - Thử một lần nữa xem... - Đám đông ngần ngừ rồi cũng vâng lời. Trước khi kéo nhau đi, Kỳ Phương còn cẩn thận bảo đám trai làng đem hết bọn người ma ám vào nhà, cài chặt cửa, đề phòng bọn họ tỉnh lại tấn công bất ngờ, trở tay không kịp. - Anh bạn trẻ, giải quyết gọn lắm, khoa học lắm. Đang cài chốt cửa, Kỳ Phương chợt nghe sau lưng mình giọng người đàn ông vang lên rờn rợn. Quay đầu lại, anh nhận ra người khách lạ hôm nào. - Hãy để bọn người ấy đến gặp bác sĩ. Tôi có chút chuyện riêng muốn bàn với cậu đây. - Chẳng để Kỳ Phương kịp lên tiếng hỏi, ông ta nói luôn một hơi dài. Vốn không có cảm tình với đôi mắt soi mói và gương mặt có vẻ gian xảo của ông, Kỳ Phương lắc đầu, lạnh lùng: - Xin lỗi, ngay lúc này tôi không thể làm theo anh được. - Chỉ một phút thôi. - Song thấy Kỳ Phương vẫn quay lưng lại, gã nói nhanh. - Nếu cậu muốn biết chân dung thật của con ma gây nên tai họa. Miếng mồi câu quá ngon lành, Kỳ Phương không cưỡng nổi được lòng, quay ngoắt lại ngay: - Ông biết con ma là ai ư? - Phải. - Gã gật đầu. Lúc này đoàn người đã đi được một đoạn khá xa rồi. Nên gã không cần sợ ai nghe trộm nữa. - Cậu... có thành kiến với tôi, vì ngỡ tôi là kẻ xấu phải không? - Tôi... - Kỳ Phương không thể phủ nhận một khi ông ta đã biết rõ ràng. - Không sao. - Gã mỉm cười. Một nụ cười đôn hậu nhưng vẫn không làm cho Kỳ Phương có cảm tình. Giác quan thứ sáu bảo với anh rằng gã không thể nào là người tốt. - Thật ra... cậu đã hiểu lầm. Cả dân làng ở đây cũng thế. Từ lâu các người đã bị gã bác sĩ kia lừa gạt. Sự thật tên của gã là Hữu Bằng. Cảm thấy bất bình thay cho bác sĩ, Kỳ Phương lên tiếng cãi: - Đôi lúc giấu tên không phải là sự lừa gạt. - Đúng là giấu tên không phải là lừa gạt vì nó cũng là chuyện nhỏ. Nhưng... - Đưa tay quẹt mũi một cái, gã cho nổ luôn một trái bom đã bật sẵn ngòi. - Gây đại họa cho cả làng mới là chuyện lớn. Con ma mà các người đang tìm kiếm chính là Nguyệt Cầm. Con gái yêu của ông ta. - Nguyệt Cầm là con ma ư? - Kỳ Phương bật lên cười lớn. - Ôi... không còn vô lý nào bằng. - Rồi anh giận dữ. - Này ông, ông đã làm mất thời gian bằng câu chuyện nhảm nhí của mình rồi đó. - Không nhảm nhí, cũng chẳng hoang đường đâu. Gã cất giọng lạnh lùng. - Nếu không tin, đêm nay cậu cứ mời Nguyệt Cầm đi dạo một vòng sẽ rõ. Lời ông ta khẳng định quá, Kỳ Phương hoang mang: - Tại sao ông lại nói chuyện này cho tôi nghe chứ? - Vì cậu là phóng viên. - Ông ta mỉm cười nham hiểm... - Tôi muốn cậu công bố chuyện này lên mặt báo. Cậu bé, hãy nên cảm ơn ta. Vì cậu sẽ trở nên nổi tiếng nhờ bài phóng sự tuyệt vời này. Thôi, bấy nhiêu đó đủ rồi, tin hay không, tùy cậu. - Vỗ nhẹ lên vai Kỳ Phương một cái, ông ta quay lưng bước đi ngay. Thoắt cái đã biến mất vào lùm cây trước mặt. Bí hiểm, bất ngờ như câu chuyện ông ta vừa kể vậy. Nguyệt Cầm là con ma mà anh và mọi người đã tìm kiếm bấy lâu ư? Ông ta đi mất lâu rồi mà Kỳ Phương vẫn còn sững ra bất động. Và... có lẽ... anh sẽ còn đứng mãi như thế không biết cho đến bao giờ, nếu như đừng có ai đó đập vào vai mình một cái. - Anh bạn trẻ, mau vào giúp một tay nào? Giật mình, ngẩng nhanh đầu dậy, Kỳ Phương chợt kêu lên mừng rỡ: - Bác sĩ. - Thì là tôi đây, cậu làm gì mà mừng quýnh vậy? Vẫn cái giọng càu nhàu quen thuộc vừa lạnh lùng, vừa tình cảm làm sao. Kỳ Phương không nhận ra ngay. Tự nhiên, anh nghe từ lồng ngực mình thở phào ra một hơi dài nhẹ nhõm. Dù ai có nói gì, anh vẫn tin ông là một bác sĩ nhân từ tốt bụng. *** Không tin, không bao giờ tin Nguyệt Cầm là con ma hung ác, là nỗi ám ảnh dân làng trong nhiều ngày tháng vừa qua, nhưng để khẳng định lập trường vững chắc của mình. Đêm nay Kỳ Phương sẽ lén lút mời cô đi dạo như lời gã kia đã mách.Lần này Nguyệt Cầm không phải leo rào, cũng chẳng gặp phải chút khó khăn nào. Bởi cha của cô còn mải lo cứu chữa cho một trăm sáu mươi bệnh nhân đang lên cơn khát máu. Đi chơi giữa lúc công việc bộn bề, Kỳ Phương cũng thấy lòng ray rứt lắm. Hơn ai hết, anh biết rõ, bác sĩ phải khó khăn vất vả như thế nào mới có thể cứu chữa được một số lượng bệnh nhân như thế. Những con bệnh đã lên cơn đột ngột, cũng như con ma đột nhiên xuất hiện không đúng lệ thường đã làm mọi việc rối tung lên. Đầu tiên là việc phòng thủ. Kế đến là số lượng máu dự phòng. Phải đến mười hai ngày nữa thì số lượng máu đăng ký ở trung tâm huyết học mới được điều về. Trong lúc cấp bách này, lấy đâu số lượng máu cần thiết để tiếp đủ cho hơn một trăm sáu mươi con bệnh. Đành nhìn họ chìm dần vào cái chết ư? Không kịp đưa họ lên tuyến trên. Đoạn đường xa quá... nhìn những thân nhân của những con bệnh tối sầm đi, lòng Kỳ Phương đau nhói. - Có cách giải quyết rồi... Giữa bốn bề im lặng, giọng bác sĩ bỗng vang lên mừng rỡ. Ồ!... Mắt Kỳ Phương sáng bừng lên. Không cần ông lặp lại đến hai lần, những người dân làng đồng loạt xắn cao tay áo. Tự nguyện hiến dòng máu đỏ của mình cứu sống đồng loại. Cảm động thay, cao quý thay lòng nhân đạo. Cùng bác sĩ cắm kim vào tĩnh mạch những con người vốn còm nhom, gầy yếu vì cuộc sống khó khăn, mắt Kỳ Phương bỗng cay xè. Cùng với họ, anh cũng bằng lòng hiến một phần máu đỏ. - Ba à, cho con hiến máu với. Nguyệt Cầm cũng xắn cao tay áo. Nhưng... bác sĩ đã lắc đầu: - Không được. - Sao thế? - Nguyệt Cầm níu áo cha nài nỉ. - Ba đừng thương con quá! Cho con hiến máu cứu người với. Kẻo mọi người lại nghĩ ba vị thân, vị kỷ bây giờ... Mặc cho con gái nài nỉ, bác sĩ vẫn cứng lòng. Ông có quyền làm thế, dân làng không trách. Nhưng... Kỳ Phương lại không nghĩ thế. Ông không bao giờ vị thân vị kỷ. Không lấy máu Nguyệt Cầm... hẳn ông có một lý do chính đáng. - Kỳ Phương! Anh sao vậy? Nãy giờ ra đây thấy anh trầm ngâm chẳng nói lời nào! Giọng Nguyệt Cầm vang lên trong trẻo. Giật mình thoát khỏi cơn suy tưởng, Kỳ Phương quay người lại, dưới ánh trăng đêm, vẻ mặt lo lắng của Nguyệt Cầm hiện ra đẹp hơn bao giờ hết. Gương mặt này mà lại có thể xấu xa kinh khiếp như con ma trong tấm ảnh hôm nào ư? Thật là một lời phỉ báng, một sự xúc phạm không thể nào tha thứ được. Tự nhiên nghe giận sôi, Kỳ Phương nghiến răng mắng lớn: - Đồ vu khống, khốn kiếp... - Sao anh mắng em? Thấy Kỳ Phương bỗng hét lên, Nguyệt Cầm sợ hãi, co rúm người lại. Kỳ Phương ôm lấy vai cô: - Đừng sợ, anh không phải mắng em. Đôi mắt cô gái hoang mang mở lớn: - Thế anh mắng ai? - Một thằng khốn kiếp. - Trong cơn tức giận, Kỳ Phương không thể kiềm lại. - Hắn dám bảo em chính là con ma hút máu. - Em ư? Em là ma ư? - Quá đỗi kinh hoàng, Nguyệt Cầm run rẩy lùi về sau một bước. - Thế anh có tin không? - Nếu tin anh làm sao dám cùng em đi dạo. - Kỳ Phương bật cười lớn. Rồi sẵn trớn, Nguyệt Cầm đùa luôn: - Bộ anh không sợ em hút máu của mình sao? - Thật không thể tưởng tượng! Những lời nói của Kỳ Phương sao mà khủng khiếp. Nguyệt Cầm bỗng nghe cơ thể cồn cào một cảm giác lạ lùng. Danh từ "hút máu" sao như kích động, cơ thể nóng bừng, cổ họng cháy khô khiến Nguyệt Cầm chỉ muốn uống ngay một thứ gì đó. - Anh nói chơi bộ làm em giận hả? Giây lâu, không nghe Nguyệt Cầm lên tiếng, ngỡ cô giận thật Kỳ Phương quay sang xin lỗi. Nhưng chưa kịp quay đầu lại thì anh đã thấy một bàn tay móng vuốt đầy lông lá níu chặt cổ mình. Sợ hãi nhưng bằng một bản năng sinh tồn, Kỳ Phương vùng mạnh người ra rồi sững người chết lặng. Điều vô lý hoang đường nhất đang hiện ra trước mặt anh. Nguyệt Cầm, người con gái ngây thơ xinh đẹp nhất đời, dần lột xác trở thành một con ma kinh khủng nhất. Bất ngờ lẫn bàng hoàng khiến máu trong người Kỳ Phương như đông đặc lại. Ngẩng người ra như pho tượng đá, anh quên cả việc vùng chạy thoát thân. Đến khi con ma nhào lên chụp lấy mình, anh mới hoàn hồn chợt tỉnh. Không còn đường để chạy nữa rồi. Trong cơn bối rối, Kỳ Phương chợt nhớ đến lần thoát nạn của mình kỳ trước. Chiếc máy ảnh, con ma rất sợ thứ ánh sáng lóe lên bất ngờ. Lần tay xuống lưng tìm chiếc đèn pin Kỳ Phương bất thần rọi thẳng vào mặt con ma. Ánh sáng đã làm con ma hoảng sợ mất một giây, đủ để Kỳ Phương chụp nhanh hòn đá dưới chân mình đập mạnh vào đầu nó. Cú đập vừa đủ mạnh làm cho con ma ngất xỉu. Thoát nạn, Kỳ Phương nhảy ào qua con mương trước mặt. Được mấy bước, Kỳ Phương bỗng dừng chân quay lại. Anh không thể bỏ mặt con ma, cũng không thể tri hô với mọi người vì đó là Nguyệt Cầm. Dù sao giữa anh và cô cũng có với nhau những điều tốt đẹp. Trước khi làm sáng tỏ chuyện này, anh biết mình phải giữ cho cô bí mật hôm nay. Nghĩ xong, anh cúi xuống bế bổng cô lên. Nương theo ánh trăng đêm, băng qua con đường tắt. Kỳ Phương trở về ngôi biệt thự một cách âm thầm. *** Truyền song bịch máu cuối cùng cho nạn nhân cũng quá nửa đêm. Cái bụng đói nhừ, lại thêm phần máu bị lấy ra làm cho ông xây xẩm mặt mày. Bước đến mâm cơm, ăn vội một chén cầm lòng, không kịp xỉa răng, uống nước, ông lại biến vào phòng làm việc.Thời gian không còn nhiều nữa đâu, ông biết mình bây giờ phải tranh thủ từng giây một. Tên Tony Hải đã bắt đầu hành động. Dù hắn không nói, nhưng ông biết. Sự việc hôm nay đã là một lời cảnh báo đối với ông. Lấy một mẫu máu đưa vào kính hiển vi, ông bỗng giật nẩy người lên sợ hãi. Mảnh kính rơi khỏi tay xuống đất vỡ toang. Có mảnh ghim vào trúng chân đau điếng, ông vẫn thừ người bất động. Chung cuộc, sắp kết thúc rồi ư? Ngồi thừ xuống ghế, ông nghe mồ hôi tuôn ròng trên thái dương mình. Dù hơn ai hết, ông là người biết rõ cái kết quả này. Nhưng... không ngờ... ông thật không ngờ mọi việc lại diễn ra nhanh đến thế. Reng reng reng... Tiếng chuông cửa chợt dồn dập. Giương đôi mắt thất thần nhìn vào đám ống nghiệm, ông không buồn đứng dậy. Tiếng chuông cửa kiên nhẫn vang lên, vang lên từng hồi thúc giục. Buộc lòng, ông phải đứng lên, chậm rãi bước ra cửa: - Bác sĩ, Nguyệt Cầm...cô.... Cánh cửa vừa hé mở, Kỳ Phương xộc ngay vào. Phải bế Nguyệt Cầm suốt quãng đường dài, anh mệt quá, nói không ra hơi nữa. Vừa nhìn thấy Nguyệt Cầm nửa người nửa ma, đầu lông lá, sắc mặt ông tái nhợt đi. Không nói một lời, giằng lấy Nguyệt Cầm khỏi tay Kỳ Phương, ông bế vội cô vào phòng làm việc. - Cô ấy đang cùng tôi đi dạo... không hiểu sao... Bước theo ông, Kỳ Phương vụng về giải thích. Anh không biết mình đáng khen hay đáng trách trước khám phá khủng khiếp này. Không để ý đến Kỳ Phương, nét mặt ông đầy căng thẳng, hơi thở của Nguyệt Cầm đã yếu lắm rồi. Số lượng hồng cầu trong cô thiếu hụt đến mức không đủ vận chuyển ôxy cho cô nữa. - Máu! Ông nhìn quanh phòng rồi thở dài tuyệt vọng. Tất cả số máu tìm được đã truyền hết cho bệnh nhân. Chỉ còn một cách duy nhất nữa thôi. Quay sang nhìn Kỳ phương một cái, ông quyết định. - Kỳ Phương, cậu lập tức lấy giùm tôi một đơn vị máu. - Vâng... - Cầm lấy ống kim, chợt nhớ ông vừa mới cho máu xong, Kỳ Phương dừng tay lại. - Không được. Ông vừa lấy một lần, nếu lấy nữa, e nguy đến tính mạng. - Nhưng... Nguyệt Cầm không thể chết! Cậu lập tức làm theo lời của tôi đi. - Giọng ông vẫn lạnh lùng ra lệnh. - Không. - Kỳ Phương vẫn cương quyết lắc đầu. - Dù không biết chuyện gì nhưng tôi biết bác sĩ không thể chết vào giờ phút quan trọng này. Nếu cần máu để cứu Nguyệt Cầm, ông hãy lấy máu của tôi. - Nhưng cậu có khác gì tôi đâu, cũng mới vừa cho máu. - Ông thở dài buồn bã. Lời Kỳ Phương nói đúng. Ông không thể chết, không thể bỏ dở công việc của ông lúc này. Càng không thể lặng yên bó tay nhìn Nguyệt Cầm đi vào cõi chết. - Tôi sẽ đi tìm người hiến máu. - Kỳ Phương bỗng nảy ra một ý. Ông chậm rãi lắc đầu: - Không kịp đâu... nếu không có máu, Nguyệt Cầm sẽ chết trong vòng ba phút nữa. Lời từ miệng ông nói ra, Kỳ Phương không có lý do gì để nghi ngờ. Lặng lẽ quay người lại, nhìn Nguyệt Cầm thiêm thiếp giữa cơn mê, lòng anh như thắt lại. Dù bây giờ... đã biết cô chính là con ma mà mình từng quyết tâm tiêu diệt, Kỳ Phương vẫn không đành lòng nhìn cô đi vào cái chết. Bên tai, tiếng ông khóc nấc lên đau khổ: - Là tại tôi, tất cả là tại tôi... tại sao ông trời lại bắt Nguyệt Cầm phải chịu. Nó ngây thơ, vô tội chẳng biết gì... - Bác sĩ... những ống máu kia... Chợt nhìn thấy những ống nghiệm chứa đầy máu đỏ trên bàn làm việc, Kỳ Phương kêu lên mừng rỡ: - Ông có thể lấy máu đó truyền tạm cho Nguyệt Cầm không? - Hả? - Ông ngẩng ngay đầu dậy, ngập ngừng. Những ống máu này... không phải của Nguyệt Cầm. Ông vừa lấy từ người của những bệnh nhân để phân tích. Nó hãy còn mới lắm chưa kịp đông đặc lại. Liệu... có dùng được không...? Được hay không thì... ông cũng phải thử thôi. May ra... tâm trí như bừng sáng, ông quay bảo Kỳ Phương: - Cậu mau bơm hết những ống máu vào kim tiêm cho tôi. - Ông định truyền máu trực tiếp cho Nguyệt Cầm bằng kim ư? - Kỳ Phương e dè trước cách truyền máu quá mạo hiểm của ông. - Không còn thời gian nữa, đành phải liều thôi. - Vừa nói, ông vừa cắm phập ống tiêm vào tay Nguyệt Cầm. Một cách chính xác, không dám chậm trễ, Kỳ Phương vội làm theo lời ông, hút hết những ống máu vào kim tiêm và trao nó cho ông. Chưa đầy nửa tiếng, ông và anh đã bơm hết hai mươi ống máu vào người Nguyệt Cầm. - Thế nào... có khả quan chút nào không? - Nhìn ông rút kim khỏi tay Nguyệt Cầm, Kỳ Phương hồi hộp hỏi. Không trả lời anh, ông nhẹ nhàng cầm tay con lên tìm mạch, thời khắc trôi thật chậm chạp. - Sống rồi. Thành công rồi! Ba phút trôi qua, giữa lúc Kỳ Phương có cảm giác không còn gì để chờ đợi nữa thì... ông bỗng hét to lên mừng rỡ. - Sống rồi ư? - Như chưa tin, Kỳ Phương hỏi lại ông. - Sống rồi.... - Ông ôm chầm Kỳ Phương vào lòng, bật lên tiếng khóc lớn. Nguyệt Cầm đã sống rồi... Kỳ Phương... chính cậu là ân nhân của nó. Tôi thật không biết nói gì... Cảm ơn cậu... cảm ơn... - Đừng nói như thế! - Kỳ Phương nghe mắt cay xè. - Tôi cũng tình cờ nghĩ ra thôi. Ông... bác sĩ... ông nhìn kìa... Bỏ ngang câu nói giữa chừng, Kỳ Phương hướng mắt về chiếc giường Nguyệt Cầm đang nằm. Có một sự đổi thay kỳ diệu mà không tận mắt chứng kiến, sẽ không thể nào tin nổi. Từ một con ma đầy lông lá, Nguyệt Cầm dần trở lại hình dáng cũ của mình. Đẹp, hồn nhiên như một thiên thần. Quay đầu nhìn con một lần nữa ông lại trào nước mắt. Rồi bàn tay thành kính chấp lên giữa ngực, ông nói trong tiếng nấc nghẹn ngào: - Cảm ơn trời... Có rất nhiều câu hỏi quay tròn trong trí óc Kỳ Phương. Hơn bao giờ hết, anh muốn hỏi ông cho ra lẽ, rằng tại sao lại thế, có thuốc nào chữa được bệnh của Nguyệt Cầm không? Nhưng trước nỗi xúc động của người cha, anh lại thấy mình không thể mở lời. Lịch sự, Kỳ Phương gật đầu chào: - Xin phép bác sĩ, tôi về. - Cậu về ư? - Ông ngẩng đầu lên, tỏ vẻ ngạc nhiên. - Cậu không muốn nghe tôi kể chuyện này sao? - Tôi rất muốn, nhưng... - Kỳ Phương mỉm cười, dối lòng. - Trông ông mệt mỏi quá... nên, hẹn một ngày gần đây vậy! - Không... không hẹn được. - Lắc đầu, ông cất giọng trầm buồn. - Cậu hãy ngồi xuống ghế. Tôi sẽ kể. Ngay đêm nay hoặc không bao giờ nữa. Vẻ mặt ông đầy nghiêm trọng, Kỳ Phương không dám cãi lời. Ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh giường Nguyệt Cầm, anh lắng tai nghe từng lời ông kể. Câu chuyện bắt đầu từ hai mươi năm về trước, khi ông chưa thay tên đổi họ, khi ông vừa hoàn thành học hàm thạc sĩ hạng ưu. Và tuy tuổi đời còn rất trẻ, ông đã làm cho giới khoa học ngạc nhiên với công trình nghiên cứu của mình "Gen di truyền học". Quyển sách của ông được viện hàn lâm chú ý. Họp bàn nhau, họ quyết định tặng ông danh hiệu tiến sĩ. Không chỉ thế... họ còn muốn mời ông về viện hàn lâm cùng cộng sự... Phần IV Cầm tờ giấy nơi tay, Hữu Bằng hết đứng lại ngồi. Anh không biết dùng từ gì để diễn tả hết tâm trạng vui mừng của mình vào lúc này. Trở thành giáo sư trong viện hàn lâm. Anh... có nằm mơ cũng không bao giờ dám mơ đến một điều tuyệt vời hơn thế. Xuất thân từ một gia đình lao động nghèo, đông anh em, Hữu Bằng là đứa con duy nhất được cha mẹ cho học đến nơi đến chốn. Không phải anh ích kỷ. Nhiều lúc, nhìn cha mẹ vất vả, tần tảo kiếm miếng ăn. Anh chị em của mình lem luốc tìm kế mưu sinh, Hữu Bằng cũng thấy xót xa, đau lòng lắm. Rất nhiều lần, anh đòi bỏ học ngang để phụ giúp cha mẹ. Nhưng... mọi người, từ cha mẹ đến các anh chị em của anh đều không đồng ý. Họ bảo: - Gia đình ta dốt nát, nghèo khổ chịu sự khinh khi, rẻ rúng của người đời bấy lâu nay. Giờ chỉ còn trông mong vào một mình anh. Nếu muốn trả ơn, anh hãy cố gắng học cho thật giỏi, đỗ thật cao, làm rạng rỡ dòng họ. Đổi đời hay không giờ chỉ còn hy vọng vào mỗi mình Hữu Bằng thôi. Những lời nói đó đã động viên Hữu Bằng rất nhiều. Trong suốt cuộc đời học sinh của mình, anh luôn luôn là người đứng đầu danh sách dù điều kiện học luôn thiếu thốn, thua sút mọi người. Giành được bằng tiến sĩ. Hữu Bằng đã làm được điều mình hứa cùng cha mẹ và anh chị. Hôm qua, Hữu Bằng đã đem mười triệu đồng, số tiền thưởng từ công trình nghiên cứu của mình về cho cha mẹ. Họ không nhận, bảo tất cả là của anh. Nhưng Hữu Bằng chỉ xin nhận lại một triệu đồng tặng vợ. Còn bao nhiêu xin cha mẹ hãy giữ lấy và chia cho các anh chị của mình. Thấy Hữu Bàng sống có nghĩa có tình, cha mẹ vui lòng lắm. Họ nhận bốn triệu, còn bao nhiêu chia đều cho các đứa con khác. Thời gian trôi, các anh chị Hữu Bằng bây giờ đã lớn, đều có gia đình riêng. Cuộc sống vất vả, bôn ba như ngày trước. Nhưng... không giống với các gia đình khác. Gia đình của Hữu Bằng là một khối đoàn kết, thương yêu khăng khít, quan tâm lẫn nhau như hãy còn ở chung dưới một mái nhà đầm ấm ngày xưa. Những chăm sóc, cưu mang của mọi người dành cho anh khi mình còn đi học, Hữu Bằng ghi nhớ mãi, anh nhất định sẽ đền đáp khi có dịp và anh cũng tin rằng Hương Huyền ủng hộ anh. Hương Huyền, là cô vợ mới cưới được một năm của Hữu Bằng. Cô đẹp người, đẹp nết, từng nổi danh là hoa khôi trường đại học Y. Nhưng không phải vì thế mà Hữu Bằng đã cưới cô khi tuổi đời còn quá trẻ, trong tay chưa có sự nghiệp. Từ ngày còn ngồi ở trường đại học, Hữu Bằng vẫn tự nhủ lòng mình rằng, chỉ lập gia đình khi thực hiện xong tâm nguyện. Tâm nguyện của anh là báo đáp nghĩa sanh thành cho cha mẹ. Đền trả công ơn của anh chị đã lo lắng cho anh ăn học thành tài. Và nhất là anh phải tự tạo cho mình một sự nghiệp vững chắc. Vậy mà... chưa rời ghế nhà trường, Hữu Bằng đã vội vàng cưới vợ. Anh không hề có ý định cũng không quen biết Hương Huyền. Tất cả đều là sự sắp đặt của thầy chủ nhiệm. Thương cậu học trò nghèo hiền lành, chăm làm, hiếu học lại hết mực thương mình, ông đã mở lời tự nguyện đứng ra lo cho tất cả. Trước sự yêu mến, nhiệt tình của ông, Hữu Bằng không thể từ chối. Đám cưới của anh được tổ chức đơn giản nhưng thật vui dưới sự chứng kiến của toàn thể giáo sư, sinh viên trường đại học Y khoa. Trong những tiếng trầm trồ, ngưỡng mộ, Hữu Bằng biết cũng không ít tiếng thở dài, tiếc rẻ của các chàng trai một thời đeo đuổi Hương Huyền. Mình quả may mắn! Mỉm một nụ cười Hữu Bằng hướng mắt ra cửa trông chờ. Hương Huyền đi chợ vẫn chưa về. Cô không biết anh đã hạnh phúc và tự hào thế nào về mình. Cũng như tấm bằng tiến sĩ, Hương Huyền là giấc mơ đẹp nhất cuộc đời anh. - Xin lỗi, anh có phải là Hữu Bằng, người vừa đạt danh hiệu tiến sĩ? Một giọng nam trầm chợt cắt ngang dòng suy nghĩ của Hữu Bằng. Giật mình ngẩng đầu lên. Nhận ra trước mắt mình là một thanh niên ăn mặc bảnh bao, lịch sự, Hữu Bằng đứng hẳn lên khỏi ghế. - Vâng ạ! Chính tôi là Hữu Bằng! - May quá! - Người mới đến cười vui vẻ. - Tôi đến gặp anh đây. - Vâng! - Hữu Bằng gật đầu hoang mang. - Mời anh ngồi ghế.. - Cứ để tôi tự nhiên. - Ngồi xuống chiếc ghế đẩu tạp thường, người thanh niên đưa mắt nhìn quanh căn nhà lá nhỏ của Hữu Bằng. - Nhà của anh đây à? - Vâng - Cảm thấy khó chịu trước cái nhìn soi mói của người khách không quen, Hữu Bằng vào thẳng vấn đề: - Xin lỗi... anh đến gặp tôi có chuyện gì? - Chậm đã! - Nhếch nụ cười khó hiểu, anh ta lấy từ trong túi ra một gói thuốc thượng hạng. Đưa ra trước mặt Hữu Bằng, anh ta mời. - Dùng một điếu đi. - Cám ơn! - Hữu Bằng nhẹ đẩy tay - Tôi không biết hút thuốc. - Thật đáng tiếc! - Cho gói thuốc vào túi, anh ta bắt đầu giới thiệu. - Tôi là Tony Hải... Anh ta là người lai. Bây giờ Hữu Bằng mới để ý đến chiếc mũi cao, đôi mắt xanh và mái tóc hoe hoe không thuần Việt Nam. - Giám đốc nghiên cứu sinh học, tôi đến đây để mời anh cùng cộng tác. Viện nghiên cứu sinh học! Hữu Bằng có nghe danh. Đây là một viện nghiên cứu của người nước ngoài. Có không ít lời đồn đại về nơi này. Tất cả các nhà khoa học chân chính đều không có cảm tình với nó. Nhưng... vì sao... Hữu Bằng chưa biết rõ. - Cảm ơn ông đã có lời mời! - Mỉm cười nhã nhặn, Hữu Bằng tìm lời từ chối. - Cách đây một tiếng tôi đã nhận lời mời vào làm cộng sự trong viện hàn lâm. - Cộng sự với viện hàn lâm ư? - Tony Hải bỗng bật cười lớn. - Anh hãy mau rút lại quyết định của mình. Đó là một quyết định sai lầm đấy. - Sai lầm ư? - Đôi lông mày Hữu Bằng chau lại. - Vì sao thế? - Vì... đó không phải là nơi mà anh có thể phát huy hết năng lực của mình. - Tony Hải nghiêm nét mặt. - Viện hàn lâm chỉ là một nơi cho các lão già cổ lỗ sĩ nghiên cứu những thứ chán phèo vô dụng thôi. - Những giáo sư già giàu kinh nghiệm không phải là những người già cổ lỗ sĩ. - Hữu Bằng cảm thấy bất bình trước cách ăn nói của Tony Hải. - Và những công trình nghiên cứu của họ không phải là những thứ chán phèo, vô dụng. Nó thật sự hữu ích cho cuộc sống. - Có thể! - Tony Hải không nao núng. - Nó hữu ích cho cuộc sống nhưng không hữu ích cho bản thân anh. Với tiền lương một triệu đồng một tháng thì liệu đến bao giờ anh mới có thể tròn tâm nguyện của mình. - Anh nói gì? - Hữu Bằng giật thót người. Trân trối nhìn gã đàn ông ngồi trước mặt, anh không biết gã là ai, sao có thể hiểu được tâm sự của anh như thế. - Phải... tâm nguyện của bố anh. - Tony Hải lại mỉm cười một nụ cười thấu hiểu. - Sẽ nhanh chóng được thực hiện nếu như anh chấp nhận lời mời cộng tác với viện nghiên cứu sinh học của tôi. Với mức lương khởi đầu mười triệu đồng một tháng... anh có cảm thấy mình cần suy nghĩ lại cái quyết định trước đây của mình không? - Mười triệu đồng một tháng ư? - Tai Hữu Bằng như ù đi trước sức hấp dẫn của đồng lương vượt quá sức tưởng tượng. - Đúng vậy! - Gật đầu, Tony Hải đưa ra một miếng mồi câu nữa. - Và số tiền đó còn tăng đến mức bất ngờ nếu anh có khả năng tốt. Ngoài ra, anh sẽ còn được làm việc trong một môi trường hiện đại và đầy đủ phương tiện. Công trình nghiên cứu gen... đề tài anh yêu thích được chúng tôi quan tâm hàng đầu. Anh đồng ý cộng tác với chúng tôi chứ? Những ý nghĩ quay cuồng làm rối tung đầu óc Hữu Bằng. Cơ hội trước mắt quá lớn lao. Liệu anh có nên từ chối viện hàn lâm... niềm mơ ước một đời hay cái viện nghiên cứu sinh học gì đó... với tâm nguyện báo đền cha mẹ. - Đừng đắn đo suy nghĩ nữa, chứng bệnh ung thư phổi của ba anh không chờ đợi được lâu đâu. - Anh nói gì? - Hữu Bàng ngẩng nhanh đầu dậy. - Ba tôi bị ung thư phổi à? Sao ông không nói gì cho tôi biết? - Ông già giấu anh thôi. - Rút từ trong cặp ra một xấp hồ sơ được photo, Tony Hải ném mạnh xuống bàn, trước mặt Hữu Bằng. - Là bác sĩ, anh hẳn biết đọc các xét nghiệm. Cầm lấy tờ xét nghiệm, mắt Hữu Bằng vụt tối sầm đi! Đúng là kết quả xét nghiệm của ba rồi, ông đã bị ung thư phổi từ lâu lắm. Vậy mà... vẫn âm thầm một mình cam chịu, giấu vợ giấu con. - Tôi chỉ nói vậy thôi, còn quyết định vẫn là của anh. Có đúng không? - Tony Hải vụt đứng lên khỏi ghế. - Hãy suy nghĩ kỹ rồi quyết định cũng chưa muộn. Danh thiếp của tôi đây, chào anh. Với tâm trạng một kẻ nắm chắc trong tay phần thắng, Tony Hải ngạo nghễ bước đi, bỏ mặc Hữu Bằng với tờ xét nghiệm trên tay. Giữa ơn nghĩa sinh thành và danh tiếng của bản thân mình, anh biết mình chỉ được quyền chọn một. *** Cuối cùng Hữu Bằng quyết định chọn nhận lời cộng tác với Tony Hải. Anh không thể bỏ mặc cha trong cơn bệnh ngặt nghèo đau đớn thể xác vô cùng. Hai tháng lương ứng trước đủ để vô hóa chất lần đầu hòng ngăn chặn chứng ung thư.Thật ra... cũng không có gì quá lắm. Hữu Bằng không cảm thấy quyết định của mình là một sự hy sinh như lời các anh chị truyền tụng. Với anh, viện hàn lâm hay viện nghiên cứu sinh học cũng giống nhau thôi. Tất cả đều vì con người mà sáng tạo. Thế nhưng... sự đời thường không đơn giản như Hữu Bằng lầm tưởng. Hai tháng làm việc ở viện nghiên cứu, bây giờ anh mới biết Tony Hải là người như thế nào, và mục đích của viện nghiên cứu sinh học nhằm phục vụ, cái tên viện nghiên cứu sinh học thật ra chỉ là một cái tên dùng để che mắt mọi người. Nó cũng không thuộc một quốc gia, một tổ chức nào trên thế giới. Nó là của Tony Hải. Và... nó được thành lập chỉ để phục vụ cho những ý đồ đen tối và vụ lợi riêng bản thân lợi dụng sự sơ hở của nhà chức trách, Tony Hải ngang nhiên thành lập một viện nghiên cứu sinh học. Với tôn chỉ nghiên cứu môi trường, chế tạo các loại phân bón vi sinh, hắn đã ung dung bỏ tiền ra mua chất xám của các nhà khoa học. Khi nào có thiên tài về phát minh sáng chế, hắn lập tức tìm đến dùng tiền và thủ đoạn để dụ dỗ về, Hữu Bằng là một thí dụ điển hình. Tony Hải đang nghiên cứu về vấn đề gì? Hữu Bằng không biết được. Anh chỉ biết hai tháng nay hắn giao cho anh nhiệm vụ phân tích thành phần một loại máu trông rất lạ. Tò mò... nhiều lần Hữu Bằng muốn dò hỏi bạn đồng nghiệp cạnh bên. Nhưng chẳng một ai chịu mở lời nói rõ. - Hữu Bằng, anh có điện thoại, giám đốc mời anh lên phòng làm việc gấp. Chiếc nút đỏ trên bàn bật cháy, giọng cô thư ký thanh thanh. Hữu Bằng giật mình ngẩng dậy. Lau nhanh tay vào chiếc khăn, anh bước đi vội vã. - Hữu Bàng... ngồi đi. - Vừa thấy anh, Tony Hải vội đứng lên, niềm nở. Chưa kịp hiểu chuyện gì, hắn đã lấy ra một phong thư lớn trao cho Hữu Bằng. - Cho anh đây. - Tiền ư? - Hữu Bằng hé vội phong bì rồi kêu lên ngơ ngác khi nhận ra đó là tiền. - Rất nhiều, dễ chừng có đến hơn năm mươi triệu. - Phải. - Gật đầu, Tony Hải lại tiếp tục lấy ra một phong bì khác. - Và cái này nữa, sẽ là của anh nếu anh chịu nhận lời hợp tác với tôi. Đôi mắt mở tròn, Hữu Bằng như không hiểu. Không phải anh đã nhận lời làm việc với hắn rồi sao? - Đó chỉ là bước khởi đầu. Tôi cần anh cộng tác ở một công việc cao siêu, vĩ đại hơn nhiều. - Như hiểu nỗi thắc mắc của Hữu Bằng, Tony Hải đứng lên đến ngồi cạnh anh cất giọng dỗ dành. - Một tài năng lớn như anh không thể phí phạm với những công việc phân tích đơn giản ấy. Hữu Bằng... có một tổ chức quốc tế muốn nhờ chúng ta chế tạo vũ khí sinh học cho họ. Tôi đã nhận lời và muốn anh cùng hợp tác. - Vũ khí sinh học ư? - Hữu Bằng thảng thốt. Xưa nay đã từng nghe vũ khí hạt nhân... anh chưa từng nghe đến loại vũ khí lạ lùng này bao giờ. Tony Hải vỗ vai anh thân mật: - Phải... một loại vũ khí khủng khiếp không cần đến nguyên tử. Nó không chỉ tiêu hao lực lượng đối phương mà còn làm cho tinh thần của họ bị suy sụp nữa. Hữu Bằng, ý tưởng này rất hay. Nếu thành công, tên tuổi của anh sẽ vang dội lẫy lừng và... dĩ nhiên số tiền anh có được trong vụ này sẽ là không tưởng nổi. Những ngón tay nắm chặt xấp tiền, Hữu Bằng nghe bối rối. Trong nhất thời anh không thể nào nghĩ được điều gì. Vũ khí sinh học? Điều đó đúng hay sai? Liệu rồi anh có phải hối hận trước quyết định của mình. Còn... từ chối thì cũng có nghĩa là anh không còn gì cả. Căn bệnh của ba càng lúc càng cần nhiều tiền hơn. Là một bác sĩ, nên không cần hỏi ai Hữu Bằng cũng biết sinh mệnh của cha lúc này như ngàn cân treo sợi tóc. Ông có thể chết bất cứ lúc nào, vậy mà anh chưa làm một điều gì báo hiếu. Hơn lúc nào hết, Hữu Bằng muốn sửa lại cho ba căn nhà tranh đang mục nát, để ông có thể cùng mẹ sống trong những ngày cuối đời, an nhàn thanh thản. Con của anh hai vừa đậu đại học, chồng chị ba cần một số tiền để gia cố thêm chuồng trại chăn nuôi... và bao nhiêu mối thâm tình đang cần anh giúp đỡ. Hương Huyền lại đang mang thai, cô không thể sống thiếu thốn sau khi sinh con cho anh được. Với những ý nghĩ bình thường về vật chất và những nhu cầu tình cảm của một con người mang nặng nợ gia đình, trong một phút, Hữu Bằng đã bước qua lý trí, bằng lòng nhận lời Tony Hải trong một tâm trạng vô cùng thụ động. Anh ngây thơ nghĩ rằng loại vũ khi sinh học của mình sẽ giúp loài người bớt cảnh thương vong đổ nát. Ý tưởng là của Tony Hải. Hắn muốn anh tạo ra một sinh vật biết hút máu người. Con vật đó không chỉ biết giết người mà còn tạo nên một ấn tượng ma quái nhằm lung lay tinh thần chiến đấu của đối phương. Chỉ là một con vật biết hút máu thôi ư? Hữu Bằng nghe mừng rơn trong dạ. Theo anh, một con vật như thế ít nguy hiểm hơn một viên đạn rất nhiều. Thế là anh lao mình vào nghiên cứu. Con vật mà anh chọn chính là loài dơi. Bằng cách tạo ra sự thiếu hụt chuỗi alpha trong cấu trúc Hemolobin anh khiến cho loài dơi kia lâm vào tình trạng thiếu hụt hồng cầu nghiêm trọng. Thêm vào biến đổi cấu trúc gien ở não bộ, con vật vốn hiền lành chỉ biết ăn hoa quả trở nên hung hãn khác thường. Sự việc được tiến hành thuận lợi. Hữu Bằng đã tính trước, với trọng lượng của mình, một con dơi chỉ hút được nửa đơn vị máu. Đủ làm đối phương khiếp sợ chứ không đủ sức giết chết một con người. Anh không lường trước được một sai lầm. Rằng đã có một loài vi khuẩn xuất hiện trong quá trình nghiên cứu của mình. Chính loài vi khuẩn này đã để lại những hậu quả khủng khiếp về sau. Vậy là xong, Hữu Bằng thở phào nhẹ nhõm. Chưa vội thông báo kết quả với Tony Hải, anh muốn khoe thành tựu này với Hương Huyền. Cô hẳn là tự hào nhiều về một anh chồng giỏi giang như thế. Số tiền năm mươi triệu đồng còn lại mà Tony Hải hứa đưa anh nhất định sẽ trích một phần cùng vợ đi du lịch. Tội nghiệp Hương Huyền, mang tiếng là vợ của một tiến sĩ mà chưa được cùng anh đi du lịch bao giờ. Từ lúc mang thai, anh đã mải lo nghiên cứu chẳng ngó ngàng gì chắc cô buồn và tủi thân nhiều lắm. - Hương Huyền ơi! Ra xem anh mang gì về cho em đây! Chiếc Toyota dừng lại, vừa bước chân vào nhà, Hữu Bằng đã cất giọng gọi to. Hạnh phúc nhìn thấy vợ ra mở cửa với nụ cười mừng rỡ trên môi. - Hữu Bằng, anh về sớm quá. Em vẫn chưa kịp làm cơm. - Bước từ từ thôi, kẻo té. - Đưa tay ôm lấy Hương Huyền, Hữu Bằng nghe lòng tràn ngập một tình yêu. Thai nghén mệt mỏi không lo, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chồng. Vừa gặp mặt đã lo cuống cuồng với bữa cơm còn đang làm chưa xong. - Hôm nay em có khỏe không? - Khỏe lắm! - Tựa đầu vào vai Hữu Bằng, cùng anh bước vào nhà, Hương Huyền rối rít khoe. - Anh biết không, hôm nay con đạp những ba lần đó. - Thật sao? - Đặt tay lên chiếc bụng đã nhô cao của vợ, Hữu Bằng mắng yêu con - Con gái, sao mà nghịch quá. Con làm đau mẹ nữa là ba đánh đòn con đó. - Em không cho anh đánh đòn con đâu. - Chưa gì Hương Huyền đã binh con, cứ như anh là một người cha hung dữ lắm. Hữu Bằng bật cười nhìn vợ đưa tay ôm lấy bụng như bảo vệ con. - Ấy chết. - Hương Huyền bỗng chồm nhanh người dậy. - Nồi cơm... để em xuống xem. - Cứ bỏ mặc nó đi. - Hữu Bằng kéo tay Hương Huyền lại. - Hôm nay vợ chồng mình đi ăn tiệm. - Sao mà anh sang thế? - Ngồi xuống lòng anh, Hương Huyền nhẹ lắc đầu từ chối. - Đừng đi anh à! Ăn tiệm mắc lắm. Hãy để dành lo tương lai cho con. - Đấy! Lại như vậy nữa rồi. - Hữu Bằng nhăn nhó. - Em lúc nào cũng dè xẻn, trùm sò như bà cụ vậy. Đừng lo... anh đã có tiền nhiều lắm rồi đây. Nói xong, để chứng minh, Hữu Bằng lấy từ trong túi ra một xấp tiền dày cộm. Hương Huyền trông thấy không vui, còn lộ nét hoang mang, lo sợ: - Tiền ở đâu nhiều thế? Anh làm điều gì bất chính phải không? Trời ơi, em nói với anh rồi... Nghèo bao nhiêu em cũng chịu được mà... anh phải giữ lấy thanh danh. Cao quý thay tấm lòng người vợ lúc nào cũng chỉ nghĩ đến chồng. Hữu Bằng nghe lòng ngập đầy niềm xúc động. Nhẹ hôn lên mái tóc Hương Huyền, anh trầm giọng: - Em đừng lo. Anh không bao giờ làm chuyện phi pháp hay phải mất thanh danh. Đây là số tiền thưởng cho công trình nghiên cứu của anh thôi. - Thật à? - Đôi mắt người vợ long lanh sáng. - Anh đã nghiên cứu được công trình gì sao không nói cho em biết với. - Anh muốn tặng em một bất ngờ thôi. Vui vẻ chồm người lên chiếc lồng, Hữu Bằng nhẹ tháo tấm phủ bên ngoài, Hương Huyền vội kêu lên ngơ ngác: - Là một con dơi ư? - Phải... là một con dơi. - Hào hứng, Hữu Bằng kể cho Hương Huyền nghe kế hoạch của mình với Tony Hải. Những tưởng khi nghe xong, cô sẽ mừng rỡ khen anh tài giỏi rồi tặng cho anh một nụ hôn thưởng công. Nào ngờ... sắc mặt Hương Huyền cứ tái dần đi theo câu chuyện kể. Cuối cùng, như quá đỗi bàng hoàng... cô chỉ thốt được một câu: - Khủng khiếp, thật là khủng khiếp quá! - Không có gì khủng khiếp đâu. - Ôm vai Hương Huyền, Hữu Bằng mong một sự đồng tình. - Anh đã nghĩ kỹ lắm rồi. So với những hậu quả khủng khiếp của vũ khí. Con dơi của anh... chẳng là gì cả. Em xem, nó chỉ có thể dọa được tinh thần đối phương chứ không giết người. - Đành rằng thế... nhưng... - Hương Huyền nhẹ ôm lấy chồng. - Là một bác sĩ, một nhà khoa học. Nhiệm vụ của anh là cứu người, là nghiên cứu phát minh ra những thứ có ích cho cuộc sống. Anh không thể vì tiền mà phát minh ra cái điều trái tự nhiên như thế. Anh đã nghĩ đến hậu quả của việc mình làm chưa? Một mai, khi những con dơi khát máu, hung hăng này được nhân thành diện rộng. Khi chúng ta không kiểm soát được chúng...chuyện gì sẽ xảy ra? Nỗi kinh hoàng không còn là của riêng phe đối lập, nó sẽ đe dọa đến cuộc sống của những người dân lương thiện. - Chuyện không thể đến nỗi ghê rợn như em nghĩ. - Hữu Bằng nhẹ vuốt tóc Hương Huyền. Trong phút chốc, anh đã thấy hối hận vì đã đem câu chuyện rùng rợn này ám ảnh cô. - Nhưng để mọi chuyện không xảy ra như em nói, anh sẽ suy nghĩ, nghiên cứu tìm xem có cách nào khiến lũ dơi kia sẽ phải tự hủy trong một thời gian ngắn. - Dù anh có nói gì, em cũng không đồng ý với hành động của anh. - Hương Huyền vẫn lắc đầu. - Anh có biết, làm như vậy là hủy hoại môi trường, là tàn nhẫn lắm! Rồi đây loài dơi sẽ vì anh mà tuyệt chủng trên thế gian này... Không... anh phải hủy bỏ phát minh này. Hữu Bằng vì đứa con trong bụng, em tha thiết yêu cầu anh dừng công bố nó. Hủy hoại môi trường? Diệt sạch loài dơi trên hành tinh? Điều đó... lẽ nào Hữu Bằng không biết. Một khi anh biến đổi gen làm cho loài dơi phải tự hủy trong một thời gian ngắn, thì cũng có nghĩa là anh đã rút ngắn thời gian sống của một thế hệ dơi nối tiếp. Gen di truyền học... Điều đó anh có lạ lùng gì? Nhưng... hủy bỏ phát minh... Hữu Bằng biết mình không thể nào làm được, vì số tiền Tony Hải trao cho đã tiêu xài gần hết và... chút kiêu ngạo của bản thân nữa. Một khi phát minh này được công khai. Tên tuổi của anh nhất định sẽ lẫy lừng vang dội. Mọi người sẽ phải khâm phục xem anh như một vị thánh đã tìm ra cách giải thoát cho loài người, vũ khí sinh học thay cho vũ khí hạt nhân... Điều này thật vĩ đại, phi thường. Sao Hương Huyền lại nhìn sự việc này ở một góc độ tiêu cực quá! Với suy nghĩ, niềm tin mình đã lập nhiều công hơn tội, Hữu Bằng kiên quyết không nghe lời vợ, mặc cho cô giận dỗi bỏ vào phòng nằm khóc, bữa cơm chiều hôm đó, đã không diễn ra như Hữu Bằng mong đợi. Rồi Hương Huyền sẽ hiểu mình thôi. Hữu Bằng tự an ủi. Nhìn cô nằm quay lưng lại với mình, anh không buồn, không giận chút nào mà lại càng cảm thấy yêu cô nhiều hơn nữa. Bởi một tâm hồn nhân hậu, mềm yếu như Hương Huyền sẽ không bao giờ chấp nhận cho chồng phát minh ra một thứ vũ khí hại người như thế. Cuộc sống thôi! Hữu Bằng chỉ muốn nói với cô như vậy. Anh không thể cưỡng lại quy luật của cuộc sống vật chất. Phát minh này tuy độc ác, nhưng nó đã giúp anh làm tròn số phận của một con người với gia đình. Ba mẹ của anh giờ đây đã có thể yên nghỉ trong một căn nhà ấm cúng giữa trời mưa bão. Các anh chị em cũng đều tạm ổn về kinh tế với những phương tiện được anh giúp đỡ cho. Hương Huyền... chỉ một lần này thôi... anh hứa đó em... An tâm với lời tự hứa của mình, Hữu Bằng ngủ quên lúc nào không biết... Ầm...xoảng... Anh ngủ rất lâu, rất say và chỉ tỉnh lại với một tiếng động vang lên thật lớn từ nhà bếp. Hương Huyền... nghĩ cô vấp té, làm Hữu Bằng sợ điếng hồn. Nhanh như chớp, anh phóng vội ra sau rồi đứng yên bất động. Trước mắt anh là một cảnh tượng quá hãi hùng. Hương Huyền đang dùng hết sức bình sinh gỡ con dơi ra khỏi cổ mình nhưng không được. Hai hàm răng của nó đã cắm sâu vào làn cổ trắng ngần, một dòng máu đỏ ngọt lành đang chạy vào bụng nó. - Ồ không! - Hữu Bằng kêu lên sợ hãi. Anh chạy vội đến bên Hương Huyền tiếp cứu. Nhưng cũng như cô, anh không làm gì được. Để không tổn hại đến vợ, anh đành phải đứng yên chờ cho con vật hút đến no bụng máu. - Khốn kiếp! - Một tay đỡ lấy Hương Huyền, Hữu Bằng dùng cánh tay còn lại đập mạnh con dơi xuống đất, con vật bị đập trúng đầu giãy chết liền ngay lập tức. Như chưa hả cơn giận, Hữu Bằng còn dùng chân đá mạnh vào bức tường trước mặt. - Hương Huyền... - Thanh toán xong con vật, Hữu Bằng quay sang nhìn vợ. Vì quá khiếp đảm, cô đã ngất đi! Nhẹ đặt Hương Huyền nằm trên giường, nhìn cô xanh xao trong cơn mê, cổ bị hằn sâu vết răng dơi, Hữu Bằng ân hận quá. Anh không ngờ nạn nhân đầu tiên của phát minh này lại là người vợ yêu quý của anh. - Ui da... - Tiếng Hương Huyền rên khẽ. Hữu Bằng mừng rỡ nắm lấy tay cô: - Hương Huyền ơi! Em tỉnh rồi sao? - Con dơi đâu rồi... - Tâm trí vừa tỉnh lại, Hương Huyền lập tức nhớ đến con vật đã tấn công mình. - Anh đã đập nó chết rồi... Nhưng nó làm sao mà tấn công em được. Anh đã nhốt nó rất kỹ. - Hữu Bằng đỡ cô dậy. - Tại em bắt nó. - Đưa mắt nhìn xác con dơi bết máu dưới chân tường, Hương Huyền hạ giọng. - Bắt nó? - Hữu Bằng lạ lẫm. - Tự nhiên em bắt nó làm gì? - Em muốn giết nó đi. - Giọng Hương Huyền như muốn khóc. - Dù em biết làm như vậy anh sẽ không vừa ý. Nhưng em thà bị anh giận chứ không thể để anh phát minh ra loại sinh vật khủng khiếp này. - Em ngây thơ quá! - Nhẹ vuốt tóc Hương Huyền, Hữu Bằng cười trìu mến. Anh không giận em cũng như em không thể hủy phát minh của anh khi chỉ giết con dơi ấy. Với công trình trong tay, anh vẫn còn có thể tạo ra những con dơi khác kia mà... - Em đúng là ngây thơ thật. Áp mặt vào tay chồng, Hương Huyền cười như con nít. - Chẳng những không cản được anh mà còn bị con dơi tấn công ngược lại. Ôi! Nó thật là hung hãn. Em vừa mở cửa lồng là nó đã tấn công ngay. - Nói đến đây sợ quá, Hương Huyền khóc nấc lên. Hữu Bằng nhẹ vuốt tóc cô: - Thôi đừng sợ nữa. Mọi chuyện đã qua rồi. Ngày mai... anh sẽ cho em uống nhiều sắt và axit pholic để bù lại lượng máu đã mất đi. Bây giờ, em ngủ đi, anh sẽ dỗ cho em ngủ nhé. - Nhưng anh phải hứa với em hủy bỏ phát minh của mình. - Nắm lấy tay Hữu Bằng, Hương Huyền nài nỉ. - Hứa đi anh! - Anh không hứa được. - Hữu Bằng lắc đầu. - Em biết để phát minh ra công trình này, anh và Tony Hải đã mất nhiều công sức và tiền bạc. Anh không thể nào hủy bỏ trong một giây... - Rồi anh sẽ phải trả giá cho hành động của mình. - Nước mắt ứa ra, Hương Huyền nói trong bất lực và Hữu Bằng thở hắt ra. Anh không muốn làm cho vợ phải buồn. Nhưng cũng không thể hủy bỏ tâm huyết của mình cho cô vừa lòng được. *** Lặng lẽ đến bên bàn thờ đốt một nén nhang cho vợ rồi đến bên con ngồi xuống, Hữu Bằng vẫn không tin những gì xảy ra là sự thật.Không, anh không bao giờ tin là Hương Huyền đã chết đâu. Tất cả chỉ là một giấc mơ, một cơn ác mộng hãi hùng. Ngày mai này, khi tỉnh lại, anh vẫn thấy mình ngồi trên bàn, vui mừng với thư mời cộng tác của viện hàn lâm. Phải, tất cả sẽ được làm lại từ đầu. Sẽ không có sự xuất hiện của Tony Hải. Mà dù có anh cũng nhất định sẽ không nhận lời của hắn. Để đừng bao giờ tồn tại một phát minh gớm ghê đầy tội lỗi, để Hương Huyền của anh mãi là cô vợ trẻ, hiền lành, nhân hậu bên chồng và Nguyệt Cầm, đứa con khờ của anh không phải lìa xa mẹ khi vừa tròn một ngày tuổi. Nhưng... đã muộn rồi. Dù có gào thét, có khóc la ân hận trọn kiếp này anh cũng không thể nào làm gì được nữa. Vĩnh viễn anh đã mất đi người vợ yêu quý nhất của đời mình. Vĩnh viễn không bôi xóa khỏi lương tâm một niềm cắn rứt đau thương... Nhớ hôm ấy, giải quyết xong bài toán hóc búa trong phương trình minh họa, Hữu Bằng hài lòng đóng khung công thức cuối cùng. Vừa đứng lên định thông báo tin mừng cùng Tony Hải thì điện thoại reo vang: - A lô... - Anh trả lời với một tâm trạng đầy hưng phấn. Nhưng... bên kia đầy dây, giọng của má anh hoàn toàn trái ngược. - Alô... là má đây. Hữu Bằng! Con về mau, Hương Huyền đã chuyển dạ rồi. - Sao? - Hữu Bằng ngạc nhiên quá đỗi. - Đã chuyển bụng rồi à? Hãy còn hơn một tháng nữa kia mà? - Rồi anh lo lắng... - Cô ấy có bị té ngã không? - Không! - Giọng bà gấp rút. - Tự nhiên lúc chiều sang ăn cơm với má, vợ con bỗng la đau bụng rồi vỡ ối. Má đưa nó vào bệnh viện xong là gọi điện cho con ngay. Hiện bác sĩ đang thăm khám cho Hương Huyền trong phòng đó. Hữu Bằng ơi... liệu vợ con có chuyện gì không? Sao má lo quá. - Không có chuyện gì đâu. - Hữu Bằng bình tĩnh. - Cô ấy sanh non... hiện nay vẫn có nhiều người sanh thiếu tháng như thế mà đứa bé vẫn khỏe mạnh thông minh. Má đừng lo quá! - Ừ thôi. Má vào với nó đây. Bà cúp máy lâu rồi mà Hữu Bằng vẫn còn cầm mãi cái ống nghe. Trấn an mẹ nhưng sao lòng anh hồi hộp quá. Tự nhiên sao lại sanh non? Sức khỏe của Hương Huyền tốt lắm kia mà... - Tôi có chuyện gấp phải về sớm đây. - Thông báo với cô thư ký xong, Hữu Bằng chạy như bay ra cửa. Không kịp chờ thang máy, anh phóng luôn xuống bốn tầng lầu bằng cầu thang bộ. Tự mình lái chiếc Toyota, anh chạy thẳng vào bệnh viện. - Hữu Bằng. - Đang nhấp nhỏm trước cửa phòng cấp cứu vừa thấy bóng anh, bà Tịnh chạy ra ngay. - Vợ của con có vấn đề rồi. Bác sĩ phải quyết định mổ gấp bỏ mẹ, cứu con... nhưng mẹ chưa có ý kiến. - Má nói gì? - Chiếc cặp rơi xuống đất, Hữu Bằng nghe như có tiếng sét nổ trong đầu. - Tại sao lại có chuyện như vậy được. - Má không biết. - Bà khóc nức nở. - Gọi điện cho con xong, nghe bác sĩ báo thế, tâm trí má rụng rời, còn không dám ký vào tờ cam đoan cùng cô y tá. Nhẹ tay đẩy mẹ sang bên, Hữu Bằng xăm xăm bước vào phòng cấp cứu. Một cô y tá trông thấy anh chạy lại ngay: - Xin lỗi, anh có phải là chồng của cô Hương Huyền không ạ? Nếu phải, xin nhanh chóng ký vào giấy cam đoan để chúng tôi tiến hành phẫu thuật. Tình trạng đã nguy cấp lắm rồi. - Tôi muốn gặp bác sĩ điều trị. - Hữu Bằng vẫn bước đều. - Tôi muốn biết điều gì đã xảy ra cho vợ tôi? - Có chuyện gì ồn ào thế? - Một vị có lẽ là bác sĩ trưởng khoa, nghe tiếng ồn vội bước ra với vẻ khó chịu. Rồi chợt thấy Hữu Bằng, ông ta đổi ngay thái độ. - Ồ! Hữu Bằng, cậu đi đâu mà nét mặt căng thẳng thế? - Thái Tuấn! - Nhận ra bạn học cũ, Hữu Bằng mừng rỡ, chụp mạnh lấy vai Thái Tuấn. - Hương Huyền là vợ tôi, cậu nói mau đi! Chuyện gì đã xảy ra? - Hương Huyền là vợ cậu ư?... - Gương mặt Thái Tuấn lộ vẻ lo lắng. - Tớ thật cũng không biết giải thích thế nào với cậu về tình trạng của vợ cậu bây giờ. - Tại sao? - Hữu Bằng nôn nóng. Thái Tuấn thở ra một hơi dài: - Vì bệnh của vợ cậu... tớ chưa từng được học. Có một sự phân hủy máu rất là lạ đang diễn ra với tốc độ nhanh trong người Hương Huyền. - Nghĩa là...? Một cái chết dần vì mất máu đang đến với Hương Huyền ư? - Hữu Bằng nhanh chóng hiểu ra sự việc. Thái Tuấn lặng lẽ gật đầu. Hữu Bằng lại kêu lên: - Thế sao cậu không cho truyền máu? - Vô ích! - Thái Tuấn lắc đầu. - Tôi cũng đã nghĩ đến cách này và làm thử. Nhưng... tốc độ tan máu rõ ràng xảy ra nhanh hơn nếu có sự xuất hiện của máu lạ vào người. Qua xét nghiệm... tình trạng tan máu kia có thể lan truyền đến thai nhi. Nên việc làm duy nhất hiện nay là phẫu thuật gấp cứu con bỏ mẹ. - Không, tôi không tin... tôi không đồng ý. - Như một người bị mất trí, Hữu Bằng hét lớn. - Các người chưa tận dụng hết khả năng. Bằng mọi giá phải cứu Hương Huyền. Tôi cam lòng mất con để còn cô ấy... - Hữu Bằng... bình tĩnh lại. - Đặt tay lên vai Hữu Bằng, Thái Tuấn ôn tồn. Tôi hiểu cậu... nhưng... đã bó tay rồi. Tốt nhất... bây giờ cậu hãy trở vào gặp Hương Huyền, nói với cô ấy vài câu trước khi quá muộn. Cánh cửa phòng phẫu thuật mở ra, vừa nhìn thấy Hương Huyền nằm xanh xao trên giường bệnh. Hữu Bằng vội lao vào. Nắm lấy tay cô, anh nói dồn dập: - Hương Huyền... em đừng sợ... anh sẽ cứu em. - Không kịp nữa đâu. - Nhẹ mở đôi mắt u hoài, Hương Huyền mỉm một nụ cười héo hắt. - Anh đừng tốn công vô ích. - Em đừng nghĩ quẩn. - Hữu Bằng áp bàn tay lạnh giá của vợ vào mặt mình. - Bệnh của em không có gì nguy hiểm cả. - Anh dối em làm gì? - Hương Huyền xót xa. - Đừng quên em cũng từng là bác sĩ như anh. Chứng bệnh của em không thuốc chữa. Bởi nó chính hậu quả của việc anh làm. - Em nói sao? - Hữu Bằng nghe sống lưng mình lạnh toát. Hương Huyền nhẹ chớp mi nói: - Gần đây, thấy trong người không khỏe, lại luôn chóng mặt, nhức đầu, em đã tự thử máu của mình để rồi phát hiện số lượng hồng cầu giảm đi một cách rõ ràng không nguyên cớ. - Thế tại sao em không cho anh biết? - Em muốn nói... nhưng dạo này anh quá bận... đi sớm về trễ, loay hoay công việc nên quên đi mất. - Hơi thở bỗng trở nên khó khăn, sợ mình sẽ không kịp nói hết những điều đề nghị, Hương Huyền vội nói nhanh. - Hữu Bằng, em đã phát hiện ra... có một loài vi khuẩn được sinh ra từ nước bọt của con dơi. Loại vi khuẩn đó phá hủy hồng cầu... có khả năng truyền bệnh rất cao... nguy hiểm lắm... nên... anh không nên công bố phát minh này... - Đừng nói nữa... - Nhận thấy mạch đập của cô yếu dần đi, Hữu Bằng lo lắng. - Anh lập tức truyền máu cứu em... - Không kịp đâu... - Hương Huyền níu áo Hữu Bằng, khi thấy anh dợn quay lưng. - Đừng chần chờ nữa nếu anh muốn cứu đứa con mình. Hữu Bằng, lần cuối... anh mau hứa với em đi. Anh không được công bố phát minh này... - Hứa! Anh hứa với em. - Nước mắt tuôn ràn rụa lên môi, Hữu Bằng gật đầu nhanh như một con bửa củi. Hương Huyền tặng cho anh nụ cười cuối cùng của cuộc đời mình. - Vậy là em an tâm lắm. Rồi cô nghẹo đầu sang bên kia, lịm dần đi. Hốt hoảng, Hữu Bằng bổ nhào ra cửa, gọi to: - Bác sĩ... Thái Tuấn... mau cứu vợ tôi! Các bác sĩ lập tức chạy nhanh vào phòng mổ, vây lấy Hương Huyền, họ vội vàng làm các thủ tục cấp cứu. Một bàn tay đặt lên vai Hữu Bằng, Thái Tuấn trầm giọng nói: - Như vậy nhé! Không còn đường chọn lựa, Hữu Bằng đành gật đầu trong nước mắt. Cửa phòng phẫu thuật sập lại ngay trước mắt, ngọn đèn đỏ bật lên, Hữu Bằng cảm nhận được rất rõ ràng. Con dao mổ lên tay Thái Tuấn vừa cắm phập xuống tim mình đau nhói. Hương Huyền đã chết rồi... chết vì sai lầm của chính bản thân anh... - Oa...oa... oa... Tiếng khóc con trẻ chợt vang cắt ngang dòng suy nghĩ của Hữu Bằng. Cúi xuống nôi bế con lên tay, anh dịu dàng đặt bình sữa pha sẵn vào miệng Nguyệt Cầm. Nhìn con nút một cách khó khăn, anh nghe lòng quặn thắt. Tội nghiệp con... cả cuộc đời không bao giờ được biết thế nào là dòng sống ngọt ngào từ bầu sữa mẹ, cũng như sẽ không bao giờ được gọi tiếng mẹ thiêng liêng, trìu mến như mọi người. - Tất cả là tại ba! Hữu Bằng tự sỉ vả mình. Ba quá tầm thường, ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến bản thân. Nếu mẹ của con không kịp phát hiện ra rồi dùng cái chết của mình để cảnh tỉnh, ba đã phạm một tội tày trời, đã gây nên một thảm họa lớn với cuộc đời rồi. Nguyệt Cầm ơi, con có biết... một mai khi phát minh của ba được tung ra... sẽ không chỉ là một cái chết thương tâm của mẹ con, mà hàng trăm, hàng ngàn người cha, người mẹ vô tội sẽ phải chết oan vì con vi khuẩn bất ngờ này. Mẹ con thật ra không chết oan đâu... Hương Huyền... anh nhất định không làm em thất vọng. Nhẹ nhấc bình sữa ra khỏi miệng Nguyệt Cầm, Hữu Bằng âu yếm đặt con xuống nôi, cất giọng ầu ơ cho nó ngủ rồi đứng lên. Đến bên bàn thờ vợ, anh thành khẩn đặt một nén nhang. - Từ nay sẽ không còn phát minh cũng như không tồn tại một Hữu Bằng nào trên thế gian này nữa. Hương Huyền em vừa ý không, anh đốt bỏ công thức của mình đây. Ngọn lửa lóe lên trong phút chốc đã thiêu rụi cái công trình chưa công bố thành tro. Tâm huyết, công sức bao ngày tan biến trong chớp mắt, nhưng Hữu Bằng không cảm thấy buồn, thấy tiếc. Lương tâm phần nào thanh thản với ánh mắt long lanh trong sáng của Hương Huyền trong di ảnh. Bước đến bàn viết một bức thư trao trả toàn bộ tài sản cho Tony Hải, Hữu Bằng quyết định từ bỏ thế giới danh vọng của mình. Tìm đến một làng quê yên bình, sống đời gà trống nuôi con, xa vòng danh lợi. Những tưởng sẽ sống yên bình với con thơ. Đem hết sức mình cống hiến cho nhân loại như một chút công lao chuộc lại lỗi lầm. Thế nhưng... cuộc đời không dễ dàng tha thứ cho những lỗi lầm trong dĩ vãng của Hữu Bằng. Sau bao năm nằm yên trong cơ thể Nguyệt Cầm, con vi khuẩn năm xưa bừng sống dậy, tiếp tục gieo rắc kinh hoàng... *** Câu chuyện đã kể hết lâu rồi, vậy mà... Kỳ Phương vẫn ngồi yên bất động. Sao như huyền thoại, hoang đường không tin được. Người đàn ông đang ngồi trước mặt anh đây, trông hiền từ, nhân hậu thế, không ngờ lại là chủ nhân của một phát minh tàn nhẫn, rùng rợn nhất. Ông đã là thủ phạm giết chết vợ mình. giờ lại sắp trở thành đao phủ giết luôn đứa con gái yêu thương duy nhất trong cuộc đời ông.Ông đáng giận hay đáng thương Kỳ Phương không thể nhận xét thế nào cho đúng. Cả hai chăng? Ông đáng bị lên án, bị nguyền rủa, nhưng cũng đáng thương, đáng được thông cảm lắm. Thế mới biết có những sai lầm không thể nào sửa chữa. Chỉ một chút cạn suy là ân hận một đời. - Kể với cậu, tôi không mong nhận được sự đồng tình hay thương hại. - Giây lâu trong im lặng, ông chợt cất giọng trầm buồn. - Dù không hề cố ý... tôi cũng trở thành kẻ sát nhân gián tiếp giết chết vợ, con mình... và cả một trăm sáu mươi người vô tội khác. - Bác sĩ nói sao? - Kỳ Phương giật thót người sợ hãi. - Không lẽ... Nguyệt Cầm và những người kia... - Phải... - Không để Kỳ Phương nói hết câu, ông đã gật đầu cướp lời. Một khi những cơn tan máu vượt khỏi tầm kiểm soát, tất cả phải chết... một cái chết oan ức tức tưởi như Hương Huyền ngày xưa vậy. - Không có thuốc gì... cách gì cứu được sao? - Kỳ Phương tự biết mình hỏi một câu thừa. Nhưng ý nghĩ Nguyệt Cầm cùng những người vô tội kia phải chết làm anh tối tăm mặt mũi. - Tôi đã làm đủ mọi cách. Nhưng... ngả đầu ra sau ghế, ông nói trong tuyệt vọng. - Chẳng thể nào ngăn chặn sự phát triển và hủy diệt con vi khuẩn ấy. Nó sẽ còn lan rộng... lây truyền nếu chúng ta không cương quyết một lần dứt bỏ đi. - Dứt bỏ nó... - Kỳ Phương chợt rùng mình sợ hãi. - Bác sĩ... lẽ nào... ông đành tâm giết họ ư? - Tôi thật không thể nhẫn tâm. Nhưng... gục đầu vào lòng bàn tay, ông ngập ngừng giây phút. - Bây giờ ngoài cách này, tôi không còn nghĩ ra cách nào hay hơn được. Nếu không ngăn chặn, dập tắt ngay... e số người phải chết còn tăng mãi. - Tàn nhẫn quá! Kỳ Phương cắn nhẹ môi mình. Nghĩ đến một ngày phải đưa Nguyệt Cầm vào cõi chết, tim Kỳ Phương đau nhói. - Bác sĩ... - Nắm lấy tay ông, anh van vỉ. - Ông đừng vội thất vọng, bỏ cuộc sớm như vậy. Hãy cố tìm xem, may ra còn có cách cứu vãn tình hình. - Không còn cách nào khác hơn đâu. - Nhẹ gõ tay xuống bàn tay Kỳ Phương, ông lặng người đi trong nỗi đau tắc nghẹn. - Anh bạn trẻ, anh không cần phải van xin, an ủi ta cứu người đâu. Hơn cả cậu, khi đi đến quyết định này, tôi đã ray rứt, suy nghĩ kỹ. Dù không thương đám người kia, tôi cũng phải nghĩ đến Nguyệt Cầm. Nó là con gái của tôi, đứa con duy nhất cậu biết không? Đọc được những nỗi ray rứt trong ánh mắt khổ đau đầy tuyệt vọng của ông, Kỳ Phương thở ra một hơi dài: - Rồi ông định... giết họ bằng cách nào? Ông sẽ phải trả lời ra sao trước pháp luật? - Tôi sẽ không giết họ cũng không làm gì cả. Tôi chỉ nhốt họ vào một căn phòng thật kín, để họ không hút được máu người. Một khi không còn máu, họ sẽ phải tự chết thôi. - Còn Nguyệt Cầm...ông cũng sẽ... dùng cách này ư? - Kỳ Phương nghe lòng thảng thốt. - Phải. - Hướng mắt nhìn con, ông trìu mến nói. - Tôi sẽ cho con tôi một liều thuốc an thần, rồi cùng ra đi với nó. - Sao? - Kỳ Phương nhảy nhổm. - Bác sĩ... ông sẽ... tự vẫn ư? Không... tôi không đồng ý cho ông làm một việc tiêu cực như thế. - Tôi không tiêu cực. - Môi hé nụ cười buồn, ông đặt tay lên vai Kỳ Phương thân mật. - Tôi đã nghĩ kỹ lắm rồi. Với bao nhiêu tội lỗi đã gây ra, tôi thấy mình có chết đi cũng chưa đền đủ đâu. - Đúng. - Kỳ Phương nhìn thẳng vào mặt ông nghiêm khắc. - Với một cái chết của mình, ông không đền đủ tội với những người đã chết. Nhưng với sự sống, với tài năng của mình... ông là thiên tài hiếm có... đừng... đừng thêm một lần phạm sai lầm. - Thông minh xuất chúng, tài năng tột bực... - Ông bật cười lớn. - Những danh từ đó không còn đúng với một lão già lụm cụm như tôi nữa. Kỳ Phương, kể cho cậu nghe tất cả, tôi không phải chờ nghe cậu cản. Tôi chỉ muốn giúp cậu hoàn thành thiên phóng sự điều tra của mình. Cậu hãy viết tất cả lên mặt báo, rõ ràng, cụ thể từng chi tiết. Nêu đích danh từng tên nhân vật thật. Tôi muốn... tai tiếng của mình trở thành một tấm gương để người đời trông vào cùng suy gẫm và đánh giá. Hy vọng nó sẽ là bài học hữu ích cho những nhà khoa học. Tiền... tuy cần thiết, tuy không thể thiếu trong cuộc sống mỗi người, nhưng đừng bao giờ đánh mất bản thân, bán rẻ lý trí và nhân phẩm của mình. Ý ông đã quyết... Kỳ Phương biết mình sẽ không bao gìờ thay đổi được nếu không tìm ra một cách giải quyết triệt để hơn. - Thế còn Tony Hải... còn cái viện nghiên cứu sinh học giả hiệu của hắn thì sao? - Chợt nhớ đến gã người lai đã mách bảo mình, Kỳ Phương nhất mực quan tâm. - Ông cứ để hắn mặc tình nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật tiếp tục gây tội sao? - Hắn sẽ không bao giờ còn vô tội nữa. - Ông mỉm cười. - Hôm qua tôi đã viết một tờ tường trình gửi lên Bộ tố cáo việc làm của hắn. Với tất cả bằng chứng mà tôi đã thu thập được, tôi tin rằng, không bao lâu nữa hắn cùng cái viện khốn kiếp kia sẽ bị trục xuất khỏi Việt Nam. - Ông đã hành động đúng. - Kỳ Phương tỏ vẻ thán phục. - Lẽ ra ông phải làm như thế từ lâu rồi. - Đó cũng là một sai lầm, ông thừa nhận. Vì ích kỷ, vì sợ ảnh hưởng đến tiếng tăm, uy tín của mình tôi đã không dám đứng ra tố cáo, vạch trần âm mưu của hắn. Để từng ấy năm trời phải sống âm thầm, trốn tránh như một loài côn trùng. Vì tôi mà Nguyệt Cầm phải sống trong thiếu thốn trăm bề. Làm như vậy, tôi...còn thua loài cầm thú... Muốn nói một lời để an ủi sẻ chia cùng ông mà tìm mãi chẳng được từ nào, Kỳ Phương đành đứng lên từ tạ ra về. Bây giờ anh có thể đặt bút một lèo viết hết thiên phóng sự, cũng như có thể kết thúc câu chuyện "Chuyến tàu đêm" một cách dễ dàng. Thế nhưng, Kỳ Phương biết mình sẽ chẳng viết một dòng nào. Anh không thích một kết cục tàn nhẫn, đau thương vậy... phải tìm một kết thúc khác, nhân bản hơn, tốt đẹp hơn. Song... anh sẽ tìm thấy ở đâu trên bầu trời cao rộng đẹp đẽ, ánh dương hồng kia có phải...? |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 43
Phần V - Thế này là thế nào? Anh mau lập tức trả lời tôi... - Xấp bản in bị ném mạnh xuống bàn, giám đốc Trần đùng đùng giận dữ. - Tên Kỳ Phương đó, hắn chết gí chỗ nào? Tại sao anh không tìm liên lạc. Anh có biết... báo Tia chớp đã sụt mất một nửa số lượng rồi không? Đón nhận cơn thịnh nộ của giám đốc, Khải Văn chỉ biết cúi đầu im lặng. Dù biết rõ mình đã bị giám đốc mắng oan. Số lượng báo bị giảm hoàn toàn do lỗi của Kỳ Phương. Hắn đã không gởi về tòa soạn dù chỉ là một dòng tin nhỏ. Nhưng... anh lại không thấy phật lòng, cũng không nghe giận thủ trưởng một chút nào. Cơn phẫn nộ của ông là hoàn toàn đúng, vì ngay chính bản thân mình, Khải Văn cũng giận Kỳ Phương kinh khủng. Không nể tình hắn là đồng nghiệp thân thiết, anh đã mắng hắn là tên vô trách nhiệm từ lâu. Thừa biết sự sống còn của tờ báo nằm trong tay mình. Vậy mà cứ mãi nhởn nhơ cùng trời xanh nước biếc.... - Tôi gia hạn cho cậu hai ngày nữa phải tìm gặp Kỳ Phương và bắt hắn giao bài ngay. Bằng không thì cả anh, cả hắn... đều biến khỏi mắt tôi đi. - Chờ giây lâu, vẫn không nghe Khải Văn hứa hẹn gì, giám đốc Trần quyết định ra tối hậu thư. Điều này... xem ra khá bất công đối với Khải Văn. Anh không nhịn được, bật thành lời: - Giám đốc Trần, ông thật là vô lý. Tại sao lại ghép tôi chung với Kỳ Phương chứ? Tôi không... - Câu nói bị cắt ngang bởi cánh cửa được mở ra đột ngột. Như trong chuyện hoang đường, Kỳ Phương hiện ra ngay trước mắt mọi người sau một câu niệm chú. Vụt quên mất câu nói còn dang dở của mình, cũng như không còn nhớ đến cơn giận hờn, Khải Văn ào lên ôm chặt lấy Kỳ Phương mừng rỡ: - Trời ơi, thằng quỷ, sao không chết luôn đi. - Kỳ Phương! - Chiếc ghế bật ngửa ra sau vì cái đứng lên vội vã đã không làm giám đốc Trần để ý. Bước lên trước môi ông chìa nụ cười niềm nở, thân mật bắt tay Kỳ Phương như quên tuốt trận lôi đình vừa mới xảy ra đây. - Cuối cùng cậu cũng đã về rồi, thật là may. - Vâng! - Đứng yên tiếp nhận sự đón chào nồng hậu, Kỳ Phương ngập ngừng giây lát rồi khẽ nói. - Xin lỗi vì tôi đành phải để mọi người tiếp tục thất vọng. Tôi về đây không phải để nộp bài mà là để xin nghỉ phép một tuần. - Nghỉ phép ư? - Miệng giám đốc Trần há tròn vo. Khải Văn cứ ngỡ tai mình ù đi. Có nhầm không? Kỳ Phương xin nghỉ phép. Hắn muốn chọc giám đốc nổi xung thiên lên chắc? Thời hạn hai ngày hẳn không còn nữa. Ông ta sẽ tống cổ ngay tức khắc gã phóng viên ngạo mạn vô trách nhiệm. Dĩ nhiên... anh sẽ bị một miếng của hắn lây sang. Phen này... không chết cũng bị thương thôi. - Nghỉ phép! - Nhưng Khải Văn đã tính lầm. Không có cơn thịnh nộ nào, chỉ có giọng giám đốc chùn xuống như sợ hãi. - Để làm gì? Nếu cậu có lý do chính đáng, tôi nhất định sẽ duyệt cho. - Thưa giám đốc... xin ông thông cảm ký duyệt cho. Tôi xin nghỉ phép để... đưa Nguyệt Cầm đi chơi ạ? - Hả? - Khải Văn nhảy bật lên trong lúc giám đốc Trần lại té ngồi ra ghế. - Kỳ Phương, cậu không đùa tôi chứ? - Tôi không dám đâu. - Nói rồi, Kỳ Phương quay ra sau gọi khẽ. - Nguyệt Cầm vào đi em. Hãy chào giám đốc của anh và đây nữa, gã Khải Văn đáng ghét mà anh vẫn thường kể cho em nghe đó. - Dạ.... Bây giờ cả ông Trần lẫn Khải Văn đều tin là Kỳ Phương không giỡn. Rõ ràng sau lưng anh vừa bước ra một cô gái đẹp tuyệt vời, cô ta đang khép nép cúi đầu lễ phép: - Cháu chào chú, chào anh ạ! À! Ra thế. Bây giờ Khải Văn mới vỡ lẽ. Anh đã hiểu vì sao những ngày qua Kỳ Phương lười viết bài đến thế. Chỉ vì cô gái xinh đẹp kia làm cho tâm hồn hắn mê mẩn quên hết việc đời thôi. Hừ! Bao nhiêu người trông đợi, vậy mà hắn cứ nhởn nhơ... Bỗng nổi giận đùng đùng, quên cả giám đốc đang ngồi trước mặt mình, Khải Văn bước lên hét lớn: - Kỳ Phương, cậu vô trách nhiệm vừa thôi. Nông nỗi này còn xin nghỉ phép đi chơi cùng người yêu nữa. Cậu có biết tình hình cấp bách lắm rồi không? Cả thành phố này đang sôi lên trước con ma hút máu người. Đêm qua nó lại tấn công giết đi hai người nữa đấy. Sắc mặt Khải Văn khi giận trông hung dữ quá, làm Nguyệt Cầm phải lùi về sau sợ hãi. Kỳ Phương ôm lấy vai cô trầm giọng: - Cậu đào đâu ra cái tin con ma đêm qua vừa giết hai người hả? - Còn đào đâu nữa? - Khải Văn ném tờ báo "Mặt trời" trước mặt Kỳ Phương. - Lại tay phóng viên Trọng Hải. - Kỳ Phương nhặt tờ báo lên xem qua rồi kêu lên giận dữ. - Dám công bố thông tin giả, đánh lừa công chúng. Làm gì có chuyện đêm qua con ma tấn công ai chứ? - Hừ! Cậu nói nghe cứng quá. Cứ như đêm qua ở cạnh con ma không bằng vậy? - Khải Văn lại hét lên. - Sao lại không? - Hét lên rồi mới nhớ, Kỳ Phương hoảng hồn đưa mắt ngó Nguyệt Cầm. Cô như quá khiếp đảm trước cuộc cãi nhau, rút mình vào sau cạnh cửa, đôi mắt nhìn quanh lấm lét. - Thế thì cậu nói đi. Con ma đã làm gì đêm qua hả? - Không bỏ qua cơ hội, như con thú đánh hơi thấy mồi ngon, Khải Văn sấn tới hỏi luôn. - Tớ không có thời gian tranh cãi... - Sợ bị hắn tra hỏi một hồi sẽ lòi ra những điều không đáng nói, Kỳ Phương quay sang phía ông Trần, nãy giờ vẫn ngồi yên như phỗng để nghe hai người tranh cãi. - Từ phút này, tôi xin nghỉ phép đúng một tuần, mong ông đồng ý. - Nhưng... công việc ở tòa soạn bề bộn lắm. - Giám đốc Trần từ chối khéo. Cậu có thể... bàn cùng cô bạn gái thư thả một thời gian. - Xin lỗi... Kỳ Phương cắt ngang lời. - Tôi không thể nào thư thả được. Xin ông thông cảm, dù có phải bị đuổi việc tôi cũng phải nghỉ thôi. Nói rồi, không chờ đến sự gật đầu đồng ý của ông Kỳ Phương bước đến bên Nguyệt Cầm, cất giọng dịu dàng: - Mình đi thôi em. Cô gái bẽn lẽn, sợ hãi nắm tay Kỳ Phương bước đi rụt rè, không quên cúi đầu chào ông Trần và Khải Văn. Vì vẫn tức giận với Kỳ Phương, Khải Văn gầm gừ với Nguyệt Cầm luôn. Sau đó cố tình nói cho anh nghe rõ: - Cô ta đẹp thật, nhưng cũng đâu đáng để đem cả sự nghiệp tên tuổi ra đánh đổi. Đúng là thằng dại gái... dở hơi... *** - Kỳ Phương ơi, sao mọi người lại tỏ ra giận dữ với anh như vậy? Họ không thích anh đi với em có phải không?Xe chạy được một lúc lâu, Nguyệt Cầm vẫn còn ám ảnh những lời Khải Văn lúc nãy, nên nhìn Kỳ Phương dò hỏi. - Ồ không, không đâu! - Sợ cô hiểu lầm rồi tủi thân, Kỳ Phương vội giải thích. - Chẳng liên quan gì đến em. Họ giận dữ vì thấy anh ham chơi quá. Có mỗi bài phóng sự viết mãi không xong. - Nhưng... anh sắp viết xong rồi, tại sao anh không cho họ biết? - Hả? - Kỳ Phương giật nẩy người. Sao Nguyệt Cầm biết anh sắp viết xong rồi? - Em bảo anh sắp viết xong cái gì kia? - Em chỉ đoán vậy thôi. - Mắt Nguyệt Cầm vẫn nhìn chằm chằm ra phía trước rồi bất chợt kêu to. - Ôi, Kỳ Phương... anh nhìn kìa... căn nhà mới cao làm sao! Kia... còn kia nữa... ôi hay quá! Tuyệt quá... Sài Gòn nhiều xe chạy quá! - Ừ! Em cứ từ từ khám phá. Còn nhiều điều thú vị lắm đấy - Kỳ Phương thở phào ra. Hú vía! Lúc nãy nghe cô nói, anh cứ ngỡ cô đã biết tất cả rồi. Không đâu, bác sĩ bảo đến bây giờ Nguyệt Cầm vẫn chẳng biết gì. Thật tội nghiệp, Kỳ Phương nghĩ đến phút giây biết con ma mà Nguyệt Cầm luôn căm thù, muốn hủy diệt kia chính là mình. Liệu cô sẽ ra sao nhỉ? Cú sốc này kinh khiếp quá, cô sẽ phát điên lên mất. Không... anh đã bàn với bác sĩ rồi. Bất luận chuyện gì xảy ra đi nữa cũng phải giấu nhẹm Nguyệt Cầm, để cô còn được sống những ngày cuối đời mình trong hồn nhiên thanh thản. - Đưa Nguyệt Cầm ra Sài Gòn ư? - Chưa nghe Kỳ Phương nói hết câu, ông đã lắc đầu ngay. - Không được, phiêu lưu mạo hiểm lắm. Cậu có biết trong giai đoạn cuối của mình, Nguyệt Cầm có thể biến thành ma bất cứ lúc nào, trong cơn khát máu, nó không nhận biết được ai đâu. Đi chơi với nó, cậu sẽ gặp nhiều nguy hiểm. Kỳ Phương biết và nghĩ đến điều này, nhưng anh không sợ. Dù có phiêu lưu trên sinh mạng của mình, anh cũng phải làm tròn lời hứa với Nguyệt Cầm. Cô phải một lần mở rộng tầm nhìn trước khi nhắm mắt... cũng như có được một kỷ niệm đẹp trong đời... Những lý lẽ đầy thuyết phục của Kỳ Phương cuối cùng cũng lay chuyển được ông Bằng. Trước khi đi, để đề phòng mọi tình huống có thể xảy ra, ông đã trang bị cho Kỳ Phương năm ống tiêm đựng đầy máu, phòng khi Nguyệt Cầm lên cơn đột ngột, với số lượng máu tiếp vào này, anh có thể cầm cự đưa Nguyệt Cầm trở về. Vâng... vậy là... Kỳ Phương đã đưa Nguyệt Cầm về đến Sài Gòn. Nhìn nụ cười rạng rỡ nở bừng trên gương mặt ngây thơ như con nít của cô, Kỳ Phương biết mình đã hành động đúng. Hơn bao giờ hết anh cảm thấy mình có thể chết đi để nụ cười kia tươi mãi. - Kỳ Phương ơi, anh đưa em đi đâu vậy? Thấy Kỳ Phương đưa mình vào một cái cổng to, có nhiều nhân viên bảo vệ soát vé chận ngay trước cửa ra vào, Nguyệt Cầm sợ hãi nhưng Kỳ Phương trấn an ngay: - Đừng lo, đây là nơi đầy thú vị đấy. Mặc dù hai viên soát vé chẳng nói gì, Nguyệt Cầm vẫn sợ hãi nép sát vào người Kỳ Phương, trước nhiều cặp mắt mỉm cười thông cảm. Cô gái đẹp này trông quê quá. Chắc mới đi thành thị lần đầu thôi. Thường khi, nếu phải đi với một cô gái vụng về, quê mùa như Nguyệt Cầm, chắc Kỳ Phương phải thẹn lắm. Nhưng... lần này lại không, Kỳ Phương chẳng xấu hổ chút nào. Ngược lại, anh còn thấy tự hào, thấy mình thêm vững chắc bên một tâm hồn quá đỗi ngây thơ và bé bỏng. - Khu vui chơi giải trí lớn và đẹp nhất Sài Gòn đấy. - Bước hẳn vào trong rồi, Kỳ Phương mới quay sang bảo Nguyệt Cầm. Bây giờ mới nhận ra vẻ hoành tráng, xinh đẹp của khu giải trí, Nguyệt Cầm mở to đôi mắt sững sờ. - Đẹp quá! Nằm mơ em cũng không ngờ thế gian này tồn tại một nơi xinh đẹp như thế này. Kỳ Phương, anh nhìn kìa... những đứa bé kia làm gì quay tròn trên chiếc máy bay như vậy hả? Cô hỏi lớn quá làm khách đi ngang phải ngoái đầu nhìn lại, tội nghiệp cô gái đẹp... cả chiếc đu quay cũng không biết nữa. - Đi theo anh. - Kỳ Phương chợt nắm tay Nguyệt Cầm, dẫn cô bước vào một phòng thời trang gần đó, lựa mua một bộ đồ thật đẹp, anh bắt cô thay ngay rồi dẫn cô đi tham quan du lịch. Trong bộ đồ moden hợp thời trang và thanh nhã do Kỳ Phương chọn, Nguyệt Cầm đẹp lên một cách bất ngờ. Bây giờ nhìn cô không ai có thể ngờ đấy là một cô gái quê mới lần đầu đi thành phố. Bước chân cô ngập ngừng, khập khiễng với đôi giày mới... đáng yêu hơn kiểu cách các cô gái thật thành thị làm duyên gấp trăm gấp vạn lần. - Em dùng thử cái này đi. Mua một cây kem, Kỳ Phương dịu dàng trao cho Nguyệt Cầm. Không nghi ngại gì, cô đưa vào miệng cắn ngay, ăn luôn lớp vỏ bọc bên ngoài. - Ôi! Kỳ Phương vội đưa tay ngăn lại, anh từ tốn mở bao và giải thích với cô cách ăn như thế nào cho gọn. - Dạ em hiểu... Nguyệt Cầm gật đầu nhưng cứ cầm mãi trên tay. Kỳ Phương lại phải lên tiếng nhắc: - Sao em không ăn đi? - Chờ một chút, kem còn nóng lắm! - Nóng ư? - Kỳ Phương tròn mắt. Nguyệt Cầm gật đầu: - Anh không thấy khói bay nghi ngút à? - Trời! - Không còn nhịn được nữa, Kỳ Phương bật cười lớn. - Trời ơi... Nguyệt Cầm, em cứ ăn thử một miếng đi xem có nóng không? - Dạ... - Nghe lời anh nhưng vẫn sợ, Nguyệt Cầm cắn một miếng nho nhỏ rồi kêu lên ngơ ngác. - Ô... nó lạnh... ngộ quá ta... - Thích thú cô ăn ngấu nghiến hết cây kem... quên hết chuyện đời. Ngồi yên nhìn miệng cô ăn một cách ngon lành, lòng Kỳ Phương bỗng nao nao một cảm giác khác thường, muốn được ghi khắc hình ảnh đó vào tâm khảm. - Kỳ Phương, anh làm gì mà nhìn em hoài vậy! - Ăn xong cây kem, ngẩng lên thấy Kỳ Phương chăm chú ngó mình, Nguyệt Cầm thẹn quá kêu lên. - À! Chớp mắt chợt tỉnh, Kỳ Phương vui vẻ. - Hôm nay em đẹp lắm Nguyệt Cầm. Bây giờ anh em mình đi chơi đu quay nhé? Em có dám không? - Dám. - Nguyệt Cầm gật đầu. - Có anh ở cạnh là việc gì em cũng dám làm hết á! - Vậy thì đi. - Nắm tay cô, Kỳ Phương bước đến quầy vé. Thường ngày anh rất sợ độ cao, nhưng... hôm nay vì cô, anh phá lệ thử một lần lên cao cho biết. Vòng quay đã bắt đầu, Nguyệt Cầm kêu lên sợ hãi bởi cảm giác tròng trành. Giây lâu quen dần, cô bắt đầu kêu to thích thú: - Tuyệt quá! Kỳ Phương ơi... chúng mình cao chưa. Anh nhìn xem, những người dưới chân mình bé xíu. Một lát anh chụp cho em pô hình nhé. Em muốn đem về khoe với ba, với nhỏ Lan... Chà! Cả xóm sẽ ganh tỵ cho xem. Trời ơi... sao mà em hạnh phúc dữ vầy nè... Hạnh phúc! Mắt Kỳ Phương bỗng cay xè. Nguyệt Cầm em đúng là tinh khiết, trong lành quá. Với em hạnh phúc có được thật dễ dàng. Em không biết ganh đua cũng không biết đố kỵ cùng ai cả. Cuộc đời em lẽ ra phải được sung sướng lắm. Em có biết là mình không còn sống được bao lâu nữa không? Sao em cứ cười, cứ nói líu lo như chim vậy? Em có biết một hành động ngây thơ của mình là một nhát dao cứa vào lòng anh đau nhói. - Hết rồi ư? - Chiếc đu quay dừng lại, Nguyệt Cầm kêu lên vẻ tiếc rẻ. Kỳ Phương lại dắt cô sang một trò chơi khác. Nguyên một buổi sáng cả hai đã chơi hết các trò chơi của khu du lịch. Và... có lẽ họ sẽ còn chơi nữa nếu như bụng của Nguyệt Cầm không đột nhiên sôi sục vì đói. - Kỳ Phương ơi... em đói bụng rồi, mình ăn cái gì đó đi anh. - À... ừ...! Đưa Nguyệt Cầm vào một nhà hàng, Kỳ Phương đãi cô một bữa đặc sản. Nguyệt Cầm thích lắm, cô ăn ngay không khách sáo. Và... một lần nữa...cô làm anh bật cười với những cử chỉ quê mùa chất phác của mình. Vui nhất là lúc cô ăn đùi gà chiên bột. Loay hoay, lớ ngớ thế nào mà cái đùi gà bay vào trúng ngay mặt một vị khách nước ngoài. Báo hại Kỳ Phương phải sang năn nỉ, xin lỗi... - Bây giờ mình chơi tàu lượn siêu tốc nhé Kỳ Phương? Vừa ăn xong, bụng no căng, Nguyệt Cầm lại đòi chơi nữa. Kỳ Phương nhẹ lắc đầu: - Không được... chơi bây giờ sẽ đau bao tử đó. - Ư! Nguyệt Cầm hờn dỗi quay mặt đi khiến Kỳ Phương phải chìa ra trước mặt cô hai tấm vé màu hồng. - Đừng giận, anh đưa em đến nơi này, tuyệt lắm. - Nơi nào thế? - Nguyệt Cầm háo hức. Kỳ Phương nói nhỏ: - Rạp xem phim. - Rạp xem phim! - Đôi mắt tròn mở lớn. - Là trò chơi gì thế? Có vui không? Kỳ Phương bí mật: - Đến xem rồi biết. - Ồ!... Nhìn vẻ mặt nghệch ra ngơ ngác của Nguyệt Cầm, Kỳ Phương biết cô không hình dung được cái việc xem phim là thế nào đâu. Cô đang tưởng mình sắp được tham gia một trò chơi thú vị. Hẳn cô còn đang suy nghĩ xem một lát chiếc ghế mình ngồi sẽ bay lên, hay chỉ đứng yên nhún một chỗ như trò chơi nhún lúc nãy kia. - Ơ! Màn hình đã được chiếu lên rồi. - Nguyệt Cầm quá đỗi ngạc nhiên, kêu lớn. - Kỳ Phương, những con người kia sao lại chui vào được trong tấm vải như vậy hả? Kỳ Phương chưa kịp trả lời, từ hàng ghế trên đã vang lên tiếng cười khúc khích của một đôi trai gái. - Trời ơi... cô gái kia là người hành tinh này sao mà ngu ngơ, ngây thơ thế! Kỳ Phương nói nhỏ xuống tai cô: - Họ không phải người thật đâu. Họ chỉ là những hình ảnh được ghi lại, tựa như anh chụp hình em vậy. Khác ở chỗ hiện đại hơn, kỹ thuật hơn... những hình ảnh kia có thể đi đứng nói cười. - Vậy, em hiểu rồi... - Nguyệt Cầm gật đầu chăm chú nhìn lên màn ảnh. Câu chuyện phim hay quá, thu hút hết tâm trí của cô. Để cô không hay cạnh bên mình Kỳ Phương vừa thở ra một hơi dài buồn bã. Một ngày vui vẻ cuối cùng cũng trôi qua hết. Cũng như cái ngày Nguyệt Cầm vĩnh viễn biến mất trong cuộc đời rồi cũng sẽ đến thôi. Hôm qua ông Bằng đã nói với anh rằng... sự sống sót của Nguyệt Cầm không còn quá một tuần. Và... một trăm sáu mươi nạn nhân của cô cũng không tài nào kéo dài hơn một tháng. Sự kiện này nhất định sẽ gây nên chấn động dữ dội trong dư luận... Nhưng...chỉ một thời gian thôi, rồi tất cả cũng sẽ chìm vào quên lãng. Kỳ Phương không hiểu liệu mình có quên được Nguyệt Cầm? Sao phút giây này anh chỉ muốn ôm chặt cô vào lòng. Muốn thét gào... muốn hét lên hỏi ông trời. Sao ông đối xử bất công, tàn nhẫn với Nguyệt Cầm như thế? Trong suốt cuộc đời của mình cô chưa từng tổn hại đến ai, chưa từng làm đau một cành cây ngọn cỏ... - Ôi! Tiếng Nguyệt Cầm chợt kêu lên bẽn lẽn. Dứt mình khỏi cơn suy tưởng Kỳ Phương bỗng nghe nao cả dạ. Đôi mắt của Nguyệt Cầm nhìn anh rất lạ. - Kỳ Phương ơi... anh nhìn xem trên màn ảnh, người ta làm gì kỳ quá! Nhìn lên màn ảnh rồi nhìn trở lại Nguyệt Cầm, Kỳ Phương cười khẽ: - Không kỳ đâu, người ta đang biểu lộ tình yêu đấy. - Tình yêu là gì? - Nguyệt Cầm tự hỏi rồi ngơ ngác nhìn quanh. Những cặp nhân tình quanh cô, ai cũng giống như trên màn ảnh, cùng hôn nhau say đắm. - Kỳ Phương ơi... - Giây lâu, cô bỗng rụt rè gọi khẽ. - Em muốn được anh hôn. Có được không? Như có luồng điện chạy dọc sống lưng, Kỳ Phương nhìn sâu vào đôi mắt Nguyệt Cầm với một niềm thương mãnh liệt đang trào dâng trong ấy. Không thể cầm lòng, anh từ từ cúi xuống môi hồng đặt nhẹ một nụ hôn. Là một phóng viên từng trải, lăn lóc khắp các nẻo đường, Kỳ Phương từng được hôn nhiều cô gái. Nhưng... chưa bao giờ anh có được một cảm xúc trọn vẹn như thế này. Bờ môi Nguyệt Cầm ngây thơ, run rẩy. Cô không kinh nghiệm gì, chỉ biết ngỡ ngàng đón nhận... vậy mà... Kỳ Phương lại thấy lòng hưng phấn, ngất ngây. Vòng tay siết chặt Nguyệt Cầm vào lòng mình, anh cảm thấy nụ hôn càng lúc càng tiến sâu hơn... cuồng nhiệt hơn... Thật lâu trong cảm giác đê mê, ngây ngất, Kỳ Phương khó dứt môi mình khỏi môi Nguyệt Cầm. Chợt nhận ra bờ má cô ràn rụa châu rơi, anh lo lắng hỏi: - Anh làm em đau có phải không? - Không! - Vòng tay ôm lấy cổ anh, cô khóc nghẹn ngào. - Em khóc vì quá sung sướng, quá hạnh phúc thôi. Nụ hôn của anh... em sẽ nhớ cho đến chết. - Đừng nói bậy! - Kỳ Phương đặt vội ngón tay xuống môi cô. Ngả đầu vào ngực anh, Nguyệt Cầm khẽ mỉm cười: - Hôn em một lần nữa đi anh. Không đáp, Kỳ Phương đặt nhẹ môi mình xuống môi cô. Trong cảm giác lâng lâng bay bổng của tình yêu, anh chợt nghe tim đau nhói, một giọt lệ vừa trào ra khỏi mắt anh, thấm qua môi Nguyệt Cầm mằn mặn... *** - Không, Nguyệt Cầm... em đừng đi... hãy ở lại với anh một lát. Anh còn có chuyện chưa nói hết với em...Bàn tay nắm chặt lấy chiếc băng ca, Kỳ Phương gào lớn khi thấy cô y tá dợn đẩy Nguyệt Cầm vào bên trong phòng cách ly. - Đã trễ thời gian quy định hơn năm phút rồi. Xin anh thông cảm. Bác sĩ Bằng đã có lời dặn kỹ... - Đôi mắt buồn của cô y tá nhìn Kỳ Phương đầy thương cảm, như bảo anh rằng. - Mình không hề muốn chia cách anh với Nguyệt Cầm, chẳng qua... vì nhiệm vụ phải làm thôi. - Đừng lưu luyến nữa Kỳ Phương... - Đôi mắt nhắm nghiền vì ảnh hưởng của thuốc bỗng mở ra, Nguyệt Cầm nhìn anh đầy lưu luyến, cô cất giọng buồn buồn. - Hãy chúc em lên đường may mắn. - Chúc em lên đường may mắn...? - Kỳ Phương lặp lại lời nói của Nguyệt Cầm và bước lên nắm chặt lấy tay cô, anh bỗng òa khóc. - Không... anh không cho em đi đâu cả. Em phải nghe anh nói... Anh yêu em... Mí mắt chợt khép lại mở ra, Nguyệt Cầm mỉm cười mãn nguyện: - Em cũng yêu... Cô không nói trọn câu, liều thuốc mê đã đưa cô vào giấc ngủ say. Một giấc ngủ mà cô không bao giờ tỉnh lại. Ý nghĩ mình sẽ mất Nguyệt Cầm vĩnh viễn đã làm cho Kỳ Phương không sao chịu nổi. Anh chạy theo chiếc băng ca, anh gọi lớn tên cô... muốn làm tất cả để gọi cô ra khỏi giấc ngủ im lìm. Nhưng... cánh cửa đã lạnh lùng sập lại ngay trước mặt như ranh giới âm dương chia lìa mãi mãi. Anh và Nguyệt Cầm đã thuộc về hai thế giới khác nhau. Đời này, kiếp này... sẽ không bao giờ còn có cơ hội gặp nhau nữa đâu... Giữ đúng lời hứa, Kỳ Phương đã dắt Nguyệt Cầm rong chơi khắp Sài Gòn suốt một tuần. Dấu chân của hai người đã in khắp nơi, đã lưu lại không biết bao nhiêu hình ảnh khắp chốn. Kỳ Phương thực sự có những giây phút tuyệt vời nhất trên đời mình bên cạnh Nguyệt Cầm. Cùng lúc, anh càng thấy quyến luyến, thấy yêu cô nhiều hơn bao giờ hết. Để đôi khi trong hoang tưởng, anh thầm mơ đến một phép thần kỳ diệu. Đến một viễn cảnh tương lai thật tuyệt vời thơ mộng. Trong một căn nhà nhỏ, anh và Nguyệt Cầm cùng sống hạnh phúc đời vợ chồng. Hai người sẽ có một đứa con xinh như mộng. Quên hết ganh đua chuyện trần gian, chỉ biết hưởng những ấm êm, thảnh thơi bên nhau. Đem ý tưởng này kể với Nguyệt Cầm, anh thấy mắt cô long lanh sáng. Ôi... cô còn mong điều gì hơn thế nữa. Thế nhưng...cuộc vui chóng tàn, ngày tháng qua mau. Thấm thoát thời hạn một tuần đã hết. Cùng Nguyệt Cầm chuẩn bị hành lý trở về quê, lòng Kỳ Phương nặng trĩu. Đên đó, nằm cạnh bên nhau cả hai đã mong trời đừng bao giờ sáng. - Cậu nói sao? Suốt một tuần liền Nguyệt Cầm không lên cơn khát máu nào? Ông Bằng kêu lên thảng thốt khi thấy Kỳ Phương giao trả lại mình năm ống máu còn nguyên... - Thật là kỳ lạ quá... Tôi đã tính sai ở chỗ nào? Qua ngày sau, đích thân ông tìm đến nhà Kỳ Phương để báo một tin mừng: - Tôi đã nghĩ ra rồi... thật không ngờ... Kỳ Phương, cậu có biết, trong một phút vô tình cậu đã giúp tôi giải bài toán hóc búa mà tôi phải nặng đầu suốt mười tám năm qua. Cuối cùng... tôi đã tìm được cách diệt con vi khuẩn khốn kiếp ấy rồi... - Thật ư? - Ôi... Kỳ Phương nghe ông ta nói mà vui mừng khôn xiết. Ôm lấy tay ông, anh quay tròn như đứa trẻ được quà. Phải hơn năm phút sau đợi niềm hưng phấn dịu đi, anh mới có thể bình tâm nghe ông Bằng kể lại rõ ràng, tường tận. - Tất cả đều bắt đầu từ một tình cờ ngẫu nhiên thôi. Kỳ Phương, cậu còn nhớ hôm nào trong cơn nguy kịch, tôi và cậu đã dùng những ống máu mang đầy mầm bệnh của những bệnh nhân kia tiêm thẳng vào người Nguyệt Cầm không? Nó không những cứu được Nguyệt Cầm trong cơn nguy kịch mà còn giúp cho cơ thể của nó tạo ra một kháng thể mới... đủ sức cầm cự với sự tấn công của con vi khuẩn. Đó là lý do vì sao suốt một tuần cùng cậu du lịch khắp Sài Gòn mà Nguyệt Cầm không bị một lần lên cơn khát máu. Hôm qua, khi xét nghiệm lại máu của Nguyệt Cầm tôi đã phát hiện ra một điều thú vị. Rằng... nếu ta đem những kháng thể vừa tạo được của Nguyệt Cầm tiêm cho những bệnh nhân, thì trong một thời gian ngắn, số kháng thể đó có thể diệt hoàn toàn số vi khuẩn có trong họ. - Thật tuyệt vời! - Một lần nữa, Kỳ Phương nhảy cẫng lên mừng rỡ. Nắm lấy tay ông, anh cứ lắc mãi trong sự tự hào. - Ông thật sự là một thiên tài... Cuối cùng.... con ma cũng bị ông tiêu diệt. Tất cả bọn họ sẽ sống. - Phải... tất cả bọn họ sẽ sống. - Giữa vui mừng, giọng ông bỗng nghẹn đi, chùng xuống đau đớn. - Chỉ trừ Nguyệt Cầm. - Sao cơ...? - Nụ cười trên môi vụt tắt, Kỳ Phương sững người bất động. - Ông vừa bảo... cơ thể Nguyệt Cầm tạo loại kháng thể, có sức cầm cự với vi khuẩn khát máu cơ mà. - Vì là thế hệ đầu tiên... nên loài vi khuẩn có trong máu Nguyệt Cầm có sức sống mạnh, nên loại kháng thể vừa tạo được trong người Nguyệt Cầm chỉ có thể cầm cự với loài vi khuẩn một thời gian, chứ không đủ sức diệt nó. Loại kháng thể này chỉ có thể tiêu diệt được thế hệ sau của nó thôi. Niềm hy vọng vừa bùng lên đã tắt làm ngay, đôi mắt Kỳ Phương cụp xuống: - Nói vậy... nghĩa là... chúng ta chỉ có thể cứu được một trăm sáu mươi người kia mà không cứu được Nguyệt Cầm. Bác sĩ... ông hãy nghĩ cách đi... biết đâu... - Tôi đã nghĩ kỹ lắm rồi... - Bác sĩ thở ra một hơi dài. Đôi mắt ông chợt trở nên xa vắng. Ngập ngừng giây lâu ông cất giọng khàn khàn. - Muốn cứu đám người kia... buộc lòng ta không thể không hy sinh Nguyệt Cầm. Đôi mắt mở to, Kỳ Phương như không hiểu nên ông đành nói thẳng ra: - Muốn tạo ra kháng thể, bây giờ ngoài cách cấy vi khuẩn của bệnh nhân vào người Nguyệt Cầm chúng ta không còn cách nào khác. - Cấy vi khuẩn của những người kia vào người Nguyệt Cầm? - Kỳ Phương kêu to hoảng hốt. - Ý ông muốn bảo là chúng ta sẽ hút hết kháng thể vừa tạo được của Nguyệt Cầm để làm kháng sinh trị bệnh? Dòng nước mắt tuôn tràn trên đôi má nhăn nheo, ông gật đầu thổ lộ tâm trạng người cha phải giết đi đứa con yêu quý nhất của mình. - Nhưng... như vậy là tàn nhẫn lắm. - Kỳ Phương không đành lòng một chút nào. Ông cũng thế, nắm lấy tay Kỳ Phương, ông như cầu cứu: - Ta cũng bối rối lắm rồi... không biết phải xử trí sao cả. Kỳ Phương, cậu có hiểu tâm trạng của ta khi phát hiện ra cách trị bệnh này không? Ta mừng nhiều... mà cũng đau lòng nhiều lắm. Dù biết rằng... sự hy sinh của Nguyệt Cầm là xứng đáng... Nhưng nó là con của ta... đứa con duy nhất của ta, cậu hiểu không? Làm sao mà Kỳ Phương không hiểu! Nắm lấy tay ông, Kỳ Phương tuôn tràn bao cảm xúc. Phút giây này... anh không thể khuyên ông một lời nào. Bởi lẽ... với anh bây giờ con đường nào cũng quá nhẫn tâm, cũng không nỡ... - Suốt đêm qua, và cả sáng này nữa... ta cứ như kẻ đứng giữa ngã ba đường. Không biết phải đi vào đường nào cho đúng, Kỳ Phương cậu là người ngoài sáng suốt hơn... Hãy nói đi, ta phải làm sao? - Cháu không biết... - Kỳ Phương lắc đầu, tâm tư bối rối. - Lý trí bảo một đường, con tim làm một nẻo. Dù mang mầm bệnh, Nguyệt Cầm vẫn là một con người, chúng ta không thể nói hy sinh là hy sinh ngay được... Đúng vào lúc cả ông lẫn Kỳ Phương hoàn toàn bế tắc trong cách lựa chọn thì... bất chợt sau cánh cửa, Nguyệt Cầm bỗng bước ra. - Sẽ dứt khoát hơn nếu anh và ba nghĩ rằng sự hy sinh của Nguyệt Cầm là cách giải quyết duy nhất hiện thời. Một cái chết để một trăm sáu mươi người được sống là một con số quá rõ ràng cụ thể. - Nguyệt Cầm... - Cả hai nhìn nhau hoảng sợ. Thì ra cô đến lâu rồi, đã nép mình sau cánh cửa nghe rành rọt mọi chuyện. - Nguyệt Cầm!... - Sợ sự thật phũ phàng sẽ làm cô kinh khiếp, Kỳ Phương bước vội đến nắm tay cô. - Em đừng sợ... hãy còn có anh đây. Nhưng... trái với tưởng tượng của hai người, Nguyệt Cầm không tỏ ra sợ hãi chút nào. Nét mặt hồn nhiên, thanh thản như chẳng biết chuyện gì, cô mỉm cười nhìn Kỳ Phương thân thiết: - Anh không phải lo lắng cho em. Em không sợ đâu. Thật ra... chuyện này... không phải bây giờ em mới biết. Tâm lý chuẩn bị em đã có từ lâu, không còn ngỡ ngàng, hoảng hốt như lần đầu nhận biết mình là ma nữa. - Con biết chuyện này từ lâu rồi ư? - Ôm lấy đầu, ông Bằng rên rỉ. - Khốn khổ thân con quá. - Cha! - Nguyệt Cầm hướng mắt nhìn ông trìu mến. - Đừng quá khổ đau như thế. Thật ra... chuyện này chưa lâu lắm. Hôm đó, chập chờn nửa mơ, nửa tỉnh, vô tình con đã nghe được câu chuyện giữa ba với anh Kỳ Phương. - Là hôm đó sao? - Kỳ Phương tự trách mình. - Anh đúng là đáng trách quá! Hẳn là em phải đau khổ lắm trong những ngày qua? - Đúng là khi biết chuyện em đau khổ lắm. - Nguyệt Cầm cất giọng buồn buồn. - Sợ hãi và hoảng loạn, em chỉ muốn chấm dứt ngay cuộc sống của mình. Trời ơi, con ma hung ác từng giết hại người vô tội. Cơn ác mộng, niềm kinh hoàng của mọi người chính là em... Trong một phút vừa biết chuyện em đã oán hờn cha. Trách giận ông tạo ra oan nghiệt. Nhưng... sau nghĩ lại, em thôi không giận mà càng thấy thương ba hơn bao giờ hết. Em tự trách mình trong bao ngày tháng cứ nhởn nhơ sống vô tư với hạnh phúc nào biết lòng cha canh cánh nỗi ưu phiền. Em ước mình được sẻ chia cùng ba sự đau khổ ấy. Em không trách ba khi ông có quyết định sẽ cho em cùng chết với những bệnh nhân đã không còn thuốc chữa. Em biết đi đến quyết định này, lòng ba phải băn khoăn, trăn trở nhiều lắm. Em không thể để ông đã đau lòng càng đau lòng hơn nên cứ vờ như chẳng hay biết gì. Ba muốn em được vô tư, sung sướng đến phút cuối đời thì em sẽ sống vui, sống hạnh phúc cho ba được vui lòng. Đường đến cái chết càng lúc càng gần, nhưng em không thấy sợ. Nhất là sau khi được anh dắt đi chơi khắp thị thành. Kỳ Phương em thật sự biết ơn anh. Anh đã cho em nhiều kỷ niệm đẹp, những phút giây được sống hết mình. Những ngày ở cạnh anh là những ngày tươi đẹp và có ý nghĩa nhất đời em. Để em không còn phải hối hận một điều gì khi bước chân vào cõi chết. Em thật sự hạnh phúc và mãn nguyện với những gì có được trong đời. Một người cha yêu kính thương em hết mực và một người bạn trai đã yêu thương và quan tâm đến em nhiều như thế. Em tự nhủ, bao giờ gặp mẹ, em nhất định sẽ kể về anh với mẹ. Mẹ chắc là vui lắm. Ngừng một lát, không gian chừng như tê liệt không còn một tiếng động. Sau đó điều kỳ diệu đã xảy ra? Đôi mắt Nguyệt Cầm long lanh sáng: - Nghe ba kể với anh mà lòng em vui khôn tả. Cuối cùng thì ba cũng tìm được cách cứu người rồi. Vậy là... từ nay lương tâm ba sẽ không còn bị ray rứt nữa. Bóng ma dĩ vãng vĩnh viễn sẽ chôn vùi trong ký ức của ba... Em chỉ ngạc nhiên trước thái độ không dứt khoát của anh và ba thôi. Tại sao hai người lại yếu đuối như vậy chứ? Lúc đầu đã chấp nhận cho em chết cùng đám bệnh nhân kia. Giờ chỉ có mình em chết sao cả hai không cảm thấy vui mừng, lại sầu não ủ dột thế kia? Hai người làm em lo quá, nên đành phải bước ra nói những lời này.... Giọng Nguyệt Cầm nhỏ nhưng rạch ròi, cương quyết, chứng tỏ, cô đã đắn đo, suy nghĩ trước khi nói ra. Phi thường, vĩ đại thay! Kỳ Phương thật không ngờ, những lời như thế lại được thốt ra từ một cô gái quê mùa, không học vấn. Sống mũi cay xè, anh thấy mình khóc ngon lành trước mặt cô. - Đúng là ban đầu ba chấp nhận cho con chết cùng với mọi người. Nhưng bây giờ... - Nói đến đây, đau khổ quá ông Bằng khóc nấc lên. - Tất cả đều được phép màu cứu sống. Đành lòng nào cha nhìn con đi vào cõi chết. - Con biết. - Bước đến bên cha, Nguyệt Cầm nhẹ nắm tay ông. Bằng một nghị lực phi thường, cô thuyết phục ông mà không để rơi giọt nước mắt nào. - Làm như thế là bất công cùng ba lắm. Thế gian này chẳng có người cha nào nỡ lấy đi sự sống của con mình. Nhưng con mong ba hãy cạn suy. Sự sống của con bây giờ đã trở nên vô nghĩa. Một thời gian nữa thôi, khi những kháng thể trong con không còn cầm cự nổi con cũng sẽ phải đi vào cõi chết. Đó là một cái chết vô nghĩa đầy oan ức. Thà rằng bây giờ ba cho con đi sớm hơn một chút. Đem cái chết của mình cứu một trăm sáu mươi nạn nhân khốn khổ kia. Không chỉ được nhẹ lòng thanh thản mà con còn được chút tiếng thơm, chút tự hào với cuộc đời rằng mình đã không phải sống một kiếp người vô ích. Ba... con cầu xin ba hãy vì con, vì tất cả mọi người mà mau có một quyết định đúng đắn. Hứa với con là ba sẽ bằng lòng, sẽ bằng lòng đi ba.... Cái giọng khẩn thiết, cũng như lý lẽ mang đầy tính thuyết phục của Nguyệt Cầm đã khiến bác sĩ Bằng không thể nào từ chối. Nhìn ông gật đầu nhận lời con, KỳPhương cảm thấy đất trời dưới chân mình đảo lộn. Không, anh muốn hét to lên nhưng hoàn toàn bất lực. Anh nghẹn ngào nhìn ông và Nguyệt Cầm xăng xái lo chuẩn bị. Để có đủ lượng kháng thể cần thiết, việc đầu tiên là phải lấy máu của một trăm sáu mươi bệnh nhân truyền hết vào cơ thể Nguyệt Cầm. Đợi đến khi lượng kháng thể được hình thành đầy đủ, chính ông Bằng sẽ cho một cây kim vào tĩnh mạch Nguyệt Cầm để rút tất cả số lượng máu trong người cô ra. Sau đó mới tiến hành phân tích, tách những hồng cầu kháng thể vừa hình thành ra khỏi hỗn hợp máu. Biến chúng thành một dung dịch đậm đặc rồi đem tiêm vào cơ thể của những bệnh nhân... Và... bây giờ trong căn phòng vô trùng kia, ông Bằng đang tiến hành công đoạn rút máu ra khỏi người của Nguyệt Cầm. Để tránh cho cô không phải đớn đau trước khi lấy máu, ông đã truyền cho Nguyệt Cầm một liều thuốc an thần. Cô sẽ ngủ, một giấc ngủ an lành đến ngàn thu không trở lại. Sự sống đang dần rời khỏi Nguyệt Cầm! Không....!!! Kỳ Phương đấm mạnh tay vào cửa phòng cấp cứu. Hãy mở cửa ra, hãy ngưng ngay tất cả. Trả Nguyệt Cầm lại cho anh, cho cuộc đời tươi đẹp. Trời ơi... sao tất cả vẫn im lìm... chỉ có tiếng thời gian gõ nhịp tí tách. Những giọt máu cuối cùng đang rời khỏi người Nguyệt Cầm. Chiếc băng ca đã chầm chậm đẩy trở ra. Bước sau tử thi Nguyệt Cầm được phủ khăn trắng toát, gương mặt ông Bằng bệch ra, bất động trong một trạng thái đau thương cùng cực. Nhìn theo bóng ông khuất xa dần, tim Kỳ Phương đau nhói từng hồi. Từ nay, cuộc đời đã vĩnh viễn mất đi Nguyệt Cầm. *** -Ê, thì ra chuyện con ma hút máu là có thật. Cô ta tên Nguyệt Cầm.- Ai mà không biết, tôi còn có cả hình cô ta ép vào bóp nữa nè. Xem đi, đẹp tuyệt trần luôn. - Ừ! Đẹp thật... không ngờ lại là ma... uổng thật. Đọc báo mà tôi cứ buồn ngẩn ngơ hết mấy ngày. Thương cho cô Nguyệt Cầm kia quá! - Tôi thiệt phục tay phóng viên Kỳ Phương ấy. Hắn viết phóng sự hay như thật. Đọc mà cứ tưởng hắn là người trong cuộc vậy. Báo "Tia chớp" phen này phát tài to. Báo in ra bao nhiêu bán hết bấy nhiêu. Đắt như tôm tươi vậy. Trên toa tàu đầy ắp tiếng cười nói. Mọi người không phát hiện ra, trong góc ghế có một gã thanh niên đang trầm tư, hướng mắt về nơi xa xôi trong trạng thái bất động. Không tham gia câu chuyện với mọi người, nhưng anh lại lắng nghe không sót một lời họ bình luận. Không xa lạ, anh là Kỳ Phương, là người đang được mọi người đề cập trong câu chuyện kể. Là người vừa hoàn thành xong thiên phóng sự điều tra ly kỳ, cảm động nhất xưa nay. Anh đang trên đường trở lại Sài Gòn. Vậy là một lần nữa, bài phóng sự của anh gây được tiếng vang lớn trong dư luận. Tòa soạn hài lòng, độc giả hết lời khen tặng. Nhưng Kỳ Phương không thấy tự hào một chút nào. Bởi để có được một bài phóng sự hay ho tuyệt vời như thế, anh đã phải đánh đổi quá nhiều. Không chỉ có máu và nước mắt. Anh đã phải lìa xa Nguyệt Cầm, người con gái mà anh yêu quý nhất. - Xin lỗi, anh có phải là phóng viên Kỳ Phương không? Một giọng nam trầm khẽ cắt ngang dòng suy nghĩ của Kỳ Phương. Ngẩng đầu lên, anh ngờ ngợ nhận ra người đang đứng trước mặt mình. Trông quen lắm, nhưng không nhớ mình đã từng gặp anh ta lúc nào. - Tôi là Vân Phi, người lữ khách hôm nào đã gặp anh trên chuyến tàu đêm. Như biết Kỳ Phương không thể nào nhớ ra mình, Vân Phi nhắc lại lần đầu gặp gỡ. - Ô... phải rồi... - Bây giờ mới nhớ ra, Kỳ Phương cười niềm nở rồi kéo anh ta ngồi xuống chiếc ghế trống cạnh bên mình. - Ngồi xuống đây và cho tôi biết, anh có về gặp bác sĩ Bằng để ông cứu chữa chưa? - Tôi đã về, đã gặp ông, cũng đã chữa được cơn bệnh khát máu quái ác nhất đối với mình. - Sau nụ cười mãn nguyện của một người vừa thoát nạn, Vân Phi thở ra một hơi dài. - Không ngờ... con ma đó lại là Nguyệt Cầm. Càng không thể ngờ cô lại có một hành động anh hùng cao cả thế. Tôi thật khâm phục và biết ơn Nguyệt Cầm, cô chính là ân nhân, là người cứu tôi và hơn một trăm người khác khỏi cái chết tàn nhẫn nhất... Sóng mũi cay xè, Kỳ Phương chớp nhanh đôi mắt cố ngăn mình đừng khóc. Giá mà anh có thể quay ngược thời gian cho hôm nay là buổi đầu tiên anh gặp Vân Phi, được anh kể cho nghe chuyện ma quái dị ở làng mình. Có lẽ anh sẽ không thay đổi được diễn biến của câu chuyện, cũng không ngăn được cái chết của Nguyệt Cầm. Nhưng anh có thể yêu cô sớm hơn, bù đắp cho cô nhiều hơn, để cô có được những tháng ngày dài hơn thật vui vẻ và hạnh phúc. - Mọi việc đã kết thúc, cơn ác mộng thật sự không còn nữa. Cái chết của Nguyệt Cầm không oan uổng chút nào... - Vân Phi nói xong câu này cũng là lúc con tàu dừng lại, vội đứng lên, anh vẫy tay tạm biệt Kỳ Phương. - Thôi tôi phải đi đây, chúc anh có thêm nhiều phóng sự điều tra hay hơn nữa. Anh ta và mọi người đã xuống hết từ lâu, vậy mà Kỳ Phương vẫn còn ngồi mãi trên góc ghế. Mọi việc đã kết thúc, con ma cũng không còn, thời gian trôi qua, tất cả sẽ chìm vào quên lãng. Nhưng... anh không muốn thế. Anh không bao giờ muốn quên đi. Bởi với anh, đó không phải là cơn ác mộng mà là một giấc mơ đẹp nhất đời mình. Yên nghỉ đi Nguyệt Cầm, anh sẽ không quên, không bao giờ quên em trong suốt đời này. Anh sẽ làm cho tên em thành bất tử không chỉ với riêng anh mà với tất cả mọi người đang có mặt trên thế gian. Từ nay, ánh trăng đêm không còn là nỗi kinh hoàng ám ảnh trong tâm tưởng của mọi người. Khi cùng nhau thưởng thức chung trà bên ánh trăng thanh bình huyền diệu, chúng tôi sẽ nhắc về em như một huyền thoại, một tấm gương sáng ngời nhân hậu, bao dung. Về sự hy sinh vô cùng thánh thiện. Nguyệt Cầm, em là vầng trăng đẹp nhất đời không bao giờ lặn tắt... Chúng tôi thật lòng biết ơn em... Người anh hùng đã hy sinh bản thân mình cho đồng loại. Bên em... không một cái ác nào có thể tồn tại được. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 44
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXXIV: Điệu Ru Oan Nghiệt-Phần 1 Bóng Ma Áo Hồng Do quá mệt sau một chuyến đi dài từ Sài Gòn lên, nên Hậu đã ngủ một giấc từ năm giờ chiều cho đến khi giật mình tỉnh lại, nhìn đồng hồ anh mới biết lúc ấy đã hơn mười giờ đêm! Vừa định bước xuống giường thì Hậu đã nghe tiếng của ông Tư Hiền quản gia: - Cậu dậy chưa cậu Ba ơi? Hậu vừa ngáp vừa trả lời: - Mới dậy chú Tư ơi. Còn buồn ngủ quá trời! Ông già Tư đẩy cửa bước vào, vừa nhìn Hậu vừa lắc đầu: - Đúng là thanh niên sức voi mà, ngủ bỏ cả cơm chiều, tôi kêu đến gần chục lần mà cậu vẫn không dậy. Hậu vỗ vỗ bụng: - Quả là đói thật. Nhưng ngủ vẫn ngon hơn! Già Tư chỉ tay ra ngoài: - Phải chi cậu không ngủ thì lúc chín giờ ra ngoài sau vườn nhìn trăng lên đẹp mê hồn luôn! Hậu tiếc rẻ: - Vậy sao chú Tư không kêu con dậy, con mê xem trăng lên mà! Ông già Tư lắc đầu: - Thiếu điều thổi còi báo động mà cậu có chịu thức đâu. Thôi để đêm mai, trăng còn tròn tới đêm mốt kia mà. Hậu vừa vươn vai vừa bước ra ngoài: - Cho giãn gân cốt một chút. Già Tư lo ngại: - Trời giờ này trở lạnh, gió đêm nay lại lớn, coi chừng mưa đó cậu. Hậu cười vừa vỗ vai người quản gia già mà anh coi như người thân: - Con còn đang muốn có mưa để tắm đây, nóng phát điên được! Biết không thể ngăn cậu chủ bướng bỉnh, nên già Tư dặn thêm: - Cậu chỉ nên quanh quẩn trong sân vườn thôi. Trời tối không nên đi xa ngoài kia! Động sự tò mò mà bấy lâu nay Hậu chưa có dịp để hỏi: - Ở ngoài sau vườn nhà mình có gì mà cả ba con ngày trước, cho tới chú bây giờ lúc nào cùng nhắc chừng như không muốn ai ra ngoài đó là sao vậy? Già Tư đáp lửng lơ: - Thì nhiều bụi rậm, vả lại ban đêm nữa... Hậu không hỏi thêm, anh lững thững bước ra sân, chỉ định đứng chơi, hóng mát một lúc rồi vào, nhưng chỉ sau vài chục giây thì lại mon men bước theo lối mòn, đi vào vườn. Trời đêm mát dịu, gió nhè nhẹ càng khiến cho Hậu thích thú, cứ đi tới mà quên lời dặn của già Tư. Ngôi nhà của cha anh xây từ khi ông mới khởi đầu sự nghiệp đồn điền ở đây nên đất ch ung quanh nhà rộng mênh mông, có đến gần chục mẫu. Nào cây ăn trái, nào cây tự nhiên, chúng chen nhau mọc, khiến càng đi sâu vào Hậu có cảm giác như vào một khu rừng thật sự. Cảm giác thoải mái khiến cho Hậu quên cả cơn đói đang cồn cào trong bụng. Anh tự nhủ: - Khung cảnh kỳ thú như vậy mà bấy lâu nay mình không ra mà thưởng thức! Tuy là con cả của chủ gia, mà hiện nay lại là người thừa kế chính thức sản nghiệp này, nhưng rất ít khi Hậu về đây. Nội việc quản lý một loạt nhà máy, xí nghiệp mà ba anh trước khi chết đã di chúc để lại và căn dặn Hậu phải ngày càng phát triển nó lên, không được chểnh mảng để nó lụn bại. Là một nghiệp chủ cần mẫn, có đầu óc làm giàu nên từ mấy chục năm trước, khi chỉ là một người làm công ăn lương cho một ông chủ Tây, ba Hậu, tên thường được gọi là ông Tám Xung, đã từng bước tạo dựng nên cơ ngơi, sản nghiệp vào loại cự phách, đứng trong hàng mười đại nghiệp chủ xứ này. Tiếc rằng ông đã mất khi tuổi chưa đầy bảy chục. Và trong lúc Hậu, đứa con trai duy nhất của ông chưa chín chắn trong thương trường. Đang mải mê bước, chợt Hậu khựng lại khi nghe có tiếng ai hát khe khẽ gần đây... - Ai vậy? Hậu lắng nghe thật kỹ và xác định nó ở phía tay phải, tức phía sau rặng cây rậm và cao. Giọng hát ru em thì đúng hơn, nhưng người hát có chất giọng thanh, trong và dịu dàng nên âm thanh phát ra trong đêm thanh vắng đã hớp hồn ngay người nghe như Hậu. Anh khựng lại một lúc, rồi bỏ cả lối mòn, băng qua vạt cỏ thấp không có lối. Do đây là khu vườn có làm cỏ thường xuyên, nên tuy không có đường mòn, nhưng Hậu cũng bước tới dễ dàng, để chỉ nửa phút sau đó anh đã tiếp cận được nơi phát ra tiếng hát ru. Thì ra nó ở bên kia dãy hàng rào tre gai cao quá đầu. Nơi phát ra tiếng ru có một đốm lửa lờ mờ, hình như là ngọn đèn dầu. Hậu đứng im, cố nghe và như muốn nuốt từng câu chữ trong câu hát, bởi càng đứng gần thì giọng ru đó càng có sức thu hút lạ thường. Anh thẫn thờ tự nhủ: - Sao lại có cô nào có giọng hát hay và lạ như thế? Hậu đoán chắc bên đó có một xóm nhà, mà do đêm tối anh không nhìn thấy. - Ước gì... Hậu là người thích nghe hát, anh lại say mê những người hát giọng thanh trong như cô gái này. Một lần, chỉ vì mê một giọng hát như vậy, Hậu đã liên tục trong gần một tháng trời, đã tới ngồi phòng trà chỉ để nghe một cô ca sĩ hát, mặc dù cô ta chỉ là ca sĩ hạng hai và không đẹp. Anh từng lập luận: - Hát hay thì không cần phải đẹp, bởi thanh âm đã quyết định tất cả. Nghe kỹ một lúc, Hậu lại phát hiện ra lời bài hát ru không phải là những điệu hát ru cũ mà lời ru hoàn toàn mới. Thì ra người hát tự đặt, hoặc đó là một bài tân nhạc được biến thành hát ru, nên nghe vừa lạ lại vừa dễ gây thích thú cho người nghe. - Kìa cậu... Tiếng của ông già Tư sau lưng. Hậu quay lại, anh hơi bực mình: - Con đi dạo mát, sao chú Tư theo ra làm gì. Già Tư có vẻ lo lắng: - Nửa đêm mà cậu đi ra đây, bảo sao tôi không lo? Hậu cau mày: - Vườn nhà mình chứ phải trong rừng trong rú gì đâu mà chú ngại? Rồi anh hỏi tiếp liền: - Bên kia có xóm nhà phải không chú Tư? Già Tư ngạc nhiên: - Bên nào? Làm gì có... - Thì bên phía có tiếng ru kia kìa. Lúc ấy chẳng hiểu sao tiếng hát ru đã ngưng bặt, nên già Tư hỏi lại: - Tiếng hát gì ở đâu? Hậu đành phải chỉ tay qua hàng rào: - Bên đó đó! Con mới nghe ai hát ngọt ngào lắm. Tự dưng ông già Tư tái mặt, ông kéo tay Hậu quay trở lại ngay: - Cậu đừng đứng ở đây! Bị lôi đi bất ngờ, Hậu không cưỡng lại được, nhưng chừng vài chục bước anh đã giằng tay ra và gắt lên: - Sao chú làm vậy, cháu đâu phải trẻ con! - Nhưng... tốt hơn là cậu nên vào nhà. Tôi đã hâm cơm và dọn ra rồi, cậu vào ăn cho nóng. Hậu không còn cách nào hơn, nên anh lững thững đi theo vào nhà. Tuy nhiên trong đầu anh vẫn còn nghe văng vẳng tiếng hát ru kia... Anh vụt hỏi: - Bên đó ai ở vậy chú Tư? Già Tư đáp không tự nhiên: - Có ai đâu. Nơi đó... - Chắc chắn là có xóm nhà. Vậy mà lâu nay con cứ nghĩ nhà mình ở giữa rừng, cách ly với mọi thôn xóm, như có lần ba con nói, ông không thích có xóm làng ở gần. - Ừ! - Chú xác nhận với con là có xóm làng ở nơi đó phải không? - Đâu có! Tôi nói lời ông bảo là đúng. Sinh tiền ông không thích chung đụng với người khác. Hồi xây ngôi nhà này cũng thế, đúng ra nó ở cách đây hơn hai cây số, chỗ ranh đất phía đông, nhưng do nó gần với xóm của cư dân, nên ông chủ chuyển qua đây dựng nhà và tỏ ra thích thú lắm. Lúc ngồi ăn cơm, chợt nhớ ra Hậu lại hỏi: - Có ai quen mà thường qua lại với nhà mình không chú Tư? - Cậu quên lời tôi kể sao, lúc sinh tiền ông có thích giao du với ai ở xứ này đâu mà quen với biết? - Kể cả khách của chú cũng không sao? Già Tư lắc đầu: - Tôi sống như cái bóng giữa cuộc đời này thì làm gì giao du với ai! Hậu nhận ra mình vừa chạm vào nỗi đau riêng của ông, nên vội nói: - Xin lỗi chú! Hậu cố nuốt cho xong hai chén cơm rồi vội rút ngay về phòng. Khi bước vào phòng chợt Hậu đứng khựng lại, nhìn sững một nhánh lan rừng còn tươi rói đang nằm trên gối của mình. - Hoa ở đâu vậy? Bước tới cầm cành hoa lên, Hậu càng ngạc nhiên hơn khi thấy có một chiếc khăn tay màu trắng tinh lót bên dưới. Ở một góc chiếc khăn có thêu một đóa lan rừng màu tím nhạt rất tinh xảo. - Của ai? Thừ người ra một lúc rồi Hậu đưa mắt nhìn quanh tìm kiếm. Phòng anh trống trơn, chỉ có chiếc tủ áo, chiếc bàn viết và chiếc giường ngủ đơn giản. Cả ba nơi Hậu đều kiểm tra, không phát hiện gì lạ, cửa nẻo thì không có dấu hiệu đã mở. Anh gọi lớn: - Chú Tư ơi! Già Tư chạy lên ngay, lo lắng hỏi: - Gì vậy cậu Hai? Hậu kịp giấu chiếc khăn tay vào túi, chỉ để nhành hoa lan ở ngoài và hỏi: - Ai để cành hoa này trong phòng con vậy chú? Già Tư quá đỗi ngạc nhiên: - Ủa, tôi đâu có biết! Mà ai để hồi nào vậy? Hậu xẵng giọng: - Nếu biết họ để lúc nào thì con hỏi làm gì nữa! Con muốn hỏi, phòng này ngoài con ra còn có ai có chìa khóa không? Lúc nãy chú... Già Tư đáp vội: - Tôi không vào phòng cậu làm gì! Vả lại phòng này chỉ có cái chìa khoá duy nhất, tôi đã đưa cho cậu rồi đó. Mà lúc nãy khi đi ra ngoài cậu có quên đóng cửa không đó? Hậu quả quyết: - Con có tính xưa nay hễ bước ra khỏi phòng dù là xuống bếp ăn cơm cũng khóa cửa lại, con sợ chuột, gián vào phòng lắm... Đến phiên ông già Tư ngỡ ngàng: - Chuyện này kỳ cục quá. Mà ngoài cành hoa này, còn có gì khác nữa không? Hậu không dám nói đến chiếc khăn, nên lắc đầu: - Không có! Ông già Tư nhìn xuống gầm giường: - Cậu coi có ai trốn dưới này hay trong tủ không! - Con đã xem rồi, không có gì hết. Đích thân già Tư xem lại các cửa sổ và quả quyết: - Phòng này một khi cửa đã khóa thì con gián cũng không vào được, nói chi... Ông nhìn Hậu như có ý muốn hỏi thêm nhưng ngại nên sau vài giây nhìn tới nhìn lui, ông lẳng lặng bước ra ngoài. Hậu thì vẫn còn ngẩn ngơ khá lâu, mắt cứ đăm đăm nhìn cành hoa lan mà chưa biết phải làm sao. Đến khi chợt nhớ đến chiếc khăn tay, anh lấy ra và bấy giờ mới nhận ra nó có hương thơm nhẹ nhàng, một thứ hương thơm khác lạ, không giống với các loại nước hoa nhân tạo mà anh từng ngửi. Chứng tỏ chắc chắn phòng này vừa có phụ nữ vào. - Phòng còn mất đồ đạc gì không cậu? Dù chưa kiểm tra, nhưng Hậu vẫn xua tay: - Không mất gì hết. Thôi, con muốn ngủ một giấc nữa... Ông già Tư vừa bước ra thì Hậu đã khóa ngay cửa lại và anh nói như với người thứ hai: - Tôi không sợ đâu, bây giờ tôi ngủ, nếu có tới đòi lại chiếc khăn tay thì cứ giỏi tới lần nữa xem! Nói xong anh nằm xuống, tắt đèn như ngầm chờ đợi. Và Hậu ngủ thiếp đi lúc gà rừng gáy canh một. Vừa rạng sáng thì giọng ông già Tư oang oang từ ngoài sân: - Dậy cậu Hai ơi, mặt trời lên rồi! Hậu choàng tỉnh và việc đầu tiên là anh nhìn bên cạnh, nơi trước lúc ngủ anh đặt cành hoa lan ở cạnh gối. Không còn cành hoa! Bật ngay dậy, Hậu nhìn quanh và quá đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy cành lan đang được cắm trong chiếc ly uống nước, sắc hoa vẫn còn rất tươi! - Ai cắm hoa vậy? Hậu thầm hỏi và chợt nhớ đến vật quan trọng còn nằm trong túi áo của mình, anh đưa tay sờ và... thót tim. Chiếc khăn tay đã biến mất! Hậu tái mặt, đứng như bị trời trồng khá lâu... *** Nói dối ông già Tư là ra thị xã gửi thư, nhưng Hậu lại bỏ xe ở một góc rừng, rồi đi bộ vòng ra phía sau đất vườn của mình. Vòng rào khu vườn dài gần cây số, nên Hậu phải mất gần mười lăm phút mới tới phía sau, nơi anh đoán là ngang với chỗ mình đứng đêm qua.Việc đầu tiên của Hậu là tìm xem nơi này có xóm nhà nào không? Anh hoàn toàn thất vọng, bởi đúng như già Tư nói, chỗ này hoang vắng, không hề có ngôi nhà nào. Ngoại trừ... Lúc ấy chợt Hậu nhìn thấy một mái nhà thấp bằng xi măng đã khá cũ nằm lẩn khuất trong đám cỏ lau. Anh bước lại gần hơn và giật mình khi nhận ra đó là một nhà mồ với hai ngôi mộ xây nằm song hàng nhau. Mồ không có mộ bia. - Mồ mả của ai mà để hoang phế thế này? Hậu cảm cảnh chép miệng vừa đưa tay vẹt cỏ lau bước tới gần hơn. Anh chợt giật mình khi nhận thấy trước mộ có hai cành hoa lan giống y như cành hoa ai đó đã để trong phòng mình! - Sao lại... Hậu nhìn quanh một lượt, cố tìm xem có đường mòn nào dẫn vào, để từ đó biết nó dẫn tới chỗ nào đó mà anh cần biết. Có nghĩa là anh đang muốn biết chủ nhân của những cành lan này là ai. Nếu là nữ thì hai ngôi mộ này là nam và có thể là... Vừa khi ấy chợt bên tai Hậu vang lên rất khẽ tiếng hát ru đêm qua. Lần này giọng hát ở xa, chỉ khi gió thuận chiều Hậu mới nghe rõ... - Đúng là nàng ta rồi! Hậu quên cả hiểm nguy, anh đạp cỏ gai, nhắm hướng có tiếng hát mà đi thật nhanh, như sợ nó biến mất. Nhưng khi ra khỏi đám cỏ tranh thì không còn nghe âm thanh nào nữa, ngoại trừ tiếng chân chạy của mấy con thỏ rừng. - Sao lạ vậy? Hậu dừng lại nghe ngóng một lúc khá lâu, chợt ánh mắt anh nhìn thấy xa xa có vài nóc nhà. Nó ở cách đó có đến vài cây số. Điều đó có nghĩa là nếu có ai hát trong xóm nhà đó thì nơi Hậu đứng cũng không làm sao nghe được. Tuy vậy Hậu vẫn mừng thầm và anh lại cố bước nhanh về hướng ấy. Cuối cùng thì ngôi nhà tranh đầu tiên cũng hiện ra. Ngôi nhà trống trước trống sau và không có bóng người. Hậu bước sang ngôi nhà thứ hai cách đó khoảng gần trăm thước. Vẫn như vậy, có nghĩa là nhà trống, chẳng có một ai. Hậu lấy làm lạ, anh cố nhìn kỹ hơn, nhưng rõ ràng đây là những ngôi nhà bỏ hoang, thậm chí một con chó, con gà cũng vắng bóng. Có tất cả tám ngôi nhà, chúng cách nhau ngót trăm thước, Hậu bước hết từng căn một để quan sát với nỗi thất vọng và ngạc nhiên. - Chẳng lẽ cả xóm nhà này đều bị bỏ hoang? Hậu đánh bạo bước vào ngôi nhà ở cuối xóm và giật thót người khi có một con mèo màu đen tuyền chạy thoát ra từ chiếc giường ọp ẹp. Một con mèo hoang! Hậu nghĩ là vậy, nhưng ngay sau đó anh lại vô cùng ngạc nhiên khi thấy con mèo sau khi chạy biến vào đám cỏ tranh đã quay trở lại và giương cặp mắt màu xanh ve chai nhìn về phía anh với sự thân thiện, không sợ sệt hay hung dữ như mèo rừng. - Mày không sợ tao nữa phải không, vậy thì tới đây xem nào. Bất ngờ con vật từ từ tiến về phía Hậu và bằng một động tác nhanh như gió, nó phóng từ khoảng cách hơn năm thước đến ngay dưới chân Hậu, vừa giương mắt nhìn anh và cất tiếng kêu "meo meo" rất hiền lành! - Mày đói hả? Con mèo lại kêu lên mấy tiếng nữa, rồi nó đưa đầu cọ cọ vào chân của Hậu như Iàm quen, vẻ thân thiện. Anh cúi xuống định vuốt ve nó thì bất thần con vật phóng vèo ra xa, rời chạy đi về hướng lúc nãy. Chạy được vài bước nó lại quay nhìn, như ngầm bảo Hậu đi theo! - Mày chỉ đường cho tao? Thầm hỏi và Hậu bước theo hướng đó. Quả đúng là con mèo có ý dẫn đường cho Hậu, nên bước vài chục bước nó lại quay nhìn và cất tiếng kêu "meo meo" như lời động viên, rủ rê. Hậu thích thú bước theo, anh nói cố cho nó nghe: - Dẫn đường mà để tôi đi lạc thì không phải là bạn đâu nhé! Con mèo dường như hiểu, sau lời nói đùa của Hậu nó lại kêu lên ba tiếng "meo meo" rồi nhạy cỡn lên như vui thích lắm! Được một quãng chừng vài trăm mét, nó bỗng dừng lại rồi vẫy vẫy đuôi tỏ dấu hiệu gì đó... Hậu đưa mắt nhìn phía trước và chợt kêu lên: - Một cái hồ nước! Trước mặt anh quả là có một hồ nước tuy không lớn lắm, nhưng cũng đủ tạo khung cảnh thơ mộng mà trước đây không bao giờ Hậu nghĩ là có nó. Anh cũng chưa từng nghe cha hay ông già Tư kể về cái hồ này... - Cám ơn mày nhé, miêu. Hậu vừa định bước tới bờ hồ thì chợt khựng lại, bởi trước mắt anh, cách chưa tới mười thước, có người phụ nữ đang ngồi dưới gốc một cây kơnia cổ thụ. Nàng ta ngồi như pho tượng đá, hầu như không màng đến sự có mặt của người lạ. Tần ngần một lúc, Hậu đánh bạo lên tiếng: - Xin lỗi cô, tôi đường đột đến đây phá tan sự yên tĩnh của cô... Mặc cho Hậu nói, người kia vẫn không quay lại. Hình như cô ta không nghe thấy! Hậu lại phải lên tiếng lần nữa: - Cô ơi! Mặc cho Hậu gọi, nàng ta vẫn ngồi bất động. Cho đến khi con mèo bất thần nhảy bổ tới và sà ngay vào lòng nàng ta, lúc ấy cô nàng mới rùng mình một cái và quay người nhìn lại. Hậu kêu lên thảng thốt: - Ồ, đẹp quá! Cô nàng còn khá trẻ, tuy ăn mặc lôi thôi rách rưới, nhưng khuôn mặt và mái tóc đen dài thì hoàn toàn tương phản với hình hài. Hậu không tin vào mắt mình, anh dụi mắt hai lượt rồi ấp úng lên tiếng: - Cô... cô đây là... Con mèo rúc đầu vào người nàng, chứng tỏ nó và nàng thân nhau lắm. Rồi bất ngờ hơn, nàng lên tiếng: - Phải là người lương thiện thì con mèo này mới dẫn đường tới đây! Nàng nói mà không nhìn Hậu, mắt hướng về phía hồ nước và chẳng nói gì thêm, mà nàng lại cất tiếng hát. Đúng là giọng hát ru đêm qua! Hậu ngẩn ngơ đứng nghe và như bị thu hồn phách. Anh không nhớ là mình đã hành động gì chỉ biết một vài giây sau đó anh đã nhẹ bước tới và lẳng lặng ngồi xuống bên cạnh, chăm chú nghe... Trong lúc hát thì hầu như cô gái không để ý gì tới chung quanh. Và hơn nữa là vừa hát cô nàng vừa đong đưa hai tay qua lại giống y như đang ru con. Bài hát ngắn, được lặp đi lặp lại vài lần, mà lời thì rõ ràng nàng ta đã tự chế theo ý của mình, nghe vừa thực tế, vừa cảm động. Cuối cùng... nàng khóc nức nở! Im lặng nãy giờ, lúc này Hậu mới lên tiếng: - Kìa cô, cô sao vậy? Không ngờ sự lên tiếng của Hậu lại khiến cho cô nàng kinh hãi đến tột độ, cô ta té ngã sang một bên, rồi giương mắt nhìn anh như nhìn một quái vật, và trong nháy mắt, cô nàng phóng mình tới trước và biến mất sau đám cỏ tranh. Rồi chỉ ít giây sau Hậu nghe có tiếng "ùm" mạnh, y như một người vừa nhảy xuống nước! Hốt hoảng, Hậu chạy bay xuống sát mé hồ, anh vẫn còn thấy mặt nước khua động. Không kịp suy nghĩ thêm, Hậu để nguyên quần áo, phóng nhanh xuống hồ. Nước buổi sáng khá lạnh nhưng Hậu bất kể, anh nín thở lặn sâu xuống nơi anh thấy có dấu hiệu người vừa nhảy. Hồ khá sâu, cho nên lặn hết hơi thở đầu mà vẫn chưa thấy gì, Hậu phải trồi lên rồi lấy hơi dài hơn, lặn lần nữa. Trước sau Hậu lặn có đến chục lần mà vẫn không thấy ai dưới nước, đến khi đã đuối sức anh mới quyết định thôi không lặn nữa. Leo Iên bờ với tâm trạng hối tiếc, thương cảm, anh chép miệng: - Sao nàng lại làm vậy nhỉ? Bước tới gốc cây định thay quần áo ra vắt khô, bất chợt Hậu nhìn thấy một chiếc áo lụa màu hồng của nữ đang máng trên cành cây thấp ngang tầm nhìn, mà rõ ràng lúc nãy anh không hề thấy. - Áo của ai? Hậu cầm thử lên xem thì một hương thơm quen thuộc phả vào mũi khiến anh nhớ ra ngay: - Của cô ấy! Cô ấy mà Hậu muốn nói tới là mùi hương mà anh ngửi được ở chiếc khăn tay đêm trước. Hai mùi giống nhau chứng tỏ hai vật là của một người. Mà đó là người nào? Cô gái hát lúc nãy chắc là không rồi, bởi cô nàng tuy đẹp nhưng ăn mặc lôi thôi, rách rưới, đâu phải mặc chiếc áo này. Đang lưỡng lự không biết có nên giữ chiếc áo hay máng nó lại cành cây thì bỗng Hậu nhìn thấy một bóng áo hồng lướt nhanh qua đám cỏ tranh phía trước tức phía dẫn về nhà mình, Hậu thốt lên: - Cô ơi! Anh cầm luôn chiếc áo trong tay vừa đuổi theo. Chưa quen chạy trong cỏ tranh, nên khi Hậu chạy gần tới bờ rào nhà mình thì chẳng còn thấy bóng dáng người mặc áo hồng kia. Nhìn lại lúc này Hậu mới hay mình đang đứng gần hai ngôi mộ đá cũ. Hai cành lan tươi lúc nãy không còn đó, mà thay vào là hai chiếc hài ướt sũng nước, mỗi chiếc một kiểu khác nhau. - Ai vừa tới đây? Hậu còn đang ngẩn ngơ thì chợt nghe có tiếng gọi của ông già Tư: - Kìa, cậu Hai, sao cậu ở bên đó? Ông già đang đứng bên rào nhìn sang. Hậu chỉ hai ngôi mộ và hỏi: - Mồ mả của ai vậy chú Tư? Ông già Tư hơi ngập ngừng: - Tôi... tôi cũng không biết.. mộ đó... Rồi ông giục: - Cậu không được ở ngoài đó. Không nên đâu! Ông vừa kêu lên vừa chạy vòng trở ra, ý cho Hậu biết là ông đang chạy qua chỗ đó. Hậu phải la lên: - Con về liền mà! À mà không, con có chuyện ngoài thị xã phải đi, đến trưa con mới về. Anh phải rời đó để tránh không cho ông già Tư chạy qua, đồng thời anh không muốn để ông nhìn thấy chiếc áo màu hồng mà mình đang giữ khư khư trên tay. Khi đi bộ trở ra xe thì lại một lần nữa, Hậu quá đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy trên băng ghế chỗ lái xe ngồi có hai cành hoa lan, giống như hai cành hoa trước hai ngôi mộ lúc nãy. Nhìn quanh một lượt, Hậu biết anh có cố tìm cũng chẳng được, nên nói bâng quơ: - Tôi xin nhận những cánh hoa xinh đẹp và cả chiếc áo lụa này. Không được đòi lại đâu nhé! Hậu rồ xe chạy đi và qua kính chiếu hậu, anh nhìn thấy có một bóng hồng lướt nhanh về phía cuối bờ rào... Phần 1 Chuyện Tình Xưa Theo đúng như kế hoạch thì sau một tuần Hậu sẽ trở lại Sài Gòn, nhưng qua đến mười ngày mà vẫn chưa thấy anh về, ông già Tư thắc mắc: - Bộ cậu Hai quên là cậu có phiên họp gì đó với khách hàng ở dưới sao? Hậu vẫn tỉnh bơ: - Con đã điện về bảo hoãn lại. Con còn muốn ở lại đây thêm ít hôm nữa. - Chỉ sợ bà ở nhà lo cậu đi lâu thôi. Từ hôm cậu lên tới nay tôi quên không hỏi bệnh tình của bà lúc này ra sao! Hậu hơi buồn: - Má con thì vẫn vậy. Bà vẫn ở bên ngoại con. Đây là điều tế nhị, bởi vậy già Tư không muốn hỏi, nhưng trên tay ông có một vật mà ông không thể không nhắc tới bà chủ nhà từ trên chục năm nay không trở về đây: - Sáng sớm nay chẳng hiểu sao vật này lại nằm ở ngay trước sân nhà mình. Khi tôi ra tưới cây thì nhìn thấy, tôi nhận ra ngay là của bà... Vật đó là chiếc quạt bằng đồi mồi, ở cán quạt có khắc dòng chữ: Tặng Lệ Hoa yêu dấu. Từ nào đến giờ Hậu chưa từng trông thấy, nên anh ngạc nhiên: - Sao chú biết là của má con? - Ngày trước khi bà lên sống trên này một thời gian dài, ngày nào bà cũng cầm cây quạt này phe phẩy. Hậu cầm lấy xem, khi thấy có tên của mẹ trên đó anh mới tin: - Lâu nay con không thấy má con xài cây quạt này, nhưng tên đúng là tên của má. - Hồi bà còn ở đây, có lần bà than là mất chiếc quạt mà bà yêu thích, bà kiếm tùm lum hết mà chẳng thấy. Chẳng hiểu sao bây giờ nó lại ở đây! - Nhìn nước bóng của cây quạt thì lâu nay có người xài nó, chứ chẳng phải bỏ xó. Ông đưa cho Hậu: - Cậu đem về cho bà, chắc là bà mừng lắm. Hậu chép miệng: - Không chắc bà còn nhớ. - Làm sao không, khi đây là vật bất ly thân của bà trước đây mà! - Nhưng trí nhớ má từng... Hậu không nói ra chứng bệnh tâm thần mà mẹ đang mang... Anh chỉ cầm lấy quạt và nhẹ lắc đầu. Sáng nay Hậu không muốn ra ngoài, nên sau khi cầm chiếc quạt, anh định trở về phòng riêng, anh dặn ông già Tư: - Trưa nay con không ăn cơm, khi nào đói con sẽ tự tìm xuống bếp ăn, chú Tư không phải lo cho con. Nếu có ai tìm thì chú cứ đưa họ lên phòng con, đừng hỏi han lôi thôi, đó là khách riêng của con. Hậu phải nói như vậy bởi mười giờ sáng hôm nay, anh phải ở trong phòng để chờ một người theo như giấc mơ đêm qua anh được báo trước. Lý do của việc hoãn trở về Sài Gòn cũng nằm trong cuộc hẹn này. Nửa đêm qua, khi đang mơ màng ngủ, Hậu đã nghe có người gọi tên mình ngoài cửa sổ và căn dặn rất rõ rằng những điều gì anh cần biết thì đúng mười giờ sáng mai có người sẽ tới và cho anh biết tất cả! Hậu cũng không biết mình cần biết điều gì, tuy nhiên nghe như vậy thì anh vô cùng nôn nóng, đồng thời linh tính cũng báo cho anh sẽ có chuyện gì đó... Đúng ra Hậu cũng không tin hẳn vào chuyện mộng mị, nếu sau khi thức giấc anh không nhìn thấy thêm một nhánh lan rừng nữa nằm cạnh gối mình. Anh quả quyết là chính người nào đó đang theo sát anh, muốn giúp anh chuyện gì đó... *** Mười giờ...Hậu hồi hộp chờ đợi và cứ một tiếng động nhỏ bên ngoài cửa cũng làm cho anh bật dậy, mở cửa nhìn ra. Để rồi thất vọng. Cuối cùng anh phải mở cửa đi xuống nhà và hỏi: - Chưa có ai tìm con sao chú Tư? Ông già Tư đáp: - Tôi cũng không dám đi đâu cứ ngồi nhà chờ mà chưa thấy ai. Hậu lầm bầm rồi đi trở lên lầu. Khi vừa đẩy cửa phòng bước vào anh đã giật bắn người khi thấy một phụ nữ có tuổi ngồi đợi sẵn trong đó! - Bà là ai? Trong phòng hơi tối, tuy không nhìn rõ mặt vị khách, nhưng cũng đủ nhận ra đó là một phụ nữ tuổi trên bốn mươi, người gầy, khuôn mặt phúc hậu. Bà để khi Hậu bước hẳn vào phòng rồi mới trả lời câu hỏi: - Là người mà cậu đang đợi! - Nhưng... tôi đã khóa cửa khi đi ra, vậy bà vào từ lúc nào vậy? Bà ta cười nhẹ, nét buồn vẫn không biến khỏi ánh mắt: - Khi người ta đã muốn vào đâu thì dù có khóa chục lần khóa cũng không thể ngăn được. Huống hồ gì... Rồi bà nhìn về phía nhánh lan rừng, nói tiếp: - Như những nhánh lan này, nó có đợi cho cậu mở khóa đâu! Câu ví von làm cho Hậu giật mình. Anh không ngờ bà ta biết hết việc đã xảy ra trong phòng anh. - Vậy bà là... Người đàn bà vẫn giọng nhẹ nhàng: - Tôi nói rồi, là người mà cậu cần gặp. - Nhưng thật ra, tôi chẳng có gì để đợi gặp ai cả. Tôi... Bà ta chặn ngang lời của Hậu: - Vậy cậu đi tìm ai và nhảy xuống hồ nước để cứu ai? Hậu giật mình: - Thì ra bà biết việc ấy? Và bà là... Bà ta không đáp mà hỏi lại: - Hóa ra cậu chỉ vì mê bóng sắc của một cô gái nên mới liều mình cứu cô ta? Nếu đúng như thế thì tôi cũng chẳng cần gặp cậu làm gì. Vậy cậu trả vật kia lại cho tôi. Hậu giật mình: - Tôi lấy cái gì của bà? - Vật cậu đang cầm trên tay đó! - Cây quạt? Đây là vật vốn của mẹ tôi mà! - Nhưng hơn mười năm nay nó ở trong tay tôi. Cậu có muốn biết tại sao mẹ cậu lại không có quyền giữ vật ấy không? Hậu bắt đầu mất kiên nhẫn: - Bà là ai, tại sao lại như hiềm khích với mẹ tôi? Người đàn bà bỗng ngửa mặt lên trời cười một tràng dài mà thoạt nghe như tiếng khóc, tiếng rú thì đúng hơn. Hậu còn đang ngơ ngác thì chợt cửa phòng bị kéo ra, ông già Tư xuất hiện và ngơ ngác: - Chuyện... chuyện gì vậy cậu Hai? Vừa kịp nhìn thấy người phụ nữ, ông kêu lên kinh ngạc: - Bà... sao bà lại ở đây, bà Lý? Sự xuất hiện của ông Tư là ngoài mong đợi, tuy nhiên người đàn bà được gọi là bà Lý kia vẫn bình tĩnh: - Ông được lệnh của bà ấy cấm không cho tôi về đây hay sao? Ông già Tư hơi lúng túng: - Tôi... tôi... chỉ ngạc nhiên. Tại sao bà đã... - Người đã chết thì không được về gặp mặt ai nữa sao? Câu nói đó khiến Hậu tái mặt, anh lắp bắp: - Người... người này... Người đàn bà không quan tâm đến Hậu mà nhìn về phía ông già Tư. - Chắc là ông không ngờ phải không, Lê Sang? Lâu nay Hậu đã quen nghe ông già quản gia là ông Tư Lê hay ông Lê Thành, chứ cái tên Lê Sang là lần đầu. Hậu ngơ ngác: - Lê Sang là ai? Người phụ nữ nghiêm giọng: - Sao ông chưa ngồi xuống, hay là muốn tránh mặt tôi? - Tôi... tôi... Nghe cách trả lời và thái độ của ông ta, Hậu đoán chắc là có điều gì đó không bình thường. Tuy nhiên lúc này anh chỉ quan tâm đến việc bà ta là một hồn ma. Anh hơi ngập ngừng và khéo léo lùi dần về phía cửa nhân lúc ông già Tư đang là tâm điểm của câu chuyện. Tuy nhiên, người đàn bà rất tinh ý, đã lên tiếng ngay: - Tôi đang cần nói chuyện với cậu, chứ người đàn ông này thì chưa tới lượt. Cậu đừng nên đi như vậy, sẽ không hay. Hậu đành phải dừng lại, anh lúng túng: - Bà cần gì ở tôi? - Chỉ vì cậu là con của người đàn bà tên Lệ Hoa. Mà mẹ cậu thì còn nợ tôi, người phụ nữ nghèo ở thôn hẻo lánh này một món nợ quá Iớn. Tôi cứ tưởng là giữa tôi với bà ta chỉ cần đòi và trả nợ riêng với tôi là xong, nên tôi có ý đợi bà ta. Nào ngờ cậu xuất hiện và làm rắc rối thêm câu chuyện vốn đã quá rối rắm này rồi! Ông già Tư bỗng kêu lên: - Tôi xin bà, hãy để cậu ấy ra khỏi cuộc hận thù này, cậu ấy là người vô tội! Bà ta nghiêm sắc mặt: - Vô tội là cách đây mười ngày kìa. Còn bây giờ thì tự cậu ấy đã biến mình thành một tội đồ mới rồi! Ông hãy hỏi xem, cậu ấy đã gây ra điều gì? Ông già Tư quay sang Hậu: - Cậu Hai, cậu đã làm gì? Hậu ngơ ngác: - Con có làm gì đâu? Con chỉ mới về đây mười bữa nay, người chung quanh con còn chưa quen nữa là... - Người chung quanh thì chưa quen, nhưng người sát vách thì cậu đã quen rồi! Chẳng những quen mà cậu còn làm cho tâm hồn trong trắng của một đứa con gái mới lớn phải chao đảo, khổ sở. Theo cậu thì như vậy chưa là tội ác sao? Hậu như người đang mơ, anh kêu lên: - Bà nói tôi làm khổ ai? Tôi... tôi... Lúc ấy chợt bà ta cầm nhánh lan rừng lên, quơ quơ trên không trung, khiến Hậu khựng lại. Anh run giọng hỏi: - Người chủ của cành hoa này... Cô ấy là... - Cậu đã nhớ ra khá nhanh, khá khen cho cậu! - Nhưng tôi chỉ gặp cô ấy có một lần, rồi khi cô ấy Iao xuống hồ tôi đã lao theo mà đâu có gặp. Rồi từ hôm đó tôi đâu có gặp lại lần nào! Ông già Tư nghe nói tới đó thì chụp lấy vai của Hậu, hốt hoảng: - Sao cậu làm chuyện đó, cậu Hai! Cậu có biết cô ta là ai không, là... ma đó! Người đàn bà phá lên cười, giọng sắc lạnh: - Ma thì sao? Nó đâu đã làm hại ai, nó còn hơn là con người còn sống. Ông thử trả lời tôi nghe coi, người sống như ông, như mụ Lệ Hoa thì so với lũ ma chúng tôi, ai ác hơn ai? - Tôi không có ý so sánh. Chỉ là vì... cậu Hậu đây hoàn toàn không biết gì, cho nên cậu ấy mới vô tình phạm phải. Mà tôi nghĩ cậu ấy cũng đâu đã làm gì ai... - Ngụy biện. Đợi cột cổ nó vào bao đá lần nữa rồi dìm xuống hồ lần thứ hai thì mới gọi là làm gì hay sao. Chuyện nó làm cho một oan hồn sắp đi đầu thai như con Hồng Lan phải chao đảo vì tình, phải trốn bỏ mồ mả đi lang thang là chuyện tốt hay sao? - Nhưng mà... Hậu phải chen vào: - Tôi đâu có làm điều đó. Cô Hồng Lan nào đó đâu có theo con! Bà ta bất ngờ chỉ tay vào chiếc tủ áo: - Cậu hãy lấy cái áo của nó ra đây xem! Hồn ma trinh nữ mà mất chiếc áo đang mặc cho một gã con trai thì nói lên điều gì? Ở cõi dương trần thì không sao, nhưng cõi âm thì bị chiếm chiếc áo con gái đã là thất tiết với người ấy rồi! Hậu kinh hãi: - Bà nói sao? Chuyện ấy là do... Giọng bà ta trở nên bi thảm: - Tôi tới tìm cậu hôm nay là để nói chuyện đó. Hồng Lan là con gái của tôi, nó mất mạng vì bàn tay độc ác của mẹ cậu, tôi đau khổ, nhẫn nhục giữ gìn nó hơn mười năm nay chỉ mong một ngày nó đi đầu thai để thoát kiếp oan hồn, hy vọng hoàn dương. Vậy mà chỉ vì nó phải lòng cậu, không kịp nghĩ suy đã trao thân cho cậu chỉ trong một đêm cậu xuất hiện ở nơi này! Hậu cố biện minh: - Một cách ngẫu nhiên, đêm hôm đó tôi nghe tiếng hát ru vọng lại của ai đó, tôi tò mò đi tìm và sáng hôm sau tôi ra chỗ có hai ngôi mộ đá, ở đó tôi gặp một cô gái ăn mặc rách rưới rất đáng thương. Thấy cô ấy nhảy xuống hồ, tôi thương tình nhảy theo tìm, nhưng nào có gặp. Chỉ có thế thôi, chứ nào tôi có hành động gì đâu mà gọi là gây ra tội ác! Tôi cũng hoàn toàn không hay biết chuyện mẹ tôi làm ngày trước, như vậy sao bà trách tôi được. - Tôi đã nói rồi, con gái cõi âm chỉ cần để người con trai dương thế mặc áo của mình thì coi như thất thân với người đó! Bà vừa dứt lời thì ông già Tư đã thét lên: - Cậu Hai ơi, chết rồi! Hậu còn chưa biết nói sao thì người đàn bà đã vụt đứng lên, cất tiếng cười lạnh lùng rồi bước nhanh ra ngoài theo lối cửa sổ. Già Tư hốt hoảng: - Bà khoan đã! Nhưng bóng bà ta đã vụt biến mất! Ông già gục xuống ôm lấy đầu rên rỉ: - Oan gia nghiệp chướng mà. Trời ơi! Hậu ngơ ngác: - Có chuyện gì vậy chú Tư? Ông già ôm lấy vai Hậu lắc mạnh, vừa gào lên: - Cậu đã gây ra oan nghiệt rồi, cậu biết không? - Nhưng... oan nghiệt gì? - Cô gái đó là... là... Ông nói tới đó thì gục xuống, cổ họng nghẹn lại như bị ai đó bóp, không thốt ra được trọn câu... - Chú Tư! Hậu đỡ ông già dậy và đưa lên giường. Nhưng ông đã bị hôn mê từ phút đó. Lúng túng mãi, cuối cùng cậu mới đưa được già Tư về phòng riêng của ông ta, sau khi xoa dầu, tạm thời giúp ông ấm lại, Hậu trở về phòng mình và định lái xe ra đầu thôn để liên lạc với trạm y tế. Nhưng anh chưa kịp đi thì đã nghe từ phòng mình có tiếng khóc của trẻ sơ sinh. - Con nít? Hốt hoảng, Hậu bước ngay vào và ngẩn người ra khi thấy trên giường mình có một đứa trẻ nằm và cất tiếng khóc thét. Nhìn quanh chẳng thấy ai khác, Hậu nói to: - Con ai thì đem đi, đây đâu phải là nhà nuôi trẻ. Tôi... tôi... Đứa trẻ sau khi nghe Hậu lên tiếng thì bỗng ngưng tiếng khóc và đưa hai cánh tay quơ quơ như muốn đòi bế! Chẳng có ai đáp lời Hậu nên anh lại phải lên tiếng lần nữa: - Ai vừa mới ở đây? Nhìn thấy dưới đầu của đứa bé có lót vật gì đó màu hồng, Hậu bước tới gần xem và giật mình: - Chiếc áo lụa! Thì ra chiếc áo mà người đàn bà kia lấy đi từ tay anh lúc nãy, bây giờ dùng để lót cho đứa bé nằm. Như vậy... Hậu mạnh dạn nói lớn: - Chính bà phải không? Đứa bé này là con ai thì bà đem cho người đó, mắc gì đến tôi! Lần này đáp lời anh là một vật bay từ ngoài cửa sổ rơi thẳng trước mặt Hậu. Nhìn kỹ lại, Hậu phải một phen giật mình, thảng thốt kêu lên: - Chiếc quạt đồi mồi! Hậu nhớ là lúc nãy anh sợ bị mất nên đã kịp cất chiếc quạt này vào ngăn tủ và khóa lại trước khi đi ra ngoài, vậy mà... Cúi xuống nhặt chiếc quạt lên, Hậu nhìn thấy có mảnh giấy nhỏ kèm theo với dòng chữ: "Muốn an toàn thì cứ giữ đứa trẻ này với cây quạt!". Không còn cách nào hơn, Hậu đành đau khổ giữ lại đứa bé trong phòng mình... *** Cứ ngỡ ông già Tư vì quá xúc động nên ngất đi chốc lát, không ngờ đã qua ngày hôm sau mà ông vẫn chưa tỉnh lại hẳn.Ông chỉ tỉnh táo trong vài giây, nhưng khi vừa nhìn thấy Hậu là ông lại rú lên, rồi sau đó lại rơi vào cơn mê như trước. Hậu lo lắng quá, nhưng chẳng biết phải làm sao, kể cả việc đưa ông Tư đi bệnh viện anh cũng không làm được, bởi phải kẹt cứng bên đứa bé oan nghiệt kia. Mà cũng lạ, đứa bé chừng ba bốn tháng tuổi này suốt ngày không thấy đòi bú sữa, mà cũng không khóc. Chỉ khi nào Hậu bỏ đi ra ngoài hơi lâu là nó mới khóc ré lên, rồi khi thấy Hậu bước vào nó lại nín khe. Hậu tự hỏi, chẳng biết sao nó sống được khi không bú sữa? Bởi vậy anh đi mua hộp sữa bò, đem về pha cho nó và đút thử, nhưng đứa bé không chịu bú, Hậu phải ép nó thì đứa bé ọc ra đầy sữa trong miệng. Hậu ngạc nhiên: - Nó vẫn có bú sữa ! Vậy thì phải chăng... Hậu nhớ tới hai tay đong đưa của cô gái bên bờ hồ hôm trước, cô ta vừa hát ru vừa đưa con... Phải chăng đứa bé này là của cô ta? Nó là con của một hồn ma! Hậu đã nuôi đứa bé gái này được ba ngày, không phát hiện ở nó một biểu hiện gì bất thường. Có nghĩa nó vẫn là một đứa bé như bất cứ đứa trẻ nào, không có chút gì gọi là con của ma hết. Điều này khiến cho Hậu lại càng hoang mang, anh muốn gặp lại người đàn bà nhưng chẳng biết phải làm sao. Với Hậu bây giờ chỉ còn chờ ông già Tư tỉnh lại để anh hỏi cho rõ ngọn nguồn việc mẹ mình thù hằn gì đó với bà ấy, nhưng tình trạng nửa mê nửa tỉnh của ông là như vậy lại càng khiến Hậu rối thêm... Việc làm ăn ở Sài Gòn cũng đang bị ách tắc. Nhân viên kế toán báo lên cho Hậu một tin bất thường: tài khoản của công ty bất động sản do Hậu làm giám đốc bỗng dưng bị khóa. Chính ngân hàng đã thông báo: có luật sư của một người tên Thiên Lý nộp đơn kiện công ty còn nợ bà ta một số tiền lớn, yêu cầu chờ khi có án lệnh của tòa mới cho mở lại tài khoản! Trước tình hình này, đáng lý ra Hậu phải về ngay để giải quyết, nhưng hiện trạng này Hậu còn biết phải làm sao. Cuối cùng Hậu phải chọn giải pháp đưa ông già Tư và cả đứa bé cùng về Sài Gòn một lúc. Tính là thế, nhưng khi bế đứa bé lên xe thì nó lại bắt đầu khóc thét lên, còn ông già Tư thì bỗng dưng lăn lộn, rên la dữ dội! Hậu phải dừng xe lại và hướng về phía có hai ngôi mộ khấn vái: - Tôi xin nhận chịu hết những gì mẹ tôi gây ra, dẫu tôi cũng chưa biết cụ thể là gì. Xin cho tôi đi về Sài Gòn được yên ổn, rồi tôi hứa là sẽ trở lại ngay. Lời anh vừa dứt thì bỗng một giọng nói phát ra từ miệng của ông già Tư, nhưng là của một phụ nữ: - Với điều kiện là phải đưa bà mẹ cậu lên đây! Hậu giật mình: - Ông Tư, ông nói hay là ai? Mà đưa má con lên đây làm gì, trong khi má con bị tâm thần, bà lại khó đi đứng được nữa! - Bà mẹ cậu lâu nay không phải do bị liệt chân, mà là do bị người ta giam lỏng ở đó, không cho đi để tránh bị trả thù. Nhưng bây giờ nếu bà ấy không lên đây thì cậu đừng hòng rời khỏi vùng đất oan nghiệt này! Mà trước khi đi hãy để đứa bé lại, sẽ có người lo cho. - Kìa, chú Tư! Nghe Hậu gọi lớn thì ông già Tư lại im bặt, hôn mê giống như trước. - Tôi xin hứa! Sau khi chở đứa bé về để nó trong phòng mình, Hậu lái xe đưa ông già Tư đi và trót lọt về tới nhà. Do để mẹ ở nhà ngoại, nên Hậu đưa luôn già Tư về đó. Vừa bước vào nhà, anh đã hết sức ngạc nhiên khi thấy mẹ mình rất tỉnh táo, giương mắt nhìn con trai rồi òa lên khóc nức nở. Bà ngoại Hậu kể: - Nửa đêm qua tới giờ nó cứ thức dậy, ngồi đó nhìn ra ngoài đường rồi cứ hỏi chừng nào thằng Hậu về? Nó nói nếu con không về trong bữa nay thì mẹ con sẽ không còn gặp lại nhau nữa! Ngoại sợ quá... Bà Lệ Hoa nhìn con từ đầu đến chân, rồi hỏi như một người bình thường: - Họ có làm gì con không? Hậu ngạc nhiên: - Ai Iàm gì con đâu má? - Thì họ muốn giết con mà! Tối qua họ còn về tận đây cứ đòi bắt má đi để đổi mạng con. Họ nói nếu má không ra khỏi nhà này thì mạng của con sẽ bỏ lại trên đó. - Ai vậy? Bà Lệ Hoa vẫn còn nét sợ hãi: - Bà Thiên Lý! - Nhưng... bà ta là ai? Có phải... Hậu nhớ lời kế toán công ty báo chuyện bà Thiên Lý nào đó ngăn chặn tài khoản công ty, anh kêu lên: - Chính bà ta rồi! Bà ngoại ngạc nhiên hỏi: - Con nói bà nào? - Bà Thiên Lý! Mẹ anh sợ hãi: - Con đã gặp bà ấy phải không? Hậu nhìn mẹ, không đáp lời bà mà lại hỏi ngược: - Giữa má và bà ta có chuyện gì với nhau vậy? Bà ta nói là hận má và quyết phải trả thù là sao? - Chuyện ấy... Bà Lệ Hoa im Iặng một lúc rồi cuối cùng, bà chậm rãi kể vắn tắt: - Đó là một chuyện buồn... Bà ấy và ba con đã quan hệ với nhau và gây đau khổ cho má. Bởi vậy cho nên má mới... Lời bà đang nói thì bỗng ông già Tư lúc ấy vẫn còn mê man, đã lên tiếng: - Không đúng! Phải có nguyên nhân thì chuyện ấy mới xảy ra. Bà dám nói thật việc làm tội lỗi của mình không? Giọng của ông già Tư nghe eo éo như một phụ nữ, mà vừa nghe thì bà Lệ Hoa đã tái mặt, lắp bắp: - Bà... bà là... - Bà phải nói thật, bà và con người này đã làm điều đồi bại gì, đến nỗi người đàn ông hiền lành, một mực thương vợ đã phải hành động để gọi là trả thù! Nói đi chứ! Bà Lệ Hoa không nói được, bà cắn chặt đôi môi đến bật máu ra rồi ôm đầu gục xuống! Hậu hốt hoảng: - Má! Trời ơi, má làm sao vậy? Ông Tư, sao ông nỡ... Nhưng lúc ấy thì cả ông già Tư cũng trở lại hôn mê. Còn bà Lệ Hoa thì toàn thân lạnh ngắt, không còn cử động được nữa. Hậu phải lo cứu chữa cho cả hai, nên không còn để ý đến những hiện tượng lạ. Mãi cho đến khi thấy mẹ có dấu hiệu hồi phục, Hậu mới kề tai bà hỏi khẽ: - Má bị sao vậy? Chú Tư hình như không bình thường, má để ý làm gì. Nhưng bà Lệ Hoa vẫn còn thất thần khi nhìn sang ông già quản gia, bà run run nói: - Con đưa ông ấy ra phòng khác ngay đi. Hay là đưa ông ấy đi bệnh viện... Hậu gật đầu: - Con cũng nghĩ như vậy, nhưng má đang bệnh, con chờ đã... Bà Lệ Hoa cố nói: - Má không sao, con cứ đưa ông ấy vào nhà thương đi, má đợi con về rồi nói con nghe chuyện này. Hậu ngoan ngoãn làm theo. Khoảng một giờ sau anh trở về báo với mẹ: - Bệnh viện nhận rồi, có lẽ lát nữa mình bảo con Tám Sen vào bệnh viện túc trực lo cho chú ấy. Bà Lệ Hoa vẫn chưa an tâm: - Sao con không để chú ở trên đó chữa trị, đem về đây nhà mình đơn chiếc, lấy đâu ra người lo lâu dài cho ông ấy được? Hậu kể lại sự việc, anh lo lắng: - Đâu phải con không biết, nhưng bà ấy ra điều kiện như thế, má bảo con phải làm sao? Nghe kể chuyện đứa bé, bà Lệ Hoa thất thần: - Sao con nhận nuôi đứa nhỏ làm gì! Nó là oan hồn uổng tử... Hậu thật lòng: - Bà ta nói do con đã có quan hệ với hồn ma người con gái ở ngôi mộ đá cạnh vườn nhà mình. Vả lại chính con đã nhìn thấy cô ấy nhảy xuống hồ nước phía sau đất của mình nữa. Nghe tới đó, bỗng bà Lệ Hoa thét lên: - Chết rồi! Rồi bà run lẩy bẩy: - Sao con... con làm chuyện đó! Con có biết đó cũng là... Bà chỉ nói được mấy tiếng đó rồi ngất đi, để cho Hậu sự sững sờ, ngơ ngác. Anh tự hỏi: - Lại chuyện gì nữa đây? Làm sao Hậu có được câu trả lời khi cả hai người biết chuyện là mẹ anh và ông già Tư đều đang trong tình trạng hôn mê. Hậu đưa mẹ sang phòng bà ngoại và dặn: - Má con chưa ổn, ngoại giúp trông giùm. Anh định trở lại bệnh viện, nhưng khi đi ngang qua phòng mẹ, nhìn thấy đồ đạc ngổn ngang, Hậu tạt vào để dọn cho ngăn nắp lại. Tuy nhiên, khi nhìn thấy ngăn tủ nhỏ ở chiếc bàn phấn kéo ra mà chưa đóng lại, anh đưa tay đẩy vào, cũng vừa lúc chợt nhìn thấy một góc tờ giấy ló ra như do ai đó vừa nhét vội vào, Hậu kéo hẳn hộc tủ ra. Tờ giấy có những chữ viết tháo, lại có màu mực đỏ như máu, khiến Hậu chú ý và đọc vội: "Nó là đứa con gái mà bà đã nhẫn tâm cùng người tình của mình dìm chết dưới hồ cùng mẹ nó! Bây giờ nó thay mặt tôi để đòi lại những gì đã mất. Đứa con đó tôi buộc thằng con trai bà phải nuôi, để nó hiểu thế nào là oan nghiệt, là nỗi khổ đau..." Hậu như bị sét đánh, anh không tin vào mắt mình, nên đọc lại một lần nữa, rồi thều thào: - Sao lại có chuyện này? Hậu có linh tính chẳng lành, nên anh kéo luôn ngăn tủ ra, tìm thấy một quyển sổ nhỏ mà anh biết đó là nhật ký của mẹ. Trước khi bị bệnh, đã vài lần bà ngồi viết và từng bảo Hậu: Má viết để sau này con cái biết cuộc đời của má. Những năm tháng bị tâm thần thì hầu như bà xếp xó không viết nữa, nhưng khi Hậu giở ra thì anh giật mình, bởi những trang cuối có ghi rõ ngày tháng mới đây. - Má đã viết được trở lại rồi! Hậu mừng, nhưng khi lật lại những trang trước đây, cách đó rất lâu, chợt anh hốt hoảng kêu lên: - Cái gì thế này? Anh đọc được: "Ngày... Mình biết được chuyện động trời! Anh ta dan díu với con Thiên Lý và có với nó một đứa con, lại là con gái! Nghe nói nó giống mẹ nó như đúc. Có nghĩa là nó cũng xinh đẹp và chắc chắn là anh ta sẽ thương yêu mê mẩn thêm và lại bỏ bê mình. Không thể được! Ngày... Mình phải gởi thằng Hậu lại cho bà ngoại nó. Mình phải đích thân tìm lên đó, gặp mặt con đ. ngựa này để cho nó biết tay! Mình không thể chịu thua đau đớn như thế này! Ngày... Hiền lưỡng lự không chịu ra tay vì sợ. Mình phải vừa khuyến khích vừa tỏ ra giận dỗi cuối cùng anh ấy mới chịu làm. Khi chạm mặt mẹ con nó mình mới giật mình bởi cả hai đứa đều xinh đẹp! Con Thiên Lý đẹp như người trong tranh còn con bé tuy mới hai tuổi nhưng cũng sắc sảo y như mẹ nó, lại có cái miệng cười và đôi mắt sáng chẳng khác nào Hảo. Đúng là anh ta khéo truyền giống! Mà mình lại càng giận khi nghĩ đến chuyện chồng mình đã san sẻ tình cảm cho người đàn bà khác, lại cho nó một đứa con như trong mơ! Như vậy chứng tỏ Hảo yêu con đó hơn mình. Bởi có yêu đương thì mới cho ra đời một dòng máu xuất sắc đến vậy! Càng nhìn con bé mình càng sôi gan, mình cứ muốn nhào vào giết chúng nó! Tuy nhiên Hiền đã ngăn mình, nói để anh ấy tính toán. Và cuối cùng Hiền đã tìm ra cách. Anh ấy lén bỏ thuốc mê vào trong bình nước mà biết chắc thế nào con Thiên Lý cũng uống khi thức dậy. Và như vậy lúc mình ra tay thì nó chẳng hề hay biết. Ngày... Khi Hiền mang con Thiên Lý đi, mình không định hại đứa con của nó, nhưng khi ra đến cửa mình nhìn lại thấy con bé đang ngủ say thì mình đổi ý. Mình không thể để một mầm họa như vậy ở yên đó. Ít nhất mình cũng đem nó cho người khác để khi lớn lên nó không biết mình là con ai, không biết mẹ nó ở đâu! Nghĩ vậy nên mình nhẹ nhàng bế nó đi theo... Thật lòng mà nói, mình nghĩ lúc bế con bé theo, mình chờ cho đến khi Hiền ném con mẹ nó xuống hồ rồi sẽ đưa nó đi xa, đem cho người lạ... Tuy nhiên khi Hiền vừa thực hiện xong việc với con Thiên Lý thì con bé chợt tỉnh dậy và nó gào thét dữ dội rồi như điên dại, nó phóng mình lao theo xuống hồ nước. Hiền nhảy theo vớt nó lên nhưng lặn mò cả buổi mà chẳng thấy..." Hậu buông rơi cuốn sổ nhật ký xuống, mắt anh hoa lên, tai ù đi... - Trời ơi! Những gì Hậu vừa đọc được trong nhật ký đâu phải chuyện đùa. Nó là sự thật ngoài sức tưởng tượng của anh. - Má, tại sao... Hậu chạy sang phòng bà ngoại, nhưng lúc ấy bà Lệ Hoa vẫn còn đang mê man, nên Hậu chỉ biết đứng như bị trời trồng. Phần 2 Chuyện Tình Xưa Theo đúng như kế hoạch thì sau một tuần Hậu sẽ trở lại Sài Gòn, nhưng qua đến mười ngày mà vẫn chưa thấy anh về, ông già Tư thắc mắc: - Bộ cậu Hai quên là cậu có phiên họp gì đó với khách hàng ở dưới sao? Hậu vẫn tỉnh bơ: - Con đã điện về bảo hoãn lại. Con còn muốn ở lại đây thêm ít hôm nữa. - Chỉ sợ bà ở nhà lo cậu đi lâu thôi. Từ hôm cậu lên tới nay tôi quên không hỏi bệnh tình của bà lúc này ra sao! Hậu hơi buồn: - Má con thì vẫn vậy. Bà vẫn ở bên ngoại con. Đây là điều tế nhị, bởi vậy già Tư không muốn hỏi, nhưng trên tay ông có một vật mà ông không thể không nhắc tới bà chủ nhà từ trên chục năm nay không trở về đây: - Sáng sớm nay chẳng hiểu sao vật này lại nằm ở ngay trước sân nhà mình. Khi tôi ra tưới cây thì nhìn thấy, tôi nhận ra ngay là của bà... Vật đó là chiếc quạt bằng đồi mồi, ở cán quạt có khắc dòng chữ: Tặng Lệ Hoa yêu dấu. Từ nào đến giờ Hậu chưa từng trông thấy, nên anh ngạc nhiên: - Sao chú biết là của má con? - Ngày trước khi bà lên sống trên này một thời gian dài, ngày nào bà cũng cầm cây quạt này phe phẩy. Hậu cầm lấy xem, khi thấy có tên của mẹ trên đó anh mới tin: - Lâu nay con không thấy má con xài cây quạt này, nhưng tên đúng là tên của má. - Hồi bà còn ở đây, có lần bà than là mất chiếc quạt mà bà yêu thích, bà kiếm tùm lum hết mà chẳng thấy. Chẳng hiểu sao bây giờ nó lại ở đây! - Nhìn nước bóng của cây quạt thì lâu nay có người xài nó, chứ chẳng phải bỏ xó. Ông đưa cho Hậu: - Cậu đem về cho bà, chắc là bà mừng lắm. Hậu chép miệng: - Không chắc bà còn nhớ. - Làm sao không, khi đây là vật bất ly thân của bà trước đây mà! - Nhưng trí nhớ má từng... Hậu không nói ra chứng bệnh tâm thần mà mẹ đang mang... Anh chỉ cầm lấy quạt và nhẹ lắc đầu. Sáng nay Hậu không muốn ra ngoài, nên sau khi cầm chiếc quạt, anh định trở về phòng riêng, anh dặn ông già Tư: - Trưa nay con không ăn cơm, khi nào đói con sẽ tự tìm xuống bếp ăn, chú Tư không phải lo cho con. Nếu có ai tìm thì chú cứ đưa họ lên phòng con, đừng hỏi han lôi thôi, đó là khách riêng của con. Hậu phải nói như vậy bởi mười giờ sáng hôm nay, anh phải ở trong phòng để chờ một người theo như giấc mơ đêm qua anh được báo trước. Lý do của việc hoãn trở về Sài Gòn cũng nằm trong cuộc hẹn này. Nửa đêm qua, khi đang mơ màng ngủ, Hậu đã nghe có người gọi tên mình ngoài cửa sổ và căn dặn rất rõ rằng những điều gì anh cần biết thì đúng mười giờ sáng mai có người sẽ tới và cho anh biết tất cả! Hậu cũng không biết mình cần biết điều gì, tuy nhiên nghe như vậy thì anh vô cùng nôn nóng, đồng thời linh tính cũng báo cho anh sẽ có chuyện gì đó... Đúng ra Hậu cũng không tin hẳn vào chuyện mộng mị, nếu sau khi thức giấc anh không nhìn thấy thêm một nhánh lan rừng nữa nằm cạnh gối mình. Anh quả quyết là chính người nào đó đang theo sát anh, muốn giúp anh chuyện gì đó... *** Mười giờ...Hậu hồi hộp chờ đợi và cứ một tiếng động nhỏ bên ngoài cửa cũng làm cho anh bật dậy, mở cửa nhìn ra. Để rồi thất vọng. Cuối cùng anh phải mở cửa đi xuống nhà và hỏi: - Chưa có ai tìm con sao chú Tư? Ông già Tư đáp: - Tôi cũng không dám đi đâu cứ ngồi nhà chờ mà chưa thấy ai. Hậu lầm bầm rồi đi trở lên lầu. Khi vừa đẩy cửa phòng bước vào anh đã giật bắn người khi thấy một phụ nữ có tuổi ngồi đợi sẵn trong đó! - Bà là ai? Trong phòng hơi tối, tuy không nhìn rõ mặt vị khách, nhưng cũng đủ nhận ra đó là một phụ nữ tuổi trên bốn mươi, người gầy, khuôn mặt phúc hậu. Bà để khi Hậu bước hẳn vào phòng rồi mới trả lời câu hỏi: - Là người mà cậu đang đợi! - Nhưng... tôi đã khóa cửa khi đi ra, vậy bà vào từ lúc nào vậy? Bà ta cười nhẹ, nét buồn vẫn không biến khỏi ánh mắt: - Khi người ta đã muốn vào đâu thì dù có khóa chục lần khóa cũng không thể ngăn được. Huống hồ gì... Rồi bà nhìn về phía nhánh lan rừng, nói tiếp: - Như những nhánh lan này, nó có đợi cho cậu mở khóa đâu! Câu ví von làm cho Hậu giật mình. Anh không ngờ bà ta biết hết việc đã xảy ra trong phòng anh. - Vậy bà là... Người đàn bà vẫn giọng nhẹ nhàng: - Tôi nói rồi, là người mà cậu cần gặp. - Nhưng thật ra, tôi chẳng có gì để đợi gặp ai cả. Tôi... Bà ta chặn ngang lời của Hậu: - Vậy cậu đi tìm ai và nhảy xuống hồ nước để cứu ai? Hậu giật mình: - Thì ra bà biết việc ấy? Và bà là... Bà ta không đáp mà hỏi lại: - Hóa ra cậu chỉ vì mê bóng sắc của một cô gái nên mới liều mình cứu cô ta? Nếu đúng như thế thì tôi cũng chẳng cần gặp cậu làm gì. Vậy cậu trả vật kia lại cho tôi. Hậu giật mình: - Tôi lấy cái gì của bà? - Vật cậu đang cầm trên tay đó! - Cây quạt? Đây là vật vốn của mẹ tôi mà! - Nhưng hơn mười năm nay nó ở trong tay tôi. Cậu có muốn biết tại sao mẹ cậu lại không có quyền giữ vật ấy không? Hậu bắt đầu mất kiên nhẫn: - Bà là ai, tại sao lại như hiềm khích với mẹ tôi? Người đàn bà bỗng ngửa mặt lên trời cười một tràng dài mà thoạt nghe như tiếng khóc, tiếng rú thì đúng hơn. Hậu còn đang ngơ ngác thì chợt cửa phòng bị kéo ra, ông già Tư xuất hiện và ngơ ngác: - Chuyện... chuyện gì vậy cậu Hai? Vừa kịp nhìn thấy người phụ nữ, ông kêu lên kinh ngạc: - Bà... sao bà lại ở đây, bà Lý? Sự xuất hiện của ông Tư là ngoài mong đợi, tuy nhiên người đàn bà được gọi là bà Lý kia vẫn bình tĩnh: - Ông được lệnh của bà ấy cấm không cho tôi về đây hay sao? Ông già Tư hơi lúng túng: - Tôi... tôi... chỉ ngạc nhiên. Tại sao bà đã... - Người đã chết thì không được về gặp mặt ai nữa sao? Câu nói đó khiến Hậu tái mặt, anh lắp bắp: - Người... người này... Người đàn bà không quan tâm đến Hậu mà nhìn về phía ông già Tư. - Chắc là ông không ngờ phải không, Lê Sang? Lâu nay Hậu đã quen nghe ông già quản gia là ông Tư Lê hay ông Lê Thành, chứ cái tên Lê Sang là lần đầu. Hậu ngơ ngác: - Lê Sang là ai? Người phụ nữ nghiêm giọng: - Sao ông chưa ngồi xuống, hay là muốn tránh mặt tôi? - Tôi... tôi... Nghe cách trả lời và thái độ của ông ta, Hậu đoán chắc là có điều gì đó không bình thường. Tuy nhiên lúc này anh chỉ quan tâm đến việc bà ta là một hồn ma. Anh hơi ngập ngừng và khéo léo lùi dần về phía cửa nhân lúc ông già Tư đang là tâm điểm của câu chuyện. Tuy nhiên, người đàn bà rất tinh ý, đã lên tiếng ngay: - Tôi đang cần nói chuyện với cậu, chứ người đàn ông này thì chưa tới lượt. Cậu đừng nên đi như vậy, sẽ không hay. Hậu đành phải dừng lại, anh lúng túng: - Bà cần gì ở tôi? - Chỉ vì cậu là con của người đàn bà tên Lệ Hoa. Mà mẹ cậu thì còn nợ tôi, người phụ nữ nghèo ở thôn hẻo lánh này một món nợ quá Iớn. Tôi cứ tưởng là giữa tôi với bà ta chỉ cần đòi và trả nợ riêng với tôi là xong, nên tôi có ý đợi bà ta. Nào ngờ cậu xuất hiện và làm rắc rối thêm câu chuyện vốn đã quá rối rắm này rồi! Ông già Tư bỗng kêu lên: - Tôi xin bà, hãy để cậu ấy ra khỏi cuộc hận thù này, cậu ấy là người vô tội! Bà ta nghiêm sắc mặt: - Vô tội là cách đây mười ngày kìa. Còn bây giờ thì tự cậu ấy đã biến mình thành một tội đồ mới rồi! Ông hãy hỏi xem, cậu ấy đã gây ra điều gì? Ông già Tư quay sang Hậu: - Cậu Hai, cậu đã làm gì? Hậu ngơ ngác: - Con có làm gì đâu? Con chỉ mới về đây mười bữa nay, người chung quanh con còn chưa quen nữa là... - Người chung quanh thì chưa quen, nhưng người sát vách thì cậu đã quen rồi! Chẳng những quen mà cậu còn làm cho tâm hồn trong trắng của một đứa con gái mới lớn phải chao đảo, khổ sở. Theo cậu thì như vậy chưa là tội ác sao? Hậu như người đang mơ, anh kêu lên: - Bà nói tôi làm khổ ai? Tôi... tôi... Lúc ấy chợt bà ta cầm nhánh lan rừng lên, quơ quơ trên không trung, khiến Hậu khựng lại. Anh run giọng hỏi: - Người chủ của cành hoa này... Cô ấy là... - Cậu đã nhớ ra khá nhanh, khá khen cho cậu! - Nhưng tôi chỉ gặp cô ấy có một lần, rồi khi cô ấy Iao xuống hồ tôi đã lao theo mà đâu có gặp. Rồi từ hôm đó tôi đâu có gặp lại lần nào! Ông già Tư nghe nói tới đó thì chụp lấy vai của Hậu, hốt hoảng: - Sao cậu làm chuyện đó, cậu Hai! Cậu có biết cô ta là ai không, là... ma đó! Người đàn bà phá lên cười, giọng sắc lạnh: - Ma thì sao? Nó đâu đã làm hại ai, nó còn hơn là con người còn sống. Ông thử trả lời tôi nghe coi, người sống như ông, như mụ Lệ Hoa thì so với lũ ma chúng tôi, ai ác hơn ai? - Tôi không có ý so sánh. Chỉ là vì... cậu Hậu đây hoàn toàn không biết gì, cho nên cậu ấy mới vô tình phạm phải. Mà tôi nghĩ cậu ấy cũng đâu đã làm gì ai... - Ngụy biện. Đợi cột cổ nó vào bao đá lần nữa rồi dìm xuống hồ lần thứ hai thì mới gọi là làm gì hay sao. Chuyện nó làm cho một oan hồn sắp đi đầu thai như con Hồng Lan phải chao đảo vì tình, phải trốn bỏ mồ mả đi lang thang là chuyện tốt hay sao? - Nhưng mà... Hậu phải chen vào: - Tôi đâu có làm điều đó. Cô Hồng Lan nào đó đâu có theo con! Bà ta bất ngờ chỉ tay vào chiếc tủ áo: - Cậu hãy lấy cái áo của nó ra đây xem! Hồn ma trinh nữ mà mất chiếc áo đang mặc cho một gã con trai thì nói lên điều gì? Ở cõi dương trần thì không sao, nhưng cõi âm thì bị chiếm chiếc áo con gái đã là thất tiết với người ấy rồi! Hậu kinh hãi: - Bà nói sao? Chuyện ấy là do... Giọng bà ta trở nên bi thảm: - Tôi tới tìm cậu hôm nay là để nói chuyện đó. Hồng Lan là con gái của tôi, nó mất mạng vì bàn tay độc ác của mẹ cậu, tôi đau khổ, nhẫn nhục giữ gìn nó hơn mười năm nay chỉ mong một ngày nó đi đầu thai để thoát kiếp oan hồn, hy vọng hoàn dương. Vậy mà chỉ vì nó phải lòng cậu, không kịp nghĩ suy đã trao thân cho cậu chỉ trong một đêm cậu xuất hiện ở nơi này! Hậu cố biện minh: - Một cách ngẫu nhiên, đêm hôm đó tôi nghe tiếng hát ru vọng lại của ai đó, tôi tò mò đi tìm và sáng hôm sau tôi ra chỗ có hai ngôi mộ đá, ở đó tôi gặp một cô gái ăn mặc rách rưới rất đáng thương. Thấy cô ấy nhảy xuống hồ, tôi thương tình nhảy theo tìm, nhưng nào có gặp. Chỉ có thế thôi, chứ nào tôi có hành động gì đâu mà gọi là gây ra tội ác! Tôi cũng hoàn toàn không hay biết chuyện mẹ tôi làm ngày trước, như vậy sao bà trách tôi được. - Tôi đã nói rồi, con gái cõi âm chỉ cần để người con trai dương thế mặc áo của mình thì coi như thất thân với người đó! Bà vừa dứt lời thì ông già Tư đã thét lên: - Cậu Hai ơi, chết rồi! Hậu còn chưa biết nói sao thì người đàn bà đã vụt đứng lên, cất tiếng cười lạnh lùng rồi bước nhanh ra ngoài theo lối cửa sổ. Già Tư hốt hoảng: - Bà khoan đã! Nhưng bóng bà ta đã vụt biến mất! Ông già gục xuống ôm lấy đầu rên rỉ: - Oan gia nghiệp chướng mà. Trời ơi! Hậu ngơ ngác: - Có chuyện gì vậy chú Tư? Ông già ôm lấy vai Hậu lắc mạnh, vừa gào lên: - Cậu đã gây ra oan nghiệt rồi, cậu biết không? - Nhưng... oan nghiệt gì? - Cô gái đó là... là... Ông nói tới đó thì gục xuống, cổ họng nghẹn lại như bị ai đó bóp, không thốt ra được trọn câu... - Chú Tư! Hậu đỡ ông già dậy và đưa lên giường. Nhưng ông đã bị hôn mê từ phút đó. Lúng túng mãi, cuối cùng cậu mới đưa được già Tư về phòng riêng của ông ta, sau khi xoa dầu, tạm thời giúp ông ấm lại, Hậu trở về phòng mình và định lái xe ra đầu thôn để liên lạc với trạm y tế. Nhưng anh chưa kịp đi thì đã nghe từ phòng mình có tiếng khóc của trẻ sơ sinh. - Con nít? Hốt hoảng, Hậu bước ngay vào và ngẩn người ra khi thấy trên giường mình có một đứa trẻ nằm và cất tiếng khóc thét. Nhìn quanh chẳng thấy ai khác, Hậu nói to: - Con ai thì đem đi, đây đâu phải là nhà nuôi trẻ. Tôi... tôi... Đứa trẻ sau khi nghe Hậu lên tiếng thì bỗng ngưng tiếng khóc và đưa hai cánh tay quơ quơ như muốn đòi bế! Chẳng có ai đáp lời Hậu nên anh lại phải lên tiếng lần nữa: - Ai vừa mới ở đây? Nhìn thấy dưới đầu của đứa bé có lót vật gì đó màu hồng, Hậu bước tới gần xem và giật mình: - Chiếc áo lụa! Thì ra chiếc áo mà người đàn bà kia lấy đi từ tay anh lúc nãy, bây giờ dùng để lót cho đứa bé nằm. Như vậy... Hậu mạnh dạn nói lớn: - Chính bà phải không? Đứa bé này là con ai thì bà đem cho người đó, mắc gì đến tôi! Lần này đáp lời anh là một vật bay từ ngoài cửa sổ rơi thẳng trước mặt Hậu. Nhìn kỹ lại, Hậu phải một phen giật mình, thảng thốt kêu lên: - Chiếc quạt đồi mồi! Hậu nhớ là lúc nãy anh sợ bị mất nên đã kịp cất chiếc quạt này vào ngăn tủ và khóa lại trước khi đi ra ngoài, vậy mà... Cúi xuống nhặt chiếc quạt lên, Hậu nhìn thấy có mảnh giấy nhỏ kèm theo với dòng chữ: "Muốn an toàn thì cứ giữ đứa trẻ này với cây quạt!". Không còn cách nào hơn, Hậu đành đau khổ giữ lại đứa bé trong phòng mình... *** Cứ ngỡ ông già Tư vì quá xúc động nên ngất đi chốc lát, không ngờ đã qua ngày hôm sau mà ông vẫn chưa tỉnh lại hẳn.Ông chỉ tỉnh táo trong vài giây, nhưng khi vừa nhìn thấy Hậu là ông lại rú lên, rồi sau đó lại rơi vào cơn mê như trước. Hậu lo lắng quá, nhưng chẳng biết phải làm sao, kể cả việc đưa ông Tư đi bệnh viện anh cũng không làm được, bởi phải kẹt cứng bên đứa bé oan nghiệt kia. Mà cũng lạ, đứa bé chừng ba bốn tháng tuổi này suốt ngày không thấy đòi bú sữa, mà cũng không khóc. Chỉ khi nào Hậu bỏ đi ra ngoài hơi lâu là nó mới khóc ré lên, rồi khi thấy Hậu bước vào nó lại nín khe. Hậu tự hỏi, chẳng biết sao nó sống được khi không bú sữa? Bởi vậy anh đi mua hộp sữa bò, đem về pha cho nó và đút thử, nhưng đứa bé không chịu bú, Hậu phải ép nó thì đứa bé ọc ra đầy sữa trong miệng. Hậu ngạc nhiên: - Nó vẫn có bú sữa ! Vậy thì phải chăng... Hậu nhớ tới hai tay đong đưa của cô gái bên bờ hồ hôm trước, cô ta vừa hát ru vừa đưa con... Phải chăng đứa bé này là của cô ta? Nó là con của một hồn ma! Hậu đã nuôi đứa bé gái này được ba ngày, không phát hiện ở nó một biểu hiện gì bất thường. Có nghĩa nó vẫn là một đứa bé như bất cứ đứa trẻ nào, không có chút gì gọi là con của ma hết. Điều này khiến cho Hậu lại càng hoang mang, anh muốn gặp lại người đàn bà nhưng chẳng biết phải làm sao. Với Hậu bây giờ chỉ còn chờ ông già Tư tỉnh lại để anh hỏi cho rõ ngọn nguồn việc mẹ mình thù hằn gì đó với bà ấy, nhưng tình trạng nửa mê nửa tỉnh của ông là như vậy lại càng khiến Hậu rối thêm... Việc làm ăn ở Sài Gòn cũng đang bị ách tắc. Nhân viên kế toán báo lên cho Hậu một tin bất thường: tài khoản của công ty bất động sản do Hậu làm giám đốc bỗng dưng bị khóa. Chính ngân hàng đã thông báo: có luật sư của một người tên Thiên Lý nộp đơn kiện công ty còn nợ bà ta một số tiền lớn, yêu cầu chờ khi có án lệnh của tòa mới cho mở lại tài khoản! Trước tình hình này, đáng lý ra Hậu phải về ngay để giải quyết, nhưng hiện trạng này Hậu còn biết phải làm sao. Cuối cùng Hậu phải chọn giải pháp đưa ông già Tư và cả đứa bé cùng về Sài Gòn một lúc. Tính là thế, nhưng khi bế đứa bé lên xe thì nó lại bắt đầu khóc thét lên, còn ông già Tư thì bỗng dưng lăn lộn, rên la dữ dội! Hậu phải dừng xe lại và hướng về phía có hai ngôi mộ khấn vái: - Tôi xin nhận chịu hết những gì mẹ tôi gây ra, dẫu tôi cũng chưa biết cụ thể là gì. Xin cho tôi đi về Sài Gòn được yên ổn, rồi tôi hứa là sẽ trở lại ngay. Lời anh vừa dứt thì bỗng một giọng nói phát ra từ miệng của ông già Tư, nhưng là của một phụ nữ: - Với điều kiện là phải đưa bà mẹ cậu lên đây! Hậu giật mình: - Ông Tư, ông nói hay là ai? Mà đưa má con lên đây làm gì, trong khi má con bị tâm thần, bà lại khó đi đứng được nữa! - Bà mẹ cậu lâu nay không phải do bị liệt chân, mà là do bị người ta giam lỏng ở đó, không cho đi để tránh bị trả thù. Nhưng bây giờ nếu bà ấy không lên đây thì cậu đừng hòng rời khỏi vùng đất oan nghiệt này! Mà trước khi đi hãy để đứa bé lại, sẽ có người lo cho. - Kìa, chú Tư! Nghe Hậu gọi lớn thì ông già Tư lại im bặt, hôn mê giống như trước. - Tôi xin hứa! Sau khi chở đứa bé về để nó trong phòng mình, Hậu lái xe đưa ông già Tư đi và trót lọt về tới nhà. Do để mẹ ở nhà ngoại, nên Hậu đưa luôn già Tư về đó. Vừa bước vào nhà, anh đã hết sức ngạc nhiên khi thấy mẹ mình rất tỉnh táo, giương mắt nhìn con trai rồi òa lên khóc nức nở. Bà ngoại Hậu kể: - Nửa đêm qua tới giờ nó cứ thức dậy, ngồi đó nhìn ra ngoài đường rồi cứ hỏi chừng nào thằng Hậu về? Nó nói nếu con không về trong bữa nay thì mẹ con sẽ không còn gặp lại nhau nữa! Ngoại sợ quá... Bà Lệ Hoa nhìn con từ đầu đến chân, rồi hỏi như một người bình thường: - Họ có làm gì con không? Hậu ngạc nhiên: - Ai Iàm gì con đâu má? - Thì họ muốn giết con mà! Tối qua họ còn về tận đây cứ đòi bắt má đi để đổi mạng con. Họ nói nếu má không ra khỏi nhà này thì mạng của con sẽ bỏ lại trên đó. - Ai vậy? Bà Lệ Hoa vẫn còn nét sợ hãi: - Bà Thiên Lý! - Nhưng... bà ta là ai? Có phải... Hậu nhớ lời kế toán công ty báo chuyện bà Thiên Lý nào đó ngăn chặn tài khoản công ty, anh kêu lên: - Chính bà ta rồi! Bà ngoại ngạc nhiên hỏi: - Con nói bà nào? - Bà Thiên Lý! Mẹ anh sợ hãi: - Con đã gặp bà ấy phải không? Hậu nhìn mẹ, không đáp lời bà mà lại hỏi ngược: - Giữa má và bà ta có chuyện gì với nhau vậy? Bà ta nói là hận má và quyết phải trả thù là sao? - Chuyện ấy... Bà Lệ Hoa im Iặng một lúc rồi cuối cùng, bà chậm rãi kể vắn tắt: - Đó là một chuyện buồn... Bà ấy và ba con đã quan hệ với nhau và gây đau khổ cho má. Bởi vậy cho nên má mới... Lời bà đang nói thì bỗng ông già Tư lúc ấy vẫn còn mê man, đã lên tiếng: - Không đúng! Phải có nguyên nhân thì chuyện ấy mới xảy ra. Bà dám nói thật việc làm tội lỗi của mình không? Giọng của ông già Tư nghe eo éo như một phụ nữ, mà vừa nghe thì bà Lệ Hoa đã tái mặt, lắp bắp: - Bà... bà là... - Bà phải nói thật, bà và con người này đã làm điều đồi bại gì, đến nỗi người đàn ông hiền lành, một mực thương vợ đã phải hành động để gọi là trả thù! Nói đi chứ! Bà Lệ Hoa không nói được, bà cắn chặt đôi môi đến bật máu ra rồi ôm đầu gục xuống! Hậu hốt hoảng: - Má! Trời ơi, má làm sao vậy? Ông Tư, sao ông nỡ... Nhưng lúc ấy thì cả ông già Tư cũng trở lại hôn mê. Còn bà Lệ Hoa thì toàn thân lạnh ngắt, không còn cử động được nữa. Hậu phải lo cứu chữa cho cả hai, nên không còn để ý đến những hiện tượng lạ. Mãi cho đến khi thấy mẹ có dấu hiệu hồi phục, Hậu mới kề tai bà hỏi khẽ: - Má bị sao vậy? Chú Tư hình như không bình thường, má để ý làm gì. Nhưng bà Lệ Hoa vẫn còn thất thần khi nhìn sang ông già quản gia, bà run run nói: - Con đưa ông ấy ra phòng khác ngay đi. Hay là đưa ông ấy đi bệnh viện... Hậu gật đầu: - Con cũng nghĩ như vậy, nhưng má đang bệnh, con chờ đã... Bà Lệ Hoa cố nói: - Má không sao, con cứ đưa ông ấy vào nhà thương đi, má đợi con về rồi nói con nghe chuyện này. Hậu ngoan ngoãn làm theo. Khoảng một giờ sau anh trở về báo với mẹ: - Bệnh viện nhận rồi, có lẽ lát nữa mình bảo con Tám Sen vào bệnh viện túc trực lo cho chú ấy. Bà Lệ Hoa vẫn chưa an tâm: - Sao con không để chú ở trên đó chữa trị, đem về đây nhà mình đơn chiếc, lấy đâu ra người lo lâu dài cho ông ấy được? Hậu kể lại sự việc, anh lo lắng: - Đâu phải con không biết, nhưng bà ấy ra điều kiện như thế, má bảo con phải làm sao? Nghe kể chuyện đứa bé, bà Lệ Hoa thất thần: - Sao con nhận nuôi đứa nhỏ làm gì! Nó là oan hồn uổng tử... Hậu thật lòng: - Bà ta nói do con đã có quan hệ với hồn ma người con gái ở ngôi mộ đá cạnh vườn nhà mình. Vả lại chính con đã nhìn thấy cô ấy nhảy xuống hồ nước phía sau đất của mình nữa. Nghe tới đó, bỗng bà Lệ Hoa thét lên: - Chết rồi! Rồi bà run lẩy bẩy: - Sao con... con làm chuyện đó! Con có biết đó cũng là... Bà chỉ nói được mấy tiếng đó rồi ngất đi, để cho Hậu sự sững sờ, ngơ ngác. Anh tự hỏi: - Lại chuyện gì nữa đây? Làm sao Hậu có được câu trả lời khi cả hai người biết chuyện là mẹ anh và ông già Tư đều đang trong tình trạng hôn mê. Hậu đưa mẹ sang phòng bà ngoại và dặn: - Má con chưa ổn, ngoại giúp trông giùm. Anh định trở lại bệnh viện, nhưng khi đi ngang qua phòng mẹ, nhìn thấy đồ đạc ngổn ngang, Hậu tạt vào để dọn cho ngăn nắp lại. Tuy nhiên, khi nhìn thấy ngăn tủ nhỏ ở chiếc bàn phấn kéo ra mà chưa đóng lại, anh đưa tay đẩy vào, cũng vừa lúc chợt nhìn thấy một góc tờ giấy ló ra như do ai đó vừa nhét vội vào, Hậu kéo hẳn hộc tủ ra. Tờ giấy có những chữ viết tháo, lại có màu mực đỏ như máu, khiến Hậu chú ý và đọc vội: "Nó là đứa con gái mà bà đã nhẫn tâm cùng người tình của mình dìm chết dưới hồ cùng mẹ nó! Bây giờ nó thay mặt tôi để đòi lại những gì đã mất. Đứa con đó tôi buộc thằng con trai bà phải nuôi, để nó hiểu thế nào là oan nghiệt, là nỗi khổ đau..." Hậu như bị sét đánh, anh không tin vào mắt mình, nên đọc lại một lần nữa, rồi thều thào: - Sao lại có chuyện này? Hậu có linh tính chẳng lành, nên anh kéo luôn ngăn tủ ra, tìm thấy một quyển sổ nhỏ mà anh biết đó là nhật ký của mẹ. Trước khi bị bệnh, đã vài lần bà ngồi viết và từng bảo Hậu: Má viết để sau này con cái biết cuộc đời của má. Những năm tháng bị tâm thần thì hầu như bà xếp xó không viết nữa, nhưng khi Hậu giở ra thì anh giật mình, bởi những trang cuối có ghi rõ ngày tháng mới đây. - Má đã viết được trở lại rồi! Hậu mừng, nhưng khi lật lại những trang trước đây, cách đó rất lâu, chợt anh hốt hoảng kêu lên: - Cái gì thế này? Anh đọc được: "Ngày... Mình biết được chuyện động trời! Anh ta dan díu với con Thiên Lý và có với nó một đứa con, lại là con gái! Nghe nói nó giống mẹ nó như đúc. Có nghĩa là nó cũng xinh đẹp và chắc chắn là anh ta sẽ thương yêu mê mẩn thêm và lại bỏ bê mình. Không thể được! Ngày... Mình phải gởi thằng Hậu lại cho bà ngoại nó. Mình phải đích thân tìm lên đó, gặp mặt con đ. ngựa này để cho nó biết tay! Mình không thể chịu thua đau đớn như thế này! Ngày... Hiền lưỡng lự không chịu ra tay vì sợ. Mình phải vừa khuyến khích vừa tỏ ra giận dỗi cuối cùng anh ấy mới chịu làm. Khi chạm mặt mẹ con nó mình mới giật mình bởi cả hai đứa đều xinh đẹp! Con Thiên Lý đẹp như người trong tranh còn con bé tuy mới hai tuổi nhưng cũng sắc sảo y như mẹ nó, lại có cái miệng cười và đôi mắt sáng chẳng khác nào Hảo. Đúng là anh ta khéo truyền giống! Mà mình lại càng giận khi nghĩ đến chuyện chồng mình đã san sẻ tình cảm cho người đàn bà khác, lại cho nó một đứa con như trong mơ! Như vậy chứng tỏ Hảo yêu con đó hơn mình. Bởi có yêu đương thì mới cho ra đời một dòng máu xuất sắc đến vậy! Càng nhìn con bé mình càng sôi gan, mình cứ muốn nhào vào giết chúng nó! Tuy nhiên Hiền đã ngăn mình, nói để anh ấy tính toán. Và cuối cùng Hiền đã tìm ra cách. Anh ấy lén bỏ thuốc mê vào trong bình nước mà biết chắc thế nào con Thiên Lý cũng uống khi thức dậy. Và như vậy lúc mình ra tay thì nó chẳng hề hay biết. Ngày... Khi Hiền mang con Thiên Lý đi, mình không định hại đứa con của nó, nhưng khi ra đến cửa mình nhìn lại thấy con bé đang ngủ say thì mình đổi ý. Mình không thể để một mầm họa như vậy ở yên đó. Ít nhất mình cũng đem nó cho người khác để khi lớn lên nó không biết mình là con ai, không biết mẹ nó ở đâu! Nghĩ vậy nên mình nhẹ nhàng bế nó đi theo... Thật lòng mà nói, mình nghĩ lúc bế con bé theo, mình chờ cho đến khi Hiền ném con mẹ nó xuống hồ rồi sẽ đưa nó đi xa, đem cho người lạ... Tuy nhiên khi Hiền vừa thực hiện xong việc với con Thiên Lý thì con bé chợt tỉnh dậy và nó gào thét dữ dội rồi như điên dại, nó phóng mình lao theo xuống hồ nước. Hiền nhảy theo vớt nó lên nhưng lặn mò cả buổi mà chẳng thấy..." Hậu buông rơi cuốn sổ nhật ký xuống, mắt anh hoa lên, tai ù đi... - Trời ơi! Những gì Hậu vừa đọc được trong nhật ký đâu phải chuyện đùa. Nó là sự thật ngoài sức tưởng tượng của anh. - Má, tại sao... Hậu chạy sang phòng bà ngoại, nhưng lúc ấy bà Lệ Hoa vẫn còn đang mê man, nên Hậu chỉ biết đứng như bị trời trồng. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 43
Phần 3 Oan Nghiệt Định trở về nhà, nhưng do mẹ còn bệnh, nên đêm hôm đó Hậu đã phải ở lại nhà ngoại. Nhà bà chỉ có hai phòng là có giường, mùng màn đầy đủ để ngủ, một là phòng bà ngoại, hai là căn phòng của mẹ trong thời gian bà ở đây. Lấy chiếc mền ra nằm ngoài ghế trường kỷ để ngủ thì bà ngoại không cho: - Con vào phòng của má con mà ngủ, tối nay má con ngủ bên ngoại. Con cứ ngủ cho ngon, má đã ổn rồi, để ngoại lo. Hậu buộc phải ngủ lại ở phòng của mẹ. Thật ra anh cũng muốn nhân cơ hội để biết thêm về mẹ, mà bấy lâu nay anh ít có dịp lưu tâm. Nhất là nhớ lại cái trang trong nhật ký mẹ có nhắc tới Hiền, người đàn ông nào đó mà Hậu nghi hoặc và chưa biết phải hỏi ai cho ra tung tích ông ta. Đó là người tình của mẹ! Điều này đã khá rõ và còn nặng nề hơn, ông ta đã nhúng tay vào một tội ác mà chỉ mới đọc qua nhật ký Hậu đã rợn cả người! Thì ra sở dĩ ông già Tư không muốn anh ra ngoài chỗ hai cái mộ đá là bởi có liên quan tới chuyện này... Bỗng Hậu kêu lên: - Ông già Tư! Chú Tư Hiền! Từ nào giờ trong nhà chỉ quen gọi ông quản gia là chú Tư, nên cái tên tục là Hiền của chú đã bị quên đi. Có phải chăng Hiền mà mẹ nhắc trong nhật ký là... ông già Tư? Hậu tốc chạy sang phòng bà ngoại, anh hỏi to: - Có phải chú Tư quản gia là Hiền không ngoại? Bà ngoại ngạc nhiên: - Con biết rồi mà còn hỏi là sao? Thì chú ấy tên Hiền, đã làm quản gia cho ba con từ hơn hai chục năm nay. Hình như con được bao nhiêu tuổi thì chú ấy đã ở trong nhà mình bao nhiêu năm rồi... Hậu quay sang mẹ hỏi to: - Có phải Hiền mà má nói là... chú Tư quản gia không? Tuy nhiên bà Lệ Hoa vẫn mê man, nên bà đâu có nghe câu hỏi của Hậu. Thất vọng, Hậu trở về phòng. Anh giở nhật ký của mẹ ra đọc lại lần nữa. Và lúc này anh phát hiện ra một điều quan trọng khác: ở cuối tập nhật ký có một bức ảnh bán thân của một người đàn ông chụp đã lâu, ảnh ngả màu vàng, nhưng vừa thoạt trông Hậu đã nhận ra ngay người trong ảnh, đó chính là ông già Tư lúc đó cỡ gần ba mươi tuổi. Phía sau bức ảnh có ghi dòng chữ: Đỗ Ngọc Hiền chụp khi về Sài Gòn. - Ông ta là Hiền của má! Hậu không còn kiên nhẫn nữa, anh lẻn ra ngoài và gọi xe tới ngay bệnh viện. Ông già Tư lúc ấy cũng vừa tỉnh lại sau cơn mê dài. Vừa nhìn thấy Hậu, ông đã hỏi ngay: - Không ai Iàm gì con chứ? Ông ta đổi cách gọi một điều cậu hai điều cậu trước đây, mà đổi sang gọi Hậu là con, khiến anh hơi ngạc nhiên: - Chú… là chú Hiền? Ông già nhìn sững Hậu: - Con hỏi sao? Ừ, thì từ nào đến giờ ta vẫn là Hiền, Tư Hiền. - Chú là... Hậu định hỏi thẳng, nhưng anh lại khựng lại, lưỡng lự. Ông già Tư vẫn không hay biết chuyện Hậu đã rõ mọi chuyện, chú tiếp tục nói: - Ta mê man, nhưng trong cơn mê lại thấy người ta đang muốn ám hại má con. Ta muốn dậy đi báo cho bà ấy, nhưng không làm sao dậy được. Mới vừa rồi, trong lúc ta đang tuyệt vọng thì chợt nhìn thấy đứa con gái mặc chiếc áo màu hồng, nó ẵm đứa con trên tay và chạy tới báo cho ta biết rằng con phải chạy ngay đi kẻo mất mạng! Ta hốt hoảng và tỉnh lại được, kịp lúc con tới đây! Hậu không nhịn được, anh hỏi thẳng: - Chú nói xem, có phải chú đã giết cô gái đó không? Ông già Tư nhìn sững Hậu: - Con… con nói gì vậy? Giết ai? Hậu gắt lên: - Chú đã dìm mẹ người ta xuống hồ, tại sao không tha đứa bé mới có mấy tuổi? Chú có còn là con người không? Ông già Tư sững sờ trước câu hỏi bất ngờ của Hậu, ông lắp bắp: - Ta... ta... Hậu nói như gào lên: - Gieo tội ác thì sẽ phải đền tội thôi! Chú đừng giấu nữa, tôi đã biết hết rồi. Chính chú đã làm cho mẹ tôi mang tiếng là kẻ giết người! - Kìa, con! Hậu đanh giọng lại: - Lâu nay tôi kính trọng chú, thương yêu chú, coi như cha chú, vậy mà chú làm cho tôi thất vọng quá! Chú là kẻ giết người! - Kìa, Hậu! Hậu quay bước đi ngay, nhưng vừa ra tới cửa phòng bệnh, anh chợt khựng lại. Bởi có một người đang đứng chặn ngang lối đi của anh. Người ấy khi vừa nhìn thấy, Hậu đã phải kêu lên: - Là cô! Cô là... Cô gái mặc chiếc áo hồng mà Hậu từng thấy, từng cầm nó trên tay. Cô gái có gương mặt giống hệt như cô nàng ăn mặc rách rưới ngồi hát trên bờ hồ. Tuy cô ta có ăn mặc đẹp hơn, lộng lẫy hơn, nhưng mái tóc và khuôn mặt thì không thay đổi. Nhất là cặp mắt vừa long lanh, nhưng cũng đượm buồn... Cô nàng cất giọng nghiêm khắc: - Giao cho anh giữ con mà anh nỡ bỏ lại rồi đi luôn, vậy ai chăm sóc nó, ai cho nó bú suốt hai ngày nay? Hậu lúng túng: - Tôi buộc phải... tôi phải... Từ bên trong, ông già Tư hỏi vọng ra: - Ai tới vậy Hậu? Nếu là bà ấy thì để ta... Cô gái áo hồng vội vã: - Anh hãy đi đi, rồi tôi sẽ gặp lại. Còn bây giờ để tôi lo vụ này đã. Cô ta bước thẳng vào phòng bệnh. Hậu nhìn theo và chợt phát hiện, nhìn từ phía sau thì... chẳng thấy thân thể cô ta đâu, chỉ thấy thấp thoáng màu hồng của chiếc áo! Bất chợt Hậu hốt hoảng: - Cô ta... Hậu chạy rất nhanh và kịp đứng chặn ngang trước giường bệnh, vừa lên tiếng: - Cô định làm gì ông ta? Lúc bấy giờ, kể cả hình dáng của cô Hậu cũng chẳng nhìn thấy, chỉ nghe hơi thở dồn dập biểu tỏ sự tức giận. Anh dang cả hai tay ra che khuất cả ông già Tư. - Chuyện của ông ta hãy để cho tôi xử. Tôi sẽ không để ông ta tồn tại, nhưng tôi không muốn các người ra tay. Chỉ nghe Hậu nói mà không thấy ai khác, ông già Tư vội lên tiếng: - Con làm gì vậy Hậu? Cứ đi về đi, ta ở đây một mình cũng chẳng sao mà. - Nhưng ông ta đã giết tôi và bây giờ nếu không ngăn chặn kịp, ông ta sẽ lại giết luôn đứa con của anh nữa! Hậu ngạc nhiên: - Con nào của tôi? - Đứa bé kia không phải con anh thì con ai! Mẹ em nói anh không nhớ sao, chỉ cần giữ chiếc áo của em trong người anh là anh đã thành thân với em rồi, và đứa bé em giao cho anh chính là con anh đó! Chợt nhớ tới những chi tiết trong quyển nhật ký của mẹ, Hậu kinh hãi: - Sao... sao có thể như thế được? Cô là... là con của... ba tôi! Cô là... Anh buông thõng hai tay xuống, hầu như quên hẳn sự có mặt của cô ta, Hậu vùng tuôn chạy ra ngoài, vừa gào lên: - Ông trời ơi, ông giết con rồi! Ông già Tư nói to: - Không phải như vậy đâu, Hậu ơi! Nhưng bóng Hậu đã biến mất bên ngoài. Giọng cô gái hốt hoảng: - Anh ấy sẽ chết đó! Được rồi, một lần nữa anh ấy đã cứu sống ông. Bây giờ tôi hãy tạm tha cái mạng chó của ông, chờ cứu anh ta đã rồi sẽ tính! Ông già Tư ôm đầu rên rỉ: - Đúng là quả báo tôi rồi... Ông muốn nhảy ngay xuống giường để đuổi theo, nhưng cả thân người ông như bị cột chặt, không làm sao làm theo ý mình dược. - Hậu ơi! Ông ta chỉ kêu lên được mấy tiếng đó trong đau khổ tột cùng. Bỗng một giọng nói rót vào tai ông: - Con gái tôi nó ngu dại đi mê đứa con của kẻ thù, tôi ngăn không được, chỉ vì nó lỡ có con với thằng kia rồi. Nhưng còn ông đến phút này đã là giờ tận số rồi! Ông có biết bấy lâu nay chỉ vì ông luôn đeo cái tượng Phật trên cổ nên tôi chưa ra tay được, còn bây giờ thì... Nghe nói tới đó, bất chợt ông già Tư sờ lên cổ mình và thất thần khi không còn thấy tượng Phật bằng gỗ trầm hương mà ngày trước ông vô tình nhặt được ở sau vườn và đeo luôn từ ấy. Chẳng hiểu sao vật bất ly thân của ông lại biến mất. Người kia cất tiếng cười nghe đến rợn người: - Hai mươi năm tao chờ ngày này! Một luồng khí lạnh phả vào mặt ông Tư, khiến ông ta đờ đẫn cả người và hầu như chờ đợi điều bất hạnh đến với mình thì bất chợt hai cô y tá với chiếc xe đẩy xuất hiện kịp thời. Một cô tiến tới bên bệnh nhân và lên tiếng ngay: - Cháu trả bác vật này. Hồi sáng sớm nay khi làm vệ sinh cho bác, cô lao công đã vô tình làm nó rơi ra, cũng may là bác sĩ điều trị nhìn thấy và giữ giúp, bây giờ cháu mang lại cho bác đây. Để cháu mang vào cho! Đó là tượng Phật bằng gỗ trầm hương! Cô ta nhẹ nhàng đeo vào cổ bệnh nhân, vừa giải thích thêm: - Bác sĩ nghĩ bác bị một chấn thương ở não, nên phải đưa bác đi chụp hình. Bác cứ nằm yên trên xe, tụi cháu sẽ đẩy nhé! Họ tiến hành công việc rất nhanh. Và đó là nguyên nhân khiến giọng nói vô hình kia ngừng bặt luôn. Khi họ đẩy xe băng ca đi rồi mới nghe tiếng rít lên: - Thằng chó chết lại thoát nữa! Một trong hai cô y tá đang đẩy xe đã vội trở lại vì quên lấy theo biểu đồ bệnh án của bệnh nhân, khi bước vào phòng cô đã va vào ai đó suýt ngã, cô la lên: - Ai đi mà không coi gì hết! Nhưng khi nhìn lại thì chẳng thấy ai cả. Bất chợt cô rùng mình... *** Hậu mở mắt ra thì ngạc nhiên vô cùng bởi cảnh vật chung quanh. Anh đang nằm trong một gian phòng tối, mùi ẩm mốc xông lên mũi. - Đây là đâu? Trả lời câu hỏi thầm của Hậu là tiếng khóc oe của một đứa trẻ! Và bàn tay của Hậu cũng vừa chạm phải một thân thể nhỏ bé của nó. - Tại sao? Hậu cố căng mắt ra trong bóng tối để nhìn và anh nhận ra đó là đứa bé mà anh từng nuôi giữ mấy hôm ở trang trại. Như vậy anh đã trở về ngôi nhà trên vùng cao nguyên của mình? Bước nhanh tới cửa sổ nhỏ, Hậu nhìn ra ngoài và vô cùng ngạc nhiên khi nhận ra đây chính là ngôi nhà của anh ở Sài Gòn. Gian phòng này là cái nhà kho chứa vật dụng phế thải mà đã từ lâu không được mở cửa ra. Đúng hơn kể từ khi cha Hậu mất thì gian nhà này cũng đóng cửa luôn với những vật dụng tạp nham đủ thứ dồn vào đó, mà mẹ anh đã không buồn mở ra, mà đến khi Hậu lớn lên anh cũng lo học, lo đủ thứ chuyện và thường xa nhà, nên hầu như bỏ quên một góc trong chính ngôi nhà của mình. Hậu thử đẩy cửa lớn thì ngạc nhiên vì cửa khóa từ bên ngoài. Anh cất tiếng gọi lớn: - Chị Chín ơi! Chín là chị người Iàm, coi như quản gia ở đây. Chị ta không trả lời. Lúc này Hậu mới chợt nhớ chị ta đã sang nhà bà ngoại anh để săn sóc cho mẹ, như vậy hiện nhà đâu còn ai khác. Nhớ lại chuyện đêm qua ở bệnh viện, Hậu không hiểu tại sao mình lại chạy về đây, chỉ nhớ là trong lúc còn đang chạy ngoài đường thì anh cảm giác như có người đẩy mình chạy rất nhanh. Qua hơi thở gấp của người đó, Hậu mường tượng ra chính là cô gái áo hồng... - Thì ra cô ta đã đưa mình về đây! Hậu nhủ thầm, nhưng trong lòng anh không mừng mà lại bối rối và lo lắng. Anh càng nhớ lại những nội dung trong tập nhật ký của mẹ. Cô gái này là con của người phụ nữ có tên là Thiên Lý với cha mình. Như vậy... Bất giác Hậu thốt lên: - Mình đã phạm phải một tội ác tày trời rồi! Vừa khi ấy đứa bé ré lên, Hậu buộc lòng phải bước lui tới chỗ nó nằm lúc nãy. Nhưng anh ngạc nhiên quá đỗi khi không còn thấy đứa bé đâu! - Ủa... Hậu còn đang ngơ ngác thì ở góc phòng bên trái có tiếng nói vọng ra: - Con cái mà chẳng lo chăm sóc gì cả, còn đứng đó làm gì? Hậu gắt lên: - Con nít thì để nó một nơi yên ổn, đưa tới đưa lui hoài nó chịu sao nổi? - Vậy sao anh không ở nhà nuôi nó? - Tôi... tôi... Rồi anh nghĩ mình phải nói ra điều nên nói: - Cô có biết... giữa tôi và cô là... anh em cùng cha khác mẹ không! Tức chúng ta cùng huyết thống, sao còn xảy ra chuyện oái oăm này! Tưởng cô nàng sửng sốt, nào ngờ cô ta vẫn điềm nhiên nói: - Có sao đâu! Chỉ có người vô tâm không chịu tìm hiểu đến nơi đến chốn như anh thì mới lo lắng lung tung như vậy thôi! Hậu nạt ngang: - Sao lại lung tung! Cô là con của bà Thlên Lý với ba tôi, vậy không phải là cùng máu mủ với tôi sao? Đã không biết thì thôi, sao lại vô tâm như vậy? Anh ôm mặt khóc rấm rứt. Trong lúc cô gái vẫn thản nhiên nói: - Người đau khổ phải là em chứ! Vì phạm phải dục tình với anh, nên mẹ em nhất quyết phải trừng trị, bắt em phải giao con rồi chờ bà ấy ra tay. Mà anh biết, mẹ em một khi ra tay thì không kể đến con ruột của mình hay là ai không! Thấy cô nàng vẫn không quan tâm gì tới chuyện huyết thống, Hậu lại phải la lớn: - Cô đúng là người cõi âm nên không còn biết gì là đạo lý rồi. Cô có biết anh em chung dòng máu với nhau mà phạm phải chuyện này gọi là gì không? Là loạn luân, và hình phạt là trời tru đất diệt! Nàng bất ngờ hỏi lại: - Nếu sự thật không phải vậy thì sao? Hậu vẫn gào lên: - Là năm rõ mười rồi còn gì nữa! Giọng cô gái bây giờ mới chậm lại, nhấn mạnh từng tiếng một: - Anh đã nhìn rõ mặt em rồi, chúng ta có điểm nào giống nhau như anh em không? - Nhưng mà... - Có khi nào anh nghĩ mình là con của một người khác không? Hậu giật mình, nhưng anh vẫn nói: - Chuyện đó có là nằm mơ! Tôi đang đau khổ, hối hận, mà nếu hồi sáng này cô không đưa tôi về đây thì tôi thà đâm đầu vào xe chết cho rồi! - Chết uổng mạng! Anh có nghĩ là mình hồ đồ lắm không? Tại sao em đưa anh về đây, cố tình cho anh vào cái nhà kho lâu năm không ai vào này để làm gì không? Anh thử nghĩ đi! Hậu ngơ ngác: - Thì cô muốn... - Một phần là để tránh cuộc truy sát của mẹ em. Bà ấy đã chờ đợi việc trả thù này ngót hai mươi năm rồi, đây là thời cơ tốt nhất. Nhưng giết ai thì giết, em nhất định không để mẹ giết anh. Em nhốt anh trong này chờ đến khi nào mẹ em bỏ đi thì anh được toàn mạng... - Như vậy để mà làm gì. Tỏi muốn được chết thôi! - Điên! Em đã nói rồi mà anh vẫn không nghe. Bây giờ nghe tiếp đây, phần còn lại của mục đích đưa anh về đây là để anh xem những gì ba anh để lại trong này, từ đó anh biết thêm nhiều thứ và sẽ sáng mắt ra! Nàng nói xong thì cửa sổ hơi lay động, cùng giọng nói nàng phát ra từ hướng đó: - Em đã cho con bú sữa rồi, nó sẽ ngủ một giấc cho đến khi em quay lại. Còn anh cứ an tâm tìm hiểu đi... Bỗng dưng đèn trong phòng bật sáng, lúc này Hậu mới nhìn thấy ngoài những đồ đạc, vật dụng ngổn ngang, còn có một cái bàn viết còn nguyên vẹn đặt ở một góc phòng và một chiếc giường ngủ rất tươm tất, nơi đứa bé đang nằm ngủ say. Hậu lưỡng lự một lúc rồi cũng giống như ở phòng của mẹ, anh bắt đầu lục ngăn kéo của bàn viết. Ngay ở quyển sổ đầu tiên thì Hậu giở lên đã có một tấm ảnh rơi ra. Anh reo khẽ: - Ảnh của mình! Trong ảnh, Hậu chụp năm anh được bốn tuổi và do chính ba anh chụp. Ở phòng riêng Hậu còn giữ một tấm ảnh giống như vậy. Nhưng khi lật phía sau ảnh thì Hậu tái mặt! Bởi dòng chữ do chính ba anh ghi: "Đứa con trai mình yêu thương nhất, đặt nhiều kỳ vọng nhất, không ngờ lại là... con của kẻ khác!" Nắm chặt ảnh trong tay, Hậu run đến nỗi nói không thành lời: - Mình là... con... con của... Anh lật tung mọi thứ trong ngăn tủ và tuần tự những điều bất hạnh đã hiện ra trước mắt Hậu. Cũng trong một đoạn nhật ký, ba anh đã viết: "Sinh nhật lần thứ tư của thằng Hậu, mình mới khám phá ra một sự thật phũ phàng, đứa con trai độc nhất của mình với Lệ Hoa lại không phải do mình là tác giả! Chính trong một lần ghen tuông, Lệ Hoa đã điên tiết nói huỵch toẹt ra rằng do để trả thù mình có quan hệ với Thiên Lý, nên cô ấy đã... hiến thân cho quản gia Tư Hiền và cho ra đời thằng Hậu!" Ở một đoạn khác, cha Hậu đã viết: "Thiên Lý sinh con gái! Nhìn đứa bé mới ra đời, mình đã hình dung sau này nó sẽ là một đứa con gái đẹp như tranh vẽ! Mình tính đặt tên cho con là Ngọc Nguyệt, tức con thỏ ngọc ở cung chị hằng nga, nhưng Thiên Lý nhất quyết chọn tên Phù Dung để đặt cho con. Cô ấy nói, cô thích những loài hoa. Nên cô là Thiên Lý thì con gái phải là Phù Dung! Mình giải thích hoa phù dung tượng trưng cho sự mau tàn vì người ta vẫn nói phù dung sớm nở tối tàn, nhưng nàng không nghe, còn bảo rằng, thà mau tàn mà được người đời ngưỡng mộ là được." Ở vài đoạn khác nữa, ba Hậu viết lại giống như những gì bà Thiên Lý nói và do chính mẹ Hậu kể. Đọc xong mấy đoạn đó Hậu sững sờ, anh không tin là sự thật: - Không thể nào! *** Ông già Tư sau một lúc ngập ngừng, cuối cùng đã gật đầu thừa nhận:- Ta đã làm chuyện đó, trước tiên vì cảm cảnh bà chủ của mình, sau đó mới vì tình cảm. Ta nói thật, ta thương má con vô cùng. Bà ấy khổ quá nên mới nghĩ quẩn, mới xúi ta làm liều... Hậu gào lên: - Đáng lẽ chú phải từ chối làm chuyện ác chớ! Giết một mạng người vì ghen đã là một tội ác tày trời rồi, đằng này giết luôn đứa trẻ mới hai tuổi đầu nữa! Già Tư nghẹn ngào: - Do con bé nhảy xuống hồ rồi chìm luôn, chứ ta nào... Hậu đặt quyển nhật ký của mẹ trước mắt ông: - Trong này mẹ đã nói hết rồi. Con mong rằng từ nay chú lo cho mẹ và đừng trở về trang trại nữa. Ở trên đó đã có con lo! Hậu nói xong bước đi nhanh ra xe và rồ máy chạy như chạy trốn. Anh đã quyết định dứt khoát, kể từ nay anh sẽ về ở hẳn trên ngôi nhà mà lúc đầu anh chỉ định về chơi. Mọi công việc ở công ty kinh doanh Hậu đã ủy quyền cho một hội đồng lo liệu. Chính ông già Tư khi nghe Hậu quyết định như vậy đã rất hoảng sợ, can ngăn không cho anh đi. Nhưng Hậu đã nói thẳng: - Con thà chấp nhận để cho hồn ma của mẹ con cô ấy hãm hại, còn hơn là cứ sống trong giằng xé lương tâm hoài, chịu không nổi! Việc đầu tiên khi về tới trang trại là Hậu đi ra hai ngôi mộ đá với bông hoa và trái cây, anh cúng rất thành khẩn và vái vong linh họ: - Con thay mặt cho những người mà lâu nay con gọi là mẹ và chú, đến đây tạ tội với... cô. Nếu cô chấp nhận lời tạ tội của con thì từ nay hãy cho con được ở yên trong ngôi nhà này. Con nguyện sẽ làm hết sức mình để chăm sóc mồ mả cho cô và... Anh nói chưa dứt lời thì chợt phía sau lưng có giọng nói vang lên: - Từ nay phải gọi là mẹ, chứ sao gọi là cô! Hậu quay lại và giật mình khi nhận ra hình hài rõ ràng của cô gái áo hồng. Cô nàng đẹp thật lộng lẫy! - Cô... à mà không. Em là Phù Dung! - Biết điều rồi đó. Anh vừa gọi tên Phù Dung tức đã biết được là loài hoa sớm nở tối tàn rồi! Anh hãy gọi lại lần nữa xem! Hậu gọi rất trìu mến: - Phù Dung, em! Nàng tiến lại gần Hậu hơn, nhưng giữ một khoảng cách vừa phải rồi tiếp tục với giọng buồn hơn bao giờ hết: - Em đành phải nghe theo lời mẹ thôi. Mẹ bắt em phải thoát kiếp từ hôm nay để theo mẹ. Hồn phách thì rồi phải theo cát bụi thôi... Nàng bật khóc nức nở và trong nước mắt nàng nói: - Em cũng giống như mẹ thôi, tình yêu ngang trái vốn là số kiếp của mẹ con em rồi. Gặp anh, em cứ ngỡ mình cãi được số phận, sẽ ở lại trần gian để cùng anh chung sống cảnh âm dương. Nhưng nếu em làm thế thì hồn phách mẹ sẽ muôn kiếp lang thang, đời đời mãi là oan hồn. Em thương mẹ, nên đành chấp nhận... Chỉ xin anh hãy cố gắng nuôi con. Đứa bé tuy là do người âm cảnh như em sinh ra, nhưng từ bấy lâu nay nó được ấp ủ hơi dương thế của anh, nên chỉ cần thêm một trăm ngày nữa là nó sẽ vĩnh viễn thành người trần. Nó sẽ thay em lo cho anh. Hãy thương con anh nhé! Nàng nói vừa dứt lời thì theo một cơn gió mạnh thổi qua, biến đi như khói bụi! Hậu gào lên: - Phù Dung! Anh lao theo, nhưng vấp chân té ngã ngay trước đầu mộ và ngất đi. *** Hậu ở lại đó cùng đứa bé. Lạ một điều là tuy không có mẹ, nhưng con bé lớn nhanh như thổi, vô cùng ngoan ngoãn và dễ thương. Lớn lên, nếu có ai hỏi mẹ nó đâu thì nó chỉ lên và bảo: - Mẹ ở trên đó! LINH MIÊU Bà Thủy phải lấy hơi mấy lượt mới kể hết câu chuyện được: - Lần cuối cùng là sáng sớm hôm nay, khi tôi cố gắng mở mắt ra thì nhìn thấy được anh ta nằm đó, không cử động nhưng mắt thì cứ nhìn tôi đăm đăm như muốn nói gì đó mà nói không được. Tôi sợ quá định kêu lên, nhưng cũng không tài nào kêu dược! Ông pháp sư Hoàng Vệ lắng nghe rất kỹ, rồi nhẹ nhàng nói: - Bà là người thứ hai kể câu chuyện này. Rõ ràng đó là một hồn ma, nhưng nó không giống như các hồn ma mà mọi người từng gặp. Nó không hại người, cũng không hung dữ hay ma mãnh. Đặc biệt hơn, nó là một người nam. Bà Bích Thủy hỏi lại: - Đã là ma thì nam hay nữ cũng như nhau, sao gọi là đặc biệt? Nhắm mắt một lúc, rồi đột nhiên vị pháp sư nói: - Nhưng ở đây thì khác! Nó không phải là một oan hồn bình thường như tôi tưởng. Bà xem đây... Ông đưa cổ tay mình ra, bà Thủy nhìn thấy năm dấu đỏ rướm máu quanh cổ tay, bà kinh ngạc: - Ông bị sao vậy và bị bao lâu rồi sao không bôi thuốc? Ông pháp sư nghiêm giọng: - Mới vừa bị tức thời! Hồn ma này đã cao tay ấn hơn tôi tưởng, nên suýt đã mất mạng với nó! Ông lại đưa cổ tay bên kia, có hai dấu răng ngập sâu vào trong, hai dòng máu rịn chảy ra khiến bà Thủy sợ hãi: - Chẳng lẽ thầy cũng mới vừa bị? Mà sao tôi không thấy ai ở đây cả? Ông thầy hơi mất bình tĩnh: - Nguy hiểm là ở chỗ này. Chính cái vẻ lừ đừ, chậm chạp và gần như bất động của nó đã làm hại tôi. Với những vết thương này một người bình thường coi như mất mạng, cũng may là tôi còn có thứ hộ thân. Ông lấy trong túi áo ra một gói vải đỏ, bỏ nhanh vào miệng một vật gì được bọc trong đó. Rồi ông thu dọn đồ đạc và nói nhanh: - Xin kiếu bà. Bà Bích Thủy hốt hoảng: - Kìa, thầy chưa làm giúp tôi chuyện đã nhờ thầy! Lão pháp sư nhẹ lắc đầu: - Tôi không thể giúp được gì nữa! Ông ta đi ra cửa và phóng lên xe vù nhanh. Nhưng xe vừa ra tới cổng thì đâm sầm vào một xe khác và ngã lăn ra. Mọi việc diễn ra bên ngoài, nên trong nhà bà Bích Thủy không hề hay biết... Nửa giờ sau... Bà Bích Thủy sau một đêm mệt lả đã thiếp đi ngay khi lão pháp sư vừa đi ra. Nhưng chỉ một lát sau, bà đã nghe có người lay nhẹ mình cùng giọng nói bên tai: - Dậy đi bà Thủy. Đi theo tôi... Bà Thủy mở mắt ra tuy có hơi ngạc nhiên khi nhìn thấy ông pháp sư, nhưng vẫn không do dự khi ngồi bật dậy và bước ngay xuống giường. Bà chỉ hỏi khi bước ra tới cửa phòng: - Mình đi đâu đây? Ông pháp sư mặt lạnh như tiền: - Đi rồi khắc biết! Bước ra khỏi cửa một chút thì bà Thủy hầu như không còn định hướng được là mình đi đâu, bà hầu như phải vịn vào cánh tay của lão pháp sư mới đi được. *** Khi người ta phát hiện ra bà Bích Thủy nằm ngất đi trong một ngôi nhà bỏ hoang ở phía sau nghĩa địa thì người tím tái, lạnh ngắt.Cũng may là được cứu chữa kịp thời, nên sau đó bà thoát nạn. Nhưng khi người nhà hỏi chuyện thì bà Thủy nhất định không nói và lại tỏ ra sợ hãi một khi bị hạch hỏi. Nhơn, cậu con trai cả của bà rất thương mẹ, nên ngăn không cho ai hỏi gì thêm, đích thân anh dìu mẹ về phòng riêng ngơi nghỉ. Sau đó, chính anh một mình trở lại ngôi nhà hoang đó để tìm hiểu thêm. Và thật bất ngờ, lúc Nhơn bước vào ngôi nhà không còn cửa, anh đã gặp một anh chàng tuổi cỡ bằng anh, đang nằm im dưới đất. Rõ ràng, lúc người phát hiện ra mẹ anh ở đây, người ta quả quyết là nhà không có ai khác, như vậy anh chàng này... Nhơn đứng lặng một lúc lâu rồi mới đánh bạo bước tới xem tình trạng của người nằm đó và giật mình khi nhận ra anh ta còn thở! Thoạt tiên Nhơn định đi báo cho những nhà gần đó nhưng lại ngại lôi thôi, nên sau một phút lưỡng lự, anh bước ra ngoài đường lớn gọi một chiếc xe xích lô, anh bảo: - Tôi có người thân bị bệnh bất ngờ, nhờ anh chở đi bệnh viện giùm. Anh đưa tờ giấy bạc trị giá gấp ba lần cuốc xe, anh chàng đạp xích lô vui vẻ nhận lời liền: - Thầy có cần đi theo không? Nhơn đáp: - Không cần, anh cứ đưa người nhà tôi tới bệnh viện đó, tôi sẽ đón. Tuy nhiên khi Nhơn trở vào thì phải ngơ ngác khi không còn nhìn thấy anh chàng kia đâu. - Ủa, sao kỳ vậy? Anh chàng đạp xích lô bàn: - Hay là người nhà của thầy đã tỉnh lại rồi và đi ra lúc thầy đi kêu xe? Nhơn thở phào nhẹ nhõm, bởi thật sự lúc nãy anh vì lòng trắc ẩn nên phải tính chuyện cứu người gặp nạn, giống như người ta đã cứu mẹ mình. Còn bây giờ coi như không còn phiền toái nữa. Nhơn tìm cách nói khéo: - Anh chờ ở đây, để tôi đi quanh tìm thử xem... Anh nhìn thấy một lối ra khác, ngược lại với lối đã vào lúc nãy, nên đi nhanh ra hướng đó. Mục đích của Nhơn là để tránh phải giải thích lôi thôi với anh chàng đạp xe kia. Chờ một lát sau không thấy Nhơn quay lại, anh chàng đạp xe ngơ ngác gọi: - Thầy gì ơi, tôi trả lại tiền rồi còn đi kiếm ăn nữa chứ! Anh ta gọi đến cả chục lần mà vẫn chẳng nghe trả lời. Túng thế, anh ta mới quay ra xe đậu cách đó vài chục thước. Và... - Ủa? Anh ta nhìn lên xe của mình và thấy một anh chàng đang nằm như chết trên đó! - Kìa, anh... Sờ thấy anh ta bất động, anh chàng hốt hoảng: - Là người nhà của thầy kia đây mà, sao thầy ấy đi đâu vậy cà! Anh ta định đứng đợi, nhưng nhớ lại lời dặn của Nhơn lúc nãy, anh ta lên xe đạp thẳng tới bệnh viện cấp cứu. Tới nơi, anh ta nhìn trước sau chẳng thấy Nhơn đâu thì hơi lo, nên sau cùng phải để khách trên xe, anh ta chạy thẳng vào trong để tìm. Tìm hoài chẳng thấy Nhơn đâu, anh ta đành phải quay ra, tính sẽ dìu đại bệnh nhân vào và gửi ở chỗ cấp cứu. Tuy nhiên, khi trở ra anh ta ngơ ngác, bởi trên xe không hề có bệnh nhân! Mà thay vào đó là một con mèo mun nằm yên như chết trên nệm xe. - Sao... sao thế này? Anh ta còn đang thừ người ra thì vừa lúc con mèo phóng nhanh xuống xe và biến mất giữa dòng người qua lại trên đường... Đúng ra việc đến đó là xong, bởi tiền công đã lấy rồi, cũng không phải tốn chút sức nào về người bệnh. Nhưng chẳng hiểu sao, anh chàng đạp xích lô cũng đứng đó chẳng muốn rời, như còn muốn chờ đợi điều gì đó... Mãi đến khi có một người khách gọi xe, anh ta mới giật mình quay lại và lúng túng đáp: - Dạ, xe đang đợi người... Anh ta đợi đến trưa và cuối cùng đạp xe không về mà trong lòng cứ hoang mang không thôi. *** Nghe con hỏi, bà Bích Thủy ngơ ngác: - Mẹ có biết gì đâu, bởi khi mẹ tỉnh lại thì thấy đang nằm trong phòng mẹ rồi. Nhơn kể lại: - Người ta bắt gặp mẹ nằm trong một ngôi nhà bỏ hoang gần với nghĩa địa. Chính con khi tới đưa mẹ về cũng ngạc nhiên hết sức tại sao mẹ lại ở đó. Đâu, mẹ nhớ lại coi mẹ đã làm gì trước đó? Bà Bích Thủy lúc ấy đã tỉnh táo hơn, bà lờ mờ nhớ lại chuyện ông pháp sư mà bà nhờ một người bạn rước về giùm, bà kêu lên khẽ: - Ông pháp sư! Nhơn ngạc nhiên: - Ông pháp sư nào? Mẹ gặp ông ta ở đâu? Bà Bích Thủy định giấu con, nhưng sau cùng bà nói rằng: - Mẹ nằm mơ thấy một thằng nào đó cứ nằm nhìn mẹ hoài, làm mẹ sợ quá mấy đêm liền ngủ không được, nên phải nhờ người bạn rước ông thầy về coi giùm. Nhơn giật mình: - Thằng nào là... thằng nào? - Một thằng con trai cỡ tuổi con! - Có phải anh ta mặc chiếc áo sơ mi màu xanh và đi đôi giày vải không? Bà Bích Thủy kinh hãi: - Sao... sao con biết? Con cũng gặp hay sao? Nhơn kể lại: - Khi con trở lại ngôi nhà hoang thì gặp anh ta nằm ở đó! Bà Bích Thủy thất thần: - Rồi sao? - Anh ta... biến mất khi con gọi xích lô chở đi bệnh viện giùm! - Sao... sao con dính tới anh ta làm gì! Trời ơi, không xong rồi Nhơn ơi... Bà run lẩy bẩy, khiến Nhơn phải trấn an: - Bây giờ mọi việc qua rồi mẹ. Con nghĩ chắc anh chàng đó cũng là người đi lạc đường rồi vào ngôi nhà đó tá túc... - Nhưng nó chính là đứa đã hiện ra trong giấc mơ của mẹ! Nó mặc cái áo đó, mang đôi giày vải đó. Nó... Bà không biết dùng từ gì để nói về người con trai kia, nên chỉ run và sợ hãi. Nhơn phải nói: - Có lẽ do mẹ yếu trong người rồi mất ngủ và sinh ra như vậy. Thôi, để lát nữa con đưa mẹ đi bác sĩ khám bệnh, uống thuốc là hết. Nhất là mẹ đừng để những hình ảnh như vậy trong đầu nữa. Bà Bích Thủy nhẹ lắc đầu: - Mẹ nào có dám nhớ đâu, nhưng trong đầu cứ luôn luôn bị ám. Mẹ nghĩ có lẽ phải nhờ ông thầy khác quá, chứ lão pháp sư họ Hoàng kia đã không đủ sức rồi. Nhơn không tin những chuyện nhảm nhí, nên anh gạt ngang: - Mẹ đừng bao giờ tin những ông gọi là pháp sư kiểu đó! Mẹ mà rước ông ta về nhà lần nữa là con đuổi ra đó! Bà Bích Thủy sợ hãi: - Con đừng có nói bậy! Pháp sư Hoàng Vệ nổi tiếng từ Hồng Kông, chính mẹ thấy hôm qua ông ấy bị cái vong của ai đó làm cho suýt mất mạng. Đây không phải là chuyện chơi, con không nên... Nhơn sợ cãi thêm làm mẹ buồn, nên anh tìm cách đi vào phòng mình. Nhưng bà Thủy vẫn chưa yên tâm khi thấy con có thái độ như vậy, nên bà bước theo và dặn thêm: - Con đừng có ý kiến gì, để mẹ lo... Nhơn biết nếu mình vào phòng thì thế nào mẹ cũng theo vào và cứ nói mãi vụ đó, nên anh quyết định đi luôn ra ngoài cửa và định tìm quán cà phê nào đó ngồi cho hết buổi trưa. Nhưng vừa bước ra tới cổng thì đã giật mình khi nhìn thấy một con mèo mun nằm như chết ngay dưới chân. - Ủa... Nhơn tưởng con mèo nhà ai đi lạc, nên anh vội lấy chân đá nhẹ vào nó, nhằm làm cho nó đứng dậy và đi chỗ khác. Nhưng con mèo vẫn nằm im, khiến Nhơn phải gọi vào trong: - Chị Tám ơi, ra coi con mèo nhà ai chết nằm ở cổng nhà mình nè! Tám Thể là người giúp việc lâu năm trong nhà, chị chạy ra ngay và tỏ ra ngạc nhiên lẫn sợ hãi: - Mèo mà tới nhà là không hay đó cậu! Mà lại là mèo mun và còn... chết nữa! Nhơn biết chị ta nói lôi thôi đủ thứ mọi chuyện, nên giục: - Chị hốt xác nó đem bỏ thùng rác đi, còn nói lôi thôi gì nữa! Nhơn vừa bước ra cửa thì bỗng nghe tiếng mẹ mình la to: - Không được bỏ thùng rác! Bà đã chạy ra và như tỏ ra thành kính: - Thầy bị sao vậy nè? Nhơn nghe tiếng mẹ thì chưa quay lại, nhưng khi bà nói dứt câu ấy anh phải quay ngoắt lại và lên tiếng: - Mẹ lại nữa rồi! Anh nghĩ mẹ mình sắp nói linh tinh nên cau mày. Tuy nhiên bà Thủy hầu như bất chấp, bà giục Tám Thể: - Mày đưa ông thầy vào nhà ngay đi, chắc là ông tới gặp tao mà gặp chuyện gì đó... Chính Tám Thể cũng quá đỗi ngạc nhiên trước thái độ kỳ cục của bà chủ mình, nhưng chị ta cũng phải làm theo. Chị bế con mèo lên thì phát hiện thân thể nó còn nóng: - Bà chủ, nó còn sống! Nhơn ngán ngẩm vừa quay đi vừa lắc đầu... Khi bế xác con mèo vào nhà rồi, Tám Thể lúng túng nói: - Để nó ở đâu bà chủ? - Thì mày đặt lên chiếc ghế nệm kia kìa. Ổng cao lớn, coi chừng nằm không vừa chiếc ghế đó! Tám Thể không nhịn được, chị ta phải nói: - Đây là con mèo mà bà! Bà Bích Thủy gắt lên: - Đây là ông pháp sư chứ mèo chuột gì, bộ mắt mày đui sao chứ? Bị mắng, đáng lẽ như mọi khi Tám Thể không dám cãi, nhưng trước sự việc rành rành trước mắt như vậy, chị ta không thể im được nên nói đại: - Bà nhìn sao, chứ chính cậu Hai vừa rồi cũng thấy đây là một con mèo đã nằm chết mà. Chị ta đặt con vật xuống ghế rồi bỏ đi ngay vào trong, mặc dù biết làm như thế là vô phép với chủ. Đi vào vừa tới bếp thì chị ta đã nghe bà chủ gọi giật ngược: - Tám, mày ra đây ngay, tiếp tao với! Tám Thể miễn cưỡng đi trở ra phòng khách và chị ta sửng sốt khi nhìn thấy lão pháp sư Hoàng Vệ đang nằm trên ghế! - Hả? Tại sao... Thấy chị ta còn lừng khừng, bà Bích Thủy phải la lớn: - Mày làm gì vậy Tám? Tiếp tao đỡ thầy vào phòng coi. Tám Thể đành phải ghé vai một bên để cho ông pháp sư vịn, nhưng vừa đi chị ta vừa tự hỏi: - Mình đâu có đui! Cũng không tâm thần... Chẳng lẽ một con mèo mà thành ông pháp sư sao? Lạ một điều là khi chạm vào thân thể lão ta, Tám Thể có cảm giác giống như cơ thể của con mèo mà chị ta bế trên tay lúc nãy! - Phòng nào bà? - Mày đưa vào phòng khách. Nhà có hai phòng để trống dành cho khách tới đột xuất, Tám Thể chưa biết đưa vào phòng nào thì bà chủ đã chỉ sang trái: - Phòng này nè! Gian phòng này thường dành riêng cho khách nữ, với những tiện nghi cho nữ, nghĩ bà chủ lộn, nên Tám Thể nhắc: - Phòng này có bàn phấn, có những thứ không dành cho đàn ông. Lúc này bà Thủy mới chợt nhớ ra, nhưng do đã đến sát cửa rồi, nên bà ta quyết đại: - Kệ, cứ đưa vào đi. Coi bộ ông thầy mệt lắm rồi. Đưa ông ta vào xong, bà dặn cô người Iàm: - Lát nữa cậu Nhơn có về mày đừng nói là ông thầy ở trong này. Chờ ông ấy tỉnh lại là đi ngay, nó sẽ không hay biết... Tám Thể nghi bà chủ có tình ý gì đó với người đàn ông này, nhưng sau đó chính bà đã nói khẽ với chị ta: - Tao giao mày canh chừng ông ta, khi nào thấy ông ta tỉnh lại thì bảo ông ấy đi liền. Ông ấy có hỏi tao thì nói tao đi vắng nghe chưa! - Thưa bà, con hổng dám! Bà Thủy nạt: - Tao bảo mày canh là ở ngoài canh, chứ có vào phòng đâu mà sợ. Vả lại ông ấy là người bình thường chứ có phải là gì đâu? Tám Thể nhớ lại chuyện con mèo mun lúc nãy, nên cảm thấy ớn lạnh. Chị ta buộc lòng phải nghe theo, chứ trong lòng không yên. Bởi thế khi thấy Nhơn đi uống cà phê trở về, chị liền kín đáo nói: - Cậu Hai vào phòng khách mà coi có ai ở trong đó không. Nhơn nghe vậy thì quá đỗi ngạc nhiên: - Ai trong đó? - Dạ nghe nói là ông pháp sư gì đó... Nhơn phát điên lên, anh không hỏi gì thêm, đã xông thẳng vào phòng. Và... - Chị giỡn mặt với tôi hả chị Tám? Tám Thể hốt hoảng: - Cậu nói gì vậy cậu Hai? Tôi đâu có... - Trong này có ai đâu, sao chị nói... Tám Thể thất thần: - Cậu nói gì vậy? Chính tôi đưa ông ta vào mà! Chị ta lao thẳng vào phòng, bật đèn lên sáng choang và sững sờ: - Ủa... Gian phòng trống trơn, trên chiếc giường nệm thẳng thớm, chứng tỏ đâu có ai nằm lên. Chị ta thảng thốt: - Không thể nào! Nhơn bực dọc: - Nhà này riết rồi... điên cái đầu mất thôi! Anh gọi lên lầu: - Mẹ ơi, mẹ xuống coi chị Tám Thể này bữa nay sao vậy nè! Bà Bích Thủy cứ ngỡ con trai mình đã phát hiện được vị khách không mời, nên bà quýnh lên, chạy ngay xuống, giọng ấp úng: - Mẹ... mẹ chỉ... Tám Thể nói một câu không đầu không đuôi: - Đi mất rồi, bà khỏi phải lo. Không hiểu, nên bà Bích Thủy vẫn còn lo: - Ông ta chỉ... Lúc này Tám Thể mới nói thẳng: - Đâu có ai trong phòng! Bà Bích Thủy không thể nào tin, bà chạy ngay vào phòng, ngơ ngác hỏi: - Đâu rồi? Nhơn hỏi mẹ: - Mẹ tìm con mèo để làm gì? Bà Thủy nhìn sang Tám Thể: - Chuyện gì vậy Tám? Tám Thể là người lanh lợi, chị ta biết cách gỡ khó cho chủ mình: - Con mèo... đã chạy mất rồi! Nhơn bỏ lên phòng riêng rồi, bà Bích Thủy hỏi: - Ông ta đâu rồi? Bộ mày đưa sang phòng khác hả? Tám lắc đầu: - Con đâu có làm gì. Tự ông ta làm... Bà Thủy ngạc nhiên: - Vậy là sao? Tám Thể rùng mình: - Con nghĩ trong chuyện này chắc là có gì đó... không bình thường. Bà có nghĩ đây là hồn ma không? Bà Bích Thủy hơi lúng túng: - Tao cũng không biết. Nhưng ông ta không thể nào biến mất lạ lùng như vậy được. - Bà nói ông nào? - Thì ông pháp sư! - Nhưng con không hiểu bà rước ông thầy đó tới đây làm gì vậy? Hôm bữa đầu tiên ông ấy tới đây thì thái độ coi bộ tự tin lắm, vậy mà bữa nay ỉu xìu như gà mắc tóc vậy? Không tiện nói ra hết, bà Thủy chỉ ậm ừ cho qua: - Có lẽ ông ấy bị sao đó... Bà không muốn cho Tám Thể hỏi thêm nhiều, nên bước ra khỏi phòng và dặn: - Mày khóa cửa lại ngay đi. Bà trở lên lầu ngay với tâm trạng bất an, định bụng sẽ uống mấy viên thuốc ngủ để tìm một giấc ngủ yên, bởi bà biết chắc là đêm nay sẽ lại bị một đêm mất ngủ nữa... Nhưng, khi vừa mở cửa phòng ra bà đã phải một phen đứng tim, bởi ngay trước mắt bà, ông pháp sư Hoàng Vệ đang ngồi xếp bằng giữa phòng. - Ông... sao ông lại ở đây? Lão pháp sư ra dấu cho bà khóa cửa lại rồi đáp: - Nếu tôi không kịp ra khỏi phòng thì làm sao yên được với thằng con của bà! Thằng đó coi bộ khó chịu dữ a! Bà Bích Thủy hạ thấp giọng, sợ bên ngoài nghe: - Thằng đó giống cha nó khi còn sinh tiền, nó gan dạ và ghét chuyện dị đoan mê tín lắm. Mà tại sao thầy lại tới đây vào giờ này và tại sao lại bị ngã ở cửa? Còn con mèo nữa? Ông thầy làm ra vẻ ngơ ngác: - Con mèo nào? - Thì con trai tôi và con nhỏ người làm cũng đều thấy một con mèo mun nằm ở cổng nhà, chứ đâu phải là ông? - Và bà tin lời họ? - Không, nếu tin thì tôi đâu có đưa ông vào phòng. Lão ta có cử chỉ và lời nói không giống lần trước, khi lão bất thần chụp lấy tay của bà Bích Thủy và nói nhanh: - Đi theo tôi! Bà Thủy bị bất ngờ nhưng cũng kịp phản ứng, bà ghì lại, vừa hỏi nhanh: - Đi đâu? Mà sao ông dám... Bà đã nhìn thấy ánh mắt khác thường của người đàn ông này nên cố vùng thoát ra. Tuy nhiên do bị lão ta nắm chặt quá nên nhất thời bà phải chịu để tay cho lão ta kéo. - Đi theo tôi rồi bà sẽ biết! Lão ta vừa định mở cửa thì bà Thủy đã lanh trí hô lớn: - Thằng con tôi! Lão ta phải bỏ tay ra và quay lại nhìn. Nhân cơ hội đó, bà Thủy xô mạnh vào lưng lão ta một cái khiến lão bị mất thăng bằng và ngã sấp vào tường. Bà Thủy phóng chạy ra cửa vừa la lên: - Bớ... Nhơn ơi, Tám ơi! Nhơn đang ở trong phòng vội tuôn chạy qua phòng mẹ, còn Tám Thể cũng kịp có mặt. Họ hỏi lớn: - Có chuyện gì vậy? Nhơn chụp mẹ lại, hỏi nhanh: - Gì vậy mẹ? Bà Thủy nói tiếng được tiếng mất: - Ông... ông ta... Tám Thể hiểu ra: - Lão pháp sư phải không? Bà Bích Thủy không đáp được, Nhơn buông mẹ ra và chạy về phòng bà, mở cửa ra và ngạc nhiên: - Sao lại là con mèo mun? Tám Thể cũng chạy tới và hỏi còn to hơn: - Sao bây giờ nó ở đây vậy bà? Bà Bích Thủy như người mất hồn, đứng thừ người ra... *** Vừa thoáng thấy bóng lão ta thì bà Bích Thủy đã vội quay mặt đi, nhưng không còn kịp nữa, bà đã bị lão ta phát hiện và gọi to:- Bà đi đâu mấy hôm nay mà tôi tới nhà tìm hoài không gặp? Pháp sư Hoàng Vệ vẫn trong bộ đồ lụa xá xẩu quen thuộc, từ trên xích lô bước xuống, đến trước mặt bà Thủy, thái độ đúng mực: - Tôi bị bệnh mấy hôm, vừa mới đi được là đi tìm thăm bà ngay. Vậy mà hai lần ghé qua nhà đều gặp cậu gì đó, cậu ấy nói bà đi vắng. Vậy sức khỏe bà ra sao, có còn... Bà Thủy vẫn còn sợ và giận chuyện sàm sỡ của lão ta bữa trước, nên nói nhát gừng: - Ông còn hỏi nữa sao, tốt hơn hết là ông đừng tới đây nữa! Ông Hoàng Vệ quá đỗi ngạc nhiên: - Bà nói gì vậy, bà Thủy? - Nói gì thì ông nhớ lại đi ắt biết! Thôi, chào ông! Bà quay ngoắt đi, nhưng câu nói của ông ta đã khiến bà phải khựng lại: - Bà giận tôi chuyện gì đó cũng được, nhưng tôi không thể không báo cho bà biết chuyện về con mèo mun! Vừa nghe nhắc tới con mèo, bà Thủy đã hết vía: - Lại chuyện gì nữa đây? - Chuyện liên quan tới bà chứ không phải tôi. Đây, bà xem vết mèo cào tôi còn nguyên đây, cả mấy tuần nay tôi chữa trị cật lực mà vẫn chưa lành hẳn, nếu không muốn nói là sẽ chẳng bao giờ lành được, nếu không có bà. Tưởng lão ta nham nhở nữa, bà Thủy xẵng giọng: - Chuyện của tôi, tôi tự lo, không cần đến ông! - Bộ bà không nhớ những dấu vết này tôi bị là hôm ở trong phòng bà, khi bà nhờ tôi tới để trừ khử cái vong của chàng trai. Ngay lúc đó, tôi đã phát hiện ra là bà mắc phải một mối duyên nợ rắc rối sâu sắc với một oan hồn, nhưng chưa kịp ra tay thì đã bị nó hành động trước rồi, khiến tôi trở tay không kịp! Đúng ra khi gặp phải một oan hồn cao tay ấn như thế thì tôi phải tránh xa, nếu không muốn mất mạng. Tuy nhiên, tôi không thể thấy bà nguy mà không cứu, như vậy còn đâu là lương tâm con người... Giọng ông có vẻ chân thành, khiến bà Thủy hơi ngập ngừng: - Nhưng, hôm sau... tại sao ông lại làm vậy? Hoàng Vệ ngạc nhiên: - Tôi làm gì? - Thì.. ông chụp tôi, ôm tôi trong phòng, định làm bậy chứ còn gì nữa! Hoàng Vệ điếng hồn: - Có chuyện đó sao? Phải chăng... phải chăng... Rồi ông ta la lên: - Không xong rồi! Bà Bích Thủy cau mày: - Ông nói cái gì không xong? - Thì vụ tôi sàm sỡ với bà! Bà biết tôi mà, hoặc nếu không tin thì bà hỏi bà bạn của bà coi, tôi có bao giờ làm điều gì bậy bạ không. Tôi có thờ tổ nghiệp với lời thề, nếu tôi mà lợi dụng hành nghề để giở trò gì thì sẽ hộc máu mà chết tức khắc! Vậy làm sao tôi có thể làm chuyện gì đó như bà nói... Bà Bích Thủy gay gắt: - Vậy chẳng lẽ là... ma làm? - Bà nói không sai đâu. Chính cái vong mà bà nhìn thấy đêm nào cũng hiện ra nhìn bà say đắm đó! Nó muốn hại tôi nên làm cách đó khiến bà tẩy chay tôi, và như thế là... nó tiếp cận bà được dễ dàng, đâu còn ai ngăn cản nữa! Những lời phân tích của lão ta đủ để bà Thủy ngộ ra, bà sợ hãi: - Vậy ra... trời ơi, vậy mà tôi cứ ngỡ... Rồi bà run run giọng: - Không phải ông nắm tay tôi, lôi tôi đi sao? Ông Hoàng Vệ ôm lấy đầu, rên rỉ: - Hoàng Vệ này mà làm chuyện đó sao! Ông ta móc túi đưa cho bà Thủy xem một tờ giấy mà trên đó vẽ ngoằn ngoèo những gì đó mà thoạt nhìn bà không hiểu gì hết: - Cái này là cái gì? Ông hạ thấp giọng: - Nếu tôi không tới kịp thì vật này đã hại chết con trai bà rồi! Hôm tôi tới tìm bà mà không gặp được, tôi nhìn lên xe hơi của cậu Nhơn gì đó và phát hiện ra miếng giấy kỳ quặc này gắn ở bên hông xe. Chỉ cần cậu con trai bà chạy xe đi một đoạn thì xảy ra tai nạn hoặc án mạng ngay. Nếu tôi không lầm thì cậu nhà đã từng bị cái vong đó phá, suýt mang tội giết người, khi cậu ấy gặp cái xác ở nhà hoang... Bà Thủy kêu lên: - Đúng rồi. Cũng may là sau đó xác biến mất... Ông Hoàng Vệ thở phào: - Số cậu ấy còn lớn, nên hôm đó mới gặp được người đạp xích lô có mạng khắc chế được cái vong rắc rối kia! Nhớ lại những chi tiết do Nhơn kể lại, bà Bích Thủy rùng mình: - Trời ơi, suýt nữa con tôi... Bà sợ sệt: - Bây giờ phải Iàm sao đây thầy? Vừa rồi nó đã lẻn vào nhà nữa. Hoàng Vệ nghiêm giọng: - Nó không phải lẻn vào đâu, mà muốn vào lúc nào cũng được. Bà đã vướng phải nó rồi thì khó mà... Ông không nói hết câu càng làm cho bà Bích Thủy lo sợ hơn: - Làm sao đây thầy? Hoàng Vệ đưa cho bà tờ giấy nhỏ: - Tôi có người bạn, ông ta tay nghề cao hơn tôi lại có nhiều kinh nghiệm hơn, vậy bà nên thử tới nhờ ông ta xem sao. Đây là địa chỉ nhà ông ấy. Cầm tờ giấy trong tay, nhưng bà Thủy vẫn còn lưỡng lự: - Tôi chỉ ngại những rắc rối khác thôi. Hay là... Bà hạ thấp giọng: - Nếu thầy có giận về thái độ của tôi lúc nãy thì cho tôi xin Iỗi. Chẳng qua vì tôi quá hoang mang nên như vậy. Hay là thầy vẫn tiếp tục giúp tôi, tôi... Hoàng Vệ nhẹ lắc đầu: - Không phải tôi ngại khó, nhưng xét khả năng có hạn nên tốt hơn bà nên tới chỗ đó. Tuy nhiên, trước khi tới đó bà nên trở lại ngôi nhà hoang bữa trước một lần nữa. Vừa nghe tới đó bà Thủy đã lè lưỡi, xua tay lia lịa: - Không, không đâu! Có giết chết tôi thì tôi cũng không trở lại nơi mà tôi đã suýt chết một lần! Hoàng Vệ vẫn khuyên: - Tôi e là trước sau gì bà cũng phải trở lại đó mà thôi. Bà chủ động trở lại tốt hơn là bị bắt buộc. Bà Bích Thủy nhìn sững ông, hỏi lại: - Sao bắt buộc tôi phải trở lại nơi ấy? Mà nó ở chỗ nào cho tới giờ tôi cũng không nhớ? Lúc người ta cứu tôi thì chở thẳng về đây, tôi không nhìn thấy gì cả. - Tôi tin khi trở lại đó rồi bà sẽ nhớ nó là đâu. Tôi sẽ giúp đưa bà tới đó. Ngập ngừng một lúc rồi bà Thủy mới gật đầu: - Thôi cũng được. Nhưng thầy phải ở đó với tôi chờ tôi về, tôi mới dám. Hoàng Vệ gật đầu có vẻ cho qua chuyện: - Thôi cũng được. Vậy gọi một chiếc taxi ta cùng đi. Xe chạy khoảng gần hai mươi phút thì tới một đầu ngõ vắng, mà vừa nhìn thấy tức thời bà Bích Thủy kêu lên: - Nơi này... Sao lại tới đây? - Bà biết? - Tôi... tôi... Tuy đã gần hai chục năm rồi bà mới trở lại, nhưng làm sao quên được khi nơi đây là chốn mà bà đã trải qua thời con gái mới lớn. Nơi này... Bà thừ người ra một lúc và cảm giác là lúc ấy ông Hoàng Vệ đã mở cửa xe bước xuống. Đến khi bà tỉnh người lại nhìn quanh thì chẳng còn thấy ông thầy đâu. Bà quýnh lên, sau khi trả tiền xe và bước hẳn xuống liền quay tìm ông ta. - Thầy ơi! Hình như Hoàng Vệ đã đi ngay từ lúc bước xuống xe rồi. Đáng lý bà Bích Thủy phải chùn bước khi không có người đi cùng, nhưng chẳng hiểu sao lúc ấy bà vẫn một mình đi thẳng vào khu đất vắng, chỉ có vài nóc nhà ở cách xa nhau. Nơi này người ta quen gọi là Đồng Ông Cộ. Dừng lại trước ngôi nhà hoang, nhìn trước sau mấy lượt rồi mới bước vào, nhưng bà Bích Thủy vẫn sợ có người nhìn thấy. Và dẫu ngôi nhà trống trơn do bị bỏ hoang lâu ngày, có thể nhìn thấu suốt ra vách phía sau, nhưng bà vẫn lên tiếng hỏi: - Có ai trong nhà không? Dĩ nhiên là chẳng có ai trả lời, nhưng bà Thủy vẫn lặp lại câu hỏi: - Có ai ở đây không, kể cả người không phải là chủ ngôi nhà? Sau khi yên chí là không có người, bà mới bước tới phía tận cùng chiều dài ngôi nhà và đưa tay lay nhẹ vào chỗ vách ván đã cũ, chứng tỏ bà đã khá quen thuộc với ngôi nhà. Sau mấy lần lay, bỗng dưng một miếng ván long ra để lộ một khe hở lớn. Bà Bích Thủy reo lên: - Nó vẫn còn đây! Bà kéo ra một chiếc hộp gỗ đã phủ đầy rêu mốc, nhưng vẫn ôm nó vào lòng bằng cử chỉ trìu mến lạ thường. - Vậy mà mình cứ tưởng nhà đã bị phá và người ta đã đốt nó đi rồi! Ôm chiếc hộp đến chỗ có ánh sáng trời rọi vào, bà Thủy nhắm mắt lại, vừa nhẹ nhàng mở nó ra. Trong đầu bà mường tượng lọn tóc dài óng mượt mà chính bà đã cắt mái tóc thề của mình và đặt vào đó trước ngày đi lấy chồng và hầu như quên hẳn kỷ vật đó. Nhưng khi bà mở mắt ra thì thay vì thấy lọn tóc, trong hộp lại là một bộ xương khô của... một con vật nhỏ nhắn giống như xương mèo! - Trời ơi! Bà Bích Thủy rụng rời tay chân, nhưng chẳng hiểu sao cái hộp trên tay bà vẫn không rớt xuống sàn. Rồi bỗng dưng bà nghe như bên tai có tiếng kêu khẽ "meo meo". Cho đến lúc đó thì bà ngã phịch xuống và ngất đi... *** Việc mẹ mình đột nhiên mất tích khiến cho Nhơn lo lắng vô cùng. Anh hỏi mãi thì Tám Thể mới tiết lộ:- Bữa đó bà nhốt ông pháp sư trong phòng chứ không phải con mèo. Nhưng chẳng hiểu sao khi cậu mở cửa ra lại thấy con mèo ở trong đó, còn ông kia thì biến mất? Cậu có thấy lạ không? Nhơn nhớ lại con mèo đen, anh ngờ ngợ: - Hình như con mèo này nó sao đó. Nhà mình có con nào như vậy không? - Dạ không, bà và cậu đều không thích mèo, chó, nên tụi này cũng đâu dám nuôi. Mà cũng lạ, sau bữa đó rồi không thấy con mèo ấy đâu nữa? Nhơn còn đang hoang mang thì chợt nghe có tiếng gọi cửa. Anh bảo Tám Thể: - Chị ra coi ai. Nếu người lạ thì đừng cho vào, nói nhà đi vắng hết. Tám Thể bước ra một lát trở vào báo: - Dạ, đúng là người lạ, nhưng anh ta nói biết cậu và cần gặp để gửi trả lại cái gì đó. Nhơn cau mày: - Ai vậy? - Một anh chàng đạp xích lô, nói tên là... là gì đó tôi quên rồi. Anh ra trông có vẻ lương thiện. Nhơn chợt nhớ, anh kêu lên: - Anh chàng chở nạn nhân đi bệnh viện! Tám Thể quá đỗi ngạc nhiên: - Chở ai đi bệnh viện hả cậu? Nhơn nói nhanh: - Ra mở cửa mời anh ta vào! Nhơn nhớ lại chuyện hôm đó mà hơi lo. Chẳng biết nạn nhân nhờ anh ta chở đi bệnh viện ra sao rồi, mà tại sao anh ta lại biết nhà mình? - Dạ, khách vào rồi cậu Hai. Nhơn quay lại và nhận ra anh chàng đạp xích lô. Anh chàng kia cũng reo lên: - Tôi cứ tưởng là không thể gặp lại cậu được! Tìm cầu may mà gặp... - Sao, anh tìm tôi chắc không liên quan tới chuyện bữa đó chứ? Thật ra người mà tôi nhờ anh chở chỉ là... Anh chàng mau miệng: - Cậu cứ gọi tôi là Ba Gà tôi chạy xích lô này đã gần chục năm, chưa thấy ai trả một cuốc xe đạp non cây số mà bằng chạy đoạn đường chục cây số như cậu! Tôi tới để trả lại cậu tiền dư. Nhơn xua tay: - Không, đó là công của anh, bởi anh xứng đáng được nhận như vậy. Anh chàng nói một câu quá bất ngờ với Nhơn: - Thật ra bữa đó tôi có chở nạn nhân nào đâu. Đó chỉ là... một con mèo! Nhơn trố mắt kinh ngạc: - Anh nói gì? Chính là một anh chàng tôi tình cờ bắt gặp trong ngôi nhà hoang mà? Ba Gà thật thà: - Chở anh ta tới bệnh viện thật, nhưng vừa tới nơi thì anh ta biến mất, chỉ còn lại trên xe là một con mèo mun! Nhưng con mèo sau đó cũng biến mất. Tôi hoang mang hết sức, đứng chờ cậu một lúc lâu mới đạp xe về nhà. Chiều lại, trong lúc dọn nệm xe tôi mới phát hiện có vật này rơi trên nệm. Ban đầu tôi không nghĩ là của anh chàng bị ngất kia, vì vật này là của nữ. Nhưng sau đó suy nghĩ kỹ tôi dám chắc là của anh ta hay là của... con mèo gì đó, bởi suốt buổi sáng trước khi gặp cậu nhờ chở thì tôi đâu có chở ai. Nhơn tiếp nhận một cây trâm cài tóc của phụ nữ làm bằng xương hay ngà gì đó, anh nói ngay: - Vật này không phải của tôi, cũng chẳng biết của ai, nhưng do anh nhặt được thì anh cứ giữ lại mà xài, đưa tôi làm gì. Anh chàng xua tay: - Tôi không xài được cái này! Vả lại hồi tối qua tôi nằm chiêm bao thấy có ai đó kêu tên tôi, bảo tôi đem cây trâm này đến trả cho chủ của nó, lại chỉ đúng địa chỉ nhà này. Họ còn nói cứ tới hỏi bà Bích Thủy thì ắt có người nhận! Nhơn giật mình: - Bà Bích Thủy? Sao biết tên mẹ tôi? Ba Gà mừng rơn: - Vậy ra bà Bích Thủy là mẹ của cậu sao? Hèn chi trên cây trâm có khắc mấy chữ tên đó... Nhơn nhìn lên cán cây trâm và quả nhiên ở đó có khắc hai chữ Bích Thủy còn rất rõ nét. - Trời ơi, sao lại... Nhơn cứ thừ người ra, trong lúc Ba Gà nói huyên thuyên: - Không ngờ chiêm bao mà y như thật! Lúc đầu tôi chưa tính đi tìm, nhưng sáng nay khi leo lên xe, thay vì đạp đi kiếm ăn trước rồi mới tìm sau, nhưng chẳng hiểu thế nào, tôi cứ cắm đầu đạp và xe... tự nhiên tới đúng nhà này, y như có người dẫn đường. Nhơn mân mê chiếc trâm mãi, anh nói thầm: - Sao lại có chuyện này? Anh đột nhiên hỏi: - Từ mấy ngày trước đó anh có chở người nào là phụ nữ tuổi trung niên không? Ba Gà cười: - Phụ nữ đi xe thì ngày nào không có. Nhưng chiều nào về nhà tôi cũng giũ nệm xe rất kỹ, đâu để sót vật gì trên xe. Tôi chắc chắn vật này thuộc một là cái xác biết chạy mà cậu nhờ tôi chở, hai là của... con mèo mun! Nói xong anh ta chào Nhơn: - Xin kiếu cậu Hai, tôi đi kiếm ăn. Dẫu sao thì tôi cũng nhẹ cả người khi trả lại chiếc trâm này. Thú thật với cậu mấy bữa nay tôi cứ bồn chồn, ray rứt hoài trong người. Không biết có phải do giữ vật này hay không nữa. Nhơn giữ anh ta lại: - Anh đã tới đây rồi, tôi muốn cám ơn anh và xin gửi anh chút chi phí. Nhơn móc tiền định đưa cho anh ta, nhưng Ba Gà xua tay: - Tôi tới là để giao lại vật không phải của mình, chứ đâu dám nhận tiền công. Anh ta đi nhanh ra cổng, mặc cho Nhơn gọi theo mấy lần. Còn lại một mình, Nhơn cứ nhìn cây trâm. Thật ra do lời anh chàng đạp xích lô kể và qua cái tên khắc trên thân trâm, chứ thật ra từ nào đến giờ Nhơn có thấy mẹ mình cài trâm trên đầu bao giờ đâu? Hay là của bà thời con gái? Mà như thế thì tại sao lại rơi trên xích lô? Bao nhiêu câu hỏi cứ vang lên trong đầu khiến Nhơn vô cùng bối rối. Trong lúc anh còn chưa biết làm sao, bởi điều quan trọng nhất lúc này là sự có mặt của mẹ mình thì bà vẫn bặt vô âm tín. Tám Thể thập thò muốn nói gì đó, nhưng thấy Nhơn cứ đăm chiêu nhìn đi đâu đâu, nên phải một lúc chị mới dám lên tiếng: - Thưa cậu Hai, có ông pháp sư... Đang rối lại bực mình, nên Nhơn quát lớn: - Đuổi ông ta đi! - Nhưng thưa cậu, ông ấy... Hoàng Vệ bước vào phòng khách, ông từ tốn nói: - Cậu có đuổi thì cũng để tôi nói hết đã, rồi tôi sẽ đi. Bởi giờ đây chuyện cứu người với tôi còn quan trọng hơn... Nhơn hỏi nhát gừng: - Ông cần gì? - Cậu cần tôi thì đúng hơn! Ông ta tự nhiên ngồi xuống ghế, đồng thời đặt chiếc hộp gỗ lên bàn, vừa chỉ tay, bảo: - Đích thân cậu mở vật này ra đi, như thế sẽ có lợi cho mẹ cậu và cả bản thân cậu nữa. Nhơn chưa hiểu chuyện gì nên tỏ vẻ khó chịu: - Tư cách gì ông sai bảo tôi làm chuyện này chuyện nọ vậy? Ông Hoàng Vệ vẫn không phật lòng: - Tôi hỏi lại, cậu có muốn muốn cứu mẹ cậu không? Bấy giờ Nhơn mới giật mình: - Mẹ tôi làm sao? - Cậu cứ đặt tay lên hộp, rồi chờ cậu kia nữa. Cả hai cùng giở nắp hộp ra một lượt. Nhơn chưa hiểu "cậu kia" là ai thì đã thấy Ba Gà từ từ bước vào. Ông Hoàng Vệ giục anh ta: - Cậu mau tới cạnh cậu Hai và làm đúng theo lời tôi đã dặn hồi nãy ngoài cổng. Chờ cho Nhơn và Ba Gà cùng đặt tay lên nắp hộp xong, ông Hoàng Vệ hô một tiếng lớn: - Lên! Lúc ấy cả Nhơn và Ba Cà chưa ai kịp làm động tác gì thì nắp hộp đã bật ra, vừa lúc từ trong đó một con mèo mun nhảy ra, nhắm thẳng chỗ ông pháp sư mà lao tới. Thuận tay, ông Hoàng Vệ dễ dàng chụp nó trong tay và thở phào: - Xong rồi! Ông quay sang Nhơn, ông nói giọng thân tình: - Cậu không biết nên gay gắt với tôi thôi, chứ thật ra tôi chỉ muốn giúp cậu và bà Bích Thủy thôi. Mà cậu có biết tại sao tôi làm vậy không? - Ông với mẹ tôi...? Hoàng Vệ lắc đầu: - Ý cậu muốn nói tôi và mẹ cậu có quan hệ tình cảm chứ gì? Hoàn toàn sai! Tôi là người theo một thứ tôn giáo riêng, không thể quan hệ nam nữ được. Kể cả tiền tài tôi cũng không cần, bởi tôi không phải người lệ thuộc vào đồng tiền. Nói tóm lại, tôi đang sống sung túc. Tôi giúp mẹ con cậu chỉ vì... con mèo này đây! Ông ta nắm con mèo mun đưa lên cao và bất thần ném mạnh nó xuống đất. Con mèo chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi nằm im. Lúc này ông Hoàng Vệ mới cúi xuống nhặt nó lên trong tình trạng con mèo đã chết hoàn toàn. Ông nhẹ nhàng đặt nó vào trong chiếc hộp và bảo với Nhơn: - Bây giờ cậu có thể nhờ cậu đạp xích lô này chở cậu tới chỗ bà mẹ cậu và đưa bà ấy về. Nhanh lên kẻo bà bị lạnh. - Còn ông? - Nhơn ngập ngừng hỏi. Ông Hoàng Vệ nói thêm trước khi bước ra ngoài: - Tôi và ba cậu trước đây là bạn với nhau. Nhiều năm tôi sống ở Hồng Kông không về đây nên cậu chưa từng gặp. Tôi biết mẹ cậu gặp phải một việc mà người ta gọi là linh miêu ám, nên tôi về đây giúp. Nhơn ngạc nhiên: - Linh miêu là gì? - Là con mèo bị vong hồn người cõi âm nhập. Con mèo này vốn trước đây vô tình nhảy qua thi thể một chàng trai mới vừa chết nên chàng trai ấy nhập vào nó. Mà chàng trai ấy lại chính là... người yêu cũ của mẹ cậu! Nhơn sững sờ: - Ông nói vậy là sao? - Chuyện này rồi mẹ cậu sẽ kể cho mà nghe. Đây là mối tình thời con gái của mẹ cậu, tức trước ngày bà lấy ba cậu. Nhưng do chàng trai ấy khi hay tin mẹ cậu đi lấy chồng thì tự tử chết, hồn phách nhập vào con mèo mun và cứ đeo đẳng theo mẹ cậu hoài, nhất là từ khi ba cậu qua đời thì nó lại càng ám dữ, như muốn bắt mẹ cậu đi theo nó! Cũng may, trong nhà này có cậu là người có cái vong khắc với linh miêu, cộng thêm anh chàng đạp xe này một cách tình cờ lại giúp thêm một tay, nên cuối cùng con linh miêu đã phải chịu phép. Ông quay sang anh chàng đạp xích lô Ba Gà: - Thay mặt vợ người bạn tôi, bà Bích Thủy và cậu chủ nhỏ đây, tôi xin cám ơn cậu nhiều. Từ nay có lẽ bà Bích Thủy mỗi khi đi đâu chỉ nên nhờ cậu chở đi là an toàn... Ông siết chặt tay Nhơn: - Cậu thoát nạn rồi. Từ nay cố lo cho sức khỏe mẹ cậu hơn. Lão ta bước ra ngoài và không quên nhắc: - Cậu Nhơn nên đi ngay đi, ngôi nhà đó không an toàn đâu! Đợi ông ta đi rồi, Nhơn giục: - Anh để xích lô ở đó, tôi chở anh bằng xe hơi, để anh tiếp tôi đỡ mẹ tôi về đây. Hai người đi nhanh tới chỗ ngôi nhà hoang. Vừa mở cửa ra đã thấy bà Bích Thủy ngồi co ro trong góc nhà. Bà mừng rú lên khi nhìn thấy con: - Mẹ chết mất, con ơi! Nhơn nhanh chóng đưa mẹ ra xe. Anh phải giải thích về sự có mặt của Ba Gà: - Đấy là người góp công lớn trong việc giải cứu cho mẹ con mình. Từ nay con muốn nhờ anh ấy mỗi sáng tới đưa mẹ đi chợ và đi đây đó. Bà Bích Thủy chờ cho Tám Thể bước ra ngoài rồi mới kể lại những gì bà biết và Nhơn đang rất muốn biết: - Ngày mẹ còn đang học trường áo Tím thì mẹ có yêu người con trai tên Thái, ở cùng xóm. Mối tình của bọn mẹ trong sáng và thánh thiện lắm, nhưng cũng như tất cả những mối tình đầu, tình học trò đều không thành, cho nên khi mẹ vừa nghỉ học thì ông bà ngoại con bắt mẹ đi lấy chồng, tức lấy ba con sau này đó. Nhơn e dè hỏi: - Rồi người ấy của mẹ sao lại chết? Giọng bà Bích Thủy trong nước mắt: - Tội nghiệp lắm. Anh ấy con nhà nghèo, có cha cũng đạp xích lô như cậu Ba Gà đó, nên đâu có điều kiện để cưới xin mẹ. Mẹ cũng muốn cưỡng lại lệnh của ông bà ngoại con, nhưng là con gái mới lớn, tính tình lại yếu đuối, nên mẹ đâu còn cách nào khác hơn. Không ngờ ngay buổi chiều hay tin mẹ sắp làm lễ hỏi thì Thái đã chạy tới chỗ ngôi nhà mà lúc sáng con tới cứu mẹ đó, hồi ấy đó là ngôi nhà khang trang của ông bà ngoại con, anh ấy vừa nhìn thấy mặt mẹ thì ngã lăn ra và tắt thở! Thì ra Thái đã uống thuốc độc từ trước đó và chỉ chịu chết khi nhìn được mặt mẹ! Bà Bích Thủy siết chặt tay con, tiếp lời: - Mẹ vội đưa Thái vào nhà mình, chính ba con lúc ấy cũng có mặt và giúp mọi việc cho Thái. Mẹ nhớ ra rồi, lúc còn đang khăm liệm cho Thái thì có một con mèo mun bất thần nhảy ngang qua xác, nhiều người hoảng hốt, lo lắng về chuyện đó... Mẹ vì quá đau buồn nên cũng không để ý. Mãi cho đến những năm gần đây, bỗng dưng mẹ cứ nằm chiêm bao toàn thấy ác mộng, và rồi thấy một anh chàng trẻ tuổi nào đó cứ hiện ra và nhìn mẹ đắm đuối, khiến cho mẹ bị ám ảnh và mất ngủ... Rồi chợt bà kêu lên: - Mẹ nhớ ra rồi! Khuôn mặt xanh xám của chàng trai hiện ra trong giấc mơ của mẹ chính là Thái. Mặt Thái đã biến sắc do khi chết Thái bị thuốc độc hành hạ làm cho mặt không còn giữ được sắc thái tự nhiên nữa. Trời ơi! Vậy mà mẹ cứ tưởng... Bà ôm mặt khóc ngất. Rồi trong suốt một tuần lễ, bà cứ gào gọi tên Thái... Cũng may, sau đó ít lâu thì bà cũng nguôi ngoai và sống bình thản bên con. Một hôm bà nói với Nhơn: - Con sớm có vợ đi, để mẹ vui với cháu nội trước khi nhắm mắt... Nhiều năm sau đó không hề có một hiện tượng nào nữa như chuyện con linh miêu. Có lẽ cái vong của anh chàng Thái cũng đã cảm thông, để yên cho người yêu mình sống trọn cái tuổi già. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 44
TRANG LƯU BÚT ĐỊNH MỆNH - Phần I 1. Cái Chết Của Một Người Bạn Ngọc Nga khá vất vả mới khiến cho chiếc Mobilet nổ máy được. Vừa buông tay ra, cô đã phải ngồi bẹp xuống lề đường vừa ôm ngực thở dốc. Nhìn bộ dạng của bạn mình, Hạnh Dung vừa lo vừa thương: - Mày có sao không? Ngọc Nga ra dấu chỉ vào miệng chứ không nói được nhưng Hạnh Dung hiểu được là Nga đang đòi uống nước, cô cũng ra dấu trả lời, rồi chạy băng qua đường nơi có xe nước mía. Con đường rộng mà xe cộ lại rất đông, nên phải mất đến một phút sau Dung mới len qua được bên kia, cô mua luôn hai bịch nước mía, định bụng sẽ dành cho bạn uống hết chứ mình không uống. Cô quay về ngay khi vừa mua xong, quên cả tiền thối lại. Nhưng vừa bước được chưa đầy chục bước thì một chiếc xe lao tới... - Chết rồi, đụng... Ai đó la lớn khi thấy Hạnh Dung ngã xuống, hai bịch nước mía văng tung t óe. Từ bên kia đường, Ngọc Nga cũng nghe tiếng kêu và nhìn thấy xe cộ dồn cục lại, nhưng cô không nghĩ bạn mình bị nạn, nên cô đợi... Bỗng người ngồi bán thuốc lá bên vệ đường gọi to vừa chỉ tay qua bên kia đường: - Cô gì ơi. Cô đi xe Mobilet ơi! Bạn cô bị xe đụng bên kia kìa! Lúc ấy Ngọc Nga mới hốt hoảng: - Đâu? Đụng ở đâu? Cô quên cả mệt nhọc vội băng qua đường. Tuy nhiên Nga bước chưa tới nửa đường thì đã thấy một chàng trai to cao, đang bế xốc Hạnh Dung trên tay vừa bước nhanh hướng ngược lại. - Dung, mày có sao không? Anh chàng kia biết Nga là bạn của nạn nhân nhưng không dừng lại mà vẫn tiếp tục bế Dung bước nhanh vào lề. Khi anh ta vừa đặt Dung xuống, đã thấy cô bật ngay dậy và nói lí nhí gì đó trong miệng, không nghe rõ. Ngọc Nga lao tới hỏi dồn: - Mày có sao không? Thằng cha này đụng mày hả? Cô nàng quay liền qua anh chàng kia, sừng sộ: - Mắt mũi để đâu mà đụng vào người ta vậy hả? Anh chàng chưa kịp trả lời đã nghe Dung nói: - Không phải đâu, tại tao... Cô ngừng nói, vừa nhăn mặt vừa bước nhích ra khỏi vòng tay của anh chàng. Thấy vậy, Nga còn dữ dằn hơn: - Mày gần chết như vậy mà không sao gì! Để tao hỏi tội thằng cha này! Lúc này anh chàng mới lên tiếng: - Muốn hỏi tội thì cũng để người ta băng bó vết thương cho nạn nhân đã chứ. Bộ cô muốn nhìn bạn mình chảy hết máu sao? Anh ta định xem chỗ đau dưới chân của Dung, nhưng cô đã vội xua tay: - Không sao, hổng có máu đâu, chỉ đau vì... vì... Ngọc Nga nhanh nhảu vén ngay ống quần của bạn lên, vừa tía lia: - Coi vết thương sâu cạn thế nào đây? Đúng như Hạnh Dung nói, chỉ là một vết bầm trên ống chân, chứ không có chảy máu. Hạnh Dung mắc cỡ vội kéo ngay ống quần xuống, càu nhàu: - Con này... bộ muốn tao khoe... Hiểu ý của bạn, Ngọc Nga đang lo mà cũng phải bật cười: - Mày sợ phải khoe cặp ống sậy của mày hả? Anh chàng kia cũng phải bật cười theo, vừa thở phào nhẹ nhõm. Điều ấy lại khiến Ngọc Nga nổi xung thiên: - Đụng người ta gần chết sung sướng lắm sao mà còn cười? Hạnh Dung lại phải biện hộ giùm anh chàng: - Tại tao băng qua đường không ngó nên đâm vào xe người ta mà. Cho tôi xin lỗi... Ngọc Nga quay qua bạn mình tru tréo lên: - Con nhỏ này điên rồi chắc! Ai lại xin lỗi người đụng mình gần chết! Dung phải bước đi mấy bước để cho Nga nhìn thấy, vừa nói: - Chết đâu mà chết! Tao còn đủ sức lái Mobilet đưa mày đi mấy chục cây số cho coi! Anh chàng hạ giọng từ tốn: - Dẫu sao cô cũng để tôi đưa tới bác sĩ gần đây coi lại vết thương. Rồi có gì tôi sẽ lo... Hạnh Dung sợ Ngọc Nga lại làm lôi thôi, nên vội nói: - Không sao thật mà. Chỉ vì mất thăng bằng nên tôi bị ngã, cũng may... không đụng đâu hết. Ngọc Nga đâu để yên: - Phải đưa nó đi bệnh viện ngay, không nói năng lôi thôi gì hết! Hạnh Dung bấy giờ mới nghiêm giọng: - Làm gì phải đi bệnh viện, tao xức dầu một chút là xong thôi. Anh chàng nghe vậy vội đứng ngay dậy và phóng đi. Ngọc Nga la lớn: - Tính chuồn hả, anh kia? Anh ta quay lại nói nhanh: - Chuồn đi mua dầu xoa! Lát sau anh ta trở lại với lọ dầu nóng trên tay, đưa cho Hạnh Dung: - Cô xoa lên vết thương. Còn thuốc này để uống cho tan máu bầm. Còn hộp này là... kẹo the của Pháp, tặng cô này để cô... chửi cho âm thanh lớn hơn! Vừa nói, anh ta vừa lấy ra tấm danh thiếp đưa cho Dung: - Đây là tên và địa chỉ của tôi, có gì các cô cứ gọi, tôi sẽ có trách nhiệm... Sợ Ngọc Nga lại gấu ó, nên Hạnh Dung chụp lấy tấm danh thiếp rồi cầm chặt trong tay, vừa nói với anh chàng: - Được rồi, anh cứ đi đi, không sao đâu! Anh chàng ái ngại nên chưa dám đi, Hạnh Dung phải giục: - Anh ra dựng xe lên, để cản đường người ta kìa! Nghe vậy anh chàng mới chạy vội đi. Ngọc Nga quay sang cự bạn: - Mày dễ quá, để nó đi rồi lỡ có gì thì sao. Chà, thấy anh chàng đẹp trai rồi bủn rủn tay chân hả! Hạnh Dung phải đập tay vào lưng bạn một cái rõ đau: - Con quỷ, vô duyên! Mày cứ quen cái tật chuyện gì cũng ào ào, người ta bị tao đụng chứ nào có lỗi gì. - Nhưng hễ xe đụng người là xe có lỗi! Gặp tao thì... tao níu lưng luôn. Hạnh Dung trả đũa: - Níu lại vì anh ta quá đẹp trai hả? Bây giờ cả hai mới cùng cười phá lên. Hạnh Dung giục bạn: - Sẵn xe còn nổ máy mình đi lẹ lên, trễ rồi đó! Họ vọt xe đi rồi thì anh chàng lúc nãy chạy chiếc Vespa đảo qua, anh ta quan sát không thấy thì vội vọt đi nhanh, hình như anh ta cũng khá gấp gáp chuyện gì đó. *** Hạnh Dung chở Ngọc Nga hướng về phía cầu Bình Lợi rồi thẳng về quốc lộ 13. Ngọc Nga tỏ ra rành đường, cô nhắc:- Mình đi xe đạp phải mất cả buổi, nhưng xe gắn máy, dẫu là xe cà tàng này cùng lắm là hai tiếng đã tới. Chắc chắn là không trễ. Họ đi Lái Thiêu dự cuộc họp cắm trại ở vườn măng cụt mà đám bạn hơn chục người đã đi trước từ sáng sớm. - Mày coi lại xăng chưa, không lại dẫn bộ ná thở luôn đó! - Xong rồi! Xăng đầy bình. Chỉ sợ nửa đường chiếc xe này giở chứng thôi. Tao sợ cái cục sắt này quá. Ngọc Nga lại tỏ ra sành sỏi: - Có chuyên gia đây thì khỏi lo. Ở nhà chiếc xe Mobilet của ông già tao, tao là chuyên gia đạp nổ máy và chùi bugi! Đang tán chuyện xe cộ, bỗng dưng Hạnh Dung nhắc lại chuyện lúc nãy: - Tao nghe mày chửi anh ta mà... tội nghiệp. Anh ta chịu trận cũng giỏi chứ gặp người khác thì... Ngọc Nga vẫn chưa chịu: - Người khác thì sao? Hễ đi xe mà va quẹt với người đi bộ thì thằng xe bị lỗi thôi. Xưa nay vậy mà! Hạnh Dung cãi lại: - Mày nói bậy! Bộ đi bộ rồi có quyền cứ lăn đùng ra rồi muốn gì cũng được sao? Ba tao nói đi bộ hay đi xe đều phải phân lỗi, phải đàng hoàng. Có khi người đi bộ còn phải bồi thường cho người đi xe nữa đó! Ngọc Nga phá lên cười: - Chắc mày đang muốn tìm anh ta để tạ lỗi và bắt đền... vài chiếc hôn chứ gì! Đang lái xe, chứ nếu không thì Hạnh Dung đã đánh cho con nhỏ mấy cái. Cô phải đe dọa: - Mày còn nói giọng đó tao lủi xe vào đống rơm bên đường bây giờ! - Nè, con khỉ... mà cũng phải công nhận thằng ấy đẹp trai thật đó chứ! Lại đi chiếc Vespa láng cón nữa, ra dáng công tử lắm! Thảo nào... - Lại bắt đầu nữa rồi... Tao cấm mày chọc ghẹo kiểu đó nghe! - Ừ thì cũng được, tao muốn hỏi anh chàng tên gì thôi. - Tao làm sao biết? Ngọc Nga châm chọc: - Chưa gì đã giấu kỹ rồi! Chứ cái gì trong túi mày đó? Chợt nhớ ra, Hạnh Dung móc trong túi áo tấm danh thiếp đưa ra cho Nga: - Mày coi thì biết, tao chưa đọc thì lấy gì biết! Ngọc Nga đọc rất nhanh: - Nguyễn Hoàng Phi, kỹ sư. Rồi cô nàng xuýt xoa: - Kỹ sư nghe! Ái chà, kỹ sư mà hợp với hoa hậu thì chắc cho ra đời cả lô kỹ sư và công chúa con quá! Hạnh Dung lủi ngay xe vào lề, với tay nhéo bạn một cái đau điếng! - Tao không lái xe nữa! Nếu mày không... Ngọc Nga kêu lên một tiếng, nhưng vẫn không quạu mà tiếp tục đùa: - Biết đâu đấy là cơ duyên? - Con quỷ, mày có im đi không! Họ chọc ghẹo nhau mãi cho đến khi tới ngã rẽ từ quốc lộ vào một con đường nhựa nhỏ hơn, tức hướng đi về Thuận An, Lái Thiêu. Hai mươi phút sau, họ tới bãi gửi xe và nhanh chóng đi bộ qua cầu ván để thẳng vào khu vườn trái cây nổi tiếng. Nơi đó đã có đầy đủ các bạn bè. Trong số những bạn cùng lớp Đệ Nhị A1 còn có vài bạn lạ mà theo lời giới thiệu của Châu trưởng lớp thì sẽ còn vài vị khách đặc biệt hơn. Châu nói: - Bữa nay sẽ dành cho các bạn ở đây một sự ngạc nhiên. Nhất là với Hạnh Dung, cô hoa khôi của nhóm chúng ta một sự bất ngờ! Hạnh Dung vừa tới còn mệt, nhưng cũng lên tiếng: - Dung thì cũng giống như các bạn, làm gì có bất ngờ khi mọi cái đều bình thường cả. - Vậy mà có đấy! Châu vừa dứt lời thì lấy từ trong giỏ xách ra một quyển sổ được gói giấy cẩn thận, vừa nói to lên: - Các bạn có đồng ý bắt chủ nhân của quyển sổ này phải khao chúng ta một chầu trái cây hôm nay không? Một tràng pháo tay vang lên: - Ý kiến quá hay! Hạnh Dung ngơ ngác: - Sổ gì vậy? Châu mở luôn quyển sổ ra, đưa lên trước mặt Dung: - Chắc Dung nhận ra đây là gì rồi phải không? Thú thật mình rất tôn trọng sự riêng tư của chủ nhân quyển sổ, nên chỉ đọc những dòng trên bìa thôi, còn bên trong thì đã được người gửi yêu cầu bí mật và niêm phong cẩn thận rồi. Vừa trông thấy, Dung đã kêu lên: - Quyển lưu bút! Châu xác nhận: - Đúng, đây là quyển lưu bút của Hạnh Dung. - Nhưng... làm sao nó lại trong tay Châu? Mình nhớ là... Biết tính Dung rất thẳng, lại nóng và thường hay nổi xung thiên mỗi khi có ai phạm tới chuyện riêng tư của mình, nên Châu phải giải thích ngay: - Mình nói rồi, có người bạn nhờ mình chuyển cho Dung vật này chứ mình không thể nào lại xen vào chuyện của bạn. Người đó tuy không có mặt đây, nhưng sẽ có một đại diện giải trình thêm với Dung. Người ấy kia... Theo tay chỉ của Châu, Hạnh Dung nhìn về phía bờ đất tường dẫn vào vườn cây, có một chàng trai đang bước chậm vào. - Ủa, anh chàng Hoàng Phi của mày kia! Người la lên đó là Ngọc Nga. Riêng Hạnh Dung thì ngơ ngác mất vài giây rồi cũng lúng túng nói lí nhí trong miệng: - Anh... anh ta... Đến phiên Châu ngạc nhiên: - Ủa... đã quen nhau? Hạnh Dung chưa kịp đáp thì lúc ấy anh chàng đã bước tới và đến lượt anh ta khựng lại, nhìn sững vào Dung: - Cô... cô cũng... Trong Iúc Dung còn đang ngỡ ngàng thì Ngọc Nga đã nhanh nhảu: - Sự tình cờ đáng nghi ngờ! Thì ra người ta vờ đụng xe để hẹn nhau ở đây! Châu ngạc nhiên: - Ai đụng xe? Lúc này Hoàng Phi phải chủ động lên tiếng: - Thì ra cô cũng đến dự buổi họp mặt hôm nay? - Phải vậy, lúc sáng mình cùng đi một thể. Châu cũng nói luôn: - Đây là người đại diện cho Giáng Hương để đến trao cho Dung quyển lưu bút này! Hạnh Dung càng lúng túng hơn: - Vậy mà Dung không biết. Anh... anh là... Chàng trai Hoàng Phi cũng giật mình: - Vậy đây là Hạnh Dung? Châu nói: - Hạnh Dung và Giáng Hương là hai người bạn thân nhất, trong lớp luôn ngồi cạnh nhau, cho đến khi Giáng Hương đi du học hồi đầu năm. - À, thì ra... Anh chàng lịch sự nói thêm: - Em gái tôi vẫn thường nhắc Dung luôn, kể cả khi đã sống ở Pháp. Việc nó giữ quyển lưu bút này quá lâu cũng đã khiến cho nó luôn áy náy... Chắc là cô Dung không giận em tôi chứ? Ngọc Nga luôn tìm dịp để chen vào trêu chọc: - Giận làm sao được khi bạn mình có ông anh đẹp trai như thế kia? Cả bọn được dịp cười ồ lên, khiến cho ngay cả anh chàng Phi cũng ngượng, đừng nói gì Hạnh Dung. Cô nàng phải quay sang các bạn nghiêm giọng: - Không phải chuyện đùa đâu các bạn. Mình xin lỗi... Cô cầm lấy quyển sổ từ trên tay Châu, vừa nói: - Khi Giáng Hương đi Pháp mà cầm luôn quyển lưu bút này, tôi cứ chờ hoài mà không thấy nó gửi về thì cũng có hơi buồn, nhưng sau đó nghĩ như thế cũng tốt, bởi nó sẽ có thì giờ đọc lại những dòng trong đó của nhiều bạn bè, ắt là vui hơn khi ở xứ người. Nên từ đó tôi không còn chờ nữa. Châu phá tan bầu không khí còn bỡ ngỡ đó bằng câu nói: - Thôi, chuyện gì đó để chút nữa nói, bây giờ anh Phi đã chịu khó vượt mấy chục cây số để đến đây rồi thì bọn này xin mời anh cùng tham dự buổi cắm trại cho vui! Hoàng Phi lịch sự từ chối: - Mình chỉ muốn trực tiếp đến đây để gửi vật này về cho chủ nhân của nó, và đã gặp rồi thì xin kiếu, phải về ngay vì hôm nay nhà có giỗ, mình không thể vắng mặt được. Một lần nữa xin cám ơn cô Châu đã vui lòng cho mình biết hôm nay có buổi cắm trại này, và có mặt của cô Hạnh Dung đây để mình có dịp gặp và xin lỗi. Châu nhân dịp giải thích luôn: - Do anh Phi đây không biết địa chỉ của Dung, nên hôm qua tới nhà mình hỏi, mình muốn nhân dịp này mời anh ấy cùng lên đây chơi và gặp Dung luôn. Vậy mà cô nàng Dung này để cho anh ấy về, quả là quá vô tình! Phi lại phải lên tiếng lần nữa: - Tôi xin lỗi, bởi hôm nay nhà có giỗ tôi phải về cho kịp giờ. Chứ nếu không thì ở lại chơi tới bao giờ cũng được! Ngọc Nga nhanh nhảu: - Tiễn người ta ra xe đi, còn chần chừ gì nữa? Châu cũng nói: - Thôi được rồi, anh Phi có chuyện nhà thì bọn này không giữ. Để Dung tiễn anh ra xe. Xin mời anh hôm nào rảnh thì chúng ta gặp lại. Ngọc Nga phá lên cười: - Chuyện hẹn hò không cần tới Châu đâu! Hạnh Dung cấu vào hông bạn mình một cái đau điếng rồi chủ động bước đi ngay để tránh sự trêu chọc của các bạn. Hoàng Phi đi theo sau và phải bước thật nhanh mới theo kịp cô nàng. Anh phải lên tiếng: - Bộ Dung quen chốn này lắm sao mà đi qua cầu, đường đất giỏi quá! Lúc đi xa chỗ các bạn rồi Hạnh Dung mới thấy tự tin hơn, cô hỏi thăm: - Giáng Hương ra sao rồi mà chẳng thấy nó thư từ gì hết. Lần này nó có về không anh? Hoàng Phi hơi chùng giọng: - Nó... có chút việc, nên không về được. Nó nhờ tôi gửi lời cáo lỗi về sự giữ quá lâu quyển lưu bút này. Chắc Dung không giận? Hạnh Dung xua tay: - Em đã nói rồi, chỉ có mong đợi thôi và bây giờ đã nhận lại được rồi, còn giận gì nữa? Vậy khi nào thì anh Phi liên lạc được với Giáng Hương. Em muốn gửi cho nó mấy món quà... - À, việc đó... Thấy anh chàng có vẻ ngập ngừng, Dung nói liền: - Cũng không sao, nếu anh thấy không tiện thì thôi. Hoàng Phi vội nói: - Không, không, chỉ là vì... tôi chưa định ngày trở qua bên đó. Để khi nào đi, tôi sẽ báo cho Dung. Dung thích thú: - Vậy ra anh Phi cũng ở bên Pháp như Giáng Hương! - Phải... - Anh tốt nghiệp rồi, chắc là làm việc bên ấy? Và chắc... đã lập gia đình ở bên đó? Phi lắc đầu lia lịa: - Làm gì có! Bộ Dung thấy tôi già lắm sao? Tôi còn đang... Chẳng hiểu sao tự dưng Dung thấy vui vui, cô nói một câu chẳng ăn nhập gì với nội dung đang bàn: - Con gái Pháp nghe nói đẹp lắm! - Thua xa Dung! Không ngờ anh chàng lại biết nịnh một câu thẳng như thế, Dung quay nhìn anh ta và bất chợt bốn ánh mắt chạm nhau. Dung cúi mặt xuống và nghe tim mình đập nhanh hơn gấp bội. Khi ra tới Cầu Ván thì Hoàng Phi đột ngột nói: - Bây giờ tôi mới dám nói lời xin lỗi... Tôi đã mạo muội viết mấy dòng trong cuốn lưu bút của Dung. Chắc Dung không trách chứ? Hạnh Dung hơi bất ngờ, nhưng cô không tỏ sự khó chịu: - Chắc là... Giáng Hương đã cho phép anh? Mà cũng đâu có sao, lưu bút là nơi ghi nhận tất cả tình cảm của bạn bè dành cho mình, mà anh thì còn hơn là bạn nữa... Hoàng Phi nhìn sững cô: - Dung nói thế nghĩa gì? Hạnh Dung phải nói rõ ngay: - Bởi vì anh là anh của Hương, bạn em, tức anh còn hơn là bạn rồi còn gì! - À thì ra... Cả hai cùng cười bẽn lẽn và tự dưng trong lòng họ cảm thấy thân thiện hơn, cho đến lúc Phi ra lấy xe. Anh nói với lại khi đã rồ máy xe: - Châu đã nói địa chỉ của Dung rồi, có thể ngày mai tôi xin phép tới thăm và nói chuyện nhiều hơn. Cả quà của Giáng Hương nữa... Hạnh Dung reo lên: - Vậy thì mai em sẽ ở nhà chờ anh! Nhưng rồi cô khựng lại: - À mà không được, ngày mai em có việc phải đi với mẹ rồi. Hay là để thứ năm được không? Thứ năm em được nghỉ. Phi hơi lưỡng lự, nhưng cũng gật đầu: - Được rồi, mình sẽ gặp lại nhau. Anh ta rồ xe chạy đi khá xa rồi mà Dung vẫn còn ngẩn ngơ nhìn theo. Chính cô cũng chẳng hiểu tại sao như vậy... - Bị hớp hồn rồi sao cô nương? Giọng nói của Ngọc Nga ngay phía sau khiến cho Dung giật mình, cô quay lại đưa tay dứ dứ như sắp đánh vào bạn, Nga lại càng có dịp trêu chọc: - Si anh chàng rồi thì chịu đi, nếu không ta tấn công phỗng tay trên thì đừng có trách! - Con khỉ! Dung đuổi theo dọa đánh, Ngọc Nga thì cố tình trêu chọc, vừa chạy trước vừa nói với lại: - Anh chàng đẹp trai cỡ đó thì coi chừng đó! *** Suốt đêm qua, Dung cứ đọc đi đọc lại hoài bốn trang lưu bút của Hoàng Phi viết trong sổ. Trước dòng chữ của Phi có bút tích của Giáng Hương, nhưng lạ một điều là Giáng Hương chỉ viết vắn tắt và viết chưa tròn câu thì đã ngưng ngang: "Mình biết việc đưa cho anh mình viết trong lưu bút của Dung là không đúng, bởi Dung và anh Phi chưa hề quen biết nhau. Tuy nhiên do anh ấy quá ái mộ Dung, cứ nằng nặc đòi phải viết để làm quen, nên cuối cùng mình đành phải chiều lòng anh ấy. Mình xin lỗi Dung, còn có điều này nữa, mình muốn nói riêng với Dung..." Những dòng chữ của Giáng Hương ngưng ngang ở đó, rồi tiếp theo là những trang viết của Hoàng Phi. Mà cũng thêm một điều nữa rất lạ, mạch văn của Phi viết đang ngon trớn thì bỗng khựng lại, như bỏ dở nửa chừng. Hạnh Dung đọc đi đọc lại và tính khi gặp lại anh, cô sẽ hỏi cho ra lẽ. Phải chăng Phi hết ý, mất hứng hay không muốn nói hết lòng mình? Cũng may, sáng hôm nay là ngày thứ năm, Dung được nghỉ học, nên cô ngủ nướng thêm một chút. Khi thức dậy thấy đã chín giờ, cô giật mình, nhảy ngay xuống giường và dọn dẹp rất nhanh phòng ngủ của mình, và sau đó ra phòng khách dọn tươm tất trước sự ngạc nhiên của mẹ. Bà Hồng lên tiếng hỏi ngay: - Bữa nay chắc trời sắp có bão hay sao mà cô nương nhà này dọn dẹp kỹ vậy hả? Biết mẹ trêu chọc mình, Dung nũng nịu: - Mẹ này... bộ con gái mẹ làm biếng lắm hay sao? - Không làm biếng, nhưng không được siêng cho lắm. À, hay là bữa nay đón khách? Hạnh Dung tranh thủ ngay sự ủng hộ của mẹ: - Đúng là con có khách. Có mấy người bạn... Bà Hồng cười vừa xoa đầu con gái: - Có vậy nên con tôi mới siêng đây! Mà cũng được, con ở nhà đón bạn, rồi muốn vui chơi gì đó cứ lấy đồ trong tủ lạnh ra mà làm. Mẹ có việc phải qua nhà bà Phán Giáo chiều mới về. Hạnh Dung mừng rơn: - Cám ơn mẹ! - Sao lại cám ơn? Dung lúng túng, sợ mẹ biết mình sẽ đón bạn trai: - Dạ... dạ không. Con cám ơn vì mẹ cho con lấy đồ trong tủ lạnh. - Con khỉ này, bộ mẹ cấm mày vui chơi với bạn hay sao? Mười lăm phút sau bà xách giỏ đi, còn dặn lại: - Con nhớ ở nhà chơi, đừng rủ rê bạn đi ra ngoài. Giờ này trộm đạo nhiều, bỏ nhà trống không nên. - Dạ, mẹ cứ yên tâm đi... điều binh khiển tướng! Bà Hồng tròn mắt nhìn con gái: - Sao mày biết mẹ đi đánh bài? Dung nheo mắt: - Mỗi lần mẹ qua bà Phán Giáo thì chỉ có cầm tướng xanh tướng đỏ thôi, chứ có làm gì khác đâu, ai không biết! - Mày giống hệt thằng cha của mày hồi trước! Lúc nào cũng nghĩ tao đi đánh bài. - Thì ba nói đâu có sai! Vả lại đánh tứ sắc là để vui, giết thì giờ chứ phải cờ bạc ăn thua đủ đâu mà ngại? Mẹ đi rồi Dung mới chạy đi thay bộ đồ mới mà từ tết đến giờ cô mới có dịp thử. Bộ đồ bằng lụa hơi mỏng, nên Dung cứ đứng trước gương ngắm hoài, cứ sợ bị cho là khêu gợi! Thật ra cô khá hài lòng với bộ đồ tự tay đi mua hôm trước Tết, nhưng mặc lần đó chẳng có ai khen, ngoại trừ bị mẹ mắng cho: - Con gái con lứa gì mà ăn mặc cứ... hơ hớ ra thế kia, bộ muốn trêu ngươi thiên hạ hả? Do vậy Dung đã treo nó cho tới hôm nay. Nhìn ngắm kỹ lại, cô tự nhủ: - Đẹp thấy mồ, đâu có gì khêu gợi đâu! Bữa trước không có hẹn giờ với Phi, nên Dung đoán nếu anh ta có tới thì chắc sẽ tới buổi sáng, và giờ tới theo nguyên tắc lịch sự là vào khoảng chín đến mười giờ. Không ai tới chơi mà đi vào giờ trưa, gần bữa cơm. Vậy mà sao bây giờ đã gần mười một giờ rồi mà anh chàng vẫn chưa tới? Chờ tới mười hai giờ mà vẫn chưa thấy, Dung gọi điện tới nhà Ngọc Nga và rủ: - Tao với mày tới nhà của Giáng Hương, tao qua đón mày nghen! Ngọc Nga cười to trong điện thoại: - Nhớ rồi phải không con khỉ? Lát sau Hạnh Dung chạy Velo Solex qua chở Ngọc Nga. Cô nàng vẫn chưa hết chọc: - Bộ mày mê anh chàng thật hả? Dung càu nhàu: - Mê gì mà mê, chẳng qua anh ta hẹn qua nhà chơi và đem theo quà của con Giáng Hương gửi về mà tao chờ suốt buổi sáng không thấy. Nhân mẹ tao đi vắng nên tao muốn chủ động sang bên ấy lấy quà luôn. Có thể anh chàng tìm không ra địa chỉ, hay bỏ lạc địa chỉ rồi cũng nên. Họ đã từng tới nhà Giáng Hương trước đây nhiều lần, chỉ gần một năm nay không sang vì Hương đi du học, nên họ đi rất nhanh đã tới. Ngọc Nga thắc mắc hỏi Dung: - Sao trước giờ mình tới chơi mà không hề gặp anh chàng này hả mày? Mà có đúng anh ta là anh của con Hương không? - Chắc chắn rồi! - Sao mày dám quả quyết khi chỉ mới gặp anh ta có một lần? Hạnh Dung thú nhận việc quyển lưu bút: - Chính anh ta viết trong cuốn lưu bút của tao gửi cho con Giáng Hương. Anh em tụi nó viết chung cho tao. Ngọc Nga kêu lên: - Vậy mà mày dám giấu há! Đưa tao coi anh ta viết gì vậy! - Thì từ từ đã, để hôm nào... Đến nhà Giáng Hương chỉ còn mình bà ngoại ở, còn ba má Hương thì cũng đã định cư ở Pháp từ lâu, nên Hạnh Dung gọi tên của Hoàng Phi, chứ không gọi bà: - Anh Phi ơi! Cô gọi đến ba lần mà vẫn không nghe ai trả lời, mặc dù nhà có mở cửa. Phải gọi đến lần thứ tư thì mới có tiếng dép lê đi ra, rồi giọng bà ngoại của Hương hỏi vọng ra: - Ai kêu có gì vậy? Nhận ra ngoại, Hạnh Dung nói to: - Con là bạn của Giáng Hương đây ngoại, con hỏi có anh Hoàng Phi ở nhà không ngoại? - Cái gì? Hỏi gì? - Dạ, con là Hạnh Dung, bạn học ngày trước của Giáng Hương, con muốn hỏi anh Hoàng Phi, anh của Hương? Bà ngoại bước hẳn ra ngoài, bà nhận ra ngay Hạnh Dung và Nga, nên nói ngay: - Hai đứa bây mà bà tưởng là ai. Con Giáng Hương đi bên Pháp từ lâu nay rồi, còn... Hoàng Phi thì cũng đâu có về. Hạnh Dung nhìn sững bà: - Con mới gặp anh Phi hôm chủ nhật rồi, anh ấy nói là về có mang theo quà của Giáng Hương gửi cho con. Bỗng dưng sắc mặt bà cụ tái xanh, bà bước thụt lùi và lắp bắp hỏi: - Con... con nói... gặp ai? - Dạ, con gặp anh Hoàng Phi hôm chủ nhật rồi. - Trời ơi! Bà cụ kêu lên một tiếng thảng thốt rồi suýt nữa đã ngã xuống đất, khiến cho Hạnh Dung và Ngọc Nga hốt hoảng: - Bà ngoại! Bà sao vậy? Họ đỡ kịp nên bà không ngã, nhưng toàn thân bà bỗng lạnh ngắt, bà xua tay mấy cái rồi ra dấu cho hai đứa dìu vào nhà. Vào trong rồi còn hỏi Iại: - Con nói gặp ai? - Dạ, anh Hoàng Phi. Bà đưa tay chỉ lên tủ thờ có hai ảnh chân dung: - Có phải thằng đó không? Hạnh Dung nhìn lên cùng lúc với Ngọc Nga, rồi cả hai cùng kêu lên: - Chính anh ấy và cả... Gláng Hương nữa! Mà cái gì vậy ngoại? Đây là ảnh... ảnh của họ sao ngoại lại đặt trên tủ thờ? Bà thều thào: - Thì cả hai đứa nó giờ đã... ở trên đó rồi mà. Chúng nó... Hạnh Dung lặp lại như người mất hồn: - Sao lại như vậy? Sao lại... sao lại... Ngọc Nga bình tĩnh hơn, hỏi lớn: - Ngoại nói vậy có nghĩa cả hai đã chết rồi sao? Bà cụ nhẹ gật đầu: - Chết hết rồi... - Ngoại! Hạnh Dung thét lên một tiếng rồi đứng chết lặng. Cô tưởng chừng mình đang nghe lầm hoặc đang trong mơ... Cho đến khi Nga kéo cô về thực tế: - Ngoại nói rõ hơn coi, Giáng Hương mất hồi nào? Lúc này bà cũng có vẻ tỉnh táo hơn, bà từ từ kể: - Nó chết cách đây sáu tháng, cùng với thằng anh của nó. Hạnh Dung như đang trong cơn mộng du: - Không thể nào... không thể như thế được... Ngọc Nga rùng mình: - Vậy ra người gặp mình hôm qua là... hồn ma! Anh chàng đụng xe vào mày cũng là... ma! Bà cụ nghe vậy thì lại hoảng vía: - Thằng Phi gặp tụi con thật sao? Dung chưa kịp đáp thì Ngọc Nga đã nhanh miệng: - Chẳng những gặp thôi, anh ấy còn đụng xe vào con Dung đây, suýt chết! Rồi anh ấy còn chạy xe lên Lái Thiêu nữa... Bà cụ hỏi nhanh: - Chạy Vespa? Rồi bà chỉ ra nhà xe: - Hèn chi chiếc Vespa lâu nay để trong nhà kho, bỗng hôm qua bà thấy ai đem ra nhà ngoài, mà còn lau chùi bóng loáng nữa! Chiếc xe này trước đây là của ba nó, từ khi ba nó chết thì cứ để trong kho, còn thằng Phi thì ngay từ năm lên sáu tuổi đã theo ông cậu nó qua Pháp ở rồi, đâu có về đây... Hạnh Dung thất thần: - Không thể nào đâu ngoại! Ngọc Nga thì vừa rùn vai lại vừa nói bằng giọng run run: - Tụi này gặp ma mà đâu có biết ngoại ơi... Bà cụ vừa khóc vừa nói: - Thằng Phi đâu phải là ma. Nó là thằng hiền lành. Hơn hai chục năm rồi bà không gặp nó, nhưng chắc chắn nó không phải là ma. Ngọc Nga muốn nói gì đó, nhưng nhìn gương mặt thẫn thờ của Dung nên cô nín thinh cho đến lúc Hạnh Dung kiếu bà cụ ra về... Hỏi gì Dung cũng không nói. Phần II 2. Duyên Ma Thấy con gái cứ suốt ngày buồn rầu, lo ra, bà Hồng phải nhắc: - Con sắp tới ngày thi tú tài rồi đó, mà sao cứ lờ đờ như người mất hồn vậy. Hạnh Dung chống chế: - Tại con khó ở... vả lại bài thi con ôn xong hết rồi. Bảo đảm với mẹ là bằng tú tài kỳ này con lấy về cho mẹ là cái chắc! - Thằng cha cô, Iúc nào cũng tự tin. Kỳ này cô mà trượt vỏ chuối thì tôi gả chồng cho biết! Biết mẹ chỉ dọa chơi thôi, nhưng tự dưng Hạnh Dung thấy sợ, cô nhào tới ôm mẹ nũng nịu: - Mẹ mà bắt con lấy chồng là con chết cho mẹ coi! - Con khỉ, chỉ tài nói bậy! Thì con gái lớn phải lấy chồng chứ, chậm lắm là hết năm tới, thi tú tài xong thì cũng phải kiếm chồng để cho tôi có cháu ngoại chứ! - Không đâu! Con ở với mẹ hà! Bà Hồng cũng ôm con vào lòng: - Nói chơi vậy chứ chỉ còn có hai mẹ con, gả đi rồi mẹ ở với ai! Thằng anh Hai mày thì đi biền biệt, nói hoài mà không chịu lấy vợ, mẹ buồn hết sức. Chợt bà nhớ lại chuyện bà Phán Giáo nói mấy bữa trước, bà kể: - Bác Phán có cái mối này, bà ấy nói hoài mà mẹ không nghe. Mẹ muốn biết ý con... Hạnh Dung biết lại chuyện làm mai, nhưng tự dưng cô cũng thấy tò mò: - Bác làm mai ai vậy mẹ? Chắc lại một anh chàng con nhà giàu, công tử bột... Bà Hồng hơi nhỏ giọng: - Lần này bác Phán nói cái mối ấy ở bên Tây. Nghe tới đó, tự dưng Dung giật mình: - Ở bên Tây, mà... ở đâu? Bà Hồng cười xòa: - Mẹ đâu có biết Tây là ở đâu. Mới chỉ nghe vậy thôi... Tự dưng Dung nhớ tới Hoàng Phi. Cô thừ người ra một lúc rồi đột nhiên nói một mình: - Phải chi hồi đó anh ta ở bên này... Bà Hồng nghe không rõ, hỏi lại: - Con nói ai ở bên này? - Dạ... dạ không. Con muốn nói... cần gì phải ở Tây ở Tàu... Bà Hồng dí tay vào trán con gái: - Cha cô, ai cô cũng chê. Kén lắm rồi mai mốt gặp một thằng... trời ơi đất hỡi cho biết! Dung chẩu mỏ ra: - Bộ mẹ muốn con gái mẹ như vậy lắm hả? Hai mẹ con đang nói chuyện thì chuông điện thoại reo vang. Đang ngồi gần máy nên bà Hồng nhấc lên, bà nghe rồi quay sang hỏi con: - Bà ngoại của Giáng Hương là ai vậy con? Có phải con Giáng Hương bạn hồi đó của con không vậy? Hạnh Dung giật thót tim, cô chẳng trả lời mẹ mà giằng lấy ống nghe áp vào tai. Nửa phút sau cô buông ống nghe xuống, lo lắng: - Bà ngoại của Giáng Hương đang hấp hối. Con Ngọc Nga vừa báo tin cho con. - Lâu nay con có ghé thăm bà không? Sao con Giáng Hương không thấy sang đây chơi vậy? Dung thẫn thờ: - Giáng Hương chết rồi. Bà Hồng hốt hoảng: - Chết khi nào? - Gần cả năm rồi. Chết bên Pháp khi đi du học bên ấy. Dung hấp tấp đi ra, bà Hồng căn dặn: - Con qua thăm rồi có gì báo tin cho mẹ, mẹ cũng sang đó nữa. Dung chạy nhanh qua thẳng đó, bởi Ngọc Nga dặn không cần ghé đón nó. Vừa sang tới cổng nhà Giáng Hương đã thấy Nga đứng chờ sẵn: - Không biết sao bà ngoại Hương nhớ số điện thoại nhà tao, và nhờ người giúp việc gọi giùm. - Bà ra sao rồi? - Nằm thiêm thiếp, tao vào thăm bà biết nhưng không mở mắt ra, chỉ hỏi tên mày thôi. - Hỏi sao? Hạnh Dung bước nhanh vào, cô vừa xuất hiện thì bà cụ đã lên tiếng ngay: - Hạnh Dung phải không? - Dạ, con đây ngoại. Bà nhướng mắt lên nhìn, thấy Ngọc Nga, bà nói rất khẽ: - Nói nó ra ngoài một lát, bà có chuyện này muốn nói riêng với cháu! Hạnh Dung phải nói khéo với bạn: - Bà ngoại không chịu được hơi thở của đông người. Mày ra ngoài một lát đi rồi vào sau. Ngọc Nga không hài lòng lắm, nhưng cũng phải bước ra. Lúc này bà cụ bỗng cầm tay Dung, thều thào: - Nó... gửi cái này... cho con! - Ai gởi bà ngoại? - Thằng... Phi! Hạnh Dung tưởng mình nghe lầm: - Ngoại nói ai? - Thằng Phi... - Ngoại, anh Phi đã... Giọng bà cụ càng khó nghe hơn: - Nó... chết... nhưng nó vẫn... Bà khó khăn lắm mới lấy được một vật gì đó từ dưới gối ra, đưa cho Hạnh Dung: - Cái này gửi cho con. Dung cầm lấy và đưa lên xem, đó là một sợi dây chuyền bằng kim loại trắng, có đính theo mặt cũng bằng một thứ chất liệu, hình quả tim, như kiểu dây chuyền dành tặng những người yêu nhau. Còn đang ngơ ngác thì chợt Dung nhìn thấy cái mặt dây chuyền hình quả tim ấy có chốt mở ra, cô nhẹ tay mở và kinh ngạc kêu lên: - Hình của con và... Cô khựng lại, bởi nửa hình quả tim bên này thì ảnh cô, còn nửa bên kia thì là ảnh của... Hoàng Phi! - Thưa ngoại... Bà cụ sức đã kiệt, nhưng vẫn còn nói khá rõ ràng: - Tối qua trong lúc bà mê man thì thấy vong hồn nó về, nó khóc và nói rằng nó đã yêu con từ lúc thấy hình con trong cuốn lưu bút con gửi cho Giáng Hương. Nó định sẽ về nước và hỏi con làm vợ, nhưng chưa kịp thì đã... Bà ngừng một lúc rồi mới tiếp được: - Nó chưa kịp về thì cả hai anh em đều chết trong một tai nạn giao thông bên đó. Do quá say mê con nên hồn nó cứ vất vưởng đi tìm... vừa rồi nó tìm về đây và gặp được con. Hạnh Dung đánh bạo hỏi: - Hồn ma sao con thấy anh Phi giống hệt như người, đâu có vẻ gì là ma vậy ngoại? - Theo nó nói thì hình hài mà con nhìn thấy là xác của một người khác. Nó nhập hồn vào đó để đi gặp con. Bây giờ nó tha thiết van xin ngoại làm cách nào cũng phải cho nó gặp lại con, nó yêu con và muốn... cưới con làm vợ. Ngoại sợ quá, khuyên nó nên bỏ ý định đó đi, bởi dương gian âm cảnh làm sao cưới nhau được, nhưng nó quyết không nghe! - Ngoại! Hạnh Dung muốn nói gì đó, nhưng cô khựng lại. Bà cụ lại tiếp như muốn nói cho hết, sợ không còn kịp: - Nó nói con nên đi tìm người mà nó đã mượn hình hài và nhận lời xin cưới của người đó! Muốn xác nhận đúng người thì con nên nhìn trên cổ người ấy, cũng có đeo một sợi dây chuyền với cái mặt giống như vậy. - Nhưng thưa ngoại... Hạnh Dung vừa nói được tới đó thì đã thấy bà cụ trợn ngược mắt lên rồi ngoẹo đầu sang bên... - Kìa, ngoại! Khi Ngọc Nga chạy vào thì đã nhìn thấy bà ngoại của Hương tắt thở rồi. Cô quay sang hỏi bạn: - Lúc nãy bà trối trăng điều gì vậy? Hạnh Dụng muốn giấu, nhưng sau cùng cô nói hết với Nga. Cô bạn lắm lời này vội nói: - Số mày như vậy rồi, phải làm theo thôi! Hạnh Dung lo lắng: - Nhưng tao làm sao... Cả hai đứng chết lặng rất lâu... *** Sáng vừa mở mắt ra, người mệt nhoài bởi đã mấy đêm liền Hạnh Dung không tài nào ngủ được, thì đã nghe tiếng của mẹ vọng từ ngoài vào:- Con thay đồ ra tiếp khách với mẹ, có bác Phán qua chơi, muốn gặp con. Hạnh Dung nói nhanh: - Con đang mệt, mẹ tiếp đi! - Không được, phải có con. Cứ ra rồi để mẹ nói chuyện. Bác ấy có đề nghị gì thì con chỉ việc lắc đầu bảo rằng chờ học xong tú tài 2 đã. Nghe lời mẹ đi. Được lời của mẹ như vậy, nên dù không muốn Hạnh Dung cũng phải đi trang điểm sơ rồi đi ra. Bà Phán cũng vừa từ ngoài cổng bước vào, đi theo sau bà là một người phụ nữ có tuổi khác và... một chàng trai. Bước chưa tới phòng khách thì giọng bà Phán đã oang oang: - Dẫn rể quý tới nhà dây, cô dâu quý đâu ra đón đi chứ! Biết tính con không thích như vậy, nên bà bảo khẽ con gái: - Bác ấy muốn nói gì cũng được, con cứ chịu đựng. Hạnh Dung quả là đang chịu cực hình, cô vừa mệt vừa chán nản, nên miễn cưỡng đứng dậy chào cho phải phép: - Thưa bác Phán, con chào bác! Thưa... Tự dưng cô khựng lại, trố mắt nhìn chàng trai bước vào sau cùng. Hai tròng mắt của Dung như muốn lọt ra ngoài! Bởi chàng trai kia chính là... Hoàng Phi! Anh chàng cũng khựng lại, nhìn Dung trân trối. Nhưng hình như anh ta chưa nhận thức rõ người đứng trước mặt mình là ai. Bà Phán nhạy cảm, lên tiếng hỏi liền: - A, hai đứa biết nhau à? Bà Hồng cũng hỏi con: - Con quen? Hạnh Dung nhất thời chưa đáp, cô vẫn nhìn xoáy vào chàng trai và sau cùng mới lên tiếng: - Anh Hoàng Phi! Bà mẹ của chàng trai nhận ra, bà cười nói: - Dù cô gọi chưa đúng, nhưng cũng gần với tên của nó. Khương Duy là tên con trai bác! Anh chàng tuy chưa nhận ra Dung, nhưng anh ta cũng nhẹ gật đầu chào rất lịch sự, rồi bước tới chìa tay ra cho Dung bắt. Cô nàng như bị hớp hồn, cứ nắm chặt tay anh ta không chịu buông ra. Bà Hồng phải đưa tay kín đáo nhéo vào hông con gái một cái để Dung chấm dứt cử chỉ đó. Và có lẽ để tránh chướng mắt, bà nói to: - Hay là để người lớn mình nói chuyện, còn hai đứa trẻ thì ra sau vườn làm quen đi, lát nữa vào sau! Hạnh Dung chỉ cần nghe mẹ nói thế, cô đã kéo tay anh chàng ra ngay nhà sau. Khi ra đến ngoài, cô nhìn xoáy vào mắt anh ta rồi hỏi: - Hoàng Phi phải không? Anh chàng vẫn tỉnh như không: - Khương Duy. Mình tên là Khương Duy. Nhưng mình biết bạn. Câu nói càng khiến Dung thêm nghi ngờ: - Có phải anh là người có cái này phải không? Dung đưa tay lên vạch cổ áo anh ta ra và càng sửng sốt khi nhận ra sợi dây chuyền trông giống y như vật cô có trong túi áo. Cô móc ra ngay và đưa lên so, bất chợt anh chàng kêu lên: - Hạnh Dung! Anh ta thay đổi sắc diện một cách đột ngột, từ dáng vẻ chậm chạp bỗng trở nên nhanh nhẹn, hoạt bát hẳn lên, giống y như một Hoàng Phi mà lần đầu tiên Hạnh Dung đã gặp. - Đúng là em rồi, Hạnh Dung! Anh cứ ngỡ sẽ chẳng bao giờ gặp lại em. Để chắc hơn như những lời của bà ngoại Hương kể, Hạnh Dung đưa tay lên định giở mặt dây chuyền của anh chàng ra, thì chính anh ta đã tự tháo ra và đưa hẳn cho Dung: - Em giữ luôn cho đủ cặp! Dung mở trái tim mặt dây chuyền ra, và cả hai cái đều giống y hệt như nhau! - Đúng là anh rồi! Hạnh Dung không một chút sợ hãi, nắm lấy tay Khương Duy, nói đủ cho anh ta nghe: - Em biết rồi, anh ẩn trong xác của anh chàng Khương Duy, nhưng thật ra anh là Hoàng Phi! Anh chàng đáp rất khẽ: - Chuyện này chỉ chúng ta biết thôi. Lúc đó ở trong nhà... Bà Phán Giáo đã bắt mạch được Hạnh Dung kết chàng trai mình mai mối, nên bà mạnh miệng nói: - Tôi làm mai mối hay lắm, nhiều cặp đã thành và con cái đầy đàn, gia đình hạnh phúc. Chưa có cặp nào xảy ra chuyện gì! Bà quay sang bà Hồng: - Chị tin tôi đi, con Dung nhà chị mà ưng cậu cả nhà bà bác sĩ đây thì xứng không ai bằng! Mà coi bộ con nhỏ cũng đã kết thằng Duy lắm rồi. Hình như chúng nó có quen nhau trước. Bà Hồng vẫn giữ đúng ý đã bàn với con gái, nên nói: - Nói gì thì nói cũng phải đợi cháu nó học xong tú tài 2 cái đã. Bà bác sĩ Xuân vội lên tiếng: - Mình làm đám hỏi trước rồi đợi khi cháu nó học xong thì tính liền cũng tiện. - Chuyện này phải để tôi tính lại với con nhỏ. Nó khó tính và hơi cứng đầu. Hồi ba nó còn sống ông không cho ai ép uổng gì nó cả. Bà Phán lấy lòng bà bạn của mình: - Anh chị bạn tôi đây chỉ có con Dung là con gái, mà hiện giờ chỉ còn hai mẹ con sống hủ hỉ với nhau, nên chị ngại phải xa con... Bà bác sĩ Xuân liền nói: - Không sao cả, thằng Khương Duy là con cả, sau nó còn có ba người em nữa, cho nên nếu chị muốn thì tôi đồng ý cho cháu nó ở bên này cùng tiếp tay với vợ phụng dưỡng chị. Bà Hồng còn đang phân vân thì từ nhà sau Hạnh Dung và anh chàng bước ra, tay trong tay. Cô nàng lên tiếng ngay: - Tụi con tính rồi mẹ, con vẫn đi học, còn anh Phi thì đi làm, chờ khi nào con thi xong rồi làm đám cưới luôn! Bà Hồng kêu lên: - Kìa, con. Dung đến bên mẹ, rất chủ động: - Con và Phi biết nhau. Phi đây chính là anh ruột của Giáng Hương bạn con. Bà Hồng ngơ ngác: - Con nói gì vậy? Bà bác sĩ Xuân cũng trố mắt: - Ai là Phi? Thằng con bác là Khương Duy mà. Nó là con trai của bác, chứ đâu phải là anh của Giáng Hương nào đó như con nói đâu? Bỗng anh chàng lên tiếng: - Hạnh Dung nói đúng, con là Hoàng Phi! Cả ba người đàn bà đều ngơ ngác, hết nhìn hai đứa trẻ rồi nhìn nhau. Bà Hồng hỏi đầu tiên: - Con có tỉnh táo không Hạnh Dung? Dung cười nhẹ với mẹ: - Con của mẹ đây mà! Con lúc nào cũng tỉnh táo và nhớ lời mẹ dặn. Con... - Nhưng sao lại có chuyện kỳ cục này? Bà bác sĩ Xuân cũng chen vào: - Thằng Khương Duy nhà tôi là đứa hiền lành, thậm chí có người nói là nó quá ngây ngô, vậy mà sao hôm nay lại... lanh lợi và còn biết đẩy đưa với mẹ nó nữa! Bà Hồng đột ngột đứng dậy và ra dấu cho Hạnh Dung biết: - Con vào trong này mẹ hỏi chút coi! Bà kéo tay Dung đi thẳng vào phòng riêng. Trong khi đó, còn lại ngoài này bà bác sĩ tranh thủ nói với bà Phán Giáo: - Như chị thấy đó, thằng Duy nhà tôi hơi thất thường nên tôi mới muốn cưới vợ cho nó, chỉ hy vọng có chất con gái vào sẽ giúp nó đỡ hơn chút đỉnh, có ai ngờ chỉ mới gặp con này thì nó lại biến đổi, thật khó mà lường. Bà Phán nheo mắt: - Người ta nói đàn bà con gái có khả năng siêu phàm vậy đó! Bất chợt anh chàng Khương Duy lên tiếng: - Mẹ và bác Giáo nói đúng mà chưa đủ. Đúng là hơi con gái làm con tim người ta rộn ràng hơn, nhưng phải là hai con tim của hai người có duyên có nợ kia chứ! Bà bác sĩ Xuân bây giờ mới nhìn thẳng vào con: - Duy, nói cho mẹ nghe coi, đúng là con kết con nhỏ này lắm phải không? Con... hết bông lơn rồi hả? Anh chàng chỉ tay lên sợi dây chuyền trên cổ mình, khoe: - Tụi con có duyên tiền định với nhau, chứ đâu phải đợi đến bây giờ! Bà Xuân ngạc nhiên: - Kìa, con đeo sợi dây đó hồi nào vậy? Xưa nay con có chịu đeo bất cứ thứ gì trên người đâu, nói mẹ nghe coi Khương Duy? Tiện tay, anh ta giở luôn mặt dây chuyền ra, gí sát vào mặt mẹ mình: - Mẹ coi kỹ đi, hai tấm ảnh trong này có phải là con với Hạnh Dung không? - Kìa con! Bà thuận tay chụp lấy và giật phăng ra, sờ lên từng tấm ảnh, thấy nó được in hẳn vào mặt trái tim, chứ không phải là mới dán vào. - Mẹ không thể hiểu nổi... - Giờ thì mẹ đã hiểu rồi đây! Nhưng mẹ làm như vậy là mẹ hại con, khiến con có thể... chết liền! Lời anh chàng vừa dứt thì bỗng sắc mặt tái xanh, người run rẩy... Cũng may vừa lúc ấy Hạnh Dung bước ra kịp, cô nhanh tay giằng lấy sợi dây chuyền từ tay bà bác sĩ Xuân rồi đeo lên cổ cho anh chàng ngay, vừa trách móc: - Bác làm vậy là bác giết con bác đó biết không? Đây là sợi dây định mệnh, phải có nó luôn trên cổ thì mạng sống mới duy trì được. Nếu không... Khương Duy sau khi được đeo trở lại sợi dây chuyền thì hết tình trạng run rẩy và tím tái kia, anh nhoẻn miệng cười với Hạnh Dung: - Cám ơn em. Giọng Dung nhẹ và ngọt lịm: - Hoàng Phi, em phải luôn ở bên anh mới được. Bà Hồng cũng vừa bước ra. Trái với thái độ lúc nãy, sắc mặt lúc này biến đổi, bà lặng lẽ ngồi xuống ghế và chẳng nói gì... Thấy vậy, bà Phán mới lên tiếng: - Qua trao đổi với con gái, chị quyết định ra sao? Bà Hồng chỉ đáp gọn một câu: - Xong rồi! Bà đứng lên và đi thẳng vào trong trở lại. Để cho hai bà khách nhìn nhau ngơ ngác... *** Ngọc Nga vừa bước vào sân đã hỏi liền:- Hạnh Dung không có nhà hả bác? Bà Hồng đáp: - Nó đi học từ sáng sớm, nói bữa nay có kiểm tra gì đó. Nga xua tay lia lịa: - Bữa nay lớp được nghỉ, đâu có học bác! Bà Hồng ngạc nhiên: - Ủa, sao con Dung dám nói gạt bác kìa! Nào giờ nó có bao giờ như vầy đâu... Ngọc Nga ghé sát tai bà thì thầm: - Bữa nay con biết chắc là con Dung đi với bồ nó, bởi vậy con mới qua đây nói cho bác nghe chuyện này. Thấy thái độ khác thường của Nga, bà Hồng hỏi: - Có chuyện gì vậy con? - Con Hạnh Dung phải lòng một anh chàng... cõi âm đó bác! Tưởng mình nghe lầm, nên bà Hồng hỏi lại: - Con nói vậy là sao? Nga nói rõ từng tiếng: - Con Dung bị một hồn ma ám, nó mê anh chàng ấy. Đó là Hoàng Phi, anh con Giáng Hương. Bà Hồng kêu lên: - Hoàng Phi! Đúng rồi, chính thằng đó. Nhưng sao là hồn ma? Ngọc Nga kể hết với bà chuyện cô biết được ở nhà Giáng Hương bữa trước và còn quả quyết: - Chính mắt con và Dung đã nhìn thấy anh chàng đó với con Giáng Hương được thờ trên bàn thờ ở nhà ngoại nó. Con không dám ngăn con Dung, bởi vậy mới nói cho bác hay, để bác bằng mọi cách phải ngăn con Dung lại, nó yêu mù quáng như vậy thì chỉ có chết mà thôi! Bà Hồng thất thần: - Trời ơi, con tôi! Bà lảo đảo ngồi phịch xuống bậc thềm mà miệng cứ lẩm bẩm hoài: - Con ơi, con giết mẹ rồi... Ngọc Nga còn nói rõ hơn: - Chính bà ngoại của Giáng Hương trước khi nhắm mắt đã kêu con Dung tới và dặn dò, trối trăng rất kỹ. Con Dung thuật lại với con là nó phải đi tìm một anh chàng đeo sợi dây chuyền có mặt trái tim, trong đó có ảnh của hai đứa nó, bởi đó là người được Hoàng Phi nhập hồn vào. Bác đừng cho con Dung đi tìm nghe bác, nó sẽ lấy phải ma đó. Bà Hồng thều thào: - Chậm mất rồi! Ngọc Nga tính hỏi thêm thì vừa lúc Hạnh Dung từ ngoài cổng dắt xe vào. Nhìn thấy Nga, Dung đã lên tiếng liền: - Mày mách với mẹ tao chuyện đó phải không? Con này nhiều chuyện! Rồi cô quay sang mẹ, nói nghiêm túc như một người lớn tuổi: - Ma chưa hẳn là xấu. Con đã chấp nhận rồi thì con chịu. Còn nếu mẹ phản đối thì con thà chết theo anh ấy, chứ mẹ đừng bắt con phải xa người con yêu! Ngọc Nga trực tiếp nghe Dung nói những lời đó thì tái mặt, lẩm bẩm: - Con này hết thuốc chữa rồi. Trong đầu Nga có một dự tính mà trước khi tới đây cô đã định sẽ nói cho bà Hồng nghe, nhưng sự trở về đột ngột của Dung đã khiến cho cô chưa kịp nói ra. Nga nghĩ đợi có dịp sẽ nói cho bằng được, mà theo cô là để cứu bạn mình... Nhưng hình như Hạnh Dung đã đọc được ý nghĩ của bạn, cô nói thẳng: - Mày tính xúi mẹ tao đi rước thầy về trừ tà bắt hồn ma của Hoàng Phi phải không? Anh Phi đã đoán biết hết rồi, mày mà nói ra thì tao với mày hết tình bạn bè, mà e sinh mạng của mày cũng không an toàn. Mày không tin cứ thử coi! Ngọc Nga giật mình, cô lúng túng: - Tao… tao chỉ... - Tao biết mày không phải là người xấu, mà chỉ muốn giúp đỡ bạn thôi, nhưng tao nói rõ ràng, đây là duyên số của tao nên để tao chịu. Vả lại, tao đã hiểu về Hoàng Phi lắm rồi, anh ấy sẽ sống như một người dương trần bình thường. Vậy tốt hơn hết là mày đừng đem chuyện này nói lại với ai khác. Riêng mẹ tao, để tao sẽ tìm cách nói thêm cho bà hiểu... Bà Hồng chẳng nói thêm lời nào. Bà như người mất hồn, ngồi chết điếng cho đến khi Hạnh Dung dìu bà vào nhà trong. Còn Ngọc Nga định vào theo, nhưng bỗng dưng cô nàng cảm thấy ớn lạnh và rùng mình liền mấy cái, rồi mắt như hoa lên, người lảo đảo nên cuối cùng đã lặng lẽ ra về mà không báo cho bạn mình biết... Việc Ngọc Nga phát bệnh và nghỉ học hơn một tuần khiến mọi người hoảng hốt, lo lắng. Chỉ có Hạnh Dung là không. Cô chờ cho đến ngày thứ tám, khi Nga có mòi hơi trầm trọng thì tới thăm. Lúc riêng chỉ có hai người, Dung mới nói: - Tao biết mày vẫn tốt, nhưng cái tính thày lay của mày nó hại mày như vậy đó. Có phải sau khi ở nhà tao về, mày vẫn còn có ý định đi thỉnh bùa chú gì đó để đưa cho mẹ tao phải không? Phi đã nói cho tao biết hết và chính anh ấy đã tìm cách ngăn mày, bằng cách khiến cho mày bị bệnh nặng, để mày khỏi làm càn. Bây giờ mày công nhận lời tao nói chưa, còn có ý định tào lao nữa không? Nếu hết rồi thì dậy đi, cùng đi ăn cơm với tao và Hoàng Phi. Ngọc Nga bật dậy ngay và kêu lên: - Mày đừng bắt tao phải đi gặp anh chàng đó. Hạnh Dung giọng chân tình: - Khi hồn đã nhập vào một người cõi trần rồi thì Hoàng Phi đâu phải là ma nữa. Tao tin rằng sau khi gặp anh ấy rồi mày sẽ không còn có ý nghĩ bậy nữa. Thôi, dậy đi và cùng tao đi một vòng... Ngọc Nga bước xuống giường như người chưa từng bị bệnh... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 45
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXXV: Con Ma Nhà Họ Lý -Phần I Hôm qua, khi chiếc xe Traction của cha từ từ ngừng lại trước sân thì Nguyệt Ánh đã có linh tính không hay. Cô nói nhỏ với em gái: - Chị đoán thế nào cũng có bà ấy về cùng ba. Lời tiên đoán của Nguyệt Ánh không sai, bởi bước theo sau ông chủ Thiên Thời là một người đàn bà tuy đã trung niên, nhưng từ cách ăn mặc cho tới cách trang điểm đều giống như các cô gái trẻ. Nhất là đôi môi thoa son đỏ chót, mà khi vừa thoạt nhìn thấy Lan Anh đã thốt lên ngay: - Giống như mấy cô đào cải lương! Vừa nhìn thấy hai cô con gái, ông Thiên Thời đã gọi ngay: - Hai con ra đây chào dì Hai! Lan Anh nguýt một cái, nói nhanh với chị: - Dì cái con khỉ! Nguyệt Ánh bấu em một cái, vừa nhắc: - Kệ, đừng để ba mất mặt. Cô kéo Lan Anh bước ra đứng ngay trên bậc tam cấp, chào cha như mọi khi: - Ba mới về. Thưa dì... Lan Anh thì không nói gì, cô chỉ khẽ cúi đầu. Ông Thiên Thời quay sang người đàn bà: - Đây là Nguyệt Ánh, Lan Anh, hai đứa con gái mà anh nói với em. Chúng nó... Ông chưa nói hết câu thì bà ta đã chận ngang: - Lần sau có chào hỏi thì cũng nên nhìn thẳng vào người mình đang chào, chớ nhìn ngang liếc dọc thế kia là không phải phép. Con gái phải biết lễ, biết phép để còn lấy chồng sau này! Chưa gì đã bị bà ta chỉnh cho rồi, nên Lan Anh không dằn được, lên tiếng ngay: - Con nhà này không lé mắt, cũng không sợ ai mà phải liếc ngang liếc dọc, chỉ có điều là có cần nhìn hay không mà thôi! Ông Thiên Thời thấy không khí chưa gì đã căng thẳng, nên vội nói át đi: - Nguyệt Ánh, Lan Anh đi lo cơm nước để ba đãi dì Hường. Những gì dì Hường nhắc không phải thừa đâu, cũng giống như ba thường nhắc thôi. Đi đi con. Nguyệt Ánh biết ý cha, nên kéo tay Lan Anh đi: - Thôi, bỏ đi. Bữa cơm thì hai cô đã chuẩn bị xong khi nhận được tin cha về cùng với khách. Ban đầu hai chị em không hình dung khách của cha lại quá quắc như thế này, nên đã chuẩn bị tiệc đãi, bây giờ tuy có bực mình, nhưng dù sao thì cũng đỡ phải lo cái việc mà trong lòng hai đứa đều không muốn. Nguyệt Ánh gọi Sáu Chi, đứa giúp việc và bảo: - Lát nữa chị lo cho bả, còn tụi em thì khó ở, nên ba có hỏi chị nói tụi em đi nằm rồi! Cả hai đi thẳng ra sau nhà, nơi có con kênh nhỏ, mà thường khi muốn giải buồn họ đều ra lấy xuồng bơi lòng vòng một lúc... Trong khi đó ở trong nhà bà Hường đã bắt đầu chì chiết: - Hai đứa con gái của anh coi bộ không ngoan ngoãn như anh nói đâu. Chúng khó dạy à nghen! Ông Thiên Thời cố xoa dịu: - Chúng là con nít, có gì mình nói sau. Bây giờ em phải chứng tỏ mình là bà chủ tương lai chớ. Bà ta trừng mắt nhìn ông: - Đã là chủ rồi chớ còn tương lai gì nữa. Ông Thiên Thời nói êm: - Thì đương kim chủ nhân. Còn trên cả... phó tướng này nữa đó nghen! Bà ta nguýt một cái sắc như dao cạo, rồi bước thẳng vô căn phòng mà ông Thiên Thời đã dọn trước. Giọng bà ta nghe rất khó ưa: - Cái phòng gì cũ xì, vậy mà anh nói là phòng của chủ nhân, phòng hạng sang! Như vậy đủ chứng tỏ chủ nhân trước đây không có mắt thẩm mỹ gì hết! Biết cái kiểu ăn nói này sớm muộn gì cũng đụng chạm với hai cô con gái của mình, bởi chúng nó có thể nhịn cái gì được, chứ ai nói chạm tới người mẹ quá cố của chúng thì có chuyện ngay. Nên ông vội khỏa lấp: - Thì cái gì không hài lòng mình sửa lại từ từ. Chớ ở xứ này nhà tui là số một rồi đó. Cái phòng ngủ của vợ chồng ông Thiên Thời trước kia, đã được ông cho người sửa lại khá tươm tất, sang trọng hơn với chiếc giường Hồng Kông đặt mua khá nhiều tiền từ Sài Gòn chở về, thay thế chiếc giường ngủ mà ông cùng bà vợ trước sử dụng đã trên mười lăm năm, mặc dù vẫn còn tốt. Ngoài ra ông còn cho thay toàn bộ màn ở các cửa, cũng bằng vải ngoại, mà ông tin rằng chưa có nhà giàu nào ở tỉnh Rạch Giá này có được. Bà Hường bước vô phòng, chỉ mới nhìn sơ qua đã càu nhàu: - Màu màn cửa tối mò, cái drap giường cũng vậy, thời buổi này ai xài drap màu trắng nữa, thiếu gì bông hoa đẹp. Ông Thiên Thời cũng nói cho xong chuyện: - Không chịu thì đổi cái khác... Ông mở đèn lên sáng choang cả gian phòng và vào tận phòng tắm, vừa tự hào giới thiệu: - Cả tỉnh Rạch Giá chưa chắc nhà nào có phòng tắm nước máy, có vòi sen như nhà này. Có cả bồn ngâm nước nữa, tiếng Tây người ta gọi là beignore. Chỉ có ông chủ Thiên Thời này mới dám xài đó nghen! Bà ta nguýt ông một cái: - Cái bồn này bà già trầu của ông trước khi chết đã có ngâm thân chưa, nếu ngâm rồi thì gỡ bỏ ngay, mua cho tui cái khác! - Làm gì có, tui mới lắp đặt đây mà. Còn nguyên tem luôn! Lễ động phòng của hai ông bà trắc trở ngay từ đầu như vậy, chủ yếu là do tính khí quá quắt của người đàn bà mới nhập gia này. Vậy mà ông Thiên Thời cũng ráng chịu đựng cho qua. Cũng may khi con Sáu Chi mời xuống ăn cơm thì coi như ông được giải thoát, ông hối: - Mình xuống ăn cơm rồi còn nghỉ ngơi, anh đói lắm rồi. Mâm cơm dọn thịnh soạn nhưng chỉ có hai người ăn. Ông Thiên Thời hỏi: - Hai đứa nó đâu rồi sao không ra ăn luôn? Sáu Chi đáp: - Dạ, hai cô nói khó ở rồi đi ra sau nhà. Chắc là đi bơi xuồng rồi, vì hồi sáng có mấy người bạn học của hai cô tới, họ có hẹn đi bơi xuồng. Sáu Chi đã bịa chuyện để cho sự vắng mặt của hai cô chủ nhỏ hợp lý, chớ cô còn lạ gì cái nhăn mặt khó chịu của cả hai khi đón khách mới hồi nãy. Ông Thiên Thời cằn nhằn: - Hai đứa này không biết gì hết, có khách thì phải ở nhà lo chớ! Bà Hường lại có dịp mắng mỏ: - Thiếu người dạy nên vậy đó! Mà thôi, có mặt tụi nó lại ăn mất ngon! Sáu Chi nghe nói mà cũng phát tức. Cô ta đã làm cho nhà này kể từ khi bà chủ cũ còn khỏe mạnh, bà thương cô và ngược lại cô cũng thương bà nhiều. Gần sáu năm ở trong nhà này cô chưa từng bị bà chủ nói nặng lời lần nào, bữa cơm nào bà cũng bắt phải ngồi ăn chung, không phân biệt chủ tớ. Vậy mà nay, từ lúc ngồi xuống mâm, bà Hường này chỉ chăm chú lo trách người này, chê cái kia, chứ không hề quan tâm tới người phục vụ... Chán nản, Sáu Chi bước tránh ra, đi làm vài công việc lặt vặt khác. Và suốt buổi cơm hôm đó cô nghe toàn là lời của bà Hường nói, không nghe ông chủ Thiên Thời nói gì. Câu cuối cùng cô còn nghe rất rõ bà ta bảo: - Người ăn kẻ làm trong nhà này có lẽ tui phải coi lại, nếu cần thì cho nghỉ, mướn đứa khác tui ưng ý hơn! Ông Thiên Thời bấy giờ mới lên tiếng: - Trong nhà này chỉ có thằng Sĩ tài xế là người lái xe cẩn thận, làm nào giờ chưa từng để xảy ra gì, tui ưng ý lắm, còn con Sáu Chi thì là đứa được lòng cả nhà, lại siêng năng, hiền lành, đâu có ai khác mà phải cho nghỉ. Bà ta cố tình nói cho Sáu Chi nghe: - Nhưng tui muốn mọi cái trong nhà này phải mới. Người dính tới bà già trầu kia tui hổng ưa. Sáu Chi nghe mà ức lắm, nhưng cô vẫn cố nhịn. Chờ cho xong bữa cơm, cố dọn dẹp rồi đi tìm hai cô chủ nhỏ. Không thấy hai người ở bờ kênh, Sáu Chi lại đi vòng qua chỗ ngôi mộ của bà chủ. Nơi mà ngày nào Sáu Chi cũng ra đốt nhang cúng, thậm chí còn ngồi lại lâu hơn hai cô gái con bà. Khi bước tới nơi Sáu Chi ngạc nhiên khi thấy ở đầu mộ có một bó hoa còn tươi. - Hoa của ai vậy kìa? Hoa rất lạ, Sáu Chi chưa từng thấy bao giờ, nên không biết là hoa gì, mặc dù đó chỉ là một thứ hoa cẩm chướng mà dân thành thị thường hay dùng. - Của ai vậy hà? Từ phía sau lưng chợt có một giọng nói rất lạ: - Cứ tưởng là sẽ không có người tới để chiêm ngưỡng hoa. Ai ngờ cũng có, mặc dù không phải là... Sáu Chi bật đứng dậy, ngạc nhiên hỏi: - Anh là ai vậy, sao đặt hoa trước phần mộ của bà tui? Khách là một chàng trai cỡ trên hai mươi tuổi, người có vẻ thư sinh, hiền lành, nghe Sáu Chi hỏi đã trả lời rất thành thật: - Tôi là Hiếu, chắc là chị chưa biết, nhưng ngược lại tôi biết chị là Sáu Chi. Sáu Chi càng kinh ngạc hơn: - Sao anh biết tui? - Nghe Nguyệt Ánh nói. Sáu Chi hiểu ra: - À, thì ra anh là bạn của Nguyệt Ánh? Hay của Lan Anh? Anh chàng tên Hiếu cười rất tươi: - Đâu chị thử đoán coi tui xứng làm bạn với cô nào? Sáu Chi rất tự nhiên: - Cô Nguyệt Ánh thì đã mười chín, còn cô Lan Anh thì mới mười bảy. Vả lại không lẽ em lại có bồ trước chị? Hiếu kêu lên: - Sao chị biết tụi tui bồ với nhau! Sáu Chi tâm lý: - Không có chàng trai nào không phải là bồ hay có tình ý gì đó với một cô gái mà chịu khó mang hoa tới thăm mộ mẹ cô nàng cả! Chắc chắn anh là bồ rồi! Cô Nguyệt Ánh phải không? Hiếu lại một lần nữa cười hiền hoà: - Chị đúng là nhà tâm lý đại tài rồi! Thấy mình đoán đúng, Sáu Chi thích thú: - Vậy mà lâu nay Nguyệt Ánh kín miệng như bưng! Cô này giỏi thiệt... Sáu Chi nhìn quanh rồi hỏi: - Anh gặp cô Hai chưa? Hiếu lắc đầu: - Chưa. Nhưng thôi, tôi có việc phải đi ngay. Phiền chị về nói lại với Nguyệt Ánh là có tôi ghé thăm mộ. Có gì tối sẽ gặp lại sau. Anh ta nói xong quay bước đi. Nhưng vừa bước mấy bước thì quay lại nói: - Chị vào nhà ngay, hình như trong nhà đang có chuyện gì, có ai đó la hét om sòm trong đó! Lúc này Sáu Chi mới lắng nghe và quả là có tiếng gấu ó từ trong nhà vọng ra. Cô chạy vào ngay và đúng lúc ông chủ Thiên Thời chạy ra hỏi liền: - Mày có thấy giỏ đồ của bà Hường đâu không? Sáu Chi ngơ ngác: - Từ lúc bà về tới giờ con có ở trong nhà đâu mà thấy. Bà Hường bước ra tới, bà tru tréo nhắm vào Sáu Chi: - Nhà gì trộm cắp như rươi, đồ đạc mới hở ra là mất tiêu liền! Con kia, mày lấy cái giỏ của tao để đâu, nói mau. Không còn nhịn được nữa, Sáu Chi phản ứng: - Bà nói thì phải có bằng chứng, không được nói càng! Nhà này từ bao giờ chưa từng có ai là ăn trộm cả, bà chủ trước đây từng để quên mấy chục lượng vàng mà còn không mất nữa là. Bị phản ứng bà ta quê, nên nổi xung thiên: - Mày hỗn láo hả con ranh con kia! Tao đuổi mày từ bây giờ! Sáu Chi không vừa: - Tui làm là làm cho ông chủ và mấy cô trong nhà này, chớ bộ ham làm cho bà để ăn vàng sao chớ! Tui sẽ nghỉ liền sau khi chờ gặp hai cô chủ tui đã. - Nhưng tao muốn mày ra khỏi nhà tao ngay! - Nhà nào của bà? Nhà này là của ông chủ đây và hai cô Nguyệt Ánh, Lan Anh. Chừng nào những người này đuổi thì tui đi liền! - Nhưng tao... Ông chủ Thiên Thời phải lên tiếng: - Chuyện gì cũng từ từ. Con Sáu đây quán xuyến hết công việc trong nhà, nay cho nó nghỉ thì lấy ai làm... Nghe ông ta nói vậy bà ta tru tréo lên: - Nếu ông binh nó thì tui sẽ đi cho ông coi! Bà ta ngoe nguẩy đi vô phòng có lẽ định lấy va li, nhưng chợt nghe bà kêu lên từ trong ấy: - Ủa, sao lại ở đây! Ông Thiên Thời bước vào và ngạc nhiên khi thấy cái túi mà bà Hường bảo mất hồi nãy đang nằm giữa giường. Bà ta cầm giỏ lên soát lại đồ đạc trong đó rồi thở phào: - Còn nguyên! Ông Thiên Thời lắc đầu: - Vậy mà bà hô hoán! Bà ta bị bẽ mặt, nhưng vẫn giọng điệu khó ưa: - Mà không mất của thì cũng phải đuổi con nhỏ hỗn láo đó đi thì tui mới ở trong nhà này! Ông Thiên Thời phải dịu giọng: - Được rồi, để mai tui tính. Ông hỏi lại: - Trong giỏ có gì mà em la dữ vậy? Bà ta hạ thấp giọng: - Cả tài sản của tui ôm theo ông, chớ phải ít đâu! Gần một trăm lượng vàng và cả đống hột xoàn nữa! Số này tui lấy luôn của lão thầu khóan gởi hùn làm ăn, chưa ăn được mà mất thì có nước tự tử! Ông Thiên Thời rùng vai: - Bao nhiêu đó thì ăn thua gì, bà về đây tui còn cho bà gấp chục lần nữa. Nhưng thôi, đem để trong tủ khóa lại đi, rồi ngủ một giấc, sáng mai tính. Bà ta ôm kè kè cái giỏ, đưa vào tủ đứng cất, khóa lại cẩn thận, rồi nhét xâu chìa khóa vào trong lưng quần. Suốt từ đó tới đêm, ông Thiên Thời hầu như không rời bà ta nửa bước, cũng không hỏi thăm hai cô con gái đi chơi đã về chưa. Nửa đêm... Bỗng dưng bà Hường choàng tỉnh bởi hình như bà vừa bị ai đó thọt léc vào nách. Bà bật ngồi dậy ngơ ngác hỏi: - Ai làm gì vậy? Bà nghĩ ông Thiên Thời ngọ ngoạy tay chân, nhưng khi nhìn sang, bà ta ngạc nhiên thấy ông đang nằm co dưới sàn, ngủ ngáy khò khò! - Ông Thiên Thời, sao lại... Bà hỏi chưa dứt lời thì chợt há hốc mồm khi nhìn ra cửa sổ phòng, nơi đó có một người đang ngồi vắt vẻo, quay lưng vô và hầu như chẳng để ý tới gì xung quanh. Hoảng quá, bà ta hỏi bằng giọng run run: - Ai... ai vậy? Người kia vẫn không quay lại, cũng không lên tiếng. Rồi bỗng dưng cả thân người nhảy ra phía ngoài! - Kìa? Bà Hường hốt hoảng chạy ra cửa nhìn xuống. Trước tầm mắt bà ta là một chàng trai trên dưới hai mươi tuổi, đang nằm sãi tay, bất động trên thảm cỏ. - Ông Thiên Thời! Ông Thiên Thời! Bà gọi đến mấy lần mà ông Thiên Thời vẫn nằm im, quýnh quá bà ta phải chạy lại lay ông, lúc đó mới phát hiện là người ông lạnh ngắt và hầu như hơi thở sắp tắt! - Trời ơi! Tiếng kêu của bà ta khá lớn, nên dẫu không muốn, nhưng Sáu Chi vẫn phải từ phòng mình chạy lên và lên tiếng: - Cửa khóa làm sao tui vô được! Bà ta phải bước tới mở chốt cửa vừa nói nhanh: - Mày coi tiếp tao đỡ ổng lên giường. Không biết bị sao mà người lạnh như thây ma vầy nè! Sáu Chi tiếp bà ta kéo ông chủ lên giường, cô nói nhanh: - Ông lạnh là bị cảm gió rồi, để con đi lấy dầu. - Khỏi, mày chạy ra cửa sổ coi ai nằm dưới kia kìa! Sáu Chi quá đỗi ngạc nhiên, nên không kịp hỏi lại, đã bước tới cửa nhìn xuống và cô ngơ ngác hỏi: - Có ai đâu? Bà Hường gắt lên: - Mắt mày đui sao không thấy, có thằng nào nằm đó, tao mới thấy nó té từ trên này xuống đó! - Làm gì có? Không thèm để ý việc ông Thiên Thời đang ưỡn người lên, có dấu hiệu bất thường, bà ta chạy lại cửa sổ nhìn xuống và kinh ngạc. - Nó mới nằm đó mà? Nó... là ai vậy? Sáu Chi bực mình: - Con không thấy thì làm sao biết? Bà ta gắt lên: - Tao muốn hỏi trong nhà này có đàn ông nào khác không? Sáu Chi đáp nhát gừng: - Không có! - Ủa... như vậy chẳng lẽ... Bà ta chợt hốt hoảng nói to: - Có khi nào... Bà vừa chạy tới bên tủ áo, vừa run run tra chìa khóa vào mở tủ. Rồi giọng bà ta thất thanh: - Trời ơi... của cải của tôi! Trước mắt bà cái túi đựng mấy trăm lượng vàng đã không còn ở chỗ cũ! Bà xốc tung quần áo trong đó lên và kéo cả hộc tủ nhỏ bên trong ra. Vẫn chẳng thấy gì. Số vàng đã không cánh mà bay! - Thằng đó lấy! Bà ta tuôn chạy ra ngoài, vòng ra ngoài cửa sổ, chỗ bà thấy chàng trai nằm lúc nãy. Chẳng hề có một dấu vết gì chứng tỏ là vừa có người té xuống. Nhìn quanh cũng chẳng thấy bóng ai. - Trời ơi! Bà ta cứ luôn miệng kêu trời và cuối cùng chạy trở lên phòng ngủ. Không nhìn thấy Sáu Chi ở đó, bà gào to: - Con gì đó, mày vô đây tao hỏi coi! Phải một lúc sau Sáu Chi mới trở lên. Cô hỏi: - Bà cần gì con? Bao nhiêu bực dọc bà ta đổ lên đầu cô gái: - Vàng của tao đâu? Tụi bây lấy hết của tao rồi phải không? Sáu Chi hết nhịn nổi, cô phản ứng liền: - Ai lấy gì của bà? Bà ăn nói lung tung kiểu đó tui không nhịn à nghen! Bà ta vẫn bù lu bù loa: - Quân ăn cướp, tụi bây không ăn dộng được của tao đâu, tao giết,.. Bà lao tới như mụ điên, Sáu Chi buộc phải vừa né tránh vừa kêu cứu: - Cô Hai cô Ba ơi, bà ta giết tui! Nguyệt Ánh và Lan Anh thề với lòng là sẽ không gặp mặt bà ta nữa, nhưng khi nghe Sáu Chi la hét, họ cùng chạy lên. Nguyệt Ánh hỏi trước: - Chị bị sao vậy chị Sáu? Sáu Chi chưa kịp nói thì mụ Hường đã gầm lên: - Cả hai đứa mày nữa, tụi bây lấy vàng của tao thì mau trả lại đây! Lan Anh vốn ngang bướng, đã phản ứng liền: - Bà kia, bà giở trò gì đây hả? Bà tưởng chị em tui sợ bà sao chớ! Bà... Vừa khi ấy họ nhìn thấy ông Thiên Thời nằm như chết trên giường thì hốt hoảng: - Ba sao vậy? Ba ơi... Họ quên hết mọi chuyện, cùng lao vào phòng. Nguyệt Ánh sờ vào người cha, cô hét lên: - Ai làm gì ba, trời ơi! Mụ ta phải không? Lan Anh xốc nổi hơn, cô la làng chói lói: - Người ta giết ba tôi rồi, bớ bà con ơi! Mụ Hường lúc này chứng tỏ mình là một con người đáo để, mụ ta cũng la to hơn: - Bớ thiên hạ ơi, tụi nó ăn cắp tiền vàng của tôi! Đồ quân ăn cướp, đồ ác nhơn! Tiếng kêu la của họ vang vọng ra tận bên ngoài, tuy nhiên xưa nay chuyện xảy ra trong ngôi nhà giàu này ít khi được láng giềng can thiệp, bởi vậy mặc cho họ la, thật lâu sau vẫn không có người tới. Tài xế lái xe cho ông Thiên Thời thì tối về nhà riêng ngủ, phải sáng hôm sau mới đi làm. Thấy kêu la chẳng có kết quả gì, mụ Hường xoay qua tru tréo kiểu khác: - Tụi bây ỷ đông chống lại tao phải không? Nhưng bây nên nhớ, em tao là lính kín của Tây, chỉ cần tao báo cho nó biết tức thì nó gông cổ tụi bây lại hết cho biết tay! Lan Anh không vừa: - Không làm chuyện gì bậy thì sợ gì lính kín hay lính hở, hổng ai sợ bà đâu! Bà ta trở lại tủ áo, lấy ra gói vải đựng vàng bị mất lúc nãy, giũ tung nó ra làm bằng chứng: - Vàng tao mới để trong này, tụi bây không lấy thì ai vô đây lấy? Cái thằng con trai lúc nãy trèo cửa sổ vô, thấy tao bỏ chạy, nhảy xuống đất suýt chết, đúng là đồng bọn với tụi bây rồi! Nó... nó... Nói tới đây bỗng dưng mụ ta giật mình, khi thấy từ trong túi vải rơi ra một vật. Đó là chiếc đồng hồ đeo tay hiệu Telda. Mụ ta ngơ ngác: - Cái này... đâu phải của tao? Nguyệt Ánh thì kêu lên: - Cái này... mụ lấy ở đâu ra? Cô cúi xuống nhặt lên và nhận biết ngay: - Của Hiếu mà! Lan Anh cũng nói: - Vật này do chị tặng cho anh Hiếu hồi ảnh đi học ở Sài Gòn mà! Từ lâu ảnh vẫn đeo, sao bây giờ nó lại ở đây? Phải chăng... Rồi chợt nghĩ ra, Lan Anh chỉ vào mặt bà ta hỏi lớn: - Bà ăn cắp vật này ở đâu? Mụ Hường không ngờ mình bị phản pháo khá bất ngờ, nhưng vốn là người đầy kinh nghiệm và gian xảo, nên mụ ta lấy lại bình tĩnh liền: - Đúng là giữa tụi bây và thằng ăn trộm vừa rồi có thông đồng với nhau rồi! Hãy nói mau, nó té bị thương nặng rồi được tụi bây đem giấu ở đâu? Nguyệt Ánh hoảng hốt: - Bà làm gì anh ấy phải không? Câu hỏi của Nguyệt Ánh vô tình như xác nhận chàng trai kia có liên hệ với mình, nên bị mụ Hường chụp lấy: - Nó là người yêu của mày phải không? Giấu nó ở đâu nói mau, đừng để tao truy ra thì lúc đó có lạy tao, tao cũng không tha! Nghe bà ta nói người nào đó té trọng thương, Nguyệt Ánh quá sức lo lắng: - Bà đã làm gì người ta rồi? Tôi sẽ ăn thua đủ với bà... Sáu Chi chen vào nói: - Chưa biết người kia là ai, cô đừng để mắc mưu bà ta. Lan Anh cũng nói: - Chắc gì đó là anh Hiếu. Em nghĩ mụ này đã lấy cắp cái đồng hồ này ở chỗ nào đó, mình phải bắt mụ ta khai ra ngay! Cô quay sang mụ ta, gằn giọng: - Bà tưởng cả vú lấp miệng em được hả! Tui sẽ bắt bà phải nói ra... Cô thuận tay chụp lấy cây gài cửa, đưa cao nhắm vào bà ta: - Bà nói ngay không, lấy vật này ở đâu? Bà không nói tui đập một cây này thì chết không kịp trối đâu! Bà ta lùi một bước, nhưng miệng vẫn tru tréo: - Mày tính giết người diệt khẩu phải không! Tao nói cho mà biết... Mụ ta bất thần chụp lấy con dao rọc giấy trên bàn và lao nhanh về phía ông Thiên Thời, vừa quát: - Tụi bây mà áp đảo tao, thì thằng cha tụi bây sẽ không thoát chết đâu! Nguyệt Ánh ngăn em mình: - Từ từ đã... Thấy kế sách này có hiệu quả, mụ Hường lại làm tới: - Tụi bây không khai ra vụ ăn cắp vàng thì tao sẽ làm thịt thằng cha tụi bây ngay bây giờ! Mụ ta đưa tay lên cao, như sắp vung dao đâm xuống, bỗng lúc đó mụ thét lên một tiếng: - Trời ơi! Rồi ngã ngửa ra phía sau, con dao rớt xuống sàn nhà. Từ khóe miệng mụ ta tuôn ra hai dòng máu... Phần II Mặc dù không tìm thấy dấu vết gì của Hiếu, nhưng những gì mụ Hường nói đã khiến cho Nguyệt Ánh hoang mang. Cô thức suốt đêm để suy nghĩ mà cũng chẳng làm sao hiểu được tại sao Hiếu lại đột nhập vào nhà làm gì, để đến nỗi phải nhảy lầu? Hiếu xưa nay là một chàng trai hiền lành, đứng đắn, từ khi yêu cô đến bây giờ đã hơn ba năm mà chưa một lần dám tới nhà và cũng chưa bao giờ anh đòi hỏi bất cứ điều gì sằng bậy, chứ đừng nói là chuyện lén lút tới nhà và trèo tường lên phòng ngủ như thế này. Nhưng tại sao chiếc đồng hồ, kỷ vật riêng mà lúc nào Hiếu cũng đeo dính trên tay, lý do nào lại ở trong phòng của ông Thiên Thời, nếu không do chính Hiếu mang tới và vô tình đánh rơi lại. Như vậy vụ mất vàng gì đó mà mụ Hường nói là có thật và Hiếu là người... đã gây ra? Chính điều nghi ngờ này đã khiến cho Nguyệt Ánh quyết định phải đi tìm Hiếu cho bằng được. Mặc dù cả nhà Hiếu đã chuyển về một tỉnh khác, chớ không còn ở chung huyện với Nguyệt Ánh như trước kia, nhưng một khi đã quyết rồi thì cô nhất định đi cho bằng được, mặc cho sức khỏe của ông Thiên Thời vẫn chưa có dấu hiệu gì khả quan hơn. Phải mất gần một buổi Nguyệt Ánh mới tìm ra nơi cư ngụ của cha mẹ Hiếu, mà cô hy vọng là Hiếu có về đây, bởi hằng năm vào thời điểm này Hiếu vẫn thường về chơi trong mấy tháng nghỉ hè và đã nhiều lần Hiếu đã tìm sang chỗ hẹn ước của hai người để gặp nhau. Do giữa Hiếu và cô yêu nhau lén lút, cha mẹ hai bên chưa biết, nên khi Nguyệt Ánh xuất hiện trước cửa nhà Hiếu thì người đàn bà đang quét sân nhìn khách với vẻ xa lạ, ngạc nhiên: - Cô kiếm ai? - Dạ, con muốn hỏi thăm nhà của bác giáo? Bác có phải là... - Tui là vợ giáo Chấn, cô kiếm ông giáo nhà tui có chuyện chi không? Nguyệt Ánh mừng rơn: - Dạ, con chào bác giáo. Con muốn hỏi có anh Hiếu ở nhà không? Bà già nhìn sững cô gái vừa hỏi tên con mình mà như nhìn một vật thể lạ nào đó. Bà hơi run giọng hỏi lại: - Cô... cô là gì của con tôi? Bao lâu rồi cô không gặp nó? Nguyệt Ánh thật thà: - Dạ, hơn sáu tháng rồi bác ạ. Bà già thở hắt ra: - Thảo nào! Rồi bà bỗng nghẹn ngào: - Cô tới quá trễ rồi! Nguyệt Ánh hoảng hốt: - Bác nói sao? Có chuyện gì vậy? Bà già quay bước vào nhà, nói với lại: - Cô vô đây. Mời Nguyệt Ánh ngồi ở bộ ván gỗ ngoài hàng hiên, bà hỏi lại: - Cô quen sao với thằng Hiếu? Nguyệt Ánh hơi lúng túng: - Dạ... tụi con... là bạn thân. Con và Hiếu... Hiểu ra, bà thở dài: - Có phải cô tên là Nguyệt Ánh không? - Dạ, chính con là Nguyệt Ánh. Trước kia con học chung trường với anh Hiếu, nhưng dưới hai lớp, chúng con... Bà chận lời: - Tui hiểu rồi. Có lần Hiếu nó nói bóng gió về chuyện này và nói rằng khi nào lấy vợ thì nó chỉ lấy người bạn quen lâu năm mà thôi, không lấy người nào khác. Nguyệt Ánh xúc động: - Dạ... con hiểu lòng dạ anh Hiếu. Hè này con định yêu cầu anh Hiếu dẫn về ra mắt bác và cả ba con bên nhà nữa. Anh Hiếu có hứa với con. Bà già bỗng òa lên khóc nức nở, khiến cho Nguyệt Ánh ngơ ngác: - Thưa bác... có chuyện gì vậy? Bà đứng lên bước vào nhà trong rồi đưa tay chỉ lên bàn thờ: - Nó ở trên đó chờ con lâu nay! Nguyệt Ánh trợn tròn hai mắt, chết sững giây lâu rồi mới thốt nên lời: - Bác... bác nói gì? Anh Hiếu... Hiếu sao vậy? - Nó chết rồi, trong một tai nạn xe hơi cách đây hai tháng. Do nó không nói nên bác đâu có biết cháu ở đâu mà tìm để báo tin. Bởi vậy suốt hai tháng nay nó cứ về hoài, đòi phải đi tìm cháu mà bác biết tìm ở đâu. Bác biết tên cháu là do vậy. Nguyệt Ánh tưởng đâu trời sập trên đầu, cô gào lên: - Trời ơi, anh Hiếu! Rồi cô ngất xỉu. Bà mẹ Hiếu phải đỡ cô lên ghế. Mãi một lúc sau Nguyệt Ánh mới tỉnh lại, cô không tin đó là sự thật, lay tay bà mẹ Hiếu hỏi lại: - Có thiệt không bác? Không đợi câu trả lời, Nguyệt Ánh chạy tới bên bàn thờ, chụp lấy bức ảnh thờ của Hiếu và gào lên: - Tại sao thế này hả anh Hiếu? Tại sao anh không giữ lời với em mà bỏ đi một mình! Giọng bà mẹ Hiếu vẫn trong nước mắt: - Nó chết oan nên hồn phách cứ lẩn quẩn quanh đây. Bữa nay cháu tới đây là may mắn cho nhà bác. Con hãy thắp cho nó nén nhang để vong hồn nó yên ổn ở suối vàng... Nguyệt Ánh đốt nhang mà hai tay run run. Bất chợt, cô thốt lên khiến bà mẹ Hiếu giật mình: - Anh ấy đã tới nhà tìm con! - Hồi nào? - Dạ, mới đêm qua. Cô kể lại chuyện xảy ra ở nhà, nhưng giấu không nói tới vụ bà Hường mất vàng. Tuy nhiên lúc ấy bà già vụt nói: - Tối qua có cái này để trên bàn thờ, cháu xem coi nó viết cho ai? Đó là một mảnh giấy với mấy chữ viết vội: "Nó sẽ giúp cho em nhiều trong những ngày sắp tới. Hãy thường xuyên ra thăm mộ mẹ em." Nguyệt Ánh lẩm bẩm: - Anh Hiếu viết cho mình... Bà mẹ Hiếu không hiểu nên hỏi lại: - Nó dặn vậy là sao? Nguyệt Ánh lắc đầu: - Con cũng chưa biết. Nhưng đúng là Hiếu dặn dò con điều gì đó... Nguyệt Ánh nhớ lại lời của Sáu Chi kể về việc gặp chàng trai đặt bó hoa cẩm chướng trên đầu mộ của mẹ, cô vụt nói: - Đúng là anh ấy rồi! Và ngôi mộ... Cô vội chào bà mẹ Hiếu, xong đi nhanh về nhà. Từ đó về nhà có hơn sáu chục cây số, lại đi bằng phương tiện trung chuyển mấy lượt, nhưng vì sốt ruột nên Nguyệt Ánh vẫn cương quyết đi. Mãi đến hơn mười giờ đêm cô mới về tới. Khi vừa bước vô nhà thì đã thấy Lan Anh cùng Sáu Chi ra đón ở cửa, Nguyệt Ánh ngạc nhiên: - Sao hai người biết tui về giờ này? Sáu Chi chưa kịp trả lời thì Lan Anh đã nói: - Em đang ngủ thì nghe như có ai gọi tên mình, biểu ra đón chị và cùng nhau ra mộ của má! Nguyệt Ánh ngạc nhiên: - Ra ngoài mộ giờ này làm gì? - Em hổng biết, nhưng có ai đó gọi như vậy. Giọng của đàn ông! Nguyệt Ánh giọng buồn hiu: - Là của Hiếu đó. Lan Anh sửng sốt: - Anh Hiếu... sao rồi? Nguyệt Ánh buông thõng: - Anh ấy chết rồi! - Trời ơi! Lan Anh kêu lên rồi sững sờ nhìn chị mình. Sáu Chi cũng bàng hoàng hỏi: - Sao chết vậy? - Bị tai nạn. Thuật sơ lại chuyện biết được bên nhà Hiếu cho em gái nghe, Lan Anh vụt nói: - Có thể ở ngoài mộ mẹ có điều gì đó! Sáu Chi giục: - Mình ra ngoài đó coi thử! Nguyệt Ánh hỏi về cha: - Ba sao rồi? Sáu Chi đáp thay: - Ông chủ không sao, nhưng vẫn mê man. Thỉnh thoảng ông có tỉnh lại, nhưng không nói gì hết, chỉ rưng rưng nước mắt rồi lại lịm đi... Nguyệt Ánh thở dài, trong khi Lan Anh nói oang oang: - Em nghi mụ ác nhơn đã làm gì đó khiến ba ra nông nỗi như vậy! Sợ giọng nói của Lan Anh quá lớn khiến mụ Hường trong nhà nghe được, nên Nguyệt Ánh ra dấu cho em nhỏ lại và bảo khẽ: - Mình sẽ tính sau, bây giờ ra ngoài mộ đã. Lúc này đã nửa đêm, trời không trăng nên tối mò, nhìn cách vài thước trước mặt không thấy gì. Cũng may cả ba người đã quá quen thuộc khu vườn của mình nên đi không khó khăn lắm. Lát sau họ đã tiến gần tới ngôi mộ. Chợt Sáu Chi nói khẽ: - Hình như có ai kìa! Theo tay chỉ của Sáu Chi, chị em Nguyệt Ánh nhìn theo và phát hiện có hai bóng người đang lom khom trước đầu mộ. Lúc ấy có giọng nói của nữ từ phía hai người kia phát ra: - Làm nhanh đi kẻo tụi nó phát hiện! Một giọng đàn ông tiếp theo: - Giờ này chắc họ ngủ say hết rồi, ai mà biết. - Con chị lớn thì đi rồi, chỉ có con nhỏ và đứa ở còn lại ở nhà, nhưng hồi chiều tui đã bỏ thuốc mê vô lu nước uống, tụi nó ăn cơm rồi uống nước đó, chắc chắn là sẽ ngủ tới sáng cũng chưa dậy nổi! - Giỏi! Bà giỏi lắm. Có như vậy mới không uổng công tui đi thỉnh bùa tận bên Miên về và chịu cực đào mồ vào giờ này chớ! - Có vậy tui mới... thương! Giọng đàn ông có vẻ hờn dỗi: - Thương mà về ở với thằng già Thiên Thời ấy. Tui nói thiệt, nếu bà không ngăn thì hôm nó lên Sài Gòn rước bà, tui đã cho đàn em làm thịt nó rồi! - Cái đầu ông đặc sệt, không nghĩ ngợi sâu xa gì hết! Tui không làm như vậy thì làm sao chiếm cái sản nghiệp này được! Chỉ tiếc một điều là ta chưa kịp ra tay thì đã mất mấy trăm lượng vàng rồi. Phen này tui quyết phải lấy lại gấp chục lần cho coi! - Chính vụ mất vàng này sẽ có lợi cho bà nhiều hơn. Người ta sẽ hiểu là trước khi về đây bà cũng có nhiều tiền của và đến khi lão già Thiên Thời mà chết rồi thì việc bà chiếm gia sản này sẽ không ai dị nghị. Họ nói sao được khi bà cũng đã hy sinh một số tiền lớn rồi! Buông con tép ta sẽ bắt được con tôm càng bà ơi! Vừa nói chuyện họ vừa ra sức đào, cuốc cật lực. Lan Anh hốt hoảng: - Họ đào mộ của mẹ kìa! Nguyệt Ánh tuy có bình tĩnh hơn, nhưng cô cũng bắt đầu nóng mặt, hỏi Sáu Chi: - Họ làm gì vậy? Sáu Chi chưa kịp đáp thì đã nghe giọng của người đàn bà nói nhanh: - Đặt nó xuống đi! - Ừ, tui đặt liền! Chẳng hiểu họ đặt vật gì, mà hình như chỉ đặt cạnh đầu mộ thôi chớ không đào sâu xuống mộ huyệt. Một vài giây sau đó nghe giọng tên đàn ông: - Xong rồi. Bây giờ thì chính cái hồn ma của con mụ dưới mồ này sẽ hiện về bóp cổ thằng chồng già của nó, mình không cần ra tay! Mụ kia hỏi nghe rất rõ: - Ông liệu bùa này có linh nghiệm không đó? Tui chỉ muốn thằng chả chết cho nhanh, rồi tới phiên mấy đứa con của lão nữa, chớ còn để chúng nó sống ngày nào thì tui không yên. - Bà yên tâm, bùa này ở bên Miên người ta sùng bái, chỉ cần chôn nó xuống đầu mộ trong vòng hai mươi bốn giờ là sẽ phát huy tác dụng. Vong hồn con mụ này sẽ hiện về và bắt luôn cả chồng con nó đi một lượt. Bảo đảm hiệu quả sẽ làm bà không thể ngờ! Lan Anh không kiềm chế được, suýt la lên, cũng may là Sáu Chi bụm miệng cô bé lại kịp. Nguyệt Ánh nói khẽ: - Mụ này còn hơn rắn độc nữa! Mình phải làm sao, chớ không khéo sẽ chết dưới tay mụ ta mất. Đằng kia sau khi thực hiện xong mưu đồ, cả hai đứng lên. Lúc này Nguyệt Ánh đã nhìn rõ được mặt người đàn ông, cô kinh ngạc: - Ông Sĩ tài xế! Cả Lan Anh và Sáu Chi cũng đã nhận ra. Sáu Chi quá đỗi ngạc nhiên: - Sao lại là ông ta? Người này lâu nay trung thành với ông chủ lắm mà? Lan Anh quá tức, cô vụt chạy tới định lật mặt hai con người xảo trá đó. Nhưng lạ làm sao, khi cô vừa nhấc chân lên thì như có ai kéo lại, không nhúc nhích được. Cả Nguyệt Ánh cũng thế, cô chẳng làm sao cử động được, đành phải đứng im. Trong khi đó thì mụ Hường và tài xế Sĩ ung dung rời khỏi hiện trường. Họ vừa đi vừa nói huyên thuyên đủ thứ chuyện. Cho đến khi họ đi khá xa rồi chị em Nguyệt Ánh mới nhấc chân lên được, nhưng Sáu Chi đã khuyên: - Đừng đuổi theo làm gì, mình phải coi họ chôn cái gì ở mộ của bà cái đã. Sáu Chi giúp hai cô chủ nhỏ bới chỗ đất vừa bị đào lên ở đầu mộ và họ ngạc nhiên khi moi lên được một pho tượng bằng gỗ, đẽo và chạm khắc giống y cái hình người. Dẫu trong bóng tối lờ mờ, nhưng vừa thoạt trông thấy, chị em Nguyệt Ánh đã kêu lên: - Hình nhân của mẹ! Sáu Chi hiểu chuyện, cô khuyên: - Pho tượng này đã bị yểm bùa, cô không nên giữ trong người. Nguyệt Ánh lo lắng: - Nhưng lúc nãy họ nói đó, cái này họ dùng để trấn yểm làm cho vong hồn mẹ bị sai khiến để về giết ba và tụi em. Vậy mình phải làm sao đây! Đã từng nghe nói về những pho tượng tà ma, nên Sáu Chi bàn: - Muốn hủy hoặc vô hiệu hóa bức tượng này chỉ có mấy ông thầy cao tay ấn, hoặc... Thấy Sáu Chi ngập ngừng, Lan Anh giục: - Chị Sáu nghĩ cách gì đi chớ, chẳng lẽ để cho mẹ bị... hay sao! Sáu Chi nghĩ rất nhanh: - Chị nghĩ ra rồi, Lan Anh đưa vật đó cho chị! Cô cầm lấy pho tượng gỗ chạy bay tới ao nước dơ ở cuối vườn, nơi hằng ngày lũ heo, bò thường trầm mình và phóng uế. Chẳng chần chừ Sáu Chi ném ngay pho tượng xuống đó! Một tiếng rú vang lên từ ao nước, khiến cho chị em Nguyệt Ánh hốt hoảng chạy bay tới, họ ngơ ngác hỏi: - Chuyện gì vậy chị Sáu? Sáu Chi lắc đầu: - Chị không biết, nhưng chắc chẳng phải là điều xấu. Hai cô coi kìa. Từ dưới lớp bùn có một ngọn lửa xanh lặc lè lóe lên, rồi thật nhanh, ngọn lửa bay lên cao, biến mất dạng trong bóng đêm. Sáu Chi chấp tay vái theo hướng đó: - Hồn bà có thiêng thì xin phù hộ cho ông và hai cô tai qua nạn khỏi. Lan Anh bị kích động nên nói giọng run run: - Không lẽ mẹ mình để cho họ biến thành... ma hay sao? Nguyệt Ánh định nói, nhưng cô chưa kịp mở miệng thì bên tai đã nghe có tiếng của ai đó rất khẽ: - Cứ làm như không hay biết, rồi sẽ ổn thôi... Nguyệt Ánh kêu lên: - Hiếu! Anh ở đâu? Giọng nói kia là của Hiếu. Nhưng khi Nguyệt Ánh hỏi thì lại im bặt. Lan Anh sợ sệt hỏi: - Bộ... anh Hiếu thành ma hả? - Không, chính anh ấy đã giúp chúng ta khám phá ra hành động mờ ám này của mụ Hường và tên tài xế khốn kiếp! Sáu Chi nhận xét: - Theo những gì mình nghe và thấy được thì giữa bà Hường và ông tài xế đã có sự thông đồng với nhau. Lan Anh rít lên: - Đúng là nuôi ong tay áo mà! Nguyệt Ánh nhớ lại: - Hèn gì có lúc thấy chú Sĩ cứ rù rì chuyện gì đó với ba, rồi chở ba đi Sài Gòn có khi mấy tuần mới về. Thì ra chú ấy âm mưu bán đứng ba đã từ lâu rồi. Lan Anh được dịp đay nghiến: - Lâu nay em đã không ưa cái tay đó, người gì có cặp mắt gian xảo thấy rõ, vậy mà ba cũng tin. Chợt nhớ ra, Nguyệt Ánh hối mọi người: - Ta trở lại mộ của mẹ đi, coi lời dặn của Hiếu còn có gì nữa không. Họ trở lại và ngạc nhiên khi nhìn thấy một bó hoa cẩm chướng còn tươi, nằm trên đầu mộ. Nguyệt Ánh nói: - Hoa này lúc còn sống mẹ rất thích. Cả ba cũng không biết cái sở thích này, chỉ có tui biết do được mẹ kể. Lúc còn con gái mẹ thường được một người con trai tặng cho loài hoa này... Sáu Chi cũng nói: - Bữa trước tui cũng gặp loài hoa này trên mộ. Chắc hai lần chỉ là do một người. Nhưng lạ quá, họ xuất hiện và biến mất quá nhanh, chỉ mới đây thôi. Nguyệt Ánh lẩm bẩm: - Chẳng lẽ là Hiếu? Cô nhớ những lời Hiếu viết trong giấy và thầm khấn rằng: - Nếu là anh thì hãy làm gì đó cho em tin. Lời khấn thầm của Nguyệt Ánh vừa dứt thì bỗng nhiên bó hoa vút bay lên cao, rồi rơi xuống đúng ngay trước mặt cô. Nguyệt Ánh run lên: - Đúng là Hiếu rồi! Cô nhặt bó hoa lên và nói với Sáu Chi: - Chị với Lan Anh vô nhà xem cha thế nào, đưa ông qua phòng của tụi em nằm đỡ cho tới sáng. Còn em thì ở đây có chút việc... Khi Sáu Chi và Lan Anh trở vô nhà, vừa bước vào phòng thì tá hỏa: - Ông chủ đâu rồi cô Ba? Lan Anh hốt hoảng khi không thấy cha mình nằm trên giường: - Họ đã làm gì ba em rồi? *** Trong khi đó, ở một chợ quê cách nhà ông Thiên Thời khoảng hơn mười cây số, mụ Hường và tài xế Sĩ đang có mặt.Mụ Hường bực bội ra mặt khi phải ở trong một ngôi nhà tồi tàn. Mụ càu nhàu: - Bộ hết chỗ rồi sao đưa tôi tới ở chỗ này? Dơ dáy lại muỗi mòng nữa, chịu sao nổi! Tài xế Sĩ an ủi: - Ở dơ vài bữa thôi, khi nào đạo bùa linh ứng thì mình trở về và tha hồ mà sung sướng! - Sao ông nói bùa chỉ cần chôn xuống thì sẽ linh ứng ngay mà từ đêm qua tới giờ không thấy gì hết? - Sao bà biết là không có gì? Nó sẽ hiển linh lên cha con họ, chớ đâu có đụng tới chúng ta. Tài xế Sĩ đứng dậy, nhìn bóng mặt trời rồi nói: - Bà ráng ở trong nhà, đừng ló ra ngoài, để tôi ra chợ nghe ngóng tin tức ở nhà lão Thiên Thời xem sao. - Nhớ mua về cho tui dĩa cơm sườn. Đói quá trời rồi! Tài xế Sĩ xua tay: - Để tui mua đỡ cho bà khúc bánh mì ăn lót dạ được rồi. Đâu có tô, dĩa gì mà mua cơm. Vả lại mua cơm đem về sẽ gây sự chú ý cho người chung quanh đây. Hắn ta đi khá lâu. Khi trở về với vẻ lo lắng: - Chẳng hiểu sao lão Thiên Thời đã biến mất, không có ở nhà! Mụ Hường ngơ ngác: - Biến đi đâu? Lúc mình đi lão ta còn nằm trên giường và tui đã khóa cửa lại cẩn thận mà. - Tui mới nghe mấy tay đạp xe lôi truyền miệng nhau là nhà ông chủ Thiên Thời đang rộn lên vì chuyện ông ta bỗng dưng mất tích. Họ đã báo làng lính chia nhau đi tìm. Cầu trời cho họ đừng nghi chúng ta gây ra. Vẫn quen thói đanh đá, chanh chua, mụ Hường lớn tiếng: - Cũng tại ông hết, khi không ai biểu trốn ra khỏi nhà chi cho họ nghi! Mình ở nhà và chờ kết quả đến có phải hay hơn không? Tài xế Sĩ đưa tay chận ngang miệng mụ ta và nói rất khẽ: - Bà biết một mà không biết mười. Nếu chúng ta ở nhà thì khi xảy ra vụ vong hồn vợ lão ra tay thì liệu nó có tha cho mình không, hay là mụ ta sẽ diệt luôn bà và tui nữa? Mụ Hường rên rỉ: - Bây giờ rối rắm thêm nữa rồi. Ông liệu có cách nào trở về được không? Tài xế Sĩ trấn an: - Chưa biết lão ấy mất tích do dâu, nhưng cứ cho là do mụ vợ gây ra, như vậy không phải là mình sắp đắc lợi rồi hay sao! Tuy vậy mụ Hường vẫn lo ngay ngáy trong lòng. Mụ bảo tài xế Sĩ: - Ông giả vờ như không biết gì, quay về nhà thám thính xem hư thực thế nào? Có ai hỏi ông đi đâu thì nói là bị bệnh bất ngờ nên phải đi nhà thương, giờ mới trở về. Trong lúc đó ông tìm cách tung tin là cả tui cũng bị mất tích nữa, để họ không nghi ngờ. Thấy tài xế Sĩ còn do dự, mụ đốc thêm: - Đâu có ai hay biết vụ ông cấu kết với tui. Vả lại ông là người thân cận của ông Thiên Thời, nên chắc chắn hiện giờ họ đang cần ông hơn ai hết. Cứ nghe tui về đi. Tài xế Sĩ trở về và thở phào nhẹ nhõm khi thấy mọi người trong nhà đều mừng rỡ. Nhất là Sáu Chi, cô ta reo lên: - Cả nhà đang đợi anh tới để đi tìm ông chủ. Nguyệt Ánh bấm Lan Anh, không cho nói và nhẹ nhàng bảo tài xế Sĩ: - Chú Sĩ có biết thường khi ba em đi đâu, ghé nơi nào không? Nếu biết thì chú lái xe đi tìm ba em giùm. Tụi em nghi trong lúc không có ai ở nhà thì ba tỉnh lại, rồi trong lúc đầu óc không tỉnh táo, ba đã đi tới nơi nào đó. Tài xế Sĩ nhân cơ hội nói theo ý của mụ Hường: - Tui nghi chắc là có điều gì đó bất ổn cho cả ông chủ và bà Hường nữa. Thôi, được rồi, tui sẽ lái xe đi tìm. Nhưng ở nhà nếu có chuyện gì thì các cô cũng đừng hoảng loạn, cứ đóng cửa lại, ở trong nhà chờ tui về. Khi anh ta lái xe đi rồi Lan Anh mới gầm lên: - Đồ giả nhân giả nghĩa! Em nghi chính nó và mụ kia đã thủ tiêu ba chớ không ai vô đây! Sáu Chi trấn an: - Sở dĩ tui biểu ông ta lái xe đi là để tiện việc mình theo dõi coi ông ta tới đâu. Chiếc xe này ở tỉnh mình chỉ có ba chiếc, mà hai chiếc kia đều thuộc mấy nhà giàu khác, họ thường đậu xe trước cửa nhà. Bây giờ mình chỉ việc lần theo để hỏi thăm thì người ta sẽ chỉ nơi nào hắn ta lái xe tới. Lan Anh tiếc rẻ nói: - Phải biết vậy lúc nãy em chui vô cốp xe để theo dõi hắn! Nguyệt Ánh xua tay: - Một mình ba gặp nạn chưa đủ sao, em còn muốn nạp mạng cho họ nữa à! Sáu Chi trấn an: - Theo tui thì mình cứ chờ ở nhà. Mình cấm cửa không cho mụ kia trở về, như vậy nếu lỡ ông chủ có mệnh hệ nào thì mình cũng giữ được tài sản này. Lan Anh hưởng ứng liền: - Mụ ấy mà dám vác mặt về đây là em la làng liền, em hô cho thiên hạ biết chính mụ ta đã hại ba! Cuộc tính toán và chờ đợi của chị em họ cho đến chiều hôm đó vẫn không thấy gì. Cả đêm hôm đó cũng nặng nề trôi qua. Sáng hôm sau khi trời vừa rạng sáng thì cả nhà đã giật mình khi nghe tiếng huyên náo ngoài cửa. Khi Sáu Chi ra nhìn thì hốt hoảng báo tin: - Làm gì mà làng lính đông quá hai cô ơi! Nguyệt Ánh nhìn kỹ và càng ngạc nhiên hơn khi thấy có cả tài xế Sĩ trong số người đông đảo kia. - Anh ta bị bắt hay sao vậy? Nguyệt Ánh chưa tự giải đáp được thắc mắc thì Sáu Chi đâ kêu lên: - Ông Sĩ dẫn lính về nhà đó! Họ chưa kịp có phản ứng gì thì đã nghe giọng oang oang ngoài cổng: - Mở cửa ra mau, sở mật thám tới khám nhà đây! Do có chìa khóa riêng để lái xe ra, đem xe vào hàng ngày, nên tài xế Sĩ đã tự động mở cửa mời người đàn ông ra vẻ là cầm đầu toán lính mặc thường phục vào. Khi họ bước vô tới bậc thềm thì tài xế Sĩ kề tai Nguyệt Ánh nói nhỏ: - Hai đứa đừng sợ, người này là em ruột của bà Hường, làm ở sở mật thám Tây trên Sài Gòn, họ về đây là chỉ để bắt người âm mưu hại ông chủ thôi! Lan Anh nghe lỏm được, cô hỏi liền: - Ai hại ba tui! Chỉ tay sang Sáu Chi, tài xế Sĩ nói khẽ: - Con này đây! Lan Anh la lớn: - Làm gì có chuyện đó! Nguyệt Ánh cũng không còn giữ được bình tĩnh: - Chú nói bậy gì vậy? Chị Sáu là người ở gần bên tụi này từ mấy bữa nay, làm gì có... Tên cầm đầu nhóm lính, được gọi là thầy Ba Sung, dõng dạc lên tiếng: - Nhân danh chính quyền bảo hộ Pháp, chúng tôi có lệnh bắt đối với bị can Trần Thị Chi, tức Sáu Chi về tội âm mưu bắt cóc người. Lệnh bắt được thi hành! Hai tên lính kín nhào tới khóa tay Sáu Chi ngay, trước sự phản ứng dữ dội của Lan Anh: - Sao lại bắt chị ấy? Ba tui đâu phải do chị Sáu bắt cóc, mà chắc chắn là do bà Hường gây ra rồi! Có bắt thì kiếm bà ta mà bắt! Tên Ba Sung hất hàm cho đám thuộc hạ: - Giải đi ngay! Họ áp giải Sáu Chi ra xe rất nhanh và sẵn sàng dùng biện pháp mạnh để ngăn sự phản đối của chị em Nguyệt Ánh. Một tên đã xô ngã cả hai người rồi đóng cổng lại lập tức. Khi họ đi xa Lan Anh mới gào lên: - Quân dã man, lũ côn đồ! Nguyệt Ánh giờ hoang mang tột độ, cô chưa biết phải làm sao thì chợt nghe bên tai mình có một giọng nói ấm áp, quen thuộc rất khẽ, hình như chỉ mình cô nghe: - Lên phòng thờ mẹ trên lầu, đốt ba cây nhang và chờ ở đó. Hai chị em không được đi ra ngoài. - Anh Hiếu! Nhìn quanh không thấy ai, Nguyệt Ánh kéo tay em đi: - Đừng ở đây nữa! *** Bọn thuộc hạ Ba Sung đưa Sáu Chi vào căn phòng tối, nằm biệt lập ở khuôn viên khá rộng.Nơi đây chúng gọi là cát-sô Địa ngục. Một tên gọi là cai đội Ngô dằn mặt nạn nhân bằng hai cái tát thật mạnh, vừa đe dọa: - Tao nói gì nghe nấy, cãi là coi như xong đời mày, nghe chưa! Sáu Chi vốn ngang ngạnh, gan dạ, nên tuy bị hù dọa, cô vẫn hất hàm thách thức: - Muốn giết thì cứ giết, chớ đừng hòng hù dọa. Tui không biết gì hết nên mấy người đừng tốn công vô ích! Đội Ngô là một tên ác ôn, từng tra tấn dã man nhiều người dẫu họ không hề có tội, thành có tội, do sợ đòn roi nên khai đại. Hắn cười như ác quỷ: - Mày cứng đầu, để coi sức chịu được tới đâu. Hắn vừa định lấy dụng cụ tra tấn ra thì có lệnh của tên sếp, nên phải đi ngay. Không quên khóa cửa lại cẩn thận và dặn mấy tên cai ngục: - Tụi bây không được cho con nhỏ trong này ăn uống, để tao về sẽ cho nó biết đá biết vàng! Hắn gặp Ba Sung, tên này ra lệnh: - Mày cùng với mấy tên nữa đi ngay xuống chợ Nhỏ rước bà chị tao. Đưa thẳng bà ta về nhà của lão Thiên Thời. Nếu có đứa nào chống đối thì bắt nhốt hết. Nếu cần thì có thể bắn hạ chúng tại chỗ, vu cho tội hoạt động chống đối! - Dạ, em làm ngay! Phần III Phải mất gần một đêm bọn Đội Ngô mới về tới Rạch Giá, từ đó chúng về vùng Chợ Nhỏ chỉ mất vài chục phút. Căn nhà tồi tàn mà mụ Hường đang cư ngụ đã được tài xế Sĩ chỉ dẫn cụ thể, nên bọn họ tìm ra không khó. Vốn đã có quen biết với mụ Hường trước đây, nên Đội Ngô tin chắc hắn sẽ rước bà này về không có gì trở ngại. Vậy mà mọi việc lại ngoài dự tính của hắn. Khi mở khóa ngoài, đẩy cửa ngôi nhà vào thì Đội Ngô quá đỗi ngạc nhiên, bởi mụ đàn bà không có trong đó! Bà ấy đi đâu được khi đúng như thằng cha Sĩ đã nói là cửa ngoài đã bị khóa, không ai bên ngoài vào được? Không lẽ bà ta tàng hình? Đội Ngô tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng phải tìm cách liên lạc về cho Ba Sung. Tên trùm lính kín này điên tiết lên, quát tháo om sòm trong ống nghe: - Tụi bây về đây ngay! Đội Ngô lại phải ngồi xe quay về ngay, mặc dù đã đi suốt đêm không ngủ rồi. Hắn về tới nơi thì nghe Ba Sung ra lệnh: - Mày xuống lôi con nhỏ Sáu Chi lên đây! Nghe lệnh, Đội Ngô đích thân xuống phòng giam biệt lập, mở cửa ra và đinh ninh là con nhỏ bị giam đã một ngày một đêm không cho ăn uống, chắc là đang nằm liệt một góc. Nhưng... - Ủa, kìa! Trước mặt hắn ta không phải là Sáu Chi, mà là... mụ Hường! - Sao lại như vầy? Mụ Hường đang nằm thiêm thiếp, khi nghe có tiếng người đã bật dậy, mụ ngơ ngác: - Ai đây? Khi nhận ra Đội Ngô, mụ ta mừng rơn: - Dữ hôn, tới bây giờ tụi bây mới xuống cứu tao! Đội Ngô hỏi lại: - Sao bà lại ở đây? Chưa biết việc mình nằm trong khám, mụ Hường bù lu bù loa: - Thằng cha Sĩ biểu tao cứ ở đây, đợi chả lo giải quyết xong công việc thì trở lại rước, khiến tao chờ đến mỏi mòn, ăn mấy khúc bánh mì khô khốc nuốt nghẹn bản họng luôn. Mau đưa tao về Sài Gòn gặp thằng Ba Sung đi! Đội Ngô chỉ tay ra ngoài: - Thì đây là chỗ của ông Sung, chớ bà tưởng mình đang ở đâu? Lúc này mụ ta mới ngạc nhiên: - Sao tao lại ở đây? Mà sao chỗ này... Đội Ngô đành phải nói thật: - Đây là phòng giam. Khi bà vô đây có gặp con Sáu Chi không? Mụ ta há hốc mồm: - Tao bị nhốt vì tội gì? Đội Ngô phải dài dòng giải thích mụ ta mới hiểu và vô cùng kinh ngạc: - Sao lại có chuyện này? Đội Ngô báo cho Ba Sung biết chuyện, hắn gầm lên: - Đứa nào gan trời dám thả con Sáu Chi? Phải tra cho ra coi đứa nào làm chuyện này! Tội nghiệp cho mấy tên cai ngục, hết thảy bọn chúng đều ngơ ngác, kêu trời: - Tụi này đâu có biết gì! Chìa khóa phòng giam thì ông Đội giữ, tụi tui đâu đứa nào có chìa khác để mở thì làm sao thả người được. Còn chuyện bà này vô nằm trong đó tụi tui cũng không hay, chẳng hiểu sao... Ba Sung cũng bứt đầu gãi tai, chẳng hiểu tại sao? Tài xế Sĩ lo lắng: - Tôi đã về nhà lão Thiên Thời rồi, con Sáu Chi không có ở đó. Chắc chắn là như vậy, bởi nhà đó tuy rộng lớn, nhưng không một nơi nào để con ấy trốn được. Vụ này ông Ba coi lại kỹ coi có ai trong đám lính của ông vì thấy con nhỏ có nhan sắc rồi đem giấu để... xài riêng không? Ba Sung nuốt nước miếng một cách thèm thuồng. - Con nhỏ ấy tui thấy cũng phải thèm, huống hồ là mấy thằng cốt đột kia. Tuy nhiên rõ ràng là không cách nào nó trốn khỏi trại giam được, ngoại trừ có cánh! Mụ Hường còn lo lắng hơn: - Con này tuy là đầy tớ trong nhà, nhưng nó khôn lanh nên tụi kia dựa vào nó. Nó bày vẽ mọi chuyện để hai con ranh con kia làm theo. Nó mất tích hay chết càng tốt, vì ta nhổ được cái gai độc. Nhưng tui lo là nó... còn sống và âm thầm giúp tụi kia! Ba Sung gạt ngang: - Chuyện ấy dứt khoát không có! Anh ta quay sang hỏi Đội Ngô: - Có tin tức gì của lão Thiên Thời không? Đội Ngô lắc đầu: - Dạ, tụi em đã cho dò la khắp nơi mà chẳng nghe tin tức gì. Lão ta tên đầy đủ có phải là Lý Thiên Thời không vậy! Ba Sung bực mình gắt lên: - Chưa cần phải biết rõ lý lịch lão ta đâu! Tìm được lão ta hay cái xác cũng được, tên họ tính sau! Đội Ngô hạ thấp giọng: - Nếu đúng lão ta tên ấy thì đã có mộ lão ta trong vườn nhà rồi. Tức lão ta đã chết! Mụ Hường giật mình: - Sao có chuyện đó được? Trong vườn nhà lão ta chỉ có ngôi mộ của con vợ lớn của hắn. Ở đó chỉ độc nhất có ngôi mộ đó thôi. Chính tôi với tài xế Sĩ đây đã tới đó... Tài xế Sĩ cũng xác nhận: - Đúng là như vậy. Chắc chắn không có ngôi mộ nào khác! Đội Ngô quả quyết: - Tối qua người của tui đã leo tường vào vườn và nhìn rõ ở đó có hai ngôi mộ. Một mộ cũ tên Lê Thị Kiểm, còn ngôi mộ mới là họ Lý như tui vừa nói. Ba Sung cũng ngạc nhiên: - Hay là lão ấy đã chết! Vậy thì ai chôn, không lẽ hai đứa con gái miệng còn hôi sữa đó? Mụ Hường lẩm bẩm: - Đúng là lão ta họ Lý, nhưng không lẽ... Mụ quay sang tài xế Sĩ: - Hay là... đạo bùa đã linh ứng? Như vậy... cả mấy đứa nhỏ cũng đã... Tài xế Sĩ vỗ đùi đánh đét một cái: - Đúng rồi! Vậy mà qua nay nghĩ không ra! Vong hồn mụ vợ hắn đã làm theo sự sai khiến của đạo bùa và cả nhà ấy đã bị mụ ta bắt theo hết rồi! Anh ta mừng quá nên quay sang ôm chầm lấy mụ Hường mà không cần giữ gìn trước mặt tên ác ôn Ba Sung! Tên này có vẻ khó chịu, nhưng chỉ nhẹ lắc đầu rồi quay đi chỗ khác. Lát sau hắn ta ra lệnh: - Thằng Đội Ngô, mày liên lạc với đám theo dõi dưới đó, hỏi kỹ lại coi tình hình ra sao rồi. Hai đứa con gái còn ở trong nhà hay không? Vừa khi ấy có điện báo về từ Rạch Giá. Đội Ngô đích thân nghe và tái mặt báo lại với sếp mình: - Thưa sếp, tụi nó báo về là trong vườn nhà đó bây giờ có tất cả... bốn ngôi mộ! Mụ Hường kêu lên đầu tiên: - Mộ của ai mà tới bốn cái? - Dạ, tụi nó có ghi tên tuổi hẳn hoi, ngoài hai ngôi mộ như đã nói, hai ngôi mộ mới một là của Lý Nguyệt Ánh, một của Lý Lan Anh. - Cái gì? Cả nhà chúng nó đã... chết hết rồi sao? Lần này tới phiên mụ ta ôm cổ tài xế Sĩ hôn lấy hôn để khiến cho Ba Sung phải lên tiếng: - Chị vừa vừa thôi. Bây giờ việc phải làm là về ngay dưới đó, coi tình hình có đúng như vậy không, rồi cho tiến hành làm thủ tục giấy tờ ngụy tạo, để chiếm lấy tài sản của lão họ Lý kia. Mà chị nhớ, mọi việc đều phải tuân thủ theo ý của thằng này nghe chưa! Anh ta nói như ngầm cho hiểu rằng tài xế Sĩ chỉ đóng vai trò phụ mà thôi. Tài xế Sĩ hiểu điều đó, nhưng hình như anh ta cũng biết vị thế của mình, nên nhất thời cam chịu... Ba Sung ra lệnh: - Đội Ngô dẫn theo hai đứa nữa, hộ tống bà chị tao về đó lo cho xong mọi việc. Ngày mai tao sẽ về sau. Hắn đứng lên đi về căn phòng riêng dành cho sếp ở trụ sở, vừa dặn kỹ lần nữa: - Nhất định phải xác minh cho chắc chắn về cái chết của nhà đó. Sau đó phải bằng mọi cách ém nhẹm mọi tin tức, không để cho thiên hạ bàn tán. Còn chị Hường nữa, cũng phải làm bộ thương xót, khóc lóc cho thiệt một chút, chớ đừng chưa gì đã mừng vui, hí hửng ra mặt, thiên hạ sẽ nghi ngờ, nghe chưa! Tuy là chị, nhưng nhất nhất mọi việc mụ Hường đều phải nghe theo thằng em ác ôn, đầy quyền lực này. Bởi vậy mụ nói xuôi theo: - Chị biết mà... Cả bọn lên xe đi ngay. Ba Sung một mình trở về phòng riêng. Vừa mở cửa bước vào hắn đã suýt kêu lên, bởi trước mắt hắn là một cô gái đang trong tư thế gợi tình, nằm trên giường mà... không có gì che chắn! Người đó lại là… Sáu Chi mới lạ! - Cô... cô là? - Là Sáu Chi, tội phạm mà anh Ba đang cho truy tìm đây! - Nhưng... nhưng sao cô lại... - Thì trốn từ phòng giam tối tăm, chật chội sang đây để... hầu ông anh không được sao? Em đâu có bỏ trốn luôn! Đã bị cô người làm này hớp hồn ngay khi vừa bắt về đây, giờ lại đứng trước cô ta trong tư thế...chết người như thế này, bảo sao Ba Sung còn giữ được vẻ hùng hổ, dữ dằn nữa! Hắn cười hềnh hệch: - Em làm anh hết hồn. Còn bây giờ... Sáu Chi nũng nịu: - Hồi nãy anh bước vô cũng làm cho em hết hồn! Em cứ bị ám ảnh cái bộ mặt hung dữ, cô hồn của tên đội gì đó... - Đội Ngô. Hắn tuy vậy chớ không dám làm gì em đâu. Chẳng qua... - Nhưng hôm qua hắn ra lệnh giam em trong đó, không cho ăn uống và còn hăm bóp cổ em chết nữa! Ba Sung nheo mắt: - Dọa em thôi, chớ ai nỡ hành hạ một người đẹp như vầy! Vừa nói hắn vừa sà xuống định dang tay ôm lấy tấm thân trần đó, nhưng Sáu Chi đã nhanh hơn, cô lăn vào sát vách, vừa đẩy đưa: - Làm gì gấp dữ vậy! Người ta nói mấy người thấy gái như mèo thấy mỡ là người chỉ muốn hưởng thụ nhục dục thôi chớ không hề có tình cảm gì! Mà em thì... em muốn được anh Ba thương yêu, chiều chuộng thật tình kia. Ba Sung vốn là tên háo sắc, già không bỏ, nhỏ không tha, nên hắn làm sao không hưởng thụ cho bằng được cái miếng mỡ ngay trước miệng mèo như thế này. Do đó hắn cũng đẩy đưa: - Ừ, thì chỉ vì... anh thương em mà! Hắn bất thần chụp được Sáu Chi và ghì cứng. Cô gái chỉ chống cự lấy lệ, sau đó nằm im, khiến cho Ba Sung khoái chí: - Như vầy có phải là ngoan không. Chiều anh đi rồi anh cất nhắc cho làm... bà này bà nọ, chớ ai lại cứ đi ở đợ hoài. Nhan sắc của em còn hơn cả con ông chủ em nữa! - Nhưng... Bỗng dưng cô nàng òa lên khóc, khiến Ba Sung hốt hoảng: - Em sao vậy? Cố dằn cơn xúc động, Sáu Chi nghẹn ngào nói: - Tuy muốn thoát kiếp tôi đòi, nhưng em vốn trọng tình nghĩa, nên em lo cho những đứa con ông Thiên Thời... Ba Sung cười hô hố: - Em còn bận tâm làm gì những đứa đó cho mất công! Họ đã... Hắn chưa kịp nói ra thì Sáu Chi đã chận lời: - Trước khi hiến dâng cho anh, em muốn xin anh một điều. Nếu anh đồng ý thì từ nay em sẽ thuộc về anh mãi mãi... còn bằng không thì em thà cắn lưỡi chết tại đây, chớ quyết không để anh làm nhục! - Chuyện gì? - Em muốn anh ký lệnh tha cho tất cả người trong nhà họ Lý. Ba Sung trợn mắt: - Anh chưa bắt họ thì tha cái gì? - Em biết tuy chưa bắt họ, nhưng anh đã có lệnh cho câu lưu họ về tội gì đó do bộ hạ anh chụp cho họ một khi bà chị anh chiếm được tài sản của ông Thiên Thời. Em còn chút tình cảm với họ, cũng muốn trả ơn họ đã nuôi nấng em từ lâu nay. Anh đồng ý đi thì em sẽ chấp nhận để cho anh muốn làm gì thì làm và em cũng chẳng bao giờ xen vô chuyện của bà Hường với ông Thiên Thời nữa. Bình thường ai mà nói câu này thì lập tức bị hắn trừng trị ngay, nhưng bây giờ thì hắn thoải mái, gật đầu ngay: - Được, anh hứa. Hắn nghĩ là Sáu Chi chưa hay chuyện cả nhà họ Lý đã chết hết, nên mới xin như vậy. Còn bây giờ hắn có ký một chục cái lệnh thì cũng chẳng ăn thua gì, lại được lòng người đẹp! Hắn bảo: - Để xong việc này anh sẽ làm theo lời em! Sáu Chi chìa ra một tờ giấy đã đánh máy sẵn: - Em biết thế nào anh cũng đồng ý nên đã thảo sẵn tờ giấy này, anh coi lại rồi ký tên và đóng dấu cho em, trước khi chúng ta... mây mưa một trận tơi bời! Ba Sung lấy viết trong túi áo ra ký liền cái rẹt, chưa kịp nói gì thêm thì Sáu Chi đã chỉ vào hộc tủ bàn viết: - Con dấu của anh lúc nào cũng để trong đó, đóng luôn đi! Hơi ngạc nhiên về sự rành rẽ của cô nàng, nhưng vì ham muốn nhục dục nên Ba Sung làm theo mà không suy nghĩ. Xong đâu đó hắn nheo mắt: - Còn gì nữa không! Sáu Chi nhắm mắt lại, đáp rất ngọt ngào: - Tùy anh thôi... Ba Sung như con hổ đói vồ mồi. Hắn chiếm đoạt, hưởng thụ như chưa bao giờ được hưởng. Hắn hoàn toàn bất ngờ trước sự hấp dẫn, quyến rũ cực kỳ của bông hoa đồng nội, điều này càng làm cho hắn tiếc sao mình không chiếm đoạt sớm hơn! Và cũng chính vì quá say đắm cuộc mây mưa nên Ba Sung quên không hỏi lý do nào Sáu Chi đã thoát ra khỏi phòng giam? Và đó là hậu quả mà sau đó chỉ chưa đầy nửa giờ, hắn đã phải nhận lãnh... Lúc ấy là vào giữa trưa... Theo quy định lâu nay, mỗi khi tên sếp ác ôn này vào phòng riêng đóng cửa lại thì mọi người muốn vào phải gõ cửa, nhưng chỉ được gõ khi không thấy bóng đèn đỏ bên ngoài đang sáng lên. Còn khi đã có đèn đỏ thì dẫu có chuyện gì gấp cũng không được gõ hay gọi. Do đó suốt hơn hai giờ liền Ba Sung ở trong đó thì hầu như mọi công việc liên quan tới hắn ta đều ngừng trệ. Một vài nhân viên có hồ sơ trình ký hoặc trực tiếp xin chỉ thị đều phải sốt ruột chờ. Một thư ký riêng của Ba Sung đã lầm bầm: - Chơi bời gì mà giữa giờ làm việc chẳng biết! Điệu này mấy cái lệnh giam người lấy ai đâu ký quyết định? Tài xế riêng của hắn ta thì lo lắng điều khác: - Không khéo thì khi bà nhà tới đây sẽ nổ ra chiến tranh cho coi! Vài người nghe điều đó đều thích thú: - Chà, cuộc đụng độ sẽ gay cấn, nảy lửa đây. Và họ chờ để xem... Đúng bốn giờ thì bà vợ của Ba Sung xuất hiện. Chẳng biết do có việc cần đột xuất hay do ai đó báo tin... mà khi vừa xuống xe ngoài cổng, mụ Anna đã xộc thẳng vào phòng riêng của chồng. Tên tài xế tuy làu bàu chuyện sếp mình mê đắm tửu sắc, nhưng khi thấy ông ta sắp nguy thì đã vội phá lệ, vừa gõ cửa phòng vừa la lớn: - Bà Anna tới sếp ơi! Vẫn không nghe động tĩnh bên trong, khiến anh này phải la lên lớn hơn: - Bà sếp tới ông sếp ơi! Không nghe trả lời, tên tài xế nghĩ ông sếp mình đang mê trận quên đời nên đập cửa ầm ầm với lời báo động dồn dập: - Bà tới ông ơi! Bà tới! Mụ Anna trừng mắt và quát: - Mày báo động hả, mở cửa ra! Nhưng cửa đã khóa bên trong. Mụ Anna quát: - Lấy búa đập cửa ra! Ai dám làm chuyện đó, cho nên mọi người đều lần lượt tản đi chỗ khác và biến luôn, bởi họ biết cuộc đại chiến giữa hai người sẽ biến họ thành nạn nhân bất đắc dĩ! Điên tiết vì chẳng có ai giúp sức, mụ Anna tự tay cầm một cục đá to đập vào cánh cửa gỗ và sau ba bốn cú đập mạnh, cánh cửa đã bung ra mà vẫn chẳng nghe bên trong có phản ứng gì. Khi cửa mở toang ra, mụ Anna không tin vào mắt mình khi nhìn thấy trên chiếc giường nhỏ phía sau bàn làm việc của chồng là một... bộ xương người! - Trời ơi! Bớ người ta... Lúc này nhiều nhân viên mới dám chạy trở lại và đến phiên họ kinh hãi! Tên tài xế riêng của Ba Sung run run giọng nói: - Rõ... rõ ràng hồi nãy... ông sếp vô trong đó mà... ổng vô... và đâu thấy trở ra... Khi thấy có đông người tới mụ Anna mới dám bước tới gần chỗ bộ xương, nhìn kỹ và thét lên: - Trời ơi, ông Sung! Trên cổ tay của bộ xương vẫn còn mang chiếc đống hồ Oméga bằng vàng, vật quen thuộc của chồng, mà mụ Anna vừa nhìn thấy đã nhận ra ngay! Mụ ta lại nhìn lên cổ, sợi dây chuyền vàng hình mỏ neo có khắc tên mụ và Ba Sung lại càng khẳng định bộ xương này là của Ba Sung! - Trời ơi! Mụ ta ngã lăn ra và nằm bất động... *** Bọn Đội Ngô phải phá cổng rào mới vào được nhà ông chủ Thiên Thời. Họ không gặp ai trong nhà, sau một hồi tìm kiếm, tài xế Sĩ nhắc:- Mình ra sau vườn coi mấy ngôi mộ xem. Tại sao mấy đứa con lão ta cũng chết? Khi họ ra ngoài chỗ khu mả thì vô cùng sửng sốt khi có bốn ngôi mộ nằm song song nhau. Một cái của bà Kiểm, một của ông Thiên Thời, còn hai cái kia thì của Nguyệt Ánh và Lan Anh. Tài xế Sĩ thắc mắc: - Họ chết thì có thể do bị vong hồn của vợ ông Thiên Thời, nhưng ai đã chôn họ mới là việc lạ. - Ai đã vào đây? Một tên nói: - Nhà này chỉ còn duy nhất con Sáu Chi là còn sống, chẳng lẽ là nó làm việc này? Đội Ngô phản bác: - Không thể là nó, bởi thời gian xảy ra ở đây thì con nhỏ đó còn bị giam ở trên kia. Tài xế Sĩ nhắc: - Nhưng anh quên là nó đã thoát ra mà mình vẫn chưa biết là đi đâu hay sao? Đội Ngô bực dọc: - Không nói lôi thôi nữa, hãy đào mồ tụi nó lên coi, biết đâu đây là một âm mưu thì sao? Nghe cũng có lý, nên bọn ba bốn tên hè nhau đào lần lượt bốn ngôi mộ. Tuy vậy cả bọn vừa đào mà vừa run, bởi việc đào mộ đối với chúng là một chuyện xưa nay chưa từng làm! Ngôi mộ đầu tiên bọn chúng đào là mộ có bia đề tên Lan Anh. Đội Ngô nói giọng mất dạy: - Nghe nói con nhỏ này đanh đá lắm, đào lên xem thử khi chết mặt mày có còn dữ dằn hay không? Nhát cuốc của tên lính vừa chạm vào nắp quan tài, bỗng hắn bật bắn ra xa đến gần hai thước! Tên thứ hai la lên: - Coi chừng rắn! Hắn nói và chưa kịp nhảy lên thì đã bị một con rắn cắn vào chân, rồi một con nữa cắn vào cổ tay hắn một nhát nữa! Tài xế Sĩ nhìn thấy từ trong quan tài bò ra toàn là rắn, hắn nhảy lùi ra và la lên: - Chạy đi, rắn đầy kia kìa! Cả hai tên thuộc hạ của Đội Ngô đều bị rắn cắn nằm tại chỗ. Riêng Đội Ngô thì nhờ lẹ chân chạy theo tài xế Sĩ nên không bị gì. Tuy nhiên hắn run như cầy sấy, vừa lắp bắp: - Những con rắn này... phải chăng là... quỷ ma! Tài xế Sĩ đột nhiên nói trong hốt hoảng: - Không lẽ... điều ấy xảy ra? Đội Ngô vừa chạy vừa hỏi: - Chuyện ấy là chuyện gì! Tài xế Sĩ nhớ lại khi thỉnh đạo bùa Miên, ông thầy đã có nói rõ: "Lá bùa này linh nghiệm thì vong hồn người chết sẽ bị sai khiến, còn ngược lại thì sẽ có hậu quả khôn lường...”. Hậu quả khôn lường đó phải chăng là... những con rắn này! Ý nghĩ của hắn chưa dứt thì đã nghe Đội Ngô thét lên một tiếng rồi ngã lăn ra đất. Một con rắn rất to đang quấn chặt lấy cổ hắn! Trong phút chốc đã có ba người trong nhóm đào mộ đã bị rắn cắn chết, bảo sao tài xế Sĩ không sợ điếng hồn! Hắn gần như chạy không nổi, phải lết đi từng bước... Phải đến khi lết được vô tới thềm nhà thì hắn đã kiệt sức, gục xuống. Trong mơ hồ hắn cảm giác như có người đứng trước mặt mình. Người đó cất tiếng gọi khe khẽ: - Thằng phản bội, hãy đền mạng! Cố nhướng mắt lên, tài xế Sĩ càng hốt hoảng, bởi người đang đứng kia chính là... bà chủ đã quá cố của hắn, vợ ông Thiên Thời! - Bà... bà... - Nuôi mày là nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà. Mày đã bán đứng chủ mày, cũng như trước kia mày bỏ thuốc độc trong thức ăn cho tao ăn, để dọn đường cho con quỷ cái Hai Hường xâm nhập nhà này! Mày còn độc hơn những con rắn độc ngoài kia nữa! Tài xế Sĩ vẫn cố nói: - Tha cho con bà ơi... con xin làm bất cứ gì bà sai biểu... Con phải làm như vậy chẳng qua là do hoàn cảnh gia đình con quá túng bấn, nên con mới táng tận lương tâm... Hắn nói tới đó thì bỗng nhiên kêu thét lên một tiếng và cả thân người run lên bần bật rồi nằm im như xác chết... *** Buổi sáng trời thật trong. Mặt trời vừa lên khỏi ngọn tre phía sau vườn thì cũng là lúc có một người xuất hiện trước bốn ngôi mộ. Quỳ xuống trước mộ bà chủ Thiên Thời, người đó giật mình khi thấy đã có một bó hoa cẩm chướng đặt ở đó tự lúc nào rồi.- Cậu Hiếu còn nhanh hơn tôi nữa! Người đó từ từ giở chiếc nón đội che gần kín mặt xuống, để lộ ra khuôn mặt hiền hòa, xinh xắn. Đó là Sáu Chi! Cô quay lại phía sau nói lớn: - Mời hai cô ra đây! Có hai người xuất hiện tiếp theo. Đó là Nguyệt Ánh và Lan Anh! Cả hai ôm chầm lấy Sáu Chi mừng mừng tủi tủi: - Chị Sáu! Tụi này cứ ngỡ là sẽ không bao giờ còn gặp lại chị nữa! Sáu Chi vuốt tóc hai cô gái: - Tội nghiệp hai cô chủ nhỏ của tôi! Phải để hai cô phải chịu khổ sở, sống chui rúc trong căn phòng thờ tối tăm trên lầu là việc bất đắc dĩ... Chẳng qua cũng là để tránh tai họa mà thôi. Giờ thì xong hết cả rồi.... Sáu Chi móc trong túi ra một tờ giấy rồi đặt ngay mộ của bà Thiên Thời, vừa bảo hai cô gái: - Các cô lạy bà đi. Chính bà đã giúp cho việc này đấy. Nguyệt Ánh và Lan Anh cùng lạy theo Sáu Chi. Bỗng tờ giấy mà Sáu Chi vừa lấy ra đó bốc cháy như được ai đó đốt lên! Sáu Chi nói: - Đó là tờ giấy mà tên Ba Sung đã viết theo lệnh của bà, ra lệnh bãi bỏ sự truy cứu ông chủ và hai cô! Nguyệt Ánh ngơ ngác: - Truy cứu gì? - Theo xúi biểu của thằng tài xế Sĩ, tên Ba Sung ra lệnh cho thuộc hạ truy nã các cô và ông chủ về tội danh mà hắn tự đặt ra, nhằm có cớ bắt giam và thủ tiêu. Vong hồn của bà đã hiện ra cứu tôi khỏi trại giam, rồi bà còn giả làm tôi, gạt cho tên Ba Sung giở thói dê xồm ra nữa... Lúc đầu bà chỉ muốn gạt hắn, để hắn ký giấy tha cho ông và cô thôi, chớ không có ý hại hắn, chẳng ngờ hắn say máu làm tới, xúc phạm tới bà, cho nên bà đã hóa kiếp cho hắn và sau đó trừ diệt luôn mấy tên ác ôn, côn đồ, cả thằng phản bội Sĩ nữa. Bởi vậy giờ đây tờ giấy này không còn cần nữa. Rồi Sáu Chi vái riêng với bà chủ mình: - Thưa bà, theo lệnh bà con đã giấu những người thân của bà được an toàn. Nay họ đứng trước mặt bà đây, xin bà tiếp tục phù hộ cho họ... Nguyệt Ánh òa lên khóc: - Má ơi, sao má không về giúp tụi con sớm hơn, suýt nữa tụi con đã chết dưới bàn tay của bọn quỷ sứ kia rồi! Lan Anh cũng khóc theo: - Mấy bữa nằm chui trong phòng, nghe bên ngoài tụi lính kín đi rầm rập, con sợ muốn chết, tưởng tiêu đời rồi. Còn ba nữa, ổng chưa đi nổi ra đây vì ba bốn ngày không ăn... Sáu Chi lại nói: - Tất cả là nhờ bà che chở cho đó. Sở dĩ lâu nay bà không về giúp các cô được là cũng bởi khi chôn bà, thằng tài xế Sĩ đã lén bỏ một lá bùa dưới gối bà nằm, do vậy hồn phách của bà không thể nào liên lạc được với người thân. Khi thằng Sĩ và mụ Hường kia chôn lá bùa tiếp theo để sai khiến bà về hại chồng con thì bị mình phát hiện kịp thời và đem quăng xuống vũng nước dơ, vô tình hóa giải tác dụng của chúng và nhờ vậy cũng giải thoát luôn cho hồn phách của bà bị giam cầm từ lâu. Bà thoát được nên mới cứu được cả nhà. Trong chuyện này còn phải kể luôn công của cậu Hiếu nữa... Nghe nhắc tới Hiếu, Nguyệt Ánh kêu lên: - Mấy hôm rày sao em không còn nghe Hiếu về nữa? Chỉ sang mấy ngôi mộ bên cạnh, Sáu Chi nói: - Chính vong hồn của cậu ấy đã thực hiện những ngôi mộ này, nhằm che mắt bọn ác ôn kia. Trong mộ không hề có xác ai hết, chỉ có lũ rắn độc. Lan Anh le lưỡi sợ hãi: - Mộ không chôn người thì để làm gì, sao không cho đào lên đi, san phẳng để đỡ phải sợ! Sáu Chi nghiêm giọng: - Lúc trước thì không có ai, chỉ có rắn độc nhưng nay thì có chôn người rồi. Nguyệt Ánh ngạc nhiên: - Ai trong đó? - Chính là ba tên thộc hạ của Ba Sung! Chúng bị rắn độc cắn chết và cậu Hiếu đã chôn chúng luôn trong đó! Nguyệt Ánh trầm ngâm: - Đâu có thể để xác bọn chúng trong vườn nhà mình được. Phải làm cách nào đó. Sáu Chi cười nói: - Đợi qua bốn mươi chín ngày thì cậu Hiếu của cô sẽ đưa chúng nó đi xa. Cậu ấy chu toàn lắm... Nguyệt Ánh nói thật khẽ: - Anh ấy vốn là người như vậy... Cô quay sang hướng khác, nói vọng vào: - Em sẽ ở vậy mãi để dành cho anh... Sáu Chi nắm tay hai cô, hối: - Phải vô để mừng ông thoát nạn đi chớ! Họ vừa bước vô nhà thì đã thấy ông Thiên Thời ngồi ở ghế trưởng kỷ. Mặt ông tuy có xanh xao, nhưng vẫn có nụ cười thật tươi. Ông ôm cả hai cô con gái mình vào lòng: - Ba xin lỗi hai con... Lan Anh lại òa lên khóc! Nguyệt Ánh phải lên tiếng: - Như vầy là mừng rồi, còn khóc nỗi gì nữa! Vừa khi ấy có tiếng của một người ăn xin từ ngoài cổng vọng vào: - Xin quý bà quý cô rủ lòng thương, bố thí cho kẻ hèn này vài đồng xu lẻ, ít hột cơm thừa để sống qua ngày... Sáu Chi vội nói: - Đó là mụ Hai Hường! Từ khi Ba Sung bị hóa kiếp thì mụ ta trở thành điên dại, đi lang thang xin ăn. Vong hồn bà chủ cho tui biết, đó là cái quả mà bà ta phải nhận lãnh, để trả cho những ác nghiệp mà mình đã gây ra. Ông Thiên Thời nhìn ra, chợt thở dài. Rồi bảo: - Ba mê muội, suýt nữa nghe bà ta mà hại các con rồi... Nguyệt Ánh lên tiếng liền: - Chẳng qua ba bị họ bỏ bùa, sai khiến thôi. Nay má đã giúp ba gỡ được rồi, còn lo gì nữa! Ông Thiên Thời đứng lên, tuy yếu, nhưng vẫn đi được: - Dẫn ba ra thăm mộ má các con. Trong lúc đó thì giọng xin ăn của mụ Hai Hường xa dần và có lẽ đó là lần cuối mụ ta tới chốn này... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 45
GIỌT MÁU OAN NGHIỆT Bản nhạc cuối cùng vừa chấm dứt thì cũng là lúc Bích Trâm nghe nhói đau ở bụng dưới. Cô buông tay người khách nhảy ra và nói làu bàu mấy tiếng rồi bước nhanh về phía quầy. Tài pán Marie Lan tinh mắt nhìn thấy đã tiến ngay lại hỏi nhanh: - Em sao vậy Bích Trâm? - Em... em... Cô nói không thành lời, bởi lúc đó cơn đau quặn lên dữ dội. Marie Lan giục người quản lý quầy rượu: - Anh giúp đưa nó vào phòng trang điểm, nhanh lên. Bích Trâm hầu như không còn biết gì sau đó... Khi cô mở mắt ra thì vô cùng ngạc nhiên khi thấy mình nằm trong một gian phòng rất lạ. Chung quanh không có ai khác... Cố nhận diện xem nơi này là đâu, nhưng Bích Trâm không tài nào đoán ra, bởi từ cách trang trí, cho đến những đồ vật cố định đều khá lạ mắt, nếu không nói là vô cùng lập dị, chiếc giường ngủ không làm gỗ hay sắt thông thường, mà hầu như toàn bộ thiết kế bằng một chất liệu giống xương hay ngà vô cùng sang trọng. Toàn phòng không có lấy một chiếc tủ áo hay bàn viết, bàn phấn như các phòng khác. Cho nên nhất thời chưa thể đoán đây là căn phòng của nam hay nữ. Cũng may, khi nhìn ra cửa sổ, Bích Trâm nhận ra một búi tóc giả đang máng ở đó, cô buộc miệng: - Là nữ! Có nghĩa là cô đang nằm trong một phòng ngủ của nữ. Là ai? Nhất định không phải là Marie Lan rồi, bởi người tài pán này sống với chồng con ở một khu lao động nghèo, mà căn phòng này mới nhìn đã biết là thuộc một ngôi nhà sang trọng bậc nhất! Nhớ lại mang máng chuyện đã xảy ra, Bích Trâm đưa tay sờ bụng dưới của mình, cô vẫn còn cảm giác ê ẩm và bất giác tự nhủ: - Không lẽ mình... bị dính rồi sao? Cố nhớ lại lần chung chạ gần nhất với Linh, lần đó cả hai đã rất cẩn thận, tuy không dùng biện pháp tránh thai, nhưng nhất định không thể xảy ra hậu quả được, bởi Linh là người có nhiều kinh nghiệm, mà Bích Trâm thì đâu phải tay mơ. Năm năm vào nghề vũ nữ đã dạy cho cô nhiều bài học về cách sống, cách tự bảo vệ mình... Như vậy cơn đau bụng vừa qua đâu phải là triệu chứng có bầu hay cái gì có liên quan? Nhớ tới Linh, Bích Trâm đâm ra lo. Đã từ hơn tuần nay Linh không ghé vũ trường hay nhà cô. Điều này trái với trước đây, cứ một đêm không ghé qua vũ trường thì hôm sau thế nào anh chàng cũng mò tới căn nhà thuê của người yêu và những lần như vậy anh thường ở lại cả ngày. Linh chưa có vợ, sống đời sống nghệ sĩ, tuy không giàu có nhưng cũng thong dong, thương Bích Trâm thật lòng và hai người hứa chắc với nhau là cuối năm nay sẽ chính thức làm đám cưới và khi ấy Bích Trâm sẽ bỏ hẳn nghề vũ nữ. Giấc mộng con mà hai người dự tính không phải là chuyện viễn vông, bởi cả hai đều thật lòng và có quyết tâm. Nhất là với Bích Trâm, mặc dù cô được tiếng là một hoa khôi của vũ trường Mélody, có hàng tá đàn ông thèm thuồng, đeo đuổi, nhưng cô chỉ yêu mỗi mình Linh và quyết chung thủy với anh chàng. Một tiếng động ở cửa phòng khiến Bích Trâm giật mình, cô quay lại vừa kịp nhìn thấy một bóng người lướt qua cửa sổ. Chủ nhà chăng? Cô lên tiếng: - Ai ngoài đó vậy? Không có tiếng đáp lại, Bích Trâm bước nhanh ra định mở cửa, nhưng cửa khóa chặt, mà nhìn quanh lại không thấy chìa khóa, cũng không biết cách nào mở được cửa, nên Bích Trâm đành phải đứng trong nhìn ra cửa sổ và hỏi lại lần nữa: - Ai ngoài đó vậy? Vẫn im lặng. Bích Trâm đành đứng thừ người ra với thắc mắc càng nhiều hơn. Lúc này cô mới tò mò nhìn búi tóc treo lửng lơ trên song cửa. Một lọn tóc dày và dài, được búi lại thành một búi, nó không giống như kiểu đầu tóc mượn của các phụ nữ nông thôn, mà lại giống với kiểu tóc giả của các tiệm uốn tóc hay dùng để gắn vào đầu cho những người cần thêm tóc giả để bới. Không dám đụng vào, tuy nhiên có lẽ do cơn gió thổi qua, nên búi tóc rơi xuống sàn, Bích Trâm đành phải cúi xuống nhặt lên và định máng lại chỗ cũ, nhưng chợt cô nhìn thấy có một mảnh giấy nhỏ đính kèm theo búi tóc. Buộc lòng phải nhìn mảnh giấy và Bích Trâm giật mình: - Sao lại có tên Linh ở đây? Trên mảnh giấy ghi vỏn vẹn hai chữ gửi Linh. - Linh nào? Bích Trâm tự hỏi và vô tình cầm luôn búi tóc trên tay một hồi lâu. Cuối cùng cô chợt hiểu ra, kêu lên: - Đây là căn phòng của Linh? Từ khi quen nhau tới nay đã gần hai năm, chưa lần nào Bích Trâm theo Linh về nơi ở riêng của anh, lý do là Linh ngại, bởi nơi anh ở là nhà của một người dì ruột, theo lời Linh nói thì bà ấy lại khó tính, hay thắc mắc này nọ về cuộc sống riêng tư của anh, nên Linh định khi nào hai người chính thức tính chuyện hôn nhân thì sẽ dẫn Bích Trâm về giới thiệu luôn. - Thì ra anh ấy dối mình là nhà nghèo, chớ thật ra nhìn phòng này thì anh ấy đâu có nghèo! Bích Trâm lẩm bẩm rồi cầm búi tóc quay trở lại giường. Bấy giờ cô mới thắc mắc dữ hơn về búi tóc này. Cô nào gởi cho Linh để làm gì, bởi tóc này chỉ để dành cho phụ nữ? Mà Bích Trâm thì chưa bao giờ nói với Linh về việc cô cần một đầu tóc giả, bởi tóc Bích Trâm vốn dài và đẹp, nếu không muốn nói là quyến rũ, nhiều người thèm thuồng mà không có được! - Tóc này để làm gì? Bích Trâm cứ lặp đi lặp lại câu hỏi trong đầu cho đến khi hai mắt cô như có ai đó kéo trì xuống. Cơn buồn ngủ bất chợt kéo đến, khiến cho Bích Trâm dù mới vừa tỉnh lại sau cơn ngất, cũng không thể cưỡng lại được... *** - Tỉnh lại đi chớ, ngủ gì mà li bì vậy?Nghe giọng nói quen quen, Bích Trâm từ từ mở mắt ra, cô giật mình khi thấy đứng trước mặt mình là chị Marie Lan và Lan Ngọc, một đồng nghiệp. Marie Lan càu nhàu: - Mày sao vậy Bích Trâm, đau bệnh gì mà nằm cả hai ngày hai đêm, bữa nay nếu tao với con Lan Ngọc không tới đây thì chắc mày ngủ luôn quá! Bích Trâm ngơ ngác nhìn quanh, cô nhận ra đây là căn phòng của mình và hoảng hốt: - Em về đây hồi nào? Ai đưa em về? Marie Lan lắc đầu: - Con quỷ này mê ngủ đến không còn nhớ gì hết. Thì con Lan Ngọc và thằng bảo vệ vũ trường đưa mày về chớ ai. - Về đâu? - Thì về đây chớ về đâu nữa! Đêm hôm đó mày bị đau bụng rồi ngất đi, tao tính biểu tụi nó chở đi nhà thương, nhưng sau đó thấy mày không đến nỗi nào, nên mới biểu con Lan Ngọc hộ tống mày về luôn nhà. Quay sang Lan Ngọc, Bích Trâm hỏi dồn: - Mày đưa tao về đâu? Lan Ngọc phá lên cười: - Con khỉ này đầu óc có vấn đề rồi. Thì về đây chớ về đâu. Bích Trâm nhớ lại căn phòng lạ, cô kêu lên: - Tôi ở căn phòng đó và bị khóa chặt cửa không ra được! Marie Lan cũng cười to: - Con này bị rối loạn thần kinh rồi! Chắc là do mê sảng lâu quá mà ra. Rồi chị quay sang Lan Ngọc trách: - Sao bữa đó em không ở lại với nó cho đến lúc nó tỉnh hẳn đã? Lan Ngọc kêu lên: - Ở luôn tới bữa nay à? Tối đó em thấy nó thở đều nghĩ chắc sau khi cơn đau giảm sẽ tỉnh lại, mà nhà em có việc nữa, nên em mới bỏ về. Vả lại ở chung nhà với nó còn có bà chủ nhà mà, có gì họ sẽ giúp nó... Bích Trâm nói lớn: - Không phải căn phòng này! Em ở... Chợt nhớ lại búi tóc, cô quay quanh giường tìm và reo lên: - Nó đây rồi! Bích Trâm nhặt lấy búi tóc nằm cạnh gối đưa lên nói: - Vật này em lấy đi trong căn phòng ấy đấy! Nhìn búi tóc, Marie Lan ngạc nhiên: - Của ai vậy? - Em cũng không biết, nhưng chắc chắn là của một cô gái nào đó. Rồi cô kể lại khá tỉ mỉ chuyện mình nằm trong căn phòng lạ đó. Nghe xong Lan Ngọc kêu lên: - Nó kể nghe giống như trong chuyện Liêu Trai quá! Marie Lan cũng nói: - Giống như người ta mơ gặp ma, thậm chí còn... ăn nằm với ma nữa! Biết họ chế nhạo mình, Bích Trâm gắt lên: - Không phải là mơ đâu! Nếu mơ thì làm sao có lọn tóc thật này ở đây? - Nhưng nếu là thật thì... chuyện ấy là chuyện gì? Bây giờ mày thấy trong người ra sao, có cảm giác như vừa... ăn nằm với ma không? Bích Trâm la lên: - Chị nói bậy! Ăn nằm đâu mà ăn nằm... Tuy nói vậy nhưng cô cũng đưa tay sờ xuống bụng dưới của mình. Cảm giác đau đau như bữa tối đó đã hết hoàn toàn. Lan Ngọc hỏi: - Bữa đó mày đau gì vậy? Có phải bị... kẹt rồi đau không? - Đâu có, tao mới vừa hết mà. Marie Lan bảo: - Nó giống như người bị hư thai vậy đó! - Làm gì có! Cả Marie Lan và Lan Ngọc đều phá lên cười: - Tụi tao tưởng đâu mày ham hố rồi vướng bầu chớ! Cũng may, chớ nếu thiệt thì hết làm ăn, đói nhăn răng con ơi! - Mấy người nói bậy... Bàn ra tán vào lại càng làm cho Bích Trâm thêm rối. Cô cứ thắc mắc hoài chuyện căn phòng lạ và búi tóc: - Như vậy là sao? Nếu là giấc mơ thì làm sao lọn tóc còn ở đây? Marie Lan cũng tán đồng: - Chuyện này hơi lạ... Theo tao, con Bích Trâm hỏi lại bà chủ nhà xem, búi tóc này của ai. Có thể bà ta biết... Bà chủ nhà sau đó lắc đầu bảo: - Phòng cô Bích Trâm mỗi khi đi là khóa kín lại, đâu có ai vào đó được. Mà trong nhà này cũng chẳng ai có búi tóc đó. Lan Ngọc nhắc: - Mày liên lạc với Linh xem, hỏi anh ấy coi có phải căn phòng trong giấc mơ của mày có phải là của anh ấy không? Bích Trâm lắc đầu: - Tao không biết nhà của anh ấy. - Vậy thử tìm anh ấy xem. Bích Trâm vẫn lắc đầu: - Hơn tuần nay tao không gặp Linh. Hình như là anh ấy đi xa ở đâu đó. Mọi người rơi vào bế tắc. Lát sau Marie Lan mới nói: - Thôi, tốt hơn hết là bây giờ con Bích Trâm hãy nghỉ ngơi cho khỏe rồi tối nay đi làm trở lại. Hai hôm rồi khách cứ hỏi em hoài, lão chủ vũ trường cằn nhằn quá trời. Hai người bạn về rồi Bích Trâm cứ nằm đó mân mê búi tóc. Chẳng hiểu sao trong lòng cô cứ bị ám ảnh bởi khuôn mặt của một cô gái nào đó, mà mỗi lần cô ta hiện ra thì y như là Bích Trâm nhìn thấy tóc của cô ta bay bay theo gió, giống hệt như búi tóc trong tay mình. Phải chăng... Bích Trâm tự hỏi nhiều lần, nhưng cuối cùng đành phải tự an ủi: - Chịu thôi. Có thể là một giấc mơ. Tuy nhiên, đến chiều hôm đó, trong khi đang trang điểm chuẩn bị đi làm thì bất ngờ bà chủ nhà bước vào đưa một mảnh giấy: - Có người nhờ gởi cho cô. Trong giấy ghi vắn tắt mấy dòng: “Có tin của anh Linh rất gấp. Vậy hết giờ làm việc ở vũ trường tối nay, Bích Trâm ra chỗ góc đường, đón chiếc xích lô của người đàn ông mặc áo đỏ, đội nón rộng vành, họ sẽ đưa tới chỗ Linh đang dưỡng thương. Anh ấy đang đợi Bích Trâm.” Bích Trâm rất sốt ruột, nhưng chẳng cách nào hơn, nên đành phải đi làm và đợi đến nửa khuya. Sau buổi tối có hai người đàn ông vốn ái mộ Bích Trâm tới mời đi ăn tối, nhưng Bích Trâm đã khéo léo từ chối. Cô bảo: - Em còn bệnh, nên phải về nhà ngay. Người khách mời đưa cho Bích Trâm một xấp tiền giấy khá nhiều: - Nghe em bệnh, anh gởi chút ít để em thuốc men và bồi dưỡng. Bích Trâm không nhận thì người đó cứ nhét đại vô tay cô và đi thẳng ra xe rất nhanh. Đến khi xem lại Bích Trâm quá đỗi ngạc nhiên khi phát hiện lẫn trong xấp tiền có một mảnh giấy nhỏ ghi mấy chữ: "Hãy coi chừng, đừng lên chiếc xích lô đó!" Bích Trâm chạy theo ra ngoài thì người đàn ông đã biến mất. Cô thẫn thờ một lúc rồi quá giang xe một đồng nghiệp khác đi về thẳng nhà, thay vì ra chỗ góc đường. Ngang qua đó Bích Trâm thấy đúng là có một chiếc xích lô với người đạp xe mặc áo đỏ, đội mũ rộng vành! Còn đang hoang mang chưa biết phải làm gì thì vừa khi mở cửa phòng vào, Bích Trâm sững sờ khi thấy có một cô gái lạ đang ngồi đợi sẵn trong phòng! - Cô là ai? Cô gái đẹp lạ lùng, mà mái tóc dài rủ xuống khuôn mặt thanh tú đã khiến cho Bích Trâm phải thốt lên ngay: - Phải cô là... Bích Trâm muốn hỏi cô ta có phải là cô gái mà cô mơ màng thấy trong lúc hoang mang hay không? Thì cô ta đã chủ động lên tiếng: - Đúng ra cô phải tới chỗ tôi, chớ không để tôi cất công tới đây như đã hẹn! Bích Trâm giật mình: - Cô là người đã hẹn tôi tới để gặp Linh? - Gần như là vậy. Thật ra thì người hẹn thật sự với cô là Linh chớ không phải tôi. Chẳng qua tôi muốn nhân cơ hội đó để gặp cô và giải quyết một vài việc cần phải giải quyết. Bích Trâm hốt hoảng: - Linh bị bệnh thật sao? Anh ấy... - Có thể nói là anh ta bị bệnh khá nghiêm trọng. Nhưng chuyện của tôi còn quan trọng hơn, cho nên tôi muốn cô gặp tôi trước. Bích Trâm quá lo lắng, nên giọng gay gắt: - Cô là ai và đã làm gì Linh? Anh ấy phải chăng đã bị hãm hại? Cô gái cười nửa miệng: - Nói hãm hại thì e không đúng. Đây chẳng qua là anh ta đang trả giá cho những gì mình đã gây ra thôi! Cô chính là người sẽ cứu được anh ta, nếu... Cô ta bỏ lửng câu nói càng khiến cho Bích Trâm sốt ruột thêm: - Có chuyện gì cô nói ra đi, rồi chỉ cho tôi chỗ của Linh? Cô gái hất mái tóc dài ra sau, bất ngờ cả một bên tóc phía trái rơi ra, để lộ một bên đầu bị trống, vì một phần tóc đã bị cắt, Bích Trâm chưa kịp hỏi thì cô ta đã nói: - Bên tóc này đang nằm trong tay cô đó, chắc cô nhớ búi tóc lấy được trong căn phòng đó chớ? - Nó... nó là của cô? - Cô thử lấy ra đây và tôi gắn vào xem có đúng hay không? Không đợi Bích Trâm lấy, cô ta đã đích thân lấy nó từ bên cạnh gối của Bích Trâm và đặt nó lên chỗ tóc bị khuyết. Nó vừa vặn y chang! Giọng cô ta nghe chua chát: - Khi người con gái không tiếc gì hết, kể cả mái tóc cha mẹ sinh ra trên đầu, để chứng minh tình yêu, mà người con trai vẫn nhẫn tâm bỏ đi theo mối tình khác, thì theo cô, cô phải xử ra sao? Câu hỏi đột ngột làm cho Bích Trâm lúng túng: - Chuyện đó... chuyện ấy... thật là đáng trách! - Đáng hận mới đúng! Mà cô có biết người gây ra đó là ai không? Tuy có ngờ ngợ, nhưng Bích Trâm lắc đầu: - Tôi... chưa rõ. - Thằng Linh khốn kiếp của cô đó! Vừa dứt lời thì cô ta đứng bật dậy, nhìn thẳng vào mắt Bích Trâm, rít lên: - Gieo cái gì ắt phải gặt cái nấy! Cô nói với nó là giọt máu nó đang để lại trong người tôi, bây giờ tôi trả lại cho nó! Bich Trâm ngơ ngác nhìn chung quanh, cứ ngỡ có một đứa hài nhi nằm ở đâu đó. Nhưng thật bất ngờ, cô gái chỉ thẳng vào bụng của Bích Trâm, giọng lạnh lùng: - Nó đang nằm trong bụng cô đó! Bích Trâm hoảng hốt: - Tôi... tôi làm sao? Tôi đâu có... bầu? Cô gái cất lên một tràng cười dài: - Cô đã cướp thằng đàn ông của tôi, dẫu rằng cô vô tình đi nữa, thì cô phải cùng lãnh hậu quả với thằng đàn ông chó kia? Cô phải mang giọt máu mà lúc chết tôi đã lỡ mang được năm tháng. Bây giờ nó sẽ tiếp tục lớn lên trong bụng cô và cô phải sinh dưỡng nó cho đến lúc nào nó biết được ai là kẻ đã gây ra cái chết cho mẹ nó! - Kìa, cô... Bích Trâm kêu lên, định giải thích cho rõ mối quan hệ của mình với Linh, thì cô gái đã cất giọng: - Tôi là một hồn ma, nên những gì tôi làm bây giờ cô không cưỡng lại được đâu! Nhưng cảm thông cô là người chỉ vô tình, cho nên tôi chỉ nhờ cô mang hộ cái thai này, rồi sinh nở nó, chớ không làm hại cô. Với điều kiện là... Cô gái vừa bước ra cửa vừa quay lại dặn: - Với điều kiện là cô không được có bất cứ hành động nào chống lại tôi hoặc tìm cách trục cái thai ra! Trước khi biến mất, cô ta còn nói rõ: - Nói tên tôi là Mỹ Lan thì Linh ắt biết! Cô ta thoắt cái đã mất bóng ngoài cửa. Bà chủ nhà cũng vừa chạy vô, ngơ ngác hỏi: - Lúc nãy cô hay ai đó la hét gì trong này vậy? Bích Trâm một tay ôm lấy bụng mình, vừa nói, giọng thất thần: - Dạ, đâu có gì... *** Cuối cùng thì Bích Trâm cũng gặp được Linh, khi anh chàng tìm tới nhà. Anh vô cùng ngạc nhiên khi ghé vũ trường và nghe tin Bích Trâm đã nghỉ làm, do vậy anh phải tìm về nhà. Anh càng sững sờ khi nhìn thấy Bích Trâm mang cái bụng bầu!- Kìa, tại sao em... Bích Trâm biết thế nào Linh cũng ngạc nhiên như vậy, nên cô đã sẵn câu giải thích: - Trước khi nghe em nói về cái thai trong bụng này, thì em hỏi anh có nhớ gì về cô gái tên Mỹ Lan không? Vừa nghe nhắc tới cái tên đó tức thời Linh sửng sốt: - Sao... sao em biết người ấy? - Điều này không quan trọng, trước hết anh phải trả lời em về cô gái tên Mỹ Lan đã? - Anh... anh có quen... - Hơn cả quen nữa phải không? Linh đành phải thú nhận: - Đúng, anh có quan hệ tình cảm với cô ấy trước đây. - Rồi sao lại xa nhau? - Tại vì... - Anh hết yêu cô ta, hay bị phụ tình? Linh nhìn vào Bích Trâm rồi trả lời một cách hơi gượng: - Cô ấy... bỏ anh. - Bỏ anh trong khi bụng mang thai hơn bốn tháng sao? Câu hỏi làm cho Linh thất sắc: - Em gặp cô ta? Và cô ta đã... nói điều đó? Bích Trâm ngồi xuống đối diện với Linh, đưa tay chỉ vào bụng: - Cái thai gần năm tháng của anh để trong bụng cô ấy bây giờ đang nằm trong bụng em đây! Linh ngỡ Bích Trâm nói đùa, nên bật cười to: - Em học ai cái kiểu nói đùa đó vậy, Bích Trâm? Bích Trâm nghiêm giọng: - Chính cô Mỹ Lan dạy em nói như vậy. Và anh hãy nhớ lại, cách đây chưa đầy hai tuần thì hai đứa mình còn chăn gối với nhau, bụng em đâu có to như bây giờ! Cái bụng bầu này em có được là sau đêm em bị ngất và được ai đó đưa về căn phòng lạ chỉ có một chiếc giường... Linh hốt hoảng: - Em cũng đã tới đó? Căn phòng có chiếc giường bằng ngà? - Chính xác. Anh đã từng ở đó với Mỹ Lan? Linh như cái bong bóng xì hơi, giọng thễu não: - Mọi việc đều diễn ra ở đó. Và cũng chính nơi đó anh đã phạm tội... Bích Trâm ngạc nhiên: - Anh phạm tội với ai? Linh thở dài: - Thì với Mỹ Lan chớ còn với ai nữa! Hôm đó khi anh gặp em, khiêu vũ với em trong vũ trường xong, lúc đi ra về thì gặp một chiếc xích lô do người đàn ông... Bích Trâm cắt ngang lời: - Người đàn ông mặc áo đỏ, đội nón rộng vành! Linh thất sắc: - Em cũng đã gặp anh ta? Bích Trâm lắc đầu: - May là em chưa gặp, bởi đêm đó em được một người khách nào đó vừa cho tiền vừa báo tin, dặn không cho em tới. Nhưng... Bỗng cô kêu lên: - Lần đó thì không, nhưng trước đó, lúc em bị ngất đi thì... không lẽ người ấy đã đưa em về căn phòng ấy? Cô kể lại cho Linh nghe mọi chuyện. Anh chàng quả quyết: - Chính là như vậy rồi! Đêm hôm đó anh cũng bị bí mật đưa về nơi ấy và tại đó anh gặp Mỹ Lan. - Sao cô ấy cũng ở chỗ đó? - Bây giờ anh mới suy ra ai đó đã bí mật đưa Mỹ Lan về đó, rồi bắt anh tới, chỉ nhằm mục đích buộc anh phải chung chăn gối với Mỹ Lan! Bích Trâm đâu dễ tin lời biện bạch đó, cô nhẹ lắc đầu: - Lâu nay em cứ tin rằng anh là người trung thực, không biết nói dối, nào ngờ cuối cùng thì anh cũng để lộ nguyên hình. Anh nói vậy là để nói rằng chỉ vì bắt buộc nên anh mới ăn nằm với cô Mỹ Lan và sau đó để cô ấy mang bầu chớ gì? - Nói có thể em không tin. Nhưng anh cũng xin nói hết đầu đuôi... Nguyên gia đình của Mỹ Lan trước đó đã muốn ép anh lấy Mỹ Lan, chỉ vì Mỹ Lan giao thiệp rộng, và có yêu một người đàn ông lớn tuổi đã có vợ và là một tay trùm giang hồ, chuyên làm ăn phi pháp, cha mẹ cô ấy không muốn con gái mình lấy một người chồng như vậy, nên cố tình gài cho anh và Mỹ Lan dính với nhau, đặt hai người tụi anh vào thế kẹt, phải lấy nhau nhằm chia cắt chuyện yêu đương linh tinh kia. Anh nhớ ra rồi, tại ngôi nhà đó, vào một đêm thanh vắng, chỉ có hai người tụi anh và... hình như cả hai đã bị cho uống thuốc kích thích, để rồi... mọi chuyện đã xảy ra mà bản thân anh cũng không làm sao kiềm chế nổi! Linh ngừng lại một lát rồi tiếp: - Một lần, rồi hai lần... và sau nhiều lần như vậy. Cho đến một hôm anh được Mỹ Lan báo tin rằng cô ấy đã có bầu được hai tháng. Đó là một tin sét đánh đối với anh, bởi khi đó anh đang tới với em, quyết tâm xây dựng lâu dài với em, người mà anh đã xác định chính là vợ anh sau này! Trong một lúc mất tự chủ và cãi nhau vì anh nghĩ mình bị lợi dụng, nghi ngờ cái thai chưa chắc là của anh, nên anh lớn tiếng, rồi Mỹ Lan cũng lớn tiếng lại, kèm theo những lời thách thức, do đó anh tát cô ấy mấy cái. Mỹ Lan không nhịn, thế là cô ấy lao vào anh, trên tay cầm một con dao rọc giấy, vừa hăm dọa. Trong lúc giằng co, anh đã lỡ tay đẩy con dao trúng vào cổ cô ấy và đâm rất sâu! Cô ấy chết ngay sau đó, khiến anh hoảng sợ bỏ chạy đi. Anh trốn luôn, bởi vậy nhiều ngày anh đã không tới với em được... Bích Trâm bật khóc: - Cuối cùng tội của anh mà em phải nhận hậu quả. Anh thử tưởng tượng xem, mai mốt em sẽ sinh ra một đứa con... ma thì phải làm sao? Linh cũng lo sợ: - Điều này... quả tình anh không nghĩ tới. Anh cũng không biết phải làm sao. Chỉ hy vọng rằng em không phải mang giọt máu ma trong người, mà đó thật sự là giọt máu của anh! Bích Trâm rên rỉ: - Thì đúng là giọt máu của anh chớ còn ai vô đây? Nhưng là giọt máu chuyển từ bụng một hồn ma sang cho em! Linh đau khổ thật sự, anh chợt đứng lên và nói nhanh: - Anh sẽ đi gặp cô ấy! Bích Trâm hốt hoảng: - Gặp một hồn ma, bằng cách nào? - Anh sẽ tới căn phòng đó! - Anh biết chỗ? Linh lắc đầu: - Chính xác thì anh không biết, nhưng anh tin là mình sẽ tìm ra và sẽ gặp Mỹ Lan. Anh sẽ nói phải quấy với cô ấy, chớ không thể để em chịu vạ lây như thế này! Bích Trâm ngăn: - Anh không nên. Xem chừng cô ấy hận anh lắm, sẽ không để anh yên đâu. Linh vẫn quả quyết: - Bằng giá nào thì anh cũng phải làm. Anh đi ra và còn nói một câu mà Bích Trâm chắc sẽ nhớ rất lâu: - Anh mãi mãi yêu em. Những gì anh làm, anh hứa với em không phải là lời hứa suông hay xạo sự. Anh yêu em. Linh bước đi mà còn quay nhìn lại cô với ánh mắt rất lạ... *** Bích Trâm rất đỗi ngạc nhiên khi vừa bước ra khỏi nhà đã gặp ngay một người đàn ông có tuổi bước tới chào và tự giới thiệu:- Tôi là Đỗ Văn, người đã ái mộ cô từ lâu. Nay khó khăn lắm mới tìm được nhà, vậy xin cô dành cho ít thời gian. Bích Trâm từ sau khi nghỉ làm vũ trường đã rất ngại gặp lại người quen cũ, cho nên cô cố tình né tránh: - Tôi đang bệnh, vậy phiền ông để tôi đi khám bệnh đã. Nhưng người đàn ông đã rất nhanh tay, nhét vào tay Bích Trâm một mảnh giấy và nói cũng rất nhanh: - Cô đi ra đường sẽ gặp nguy. Nửa đêm nay cô sẽ sinh và nhớ là khi sinh con phải bọc nó trong một chiếc khăn màu đen hay vật gì đó màu đen cũng được. Như thế mới bảo đảm mạng sống cho cả hai! Nói xong ông ta leo lên xe vù đi mất. Bích Trâm thừ người nhìn theo một lúc rồi chợt rùng mình. Sau đó cô cảm thấy bất an nên quay trở vô nhà. Vừa gặp bà chủ nhà bước ra, bà ngạc nhiên hỏi: - Bụng bầu bì như vậy sao đi đâu không kêu xích lô mà đi, lại đi bộ chi cho mệt vậy? - Dạ, con chỉ đi gần thôi. Bà kéo tay Bích Trâm vô nhà: - Lâu nay cô dọn tới ở mà chưa có dịp vô nhà chơi. Nay nghỉ ở nhà, nằm hoài trong phòng tù túng lắm, vậy thường xuyên qua bên đây chơi với bác cho vui. Bác ở có một mình, mà thấy cháu hiền lành dễ thương, nên mến... Không từ chối được nên Bích Trâm đành phải theo vào phòng khách ngôi nhà lớn. Bà chủ nhà tỏ ra thân thiện: - Ban đầu khi biết được cháu làm nghề gái nhảy thì ý bác không muốn cho thuê căn phòng đó bởi nói thiệt, bác có hơi ác cảm với cái nghề ấy. Tuy nhiên, khi cháu vô ở được vài tuần thì bác lại đổi ý, còn muốn hạ tiền nhà cho cháu nữa, nhất là mấy bữa thấy cháu bệnh. Mà nè... Bà hơi ngập ngừng một lúc rồi mới hỏi: - Hỏi thiệt cháu, mới mấy tuần trước bác đâu thấy cái bụng của cháu, mà sao nay lại... lớn như sắp sinh vậy? Hay là cháu nai nịt để đi làm? Bích Trâm đáng lý ra nên giấu, nhưng chẳng hiểu sao cô lại tuôn ra hết, kể cho bà chủ nhà nghe chuyện cô đang gặp phải. Nghe xong bà hốt hoảng: - Như vậy là không xong rồi! Mang thai của quỷ ma thì... làm sao cháu sống được! Mà còn nguy hiểm nữa... Bà vừa kéo tay Bích Trâm vừa nói: - Đi với bác lại chỗ này, bác có biết một ông thầy chuyên trừ tà yểm quỷ, phải nhờ ông ta giúp cháu mới được! Bích Trâm hoảng hốt: - Không được đâu, con đã hứa với người bắt con mang hộ cái thai này rồi. Con mà làm trái lời thì... con sợ lắm! Cô giật tay ra và mất thăng bằng ngã vào vách, nơi có đặt chiếc đi văng gỗ, Bích Trâm bị té ngồi xuống đó và một cách ngẫu nhiên cô nhìn lên vách tường, nơi có treo ảnh chân dung lớn của một người đàn ông. Vừa trông thấy Bích Trâm đã kêu lên: - Người... người này... là... là... Thấy Bích Trâm có vẻ sợ, bà chủ nhà nói liền: - Đó là chân dung của ông nhà tôi. Bích Trâm ngơ ngác: - Ông ấy... có phải tên là Đỗ Văn không? Bà chủ nhà giật mình: - Lâu nay ông ấy không còn ở nhà nữa, sao cháu biết? - Cháu mới vừa gặp bác ấy ngay trước cửa nhà. Bác ấy còn giúp cháu... Cô đưa ra mảnh giấy vừa rồi. Bà chủ nhà đọc xong chợt kêu lên: - Những gì cháu kể hồi nãy có thể đúng với đứa con riêng của ông ấy! Bích Trâm ngơ ngác: - Cluyện thế nào cháu không hiểu? Ngập ngừng một lúc rồi bà chủ nhà mới kể: - Ông Đỗ Văn chồng bác cách nay hơn một năm bị bác đuổi ra khỏi nhà bởi lý do là... có gia đình riêng với người đàn bà khác đã từ lâu mà tới lúc ấy bác mới phát hiện được. Ông ấy có với người đàn bà kia một đứa con gái năm nay tuổi cỡ bằng cháu. Mà nghe nói cách nay hơn hai tháng đã xảy ra một vụ gì đó, khiến cho đứa con gái đó bị chết thảm! Ông ấy buồn lắm và có về đây một lần xin bác cho trở lại, nhưng bác vẫn cương quyết không chấp nhận. Lúc nãy cháu gặp có thể là ông ta lại muốn về đây để xin xỏ nữa... Vừa khi ấy chợt có tiếng đẩy cánh cổng sắt, bà chủ nhà giật mình hỏi: - Lúc nãy cháu vô nhà có khóa cổng lại không? Bích Trâm kêu lên: - Dạ, cháu vô ý quên rồi... Vừa lúc một người đàn ông xuất hiện. Bích Trâm sửng sốt: - Ông Đỗ Văn! Bà chủ nhà trừng mắt: - Ai cho phép ông trở về đây! Ông ta nói nhanh: - Tôi không yên tâm nên đánh bạo vô nhà để báo cho cô gái này một tin xấu. Cậu người yêu của cô đang gặp nguy hiểm! Bích Trâm kinh hãi: - Sao, anh Linh... - Cậu ấy đang ở nhà tôi và sẽ bị con Mỹ Lan nó giết chết! Rồi ông giải thích nhanh để mọi người hiểu: - Mỹ Lan là đứa con riêng của tôi, cách nay hơn một tháng, nó đã bị chết trong một lần cãi nhau với người yêu là cậu Linh. Người mà sau này tôi mới biết cũng chính là người yêu của cô Bích Trâm đây. Chuyện con Mỹ Lan chết thì coi như xui rủi, nên tôi cũng không khó dễ hay truy cứu gì cậu Linh, nhưng con nhỏ thì không. Nó... thành oan hồn và quyết phải báo thù! Cái vong của nó linh lắm, cứ hiện lên và tìm cách báo oán người đã làm cho nó chết, cũng như những người liên quan tới kẻ nó muốn hại. Tình cờ tôi biết cô Bích Trâm đây bị nó đưa về nhà và ra tay hãm hại bằng cách khiến cô này mang cái thai của nó và sẽ là mầm họa cho cậu Linh sau này. Tôi thương con, nhưng không muốn nó ra tay độc ác, hại người, bởi vậy tôi luôn lén tìm cách cứu cô đây và cả cậu Linh nữa. Nhưng chẳng hiểu sao lúc nãy cậu ấy lại tự tìm tới nhà và gây sự với con Mỹ Lan. Mà như vậy thì chỉ có chết mà thôi! Bích Trâm quên rằng mình đang mang bầu, cô vụt chạy ra ngoài, miệng nói lảm nhảm: - Linh ơi đừng... đừng làm thế! Ông Đỗ Văn phải chạy theo và nói: - Cô đâu có nhớ chỗ đó, để tôi dẫn đường cho! Bích Trâm bước đi như kẻ mộng du... *** Một người đàn bà tuổi cỡ bà chủ nhà của Bích Trâm đứng ngay trước nhà, vừa thấy ông Đỗ Văn về thì mừng rơn:- Tôi sốt ruột hết sức, sao ông đi gì mà lâu dữ vậy? Mà cô gái đó đâu, ông có dẫn về không? Nhìn sang Bích Trâm bà vui hẳn lên: - Đây rồi. Nhưng... sao lại là người có bầu? Nó biểu kiếm mấy cô gái làm nghề vũ nữ, càng trẻ đẹp chừng nào tốt chừng nấy mà... Ông Đỗ Văn vội kéo tay bà vào một góc nhà, nói nhanh: - Tôi không thể làm theo lời nó được! Lần trước chính vì thương nó, muốn nó không quậy phá mà tôi đã hại cô này, khiến cho cổ mang cái thai oan nghiệt của nó. Dòng máu ma đang trong người cô ấy! Rồi ông quay sang Bích Trâm nói rất khẽ: - Lúc nãy tôi ngăn không cho cô đi là vì vậy. Tôi không nỡ tiếp tay cho con Mỹ Lan hại người nữa. Chúng tôi khổ lắm cô ơi... Người đàn bà lúc này cũng đã hiểu và cũng khóc với ông. Một lúc sau họ cùng thố lộ: - Mỹ Lan là con gái chúng tôi. Nó vốn là đứa bướng bỉnh, quen được nuông chiều nên hư hỏng. Nó quan hệ tình cảm tùm lum nên lỡ mang bầu với một thằng không ra gì, đến khi chúng tôi hay được thì đã muộn, cho nên chỉ còn cách là tìm một người con trai đàng hoàng ép nó phải lấy, để cứu danh dự nhà này. Nào ngờ... Bà khóc nức nở, nói tiếp: - Oan hồn nó thành ma hiện về và bắt ba nó đây phải đi tìm những cô gái làm nghề vũ nữ, mà nó cho là đã giành người yêu với nó, để báo oán! Bây giờ Bích Trâm mới lên tiếng: - Sao cô ấy không tự đi tìm, mà phải nhờ đến bác trai đây? Ông Đỗ Văn nói: - Oan hồn nó chỉ linh ứng trong phòng nơi nó bị chết mà thôi. - Nhưng cô ta đã tới tận nơi cháu ở một lần hôm trước! Bà vợ nức nở: - Chỉ bởi lần đó nó sốt ruột, muốn đạt được mục đích sớm nên mới xuất vong đi liều. Bởi vậy khi trở về nó suýt nữa đã... tiêu tán hồn phách! Bà nói điều này ra rồi như biết mình đã lỡ lời, nên vội im lặng. Ông Đỗ Văn sau mấy giây lưỡng lự đành phải tiết lộ hết: - Hồn phách của nó tuy quậy phá, nhưng với người ngoài, còn với chúng tôi thì nó vẫn là đứa con gái duy nhất, dẫu biết nó chỉ còn là hồn ma bóng quế, nhưng chúng tôi vẫn không nỡ để nó biến đi. Bà chỉ tay vào phòng trong: - Có thằng Linh tới, đang ở trong đó. Thấy nó cũng tội nghiệp, nhưng tôi không thể cản được... Ông Đỗ Văn chép miệng: - Oan nghiệt! Rồi ông quay sang Bích Trâm, nói khẽ: - Nó đã bắt cô mang giùm giọt máu nợ của nó trong người thì chắc nó sẽ không hại cô nữa đâu, vậy may ra đích thân cô vào trong đó năn nỉ nó đừng giết hại cậu Linh, hy vọng nó sẽ nghe... Bích Trâm nói nhanh: - Cháu sẽ làm, dẫu có chết cũng được. Cháu phải cứu anh Linh. Vừa dứt lời Bích Trâm đã chạy nhanh vào nhà trong, mặc dù không nhớ lối vào. Cũng may, cô nghe văng vẳng giọng của Linh trong một gian phòng phía tay trái. Đẩy mạnh cửa vào, Bích Trâm sững sờ khi trước mặt mình hiện ra căn phòng giống hệt như căn phòng hôm trước! Linh đang quỳ gối trước chiếc giường trống không, nhưng cứ nhìn nét mặt thất thần của anh cũng đủ biết là Linh đang sợ hãi tột cùng! - Linh! Sao anh... Lời Bích Trâm chưa dứt thì mấy chiếc gối từ trên giường đã bay vù vù nhắm thẳng vào cô. Bị xô ngược về sau, Bích Trâm bàng hoàng chợt hiểu đây là căn phòng của hồn ma cô Mỹ Lan. Bỗng nghe Linh cất tiếng: - Xin cô tha cho Bích Trâm, cô ấy là người hiền lương, vô tội. Tôi xin nhận hết mọi trách nhiệm, kể cả việc nuôi đứa con trong bụng cô ấy, miễn sao cô đừng bắt cô ấy phải tiếp tục mang bầu... Một giọng sắc lạnh vang lên: - Không mang bầu thì làm sao sinh con được! Chỉ bắt nó mang bầu và sinh con đã là nương nhẹ lắm rồi, chớ đúng ra hễ đứa nào là vũ nữ thì phải giết hết! Những đứa này chuyên làm mê đắm đàn ông, khiến họ bỏ bê gia đình, phụ rẫy người yêu. - Nhưng... cô ấy còn phải làm để sống. Vả lại mang cái thai đó, khi đẻ ra thì... - Máu ma mà do người đẻ thì vẫn là người, có sao đâu. Bích Trâm cũng sụp xuống lạy mấy lạy liền, van xin: - Tôi xin chấp nhận mang thai đứa bé này và sinh nở đàng hoàng theo ý cô. Chỉ xin cô đừng hại anh Linh. Cô phải để anh ấy sống mà làm lụng nuôi đứa nhỏ, chớ đời vũ nữ của tôi từ nay coi như hết. Tôi lạy cô... Linh giành nói: - Có giết thì hãy giết tôi, còn cô ấy xin hãy để cho sống. Tôi van cô... Linh lao tới quỳ chắn ngang trước mặt Bích Trâm. Phần cô vũ nữ thì cũng cương quyết không kém, cô bất thần lao tới phía trước có lẽ muốn giành chết với người yêu. Nhưng do bụng có mang nặng nề nên vấp chân, Bích Trâm ngã chúi nhủi đầu xuống sàn nhà, bụng đập xuống thật mạnh. Một tiếng thét kinh hoàng vang lên, cùng lúc ở phần bụng dưới của Bích Trâm máu tràn ra, thấm ướt cả một vũng! Tiếng thét tiếp theo là của người khuất mặt Mỹ Lan. Tiếng thét không hiểu ý nghĩa là gì, chỉ biết sau đó thì căn phòng tối sầm lại, cùng lúc với những tiếng động ầm ầm liên tiếp. Hình như mọi cửa sổ, cửa cái đều đang bị đập mạnh. Vừa lúc có tiếng kêu của vợ chồng ông Đỗ Văn: - Mỹ Lan ơi, đừng! Họ xuất hiện ngay cửa phòng và chỉ kịp nhìn thấy một luồng sáng lập lòe thoát ra khỏi cửa sổ! - Mỹ Lan! Giọng bà mẹ gào lên rồi quỵ xuống. Ông Đỗ Văn cũng đổ xuống bên cạnh vợ, thều thào: - Nó... nó đi rồi. Nó vĩnh viễn đi rồi... Một luồng khí lạnh thổi qua, khiến hai ông bà đều chìm vào cơn mê, đầu óc lờ mờ... Khá lâu sau... Lần lượt Linh mở mắt trước. Rồi tới Bích Trâm... Và sau cùng vợ chồng ông Đỗ Văn tỉnh lại... Khi cả bốn người hoàn hồn thì căn phòng đã sáng trở lại. Có tiếng trẻ con khóc oe oe khiến Linh giật mình kêu lên: - Con... con nít! Trời ơi, Bích Trâm sinh rồi! Có lẽ cú té ngã vừa rồi đã làm động cái thai và Bích Trâm đã sanh non! Bà mẹ Mỹ Lan hốt hoảng: - Thai mới năm tháng mà sinh sao được! Nhưng lúc ấy tiếng khóc lại vang lên nữa. Linh nhìn xuống thấy một hài nhi đỏ hỏn nằm trên sàn, nó đang huơ đạp và khóc dữ dội, chứng tỏ là một hài nhi còn sống. Anh quýnh lên: - Đứa bé còn sống! Chẳng hiểu sao lúc ấy Bích Trâm cũng bật dậy và một cách tự nhiên, cô bế đứa bé lên, nhẹ nhàng lấy vạt áo màu đen của mình trùm nó lại, vừa thốt lên: - Tội nghiệp... Ông Đỗ Văn mau mắn chạy đi, lát sau ông trở lại với chiếc khăn màu xanh đen, đưa cho Bích Trâm và giục: - Mau trùm lại cho cháu! Lúc ấy hầu như ai cũng quên thân phận của đứa bé. Hay đúng hơn, họ không muốn nghĩ đó là một giọt máu ma! *** Đứa trẻ sinh thiếu tháng tưởng khó mà nuôi được, nào ngờ sau đó nó sống khỏe và lớn rất nhanh! Chỉ mới một tháng tuổi mà trông con bé chẳng khác một đứa trẻ bốn năm tháng, khiến ông bà Đỗ Văn cũng phải vui mừng:- Vậy là mình có cháu rồi! Ông Đỗ Văn muốn nhắc bà vợ về gốc tích của đứa trẻ, nhưng nhìn nó thấy thương quá nên ông cũng không nỡ nói ra. Linh thì hết nhìn Bích Trâm rồi nhìn đứa bé, anh thốt lên tự tấm lòng: - Mình có con rồi! Bích Trâm cũng âu yếm ôm con vào lòng, nói như bất cứ người mẹ nào vừa có đứa con đầu lòng: - Hãy ngoan đi cục cưng của mẹ. Đứa bé nhoẻn miệng cười và chớp chớp mắt liền mấy cái, như nghe và hiểu được những lời người lớn vừa nói. Đặc biệt là kể từ sau khi khóc lần đầu khi mới sinh ra, đến nay được một tháng mà nó chưa hề khóc tiếng nào! Linh khẽ nói với Bích Trâm: - Nó thương hai vợ chồng đang thất nghiệp, nên không làm khó mình đó em! Ông Đỗ Văn đề nghị: - Dẫu sao đây cũng là cháu của chúng tôi, nên từ nay cho chúng tôi nhận nó là... cháu ngoại và hai cháu cứ ở lại đây mọi thứ tôi lo. Nhìn ánh mắt chân thành của ông bà, Bích Trâm và Linh nhẹ gật đầu: - Chúng cháu xin nhận. Cho đến khi nào đứa bé cứng cáp thì chúng cháu sẽ liệu... - Không liệu gì hết. Chúng tôi không còn con cái nào khác, nên hai đứa như con ruột của nhà này! Bỗng đứa bé cười thành tiếng rồi đưa tay huơ huơ nhiều cái như đồng tình! Bà mẹ Mỹ Lan phải kêu lên: - Cháu tôi nó nhận lời bà ngoại nó rồi! *** Tuy cố quên nguồn gốc của đứa bé, nhưng cứ thỉnh thoảng Bích Trâm vẫn giật mình khi nhớ lại. Cô tâm sự với Linh, nhưng anh chàng vẫn lạc quan nói:- Mặc kệ. Với tấm lòng thành, mình cứ van vái và cầu mong cho Mỹ Lan thương tình, để mọi việc trôi qua êm thắm... Chẳng hiểu có phải do lòng thành của họ, hay do Mỹ Lan đã vĩnh viễn đi về cõi hư vô, mà sau đó nhiều ngày, mọi việc vẫn bình lặng trôi qua... Đứa bé lớn lên bình thường không có biểu hiện của dòng máu ma. Nó phát triển bụ bẫm, trí não thông minh và được mọi người yêu quý. Khi bé được ba tuổi thì Linh và Bích Trâm mới dám tổ chức lễ cưới. Ông bà Đỗ Văn đứng về phía nhà gái, tác hợp cho hai người. Con bé Thu Minh chạy lăng quăng theo chân bố mẹ khiến mọi người thích thú, khen không ngớt lời... HỒN VỀ NỬA ĐÊM Nhìn đồng hồ trên tường đã hơn chín giờ mà cô con gái rượu vẫn chưa dậy, bà Huyện Xuân lo lắng: - Hẹn với người ta mười giờ rưỡi, mà giờ này con Cẩm Hồng vẫn chưa thức thì làm sao đi cho kịp. Cẩm Nhung, cô chị lớn bênh em: - Hôm qua đi cả ngày, nó mệt nên cho nó ngủ thêm chút nữa. Mình đi xe hơi chớ xuồng ghe gì đâu mà má lo. Bà Huyện vẫn không an tâm: - Đi xe nhưng đường xá gồ ghề, đâu có lẹ hơn đi ghe. Đây qua đó không khéo phải mất hơn hai giờ đồng hồ! Cẩm Hồng đã dậy, từ trong phòng bước ra mà vẫn còn ngáp dài: - Đi qua dự tiệc chớ có phải đi hỏi vợ đâu mà má làm dữ quá trời! Nhìn thấy bộ dạng con gái, bà Huyện Xuân la lớn lên: - Sao chưa thay đồ mà còn ở đó con... con khỉ! Bà tính mắng con, nhưng mấy khi bà nặng lời với cô con gái rượu mà cả ông bà đều cưng như cưng trứng này. Vả lại, hôm nay nhìn thấy con trong bộ đồ ngủ mỏng manh, khiêu gợi, tự dưng bà cũng xao xuyến... Bà chép miệng: - Có con gái như miếng thịt mỡ như mày, nếu không gả chồng cho sớm thì chắc tao với ba mày mất ăn mất ngủ rồi mau già cho coi! Cẩm Nhung cũng nói: - Con gái út má như vậy mà lo gì không lấy được chồng mà má cứ quýnh cả lên! Việc gì má phải đưa Cẩm Hồng qua bên đó chào khách, phải để cho họ đến cầu cạnh mình chớ! Bà Huyện Xuân nhẹ giọng: - Bộ tao không bịết sao mà phải nhắc. Sở dĩ mình phải qua tận bên đó là vì bữa nay có mặt cả nhà của quan chủ tỉnh, trong đó có thằng con trai mới về nhậm chức. Không phải riêng má, mà còn hàng chục người khác cũng chực chờ dịp này. Lát nữa mày có đi theo thì sẽ thấy, bữa nay chẳng khác gì cuộc thi... hoa hậu cho coi! Cẩm Nhung quay sang em gái: - Vậy lát nữa mày bận bộ đồ của lão gì đó đi Tây về tặng hôm trước nhé, cho tụi nó lé mắt luôn! Mày bận đồ đó thì tao bảo đảm hoa khôi xứ Nam kỳ lục tỉnh này đều thua xa! Cẩm Hồng không hứng thú lắm với bữa tiệc này, nhưng nghe chị nói cũng nheo mắt cười: - Chơi thì chơi, sợ gì! Ba mẹ con vừa ra tới cổng thì gặp ngay một chiếc xe trâu chở đầy lúa đang chạy ngược chiều với tốc độ kinh hoàng, cứ nhắm thẳng hướng xe của họ mà lao vào. Bà Huyện Xuân hốt hoảng la lớn: - Coi chừng!!! Tiếng la của bà chỉ đủ cho tài xế Ba Hỷ lách xe sang trái một chút, chưa thể né kịp đà lao tới như tên bắn của hai con trâu điên! Trên xe mọi người đều nhắm mắt lại... chờ chết! Nhưng vừa lúc đó thì nghe rầm một tiếng như trời long đất lở, ba người choàng mở mắt ra và... tưởng như mình đang mơ, chiếc xe trâu lật nằm chổng gọng ở dưới ruộng phía tay phải, phía trước xe hơi chở họ có một người đang đứng dang rộng tay như che đỡ khiến hai con trâu điên không đụng được vào xe! Có gần chục người gần đó bu lại, ai cũng hết vía: - Trời ơi, không thể tưởng tượng nổi! Chiếc xe trâu của Bảy Hổ lao như tên bắn, hất người đánh xe té cách mấy chục thước và cứ tưởng là lao thẳng vào xe hơi của bà Huyện, nào ngờ... Họ nhìn người đàn ông có tuổi đang còn đứng dang tay như nhìn một vị thiên thần. Có người thốt lên: - Chẳng hiểu ông ấy từ đâu xẹt ra, chận ngay đầu hai con trâu nổi điên như người tự sát! Vậy mà không ngờ hai con trâu vừa nhìn thấy ông ta thì đã lách sang bên kia và sẵn đà lao thẳng xuống ruộng luôn! Lúc này bà Huyện Xuân mới kịp hoàn hồn, bà ló đầu ra ngoài xe la oé lên: - Xe điên hay sao mà chạy như vậy chớ! Bảy Hổ, chủ nhân chiếc xe gây tai nạn mình mẩy lấm lem bò từ mé ruộng lên, khúm núm trước bà Huyện: - Dạ xin lỗi bà. Hai con trâu đang đi bình thường, chẳng hiểu tại sao lại nổi điên mà chính con cũng không làm sao kiểm soát được nó. Cũng may có ông đây... Lúc này người đàn ông kia mới quay lại, nói đỡ cho Bảy Hổ: - Một khi trâu mà gặp ma thì có giết chết nó cũng chạy! Số của bà và các cô còn lớn, nên vừa rồi mới thoát khỏi nạn tai. Ông nói xong cúi chào bà Huyện một cách trịnh trọng. Bà Huyện Xuân bỗng kêu lên: - Thầy... thầy là thầy Hai Hội ở... ở... Người đàn ông đó gật đầu: - Trí nhớ bà Huyện tốt quá. Đã gần năm năm rồi còn gì... Ông vừa dợm bước đi thì bà Huyện Xuân gọi giật lại: - Thầy ở Trà Vinh mà sao đi qua đây? Để tôi cám ơn thầy... Bà định bước xuống xe thì ông ấy quay lại, nói một cách tự nhiên: - Nếu bà và các cô đây không phiền thì tôi xin quá giang ra tới cầu đúc, trên đường đi tôi sẽ nói thêm câu chuyện có liên quan tới quý vị. Bà Huyện Xuân phải quay sang hai con, nói để họ không thắc mắc: - Thầy Hai đây ngày trước cũng từng cứu mạng má và ba con một lần rồi. Hồi đó nếu thầy không báo trước thì ba má đã bị bọn cướp giết chết ở nhà ông bà nội các con rồi! Ông thầy cười hiền hòa: - Chuyện cũ rồi. Nhưng nó có liên quan tới chuyện vừa rồi... Bà Huyện giật mình: - Hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau, lại xảy ra ở hai thời điểm quá xa nhau, sao lại có liên quan? Tài xế Ba Hỷ cho xe chạy chậm ra hướng cầu đúc để chủ và khách dễ nói chuyện. Bà Huyện Xuân hỏi: - Thầy nói rõ coi, sao lại liên quan? Ông thầy chợt nhìn vào Cẩm Hổng rồi nói: - Vừa rồi hai con trâu kéo xe nhắm vào cô này, chớ không phải bà! Cũng giống như ngày xưa, tai nạn nhắm vào ông Huyện mà suýt nữa bà bị họa lây! Cẩm Hồng từ nào giờ không quen với chuyện này, nên vừa nghe nói đã kêu lên: - Ông nói gì vậy? Bộ điên sao... Bà Huyện Xuân hốt hoảng: - Đừng hỗn con, thầy đây... Nhưng ông thầy không chút phật ý, từ tốn nói: - Không sao, chuyện chưa đến thì làm sao những người trẻ như cô đây hiểu thấu. Nếu bà và cô không phiền lòng, tôi sẽ nói thẳng ra điều biết được. Nhất là chuyện vừa rồi, chẳng phải khi không mà hai con trâu nổi điên và nhắm vào xe của bà đâu! Cẩm Hồng cau mày, tỏ vẻ khó chịu, nhưng bà Huyện Xuân thì nói liền: - Thầy Hai cứ nói đi! - Cô đây bị ma ám! Câu nói thẳng đó khiến cho Cẩm Hồng chẳng những không sợ mà còn nổi điên: - Ông này... không được nói bậy nghe chưa! Lúc ấy xe vừa ra tới cầu đúc, ông thầy ra dấu cho ngừng lại, rồi nói trước khi bước xuống xe: - Hai con trâu lúc nãy bị ma khiến nên tự dưng nó nổi điên và lao vào xe hơi, đáng lý hai xe đã đụng nhau và chuyện gì xảy ra chắc quý vị đều biết! Tuy nhiên, do cái mạng của bà Huyện đây còn quá lớn, nên cũng như lần trước, khi tên cướp cầm con dao bầu định xả xuống chém ông Huyện thì bị cái vong của người khuất mặt đỡ cho, nên ông bà toàn mạng. Thật ra lần đó, cũng như lần này tuy tôi là người đứng ra che chắn, chớ thật ra người che đỡ đó là người khuất mặt, tôi chỉ là người được lệnh làm thay thôi... Ông nói tới đó thì bước xuống xe và cúi đầu chào rất trân trọng: - Xin cám ơn bà Huyện. Bà nên cẩn trọng và đề phòng điều không hay vẫn còn đeo đuổi. Nhưng hy vọng cái mạng lớn của bà vẫn đủ sức che chở cho người thân của mình! Ông nói xong quay bước đi rất nhanh. Bà Huyện Xuân nhảy xuống xe định chạy theo, nhưng đã chậm. Ông ta đã biến mất vào dòng xe cộ đang chạy. Cẩm Hồng càu nhàu: - Má tin chi những lời nhảm nhí đó! Riêng Cẩm Nhung thì có vẻ hoang mang: - Ông thầy này nói thấy ghê quá! Bà Huyện Xuân đăm chiêu một lúc rồi nhẹ giọng nói: - Ông nhắc chuyện năm xưa má thấy đúng. Hồi đó xảy ra chuyện đám cướp của giết người đó đột nhập vào nhà ông bà nội con, ngoài cướp tài sản chúng còn cố ý giết người nữa. Mà người chúng nhầm trước tiên là ba con, bởi khi ấy ba con vừa được ông nội giao cho cai quản sản nghiệp, quyền lực và tiền của nằm trong tay khá nhiều, bởi vậy bọn cướp nhắm vào ông, muốn bắt cóc ông để tống tiền, nhưng bị ông chống cự nên thằng đầu đảng giơ dao tính chém, may nhờ ông thầy Hội này xuất hiện như một vị thần tiên, đã kịp đá văng cây dao bầu dài cả thước đang xả xuống đầu ba con! Cũng như lần này... Bà nhớ lại chiếc xe trâu hồi nãy mà rùng mình: - Ông ấy lại một lần nữa cứu mình! Cẩm Nhung hỏi: - Má biết nhà của ông ấy ở đâu không, bữa nào mình đem lễ vật tới tạ ơn. Bà Huyện Xuân lắc đầu: - Má chỉ biết tên ông ta là Hai Hội, nên gọi là thầy Hai Hội, chớ nhà cửa ổng ở đâu, làm nghề gì thì má hoàn toàn mù tịt. Cẩm Hồng vẫn nói với giọng thiếu thân thiện: - Ôi, biết làm gì mấy ông thầy đó cho thêm mệt! Cô nàng dựa lưng ra băng ghế, lát sau là thở đều trong giấc ngủ ngon. Bà Huyện Xuân lắc đầu: - Con này sắp lấy chồng tới nơi mà chỉ biết ăn với ngủ! Phải mất hơn một tiếng đồng hồ xe mới tới nơi. Khách khứa đã tới hầu như đủ hết. Trong số này có cả ông Huyện Xuân, bởi ông đi dự họp ở tỉnh rồi cùng về với chủ nhân bữa tiệc hôm nay, ngài phó tỉnh trưởng và là anh ruột của ông. Vừa thấy vợ con vào tới Huyện Xuân đã lên tiếng ngay: - Nãy giờ ở đây chỉ nhắc mỗi mẹ con bà thôi, làm tui phát ghen! Bà Huyện Xuân cười xã giao: - Chắc là nhắc vì mẹ con tui đi trễ! Thành thật xin lỗi quý vị. Có một vị tướng tá oai vệ vội lên tiếng: - Có trễ mấy mà tới đủ mẹ con là được rồi! Nhìn lại người vừa nói, bà Huyện Xuân vội giục hai con: - Chào ngài tỉnh trưởng đi con! Cẩm Hồng chưa kịp chào thì vị đó đã bước tới nắm tay, vừa giới thiệu với mọi người: - Nãy giờ tôi chờ đợi chỉ để nói với mọi người, đây là con dâu của tôi! Quá bất ngờ ngay cả với vợ chồng Huyện Xuân, chớ đừng nói là Cẩm Hồng. Cô nàng lúng túng thấy rõ: - Dạ... dạ... Ngài tỉnh trưởng nói to hơn, cố ý để cho cả bữa tiệc nghe, bởi lúc ấy mọi con mắt đang đổ dồn về phía ông: - Tôi chưa hỏi ý anh chị Huyện, nhưng xin mạo muội nói thẳng, người mà chúng tôi chọn để cưới cho trai mình là cháu Cẩm Hồng này! Xin mọi người cho một tràng pháo tay! Tiếng vỗ tay ầm vang. Nhưng chen lẫn trong những tiếng hoan hô đó cũng có không ít những tức tối. Bởi có đến gần một chục gia đình dẫn con gái tới chỉ mong nhận được lời tuyên bố như vừa rồi. Họ thất vọng và đâm ra ganh tị với mẹ con bà Huyện Xuân. Tuy vậy, khi Cẩm Hồng được mời tới bàn dành riêng cho ngài tỉnh trưởng và gia đình ngồi, thì hầu như mọi người đều phải trầm trồ khi nhìn thấy bộ váy màu cánh sen mà cô nàng mặc, nó đẹp và sang trọng, ăn đứt những bộ cánh của con gái các nhà quyền quý khác trong bữa tiệc. Quả là Cẩm Nhung có cặp mắt tinh đời, khi khuyên em gái chọn bộ cánh này. Lúc này đứng đằng xa nhìn em gái ngồi chung với gia đình tỉnh trưởng, Cẩm Nhung nói khẽ với mẹ: - Má nhìn coi kìa, có bao cặp mắt đang ganh tị với nó và bà tỉnh trưởng đang nhìn nó đầy say mê, thật không uổng công đi bữa nay! Trong lúc đó thì ở bàn riêng, bà tỉnh trưởng giải thích việc vắng mặt của cậu con trai là nhân vật chính bữa nay: - Nó đi mua hoa dành riêng tặng cho cháu! Cẩm Hồng quả thật bất ngờ, cô không tin là mình nghe đúng: - Ảnh nào biết con đâu mà mua hoa tặng? Bà tỉnh trưởng nói: - Tuy chưa gặp cháu lần nào, cũng chưa biết đẹp xấu ra sao, chỉ mới nghe bác nói sơ qua mà nó đã mê rồi! Thằng này giống tánh ba nó, làm gì là làm cái rụp, không chần chừ! - Dạ.... Trong lúc họ đang nói chuyện thì chợt có nhiều cô ồ lên và cười tươi khi thấy một chàng trai xuất hiện với bó hoa dại thật lớn trên tay. Bà tỉnh trưởng bảo: - Thằng Toàn nhà bác đó! Toàn bước thẳng tới chỗ Cẩm Hồng ngồi và thật tự nhiên đưa bó hoa: - Tuy không phải hoa hồng hay hoa lan, nhưng đây là tấm lòng thành, mong cô nương nhận cho! Bà tỉnh trưởng thêm vô: - Đây là Cẩm Hồng, con gái cưng của bác Huyện Xuân, người mà ba má đã chọn làm con dâu, vậy con phải gọi khác chớ, sao lại là cô nương được! Toàn tỏ ra lịch lãm: - Nếu được phép thì xin gọi... em nhé? Cẩm Hồng vốn là gái tân thời, từng giao tiếp bạn trai nhiều khi đi học trường Tây ở Sài Gòn, nhưng phải công nhận anh chàng này quả là lịch lãm và... có duyên. Cô nhoẻn miệng cười đáp lại: - Dù hoa không quý, nhưng tấm lòng thì quý gấp chục lần hơn! Xin cám ơn anh Toàn! Cô nhận bó hoa và rất lịch sự đưa lên mũi ngửi ngay và bất chợt nhìn thấy một mảnh giấy nhỏ gắn kèm rất kín đáo ở giữa bó hoa. Không cần lấy ra, Hồng cũng đọc được mấy chữ viết tháo: - Không nên lấy người này. Cô định lờ đi, nhưng lúc ấy bà tỉnh trưởng đã nhìn thấy, vội hỏi: - Cái gì vậy con, sâu hả? Cẩm Hồng lúng túng: - Dạ không... Tờ giấy nhỏ vô tình rơi ra và Toàn chụp được lại càng khiến Cẩm Hồng mất tự chủ, cô lắp bắp: - Cái... cái đó… Cô định chụp lại, nhưng Toàn đã đưa lên nhìn kỹ... và cười xòa: - Tờ giấy trắng! Tưởng đó là tờ giấy khác, Cẩm Hồng lén nhìn lại và vô cùng ngạc nhiên khi mảnh giấy lúc nãy không còn nữa! Thấy Cẩm Hồng có vẻ không tự nhiên, sắc mặt hơi tái đi, Toàn rất tâm lý giằng lại bó hoa và lên tiếng ngay: - Con hơi hồ đồ, một đóa hoa hương sắc như vầy mà để cho cầm những cánh hoa dại trong tay khác nào hạ thấp người đẹp! Thảo nào lúc nãy khi con đang hái hoa ngoài vườn thì có một ông già đã ngăn con lại, bảo rằng đừng tặng người đẹp loài hoa này. Câu nói chỉ lờ mờ như vậy, nhưng bỗng Cẩm Hồng vụt hỏi: - Có phải một ông già có búi tóc trên đầu không? Toàn ngạc nhiên: - Ủa, sao em biết ông này? Chắc là người thân? Cẩm Hồng càng mất tự nhiên: - Không... không phải. Ông ấy... Ông tỉnh trưởng phải chen vào nói: - Bất cứ ai thấy con hái hoa dại để tặng người đẹp cũng đều khuyên như vậy thôi! Ba cũng thế và ba khuyên con nên chuộc lỗi bằng cách lái xe đưa Cẩm Hồng ra chợ thị xã để tìm mua hoa quý thay ngay bó hoa này, coi như là chuộc lỗi! Bà tỉnh trưởng cũng tán đồng: - Phải đó. Để má xin phép ông bà Huyện cho. Bà chưa kịp bước sang thì cả vợ chồng Huyện Xuân đã nhanh nhẩu bước tới và nói liền: - Cần gì phép tắc. Cháu Toàn cứ đưa Cẩm Hồng đi. Nhưng hai bác xin nhắc, con gái bác nó còn khờ và nhút nhát lắm, cháu chớ có ăn hiếp tội nghiệp nó! Toàn đưa Cẩm Hồng đi trước nhiều cặp mắt khó chịu, tức tối... *** Cẩm Hồng nhìn chiếc xe mui trần thì thích thú lắm, reo lên:- Xe của anh hả, tuyệt lắm... - Em thích lái không? Còn gì bằng, Cẩm Hồng hí hửng: - Em biết lái, anh để cho em lái. Cô ngồi vào trước tay lái và tỏ ra sành điệu khi nổ máy và phóng vèo ra đường như một tay lái chuyên nghiệp, trước sự thán phục của Toàn: - Em lái còn cứng hơn anh nữa. Đường ở đây hẹp và nhiều xe thô sơ đi ẩu quá, anh không dám lái nhanh. Câu nói đó còn hơn một lời khen, khiến cho Cẩm Hồng hứng chí, nhấn ga sâu hơn. Chiếc xe lao đi vun vút giữa đường quê, lại do một cô gái lái nữa, nên mọi người đi đường đều đưa mắt nhìn và thán phục ra lời: - Con gái mà giỏi quá, lái xe còn hơn đàn ông! Một ai đó nhận ra người lái, nên nói: - Con gái út ông Huyện Xuân đó, dân nhà giàu đó mà. Cẩm Hồng được khen, lại được lái chiếc xe đời mới, nên có lúc cô nhấn ga lên gần một trăm cây số giờ. Ngồi bên cạnh Toàn vừa định nhắc thì bất chợt từ lề đường có một con bò chạy vút ra. - Coi chừng! Tiếng cảnh báo của Toàn vừa phát ra thì đầu xe đã lao sát vào con bò. Một cú đụng mạnh chắc chắn sẽ xảy ra và việc gì thì đã rõ... Cả Cẩm Hồng và Toàn đều chỉ biết nhắm mắt lại giao mạng sống cho số phận... - Trời ơi, không tưởng tượng được! Giọng của ai đó vang lên, vừa lúc cả hai người trên xe mở mắt ra. Trước họ, ngay đầu xe đang có một người đứng chận ngang. Cẩm Hồng kêu lên: - Ông thầy Hai! Toàn cũng đã nhận ra, anh vô cùng ngạc nhiên: - Ông lão anh vừa mới gặp ở chỗ hái hoa. Ông thầy Hai lẵng lặng bước tránh ra khỏi đầu xe, tiến về phía con bò đang nằm im dưới ruộng. Bằng một động tác nhẹ nhàng, ông vỗ lên lưng con vật và nó bật dậy ngay, chạy một mạch như chẳng có việc gì xảy ra. Mấy người bên đường trầm trồ: - Nếu không có ông lão này đẩy con bò ra kịp thì chiếc xe đã đụng thẳng vào rồi và... xe lật là cái chắc! Ông thầy không quay lại, bước thẳng theo con đường đê... Lúc này Toàn mới lên tiếng gọi: - Ông ơi! Anh định nói lời cám ơn, nhưng ông ta đã khuất phía xa... Cẩm Hồng không còn ác cảm với ông như trước nữa, cô nhìn theo và lẩm bẩm: - Ông này lạ quá.... Phải mất hơn mười phút sau thì cả hai mới lấy lại bình tĩnh để tiếp tục lái xe ra thị xã. Họ tìm mua được một chục bông hồng ở một vườn trồng hoa, chớ không cần phải vào chợ. Mà thật ra nếu không có một người khách lạ bên đường chỉ cho họ biết vườn trồng hoa, thì họ có tìm tới sáng hôm sau cũng không có bông hoa nào ở thị xã bởi nơi này không hề có chỗ bán hoa tươi như ở Sài Gòn. Lúc hai người dừng lại một quán nước bên đường để uống, thì ai cũng khen hoa đẹp. Hỏi mua ở đâu, Cẩm Hồng nói là mua ở vườn trồng hoa thì ai nấy đều ngạc nhiên: - Ở xứ này làm gì có nhà vườn trồng hoa? Lại là loại hồng nhung này, rất hiếm thấy, ngoại trừ... Rồi người đó hỏi thẳng: - Có phải hai cô cậu hái ở khu mộ của gia đình ông đốc phủ Hài không? Cẩm Hồng ngơ ngác: - Tui đâu biết phần mộ đó? Vả lại, rõ ràng chúng tôi vừa mua ở vườn hoa cách đây hơn nửa cây số mà! Người nọ quả quyết: - Dám cá một ăn một trăm là hoa này ở nghĩa trang nhà đốc phủ Hài chớ không ở đâu khác! Ở đó sáng nào khóm hồng trồng trước mộ cũng nở rực rỡ mà có ai dám vô hái đâu. Cô cậu nghĩ cũng gan thiệt! Người đó nói rồi bỏ đi. Cẩm Hồng tức tối: - Ăn nói vô duyên! Cô ta tức lên, lộ hẳn tính nóng mà từ nãy giờ cố kiềm chế, bằng động tác ném bó hoa ra phía sau xe! Toàn phản ứng tức thời, bằng cách đưa tay ra chụp được, vừa nói: - Bó hoa đẹp mà em! Anh ta tuy chụp lại được bó hoa, nhưng một ngón tay đã bị gai hoa hồng đâm phải, kêu lên: - Ui! Một giọt máu nhỏ ra rơi dính vào ngực áo, Toàn vừa bị đau vừa phát cáu: - Cái hoa này... Anh ta kịp dừng lại sự bực dọc, nhưng cũng đủ cho Cẩm Hồng áy náy: - Em xin lỗi, tại vì em... Toàn lịch sự: - Không sao, anh chỉ khó chịu vì cái áo... Cẩm Hồng tấp xe vô lề và nhanh nhẹn lấy ra chai Aceton rửa móng tay, rồi khá tự nhiên dùng khăn tay của mình thấm nước tẩy đó tẩy chỗ vết máu. Cử chỉ dễ thương đó của cô đã khiến cho Toàn không tự chủ được, sẵn hai mặt sát nhau, anh chàng bất thần ghì vào và đặt lên đó một nụ hôn nồng cháy! Cẩm Hồng không kịp phản ứng, hoặc là không muốn chống cự, thế là họ cứ thản nhiên ôm hôn nhau khiến cho nhiều người đi đường phải đỏ mặt! Nụ hôn kéo dài đến vài chục giây, đến khi rời nhau ra thì Cẩm Hồng như bừng tỉnh, cô nhấn ga cho chiếc xe lao đi vun vút và suốt quãng đường về nhà nụ cười luôn nở trên đôi môi cô nàng... Thỉnh thoảng nhìn sang, cô thấy Toàn đang nhắm nghiền mắt lại, hình như đang tận hưởng hương vị của đôi môi còn đọng lại... Họ về đến nhà thì đã thấy rất đông người đứng đợi. Đích thân bà tỉnh trưởng đứng giữa mọi người nói lớn: - Trong lúc hai đứa con vắng mặt, hai bên cha mẹ đã thỏa thuận xong với nhau là nội tháng sau đám cưới sẽ được cử hành! Hai đứa sẵn đây xuống chào bà con cô bác đi! Cẩm Hồng rất tự nhiên mở cửa xe bước xuống, nhưng Toàn thì vẫn ngồi yên. - Về tới nhà rồi, anh xuống đi chớ? Cẩm Hồng nhắc, nhưng Toàn vẫn nhắm nghiền mắt, bất động. Linh tính báo có điều gì đó bất trắc, Cẩm Hồng phải chồm vào xe lay vai anh chàng: - Anh Toàn... Bị cái đẩy nhẹ của Cẩm Hồng, nhưng Toàn đã ngã dựa vào cửa xe, khiến bà mẹ anh ta hốt hoảng: - Sao vậy Toàn? Toàn được đưa ra khỏi xe trong trạng thái hầu như lịm đi. Chính bà Huyện Xuân phải lên tiếng hỏi: - Nó bị sao vậy Cẩm Hồng? Cô nàng quýnh lên: - Con đâu biết. Tụi con vừa đi mua xong hoa hồng và mới đây ảnh còn cười nói bình thường mà... Chợt nhìn thấy một ngón tay của con trai bị sưng vù to như trái chuối, ông tỉnh trưởng rú lên: - Nó bị sao vậy? Họ tức tốc đưa Toàn vào phòng trong, nhưng ông tỉnh trưởng đã ra lệnh: - Đưa nó đi bệnh viện ngay. Coi chừng bị con gì đó cắn. Rắn độc cũng nên! Cẩm Hồng hốt hoảng: - Không phải con gì cắn đâu, ảnh chỉ bị cái gai bông hồng đâm phải thôi! Con trai cưng của ngài tỉnh trưởng mà bị nạn thì cuộc cấp cứu phải biết! Hầu như tất cả các xe hơi tới dự tiệc đều hộ tống đưa Toàn đi bệnh viện tỉnh cách đó gần sáu chục cây số! Một giờ sau... Trong lúc mọi người còn đang căng mắt ra chờ ngoài hành lang bệnh viện thì chợt nghe tiếng gào thét của bà tỉnh trưởng từ bên trong phòng cấp cứu! Rồi một cô y tá từ trong đó hớt hãi chạy ra, chỉ nói vắn tắt: - Bệnh nhân tên Toàn đã tử vong! *** Suốt ba đêm kể từ khi đi đưa tang của Toàn về, không phút nào bà Huyện Xuân an giấc. Hễ cứ vừa nhắm mắt lại thì hầu như những hình ảnh lạ lùng lại hiện ra. Ban đầu bà ta giấu chồng con về những điều mình gặp trong giấc mơ, nhưng rồi cũng phải nói ra, bởi đêm nào ông Huyện Xuân cũng bị giật mình nhiều lần và đều ngạc nhiên khi nghe bà cứ lảm nhảm gọi tên ai đó. Ông gạn hỏi thì cuối cùng bà đành thú thật:- Hễ cứ nhắm mắt lại thì tui thấy có một người với bộ mặt đầy máu hiện ra. Người đó hỏi tôi có nhớ Sáu Ngọc không? Ông Huyện Xuân chau mày: - Sáu Ngọc là ai? Bà lắc đầu: - Tôi làm sao nhớ được... - Sao tôi nghe bà gọi tên ai là Nương Tử? Bất chợt bà rú lên: - Ai gọi Nương Tử? - Thì bà gọi chớ ai. Nương Tử là người nào mà lâu nay tôi đâu hề nghe bà nhắc? Bà Huyện Xuân vẫn lắc đầu: - Tôi đâu biết... Tuy nhiên, chợt bà kêu lên: - Trời ơi, Nương... Nương Tử phải không? Bà ôm đầu vài giây rồi nói như đang nằm mơ: - Phải rồi... cô đào hát... cô đào hát... Nói tới đó bỗng nhiên bà ngã lăn ra rồi bất tỉnh! Ông Huyện Xuân hốt hoảng gọi người nhà cứu chữa cho vợ, nhưng càng xoa dầu, đánh gió bao nhiêu thì bà lại càng chìm sâu trong cơn mê... Phải đến chiều hôm đó tự dưng bà tỉnh lại và nói như chưa có việc gì xảy ra: - Dọn cơm cho tôi ăn đi, đói quá! Ông Huyện Xuân thở phào: - Bà làm tôi hết hồn! Làm lỡ chuyến đi lo cái vụ xuất cảng gạo cùng với ông phó tỉnh trưởng mất rồi. Bà Huyện Xuân tỉnh táo: - Thì bây giờ ông đi cũng còn kịp mà. Biểu tài xế lái xe chạy tối thì sáng mai tới trên đó rồi. - Bà liệu sức khỏe có ổn chưa thì tôi mới dám đi? - Ông khéo lo, bệnh tôi như giả đò, ăn nhằm gì! Ông Huyện Xuân đi lúc ba giờ thì bốn giờ bà Huyện Xuân cũng đi. Hai cô con gái ngạc nhiên hỏi thì bà dặn: - Má đi về Trà Vinh có chút việc. Nếu ba tụi bây có điện về hỏi thì đừng nói. Nhớ nghe chưa! Cẩm Hồng từ sau tai nạn của Toàn thì hầu như nằm vùi trong phòng riêng, ăn uống bữa được bữa không... Còn Cẩm Nhung thì cũng giống như mẹ mình, cứ thấy ác mộng và đầu óc hoảng loạn, cứ kêu nhức đầu và hoa mắt... Nghe mẹ nói đi xa, Cẩm Nhung cố gượng nói với bà: - Con Cẩm Hổng kỳ lắm, nó cứ ôm mặt khóc rồi bỏ ăn bỏ uống kiểu này con e nó bệnh nặng cho má coi. Hay là má gởi nó trở lên Sài Gòn học tiếp đi, để nó quên chuyện kia... Bà Huyện Xuân nói xuôi theo: - Thì tao cũng tính như vậy, nhưng để sau khi tao đi Trà Vinh về đã. - Chuyện nhà rối rắm, đau bệnh tùm lum mà ba má đều đi hết, con làm sao lo cho xuể đây? Tuy nói vậy nhưng khi mẹ đi rồi Cẩm Nhung cũng rút vô phòng riêng của mình, không màng gì tới chuyện nhà. Bữa cơm chiều không ai dọn là cái chắc, bởi cô người làm cũng đã xin nghỉ mấy hôm về thăm mẹ bệnh nặng. Cẩm Nhung biết như vậy nhưng vẫn nằm im trong phòng cho tới khi trời bên ngoài đã tối. Đang nằm, Cẩm Hồng bỗng bật dậy, bởi mùi thức ăn thơm phức bay vào tận phòng ngủ. Người yếu và ăn uống thất thường mấy bữa nay, vậy mà cô cũng ráng bước ra ngoài, hỏi lớn xuống bếp: - Ai nấu món gì mà thơm dữ vậy, cho con ăn cơm với! Nếu có ở nhà thì bà Huyện Xuân đã mừng rơn, bởi việc ăn uống của cô con gái út là chuyện bà quan tâm hơn hết trong nhà này. Hỏi mà chẳng nghe ai đáp, Cẩm Hồng bước thẳng ra nhà bếp, cô nhìn thấy một mâm cơm với khá nhiều món ăn đã dọn sẵn, còn bốc khói. Đang đói bụng, nên Cẩm Hồng không đợi, vừa ngồi vào bàn ăn vừa nói vọng lên nhà trên: - Con đói nên ăn trước nghen! Cô ngồi ăn một cách ngon lành, chợt Cẩm Nhung bước xuống, kinh ngạc kêu lên: - Trời sập tới nơi rồi, sao bữa nay mày nấu cơm hả Cẩm Hồng? Không nhìn lên, Cẩm Hồng đáp: - Má nấu, chớ có rảnh đâu mà nấu. Công nhận bà già nấu món sườn ram mặn ngon thiệt! - Mày nói ai nấu? Má đi từ hồi bốn giờ, khi đó cơm chưa nấu thì làm sao là má được? Cẩm Hồng bây giờ mới ngẩng lên: - Vậy ai nấu cơm rồi còn dọn sẵn nữa. Đừng nói là chị nghe! Cẩm Nhung bước tới nhìn các đĩa thức ăn rồi kêu lên: - Mấy món này nhà mình đâu có sẵn mà nấu! Cá chẽm chiên nè, gà ác tiềm nè, mày không thấy những món này phải nhà hàng Tàu mới có không? Sao bữa nay lại có và dọn sẵn ở đây? Lúc này Cẩm Hồng mới để ý, cô lẩm bẩm: - Nãy giờ em đói nên ăn đại, đâu có để ý... Bị mất hứng nên tuy bụng còn đói, nhưng Cẩm Hồng ngưng ngang không ăn nữa. Cô nàng còn cảm thấy nhờn nhợn trong cổ họng, nên buông đũa đứng dậy, bước ra cửa sau. Định đứng một lúc cho thoáng rồi trở vô, tuy nhiên chẳng hiểu sao Cẩm Hồng lại đi thẳng ra bên trái khu vườn, rồi mở hẳn cửa hông, nơi thông ra một khoảng đất trống mà lúc nhỏ cô nàng hay ra đó chơi đùa, chỉ mấy năm nay do lớn và phần đi học xa luôn, nên cô ít có dịp ra đây. - Cô út! Tiếng ai đó gọi khiến Cẩm Hồng giật mình nhìn lại. Một cô gái trẻ, ăn mặc dáng nhà quê, nhưng khá xinh xắn từ xa đi lại, miệng cười rất tươi lặp lại câu nói vừa rồi: - Cô út Cẩm Hồng phải không? Chưa từng quen biết mà cô ta lại gọi tên mình một cách thân mật, tự nhiên, làm cho Cẩm Hồng hơi lúng túng: - Chị là ai vậy? Cô gái đáp rất lịch sự: - Tôi lớn hơn cô út hai tuổi, cho nên gọi tôi là chị cũng được. Tôi là Hoa Liên, tuy lạ mà quen. Cách trả lời ỡm ờ của cô nàng, khiến Cẩm Hồng phật ý: - Chị nói rõ mình là ai và gặp tôi với ý gì? Cô ta vẫn cười vui: - Tôi vừa nói rồi, là Hoa Liên, tức hoa sen. Tới đây để dọn bữa cơm cô vừa ăn trong nhà! - Chị... Cẩm Hồng giật mình, nhìn sững người con gái, vừa lắp bắp hỏi lại: - Mâm cơm trong nhà... là của chị? - Cô ăn có ngon không! Cẩm Hồng gay gắt giọng: - Tôi hỏi chị chưa trả lời, mâm cơm đó... - Thì do tôi dọn ra mời cô. Bởi biết cô đã ba ngày chưa ăn uống gì. - Nhưng sao chị biết tôi cần ăn cơm và làm cách nào chị vô nhà tôi được? Chỉ cánh cửa hông, cô nàng đáp tỉnh bơ: - Thì bằng cửa này, giống như cô vừa ra. - Nhưng sao nhà tôi mà chị... Cô gái giờ mới áp tới sát Cẩm Hồng, hạ giọng: - Cậu Toàn sai tôi làm! Đang bực bội, bỗng Cẩm Hồng bước thụt lùi, ngơ ngác: - Chị nói... ai? - Cậu Toàn, con ông bà tỉnh trưởng! - Trời ơi, chị là... Cẩm Hồng bước lui mấy bước, vấp vào một gốc cây suýt té, trong khi đó giọng cô gái vẫn đều đều: - Cậu ấy lo cho sức khỏe của cô, nên sai tui mỗi ngày phải dọn cơm mời cô. Đây là những thức ăn đặt nấu ở tiệm cao lầu ở thị xã, họ làm vừa ngon vừa sạch sẽ, cô cứ yên tâm mà ăn, không phải lo gì hết. Rồi như đoán được tâm trạng của Cẩm Hồng, cô nàng lại tiếp, nói rõ hơn: - Cậu ấy tuy chết rồi, nhưng vẫn hiển linh, vẫn thương cô, muốn luôn luôn được chăm sóc cho cô. Sau khi lấy lại thăng bằng, Cẩm Hồng vụt chạy vào trong, thuận tay đóng sầm cửa lại. Cắm đầu đi thật nhanh, nghĩ là đã cắt được cái đuôi. Nào ngờ, khi tới nửa khu vườn thì đã thấy cô gái lúc nãy đứng áng ngay trước mặt. - Sao lại chạy trốn người đang giúp em? Nghĩ chỉ cần la lớn lên thì Cẩm Nhung trong nhà sẽ nghe thấy, nên Cẩm Hồng gào thật to: - Chị Cẩm Nhung ơi! Gọi đến lần thứ ba mà vẫn không nghe Cẩm Nhung lên tiếng hoặc chạy ra, lúc này Cẩm Hổng hơi hoang mang, nên cô đành phải hỏi lại: - Chị là gì của anh Toàn? - Cô không cần phải biết, chỉ hiểu là Toàn đang là một vong hồn chết oan. Anh ấy đang cần một chỗ dựa ở chốn trần gian này, mà cô là người đó. Cô không làm được chuyện này sao, khi vì cô mà anh ấy phải chết. - Sao lại tại tôi? Anh ấy bỗng dưng bị chết, chớ nào tôi có làm gì đâu? - Vậy ai để cho cái gai hoa hồng đâm vào tay anh ấy? - Chị nói... Cẩm Hồng muốn cãi, nhưng chợt ngừng ngang, trước mắt cô hình ảnh ngón tay sưng vù một cách bất thường của Toàn hôm đó còn ám ảnh Cẩm Hồng cho tới bây giờ. - Anh ấy... Giọng cô gái nghiêm túc hơn: - Toàn chỉ mới là nạn nhân đầu tiên của cô thôi. Còn nữa... Hết sức chịu đựng, Cẩm Hồng gần như la lên: - Chị không được nói linh tinh nữa! Chị đi đi và nói với hồn anh Toàn của chị là tôi không cần ai chăm sóc hết! Tôi tự lo được rồi... Cô vụt chạy thật nhanh vào nhà. Chẳng thấy Cẩm Nhung đâu, mà mâm cơm trong nhà bếp cũng không còn. - Chị Cẩm Nhung! Đi thẳng lên phòng riêng của Cẩm Nhung thì cửa phòng mở toang, Cẩm Nhung chẳng hiểu đã đi đâu. Chưa bao giờ Cẩm Hồng cảm thấy sợ hãi như lúc này. Xưa nay cô không hề tin có hiện tượng ma quỷ, vậy mà giờ đây cô phải đối diện với một hồn ma! - Má ơi! Bất giác Cẩm Hồng phải gọi đến mẹ mình. Chợt có tiếng nói từ phía sau: - Mẹ cô hiện đang đối diện với nguyên nhân gây ra hậu quả mà cô phải gánh chịu ngày hôm nay, phải ba bữa nữa mới về, có đâu mà cô gọi. - Còn bà chị quý hóa của cô thì mới xách giỏ đi, chưa biết lúc nào mới về! Cẩm Hồng quýnh lên: - Sao kỳ vậy? Sao cả nhà... Cô gái kia gằn giọng: - Tôi nói rõ cho cô biết, trong số những người đàn ông mà cô từng trải qua, chỉ có anh Toàn là người xứng đáng. Cuối cùng ảnh mới là người cứu cô ra khỏi bến mê! Nói xong cô ta dợm bước đi thì lần này Cẩm Hồng đã chủ động gọi lại: - Cô nói anh Toàn, có thật không! - Muốn biết thật hay không thì trở về phòng sẽ biết! Bóng cô ta lẫn khuất trong vườn cây. Cẩm Hồng chạy vội về phòng mình và cô sững sờ trước bó hồng nhung đang nằm trên gối. Nó giống hệch với bó hoa mà bữa đó Toàn đã mua để tặng cô. - Anh Toàn! Trong phòng không có ai khác. Không dám đụng vào bó hoa, bởi hậu quả bữa trước còn làm cho Cẩm Hồng sợ, cô đứng tần ngần trước giường mình khá lâu, chưa biết phải làm sao lấy bó hoa đi chỗ khác thì bỗng như có ai đó di chuyển nó đi, từ bên giường chỉ trong nháy mắt bó hoa đã nằm gọn trên bàn phấn. - Toàn, em vẫn nhớ anh. Đừng làm em sợ. Tự dưng toàn thân Cẩm Hồng lạnh run, cô phải leo lên giường, trùm kín mền và thốt nhiên lại gọi Toàn: - Hãy phù hộ cho em, Toàn ơi! Nhờ mấy lần gọi tên Toàn mà Cẩm Hồng phần nào yên tâm. Cô có cảm giác như trong phòng mình có ai đó đang đi lại, có lúc như có hơi thở cạnh bên mình... Toàn chăng? Cẩm Hồng thầm mong như vậy. Như thế còn hơn là để cô một mình mang nỗi sợ hãi khôn cùng. Và nhờ vậy mà suốt đêm hôm đó cô ngủ được yên. Sáng dậy, chưa bước xuống giường thì cô đã ngửi được mùi thức ăn. Khi nhìn về phía chiếc bàn nhỏ trong phòng cô thấy có một mâm thức ăn chờ sẵn! Lần này không ngại như hôm qua, Cẩm Hồng ngồi ăn một cách tự nhiên... *** Bà Huyện Xuân trở về xóm cũ, mà đã hơn hai mươi lăm năm bà không về, khiến cho nhiều người ngạc nhiên. Nhưng sửng sốt nhất có lẽ là bà Tư Trầu ở cạnh đình làng. Bà cứ nhìn vị khách sang trọng vừa bước vô cửa mà tưởng như trong mơ:- Có phải bây là... con Hai Thắm không? - Dạ, đúng rồi, con là Hai Thắm đây. Người dẫn đường cho bà vào đây đã phải lên tiếng nhắc: - Bây giờ cô ấy là bà Huyện, người ta quen gọi là bà Huyện Xuân, chớ đâu còn là Hai Thắm như ngày xưa nữa. Bà Tư Trầu vẫn quen lối bỗ bã xưa nay: - Tao đâu có biết nó làm bà nghè ông tưởng gì chỉ nhớ là con Hai Thắm thôi. Mà nhớ được cũng là nhờ cái nốt ruồi con ve trâu trên trái tai kia kìa! Bà Huyện Xuân đưa tay lên sờ vào nốt ruồi ở gần vành tai, rồi cười: - Bà Tư nhớ dai thiệt. Trong lúc với mấy người kia con phải nhắc tới đủ thứ họ mới nhớ ra. Gần ba chục năm rồi còn gì... Cuộc hội ngộ tuy có bất ngờ, nhưng do đã sinh ra và lớn lên đến năm hai mươi tuổi ở xứ này, nên chỉ sau một lúc là nhiều người đã tới thăm và hỏi chuyện thân tình hơn. Bà Huyện Xuân phải lên tiếng: - Tôi có chút việc muốn hỏi thăm bà Tư, nên xin hẹn với bà con chiều nay hay sáng mai sẽ tới từng nhà thăm. Tôi còn ở lại đây vài hôm nữa. Khi mọi người tản ra hết, bà Huyện Xuân mới hỏi thẳng: - Bà Tư còn nhớ cô đào hát Sáu Ngọc không? Nghe nhắc cái tên đó, bà Tư Trầu giật mình, nhìn trước nhìn sau rồi mới đáp: - Con nhỏ chết linh lắm! Bà Huyện Xuân tái xanh mặt: - Chết khi nào bà nhớ không? Mọi chuyện như hiển hiện ngay trước mắt bà già tuổi đã trên tám mươi, bà thở dài nói: - Ngay khi mày đi lấy chồng được vài tháng. Bất giác bà Huyện Xuân kêu khẽ: - Thảo nào? - Mày còn nhớ nó sao? Nó chết cũng bởi vì mày... Câu nói của bà già càng làm cho sắc mặt bà Huyện Xuân thêm tái xanh: - Con đâu có ngờ... con tưởng đâu cô ấy đã lấy chồng khác rồi... Bà Tư Trầu thở dài: - Lấy chồng sao được khi mối tình lớn nhứt của nó là thằng Ba Thành đã bị mày giành mất! Nó buồn, nó hận đời nên bận nguyên bộ đồ màu đỏ rồi lao vào đàn trâu ăn cỏ khiến lũ trâu hoảng loạn, húc nó chết, thân thể treo lơ lửng trên sừng trâu, phải hạ con trâu mới lấy được xác nó! - Trời ơi, chuyện một cô gái bị trâu chém chết năm đó là Sáu Ngọc sao? Bà Tư Trầu ứa nước mắt: - Lúc ấy mày đã theo chồng về làm ở tòa bố tỉnh Trà Vinh, nên đâu có rõ vụ ấy. Chính là con Sáu Ngọc đó! Mà cũng lạ, sao mày giựt thằng Ba Thành trong tay con Ngọc, mà sau đó ở đây người ta đồn mày lấy thằng công chức làm ở tòa bố tên là Xuân? Có phải rồi mày cũng bỏ thằng Ba Thành không? Sao bỏ dễ quá mà giành giựt chi làm cho con Sáu Ngọc nó mất mạng và thảo nào nghe nói thằng Ba Thành sau đó buồn tình đi làm ăn cướp, giết người... Điều tiết lộ này khiến bà Huyện Xuân hoảng: - Bà Tư nói Ba Thành... đi ăn cướp sao? - Ủa, mày không biết chuyện ấy hả? Nghe nói chính nó đã gây ra mấy vụ cướp lớn ở thị xã Trà Vinh thời mấy chục năm trước! Mà cũng tội cho thằng đó, vốn hiền lành, lại sa vào con đường ấy chỉ vì chữ tình. Vì mày đó, Hai Thắm à! Bà Huyện Xuân sững sờ: - Ăn cướp, giết người... trời ơi! Bà Tư Trầu ngạc nhiên: - Mày sao vậy Thắm? Bà Huyện Xuân đang nhớ lại cái đêm bọn cướp bịt mặt xông vào nhà ba chồng của bà và một tên đã đưa dao bầu chém thẳng xuống đầu của vợ chồng bà, may nhờ người mà được biết là thầy Hai Hội cứu kịp thời. Trong lúc bà Huyện Xuân còn thả hồn về quá khứ thì bà Tư Trầu lại nói: - Nghe nói sau này thằng Ba Thành bị lính bắn chết khi chận đoàn xe chở tiền của nhà nước. - Trời ơi! Trước sau gì bà Huyện Xuân cũng chỉ biết kêu trời. Bởi trong lòng bà quá khứ đầy tội lỗi đang sống lại. Cả hai cái chết của hai người tên Sáu Ngọc và Ba Thành đều do bà gây ra cả. Nhất là Ba Thành, sau một thời gian chung sống từ mối tình cướp giật trong tay cô đào hát nghèo Sáu Ngọc, bà đã bỏ rơi người tình để chạy theo người công chức giàu có sau này là ông Huyện Xuân. - Thôi, nhắc lại chuyện cũ để nhớ thôi, chớ đã lâu quá rồi, mọi thứ đã trở về cát bụi, đâu còn nghĩa lý gì nữa. Mà nè con Hai, mày lại về đây hỏi con Sáu Ngọc làm gì? Bà Huyện Xuân giọng thễu não: - Cháu có chuyện này... chẳng hiểu sao từ lâu cháu không thấy cô Sáu Ngọc, mà gần đây đêm nào cháu cũng mơ thấy. Cô ấy khiến cháu mất ăn mất ngủ, cháu định về đây hỏi bà ngày mất của cô ấy để cúng và xin thỉnh cái vong của cổ đưa vô chùa. Bà Tư Trầu chép miệng: - Từ ngày chết thảm, con Sáu Ngọc hiển linh và cả làng này ai cũng sợ nó! Do nó chết trên sừng trâu, nên sau này cứ hiện hình trên lưng trâu, xua trâu chạy khắp làng đuổi thiên hạ chạy cong đuôi. Cũng may là nó chưa giết chết ai... Bà Tư Trầu chợt chùng giọng xuống: - Mà cũng kỳ lạ lắm, mấy người bị trâu đuổi hầu hết là đàn bà. Mà người nào khi sắp bị trâu húc phải cũng đều nghe một giọng nói kỳ lạ, nghe rất giống giọng của con Sáu Ngọc, nó nói: Không phải! Không phải! Rồi tha cho những người bị nó rượt! Bà Huyện Xuân kinh hãi: - Con trâu điên! Phải chăng... Bà nhớ lại bữa xe mình đang đi thì bị hai con trâu lao vào, suýt chết. - Đúng rồi! Bà Tư Trầu hỏi lại: - Mày nói đúng cái gì? - Dạ... dạ không. Bà Huyện Xuân tính rút lui, nhưng chợt rùng mình khi nhớ tới chi tiết bà Tư Trầu kể Sáu Ngọc hay hiển linh và đứng trên lưng trâu rượt đuổi mọi người trong làng này, nên bà lo sợ, lưỡng lự... thấy vậy bà Tư Trầu lên tiếng: - Hay là tối nay mày ngủ lại đây cho vui. Tuy mày với con Sáu Ngọc cháu tao có mối hiềm khích, nhưng tao vẫn coi mày như con cháu trong nhà. Tao mừng gặp lại mày, như từng thấy lại con Sáu Ngọc vậy. Bà Huyện Xuân cảm động, nhưng trong lòng vẫn không yên. Bà cảm nhận cuộc báo oán của vong hồn Sáu Ngọc như đang cận kề bên mình... Ở lại đây ngủ thì không thể, nhưng còn về thì... lỡ xảy ra chuyện thì sao? Còn đang lưỡng lự, bỗng có một bóng người bước vô. Vừa quay lại nhìn, Bà Huyện Xuân đã hết hồn: - Là... thầy Hai Hội đây sao? Bà Tư Trầu càng kinh ngạc hơn: - Anh... anh Hai? Anh là ba con Sáu Ngọc? Hai Hội giọng từ tốn: - Chính là tôi. Mấy chục năm rồi tôi mới có dịp tới cám ơn bà về những ngày bà đã cưu mang con Sáu Ngọc, khi nó bỏ nhà theo gánh hát lang bạt đây đó. Bà Huyện Xuân thất kinh: - Ông đây là... cha của cô Sáu Ngọc? Ông chưa kịp trả lời thì bà Tư Trầu đã kêu lên: - Ông đã... chết từ trước khi con Sáu Ngọc mất lận mà! Phải vậy không? - Phải! Câu trả lời gọn lỏn đó làm cho bà Huyện Xuân điếng hốn: - Thì ra ông là... là... - Là một hồn ma! Chớ nếu không phải ma thì làm sao mấy lần cứu cô và gia đình được! Ông quay sang bà Tư Trầu, nói: - Bữa nay tôi có việc nói riêng với bà Huyện đây, vậy xin phép bà, ngày mai tôi sẽ tới gặp lại. Ông quay sang bà Huyện Xuân giục: - Bà ra ngoài tôi cần nói chuyện. Đừng sợ, con Sáu Ngọc sẽ không làm gì khi có tôi bên cạnh, bà cứ yên tâm. Bà Huyện Xuân sau một lúc lưỡng lự mới dám bước theo ông ra ngoài. Trời tối đen, nên cơn sợ của bà càng tăng thêm. Nhưng ông thầy Hai đã trấn an: - Hồn ma cũng có nhiều loại thiện, ác giống như loài người. Đúng là oan hồn con Sáu Ngọc nó có hung ác, nó cố theo dấu chân của bà để quyết tâm báo thù, nhưng vẫn còn có tôi, một hồn ma biết thế nào là oán nên cởi chớ không nên buộc, nên bà cứ yên tâm, con Sáu Ngọc không làm hại bà lúc này được đâu. Đi một lúc, tới trước một ngôi miếu vắng, ông già nói: - Bà ở đây, rồi tôi cho bà gặp hai đứa nó. - Dạ, gặp ai? - Con Sáu Ngọc và thằng Ba Thành! Bà Huyện Xuân hốt hoảng: - Ông... ông hại cháu sao? Ông già giọng nhân từ: - Ta đã nói rồi, ta là một hồn ma chỉ biết giúp người thôi chớ chưa hại ai bao giờ. Hôm nay ta muốn nhân tiện giải tỏa mối hằn thù giữa bà và tụi nó. Mấy lần tụi nó tìm cách báo thù bà và cả con gái bà nữa, ta đều xuất hiện kịp thời, ngăn chận được. Tụi nó tuy có tức tối, nhưng cuối cùng cũng nghe lời ta, đồng ý sẽ bỏ qua, với điều kiện... Ông ngừng nói, đưa mắt nhìn sang bà Huyện Xuân và lát sau lại tiếp: - Tụi nó muốn bà đích thân xây lại ngôi miếu hoang này, để tụi nó có chốn nương tựa, như vậy coi như bà đã chuộc lỗi rồi. Bà Huyện Xuân mau mắn: - Dạ, con xin nghe theo. Ông già tiếp lời, giọng tình cảm hơn: - Con Sáu Ngọc là con gái út của tôi. Năm nó lên tám tuổi thì gia đình tôi gặp nạn phá sản và do tôi còn thiếu nợ ông chủ tỉnh một số tiền lớn, nên bị ông ấy siết nợ, lấy nhà và bỏ tù tôi. Quá uất ức nên tôi tự sát trong nhà lao. Ở nhà vợ con tôi lao đao, khổ sở, con cái tứ tán mỗi đứa một nơi. Con Sáu Ngọc đi theo gánh hát là vì lý do đó... Bà Huyện Xuân vụt hỏi: - Bởi đó nên ông mới hại con trai ông tỉnh trưởng để trả thù? Ông già chùng giọng xuống: - Không phải tôi làm, mà do thằng Ba Thành. Nó vừa báo thù cho tôi, vừa báo thù bà... qua con gái của bà. Nói thiệt, tôi chậm chân một chút nên cậu Toàn mới chết, chớ tôi không muốn hại ai hết. Nhưng mà thôi, âu cũng là duyên số. Và ít ra bà cũng nên chịu thiệt thòi đôi chút, để từ nay giải tỏa hết... Ông ngừng một lúc, rồi tiếp bằng giọng nhẹ nhàng hơn: - Cũng tội nghiệp cho cậu Toàn, con nhà quyền thế mà tánh tình dễ thương, nên tôi đã cho sắp đặt để từ nay cậu ấy vẫn ở bên con gái bà, miễn là cô ấy đừng lấy chồng khác... Bà Huyện Xuân lo lắng: - Chẳng lẽ đời con gái tôi phải chịu góa bụa suốt hay sao? Ông già thở dài: - Đó là một chút đánh đổi mà bà phải nhận. Còn nếu không làm như vậy thì con gái bà sẽ có không dưới sáu đời chồng, lại khổ sở long đong. Tùy bà chọn thôi... Bà Huyện Xuân đành phải gật đầu: - Dạ, con xin nghe... *** Có một chuyện rất lạ xảy ra trong nhà Huyện Xuân mà nhiều người thắc mắc, nhưng chẳng ai biết được nguồn cơn, đó là việc cô con gái rượu của họ vĩnh viễn không lấy chồng. Có người không tin chuyện ấy, bảo rằng với nhan sắc như Cẩm Hồng mà chịu ở góa thì có trời mà tin!Vậy mà nhiều năm sau vẫn chẳng thấy cô ta chồng con gì. Đùng một cái, hai năm sau người ta thấy có hai đứa bé con hơn một tuổi xuất hiện trong nhà. Rồi khi chúng biết đi, biết nói, có dịp bước ra ngoài, ai có hỏi cha chúng là ai thì cả hai đều trả lời không cần suy nghĩ: - Chúng con là con của ba Toàn. Gia đình Huyện Xuân cũng chẳng cần giải thích thêm. Họ chấp nhận như vậy. Phần Cẩm Hồng thì từ đó sống lạc quan, không mấy khi bước ra khỏi nhà vào ban ngày. Chỉ có người trong nhà mới biết, cứ vào nửa đêm thì cô ta sửa soạn, trang điểm thật tươm tất và đẹp lộng lẫy, hỏi để làm gì thì cô đáp trong hạnh phúc: - Giờ đó anh Toàn mới về. Mối tình kỳ lạ ấy kéo dài qua năm tháng... Đến khi ông bà Huyện Xuân qua đời thì người kế nghiệp là Cẩm Hồng. Người ta lại càng quá đỗi ngạc nhiên khi thấy cơ nghiệp nhà đó càng ngày càng phát đạt. Hỏi bí quyết nào giúp cho một cô gái chỉ biết hưởng thụ lại thành công được như vậy thì Cẩm Hồng đáp: - Nhờ nhà tôi! |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 46
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXXVI:HẸN EM KIẾP SAU Chương 1 Chuyến xe oan nghiệt NXe vừa qua khỏi địa phận tỉnh Kompong Thom thì hầu như người nào trên xe cũng ngủ say. Tài xế Thạch An, người Cambốt nhưng nói tiếng Việt khá rành, lên tiếng hỏi: - Có vị nào cần ngừng lại nghỉ ngơi không? Chẳng nghe ai đáp, Thạch An chép miệng: - Ngủ gì mà mau vậy, mới lên xe đây mà... Sở dĩ Thạch An hỏi vậy là bởi phía trước cách chừng hai chục cây số sẽ có một trạm đổ xăng, có thể tranh thủ nghỉ ngơi rồi mới đi tiếp về Siêm Riệp. Mười lăm phút sau, dẫu không được ai trả lời nhưng Thạch An vẫn cho xe tấp vào một góc trạm xăng, rồi lên tiếng lần nữa: - Ai có đi vệ sinh hay xuống thư giãn một chút thì cứ xuống, có lẽ ta nghỉ khoảng nửa giờ, đợi trời sáng sáng một chút mới đi cho an toàn bởi đoạn đường phía trước hơi xấu. Anh ta đứng lên đưa tay bật đèn sáng và quay lại nhìn một lượt theo thói quen trước khi rời xe. - Ủa? Anh ta kêu lên một tiếng lớn khiến cho mấy nhân viên của trạm xăng đang ngủ gà ngủ gật bên dưới cũng phải giật mình, hỏi vọng lên: - Chuyện gì vậy? Thạch An la lớn: - Sao khách trên xe đâu hết rồi? Mấy nhân viên cây xăng cười rộ lên: - Khách trên xe anh mà hỏi tụi tui? Trời đất! Tuy nói vậy nhưng vài người cũng mở cửa xe bước lên xem. Lúc đó họ mới sững sờ: - Mà người đâu hết rồi? Bộ bữa nay dư xăng sao anh chạy xe không tới đây vậy Thạch An? Thạch An ngơ ngác: - Tui chở đầy xe mà! Nhưng sao lại... Cũng không thấy lơ xe Danh Nơ đâu, Thạch An càng sợ: - Làm sao có chuyện kỳ vầy nè? Các người kia vẫn cười chọc Thạch An: - Thạch An bữa nay sảng rồi! Xách xe không chạy mà hỏi người thì kiếm đâu ra? Thạch An quả quyết: - Tui rời tiệm cơm ở chợ Kompong Thom lúc chín giờ, khi ấy tui còn đếm lại cho đủ số người rồi mới đi mà. Đâu lẽ nào... Anh ta ngơ ngác như người từ trên trời rơi xuống. Trong đời lái xe hơn sáu năm nghề, chưa bao giờ Thạch An gặp trường hợp này. Không tin vào mắt mình, Thạch An đích thân bước dọc theo đường giữa xe, kiểm tra từng hàng ghế cho tới hàng cuối cùng. Các hàng ghế hoàn toàn trống, nhưng hành lý thì còn nguyên. Một người dưới trạm xăng nói: - Hay là anh mơ ngủ rồi lên xe chạy mà bỏ hành khách lại hết ở trạm trước rồi? Vậy thì chạy trở lại đón người ta đi, chớ giữa khuya này họ lấy xe khác đâu mà đi. Dẫu không tin là mình đãng trí đến như vậy, nhưng cuối cùng Thạch An cũng đành phải làm như vậy. Anh quay đầu xe, vừa chạy được vài trăm thước thì chợt nghe có tiếng nói phía sau lưng: - Ủa, sao anh chạy trở lại đường cũ? Đang cho xe lăn bánh ngon trớn, Thạch An thắng gấp ngay giữa đường, quay lại ngay và... điếng hồn, bởi trên xe lúc ấy có đầy đủ hành khách! Không tin được hình ảnh trước mắt, Thạch An đứng lên hỏi lớn: - Nãy giờ quý vị ở đâu vậy? Một hành khách ngồi băng ghế trước ngơ ngác: - Bác tài hỏi kỳ vậy? Tụi tui ở trên xe này chớ đâu! - Nhưng vừa rồi ở trạm xăng tui kiểm tra thì đâu thấy ai? Mọi người cười rộ lên: - Bữa nay bác tài bị mơ ngủ rồi! Thảo nào bác mới quay đầu xe lại phải không? Thạch An hoang mang đầu óc, chưa biết phải nói gì thì một giọng nói nhẹ nhàng của một cô gái cất lên: - Mấy người chưa vợ đôi khi còn bất thường hơn là người già nữa! Thạch An đã chở đoàn khách này từ Sài Gòn qua Nam Vang, rồi từ Nam Vang lên đây suốt hai ngày rồi, nên Thạch An nhớ rõ từng người khách một. Kể cả chỗ ngồi của vị khách nữ này cũng không đúng, đó là của một bà cụ. Thạch An ngập ngừng hỏi: - Hồi tối này cô ngồi đâu? Cô gái choàng chiếc khăn trùm gần kín khuôn mặt, giờ bỗng lột khăn ra, nhìn Thạch An cười: - Anh không nhớ em sao? Thạch An thảng thốt kêu lên: - Mỹ Lệ! Sao em ở đây? Cô gái choàng lại khăn, vẫn cười: - Em đã lên xe ngay từ bến Sài Gòn, có lẽ do em lúc nào cũng choàng khăn nên anh nhận không ra chớ em thì đã theo dõi anh từ đầu. Thạch An không thể nào ngờ được, anh vẫn thắc mắc: - Nhưng... chỗ em ngồi đâu phải ở đây? - Đúng rồi! Tối qua em ngồi tít đằng sau, hồi nãy em mới thương lượng và được người ngồi ở đây đổi chỗ. Nhưng sao anh lẩm cẩm vậy? - Sao? Anh lẩm cẩm gì? - Thì không thấy hành khách trên xe trong khi họ ngồi đông đủ cả! Thạch An vẫn quả quyết: - Anh không thể nhìn lầm được. Lúc nãy chính mấy người ở cây xăng cũng thấy như anh, chớ đâu phải riêng anh. Mấy người khách khác trên xe cũng lên tiếng: - Chắc tài xế bị bệnh rồi, như vậy mà lái xe thì chúng tôi làm sao dám đi! Người phụ lái nãy giờ ngủ gật, vừa tỉnh lại vội nói: - Thôi, để tui lái thay cho, anh ngồi nghỉ một lúc cho tỉnh táo lại đã. Dẫu không muốn, nhưng trước sự yêu cầu của hành khách, Thạch An cũng phải rời tay lái, xuống ngồi chiếc ghế ngay cạnh Mỹ Lệ. Anh cố giải thích: - Anh chưa bao giờ bị hoa mắt cả. Rõ ràng... Mỹ Lệ ngăn không cho Thạch An nói tiếp: - Tốt hơn hết là anh cứ ngủ một giấc cho đầu óc tỉnh táo lại đã. Lái xe mà, đâu phải lúc nào cũng được như ý. Thôi, nói chuyện riêng với em đi. Sao lâu nay anh không ghé qua nhà chơi? Thạch An dẫu đang muốn tiếp tục thanh minh tình trạng của mình, nhưng nghe Mỹ Lệ hỏi, anh đành trả lời: - Do anh cứ ngày chạy ngày nghỉ, lại đường xa, nên mệt nhoài, đâu có thời giờ thăm viếng ai. Mà lâu nay em có khỏe không? Cô nàng nguýt Thạch An một cái: - Dữ hôn! Chắc em mà có chết anh cũng không hay nữa. - Anh xin lỗi... - Về mà xin lỗi ông bà già, chớ em đâu dám bắt lỗi ai! - Thôi mà... Bỗng cô nàng nghiêm nét mặt lại, nhìn thẳng vào mắt Thạch An hỏi: - Có phải anh đã... lấy vợ bên này rồi không? Câu hỏi làm cho Thạch An giật mình. Anh lúng túng thấy rõ: - Đâu đâu có chuyện đó, anh chỉ quá bận thôi... - Bận đến quên cả lời hứa là đầu năm sẽ về làm lễ hỏi em phải không? Anh có biết là cả nhà em đã trông ngóng thế nào không? Má em đã khóc hết nước mắt vì bà lỡ lời nói với bà con chòm xóm là sẽ gả con vào tháng giêng vừa rồi. Vậy mà... Thạch An không còn vẻ hoạt bát như lúc nãy, anh nói lí nhí trong miệng: - Anh... anh quá bận. Anh chỉ... Mỹ Lệ đột nhiên ôm mặt khóc nức nở, Thạch An quýnh lên, nói thật khẽ: - Em đừng khóc. Để anh... anh kể cho nghe! Khóc người ta sẽ cười cho. Mỹ Lệ vẫn nói với nước mắt ràn rụa: - Anh biểu em phải cười khi trong bụng em có mang giọt máu của một người mà nhìn người đó đi ở với người con gái khác sao? Thạch An bối rối, líu cả lưỡi: - Đâu... đâu có.., anh đâu có... Mỹ Lệ móc trong túi ra một tấm ảnh và gắt lên: - Vậy hình này của ai? Thạch An điếng hồn, bởi trong ảnh là hình anh và người phụ nữ khác, trông cả hai rất tình tứ. - Cái này... cái này... Giọng Mỹ Lệ đanh lại: - Em đã biết hết rồi, cả ba má em cũng biết. Và em đi chuyến này là để gặp tận mặt anh, hỏi anh lần cuối coi anh trả lời ra sao thôi. Như cái bong bóng xì hơi, Thạch An rũ người trên băng ghế và ước gì mình có thể tan biến đi được. Giọng của Mỹ Lệ vẫn đều đều: - Chắc anh đâu còn nhớ những lời hứa trước đây, nào là tháng giêng anh sẽ về cưới em, rồi sau đó sẽ đưa em về Nam Vang chung sống. Em là đứa con gái quê mùa, chỉ biết yêu và tin những gì người yêu đầu đời của mình hứa, để rồi giờ đây bị vỡ mộng với nỗi đau ê chề. Nhất là cái thai trong bụng này... Thạch An vẫn cố không để tình hình căng thêm, anh đưa tay sờ vào bụng Mỹ Lệ, vừa hỏi: - Được mấy tháng rồi? Mỹ Lệ gạt tay anh ra, đáp cộc lốc: - Hơn sáu tháng rồi! Trong đầu Thạch An chợt thầm tính ngày cuối cùng anh về thăm Mỹ Lệ ở Trà Vinh, đúng là hơn năm tháng rồi... - Vậy thì... chỉ còn mấy tháng nữa là sinh con phải không? Mỹ Lệ lại nhìn xoáy vào mắt anh chàng: - Hay là anh nghi ngờ nó không phải con anh? Thạch An quýnh lên: - Đâu... đâu có. Anh tính xem mấy tháng nữa thì phải lo cho em. Anh hứa mà... Mỹ Lệ trề môi: - Lời hứa gió bay thôi! Mà đã bay rồi còn gì... Cô đứng phắt dậy và đi về phía cửa sau xe, sau đó vỗ vào thành xe ra hiệu cho xe ngừng lại. Thạch An định lên tiếng bảo phụ xế đừng ngừng, nhưng tự dưng anh thốt không thành lời, trong lúc đó xe đã ngừng. Đúng lúc đó Thạch An bị hoa mắt và mọi vật trước mặt anh như mờ đi. Anh nghe có nhiều bước chân chung quanh và rồi không còn biết gì nữa. *** Thạch An không tin vào mắt mình khi nhìn thấy trước mắt toàn là sông nước. Anh bật ngồi dậy thì suýt nữa đã té xuống nước, bởi lúc ấy anh đang nằm trên một chiếc xuồng nhỏ, trôi giữa dòng.- Đây là đâu? Thạch An tự hỏi rồi đưa mắt nhìn khắp chung quanh, bất chợt anh kêu lên: - Biển Hồ! Dù đã sinh ra và lớn lên ở đất nước Chùa Tháp này, nhưng chưa bao giờ Thạch An đặt chân tới vùng Tònglê Sáp hay còn gọi là Biển Hồ này, nhưng nhìn biển nước mênh mông trước mắt Thạch An đã chợt nghĩ tới cái hồ lớn như biển từng nghe nói. Đến lúc này Thạch An mới dần nhớ lại những gì đã xảy ra hồi đêm, nhất là Mỹ Lệ, anh hỏi lớn: - Mỹ Lệ! Em đâu rồi? Dĩ nhiên là chẳng có ai trả lời, chỉ có tiếng gió rít và cái nắng rát da phả vào mặt khiến Thạch An khó chịu. Anh càng lo sợ hơn, bởi lúc ấy chiếc xuống nhỏ cứ trôi theo luồng nước chảy mà không biết là đang đi về đâu. Chẳng có ai để hỏi thăm, cũng chẳng có vật gì có thể chèo chống chiếc xuồng lái theo ý mình. Đã từng nghe nói Biển Hổ này rộng chẳng khác một cái biển thật, một khi nó trôi đi thì chẳng biết là về đâu nên Thạch An chụm hai bàn tay lại làm loa, kêu thật lớn: - Cứu tôi với! Anh kêu đến khản cả cổ mà chẳng hề có ai hồi đáp. Lúc đó bỗng một cơn gió mạnh thổi tới làm chiếc xuồng chao đảo và trôi giạt qua phía trái của hồ. Vài phút sau thì một cơn mưa khá to ập xuống, Thạch An chỉ còn biết nhắm mắt lại và cầu trời... Gió càng lúc càng đưa chiếc xuồng trôi nhanh hơn. Vừa lạnh vừa sợ, Thạch An hai tay bám chặt lấy be xuồng, mắt nhắm nghiền... Cho đến khi chiếc xuồng đụng mạnh vào một vật gì đó chao đảo rồi đột ngột ngừng lại. Lúc này Thạch An mới mở mắt ra và bắt gặp ngay trên đỉnh đầu mình một cái bọc to tướng, giống như một đòn bánh tét lớn cỡ một thân người, đang treo lơ lửng giữa hai chánh ba cây. Một mùi khó ngửi hình như toát ra từ cái bọc đó, chợt làm cho Thạch An nhớ lại lời người ta kể kiểu mộc táng (chôn xác trên cây) mà người ở vùng nước nổi quanh năm này hay áp dụng, anh lắp bắp thốt lên: - Đây... đây là... xác... xác người ư? Anh cố đẩy chiếc xuồng ra khỏi chỗ đó, nhưng gió quá mạnh đã làm cho thân xuồng dính chặt vào gốc cây, không làm sao lay chuyển được. Phải mất gần nửa giờ sau, ở lần cố gắng đẩy cuối cùng, Thạch An mới đưa được xuồng tách ra được, nhưng lập tức bị gió đẩy mạnh va vào một gốc cây khác. Lần va đập này mạnh hơn, khiến chiếc xuồng bị lật úp và Thạch An bị văng xuống nước. Khi đưa tay vớ được một nhánh cây vừa nhô lên khỏi mặt nước Thạch An đã được bàn tay của ai đó nắm lấy và kéo mạnh lên. Lúc này Thạch An mới nhận ra chỗ anh vừa được kéo đó là một cái chòi nhỏ và người đưa tay cứu anh là một ông lão ăn mặc rách rưới. Thạch An chưa kịp hỏi thì ông già đã lên tiếng trước: - Cứ nằm nghỉ đi, để già lau khô cho, coi chừng bị cảm lạnh đó. Giọng nói khô khan và lơ lớ của ông chứng tỏ ông ta là một người Việt Nam nhưng sống ở vùng này lâu đời rồi nên tiếng nói có phần cứng. Ông không nghĩ là Thạch An biết nghe tiếng của mình, cho đến khi Thạch An lên tiếng: - Cám ơn bác, cháu lạnh quá! Lúc ấy ông mới hỏi dồn: - Cậu là người Việt Nam? Sao cậu lại trôi tới đây? Thạch An chỉ lắc đầu, ngầm cho ông biết là anh quá mệt. Ông già nhanh nhẹn quay sang cạnh lấy chiếc khăn cũ kỹ đưa cho Thạch An và bảo: - Cậu lau đi cho khô! Rồi ông tự động lột quần áo của Thạch An ra, lấy quần áo cũ của mình cho anh thay. Nhờ vậy lát sau Thạch An đã cảm thấy ấm và tỉnh táo lại. Lúc này ông già mới hỏi: - Sao cậu lại lạc tới đây? Bộ bơi xuồng ở gần bờ rồi bị gió thổi qua tới bên này hả? Thạch An đâu hình dung được nơi này, nên anh chỉ nói: - Cháu chỉ nhớ là mình đi tới gần Siêm Riệp rồi chẳng biết gì nữa... Ông lão ngạc nhiên: - Cậu đi xe mà sao lại lạc xuống Biển Hồ này được? - Cháu cũng không rõ... Dần nhớ lại chuyện trên xe, Thạch An hỏi: - Nơi đây có gần bờ không bác? Ông già lắc đầu: - Nói thiệt với cậu, tui cũng là người Việt, lưu lạc từ Châu Đốc sang tới đây hồi mười bảy tuổi, mà nay đã gần bảy chục rồi, chưa từng bước lên bờ của xứ sở này, nên hoàn toàn không biết gì nơi đây cả, ngoài cái chòi này và mấy dặm nước quanh đây. Rồi ông đột ngột hỏi: - Bộ cùng đi với cậu có nhiều người nữa hả? Thạch An giật mình: - Sao bác biết? - Thì hồi sáng sớm này cũng có một người bị chết trôi tới đây, cô ấy bận đồ giống dân thành thị, có thể từ Nam Vang tới, hoặc cũng có thể là dân Việt mình, bởi tui nhìn thấy cái khăn quàng cổ có mấy chữ Việt. Tự dưng Thạch An hốt hoảng: - Cô ấy đâu rồi? Ông già chỉ tay ra xa xa: - Ở đây chết không có đất để chôn, nên sáng nay tui đã dùng chiếu bó xác cô ấy lại rồi treo trên cây kia, chớ biết làm sao bây giờ. Ở đây người ta kêu là mộc táng đó! Nhớ đến Mỹ Lệ, anh run giọng hỏi: - Cái khăn quàng cổ đó ở đâu? - Tui đã chôn theo xác cô ấy luôn rồi. Mà sao cậu quan tâm tới cái xác ấy vậy? - Bởi vì... cô ấy có thể là... Thạch An không tiện nói ra, nhưng nhất quyết đòi nhìn cho được cái xác đó. Ông lão lắc đầu: - Khó khăn lắm tui mới bó được xác và đưa lên cây chôn cất. Như cậu thấy đó, mưa gió và nước ngập như thế này, đâu dễ gì chôn được xác chết. Thạch An van lơn: - Cháu xin bác, chính cháu sẽ tiếp tay với bác kéo cái xác xuống, bởi cháu nghi đó là... vợ chưa cưới của cháu. Hồi đêm qua cô ấy đi chung chuyến xe với cháu, rồi giận bỏ xuống giữa đường, thật khó mà tới đây, nhưng những gì bác kể cháu nghĩ có thể là... Ông lão lắc đầu: - Từng tuổi này rồi tui mới gặp chuyện như vầy lần đầu. Mà thôi cũng được, xác cũng mới bó chiếu, có mở ra cũng không sao. Đợi trời hơi ngớt mưa, ông lão kéo chiếc xuồng của Thạch An chìm lúc nãy lên, rồi ông bảo: - Cậu phải tiếp tui đưa cái xác xuống xuồng, rồi chở về chòi này, sau đó mới mở ra. Mà cậu có sợ không đó? Thạch An nói thật lòng: - Sợ thì có sợ, nhưng nghĩ tới cô ấy thì cháu lại tự tin. Ông lão định hướng rất chính xác, nên tuy trời mờ trong mưa, vậy mà ông chống chiếc xuồng tới đúng chỗ gốc cây mà lúc nãy Thạch An đã nhìn thấy cái gói to như đòn bánh tét khổng lồ. Thạch An kêu lên: - Lúc nãy cháu dừng xuồng ở đây và đã thấy cái này rồi! - Quan tài chôn người ở vùng ngập nước này là như vậy đó! Nào, cậu đỡ một đầu, ta đưa cái xác xuống xuồng. Ông lão tỏ ra rành chuyện này, nên chỉ chưa đầy mười phút sau cái xác đã được đưa xuống khoang. Ông giục: - Bây giờ ta trở về nhà. Ông dùng chữ "nhà" xong thì chép miệng nói tiếp: - Tui đã sống gần cả đời trong cái chòi gọi là nhà đó ở đây, cậu thấy có khổ không? Dù đang sốt ruột bởi cái xác, nhưng Thạch An cũng tò mò hỏi: - Sao bác không kiếm chỗ nào cất cái nhà mà ở cho tiện nghi hơn? Ông lão cười nửa miệng: - Chung quanh Biển Hồ này chỗ có đất khô thì ở xa bên trong, mà người như tui và hầu hết dân Việt lên đây sống đều cần ở ngay vùng có nước, để làm nghề đánh bắt cá. Xa cái nghề này thì lấy gì mà sống? Họ đưa cái xác trở lại chòi và ông lão từ từ mở dây cột ra. Sau một lớp chiếu cũ thì tới một lớp dày những lá cây, vỏ cây và sau cùng là cái xác. Nhưng khi cái xác lộ ra thì chẳng riêng Thạch An kinh ngạc, mà ngay như ông lão, người trực tiếp liệm xác cũng phải kêu lên: - Sao lại như vậy? Bởi bên trong cùng chỉ là một bộ xương khô! - Ủa, đâu thể nào... Ông lão kêu lên rồi hết nhìn cái xác lại nhìn Thạch An. Anh chàng cũng sững sờ: - Bác nói mới chôn xác hồi sáng này? - Thì mới hồi mặt trời lên khỏi ngọn cây đây. Đó là một cô gái khá đẹp, người ăn mặc rất đẹp, có cái khăn choàng... Ông vừa nói tới đó thì Thạch An đã kêu lên: - Cái khăn choàng đây rồi! Anh chụp chiếc khăn còn dính với bộ xương khô. Rõ ràng nó là chiếc khăn mà Mỹ Lệ choàng lúc ngồi trên xe! - Đúng là cô ấy đây rồi! Cái khăn này không thể sai được... Ông lão thì cứ ngồi thừ người ra, miệng lẩm bẩm: - Xác mới bó chiếu chưa đầy một buổi thì làm gì rã thịt trơ xương ra như vậy được? Điều này là không thể... không thể... Trời lúc này đã tạnh mưa hẳn. Chợt có tiếng lao xao phía trước, rồi tiếng khua chèo, sau đó là giọng nói của ai đó vang lên: - Ông Tư Sang có ở đó không? Tư Sang là tên ông lão trên chòi, ông ta lên tiếng: - Có đây! Tui cũng đang có ý trông các ông tới thì quả nhiên có thiệt. Ghé vô đây, tui có chuyện này muốn hỏi. Ba người đàn ông trên hai chiếc xuồng lớn với mấy giỏ cá, họ thấy có mặt Thạch An thì ngạc nhiên hỏi: - Người này là gì của ông vậy, ông Tư? Chợt nhìn thấy bộ xương, họ hỏi liền: - Sao ông đem cái xác trên cây xuống làm gì? Chỉ về phía Thạch An, ông lão đáp: - Cậu đây muốn nhìn mặt người thân, nhưng mới mở ra đã phải điếng hồn vía rồi. Theo mấy ông thì có khi nào cái xác mới liệm một buổi đã hóa thành xương cốt không? - Làm gì có, treo trên cây như vậy phải mất ít nhất là hai năm thì mới rã hết. Ông Tư Sang liền đem chuyện táng xác kể cho ba người kia nghe. Vừa nghe xong họ đã kêu lên: - Cái xác đó dám là của người trong chiếc xe đò rớt xuống sông Kongpong Thom lắm à! Thạch An không kể họ là người lạ, vụt hỏi liền: - Cái xe đó rớt xuống sông hồi nào mấy bác? Một người trong bọn họ liền kể: - Tụi tui mới ghé vô bờ bán cá, nghe người ta đồn nhau ầm ĩ chuyện có một chiếc xe đò chở đầy hành khách, chẳng biết do tài xế ngủ gục hay sao đó mà lái luôn xuống cầu. Nghe nói chẳng một ai sống sót, tui nghĩ có thể có một vài cái xác đã văng ra khỏi xe và theo dòng chảy về Biển Hồ này, rồi trôi tấp qua phía bờ bên này, bởi mùa này nước giạt về phía của chúng ta đây. Như bị điện giật, Thạch An đứng phắt dậy: - Cháu phải đi qua bờ bên kia đây! Mấy người nọ đều lắc đầu: - Trời đang mưa giông như vầy cậu làm sao đi được? Phải đợi ít nhất là ngày mai. Thạch An sốt ruột: - Cháu không thể đợi được! Chiếc xe đò mà các bác nói có thể là xe do cháu lái, trên đó có người yêu của cháu. Cô ấy đang mang thai gần ngày sinh rồi! Ông già Tư giật mình: - Có thai hả? Cô gái này hình như cũng... có thai! Xem lại chiếc khăn choàng mình còn cầm trên tay, Thạch An bàng hoàng: - Như vậy thì không thể sai được rồi. Mỹ Lệ ơi! Thạch An gào lên trong nỗi tuyệt vọng, rồi bất kể, anh gục đầu lên bộ hài cốt khóc nức nở. Ông già Tư phải kéo anh ra: - Cậu phải bình tĩnh lại đã. Những gì tui nói chưa chắc là đúng hoàn toàn đâu, bởi giờ đây cậu không nhìn rõ mặt xác chết, biết đâu... Mấy người kia cũng nói: - Chuyện xác chết trôi sông thì không thể nói chính xác được. Như cách đây mấy năm, đứa con gái của một người nhập cư bị mất tích, sau đó người ta vớt được một cái xác mặc bộ quần áo y chang, chỉ có khuôn mặt là bị cá rỉa hết nhận không ra, nhưng căn cứ vào quần áo, cha mẹ cô gái đưa xác con về mai táng... Hai tháng sau bất ngờ cô gái đó trở về cho biết là mình bị bọn người xấu bắt đưa về Nam Vang bán cho một động điếm, may nhờ có người tốt bụng giúp cô ta trốn thoát! Họ an ủi Thạch An đủ điều, nhưng nhớ lại lúc Mỹ Lệ giận dỗi bỏ xuống xe, Thạch An không thể nào yên tâm. Anh cố hỏi kỹ: - Sông chảy qua thành phố Konpong Thom có chảy ra Biển Hồ không? Ông già Tư đáp: - Thì hầu như mọi con sông lớn ở xứ này đều chảy ra Biển Hồ. Chỗ chúng ta đang ở đây là trực diện với cửa sông đó. Do vậy... Một người bổ sung chi tiết: - Mọi thứ từ trong con sông cái đó đều trôi ra đây. Bằng chứng là cậu, có phải cậu trôi từ trong đó ra không? Thạch An thừ người ra một lúc rồi lắc đầu đáp: - Cháu cũng không nhớ. Chỉ mang máng nhớ lúc ấy mình bị hoa mắt, ngất đi thôi... Chương 2 Cô gái bị đem bán Một thời gian sau... Thạch An đã trở về được nhà sau đúng một tuần sống trôi dạt cùng những người nhập cư trên Biển Hồ. Việc đầu tiên của Thạch An là ghé lại Kompong Thom để hỏi thăm tin tức về chiếc xe. Người nơi đó xác nhận: - Cách đây khoảng chục ngày có một chiếc xe chở khách bất thần lao xuống sông, nghe nói có một số người nhảy ra khỏi và sống sót, còn lại đa số đều chết theo xe. Nhưng mới hôm qua, khi người ta trục được chiếc xe lên thì không tìm thấy cái xác nào trong đó! Nhớ lại hiện tượng mọi hành khách biến mất đêm hôm đó, Thạch An thảng thốt: - Hay đúng là họ đã biến mất trước đó? Vả chăng Mỹ Lệ cũng đã xuống khỏi xe rồi mà? Nhớ lại chiếc khăn choàng, Thạch An reo lên: - Phải rồi, tục choàng khăn ở xứ Chùa Tháp này thì cô gái nào cũng giống nhau cả. Có thể người chết không phải là Mỹ Lệ chăng? Với tâm trạng nửa nghi nửa ngờ như thế, Thạch An trở về nhà. Cô vợ Sam Sam Sơ Ri của Thạch An vừa mừng lại vừa tức giận khi gặp lại mặt chồng: - Anh đi đâu mà biệt tăm biệt tích cả chục ngày nay vậy? Có phải đi theo con nào ở Siêm Riệp không? Thạch An kể lại chuyện mình đã trải qua thì chẳng những không tin, mà trái lại Sam Sam Sơ Ri còn lồng lộn lên: - Đúng như vậy rồi! Anh nói xe bị tai nạn, vậy sao người đi chung với anh trở về đây an toàn ngay sau hôm đó, có nghe họ nói xe bị tai nạn gì đâu! Thạch An cố cãi, nhưng khi Hiệp, cậu phụ lái xe cho anh xuất hiện thì mọi việc đảo lộn hết. Anh ta thuật lại: - Khi anh ngủ thì em lái, nhưng sau đó em phát hiện trên xe không có hành khách, giống như trước đó anh đã gặp phải. Em ngừng xe lại tìm hoài không thấy anh, trong lúc đang loay hoay thì bỗng chiếc xe tự nhiên trôi từ từ, rồi tuột luôn xuống sông! Em ở lại đó nhờ người giúp trục chiếc xe lên nhưng không được nên vội trở về đây báo tin. Không gặp anh em nghĩ chắc là anh đi đâu đó, chớ chắc chắn anh không có trong xe lúc nó rớt xuống sông. Sam Sam SơRi càng được nước làm căng thêm: - Anh tưởng lâu nay giấu kín rồi tui không biết hay sao? Anh và con đó... Cô ta nói tới đó chợt ngừng lại khi bà mẹ bước ra. Hình như bà ta nháy mắt ra hiệu gì đó khiến cô nàng phải bỏ ngang cơn giận. Tuy nhiên vẫn còn ấm ức, nên cô quay vào nhà trong mà sắc mặt còn đằng đằng sát khí. Thạch An ngơ ngác: - Có chuyện gì vậy mẹ! Bà Kham Sô xua tay: - Ôi, đàn bà ghen bóng ghen gió đó mà! - Nhưng... chưa bao giờ SơRi lại có thái độ như hồi nãy! Con muốn biết là con đã làm gì nên tội mà cô ấy đối với con tệ quá. Chuyện con vắng nhà vừa rồi đúng là con bị tai nạn mà. Tai nạn ấy cho tới giờ phút này con cũng chưa biết thực hư ra sao nữa. Mẹ đã từng biết Biển Hồ chưa? Con đã bị trôi giạt ra đó trong mấy ngày qua! Bà Kham Sô nhìn sững chàng rể: - Con nói đã ra tới Biển Hồ? - Dạ, con bị ngủ mê trên xe, đến khi tỉnh dậy thì thấy đang bị trôi trên Biển Hồ, may mà gặp được người cứu. Bà chép miệng: - Con nói toàn chuyện gì đâu không, đến mẹ còn không tin nổi, nói gì con SơRi. Thạch An vò đầu bứt tóc: - Con có nói gì cũng chẳng ai tin, vậy ai muốn nghĩ gì cũng được! Anh bỏ ra ngoài khu vườn bên cạnh nhà, nơi có ngôi nhà mát mà thường khi Thạch An vẫn ra đó ngồi mỗi khi cần thư giãn. Bà Kham Sô cũng hơi bực với thái độ của chàng rể, nhưng chưa tiện nói ra. Bà bước ra cửa định đi chợ thì chợt có một người từ bên kia đường bước qua, trông thấy bà người đó đã kêu lên: - Bà Kham Sô, tôi tìm bà từ hai hôm nay rồi! Nhìn sững người khách không mời, lúc đầu bà Kham Sô còn chưa nhận ra, nhưng sau đó bà hơi lúng túng: - Có phải cô là... là.... - Tôi là Sáu Đen ở Sài Gòn nè! Lúc ấy bà Kham Sô mới sững sờ: - Cô Sáu đây sao? Mà... mà sao cô tới đây? Bà Kham Sô có vẻ không tự nhiên, nhìn trước ngó sau rồi lôi tuột khách vào trong nhà. Sáu Đen lên tiếng trước: - Có chuyện cấp bách nên tui phải tìm lên bà ngay, không tuân theo lời bà dặn, xin bà thông cảm. Bà Kham Sô hạ thấp giọng: - Có gì nói nhỏ nhỏ... Sáu Đen có lẽ quen ăn nói bổ bả nên vẫn giữ giọng điệu như trước đó: - Chuyện đó tui làm xong cả nửa năm nay rồi, tưởng là êm. Nào ngờ vừa rồi con Mỹ Lệ lại hiện về làm dữ lắm! Câu nói đó lọt ra bên ngoài, Thạch An nghe được, anh giật thót người, nhưng kịp kiềm chế, cố lắng tai nghe kỹ hơn... Bên trong nhà hình như bà Kham Sô không còn hạn chế lời nói của khách được, nên mặc cho Sáu Đen tiếp tục: - Con nhỏ đó thành ma rồi! Mà nghĩ cũng tại tui, lúc hại nó tui không quan sát kỹ, chớ nếu để ý một chút thì tui đâu có hại chết một đứa đang mang thai! Giọng bà Kham Sô thảng thốt: - Nó có bầu sao? Sao nói nó mới cặp với thằng Thạch An mà? Sáu Đen tỏ ra rành rẽ: - Đâu phải mới! Tụi nó yêu thương nhau từ năm sáu năm rồi, trước khi thằng Thạch An lên đây lập nghiệp rồi cưới con gái bà. Tui mới tìm hiểu đây và thấy bất nhẫn quá. Thêm nữa chuyện con Mỹ Lệ hiện về đòi mạng mấy bữa nay khiến tui và mấy đứa đàn em không đứa nào ngủ được! Tui cũng xin báo cho bà hay, tui thì còn có thể giữ mồm giữ miệng được chớ mấy đứa đàn em chúng không giữ được đâu. Tui e chúng nó... Bà Kham Sô la lên: - Phải tìm cách bịt miệng chúng nó lại chớ! Sáu Đen hạ thấp giọng: - Tui hứa cho tụi nó thêm tiền và đưa tụi nó đi xa, nhưng tiền nong tui bây giờ yếu lắm... Bà Kham Sô gắt lên: - Tôi đã trả tiền công đủ cho cô rồi, mà số tiền cũng đâu phải là nhỏ. Vậy sao bây giờ còn có ý... Giọng Sáu Đen đầy vẻ giang hồ, thách thức: - Thật lòng tui muốn chuyện này êm xuôi, chớ đâu có làm khó dễ gì bà. Nhưng con Mỹ Lệ không phải là người, nó đã là ma, do đó tui đâu biết nó trả thù lúc nào! Tui sợ lắm rồi, nếu bà không giúp giải quyết tụi đàn em tui thì chuyện chúng nó đi tố cáo để chuộc tội là điều tui không thể ngăn cấm được. Đó là chưa kể oan hồn con đàn bà có thai mà bị chết oan, nó sẽ ra tay báo oán bất cứ lúc nào! Bà Kham Sô có vẻ trách móc: - Hồi đó tôi đã dặn rồi, chỉ cần dọa cho nó sợ mà rút lui khỏi thằng Thạch An, để bảo vệ hạnh phúc cho con gái tui. Chớ tui đâu có... Sáu Đen lớn tiếng: - Bà nói sao? Chớ không phải bà dặn làm bất cứ điều gì miễn là diệt tận gốc, để con Mỹ Lệ đó không còn tồn tại hay sao? Khi thực hiện xong phi vụ này tui đã báo cho bà biết khi bà xuống mua bán ở Sài Gòn, lúc ấy bà còn thưởng thêm tui về cách làm nhanh, gọn và hiệu quả nữa! - Nhưng mà... - Thôi, tui nói mau để bà dễ tính. Bây giờ bà cho thêm một ít nữa để tui đưa bọn đàn em đi xứ khác sinh sống, tránh những điều không hay xảy ra. - Nhưng mà... - Còn nếu bà không chi thêm thì tui bỏ mặc tụi nó, tui bỏ xứ đi. Sau này tụi nó có khai linh tinh gì đó thì bà ráng mà lo. Biết nếu để kéo dài sự có mặt của mụ ta trong nhà sẽ sinh nhiều phiền toái, bà Kham Sô móc vội một số tiền đưa cho Sáu Đen và dặn: - Từ nay chị đừng ghé đây nữa, nghe chưa! Sáu Đen có vẻ không hài lòng với số tiền được đưa thêm, nhưng nghĩ sao mụ ta lại rút êm. Ra khỏi nhà khoảng vài trăm thước thì nghe có tiếng gọi phía sau: - Chị gì đó ơi! Sáu Đen hoảng hốt quay lại thì Thạch An đã đứng ngay sau lưng chị ta, anh nói nhanh: - Tôi sẽ gởi thêm cho chị ít tiền, chị ghé quán nước này nói chuyện một chút. Chưa từng biết mặt Thạch An, nên lúc ấy Sáu Đen tưởng gặp phải lính kín, chị ta hơi run: - Ông là... Thạch An nhanh tay đẩy chị ta vào một quán cà phê vắng gần đó, nói nhanh: - Tôi là Thạch An, người mà chị vừa nói chuyện với mẹ vợ tôi! Sáu Đen điếng vía: - Cậu... cậu đã biết chuyện? - Biết hết! Và chị thấy là đã đến lúc tôi báo cảnh sát bắt chị được chưa? Sáu Đen là tay giang hồ giết người không gớm tay, vậy mà vừa bị dọa đã quíu cả lên: - Tui đâu có làm gì! Tui chỉ... - Chỉ có giết người thôi chớ gì! Chị giết Mỹ Lệ khi nào? Bị nói trúng tim đen, Sáu Đen líu lưỡi: - Tui... tui không có giết. Đó là do bọn đàn em nó làm... Thạch An đanh giọng lại: - Tôi hỏi giết khi nào? - Dạ... đã gần năm tháng rồi... Thạch An ôm đầu kêu lên: - Trời ơi, vậy mà tôi nào có hay! Mỹ Lệ ơi... Lợi dụng lúc Thạch An đang ôm đầu gục xuống, Sáu Đen đứng vụt dậy định chuồn, nhưng Thạch An đã phát hiện kịp. Anh nắm chặt tay mụ ta lại, nói gần như thét lên: - Chị mà bước ra khỏi đây là coi như chị hết muốn sống rồi đó! Khôn hồn thì ngồi xuống đây nói hết cho tôi nghe, chị được mướn bao nhiêu tiền để làm chuyện tày trời ấy? Sáu Đen từng nghe Thạch An là dân tài xế chạy xe đường dài Sài Gòn - Nam Vang, nên cũng có hơi nhợn nên đành phải ngồi trở lại. Mặt bắt đầu xanh tái... - Chị được trả bao nhiêu tiền để làm chuyện này? Giọng chị ta ngập ngừng: - Dạ... hai lượng vàng... - Giết ở đâu và bằng cách nào? - Dạ... ở đấy... Thạch An sửng sốt: - Ở đấy là ở đâu? - Biển Hồ. Câu nói khiến cho Thạch An nhảy dựng lên: - Sao lại ở Biển Hồ? Sáu Đen như một phạm nhân trước vành móng ngựa: - Nói thiệt với cậu... đúng ra cô Mỹ Lệ không bị giết ở xứ này đâu, nhưng vì bọn đàn em của tui sợ làm ở bên xứ mình thì dễ đổ bể, nên nhân dịp cô ấy đi qua Nam Vang hồi tháng tư, hình như là để kiếm cậu cho nên tụi nó đã ra tay. Thạch An bị kích động dữ dội, anh nói như là ra lệnh: - Nói rõ cho tôi nghe coi, giết bằng cách nào? - Tụi nó đón bắt cô Mỹ Lệ ở bến xe lúc cô ấy nghe tin cậu có vợ bên này và sau đó đưa cô ấy ra Biển Hồ vào một đêm trời mưa. Chúng nó... xô cô ấy xuống hồ! Thạch An đấm mạnh xuống bàn: - Quân dã man! Biết cô ấy đang có thai mà chúng bay vẫn không tha, trời tru đất diệt tụi bây! Sáu Đen cũng không vừa: - Nếu tụi đàn em tui tội mười thì cậu tội cũng không nhẹ đâu. Chỉ vì cậu bỏ bê con người ta trong lúc cô ấy đang có mang, nên cô ấy mới cất công từ quê nhà sang tận đây tìm cậu, để rồi bị hại như vậy. Tui nghĩ... Thạch An điên tiết lên: - Chị mà còn nói nữa tôi sẽ giết liền tại đây! Rồi Thạch An lảm nhảm như kẻ điên: - Thảo nào mình trôi giạt ra tận Biển Hổ... thì ra Mỹ Lệ dẫn dắt mình ra đó, chính cô ấy đã chỉ lối cho mình tìm ra xác cô ấy. Vậy mà mình ngu muội, không biết gì... Sáu Đen nghe được lại tưởng là Thạch An đã khám phá ra mọi chuyện, mụ càng quýnh lên: - Cậu đã tìm được xác cô ấy? Tui... tui xin tạ tội, tui xin... Mụ ta bất ngờ sụp xuống lạy Thạch An, khiến những người chung quanh ngơ ngác, chẳng hiểu chuyện gì. Thạch An để cho mụ ta lạy, đến một lúc anh vụt đứng lên và nói: - Chị đi với tôi! Thạch An lôi mụ ta ra ngoài, hướng về phía nhà mình. Sáu Đen phản ứng bằng cách vùng thoát và chạy nhanh qua bên kia đường. Bị bất ngờ nên khi Thạch An đuổi theo thì đã chậm, mụ ta đã mất hút trong đám đông. Còn đang bực tức đứng nhìn theo thì bỗng Thạch An thấy chiếc xe đò mà mình thường lái, tức chiếc xe nghe nói đã rớt xuống sông Konpong Thom, vừa trờ tới đậu ngay trước cửa nhà của mẹ vợ. - Ủa? Thạch An chạy vội qua, nhìn thấy ngồi ở vô lăng là Hiệp, cậu phụ lái cho anh, Thạch An ngạc nhiên hỏi: - Xe được vớt lên hồi nào vậy? Hiệp giải thích sự có mặt của mình: - Xe mới được vớt chiều hôm qua, đáng lẽ còn phải chỉnh sửa, nhưng bà chủ ra lệnh phải đưa xe về đây để sáng nay đi liền. - Đi về Sài Gòn à? - Không! Đi Siêm Riệp. Thạch An nhìn lên xe thấy trống không, anh hỏi khẽ Hiệp: - Những hành khách đi xe bị rớt xuống sông giải quyết ra sao rồi? Hiệp lắc đầu cười: - Đâu có ai! Thạch An ngơ ngác: - Vậy là sao? Năm mươi hai người khi tôi rời bến ở Sài Gòn mà, sao lại không có ai? Hiệp đáp tỉnh queo: - Đã xuống xe hết chỗ trạm xăng, anh không nhớ sao? - Nhưng... chỉ vài phút sau thì xe lại đầy khách, tao nhờ mày lái thay, lúc đó khách đông đủ cả. Vậy là sao? Hiệp lắc đầu: - Em không biết! Nhưng khi xe lao xuống sông thì em văng ra khỏi xe, chiếc xe chìm lỉm, để rồi khi trục vớt lên thì không còn người nào trong xe. Cửa xe vẫn đóng kín, như vậy làm sao người thoát ra được nếu có trong xe? Điều này em cũng thắc mắc và định gặp anh để hỏi. Thạch An đang định vào nhà để hỏi mẹ vợ tại sao lại điều xe của mình đi Siêm Riệp, trong khi nếu xe đã sửa xong thì chính anh sẽ là người lái nó về lại Sài Gòn. Vừa lúc đó bà Kham Sô từ trong nhà bước ra, vừa thấy Thạch An bà đã gắt lên: - Mọi người đang chờ trong nhà để đi, sao con ở đâu nãy giờ? Thạch An đang bức xúc trong lòng về những gì biết được về tội ác của bà mẹ vợ này, nếu không gằn được thì Thạch An đã nổi xung thiên ngay. Cũng may lúc này Thạch An tự nhủ lòng là cố nhịn và sẽ chỉ nổ ra khi cần thiết. Thạch An chỉ đáp cộc lốc: - Con không thể lái đi đâu khi chưa biết những người khách đi xe tới Konpong Thom bây giờ đang ở đâu. Hay là họ cũng... bị thủ tiêu giống như cô gái tên Mỹ Lệ rồi? Câu nói của Thạch An đột ngột đã làm cho bà Kham Sô tái mặt, bà lắp bắp: - Sao... sao con nói chuyện của ai đó? Mỹ Lệ là người ra sao? - Má dám chắc là không biết người này? Bà Kham Sô chưa trả lời câu hỏi khó của Thạch An thì bỗng có giọng the thé của Sam Sam SơRi: - Biết con đó thì sao! Bây giờ anh ra mặt bênh vực nó phải không? Như giọt nước làm tràn ly, Thạch An nói như hét lên: - Quân giết người. Đồ dã man! Bị bất ngờ, bà Kham Sô vừa giận nhưng cũng vừa sợ, nên trong nhất thời bà không phản ứng kịp, trong khi Sam Sam SơRi thì vẫn đanh đá: - Anh làm gì khi tui giết đứa đã cướp chồng tui hả? Giết người thì sao? Bà Kham Sô bụm miệng con gái không kịp, nói như van lơn: - Má xin con, muốn gì thì từ từ nói... Thạch An chỉ thẳng tay vào bà mẹ vợ: - Bà giết Mỹ Lệ phải không? Bà Kham Sô run rẩy: - Không... má không... - Mụ Sáu Đen đã nói hết rồi, má còn muốn nói gì nữa không? Mà con nghĩ má và vợ con đâu còn gì để mà biện minh nữa. Bây giờ hãy để cho người chết nói chuyện với hai người thôi! Vừa lúc đó phụ xế Hiệp bước vô, anh chỉ tay ra xe và nói: - Lúc nãy có người gởi tui mang về đây một thứ mà thấy lạ quá tui không dám chở, nhưng người ấy nói nếu tui không chở thì sẽ hối hận... nên tui đành phải đem về đây. Bà Kham Sô hỏi: - Chở cái gì? - Dạ, một bó gì đó giống như đòn bánh tét lớn. Vừa nghe nói là Thạch An đã kêu lên: - Vật đó đâu rồi? - Dạ, ở ngoài xe. Thạch An chạy nhanh ra mà hai chân như quíu lại, linh tính cho anh biết là điều chẳng lành... Vật đó đặt nằm ở băng ghế sau cùng mà vừa nhìn thấy Thạch An đã nhận ra ngay, đó là cái gói xác chết treo trên cây ở bờ Biển Hồ mà anh đã gặp hôm trước! - Ai gởi vật này? Hiệp lúng túng: - Lúc em sắp sửa chạy xe về đây thì có một ông lão đã lên xe tự lúc nào không biết. Vừa bước xuống xe vừa chỉ tay lên và nói: "Mày chở vật này về giao cho chủ xe, nói với bà ta là hãy nhận lại vật mà bà đã cho người xô xuống hồ cách đây năm tháng!", rồi ông ta biến mất! Bà Kham Sô đang đứng bỗng té ngồi xuống ghế trường kỷ, trong lúc Sam Sam SơRi thì hơi biến sắc. Chỉ có Thạch An, bỗng nhiên anh cười lên như điên, rồi thét to: - Cuối cùng thì em cũng đã tìm tới đúng chỗ rồi Mỹ Lệ ơi! Trong lúc mẹ con bà Kham Sô xanh mặt sợ hãi thì Thạch An lại càng cười lớn. Chẳng biết là anh đang tỉnh hay mê... *** Hãng xe đò chạy tuyến Nam Vang - Sài Gòn là của bà Kham Sô. Trong số hơn chục đầu xe thì chiếc xe do Thạch An, con rể bà lái là chiếc mới nhất. Nhưng kể từ khi xảy ra tai nạn, rồi đến việc xác chết bó chiếu nằm trên xe thì hầu như chiếc xe đó không kiếm được tài xế. Ai cũng ngại lái nó. Mà ngay như Thạch An, kể từ hôm đó cũng bỏ nhà đi luôn, chẳng biết là đi đâu.Vào sáng sớm một ngày cuối năm... Bà Kham Sô ngồi xe cùng Sam Sam SơRi do tài xế Hiệp lái, đi về hướng Sài Gòn. Từ Nam Vang về Bù Vét, tức biên giới chỉ có ngót hai trăm cây số, nhưng chẳng hiểu sao Hlệp lái với tốc độ khá cao mà từ sáng sớm cho đến xế chiều vẫn chưa thấy tới. Quá sốt ruột bà Kham Sô hỏi: - Tới đâu rồi Hiệp? Hiệp cũng ngơ ngác, anh phải nhìn quanh mấy lượt mới trả lời: - Sao lạ quá, con lái đúng hướng, đáng lẽ giờ này đã qua khỏi Tây Ninh rồi, mà sao hình như... Anh nhìn thấy chiếc cầu và con sông lớn phía trước mặt có một thị trấn quen thuộc thì giật mình: - Ủa, sao kỳ quá. Sam Sam SơRi buột miệng: - Hay là đi lạc rồi? Hiệp buông thõng: - Lạc thiệt rồi! Bà Kham Sô trợn mắt nhìn Hiệp: - Mày lái đi đâu mà lạc? Ở đây là đâu? Hiệp ấp úng: - Dạ, hình như là... Konpong Thom bà ơi! Bà ta kêu lên: - Về Sài Gòn sao mày chạy ngược lên đây làm gì? Bộ muốn đi Angkor hả? Hiệp lúng túng: - Dạ, con đi về hướng Sài Gòn mà. Hồi nãy bà thấy xe mình qua phà Niết Lương đó, mà hướng đó thì chỉ mấy trăm cây số là tới Tây Ninh rồi. Sao kỳ lạ vậy? Sam Sam SơRi rít lên: - Đầu óc mày để đâu vậy? Trời ơi, đi lên đây làm gì không biết nữa! Tự dưng bà Kham Sô rùng mình. Bà run giọng nói: - Chạy ra khỏi tỉnh này ngay đi! Hiệp luýnh quýnh quay đầu xe và suýt nữa anh đã đâm xe vào thành cầu, càng khiến cho bà Kham Sô hốt hoảng: - Mày cẩn thận chớ! Mau đi đi! Vừa khi đó có một chiếc xe tải chở đầy hàng hóa va chạm với một xe tải khác ngay dốc cầu phía vừa đi qua, khiến hai xe nằm vắt ngang cầu và hàng đoàn xe phải kẹt lại. Hiệp kêu lên: - Điệu này làm sao qua! Phải mất hơn hai giờ sau đường mới khai thông. Lúc ấy trời đã tối và đổ mưa nữa, Hiệp nói: - Đường này không an ninh làm sao đi tối được. Mà từ đây trở lại biên giới phải trên bốn trăm cây số, e rằng... Sam Sam SơRi đã quá mệt, cô nàng gắt lên: - Kiếm khách sạn nào ở đi, đi không nổi nữa đâu! Nhưng bà Kham Sô phản đối liền: - Muốn ngủ thì chạy qua tỉnh khác, chớ không được ở đây! Sam Sam SơRi bực mình ngay với mẹ mình: - Má kỳ quá, ở đâu mà không được, miễn có khách sạn thôi. Bà Kham Sô nói như hét: - Tao nói không được! Hiệp phải lên tiếng: - Cô Sam Sam SơRi nói đúng, giờ này chỉ có thể ngủ ở Konpong Thom này thôi, chớ chạy cách cả trăm cây số nữa mới có khách sạn. Mà quãng đường này kể cả xe nhà binh Pháp còn không dám đi ban đêm nữa là... Sam Sam SơRi nói ngang: - Ông ghé đại vô chỗ nào đó cũng được, tui mệt gần tắt thở rồi đây! Bà Kham Sô vẻ sợ hãi nhưng chẳng còn cách nào hơn nên đành nín thinh. Hiệp đã từng ở chỗ này mấy đêm khi chờ trục vớt chiếc xe, nên anh ghé lại khách sạn quen, Hiệp nói: - Bà và cô Hai ngủ phòng hạng sang cho tiện nghi, còn riêng con thì quen ngủ trên xe rồi, khỏi cần mướn phòng. Mệt quá nên Sam SơRi không thiết gì chuyện ăn uống, cô nàng bảo: - Con ngủ cái đã! Chừng nào đói thì kêu bồi mua cái gì đó lên phòng ăn cũng được. Cô ta vô phòng và lăn ra ngủ ngay. Bà Kham Sô thì sau khi khóa chặt cửa phòng lại, còn dặn bồi phòng: - Không được kêu cửa, khi nào cần cái gì chúng tôi sẽ rung chuông. Móc khóa chưa đủ an tâm. Bà ta còn kéo chiếc ghế chận ngang cửa, vừa nói như nhắc nhở con gái: - Không được mở cửa đó nghe! Rồi bà ta đi tắm trước khi ngủ. Vừa vào nhà tắm bà ta vừa càu nhàu: - Cái thằng tài xế khỉ gió, chạy đâu không chạy lại chạy lên đúng chỗ này... Cái thói quen một khi tắm thì phải tắm khá lâu, cho nên phải mất gần nửa giờ sau bà Kham Sô mới từ trong phòng tắm bước ra. Đèn phòng đã được tắt, chỉ chừa lại bóng đèn ngủ nhỏ trên đầu giường. - Ngủ chưa con? Không có tiếng đáp, nghĩ là con gái đã ngủ nên bà nhẹ nhàng lên giường, nằm cạnh con. Bây giờ nỗi ám ảnh về chuyện cách năm tháng trước như sống dậy. Cũng ở thị trấn này, hồi đó tay bà không trực tiếp ra tay, nhưng chiếc xe Desoto của bà đã có mặt bà trên đó, chở theo một người mà sau đó bọn thủ hạ của Sáu Đen đã đưa xuống ghe, mà theo lời dặn của bà thì "phải đưa nó ra tận Biển Hồ, cho nó vĩnh viễn nằm dưới đó". Hôm đó cũng vào một đêm tối trời như thế này, mọi việc diễn ra khá nhanh, nhưng sao giờ đây nó như hiển hiện lại một cách chậm chạp và sống động... chẳng khác chuyện vừa mới xảy ra! Bất giác bà Kham Sô rùng mình, và quay sang ôm chặt con gái vào lòng, nói rất khẽ: - Má sợ quá con ơi... Chẳng thấy SơRi có phản ứng gì, mà bàn tay của bà lại có cảm giác lạ lạ, rồi bỗng bà rút tay về, vừa bật dậy vừa la lên: - Sao vậy SơRi? Con... con bị gì vậy? Người bà vừa ôm có thân thể ướt đẫm và lạnh như băng! Bà Kham Sô chưa kịp bước xuống giường thì toàn thân bà đã bị rớt xuống như trái mít rụng. Vừa bật dậy bà đã bật công tắc điện, căn phòng sáng choang. Trước mắt bà, một người hoàn toàn xa lạ đang nằm trên giường, nước ướt sũng lan ra thấm cả nệm. Dẫu đứng cách mấy bước, nhưng bà Kham Sô vẫn nhìn rõ mặt người đó, vẫn bộ quần áo đó, vẫn chiếc khăn choàng cổ đó và... bà chợt nhớ ra và kêu Iên: - Mỹ Lệ! Đúng người nằm trên giường kia là Mỹ Lệ, người phụ nữ mà năm tháng trước bà đã nhờ Sáu Đen và đàn em đưa đi thủ tiêu! - Bớ... Tiếng kêu thất thanh của bà Kham Sô chưa kịp phát ra cửa miệng thì bất thần như có ai đó từ phía sau đẩy mạnh, khiến bà nhào tới trước, rồi ngã sóng soài trên giường, ngay bên cạnh Mỹ Lệ. Lúc này bà ta mới phát hiện ra là Mỹ Lệ chỉ còn là... cái xác chết. Cố vùng dậy để bỏ chạy, nhưng chẳng biết bằng cách nào đó, cánh tay trái của bà ta lại bị cả thân thể xác chết đè lên, chẳng làm sao nhúc nhích được! Rồi một giọng sắc lạnh cất lên: - Trả nợ cho tao! Giọng nói đó phát ra từ miệng của xác chết. - Bớ... Bà Kham Sô cố gào lên, rồi đôi mắt tối sầm... Chương 3 Vay trả Đường bộ đi từ thành phố Siêm Riệp tới Biển Hồ chỉ hơn mười cây số, nhưng chẳng hiểu sao xe hơi chạy đã gần hai giờ mà vẫn chưa tới. Bà Kham Sô nhận ra điều bất thường nhưng không dám lên tiếng hỏi. Bởi người ngồi bên cạnh bà không phải là cô con gái đanh đá mà là... xác chết của Mỹ Lệ. Kể từ khi tỉnh lại sau cơn ngất ở phòng khách sạn thì bà Kham Sô đã nhận ra mình ngồi chung băng ghế với cái xác ma, nhưng dẫu có muốn rút tay ra khỏi bàn tay lạnh giá kia thì cũng chẳng làm sao rút được, nên đành ngồi im trong nỗi sợ hãi tột cùng. Thậm chí muốn lên tiếng hỏi tài xế Hiệp đang lái xe mà cũng chẳng làm sao hỏi được. Phải đợi đến khi xe ngừng lại ở một bụi cây rậm rạp, lúc ấy bà Kham Sô mới thu hết can đảm cất tiếng hỏi: - Con Sam SơRi đâu rồi? Tài xế Hiệp không trả lời, mà cái xác bên cạnh bà ta lại bất thần cử động và cất tiếng yếu ớt: - Con đây! Bà Kham Sô kịp nhìn lại và hết sức kinh hãi khi người ngồi cạnh mình lại là con gái, chớ không phải xác ma. Điều này quá đỗi lạ, bởi rõ ràng lúc lên xe chạy gần một giờ đồng hồ thì chắc chắn người này chính là cái xác kia. Vậy mà sao bây giờ lại là... - Sao lại là con, Sơ Ri? Giọng của SơRi nghe hơi khác thường, có lẽ vì quá sợ hãi: - Bộ má không muốn đem con theo sao? - Trái Iại, má đang sợ bỏ con lại đó một mình. Nhưng lúc nãy chính mắt má thấy... Sam SơRi chưa kịp đáp thì lúc ấy cánh cửa xe tự nhiên bật mở ra rồi hai mẹ con như bị ai đó xô ra khỏi băng ghế và sau đó tự động bước về phía trước mặt. Người đi trước dẫn đường là tài xế Hiệp. Anh ta chẳng nói lời nào, cứ lầm lủi bước nhanh. Mà anh ta càng đi nhanh thì mẹ con bà Kham Sô đi phía sau càng mệt, bởi phải cố bước cho kịp. Khoảng nửa giờ sau thì tới chỗ bến nước, mà vừa kịp nhìn thấy bà Kham Sô đã hoảng sợ: - Biển Hồ đây sao? Đây là lần đầu tiên bà ta nhìn thấy cái biển mênh mông này. Mặc dù cách có hơn bốn tháng bà cũng đã một lần ngồi trên thuyền xuôi dòng sông Konpong Thom, nhưng lần đó chỉ ra tới gần cửa sông thì thuyền đậu lại, để cho đám thủ hạ của Sáu Đen đi tiếp. Còn lần này được trực tiếp nhìn cả một vùng hồ rộng lớn ngoài sức tưởng tượng, bà Kham Sô chợt run lên và hai chân như rũ xuống, không còn bước đi bình thường được nữa. Lúc này tài xế Hiệp mới từ từ quay lại, vừa cất tiếng: - Nóng nực quá nên mệt, bước đi không nổi hả bà chủ? Vậy thì hãy đi nhanh xuống ghe để rồi còn tắm nước hồ cho mát chớ! Nghe giọng nói đúng là của tài xế Hiệp, nhưng gương mặt anh ta thì không phải. Mà là... chính là gương mặt của... Mỹ Lệ! - Trời ơi! Mặc cho tiếng kêu thất thanh của bà ta, người có thân xác là tài xế Hiệp, nhưng mang gương mặt của Mỹ Lệ vẫn bình thản vừa đi vừa nói: - Xuống ghe nhanh lên, mọi người đang đợi! Mẹ con bà ta ríu ríu nghe lời. Họ cùng bước lên chiếc ghe có mui đang đậu chờ sẵn. Vừa trông thấy chiếc ghe bà Kham Sô đã ngờ ngợ rồi chợt kêu lên: - Chiếc ghe ấy đây mà. Bà nhớ rất rõ, hơn bốn tháng trước, chính bà đã bỏ tiền ra mướn chiếc ghe có cái mui màu xanh này cho bọn đàn em Sáu Đen đưa người phụ nữ tội nghiệp tên Mỹ Lệ xuống để đem đi thủ tiêu. - Không... tôi không... Bà và cô con gái cố vùng thoát chạy trở lên bờ nhưng bỗng cả thân người họ bị nhấc bổng Iên, rồi nhẹ nhàng rơi lên sàn ghe và... nằm bất động. - Nhổ neo! Lệnh ban ra từ miệng của Mỹ Lệ. Sam SơRi còn lơ mơ tỉnh, cô cố nói bên tai mẹ: - Mẹ cố chạm vào người của Hiệp xem... người ta nói ma mượn lốt người khác thì chỉ cần chạm vào chân nó thì nó sẽ hiện lại nguyên hình. Má thử chạm đi... Bà Kham Sô sợ điếng hồn nên đâu dám. Sam SơRi phải bất thần chụp lấy tay bà ta rồi đưa chạm vào chân của Hiệp đang đứng kế bên. Một tiếng ré lên như tiếng heo kêu, rồi cả thân người của Hiệp đổ ngay xuống bên cạnh mẹ con họ. Lúc này gương mặt của Hiệp đã trở về nguyên trạng, nhưng anh ta nằm im như chết. Bà Kham Sô cố gào lên: - Dậy đi Hiệp! Nhưng mặc cho bà ta cố kêu gào và vùng vẫy, chiếc ghe vẫn từ từ lui ra giữa dòng và lướt đi thật nhanh. Bà Kham Sô đã mất hết khái niệm về thời gian, nhưng có lẽ cũng phải rất lâu sau đó... Chợt có giọng ai đó nghe rất quen cất lên: - Đúng chỗ này rồi đó! Một giọng khác còn quen hơn: - Cho họ xuống một lượt đi! Lời nói vừa dứt thì chiếc ghe chòng chềnh và mẹ con bà Kham Sô có cảm giác như bị hất tung lên cao và rơi xuống. Sau đó họ hầu như chẳng còn biết gì nữa, cho đến khi bên tai họ nghe có những âm thanh kỳ dị... Sam SơRi mở mắt ra trước, cô ta vừa nhìn thấy cảnh vật chung quanh đã phát hoảng: - Má ơi! Không thấy mẹ đâu, cô ta càng hoảng hơn. Vừa lúc đó có tiếng hét rất gần, khi Sam Sơ Ri nhìn lại phía sau thì thấy mẹ cô cũng đang trong tình trạng giống như vậy. Hai mẹ con đều bị treo lủng lẳng trên cành cây, mà phía dưới chỉ toàn nước và nước. - Mẹ ơi! Sam Sơ Ri cất tiếng gọi và bên cây kia giọng bà Kham Sô cũng cất lên: - SơRi con! Lúc này có một giọng thứ ba vang lên ở phía tay phải của họ: - Chỗ ở mới có tiện nghi không phu nhân và tiểu thư? Nhìn kỹ, cả hai thấy người hỏi lại là một ông lão đang ngồi trên một chiếc xuồng câu. Và nếu họ biết thì đó là ông Tư Sang. Người đã từng cứu Thạch An một lần. Bà Kham Sô cố kêu lớn: - Cứu giùm tôi với! Sam SơRi cũng la lên: - Con ngộp thở rồi ông ơi, xin cứu con giùm! Ông già Tư vẫn bình thản: - Xưa nay nằm trên nệm ấm chăn êm quen rồi, nay chỉ mới thử nằm trên cành cây có chút xíu đã kêu than rồi, vậy thử hỏi người suốt đời bị treo trên đó thì họ làm sao chịu nổi? Sam SơRi khóc òa lên: - Con sợ lắm ông ơi, xin cho con xuống. Ông già Tư đáp mà không nhìn lên họ: - Giữa treo trên đó như vậy và xuống đây để rồi bị bó lại bằng chiếc chiếu rách này, cô chọn cách nào? Bà Kham Sô nhìn thấy mấy chiếc chiếu rách trên xuồng đầu tiên và bà cũng từng nghe nói là người chết ở đây được bó trong chiếu và treo lơ lửng giữa chánh ba cây, nên vừa nghĩ tới viễn cảnh đó đã kêu thét lên: - Chúng tôi không muốn chết! Bấy giờ ông già Tư mới quay lại nhìn thẳng vào bà ta: - Vậy sao bà làm cho người ta chết rồi thân xác người ta bị treo trên đó suốt đời thì được? Bà hãy nhìn lại ngay bên cạnh bà đó, có phải có người nằm đó vĩnh viễn không? Lúc ấy bà Kham Sô mới chợt nhìn thấy có một xác người bó chiếu treo ngay bên cạnh. Bà thét lên: - Trời ơi, cứu tôi! Ông già Tư cất tiếng cười nghe thê lương lạ thường, rồi giọng ông như tiếng than khóc: - Ở đời bất công vậy đó. Người ta giết người rồi xác người bị hại treo giữa rừng nước cô quạnh thì được, mà khi người ta bị thì lại sợ hãi, kêu la! Vậy tui hỏi mọi người, trường hợp của bà ta thì có tha hay không? Bỗng có nhiều tiếng đáp vang lên: - Làm sao tha được khi bà ta là chủ mưu vụ này mà! Nghe lẫn trong lời đáp đó có giọng quen quen, bà Kham Sô đảo mắt nhìn quanh thì chợt nhận ra giọng đó ở ngay cạnh mình. Và chợt bà kêu lên: - Mỹ Lệ! Xin cô... Giọng đó lại vang lên: - Tôi phải đưa bà về đây hôm nay là để bà thấy hậu quả do bà gây ra! Bà thấy rồi chớ, nạn nhân của lòng thù hận ích kỷ của bà đã chết và chịu như thế này mãi mãi. Vậy theo bà thì nếu bà trả nợ tôi thì cái chết treo có phải là hình thức tương xứng không? Mỗi lời nói phát ra thì cái xác táng trong chiếc chiếu bó tròn kia lại lắc lư theo nhịp gió thổi qua. Bà Kham Sô đã sợ chết điếng rồi, nên giọng của bà không còn phát ra trơn tru nữa: - Tôi... tôi xin lỗi... tôi hối hận... tôi... Sam SơRi khóc như con heo bị thọc huyết vừa van lơn: - Xin chị tha mẹ con em. Cũng chỉ vì ích kỷ, muốn chiếm đoạt anh Thạch An một mình nên mẹ con em mới làm chuyện ác. Bây giờ thì em đã biết tội mình rồi. Vậy xin chị Mỹ Lệ hãy rộng lòng tha cho em và cho cả cái thai em đang mang trong bụng nữa... Giọng của Mỹ Lệ lẫn giữa đau đớn và thù hận: - Vậy khi mẹ cô giết chết tôi thì đứa con trong bụng tôi nó cũng đâu có thoát. Cô có biết lúc ấy tôi cũng van xin bà ta như vậy, thậm chí còn thống thiết hơn nữa kia, vậy mà bà ta có đoái hoài tới đâu, vẫn ra lệnh cho đám kia dìm tôi xuống nước, khiến tôi chết mang theo cả cái thai năm tháng tuổi, có thê thảm không? Sam SơRi nhìn sang mẹ: - Có phải vậy không mẹ? Bà Kham Sô khóc nức nở: - Cái ác đã khiến mẹ phải làm như vậy... mẹ biết lỗi mình rồi và chỉ xin... Bà quay sang cái xác bên cạnh: - Tôi đã gây ra tội ác thì phải trả, chỉ xin cô để con tôi yên, để nó sanh con và nuôi đứa nhỏ. Một tràng cười vang lên: - Bà con hãy nghe người ác nói chuyện nhơn đức nè! Theo bà con thì có nên làm theo lời bà ta không? Những tiếng vang lên: - Không! Đừng nghe lời bà ta! Tuy nhiên, giọng của Mỹ Lệ lại vang lên: - Tuy ai cũng có thể đồng tình với tôi về cuộc báo thù này, nhưng tôi không muốn lặp lại tội ác mà kẻ thù của tôi đã gây ra. Có nghĩa là tôi không giết người phụ nữ đang mang thai này, mà chỉ trừng trị người đàn bà táng tận lương tâm thôi! Lời vừa dứt thì bỗng thân thể đang treo lơ Iửng của bà Kham Sô bị rơi xuống nước, cùng lúc với năm, sáu thân thể nữa ở các cây gần đó. Giọng của Mỹ Lệ trầm xuống: - Bà ta đã chết cùng với bọn Sáu Đen, những kẻ không đáng sống trên đời nữa. Sam SơRi thét lên một tiếng rồi ngất trong lúc thân thể vẫn còn treo lơ lửng như vậy. Giọng nói rất nhẹ của Mỹ Lệ: - Mọi việc gần như xong rồi chú Tư. Vậy phiền chú giúp nốt cho con việc đưa cô ta về nhà giùm. Ông già Tư hơi lưỡng lự: - Nhưng sao cô... lại để cô ta sống? Đây là đứa ích kỷ, lòng dạ độc ác không thua gì mẹ cô ta đâu! Mỹ Lệ thở dài: - Đủ rồi chú Tư! Vả lại cô ta còn có đứa con của Thạch An trong bụng, mà con thì không muốn Thạch An không có người nối dõi. - Nhưng... - Không sao đâu! Con đã tiên liệu mọi việc rồi. Cô ta sẽ chỉ làm mỗi nhiệm vụ là sinh ra đứa con thôi. Còn những điều khác thì hãy để số phận tính... Ông già Tư muốn nói thêm, nhưng cái chiếu của Mỹ Lệ đã tan biến nhanh thành bụi bay theo gió. Ông già Tư chỉ còn biết thở dài rồi từ từ đỡ thân thể của Sam SơRi xuống. Ông chép miệng: - Lòng dạ con người lương thiện thì dẫu có thành hồn ma họ cũng đâu thể độc ác, táng tận lương tâm như bọn ác nhân thật sự. Thay mặt những người còn sống trên thế gian này, chú xin có lời cám ơn cháu, Mỹ Lệ! Ông vừa đưa Sam SơRi đặt lên xuồng, vừa quay lại nhìn những thân thể người, trong đó có bà Kham Sô nổi lềnh bềnh trên mặt nước, vừa nói với họ: - Các người hãy trôi trên nước đi, để trải qua đúng như những gì cô Mỹ Lệ đã chịu đựng, rồi đợi tôi đi Nam Vang về sẽ tìm chỗ định cư cho! *** Bốn tháng sau Sam SơRi sinh đứa con đầu lòng.Nó là một đứa con trai, giống Thạch An như đúc và còn lạ hơn nữa nó lại có phần giống Mỹ Lệ, chớ không có chút gì giống Sam SơRi cả. Chính Thạch An đứng ngẩn ngơ rất lâu nhìn đứa trẻ và sau cùng anh lẩm bẩm: - Đúng như Iời Mỹ Lệ nói trong giấc mơ rồi... Trong chiêm bao, đã ba đêm liền Thạch An được cái vong của Mỹ Lệ về báo là đứa trẻ do Sam SơRi sinh ra chính là giọt máu của Thạch An với cô mà cô đã mang xuống âm cảnh, nay cho nó trở về thay đứa con của Sam SơRi trong bụng. Mỹ Lệ có hỏi rằng Thạch An có đồng ý như vậy không, lúc ấy Thạch An lặng thinh. Bởi cả hai đứa đều là giọt máu của anh, vậy làm sao Thạch An có thể nhẫn tâm để đứa này, bỏ đứa kia? Bất giác Thạch An thở dài, nói một mình: - Đành phải vậy thôi! Sam SơRi bất chợt nói: - Đứa con này là của anh và chị Mỹ Lệ, anh hãy nhận lấy! Nói vừa xong thì bất ngờ Sam SơRi bước xuống giường, rồi đi thẳng ra ngoài cửa, mặc dù mới sinh được có hai ngày. Lúc đầu Thạch An tưởng cô nàng đi vệ sinh, nhưng sau khi chờ gần nửa giờ vẫn không thấy Sam SơRi trở vô, Thạch An hốt hoảng chạy đi tìm. Lúc ấy có một người ngồi bán hàng phía trước nhà bảo sinh đưa cho Thạch An một mảnh giấy nhỏ, trong đó có mấy chữ của Sam SơRi: "Đừng tìm tôi! Hãy cố nuôi thằng bé, cô Mỹ Lệ muốn như vậy đó. Anh mướn một người nuôi đứa bé rồi trở về nhà ngay để giải quyết mọi việc. Sam Sơ Ri". Thạch An hoảng quá, nhưng rồi cũng phải làm theo lời dặn đó. Anh trả tiền và nhờ bảo sinh viện chăm sóc giùm đứa bé trong một tuần lễ, để sau đó anh sẽ đem con về nhà. Sau đó Thạch An ngồi xe về nhà ngay. Nơi mà anh đã dự tính là sau khi Sam SơRi sinh con anh sẽ bỏ đi luôn, không ở đó nữa. Nhưng khi về tới nhà Thạch An đã giật mình khi thấy chị người làm chạy ra đưa anh chùm chìa khóa nhà, cùng một hộp giấy tờ. Giở ra xem thì trên cùng là một phong thư của một luật sư. Ông ta viết khá rõ ràng: "Tuân lệnh thân chủ tôi là cô Sam Sam SơRi, kèm theo là tờ ủy quyền hợp pháp, tôi là luật sư Yeng ĐơNi xin thông báo đến ông Thạch An là: Cô Sam Sam SơRi đã nộp đủ thủ tục ở văn phòng công chứng để chuyển nhượng toàn bộ tài sản của cô sang cho ông và đứa con mới sinh là Thạch Luôn. Vậy từ nay ông là sở hữu chủ duy nhất của số tài sản gồm: một ngôi nhà ở Nam Vang, hai ngôi nhà ở Battambang, một ngôi nhà tại Sài Gòn (văn bản quyền sở hữu mang tên ông kèm theo đây), cùng công ty vận tải liên quốc gia, chạy tuyến Nam Vang - Sài Gòn, giao ông khai thác, sử dụng mà không được sang bán cho người khác cho đến khi đứa bé Thạch Luôn đủ mười tám tuổi, khi đó chính đứa bé sẽ là sở hữu chủ vĩnh viễn mọi thứ vừa kể trên. Luật sư Yeng ĐơNi".. Thạch An cầm hộp giấy tờ mà ngẩn ngơ hồi lâu, rồi sau đó anh gào lên: - Không, SơRi! Anh định chạy đi tìm thì chị người làm vội nói: - Cô Sam SơRi bảo là cậu đừng đi tìm, sẽ không gặp được cô ấy đâu. Tốt hơn hết là cậu hãy cố chăm sóc đứa con mình. Nếu cậu không chê tôi già yếu, thì xin giao đứa bé cho tôi nuôi. Hy vọng tôi còn sống để nuôi nó khôn lớn. Thạch An chỉ biết ngồi thừ người ra. Sau đó... Thạch An làm đúng theo lời dặn của Sam Sam SơRi. Anh tiếp tục quản lý cơ ngơi của nhà vợ và làm rất khá. Chẳng mấy chốc tài sản phát triển nhanh gấp bội trước kia. Đứa bé lớn lên thường hay hỏi cha: - Mẹ con đâu rồi cha? Thạch An chỉ đáp lơ lửng: - Mẹ con... có việc đi xa, sẽ có ngày trở về... Cho đến một ngày kia có người tới báo chắc với Thạch An rằng, họ gặp được xác của Sam Sam SơRi chết trôi ở bờ Biển Hồ gần làng đánh cá của người Việt. Họ định vớt đem về giúp Thạch An, nhưng khi vừa mang lên ghe thì tự dưng cái xác biến thành tro bụi bay theo gió mất tăm. Thạch An lặng người đi, rồi hai hàng nước mắt của anh tuôn chảy. Thốt nhiên anh nói thầm: - Hẹn em kiếp sau... Chẳng hiểu trong lòng của Thạch An lúc ấy hẹn mà hẹn với ai. Mỹ Lệ hay Sam Sam SơRi? Thật ra tuy Sam Sam SơRi là kẻ có nhúng tay vào tội ác, nhưng chưa hẳn cô ta hoàn toàn xấu. Và cũng có thể cô cũng xứng đáng nhận được lời hứa của Thạch An lúc này... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 46
CHIẾC VÒNG HÔN ƯỚC -Chương 1 Giấc mộng đêm hè Hảo tự dưng thấy khó ngủ, nên anh đi tắm và sau đó mở toang cửa phòng ngủ trên lầu, nằm quay ra hướng cửa nhìn ra bầu trời đêm lác đác vài vì sao lạc. Bất giác Hảo tự nhủ: - Thấy sao băng mà ước điều gì ắt được điều ấy! Tự dưng anh mỉm cười với chính mình. Bởi đã lâu lắm rồi anh không hề có một ước mơ nào cả. Có thể do quá bận bịu cho kỳ thi lấy bằng cử nhân luật, đồng thời có lẽ do đâu óc Hảo luôn căng thẳng chuyện cứ bị mẹ mình giục cưới vợ, làm cho anh chàng chẳng hề dám nghĩ ngợi điều gì ngoài những điều xảy ra trước mắt. Mà người ta nói cũng đúng, chỉ những người nhàn rỗi hay quá thiếu thực tế mới hay mơ mộng, ước mơ thôi... - Cậu ơi, bà muốn gặp cậu dưới nhà, mời cậu xuống. Tiếng gọi của bà Linh làm cắt ngang dòng suy nghĩ của Hảo, anh hỏi vọng ra: - Bây giờ mấy giờ rồi mà mẹ tôi còn thức? - Dạ, đã khá khuya rồi, nhưng bà vẫn đang ngồi đợi cậu ở phòng khách. Miễn cưỡng Hảo mặc áo khoác ngoài rồi xuống phòng khách. Anh nhìn đồng hồ tay thấy đã hơn mười giờ, nên vừa thấy mặt mẹ anh đã càu nhàu: - Con đang mất ngủ mà má càng làm con khó ngủ hơn. Việc gì để ngày mai không được sao má? Bà Dung chép miệng: - Phải thức tới giờ này má đâu có muốn. Nhưng cứ hễ nhắm mắt lại thì y như rằng lại nghe tiếng nói nhắc chuyện mà chính má con phát ngán ngẫm... Hảo vừa ngáp vừa ngồi xuống ghế trường kỷ, lặp lại: - Chuyện gì vậy má? Bà Dung hơi khó nói, nhưng rồi cũng phải bộc bạch: - Ai đó cứ giục má cưới vợ cho con hoài. Đã ba đêm liền, cứ vào khoảng chín mười giờ khi má đang ngủ thì bị gọi giật ngược dậy. Hảo lại càu nhàu: - Tại má cứ nhai trầu hoài, vôi và lá trầu nóng làm thần kinh má căng thẳng và sinh ra mộng mị lung tung. Má thôi đừng ăn trầu nữa sẽ hết ngay thôi! Bà Dung lắc đầu: - Má đã bỏ trầu từ cả tháng nay, từ lúc bị bịnh. Nhưng càng nhịn trầu thì buồn miệng, lại càng khó ngủ. Mà hễ ngủ thì y như là... chiêm bao. Ba bữa nay má chiêm bao thấy có một người nào đó lạ hoắc, cứ đứng trước mặt má nghiêm sắc mặt rồi nói như ra lệnh: "Bà phải cưới vợ cho thằng con trai ngay đi, không được để cho có người phải chờ đợi. Bà mà không nghe lời thì đừng trách sao tai họa tới". Đó, con nghĩ sao với lời đe dọa này? Hảo xua tay: - Ba cái chuyện vớ vẩn đó mà má cũng tin sao? Chẳng lẽ trong chiêm bao má thấy ai đó biểu giết người rồi má cũng nghe theo sao? Bà Dung vẫn quả quyết: - Nhưng chuyện này khác! Hình như ai đó biết chuyện con không thích lấy vợ nên quyết ép má phải giục con làm theo. Vả lại người ấy còn nói mối lương duyên này nếu không thành thì má và con sẽ không toàn mạng! Hảo đến phải bực lên: - Má còn nói chuyện đó nữa thì ngay sáng mai con sẽ đi chơi xa, đến khi nào má thôi không có ý đó nữa con mới về. Bà Dung còn lạ gì tính thằng con cứng đầu như ba nó, có nói lắm thì cũng chỉ đưa tới hai mẹ con cãi nhau mà thôi, nên bà hơi dịu giọng: - Nhưng con không thương má sao Hảo? Nếu tình trạng này kéo dài chắc là má sẽ điên mất! Cũng thừa hiểu mẹ mình có bộ thần kinh không tốt, nên Hảo cũng bớt nói cứng: - Thì cái gì má cũng để từ từ con tính, chớ gấp gáp sao được. Nghe con nói câu đó bà Dung mừng rơn: - Con hứa với má rồi đó nghen! Chỉ cần con hứa thôi, má cũng sẽ ngủ được tối nay. - Nhưng mà... Hảo định nói thêm, nhưng chợt nghĩ lại nên anh thôi. Dợm đứng lên đi về phòng thì bà Dung dặn thêm: - Mấy ngày nay con phải ở nhà để mẹ an tâm, đừng đi đâu nghe chưa. Hảo miễn cưỡng hứa: - Dạ. Nhưng má cũng đừng có nghĩ ngợi linh tinh nữa. Má cần thuốc an thần không con đi mua? Bà Dung lắc đầu: - Má uống đến hai viên mỗi đêm, thay vì một viên như bác sĩ dặn, mà có tác dụng gì đâu. - Má cũng đừng uống quá liều như vậy, càng có hại thêm mà thôi. Chỉ cần mỗi đêm một viên rồi thanh thản mà ngủ, như vậy sẽ có hiệu quả hơn. Tuy dặn mẹ mình như vậy, nhưng chính Hảo khi trở về phòng lại càng nghĩ ngợi lung tung và hầu như chẳng tài nào chợp mắt được. Cho đến khi đồng hồ treo tường gõ hai tiếng khô khan... Cảm giác hơi lạnh bên ngoài lùa vào một cách bất thường, khó chịu, Hảo đứng lên đóng cửa sổ lại. Đêm hè trời oi bức mà lại có những luồng gió khó chịu quá. Hảo trở lại giường nằm và bắt đầu nhắm mắt lại, đếm số như nhiều lần mất ngủ anh vẫn hay làm. Một, hai... mười... hai mươi... cho đến số một ngàn thì đôi mắt của Hảo mới từ từ khép lại thật, cơn buồn ngủ ập đến... - Nè, sao nhốt người ta trong này, ngộp thở quá đi thôi! Tiếng của ai đó kêu khe khẽ khiến cho Hảo nhướng mắt lên nhìn, chỉ thấy lờ mờ một bóng con gái ở cách chỗ Hảo chừng vài thước. - Ai vậy? Đó là câu hỏi thoáng qua trong đầu Hảo, nhưng ngay lập tức tan biến ngay, bởi cơn buồn ngủ lại ập đến. - Mở cửa ra mau! Mở cửa... Hảo lại nhướng mắt lên và lại vẫn nhìn thấy cô gái ấy. Nhưng lần này cô nàng đứng gần cửa sổ hơn, như đang cố đưa tay mở cửa mà không mở được. Lúc này nàng ta quay mặt đối diện, cho nên Hảo nhìn khá rõ khuôn mặt thanh tú với mái tóc dài quá vai. Chỉ có điều là đôi mắt của nàng ta thì sáng nhưng đượm nét buồn sâu thẳm, khiến vừa thoạt nhìn thì Hảo đã có ấn tượng và chút gì đó xót xa... Cái bệnh muôn thuở của Hảo là như vậy, tuy không mê đắm đàn bà, nhưng rất nhạy cảm trước những ánh mắt buồn hay sầu khổ. - Cô là... Hảo chỉ hỏi được mấy tiếng đó, rồi như bị ai chận ngang miệng, không thể nói thêm nữa. Cho đến khi cô gái nhắc lại lời than vãn lúc nãy: - Ngộp thở quá, làm ơn giúp thả em ra đi! Hảo lấy làm lạ, tại sao cô nàng cũng ở trong phòng như anh mà lại kêu khó thở, trong khi anh thì vẫn bình thường? - Cô sao vậy? Lần này thì Hảo đã thốt được thành tiếng và thậm chí còn ngồi bật dậy nữa. - Cô là ai? Hảo dợm bước tới thì cô gái hốt hoảng đưa tay ngăn lại: - Không được đến gần đây! Nếu anh mà tới thì... thì em chết liền tại đây! Nàng vừa nói xong thì gục xuống, ôm mặt khóc nức nở. Điều này khiến cho Hảo hốt hoảng: - Kìa, sao cô Iại... Cô gái giải thích: - Em đi lạc đường, lỡ đột nhập vào phòng anh, xin anh tha lỗi cho và thả giúp em ra... Nhưng mà không được, em ra bây giờ thì họ giết em chết mất. Xin cho em tá túc một chút nữa, với điều kiện là anh mở giùm cửa sổ ra, em không thể sống mà thiếu không khí được. Xin hãy giúp em... Hảo ngạc nhiên: - Ai đang truy đuổi cô? Cô nàng rõ ràng là đang sắp ngộp thở, chỉ còn có thể huơ hai tay vào không khí một cách yếu ớt, như sắp chết. Hảo không còn kịp nghĩ gì thêm, anh nhảy tới và mở bung cánh cửa sổ ra. Vừa lúc ấy cô gái đổ sụp xuống sàn nhà, người run lên liên hồi. - Kìa, cô sao vậy? Cô gái lịm đi, nhưng nhịp thở vẫn còn đều. Hảo lo sợ định gọi mẹ mình, tuy nhiên kịp nghĩ nên anh nín im một lúc rồi nhẹ nhàng gọi: - Cô ơi, cô có sao không? Cô gái vẫn nằm im. Hảo chợt nhớ nếu một người bị ngất mà để nằm dưới gạch thì họ có thể bị nhập thổ mà chết, nên anh đánh bạo bế cô nàng lên, đưa lại giường mình. Sợ bị hiểu lầm, nên Hảo vội bật thêm ngọn đèn sáng và lúc này mới giật mình khi nhìn vào khuôn mặt cô nàng. - Đẹp lạ thường! Hảo phải thốt lên như vậy rồi đứng ngẩn ngơ một lúc cho đến khi có tiếng gọi của mẹ ở nhà dưới: - Hảo ơi, có chuyện gì mà con mở đèn sáng nửa đêm vậy? Sợ mẹ mình lên, nên Hảo vói vọng ra: - Có con chuột chạy vào phòng nên con đang kiếm đập nó! Rồi anh tức khắc tắt đèn. Lúc này Hảo mới bắt đầu suy nghĩ là làm sao với cô nàng đây và cô ta là ai? Vào phòng anh từ lúc nào? Trước khi xuống nhà gặp mẹ thì Hảo không hề thấy cô ta trong phòng mình mà... Bao nhiêu câu hỏi không thể giải đáp trong nhất thời, mà nếu cứ để cô nàng trong phòng mình như thế này e rằng sẽ gặp rắc rối đây! Hảo suy nghĩ nhanh, rồi anh quyết định: - Cứ để cô ta trong này, mình sang phòng bên ngủ tạm vậy. Nhà còn mấy phòng trống, trong đó có gian phòng mà Hảo vẫn hay dùng làm nơi học bài. Anh bước ra ngoài, khóa cửa lại ở ngoài, đề phòng cô nàng bước ra đi lung tung chắc chắn sẽ gặp mẹ anh hoặc mấy chị người làm. Một mình bên phòng kia, Hảo cũng không thể nào ngủ được. Anh ngồi chờ đến khi đồng hồ gõ năm tiếng thì vội trở về phòng, mở cửa vào với ý định là kêu cô nàng dậy để ra khỏi nhà trong khi mọi người còn say ngủ. Nhưng khi Hảo mở cửa ra anh suýt nữa kêu to, bởi phòng trống không, chẳng thấy bóng dáng cô gái đâu mà cửa chính, cửa sổ đều vẫn còn khóa chặt. Tìm một lượt khắp nơi trong phòng mà không hề thấy cô ta, Hảo tự hỏi: - Chẳng Iẽ cô ta biến thành gió bay đi được sao? Chợt Hảo nhìn thấy có một mảnh giấy đặt trên gối nằm với những chữ viết vội: "Hãy tìm em ở thôn Đông Thạnh, huyện Thiện Nhân, tỉnh này... Em sẽ chết nếu không được cứu kịp thời. Hãy cứu em với! Mỹ Hương." Vừa lúc ấy có tiếng gọi của bà Dung: - Ra đi với má tới chỗ này gấp, Hảo à! Đang còn thẫn thờ, nhưng Hảo cũng phải mở cửa ra. Vừa nhìn thấy con, bà Dung đã nói gần nói xa: - Không chậm trễ được con ơi, mau đi con. Hảo ngạc nhiên: - Đi đâu giờ này hả má? Bà Dung kéo tay con, có lẽ sợ Hảo không chịu đi. Hảo phải kêu lên: - Má phải để con mặc đồ đã chớ! Đứng chờ cho con mặc quần áo xong bà Dung mới chịu đi. Xuống tới nhà dưới bà mới nói: - Má mới vừa bị cái vong của ai đó vừa kêu gào vừa khóc lóc, nói rằng nếu má và con không tới đó liền thì họ sẽ bị chết, mà mẹ con mình cũng nguy tới tánh mạng nữa! Đã quá chán với câu chuyện của mẹ, nhưng Hảo cũng phải lên tiếng hỏi: - Đi đâu bây giờ má? - Qua huyện Thiện Nhân. Vừa nghe tới đó thì Hảo hoảng vía: - Má nói đi đâu? Ai ở bên huyện đó? - Không còn thời giờ nữa, cứ đi rồi ắt biết! Bà Dung kéo con trai đi mà không cần biết Hảo đang rất hoang mang. Đến khi xe ngừng lại trước một ngôi nhà lớn thì bà Dung không đợi chủ nhà ra, đã gọi lớn vào trong: - Mở cửa mau lên! Từ trong có một người lớn tuổi bước ra và không ngờ họ lại rất mừng rỡ khi thấy hai người khách lạ, như đã quen từ lâu: - Cả nhà đang chờ bà tới từ sáng sớm đến giờ! Hảo ngạc nhiên, hỏi khẽ mẹ: - Bộ nhà này quen với má hả? Sợ con hỏi lôi thôi, bà Dung kéo Hảo đi nhanh vào trong. Có một đôi vợ chồng cỡ tuổi sáu mươi đang ngồi sẵn ở phòng khách, vừa thấy bà Dung vào họ đã reo lên: - Bà tới kịp thời, may là chưa có chuyện gì xảy ra! Người phụ nữ, chừng như là chủ nhà, vội nói: - Suốt đêm rồi chúng tôi cứ bị thúc hối, bảo phải đi tìm bà cho bằng được. Sáng nay chúng tôi vừa tính đi thì nhà tôi đây, người ta gọi là ông giáo Thái, nhận được tin là bà sắp tới, nên cả hai ngồi đây chờ. Có phải bà là bà Dung ở Lộc Thiện? Còn đây là cậu Hảo, một luật sư tương lai? Hảo ngạc nhiên quá đỗi khi thấy bà ta biết rõ về mình như vậy nên đánh bạo hỏi: - Sao bác biết con? Người đàn ông giờ mới lên tiếng: - Chẳng những biết tên, nghề nghiệp của cậu, mà chúng tôi còn biết cậu có quen với con gái tôi nữa! Bà Dung nhìn con, sửng sốt: - Có đúng là con quen với cô nhà này không, Hảo? Hảo lắc đầu, chưa kịp trả lời thì chợt có tiếng chân bước từ trong ra, rồi một người con gái xuất hiện. - Hả? Hảo chỉ kêu được một tiếng rồi sững người như trời trồng. Phần cô gái thì cũng giống như Hảo, cô tròn mắt nhìn khách rồi thốt lên trong sự sửng sốt: - Là anh đây sao? Người con gái đang đứng đó chính là cô gái đã lọt vào phòng của Hảo đêm qua! Cô nàng sau vài giây sững sờ, đã lấy lại bình tĩnh và cất tiếng: - Đúng là anh rồi! Bà chủ nhà quay sang con, hỏi khẽ: - Đúng rồi phải không con? Đúng là người con muốn gặp rồi phải không? Cô gái nhẹ gật đầu: - Dạ đúng! Rồi cô bất thần ngã đầu vào Hảo và... òa khóc trong niềm vui tột cùng. Hảo cũng hành động ngoài sức tưởng tượng của chính bản thân mình, anh đưa tay ôm đầu và vuốt lên mái tóc dài của cô nàng. Tiếng cười giòn của ông chủ nhà: - Tui nhẹ cả người! Vậy mà hai hôm nay ăn ngủ không yên, cứ ngỡ là tiêu cả rồi! Bà vợ cũng phụ họa: - Cho đến trước đây mấy phút tui cũng không tin là mọi việc sẽ kết thúc tốt đẹp, khi mà đến gần năm giờ sáng nay tui vẫn còn bị các vong hồn gào thét đòi giết cả nhà này nếu không tìm được chàng rể cho... con gái tui. Trong lúc đó cô gái nói khẽ vào tai Hảo: - Anh thấy chưa, em tha thiết năn nỉ anh qua đây ngay đâu phải là chuyện đùa. Chính mẹ anh cũng hiểu như vậy mà. Lúc này bà Dung mới thở phào và nói với con, nhưng cho mọi người nghe: - Tôi cũng mất ngủ và cứ lo ngay ngáy không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Bởi cứ nhắm mắt lại ngủ thì nghe tiếng hối thúc phải cưới vợ cho con trai mình. Mà ngặt nỗi, thằng con trai tôi từ nào đến giờ có chịu ai đâu mà cưới. Nó cũng không hề quen với cô gái nào, vậy mà không ngờ lại biết và... thương cô bé này... Bà giáo Thái vội nói: - Con gái tôi tên Mỹ Hương, chính nó về đây kể lại là có quen biết với người con trai tên Hảo và nhất quyết là phải cưới cho được người này, nếu không thì chính nó sẽ đi tìm cái chết, chớ không đợi ai giết hại cả. Trong khi tìm cách cho Hảo và Mỹ Hương ra chỗ khác nói chuyện, bấy giờ bà giáo Thái mới ngồi sát vào bà Dung, nói rất khẽ: - Trước mặt tụi nó tui phải kể lạc quan như vậy, chớ sự việc thì không phải đơn giản như vậy đâu. Chắc chị đã rõ? Bà Dung nhẹ gật đầu: - Dạ tôi biết. Nhân đây tôi muốn hỏi anh chị, phải ta chỉ cho chúng nó giáp mặt là xong chuyện không? - Tui cũng hy vọng là vậy. Nhưng theo nhà tui thì còn có những rắc rối khác. Để ông ấy kể cho chị nghe. Ông giáo Thái đưa ra một cái hộp nhỏ bằng bạc đã khá cũ vừa nói: - Đây là vật bắt đầu câu chuyện. Nó có suôn sẻ và êm xuôi là ở đây, nhất là ở người có duyên giữ nó. Bà Dung nhìn sững ông Giáo Thái, hỏi lại: - Và ai là người giữ nó? Bây giờ ông Giáo Thái mới kể rõ hơn: - Cách đây ba ngày trong lúc đào gốc cây mai để bón phân, tình cờ tôi thấy cái hộp này nằm dưới đất, vừa lấy lên thì tôi bị ngã vật ra, tay chân tê buốt và bị hành hạ suốt đêm đó... Bà Dung kinh ngạc: - Sao vậy? Trong cái hộp này có gì mà ghê gớm như vậy? Ông giáo Thái từ từ mở nắp hộp ra, để lộ một chiếc vòng cũng bằng bạc nằm gọn trong đó. Bà Dung vẫn chưa hiểu: - Nó chỉ là chiếc vòng, anh nói là bị hành hạ là sao? Bà giáo Thái chen vô nói: - Chị thử cầm nó lên coi, sẽ hiểu thôi. Bà Dung quên cả dè dặt, cầm ngay chiếc vòng lên nhìn kỹ cả hai mặt rồi giật mình: - Sao lại có tên của thằng con tôi ở đây vậy? Rõ ràng trên chiếc vòng cũ hiện lên dòng chữ: "Trần Thiện Hảo 19 tháng giêng... luật sư". Ông giáo Thái chưa kịp nói gì thêm thì bà Dung đã lẩm bẩm: - Đúng là tên họ và ngày sinh của thằng Hảo rồi... Ông giáo Thái tiếp: - Ban đầu tôi đâu biết cậu Hảo là ai, nghĩ chắc là ai đó làm thất lạc món đồ này. Nhưng ngay đêm đó tôi được ai đó hiện về trong giấc mơ gọi giật tôi dậy và phán bảo rằng nếu tôi không tìm được người con trai tên Hảo này đem về... làm rể thì cả nhà tôi phải chết. Sáng ra tôi kể lại cho nhà tôi nghe, bà ấy nói là tôi chiêm bao mộng mị, không tin. Đến khi chính bà ấy cũng bị y như vậy thì vợ chồng tôi mới tin là thật. Bà giáo Thái tiếp lời: - Có một cái vong bám theo chiếc vòng này, cứ ra lệnh cho tui phải làm theo lời bà ta. Tui tỏ ý không đồng tình thì suốt mấy đêm liền tui chẳng thể nào ngủ được. Có đêm tui còn bị đè đến muốn tắt thở luôn! Bà Dung chưa thể nào tin: - Tại sao có chuyện lạ kỳ như vậy? Anh chị nói cái vong là vong gì? - Thì là vong người chết! Chị chưa từng nghe nói đến vong hay hồn người chết à? Vong là hồn ma hiện về được! Bà Dung bắt đầu sợ: - Nhưng sao cái vong gì đó có cái vòng này và bắt ép anh chị là ý gì? Ông giáo Thái đành phải nói thẳng: - Họ muốn ép chúng tôi phải gả con gái cho người mà họ chọn. - Nhưng... người đó là ai? - Thì là con trai của chị! Bộ chị không thấy cái tên con chị nằm trên chiếc vòng sao? Bà Dung hốt hoảng: - Trời ơi, vậy ra con tôi bị... ma quỷ ám rồi sao? Ông giáo Thái thở dài: - Mà nào vợ chồng tôi có đứa con gái như ý họ đâu... Lời ông chưa dứt thì bà vợ đã chen ngang vô, có lẽ sợ ông nói hố: - Ý ông nhà tui muốn nói... chúng tôi chỉ có một đứa con gái rượu, nay phải nghe theo lời ép buộc này thì... Bà Dung bất nhẫn: - Tôi cũng đâu muốn ép uổng gì ai. Vả lại thằng con tôi nó kén cá chọn tôm dữ lắm chớ đâu phải... Nhưng vừa khi đó Hảo và Mỹ Hương cùng bước vô, họ cùng lên tiếng như một đôi song ca: - Dạ, tụi con thương nhau chớ có ép gì nhau đâu. Ba má yên tâm, mối lương duyên này là do trời định và tụi con chỉ biết tuân theo thôi! Vừa nói Mỹ Hương vừa giật chiếc vòng trên tay cha và phấn khởi nói: - Đây là tín vật của chúng con do trời ban cho, chớ phải tụi con tự tới với nhau đâu. Phải không anh Hảo? Hảo thường khi ít nói, nhất là nhát gái, giờ đây lại nhanh nhẩu: - Vợ con nói đúng! Bà Dung sững sờ nhìn con trai: - Hảo, con vừa nói... Hảo ôm vai Mỹ Hương, mặt lộ vẻ phấn khởi: - Tụi con đã quyết định rồi, hai đứa sẽ cưới nhau. Nay chỉ còn chờ ý của hai bên cha mẹ thôi! Mặc dù dẫn con đi tìm vợ do bị thúc ép, vậy mà khi nghe con nói, bà Dung lại một lần nữa kinh ngạc: - Con nói thiệt? Cả Mỹ Hương cũng lên tiếng: - Chuyện trọng đại sao dám nói chơi được má! Ông bà giáo Thái hình như không dám có ý kiến gì khác trong việc này, nên họ cùng gật đầu một lượt: - Các con tính sao cũng được. Bà Dung đành phải gật đầu theo: - Tùy con thôi... Mỹ Hương lấy chiếc vòng đeo vào tay Hảo, vừa dặn: - Đây là chiếc vòng hôn ước, anh đeo vô rồi thì vĩnh viễn không được tháo ra đó nghen! Hảo phấn khởi: - Đeo vô để chúng ta có đôi bên nhau thì dại gì mà cởi ra! Nhưng vừa đeo chiếc vòng vào tay thì bất ngờ Hảo kêu thét lên một tiếng rồi sau đó ngã bật ra nằm bất động. Bà Dung kinh hoảng: - Trời ơi, sao vậy con! Trong lúc mọi người lo sợ thì trái lại Mỹ Hương tỉnh táo như chẳng có gì xảy ra, cô nói: - Có như vậy thì mọi việc mới tốt đẹp. Thôi bây giờ má có thể về được rồi, còn anh Hảo thì má để bên này con lo, chiều cả hai con cùng về một lượt. Bà Dung đâu thể yên tâm: - Nhưng mà... nó bị như vậy... Mỹ Hương cúi xuống và thật bất ngờ, cô ta bế xốc Hảo trên tay, đi thẳng vào phòng trong trước sự ngơ ngác của hai bên cha mẹ. Chính bà giáo Thái cũng phải lên tiểng hỏi chồng: - Sao nó mạnh dữ vậy? Ông giáo Thái nhẹ lắc đầu: - Làm sao tôi biết được? À mà không, tôi muốn nói... con gái mới lớn mà, nó khỏe hơn mình nhiều. Bà không nghe người ta nói tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu sao! Bà Dung sững sờ giây lâu rồi Iắc đầu, chép miệng: - Tôi không thể nào hiểu nổi, nhưng tôi vẫn lo cho thằng Hảo... Bà giáo Thái lên tiếng: - Con gái tui đã nói rồi, chị cứ yên tâm ra về để chuẩn bị đám cưới cho tụi nó đi. Chớ điệu này tui e để lâu sẽ ăn thú phạt quá! Ông giáo Thái cũng nói: - Hổm nay tụi tôi đau đầu lắm rồi, nếu giải quyết được sớm thì trút cái gánh nặng ngàn cân này chắc tụi tôi làm heo ăn mừng quá! Lại sợ ông chồng nói hớ, bà vợ phải chận ngang: - Hổm nay ông ấy bị oan hồn ám nên nói năng cứ như là người cõi trên vậy đó. Thôi, nếu chị muốn về thì để tui biểu tụi nó đưa ghe cho về, đỡ mệt hơn đi xe. Bà Dung vẫn còn muốn hỏi thêm, bà kề tai bà sui gia hỏi nhỏ: - Tôi vẫn chưa biết cái vong, hay oan hồn là ai vậy? Mà tại sao họ lại can thiệp vô chuyện của con tôi và con anh chị? Bà giáo Thái hình như muốn né tránh nên nói lảng ra: - Chuyện này... có lẽ mình để sau này đi chị. Thôi, chị sửa soạn về, còn thằng Hảo thì để nó ngủ một lát sẽ dậy thôi. Nó bây giờ cũng giống như ông nhà tui lúc mới nhặt được chiếc vòng, ông cũng ngủ cả buổi mới tỉnh lại. Bà Dung ngẩn người ra một lúc mới dặn lại trước: - Anh chị Giáo nhớ lưu ý giùm thằng Hảo, tuy lớn vậy mà tính tình hời hợt lắm, nhiều khi... Lời bà chưa dứt thì từ trong có tiếng của Mỹ Hương vọng ra: - Má cứ yên tâm về đi, con lo được cho anh ấy mà. Chiều nay tụi con sẽ về ăn cơm, má nhớ dặn người làm nấu sẵn sớm tụi con về ăn! Chẳng còn cách nào hơn, bà Dung đành vừa lắc đầu vừa nói khẽ: - Toàn chuyện gì đâu không, chắc tôi đứng tim mà chết mất! Bà không đi ghe như gợi ý của vợ chồng giáo Thái mà tự kêu xe ngựa. Vừa về tới nhà thì bà đã nghe chị người làm nói: - Có một người khách tới tìm cậu Hảo, tui nói cậu đi vắng thì người đó vẫn xông vô nhà và còn nói rằng cô ta nhất định phải chờ để gặp cho được cậu Hảo! Bà Dung ngạc nhiên: - Cô ta đâu? - Dạ, ở trên phòng cậu Hảo. Bà Dung la toáng lên: - Sao không có tôi ở nhà chị lại dám cho khách tự tiện vô ra như vậy chớ? Chị người làm Hai Chanh sợ sệt: - Dạ thưa bà chủ, con không cho nhưng cô ấy cứ nhất quyết đi đại vô nhà rồi còn chạy thẳng lên phòng cậu Hảo nữa. Con chưa kịp ngăn lại thì cô ấy đã đóng kín cửa phòng rồi ở miết trong đó cho tới giờ! Bà Dung tự hỏi: - Ai vậy? Không lẽ thằng Hảo có bạn gái nào khác sao? Bà vội đi lên lầu, gõ cửa phòng con trai. Từ bên trong có người lên tiếng: - Cửa không khóa, vô đi! Nghe tiếng quen quen nên bà Dung đẩy nhanh cánh cửa và sững sờ khi thấy người đang nằm trên giường là... Mỹ Hương, con gái ông bà giáo Thái mà mình mới gặp bên nhà. Bà lắp bắp hỏi: - Sao con về đây trước bác? Cô gái lắc đầu: - Tui tới tìm người tên Hảo, còn bà đây là...? - Kìa, bác là má thằng Hảo đây, sao con không nhận ra bác hả Mỹ Hương? Cô gái nghiêm giọng: - Tui không phải là Mỹ Hương, mà là Ngọc Hạnh. Bà chưa trả lời câu hỏi của tui. Bà Dung trố mắt: - Con... cô nói sao? Bác già rồi nhưng đâu có lẫn mà mới tức thời đây đã quên! Con là Mỹ Hương, con gái ông bà giáo Thái ở bên Thiện Nhơn! Cô gái gay gắt: - Tui nói rồi, tui là Ngọc Hạnh và tui tới đây không phải để thăm bà, mà là đòi nợ thằng con trai! Trước thái độ căng thẳng của cô ta, bà Dung phải dịu giọng: - Tôi xin lỗi... Nhưng không thể nào... nhất định... Bà định quay xuống nhà gọi Hai Chanh, nhưng chừng như biết ý bà nên cô gái tên Ngọc Hạnh đã chận ngang: - Bà đừng sai người đi kêu ai đó tới, tui không ngại giết chết họ ngay đâu! Bà hãy bước vô đây nghe tui hỏi, khôn hồn nghe lời thì sống, mà cãi thì... thì chuyện xảy ra ắt bà đoán biết rồi. Trước lời đe dọa đó bà Dung đành riu ríu bước vô phòng. Bà chưa kịp ngồi xuống đã nghe cô gái hỏi: - Bà có nhìn thấy cái này chưa? Cô ta đưa ra một chiếc vòng bạc giống y như chiếc vòng bà Dung mới nhìn thấy ở nhà giáo Thái. - Ủa, sao nó lại ở đây? Cô gái hỏi lớn: - Bà thấy vật này ở đâu? Tình thật bà Dung kể: - Tôi mới vừa thấy ở nhà vợ chồng giáo Thái bên Thiện Nhơn, sao cô cũng có? Cô gái hét lên: - Quân chó má, bọn chúng đã ra tay trước ta rồi! Chẳng hiểu ất giáp gì, bà Dung ngơ ngác: - Cô nói vậy là sao? Cô ta gầm gừ như con hổ cái: - Chúng mày tính qua mặt tao phải không? Đâu có được! Phải cho tụi bây biết tay mới hiểu hậu quả của hành động ngu xuẩn là như thế nào! Cô đứng vụt dậy, đôi mắt long lên tia hung ác khiến cho bà Dung phát khiếp, lùi lại. Cô ta quát lớn: - Bà dẫn tui qua chỗ đó ngay bây giờ! - Đi... đi đâu? - Nhà có chiếc vòng mà bà vừa nói! Giọng bà Dung run rẩy: - Cô ơi, chính cô là người biết chuyện đó mà. Chính cô là Mỹ Hương mà... Cô nàng thẳng tay bóp mạnh cổ bà, khiến bà Dung gần nghẹn họng, bà cố kêu lên: - Tôi... tôi chết... Thẳng tay cô nàng xô một cái thật mạnh, làm cho bà già té sấp xuống sàn nhà, trước mắt tối sầm lại, bên tai bà còn nghe văng vẳng: - Muốn chết thì tao cho chết hết! - Cô... xin cô... Bà Dung chỉ kêu lên được mấy tiếng rồi ngất lịm… Chương 2 Nỗi oan Choàng tỉnh lại, nhìn thấy Mỹ Hương và Hảo trước mặt, bà Dung kêu thét lên: - Đừng hại tôi! Hảo hốt hoảng lên tiếng: - Má sao vậy, con và Mỹ Hương đây mà! Bà nhìn thẳng vào Mỹ Hương vừa xua tay lia lịa: - Cô... cô này mới vừa ở đây... Mỹ Hương phải lên tiếng ngay: - Con chờ anh Hảo tỉnh lại ở nhà con thì đúng vào giờ cơm, ba má con bắt phải ăn rồi mới được đi. Ăn cơm xong là tụi con đi ngay, mới vừa về tới đây thì nghe chị Hai Chanh nói má có khách tới thăm mà lại tiếp trên phòng anh Hảo, nên con mới chạy lên ngay và... thấy má đang nằm ngủ say! Bà Dung chưa tin hẳn nên bật ngồi dậy quay sang Hảo, hỏi bằng giọng sợ sệt: - Đã có ai tìm con chưa? Hảo ngơ ngác: - Ai tìm đâu má? - Một cô gái... mà cô ấy lại giống... giống y như cô này. Nghe bà gọi mình là cô, Mỹ Hương kêu lên: - Bộ má không nhận con là con dâu sao! Má... Hảo cũng nói: - Sớm muộn gì thì Mỹ Hương cũng là dâu con của má rồi, má đừng... Bất chợt nhìn thấy chiếc vòng bạc trên cổ tay Hảo, bà kêu lên: - Chiếc vòng ấy cũng giống hệch như chiếc này! Cô ta cũng có một chiếc... Hảo gắt lên: - Má nói cô nào? Bà Dung phải nói thật: - Có một cô gái đột nhập vô phòng con đây, cô đưa ra một chiếc vòng bạc giống như chiếc này rồi hỏi má có biết không. Sau khi nghe má nói vừa nhìn thấy nó ở nhà anh chị sui gia thì cô ấy giận dữ, trừng mắt nhìn má rồi còn hăm dọa sẽ giết hết người bên nhà... anh chị sui gia nữa! Mỹ Hương hốt hoảng: - Nguy rồi! Điều này có nghĩa là... Cô quay sang nói với Hảo: - Anh ở lại đây lo cho má, em phải chạy về nhà gấp. Cô phóng ra ngoài chạy như bị ma đuổi nhưng dẫu vậy khi về tới nơi thì mọi việc đã quá trễ. Cả hai ông bà giáo Thái đã nằm gục trong nhà. Miệng của hai người đều trào máu. Đúng ra trước cảnh như vậy thì Mỹ Hương phải gào khóc và tức tốc báo động để gọi người cấp cứu. Đằng này cô lại lặng lẽ bỏ đi và biến mất ở khu nhà mồ dòng họ Henri Phạm ngay trong khuôn viên nhà ông giáo Thái. Nửa giờ sau Hảo cũng có mặt. Anh không thể yên tâm để Mỹ Hương đi một mình nên vụt chạy theo. Khi vào nhà anh chẳng còn nhìn thấy cảnh tượng mà Mỹ Hương mới thấy, có nghĩa cả hai ông bà giáo Thái đã không còn nằm ở đó nữa. Chỉ còn lại hiện trường mấy vết máu... Chưa biết chuyện gì đã xảy ra, Hảo cố tìm kiếm khắp nhà, nhưng chẳng hề thấy bóng dáng ông bà Giáo đâu. Chợt nhìn thấy một chiếc khăn tay màu xanh nằm trên vạt cỏ, Hảo giật mình kêu lên: - Cái này của Mỹ Hương mà? Anh nhặt lên và tự dưng hướng mắt về phía cuối khu vườn. Linh tính báo cho Hảo biết có điều gì ở nơi đó... Bước một cách dè dặt về phía đó, Hảo phát hiện ra một dãy nhà xây kiên cố đã cũ, nhưng hình như không phải để ở, mà Ià... nhà mồ. Quả đúng như vậy, khi nhìn thấy dòng chữ trên tấm biển "Mộ phần nhà họ Henri Phạm" thì Hảo kêu lên: - Đây là nơi chôn cất dòng họ của Mỹ Hương! Tò mò, Hảo không ngại khi bước thẳng vào bên trong nhà mồ và giật mình khi nhìn thấy chỉ có hai ngôi mộ xây bằng loại đá gì đó ánh lên màu đỏ phản chiếu ánh ngọn đèn le lói trên tường đến chói mắt. Điều gây ngạc nhiên nhất đối với Hảo là cả một ngôi nhà mồ to lớn có thể chứa cả vài chục ngôi mộ mà chỉ trơ trọi có hai mộ phần. Phải chăng là nơi chôn cất hai người đức cao vọng trọng nhất của dòng họ? Suy đoán không bằng đến gần xem thực tế, Hảo bước tới phía trước hai ngôi mộ và giật mình khi nhìn thấy hai mộ bia rất giống nhau từ hình thức cho tới tên họ người chết. Mộ bên trái mang tên Mỹ Hạnh còn mộ bên phải là Mỹ Hương. - Sao lại là... Mỹ Hương? Hảo kêu lên kinh ngạc rồi đứng thừ người ra. Một luồng khí lạnh đang chạy dọc theo sóng lưng anh, càng lúc càng lạnh hơn khiến Hảo bắt rùng mình. - Trời ơi, chẳng lẽ... Anh cố đọc kỹ dòng chữ ghi ngày tháng năm sinh và một lần nữa kêu lên: - Đúng là cô ấy! Sinh ngày 15.03.1951 và chết ngày 18.06.1971 tức mới chết chưa đầy hai năm, lúc mới vừa tròn hai mươi tuổi! Hảo nhẩm tính và gần bị choáng, vừa lúc anh đọc thêm mộ bia kế bên của người tên Mỹ Hạnh. Cô này sinh ngày 15.03.1951 và cũng chết ngày 18.06.1971 y như của Mỹ Hương. - Họ cùng sinh và cùng chết một ngày! Vậy là... hai chị em song sinh! Hảo rùng mình một lần nữa khi nhớ tới việc sáng nay anh đã trao đổi nụ hôn đầu tiên với Mỹ Hương tại khu vườn nhà này! Khi ấy chính Mỹ Hương đã hỏi anh một câu mà đúng ra nếu anh tỉnh táo, không bị chìm trong mê muội thì đã hiểu ngay ý nghĩa của nó. Câu hỏi quá rõ ràng: "Nếu có một người không còn sống trên đời này nói yêu anh thì anh nghĩ sao? Anh có yêu người ta không?" Lúc ấy Hảo đang như nguời cõi trên, anh chỉ biết rút đầu vào ngực cô nàng mà không đáp. Để rồi sau đó đã nói một câu thật mơ hồ: - Được yêu thì phải yêu cho xứng với tình yêu của người ta cho mình... Mà cũng kỳ lạ thật, lúc đó tại sao Hảo không hỏi cho rõ ràng tại sao là người sống mà cô nàng có thể lọt vào phòng riêng của anh một cách dễ dàng như thế được? Nhớ lại những giấc mơ mà mẹ anh kể khiến cho Hảo càng khó hiểu hơn. Cũng như thái độ lập lờ của cha mẹ Mỹ Hương nữa, chắc chắn là còn có điều gì đó bí ẩn trong ngôi nhà này... Hảo muốn bỏ ra ngoài, nhưng bất chợt anh lại nhìn thấy một vạt áo màu xanh quen thuộc của Mỹ Hương còn ló ra ngoài chỗ nắp đậy ngôi mộ đá. - Của Mỹ Hương! Sự thắc mắc và tò mò đã khiến Hảo đâm ra liều. Anh có một quyết định mà nếu lúc khác thì sẽ chẳng bao giờ làm như vậy. Anh đưa tay đẩy thử nắp mộ phần. Và... cái nắp xê dịch một cách nhẹ nhàng! Cứ nghĩ tới một thi thể như còn sống của Mỹ Hương trong đó, Hảo hơi run... đến khi nguyên phần bên trong mộ huyệt lộ ra thì Hảo mới thét lên: - Trời ơi! Người đang nằm trong phần mộ không phải là Mỹ Hương, mà chính là... bà giáo Thái! - Trời ơi, sao... sao vầy nè? Hảo vừa hỏi vừa bước lui ra mấy bước. Bất chợt lưng anh va vào một người nào đó ở phía sau. Hảo quay lại và kêu thét lên: - Trời ơi! Thì ra người đứng ngay phía sau Hảo chính là... Mỹ Hương! Hảo cố đứng vững, nhưng đôi chân cứ như bị ai kéo xuống, lảo đảo... Bỗng anh bị bàn tay của Mỹ Hương chụp lấy và nàng nhe răng ra chẳng biết là cười hay khóc mà chỉ mới thoạt nhìn vào Hảo đã rụng rời. Bởi hai bên khóe miệng là hai chiếc răng nanh nhô ra! - Mỹ Hư... ơ... ng, e...m... Hảo kêu chưa trọn tên thì đã bị ngay một cái tát cực mạnh, kèm theo tiếng quát: - Còn kêu tao là Mỹ Hương nữa thì tao sẽ cắt luỡi! Bây giờ Hảo mới sửng sốt nhìn kỹ. Mặt mày thì giống hệch, chỉ có cách ăn mặc thì không giống, nhất là giọng nói thì khác xa. - Cô là... Hảo đưa mắt nhìn xuống mộ bia có tên Mỹ Hạnh và chợt hiểu. Anh lắp bắp: - Cô là Mỹ Hạnh! Cô ta không đáp, lại đưa tay kia hình như định kéo Hảo tới gần hơn. Vô tình cổ tay có đeo chiếc vòng bạc của cô ta va chạm vào chiếc vòng trên tay Hảo, vang lên một tiếng khô khan và... cùng với một tiếng thét kinh hoàng từ miệng cô nàng. Rồi trước sự kinh ngạc của Hảo, cô ta lảo đảo ngã xuống. - Cô Mỹ Hạnh! Hảo cúi xuống định đỡ cô ta dậy thì ngẫu nhiên lại chụp đúng cổ tay có chiếc vòng bạc. Chẳng hiểu chiếc vòng rộng hay sao, mà vừa nắm phải thì nguyên cái vòng đã nằm gọn trong tay Hảo. Và... chẳng thể nào tin nổi, thân thể của cô nàng bỗng dưng bốc cháy, khói bốc lên xanh cả một góc phòng. Khi khói tan thì chẳng còn trông thấy thi thể của Mỹ Hạnh đâu nữa. Hảo bàng hoàng: - Trời ơi! Vừa lúc ấy chiếc vòng bạc trong tay Hảo bỗng lóe sáng rồi có một luồng khí lạnh buốt chạy theo cánh tay anh, chạy lên tận đầu. Hoảng quá, Hảo tìm cách đặt chiếc vòng xuống nhưng không tài nào tháo ra được. Mà khí lạnh thì càng lúc càng mạnh thêm, khiến cho Hảo hầu như không còn kiểm soát được mình nữa. Anh lấy tay này chụp qua tay kia và chiếc vòng anh đang đeo cũng phát ra luồng khí lạnh khác, giống y như chiếc vòng kia. Hảo quýnh quá, liền kéo mạnh, chiếc vòng đó cũng rơi ra như chiếc kia và... cả hai rơi chồng lên nhau. Lúc ấy cái cảm giác kỳ lạ mới chấm dứt. Hảo ngơ ngác: - Sao kỳ vậy? Anh cúi xuống nhìn kỹ vào hai chiếc vòng và càng ngạc nhiên hơn khi trên vòng dòng chữ tên của anh bây giờ có thêm hai chữ Mỹ Hương lồng vào, còn chiếc kia thì thêm hai chữ Mỹ Hạnh xoắn lấy chữ Thiện Hảo. Hảo hoang mang cực độ, anh lẩm bẩm: - Sao lại có chuyện này? Tại sao là Mỹ Hạnh? Vừa khi ấy Hảo nghe có tiếng động ở phần mộ, vừa quay lại anh đã hoảng kinh khi thấy bà giáo Thái đang trèo ra, vừa run lập cập. - Cứu... cứu ông ấy với! Hảo ngạc nhiên: - Cứu ai bác? - Ông nhà tui! Ông ấy bị... Bà run run vừa đưa tay chỉ vào phần mộ kế bên. Hảo kinh ngạc: - Ai ở trong đó? - Ông nhà tui... Hảo vừa đưa tay vịn vào thì nắp mộ đá dịch chuyển, rồi một cánh tay đưa lên. Trong lúc Hảo còn đang sợ sệt chưa dám đưa tay nắm lấy, thì bà Giáo đã nhào tới ôm lấy, cố kéo ra. Hảo buộc lòng phải tiếp bà cùng kéo mạnh. Ông giáo Thái ra ngoài rồi mà vẫn còn choáng, ông lảo đảo phải vịn vào thành mộ mới đứng vững. Ông cất giọng yếu ớt: - Con nhỏ đâu rồi bà? Bà giáo Thái lắc đầu: - Tui đâu có biết... Ông giáo Thái lẩm bẩm: - Con Mỹ Hạnh... nó đâu có để cho yên... Hảo chỉ xuống đất và nói nhanh: - Cô ấy mới ở đây và... biến mất rồi! Anh thuật nhanh cho ông bà giáo Thái nghe và hỏi lại: - Cô ấy là ai mà có vẻ không thiện cảm với cháu và hình như là cả nhà này nữa. Hai ông bà chừng như còn bị choáng sau khi bị lôi từ trong mộ huyệt ra, nên nhất thời họ chưa trả lời câu hỏi của Hảo. Mãi khi chợt nhớ ra điều gì đó, ông Giáo mới sợ sệt hỏi: - Lúc nãy gặp nó, con có nghe Mỹ Hạnh nói gì hoặc làm gì không? Chỉ vào hai chiếc vòng bạc, Hảo đáp: - Có lẽ mọi thứ xuất phát từ những chiếc vòng này. Tại sao nó ở trong tay hai cô gái và đều có dính dáng tới cháu? Ông giáo Thái sau một lúc ngập ngừng đã phải nói ra điều mà vợ chồng ông có vẻ giấu từ lâu: - Nói thiệt với con, trong hai đứa này chỉ có con Mỹ Hạnh là con ruột của hai bác. Còn Mỹ Hương... Tưởng mình nghe lầm, Hảo hỏi lại: - Bác nói ai? Bà giáo Thái giọng buồn hiu: - Chính là con Mỹ Hạnh! - Vậy còn Mỹ Hương? - Đây là điều bất hạnh của gia đình bác, mà bây giờ có nói sơ lược thì con cũng không thể hiểu rõ nội tình. Hay là thế này... Bà quay sang ông giáo Thái hỏi ý: - Hay là tối nay mình lưu Hảo ở lại và kể hết cho nó nghe? Ông giáo Thái gật đầu: - Phải như vậy thôi. Hảo nghĩ thế nào nếu hai bác mời cháu ở lại đây? Hảo không cần suy nghĩ thêm, anh gật đầu liền: - Dạ, con sẽ ở lại. Miễn là... Chừng như hiểu sự đắn đo của Hảo, ông giáo Thái nói nhanh: - Cháu cần phải nhìn tận mắt, nghe tận tai thì mới có thể tin và cảm thông cho hai bác được. Thật ra vừa rồi hai bác đã gạt con và cả mẹ con nữa... Câu nói đó khiến cho Hảo sững sờ: - Hai bác nói thiệt? Ông giáo Thái cúi xuống nhặt hai chiếc vòng lên và gói lại bằng chiếc khăn tay một cách cẩn thận, rồi bảo: - Chính hai vật này nó đã hại bác và suýt nữa thì con cũng bị liên lụy. Ông ra dấu cho Hảo rời khỏi ngôi nhà mồ với vẻ e dè và cẩn thận khóa cửa ngoài. Đồng thời ông bẻ vẹo cả hai chiếc vòng ra, rồi sau đó móc nó trở lại làm thành một vòng khóa thứ hai, rồi mới bỏ di. Hảo chưa hiểu hết câu chuyện, nhưng cũng đi theo họ vào nhà. Khi đã ở trong nhà rồi ông giáo Thái mới an tâm nói: - Chính bác là người đi tận Thái Lan để mướn người ta làm hai chiếc vòng đó, chỉ nhằm cho cháu vào tròng, đồng thời cứu con gái của hai bác là Mỹ Hạnh. Nhưng không ngờ... Nhưng lời của ông giáo Thái, Hảo càng nghe càng không tài nào hiểu nổi. Anh ngơ ngác hỏi lại: - Bác nói gì vậy? Sao lại có cháu trong đó? Bà giáo Thái tỉ mỉ hơn: - Số là mười tám năm trước bác sinh một đứa con gái trong nhà bảo sinh tư nhân ở thị xã, nó có một cái bớt đen vắt ngang vai, nên vừa sinh nó ra bác đã linh tính sẽ có chuyện gì đó bất thường. Mà quả thật vậy, chỉ mới sinh được hai giờ thì con nhỏ khóc thét lên, dỗ gì cũng không nín. Người nó tím tái mà ngay như hộ sinh và bác sĩ cũng chẳng làm cách nào cho nó nín. Bác hoảng quá nên cứ nằm bên con mà khóc. Có một lúc vì quá mệt bác đã ngủ thiếp đi. Đến khi tỉnh dậy bác đã vô cùng sửng sốt khi nhìn thấy bên cạnh con mình còn có một đứa trẻ khác nằm ngủ ngon Iành. Nói thiệt, lúc đó bác không thể nào tin được, bởi hai đứa trẻ giống nhau như hai giọt nước, đến bác mà cũng lầm! Phải sau đó khi vạch lưng ra xem, bác mới biết đứa trẻ lạ khác con Mỹ Hạnh nhà bác là ở chỗ trên vai nó không có cái bớt màu đen quái dị. - Nhưng... đứa trẻ đó ở đâu ra. Đó có phải là Mỹ Hương sau này không? Bà giáo Thái thở dài đáp: - Đúng là vậy! Nhưng nó ở đâu ra thì bác không thể biết. Ông giáo Thái kể tiếp: - Khi bác vô bảo sinh viện thăm thấy sự việc như vậy bác mới đi hỏi khắp các phòng, chẳng ai biết tung tích đứa bé. Cũng may, sau đó khi bác gái thay tả cho nó thì phát hiện ngay dưới lưng nó có những chữ viết chi chít trên lưng, những chữ có nội dung kỳ lạ vô cùng! Hảo càng nghe càng bị thu hút bởi câu chuyện, anh lắng nghe kỹ những lời kể tiếp theo của ông giáo Thái: - Nội dung những dòng chữ đó đại ý nói rằng đứa bé đó ra đời là từ một lời nguyền của một người có tên là Xuân Hương, người ấy căm thù một người đàn ông có tên là Trần Thiện Hữu, nên muốn đứa con rơi của mình lớn lên và tìm kẻ thù để báo cho được hận mà mẹ nó khi chết đi đã không báo được. Và hai bác là người có nghĩa vụ phải nuôi đứa trẻ ấy lớn lên, cho đến khi nào nó báo được thù mới thôi! Bà giáo Thái tiếp lời chồng: - Chúng tôi đâu còn cách nào khác ngoài việc phải làm theo lời dặn lạ kỳ đó. Tôi nuôi con bé và đặt tên là Mỹ Hương, gần giống như Mỹ Hạnh con ruột mình. Một tuần sau khi sinh, tôi đưa cả hai đứa con về nhà. Nửa đêm hôm đó tui nghe có tiếng ai đó gọi ngoài cửa sổ bảo rằng phải ra gốc cây ngoài vườn, đào lấy lên hai vật mà bắt buộc phải đeo nó vào cổ tay hai đứa trẻ. Họ bảo rằng nếu để lạc mất một trong hai vật đó thì mạng sống của hai đứa trẻ sẽ bị nguy và người nuôi dưỡng chúng cũng bị ảnh hưởng! Bà nói tới đó thì ngừng lại, có thể do hết hơi, hoặc vì lý do gì đó... Ông giáo Thái lại phải nói tiếp: - Chính tôi là người đem cuốc ra gốc cây trúc đào ngoài vườn, đào xuống và gặp hai vật ấy. Đó là đôi vòng bằng bạc mà cháu nhìn thấy hồi nãy. Hảo chận ngang hỏi: - Nhưng sao trên hai chiếc vòng lại có in tên của cháu? - Đúng là ban đầu không phải là tên của cháu đâu, mà là mang tên Trần Thiện Hữu! Hảo hốt hoảng: - Sao là Trần Thiện Hữu? Mà Trần Thiện Hữu nào? Ông giáo Thái lắc đầu: - Bác cũng không biết. Mãi về sau này khi gặp mẹ cháu, bác mới biết người đó là... Hảo bàng hoàng: - Có phải là ba cháu không? Ông giáo nhẹ gật đầu: - Rất tiếc là... đúng như vậy! - Không thể nào! Hảo kêu lên và đứng bật dậy. Anh lặp lại: - Ba cháu chết đã lâu, mà ông cũng không thể nào dính tới những người đó! Ông giáo Thái cũng đứng lên, ông bước vô phòng riêng, lát sau trở ra với một bức ảnh đã khá cũ cầm trên tay, đưa cho Hảo và hỏi: - Cháu xem ảnh này có phải là cháu và ba cháu không? Vừa cầm tấm ảnh xem, Hảo đã thảng thốt kêu lên: - Ba con đây mà! Trong ảnh, Hảo chụp với cha hồi năm anh mới lên mười tuổi, tức trước khi cha chết năm sáu năm. - Sao bác có tấm ảnh này? - Bác đào lên được từ dưới gốc cây như vừa kể, cùng với hai chiếc vòng bạc! Hảo càng kinh ngạc hơn: - Sao tấm ảnh này lại ở dưới gốc cây? Ông giáo Thái trầm giọng xuống: - Điều này là như bác nói lúc nãy, nó dính tới một lời nguyền. - Lời nguyền của ai? - Của người tên Xuân Hương nào đó. Nhưng rủi là nó lại ứng vào nhà của bác, vào đúng đứa con duy nhất của hai bác, con Mỹ Hạnh! Ông ngừng lại một lúc rồi giải thích tiếp một cách cặn kẽ: - Ba cậu ngày trước có quan hệ tình cảm với một người con gái tên Xuân Hương. Chẳng hiểu thế nào mà cô gái ấy nửa chừng xuân gãy cánh thiên hương. Cô gái yểu mạng đó chẳng hiểu sao lại hận thù cha cậu và tìm cách báo oán mà chưa có dịp. Ngôi nhà này trước kia là của một ông Đốc phủ sứ, sau bán lại cho tôi. Có lẽ sự trùng hợp ngẫu nhiên đã khiến chúng tôi dính vào vụ này. Có nghĩa là chúng tôi bị dính vô điều rắc rối mà đúng ra là của ba cậu. Có lẽ oan hồn cô Xuân Hương đó lầm tưởng tôi là cha cháu, cho nên mới báo thù ngay đứa con đầu lòng của tôi... Hảo chận ngang: - Rồi đứa bé mà sau này là Mỹ Hương thì sao? Bà giáo Thái chen vô: - Đó là... đứa con cõi âm, do oan hồn cô Xuân Hương tạo ra để báo oán! Đấy là sự hiểu lầm mà vợ chồng tôi phải lãnh đủ. Như nhà tôi vừa kể, âm hồn nghĩ chồng tui là cha cháu, ông Trần Thiện Hữu! Đến phiên ông tiếp: - Hai cái vòng đó thật ra mang tên Trần Thiện Hữu. Tôi biết là cái vòng của cô Xuân Hương đã làm và báo oan sai người, cho nên tôi mới tìm thầy cúng và được biết cách hóa giải hữu hiệu nhất là phải có thầy giỏi, có khả năng làm ra hai chiếc vòng khác, ghi tên người khác để cho hai đứa bé đeo thay vì đeo đôi vòng mang tên Trần Thiện Hữu. Và như tôi đã nói, tôi đã được người hướng dẫn sang tận Thái Lan để cậy một ông thầy bùa danh tiếng bên đó, nhờ ông ấy gỡ đôi vòng có lời nguyền kia, đem về một đôi vòng mới mang tên Trần Thiện Hảo. - Nhưng sao lại là tên cháu? - Điều này tôi hoàn toàn không biết, mà là do chính ông thầy người Thái Lan tạo ra. Có thể ông ta làm theo bản năng, cái tên Trần Thiện Hảo đối xứng với Trần Thiện Hữu, Hữu - Hảo, hoặc là do hận thù! Hảo bỗng hỏi: - Ông thầy người Thái tên là gì? - Tôi còn nhớ rất rõ, ông ta là Sinakul Thong Sác! Hảo sửng sốt: - Thong Sác! Trời ơi, có lẽ nào... Tới phiên vợ chồng Giáo Thái kinh ngạc: - Sao vậy? Cháu biết người này? Hảo lắp bắp: - Đó là... là người quen cũ của mẹ cháu! Ông ta ngày xưa làm thầy ở xứ này, sau thất tình khi mẹ cháu đi lấy chồng nên bỏ xứ ra đi. Mẹ cháu từng kể nhiều lần tên ông ta, ngày còn sống ba cháu cũng đã đôi lần đi tận Thái Lan để tìm, bởi giữa hai người có mối hiềm khích từ xa xưa... Bà giáo Thái bịt miệng: - Vậy thì đúng rồi! Thảo nào khi ông nhà tui tìm sang đó, sau khi kể chuyện thì ông ta tự ý làm đôi vòng khác, khắc tên Trần Thiện Hảo lên đó. Có lẽ ông ta nhằm trả thù, muốn hại giọt máu kẻ tình địch của mình! Hảo ôm đầu rên rỉ: - Trời ơi, sao người ta lại nhẫn tâm, báo thù ngay trên một đứa trẻ con như cháu? Hảo muốn bỏ đi, anh định về nhà hỏi mẹ đôi điều nhưng vừa lúc ấy ông giáo Thái gọi lại và nói thêm: - Bác còn chưa nói hết cho cháu nghe, khi được mười tuổi thì con Mỹ Hạnh của bác bỗng ngã bệnh. Nằm dưỡng bịnh được mấy ngày thì một hôm nó biến mất cho đến ngày nay. Sau hơn một năm chờ đợi trong vô vọng thì một đêm kia bác mơ thấy nó hiện về kêu gào thê thảm. Bác hỏi thì nó chẳng những không kể nguyên nhân mà lại chỉ thẳng vào mặt bác mắng xối xả, bảo rằng bác nuôi con người khác, bỏ bê nó. Bác nói gì nó cũng không nghe và trước khi nó đi nó còn lớn tiếng hăm dọa là sẽ khiến cho vợ chồng bác thê thảm mới hả dạ! Bà giáo Thái lại phải tiếp sức với chồng kể tiếp, bởi kể tới đó thì do quá xúc động nên ông giáo Thái không còn đủ sức nói nữa: - Sau đó bác mới hiểu ra, do khi đem hai chiếc vòng từ Thái Lan về, thay vì cho cả hai đứa trẻ đeo như lời dặn của ông thầy Thong Sác, đằng này chỉ cho có một mình con Mỹ Hạnh đeo, chỉ vì nó là con ruột của mình, chúng tôi muốn bảo vệ nó. Hảo buột miệng: - Có nghĩa là hai bác có ý muốn bỏ rơi Mỹ Hương! Bà giáo Thái thật lòng: - Quả là có như vậy, nhưng không phải chúng tôi bỏ rơi con Mỹ Hương, mà đúng hơn là sợ... Bởi ông Thong Sác đưa hai cái vòng đó và dặn kỹ rằng khi lớn lên chỉ đứa nào trong hai đứa mà được lời cầu hôn trước thì sẽ tồn tại, đứa còn lại sẽ khó toàn mạng. Do đó mà chúng tôi chỉ cho con Mỹ Hạnh đeo một chiếc vòng, còn chiếc kia thì đem chôn dưới đất. Không ngờ... Ông giáo Thái nói: - Không ngờ con Mỹ Hạnh chết mất xác, mang theo chiếc vòng đang đeo trong tay. Từ đó vợ chồng tôi nghĩ rằng con ruột của mình đã chết rồi thì còn giữ gìn gì nữa, nên tình cảm có chuyển sang cho con Mỹ Hương. Bởi dẫu sao thì vợ chồng tôi cũng nuôi nó từ tấm bé và suốt thời gian dài như vậy chẳng hề phát hiện nó có chút gì là con của ma quỷ cả. Có lẽ vì vậy mà vong hồn con Mỹ Hạnh sinh ra oán hận chúng tôi, cho là chúng tôi không thương nó! Hảo vẫn còn thắc mắc: - Nhưng sao hai bác lại xây cái nhà mồ mà trong đó có cả mộ của hai cô? Bà giáo Thái chợt khóc nức nở: - Là bi kịch mà vợ chồng tôi phải nhận lãnh đó, chớ đâu phải Iàm theo ý muốn đâu. Đầu tiên con Hạnh hiện về buộc vợ chồng tôi phải xây một cái mộ dành cho... con Mỹ Hương! Tôi hỏi sao con Mỹ Hương còn sống mà lại xây mộ thì nó bảo rằng nó muốn con Mỹ Hương chết theo nó và phải bị nhốt trong một nhà mồ như vậy và nó sẽ là người canh giữ không cho con Mỹ Hương sống, kể cả trong thế giới vô hình! Thì ra khi bị oan hồn cô Xuân Hương hại chết, nó trở thành ma, một thứ hồn ma đồng trinh nên linh ứng và nguy hiểm hơn cả oan hồn của Xuân Hương và nó quay lại trả thù ngay cả giọt máu rơi của ma là Mỹ Hương! - Nhưng tại sao trong nhà mồ có tới hai mộ huyệt cho cả hai cô? Ông giáo Thái lắc đầu: - Tôi cũng chẳng biết tại sao. Bởi khi vừa xây xong ngôi mộ dành cho Mỹ Hương thì ngay sáng hôm sau đã thấy có thêm ngôi thứ hai mà chẳng biết ai xây. Bà giáo Thái thì quả quyết: - Chắc chắn là vong hồn cô Xuân Hương rồi! Bởi mấy đêm liền tôi đều nghe tiếng cãi vả bên ngoài vườn, lắng nghe kỹ tôi nhận ra trong hai người cãi có tiếng của Mỹ Hạnh. Nó cãi với người tên Xuân Hương. Thì ra khi chết thành ma thì con Mỹ Hạnh không còn sợ người bắt hồn nó nữa, mà ngược lại nó đâm ra muốn diệt luôn cái mầm mống của Xuân Hương. Nó bây giờ hầu như chẳng còn biết phân biệt ai là ai hết! Hảo nhớ lại khi hai chiếc vòng chạm nhau thì Mỹ Hạnh ngã lăn ra rồi bốc cháy, anh kể cho ông giáo Thái nghe. Vừa nghe xong ông nói liền: - Bác đã nghe cháu kể rồi, do vậy khi ra khỏi nhà mồ bác mới dùng hai chiếc vòng để khóa cửa lại. Theo bác, cách ấy sẽ khống chế được cả hai, bởi hai chiếc vòng đều là sản phẩm của ông thầy yểm bùa nổi tiếng, nó có khả năng triệt tiêu luôn những oan hồn uổng tử lộng hành. Hảo nhìn hai người, dè dặt hỏi: - Nhưng sao hai bác lại bị nhốt trong nhà mồ, mà lại nằm trong hai cái mộ huyệt đó? Vậy xác hai cô ở đâu? - Cả hai đều không có xác, con Mỹ Hạnh thì đã mất xác ngay lúc còn nhỏ, còn con Mỹ Hương thì cách đây một năm cũng đã mất tăm, nghe nói chết trôi. Nhưng vong hồn hai đứa thì lúc nào cũng bám theo vợ chồng bác, cứ thúc giục bác phải tìm chồng cho chúng, mà nhất thiết phải là người con của ông Trần Thiện Hữu thì chúng mới chịu! - Vậy ra hai bác tìm được cháu và gạt cho cháu tới để sa vào chiếc bẫy của hai cô con gái nhà bác? Ông giáo Thái buồn bã lắc đầu: - Hai bác chỉ muốn được yên thân thôi! Còn đưa cháu tới đây thì bác làm sao biết cháu là ai, ở đâu mà gọi tới. Chuyện này là do các hồn ma hoặc là do... mẹ cháu! Hảo bài bác ngay: - Mẹ cháu làm sao hại con mình mà đưa cháu tới đây? Nhất định là có uẩn khúc gì đây. Hảo dứt khoát bỏ đi, anh về nhà. Thấy Hảo trở về chị người làm Hai Chanh mừng khôn xiết: - Bà tỉnh lại lâu lắm rồi, cứ hỏi cậu đi đâu, tui đoán là cậu qua nhà Mỹ Hương nên nói đại. Bà hoảng hốt cứ đòi theo qua bên đó, nhưng do hai chân còn quá yếu đi không được nên bà cứ nằm đó khóc gào, cứ hối tui đi kêu cậu về, đừng ở bên cái nhà ma quỷ đó. Mà nhà nào là nhà ma quỷ vậy cậu? Hảo không tiện nói ra nên anh giục chị ta: - Chị đi rước thầy thuốc về trị bệnh cho má tôi đi. Đợi cho Hai Chanh đi rồi Hảo mới ngồi xuống hỏi mẹ: - Má nói cho con biết ông Thong Sác hiện giờ ở đâu? Câu hỏi bất ngờ đó khiến bà Dung giật mình: - Sao... sao con hỏi chuyện đó? Ông ấy thì có dính gì tới nhà ta nữa đâu... Hảo nghiêm giọng: - Con biết hết rồi, chính ông ta đã yểm bùa nhà mình, tính hại chết con để trả thù việc má bỏ ông ta đi lấy ba con ngày trước! Bà Dung càng lúng túng: - Ai... ai nói với con chuyện đó? - Thì chính việc má xui con đi hỏi vợ đúng nhà vợ chồng ông giáo Thái đã nói lên điều đó rồi! Má, tại sao má đưa con vô chỗ chết? Bà Dung ôm mặt khóc, hồi lâu sau mới nói: - Việc ấy má hoàn toàn không làm. Mà là do... chính mấy cái vong hồn của hai đứa con gái đó nó xúi má, nó giục má phải đi hỏi vợ cho con bằng được! Hảo kể lại chuyện biết được bên nhà giáo Thái cho mẹ nghe và lắc đầu bảo: - Điều đó không đúng! Bởi theo lời nguyền thì một trong hai cô mà nhận được lời cầu hôn trước thì người còn lại sẽ chết, mà chắc gì khi con qua đó lại cầu hôn ai theo ý của họ. Như vậy hai oan hồn đó đã có người đứng sau lưng. Có thể là cô Xuân Hương, mà cũng có thể là... ông Thong Sác? Bà Dung trầm ngâm một lúc rồi nói: - Má nghĩ chắc là như vậy. Và đứa con gái được hậu thuẫn mạnh hơn đã thắng, đã được con ngỏ lời cầu hôn. Bởi vậy đứa kia mới chết lần thứ hai. - Má nói cô Mỹ Hạnh? - Mỹ Hạnh là người thua cuộc, còn người thắng như lời con kể thì đã chiếm được tình cảm của con. Cô ấy... Hảo hốt hoảng: - Như vậy con đã... Anh không dám nói mình đã có hôn ước với Mỹ Hương, với hồn ma, nên lắp bắp: - Con... con... Bà Dung giọng rầu rĩ: - Dẫu là ai thắng thì con cũng phải chết, bởi có ai yêu hồn ma mà được như ý đâu... Lời bà chưa dứt thì bỗng có một giọng nói vang lên ngay trong nhà: - Cũng có ngoại lệ chớ má! Người đó là con đây. Cả hai quay lại và điếng hồn khi thấy Mỹ Hương đứng phía sau họ. Trông sắc mặt tươi thắm kèm nụ cười khả ái, Hảo giật mình: - Em... à mà cô không sao chứ? Mỹ Hương nũng nịu: - Từng kêu em là em ngọt xớt, mà bây giờ lại cô này cô nọ nữa rồi! Bộ anh nói không còn chiếc vòng hôn ước thì mọi việc xóa bỏ hay sao? - Nhưng... - Em tuy là hồn ma, nhưng với nỗi oan ức lớn mà mẹ nuôi em đã mang nên em không thể về với cát bụi như họ được, mà em phải... kết thành nhân duyên với anh! Hảo lắp bắp hỏi: - Em là... là con của cô Xuân Hương? Nàng lắc đầu: - Em và cô ấy không hề có quan hệ máu thịt gì cả! Em là một đứa con bị bỏ rơi trong nhà bảo sinh đúng vào lúc bà giáo Thái sinh con, rồi em bị ghép vào chung giường với con bà Giáo. - Ai đã làm chuyện đó? Hảo hỏi với giọng nghi ngờ, Mỹ Hương đáp có vẻ thành thật: - Em không hề biết, nhưng chắc chắn là có người sau lưng điều khiển em và có ý muốn cho em gặp được anh, như vừa rồi... - Người đó là cô Xuân Hương? Mỹ Hương vẫn lắc đầu: - Em cũng không rõ, nhưng mới đây thì có một người ra mặt giúp em, đưa em ra khỏi nhà, tránh phải đối đầu với oan hồn của Mỹ Hạnh. Nhờ vậy mà em còn sống đến ngày nay. Hảo trố mắt kinh ngạc: - Cô là người sống? Mỹ Hương cười, gật đầu: - Là người sống như anh! Hảo lắc đầu: - Không thể tin dược! Người sống mà đột nhập vào phòng người khác dễ như bỡn, biến đi như gió là sao? Mỹ Hương đáp: - Đó là do em bị người ta sai khiến. Mọi điều là do họ... Bà Dung nhìn Mỹ Hương từ đầu đến chân, vẻ sợ hãi vẫn còn nguyên: - Cả hai cô gái nhà ông bà Giáo đều là ma, chớ đâu có ai là người! Tôi không tin... Mỹ Hương vẫn giữ sự bình tĩnh: - Vậy mà đây là sự thật! Và chỉ có một người nói thì bác sẽ tin thôi. Vừa khi ấy có một tiếng tằng hắng phía sau, bà Dung và Hảo quay lại nhìn và kinh ngạc. Nhất là bà Dung, sững sờ trước con người mới vừa xuất hiện đó, bà lắp bắp: - Ông... ông là... - Mới có mười lăm năm không gặp mà bà đã quên rồi sao. Thảo nào... - Thong Sác! Nghe mẹ kêu cái tên đó Hảo trố mắt nhìn người đàn ông vừa vào, anh cũng lắp bắp: - Ông... là... Người đàn ông ăn mặc theo phong cách Thái Lan, nghiêm giọng nói: - Tôi là Thong Sác! Là... Ông ta chưa kịp nói thì bà Dung đã chận lại: - Không được nói! Ông không đủ tư cách nói ra điều đó! Nhưng Thong Sác vẫn nói: - Đã đến lúc tôi không được quyền giữ riêng cho mình nữa rồi. Tôi sẽ nói... Ông quay sang Hảo, nhìn anh với cặp mắt thật trìu mến: - Hảo, ba đây mới chính là ba ruột của con đây! Hảo nghe như có tiếng sét bên tai, anh run run hỏi: - Ông... điên rồi hay sao? - Không điên! Bởi nếu ta điên thì vừa rồi ta đã không nhanh tay cứu được con khỏi sự trừng trị của Mỹ Hạnh. Việc làm cho nó tan thành khói là do ta làm, chớ đâu phải tự dưng mà nó như vậy sao! Cũng như nếu ta không vì con thì đâu liều mạng với oan hồn dữ dằn của Xuân Hương. Vừa vĩnh viễn đuổi cô ta đi, lại vừa giành lại người con gái có duyên số với con, Mỹ Hương đây! Trong lúc Hảo còn đang hoang mang, bán tín bán nghi thì bỗng mẹ anh thở dài rồi lên tiếng: - Ông ấy nói đúng đó con! Hảo kinh hãi: - Sao lại có chuyện này? Ông Thong Sác tiếp lời: - Ngày mẹ con bỏ ta đi lấy chồng, tức ông Trần Thiện Hữu, cũng là lúc bà ấy đã có thai được hai tháng. Con là cái thai ấy! Không tin thì hỏi mẹ con coi... Hảo đưa mắt nhìn mẹ và nhận được cái gật đầu của bà. Trong lúc đó thì giọng ông Thong Sác đều đều: - Ta quả thật có hận thù với ba kế của con, nên lúc đầu có ý báo oán. Nhưng gần đây khi chứng kiến cảnh con và mẹ con khổ sở, lo âu, nên ta kịp nghĩ lại. Ta đã hối hận và quyết làm cái gì đó để chuộc lỗi... Ông đứng lên, đưa cho Hảo và Mỹ Hương mỗi người một chiếc vòng bạc còn mới, nói bằng giọng chân thành: - Vật này mới đúng là của hai con. Nó thuần túy là những chiếc vòng hạnh phúc, vòng hôn ước theo phong tục của người Thái. Vậy hai con hãy đeo cho nhau đi, nó hoàn toàn không nguy hiểm gì hết. Đeo vào sẽ được hạnh phúc dài lâu và còn... trị được tà ma nữa! Ông nói xong bước đi thẳng không nhìn lại. Bất chợt nghe bà Dung kêu lên thảng thốt: - Anh Thong Sác! Nhưng ông ta đã biến rất nhanh ngoài đầu ngõ. Hảo đưa tay mình cho Mỹ Hương đeo chiếc vòng và chính anh cũng đeo cho nàng. Họ hoàn toàn bình yên sau khi đeo vòng vào... KHI NGƯỜI CHẾT TRỞ VỀ Vào thời năm 1955 mà lái một chiếc xe mui xếp (décapotable) đã là sang trọng và hách xì xằng lắm, mà người lái lại là một cô gái nữa, thì phải nói là cả bãi biển dọc từ Bãi Trước qua Bãi Dứa, Ô Quắn và Bãi Sau thiên hạ đều lác mắt nhìn. Cô nàng dừng xe lại trước một nhà hàng hải sản ở Bãi Sau tức thời có hơn chục cặp mắt nhìn ra không chớp. Trong số họ có người nhận ra cô gái, nên kêu lên: - Thu Vân! Nhưng cô nàng hình như không để ý, cứ câng câng cái mặt đẹp như một tài tử điện ảnh, rồi rú ga phóng đi trước sự trầm trồ của thiên hạ. Người vừa kêu mà không được đáp lại đã không phiền lòng, trái lại còn hãnh diện mình là người duy nhất biết tên cô nàng. Anh ta quay sang mấy người bạn nói lớn: - Con nhỏ này là con gái của chủ tiệm vàng Kim Xuân ở Chợ Lớn Mới, đi học bên Tây mới về đó! - Hèn chi chơi như Tây! Một người khác thêm vào: - Thời buổi này mà một mình lái chiếc xe mui trần này từ Sài Gòn ra đủ biết không phải tay mơ rồi. Mà chiếc xe đẹp thiệt! Một anh chàng khác phê bình: - Khen người lái hoa nhường nguyệt thẹn không khen, lại đi khen chiếc xe! - Nhan sắc đó thì còn lời lẽ đâu mà khen cho vừa nữa, thấy là đã hết hồn rồi! Cuộc bàn luận quanh người đẹp có lẽ sẽ chẳng bao giờ chấm dứt nếu không có hai cặp nam nữ nữa vừa bước vô quán mà nhìn cách phục sức, cũng như phong cách của họ đã thấy có sự khác biệt ngay với những người chung quanh. Họ vừa kéo ghế ngồi xuống thì đã bị nhận diện bởi anh chàng biết tên cô gái lái xe mui trần lúc nãy. Anh ta gọi lớn: - Henri Phạm! Phải toa đó không vậy? Một trong số hai cặp vừa vào nghe có người gọi đã quay lại và reo lên: - Ồ Quang, tình cờ thú vị quá vậy! Anh chàng tên Quang quay sang mấy người bạn, nói như khoe: - Tay này là anh ruột của con nhỏ Thu Vân hồi nãy. Có lẽ bọn họ đi chung với nhau và hẹn ở đây nên vừa rồi con nhỏ mới dừng xe lại nhìn. Bọn này đều du học bên Pháp và con nhà giàu nữa, nên ăn chơi dữ lắm! Người tên Henri Phạm kia quay lại hỏi: - Nãy giờ toa có nhìn thấy em gái moa đi qua đây không? Em gái moa lái chiếc décapotable màu đỏ... - Có! Nàng đi về phía Ô Quắn, mới đi xong. - Cám ơn toa, bọn này hẹn nhau ở đây, chắc nó không thấy nên chạy chơi một vòng, lát nữa trở lại thôi. Anh ta nói xong thì quay lại với mấy người bạn của mình. Họ cầm bia chai ướp lạnh tu mấy hơi dài ra vẻ sành điệu. Quang khều người bạn ngồi cạnh nói khẽ: - Tụi nó uống bia Pháp, hình như là mang theo đó chớ quán này làm gì có bán. Vừa khi ấy anh chàng Henri Phạm đích thân cầm sang bốn chai bia lạnh vừa lấy ra từ trong thùng đá, đặt lên bàn và mời: - Mời các anh cùng uống với mình cho vui! Quang sợ các bạn ngại, nên vội nói: - Henri đây là bạn của mình, cậu ấy có nhã ý mời thì các bạn đừng ngại. Vậy xin cám ơn toa! Ngẫu nhiên mà hai nhóm hòa đồng với nhau, họ cụng ly vui vẻ và quên ngay cô nàng lái xe màu đỏ. Henri Phạm vui miệng nói: - Bọn này ra dự lễ cưới của con gái ngài tỉnh trưởng, tổ chức ở vườn hoa sứ trên Bạch Dinh vào chiều nay. Bọn này ngủ ở Pacifique, nếu còn ở đây thì tối nay mình gặp nhau, nhảy chơi! Quang đẩy đưa cho xong chuyện: - Ờ, để bọn mình coi... Chớ thật ra Quang không thích cách chơi của bọn con nhà giàu này lắm. Anh tự hiểu là khó lòng chơi theo kịp họ, hơn nữa kiểu chơi thác loạn thâu đêm của họ mà anh từng nghe kể khiến anh chào thua trước. - Hay là lát nữa toa đi với bọn này, còn mấy bạn toa thì mình hẹn mai gặp để dùng điểm tâm chơi. Quang từ chối ngay: - Cám ơn toa, bọn này cũng có một chương trình riêng, nên phải đi ngay sau đây. Họ cụng ly lần nữa, bọn Quang chuẩn bị chia tay thì chợt có tiếng người kêu thất thanh phía trước: - Tai nạn ở Ô Quắn, kinh khủng lắm! Ai đó hỏi: - Tai nạn thế nào? Người nọ đáp: - Có một chiếc xe hơi lạc tay lái đâm đầu xuống vực sâu chỗ Ô Quắn, thảm khốc lắm! Quang đứng bật dậy ngay và hỏi lớn: - Có chết người không? Nghe Quang hỏi, người nọ vừa chạy đi vừa đáp: - Muốn biết tới đó mà xem! Một chiếc xe màu đỏ đẹp lộng lẫy bây giờ chỉ còn là đống sắt vụn mà thôi. Cả nhóm của Henri Phạm cùng đứng bật dậy kêu lên: - Hả? Xe... màu đỏ! Họ chẳng hẹn mà cùng phóng như bay về hướng xảy ra tai nạn. Nơi đó cách Ô Quắn ngót một cây số, vậy mà cả bọn gần chục người chạy bộ chỉ chưa đầy mười phút đã tới. Nhìn thấy một đám người khá đông bu trên bờ vực sâu, Henri Phạm và Quang cùng chen vào nhìn xuống. Họ chỉ thấy một xác xe màu đỏ nằm kẹt giữa hai tảng đá, sóng biển đang vỗ vào bọt trắng tung ra từng đợt... - Trời ơi, em tôi! Henri Phạm như kẻ điên, bất kẻ hiểm nguy chạy ngay xuống vực, một người nào đó la lớn: - Phải đi theo lối này mới xuống được! Nhưng Henri Phạm không cần nghe, anh ta cứ lần theo các gờ đá, leo xuống một cách khó khăn mà vẫn không dừng bước. Quang là người thứ hai đi theo lối những người đứng gần đó chỉ cho. Anh xuống được trước, nhưng cũng chỉ cách chiếc xe bị nạn khoảng hơn ba chục mét. Rõ ràng là chiếc xe màu đỏ, mui trần và một người nằm bẹp dí ở tay lái! - Trời ơi! Quang kêu lên một tiếng kinh hoàng rồi đảo mắt tìm Henri Phạm. Lúc ấy anh chàng chỉ mới xuống được nửa phần đường và đành phải dừng lại vì không còn lối xuống nữa. Một người cứu hộ đã xuống trước nói vọng lên: - Anh đó không được xuống nữa nguy hiểm lắm, để người của tụi tui tới đưa qua bên này! Quang phải giải thích với họ: - Đó là người nhà của nạn nhân, do quá sốt ruột nên xuống đại. Họ cử một người khá rành leo trèo sang để giúp đưa Henri Phạm trở lại đúng đường xuống. Phải mất hơn mười phút sau anh ta mới xuống được chỗ của Quang, giọng anh ta gần như không còn hơi: - Phải... phải là nó... là Thu Vân không? Quang bình bĩnh hơn, anh chỉ chiếc xe đỏ và đáp: - E rằng đúng! Một người cứu hộ nói: - Chúng tôi đã xuống được chỗ chiếc xe rồi, xe mang số NBK 538... và một cô gái bị kẹt giữa tay lái, đã chết rồi! - Thu Vân! Henri Phạm kêu thét lên rồi gục xuống... *** Mãi đến chiều thì việc trục chiếc xe bị nạn mới hoàn tất. Trước đó thì xác nạn nhân đã được đưa lên, đặt nằm trong chiếc xe cấp cứu của bệnh vện chờ sẵn trên đường. Quang cũng có mặt để giúp bạn, bởi lúc ấy Henri Phạm gần như không còn đứng nổi trên đôi chân nữa. Anh ta cầu viện tới Quang: - Toa phải ở đây với moa, chờ đến khi ba má moa ra tới. Moa không còn tâm trí đâu mà lo nữa... Quang siết chặt tay anh ta: - Cậu yên tâm, Thu Vân cũng như em mình mà. Cậu có thể về khách sạn nghỉ ngơi, để mình theo xe cấp cứu về bệnh viện và làm các thủ tục cho đến khi ba má cậu ra tới mình sẽ bàn giao. Nhìn chiếc xe mui trần bẹp dúm, Quang bất nhẫn. Mới buổi sáng đây cả bọn anh và cả bàn dân thiên hạ ở bãi sau còn trầm trồ, lé mắt bởi chiếc xe đẹp mê hồn này, mà bây giờ... Henri Phạm cố lê bước theo Quang đi về phía chiếc xe chở xác, anh nói: - Moa cũng phải theo nó tới phút cuối... Quang kè một bên bạn mình tới chỗ xe. Tài xế lái xe cấp cứu mở cửa trước cho hai người ngồi, nhưng Henri Phạm yêu cầu: - Cho tụi tôi ngồi sau với em gái tôi. Cửa sau chở xác luôn khóa kín, nên tài xế phải tự tay mở khóa và dặn hai người: - Xác đã quấn vải kín, hai cậu đừng mở ra. Cửa vừa được mở, Henri Phạm yếu nên được Quang đỡ lên trước, rồi anh mới theo sau. Bỗng cả hai người đều kêu lên: - Thu Vân đâu? - Xác đâu? Trong khoang xe không hề có cái xác vừa mới đem lên cách đó hơn mười lăm phút! Nghe họ kêu, cả nhóm người đang trục xác và xe đều chạy lại và sửng sốt khi cái xác đã biến mất không để lại dấu vết gì! Người tài xế quả quyết: - Chỉ có tôi ở đây với cái xác, sau khi đưa vô khoang sau rồi đích thân tôi khóa cửa lại, chìa khóa do tôi giữ, như vậy làm sao mất được? Quang lặng người đi. Trong đầu anh cảm giác như nghe có một âm thanh kỳ dị, giống như tiếng khóc thảm thiết của ai đó... Nhưng âm thanh đó chỉ thoáng qua rồi tắt lịm... - Thu Vân? Quang nói ngay âm thanh mình vừa nghe được và kết luận: - Hình như... cô ấy đang ở gần đây? Người trưởng toán cấp cứu hỏi: - Anh nói cô nào? - Cô gái chết trong tai nạn. Họ cười ồ lên: - Giàu trí tưởng tượng quá cha nội ơi! Quang không quan tâm tới sự chế nhạo của họ, anh đi quanh đó tìm kiếm... Lát sau anh nhặt được một mảnh vải, cầm tới hỏi Henri Phạm: - Có phải cái này là một phần bộ áo váy của Thu Vân không? Vừa nhìn thấy Henri Phạm đã kêu lên: - Đúng rồi, vạt áo của nó! - Như vậy xác chết đã ra ngoài xe rồi! Nghe Quang nói, người trưởng toán cứu hộ quay sang hỏi tài xế. - Anh có khóa chặt cửa thùng xe không? Anh tài xế gân cổ lên: - Chắc chắn mà! Mà cái xác đã giập nát làm sao... làm sao có thể tự bò ra ngoài được? Quang vẫn quả quyết: - Tôi có cảm giác cô ấy còn ở đâu đây... Đích thân anh tìm quanh đó và thậm chí còn mở rộng ra một phạm vi xa hơn. Cuối cùng đành thất vọng quay lại và bảo: - Chịu thôi. Henri Phạm suy sụp hoàn toàn, anh ngồi hẳn xuống vệ đường vừa rên rỉ: - Trời ơi, nó chết mà cũng không còn xác, sao trời ác với em tôi quá nè trời! Anh ta cứ gào khóc như vậy suốt, khiến cho mấy người cứu hộ phải ái ngại, họ hỏi ý Quang rồi lẳng lặng rút lui cùng với xác chiếc xe bẹp dúm. Khi họ đi rồi Henri Phạm quay sang hỏi Quang: - Bây giờ mình phải làm sao đây? Quang cũng chỉ biết thở dài: - Mình cũng chẳng biết làm sao. Có lẽ phải đợi hai bác ra rồi sẽ tính. Anh ta kéo tay bạn đứng dậy: - Cậu phải về khách sạn đợi hai bác ra, kẻo hai bác ra mà không gặp cậu họ sẽ càng sốt ruột hơn. Henri Phạm miễn cưỡng đứng lên đi bộ cùng Quang. Vừa đi được mấy bước bỗng Quang dừng lại và nói: - Rõ ràng mình nghe có tiếng khóc của ai đó! Cậu nghe thử xem... Henri Phạm lắng nghe kỹ và lắc đầu: - Mình đâu có nghe gì? Quang không tin vào tai mình, bởi càng lúc âm thanh nức nở càng rõ hơn trong đầu... *** Đang lẽ chỉ ở chơi Ô Cấp hai ngày, nhưng cuối cùng Quang đã phải lưu lại đến nay là ngày thứ năm. Bởi hai ngày đầu phải tất bật với vụ việc của Thu Vân. Đụng chuyện mới thấy nhà giàu họ giải quyết công việc bối rối và dở hơn người nghèo nhiều. Chỉ nội việc sự mất tích xác chết không mà cha mẹ Thu Vân đã phải quýnh quáng chạy đi khắp mọi nơi, hết thuê người này, mướn người kia, mà cuối cùng thì cũng chẳng giải quyết được gì, họ cũng đành phải về tay không.Chẳng hiểu sao Quang lại quyết định ở lại khi Henri Phạm và gia đình đã về hết sau khi tìm được xác Thu Vân. Mà cả nhóm bạn cùng đi với Quang cũng đã về, duy có Quang quyết định thuê một căn phòng ở một khách sạn rẻ tiền và ở lại. Anh chỉ giải thích ngắn gọn với người bạn: - Mình bị sốc sau cú vừa rồi nên muốn ở lại thêm vài ngày cho khuây khỏa. Sáng nay thay vì ra Ô Quắn và đi lang thang như mấy hôm rồi vẫn làm, Quang lại chuyển hướng, đi bộ lên Bạch Dinh. Cũng chẳng biết tại sao, chỉ cảm thấy cần một nơi ở độ cao để phóng tầm mắt ra biển xa, thư giãn nên Quang khá thích thú khi lên đứng bên hai khẩu đại bác và tự nhủ: - Cứ mỗi ngày được đứng đây nhìn ra biển thì chắc mọi buồn phiền sẽ dứt hết! Đứng hơn một giờ, Quang lững thững đi bộ xuống. Đúng ra anh đi theo các bậc thang xuống phía tay phải cho gần, nhưng bất chợt anh thoáng thấy một bóng áo vàng đi về hướng rừng hoa sứ, nơi vốn chỉ dành cho xe chạy lên xuống bởi đường dốc và xa hơn. Kỳ lạ chưa! Bởi bóng áo vàng mà Quang vừa nhìn thấy giống Thu Vân y hệt! Quang đổi hướng, anh bước nhanh về hướng đó. Cô nàng mặc bộ váy màu vàng nổi bật giữa rừng hoa sứ đang nở rộ và chỉ có một mình, nên càng khó lẫn vào ai khác. Cố thu ngắn khoảng cách, Quang đánh bạo cất tiếng gọi: - Thu Vân! Cô gái quay phắt lại và... Quang sững sờ: - Thu Vân... Đúng là Thu Vân... cô con gái đã chết trong tai nạn xe lật ở Ô Quắn! Với ai có thể lầm được, nhưng Quang thì không, bởi anh từng nhiều lần tới nhà chơi và đã là bạn thời cô ta còn học ở Sài Gòn. Vả lại mới vừa nhìn thấy ở bãi sau cách chưa đầy một tuần. Lại vẫn chiếc váy màu vàng này nữa... - Thu Vân! Anh gọi lần thứ ba thì bỗng cô gái bước nhanh và chỉ sau đó vài giây đã mất hút trong rừng hoa sứ! Quang tốc chạy theo vào khu vực rừng hoa, vốn có cắm bảng cấm người lạ xâm nhập. Vừa lúc đó có tiếng quát lớn phía sau: - Anh kia, không được đi lối đó! Quang quay lại phân bua: - Tôi đuổi theo một người quen, anh thông cảm. Nhưng nhân viên bảo vệ vẫn cương quyết: - Không ai được vào đó hết! Mà trong ấy làm gì có ai đâu mà nói là người quen của anh? Quang vẫn cố giải thích: - Cô ấy vừa mới đi vô đó, tôi xin theo gọi cô ấy ra thôi! Người bảo vệ vẫn không cho: - Để tôi vào xem có ai mời ra cho. Anh ta bước vô một lúc rồi trở ra xua tay nói: - Làm gì có ai trong đó mà tìm! Quang tiu nghỉu đứng một lúc mới chịu đi. Anh theo lối đó đi xuống đường mà trong lòng vẫn còn thắc mắc, chưa chịu từ bỏ ý định trở lại. Phải một lúc sau khi nhìn thấy bóng anh chàng bảo vệ lên trên khá xa, Quang mới lẻn vào và lom khom người hướng về chỗ lúc nãy. Đây là lần đầu tiên bước vào giữa khu rừng hoa sứ mà xưa nay Quang chỉ đứng ngoài nhìn, anh cảm thấy khu rừng khá rộng, ăn thông lên tận vách núi phía trên... Chẳng thấy bóng người nào, nên Quang tiện bước đi thẳng lên phía vách núi. Tuy khá chênh vênh nhưng cũng có một lối mòn nên sau hơn mười phút Quang đã lên được một khoảng rộng, bằng phẳng. Nơi đó có một ngôi nhà lá nhỏ, cửa đóng kín. - Có khi nào... Quang tự cười với ý nghĩ có thể Thu Vân đi vào ngôi nhà đó! Nhưng đã lỡ lên tới đây rồi không lẽ quay về, nên Quang bước đại tới bên ngôi nhà, anh cất tiếng gọi: - Có ai trong nhà không? Chẳng ai lên tiếng. Hình như đây chỉ là một trại của người làm rẫy, không có người ở thường xuyên. Vừa định quay đi thì chợt mũi Quang ngửi được một hương thơm rất lạ, không phải hương hoa dại, cũng không phải hương tự nhiên bay theo gió. Bất chợt anh kêu lên: - Thu Vân! Quang đẩy mạnh cánh cửa gỗ khép hờ, cửa bật vô trong và... chẳng có ai trong đó. Nhưng khi Quang nhìn lên vách lá anh phát hiện bộ váy màu vàng mà cô gái vừa mặc lúc nãy đang treo ở đó. Có lẽ hương thơm phát ra từ đó. - Thu Vân! Có phải Thu Vân ở đây không? Vẫn chẳng có hồi âm. Quang mở tung cửa cái, cửa sổ ngôi nhà, nhưng cũng chẳng thấy gì ngoài chiếc chõng tre xiêu vẹo, nhà vắng chủ. - Nhưng tại sao bộ quần áo lại ở đây? Quang bước ra ngoài tìm khắp chung quanh và cất tiếng gọi nhiều lần: - Thu Vân! Cô Thu Vân! Vẫn im phăng phắc... Trở vô nhà, Quang đánh bạo cầm bộ váy xuống và len lén ngửi thử. Đúng là hương thơm từ đó, có nghĩa cô nàng vừa mới thay bộ đồ ra và cũng đồng nghĩa với việc cô nàng vẫn còn quanh quẩn đâu đây... Nghĩ có thể cô ta đã phát hiện ra mình nên lánh mặt, nên Quang có ý nghĩ là giả vờ như đi xuống, nhưng kỳ thật là quay trở lại nấp bên ngoài ngôi nhà. Hơn nửa giờ trôi qua vẫn chẳng thấy bóng ai. Trời bắt đầu nắng gắt mà bụng thì đói nên Quang đã bắt đầu nao núng, định bỏ cuộc, nhưng mục đích gặp cho bằng được con người mà cho tới giờ phút này Quang vẫn chưa thể nào tin được rằng cô ta chết rồi mà vẫn còn di chuyển cái xác đi được. - Cô ấy thành ma? Quang tự hỏi và có ngay câu trả lời, bởi hành tung kỳ lạ của cô nàng đã chứng minh điều đó. Nhưng tại sao Thu Vân lại chọn đúng nơi này để xuất hiện, phải chăng là có ý muốn báo cho Quang biết điều gì? *** Mười hai giờ trưa...Trong khi Quang đã hết kiên nhẫn thì bất ngờ từ trong ngôi nhà lá cánh cửa gỗ lại bung ra và... từ trong đó một bóng người hiện ra, mà vừa trông thấy người ấy Quang đã há hốc mồm kinh ngạc. - Henri Phạm? Đúng là anh chàng! Mà tại sao anh ta lại ở đây và xuất hiện như vừa từ dưới đất chui lên vậy? Quang định lên tiếng kêu, nhưng kịp nghĩ lại nên anh yên lặng chờ. Henri Phạm thì sau khi quan sát một lượt khắp chung quanh, quay vô trong nhà ra dấu, lại một người nữa bước ra, mà lần này thì sự kinh ngạc của Quang còn gấp bội. Bởi đó là... Thu Vân. Henri Phạm quay sang cô em gái nói mà không cần giữ lời, có lẽ nghĩ đây là chỗ hoang vu, không có ai ngoài họ: - Bây giờ em có thể yên tâm xuống dưới kia, anh đã để sẵn chiếc xe khác và em cứ thế lái về thẳng Đà Lạt mà không cần phải về Sài Gòn đâu. Ở Đà Lạt chơi khoảng một tháng, rồi lên máy bay trở lại Pháp và... bắt đầu thụ hưởng hai chục triệu Franc Pháp tiền bồi thường của hãng bảo hiểm Pháp chi nhánh tại Sài Gòn. Trương mục ngân hàng mang tên anh, vì anh nhận là người bảo hộ cho em ở nước ngoài, được ba má ủy nhiệm. Từ nay cái tên Emile Thu Vân sẽ không còn nữa, mà thay vào đó là tên Anna Phạm. Mà cần gì cái tên Thu Vân đó nữa, miễn mình có được số tiền bồi thường lớn đủ trang trải lại những gì đã mất do chi tiêu quá lố từ nào đến giờ! Thu Vân vỗ vào vai anh trai mình: - Phục anh sát đất luôn! Qua mặt được hãng bảo hiểm nhân thọ chuyện đâu phải đơn giản, vậy mà anh cũng làm được. Nhưng khiến cho em phải một phen hú vía khi lái xe tới sát bờ vực sâu chỗ Ô Quắn, sợ gần chết. Rồi lại phải kéo cái xác của con nhỏ người làm và đặt nó ngồi vô chỗ lái xe, để nó giả làm em, sau đó lại phải nổ máy xe, vô số và... buông ra cho xe lao xuống vực. Sơ sẩy một chút là em bị rớt theo chiếc xe luôn. Henri Phạm cười: - Biết em có đủ bản lãnh nên anh mới giao làm nhiệm vụ đó chớ bộ! Và em đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ rồi còn gì. Chiếc xe đã lao thẳng xuống vực sâu và ai cũng đinh ninh rằng em đã chết trong vụ ấy rồi! - Nhưng sao khi trục xe và xác chết lên anh lại để cho cái xác biến mất, suýt nữa thì bảo hiểm đã không chịu bồi thường rồi? Henri Phạm cười to: - Em có lanh nhưng chưa đủ khôn. Lúc ấy em không có mặt tại hiện trường nên đâu có biết là khi xác con nhỏ Thắm vừa mới kéo lên anh đã điếng hồn, bởi tuy thân thể nó giập nát, nhưng khuôn mặt còn nguyên, làm sao nói đó là em, cô Thu Vân được? Em có biết là lúc ấy anh phải lanh trí lắm mới ra lệnh cho hai thằng đàn em đi theo trà trộn làm nhân viên cứu hộ để nhân cơ hội người tài xế xe cứu thương lơ đễnh, đã lấy cắp cái xác con Thắm đem giấu. - Không có xác làm sao hãng bảo hiểm chịu đền nhân mạng? - Em cũng quên là chỉ đến tối là người ta tìm được xác chết của nạn nhân ở một hốc đá gần chỗ tai nạn xảy ra sao? Khi đó xác con Thắm đã được anh cho tụi nó lấy đá đập nát, để không còn nhận diện ra nữa. Và sau đó đã báo cho đội cứu hộ tới và mang về bệnh viện. Thu Vân cười thành tiếng: - Anh làm khéo đến nỗi đến ba má khi đứng trong nhà xác mà cũng chẳng nhận ra! Tội nghiệp, thấy má khóc chết lên chết xuống em sợ và đau lòng quá. Chuyện này mà vỡ lở ra chắc là không yên với ông bà cụ đâu! Henri Phạm nhún vai: - Nhằm nhò gì ba cái chuyện này. Mà mình cũng đâu ngu gì để lộ... - Chỉ tội nghiệp ba má sẽ khổ đau vì mất con, trong lúc em vẫn còn sờ sờ đây... Henri Phạm nghiêm giọng: - Trong vụ xài phá đến cạn hết tiền ba gởi ở nhà băng bên Pháp đâu phải chỉ mình anh, mà em đóng góp đến phân nửa trong đó. Xong vụ này mình bí mật chuyển trả lại cho ba là ổn. Chuẩn bị đi, chợt Henri Phạm nhớ ra, anh ta hỏi: - Hồi nãy em có đóng kỹ nắp hầm chưa? Thu Vân cười: - Cái hầm bí mật này quả lợi hại, nằm ngủ dưới đó cả đêm cũng giống như ngủ trong phòng khách sạn, sướng thiệt. - Anh phải mất cả tháng trời, nhờ thợ từ trong Sài Gòn ra làm mới được như vậy. Anh phải thủ sẵn một nơi như vậy để phòng khi lộ chuyện thì có nơi mà ẩn thân một thời gian. Em đâu có biết là cả chuyện vô ra rừng hoa sứ này anh cũng phải tốn tiền mới yên chớ bộ! Thôi, có lẽ là hôm nay là ngày chót, chúng ta không trở lại đây nữa, nên cũng không cần cái hầm, có bị lộ thì cũng chẳng sao. Thôi mình đi! Họ đi rất nhanh xuống núi, xuyên qua rừng hoa sứ. Quang quá bức xúc với những gì vừa nghe, anh vừa định đứng lên gọi họ một tiếng và vạch trần những gì họ làm. Tuy nhiên, chẳng hiểu sao khi vừa đứng lên thì Quang đã ngã ngồi trở xuống như bị ai kéo lại vậy. Phải đến lần cố gắng thứ ba Quang mới có thể đứng thẳng lên, nhưng lúc ấy hai người họ đã đi khá xa rồi. Bấy giờ Quang chỉ còn cách bước thẳng vào nhà với ý định xem cái hầm mà họ vừa nói ra sao. Nhưng điều ngạc nhiên đầu tiên của Quang là chiếc váy màu vàng của Thu Vân lúc mặc đi vào đây đã không còn, mà lúc nãy khi đi ra cô ta mặc bộ quần áo màu xám nhạt, đầu đội mũ như một cách ngụy trang, mà tay không hề xách giỏ hay cầm vật gì. Vậy bộ đồ màu vàng biến đi đâu? Điều đó càng khiến cho Quang tò mò thêm, anh tìm nắp hầm và phát hiện ra ngay nó nằm ở gần gian bếp nguội lạnh, chỉ cần giở tấm ván lên là lộ ra một cái thang gỗ dẫn xuống dưới. Chẳng do dự, Quang bước ngay xuống, thấy có cây đèn pin treo sẵn ở lối đi, Quang chụp lấy và soi tới trước. Quả đúng nó như một căn phòng đầy đủ tiện nghi, có cả giường nệm phẳng phiu và ở đầu giường có ngọn đèn ngủ màu hồng nhạt nữa. - Có lẽ họ xài bình ắc quy chớ nơi này làm gì có điện! Quang hơi thắc mắc về việc đó, nhưng thắc mắc của anh không tồn tại được lâu, bởi liền lúc đó anh chợt sững sờ khi nhìn thấy có một người đang nằm trùm mền trên giường mà phải nhìn kỹ mới thấy! - Ai vậy? Không thấy người nọ động đậy, Quang cất tiếng gọi: - Ai đây, tôi muốn hỏi... Anh gọi đến lần thứ ba mà vẫn chẳng thấy người nọ cử động hay lên tiếng, Quang chợt lo, anh bạo gan cúi xuống kéo đại góc mền ra và... - Trời ơi! Trước mắt Quang là... một cô gái lạ mặc bộ đồ màu vàng máng ở vách lúc nãy! Không thể nào tin được, Quang gọi thêm lần nữa và cũng chẳng thấy cô nàng cử động. Quang hốt hoảng đưa tay chạm vào, rồi kinh hãi bởi thân thể cô ta đã lạnh cứng. Có nghĩa đó là một xác chết! - Trời ơi! Quang hoang mang tột độ, anh lúng túng mất vài giây rồi mới chạy tháo lên miệng hầm, định kêu ai đó. Nhưng chung quanh vắng tanh, vả lại nếu gọi người tới trong lúc này thì khác nào rước họa vào thân, bởi chỉ mình anh với một xác chết, ai mà tin được rằng anh không dính líu tới cái chết của cô nàng! Lúng túng một hồi lâu Quang mới quyết định trở xuống hầm, lần này anh phải nhìn cho thật rõ, ít ra cũng tìm được cách nào đó báo động cho người ta biết... chớ không thể để một người chết nằm trong đó, mà chắc chắn khó lòng có ai hay được. Nhưng khi Quang đặt chân trở xuống đó thì... cái xác của cô gái không còn ở đó nữa! *** Việc đầu tiên của Quang khi trở về Sài Gòn là tìm tới nhà của cha mẹ Thu Vân. Họ là chủ một tiệm vàng lớn ở vùng Chợ Lớn mà đã đôi lần Quang có tới chơi với anh em Thu Vân, nên cha mẹ cô biết Quang. Vừa thấy Quang, bà Kim Tín đã òa lên khóc kể:- Lâu nay con không ghé chơi nên bác không biết con ở đâu. Phải chi biết mà gọi con tới chơi thì chắc tụi nó không đi Ô Cấp làm gì để xảy ra cớ sự này! Quang dò hỏi: - Sau khi tai nạn xảy ra bác có kịp đem xác Thu Vân đi nhận diện không? Ông Kim Tín nói thay vợ: - Chính tôi xuống nhà xác bệnh viện để nhìn, nhưng có nhận dạng được nó đâu, bởi thi thể đâu còn nguyên vẹn. - Henri Phạm đâu rồi bác? - Ôi! Cái thằng lãng tử đó mà cháu hỏi làm gì. Nó về đây chỉ ở nhà có nửa buổi rồi đi biệt tới bữa nay. Cũng tại nó mà con Thu Vân mới lái xe đi Ô Cấp chớ hai bác đâu có cho. Đường sá xứ mình khác, đâu phải thấy vắng mà muốn chạy sao cũng được. - Nghe nói có bảo hiểm phải không bác? Ông Kim Tín hơi ngạc nhiên về sự hiểu biết của Quang, nhưng cũng đáp: - Có! Nhưng do tụi thằng Henri và Thu Vân sống bên Pháp nên làm bảo hiểm bên đó, nên họ sẽ tiến hành thủ tục bồi thường bên đó. Nhưng còn bồi thường mà làm gì nữa khi mạng sống không còn? Quang giả vờ hỏi: - Hình như nhà có cô người làm tên Thắm phải không bác? Đến lúc này thì ông Kim Tín không khỏi ngạc nhiên nói: - Sao cháu biết con nhỏ đó? Quang cười giả lả: - Dạ, chẳng là vì cháu có quen với nhà cô ấy ở dưới quê... Bà Kim Tín buột miệng nói: - Thì ra là vậy, cháu ở làng Mỹ Quý hay Mỹ Lương của huyện Hòa Thành? - Dạ, ở sát nhà của cô Thắm. - Vậy là Mỹ Quý rồi! Huyện Hòa Thành tỉnh Ba Xuyên chỉ có cái xã Mỹ Quý là heo hút nhất, lại ít người biết, nên bác cũng hay quên là nó ở Mỹ Quý hay Mỹ Lương. Vậy ra cháu với nó là đồng hương. Mà cũng hay, dịp này bác hỏi cháu xem, gần đây cháu có gặp nó không? - Dạ... gặp ai ạ? - Con Thắm! Nó nghỉ làm ngang xương cả tuần nay mà chẳng biết đi đâu! - Có thể cô ấy về quê chăng? Ông Kim Tín bác ngay: - Con nhỏ này từ ngày lên đây làm chưa bao giờ xin về quê lần nào, bởi lẽ đơn giản là nó không còn ai ở quê hết. Lẽ thứ hai là nó làm được bao nhiêu tiền lương đều gởi lại cho nhà tôi hết, không giữ đồng nào trong túi, như vậy lấy đâu tiền để đi. Bà Kim Tín cũng nói: - Con nhỏ hiền lành, dễ thương, tuy là không còn ở nhưng vợ chồng tui thương nó như con ruột. Tính năm tới nó đủ hai mươi tuổi thì coi mối nào được gả chồng cho nó. Con nhỏ tuy ít học nhưng đẹp người, đẹp nết, ai mà lấy được nó là có phước lắm! Quang không kiềm chế được, buột miệng: - Người như vậy mà bị hại thì... Bà Kim Tín hốt hoảng: - Ai hại nó? Quang nói chữa: - Dạ, cháu muốn nói nếu như rủi ro... Ông Kim Tín nói: - Tôi nghĩ chắc không có chuyện gì đâu. Con nhỏ này không chừng ham vui bị bạn bè rủ rê đi đâu đó, vài bữa thì về thôi. Quang vòng vo mãi, cuối cùng anh mới hỏi thẳng điều mà hôm nay tới anh muốn hỏi: - Ở Đà Lạt hai bác có nhà riêng hay nhà bà con gì trên đó không? Bà Kim Tín nói thật: - Tôi có một biệt thự bỏ không trên đó, chỉ thỉnh thoảng lên nghỉ mát vài hôm. Mà mùa này lạnh, nên phải ba bốn tháng nữa vợ chồng tui mới lên chơi. - Vậy không chừng Henri Phạm cũng lên đó chơi, bao nhiêu lần rồi cậu ấy không lên Đà Lạt thưa bác? - Cả chục năm rồi. Từ ngày đi du học nó về đây có bốn năm lần, mà lần nào cũng chỉ ở nhà, có đi nghỉ mát thì chỉ ra Ô Cấp thôi. - Vậy hai bác có nhà riêng ở Ô Cấp không? Kiểu hỏi như điều tra của Quang khiến cho ông Kim Tín bắt đầu thấy lạ, ông hỏi vặn lại: - Hình như cháu muốn tìm hiểu điều gì phải không nào? Quang lúng túng: - Dạ không, cháu chỉ... hỏi cho biết vậy mà. Và cũng bởi... mới rồi cháu nằm mộng thấy Thu Vân... Đây là Quang bịa chuyện, nhưng bà Kim Tín lại quan tâm: - Cháu mộng thấy nó thế nào? Nó chết có yên ổn không? Bác cũng hơi lo, vì nó còn trẻ, lại chết tức tưởi như vậy nên bác sợ oan hồn... Ông Kim Tín gạt ngang: - Bà khéo tưởng tượng! Con gái mình là dân Tây học, làm gì có chuyện oan hồn với hồn oan. Bà Kim Tín tại nức nở khóc: - Ông cứ nói vậy hoài, trong lúc tui cứ mong cho vong hồn nó về một lần thôi cũng được, vậy mà chưa thấy... Rồi bà hỏi Quang: - Cháu mộng thấy nó nói gì? Quang đã có toan tính trước, anh đáp: - Dạ, cháu nghe cô ấy muốn tìm ngôi nhà nào đó ở Ô Cấp mà tìm chưa ra. Cả ba lần mộng thấy cô ấy thì cả ba lần Thu Vân đều chỉ nói có chuyện đó. Lần này chợt ông Kim Tín buột miệng: - Nhà ở Vũng Tàu, nó biết sao còn tìm! Quang giả bộ: - Dạ, con thấy Thu Vân có vẻ không nhớ, cô ấy chỉ nói là hình như nhà ở gần Bạch Dinh hay sao đó... Bà Kim Tín vụt nói: - Thì căn nhà biệt thự hướng ra bãi Dâu. Đúng là nó không nhớ, bởi khi đi du học thì nó mới có mười tuổi, mà ngôi nhà cũ đó tôi và ông nhà tôi cũng lâu lắm rồi không về đó, chẳng biết còn hay sập rồi nữa! - Thảo nào... Quang bỏ lửng câu nói khiến ông Kim Tín thắc mắc: - Cháu nói gì? Quang lại lảng sang chuyện khác: - Dạ không. Cháu muốn nói... chẳng hiểu sao gần đây cháu hay mộng mị quá. Anh vừa định đứng lên cáo từ thì chợt từ ngoài cửa có một người bước vào, mà vừa nhìn thấy thì cả ba người đang ngồi đều bật dậy một lượt: - Trời ơi... Trời... Bà Kim Tín té ngồi trở xuống, miệng lắp bắp: - Con... con Thắm ông ơi. Người vừa xuất hiện chính là Thắm, nhưng trong bộ váy màu vàng mà Quang đã thấy hôm ở rừng hoa sứ. Cô ta là cô gái nằm chết trong hầm hôm đó! Anh lắp bắp mãi, nói không thành lời: - Cô đúng là... Cô gái bình thản ngồi xuống và nhìn vào bà Kim Tín, hỏi bằng giọng không vui: - Sao bà không đi tìm con? Bà Kim Tín vẫn chưa tin vào mắt mình, giọng bà run rẩy: - Có phải... thiệt là con không vậy? - Là con đây! Con đâu có chết mà sao bà vẫn coi như con đã ra người thiên cổ? Ông bà biết là đã chôn ai không? Quang vụt nói: - Là cô Thắm! Nãy giờ hình như cô gái không để ý đến Quang. Giờ nghe anh nói, cô mới quay sang và nói: - Anh đã biết ngôi nhà trên núi lớn Ô Cấp thì cần trở lại đó để biết thêm điều cần biết! Rồi cô lại quay sang ông bà chủ của mình: - Hai người hãy chuẩn bị mà rời khỏi ngôi nhà này đi, vài ngày nữa nó không còn là của mình đâu! Trong lúc ông bà Kim Tín còn đang ngơ ngác thì cô nàng vụt đứng lên và ra hiệu cho Quang đi theo: - Anh ra đây! Quang riu ríu bước theo. Khi ra tới ngoài rồi cô nàng lên tiếng: - Anh đã gặp tôi nằm chết trong hầm ngôi nhà trên rừng hoa sứ rồi phải không? Vậy bây giờ anh có ngạc nhiên khi thấy con người đó có mặt tại đây không? Quang sợ, nhưng anh vẫn cố nói cứng: - Không phải một, mà là đã hai lần tôi nhìn thấy cô chết và biến mất. Như vậy kể cả lần này nữa, biết đâu cô lại... Cô nàng bỗng cười phá lên: - Không ngoại trừ lần này đâu! Cô nàng vừa nói vừa dừng lại và quay ngoắc đối diện với Quang. Anh chàng há hốc mồm kinh ngạc, bởi trước mắt anh bây giờ không phải là Thắm nữa, mà là một cô gái khác với gương mặt bê bết máu! - Anh chưa từng biết mặt thật của tôi, mà chỉ biết cái mặt biến dạng này phải không? Quang còn chưa hiểu gì thì cô nàng buông một tiếng ngắn gọn: - Thì như anh đã nghe họ nói rồi đó, tôi đã bị họ nhẫn tâm sát hại rồi mà còn hủy hoại nhan sắc thêm lần nữa. Quang run giọng: - Cô Thắm... tôi cảm thông với cô, tôi muốn giúp, nhưng mà... Không để ý lời phân trần của Quang, cô nói tiếp: - Và anh đã nghe anh em họ kể chuyện giết chết tôi rồi xô xuống vực sâu ở Ô Quắn cùng chiếc xe rồi phải không? - Có... có nghe... - Như vậy là anh biết đích xác cô Thu Vân đâu có chết, đúng không? - Phải! Và bữa đó tôi thấy cô ta đi vào ngôi nhà trong rừng hoa sứ nữa. - Chính nhờ vậy anh mới có động cơ tìm tới nhà cô ta và hiểu tôi đã bị chết oan như thế nào. Tôi nghèo cũng giống như anh và chỉ bởi nghèo hèn, cô thế, nên mới bị giết chết cho một mưu đồ gian ác của họ. Cũng như do anh nghèo và tốt bụng, nên suýt nữa anh đã bị sa vào bẫy của họ, để họ có gì sơ sẩy thì chính anh là người sẽ đứng ra nhận tội thay! Quang ngơ ngác: - Cô nói vậy là sao? Nàng ta nhẹ giọng: - Hôm ở rừng hoa sứ sau Bạch Dinh, chính anh bị cô Thu Vân dụ đi theo lên căn nhà hoang đó, còn cái xác mà anh nhìn thấy trong hầm là xác của tôi do bọn chúng lấy cắp được trong nhà xác bệnh viện, để làm tang chứng buộc tội anh... Quang chận ngang: - Nhưng tôi có bị gì đâu? - May cho anh là tôi đã kịp thời cứu anh! Chính tôi đã biến đi và xui khiến anh rời ngôi nhà đó kịp thời. Bởi chỉ năm phút sau đó thì cảnh sát do Henri Phạm báo đã ập tới, họ chẳng gặp ai nên mọi việc coi như xong! Quang không thể nào tin được, nhưng khi anh nhìn cô gái thì thấy cô ta mỉm cười, gật đầu: - Tôi tuy chết oan, thù hận mọi người, nhưng không thể để cho một người ngay như anh bị nạn thay cho họ được! Do anh biết quá nhiều chuyện của họ, nên họ tìm cách thủ tiêu anh để bịt đầu mối. Anh có biết là họ đã tính trước mấy bước tiến và mấy bước lui. Tiến là nếu mọi việc êm xuôi, họ sẽ lãnh được tiền bảo hiểm nhân thọ, còn lui là phòng bất trắc, cơ mưu bị bại lộ. Lúc ấy họ sẽ đổ vấy lên đầu anh, nói chuyện giết tôi là do anh làm, mà bằng chứng do họ tạo ra sẵn là một túi tiền lớn họ dàn cảnh mang theo bên thi thể tôi để mọi người nghĩ động cơ anh giết tôi là vì muốn cướp tiền! Trong lúc Quang còn đang hoang mang thì cô nàng vụt nói nhanh: - Anh về nhà và đừng ngạc nhiên khi thấy số tiền bạc triệu để sẵn trong đó. Tiền đó tôi lấy được tại hiện trường, thứ mà họ định dùng để vu cáo anh. Đó là đồng tiền phi nghĩa, do đó không việc gì anh trả lại mà cứ giữ xài. Và còn nữa, khi hãng bảo hiểm đền tiền, thì thay vì họ nhận được, tôi sẽ khiến cho nó thuộc về anh! Anh sẽ dùng số tiền đó để thoát kiếp nghèo, hoặc làm từ thiện gì đó tùy anh. Thôi, vĩnh biệt anh, con người tốt bụng nhưng phải cái tội... quá tò mò! Nói xong thoắt cái cô ta đã biến mất. Vừa khi ấy cha mẹ Thu Vân trong nhà chạy ra hỏi lớn: - Thắm! Con Thắm đâu rồi? Quang chỉ lắc đầu không đáp. Bà Kim Tín phải gào lên: - Nó đâu rồi? Phải đó là hồn ma không? Bây giờ chính ông Kim Tín là người có kết luận: - Chưa chết mà hồn ma nỗi gì? Nhưng bất thần, Quang nhìn thẳng vào ông nói: - Cô ấy là hồn ma đó! Một oan hồn đáng lý về đòi nợ máu, nhưng cô ấy chưa làm. Có lẽ cô ấy chỉ muốn đòi nợ chính người đã gây ra tội ác mà thôi. Nói xong Quang quay bước đi, bà Kim Tín gọi lớn: - Kìa, cháu Quang! Cháu vừa nói gì? Quang nói mà không quay lại: - Hai bác sắp đón nhận những tin không tốt lành gì đâu. Anh đi nhanh bởi không muốn trả lời thêm nữa. Anh tự nhủ: - Biết nhiều quá là rước lấy phiền nhiễu nhưng cũng có được cái hay, như mình... *** Ba tháng sau...Bỗng nhiên Quang nhận được điện tín từ một ngân hàng Pháp bảo rằng anh có một số tiền mười triệu Franc Pháp mà không nói rõ là tiền gì. Quang định viết thư từ chối và nói rõ mọi chuyện cho họ biết và rút lại số tiền lớn đó. Tuy nhiên anh chưa kịp viết thì lại nhận được một thư khác từ một chi nhánh ngân hàng Pháp tại Sài Gòn chuyển đến, thông báo là anh có một trương mục tại ngân hàng họ với số tiền mười triệu đồng Franc. Quang chưa kịp có phản ứng gì thì đêm đó anh đang ngủ vụt ngồi dậy khi nghe có tiếng nói từ cửa sổ vọng vào: - Em đã nghĩ rồi, số tiền này thay vì trả lại cho hãng bảo hiểm, có nghĩa là anh tố cáo tội gian manh của anh em nhà Henri Phạm và Thu Vân, như thế họ sẽ ở tù thì anh cứ giữ mà làm từ thiện và cải thiện cuộc sống, đừng trả lại. Cứ để suốt đời con Thu Vân sẽ sống trong cảnh trốn chui trốn nhủi với cái tên giả, đó là cách nó phải trả giá cho tội ác của mình, đau khổ còn hơn là ngồi tù. - Nhưng như thế này trước sau gì cũng đổ bể, tôi lại liên lụy, bởi tiền đang nằm trong trương mục của tôi. Giọng nói kia giải thích rất rạch ròi: - Mọi thứ em đã lo hết rồi. Em khiến cho đồng tiền luân chuyển từ Pháp về trương mục của anh mà chẳng ai biết được nguồn gốc. Không phải mình gian manh, nhưng để cho người thật thà, tốt bụng như anh khỏi phải liên lụy. Anh cứ yên tâm dùng số tiền ấy. Có thể một ngày nào đó anh sẽ cứu trợ ngược lại cho ông bà Kim Tín, bởi sớm muộn gì hai đứa con trời đánh ấy cũng làm cho gia sản nhà đó không còn một đồng. Tự dưng có số tiền lớn như vậy khiến Quang lúng túng chẳng dám đụng vào. Nhưng lạ quá, cứ hàng tháng anh lại nhận được một số tiền để chi dụng mà không biết của ai cho. Sau đó khi nhận được thông báo tình hình trương mục ngân hàng, Quang mới hiểu đã có người rút tiền giúp cho anh. Người giúp đó ngoài Thắm ra thì đâu còn ai nữa! Và cứ thế, hễ mỗi khi Quang vừa có ý định làm ăn gì thì tự nhiên có ngay số tiền như ý chuyển đến. Được cái là Quang không hề lợi dụng số tiền đó để phung phí. Anh chủ yếu dùng để làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo khác. Và đặc biệt, anh mua một mảnh đất rộng, chỉ xây một căn nhà nhỏ để ở, phần đất còn lại anh lập một cái miếu thờ, mà trong miếu chỉ thờ một bức họa do chính Quang vẽ lại theo trí nhớ chân dung của Thắm. Từ đó Quang sống thanh thản một mình và tự nguyện làm ông từ chăm sóc ngôi miếu. Sau này người ta đồn ngôi miếu đó linh hiển lắm, cầu gì được nấy. Mà lời cầu khấn phải mang ý tốt thì mới được đáp ứng, còn ngược lại, nếu lợi dụng hay gian trá thì sau khi khấn vái sẽ mang bệnh chữa hoài không khỏi... |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 47
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG Quyển XXXXVII:ĐỒI THIÊN THU Giấc ngủ kéo dài hơn dự kiến, có lẽ do thời tiết mát mẻ, mà cũng có thể do cơn mệt của một ngày đường đi qua những đoạn đầy bụi và gập ghềnh, nên Mỹ Uyên ngủ say chưa từng thấy. Lúc tỉnh giấc, Uyên đưa tay xem đồng hồ thì không khỏi giật mình, đã hơn 1 giờ sáng! Như vậy cô đã ngủ đến hơn 6 giờ liền! Vừa lúc ấy, có tiếng gọi khẽ ngoài phòng: - Cô Út ơi, cô dậy chưa? Biết đó là tiếng của chị người làm Tư Sương, nhưng Uyên vẫn còn vươn vai trên giường chưa chịu lên tiếng. Phải cho chị ta lặp lại lần thứ hai thì Uyên mới đáp: - Dậy rồi. Có gì không chị Tư? - Dạ, nãy giờ tôi gọi cả chục lần mà cô không lên tiếng, tôi đoán cô còn ngủ nên thôi. Tôi muốn dọn mâm cơm ra, sợ để trong phòng kiến, gián bâu. Lúc này Mỹ Uyên mới nhớ ra, hồi 6 giờ chiều chị ta có dọn vào phòng cô mâm cơm nóng sốt, mời cô ăn, nhưng lúc đó do mệt nên Uyên dự tính nằm nghỉ một lúc sẽ ngồi dậy ăn, bởi thật sự lúc ấy cô đang đói... nhưng ngủ quên luôn tới giờ. - Mâm cơm hả? Uyên lúc này mới chịu nhảy xuống giường và mở cửa phòng trong tư thế mắt nhắm mắt mở: - Chị vào lấy ra hâm lại giùm tôi, tôi ngủ quên... Tư Sương rất mến cô chủ nhà này, nên vui vẻ bảo: - Ngủ ngon hơn ăn mà cô! Bước tới chỗ đặt mâm cơm, bỗng chị ta kêu lên: - Ủa, cô Út... ăn rồi mà? Mỹ Uyên giật mình: - Ăn hồi nào? Sau lúc chị đem cơm vào là tôi ngủ liền một mạch tới giờ này, ăn uống gì đâu! Chỉ mâm cơm đã sạch thức ăn, Tư Sương cười: - Tưởng cô Út chê đồ ăn nấu vội của tôi, nào ngờ cô ăn ngon miệng quá! Uyên bước tới nhìn vào mâm cơm, ngạc nhiên kêu lên: - Tôi đâu có ăn! Tới phiên Tư Sương ngạc nhiên: - Vậy ai ăn? Chị ta quay về phía cửa hỏi: - Cô ngủ có đóng cửa không? Uyên đáp quả quyết: - Tôi khóa rồi còn gài chốt nữa! Vừa rồi tôi mở ra thì chốt khóa còn nguyên mà. Nhìn lại cửa sổ vẫn còn chốt bên trong, Tư Sương cau mày: - Đâu có ai lọt vào đây được? Mà cô Út... Chị ta định hỏi lại xem cô chủ mình có lầm lẫn, ăn rồi mà quên... nhưng Mỹ Uyên như đã đoán được ý của chị, vội nói ngay: - Bụng tôi còn đói cồn cào nè, sao có chuyện kỳ vậy? Uyên hỏi lại: - Nhà này bộ lâu nay ai muốn vào thì vào hay sao chị? Tư Sương xua tay: - Dạ, đâu có cô Út! Ở đây là biệt lập, vả lại khu vực này mọi người tôn trọng ông chủ, nên chưa bao giờ có ai dám bước vào trang trại này, chứ đừng nói là trộm đạo. Mà chuyện này tôi nghĩ có lẽ... hay là... Chị không tìm ra được cách nói nào cho đúng. Bởi trộm nếu vào phòng thì lấy của cải, chứ sao lại chỉ ăn cơm? Còn kẻ gian khác thì... Chị nhìn quanh rồi hỏi: - Cô Út xem có mất mát gì không? Uyên nhìn qua một lượt, thấy chiếc va li để ở đầu giường vẫn còn nguyên, cô nói: - Đồ đạc tôi còn chưa lấy ra thì đâu có gì để mất! - Vậy ai vào đây? Tư Sương đứng thừ người ra một lúc, chị dọn mâm ra mà còn lầm bầm: - Chuyện chưa từng xảy ra... Ngồi lại trong phòng, chính Mỹ Uyên cũng không thể hiểu nổi: - Sao có chuyện kỳ lạ này? Lát sau, mâm cơm khác được bưng vào, Tư Sương hơi ngại nói: - Do không chuẩn bị thức ăn sẵn, nên chỉ còn lạp xưởng với mấy cái trứng, cô Út ăn đỡ được không! Uyên ngồi ngay vào bàn ăn: - Tôi đang đói cồn cào, có bấy nhiêu đây là quý rồi! Cô ăn một cách ngon lành. Lúc này Tư Sương mới tin thật là cô chủ mình không hề đụng tới mâm cơm kia. Chị ta ngồi nhìn Uyên ăn vừa thắc mắc: - Chuyện này kỳ quá cô Út? Phải chăng... Chị ta bước tới cửa sổ quan sát thật kỹ rồi lắc đầu nói: - Tôi nghi có con gì đó nhảy vào đây ăn vụng, nhưng cửa sổ cao và chốt chặt thế này thì con gì vào được? Cô có nghi ai không cô Út? Vốn tính không đa nghi, nên Uyên xuề xòa: - Chuyện cũng đã xảy ra rồi, nghi ngờ mà làm gì! Có thể là... chuột bọ gì đó cũng nên! - Cũng có thể... nhưng phòng này nào đến giờ không thấy chuột... Quá đói, nên Mỹ Uyên ăn một loáng đã hết sạch mâm cơm với thức ăn đơn sơ. Cô còn khen: - Chị chiên trứng có nghề đó nghen! Được khen, Tư Sương cười toe toét: - Lâu lắm rồi mới có người khen tôi, cám ơn cô Út! Để không khí bớt căng do chuyện vừa rồi, Mỹ Uyên nói đùa: - Sao chị không kiếm một người... để người ta khen cho. Chị mà gật thì chắc ở xứ này thiếu gì các anh chàng nhào vào, phải không chị Tư! Tư Sương thẹn thùng, lúng túng: - Cô Út này... ai mà chịu tôi cô ơi! Uyên ăn xong thì đồng hồ tay của cô chỉ hơn 2 giờ. Định không ngủ tiếp nên Uyên lấy va li ra soạn đồ để treo lên móc, cô giật mình khi phát hiện trong va li của mình có một cành hoa hồng còn tươi đặt trong đó! - Kỳ vậy? Mỹ Uyên không hề đặt cành hoa này vào chung với quần áo của mình, vả lại nếu có đặt vào đó thì qua chặng đường hơn 5 tiếng đồng hồ, cánh hoa hồng không còn tươi như mới hái được! Mà loại hồng vàng này không phải nơi nào cũng có. Cánh to, thân cao, lá nhỏ, là đặc trưng của loại hồng mà nếu Uyên nhớ không lầm thì chỉ có ở ngay trong nhà mình đây, do trước kia lúc còn sinh thời cha cô đã lấy giống từ nước ngoài về ươm và cho hoa. Nhưng vài năm nay thì do không có người chăm sóc nên hầu như bốn chậu hồng vàng nhà cô đã chết và tuyệt chủng luôn! Vậy mà... Điều làm cho Uyên sững sờ lúc này là việc ai đã đặt cành hoa vào va li mình và đặt vào lúc nào mà cô không hay biết. Nó có liên quan tới mâm cơm hồi đầu hôm không? Bao nhiêu câu hỏi khiến cho suốt từ đó đến sáng, Mỹ Uyên không tài nào ngủ lại được. Cô cũng không buồn sắp xếp đồ đạc, mà chỉ biết ngồi ngẩn ngơ. Hồi nãy cô không quan tâm lắm vụ mâm cơm, nhưng bây giờ chỉ một cành hoa nhỏ, cô lại không yên trong lòng. Chắc chắn là có điều gì đây... - Cô Út ơi, dậy sớm tập thể dục đi, rồi vào ăn cháo. Tôi có nấu nồi cháo cá ngon lắm để cô ăn, bù bữa đạm bạc đêm qua! Nghe tiếng Tư Sương, Mỹ Uyên phải nói vọng ra: - Được rồi, cám ơn chị, lát nữa tôi ăn. Cô thấy cần một cuộc tản bộ với không khí trong lành buổi sáng để khuây khỏa cho bớt căng thẳng, nên thay đồ thể dục, Uyên đi ra sau vườn. Mảnh đất mà ngôi biệt thự của cha cô tọa lạc rộng có đến 5-6 héc-ta, một phần chung quanh nhà thì được vây quanh bởi tường rào cao, có cửa thông ra phần đất phía sau khá rộng, dẫn tới dãy đồi tít tắp đằng xa. Ít khi nào Uyên một mình đi lên phía sườn đồi thoai thoải kia, mặc dù vào những buổi sáng nơi đó rất đẹp, đặc biệt là lúc mặt trời lên. Có lần Mỹ Uyên đã nhìn thấy cha đứng trên đó nhìn về phía vầng thái dương vừa nhô lên, ông nhìn có vẻ say sưa lắm... đến khi bắt gặp con gái mình nhìn mình từ sau thì bỗng dưng ông nổi nóng, xua Uyên vào nhà ngay! Sau đó Uyên có hỏi cha tại sao như vậy thì ông lúc ấy có vẻ bình tâm lại, đã vỗ vai cô bảo: - Chỗ ấy mặt trời lên đẹp lắm, nhưng... có lẽ không nên xem. Nhất là con còn nhỏ... Uyên hỏi: - Nhỏ thì đâu có ai cấm nhìn mặt trời lên đâu ba? Cha cô không vừa lòng lắm cách hỏi của con, nhưng ông chỉ nói: - Con biết vậy là đủ rồi. Rồi chẳng hiểu sao, ông ra lệnh cho mọi người trong nhà kể cả cô: - Từ nay không ai được ra chỗ sườn đồi, nhất là phía gần vực. Nơi đó nguy hiểm. Ông chỉ nói thế thôi, nhưng người nhà từ Tư Sương, Sáu tài xế và cả mấy người làm vườn nữa, không ai dám trái lại. Có lần Tư Sương còn nói với Uyên: - Mỗi lần tôi đứng bên sườn đồi đó mà nhìn xuống vực sâu, tự nhiên tôi chóng mặt liền! Từ ngày đó cho tới nay đã hơn năm năm. Cha cô đã mất, nhưng mấy lần về ở đây, có lúc đến vài tháng, nhưng chưa lần nào Mỹ Uyên có dịp ra đây. Cho đến sáng nay cũng thế, cô chỉ muốn đi một vòng ở phần vòng rào của ngôi nhà, cho nên khi vừa đi tới tường phía sau thì Uyên quay lại. Tuy nhiên khi vừa xoay người đi, chợt cô nghe tiếng đàn ở đâu vọng lại. Một bản nhạc rất quen thuộc mà vừa thoạt nghe Uyên đã phải dừng lại ngay: Bản Love Story! Ban đầu Uyên ngỡ đó là nhạc từ máy radio, nhưng khi nghe kỹ thì không phải. Ai đó đang đánh đàn guitar, mà lại lúc chơi lúc ngừng. Sáng sớm mà được nghe điệu nhạc quen thuộc, lại là bản tình ca Mỹ Uyên đã thuộc nằm lòng và thường hát một mình mỗi khi ngẫu hứng, bởi vậy Uyên lặng im và chăm chú lắng nghe. Quãng thời gian người chơi đàn ngừng lại là những lúc Uyên cụt hứng, làu bàu: - Chơi thì chơi cho trọn... Nhưng Uyên không phải chờ lâu, ngay lúc đó tiếng đàn lại trỗi lên. Lần này lại có kèm theo tiếng hát nữa! Mà là giọng của một chàng trai! Mỹ Uyên hơi tò mò, cô nhìn qua song sắt cổng sau, hướng về phía ngọn đồi gần đó. Rõ ràng là tiếng đàn hát phát ra từ đó. - Ai mà mới sáng sớm đã lên đó? Tự hỏi và dĩ nhiên là không có câu trả lời, nhưng sự tò mò đã khiến Uyên theo quán tính đã mở chốt cửa bước ra phía ngoài. Sương sớm còn đọng lại trên đầu ngọn cỏ, nên Uyên bước tới đâu sương ướt thấm vào da lạnh buốt. Tuy nhiên lúc này Uyên không ngại sương, thứ mà cô rất ngại trước đây. Có lẽ do tiếng đàn hát mỗi lúc một rõ hơn và... quyến rũ hơn! Như con mồi nhỏ bị thôi miên trước ánh nhìn của con mãnh hổ, Uyên bước thẳng lên đồi mà không kiểm soát được bước đi của mình! Cô đi khá nhanh, cho đến khi tiến rất gần với tiếng đàn hát thì chậm lại, và gần như bất động khi tiếng đàn hát ngừng lại. Nghĩ là nó lại tiếp tục như lần trước, nhưng qua gần ba mươi giây không nghe lại âm thanh quyến rũ kia, Uyên tắc lưỡi: - Sao lại... Cô chờ thêm khá lâu nữa, vẫn im lặng... Lần này không đứng im nữa, Uyên bước nhanh tới trước. Cô quyết xem thử người vừa đàn hát đó là ai? Nhưng khi đã lên tới đỉnh đồi rồi Uyên chẳng nhìn thấy ai. Đây là đồi cỏ chứ rất ít cây to, nên tầm mắt có thể phóng rất xa, nhìn rộng khắp một vùng... Vậy mà chẳng thấy bóng người nào. - Kỳ vậy... Mỹ Uyên nhìn lại chỗ gốc cây cổ thụ duy nhất ở đỉnh đồi nơi ngọn cỏ còn rạp xuống chứng tỏ có người vừa ngồi xong. Vậy anh ta đi đâu mà biến mất quá nhanh, trong khi nếu muốn biến khỏi tầm mắt trên đỉnh đồi này ắt phải đi gần năm phút. Thất vọng vì nguồn cảm hứng buổi sáng bị cắt ngang, Mỹ Uyên vẫn chưa muốn rời đi. Cô bước lại chỗ gốc cây và tự dưng muốn ngồi lại nơi ấy. Tuy nhiên vừa ngồi xuống thì Uyên đã bật dậy ngay, bởi cô vừa ngồi lên một vật gì đó. Bật dậy và nhận ra vật đó chính là một chiếc nhẫn bằng chất liệu giống như ngà voi. Nhẫn khá lớn, cỡ tay của đàn ông! - Chắc là của anh ta... Mỹ Uyên không định cầm lên, nhưng vừa muốn quay đi thì cô lại đổi ý, cúi xuống nhặt chiếc nhẫn lên, sau khi ngắm qua một lượt, cô cho vào túi áo và quay trở lại. Vừa bước qua một mô đất cao, chợt Uyên giật mình khi thấy trước mặt mình là cả một rừng hoa hồng vàng! Những đóa hồng vàng nở rộ đón ánh bình minh khiến cho Uyên phải sững sờ một lúc. Rồi cô lẩm bẩm: - Những cánh hoa này sao giống... Cô đã nhận ra, hồng vàng ở đây rất giống với cành hoa mà cô bắt gặp trong va li của mình! - Thì ra... Cô muốn nói thì ra hoa là ở nơi đây! Nhưng khi nghĩ tới người đem nó vào phòng mình thì Uyên lại ngừng ngay ý nghĩ. Không thể nào... Tiện tay Uyên ngắt một cành hoa và mải mê nhìn nó như bị thôi miên. Mãi gần nửa phúc sau cô mới rời nơi đó. Lúc đi lên, dù độ dốc, nhưng Uyên đi nhanh hơn khi xuống. Một phần bởi không có mục tiêu chinh phục, nhưng một phần có lẽ do vừa bước đi mà Uyên cứ thỉnh thoảng quay lại nhìn... Khi xuống hết triền đồi, một cách ngẫu nhiên Uyên đưa tay sờ vào túi, cô giật mình kêu lên: - Đâu rồi? Chiếc nhẫn cô cẩn thận bỏ vào lúc nãy giờ đã biến mất? Túi của bộ áo khoác thể thao là áo mới, không có lỗ rách, vậy nó đi đâu? Định trở lại để tìm, nhưng khi sờ xuống túi quần thì Uyên thở phào, bởi chiếc nhẫn lại ở đó. - Kỳ lạ! Uyên chỉ còn biết kêu thầm rồi bước trở vào nhà mà hình như đang muốn nghe lại tiếng đàn hát lúc nãy... Khi vào nhà gặp Tư Sương, Uyên hỏi liền: - Chị có nghe tiếng đàn hát hồi này không? Sương ngạc nhiên: - Ủa, đâu có nghe gì? Uyên kể sơ lại sự việc và hỏi: - Gần nhà mình có ai hay đàn hát không? Tư Sương cũng lắc đầu: - Tôi đâu có biết ai. Xóm này ít người, phần đông là thợ rừng, thợ săn, họ đi làm xa, nhiều khi cả năm không thấy về nhà. Nếu có chơi đàn thì họ chơi đàn cò, đàn kìm hay ca vọng cổ, chứ làm gì biết đàn nhạc ngoại gì đó như cô nói. Nhiều khi cô nghe họ hát băng hay radio gì đó không chừng! Uyên quả quyết: - Tôi chắc chắn đó là người hát. Tôi còn... Cô định nói là mình nhặt được chiếc nhẫn, nhưng kịp ngừng lại. Rồi cô đưa cành hoa hồng vàng cho Tư Sương xem và kể: - Tối qua tôi gặp một cành hồng giống như cành này trong va li của tôi, chị thấy có lạ không? Tư Sương trố mắt: - Cô nói thật hả? - Mà chị có biết trong vườn mình ở đâu có nhiều hồng vàng này không? - Ở trên đồi. Mà cũng lạ, ngày trước ông chủ trồng quanh nhà, chỉ bởi thiếu tưới có một thời gian ngắn là hỏng chết khô hết, vậy mà đám hồng vàng này không ai tưới tiêu gì hết lại sống tốt ở trên đồi, chẳng biết sao nữa? - Ai trồng nó trên đó? Có vẻ suy nghĩ, một lúc Tư Sương mới đáp: - Hồi trước hình như cũng do ông chủ trồng. Rồi cô hạ thấp giọng kể: - Có chuyện này ít ai biết, hồi còn khỏe, mỗi khi lên trên này thì hầu như ngày nào ông chủ cũng lên trên đồi đó ở cả ngày! Ông chủ còn cho xây một cái nhà mát trên đó nữa để nghỉ trưa, có khi ngủ cả tối, chỉ một mình ông thôi. Cái nhà mát đó chỉ mới bị tháo dỡ đi vài năm nay, chỉ vì... - Sao lại dỡ bỏ? Tư Sương ngập ngừng một lúc mới chịu nói: - Chuyện này là do bà chủ... Tôi nói cho cô nghe thôi, cô đừng nói lại cho bà chủ nghe... Uyên động viên chị ta: - Chị biết tính tôi rồi, có bao giờ tôi đứng về phía ba má tôi mà gây ác cảm với người làm trong nhà đâu? Tư Sương mạnh dạn: - Bởi vậy tụi tôi trong nhà này ai cũng quý mến cô và luôn hết lòng vì cô, kể từ khi cô thay quyền ông bà chủ cai quản cơ ngơi này. Chuyện này thật ra bà chủ bảo tôi phải giấu... Chính bà đã ra lệnh cho tôi mướn người dỡ bỏ cái nhà mát trên đồi. Chỉ vì... Như sợ có người ngoài nghe được, Sương nói thật nhỏ: - Trong ngôi nhà đó có ma! Lần đầu tiên nghe chuyện đó, nên Uyên giật mình: - Có chuyện đó sao? Mà từ nào giờ có nghe mẹ tôi nói gì đâu? - Bà giấu dữ lắm. Đến cả tôi mà bà cũng không cho biết, mặc dù từ lúc ông chủ còn sống, chính tôi là người mỗi ngày lên trên đồi để quét dọn ngôi nhà mát cho ông. - Chị cũng biết là trong ngôi nhà có ma? Sương lắc đầu: - Nói thật với cô là tôi không hề hay biết. Hình như ma cỏ gì đó chỉ nhát có mỗi mình bà mà thôi! Uyên càng nghe càng rối: - Chị nói gì tôi không hiểu. Sao ma chỉ nhát có mỗi mẹ tôi? Mà mẹ tôi đâu có sống trên này. Cũng giống như bây giờ, bà luôn ở nhà tại Sài Gòn mà? - Đúng là thỉnh thoảng bà mới lên đây chơi và chỉ ngủ lại vài đêm thôi. Vậy mà... Thấy Tư Sương có vẻ ấp úng, Uyên khó chịu: - Chị nói chị quý tôi, vậy mà chuyện gì trong nhà này chị cũng giấu hết. Vậy là sao? Chị ta đành phải thú thật: - Không giấu gì cô... tiếng đàn hát mà cô vừa nói đó tôi nghe đã lâu rồi! Nó phát ra từ trong ngôi nhà mát trên đồi chính bà chủ cũng có nghe và có lần bà đã gặp một cô gái trên đó, chính cô ta! Uyên phản đối: - Người hát và đánh đàn là một, và người ấy chắc chắn là đàn ông. Bằng chứng là... Cô muốn nhắc tới chiếc nhẫn bằng ngà, nhưng kịp ngừng lại, chỉ nói chung chung: - Hồi sáng nay khi lên trên đồi, tôi đã nhìn thấy dấu vết còn lại là của đàn ông, mà giọng hát cũng là đàn ông một trăm phần trăm! Tư Sương im lặng một lúc rồi tiếp: - Tôi cũng đã nghe giống như cô nghe vậy, nhưng chính bà chủ đã nói với tôi là bà gặp... ma nữ. Nó đuổi bà không cho tới đó! Uyên sửng sốt: - Tới đó là tới đâu? - Thì ngôi nhà mát trên đồi! Uyên lắc đầu: - Càng khó tin, bởi chị cũng biết rồi, mẹ tôi bị tai biến liệt nửa người từ mấy năm nay rồi, chỉ ngồi xe lăn, vậy làm sao bà lên trên đồi được? Mỗi lần lên đây bà chỉ ở trong phòng, còn cao lắm là nhờ con A Lìn đẩy xe đi vòng vòng quanh sân này thôi. - Chính con Lìn đó đã đưa bà lên đồi! Câu nói của Sương làm cho Uyên bị kích động: - Chị Lìn đẩy xe đưa mẹ tôi lên đó làm gì? - Có lẽ do bà ra lệnh. Tội nghiệp con nhỏ, chính vì làm việc ấy nên nó mới... chết ngay trên đồi đó! - Trời ơi! Chị Lìn bị... bị chết trên đó? Tư Sương bắt đầu hé lộ những điều mà Uyên không bao giờ nghĩ tới: - Một lần, khi đẩy bà chủ lên đó rồi, tự dưng con Lìn vụt chạy về phía triền dốc bên kia, chỗ vực sâu và... nhảy xuống đó! - Trời ơi! Rồi... rồi chị ấy...? - Chết mất xác luôn! Lúc ấy ông chủ vẫn còn sống và bị sốc dữ lắm! Uyên hiểu ra: - Bởi vậy sau đó ba tôi cấm không cho ai đi lên đồi! - Đúng vậy. Nhất là từ lúc bà chủ lên đây và gặp... Chị ta lại nói hớ, sợ sệt nín bặt. Uyên hỏi tới: - Chị nói tôi nghe xem, mẹ tôi thấy gì mà đến đỗi bà ra lệnh dỡ bỏ ngôi nhà mát trên đó? - Tôi... tôi... Tư Sương nói xong thì vụt chạy đi trước sự ngơ ngác của Uyên. Cô bực bội gọi giật lại, nhưng Sương đã lẫn mất ở đâu đó... *** Mỹ Uyên tức tốc trở về Sài Gòn để gặp mẹ mình. Những nghi vấn trong lòng cô đã khiến Mỹ Uyên phải làm như vậy, mặc dù biết rằng lúc này mẹ mình đang bệnh nặng nằm liệt một chỗ.Cũng may, khi Uyên trở về thì bà Mỹ Nhung tỉnh táo hơn bình thường. Bà nhìn con và nở nụ cười héo hắt, thều thào hỏi: - Con... đi đâu về... Uyên đã có chủ tâm, nên cô không giấu: - Con lên trên nhà nghỉ của mình trên Đơn Dương. Đang yếu đến độ không tự ngồi dậy được, vậy mà khi nghe Uyên nói bà đã rướn người lên và líu lưỡi hỏi: - Con... lên... lên đó... làm... làm gì...? Uyên đỡ mẹ dậy, cho bà nằm dựa vào gối, rồi lại tiếp: - Con bây giờ quản lý cơ ngơi đó thì phải lên xuống trông chừng chứ. Con còn tính cho xây dựng lại cái nhà mát trên đồi nữa. Ở đó mà có nhà mát ngồi chơi hay tiệc tùng thì nhất trên đời, không đâu bằng! Con không hiểu ngày xưa tại sao lại phá nhà cũ đi? - Con... con không... không được... Bà chỉ nói được bấy nhiêu đó rồi thì lịm đi. Uyên hốt hoảng gọi to: - Mẹ! Mẹ sao vậy? Cô không ngờ lời nói khích của mình lại gây hậu quả như thế, nên quýnh lên, lo thoa dầu để cứu mẹ mình. Phải lâu lắm sau đó bà mới tỉnh lại. Nhưng vừa nhìn thấy Uyên thì bà lại hốt hoảng: - Đừng... đừng con... - Mẹ bảo con đừng cái gì? Con có làm gì đâu? Bà cố hết sức nắm lấy tay Uyên như muốn lay mà lay không nổi, miệng bà mấp máy liên hồi nhưng phát không thành tiếng... Uyên phải chủ động hỏi: - Có phải mẹ bảo con đừng xây cái nhà mát trên đồi hay không? - Ừ... ừ... Hiểu ý mẹ mình, nhưng Uyên giả vờ như không biết, lại hỏi: - Cái nhà mát đó đâu có cản trở gì ai mà tại sao nó bị phá? Ít ra mẹ cũng nói cho con biết chứ... Nếu không thì con cứ xây lại, bởi con chuẩn bị chuyển về trên đó ở luôn. Con đưa mẹ lên cùng ở, có chị Tư Sương sẽ chăm sóc cho mẹ. Bà Mỹ Nhung cố hết sức lực còn lại, cố đưa cả hai tay lên, ý phản đối: - Không... đừng... Nhưng rõ ràng bà không còn đủ sức để nói gì thêm. Hai tay bà rớt xuống và mắt trợn trừng. - Mẹ! Bà Mỹ Nhung đã rơi vào cơn mê sâu... *** Cuối cùng thì Mỹ Uyên đã chẳng hỏi thêm được ở mẹ mình một chi tiết nào câu chuyện quanh những bí ẩn của ngọn đồi kỳ lạ trong phần đất nhà. Sau một buổi hôn mê, bà Mỹ Nhung đã trở lại trạng thái nửa mê nửa tỉnh như trước. Bác sĩ điều trị căn dặn kỹ:- Tránh đừng để cho bệnh nhân bị xúc động mạnh. Những ai từng gây cho bà sự kích động thì không nên đối diện với bà, nhất là trong lúc này. Do vậy, đêm hôm ấy tuy ở lại nhà nhưng Mỹ Uyên không túc trực bên giường bệnh của mẹ, mà ngủ ở phòng riêng. Tối đó, sự tò mò đã thôi thúc Uyên mò sang phòng mà ngày trước ba cô làm việc và thường ngủ lại ở đó. Phòng này không phải là phòng ngủ, nhưng do ba cô hay thức khuya làm việc, đôi khi quá mệt, ông hay ngủ lại nên trong phòng có để sẵn một giường nệm nhỏ. Tủ hồ sơ, bàn làm việc thì đầy. Kể từ khi ba chết, chưa bao giờ Uyên bước vào đây, một phần là vì cô tôn trọng nguyên tắc của ba cô, không nên táy máy đồ đạc của người khác, và một phần là do khi còn khỏe mạnh, mẹ Uyên cũng nghiêm cấm con cái không đứa nào được tự tiện bước vào phòng của cha. Kể cả bà, đã nhiều lần bà tuyên bố: Mẹ không đụng tới bất cứ cái gì của riêng ông ấy! Lời tuyên bố đó đã cho Uyên hiểu một chút rằng: giữa ba và mẹ mình có điều gì đó lấn cấn, mà chẳng qua ông bà khéo léo không để cho con cái biết. Kể từ ngày ba mất, Uyên là người duy nhất sau mẹ được quyền sở hữu chùm chìa khóa của căn nhà, nên việc cô vào căn phòng làm việc của ba mình rất dễ dàng. Là một doanh nhân thành đạt, làm chủ nhiều đồn điền, nên phòng làm việc của ông rất nhiều những tủ đựng hồ sơ kinh doanh. Lúc ông sắp mất, tuy Uyên chưa đủ lớn nhưng sau này chính vị luật sư nhận quản lý tài sản đã nói riêng với cô rằng ông đã có căn dặn: Chỉ có Mỹ Uyên là người được xem và quản lý những gì ba cô để lại. Lúc này, khi đứng trong phòng của cha rồi Uyên mới nhận ra sự thiếu sót của mình. Đúng ra cô đã phải vào phòng này từ mấy năm nay, để xem cha mình để lại những gì, rồi căn cứ theo đó mà quản lý tài sản, việc kinh doanh. Bấy lâu nay Uyên chỉ dựa vào kinh nghiệm học được ở trường và óc thông minh riêng để quán xuyến công việc... Bởi vậy khi kéo ngăn tủ bàn làm việc của cha ra Uyên đã nhận thấy ngay điều mình cần học là ở đây! Xấp hồ sơ trên cùng đã có ghi sẵn đòng chữ: Những điều mà Mỹ Uyên nên xem! Thì ra cha đã dành sẵn cho cô ở đây! Vừa giở tập hồ sơ ra xem Uyên đã giật mình! Ngay tờ giấy đầu tiên đã có bút tích của cha: Mỹ Uyên nên làm ngay giúp cha... Cô lật tiếp bên dưới thì hơi hụt hẫng, bởi ngoài tờ giấy đó thì chẳng còn giấy tờ gì khác. Mà ở cùi hồ sơ còn có dấu của việc bị xé vội, một mảnh giấy còn sót lại. - Ai đã hủy đi những hồ sơ này? Bên dưới hồ sơ là các giấy tờ khác sắp xếp theo thứ tự, đó là những công nợ của các mối làm ăn của công ty, mà trong di chúc để lại ông Minh cha cô đã có ghi. Hầu hết là công nợ mà chủ nợ là cha cô, tức cô là người thừa kế duy nhất, sẽ tiếp tục là chủ nợ của họ. Hầu hết là sắp đến hạn họ phải trả. Uyên buột miệng: - Cũng may là mình xem kịp thời! Và rõ ràng, người nào lấy cắp hồ sơ chỉ nhắm vào một loại giấy tờ nào đó. chứ không đụng đến giấy tờ có liên quan đến tiền bạc. Ở một ngăn kéo khác, cũng phải dùng chìa khóa Uyên mới mở được, cô bắt gặp ngay một bức ảnh chân dung của một cô gái trẻ, đẹp, có nụ cười thật tươi, nhưng đôi mắt thì thật là buồn. Tấm ảnh không lộng khung, nên Uyên lật phía sau và đọc được dòng chữ: Kỷ niệm trên đồi Thiên Thu! - Đồi thiên thu? Nhìn kỹ thì bức ảnh này có bối cảnh phía sau là một khung cảnh nào đó quen quen... người chụp đã cắt từ một bức ảnh chụp ngoài trời, để phóng thành một ảnh chân dung... - Phải rồi, trên ngọn đồi đó! Uyên nhận ra và nhớ lại cảnh trên đỉnh đồi nhìn sang phía bên kia, nơi mà cha cô từng cấm không cho đứng ngắm! Thì ra bức ảnh này được chụp nơi ấy và phải chăng là do chính cha cô chụp? ở một ảnh thứ hai thì đã là câu trả lời: vẫn tấm ảnh đó nhưng còn nguyên, chụp chung với một người đàn ông. Mà người đó chính là... cha của Uyên! - Thảo nào... Uyên kết nối những sự việc và lờ mờ nhận ra một chút ánh sáng trong bóng đêm dày đặc quanh cha mẹ mình... - Người phụ nữ trẻ đẹp này phải chăng là đầu dây mối nhợ của sự lấn cấn giữa cha mẹ mình? Nhưng tại sao? Bao nhiêu câu hỏi lại dồn dập kéo về, khiến cho Uyên càng muốn khám phá thêm những điều của cha mà cô còn chưa biết. Sau hơn một tiếng đồng hồ lục lọi, Uyên đã có thêm bằng chứng để khẳng định rằng cha cô và người phụ nữ kia là một cặp đôi gắn bó cho đến ngày cha cô qua đời. Trong đó có một lá thư ngắn do cha cô viết chỉ cách ngày ông trút hơi thở cuối cùng khoảng một tuần lễ, gửi cho người phụ nữ tên Thiên Thu, báo cho cô ấy biết rằng ông đang hấp hối, sắp lìa xa, mong gặp được cô lần cuối ở tại ngôi nhà trên đỉnh đồi! - Nhưng sao lá thư này còn ở đây? Sau khi nhìn kỹ Uyên hiểu ra: Lá thư này cha cô đã gửi đi cho người con gái tên là Thiên Thu, nhưng bị trả lại và người phát thư có ghi: Người nhận đã chết, nhà không có ai nhận thay! - Trời ơi! Tự dưng Uyên kêu lên và sững sờ. Thì ra cha cô và cô người yêu này đã chết ở những thời điểm không xa nhau. Và tất cả lại có liên quan tới ngọn đồi mà ông gọi là đồi Thiên Thu! Mà phải chăng do người phụ nữ kia có tên là Thiên Thu nên cha cô đã đặt tên ngọn đồi là tên ấy? Thêm một chút ánh sáng nữa lại vụt tắt ngay. Bởi sau đó, những gì liên quan tới cô gái đã không còn nữa trong đống hồ sơ khá nhiều trong phòng. Hình như có ai đó cố tình lấy đi, hay hủy hoại. Uyên cố tìm thêm nhưng vẫn không có gì. Giở trở lại xấp hồ sơ có ghi: Những điều Mỹ Uyên nên xem... Uyên chợt hiểu, cô thốt lên: - Đấy chính là những điều cha muốn nói về những ẩn tình giấu kín. Những trang nhật ký của ông! Ai đã làm chuyện này? Họ đã lấy đi điều mà cha mình muốn mình biết... mà người đó là ai, nếu không là... Uyên chợt nghĩ ra, cô kêu lên khẽ: - Mẹ! Lúc ấy đã là nửa đêm. Chung quanh yên ắng, đặc biệt là trong ngôi nhà mà giờ đây chỉ có Uyên, mẹ và cô y tá trực. Uyên cho tất cả những đồ đạc của cha vào chỗ cũ, chỉ giữ mấy bức ảnh. Cô đứng yên một lúc rồi bước qua phòng mẹ đang hôn mê. Không phải là không tôn trọng mẹ, nhưng Mỹ Uyên phải quyết định lẻn vào phòng riêng của bà là ở tình thế bắt buộc. Cô phải biết điều tối hệ trọng cho mắt xích cuối cùng, mà thiếu nó thì mọi vướng mắc trong lòng cô sẽ chẳng bao giờ được nối kết và sáng tỏ ra. Bà Mỹ Nhung vẫn trong tình trạng hôn mê, hai cô y tá mà Uyên chi tiền để họ túc trực lo cho mẹ luôn là những người mẫn cán, họ túc trực theo ca rất nghiêm túc về giờ giấc. Nhưng với cô là người trả tiền công cho họ thì việc cô ra vào phòng của bệnh nhân là chuyện bình thường, chỉ có điều là theo yêu cầu của bác sĩ, Uyên không trực tiếp đối diện với mẹ, bởi mỗi lần như vậy sẽ gây ra sự kích động nơi bà. Uyên bước vào phòng, ra dấu cho cô tá trực ca khuya bước ra ngoài, dặn chừng nào bệnh nhân hoặc cô gọi thì hãy vào. Sau đó Uyên bước lại tủ riêng của mẹ. Những tủ này cô không có chìa khóa, nhưng may quá, xâu chìa khóa của bà Mỹ Nhung lại ghim trong ổ khóa của một chiếc tủ trong phòng. Mở tủ ra, ở ngăn quần áo thì Uyên không màng, cô kéo ngăn tủ nhỏ thường mẹ cô hay để nữ trang và những vật quý giá. Bà luôn khóa, nhưng hôm nay thì lại không. Có lẽ bà nghĩ nó ở trong phòng riêng mà cánh cửa tủ lại khóa chặt thì còn lo gì. Và chính ở ngăn tủ đó, Uyên đã tìm thấy vật mình đang tìm. Một xấp giấy viết đầy chữ của cha, được xé ra đúng là từ xấp hồ sơ bị mất nhiều trang mà Uyên phát hiện lúc nãy. Vừa cầm lên đọc nửa dòng đầu. Uyên đã biết ngay đó là những trang nhật ký của cha! "Ngày... tháng... năm... Mình gặp Thu trên đồi, nơi mình đã đứng suốt ba buổi chiều để đợi. Cuối cùng nàng cũng đã đến! Thật lộng lẫy, kiêu sa và dễ thương làm sao... Mình tự hỏi: tại sao mình để lỡ mất con người như thế này, để đi lấy một người mình không hề yêu? Phải chăng trời bắt mình phải trả giá! Ngày... tháng... năm... Vừa gặp thì nàng đã báo cho mình cái tin mà vừa nghe mình đã tái mặt, chết điếng...” Đang đọc tới đó thì bỗng bà Mỹ Nhung kêu thét lên một tiếng, khiến Uyên phải ngừng lại. Vừa lúc đó cô y tá chạy vào. Cô cũng hốt hoảng: - Bà bị nguy lắm rồi! Phần 2 Mẹ mất ngay lúc Mỹ Uyên vừa khám phá ra một điều vô cùng quan trọng, nên vừa mai táng cho mẹ xong Uyên đã phải lập tức trở lên Đơn Dương. Cô tìm theo đúng cái địa chỉ mà cha cô ghi phía sau tập nhật ký. Sở dĩ Uyên làm chuvện ấy ngay thay vì đọc hết tập nhật ký của cha là bởi ở dòng cuối cùng của nhật ký, ba Uyên đã dặn thật kỹ: "Con muốn biết nhật ký ba viết có trung thực hay không thì trước tiên con phải tìm tới nhà của người phụ nữ mà ba đã dành cả một đời để yêu. Có biết rõ rồi thì con sẽ hiểu ba có phải là người chồng, người cha tệ bạc hay không!" Địa chỉ mà ông Minh ghi thật ra không xa ngôi nhà của gia đình Uyên là bao. Uyên tìm được khá dễ, nhưng khi hỏi thì một bà lão duy nhất sống trong nhà chỉ khóc chứ không trả lời câu hỏi của Uyên. Mãi sau đó, khi đã dùng hết cách kể cả nước mắt, thì Uyên mới được bà già cho biết: - Đây đúng là nhà của con Thu. Nhưng từ khi nó mất đi thì không một ai được phép bước vào. Kể cả tôi là bà của nó mà cũng chỉ được ngủ ở ngoài hiên này suốt năm năm nay. Uyên ngạc nhiên: - Sao vậy bà? Cô ấy chết rồi mà? - Chính vì đã chết nên mới hiển linh! - Hồn ma? Bà cụ bước đi rất yếu, nhưng cũng ráng đứng lên mở cổng rào, mời Uyên: - Nhưng đó chuyện của ngày hôm qua. Bắt đầu từ sáng nay thì khác. Mới sáng sớm tôi đã ngạc nhiên bởi cánh cửa vốn đóng chặt ngót năm năm qua, bỗng dưng mở toang và tôi không còn nghe tiếng khóc tỉ tê trong đó nữa! Uyên còn chưa dám bước vào thì bà khuyến khích: - Trước đây thì tôi không dám, nhưng từ bây giờ có lẽ khác rồi, cháu cứ bước vào đi, rồi muốn hỏi gì về con Thu tôi nói cho. Uyên bước hẳn vào trong. Cô nhìn lên bàn thờ thì thấy một khung ảnh với chân dung giống hệt như tấm ảnh mà cô thấy ở nhà mình. Cô ngập ngừng hỏi: - Thưa bà, con muốn biết cô Thu này có phải tên thật là Thiên Thu không? - Đó là tên thật của nó. Một cái tên mà ai nghe cũng quở là tên không nên đặt cho một cô gái còn son trẻ như thế. Nhưng nó lại thích. Có lẽ bởi mang cái tên như vậy nên đã thành định mệnh của nó. Và bởi vì nó có cái tên quá kêu, quá kiêng kỵ với mọi người nên người ta đã bắt nó mang một cái tên khác hoàn toàn, một cái tên lạ lẫm, mà có lẽ vì thế mà nó đã trở thành... thiên thu! - Tên gì, thưa bà? - A Lìn! Lời bà vừa thốt ra đã làm cho Uyên kinh hãi: - A Lìn? Phải chăng đó là... người hầu của mẹ cháu? Bà cụ sửng sốt nhìn Uyên: - Vậy ra... cô là... là con của con người đó sao? Con người có cái tên đẹp, êm ái như nhung mà có lòng dạ độc ác hơn rắn độc, hùm beo! - Kìa bà... Uyên định lên tiếng bênh vực mẹ mình, nhưng kịp dừng lại khi nhìn thấy nét mặt đanh lại của bà cụ. Rồi bất thình lình, bà cụ chỉ tay sang một bàn thờ khác phía vách bên kia, bảo Uyên: - Cô có nhìn thấy thằng đó không? Nó chết khi mới hai mươi tuổi, tức lớn hơn con Thiên Thu hai tuổi. Nó cũng chết bởi lòng dạ rắn độc của mẹ cô! - Kìa bà! Xin bà... Nhưng bà cụ chừng như không còn để ý đến lời nói của Uyên nữa, mà rơi vào cơn xúc động khó kiềm chế được: - Con người ta đang độ tuổi lớn, tuổi yêu, vậy mà chỉ vì ghen tuông, ích kỷ, mẹ cô đã nhẫn tâm sát hại nó, đẩy chúng nó xuống địa ngục, âm phủ. Cái thứ yêu tinh đó cuối cùng cũng phải đền tội, cũng phải... Bà càng nói càng xúc động và giọng càng thê thiết hơn, điều đó càng khiến cho Mỹ Uyên không còn chịu đựng nổi, cô gào lên: - Bà đừng nói nữa! Uyên lao ra cửa trong tình trạng hoảng loạn và cứ thế, cắm đầu chạy một mạch không định hướng. Nhưng phải chăng là ngẫu nhiên, khi cuối cùng Uyên lại dừng trên đỉnh đồi quen thuộc. Đến khi nhận ra, cô bàng hoàng kêu lên: - Đồi Thiên Thu! Đột nhiên, Uyên lại lao tới như mũi tên về hướng vực thẳm, vừa cất tiếng gọi thảng thốt: - Mẹ! Bởi lúc ấy ngay trước tầm mắt của Uyên là chiếc xe lăn của mẹ mình đang chới với sắp ngã xuống vực sâu! - Mẹ ơi! *** - Cô Út tỉnh lại rồi!Tiếng reo mừng của Tư Sương cũng làm cho người mới vừa bừng tỉnh giật mình. Cô ngơ ngác nhìn quanh và cất tiếng hỏi: - Mẹ tôi đâu? Tư Sương nắm tay Uyên gọi khẽ: - Tôi, Tư Sương nè! Lúc này Uyên mới nhận ra, nhưng cô vẫn hỏi: - Mẹ tôi có bị rơi xuống vực sâu kia không? - Cô Út, chính tôi đã kịp cứu cô lúc đó đang sắp lao xuống vực sâu trên đồi. Nếu tôi tới không kịp thì cô đâu còn mạng, chẳng khác gì chị Lìn. - Lìn! Chị vừa nói tới ai? - Cô Út đâu còn lạ gì chị ấy, người đã đẩy xe lăn cho bà chủ suốt mấy năm trời. Người đã bị chết trên đồi... Uyên không còn kiềm chế được, cô bật dậy nắm vai Tư Sương hỏi dồn: - Tại sao chị Lìn chết? Và chị có biết Lìn chính là Thiên Thu không? Tại sao... Câu hỏi dồn dập đó đủ khiến cho Tư Sương bàng hoàng, chị đờ người ra, cho đến khi Uyên dứt hỏi thì cũng là lúc Sương run rẩy như bị kinh phong: - Cô... cô Út... biết rồi sao... Và chị ta im lặng như người mất hồn, sắc mặt tái nhợt... - Vậy là chị biết hết mà giấu tôi. Chị Sương, mọi việc thế nào? Tư Sương bật khóc nức nở, hồi lâu mới nắm tay Uyên, nhẹ giọng bảo: - Cô ráng đi theo tôi. Chị ta dẫn Uyên về phòng riêng của mình. Đây là căn phòng ở dãy nhà riêng dành cho người giúp việc, nhưng khi bước vào trong thì chính Uyên cũng ngạc nhiên khi nhận ra phòng rộng và tươm tất chẳng khác gì các phòng trên ngôi nhà lớn hay cụ thể là phòng của Uyên. Sương giải thích ngay: - Đấy là sự ưu ái của cả ông bà chủ. Họ tưởng thưởng cho tôi, bởi vì suốt mười lăm năm tôi chỉ biết ở đây... Nhưng điều ngạc nhiên lớn hơn là ngay sau khi Uyên nhìn thấy bức ảnh chân dung đặt trên một bàn thờ kê giữa nhà, cô kêu lên: - Hình đó là ai? Bức ảnh thờ kia giống y như ảnh thờ ở nhà bà cụ của cô Thiên Thu! Người mà bà cụ bảo rằng đã bị chết bởi mẹ Mỹ Uyên! - Người này là... Tư Sương đáp gọn: - Là em ruột của tôi! Uyên bị kích động: - Người đó chết theo cô Thiên Thu phải không? Không đợi Sương trả lời, Uyên đã tự bảo: - Cả hai đều do một tay mẹ tôi... Lời cô chưa dứt thì Tư Sương đã bịt cả hai tai lại gào to: - Đừng nhắc chuyện đó! Đừng... Rồi như kẻ bị tâm thần, chị ta thoát chạy ra khỏi nhà, nhằm hướng phía sau mà chạy. Uyên sững sờ một lúc, chợt cô nhớ ra, hốt hoảng: - Đồi! Uyên phóng theo và quả nhiên cô nhìn thấy bóng của Tư Sương chạy về hướng ngọn đồi. Và bất chợt từ trên đó có tiếng đàn guitar bài "Chuyện Tình" (Love Story) vọng lại. Uyên hơi khựng lại khi nghe bài nhạc, nhưng rồi nó như một động lực, khiến cô chạy nhanh hơn và thật bất ngờ, như có một phép mầu, Uyên lại chạy tới đỉnh đồi trước cả Tư Sương! Và đó cũng là thời khắc quyết định, bởi đúng lúc đó bỗng nhiên Tư Sương buông mình lăn tròn theo triền dốc, để rơi nhanh xuống phía vực sâu! Bằng một động tác như được ai đó tiếp sức, Uyên vừa kịp đưa tay chụp lấy một cánh tay của Sương, rồi kéo lại. Động thái đó kịp lúc cứu mạng của Sương, bởi chỉ trong nháy mắt nữa thôi, cả thân thể cô ta sẽ rơi gọn xuống vực! Được cứu rồi, nhưng Tư Sương vẫn chưa tin là mình đang còn ở trên đỉnh đồi. Cô kêu lên thảng thốt: - Tôi đến đây rồi! Uyên phải lên tiếng: - Tôi đây, Uyên đây chị Tư. Nhưng Sương vẫn nhắm nghiền đôi mắt, nói như nói với ai đó: - Chờ tôi có lâu không? Hãy thông cảm, tôi phải chờ... Rồi chị ta rơi vào trạng thái hôn mê sâu... Mỹ Uyên phải khó khăn lắm mới kéo chị ta xuống triền đồi phía bên kia... *** Sau khi giúp Tư Sương tỉnh lại và ngủ yên rồi, Mỹ Uyên mới trở lên phòng mình ngả lưng nghỉ. Suốt ngày qua, cô đã quá mệt với nhiều chuyện, giờ đây cô cần giấc ngủ hơn bao giờ hết. Nhưng chỉ vừa đặt lưng xuống thì Uyên lại bật dậy ngay và bật đèn sáng lên để xem lại tập nhật ký của cha.Hôm ở nhà, Uyên chỉ mới xem một trang đầu và định để lúc nào rảnh sẽ xem tiếp. Nhưng bữa nay thì nhất thiết cô phải đọc cho hết, bởi những gì còn lại là một thách thức với Uyên... "Ngày... tháng... năm... Thu báo cho mình biết, cô bị Mỹ Nhung chặn đường khi đi từ nhà ra thị xã, và sau đó bị Nhung cùng ba người đàn bà khác kéo về một ngôi nhà hoang để ra tay hành hạ dã man! Thu cầu cứu mình và cơn thịnh nộ của mình lên tới cực độ, mình về gặp Mỹ Nhung, định sẽ ra tay thật nặng để trừng trị cái tội đã dám làm cái chuyện mà mình đã cấm từ lâu. Mỹ Nhung tuy là vợ mình, nhưng cô ấy hiểu hơn ai hết, mình đã yêu Thiên Thu từ trước khi mình lấy vợ. Một trong những đ điều kiện để mình chấp nhận cuộc hôn nhân với Nhung chính là việc Nhung không được quyền đụng đến Thu, bởi Thu đã phát nguyện đi tu, chỉ chờ nàng sinh xong đứa con đang lỡ mang với mình. Chính Mỹ Nhung đã đồng ý trước mặt mình và Thu, vậy mà sau đó lại âm thầm trở mặt. Mình hận Nhung và thứ tình yêu chỉ có nghĩa chứ không chút tình, phút chốc trở thành thù hận! Tuy nhiên, khi mình định trút cơn thịnh nộ thì Nhung lại làm cho mình chùn tay: cô ấy báo cho mình cái tin mà mình phải sững sờ, rằng cô ấy cũng đang có thai với mình! Lòng dạ mình đau thắt, lương tâm mình ray rứt khó xử... Để rồi cuối cùng mình đành phải dẹp qua một bên cơn giận đang sục sôi.” "Ngày... tháng... năm... Trong lúc mình chuẩn bị đi tìm Thiên Thu để giúp nàng ổn định cuộc sống, xoa dịu tinh thần sau cú sốc dữ dội đó, thì xui cho mình, chẳng hiểu sao mình lại đau bụng đến tối tăm mặt mày, người sốt cao như lửa đốt và buộc phải nằm lại mất mấy ngày. Để rồi khi mình tìm tới một lương y quen thì ông ta báo cho mình cái tin dữ làm mình sững sờ: Mình bị ai đó cho uống phải một loại độc dược cực mạnh, khiến cho ngũ tạng bị phá hủy từ từ và sẽ liệt giường cho đến ngày chết! Mình còn chưa hết bàng hoàng thì độc dược đã phát huy tác dụng, rồi sau đó mình không thể làm gì ngoài nằm thiêm thiếp chờ chết! Trong lúc kiệt lực và gần đi vào hôn mê thì mình mơ hồ biết được là đang bị chuyển đi trên một chiếc xe... Mình phát hiện ra đang ở một nơi xa... Khi cơn mê giảm bớt, mình nhận ra đang nằm trong ngôi biệt thự ở Đơn Dương. Đêm hôm đó, mình nghe trộm được cuộc nói chuyện của ai đó ngoài cửa phòng. Có lẽ họ nghĩ mình hôn mê nên cuộc nói chuyện khá thoải mái xoay quanh chuyện hãm hại ai đó... Sau cùng mình điếng hồn, bởi hai người phụ nữ kia đang bàn một âm mưu hại người! Mà họ không phải ai xa lạ, chính là Mỹ Nhung và cô người làm tên Tư Sương! Mỹ Nhung căn dặn: - Mày phải cố duy trì sự sống cho ông ấy đến khi con Thiên Thu sinh con, bởi tao cần đứa con của nó, chứ tao nào có "bầu bì" gì đâu. Tao đã gạt được lão ta, để lão ta tin rằng tao đang có thai và không trừng trị tao về tội đã làm nhục con người yêu của lão. Sau khi con Thiên Thu gần ngày sinh, mày nhớ bảo thằng em trai mày trực tiếp đưa nó về Sài Gòn cho tao, lúc đó tao sẽ có cách tính nó. Tư Sương đã hỏi lại Mỹ Nhung: - Tại sao phải đưa cô ấy về Sài Gòn mà không để ở đây sinh xong, rồi sau đó con sẽ... ra tay? Còn thằng em trai con, sao lại phải là nó đưa Thiên Thu đi mà không phải là con? Lúc ấy Mỹ Nhung đã nói: - Mày quên là tao cần bắt đứa nhỏ để nuôi hay sao! Còn việc phải cần thằng em trai mày là bởi như mày nói, thằng ấy mê con Thiên Thu mà không được đáp lại, bởi vậy tao mới muốn cho nó tận mắt thấy cảnh con Thiên Thu mang thai với người khác, từ đó nó sẽ thù hận lão Minh nhà tao. Tao muốn mượn tay thằng em mày giết một lúc cả hai đứa nó. Lúc ấy, mình đã nghe rõ tiếng kêu thất thanh của Tư Sương: - Bà đừng bắt thằng em trai con làm chuyện ác nhân đó! Đúng là nó yêu Thiên Thu mà không được đáp lại, nhưng nó sẽ không bao giờ hại người đâu. Nó thà chịu đau khổ một mình chứ không làm kẻ sát nhân đâu! Lúc ấy, mình nghe Mỹ Nhung gằn từng tiếng: - Nếu mày không nghe theo tao thì hậu quả gì mày đã biết rồi! Tao sẽ nói cho mọi người biết chính mày đã đi mua độc dược, rồi chính mày đã bỏ vào thức ăn cho lão ấy ăn! Mày là thủ phạm chớ không phải tao!” "Ngày... tháng... năm... Mình còn biết thêm, sau khi căn dặn Tư Sương mọi việc, Mỹ Nhung đã đắc ý, nói toạc ra ý của bà ấy: - Tuy trước sau gì tao cũng cho con Thiên Thu về chầu âm phủ, nhưng sẽ không để nó chết dễ dàng đâu, mà còn phải cho nó nếm mùi đau khổ nhiều hơn. Tư Sương đã hỏi lại: - Bà còn muốn thằng em con làm gì nữa? Mỹ Nhung cười đắc ý: - Tao sẽ giấu đứa con nó mới sinh, gạt nó rằng đứa bé bị bắt cóc và cho nó cùng thằng em trai mày đi tìm. Lúc ấy em mày chỉ cần... Mình nghe Tư Sương thảng thốt kêu lên: - Không được đâu bà ơi. Thằng em con sẽ không bao giờ ra tay... Mỹ Nhung đã tính mọi việc đâu ra đó, bà ta nói: - Mày khỏi phải lo. Chuyện hại con Thiên Thu không cần em mày ra tay đâu. Chỉ cần nó dẫn con Thu trở về Đơn Dương, rồi mọi việc sẽ có người khác lo!” "Ngày... tháng... năm... Người khác mà Mỹ Nhung nói chính là bà ta! Một tháng sau, khi mình còn nằm liệt giường thì Mỹ Nhung bất thần trở ra. Lần này bà ấy không đi một mình, mà cùng với Thiên Thu, nhưng Thu lại trong lốt một ả xẩm tên Lìn! Mình bị á khẩu và bất động, nên khi bà ta ngồi trên xe lăn mà người đẩy xe là... Thiên Thu đến trước mặt mình thì mình chỉ trào nước mắt chứ không làm sao lên tiếng được! Nhưng nghe thì mình nghe rất rõ, Mỹ Nhung đã không giấu giếm, nói thẳng: - Cô người yêu nhỏ bé của ông bây giờ đã trở thành nàng hầu đẩy xe lăn cho tôi rồi! Mà ông biết tại sao cô ấy lại chấp nhận làm điều này không? Bởi... cô ta cũng bị tôi cho uống loại thuốc giống như của ông đã uống, tuy công dụng có khác nhau. Thuốc ông uống thì sau vài tháng nữa sẽ chết, còn thuốc cô ta uống thì không chết mà chỉ... khờ khờ, điên điên thôi. Ông thấy đó, nhìn thấy ông mà cô ta không hề xúc động, không nhận ra người tình của mình! Mình điên tiết lên, nhưng chẳng làm gì được, đành chỉ biết quơ hai tay trong tuyệt vọng. Nhìn Thiên Thu đẩy xe lăn đi... Đi được mấy bước thì bà ta quay lại chọc tức mình: - Ông không hỏi sao tôi lại ngồi xe lăn à? Thật ra, tôi có què cụt gì đâu, chẳng qua tôi giả vờ để hành hạ nó chơi thôi! Bà ta nói xong thì bước ngay xuống xe, bước đi một cách linh hoạt, trong lúc vẫn giục Thiên Thu đẩy xe lên đồi!” "Ngày... tháng... năm... Mình ngất đi có lẽ khá lâu, sau khi mình thức gần suốt đêm để cố viết cho thật nhiều trang nhật ký mà mình định viết từ lâu mà chưa thực hiện được. Có lẽ do vận dụng sức quá căng thẳng, quá lâu, nên mình đã ngất đi. Lúc tỉnh lại, mình hơi giật mình khi nhìn thấy con Tư Sương đang quỳ bên cạnh. Nó bật khóc khi thấy mình tỉnh lại. Nó nói trong nghẹn ngào: - Ông ơi... cô... cô Thiên Thu đã... đã rơi xuống vực rồi! Thằng em con lao theo mà không cứu kịp và cũng đã chết dưới vực sâu đó! Mình vận toàn lực và bật lên được một tiếng "trời ơi!" rồi...” "Ngày... tháng... năm... Mỹ Uyên con! Nếu con đọc được những dòng này thì con đã biết mình là con của ai rồi! Và chắc con sẽ ngạc nhiên tại sao con là con duy nhất của ba với Thiên Thu, trong khi bà Mỹ Nhung không hề sinh cho ba được đứa nào, vậy tại sao gọi con là Út? Chỉ vì cho đến khi ba chết, chắc chắn sẽ không có ai là chị em của con nữa, ba gọi con là Út để khẳng định con là chót, là duy nhất. Bởi ba biết chắc là khi ba ra đi rồi thì bà Mỹ Nhung sẽ bày lắm trò nữa gạt con... Vậy con nên nhớ, sau con, ba không hề có con với ai nữa! Ba lạy trời cho con mau tìm được quyển nhật ký này, để đọc và biết hết sự thật. Có như thế con mới hiểu tại sao ba yêu cô Thiên Thu đến như thế và rồi đây con cũng yêu mẹ con như ba vậy...” "Ngày... tháng... năm... Mỹ Uyên của ba! Ba không còn sức để viết được nữa... Ba chỉ muốn lặp lại, đây là tất cả những gì con nên xem! ...Về tài sản thì trước đây vài tuần, khi nghe biết sự thật quanh âm mưu của người mà con gọi là mẹ, bà Mỹ Nhung, thì ba đã âm thầm nhờ luật sư lập tờ di chúc, để lại tất cả sản nghiệp này cho con. Chỉ duy nhất có con là đủ tư cách thừa hưởng. Tâm nguyện cuối cùng của ba là muốn con hãy tìm cho được hài cốt của mẹ Thiên Thu và lập mộ đàng hoàng. Nếu được thì hãy chôn cô ấy bên cạnh ba...” *** Mỹ Uyên buông tập nhật ký xuống và bật khóc! Những gì cha cô viết là sự thật, mà cho đến giây phút này cô mới hiểu tại sao trong thâm tâm mình từ nào đến giờ tuy nghĩ bà Mỹ Nhung là mẹ của mình, nhưng chưa bao giờ Uyên có tình cảm sâu đậm với người đàn bà ấy...Mỹ Uyên đã bỏ ra hơn chục ngày để tự thân đi tìm hài cốt mẹ dưới vực sâu. Địa hình hiểm trở, vực sâu nguy hiểm, những điều đó không làm chùn chân cô gái yếu đuối. Nhưng kết quả vẫn là con số không. Đến ngày cuối cùng, khi tất cả những người giúp Uyên đi tìm đã phải chán nản buông xuôi, thì Mỹ Uyên chợt nhớ tới ngôi nhà của Thiên Thu! Trở lại nơi đó thì ngay khi vừa nhìn thấy cô, bà cụ trong nhà đã reo lên: - May quá, tôi đang tính đi tìm cô đây! Bà kéo Uyên ngồi xuống, vừa thuật chuyện: - Đêm qua tôi lại mơ thấy nó về, nó nói là sắp nhận lại con, tôi ngạc nhiên hỏi thì nó khóc chứ không nói... - Cô Thiên Thu hả bà? Á, mà không phải là cô, mà là... Bà già vuốt tóc Uyên: - Nếu con Thu mà còn sống thì chắc giờ đây cũng đã có con cỡ tuổi con rồi! Bà thích một đứa cháu gái giống như con vậy... Mỹ Uyên khóc òa lên khiến bà ngạc nhiên: - Sao con khóc? Bất thần ôm lấy bà, Uyên nghẹn ngào: - Bà... là mẹ của cô Thiên Thu phải không? Bà cụ hình như muốn giấu, nhưng trước ánh mắt thành khẩn của Uyên, bà hơi ấp úng một chút, rồi nhẹ gật đầu: - Phải... - Bà ngoại! Bà cụ kinh ngạc: - Cô... con gọi ta là gì? - Bà ngoại của con! Con là con của mẹ Thiên Thu đây! Bà cụ trợn tròn mắt: - Con không gạt ta phải không? - Chính là con đây, bà ngoại! Giọng bà cụ thảng thốt: - Hèn gì suốt đêm con Thiên Thu cứ hiện về và nói mãi về chuyện nó đã tìm được con rồi! Nhưng mà... theo ta biết thì con là con của... vợ thằng Minh? Mẹ con là... Mỹ Nhung? - Không đâu ngoại. Để con kể ngoại nghe... Mỹ Uyên tuần tự kể lại những gì cha viết trong nhật ký. Khi cô vừa dứt lời thì bà cụ nói liền: - Tội nghiệp thằng em con Tư Sương! Chính nó đã tìm ra hài cốt của con Thiên Thu, đem về đây. Uyên kinh ngạc: - Nghe nói ông ấy cũng đã chết theo mẹ con, khi nhảy theo cứu rồi cũng rơi xuống vực sâu mà? Bà cụ lắc đầu: - Chỉ có mình con Thu chết. Thằng Năm Nhàn này nhảy theo rồi may mắn máng lại trên cành cây, không chết. Nhưng toàn thân thương tích đầy mình. Nó đã kẹt lại dưới khe sâu nhiều năm liền, sống được là nhờ ăn củ dại, trái rừng và uống nước suối. Nó bị gãy cả hai chân, mù hai mắt, nhưng vẫn ngày đêm cố công tìm cho bằng được hài cốt của Thiên Thu! Tội nghiệp, nó yêu Thiên Thu trong vô vọng, vậy mà vẫn một lòng chung thủy... Cho đến một ngày kia cách đây gần mười năm, một hôm nó lê lết về đây kêu cửa, ta ra mở cửa và cứ tưởng nó là ma! Đến khi nó nói ra ta mới biết sau bao nhiêu ngày tháng, nó đã tìm ra được hài cốt con Thu, nhưng chưa thể đưa về đây, nguyện thế nào cũng cố đem về cho bằng được! Ngoại cảm ơn nó vô cùng, giữ nó lại đây chăm sóc thương tích, nhưng vào một đêm thanh vắng, nó đã... treo cổ chết giữa phòng mà bây giờ ngoại thờ mẹ con. Tội nghiệp, nó đã đi theo mẹ con rồi... Mỹ Uyên nhớ lại tiếng đàn hát bài Love Story, cô chép miệng: - Đúng là ông ấy... - Con nói ai? - Dạ, người chung tình với mẹ con! Tội nghiệp ông ta! Bà cụ thở dài: - Bởi vậy ngoại mới thờ chung nó trong nhà với con Thu. Chỉ tiếc là cho tới bây giờ, ngoại vẫn chưa tìm ra nơi mẹ con vùi thân. - Con đã tự đi tìm, rồi nhờ cả chục người, nhưng vẫn chưa thể tìm được. Mỹ Uyên tỏ ý muốn được ở lại trong gian phòng đang thờ mẹ mình, bà cụ tỏ ý ngần ngại, nhưng sau cùng bà cũng đồng ý. Chỉ căn dặn: - Con đừng ngủ lại trong đó. Đến khi nào cần ngủ thì ra ngoài này,với ngoại. Uyên lần đầu tiên có được cái cảm giác gần gũi với mẹ ruột mình, nên cô cứ đứng trước bàn thờ, đốt hết nén nhang này lại tiếp nén khác. Cho đến quá nửa khuya... Bà ngoại gọi mấy lượt mà Uyên vẫn chưa chịu ra, cuối cùng bà phải đi ngủ trước. Còn lại một mình, Mỹ Uyên cất tiếng khấn mẹ mình: - Nếu mẹ có linh thiêng thì hãy hiện về cho con biết hài cốt mẹ bây giờ đang ở đâu? Di ngôn của ba cũng rất muốn được chôn gần bên mẹ, nay con đang muốn thực hiện lời dặn đó và quyết làm cho được. Mẹ giúp con đi... Mỗi lần Uyên khấn thì nhang cháy bùng lên, nhưng ngay sau đó lại tắt phụt như có ai đó thổi không cho cháy! Uyên đốt đi đốt lại đến lần thứ sáu mà vẫn lặp lại như vậy. Cô chợt hiểu, nên lại khấn: - Nếu mẹ không bằng lòng thì con sẽ đợi đến lúc nào mẹ ưng. Con ở đây đợi được. Đến hơn một giờ sáng, quá mệt mỏi nên Uyên ngả đầu vào vách tủ thờ định ngủ. Nhưng chỉ mới lim dim thì chợt nghe có tiếng đàn vang lên ban đầu nhỏ, sau vài mươi giây thì lớn dần... Rồi tiếng hát cất lên. Bài Love Story lời Việt được hát rất hay, truyền cảm lạ thường... - Chính là ông ấy! Uyên đang lơ mơ nhưng cũng thốt lên được. Cô định gượng dậy, nhưng không tài nào nhấc tay chân lên được. Tiếp đó, cô cảm giác như có một bóng người lướt qua trước bàn thờ, tiếng đàn hát chuyển động theo cái bóng lướt đi ấy, chừng như người hát đang muốn cho âm thanh đến khắp mọi hướng trong phòng... Một lát sau, khi tiếng đàn hát dứt ngang thì tiếng khóc nức nở lại vang lên. Tiếng khóc của đàn ông. Mỹ Uyên cố lắng nghe và nhận ra tiếng khóc than kia là của chính người vừa mới đàn hát! Bởi ngay lúc ấy thì Uyên nghe có tiếng nói, giọng khàn đục: - Đừng về với ông ta, Thu ơi. Một giọng nữ cất lên: - Tôi không thể... không thể tiếp tục xa con được. Xin hãy rời xa tôi đi. Tôi muốn về với con gái mình! Xin hãy ngừng ngay tiếng đàn đó đi, tôi không thể mà... Lời của người phụ nữ còn thống thiết hơn, khiến Uyên nghe tới đây thì lạnh bắt rùng mình. Rồi bỗng cô buột miệng: - Mẹ Thiên Thu! Trong lúc bức xúc Uyên đã thốt lên hơi lớn, điều đó làm cho cuộc đối thoại trong bóng tối dứt ngang! Từ bên ngoài, bà ngoại gọi vào: - Con kêu ai vậy? Mỹ Uyên lúc ấy mới choàng tỉnh, cô có thể cử động và nói được bình thường. Cô nói vọng ra: - Con đâu có nói gì! - Vừa rồi bà nghe con kêu tên Thiên Thu mà? - Dạ... có lẽ con nằm mơ! Mà ngoại ơi... Uyên bước ra, lay tay bà hỏi: - Hồi nào tới giờ ngoại có từng mơ thấy người đàn ông theo đuổi mẹ con không? Bà gật đầu: - Có, lần nào nó cũng khóc, cũng xin ngoại nói giúp để mẹ con thương nó. Nó si tình đến nỗi hình như ngày đêm theo vong hồn của mẹ con như hình với bóng. Mỹ Uyên chợt hiểu: - Con biết tại sao con đi tìm mà không thấy hài cốt của mẹ rồi! Chính người ấy đã giấu xác mẹ, chỉ vì muốn giữ riêng cho mình. Ông ấy sợ hồn mẹ con trở về bên cha con và con! Bà cụ ngơ ngác: - Có chuyện đó sao? Uyên đáp: - Mới rồi con nghe hai người nói chuyện và con đoán ra như vậy. Hài cốt của mẹ con có thể đã bị người ấy giấu ở nơi nào đó. Người ấy ghen bà ngoại ạ! Bà cụ lẩm bẩm: - Cũng có thể lắm... Rồi bà kể: - Trước đây đã đôi lần bà nghe tiếng thì thầm trong phòng này, khi thì tiếng đàn ông khóc, khi thì tiếng của mẹ con tỉ tê. Mẹ con luôn bứt rứt vì bị ngăn trở bởi ai đó... Bây giờ con nói điều này thì bà mới biết, đúng là cậu ấy ghen với ba con. Mỹ Uyên lại xin phép bà, trở vào phòng, cô tiếp tục đốt nhang và khấn: - Nếu mẹ quyết về với cha con và con thì hãy làm cách gì đó, giúp con tìm ra hài cốt của mẹ đi! Uyên vái hai lần, đốt nhang cả hai lần đều bị tắt. Đến lần thứ ba thì cây nhang cô vừa cắm xuống bỗng vụt bay lên như pháo thăng thiên, và vọt ra ngoài cửa sổ! Linh tính mách bảo, Uyên chạy nhanh ra theo. Cô nhìn thấy cây nhang bay là đà trên ngọn cỏ về hướng phía trước nhà. Nó bay chậm, nên Uyên chạy không nhanh cũng theo kịp. Lúc ấy trời còn tối, nên ánh lửa ở đầu nhang chỉ nhỏ xíu nhưng cũng đủ để Uyên chạy theo. Một lúc sau, Uyên giật mình khi nhìn thấy sườn đồi trước mặt. Ánh lửa nhỏ từ đầu nhang tiếp tục ở cách Uyên vài bước chân, hướng lên đồi! Mệt nhoài, nhưng như được ai tiếp sức, Uyên vẫn chạy lên đồi và cuối cùng cây nhang dừng lại và cắm sâu xuống đất dưới gốc cây cổ thụ như được ai đó làm! - Phải chăng... Mỹ Uyên nhìn chăm chú vào chỗ cây nhang đang cháy sắp tàn, cô thốt lên: - Mẹ chỉ chỗ cho mình! Không nghĩ ngợi gì thêm, Uyên dùng ngay một nhánh cây khô gần đó làm cuốc và cuốc lấy cuốc để. Chỉ vài phút sau, quả nhiên cách mặt đất chưa đầy hai tấc, đã lộ ra một cái đầu lâu trắng hếu! - Mẹ! Cuối cùng Uyên đã đào lên được trọn vẹn một bộ hài cốt, mà ở cổ tay bên trái của bộ xương vẫn còn nguyên chiếc vòng tay bằng sừng, trên đó có khắc dòng chữ: Lê Thị Thiên Thu. - Mẹ! Con tìm được mẹ rồi! Không kể bùn đất dơ, My Uyên ôm lấy đống xương rồi òa lên khóc! Tiếng khóc của Uyên theo gió bay xa. Trên đỉnh đồi gió càng lúc càng mạnh, lúc nãy mây đen còn vần vũ, tự dưng quang đãng rất nhanh. Một lúc sau, ánh mặt trời nhô lên từ hướng phía trái chân đồi... Bỗng từ đâu, vang lên tiếng đàn rối nhịp, như ai đó đang điên cuồng đánh lên! Vẫn là tiếng đàn guitar, nhưng lúc này không phải là bản Love Story nữa, mà âm điệu cuồng điên, chứng tỏ người đàn đang trong tâm trạng bất an, giận dữ! *** Cuối cùng thì Mỹ Uyên cũng đã thực hiện được điều mà cha cô ước nguyện: Đem xác ông về chôn trên đỉnh đồi, nằm bên cạnh là mộ của Thiên Thu!Kể từ hôm đó, nhiều người nghe tiếng đàn, tiếng hát ai oán não nùng của một người đàn ông vang lên trên đồi. Chỉ có bà ngoại của Uyên mới hiểu, bà bảo Uyên: - Tội nghiệp thằng đó... Uyên khấn: - Nếu bác linh hiển thì cứ về đây, cùng với ba mẹ con... Sau đó, bà ngoại cô còn kể lại: - Đêm qua thằng ấy nó hiện về, gục khóc bên bàn thờ con Thu. Khóc dữ lắm! Nhưng đến sáng thì lặng lẽ bỏ đi... Từ đó, ngày nào Uyên cũng lên đồi và ngồi rất lâu bên hai ngôi mộ, mà ở trước mộ cô dựng duy nhất một tấm bia với dòng chữ: Đồi thiên thu hai mộ. |
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 47 - Hết
ĐÊM ĐỊNH MỆNH Xe lửa chạy tuyến Sài Gòn - Phan Rang khởi hành lúc 5 giờ chiều, đáng lẽ chạy khoảng 5 tiếng thì tới nơi, nhưng xảy ra tai nạn dọc đường, nên đến gần 12 giờ đêm xe chỉ mới đỗ lại ở ga Mương Mán. Vị hành khách lớn tuổi ngồi cạnh Thái chẳng hiểu đi đâu lúc tàu dừng chờ thông đường, mà đến khi tàu chạy lại thì không thấy bóng bà ta. Người soát vé hỏi Thái: - Anh có quan hệ gì với bà cụ ngồi ghế này không? Thái lắc đầu: - Không hề quen biết. Chắc là bà ta đi quanh đâu đấy. Hoặc là xuống đất chưa kịp lên? Người soát vé tàu quả quyết: - Lúc tàu dừng, hành khách không một ai được bước xuống, bởi nơi đây không phải là nhà ga. - Vậy chắc bà ta còn ở nơi nào đó trên tàu này. - Nhưng từ hơn một tiếng đồng hồ rồi, chúng tôi đã yêu cầu hành khách trở lại yên vị để tàu khởi hành mà không hề thấy bà ta. Chẳng biết... Anh ta lo lắng bước đi về phía toa sau, vừa lầm bầm: - Già cả rồi, ngồi đâu thì ngồi một chỗ, đi đâu cho mất công người ta... Anh ta vừa đi khuất thì chợt Thái phát hiện chiếc giỏ xách của bà hành khách vẫn còn để dưới gầm, anh định kêu theo, nhưng tàu chạy lắc lư, tiếng hụ còi inh ỏi nên có gọi thì anh ta cũng không nghe. Thái tự nhủ: - Để lát nữa anh ta trở lại mình báo cũng được. Một giờ sau, tàu đến ga Tháp Chàm. Vừa thấy anh nhân viên soát vé trở lại, Thái báo: - Chiếc giỏ của bà ấy còn đây! Anh nhân viên bảo: - Anh lấy đưa tôi xem, nếu đồ đạc trong đó quan trọng thì chắc chắn bà ta còn trên xe. Tôi đã báo cho an ninh tàu rồi, người ta đang tìm kiếm. Thái cúi xuống định lấy cái giỏ xách lên, nhưng anh giật mình: - Ủa, nó đâu rồi? Thái tìm đến mấy phút mà chẳng thấy gì, đến khi xem lại túi xách của mình để trên kệ cũng chẳng thấy, anh hốt hoảng: - Cả cái túi của tôi cũng đâu mất rồi? Trong lúc Thái luýnh quýnh tìm cái giỏ của mình thì chợt có tiếng hô hoán của ai đó phía trước: - Sao tôi lại ngồi đây? Tôi ngồi ở toa trước mà, tôi... tôi còn có vợ nữa, cô ấy... - Tôi cũng vậy, con nhỏ tôi ngồi bên cạnh, sao bây giờ lại... Mọi người nhốn nháo, làm cho mấy nhân viên soát vé, phục vụ tàu rối cả lên, họ người này hỏi người kia: - Nãy giờ có ai xếp lại chỗ không? Người tổ trưởng toa tàu nghiêm giọng nói: - Ai cũng ngồi theo đúng số vé, làm sao có chuyện lộn xộn này được. Yêu cầu người nào bị xáo trộn chỗ thì tự đi tìm lại đúng chỗ của mình đi. Một lát sau thì trật tự được vãn hồi. Có người từ toa cuối đã bị đổi lên toa giữa này, mà cả người thân đi cùng và họ đều không hiểu tại sao. Có người nói: - Từ khi chạy đến lúc này tôi không hề rời khỏi ghế, kể cả đi vệ sinh cũng không, vậy mà sao lại xê dịch chỗ kỳ cục vậy? Ai cũng thắc mắc, nhưng chẳng một ai tìm được câu trả lời thích đáng. Một cụ già ngồi sau băng ghế của Thái bảo khẽ: - Ma quỷ gì đó cậu ơi! Thái quay lại nhìn ông ta thì bắt gặp một nụ cười bí hiểm. Trông mặt ông ta quen quen. Thái tự hỏi, rồi cứ mãi thắc mắc, cho đến khi tàu dừng lại ở ga lúc nào anh không hay. - Tới rồi anh ơi! Hành lý bị mất thì xuống ga sẽ có người hướng dẫn anh cách khiếu nại. Thái vừa đứng dậy đã kêu lên: - Kìa, bà cụ. Anh nhìn thấy bà hành khách già biến mất lúc nãy, giờ đang xách hai tay hai cái giỏ, trong đó có cả giỏ của mình! - Bà ta! Thái phóng thật nhanh xuống tàu, đuổi theo bóng bà cụ mà anh vừa thoáng thấy. Anh nghĩ mình sẽ bắt kịp dễ dàng, bởi bà ta đi khá chậm, nhưng đã ra khỏi khu vực nhà ga rồi mà Thái vẫn không tài nào vượt lên trước được. Rồi nháy mắt đã không còn thấy bóng bà ta nữa! Vừa mệt vừa bực bội, Thái gắt lên: - Công cốc! Trong túi xách hầu như chứa hết những gì cần cho chuyến du lịch này, từ quần áo, giấy tờ đến tiền bạc. Hiện giờ túi quần của Thái chỉ còn lại mấy đồng tiền lẻ... - Người lịch sự thế kia mà đi nghênh ngang giữa đường, bộ chán sống rồi sao hả? Câu hỏi của ai đó khiến cho Thái giật mình và phát hiện ra trong lúc bực dọc anh đã đi giữa đường và đúng là đang cản ngay trước đầu chiếc xe du lịch. - Xin lỗi. Thái bước vội vào lề, nhưng khi vừa đặt chân lên lề thì anh đã nghe tiếng còi xe ngay phía sau lưng. Nhìn lại anh không khỏi ngạc nhiên, vì đó là chiếc xe mà anh vừa cản đường. Người trên xe đưa tay ra vẫy, vừa lên tiếng: - Anh về đâu tôi cho quá giang! Một giọng nói của con gái rất trong trẻo! Thái hơi bối rối: - Tôi... tôi... Chiếc xe dừng hẳn lại và một cô gái ngồi ở tay lái ló đầu ra: - Không còn tiền trong túi thì chỉ có nước ngủ hè ngủ chợ thôi, lên đi! Cửa xe phía trước mở ra, Thái hơi ngập ngừng, nhưng rồi cũng bước lên. Lúc này anh mới đưa mắt nhìn và gần như bàng hoàng khi nhận ra người lái xe là một cô gái đẹp đến nỗi Thái không thể nào tin vào mắt mình. Anh lắp bắp: - Cô... cô... Cô gái chỉ tay ra sau xe: - Anh nhìn xem, có phải cái túi kia là của anh không? Thái nhìn lại và kêu lên: - Phải rồi, túi của tôi! - Và còn có cả túi của bà lão nữa chứ! Câu nói khiến Thái càng ngơ ngác, bởi bên cạnh túi của anh, có cả chiếc túi màu nâu mà lúc nãy anh nhìn thấy trên xe lửa! - Sao... sao nó lại ở đây? Không trả lời, cô gái nhấn ga cho chiếc xe hơi vọt nhanh về phía trước. Lát sau Thái đã nhìn thấy phong cảnh ngoại ô. Anh ngạc nhiên hỏi: - Cô đi đâu vậy? Nàng lại cười: - Chứ không phải anh muốn đi tìm một người bạn thôn Vĩnh Phong sao? Thái sửng sốt: - Sao cô biết? - Không phải anh đã nói chuyện với bà lão ngồi bên cạnh về mục đích chuyến đi này sao? - Thế... cô là... - Anh nói chuvện không nhỏ và người khác nghe được, đâu có gì lạ! Trước hành tung kỳ lạ của cô nàng, Thái hơi lúng túng: - Vậy ra cô có mặt trên xe lửa lúc nãy? Cô nàng lại cười thành tiếng: - Anh nghĩ một người vừa ngồi xe lửa lại vừa lái xe hơi được sao? - Vậy tại sao cô biết tôi nói chuyện với bà cụ? Cô nàng lại chỉ về hai chiếc giỏ xách: - Anh quên là tôi đang giữ hai vật anh đang tìm sao? Thái ngẩn người ra một lúc mới hỏi tiếp: - Ở đâu cô có hai vật này? Cô nàng không đáp, mà chỉ tay về phía trước: - Tới nơi anh cần tìm rồi kìa! Thái vô cùng ngạc nhiên khi cô ta dừng xe đúng ngay căn nhà của Phong, bạn anh: - Sao cô biết nơi này? - Có lẽ anh vào hỏi bạn anh thì rõ hơn! Cô ta mở cửa xe, chờ cho Thái bước xuống lấy giỏ xách, cô nhắc: - Anh nên lấy luôn cả cái giỏ của bà cụ! Trong lúc Thái còn chưa kịp quyết định thì cô nàng đã với tay cầm chiếc giỏ đưa tận tay anh: - Anh giữ đi, có lúc bà ấy tới lấy lại. Vừa dứt lời thì nàng ta nhấn ga, chiếc xe vọt tới rất nhanh. Qua hơi gió, nàng ta nói với lại: - Tôi tên Quỳnh Như. Chỉ một thoáng sau thì không còn thấy chiếc xe màu vàng của cô ta đâu! Thái ngẩn ngơ: - Kỳ lạ vậy? Cô ta là... Anh không kịp suy nghĩ thêm, Phong đã từ trong nhà chạy ra: - Y như rằng, cậu tới đúng giờ thật. Thái ngạc nhiên: - Sao cậu biết mình tới giờ này? - Chứ không phải cậu nhắn người tới báo trước sao? - Ủa, mình có nhắn ai đâu? Đến phiên Phong ngơ ngác: - Vậy bà cụ nói là quen với cậu tới đây cách một giờ là ai? - Bà cụ? Có phải... Phong mô tả: - Bà ta mặc chiếc áo bà ba màu lựu chín, choàng chiếc khăn sọc xanh, nói giọng miền Trung. Thái kêu lên: - Chính là bà ta! - Cậu sao vậy Thái? Cậu có việc gì với bà cụ sao? Thái thuật lại chuyện trên xe lửa, kể cả chuyện vừa rồi với cô gái lạ: - Mình cảm giác như đang đóng phim kinh dị, toát mồ hôi lạnh đây! Cô gái tên Quỳnh Như này còn rành cả cậu, nhà cửa của cậu nữa! Chính cô ta chở mình tới đây mà không cần ai chỉ đường, phải chăng cô ta là... bạn gái của cậu? Phong đưa hai tay lên trời: - Có trời mới làm chứng, mình mà có ai yêu thì... trời sập mất. Thái hiểu bạn mình, anh ta gàn gàn, lập dị, nên lâu nay có cô nào ưa nổi, đừng nói là yêu! - Vậy sao cô ta rành về cậu quá vậy? Phong suy nghĩ một lúc rồi lắc đầu: - Chịu thôi. Thậm chí ở vùng này mình còn không quen ai nữa là... Không còn cách nào hơn, Thái đành kéo cả hai giỏ xách vào nhà, bảo Phong: - Cái giỏ kia là của bà cụ bỏ quên trên xe. Còn bà ta nữa, tại sao bà cũng biết nhà cậu, mặc dù mình chỉ nói là thôn Vĩnh Phong, nhưng đâu có nói cụ thể nhà và tên cậu, sao bà ta tìm đúng và chính xác vậy? Phong vẫn không làm sao hiểu nổi: - Mình chịu thôi. Mình đang định chờ cậu ra để hỏi đây! Sau khi soạn vài thứ để mặc ngay từ giỏ xách của mình, Thái hơi lưỡng lự khi nhìn chiếc giỏ xách kia, anh hỏi Phong: - Mình để đây chờ bà ta trở lại lấy, hay là coi thử chứa thứ gì trong đó? Phong xua tay: - Không nên đâu, cứ để đó. Rồi anh ta cười bảo Thái: - Mình ở đây từ lâu mà đâu có chuyện gì như cậu vừa gặp đâu! Có lẽ thấy cậu là trai thành phố, lại đẹp trai, hào hoa nên họ phá chơi đó thôi! - Nhưng họ là ai mới được? Câu hỏi làm cho Phong cũng phải im lặng. Họ nhìn nhau rồi một lúc Thái nhẹ lắc đầu bảo: - Suy cho cùng, gặp chuyện kinh dị mà với một người đẹp thì cũng... đáng gặp lắm! Anh chưa kịp thay đồ, đã rủ Phong: - Cậu có xe gắn máy không, mình đi kiếm cái gì ăn, rồi ghé qua ngôi nhà cổ mà mình có ý mua, được không? Phong gật đầu: - Mình cũng có ý định từ lâu là sẽ ghé qua ngôi nhà đó để nhìn lại mấy pho tượng gỗ mà nghe nói người chủ trước còn để lại, rất đẹp! - Chứ không phải để hưởng chút hơi của cô vợ anh chàng điêu khắc gia đào hoa đó hay sao! Phong ngạc nhiên: - Cậu cũng biết chuyện người đẹp đó sao? - Thì chính cậu đã kể cho mình nghe lần trước đó! Phong tắc lưỡi: - Chỉ tiếc là lần này cậu sẽ không còn dịp để ngắm dung nhan nàng ta nữa! - Cô nàng chuyển chỗ ở khác? Phong đáp làm cho Thái lạnh cả người: - Chết rồi! Phải mất vài giây Thái mới hỏi được: - Cô ấy nghe nói còn trẻ lắm mà, sao lại chết? - Mình đã được gặp mấy lần, quả là trẻ và đẹp đến mê hồn! Ở xứ này có lẽ đó là người con gái đẹp nhất! - Hồng nhan bạc mệnh! Phong gật gù: - Đúng là hồng nhan bạc phận! Nghe nói cô ấy chết khi mới 23 tuổi, lấy chồng được có hai năm. Thật tội nghiệp! Và có lẽ vì thế nên ông chồng mới bán ngôi nhà cổ mà ông ta đã cất công đem từ Huế vào. - Cậu biết tên cô nàng không? Phong lắc đầu: - Không. - Lý do chết, cậu biết không? - Chỉ nghe nói mơ hồ là ngủ rồi chết luôn mà chẳng biết nguyên do nào! - Bao lâu rồi? Phong tính nhẩm rồi đáp: - Chưa lâu. Có lẽ chỉ mới hơn một năm nay thôi. Ông chồng điên loạn vì cái chết đó, nên từ ấy đến nay cứ ở miết trong nhà, không tiếp ai cả! Chẳng hiểu lần này cậu tới ông ta có chịu tiếp không đây? Chiếc xe gắn máy cà tàng của Phong đang chạy ngon trớn lại giở chứng, tắt máy giữa đường. Hai người phải hì hục sửa, phải mất nửa giờ mới tới nơi. Nhìn cảnh yên ắng của ngôi nhà thiếu hẳn sinh khí, Thái phải buột miệng: - Ngôi nhà đẹp như thế này mà vắng bóng một người đẹp như thế quả là đáng tiếc? Anh bước tới rung chuông, mấy phút sau mới có một người đứng tuổi bước ra dè dặt hỏi: - Hai anh tìm gì? Thái chủ động: - Tôi tìm ông chủ nhà. Nhà điêu khắc Lê Long, chẳng hay đã... Người đàn ông hơi lưỡng lự: - Ông chủ tôi... không... Có lẽ ông ta muốn nói là không có ở nhà, nhưng lúc đó có tiếng người vọng ra từ trong: - Mời các ông ấy vào. Họ là khách đến mua nhà đó mà! Thái giật mình, nhìn vào trong thì bắt gặp một người đàn ông tuổi trên dưới năm mươi, cao gầy, có gương mặt khắc khổ. Người quản gia nói khẽ: - Ông chủ đó. Mấy ông là ngoại lệ, chứ từ hơn một năm nay ông ấy không tiếp ai ở nhà cả. Thái và Phong được chủ nhà tiếp tuy không niềm nở lắm, nhưng cũng khá lịch sự, Phong phải lên tiếng nói rõ: - Tôi là Phong, còn bạn tôi là Thái. Tôi là người ở tỉnh này, đã từng biết ông đôi lần ở các cuộc triển lãm. Cách đây khoảng sáu tháng, tôi có nghe người bạn nói rằng ông có ý muốn bán ngôi nhà này, nên hôm nay dẫn người bạn tới xem. Giọng chủ nhà buồn hiu: - Tôi là Lê Long, như anh biết rồi đó. Đúng là tôi có ý bán ngôi nhà này, mặc dù khi xây dựng nó thì tôi tính sẽ mãi mãi cùng với nó... Phong muốn nói, nhưng biết nói ra sẽ khiến chủ nhà không vui, nên anh kịp ngừng lại. Nhưng hình như đọc được ý nghĩ của anh, chủ nhà lên tiếng: - Từ khi nhà tôi mất thì tôi không còn thiết gì nữa! Bởi còn sống trong ngôi nhà này ngày nào thì tôi sẽ nhớ... nàng đến... đi theo cô ấy thôi. Thái đề nghị: - Xin phép ông, tôi đốt cho bà nén nhang được không ạ? Ông ta gật đầu: - Anh cứ tự nhiên. Cám ơn anh. Thái bước tới chỗ bàn thờ, nhìn vào bức chân dung trên đó, anh thảng thốt kêu lên: - Cô ấy! Chủ nhà ngạc nhiên: - Anh vừa kêu gì? Thái ấp úng: - Dạ... dạ... Thái ngập ngừng cũng phải, bởi người trong di ảnh với cô gái lái xe mà anh gặp sáng nay giống nhau như hai giọt nước! - Đây là... bà nhà? Xin lỗi, bà nhà tên là... là... - Quỳnh Như! - Trời ơi! Tiếng kêu thảng thốt của Thái khiến cho nhà điêu khắc Lê Long kinh ngạc: - Cậu sao vậy? - Quỳnh Như! Tôi mới gặp bà ấy sáng nay! Ông chủ nhà bật đứng dậy, sự kích động khiến cho ông ta run rẩy: - Cậu... cậu nói... cậu nói... - Tôi mới gặp cô ấy sáng nay. Cô ấy lái chiếc xe màu vàng, mặc chiếc áo màu hồng nhạt và... Lê Long chặn ngay lại: - Đúng là cô ấy, nhưng cậu mới gặp sáng nay là nói dối! Cậu nói dối! Không ngờ ông ta lại kích động dữ dội như vậy, nên Phong phải nói chen vào: - Bạn tôi đi xe lửa từ Sài Gòn ra, khi xuống xe thì gặp một phụ nữ lái chiếc xe như mô tả, người đó... không biết có phải là bà nhà không, nhưng bạn tôi thấy giống với người trong ảnh này lắm... Thái nói: - Cô ấy còn xưng tên là Quỳnh Như nữa! Lê Long vùng thét lên vừa xua tay: - Các anh đi ngay khỏi nhà tôi! Đi ngay! Cơn kích động làm cho ông ta co quắp người lại, run lên từng hồi... Thái nháy mắt cho Phong rồi nhẹ nhàng rút lui... *** Suốt mấy ngày ở lại nhà Phong, thú tiêu khiển duy nhất của Thái là uống rượu và đi lang thang quanh phố. Phong bận một số việc riêng nên không thường đi với bạn đây đó như đã hứa. Thái tính trở về Sài Gòn, nhưng do cái giỏ xách của bà cụ, nên anh nấn ná lại để mong được gặp khi bà trở lại lấy món đồ bỏ quên đó. Nhưng đã ba ngày rồi mà chẳng hề thấy bóng dáng bà ta đâu. Sáng sớm nay, Thái bảo Phong:- Trưa nay có lẽ mình về đây. Phong bàn: - Sao cậu không chờ vài hôm nữa để mình tiếp xúc lại với tay điêu khắc đó thử xem. Lần này mình có cách... Thái chán nản: - Mình mất hứng thú với tay đó. Vả lại, chuyện cô nàng đã làm cho mình choáng váng. Mình không thể nào tỉnh táo lại mỗi khi nhớ tới cuộc gặp gỡ với nàng ta. Rồi mình lại nghĩ tới lão chồng gàn dở ấy nữa... Phong động viên: - Mình có người chú, ông ấy chơi thân với tay điêu khắc gia ấy, để mình nhờ chú ấy nói chuyện... Thái không hào hứng lắm, nhưng cũng nghe theo bạn. Anh rủ Phong: - Bữa nay cậu rảnh không, tụi mình đi biển tắm chơi. Phong nhìn đồng hồ tay: - Trưa nay mình có việc làm cho bà già, hay cậu lấy xe mình đi chơi, chiều về tụi mình nhậu một bữa! Thái từ chối lấy xe: - Mình không quen chạy xe ở vùng này, để mình đi bộ, rồi gọi xe lam. Chiều gặp lại. Lững thững một mình, Thái đi quanh chợ một lúc, vừa ngoắt chiếc xe lam thì chợt anh giật mình khi thấy chiếc xe hơi màu vàng bữa trước trờ tới! - Cô nàng! Thái căng mắt nhìn, nhưng khi xe tới ngang chỗ anh dừng lại thì Thái chợt kêu lên: - Là ông! Người lái xe không phải người đẹp bữa trước, mà lại là nhà điêu khắc Lê Long! Ông ta mở cửa xe ra, bảo: - Cậu lên xe, tôi có việc muốn nói! Phong vừa tò mò, vừa sốt ruột, nên leo lên ngay không cần khách sáo. Quay đầu xe lại, Lê Long nói ngắn gọn: - Cậu về nhà tôi, ta nói chuyện về ngôi nhà mà cậu muốn mua. Thái muốn hỏi thêm, nhưng thấy ông ta lạnh lùng, im lặng, nên anh cũng nín thinh luôn. Cho mãi đến khi xe về tới nơi. Lần này không có người quản gia, mà tự lão Lê Long phải mở cổng, cho xe vào tận sân, rồi mời Thái: - Cậu vào đây, nhà bữa nay chỉ còn mỗi mình tôi. Thái hơi ngạc nhiên khi thấy trên bàn ăn đã dọn sẵn một mâm thức ăn với hai chiếc ly và chai rượu vang đỏ. Anh chưa kịp hỏi thì lão Long đã giải thích: - Tôi ở nhà một mình nên đã làm sẵn để mời cậu. Tôi muốn xin lỗi về hành vi bữa trước. Cậu đừng từ chối... Thái áy náy: - Thật ra tôi mới là người có lỗi. Tôi chạm vào nỗi đau của ông... Lê Long xua tay: - Bỏ chuyện ấy đi, bây giờ ta uống với nhau, rồi bàn đến chuyện mua bán ngôi nhà. Nào, mời cậu! Thái độ lão ta cởi mở, khác hoàn toàn với bữa trước. Thái nghe nhẹ nhõm, anh nâng ly: - Xin uống với ông một ly! Chỉ trong vòng mười lăm phút mà hai người đã uống cạn chai rượu vang, Lê Long hứng chí, đứng lên vừa nói: - Phải uống rượu mạnh mới được! Bữa nay gặp cậu, chuyện mua bán ra sao chưa biết, nhưng đã tri kỷ thì ta, phải uống cho say mới thôi! Ông ta bước vào trong, lát sau trở ra với chai Martell trên tay: - Cậu dùng thứ này được chứ? Thái gật: - Được. Mà nếu không biết uống thì hôm nay cũng phải uống cùng ông mới phải đạo! Nào! Họ uống như đôi tri kỷ lâu ngày gặp lại nhau. Trong suốt bữa nhậu đã đôi lần Thái muốn đề cập lại chuyện bà vợ ông ta, nhưng lần nào cũng vậy, khi vừa định mở miệng thì Thái cứ lắp bắp, không nói được. - Cậu bảo rằng cậu đã gặp vợ tôi phải không? Câu hỏi bất ngờ như thấu tâm can người khác của lão ta, khiến Thái giật mình: - Tôi... tôi nói... - Sở dĩ hôm đó tôi bị kích động mạnh khi nghe cậu nói là bởi có mặt cậu gì đó bạn của cậu... - Đó là Phong, người bạn thân. - Dẫu là bạn thân của cậu, nhưng tôi cũng không muốn cậu ta chen vào chuyện riêng tư của rôi. Từ khi Quỳnh Như mất thì tôi có phát nguyện, hễ ai nhìn thấy cô ấy thì phải chết! Lời nguyền đó đáng lý đã phát huy tác dụng ngay hôm ấy, nếu không có cậu... Thái tròn mắt kinh ngạc: - Ông... ông nói thật? Lão ta bỗng cười một tràng dài, tiếng cười chẳng giống một con người bình thường! Thái nghe mà phát lạnh sống lưng, anh suýt để rơi ly rượu đang cầm trên tay! Cũng may, vừa khi ấy có tiếng ai gọi ơi ới ngoài cửa. Lão Lê Long im lặng và ra dấu cho Thái cũng không được lên tiếng. Ai đó sau khi gọi liền mấy tiếng thì bỏ đi. Thái thắc mắc: - Họ gọi người quản gia của ông mà, sao ông ta không lên tiếng? - Anh ta chỉ lên tiếng khi nào tôi cho phép! Trong nhà này là vậy, không ai được tự tiện nói năng những gì mà tôi không muốn! - Kìa ông... Lão ta đưa ly rượu lên lần nữa, mời mà như ra lệnh: - Nào, uống hết! Cứ thế, mỗi lần lão ta hô "nào, uống hết" thì y như là Thái phải nâng ly lên nốc cạn, không cách nào từ chối được! Qua nửa giờ, cả chai rượu mạnh đã cạn. Thái đã mềm môi, nên khi ly rượu cuối cùng vừa nốc xong thì cũng là lúc anh gục xuống bàn. Trong mơ hồ, Thái cảm giác như có bàn tay thật mát mịn sờ lên khắp người... *** Thái giật mình khi nhìn thấy người ấy xuất hiện trước mặt, anh thảng thốt kêu lên: - Cô... có phải là cô không? Nàng ta vẫn giữ nụ cười quyến rũ, vô cùng mê đắm: - Người ta sờ sờ trước mắt mà còn phải hỏi! Nếu không phải là em thì là ai? Có muốn em xưng lại tên họ không, Quỳnh Như, nhớ chưa nào... Thái vẫn còn lúng túng: - Nhưng... nhưng mà... - Đã tới nhà người ta uống rượu đến say khướt thế này mà còn chưa biết lỗi sao! Đàn ông các người đều giống như nhau cả, cứ gặp nhau là chè chén, say xỉn, chẳng còn biết gì khác! - Nhưng chính ông nhà đã mời tôi... - Ông nhà? Nghe đến người đó là em lợm giọng! Anh ta chỉ biết sống cho mình thôi, đồ ích kỷ! Thái hơi bất ngờ trước thái độ của cô nàng, anh dè dặt hỏi lại: - Cô vừa nói đến ông Lê Long? Bất thần nàng thét lên: - Đừng nhắc tên người ấy trước mặt tôi! Anh mà còn nhắc thì... thì đừng trách em! Bình thường nàng nói năng dịu dàng, quyến rũ, nhưng lúc này tự dưng chất giọng biến đổi khác thường, chanh chua, hung ác chẳng khác nào ác quỷ! - Cô... cô... Thái không kịp hỏi thêm đã bị cô nàng chụp lấy tay kéo mạnh. Bàn tay ấy lạnh buốt, nhưng có cái gì đó chạy sang cơ thể, khiến anh như bị cuốn theo, không tự chủ được. Nàng kéo Thái vào phòng riêng, lạnh lùng bảo: - Anh phải giúp em trả thù những gì lão ta đã gây ra cho đời em! Anh phải yêu em! Thái hốt hoảng: - Không! Không được... Thái định vùng ra, nhưng bàn tay nàng đã siết chặt hơn anh tưởng, nên chẳng làm sao thoát được, chỉ còn biết lắp bắp nói: - Ông ấy... ông ấy giết tôi chết! Nàng phá lên cười: - Đến anh mà cũng sợ tên ác tặc đó sao! Lão ta chỉ nói cái miệng thôi, chứ có làm gì được mà sợ. Nào, ta hãy tận hưởng! Nàng kéo mạnh tay, Thái bị bổ nhào vào trong phòng tối đen như mực! Chẳng thấy gì ngoài tai nghe tiếng sột soạt của y phục cởi ra! Nỗi sợ hãi khiến Thái phải năn nỉ: - Xin cô tha cho, nếu lão mà biết thì tôi chết ngay tại đây! Vừa rồi lão ta còn hăm dọa... Giọng nàng đanh lại: - Anh đã biết tôi đang là một hồn ma chứ gì? Vậy giữa tôi và anh ta, anh sợ ai, nói đi? - Tôi... tôi... Đang nói, Thái bị một bàn tay mát lạnh chụp ngang miệng, kèm theo hơi thở như băng giá phả vào mặt, cùng giọng nói xoáy vào tai: - Lão ta nói đúng, đáng lý ra anh và bạn anh đã phải chết ngay khi bước vào ngôi nhà này cách đây mấy hôm. Lần đó sở dĩ lão để cho anh sống là bởi lão ta sợ em, chứ nếu không thì đố ai khi đã nhìn thấy em mà lão ta để yên! Lão ta ghen đến bệnh hoạn, ghen đến điên cuồng, ghen đến nhẫn tâm giết vợ mình, rồi ướp xác để trong nhà, ghen đến... Lời nói còn tiếp tục, nếu lúc ấy Thái không vô tình chụp tay vào mặt cô ta. Thái kêu thét lên: - Trời ơi, cô! Bàn tay của Thái vừa mới chạm vào bộ mặt toàn xương, chứ không phải mặt hoa da phấn! - Tôi... tôi van cô! Xin cô... Nàng cười như pha lê vỡ: - Chưa thấy anh chàng nào bạc nhược như anh! Ai đời được người đẹp ôm trong tay, nằm trong phòng vắng mà không dám làm gì cả. Anh có còn là đàn ông hay không? - Tôi... tôi... - Đã nói rồi, không phải sợ gì lão ta cả, khi anh ở gần em! Mà nói thật, lúc này anh có sợ, có muốn thoát ra khỏi đây để không phải thực hiện việc cùng em trả thù lão ta thì cũng không xong. Một khi Quỳnh Như này đã muốn thì không ai từ chối được. Thái lại bị kéo ghì xuống chặt hơn, anh có cảm giác như toàn thân mình đang bị đóng dính vào thân thể nàng. Càng lúc hơi lạnh từ đó chuyền sang. Thái bắt rùng mình rồi lịm đi... *** Bị rơi từ trên giường xuống khá đau, nên Thái choàng tỉnh. Anh ngơ ngác nhìn quanh và vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện mình đang nằm trên sàn nhà của một căn phòng khá rộng, mà khắp nơi chỗ nào cũng đầy những tượng bằng đủ chất liệu, từ đồng, đá và thạch cao.- Phòng làm việc của nhà điêu khắc! Lúc này Thái mới nhớ lại chuyện đã qua, anh đưa tay sờ khắp người và còn nguyên cảm giác của một cuộc vận động thân thể với cường độ mạnh! - Cô nàng! Thái chồm dậy nhìn quanh lần nữa, không hề có... giường nệm nào ở đây, tuy nhiên mùi hương quyến rũ của phụ nữ như còn phảng phất chung quanh. Anh thử lên tiếng: - Cô ơi! Quỳnh Như ơi! Không có lời hồi đáp. Qua hương thơm còn rất đậm, Thái đoán có lẽ nàng ta mới rời nơi đây không lâu, nên anh bước chậm quanh những pho tượng và định sau khi ngắm một lượt, sẽ trở lại những phòng khác của ngôi nhà. Việc tự dưng mình ở trong phòng này không khiến Thái quan tâm nhiều bằng những pho tượng mà anh đang thấy, hầu như tượng nào cũng giống nhau ở khuôn mặt, vì hình như nó được tạc theo mẫu của cùng một người! - Quỳnh Như! Đến một pho tượng bằng thạch cao, lớn bằng kích cỡ người thật mà vừa nhìn là Thái đã kêu lên, bởi nó y như một Quỳnh Như bằng xương bằng thịt đang ngồi đó! - Ai đây! Thái vừa kêu vừa bước lùi mấy bước, bởi ngay trước mắt anh, chỗ dưới chân pho tượng có một bộ xương người trong tư thế phủ phục! Còn chưa hết bàng hoàng thì chợt Thái nghe có tiếng người sau lưng: - Cậu là người đã tới đây hôm trước phải không? Người hỏi Thái là anh quản gia mà Thái đã từng gặp. Anh ta rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn Thái trong y phục xốc xếch của một người mới ngủ dậy. - Cậu... cậu qua đêm ở đây? Thái lúng túng: - Tôi... tôi uống rượu với ông chủ, rồi say... Anh quản gia tròn mắt kinh ngạc: - Uống với ông chủ nhà này? - Từ đêm qua... - Chết rồi! Nghe anh ta kêu lên thảng thốt, Thái ngạc nhiên: - Anh sao vậy? - Câu đó phải để tôi hỏi cậu mới phải! Cậu có sao không chứ? Thái không muốn thuật lại chuyện mình với Quỳnh Như, anh chỉ nói: - Tôi mới bàn với ông chủ chuyện mua ngôi nhà này, rồi ông ấy làm tiệc mời tôi nhậu. Lúc ấy không thấy anh... Anh quản gia nói một câu làm cho Thái lạnh cả người: - Anh đã nhậu với hồn ma mà không biết! Thái ngơ ngác: - Anh nói gì? Chỉ tay vào bộ hài cốt dưới chân pho tượng, anh ta nói: - Người mà cậu nói đang quỳ ở đó! Thái tưởng mình nghe lầm: - Anh nói gì? Ông ta... Anh quản gia giọng bình tĩnh: - Bữa trước thấy cậu nói chuyện với ông ấy tôi định cho cậu biết mà không kịp. Lúc cậu bị ông ấy đuổi thì tôi mừng, bởi nếu không thì cậu và cậu bạn đã không còn mạng! Ông ấy đã chết từ lâu rồi. Người gặp cậu bữa đó chẳng qua chỉ là... - Hồn ma phải không? Nhìn pho tượng, Thái hỏi: - Tại sao ông ta chết bên pho tượng thế này mà chẳng ai chôn cất? Anh quản gia thở dài: - Thật ra tôi là người đã mai táng cho ông ấy đàng hoàng, nhưng ông ấy không chịu. Hễ đem hài cốt chôn thì thế nào ông ấy cũng phản ứng, nổi điên hành tôi đến chết lên chết xuống, nên cuối cùng tôi phải đem xương cốt đặt lại đúng chỗ lúc ông ấy chết mới yên! Ngừng lại một lúc, anh ta kể tiếp: - Cách đây bốn năm, cô Quỳnh Như là vợ của ông ấy đột ngột ngã bệnh và qua đời thì ông ta như điên như khùng, cứ gào khóc rồi uống rượu, cho đến khi say khước và gục bất cứ đâu. Ông ấy điên vì mất vợ! Nhưng cũng chính vì ông ấy mà cô Quỳnh Như mới chết! Câu chuyện rối rắm, Thái đang định hỏi thêm thì bất ngờ anh quản gia khựng lại, hai mắt trợn ngược và... máu tươi trào ra hai bên mép anh ta. - Kìa, anh sao vậy? Thái chỉ kịp đỡ cho anh ta khỏi bị ngã. Người anh ta mềm nhũn, bất động... Hiểu ra, Thái lẩm bẩm: - Là hồn ma! Tuy đoán việc anh quản gia bị như thế là do động tới hồn ma nhà điêu khắc, nhưng Thái vẫn không nao núng, anh vẫn lên tiếng như nói với người còn sống: - Người ta chỉ kể lại sự thật, sao lại hại anh ấy! Đáp lời Thái là những cơn gió rít bên ngoài vườn. Thái lại càng nói to hơn: - Tôi muốn cô Quỳnh Như lên tiếng đi, có phải cô để cho ma quỷ trong nhà này lộng hành, giết bất cứ ai nói đến chuyện giữa hai người sao? Nếu cần thì cứ hại tôi đi, chứ đừng giết con người tội nghiệp này! Thái vừa nói xong thì cảm giác như đang tuyên chiến với hiểm nguy, anh thu hết nghị lực, đứng trân người và chờ đợi... Vài phút trôi qua mà vẫn chưa thấy có hiện tượng gì khác lạ... Cuối cùng, anh thở hắt ra và nói rất rõ ràng, câu nói như dành cho Quỳnh Như: - Tôi tôn trọng cô và không hề có ý gì khác, vậy cô Quỳnh Như hãy tỏ rõ mình không là một hồn ma xấu đi, bằng cách là báo cho tôi biết tôi phải làm gì lúc này. Nếu cô muốn đuổi tôi đi thì cứ làm cho tôi ngã văng ra cửa, nếu không tôi sẽ ở lại đây và hôm nay sẽ làm mâm cơm cúng cô! Thái chờ đợi bị văng ra khỏi cửa. Nhưng đến hơn một phút sau mà anh vẫn còn đứng vững chỗ đó. Anh nhẹ giọng bảo: - Cám ơn cô Quỳnh Như. Tôi sẽ làm như đã hứa! Thái sờ ngực anh quản gia, thấy vẫn còn thở, nên vội kéo anh ta ra ngoài. Trong nhà lúc ấy không có ai khác, Thái phải chạy đi ra phố gần đó tìm mua lọ dầu. Khi anh trở về thì cũng may là anh chàng quản gia cũng vừa tỉnh lại. Anh ta chỉ tay ra ngoài chỗ bờ rào và nói: - Cậu nên gặp người đó... Thái ngạc nhiên: - Gặp ai? - Bà ta vừa quay đi, người mặc áo nâu đó! Thái nhìn ra và kêu lên: - Hình như là bà cụ bữa trước trên xe lửa! - Cậu không cần phải đuổi theo làm gì, tôi biết nhà bà ấy. Ngày nào bà cũng tới đây, đứng ngoài nhìn mà. - Bà ta cũng là ma? - Không. Bà ấy chính là... mẹ của cô Quỳnh Như! Thái hoài nghi: - Bữa trước trên chuyến xe lửa bà ta đã biến mất như ma, tôi nghĩ... - Không, bà ấy vẫn còn sống. Là người mẹ đau khổ, kể từ khi cô Quỳnh Như chết thì bà suốt ngày cứ tới đây, nhưng lão Lê Long không cho vào nhà, khiến bà ấy phải lang thang ngoài cửa, khi thì khóc, khi thì chạy đi làm bất cứ điều gì con gái nhờ làm! Muốn đi tìm người đàn bà đó, nhưng nhớ lại lời hứa với vong của Quỳnh Như vừa rồi, Thái bảo: - Rồi anh phải chỉ cho tôi nhà của bà cụ. Còn bây giờ tôi phải đi lo bữa cơm cúng cái đã! Anh quản gia nói nhanh: - Chuyện làm cơm cậu cứ để tôi. Còn cậu, nên tìm ngay bà cụ đi, lúc nãy tôi thấy bà ấy chạy nhanh vì sợ cậu nhìn thấy đó! Anh ta ghi địa chỉ cho Thái rồi gượng đứng dậy, mặc dù còn rất yếu... Thái bước nhanh ra cửa, hướng theo lối đi của bà cụ lúc nãy. Nhà cũng không xa, chỉ mất hơn mười phút là đã tới. Cẩn thận hơn, Thái nhẹ đẩy cửa vào tránh gây ra tiếng động, cứ sợ bà cụ lại chạy mất. Nhưng thật bất ngờ, lúc anh còn đang bước nhẹ thì chợt có tiếng nói phía sau: - Vào nhà thì cứ đường đường chính chính mà đi, việc gì phải rình mò như vậy anh chàng si tình! Vừa quay lại thì Thái đã phải ngớ người ra, bởi người đang đứng đó chính là bà mẹ của Quỳnh Như! Bà ta không nhút nhát bỏ chạy, mà trái lại còn nói huyên thuyên: - Cậu tới đây sao không đem cái giỏ trả lại cho tôi? - Cái giỏ đó đang ở nhà bạn cháu. Hôm đó bà làm cháu đứng ngồi không yên. Mà sao bà biết nhà bạn cháu mà mang tới? - Ở Vĩnh Phong ai mà không biết nhà bạn cậu. Cậu quên là nhà tôi và con gái tôi cũng ở Vĩnh Phong này hay sao? Hôm đó cậu đã tiết lộ tung tích mình, bảo sao tôi không tò mò... Bà bỏ đi vào nhà, lát sau lấy ra cái giỏ đưa cho Thái: - Thật ra đây chính là giỏ của cậu! Thái nhìn thấy chiếc giỏ, anh ngạc nhiên: - Giỏ đồ này là của bác, cháu đang giữ ở nhà bạn cháu mà? Bà cụ cười: - Nhưng bây giờ nó đang ở đây, thì cậu cứ biết nó là của cậu đi! Thấy Thái ngây người ra, bà cụ bảo: - Thôi, không làm cậu thắc mắc nữa, giỏ này là của tôi, nhưng tôi cố ý để quên lại trên tàu là để gửi cho cậu. Bộ mấy hôm nay cậu không mở nó ra xem à? Vừa nói, bà tự tay mở giỏ ra. Thái giật mình: - Pho tượng đồng này là chân dung của Quỳnh Như, sao bác để trong giỏ làm gì? - Cậu chưa mở ra xem nên chưa biết những gì kèm theo đây. Cứ lấy ra và đọc đi! Thái nhận một xấp giấy tờ từ tay bà cụ, anh lật từng trang xem và kêu lên: - Sao thế này! Trong tất cả giấy tờ về chủ quyền ngôi nhà cổ của vợ chồng Quỳnh Như thì đều ghi chuyển quyền sở hữu cho... Thái! Tên anh rành rành ra đó, bên dưới giấy tờ đã có công chứng hẳn hoi! - Bác, sao lại... Bà cụ hiền từ: - Tôi lên xe là làm theo ý của con gái tôi. Nó chết rồi, nhưng vong linh nó biết rằng nó sẽ thuộc về ai và những gì của nó sẽ phải chuyển cho người còn sống! Thái xua tay: - Không được đâu bác! Cái này là sở hữu của vợ chồng cô ấy! Cô ấy có chồng... Giọng bà cụ chùng xuống: - Chồng con gì thằng ấy! Ngày trước do thất bại trong làm ăn nên vợ chồng tôi thiếu nợ một số tiền lớn, mà chủ nợ chính là thằng điêu khắc gia đó. Nó bắt ép chúng tôi phải gả con gái mình cho nó khi con Quỳnh Như mới có mười sáu tuổi! Tội nghiệp con nhỏ, không hề yêu, mà thật ra cũng chưa biết yêu là gì... vậy mà phải về làm vợ! Bà phải ngừng lại để khóc, rồi mới kể tiếp: - Nó làm vợ mà như ở tù. Bởi thằng nọ nó ghen tuông, ích kỷ đến lạ lùng! Hầu như nó nhốt con nhỏ trong nhà, không cho bước ra ngoài nửa bước! Nó ghen với bất cứ ai tới nhà, ghen cả với bà con anh em của Quỳnh Như. Trong số này có cả cậu... Thái ngơ ngác: - Sao lại có cháu? Từ nào đến giờ cháu chưa hề quen biết cô Quỳnh Như. Cháu chỉ mới tới nhà cô ấy lần đầu hôm vừa rồi! Bà cụ thở dài: - Cũng tại tôi. Cách đây hơn năm năm, lúc đó con Quỳnh Như chưa có chồng, trong một lần nói chuyện với mẹ cậu Phong, bạn cậu, bà ấy có nhắc tới cậu, bảo rằng cậu vừa tốt nghiệp ngành kiến trúc, đang còn độc thân...Lúc ấy tôi đang muốn tìm người gả con Quỳnh Như để tránh cho nó cảnh phải về làm vợ một người lớn hơn nó mấy chục tuổi, nên tôi có nhờ mẹ Phong giới thiệu cậu...Bà ấy chưa tiện giới thiệu, mà chỉ lấy bức ảnh của cậu tặng cho Phong, đưa cho tôi xem. Tôi lấy ảnh đó đem về cho Quỳnh Như xem, nào ngờ khi vừa trông thấy ảnh thì nó đã reo lên rằng cậu mới là nhân duyên của nó! Lúc đầu tôi cũng không tin, nhưng liên tiếp nhiều ngày liền, lúc nào Quỳnh Như cũng tơ tưởng đến cậu, cứ một hai đòi đi gặp cậu. Tôi chưa kịp giúp nó thì nhà của Lê Long đã thúc hối và đưa sính lễ qua đòi cưới ngay! Món nợ chúng tôi sẽ được xóa nếu tôi đồng ý cho con gái mình lên xe hoa với hắn! Thế là... Bà kể đến đó thì gục đầu khóc nức nở... Thái ngập ngừng một lúc rồi mới dám hỏi: - Sao bác biết cháu ngồi tàu ra Phan Rang mà lên đó đón chứ? - Không phải tôi biết, mà chính con Quỳnh Như. Từ lúc chết đi nó hiển linh, cứ hiện về với tôi, nhờ tôi làm hết chuyện này đến chuyện nọ. Hôm đó chính nó nhắc tôi đi vào Sài Gòn, mua vé tàu về Phan Rang, chỉ tôi biết cậu sẽ ngồi đâu, để tôi lên ngồi kế bên. Mục đích là gửi cho cậu mọi thứ trong cái giỏ này, bởi nó biết trước là cậu sẽ ra Phan Rang để mua ngôi nhà của nó. Và nó cũng biết thế nào thằng điêu khắc gia Lê Long cũng ngăn cản, nên nó đã làm trước mọi thủ tục giấy tờ, nhất quyết giao cho cậu tài sản còn lại đó. - Sao cô ấy không giao cho bác hay người nhà của lão Lê Long? - Tôi đã nói rồi, nó yêu cậu, nó quả quyết là cậu với nó có nhân duyên tiền định, nên giá nào nó cũng chỉ giao cho cậu thôi! Thái còn đang ngẩn ngơ, chưa quyết sẽ nhận hay không nhận số giấy tờ thì bà cụ đã giục: - Cậu về nhà đó ngay đi, không chỉ để cúng cơm cho nó, mà để giúp nó chôn cất bộ hài cốt dưới chân tượng đi. - Nhưng... anh quản gia nói rằng... - Trước đây thì khác, bây giờ khác rồi. Cậu về đó rồi sẽ biết! Thái đành phải xách giỏ đồ đi trở lại ngôi nhà cổ. Vừa tới nơi, anh vô cùng ngạc nhiên khi thấy anh chàng quản gia đang khệ nệ khiêng bộ xương người ra ngoài. Anh ta bảo: - Vừa rồi đã xảy ra một cuộc đấu khẩu dữ dội giữa họ với nhau. Cuối cùng ông chủ Lê Long phải chịu thua. Nhưng khi bó tay, ông ấy đã tính đốt ngôi nhà này chứ không giao nó cho người khác! Tuy nhiên, chính hồn ma cô Quỳnh Như đã kịp ra tay trước, cô ấy khống chế được kẻ đã kiềm chế mình bấy lâu nay, khiến cho ông Lê Long phải chịu bỏ đi. Bây giờ hài cốt của ông ta chỉ còn nắm xương tàn, chứ không phải hồn ma trấn giữ ngôi nhà này nữa. Cậu có thể vào nhà một cách tự nhiên, hình như cô Quỳnh Như đang đợi cậu... Thái rụt rè bước vào nhà, anh ngạc nhiên với mâm cơm đã đọn sẵn ở giữa nhà: - Anh làm tất cả những món này? Anh quản gia lắc đầu: - Không phải. Chính cô Quỳnh Như đã làm chờ cậu! Cô ấy đang ở trong phòng đặt pho tượng mà lúc nãy cậu đã ở đó. Thái bước vào và rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy thay cho pho tượng thạch cao lúc nãy, bây giờ là... một người bằng xương bằng thịt đang ngồi. Người đó là Quỳnh Như! - Cô... cô còn sống? Nàng cười thật mê đắm, cất giọng nhẹ như hơi gió: - Em vẫn là hồn ma. Nhưng từ bây giờ em chỉ là hồn ma của anh thôi! Cứ nhìn và khi nào cần thì em hiện về như thế này, chứ đừng chạm vào người em! Thái nhìn chăm chăm vào nàng. Nhưng trong phút chốc, bóng hình đó đã như làn sương khói, biến mất, chỉ còn lại cái bệ đặt tượng và... mùi hương cơ thể đến ngất ngây... BỐN OAN HỒN TRONG NGÔI NHÀ HOANG Thiện hết sức ngạc nhiên khi nhìn thấy bốn chiếc áo dài với bốn màu khác nhau được phơi dài theo dây giăng trước sân. Không phải một lần, mà có đến ba bốn buổi sáng rồi, lần nào đi ngang qua đây Thiện cũng nhìn thấy đúng bốn chiếc áo đó. Người ta phơi cho khô hay cố tình trưng bày nó trước mắt thiên hạ? Gợi tính tò mò, sáng hôm nay Thiện dừng lại khá lâu trước bờ rào, nhìn vào bên trong. Đây là một ngôi nhà tuy không rộng lắm, nhưng có được một khoảng sân trồng rất nhiều hoa, được cắt tỉa công phu. Như vậy chứng tỏ gia chủ là người khéo tay, có óc thẩm mỹ và... chắc chắn đó là một phụ nữ! - Cậu tìm ai? Câu hỏi của một người lớn tuổi khiến Thiện giật mình quay lại, anh lúng túng trước một ông cụ trọng tuổi: - Dạ... cháu chỉ tò mò... cháu nhìn mấy chiếc áo dài đẹp trong kia... Sợ ông ta hiểu lầm: - Cháu không có ý gì, chỉ bởi thấy mấy chiếc áo đẹp quá, mà lại... - Mà lại phơi hết ngày này sang ngày khác chứ gì! Không ngờ ông ta đọc được ý nghĩ của mình, Thiện cười bảo: - Dạ... Ông cụ nhanh nhẹn mở cổng: - Mời cậu vào nhà chơi. Hơi bất ngờ, nhưng làm sao Thiện từ chối được khi anh có dịp để hiểu thêm về ngôi nhà này, nên anh đáp một tiếng khẽ: - Dạ. Rồi bước theo vào trong. Thiện cứ nghĩ sẽ gặp vài người nữa trong nhà, nhưng anh hơi lạ khi nghe ông cụ bảo: - Già ở đây một mình, nên rất cần có người để nói chuyện cho đỡ buồn. Chắc nhà cậu ở gần đây? Thiện hỏi lại: - Bác ở đây một mình? Nhưng sao... - Sao lại có áo dài để phơi hả? Của con Út... Rồi ông giải thích thêm: - Nó không có đây, nhưng để lâu sợ bị ẩm, nên tôi đem ra phơi. - Vậy mà cháu cứ nghĩ... Ông già cất tiếng cười lớn: - Cứ nghĩ trong nhà chắc là có một vài giai nhân phải không! Thiện hơi ngượng, anh nói để chữa thẹn: - Dạ, dẫu sao thì chủ nhân đi vắng của những chiếc áo cũng là những giai nhân! Ông cụ nhìn Thiện với sự thích thú: - Nói chuyện với cậu rất vui, chẳng hay cậu làm nghề gì mà ngày nào cũng đi bộ qua đây? - Dạ... nếu nói là thất nghiệp thì cũng không sai! Bởi cháu đang nghỉ dưỡng dài hạn... Ông già gật gù: - Cậu chưa gì mà đã giống như tôi rồi! Nào, mình uống tách trà để nhìn bạn đồng liêu chứ! Thấy ông vui vẻ nên Thiện cũng dạn dĩ hơn: - Xin phép bác, cháu tò mò muốn hỏi, cô Út ở nhà đi học hay đi đâu ạ? Hình như ông cụ đã chờ câu hỏi đó, ông đáp ngay: - Nó đi học, nhưng lười nên ít khi chịu về thăm già này lắm. Có lẽ tại nơi này buồn quá, không thích hợp với tuổi trẻ. Ông lại hỏi Thiện: - Hằng ngày cậu đi bộ qua đây rồi tới đâu nữa? - Dạ, tới ngôi nhà bỏ hoang trong cánh rừng kia. Câu nói của Thiện vừa dứt thì bất ngờ ông cụ đứng bật dậy, mặt thất sắc: - Cậu... cậu không được tới đó! Cậu không... Thấy thái độ của ông, Thiện kinh ngạc: - Kìa, bác sao vậy? Ngôi nhà ấy là thế nào? - Nó... nó là... Rồi trước sự ngơ ngác của Thiện, ông ta vụt chạy ra cửa và biến mất! Đứng thừ người ra một lúc, Thiện đành phải bước ra. Anh không quên khép cửa lại cẩn thận trước khi nhắm hướng mà mỗi ngày mình vẫn tới. Tác phẩm viết dở đang cần khung cảnh tịch liêu của ngôi nhà hoang để hoàn thành... Đi được vài mươi bước, chợt Thiện nhớ là nhà chưa khóa cửa, mà như ông cụ nói, không có ai ở nhà, lỡ trộm đạo vào nhà thì sao? Chuyện anh tới ngôi nhà hoang trễ một chút thì đâu có sao... Do vậy Thiện quay trở lại, dự tính ngồi đợi. - Ủa, mấy chiếc áo dài? Không thấy bốn chiếc áo phơi ở sân nữa, Thiện tắc lưỡi: - Xong rồi, bị trộm hết rồi! Thiện hối hận là vừa rồi mình quá hấp tấp và bây giờ biết nói sao khi ông cụ trở lại? Anh còn thừ người ra thì chợt mắt sáng lên khi nhìn thấy bốn chiếc áo đã được xếp thẳng thớm để trên bộ đi-văng! - Ủa...? Thiện chưa tin là thật nên bước tới sát bên nhìn kỹ. Đúng là bốn chiếc áo đã phơi ngoài dây trước sân, không sai! - Có ai trong nhà không? Thiện lên tiếng gọi, nhưng không ai trả lời. Thắc mắc trong đầu Thiện càng tăng khi anh nhìn kỹ hơn, trên mỗi chiếc áo dài đều có đặt một chiếc khăn tay màu trắng tinh! Hương thơm từ những chiếc khăn tỏa ra nức mũi, chứng tỏ ai đó mới vừa ở đây xong! Sự tò mò thôi thúc nên Thiện lấy từng chiếc khăn lên xem, anh thấy trên góc từng chiếc khăn đều có thêu tên khác nhau: Mai Hương, Lan Hương, Cúc Hương, Quế Hương. - Bốn chiếc áo của bốn cô gái! Thiện quả quyết như vậy, bởi qua phân định mùi hương, anh nhận thấy có bốn mùi khác nhau. Vả lại cầm bốn chiếc áo lên, so từng chiếc có kích cỡ không hoàn toàn giống nhau. - Họ là bốn chị em? Xâu chuỗi lại những sự việc, từ sự thảng thốt của ông cụ cho đến sự xuất hiện của ai đó trong nhà này, Thiện có ngay kết luận: - Có gì không ổn trong chuyện này! Và không còn lo ngôi nhà đang mở cửa, Thiện bước nhanh ra ngoài, đi về phía ngôi nhà hoang. Tới nơi, Thiện ngạc nhiên khi thấy tất cả cửa nẻo đều bị khóa từ bên ngoài, khác với sự bỏ hoang như từ mấy hôm nay anh vẫn thấy và ra vào tự nhiên. Hiểu là ông cụ đã làm, Thiện càng thắc mắc về ông ta hơn. Anh tự hỏi: Ông ta sợ mình phát hiện điều gì trong nhà chăng? Từ mấy hôm nay, Thiện không hề để ý gì ngôi nhà này, bởi có một việc mà thiên hạ thường quan tâm khi vào ngôi nhà hoang nào đó, đó là sợ ma! Mà đối với Thiện, anh không hề có ý niệm gì về điều ấy. Bởi nếu có thì anh đã không chọn nơi như thế này để viết văn! Không nhìn thấy ông cụ ở đó, Thiện đoán ông ta đã trở lại nhà sau khi ngăn không cho anh vào ngôi nhà này. Anh tự nhủ: Mình sẽ có dịp trở lại nhà ông ta. Nhà của tứ mỹ nhân kia! - Cậu Hai, có phải cậu thường tới đây ngồi ngoài gốc cây kia làm việc không? Có người gửi cậu cái này. Người vừa hỏi vừa đưa cho Thiện cái phong bì là một cư dân ở gần đó. Thiện ngạc nhiên hỏi: - Ai đưa cho chị? - Một cô gái, tôi có hỏi tên nhưng cô ấy không nói. Dặn tôi phải đưa tận tay cho cậu khi cậu tới đây. - Lâu chưa chị? - Mới đây thôi, cô ấy vừa đi thì cậu tới. - Nãy giờ chị có thấy một ông lão tới đây khóa cửa hay không? Chị nọ lắc đầu bảo: - Người khóa cửa là một cô gái, chứ không phải ông già. Chính cô này... Thiện bóc bì thư ra, anh thấy nét chữ con gái rất đẹp, chỉ có mấy dòng: "Vào nhà người ta mà không xin phép, suýt nữa đã bị ông già bắt gặp. Lần sau chừa nhé! Chìa khóa giấu ở dưới chậu hoa phù dung bên trái cửa ra vào. Mỗi lần sử dụng xong ngôi nhà, nhớ khóa cửa lại và đặt chìa khóa vào vị trí cũ!" Thiện đọc xong thư định hỏi thêm chị kia, nhưng khi ngẩng lên thì chẳng còn thấy chị ta đâu! - Kỳ lạ! Thiện bắt đầu phải suy nghĩ về những điều kỳ quặc ở đây... *** Phải mất hơn một buổi, Thiện mới nhìn thấy bốn chiếc áo dài xuất hiện trên dây phơi. Điều làm cho anh ngạc nhiên nhất là không nhìn thấy người ra phơi, mà chỉ trong nháy mắt cả bốn chiếc áo đã xuất hiện. Lạ một điều nữa là từ ngày hôm qua tới giờ cả ông cụ cũng không có mặt?Rình cả một buổi mà cũng không thấy được người nào, Thiện hơi nản, anh lần mò sang những ngôi nhà gần đó dò hỏi, nhưng hầu như ai nghe anh hỏi câu: - Chị có biết những ai ở trong ngôi nhà bên đó không? Thì hầu như chục người như một chỉ lắc đầu. Duy nhất có một chàng trai đáp được một câu: - Nhà đó không tiếp xúc với bên ngoài. Anh chờ gặp họ rồi hỏi. Hình như mọi người đều muốn lảng tránh nói về ngôi nhà ấy, nên khi mặt trời sắp lặn mà vẫn chưa có kết quả gì, Thiện đành lững thững đi bộ về nhà. Vừa đi tới góc đường, chợt nghe có hai thanh niên vừa đạp xe vừa bàn tán với nhau: - Bốn con nhỏ bữa nay hát hay hết chê luôn! Bọn chúng nó mặc bốn chiếc áo dài khác màu nhau mà hài hòa, bắt mắt dễ sợ! Nhất là con Quế Hương, nó mặc chiếc áo màu tím nhìn thấy phát mê! Thiện giật nẩy người, anh gọi to: - Này, hai anh! Hai chàng trai nghe kêu thì giật mình dừng xe lại, Thiện chạy đến bên hỏi dồn: - Hai anh vừa nói có cô Quế Hương gì đó hát ở đâu? Nhìn Thiện, đoán anh không phải người bản xứ, nên một trong hai anh chàng nói: - Ở Đà Lạt này mà bây giờ anh còn đi lang thang ngoài đường, không vào phòng trà nghe nhạc thì còn phí phạm nào bằng! Cô Quế Hương là ca sĩ trong ban tứ ca Hương Bốn Mùa, anh từng nghe chưa? Thiện lẩm bẩm: - Mai Hương, Lan Hương, Cúc Hương và Quế Hương... Hai anh chàng cùng reo lên: - Anh biết rồi đó, họ chính là thành viên của ban Hương Bốn Mùa đó. Tới mà nghe đi, đêm nay nghe nói họ sẽ hát riêng tặng cho ai đó mấy bài về Đà Lạt hay lắm! Tối qua tụi này xem rồi, nên bữa nay không định tới... Họ vừa nói xong thì đạp xe đi ngay. Thiện hỏi với theo: - Phòng trà ở đâu? Một người cười to, nói vọng lại: - Tới Đà Lạt mà không biết phòng trà ở đâu thì về nhà đi cha nội! Quả thật là Thiện chưa hề đi phòng trà ca nhạc bao giờ, nên phải dò hỏi. Người chạy xe đêm chỉ rất rành rẽ: - Ở đây có hai phòng trà, nhưng lớn và đông khách nhất là ở Palace, tôi sẽ đưa cậu tới đó! Trên đường đi, Thiện gợi chuyện: - Anh có bao giờ nghe nói về các ca sĩ phòng trà không? Hình như Thiện đã khơi đúng mạch, nên anh chàng lái xe tuôn ra một hơi: - Dân sành điệu phòng trà xứ này ai mà không mê bốn ca sĩ là chị em ruột! - Họ là bốn cô Hương? - Đó đó, anh biết rồi mà còn hỏi! - Thật ra tôi cũng chỉ nghe người ta nói thôi. Anh đã từng gặp mặt họ chưa? Chắc anh cũng đã biết nhà? Giới chạy xe mà, người nổi tiếng nào mà không từng đi xe của các anh đôi lần? Anh lái xe lắc đầu: - Riêng bốn cô này thì khác. Chưa bao giờ họ đi xe của chúng tôi. Mà ngay cả giới vương tôn công tử xứ này cũng thế, đã có biết bao chàng trồng cây si, tối nào cũng tới phòng trà ngồi say mê nghe các nàng hát, để mong tan giờ đón đưa các nàng về nhà mà chưa một chàng nào toại nguyện! - Chắc là đã có người làm việc đó rồi? Anh chàng gật gù: - Đúng là có người đưa đón! Thiện chép miệng: - Chắc là một đại gia giàu sụ, hay là... Anh tài xế ngắt ngang: - Một cụ già tuổi trên bảy chục. Ông ta lái chiếc xe hai mã lực cổ lỗ sĩ, cà tàng nhất thành phố này! - Vậy sao các nàng chịu? - Bởi... ông ta là bố của các cô ấy! Thiện thở phào: - Vậy mà tôi cứ tưởng... - Tới nơi rồi cậu. Nếu vào nghe nhạc lát ra có đi xe thì nhớ tôi, tôi đậu ở đây chờ! Trước khi xuống xe, Thiện còn hỏi thêm: - Nếu ông già chạy chiếc xe hai mã lực cũ mèm thì sao xe anh bốn mã lực, không thử đuổi theo một lần xem nhà cửa các cô ấy ở đâu? Như bữa nay chẳng hạn, lát nữa anh đợi sẵn, khi các nàng ra, tôi sẽ nhờ anh bám theo nhé. Anh tài xế lại lắc đầu: - Có nhiều người thử làm rồi, nhưng chẳng một ai thành công! Không hiểu chiếc xe cũ mèm đó chạy bằng xăng gì, mà không xe nào theo kịp. Lão già đó lái về hướng ngã ba chùa rồi mất dạng. Đêm nào cũng thế! Nhìn đồng hồ tay, anh chàng giục: - Cậu vào đi kẻo lỡ mất bài "Ai lên xứ hoa đào". Cô em Út sẽ hát trước bài đó! - Trong số bốn cô, cô nào là Út, cô nào là chị cả? - Cô Út là Quế Hương, cô chị cả là Mai Hương. - Cám ơn anh. Anh nhớ chờ tôi ở đây nhé! Thiện theo dòng người bước vào bên trong. Do đi có một mình nên Thiện được xếp ngồi ở một bàn đơn, nằm ở một góc xa với sân khấu. Anh định xin đổi chỗ, nhưng vừa lúc ấy người phục vụ bước tới cạnh, nói khẽ vào tai Thiện: - Bàn này có người đặt trước cho anh đó. Có một đóa hoa hồng để sẵn đó, người ta gửi riêng cho anh. Anh là Thiện? Thiện ngạc nhiên lắm, anh lẩm bẩm: - Mình đâu có quen ai ở đây? Định quay lại hỏi thêm thì người phục vụ đã đi tự lúc nào rồi! Thiện cầm cành hoa hồng lên, anh thấy có mảnh giấy kèm theo: Khi về nhớ đi thẳng về ngôi nhà hoang. Chị em tôi cần gặp. Mai Hương. - Đúng là họ rồi! Và càng đúng hơn khi vừa lúc đó, người được giới thiệu ra hát là Quế Hương với bài "Ai lên xứ hoa đào". Cô nàng mặc chiếc áo dài màu tím than nổi bật và đẹp như cô gái liêu trai! - Chiếc áo này! Thiện không dằn lòng được nên đã kêu to lên, khiến cho vài người ngồi gần phải quay sang nhìn vào anh. Rồi một ai đó nói: - Đêm nào cô ấy cũng mặc đúng chiếc áo màu này, nhưng mình không thấy nhàm chán. Trái lại... Khi nàng cất giọng thì hầu như cả khán phòng đều im phăng phắc! Giọng nàng trong trẻo mượt mà, như quyện vào lòng người, khiến bài hát quá nổi tiếng này đã hay lại càng quyến rũ hơn, làm thiên hạ say đắm như quên cả không gian, thời gian... Bản nhạc dứt rồi, thiên hạ vỗ tay rào rào, vậy mà Thiện như còn mê ngủ, anh ngây người ra và khi chợt nhớ đã là người vỗ tay sau cùng! Tiếng vỗ tay lạc điệu ấy đúng ra đã làm cho những người ngồi chung quanh khó chịu, tuy nhiên họ lại hưởng ứng, vỗ tay thêm lần nữa! Chương trình hằng đêm của phòng trà này còn có gần chục ca sĩ khác, nhưng hầu như khán giả chỉ say mê nghe phần trình diễn của bốn chị em tên Hương. Người cuối cùng ra hát là Mai Hương. Thiện chăm chú nhìn còn kỹ hơn nhìn người em hát trước. Bởi cô nàng là người ký tên dưới lá thư mời Thiện tối nay... Tuy nhiên, Thiện hơi thất vọng, bởi khi ra hát, cô nàng lại choàng kín hầu như cả gương mặt bằng một chiếc khăn choàng lớn. Kèm theo là lời cáo lỗi của người xướng ngôn viên: - Hôm nay do một tai nạn, nên cô Mai Hương không thể xuất hiện trọn vẹn trước quý vị, xin quý vị thông cảm! Mọi người hình như không chú ý lắm đến dung mạo của Mai Hương, mà có người còn nói: - Đến đây là để nghe cô này hát, chứ đâu phải xem dung nhan! Mai Hương được yêu cầu hát đến lần thứ hai. Khi bản nhạc chấm dứt thì cánh lái xe taxi và các tài xế xe nhà đều nháo nhào lên, bởi họ biết, đây là thời điểm mà đêm nào cũng chờ đợi: Xem tận mắt dung nhan bốn cô, cũng như bắt đầu cuộc đuổi theo chiếc xe hai mã lực đang chờ sẵn. Thiện chưa ra vội bởi anh ngại chen lấn, chợt cô phục vụ lúc nãy xuất hiện, cô kéo tay Thiện đi ngược dòng người về phía cửa hậu, nơi dành riêng cho các ca sĩ tới và ra về. Anh chưa kịp hỏi thì cô nàng đã bảo khẽ: - Hôm nay anh sẽ là người lái xe! Thiện chưa kịp có ý kiến gì thì anh đã được đẩy lên chiếc xe Citroen hai mã lực. Đúng là chiếc xe cũ ngoài sức tưởng tượng của Thiện. Anh vừa ngồi sau tay lái thì đã nghe một giọng nói hơi lạ: - Cứ lái với tốc độ tối đa, đừng bao giờ nhìn lại phía sau nhé! Thiện biết lái xe, nhưng chưa bao giờ anh phải lái trong tình trạng như chạy trốn thế này. Bởi vậy khi vừa nổ máy thì anh hơi lúng túng... định cho xe ra khỏi lối đi hẹp dẫn từ hậu trường ra ngoài, nhưng bỗng dưng chiếc xe chồm lên, trong khi Thiện không hề nhấn ga! - Không! Thiện phải ôm vô-lăng thật chặt, cứ sợ xe va phải những người đi bộ hai bên. Xe ra tới cửa, có hàng chục xe khác đã nổ máy, sẵn sàng lao theo. Chợt có mấy người kêu lên: - Sao trên xe không có bốn cô nàng! Thiện muốn quay lại nhìn, nhưng hầu như cổ anh không thể cử động. - Nhanh lên! Thiện lại nghe tiếng người nói phía sau, chứng tỏ đang có người ngồi trên băng sau. - Nhanh lên nữa! Lần giục này là giọng nói khác. Thiện hầu như chỉ ôm tay lái chứ không hề nhấn ga, vậy mà xe lại lao vun vút với tốc độ kinh hồn! Điều này thật kỳ lạ, bởi chiếc xe cũ kỹ này đâu thể nào chạy đến tốc độ như thế này được? Chỉ một lúc sau thì đã nghe có tiếng reo lên: - Tới rồi! Thiện hoàn hồn, anh nhìn ra và giật mình khi nhận khi trước mặt mình lúc này là ngôi nhà hoang mà anh tới mỗi ngày! Đây là khu vực vắng, hầu như không có nhà cửa chung quanh, mà ngôi nhà lại không có đèn, cũng may là trời đang có trăng non, nên trong bóng tối lờ mờ Thiện vẫn có thể nhận ra ngôi nhà... Nhớ lại lời dặn lúc nãy trong bức thư ngắn, Thiện đánh bạo lên tiếng hỏi: - Các cô bảo tôi về đây để làm gì? Không nghe tiếng trả lời. Thiện hỏi lại lần nữa: - Cô là cô Mai Hương phải không? Vẫn im lặng... Quên cả lời cảnh báo lúc nãy, Thiện quay lại nhìn và... ngơ ngác kêu lên: - Đâu cả rồi? Không có ai ngồi ở băng sau cả! Thiện cất tiếng hỏi lớn hơn: - Các cô đâu rồi? *** Cuối cùng, anh mở cửa xe bước xuống nhìn quanh. Trời lờ mờ, đủ cho Thiện nhìn thấy lối mòn dẫn vào ngôi nhà. Lưỡng lự một lúc, rồi anh bước chậm vào. Cửa mở như đang có người trong đó.Thiện chưa dám bước hẳn vào thì như có bàn tay ai đó đẩy nhẹ, khiến Thiện lọt hẳn vào bên trong và... - Ủa, sao lại... Bên ngoài nhìn vào không thấy đèn, nhưng khi vừa vào trong thì ánh sáng lại bừng lên, chiếu sáng cả gian phòng rộng. Một bàn tiệc đã bày sẵn, thật linh đình! - Mời! Chỉ có tiếng nói mà không thấy người. Trong khi đó thì Thiện nhận ra có sự chuyển động chung quanh, giống như nhiều người đi tới đi lui! Anh đánh bạo lên tiếng: - Phải các cô là chủ nhân những chiếc áo dài mà tôi đã thấy? Có người phá lên cười, giọng cười trong trẻo: - Đã biết rồi mà còn hỏi! Nào, ta nâng ly! Chiếc ly trước mặt Thiện đã được rót đầy, mùi bia thơm phức, khiến anh không thể từ chối được, cầm lên nhấp một hớp thử. Nhưng chẳng hiểu sao, Thiện lại uống một hơi cạn! - Vậy mới được chứ! Hôm nay anh là người khách duy nhất tụi này mời về đây để dự ngày giỗ mà từ lâu rồi tụi này chỉ thui thủi một mình... - Giỗ? Mà giỗ ai vậy? Có một nàng hỏi lại: - Theo anh thì giỗ ai? Rồi không đợi anh trả lời, một giọng khác lại nói: - Giỗ cả bốn chúng tôi. Thiện đã chuẩn bị tư thế từ trước, bởi anh đã xác định họ không là những người bình thường, nhưng lúc này anh cũng chới với: - Cô... các cô nói... Một nàng cười: - Anh sợ rồi phải không? Nếu sợ thì có quyền rút lui. Coi như chúng tôi lại một phen thất vọng vậy... - Tôi... tôi không... Ánh sáng vụt tắt, chỉ còn lờ mờ ánh trăng non chiếu qua cửa sổ. Bỗng Thiện hít được mùi thơm cơ thể của phụ nữ ngay bên cạnh. Với ánh trăng đó cũng đủ cho anh nhìn thấy vây quanh anh lúc này là bốn người! Họ vui vẻ: - Như thế này hài lòng chưa? Rồi một người kể lể: - Anh nói đúng, bọn này là chủ nhân bốn chiếc áo dài mà anh đã thấy. Sở dĩ tụi này phải bày ra phơi áo như thế là để gợi cho anh sự tò mò... để anh một lần bước vào đó và cho anh biết là tụi này có hiện diện! Một nàng khác chen vào: - Anh muốn biết tại sao nơi đây cũng là nhà tụi tôi mà không xuất hiện gặp anh nơi đây? Chỉ bởi ông cụ không cho. Anh thấy đấy, chỉ khi nào ông cụ bị lừa phải chạy đi khóa cửa ngôi nhà hoang thì bọn này mới được thoát ra và tự do như bây giờ. Tội nghiệp ông cụ lắm, chỉ vì thương yêu tụi này nên mới canh chừng cẩn mật như thế. Bây giờ thì ông không còn có dịp nữa rồi... Thiện giật mình: - Ông ấy sao rồi? - Vĩnh viễn không trở lại đây nữa! Và anh từ nay sẽ được chọn để chăm sóc cho chị em chúng tôi. Kể cả việc lái xe chúng tôi đi hát mỗi đêm! - Kìa, các cô... - Chị Mai, anh ta từ chối kìa! - Để em Quế thuyết phục đi, chắc là anh ta không từ chối đâu! - Ờ, phải đó, chỉ có em Quế thôi! Giọng một người trong trẻo hơn, mà người đó lại ngồi sát bên Thiện: - Hai chị Lan, Cúc sao cứ ép người ta mãi thế! Chị Mai... Người ngồi bên phải của Thiện chính là người được gọi là chị Mai, mà Thiện đoán là họ gọi chữ đầu của tên, lên tiếng: - Em Quế, là phần em đó! Bấy giờ cô ngồi phía tay trái của Thiện mới chịu tuân lời, bất thần cô nàng chụp lấy tay Thiện và giữ chặt: - Cô em Út nhà này chưa từng gần đàn ông, mà hễ biết là giữ chặt luôn, đố thoát được! Những người kia phá lên cười, trong lúc Thiện điếng hồn, định rút tay lại thì không được nữa. Một cảm giác kỳ lạ len vào cơ thể anh và chỉ trong một thoáng, người Thiện như bị lấy hết sinh lực, chẳng làm sao khác, đành phải ngồi trân người chịu trận. Một cô ngồi giữa có vẻ ganh tỵ: - Chị Mai thiên vị, cái gì cũng cho Út hết, còn em đây chi! Bộ chị không nhớ, chính em là người bị thiệt thòi nhất từ nào đến giờ đó sao! Người được gọi là chị Mai vội lên tiếng: - Không lôi thôi nữa, lão gia mà trở về thì hư hết mọi chuyện bây giờ! Nghe vậy nên cả mấy cô đều im lặng, chứng tỏ uy của cô chị cả rất lớn. Lát sau chính Quế Hương lên tiếng, nói vừa đủ cho Thiện nghe: - Trong nhà này không có việc cãi lời. Anh nên làm theo để được sống và viết. Mục đích của các chị là muốn được anh viết về bọn này. Bởi vậy trong vô số người từng tới đây, chúng em chỉ chọn mỗi mình anh thôi! Thiện giật mình: - Viết? Các cô bảo tôi viết cái gì? Chị cả hỏi lại: - Anh không phải là nhà văn chuyên viết chuyện ma quỷ đó hay sao? Bọn này chính là những âm hồn, những người lâu nay luôn bị người trần thế nhìn với cái nhìn lệch lạc. Nên hôm nay tụi em muốn qua anh, nói cho mọi người hiểu rằng, thế giới âm phủ cũng giống như dương thế, có người tốt kẻ xấu. Bọn em chết oan, làm oan hồn chịu bao thiệt thòi, lại còn mang tiếng là quỷ ma, yêu tinh nữa! Anh hãy sống với bọn này đi, rồi sẽ hiểu có phải như vậy không? Cô Út Quế Hương giọng phấn khởi lắm: - Hôm nay đúng là ngày giỗ của bốn chị em. Đồng thời cũng là ngày... vui trăm năm của riêng em! Nào, ta nâng ly rượu mừng đi! Những tiếng chạm ly chan chát mà Thiện cũng phải tham gia. Anh uống cạn liên tiếp ba ly và bắt đầu hứng chí, quên cả thực tại: - Mừng các cô! Một cô nàng, hình như là Lan Hương lên tiếng: - Sao là các cô? Phải gọi là chị cho đàng hoàng chứ! - Ờ, phải đó, bây giờ chúng ta đều là chị! Họ cười vang cả nhà, trong khi Thiện thì đờ người ra. Bỗng cô chị cả nhắc: - Ta cắt chiếc bánh ra đi, coi chừng lão gia về đó! Cô Cúc Hương nhanh tay cắt chiếc bánh đặt giữa bàn, chia đều cho từng người, vừa lên tiếng: - Đây là bánh cưới con Út với anh chàng này. Ủa mà quên, phải gọi là dượng Út chứ! Nào, ta ăn bánh rồi chờ nghe dượng Út nó nói vài lời chứ! - Phải đó! Phải đó! Dượng nó lên tiếng đi chứ! Thiện luýnh quýnh: - Tôi... tôi không... Cô Út không nói, mà bất thần đứng lên kéo theo Thiện. Anh chàng hoàn toàn thụ động, chỉ biết bước theo. Ba cô ngồi lại đều che miệng cười và một cô nói: - Con nhỏ từ nào đến giờ không biết đàn ông là gì, lại hành động bạo nhất! Nó... đi động phòng đó! Cô chị cả giọng nghiêm túc: - Nó làm đúng thì phải ủng hộ chứ! Phần của Út xong rồi, còn chúng ta thôi... Mấy tiếng sau cùng cô nói với giọng buồn hiu, khiến cho hai cô kia bỗng khóc òa lên! Gian phòng rộng của ngôi nhà hoang lúc này đầy ắp tiếng khóc. Vậy mà nếu ai đứng bên ngoài thì sẽ không nghe được gì... *** Mặc dù có bao nhiêu chuyện rắc rối, kỳ lạ quanh bốn cô ca sĩ phòng trà, nhưng không vì thế mà lòng ái mộ dành cho họ bị giảm sút. Mà trái lại, sự cuồng nhiệt càng tăng. Có lẽ ở đời thiên hạ luôn thích những chuyện vượt ra ngoài ranh giới của sự bình thường. Một đồn mười, mười đồn trăm, nhiều chuyện chung quanh bốn cô gái được thêu dệt, đi đâu người ta cũng nghe bàn tán, nhất ở các quán cà phê.Một buổi sáng, một anh chạy xe ngựa nói và cả chục người vây quanh nghe: - Mấy người biết không, tôi thấy có một anh chàng được cả bốn cô nàng mê như điếu đổ, cùng vây quanh như muốn bắt xác anh ta! Họ đã cho tay già kia "de" rồi! - Làm sao anh thấy được? Hay cũng chỉ đồn thổi như mấy người kia thôi! - Tôi canh đón khách ở cửa phòng trà, nên mọi diễn biến ở đó tôi đều rành rẽ cả. Hôm qua tôi thấy anh chàng trẻ măng lái xe cho họ đi, mà cả bốn cô đều vui như Tết! Đặc biệt lần này ba cô ngồi sau, một cô ngồi trước bên cạnh anh chàng lái xe đó, xem ra tình tứ lắm! Làm cho mấy tay vương tôn công tử si tình ấm ức lắm, họ thề sẽ trị cho anh chàng lớn mật kia một trận. Mà tối nay trận đòn thù đó sẽ diễn ra, coi đã mắt luôn! Một vài người lớn tuổi nghe vậy phản đối liền: - Sao để chuyện ấy xảy ra được chứ! Ỷ đông hiếp yếu mà coi được sao! Chỉ tay vào chỗ đậu xe, anh ta bảo: - Mọi hôm chiếc xe hai mã lực của họ đều đậu ở đó, sao bữa nay không thấy? Hay là anh chàng kia nghe chuyện đã chuồn mất rồi! - Chưa tới giờ vãn hát mà. Mới có 9 giờ mà, còn hơn một tiếng nữa. - Hồi ông già còn lái xe thì giờ này ông ta đã đem xe tới đậu chờ sẵn. Mà cũng lạ nghe, cỡ như bốn cô ấy thì muốn đi xe sang trọng cỡ nào không có, mắc gì phải nhét trên chiếc xe cà tàng đó? Mà anh chàng trẻ tuổi nữa, xem ra anh ta chỉ là tài xế thôi, chứ không phải là "bồ bịch" gì! Ai lại chọn bồ nghèo kiết xác như vậy! Đang bàn tán xôn xao, chợt anh chàng đánh xe ngựa kêu lên: - Lũ côn đồ tới rồi đó! - Lũ nào? - Thì mấy thằng được vài tay công tử si tình đeo đuổi theo bốn cô nàng thuê để thanh toán anh chàng lái xe kia. Họ kéo cả chục tên, kiểu này anh chàng kia không xong rồi! Mọi người đưa mắt nhìn thì quả thấy có gần chục tên đầu gấu đang dàn hàng ngang chỗ đầu hẻm từ hậu trường ra. Lúc ấy tiếng đàn hát bên trong cũng vừa tắt. Đã tới giờ tan hát. Cửa trước khách bắt đầu ra về. Những ca sĩ khác cũng tuần tự ra theo. Chờ mãi, đến hơn mười một giờ mà vẫn không thấy bốn cô bước theo cửa hậu trường, mấy tên côn đồ ngạc nhiên: - Ủa, sao nó không ra? Chúng táo tợn xộc vào tận bên trong thì mới ngẩn người ra, bởi đèn trong phòng trà đã tắt hết. Không còn một ai. Bọn hơn chục tên cùng chạy ra, một tên nói to: - Hôm qua tao đã nhìn thấy thằng lái xe đó đi ra từ ngôi nhà hoang ở cánh rừng phía thác Cam Ly, tụi mình lên đó tìm nó! Họ ào ào phóng xe đi khiến nhiều người lo lắng: - Không khéo bọn quỷ sứ này hại người ta mất. Mình phải báo nhà chức trách chứ! Nhưng họ đâu làm cách nào theo kịp lũ côn đồ có tiếng là hung hãn này. Cả bọn phóng nhanh và chẳng mấy chốc đã tới bên ngoài ngôi nhà hoang. Ngôi nhà chìm trong bóng tối như thường lệ và không có biểu hiện nào chứng tỏ bên trong có người... Nhưng tên đầu sỏ vẫn quả quyết: - Ngôi nhà này tụi bay có nhớ không? Câu hỏi của hắn làm cho bốn trong số gần chục tên đi theo giật mình! Một tên nói: - Nhà này... hồi đó mình đã... - Tụi bay nhớ rồi đó! Hồi bốn, năm năm trước, tụi mình hụt ăn một vụ ở đây, khi con mồi đã nằm trong tầm tay rồi mà lại để sổng mất! Một tên có tham gia vụ đó, nói rành rọt hơn: - Hồi đó đại ca phân công em lo chặn đường rút lui của vợ chồng tên chủ nhà này và lũ con gái còn bé của họ. Em chặn kín lối ra, không để ai thoát, nhưng đột nhiên nhà bốc cháy làm em không hiểu chuyện gì? Mà lửa cháy như vậy cũng có nghĩa là số tiền lớn của vợ chồng tên chủ nhà mới bán đất có được đã ra tro! Mình hụt ăn mà chỉ biết nhìn lửa để rồi tức trào máu thôi! Tên đầu sỏ giọng hậm hực: - Vì chuyện đó mà tao bị đàn anh đuổi việc, chê tao vô tích sự! Tên đàn em nói: - Chẳng riêng gì đại ca, cả bọn em cũng điêu đứng theo. Đàn anh của mình lúc đó ác, nhưng nghĩ lại ông ta điên lên cũng phải, bởi hỏng ăn vụ đó làm ông ta thua trắng bạc tỷ. Từ đó ông ấy bị phá sản và biệt tăm luôn! Tên đại ca rít lên: - Lão ta phá sản thì tao cũng vào tù! Ra tù rồi tao mới rõ là trong vụ đó không phải là vụ cướp tiền như lão nói và nhờ bọn mình làm đâu. Họ triệt hạ lẫn nhau đó! Tụi bay biết chủ nhà này là ai không? Lão ta cũng thuộc hàng đại gia như đàn anh của mình. Hôm đó lão đem về đây một số tiền lớn, chuẩn bị vụ làm ăn gì đó. Đàn anh của mình tính phỗng tay trên nhưng không thành, và sau đó còn bị họa lây bởi một cuộc phản đòn kỳ lạ, mà nghe đâu do chính chủ nhà này ra tay! Tên kia ngạc nhiên: - Nghe nói vụ cháy nhà bữa đó đã thiêu rụi cả nhà ông ta gồm ông ấy và bốn đứa con gái mà, lấy đâu mà trả thù đàn anh mình? - Mấy hôm nay âm thầm theo dõi bốn con ca sĩ phòng trà đó, và hôm nay tới đây tao mới vỡ lẽ, vụ hỏa hoạn đó không làm chết tụi nó. Bằng chứng là bốn đứa con gái ấy giờ đây đã lớn lên, đã làm say đắm hầu hết con trai thành phố này! Tên đàn em hốt hoảng: - Phải vậy không đại ca? Tên đại ca quả quyết: - Chắc chắn là như vậy, nhưng qua vụ đó rồi hình như nhà họ khánh kiệt, phải sống âm thầm, nghèo khổ, đến đỗi cả bốn đứa con gái đều phải đi hát kiếm sống! - Có lẽ là vậy... Chúng đang ba hoa thì chợt đèn trong ngôi nhà hoang bật sáng choang đồng thời cánh cửa nhà mở rộng ra, cùng với một giọng nói to: - Tới thì vào đi chứ, mấy thằng con đồ. Tao đã chờ bọn bay từ lâu lắm rồi! Nghe giọng nói, tên đại ca giật mình: - Ai như là... là lão ta? Lão Bá Đạt! Một tiếng cười sang sảng vang lên: - Mày vẫn còn nhớ phải không? Tao đây, kẻ mà hôm đó tụi bay định vào giết để cướp của vẫn còn đây! Cả lũ giật mình, nhưng lúc ấy tên đại ca đã gầm lên: - Ngày xưa chưa hạ được lão thì hôm nay tao sẽ giết lão trước, rồi chiếm cả bốn đứa con gái lão sau! Nào, xông vào tụi bay! Chúng vừa tính chạy vào thì như bị ai đó nắm từng thằng ném mạnh vào nhà! Lần lượt có tám tên nằm lổn ngổn ở phòng khách ngôi nhà. Lúc này khi nhìn lên, tên đại ca mới hốt hoảng kêu lên: - Ủa, sao lại có... có anh ở đây nữa? Đứng giữa nhà ngoài ông cụ lên tiếng nãy giờ, còn có một người đàn ông khác mà tên nọ vừa gọi bằng anh. Ông này nhẹ giọng bảo: - Tụi bay vẫn không chừa bản chất côn đồ! Ngày xưa cũng vì nghe lời xúi của bọn bay nên tao mới định ra tay hại anh Tám đây, việc không thành, nhưng hậu quả thì cả anh Tám và tao cùng nhận. Chỉ có tụi bay là ẵm trọn số tiền công thực hiện mưu đồ! Giờ tụi bay còn tính gì nữa đây? Vẫn ăn tiền của mấy tên công tử háo sắc, định hại con gái nhà này nữa phải không? Tụi bay lầm to rồi, hại họ không được đâu! Cỡ như tao mà còn làm ma vất vưởng đầu đường xó chợ đây, nữa là... Ông ta nói xong quay sang ông cụ: - Tôi xin lỗi tuy có muộn màng, nhưng vẫn phải xin lỗi. Chuyện ngày xưa chính tôi cũng gánh hậu quả thảm hại. Nhà cửa tiêu tan, vợ con ly tán. Ngay như thằng con đầu của tôi, tới giờ này cũng không biết ở đâu... Ông cụ đưa tay chỉ vào trong nhà vừa nói: - Nó đã tới đây trước ông! Vừa lúc ấy Thiện từ trong bước ra, đi bên cạnh một cô gái cực đẹp mà vừa trông thấy ông cụ đã reo lên: - Quế Hương, con! Ông định chạy tới ôm cô gái, nhưng chợt nhớ ra, đã khựng lại và nói: - Nó bây giờ đã là hồn ma, làm sao có thể gần người trần như tôi được! Ông chỉ sang Thiện, hỏi: - Ông không nhận ra con trai mình sao? Lúc này người đàn ông mới ngơ ngác: - Thiện... Thiện đây sao? Thiện khựng lại, kêu lên: - Cha! Thiện định chạy tới, nhưng cha anh đã xua tay: - Cha đã là người cõi âm, cha con ta chỉ có thể nhìn nhau thôi. Giờ đến lượt ông cụ giải thích: - Ngày xưa lúc ông thuê tụi này tới cướp nhà tôi thì cả nhà tôi gồm bốn đứa con gái đều chết trong lửa đỏ, chỉ mình tôi là thoát. Tôi sống với nỗi căm hận ông vô cùng, thề là sẽ đòi cho được món nợ đó! Bốn đứa con tôi thành ma, ở trong ngôi nhà hoang này và chúng nghe theo tâm nguyện của tôi, sẽ chờ một ngày nào đó rửa hận giúp tôi. Ngày ấy đã tới khi thằng con trai giang hồ của ông mò tới đây, như một định mệnh xô đẩy nó tới! Đầu tiên tôi lệnh cho hồn ma mấy đứa con tôi dụ cho thằng này vào tròng, rồi giết đi. Nhưng các con tôi chưa chịu, chúng có ý dụ cho tất cả những đứa từng tham gia vào cuộc thảm sát ngày trước phải lộ mặt. Cho nên mới có việc chúng nó đi hát, bởi chúng biết lũ côn đồ này thường tụ tập quanh những tụ điểm ăn chơi. Và các con tôi đã đúng khi bọn này hôm nay đã dẫn xác tới! Duy có một điều diễn ra ngoài ý muốn của tôi, nhưng biết làm sao hơn... Ông nói tới đó thì nhìn sang con gái Út và Thiện, nhẹ lắc đầu. Trong lúc Thiện lên tiếng: - Con đâu biết gì chuyện này. Con tới đây chỉ là tình cờ. Và ngày nay... Ông cụ thở dài nói: - Oan gia nghiệp chướng thế nào mà hôm nay con gái Út tôi lại đi yêu thằng con kẻ thù của cha nó, trời ơi! Quế Hương quay sang hai người đàn ông: - Con muốn anh Thiện khi viết về các oan hồn sẽ có nhận xét khác với thiên hạ xưa nay. Con yêu anh chân tình mà! Vừa khi ấy ba cô gái cùng xuất hiện một lượt. Mai Hương lên tiếng: - Lâu nay ba con luôn thúc giục tụi con phải trả thù, và tụi con cũng có ý như vậy. Nhưng từ khi gặp Thiện thì ý nghĩ đó dần tan biến đi. Qua Thiện, chị em chúng con nghĩ rằng, thù hận đâu giải quyết được gì. Vả lại, một người như cậu ấy thì đâu đáng phải bị trừng phạt. Đáng trừng trị chăng là lũ người này đây! Cô đưa tay chỉ vào chín tên đang bò lê dưới sàn. Ông cụ cha cô cũng đồng tình: - Lũ này thì không thể tha thứ được! Bọn côn đồ kêu lên inh ỏi: - Xin tha cho chúng tôi! Chúng tôi không dám nữa! Nhưng cả bọn đã bị hất tung ra ngoài cửa, đồng thời chính ông bố Thiện cũng lên tiếng: - Bọn này để cho tôi. Thoắt một cái ông ta đã biến mất. Cùng lúc cả chín tên du đãng ngoài kia cũng biến mất theo. Ông cụ quay sang các con, giọng trìu mến: - Các con bây giờ tự lo được rồi. Hãy yêu thương nhau, nhất là phải chăm sóc cho thằng này... Dứt lời, ông bước ra ngoài và đi nhanh. Thiện định gọi lại thì Quế Hương đã nói: - Anh quên là ba còn có ngôi nhà, nơi chúng em phơi áo để dụ anh bữa trước. Ông cụ sẽ ở đó nhang khói cho mẹ chúng em. Còn chúng mình thì ở đây... Mai Hương ra giọng chị cả: - Tuy sống với bốn hồn ma, nhưng chỉ được quyền với mỗi con Út của chúng tôi thôi nhé! Quế Hương nói khẽ đủ cho Thiện Nghe: - Nếu có dịp nào đó, anh cũng nên làm mai cho ba chị có mối, cho vui... Thiện cười gượng... Nhưng thật ra, sau một đêm làm chồng người cõi âm, anh đã hiểu được thế nào là lạc thú... CÔ GÁI CÂM TRONG NHÀ HOANG Nhìn bức ảnh chụp ngôi biệt thự có tên là Hoa Hồng, Bình ngạc nhiên: - Nhà cửa như thế này mà bỏ hoang à? Dự gật đầu: - Chẳng những bỏ hoang mà bố tao còn định bỏ luôn ấy chứ? Bình xí một tiếng: - Phí của trời! Không ở được thì bán cho người ta ở! Dự lại lắc đầu: - Ông già tao là dân kinh doanh mà, cái nào bán được thì ổng bán sạch, đâu để mày nhắc! Chỉ có điều là chẳng ai dám mua ngôi nhà đó! Bình ngạc nhiên: - Tại sao? - Bởi chẳng một ai vào ở đó được quá một đêm! Bình ngửa cổ ra cười một hồi, khiến Dự cũng phải bực mình: - Mày không tin lời tao nói hả? Hay là chê ông già tao nhát gan? Bình nghiêm giọng: - Chê ông già thì tao không dám, nói ông nhát gan cũng chưa chắc, chỉ có điều mày là thằng phải đáng cười nhất! Bị chạm tự ái, Dự hất hàm hỏi: - Mày coi thường tao hả? Vậy nếu là mày, liệu mày có dám vào ở trong ngôi nhà mà ma lộng như gánh hát đó không? Bình lại cười ha hả: - Mày mà cũng nói giọng như đàn bà đó, nghĩ cũng lạ! Dự thách: - Mày nói ngon, vậy có dám lên đó ở vài hôm không? Bình nhìn bạn nheo mắt: - Cá gì nào? Dự lớn tiếng: - Cá với mày chi phí cả chuyến đi, hai bữa nhậu linh đình ở thành phố! Bình đưa tay ra bắt thật chặt với bạn: - Nhận lời mày liền! Vậy bao giờ thực hiện? - Mày muốn liền bây giờ cũng được! Sẵn lát nữa ông già có chuyến đi lên Phú Riềng, mày có thể cùng đi. À mà không, tao nói ông già để chiếc hai ngựa cho mày lái lên đó, để rồi nếu chạy làng thì có xe mà về! Tao cá mày ở lại đó hai ngày đêm. Ở một mình hay đem theo bạn gái hay bất cứ ai! Đây, tao đưa trước cho mày số tiền dư sức tiêu xài trong vòng một tuần! Bình nhận chìa khóa chiếc xe Deux cheveaux (hai ngựa) và xua tay: - Tiền tao không cần. Miễn là mày mua cho tao thức ăn đủ ăn trong một tuần, cả thức uống có men càng tốt! Dự tán thành ngay: - Được, tao sẽ cho người đi mua và để sẵn trên xe cho mày. Trong ngôi nhà đang có đầy đủ nào tủ lạnh, bếp ga và còn có hai kết bia "con cọp" đã mấy tháng rồi chưa uống! - Tốt! Tao sẽ đi ngay. Mày báo tin về nhà cho má tao hay là tao vắng nhà khoảng một tuần đến mười ngày! Dự nheo mắt: - Tao bảo đảm là chỉ nội trưa mai thôi là mày bỏ của chạy lấy người về đây! Trước khi ra lấy xe, Bình còn nói chắc nịch với bạn: - Hai ngày sau tao sẽ mời mày lên chơi và nhậu trên đó một trận cho đã đời luôn! - Chúc mày... không tháo chạy! Khoảng nửa giờ sau thì Bình lên xe lái đi với đầy đủ lương thực được chuẩn bị sẵn. Dự nhìn theo bạn lắc đầu ái ngại... Khi Bình đi một quãng khá xa rồi Dự mới chợt nhớ, anh chặc lưỡi: - Mình quên nói cho nó biết, nếu chứng đau tim của nó còn thì không nên tham gia vụ này! Ông Đoan, cha Dự sau khi biết chuyện Bình nhận thách đố, ông trách con: - Con dại quá, đố chi chuyện nguy hiểm đó. Chính cha đã từng bị gần đứng tim ngay trong ngôi nhà đó và hơn một chục người vào đó ngủ đều không kịp mặc đồ khi chạy ra khỏi nhà! Lần này thằng Bình e rằng chịu không nổi... Dự có hối tiếc cũng đã muộn, anh hỏi lại cha: - Cụ thể là ma quỷ trong nhà đó ra sao cha? Ông Đoan kể lại mà như còn sợ sệt: - Có một cô gái mà bất cứ chỗ nào trong nhà mình cũng gặp cô ta cả! Mà không phải gặp suôn đâu, hễ là đàn ông con trai thì thế nào cũng bị đè khi đang ngủ. Mà chẳng phải chỉ đè, nó còn... còn... khiến nam nhân trở thành... phế nhân! Một lần cha suýt bị... - Nghe chú Tư tài xế nói, bất cứ ai nằm trên giường đều bị hất tung xuống sàn. Đang tắm trong phòng tắm thì bị trấn nước đến tắt thở luôn, phải không cha? - Đó chỉ là một trong những điều ghê rợn! Người ta nói khi xây ngôi nhà đó, cha bị người ta yểm do khu đất đó có người tranh giành. Ban đầu cha không tin, nhưng qua thời gian, những gì xảy ra trong đó cha mới tin là đúng! Dự bắt đầu lo lắng cho bạn. Anh nhìn đồng hồ tay và đoán phải ba bốn tiếng nữa Bình mới tới ngoài đó, vùng giữa Bà Rịa đi Đất Đỏ. Trên đó có bắt điện thoại, nên khi Bình lên tới nơi thì Dự sẽ gọi, bảo rằng cha anh ra lệnh cho Bình phải quay về gấp. Có như thế Bình mới chịu về. Đến gần 10 giờ, tức thời gian mà Dự cho là Bình đã tới nơi, anh quay điện gọi. Chuông bên đầu dây bên kia reo dài, đến lần reo thứ ba thì có người nhấc máy. Dự hỏi: - Bình hả? Cậu lên tới lâu chưa, cha mình... Nhưng đầu dây bên kia có một giọng cười cất lên, kèm theo câu nói: - Xin chào! Dự hoảng, run giọng hỏi lại: - Cô... cô là ai? Còn bạn tôi... - Bạn anh chết rồi! Dự buông máy xuống gọi lớn: - Cha ơi! Ông Đoan hình như đã lên đường đi Phú Riềng rồi. Dự càng quýnh lên, anh định bỏ mặc điện thoại đó, chạy ra ngoài, nhưng trong điện thoại còn có tiếng người nheo nhéo. Cuối cùng anh phải cầm lên và áp vào tai, bên kia vẫn giọng cười lúc nãy và giọng nói như xé lụa: - Con trai hả? Sao không lên đây chơi, mà ở đó gọi hoài! Dự không còn chịu đựng nổi, anh dập điện thoại xuống và nói gần như mếu: - Mình hại thằng Bình rồi! Suy nghĩ mãi, cuối cùng Dự gọi điện sang nhà cha Bình, báo tin dữ. Vừa nghe tin là cha mẹ Bình kêu thét lên, họ kêu taxi qua ngay nhà và hầu như không kịp hỏi đã khóc ré lên. Dự phải trấn an họ: - Để cháu kể lại mọi chuyện đã. Ông bà Thái, cha mẹ Bình, ngồi chăm chú nghe Dự kể chuyện. Họ lo sợ nhưng vẫn muốn biết thêm: - Trong điện thoại báo tin là thằng Bình bị giết, mà ai giết? Dự đành phải khai thật: - Thưa hai bác, ngôi nhà đó có ma. Con có nói mà Bình không tin, một hai đòi lên cho bằng được! Hay tin nhưng đã quá khuya rồi mà nhà không còn chiếc xe nào, nên cháu định sáng mai mới lên đó sớm! Bà Thái khóc òa lên: - Bình ơi, con sắp cưới vợ rồi, sao mà dại quá vậy con! Ông Thái nhìn đồng hồ rồi chép miệng: - Đã mười hai giờ rồi. Chợt có chuông điện thoại reo vang. Dự tính cầm lên nghe, nhưng còn sợ, trong lúc chuông đã reo tới lần thứ ba. Ông Thái sốt ruột quá nên bốc lên nghe đại. - A lô... Bình hả? Con hả Bình? Có phải là con không? Bên kia đầu dây nói liên tục mà bên này ông Thái hình như vẫn chưa tin là con mình, nên ông rụt rè... Dự phải chụp lại ống nghe rồi hỏi: - Phải Bình không? - Bộ mày cũng không nhận ra giọng của tao nữa sao thằng khỉ gió. Tao, Bình đây. Tao đã ra tới nơi gần hai tiếng rồi, tao vừa mới tắm xong, đang làm cơm, sắp ăn. Ngôi nhà tuyệt vời lắm, nếu có thêm em nào nữa cùng ở thì nhất trần đời! - Mày... mày thật hả Bình? Sao hồi nãy tao gọi điện thì ai đó nói mày... chết rồi? Có phải hồn ma mày không vậy? Bên kia Bình cười, vẫn giọng cười hô hố như thường lệ: - Tao đang mong gặp cái em nào như mày nói để mời ăn cơm cùng đây, mà không thấy! - Bình, mày nói thật tao nghe, mày không sao chứ? Lại vẫn giọng cười ngạo mạn của Bình: - Nếu có sao thì tao đâu gọi được cho mày. Vừa rồi nghe như giọng ba tao? - Ừ, ba má mày đang ngồi đây lo lắng cho mày. Họ cứ tưởng... Dự đưa lại ống nghe cho ông Thái, ông mừng quá, giọng run run: - Bình hả con? Con không sao là ba má mừng rồi! Vậy sáng mai về sớm, đừng ở ngoài đó nữa! Họ mừng vô hạn trước tin vui này. Chỉ có Dự là lo. Tuy đã biết Bình không hề gì, nhưng việc anh trực tiếp nghe giọng nói lạ trong điện thoại đã khiến cho Dự thẫn thờ suốt đêm hôm đó... *** Đã qua một đêm ngủ yên trong ngôi nhà ma, Bình sảng khoái hẳn khi tỉnh dậy vào buổi sáng hôm sau. Anh tự nhủ:- Như vầy thì có gì đâu ghê gớm? Bình vốn lạc quan tếu, nên anh lại nghĩ, hay là mình với ma quỷ hạp nhau, nên ai cũng bị ma nhát, còn mình thì ma lại ưa? Nằm nướng thêm một lúc nữa Bình mới rời khỏi giường, việc đầu tiên theo thói quen của Bình là tắm, anh nhớ đêm qua sang nước từ lu nước mưa bên ngoài vào đầy hồ nhỏ bên trong nhà tắm, nên nghĩ là sáng nay mình sẽ tha hồ tắm táp một trận cho đã thèm. Tuy nhiên, khi vào nhà tắm thì Bình hơi ngạc nhiên, bởi hồ nước cạn khô. Anh chán nản: - Chắc hồ bị thủng rồi, uổng công mình! Bình lại phải xách xô đi chuyền nước. Nhưng khi ra tới hồ nước mưa lớn phía ngoài, lại một lần nữa anh kinh ngạc, bởi hồ không còn miếng nước nào! - Ủa, hồi đêm mình thấy còn hơn nửa hồ mà, đâu có lý nào? Anh nhìn quanh, không phát hiện dấu vết nước thoát ra, cũng không thể ai đó trong một đêm lại có thể múc hết nước trong hồ này đi? Bình bắt đầu bực bội. Bởi ở đây thiếu cái gì thì khắc phục được, chứ còn thiếu nước thì chịu. Bình suy nghĩ mãi, cuối cùng anh quay số điện thoại của Dự, định hỏi anh chàng về cách lấy nước để dùng, bởi anh ta là chủ nhà thì chắc sẽ biết cách... - A lô, Dự hả... Nhưng ở đầu dây bên kia một giọng nữ cất lên: - Tắm chưa hả anh chàng ngạo mạn? Bình giật mình, anh hỏi lại: - Ai vậy? Có Dự ở nhà không cho tôi nói chuyện... - Có Bích thôi, chứ không có Dự! - Bích nào, tôi cần gặp Dự! Bỗng có một tiếng nổ lớn, gần xé màng nhĩ của Bình phát ra từ trong ống nghe! Khiến cho Bình làm rơi ống nghe xuống, lảo đảo lùi ra xa. Trong phút chốc mắt anh hoa lên và suýt ngã chúi về phía trước. Cố trấn tỉnh, Bình cầm lại ống nghe và lần này anh nghe giọng nói từ bên kia khá quen thuộc: - Mày gọi tao hả Bình? Giọng của Dự! Bình mừng quá, anh định hỏi bạn về giọng nữ lúc nãy, nhưng kịp ngừng lại, anh chỉ hỏi: - Tao muốn hỏi mày lấy nước ở đâu để xài? Dự đáp ngay: - Nghe ba tao nói cái hồ chứa nước chứa đến hơn mười ngàn lít, một chục người xài vài ba tháng vẫn chưa hết. - Hết sạch rồi! Dự ngạc nhiên: - Sao lại hết được? Mới hôm rồi Tư tài xế ghé lại thì vẫn thấy còn gần đầy hồ mà. Hay là ai đã lén vào múc xài hết rồi! Thôi, mày đi bộ ra ngoài xóm nhờ người ta chở nước tới xài đỡ đi... Bình định đặt ống nghe xuống thì Dự hỏi: - Còn dám ở nữa không? Nghĩ bây giờ mình kể thêm những bất tiện thì anh ta sẽ cười ngạo, nên Bình cất tiếng cười ha hả: - Ở đã quá trời, ngu gì về! Sau đó Bình mò ra xóm nhà cách đó khoảng vài trăm mét. Anh ngạc nhiên khi hầu như nhà nào cũng đóng kín cửa, hoặc có mở cửa thì lại không có người. Phải mất gần một giờ Bình mới tìm thấy một ông già đang ì ạch đẩy chiếc xe bò, bởi con bò ốm đến nỗi bước đi không muốn vững. Chặn ông ta lại, Bình lễ phép hỏi: - Thưa bác, ở đây có ai có thể nhờ đi lấy nước về xài không ạ? Ông già ngừng tay lại thì con bò già cũng đứng lại, vì hình như nó không đủ sức đi một mình. Ông ngước nhìn Bình rồi hỏi: - Cậu ở đâu? Bình chỉ tay về ngôi nhà lớn duy nhất trong xóm này: - Dạ, cháu mới về ở ngôi biệt thự của ông Dương Đoan. Vừa nghe đến đó ông già lắc đầu ngay: - Nhà đó thì thiếu gì nước, cần gì phải đi lấy nước giếng chi cho mệt! Ông ta định cúi xuống đẩy tiếp, nhưng Bình đã bất ngờ kéo ông ta lại: - Ai lại đẩy chiếc xe bò khi có bò kéo! Nè bác, hay là bác biết chỗ lấy nước, bác hãy giúp đi, con trả bác tiền hút thuốc! Chẳng nói chẳng rằng, ông già tiếp tục đẩy xe đi. Nhưng đi được mấy bước chợt ông lên tiếng: - Cậu có cần người ở giúp việc không? Đang cần một thứ mà ông ta lại hỏi thứ khác, trong lúc bực mình. Bình đáp đại: - Cần, ông có ai thì dẫn tới! - Có. Con gái tôi. Bình hơi giật mình: - Con gái ông... mà bao nhiêu tuổi? - Mười tám! Bình lại một phen ngơ ngác: - Mười tám... sao bác không để cô ấy phụ đẩy xe mà cho đi làm với người khác? Ông ta lại cúi xuống đẩy xe tiếp, có lẽ nghĩ Bình đã từ chối. Chợt Bình chạy theo và nói: - Được đó bác. Hay là bác cho cô ấy tới rồi giúp cháu đi lấy nước trước đã... Bây giờ ông lão mới ngừng hẳn việc đẩy xe, ông cười lần đầu tiên với Bình, hai hàm chỉ toàn nướu, chứ không còn chiếc răng nào, giọng thật thà: - Nhưng tôi nói trước, con gái tôi nó bị câm. Cậu có chịu mướn không? Thảo nào. Bình nói thầm, và sau cùng anh gật đầu: - Dạ được. Cháu mướn người làm chứ đâu phải mướn để nói chuyện đâu. Ông già lại nói: - Thường người câm thì bị điếc, vậy cậu liệu có nói chuyện được với nó không? - Dạ... Thấy Bình lưỡng lự, ông già chợt cười thành tiếng: - Nói vậy chứ con nhỏ nhà tôi còn nghe được chút đỉnh. Cậu cứ nói chuyện nhỏ nhẹ với nó là nó nghe theo liền. Bây giờ tới phiên Bình phá lên cười: - Bác mới nói cô ấy chỉ nghe được chút đỉnh mà lại bảo nói nhỏ cho cô ấy nghe, là sao? Ông già bảo: - Tôi nói thật đó. Con gái tôi rất nhát, mỗi lần nghe ai nói chuyện lớn tiếng là nó khóc và bỏ chạy ngay. Do vậy trời phú cho nó cách nhìn nhép miệng của người đối diện mà đoán ra câu nói của người đó. Chỉ yêu cầu mỗi khi nói chuyện cậu phải bước tới gần, để nó nhìn. Đúng là quá bất tiện, tuy nhiên lúc này anh cần có nước, nên gật đầu đại: - Thôi cũng được. Bác cứ cho cô ấy tới đi, rồi cháu sẽ coi cách cô ấy làm việc mà tính tiền công. - Được rồi, cậu cứ đi đâu chơi đi, lát nữa về nhà sẽ có nước cho tắm! Mà nè, con gái tôi ban ngày không ra khỏi nhà, do nó mặc cảm về bệnh tật. Nó chỉ tới để giúp cậu vào ban đêm, có được không? Bình cũng đành phải gật đầu, tuy nhiên anh cũng dặn: - Riêng hôm nay thì cháu cần có nước tắm bây giờ. - Tôi đã nói rồi, khi cậu về nhà thì đã có nước tắm! Cứ mỗi tối nó tới, dù cậu ngủ rồi nó vẫn làm, như dọn dẹp nhà cửa cho cậu, giặt giũ áo quần. Cậu nhớ khi nào cần lắm mới nên thức dậy gặp nó, đừng làm nó giật mình. Bình vừa gật đầu mà vừa chép miệng: - Lại rắc rối đây... Ông già lại lẳng lặng đẩy xe đi. Nhìn cảnh ông cùng con bò ta có thể hình dung ra cảnh người già đi xuống âm phủ! Bình thở dài rồi lững thững đi trở về nhà... Quãng đường từ đó về ngôi nhà không xa, nên Bình chỉ đi một lúc là tới và lần này anh thật sự sững sờ, bởi trước mắt anh, hồ nước đã đầy trở lại! - Cái gì vậy? Anh không tin vào mắt mình nên tận tay thọc vào trong nước và khi cảm nhận đó là nước thật thì mới ngẩn người ra... - Không thể hiểu nổi! Anh vừa tắm mà vừa nghĩ tới lời thách đố của Dự. Thì ra ma là như thế này đây! Nhưng ông lão vừa rồi là người thật chứ đâu phải ma, mà tại sao ông ta lại biết khi Bình trở về nhà thì nước sẽ đầy trở lại? Phải chăng người ở vùng này đã quá quen với những chuyện như thế này rồi? Tắm táp xong Bình nghe bụng cồn cào, anh bước tới mở chiếc tủ lạnh cũ mèm ra, trong đó ngày hôm qua lúc mới tới anh đã dồn hết những thức ăn dự trữ vào, hôm nay sẽ dùng từ từ... - Ủa, kỳ vậy? Cả một tủ đầy những món như xúc xích, thịt nguội, trứng và cả hai tảng thịt bò lớn nữa, Dự đã cho người nhà đi mua để Bình mang theo và rõ ràng anh đã cho hết vào đây, anh còn kiểm từng món nữa mà. Bây giờ sao lại biến mất hết, hầu như chẳng còn gì? - Không thể tin nổi... chẳng lẽ ai vào trộm hết? Cũng có khả năng đó, bởi lúc nãy đi Bình không khóa cửa. Thở dài chán nản, Bình lẩm bẩm: - Lại phải nhờ người đi mua thức ăn khác rồi! Nhưng cái gay go là sáng nay lấy gì để ăn bữa điểm tâm? Bình đành phải mặc lại áo, định đi ra ngoài để tìm quán xá gì đó, ăn đỡ. Nhưng khi bước ra tới ngõ, anh thấy có một con thỏ trắng nằm thoi thóp ở đó. Con vật vừa đẹp vừa dễ thương, Bình cúi xuống đỡ nó lên thì nhận ra ở đùi sau của nó bị một mũi tên của ai đó bắn, còn ghim chặt. - Dã man thật! Rất nhẹ tay Bình nâng con thỏ và định đưa nó vào thềm nhà, nơi đó anh sẽ tìm cách lấy mũi tên ra. Nhưng vừa khi ấy anh lại nghe tiếng chim kêu rất gần, tiếng kêu ra vẻ đau đớn lắm! Nhìn xuống đất và một lần nữa anh phải kêu lên: - Tội nghiệp chưa! Một con chim khá lớn, đang nằm sải cánh, máu nhuộm đỏ cả một bên cánh của nó, đúng là cũng đang bị thương! Bình quên ngay cơn đói, anh lại nâng con chim lên và cùng lúc đem hai con vật tội nghiệp vào hiên. Một cách nhẹ nhàng, Bình kéo mũi tên ra khỏi đùi con thỏ. Nó kêu ré lên đau đớn, nhưng sau đó nằm im đi, kiệt sức, nhưng có vẻ đã không còn nguy hiểm nữa. Đến con chim thì vết thương của nó không nặng lắm, nhưng do trúng ngay cánh nên hầu như nó không còn cử động được nữa, Bình phải dùng khăn sạch lau máu cho nó, rồi cột cố định vết thương. Sợ nhà có mèo, nên sau khi chăm sóc kỹ vết thương rồi Bình mang hai con vật vào phòng riêng của mình, đặt chúng lên giường tấn gối, mền chung quanh. Xong đâu đó rồi anh mới đi. Phải lội bộ khá xa Bình mới tìm được một quán nước, nhưng ngoài cà phê ra, chỉ có vài cái bánh ú, Bình đành phải ăn tạm. Vậy mà anh ăn ngon lành, vừa ăn vừa khen: - Ngon chưa từng thấy! Thấy anh ăn ngon như đã nhịn đói lâu ngày, chị chủ quán hỏi: - Cậu ở đâu tới, chứ đâu phải người xứ này phải không? Bình thú thật: - Tôi mới tới ở chơi ngôi nhà hoang của ông Dương Đoàn, chị biết nhà đó? Vừa nghe nói chị ta đã tròn xoe mắt, hỏi: - Cậu không biết gì sao dám ở đó? Bình biết chị ta muốn nói điều gì, nên anh cười bảo: - Nhà có ma chứ gì! Chị chủ quán ra vẻ nghiêm trọng: - Ma thật chứ không phải chơi đâu! Từ ba bốn năm nay nhà đó bỏ hoang, ông chủ đó hồi trước làm giàu nhờ xứ này, cất nhà đó lên cũng như đồn điền ở đây, vậy mà cuối cùng phải bỏ đi biệt, không thấy léo hánh về nữa! Bình giả vờ hỏi: - Ma làm gì mà người ta sợ dữ vậy? - Cái cậu này không biết trời đất gì hết. Ma nhát, ma hại người chứ làm gì! Rồi chị ta hạ thấp giọng kể: - Hồi đầu, lúc ông chủ Đoàn bỏ đi, ông ấy có nhờ người xứ này vào ở giữ nhà, nhưng cả bọn người vào đều hộc máu xém chết cả bốn, nên từ đó đến nay không ai dám ở nữa. Cậu không nên ở lâu... Bình vẫn giọng nửa đùa nửa thật: - Thiên hạ sợ không dám ở thì mình ở! Tôi định sau khi ở vài ngày thử xem, nếu được tôi về đây ở luôn, kiếm vợ xứ này, chị thấy có được không? Chị chủ quán rùng vai, lắc đầu: - Nghe cậu nói mà phát ớn lạnh rồi! Mà thật tình cậu ở đó mà không gặp rắc rối gì sao? Bình cười cười: - Tôi cũng đang muốn gặp ma một lần thử coi, ma đẹp xấu thế nào mà tiếc là suốt từ hôm qua tới giờ chưa gặp được! Bình ăn xong còn mua thêm mấy cái bánh ú và hỏi: - Chị có thể nấu cơm cho tôi ăn vài bữa được không? Sau vài giây suy nghĩ, chị ta đáp: - Nấu thì được, nhưng cậu phải ra đây ăn, chứ tôi không đem tới nhà đó được. - Cũng được. Mỗi bữa tôi sẽ ra đây ăn. Chợt nhớ ra, Bình nói: - Hay là thế này, bữa nào tôi ra không được thì chị gửi cho ông già đánh xe bò thường đi ngang đây, được chứ? Chị chủ quán ngạc nhiên: - Ông già nào? Ở đây làm gì có ai đánh xe bò. Xứ này chỉ có xe ngựa thôi, xe bò làm sao leo dốc nổi? - Có mà. Một ông lão với chiếc xe bò do con bò già kéo qua đường này, tôi mới gặp hồi nãy. Ông ta còn nói là có cô con gái câm nữa... Bình nói chưa dứt lời thì chị chủ quán đã đứng vụt dậy, khiến cho cái bàn Bình đang ngồi ăn bị đổ sang một bên! Chị ta lắp bắp: - Cậu... cậu gặp ông ta? Cậu gặp... Bình ngạc nhiên: - Chị sao vậy? Sự sợ hãi làm cho da mặt chị ta tái mét, giọng run run: - Không xong rồi cậu ơi... ông già đó tôi nhớ ra rồi... ông ta chính là cha của cô gái mà ngày xưa đã chết trong ngôi nhà ấy. Đó là ông già Tư, là người làm vườn cho nhà ông Đoàn. Ông ta có cô con gái mười tám tuổi, cũng giúp việc trong nhà đó... Rồi một hôm người ta hay tin cô gái câm đó treo cổ chết trong đó! Bình không để chị ta nói hết, đã chặn ngang: - Sao cô ta chết? - Tôi không rõ, chỉ có ông già Tư cha cô ta mới biết. Bởi vậy ông ta mới nổi điên, xách dao rượt chém ông chủ Đoàn, thiên hạ cho rằng ông ta bị sốc trước cái chết của con nên điên, nên bảo vệ để ông Đoàn thoát thân. Tuy nhiên sau đó ông ta không ở trong ngôi nhà đó nữa, mà đem xác con gái để trên một cái cộ, dùng một con bò kéo, chở xác con đi khắp nơi kêu oan, nói rằng con mình đã bị người ta giết! Hỏi ai giết thì ông ta không nói, chỉ ngửa mặt lên trời khóc rống lên! Từ đó ngôi nhà ấy bỏ hoang, do ông Đoàn cũng không dám ở, bởi ma hiện như tôi vừa kể lúc nãy! - Vậy ông chủ nhà có dính gì tới cái chết của cô gái câm kia không? Chị chủ quán hình như cảm thấy mình kể tới đó là quá nhiều, nên vội lắc đầu, từ chối nói tiếp. Bình bắt đầu hoang mang, nên đứng dậy đi về mà không đề cập tới chuyện nhờ nấu cơm nữa. Vừa về tới cổng ngoài Bình đã có linh tính như điều gì đó khác thường vừa xảy ra trong nhà. Anh nhẹ nhàng mở cổng, bước từng bước vào trong... Nhưng chẳng thấy có gì khác thường, nên Bình thở phào, anh bước vào phòng riêng định thay đồ rồi bắt đầu một ngày trong ngôi nhà hoang. Tuy nhiên... Vừa đẩy cửa phòng bước vào, Bình đã khựng lại và kêu lên: - Cô là ai? Trên giường của anh có một cô gái mặc quần áo toàn trắng đang nằm ôm hai con vật bị thương mà Bình đã cứu lúc nãy. Cô ta nhìn Bình với đôi mắt thân thiện. Bình lặp lại câu hỏi: - Cô là ai? Bấy giờ cô gái mới ngồi lên, cất giọng thật trong trẻo: - Đây là những lời nói đầu tiên trong đời tôi, bởi từ nhỏ tôi đã bị câm cho tới lúc chết. Mà khi đã chết rồi thì đâu có dịp nói chuyện trực tiếp với ai. Chào anh, tôi là con ma giữ nhà này! Đúng hơn là ở nhà này để chờ ngày đòi nợ! Bình nghe lạnh từ sống lưng, anh hơi mất tự nhiên: - Cô... cô chính là con gái ông già Tư? Cô ta bước xuống giường, vẫn nhìn Bình với nụ cười: - Đúng là tôi phải giữ lời hứa giữa cha tôi với anh, tôi phải tối tối tới đây để giúp anh công việc nhà... Nhưng giờ đây thì không thể rồi, tôi vừa mới đòi được món nợ mạng sống mà tôi phải chờ đợi bấy lâu nay. Con nợ của tôi đang ở trên lầu, lát nữa anh lên sẽ biết là ai. Còn anh, đúng ra anh cũng đã phải trả giá cho sự ngạo mạng lẫn liều mạng của mình! Nhưng vừa rồi, bằng tấm lòng nhân hậu, bằng nghĩa cử của một con người không có máu ác, qua việc anh cứu hai con vật yêu của tôi, nên tôi tha cho anh. Vậy sau khi giải quyết xong chuyện cái xác trên lầu, anh có thể đi hay ở tại ngôi nhà này là tùy anh, tôi không có quyền ngăn anh nữa. Mà suy cho cùng, anh là người xứng đáng làm chủ ngôi nhà này hơn. Cô ta nói xong định bước ra ngoài, nhưng khi tới ngang cửa, cô ta quay lại nói tiếp: - Anh cũng nên rõ câu chuyện mà bà chủ quán kể cho anh nghe lúc nãy. Người hại tôi chết chính là ông chủ họ Dương tên Đoàn! Chính lão ta đã cưỡng hiếp tôi rồi ngụy tạo cái chết treo cổ của tôi! Tôi làm ma chỉ để đòi mạng lão ta, nhưng lâu nay lão trốn biệt, giờ mới vác xác về đây chịu tội... Cô ta thoắt cái đã không còn thấy bóng! Bình vội chạy lên lầu thì thấy có một gian phòng mở toang cửa, anh nhìn vào và thét lên: - Bác Đoàn! Thì ra ông Dương Đoàn, cha của Dự đã treo cổ chết tự lúc nào rồi! Vừa khi ấy từ dưới nhà có tiếng chuông điện thoại reo vang. Bình chạy xuống nghe và nhận ra giọng của Dự ở đầu dây bên kia: - Bình hả? Ba mình vừa điện thoại về cho hay sáng nay ông sẽ ghé lại chỗ cậu đó. Ông có vẻ kích động lắm, có gì cậu coi chừng ông ấy với. Mình sẽ lên ngay trưa nay. Bình định báo tin cho bạn, nhưng Dự đã cúp máy. Đứng lặng người một lúc, cuối cùng Bình nói đủ cho mình nghe: - Đúng ở đây có ma thật... HẾT |
| Múi giờ GMT. Hiện tại là 03:46 AM. |
Powered by: vBulletin Version 3.6.1 Copyright © 2000 - 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.