![]() |
Tái ông thất mã "Tái ông thất mã" là "ông già ở biên giới mất ngựa". Sách của Hoài Nam Tử có chép: Một ông lão ở gần cửa ải Nhạn Môn, nơi giáp giới nước Tàu với Phiên Quốc (Hồ) có con ngựa. Một hôm, con ngựa đi mất. Người quen thuộc đều đến thăm hỏi, chia buồn. Ông lão nói: - Mất ngựa thế mà phúc cho tôi đấy, biết đâu! Cách mấy tháng, con ngựa trở về lại quyến thêm một con ngựa hay tốt. Những người quen thuộc kéo đến xem ngựa và chúc mừng. Ông lão nói: - Được ngựa thế mà họa cho tôi đấy, biết đâu! Từ khi được ngựa hay tốt, con ông lão thích cưỡi. Chẳng may té què chân. Người quen thuộc đều đến hỏi thăm, chia buồn. Ông lão nói: - Con què thế mà phúc cho tôi đấy, biết đâu! Cách một năm có giặc Hồ. Nhà vua bắt lính đi đánh giặc. Quân lính mười người chết đến chín. Chỉ con ông lão vì què, không phải đi lính mà cho con vẫn họp nhau. "Tái ông thất mã" trở nên một thành ngữ để chỉ sự họa, phúc xoay vần, khó biết trước được. Trong cái phúc thường khi có cái họa; trong cái họa lại có cái phúc. Cổ ngữ cũng có câu: "Họa tùng phúc sở ỷ, phúc tùng họa sở phục". Sách của Úc Ly Tử cũng có chép: Một người nhà quê trải cỏ phơi ở chân giậu. Hôm sau ra vơ cỏ, nghe tiếng kêu "tích tích", lật lên xem thì bắt ngay được một con trĩ. Anh ta thấy thế lại vẫn để cỏ ở đấy, có ý mong ngày mai lại được con trĩ nữa. Mai ra, lắng tai nghe tiếng "tích tích" như hôm trước, bụng mừng thầm. Nhưng vừa bới cỏ lên thì ra một con rắn cắn ngay vào tay làm anh ta bị thương rồi chết. Úc Ly Tử nói: "Trong thiên hạ có cái phúc không tưởng được thế mà may được thế; cũng có cái họa không ngờ đến thế mà xảy ra thế". Trong một bài thơ của nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng có câu: Kìa tụ tán chẳng qua là tiễn biệt, Ngựa tái ông họa phước biết về đâu. |
Ngọc tỉnh liên phú "Ngọc tỉnh liên" là "Hoa sen trong giếng ngọc". Đây là bài phú của Mạc Đĩnh Chi. Ông đỗ Trạng nguyên, khi vào bái yết nhà vua, Trần Anh Tông thấy hình dung ông xấu xí quá, không muốn cho đỗ. Ông liền làm bài phú "Ngọc tỉnh liên" để tự ví mình. Vì hoa sen vốn có tiết tháo thanh cao, không hoa nào sánh được, tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn; vả lại sen này lại trồng trong giếng ngọc nữa thì sen càng cao quý biết bao. Ông như sen, dù có phải ở vào hoàn cảnh ô trọc thế nào thì cũng vẫn giữ khí tiết thanh cao, huống chi ở phải vào một thời tốt đẹp, vua minh chánh thì người ông càng cao quý biết mấy. Sen quý nhưng phải có người sành mới biết thưởng thức. Vua đọc bài phú của ông cho là kiệt tác nên mới yêu dùng. Dưới đây là bài phú "Ngọc tỉnh liên" dịch ra văn nôm: "Đương khi lửa hạ, khách cao trai thư thả, lời dòng nước biếc, vịnh khúc phù dung; đến bến ao trong, ngâm câu nhạc phủ. Bỗng bóng ai, áo trắng mũ vàng, phất phơ điệu cốt xương tiên, hớn hở tinh thần khác tục. Khách hỏi: từ đâu mà lại? Thưa rằng: từ núi Hoa san. Khách kéo ghế mời ngồi vồn vã, này dưa ngon quả quý bày ra. Chuyện gần thôi lại chuyện xa, nói cười lơi lả, tiệc hoa tơi bời. Chuyện xong, mới hỏi khách rằng: khách đây quân tử ái liên chăng là? Tiện đây sẵn có giống nhà, vẫn từng gìn giữ nâng niu hoa vàng. Nọ đào lý bỉ thô còn kém, kể trúc mai đơn lạnh còn xa; nào phải giống tăng phòng câu kỷ, nào phải phường lạc thổ mẫu đơn, cũng chẳng phải đông ly đào cúc, mà cũng không cửu uyển linh lan; chính là một giống sen thần, đầu non núi Họa giếng vàng sinh ra. Khách nghe nói: khen thay quý lạ! Phải chăng giống hoa cao mười trượng, ngó cong như thuyền, lạnh giá như băng, ngọt ngon tựa mật, xưa từng nghe tiếng, nay được thực trông. Nghe qua đạo sĩ vui lòng, hoa trong tay áo giữ liền tặng đưa. Khách trông thấy trong lòng hồi hộp, bút ngũ lăng tay thảo nên ca. Ca rằng: Thủy tinh làm mái cung đình, Lưu ly lạc để nên hình cung môn, Pha lê nát nhỏ làm bùn, Minh châu làm nóc trên cành tưới cây. Hương thơm bay thấu từng mây, Bích thiên âu cũng mê say tấc lòng. Quế xanh khóc vụng tủi thầm, Tố Nga luống những mười phần giận thân. Cỏ dao hái chốn Phương tân, Sông Tương trông ngóng mỹ nhân dãi dầu. Giữa dòng lơ lửng vì đâu? Non sông đất cũ cớ sao chẳng về? Đành nơi lưu lạc quản gì, Thuyền quyên lỡ bước lắm bề gian truân. Một lòng trung chính nghĩa nhân. Lo chi mưa gió, phong trần, tuyết sương! Chỉn e lạt phấn phai hương, Tháng ngày thắm thoát, mỹ nhân ai hoài. Nghe xong, đạo sĩ than rằng: nói chi ai oán thiết tha! Kìa chẳng xem đóa tử vi nở trên ao phượng, hoa thược dược mọc trước bệ vàng, cũng là địa vị thanh cao, thanh danh hiển hách, ơn trên thánh chúa, mưa móc dồi dào. Vội chi tủi phận hờn duyên, nước non lẩn thẩn toan bề đi đâu? Khách nghe nói như tình, như cảm, đem lòng kính mộ xiết bao. Khúc trai đình tay tiên đề vịnh, thơ phong đầu giọng ngọc ngâm nga. Nỗi lòng xin giải gần xa, kính dâng một phú hải hà xét xoi. (Bản dịch của C... Đ...) Mạc Đĩnh Chi người làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương), thông minh tuyệt vời, diện mạo rất xấu xí. Vì cái xấu xí đó mà xuýt chút con đường hoạn lộ của ông bị bế tắc; tuy vậy mà cũng nhờ đó, trên đài văn học, ông để lại cho đời một bài phú "Ngọc tỉnh liên" có giá trị. Ông tài giỏi quá nên đời ông có nhiều giai thoại ngộ nghĩnh nửa thực nửa hư. Ông được người tôn sùng là "Lưỡng quốc Trạng nguyên". Vì ông đỗ Trạng nguyên ở nước nhà, rồi đi sứ sang Tàu, ông lại được vua Tàu sau khi xem văn ông lại cầm viết phê là Trạng nguyên nữa. Thật là chuyện nửa tin nửa ngờ. Nguyên ông đi sứ sang Tàu đời nhà Nguyên. Khi vào triều, vừa gặp người ngoại quốc dâng nhà vua một cây quạt. Vua bảo ông làm một bài minh (một thể văn ngày xưa) để đề vào quạt. Ông cầm bút viết ngay: Lưu kim thước thạch, thiên địa vi lô Nhĩ ư tư thời hề, Y, Chu cự nho. Bắc phong kỳ lương, vũ tuyết tái đồ, Nhĩ ư tư thời hề, Di, Tề ngã phu, Y! Dụng chi tắc hành, xã chi tắc tàng Duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù! Nghĩa là: "Vàng chảy đá tan, trời đất như lò lửa, lúc ấy ngươi được như Y Doãn, Chu công là bực cự nho. Gió bấc lạnh lùng mưa tuyết đầy đường, lúc ấy ngươi phải như Bá Di, Thúc Tề là kẻ bị đói. Ôi! Dùng thì làm, bỏ thì cất, Ta cùng ngươi cũng giống nhau chăng?" Quần thần nhà Nguyên thấy bài minh cho là hay, cực kỳ khen ngợi. Có truyện chép: từ chữ "Y" trở xuống, vua Nguyên phê 4 chữ "Lưỡng quốc Trạng nguyên". Ông đi sứ tàu, vì trời mưa gió nên đến cửa ải trễ. Lính đã đóng cửa. Nhưng muốn thử tài sứ Việt, quan Tàu đưa một vế câu đối xuống để ông đối. Vế rằng: "Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan" Nghĩa: "Qua ải chậm, cửa ải đóng, xin khách qua qua ải". Ông liền đối: "Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh trên đối" Nghĩa: "Ra đối dễ, đối lại, khó, xin mời tiên sinh đối trước". Người Tàu phục tài mở cửa quan cho qua. Một quan Tể tướng nhà Nguyên mời ông vào phủ, cùng ngồi đàm luận. Trong phủ có treo một bức trướng thêu con chim sẻ vàng (hoàng tước) đậu trên cành trúc. Thêu khéo đẹp quá, ông tưởng là chim thật, bước đến đưa tay bắt. Người Nguyên cười ầm lên. Ông liền kéo ngay bức trướng xé toang ra. Chúng lấy làm lạ hỏi. Ông nói: - Tôi nghe người ta họa bức mai tước (cây mai và chim sẻ) thì có, chớ chưa thấy họa bức trúc tước (cây trúc và chim sẻ) bao giờ. Vả chăng trúc là quân tử, tước là tiểu nhân, nay bức trướng thêu trúc tước, ấy là cho tiểu nhân đứng trên quân tử. Tôi sợ e quân tử đạo tiêu, tiểu nhân đạo trưởng, nghĩa là quân tử suy mà tiểu nhân thịnh, cho nên tôi vì Thánh triều mà trừ đi đó. Chúng nghe rất lấy làm phục. Nhưng cũng rất vô lý. Ai đời sứ thần một nước dù là nước nhỏ đi nữa cũng là sứ thần, lỡ đi trễ mà chúng đóng cửa ải quan không cho vào, rồi ra câu đối ... Ông Trạng của một nước dù là nước nhỏ nhưng nước ấy đã từng phá Tống, bình Chiêm, vậy mà nhìn tranh thêu lại tưởng là thật; rồi giữa lúc đàm luận với vị Tể tướng cùng quan khách lại bỏ chạy chụp chim, thì thật là ngớ ngẩn hết chỗ nói. Họa chăng, ông Trạng Việt Nam thẳng thắn phê bình tranh Tàu trước vị Tể tướng nước Tàu, rồi người sau thêm nhưn nhị vào cho vui câu truyện có tính cách khôi hài chăng? |
Ngôn quá kỳ hành "Ngôn quá kỳ hành..." nguyên câu là: "Ngôn quá kỳ hành bất khả trọng dụng" đó là lời nói của Lưu Bị chúa nước Tây Thục đời Tam Quốc, có nghĩa: "Nói nhiều hơn làm, không dùng việc lớn được." Lưu Bị đánh Ngô bị đại bại, chạy về Bạch Đế Thành, lâm bịnh nặng. Trước phút lâm chung, các quan chầu chực bên long sàng. Lưu Bị nhìn thấy có Mã Thốc bèn truyền cho tạm lui ra. Đoạn hỏi Khổng Minh: - Thừa tướng xem tài Mã Thốc thế nào? Nguyên Thốc là người có tài bác lãm quần thư, quán thông kim cổ, không có điều nào hỏi mà không biết, không có sách nào hỏi mà không nhớ, nên Khổng Minh thành thật đáp: - Cũng là bậc anh tài đời này. Lưu Bị nói: - Không đâu! Trẫm xét thấy người ấy thường nói lớn quá sự thực mà làm thì không được như lời, không thể dùng vào việc lớn. Thừa tướng nên xét kỹ lại. Lưu Bị chết. Khổng Minh đem binh ra Kỳ Sơn đánh Ngụy. Ngụy chúa là Tào Duệ dùng Tư Mã Ý làm đô đốc cầm binh đánh Thục. Nguyên phía tây núi Tần Lĩnh có một con đường quan yếu gọi là Nhai Đình. Cạnh đó có thành Liệt Liễu. Hai chỗ ấy là yết hầu của Hán Trung (đất của Thục). Tư Mã Ý định kéo binh thẳng tới Nhai Đình, chiếm được điểm giao thông quan trọng này thì Dương Bình Quan của Thục cũng sắp lọt vào tay Ngụy. Nhai Đình mất, tất Ngụy sẽ cắt đứt đường vận tải lương thực thì một vùng Lũng Tây của Thục khó giữ nổi. Như vậy Thục chỉ còn hai cách bị động: rút lui hay ở lại cố thủ. Hễ Ngụy nghe quân Thục chuyển động rút quân về Hán Trung, lập tức chia binh chận các đường nhỏ mà đánh. Nhược bằng quân Thục không lui, Ngụy sẽ cho các lộ quân đào hào, đắp lũy cố giữ chặt đứt các đường rút về của Thục, như vậy chỉ trong vòng một tháng, Thục sẽ bị tuyệt lương, quân chết đói hết. Khổng Minh vẫn nhận thấy điều đó cho nên chọn tướng đem binh giữ Nhai Đình. Mã Thốc xin đi. Khổng Minh nói: - Nhai Đình chỉ là một mảnh đất nhỏ, nhưng can hệ vô cùng. Nếu chỗ ấy thất thủ thì cả đại quân ta nguy hết đường cứu! Ngươi tuy thâm thông mưu lược nhưng hiềm nơi ấy không có thành quách, lại cũng chẳng có thế hiểm nào mà dựạ Khó giữ vô cùng. Thốc nói: - Tôi làu thuộc binh thơ từ nhỏ lại cũng biết phép dùng binh, lẽ nào không giữ nổi một chỗ như Nhai Đình. Thấy Thốc cương quyết xin đi và lập "quân lịnh trạng" nên Khổng Minh phát cho 2 vạn 5 ngàn tinh binh và cho thêm một thượng tướng là Vương Bình trợ giúp. Khổng Minh lại kêu Bình vào dặn dò riêng: - Ta vốn biết ngươi bình sinh cẩn thận nên mới đem việc này phó thác cho. Vậy phải thận trọng đề phòng. Đóng trại ở Nhai Đình thì phải đóng chặn ngang đường chính yếu, khiến giậc không đi qua lọt. Hạ dinh trại xong, hãy vẽ ngay đường lối bốn mặt tám phương và hình thế địa lý, lập thành bản đồ đầy đủ, gởi về cho ta xem. Ngoài ra, việc gì cũng phải bàn nhau kỹ càng rồi hãy làm, chớ có coi thường. Nếu giữ được nơi ấy an toàn tức là được công đầu trong việc đánh chiếm Trường An vậy. Mã Thốc và Vương Bình kéo quân lên đường rồi, nhưng Khổng Minh còn cẩn thận sai thêm tướng giỏi dẫn binh đóng giữ phía đông bắc và phía sau Nhai Đình để tiếp cứu khi Nhai Đình bị nguy. Mã Thốc, Vương Bình đến Nhai Đình, trước hết đi quan sát địa thế đóng quân. Thốc xem xét rồi cười nói: - Sao Thừa Tướng cẩn thận đến thế! Một nơi ven núi thế này, quân Ngụy đâu dám bén mảng tới. Vương Bình nói: - Dù quân Ngụy không dám đến, ta cũng phải đóng trại vào chỗ ngã năm kia để canh giữ năm mặt đường. Nói rồi truyền quân sĩ đi đẵn cây đóng trại, tính kế giữ lâu dài. Mã Thốc không bằng lòng, nói: - Ai đóng trại giữa đường bao giờ? Tiện đây có ghềnh núi, bốn mặt đều kín đáo, cây cối lại rất nhiều, chính là chỗ hiểm trời dành cho ta, cứ đóng quân ngay trên núi là hơn. Bình nói: - Tham quân tính sai rồi, đóng trại giữa đường đi, đào hào đắp lũy chấn ngang thì quân giặc dẫu có 10 vạn cũng không thoát qua lọt. Chớ bỏ ngã năm xung yếu này mà lên núi đóng đồn, nếu quân Ngụy ào đến bổ vây bốn mặt thì chống làm sao? Thốc cười ha hả: - Ngươi liệu tính không khác gì... đàn bà! Binh pháp có dạy: "Từ trên cao nhìn xuống, đánh địch dễ như chẻ tre". Nếu quân Ngụy đến đây, ta sẽ đánh cho không còn mảnh giáp. Bình lại cãi: - Trái núi này thật là chỗ tuyệt địa. Quân Ngụy cứ chặn đứt đường lấy nước thì quân ta chẳng đánh cũng rối loạn ngay. Thốc gạt đi: - Đừng bàn nhảm như thế! Tôn Tử có nói: "Lăn vào chỗ chết mà tìm được cái sông". Nếu quân giặc chặn đường lấy nước thì quân ta cũng liều mình tử chiến, một người địch nổi trăm tên. Ta học binh thư đã chán ra rồi. Mọi việc đến Thừa Tướng còn phải hỏi ta nữa là! Sao ngươi cứ cản trở ta vậy? Bình đành phải khuyên: - Nếu Tham Quân nhất định đóng đồn trên núi thì xin chia binh cho tôi đóng một trại nhỏ dưới chân núi phía tây, làm thế "ỷ dốc". Quân Ngụy đến, ta có thể cứu ứng lẫn nhau. Nhưng Thốc vẫn không nghe. Bỗng thấy dân cư trong núi rầm rộ đổ ra, kéo từng tốp chạy đến, nháo nhác kêu rằng: "Giặc sắp đến nơi". Vương Bình sốt ruột toan bỏ đi. Mã Thốc bảo: - Ngươi đã không chịu nghe lịnh, giờ quân Ngụy sắp đến rồi, vậy ta cho ngươi 5 ngàn binh, cứ đi mà đóng trại tùy ý. Rồi đây khi phá xong quân giặc, về trước mặt Thừa Tướng, ngươi đừng mong chia công với ta. Bình chẳng nói gì nữa, kéo ngay 5 ngàn binh xuống cách xa chân núi 10 dặm rồi hạ trại, rồi lập tức vẽ thành bản đồ, sai người đi suốt đêm về trình Khổng Minh, bẩm rõ mọi việc Mã Thốc tự ý đóng đồn trên núi... Khổng Minh đặt bản đồ lên án, mở xem qua một lượt bỗng ông đập tay xuống ánh đánh "bùng", kinh hãi kêu lên: - Chết chưa! Mã Thốc ngu dốt, hãm quân ta vào chỗ nguy rồi. Đoạn vội cho người thay Mã Thốc. Nhưng chưa kịp thì có tin cấp báo: "Nhai Đình và Liệt Liễu thất thủ cả rồi". Khổng Minh giậm chân đập gối than rằng: - Ôi thôi, việc lớn hỏng rồi! Đây là lỗi tại ta! Mã Thốc phải nhờ Vương Bình, Cao Tường, Ngụy Diên đem binh tiếp ứng mới được toàn mạng. Thốc bị xử tử theo quân pháp. Khi võ sĩ dâng đầu Mã Thốc dưới thềm, Khổng Minh òa lên khóc! Có người hỏi: - Mã Ấu Thường phạm tội bất khả dung. Thừa tướng đã giết đi để minh chính phép quân, sao còn sầu não? Khổng Minh sụt sùi nói: - Có phải ta khóc Mã Thốc đâu! Vì ta nhớ lại tiên đế lâm chung ở Bạch Đế Thành, đã dặn ta rằng: "Mã Thốc là kẻ hay nói quá sức mình, không nên giao cho việc lớn". Nay quả đúng như thế. Ta càng giận mình ngu tối, lại càng nhớ đến đức sáng suốt của tiên đế, cho nên đau lòng mà khóc vậy! |
Lễ tang Lễ tang là lễ đặt ra để tỏ lòng thương trọng và kính thờ người chết. Theo Khổng Tử thì trị thiên hạ "trọng nhứt là ba việc: ăn, tang và tế" (Sở trọng giả, thực tang tế). Theo Mạnh Tử thì: "Đạo trị thiên hạ cần nhứt là khiến dân nuôi người sống và tang người chết mà không có điều di hám" (Dưỡng sinh tang tử vô hám, vương đạo chi thủy giả). Bởi thế ở xã hội Việt Nam cũng như ở xã hội Trung Hoa, lễ tang còn có phong tục và lễ nghi phiền phức hơn việc hôn nhân nữa. Việc tang trọng nhứt là tang cha mẹ. Khi cha mẹ hấp hối thì phải đem ngay ra giữa nhà để tỏ rằng cha mẹ chết vì lẽ quang minh chính đáng. Bấy giờ phải đặt tên thụy, tục gọi là tên hèm hay tên cúng cơm, rồi thưa cho cha mẹ biết. Đoạn lấy một mảnh lụa trắng dài 7 thước để lên mặt, sau khi kết thành hình người gọi là hồn bạch để hồn người chết tựa vào đó. Khi tắt hơi thì người nhà lấy một chiếc khăn tay hay một tờ giấy phủ trên mặt, khiêng xác đặt xuống đất rồi lại khiêng lên giường, có ý để cho người hấp thụ sinh khí của đất may ra có sống lại được. Đoạn một người cầm cái áo của người chết, tay tả cầm cổ, tay hữu cầm lưng, do đường trước trèo lên mái nhà để gọi tên và hú hồn người chết ba lần, rồi do đường sau nhà mà xuống. Đó là lễ phục hồn. Bấy giờ con cháu mới khóc và thay bỏ hết đồ trang sức mà quấn tóc và đi chân không, cùng ăn cháo để tỏ lòng đau thương. Sau khi lập người tang chủ (thường là người con trưởng, là cháu trưởng thừa trọng) và người chủ phụ (vợ người chết hay vợ tang chủ) thì phải lo việc trị quan, nghĩa là sửa soạn quan tài theo nghi tiết nhứt định, rồi tắm gội và thay quần áo mới cho người chết để sắp sửa làm lễ phạm hàm. Lễ này, người nhà dùng một chén gạo nếp và ba đồng tiền, chia ra ba lần mà bỏ vào miệng người chết. Bấy giờ đến lễ tiểu liệm (một mảnh dọc, ba mảnh ngang) và đại liệm (một mảnh dọc, năm mảnh ngang), theo nghi tiết mà lấy vải bọc lấy xác người chết cho kín. Khi nhập quan, con cháu sắp hàng ở trước quan tài để khóc và làm lễ. Những người giúp việc khiêng xác bỏ vào quan rồi khiêng quan đặt ở giữa nhà. Từ bây giờ, con cháu phải trải rơm ở hai bên linh cữu và thay phiên nhau ngồi hầu suốt đêm ngày. Khi đặt cữu đã xong, nhà giàu sang thì đặt linh sàng ở phía đông có đủ mùng màn chăn gối. Nhà hẹp thì chỉ đặt linh tọa ở trước cữu mà thôi. Cứ sáng và tối thì làm lễ triêu tịch điện, rước hồn bạch ở linh sàng ra linh tọa, rồi lại rước từ linh tọa vào linh sàng. Trước khi làm lễ thành thục, phải lập minh tinh là thứ cờ hiệu bằng lụa đỏ có chữ ghi họ tên, chức tước cùng thụy hiệu chết bằng phấn trắng. Khi làm lễ thành phục thì con cháu người chết theo nghi tiết phủ phục mà mặc đồ tang, rồi quỳ lạy và khóc trước linh cữu. Đồ tang phục có năm bực gọi là ngũ phục. Áo đại tang để cha mẹ là áo trảm thôi (vải sô chặt bằng dao chớ không dùng kéo hay sổ gấu có mảnh vải đính ở sau lưng (phụ phiến), hai mảnh đính ở hai vai (thích). Ở lưng thắt một dây chuối hai vòng, ngoài phủ một cái áo rộng bằng vải sô. Trên đầu có một cái khăn bằng vải sô bỏ múi sau gáy. Con trai có mũ vành bằng bẹ chuối (mũ nùn) và gậy tre đẽo tròn nếu tang cha hay gậy vông đeo vuông nếu tang mẹ. Gái thì đội mũ nhọn (mũ mấn) bằng vải to che kín cả mặt. Nếu mẹ chết trước cha, thì con để tang là áo cũng may theo kiểu trảm thôi (sổ gấu) nhưng gấu có viền qua loa. Về tang ông bà, chị em, anh em, chú bác cô dì thì tùy theo thứ tự thân sơ mà may đồ cơ phục (để một năm), đồ đại công (để chín tháng) bằng vải to, đồ tiểu công bằng vải hơi thô và đồ ti ma (để ba tháng) bằng vải nhỏ. Trước khi tống táng thì làm lễ thiên cữu (dời cữu đi chỗ khác hoặc xích đi một chút), và lễ yết tổ tức rước hồn bạch đến từ đường để cáo tổ tiên. Đến ngày phát dẫn thì làm lễ khiển diện tức là lễ tiễn biệt, rồi rước linh cữu đến đại dư. Khi phát dẫn thì đi trước hết là phương tướng (người mặc áo mũ đạo sĩ, đeo nạ cầm dao) để khu trục tà quỷ; thứ đến có cờ đan triệu viết chữ "trung tín" (nếu đàn ông) hoặc "trinh thuận" (nếu đàn bà) bằng phấn trắng; thứ đến là các đồ minh khí cùng đối trướng của người phúng điếu, kế đến minh tinh, linh xa rước hồn bạch, rồi đến đại dư. Con trai thì chống gậy tre (tang cha), hoặc gậy vông (tang mẹ) đi lùi ở trước linh cữu. Còn con gái, dâu thì đi theo sau linh cữu trong một cái màn trắng (bạch mạc). Sau cùng là các người tôn trưởng họ hàng và bằng hữu đi đưa. Dọc đường, con gái con dâu có lệ là thỉnh thoảng phải nằm lăn xuống đường khóc lóc kể lể để cỗ đại dư vượt qua. Người ta lại rắc những thoi vàng giấy để đánh dấu lối cho linh hồn người chết mà biết lối về. Đám tang nhà phú quý, dọc đường thỉnh thoảng có làm trạm trung đồ (đạo trung) để dừng linh cữu lại làm điện tế. Đến huyệt lại có trạm để tế hạ huyệt. Trước khi hạ huyệt thì làm lễ tế Thổ thần. Khi đặt quan tài vào huyệt thì có thầy phong thủy phân kim lấy hướng, trải minh tinh lên mặt quan tài rồi cho đắp mồ. Đắp xong thì làm lễ thành phần. Đoạn rước hồn bạch hay thần chủ vào linh xa về nhà rồi đưa lên linh tọa. Sau đó làm lễ phản khốc (khóc lại) và lễ sơ ngu (cầu cho vong hồn được an tĩnh). Sau gặp ngày nhu nhựt (ất, đinh, tỵ, tân, quý) thì làm lễ tái ngu; gặp ngày cương nhựt (thân, bính, tuất, canh, nhâm) thì làm lễ tam ngu. Tống táng được ba ngày thì phải ra thăm mộ, làm lễ "mở cửa mả". Rồi cứ 7 ngày làm một tuần chay cho đến 49 ngày thì làm lễ chung tất, cùng lễ 50 ngày và 100 ngày. Được một năm thì làm lễ tiểu tường (giỗ đầu), sau một năm nữa thì làm lễ đại tường (giỗ hết). Được 27 tháng thì làm lễ đoạn tất hay lễ trừ phục (mãn tang). Từ đấy về sau cứ hàng năm đến ngày kỵ lại phải làm lễ, cho đến khi người chết lên đến bực tổ ngũ đại thì chôn thần chủ rồi thờ chung ở từ đường, chớ không làm giỗ riêng nữa. Trong khoảng tiểu đại tường, cứ đến tuần trung nguyên (rằm tháng bảy), người ta thường đốt đồ mã cho người chết hai kỳ. Kỳ đầu gọi là mã biếu (quỷ sứ), kỳ sau mới thực cho người chết dùng. Có nhiều nơi, người ta đốt đồ mã vào kỳ giỗ đầu và giỗ hết. Tục đốt mã nguyên theo tục xưa chôn đồ dùng thật kèm với người chết, sau mới thay bằng đồ giấy. Người ta tin rằng người chết xuống âm phủ cũng tiêu dùng tiền và quần áo nên phải đốt đồ mã để cho người chết khỏi thiếu thốn. Bởi theo mê tín và lý luận đơn giản, người ta cho rằng: "Dương sao thì âm vậy". Về đại tang thì sau khi chôn cất yên rồi, con cháu đem mũ gậy và áo rộng treo ở bên linh tọa. Khi làm lễ thì mới dùng đến. Lúc thường thì chỉ mặc quần áo và chít khăn tang mà thôi. Trong thời hạn đại tang, người con còn phải ăn ở theo lễ. Theo sách Gia lễ: khi con cái có tang cha mẹ phải nằm rơm gối đất, không được vui chơi, không được nghe đàn hát, ăn uống thịt rượu, không được kết hôn, phải kiêng phòng sự (đàn bà có thai trong kỳ đại tang thì phải vạ). Người đương làm quan mà gặp đại tang thì phải xin nghỉ để cư tang, hết hạn mới xin bổ lại. Sau ba năm đoạn tang, hoặc vài năm sau nữa, người ta thường cải táng. Khi ấy phải mời thầy phong thủy tìm lấy huyệt tốt rồi làm lễ bốc mả (cải táng). Trước hết là khai mả nhặt lấy xương xếp vào một cái tiểu sành rồi đậy thực kín. Nhà giàu sang thì dùng quan quách khâm liệm như khi hung táng. Tục cải táng ở miền Bắc rất phổ thông, người ta thường gọi là làm ma khô, đối với lễ hung táng là làm ma tươi. Từ Hoành Sơn trở vào Nam thì trừ khi người ta tưởng rằng mộ động thì phải cải táng, còn thường thì chôn cất một lần là xong. Lễ tang rất phiền phức. Tục lệ tang ma khôn dứt bỏ được dễ dàng vì tôn giáo, luân lý, nghi lễ, phong tục và luật lệ phối hợp lại gây nên một áp lực mạnh mẽ, thúc bách cá nhân phải tuân theo. Trừ khi dân trí tiến bộ bớt mê tín và khi điều kiện sinh hoạt thay đổi hẳn. Cho nên ta đã thấy. Từ khi người chết vừa tắt hơi cho đến lễ đạm tất thì mỗi lần làm lễ phải có thầy phù thủy hay thầy tu tụng kinh và làm phép. Nếu ngày chết là ngày xấu, như ngày trùng tang trùng phục thì người ta phải tìm thầy phù thủy làm phép, đại khái là bỏ bùa vào quan tài và yểm bùa ở cửa để hung sát sợ mà không dám làm hại; hoặc làm chay, lập đàn cúng lễ. Những kẻ chết oan, chết trẻ chưa thành gia thất, những kẻ bất đắc kỳ tử đều là những thứ ma thiêng hay hãm hại người sống nên muốn trừ tai ách, người ta phải làm chay để siêu độ vong hồn hoặc để giải oan. Những thứ phiền toái này làm tê ngừng dòng tình cảm giữa người sống và người chết cùng huyết thống của một ông tổ. Đúng như điều nhận xét của dân chúng vốn thiết thực, nhưng không thể chống lại được sức mạnh của những "sự vật đã thành" mà họ vẫn ngấm ngầm phản đối: Sống thì hít hít, hôn hôn, Chết thì bùa yểm, bùa chôn, bùa trừ!... hoặc: Sống thì chả được cho ăn, Chết thì làm giỗ, làm văn tế ruồi. |
Thôi xao "Thôi" là "đẩy". "Xao" là "gõ". Giả Đảo là một nhà sư giỏi thơ đời Đường. Một hôm trăng sáng, sư cưỡi lừa thong thả trên con độc đạo, định đến thăm nhà một người bạn. Cảnh vắng, trăng thanh, chim đậu trên cành cây bên bến nước, bóng người chiếu xuống mặt nước đầm, sư thấy lòng thơ lai láng, tức cảnh ngâm: Điểu túc trì biên thọ. Tăng thôi (xao) nguyệt hạ môn. Độc hành đàm để ảnh, Sác tức thụ biên thân. Tạm dịch: Chim đỗ cây bến nước, Sư đẩy (gõ) cửa dưới trăng. Mình đi bóng chiếu xuống, Tựa cây mà thở than. Giả Đảo ngâm đi ngâm lại, nhận thấy chữ "thôi" trong câu "Tăng thôi nguyệt hạ môn" không được ổn, nên đổi lại "xao". Nhưng cũng không vừa ý. Ông đọc "thôi" rồi lại "xao", lại đọc "xao" rồi đọc "thôi". Rốt cuộc ông phân vân không biết dùng chữ nào cho thích hợp. Ông tức quá, bước xuống lừa, đứng giữa đường đi, đưa tay đẩy (thôi) rồi gõ (xao), gõ rồi đẩy giả như đứng trước nhà bạn vậy. Ông cứ làm như thế mãi mà không thấy phải dùng chữ nào. Hàn Dũ vì can vua nên bị giáng chức tại triều ra làm thứ sử ở Triều Châu. Buồn cho thân thế, thấy trăng thanh gió mát nên cũng thong thả dạo chơi. Xa xa thấy một nhà sư đứng bên con lừa, tay lúc đưa tới đưa lui, lúc đưa qua đưa lại như thằng điên thì rất lấy làm lạ. Hàn lần bước đến gần lên tiếng, nhà sư mới giựt mình ngừng lạị Hàn Dũ hỏi thì Giả Đảo thuật lại sự tình. Hàn bật cười và bàn: "Nên dùng chữ "Xao" (gõ) là đúng hơn". Giả Đảo đồng ý nên câu "Tăng thôi nguyệt hạ môn" đổi ra "Tăng xao nguyệt hạ môn". Hai tiếng "thôi xao", trong văn chương ngày nay để chỉ là "chọn chữ làm văn thơ". Đây cũng là một gương sáng cho những người làm thơ, làm văn phải chọn chữ cho xác đáng, thích hợp. Chớ không được dùng từ ngữ "ẩu"! Ta cũng có thành ngữ: "Nghĩ ra một chữ rụng mấy sợi râu", cũng đồng một ý nghĩa như trên. Giả Đảo lại có một bài thơ: Nhị cú tam niên đắc, Ngâm thành son lệ lưu. Tri âm như bất thưởng, Qui ngọa cố sơn thu. Dưới đây là bản dịch của Hoài Nam Tử: Ba năm được hai câu, Ngâm lên giọt lệ trào, Tri âm bằng chẳng hiểu, Về ẩn chốn non cao. |
Tựa cửa, tựa cổng "Tựa cửa", "tựa cổng" do chữ "Ỷ môn", "Ỷ tư". Nhạc Nghị là tướng nước Yên đời Chiến Quốc đem quân đánh Tề, hạ được 72 thành. Tề chỉ còn 2 thành là Cử Châu và Tức Mặc. Tề Mẫn vương thua chạy ra Cử Châu, có quan đại phu là Vương Tôn Giả hộ giá. Vương Tôn Giả mới 12 tuổi, chỉ còn mẹ già, Mân vương thương cho làm quan. Tôn Giả theo phò Mân vương đến nước Vệ thì cả hai lạc nhau. Giả chẳng biết Mân vương ở đâu, bèn lẻn về nhà. Bà mẹ trông thấy hỏi vua Tề ở đâu, Giả nói: - Con theo vua đến nước Vệ, nửa đêm vua tôi cùng bỏ trốn, rồi không biết vua đi ngả nào. Bà mẹ giận, nói: - Mày sớm đi chiều về thì ta đứng tựa cửa mà mong; mày chiều đi mà không về thì ta đứng tựa cổng mà mong. Vua mong bề tôi có khác gì mẹ mong con. Mày làm tôi vua Tề, vua ban đêm chạy trốn, mày không biết vua đi đâu, sao lại bỏ về? Giả thẹn quá, lại từ biệt mẹ già đi tìm vua Tề, nghe vua ở Cử Châu, đến ngay để tìm. Nhưng khi đến đó mới biết vua Tề bị Tướng quốc Tề là Trác Xỉ mưu phản, tư thông với Nhạc Nghị giết chết vua Tề. Giả bèn trần tay áo bên tả ra hô hào ở ngoài chợ: - Trác Xỉ làm tướng Tề mà giết vua, thế là làm tôi bất trung. Nếu ai bằng lòng giết kẻ có tội ấy thì theo ta cùng trần tay áo bên tả. Người trong chợ cùng bảo nhau: "Người ấy ít tuổi mà có lòng trung nghĩa, chúng ta ai là người hiếu nghĩa, tưởng đều nên theo". Chỉ trong một chốc có đến hơn bốn trăm người cùng trần tay áo bên tả. Trác Xỉ, trước vốn tướng nước Sở. Khi Tề bại trận có sai sứ sang cầu viện vua Sở tiếp cứu, hứa cắt dâng cả đất Hoài Bắc cho Sở để đền ơn. Vua Sở sai đại tướng Trác Xỉ mang 20 vạn quân lấy cớ đi cứu Tề, sang Tề nhận đất, nhưng lại mưu mẹo dặn Xỉ cứ liệu chừng mà thi hành, hễ có lợi cho Sở thì làm ngay. Xỉ được Tề Mân vương lập làm tướng quốc. Quyền hành đều về tay Xỉ. Xỉ thấy quân Yên thế mạnh, sợ cứu Tề vô công, bèn mật sai sứ tư thông với Nhạc Nghị, định giết Mân vương rồi cùng Yên chia đất Tề, và yêu cầu Yên để cho mình làm vua. Tướng Yên là Nhạc Nghị ưng chịu. Trác Xỉ mừng quá, bèn dàn quân ở Cổ Lý, mời Mân vương đến duyệt binh, đoạn bắt Mân vương rút gân treo lên nóc nhà. Sau ba ngày, Mân vương mới tắt hơi. Xỉ liền về Cử Châu, muốn tìm thế tử vua Tề mà giết nốt nhưng tìm không được. Xỉ liền làm biểu tâu với vua Yên kể công mình, nhờ Nhạc Nghị chuyển đệ cho. Giữa lúc ở Cử Châu, Trác Xỉ vào cung vua Tề uống rượu say sưa, truyền mỹ nữ tấu nhạc làm vui. Quân Sở đông nhưng đều đóng ở ngoài thành, chỉ có vài trăm quân dàn hầu ở cửa cung. Vương Tôn Giả đem 400 người xông vào cướp khí giới của quân lính, tiến vào cung bắt được Trác Xỉ. Xỉ bị xả thây, bằm nát thành nước thịt. Quân Sở không có chủ tướng, một nửa bỏ trốn, một nửa đầu hàng nước Yên. Vương Tôn Giả truyền đóng chặt cửa thành, cố giữ. Lời nói của bà mẹ Vương Tôn Giả: "Mày sớm đi chiều về thì ta đứng tựa cửa mà mong; mày chiều đi mà không về thì ta đứng tựa cổng mà mong...", nguyên văn: "Nhữ triêu xuất nhi vãn lai, tắc ngô ỷ môn nhi vọng; mộ xuất nhi bất hoàn, tắc ngô ỷ lư nhi vọng". Do đó, nên sau trong văn chương, người ta thường dùng chữ "ỷ môn, ỷ lư" (tựa cửa, tựa cổng) để chỉ sự cha mẹ trông con. Trong tác phẩm "Chinh phụ ngâm", bản dịch nôm của bà Đoàn Thị Điểm, đoạn nói về tình gia thất của khách chinh phu, có câu: Lòng lão thân buồn khi tựa cửa, Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm. Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc Kiều ở lầu Ngưng Bích của mụ Tú Bà, nàng nhớ quê hương, nhớ tình nhân, nhớ cha mẹ, cũng có câu: Xót người tựa cửa hôm mai, "Tựa cửa" là do điển tích trên. Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ? Riêng có chữ "hôm mai" đi theo chữ "tựa cửa" là vì trong chữ sách, mẹ của Vương Tôn Giả có nói đến việc con đi buổi mai và buổi chiều (triêu xuất, mộ xuất). |
Tứ Thư Tứ Thư và Ngũ Kinh là những bộ sách làm nền tảng cho Nho giáo. Sách này vừa là kinh điển của các môn đồ đạo Nho, vừa là những tác phẩm văn chương tối cổ của nước Tàu. Tứ Thư (bốn sách) gồm có Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử. 1/ Đại học là sách của bực "đại học" cốt dạy cái đạo của người quân tử. Sách chia làm hai phần: a/ Phần đầu gọi là Kinh, chép lời đức Khổng Tử có 1 chương. b/ Phần cuối gọi là Truyện, lời giảng giải của Tăng Tử là môn đệ của Khổng Tử có 10 chương. Mục đích bực đại học hay tôn chỉ của người quân tử, đã tóm tắt ở câu đầu sách là: "Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện". Nghĩa là: "Cái đạo của người theo bực đại học là cốt làm sáng cái đức sáng (đức tốt) của mình, cốt làm mới (ý nói cải hóa) người dân, cốt dừng lại ở cõi chí thiện". Vậy người quân tử trước phải sửa sang đức mình cho hay, rồi lo dạy người khác nên hay, và lấy sự chí thiện làm cứu cánh. Mục đích đã vậy, phương pháp phải thế nào? Con người phải sửa mình trước (tu thân), rồi mới chỉnh đốn việc nhà (tề gia), cai trị việc nước (bình thiên hạ). Phương pháp này phải tuần tự tiến hành là tự mình đến người ngoài, mà điều cốt yếu nhứt là việc sửa mình. Vì vậy trong Đại Học có câu: "Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhứt thị giai dĩ tu thân vi bản". (Từ vua đến thường dân, ai ai cũng đều lấy việc sửa mình làm gốc). Vậy muốn sửa mình phải thực hành cách nào? Trước hết phải cách vật (thấu lẽ mọi sự vật), rồi phải trí tri (biết cho đến cùng), thành ý (phải thành thực), chánh tâm (lòng phải ngay thẳng). Thực hành bốn điều này thì sẽ tu được thân, rồi tề được nhà, trị được nước và bình được thiên hạ, mà làm tròn được cái đạo của người quân tử. 2/ Trung Dung là sách gồm những lời tâm pháp của đức Khổng Tử do học trò ngài truyền lại, rồi sau thầy Tử Tư là cháu của ngài chép thành sách, gồm có 33 chương. Thầy Tử Tư dẫn những lời nói của Khổng Phu Tử đã giảng về đạo trung dung, có cho rằng: Trung hòa là tính tình tự nhiên của trời đất mà trung dung là đức hạnh của con người. Trung là giữa, không lệch về bên nào; dung là thường, nghĩa là dùng đạo trung làm đạo thường. Muốn theo đạo này cốt phải có cái đạo đức: trí, nhân và dũng. Trí để biết rõ các sự lý, nhân để hiểu điều lành mà làm, dũng là có cái khí cường kiện mà thực hành theo điều lành đến cùng. Đạo người là phải cố gắng để đạt đến bực chí thánh. Phải học cho rộng, xét hỏi cho kỹ, nghĩ ngợi cho sâu, biện biệt điều phải trái cho rõ và dốc lòng làm điều thiện cho đến cùng. Nếu ai làm được như thế thì ngu thành sáng, yếu thành mạnh, tức là dần lên đến bực chí thánh. Trong thiên hạ chỉ có bực chí thánh mới hiểu rõ cái tính của Trời. Biết rõ cái tính của Trời thì biết được cái tính của người. Biết rõ cái tính của người thì biết được cái tính của vạn vật. Biết rõ cái tính của vạn vật thì khả dĩ giúp được sự hóa dục của trời đất và có công ngang với trời đất vậy. Sách Trung Dung nói về đạo của thánh hiền vốn căn bản của Trời, rồi giải diễn ra hết mọi lẽ, khiến cho con người phải giữ mình cho kính cẩn trong khi hành động và khi im lặng một mình. Tóm lại, Trung Dung thuộc về loại sách triết lý rất cao. 3/ Luận Ngữ là quyển sách chép những lời nói của đức Khổng Tử khuyên dạy học trò, hoặc những câu chuyện của ngài nói với những người đương thời về nhiều vấn đề (luân lý, triết lý, chính trị, học thuật) do các môn đệ của ngài sưu tập lại. Sách chia làm hai quyển (thượng, hạ) gồm có 20 thiên (mỗi thiên lấy 2 chữ đầu đặt tên). Các chương không có liên lạc, hệ thống gì nhau. Sách Luận Ngữ có thể cho là quyển sách dạy đạo người quân tử một cách thực tiễn và mô tả tính tình, cử chỉ, đức độ của đức Khổng Tử, như phác họa một mẫu mực hoạt động cho người đời sau noi theo. Sách này cho ta biết được nhiều câu cách ngôn xác đáng về đạo người quân tử. Còn cho ta nhận thấy phẩm cách cao thượng (hồn hậu, thành thực, khiêm cung, khoái hoạt) của đức Khổng Tử biểu lộ qua những chuyện ngài nói với học trò. Sách này chẳng những cho ta thấy được cảm tình phong phú và lòng ái mỹ mà còn là khoa sư phạm của Khổng Tử. Trong những lời khuyên dạy chuyện trò với học trò, ngài tỏ ra là một ông thầy hiểu thấu tâm lý học trò và khéo làm cho lời dạy bảo của mình thích hợp với trình độ, cảnh ngộ của mỗi người. Có khi cùng là một câu hỏi mà ngài trả lời khác, tùy theo tư chất và chí hướng của từng người. 4/ Mạnh Tử là tên bộ sách do Mạnh Tử viết. Sách gồm có 7 thiên. Các chương trong mỗi thiên thường có liên lạc với nhau và cùng bàn một vấn đề. Sách này cho ta nhận thức được tư tưởng của Mạnh Tử về các vấn đề: Về luân lý, ông xướng lên thuyết tính thiện để đánh đổ cái thuyết của người đương thời (như Cáo Tử) cho rằng tính người không thiện không ác. Theo ý ông, thiên tính con người vốn thiện, ví như tính nước vốn chảy xuống chỗ thấp; sỡ dĩ thành ác là vì làm trái thiên tánh, ví như ngăn nước cho nó chảy lên chỗ cao. Tính người vốn thiện nhưng vì tập quán, vì hoàn cảnh, vì vật dục làm sai lạc đi, hư hỏng đi, vậy cần phải có giáo dục để nuôi lấy lòng thiện, giữ lấy bản tính. Những điều cốt yếu trong việc giáo dục là: dưỡng tính (giữ lấy thiện tính), tồn tâm (giữ lấy lòng thành), trì chí (giữ chí hướng cho vững). Và, ông thường nói đến phẩm cách của người quân tử mà gọi là đại trượng phu hoặc đại nhân. Bực này phải có bốn điều là: nhân, nghĩa, lễ và trí. Về chính trị, ông cho rằng bực làm vua trị dân phải trọng nhân nghĩa chớ đừng trọng tài lợi thì mới tránh được sự biến loạn và chiến tranh. Ông cũng lưu tâm đến vấn đề kinh tế. Ông cho rằng người có hằng sản rồi mới có hằng tâm, nghĩa là người ta có của cải đủ sống một cách sung túc thì mới sinh ra có lòng tốt muốn làm điều thiện, và có phương tiện để thực hiện điều thiện ấy. Vậy bổn phận kẻ bề trên là phải trù tính sao cho tài sản của dân được phong phú, rồi mới nghĩ đến điều dạy dân và bắt dân làm điều hay được. Ông lại chỉ cho các vua chúa những phương lược để làm cho việc canh nông, mục súc, công nghệ của dân được phát đạt. Mạnh Tử không những là một nhà tư tưởng lỗi lạc mà còn là một văn gia đại tài. Văn của ông rất hùng hồn và khúc chiết. Ông biện luận điều gì cũng rạch ròi, sắc cạnh. Ông hay nói thí dụ. Muốn cho ai hiểu điều gì, muốn bắt ai chịu phục lẽ gì, ông thường dẫn những thí dụ mượn ở sự vật cho người ta dễ nhận xét. Ông lại thường dùng thể ngụ ngôn hoặc kể những câu chuyện ngắn để diễn đạt tư tưởng cho người nghe vui thích và dễ nhận cái hàm ý của ông. Tóm lại, bộ Tứ Thư là bộ sách gồm những điều cốt yếu của Nho giáo. Ai muốn hiểu rõ đạo giáo ấy tất phải nghiên cứu. |
Ngũ Kinh Ngũ Kinh (năm quyển sách) cũng như Tứ Thư là những sách làm nền tảng của Nho giáo. Nguyên trước có sáu kinh nhưng vì sự đốt sách của Tần Thủy Hoàng (246-209 trước D.L.), một kinh là kinh Nhạc (âm nhạc) bị mất đi. Kinh này chỉ còn lại một thiên, sau đem vào sách Lễ ký (kinh Lễ), đặt là thiên Nhạc ký. Ngũ Kinh là: 1/ Thi (thơ), do đức Khổng Tử sưu tập và lựa chọn. Kinh này vốn là những bài ca dao ở nơi thôn quê và nhạc chương nơi triều miếu của nước Tàu về thời thượng cổ. Nguyên trước có đến ba ngàn thiên. Sau, đức Khổng Tử san định lại hơn ba trăm chương và theo ý nghĩa các thiên, sắp đặt thành bốn phần. Đến đời Tần Thủy Hoàng, kinh Thi cũng như các kinh khác, bị đốt nhưng có nhiều nhà nho còn nhớ. Đến thế kỷ thứ hai trước Dương lịch, về đời nhà Hán có bản kinh Thi xuất hiện, đại thể giống nhau, duy chữ viết có khác. Truyền lại đến nay là bản của Mao Công (tức Mao Trường). Kinh Thi có bốn phần gồm 305 thiên (bài thơ). Trong đó có 6 thiên chỉ truyền lại đề mục mà không còn bài. Mỗi thiên lấy vài chữ chính trong thiên làm đề mục và chia làm nhiều chương. Bốn phần trong kinh Thi là: Quốc phong, Tiểu nhã, Đại nhã và Tụng. Quốc phong là những bài ca dao của dân các nước chư hầu đã được nhạc quan của nhà vua sưu tập lại: Quốc là nước (đây là các nước chư hầu về đời nhà Chu); phong nghĩa đen là gió, ý nói các bài hát có thể gợi cảm con người như gió làm rung động các vật. Quốc phong gồm có Chính phong và Biến phong. Chính phong phân làm 2 quyển Chu Nam và Thiệu Nam, gồm những bài hát từ trong cung điện nhà vua truyền ra khắp dân quân. Biến phong gồm những bài hát của 13 nước chư hầu khác. Tiểu nhã gồm những bài hát dùng ở nơi triều đình, nhưng chỉ dùng trong những trường hợp thường như khi có yến tiệc. Đại nhã chỉ những bài hát dùng trong những trường hợp quan trọng như thiên tử họp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường. Tụng nghĩa là khen, gồm những bài ngợi khen các vua đời trước và dùng để hát ở nơi miếu đường. Các bài trong Kinh Thi thường viết theo thể thơ 4 chữ (thỉnh thoảng có câu 3 chữ hoặc 5 chữ). Cách kết cấu các bài làm theo ba thể: phú, tỉ, hứng. Đọc Kinh Thi, ta biết được tính tình, phong tục của người dân và chính trị các đời vua cùng các nước chư hầu ở nước Tàu về đời thượng cổ. Đọc Mân phong, ta biết được tính đức cần kiệm người dân đất Mân. Đọc Vệ phong, ta biết được thói dâm bôn của người dân nước Vệ. Đọc Tần phong, ta biết được sự hối quá của người dân nước Tần. Đọc Đại nhã, Tiểu nhã, ta biết được chính trị của nhà Chu thịnh suy thế nào. Kinh Thi là một nguồn thi hứng: các thi sĩ thường mượn đề mục. Kinh Thi còn là một kho điển tích. Các nhà làm văn thường lấy điển hoặc lấy chữ ở đây. Cũng như ca dao của Việt Nam, Kinh Thi là nền tảng thơ tối cổ của Trung Hoa. Trong đó có nhiều bài mô tả tính tình, phong tục dân Tàu một cách chất phác, hồn nhiên. 2/ Thư (nghĩa đen là ghi chép), do đức Khổng Tử sưu tập. Kinh này chép những điển (phép tắc), mô (mưu mẹo, kế sách), huấn (lời dạy dỗ), cáo (lời truyền bảo), thệ (lời răn bảo tướng sĩ), mệnh (mạng lịnh) của các vua tôi bên Trung Hoa từ đời Nghiêu, Thuấn đến đời Đông Chu (từ năm 2357 đến năm 771 trước D.L.) 3/ Dịch (nghĩa đen là thay đổi) là bộ sách tượng số dùng về việc bói toán và sách lý học cốt giải thích lẽ biến hóa của trời đất và sự hành động của muôn vật. Nguyên vua Phục Hi (4480-4365 trước D.L.) đặt ra bát quái (tám quẻ, tức là 8 hình vẽ); tám quẻ ấy lại đặt lần lượt chồng lên nhau thành ra 64 trùng quái (quẻ kép). Mỗi trùng quái có 6 nét vạch (hoặc vạch liền biểu thị lẽ "dương", hoặc vạch đứt biểu thị lẽ "âm") gọi là hào, thành ra 384 hào. Đức Khổng Tử nhân đó mà giải nghĩa các quái, các trùng quái và các hào. 4/ Lễ Ký (chép về lễ) là sách chép các nghi lễ trong gia đình, hương đảng và triều đình. Hiện Kinh Lễ (Lễ Ký) còn truyền lại đến giờ phần nhiều là văn của Hán nho, chớ chính văn do đức Khổng Tử san định về đời Xuân Thu không còn mấy. 5/ Xuân Thu (mùa xuân và mùa thu) nguyên là sử ký nước Lỗ, do đức Khổng Tử san định lại, chép công việc theo lối biên niên từ năm đầu đời Lỗ Ẩn công đến năm thứ 15 đời Lỗ Ai công (từ năm 722 đến năm 481 trước D.L.). Kinh Xuân Thu cũng gọi là Kinh Lân, vì đức Khổng Tử chép lúc nước Lỗ săn được con lân què thì ngài dừng bút. (Loan rằng: "Sữ Mã kinh Lân" - cụ Nguyễn Đình Chiểu). |
Lợn người "Lợn người" do chữ "nhân trệ" của Lữ hậu, vợ vua Hán Cao Tổ Lưu Bang đời Tây Hán. Lữ hậu tên Lữ Trĩ lấy Lưu Bang lúc còn hàn vi. Lưu Bang dựng nghiệp nhà Hán phong Lữ Trĩ làm hoàng hậu. Nhà vua có người hậu phi tên Thích Cơ trẻ đẹp nên rất sủng ái. Một hôm, vua vào cung Thích Cơ bày yến tiệc. Uống say, vua nằm trên vế Thích Cơ ngủ vùi. Lữ hậu cho người dọ biết nên lên kiệu đi thẳng lại cung Thích Cơ. Kẻ tả hữu chạy vào phi báo, nhưng vì nhà vua nằm trên vế ngủ, nên Thích Cơ chẳng dám động, đành phải ngồi yên. Lữ hậu bước vào thấy thế máu ghen càng sôi lên: - Loài tiện tỳ thường vô lễ, nay ta vào cung của mi, sao mi dám ngồi trên cao, không đứng dậy là đạo lý chi vậy? Thích Cơ sợ sệt thưa: - Tôi thấy nương nương đến, há chẳng tiếp nghinh. Vì chúa thượng ngủ đương ngon giấc, tôi chẳng dám động nên mới thất lễ, xin nương nương tha tội. Lữ hậu nghiến răng, mắng: - Loài tiện tỳ, cứ lấy vua làm nể, chừng người có muôn tuổi rồi, ta sẽ nghiền mi nát ra tro cho mi coi. Đoạn Lữ hậu quày quả bỏ đi. Sau khi Hán Cao Tổ chết, Thích Cơ không người bảo bọc, ủng hộ nên Lữ hậu thừa dịp trả thù. Lữ truyền bắt Thích Cơ cùng một số cung nhân trước kia theo Thích Cơ, được nhà vua sủng ái đem ra hành hình một cách bi thảm rùng rợn. Lữ bắt họ phải uống thuốc câm, rồi chặt tay chân, khoét mắt, cắt tai, giam vào chuồng xí dơ bẩn. Họ đau đớn quá nhưng bị câm, không thốt ra tiếng người được nữa, chỉ tru lên những tiếng ú ớ u ơ rất thê thảm. Lữ hậu lại bắt mọi người gọi những nạn nhân ấy là lũ "nhân trệ" (lợn người). Đời Tam Quốc, Lưu phu nhân là vợ của Viên Thiệu chúa chư hầu đất Hà Bắc... thấy 5 nàng hầu diễm lệ được chồng sủng ái thì phát ghen. Sau khi Thiệu chết, Lưu bắt 5 nàng ra giết chết cả. Lại sợ âm hồn các nàng về chín suối được tái ngộ với chồng, mụ còn sai người cạo tóc, vạt mặt, khoét mắt và băm vằm năm cái thây ma ấy ra như tương. Con mụ là Viên Thượng sợ có kẻ oán mà mưu hại, bèn sai bắt hết thân nhân gia thuộc của năm nàng này đem giết hết. Sư tử Hà Đông trả thù thật khiếp. Máu ghen lạ đời và tàn ác đến thế là cùng. Đọc "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, diễn tả Hoạn Thư tuy ghen mà còn khá. Nàng Hoạn Thư ghen sâu sắc tế nhị chớ không tàn bạo như Lữ hậu, Lưu... hay những mụ tạt át xít vào mặt tình địch như thời nguyên tử. |
Tây Thi, Trịnh Đán Tây Thi là một giai nhân tuyệt sắc ở nước Việt đời Chiến Quốc, có tiếng là "Lạc nhạn" trong "tứ đại mỹ nhân" ở cổ Trung Hoa. Nàng xuất thân một gia đình nghèo, cha đốn củi, nàng dệt vải ở Trữ La Sơn. Trữ La có hai thôn: Đông thôn và Tây thôn, phần nhiều là họ Thi. Vì nàng ở về Tây thôn nên gọi là Tây Thi. Ở đây lại có nàng Trịnh Đán, bạn láng giềng Tây Thi, cũng là một mỹ nữ sắc nước hương trời. Nhà ở gần sông, ngày nào hai nàng cũng cùng nhau ra đập sợi ở ven sông. Má hồng nước biếc, hai bóng lộn nhau, trông hai đóa phù dung của buổi bình minh tươi đẹp. Vua nước Việt là Câu Tiễn bại trận, phải cùng vợ sang làm người tù chăn ngựa cho vua nước Ngộ Sau khi được thả về, lòng uất ức căm hờn mong rửa được nhục thù. Đại phu Văn Chủng hiến 7 kế phá Ngộ Một trong 7 kế là đem mỹ nữ sang dâng để làm mê hoặc vua Ngô. Câu Tiễn liền thực hành ngay. Trong vòng nửa năm, tuyển được hai ngàn mỹ nữ, lại chọn hai người đẹp nhứt là Tây Thi và Trịnh Đán. Câu Tiễn sai Tướng quốc Phạm Lãi đem 100 nén vàng đến thôn Trữ La rước hai nàng về, trang sức lộng lẫy, cho ngồi trong xe có màn phủ. Người trong nước nghe tiếng mỹ nữ, ai cũng muốn xem mặt, tranh nhau ra ngoài cõi đón. Đường xá chật ních những người. Phạm Lãi liền để hai nàng ở nhà quán xá rồi truyền dụ rằng: "Ai muốn xem mặt mỹ nhân phải nộp một đồng tiền". Chỉ trong một lúc mà tiền thu đầy quỹ. Hai nàng lên lầu, đứng tựa bao lơn, khác nào như tiên nga giáng hạ. Hai nàng lưu ở ngoài cõi ba ngày, tiền thu không xiết kể. Câu Tiễn cho hai nàng ở riêng tại Thổ Thành, rồi sai một lão nhạc sư đến dạy múa hát. Ba năm qua, Tây Thi và Trịnh Đán cùng số mỹ nữ học múa hát đã được tinh xảo, Câu Tiễn liền truyền Phạm Lãi đem sang cống cho vua Ngô là Phù Sai. Phạm Lãi vào yết kiến, sụp lạy vua Ngô, tâu rằng: - Đông hải tiện thần là Câu Tiễn cảm ơn đại vương, không thể đem thê thiếp đến hầu hạ ở bên cạnh được, vậy cố tìm khắp trong nước được hai mỹ nhân khéo nghề múa hát nên sai chúng tôi đem nộp vương cung để giữ việc quét rửa. Phù Sai trông thấy hai nàng, cho là thần tiên mới giáng hạ, hồn phách mê mẩn, mắt nhìn đăm đăm một cách say sưa. Phù Sai rất lấy làm hài lòng nhận lấy mỹ nữ. Tây Thi và Trịnh Đán được Phù Sai yêu mến. Nhưng riêng Tây Thi vì có sắc đẹp lộng lẫy lại khéo chiều chuộng, có nghệ thuật làm người say đắm nên Ngô vương sủng ái hơn. Tây Thi được ở Cô Tô đài với Phù Sai. Nàng đi dạo nơi đâu cũng dùng đồ nghi vệ theo địa vị phi hậu. Trịnh Đán ở Ngô cung, ghen với Tây Thi uất ức không nói ra, được hơn một năm đau chết. Phù Sai thương lắm, đem chôn ở Hoàng Mao sơn và lập đền thờ cúng. Phù Sai rất yêu Tây Thi, lập Quán Khuê cung ở Linh Nham sơn, trang trí toàn bằng châu ngọc để làm chỗ cho Tây Thi ra dạo, ngắm cảnh. Lại xây cất Hưởng Điệp lan, Ngoạn Hoa trì, xây giếng Ngô vương tỉnh... để cho Tây Thi đến ngắm hoa, thưởng trăng và soi bóng mình dưới làn nước trong. Phù Sai lại lập cầm đài để Tây Thi ngồi đàn để Phù Sai thưởng thức những cung đàn tuyệt diệu của nàng. Phù Sai lại cho đào một con sông con ở trong thành, từ nam sang bắc rồi làm một chiếc buồm gấm để nàng Tây Thi dong thuyền, gọi là Cẩm phàm hình. Và, còn rất nhiều nơi nữa, cứ mỗi lần nàng ngự đến là trở nên một di tích "lịch sử" mà Phù Sai sắp đặt kiến trúc cho. Phù Sai từ khi được Tây Thi cứ ở luôn trên Cô Tô đài, bốn mùa vui chơi, rượu chè đàn địch, chẳng thiết đến việc gì cả. Tây Thi, con người kiều diễm ấy, tuy có một thân hình mảnh mai như cành liễu yếu nhưng tiềm tàng một sức mạnh phi thường là quyết lật đổ cả một triều Ngô để đem lại sự chiến thắng vinh quang cho triều Việt. Hai bàn tay ngà ngọc xinh xắn của nàng, xưa kia là để quay tơ giặt lụa nhưng nay lại để bóp nát dần cả một nước Ngô có binh hùng tướng mạnh cho đến ngày tàn. Mắt nàng cau một cái là một cái đầu của viên thượng tướng bị rơi. Môi nàng cười một nét là kho nhà Ngô vơi đi bạc vàng, châu báu... Ngũ Viên, một vị Tướng quốc kiên trung, đa mưu, túc trí, đầy tài dũng lược của triều Ngô vì nàng mà chết dưới thanh kiếm Trúc Lâu của Ngô vương. Nước Ngô ngày càng suy yếu. Nước Việt thừa thế tấn công. Ngô bại trận. Ngô vương Phù Sai tự tử. Tây Thi làm tròn sứ mạng của một người nhi nữ quần vận yếm đối với tổ quốc, nàng mong được trở lại quê nhà thăm cha ở Trữ La thôn, nhưng vương phi Câu Tiễn sợ rằng chồng sẽ say đắm sắc đẹp của nàng, nên mật sai người bắt Tây Thi neo đá quăng xuống dòng nước Tam Giang. Thật là mụ đàn bà ghen đanh ác. Cái chết của Tây Thi nói trên là theo chính sử. Có truyện chép: Phạm Lãi yêu nàng Tây Thi nhưng thấy Việt vương Câu Tiễn muốn lấy Tây Thi, nên ghen mới bày mẹo cho mụ vợ Câu Tiễn giết thác nàng. Có truyện lại chép: Phạm Lãi trước đã cùng Tây Thi yêu nhau, nên trong trận tấn công nước Ngô, đốt phá Cô Tô đài, Phạm Lãi đón rước Tây Thi xuống thuyền, rồi cả hai bỏ nước đi du Ngũ hồ cho trọn tình chung thủy. Truyện sau này thấy chép trong "Tình sử". Có lẽ những nhà tiểu thuyết diễm tình giàu cảm, giàu tưởng tượng và cũng giàu lòng nhân đạo, thấy đôi trai tài gái sắc, nhứt là đối với Tây Thi, một bực sắc nước hương trời lại có công to với nước mà bị chết một cánh oan uổng, bi thảm như thế nên quá xúc cảm, viết thành câu chuyện kia để an ủi oan hồn của người đẹp chăng? |
Nữ Trượng Phu Đời Tam Quốc, em trai của Ngô chúa Tôn Quyền là Tôn Dực làm Thái thú quận Đan Dương. Dực vốn tính cương cường, nóng nảy lại hay rượu. Viên đốc tướng Đan Dương là Qui Lãm cùng viên quận thừa là Đái Viên thường có ý mưu sát Dực. Hai tên mới kết thông với kẻ tùy tùng của Dực là Biên Hồng. Thế là cả ba mưu giết Dực. Một hôm, các tướng cùng các vị huyện lịnh về hội họp đông đủ tại Đan Dương. Tôn Dực cho bày yến tiệc thiết đãi. Vợ của Dực là Từ thị có sắc đẹp lại thông minh, rất giỏi khoa bói Dịch. Bấy giờ nàng bói thử một quẻ thấy "tượng" rất xấu, mới khuyên chồng chớ ra tiếp khách. Nhưng Dực không nghe, cứ cùng các quan ra công đường, chủ tọa buổi tiệc. Đến chiều tiệc tan, Biên Hồng ngầm giấu dao trong mình, theo chân Dực ra cửa, rồi bất thình lình rút dao đâm Dực chết ngay. Qui Lãm và Đái Viên bèn đổ tội cho Biên Hồng, lôi ra giữa chợ chém đầu. Rồi hai tên thừa thế đoạt lấy của cải và thị thiếp của Dực. Qui Lãm thấy Từ thị nhan sắc diễm lệ, động lòng dục vọng, bèn bảo nàng: - Ta đã báo thù cho chồng nàng, vậy nàng hãy về ở với ta. Nếu không nghe thì có toàn mạng. Từ thị nói: - Chồng thiếp vừa mới chết, chưa tiện theo tướng quân ngay. Xin đợi đến tối 30 này, thiếp cúng "trừ phục" xong, rồi chúng ta thành thân cũng chẳng muộn. Qui Lãm nghe nói, sung sướng ưng lời lui ra chờ đợi. Từ thị bèn bí mật triệu hai viên tướng tâm phúc của Dực là Tôn Cao và Phó Anh vào phủ, khóc và nói: - Khi tiên phu còn sống, vẫn thường khen hai ông trung nghĩa. Nay hai tên giặc Đái, Qui mưu sát chủ, rồi đổ tội cho một mình Biên Hồng và đem hết gia tư, tôi tớ nhà tôi ra chia nhau. Qui Lãm lại cưỡng bức, đòi hại cả đời tôi nữa. Tôi phải giả tảng ưng lời cho yên lòng nó. Nay hai tướng quân nên sai người đi gấp về báo Ngô hầu. Một mặt hãy bày mật kế trừ hai tên giặc ấy để rửa thù nhục này, thì người chết được ngậm cười mà kẻ sống đội ơn muôn phần. Đoạn, nàng cúi xuống lạy hai lạy. Tôn Cao, Phó Anh cũng khóc, nói: - Hai chúng tôi đã đội ơn tri ngộ của Phủ quân nay Phủ quân bị hại, mà chúng chưa thể chết theo là còn muốn lập kế báo thù cho chủ. Giờ phu nhân sai khiến, chúng tôi há dám không hết sức? Đến đêm 30, Từ thị bí mật cho hai tướng Tôn, Phó vào phục sẵn trong màn the nơi phòng kín. Đoạn bày lễ cúng tế ngoài nhà thờ. Tế chồng xong, nàng trút bỏ hết đồ tang phục, tắm gội nước hương, trang điểm thật lộng lẫy, cười nói tươi vui. Qui Lãm nghe tin, sung sướng như mở cờ trong bụng. Đến đêm, Từ thị cho con hầu ra mời Lãm vào phủ, bày tiệc giữa nhà, chuốc rượu. Người đẹp, rượu ngon, những lời chuốc mời ngọt dịu, những cái liếc hữu tình, những nụ cười tươi tắn say đắm làm cho Lãm ngây người tưởng mình đã lạc vào bồng lai ... nên mặc sức cứ uống. Khi Lãm đã say, nàng mới mời vào buồng the. Lãm sung sướng mê mẩn. Chắc hẳn phen này bên cạnh giai nhân mặc đi mây về gió, cảm thấy đời sắp lên hương, nên Lãm chuếnh choáng theo vào. Bỗng Từ thị kêu lên: - Tôn, Phó, hai tướng quân đâu? Tức thì hai tướng từ sau màn cầm dao nhảy ra. Lãm trở tay không kịp, bị Phó Anh chém một đao lăn ngã xuống. Tôn Cao bồi thêm một đao nữa, chết không kịp la. Đoạn, Từ thị lại mời Đái Viên đến dự tiệc. Viên không nghi ngại, lòng lại thấy hớn hở, biết đâu mình may phúc được mắt xanh để ý. Nhưng khi vừa hăng hái bước vào phủ, óc còn đương toan tính những lời nói sao cho có duyên dáng và mơ tưởng những chuyện lông bông thì Tôn, Phó xông ra mỗi người phạt cho một đao, chết không kịp dãy. Hạ được chúng, Tôn Cao và Phó Anh sai quân đi bắt cả gia thuộc già trẻ cùng dư đảng của hai tên Lãm, Viên rồi giết chết cả. Thù chồng đã trả, Từ thị lại mặc đồ tang phục, đem thủ cấp Đái Viên, Qui Lãm đặt trước bàn thờ Tôn Dực mà tế. Khắp Giang Đông, ai cũng khen tài đức tiết liệt của Từ thị. Người sau có làm bài thơ khen: Tài đức gồm hai tuyết giá trong, Tru di nghịch tặc rửa hờn chồng. Tôi hèn bó gối, tôi trung chết, Thua hẳn Đông Ngô một má hồng. (Bản dịch của Tử Vi Lang) Nguyên văn: Tài tiết song toàn thế sở vô, Gian hồi nhất đán thụ thôi từ. Dung thần tòng tặc, trung thần tử Bất cập Đông Ngô nữ trượng phu! |
Hát Quan Họ Đặc biệt ở tỉnh Bắc Ninh miền Trung du Bắc Việt có loại dân ca trữ tình gọi là "Hát quan họ". Đất Bắc Ninh xưa gọi là đạo Bắc Giang, rồi đổi ra trấn Kinh Bắc, một miền phong phú về mặt dân ca, cũng là một vùng nổi tiếng về phong quang cẩm tú, về điền địa phì nhiêu, về sắc đẹp duyên dáng và tình tứ của phụ nữ, về thông minh hay chữ và thành đạt của danh thần, văn sĩ. Cũng như hầu hết các loại dân ca trữ tình ở Việt Nam, hát Quan họ vay mượn nhiều ở phong dao. Hầu hết các bài Quan họ đều theo thể lục bát hay lục bát biến thể. Đó là những bài tình ca do nam nữ thanh niên Bắc Ninh hát lên để ca tụng tình yêu, nói lên những oán trách, hờn ghen và giận tủi về yêu đương hoặc biểu lộ những tâm tình sôi sục về yêu đương. Tính chất trữ tình của các điệu hát ấy có thể chia thành nhiều loại. Loại bài có tính chất nhẹ nhàng, chân thật vui tươi, cởi mở, hoạt bát, thoải mái. Có loại bài có tính chất bày tỏ, tin tưởng, lạc quan, yêu đời, trìu mến. Có loại bài tình tứ, duyên dáng, thắm thiết, say sưa. Có loại mang tính chất vui tươi nửa trào phúng, nửa tình tứ một cách ý nhị. Có loại đượm nỗi nhớ nhung, trách móc. Trong các bài Quan họ, nhiều nhứt là những bài để tỏ tình. Rất ít bài nói lên sự thất tình. Nhưng trong sự tỏ tình có nhiều hình thức: khi thổ lộ tâm tình, khi thăm dò lòng bạn, khi hy vọng, mong mỏi nhớ nhung người tình, khi trách hờn giận, ghen tuông người tình; nhưng rốt cuộc những câu thổ lộ tâm sự cùng là để thăm dò tình bạn là nhiều hơn cả. Ví dụ: Anh như cây gỗ xoan đào, Em như câu đối dán vào nên chăng? Em như cây cảnh trên chùa, Anh như con bướm đậu nhờ nên chăng? Văn thể của hát Quan họ tuy là lối lục bát, nhưng khi hát, vì những chỗ lên bổng xuống trầm, vì những nhu cầu của sự chuyển giọng, chuyển lời nên loại dân ca này có mang vài đặc tính là bài hát bao giờ cũng có thêm vào nhiều tiếng không có trong nguyên văn. Đó là những tiếng vô nghĩa, hoặc những chữ hát chệch hẳn đi, hoặc những tiếng dùng để đưa hơi như: y, a, ư, ô, ơ, a ha, ôi hôi, ư hư, ối a, ý a, này a, i ì ... hoặc những tiếng đệm (đệm lót và đệm nghĩa) như: thời, mà, tình chung, ô mấy, ai ơi, là rằng, tình rằng, tình tang, tình bằng... Nhờ những tiếng đệm, tiếng láy lập lại như thế mà và nhất nhịp điệu tiết tấu của câu thơ lục bát được thay đổi luôn, trở nên phong phú vô cùng. Ví dụ phong dào có bài "Trống cơm": Trống cơm khéo vỗ nên bông, Một bầy con nít lội sông đi tìm. Thương ai con mắt lim dim, Một bầy con nhện giăng tơ đi tìm, Thương ai duyên nợ tang bồng. Khi trở thành hát Quan họ Bắc Ninh là: 1/ (Tình bằng có cái) trống cơm (khen ai) khéo vỗ (ố mấy bông) nên bông. 2/ Một bầy (tang tình) con nít (ố mấy lội lội) lội sông (ố mấy) đi tìm. 3/ (Em nhớ) thương ai (đôi) con mắt (ố mấy) lim dim, 4/ Một bầy (tang tình) con nhện (ớ ớ ớ ố mấy) giăng tơ (giăng tơ ố mấy) đi tìm. 5/ (Em nhớ) thương ai duyên nợ (khách) tang bồng. Đó là chưa kể những chỗ hát lại hai lần như ở phần đầu câu 2 và ở phần cuối những câu 1, 2, 3, 5. Ngoài những tiếng đưa hơi, tiếng đệm, tiếng láy, có khi trong bài hát có cả những tiếng dùng để ghi hệ thống âm giai của cổ nhạc là hò, xự, xàng, xê, cống,... Ví dụ trong bài "Xe chỉ luồn kim": May quần (tình chung là vuông) nhiễu tím (í a, í a). Gởi ra (gởi ra chồng) cho chồng. Ứ xáng, ú xáng u cái liu xê phàn (thời cái nỗi gởi ra cho chồng) Ngày xưa, trai gái vùng Bắc Ninh có thể hát Quan họ quanh năm. Mỗi khi có dịp lễ là họ mời nhau đến hát. Cả đến khi không có việc gì, họ cũng rủ nhau đến một làng nào đó trong vùng để cùng nhau vui hát. Chỉ cốt là trước khi đến, họ bảo cho nhau biết trước để có thì giờ gọi người. Nhưng hát Quan họ đặc biệt thịnh hành vào mùa thu tháng 8 và nhất là vào tiết xuân trong ba tháng: giêng, hai, ba ... Dịp hát quan trọng nhứt là những dịp đám cưới, đám khao, đám giỗ, đám hội. Hát Quan họ là lối hát không dính dáng đến lao động, trái với nhiều loại dân ca khác như hò, hát ví, vì thế không hát ở ngoài đồng trong khi làm lụng. Có thể hát tại nhà trong các dịp cưới hỏi, giỗ khao; hay sau khi hát ở hội đình, hội chùa rồi mời nhau về nhà. Tại nhà có khi gái ngồi trong nhà hát ra, và trai ngồi trên bờ hát vọng xuống. Có k hi họ cùng ngồi trong thuyền thúng trên mặt hồ để vui hát trong một đêm hè hay một chiều thu. Tại hội đình, trai gái hát trước bàn thờ Thanh hoàng. Lắm khi các bài hát, lúc đầu chỉ có tính chất tôn giáo một ít, còn về sau đều có tính chất tình tứ. Tại hội chùa, họ hát ở trước cửa chùa, giữa sân chùa, có khi cả ở trong chùa. Nhưng thường hát ở các sườn đồi hay giữa các đám ruộng, hoặc trên những bờ đê bên cạnh chùa. Hát chia làm từng bọn. Mỗi bọn, trai hay gái, phải có ít nhứt bốn người để thay phiên nhau hát, vì hát rất hao hơi. Quan họ phải hát giọng đôi, nghĩa là hai người cùng hát một lúc, một người "dẫn" (chính) và một người "luồn" (phụ). Mỗi bọn quan họ có một người đứng đầu đại diện, được cả bọn tôn làm anh Hai hay chị Hai. Những người khác cứ theo thứ tự hát hay, hát kém mà lấy tên là anh Ba, anh Tư, anh Năm hay chị Ba, chị Tư, chị Năm. Chỉ cần bốn người hát được, còn bao nhiêu dự vào cho đông cũng không sao. Khi hai bên hát với nhau, bên hát trước hát giọng nào thì bên hát sau phải theo giọng ấy để trả lời và phải theo cho đúng; không được bỏ một tí ngân nga. Như thế mới là đối chọi. Không đối được là tỏ cái kém cỏi của mình. Trai gái hát Quan họ không phải sống về nghề hát, không thể gọi là những người hát chuyên nghiệp. Nhưng không phải bất cứ ai ai cũng có thể hát được Quan họ. Muốn hát Quan họ phải có nhiều điều kiện, phải có giọng tốt, phải chịu khó luyện tập, phải có trí nhớ và ít nhiều thông minh, nghĩa là có ít nhiều tài đối đáp, biết bình tĩnh để trả lời người đối diện, không những trong ý câu hát mà nhứt là trong giọng bài hát. Tình bạn hữu, tình anh chị em giữa những người cùng chung "gia đình" Quan họ thật thân thiết. Họ coi cha mẹ của nhau như cha mẹ của mình. Những dịp hiếu, hỷ, buồn vui, họ đều đến thăm hỏi, biếu tặng. Cha mẹ bạn có yếu đau, họ tìm đến săn sóc an ủi. ![]() |
Điêu Thuyền với kế liên hoàn Điêu Thuyền là một giai nhân tuyệt sắc đời mạt Hán. Cũng như Tây Thi, Chiêu Quân, Dương Ngọc Hoàn, Điêu Thuyền có tiếng là "bế nguyệt" trong "tứ đại mỹ nhân" ở cổ Trung Hoa. Nàng bị loạn Đổng Trác, gia cảnh tan tành, cha mẹ bị giết chết mất cả, nàng phải phiêu bạt lênh đênh, xin vào làm người ở cho quan Tư đồ Vương Doãn. Thấy nàng đẹp, có tài hát hay đàn giỏi nên Vương Doãn nhận làm con nuôi. Đổng Trác trước làm thứ sử đất Tây Lương. Khi dẹp giặc Hoàng Cân (giặc khăn vàng, bịt khăn vàng làm biểu hiệu) bị thua nhiều trận, triều đình muốn làm tội. Đổng Trác lo sợ đem của hối lộ cho bọn hoạn quan là Thập Thường thị nên mới thoát khỏi. Hắn lại khéo léo kết giao với các nhà quyền quý, thường đem lễ vật làm nhân tình, do đó nên được thăng chức cao và thống lãnh đại binh xứ Hiệp Tây hơn 20 vạn. Lòng tham không đáy hắn thấy cần phải trèo lên ngai vàng mới thỏa chí nguyện nên rắp tâm chờ đợi thời cơ cử đồ đại sự. Nhân dịp triều đình bị loạn Thập Thường thị, hắn lấy cớ bảo giá kéo quân về triều. Hắn chuyên quyền, khống chế các quan giết cả vua Thiếu Đế, Hà Hậu và Đường Phi. Hắn vào cung gian dâm cùng cung nữ rồi ngủ luôn tại long sàn. Có lần hắn dẫn lính đi dạo đồn tại một địa phương, gặp tiết tháng hai có mở hội, trai gái các xã thôn tụ họp vui chơi. Hắn sai quân sĩ bổ vòng vây, giết hết đàn ông con trai, bắt hết phụ nữ và lấy hết của cải chở lên xe, treo hơn ngàn đầu người ở dưới xe đem về thành, phao lên rằng: "Tướng quốc đánh giặc, đại thắng trở về". Đổng Trác lại có một đứa con nuôi tên Lữ Bố, sức đánh trăm người, nên Trác càng kiêu ngạo, hống hách coi mạng người như cỏ rác. Các quan trong triều có ai biểu lộ sự phẫn nộ, chống đối thì lập tức, sau một tiếng quát, một cái vẩy ta của hắn là đầu lìa khỏi cổ. Trước sự tàn bạo của hắn, lòng dân căm phẫn, tất cả 17 trấn chư hầu nổi lên quyết tiêu diệt hắn, nhưng đều bị đứa con nuôi của hắn đánh bại. Đại thắng, hắn càng kiêu căng. Và, càng thẳng tay giết chóc kinh khủng. Quan tư đồ Vương Doãn nghĩ đến hành vi lộng quyền sát nhân của Trác, càng xốn xang phiền muộn, ngồi đứng không an. Nhân đêm khuya trăng sáng, Doãn chống gậy thơ thẩn ra vườn. Từng bước một, lão thỉnh thoảng ngửa mặt lên trời sa nước mắt. Bỗng ở phía Mẫu Đơn đình có tiếng thở than. Doãn lấy làm lạ, lần bước đến lén nghe. Thì ra tiếng than đó là tiếng của Điêu Thuyền. Doãn tức giận hỏi: - Thế mi có tư tình với ai chăng? Điêu Thuyền thưa: - Con đâu dám! - Vậy tại sao đêm khuya canh vắng như thế này, mi lại còn ra đây than thở? Điêu Thuyền buồn bã thưa: - Con nhờ cha nuôi dưỡng từ tấm bé, dù cho thịt nát xương tan, con cũng đền bồi chưa đủ; lẽ nào con đành làm bại hoại gia phong để phải tủi nhục cho cha. Vì mấy hôm rày, con thấy cha vẻ mặt luôn luôn tư lự, thế tất trong nước có điều đại sự nhưng con không dám hỏi thăm. Đêm nay, con thấy cha buồn rầu thái quá, đến nỗi đứng ngồi không yên, con rất lấy làm khổ tâm nên lén thở than, không dè cha bắt gặp. Vậy con xin cha nếu có việc gì phải dùng đến con thì con nguyện dù thác cũng chẳng từ. Vương Doãn nghe nói cả mừng, nói: - Cha dè đâu sự nghiệp cơ đồ còn ở trong tay con trẻ. Đoạn, lão bảo Điêu Thuyền theo lão lên nhà trên. Lão truyền cho bọn gia đinh đi ngủ cả, rồi bảo Điêu Thuyền: - Con ngồi lên cho cha lạy rồi cha sẽ nói chuyện cho con nghe. Điêu Thuyền kinh hãi quỳ xuống, thưa: - Lòng con đã nhứt quyết, nếu cha còn lo ngại mà buông những lời như thế thì con rất đắc tội với cha! Doãn buồn rầu bảo: - Đổng Trác hiện nay dọc ngang tàn bạo, thêm có thằng rể tên Lý Nhu bày mưu hại chúng, và có thằng con nuôi tên Lữ Bố kiêu dũng khác thường; làm cho trên, thì triều đình khốn khổ như bị đá dằn, dưới thì bá tánh nguy nan như mắc dây treo ngược. Đổng Trác lại lòng toan soán vị mà các quan đều thúc thủ vô mưu, riêng cha cũng thế. Nhưng cha chỉ thấy có một điều này, nói ra rất ngại, không biết con có bằng lòng không? Điêu Thuyền sa nước mắt: - Cha không tin lòng con sao? Doãn ngậm ngùi nói: - Cha tin lòng con, nhưng ngại con không thực hành được. Nguyên cha con thằng Đổng Trác là phường háo sắc, bây giờ cha muốn dùng "liên hườn kế", trước đem con hứa tiếng gả cho Bố rồi sau lại hiến cho Trác. Con ở giữa tùy cơ ứng biến làm cho cha con nó trở lại giết hại nhau. Nếu mà làm được như vậy là con liều thân giúp nước, công nghiệp vô cùng to lớn. Điêu Thuyền cúi đầu sa nước mắt, nghẹn ngào: - Con xin vâng lời cha. Cha cứ tin tưởng nơi con. Hôm sau, Vương Doãn đem hai hột minh châu, bảo thợ khéo khảm một cái mão vàng tuyệt đẹp, rồi sai người đem tặng cho Lữ Bố. Bố mừng rỡ liền qua dinh tạ ơn. Vương Doãn rước Bố vào nhà, thỉnh lên ngồi trên. Lữ Bố không dám. Doãn ân cần nói: - Ngày nay, cả trong thiên hạ chỉ có tướng quân mới đáng mặt anh hùng. Lão kính tài tướng quân chớ không phải kính chức phận. Nghe nói, Bố vui lòng đẹp ý lắm. Vương Doãn lại bày diên yến, khuyên mời Lữ Bố rất ân cần. Trong tiệc, Doãn không ngớt lời ca tụng oai thế cha, tài lực con làm cho Bố càng hứng chí, uống rượu thật nhiều. Độ một lúc Doãn truyền quân hầu đi nghỉ, chỉ để vài thị nữ ở lại châm rượu. Thấy Bố hơi men đã thắm, Doãn truyền thị nữ phò Điêu Thuyền ra. Mặt hoa mơn mởn lại trang điểm vô cùng diễm lệ, mình liễu uyển chuyển lại y phục lộng lẫy huy hoàng, Bố vừa trông thấy giựt nảy mình, tưởng là tiên nữ hạ phàm, nhìn không chớp mắt. Doãn tươi cười giới thiệu: - Con gái lão là Điêu Thuyền. Nay lão với tướng quân cũng như tình nghĩa một nhà, nên cho nó ra chào mừng tướng quân và thay mặt lão mà bồi rượu. Kẻo lão già yếu e có điều sơ xuất. Đoạn bảo Điêu Thuyền đến bên Lữ Bố mời rượu. Nàng uốn tay ngọc nâng ly rượu ghé lại mời, rồi đôi mắt long lanh nhìn thẳng vào đôi mắt chàng. Bốn mắt đưa lên rồi hai cặp mày lại rủ xuống, rồi lại nhìn nhau nữa, khiến cho kẻ ngẩn ngơ người ngơ ngẩn. Vương Doãn giả say. Lữ Bố mời Điêu Thuyền ngồi. Điêu Thuyền tỏ vẻ e lệ ngần ngừ rồi muốn bỏ vào trong. Doãn vui vẻ bảo: - Tướng quân đây vốn người thiết nghĩa với cha. Con cứ ngồi, không phải ngại. Nàng vâng lời rón rén ngồi bên cạnh Vương Doãn. Bấy giờ, Bố cứ ngồi ngây người ra như tượng gỗ. Hai mắt đăm đăm nhìn nàng không rời, y như bị thu hồn. Rồi đưa tay lên miệng như cái máy mà uống cạn luôn mấy ly rượu nữa. Doãn rất đắc ý, nói: - Lão muốn đưa con gái lão sang làm tiểu thiếp tướng quân để hầu hạ trang anh hùng duy nhứt thời nay. Chẳng hay tướng quân có lòng thương yêu dung nạp chăng? Lữ Bố vội đứng ngay dậy, chắp tay, cúi đầu tạ rằng: - Nếu Tư đồ thương cho được thế, tiểu tướng thề đem hết sức khuyển mã báo đáp ân tình. Doãn nói với giọng cương quyết: - Vậy nay mai lão chọn được giờ tốt thì sẽ cho người đưa tiện nữ ngay sang quý phủ. Bố mừng rỡ khôn xiết, hân hoan đưa mắt nhìn Điêu Thuyền. Nàng cũng đảo đôi mắt long lanh, như sóng nước hồ thu đưa tình... tiếp theo một nụ cười nở nhẹ trên làn môi thắm. Tiệc tan, Bố quyến luyến không muốn đứng dậy. Doãn nhỏ nhẹ bảo: - Ý lão muốn lưu tướng quân nghỉ lại đây một đêm nhưng sợ Thái sư nghi hoặc đấy thôi. Bố dùng dằng lưu luyến mãi nhưng rồi sau hai ba lần tạ ơn Vương Doãn, chàng mới đành ra về, thần trí vẫn mơ màng đến con người đẹp và mong mỏi, đợi chờ... Vương Doãn lại kính cẩn mời Đổng Trác đến nhà. Trác bằng lòng đến. Doãn tiếp rước trọng thể và bày yến tiệc. Doãn luôn miệng ca tụng: - Thái sư là cành vàng lá ngọc, phước lộc song toàn, không nhường Y Doãn, Chu Công đời trước. Trác lấy làm đắc ý. Doãn lại nói: - Tôi có học chút thiên văn biết chắc vận số Hán triều đã hết, bốn phương thiên hạ đều nghe tiếng Thái sư. Căn cứ vào ý trời và lòng người chắc không bao lâu, thiên tử cũng nhượng vị cho Thái sư chớ chẳng không. Trác rất khoái trá, nâng ly rượu, cười khà khà: - Ta đâu dám trông chuyện ấy. Nếu may gặp hoặc thời vậy có đến cho ta, thì ta hứa với Tư đồ là sẽ phong cho Tư đồ làm cống mạng đại thần. Doãn tỏ vẻ mừng rỡ vâng vâng dạ dạ rồi lại truyền cho nữ nhạc dâng ca múa hát cho Đổng Trác xem. Bấy giờ đuốc hoa càng đốt lên sáng rực cả nhà. Rèm châu vừa cuốn lên, thì Điêu Thuyền nhè nhẹ gót hài bước ra, xiêm y thướt tha, mình liễu uyển chuyển múa trước rèm châu như tiên nữ nhập động. Trác nhìn đắm đuối đờ đẫn như kẻ mất hồn. Điêu Thuyền lại hát. Nàng vừa cầm phách gõ nhịp cất giọng ca. Giọng trong như oanh kêu, cao như hạc gọi, khi trầm khi bổng thánh thót như rót vào tai, mà huyền huyền ảo ảo làm mê hồn tục khách. Trác tặc lưỡi, nức nở khen mãi. Sắc đẹp, hát hay, vũ giỏi, thật là không phải một kẻ phàm tục. Doãn giới thiệu với Trác: nàng là con nuôi. Trác lại hỏi tuổi. Nàng thỏ thẻ: - Thiếp vừa đôi tám. Trác nức nở khen: - Trông qua, ta ngỡ là tiên. Doãn đứng dậy thưa: - Ý tôi muốn dâng nó cho Thái sư, không biết Thái sư có bằng lòng dung nạp không? Trác gật gù, khoan khoái lập bập nói: - Tư đồ hậu tình thương ta, thật ta không biết lấy chi tạ đáp cho xứng. Doãn khiêm nhượng nói: - Con tôi được hầu gần Thái sư là có nhiều phước lắm. Tôi còn mong ước gì hơn nữa. Tiệc rượu xong, Đổng Trác từ giã về. Doãn cho người đem xe đưa Điêu Thuyền theo Đổng Trác về tướng phủ. Bấy giờ vừa lúc canh một. Sau khi đưa Điêu Thuyền về Tướng phủ, Vương Doãn quày ngựa trở về. Vừa đến nửa đường, bỗng gặp Lữ Bố cầm kích cưỡi ngựa đi đến. Bố gò cương lại, đưa tay nắm lấy áo Doãn, gay gắt hỏi: - Ngài bày trò chi lắm vậy! Tại sao ngài đã hứa hả con cho tôi mà còn đem cho Thái sư? Vương Doãn điềm nhiên đáp: - Tướng quân chớ nóng nảy, xin mời về một thể rồi lão sẽ tường trình cho tướng quân nghe. Đến nhà Doãn hỏi: - Tướng quân cớ gì trách lão? - Người ta cho biết là ngài cho xe đưa Điêu Thuyền qua Tướng phủ. Doãn tỏ vẻ ngạc nhiên: - Thế tướng quân không hay gì sao? Nguyên hôm nọ, Thái sư ở triều đường có nói với lão là sẽ đến viếng nhà lão. Do đó, lão phải sửa soạn tiếp rước. Trong khi tiệc rượu, người dạy lão rằng: "Ta nghe ngươi có một đứa con gái là Điêu Thuyền đã hứa gả cho con ta, sợ ngươi nói không chắc nên ta phải đến đây mà cầu. Vậy ngươi bảo nó ra đây cho ta xem". Lúc ấy lão không dám nghịch mạng lập tức đem nó ra mừng cha chồng. Người lại bảo lão rằng: "Nay cũng nhằm ngày tốt, vậy để ta ra rước nó về phối hợp cùng Lữ Bố". Lịnh của Thái sư, lão đâu dám cải. Xin tướng quân xét lại. Bố suy nghĩ một lúc rồi nói: - Tại tôi nghe lầm, xin ngài miễn chấp. Vương Doãn nói: - Đồ tư trang của con lão đem theo chưa hết. Khi nào đưa nó về dinh tướng quân rồi, lão sẽ sai người đem qua cho nó. Bố tin thực lòng, mừng khấp khởi, đợi chờ... Nhưng... Đợi chờ trông ngóng mãi từng giờ, từng phút, từng giây, nhưng nào thấy bóng hồng được ai đưa đến. Lữ Bố lòng xốn xang nên lần mò qua Tướng phủ hỏi thăm mấy người thị nữ. Chúng đáp: - Quan Thái sư còn ngủ với tân giai nhân đến bây giờ chưa thức. Bố chết điếng cả người. Vừa đau đớn vừa tức giận, Bố lén vô cửa sau phòng nom xem. Vừa lúc ấy Điêu Thuyền đã thức, đứng trước gương trải tóc, thấy Bố thì quay ra nhìn, mặt mày buồn nghiến. Nàng đưa khăn chậm mắt. Lữ Bố ruột lòng đứt đoạn. Đổng Trác thức dậy nhìn qua nhà giữa thấy Lữ Bố bước vào thì hỏi: - Có việc chi không? Bố đáp "không" rồi vòng tay đứng hầu. Thấy Điêu Thuyền đứng thập thò bên bức rèm châu ở cửa phòng, nhìn chàng đăm đăm, vẻ mặt đầy đau đớn tủi cực thì lòng Lữ Bố càng tan nát. Trông người Lữ Bố đờ đẫn như kẻ mất hồn, Đổng Trác sinh nghi nên truyền cho Lữ Bố lui đi nghỉ. Bố trong lòng ấm ức, tiu nghỉu bước ra về. Từ khi nạp dụng Điêu Thuyền, hơn một tháng, Đổng Trác không ra khách. Một hôm lão cảm thương hàn. Điêu Thuyền tận tụy chầu chực, thuốc men, cơm cháo. Trác lấy làm vui lòng lắm. Bố nghe tin vào phòng vấn an. Vừa lúc Đổng Trác còn ngủ, Điêu Thuyền đứng sau giường nhìn Lữ Bố, lấy ta chỉ lòng mình rồi lại chỉ Đổng Trác và hai hàng lệ chảy ròng trên má. Bố đau đớn vô cùng. Đổng Trác vừa giựt mình thức giấc, mở mắt thấy Lữ Bố đứng nhìn sau giường mãi thì nổi giận trở mình qua, lại thấy Điêu Thuyền, nên nạt Lữ Bố: - Sao mi dám giễu cợt ái cơ ta? Lão lại truyền đuổi Bố ra. Lại cấm Bố không được bén mảng đến nữa. Bố gặp Lý Nhu, tỏ bày tự sự, Nhu vào bẩm với Trác: - Thái sư muốn tung hoành thiên hạ sao lại lấy chút hờn nhỏ quở trách Ôn Hầu, nếu va biến tâm ắt hư đại sự. Trác hỏi: - Bây giờ liệu làm sao? Nhu nói: - Thái sư cho kêu va vào ban thưởng bạc vàng và lấy lời an ủi. Trác nghe theo. Bố tạ ơn nhưng lòng tan nát của Bố làm sao hàn gắn được. Đổng Trác lành bịnh, xe giá vào chầu vua. Bố cầm kích theo hầu. Thấy Trác đương nói chuyện với vua, Lữ Bố lén cầm kích lên ngựa chạy phăng về Tướng phủ, vào kiếm Điêu Thuyền. Điêu Thuyền tỏ vẻ vui tươi nói: - Lang quân ra sau vườn đến Phụng Nghi đình mà chờ thiếp. Điêu Thuyền trang điểm xong, vội vàng bước ra sau, chấp tay bái Lữ Bố mà rưng rưng nước mắt, nói: - Thiếp tuy là con nuôi của quan Tư đồ song người coi như con đẻ. Người gả thiếp cho lang quân là chọn chỗ xứng đáng cho thiếp trao thân gởi phận. Mừng chưa kịp no, không dè Thái sư lòng trâu dạ chó, bắt thiếp cưỡng bức như thế này. Sở dĩ thiếp chưa chịu chết vì chưa gặp mặt chồng. Nghĩ lại thiếp ngày nay chẳng khác hoa tàn nhụy rữa còn phụng sự anh hùng sao đặng. Vậy thiếp xin tự tử trước mặt lang quân để lang quân hiểu rõ nỗi lòng của thiếp. Nói xong, Điêu Thuyền nhắm ngay ao sen toan nhảy xuống. Lữ Bố lật đật ôm lại, cảm động nói: - Ta biết rõ lòng nàng lắm rồi. Điêu Thuyền níu lấy Lữ Bố, nức nở: - Đôi ta bây giờ sống ở dương gian chẳng đặng kết đôi thì xin nguyện chết xuống tuyền đài sẽ kết duyên tơ tóc. Bố an ủi nói: - Kiếp này nếu ta không lấy được nàng làm vợ thì thề không phải là một kẻ anh hùng. Điêu Thuyền đưa khăn chậm mắt, nghẹn ngào: - Thiếp tin tưởng lời hứa của lang quân. Xin lang quân thương mà cứu thiếp. Bố nói: - Ta đi tự giờ cũng lâu, sợ lão tặc sinh nghi thì khó. Điêu Thuyền níu lấy vạt chiến bào của Lữ Bố, khóc dầm nói: - Nếu lang quân sợ lão tặc như thế thì chắc thân thiếp không thoát được rồi! Bố an ủi: - Nàng đừng lo mà hao tổn mình vàng, để thủng thẳng rồi ta liệu. Nói rồi xách kích muốn đi, Điêu Thuyền nói: - Thiếp ở chốn khuê phòng nghe danh tiếng lang quân anh hùng dưới đời có một, không ngờ lại bị có người kềm chế như thế. Nói rồi lại khóc òa lên như mưa như gió một cách bi thảm. Bố lấy làm thẹn thùa, xấu hổ để kích xuống, ôm lấy Điêu Thuyền, đưa khăn chậm nước mắt cho nàng, tìm lời an ủi vỗ về. Hai người bịn rịn âu yếm, không nỡ buông nhau. Đổng Trác ngồi tại triều, chợt quay lại nhìn không thấy Lữ Bố thì hối hả từ tạ vua, lên xe về. Thấy ngựa Lữ Bố buộc trước Tướng phủ thì vội vàng hỏi: - Lữ Bố đi đâu mà để ngựa đây? Môn lại thưa: - Lữ Ôn Hầu đi ra nhà sau. Trác vào phủ kiếm không thấy. Cả Điêu Thuyền cũng vắng. Trác hoảng hốt hỏi thị nữ. Chúng thưa Điêu Thuyền ra vườn xem hoa. Trác hỏa tốc đi thẳng ra sau thấy Điêu Thuyền và Lữ Bố đương nói chuyện. Lão hoa cả mắt. Máu ghen sôi sùng sục, lão quát lên một tiếng. Lữ Bố hoảng hốt bỏ chạy, để cây kích lại dựa lan can ở bao lơn. Đổng Trác cúi xuống cầm lấy kích, phóng ngay người Bố, nhưng không trúng. Lão đuổi theo nhưng gần đến cửa vườn, thốt nhiên một người ở ngoài chạy vào va nhằm cái bụng phệ của Đổng Trác làm lão té nằm một đống như cây thịt to nặng nề đổ. Đó là Lý Nhu, rể của Trác. Trác mặt mày hầm hừ nói: - Thằng nghịch tặc đó dám giỡn với Ái Cơ ta. Ta quyết không dung. Nhu thưa: - Thái sư chớ vội nóng mà lầm. Xưa, Sở Trang vương trong "bữa tiệc bứt dải mũ" không trách phạt Tưởng Hùng về tội ghẹo Ái Cơ, mà về sau Trang vương được Tưởng Hùng liều chết cứu khỏi vòng vây nguy khốn của quân Tần. Nay Điêu Thuyền bất quá chỉ là một ả con gái thường mà Lữ Bố là mãnh tướng tâm phúc của Thái sư! Nếu nhân cơ hội này, Thái sư đem Điêu Thuyền tặng cho Lữ Bố, ắt Bố phải cảm kích vô cùng, và sẽ liều chết báo ơn. Xin Thái sư nghĩ lại cho kỹ. Trác trầm ngâm một lúc, rồi nói: - Ngươi nói vậy cũng phải, để ta nghĩ lại đã. Nhu từ tạ lui ra. Trác vào hậu đường hỏi Điêu Thuyền: - Sao mi dám tư thông với thằng Lữ Bố? Điêu Thuyền khóc nấc lên rồi kể lể: - Thiếp đang xem hoa nơi sau vườn, thình lình Lữ Bố bước vào, thiếp hoảng sợ toan chạy trốn. Hắn nói hắn là con của Thái sư, không hề chi, rồi cầm kích rượt thiếp đến Phụng Nghi đình. Thấy nó sinh tâm, xấu xa như vậy, thiếp định liều mình nhảy xuống ao sen. Nó lại ôm cứng lấy thiếp. Đương cơn bối rối, vừa may ngài vào kịp nên thiếp mới toàn tánh mạng. Vậy mà Thái sư không thương hại còn nói oan, nói xấu cho thiếp. Đổng Trác nói: - Ý ta muốn gả mi cho Lữ Bố, vậy mi có bằng lòng không? Điêu Thuyền thất sắc, nức nở: - Thiếp đã thất thân với Thái sư, bây giờ Thái sư lại nỡ lòng đem đưa thiếp cho con là một thằng thất phu, như thế thật trái đạo quá. Vậy thiếp thà chết, còn hơn sống mà chịu nhơ danh. Nói xong, Điêu Thuyền bước lại rút lấy gươm treo trên vách toan đâm vào cổ.Trác hốt hoảng vội đứng dậy giựt lấy gươm, ôm Điêu Thuyền vào lòng, đặt môi vào má nàng hôn lấy hôn để, nói: - Ta nói đùa nàng vậy mà. Điêu Thuyền nằm ngã ngang trên mình Đổng Trác, tay đập, chân giẫy, khóc kể: - Thiếp biết mưu này là mưu của Lý Nhu. Nhu với Bố thân nhau nên muốn đặng lòng nhau mới bày điều phi đạo lý, vô liêm sỉ như thế. Trác nâng lấy má của Điêu Thuyền, nói: - Nàng có lòng như thế, ta phụ rảy sao đành. Điêu Thuyền nói: - Thiếp e ở lâu nơi này thì Bố có ngày hãm hại. Đổng Trác nói: - Thôi, nàng chớ buồn rầu mà hao mòn sắc đẹp. Sáng ngày, ta sẽ đưa nàng về My Ô đặng chúng ta cộng hưởng khoái lạc. Điêu Thuyền vui vẻ lau nước mắt bái tạ. Hôm sau, Lý Nhu vào thưa với Trác: - Nay cũng tốt ngày, vậy xin Thái sư cho đưa Điêu Thuyền về với Lữ Bố. Trác bảo: - Ta với Lữ Bố có tình cha con, nếu làm như thế ta e can danh phạm nghĩa, để thiên hạ sỉ nhục ta chăng? Nhu nói: - Xin Thái sư cương quyết, không nên nghe lời phụ nữ. Trác nổi giận quát to: - Mi đành đưa vợ mi cho Lữ Bố không? Này, tự hậu còn nói chuyện về Điêu Thuyền nữa thì toi mạng. Nhu buồn bã bước ra, than thở: - Chúng ta đều phải chết tại tay đàn bà! Ngay ngày hôm sau, Đổng Trác hạ lịnh xa giá về My Ô, là quê hương. Các quan đều lạy đưa. Điêu Thuyền ngồi trên xe thấy Lữ Bố nhìn nàng mãi thì giả bộ che mặt rồi lấy khăn chậm mắt. Xe đã đi rồi nhưng Lữ Bố cầm cương ngựa cho đi từng bước một trên gò, đăm đăm nhìn theo xe cuốn sau một làn bụi mịt mờ mà ruột lòng đứt đoạn. Vương Doãn giục ngựa trờ tới hỏi: - Sao tướng quân không đi cùng với Thái sư, lại ở đây mà buồn bã như vậy? Lữ Bố ngậm ngùi, thở dài: - Cũng vì chuyện con gái của ngài mà tôi mới buồn! Vương Doãn cũng thở dài, nói: - Lão tưởng lâu nay đã đưa con về cho tướng quân rồi, không dè Thái sư làm thói cầm thú. Lão nghĩ lại con lão thật vô phước lắm! Vương Doãn lại mời Bố về tư dinh và dọn tiệc thết đãi. Bố càng buồn, đem chuyện Điêu Thuyền khóc kể tại Phụng Nghi đình cho Vương Doãn nghe. Doãn nói: - Thái sư cưỡng hiếp con lão, đoạt vợ tướng quân thiên hạ sỉ tiếu lão và tướng quân nhiều lắm. Nhưng lão già rồi cũng không đủ tiếc; chỉ tiếc cho tướng quân có danh cái thế anh hùng mà lại phải chịu nhục nhã như vậy. Lữ Bố nghe nói nổi giận vỗ bàn quát to. Vương Doãn can: - Lão chẳng may nói lỡ lời xin tướng quân giảm nộ. Lữ Bố nói: - Tôi quyết giết lão tặc ấy thì mới rửa được sự xấu hổ này. Vương Doãn ra vẻ sợ sệt nói: - Tướng quân giận giỗi nói như vậy e họa lây đến lão. Lữ Bố nói: - Làm người đứng giữa càn khôn lẽ đâu lại chịu người câu thúc như vậy. Tôi muốn giết lão già ấy lắm nhưng còn ngại tiếng cha con. Vương Doãn mỉm cười nói: - Thái sư họ Đổng, tướng quân họ Lữ có liên hệ gì đâu. Khi Thái sư phóng kích tại Phụng Nghi đình thì còn tình nghĩa cha con gì nữa. Vả lại tài ba của tướng quân nếu giúp Hán thì được chữ trung thần, danh lưu thiên tải; theo phò Trác thì mang tiếng phản nghịch di xú vạn niên. Lữ Bố đứng lên bái tạ Doãn và nói: - Lòng tôi đã quyết, thượng quan chớ nghi ngại. Nói xong, cắt tay chảy máu mà thề. ** Vâng theo mưu của Vương Doãn và Lữ Bố, Lý Túc đem 20 quân kỵ mã kéo đến My Ô, thưa với Đổng Trác: - Vua đau mới nhẹ, ý muốn nhượng vị cho Thái sư nên sai tôi đem chiếu ra đây mà tuyên triệu. Đổng Trác hỏi: - Vương Doãn có bằng lòng không? Túc đáp: - Quan Tư đồ đã sai người đắp nền ba từng xây Thọ Thiên đài, chuẩn bị đón rước Thái sư. Trác mừng rỡ nói: - Hèn chi đêm rồi, ta nằm mộng thấy rồng phủ mình, quả nhiên bây giờ được hỉ báo. Rồi ngay hôm ấy, Trác truyền bày xe giá để trở về kinh. Lại nói với Điêu Thuyền: - Ta lên làm vua thì sẽ lập nàng làm hoàng hậu. Điêu Thuyền đã biết mưu kế rồi nhưng cũng giả bộ vui vẻ lạy đưa. Trác về đến kinh vào Tướng phủ, Bố đến bái yết. Trác nói: - Cha lên làm hoàng đế thì sẽ phong cho con làm Đại đô đốc tổng quản quyền hành. Lữ Bố tạ ơn. Sáng hôm sau, Đổng Trác vào triều. Các quan mặc phẩm phục chực rước bên đường. Lý Túc cầm gươm hầu theo xe Trác. Vào đến cửa Bắc Dịch, quân sĩ của Trác phải dừng lại bên ngoài. Chỉ còn Trác ngồi xe cùng với vài chục người được vào. Đến bên trong thấy Vương Doãn và các quan đều cầm gươm lăm lăm ở tay, đứng đợi sẵn, bấy giờ Trác có hơi hoảng sợ mới hỏi Túc: - Ai cũng đều cầm gươm thế kia là ý thế nào? Túc không đáp, cứ đẩy xe thẳng vào: Bỗng Vương Doãn hô to lên: - Phản tặc đã tới! Vũ sĩ đâu? Tức thì có hơn 100 vũ sĩ phục hai bên đổ ra cầm kích, cầm giáo đâm như mưa vào người Đổng Trác. Vì Trác mặc áo giáp sắt nên giáo kích không đâm thấu, chỉ bị thương nơi cánh tay và ngã ngay xuống đất. Trác vội kêu lên: - Phụng Tiên con đâu? Cứu ta! Lữ Bố chạy ra sau xe, quát to lên rằng: - Có chiếu chỉ giết giặc đây. Đoạn đâm ngay một kích trúng giữa yết hầu Trác. Vương Doãn lại sai Lữ Bố, Hoàng Phủ Tung và Lý Túc dẫn quân kéo ra My Ô, tịch biên gia sản của Đổng Trác. Bố đến My Ô, giao tất cả công việc cho Hoàng Phủ Tung và Lý Túc, còn mình thì vào phòng tìm kiếm Điêu Thuyền. Về việc làm của Điêu Thuyền, "Thánh Thán ngoại thư" có đoạn phê bình: "Mười tám lộ quân chư hầu không giết nổi Đổng Trác, mà một thiếu nữ đào tơ liễu yếu như Điêu Thuyền lại giết nổi Trác. Ba anh em Lưu, Quan, Trương hùng liệt không thắng nổi Lữ Bố, mà chỉ một nàng Điêu Thuyền lại thắng nổi. Ôi, lấy chăn chiếu làm chiến trường, lấy son phấn làm khôi giáp, lấy sóng mắt nụ cười làm gươm sắc giáo nhọn, lấy mày ngài làm cung nỏ, lấy nước mắt nũng nịu làm tên đạn, lấy lời tình tứ ngọt ngào làm chiến lược mưu cơ. Xem thế thì cái bản lĩnh của "Nữ tướng quân" quả là tuyệt cao cường, đáng sợ lắm thay! "Tây Thi với Điêu Thuyền cùng lấy sắc khuynh thành. Nhưng việc làm của Tây Thi còn dễ, việc làm của Điêu Thuyền khó hơn. Tây Thi chỉ phải đánh ngã một mình Ngô vương Phù Sai. Điêu Thuyền phải đồng thời đánh ngã cả Lữ Bố lẫn Đổng Trác. Phải luôn luôn nghĩ mưu kế trong lòng, thay đổi bộ mặt để đối phó với cả hai bên. Ta nghĩ rằng cái công của Điêu Thuyền đáng ghi vào sử xanh. Nếu như, khi Đổng Trác đã bị giết rồi, Vương Doãn không vụng về mà gây ra cái loạn Lý Thôi, Quách Dĩ thì cơ đồ nhà Hán đã phục hưng ngay từ đó. Và như thế thì một cô gái như Điêu Thuyền há lại không đáng ghi tên vào nơi Phượng Các, không được tô tượng ở chỗ Lân Đài hay sao? "... "Cái tuyệt diệu của "Liên hoàn" không phải là làm cho Lữ Bố giết Đổng Trác đâu! Nếu Trác cầm kích lao trúng, giết chết Lữ Bố lúc bấy giờ, tức là Trác tự chặt một cánh tay, và Trác sẽ bị tiêu diệt dễ dàng ngay. Đó mới là chủ ý. Điều này đã nằm trong bụng Vương Doãn và có lẽ Điêu Thuyền cũng muốn thế. Vương Doãn lẽ nào lại yêu Lữ Bố? Mà Điêu Thuyền cũng không yêu Lữ Bố đâu? "Riêng ta, ta yêu nàng Tây Tử thật lòng trở về với Phạm Lãi; và yêu nàng Điêu Thuyền giả vờ sống thác với Lữ Bố. Bởi vì tuy thân đứng trước Lữ Bố, nhưng lòng Điêu Thuyền bao giờ cũng chỉ nghĩ đến một mình Vương Doãn mà thôi. "... "Sau khi thành Hạ Bì thất thủ, Lữ Bố bị chết, đâu còn thấy bóng dáng nào ở chỗ nào? Nàng chính là con Rồng thiêng, chỉ lộ cái đầu, cái mình với đời, mà không cho đời sau biết cái đuôi mình ẩn đi đâu hết! Có thế danh tiếng mới khỏi bị tổn thương". Trên đây là lời phê bình của Thánh Thán. |
Hát Trống Quân
Trong kho tàng dân ca Việt Nam, trống quân là một loại hát rất bình dân và phổ biến tại miền Bắc; và đặc biệt hát trong các dịp hội hè mùa thu, nhất là trong những đêm trăng sáng đẹp của trung tuần tháng tám. Nguồn gốc hát Trống quân có nhiều thuyết: Các nhà nho Việt Nam cho rằng "Trống quân" do hai chữ "Tống quân" (tiễn bạn) mà ra. Theo tương truyền ngày xưa khi một ông quan rời tỉnh này đi tỉnh khác, bạn bè tiễn đưa một quãng đường. Lúc sắp chia ly, người đi đưa đặt một cái trống xuống đất rồi vừa nhịp trống vừa hát bài tiễn bạn trong đó có câu: "Tống quân nam phó thương như chi hà" (khi ta tiễn bạn đi về phía nam, lòng đau đớn thế nào ai rõ được) (theo G. Cordler). Có thuyết cho rằng: Trống quân bày ra từ đời Nguyễn Huệ. Nguyên khi ra Bắc đánh bọn xâm lược Thanh (cuối thế kỷ 18), quân sĩ lắm kẻ nhớ nhà, vua Quang Trung Nguyễn Huệ mới bày ra một cách cho đôi bên giả làm trai gái hát đối với nhau để cho quân sĩ vui lòng. Đang khi hát có đánh trống làm nhịp cho nên gọi là Trống quân (theo Phan Kế Bính). Có thuyết gần giống như thuyết thứ hai, cho rằng; hát Trống quân có nguồn gốc từ lối hát "Trung quân" một điệu hát của quân lính đi theo nhịp trống. Mà quân đây là quân Nghệ Tĩnh của đạo binh Nguyễn Huệ kéo ra Bắc đánh giặc Thanh xâm lăng, cõng nhau rong ruổi ngày đêm không nghỉ (*). Về sau khi chiến tranh đã qua, nhân dân đem lối hát này vào những buổi hội hè gọi là hát Trống quân (theo Phạm Duy). Có thuyết cũng cho rằng loại hát này phát xuất từ những điều kiện lịch sử gần giống như hai thuyết vừa kể, chỉ khác về mặt thời gian, là Trống quân có từ đời Trần lúc chống giặc Nguyên xâm lược (thế kỷ thứ 13). Tục truyền rằng: những lúc đóng quân để nghỉ ngơi, muốn giải trí, binh sĩ Việt Nam ngồi thành hai hàng đối diện nhau, gõ vào tang trống mà hát. Cứ một bên "hát xướng" vừa dứt thì bên kia lại "hát đối". Sau khi đuổi được quân xâm lăng khỏi bờ cõi, hòa bình được lập lại, điệu hát Trống quân được phổ biến trong dân gian. Có nơi gõ nhịp vào tang trống, có nơi căng một dây thép thật thẳng để đánh nhịp (theo Vũ Ngọc Phan). Người ta chưa tìm được thuyết nào là đúng. Hát Trống quân cũng như hát Quan họ không phải thuộc hát lao động, mà thuộc về loại hát lễ hay hát hội. Người hát thuộc về mọi tầng lớp trong xã hội nông thôn. Nhà nho, thư sinh hát với con cái gia đình kỳ mục, giàu có hay gia đình thường dân. Họ hoàn toàn không phải ca sĩ chuyên nghệ mà chỉ là "tài tử" nghiệp dư sính hát, biết hát... Phần đông là trai và gái đến tuần cập kê, đi hát hội để tìm gặp tài sắc, ước định tương lai. Từ hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị vào Nam không có hát Trống quân. Từ Thanh Hóa trở ra, loại hát này chỉ để hát vào dịp thu, nhứt là trong tháng tám. Nhưng không hát ban ngày mà chỉ hát vào những đêm trăng, nhứt là đêm rằm. Hát hội có hai hình thức: hát vui chơi và hát thi lấy giải. Nơi hát có thể là nhà riêng, giữa làng, đầu xóm hay trên sân đình Thành Hoàng. Thi hát có khi tổ chức giữa hai nhóm trai vài gái, có khi giữ hai thanh nam thanh nữ. Ngoài mấy cuộc thi hát tại nhà, trai gái nông dân tự động tổ chức nhiều hội hát trên đám đất rộng giữa làng, bên bờ ruộng hay ở đầu cổng xóm. Trai gái ngồi ra hai bên cách nhau chừng mươi thước. Giữa hai toán có một cái "trống quân" mà ngày xưa gọi là "thổ cổ". Trai hát xướng lấy que tre đánh vào dây kêu bình bình; gái hát đáp gõ cái sênh kêu cách cách làm nhịp. Trống quân, cũng như hầu hết các loại dân ca khác, vay mượn nhiều nơi kho tàng phong dao. Văn thể Trống quân là thơ lục bát. Nhưng khi hát, câu 6 chữ và câu 8 chữ biến thể là cứ sau tiếng thứ hai ở mỗi câu, người hát đệm tiếng thời, thì, hay này, v.v... Và, cứ đến tiếng thứ tư ở mỗi câu thì lên giọng và thêm vào mấy tiếng í a hay ứ ư; có khi người hát lặp lại chữ chót của câu 8 chữ. Thí dụ: Trên trời (này) có đám (ứ ư) mây xanh Giữa thì (này) mây trắng (ứ ư) chung quanh mây vàng Ước gì (này) anh lấy được nàng Thì anh (này) mau gạch Bát Tràng (đem) về xây. Xây dọc (rồi) anh lại xây ngang. (chứ) Xây hồ (này) bán nguyệt (để) cho nàng (chân) rửa chân. Nên ra (thì) tình ái nghĩa ân. Chẳng nên (thì) phú giả (ứ) về dân (tràng) Bát (ừ) tràng. Những tiếng như: thời, này, rồi, rằng, mà, ấy, mấy, nó, cái, con, anh, em... thêm vào khi hát gọi là tiếng đệm; và những tiếng như í, a, ư, ứ, ừ ... gọi là tiếng đưa hơi dùng để ngân nga. Âm hưởng dịu dàng hay réo rắt của tiếng đệm và tiếng đưa hơi làm sao giọng Trống quân mang sức truyền cảm mạnh mẽ. Đó là đặc điểm quan trọng của Trống quân về hình thức. Đặc điểm này lại phù hợp với nội dung Trống quân là biểu lộ được nỗi vừa vui vẻ vừa chứa chan cảm động, và nói lên được những thích thú cao thượng của sự sinh hoạt nông thôn, những cảnh đẹp đẽ của quê hương, những điều trù phú đặc biệt của đất nước. Trống quân còn là một loại hát tình tứ, hoặc nói đến nghĩa bạn bè, nhất là hay đề cao tình luyến ái giữa trai gái nông dân. Trống quân có tính cách đối thoại. Nó là một lối hát đối giữa trai và gái, một lối đối đáp hỏi trả qua lại. Thí dụ: Bên trai đố: Anh đố em câu này em giảng làm sao? Cái gì (mà) thấp cái gì (mà) cao; Cái gì (mà) sáng tỏ (ứ) hơn sao (ở) trên trời. Cái gì (mà) em giải (cho) anh ngồi, Cái gì (mà) thơ thẩn (ứ) ra chơi (ừ) (đào) vườn đào. Cái gì (mà) sắc hơn dao (ứ) Cái gì (mà) phơi phới (ứ) lòng đào (thì em) bảo anh. Bên gái trả lời: Anh đã đố thì em xin giảng ra, Dưới đất (thì) thấp, trên giời (thì) cao Ngọn đèn (thì) sáng tỏ (ứ) hơn sao (ở) trên trời... Chiếu hoa (này) em giải (cho) anh ngồi (mà) Đêm nằm (thì) mơ tưởng (ứ) ra chơi (ư) (đào) vườn đào. (Chứ) Nước kia thì (nó) sắc hơn dao (Chứ) Trứng gà (thì) phơi phới (ứ) lòng đào (thì em) bảo anh. Hát Trống quân, trai gái bao giờ cũng thiên về tình cảm. Hoặc bằng câu ướm hỏi, thử thách, hoặc bằng lời tâm sự. Do đó, Trống quân có tính chất trữ tình, tính chất giao duyên rất sâu sắc. Vì đối đáp, hỏi trả, nên hát Trống quân đòi hỏi người hát phải có tài mẫn tiệp, xuất khẩu thành thi, đột xuất nhanh trí... nhưng bao giờ cũng vẫn giữ thái độ phong nhã, lời không sàm sỡ, lố lăng. Trống quân không phải là một loại trống, mà là một sợi mây dài độ 3, 4 thước tây và dày độ 1 phân tây. Người ta cắm hai đầu sợi dây mây dưới đất bằng hai cây cọc nhỏ bằng gỗ hay bằng tre. Ngay chính giữa sợi mây, người ta đào một lỗ vuông độ 4 tấc mỗi bề, rồi bịt lỗ ấy bằng một miếng ván mỏng. Có khi người ta dùng một khúc tre, một đầu chống lên sợi mây, một đầu chịu trên mặt gỗ. Có khi người ta cột sợi mây với mặt ván. Người đánh trống quân dùng hai chiếc đũa con đánh lên sợi mây. Sợi mây rung làm mặt ván rung, và tiếng mây rung nhờ lỗ đất làm vang lên nghe thình thùng thình như tiếng trống. Có khi người ta đào một lỗ miệng tròn và hình giống như một cái chum, và đậy miệng lỗ bằng một miếng ván tròn và mỏng. Có khi người ta để trong lỗ đất một thùng dầu hỏa. Trên miệng thùng có tấm ván và cây cọc để chống chính giữa sợi mây. Có thùng này tiếng vang càng mạnh. Có khi người ta để trong lỗ một thùng dầu lửa, quay miệng về phía dưới, phía trên có cây cọc chống đáy thùng và căng sợi mây. Không cần dùng tấm ván nữa. Có khi người ta không đào lỗ, chỉ lật úp thùng dầu lửa (hay thùng trà) trên mặt đất và căng dây lên trên thùng. Tóm lại, Trống quân là một loại hát hội vấn đáp giữa nam nữ thanh niên, khuyến khích họ giải bày tình cảm, thông minh và cốt cách qua trung gian của nghệ thuật, trong không khí vui vẻ tưng bừng của hội thu. |
Tuyệt Anh Hội Thắng trận, Sở Trang vương đời Xuân Thu truyền bày tiệc liên hoan, gọi là "Thái bình yến". Phàm các quan văn võ bất cứ cấp nào đều được tham dự. Khi mặt trời gần lặn, tiệc rượu còn đương vui say, Sở Trang vương truyền đốt đèn lên, lại cho một nàng hầu yêu tuyệt đẹp là Hứa Cơ đi mời khắp quan triều thần, mỗi người một chén rượu. Được mỹ nhân chuốc rượu, các quan lấy làm vui vẻ thích thú đều đứng dậy đón lấy rượu uống. Bỗng có một ngọn gió to, bao nhiêu nến thắp ở trên điện tắt phụp cả. Điện tối mò. Bọn nội thị còn đương loay hoay đi châm lửa chưa đến. Trong hàng quan đại phu có một người trông thấy Hứa Cơ đẹp, nhân lúc tối tăm, đưa tay nắm lấy vạt áo của nàng. Hứa Cơ tay trái giằng vạt áo, tay mặt chụp được dải mũ của người ấy. Dải mũ đứt, người ấy sợ lắm vội buông tay ra. Hứa Cơ lấy được dải mũ, rón rén đến trước Sở Trang vương, ghé tâu: - Thiếp vâng mạng đại vương ra mời các quan uống rượu, thế mà có người vô lễ dám nhân lúc tắt đèn, nắm lấy vạt áo thiếp. Nay thiếp đã bứt được cái dải mũ của người ấy, vậy xin đại vương giục thắp nến mà xét xem. Nhưng Sở Trang vương lại truyền cho bọn nội thị chớ thắp nến vội, đoạn bảo các triều thần: - Ngày nay ta bày tiệc mong cùng các quan mua vui. Vậy các ngươi nên bứt đứt dải mũ cả đi, rồi cùng ta uống rượu thật say. Nếu ai không bứt đứt dải mũ thì chưa được vui lắm. Nghe lịnh dạy, tất cả triều thần đều bứt đứt dải mũ của mình. Bấy giờ Sở Trang vương mới cho thắp đèn lại. Thành ra không ai biết người nào làm ẩu, níu lấy vạt áo mỹ nhân cả. Tiệc xong trở về cung, Hứa Cơ tâu với Sở Trang vương: - Thiếp nghe nói kẻ trai gái phải có sự phân biệt, huống chi là vua tôi. Đại vương sai thiếp mời các quan uống rượu là để tỏ lòng mến, nay người ấy nắm lấy vạt áo thiếp mà đại vương không trị tội, thì còn ra thể thống gì nữa. Sở Trang vương cười bảo: - Ta bày tiệc rượu này là muốn các quan đều được cùng vui. Rượu say sinh ra chớt nhã chẳng qua cũng là lẽ thường tình. Nếu ta trị tội một người mà làm cho các quan không được vui thì ta không muốn. Hứa Cơ nghe nói, phục là người có lượng. Một hôm Sở Trang vương đem quân đánh nước Trịnh, có một viên phó tướng tên Đường Giao xin đem 100 thủ hạ đi mở đường. Đường Giao cố sức xông pha. Quân nước Trịnh không ai đương nổi. Vì thế, đại binh của Sở Trang vương tiến thẳng đến địa giới của nước Trịnh một cách mau lẹ. Sở Trang vương thấy quân tiền bộ đi được nhanh chóng như thế, mới triệu Đường Giao đến, toan trọng thưởng. Đường Giao thưa: - Tôi chịu ơn đại vương to lắm. Ngày nay gọi chút báo đền, có đâu lại dám lãnh thưởng. Sở Trang vương ngạc nhiên hỏi: - Ta có biết nhà ngươi bao giờ mà nhà ngươi bảo là chịu ơn ta. Đường Giao thưa: - Trong tiệc rượu có người nắm áo Hứa Cơ và bị đứt dải mũ, tức là tôi đó. Đại vương rộng lượng tha, không giết mà còn tìm cách làm tôi không phải bị nhục, vậy tôi cố sức phải báo đền. Sở Trang vương truyền ghi công ấy để về sau phong thưởng. Nhưng Đường Giao nói với bằng hữu: - Tội ta đáng chết mà đại vương không giết, vậy ta nên cố sức báo đền. Nay đã nói rõ sự thực rồi, chẳng lẽ ta là người có tội mà còn chờ đợi phong thưởng hay sao? Ngay đêm hôm ấy, Đường Giao bỏ trốn. Tiệc rượu "Bứt đứt dải mũ" gọi là "Tuyệt anh hội". Về sau này, nó có ý nghĩa chỉ tấm lòng đại lượng của kẻ bề trên đối với kẻ bề dưới. Và, lòng đại lượng ấy bao giờ cũng đem đến một kết quả tốt đẹp. |
Đào Hoa Phu Nhân Đời Xuân Thu, Sái Hầu và Tức Hầu cùng lấy gái nước Trần làm phu nhân. Tức phu nhân là nàng Tức Vĩ nhan sắc tuyệt vời. Nhân khi về thăm cố quốc, ngang qua nước Sái, Sái Hầu mời vào cung thết đãi. Trong lúc tiệc rượu, Sái Hầu tỏ vẻ chớt nhả. Tức Vĩ giận lắm bỏ đi. Và khi ở nước Trần trở về nước Tức, nàng không đi ngang nước Sái nữa. Tức Hầu nghe Sái Hầu trổ mòi "xấu" với vợ mình như thế, mới nghĩ cách báo thù, sai sứ vào cống nước Sở, và mật cáo với Sở Văn vương: Sái Hầu cậy thế có Tề, không chịu phục Sở. Bây giờ quý quốc giả cách đem quân sang đánh nước tôi, nước tôi sang cầu cứu nước Sái. Sái Hầu là người nông nổi, tất nhiên vội vàng sang cứu. Bấy giờ nước tôi cùng quý quốc hợp binh đánh thì có thể bắt được Sái Hầu. Sở Văn vương mừng lắm. Quả thực bắt được Sái Hầu. Muốn giết đi nhưng nhờ quần thần can gián mới tha, cho Sái Hầu đầu hàng. Sái Hầu biết mắc mẹo của Tức Hầu nên lấy làm tức lắm. Một hôm, Sở Văn vương mở tiệc tiễn Sái Hầu về nước. Trong bữa tiệc có đoàn nữ nhạc ra múa hát. Trong đó có một con hát ngồi gảy đàn, nhan sắc đẹp lắm. Sở Văn vương liền bảo con hát ấy đến mời Sái Hầu một chén rượu. Sái Hầu uống xong, đoạn tự rót lấy rượu, hai tay dâng chén lên để chúc thọ Sở Văn vương. Vua Sở tiếp lấy cười, hỏi: - Hiền hầu xưa nay có được trông thấy một người con gái nào đẹp lắm không? Sái Hầu sực nhớ đến cái thù của Tức Hầu trước kia xúi Sở đánh Sái, mới đáp: - Gái đẹp trong thiên hạ, tôi tưởng không ai bằng Tức Vĩ. Thật là một tiên nữ trên trời. Sở Văn vương hỏi: - Người đẹp thế nào? Sái Hầu nói một mạch: - Mắt như sóng thu, má tựa hoa đào, người tầm thước, dáng yểu điệu. Thật mắt tôi chưa từng thấy đến người thứ hai. Sở Văn vương nghe nói lấy làm thích quá, bảo: - Nếu vậy thì ta có được trông thấy Tức Vĩ mới thỏa tấm lòng. Sái Hầu lại chêm vào: - Lấy uy linh của đại vương trí dẫu Tề Khương, Tống Tử cũng chẳng khó huống chi là một người đàn bà trong vòng thế lực của mình. Sở Văn vương muốn chiếm Tức Vĩ, mượn tiếng tuần du, đem quân sang nước Tức. Tức Hầu ra đón rồi mở tiệc thết đãi. Tức Hầu bưng ly rượu chúc mừng Sở Văn vương. Sở Văn vương đỡ lấy, cười tủm tỉm nói: - Ngày trước ta cũng có một chút công với quý phu nhân, nay ta đến đây, quý phu nhân lại không đáng mời ta một chén rượu hay sao? Tức Hầu sợ uy nước Sở, không dám trái ý, vâng vâng dạ dạ, truyền vào trong cung gọi Tức Vĩ ra. Một lúc Tức Vĩ trang điểm tuyệt đẹp bước ra, sụp lạy Sở Văn vương. Sở Văn vương đứng lên. Tức Vĩ lấy chén bằng ngọc, rót đầy rượu vào, đoạn dâng lên Sở Văn vương. Tay trắng cùng với sắc ngọc lẫn màu với nhau. Sở Văn vương trông thấy ngồi ngẩn người ra, toan đưa tay đỡ lấy chén rượu. Nhưng Tức Vĩ lại khoan thai trao chén rượu cho cung nhân để đệ lên Sở Văn vương. Đoạn, nàng cáo từ, lui vào cung. Vua Sở nhìn theo, thần hồn mê mẩn như muốn quyện theo gót son của con người ngọc. Trở về quán xá, Sở Văn vương ngồi đứng chẳng yên, nằm không an giấc, trước mắt cứ thấp thoáng hình dáng tha thướt yểu điệu của giai nhân. Hôm sau, Sở Văn vương bày tiệc ở quán xá, cho giáp sĩ phục cả chung quanh, rồi mời Tức Hầu đến dự tiệc. Tiệc đến nửa chừng, Sở Văn vương giở giọng say bảo Tức Hầu: - Ta có công với quý phu nhân nhiều lắm, nay quân ta tới đây, quý phu nhân lại không đáng vì ta mà khao thưởng hay sao? Tức Hầu thưa: - Nước tôi bé nhỏ lắm, khó lòng mà khao thưởng cho đủ. Đại vương dạy như vậy, xin hãy để cho chúng tôi bàn nhau. Sở Văn vương vỗ bàn, quát mắng: - Đứa thất phu này dám bội ân, lại giở goịng nói khéo để lừa ta. Quân sĩ đâu hãy bắt lấy nó. Tức Hầu chưa kịp nói gì thì quân sĩ đổ ra bắt trói. Sở Văn vương đem quân thẳng vào cung, tìm bắt Tức Vĩ. Tức Vĩ nghe tin chồng bị bắt, đau đớn nói: - Dắt hổ sói về nhà thì còn nói gì nữa! Đoạn chạy ra sau vườn, toan đâm đầu xuống giếng. Tướng nước Sở là Đấu Đan vội chạy đến, nắm lấy vạt áo, nói: - Phu nhân không muốn cho Tức Hầu được toàn tính mạng sao? Tội gì mà hai vợ chồng cùng chịu chết! Đấu Đan bắt đem nộp cho Sở Văn vương. Thành công một cách dễ dàng, Sở Văn vương nhìn giai nhân hân hoan vô cùng, rồi tức khắc phong làm phu nhân, và an trí Tức Hầu ở Nhữ Thủy. Tức Hầu tức giận mà chết. Tức Vĩ má tựa hoa đào nên người thường gọi là "Đào hoa phu nhân". Nàng được Sở vương cực kỳ yêu quý. Trong ba năm, sinh được hai con. Tuy ở suốt ba năm trong cung nước Sở nhưng tuyệt nhiên, nàng không nói với Sở vương một lời nào cả. Sở Văn vương cố hỏi tại sao không nói chuyện, Tức Vĩ sa nước mắt gầm mặt xuống mà không đáp lại. Vua càng gạn hỏi, nàng bảo: - Một thân này phải thờ hai chồng, đã không biết giữ tiết mà chết, lại còn mặt mũi nào nói chuyện với ai nữa! |
Mắt xanh, mắt trắng Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, lúc Từ Hải gặp Kiều ở thanh lâu, Từ Hải nói với Kiều, có câu: Bấy lâu nghe tiếng má đào, "Mắt xanh" do chữ "Thanh nhãn", tức là mắt ở giữa là tròng đen (hoặc xanh) hai bên tròng trắng. Mắt xanh chẳng để ai vào có không? Nguyên Nguyễn Tịch, người đời nhà Tấn, là người rất ưu rượu và đàn. Làm quan rồi cáo bịnh về nhà, kết bạn cùng Kê Khang, Lưu Linh, Nguyễn Hàn, Sơn Đào, Hướng Tú và Vương Nhung, người thường gọi là "Trúc lâm thất hiền" (bảy người hiền ở rừng trúc). Có giai thoại về ồng. Được biết trong bộ Binh có người bếp cất rượu rất ngon, trữ 300 hũ mỹ tửu, ông liền xin vào làm một chức nhỏ ở đây để được thưởng thức! Có lần ông say luôn 60 ngày, vua Tấn muốn nói chuyện với ông mà không được.Người ta cho ông là "cuồng túy". Ông là người chán đời, thích tiêu diêu trong vũ trụ. Thơ của ông phần nhiều tả tình, hoặc than cho thói đời đen bạc, hoặc chán cho thế sự thăng trầm, hoặc ngao ngán cảnh phú quý công danh như phù vân...Tư tưởng của ông có lúc lại kỳ dị. Như trong bài văn xuôi "Đại nhân tiên sinh truyện", ông ví con người trong vũ trụ như con rận trong quần. Ông phản đối Nho giáo. Ông bảo: "Không có vua thì vạn vật ổn định; không có bề tôi thì mọi việc được trị; không có kẻ sang thì kẻ hèn không oán; không có kẻ giàu thì kẻ nghèo không tranh của. Ai nấy đều đủ ăn mà không cầu gì nữa". Thật là một tư tưởng "vô chính phủ" nhưng cũng lạ là vua Tấn vẫn để ông ở yên. Nguyễn Tịch lại có một thái độ lạ lùng. Khi tiếp khách hễ là hạng quân tử, là hạng người vừa lòng mình thì Nguyễn Tịch nhìn thẳng bằng tròng mắt xanh; trái lại khách là kẻ tầm thường, người không vừa lòng mình thì ông nhìn bằng đôi tròng trắng. Do điển đó, sau này người ta dùng chữ "Mắt xanh" để chỉ sự bằng lòng, vừa ý. Cũng như câu của Từ Hải: "Mắt xanh chẳng để ai vào có không?" là ý muốn hỏi: nàng chưa thấy ai là người vừa ý phải không? Tức là nàng chưa tiếp ai bằng mắt xanh. |
Ninh Thích, người chăn trâu ở Dao Sơn Ninh Thích, người nước Vệ đời Xuân Thu. Người có tài kinh bang tế thế. Lúc còn hàn vi, chưa gặp thời, mình mặc áo cộc, đầu đội nón rách, đi chân không, thường gõ vào sừng trâu mà hát ở núi Dao Sơn. Lúc bấy giờ Tề Hoàn Công đem binh đánh Tống. Tể tướng nước Tề là Quản Di Ngô (Quản Trọng) đi trước. Ngồi trên xe nghe tiếng hát, biết không phải là người thường mới sai quân sĩ đem tặng cơm rượu. Ninh thích nói: - Tôi muốn được yết kiến quan Tể tướng. Quân sĩ nói: xe quan Tể tướng đã đi khỏi. Ninh Thích nói: - Tôi có một câu này nhờ người đọc lại cho quan Tể tướng nghe. Ấy là câu: "Nước trong leo lẻo..." Quân sĩ theo kịp xe Quản Di Ngô, thuật cả lại cho nghe. Di Ngô không hiểu được ý câu nói ấy ra sao. Có người thiếp yêu là Tĩnh Nương vốn thông minh học rộng thường được theo hầu. Di Ngô hỏi, nàng nói: - Thiếp nghe cổ giả có bài thơ "Nước trong". Có câu: "Nước trong leo lẻo, cá lượn giữa dòng; người đến triệu ta, ta cũng bằng lòng". Ý chừng người chăn trâu muốn ra làm quan đó. Di Ngô lập tức dừng xe lại, cho người mời. Ninh Thích đến chào mà không lạy. Di Ngô hỏi qua họ tên, thân thế và học thức, Ninh Thích đối đáp thông suốt như nước chảy. Di Ngô khen tài, bảo: - Kẻ hào kiệt lúc chưa gặp thời, không có người tiến dẫn thì sao cho rõ tài được. Đại binh của chúa công ta đi sau, chẳng bao lâu cũng đến đây, ta viết cho nhà thầy một bức thư để cầm đưa cho chúa công ta, tất chúa công trọng dụng. Ninh Thích cầm lấy thư trở lại Dao Sơn. Ba hôm sau, đại binh Tề Hoàn Công kéo đến. Ninh Thích gõ vào sừng trâu, cất tiếng hát: Kìa sông Thương Lang, đá trắng lởm chởm, Có con cá chép dài một thước hơn. Nghiêu Thuấn thái bình đã không được gặp, Áo cộc che thân độ đến ngang lưng, Ta cho trâu ăn từ tối đến đêm. Đêm tối mờ mờ, bao giờ thấy sáng! (Bản dịch của Nguyễn Hoài Nam. Nguyên văn: Thương lang chi thủy, bạch thạch lạn, Trung hữu lý ngư trường xích bán. Sinh bất phùng Nghiêu dữ Thuấn thiện, Đoản hạt đan y tài chí cán. Tùng hôn phạn ngưu chí dạ bán. Trường dạ man man, hà thời đán. Tề Hoàn Công nghe thấy lấy làm giận, sai quân đòi đến. Hoàn Công hỏi họ tên rồi bảo: - Nhà ngươi là đứa chăn trâu, sao dám gièm chê việc chính trị? Ninh Thích đáp: - Tôi có dám gièm chê chính trị đâu. Hoàn Công nói: - Ngày nay trên thì có thiên tử nhà Chu trị vì, dưới thì các chư hầu theo lịnh. Nhân dân vui vẻ, cây cỏ tốt tươi, dẫu đời Nghiêu Thuấn thái bình chẳng qua cũng chỉ như thế. Vậy mà nhà ngươi dám bảo rằng: "Nghiêu Thuấn thái bình đã không được gặp", lại bảo: "Đêm tối mờ mờ, bao giờ thấy sáng". Thế không phải gièm chê chính trị là gì? Ninh Thích thưa: - Tôi nghe nói đời Nghiêu Thuấn mưa gió thuận hòa, dân gian không phải lo sợ gì, chỉ việc cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống. Đời bây giờ trái lại, giềng mối đổ nát, giáo hóa suy đồi, thế mà bảo "Nghiêu Thuấn thái bình" thì thật tôi không hiểu được. Vả lại đời Nghiêu Thuấn trừ bốn kẻ hung ác mà thiên hạ được yên. Từ bấy giờ không phải nói mà dân tin, không phải giận mà dân sợ. Nay chúa công mới hội chư hầu, đã thấy nước Tống bội ước, nước Lỗ hiếp thề, chinh chiến quanh năm. Tôi lại nghe nói vua Nghiêu bỏ con là Đan Chu mà nhường thiên hạ cho ông Thuấn, Thuấn không chịu nhận bỏ trốn ra Nam Hà, trăm họ rủ nhau mà theo Thuấn. Bấy giờ ông Thuấn bất đắc dĩ mới lên nối ngôi. Nay chúa công giết anh ruột mà cướp nước, lại mượn uy thiên tử để sai khiến các chư hầu. Vậy thì tôi không biết có phải là lối vái nhường nhau như vua Nghiêu, vua Thuấn ngày xưa không? Tề Hoàn Công nổi giận, quát: - Đứa thất phu dám nói càn! Liền truyền quân sĩ dẫn ra chém. Ninh Thích bị trói dẫn đi, nhưng vẫn nghiễm nhiên, không sợ hãi, ngửa mặt lên trời nói: "Ngày xưa vua Kiệt giết Long Bàng, vua Trụ giết Tỷ Can, nay tôi cùng với hai ông ấy kể là ba người". Quan Đại phu là Thấp Bằng thưa với Tề Hoàn Công: - Người ấy không xu phụ quyền thế, không sợ uy nghiêm, chẳng phải là kẻ chăn trâu tầm thường đâu. Chúa công chớ nên giết. Hoàn Công nguôi cơn giận, truyền mở trói. Ninh Thích bấy giờ mới đem bức thư giới thiệu của Quản Di Ngô dâng lên. Tề Hoàn Công xem xong, mỉm cười bảo: - Đã có bức thư của Trọng Phụ, sao không đưa ngay. Ninh Thích thưa: - Tôi nghe nói vua hiền chọn người mà dùng, tôi hiền chọn chúa mà thờ. Nếu chúa công ghét người thẳng, ưa người nịnh mà nhân lên cơn giận giết tôi, thì tôi thà chết đi, chớ quyết không đưa thư của quan Tể tướng làm gì nữa. Tề Hoàn Công bằng lòng lắm, truyền cho ngồi một chiếc xe sau. Tối hôm ấy, khi đóng quân lại nghỉ, Hoàn Công sài thắp đèn lên tự đi tìm mũ áo. Có tên cận thần là Thụ Điêu hỏi: - Chúa công cho tìm mũ áo có phải muốn phong cho Ninh Thích chăng? - Phải. Thụ Điêu thưa: - Từ nước ta sang Vệ cũng chẳng xa bao nhiêu, sao chúa công không cho người sang hỏi dò xem. Nếu thực là hiền, bấy giờ sẽ phong tước cho, có chi mà vội. Tề Hoàn Công nói: - Người này là một bực đại tài không câu nệ những điều nhỏ nhặt. Hoặc giả khi ở nước Vệ, cũng có vài điều lỗi nhỏ, nếu dò hỏi biết những điều lỗi ấy chẳng lẽ lại phong tước cho. Còn nếu bỏ đi không dùng thì đáng tiếc lắm. Nói xong, ngay đêm hôm ấy phong cho Ninh Thích làm quan Đại phu, để cùng với Quản Di Ngô trông coi quốc chính. |
Thanh Minh trong tiết tháng ba Thanh Minh là tên một thời tiết, tức là một khoảng thời gian phân định sẵn trong lịch Tàu. Lịch cổ nước Tàu chia một năm ra làm 8 tiết, gọi là "Bát tiết": lập Xuân, lập Hạ, lập Thu, lập Đông, Xuân phân, Thu phân, Hạ chí và Đông chí. Lịch Kim (tức là lịch đời Hán trở lại) của Tàu thì chia năm ra làm 24 Khí hoặc Tiết. Cứ ba ngày là một Hậu; 5 Hậu là một Khí hoặc Tiết. Một năm có 24 Khí hoặc Tiết. Mỗi tháng chia làm 2 Khí. Khí nhằm vào những ngày đầu tháng thì gọi là Tiết Khí. Khí nhằm vào giữa tháng thì gọi là Trung Khí. Tiết Khí và Trung Khí thường gọi tắt là Tiết và Trung. Đầu thời Hán lấy tiết Kinh trập làm "Chính nguyệt trung" (tức là khí vào giữa tháng giêng), lấy Vũ thủy làm "nhị nguyệt tiết" (tức là khí vào đầu tháng hai). Cuối đời Hán, Lưu Hầm làm Tam thống đổi Kinh trập làm "Nhị nguyệt tiết" (khí vào đầu tháng hai), Vũ thủy làm "Chính nguyệt trung" (khí vào giữa tháng giêng), Cốc vũ là "Tam nguyệt tiết" (khí đầu tháng ba); Thanh minh làm "Tam nguyệt trung" (khí giữa tháng ba). Lịch Tàu ngày nay tức là sau đời nhà Hán thì chia Thanh minh làm Tam nguyệt tiết (khí vào đầu tháng ba). Hai mươi bốn tiết khí trong một năm là: Mùa xuân: Lập Xuân, Vũ thủy, Kinh trập, Xuân phân, Thanh minh, Cốc vũ. Mùa hạ: Lập Hạ, Tiểu mãn, Mang chủng, Hạ chí, Tiểu thử, Đại thử. Mùa thu: Lập Thu, Xử thử, Bạch lộ, Thu phân, Hàn lộ, Sương giáng. Mùa đông: Lập Đông, Tiểu tuyết, Đại tuyết, Đông chí, Tiểu hàn, Đại hàn. Trong tác phẩm "Đoạn trường tân thanh" của cụ Nguyễn Du, đoạn tả cảnh Thanh minh có câu: Thanh minh trong tiết tháng ba, "Thanh minh trong tiết tháng ba" là do câu "Thanh minh tam nguyệt tiết" nghĩa là: Tiết thanh minh đầu tháng ba. Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh. Theo cách dùng thuật ngữ của Tàu thì chỉ nói "Tiết tháng ba" hay "Tam nguyệt tiết" tức "Tam nguyệt khí tiết" là người ta hiểu ngay là nói đầu tháng ba. Vì tiết đây là tiết khí nói tắt, mà tiết khí nghĩa là thời tiết nhằm đầu tháng. Vậy thì "trong tiết tháng ba" có nghĩa là "vào đầu tháng ba". Tục Tàu, nhân tiết Thanh minh, người ta tổ chức lễ thăm mộ gọi là "Lễ tảo mộ", tức là lễ quét tước sửa sang mồ mả. Và, nhân lễ tảo mộ ngoài đồng, mà tự nhiên có hội gọi là "hội đạp thanh" tức là hội giẵm trên đám cỏ xanh ở ngoài đồng. Cổ thi của Tàu có bài: Xuân du thanh thảo địa, Hạ thưởng lục hà trì. Thu ẩm huỳnh hoa tửu, Đông ngâm bạch tuyết thi. _____________________________ |
Hằng Nga và Hậu Nghệ Trong "Bích Câu kỳ ngộ" của Vô Danh có câu: Hay là lỗi sổ Hằng Nga, Đêm đông vò võ, bóng tà sao thưa. Nghĩ tình nên những ngẩn ngơ ... Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, đoạn ca tụng sắc đẹp của nàng cung nữ, có câu: Hương trời đắm nguyệt say hoa, Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đời nhà Trần (1225-1400) kêu gọi tướng sĩ, trong một bài hịch có đoạn "Nay ta bảo thật các ngươi nên cẩn thận như củi lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công danh." Hằng Nga và Hậu Nghệ là hai nhân vật thần thoại được dùng trong Cổ văn Trung Hoa và Việt Nam. Hằng Nga trong cung trăng: Theo sách của Hoài Nam Tử, Hậu Nghệ xin thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga là vợ của Hậu Nghệ uống trộm, chạy lên cung trăng. Người chặt cây quế trong cung trăng: Theo sách "Dậu dương tạp trở", trong mặt trăng có cây quế cao 500 trượng, dưới gốc cây có một người ngồi chặt mãi, nhưng chặt xong, dấu chặt lại liền như cũ. Người ấy tên Ngô Cương, quê ở Tây Hà, tu tiên có lỗi bị phạt chặt cây. Con thỏ trong mặt trăng: Theo sách "Ngũ thông kinh nghĩa", trong mặt trăng có con thỏ hay con cóc. Ông già dưới trăng: Sách "Tục U quái lục" có chép: đời nhà Đường, Vi Cố đến Nam Điện ở Tống thành, thấy ông già xem sách dưới trăng. Vi Cố hỏi sách gì? Ông già đáp: Sổ hôn nhân thiên hạ. Vi Cố hỏi hôn nhân của mình thì ông lão bảo: ở chợ có bà già chột mắt bồng đứa bé 3 tuổi; đứa bé ấy sau là vợ. Vi Cố ra chợ bắt gặp người đàn bà như lời ông lão nên tức giận mướn người giết con bé ấy. May mắn, người đàn bà bồng đứa bé chạy thoát. Đứa bé chỉ bị thương xoàng. Mười bốn năm sau, Thứ Sử đất Dương Châu là Vương Thái gả con cho Vi Cố. Thiếu nữ ấy rất đẹp, nhưng cuối mày có một vết thẹo nhỏ. Cố hỏi nguyên cớ. Nàng trả lời: hồi lên 3 tuổi, người vú họ Trần bồng đi chợ bị một tên côn đồ đâm trúng. Cố hỏi người vú họ Trần có chột mắt không. Nàng nói có rồi kể lại chuyện cũ. Tích Hậu Nghệ: Theo "Sơn hải kinh", trên hang Dương phía bắc nước Răng Đen có cây Phù tang to lớn sống ở dưới nước, 9 mặt trời ở cành dưới; 1 mặt trời ở cành trên. Theo sách của Hoài Nam Tử, đời vua Nghiêu, 10 mặt trời cùng mọc một lần làm cây cỏ khô héo, vua Nghiêu sai Hậu Nghệ bắn 10 mặt trời, có 9 con quạ rớt lông cánh xuống. Theo kinh Thư, vua nước Hữu Cùng là Hậu Nghệ vì dân không phục, nổi lên kháng cự tại sông Hà. Sách "Tả Truyện" có chép: khi nhà Hạ suy, Hậu Nghệ nhờ sức ủng hộ của dân chúng được lên làm vua thay thế nhà Hạ. Về sau, Nghệ ỷ mình bắn giỏi, không lo chính sự, dâm bạo hơn thú dữ, dân oán ghét nổi lên giết chết, lại lóc thịt bắt con của Nghệ ăn. Không nỡ ăn thịt cha, con của Nghệ cũng bị giết luôn. Trong bản dịch thần thoại "Lên cung trăng" của nhà văn hào Trung Hoa là Ngô Tổ Quang có chép: Một thời đại rất xa xưa ... Lúc bấy giờ con người được tự do, không bị áp bức chiến tranh, người hiếp bức người. Ai làm nấy ăn. Mặt trời mọc, đi làm; mặt trời lặn, về nghỉ. Đói có hoa quả, khát có nước suối. Con người bấy giờ không có họa người, chỉ có họa trời. Để tránh gió mưa, rét mướt, loài người đốn cây làm nhà, dệt vải may áo ... Ngày tháng trôi qua, con người dùng kinh nghiệm và lao lực để cải thiện đời sống, mưu lấy sự hạnh phúc thanh bình. Nhưng, một hôm thình lình xảy ra một thiên tai dữ dội. Khắp dưới gầm trời đâu đâu cũng bị đại hạn. Nắng như lửa thiêu, đốt cháy tất cả làm cho sinh linh dậm đất kêu trời. Trên đường, thây người, thây thú chồng chất đầy dẫy. Nguyên ở gò Đất cuối biển Đông có hang Dương. Nơi đây 10 con quạ vàng vâng lệnh Thượng Đế thay nhau ban ánh sáng cho vạn vật. Trên hang có cây Phù tang cao vút tận trời. Chín con quạ ở cành dưới, một con quạ ở cành trên. Từ ngàn xưa chỉ có một con ra khỏi biến hóa thành mặt trời, ngày ngày tháng tháng chiếu ánh sáng xuống mặt đất làm cho mưa hòa, gió thuận, vạn vật sinh hóa. Nhưng bất ngờ, một hôm bốn biển chuyển động, đất lở núi rung, cây Phù tang quay cuồng, vì 10 con quạ vàng tranh nhau xuất hiện một lượt. Thế là nắng như lửa thiêu, đốt cháy cả vạn vật. Ban đầu, người ta còn ngâm mình dưới nước, núp trong hang núi ... nhưng rồi, đầm nước, dòng suối đều hóa thành những vạc nước sôi. Đất bằng bỗng chốc lửa dậy làm cho nhân dân điêu đứng, đời người biến thành địa ngục. Đương lúc tiếng khóc, tiếng kêu gào kinh khủng của nhân dân, bỗng có một vị anh hùng xuất hiện. Vị anh hùng đó có tên Hậu Nghệ, sinh ở biển Đông, nước Hữu Cùng. Người võ nghệ phi thường, sức người có thể bạt núi lấp sông, giỏi nghề kỵ xạ. Hậu Nghệ có lại hai người học trò tên Phùng Mông và Ngô Cương đều có tài xuất chúng. Trông thấy 10 con quạ vàng hoành hành dữ tợn làm cho nhà cửa tiêu tan, đồng ruộng khô cháy, Nghệ vừa hoảng kinh vừa tức giận, đem lòng thương xót sinh linh, và nghĩ đến mối liên hệ với thân mạng mình nên mang 10 mũi tên thần, giương cung 10 tạ lên quyết bắn 10 con quạ vàng cho tiêu ra tro bụi. Nhưng ánh sáng rạng chói làm cho mắt đổ hào quang, không thể nhìn lên được. Nghệ bực tức, đứng tựa góc biển chân trời không do dự bắn luôn mấy phát. Những nơi có tên của Nghệ bắn tới thì nóng cháy nguội dần, ánh sáng êm dịu. Những lông cánh sắc màu của lũ quạ đua nhau rớt xuống. Một làn không khí mát mẻ bắt đầu. Trông thấy chín con quạ chết, Nghệ lại muốn giương cung bắn nữa, nhưng Phùng Mông ngăn lại: - Thưa thầy! Nếu thầy bắn chết cả thì vũ trụ sẽ trở nên đen tối mất. Nghệ "à" một tiếng, hạ cung xuống. Bấy giờ núi sông trở lại như xưa, cây cỏ tươi tốt. Đâu đâu cũng vang dậy tiếng hò reo hoan lạc. Nhân dân ca tụng công ơn vĩ đại của Hậu Nghệ, tôn thờ Nghệ là một vị cứu tinh, trọng quý Nghệ hơn mẹ cha. Sơn hào hải vị, họ đem dâng cho Nghệ dùng. Hậu Nghệ lên làm Hoàng đế. Mười năm sau. Nhân dân trước kia bị tai ách của 10 con quạ vàng thì nay lại mang phải tai ách do Hậu Nghệ gieo rắc. Nghệ ỷ mình có tài, tự kiêu là cứu dân, vậy dân phải làm tôi mọi mới xứng đáng đền đáp công ơn ấy. Nghệ chiếm hết thịt rừng, tài sản của nhân dân. Cả đến một con gà, một miếng bánh... cũng không thoát qua tay cướp đoạt của Nghệ. Nghệ lại tự hào là mình sẽ sống mãi vì có Linh chi dược thảo do ông tiên ban cho. Nhân dân bấy giờ sống trong tình trạng cực kỳ thảm khốc. Từng đám dân nghèo đói, quần áo rách nát, thân trụi mình trần, mặt mũi hốc hác vàng hoe, gục đầu vào đất kiếm rễ cây ăn. Vài xác người thắt cổ lơ lửng trên cành cây làm mồi cho đàn quạ đương đảo qua lượn lại. Bấy giờ núi rừng hoang vu xơ xác, cành khô lá úa, năm ba gốc cây còn lại nhưng trơ trọi, cằn cỗi. Ngày trước, Nghệ được bá tánh hoan hô vang dậy. Ai ai cũng trìu mến vâng theo Nghệ đi ra, cả ngàn người chạy theo quỳ lạy chúc tụng. Ngày nay, nhân dân oán ghét căm thù. Nghệ đi đến đâu, bá tánh bỏ chạy đến đó. Nghệ nhục nhã, tức giận ra lệnh cho học trò là Ngô Cương tàn sát hàng triệu sinh linh. Bị đói rách, bị giết chóc, nhân dân đau khổ, nỗi uất hận căm hờn ngùn ngụt cao mấy tầng mây. Phùng Mông can gián không được, bỏ Nghệ theo đám dân nghèo võ trang đánh lại thầy. Vợ của Hậu Nghệ là Hằng Nga. Nàng là con nhà nghèo ở một cánh đồng hoang phương Bắc. Nhưng nàng là con chim phượng hoàng, là đóa hoa khôi sắc đẹp tuyệt vời. Ngô Cương vâng lệnh thầy đi tìm người làm hoàng hậu. Đến phương Bắc, Ngô Cương bắt Hằng Nga về dâng cho Nghệ. Hằng Nga được Nghệ sủng ái, giao giữ cỏ Linh chi. Hằng Nga vì bị bắt, bỏ cha xa mẹ, quyết liệt đòi về. Nghệ sợ Hằng Nga trốn trong khi Nghệ đi săn tìm thịt nên truyền cho Ngô Cương canh gác, không cho Hằng Nga rời khỏi cung. Hằng Nga buồn tủi, ngày ngày chỉ làm bạn cùng con Ngọc thỏ trong cung lạnh. Trước sự tàn bạo của chồng, Hằng Nga không khuyên ngăn được; và biết rằng nếu chồng sống mãi thì càng làm nhiều tội ác, nhân dân đau khổ càng nhiều nên nàng nuốt cỏ Linh chi, để Nghệ không còn dùng cỏ tiên mà trường sinh nữa. Nuốt xong, Hằng Nga mặt mày xây xẩm một lúc, rồi thấy mình nhẹ bổng như không. Một đám mây ngũ sắc dưới chân Hằng Nga từ từ đưa Hằng Nga bay lên, Ngọc thỏ chồm nhảy theo. Hằng Nga đưa tay dắt rồi từ từ bay qua cửa sổ thẳng lên cung trăng. Hậu Nghệ đi săn thịt trở về, thấy mất Hằng Nga, tức giận Ngô Cương vì để Hằng Nga trốn thoát, nên bóp cổ Ngô Cương cho đến chết. Nghệ chạy lại cửa sổ trông lên mặt trăng. Ánh trăng sáng vằng vặc chiếu vào mặt. Hình bóng của vợ thấy thấp thoáng trong trăng. Nghệ giương đôi mắt tròn xoe nhìn. Thốt nhiên, Nghệ thét bọn vệ sĩ mang cung tên lại. Chúng khệ nệ khiêng chiếc cung và ba mũi tên lớn trên tường xuống. Nghệ đứng thẳng người như một trụ đá to, râu tóc dựng ngược, đôi mắt sáng quắc, không khác cảnh ngày xưa Nghệ bắn mặt trời. Nghệ lắp tên căng thẳng dây cung bắn lên. Hai phát tên bay ra, mặt trăng lung lay. Nhưng mũi tên thứ ba bật khỏi dây cung, mặt trăng vẫn sáng chói như trước, không hề hấn gì. Nghệ hạ cung xuống, mặt mày buồn nghiến, im lặng, đau khổ. Bỗng một cụ già hiện xuống. Hậu Nghệ giựt mình, nhìn ra là ông lão đã cho mình Linh chi thảo cách mười năm về trước. Cụ già liệng 3 mũi tên xuống đất, điềm đạm nói: - Già xin hỏi cố nhân. Ngày trước hạnh ngộ, già có nhắn nhủ cố nhân việc trị đời không khó. Phải thực hành nhân chính, quên mình để lo cho người. Mình phải lo trước người lo và chỉ vui sau khi người vui. Dân quý nhứt, nước thứ nhì, vua sau hết. Cố nhân sẵn sàng vâng nghe, nên già thể theo lời yêu cầu tha thiết của cố nhân là muốn sống mãi để hoàn thành sự nghiệp, vì đời sống con người thì hữu hạn mà sự nghiệp thì vô cùng, mới cho Linh chi thảo. Vậy mà khi cầm lấy quyền, cố nhân lại quên mất lời. Dân không sợ chết, sao lấy sự chết chóc trị thiên hạ. Bao nhiêu năm trời loạn lạc đau thương, giờ đây lòng người ly tán, sự nghiệp tan hoang, cố nhân còn chưa tỉnh hay sao. Kìa, nghĩa quân đã hò reo tứ phía, cố nhân đã nghe chưa? Hậu Nghệ hai tay ôm đầu, giọng nói thiểu não: - Nghệ ăn năn, xin cụ chỉ giáo. - Việc đã qua rồi, ăn năn không kịp. Chỉ có cách cố nhân bỏ sắc phục hoàng đế, ăn năn hối lỗi thì mới có cơ cứu vãn. Hậu Nghệ cả giận, quắc mắt, quát: - Lão già khốn! Thừa lúc hiểm nguy của ta mà sỉ nhục ta sao? Vừa nói vừa rút gươm chém ông lão. Cụ già bình thản đưa tay hất gươm ra. Hậu Nghệ rùng mình lui lại ngồi xuống. Cụ già mỉm cười: - Cố nhân đến nước cùng mà còn hiếu sát. Kìa, cố nhân hãy nhìn xem. Giữa lúc ấy ... Bên ngoài có tiếng chém giết lẫn tiếng hò reo vang dậy. Nghĩa quân bao vây tứ phía dưới sự chỉ huy của Phùng Mông. Bóng trăng khuất dần. Cụ già biến mất. Lửa cháy khắp nơi. Tiếng la vang: - Tiến! Tiến! Nghệ rút gươm xông tới, Phùng Mông đưa gươm ngăn. Cả hai đánh nhau. Nghĩa quân ào đến. Hậu Nghệ kiệt sức bỏ chạy. Đám dân đói rách cầm hèo gậy chận lại. Nhìn qua tứ phía, nơi nào cũng có nghĩa quân. Phùng Mông kêu lên: - Hậu Nghệ! Hậu Nghệ! Thầy làm việc bất nghĩa, ngày nay tự xử lấy, đừng để bọn ta ra tay. Hậu Nghệ đứng dậy, dậm chân, cất tiếng cười đau đớn rồi đưa gươm đâm mạnh vào cổ. Xác Nghệ ngã xuống giữa tiếng reo hò của nghĩa quân. Trong cung trăng, bên cây quế cao trăm trượng, sắc vàng, mùi thơm bát ngát, Ngô Cương cầm búa chặt mãi cây quế nhưng cây quế không sứt mẻ mà vẫn càng cao càng lớn, càng tươi. Hắn bị đọa vì tính hiếu sát theo thầy. Cây quế bị chặt nhưng không hề hấn, nhân dân bị tàn sát nhưng nhân dân làm sao hết được. Bên cạnh, Hằng Nga ngồi xem Ngọc thố tán thuốc. Thỉnh thoảng, nàng lại thở dài, sa nước mắt. Nàng còn luyến tiếc cảnh trần gian. Vì trần gian đã chịu bao tai nạn: lụt lội, hạn hán, nắng lửa mưa dầu, binh đao chém giết, máu chảy thành sông, xương người thành núi; ngày nay nhân dân đã khắc phục được mọi tai ách rồi. Kìa từng đám người nô nức đương cày cấy, ca hát vui mừng; và xa xa làn khói lam chiều vẩn vơ quyện trên những mái nhà nhỏ ấm cúng, Hằng Nga tưởng nơi đây có lẽ là phương Bắc, quê hương yêu dấu của nàng. Ở đây, quanh năm vắng lạnh, chẳng có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Muôn vật không sinh, không hóa. Trăm hoa không nở không tàn. Chán chường cảnh lẻ loi, hiu quạnh quá, Hằng Nga muốn trở về trần thế. Nhưng vì đã ăn cỏ Linh chi, nàng không bao giờ chết, lại trẻ đẹp mãi và muôn năm vẫn sống hoang liêu trong cung Quảng Hàn này. Nhìn ra ngoài không thấy thế gian đâu nữa, tư bề lạnh lẽo âm u, Hằng Nga bất giác xót xa đau đớn, nước mắt chảy ròng. Sau tấm bình phong bóng đuốc xa, Sao mai lặn hết, vắng Ngân Hà. Hằng Nga hối cắp Linh chi thảo, Sống mãi nhìn trời dạ xót xa. |
Vắng Như Chùa Bà Đanh Chùa Bà Đanh là tên gọi Nôm của chùa Châu Lâm. Chùa này được cất lên cùng với viện Châu Lâm vào thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) ở làng Thụy Chương, Hà Nội. Vì để tránh húy miếu vua Thiệu Trị nên sau này Thụy Chương phải đổi thành Thụy Khuê. Vào thời đó, viện Châu Lâm được dùng làm chỗ ở cho những người Chiêm Thành được đưa về sau các cuộc chiến tranh, còn chùa Châu Lâm là nơi dành cho họ cúng lễ (vì hầu hết những người này đều theo đạo Phật). Sau khi người Pháp chiếm đóng Hà Nội, họ đã chiếm khu vực đất này để lập trường Trung học bảo hộ (1907) - nay là trụ sở của trường trung học Chu Văn An, vì thế chùa Châu Lâm phải dời về phía Tây Nam, ở cuối làng và đổi sang tên mới là chùa Phúc Lâm. Dấu tích của chùa Phúc Lâm hiện vẫn còn giữ lại được tấm bia ghi rõ: Bà Đanh tự (chùa Bà Đanh). Theo tục truyền, Bà Đanh là một người đàn bà đã có công dựng lên chùa này, vì thế mà ngôi chùa mang tên bà. Từ khi viện Châu Lâm bị bãi bỏ, số người đến lễ bái chùa này ngày một ít đi. Chính vì thế mà không khí ngôi chùa này ngày càng trở nên vắng vẻ. Trong bài "Tụng Tây Hồ phú" của Nguyễn Huy Lượng có ghi lại cảnh vắng của chùa này: Dấu bố cái rêu in nền phủ Cảnh Bà Đanh hóa khép cửa chùa. Cảnh vắng vẻ, thiếu người đến lễ bái của chùa Bà Đanh dần dần đã trở thành một hình ảnh để so sánh với bất cứ một cảnh vắng vẻ nào. "Vắng như chùa Bà Đanh" là một sự vắng vẻ yên tĩnh gợi nên vẻ lạnh lẽo, cô quạnh, thiếu hơi ấm của con người. Ca dao Hà Nội có câu: Còn duyên kẻ đón người đưa Hết duyên vắng ngắt như chùa Bà Đanh. |
Bá Nha - Tử Kỳ
Rằng nghe: nổi tiếng cầm đài Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ Cầm đài: cái đài để Tư Mã Tương Như ngồi gảy đàn. Tri âm: hiểu biết nhau qua tiếng nhạc; từ chuyện Tử Kỳ tri âm Bá Nha thời Chiến Quốc, tri âm đã là nghĩa chung của một tình bạn thiết thân, thông hiểu được tâm, ý nhau. Theo sách Lã thị xuân thu: "Bá Nha cổ cầm, Chung Tử Kỳ tại ngoại thiết tính chi viết: nguy nguy hồ như thái sơn, dương dương hồ như lưu thủy" (Bá Nha gảy đàn, Chung Tử Kỳ ở ngoài nghe trộm, khen rằng: ngun ngút như núi Thái Sơn, cuồn cuộn như dòng nước chảy). * * * Vào lúc Tấn, Sở đang giao hảo nhau. Bá Nha là người nước Sở, nhưng lại làm quan đến chức Thượng đại phu của nước Tấn. Bá Nha nổi tiếng là một khách phong lưu văn mặc, lại có ngón đàn tuyệt diệu nhất đời; ngày liền đêm, Bá Nha không bao giờ rời cây Dao cầm thiết thân của mình. Năm ấy, trên đường từ Sở về lại Tấn sau chuyến công cán, Bá Nha cho thuyền đỗ lại bến Hàm Dương vào một đêm trăng thanh gió mát. Bá Nha cho đồng tử đốt lư trầm trước thuyền, rồi lấy Dao cầm ra so phím thử dây. Dưới ánh trăng trong, tiếng đàn quyện lấy hương trầm đang cất vút lên cao giữa đêm thu thanh vắng, bỗng một tiếng " bựt " khô khan, dây tơ đồng đứt. Bá Nha nghĩ dây đàn đứt ắt có quân tử nào nghe lén đây, bèn sang sảng cất tiếng: - Có cao nhân nào trên bờ lắng nghe tiếng đàn của tại hạ, xin vui lòng ra mặt. Từ trên vách núị có tiếng vọng xuống: - Xin đại nhân thứ lỗi cho, tiều dân này đi kiếm củi về muộn, đi ngang qua đây, nghe tiếng đàn tuyệt diệu quá, nên cất bước đi không đành. Bá Nha cười lớn: - Tiều phu nào mà lại dám nói chuyện nghe đàn với ta? Tiếng nói từ trên núi lại đáp lại: - Đại nhân nói vậy, kẻ hèn này trộm nghĩ là không đúng. Há đại nhân không nhớ câu nói của người xưa: "Thập nhất chi ấp tất hữu trung tín" (Trong một ấp có mười nhà ắt có người trung tín). Hễ trong nhà có quân tử thì ngoài cửa ắt có người quân tử đến... Bá Nha có vẻ ngượng khi nghe câu nói của người tiều phu. Biết mình lỡ lời, ông tiến sát đến mũi thuyền nói lớn: - Nếu thật là người trên bờ biết nghe đàn, thì xin cho biết lúc nãy tại hạ đã đàn khúc gì? Giọng trên bờ bình thản vọng xuống: - Đó là Khổng Vọng Vi, Đức Khổng Tử khóc thầy Nhan Hồi. Hồi nãy, đại nhân đang đàn thì đứt dây, nên còn thiếu mất câu chót. Nghe xong, Bá Nha thấy lòng phơi phới lạ, vội sai tùy tùng lên bờ rước người tiều phu xuống thuyền. Bá Nha trân trọng đón tiếp: - Quý hữu biết nghe đàn, vậy chắc cũng rõ được xuất xứ của cây Dao cầm? Tiều phu không ngập ngừng: - Nghe nói, thuở xưa vua Phục Hy tình cờ trông thấy có năm sắc sao rơi xuống cụm ngô đồng và chim phượng hoàng đến đó đậu. Vua biêt cây ngô đồng là thứ gỗ quý, hấp thụ tinh hoa của trơi đất, có thể dùng để làm nhạc khí được, liền cho người hạ cây, cắt làm ba đoạn. Đoạn ngọn, tiếng quá trong và nhẹ, đoạn gốc tiếng đục và nặng, chỉ có đoa,n giữa tiếng vừa trong vừa đục. có thể dùng được. Nhà vua cho ngâm đoạn giữa thân cây giữa dòng nươc, đúng bảy mươi hai ngày đêm, vớt lên phơi trong mát cho thật khô rồi gọi người thợ giỏi Lưu Tử Kỳ đẻo thành cây Dao cầm. Dao cầm dài ba thước sáu tấc, một phần án theo ba trăm sáu mươi mốt độ chu thiên, mặt trước rộng tám tấc, án theo tám tiết, mặt sau rộng bốn tấc án theo bốn mùa, bề dày hai tấc án theo lưỡng nghi. Đàn gồm mười hai phím, tượng trưng cho mười hai tháng trong năm , lại có thêm một phím phụ tượng trưng cho tháng nhuận. Đàn có năm dây án theo ngũ hành tượng trưng cho năm âm: cung, thương, giốc, thủy, vũ. Xưa, vua Thuấn gảy đàn Ngũ huyền, thiên hạ thái bình. Khi vua Văn Vương bị ngồi tù nơi Dũ Lý, Bá Âp Khảo thêm một dây oán, gọi là văn huyền (dây văn). Về sau, khi VũVương đánh nước Trụ, thêm môt dây nữa gia tăng kích động gọi là vũ huyền (dây vũ). Do đó, Dao cầm lúc đầu có năm dây, sau có bảy dây. Dao cầm có bốn điều kỵ là: rét lớn, nắng lớn, gió lớn và tuyết lớn; và bảy điều không nên là: không đàn ở đám tang, không đàn lúc lòng rối loạn, không đàn lúc lòng không thanh bạch, không đàn lúc bận rộn nhiều việc, không đàn lúc y trang không chỉnh tề, không đàn lúc không có trầm hương và không đàn lúc không có bạn tri âm. Bá Nha nghe nói, biết tiều phu là bậc kỳ tài, đem lòng kính thương: - Hiền hữu quả là người tinh thông nhạc lý. Xưa kia, Khổng Tử đang gảy đàn, thầy Nhan Hồi bước vào, nghe thanh âm sao mà u trầm, biết là trong tâm Khổng Tử đang giao động. Hỏi ra, mới hay là trong khi Khổng Tử đàn, thấy con mèo đang bắt chuột, nên tâm tư đã chùng tiếng tơ đồng. Trước kia, Nhan Hồi nghe tiếng đàn mà biết được lòng học trò, còn ngày nay, nghe tiếng đàn Bá Nha này, hiền hữu có biết lòng ta đang tư lự gì không? - Xin đại nhân cho nghe một vài khúc nhạc nữa Bá Nha thay dây đàn, gảy khúc Ý tại non cao. Tiều phu ngẩng mặt mỉm cười: - Tuyệt thay, ý chí cao vút. Ý tại non cao. Bá Nha giật mình ngưng đàn. Một lúc sau gảy thêm khúc Ý tại lưu thủy. Tiều phu khua tay xuống dòng nước: - Trời nước bao lạ. Ý tại lưu thủy. Bá Nha thất kinh, nhìn người tiều phu không ngớt mắt, sao lại có người cảm thấu được tiếng đàn của mình như vậ. Ông sai nguời hầu dẹp trà, bày tiệc rượu. Xong, ông đứng lên trước mặt người tiều phu, kính cẩn hỏi: - Dám hỏi tiên sinh quý danh và quê quán. Tiều phu vội đứng lên, chắp tay thi lễ: - Tiện dân họ Chung, tên Tử Kỳ, người thôn Tập Hiền gần núi Mã Yên nàỵ Còn đại nhân, chẳng hay cao danh quý tánh là gì, hiện đi trấn nhậm nơi đâu mà ghé thuyền lại đây vãng cảnh. - Tại hạ họ Du tên Thụy, là Đại phu nuớc Tấn, nhân đi sứ nước Sở về, thấy cảnh Hàm Dương trăng thanh gió mát, nên ghé thuyền thưởng lãm. Tại hạ chỉ là một kể tài hèn đức bạc mà thôi. Còn như tiên sinh đây học thức uyên bác cớ sao không xuất thân lập công danh, phò vua giúp nước, mà lại sống ẩn dật chốn núi non hẻo lánh này. - Tôi còn cha mẹ già, không có anh em, phận làm con phải lo tròn chữ hiếu, dẫu cho công hầu khanh tướng cũng không thể đổi được một ngày báo hiếu của tại hạ. Tử Kỳ hai mươi bảy tuổi. Bá Nha trân trọng nói: - Tiện chức hơn tiên sinh những mười tuổi. Nếu tiên sinh không chê tôi đức mọn tài hèn thì xin kết làm anh em để khỏi phụ duyên tri âm. Chung Tử Kỳ khiêm nhượng đáp: - Đại nhân là bậc công khanh nơi triều đình, tại hạ là kẻ áo vải chốn sơn lâm thì làm sao kết bạn với nhau được, xin đại nhân miễn cho. - Giá trị con người đâu ở chỗ giàu sang phú quý, mà ở đức hạnh tài năng. Nay nếu tiện sinh chịu nhận làm anh em thì thật là vạn hạnh cho tiện chức. Bá Nha đã có thành tâm, Tử Kỳ không từ chối nữa. Bá Nhà sai người hầu đốt lò hương mới, lập hương án trước thuyền, cùng Tử Kỳ lạy trời đất tám lạy, nhận nhau làm anh em khác họ. Rồi hai bạn cùng đối ẩm chuyện trò với nhau rất chi là tương đắc. Đến lúc ánh trăng nhạt nhòa, tiếng gà eo óc gọi ánh nắng mai, đoi bạn đành phải chia tay. Bá Nhà giọng run run, nhìn Tử Kỳ: - Lòng huynh quá cảm mộ, chưa nỡ rỡi hiền đệ Hiền đệ có thể cùng huynh đi thêm một đoạn đường để thêm đước một khúc chuyện trò cho thỏa mối tâm tình. Chung Tử Kỳ cũng không dấu được xúc động: - Theo lễ, tiểu đệ phải tiễn hiền huynh vài dặm đường mới phải, ngặt vì song thân của tiểu đệ đang trông ngóng ở nhà, xin hiền huynh thứ lỗi. - Vậy thì hiền đệ về nhà xin với song đường qua nước Tấn thăm chơi, chắc là sẽ được nhận lời. - "Phụ mẫu tại đường, bất khả viễn du", làm sao Tử Kỳ có thể rời cha mẹ để vui chơi cùng bạn được. Cuối cùng, Bá Nha nắm tay Tử kỳ, giọng khẩn thiết: - Sang năm, cũng vào giờ này, xin hẹn hiền đệ tại đây. Rồi lấy ra hai nén vàng, hai tay dâng cao lên trước mặt: - Đây là món lễ vật mọn của ngu huynh làm quà cho bá phụ, bá mẫu, đã xem nhau là cốt nhục xin hiền đệ chớ từ chối. Cảm tình tri ngộ, Tử Kỳ không từ chối. Lưu luyến chia tay, đôi bạn bịn rịn không thốt lên nỗi lời tạm biệt. * * * Thấm thoắt một năm qua, ngọn gió heo may từ phương Bắc về đem mùa thu đến. Bá Nha vào triều kiến vua Tấn xin được phép về Sở thăm quê nhà. Thuyền đến bến Hàm Dương, Bá Nha cho dừng lại dưới núi Mã Yên. Lòng bồn chồn trông ngóng. Vừng kim ô đã ngả bóng xuống lòng sông, khói sóng dâng lên nghi ngút, sao mãi vẫn không thấy bạn tri âm. Bá Nha cho đồng tử đốt lò hương, rồi lấy Dao cầm đàn một khúc. Trong cơn gió nhẹ đầu thu, Bá Nha bỗng nghe tiếng đàn của mình sao mà ai oán, não nùng. Bá Nha thất kinh, ngừng tay đàn, tâm thần rối bời; cung thương bỗng nghe sầu thảm như thế này thì chắc là Chung Tử Kỳ gặp nạn lớn rồi. Cả đêm, Bá Nha trăn trở, nhớ thương và âu lo cho bạn. Trời chưa sáng, Bá Nha đã khoác cây Dao cầm lên lưng, bỏ vào túi mười nén vàng ròng rồi cùng vài tên hầu tìm đến chân núi Mã Yên . Dọc đường. gặp một ông lão, tay xách giỏ mây, tay cầm gậy trúc. Bá Nha lễ phép thưa: - Xin lão trượng chỉ đường đi đến Tập Hiền thôn. - Có Tập Hiền thôn thượng, Tập Hiền thôn hạ. Tiên sinh cần đến thôn nào? - Thưa lão trượng, người Tử Kỳ họ Chung ở thôn nào? Vừa nghe nhắc đến tên Chung Tử Kỳ, lão ông sa sầm nét mặt, đôi mắt trũng sâu chảy dài hai hàng lệ. Lão ông sụt sùi, giọng ngắt đoạn: - Chung Tử Kỳ là con lão. Năm ngoái cũng vào ngày này, nó đi đốn củi về, gặp một vị quan nước Tấn tên là Bá Nha và kết nghĩa huynh đệ vì chỗ đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Lúc chia tay, vị quan có tặng cho vợ chồng lão hai nén vàng. Ở nơi núi non heo hút thế này, vợ chồng lão chưa cần đến số vàng đó, nên con lão đã dùng đổi lấy sách, đọc bất kể ngày đêm, giờ giấc, ngoài việc đốn củi mưu sinh. Có thể vì quá lao nhọc, con lão đã lâm bệnh mà qua đời... Chưa kịp nghe hết lời, Bá Nha đã bật òa khóc, ôm chầm lấy ông lão: - Kẻ hậu sinh này chính là người bạn kết giao của Chung Tử Kỳ đây. Ông lão thảng thốt: - Trời ơi! Mang ơn đại nhân không chê trách cảnh bần cùng, đã cùng con lão kết nghĩa tâm giao. Lúc lâm chung, con lão đã trối trăn lại: " Sống không trọn đạo làm con, chết xin được chôn dưới chân núi Mã Yên để trọn nghĩa với bạn, nằm bên triền dốc chờ đúng lời hẹn mùa thu này". Con đường mà đại nhân vừa đi qua, phía bên phải có nấm đất nhỏ là ngôi mộ của Tử Kỳ. Hôm nay đúng một trăm ngày mất, lão vừa đi viếng mộ con về thì gặp đại nhân. Trước mộ Tử Kỳ, Bá Nha vừa lạy bạn xong, truyền đem đàn đến, ngồi trên tảng đá tấu khúc "Thiên thu trường hận". Tiếng đàn đang réo rắt bỗng trầm hẳn xuống. Tiếng gió ngàn rít mạnh, bầu trời trở màu tối sẩm và tiếng tiếng chim từ xa vọng về nghe u uất não nùng. Bá Nha ngưng đàn. Gió ngừng rít, trời trong sáng trở lại, chim ai oán lặng tiếng. Bá Nha nhìn Chung lão thưa: - Tử Kỳ đã về đây chứng giám cho lòng thành của tiểu sinh. Cháu vừa đàn khúc đoản ca để viếng người tri âm tài hoa mệnh yểu, và xin đọc thành thơ đoản ca này: Ức tính khi niên xuân Giang thượng tằng hội quân Kim nhật trùng lai phỏng Bất kiến tri ân nhân Đản kiến nhất phân thổ An nhiên thương ngã tâm Bất giác lệ phân phân Lai hoan khứ hà khổ Giang ban khởi sầu vân. Tử Ky, Tử kỳ hề ! Nhĩ, ngã thiên kim nghĩa Lịch tận thiên nhai vô túc ngữ Thử khúc chung hề bất phụ đàn Tam xích Dao cầm vị quân tử Dịch thơ: Từ nhớ đến mùa thu năm trước Bến Trường giang gặp bạn cố nhân Năm nay lại đến Giang Tân Giòng sông lạnh ngắt cố nhân đâu rồi Buồn chỉ thấy nấm mồ bên núi Cõi ngàn năm chia cắt đau lòng Ôi thương tâm, ôi thương tâm Sụt sùi lai láng bao hàng lệ rơi Mây sầu thấp thoáng chân trời Đêm vui đổi lấy một đời khổ đau Tử Kỳ ơi, Tử Kỳ ơi Ngàn vàng khôn chuộc được bầu tâm can Thôi từ nay, dứt phím đàn Ngàn thu thôi hết mơ màng cố nhân... Lời thơ vừa dứt, Bá Nha nâng Dao cầm lên cao, đập mạnh xuống tảng đá. Dao cầm vỡ tung từng mảnh, trụ ngọc, phím đồng rơi lả tả. Lão ông hoảng kinh: - Sao đại nhân lại đập vỡ đàn quí. Bá Nha đáp lời bằng bài thơ tứ tuyệt: Thốt đoái Dao cầm phượng vĩ hàn Tử Kỳ bất tại, hướng thùy đàn? Xuân phong mãn diện giai bằng hữu Dục mịch tri âm, nan thượng nan Dịch thơ: Dao cầm đập nát đau lòng phượng Đã vắng Tử Kỳ đàn với ai Gió xuân bốn mặt bao bè bạn Muốn tìm tri âm thật khó thay Bốn câu thơ là bài văn tế cho bạn. Bá Nha quay lại phía lão ông, sụp quỳ xuống: - Bá Nha, Tử Kỳ đã y lời hẹn đến đây rồi. Nay tiểu sinh có đem theo ít nén vàng, xin thành tâm dâng lên bá phụ cùng bá mẫu để cung dưỡng tuổi già và tạo mươi mẫu ruộng làm tự cho Tử Kỳ. Bốn năm nữa tiểu sinh sẽ dâng biểu từ quan, về đây chung sống với bá phụ bá mẫu, với người bạn tri âm. Chung lão không từ chối. Bá Nha lạy Chung lão, lạy tạ từ bạn rồi quay xuống cho thuyền nhổ sào, trở về nước Tấn. |
Ba Que Xỏ Lá
Trong thời Pháp thuộc, có một bọn người chuyên tổ chức những "trò chơi có thưởng". Trò chơi của bọn họ gồm một cái que và ba chiếc lá. Mỗi lá có đính một chiếc vòng nhỏ ở cuống. Người chơi cầm cái que nhỏ xỏ vào ba vòng nàỵ Mỗi người chỉ được xỏ một lần. Người nào xỏ vào được một lúc cả ba lá và nhấc được chúng lên thì được lĩnh thưởng. Ai xỏ trật, tức xỏ không vào lá nào hoặc chỉ vào một trong ba lá, sẽ mất toi số tiền đặt cược[1]. Cũng liên quan tới trò chơi này, có người kể lại cách thức chơi của bọn chủ trò có khác chút ít. Chúng thường dùng ba que nhỏ, trong đó chỉ có một que xỏ vào chiếc lá rồi chìa cho mọi người xem. Chúng tuyên bố rằng nếu ai rút trúng que có chiếc lá khi chúng nắm tay lại thì người đó trúng thưởng. Ngược lại, người chơi sẽ mất số tiền đặt cược [1] trước. Dù chơi theo cách thức nào đi nữa, thì bọn chủ trò vẫn có nhiều mưu mẹo, khiến cho người chơi bao giờ cũng thua cuộc. Vì thế, người ta mới gọi bọn chủ trò là bọn "ba que xỏ lá" với hàm ý là bọn bịp bợm, lừa đảo, dối trá. Từ cách thức chơi thứ nhất, nhiều người cho rằng hình thức ban đầu của "ba que xỏ lá" là "xỏ lá ba que"[2]. Sở dĩ có sự thay đổi này là do việc đọc chệch cho thuận miệng, dễ đọc, dễ nhớ. Thành ngữ "ba que xỏ lá" dần dần được mở rộng phạm vi xử dụng. Nó được dùng để chỉ tất cả những hạng người lừa lọc, bịp bợm, đểu cáng |
Chim Sa Cá Lặn
Ngày nay, mọi người đều hiểu thành ngữ này là một cách nói ngoa dụ để chỉ người đàn bà rất đẹp, giống như cách hiểu thành ngữ "hoa hờn nguyệt thẹn", tức đẹp tới mức hoa phải hờn vì kém sắc, trăng phải thẹn vì kém tươị Nhưng thật ra ý nghĩa ban đầu của thành ngữ này không phải vậỵ Trang Chu, hay thường gọi là Trang Tử, người đời Chiến Quốc học thức rất uyên bác, không môn gì không biết. Trong sách "Nam Hoa Kinh", ông chép rằng: Mao Tường và Lệ Cơ là hai người đàn bà đẹp, cá thấy: chìm vào chốn hang sâu, chim thấy: bay cao (ngư kiến chi nhập thâm, điểu kiến chi cao phi). Ý Trang Chu muốn nói rằng mọi sự trên đời đều là tương đối, Mao Tường, Lệ Cơ tuy đẹp, song chỉ đẹp đối với người, chứ biết đâu trông thấy họ, cá chẳng sợ mà lặn sâu, chim chẳng sợ mà bay cao ? Người sau hiểu khác hẳn nguyên ý ấy của Trang Chụ Sách "Thông Tục Biên" dùng thành ngữ "trầm ngư lạc nhạn" tức "chim rơi cá chìm" để chỉ nhan sắc người đàn bà cực đẹ.p. |
Công Tử Bạc Liêu
Tục truyền rằng người giàu nhất Bạc Liêu ngày xưa là ông Hội đồng Trạch, vốn là thư ký làng. Hội đồng Trạch có cả chục ngàn mẫu ruộng. Theo lời cháu chắt ông kể lại, toàn tỉnh Bạc Liêu bấy giờ có 13 lô ruộng thì hết 11 lô là của ông Trạch. Ông có 3 con trai và 4 con gáị Trong số 3 người con trai của ông Trạch có cậu ba Trần Trinh Huy là ăn chơi phung phí hơn hết. Mỗi lần đi xem ruộng, cậu ba Huy mướn máy bay nhẹ có phi công người Pháp chở. Mỗi lần đi đòi nợ, cậu đi một chiếc xe khác. Có lần cậu đi hóng gió, dùng cả chục chiếc xe kéo, mỗi chiếc chở một món đồ của cậu như cái mũ, cây can ... Người ta còn kể nhiều truyền thuyết về cuộc sống đào hoa, phóng khoáng của cậu ba Huy nữa ... Ngôi nhà của công tử Bạc Liêu nay trở thành bảo tàng tỉnh Minh Hảị Ngày nay người dùng thuật ngữ "Công tử Bạc Liêu" để ám chỉ người ăn sung mặc sướng, không phải làm lụng cực nhọc. |
Công Dã Tràng
Công dã tràng, ý nói có gắng công cũng vô ích. Tục truyền có chàng thợ săn tên Dã Tràng, một ngày kia nhìn thấy một cặp rắn. Khi con rắn cái lột da thì rắn đực đi tìm đồ ăn mang về chọ Nhưng khi rắn đực lột da thì rắn cái bèn bò đi tìm rắn đực khác. Dã Tràng bất bình bèn bắn chết rắn cáị Rắn đực đi tìm vợ, gặp Dã Tràng mới hiểu ra vợ mình xấu xạ Rắn đực bèn trả ơn Dã Tràng bằng một viên ngọc lạ, mỗi lần Dã Tràng ngậm viên ngọc này thì có thể nghe và hiểu được tiếng nói của loài vật. Tin viên ngọc lạ có thể cho cho con người hiểu ngôn ngữ loài vật bay đến tai vuạ Vua cho đòi Dã Tràng tới, mượn viên ngọc của chàng và ban thưởng nhiều của cảị Một hôm vua xuống thuyền, ngậm viên ngọc, nghe được các loại cá mực hát rất haỵ Vua bật cười, viên ngọc bị rơi xuống biển. Dã Tràng tiếc viên ngọc, ngày đem ngụp lặn tìm kiếm, kiệt sức chết đị Dã Tràng biến thành một loài cua bể ngày đêm tha cát lấp biển để tìm lại viên ngọc đã mất. Dã Tràng tha cát lấp bể, sóng biển lại đánh vàọ Cho nên trong dân gian Việt Nam có câu: "Dã Tràng xe cát biển đông, Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì |
Điển Tích Truyện Kiều - Bảy Chữ, Tám Nghề
Này con thuộc lấy làm lòng Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề Chơi cho liễu chán hoa chê Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời Khi khóe hạnh, lúc nét ngài Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa Điều là nghệ - nghiệp trong nhà Đủ ngần ấy nết mới là làng chơi Theo truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc): Tú bà hỏi Kiều: Tiếp khách thế nào mới lưu được khách?. Kiều trả lời: ngủ với ngươì ta chớ gì?; Tú bà giẫy nẫy: con này mới ngu làm sao ! Nếu con gái nhà thổ cũng như con gái nhà lương gia thì ai buồn chơi. Nghề chơi ở trong còn lắm điều hay, khi khách lên giường, thì mày nhường khách nằm trong, mày nằm ngoài, ngoảnh mặt lại chầu khách; tay khách tất sờ vào mình mày, mày phải sờ hạ thể khách.. Bảy chữ vành ngoaì là: 1. Khốc: khóc lóc giả bộ thương yêu, khách quyến luyến không rời được 2. Tiễn: cắt tóc mày và tóc khách, se vào nhau; mỗi người buộc vào cánh tay như thề nguyện kết tóc se tơ. 3. Thích : khi đã thỏa thê tình dục rồi, lấy kim chích tên của khách lên cánh tay hay đùi mày, lấy mực xoa vàọ Khách sẽ trút hết tiền vì nghĩ rằng mày đã chết mê chết mệt nó, mới xăm tên nó lên thân thể mày như vậỵ Khách sau đến, trông thấy ắt phải nghĩ rằng: không biết người đi trước đãi mày thế nào mà mày yêu đến thế. Tất nhiên sau đó sẽ hậu đãi mày để được lòng mày, yêu hơn người trước. Nhân thể phải biết chau mày, nói: khách đi trước đã tiêu phí không biết bao nhiêu tiền mới được lạc thú tuyệt đỉnh, do đó mới xăm tên, nay muốn được thích thú hơn, tất nhiên phải quăng tiền cho mày. 4. Thiêu: là khổ nhục kế, hai đứa đều chích máu trong người ra để thề, phỏng gặp thằng ngu, mày cùng nó đốt huơng thề, như thế thì nó táng gia bại sản cũng đáng đời. 5. Giá: dùng mẹo để lừa, cứ như mong được làm vợ, suốt ngày chỉ nói chuyện mơ ươc về nhà chồng và các điều thề thốt. Hễ nó đã mê, tự nhiên bỏ của ra; tiền đã hết rồi, nó muốn cưới, mày giả đau không dậy, thế thì chẳng phải đợi mày đuổi, nó tự động cũng cút xéo. 6. Tẩu: khách chơi đã hết của, mày phải đuổi nó ra khỏi cửạ Nếu nó vẫn đeo, thì vờ hẹn nó đến một nơi nào đó, rồi nắm áo lại, dọa sẽ tri hô lên cho quan đến bắt kẻ lưu manh có ý cưỡng bức màỵ Tự khắc nó phải bỏ mày. 7. Tử: dẫu biết nó có vợ có hầu, mày vẫn thế thốt sống chết nếu không được sống chung thì tự vẫn; vậy nó có tiêu pha hết của cho mày thì cũng phải. Bảy chữ mới chỉ là mánh khóe bên ngoài để dụ dỗ khách. Còn khi hành lạc, thì vành trong phải đủ tám nghề: 1. Với khách có hạ thân nhỏ thì dùng phép "đánh trống giục hoa" (kích cổ thôi hoa). 2. Với khách có hạ thân lớn thì dùng phép "sen vàng khóa xiết" (kim liên song tỏa). 3. Nếu khách hối hả, lụp chụp thì dùng phép "mở cờ đánh trống" (đại chiến kỳ cổ) 4. Nếu khách khoan thai thìdùng phép "đánh chậm gõ sẽ" (mạn đả khinh sao) 5. Với người mới " vỡ lòng "thì dùng phép "ba bậc đổi thế" (khẩn thuyên tam trật). 6. Gặp khách sành sỏi thì dùng phép "tỏa tâm truy hồn" 7. Gặp khách tay ngang tì dùng phép "tả chi hữu chì" 8. Đối với khách đam mê nhan sắc thì dùng phép "dềnh dàng hớp vía" (nhiếp thần phiến tỏa). |
Tết Trung Thu Nguyễn Tử Quang Điển hay tích lạ Tết Trung Thu ăn vào ngày rằm tháng 8. Nguyên cuối đời nhà Tây Hán (206 trước 23 sau D.L.), Vương Mãng nhân được cầm giữ chính quyền, thiện tiện phế lập và cuối cùng cướp được ngôi vua, đặt quốc hiệu là Tân. Bấy giờ có người tông thất về chi xa của nhà Hán là Lưu Tú nổi lên chống lại Vương Mãng, chiếm được thành trì. Nhưng thế lực Mãng còn thời mạnh mẽ, nên Lưu Tú bị bao vây, phải chờ binh cứu viện. Trong thời gian chờ đợi, trong thành đã hết lương thực. Quân sĩ phải đào củ chuối mà ăn. Rốt cuộc củ chuối, củ vỏ cũng không còn nữa. Và, binh cứu viện cũng chưa thấy đến. Lưu Tú lấy làm lo lắng, mới đặt bàn hương án cầu trời: "Nếu có thể khôi phục được Hán triều, dòng Hán chưa tuyệt thì xin Thượng Đế ban phép mầu cho mọc vật chi để cầm cự đỡ lòng mà chờ viện binh đến". Lời của Lưu Tú động đến thiên đình. Sáng hôm sau, giữa lúc quân lịnh đào đất để tìm vật ăn thì bỗng đào được một thứ khoai. Họ mừng rỡ, đem về nấu ăn. Đó là một thứ khoai môn, vị rất bùi, ăn rất ngon. Nhưng quân lính ăn nhiều quá mang chứng sình bụng, không tiêu được. Lưu Tú đâm hốt hoảng, lại đặt bàn hương án cầu trời. Ba hôm sau, quân lính trong thành đi tìm thức ăn bỗng bắt gặp một thứ cây bưởi có trái. Họ hái trái ấy ăn thấy ngon nên ăn nhiều quá; và cũng nhờ đó mà đi tiêu được, không còn mắc phải chứng bịnh sình bụng nữa. Cầm cự một thời gian như thế, viện binh đến, dùng cách ngoại công nội ứng nên giải được vây. Ngày mà Lưu Tú cầu trời nhằm ngày rằm tháng 8. Truyền thuyết như thế. Sau Vương Mãng bị giết. Hai năm sau, Lưu Tú bình định được toàn quốc, lên ngôi vua tức là Quang Võ Đế nhà Hậu Hán. Nhân Quang Võ đóng đô ở Lạc Dương thuộc về miền đông nước Tàu nên gọi là Đông Hán. Vì muốn kỷ niệm lại những vật nuôi sống trong thời kỳ bị vây là khoai môn và bưởi, nên đến ngày rằm tháng 8, nhà vua làm lễ tạ trời đất, lại thưởng trăng bằng hai vật là bưởi và khoai môn. Rồi được truyền khắp dân gian. Hai vật này là hai vật chính mà người Tàu dùng để cúng trăng. Sau lần lần, người ta mới bày thêm bánh in, có đề chữ "Trung thu nguyệt bỉnh", tổ chức thành một ngày lễ long trọng gọi là Tết Trung Thu. Vì ngày rằm 8 tháng 8 đúng vào giữa mùa Thu, theo luật âm dương tuần hoàn, trong một năm được phân định bốn kỳ: Xuân phân, Hạ chí, Thu phân và Đông chí. Rằm tháng 8 vào thời kỳ Thu phân (giữa mùa thu) lại giữa tháng 8 nên gọi là tiết Trung Thu. Tiết Trung Thu đọc trại là Tết Trung Thu. Khi nói đến Tết Trung Thu là nói đến trăng tròn, trăng sáng, trăng đẹp. Thế nên người Tàu còn kêu tết Trung Thu là "Lễ trông trăng". Lễ này có mục đích là trông mặt trăng để đoán định vận mạng quốc gia, tiên liệu mùa màng... và trông trăng để gợi nguồn cảm hứng cho thi tứ của tao nhân mặc khách. Theo cổ học Đông phương thì trăng thuộc về Thủy trong 5 ngũ hành (Kim, Một, Thủy, Hỏa, Thổ) mà Thủy (nước) là một yếu tố quyết định nghề nông... Cho nên, vào đêm rằm Trung Thu, nhân dân kéo ra sân mà quan sát mặt trăng. Nếu trăng vàng thì năm tới sẽ trúng mùa tằm tợ Nếu trăng có màu xanh, màu lục thì thiên hạ sẽ lâm cảnh thất mùa cơ hàn do thiên tai: hạn hán, lụt lội. Nếu trăng trong sáng màu cam la, biểu lộ một cảnh thạnh trị thái bình... Ấy là ngắm trăng thu để tiên tri thời cuộc, mùa màng, còn tao nhân mặc khách ngắm trăng thu để gợi nguồn cảm hứng. Những nhà thơ VN cũng như những nhà thơ Trung Hoa có rất nhiều thơ về trăng thu và về mùa thụ Nhưng mỗi người có một tính cáh; cũng như thơ có nhiều sắc thái do tình cảm buồn sầu vì thu hay vui vẻ vì thu chẳng hạn. Đỗ Phủ, một thi hào danh tiếng thời thịnh Đường (715-766), nhân lênh đênh phiêu bạt đất khách có 2 năm trời, lòng hoài vọng cố hương nên gởi lòng trong một bài "Thu hứng" rất lâm ly, áo não: Dưới đây là hai bản dịch: một của cụ Nguyễn Công Trứ và một của ông Ngô Tất Tố: Lác đác rừng phong hạt móc sa, Ngàn lau hiu hắt khí thu mờ. Ngút trời sóng dậy lòng sông thẳm, Rợp đất mây ùn mặt ải xa. Khóm trúc tuôn hai hàng lệ cũ Con thuyền buộc một mối tình nhà. Lạnh lùng giục kẻ tay đao thước, Thành quạnh dồn chân buổi ác tà. (Nguyễn Công Trứ) Vàng úa rừng phong, hạt móc bay, Non Vu hiu hắt phủ hơi may. Dòng sông cồn cộn, trời tung sóng, Ngọn ải mờ mờ, đấy rợp mây, Lệ tủi: sợ coi chòm cúc nở, Lòng quê: mong buộc chiếc thuyền đầy. Giục ai kéo thước lo đồ lạnh, Đập vải trời hôm rộn tiếng chày. (Ngô Tất Tố) |
tư thấy???
e ngưỡng mộ anh/ chị có kí danh là tt_lưulytím_tt wa':pretty: :choctuclen:
|
LUU LY TIM đã sưu tầm những cốt truyên thật hay ,giúp nhiều người mở mang kiến thức, hiểu biêt rộng trong lãnh vực văn chương.luulytim tiếp tục nhé.
Xuân về Hongky chúc LƯU LY TIM :Sức khỏe ,Hạnh-Phúc và Niềm Vui. vukimky |
Cảm ơn nhiều nhé!! Kiến thức của bạn bổ ích với mình và mọi người lắm!
|
Điển Tích Truyện Kiều - Ba Đào Gặp cơn bình địa ba đào
Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em. Các văn nhân xưa có câu đối: Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách. Sắc bất ba đào dị nịch nhân. Gió mưa không có then khóa mà giữ được khách. Nhan sắc không phải sóng lớn mà dìm chết người\. Điển tích \"Ba đào\"- sóng lớn - trong sách Dị Văn lục: Triều Huệ Đế đời nhà Minh, tại huyện Tề Hàng, tỉnh Sơn Nam, có hai vợ chồng Trần Hoá Chiêu, Lương Tiểu Ngạ Tiểu Nga là con một gia đình thúc nho lễ giáo, nổi tiếng là một trang quốc sắc thiên hương; thuở nhỏ được cha mẹ cho theo đòi bút nghiên, mười hai tuổi đã biết làm thơ phú, đọc thông các sách thánh hiền. Hoá Chiêu là học trò của cha Tiểu Nga; cậu học trò nghèo, mồ côi cha, thông minh, ham học, mặt mày khôi ngô, được thầy thương, gả con gái và cho ở rể. Sống chung với nhau được ba năm, thì bố mẹ vơ, lần lượt qua đời, để lại cho vợ chồng một căn phố và ít vốn liéng để mở một tiệm tạp hóa\. Đời sống cũng được êm đềm. Trong vùng, các văn nhân thỉnh thoảng đến mua hàng và cùng vợ chồng Trần Hóa Chiêu xướng họa ngâm thơ\. Cũng không ít khách lai vãng thường xuyên đến đó vờ vĩnh mua hàng, để được dịp chiêm ngưỡng dung nhan Tiểu Nga; có phú hộ Trát Hiếu Sắc cũng thuộc loại khách này\. Nhưng không như những mối tình câm kia, đến nhìn để rồi thầm yêu trộm nhớ, Hiiếu Sắc đã manh tâm chiếm hữu người đàn ba này cho được. Phú hộ tìm hiểu, biết vợ chồng vì ham thích thơ văn , nên buông lỏng chuyện mua bán, vốn liếng cụt dần. Phú hộ ra tay hào hiệp, cho mượn vàng bạc để gầy dựng lại\. Ngại ngùng lần đầu, nhưng rồi tiếp những lần sau, Hoá Chiêu cầm vàng bạc mượn đi buôn bán xa, chuyến nào cũng lời khẫm. Lần nào, vợ chồng cũng nài nỉ hoàn lại vốn và trả lời, nhưng Hiếu Săc đều từ chối lấy lãi\. Cứ vậy, hai năm họ trở thành bạn thâm giao\. Hiếu Sắc luôn tỏ ra mình là người đàng hoàng, nghiêm túc, không bao giờ đến nhà bạn trong lúc vắng mặt Hoá Chiêu; những lúc tiếp chuyện với Lương Tiểu Nga, luôn luôn giữ thái độ đứng đắn. Vợ chồng Hoá Chiêu vui mừng có được người bạn hiền, hào phóng. Khi tự xét lý lịch \"nằm vùng\" của mình đã đến lúc kết nạp được, Hiếu Sắc đề nghị chung vốn làm ăn lớn. Vợ chồng Hóa Chiêu hoàn toàn tin tưởng, hớn hở nhận lời ngay\. Việc buôn bán phất lên nhanh, nhưng Hiếu Sắc vẫn cương quyết không bao giờ nhận chia lãi, nại lý do để giúp vợ chồng bạn. Một lần, Hiếu Sắc bàn với Hóa Chiêu phải đi buôn một chuyến lớn ở Hàng Châu xa xôi và thuê thuyền xong, cả hai cùng lên đường. Ròng rã cả tháng trời thuyền mới đến Hàng Châu vào một đêm trăng thanh gió mát. Hai người đem rượu ra mũi thuyền đối ẩm tâm sự Hoá Chiêu, tình thật, ngâm một câu thơ, lại ngậm một chén rượu ; Hiếu Sắc thì cứ làm động tác giả, hắt rượu qua vai\. Quá nửa đêm, Hoá Chiêu rụng, người mềm nhũn. Lúc bấy giờđám gia nhân dưới thuyền cũng đã ngủ saỵ Hiếu Sắc lôi Hóa Chiêu, xô xuống sông. Đôi ba lần Hoá Chiêu ngoai ngóp trồi đầu lên, Hiếu Sắc lại dùng sào dìm xuống cho đến khi mặt nước không còn sủi bọt nữa\. Không cần phải buôn bán chi, Hiếu Sắc cho thuyền quay về Tề Hàng ngay\. Mẹ Hoá Chiêu và Tiểu Nga đau lòng với nỗi bất hạnh, nhưng vần cảm kích Hiếu Sắc đã bỏ cả chuyến hàng lớn để vội vàng trở về báo hung tin. Rồi sau đó, đều đều, Hiếu Sắc lui tới thăm viếng và cấp dưỡng cho mẹ Hoá Chiêu và cô vợ góa trẻ. Và lần nào nước mắt phú hộ hào phóng cũng đầm đìa\. Người đời càng nể trọng hơn khi thấy Hiếu Sắc ân cần chăm sóc mẹ của Hoá Chiêu chu đáo hơn vợ bạn, khiến mẹ già cũng có phần đăm chiêu\\ Ba năm sau, mãn tang. Hiếu Sắc cho người đến thưa chuyện với mẹ Hóa Chiêu xin cưới Tiểu Nga lam vợ. Bà mẹ đã đăm chiêu nhiều, nên thuận tình ngay, khuyên nhủ con dâu nên bước thêm bước nữa\. Lương Tiểu Nga vốn là gái hiền thục, vẫn còn thương yêu người chồng vắn số, nhưng vẫn phải vâng lời mẹ chồng, tái giá. Cưới được Lương Tiểu Nga rồi, Hiếu Sắc vẫn một mực chăm sóc mẹ Hoá Chiêu; bà cũng an lòng nghĩ rằng con dâu mình có được bóng mát cho cuộc đời còn lại\. Vợ chồng ăn ở vơi nhau được mười năm, sinh được hai mụn con. Đời sống an nhàn. Một đêm trăng vào hạ, vợ chồng ra ngồi hóng mát bên ao sen. Hiếu Sắc nhấm rượu, và ngấm rượu; Đương lúc đó, có con ếch nhảy lên một lá sen. Tiểu Nga đưa cây sào thọc cho con ếch nhảy đi\. Sào thọc xuống thì con ếch lặn, cất sào lên, nó lại trồi lên. Tiểu Nga phải thọc vào con ếch mấy lần nữa, nó mới chịu lặn chìm mất. Bất giác, Hiếu Sắc buột miệng ngâm: \"Hồi ức thập tam niên tiền sự Huyên tợ hà mô lục thủy thờị. Nhớ chuyện mươi ba năm trước đây Mường tượng ngày nay ếch ngóp ngoai Nghe lời thơ lạ, Tiểu Nga bảo chồng lập lại để mình họa theo\. Hiếu Sắc lè nhè đọc lại rồi cao hứng nói vợ lấy giấy bút cho mình chép lại làm thủ bút. Thôi rồi, kẻ hào hiệp chung chăn gối với mình mười năm nay, thì ra là một kẻ nham hiểm thâm độc. Không thể để cho Hoá Chiêu chết oan, Tiểu Nga đã nắ lấy vật chứng là hai câu thơ thủ bút của Hiều Sắc, đem đi trình quan. Bị bắt tra vấn, Hiếu Sắc khai hết sự thật câu chuyện hơn mười ba năm trước, vì đã cuồng si nhan sắc của Lương Tiểu Nga nên đóng trò đạo đức, rồi bày mưu giết chồng đoạt vợ Trát Hiếu Sắc bị xử tội tử hình. Đúng là sắc bất ba đào dị nịch nhân, nhan sắc đâu phải là sóng lớn mà cũng dìm chết người, hai người chồng đều phải tức tưởi lìa đời\. Sắc đẹp là tội lỗi, nàng đã đến công đường, xin xử tội cái nhan săc nàỵ Nhưng luật pháp có bao giờ lại tử hình một hồng nhan. Có chăng thì lạ gì bỉ sắc tư phong, hồng nhan phải tự mang lấy cái nghiệp chướng đa truân. Nguồn : VM |
BA BẢY HĂM MỐT NGÀY
(Theo Nguyễn Quốc Hùng - "Thông dụng thành ngữ cố sự") VN ta có câu "Ba bảy hăm mốt ngày" (không sớm thì muộn) có thể được coi là mang cùng ý nghĩa với thành ngữ "Ngũ nhật kinh triệu (năm ngày giữ chức Kinh triệu) của Tàu. Đời Tuyên đế nhà Tây Hán, kinh đô Trường An có nạn trộm cướp hoành hành dữ dội, khiến dân chúng nhà nhà đều bất an. Đương thời, việc trị an tại kinh đô là thuộc phận sự của quan Kinh triệu doãn cũng như chức Đô trưởng ngày nay), nhưng nhiều vị Kinh triệu doãn kế tiếp nhau đều không trừ được nạn trộm cướp hoành hành tại kinh đô nhà Tây Hán. Hán Tuyên đế nghe nói một vị quan ở đất Liêu Đông là Trương Xưởng rất tài giỏi, bèn gọi Trương Xưởng về, cho làm Kinh Triệu Doãn, nắm việc trị an tại kinh đô. Ngay sau khi nhiệm chức, Trương Xưởng tự mình đi sâu vào dân chúng kinh đô để điều tra tình hình, và được biết những kẻ cầm đầu bọn trộm cướp tại kinh đô đều là những kẻ giàu có, ra ngoài một bước là xe ngựa xênh xang, nhà ở thì lộng lẫy như cung điện, trong nhà thì gia nhân tỳ thiếp cả bầy. Trương Xưởng bèn tìm cách mua chuộc được hết bọn cầm đầu đó, và bắt trọn tổ chức trộm cướp tại kinh đô Trường An. Dân chúng lại được sống yên vui và không ngớt lời ca tụng tài đức của Trương Xưởng. Trương Xưởng giữ chức Kinh Triệu Doãn được mấy năm, nền trị an tại kinh đô cực kỳ tốt đẹp, bộ mặt kinh đô càng thêm thịnh vượng, nhưng một người bạn của Trương Xưởng là Dương Hẩn phạm tội đại nghịch và bị triều đình xử chém. Các đại thần trong triều đề nghị cách chức tất cả bạn bè của Dương Hẩn hiện đang làm quan trên toàn quốc. Do đó, Trương Xưởng cũng bị cách chức. Lúc đó, Trương Xưởng có một thuộc cấp, chuyên phụ trách về các vụ trộm cướp, tên là Như Thuấn. Khi nghe tin Trương Xưởng bị cách chức, Như Thuấn không chịu tới phủ làm việc nữa. Trương Xưởng cho gọi, Như Thuấn cũng không thèm đến, trái lại còn nói với mọi người rằng : - Trương công còn tại chức được bao lâu nữa ? Chỉ chừng 5 ngày nữa giữ chức Kinh Triệu Doãn mà thôi, tại sao ta còn phải làm việc cho Trương công nữa. Trương Xưởng nghe giận lắm, tức thì cho lệnh bắt giam Như Thuấn, lập hồ sơ kết tội là trái lệnh thượng cấp, và xử chém. Sự tích này được chép trong phần Trương Xưởng truyện của bộ Hán thư. Từ lời nói của Như Thuấn trong sự tích này, người đời rút ra thành ngữ "Ngũ nhật kinh triệu" (5 ngày giữ chức Kinh triệu) để nói về trường hợp làm quan không được yên, địa vị bị đe dọa, hoặc về trường hợp giữ chức không được bao lâu, dù vì bất cứ lý do nào (hoặc bị cách chức, hoặc tự ý xin rút lui, v.v...) Chẳng hạn như trong một hãng buôn lớn, có một nhân viên làm việc không siêng năng cần mẫn, đi trễ về sớm, lại thiếu khả năng, làm việc hay lầm lẫn sai sót. Nhân viên này sớm muộn gì cũng bị chủ nhân sa thải, chớ không thể làm việc lâu. Trong trường này người ta nói rằng nhân viên đó chẳng qua chỉ "ngũ nhật kinh triệu" mà thôi. Dương Trọng Hiếu |
BỚI LÔNG TÌM VẾT
(Trích trong "Kể chuyện thành ngữ tục ngữ", câu 31 - NXB KHXH 1994) Thành ngữ "bới lông tìm vết" xuất phát từ thành ngữ Hán Việt "suy mao cầu tì". Trong tiếng Việt, thành ngữ này được dùng để chỉ hành vi của những người hay bới móc khuyết điểm, thiếu sót của người khác. Trước hết, hành động "bới lông tìm vết" được thực hiện khi xem xét các loại chim đe.p. Ngày xưa bên Trung Hoa hay mở các hội thi chim. Chim đẹp ở bộ lông và dáng điệu. Chim quý ở tiếng hót. Những điều này lộ ra ở bên ngoài, rất hiển nhiên, có thể nhận biết dễ dàng và chính xác. Một khi đã bới lông để dò tìm những vết xấu thân thể có thể bị che khuất dưới lớp lông đẹp của chim có nghĩa là về vẻ đẹp của bộ lông, của dáng điệu, của tiếng hót, những tiêu chí khách quan, có tính chất truyền thống, đã được thừa nhận nhưng vì chủ quan không muốn thừa nhận, hoặc muốn đánh sụt giá vẻ đẹp của chim. Đó là một sự cố tìm moi móc không thiện ý nhằm làm giảm giá trị của loài vật này. Với nhận thức đó, người dân gắn việc "bới lông tìm vết" với hành vi cố tìm moi móc khuyết điểm của người khác để hạ thấp uy tín của họ. Trong vận dụng ngôn ngữ, thành ngữ "bới lông tìm vết" có thể được sử dụng linh hoạt để nhấn mạnh ý nghĩa biểu đạt của nó. Bới lông mựa nỡ tìm nơi vết Cũng có khi kinh, cũng có quyền (Hồng Đức quốc âm thi tập) Gần nghĩa với thành ngữ "bới lông tìm vết" là thành ngữ "vạch lá tìm sâu". Dương Trọng Hiếu |
Thank You !
Whooaaahhh.... |
Trích:
Em sưu tầm về chia sẻ với ace và cũng để học mỗi ngày 1 chút hihi Bể học mênh mông hah sis. |
Vọng Phu Thạch
Hải Đà - Vương Ngọc Long painting by Mai Tâm mời nghe nhạc phẩm: Vọng Phu Thạch (nhạc Mai Đức Vinh, thơ Vương Ngọc Long) Thi ca không phải chỉ là tiếng nói, tư duy, cảm xúc của riêng cá nhân người thơ, mà còn phản ảnh tình hình lịch sử, thời đại, tâm lý dân chúng và xã hội. Sống trong một chế độ phong kiến quan liêu, quân chủ bất công của Trung Hoa thời Đường, vai trò của người phụ nữ bị lu mờ, thân phận của họ thảm thê, bị dồn ép vào bóng tối của cuộc đời, phải nhẫn nại chịu đựng đắng cay trăm bề, không còn biết ý nghĩa của hạnh phúc và gia đình. Người phụ nữ thời đó phải chấp nhận số phận hẩm hiu cho đến hết cuộc đời. Những tôn chỉ cho người phụ nữ phải triệt để thi hành là "tứ đức", "tam tòng", chỉ là cái cớ bất công để bó buộc người phụ nữ phải làm công bộc cho chồng và cả gia đình chồng. Họ đã được biến thành những công cụ "mua vui" , qua những hủ tục "năm thê bảy thiếp" . Đó là những bất hạnh của người phụ nữ đẹp phải chịu đựng, an phận qua cái hủ kiến vô lý "tạo vật đố hồng nhan" (trời ganh ghét má hồng). Những quan niệm hủ lậu "trọng nam khinh nữ", "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử ", "văn dĩ tải đạo", "phụ nhân nan hóa" luôn luôn canh cánh và đè nặng tư tưởng và cách sống trong xã hội Trung Hoa. Nên những bài thơ đề cào vai trò phụ nữ trong xã hội Trung Quốc, hoặc tôn vinh cái vẻ đẹp và hạnh phúc của tình yêu trai gái nam nữ, thật là hiếm hoi trong khu rừng Đường Thi trùng trùng điệp điệp …, những nhà thơ Đường e rằng bị xã hội kết án là không mang tinh thần trượng phu, đi ngược lại những quan niệm đạo đức phong kiến và lễ giáo đã là gốc rễ in sâu trong tiềm thức họ ngàn đời. Tuy vậy cũng có những nhà thơ đã cách tân xã hội, đã mạnh dạn lên án tố cáo những bất công vô lý của giai cấp thống trị phong kiến như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị đi đầu, rồi đến các nhà thơ Lý Bạch, Lý Thân, Mạnh Giao, Đỗ Tuân Hạc, Vương Kiến v.v… đã đem lại vài luồng gió tươi mát đầy sinh khí để gây sự khởi sắc cho thơ ca tụng tình yêu và phụ nữ, như Lý Bạch và Bạch Cư Dị với Thái Liên Khúc, Tử Dạ Thu Ca, Trường Tương Tư, Trì Thượng , Trường Can Hành ...Và đặc biệt là cũng xuất hiện những bài thơ ca tụng những đức tính, phẩm cách, đạo đức, sự thủy chung, đoan chính của người phụ nữ như Du Tử Ngâm, Chức Phụ Từ, Liệt Nữ Tháo (Mạnh Giao), Tiết Phụ Ngâm (Trương Tịch) v.v.. Vọng Phu Thạch của Vương Kiến cũng là một bài thơ đã tạo nên những biểu tượng sâu sắc, nêu cao giá trị tinh thần cao quí của người phụ nữ thời xưa . Vương Kiến là thi sĩ đời Đường, sống một cuộc đời nghèo khó. Thi ca của ông thể hiện tính chất tiêu cực bộc lộ tình cảm cá nhân chua xót, vất vả không được may mắn trên đường đời, công danh, sự nghiệp. Ngoài những bài thơ phản ảnh sự thống khổ của tầng lớp dân chúng vì sưu cao thuế nặng, vì sự bóc lột áp bức của tầng lớp thống trị quan liêu, phong kiến, ông đã quan tâm đến nguyện vọng tha thiết yêu chuộng hòa bình của mọi người dân trong xã hội, khi mà chiến tranh đã cướp đi những người thân yêu quyến thuộc trong gia đình như chồng, con, anh em … Ông đã từng đến làm việc tại nhiều vùng biên cương xa xôi hiểm trở, và đã thông cảm với những nỗi niềm lo lắng, những cảm xúc riêng tư của các binh sĩ, phải xa gia đình vợ con . Nhiều bài thơ của ông đã miêu tả cảnh chiến trường hãi hùng, cảnh chia ly thê lương não nuột, và đặc biệt ông đã sáng tác những bài thơ đề cao vai trò của phụ nữ, và nói lên những bất công thiệt thòi, những nỗi buồn đau, mất mát, chia ly, tan vỡ của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội, điển hình là bài thơ Tân Giá Nương, Vọng Phu Thạch, qua bút pháp giản dị, sáng sủa, không khuôn sáo, nhưng ý tưởng sâu sắc tinh tế, có sức thuyết phục, làm rung động lòng người. Vọng Phu Thạch tức là Đá Trông Chồng. Chuyện xưa kể rằng ở thành phố Vũ Xương, tỉnh Hồ bắc Trung Quốc, một người vợ có chồng đi xa lâu ngày không về . Hàng ngày nàng vẫn ra bến sông ngong ngóng đợi chồng về . Người vợ kiên trinh vẫn giữ vững lòng chung thủy, vẫn chờ đợi, chờ hoài nhưng người chồng vẫn không bao giờ trở về, và nàng đã hóa thành đá, vẫn muôn đời chờ đợi chồng mặc cho gió mưa vần vũ trên đầu. Hòn đá đó được đặt tên là Vọng Phu Thạch, vẫn đứng sừng sững bên bờ sông Trường Giang, gần thành phố Vũ Xương. Bài thơ man mác trữ tình diễn tả tình cảnh chua xót đau lòng của người vợ đứng đợi chồng bên dòng sông mênh mang sóng nước bập bềnh trôi vô tận, giữ đất trời mênh mông tĩnh mịch, nhưng đôi mắt đăm chiêu của người vợ vẫn hướng mãi về phía chân trời mà người chồng đã một lần ra đi. Người vợ vẫn chờ đợi mãi, thách đố cả thời gian bao la, và không gian vô tận, nhưng người chỗng vẫn biền biệt ở một khung trời xa xăm nào đó, đến khi người vợ hóa thành đá xanh, đứng mãi ngàn năm, vẫn ngong ngóng đợi : (bản chữ Hán của Mai Tâm) Vọng Phu Thạch Vọng phu xứ Giang du du Hóa vi thạch Bất hồi đầu Sơn đầu nhật nhật phong hòa vũ Hành nhân qui lai thạch ưng ngữ Vương Kiến Dịch nghĩa: Ở nơi đứng trông chồng Nước sông cuồn cuộn chảy Hóa thành đá Đầu không ngoảnh lại Đỉnh núi ngày ngày đội gió mưa Khi nào người (chồng) đi xa trở về thì đá mới nói . Đá Chờ Chồng 1- Nơi ngóng trông chồng, nước chảy mau Đến khi hóa đá chẳng quay đầu Mặc cho mưa gió quanh đầu núi Chắc đợi chồng về mới nói sau 2- Bên sông ngồi ngóng trông chồng Trăm năm khắc khoải một lòng sắt son Hóa thân thành đá mỏi mòn Gió mưa vần vũ ... đầu không ngoảnh về Phải chăng nàng giữ lời thề Đến khi đá nói....lúc nghe chàng về ! Hải Đà phỏng dịch Lưu Vũ Tích là nhà thơ Đường có tinh thần bất khuất, mang tư tưởng "hành hiệp trọng nghĩa" của hiệp sĩ, có thái độ xem thường, phản kháng những thói xấu xa, nhỏ nhen, đê tiện của bọn quan lại quyền quí. Ông đã công khai chỉ trích mỉa mai bọn đại thần nịnh bợ. Ông đã bị dèm pha, và mấy lần bị giáng chức đổi đi các tỉnh thật xa. Thi ca của ông bộc lộ những tình cảm tha thiết, đầy nhân bản, những gắn bó yêu thương, những phẩm chất tốt đẹp, đức hạnh, kiên trinh, đáng đề cao và quí trọng của người phụ nữ, điển hình là bài Vọng Phu Sơn, nhưng hòn núi trông chồng trong bài thơ của Lưu Vũ Tích nói về một địa danh ở huyện Dương Đồ , tỉnh An Huy . (bản chữ Hán của Mai Tâm) Vọng Phu Sơn Chung nhật vọng phu, phu bất quy Hóa vi cô thạch, khổ tương ti (tư) Vọng lai dĩ thị kỷ thiên tải Chỉ tự đương thời sơ vọng thì Lưu Vũ Tích Núi Trông Chồng Đợi chồng đâu thấy…suốt ngày trông Hóa đá cô liêu, cảm xót lòng Vẫn mãi ngàn năm ngong ngóng đợi Ban đầu thuở ấy vẫn chờ mong Hải Đà phỏng dịch Lý Bạch trong bài thơ Trường Can Hành, một khúc ca thời xưa, kể chuyện tình của đôi trai gái cùng sống ở xóm Trường Can, yêu nhau từ bé, cô gái lấy chồng năm mười bốn, phải xa chồng năm mười sáu, đã thổ lộ tâm tình nhung nhớ, có đoạn nhắc đến "Vọng Phu đài ", cũng có ý nói lên sự thương yêu chung thủy của nàng : "…Thập tứ vi quân phụ Tu nhan vị thương khai Đê đầu hướng ám bích Thiên hoán bất nhất hồi Thập ngũ thủy triển mi Nguyện đồng trần dữ hôi Trường tồn bão trụ tín Khởi thượng vọng phu đài …“ (trích Trường Can Hành – Lý Bạch) "…Lấy chồng năm mười bốn Thơ ngây với thẹn thùng Cúi gầm bên vách tối Chẳng đáp lại một câu Mười lăm em khôn lớn Nguyện sống chẳng rời nhau Ôm cột giữ lời nguyền Vọng phu đài chẳng lên …" Hải Đà (trích dịch) Hình ảnh "hòn vọng phu" cũng đã được đem vào thi ca Việt Nam. Ở Lạng Sơn hay ở Bình Định miền Trung giữa cảnh núi non hùng vĩ, nổi bật giữa nền trời xanh, là Hòn Vọng Phu vươn mình lên cao, đó là khối đá hoa cương to lớn bên cạnh một hòn đá nhỏ bé hơn . Thi sĩ Nguyễn Du của đất Thăng Long ngàn năm lịch sử , trong thi phẩm chữ Hán "Thanh Hiên Thi Tập" , cũng đã có bài thơ vịnh Vọng Phu Thạch, muốn nói về "đá trông chồng" , tức là đá Tô Thị vọng phu, ở tỉnh Lạng Sơn, Bắc Việt Vọng Phu Thạch (Nguyễn Du) Thạch da ? Nhân da ? Bỉ hà nhân ? Độc lập sơn đầu thiên bách xuân Vạn kiếp diểu vô vân vũ mộng (2) Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ (3) Đài triện trường minh nhất đoạn văn (4) Tứ vọng liên sơn Diếu vô tế (5) Độc giao nhi nữ thiện di luân (6) Nguyễn Du (Thanh Hiên Thi Tập) Theo chú giải của thi sĩ Quách Tấn (Tố Như Thi) như sau: Dịch nghĩa đen: Đá chăng ? Người chăng? Người là ai đó ? Đứng một mình trên đầu núi hàng trăm nghìn xuân Muôn kiếp không hề có giấc mộng mây mưa Một chữ trinh giữ lại được tấm thân xưa và nay Ngấn lệ không ngới giọt mưa ba thu Chữ rêu ghi mãi lời văn một đoạn Nhìn bốn phía núi liền nhau mênh mông không dứt Riêng để một mình kẻ nhi nữ giữ vững đạo luân thường 1- Vọng Phu Thạch = Đá Vọng Phu , Ở Việt Nam có Đá Vọng Phu tại Lạng Sơn và Bình Định . Bên Trung Hoa có ở tỉnh Vũ Xương. Nguyễn Du chưa vào đến Bình Định . Bài Vọng Phu Thạch không chép vào Bắc Hành Tạp Lục mà chép vào Thanh Hiên Thi Tập . Như vậy chúng ta có thể quyết đoán rằng bài nầy vịnh Vọng Phu Thạch ở tỉnh Lạng Sơn . 2- Vân vũ mộng = mộng mây mưa, mộng ái ân . Vua Tương Vương nước Sở đi chơi ở quán Cao Đường nằm mộng thấy giai nhân đến cùng chung gối . Vua phán hỏi, giai nhân đáp: thiếp là Thần Nữ núi Vu Sơn, sớm làm mây, tối làm mưa chốn Dương Đài . 3- Tam thu vũ = mưa trong ba tháng thu , ngụ ý là Tương Tư "Nhất nhật bất kiến như tam thu hề" (cổ thi) "Ba Thu dọn lại một ngày dài ghê" (Kiều) 4-Đài triện : ngấn rêu trông hình chữ triện 5-Diếu = xa xôi, tức chữ Diêu đọc theo thanh sắc 6-Di luân = Di là Thiên đạo, Luân là nhân văn = luân thường đạo nghĩa (trích Tố Như Thi, bản dịch Quách Tấn) Núi Trông Chồng (theo bài Vọng Phu Thạch của Nguyễn Du) Đá hay người chẳng biết là ai ? Đỉnh núi ngàn xuân đứng miệt mài Bỏ mộng mây mưa từ vạn kiếp Giữ thân trinh tiết đến muôn đời Ba thu mưa lệ hoài không dứt Một áng văn rêu mãi tuyệt vời Núi biếc mênh mông trùng điệp điệp Luân Thường phận gái gánh trên vai Hải Đà phỏng dịch Bài thơ của Nguyễn Du đã diễn tả được cái cảnh chờ chồng của người thiếu phụ, nhưng cũng đồng thời ca tụng cái đức tính trinh tiết một dạ một lòng của người đàn bà xa chồng … Thi sĩ Quách Tấn là một người có tâm hồn cao rộng, tư tưởng thâm thúy và sâu sắc, cũng trong một bài thơ Đá Vọng Phu của Ông đã có câu : "Lụy nhớ mưa ngàn tuôn nượp nượp Tóc thề mây núi bạc phơ phơ" nói lên cái nỗi sầu bi thảm của người thiếu phụ trông chồng mòn mỏi, bấp chấp cả không gian và thời gian của vũ trụ mênh mông nghìn trùng .. Mặc cho gió táp mưa sa, mặc cho nắng quái mưa dầm, khói sương mù mịt, mây phủ trên đỉnh non cao vời vợi .. nhưng tình chung thủy và lòng tiết trinh của người đàn bà vẫn muôn đời bất biến … Thi sĩ Thái Thuận, biệt hiệu Lữ Đường sống vào đời nhà Lê, đã được nhiều người ca ngợi là thơ Ông không kém gì thơ Đường và thơ Tống. Nhà thơ Quách Tấn là người đã có công bỏ ra nhiều năm dịch và giới thiệu tác phẩm Lữ Đường Thi của thi sĩ Thái Thuận . Trong tập Lữ Đường Thi do thi sĩ Quách Tấn tuyển dịch (NXBVH) có bài thơ Vọng Phu Sơn : Hóa thạch sơn đầu kỷ tịch huân Thương tâm vô lộ cánh phùng quân Thiên nhai mục đoạn niên niên nguyệt Giang thượng hồn tiêu mộ mộ vân Thanh lệ nhất ban hoa lộ trích Ly tình vạn chủng thảo yên phân Tương Phi* nhược thức tương tư khổ Bất tích ai huyền ký dữ văn Vọng Phu Sơn (Thái Thuận) Dịch nghĩa: Đầu non đã hóa đá bao nhiêu sáng tối rồi Đau lòng không có đường gặp lại chàng lần thứ hai Năm năm mỏi mắt nhìn bóng trăng cuối trời Chiều chiều hồn tan theo những đám mây trên sông Móc đọng trong hoa nhỏ từng hàng lệ trong trẻo Khói vương trên cỏ nảy nở vạn mối tình biệt ly Nàng Tương Phi nếu biết được nỗi khổ của kẻ tương tư Chớ tiếc giây đàn não nuột, xin gửi đến cùng nghe *Ghi chú: Tương Phi = nàng Phi ở sông Tương. Vua Thuấn băng hà, hai bà vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh khóc ở sông Tương . Nước mắt lẫn huyết rơi vào thân trúc hóa thành những chấm đen . Cổ nhân gọi trúc ấy là Ban ban trúc, và gọi hai bà là Tương Phi . (trích "Lữ Đường Thi" - Quách Tấn tuyển dịch) Hóa đá non cao chất tháng ngày Gặp chàng biết có nẻo nào đây ? Chân trời mắt mỏi năm năm nguyệt Mặt sóng hồn tan lớp lớp mây Sương đọng lòng hoa rơi giọt thảm Khói vương sắc cỏ rối niềm tây Tương Phi ví biết tương tư khổ Dây gởi sầu dây gởi gắm dây Núi Vọng Phu (bản dịch Quách Tấn) Trong tập thơ Tây Hồ của Nhà cách mạng Phan Châu Trinh cũng có bài thơ vịnh Vọng Phu Thạch như sau . Vọng Phu Thạch (Phan Châu Trinh) Hạn vận: không chồng trông bông lông Sự tám mươi đời (1) có biết không ? Người chăng? hay đá? vợ chăng ? chồng ? Đi đâu đến nỗi quên tin tức ? Đứng đó bao giờ luống đợi trông ? Tu vậy hay sao, đầu trụi lủi ? Khóc chi lắm hử ? mặt phồng bông Trời cao bể rộng người còn mất ? Biết nặng hòn non, nhẹ cái lông ? Phan Châu Trinh (Bình Định 1905) Chú thích: (1) Sự tám mươi đời : việc xãy ra từ xưa, từ lâu lắm rồi, người ta thường nói "việc tám mươi đời vương, bảy mươi đời đế" Theo tác giả Vũ Tiến Quỳnh thì "Tây Hồ Thi Tập của cụ Phan Châu Trinh gồm những bài thơ quốc âm, tuy chỉ ghi được 70 bài, tập thơ nầy rất đa dạng: có thơ châm biếm, thơ đùa bạn, thơ tán tĩnh phụ nữ, thơ tả cảnh, thơ thuật hoài, ngôn chí, thơ khóc viếng người mất . Bài "Vọng Phu Thạch" nghịch ngợm một cách trang nhã và diễn tả như trên " (VTQ) . Tuy là lời thơ "nghịch ngợm" , nhưng câu cuối của bài thơ "Biết nặng hòn non, nhẹ cái lông ?" là muốn đề cao cái đức hạnh, phẩm cách, tiết tháo, trung kiên của người phụ nữ biết rằng "có cái chết nặng như Thái Sơn, có cái chết nhẹ tựa lông hồng …", chẳng sá gì xác thân, miễn sao giữ toàn vẹn cái chính nghĩa mà mình theo đuổi, và trong trường hợp này là cái đức tính trinh tiết một lòng một dạ của người đàn bà . Bài thơ Vọng Phu Thạch của cụ Phan Châu Trinh muốn nói đến một sự tích (huyền thoại) ở huyện Phù Cát (tỉnh Bình Định) có hòn đá nhìn xa giống như người mẹ bồng con. Truyền thuyết kể rằng : xưa có hai anh em róc mía, tranh nhau ăn, người anh nổi giận cầm dao chém vào đầu em gái, rồi hoảng sợ, trốn đi; về sau, họ lưu lạc mỗi người một phương nào không biết, mà sau này người anh lấy phải em . Nhân ngồi bắt chấy cho vợ, chồng thấy sẹo trên đâu vợ, hỏi sự truyện nguyên do, nhờ vậy mà người anh mới biết được là mình lấy lầm em gái làm vợ . Người anh hối hận vô cùng, bèn thác cớ đi buôn, theo buồm vào nam rồi đi biền biệt không bao giờ trở về. Người vợ hàng ngày ẵm con ra đứng ở bờ biển trông chồng, mãi không thấy, hóa đá tại đó, nhiều nhà thơ đã đề vịnh đá Vọng Phu Phù Cát. Núi Vọng Phu là một trong những địa danh nổi tiếng của tỉnh Bình Định, như ca dao đã nói : "Bình Ðịnh có núi Vọng Phu , Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh .." Nhà giáo Phạm Khắc Trí trong một lần về xứ, một buổi sáng đi ngang qua núi Vọng Phu ở Bình Định, trên đường từ Qui Nhơn vào Nha Trang, khi nhìn thấy hòn đá mẹ bồng con, một hình tượng kiên trinh giữa trời đất mênh mông, bất chấp thời gian vô tận, đã làm ông bồi hồi nhớ lại bài thơ của người xưa Vương Kiến mà động lòng cảm xúc: Đứng ngóng chồng Sông mênh mông, Hóa thành đá, Vẫn một lòng. Đầu non mưa gió ngàn năm đợi, Người về nghe được đá khóc không? dịch thơ Hòn Vọng Phu (Phạm Khắc Trí) Câu truyện "Nàng Tô Thị" cũng có một nội dung gần giống ở trên, kể về hai anh em Tô Văn và Tô Thị . Hai anh em nô đùa với nhau, người anh (Tô Văn), ném đá trúng đầu em gái (Tô Thị), bị thương chảy máu nhiệu Người anh sợ quá bỏ trốn đi. Rồi sau nầy, em gái mở quán nem ở Kỳ Lừa, và người anh đem thuốc Bắc từ Cao Bằng về Lạng Sơn bán, và hai người gặp và lấy nhau. Và sau đó cũng vì khám phá vết sẹo trên đầu vợ, mà người anh lấy cớ nhà vua bắt lính thú mà phải lên đường ra đi. "Rồi kỳ hạn cũng hết, nàng trông đợi chồng đỏ cả mắt mà chàng vẫn không về cho. Nàng ôm con lên chùa Tam Thanh kêu cầu. Hôm ấy, trời nổi cơn giông. Nàng nhớ chồng, thương thân, bế con ra ngoài chùa, trèo lên một mỏm đá cao chót vót, nhìn về hướng chồng đi. Mây đen kéo đầy trời. Gió rít lên từng hồi qua khe đá. Mưa như trút nước. Chớp lòe khắp núi. Nàng vẫn bế con đứng trơ trơ, đăm đăm nhìn về hướng chồng đi. Toàn thân quả núi rung chuyển dưới những luồng sét dọc ngang. Mưa mỗi lúc một to. Tô Thị vẫn bế con đứng trơ trơ trên mỏm đá cao chót vót. Sáng hôm sau, mưa tạnh, gió yên, mặt trời tỏa ánh sáng xuống núi rừng. Nàng Tô Thị bế con đã hóa đá tự bao giờ. Ngày nay, còn truyền lại câu ca: "Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh..." ( Vũ Ngọc Phan kể) Hồ Dzếnh, một thi sĩ nổi tiếng của nền thi ca tiền chiến mà nhà văn Mai Thảo đã ghi lại cảm nghĩ : "thơ Hồ Dzếnh tiền chiến là cái trạng thái ngu ngơ trong suốt nhất của một tiếng thơ mà chủ đề là tình yêu và ánh sáng …". "Núi Vọng Phu" là một trong những bài thơ hay của ông dạt dào ý tình "Quê Ngoại" đã lưu lại dấu ấn hằn lên những nỗi "nhớ rêu phong hồn cẩm thạch" , và Ông đã để cảm xúc dâng trào ngọn bút khi được chiêm nghiệm hòn vọng phu, mang hình ảnh "đỉnh núi mọc hình người" mà ông hồi nhỏ thường thắc mắc hỏi mẹ : Núi Vọng Phu Nghe nói ngày xưa biển ở đây Biển đi để lại núi non này Mưa nguồn chớp bể chia hai ngả Hòn vọng phu thương vọng hải đài Thuở nhỏ tôi thường hay hỏi mẹ Vì sao đỉnh núi mọc hình ngườỉ Đợi chồng lâu quá nên thành đá Hòn vọng phu kia đứng với đời Tôi lớn dần lên đá vẫn chờ Khi xa heo hút giữa sương mờ Khi gần sừng sững chiều biên giới Như bức phù diêu nét chửa khô Không chỉ quê tôi núi đợi chồng Còn nhiều nơi khác cảnh chờ mong Bắc Nam đâu cũng niềm son sắt Tạc giữa trời cao dáng thủy chung Ôi nhớ rêu phong hồn cẩm thạch Mối tình vời vợi giữa không gian Bốn nghìn năm ấy bao sương gió Mà vẫn đinh ninh thiếp đợi chàng Hồ Dzếnh Vườn thơ tình của Du Tử Lê luôn xanh tươi mơn mởn, mỗi bài thơ tình của ông là một đóa hoa diễm tuyệt, hé nở một cách tự nhiên . Lời thơ là những cảm xúc dạt dào, nhỏ nhẹ, thiết tha, và êm ái . Hình ảnh "vọng phu" cùng đã một lần được người thơ làm sống động một cách duyên dáng, ẩn chứa một chút hoài niệm làm nao lòng : em về trong bão giông tôi que diêm Đông Hải, dáng ngồi vọng phu lệ còn trên gối, tôi thu bàn tay ngón út giam tù tháng năm Em Về Thăm Thẳm Núi Non (Du Tử Lê) Hình ảnh người thiếu phụ đã hóa thành đá , nhưng hình tượng đó không phải là vật vô tri vô giác, mà lại được người thơ linh động hóa "giọt lệ còn rưng rưng ... " , một chút gì huyền hồ hư ảo, nhưng đã gợi lên cảm xúc dào dạt, nồng nàn .. Ta thành hoa vọng phu Để tang chàng hiệp sĩ Thắm đỏ mà cho ai Thôi đành thôi, tái nhợt... Người gọi ta hoa đá Lòng ta đâu lạnh lùng Hãy ngắm nhìn cho kỹ Giọt lệ còn rưng rưng ... Sự Tích Hoa Đá (Lâm Thị Mỹ Dạ) Thi sĩ Hoàng Mạnh Giao trong thi phẩm "Quê Hương Xứ Người và Đời Tôi", đã gắn liền hình ảnh người phụ nữ với tấm lòng hy sinh cao cả, đức tính quảng đại bao la, trung hậu đảm đang, luôn nhẫn nhục chịu đựng, trước những đổi thay của thời cuộc . Phải chăng người thơ đã muốn đề cao đức hạnh những người phụ nữ Việt Nam trong cuộc chiến đã vượt qua bao gian truân thử thách, chống chọi nhiều nghịch cảnh đau thương, để vẹn toàn hai chữ "thủy chung" ... Ôm con khóc hận mấy thu đông Mong đợi tin chồng mãi ngóng trông Chống gió đêm ngày trăm hận tủi Ngàn mưa năm tháng, chẳng phai lòng Tấm trinh, quyết giữ tròn ân nghĩa Thể xác đành cam phận má hồng Mong đợi tin chồng thân hóa đá Muôn đời tiết nghĩa rạng non sông Vịnh Đá Vọng Phu (Hoàng Mạnh Giao) Cái hình ảnh đẹp đó với phẩm cách cao thượng cũng đã được đem vào những áng thơ diễm lệ suy tôn người tình muôn đời yêu dấu, một cảm nhận hiền hòa trìu mến như mãi gắn bó, bền chặt trong tâm hồn người thơ : Đêm qua mơ thấy bóng em Canh khuya một bóng chong đèn đọc thơ Không gian trầm lắng như tờ Tóc mây sợi nhỏ buông hờ lẻ loi Đêm khuya tiếng vạc xa vời Ôm con lệ đổ khóc đời vọng phu Mịt mờ khuya sớm đèn lu Giật mình thức dậy mấy thu qua rồi Mơ (Bảo Cường) - 1979 Biểu tượng "vọng phu", thấm đượm màu sắc nhân gian, đã được người thơ gửi gắm một chút lòng mộc mạc, thiết tha, chân tình đến người vợ thủy chung, mang hình ảnh hy sinh, chịu đựng, nhọc nhằn, lo lắng, chắt chiu .... đã tạo được một chân dung tinh thần vĩnh cửu của văn hóa dân tộc phương Đông : trong thơ xưa ai gánh gạo đưa chồng hay vẫn chỉ là em nỉ non tiếng khóc hay vẫn chỉ là em bốn mùa khổ nhọc hồn vọng phu đã lội mấy sông đời? Thơ Tặng Vợ Nhà (Hoàng Lộc) Hình ảnh "vọng phu thạch" cũng đã được đưa vào vọng cổ , trong một bài nhiều người biết đến là Dạ Cổ Hoài Lang. "Bản vọng cổ, trước hết có tên là Dạ Cổ, do ông Cao Văn Lầu, tục gọi là Sáu Lầu ở Bạc-Liêu sáng chế vào năm 1920 (ba năm sau khi cải lương ra đời) . Sanh năm 1890, ông Sáu Lầu được 30 tuổi khi ông chế bản vọng cổ. Lúc ấy ông cưới vợ được 10 năm, nhưng không có con . Cha mẹ buộc ông phải cưới vợ khác vì sợ tuyệt tự . Ông buồn rầu không còn muốn làm ăn gì nữa. Ban ngày ra ngoài đồng, ông nghiền ngẫm những lời vợ ông nói với ông trước khi chia tay, ông vốn biết đờn cổ nhạc nên trong tâm trạng người chồng đau khổ trước cảnh gia đình tan rã, ông cảm hứng tạo ra bản nhạc 20 câu gọi là "Dạ Cổ Hoài Lang" (Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng) có ý để kỷ niệm mối tâm tình của vợ ông đối với ông" (GS Trần Văn Khải sưu tầm) Bàn về bài vọng cổ nầy, GS Trần Văn Khê có lời bình : "Nhớ người ra đi, nhắc người đừng phụ tình bạc nghĩa. Người ở nhà mòn mỏi trông tin nhạn, luôn luôn mong mỏi từng giây phút trùng phùng. Tâm trạng đó là tâm trạng chung của nhiều thiếu phụ Việt Nam thời bấy giờ. Vì bổn phận, vì nhiệm vụ chồng phải "chấp kiếm lên đường", đi ra biên ải. .................................................. .......................... Cái buồn dính liền với bản chất người Việt Nam đa tình, đa cảm, hay quyến luyến, hay bịn rịn, dầu sanh ly hay tử biệt, khó cắt đứt sợi dây vô hình cột chặt người ở lại với người ra đi. Bài Dạ Cổ Hoài Lang gợi lên được cái buồn bí ẩn trong thâm tâm của con người Việt Nam. Trong cổ nhạc Việt Nam chưa có bài nào, bản nhạc nào được như bài Dạ cổ hoài lang, biến thành "Vọng cổ", từ một sáng tác tập thể, sanh ra từ thế kỷ, lớn lên, sống mạnh, phát triển không ngừng, biến hóa thiên hình vạn trạng, mà sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt trong nước và rải rác khắp năm châu. (GS. Trần Văn Khê , Paris – 1998) Dạ Cổ Hoài Lang (nhịp đôi) Từ là từ phu tướng Bửu kiếm sắc phong lên đàng Vào ra luống trông tin chàng Đêm năm canh mơ màng Em luống trông tin nhàn Ôi, gan vàng quặn đau Đường dầu xa ong bướm Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang Còn đêm luống trông tin bạn Ngày mỏi mòn như đá vọng phu Vọng phu vọng, luống trông tin chàng Lòng xin chớ phụ phàng Chàng hỡi chàng có hay Đêm thiếp nằm luống những sầu tây Biết bao thuở đó đây xum vầy Duyên sắt cầm đừng lợt phai Thiếp cũng nguyện cho chàng Nguyện cho chàng hai chữ bình an Mau trở lại gia đàng Cho én nhạn hiệp đôi (Trích sách "Nghệ Thuật Sân Khấu" của Trần Văn Khải) Cố nhạc sĩ Lê Thương đã để lại cho nền âm nhạc Việt Nam ba tuyệt tác đó là Hòn Vọng Phu 1 , Hòn Vọng Phu 2, và Hòn Vọng Phu 3. Trong 3 nhạc phẩm của Ông đều có hình ảnh của người thiếu phụ bồng con ngóng trông chồng ở bến sông. Người chồng là chinh phu ra đi vì lời thề cùng non sông đất nước, chẳng hẹn ngày về . "Người mong chồng còn đứng muôn năm"... đã nói lên cái đức tính thủy chung muôn đời của người phụ nữ Việt Nam, luôn chịu đựng, hy sinh, nhẫn nhục trong thời chiến, đã trải qua bao nhiêu thử thách đắng cay trên đường đời : Vui ra đi rồi không ước hẹn ngày về, ai quên ghi vào gan đã bao nguyện thề. Nhìn chân trời xanh biếc bao la, người mong chờ vẫn nhớ nơi xa Bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về, bao nhiêu phen thời gian xóa phai lời thề, người tung hoành bên núi xa xăm, người mong chồng còn đứng muôn năm Vọng Phu 1 (Lê Thương) "Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mơ", mặc cho gió mưa vần vũ, giữa trời mây bao la bát ngát nghìn trùng, nhưng "giấc mơ chờ chồng" vẫn không bao giờ phai nhòa trong trâm trí của người thiếu phụ, vẫn muôn đời đạo nghĩa sắc son, chỉ mong đợi một ngày chàng trở về hiên ngang, oai hùng trong chiến thắng, khải hoàn ca . Người vọng phu trong lúc gió mưa, Bế con đã hoài công để đứng chờ, Người chồng đi đã bao năm chưa thấy về Đá mòn nhưng hồn chưa mòn giấc mơ Vọng Phu 2 (Lê Thương) Cũng với hình ảnh "ai bế con mãi đứng chờ" trong Vọng Phu 3, trơ như đá, vững như đồng, mặc cho sự đố kỵ của thế nhân, sự thử thách của thời gian và vũ trụ, vẫn đăm đăm trông ngóng chồng về . Nhạc sĩ Lê Thương trong Vọng Phu 3, đã tạo dựng hình ảnh người chinh phu đã trở về với khúc ca khải hoàn, nhưng than ôi, có còn chăng chỉ là thương tiếc, nghẹn ngào, tê tái, vấn vương "từ bóng cây ngôi mộ bên đường" … một uẩn khúc muôn đời, làm rơi lệ, xao động lòng người khôn nguôi … Nơi phiá Nam giữa núi mờ Ai bế con mãi đứng chờ Như nuớc non xưa đến giờ? ………………………………………… � �….. Nhớ cố huơng lưu luyến sao tiếng tấc lòng mau dồn chân Vết buớc đi trên phím đá mòn còn in dấu Từ bóng cây ngôi mộ bên đuờng Từ mái tranh bên đỉnh trong làng Nguồn sử sanh âm thầm vẫn sống Bao mối thuơng vang dậy trong lòng Vọng Phu 3 (Lê Thương) Qua những ca khúc của nhạc sĩ Lê Thương hình ảnh của Hòn Vọng Phu bỗng trở nên uy nghi lẫm liệt trong lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống tôn trọng đạo lý làm người, hình ảnh cảm động đó đứng sừng sững và chế ngự tâm tư , tình cảm của mọi người qua bao biến thiên thăng trầm của thời đại và lịch sử… KẾT LUẬN : Hòn Vọng Phu là hình ảnh gợi cảm của người mẹ bồng con bên bến sông, giữa cảnh tĩnh mịch mênh mang của đất trời vô tận, mắt đau đáu nhìn về một phương trời xa thẳm, ngóng đợi chờ mong người chồng ra đi đã lâu mà chưa về lại. Những hình ảnh xúc cảm đó đã thấy ở Trung Hoa và vài nơiø tại Việt Nam, đã luân lưu và hằng sâu trong trí tưởng nhân gian từ nghìn xưa cho đến ngàn sau. Những câu truyện kể lại mặc dầu chỉ là huyền thoại, nhưng hình ảnh "mẹ bồng con" đó đã biểu tượng cho đức tính thủy chung cao đẹp muôn đời của người phụ nữ Việt Nam, nhất là trong thời chiến, vẫn hy sinh chịu đựng, một đời tận tụy, lo âu khổ cực trăm chiều vì chồng con. Hình ảnh gợi cảm, trìu mến , thấm tận đáy lòng đó, là tặng phẩm tuyệt tác của tạo hóa ban cho con người, là biểu tượng của truyền thống yêu thương của dân tộc, đã là đề tài cho nhiều áng thơ tha thiết nồng nàn, dòng nhạc chan chứa trữ tình trong thi ca . Vọng Phu Thạch Thơ Phóng Tác: Vương ngọc Long Nhạc: Mai Đức Vinh Lênh đênh sóng nước bập bềnh trôi Lơ lửng mây bay phủ núi đồi Tiễn biệt người đi sầu chất ngất Bẽ bàng thiếp với nỗi đơn côi Ngồi ngóng trông chồng tận bến sông Dạt dào con nước chảy mênh mông Chàng đi chinh chiến bao giờ lại Hóa đá xanh rêu …thiếp đợi chàng Đã mấy thu rồi đã mấy thu Sầu giăng mắt lệ kiếp phù du Thiếp thân hoa lạnh trong hồn đá Ôm bóng người đi khói tỏa mù Ngày qua mòn mỏi đợi chờ ai Xót nỗi cô liêu đá ngậm ngùi Vẫn mãi ngàn năm ngong ngóng đợi Ban đầu thuở ấy chẳng mờ phai … Đầu không quay lại .. nhớ thương người Dãi gió dầm mưa giữa đất trời Mong nhớ ! chàng ơi ngày trở lại Reo vui đá bỗng thốt nên lời Đã mấy thu rồi đã mấy thu Sầu giăng mắt lệ kiếp phù du Thiếp thân hoa lạnh trong hồn đá Ôm bóng người đi khói tỏa mù ... Hải Đà Ghi chú: Chân thành cám ơn anh Mai Tâm (Canada) đã gửi tặng tấm hình và các bản viết chữ Hán. và thi sĩ Phạm Khắc Trí đã gửi tặng tấm hình Hòn Vọng Phu-Bình Định và bài thơ dịch của tác giả . Nguồn: http://www.vuonghaida.com/VAN/VongPhuThach.htm |
Bộ sưu tập
Tam đa 三多 và ngũ phúc 五福 là hai công thức quy kết ngắn gọn quan niệm bình dân về ước vọng hạnh phúc đời này. Ngũ phúc (năm điều phước) là: phú (giàu), quý (sang), thọ (sống lâu), khang (mạnh khoẻ), và ninh (an toàn). Tam đa (ba cái nhiều) là tài 財 (tiền), lộc 祿 (ơn vua), và tử tôn 子孫 (con cháu). Một lối sắp xếp khác là tử子(con trai), tài tài 財 (tiền), và thọ 壽 (sống lâu). Tuy nhiên cách gọi phổ biến nhất vẫn là: phúc hoặc phước (những sự tốt lành), lộc (ơn vua, ơn trời đất), và thọ (sống lâu). Chủ Tam đa là Tam tinh: Phúc tinh, Lộc tinh, Thọ tinh. ![]() Tam tinh cao chiếu Theo tài liệu trong sách Dân gian thần tượng thì Phúc thần 福神 hay Phúc tinh 福星 là Tuế tinh 歲星 (sao Thái tuế chủ về năm) trong 28 tinh tòa, tức Mộc tinh, 12 năm quay hết một vòng quanh mặt trời. Nhân cách hóa sao này là thứ sử ở Đạo Châu là Dương Thành vì xin vua tha thuế cho dân nên được gọi là Phúc thần của địa phương, sau lan ra toàn quốc. ![]() Phúc Tinh (tượng gỗ đời Thanh) Còn Lộc thần 祿神 là do Lộc tinh 祿星– căn cứ vào bộ Sử kí do Tư Mã Thiên 司馬遷 soạn cách đây 2000 năm là "Thiên quan thư - 天官書" thì Lộc tinh là vì sao thứ 6 trong tinh toà Văn xương quan - 文昌官, chưởng quản về công danh lợi lộc. Nhân cách hoá là Trương Viễn Tiêu là người sống đời Ngũ đại ở Mi sơn tỉnh Tứ Xuyên, tu tiên đắc đạo ở núi Thanh Thành, trừ được tai hoạ cho dân. Đến đời Tần thì kiến tạo "Thọ Tinh từ" ở thành đô để thờ phụng. Có thuyết khác lại cho rằng thần tượng "Trương tiên tống tử 張仙送子"là Hậu Thục Hoàng đế tên là Mạnh Sưởng bên cạnh tượng thờ có một em bé để ban con cho người cầu xin. Thọ tinh 壽星, đời cổ có hai nghĩa: một chỉ tinh tú trên trời thuộc Nhị thập bát tú 二十八宿, tức sao Giác 角 và Cang 亢ở phương Đông; một chỉ sao Nam cực lão nhân 南極老人 ở Tây cung. Nghĩa thứ nhất chỉ dùng trong thiên văn học, chẳng qua vì đó là sao đứng đầu các sao nên có tên là Thọ. Còn đến đời Tần và sau đó dựng nên các miếu thờ Thọ tinh thì đây là Nam cực lão nhân. Hình tượng Thọ tinh được thờ gần đây đều có dáng một ông tóc trắng, chống cây trượng cong queo với trán cao đầu dài. ![]() Thọ tinh - Nam cực lão nhân Trong khoa tử vi tướng mệnh có thuât ngữ “Thọ tinh bổn mệnh” là ý chỉ bổn mệnh một người thuộc năm tháng ngày theo can chi 60 Giáp Tí. Người ta sùng bái tế lễ Thọ tinh trong ngày bổn mệnh ấy để cầu bình an. Người ta cho rằng Thọ tinh xuất hiện thì thiên hạ thái bình, nếu không thì có đao binh nên từ đời Chu, đời Tần nhà nước đều chủ trì điển lễ trọng đại tế tự, mãi tới đời Minh mới không có quy định đó. Thọ tinh nhân cách hoá là một ông già tức Nam cực tiên ông, mắt mi từ thiện, đầu hói và nhọn, râu dài, cầm gậy và trái đào. Nếu giàu có là giấc mơ của mọi người, nhất là nông dân, thì quan lộc công danh là giấc mơ của toàn thể lớp người học trò sĩ tử, và sống lâu là hi vọng của toàn thể loài người. Nói chung ước mơ của dân gian là từ ngàn xưa, sự nhân cách hoá và gán ghép cho các nhân vật lịch sử là về sau, với chủ ý kiểm soát của triều đình phong kiến hoặc tô vẽ của giới văn nhân nho sĩ áp đặt lên dục vọng hồn nhiên của nhân dân. Phúc Lộc Thọ là những nguyện vọng của người dân xuyên qua suốt lịch sử nên có giá trị của những biểu tượng hoặc nói theo tâm lí chiều sâu của Carl Gustav Jung thì đó là những sơ tượng, những nguyên mẫu (archetypes) của con người đại đồng ở muôn thuở muôn nơi. Qua quan niệm hoàng đế hay quân vương là người cai quản chư thần và có thể dùng bằng sắc để phong thần trong toàn quốc. Các quan niệm này do đó bị lịch sử hóa và nhân cách hóa thành những nhà tu đạo giáo đắc đạo thành tiên hoặc những văn quan, võ tướng chịu sự sai phái của thiên tử. Cung điện trên trời của Ngọc hoàng Thượng đế và thập điện Diêm vương dưới địa phủ đều chỉ là phóng chiếu theo mô thức của triều đình phong kiến mà thôi. Qua trên 2500 năm của lịch sử thành văn, những biểu tượng và nguyên mẫu ấy mang một lớp sơn phết của phong kiến nhưng cốt lõi vẫn là những khát vọng có thực và tha thiết của con người. Tính tượng trưng của các biểu tượng còn có thể thấy trong cách hài âm: Phúc là điều lành, hài âm với phúc là bụng (to), với bức là con dơi. Chữ phúc còn được dán ngược tại cửa nhà để quan trên trời trông xuống thuận chiều mà ban bố. Lộc là ân thánh của trời đất, triều đình hài thanh với lộc là hươu nai, hoặc lộc là chồi non nên giao thừa và ngày tết dân chúng có tục lệ đi hái lộc tức cành cây non và đến đình chùa miếu xin ban ơn. Thọ là sống lâu nên hình ảnh vị tiên ông râu dài cầm trái đào, đầu hói và cây gậy. ![]() Vạn thọ ngũ phúc Như thế chúng ta thấy rằng Tam đa hay Tam tinh chỉ là sự rút gọn của Ngũ phúc. Hai thành tố bị giản lược là khang và ninh tức là sức khoẻ và an toàn có thể nhập vào với thành tố thọ vì phải có sức khỏe thì mới sống lâu được, và có lộc thì sẽ có yên lành. Quan niệm phúc (tốt lành) gần như lại mở rộng đến mức độc chiếm, đi tiên phong trước cả lộc và thọ, vì tốt lành là phải có cả sang cả sống lâu. Quan niệm lộc chuyển hóa từ ơn mưa móc của trời đất tự nhiên, của thần thánh, sang triều đình quân chủ, rồi trở thành lương bổng triều đình, địa vị xã hội, giai cấp kinh tế. Quan niệm thọ có tính cách cá nhân cũng dần dà thay thế cho quan niệm về tử tôn tức là có con trai và cháu trai đích tôn nối dõi khi chế độ gia trưởng và đạo hiếu giảm bớt tính cách độc tôn chuyên trị. Sống lâu là hưởng thụ tuổi trời trong đời mình. Có con trai và cháu đích tôn nối dõi là kéo dài thọ mạng của họ hàng, dòng giống. Nguồn: blog Vương Nguyên __________________ |
Hương Sắc Quỳnh Hoa
Theo truyền thuyết, ngày xưa vào thời nhà Tùy (Dương Quảng 605 - 617) ở Dương Châu, Trung Quốc, có Tùy Dạng Đế là ông vua hôn quân vô đạo, chơi bời trác táng, xa hoa, phung phí, một đêm nằm mơ thấy một cây trổ hoa đẹp... Cùng thời điểm ấy, tại Lạc Dương thành có ngôi chùa cổ kính là Dương Ly, vào giữa canh ba, ngoài cửa chùa thình lình ánh sáng rực lên như lửa cháy, hương thơm sực nức lạ lùng, như sao trên trời sa xuống, làm dân chúng bàng hoàng đổ xô đến xem đông như kiến cỏ. Gần giếng nước trong sân chùa mọc lên cây bông lạ, trên ngọn trổ một đóa ngũ sắc với 18 cánh lớn ở phía trên, 24 cánh nhỏ ở phía dưới, mùi thơm ngào ngạt bay tỏa khắp nơi nơi, lan xa ngàn dặm. Dân chúng đặt tên là hoa Quỳnh. Điềm báo mộng của vua Tùy Dạng Đế được ứng với tin đồn đãi, nên Vua yết bảng bố cáo: "Ai vẽ được loại hoa Quỳnh đem dâng lên, Vua trọng thưởng". Không đầy tháng saụ.. có một họa sĩ dâng lên Vua bức họa như ý. Nhìn đóa hoa trong tranh cực kỳ xinh đẹp, tất nhiên hoa thật còn đẹp đến dường nào! Nghĩ vậy, Vua liền quyết định tuần du Dương Châu để thưởng ngoạn hoa Quỳnh. Trong chuyến tuần du cần có đủ mặt bá quan văn võ triều thần hộ giá, nên để tiện việc di chuyển, Tùy Dạng Đế ban lệnh khai kênh Vạn Hà từ Trường An đến Dương Châụ Hàng chục triệu ngày công lao động phải bỏ ra, hàng vạn con người phải vất vả bỏ mình. Kênh rộng cả chục trượng, sâu đủ cho thuyền rồng di chuyển. Hai bên bờ kênh được trồng toàn lệ liễu đều đặn cách nhau 10 mét một cây (cụm từ "dặm liễu" xuất phát từ đó, điển hình câu thơ: Dặm liễu sương sa khách bước dồn của Bà Huyện Thanh Quan). Kênh đào xong, một buổi lễ khánh thành được cử hành trọng thể, đoàn thuyền giương buồm gấm khởi hành... cả nghìn cung nữ xiêm y rực rỡ, mặt hoa da phấn... thuyền rồng được buộc bằng các dải lụa dùng để kéo đị Vua Tùy Dạng Đế ngồi trên mui rồng uống rượu nghe đàn hát ca sang ngắm cảnh Giang Nam và đàn cung nữ tuyệt thế giai nhân. Vua thấy nàng nào thích ý cho vời vào hầu ngaỵ Chuyến tuần du của bạo chúa Tùy Dạng Đế vô cùng xa xỉ, hao tốn công quỹ triều đình. Đây là một trong những nguyên nhân đẩy đất nước đến đói nghèo, loạn lạc khắp nơi, đưa nhà Tùy đến sụp đổ, dựng nên cơ nghiệp nhà Đường. Trong những quan quân hộ giá, có cha con Lý Uyên. Qua thời gian hơn 90 ngày, đoàn du hành đến đất Dương Châụ Thuyền vừa cặp bến, con của Lý Uyên phương danh là Lý Thế Dân cùng bằng hữu rủ nhau lén lút đi xem hoa ngay trong đêm, sợ sáng hôm sau triều thần cùng đi đông vầy lớp trẻ khó chen chân lọt vào vườn hoạ Lý Thế Dân là người có chân mạng đế vương (về sau là Vua Đường Thái Tông 627 - 649) nên giống hoa nhún mình lên xuống 3 lần để nghinh đón. Cánh hoa cong trắng nõn, nhụy hoa điểm xuyết màu vàng, hương hoa ngọt ngàọ Dưới ánh trăng vằng vặc hoa đẹp tuyệt vời! Xem xong, một cơn mưa to rụng hết. Sáng hôm sau, Tùy Dạng Đế xa giá đến xem hoa, chỉ còn thấy trơ vơ cánh hoa úa rũ, tan tác!... Vua tức giận, tiếc công nghìn dặm không được xem hoa, ra lệnh nhổ bỏ, vứt đi! Từ đó hoa Quỳnh chỉ nở về đêm cho những ai có lòng lân ái: "Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên". Qua cuộc tuần du, nhiều cuộc bạo loạn nổi lên khắp nơị Tùy Dạng Đế bị cận thần sát hại dẫn đến nhà Tùy mất ngôi, Lý Thế Dân đứng lên lập nên nhà Đường. |
Chiêu Quân Cống Hồ
Hán Hồ vẫn muốn vẹn trăm đường, Há trẫm riêng tây có phụ nường. Bắc quốc tuy rằng ngoài dị vực, Vương đình song cũng một biên cương. Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt, Về đấy sen tàn lỗi cỏ hương. Hơn thiệt thôi đừng ai oán nữa, Chờ ngày áo gấm lại hoàn hương. Sự tích: Vương Tường là tên tự, tức Chiêu Quân, cung phi đời Hán Nguyên Đế. Ngày xưa, khi một người con gái được tuyển vào cung làm cung nữ, có người thợ vẽ vẽ hình cung nữ để dâng lên vua xem vì cung nữ đông lắm, vua không sao gặp hết. Đời Hán Nguyên Đế, người thợ vẽ tên là Mao Diên Thọ ăn hối lộ. Cung nữ nào đút tiền lo lót cho ông ta, ông mới vẽ cho đẹp để được vua vời tới. Vương Tường nghĩ mình đẹp, không cần hối lộ cho thợ vẽ. Mao Diên Thọ trả thù bèn chấm vào dưới mắt Vương Tường một nút ruồi; tướng số thường gọi là "Thương phu trích lệ" (Thương có nghĩa là chết yểu). Người nào có tướng như thế nầy đàn ông không nên liên quan tới vì có thể bị chết non. Khi chúa Thuyền Vu xứ Hung Nô, phía Bắc Trung Hoa, cầu hoà và đòi vua nhà Hán gả cho ông ta một người con gái đẹp Trung Quốc, vua bèn chọn Vương Tường. Có phải vua Hán cũng muốn cho chúa Thuyền Vu lấy nhằm một người có số "Thương phu trích lệ" mà chết cho sớm để nước Tàu được yên. Trước khi lên đường lên phía Bắc, Vương Tường diện kiến vua Hán. Vua Hán thấy Vương Tường đẹp quá mà lại không có nốt ruồi "Thương phu trích lệ" như trong hình vẽ, bèn ngần ngại không muốn gả cho chúa Hung Nô. Triều thần khuyên can, vua Hán mới cho đi. Trước khi Vương Tường bái biệt, nhà vua làm bài thơ nầy để dụ Vương Tường. Tuy nhiên, khi tới biên giới Trung Hoa và Hung Nô, Chiêu Quân đánh một khúc đàn tỳ bà rồi nhảy xuống sông tự vẫn. Chiêu quân có tài đàn tỳ bà rất hay, ngày sau còn nhiều người nhắc tới. Truyện Kiều có câu: "Quá quan này khúc Chiêu quân, Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia" là lấy tích "Chiêu Quân cống Hồ". Tám câu thơ trên là tóm tắt ý của nhà vua nói với Vương Tường: Hai nước Hán, Hồ (Hung Nô) muốn vẹn trăm đường (hoà hoàn, không có chiến tranh), chớ nhà vua không có ý phụ lòng Vương Tường. Đất phía Bắc tuy thuộc Hồ nhưng cũng là thuộc biên cương nhà Hán. Ở đây có nhiều người đẹp (hạnh thắm) nên sắc đẹp của Vương Tường không nổi bật lên. Về Hồ, con gái xứ ấy không được như ở Hán (Sen tàn) thì Vương Tường lạ lùng và hơn người (lỗi cỏ hương - lỗi có nghĩa là lỗi lạc). Cỏ hương tiếng Hán là phương thảo, nghĩa bóng là cái đức tốt của người quân tử. Bài Tựa Truyện Kiều của Chu Mạnh Trinh có câu: "Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu, mượn chùm phương thảo, hú vía thuyền quyên". Hai câu kết nhà vua khuyên Vương Tường thôi đừng ai oán than trách nhà vua, số phận nữa, chờ ngày kia sau khi qua làm hoàng hậu xứ Hung Nô rồi, sẽ mặc áo gấm trở về (Về trong vinh quang). Các nhà phê bình thường khen hai câu luận ý tưởng sâu sắc và ví von rất hay: Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt Về đấy sen tàn lổi cỏ hương (Hai câu này ý nói: ở cung nhà Hán nhiều người đẹp, nên Vương Tường không được vua yêu, nhưng nếu sang bên Hồ, vì không có gái đẹp thì nàng sẽ được chiều chuộng - Việt Nam thi văn hợp tuyển, Dương Quảng Hàm) Theo Dương Quảng Hàm, sở dĩ có sự xuất hiện của bài thơ nầy là vì bấy giờ có việc Huyền Trân Công Chúa bị đem gả cho vua Chiêm là Chế Mân. Vua Hán gả Vương Tường cho chúa Thuyền Vu để có hoà bình với rợ Hung Nô ở phía Bắc Trung Hoa. Vua Trần Anh Tông gả Huyền Trân Công Chúa để mở rộng thêm đất đai ở phía Nam (thu nhận thêm hai châu Ô và Rí). Nhiều khi bọn đàn ông bất lực, không đem vũ khí mà dẹp yên trăm họ hay mở mang bờ cõi mà phải mượn tới tay người đàn bà, nhưng trong đời sống thực tế thì lại "Trọng nam khinh nữ", "nhất nam viết hữu thập nữ viết vô". Đem Vương Tường gả cho chúa Thuyền Vu để cầu hoà, không biết vua nhà Hán có thấy xấu hổ vì sự bất lực của bọn đàn ông hay không?! Đời nhà Trần, cách đây 7, 8 trăm năm mà viết được như thế thì văn Nôm thời ấy đã đạt tới mức độ cao lắm. |
| Múi giờ GMT. Hiện tại là 05:56 AM. |
Powered by: vBulletin Version 3.6.1 Copyright © 2000 - 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.