Vina Forums

Vina Forums (http://forums.vinagames.org/index.php)
-   Truyện Ma (http://forums.vinagames.org/forumdisplay.php?f=38)
-   -   Dracula (http://forums.vinagames.org/showthread.php?t=7557)

vui_la_chinh 05-05-2005 03:20 PM

Chương 19


Nhật ký của Jonathan Harker




1 tháng Mười, 5 giờ sáng. - Tôi cùng các bạn tìm kiếm với một tâm trạng thoải mái, bởi vì tôi nghĩ rằng tôi chưa bao giờ thấy Mina hoàn toàn cứng cỏi và tuyệt vời đến như vậy. Tôi rất vui vì nàng đã đồng ý rút lui và để cho những người đàn ông chúng tôi tiến hành công việc. Việc để nàng tham gia trong câu chuyện khủng khiếp này có phần nào khiến tôi ghê sợ, nhưng bây giờ phần của nàng đã xong, và bằng nguồn năng lượng, khối óc và khả năng tiên đóan của mình, nàng đã ráp tòan bộ câu chuyện vào nhau chặt chẽ ở mọi chi tiết, và nàng có thể an tâm rằng phần việc của nàng đã hòan tất, và do đó nàng có thể để cho chúng tôi đảm nhiệm phần còn lại. Tôi cho rằng tất cả chúng tôi đều có phần bối rối bởi những gì vừa diễn ra với ông Renfièld. Khi chúng tôi ra khỏi phòng ông ấy, chúng tôi im lặng cho đến khi chúng tôi quay trở về phòng nghiên cứu.



Đoạn ông Morris nói với bác sĩ Seward, "Jack này, nếu như người đàn ông đó không cố gắng để đánh lừa chúng ta, thì hẳn ông ta là người điên tỉnh táo nhất mà tớ đã từng thấy. Tớ không chắc lắm, nhưng mà tớ tin rằng hẳn ông ta có một mục đích nghiêm chỉnh nào đó, và việc ông ấy không có được cơ hội để thực hiện hẳn đã khiến ông rất khó chịu."



Huân tước Goldalming và tôi im lặng, nhưng bác sĩ Van Helsing thêm vào, "Bạn John này, anh biết về người điên nhiều hơn tôi, nhưng tôi rất vui về điều này, bởi vì tôi sợ rất sợ trường hợp chính tôi phải quyết định trước khi ông ta bùng nổ cơn điên cuối cùng và trốn thóat. Nhưng chúng ta đang sống và học tập, và trong công chuyện hiện giờ của chúng ta, chúng ta phải đảm bảo mọi chuyện, như là anh bạn Quincey đây đã nói. Đó là những điều tốt nhất."



Bác sĩ Seward có vẻ mơ màng khi trả lời cả hai người, "Tôi không biết chắc, nhưng tôi đồng ý với giáo sư và cậu. Nếu như người đàn ông ấy chỉ là một người điên bình thường thì hẳn là tôi đã tự cho mình một cơ hội để tin tưởng ông ta, nhưng qua các sự kiện đã qua cho thấy ông ta có vẻ khá là dính dáng với bá tước và tôi sợ rằng mình làm một điều gì đó sai lầm khi giúp đỡ cho ước vọng của ông ta. Tôi không thể quên được ông ta cầu mong, gần như là khẩn cầu một ân huệ là có được một con mèo, và đã thử để xé toạc cổ họng của tôi bằng hàm răng của ông ta. Ngòai ra, ông ta gọi bá tước là ‘chúa tể và ông chủ’, và có thể ông ta muốn thóat ra để giúp đỡ hắn trong những công việc ma quỷ kia. Cái thứ kinh khủng kia đã có trong tay chó và chuột để giúp hắn, và tôi nghĩ là hắn sẽ không qua việc thử dùng một người điên đáng kính. Mặc dù ông ta đã tỏ ra khá nghiêm chỉnh. Tôi chỉ hy vọng là chúng ta đã làm điều tốt nhất. Khi mà gắn chặt vào công việc man dại này trong tay, thì điều đó sẽ giúp cho một người đàn ông mất can đảm."



Giáo sư bước đến, đặt tay lên vai anh ta, nói một cách trịnh trọng và thân thiết, "Bạn John, đừng sợ. Chúng ta đang cố thi hành bổn phận của mình trong một tình cảnh rất đáng buồn và đau khổ, chúng ta chỉ có thể làm điều mà chúng ta cảm thấy là tốt nhất, và chúng ta còn hy vọng vào điều gì nữa, ngòai trừ lòng thương của Chúa."



Huân tước Godalming hơi lảng đi vài phút, nhưng bây giờ thì anh ta đã quay lại. Anh cầm một cái còi bạc, nói, "Vùng đất cổ này có thể đầy những chuột, và nếu vậy tôi có thứ để nổi lên hiệu trừ tà."



Khi đi qua cửa, chúng tôi mở cửa vào nhà, chú ý ẩn mình trong bóng đen của cây cối trên bãi cỏ dưới ánh trăng sáng. Khi chúng tôi đến cổng vòm, giáo sư mở túi và lấy ra một số vật dụng, đặt lên bậc thang, chia chúng làm bốn nhóm nhỏ, cuối cùng đưa mỗi nhóm cho một trong chúng tôi. Đoạn ông nói.



"Các bạn, chúng ta đang dấn thân vào một mối nguy hiểm rất lớn, và chúng ta cần phải vũ trang bằng nhiều cách. Kẻ thù của chúng ta không chỉ thuần túy ở tâm linh. Hãy nhớ rằng hắn có sức mạnh của hai mươi người, và do đó, cho dù cổ hay khí quản của chúng ta hoàn toàn bình thường, vẩn có thể bị bẻ gãy hay nghiền nát dưới tay hắn. Chỉ đơn thuần bằng sức mạnh không thể khuất phục được hắn. Một người khỏe hơn, hoặc lấy số đông của một nhóm người có thể mạnh hơn hắn, và có thể bắt giữ hắn, nhưng họ không thể làm hắn bị thương như chúng ta có thể bị thương từ hắn. Do vậy chúng ta phải tự bảo vệ chúng ta trước khi va chạm với hắn. Hãy giữ cái này ở gần tim." Trong khi nói, ông ta đưa một cây thánh giá bằng bạc lên và giơ ra cho tôi, người đang ở gần ông nhất, "hãy đeo những vòng hoa này quanh cổ anh," ông ta đưa cho tôi những vòng hoa tỏi khô héo, "với những kẻ thù khác trần tục hơn, thì có cây súng lục ổ quay và con dao này, để trợ giúp thêm, hãy dùng những cây đèn điện tử nhỏ xíu này, anh có thể buộc chặt nó vào ngực, và quan trọng hơn cả, đáng giá hơn tất cả là thứ này đây, để trừ tà, chúng ta không thể không cần nó."



Đó là một phần của bánh thánh, ông ta đặt trong một cái phong bì và đưa nó cho tôi. Mỗi người còn lại cũng được vũ trang như vậy.



"Nào," ông ta nói, "bạn John, chiếc chìa khóa chính đâu? Nếu chúng ta có thể mở được cửa, chúng ta không cần phải bẻ cửa sổ vào nhà, như lần trước ở nhà cô Lucy."



Bác sĩ Seward thử một hoặc hai cái chìa khóa chính, sự khéo tay máy móc của một bác sĩ phẫu thuật đã khiến cho công việc của anh có nhiều thuận lợi. Sau đó anh tra được một chiếc vừa khớp, sau khi xoay tới xoay lui một lúc thì cái then cài bắt đầu lay động, và với một tiếng cót két han gỉ, nó bật lên. Chúng tôi đẩy cánh cửa han gỉ khiến nó kêu ken két và chậm chạp mở ra. Đáng ngạc nhiên là cảnh tượng lúc này giống như là lúc bác sĩ Seward mở cánh cửa mộ của cô Westenra mà tôi đọc được trong nhật ký của anh, tôi đóan là ý nghĩa này cũng đập vào những người khác, khiến cho họ cũng đều lui lại. Giáo sư là người đầu tiên bước tới, và bước vào sau cánh cửa mở.



"In manus tuas, Domine!" ông nói, làm dấu thánh khi ông bước qua ngưỡng cửa. Chúng tôi đóng cửa, để cho những người ở ngòai đường không chú ý đến ánh đèn của chúng tôi. Giáo sư cẩn thận kiểm tra lại cửa, để chúng tôi có thể mở được nó trong trường hợp khẩn cấp chúng tôi cần phải thóat ra. Đoạn tất cả chúng tôi bật đèn và bắt đầu lục sóat.


Ánh sáng từ ngọn đèn nhỏ li ti đã khiến cho tất cả mọi vật trở nên có hình dáng kỳ lạ khi những tia sáng cắt lẫn nhau, hoặc do những bóng người mờ đục tạo nên những bóng đen khổng lồ. Tôi không thể dứt được cảm giác là đang có ai đó lẩn quẩn giữa chúng tôi. Tôi tưởng tượng lại hồi ức, chúng âm u bủa vây, đem tôi lao vụt về những câu chuyện khủng khiếp ở Transylvania. Tôi nghĩ mọi người trong số chúng tôi đều có cảm giác này, vì tôi để ý thấy ai cũng nhìn ngược lại sau vai mình mỗi khi nghe thấy tiếng động hoặc bắt gặp một cái bóng thấp thoáng, giống như tôi đang làm với chính mình.



Toàn bộ nơi này phủ đầy tòan bụi. Trên nền nhà bụi dầy đến hàng inch, ngòai trừ đôi chỗ thấp thóang dấu chân. Khi chiếu đèn xuống tôi thấy dấu vết của những chiếc ủng khắc lên đám bụi. Tường thì mịn mượt và đầy bụi, trong một góc là một đống mạng nhện lớn, trên đó bụi đọng lại nhiều đến nỗi trông nó như những mảnh giẻ rách mà sức nặng của chúng khiến đám mạng nhện phải chùng xuống. Ở trên bàn trong tiền sảnh là một chùm chìa khóa lớn, có dán nhãn vàng trên mỗi chiếc. Chúng hình như đã được dùng nhiều lần, bởi vì trên bàn có nhiều dấu vết tương tự nhau trên đám bụi, tương tự như vết mà giáo sư tạo ra khi nhấc chùm chìa khóa lên.



Ông ta quay lại phía tôi và nói, "Anh hẳn là biết nơi này, Jonathan. Anh đã vẽ lại tấm bản đồ nơi này, và ít ra anh biết về nó nhiều hơn chúng tôi. Đường nào sẽ dẩn đến nhà thờ?"



Tôi cũng biết đôi chút về các lối đi, dù lần trước khi vào thăm nơi đây tôi không thể thu tóm chúng vào nhận thức của mình, nên tôi dẩn đường, vào sau vài lần rẽ sai hướng tôi cũng thấy mình đối diện với một cánh cửa bằng gỗ sồi thấp, mái vòm, chống đỡ bằng những thanh sắt.





"Chính là nơi này," giáo sư nói khi ông đưa cây đèn về phía tấm bản đồ ngôi nhà, được sao chép từ trong hồ sơ gốc của tôi về các vấn đề liên quan đến cuộc mua bán này. Run rẩy một lúc chúng tôi cũng tìm thấy được chiếc chìa khóa thích hợp trong chùm chìa khóa và mở cửa. Chúng tôi chuẩn bị đón chờ những chuyện không dễ chịu gì, bởi vì khi chúng tôi mở cửa thì một luồng khí ngột ngạt, hôi thối xộc ra dù cho khỏang cách còn khá xa, nhưng không có ai trong chúng tôi chờ đợi hương hoa khi chúng tôi đến đây. Không một ai khác trong số các bạn tôi đã từng gặp bá tước dù chỉ trong thóang chốc, còn tôi thì đã thấy hắn khi hắn tồn tại trong trạng thái nhịn ăn ở trong phòng, lẫn khi hắn no nê máu tươi, trong một lâu đài lớn rộng rãi, nhưng ở nơi này thật là nhỏ bé và chật hẹp, và việc bỏ hoang một thời gian dài đã khiến không khí ở đây trở nên ngột ngạt và hôi thối. Đấy là làn hơi của đất đen, của chướng khí khô lạnh, thổi xuyên qua bầu không khí oi tù. Nhưng chính cái làn hơi này thì tôi sẽ mô tả nó như thế nào đây nhỉ? Nó không chỉ một mình đơn độc mà dương như nó kết hợp với tất cả bệnh tật chết :Dc với cái vị hăng cay của máu, nhưng dường như chính bản thân sự mục nát này cũng đang tự mục nát. Khiếp thật! Nó làm cho chính tôi cảm thấy bệnh khi nghĩ về nó. Mỗi hơi thở đều cho thấy rằng hình như con quái vật kia đang bám lấy nơi này để làm tăng cao vẻ gớm ghiếc.



Trong trường hợp bình thường thì hẳn là cái mùi hôi thối như vậy đã khiến cho công việc mạo hiểm của chúng tôi chấm dứt ngay rồi, nhưng đây không phải là một công việc bình thường, và cái mục đích cao cả và kinh khiếp mà chúng tôi đang dấn thân vào đã cho chúng tôi sức mạnh để vượt qua những điều kiện vật chất thông thường. Sau khi vô tình giật ngược lại dưới tác dụng của làn hơi tanh tưởi đầu tiên ập đến, chúng tôi, mọi người như một lại tiếp tục công việc của mình như thể cái vùng đất hôi hám này là một vườn hồng rực thắm.



Chúng tôi bắt đầu kiểm tra tỉ mỉ nơi này, giáo sư nói khi chúng tôi bắt đầu, "Điều đầu tiên là phải xem coi có bao nhiêu hộp còn lại, chúng ta phải kiểm tra từng lổ hỗng, từng góc cạnh, từng vết nứt và kiểm tra xem chúng ta có thể rút ra được những điều gợi ý nào từ những thứ còn lại."



Những tia sáng đủ để thấy xem còn lại bao nhiêu cái rương đất đồ sộ kia, và không thể nào đếm chúng lầm được.



Chỉ còn lại hai lăm trong số năm mươi thùng! Ngay khi đó tôi vô cùng hỏang sợ khi thấy huân tước Godalming thình thình quay ngoắt lại và nhìn vào một cánh cửa vòm dẩn vào một lối đi tối phía sau, tôi cũng nhìn theo, và trong một thóang tim tôi như ngừng đập. Thấp thóang trong bóng đêm bên ngòai, hình như tôi nhìn thấy khuôn mặt ma quái sáng rực của bá tước, với cái sống mũi, đôi mắt đỏ, đôi môi đỏ, màu nhợt nhạt dáng sợ. Nó chỉ trong một thóang, nên huân tước Godalming nói, "Tôi nghĩ là tôi nhìn thấy một khuôn mặt, nhưng nó chỉ là một cái bóng," và tiếp tục cuộc điều tra của mình, tôi quay đèn về phía lối đi và bước đi vào trong lối đi. Không có dấu hiệu của ai trong đó cả, và cũng chẳng có một góc cạnh, một cánh cửa, không một kẽ hở nào, mà chỉ có một bức tường lớn chắn lối, không thể có một chỗ nào để cho hắn trốn tránh. Tôi nghĩ rằng có thể nỗi sợ hãi đã hình thành sự tưởng tượng, và không nói gì.


vui_la_chinh 05-05-2005 03:21 PM

Vài phút sau tôi thấy Morris thình lình bước lùi vào một góc để kiểm tra. Tất cả chúng tôi đều chăm chú theo dõi anh ta, không nghi ngờ gì nữa, sự căng thẳng trong chúng tôi đang mỗi lúc mỗi lớn, và chúng tôi thấy một mảng lân tinh lớn, phát quang lấp lánh như những ngôi sao. Tất cả chúng tôi đều lùi lại một bước theo bản năng. Cả nơi đó bắt đầu xuất hiện đầy những con chuột sống.



Trong một lúc chúng tôi đứng thất kinh, và huân tước Godalming đã cứu chúng tôi, anh ấy có vẻ nhưng đã chuẩn bị trước năng lực cho sự việc này. Bước nhanh về phía cánh cửa gỗ sồi bọc thép lớn mà bác sĩ Seward đã mô tả từ bên ngòai, và chúng mắt tôi trông thấy, anh ấy quay chìa khóa trong ổ, kéo cái chốt lớn, và giật tung cánh cửa ra. Đoạn, lấy cái còi nhỏ bằng bạc trong miệng ra, anh ấy thổi một hồi dài, lanh lảnh. Có tiếng chó vang lên ăng ẳng từ phía sau nhà của bác sĩ Seward để trả lời, và vài phút sau ba con chó săn vùn vụt lao đến góc nhà. Một cách vô thức tất cả chúng tôi đi ra phía cửa, và khi chúng tôi đi, tôi để ý thấy bụi đã được xáo trộn nhiều.Những chiếc hộp đã được mang đi theo lối này. Nhưng cứ từng phút trôi qua thì số lượng chuột lại càng gia tăng vùn vụt. Chúng xuất hiện thành đàn ở khắp mọi nơi cùng lúc, dưới ánh đèn, những thân thể tối tăm đang chuyển động của chúng sáng lên và lấp lánh, và những đôi mắt lóng lánh, khó nhìn của chúng khiến cho nơi đây trở thành một xó xỉnh của trái đất chứa đầy những con ruồi lửa. Những con chó vẩn lao vụt đến, nhưng khi đến ngưỡng cửa thì chúng thình lình dừng lại và gầm gừ, rồi đoạn, đồng loạt ngước mũi lên, bắt đầu tru lên trong một dáng điệu sầu thảm nhất. Số lượng chuột đã lên đến hàng ngàn, và tất cả chúng tôi đi ra.


Huân tước Godalming nhấc một con trong lũ chó lên, mang nó đến, đặt nó lên nền nhà. Ngay lúc mà chân nó chạm vào đất mẹ, hình như sự can đảm của nó được phục hồi, và nó phóng đến lũ những kẻ thù tự nhiên của mình. Chúng chạy trốn ào ạt trước nó nhanh đến nỗi nó không đạt được những chiến công đáng kể , và những con chó khác, cũng được nhấc lên theo cách đó, thì cũng có được một số ít nạn nhân trước khi cả đám chuột kia biến mất.



Cùng với sự ra đi của lũ chuột, có vẻ như sự hiện diện của ma quỷ cũng chết theo, vì bầy chó bắt đầu vẫy đuôi và sủa đầy vui mừng khi chúng thình lình phóng đến bên kẻ địch đã bất lực của chúng, vờn chúng, tung chúng lên không khí và nhảy đến đớp mạnh. Tất cả chúng tôi đều cảm thấy lên tinh thần. Có thể do không khí chết :Dc đã được quét đi bằng cách mở toang các cánh cửa nhà nguyện, hoặc do sự khuây khỏa mà chúng tôi có được khi lại thấy mặt nhau ở bên ngòai, tôi không biết rõ, nhưng rõ ràng nhất là cái bóng đen của nỗi sợ hãi đã tuột khỏi chúng tôi như một cái áo chòang, và việc chúng tôi thóat ra đã mất đi một chút gì nghiệt ngã nhất của nó, dù chúng tôi mất đi chút nào sự kiên quyết của mình. Chúng tôi đóng cánh cửa thông ra ngòai, ngăn và khóa nó lại, và mang lũ chó đi với mình, chúng tôi bắt đầu kiểm tra ngôi nhà. Chúng tôi chẳng tìm thấy gì ngòai trừ một số lượng bụi khủng khiếp, và chẳng hề có dấu vết gì chạm đến nó ngòai dấu chân của tôi khi tôi ghé qua nó lần đầu. Lũ chó chẳng hề biểu lộ bất kỳ triệu chứng gì đáng để ý, thậm chí khi chúng tôi quay lại nhà nguyện, chúng còn tỏ ra vui mừng như thể chúng lại sắp được đi săn thỏ trong rừng vào mùa đông.



Từ phía Đông, buổi sáng đang nhanh bước xuất hiện trước chúng tôi. Bác sĩ Van Helsing lấy chiếc chìa khóa tiền sảnh ra khỏi chùm chìa khóa, khóa cửa một cách chính thống, đặt chiếc chìa khóa vào túi sau khi đã làm xong việc này.



"Đến lúc này," ông ta nói, "rõ ràng đêm nay là một đêm thành công của chúng ta. Chúng ta đã chẳng bị tổn hại nào như tôi đã từng lo sợ và hơn nữa chúng ta đã xác định được rõ có bao nhiêu thùng gỗ đã mất đi. Điều làm tôi vui mừng hơn tất cả, cái điều khó khăn và nguy hiểm đầu tiên, và có thể là hơn tất cả là chuyến đi đã thành công mà không đem đến cho bà Mina dịu dàng nhất của chúng ta hay làm bà ấy run sợ cả khi thức lẩn khi ngủ dù với dấu hiệu, âm thanh hay mùi vị của những điều kinh dị mà có thể bà ấy sẽ không bao giờ quên. Chúng ta cũng học được một bài học nữa có thể cần phải tìm hiểu kỹ là ngay những con thú hoang tuân theo lệnh của bá tước cũng không tuân theo sức mạnh tinh thần của hắn, xem nào, những con chuột đã đến theo tiếng gọi của hắn, giống như hắn đã gọi bầy sói từ trên đỉnh lâu đài để ngăn cản chuyến đi của anh hay để chấm dứt tiếng gào khóc của bà mẹ tội nghiệp, dù chúng đã đến theo lệnh hắn, chúng đã bỏ chạy tóan loạn trước bầy chó nhỏ bé của anh Arthur bạn tôi. Chúng ta có trước mặt mình những con quái vật mới, những mối nguy hiểm mới, những nỗi sợ hãi mới, và con quái vật này… Hắn sẽ không dùng sức mạnh của hắn với thế giới hoang dã chỉ trong đêm nay. Lúc này thì hắn đã đi đâu đó. Được lắm! Nó sẽ cho chúng ta cơ hội để có được một số cách để thét lên câu "chiếu tướng" trong ván cờ này, ván cờ mà chúng ta chơi với sự đặt cược là tâm hồn con người. Còn bây giờ thì chúng ta hãy về nhà. Bình minh đã sắp đến, và chúng ta có lý do để hài lòng với những công việc đầu tiên của chúng ta trong đêm nay. Công việc này sẽ khiến chúng ta mất nhiều ngày đêm theo đuổi, nó đầy rẫy nguy hiểm, nhưng chúng ta phải tiếp tục, và sự nguy hiểm càng lúc càng co lại gần chúng ta."



Ngôi nhà khá yên tĩnh khi chúng tôi trở về, trừ ra một số kẻ tội nghiệp đang gào thét từ một khu dành riêng ở khá xa, và những âm thanh gầm gừ khẽ từ phòng Renfield. Con người khốn khổ tội nghiệp ấy không nghi ngờ gì nữa lại đang tự tra khảo mình, sau khi đã trở nên điên loạn và không cần biết gì về sự đau đớn nữa.



Tôi nhón chân đi về căn phòng của mình, và thấy Mina đã ngủ, thở nhẹ đến nỗi tôi phải lắng tai mới nghe được. Nàng trông trắng hơn thường lệ. Tôi hy vọng cuộc họp tối nay sẽ không làm nàng phải phiền muộn. Tôi thật sự nhẹ nhõm rằng nàng sẽ không tham dự vào những công việc tương lai của chúng tôi nữa, thậm chí trong các cuộc bàn tính của chúng tôi. Nó thật là một sự căng thẳng quá mức sức chịu đựng của một người phụ nữ. Đầu tiên tôi không nghĩ đến điều này, nhưng bây giờ thì tôi đã biết rõ hơn. Vì vậy tôi rất vui khi mọi chuyện đã được xác định rõ. Có những điều có thể sẽ làm nàng hỏang hốt khi nghe thấy, và lúc này che giấu chúng trước nàng có thể còn tệ hơn là nói với nàng nếu như nàng đã có ý nghi ngờ rằng có một sự giấu diếm nào đó. Do đó công việc của chúng tôi sẽ là một cuốn sách đóng kín trước mặt nàng, đến lúc cuối cùng, khi mà chúng tôi có thể nói với nàng rằng mọi chuyện đã kết thúc, và thế giới này đã được giải phóng khỏi con quái vật dưới âm ty kia. Tôi dám nói rằng sẽ rất khó khăn để giữ im lặng giữa những người hoàn toàn tin cậy nhau như chúng tôi, nhưng tôi sẽ cương quyết, và ngày mai tôi sẽ phủ một màn đen lên những sự việc của tối nay. Tôi ngủ trên ghế sofa, để không làm rộn nàng.



Ngày 1 tháng Mười, sau đó. - Tôi nghĩ rằng thật là tự nhiên khi tất cả chúng tôi đều ngủ quá giấc, bởi vì ngày hôm trước đã quá bận rộn và đến đêm thì hầu như chẳng ngủ chút nào. Thậm chí Mina cũng cảm thấy kiệt sức, vì mặc dù tôi đã ngủ đến khi mặt trời lên cao, tôi vẩn thức dậy trước nàng, và phải gọi hai hoặc ba lần nàng mới thức dậy. Thực tế là, nàng đã có một giấc ngủ say đến nỗi vài giây sau nàng mới nhận ra tôi, nhưng nhìn tôi với một vẻ hỏang sợ xa vắng, cái nhìn của một người vừa trải qua một cơn ác mộng. Nàng phàn nàn rằng nàng còn mệt lắm, và tôi để nàng ngủ thêm. Chúng tôi bây giờ đã biết rằng có hai mươi mốt chiếc hộp đã được mang đi, và nếu có nhiều chiếc hộp được mang đi như vậy theo bất kỳ cách nào, chúng tôi cũng có thể lần theo dấu vết của tất cả chúng. Tất nhiên, điều đó sẽ là một sự lao động khó khăn hiển nhiên, và các vấn đề sẽ được xác định rõ hơn sớm hơn. Tôi sẽ tìm Thomas Snelling hôm nay.



NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ SEWARD



Ngày 1 tháng Mười. - Tôi thức giấc khi trời đã gần đứng bóng bởi tiếng chân của Giáo sư đi vào phòng. Ông ta có vẻ vui và phấn khởi hơn thường lệ, như vậy chắc chắn rằng những công việc đêm qua đã giúp ông ấy giải quyết một số vấn đề còn tồn đọng trong tâm tưởng.


Sau khi nói qua về cuộc mạo hiểm tối hôm qua ông thình lình lên tiếng, "Bệnh nhân của anh làm tôi rất chú ý. Tôi có thể đi thăm ông ta với anh không? Hoặc, nếu như anh quá bận rộn, tôi sẽ đi một mình nếu như có thể được. Đây là lần đầu tôi thấy một người bệnh tâm thần triết lý, và đó là một lý do hấp dẩn đấy."



Tôi có một số công việc phải giải quyết, vì vậy tôi nói ông ấy rằng tôi sẽ rất vui nếu ông ấy có thể đi một mình, và tôi không muốn để ông ấy phải chờ đợi, vì vậy tôi gọi một người hầu và dặn anh ta những chỉ thị cần thiết. Trước khi giáo sư rời khỏi phòng tôi khuyến cáo ông ấy đừng có những ấn tượng sai lầm về người bệnh của tôi.



"Nhưng," ông ta trả lời, "tôi muốn ông ấy nói chuyện về chính bản thân anh ta và về ảo tưởng của anh ấy trong việc tiêu thụ cuộc sống. Ông ta đã nói với bà Mina, như tôi đã đọc trong nhật ký của anh vào hôm qua, và ông ta đã có niềm tin về việc này. Vì sao anh lại mỉm cười, bạn John?"



"Xin lỗi," tôi nói, "nhưng câu trả lời là ở đây." Tôi đặt tay trên xấp giấy được đánh máy. "Khi những người tỉnh táo chúng ta học từ kẻ tâm thần những phát biểu về cách nào ông ta tiêu thụ cuộc sống, miệng của ông ta lại nồng nặc mùi tanh của những con ruồi và nhện mà ông ta chỉ vừa kịp xơi chúng trước khi bà Harker bước vào phòng."



Đến lượt mình, Van Helsing mỉm cười. "Tốt!" ông ta nói. "Trí nhớ của anh chính xác, bạn John ạ. Tôi cũng nên nhớ điều này. Và lần này rất rõ ràng rằng suy nghĩ và trí nhớ sẽ tạo nên một bài học đáng giá trong một trường hợp tâm thần bệnh lý. Có thể tôi sẽ thu được nhiều kiến thức từ sự điên khùng của một người điên hơn là tôi sẽ thu được qua lời dạy của những bậc thông thái nhất. Ai mà biết được, phải không?"



Tôi tiếp tục công việc, và giải quyết chúng :Dng vách. Có vẻ là thời gian mới trôi qua rất ít, nhưng Van Helsing đã trở về phòng nghiên cứu.



"Tôi quấy rầy anh chăng?" ông ta hỏi một cách lịch sự khi đứng trước cửa.



"Hoàn toàn không," tôi trả lời. "Xin mời vào. Công việc của tôi đã chấm dứt, và tôi đang tự do. Tôi có thể đi với ông, nếu ông muốn."

vui_la_chinh 05-05-2005 03:21 PM

Điều đó không cần thiết nữa. Tôi đã gặp ông ta!"
"Thế ư?"
"Tôi sợ rằng ông ta không đánh giá cao tôi. Cuộc phỏng vấn của tôi rất ngắn. Khi tôi đi vào pòng ông ta đang ngồi trên một cái ghế đẩu ở giữa phòng, gối khuỷu tay lên đầu gối, và khuôn mặt của ông ấy tạo ra một bức tranh về sự bất mản ão não. Tôi nói với ông ta bằng một giọng vui vẻ nhất có thể được, cùng với nó là tất cả sự kính trọng mà tôi có thể tạo ra. Ông ta chẳng hề trả lời một tí gì. "Ngài có biết tôi không?" tôi hỏi. Câu trả lời của ông ta rất chắc nịch. ‘Tôi biết ông rất rõ, ông là gã già Van Helsing đần độn. Ước gì ông cùng với bộ óc đầy những lý thuyết ngu xuẩn của ông biến đi một chỗ nào khác. Mẹ kiếp tất cả những bộ óc Hà Lan đần độn!’ Và ông ta không nói thêm gì nữa, mà ngồi lặng với vẻ rầu rĩ kiên định đối với tôi như thể tôi chẳng hề có mặt trong phòng. Thời điểm bắt đầu cho cơ hội học hỏi của tôi đối với một người tâm thần thông minh là như vậy đó, nên tôi sẽ đi, nếu như tôi có thể, tự an ủi mình bằng một vài từ vui vẻ với tâm hồn hiền dịu của bà Mina. Bạn John, tôi có một niềm vui không thốt ra lời rằng bà ta sẽ không phải đau đớn thêm nữa, sẽ không cần lo lắng thêm với những điều khủng khiếp của chúng ta. Mặc dù chúng ta sẽ mất đi sự giúp đỡ của bà ấy, nhưng như vậy thì tốt hơn."
"Tôi đồng ý với ông với tất cả tâm can mình," tôi trả lời nồng nhiệt, vì tôi muốn ông trở nên yết ớt hơn với vấn đề này. "Bà Harker tốt hơn là nên đứng ngòai mọi chuyện. Mọi việc đã đủ tồi tệ cho chúng ta, cho tất cả những người đàn ông trên thế giới này, và cho những ai đã gắn chặt với chúng ta, nhưng không có chỗ cho một người phụ nữ, và nếu bà ấy còn tiếp tục tiếp xúc với những công việc này, nó sẽ nhất định làm bà ấy sụp đổ theo thời gian."



Rồi Van Helsing đi hội ý với bà Harker còn Harker, Quincey và Art cùng đi tìm kiếm dấu vết của những cái thùng đất. Tôi sẽ chấm dứt công việc của mình và chúng tôi sẽ gặp lại nhau tối nay.



NHẬT KÝ CỦA MINA HARKER



Ngày 1 tháng Mười. - Thật là lạ đối với tôi khi giữ mình trong lặng lẽ như tôi đã làm hôm nay, sau khi có được lòng tin tuyệt đối của Jonathan sau ngần ấy năm trời, để thấy anh ấy rõ ràng là né tránh một vấn đề hiển nhiên, và đó chính là mấu chốt của tất cả. Sáng nay tôi đi ngủ trễ sau ngày hôm qua mỏi mệt, và dù Jonathan cũng đi ngủ trễ, anh ấy vẩn thức sớm hơn. Anh ấy có nói chuyện với tôi trước khi đi ra, chưa bao giờ anh ấy nói năng dịu ngọt và âu yếm đến như vậy, nhưng anh ấy chẳng hề nói một lời về những gì xảy ra trong chuyến thám hiểm ngôi nhà của bá tước. Và hẳn là anh ấy biết chuyện ấy thật làm khó chịu với tôi như thế nào. Anh chàng tội nghiệp! Tôi nghĩ rằng điều ấy thậm chí hẳn phải làm anh ấy buồn khổ hơn là tôi nữa. Tất cả bọn họ đều đồng ý rằng tốt nhất là tôi không tham dự thêm bất cứ điều gì trong cái công chuyện khủng khiếp này, và tôi đã bằng lòng. Nhưng cứ nghĩ rằng anh ấy lại giấu tôi một chuyện gì đó! Và bây giờ tôi đang gào khóc như một kẻ ngu khờ, khi tôi biết rằng điều đó xuất phát từ tình yêu vô bờ của chồng tôi và từ những ước nguyện thật, thật là cao đẹp của những người đàn ông khỏe mạnh khác.



Điều đó làm tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Phải rồi, một ngày nào đó Jonathan sẽ nói với tôi tất cả. Và đừng để cho một lúc nào đó anh ấy nghĩ rằng tôi đã từng có lúc che giấu anh ấy một điều gì, tôi vẩn phải luôn giữ cuốn nhật ký này. Và nếu anh ấy nghi ngờ sự thật tôi sẽ cho anh ấy xem, cho đôi mắt thân yêu của anh ấy đọc mọi dòng suy nghĩ của tôi đã được ghi vào đây. Hôm nay tôi cảm thấy buồn và mất tinh thần đến kỳ lạ. Tôi nghĩ rằng đó là do tác động của những sự kiện khủng khiếp vừa qua.


Tối hôm nay tôi đi ngủ khi những người đàn ông khởi hành, đơn giản chỉ vì họ bảo tôi làm thế. Tôi không cảm thấy buồn ngủ, mà chỉ thấy vô cùng khó chịu bứt rứt. Tôi nghĩ về những gì đã xảy ra từ khi Jonathan đến gặp tôi ở London, và tất cả mọi chuyện có vẻ giống như một bi kịch khủng khiếp, trong đó số phận đã tàn nhẫn ấn mọi chuyện vào kết cục định mệnh. Mọi điều đã mang lại một điều rằng, bất kể nó đúng với tôi như thế nào, cái nổi bật nhất trên những gì đã xảy ra là sự xót xa. Nếu tôi không đi đến Whitby, có thể Lucy tội nghiệp thân yêu bây giờ vẩn còn ở lại với chúng ta. Bạn ấy đã không đến khu nghĩa địa trước khi tôi đến, và nếu bạn ấy không đến đấy trong thời gian ở với tôi bạn ấy đã không mộng du. Và nếu bạn ấy không đến ngủ lại đấy vào ban đêm, thì con quái vật kia đã không thể tàn phá bạn ấy như hắn đã làm. Ôi, vì sao tôi lại bến Whitby nhỉ? Thôi nào, lại khóc nữa rồi! Hôm nay chuyện gì đã xảy ra cho mình thế nhỉ? Tôi phải giấu chuyện này với Jonathan mới được, kẻo anh ấy lại biết được rằng tôi đã khóc đến hai lần trong một buổi sáng… Tôi, người không bao giờ khóc vì chuyện của mình, và là người anh ấy không bao giờ để cho rơi một giọt lệ, con người thân yêu ấy sẽ bày ra trái tim cáu kỉnh của anh ta mất. Tôi sẽ phải giữ một vẻ mặt bình thản, và nếu tôi cảm thấy muốn rơi lệ, anh ấy sẽ không bao giờ nhìn thấy. Tôi cho rằng đó chỉ là một trong những bài học mà những người phụ nữ tội nghiệp chúng ta phải học lấy…



Tôi không thể nhớ chắc được mình đã thiếp ngủ như thế nào vào tối hôm qua. Tôi chỉ nhớ là mình thình lình nghe thấy tiếng chó sủa loạn lên và rất nhiều tiếng động kỳ lạ, giống như tiếng cầu kinh đầy lộn xộn vẳng ra từ căn phòng của ông Renfield, ở đâu đó trong đấy. Và rồi sự im lặng đã bao trùm lên tất cả, sự im lặng thăm thẳm làm tôi giật mình, tôi thức dậy và nhìn ra ngòai cửa sổ. Tất cả đều tối tăm và tĩnh mịch, những bóng đen được rọi lên bởi ánh trăng hình như đều chứa đầy những sự im lặng bí ẩn của chính chúng. Không có gì có vẻ sinh khí, mà tất cả đều có vẻ mờ mịt và bất động như cái chết hoặc sự hủy diệt, từ đó một làn sương trắng mỏng manh, gần như không thể cảm thấy được đang chậm chạp trườn ngang qua bãi cỏ hướng đến căn nhà, nó hình như cũng có riêng cảm giác và sinh khí của mình. Tôi nghĩ rằng những suy nghĩ lan man của mình có thể khiến cho tôi cảm thấy dễ chịu, nên khi tôi trở về giường tôi cảm thấy mình được bao trùm bởi một cảm giác lơ mơ. Tôi nằm một lúc, nhưng không thể ngủ được, vì vậy tôi thức dậy và nhìn ra cửa sổ lần nữa. Sương mù đang lan rộng, và bây giờ bao phủ quanh căn nhà, đến nỗi tôi có thể nó đọng thành một lớp dày trên tường. Người đàn ông tội nghiệp kia vẩn tiếp tục la hét lớn ồn ào hơn bao giờ, và dù tôi không thể phân biệt từng lời ông ta nói, tôi vẩn có thể xác định tương đối trong âm giọng của ông cái vẻ van nài cuồng nhiệt của riêng ông. Sau đó là những âm thanh của sự vùng vẫy, và tôi biết rằng những người phục vụ đã đến coi sóc ông. Tôi sợ đến nỗi tôi vội tuồn về giường, kéo áo quần phủ lên đầu, đưa ngón tay lên bịt lỗ tai. Tôi không có một giấc ngủ sâu, như tôi nghĩ rằng cuối phải thế, mà tôi đã thiếp đi trong những giấc mơ. Tôi không nhớ gì cả đến khi trời sáng, khi Jonathan đánh thức tôi. Tôi nghĩ rằng tôi đã phải cố và mất một lúc để nhận ra mình đang ở đâu, và nhận ra Jonathan là người đang cúi xuống chỗ tôi. Giấc mộng của tôi thật là kỳ dị, và gần như rằng nó tiêu biểu cho cách mà các suy nghĩ của tôi trộn lẫn vào nhau, hoặc là tiếp tục trong những giấc mơ.



Tôi nghĩ rằng tôi đang ngủ, và chờ đợi Jonathan trở về. Tôi rất khó chịu về anh ấy, và không còn sức lực để phản ứng, chân tôi, tay tôi, và óc tôi nặng trịch, và không có gì có thể hoạt động được một cách bình thường. Đoạn tôi tôi ngủ một cách khó khăn và lo lắng. Sau đó tôi bắt đầu nhận ra rằng bên trên tôi không khí trở nên nặng nề, ẩm ướt và lạnh lẽo. Tôi kéo quần áo xuống khỏi mặt, và trong sự ngạc nhiên của mình, tôi nhận thấy tất cả chung quanh đều mờ tối. Ngọn đèn khí mà tôi đã để chờ Jonathan đã được vặn xuống, chỉ còn giống như một vệt đỏ nhỏ trong màn đêm. Tôi nhận thức rằng mình đã đóng cửa sổ trước khi lên giường. Tôi muốn thức dậy để kiểm chứng điều này, nhưng cái cảm giác lơ mơ nặng nề giống như một sợi dây xích khóa chặt chân tay tôi và thậm chí ý chí của tôi nữa. Tôi vẩn nằm và chịu đựng, và đó là tất cả những gì có thể. Tôi nhắm mắt, nhưng vẩn có thể nhìn thấy qua mi. (Thật là tuyệt với những mưu mẹo mà những giấc mơ dùng với chúng ta, và thật là thuận tiện cho chúng ta tưởng tượng.) Sương mù càng lúc càng trở nên dày hơn, và tôi có thể nó lan đến như thế nào, bởi vì tôi thấy nó giống như làn khói, hoặc giống như hơi nước bốc lên trắng xóa, tỏa ra, không chỉ từ cửa sổ, mà còn từ các khớp nối trên cửa. Nó càng lúc càng dày, và có vẻ như đang tập trung lại thành một cột khói trong phòng, trên đinh tôi có thấy một luồng sáng như một con mắt đỏ. Đầu óc tôi bắt đầu quay cuồng như thể cái cột mây khói kia lúc này đang quay trong phòng, và vẳng đến những lời trong kinh thánh, "một cột mây khói vào ban ngày và lửa vào ban đêm." Thật sự đó là những lời chỉ dẩn tâm linh đang đến với tôi trong giấc ngủ? Nhưng cây cột bây giờ đang là sự kết nối của lời chỉ dẩn kia trong cả đêm và ngày, do ngọn lửa trong con mắt đỏ kia, khiến cho tôi như bị thôi miên, cho đến tận lúc tôi thấy nó phân chia ra, và hình như đang chiếu vào tôi trong sương khói kia là một đôi mắt đỏ rực, giống như Lucy đã nói với tôi trong chuyến du hành tâm thần ngắn ngủi kia trên vách đá, lúc tia nắng mặt trời lịm tắt đập vào khung cửa sổ của nhà thờ Thánh Mary. Thình lình sự kinh hỏang bùng lên trong tôi như là lúc Jonathan nhìn thấy những người phụ nữ khủng khiếp kia hiện ra trong thế giới thực qua đám bụi mù quay cuồng dưới ánh trăng, và trong giấc mơ tôi hẳn là đã ngất xỉu đi, vì tôi thấy tất cả trở nên tối đen. Nỗ lực giác quan cuối cùng mà trí tưởng tượng mang đến cho tôi là một khuôn mặt trắng tóat thâm tím đang cuối xuống chỗ tôi xuyên qua làn sương mù.



Tôi phải cẩn thận với nhữngấcccc mơ mới được, bởi vì nếu nó sẽ thủ tiêu lý tính của con người nếu cứ diễn ra diễn lại nhiều lần. Tôi sẽ nói bác sĩ Van Helsing hoặc bác sĩ Seward cho tôi cái gì đó khiến tôi có thể ngủ được, nhưng tôi lại sợ đánh thức họ. Một cơn mơ lúc này sẽ biến thành những người phụ nữ kia mang đến sự khủng khiếp cho tôi. Tối nay tôi sẽ thật cố gắng để có thể ngủ một cách tự nhiên. Nếu không, ngày mai tôi sẽ nói họ cho tôi một liều chlorat, dùng một lần thì chắc không hại gì, và nó sẽ khiến tôi ngủ ngon. Tối nay tôi sẽ mệt hơn nếu như tôi chẳng ngủ được gì cả.



Ngày 2 tháng Mười, 10 giờ sáng. - Tối hôm qua tôi đã ngủ, nhưng chẳng mộng mị gì. Hẳn là tôi đã ngủ rất say, vì tôi chẳng bị Jonathan đến giường đánh thức dậy, nhưng giấc ngủ không giúp tôi phục hồi, vì hôm nay tôi cảm thấy mệt và mất tinh thần kinh khủng. Cả ngày hôm qua tôi cố đọc sách, hoặc nằm ngủ lơ mơ. Đến chiều, ông Renfield muốn xin gặp tôi. Người đàn ông tội nghiệp này rất lịch thiệp, và khi tôi đến ông ấy hôn tay tôi và xin Chúa cầu phúc cho tôi. Nó làm cho tôi phần nào xao xuyến ghê gớm. Tôi khóc khi nghĩ đến ông ấy. Đó là một sự mềm yếu mới, và tôi phải cẩn thận về điều này mới được. Jonathan sẽ đau khổ lắm nếu anh ấy biết tôi khóc. Anh ấy và những người khác đi ra ngòai đến tận giờ cơm chiều, và tất cả bọn họ trở về trong mệt mỏi. Tôi làm tất cả những gì có thể để họ có thể vui vẻ lại, và tôi cho rằng những nỗ lực đó tốt choi tôi, nó khiến cho tôi quên đi sự mệt mỏi của mình.. Sau bữa ăn tối, họ lại bắt tôi đi nằm, và sau đó ra ngòai hút thuốc, họ nói thế, nhưng tôi biết họ đang muốn nói nói chuyện với nhau về những gì diễn ra trong ngày. Qua dáng điệu của Jonathan, tôi biết rằng anh ấy có một điều gì rất quan trọng phải truyền đạt. Tôi không đến nỗi quá buồn ngủ như tôi tưởng, nên trước khi họ đi tôi hỏi bác sĩ Seward cho tôi một ít thuốc ngủ, vì tôi không ngủ ngon vào đêm trước. Anh ta rất tử tế, cho tôi uống một ngụm thuốc ngủ, nói rằng nó không gây hại gì cả, nó rất nhẹ… Tôi uống và đợi giấc ngủ vẩn còn đang trốn tránh đến. Hy vọng rằng tôi không làm cái gì sai, bởi vì khi giấc ngủ bắt đầu ve vãn tôi, thì nỗi sợ hãi mới lại đến, và có thể là tôi đã rất ngu ngốc khi cướp đi của chính mình năng lực thức tĩnh. Có thể là tôi muốn vậy. Giấc ngủ đến rồi đây. Xin tạm biệt.

vui_la_chinh 05-05-2005 03:22 PM

Chương 20


Nhật ký của Jonathan Harker




Ngày 1 tháng Mười, buổi chiều. - Tôi đến nhà của Thomas Snelling tại Bethnal Green để tìm ông ta, nhưng không may ông ấy đang ở trong tình trạng chẳng nhớ được gì cả. Cái viễn cảnh bia bọt mà tôi vẽ ra hy vọng sẽ được việc lại khiến cho ông ta sớm rơi vào tình trạng trác táng. Tuy nhiên, từ vợ ông, một người xem ra khá tử tế, một tâm hồn đáng thương, tôi biết được rằng ông ta chỉ là phụ tá của Smollet, một trong hai người đồng nghiệp chịu trách nhiệm. Tôi đánh xe đến Walworth và thấy ông Joseph đang ở nhà, mặc áo sơ mi dài tay, đang rót trà ra khỏi một cái đĩa. Ông ta là một người tử tế, thông minh, rõ là một người tốt bụng, chắc chắn thuộc kiểu người yêu lao động, và rất có đầu óc. Ông ta nhớ tất cả mọi chuyện về những cái hộp, và từ một cuốn sổ ghi chép quăn góc tuyệt diệu, do ông lấy ra từ một chỗ bí ẩn nào đó trên quần áo, đầy những chữ tượng hình bằng viết chì đậm đã phai đi hơn nữa, ông ta cho tôi biết đích đến của những chiếc hộp. Ông nói rằng sáu cái đã được chất lên xe hàng mà ông lấy từ Carfax và mang đến 197 đường Chicksand, Thị trấn Tận Cùng Một Dặm Mới, và sáu hộp khác ông đặc cọc tại hồ Jamaica, Bermondsey. Nếu tay bá tước kia muốn phân bố những thứ khủng khiếp của hắn khắp Luân Đôn, thì những nơi trên sẽ là những lựa chọn đầu tiên để phân bổ, sau đó hắn có thể phân phối rộng rãi hơn. Ý nghĩa bộc lộc qua những động thái của các sự việc trên khiến tôi nghĩ rằng hắn có thể không chỉ giới hạn mình ở hai đầu London. Bây giờ hắn đang vươn xa tới phía đông của bờ biển phía bắc, về phía đông của bờ biển phía nam, và vươn xuống miền nam. Phía bắc và phía tây hẳn nhiên cũng không nằm ngòai những sự sắp xếp ma quái của hắn, chỉ để lại thành phố cô độc này ngay tại chính trái tim của London đô hội ở phía tây nam và phía tây. Tôi quay lại gặp Smollet, và hỏi xem ông ấy có biết gì thêm về bất kỳ những cái hộp nào khác được mang đi từ Carfax.



Ông ta trả lời, "Thật tuyệt, ngài đã đối xử với tôi rất tốt", trước đó tôi đã đưa cho ông ta nữa đồng sovereign, " và tôi sẽ nói với ngài tất cả những gì tôi biết. Tôi nghe người đàn ông được gọi tên Bloxam nói vào bốn đêm trưóc tại "Are and Ounds, trong ngõ hẻm Pincher, khi ông ta cùng bạn vừa hòan thành xong một công việc vất vả tại căn nhà cổ ở Purfleet. Có không nhiều những công việc đại loại như vậy đâu, và tôi nghĩ rằng có thể Sam Bloxan nói với ngài được nhiều thứ lắm."



Tôi hỏi ông ta xem có thể tìm được người kia ở đâu. Tôi nói rằng ông ta sẽ có nữa đồng sovereign nữa nếu ông nói được địa chỉ. Khi đó ông ta nuốt một ngụm trà và đứng dậy, nói rằng ông sẽ bắt đầu đi tìm kiếm loanh quanh đâu đó thử.



Ngay tại cửa ông ta dừng lại và nói, "Xem này, thưa ngài, xem ra thật không phải khi tôi giữ ngài lại đây. Có thể tôi sẽ tìm thấy Sam sớm hoặc không, nhưng dù thế nào đi nữa ông ta cũng không thích nói gì nhiều với ngài tối nay đâu. Sam là một người rất đặc biệt khi ông ta bắt đầu say lúy túy. Nếu ngài có thể cho tôi một phong bì có dán tem cùng địa chỉ bên trên, tôi sẽ tìm ra chỗ của Sam và gửi đến cho ngài tối nay. Nhưng ngài nên gặp ông ta vào lúc sáng sớm, đừng bao giờ trước bữa nhậu ban đêm."



Đó là tất cả những điều đã được làm, và một cô bé đã phóng đi với một penny để mua một cái phong bì cùng một xấp giấy để giữ lại số tiền lẻ. Khi cô ta trở về, tôi ghi địa chỉ lên phong bì và dán tem, và khi Smollet một lần nữa trung thực hứa hẹn rằng sẽ gửi cho tôi địa chỉ khi tìm thấy, tôi lên đường về nhà. Dù sao đi nữa chúng tôi cũng đang lần theo đúng dấu vết, Tối nay tôi rất mệt mỏi, và tôi muốn đi ngủ. Mina ngủ thiếp đi rất nhanh, và trông nàng khá xanh xao.Mắt nàng nhìn giống như nàng đã khóc. Em tội nghiệp thân yêu, anh không hề nghi ngờ rằng việc giữ kín mọi chuyện với em sẽ khiến em rất bứt rứt, và có thể sẽ khiến em khó chịu gấp đôi với anh và những người khác. Nhưng tốt nhất là phải như thế. Lúc này thất vọng và lo lắng hơn là để làm tan vỡ thần kinh của nàng. Bác sĩ đã đúng khi khẳng định rằng nàng phải tránh xa những câu chuyện khủng khiếp của chúng tôi. Tôi phải cứng rắn, bởi vì gánh nặng đặc biệt của sự im lặng trên tôi phải được giải tỏa. Tôi không bao giờ trở về chủ đề này với nàng dù ở bất kỳ tình huống nào. Thật sự ra, đó không phải là một chuyện khó khăn, bởi vì chính bản thân nàng cũng trở nên thật dè dặt với chủ đề này, và chẳng hề nói gì về bá tước hay những câu chuyện của ông ta kể từ khi chúng tôi nói cho nàng biết những quyết định của mình.



Ngày 2 tháng Mười, buổi tối. - Một ngày dài bận rộn và vất vả. Trước tiên bưu điện chuyển trực tiếp đến tôi một phong bì với một giấy nhỏ đính kèm, trên đó được viết bằng viết chì gỗ với dòng chữ viết ngóay, "Sam Bloxam, Korkrans, 4 Phố cụt Poters, đường Bartel, Walworth. Hỏi thêm về ‘depite’."



Tôi để bức thư trong giường và đứng dậy mà không làm đánh thức Mina. Nàng vẩn còn ngủ say trong nặng nề và xanh xao, trong không khỏe tí nào. Tôi quyết định không đánh thức nàng, và khi tôi trở về sau cuộc tìm kiếm mới này, tôi sẽ sắp xếp để đưa nàng về Exeter. Tôi nghĩ rằng nàng sẽ vui hơn khi ở trong ngôi nhà của chúng tôi, và những công chuyện thường nhật sẽ khiến nàng khuây khỏa hơn làm ở đây và chìm trong sự bỏ mặt của chúng tôi. Tôi chỉ gặp bác sĩ Seward một chốc, nói với anh ta nơi tôi đã đi, hứa sẽ trở về nói hết khi tôi tìm thấy cái gì đó. Tôi đánh xe đến Walworth và với đôi chút vất cả, cũng đã tìm thấy Phố cụt Poter chứ không phải Phố cụt Potter. Tiu nhiên, khi tới được khu phố cụt này, tôi lại chẳng khó khăn gì để tìm thấy ngôi nhà tranh của Corcoran.



Khi tôi hỏi người đàn ông ra cửa về "depite", ông ta lắc đầu và nói, "Tôi không biết. Không có người như vậy ở đây. Tôi chẳng bao giờ nghe nói đến ông ta trong những ngày tươi đẹp này. Đừng tin vào bất kỳ ai trong những hạng người đang sống ở đây hoặc bất cứ nơi đâu."



Tôi lấy bức thư của Smollet ra, và khi đọc nó thì có vẻ như những bài học về đánh vần đã dẩn hướng cho tôi. "Ông là cái gì chứ?" tôi hỏi.



"Tôi là ‘depity’," ông ta trả lời.



Ngay tức khắc tôi thấy rằng mình đã đi đúng đường. Vấn đề đánh vần ngữ âm đã một lần nữa làm tôi lạc lối. Với một nữa crown gợi ý cho những kiến thức ủy quyền cho tôi sử dụng, tôi biết rằng ông Bloxam, người đã ngủ với phần bia còn lại của ông ta trong đêm trước tại Corcoran, đã rời bỏ công việc của mình tại Poplar vào năm giờ sáng nay. Ông ta không thể nói với tôi chỗ ấy ở đâu, nhưng ông ta cũng nêu lên được một ý mập mờ rằng đó là một cái "coi chừng những cú nanh", và với một lời gợi ý sáng sủa như thế tôi bắt đầu tìm Poplar. Khỏang mười hai giờ thì tôi tìm được một lời gợi ý về tòa nhà này, và tôi đến một tiệm cà phê, nơi một số công nhân đang ăn bữa chiều. Một trong số họ cho rằng có thể đó là tòa nhà "dự trữ lạnh" ở ngay đường Thiên Thần Chữ Thập, đó là nơi lý tưởng cho "coi chừ những cú nanh" tôi lập tức đánh xe đi. Một cuộc phỏng vấn với một gác cổng cáu gắt và người đốc công còn cáu gắt hơn, cả hai được an ủi bằng những đồng xu đầy uy lực, tôi đã có được dấu vết của Bloxam. Ông ta đề nghị với tôi hãy sẳn lòng trả tiền lương công nhật cho người đốc công của ông ta để có quyền hỏi ông ta về những vấn đề cá nhân. Ông ta là một gã có đủ trí thông minh, dù rất khó ưa với giọng nói và tác phong của mình. Khi tôi hứa với ông ta sẽ trả tiền để lấy những thông tin của ông ta và cho ông ta tiền đặt cọc, ông ta nói với tôi rằng ông ta đã làm hai cuộc viễn du giữa Carfax và ngôi nhà ở Piccadilly, và lấy ra khỏi ngôi nhà này đến nơi kia chín cái hộp lớn, "nặng ghê gớm," với một con ngựa và cỗ xe được ông ta thuê cho công chuyện này.



Tôi hỏi ông ta có thể nói được số nhà của căn nhà ở Piccadilly hay không, thì ông ta trả lời, "Vâng, thưa ngài, tôi quên mất con số rồi, nhưng chỉ có vài cánh cửa từ một cái nhà thờ lớn hoặc đại loại thế mới được xây gần đây. Đó cũng là một ngôi nhà cũ kỹ bụi bậm, mặc dù những cái hộp đấy được mang đến từ một căn nhà lộng lẫy chẳng hề có tí bụi nào."



"Hai căn nhà đều chẳng có ai thì làm sao ông vào nhà được?"



"Có một ông già hẹn tôi đợi ở trong một căn nhà ở Purfleet. Ông ta giúp tôi nâng mấy cái hộp và bỏ nó lên xe bò. Mẹ kiếp, đó một ông già khỏe nhất mà tôi từng đụng phải, và ông ta là một ông già, ria trắng, một ông già gầy ốm mà ngài có thể cho rằng không thể ném nổi một con cá trích."



Làm sao diễn tả được sự run rẩy đang xuyên vào tôi!


"Thế đấy, ông ta nâng những cái hộp của ông ta như thể nó là những cốc trà, và tôi bị thổi tung đi khiến tôi không thể điều khiển nổi mình nữa, và tôi thì đâu có phải là một con gà con."



"Làm sao mà ông vô được căn nhà ở Piccadilly?" tôi hỏi.



"Ông ta cũng có ở đấy luôn. Ông ta hẳn là đã khởi hành và đến đó trước tôi, bởi vì khi tôi rung chuông thì ông ta tự mình ra mở cửa và giúp tôi mang những cái hộp vô tiền sảnh."



"Cả chín cái?" tôi hỏi.



"Phải, lần đầu năm và lần sau bốn. Đó là một công việc cực khổ, và chẳng thể nhớ nổi làm sao tôi về đến nhà."



Tôi ngắt lời ông ta, "Vậy là những cái hộp để ở tiền sảnh"



"Vâng, cả đống đó đều rất lớn, và chẳng có gì khác ở đó."



Tôi cố thêm một nỗ lực nữa. "Ông có cái chìa khóa nào không?"



"Chẳng lúc nào phải dùng chìa khóa hay cái gì khác cả. Ông già ấy được lắm, ông ta mở cửa tự mình và cũng tự đóng lại khi tôi xong việc. Tôi không nhớ cuối cùng là mấy giờ, nhưng đó là lúc đi uống bia."



"Và ông không thể nhớ số nhà?"



"Không, thưa ngài. Nhưng ngài sẽ không gặp khó khăn về việc này đâu. Đó là những bậc đá cao phía trước với mái vòm trên nó, sẽ dẩn ngài đi đến chỗ cánh cửa.Tôi biết những bậc thang này, vì đã cùng ba kẻ lang thang khác vừa đến khiêng những cái hộp trên nó để kiếm một đồng xu. Người đàn ông già kia đã cho họ những đồng xilinh, và khi họ thấy họ đã có nhiều như vậy, họ muốn thêm. Nhưng ông ta đã xử một tên trong bọn họ bằng vai như thể ném hắn bay xuống các bậc thang, nên bọn kia lập tức cút đi với những lời chửi rủa."



Tôi nghĩ rằng với những lời chỉ dẩn đó tôi có thể tìm thấy ngôi nhà, do đó tôi trả công ông bạn mình cho những thông tin trên, tôi bắt đầu đi đến Piccadilly. Tôi đã thu được những kinh nghiệm đau thương. Sự thật rõ là bá tước có thể tự mình xoay xở những cái hộp đó. Nếu đúng như vậy thì thời gian bây giờ là rất quý giá, bởi vì lúc này hắn ta có thể phân phối xong một khối lượng lớn bằng cách chọn thời gian hoạt động của mình để hòan thành công việc kia mà không ai theo dõi được. Tại gánh xiếc Piccadilly tôi đổi xe, và bước đi về hướng tây. Ở sau Hiến Pháp Nhỏ Hơn, tôi đi qua ngôi nhà được mô tả và hài lòng khi nhận thấy đó là một hang ổ được sắp xếp tiếp theo của Dracula. Ngôi nhau trông như có vẻ đã khá lâu chẳng có bóng người. Cửa sổ đóng một lớp bụi cửa chớp đóng kín. Tất cả sườn nhà lúc nào cũng tối tăm, và lớp thép lộ ra khi những nước sơn gần như tróc đi sạch. Rõ ràng là chỉ mới gần đây nơi này đã có một tấm bảng thông báo để trước ban công. Tuy nhiên nếu như vậy thì nó đã được giật mạnh đi, cái trụ đứng dùng để treo nó vẩn còn lại. Đằng sau tay vịn ban công tôi thấy rất nhiều tấm bảng để lộn xộn, với những đường vạch trắng sáng lên. Tôi có được một tình thế lý tưởng để có thể trông thấy những tấm bảng thông báo kia chưa bị bôi xóa, và như thế có thể sẽ có được một số gợi ý về người chủ căn nhà. Tôi nhớ lại những kinh nghiệm của mình trong cuộc điều tra và mua bán ở Carfax, và tôi không thể làm gì ngòai cảm giác rằng tôi có thể tìm thấy người chủ trước ở đấy, đồng nghĩa với việc khám phá và thu thập các khả năng truy nhập căn nhà này.


Lúc này chẳng có gì để tìm hiểu về phía Piccadilly, chẳng có thể làm gì hơn, tôi vòng ngược ra phía sau để tìm xem có cái gì đó có thể thu lượm từ hướng này hay không. Hang ổ này rất sống động, ngôi nhà Piccadelly gần như đang bị chiếm đóng. Tôi hỏi một hoặc hai người giữ ngựa và người giúp việc tôi bắt gặp xem họ có biết gì về ngôi nhà trống rỗng kia. Một trong số họ nói rằng gần đây anh ta có nghe thấy tiếng cái gì đó bị lấy đi, và rất gần đây thì có một tấm bảng thông báo "Để bán" được treo, nên có thể Mitchell, Các Con Trai và Candy, những nhân viên nhà đất có thể nói với tôi cái gì dó, bởi vì anh ta cho rằng anh nhớ đã trông thấy tên của công ty này trên tấm bảng. Tôi không mơ ước đến một cái gì đó đáng phấn khởi đến thế, hoặc là có được một người cung cấp tin có thể biết và đóan được nhiều chuyện như vậy, nên sau khi cám ơn anh ta với một dáng vẻ bình thường, tôi quay đi. Lúc này trời đã gần tối hơn, và khi đêm thu đang đến gần, tôi lại càng không để mất một chút thời gian nào. Lấy được địa chỉ của Mitchel, Sons & Candy từ sách chỉ dẩn của Berkeley, tôi nhanh :Dng có mặt ở văn phòng của họ tại đường Sackville.



Một người đàn ông quý phái với dáng vẻ đặc biệt tinh tế đón tiếp tôi, nhưng ông ta không có sự cởi mở tương xứng. Được một lần nói với tôi về ngôi nhà Piccadilly, mà trong suốt cuộc nói chuyện ông ta gọi là "lâu đài" đã bán, ông ta quan tâm đến chuyện làm ăn của tôi như là phần kết cục. Khi tôi hỏi ai là người mua nó, ông ta mở to mắt, ngừng lại vài giây trước khi trả lời, "Nó đã được bán, thưa ngài."



"Xin lỗi," tôi nói , với sự lịch sự ngang bằng, "nhưng tôi có một lý do đặc biệt để mong mỏi biết được ai là người mua nó."



Một lần nữa ông ta lại ngập ngừng lâu hơn, và càng nâng cặp lông mày của mình lên. "Nó đã được bán, thưa ngài," câu trả lời ngắn gọn của ông ta một lần nữa lại được lặp lại.



"Hẳn thế rồi, " tôi nói, "nhưng hẳn là ngài không phiền để cho tôi biết nhiều hơn."



"Nhưng tôi phiền đấy," ông ta trả lời. "Những câu chuyện làm ăn của khách hàng chúng tôi luôn được giữ an tòan trong những bàn tay của Mitchel, Các Con Trai và Candy."



Ở ông ta hiện ra sự lạnh lẽo của lớp nước đầu tiên, và như thế thì đừng có tranh cãi với ông ta. Tôi nghĩ tốt nhất là nên gặp ông ta ở lãnh vực của riêng ông, nên tôi nói, "Khách hàng của ngài, thưa ngài, sẽ rất vui nếu có được một sự kiên quyết của người người bảo vệ được họ tin tưởng. Tôi là một người chuyên nghiệp."



Và tôi đưa cho ông ta danh thiếp, "Trong trường hợp này tôi không bị thôi thúc bởi sự tò mò, tôi là người đại diện của huân tước Godalming, người mong mỏi muốn biết được rằng một phần tài sản của mình, ông ấy muốn nói rằng, sau này sẽ được an tòan."


vui_la_chinh 05-05-2005 03:22 PM

Những lời đó đã tạo nên một sự thay đổi đáng kể trong câu chuyện. Ông ta nói, "Tôi rất muốn được giúp đỡ ngài nếu như tôi có thể, ngài Harker, và đặc biệt một giúp đỡ chủ ngài. Chúng tôi đã một lần hân hạnh giải quyết một vấn đề nhỏ cho việc thuê một số căn buồng cho ông ấy khi ông ấy là ngài Arthur Holmwood đáng kính. Nếu ngài cho tôi biết địa chỉ của chủ ngài, tôi sẽ hỏi ý kiến người chủ nhà về vấn đề này, và sẽ ngay lập tức liên hệ với chủ nhân ấy bằng bưu điện tối nay. Kể ra cũng đáng nếu chúng ta có thể rời xa những luật lệ của mình để đưa những thông tin cần thiết cho người chủ nhân."



Tôi muốn bảo vệ người bạn của mình, và không muốn tạo ra một kẻ thù, nên tôi cám ơn anh ta, cho anh ta địa chỉ của bác sĩ Seward và đi ra. Bây giờ trời đã tối, và tôi đang đói và mệt. Tôi uống một tách trà tại công ty Aeranted Bread và đi xuống Purfleet bằng chuyến xe lửa tiếp.



Đến nhà thì tôi thấy mọi người đã có mặt. Mina trông mệt mõi và xanh xao, nhưng nàng đang có một nỗ lực dễ thương để tỏ ra tươi tỉnh và phấn khởi. Điều đó làm tim tôi thắt lại khi nghĩ rằng tôi đã che giấu nàng một số điều gì đó và khiến cho nàng không được bình yên. Tạ ơn Chúa, đây sẽ là đêm cuối cùng nàng quan sát cuộc họp của chúng tôi với cảm giác chua chát về sự không tin tưởng của chúng tôi. Điều đó làm tôi lấy lại được can đảm để giữ nguyên ý kiến sáng suốt về việc giữ nàng đứng ngòai những câu chuyện ảm đạm của chúng tôi. Có vẻ như nàng đã có phần chịu đựng được điều này, hoặc là chính cái mục đích đã trở thành đáng ghét cho nàng, hoặc một lời bóng gió ngẫu nhiên đã khiến nàng thực sự run rẩy. Tôi rất mừng là chúng tôi đã đưa ra một nghị quyết đúng lúc, vì với một cảm giác như vậy, thì càng kiến thức chúng tôi càng thu thập được sẽ càng là một sự tra tấn cho nàng.



Tôi không thể nói với những người khác các khám phá trong ngày cho đến khi chúng tôi còn lại với nhau, nên sau bữa tối, với một chút âm nhạc để bảo vệ sự hiện diện thậm chí là giữa chúng tôi với nhau, tôi đưa Mina về phòng nàng để nàng ngủ. Cô gái thân yêu đó càng âu yếm với tôi hơn bao giờ hết, nàng bám lấy tôi như thể không muốn để tôi đi, nhưng chúng tôi chẳng có gì nhiều để nói và tôi đi ra. Tạ ơn Chúa, việc ngừng nói chuyện đã khiến chúng tôi chẳng còn gì khác biệt với nhau.



Khi tôi đi xuống trở lại thì mọi người đã tề tựu quanh ngọn lửa trong phòng nghiên cứu. Trên xe lửa tôi đá viết lại mọi chuyện trong nhật ký, và bây giờ việc đơn giản đọc lại nó cho họ chính là cách tốt nhất để cho họ có được những thông tin của riêng tôi.



Khi tôi chấm dứt, Van Helsing nói, "Thật là một ngày làm việc xuất sắc, bạn Jonathan. Không nghi ngờ gì nữa chúng ta đã theo đúng dấu vết của những cái hộp bị mất. Nếu chúng ta tìm thấy tất cả chúng ở trong căn nhà ấy, thì công việc của chúng ta đã gần đến đích. Nhưng nếu như có một số khác mất đi, chúng ta sẽ phải tìm kiếm cho đến khi chúng ta tìm thấy chúng. Đoạn chúng ta sẽ thực hiện công việc táo bạo sau cùng, săn đuổi con quái ấy đến cái chết thật sự của hắn."



Chúng tôi ngồi im lặng một lúc và ngay khi đó ông Morris cất tiếng, "Hãy nói đi! Làm cách nào chúng ta có thể đi vào căn nhà đó?"


" Chúng ta sẽ vào cái khác," Huân tước Godalming nhanh :Dng trả lời.



"Nhưng, Art, điều đó là khác nhau. Chúng ta đột nhập căn nhà ở Carfax, nhưng chúng ta có bóng đêm và những bức tường công viên bảo vệ. Điều đó sẽ rất khác khi dây vào một vụ trộm ở Piccadelly, bất kể là ngày hay đêm. Tớ phải thú nhận rằng tớ chẳng thấy được cách nào để chúng ta vào trừ khi cái thằng cha nhân viên thân mến ấy có thể tìm cho chúng ta một thứ chìa khóa nào dó."



Huân tước Godalming nhíu mày, rồi anh ta đứng dậy và đi về phía phòng. Ngay khi đó anh ta dừng lại và nói, quay lần lượt về từng người trong bọn tôi, "Cái đầu của Quincey thật tốt. Tiến hành một vụ trộm sẽ rất khó khăn. Chúng ta đành phải từ bỏ nó, nhưng chúng ta còn có một công việc khó khăn. Trừ phi chúng ta có thể tìm thấy được chùm chìa khóa của bá tước."



Chúng tôi chẳng thể làm được gì tốt đẹp trước khi trời sáng, và cuối cùng cái khã dĩ được nhất là đợi đến khi huân tước Godalming có tin tức của Mitchell, chúng tôi quyết định sẽ không tiến hành thêm một bước nào nữa trước giờ ăn sáng. Chúng tôi có được một chút thỏai mái để ngồi và hút thuốc, tranh luận về các quan điểm tìm kiếm và chống đỡ khác nhau. Tôi có được cơ hội để để ghi vào nhật ký một lúc. Tôi rất buồn ngủ và sẽ đi ngủ…



Chỉ một dòng thôi. Mina ngủ ngon và thở bình thường. Trán nàng hằn lên một vết nhăn nhỏ, chứng tỏ nàng vẩn suy nghĩ thậm chí khi đang ngủ. Nàng vẩn rất xanh xao, nhưng trông không đến nổi quá hốc hác như lúc sáng. Tôi hy vọng là đến ngày mai thì thì tất cả sẽ được cải thiện. Nàng sẽ là chính mình tại nhà ở Exeter. Ôi, nhưng mà tôi phải ngủ đây!



NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ SEWARD



Ngày 1 tháng Mười - Tôi một lần nữa nhức đầu vì Renfield. Tính khí của ông ta thay đổi nhanh đến nổi tôi khó mà hiểu được nó, và chúng luôn chứng tỏ một cái gì đó hơn là tình trạng khả quan của ông ta, chúng tạo thành một cái gì đó hơn là một trường hợp nghiên cứu thú vị. Sáng nay, khi tôi đến để gặp ông ta sau khi ông ta đẩy lùi Van Helsing, thái độ của ông ta ra vẻ là một người đàn ông đang ra lệnh cho số phận. Thật ra ông ta đang ra lệnh cho số phận, một cách chủ quan. Ông ta thật sự chẳng hề quan tâm đến bất cứ cái gì trên trái đất này, ông ta đang ở trên mây và nhìn xuống tất cả sự yếu đuối và muốn tất cả những con người khốn khổ như chúng tôi chết đi.



Tôi nghĩ rằng tôi sẽ cải thiện được trường hợp này và biết được thêm cái gì đó, nên tôi hỏi ông ta, "Lần này thì những con ruồi đâu cả rồi?"



Ông ta mỉm cười với tôi theo dáng điệu kẻ bề trên, một nụ cười như thế đã trở thành khuôn mặt của Malvolio, khi ông ta trả lời tôi, "Những con ruồi, thưa ngài thân mến, có một đặc điểm đáng chú ý. Những cái cánh của nó là biểu tượng cho sức mạnh siêu thực của khả năng tâm linh. Những người cổ xưa đã làm đúng khi họ ví tâm hồn như con bướm!"



Tôi nghĩ rằng tôi đã đẩy được sự loại suy của ông ta lên đến mức logic tột đỉnh, nên tôi nói nhanh, "Bây giờ thì ông đang nghiên cứu tâm hồn, phải không?"



Sự điên khùng của ông ta làm nền cho lý do của ông, rồi một cái nhìn khó hiểu trải ra khắp mặt ông ta khi ông ta lắc đầu với một vẻ quả quyết mà tôi rất hiếm khi thấy ở ông.



Ông ta nói, "Ồ không, ồ không! Tôi không phải muốn những tâm hồn. Cuộc sống là tất cả những thứ tôi muốn." Nói đến đây ông ta tươi tỉnh hẳn. "Vào lúc này tôi chẳng khác nó mấy chút. Cuộc sống là tất cả những điều tốt đẹp. Tôi đã có tất cả những gì tôi muốn. Ông phải tìm một bệnh nhân mới thôi, bác sĩ, nếu ông muốn nghiên cứu về sự ăn thịt động vật!"



Điều này làm tôi khá đau đầu , nên tôi thăm dò ông. "Vậy thì ông điều khiển sự sống. Tôi cho rằng, có lẽ ông là chúa trời chăng?"



Ông ta mỉm cười với một vẻ ôn hòa bề trên không sao tả xiết. "Ồ không! Còn lâu tôi mới có thể láo xược tự cho mình những phẩm chất của thần thánh. Thậm chí tôi cồn không quan tâm đến những công việc tâm linh đặc biệt của Ông ấy nữa. Nếu tôi có thể vận dụng những khả năng trí óc của mình, thì đến nay tôi chỉ hoàn toàn tập trung vào những sự việc sống trên mặt đất, một phần nào đó ở những tình huống mà Enoch có thể thực hiện những năng lực tinh thần!"



Vấn đề khá hóc đối với tôi. Tôi không thể ngay tức khắc nhớ ra được Enoch, nên tôi phải hỏi một câu hỏi đơn giản, dù rằng tôi cảm thấy nó sẽ khiến tôi tự hạ thấp chính mình trước đôi mắt của người tâm thần kia. "Và vì sao lại là Enoch?"



"Bởi vì ông ta đi cùng với Chúa."



Tôi vẩn chẳng hiểu ra mô tê gì cả, nhưng không muốn thú nhận nó, nên tôi quyết định quay về từ cái mà ông ta đã phủ nhận. "Vì sao mà ông không còn quan tâm đến sự sống mà không muốn linh hồn. Vì sao vậy?" Tôi đặt câu hỏi rất nhanh và có phần nào nghiêm nghị, với mục đích làm ông ta mất bình tĩnh.


Nỗ lực này đã thành công, bởi vì trong một thóang ông ta vô giác rơi trở vào tình trạng nô lệ cũ, cúi người trước tôi, và thật sự là xun xoe trước tôi khi ông ta trả lời. "Tôi không muốn bất cứ linh hồn nào, thật sự là vậy, thật sự! Tôi không muốn. Tôi không thể dùng nó nếu tôi có nó. Nó sẽ có cái gì hữu dụng cho tôi. Tôi không thể ăn nó hoặc…"



Ông ta thình lình ngừng lại và sự xảo nguyệt lại lan rộng trên khuôn mặt ông ta giống như một cơn gió quét trên bề mặt nước.



"Và bác sĩ, giống như cuộc sống, cuối cùng là cái gì? Khi ngài có tất cả những gì ngài yêu cầu, và ngài biết rằng ngài sẽ không bao giờ muốn, đấy là tất cả. Tôi có bạn bè, những người bạn tốt, giống như ngài, bác sĩ Seward." Điều này được nói với một cái liếc mắt mang đậm vẻ xun xoe khó tả. "Tôi biết rằng tôi sẽ không bao giờ thiếu cuộc sống!"



Tôi nghĩ rằng qua những câu nói điên rồ tối nghĩa ấy, ông ta thấy được những sự đối lập của tôi, bởi vì ngay tức khắc sau đó ông ta chui ngay vào nơi trốn tránh cuối cùng quen thuộc của ông ta, đó là sự im lặng lì lợm. Sau một khỏang thời gian ngắn, tôi thấy rằng lúc này không thể nói chuyện được với ông ta. Ông ta thật lầm lì, và vì vậy tôi bỏ đi.



Sau đó cũng trong ngày ông ta lại gọi tôi. Thông thường thì tôi sẽ không đến mà chẳng có lý do gì đặc biệt, nhưng lúc này tôi đang rất thích thú với ông ta đến nỗi tôi vui mừng để thử. Harker đi ra ngòai, lần theo những tung tích, và Huân tước Godalming cùng Quincey cũng thế. Van Helsing ngồi trong phòng nghiên cứu của tôi, mãi mê với những hồ sơ được Harker chuẩn bị. Ông ta có vẻ nhưng đang nghĩ rằng bởi những kiến thức chính xác từ tất cả các chi tiết ông ta sẽ soi sáng được một số tung tích. Ông ta mong muốn không bị quấy rầy trong công việc, dù bất kỳ lý do nào. Tôi đã từng kêu ông ấy đi với tôi để thăm bệnh nhân, chỉ vì tôi nghĩ rằng sau sự cố gắng cuối cùng của ông ta, có thể ông ấy không còn quan tâm đến chuyện đó nữa. Còn có một lý do khác. Renfield có thể sẽ không nói chuyện thỏai mái trước một người thứ ba như khi chỉ có tôi và ông ấy.



Tôi thấy ông ta đang ngồi giữa phòng trên chiếc ghế đẩu cảu ông ta, với một dáng điệu ngụ ý biểu lộ sức mạnh tinh thần của ông. Khi tôi đến, ông ta nói ngay, như thể câu hỏi đã chực sẳn trên môi ông. "Về những linh hồn thì thế nào?"

vui_la_chinh 05-05-2005 03:24 PM

Rõ ràng là sự ước đóan của tôi đã chính xác. Sự suy nghĩ vô thức đã làm công việc của nó, dù là với người tâm thần. Tôi quyết định làm rõ vấn đề.
"Còn về của chính ông thì sao?" tôi hỏi.
Ông ta không trả lời ngay mà nhìn chung quanh, nhìn lên và xuống, có vẻ như ông ta đang chờ đợi để tìm một ít cảm hứng để trả lời.
"Tôi không muốn bất kỳ linh hồn nào!" Ông ta yếu ớt nói với vẻ biết lỗi. Vấn đề này có vẻ đã tác động tâm tưởng của ông ta, nên tôi quyết định sẽ dùng nó, vì "tỏ ra độc ác chỉ để tốt lành." Cho nên tôi nói, "Ông thích cuộc sống, và ông muốn cuộc sống?"
"Ôi vâng! Chỉ là thế thôi. Ngài không cần phải bận tâm về điều đó!"
"Nhưng," tôi hỏi, "làm sao chúng ta có thể có cuộc sống mà không có linh hồn?"
Có vẻ như điều này làm ông ta khó nghĩ, và tôi tiếp tục, "Vào một thời điểm tốt đẹp nào đó ông sẽ có một ít thời gian khi ông rời khỏi đây, với tâm hồn của hàng ngàn ruồi, nhện, chim và mèo, chúng vo ve, líu lo, than van chung quanh ông. Ông đã có cuộc sống của chúng, ông cũng biết đấy, và ông phải giải quyết với linh hồn chúng!"
Những điều này có vẻ như đã có tác động với trí tưởng tượng của ông, nên ông ta đưa tay lên bịt tai và đóng sập mắt lại, khép rịt mắt như một cậu bé nhỏ khi khuôn mặt cậu đầy xà bông. Cái vẻ cảm động trong dáng vẻ ấy đã tác động đến tôi. Nó cũng cho tôi một cái cảm giác rằng đứng trước mặt tôi là một đứa trẻ, chỉ là một đứa trẻ, dù nét mặt đã già cỗi, và những mớ râu lởm chởm nơi cằm đã bạc trắng. Rõ ràng là ông ta đang trải qua một sự xáo động lớn trong tâm hồn, và khi đã biết về những tính khí trong quá khứ của ông thì có thể suy luận ra rằng có vẻ như có một cái gì đó khác lạ đang lan tỏa trong ông, tôi nghĩ rằng đã có thể xâm nhập vào tâm trí của ông ở mức mà tôi có thể và lướt đi cùng ông.
Bước đầu tiên là phải phục hồi niềm tin, nên tôi hỏi ông ta, nói thật lớn để ông ta có thể nghe được tôi dù ông đang bịt chặt tai, "Ông có muốn một chút đường để bắt những con ruồi quanh đây không?"
Ông ta có vẻ như bật dậy ngay, và lắc đầu. Với một tiếng cười ông ta trả lời, "Không! Dù sao thì ruồi cũng chỉ là những sinh vật khốn khổ!" Ngừng lại một chút ông ta tiếp, "Nhưng tôi không muốn tâm hồn của chúng vo ve quanh tôi, dù thế nào đi nữa."
"Hoặc là nhện?" tôi tiếp tục.
"Những con nhện tai họa! Những con nhện thì dùng làm gì? Chẳng có gì trong nó để ăn hoặc…" Ông ta ngừng lời đột ngột như thể nhớ lại về một chủ đề bị ngăn cấm.
"Chính thế, chính thế!" tôi nghĩ bụng, "đây là lần thứ hai ông ta thình lình ngừng lại khi gặp từ ‘uống’. Điều này có nghĩa là gì nhỉ?"
Renfield có vẻ như đã tự thức tỉnh mình sau khi phạm một sai lầm, nên ông ta vội vã như muốn làm sao nhãng sự chú ý của tôi về chuyện này, "Tôi không tạo ra bất kỳ một kho dự trữ nào về những chuyện như thế này. ‘Những con chuột cống và chuột nhắt và những con vật nhỏ nhặt như vậy’ như Shakespeare đã nói ‘trẻ con được nuôi trong tủ đựng thức ăn’, chúng có thể được gọi như vậy. Tôi đã trảu qua tất cả những chuyện bậy bạ như vậy. Ngài cũng có thể yêu cầu một người ăn các phân tử bằng một đôi đũa, cũng như quan tâm đến tôi như một lòai ăn thịt bậc thấp, tôi biết những gì xảy ra trước tôi."
"Tôi hiểu" tôi nói. "Ông muốn những thứ lớn hơn để có thể chạm răng vào? Ông có muốn một con voi cho bữa sáng không?"
"Ngài đang nói những chuyện hoang đường phi lý nào vậy? "Ông ta đã quá tỉnh táo, dù tôi đã dồn ép ông khá nhiều.
"Tôi tự hỏi" tôi trả lời theo phản xạ, "linh hồn một con voi thì như thế nào!"
Nỗ lực của tôi đã được đón nhận như mơ ước, vì ngay lập tức ông ta rơi trở về trạng thái kích động và trở thành một đứa trẻ trở lại.
"Tôi không muốn linh hồn một con voi, hoặc bất kỳ linh hồn nào khác!" ông ta nói. Sau một lúc ông ta ngồi xuống với vẻ chán nãn. Thình lình ông ta nhảy dựng lên, với đôi mắt sáng rực và với tất cả những dấu hiệu biểu lộ một sự kích động mãnh liệt trong não. "Quỷ tha ma bắt ngài và những linh hồn của ngài!" ông ta gào lên. "Vì sao ngài quấy rầy tôi về những cái linh hồn đó? Bộ tôi chưa đủ chuyện để lo lắng và đau khổ đủ làm tôi sao nhãng chẳng nghĩ về những cái tâm hồn đấy sao?"
Ông ta trông thật thù địch đến nỗi tôi nghĩ rằng ông ta đang rơi vào một cảm giác muốn giết người khác, nên tôi húyt sáo.
Tuy nhiên, trong chốc lát sau tôi lại thấy ông ta bình tĩnh trở lại, và nói với vẻ biết lỗi, "Xin tha lỗi cho tôi, bác sĩ. Tôi đã quên mất bản thân mình. Ngài không cần ai giúp đỡ đâu. Tôi đã quá lo lắng trong tâm tưởng và trở nên dễ nổi cáu. Nếu như ngài biết được vấn đề mà tôi phải đương đầu, những chuyện mà tôi phải giải quyết, ngài sẽ thương hại, sẽ khoan dung, sẽ tha lỗi cho tôi. Xin ngài đừng nhét tôi vào cái áo trói. Tôi muốn suy nghĩ và tôi không thể tự do nghĩ ngợi khi cơ thể tôi bị giam hãm. Tôi chắc rằng ngài sẽ hiểu được!"
Ông ta rõ ràng đã tự chủ được, và khi những người phục vụ đến tôi nói họ đừng làm phiền, và họ rút lui. Renfield quan sát họ quay đi. Khi cánh cửa khép lại ông ta ngồi xuống với vẻ cân nhắc và duyên dáng, "Bác sĩ Seward, ngài đã rất quan tâm đến tôi. Hãy tin rằng tôi rất, rất biết ơn ngài!"
Tôi nghĩ là rời ông ta trong tình trạng này thì thích hợp, nên tôi đi ra. Có một cái gì đó rõ ràng đang đọng trong tâm tưởng con người này. Có rất nhiều điểm có vẻ như tạo nên một cái gì đó mà những nhà báo Mỹ gọi là "một câu chuyện," chỉ khi chúng được sắp xếp theo một thứ tự thích hợp. Chúng là như thế này:
Cương quyết không nói đến "uống."
Sợ hãi khi nghĩ đến gánh nặng của "linh hồn" bất kỳ thứ gì.
Chẳng hề ngần ngại mong muốn đến "cuộc sống" trong tương lai.
Khinh thường đến sự tồn tại của những dạng cuộc sống nói chung, dù ông taếtttt khiếp sự săn đuổi từ linh hồn của chúng.
Thật hợp lý là tất cả những điểm này chỉ ra một khả năng! Ông ta tin chắc vào một phương cách nào đó sẽ khiến ông ta có được một cuộc sống dạng cao.
Ông ta rõ ràng khiếp sợ gánh nặng của những linh hồn. Và ông ta đã mong ước đến cuộc sống của một con người nào đó!
Và sự bảo đảm ấy…?
Chúa nhân từ! Bá tước đã đến gặp ông ta, và đây lại là một sự phối hợp mới trong những sự họat động khủng khiếp kia!
Sau đó - Sau một lúc đi dạo, tôi đế chỗ Van Helsing và nói với ông ta sự nghi ngờ của tôi. Ông ấy nhanh :Dng trở nên rất căng thẳng, và sau khi suy nghĩ về vấn đề này một lúc ông ta nói tôi dẩn ông đến chỗ Renfield. Tôi làm điều đó. Khi chúng tôi đi đến cửa chúng tôi nghe thấy người bệnh tâm thần này hát lên hoan hỉ, như thể ông ta đã từng làm điều đó trong một lúc nào đấy đã trôi xa.
Khi đi vào chúng tôi kinh ngạc khi thấy ông ta đang rãi đường như thường lệ. Ruồi, vốn khá đờ đẩn trong mùa thu, đang bắt đầu vo ve trong phòng. Chúng tôi cố làm ông ta nói về chủ đề trong cuộc nói chuyện trước của chúng tôi, nhưng ông ta không quan tâm đến. Ông ta tiếp tục hát hỏng, như thể chúng tôi chẳng hề tồn tại. Ông ta gom những mảnh giấy nhỏ lại và cuộn nó thành một cuốn sổ ghi chép. Chúng tôi đi ra trong sự thờ ơ như lúc chúng tôi đi vào.
Trường hợp này quả thật rất đáng tò mò. Chúng tôi sẽ phải theo dõi ông ta tối nay.

THƯ CỦA MITCHEL, CÁC CON TRAI & CANDY GỬI CHO HUÂN TƯỚC GODALMING.

"Ngài 1 tháng Mười." Thưa Ngài,

"Chúng tôi đã dành tất cả thời gian chỉ để vui mừng thỏa mãn những yêu cầu của ngài. Chúng tôi tha thiết, với tất cả sự kính trọng với sự yêu cầu của ngài Huân tước, được truyền đạt bởi ông Harker nhân danh ngài, để cung cấp những thông tin sau đây về vấn đề mua và bán của căn nhà số 347, Piccadilly. Người cung cấp đầu tiên là người thi hành di chúc của ngài Archibald Winter - Sufield quá cố. Người mua là một nhà quý tộc nước ngòai, bá tước de Ville, người này đã tiến hành việc trả tiền mua bán nhà theo cách ‘không cần đếm’, xin ngài Huân tước tha lỗi cho chúng tôi đã dùng một cách diễn đạt thiếu thẩm mỹ như vậy. Sau đó chúng tôi không còn biết gì về ông ta nữa.
"Chúng tôi luôn chờ đợi những yêu cầu của Ngài,
"Những người phục vụ khiêm tốn của Huân tước,
"Mitchell, Các Con Trai và Candy."
NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ SEWARD

Ngày 2 tháng Mười. - Tôi cắt đặt một người trông hành lang tối hôm qua, nói anh ta ghi chép thật chính xác bất kỳ âm thanh nào mà anh ta nghe được từ phòng của Renfielđ, chỉ thị cho anh ta rằng nếu có bấy kỳ chuyện gì lạ xảy ra thì phải gọi tôi ngay. Sau bữa ăn tối, khi tất cả chúng tôi đã tập trung bên lò sưỡi trong phòng nghiên cứu, bà Harker đã đi ngủ, chúng tôi thảo luận và những hoạt động và những sự khám phá đã đạt được trong ngày. Harker là người duy nhất có được một số kết quả, và chúng tôi đều vô cùng hy vọng rằng những manh mối của anh ta sẽ rất hữu dụng.
Trước khi đi ngủ tôi đi quanh phòng bệnh nhân và nhìn qua ô cửa theo dõi. Ông ta đang ngủ ngon lành, ngực ông ta phập phồng với sự hô hấp bình thường.
Đến sáng thì người được phân công đã báo cáo với tôi rằng quá nữa đêm một lúc ông ta thức giấc và liên tục cầu nguyện đầy ồn ào. Tôi hỏi anh ta xem có phải đó là tất cả hay không. Anh ta trả lời rằng đó là tất cả những gì anh ta nghe được. Dáng điệu của anh ta trông đầy nghi ngờ nên tôi hỏi thẳng anh ta có ngủ quên không. Anh ta chối là không ngủ, mà chỉ "gà gật" một chút. Thật là tệ, những con người loại này không thể tin tưởng trừ khi trông chừng họ.
Hôm nay Harker lại lần theo những manh mối của anh ta, còn Art và Quincey đi trông chừng ngựa. Godalming nghĩ rằng nên để cho lũ ngựa luôn sẳn sàng, vì khi chúng tôi có được thông tin cần thiết thì chúng tôi sẽ không còn thời gian để mất nữa. Chúng tôi phải tuyệt diệt tất cả những hang ổ này vào khỏang giữa mặt trời mọc và mặt trời lặn. Chúng tôi sẽ tóm được bá tước vào thời điểm hắn yếu ớt nhất, và không để cho hắn một nơi trốn tránh nào để ẩn thân. Van Helsing đã đi đến Viện Bảo tàng Anh quốc để tìm một số tài liệu về một loại dược phẩm cổ. Những nhà vật lý già giữ sổ sách về chúng cùng những gì liên quan không đồng ý, và giáo sư tìm những phương thuốc chữa bệnh cổ của phù thủy và ma quỷ có thể sẽ hữu dụng cho chúng tôi sau này.
Đôi khi tôi nghĩ rằng tất cả chúng tôi hẳn là đã điên và vì vậy chúng tôi sẽ trở về trạng thái minh mẫn trong những chiếc áo trói.
Sau đó - Chúng tôi gặp lại nhau. Cuối cùng có lẽ chúng tôi cũng đã lần theo dấu vết, và công việc của chúng tôi vào tối mai có thể sẽ bắt đầu cho sự kết cục. Tôi tự hỏi không biết sự im lặng của Renfield có nói lên điều gì về chuyện này không. Tính khí của ông ta tuân theo những hoạt động của bá tước, đến nỗi tiến trình hủy diệt của tên ác quỷ kia có thể sẽ mang ông ta đi theo một cách thức khôn ngoan nào đó. Nếu chúng tôi có thể có được một vài chỉ dẩn về những gì đang diễn ra trong tâm tưởng ông ta, giữa khỏang thời gian tôi đưa ra cho ông ta những lý lẽ vào và sự quan tâm của ông ta về việc bắt ruồi trở lại, thì điều đó có thể mang đến cho chúng tôi những manh mối đáng giá. Bây giờ thì ông ta có vẻ như đang trong một đợt tĩnh lặng… Ông ta đấy ư? Hình như có một tiếng kêu theo vọng ra từ phòng ông ta…"
Người phục vụ vội vã xông vào phòng tôi và nói rằng Renfield hình như vừa gặp phải một tai nạn. Anh ta nghe thấy tiếng ông ta kêu thét và khi anh ta vào phòng, anh ta thấy ông nằm úp mặt trên sàn nhà, phủ đầy máu. Tôi phải đi ngay…"0

vui_la_chinh 05-05-2005 03:26 PM

Chương 21


NHẬT KÝ CỦA BÁC SĨ SEWARD


Ngày 3 tháng 10 - Hãy để tôi ghi lại với sự chính xác tất cả những gì đã xảy ra mà tôi còn nhớ đượckể từ lúc tôi viết lần cuối. Không được để một chi tiết nào mà tôi có thể nhớ được đi vào quên lãng. Tôi phải làm việc với tất cả sự bình tĩnh của mình.
Khi tôi đi vào phòng Renfield tôi thấy ông ta đang nằm trên nền nhà, nghiêng về phía trái trong một vũng máu lóng lánh. Ngay khi tôi đến lay ông ta, tôi nhận ra có vẻ như ông ấy bị một vết thương rất nghiêm trọng. Không một dấu vết nào trên cơ thể nói lên thậm chí là một sự hôn mê của trí não. Khi khuôn mặt được lật lên tôi có thể thể thấy nó bị thâm tím một cách đáng sợ, giống như bị đập xuống nền nhà. Thật sự vết thương trên mặt chính là nguồn gốc của vũng máu.
Người phục vụ đang quỳ bên cạnh cơ thể ông ta nói với tôi khi chúng tôi lật ông lại, "Thưa ngài, tôi nghĩ rằng lưng ông ta đã bị gãy. Xem này, cả tay và chân phải ông và tòan bộ một bên mặt ông ta đã tê liệt." Đằng sau sự đánh giá của người phục vụ này là cả một câu đố nan giải về những gì đã xảy ra.Anh ta có vẻ khá bối rối, lông mày ông ta nhíu lại khi nói tiếp, " Tôi không thể hiểu được hai điều. Ông ta có thể tạo nên khuôn mặt như vậy bằng cách đập đầu mình xuống nền nhà. Tôi đã thấy một người phụ nữ trẻ làm điều đó ở viện điều dưỡng Eversfield trước khi mọi người kịp chạm vào cô ta. Và tôi cũng giả sử rằng ông ta có thể bị gãy cổ khi ngã ra khỏi giường, nếu như ông ta bị sơ xuất một cách kỳ dị. Nếu lưng ông ta bị gãy, ông ta không thể tự đập đầu, và nếu khuôn mặt bị như vậy trước khi bị rơi ra khỏi giường thì phải có dấu vết về chuyện đó chứ."
Tôi nói với anh ta, "Đến chỗ bác sĩ Van Helsing, mời ông ta quá bộ đến đây ngay. Tôi muốn ông ấy đến ngay, không chậm một phút nào."
Người phục vụ chạy ra, và vài phút sau, giáo sư, trong chiếc áo dài và dép lê xuất hiện. Khi ông ta nhìn thấy Renfield trên nền nhà, ông quan sát cẩn thận ông ta một thoáng và quay sang tôi. Tôi nghĩ rằng ông ta đã nhận ra những ý nghĩ của tôi trong mắt tôi, bởi vì ông ấy nói rất khẽ, hiển nhiên là cho đôi tai của người phục vụ, "Ah, một tai nạn đáng buồn! Ông ấy cần được trông chừng cẩn thận, và phải thật tập trung vào. Tôi đích thân ở đây với anh, nhưng trước tiên tôi phải thay đồ đã. Nếu anh định ở lại thì vài phút sau tôi sẽ ở cùng anh."
Người bệnh bây giờ đang thở rống lên và dễ dàng thấy rằng ông ta đang bị thương một cách trầm trọng.
Van Helsing quay trở lại đặc biệt nhanh, mang theo cái va ly phẫu thuật. Chắc chắn ông đã suy nghĩ và đã có chủ kiến, vì ngay trước khi khi nhìn sang bệnh nhân, ông ta thì thầm với tôi, "Hãy đưa người phục vụ ra ngòai. Phải chỉ có chúng ta với ông ta khi ông ta tỉnh lại sau cuộc phẫu thuật."
Tôi nói, "Tôi nghĩ là sẽ phải làm việc ngay, Simmons. Chúng ta sẽ làm tất cả những gì mà chúng ta có thể. Tốt hơn anh nên đi xem xét chung quanh, và bác sĩ Van Helsing sẽ tiến hành phẫu thuật. Hãy cho chúng tôi biết ngay nếu có gì bất thường xảy ra chung quanh."
Người dàn ông lui ra, và chúng tôi dấn thân một bài thi khắc nghiệt với bệnh nhân. Vết thương trên mặt rất cạn. Vết thương thật sự là một vết gẫy sâu trên sọ, lan sang phía phải xuyên qua vùng dây thần kinh vận động.
Giáo sư suy nghĩ một lúc và nói, "Chúng ta phải giảm huyết áp về trạng thái bình thường, càng nhanh càng tốt. Tốc độ của sự chảy máu chỉ ra một tình trạng kinh khiếp tự nhiên về vết thương của ông ta. Hình như tòan bộ vùng thần kinh vận động của ông ta đều bị ảnh hưởng cả. Tình trạng xuất huyết não sẽ diễn ra rất nhanh, nên chúng ta phải khoan nó ngay hoặc có thể là đã quá trễ."
Khi ông ấy đang nói thì có tiếng gõ cửa nhẹ. Tôi đi ra mở cửa và thấy ở phía ngòai hành lang, Arthur và Quincey trong bộ đồ ngủ và dép lê, người đầu nói, "Tôi nghe thấy người của cậu gọi bác sĩ Van Helsing và nói với ông ấy về một tai nạn. Vì vậy tôi lay Quincey hay đúng hơn là gọi cậu ta khi mà cậu ấy chẳng hề ngủ. Mọi thứ chuyển biến quá nhanh và có những tiếng động rất lạ lùng đối với giấc ngủ cho bất kỳ ai trong số chúng ta lúc này. Tôi đã nghĩ rằng vào đêm mai sẽ không còn kịp thấy những gì đang xảy đến. Chúng ta phải nhìn sau và nhìn trước nhiều hơn chúng ta đã làm. Chúng tôi có thể vào chứ?"
Tôi gật đầu, và đẩy rộng cửa để họ có thể đi vào, rồi tôi đóng cửa lại. Khi Quincey thấy điệu bộ và tình trạng của bệnh nhân, và nhận thấy đến vũng máu kinh khiếp trên sàn, cậu ấy nhẹ nhàng cất tiếng, "Chúa ơi! Chuyện gì xảy ra cho ông ta vậy? Ôi, kẻ khốn khổ tội nghiệp!"
Tôi kể lại ngắn gọn với cậu ấy, thêm vào đó rằng chúng tôi đang chờ đợi ông ta sẽ phục hồi nhận thức sau cuộc phẫu thuật, trong một khoảng thời gian ngắn, với tất cả các biến cố. Cậu ta liền đi đến và ngồi trên cạnh giường, với Godalming bên cạnh cậu ta. Tất cả chúng tôi đều trông chừng bệnh nhân.
"Chúng ta sẽ đợi," Van Helsing nói, " chỉ cần vừa đủ để đặt vết khoan, và chúng ta có thể đưa khối máu ra nhanh :Dng và hòan hảo, dù sự thật là sự xuất huyết đang tăng nhanh."
Những giây phút chờ đợi của chúng tôi trôi qua trong sự sợ hãi chậm chạp. Tôi cảm thấy như tim mình chìm đắm trong sự kinh khiếp, và từ khuôn mặt của Van Helssing tôi thấy rằng ông ta cảm thấy một sự sợ hãi hoặc nhận thức được việc gì đang đến. Tôi chết khiếp những gì mà Renfield có thể nói. Tôi thật sự sợ hãi khi nghĩ về chuyện này. Nhưng sức thuyết phục của những gì đang diễn ra đang tác động lên tôi, khi tôi nhận thấy người đàn ông đã nghe thấy cái nhìn của thần chết. Hơi thở của người đàn ông tội nghiệp đang trở nên hổn hển bất thường. Mỗi lúc ông ta có vẻ như sắp mở mắt ra và nói, thì ông ta lại thay thế bằng một vẻ mất cảm giác hơn lúc nào. Dù tôi đã quen với việc ngồi cạnh giường người bệnh và chết, thì sự hồi hộp càng lớn dần trong tôi. Tôi gần như có thể nghe thấy nhịp đập của tim mình, và máu dâng trào qua thái dương của tôi như những nhát búa đập. Sự im lặng cuối cùng đang trở thành tuyệt vọng. Tôi nhìn các bạn mình, hết người này đến người khác, và thấy từ khuôn mặt xúc động và hàng lông mày ẩm ướt của họ rằng họ cũng đang chịu đựng một áp lực tương đương. Một sự căng thẳng thần kinh bao trùm tất cả chúng tôi, mặc dù tiếng chuông thần chết ngân vang lại mang vẳng lên trong chúng tôi bao sinh lực khi chúng tôi cuối cùng đang chờ đợi nó.
Cuối cùng, thời gian càng trôi, mọi việc càng rõ rằng bệnh nhân đang mê đi rất nhanh. Ông ta có thể chết bất kỳ lúc nào. Tôi nhìn giáo sư và thấy mắt ông đang nhìn về phía tôi. Khuôn mặt ông ấy rất nghiêm khắc khi ông nói, "Không còn thời gian để mất nữa. Những lời nói của ông ta lúc này đáng giá rất nhiều mạng sống. Tôi đã nghĩ như vậy, khi tôi đang đứng đây. Ở đây có một tâm hồn để đánh cược! Chúng ta sẽ phẫu thuật ngay phía trên tai."
Không nói một lời, ông ta tiến hành phẫu thuật. Trong một lúc hơi thở vẩn tiếp tục hổn hển. Rồi tiếp đến là một hơi thở thật dài như thể xé toang lồng ngực. Thình lình mắt ông ta mở ra, và bắt đầu trở nê hoang dại, với cái nhìn chòng chọc không cảm xúc. Trạng thái này diễn ra thêm vài khỏanh khắc, rồi nó trở nên dịu lại trong một sự ngạc nhiên đáng mừng, và từ đôi môi của ông ấy đã có dấu hiệu của sự dễ chịu. Ông ta run lên, và khi ông ta làm điều đó, ông ta cất tiếng, "Tôi sẽ không manh động đâu, bác sĩ. Hãy nói với họ cởi chiếc áo trói ra. Tôi vừa có một giấc mơ kinh hãi, và nó làm cho tôi yếu đến nỗi tôi không thể cử động được. Có chuyện gì với khuôn mặt của tôi vậy? Hình như tất cả đều sưng phồng lên, và nó nhức nhối khủng khiếp."
Ông ta cố quay đầu, nhưng thậmt chí với nỗ lực ấy, mắt ông ta dường như lại trở nên đờ đẩn trở lại nên tôi nhẹ nhàng chỉnh đầu ông lại. Đoạn Van Helsing nói với âm điệu nhẹ nhàng trang nghiêm, "Hãy nói với chúng tôi về giấc mơ của ông, ông Renfield."
Khi nghe thấy giọng nói ấy, khuôn mặt của ông bừng sáng, dù nó có vẻ mô phỏng, và ông ta nói,"Chính là bác sĩ Van Helsing. Thật là tốt khi có ngài ở đây. Hãy cho tôi một chút nước, môi tôi đang khô, và tôi sẽ nói với ông. Tôi đã nằm mơ"…
Ông ta dừng lại và có vẻ đau đớn. Tôi nhẹ nhàng gọi Quincey, "Rượu mạnh, ở trong phòng nghiên cứu của tớ ấy, nhanh lên!" Cậu ta chạy vội đi và trở lại với một chiếc bình thon cổ bằng thủy tinh và một bình nước. Chúng tôi dấp nước lên đôi môi khô nẻ, và người bệnh phục hồi lại nhanh :Dng.
Tuy nhiên, có vẻ như bộ não thương tích khốn khổ kia làm việc một cách ngắt quãng, nên ông ấy có vẻ đờ đẩn, ông ta nhìn tôi đầy nhức nhối với một vẻ đau đớn mơ hồ mà tôi sẽ không sao quên được, và nói, "Tôi không được đánh lừa mình. Đấy không phải là một giấc mơ, mà tất cả là một sự thật mờ ảo." Rồi mắt ông ta nhìn quanh phòng. Khi chúng nhìn thấy hai hình bóng kiên nhẫn ngồi bên giường, ông ta tiếp tục, "Nếu như tôi không lầm, thì hình như tôi không biết họ."
Trong một lúc mắt ông ta nhắm lại, không phải do đau đớn hay ngủ mà chỉ do tự giác, như thể ông ta đang mang hết khả năng của mình ra để chịu đựng. Khi ông ta mở mắt, ông ta nói, vội vã, với một vẻ dồi dào năng lượng mà ông chưa bao giờ biểu lộ trước đây, "Nhanh lên, bác sĩ, nhanh lên, tôi đang chết đây! Tôi cảm thấy tôi chỉ còn vài phút nữa thôi, và như vậy tôi sẽ trở về với cái chết, hoặc còn tệ hơn nữa! Hãy thấm môi tôi bằng rượu một lần nữa. Tôi có chuyện phải nói trước khi chết. Hoặc trước đó bộ não khốn khổ của tôi sẽ bị nghiền nát đi. Cám ơn! Đấy là cái đêm sau khi ngài rời khỏi tôi, và tôi van nài ngài để cho tôi ra đi. Tôi không thể nói, bởi vì tôi cảm thấy lưỡi mình đã bị trói. Nhưng tôi rất tỉnh táo, ngoại trừ một số ngoại lệ, như tôi lúc này. Tôi đã có một sự đau đớn và tuyệt vọng kéo dài sau khi ngài rời bỏ tôi, nó kéo dài hàng giờ. Thế rồi có một sự êm dịu thình lình xảy đến cho tôi. Bộ não của tôi cảm thấy như lạnh lẽo trở lại, và tôi nhận ra tôi đang ở đâu. Tôi nghe thấy tiếng chó tru đằng sau ngôi nhà của chúng ta, nhưng không, chính là nơi Ông Ta ở!"
Trong khi ông ta nói, mắt Van Helsing chẳng hề chớp, nhưng tay ông ta chạm lấy tay tôi và nắm chặt lấy. Tuy nhiên, ông ta không phản bội lại chính mình. Ông ta gật đầu nhẹ và nói, "Tiếp đi," bằng một giọng nhẹ nhàng.
Renfield tiếp tục. "Ông ta tiến đến bên cửa sổ trong đám bụi mù, như tôi đã nhìn thấy ông ta trước đây, nhưng ông ta có vẻ rất cứng rắn, không phải là một bóng ma, và mắt ông ta rực lên như mắt một người trong cơn giận dữ. Ông ta cười với cái miệng đỏ rực, với hàm răng trắng phản chiếu ánh trăng khi ông ta quay nhìn về phía trên thân cây, nơi lũ chó vẩn tru. Tôi không hỏi ông ta trước, dù tôi biết ông ta muốn , như thể ông ta đã muốn tất cả. Và ông bắt đầu hứa với tôi, không phải bằng lời nói mà chỉ bằng cách làm chúng."



Ông bị ngắt lời bởi một lời của giáo sư, "Như thế nào?"



"Bằng cách làm cho nó diễn ra. Như là cách ông ta đã từng gửi những con ruồi đến khi mặt trời chiếu sáng. Những con ruồi béo mập với thép và xaphia trên cánh của chúng. Và những con bướm đêm to lớn, trong đêm, với sọ người và cặp xương bắt chéo trên lưng chúng."



Van Helsing gật đầu khi ông ta nói với tôi một cách vô thức, "Lòai Cơ thắt Acherontia Atropos, mà anh hay gọi là loài ‘Bướm đêm Đầu Thần Chết’ ấy phải không?"



Bệnh nhân tiếp tục, không hề ngắt quãng, "Và ông ta bắt đầu thì thầm. ‘Chuột, chuột, chuột! Hàng trăm, hàng ngàn, hàng triệu con, và mỗi con đều có một cuộc sống. Rồi chó ăn chúng, và mèo cũng thế. Tất cả đều còn sống! Tất cả đều có máu đỏ, với hàng trăm cuộc sống bên trong nó, không chỉ đơn thuần và những con ruồi vo ve!’ Tôi cười với ông ta, vì tôi muốn thấy ông ta có thể làm những gì. Đoạn những con chó tru lên, vang xe sau những cây đen trong căn nhà của Ông ấy. Ông vẫy tôi ra cửa sổ. Tôi bước đến và nhìn ra xa, rồi Ông Ta vẫy tay, như thể kêu gọi mà chẳng dùng đến lời nào. Cả một khối đen phủ đầy lên cỏ, tiến đến như hình dạng một ngọn lửa. Rồi Ông Ta rẽ sương mù sang hai bên trái phải, nên tôi có thể thấy hàng ngàn con chuột với những đôi mắt rực đỏ, giống như của Ông Ta, chỉ có điều nhỏ hơn. Ông ta đưa tay lên, và tất cả chúng đều dừng lại, và tôi nghĩ rằng hình như ông ta đang nói, ‘Tất cả sự sống này ta sẽ cho mi, ay, và còn nhiều hơn nữa và lớn hơn nữa, qua vô số thế hệ, nếu mi quỳ xuống và thờ phụng ta!’ Và rồi một đám mây đỏ, giống màu của máu, phủ qua mắt tôi, và trước khi tôi biết tôi đang làm gì, tôi thấy mình mở rộng khung kính và nói với Ông Ta, ‘Tâu vâng, thưa ngài Lãnh Chúa và Chúa Tể!’ Tất cả lũ chuột đều đã đi, nhưng ông ta đi qua khung kính và tiến vào phòng, dù khung kính ấy chỉ mở rộng có vài inch, nhưng thể Mặt Trăng vẩn thường đi xuyên qua những khe nứt tí teo nhất, và ông ta đứng trước mặt tôi với tất cả dáng vẻ và sự lộng lẫy của nó."


Giọng của ông ta yếu đi, nên tôi lại thấm ướt môi ông với rượu một lần nữa, và ông ta tiếp tục, nhưng như thể trí trớ của ông ta đã đi và làm việc ngắt quãng trong khi câu chuyện của ông ta vẩn tiếp tục gay cấn. Tôi muốn gọi ông ta thức tĩnh, nhưng Van Helsing thì thào với tôi, "Để ông ta tiếp tục. Đừng ngắt quãng ông. Ông ta không thể trở lại, và có thể không thể tiếp tục gì nữa nếu chỉ khi ông mất đi sự liền mạch trong suy nghĩ."



Ông ta tiếp tục, "Suốt cả ngày tôi đợi tin ông ta, nhưng ông ấy chẳng gửi đến cho tôi cái gì cả, thậm chí một con ruồi xanh, và khi mặt trăng lên tôi đã khá giận ông ta. Khi ông ta lướt xuyên qua cửa sổ, mặt dù cửa đóng, mà không cần phải gõ cửa, tôi đã nổi điên với ông ta. Ông ta mỉm cười khinh bỉ với tôi, và khuôn mặt trắng tóat của ông nhìn qua đám sương mù với đôi mắt đỏ của ông ta sáng rực lên, và ông ta tiếp tục như thể ông ta là chủ của tòan bộ khu này, còn tôi chẳng là gì cả. Ông ta thậm chí còn không ngửi thấy là tôi đứng bên ông ta. Tôi không thể nắm lấy ông ta. Tôi nghĩ rằng, hình như bà Harker đã đi vào vào phòng."



Hai người đàn ông đang ngồi trên giường đứng dậy và bước lên, đứng đăng sau ông khiến ông ta không thể trông thấy, nhưng đó chính là nơi họ có thể nghe tốt hơn. Cả hai đều im lặng, nhưng giáo sư giật mình và run lên. Tuy nhiên khuôn mặt ông ta trở nên u ám hơn và vẩn nghiêm trang. Renfield tiếp tục mà chẳng để ý đến điều gì cả, "Khi bà Harker đi vào để gặp tôi trong buổi chiều ấy bà ta không giống như thường lệ. Nó giống như trà sau khi bình trà đã được pha thêm nước." Đến đây thì tất cả chúng tôi đều cử động, nhưng chẳng ai nói một lời.


vui_la_chinh 05-05-2005 03:27 PM

Ông ta tiếp tục, "Tôi không biết rằng bà ta ở đấy đến khi bà ta cất tiếng, và bà ta trông không giống như cũ. Tôi không quan tâm đến những con người trắng bệch. Tôi chỉ thích những con người có nhiều máu trong cơ thể, còn máu của bà ta hình như đã chạy đi đâu hết cả. Tôi không nghĩ đến điều đó vào lúc này, nhưng khi bà ta đi ra tôi bắt đầu suy nghĩ, và điều đó làm cho tôi nổi điên vì tôi biết rằng Hắn đã lấy sự sống ra khỏi bà ấy." Tôi có thể cảm thấy tòan bộ những người còn lại đều run rẩy, giống như tôi. Những chúng tôi vẩn giữ mình im lặng. "Vì vậy khi Hắn đến vào tối nay tôi đã sẳn sàng chờ đón Hắn. Tôi thấy đám bụi thình lình đi vào, và tôi tóm nó thật chặt. Tôi đã từng nghe rằng những người điên thì có những sức mạnh phi thường. Và khi tôi biết tôi là một người điên, thì vào lúc này, dù thế nào đi nữa, tôi cũng quyết định dù đến sức mạnh của tôi. Ay, và Hắn cũng cảm thấy thế, nên hắn phải thóat ra khỏi đám bụi mù để vật lộn với tôi. Tôi giữ chặt, và tôi nghĩ rằng tôi sắp thắng, để cho Hắn không thể lấy thêm một chút sự sống nào ra khỏi người nàng, đến khi tôi thấy đôi mắt của Hắn. Chúng bùng cháy trong tôi, và sức mạnh của tôi tan ra như nước. Hắn ta trượt ra, và khi tôi cố bám lấy Hắn, Hắn nâng tôi lên và ném tôi xuống. Sau đó là một đám mây đỏ phủ trước tôi, và một tiếng động như là một tiếng sét, và đám bụi giống như thình lình biến đi dưới sàn nhà."
Giọng ông ta trở nên đau đớn và hơi thở của ông hổn hển hơn. Van Helsing đứng dậy theo bản năng.
"Bây giờ chúng ta đã biết điều tệ hại nhất, " ông ta nói. "Hắn đang ở đây, và chúng ta biết mục đích của hắn. Có thể vẩn chưa quá trễ. Hãy vũ trang, giống như chúng ta đã làm đêm trước, nhưng đừng mất thời gian, không được để lãng phí một khỏanh khắc nào."
Không cần phải diễn tả bằng lời nỗi sợ hãi hay sự tự kết án của chúng tôi, chúng tôi cùng chia xẻ nó. Tất cả chúng tôi đều vội vã, và lấy từ trong phòng mình đúng những thứ mà chúng tôi đã dùng khi xông vào căn nhà của Bá tước. Giáo sư đã sẳn những dụng cụ của mình, và khi chúng tôi gặp nhau trong hành lang ông ta ra dấu về chúng một cách đầy ý nghĩa khi ông ta nói, "Chúng sẽ không bao giờ rời bỏ tôi, và chúng sẽ làm thế cho đến khi công việc đau khổ này chấm dứt. Và cũng phải khôn ngoan nữa, các bạn của tôi. Đấy là một kẻ thù đặc biệt mà chúng ta phải giải quyết nó với… Than ôi! Than ôi! Hẳn là bà Mina thân yêu đang chịu đau khổ!" Ông ta ngừng lời, giọng ông ngắt quãng, và tôi không biết tim tôi có chịu nỗi sự tức giận hay đau khổ của mình hay không.
Chúng tôi dừng lại bên ngòai cửa phòng Harker. Art và Quincey lùi lại, và người sau nói, "Chúng ta có nên quấy rầy cô ấy không?"
"Chúng ta phải," Van Helsing rầu rĩ nói. "Nếu cửa khóa, tôi sẽ phá nó."
"Có thể điều đó sẽ làm cô ấy hoảng hốt? Thật là bất thường khi phá cửa phòng một phụ nữ!"
Van Helsing nói trịnh trọng, "Anh luôn luôn đúng. Nhưng đây là cuộc sống và cái chết. Tất cả quan tòa đều giống như bác sĩ. Và thậm chí họ không như vậy thì họ cũng giống như tôi tối nay. Bạn John, khi tôi quay tay nắm, nếu cửa không mở, thì anh hãy kê vai xuống và đẩy mạnh. Và các anh cũng vậy, các bạn tôi. Nào!"
Ông ta quay nắm cửa khi ông ta nói, nhưng cánh cửa không chịu tuân lệnh. Chúng tôi lao thân người vô nó. Với một tiếng va chạm mạnh lan ra, và chúng tôi gần như ngã lao đầu vào phòng. Giáo sư thật sự đã ngã lăn. và tôi nhìn len qua ông khi ông đang bò bằng tay và đầu gối. Những gì tôi thấy làm tôi thất kinh. Tôi cảm thấy tóc tôi dựng đựng lên như bàn chải sau gáy, và tim tôi như ngừng đập.
Ánh trăng vẩn còn sáng và qua thứ ánh vàng nhợt nhạt đó căn phòng vẩn đủ sáng để nhìn. Nằm trên giường, cạnh cửa sổ là Jonathan Harker, khuôn mặt anh ta xúc động và hơi thở nặng nề như thể đang sững sở. Quỳ gần bên cạnh giường, mặt hướng ra ngòai là cái bóng trắng bệch của vợ anh ta. Đứng cạnh nàng là một đàn ông cao, gầy, mặc đồ đen. Khuôn mặt hắn quay khỏi phía chúng tôi, nhưng chỉ trong khỏanh khắc chúng tôi cảm thấy tất cả đều đã nhận ra Bá tước, bằng bất kỳ cách nào, thậm chí từ vết sẹo trên trán hắn. Hắn dùng tay trái để giữ cả hai tay của bà Harker, giữ tay nàng căng thẳng. Tay phải của hắn nắm chặt lấy gáy nàng, ép mặt nàng cúi xuống ngực hắn. . Chiếc áo ngủ màu trắng của nàng dính đầy vết máu, mà một dòng máu nhỏ chảy xuống trên bộ ngực trần của gã đàn ông nổi rõ qua chiếc áo được phanh ra. Tình cảnh của hai người giống một cách khủng khiếp đến cảnh một đứa trẻ dúi mũi con mèo con vào một đĩa sữa để bắt nó uống. Khi chúng tôi ào vào phòng, bá tước quay mặt lại, và cái nhìn địa ngục mà tôi đã từng nghe mô tả hình như đã nhảy vội lên hắn. Đôi mắt hắn cháy bừng lên đỏ rực với một vẻ ma quái.Những lổ mũi lớn của chiếc mũi chim ưng trắng tóat nở rộng và căng thẳng ở cạnh, còn đôi hàm răng trắng tóat, đằng sau đôi môi căng đầy máu, gắn lại với nhau để tạo thành một con quái vật hoang dại ghê gớm. Với một cái giật mạnh, hắn ném mạnh nạn nhân của mình lên giường như thể được ném từ trên cao xuống, hắn quay sang và bật mạnh về phía chúng tôi. Lúc này giáo sư đã nắm được chân hắn, và đưa về hướng hắn chiếc phong bì có chứa Bánh Thánh. Bá tước thình lình dừng phắt lại, giống như Lucy tội nghiệp khi ở bên ngòai ngôi mộ, và co rúm lại. Hắn càng lùi lại, thì chúng tôi, nâng cao cây thánh giá của mình, tiến lên. Ánh trăng thình lình tắt phụt, và một đám mây đen trôi ngang trên bầu trời. Khi Quincey bật công tắc đèn, chúng tôi không còn thấy gì ngòai làn hơi nước mờ nhạt. Như chúng tôi thấy, hơi ẩm này để lại thành vệt dưới cửa, đang hội tụ lại sau khi vỡ tung ra, và chập chờn về trạng thái cũ. Van Helsing, Art và tôi đi về phía bà Harker, người lúc này đang hít sâu vào ngực và kêu lên những tiếng gầm gừ hoang dại, xuyên thấu qua tai người, đầy tuyệt vọng đến nỗi có lẽ những tiếng kêu lúc này sẽ còn vang mãi trong tai tôi đến tận cuối cuộc đời. Nàng nằm vai giây, bất động và chẳng còn tư thế. Khuôn mặt nàng trắng bệch, với một vẻ xanh xao càng làm nổi bật bởi những đốm máu ở môi nàng, ở má và cằm nàng. Từ cổ họng của nàng chảy ra một dòng máu nhỏ. Mắt nàng điên dại đầy kinh sợ. Rồi nàng đưa đôi tay vần vò tội nghiệp trước mặt, đôi tay trắng muốt đầy vết đỏ do cái siết chặt ghê người của bá tước, và sau đó là những tiếng than van trầm đục nghẹn ngào tạo nên những tiếng rền rĩ kinh hãi như thể chỉ do một nỗi buồn đau vô tận đang lan tỏa thật nhanh. Van Helsing bước đến và dịu dàng đậy tấm khăn trải giường lên người nàng, trong khi Art, sau khi nhìn qua khuôn mặt nàng trong một thóang tuyệt vọng, chạy ào ra khỏi phòng.
Van Helsing thì thầm với tôi, "Jonathan đang ở trong một trạng thái mê muội mà ma cà rồng có thể tạo ra như chúng ta đã biết. Chúng ta không thể làm điều gì hơn với bà Mina đáng thương trong lúc này cho đến khi bà ta tự phục hồi lại. Tôi phải đánh thức anh ta!"
Ông ta nhúng khăn vào nước lạnh và bắt đầu vỗ nhẹ lên mặt anh ta, còn vợ anh ta lúc nào cũng giữ mặt trong tay nàng và khóc nức nở nghe tan nát con tim. Tôi nâng tấm mành lên, và nhìn qua khung cửa sổ. Có rất nhiều ánh trăng, và tôi có thể nhìn thấy Quincey Morris đang chạy bãi cỏ và nấp sau bóng một cây thủy tùng to rộng. Tôi không hiểu cậu ta đang định làm gì. Nhưng trong một thóang tôi nghe Harker rên lên giật cục khi anh đang dần phục hồi tri thức, và tôi quay đầu về phía giường. Trên khuôn mặt anh ta, trông đã khả quan hơn, là một cái nhìn kinh ngạc hoang dại. Anh ta nhìn trừng trừng vài giây, rồi có vẻ như ngay tức khắc bùng lên hòan tòan phục hồi tri giác, và anh ta bật dậy.
Vợ anh ta nhanh nhẹn cử động, và quay về phía anh ta với đôi tay dang rộng, như muốn ôm lấy anh ta. Tuy nhiên, ngay tức khắc nàng rụt tay lại, và chụm khủyu tay với nhau, đưa tay lên trước mặt và rùng mình đến nỗi cả chiếc giường rung lên dưới sự dãy dụa của nàng.
"Nhân danh Chúa, chuyện này có nghĩa là gì?" Harker la lên. "Bác sĩ Seward, bác sĩ Van Helsing, chuyện gì thế? Chuyện gì đã xảy ra? Chuyện tồi tệ gì vậy? Mina, chuyện gì với em? Những vũng máu này nghĩa là sao? Lạy Chúa, lạy Chúa tôi! Xin hãy để mắt đến chuyện này!" Và vươn người lên trên đầu gối, anh ta đập tay vào nhau đầy hoang dại. "Chúa nhân từ hãy giúp chúng con! Hãy giúp nàng! Ôi, hãy giúp nàng!"
Với một cử động nhanh nhẹn, anh ta nhảy ra khỏi giường, bắt đầu mặc quần áo, tất cả con người trong anh ta đã thức dậy trong nỗ lực nhất thời. "Chuyện gì đã xảy ra? Hãy nói với tôi về chuyện này!" anh ta kêu lên không ngớt. "Bác sĩ Ven Helsung, ông yêu Mina, tôi biết điều này. Ôi, hãy làm gì đó để bảo vệ nàng. Mọi chuyện chưa thể đã đi quá xa. Hảy bảo vệ nàng trong lúc tôi tìm nó!"
Vợ anh ta, dù trong cơn hỏang hốt, kinh sợ và tuyệt vọng, chắc chắn cũng nhận thấy sự nguy hiểm sẽ diễn đến cho anh ta. Ngay tức khắc quên đi nỗi đau khổ của chính mình, nàng nắm lấy anh ta và kêu lên.
"Không! Không! Jonathan, anh không được bỏ em. Em đã chịu đủ đau khổ đêm nay rồi, Chúa chứng giám, và đừng để sự kinh khiếp của hắn làm hại anh. Anh phải ở đây với em. Hãy ở đây với những bạn bè này sẽ trông chừng anh!" Dáng vẻ nàng trở nên điên cuồng trong khi nói. Và, anh ta nghe theo lời nàng, nàng đẩy anh ta ngồi xuống bên giường, và ôm siết lấy anh thật chặt.
Van Helsing và tôi cố gắng làm cho cả hai trấn tĩnh. Giáo sư giơ cao cái thánh giá vàng của ông ta, và nói với vẻ bình thản kinh người, "Đừng sợ, con yêu. Chúng ta ở đây, và trong một khỏang gần như thế thì có điều xấu xa nào có thể đến gần. Các bạn sẽ an toàn đêm nay, và chúng ta phải bình tĩnh để cùng bàn bạc với nhau."
Nàng rùng mình và im lặng, cúi đầu xuống ngực chồng. Khi nàng ngẩng đầu lên, chiếc váy ngủ trắng của nàng lốm đốm máu nơi môi nàng chạm vào, và vết thương nhỏ nơi cổ lại nhỏ giọt. Trong khỏang cách nàng thấy nó nhỏ máu, nàng rên lên, và khóc thì thầm, nghèn nghẹn.
"Thật là den tối, thật là bẩn thỉu! Tôi không được chạm vào hay hôn anh ấy nữa. Ôi thật ra thì tôi là ai lúc này, là kẻ thù đáng sợ nhất của anh ấy, và là người anh ấy có thể phải sợ hãi nhất."Người chồng trả lời ngay đầy kiên quyết, "Không đâu, Mina. Thật là đáng xấu hổ cho anh để nghe những lời như vậy. Anh không muốn nghe điều đó về em. Và anh sẽ không nghe nó từ em. Có thể Chúa đã phán xét anh những gì anh đáng nhận, và trừng phạt anh với những nỗi đau thống khổ thậm chí còn hơn lúc này nữa, nếu như trong tư tưởng hay hành động của anh còn gợi lại đến những chuyện này giữa chúng ta!"

vui_la_chinh 05-05-2005 03:28 PM

Anh ta đưa tay ra và ôm lấy nàng vào ngực mình. Và trong một lúc nàng khẽ nằm nức nở. Anh ta nhìn chúng tôi qua chiếc đầu cúi xuống của nàng, với đôi mắt ươn ướt trên những cánh mũi phập phồng. Miệng anh ta chắc như thép.
Sau một lúc, tiếng nức nở của nàng trở nên đứt quãng và yếu dần, và lúc đó anh ta nói với tôi, nói với vẻ bình thản ghê gớm khiến tôi cảm thấy anh ta đang cố vận dụng hết năng lượng tinh thần của mình.
"Và bây giờ, bác sĩ Seward, hãy nói với tôi. Tôi muốn biết mọi chuyện thật rõ ràng. Hãy nói với tôi tất cả những gì đã diễn ra."
Tôi kể với anh ta thật chính xác những gì đã xảy ra, và anh ta lắng nghe với vẻ bình thản, nhưng cánh mũi anh giật giật, và mắt anh ta rực lửa khi tôi kể đến cánh tay tàn nhẫn của bá tước giữ vợ anh ta trong một tư thế khủng khiếp và kinh dị, để miệng nàng vào vết thương mở rộng trên ngực hắn. Điều làm tôi thích thủ, thậm chí ngay trong khỏanh khắc ấy, là trong khi khuôn mặt trắng bệch đi trong cơn giận dữ kinh khiếp, cánh tay vẩn dịu dàng và âu yếm vuốt ve những lọn tóc của vợ. Ngay khi tôi kết thúc, Quincey và Godalming gõ cửa. Họ đi vào theo lời gọi của chúng tôi. Van Helsing nhìn tôi có ý hỏi. Tôi hiểu ý ông muốn chúng tôi thử lợi dụng việc xuất hiện của họ để làm lệch đi những suy nghĩ u sầu của người chồng và người vợ với nhau và từ bản thân họ. Vì vậy khi tôi gật đầu bằng lòng với ông, ông hỏi họ xem họ đã thấy hay làm gì được. Huân tước Godalming trả lời.
"Tôi chẳng thấy hắn ở đâu cả, trong các lối đi, hoặc trong bất kỳ căn phòng nào, Tôi nhìn vào phòng nghiên cứu, nhưng hắn không có ở đó, dù trước đó hắn đã vào đó, thì hắn cũng đã đi. Tuy nhiên, hắn đã…" Cậu ta thình lình dừng lời, nhìn những hình bóng tội nghiệp trên giường.
Van Helsing can đảm cất tiếng, "Tiếp đi, bạn Arthur. Chúng tôi muốn không có gì che đậy ở đây cả. Hy vọng của chúng tôi là muốn biết tất cả. Hãy nói hết đi!"
Và Art tiếp tục, "Hắn đã đến đó, và dù chỉ có thể ở đó vài giây thôi, hắn đã làm nơi đó lộn xộn lên hết cỡ. Tất cả các bản thảo đều bị đốt đi, và trong ánh lửa xanh vẩn còn lách tách những tàn tro giấy trắng.Những bản nhật ký ghi âm của cậu cũng bị ném vào trong lửa, và sáp ong phủ trên lửa đỏ."
Đến đây thì tôi ngắt lời. "Tạ ơn Chúa là chúng ta vẩn còn những bản sao lại chúng ở những nơi an tòan!"
Khuôn mặt cậu ta sáng lên trong phút chốc, nhưng sau đó lại xịu xuống khi cậu ấy tiếp tục. "Tôi liền chạy vội xuống cầu thang, nhưng không thể thấy dấu vết gì của hắn. Tôi nhìn vào phòng Renfield, nhưng không có dấu vết gì ở đây ngoại trừ… " Một lần nữa cậu ta ngừng lời.
"Tiếp đi," Harker khàn giọng nói. Đoạn anh ta cúi đầu, lấy lưỡi liếm môi và nói tiếp , "trừ phi rằng người đàn ông tội nghiệp ấy đã chết."
Bà Harker ngẩng đầu, nhìn chúng tôi từ người này qua người qua người khác, nàng nói trịnh trọng, "Chúa sẽ làm việc của mình!"
Tôi chỉ có thể cảm thấy rằng Art đang giấu chúng tôi điều gì đó. Nhưng, khi tôi thấy rằng cậu ta làm điều đó là có mục đích, tôi không nói gì thêm.
Van Helsing quay sang Morris và hỏi, "Còn anh, bạn Quincey, anh có gì để nói không?"
"Một chút," cậu ta trả lời. "Điều này có thể là kết cục, nhưng lúc này tôi không thể nói chắc.Tôi nghĩ rằng rất hay để biết bá tước có thể đi đâu sau khi hắn rời khỏi nhà. Tôi không thấy hắn, nhưng tôi thấy một con dơi bay lên từ cửa sổ phòng Renfield, và vỗ cánh về hướng tây. Tôi tưởng hắn bay về Carfax, nhưng hắn cuối cùng lại đi tìm một số hang ổ mới. Hắn sẽ không quay về tối nay, vì trời đã rạng đỏ ở hướng đông rồi, và bình minh đã đến gần. Hôm nay chúng ta phải làm việc!"
Cậu ta nói những lời sau cùng với hàm răng nghiến chặt. Không gian như tĩnh lặng đi vài phút, và tôi có thể tưởng tượng rằng tôi đang nghe nhịp tim đập của chúng tôi.
Rồi Van Helsing nói, dịu dàng đặt tay lên đầu bà Harker, "Và bây giờ, bà Mina. Bà Mina tội nghiệp đáng yêu thân thương. Bà Mina, hãy kể với chúng tôi chính xác chuyện gì đã xảy. Chúa biết rằng tôi không muốn làm bà tổn thương, nhưng chúng tôi cần biết tất cả. Hơn lúc nào hết, lúc này mọi công việc phải được tiến hành thật nhanh :Dng và sắn gọn, và với tinh thần chí mạng. Ngày đang đến với chúng ta và mọi chuyện phải chấm dứt, nếu có thể làm được điều này, và bây giờ đây là cơ hội để chúng ta có thể sống và tìm hiểu."
Cô gái tội nghiệp rùng mình, và tôi có thể sự căng thẳng thần kinh khi nàng ôm siết lấy chồng mình rồi cúi đầu thấp và thấp hơn nữa vào ngực anh ta. Rồi nàng kiêu hãnh ngẩng đầu lên, dưa một tay ra và Van Helsing nắm lấy, sau đó ông cúi xuống và hôn nó đầy cung kính, rất nhanh. Bàn tay kia vẩn nắm chặt trong tay chồng mình, người đang dùng tay kia vòng qua người nàng che chở. Sau khi ngừng lại một thóang, cuối cùng nàng cũng điều khiển được suy nghĩ, nàng bắt đầu.
"Tôi uống một ngụm thuốc ngủ mà ông đã tử tế cho tôi, nhưng nó không có tác dụng trong một thời gian dài. Tôi bắt đầu cảm thấy yếu hơn, và vô số những điều tưởng tượng bắt đầu ập đến trong tâm tưởng. Tất cả chúng đều dẩn đến cái chết, đến ma cà rồng, đến đau khổ, và phiền muộn." Chồng nàng khẽ gầm lên không kìm được khi nàng quay sang anh ta và nói dịu dàng, "Đừng bực bội, anh yêu. Anh phải thật can đảm và cứng rắn, để giúp em vượt qua chuyện khủng khiếp này. Nếu như anh biết rằng chỉ có việc kể lại những chuyện khủng khiếp này đối với em đã là một nỗ lực lớn như thế nào, thì anh sẽ hiểu rằng em cần đến sự giúp đỡ của anh như thế nào. Vâng, tôi thấy rằng tôi phải cố giúp thêm vào phương thuốc kia để khiến nó có công dụng bằng nỗ lực của tôi. Chắc hẳn rằng giấc ngủ đã đến với tôi khá sớm, vì tôi không còn nhớ gì nữa. Jonathan vào giường mà chẳng làm tôi thức giấc, vì tiếp theo tôi nhớ là anh ấy đã nằm cạnh tôi rồi. Rồi trong phòng lại có cùng một thứ bụi mờ trắng mà tôi đã chú ý trước đây. Nhưng tôi quên mất rằng đến lúc này các ông đã biết về nó chưa. Các ông sẽ thấy nó trong nhật ký của tôi khi sau này tôi đưa nó cho các ông. Tôi cảm thấy cùng một sự khiếp sợ mơ hồ đã đến với tôi trước đây và cùng một cảm giác về một cái gì đó đang hiện hữu. Tôi quay lại đánh thức Jonathan, nhưng anh ấy ngủ say như thể chính anh ấy mới là người uống thuốc ngủ chứ không phải tôi. Tôi cố, nhưng tôi không thể đánh thức anh ấy. Điều đó là tôi sợ khủng khiếp, và tôi hốt hỏang nhìn quanh. Thật sự, tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Bên cạnh giường, giống như hắn bước ra khỏi đám bụi, hoặc đúng như giống như đám bụi quyện lại thành hình dạng hắn, bởi vì tòan bộ thân hình hắn đã hiện ra, một người đàn ông cao gầy đang đứng, tòan mặc đồ đen. Tôi nhận ra hắn ngay qua những đặc điểm khác. Khuôn mặt sáp, chiếc mũi chim ưng. trong đó ánh đèn chiếu lên tạo thành một đường trắng, đôi môi đỏ tách ra, để lộ hàm răng trắng nhọn ở giữa, và đôi mắt đỏ khiến tôi cảm thấy như đã thấy nó trong buổi hòang hôn trong cửa sỏ của nhà thờ St.Mary tại Whitby. Tôi cũng nhận thấy vết sẹo đỏ trên trán hắn khi Jonathan đánh hắn. Trong một thoáng tim tôi như ngừng đập, và tôi đã không thể kêu lên, vì tôi như đã tê liệt. Ngừng một thóang rồi hắn nói bằng những lời thì thầm sắc buốt, trong khi nói hắn chỉ về phía Jonathan.



"Im lặng! Nếu cô kêu lên thì tôi sẽ làm văng óc hắn ta ra ngay chính trước mắt cô đấy.’ Tôi thất kinh và quá bối rối để có thể làm hay nói điều gì cả. Với một nụ cười ngạo nghễ, hắn ta đặt tay lên vai tôi, và nắm chặt lấy, hắn dùng tay kia xé toạc cổ áo của tôi, vừa làm hắn vừa nói, ‘Trước tiên, hãy làm khuây khỏa một chút để thưởng cho sự cố gắng của ta. Cô có thể cứ im lặng như vậy. Đây không phải là lần đầu hay là lần thứ hai, và mạch máu của cô đã làm tôi thỏa mản lần thứ ba rồi!" Tôi kinh hòang và lạ lùng đến đổi tôi không muốn cản trở hắn. Tôi nghĩ rắng nó như là một phần của một thứ pháp thuật kinh hãi nào đó mà hắn gây ra khi chạm vào nạn nhân của hắn. Và than ôi, lạy Chúa, lạy Chúa tôi, xin hãy thương tôi! Hắn đặt đôi môi hôi thối của hắn trên cổ họng của tôi!" Chồng nàng lại gầm gừ. Nàng nắm chặt tay anh ta chặt hơn, và liếc nhìn anh ta đầy thương xót, như thể anh ta đang bị một vết thương, và tiếp tục.
"Tôi cảm thấy sức lực của mình tàn lụi dần, và tôi cảm thấy mình đang ngất đi. Chuyện khủng khiếp này diễn ra bao lâu tôi cũng không biết, nhưng hình như một lúc lâu sau hắn mới đưa cái miệng kinh khiếp, bẩn thỉu đầy chế nhạo của hắn đi. Tôi thấy nó rỏ ra những dòng máu tươi!" Sự hồi tưởng hình như đã vượt quá sức chịu đựng của nàng, và nàng rũ ra và nằm gục xuống như rơi vào vòng tay ôm đỡ của chồng nàng. Với một nỗ lực khủng khiếp nàng tự phục hồi và tiếp tục.
Và hắn nói với tôi đầy chế nhạo, ‘Và cô, giống như những tên kia, thử chơi một trò chơi cân não với ta. Cô đã giúp những tên đó săn đuổi ta và làm thất bại những kế hoạch của ta! Bây giờ cô đã biết, và bọn chúng đã biết một phần, và sẽ biết trong không lâu nữa, cách cắt ngang con đường của ta. Bọn chúng nên giữ gìn sức lực của mình khi tiến gần lại nhà. Trong khi chúng đang tính kế chống lại ta, chống lại ta, người ra lệnh cho thiên nhiên, và đang mưu đồ chống chúng, đang chiến đấu chống lại chúng, hàng trăm năm trước khi chúng ra đời, ta đã chống lại chúng. Và cô, kẻ đáng yêu nhất trong bọn chúng, bây giờ đã thuộc về ta, da thịt cô đã là da thịt ra, máu của cô đã là máu ta, dòng dõi cô là dòng dõi ta, sẽ cung ứng cạn kiệt nguồn lực cho ta, rồi sau đó sẽ là bạn ta và là người giúp đỡ ta. Cô sẽ lần lượt được báo thù, không phải là cho tên nào trong bọn chúng mà sẽ chỉ tuân theo những điều cô muốn. Nhưng đó là việc cô phải bị trừng phạt về những gì cô đã làm. Cô đã giúp đỡ chống phá ta. Bây giờ cô sẽ đến theo tiếng gọi của ta. Khi não ta nói "Đếân đây!" với cô, cô sẽ vượt qua, dù là đất liền hay biển khơi để làm những gì ta muốn. Và đấy là sẽ kết thúc!’
Rồi hắn kéo tung chiếc áo sơ mi của hắn, với chiếc móng tay dài và sắc bén hắn xé tung mạch máu trên ngực. Khi máu bắt đầu bắn ra, hắn nắm tay tôi, siết chặt dùng tay kia tóm lấy cổ tôi và ép miệng tôi vào vết thương, để tôi hoặc phải chết ngạt, hoặc phải … Ôi, lạy Chúa, lạy Chúa tôi! Tôi đã làm gì? Tôi đã làm gì để phải nhận một định mệnh như vậy, tôi, người đã sống hiền lành và đạo đức trong suốt cuộc đời mình. Chúa hãy thương tôi! Hãy nhìn xuống linh hồn tội nghiệp này trong nỗi nguy hiểm sống còn của mình. Và trong sự nhân ái hãy xót thương cho những người mà cô ta yêu quý!" Và nàng bắt đầu lau xát đôi môi như muốn lau sạch nó khỏi sự ô uế. Khi nàng kể câu chuyện khủng khiếp của mình, bầu trời phía đông bắt đầu rực lên rất nhanh, và mọi thứ càng lúc càng rõ ràng. Harker vẩn im lặng. Nhưng trên khuôn mặt anh ta, câu chuyện kể khủng khiếp kia vẩn đang tiếp diễn, cái nhìn xám xịt vẩn lan sâu thật sâu trong nắng sáng, đến khi vệt đỏ đầu tiên chiếu xuống, da thịt vẩn tối đen đối nghịch với mái tóc trắng.
Chúng tôi lần lượt từng người ngồi lại lay gọi đôi bạn bất hạnh kia đến khi chúng tôi có thể họp lại để sắp xếp kế hoạch hành động.
Về chuyện này thì tôi quyết chắc. Hôm nay mặt trời đã lên và những chuỗi ngày kinh hoàng không còn bao quanh ngôi nhà đau khổ nữa.

vui_la_chinh 05-05-2005 03:29 PM

Chương 22


NHẬT KÝ CỦA JONATHAN HARKER




Ngày 3 tháng Mười - Tôi phải làm một điều gì đó nếu không thì sẽ hóa điên mất. Bây giờ là sáu giờ, và chúng tôi gặp mặt trong phòng nghiên cứu trong một giờ rưỡi để ăn cái gì đó, vì bác sĩ Van Helsing và bác sĩ Seward đã nhất trí rằng nếu chúng tôi không ăn thì chúng tôi sẽ không làm việc với khả năng tốt nhất được. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình. Chúa biết và yêu cầu rằng trong ngày hôm nay, tôi phải cố ghi lại ở bất kỳ cơ hội nào có được, vì tôi đang dám chấm dứt mọi suy nghĩ của mình. Tất cả mọi thứ, lớn hay nhỏ, đều phải được dẹp đi. Có thể kết cục sẽ dạy chúng ta điều tốt nhất. Điều dạy dỗ ấy, dù lớn hay nhỏ, cũng không thể đưa Mina hoặc tôi đến một tình trạng nào tồi tệ hơn hôm nay. Tuy nhiên, chúng tôi phải tin tưởng và hy vọng. Mina vừa mới nói chuyện với tôi, với những dòng lệ lăn dài trên đôi gò má thân thương, đó là lúc mà những điều đau khổ và thử thách đang kiểm tra sự tin cậy của chúng tôi. Chúng tôi phải tiếp tục có lòng tin, và Chúa sẽ giúp mọi việc đi đến kết cục. Kết cục! Ôi, Chúa tôi! Kết cục gì chứ?… Làm việc! Làm việc thôi!



Khi bác sĩ Van Helsing và bác sĩ Seward trở lại để xem xét ông Renfield tội nghiệp, chúng tôi dũng cảm tiếp nhận những chuyện đã diễn ra. Trước tiên, bác sĩ Seward nói với chúng tôi rằng khi ông ta và bác sĩ Van Helsing đi xuống phòng dưới họ thấy Renfield nằm trên sàn, hoàn toàn bất động. Mặt ông ấy thâm tím và bị nghiền nát, còn xương cổ thì bị gãy.



Bác sĩ Seward hỏi người hầu chịu trách nhiệm ở khu hành lang xem anh ta có nghe thấy gì không?Anh ta nói rằng anh ta đã ngồi xuống, anh ta thú nhận rằng mình đã bắt đầu nữa gà gật, thì anh ta nghe thấy những tiếng động lớn ở trong phòng, và sau đó thì Renfield cất tiếng gọi nhiều lần, "Chúa ơi! Chúa ơi! Chúa ơi!" Sau đó là tiếng của một cái gì đó rơi xuống, và khi anh ta đi vào phòng, anh ta thấy ông ta nằm trên sàn, úp mặt xuống, giống như lúc bác sĩ thấy ông ta. Van Helsing hỏi xem ông ta nghe thấy "nhiều loại tiếng động" hay chỉ "một loại tiếng," và anh ta nói rằng anh ta không thể chắc được. Thoạt tiên thì có vẻ như có hai loại tiếng, nhưng chẳng có ai trong phòng nên chắc là chỉ có một loại thôi. Anh ta sẳn sàng thề nếu cần, rằng tiếng "Chúa ơi" đó chỉ được nói bởi người bệnh thôi.



Bác sĩ Seward nói với chúng tôi, khi chỉ còn chúng tôi còn lại, rằng anh ta không muốn đi sâu vào vấn đề này. Những cuộc thẩm vấn và điều tra đã được tiến hành, và chúng sẽ không bao giờ vươn tới được sự thật, và không có ai tin được vào cái sự thật đó. Như vậy, anh ta nghĩ rằng dựa trên những bằng chứng của người phục vụ cung cấp, có thể xác nhận rằng nguyên nhân cái chết là do một cú ngã rủi ro từ trên giường. Trong trường hợp những nhân viên chuyên điều tra những cái chết bất thường cần điều này, và tiến hành một cuộc điều tra hợp pháp, thì cũng sẽ dẩn đến cùng một kết quả.



Khi bắt đầu thảo luận đến câu hỏi rằng sắp tới sẽ phải làm gì, thì chuyện trước nhất chúng tôi quyết định là Mina sẽ phải hoàn toàn phục hồi sự tự tin. Dù là bằng cách nào đi nữa, bất kể sự thương tổn như thế nào, cũng phải giữ cho nàng yên ổn. Nàng tự mình đồng ý với những lời khuyên từng trãi này, và thật là đáng thương xót khi thấy nàng thật là can đảm, và một lần nữa đầy đau buồn trong cái hố sâu thăm thẳm của tuyệt vọng như vậy.



"Không được giấu diếm gì cả," nàng nói, "Than ôi! Chúng ta cũng phải thật là sẵn sàng. Và ngòai ra không còn điều gì trên thế giới này có thể khiến cho tôi đau khổ hơn những gì tôi vừa gánh chịu, hơn nỗi đau khổ của tôi lúc này! Bất kể cái gì diễn ra, thì nó phải là những niềm hy vọng mới hoặc những sự khuyến khích mới cho tôi!"



Van Helsing nhìn nàng chăm chú trong khi nàng nói, và lên tiếng, thình lình như dịu dàng, "Nhưng thưa bà Mina thân yêu, bà không cần phải lo sợ. Không phải cho bản thân bà, mà cho cho những người khác bên bà, sau tất cả những gì đã diễn ra?"



Khuôn mặt nàng như đanh hẳn lại, nhưng mắt nàng sáng lên với vẻ tận tâm của những kẻ tuẫn tiết khi nàng trả lời, "Ah không! Điều đó đã chắc trong tâm trí tôi rồi!"



"Điều gì?" ông ấy lịch lãm hỏi, trong khi chúng tôi vẩn đứng lặng, mỗi người theo đuổi cách riêng của mình để hiểu ý nghĩa trong câu nói của nàng.



Câu trả lời của nàng đến thẳng một cách đơn giản, như thể nàng chỉ giản đơn phát biểu một điều gì đó, "Bởi vì tôi đã thấy nó trong mình, và tôi sẽ quan sát nó thật rõ ràng, với một dấu hiệu nào đó gây hại cho bất kỳ ai tôi yêu mến, tôi sẽ chết!"



"Bà sẽ không tự kết liễu chính mình chứ?" ông ta hỏi, khàn giọng.



"Tôi sẽ. Nếu như không có một người bạn nào yêu thương tôi, bảo vệ tôi trước một nỗi đau khổ, trước một nỗ lực tuyệt vọng đến thế!" Nàng nhìn ông ta đầy ý nghĩa trong khi nói.



Ông ta đang ngồi, nhưng bây giờ ông đứng dậy, tiến đến gần nàng, và đặt tay mình lên vai nàng khi ông nói một cách trịnh trọng. "Con ta, có một người như thế đang ở đây cho những điều tốt đẹp dành cho con. Cho chính mình ta có thể giữ những điều giao ước với Chúa để mang đến một cái chết không đau đớn như vậy cho con, thậm chí trong cái lúc mà điều đó là điều tốt nhất. Không, nó sẽ rất an tòan! Nhưng con tôi…"



Trong một thóang ông như nghẹn lại, và một tiếng nức nở lớn cuộn lên trong cổ họng ông. Ông nuốt nó xuống và tiếp tục. "Ở đây có một số người đang đứng giữa con và cái chết. Con không được chết. Con không được chết bởi bất kỳ chuyện gì, tệ nhất là cho tất cả những gì của con. Cho đến khi cái tên kia, kẻ đã làm nhơ nhuốc cuộc sống êm dịu của con, có được một cái chết thật sự mà con sẽ không vướng phải. Còn nếu hắn vẩn là một kẻ Chưa Chết nhanh nhẹn, cái chết của con sẽ thậm chí làm cho con giống như hắn. Không, con phải sống! Con phải vật lộn và phấn đấu để được sống, dù rằng cái chết đã trở nên giống như một ân huệ không thể nói ra. Con phải chiến đấu với chính tên Thần Chết ấy, dù hắn đến với con trong đau khổ hay vui sướng. Dù ngày hay đêm, dù an tòan hay hiểm nguy! Cho linh hồn còn sống của con ta yêu cầu con không được chết. Không, không được nghĩ đến cái chết, cho đến khi tên quái vật ghê gớm kia chỉ còn là quá khứ."


Cô gái tội nghiệp thân yêu trở nên trắng bệch như xác chết, run rẩy và rùng mình, như tôi thấy vũng cát lún run rẩy và trăn trở trong những đợt sóng thủy triều. Tất cả chúng tôi đều im lặng. Chúng tôi không thể làm được gì. Cuối cùng nàng trở nên bình tĩnh, và quay về phía ông ấy, nàng nói dịu dàng, nhưng thật đau khổ, khi nàng nắm lấy tay mình, "Tôi hứa với ông. người bạn thân của tôi, rằng nếu Chúa để tôi sống, tôi sẽ phấn đấu để làm điều đó. Cho đến khi, đến khi thời điểm của Hắn đến, những điều khủng khiếp này sẽ rời khỏi tôi."



Nàng thật là tốt đẹp và can đảm đến nỗi tất cả chúng tôi đều cảm thấy con tim mình được tiếp thêm sức mạnh để làm việc và chịu đựng với nàng, và chúng tôi bắt đầu thảo luận xem mình sẽ làm gì tiếp. Tôi nói với nàng rằng tất cả những giấy tờ của nàng đều được an toàn, và tất cả các giấy tờ hay nhật ký và các cuộn băng thu có thể chúng tôi sẽ phải dùng đến sau này, và vẩn tiếp tục ghi lại các tài liệu như nàng đã làm trước đây. Nàng có vẻ hài lòng với những chuyện này, nếu như "hài lòng" có thể dùng để nối kết một sự buồn bã đến thế với một niềm vui.



Như thường lệ Van Helsing lại nghĩ đến mọi chuyện trước những người khác, và đã chuẩn bị với thứ tự chính xác các công việc của chúng tôi.



"Nó có thể tốt đấy," ông ta nói "với cuộc gặp gỡ của chúng ta sau khi viếng thăm Canfax chúng ta quyết định không làm gì với những chiếc hộp đất nằm ở đấy. Chúng ta đã làm như vậy, và bác tước hẳn phải đoán được mục đích của chúng ta, và không nghi ngờ gì nữa, đã lo liệu sớm để làm thất bại một cố gắng tương tự về những chuyện như vậy. Nhưng bây giờ hắn không biết mục đích của chúng ta. Không những thế, hoàn toàn rất có thể là hắn không biết là chúng ta đã có những năng lực để làm triệt tiêu hoàn toàn những nòi giống của hắn, và hắn không thể dùng đến chúng như trước đây.



"Chúng ta bây giờ phải làm việc nhiều hơn nữa để sắp xếp các kiến thức của chúng ta. Khi chúng ta kiểm tra ngôi nhà ở Piccadilly, chúng ta có thể dõi theo các dấu vết của chúng. Hôm nay là của chúng ta, và là những hy vọng cuối cùng của chúng ta.Mặt trời đang mọc trên những nỗi đau buồn của chúng ta và sẽ bảo vệ chúng ta khi nó còn chiếu sáng. Đến khi mặt trời lặn vào tối nay, con quái vật sẽ có thể phục hồi những gì mà nó có thể làm lúc này. Hắn đang bị giam hãm trong lốt vỏ trần tục. Hắn không thể hòa tan và trong không khí hay không thể biến mất qua các vết nứt, khe hở hay các vết nẻ. Nếu hắn muốn đi qua cửa, hắn vẩn phải mở cửa như một người thường. Vậy tất cả những gì chúng ta phải làm là săn đuổi tất cả các hang ổ của hắn và làm tiệt nọc chúng. Vì vậy chúng ta sẽ làm, nếu như chúng ta chưa kịp bắt và tiêu diệt hắn, thì chúng ta sẽ đẩy hắn vào một cái vịnh nơi mà việc mà chúng ta bắt và tiêu diệt hắn chỉ còn là vấn đề thời gian."



Đến đây thì tôi đứng dậy bởi vì tôi không thể chịu đựng được ý nghĩ rằng những giây phút đang trôi vùn vụt qua là vô cùng quý giá cho cuộc sống của Mina, trong khi đó chúng tôi chỉ toàn nói những chuyện không làm được. Nhưng Van Helsing đã giơ tay ông lên cảnh cáo,



"Không, bạn Jonathan," ông ta nói, "trong lúc này, con đường nhanh nhất đến dích là con đường xa nhất, như cách ngôn của các anh đã nói. Chúng ta sẽ làm và làm mọi việc với một tốc độ kinh khiếp, khi mà thời điểm đến. Nhưng hãy nghĩ đi, tất cả những gì có thể là chìa khóa cho chuyện này chính là ngôi nhà ở Piccadilly. Bá tước có thể đã mua thêm nhiều ngôi nhà khác. Hắn ta có thể có các văn bản mua bán, chìa khóa và những thứ khác của chúng. Hắn ta sẽ có nhiều giấy tờ mà hắn đã viết lên. Hắn ta sẽ có nhiều cuốn séc. Phải có nhiều thứ thuộc về hắn đang tồn tại đâu đó. Vì sao không tập trung vào điểm này thật tập trung, thật lặng lẽ, vào nơi mà hắn đến và đi, vào mọi lúc mọi thời điểm, khi mà cả một vùng giao thông rộng lớn sẽ không thể có một sự chú ý nào. Chúng ta sẽ đến và kiểm tra ngôi nhà. Và khi chúng ta biết được rằng nó chứa gì, thì chúng ta sẽ làm điều mà bạn Arthur đã nói, săn đuổi ‘đến tận cùng trái đất’ như cách nói của anh ta và chúng ta sẽ hạ con cáo già này, phải không? Điều đó không đúng sao?"



"Vậy thì chúng ta đi ngay," tôi kêu lên, "chúng ta đang lãng phí những thời gian rất rất quý giá!"



Giáo sư vẩn bất động, mà chỉ đơn giản nói, "Và làm thế nào chúng ta có thể đi vào trong căn nhà ở Piccadilly?"



"Bằng mọi cách!" tôi kêu lên. "Chúng ta sẽ bẻ khóa nếu cần."



"Thế còn cảnh sát nước anh? Họ sẽ làm gì và họ sẽ nói gì?"



Tôi khựng lại, nhưng tôi biết rằng nếu ông ta muốn chậm lại thì hẳn ông ta có lý do chính đáng. Vì vậy tôi nói, với tất cả sự bình thản mà tôi có thể có được. "Đừng chờ đợi nhiều hơn cần thiết. Tôi chắc rằng ông biết sự hành hạ mà tôi đang phải chịu đựng."



Múi giờ GMT. Hiện tại là 08:12 PM.

Powered by: vBulletin Version 3.6.1 Copyright © 2000 - 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.