Vina Forums

Vina Forums (http://forums.vinagames.org/index.php)
-   Truyện Ma (http://forums.vinagames.org/forumdisplay.php?f=38)
-   -   TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG - tác giả:Người Khăn Trắng - trọn bộ 47 quyển (http://forums.vinagames.org/showthread.php?t=26104)

Helen 11-07-2012 06:13 AM

TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 35
 
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG


Quyển XXXV: NÀNG HAI BÁO OÁN Phần I

Cô gái chăn vịt


Chờ hoài mà cơn mưa từ chiều vẫn chưa dứt, bà Tư Bường quá sốt ruột nên lấy cái thúng xúc lúa đội lên đầu và bước nhanh ra ngoài. Chú Tư bệnh đang nằm từ trong nhìn thấy, chú kêu lên:
- Bà đi đâu giữa trời mưa lớn như thế này?
Bà Tư nói với lại:
- Tôi đi kiếm con Hai!
Bà vừa nói vừa cố chạy nhanh, bởi bà biết, nếu chậm chân thì thế nào cũng bị ông ngăn cản. Ông Tư ngồi dậy không nổi, nhưng vẫn cố gượng dậy và bị ngã mấy lượt, trước khi gào được mấy tiếng đứt đoạn:
- Bà... đừng... đi...
Hình như ông muốn nói thêm điều gì đó, nhưng sức cạn, nên đành lịm đi...
Trong khi ấy, bà Tư cố chịu từng cơn gió thổi đưa những hạt mưa như roi quật vào người, trân mình chịu trận và đi nhanh hơn. Bởi bà biết, chậm giây phút nào thì tính mạng con gái bà sẽ nguy thêm.
Con đường làng thường ngày rất dễ đi, nhưng sao hôm nay bà đi cứ ngã lên ngã xuống và đi mãi mà chưa thấy tới đích đến của bà là cái chòi chăn vịt nằm sâu trong ruộng lúa cách mặt đường hơn năm trăm thước. Con Xinh, con gái bà ở đó chăn vịt mướn từ sáng sớm, đáng lẽ đã về nhà từ trước khi mặt trời lặn, vậy mà bây giờ đã quá nửa đêm rồi...
Thường khi việc Xinh về nhà trễ cũng vẫn có xảy ra, nhưng trễ một vài tiếng thôi, chứ không cả buổi như thế này. Vả lại lúc chiều tối, trong cơn mưa lớn bà đã nghe như có tiếng khóc thét của ai đó giống như giọng của con gái mình, khiến bà sợ điếng hồn!
Linh tính như báo cho bà Tư biết con gái mình đang gặp chuyện gì đó bất an. Bà khá hồi hộp khi bước tới gần chòi vịt. Bà hy vọng Xinh đang mắc mưa lạnh cóng trong đó...
Tuy nhiên, khi bà đưa hẳn đầu vào trong chòi nhìn và lên tiếng gọi:
- Xinh ơi, má đây con!
Trong căn chòi vắng tanh, chẳng có tiếng con gái trả lời. Nghĩ là Xinh có thể ngủ quên, bà bước hẳn vào chòi. Căn chòi chỉ có mấy thước vuông, nên chỉ cần quơ tay là có thể đụng vào bất cứ ai trong đó. Trên chiếc sạp tre ọp ẹp trống không!
- Hai ơi!
Bà Tư thảng thốt gọi to, rồi lẩm bẩm trong sợ hãi:
- Con đâu rồi, Xinh ơi!
Trong cơn hoảng loạn, một tay của bà Tư chạm phải một bộ quần áo vương vãi trên sạp tre, bà hốt hoảng cầm lên, mặc dù không nhìn thấy, nhưng linh tính của người mẹ cho bà biết đó là quần áo của Xinh.
- Xinh ơi!
Bà Tư tiếc là mình không mang theo đuốc để soi cho rõ, nhưng quýnh quá bà quơ tay khắp căn chòi, mò luôn dưới cái sạp và sau đó chạy ra ngoài, cứ thế vừa chạy vừa gào hầu như khắp chung quanh căn chòi. Bà lội, lặn xuống mấy cái ao bên cạnh, rồi càng lúc càng mở rộng phạm vi tìm kiếm ra khá xa căn chòi. Vẫn chẳng có tăm hơi gì của Xinh!
Cho mãi tới rạng sáng...
Khi mấy người đi bắt cá sớm phát hiện ra bà Tư nằm ngất trên bờ ruộng thì họ giật mình bảo nhau:
- Vợ của Tư Bường đây mà!
Họ giúp đưa bà về nhà trong tình trạng lạnh cóng và mê man. Tám Đối, một trong hai người cứu được bà Tư, nói với Tư Bường lúc ấy đang nằm sốt cao trên giường:
- Chẳng biết bà ấy đi đâu mà nằm dài trên bờ ruộng gần trại vịt của cai tổng Tài, tôi mà không cứu kịp lát nữa nhập thổ thì toi mạng đó!
Thấy Tư Bường không dậy nổi, họ đành phải gọi thêm vài chị nữa ở gần qua giúp. Lát sau bà Tư tỉnh lại, đầu tiên bà gào lên:
- Xinh ơi, con ở đâu?
Khi thấy có đông người chung quanh, bà lại gào to hơn nữa:
- Làm ơn kiếm giùm con Xinh, nó mất rồi. Nó bị nguy rồi mà quần áo còn đây...
Bà gần như kiệt sức, mọi người phải xúm lại cấp cứu lần nữa. Lúc này ông Tư Bường mới gắng gượng nói:
- Đừng tìm... con Xinh ở nhà ông...
Ông ta chỉ nói được bấy nhiêu đó rồi cổ bị nghẹn lại, không thốt thành lời nữa...
Bà Ba Trầu, người làm lâu năm trong nhà cai tổng Tài, đã nhạy cảm, buột miệng nói:
- Hay là bị thằng Paul, con lão cai tổng?
Tám Đối cũng ồ lên:
- Đúng rồi! Có thể lắm...
Bà Tư hồi tỉnh, nghe vậy bà lại càng sợ hơn:
- Phải rồi, vậy mà tôi nghĩ không ra. Hồi sáng này trước khi đi làm, con Xinh còn nói là nó muốn xin nghỉ việc mà ông cai không cho, nhất là thằng Paul hăm dọa nếu con Xinh nghỉ thì nó sẽ tới tận nhà cho người khiêng đi!
Tám Đối là người thẳng tính, nghe vậy nổi nóng liền:
- Nó là con chủ chứ phải ông trời đâu mà muốn làm gì thì làm! Mà con Xinh làm ăn công, chứ đâu phải ở đợ có mượn nợ nhà nó đâu!
Chỉ thấy Tư Bường quay mặt đi chỗ khác, nhẹ thở dài...
- Chị Tư ráng khỏe lại đi, rồi còn tới nhà cai tổng Tài kiếm con Xinh. Vụ này xem ra lành ít dữ nhiều rồi!
Tất cả đều lo lắng cho số phận Xinh, cô gái mười bảy, tuy làm công ở đợ nhưng nhan sắc hơn người. Tuy vậy họ cũng chẳng làm gì hơn ngoài than vắn thở dài... bởi nhà cai tổng Tài có thế lực nhất ở vùng này, lại ở ác không ai bằng, mà xưa nay làng này chưa ai dám tố cáo hay ra mặt phản đối. Chỉ vì lão ta có được thằng con rể làm mật thám cho Tây, có súng, có quyền bắt người thủ tiêu mà không ai dám chống đối!
Bà Tư nghĩ quẫn trí, chỉ biết kêu trời:
- Trời ơi, làm sao cứu con tôi đây!
Bà gượng đứng dậy, tiện tay chụp cây mác vót ở vách nhà đưa lên cổ, khiến cho mọi người đều hốt hoảng:
- Đừng, chị Tư!
Tư Bường cũng tỉnh người, ông ta chồm tới giật cây mác trong tay vợ:
- Bà có chết thì hãy cho tôi một dao trước đi! Trời ơi...
Ông ảo não gục xuống. Lát sau, ông thều thào nói chỉ cho vợ nghe thôi:
- Tội là ở tôi... hôm qua tôi bảo con Xinh tới nhà cai tổng mượn tiền...
Bà Tư la lên:
- Sao ông làm chuyện đó! Vậy là ông đem con làm mồi cho sói lang ăn rồi, ông ơi là ông!
Tư Bường gục mặt trong lòng bàn tay:
- Chỉ bởi... tiền nợ bên Hai Tửng quá hạn quá lâu rồi, mình không trả thì tới mùa này người ta đâu có cho lấy lúa. Rồi có đâu tiền mua thuốc trị bệnh cho bà...
Bà Tư gào lên:
- Ông cứ để cho tôi chết, chứ đâu đem con mình dâng cho hùm beo như vậy! Trời ơi, con gái tôi...
Bà như điên lên, chụp vội cây mác lần nữa rồi chạy bay ra ngoài. Tám Đối lao theo ngăn lại:
- Không được đâu chị Tư. Chuyện gì cũng phải từ từ rồi tính. Chị mà tới đó sinh sự thì chưa làm gì được ai đã bị đám đầu trâu mặt ngựa ở đó sát hại chị rồi!
- Tôi chết cũng được, miễn là cứu được con tôi thôi!
Tám Đối phải giải thích thêm:
- Cứu con Xinh thì tôi và bà con đây đều muốn làm như chị vậy, nhưng mình thế cô sức yếu, lại không có bằng chứng gì cả thì làm sao xông vào nhà đó được. Chi bằng nhờ chị Ba Trầu đây...
Bà Ba Trầu sốt sắng:
- Để tôi lo cho. Tôi trước đây ở hầu hạ mụ cai tổng, nay tuy nghỉ rồi, nhưng lâu lâu tôi cũng có ghé thăm, đem tặng mụ ta trầu cau, là món mụ ta rất mê. Sẵn tôi vừa hái trầu tươi, cau ngon, lát nữa tôi sẽ giả vờ đem tới và ở chơi lâu lâu... tiện thể tôi dò la coi thằng Paul có ở nhà không. Nó mà có nhà tức là nó đang làm chuyện mờ ám gì đó...
Ba Tư nghe lời, nhưng vẫn nói thêm:
- Nếu con Xinh mà có chuyện gì thì tôi thề là sẽ ăn thua đủ với chúng nó!
Bà Ba Trầu về nhà lấy theo giỏ trầu cau tươi và ngay trưa hôm đó, bà qua nhà cai tổng Tài. Mụ cai chữ nghĩa không đầy lá mít, nhưng rất khoái nghe chuyện Tàu như Thuyết Đường, Tây Du Ký... do người khác đọc. Khi bà Ba Trầu bước vào thì mụ không ngẩng lên, đã hỏi:
- Đứa nào tới giờ này vậy bay?
Ba Trầu vốn đã quen tính mụ ta, nên lên tiếng liền:
- Dạ, biết giờ ghiền trầu của bà nên kịp thời Ba Trầu này có mặt!
Con Tám Nỉ đang đọc đến hồi gay cấn, phải ngừng lại để cho bà chủ nói chuyện. Nếu gặp ai khác mà cắt ngang như vậy ắt sẽ bị la cho một trận, nhưng Ba Trầu thì khác. Hôm nay mụ cai có ý đợi không riêng gì trầu, cau tươi, mà còn một chuyện khác nữa, nên bà bật ngồi dậy ngay, xua tay đuổi con Nỉ ra ngoài. Mụ ta kêu Ba Trầu lại gần:
- Mày lại đây tao hỏi cái này.
Mụ ta ghé sát tai đứa đầy tớ cũ của mình, hỏi rất khẽ:
- Mày biết gì về vợ chồng thằng Tư Bường không?
Được gãi đúng chỗ ngứa, nên Ba Trầu quên giữ ý, la lên suýt nữa đã lộ chuyện:
- Ồ may quá, đúng rồi!
Mụ cai ngạc nhiên:
- Mày nói đúng cái gì? Mày chưa nghe tao hỏi hết mà?
Ba Trầu kịp sửa lại:
- Dạ con muốn nói là con có quen với vợ chồng đó. Bà hỏi con mừng quá, vì con có thể...
- Tao muốn qua nhà gặp tụi đó, mày dẫn tao đi.
Ba Trầu ngạc nhiên:
- Để làm gì bà? Nhà họ nghèo rớt mồng tơi, làm sao đủ sức tiếp bà!
- Thì cứ dẫn tao đi, tao muốn nói chuyện với họ. Mà theo mày thì tụi nó có xứng làm sui gia nhà tao không?
Câu hỏi làm cho Ba Trầu ngơ ngác:
- Bà nói...
Mụ cai nói rõ hơn:
- Tao muốn làm sui với nhà đó!
- Thưa bà... chắc con nhỏ Xinh làm bà hài lòng?
Mụ cai trố mắt nhìn Ba Trầu:
- Mày nói con Xinh nào?
- Dạ, con nhỏ con gái của vợ chồng Tư Bường, tức con nhỏ ở chăn vịt cho bà đó!
Mụ cai như bị phỏng lửa:
- Mày có điên không Ba Trầu? Tao thế này mà đi cưới con nhỏ chăn vịt hả?
- Thì... thì con gái của Tư Bường chính là con nhỏ đó! Vợ chồng họ chỉ có một đứa con gái duy nhất đó thôi!
- Không phải! Thằng Paul đưa về một đứa con gái đẹp như tiên, nói là con gái của Tư Bường nào đó. Con nhỏ đó đâu phải là đứa chăn vịt!
- Vậy con đó ở đâu?
Mụ cai có vẻ không hài lòng:
- Nó là con dâu tương lai của tao, sao mày kêu con này con nọ?
Rồi mụ ngoe nguẩy bỏ đi vào trong ngay. Ba Trầu quay sang mấy đứa giúp việc hỏi khéo:
- Mấy bữa nay mấy đứa có thấy ai về nhà này không? Con nhỏ đó đó...
Sáu Mi là đứa lanh lợi, lắm mồm nhất trong nhà, đã như được khai thông mạch chảy:
- Chỉ mới sáng nay thôi, chứ đâu phải mấy ngày. Cậu Paul dẫn về một cô gái đẹp mê hồn, lúc đầu bà cai tưởng là gái Sài Gòn, nhưng khi hỏi ra thì cậu Paul nói cô ta là người ở xứ này, con của Tư Bường!
- Bộ mấy người không biết con Xinh con gái Tư Bường, đứa chăn vịt cho nhà bà cai lâu nay hay sao?
Sáu Mi lắc đầu:
- Mấy năm rồi không gặp mặt nó, nhưng không phải là không nhớ. Đằng này con nhỏ đi với cậu Paul không phải là con Xinh, bởi nó đẹp và sang trọng như một tiểu thư, tôi cứ tưởng Tư Bường còn có đứa con gái khác!
Ba Trầu lẩm bẩm:
- Kỳ vậy? Không lẽ...
Vừa khi ấy bà nghe có tiếng oang oang của Hai Paul:
- Đứa nào ở đó, lấy cho cô Xinh đôi dép coi!
Ba Trầu nhìn ra ngoài sân thì thấy một cô gái mặc nguyên bộ đồ màu vàng rực rỡ đang đi cạnh Paul. Bà thốt lên:
- Con Xinh thật mà!
Bà là chỗ thân tình với nhà Tư Bường, hầu như gặp mặt Xinh hằng ngày, nên bà đâu có lạ gì con nhỏ... Nhưng sao bữa nay nó lại ăn mặc diêm dúa, lại có cử chỉ thái độ không giống với đứa con chân chất thật thà của Tư Bường chút nào?
Thấy chưa có ai nghe lời mình, Paul lại hét to:
- Đứa nào đó, bảo lấy đôi dép cho cô Xinh mang sao còn ở đó!
Sáu Mi nhanh nhảu lên tiếng:
- Dạ, cậu Hai để con lấy.
Lúc này Paul đã ẵm Xinh trên tay bước vào phòng, nơi Ba Trầu và mấy người đang nói chuyện.
- Xinh! Dì Ba nè...
Thấy Xinh giương mắt nhìn mình mà không chào hỏi, Ba Trầu lên tiếng, nhưng cô gái vẫn tỉnh như không, trái lại còn hỏi Paul:
- Ai mà ăn nói trịch thượng vậy?
Paul có nhớ Ba Trầu, nhưng anh ta muốn lấy oai với người đẹp, nên quát lớn:
- Bà nhà quê này là ai vậy?
Ba Trầu đáp ngay:
- Tôi là Ba Trầu đây cậu Hai, lúc trước nhiều năm tôi ở đây hầu hạ bà...
- Ai cho bà vào đây ăn nói linh tinh vậy, đi ra.
Cô gái còn bồi thêm:
- Nhà anh sang trọng vậy mà cho mấy bà già trầu quê mùa vào chi cho mất giá trị! Nếu bà ấy là người làm thì đuổi cổ đi!
Bất ngờ quá đỗi, bà Ba Trầu tức nghẹn lên tới cổ, bà run run:
- Xinh, mày... mày...
Paul quát một tiếng nữa:
- Đuổi cổ bà này ra mau, tụi bay đâu!
Mấy tay vốn bám theo Paul để được cà phê thuốc lá, lúc nào cũng có mặt gần đó, hai tên bước tới hất hàm bảo:
- Bà già kia, ra chưa!
Tên đó là Sáu Thẹo, vốn ở sát nhà bà, nên Ba Trần quắc mắt nhìn hắn:
- Mày hỗn với tao hả Thẹo!
Nhưng Sáu Thẹo không màng tới bà, hắn bước xốc ngang người bà cùng với tên kia kéo lê bà ra ngoài. Bà Trầu la ầm lên:
- Mày ăn cơm thừa cá cặn của hắn phải không Thẹo! Đồ côn đồ, đồ...
Trước sự việc đó, Xinh vẫn bình thản. Ba Trầu tức lắm, nhưng đã bị Sáu Thẹo bụm miệng, nên không còn la lối nữa. Mãi khi ra tới ngoài, bất ngờ bà nghe Thẹo nói khẽ:
- Dì Ba về đi, chọc giận thằng điên đó nó bắn dì chết mà không ai dám can đâu!
- Thẹo, mày...
Thẹo lại nói nhanh:
- Cả nhà nó đang điên, dì về đi!
Ba Trầu vẫn cố nhìn Xinh và nói:
- Còn con Xinh...
- Con đó cũng điên, dì mặc nó!
Ba Trầu chẳng còn cách nào hơn, nên tần ngần một lúc rồi mới chịu đi...
Bà đi thẳng về nhà vợ chồng Tư Bường, vừa tức vừa kể lại mọi việc.
Tư Bường đang mệt mà nghe bà Ba Trầu kể chuyện ông cũng phải bật dậy:
- Cô nói sao, con Xinh tôi...
Chú bị mệt nên ho một tràng dài, rồi thều thào:
- Nó... nó làm sao?
- Không phải là nó nữa! Nó nhìn tôi như người lạ...
Bà Tư tỉnh nãy giờ, nhưng do không còn sức nên bà chỉ im lặng lắng nghe, tới đây bà cũng như ông, không còn chịu đựng nổi, đã lên tiếng:
- Con gái tôi chưa bao giờ như vậy cả. Chắc nó bị...
Ba Trầu phải nói rõ hơn:
- Chính thằng Sáu Thẹo nó nói cả nhà bên đó đều điên hết rồi! Cả con Xinh nữa...
- Nhưng có đúng là họ bắt cóc con Xinh của tôi không?
- Thì tôi chạm mặt nó, đúng là nó, nhưng chẳng hiểu sao nó ăn mặc như gái thành thị và thái độ xấc xược chẳng khác đám con nhà giàu hay bọn gái làng chơi.
Bà Tư la lên:
- Chị không được nói về con tôi như vậy!
Nhưng bà Ba Trầu vẫn nói:
- Tôi nhìn ánh mắt của nó thấy khác thường lắm. Có thể là bị ép buộc hoặc bị... quỷ ám hay ma hớp hồn sao đó!
Bà Tư hốt hoảng:
- Còn gì con tôi, trời ơi!
Ba Trầu hỏi:
- Nếu bây giờ bên đó qua tính hỏi cưới con Xinh cho thằng Hai Paul, chị chịu không?
- Không! Không đời nào!
Nhưng chú Tư thì lại nói:
- Người ta có lòng thì cũng tốt. Nhất là bây giờ mình biết được nó đang an toàn và còn thay đổi đời nữa...
Bà Tư vẫn la lên:
- Tôi biết tính con gái tôi, nó không bao giờ chịu sống trong cái nhà đó!
Ba Trầu bàn thêm:
- Theo tôi thì trong vụ này không chỉ bên nhà cai tổng Tài muốn, mà hình như con Xinh cũng thuận nữa. Biết đâu chuyện nó biến mất khỏi trại chăn vịt là do chính nó...
Một lần nữa, bà Tư gào lên:
- Không phải! Con gái tôi nó bị hại, có thể là...
Bà định nói nữa, nhưng bất chợt hai mắt trợn trừng, người run lên vì cơn lạnh phát ra đột ngột!
Bà quá uất ức, nên bất kể tình trạng sức khỏe của mình đã lao ra cửa, miệng thì cứ gào tên con.
Bà cũng không ngờ người nhà của cai tổng lại hết sức dễ dãi, không hạch hỏi lôi thôi gì khi bà xưng tên mình ra. Họ còn mở cửa cho vào trong một cách nhanh chóng.
Chỉ có khi bà lên tiếng hỏi Xinh ở đâu thì mọi người chỉ nhìn nhau mà không đáp. Bà phải hỏi lớn tiếng mấy lượt nữa thì mới có tiếng ai đó nói từ trong vọng ra:
- Cứ cho bà ta vào gặp đi!
Và bà gặp được con trong căn phòng kín, chẳng một ai chứng kiến. Họ gặp nhau khoảng hơn nửa giờ. Chẳng hiểu đã nói với nhau những gì, chỉ thấy khi trở ra thì bà Tư như người mất hồn...
Bà chết lên chết xuống bởi thái độ của con. Khi gặp bà, Xinh đã chẳng những không nhìn mà còn lớn tiếng xua đuổi. Mà không phải xua đuổi suông, cô còn tỏ ra sợ hãi khi nhìn thấy mẹ mình!
Bà Tư đau khổ tột cùng, bà bước ra khỏi nhà cai tổng Tài mà bước đi không muốn nổi. Bà không tin sự thể lại như thế. Bởi vậy gần một giờ sau đó, bà đi mà chẳng biết là mình đi đâu.
- Nè cô...
Có ai đó gọi, bà Tư cũng chẳng buồn ngoái lại nhìn, đến khi có bàn tay người chạm vào vai mình lúc ấy bà mới dừng bước. Giọng một ông cụ hiền từ:
- Sắc mặt xanh, bước đi loạng choạng thế này, chẳng phải là người sắp chết ư?
Bà Tư chợt phá lên cười:
- Chết? Thì chết chứ còn sống làm gì nữa! Làm cách nào cho tôi chết đi!
Ông lão rõ ràng không phải người làng này, bằng chứng là ông ta nhìn bà Tư hoàn toàn xa lạ, và ngược lại bà Tư Bường cũng dửng dưng trước ông ta.
- Bà nói muốn tìm cái chết?
- Ông có không, cho tôi với!
Bà Tư vừa dứt lời thì đột nhiên bước nhanh tới như có ai đẩy đi, giọng ông lão vẫn bám theo phía sau:
- Bà sẽ được toại nguyện ngay thôi!
Một lát sau, bỗng trước mắt hiện ra căn chòi chăn vịt, khiến bà Tư hoàn hồn, bà ngơ ngác:
- Sao lại ở đây?
Ông lão vẫn giọng trầm tĩnh:
- Có phải bà muốn chết không?
Lúc này bà Tư đã tỉnh táo hẳn, bà nhớ ra mọi chuyện:
- Con gái tôi, Xinh ơi!
Ông lão đứng ngoài cửa bảo bà:
- Bà bước vào mà gặp con gái!
Bà Tư reo lên:
- Con tôi đâu?
- Bà biết mình mất con là ở chỗ nào?
Chỉ tay vào chòi, bà đáp ngay:
- Ở trong này!
- Vậy sao không vào đó mà tìm nó!
Lời ông vừa dứt thì bà Tư đã như bị ai xô, ngã nhào vào trong. Người bà đè lên một vật mà vừa chạm phải, bà đã kêu lên:
- Bộ đồ của con tôi!
Ông lão lại lên tiếng:
- Đâu chỉ là bộ quần áo!
Khi ấy, bỗng bà Tư la lớn:
- Con... con Xinh!
Lúc đầu chỉ là bộ quần áo, nhưng sau lời của ông lão, bà Tư cảm giác là mình đang ôm cả thân thể của ai đó!
Người mẹ đã nuôi con mình từ lúc lọt lòng đến nay nó đã hơn mười bảy tuổi thì làm sao bà lầm thân thể nó với ai khác được, mặc dù lúc ấy trong chòi vịt không có chút ánh sáng nào.
- Xinh!
Ông lão vẫn chậm rãi nói:
- Nó chết rồi, bà có muốn đi theo nó thì cứ nằm xuống đó, lát nữa ắt sẽ toại nguyện.
Ông dứt lời thì im bặt. Tưởng ông chờ mình trả lời, nên bà Tư vội lên tiếng:
- Tôi sẽ chết theo con tôi!
Bà nói xong nằm xuống ngay bên cạnh con. Tay bà sờ sang chỗ lỗ mũi và một lần nữa, bà hét lên:
- Trời ơi!
Không còn hơi thở nơi Xinh, có nghĩa là...
- Ông ơi, cứu con tôi!
Bà gào lên rát cổ họng mà chẳng nghe ông lão trả lời. Bởi khi ấy ông ta đã đi mất rồi...
- Ông ơi! Con ơi...
Bà lịm đi...
Lúc tỉnh lại thì mặt trời bên ngoài đã lên khá cao. Chợt nghe có người nói chuyện gần đó, bà Tư kêu lớn:
- Ai ngoài đó, làm ơn giúp con tôi với!
Mấy người đi cấy lúa nghe kêu thì bâu lại chòi vịt nhìn vào. Họ ngạc nhiên khi thấy bà Tư nằm trong đó, hai tay đang ôm cứng một bộ quần áo. Một người hỏi:
- Ủa, bà Tư sao lại ngủ trong đó? Bộ được cai tổng mướn làm thay con Xinh hả?
Nghe hỏi bà Tư mới hoàn hồn, nhìn lại vật mình ôm trong tay. Bà kinh hãi kêu lên:
- Con tôi đâu?
Bảy Lý là người ở gần nhà cai tổng Tài, có nghe thoáng qua chuyện của Xinh nên lên tiếng:
- Nó đang ở nhà bà cai tổng, sao dì ra đây tìm?
Bà Tư xua tay lia lịa:
- Không phải! Đừng nói bậy!
Bỗng người thứ hai cùng đi với Bảy Lý vội lên tiếng:
- Bộ mấy bà không hay chuyện gì sao? Sáng nay người ta phát hiện ông cai tổng bị giết chết, có lính đang làm ồn ào ngoài đó!
Bảy Lý kinh ngạc:
- Sáng nay tôi đi sớm nên đâu có để ý. Mà ai giết ông ta?
- Con Hai Xinh con Tư Bường!
Bà Tư đang nằm, vội bật dậy:
- Lại nói bậy nữa rồi! Con gái tôi nó đang nằm ngủ với tôi ở đây mà.
Bà vừa nói vừa đưa tay sờ soạng, khi cầm bộ quần áo lên thì lại la lớn:
- Ai bắt con tôi đi đâu rồi?
Lúc này trời sáng nên có thể nhìn khắp chòi không sót chỗ nào. Chẳng hề có dấu vết gì của Xinh, Bà Tư lại càng hốt hoảng:
- Nó đâu rồi?
Người kia đáp:
- Nghe nói giết chết ông cai tổng là nó bỏ trốn biệt rồi. Chắc là giờ này làng lính đang tới nhà bà để lục soát, sao bà còn ở đây? Bộ tính trốn hả?
Bà Tư phớt lờ lời nói của họ, bà cứ tìm kiếm hoài tung tích con mình.
Đến khi chợt nghe ra chuyện người nọ nói, bà thảng thốt kêu lên:
- Con Xinh giết ai?
Khi nghe rõ lại, bà vùng chạy ra ngoài. Bảy Lý nói với theo:
- Dì chạy về nhà đi, người ta đang đi tìm bắt con Xinh đó!
Như người bị mộng du, bà Tư nhắm hướng nhà mình, nhưng khi chạy tới nơi mà cũng không nhớ quẹo vào, phải có người kêu lớn:
- Dì Tư, nhà đây mà!
Khi bà vào nhà thì quả là có hương quản Lân và cả chục người lính làng đang vây quanh ngôi nhà. Họ vừa thấy bà đã la lên:
- Bà giấu con Xinh ở đâu?
Bất ngờ, bà hỏi ngược lại:
- Mấy người bắt con tôi đem đi đâu?
Hương quản Lân quát lớn:
- Con mẹ già mồm! Tôi hỏi bà giấu con nhỏ giết người ở đâu? Không khai báo thì khi về nhà làng, bị kẹp hai bàn tay nát nhừ thì cũng phải khai thôi!
Ông Tư nãy bị hạch hỏi nãy giờ, bị luôn mấy thoi của Hương quản Lân rồi, nên sợ sệt nói vọng ra:
- Bà biết nó ở đâu thì chỉ đi, kẻo họ đánh chết bây giờ!
Làm sao bà biết? Bởi vậy sau đó bọn lính lệ đã trói gô cả hai ông bà già bệnh tật lại, khiêng như khiêng heo về nhà làng. Ở đó chẳng cần hỏi han gì thêm, hương quản Lân đã cho nhốt hai người vào cái nhà kho bít bùng, nóng như lò nung!
Suốt ngày hôm đó, chỉ một lần vào buổi chiều, họ đưa vào hai tô cơm với hai miếng khô cá nguội ngắt. Quá đói nên ông Tư còn ráng gặm vài miếng, còn bà thì tuyệt nhiên không. Bà đã không ăn mà còn gào khóc, chửi bới om sòm.
Mà thật ra cũng vô ích thôi, bởi nhà làng giờ đó không còn ai làm việc.
Chỉ có một anh hương tuần lo việc trật tự, nhưng biết được hai tội phạm là người già, chẳng sợ họ bỏ trốn, nên anh ta cũng bỏ về ngủ với vợ luôn.
Nửa đêm...
Trong lúc chập chờn, bỗng bà Tư nghe có tiếng ai đó nói rất khẽ bên tai:
- Má đưa tay ra đây con đưa cái này!
Rõ ràng là giọng của Hai Xinh! Bà Tư mừng hơn bắt được vàng:
- Con hả Hai? Trời ơi, cứu ba má ra với con!
- Con không thể vào trong đó được, nhưng con sẽ chờ ba má ở khúc sông lớn vào rạng sáng hôm nay. Họ sẽ đưa ba má tới đó...
Bà Tư hốt hoảng:
- Họ đưa đi đâu?
Giọng Xinh nhỏ hơn lúc nãy, chứng tỏ cô đang lùi bước lại:
- Giải lên tỉnh. Má cứ cầm lấy vật con mới đưa và giấu cho kỹ, đừng để họ thấy. Họ sắp tới rồi đó, con chờ ba má!
Quả nhiên, sau đó chừng mười lăm phút thì cả lũ làng lính kéo tới. Có giọng oang oang của Hai Paul, anh ta quát:
- Sao chưa đưa tụi nó ra, còn đợi gì nữa!
Có tiếng dạ của hương quản Lân. Tên này tuổi đáng cha chú của Paul, vậy mà lại răm rắp nghe lời và còn lễ phép nói:
- Cậu Hai cứ về nghỉ, chuyện này để tôi lo...
Paul vẫn lớn lối:
- Tôi phải đích thân tính vụ này mới được. Phải trước tiên thủ tiêu hai con khỉ già này, rồi sau đó truy lùng con quỷ cái kia cho bằng được.
- Dạ, tụi này sẽ làm ngay. Tôi đã cho đón các ngả đường sông, đường bộ, nó chẳng còn chạy đâu được nữa!
- Vậy sao cả ngày rồi vẫn chưa bắt được nó?
Hương quản Lân ấp úng:
- Dạ... việc này...
Paul hét lên:
- Ngày mai lên gặp thằng Ba thì mấy ông liệu mà giữ cái đầu!
Ba Dữ là anh rể của hắn, tay mật thám nổi tiếng là ác nhân, giết người không gớm tay. Chỉ cần dọa tên hắn ra thì cả lũ đều sợ xanh mặt. Hương quản Lân riu ríu:
- Dạ, cậu Hai yên tâm... Cậu Hai cứ về nhà nghỉ, tụi này sẽ hoàn thành nhiệm vụ!
Khi chúng mở cửa nhà kho ra thì đã thấy vợ chồng Tư Bường nằm thẳng cẳng, có lẽ vì kiệt sức, hoặc cũng có thể do quá sợ hãi. Quản Lân hét thuộc hạ:
- Khiêng tụi nó ném xuống xuồng mau lên!
Vợ chồng Tư Bường như hai cái xác chết, nên dẫu bị khiêng cũng chẳng kêu la gì. Tuy vậy Paul căn dặn:
- Tụi bây lấy nùi giẻ nhét thêm vào miệng chúng, phòng khi... hành sự chúng la hét lôi thôi.
Đích thân hương quản Lân lấy hai nùi giẻ dơ nhét vào miệng hai nạn nhân. Chỉ mấy phút sau thì cuộc áp giải bắt đầu. Ban đêm, đường sông vắng vẻ, nên việc chở hai phạm nhân đã bị bịt miệng diễn ra êm xuôi.
Mười phút sau thì ra tới ngã ba sông lớn.
Quản Lân nháy mắt cho hai tên thuộc hạ. Bọn này hiểu ý nên chúng đứa chụp hai tay, đứa nắm hai chân của ông Tư trước rồi nhất loạt ném ông xuống dòng sông đang chảy xiết! Rồi tới phiên bà Tư cũng thế. Chỉ trong vòng chưa đầy một phút, bọn ác nhân đã giải quyết xong hai con người vô tội!
Dòng sông đêm vẫn cuồng nộ chảy xiết, có lẽ đưa hai con người lương thiện kia ra rất xa khi trời sáng...
Nhưng...
Khi cả bọn chưa kịp quay xuồng lại, thì chợt một tên đứng đầu mũi la lên:
- Ai nắm chân tôi vậy? Ai...
Hắn ta chưa dứt lời thì đã nghe ùm một cái, cả thân thể hắn ngã nhào xuống nước. Hương quản Lân hốt hoảng la lớn:
- Đưa dầm cho nó nắm mau lên!
Tên đứng gần vội đưa mái dầm xuống nước, và tới lượt hắn cũng nhào theo luôn! Đoán là có điều chẳng ổn Hương quản Lân vội hò hét mấy tên còn lại:
- Tụi bay mau bơi xuồng vào bờ! Mau lên...
Hắn còn đang la hét thì tới phiên chân trái của hắn bị một bàn tay của ai từ dưới nước thò lên, nắm chặt và kéo mạnh!
Sau hương quản, còn lại hai tên nữa, chúng hốt hoảng bơi xuồng nhanh vào bờ. Nhưng khi xuồng còn cách bờ hơn chục thước thì chiếc xuồng bỗng lật ngang, và chẳng còn thấy tên nào bò lên!
Dòng sông hình như chảy mạnh hơn, cuồng nộ hơn, và trong phút chốc có một cơn gió mạnh thổi lên. Rồi một tràng cười man dại vang lên bay theo gió đi rất xa...


Phần II


Người tỉnh lại đầu tiên là bà Tư Bường. Nhìn sang thấy chồng mình còn nằm đó, bà hốt hoảng kêu lên:
- Chúng tôi chết hay sống?
Một giọng người già cất lên:
- Bà đâu có sợ chết phải không? Vậy thì bà đã toại nguyện...
Nghe giọng nói quen quen, bà Tư nhìn lại và vô cùng ngạc nhiên khi thấy đó là ông lão ở chòi vịt hôm trước.
- Ông... sao lại ở đây? Còn con tôi đâu?
- Bà chỉ nghĩ đến con mà không cần sự sống chết của chồng? Ông ta đã chết, để cho bà sống đó!
Bà Tư gào lên:
- Tôi muốn chết theo con tôi thôi!
Bà đưa tay sờ lên mũi ông chồng và yên tâm khi biết ông còn thở. Nhìn quanh lần nữa, bất chợt bà nhận ra có một đứa con gái đứng quay lưng lại, nó mặc bộ đồ mà vừa nhìn thấy bà đã nhận ra ngay:
- Đứa này... nó là con Hai của tôi!
Cô gái quay lại, và quả nhiên đó là Xinh mà bà Tư đã gặp ở nhà cai tổng Tài. Bà mừng quýnh:
- Nó đây mà, Xinh ơi!
Bà lao tới thì gặp ngay sự ngăn cản của ông lão:
- Bà chạm vào nó là cả bà và nó đều chết hết! Bà nhận ra nó rồi phải không? Nhưng nó không hề là con bà!
Bà Tư không chịu nổi cách nói của ông lão, nên la lớn:
- Hãy để con tôi nó nhìn mẹ. Xinh, con hãy lên tiếng đi!
Nhưng một lần nữa giống như bữa trước, cô gái lắc đầu:
- Bà đâu phải là má tôi!
Rồi cô ta bước thẳng vào nhà trong. Bà Tư gọi với theo:
- Con Hai, má đây mà!
Bà định bước theo, nhưng chân vấp phải vật gì đó ngã chúi tới trước.
Nhìn lại, bà hốt hoảng:
- Ai nằm đây?
Ông lão giờ mới cất giọng nghiêm túc:
- Bà thấy rồi đó, đứa con gái kia không phải là con bà. Nó làm xong việc mà con gái bà muốn nó làm, còn giờ thì nó... chết.
Chưa hiểu sự tình, nên bà Tư kêu lên:
- Không được để con tôi chết!
- Bà nhìn kỹ lại xem, có phải con gái bà đây không?
Lúc này bà Tư mới nhìn xuống xác người nằm dưới chân, rõ ràng đó là Hai Xinh!
- Con ơi!
Ông lão thở dài:
- Nếu vợ chồng bà không nhờ vật trong túi áo kia thì đã chết khi bị chúng nó xô xuống sông rồi. Bà xem nó còn hay không?
Lúc này bà Tư mới chợt nhớ lại, bà chụp tay lên túi áo và reo lên:
- Nó còn đây!
Bà tiện tay móc ra, và sau khi mở lớp vải gói bà không khỏi sững sờ, bởi đó là cái mặt dây chuyền hình Phật làm bằng vỏ gáo dừa mà tự tay bà làm cho con đeo khi nó lên ba tuổi. Nhà người ta giàu có mua cho con dây chuyền vàng bạc, còn bà chỉ có thể cho con đeo thứ như thế này. Nhưng lạ là từ khi đeo vật này, Xinh lại rất thích và không hề rời ra. Và kỳ diệu thay, có lần do lau mình, vướng khăn đứt dây làm tượng Phật rơi ra, thế là Xinh bị bệnh suốt mấy ngày!
Từ đó nó không bao giờ dám để mặt dây chuyền ấy xa mình. Vậy mà...
Giọng ông lão như một lời giải thích:
- Cô ấy buộc phải lột tượng Phật ra, trong khi biết làm như vậy là có thể sẽ không còn giữ được thân xác cho đến khi gặp lại cha mẹ, nhưng vì sự an nguy của ông bà nên cô ấy đã phải mạo hiểm. Cũng may, Phật trời còn thương nên giờ đây...
Ông nói tới đó thì vội đứng lên, dợm bỏ đi thì bà Tư gọi giật lại:
- Tôi phải làm sao với con đây?
Ông lão nhẹ thở dài:
- Tôi cũng chỉ là người làm giúp cháu nó, chuyện duy nhất là báo tin và đưa cô ấy tới bên ông bà. Còn những gì tiếp theo thì tôi không có quyền biết... Cũng như cô gái lúc nãy, cô ấy cũng chỉ giúp cô Xinh làm xong việc, rồi trở lại với kiếp riêng của mình. Chúng tôi hết nhiệm vụ nên xin phép ông bà, tôi phải đi...
Ông nói dứt lời thì như làn khói, biến mất.
Ôm xác con mình, bà Tư gào lên:
- Con ơi, Hai ơi?
Ông Tư cũng đã tỉnh hẳn, ông bật dậy khi nhìn thấy xác con và ông kêu thét lên:
- Ba hại con rồi Hai ơi?
Bà Tư ngạc nhiên:
- Ông nói vậy là sao?
Giọng ông trầm xuống:
- Bà nhớ đứa sinh đôi với con Xinh ngày trước không?
Bà Tư giật mình:
- Nó ra đời chỉ được hơn một tháng thì đã bị người ta ăn cắp mang đi mất, nó là con Đẹp, tên do chính tôi đặt mà!
- Thật ra... nó không bị bắt cóc! Nó đã...
Bà Tư như bị điện giật, bà sửng sốt nhìn ông:
- Chứ nó ở đâu? Mà sao từ nào đến giờ ông không nói cho tôi biết?
Ông gần như suy sụp:
- Chỉ vì tôi... hối hận!
- Ông đã làm gì nó? Bây giờ nó ở đâu?
- Chính tôi đã... bán nó cho người ta!
Trời đánh cũng không làm cho bà Tư choáng váng bằng nghe tin này! Bà run lẩy bẩy:
- Trời ơi... ông ơi là ông! Ông Tư Bường ơi...
Bà lạnh cả người, trong khi chồng vẫn run giọng kể:
- Bà có nhớ ngày đó tôi nợ nần quá nhiều do cờ bạc không? Chính từ đó...
Bà Tư rên rỉ:
- Tôi đã biết mà... thế nào rồi ông cũng làm chuyện bậy bạ! Nhưng đâu có ngờ...
Ông Tư chừng như đã hối hận tột cùng, nên giọng ông đầy nước mắt:
- Tôi bán con cho một người không con, tội thì có tội, nhưng cũng giải quyết được thực tế lúc đó. Bởi bà nghĩ coi, với cái nghèo rớt mồng tơi như vợ chồng mình lúc ấy thì làm sao nuôi nổi một lúc hai đứa con! Chỉ có điều là tội ác của tôi không dừng lại ở đó, đầu năm nay khi nợ lúa của mình với Hai Tửng quá hạn trả đã lâu nếu không trả thì có thể bị người ta thưa ở tù rục xương! Nên tôi đã...
Bà lại run giọng hỏi:
- Ông đã làm gì nữa?
- Thì...
Ông không dám nói thẳng phải ngập ngừng một lúc:
- Ông cai tổng gặp tôi nhân chuyến ông ta đi thăm đồng, và cũng xui cho con Hai...
Chợt hiểu, bà gào lên:
- Ông bán con Xinh luôn cho nhà đó?
Ông Tư ôm mặt khóc nức nở:
- Tôi không bán mà họ ép tôi phải bán!
- Trời ơi!
Giọng ông ta vẫn đều đều:
- Con Xinh ở chăn vịt cho nhà đó từ lâu nhưng cai tổng Tài không hề gặp nó, cho nên bữa đó vừa trông thấy nó, lão ta đã sáng con mắt lên, run giọng hỏi tôi nó là con nhà ai? Sau khi tôi nói nó là con mình thì lão ta vỗ vai tôi bảo: "Nếu mày chịu cho con nhỏ về hầu hạ tao thì tao trả giùm mày món nợ lúa của Hai Tửng!". Lúc đầu tôi không chịu, nhưng sau đó nghĩ con gái mình dẫu sao cũng đã là thân ở đợ rồi thì ở chăn vịt với ở đợ phục vụ trong nhà họ cũng có khác gì đâu! Vậy là tôi chịu. Nhưng dặn con Xinh là không được nói cho bà biết, vẫn cứ ngày ngày ra chòi vịt rồi lén tới nhà cai tổng mà làm việc. Chẳng ngờ cai tổng Tài sinh tâm...
Bà Tư hốt hoảng:
- Ông ta đã làm gì con Xinh?
- Tôi cũng không rõ... nhưng đêm hôm đó tôi đang nằm ngủ thì cái vong của con Xinh hiện về, báo cho biết là nó đã... chết dưới bàn tay thô bạo của cai tổng Tài! Tôi sợ điếng hồn, chạy đi tìm nó thì cai tổng Tài giấu giếm, chối tội. Sợ bà biết chuyện, nên tôi chạy vội qua chỗ mà ngày trước tôi cho con Đẹp, năn nỉ người ta cho tôi mượn con nhỏ mấy bữa. Mục đích của tôi là nhờ con nhỏ đó đóng thế vai con Xinh, vì hai đứa giống nhau như khuôn đúc, để giúp bà yên lòng. Nó sẽ làm được, bởi từ khi lớn lên con đó tâm thần không bình thường lúc tỉnh, lúc điên khùng... Nhưng khi tôi qua tới nơi thì nghe nói con nhỏ đã đi đâu mất. Cho tới khi tôi nghe bà nói nó ở nhà cai tổng Tài. Chẳng hiểu là thế nào?
Bà Tư đay nghiến:
- Ông giết con, hết đứa này tới đứa khác, nay ông sắp giết tới tôi nữa rồi! Tôi sẽ chết để cho ông được sống mà tiếp tục lún sâu vào tội lỗi! Sau này có chết ông cũng không còn mặt mũi nào mà gặp con cái nữa!
Bà nói xong gục xuống ôm xác của Xinh. Bỗng bà bật dậy, kêu lên:
- Nó... còn sống!
Cái xác lúc nãy lạnh ngắt, bây giờ tự dưng có hơi ấm trở lại! Tuy nhiên, nó vẫn bất động. Bà Tư nắm lấy tay con lắc mạnh:
- Tỉnh dậy đi con, Xinh ơi!
Bà gọi lạc cả giọng mà Xinh vẫn trơ trơ. Chợt bà nhìn thấy trong tay con có mảnh giấy nhỏ mà nãy giờ Xinh cầm chặt. Gỡ mảnh giấy ra, trên đó chỉ có bốn chữ mà bà Tư không đọc được, phải đưa qua cho ông:
- Ông coi trong này viết cái gì nè!
Ông Tư Bường đọc nhanh và giật mình:
- Hãy cứu em Đẹp!
Ông Tư buông tờ giấy xuống, thất thần:
- Họ làm gì con nhỏ rồi!
Chẳng cần nghe vợ hỏi, ông phóng nhanh ra cửa, mặc dù hai chân còn yếu vì bệnh tật lâu ngày, nhưng như có một sức mạnh phi thường nào đó trợ giúp, ông đã chạy một mạch mà không thấy mệt! Khi đến nơi thì đúng vào lúc có cả chục người, trong số đó có Hai Paul và Ba Dữ, con và rể cai tổng Tài, đang nắm đầu tóc của Đẹp vừa hét lớn:
- Mày giết cha tao phải không?
Tiếng hét lớn đó là của Ba Dữ, lúc ấy trên tay hắn đang lăm lăm khẩu súng lục với ngón tay đặt trong cò. Paul thì nói thêm vào:
- Nó chứ còn ai. Khi tôi bước vào phòng thì thấy nó vừa chạy ra, còn ba thì đã gục xuống sàn nhà!
Ba Dữ lên đạn, vừa hét lần nữa:
- Tao hỏi lại, mày giết ba tao phải không?
Đẹp vẫn im lặng với ánh mắt đang lạc thần. Hình như cô không ý thức được là người ta sắp sửa bắn mình, nên dẫu họng súng đang chĩa về mình, cô vẫn xem như không! Tên Ba Dữ thì không như thế, hắn bắt đầu đưa cơn say máu lên đến cao độ và ngón tay của hắn ấn vào cò súng mà đôi mắt không chớp!
Đoàng!
Phát súng nổ! Nhưng viên đạn thay vì ghim vào đầu cô gái, đã ghim thẳng vào một bên vai của một người khác: Tư Bường!
Lão vừa kịp tới và cũng kịp lao vào che ngang trước mặt con gái, đồng thời gào lên:
- Chính tao đã giết! Chính tao...
Lão đau đớn bởi viên đạn, nhưng vẫn cố che trước mặt con. Tên Ba Dữ như con thú đang vồ mồi mà bị chặn ngang, hắn hét to:
- Thằng này là ai?
Paul đứng cạnh đó vội lên tiếng:
- Thằng này là ba của con này!
- Chính nó đã giết ba?
Tư Bường cố nói thật lớn:
- Chính tao đã giết tên háo sắc đó!
Một phát súng thứ hai nổ vang! Và Tư Bường gục xuống, trong lúc cô gái hoảng loạn gào lên, vừa chạy đi.
Ba Dữ sau khi nổ hai phát súng hạ được người thì có vẻ thỏa mãn:
- Được rồi, chỉ cần hạ được kẻ đã giết ba là xong!
Hắn ra lệnh cho thuộc hạ rút lui, không truy đuổi theo cô gái. Trong khi đó thì Paul đứng yên một lúc, rồi anh ta bước theo hướng Đẹp vừa chạy. Quả nhiên chỉ vài trăm bước chân hắn đã bắt gặp cô gái nằm gục ở một bụi cây.
Đứng nhìn cô gái một lúc, rồi bằng động tác nhẹ nhàng, hắn đỡ cô dậy âu yếm:
- Tội nghiệp cưng quá...
Thật tình, từ lúc được cha hứa giao cho riêng con nhỏ này, tuy thấy cô ta khờ khạo, nhưng sắc đẹp mặn mà của cô đã hớp hồn anh ta ngay từ phút đó! Kế xảy ra vụ cha mình bị giết, cả nhà ai cũng đổ vấy cho cô ta giết người, lòng Paul hoang mang... Cho đến lúc nãy, khi nghe Tư Bường nhận là ông ta đã giết người, thì Paul thở phào nhẹ nhõm. Anh tự hỏi, sao mình không lấy cô gái này làm vợ? Thứ nhất, khó tìm nhan sắc nào qua nổi cô gái hoa đồng cỏ nội này, thứ hai anh ta ăn chơi nhiều, gặp và lấy không biết bao nhiêu là gái làng chơi, gái làm tiền và cả những đứa con gái ham tiền, chanh chua đanh đá rồi, thấy chán!
Cái anh ta cần lúc này là mẫu con gái như thế này...
Không cần suy nghĩ gì thêm, Paul bế xốc Đẹp lên tay và quyết định đưa về nhà...
Bà cai tổng tuy có khó chịu, nhưng sau khi nghe cả Paul và Ba Dữ tường thuật chuyện Tư Bường nhận mình là thủ phạm, rồi bị Ba Dữ trừng trị thì bà cũng nguôi giận.
Bà chỉ nói với Paul:
- Muốn cưới nó thì tao cũng cho, nhưng không được làm đám cưới và cũng không được cho nó có mối liên hệ gì với nhà Tư Bường...
Paul đồng ý ngay. Anh ta còn nói riêng với mẹ:
- Con này là đứa con song sinh với đứa ở đợ chăn vịt nhà mình. Mà con nghe nói...
Anh ta hạ thấp giọng, nói chỉ cho mình mẹ nghe:
- Con nghe nói chính ba đã... hại chết con nhỏ chăn vịt, cho nên...
Bà cai tổng lắc đầu ngao ngán:
- Tao còn lạ gì cái tính của ông ấy. Nhưng mà thôi, mọi việc cũng đã xong rồi.
Họ chấp nhận cho Đẹp ở lại như trước đó mấy ngày. Lạ một điều là kể từ khi chứng kiến cảnh ông Tư bị bắn chết, hình như cô ta đã thay đổi. Cô đã tỉnh lại, không còn điên khùng như trước đây... Tuy chấp nhận ở lại nhà đó, nhưng cô ta suốt ngày không nói chuyện với ai, cũng không nhắc gì tới chuyện riêng tư. Nhất là chuyện nhà Tư Bường, hầu như cô gái không có chút gì trong đầu...
Bi kịch nhà Tư Bường là bi kịch lớn, nhưng ở vào thời mà cái ác luôn ngự trị và lộng hành bởi những kẻ có quyền thế thuộc cường hào ác bá nông thôn, thì việc dù lớn đến mấy rồi cũng chìm xuống, qua mau... Sau khi Tư Bường chết thì mấy bữa sau bà Tư cũng chết theo do quá đau buồn, kiệt sức.
Mà cũng có thể nói là bà đã theo con gái thương yêu nhất của mình: Hai Xinh.
Hôm đó, sau hơn một đêm ôm xác Xinh gào khóc, sáng hôm sau người ta thấy bà Tư nằm chết bên cạnh xác con và chồng. Chẳng biết ai đã đem xác ông Tư về đây từ lúc nào, đặt nằm song song với vợ...
Chẳng còn ai trong nhà để chứng kiến việc diễn ra sau đó... Bởi khi người hàng xóm thương tình đem chôn xác họ thì chỉ thấy có xác vợ chồng Tư Bường.
Còn xác của Xinh thì chẳng thấy đâu, mặc dù khi chết, bà Tư vẫn ôm xác con trong lòng...
Chỗ cái xác Hai Xinh nằm vẫn còn lại bộ quần áo của cô, và nếu ai nhìn kỹ sẽ thấy dưới đất còn có một tượng Phật làm bằng gáo dừa... Chính cái tượng đó đã làm nên điều kỳ diệu sau này. Sau đêm chôn xác vừa xong ngôi nhà của ông bà Tư chẳng còn một ai, vậy mà vẫn sáng đèn!
Lúc đầu người quanh xóm tưởng đèn cũ còn lại, nên họ nghĩ khi cháy hết dầu nó sẽ tự động tắt. Nào ngờ sang đêm sau ngọn đèn vẫn cháy. Và nhiều đêm sau nữa, ánh sáng đó vẫn còn trong ngôi nhà bỏ hoang.
Người ta đồn ngôi nhà ấy có ma!
***
Việc Paul lấy vợ và ở nhà, không đi lăng nhăng nữa đã là một việc lạ.
Nhưng còn lạ hơn nữa là anh ta tự dưng đâm ra hiền, ngoan, không hung hăng như trước. Chính bà cai tổng cũng phải ngạc nhiên:
- Mày sao vậy Paul? Bộ con nhỏ đó nó hớp hồn mày rồi hả?
Paul không giải thích, nhưng rõ ràng anh ta đã thay đổi lớn. Đẹp tuy không đanh đá, dữ dằn, nhưng ánh mắt của cô lúc nào như cũng có thần, có lửa, khiến chẳng riêng gì Paul, mà ngay cả bà cai tổng, vốn tối ngày cái miệng không ngớt la người này mắng người kia mà cũng phải e dè, ít khi dám nhìn vào mắt con dâu!
Một lần bà hỏi riêng Paul:
- Con đó nó có cái gì hấp dẫn đâu mà mày mê dữ vậy?
Câu hỏi đó thường khi thì Paul chỉ ậm ừ hoặc trả lời chiếu lệ, nhưng lần này anh sừng sộ lại mẹ mình:
- Con không muốn má có ý nghĩ về cô ấy như vậy!
Bà cai ngạc nhiên:
- Mày dám ăn nói với tao vậy hả Paul?
Paul tỉnh bơ:
- Vợ con thì để con lo, má cứ lo chuyện của mình đi! Mà con cũng cho má biết, từ nay con sẽ dọn ra căn phố ngoài chợ ở, con cũng quản lý luôn dãy phố cho mướn ngoài đó và cái nhà máy bánh kẹo. Má đừng bận tâm tới những thứ đó nữa!
Bà cai lồng lộn lên:
- Mày dám vậy hả Paul? Cha mày mới nằm xuống có mấy bữa mà mày đã... đã...
Bà uất ức đến nghẹn cả họng. Trong lúc Paul vẫn điềm nhiên:
- Lâu nay con chỉ lo ăn chơi, không dính tới chuyện quản lý tài sản này, bây giờ đã đến lúc con trực tiếp lo cho tương lai của mình.
- Mày... mày...
Bà có bệnh tim, nên mỗi khi giận lên là làm bà mệt. Paul không lạ gì chuyện ấy nhưng anh ta vẫn thản nhiên bỏ đi trong khi mẹ mình gục xuống đó, thở hơi lên. Cũng may, có mấy đứa hầu đỡ bà vào phòng cấp cứu.
Bà ngất đi có lẽ cũng khá lâu, đến khi tỉnh lại thì vô cùng ngạc nhiên khi thấy có một cô gái đang ngồi cạnh giường. Một cô gái lạ.
- Cô là ai mà sao vào đây?
Bà cai định gọi mấy đứa ở để hỏi thì cô gái kia đã lên tiếng:
- Bà đừng hỏi, con là Sáu Na, được cậu Hai mướn về để phục vụ bà.
Bà cai còn chưa hết giận thằng con, nên xẵng giọng:
- Nó còn muốn tôi chết chứ thương yêu gì mà chăm sóc!
Nhưng cô gái đã khéo léo nói:
- Bà đừng lo, con trai mê vợ trẻ thì có gì lạ đâu. Chừng vài tháng nữa là chán thôi. Nhất là khi chị ta có bầu, treo mỏ thì cậu Hai sẽ quay về thôi.
- Tôi còn cầu cho nó đi luôn cho đỡ chướng mắt. Mà con vợ nó nữa, thứ bơ vơ, mới được cưng yêu mà đã xúi chồng ra riêng rồi, bất kể đạo lý con dâu!
Cô gái tên Sáu Na có vẻ sành tâm lý:
- Trẻ lòng non dạ mà bà. Ai bảo bà cưới cho cậu Hai làm chi, bây giờ phải chịu...
Bà cai "xí" một tiếng lớn:
- Ai mà cưới đồ đó!
Sáu Na tỏ ra sành chuyện:
- Hồi mấy tuần trước chính bà tuyên bố muốn qua nhà cô ta để hỏi cưới cho cậu Hai mà!
Chợt giật mình, bà cai hỏi lại:
- Cô ở đâu mà rành chuyện dữ vậy?
- Chẳng riêng gì con, mà người ở xứ này ai mà chẳng biết bà muốn làm sui gia với nhà Tư Bường! Bây giờ toại nguyện rồi, sao bà...
Bà cai chặn ngang:
- Cô không biết rõ thì đừng xen vào chuyện nhà tôi!
Nàng ta vẫn nói:
- Con chỉ muốn giúp bà thôi. Hiện nay cậu Hai đã dẫn vợ ra riêng, còn cô Ba thì theo chồng ở Sài Gòn, vậy nếu không ai chăm sóc thì liệu bà có chống chọi nổi với bệnh tim ngày càng nặng không? Có phải hiện nay mỗi khi giận lên là bà phát mệt không? Và còn nữa, nửa đêm bà thường khó thở, nếu không có người đỡ dậy thì bà có thể chết luôn trong giấc ngủ!
Thấy cô ta nói đúng hết những bệnh trong người mình, bà cai kinh ngạc:
- Sao cô biết?
Sáu Na nhẹ giọng:
- Thật ra trước khi được cậu Hai mướn, con đã tìm hiểu về nhà này, về bà. Lúc đầu con từ chối, bởi con ngại ông cai và cậu Hai. Nhưng giờ đây cả hai người đó đều không còn ở nhà, cho nên con mới...
Thật ra trong lòng bà cai lúc này đang hụt hẫng, sau khi thằng con trai duy nhất dám tách ra riêng khi cha nó vừa chết đang làm cho bà đau đớn... Bởi vậy, cô gái này xuất hiện thật là đúng lúc. Bà không ngần ngại nói:
- Dẫu chưa biết lai lịch cô, nhưng nếu cô thật lòng thì tôi cần có cô giúp đỡ.
Cô gái nhanh nhảu:
- Con sẽ làm hết sức mình để bà hài lòng, nhưng tốt nhất là bà đừng để con gặp cậu Hai. Con sợ...
- Được rồi, tôi sẽ không cho nó biết. Mà con yên tâm, nó ra chợ ở rồi, không về nữa đâu.
Sự thân thiện nhanh chóng đó chính bà cai tổng cũng không ngờ. Bà cảm thấy gần gũi và tin tưởng cô ta...
Đêm đó, bà còn gợi ý:
- Hay là con ngủ lại trong phòng này với ta. Như con biết đó, bệnh của ta lâu nay cứ nửa đêm là phát lên. Ông ấy còn sống tuy không giúp được gì nhiều, nhưng trong những lúc như vậy cũng khiến cho ta yên tâm hơn.
Bà tha thiết quá nên Sáu Na mới nhận lời. Tuy nhiên cô nói:
- Cái tật của con khi ngủ hay nghiến răng, e bà ngủ không được. Vậy bà cho phép con ngủ ở gian phòng bên trong kia, con thấy có cánh cửa ăn thông qua...
Bà cai tổng giật mình! Thật ra đó là phòng chứa tiền, mỗi khi thu tiền lúa ruộng về, mọi thứ đều dồn vào đó rồi kiểm lại từ từ... Tuy lúc này tiền đã được cho vào tủ sắt khóa cẩn thận, nhưng người ngoài làm sao cho vào đó ngủ được!
Bà hơi ngần ngại:
- Phòng đó thật ra...
Bà chưa nói dứt lời thì Sáu Na đã nói:
- Cũng không sao. Thôi, để con bắc ghế bố ra ngoài cửa ngủ, khi nào bà có cần gì thì con có mặt ngay!
Sau mấy giây suy nghĩ, bà cai quyết định ngay:
- Mà cũng không sao, con cứ vào đó ngủ. Chỉ có điều do là phòng cất đồ riêng, nên có hơi chật và không có cửa sổ, e con ngủ sẽ hơi bí.
Na hí hửng:
- Con ngủ cực quen rồi, nên có được căn phòng ấy đã là tốt lắm!
Thấy Na không đem theo quần áo chi, bà ái ngại:
- Rồi làm sao con có đồ thay?
Bà bảo mấy đứa ở sang phòng của Paul, tìm được hai bộ đồ ngủ rất mới đem về. Bà ngắm nhìn rồi nói:
- Có thể thằng Paul mới mua cho con vợ nó. Vậy con lấy mặc tạm đi, rồi mai ra chợ sắm một số đồ mới.
Sáu Na mặc vào và thật bất ngờ, bộ đồ ngủ vừa y, chẳng khác nào quần áo của mình. Bà cai cũng ngạc nhiên:
- Vậy ra con với vợ thằng Paul cùng cỡ với nhau.
Mấy đứa ở khác thấy cô gái lạ được trọng dụng ngay thì có ý so bì. Bọn họ bàn với nhau:
- Không khéo mai mốt bà chủ cưới luôn cô này cho cậu Hai lắm à!
Nhờ có Na ngủ với bà cai nên đêm hôm đó, đám tôi tớ khác được yên giấc, chẳng phải bị gọi giật dậy lúc nửa đêm như trước đây! Mà bà cai cũng vậy, bà ngủ một giấc ngon lành, mãi đến gần chín giờ sáng hôm sau...
Việc đầu tiên của bà cai là gọi Sáu Na:
- Con dậy chưa Sáu?
Chẳng nghe đáp, đích thân bà cai phải bước vào phòng nhỏ và... bà há hốc mồm ra, điếng hồn khi nhìn thấy một xác người treo lơ lửng giữa phòng!
- Bớ...
Bà chỉ kêu được đúng một tiếng rồi đứng chết lặng.
Phải khá lâu sau, bà mới ráng bò lê ra ngoài và ú ớ la lên. Lúc tôi tớ bâu lại và nhìn kỹ thì có người thảng thốt kêu:
- Con Hai Xinh đây mà!
Bà cai kinh hãi:
- Sao sao nó lại ở đây?
Một đứa giúp việc rành chuyện:
- Nó bị mất tích từ trước khi ba má nó chết, mọi người đã kiếm nó tứ tung, không ngờ lại ở đây! Mà sao nó lại...
Bà cai tổng vẫn chưa tin:
- Vậy còn con Sáu đâu?
- Sáu nào? Đây là con Xinh, con Tư Bường, con nhỏ chăn vịt...
Bà cai nhớ lại chuyện đêm qua, bà vẫn quả quyết:
- Nó đòi ngủ trong phòng đó, lúc nửa đêm nó còn ra đỡ tao dậy...
Chợt nghĩ tới cái két sắt trong phòng, bà hối hả chạy vào, nhưng khi nhìn thấy cái xác còn đó thì dội ra, bà giục một đứa làm công:
- Mày chạy vào coi cái tủ sắt của tao có... có bị gì không?
Đứa ở chạy vào nhìn rồi hốt hoảng kêu lên:
- Cửa tủ mở tung bà ơi!
- Trời ơi!
Bà cai hét lên và bất kể sợ sệt, bà tung cửa phòng chạy vào và đứng khựng lại trước cái tủ sắt đựng tiền bạc, nữ trang chỉ còn lại tủ trống không!
Và chẳng hiểu sao, lúc ấy có khá đông người lạ mặt xuất hiện. Một người dõng dạc nói:
- Chúng tôi nhận được lời tố cáo ở đây có xảy ra án mạng, vậy mọi người hãy bước ra để chúng tôi khám hiện trường!
Bà cai đã ngất lịm...
***
Dù Ba Dữ có thế lực, nhưng người đứng ra điều tra nội vụ lại là một đối thủ cạnh tranh quyền lực trực tiếp của anh ta, nên vụ việc không thể xếp lại theo như yêu cầu của Ba Dữ. Bà cai là người bị bắt giữ đầu tiên, sau đó tới Hai Paul.
Ánh Nguyệt, con gái bà cai phải về nhà lo quản lý. Chị ta giống y tính của mẹ, đanh đá, hung ác, nên xưa nay không được ai ưa. Và dù có sợ oai Ba Dữ nhưng lần này mọi người thảy đều tỏ thái độ ra mặt. Họ bảo nhỏ với nhau:
- Để coi con quỷ cái này nó làm sao trong vụ này! Tôi vái cho...
Cái xác của Xinh đúng ra phải được quàn lại vài hôm để chờ điều tra, nhưng chỉ đến chiều hôm đó thì nó bốc mùi thối không chịu nổi, nên Ánh Nguyệt yêu cầu cho chôn ngay. Buộc lòng nhà chức trách chấp nhận cho chôn trên mảnh vườn sau nhà, để nếu cần thì có thể bốc mộ lên khám nghiệm lại.
Xác chôn chưa đầy hai mươi bốn giờ đã phải bốc lên theo yêu cầu của pháp y. Bởi người ta nhận được lời tố cáo là Hai Xinh đã chết do bị bức tử sau khi bị... cưỡng hiếp!
Kết quả kiểm tra đã minh chứng cho điều đó!
Mà trong nhà cai tổng Tài lúc xảy ra án mạng đâu có ai là đàn ông ngoài Hai Paul? Cho dù Paul chối tội nói rằng mình dẫn vợ mới cưới về sống ở ngôi nhà ngoài chợ, nhưng khi gọi cô Đẹp ra đối chứng thì chẳng tìm thấy cô nàng.
Do vậy, nhân viên điều tra đã kết luận: Paul đã dụ dỗ, cưỡng bức nạn nhân, rồi với sự tiếp tay của mẹ, đem xác vào phòng riêng, ngụy tạo cảnh treo cổ tự tử!
Chi tiết bà cai cung cấp thêm về một cô gái tên Sáu Na vào ở giúp việc lại càng cho thấy là bà ta nói dối, bởi chẳng tìm thấy một chứng cớ nào về sự hiện diện của một người như vậy.
Hội đủ các yếu tố lại, việc nhóm điều tra kết luận hai thủ phạm chính là Paul và bà cai tổng được sự đồng tình cao. Nhưng những bất lợi cho nhà cai tổng Tài chưa dừng lại ở đó. Sáng hôm sau nữa bỗng thật bất ngờ, người ta bắt gặp Ánh Nguyệt đang cầm cuốc đào ngôi mộ mới chôn của Hai Xinh! Hỏi tại sao làm vậy thì Nguyệt quắc mắt lên, nói khiến ai cũng sửng sốt:
- Phải diệt nó tận gốc! Tôi phải thiêu đất nó ra thành tro mới hả dạ!
Dĩ nhiên là nàng ta bị bắt giữ. Như vậy nhà cai tổng Tài cho đến lúc đó toàn bộ đã ở trong tù. Người còn lại duy nhất bên ngoài lại chỉ là chàng rể. Ba Dữ thường khi hét ra lửa, bỗng dưng lại xếp vó, co càng. Ai hỏi gì về vụ việc thì anh ta chỉ lắc đầu đáp gọn:
- Tôi không biết!
Anh ta nghĩ là mình đứng ngoài cuộc vụ này. Tuy nhiên, đối thủ của anh ta là một tay còn hiểm ác gấp bội, anh ta đã cố moi ra chuyện Ba Dữ bắn chết Tư Bường mà không có một bằng chứng nào. Do vậy, cuối cùng Ba Dữ cũng bị cách chức và nặng nề hơn, còn bị bắt giam về tội giết người!
Luật trời chăng?
Một tháng sau...
Diễn biến quá đột ngột, đến nỗi những người quen biết với gia đình cai tổng Tài cũng không thể ngờ được! Cái tin cả mấy người nhà cai tổng lúc bị giam trong khám đã chết gần như cùng một lúc, đã làm rúng động thiên hạ!
Bà cai, Paul và vợ chồng Ánh Nguyệt đều bị giam riêng bốn phòng khác nhau của khám lớn. Đến nửa đêm hôm đó, bạn tù phát hiện là cả bốn người họ đều tự treo cổ và chết tự lúc nào rồi!
Một dòng họ nổi tiếng, những con người giàu nứt đố đổ vách một thời, lại chết lạ thường, hầu như bị xóa sổ khỏi thế gian này mà không để lại chút hoài nghi nào trong thiên hạ? Điều này là như vậy, và rồi cũng phôi pha trong tâm trí mọi người. Chỉ bởi đơn giản, những con người ấy khi sống đã gây quá nhiều tai tiếng, tội ác ngập đầu...
Âu cũng là luật đời: Gieo gì gặt nấy!
***
Vào một ngày cuối thu.
Tại ngôi nhà của vợ chồng Tư Bường. Nhà vốn vắng chủ từ khi chủ nhà chết, bỗng có sự xuất hiện của một người. Người đó là Đẹp, cô em gái song sinh với Hai Xinh. Người mà giờ đây trên danh nghĩa là kẻ duy nhất còn lại của dòng họ cai tổng Tài, để quản lý số tài sản khổng lồ của họ.
Cô nàng trở về nhà thật lặng lẽ, hầu như chẳng một ai hay biết. Cô đốt hương lên bàn thờ cha mẹ do chính cô mang vật dụng về tạo dựng lên, và khấn rất tôn kính:
- Con bất hiếu Nguyễn thị Xinh mà cha mẹ vẫn thường gọi là con Hai, con Hai Xinh, xin cúi đầu tạ tội cùng vong linh cha mẹ! Chính vì con mà cha mẹ phải mạng vong, và cũng vì con mà đứa em song sinh của con cũng phải mất mạng để con được ẩn trong lốt nó mà tiếp tục sống. Mạng con giờ đây là của ba người, đúng ra con không được quyền nhận, nhưng số trời như vậy, con xin làm theo...
Cô khấn vừa xong thì một người nữa xuất hiện. Đó là ông lão mà cha mẹ cô đã gặp trước khi chết. Ông lặng lẽ lạy trước bàn thờ rồi quay sang cô gái:
- Ta thay mặt người được cha con giao con, đã nuôi con khôn lớn từ khi người ấy qua đời. Ta cũng không biết sự thể ra thế này, chỉ làm theo những gì lương tâm mách bảo. Ta cũng không hề biết chuyện đã làm vừa rồi... Chẳng hiểu ta đã góp một phần vào cái chết của cha mẹ con hay không, khi chính ta đã tới và dẫn dắt họ...
Cô gái chặn ngang lời ông:
- Ông không hề có lỗi trong vụ này. Mọi thứ là do con, do Hai Xinh này khiến ông như vậy. Chính ông đã giúp cho con một phần trong việc báo oán. Nếu không có ông thì chưa chắc ngày nay mọi việc được như vậy. Một lần nữa, con cám ơn và xin ông nhận cho một lạy này...
Cô sụp lạy rồi vái vong linh cha mẹ mình:
- Thưa ba má, ông lão này tuy với con không cùng chung máu mủ, nhưng ông đã thương con, nuôi dưỡng con khôn lớn, nên con kêu ông bằng ông ngoại, và con xem ông như ông ngoại ruột của mình. Ông không còn ai là thân nhân, do vậy từ nay ông sẽ ở đây cùng hủ hỉ với ba má, và nhờ ông mà con đỡ tủi thân trong những ngày sắp tới...
***
Cũng từ đó, trong ngôi nhà lá rách nát của vợ chồng Tư Bường, có hai người mới tới ở. Mới, nhưng họ không lạ với chòm xóm. Mà trái lại, họ được mọi người yêu thương.
Thấy Đẹp quá giống chị mình, nên mọi người đều gọi cô là Xinh. Cô chỉ cười và nói:
- Con chính là Xinh, nhưng từ nay con thích được gọi bằng thứ hơn. Cứ gọi con là con Hai.
Người ta lại gọi một cách trìu mến hơn: Nàng Hai.

Helen 11-07-2012 06:14 AM

TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 35
 
NƯỚC MẮT BA CÔ


Tuy chỉ mới ra khỏi thành phố khoảng năm chục cây số, nhưng tự dưng Hiển buồn ngủ đến nhướng mắt không lên. Anh lại là người lái xe, nên cuối cùng đành phải tấp xe vào lề, nói với mấy người đi chung xe:
- Tự dưng buồn ngủ quá, có lẽ kiếm ly cà phê uống rồi mới đi tiếp được.
Một người lên tiếng hỏi:
- Đây về Gò Công còn bao xa nữa?
Hiển đáp:
- Còn khoảng bằng này cây số nữa.
Người vừa hỏi là Thu Nguyệt, cô em họ vừa thi đậu đại học, là người được thưởng chuyến đi nghỉ mát này. Nghe Hiển đáp, cô ngao ngán:
- Còn xa mà trời đang chuyển mưa nữa...
Cô định đề nghị tìm chỗ nghỉ ngơi, nhưng nhìn chung quanh thấy đồng trống nhiều hơn là nhà, nên cô im lặng. Chợt Hiển chỉ tay về phía xa:
- Có mấy căn nhà ngói ở đằng kia, ta tới đó dừng xe nghỉ một lúc và nếu lỡ trời có đổ mưa thì cũng có nơi mà trú tạm.
Ai trên xe cũng tán đồng. Hiển cố căng mắt ra, cho xe chạy tới đó cách khoảng non cây số. Tới nơi, anh nhận ra mấy ngôi nhà ngói mà anh nhìn thấy đằng xa là một cụm ba ngôi biệt thự mới cất, mái ngói còn đỏ mới, nhưng cửa cả ba ngôi nhà đều đóng kín, cả cổng ngoài cũng khóa chặt.
Hơi thất vọng, Hiển bảo:
- Cũng như không. Chắc nhà vắng chủ...
Anh định lùi xe ra lộ lớn thì bất chợt trời đổ mưa!
Cơn mưa lúc đầu tưởng đâu nhỏ, nhưng chỉ chưa đầy năm phút sau thì nặng hạt và mịt mù trời đất! Thu Nguyệt hơi hoảng:
- Người ta nói trời mưa lớn mà ngồi trong xe hơi đậu giữa đồng trống thế này dễ bị... sét đánh lắm đó.
Hiển cũng hiểu như vậy, nên anh lên tiếng:
- Chạy đi tìm nơi khác thì không còn kịp nữa rồi, mà vào nhà này lại cũng không xong. Bây giờ có ai dám leo rào vào không?
Vinh là anh chàng bám theo Thu Nguyệt chuyến này, cũng muốn chứng tỏ bản chất người hùng của mình nên lên tiếng ngay:
- Chuyện đó mình làm được. Nhưng chỉ ngại nhà có chó dữ...
Tuy nói vậy nhưng anh ta cũng mở cửa xe bước xuống. Nguyệt đưa cho cây dù và dặn:
- Anh che dù cho đỡ ướt, đồng thời dù cũng là phương tiện tự vệ hữu hiệu nữa. Anh nhớ bài học võ Vovinam chứ?
Được người yêu động viên, nên Vinh không chút ngại ngần, anh che dù và đầu tiên bước tới cổng lắc thật mạnh rồi gọi lớn vào trong:
- Nhà có ai không cho hỏi thăm?
Dĩ nhiên là không hề có ai đáp, bởi mưa gió quá lớn, nhà lại thụt xa bên trong, nên tiếng kêu đó dù cho có người trong nhà cũng chẳng ai nghe thấy.
Bỗng thấy Vinh gỡ ống khóa ra cầm trên tay, sau đó anh mở cánh cổng rộng ra, đủ cho Hiển lái xe hơi vào. Khi mọi người vào trong rồi, Vinh mới giải thích:
- Cái ống khóa chỉ móc đó chứ không bấm lại, nên chắc là chủ nhà mới đi đâu đó ra ngoài. Lát nữa có gì mình sẽ giải thích là mạo muội vào khi chưa xin phép...
Thu Nguyệt nói:
- Trú mưa mà, chắc chẳng ai trách cứ mình đâu!
Lúc này Hiển mới đưa mắt quan sát một lượt. Chợt anh ngạc nhiên khi thấy sau cánh cửa kính đóng chặt là một... cỗ quan tài nằm giữa nhà!
- Trời ơi!
Nghe tiếng kêu sửng sốt của Hiển. Nguyệt quay lại nhìn và tới phiên cô cũng gần như líu lưỡi...
- Quan... quan tài...
Cô bám chặt lấy Vinh, khiến anh chàng được dịp chứng tỏ bản chất người hùng của mình:
- Có gì mà sợ dữ vậy?
Anh ta nhìn theo ánh mắt của Hiển và Nguyệt, đến khi thấy cỗ quan tài thì cố chứng tỏ là mình không sợ:
- Thì có gì đâu, chắc nhà mới có người chết...
Anh ta rời hàng hiên, bước tới bên cánh cửa đóng kín, quan sát kỹ hơn.
Quanh quan tài không có nhang đèn hay bất cứ đồ lễ nào như các cuộc quàn xác khác, thêm vào đó là sự vắng vẻ đến kỳ lạ...
- Sao không có ai vậy kìa?
Hiển nhìn kỹ và nói:
- Cũng có thể quan tài không có xác ai. Bởi mấy nhà giàu thường hay mua trước áo quan cho người già chưa chết...
Nguyệt rùng mình:
- Áo quan mua sẵn thì người ta để ngoài, chứ ai để giữa nhà như vậy!
Hiển nhìn sang hai tòa nhà gần đó, anh bàn:
- Hay là ta qua bên kia, đỡ ớn hơn!
Thu Nguyệt ủng hộ ngay. Cô còn nói:
- Phải biết nhà có quan tài như vậy thì thà ở ngoài mưa còn hơn.
Cả ba đội mưa chạy sang ngôi nhà đối diện. Cũng là một biệt thự giống như ngôi nhà kia. Cửa cũng đóng kín...
Lần này thì Vinh là người vào trong trước tiên, và anh cũng la lên trước nhất:
- Bên này cũng có nữa!
Nguyệt không hiểu, hỏi lại:
- Có cái gì?
- Cỗ quan tài!
Hiển nghe nói thì quay lại và nhìn thấy cũng một quan tài giống hệt bên nhà kia! Anh hơi rúng động:
- Sao kỳ lạ vậy?
Nguyệt tái xanh mặt mày, cô ôm cứng lấy Vinh, vừa run giọng nói:
- Mình đi ra đi anh...
Hiển bước gần cửa kính nhìn vào, lần này anh lại nói khác:
- Đúng là trong quan tài có xác!
Anh chỉ tay về phía ngọn đèn dầu đặt dưới quan tài rồi nói:
- Như thế đó là quan tài có chứa xác. Người ta đốt ngọn đèn để cho xác không thành... ma!
Nguyệt nghe nói cô càng quýnh lên:
- Đi mấy ông ơi!
Cô kéo tay Vinh chạy thẳng ra ngoài mưa, nhắm hướng chiếc xe đậu định mở cửa leo lên, nhưng bỗng cô va phải một ai đó rồi cả hai đều ngã nhào!
- Trời ơi!
Vinh không bị ngã, anh đỡ Nguyệt dậy vừa hỏi:
- Em đụng cái gì vậy?
Nguyệt bò dậy, chưa kịp trả lời đã nghe ai đó lên tiếng:
- Mấy người là ai?
Nghe giọng lạ, Vinh hỏi lại:
- Ông là ai vậy?
Giọng kia khó chịu:
- Mấy người là ai, vào nhà người ta mà còn hỏi nữa là sao?
Lúc này Hiển đi sau, anh vừa tới nghe được, điềm tĩnh nói:
- Thưa chú, chúng cháu bị cơn mưa lớn quá không thể đậu xe ngoài kia được, nên mạo muội mở cổng vào. Không ngờ...
Một người đàn ông đứng tuổi đang lò mò đứng dậy sau cú ngã do bị Thu Nguyệt đụng. Ông nhìn không rõ những người trước mặt mình, nên vừa chạy thẳng vào ngôi nhà thứ ba vừa nói với lại:
- Mấy anh vào đây!
Thu Nguyệt đã bị ướt nên nhất quyết không chịu trở vào, cô bảo:
- Mình ra ngoài đi anh Hiển!
Vinh cũng chiều theo ý người yêu:
- Hay là mình đi Hiển ạ!
Hiển thấy đã có người, nên anh yên tâm, vội bước theo ông già. Lúc ấy người anh cũng đã ướt đẫm, nên vừa bước vào nhà thì đã phải dùng tay vuốt vội nước đọng trên tóc, khắp mặt. Vừa vuốt xong, bỗng anh hốt hoảng khi nhìn vào trong cửa kính. Cũng vẫn là một cỗ quan tài, giống hệt như hai cỗ quan tài ở hai ngôi nhà kia!
- Sao... sao lại...
Ông già mở cửa phòng kính và mời:
- Nếu thật sự cậu muốn trú mưa thì vào đây.
Thấy Hiển lưỡng lự, ông ta nói:
- Cậu ngại cỗ quan tài này phải không? Vậy thôi mời cậu sang đây, nơi ở của tôi.
Nói xong, ông ta đóng cửa lại và dẫn Hiển chạy qua một căn nhà nhỏ gần đó. Chẳng hiểu sao, Hiển ngoan ngoãn chạy theo mà quên cả hai người bạn còn ngoài mưa.
Cơn mưa càng lúc càng nặng hạt, lúc bước vào gian nhà nhỏ hơn, chưa kịp ngồi xuống thì chợt Hiển nghe có tiếng hét rất lớn từ bên ngoài. Anh hốt hoảng:
- Tiếng của Thu Nguyệt!
Anh tuôn chạy ra, phía sau là tiếng hỏi lớn của ông già:
- Cậu chạy đi đâu vậy? Coi chừng nguy hiểm!
Hiển chạy trở lại sân, nơi Thu Nguyệt và Vinh còn ở đó. Lờ mờ trong màn mưa, Hiển thấy chiếc xe đậu nhưng không nhìn thấy hai người bạn. Anh lên tiếng gọi lớn:
- Nguyệt ơi! Vinh ơi!
Không có tiếng đáp. Chợt khi ấy lại một tiếng thét lớn của Vinh từ phía sau lưng, Hiển hốt hoảng:
- Họ ở trong đó!
Nơi phát ra tiếng hét là chỗ ngôi nhà thứ ba mà Hiển vừa rời khỏi. Anh không suy nghĩ thêm, vội chạy bay về hướng đó:
- Các bạn ở đâu?
Không có tiếng trả lời và cũng không còn nghe la hét nữa... Lúc này chỉ có tiếng mưa, tiếng gió thổi.
- Bác ơi!
Lần này Hiển gọi ông già lúc nãy. Nhưng cũng không nghe tiếng đáp lại.
Anh phải gọi lớn hơn:
- Bác ơi, giúp cho mấy người bạn cháu với!
Lời anh vừa dứt thì cũng là lúc chân anh giẫm lên một xác người, khiến anh bị ngã nhào. Rồi hầu như Hiển không còn biết gì nữa...
***
Khi tỉnh lại, Hiển và hai bạn rất đỗi ngạc nhiên khi thấy mình đang nằm trên xe, mà chiếc xe lúc ấy đang đậu ở giữa đoạn đường vắng. Trời đã hết mưa và mặt trời vừa nhô lên sau rặng tre. Hiển ngạc nhiên kêu lên:
- Không lẽ mình đã ở đây suốt đêm?
Nhìn đồng hồ tay, Vinh sửng sốt:
- Đúng là qua một đêm rồi!
Thu Nguyệt cảm thấy ê ẩm cả người, cô nhớ lại chuyện hôm qua thì cảm giác sợ hãi vẫn còn, nên giọng hơi run:
- Ngôi nhà đêm qua... Làm sao mình thoát ra được?
Hiển nhìn lại phía sau, anh kêu lên:
- Nó ở kia kìa!
Hai người nhìn theo tay chỉ của Hiển, nhận ra mái ngói của ba ngôi nhà ở cách đó không xa lắm. Thu Nguyệt giục:
- Mình đi đi Hiển!
Vinh cũng mất vẻ tự tin:
- Đúng là không nên ở đây...
Vừa khi ấy có một người đi ngang, Hiển lên tiếng hỏi:
- Phiền chị cho hỏi thăm, ba ngôi nhà ngói đằng kia là của ai vậy?
Chị đàn bà nghe hỏi thì nhìn sững ba người trên xe rồi nhẹ lắc đầu:
- Tôi cũng... không biết.
Chị ta định bỏ đi, nhưng chẳng hiểu sao lại quay lại và hỏi:
- Cậu ở xa đến phải không?
- Dạ phải. Chúng tôi muốn biết...
Chị ta đáp thật gọn:
- Nhà ma!
Hiển ngạc nhiên thì ít, mà Thu Nguyệt lại nghe lạnh cả người, cô líu lưỡi:
- Nhà... nhà có... ma là sao?
Chị nọ lặp lại:
- Thì nhà của ma! Do ma ở...
Chị ta bước đi rất nhanh nên Hiển không kịp hỏi thêm. Hiển thẫn thờ nhìn theo, anh lặp lại như không tin:
- Nhà có ma... phải chăng...
Nhớ lại ba cỗ quan tài trong ba gian nhà, Hiển lẩm bẩm nói:
- Phải chăng... đó là nhà mồ?
Anh thay vì chạy thẳng ra đường lớn, lại rồ ga cho chạy trở lại gần ngôi nhà hơn, Thu Nguyệt la to:
- Anh chạy tới đó tôi nhảy xuống xe bây giờ!
Nhưng lúc ấy chiếc xe đã tới cách ba ngôi nhà khoảng chưa đầy trăm thước, Hiển ngừng lại cạnh một người đàn ông đang xách cần câu từ ruộng bước lên và hỏi:
- Chú ơi cho cháu hỏi thăm...
Anh đưa tay chỉ vào ngôi nhà ngói, chưa kịp hỏi thì người kia đã lên tiếng trước:
- Cậu muốn hỏi ngôi nhà ma hả? Ở đây ai mà không biết nó...
- Nhưng... sao chẳng ai sợ? Hay làm gì để ma không ở...
Nghe Hiển hỏi ngớ ngẩn, ông ta vừa đưa tay quệt mồ hôi trán vừa nói tiếp:
- Ma nhưng chưa thấy phá phách gì ai, nên dân ở đây cũng đã quen...
Tuy ông ta nói thế, nhưng Thu Nguyệt vẫn sợ:
- Đi đi anh Hiển!
Người đàn ông nọ tỏ ra thích thú kể chuyện ma, nên nói một hồi:
- Ở đây ai mà không biết chuyện hồn ma ba cô! Người ta gọi là tam cô trinh nữ!
Câu chuyện đã hấp dẫn Hiển, một người khoái chuyện lạ, anh hỏi tới:
- Bộ họ chết trẻ lắm sao mà gọi là trinh nữ?
Người nọ nhìn vào xe thấy Thu Nguyệt nên bảo:
- Có lẽ trẻ hơn cô này và cũng đẹp như vậy!
Thu Nguyệt nghe mình bị đem so sánh với ma thì la lên oai oái:
- Tôi không phải là ma! Tôi... tôi...
Cô đưa cả hai tay ôm lấy mặt, nhích sát vào người Vinh. Người nông dân kia bật cười:
- Ma mà nhát thì càng trốn nó càng nhát dữ hơn!
Hiển còn tính hỏi thêm, nhưng cũng như chị lúc nãy, bác nông dân bỏ đi rất nhanh. Hiển rồ ga tới nữa, nhưng lần này Thu Nguyệt quyết liệt hơn:
- Anh mà tới nữa thì em chết liền cho anh coi!
Cô mở cửa xe, Hiển hốt hoảng:
- Thôi thì để anh cho xe quay lại!
Hiển đành phải chạy ra đường lớn, anh vẫn liếc nhìn về phía ba ngôi nhà ngói, tiếc rẻ:
- Phải chi mình có thì giờ tìm hiểu thêm, có lẽ thú vị lắm...
Thu Nguyệt la lên:
- Anh điên rồi sao cứ nhắc chuyện ma quỷ đó hoài vậy! Ma mà thú vị gì! Cũng may là đêm qua...
Giờ Vinh mới lên tiếng:
- Lúc tụi này bước vào nhà thứ ba, vừa nhìn thấy cỗ quan tài trong đó, chưa kịp lùi ra thì như có ai đó ngáng chân, làm cả hai ngã cùng lúc!
Hiển kể lại:
- Lúc mình vừa chạy tới thì giẫm phải ai đó, mình cũng ngã!
Thu Nguyệt càu nhàu:
- Anh đạp phải em chứ còn ai nữa, người em giờ vẫn còn ê ẩm!
- Anh cứ tưởng cả hai đang bị nguy...
Nguyệt làu bàu:
- Thấy ba cỗ quan tài cùng lúc mà còn gì nữa! Em không tưởng tượng nổi...
Nghe hai bạn phàn nàn, Hiển không nói gì, bởi lúc đó trong đầu anh đang có một ý nghĩ gì đó chưa tiện nói ra...
Họ về tới Gò Công vào trưa hôm đó. Đáng lý ra Hiển phải ở lại cùng vui với cô em họ Thu Nguyệt và bà con ở đó, nhưng hơi bất ngờ, anh nói:
- Anh có một việc rất cần phải về Mỹ Tho. Vậy Nguyệt và Vinh ở lại chơi, ngày mai anh sẽ về đón.
Thu Nguyệt không vui:
- Em ở đây mà thiếu anh thì còn gì là vui nữa! Đầu têu mà vắng mặt...
Hiển đành cười trừ rồi vội vọt xe đi nhanh. Ra ngoài thay vì hướng về Mỹ Tho, Hiển ngược đường về hướng vừa qua. Anh đã quyết định tìm lại ba ngôi nhà... ma!
Nguyên nhân nào khiến Hiển quyết định như vậy, ngay lúc này anh cũng không thể lý giải được, chỉ thấy trong lòng mình như có sự thôi thúc khó hiểu...
Gần hai tiếng sau, anh đã có mặt ở trước cổng ba ngôi nhà. Sau một lúc suy tính, cuối cùng Hiển cho xe hơi tới gởi ở sân một ngôi nhà cách đó vài trăm thước, rồi đi bộ trở lại. Trời lúc ấy vừa mới tối, nên việc xuất hiện của Hiển không gây sự chú ý của những người lân cận. Nhờ vậy, khi Hiển lách qua cánh cổng mở hé thì vào bên trong được trót lọt, ở cả ba ngôi nhà đều có ánh đèn chỉ đủ sáng cho ba phòng khách, nơi mà lần trước Hiển đã nhìn thấy ba cỗ quan tài.
Nép mình vào một bồn hoa, Hiển bỗng giật mình khi nhìn thấy một người đang lom khom trước quan tài.
- Ông già bữa trước!
Ông ta đang cúi xuống làm gì đó trước quan tài, lát sau khi ông ta ngẩng lên thì Hiển nhìn rõ là ông vừa đặt một mâm cơm xuống cúng. Đứng cách hơn chục mét, nhưng Hiển cũng nhìn thấy được trong mâm cơm có khá nhiều thức ăn còn bốc khói, chẳng khác gì mâm dọn cho một người còn sống ăn!
Bất chợt ông già bước ra khỏi phòng, suýt nữa thì Hiển đã bị ông ta nhìn thấy. Anh vội ngồi thụp xuống. Ông già bước qua rất nhanh, hướng về ngôi nhà thứ hai. Hiển tò mò bám sát theo và thật ngạc nhiên, anh thấy ông già ghé lại chỗ một ghế đá, bưng lên một mâm cơm giống như mâm cơm kia.
- Ông ta làm gì?
Trả lời cho thắc mắc của Hiển là việc ông già bưng mâm cơm đi thẳng vào phòng, đặt nó xuống trước quan tài giống y như mâm cơm vừa rồi.
- Ông ta cúng?
Quả là như vậy. Ông già trịnh trọng cúng vái và đốt một nén hương. Mâm cơm cũng đầy thức ăn ngon và bốc khói!
Xong rất nhanh, ông già lại bước ra khỏi phòng và hướng về ngôi nhà còn lại.
- Thì ra ông ta cúng thường nhật!
Cúng xong trước cỗ quan tài cuối cùng thì ông già bước ra, và lần này đi thẳng về phía ngôi nhà nhỏ, tức chỗ ở của ông mà Hiển đã có dịp biết đêm qua.
Vừa định bước theo, chợt Hiển kịp nghĩ, anh lưỡng lự một chút rồi lần bước về phía ngôi nhà đầu tiên. Những gì diễn ra đã khiến Hiển trố mắt kinh ngạc! Mâm cơm với thức ăn đầy lúc nãy, giờ đây hầu như hết sạch!
- Ai ăn?
Hiển kêu lên khẽ, may mà anh kịp kiềm chế chứ không thì ai đó đứng gần có thể nghe được!
Chợt nghĩ tới hai mâm cơm còn lại, Hiển bước len qua các bụi cây và hướng về ngôi nhà thứ hai. Cũng giống như mâm cơm vừa rồi, mâm cơm này cũng không còn! Tim Hiển bắt đầu đập mạnh, anh chạy sang ngôi nhà thứ ba và... sững sờ khi thấy mâm này cũng chỉ còn lại những chén đĩa không!
- Trời ơi!
Lần này không kìm được, Hiển đã buột miệng thành lời và anh suýt đứng tim khi có ai đó vỗ lên vai mình từ phía sau!
- Cậu đừng nhìn như vậy sẽ không hay...
Đó là ông già vừa bưng cơm cúng. Ông ta kéo tay Hiển đi nhanh về phía gian nhà của mình với câu nói:
- Hôm qua các cô cậu đã mạo hiểm vào đây, nếu tôi không kịp thời đưa ra thì... không biết chuyện gì đã xảy ra! Sao hôm nay cậu lại trở vào nữa? Cậu có biết hành động này sẽ không hay lắm không?
Khi vào tới nhà riêng của ông ta rồi, Hiển mới đánh bạo hỏi:
- Những mâm cơm hết sạch vừa rồi có phải do người chết ăn không chú?
Ông già không đáp ngay mà nhìn ra ngoài bầu trời đêm, một lúc sau mới lên tiếng:
- Chứ theo cậu thì ai vào đây ăn?
- Nhưng… xưa nay cơm cúng cho người chết thì chỉ tượng trưng, chứ làm sao ăn như thật được?
- Vậy mà được...
Ông già trả lời xong thì đứng lên đi vào phía trong. Nửa phút sau ông trở ra, trên tay cầm một đĩa trái cây tươi, ngon, vừa bảo Hiển:
- Cậu cứ ngồi đây chơi chờ tôi một chút, tôi cho các cô tráng miệng xong đã.
Hiển nói:
- Cháu muốn đi theo chú...
Ông già lắc đầu:
- Để cậu vào đây là quá rồi, làm sao cậu có thể vào trong đó được.
Ông đi khoảng năm phút. Khi trở lại thì mang về ba cái mâm với chén đĩa dùng xong như Hiển đã thấy lúc nãy. Lúc này ông già mới nói rõ hơn:
- Ba cô này chẳng khác nào con ruột của tôi. Các cô xem tôi như cha chú, bởi vậy cho nên khi các cô chết thì tôi không nỡ rời xa. Và các cô cũng chỉ để mình tôi gần gũi, chăm sóc...
- Tại sao họ chết vậy chú?
Ông già vừa định trả lời, thì có một tiếng động lớn vang ra từ trong nhà.
Ông thất sắc:
- Cậu đi đi!
Hiển chưa hiểu sao mình bị đuổi ngang, anh hỏi lại:
- Sao vậy chú?
Lời anh vừa dứt thì có mấy vật gì đó từ trong bay ra rơi xuống ngay trước mặt vỡ toang. Ông già hốt hoảng:
- Các cô giận lên rồi, cậu đi nhanh đi kẻo không kịp...
Ông sợ Hiển không đi nên đích thân kéo tay anh dậy và lôi nhanh ra sân, vừa nói trong nỗi sợ hãi:
- Các cô ấy chưa bao giờ giận đến như vậy cả, không xong rồi!
Lúc Hiển ra gần tới cổng rồi mà vẫn nghe tiếng rổn rảng từ trong nhà.
Ông già đẩy anh ra cửa và nói nhanh:
- Lần tới mà cậu vào đây khi chưa được phép thì tôi không chịu trách nhiệm đâu!
Hiển ra rồi ông khóa chặt cổng từ bên trong, chứ không bấm hờ khóa từ bên ngoài như hai lần trước. Ông già biến rất nhanh trong khu vườn vắng...
Hiển hiểu là hôm nay anh chỉ nên chấp nhận những gì ông già khuyên, mặc dù khi trở lại đây anh còn có ý định táo bạo hơn... Khi trở lại xe, vừa mở cửa xe ra anh đã ngạc nhiên khi thấy một nải chuối tươi ngon nằm ở ngay ghế lái xe!
- Mình đã khóa cửa xe rồi mà!
Nhìn vào ngôi nhà nhỏ nơi anh gửi xe thì trong nhà chẳng có ai ngoài vài đứa trẻ đang nằm ngủ, mà bọn chúng thì không thể là thủ phạm để chuối vào xe anh được! Hiển lưỡng lự một chút rồi để nải chuối sang một bên, cho xe trở ra lộ lớn.
Dừng lại một quán cà phê đang vắng khách, Hiển khéo léo hỏi thăm:
- Cô cho cháu hỏi thăm, ba căn nhà trong kia hiện giờ chủ còn ở không vậy?
Bà chủ quán nhìn Hiển một lượt rồi chợt nói:
- Hình như cậu mới từ trong đó ra phải không? Tìm chủ nhà mà không gặp chứ gì? Cậu quen với gia đình ông bà Phạm gia đó như thế nào?
Vô tình Hiển biết được chủ nhà họ Phạm, nên anh bịa chuyện:
- Dạ... bác Phạm ngày trước là bạn của ba cháu. Kể từ khi...
Hiển chưa nói hết lời thì chủ quán đã mau miệng:
- Chắc kể từ ngày ông bà đó định cư ở nước ngoài cậu không ghé nhà chứ gì! Nhất là từ lúc nhà xây lại và ba cô con gái...
Hiển làm ra vẻ ngớ ngẩn:
- Ba chị em nhà đó bây giờ chắc lớn lắm rồi?
Bà chủ quán thở dài:
- Tội nghiệp, số kiếp hồng nhan...
Bà ta nói giọng điệu ra vẻ những người xem tuồng kịch cải lương nhiều, nên câu chữ đượm hơi hướm sân khấu lắm:
- Hồng nhan bạc phận mà. Tội nghiệp, mới hai mươi tuổi đời mà đã rủ nhau chết hết!
Hiển làm như sửng sốt lắm:
- Chết cả ba cô?
Bà gật đầu:
- Cả ba chết một lượt!
Rồi hình như thấy chưa đủ, bà chủ quán lại nói thêm chi tiết hơn:
- Cách đây hơn ba năm, trong một dịp đi chơi Nha Trang bằng xe hơi nhà, ba cô Diệp, Thúy, Nga bị tai nạn đụng xe, chết cả ba người. Đau đớn hơn là khi ấy ba cô đều đã có giấy tờ xuất cảnh đoàn tụ gia đình với cha mẹ ở nước ngoài, tính là sau chuyến đi Nha Trang sẽ lên máy bay...
- Trời ơi!
Đó là tiếng kêu xuất phát từ tấm lòng của Hiển. Anh sững sờ thật sự khi nghe kể. Và trong một giây không kiềm chế được, anh thốt lên:
- Chẳng trách các cô ấy thành ma!
Câu nói của Hiển tuy nhỏ, nhưng cũng đủ cho bà chủ quán nghe:
- Cậu cũng biết các cô ấy thành ma?
- Dạ...
Bà không giấu giếm:
- Ông bà Phạm ở nước ngoài về khóc chết lên chết xuống, và sau cùng định thiêu xác các con đem đi đoàn tụ, nhưng hồn các cô không chịu. Hai lần ông bà Phạm tính thiêu xác thì cả hai lần xe chở ba cỗ quan tài đi thiêu đều không thể nổ máy được! Cuối cùng họ phải cầu vong các cô về, và biết được các cô chỉ muốn ở lại trên mảnh đất vườn của ông cha. Do đó mới có chuyện xây ba ngôi nhà rộng cho ba cô...
Hiển đã nhìn thấy ba cỗ quan tài trong ba ngôi nhà, nên anh reo lên:
- Đúng là như vậy!
- Cậu nói đúng cái gì?
Không muốn để bà ta biết mình đã vào nhà và biết nhiều chuyện, nên Hiển nói lảng sang chuyện khác:
- Hai ông bà Phạm gần đây có về không cô?
- Thấy năm nào họ cũng về. Họ thương ba đứa con lắm, nên các cô chết đi thì hầu như bà Phạm chỉ muốn chết theo. Nghe nói năm tới có thể bà ấy sẽ trở về ở luôn đây với các con.
Rồi bà nói thêm:
- Tôi cũng chưa từng thấy người đầy tớ nào trung thành và thương con chủ như ông Tư hiện nay ở giữ nhà mồ.
- Ông ta có bà con gì với gia đình họ không cô?
- Hoàn toàn không, chỉ có điều là ông ấy ở giúp việc trong nhà từ lúc các cô mới sinh, nên có lẽ vì vậy mà khi ông bà chủ nhờ ông ở lại chăm sóc nhà mồ cho con họ thì ông ta nhận lời liền! Nội chuyện chỉ một người sống ở chung với ba người chết như vậy đã thấy là ông già Tư can đảm cùng mình rồi! Mà nghe nói là vong hồn ba cô còn linh hiển lắm, chẳng khác nào người sống...
Bà hạ thấp giọng, ra điều quan trọng:
- Ông già Tư không kể, nhưng nghe nói bữa nào ông cũng đi chợ nấu ăn thật ngon để cúng vong hồn các cô! Nghe nói họ ăn được thức ăn như khi còn sống vậy! Thiên hạ ở đây đồn đãi dữ lắm, nhưng chưa một ai thấy được tận mắt, bởi đâu có ai lọt được vào trong nhà đó mà an toàn trở ra!
Hiển tò mò:
- Sao vậy cô?
- Ma bắt, ma vặn họng bất cứ ai vào nhìn thấy nhà mồ của họ! Đã có không ít người bị rồi. Chứ nếu không thì làm sao nhà mồ đó yên ổn được với bọn người tham lam gần xa.
Hiển bất chợt rùng mình. Anh lắp bắp hỏi lại:
- Chuyện đó có thật sao cô?
- Sao lại không thật? Bởi vậy cánh cổng sắt tuy có ổ khóa, nhưng không bao giờ bấm ống khóa, vậy mà chẳng một ai lọt vào trong được, ngoại trừ...
- Ngoại trừ sao cô?
- Nghe nói chỉ ai đó mà các cô chờ và cho phép thì mới vào được và an toàn trở ra!
Một lần nữa Hiển rùng mình. Anh cảm thấy lạnh ở sống lưng...
- Nè cậu...
Thấy Hiển cứ thừ người ra, bà chủ quán phải gọi giật:
- Cậu có ý định vào nhà đó không? Nếu có thì thử kêu cửa coi ông già Tư là người quyết định giùm cậu. Nhưng theo tôi nếu chỉ tới thăm thôi thì cậu không nên vào. Tôi ở đây và ngày trước cũng thân thiết với gia đình đó lắm, vậy mà ba năm nay chưa bao giờ tôi bước vào trong ấy!
Hiển giả vờ:
- Dạ, có lẽ vậy...
Anh hỏi thêm vài chi tiết nữa rồi rời nơi ấy. Trong lòng anh còn nhiều hoang mang, nhưng tạm thời anh không muốn quan tâm thêm...


Phần 2


Trời lúc ấy đã quá xế chiều, đường về Gò Công tương đối vắng vẻ, nên Hiển sau khi đậu xe trên phà rồi, anh mở cửa xe bước xuống ngắm sông nước.
Mười lăm phút sau, khi đã nhìn thấy bờ bên kia, Hiển trở lại xe và giật mình khi thấy trên xe, chỗ ghế cạnh tài xế có một cô gái đã ngồi sẵn!
- Cô là...
Cô gái cười rất tươi:
- Thấy xe anh ngừng mà không tắt máy, lại không kéo thắng tay, cho nên tôi phải làm giùm. Bộ anh quên là xuống phà không được để xe như vậy sao?
Hiển ngạc nhiên:
- Ủa, vừa rồi tôi đã tắt máy rồi mà?
Chỉ xâu chìa khóa còn ở ổ công tắc, cô gái lắc đầu:
- Còn trẻ mà mau quên quá. Nếu tắt máy rồi sao chìa khóa còn đây?
Hiển giật mình:
- Tôi xin lỗi. Tôi...
Cô gái bước xuống xe và đi thẳng tới phía sau phà, trước sự ngạc nhiên của Hiển. Anh định gọi lại nhưng chỉ nhận được một cái khoát tay và câu nói ngắn của nàng:
- Anh nên ngồi lên xe, coi chừng tai nạn!
Hiển còn chưa hiểu nàng ta nói với ý gì thì chợt chiếc phà lắc lư dữ dội, hình như do va chạm với vật gì đó! Nhiều xe xô vào nhau, người ngã và cảnh hỗn loạn diễn ra. Có tiếng hô lớn của tài công:
- Ai ở đâu ở đó, đừng chạy lung tung, coi chừng phà chìm đó!
Hành khách sau đó hiểu được phà vừa đụng phải một sà lan chở cát, sà lan bị chìm, còn phà thì chao đảo, vài chiếc xe đậu gần mũi đã lao xuống sông.
Cũng may, xe của Hiển không sao, bởi lúc đó anh kịp thời giữ thăng bằng, sẵn ngồi trước tay lái nên đã lách được mũi xe vào cột rào chắn, giữ được xe lại, thoát nạn trong đường tơ kẽ tóc!
- Cô ta...
Ngầm cám ơn cô gái nên Hiển quay lại tìm, nhưng trong cảnh nhốn nháo của mọi người, anh không tài nào tìm thấy. Mãi đến lúc phà vào tới bến, Hiển tìm lại lần nữa bằng cách đứng ngay thang lên xuống mà cũng chẳng thấy cô nàng đâu!
Cho đến khi có một đứa bé bán bánh dạo tới đưa cho Hiển mảnh giấy nhỏ:
- Có người gửi cho chú.
Hiển cầm và đọc được mấy chữ:
- Xe sắp tuột thắng, sửa lại trước khi đi!
Dưới dòng chữ viết không có ký tên, Hiển định hỏi thằng bé xem cô nàng ở đâu thì thằng bé cũng biến mất rất nhanh. Lúc này Hiển mới cho xe ra khỏi khu vực chờ của bến phà, cũng may cách đó không xa có một ga-ra sửa chữa xe, anh ghé vào đó và kêu cần kiểm tra lại thắng. Người thợ vừa nhấp thử vài lần rồi chui xuống gầm xe và kêu lên:
- Trời ơi! Xe anh chỉ chút xíu nữa thôi là con ốc sắt bộ phận thắng sút ra rồi!
Hiển ngẩn người ra, anh lẩm bẩm:
- Sao nàng ta biết?
Dẫu cô nàng không ký tên dưới dòng chữ, nhưng anh đoán chắc người viết đúng là cô nàng lúc nãy! Anh nhờ sửa lại bộ thắng xong thì vọt xe trở lại bến phà. Cũng kịp lúc anh nhìn thấy dáng một cô gái vừa bước lên chiếc xe đò chạy về hướng Gò Công. Hiển gọi lớn:
- Cô gì ơi!
Nhưng chiếc xe đò chạy quá nhanh nên tiếng kêu của Hiển bay theo gió.
Anh chàng lại nhấn ga, vọt xe theo. Chạy đến hơn chục cây số Hiển mới chặn được chiếc xe lại, tài xế và lơ xe đều bực mình cự nự:
- Anh làm gì mà chặn xe tụi tôi lại?
Hiển xin lỗi rồi nhảy lên xe nhìn dáo dác tìm kiếm... Chẳng hề thấy cô gái mà anh thoáng trông thấy lúc nãy?
- Cô ta...
Lơ xe giục Hiển:
- Yêu cầu anh xuống xe cho, tụi tôi còn chạy cho kịp giờ!
Hiển thẫn thờ bước xuống. Anh quay lại xe mình mà vẫn còn ấm ức...
Nhưng khi vừa mở cửa xe bước lên thì Hiển đã phải trố mắt:
- Cô...
Cô gái chẳng biết ngồi trên xe từ lúc nào rồi!
- Người gì vô tâm, vẫn chứng nào tật nấy, xuống xe mà không tắt máy! Nếu vừa rồi tôi là kẻ gian thì anh còn đâu xe để đi?
Hiển thật sự lúng túng:
- Tôi... tôi...
Giờ cô gái mới nghiêm túc:
- Tôi cần về Mỹ Tho, anh có thể cho quá giang được hay không?
Hiển hơi ngập ngừng:
- Tôi chỉ đi tới Gò Công... Nhưng sao về Mỹ Tho mà cô đi hướng này? Cô lên xe từ đâu?
Cô gái trả lời rành rọt, chứng tỏ là dân địa phương:
- Ở giữa đường từ Cần Đước đi Mỹ Tho thì ngoài đường này chỉ còn cách quay lại Chợ Lớn rồi đi ngược xuống. Cự ly đường cũng bằng nhau, nên đi thế nào cũng vậy. Nếu anh không tiện thì thôi, tôi chỉ xin quá giang tới Gò Công, rồi từ đó tôi đi xe đò cũng được. Xin cám ơn trước.
- Nãy giờ toàn là cô nói, chưa cho phép tôi...
Cô ta mỉm cười:
- Vậy tới phiên anh nói. Tôi chờ nghe...
- Tên cô là gì?
Cô ta cười xòa:
- Quên, xin lỗi. Em tên Hà, Thu Hà.
- Tôi tên Hiển. Được rồi, nếu cô chịu nói rõ hơn cô về Mỹ Tho làm gì thì tôi xin tình nguyện đưa cô về tới chỗ?
Cô nàng tên Thu Hà vẫn cười rất tươi:
- Về để... lấy chồng! Thế anh có sẵn lòng cho quá giang không?
Hiển nhìn sững cô ta:
- Nhà cô ở đâu?
- Cần Đước!
- Kể cũng lạ. Con gái mà phải thân chinh đi lấy chồng, thay vì phải đợi chồng tới nhà mình để cưới! Cô nói như thế mà nghe được sao?
- Yêu nhau thì sá gì ai tới cưới ai? Xách gói theo trai cũng đâu phải là chuyện lạ!
Thấy cô nàng vui vẻ, biết nói đùa, Hiển thích thú:
- Hôm nay tôi hên nên ra đường gặp cô. Có được một người đồng hành vui vẻ như vậy thì đỡ buồn ngủ biết mấy!
Nàng nghiêm giọng:
- Anh chưa nói cám ơn về lời nhắc cứu mạng!
Hiển giật mình:
- À sao cô biết trước điều mà tưởng chừng như vô phương vậy?
- Nếu em nói là do... nhìn sắc mặt của anh mà đoán được chuyện sắp xảy ra, anh có tin không?
Hiển nhìn cô nàng với ánh mắt hoài nghi:
- Không lẽ cô là thầy bói?
Thật bất ngờ, cô nàng gật đầu:
- Em có thể đoán chuyện tương lai, quá khứ được! Bằng chứng là vừa rồi, lúc ở trên phà em nhìn thấy anh cứ thẫn thờ khi từ trên xe bước xuống...
Hiển lắc đầu:
- Tôi vẫn chưa tin. Nhưng thôi, chuyện cũng xảy ra rồi và cô đã đoán đúng. Tôi thành thật cám ơn. Nhưng cô thử đoán xem... tôi có vợ chưa?
Nàng không ngạc nhiên chút nào trước câu hỏi của Hiển và trả lời ngay, không cần suy nghĩ:
- Có rồi và cũng mất rồi. Hiện nay coi như không có vợ!
Hiển giật mình:
- Cô... cô là...
Nàng cười:
- Biết tên em rồi mà, sao vẫn là cô này cô nọ?
Hiển lại một phen lúng túng:
- Cô... Thu Hà làm tôi bất ngờ...
- Nhưng anh xác nhận xem em nói có đúng không?
- Ờ thì... đúng. Nhưng mà...
- Không cần nhưng nhị gì cả. Em nói không sai là được rồi. Và anh có muốn nghe chuyện tương lai không?
Hiển trố mắt:
- Cô dám nói... tôi sắp lấy vợ lắm à?
Nàng gật đầu:
- Điều đó không sai.
Hiển cười to:
- Lần này cô sai rồi.
Cô nàng vẫn bình thản:
- Sai hay không thì đợi chuyện đến mới chứng minh!
- Nhưng... riêng chuyện lấy vợ lần nữa thì e khó! Cô có biết là với lần dang dở vừa rồi của tôi đã là một vết thương lòng không thể lành được, vậy làm sao có can đảm để bị thương thêm lần nữa!
Lần này người cười to lại là cô nàng:
- Vậy mà sẽ xảy ra đó!
Hiển vừa định nói, chợt nàng la lớn:
- Tấp vào lề, dừng xe lại!
Hiển kịp làm theo thì chỉ chưa đầy mười giây sau đã có một chiếc xe tải lớn chạy ngược chiều bị đứt thắng và đâm sầm vào đường lưu thông của Hiển.
Nhờ đã tấp kịp vào sát lề và dừng lại, nên anh đã tránh được cú va chạm mạnh!
Nhiều người đi gần đó hốt hoảng, cứ tưởng xe Hiển đã lãnh đủ. Khi họ chạy tới nhìn thấy thì kêu lên:
- Đúng là được trời Phật che chở!
Người khác thì nói:
- Ông này vừa rồi coi như chết chắc!
Hiển vẫn chưa hoàn hồn, anh gục đầu xuống tay lái mà lồng ngực hầu như không còn không khí để thở. Mãi tới khi có ai đó bên ngoài nói to lên:
- Thoát rồi, chạy đi chứ!
Hiển hoàn hồn ngẩng lên thì lại quá đỗi ngạc nhiên khi tìm không thấy Thu Hà đâu. Anh gọi to:
- Cô Hà ơi!
Không nghe tiếng trả lời, Hiển phải mở cửa xe bước xuống. Đó là quãng đường vắng, chung quanh toàn là đồng lúa. Các xe cộ khác thì sau tai nạn hụt đã chạy đi hết. Hiển vẫn cất tiếng gọi:
- Cô Thu Hà ơi!
Cô ta biến mất cũng giống như lúc đột ngột hiện ra khiến cho Hiển bàng hoàng:
- Không lẽ cô ta là... ma?
Ngoại trừ là ma, chứ người thật thì làm sao ẩn hiện lạ thường như thế?
***
Hiển trở lại Gò Công vào nửa đêm, cả nhà sửng sốt khi thấy anh bước vào. Bà cô anh trố mắt nhìn, vừa hỏi mà giọng run run:
- Con có bị gì không?
Hiển ngạc nhiên:
- Bị gì là sao?
Thu Nguyệt cũng đang sốt ruột, cô nói chen vào:
- Cả nhà đang lo cho anh khi nghe tin anh bị đụng xe!
Hiển ngơ ngác:
- Đụng hồi nào?
Cô Tư của Hiển lại nhìn anh từ đầu đến chân, rồi nói mà giọng vẫn chưa hết run:
- Cô ấy nói con bị đụng xe, không biết sống chết ra sao nên cả nhà lo quá chừng, dượng Tư con đã đi với mấy đứa trong nhà lên trên đó rồi.
Hiển phải gắt lên:
- Cô nào nói?
- Cô... cô gì đó...
Bà quay sang Thu Nguyệt:
- Cô ấy nói tên gì?
Nguyệt đáp:
- Thu Hà!
Hiển kêu lên:
- Thu Hà! Cô ta tới đây sao?
- Tới hồi đầu hôm.
- Đâu rồi?
Cô Tư ngạc nhiên:
- Con hỏi cái gì đâu rồi?
Hiển la lớn:
- Thì cô Thu Hà đó!
Thu Nguyệt phải đáp thay cô:
- Đi rồi. Nhưng có nói là sẽ trở lại vào sáng mai, khi nào anh an toàn trở về!
Hiển muốn điên đầu:
- Cô này... cô này...
Anh định nói cô ta là ma! Nhưng kịp ngừng lại...
- Cô này hơi lạ, em chưa từng gặp. Quen sao với anh vậy anh Hiển, mà lại biết nhà dưới này?
Hiển không đáp mà lại lẩm bẩm đủ nghe:
- Cô ta muốn gì nữa đây?
Nghe không rõ, Thu Nguyệt tò mò:
- Bạn gái của anh hả? Lúc chiều khi ra tiếp cô ta, anh Vinh đã ngẩn ngơ vì sắc đẹp và quả quyết đó là bạn gái của anh, phải không?
- Bậy! Ai dám...
Suýt nữa Hiển đã nói ra ý của mình. Chợt nhớ tới Vinh, anh hỏi:
- Vinh đâu rồi?
- Cô ấy nhờ đưa ra bến xe, nói là cần trở về Mỹ Tho gấp lắm!
Hiển hốt hoảng:
- Nguy rồi!
Thu Nguyệt ngạc nhiên:
- Chuyện gì vậy?
Hiển quýnh lên:
- Vinh đi lâu chưa?
- Khoảng hơn nửa tiếng.
Cô Tư chợt lo:
- Đây ra bến xe đâu có xa, mà sao tới giờ này chưa về? Hồi nãy mày cho nó đưa làm gì. Tao thấy con nhỏ đó đẹp quá tao cũng ngại...
Thu Nguyệt cười:
- Con cũng biết vậy, nhưng con muốn nhân dịp này thử lòng dạ của chàng ta coi sao? Nếu mê nữ sắc đến nỗi theo tán tỉnh cô ấy thì... con chia tay luôn.
Hiển phóng ra xe, nói với lại:
- Em có đi kiếm nó về không, hay là để... lấy xác nó?
Cô Tư hốt hoảng:
- Con nói điên gì vậy Hiển?
Thu Nguyệt nhìn thái độ của Hiển thì đoán biết có chuyện không ổn, cô vọt theo ngay. Khi ngồi trên xe rồi cô hỏi dồn:
- Chuyện gì vậy anh Hiển?
- Cô ấy là ma đó!
Thu Nguyệt tưởng mình nghe lầm:
- Anh nói cái gì?
Hiển lặp lại rõ ràng hơn:
- Anh nói cô Thu Hà đó là hồn ma. Chính anh đã chở cô ấy về, tới chỗ xe suýt bị tai nạn thì cô ấy biến mất! Anh...
Vừa khi ấy có tiếng từ ngay băng sau xe:
- Hai anh em lại nói xấu người vắng mặt rồi! Phải chăng hồn ma biết cứu người thoát chết trong đường tơ kẽ tóc trong tai nạn vừa rồi?
Hiển suýt nữa đã tông xe vào cột đèn đường khi nghe tiếng nói đó! Anh kịp dừng xe lại, quay nhìn ra sau và kêu lên:
- Cô Thu Hà!
Thu Nguyệt há hốc mồm, chưa kịp nói gì thì Thu Hà đã lên tiếng:
- Tôi vội chạy đi ngay lúc chiếc xe tải đâm vào xe anh, rồi leo lên một xe khác là để về nhà báo tin, vậy mà anh lại cho tôi là hồn ma, nghĩ cũng vui!
- Nhưng vừa rồi...
- Tôi thấy anh vào nhà, tôi không tiện vào, ngồi lên xe chờ anh ra. Hai người ra không hề để ý có người ngồi phía sau, và... tôi biến thành hồn ma phải không?
Nghe cô nàng hỏi mắc mỏ, Hiển hơi lúng túng:
- Thật ra tôi... tôi cũng hoang mang... Ai bảo cô khi ẩn khi hiện làm tôi chẳng biết đâu mà lần!
Thu Nguyệt vội hỏi:
- Vậy anh bạn của tôi đâu?
- Anh ta vừa mới về, bước vào nhà thì cô đi ra, cô còn hỏi gì nữa?
Nghe thế, Nguyệt bảo Hiển:
- Anh Hiển cho em trở về nhà, em xem Vinh ra sao!
Hiển vẫn chưa hoàn hồn, anh còn thừ người ra thì Nguyệt đã nhảy xuống xe, cô bảo:
- Em đi xe lôi về đây!
Nguyệt đi một đoạn xa rồi, lúc đó Hiển mới hỏi lại:
- Thật ra cô... cô là...
Thu Hà móc trong túi ra một phong thư:
- Cái này em định đưa cho anh ngay lúc gặp dưới phà, nhưng chưa kịp thì...
Nhìn nét chữ ngoài phong bì, Hiển giật mình:
- Của... Diễm Chi?
Thu Hà cười nhẹ:
- Vẫn còn nhớ người tình cũ sao?
- Cô là gì của Diễm Chi?
- Là em họ. Có lần nào anh nghe chị Chi nói về người em họ học trường mỹ thuật không?
Hiển chợt nhớ ra:
- Cô học vẽ tranh lụa? Người có bức tranh lụa vẽ hình thiếu nữ với hoa sen đoạt giải nhất cuộc thi toàn quốc?
Thu Hà cười thích thú:
- Trí nhớ anh không tồi chút nào! Và anh còn nhớ có lần chị Diễm Chi nói rằng khi nào chị ấy chết, hoặc anh và chị ấy không lấy nhau được thì chị ấy sẽ làm mai đứa em họ cho anh không?
- À... có...
- Và anh cũng đã hứa với chị ấy là suốt đời sẽ yêu thương chẳng những chị ấy, mà còn cả những người thân của chị ấy nữa, đúng không?
- À... chuyện ấy có...
- Vậy anh hãy đọc lá thư này đi.
- Diễm Chi chỉ cho em biết nhà dưới quê của anh?
- Và cả số xe hơi của anh nữa. Chưa gặp anh lần nào, nhưng qua ảnh trong album của chị Diễm Chi, em đã nhớ mặt anh nên khi gặp trên bến phà em nhận ra ngay.
Thấy Hiển có vẻ hiểu ra, cô nàng nheo mắt hỏi:
- Bây giờ còn cho em là... ma nữa thôi?
Hiển hơi ngượng:
- Anh xin lỗi...
Anh bóc thư ra đọc. Trong thư Diễm Chi xin lỗi anh về việc đột ngột bỏ đi mà không nói lý do, cho rằng mình có một lý do đặc biệt khó giải thích, và mong rằng Hiển hãy làm bạn với Thu Hà và coi Hà như là mình. Cô nhấn mạnh đoạn cuối thư: "Thu Hà rất ngoan và có hoàn cảnh tội nghiệp, nó lâu nay cô đơn, nên em mong rằng anh sẽ làm cho nó vui trở lại. Còn riêng em thì anh hãy coi như em đã... chết. Bởi em...".
Thư không có đoạn cuối. Hiển ngẩng lên hỏi:
- Diễm Chi đang ở đâu? Cô ấy...
- Chị ấy... bị bệnh nan y, không bao giờ gặp anh nữa. Và anh cũng đừng hy vọng gặp lại, bởi chị ấy thề nếu để cho anh gặp thì thà chết còn hơn!
Hiển hốt hoảng:
- Diễm Chi bệnh gì?
Hà lắc đầu, giọng buồn bã:
- Em đã thề với chị ấy rồi, thà anh giết em chết, chứ không bao giờ em chỉ chỗ. Thôi, nếu anh không có ý gì khác thì em xin kiếu...
Cô mở cửa xe bước xuống, Hiển vội chụp tay lại.
- Khoan đã!
Anh không nói gì thêm, nhưng Thu Hà lại ngả người xuống băng ghế xe, rồi ôm mặt khóc nức nở!
Diễn biến sự việc quá nhanh, khiến cho Hiển chẳng kịp đối phó. Anh lúng túng buông tay cô nàng ra. Cuối cùng, anh đóng hẳn cửa xe lại, nói khẽ:
- Mình đi rồi sẽ tính!
Anh thay vì chạy về nhà lại hướng xe về phía bến phà, nơi cách đó khá xa. Đi được một đoạn, Hiển định quay ra sau hỏi chuyện thì thấy Thu Hà đã ngủ ngon lành. Có lẽ cô nàng đã quá mệt với một ngày vất vả, bao nhiêu chuyện...
Không nỡ để cô nàng giật mình, nên Hiển lái chậm lại. Một giờ sau thì đến bến phà. Lúc này đã gần sáng nên chuyến phà đầu tiên của ngày rất vắng khách, chỉ có chiếc xe của Hiển và một số khách bộ hành nhưng phà vẫn chạy.
Qua đến bờ bên kia trời mới sáng hẳn, Hiển muốn dừng xe nghỉ và ăn lót dạ, nhưng nhìn thấy Thu Hà vẫn ngủ say, nên anh quyết định đi tiếp. Và chẳng hiểu vô tình hay số phận, mà khi đi ngang qua chỗ rẽ vào nơi có ba ngôi biệt thự... ma thì xe hết xăng!
Nghĩ là có thể nhờ ai đó đi mua giúp xăng rồi trả họ thù lao. Nhưng mất gần nửa giờ mà Hiển vẫn không nhờ được chuyện đó. Cuối cùng, anh đành phải bảo Thu Hà lúc đó vừa mới thức dậy:
- Cô ngồi tạm trên xe, tôi sẽ xách can đi mua xăng, xong rồi mình sẽ đi tiếp.
Cô nàng uể oải đáp:
- Được rồi, em tranh thủ ngủ thêm một chút.
Hiển đi gần một tiếng đồng hồ mới mua được can xăng. Nhưng khi trở lại xe thì chẳng còn thấy cô nàng đâu!
- Lại thế nữa, cô này giỡn mặt với mình chắc?
Phát hiện một mảnh giấy nhỏ trên băng ghế với mấy chữ viết vội: "Em có bệnh riêng nên phải về nhà gấp mới chữa được. Cám ơn anh đã giúp đỡ, hẹn gặp lại sớm".
Hiển càu nhàu rồi châm xăng vào xe. Anh tính sau đó sẽ trở lại Gò Công.
Nhưng xăng đã có rồi mà xe vẫn chưa chịu nổ máy. Hiển đang bực dọc thì một người đi ngang có vẻ rành về máy móc xe đã bảo:
- Xe chạy đến hết sạch xăng có thể bị cặn của xăng làm nghẹt bình xăng con rồi! Cậu phải đi ngược lại khoảng vài cây số nhờ thợ tới súc bình xăng cho thì mới nổ máy được.
Ông ta chạy xe đạp nên Hiển ngỏ ý nhờ gọi thợ giùm, ông gật đầu:
- Tôi cũng biết về máy, chút nữa có thợ tới tôi cũng có thể giúp cậu một tay! Cậu cứ nghỉ tay đi, hoặc đi ăn uống lót dạ, để tôi lo cái xe cho.
Bà chủ quán bữa trước cũng ở ngay đó, bà nhớ ra Hiển liền nói:
- Cậu cứ để xe đó vào trong quán tôi ngồi nghỉ, cần ăn gì tôi làm cho ăn, chú Sáu này là người quen trong xóm, có thể giao xe cho chú được.
Hiển cũng đã quá mệt rồi nên nghe vậy anh bước ngay vào quán, để chìa khóa công tắc lại. Bà chủ quán hỏi:
- Cậu đi một mình sao, còn mấy người hôm trước đâu?
- Cháu đi với một người bạn nữa. Lúc nãy cháu đi mua xăng thì cô ấy còn ở đây, bộ dì không thấy sao?
Bà chủ quán lắc đầu:
- Tôi đâu thấy gì. Nãy giờ tôi ngồi đây, chỉ thấy duy nhất có một cô gái lạ đi vào phía ba ngôi nhà trong kia...
Hiển giật mình:
- Cô gái lạ nào?
- Tôi đâu biết. Mà ở đây thỉnh thoảng cũng có vài cô đi vào trong đó, chẳng biết con cái ai trong xóm này, nên tôi cũng không để ý.
Tự dưng Hiển thoáng có ý nghĩ trở lại ba ngôi nhà ma trong kia. Anh dặn bà chủ quán:
- Tôi có việc vào trong này một lát, nếu mấy người thợ sửa xe có tới dì nói họ cứ làm, lát nữa tôi sẽ ra thanh toán tiền.
Hiển đi rất nhanh vào phía trong trước sự tò mò của bà chủ quán, bởi vậy khi ngang qua cổng ba ngôi nhà, anh tạt vào ngay khi thấy cổng chỉ khép chứ không khóa.
Cũng giống như lần trước, dù giữa ban ngày, nhưng nhà vẫn vắng lặng, không thấy bóng ông già giữ nhà đâu. Thoang thoảng có mùi hương nhang tỏa ra, Hiển đoán chắc là ông già mới vừa đốt nhang xong, đang quanh quẩn đâu đó, nên anh cất tiếng gọi khẽ:
- Chú Tư ơi?
Không có tiếng trả lời nên Hiển đi thẳng về phía căn nhà nhỏ, nơi ở của ông. Vẫn chẳng thấy đâu, mà cửa lại khóa, chứng tỏ là ông ta đã đi ra khỏi nhà.
- À, ông ấy đi chợ mua thức ăn!
Nhớ lại những mâm cơm dọn lên hằng ngày, Hiển hiểu ra sự vắng mặt của ông ta lúc này. Còn đang cân nhắc xem có nên ở lại trong khi không có mặt ông già hay là đi ra, thì chợt anh nghe có tiếng động phía ngôi nhà bên trái.
Tiếng động giống như ai đó mở, đập cánh cửa, đồng thời lại như có tiếng bước chân dồn dập nữa. Hiển kêu khẽ:
- Có thể có kẻ trộm lắm!
Anh quên cảnh giác, phóng thẳng về hướng ấy. Khi đến trước cửa kính thì mới chợt nhớ, anh khựng lại. Thì ra tiếng động phát ra từ cánh cửa kính khép không chặt, bị gió làm va đập. Mùi nhang từ trong bay ra thơm lừng. Chợt Hiển giật mình khi thấy ngọn đèn dầu để phía dưới quan tài đang bừng cháy lên một cách bất thường, như sắp sém vào phần gỗ cỗ áo quan!
- Không khéo nó làm cháy quan tài mất!
Không nghĩ ngợi thêm, Hiển tung cửa vào và kịp vặn cái bấc đèn xuống.
Thì ra có lẽ ông già giữ nhà mới châm thêm dầu, dầu nhiều tràn ra, gặp gió làm lửa cháy bùng lên vừa rồi!
- Để đèn này quanh năm nguy hiểm chết!
Hiển vừa càu nhàu vừa định bước lui ra ngay, chợt mắt anh nhìn thấy tấm ảnh bán thân đặt trước đầu quan tài, anh tái mặt!
- Cô ta?
Cô gái trong ảnh thờ kia giống với Thu Hà vừa rồi như khuôn đúc! Mà ngay phía dưới ảnh còn có dòng chữ đề tên: Đoàn Thị Thu Hà.
- Trời ơi...
Hiển kêu lên được mấy tiếng rồi tối tăm mặt mũi, cố quay lưng chạy ra ngoài, nhưng hình như anh chỉ chạy được tới cổng rồi gục ngã...
***
Buộc lòng Hiển phải tìm đến nhà của Diễm Chi, sau khi anh tỉnh lại từ nhà mồ ba cô gái. Theo lời kể của Thu Hà thì cô ta là em họ của Diễm Chi, nên dù đã chia tay và thề không bao giờ gặp lại, nhưng hôm nay Hiển vẫn phải tìm tới.
Tiếp Hiển là bà mẹ của Diễm Chi, người trước đây từng thương Hiển như con ruột. Bà vừa trông thấy Hiển đã òa lên khóc! Hiển bình tĩnh hỏi:
- Thưa bác, con muốn gặp Diễm Chi.
Bà Hằng nhìn Hiển đầy ngạc nhiên:
- Con thật sự không biết tin gì về con Chi?
Hiển ngơ ngác:
- Tin gì về Diễm Chi? Kể từ khi Diễm Chi rời xa con mà không một lời giải thích, con đã tới đây gần chục lần, mà lần nào cũng bị hết Chi rồi tới bác xua đuổi, thì thử hỏi con còn mặt mũi nào để tới nữa. Do đó làm sao con biết được những gì xảy ra chung quanh Chi?
Bà Hằng thở dài:
- Nó chết rồi!
Câu nói khiến Hiển tưởng như mình từ trên trời rơi xuống đất:
- Bác nói... ai chết?
- Con Diễm Chi mắc chứng bệnh nan y, biết không qua khỏi nên nó chủ động rời xa con. Sau đó về ở trên đất rẫy của ông bà nội trên Lâm Đồng, tuyệt giao luôn với mọi người... Hôm đó, sau một thời gian bị căn bệnh hành hạ, nó biết sắp lìa đời nên nhắn cho bác hay, bác cho mấy đứa em bà con của nó biết tin, chúng tựu về thăm. Nhưng không còn kịp nữa. Diễm Chi chết, có viết lại cho con một lá thư, giao cho con nhỏ em nhờ chuyển tới con. Nhưng...
Bà nói tới đó thì do quá xúc động, đã khóc ngất rồi không nói được nữa...
Lát sau Hiển đột ngột hỏi:
- Phải người chuyển lá thư tên là Thu Hà không?
Bà Hằng kinh ngạc:
- Sao con biết?
- Và cô ấy cũng đã chết?
Giọng bà Hằng trở nên bi thảm:
- Chết thật thương tâm! Chúng nó chết cả ba chị em, chỉ vì đi thăm con Diễm Chi! Trời ơi...
Bà gục xuống khóc và không còn sức ngẩng lên nữa. Hiển phải an ủi:
- Bác đừng quá xúc động mà ảnh hưởng đến sức khỏe. Hôm nay con đến đây cũng vì chuyện của Diễm Chi và người tên là Thu Hà này. Nhưng trước tiên, xin bác nhận lời tạ lỗi của con, chỉ vì vô tình mà con không biết nỗi khổ của Diễm Chi, để cho cô ấy chịu đựng nỗi đau một mình.
Chợt nhớ ra, bà Hằng hỏi:
- Con Thu Hà đã chết chung chuyến xe cùng hai em của nó khi lên Lâm Đồng thăm Diễm Chi trở về, vậy con gặp nó lúc nào mà biết có lá thư?
Hiển phải kể lại mọi chuyện. Vừa nghe xong, bà Hằng đã hốt hoảng:
- Như vậy là linh hồn tụi nó hiển linh sao?
- Con không biết, nhưng rõ ràng một trong ba cô gái đó đã gặp con như một người sống. Vậy giữa họ và Diễm Chi có mối liên hệ thế nào vậy bác?
- Bà con gần, mà riêng con Thu Hà với con Diễm Chi còn có mối quan hệ mật thiết bởi tụi nó cùng một sở thích, cùng đi học chung trường một thời gian, cùng tuổi và đặc biệt là cùng hẹn ước có phước cùng hưởng, có họa cùng chia, nhất là trong chuyện tình yêu...
- Thảo nào!
Hiển kêu lên khiến bà Hằng một lần nữa ngạc nhiên:
- Là sao vậy con?
- Trong lá Chi gửi cho con, có dặn con là phải... thương cô Thu Hà!
Bà Hằng hình như hiểu chuyện đó, bà chỉ nhẹ lắc đầu rồi lặng lẽ đi vào trong, lát sau trở ra, bà đưa Hiển một gói vải nhỏ:
- Ở đây còn có những gì con và Diễm Chi có với nhau, thời hai đứa con mặn nồng. Đáng lẽ bác giữ lại, nhưng bây giờ thấy không còn cần nữa, nên tốt nhất là con nên giữ. Và biết đâu nó sẽ tốt cho con hơn khi gặp lại Thu Hà...
Bà nói xong quay vào hẳn trong nhà, không quay ra nữa, Hiển đứng một hồi lâu rồi lẳng lặng rời nơi đó. Khi xe anh chạy đi rồi thì có một đôi mắt nhìn lén qua khe cửa buồng, nhìn theo cho đến khi bóng Hiển khuất hẳn. Lúc này, người có đôi mắt ấy mới bật khóc!
Giọng của bà Hằng đẫm nước mắt:
- Xong rồi con. Từ nay con có thể yên tâm ở đây với mẹ. Mẹ sẽ không bao giờ bỏ con, dù con bây giờ chỉ còn là hồn ma bóng quế thì mẹ vẫn cần con bên mình. Và cũng từ nay con đừng mang ý định giành lại thằng Hiển nữa. Những gì con thử thách nó, mượn vong hồn của mấy đứa con gái chết oan giữa đường thử nó thì nào có kết quả gì. Nó vẫn là một đứa con trai tốt. Từ khi xa con nó có ai khác đâu. Kể cả cô gái tên Thu Hà mà con nhờ đóng vai em họ, đẹp như vậy mà nào có mê hoặc được nó.
Giọng người con gái cũng đầy nước mắt như mẹ:
- Con cũng đâu có hằn thù gì với anh Hiển. Chỉ vì con giận là khi con nông nổi bỏ đi để mong anh ấy theo cầu cạnh, nào ngờ anh ấy lờ con luôn, con nghĩ chắc lúc đó anh ấy có người khác nên con mới tự tử chết. Chết rồi con mới hối tiếc, mới thấy mình dại. Mà cũng tại mẹ hết, tại sao lúc anh Hiển đi tìm con nhiều lần mà mẹ không cho anh ấy gặp con?
Bà Hằng thở dài não ruột:
- Lúc ấy má tưởng giận dỗi và lời nói của con là thật, nên má quyết liệt không cho nó gặp con. Ai ngờ sau đó mới biết là con giả vờ. Biết thì đã muộn! Khi ấy con đã tự tử, còn thằng Hiển thì giận luôn, bỏ đi mất tăm! Con thấy không chỉ một chút hờn giận mà hậu quả không thể tưởng tượng nổi!
Ngừng một lát bà lại tiếp, giọng có vẻ bùi ngùi:
- Cho tới bây giờ mẹ vẫn chưa hết hối tiếc, tội nghiệp cho ba đứa con gái vô tội kia. Nó chết oan là phần số của nó, nhưng chuyện mình dựng lên nói nó có bà con với mình, chỉ vì đi thăm mình mà chết, nếu lỡ thằng Hiển nó tin thật, rồi nó bị tai họa gì với những hồn ma ấy thì sao?
- Con cũng đang suy nghĩ là liệu có nên đưa anh Hiển về đây mãi mãi với con không?
Bà Hằng hoảng hốt:
- Con đừng hại người ta! Một mình con lỡ chết rồi thì thôi, nó còn có gia đình, còn có sự nghiệp, đừng gây ra thêm oan nghiệt nữa con! Việc con kéo ba cô gái chết cùng một cái vực ở đường đèo, mẹ đã thấy ăn năn rồi.
- Không! Con đâu muốn anh Hiển chết theo. Con chỉ muốn làm cho anh ấy về xứ này lập nghiệp, ở lại đây. Dù sau này có lấy người khác con cũng chấp nhận, cũng phù hộ cho anh ấy...
Bà Hằng chép miệng:
- Thôi đi con, níu kéo mà làm gì nữa! Âm dương cách trở, có nhớ nhau thì ngầm phù hộ cho nó là đủ rồi. Má vẫn thương thằng đó, nó hiền...
Im lặng hồi lâu, bỗng giọng của Diễm Chi cất lên:
- Thôi được rồi, chuyện anh Hiển có còn nhớ tình con mà về thăm con hay không thì để anh ấy tự nguyện. Nhưng con sẽ tác động để sau này anh ấy thường xuyên về chỗ nhà mồ ba cô thăm và cúng vái thường xuyên! Bởi dẫu sao thì cũng tại con mà ba cô ấy mới chết, nay anh Hiển thay con chuộc lỗi với họ.
Bà Hằng hỏi lại:
- Lâu nay mẹ không nghe con nói chi tiết này, sao lại do con mà ba cô ấy chết?
Giọng Diễm Chi chùng xuống:
- Hôm đó ba cô gái ấy đi xe chung với những người bạn khác, khi đi qua đèo chỗ con tự tử, con đã hiện ra đón xe họ lại, bởi con thoáng thấy có một thanh niên vóc dáng giống y như anh Hiển. Chính vì sự lầm lẫn đó mà tài xế hoảng sợ, mất thăng bằng và để xe lao xuống vực, nên các cô ấy mới chết! Kể từ đó con cứ ân hận hoài, nên tìm cách bù đắp cho họ, mà Hiển là một cách...
Lại im lặng thêm một lúc... Sau đó, giọng của cô nàng lại càng buồn hơn:
- Con sẽ trả ơn sòng phẳng. Thôi, mẹ ra ngoài đi, để con được yên.
Bà Hằng buồn bã bước ra. Đã từ lâu nay bà phải chịu cảnh như vậy. Gần được con chỉ qua tiếng nói với cảnh âm dương cách trở thế này... Mà lần nào Diễm Chi hiện về hầu như cô cũng khóc sướt mướt...
***
Chẳng hiểu Diễm Chi tác động thế nào mà kể từ sau đó không lâu, cứ nửa tháng, một tuần, đã thấy Hiển đích thân lái xe về chỗ nhà mồ ba cô thăm viếng. Về đó chỉ để thắp hương và cúng hoa trái. Có lẽ do được ông già thông tin, Hiển biết được sở thích của từng cô gái nên vật cúng của Hiển luôn khác nhau cho ba cô. Người thì thích ổi, kẻ thích me chua và riêng Thu Hà thì luôn được cúng xoài tượng.
Ông già Tư cũng chẳng hỏi Hiển tại sao lại làm vậy nhưng hình như ông ngầm chấp nhận việc đó. Và quan trọng là vong hồn các cô gái cũng không phản ứng gì với chàng trai tội nghiệp này. Nên việc Hiển lui tới là việc đương nhiên...
Với Diễm Chi thì ngôi nhà nhỏ của mẹ cô ở Lâm Đồng đã được Hiển cho xây lại khang trang hơn. Ngoài gian nhà lớn dành cho bà mẹ, Hiển còn xây riêng cho mình một gian nhỏ hơn, xinh xắn và riêng biệt cả về màu sắc lẫn kiểu cách. Thì ra, đó là theo ý thích của Diễm Chi lúc cô còn sống. Hầu như Hiển ở đó suốt, chỉ trừ phi có công việc làm ăn mới về Sài Gòn.
Cuộc sống của Hiển cứ tiếp diễn như vậy. Không một ai bên ngoài biết câu chuyện và cuộc sống kỳ lạ đó của anh...

Helen 11-07-2012 06:17 AM

TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 35
 
NGƯỜI VỢ HÓA KHỈ -Phần I


Năm 1936...
Thời ấy con đường nhựa từ Rạch Giá về Hà Tiên vừa mới làm xong. Tuy đường mới, nhưng lưu lượng xe cộ rất ít, bởi tuy không còn đi trên đường mòn gập ghềnh nữa, nhưng dân bản xưa làm gì có phương tiện để lưu thông, ngoại trừ những chiếc xe bò lăn bánh như rùa và một ít xe đạp của các công chức chạy cà rịch cà tang... Còn xe hơi thì mỗi ngày chưa quá trăm chiếc đi lại, chủ yếu là của các quan chức ở hai tỉnh Rạch Giá, Hà Tiên.
Bởi vậy hôm đó khi thấy có chiếc xe màu đen bóng loáng dừng lại ở đầu cầu ngã ba Hòn thì cả chục người quanh đó bâu lại xem. Đám con nít thì chỉ trỏ lấy làm thích thú, còn người lớn thì hết trầm trồ xe lại xuýt xoa người ngồi trên xe! Mà họ xuýt xoa cũng phải, bởi ngồi trên xe ở băng sau là một cô gái đẹp đến nỗi mấy chàng trai nông dân đứng xem hỏi nhau:
- Có phải đó là người hay búp bê vậy?
- Người chứ búp bê gì! Không thấy nàng ta ngả đầu vào cái lão bên cạnh rồi cười nói đó sao...
Xe dừng lại do tài xế phát hiện có khói bốc lên từ đầu xe. Anh ta bước xuống coi rồi thưa với chủ:
- Thưa ngài, xe cạn nước. Sáng nay em mới đổ nước mà chẳng hiểu sao...
Người ngồi phía sau là chủ xe, vừa là chủ nhân công việc của tài xế Sang, người ta gọi ông ta là cò mi Thuận, một quan chức có cỡ của Rạch Giá. Bực mình vì xe phải dừng lại giữa đường để thiên hạ dòm ngó, ông ta càu nhàu:
- Dặn mày nhiều lần rồi mà không để ý gì hết, xe cộ mới mà như xe cũ...
Tài xế Sang muốn giải thích thêm, nhưng biết có nói thêm thì càng bị rầy nhiều hơn thôi, nên đành lặng thinh, xách xô đi múc nước. Khi bình nước giải nhiệt được đổ đầy, lúc đó Sang mới phát hiện có một lỗ rò bên hông bình, anh trình với chủ:
- Thưa ngài, bình nước bị thủng một lỗ nên nước mau hết ạ.
Cò mi Thuận cau mày:
- Vậy có chạy được nữa không?
- Dạ được nhưng lâu lâu phải ngừng để châm thêm nước.
- Được rồi, đi cho nhanh kẻo trễ giờ.
Xe chạy đi rồi mà mấy thanh niên đứng bên đường còn ngẩn ngơ. Có anh chàng còn chép miệng:
- Có vợ đẹp như vậy có chết cũng sướng...
Một chàng khác lại nói:
- Có con vợ như tiên đó chắc là phải đội nó trên đầu suốt ngày quá! Bởi đặt nó xuống cái chõng tre của mày nó đâu có chịu!
Họ cùng phá ra cười, trong lúc chiếc xe hơi mất dần trong đám bụi đường...
Xe chạy tới gần Vàm Rầy thì lại bốc khói lần nữa. Sang cho xe chạy chậm lại rồi càu nhàu:
- Lại hết nước!
Cò mi Thuận rất bực mình, nhưng biết đây là khuyết tật của xe chứ không phải lỗi ở tài xế, cho nên ông chỉ nhẹ lắc đầu rồi ngồi im, trong lúc Sang chạy đi tìm nước. Lát sau, anh ta trở lại xe vẻ thất vọng:
- Ở đây toàn nước mặn, không làm sao có nước ngọt đổ vào xe, để em đi tìm.
Anh lại xách xô đi xa hơn xóm nhà đó. Phải mất khá lâu, Sang mới xin được nước xách về. Tuy nhiên, sau khi đổ thêm nước thì xe lại giở chứng, không chịu nổ máy. Sang là người có kinh nghiệm về máy móc mà cũng chịu thua, không hiểu được tại sao lại xảy ra trục trặc này. Anh ta loay hoay hơn một tiếng mà vẫn chưa làm cho máy nổ lại được, trời đang tối dần...
Cò mi Thuận đã sốt ruột thấy rõ, anh ta phải tính chuyện quá giang xe về Hà Tiên trước. Nhưng đón hơn một giờ vẫn chẳng có chiếc xe nào chạy qua.
Người phụ nữ ngồi cạnh từ sớm đến giờ vẫn im lặng, nhưng giờ cũng phải lo lắng:
- Như vậy liệu chúng ta có phải ngủ giữa đường không?
Cò mi Thuận phải trấn an:
- Không sao đâu em. Chúng ta sẽ kịp về Hà Tiên để dự buổi tiếp tân của ngài tỉnh trưởng mà. Đừng lo, Mỹ Tiên.
Cô gái tên Mỹ Tiên nhìn đồng hồ tay rồi giãy nảy lên:
- Bây giờ là bảy giờ rồi, tới giờ buổi tiếp tân khai mạc rồi mà ta còn ở đây thì làm sao không lo! Anh nói coi, chúng ta có thể bay về đó không?
Cò mi Thuận chán nản, quay sang tài xế:
- Anh liệu nếu sửa xong ngay thì chạy về Hà Tiên kịp 8 giờ không?
Sang lắc đầu:
- Không sao kịp được.
Mỹ Tiên nghe nói thì từ trên xe đã bước xuống ngay và giậm chân:
- Ba má tôi đã hẹn rồi, phải có mặt để còn đón mấy khách ở Sài Gòn về nữa. Chỉ có tôi mới quen với họ thôi, người khác biết gì mà tiếp!
Cô bước đi từng bước nặng nề, giận dỗi và càng lúc càng đi xa khỏi chiếc xe hư. Cò mi Thuận biết tính tình cô vợ trẻ khá nóng nảy, cô ta đang tính đón xe đi nhờ. Anh ta cũng chỉ biết lững thững đi theo sau...
Tuy nhiên, một lúc sau thì không còn thấy bóng cô nàng đâu nữa trong bóng tối của đoạn đường vắng. Thuận hốt hoảng gọi lớn:
- Mỹ Tiên!
Anh ta gọi đến gần chục tiếng mà chẳng hề nghe tiếng trả lời. Nỗi sợ hãi khiến anh ta phải ba chân bốn cẳng chạy nhanh lên để tìm. Cô nàng vốn đi giày cao gót, nên không thể nào đi nhanh hơn được, mà nãy giờ cũng không hề có chiếc xe nào chạy ngang để còn leo lên xe quá giang đi. Như vậy nàng đi đâu?
Gặp người nào đi ngược chiều Cò mi Thuận cũng hỏi:
- Anh có thấy một cô gái đi bộ qua đây không?
Ai cũng lắc đầu. Thuận càng quýnh lên, anh lại chạy trở về, lát sau khi về đến xe thì Sang đã reo lên:
- Nổ được máy rồi!
Cò mi Thuận không mừng mà lo lắng hỏi:
- Vợ tôi đâu?
Sang lắc đầu:
- Nãy giờ em lo sửa xe, đâu có để ý.
Thuận nhảy lên xe, giục:
- Chạy nhanh lên!
Sang phóng thật nhanh, chạy gần chục cây số mà chẳng hề thấy bóng dáng Mỹ Tiên đâu. Sau đó lại quay xe chạy ngược chiều, cũng đến cả chục cây số. Vẫn bặt vô âm tín!
Đến lúc này thì Thuận đã cuống cuồng lên, anh ta giục tài xế:
- Làm sao kiếm cho ra vợ tôi, nhanh lên!
Sang có là thánh cũng không thể tìm, bởi trời tối và... làm sao biết cô nàng biến đi đâu? Anh chàng chạy quanh quẩn một lúc thì đành chịu thua:
- Thầy nhờ người quanh đây tìm giùm, chứ mình chạy một lát hết xăng thì chẳng biết phải đổ xăng ở đâu nữa!
Cò mi Thuận thật sự tuyệt vọng, anh ta gặp ai cũng hỏi. Chẳng một ai biết. Chỉ duy nhất có một cậu bé khi nghe hỏi đã chỉ tay vào phía rừng tràm:
- Hồi nãy cháu thấy có một cô đẹp lắm đi về hướng này nè!
Sang buột miệng nói:
- Làm sao có chuyện cô đi vào rừng được!
Cò mi Thuận run giọng hỏi:
- Cô ấy đi với ai?
Thằng bé đáp nhanh, vừa chạy đi:
- Đi một mình!
Nó chạy xa rồi mà Thuận vẫn còn đứng ngẩn ngơ đó. Khi chợt tỉnh, anh ta giục Sang:
- Chạy vào rừng!
Sang kêu lên:
- Đường đâu mà chạy!
Thuận như kẻ mất hồn, chẳng còn biết phải làm sao. Sang phải nhắc:
- Thầy mướn người đi tìm cô ấy thử coi!
***
Sau ba ngày tìm kiếm hầu như khắp khu rừng tràm ở Vàm Rầy, nơi mà cái địa danh Cà Bay Ngộp (theo nghĩa tiếng Cao Miên xưa là Con Trâu Chết) đã nói lên tính chất nguy hiểm của nó: "Trâu mà lội qua vùng này cũng chết nói chi người", cũng chẳng có kết quả gì... Kể cả với thân thế của mình, đã nhờ vả cả làng lính cũng đành bó tay. Cò mi Thuận đau khổ trở về Rạch Giá rồi ngã bệnh và nghỉ làm cả tháng trời!
Trong khi đó thì lời đồn đại trong dư luận rất nhiều về chuyện mất tích lạ lùng đó. Có người ác miệng nói rằng cô vợ Cò mi Thuận đã lén trốn theo nhân tình đi biệt! Cũng có người bảo rằng đêm hôm đó có một bọn cướp đã chặn đường và thay vì cướp của, đã bắt cô vợ xinh đẹp đó đi để đòi tiền chuộc!
Về lời đồn thứ hai đó tuy ban đầu Cò mi Thuận không tin, nhưng suy ra có lý, nên anh ta có ý chờ... một cuộc trao đổi của ai đó. Nhưng chờ hoài mà vẫn chẳng thấy ai đòi tiền chuộc hay ra điều kiện gì khác...
Hai tháng sau...
Vào một buổi sáng, theo thói quen Cò mi Thuận thức dậy sớm tập thể dục ngay tại sân ngôi nhà riêng của mình. Khi vừa bước ra sân, anh ta đã ngạc nhiên khi thấy có một vật gì đó đựng trong một cái túi bàng đặt giữa sân. Đúng ra sự cảnh giác cần thiết, Thuận phải gọi người tới mở ra, nhưng chẳng hiểu sao anh ta lại nôn nóng, tự ngồi xuống mở ra xem.
- Đồ của Mỹ Tiên!
Trong giỏ là bộ quần áo Mỹ Tiên mặc hôm mất tích. Bộ đồ còn sạch, không dính một chút bùn đất nào chứng tỏ nàng không hề lạc vào rừng. Thuận vừa sợ vừa mừng, reo lên:
- Nàng còn sống!
Nhưng nghĩ tới việc nàng đang nằm trong tay ai đó thì Thuận điên tiết lên, anh ta định đi báo động để mở cuộc "hành quân" đại quy mô lần nữa. Tuy nhiên, khi lấy hẳn bộ quần áo ra khỏi thì ở tận dưới đáy giỏ lại có thêm một lọn tóc lớn của phụ nữ.
- Tóc của... Mỹ Tiên!
Đúng là mái tóc dài hấp dẫn của cô vợ trẻ mà Thuận từng mê mẩn tâm thần mỗi khi nhìn trước đây. Bây giờ...
- Trời ơi, đã mất mái tóc ấy rồi!
Thuận vừa gào vừa ôm lấy lọn tóc mà khóc rống lên! Vậy là nàng đã xuống tóc quy y rồi chăng?
Nghĩ tới đó Thuận tái mặt! Vài tuần trước trong một lần ghen tuông, chính Mỹ Tiên đã nói là nếu Thuận làm nàng giận lần nữa thì nàng sẽ xuống tóc vào chùa! Phải chăng...
Với tâm trạng đang hoang mang mà nghĩ tới đó, Thuận thốt lên:
- Đúng rồi!
Anh ta một mình lái xe đi tới từng ngôi chùa để tìm. Đi suốt ngày hôm đó đến mệt lả người mà chẳng có chút tin tức gì. Đến chiều quay về nhà thì Thuận lại một phen điên tiết, bởi bộ đồ của Mỹ Tiên anh đem để trong phòng riêng, giờ chẳng còn thấy đâu!
Nghĩ là bị trộm, nhưng xem lại mọi cửa nẻo trong nhà vẫn đóng chặt, không hề có dấu vết bị cạy, bị mở khóa. Mà thời gian này Thuận không hề thuê mướn người làm, vậy có ai vào để lấy?
Sáng hôm sau, Thuận gọi lại tài xế Sang, bảo anh ta lái xe đưa mình đi trở lại Vàm Rầy, bởi đêm hôm qua trong giấc ngủ nửa tỉnh nửa say, Thuận nghe như có ai gọi tên mình. Khi mở choàng mắt ra thì anh còn nghe văng vẳng ngoài cửa sổ có ai đó nói:
- Muốn tìm vợ thì phải trở lại chỗ bị lạc mất, chứ sao chỉ ở nhà!
Cái giọng nói lạ, hình như của một ông già. Trên xe, Thuận hỏi Sang:
- Ở khu Vàm Rầy có ngôi chùa nào không?
Sang đáp:
- Em cũng không để ý, nhưng chắc là có, bởi chùa hình như có khắp nơi.
- Hễ thấy đâu có chùa là ghé vào!
Từ Rạch Giá lên, xe ghé lại đến chục ngôi chùa lớn nhỏ. Vẫn chẳng tìm ra tung tích gì... Khi tới Vàm Rầy, qua khỏi địa phận xảy ra chuyện hôm trước thì chợt Thuận nhìn thấy một cái am nhỏ, anh ta bảo:
- Ngừng lại đây coi!
Sang nhìn sâu vào cách đường lộ hơn trăm thước, thấy có một ngôi nhà nhỏ cất theo kiểu mái chùa, nhưng nhỏ hơn nhiều. Đúng là cái miếu hay am.
Anh ta nói:
- Nơi này đâu có gì ra vẻ...
Thuận bước xuống xe và dặn:
- Cứ chờ ở đây.
Anh ta đi bộ vào trong đó một cách khó khăn, bởi không có lối đi, mà chỉ là men theo bờ đất cỏ mọc tràn lan, chứng tỏ đây là cái am rất ít người lui tới.
Quả đúng như vậy. Khi Thuận bước vào thì chỉ có con chó mực duy nhất có mặt ở sân am, thay vì sủa vang khi có khách lạ thì trái lại, nó đứng lên và... ngoắt đuôi mừng rỡ như mừng người thân đi xa mới về!
Chính Thuận cũng ngạc nhiên, anh khựng lại nhìn, cứ sợ con chó sau khi mừng lầm sẽ lại tấn công! Nhưng càng lúc con vật càng mừng dữ hơn, nó gần như chồm lên người Thuận, khiến anh phải lùi lại, suýt nữa đã rớt xuống cái ao bên cạnh am.
- Mực! Không được hỗn!
Tiếng la của một người đàn ông đứng tuổi đã ngăn chặn kịp thời sự vui mừng quá lố của con chó. Một tu sĩ mặc áo nâu xuất hiện khiến con chó đang hăng phải xìu xuống, nằm bẹp y như trước đó! Thuận lúng túng:
- Dạ, cháu chào bác... Dạ không, chào thầy! Con là...
Tu sĩ chắp tay, giọng thân thiện:
- Nơi quanh năm không có khách viếng nay lại hân hạnh đón một quý khách thế này, bảo sao con mực nó không mừng! Mời đạo hữu ngồi tạm lên khúc cây, bởi am không tiếp khách thường xuyên nên không có bàn ghế cho đàng hoàng.
Cò mi Thuận sốt ruột nên hỏi liền:
- Thầy ở đây từ lâu, vậy chẳng hay thầy có từng thấy một cô gái trẻ bị đi lạc trong rừng tràm này không?
Vị tu sĩ không hề ngạc nhiên trước câu hỏi, trái lại ông hết sức sốt sắng, vừa đứng lên vừa hỏi:
- Có phải cô này không?
Ông bước vào trong chỗ bệ thờ, lấy ra một chiếc giỏ đệm, mà vừa nhìn thấy Thuận đã kêu lên:
- Chiếc giỏ có bộ đồ!
Đặt nó xuống đất, vị đạo sĩ hỏi lại:
- Đạo hữu kiếm người này phải không?
Thuận nhanh tay kéo bộ quần áo ra, lôi luôn mớ tóc, anh hỏi:
- Sao nó lại ở đây?
- Sáng hôm nay khi tôi dậy ra tưới cây thì thấy vật này do ai đó đặt ngoài sân. Tôi biết ngay là của một cô gái, mà là cô gái đẹp, sang trọng nữa, bởi nhìn bộ quần áo lụa may theo kiểu thị thành, thêm vào đó là mái tóc dài này, gái thôn quê không có được người trắng da dài tóc như thế...
Ông nhìn lại một lần nữa rồi tiếp:
- Theo tôi thì mái tóc này không phải do cạo hay cắt mà có. Nó... rụng một cách tự nhiên.
- Sao lại rụng được? - Thuận sửng sốt.
Vị tu sĩ đáp một cách tự nhiên:
- Chỉ có chết thì tóc mới rụng như thế này! Đây, đạo hữu coi, chân tóc còn nguyên, không phải dao cạo cắt ngang như những người xuống tóc quy y...
Câu nói của ông chưa dứt thì Cò mi Thuận đã kêu lên thất thanh:
- Trời ơi, Mỹ Tiên!
Anh ta xúc động mạnh, tay chân run rẩy, người lảo đảo, suýt nữa đã ngã xuống đất. Vị tu sĩ phải gọi giật:
- Đạo hữu sao vậy?
- Cô... cô ấy là vợ tôi. - Thuận thều thào.
Tu sĩ nhẹ lắc đầu:
- Sáng nay tôi nhận được vật này, bấm độn tôi đã đoán ngay là sẽ có đạo hữu tới, và càng lo hơn khi biết điều oan nghiệt đang có mặt chốn này...
Thuận hốt hoảng:
- Thầy nói thế là sao? Vợ tôi liệu có còn...
- Nhìn mớ tóc kia thì không thể nào của người còn sống được. Bởi người sống thì không làm sao nhổ ra được từng sợi tóc. Nhưng theo quẻ độn của tôi thì lại có cái vong của một người còn quanh quẩn đâu đây... Lạ lắm, từ ngày theo học đạo, biết bấm độn đến nay thì tôi chưa đoán lầm bao giờ. Vậy mà sao lần này...
Ông trầm ngâm rất lâu rồi mới nói tiếp:
- Có điều gì đó không bình thường ở đây...
Thuận kể chuyện giỏ đồ này từng ở nhà của anh cho vị tu sĩ nghe, ông bảo:
- Ở chỗ đạo hữu, rồi một cách bí mật chuyển tới đây thì không thể do đạo hữu hay do tôi làm được. Mà phải do...
Cò mi Thuận buột miệng:
- Do người của cõi âm!
- Có những điều ta không thể biết chắc được, nhưng nó đã xảy ra...
- Con xin thầy giúp tìm hiểu xem vợ của con có thật sự còn sống không? - Thuận nói gần như van lơn.
Trầm ngâm một lúc, vị tu sĩ nhẹ thở dài:
- Tôi đã nói lúc nãy, vẫn còn có điều tôi đang mơ hồ... Nhưng tôi hứa với đạo hữu, tôi sẽ dốc hết sức mình để tìm hiểu việc này. Nếu có thể, đạo hữu hãy trở lại đây vài hôm nữa, thế nào tôi cũng có cách...
Ông đưa chiếc giỏ cho Thuận:
- Của đạo hữu thì cứ giữ lấy.
Thuận ngập ngừng:
- Nó từng ở bên con rồi bị mất. Liệu lần này...
- Nó tự nhiên hiện ra với đạo hữu, rồi lại bị lấy đi, như vậy ắt có nguyên nhân của nó. Vậy cứ giữ nó lần nữa xem sao...
Cò mi Thuận thật lòng muốn giữ lại vật của vợ mình, nên anh ôm nó vào lòng và lững thững bước trở ra xe. Tài xế Sang đưa cho anh một đôi giày cao gót:
- Em cũng chẳng biết của ai, khi em rời xe đi vệ sinh trở lại thì thấy nó nằm trên băng phía sau. Giống như của cô Mỹ Tiên?
- Của cô ấy chứ ai nữa! - Thuận reo lên.
Đôi giày này hôm đó Mỹ Tiên đã mang. Như thế đã quá đủ để hiểu rằng nàng đã... chết!
***
Bà Mỹ Dung, mẹ của Mỹ Tiên khóc vì chuyện mất đứa con gái duy nhất của mình suốt một tháng trời vẫn chưa nguôi. Đêm nào bà cũng gặp ác mộng, mà trong đó hầu như bà luôn nhìn thấy con gái hiện về mình mẩy đầy máu, và chỉ đứng trong tư thế chống cả hai tay xuống đất giống như một con vật bốn chân!
Qua nhiều lần mơ thấy như vậy khiến cho bà Dung lo sợ, đem chuyện nói lại với ông chồng. Nhưng vốn là một viên thẩm phán thấm nhuần nền tây học, nên ông Lợi gạt ngang:
- Bà nhớ nó quá rồi đâm ra mộng mị lung tung thôi!
Nhưng bà Mỹ Dung vẫn cố nói:
- Tôi có linh tính là con Mỹ Tiên chết không bình thường. Tôi muốn nhờ thầy cầu hồn nó về xem sao.
Ông thẩm phán Lợi nổi xung thiên:
- Tôi cấm bà làm chuyện mê tín đó! Không có thầy bà gì hết!
Để ngăn vợ không cho nghĩ ngợi, buồn lo chuyện của Mỹ Tiên, ông ta ngầm bảo tài xế riêng chở vợ về thẳng Rạch Giá, rồi dự tính sẽ đưa bà đi luôn Sài Gòn.
Bà Mỹ Dung không muốn rời nhà người quen ở Hà Tiên, nhưng do tài xế lái xe đưa bà đi Kiên Lương, rồi chạy thẳng về Rạch Giá trong đêm, nên tối đó bà đành phải trở về nhà ở thị xã Rạch Giá.
Người nhà hơn tháng qua không thấy chủ thì tuy có lo, bởi vậy thấy bà Mỹ Dung về họ mừng lắm. Con Thẩm vốn là đứa hầu hạ tâm phúc cho bà chủ, được dịp tâng công:
- Ngày nào con cũng mong bà về. Phòng riêng của bà mỗi ngày con cũng lau dọn và thay hoa bà ưa thích. Bà vào coi, hoa cúc vàng khó mua mấy con cũng kiếm cho được! Sáng nay con thay đúng sáu bông, bởi bữa nay là ngày thứ sáu, mà ý của bà con đâu quên, hễ ngày thứ mấy trong tuần là cắm mấy bông hoa.
Dẫu đang sầu lòng, nhưng trước tấm lòng của những người làm, bà Mỹ Dung cũng gật đầu khen nó một câu:
- Được lắm!
Bà vào phòng định sẽ ngủ ngay một giấc, bởi hầu như cả tuần rồi bà luôn bị mất ngủ với những cơn ác mộng triền miên...
Vừa bật đèn điện lên, bà đã kêu thét:
- Bớ!...
Trước mặt bà, nằm trên giường là một... con khỉ trắng to gần bằng người thật! Con khỉ lại giương mắt nhìn bà mà không chút sợ hãi nào!
- Bớ!...
Lần kêu thứ hai của bà Mỹ Dung bị nghẹn lại bởi lúc ấy con vật lạ thường kia đã bật dậy, đôi mắt vẫn nhìn chằm chằm vào bà bằng ánh mắt kỳ lạ.
Những người làm nghe bà la vội chạy vào, nhưng gõ cửa mãi vẫn chẳng nghe bà lên tiếng. Con Thắm phải nói to hơn:
- Bà có chuyện gì để con vào giúp bà với!
Mãi một lúc sau, cánh cửa mới bật mở. Nhưng khi nhìn vào thì bọn người làm hốt hoảng:
- Bà chủ, sao vậy nè?
Họ thấy bà Mỹ Dung nằm ngất dưới sàn nhà. Ngoài ra chẳng hề thấy cái gì khác. Phải mất khá lâu họ mới cứu tỉnh được bà chủ. Vừa choàng mắt ra, bà đã nói trong hoảng sợ:
- Có... có ai làm gì nó không?
Con Thắm ngạc nhiên:
- Bà nói làm gì ai?
- Con... con...
Bà ngừng bặt, chừng như sợ hãi điều gì. Con Thắm tinh ý nên hỏi:
- Bộ bà thấy gì hả?
Không trả lời, mà bà lại hỏi:
- Nó đâu?
Rồi bà thu người lại ngồi vào một góc bảo mấy đứa đầy tớ:
- Hãy đóng hết cửa nẻo lại, kể cả cửa sổ!
Thấy bà quá sợ như vậy nên con Thắm chủ động nói:
- Để con ở lại với bà trong phòng. Con mở đèn sáng lên như vầy thì đâu có gì bà phải sợ.
Nhưng bà Mỹ Dung vẫn như đang nhìn thấy cái gì đó, bà cứ đưa tay chỉ ra ngoài khoảng không và lắp bắp nói:
- Nó... nó ở chỗ đó! Nó...
Phải mất cả buổi bà mới hồi tỉnh hoàn toàn. Tuy nhiên tâm thần bà bất an, cứ thỉnh thoảng lại hỏi:
- Con khỉ nó còn vào đây nữa không?
Hỏi con khỉ nào thì bà không nói, mà chỉ nhẹ thở dài rồi nhìn ra ngoài trời và nói thật khẽ trong miệng, chẳng ai nghe thấy được gì... Ông thẩm phán Lợi được báo tin, ông từ Hà Tiên về và cũng thật bất ngờ, ông nói:
- Tối qua cũng có một con khỉ trắng lớn gần bằng con người, nó từ trong phòng tôi nhảy qua cửa sổ rồi chạy mất dạng! Tôi sợ quá nên cho mấy tay súng nằm rình ngoài vườn, định bắn hạ...
Lời ông chưa dứt thì bà đã gào lên:
- Không được bắn! Mấy người mà bắn nó thì... thì hãy bắn tôi đây nè!
Trước thái độ kỳ lạ của vợ, ông Lợi quá đỗi ngạc nhiên, nhưng cũng chiều lòng bà, ông điện thoại về Hà Tiên dặn mấy tên lính giữ nhà không được sát hại con khỉ trắng, nếu nó có trở lại thì tìm cách bắt giữ thôi!
Bà Mỹ Dung nghe vậy cũng phản đối:
- Cũng không được bắt giữ! Tôi thấy nó hiền và tội nghiệp lắm. Bữa qua tuy tôi sợ phải ngất đi, nhưng lúc đó tôi cũng thấy rõ ràng là đôi mắt nó ươn ướt, như đang khóc! Một con khỉ như vậy sao mình nỡ giết chứ!
Ông thẩm phán cũng bắt đầu hoang mang về sự việc lạ kỳ này. Phải chăng có hai con khỉ giống nhau, vậy nên chúng mới xuất hiện cùng lúc ở hai nơi xa nhau gần trăm cây số? Mà tại sao chúng lại xuất hiện trong phòng riêng?
Có lẽ vì thương nhớ con nhiều và nghĩ ngợi lắm, nên bà Mỹ Dung nhạy cảm hơn, bà buột miệng nói:
- Phải chăng... oan hồn con Mỹ Tiên là... là...
Bà không dám nói hết câu, nhưng ông Lợi cũng hiểu, ông thốt lên:
- Oan hồn!
Đây là lần đầu tiên ông ta thừa nhận có oan hồn! Ông ta còn nói:
- Nhưng... hồn người chết sao là khỉ? Không thể nào...
Bà vợ thì hình như khẳng định được điều gì đó, bà bật dậy và nói nhanh:
- Phải báo cho thằng Thuận biết để đi tìm vợ nó!
Nhưng khi họ tới tìm Thuận thì anh ta đã đi đâu mà người nhà cũng không biết rõ. Tài xế Sang đậu xe đợi ở ngoài cửa như thường lệ, nhưng từ sáng đến giữa trưa vẫn không thấy bóng dáng chủ đâu. Anh ta nói với vợ chồng ông thẩm phán:
- Tối qua con còn đưa cậu đi "nhậu" về. Mấy hôm nay cậu ấy "nhậu" dữ lắm. Cậu ấy vào nhà xong, con cũng là người khóa cửa ngoài và ngủ ở ga-ra, phòng khi cậu có cần gì thì gọi cho dễ. Nhưng chẳng nghe cậu gọi gì cả, sáng sớm ra con tưởng cậu còn ngủ sau cơn say, mà chờ hoài tới giờ cũng không thấy.
Ông bà thẩm phán đã vô tận phòng riêng gọi cửa thì Thuận không có trong đó. Coi lại đồ đạc trong phòng thì họ phát hiện ra trên giường nệm, nhất là trên một cái gối có lưu lại khá nhiều lông màu trắng, mà vừa trông thấy bà Mỹ Dung đã la lên:
- Lông khỉ!
Ông thẩm phán cũng nhận ra điều đó. Ông lẩm bẩm:
- Không lẽ nó cũng... có con khỉ?
Khi họ trở ra hỏi thêm Sang thì anh ta chợt nhớ ra:
- Từ hôm qua, đã nhiều lần cậu Thuận cứ nhắc hoài cái am ở Vàm Rầy...
Tự dưng ông thẩm phán hỏi:
- Cái am ở giữa đồng phải không?
- Dạ phải, cách Vàm Rầy chừng hai trăm thước. Cái am nằm sâu giữa đồng, chẳng có đường vào.
- Trời ơi!
Ông Lợi kêu lên mấy tiếng rồi đứng chết lặng khá lâu. Bà Mỹ Dung phải lên tiếng hỏi:
- Ông sao vậy?
Bất chợt, ông quay qua tài xế Sang:
- Mày đưa tao trở lên đó coi!
Bà vợ cũng đòi theo:
- Tôi cũng đi nữa!
Ông Lợi gạt ngang:
- Bà không đi được, để tôi đi tìm... Tìm thằng Thuận!
Bà quyết liệt:
- Tôi tìm con gái tôi!
Bà leo đại lên xe, nên buộc lòng ông phải chấp nhận:
- Đi, nhưng lên đó bà không được để ý chuyện gì chung quanh. Chuyện...
Ông định nói gì đó lại thôi. Từ đó lên Vàm Rầy, hầu như cả hai vợ chồng đều im lặng. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng...
Khi tới nơi, trước sự ngạc nhiên của bà vợ, ông Lợi bước xuống xe lội băng đồng, tiến vào cái am mà lần trước Sang đã dừng xe chờ Cò mi Thuận. Bà Mỹ Dung có muốn đi theo cũng ngại, bởi bà đi hài nhung thì làm sao băng qua ruộng đầy sình lầy kia được!
Rồi đột nhiên bà gợi ý:
- Nè Sang, mày có dám... cõng tao vào trong đó không?
Sang hơi bất ngờ trước đề nghị đó, nhưng trong lòng anh chàng đang rộn lên ý nghĩ thích thú. Tuy gọi là bà chủ, chứ thật ra bà Mỹ Dung chỉ lớn hơn Sang sáu tuổi... Cơ thể một mệnh phụ như bà ta lại được chải chuốt, ăn diện sang trọng, nên trông chẳng cách biệt tuổi với Sang là mấy. Anh chàng nghĩ nhanh: Cõng thì cõng, như cõng... một nàng nào đó, có sao đâu. Vả lại, suy cho cùng một khi bà chủ lớn mà muốn như vậy thì có cãi cũng không được! Cho nên Sang nói liền:
- Dạ, nếu bà muốn...
Bà Mỹ Dung bá lấy cổ anh chàng tài xế khỏe mạnh ngay và giục:
- Theo ông ấy nhanh lên!
Tuy cõng một người ngót năm chục ký có nặng, nhưng tài xế Sang do thích thú nhiều, nên anh vừa bước nhanh vừa nghĩ:
- Đời tài xế mà kiêm luôn... cõng xế thế này thì mấy ai được như mình!
Khi Sang cõng bà chủ vào tới am thì vừa lúc vị tu sĩ từ trong bước ra, giáp mặt với thẩm phán Lợi. Vừa chợt trông thấy người trước mặt, ông Lợi thảng thốt kêu lên:
- Ông đây là... đây là...
Vị tu sĩ vẫn điềm tĩnh:
- Mời quý đạo hữu ngồi. Dẫu là cố nhân thì cũng ngồi nói chuyện đã chứ!
Thấy giọng điệu bình tĩnh của vị tu sĩ, thẩm phán Lợi càng lúng túng hơn:
- Thì ra... ông ở đây...
Lúc này chủ am mới lên tiếng, mạch lạc hơn:
- Người quân tử trả thù thì mười năm cũng chưa muộn, phải không ngài thẩm phán!
Thẩm phán Lợi tái mặt, giọng run run:
- Anh Lượng... tôi và anh... nên gác qua một bên chuyện cũ...
Vừa trông thấy bà Mỹ Dung vào tới, vị tu sĩ nói lớn:
- Hay quá, có mặt cả người mà tôi tưởng là sẽ không bao giờ gặp lại thì còn gì bằng!
Ông Lợi thấy sự xuất hiện của vợ thì càng quýnh lên:
- Bà... bà không nên... Mà nè anh Lượng, chuyện giữa mình với nhau, đừng để người ngoài...
Vị tu sĩ quay sang phía tài xế Sang:
- Theo cậu thì chuyện lạ về đôi vợ chồng quyền thế mà cậu đang làm công đây có đáng nghe không?
Sang cũng rất tò mò, nhưng đành phải lắc đầu:
- Dạ, để con ra ngoài.
Thẩm phán Lợi lại rất cần có Sang, nên ông cố nói:
- Anh cho nó đưa vợ tôi ra, bà ấy đang bệnh.
Nhưng bà Mỹ Dung lại nói:
- Tôi muốn ở lại!
Bà nói bằng giọng kích động, bởi lúc ấy bà vừa nhận ra người tu sĩ trước mặt mình. Bà không thể bình tĩnh được, nên lại nói:
- Tại sao anh lại...
Bà nhìn chăm chú vào bộ áo nâu sồng của người đàn ông trước mặt. Ông này hướng về phía Sang xua tay:
- Thôi, cậu ra ngoài đi. Hai người này sẽ không hứng thú khi có cậu nghe chuyện của họ lắm đâu. Khi cần tôi sẽ gọi vào.
Sang đi ra rồi thì bà Mỹ Dung lại càng kích động dữ hơn:
- Anh Lượng, xin anh...
Vị tu sĩ mà cả hai người đều gọi là Lượng vẫn bình thản:
- Tôi bây giờ đã khoác áo nâu sồng, vậy hãy gọi tôi là tu sĩ Thành Lượng.
- Anh... à mà thầy Lượng, xin hãy...
- Bà muốn nói tôi hãy bỏ qua chuyện cũ chứ gì? Vậy chuyện cũ đó là gì, bà thử nhắc lại nghe xem, có thể bỏ được không?
Ông thẩm phán lúc này mới lại lên tiếng:
- Xin anh Lượng bỏ qua chuyện cũ, tôi xin chịu tội, tôi sẽ...
Bất chợt vị tu sĩ cất tiếng cười! Giọng cười lúc đầu lớn, sau nhỏ dần và đột nhiên biến thành một tràng tiếng khóc, nghe thê lương lạ thường! Tiếng khóc đó khiến cho cả hai vợ chồng thẩm phán đều rúng động và họ co rúm lại, như biết sắp có chuyện gì đó ghê gớm lắm sẽ xảy ra...
Rồi đột nhiên cả hai vợ chồng ông ta đều quỳ sụp xuống, lạy như tế sao:
- Xin anh Lượng tha tội! Xin lạy anh!
- Tội lỗi! Tội lỗi! Hai người để sức mà lạy người kia kìa, đừng lạy tôi!
Lời ông vừa dứt thì từ nhà sau bước ra một người trùm kín trong chiếc áo tơi, loại áo bằng lá kết thành của những người đi làm nông. Rồi đột nhiên người đó đưa tay gỡ từng mảng lá trên người ra, để lộ... một người khỉ lông xám!
Bà Mỹ Dung hét lên trước tiên rồi bò lăn dưới đất, hồn phi phách tán!
Ông thẩm phán Lợi thì bình tĩnh hơn, chỉ hơi né sang bên khi người khỉ đó bước tới gần!
Giọng của vị tu sĩ trở nên gay gắt hơn:
- Ông bà hãy nhìn kỹ xem đây là ai?
Bà Mỹ Dung luôn là người nhạy cảm hơn, bà nhìn vào đôi mắt con khỉ tỏ như người, bất chợt bà kêu lên:
- Lệ! Ngọc Lệ!


NGƯỜI VỢ HÓA KHỈ -Phần II


Ông Lợi vừa nghe vợ kêu tên Ngọc Lệ thì giật mình:
- Ai... ai là Ngọc Lệ?
Trả lời cho ông là một tiếng rú kinh người phát ra từ con người khỉ kia.
Đồng thời người ấy phóng mình thẳng qua cửa sổ và mất dạng sau cánh rừng tràm. Vị tu sĩ thảng thốt:
- Lệ, em đừng đi, phải ở lại đây đòi món nợ năm xưa!
Nhưng bóng người khỉ đó đã mất hút trong cánh rừng dày đặc. Cũng lúc đó, giọng nói như tiếng khóc của tu sĩ Lượng:
- Nó có thể giết chết hai người để trả thù, nhưng tính nó vốn vậy đó, không thể ra tay tàn ác được!
Ông ta ngừng lại một chút, rồi tiếp với giọng đầy uất hận:
- Đã hơn mười năm rồi, ngày nào nó cũng ra lộ cái mà ngồi, để chờ đợi người mà nó cho là đã gây ra cái chết của nó, hại cả đời con gái của nó. Vậy mà đã trên mấy chục lần rồi, nó đối diện với hai người, để rồi lại âm thầm quay về mà chẳng thể nào hoàn thành được tâm nguyện... Nó đã tha cho hai người bao nhiêu lần rồi và lần này, sau khi tôi giúp nó rửa được một phần mối hận, chỉ một chút nữa thôi là nó làm xong những gì hơn mười năm nay luôn canh cánh bên lòng.
Bà Mỹ Dung vội chen vào:
- Ngọc Lệ chắc là hiểu cho chúng tôi, ngày đó chúng tôi đâu cố ý. Chúng tôi chỉ...
Lợi cũng hùa theo vợ:
- Anh Lượng hiểu cho bọn này, mình đâu có ý hại Ngọc Lệ. Chẳng qua...
Bỗng giọng của vị tu sĩ đanh lại:
- Vậy ai đã cưỡng bức Ngọc Lệ với sự tiếp sức của con đàn bà lòng lang dạ sói này! Ai, hai người nói xem?
Cả hai tái mặt:
- Dạ... dạ...
- Tôi đã xuất gia tu hành sau cái chết tức tưởi của em gái mình. Tôi không muốn mang thù hận lâu dài... Nhưng chính các người đã khơi dậy lòng oán thù khi cho thằng rể phá cái miếu thờ nó, khiến nó không có chỗ nương tựa.
Bà My Dung ngơ ngác:
- Thằng Cò mi Thuận thì dính gì vụ này?
- Về mà hỏi nó coi, có phải nó mua miếng đất xây ngôi biệt thự nghỉ mát ở Kiên Lương rồi trước khi xây đã phá cái miếu âm hồn hay không?
Ông Lợi giật mình:
- Quả là có chuyện đó! Nhưng khi ấy nó đâu có biết là miếu của ai?
- Phá chùa phá miếu là tội tày đình mà lại phá ngay cái miếu mà tôi đã cho xây để tưởng nhớ con Ngọc Lệ. Thử hỏi...
Ông mở tung cánh của sổ, chỉ tay ra phía rừng tràm:
- Hai người có nhìn thấy ai đứng ngoài kia không?
Hai vợ chồng cũng nhìn ra và đều sửng sốt:
- Ngọc Lệ!
Ông ta lắc đầu:
- Ngọc Lệ là con khỉ màu xám, còn ở kia là... con khỉ màu trắng. Hai người không nhớ gì sao?
Bà Mỹ Dung kêu lên:
- Con Mỹ Tiên!
Ông Lợi cũng nói theo:
- Đúng là con khỉ đã về báo cho mình hôm qua!
- Làm ác thì gặp ác thôi! Em gái tôi bởi mấy người mà mạng vong, thì nay tới phiên con gái mấy người phải trả giá!
Bà Mỹ Dung gào lên:
- Con gái tôi! Anh đã làm gì nó hả Lượng? Anh quá tàn ác...
- Tôi không làm, nhưng đó là hậu quả tất yếu của việc mà vợ chồng bà đã gây ra mà thôi! Bà có nhớ cái đêm mưa gió tháng tám năm ấy không? Cũng ở một cánh rừng tràm như thế này...
Ông Lợi nghe tới đó thì bịt tai lại, rên rỉ:
- Đừng nói... xin anh đừng...
Nhưng vị tu sĩ vẫn nói:
- Em gái tôi lúc ấy đang là người hầu cho ngài thẩm phán mới được bổ nhiệm Lê Tấn Lợi. Hôm đó ngài đi săn khỉ cùng với người yêu tại cánh rừng Cà Bay Ngộp này, có con Ngọc Lệ đi theo để hầu nước nôi, và nửa đêm hôm đó thì xảy ra chuyện! Khi ấy ngài thẩm phán Lợi sau khi uống say với mấy tên quan Pháp trên chiếc ca-nô lớn, đã bắt cóc em gái tôi đem xuống chiếc xuồng nhỏ và đưa ra xa, nơi đó có một cái chòi lá và có cả cô tiểu thư Mỹ Dung nữa! Thì ra những con người giàu có ăn no rửng mỡ, họ bày ra cái trò chơi bẩn thỉu, tội lỗi, gọi là đạt được mục tiêu do lời thách đố của mấy tên quan Tây. Họ thách rằng, nếu thẩm phán Lợi mà không cưỡng hiếp được cô hầu gái xinh đẹp Ngọc Lệ thì chính bọn quan Tây kia sẽ hiếp cô vợ trẻ của hắn. Do vậy mà khi tên Lợi bắt cóc được Lệ đem tới chòi lá đó thì chính người yêu của hắn tiếp sức, để cho hắn thực hiện hành vi đồi bại, đốn mạt kia!
Bà Mỹ Dung hoàn toàn suy sụp, bà ngã quỵ xuống đất, thều thào:
- Ngày đó... chẳng qua tôi sợ... tôi sợ bị hiếp bởi mấy tên Tây say, nên mới...
- Mới trói tay Ngọc Lệ, để cho tên khốn Lợi làm chuyện tội lỗi. Mà phải vậy thôi sao. Sau khi thực hiện xong thú tính, hai người đã đem vứt xác em tôi ở giữa rừng, thay vì thả nó ở ngay chỗ đó thì nó còn có thể bò trở ra ngoài sẽ có người cứu giúp. Chính bởi bị bỏ rơi cho nên nửa đêm hôm đó, lũ khỉ đông đến hàng trăm con đã kéo đến. Bọn khỉ đực sẽ chẳng bao giờ hiếp con người nếu... người đó không trong tư thế lõa lồ, nhất là người ấy vừa trải qua cơn mây mưa dục tình, cái mùi dục tình sẽ khiến lũ khỉ đực ham muốn, và thế là...
Ngừng lại với tiếng nấc qua màn nước mắt, hồi lâu sau, vị tu sĩ mới nói tiếp được:
- Ngọc Lệ đã chết sau sự cưỡng hiếp tập thể của đàn khỉ, và tôi chỉ hay tin sau bảy ngày vong hồn nó về báo cho biết! Nói thật, lúc ấy tôi quá uất hận, đã cầm dao ra Rạch Giá đôi lần để quyết trả thù cho em gái mình! Tuy nhiên, cũng đôi ba lần, em gái tôi đã tìm cách ngăn cản, khi thì nó khiến cho hai người đi vắng lúc tôi đột nhập vào nhà, khi thì khiến xe đò tôi đi báo thù bị hư dọc đường, để rồi sau đó hai người không đến nơi thường ở. Sau mấy năm, cuối cùng tôi nghiệm ra rằng: lòng thù hận sẽ dẫn tới cuộc báo oán triền miên, rồi sẽ có thêm cái chết của hai người, và sau đó còn tiếp nối dài dài... Oan nghiệt chất chồng oan nghiệt! Bởi vậy cuối cùng tôi đã quyết định khoác áo nâu sồng và quên hết mọi chuyện...
Ông nói tới đó thì ngừng lại hơn nửa phút, đến khi tiếp lời thì giọng trở nên buồn thảm:
- Nhưng chuyện đời đâu như ý mình muốn! Cây muốn lặng mà gió chẳng chịu ngừng. Bởi vậy khi Cò mi Thuận ủi sập cái miếu thờ thì tôi không còn ngăn cơn thịnh nộ của Ngọc Lệ được nữa!
Bà Mỹ Dung đã đoán ra chuyện ông ta sắp nói:
- Và con gái tôi đã bị hại?
Giọng vị tu sĩ bùi ngùi:
- Đáng tiếc, nhưng không làm sao hơn! Đêm hôm ấy, trời xui khiến cho xe của Cò mi Thuận bị hư ở gần đây, và cô vợ trẻ của anh ta đã bị cái vong của Mỹ Lệ xui khiến bước xuống xe, đi thẳng tới nơi này...
Vừa nghe tới đó, bà Mỹ Dung đã kêu lên:
- Vậy con tôi đâu? Ai đã làm gì nó rồi?
- Rất tiếc... đêm đó tôi đã hết lời khuyên mà Ngọc Lệ không nghe, nó quyết đưa con gái bà đi vào rừng. Và chuyện gì sau đó ắt hai người biết rồi...
Cả hai đều kêu lên một lượt:
- Trời ơi!
Họ gục xuống. Trong khi ở bên ngoài cửa sổ có bóng một con khỉ trắng đứng lặng im...
***
Sau khi trở về từ Vàm Rầy thì hầu như bà Mỹ Dung đi vào hôn mê luôn. Các bác sĩ tây y đã chẩn đoán và kê toa đủ loại thuốc, nhưng bệnh tình của bà ngày càng tệ đi. Có người nói bà bị tâm bệnh hay một thứ bệnh của cõi âm gì đó, nhưng ông thẩm phán Lợi thì nhất định không tin.
Trong suốt thời gian bà nằm bệnh, thẩm phán Lợi bỗng dưng nổi cơn thèm muốn của đàn ông. Nếu bình tâm suy nghĩ một chút thì chắc ông thẩm phán đã sáu mươi tuổi sẽ không khỏi ngạc nhiên tại sao mình lại như vậy?
Trong khi chuyện ấy giữa ông và vợ đã ngừng từ vài năm rồi. Tuy nhiên, trong lúc này thì như một trai tơ, ông Lợi cứ rạo rực hoài và có nhu cầu như bao nhiêu đàn ông còn sung mãn khác. Ông lại giở chứng như cách đây trên mười năm...
Hôm đó là buổi chiều cuối tuần, thay vì ở nhà chăm sóc vợ, thẩm phán Lợi lại bảo tài xế riêng:
- Mày biết chỗ nào vui vẻ, chở tao tới đó coi!
Tài xế Hai là người lái xe cho ông lâu năm, kín tiếng và trung thành, nghe chủ nói anh ta đáp rất khẽ:
- Có chỗ này kín đáo lắm. Ông có thể tới được.
Nơi mà tài xế Hai nói thật ra anh ta chỉ biết hai hôm nay, do một người mới quen chỉ cho. Số là sáng thứ năm rồi, trong lúc chạy xe về nhà sau khi đưa chủ đi một vòng.
- Anh Hai!
Nghe kêu, tài xế Hai quay lại nhìn thì thấy có một người đàn bà tuổi trên dưới bốn mươi, đang đưa tay vẫy mình bên lề trái. Thấy không quen, Hai định chạy luôn thì chị kia chạy băng qua lộ, tiến sát anh, nói lớn:
- Em kêu anh đó, phải anh Hai Vĩnh không?
Cái tên Hai Vĩnh ít người biết, ngoại trừ thân cận. Nên anh phải tấp xe vào lề, rồi hỏi:
- Chị là ai mà biết tôi?
Người phụ nữ cười rất tươi:
- Mới mấy năm mà đã quên người quen cũ rồi. Phải rồi, bây giờ lái xe cho ông thẩm phán nên đâu thèm nhớ tới con Sáu Tuyết này nữa!
Hai Vĩnh nhìn sững chị ta:
- Phải Tuyết cơm tấm ở bến bắc không?
- Dữ hôn, giờ mới nhớ! Tuyết bắc Vàm Cống mà ngày xưa khi còn chạy xe đò, ngày nào anh cũng ghé ăn và... ghi sổ dài dài đây!
Quả thật Hai Vĩnh có biết một người như vậy, nhưng hình như chị ta thay đổi nhiều, nên anh chàng chỉ biết cười hòa và nói:
- Bận rộn quá đâu có nhớ. Mà sao cô lại ở đây, không ở Long Xuyên sao?
- Đâu có, em bán hàng ở bắc Vàm Cống, nhưng quê quán thì ở xứ này, nên sau khi nghỉ bán em trở về đây, chuyển nghề...
- Chắc lấy chồng giàu, làm bà chủ?
- Chồng con đâu mà lấy! Nhưng làm bà chủ thì có. Bà chủ nhỏ thôi...
Rồi chị ta cười tít mắt:
- Gặp anh, em mừng quá! Dẫu gì cũng là người quen cũ, vậy ghé ủng hộ em đi!
Hai Vĩnh ngạc nhiên:
- Em làm gì mà bắt anh ủng hộ?
Chị ta ghé sát tai Vĩnh nói nhỏ:
- Bán... bia có gái!
Hai Vĩnh giật mình:
- Cái vụ này tôi không hạp à nghen. Có bao giờ tôi ghé mấy cái quán loại đó đâu. Vả lại...
Chị ta nheo mắt rồi móc túi lấy ra tờ danh thiếp:
- Đây là địa chỉ quán của em. Anh không thích đi thì chỉ cho bạn bè hay... ông chủ anh đi. Bảo đảm với anh, ở chỗ em có một con nhỏ trẻ đẹp mà bất cứ đàn ông nào cũng phải mê.
Chị ta còn nói huyên thuyên đủ thứ chuyện, Hai Vĩnh chỉ ậm ừ cho qua rồi tìm cách thoát thân. Anh ta nghĩ bụng sẽ không bao giờ tới chỗ chị ta.
Nhưng mọi việc lại đổi khác khi bữa nay lại nghe chính ông chủ nghiêm khắc đề nghị đi vui vẻ!
Thấy Hai Vĩnh hứa hẹn thẩm phán Lợi hạ giọng:
- Đừng để ai nhìn thấy nghe mày!
Từ bữa được chào mời, bữa nay là lần đầu Hai Vĩnh mới tới. Tuy nhiên, anh không ngờ khi vừa cho xe đậu trước cổng ngôi nhà ngói cũ, anh đã thấy Sáu Tuyết từ trong cổng chạy ra đon đả:
- Em biết thế nào anh Hai cũng tới, mà lại tới với... ông lớn nữa! Vậy mời vào, cho xe vào luôn trong này, có chỗ đậu kín đáo lắm.
Chưa gặp chị ta bao giờ, nhưng tự dưng ông Lợi cảm thấy quen quen...
Ông được mời vào trong một phòng riêng, chỉ mỗi mình ông. Nhưng chờ không lâu, đã thấy xuất hiện một giai nhân, mà vừa thoạt nhìn thấy ông thẩm phán gần như hồn phi phách tán!
- Chào ngài thẩm phán!
Trốn đi chơi lén mà bị người ta phát hiện, gọi đúng chức vụ, đáng lẽ ông Lợi e ngại lắm, nhưng chẳng hiểu sao ông cứ tỉnh như không. Có lẽ tâm trí ông gần như bị hút vào cô gái có nhan sắc lạ lùng này!
- Ngài không vừa lòng em sao mà cứ ngây ra như vậy? Hay là để em nói bà chủ đổi người khác?
- Không, không phải... - Thẩm phán Lợi quýnh lên.
Ông ta như một chàng trai mới lớn, bị cô nàng làm cho ngất ngây, quên cả những lời tán tỉnh mà thường khi ông ta rất nhạy bén. Cô gái phải bẹo vào má ông, nũng nịu:
- Không thèm mời người ta ngồi gì hết hà!
Bấy giờ lão mới vụng về kéo tay nàng ta xuống, vô tình khiến nàng ta ngã gọn vào lòng lão!
- Ối, em xin lỗi!
Và khi lão ta vừa cúi xuống thì nàng ta đã bất thần kéo ghì đầu lão, rồi gắn chặt môi mình lên đôi môi đang thèm khát kia. Chỉ cần có thế, thật nhanh chóng để họ trở thành tri kỷ của nhau. Cho đến khi tuần rượu thứ hai đưa lên thì thẩm phán Lợi dõng dạc tuyên bố:
- Từ nay cô nàng tên Bích Liên này đã thuộc về ta!
Bà chủ quán xuất hiện đúng lúc và được vị khách sộp này móc ra một số tiền lớn đưa cho:
- Chị cầm lấy số này, coi như tiền ta chuộc Bích Liên.
Thấy chị ta có vẻ do dự, ông Lợi bồi thêm:
- Đây chỉ là tiền lót tay, rồi ta sẽ đưa thêm gấp đôi!
Dĩ nhiên là lời đề nghị hấp dẫn đó được chấp thuận. Cho đến khi tiệc tàn, thẩm phán Lợi ra lệnh cho Hai Vĩnh:
- Chở luôn nàng ấy về cho ta!
Hai Vĩnh lưỡng lự:
- Nhưng thưa ông...
Hiểu ý, lão ta chỉ tay về hướng ngoại ô thị xã:
- Mày đưa nàng về căn phố tao mới mua chưa ở. Từ nay cho nàng ở luôn nơi đó.
Bích Liên cảm động dựa đầu vào vai anh kép già, kín đáo nhoẻn miệng cười... Riêng Hai Vĩnh thì kêu thầm:
- Khổ tới rồi!
Rồi ngay tối đó, lão thẩm phán đã ở lại luôn với người đẹp tại ngôi nhà mà khi mua, lão từng nói là dành cho bà vợ làm chỗ thờ cúng, tụng kinh gõ mõ!
Hai Vĩnh cũng không ngờ ông chủ mình say mê cô nàng nhanh đến như vậy, cho nên anh ta cũng chưa tính được cách trả lời nếu bà chủ hạch hỏi.
Cũng may là đêm đó cũng giống như mấy đêm trước, bà Mỹ Dung vẫn còn mê man...
Ở một góc tối ngoài vườn, có một bóng trắng đứng lặng nhìn vào nhà, đôi vai run run theo tiếng nấc... Người ấy đang khóc. Và nếu có ai nhìn kỹ sẽ nhận ra, bóng đó là một con khỉ màu trắng!
Nàng ta khóc và thỉnh thoảng khẽ kêu lên:
- Mẹ ơi!
***
Bà Mỹ Dung đã trị đủ loại thuốc, đủ loại thầy mà bệnh tình vẫn trơ trơ.
Vậy mà chỉ sau đêm hôm đó, khi tài xế Hai Vĩnh ngủ giữ xe ngoài hàng hiên nhìn thấy một bóng trắng to lớn phóng từ phòng bà ra ngoài, thì sau đó nghe tiếng bà ú ớ kêu vọng ra!
Không tiện vào phòng bà chủ, nên Hai Vĩnh đã báo động để những tôi tớ khác chạy vào. Lúc ấy bà đã tỉnh lại, đang ngồi trên giường và thốt nhiên hỏi:
- Con gái tôi đâu?
Ai nấy ngơ ngác:
- Thưa bà... cô Mỹ Tiên đã...
Bà gắt lên:
- Ai không biết nó đã chết! Nhưng... nó mới về đây, chính nó đã cứu tôi tỉnh lại. Nó đâu rồi?
Bà bảo mọi người cùng tìm khắp nơi. Hai Vĩnh đoán ra, anh nói riêng với bà:
- Con mới thấy một cái bóng trắng thoát ra từ phòng bà!
Bà Mỹ Dung bật ngay dậy, lâu ngày không bước xuống đất nên bà lảo đảo suýt ngã. Cũng may là sau đó bà lấy lại thăng bằng và quát to:
- Đưa tao đi!
Nhìn đồng hồ tay thấy đã hơn hai giờ sáng, Hai Vĩnh vừa chạy ra mở cửa xe vừa lắp bắp nói:
- Thưa bà, giờ này...
Bà ra lệnh:
- Đưa tao tới ngay ngôi nhà ở bên Vĩnh Thanh Vân!
- Thưa bà... dạ thưa bà... - Hai Vĩnh quýnh lên.
Bà lại quát to hơn:
- Sợ tao lột mặt nạ chủ tớ tụi bay ra phải không!
- Dạ... con đâu dám...
- Con gái tao đã nói hết rồi, đừng giấu nữa!
Không còn cách nào hơn nên Hai Vĩnh đành lái xe về hướng căn phố ở ngoại ô, nơi hắn đã đưa ông chủ tới đó hồi đầu hôm...
Tuy nhiên, vốn có ý bênh ông chủ mình, nên Hai Vĩnh cố tình như quên chỗ, lái xe đi vòng vòng và chạy thật chậm... Nhưng thật bất ngờ, tay lái như bị ai đó điều khiển, ga bị nhấn mạnh và chiếc xe lao tới vun vút! Đến nỗi Vĩnh phải la lên:
- Xe kỳ quá, tôi không điều khiển được nữa rồi!
Cũng may là chỉ một lúc sau thì đến nơi. Xe đã dừng lại trước cửa căn phố rồi mà Hai Vĩnh vẫn còn hoang mang ngồi yên trên xe. Lúc đó, bà Mỹ Dung tự mở cửa xuống và ra lệnh:
- Mày lùi xe lại đằng kia chờ tao! Mày mà báo động cho ông ấy chạy thoát thì mày thế mạng đó!
Bà hùng hổ bước vào trong. Cánh cửa do Hai Vĩnh khóa trái lúc đi ra theo lời dặn của thẩm phán Lợi, giờ đây chẳng hiểu ai đã mở sẵn! Bởi vậy, đến khi bà Mỹ Dung xông vào tận phòng trong rồi mà người trong ấy vẫn không hay biết!
Tiếng quát của bà khiến cho người nằm trên giường hốt hoảng bật dậy.
Đó là... một con khỉ đột to bằng người, bộ lông màu xám!
- Trời ơi!
Bà Mỹ Dung vừa kêu vừa cố bước lùi... Tuy nhiên, đôi chân của bà hầu như không cất lên được, trái lại như còn bị đẩy đi tới. Trước mắt bà, rõ ràng người đang nằm cạnh con khỉ là ông chồng thẩm phán! Ông ta còn ngủ say, chẳng hề hay biết gì. Trong lúc con khỉ bước xuống giường, tiến về phía bà Mỹ Dung. Miệng nó nhe ra, hai chiếc răng nanh nhô dài như chực cắn cổ người trước mặt! Bà Mỹ Dung thét lên một tiếng rồi đổ người xuống chờ chết...
Vừa lúc ấy, cái bóng trắng quen thuộc lao nhanh vào, rồi bằng một động tác dứt khoát, người ấy cắp hai bên hai người, một là bà Mỹ Dung, còn bên kia là ông thẩm phán, nhảy vút ra ngoài và mất dạng!
Còn lại trong phòng, con khỉ xám điên tiết lồng lên! Nó đập phá đồ đạc chung quanh và hình như chưa hả giận, nó xé nát cái nệm giường, vừa ngửa cổ hú lên những tràng dài, kinh động cả một vùng!
Hai Vĩnh đậu xe cách hơn trăm thước, nghe được tiếng hú, anh ta hốt hoảng lùi xe lại nghe ngóng... Bất chợt anh ta nhìn thấy ngọn lửa bùng lên từ ngôi nhà, lửa càng lúc càng dữ dội mà không nhìn thấy ai trong đó chạy ra. Hai Vĩnh hốt hoảng kêu to:
- Ông bà chủ ơi!
Nghe tiếng anh ta la, nhiều người quanh đó bâu lại, họ hỏi dồn:
- Chuyện gì vậy?
Vĩnh đưa tay chỉ vào trong, quýnh lên:
- Cứu! Cứu giùm với... Có người kẹt trong đó!
Lửa cháy quá lớn, nên có người muốn vào cứu cũng không vào được.
Phải đợi hơn mười phút sau, khi có lính cứu hỏa tới thì họ mới phá cửa xông vào.
Cuối cùng, họ chỉ cứu ra được đúng một người. Nhưng khi mọi người nhìn thấy người đó thì thảy đều kinh hãi. Bởi đó là một người mà nửa phần trên là mặt và thân thể của một cô gái, còn nửa phần dưới là một con khỉ đột thật lớn!
- Trời ơi!
Ai nấy kêu lên và trố mắt nhìn. Tuy nhiên, chỉ hơn một phút sau thì thân thể ấy từ từ biến dạng... Cuối cùng chỉ còn lại một bộ xương trắng!
Mấy người lính cứu hỏa cũng không còn bình tĩnh, họ đặt hài cốt đó xuống sân rồi lo đi cứu lửa. Mọi người cũng tạm quên bộ xương, để tiếp tay lo dập lửa đang bắt đầu lan sang mấy căn nhà bên cạnh.
Đến khi họ chợt nhớ, quay lại thì chẳng còn thấy bộ xương đâu? Một người nói:
- Tôi mới thấy đây mà!
- Có ai dời đi đâu không? - Người khác hỏi.
Chẳng một ai biết. Hai Vĩnh cũng có mặt ở đó, anh cố chen mọi người vào trong nhìn. Khi thấy ngôi nhà của chủ tàn lụi theo ngọn lửa, anh ngao ngán lắc đầu rồi quay ra ngoài, giọng đẫm nước mắt:
- Cả hai ông bà đều ở trong đó!
Anh ta vừa mở cửa xe leo lên thì bất chợt nghe một giọng nói từ băng sau:
- Họ không chết đâu, đừng lo!
Hai Vĩnh giật mình quay lại thì bắt gặp vị tu sĩ mặc áo nâu, đang ngồi bên cạnh một bộ hài cốt. Quá đỗi ngạc nhiên, Vĩnh định hỏi thì vị đạo sĩ đã nói như ra lệnh:
- Đi đi, ắt gặp họ.
Vĩnh không hỏi là đi đâu, nhưng khi anh lái về hướng trước mặt, con đường dẫn về Hà Tiên thì người ngồi sau vẫn im lặng, có nghĩa là xe đi đúng hướng!
Cứ như thế, xe chạy với tốc độ nhanh, mất gần hai tiếng thì tới nơi. Đó là lần đầu tới đây, nên Vĩnh phải lên tiếng hỏi:
- Đây là đâu?
- Vàm Rầy. Anh không biết, chứ những người thân trong nhà chủ anh đều biết. Anh có muốn ngồi đây đợi hay vào trong đó giúp đưa chủ anh về?
Nghe nói thế, Hai Vĩnh mừng và reo lên:
- Chủ tôi còn sống sao?
Vị tu sĩ ôm bộ hài cốt trên tay, vừa đi vào phía am vừa đáp:
- Họ ở trong kia!
Hai Vĩnh chạy theo định giúp một tay, nhưng vị tu sĩ đã lắc đầu:
- Đây là hài cốt của một vong hồn, người trần đụng vào là không toàn mạng!
Câu nói đó làm cho Vĩnh sợ hãi, lùi lại phía sau. Đến khi anh ta theo vào được trong am thì vô cùng kinh ngạc, bởi trước mắt là ông bà chủ của anh đang ngồi ủ rũ trông rất thảm hại!
- Kìa, ông bà!
Anh ta lo cho họ, nhưng cũng mừng, bởi như vậy là họ không chết trong biển lửa như anh lo từ nãy giờ. Tuy nhiên, khi nhìn sắc diện của hai người thì Vĩnh không khỏi ái ngại, bởi da mặt họ vàng như nghệ, mà cặp mắt thì lờ đờ, không còn chút thần khí.
Vị tu sĩ đặt bộ hài cốt xuống trước mặt họ, giọng nhẹ nhàng:
- Lại một lần nữa nó thất bại.
Bà Mỹ Dung đang gục mặt đã vội ngẩng lên, ngơ ngác nhìn bộ xương, rồi giọng run run hầu như không thành tiếng:
- Tôi... tôi xin...
Vị tu sĩ nghiêm giọng tiếp:
- Em gái tôi dẫu thành ma nhưng vẫn không thể hại người! Nếu không thì ông chồng bà đã chết ngay từ đêm qua rồi!
Ông thẩm phán mới giương cặp mắt lờ đờ lên nhìn và hốt hoảng khi nhìn thấy bộ hài cốt, ông ta cố lùi lại, nhưng không cách nào nhấc người lên. Chỉ biết lắp bắp:
- Tôi... xin chịu tội...
Vị tu sĩ nhẹ thở dài:
- Em tôi giờ đây chỉ còn lại bộ hài cốt đó, thân xác trong lốt khỉ không còn, mà hồn phách cũng tiêu tan. Nó trả lại cuộc sống cho hai người đó...
Ông ta nói xong bước nhanh vào trong. Lát sau trở ra, ông đưa một cái quách nhỏ cho vợ chồng thẩm phán Lợi:
- Tôi biết sẽ có ngày này nên đã chuẩn bị. Vậy bây giờ hai người hãy chở hài cốt em tôi về nơi có cái miếu thờ chôn cất nó ở đó, tiện thì cất cho nó một cái am. Nó sẽ không đòi hỏi gì nhiều hơn đâu...
Vợ chồng thẩm phán Lợi riu ríu làm theo. Vừa làm mà trong lòng không yên, cứ lo chuyện chẳng lành sẽ xảy ra sau đó... Tuy nhiên, khi họ đặt bộ hài cốt vào quách xong thì nhìn lên chẳng còn thấy vị tu sĩ đâu. Bà Mỹ cất tiếng gọi thử:
- Thầy Lượng ơi!
Chẳng có ai trả lời. Sau nửa giờ chờ đợi, cuối cùng hai người cùng nhau khiêng cái quách ra xe. Hai Vĩnh chờ ở đó, anh bảo:
- Ông đạo sĩ vừa ra đây, ông dặn là không được chôn chỗ nào khác ngoài chỗ ông đã dặn.
Họ lẳng lặng khiêng cái quách lên xe và chỉ hướng cho Vĩnh:
- Về Kiên Lương, chỗ cậu Thuận xây cái biệt thự mới.
Đó là một ngôi nhà mát mới vừa hoàn thành, gần Hòn Chông. Dừng xe, nhìn thấy cổng không khóa, Hai Vĩnh ngạc nhiên:
- Sao cậu Thuận không khóa cổng lại, chưa ai ở mà để ngỏ như vậy tụi nó vào phá phách hết đồ đạc!
Nhưng khi họ bước vào trong rồi mới phát hiện là có người! Ở sân sau có một người đang quỳ gối trước một bãi đất đầy cỏ. Người ấy là Cò mi Thuận!
Ông thẩm phán kêu lên:
- Sao con về đây?
Thuận không ngẩng lên, mà lại hỏi:
- Sao tới giờ này ba má mới về tới? Vợ con nó chờ không được nên vào trong ngủ rồi...
Bà Mỹ Dung kinh ngạc:
- Vợ con... thế nào?
- Cô ấy ngủ trong kia.
Vừa buông cái quách xuống, bà mỹ Dung đã chạy bay vào trong, ở căn phòng mở hé cửa, khi nhìn vào bà đã há hốc mồm, kêu lên:
- Con... con...
Bà không biết phải gọi là gì. Bởi trước mắt bà, đang nằm trên giường là một con khỉ trắng cực to!
- Mỹ... Mỹ Tiên!
Bà thu hết can đảm gọi khẽ, con khỉ cựa mình rồi bật ngồi dậy. Giương đôi mắt nhìn. Bà Mỹ Dung không còn nghi ngờ gì nữa, bà gọi lớn:
- Mỹ Tiên, con của mẹ!
Đôi mắt ấy bà làm sao nhầm lẫn được, nó là đôi mắt của con gái bà! Và nó đang... chảy nước mắt!
- Con ơi...
Bà tính lao tới, nhưng vừa lúc đó có giọng của Thuận ở phía sau:
- Cô ấy đã là người cõi âm rồi, mẹ đụng vào là vĩnh viễn cô ấy sẽ không hiện diện với chúng ta được nữa!
- Con ơi!
Bà gào lên, Thuận phải giải thích thêm:
- Mỹ Tiên đã cố sức cứu cha mẹ khỏi đám lửa hận thù của Ngọc Lệ, đưa ba mẹ về cái am của tu sĩ Thành Lượng, để ba mẹ có dịp thể hiện lòng thành của mình trước hài cốt của cô Lệ. Riêng Mỹ Tiên thì may mắn, không tiêu hồn phách tán như Ngọc Lệ, nhưng cô ấy không đủ sức nữa... Hãy để cho cô ấy nghỉ ngơi, hy vọng cô ấy còn ở lại với chúng ta.
Con khỉ trắng cứ ngồi khóc trên giường mãi, không nói được lời nào.
Thuận phải kéo cha mẹ vợ ra ngoài, rồi bảo:
- Con đã phạm tội khi san bằng ngôi miếu trên mảnh đất này nên mới gây ra chuyện, chứ thật ra oan hồn của cô Ngọc Lệ không ác. Tuy vợ con đã thay mặt ba má và con để chịu chết, hóa thành khỉ, nhưng dẫu sao ta cũng phải cám ơn cô Ngọc Lệ đã còn nương tay...
Anh dẫn cha mẹ vợ trở ra chỗ mảnh đất hồi nãy, định chỉ chỗ để cất lại ngôi miếu thì quá đỗi ngạc nhiên khi chẳng thấy cái quách đâu?
- Lúc nãy để đây cơ mà? Mà nãy giờ cũng đâu có ai vào nhà? - Ông Lợi kinh ngạc.
Nhìn thấy một mô đất gò lên, Thuận hiểu, anh nói:
- Cô ấy muốn thân xác được chôn ở đây, thay vì mình tính chôn chỗ bên kia.
Bà Mỹ Dung có ý:
- Tôi muốn lập một lúc hai cái miếu, một cái cho cô Ngọc Lệ, còn cái kia cho Mỹ Tiên...
- Chỉ một cái cho cô Lệ thôi, còn Mỹ Tiên thì đã có ngôi nhà này rồi... - Cò mi Thuận nói ngay.
Anh quay sang cha mẹ vợ nói nghiêm túc:
- Để chuộc lỗi, con sẽ xây lại cái miếu cho cô Ngọc Lệ thật khang trang. Còn Mỹ Tiên thì sẽ ở với con trong ngôi nhà này. Con cũng xin thông báo với cha mẹ, ngày hôm nay con đã xin nghỉ việc, để về đây sống vĩnh viễn với Mỹ Tiên.
Ông Lợi kêu lên:
- Con đã suy nghĩ kỹ chưa? Tuổi con còn trẻ, lại mới lên chức Cò mi, mai mốt còn lên cao nữa, dễ gì có được!
Nhưng Thuận đã dứt khoát:
- Nghĩa lý gì đâu khi không còn có vợ bên cạnh. Con quyết sẽ ở đây, cùng sống kiếp âm dương giao hòa với vợ con...
***
Thuận đã thực hiện được ước nguyện của mình. Từ đó, anh sống hẳn ở ngôi nhà mát gần Hòn Chông, hầu như quên hết chuyện thế tục chung quanh.
Riêng vợ chồng thẩm phán Lợi dù chẳng đau bệnh gì, nhưng vài tháng sau bỗng nằm ngủ rồi không dậy nữa.
Thuận chôn cất cha mẹ vợ chu đáo. Khi anh trở về nhà mình thì thấy trên giường ngủ có một mảnh giấy của ai đó, chữ rất lạ, viết: "Vợ anh chưa phải là một hồn ma. Cô ấy bị truyền máu ma khỉ từ cô Ngọc Lệ nên hóa khỉ. Tuy nhiên, hy vọng đến một ngày nào đó do gần được người, nhận được tình yêu nơi chồng thì cô ấy có thể hoàn lại kiếp người! Anh hy vọng đi...".
Thuận mừng hơn bắt được vàng! Anh ngóng trông từng giây từng phút cho đêm đến và Mỹ Tiên trở về để báo cái tin này...
Có đôi mắt khỉ nhìn anh âu yếm từ trong bóng tối...

Helen 11-07-2012 06:20 AM

TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 36
 
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG


Quyển XXXVI: Ngôi Nhà Huyền Bí -Phần 1


K...é...t.... K...ẹ...t... Tiếng mở cửa vang lên thật lớn giữa đêm khuya thanh vắng gây cảm giác rờn rợn cho những ai nghe thấy. Nằm im trên giường không dám thở, Tuyền cố ngóng tai chờ xem động tĩnh gì tiếp tục xảy ra. Cô thầm nhủ: "Ngôi nhà hoang phế này mà cũng có trộm viếng thăm ư? Có gì giá trị đâu ngoài mấy vật dụng cũ kỹ bị vứt lại đã lâu không ai thèm lấy. Hay là bọn trộm để ý đến mớ hành lý của chị em cô? Chà, vấn đề này thì phải cẩn trọng đây, bởi toàn bộ số tài sản còn lại để sinh sống đều nằm trong cái va li kia cả. Nếu mất nó thì chị em Tuyền sẽ ra sao?" Nghĩ tới đó, Tuyền thu hết can đảm ngồi bật dậy, cô rón rén mò tìm cây đèn pin mà vú Dần đã mua dự trữ sẵn hồi sáng. Sờ soạng mãi một lúc mới đụng được tay vào nó, nhưng cây đèn lại nhẹ hẫng vì chưa được gắn pin làm cho Tuyền thoáng bực mình. Cứ điệu này trộm nó rinh hết cả đồ đạc ra ngoài đồi trà mất thôi. Tuyền không thể để mất thời gian mò mẫm những cục pin chưa biết nằm ở đâu.
Một... hai... ba, Tuyền bước đến bên cánh cửa phòng toan đưa tay kéo chốt thì... cộp... cộp... cộp... Ôi, rõ ràng là tiếng gót giày nện xuống nền gạch nghe thật gần nhưng cũng thật xa. Dường như có người đã đến đây, nhưng sao họ lại đến giữa đêm khuya thế này? Ai vậy? Người tốt hay kẻ xấu? Tuyền thầm run trong dạ khi hình dung bên ngoài là một tên côn đồ nào đó đang muốn trêu chọc mình, vì biết trong nhà chỉ toàn là phụ nữ chân yếu tay mềm.
Vừa mới dọn đến đây sáng nay, chị em Tuyền và bà vú đã biết gì về vùng đất sương mù giăng phủ này. Họ đến do sự nhiệt tình giúp đỡ của ông bà Thành Danh, bạn rất thân của cha mẹ họ ngày trước, nay thấy hoàn cảnh mồ côi, bơ vơ của con bạn mà động lòng. Khi mới đặt chân đến, nhỏ Tú, em gái Tuyền đã kêu ầm lên rằng nơi này quá buồn. Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, chị em cô đành phải chấp nhận thôi, vì đâu còn chỗ nào cho chị em họ nương thân lúc này được.
Ngôi nhà mới họ đang trú ngụ thuộc loại biệt thự sang trọng nhưng đã bỏ hoang phế nhiều năm, nên chỗ nào cũng ẩm mốc và xuống cấp trầm trọng. Đã vậy nó còn nằm trên một ngọn đồi cao biệt lập với mọi người, dường như chỉ làm bạn với gió và chim muông. Nếu như lúc trước còn sống trong ấm no, hạnh phúc, thì dẫu có cho vàng chị em Tuyền cũng không dám ở một đêm. Còn bây giờ, có được chỗ ở này là quá tốt, chị em cô không mong mỏi gì hơn. Điều họ được an ủi trong lúc tứ cố vô thân là còn có được bà vú trung thành theo hầu hạ.
Cộp... cộp... cộp... Tiếng nện của gót giày vang lên theo lộ trình vòng quanh ngôi nhà rồi tắt hẳn. Lúc này Tuyền không đủ can đảm để xông ra bên ngoài nữa mà cô trở vào vặn lớn ngọn đèn dầu lên, lòng nơm nớp bất an. Nhỏ Tú bỗng mở mắt.
- Có gì vừa xảy ra phải không chị?
Tuyền không muốn làm em gái phải sợ nên lắc đầu:
- Không có gì. Tại khó ngủ nên chị thức dậy định xem sách đó mà.
Song nhỏ Tú đã thấy được gương mặt lo âu của chị nó. Con nhỏ bèn trề môi:
- Chị nói dối. Em thấy chị thức đã lâu sao bây giờ mới vặn đèn?
Tuyền lúng túng:
- Thì tại... bây giờ chị mới muốn đọc sách.
Nhỏ Tú tiếp:
- Chứ không phải chị thức là vì... vì...
- Vì cái gì... sao không nói luôn đi?
Bất giác nhỏ Tú trùm mền kín đầu, nó nói vọng ra nghe thật nhỏ:
- Vì sợ ma. Chị có nghe thấy tiếng mở cửa lúc nãy không?
- Nói bậy. Làm gì có ai mở cửa...
Nhỏ Tú cãi lại bên trong mền:
- Em nghe rõ ràng mà... cả tiếng chân người nữa.
- Thôi đi nhỏ. Ăn no, ngủ kỹ rồi mơ màng nói tùm lum.
- Không phải mơ... mà là em nghe thật.
Tuyền hơi gắt:
- Thật cái gì?
- Dường như nhà này có ma! Từ lúc đặt chân vào đây tới giờ em luôn cảm thấy ớn lạnh.
Mọi can đảm trong người Tuyền bị tiêu tan bởi lá gan nhỏ xíu của đứa em, cô soi đèn tìm chiếc va li rồi nhấc hẳn nó bỏ vào mùng ngay sát vách đầu giường cho chắc ăn rồi mới chịu đi nằm. Song tiếng động vừa qua làm Tuyền thao thức mãi, dù bên cạnh nhỏ Tú lại chìm sâu vào giấc ngủ. Tại sao lại có tiếng người mở cửa giữa đêm hôm như vậy chứ? Vú Dần thì chắc chắn là không rồi, bởi Tuyền biết tính vú hễ đặt mình xuống giường là ngủ liền, chẳng bao giờ ra ngoài vào ban đêm. Tuyền cố lảng tránh không nghĩ đến vấn đề nhỏ Tú đã gợi lên, nhưng lại bắt đầu hình dung tới những điều không bình thường làm cho người ta sợ hãi nhất. Ma! Phải chăng ngôi nhà này có ma nên người ta mới bỏ hoang nó? Giả thuyết này có lẽ đúng, song nếu thế thì lại gay cho chị em Tuyền rồi đây. U... u... u... Tiếng gió rít ở bên ngoài sao nghe cũng thật là kỳ quái. Tuyền kéo mền đắp lên người rồi nhắm mắt để cảm giác căng thẳng hạ bớt xuống, nhưng những âm thanh hỗn hợp chung quanh ngôi nhà cứ nối tiếp nhau trỗi dậy... trỗi dậy...
Không có người trấn an Tuyền vì nhỏ Tú đã ngủ rất say sưa, còn vú Dần thì ở phòng riêng. Tuyền thật sự cảm thấy đơn độc trước hoàn cảnh hiện tại. Vừa tốt nghiệp chương trình phổ thông với hy vọng sẽ đậu cao vào đại học thì gặp nhiều biến cố. Bởi ba mẹ cô chết đi để lại một khoản nợ khá lớn khiến ngôi nhà lầu khang trang của gia đình bị người ta xiết mất, tống cổ hai chị em cô ra ngoài đường. May sao Tuyền còn nhanh trí thu gom được ít nữ trang của mẹ để lại là của hai chị em giấu đi, nên mới có thể tồn tại tới hôm nay. Nhưng nếu không có công việc làm để sinh nhai thì chẳng bao lâu nữa họ sẽ bị chết đói mất thôi vì nguồn sống đã cạn kiệt. Giữa lúc sự đe dọa sắp đến thì ông bà Thành Danh xuất hiện kịp thời đưa chị em Tuyền về cái xứ sở lạnh ngắt hơi sương này với đề nghị nhờ Tuyền dạy kèm cho hai đứa con gái nhỏ. Mừng rỡ, chị em Tuyền đã cùng với bà vú dắt díu nhau lên đây. Song khi tiếp cận với chỗ ở mới thì chị em Tuyền hết sức ngỡ ngàng, khi thấy đó là một ngôi nhà hoang phế nằm giữa đồi mênh mông cả ngày chẳng thấy bóng người qua. Mặc dù vậy, họ vẫn không thể khen hoặc chê hay có sự lựa chọn nào khác trong lúc này. Tuyền đã ra sức động viên em gái chấp nhận hoàn cảnh mới để có cơ hội sống. Và đêm nay là đêm đầu tiên họ bước vào cuộc sống tự lực cánh sinh.
Cộp... cộp... cộp... Lại tiếng gót giày nện ngoài thềm. Rồi u... u... u... tiếng gió rít tựa âm thanh của oan hồn uổng tử đang lang thang vất vưởng. Tiếp đến là k...é....t… k...é...t... như có tiếng người mở cửa... Ôi, chừng đó âm thanh hòa tấu lại thành giai điệu đủ giết chết những người yếu bóng vía rồi. Còn Tuyền, cô không nhát nhưng cũng đang sợ điếng cả người. Từ nhỏ đến lớn ở thành phố với cuộc sống sung sướng, có bao giờ cô phải đối diện với sự khủng hoảng thế này đâu. Vậy mà hôm nay suốt một đêm phải thức, phải nghe, phải run, phải sợ... Tuyền co người lại thành một khối tròn bên cạnh em. Những giọt nước mắt đã ngừng chảy song trái tim trong ngực thì càng dội mạnh hơn khi tiếng gót giày cộp... cộp... vang lên ở trước cửa phòng cô. Trời... Phật ơi... phải làm sao bây giờ đây? Trong lúc Tuyền chưa kịp nghĩ gì thêm thì k...é....t... k...ẹ...t... ôi, Tuyền chỉ thốt lên được một tiếng tắc nghẽn ấy rồi ngất đi, trong cơn sợ hãi tột cùng chưa từng thấy. Và không biết trải qua bao lâu với những sự kiện gì đã xảy ra... Khi Tuyền tỉnh dậy thì đã thấy em gái và vú Dần đang xúm xít bên cạnh, vẻ mặt đầy lo lắng. Vẫn còn lưu giữ ấn tượng trước khi ngất nên vừa mở mắt Tuyền đã hét toáng lên:
- Á...á...á...
- Làm cái gì mà la ghê quá vậy chị Hai? Bộ đêm qua mơ thấy ác mộng hả? Nhỏ Tú ôm chầm lấy chị lay.
Vú Dần cũng cất tiếng gọi chủ:
- Cô Tuyền à... trời sáng rồi chứ không còn là ban đêm đâu.
Bị nhỏ Tú vỗ mấy cái vào mặt, Tuyền mới tỉnh lại ngơ ngác hỏi:
- Sao? Sáng rồi ư...?
Nhỏ Tú cười vô tư trước bộ dạng của chị:
- Mới ngủ có một đêm ở nhà mới mà nhìn chị giống như mấy người trong bệnh viện tâm thần vậy. Chắc gặp ma rồi chứ gì?
Trước câu nói tỉnh bơ của em gái, Tuyền máy môi lặp lại:
- Gặp ma...
Nhỏ Tú khẽ gật đầu:
- Ừa...
Đôi chân mày của Tuyền nhíu lại tựa người đang suy nghĩ, và ngay lập tức cô thay đổi thái độ bằng ánh mắt vừa trợn tròn như vừa gặp phải một điều gì kinh khủng lắm!
***
Ăn xong bữa điểm tâm sáng đơn giản do vú Dần làm, chị em Tuyền đưa nhau đi xung quanh khu vực ngôi biệt thự mà họ miễn cưỡng phải nhận đó là nhà. Tuy đã hơn tám giờ mà sương mù vẫn mù mịt cả bầu trời, nếu cách xa chừng mười mét thì chỉ nhìn thấy bóng chứ không nhận dạng rõ. Nhỏ Tú hắt hơi mấy cái liền khiến cho Tuyền lo lắng.
- Hay là chúng ta quay về nhà?
Nhưng nhỏ Tú đã lắc đầu trước lời đề nghị này:
- Phải tập cho quen dần thôi chị Hai. Dù muốn hay không chúng ta cũng phải ở đây mà.
Tuyền nhớ lại những gì đêm qua. Cô làm bộ hỏi em gái:
- Mi thấy ở đây thoải mái không?
Nhỏ Tú đưa một bàn tay lên vuốt mặt. Nó nói như người lớn:
- Nếu không buồn thì cũng sống tạm được.
- Đêm qua mi có ngủ ngon không?
- Chập tối hơi trằn trọc vì lạ nhà, nhưng sau đó buồn ngủ quá nên em ngủ một giấc tới gần sáng. Chừng gọi chị không thấy ừ hử gì nên em mở cửa phòng gọi vú Dần.
Rồi nó ngước mắt lên nhìn chăm chăm vào chị gái. Nhỏ Tú hỏi:
- Có chuyện gì xảy ra với chị đêm hôm qua vậy?
Tuyền cố tình gạt đi:
- Không có gì.
- Em không tin.
- Sao mi lại nói thế?
- Cứ nhìn chị thì blết. Trong mặt chị nét khủng hoảng vẫn còn rõ rệt kìa. Phải chăng tiếng mở cửa đêm qua đã làm cho chị sợ. Cả những bước chân của ai đó?
Thì ra nhỏ Tú cũng hiểu được vấn đề, nhưng có lẽ vì còn nhỏ, ở lứa tuổi vô tư nên nó không quá ấn tượng như chị. Khoảng thời gian Tuyền ngập ngừng chưa tìm được câu giải đáp thì nhỏ Tú phát hiện ra nét đẹp của quang cảnh chung quanh nó. Mà sao có thể bảo rằng không đẹp chứ khi ẩn hiện trong sương mù là những hình bóng mờ ảo của cả một đồi trà mênh mông có đan chen màu sắc nhiều loại hoa. Thật là một bối cảnh thiên nhiên tuyệt diệu mà chỉ nơi đây mới có được. Nhỏ Tú reo một mình:
- Nơi đây cũng hữu tình quá. Nếu có bạn thì không đến nỗi buồn đâu.
Tuyền động viên:
- Rồi sẽ có ngay thôi, chỉ tại chúng ta mới đến nên chưa quen biết...
Tú đảo mắt:
- Nhưng quanh đây em chẳng thấy bóng dáng một người nào cả.
Tuyền cũng thầm lo ngại trong lòng song không dám nói ra. Cô hứa hẹn:
- Hay ta với mi sang nhà bác Thành Danh chơi.
Tất nhiên thái độ của nhỏ Tú thay đổi liền tức thời. Nó tíu tít:
- Phải đó!
Nhưng ngay lúc ấy thì có tiếng vú Dần gọi từ nhà ra. Tuyền bảo em:
- Quay về đã rồi tính sau.
Cả hai về đến nơi thì trông thấy một giỏ thức ăn lớn để trên bàn. Tuyền ngạc nhiên hỏi vú Dần:
- Làm cách nào mà vú đi chợ mau quá vậy?
Vú Dần đang co người trong chiếc áo len vì lạnh, nhìn cô rồi lắc đầu:
- Không phải tôi đi mua đâu, mà là của ông bà Thành Danh sai người đem qua cho chúng ta đó!
Tuyền thở dài suy tư:
- Chắc họ muốn giúp đỡ chúng ta đây.
Thoạt đầu cô cảm thấy rất áy náy, nhưng sau đó nghĩ lại nghe lòng nhẹ nhõm hơn, vì sự giúp đỡ của ông bà Thành Danh chỉ là một khoản nhỏ không đáng kể so với những gì họ đang sống và có. Là một phú nông giàu có, làm chủ cả hàng trăm mẫu trà và là giám đốc một công ty tư doanh thì tài sản của họ làm sao cho hết chứ.
Tuyền bảo với vú Dần:
- Họ đã cho thì chúng ta cứ dùng. Tiết kiệm được khoản chi tiêu nào thì càng đỡ...
Hiểu lòng cô chủ, vú Dần gật gù:
- Chừng này mình sống cũng được cả tuần lễ rồi đây.
***
Tuyền không ngờ mình được ông bà Thành Danh tiếp đón khá chu đáo trong buổi đầu tiên đến ra mắt và nhận việc. Khi được người giúp việc báo tin, đích thân bà Thành Danh đã ra tận ngoài sân dẫn Tuyền vào. Bà tỏ ra thân tình hơn cô đã nghĩ.
- Cháu đừng khách sáo với hai bác. Có thiếu thốn gì thì cứ nói, hai bác sẽ giúp cho.
Tuyền cố giữ khoảng cách:
- Dạ... chị em cháu chỉ dám nhờ hai bác chỗ ở thôi. Cháu xin cám ơn giỏ thức ăn hồi nãy hai bác đã gửi cho ạ.
Bà Thành Danh mắng yêu Tuyền:
- Đã bảo không được khách sáo mà... Những gì bác cho thì cứ nhận.
Rồi bà lôi thốc Tuyền đi theo mình vào tận gian phòng khách. Ở đó có ông Thành Danh và hai cô bé trạc tuổi nhỏ Tú đang ngồi chơi trên salon. Trông thấy khách, chúng giương mắt nhìn. Tuyền vội vàng thủ lễ:
- Thưa bác ạ.
Ông Thành Danh nhếch môi cười nhẹ chứ không quá vồn vã như vợ. Ông chỉ tay vào chiếc ghế đối diện:
- Ngồi đi cháu.
Tuyền rón rén ngồi xuống rồi lấm lét đưa mắt quan sát gian phòng khách. Thật là lộng lẫy từ cách xây dựng thiết kế và bài trí. Bà Thành Danh vốn vẫn nhanh nhẹn hơn chồng, đẩy tới cho Tuyền tách trà thơm ngào ngạt:
- Uống nước rồi bác giới thiệu học trò với cô giáo.
Tuyền khẽ liếc sang phía hai cô bé, chúng có vẻ rất giống nhau như một cặp song sinh. Tuyền nhạy cảm hỏi trước:
- Thưa... có phải đây?
Bà Thành Danh gật đầu:
- Đúng rồi.
Nhìn dáng dấp cả hai thật khỏe mạnh. Tuyền bèn hỏi:
- Thưa... hai em có đi học ở trường không ạ?
Lần này thì bà Thành Danh lắc đầu, âm điệu khá nghẹn ngào:
- Nếu đi học được ở trường thì hai bác đâu nhờ cháu làm gì.
Tuyền chớp mắt ngạc nhiên song cô chưa kịp hỏi thì bà Thành Danh đã tiếp:
- Chúng bị câm đó cháu à. Lúc trước hai bác có gửi chúng vào trường khuyết tật để các giáo viên chuyên môn dạy dỗ. Song chúng không chịu, cứ trốn ra nhiều lần, khiến mọi người phải tốn công sức đi tìm. Bất đắc dĩ hai bác phải để chúng ở nhà rồi kiếm thầy cô về dạy, nhưng cũng đã trải qua mấy người rồi, họ đều chịu thua vì chúng không chịu học. Bây giờ hai bác chỉ còn trông chờ ở cháu.
Lời bà Thành Danh vừa dứt thì Tuyền cũng cảm nhận công việc sắp được giao sẽ nặng nhọc ra sao. Ôi, một cô giáo chưa hề được trải qua trường lớp huấn luyện nào lại phải đảm trách việc dạy dỗ hai đứa học trò bị khuyết tật ư? Tuyền thấy thất vọng dâng cao khi vừa ra đời tự lập đã phải làm một việc không cân sức. Giá mà được làm một công nhân đi hái trà thì Tuyền cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Nhưng cô lấy cớ gì để từ chối làm cô giáo dạy học đây? Chị em cô đã thọ ân người ta rồi, biết tính sao hơn là phải cố gắng đáp trả lại.
Tuyền nói như người bị ngạt thở:
- Cháu chỉ sợ làm hai bác phải thất vọng.
Bà Thành Danh động viên cô:
- Từ từ rồi cũng sẽ ổn thôi. Vấn đề ở chỗ là cần phải kiên nhẫn cháu ạ.
Nói tới đây, bà sụt sùi rơi lệ:
- Cháu thấy đó! Hai đứa con bác xinh xắn thế này chứ có tệ lắm đâu. Vậy mà cớ sao ông trời lại đày ải chúng bắt phải chịu cảnh câm, không thể thốt thành lời chứ?
Tuyền bật ra câu hỏi:
- Thưa bác... các em bị bẩm sinh hay là do tai nạn?
Bà Thành Danh đưa chiếc khăn tay lên để ngăn dòng lệ. Tiếng bà thật ảo não:
- Nếu chúng bị bẩm sinh thì bác bớt đau lòng hơn. Đằng này bác đã tập cho chúng biết nói năng đàng hoàng, thế mà năm lên sáu tuổi chẳng hiểu sao chúng lại biến đổi... mới đầu thì lầm lì ít nói, rồi sau đó câm luôn cho đến tận bây giờ.
- Cả hai cùng có triệu chứng như thế sao bác?
- Phải. Bởi chúng là một cặp song sinh nên mọi thứ đều giống nhau.
Hai người nói chuyện tới đây thì bị ông Thành Danh chặn lại:
- Thôi, nhắc chuyện đã qua làm chi nữa. Hãy bàn cách dạy chữ cho mấy đứa nhỏ sao cho có hiệu quả kìa. Điều trước nhất bây giờ là cháu Tuyền hãy làm quen với chúng đã...
Rồi ông đưa tay về phía những đứa con:
- Lại đây chào cô giáo mới nè... Diễm và Kiều.
Nghe gọi, cả hai đứa đang chơi bèn thảng thốt, chẳng những chúng không lại mà còn ôm lấy nhau tỏ thái độ khiếp hãi như thể cha chúng là vị hung thần vậy. Tuyền quan sát rồi hỏi bà Thành Danh:
- Các em biết nghe ư?
Bà Thành Danh buồn bã đáp:
- Chúng chỉ bị câm thôi chứ không điếc. Khi dạy học, cháu cứ việc giảng giải bằng miệng mà không cần phải ra hiệu bằng tay.
Tự dưng Tuyền muốn thử sức mình ngay lúc này:
- Cháu sẽ tự mình làm quen với các em.
Ông Thành Danh tế nhị kéo tay vợ:
- Chúng ta ra thăm công nhân ngoài đồi trà một chút. Hãy để cho cô và trò tự do thoải mái với nhau đi.
Không cãi lời chồng, bà Thành Danh lẳng lặng đi theo ông sau khi để lại cho Tuyền ánh mắt như gửi gắm. Chờ chủ nhà đi khuất, Tuyền mới bắt đầu công việc cần thiết nhất của mình. Cô tiến lại gần hai đứa nhỏ với nụ cười hiền hậu:
- Nào... Diễm và Kiều... chúng ta làm quen nhau đi.
Song, trái với sự thân thiện của cô, hai đứa nhỏ càng ghì chặt lấy nhau lộ nét kinh hoàng hơn. Chúng ré lên thứ âm thanh mà Tuyền hoàn toàn không thể hiểu. Cô từ tốn nói:
- Chị đâu làm gì các em. Chị đến đây là để dạy các em học chữ mà...
Nhưng một đứa đã lắc đầu, chúng làm những động tác mà Tuyền cho rằng đó là sự phản đối. Cô cảm thấy hơi tự ái:
- Các em chê chị không đủ tư cách để dạy học phải không?
Chúng lại lắc đầu, song lần này ánh mắt của chúng chăm chú vào cô hơn.
- Sao? Hay các em muốn làm người dốt, suốt đời không biết chữ?
Lại những cái lắc đầu làm Tuyền bối rối không thể dự đoán được ý muốn của hai cô học trò khuyết tật này. Tuyền lại hỏi:
- Các em thấy chị có thể làm cô giáo được không?
Dường như hai đứa nhỏ đang quan sát cô, nên chúng ở trong trạng thái im lặng, chỉ hoạt động bằng ánh mắt. Sau một hồi chờ đợi, Tuyền nhận được tín hiệu đáng mừng từ phía hai đứa học trò. Chúng gật gật đầu làm Tuyền không ngăn được mình và nhào người tới.
- Các em đồng ý để chị dạy học chứ?
Nhưng lạ thay, chúng lại thụt lùi rồi lưỡng lự trước câu hỏi của Tuyền khiến cô tiu nghỉu phải buông ra lời than thở:
- Nếu các em không chịu học thì kể như chị mất cơ hội ở đây rồi.
Diễm và Kiều đưa mắt nhìn nhau như hội ý điều gì. Một lúc sau, một trong hai đứa bỗng chậm rãi bước tới cầm tay Tuyền ra dáng trân trọng. Đang thất vọng, Tuyền không màng đến thái độ làm thân này nên bặm môi:
- Các em khỏi cần thương hại tôi. Nếu không làm được cô giáo thì tôi sẽ xin đi làm công nhân vườn trà vậy.
Tuyền vừa dứt lời thì một đứa nữa từ xa bỗng chạy lại bên cô, cả hai giữ chặt tay Tuyền đầu gật lia khiến cô phải hoang mang trố mắt.
- Vậy các em có chịu nhận tôi làm cô giáo dạy học không?
Những cái gật kèm theo âm thanh ú ớ của người câm làm ruột gan Tuyền rúng động lên vì mừng. Cô lắp bắp:
- Thế... có nghĩa là... các em chịu... học...
Hai chiếc miệng cùng nhoẻn cười một lúc, chứng tỏ sự thân thiện như thể giữa họ đã có tình thân. Ngay lúc đó thì ông bà Thành Danh từ bên ngoài bước vô, trông thấy cảnh ấy họ mừng vui rối rít:
- Ồ, cháu Tuyền quả là tài tình! Mới chỉ trong khoảng thời gian ngắn có một giờ đồng hồ đã thuyết phục được hai con "ngựa chứng" này rồi phải không?
Bà Thành Danh chữa lời chồng:
- Sao mình lại gọi các con là "ngựa chứng"? Chẳng qua vì mặc cảm tật nguyền nên chúng mới khác thường một chút thôi.
Ông Thành Danh đưa mắt về phía hai đứa con, giọng cứng nhắc không tình cảm:
- Chỉ khác thường thôi ư? Chẳng lẽ mình còn chưa điên đầu lên vì chúng?
Thấy không khí giữa vợ chồng ông Thành Danh hơi nặng nề, Tuyền bèn chủ động xin cáo lui:
- Thưa hai bác... cháu về ạ.
Nhưng bà Thành Danh đã giữ chân cô ở lại:
- Cháu đừng về vội mà hãy gần gũi với mấy đứa nhỏ thêm chút nữa. Dường như chúng đang bắt đầu mến cháu rồi.
Lời bà Thành Danh quả không sai vì lúc này hai cô bé Diễm và Kiều đã xoắn xuýt bên Tuyền như không muốn rời xa. Chúng làm những động tác bằng tay và đầu mà Tuyền phải nhờ đến sự thông ngôn của bà Thành Danh mới hiểu.
- Hai đứa con bác muốn mời cháu lên phòng của chúng...
Nhận được cái nháy mắt của chủ nhà, Tuyền đành phải gật đầu:
- Vâng... cháu xin phép...
Bà Thành Danh phẩy tay:
- Thôi, đừng quá lễ nghĩa như vậy. Là người nhà cả mà.
***
Vừa mới đi chợ về, vú Dần đã vứt chiếc giỏ thức ăn nặng trịch xuống rồi tất tả chạy đi tìm chị em Tuyền. Trông thấy cô đang nhổ cỏ cho mấy khóm hoa trước sân nhà, vú ào tới kể rối rít:
- Hai cô ơi... có chuyện với chúng ta rồi...
Tuyền ngạc nhiên ngẩng lên:
- Vấn đề gì làm vú hồi hộp quá vậy?
Vú Dần thở hào hển:
- Tôi không biết... có nên... nói lại hay không nữa? Chuyện này... chuyện này... cũng chẳng hay ho gì...
Nhưng nhỏ Tú không chịu nổi kiểu lấp lửng ấy của vú nên hối thúc:
- Không hay ho gì thì vú cũng phải nói lại cho tụi con biết chứ. Mọi vấn đề bây giờ đều cần sự giải quyết của cả ba người.
Vú Dần đưa mắt nhìn sang Tuyền dò ý, song cô đã làm hiệu bảo không nên giấu điều gì. Thế là vú đành miễn cưỡng nói:
- Lúc nãy ngoài chợ tôi nghe mọi người đồn với nhau rằng ngôi biệt thự chúng ta đang tá túc có... m...a...
Vừa nghe thấy thế, chị em Tuyền ai cũng nổi da gà. Tuyền cố trấn tĩnh nhưng sắc mặt thì không thể giấu được ai.
- Vú nghe bậy không hà. Mấy ngày vừa qua chúng ta ở đây có thấy động tĩnh gì đâu.
Nhỏ Tú bỗng vọt miệng:
- Chị còn giấu làm chi. Chẳng phải hôm mới đến hiện tượng lạ xảy ra cho chúng ta nghe là gì à?
Tới đây thì kẻ rùng mình là vú Dần, vú nhích sát lại gần Tuyền đầu ngoái nhìn lung tung:
- Úi... có chuyện đó xảy ra sao hai cô không nói với tôi?
Tuyền bật cười:
- Nói với vú thì giải quyết được gì nào. Liệu vú có dám soi đèn để thử coi mặt con ma không?
Vú Dần run giọng nói:
- Ồ không. Tôi sẽ dọn giường qua phòng của hai cô ngủ cho ấm áp.
Tuyền không chịu, lắc đầu:
- Thôi... chật lắm. Vú già rồi còn sợ hãi chi ba cái chuyện nhảm nhí ấy! Ma cỏ ở đâu ra vào cái thời buổi này.
Dù đã nghe cô chủ trấn an, vú Dần cũng nghe gai ốc trong người mình nổi dậy.
Tuyền bỗng khơi mào lại:
- Vú nghe người ta đồn thế nào về ngôi nhà mà ta đang ở này?
Vú Dần nhăn vầng trán như cố nhớ lại đầy đủ câu chuyện ngoài chợ:
- Người ta nói ngôi biệt thự này bị bỏ hoang vì có ma quấy nhiễu. Đã từ lâu không ai dám dọn đến đây ở dù là những công nhân hái trà...
Nghe thấy vậy, nhỏ Tú lanh chanh nói:
- Nguy hiểm thế mà ông bà Thành Danh lại cho chúng ta đến ở nhờ. Thật ra họ cũng chẳng tốt lành gì.
Dù trong lòng rất hoang mang, Tuyền cũng không để em phủ nhận lòng tốt của người khác. Cô mắng Tú:
- Mi nói năng không suy nghĩ, bác Thành Danh nghe được sẽ buồn.
- Ấy là em nghĩ thế thôi. Ở đây vẫn hơn lang thang ở vỉa hè gấp nhiều lần.
Tuyền co tay cốc nhẹ lên đầu Tú:
- Mi nhận định được như thế thì đừng có lải nhải nữa.
- Nhưng ở chung với ma liệu có được yên thân không? - Tú rụt cổ đỡ đòn.
Tuyền hất cằm:
- Nó làm gì được chúng ta?
- Mỗi đêm mở cửa vài ba lần bộ không làm chị bị đau tim hả? Còn nữa... những bước chân cộp... cộp...
Chỉ nghe nhỏ Tú diễn tả, vú Dần đã sợ muốn ngất đi rồi. Vú ngăn cô chủ nhỏ:
- Cô Tú làm ơn đừng có nói thêm nữa.
Song Tú đang được đà, không chịu dừng:
- Không nói sao được vú. Nhà mình có ba người, nhưng cộng tất cả lá gan lại thì chỉ có một cái.
Thấy vú Dần và em gái càng lúc càng làm cho tinh thần mọi người xuống cấp, Tuyền bèn nạt:
- Bây giờ ai cũng sợ hết thì đi nơi nào mà ở. Đúng là được voi đòi tiên mà.
Dù câu nói của Tuyền khá nặng nhưng không ai dám cãi, bởi lẽ hiện tại mọi gánh nặng sinh kế giờ chỉ trông vào mỗi mình cô. Với đồng lương dạy học mà ông bà Thành Danh hứa trả mỗi tháng tạm đủ nuôi sống ba người trong điều kiện hết sức tiện tặn. Tuy đã làm thân được với hai con bé bị câm kia, nhưng việc dạy chúng học cũng không phải là chuyện dễ. Ngày đầu tiên đảm nhận vai trò cô giáo Tuyền đã hết sức lúng túng, bởi lẽ học trò của cô là trẻ khuyết tật chỉ nghe mà không thể nói được. May thay, chúng cũng rất ngoan... nếu không, chắc Tuyền đến phải đầu hàng thôi. Có điều lạ là chị em cô bé Diễm và Kiều này lại rất sợ cha mình. Mỗi lần ông Thành Danh đến gần là chúng cứ co rúm lại với nhau vẻ mặt đầy khiếp hãi.
- Chị Hai à, nắng quá rồi chúng ta vào nhà đi chị.
Tiếng nhỏ Tú phá tan sự im lặng nãy giờ giữa ba người khiến cho Tuyền giật mình nhận ra tất cả đang phơi nắng. Cô vội vã chạy vào trong nhà nhưng lại bị vấp ngã ngay bậc thềm.
- Ôi... đau quá...!
Nhỏ Tú từ phía sau dấn tới đã không đỡ còn cười:
- Chưa gì chị Hai đã rủn chân trước tiên rồi đó.
Tuyền quắc mắt nhìn lại nó:
- Ta vấp ngã chứ không phải sợ ma đâu.
Nói xong, Tuyền cảm giác bóng mát của ngôi biệt thự lạnh hơn ở ngoài trời. Không biết có phải tự bản thân ngôi nhà mát hay nó lạnh vì đang ẩn chứa một oan hồn lẩn khuất bên trong?
***
- Diễm... em sửa lại nét chữ này đi!
Tuyền khom người vừa nói vừa hoạt động đôi tay bên cạnh hai cô học trò đang lúi húi viết bài. Tuy chúng đã mười bốn với cơ thể sắp dậy thì, song nét mặt hồn nhiên cứ như mới lên sáu, lên bảy vậy. Chúng học thật chăm chỉ không hề giở chứng giống như những lần trước khiến ông bà Thành Danh rất đỗi vui mừng. Họ liên tục sai người làm đem tặng quà và còn hứa sẽ tăng lương cho Tuyền nữa.
- Thế... Kiều viết xấu hơn Diễm rồi!
Đứa em bị chê ngước mặt lên phụng phịu. Thấy vậy, Tuyền lại phải dỗ dành:
- Ý chị muốn nói là Kiều cố gắng thêm một chút sẽ vượt qua mặt Diễm.
Nghe sự động viên ấy, cô bé bèn tiếp tục cúi xuống trang vở viết nốt những dòng chữ còn lại. Gần một tháng trôi qua trong vai trò cô giáo, Tuyền được tự do lui tới ngôi biệt thự của gia đình ông bà Thành Danh mỗi ngày và được coi như người nhà. Tình cảm giữa cô và trò bây giờ thật khắng khít, ngày nào Tuyền đến muộn là cả hai chị em kéo ra sân nhóng mắt có ý chờ.
- Cô giáo dùng nước sâm cho khỏi khô cổ.
Chị giúp việc mang vào phòng một khay nước artichaud vừa nấu tỏa mùi thơm dịu ngọt, là thức uống vừa mang tính cách dược liệu của vùng này. Tuyền cất lời cảm ơn rồi bưng một ly lên nhấp giọng, cô nghe chị giúp việc bảo mình:
- Cô quả thật là tài.
Tuyền mỉm cười đáp lại:
- Tài cán gì đâu... chẳng qua là biết cách chinh phục con người thôi.
Chị giúp việc có vẻ cũng hay chuyện, nhân lúc hai cô bé đang cắm cúi viết bài kéo Tuyền ra bên ngoài phòng hỏi:
- Tôi chưa thấy ai cừ khôi mọi mặt như cô cả. Dám đến ở trong một ngôi nhà có ma mà không sợ sệt gì.
Tuyền hơi sợ hãi trong lòng nhưng cũng làm bộ ra vẻ:
- Ma nó chê tôi không xứng đáng cho nó nhát.
Đôi mắt chị giúp việc mở to pha lẫn nét hãi hùng:
- Đừng nói vậy không nên đâu cô giáo à. Chẳng qua là vì vía của cô cao lại thêm bạo dạn nên nó gờm chưa chọc đó! Mà cô nghe tôi xúi dại đi, xin với ông bà chủ dọn về đây ở cho bảo đảm chắc ăn hơn. Ngôi nhà hoang đó vừa đáng sợ, vừa nguy hiểm...
Trước những lời thổ lộ của chị giúp việc, Tuyền không bỏ lỡ cơ hội khai thác. Cô đảo mắt nhìn quanh rồi thì thầm:
- Chị nói tôi nghe những gì mà tôi chưa được biết đi.
- Ngôi nhà ma đó hả?
- Vâng.
- Nhưng thời gian rảnh của tôi ít lắm! Tôi sắp phải đi chuẩn bị bữa cơm trưa rồi đây.
Tuyền ngó xuống đồng hồ đeo tay:
- Xin chị năm phút thôi.
Chị giúp việc đồng ý:
- Vậy cô hỏi mau đi.
Tuyền bối rối tìm câu để mở đầu:
- Chị có thể cho biết con ma trong ngôi nhà chúng tôi đang ở thuộc dạng nào?
Vừa nghe hỏi, chị giúp việc đã gãi đầu:
- Câu này chắc phải dành cho lão pháp sư chuyên ếm tà họa may mới có thể trả lời được. Tôi chỉ biết qua những lời truyền miệng của mấy người bị nó nhát thôi, cô ơi! Họ bảo rằng lúc thì nó to lớn, lúc lại bé cỏn con...
- Nhưng là đàn bà hay đàn ông?
Chị giúp việc nheo đuôi mắt, dáng dấp như suy nghĩ:
- Đàn ông... mà dường như là con trai. Có lần tôi được nghe kể lại từ miệng của người bị nó nhát là họ đã thấy rõ ràng nó hiện lên nguyên hình.
Tới đây Tuyền thật sự lạnh gáy dù bên ngoài phải cố tình làm tỉnh. Tiếng chị giúp việc đều đều:
- Tại cô mới đến nên không biết đó thôi, chứ cả cái vùng này từ công nhân đến người dân quanh đây không ai dám tới ngôi nhà ấy để ở.
- Hai bác Thành Danh có biết chuyện này xảy ra không?
- Tất nhiên là họ phải biết trước tiên rồi nên mới bỏ ngôi nhà cũ mà xây nhà mới ở chứ.
- Chị đến đây giúp việc đã lâu chưa?
Chị người làm xòe bàn tay ra đếm ngón:
- Năm năm rồi. Kể từ khi ngôi nhà này được xây xong.
- Hai bác Thành Danh đối xử với chị cũng tốt chứ? - Tuyền vẫn tranh thủ hỏi.
Giọng nói của chị người làm ngập ngừng:
- Thì... cũng tốt. Nhưng bà chủ tốt hơn ông chủ.
- Chị nói rõ hơn đi.
- Cụ thể là con người ông chủ khá độc đoán và ích kỷ, trong khi bà chủ thì biết thương người, bản tính vui vẻ hòa đồng.
- Họ chỉ có hai đứa con gái này thôi ư?
- Vâng. Đó là con chung...
Tuyền ngạc nhiên trố mắt:
- Chẳng lẽ họ còn có con riêng nữa sao?
Chị giúp việc gật đầu:
- Chuyện này người ngoài chỉ có mình tôi biết thôi nha. Bởi tại tôi nghe lén hai người cãi lộn nên mới hay bà chủ có con riêng trước khi lấy ông chủ. Nhưng mà nè, cô đừng nói lại kẻo tôi bị mắng... không chừng còn bị mất việc vì tội tò mò, tọc mạch đó!
Rất ngỡ ngàng trước những điều vừa nghe thấy, Tuyền đứng ngẩn ngơ cho đến lúc chị giúp việc giật mình sực nhớ chuyện bếp núc đang chờ:
- Ấy, đã mấy chục phút rồi còn gì. Cô thông cảm, tôi phải đi lo chuyện của tôi.
Và rồi không dám chờ bị gọi lại hỏi thêm, chị giúp việc lật đật trở xuống nhà dưới trong khi Tuyền vẫn còn quá nhiều thắc mắc.
Ngồi suy nghĩ một hồi, Tuyền chợt nảy ra ý định khám phá đời tư chủ nhà qua hai đứa con họ. Chắc chắn chúng phải biết tí chút gì đó nếu như chúng thật sự có một người chị hoặc anh. Cô chọn con bé Kiều để hỏi bằng sự khôn ngoan của chính mình:
- Nhà em có mấy người?
Nhỏ Kiều xòe bốn ngón tay đưa lên thay cho lời đáp song Tuyền cố tình nói thêm vào.
- Không phải, những năm cơ.
Con bé tròn xoe mắt huơ bốn ngón tay như khẳng định, nhưng Tuyền đã chủ động kéo thêm một ngón nữa đang cụp xuống để đứng thẳng rồi nhấn mạnh:
- Nhà em có năm người.
Da mặt nhỏ Kiều đang bình thường bỗng dưng biến sắc sau vài giây ngẫm nghĩ. Nó lộ nét hoảng hốt qua vài cái lắc đầu lia lịa. Thấy vậy, Tuyền quay qua nhỏ Diễm:
- Còn em... em khẳng định nhà mình có mấy người?
Ánh mắt con bé Diễm chựng lại nhìn chăm chú vào Tuyền rồi nó từ từ đưa tay.
- Năm người lận ư?
Câu thốt đầy hoang mang của Tuyền vừa dứt thì nhỏ Kiều đã chồm tới bên Diễm dùng tay bẻ cụp một ngón xuống, miệng ú ớ như cải chính. Hiện trạng trước mắt và thái độ của chị em Kiều, Diễm đã tạo cho Tuyền một nghi vấn chắc nịch rằng gia đình Thành Danh có ẩn chứa điều bí mật nào đó... và sự bí mật ấy có liên quan đến sự vắng mặt của một người... cùng nhiều điều huyền hoặc ở ngôi biệt thự cũ mà mình đang trú ngụ.


Phần 2


Chiều nay Tuyền bỗng có ý định dạo chơi ngắm cảnh ở khu vực xa hơn thường ngày. Cô rủ nhỏ Tú nhưng nó đã lười biếng từ chối. Mặc dù vậy, Tuyền vẫn hành động theo sở thích sau khi đã cầm theo chiếc áo lạnh và một khăn quàng cổ. Cô dặn với bà vú:
- Một lát nữa vú và nhỏ Tú cứ ăn cơm trước, đừng có chờ con.
Không đi theo con đường mòn dẫn đến nhà ông bà Thành Danh, Tuyền rẽ phải tiến thẳng lên đồi trà, nhưng nơi đây thật yên tĩnh không còn bóng dáng công nhân nào vì đã hết giờ làm việc. Đi xa thêm một chút nữa Tuyền mới chịu dừng lại, đứng ở độ cao nhất, cô đưa mắt ngắm nhìn toàn bộ khu vực quanh mình và cảm nhận được hết sự trù phú của nông trường trà Thành Danh.
Hèn chi họ giàu có rất nhanh với mức doanh thu hằng năm tính bằng tiền tỷ. Vừa phóng tầm nhìn, vừa suy nghĩ, Tuyền không hề hay biết phía sau lưng mình đang có một đôi mắt dán chặt vào người cô. Gió lúc này đang bắt đầu nổi lên làm không khí dịu xuống dần, Tuyền đưa tay hái vài búp trà cho vào miệng nhấm, cảm thấy vị chan chát.
- Trà xanh không độc đáo bằng trà đã được sấy khô, sao tẩm rồi cô à.
Nghe tiếng nói bất thình lình vang lên ngay bên cạnh, Tuyền giật thót cả người. Cô run rẩy quay nhanh lại thì trông thấy một khuôn mặt đang nhìn mình bằng thái độ rất thản nhiên:
- Sao cô có vẻ hoảng hốt vậy? Tôi có phải là con quái vật thời tiền sử xuất hiện đột ngột để ăn thịt cô đâu.
Giọng nói khá trầm tĩnh của người thanh niên đã trấn an Tuyền được phần nào, song nghĩ lại thấy âm điệu của nó cũng đầy vẻ giễu cợt. Cô đặt tay lên ngực để trấn tĩnh rồi nghiêm mặt:
- Anh là ai... sao lại nấp sau lưng tôi?
Người thanh niên chỉnh lại câu hỏi của Tuyền ngay lập tức:
- Cô nói sai. Tôi đã ở đây trước khi cô hiện diện.
Tuyền vội cãi:
- Vậy cớ sao tôi không nhìn thấy được anh chứ?
Bờ môi người thanh niên hơi hé cười:
- Tại đôi mắt của cô không tinh tường đó thôi, đâu phải lỗi ở tôi.
- Vậy anh đang làm gì ở đây?
- Nhìn trời, trông mây... Chắc cô không có ý bảo khoảng không gian bao la này chỉ độc quyền cô tận hưởng chứ?
Vẻ mặt Tuyền thoáng gượng:
- Tôi... tôi không phải là chủ nhân của vườn trà này.
Người thanh niên nhìn vào cô đăm đăm:
- Điều ấy tôi đã biết. Tôi còn biết cô là một cô giáo vừa dọn đến ở đây.
Tuyền giễu lại trả đũa:
- Anh biết nhiều vậy sao?
Người thanh niên nhún nhẹ vai:
- Chuyện cô đến ở đây có gì là bí mật đâu, ngược lại cả vùng này đều biết chứ chẳng phải riêng tôi.
Rồi anh ta nói một mình, nhưng cố ý lại để cho Tuyền nghe:
- Lòng tốt của người ta cần được phô trương rộng rãi mà...
Tuyền có cảm tưởng đang bị xúc phạm, cô đỏ mặt:
- Tôi nghĩ bác Thành Danh không xấu như anh tưởng đâu... Việc tôi đến ở ngôi biệt thự hoang kia rất công khai, mọi người đều thấy cả.
Người thanh niên bỗng chuyển hướng câu chuyện:
- Cô có lá gan hơi lớn đấy.
Tuyền cố tình lờ đi:
- Anh vừa nói gì cơ?
Người thanh niên khoanh tay, hất hàm về phía ngôi biệt thự Tuyền đang trú ngụ:
- Cô ở đó mà không cảm thấy sợ hãi điều gì sao?
Tuyền làm ra vẻ thản nhiên:
- Có gì đáng sợ đâu.
- Cô bạo gan thật.
- Đừng khen tôi sớm như vậy. Chẳng qua là tôi chỉ chưa phát hiện ra điều gì để khiếp đảm cả.
- Nếu có thì cô dám lưu lại đó nữa không?
Bất giác, Tuyền thở than:
- Không lưu lại đó thì chúng tôi biết phải đi đâu?
- Cô không có nhà để ở sao?
- Không... nếu có thì chị em tôi đâu phải đến cái xứ sở núi non này để ẩn náu, làm bạn với những nỗi buồn triền miên chứ?
- Thế cha mẹ cô đâu hết rồi?
Nghe hỏi, Tuyền ngậm ngùi:
- Đã chết hết. Chúng tôi hiện giờ là những kẻ mồ côi.
Lúc này dường như người thanh niên đã biết thông cảm cho hoàn cảnh của Tuyền. Anh ta nhỏ giọng nói:
- Thì ra là như thế!
- Phải. Chúng tôi không có sự Iựa chọn nào tốt hơn.
- Sống ở ngôi biệt thự hoang ấy, cô cảm thấy thế nào?
Tuyền nói thật lòng:
- Khá cô đơn và rất buồn bởi chúng tôi không có bạn.
Đột nhiên người thanh niên tỏ ra thân thiện với Tuyền hơn:
- Cô có muốn tôi thường xuyên lui tới trò chuyện không?
Tuyền ngước mắt nhìn lên:
- Anh ở đâu?
Người thanh niên chỉ tay:
- Ngoài xóm đằng kia, cách đây cũng không xa là bao.
Đến lượt Tuyền điều tra lai lịch người đối diện:
- Anh là công nhân của nông trường này?
- Đúng. Tên tôi là Sinh.
- Anh có gia đình chưa?
Vẫn với nụ cười trên môi, Sinh hóm hỉnh:
- Cô muốn hỏi tôi có vợ con chưa chứ gì?
Nhưng Tuyền không quan tâm tới lời nói của anh mà cuống quýt chỉ tay về phía trước, giọng run sợ:
- Ôi người hay ma...?
Sinh nhìn theo rồi cả cười:
- Ha... ha... coi bộ cô bị ám ảnh nặng nề rồi.
- Nhưng... tôi vừa mới thấy...
- Thấy gì nào?
Giọng Tuyền như lạc đi:
- Một... khuôn mặt... dị dạng...
Sinh tỉnh bơ:
- Có gì đáng sợ đâu, họ cũng là người như ta mà...
- Sao anh biết?
- Bởi tôi và họ cùng ở chung một căn nhà.
Nghe tới đây, Tuyền rùng mình mấy cái liền:
- Họ là người thân của anh à?
Sinh gật đầu:
- Đại khái là như vậy.
- Sao không thể nói chính xác?
Bị hạch lại, Sinh bạnh miệng:
- Tôi gọi ông ta bằng chú... cô biết như thế là quá đủ rồi.
Trong lúc Tuyền còn đang gợn lên những thắc mắc thì Sinh vẫy tay về hướng một bụi cây, anh cất tiếng:
- Chú Nhị à... ra đây đi, kẻo người ta lầm tưởng chú là con ma sống đó!
Không có lời đáp lại, chỉ có tiếng sột soạt của lá cây một lúc rồi im. Sinh quay lại bảo Tuyền:
- Chú ấy không muốn ai nhìn thấy bộ mặt xấu xí của mình. Chú luôn bị mặc cảm...
Chẳng biết từ bao giờ Tuyền đã nắm lấy tay Sinh, có lẽ trong lúc sợ hãi cô đã vô ý định nhờ anh che chở chăng? Và khi bình tĩnh lại, Tuyền hết sức thẹn thùng thu nhanh bàn tay của mình về, trước tia nhìn tinh nghịch của Sinh như đang trêu chọc cô:
- Tối rồi, tôi về đây.
Nhưng đôi chân của cô chưa kịp hoạt động thì Tuyền lại phải lùi sát vào người Sinh. Cô la toáng lên và yêu cầu:
- Anh phải đưa tôi về.
Sinh ngó lơ đi nơi khác:
- Đâu có chuyện lạ đời vậy? Tôi nhớ lúc đến đây ngắm cảnh cô tự đi được mà.
Tuyền nhìn vào từng bụi cây, gương mặt như sắp khóc:
- Lúc đó, tôi chưa nhìn thấy điều gì khiếp đảm cả.
- Nhưng chú tôi không phải là ma...
Lời nhấn mạnh của Sinh không làm Tuyền nguôi sợ. Cô lắp bắp:
- Liệu ông ta có làm hại tôi không?
- Hãy đi mà hỏi ông ấy.
- Tôi không dám.
Rồi thu hết can đảm, Tuyền ù chạy về hướng ngôi biệt thự cũ thật nhanh đến độ không còn thở ra hơi. Khi dừng lại, cô đã ngã vào vòng tay của ai đó mà không thể nhận dạng được. Tuyền chỉ mơ hồ nghe thấy tiếng mình hét và cảm giác toàn thân nhẹ hẫng... bềnh bồng...
***
- A... cô Hai đã tỉnh rồi...
Tuyền vừa cựa quậy mở mắt thì đã nghe tiếng reo của vú Dần. Cô gượng ngồi dậy hỏi:
- Đã mấy giờ rồi hả vú?
Vú Dần đáp gọn gàng:
- Bảy giờ tối rồi... nghĩa là cô đã ngất đi hơn một tiếng đồng hồ.
Nghe thấy vậy, Tuyền thảng thốt:
- Tôi bị ngất?
Vú Dần lại đáp:
- Đúng.
- Ở đâu vậy?
- Ngoài đồi trà. Nếu không nhờ cậu công nhân ấy đưa về thì tôi và cô Tú sẽ không biết đâu mà tìm cả. Từ nay cô đừng có đi dạo xa như thế nữa, sức khỏe của cô không cho phép đâu.
Tuyền tiếp lời vú Dần khi bà chưa kịp dứt:
- Vú vừa nói... ai đã đưa con về?
Vú Dần nheo mắt lại vì bị chói ánh đèn:
- Một cậu công nhân còn rất trẻ. Cậu ta bồng cô từ vườn trà về đây bảo tôi chăm sóc rồi đi ngay. Cô có đói bụng không để tôi đi hâm nóng thức ăn.
Tuyền ngơ ngẩn nói một mình:
- Hắn đã bồng ta về...
Tuyền chộp tay vú lay mạnh:
- Vú thấy hắn có tỏ thái độ gì sàm sỡ không?
Câu hỏi này làm vú Dần trố mắt:
- Làm gì có chuyện đó? Tôi thấy cậu ta rất đàng hoàng, còn chỉ cho tôi cách làm cho cô mau tỉnh lại nữa.
Vẫn chưa thật sự yên tâm, Tuyền vội kiểm soát lại người mình. Khi thấy không có dấu hiệu gì khác lạ cô mới thở ra nhẹ nhõm. Thì ra anh ta cũng có chút lòng tốt đã theo bảo vệ và đưa cô về nhà. Nhưng... Tuyền nhớ là lúc ấy mình đã chạy thật nhanh mà. Làm sao anh ta có thể theo kịp nếu chậm chân hơn mình chứ? Như vậy là anh ta cũng phải ra sức chạy... Tuyền cảm thấy hả dạ rời khỏi giường đảo mắt tìm em gái. Không thấy nó, cô bèn hỏi:
- Nhỏ Tú đâu rồi vú?
Vú Dần nhìn ra khoảng tối bên ngoài cửa, giọng nói lo âu:
- Cô Tú theo cậu công nhân ấy đi lấy thuốc nãy giờ...
- Sao vú lại để em con đi như vậy? Bộ vú không biết ở bên ngoài có bao nhiêu điều nguy hiểm đang rình rập đó hay sao? Ôi, nó là con gái lại đi ra ngoài trời tối lâu như vậy. Ngộ nhỡ...
- Em không sao đâu chị ạ...
Tiếng nhỏ Tú vang lên khi nó chưa kịp xuất đầu lộ diện làm ai nấy hoảng hồn. Vú Dần và Tuyền áp lưng vào nhau nhìn ra cửa.
- Mi về rồi hả Tú?
Bây giờ nhỏ Tú mới bước vào với một cái gói nho nhỏ cầm trên tay. Trông nó tỉnh bơ chẳng lộ nét gì sợ hãi.
- Thì em đã về rồi đây nè.
Tuyền dấn tới một vài bước:
- Mi theo anh ta đến tận đâu?
Tú ngồi phịch xuống ghế, dùng hai tay xoa nắn đùi:
- Ối... đi xa thật là xa. Qua tới mấy ngọn đồi vào trong xóm lận.
- Rồi khi trở về, có ai dẫn mi đi không?
- Tất nhiên là phải có. Bộ chị cho rằng em dám ngang nhiên trở về đây một mình ư?
Tuyền ngồi xuống cạnh em:
- Ta không nghĩ như thế, nhưng người đưa mi đâu rồi?
Tú nhóng mắt nhìn ra ngoài. Nó cắn môi:
- Ảnh không chịu vô nhà. Chắc là còn đang đứng ngoài sân.
Tuyền bảo em:
- Mi xách đèn đi ra mời người ta vào.
Song nhỏ Tú đã lắc đầu:
- Em mời rát lưỡi rồi, họa chăng chị lên tiếng.
Nhưng vú Dần vội ngăn lại:
- Cô Tuyền còn yếu, không nên đi ra ngoài.
Được thể, Tuyền bèn sai:
- Nếu thế thì cả hai hãy bước ra mời khách đi.
Không dám cãi, nhỏ Tú liền kéo tay vú Dần bước ra ngoài với ngọn đèn dầu vặn hết cỡ. Cả hai vừa đi vừa lên tiếng như để trấn át cơn sợ hãi khi phải tiếp cận với bóng tối bên ngoài. Song tuyệt đối không có ai đáp lại, cũng chẳng thấy người nào. Vú Dần huơ huơ đèn lên cao rồi hỏi Tú:
- Lúc nãy cậu ấy đứng ở đâu?
Nhỏ Tú hất cằm về phía trước:
- Chỗ đó mà...
- Sao bây giờ không thấy?
- Hay là anh ấy về rồi.
- Cái cậu lúc nãy có phải không?
- Vâng. Chính anh ấy.
Khi nhìn trước, nhìn sau không thấy, cả hai bèn dợm quay người lại định trở vào. Chợt họ rú lên rồi quẳng đèn chạy ngược vào trong:
- Á... á... á...
Đang bưng ly nước toan uống, Tuyền giật mình dừng lại hỏi:
- Cái gì vậy?
Phải nói rằng thần sắc vú Dần và nhỏ Tú đều giống y như nhau... xám ngắt, toàn thân run lập cập... môi và răng họ đánh bò cạp vào nhau, miệng nói không thành câu:
- Ma... m... a...
Tuyền cũng nghe tóc gáy mình dựng đứng, muốn làm tỉnh mà không xong:
- Nói... bậy... không... hà...
Vú Dần bập bẹ như con nít đang tập nói:
- Không... bậy... đâu... c... ô... ma... thật mà...
Nhỏ Tú tiếp giọng trệu trạo:
- Ừa... th....ấy... ghê... quá...
Hiểu những gì em và vú Dần vừa trông thấy, nhưng Tuyền lại không thèm đính chính. Bởi cô biết lúc này có nói cũng chẳng làm giảm bớt sự sợ hãi của họ được. Tuyền bất mãn thốt lên:
- Cứ nhát nhau thế này thì đến phải giảm tuổi thọ mất thôi.
Vú Dần vội thanh minh khi đã bình tĩnh:
- Không phải nhát... mà là tôi với cô Tú trông thấy rõ ràng.
Tuyền gạt phăng:
- Con không thích nghe chuyện ma.
- Nhưng... đó là con ma thật.
- Nó thế nào?
- Khủng khiếp đến độ không tả nổi.
- Nó đã làm gì vú?
- Chưa kịp. Bởi tôi và cô Tú nhanh tay quẳng đèn ù té chạy mất rồi.
- Vậy mà con cứ tuởng nó đã chộp được gáy một người.
Nghe nói, vú Dần rùng mình trông tức cười:
- Ối... nếu mà tôi bị chộp thì linh hồn tôi sẽ lìa khỏi xác ngay tức khắc chứ không thể sống thêm một phút nào đâu. Tôi bị bệnh tim mà cô Hai.
Tiếng rên của vú Dần làm cho Tuyền thương hại, cô dùng tay xoa chiếc bụng đang đói meo của mình làm bộ than:
- Nghe vú nói con thấy tội nghiệp cho vú ghê, nhưng nếu thương vú thì cái bao tử của con sẽ khổ suốt đêm vì nhịn đói.
- Như thế tôi cũng áy náy quá. Ngộ nhỡ cô ngã bệnh thì cả nhà mình sẽ phải sống ra sao đây? Hiện giờ mọi thứ đều trông vào tiền lương dạy học của cô.
Tuyền thừa cơ:
- Biết vậy thì vú hãy mau chóng xuống bếp với con đi.
Thấy không còn cớ gì trì hoãn được, vú Dần bèn gom hết mớ can đảm ít ỏi của mình toan đặt tay lên then cửa định mở thì... cộp... cộp... cộp... Trời đất, tiếng giày nện ở bên ngoài và ngay cả trong gian phòng khách khiến vú giật lùi xô ngã cả vào Tuyền. Một lần nữa, Tuyền bủn rủn người muốn ngất đi. Cô thều thào:
- Con xỉu đây vú ơi...
Vú Dần cũng chẳng hơn gì cô, ngồi bệt xuống nền nhà từ bao giờ vì đôi chân không còn sức để đứng. Tiếng vú như hơi gió:
- Đừng... đ...ừ...n...g... xỉu... cô Hai ơi...
Tuyền cảm thấy mệt tựa người vừa phải lao động cực nhọc. Cô nói giọng đứt quãng:
- Con... con... sợ... quá...! Dường như là...
Vú Dần dùng tay bịt miệng Tuyền:
- Giữ im lặng... đừng nói gì...
- Liệu có phải có người muốn trêu chọc chúng ta không hả vú?
- Theo tôi thì không phải là người đâu.
Tuyền hỏi nhỏ vào tai vú:
- Vậy thì ai?
- Kinh nghiệm cho biết... đó là ma...
- Vú lúc nào cũng tưởng tượng bậy bạ.
- Không hề bậy bạ đâu cô Tuyền à. Theo người xưa kể lại thì cảm giác của chúng ta rất chính xác. Nghĩa là khi chúng ta thấy ớn lạnh đột ngột, tóc gáy dựng đứng lên, gai ốc mọc cùng người thì chắc chắn trăm phần trăm đang tiếp cận với thế giới vô hình...
Tuyền vòng tay trước ngực để đè nén độ nhảy của trái tim. Cô cố nói gạt đi:
- Lỡ đó là triệu chứng của người vừa bị cảm mạo thì sao?
- Hoàn toàn không trùng hợp vậy đâu. Cô nghe đấy tiếng chân người từ trong ra ngoài rồi mất hẳn...
- Hay họ đã bỏ đi?
- Biết đâu một hình bóng dật dờ nào đó chẳng đứng ở phía bên kia cánh cửa đợi chúng ta để nhát.
Nhìn điệu bộ quá khiếp sợ của vú Dần, Tuyền không nỡ làm cho bà phải hãi hùng thêm, nên thở dài lia mắt vào túi bánh mì sấy khô treo trên tường:
- Thôi... để con ăn tạm một miếng bánh dằn bụng vậy. Dù sao thì trong nhà cũng chỉ có ba người phụ nữ yếu đuối không thể chống cự lại được với bất cứ điều gì...
Thấy cô chủ đã biết nghĩ xa, vú Dần khấp khởi mừng. Vú khêu to hơn ngọn đèn, gài chặt cánh cửa rồi lo cho Tuyền bữa ăn tạm bợ để cô đỡ đói. Lúc này chỉ có hai người còn thao thức vì nhỏ Tú đã chìm vào giấc ngủ.
***
- Cô Tuyền... dậy ăn điểm tâm đi kẻo không còn phần bây giờ.
Tiếng gọi của vú Dần làm Tuyền choàng tỉnh thức trong cơn đói sôi sục. Cô không nằm nướng mà bật ngay dậy khi nhìn thấy tia nắng ban mai lọt vào phòng. Việc trước tiên là Tuyền đảo mắt tìm nhỏ Tú nhưng có lẽ nó đã ra khỏi giường từ lâu. Xỏ chân vào đôi dép, Tuyền thong thả rời phòng. Cô ngửi thấy mùi thức ăn từ nhà bếp xộc lên mũi thơm tận trong buồng phổi. Làm vệ sinh mau chóng, Tuyền hối thúc vú Dần khi cô chưa kịp ngồi vào bàn:
- Mau lên đi vú ơi... chắc là con phải ăn luôn khẩu phần tối qua mới có thể hết đói.
Vú Dần bưng lên cho Tuyền một tô xúp nấu thịt thêm lòng đỏ trứng gà. Vú nhìn cô cười cười:
- Bồi dưỡng để cô khỏi bị sút ký vì sự kiện tối qua.
Để tô xúp đã ăn xong sang một bên. Tuyền rời chỗ đứng lên. Vú Dần từ bên ngoài bước vô báo:
- Có khách tới thăm cô Hai kìa.
Hơi ngạc nhiên Tuyền chầm chậm bước ra. Cô nhìn thấy người khách ngay ở bậc tam cấp:
- Chào cô. Cô đã khỏe hẳn rồi chứ?
Tuyền đứng sững người trả lời:
- Vâng... cám ơn.
Sinh nhếch mép cười:
- Khách sáo vừa thôi cô Tuyền à. Ở đây người ta không quá lễ nghĩa như thế đâu.
Tuyền cố giữ nét mặt nghiêm:
- Thì ra anh đã biết tên tôi.
Rồi không để Tuyền kịp phản ứng, Sinh đề nghị:
- Cô có thể đi đạo với tôi vòng quanh đây một chút được không?
Tuyền lắc đầu không suy nghĩ:
- Tôi còn bệnh.
Anh thanh niên không hụt hẫng mà cười:
- Đừng từ chối vội vàng như thế chứ cô Tuyền. Tôi nghĩ cô sẽ ân hận sau câu nói của mình.
Tuyền muốn phản ứng ngay lập tức nhưng cô bị Sinh chặn lại:
- Đã bảo đừng có vội. Mặc áo khoác rồi cùng đi với tôi.
Tuyền bất mãn:
- Anh có quyền gì mà ra lệnh cho tôi?
- Cô lại căng thẳng rồi.
- Tôi còn phải đi dạy nữa.
- Cô quên hôm nay là ngày chủ nhật sao?
Không có lý do gì để đưa ra, Tuyền đành chấp nhận:
- Thôi được... đi thì đi...
Nói xong cô quay trở vào phòng lấy áo và khăn quàng, mọi hành động của Tuyền như đang bị kẻ khác sai khiến.
Sánh vai cùng Sinh rời khỏi ngôi biệt thự trước sự kinh ngạc của nhỏ Tú và vú Dần, Tuyền có nghe họ xì xầm song cô không buồn ngoái lại. Đưa tay lên che miệng ngáp vì giấc ngủ muộn đêm qua chưa đã mắt, Tuyền bước đi thật nặng như thể không nhấc nổi đôi chân, dù rằng chung quanh cô cảnh sắc thật đẹp đang đón chào:
- Thế nào? Có cần tôi phải dìu không?
Tuyền cà nhắc một cách cố tình:
- Tại anh.
- Sao lại là lỗi của tôi? Hôm qua cô vấp ngã rồi ngất đi là do cô tự chạy.
- Thế không phải là anh đã đuổi theo tôi sao?
- Công nhận rằng tôi đã chạy theo cô, nhưng không phải là đuổi mà là để đỡ... Nếu không có tôi lúc ấy thì ai sẽ đưa cô về nhà nằm trong chăn êm nệm ấm tối qua.
Tuyền miễn cưỡng nhìn nhận:
- Tôi đã mắc nợ anh chuyện này.
- Bây giờ thì tôi đang cảm thấy hối tiếc đây. Nhưng không sao... mọi chuyện đều có thể trở lại từ đầu. Cô trả nợ cho tôi... từ nay chúng ta không còn gì vướng mắc nữa.
Thay vì nói lời xin lỗi để làm lành, Tuyền buột miệng:
- Anh muốn gì thì cứ việc nói đi.
Sinh yêu cầu thẳng thừng giống như cô lúc nãy:
- Hãy nhắm mắt lại cho tới khi tôi bảo mở ra.
Rất lạ song Tuyền không dám đặt câu hỏi, cô chấp nhận trong trạng thái hoang mang:
- Nhắm mắt thì có gì là khó đâu!
Sinh làm mặt nghiêm, không hề cười:
- Tôi sẽ không cho cô có cơ hội khiếu nại đâu cô giáo.
Yên chí, Tuyền bắt đầu nhắm mắt, cô cố vận động thính giác để nghe ngóng xem người thanh niên kia đang toan tính giở trò gì. Nhưng tuyệt nhiên đôi tai Tuyền không phát hiện ra điều chi ngoài tiếng gió và tiếng động của thiên nhiên luôn có sẵn. Một phút... rồi hai phút trong sự hồi hộp, giữa lúc Tuyền không thể nào ngờ được thì cô cảm thấy một luồng hơi nóng ấm phà vào mặt và bờ môi như đang bị mơn man. Gió cao nguyên hỗn hào với cô chăng? Hay giọt nắng đầu ngày đã thừa cơ lợi dụng? Tuyền bâng khuâng toan mở mắt song sợ đánh mất giây phút thần tiên ấy nên thụ động để yên. Chừng cảm giác đột ngột bị ngưng ngang, Tuyền hụt hẫng mở choàng ra định níu kéo thì mới hay rõ vấn đề. Cô sửng sốt trước ánh mắt đê mê và bờ môi thỏa mãn của người thanh niên thì đã quá muộn. Sinh quay lưng bỏ đi để mặc cô ngồi lại đó với gương mặt nóng lên vì giận.
***
Trở về nhà, Tuyền buông người xuống chiếc ghế cũ chắp vá lại để ngồi tạm. Cô thừ ra nguyền rủa Sinh đủ mọi lời lẽ thậm tệ nhất vì anh ta đã dám làm ô uế bờ môi trong trắng của cô. Tuyền giận mình bất cẩn, dễ tin người nên mới bị đánh lừa. Nếu không, anh ta dễ gì có cơ hội ngàn vàng ấy. Mà suy cho cùng là ở cô cả. Cô đã để yên cho anh ta thực hiện hoàn chỉnh nụ hôn mà không hề phản ứng. Lại còn muốn lịm đi vì cảm giác lạ lẫm của nụ hôn đầu đời. Ôi... tức chết đi được mà. Tuyền định khóc nhưng nước mắt không thể ứa ra bởi sự kiện kia đâu có gì đáng khổ. Còn cười thì không nổi vì cô làm sao vui trước cái dại của mình.
- Chị Hai... có học trò của chị đến thăm kìa.
Tiếng nhỏ Tú lanh lảnh báo vọng vào đưa Tuyền thoát khỏi cơn bực bội. Cô đứng đậy bước ra ngoài thì trông thấy hai chị em Kiều và Diễm đang đứng ở trước sân. Tuyền vẫy tay:
- Vào đây đi!
Nhưng hai đứa lại nhìn nhau rồi lắc đầu. Vẻ mặt chúng gợn lên một nét gì đó như sợ hãi. Chúng làm hiệu tỏ ý không chịu vào. Thấy vậy, Tuyền đành phải đích thân ra tận nơi. Nhỏ Kiều đặt vào tay cô bọc trái cây to tướng có ghi dòng chữ nguệch ngoạc của chúng vừa học được trong khoảng thời gian qua. "Chúc cô giáo mau lành bệnh"... À, thì ra hai đứa học trò đi thăm mình. Nhưng sao chúng lại biết mau như vậy chứ? Chắc có lẽ con Tú đã lẻo mép rồi đây. Tuyền phác cử chỉ cám ơn bằng tay, cô lại rủ:
- Hai em vào nhà chơi với nhỏ Tú. Nó chỉ có một mình và đang nằm buồn trong kia.
Cả hai đứa nhóng mắt nhìn vào nhà coi bộ rất muốn vào, song nghĩ sao đó chúng lại tỏ thái độ không đồng ý. Nhỏ Kiều nắm chặt tay nhỏ Diễm như để cản em nó. Tuyền phải ra sức thuyết phục:
- Trời đã bắt đầu nắng gắt, hai em mà đứng đây coi chừng bị ốm nữa đấy! Có chuyện gì cứ vào nhà một chút rồi về cũng chưa muộn mà.
Nhỏ Kiều bỗng ngồi sụp, lấy ngón tay vẽ thành chữ trên mặt đất: "Tụi em sợ...". Tuyền lia mắt rồi hỏi dồn:
- Sợ gì nào?
Vẫn nhỏ Kiều đáp lại bằng dòng chữ ghi trên đất "Sợ ma"... Tuyền bèn lục vấn tiếp:
- Ma ở đâu ra?
Kiều hí hoáy: "Ở trong nhà...". Tuyền nghe tim mình đập thật mạnh. Cô cố ngăn cảm giác ơn ớn đang trỗi lên:
- Sao em biết?
Nhỏ Kiều cắm cúi viết: "Em nhìn thấy!".
- Nó thế nào? Có đáng sợ lắm không?
Bất giác nhỏ Kiều bật khóc. Nó phát ra một thứ âm thanh mà Tuyền đoán rằng đó là sự tức tưởi, ức chế pha lẫn khiếp sợ... Phải chăng con bé này đã là nhân chứng một vấn đề gì đó mà cô chưa thể biết. Kéo tay cả hai đứa đứng sát vào mái hiên để tránh nắng Tuyền nghĩ cách khai thác như hôm nọ. Cô vỗ nhẹ lên lưng nhỏ Kiều, giọng dỗ dành:
- Nín đi em, có gì khó xử cứ cho chị biết.
Nhỏ Diễm đứng nãy giờ bỗng nhúc nhích cựa quậy, trông nó có vẻ rất muốn nói chuyện với Tuyền. Cô mau chóng chủ động:
- Diễm viết xuống đất cho chị đọc cũng hiểu được.
Con bé liếc chị nó rồi bắt đầu cử động ngón tay nhưng nó chưa giỏi bằng chị nên viết sai chính tả lung tung khiến Tuyền phải mò mẫm đọc từng chữ: "Có ngư...ời... chết... t...ại đây". Tuyền nghe có luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, cô run giọng lặp lại:
- Có người chết phải không?
Nhỏ Kiều gật đầu, mắt lấm lét nhìn vào trong. Nó nhấn mạnh thêm câu nữa trên mặt đất: "Phải, ở trong nhà...". Ôi... giá vú Dần và nhỏ Tú nghe được điều này. Chắc chắn họ sẽ bắt cô phải dọn đi chỗ khác ở ngay chứ không nấn ná thêm phút giây nào nữa. Nhưng mà sao có thể tin được hai con bé này chứ. Chẳng lẽ chính mắt chúng đã thấy người ta chết...? Ồ, rất có thể lắm! Cứ trông dáng dấp của chúng mà xem, giống như chúng đã chứng kiến rõ ràng.
Tuyền lắp bắp hỏi thêm:
- Hai đứa biết... người chết là ai... không?
Nhỏ Diễm toan viết chữ lên đất thì bị nhỏ Kiều dùng chân đá nhẹ vào cánh tay. Hiểu ý, nó bèn lắc mạnh tỏ cử chỉ không biết. Song Tuyền đã cố ép bằng sự khôn ngoan của chính mình:
- Nếu các em biết mà không chịu nói ra là đã mắc lỗi với người chết. Họ sẽ oán các em, biến các em thành... thành con ma luôn...
Lời Tuyền chưa kịp dứt thì nhỏ Diễm đã ré lên sợ hãi:
- É... é... é...!
Tuyền quay qua Kiều dọa dẫm thêm:
- Làm ma thì sẽ không được ở trong nhà sống chung với người đâu. Các em sẽ bị gởi vào tận trong rừng sâu hoặc vất vưởng lang thang không có nơi để đến.
Quả nhiên sắc mặt nhỏ Kiều xám ngắt lại. Nó bặm môi nghĩ ngợi điều gì đó rồi hoạt động ngón tay: "Tụi em không giấu nhưng bị buộc phải giữ kín... Xin chị thông cảm giùm". Tuyền lay tay nhỏ Kiều:
- Ai bắt buộc các em?
Diễm cũng xanh mặt y như chị. Nó giành đáp sự thắc mắc của Tuyền: "Ba em..." Tuyền hết sức ngạc nhiên song lúc này nhỏ Tú đã vô tình làm hỏng mất cơ hội điều tra của cô. Nó ào đến phá đám:
- Kiều và Diễm đừng về sớm. Chúng ta bày trò chơi một lúc như hôm trước có được không?
Trong khi Kiều chưa nhận lời thì nhỏ Diễm đã gật đầu. Nó thúc cùi tay vào hông chị ra ý bảo không nên từ chối rồi lo ngại chỉ vòng quanh. Chẳng biết có hiểu hay không, nhỏ Tú cũng lanh chanh nói bừa:
- Chơi ngoài trời thích hơn ở trong nhà. Tuy nắng một chút nhưng được chạy nhảy không vướng đồ đạc.
Kiều cũng nhận ra điều ấy nên nhoẻn cười. Sự sợ hãi trong câu chuyện với Tuyền dường như đã tan biến. Hai cô bé trở lại trạng thái vui vẻ, hồn nhiên chạy theo nhỏ Tú để bắt đầu cuộc chơi. Có lẽ với chúng, được đùa vui là một điều rất hiếm, bởi chúng chẳng biết làm bạn cùng ai trong khu vực đồi trà này.
Ôm bọc trái cây vào nhà đưa cho vú Dần đem cất, Tuyền nghe tiếng của vú:
- Toàn là cam sành với nho, lâu rồi chúng ta không được thưởng thức những thứ này.
Tự nhiên Tuyền cảm thấy ngậm ngùi. Lúc cha mẹ còn sống, chị em cô đâu phải khát khao bất cứ một thứ gì, dù là những món ăn sang trọng nhất. Vậy mà giờ đây khi nhắc đến một quả táo cũng phải ứa nước miếng vì đã lâu không được ăn. Tuyền bảo với vú Dần:
- Con nhớ những thứ này vú rất thích phải không? Vú cứ việc lấy dùng đi, để có sức chăm sóc chị em con. Vú lớn tuổi rồi mà phải chịu đựng kham khổ quá ngã bệnh thì nguy. Chị em con còn trẻ sức khỏe bền bỉ hơn.
Nhưng vú Dần đã gạt đi:
- Ối, cô không phải lo gì cho tôi đâu. Tuy tôi già song dẻo dai hơn các cô gấp nhiều lần. Trong hoàn cảnh thế này, tôi chỉ sợ các cô không chịu nổi mà thôi.
Tuyền rưng rưng:
- Con có đủ nghị lực để vượt qua, vú đừng quá lo. Điều con ray rứt bây giờ là nhỏ Tú không có cơ hội đến trường học.
Vú Dần động viên cô:
- Rồi chúng ta sẽ mau chóng ổn định thôi.
Tuyền thở dài não ruột:
- Công việc hằng ngày chỉ đủ chúng ta no cái bụng. Còn vấn đề vươn lên thì không biết đến bao giờ?
Đang chơi, nhỏ Tú bỗng chạy vào nhà uống một hơi hai ly nước liền. Nó cất tiếng bảo Tuyền:
- Không hiểu sao hai con nhỏ kia nhất định không chịu vào nhà mình. Tụi nó làm hiệu bảo em mang nước ra ngoài cho nó uống.
Tuyền vụt xúi:
- Mi cố tìm cách điệu chúng vào đây đi.
Song nhỏ Tú đầu hàng:
- Em nói hết lời rồi. Dường như bọn chúng có vẻ sợ hãi ngôi nhà này dữ lắm.
Chẳng phải cô đã nhìn thấy một khe hở to tướng qua sự tiết lộ của chị em Kiều, Diễm ư? Ngôi biệt thự này từng có người chết, điều ấy có chi là quá gớm ghiếc đâu khi vạn vật trên cõi đời đều có sinh, có tử theo quy luật. Nhưng tại sao lại phải giấu giếm chứ? Mà kẻ bắt mọi người phải giữ kín bí mật lại là ông Thành Danh. Những câu hỏi đầy thắc mắc bắt đầu xoay quanh Tuyền làm cô bối rối. Cô tự hỏi phải tìm hiểu từ đâu... Ông bà Thành Danh... Hai cô bé câm tội nghiệp... Hay người thanh niên đang làm cô bực mình? Ai cũng có thể lý giải được ít nhiều... nhưng đâu sẽ là sự thật, đâu là giả? Và cái chết của kẻ xấu số nào đó có điều gì bí ẩn mà tại sao ông Thành Danh phải bắt con mình giấu kín không được công bố trước mọi người?

Helen 11-07-2012 06:23 AM

TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 36
 
Phần 3


Như thường lệ, cứ đúng tám giờ sáng là Tuyền có mặt tại ngôi biệt thự của ông bà Thành Danh để đảm nhận vai trò cô giáo, dù thời tiết xấu hay không. Hôm nay trời cũng tràn ngập sương mù, đứng cách nhau vài mét là đã không còn nhìn thấy bóng. Xong bữa điểm tâm sáng đạm bạc cùng em gái và vú Dần, Tuyền miễn cưỡng khoác chiếc áo măng tô dài quá gối vào người rồi đội mũ len lên đầu chuẩn bị đến nơi dạy. Chợt nhỏ Tú gọi giật lại:
- Chị Hai... Có người gửi cho chị cái này nè.
Tuyền ngạc nhiên ngẩng lên nhìn:
- Ta có quen biết với ai ở đây đâu. Mi đừng bày đặt xạo...
- Em không xạo đâu chị Hai ơi. Nếu chê thì cứ cho hết em, đừng trả lại nhé!
Tuyền trợn mắt:
- Ai gửi tới?
Nhỏ Tú lắc đầu nói:
- Chị phải hứa...
- Ta không hứa gì hết.
- Vậy thì có nói cũng bằng không.
Trước sự úp mở của em, Tuyền nóng lòng nạt lên:
- Ta không chờ nữa đâu nghen.
Lúc này Tú mới chịu bật mí. Nó nói mà như đùa:
- Một anh công nhân đem tới bảo đưa cho chị.
Sắc mặt Tuyền thật lạnh lùng:
- Quen hay lạ?
Tú đáp lại gọn lỏn:
- Vừa quen mà cũng vừa lạ. Em nói thật. Trông anh ấy quen vì đã từng biết chúng ta, còn lạ là vì... chúng ta chưa chịu tiếp nhận ảnh.
Nhưng nhỏ Tú cũng rất là bản lĩnh. Nó lật tới lật lui gói quà:
- Có người để ý đến chị rồi đó!
Tuyền quắc mắt:
- Nói tầm bậy.
Tú nhoẻn miệng cười duyên:
- Không bậy chút nào đâu. Bằng chứng có đây nè.
Nói rồi nó lại chuyền tay cái gói như nhà ảo thuật gây cho Tuyền sự bực bội không thể tả. Cô chộp lấy xé tung gói giấy bên ngoài ra:
- Ồ... đừng...
Tiếng hét của nhỏ Tú không kịp ngăn chặn hành động của chị nó nên cái ruột của gói quà đã bị phơi bày trước mắt mọi người đó là một cái bọc mứt màu đỏ nâu trông thật ngon và hấp dẫn. Vú Dần vội bước tới nhận diện:
- Giống như là mứt mận.
Vì chưa từng được xem qua thứ này nên Tú không dám vồ vập mà chỉ đưa mắt nhìn:
- Cái tên sao nghe lạ quá trời ha vú?
Vú Dần cầm lấy đưa qua cho nhỏ Tú thấy, vú nói tiếp:
- Đây là loại mứt đặc sản của vùng đất lạnh này đó!
Nghe vú Dần nói vậy nhỏ Tú bèn liếm mép. Nó quay sang phía chị gạ:
- Mở ăn thử đi chị Hai.
Song Tuyền đã ngoảnh đi:
- Ta không ăn khi chưa biết nó xuất xứ từ nơi đâu.
- Trời ơi, thế nãy giờ chị không nghe sao?
- Ta muốn biết chính xác người gửi.
- Người gửi là anh Sinh.
Tưởng chị gái sẽ mừng, nào ngờ Tuyền còn mắng:
- Ai cho phép mi nhận?
- Chị mới là người kỳ cục. Anh ấy tha thiết muốn gửi thì em từ chối thế nào được.
Tuyền vẫn cố ghép tội:
- Thôi đừng có nói nhiều nữa. Mi hãy đem trả lại cho người ta đi.
Tú vươn cao chiếc cằm:
- Bây giờ thì không thể rồi chị à, bởi vì chị đã xé toang gói quà của người ta ra làm sao mà đem trả được. Chi bằng cứ ăn quách đi cho rồi.
Tuyền càu nhàu:
- Mi không cảnh giác một chút nào. Lỡ trong gói mứt này có bỏ bùa thì mi sẽ là nạn nhân đầu tiên đó!
Rồi cô nhìn xuống đồng hồ đeo tay kêu hoảng hốt:
- Trễ giờ của ta rồi đó nhỏ. Mi chỉ tạo ra lắm chuyện tầm phào làm mất thời gian của ta thôi. Ta phải đi dạy!
Nói xong, Tuyền cuống cuồng bước nhanh ra bên ngoài. Cô đi mà như chạy vì đã để muộn mất mười lăm phút. Chắc chắn ông Thành Danh sẽ không hài lòng nếu như ông có mặt ở nhà, vì ông vốn rất nghiêm khắc trong bất cứ mọi việc. Tuyền tự nhủ phải tìm cớ biện hộ cho mình thôi. Vừa đi, vừa suy nghĩ nên Tuyền đã vô ý đá phải một nhánh cây khô nằm chỏng chơ trên đường. Những tưởng sẽ không có gì xảy ra, nào ngờ khi xem lại một móng chân của Tuyền đã bị xước sâu vào thịt và tuôn chảy máu. Cô òa khóc vì sợ... và cả đau nữa... Hu... hu... hu... Tuyền ngồi khóc chưa lâu thì bỗng có tiếng nói ở đằng sau nghe thật ấm:
- Khăn đây... cô hãy lau nước mắt đi. Mới chỉ bị đau một chút mà đã khóc thì còn làm được việc gì lớn.
Không ngước mắt lên, Tuyền đón lấy chiếc khăn một cách máy móc. Cô lau nhẹ những dòng lệ đang thi nhau túa xuống rồi đưa trả lại chiếc khăn:
- Cám ơn anh.
- Cô không nhìn coi tôi là ai ư?
Tuyền ngồi im không cử động:
- Nghe tiếng nói là tôi đã biết rồi.
- Ngộ nhỡ nhầm người thì sao?
- Không đời nào...
- Kìa... chân cô chảy máu cũng khá nhiều, chắc cô không phản đối tôi giúp cô băng lại chứ?
Người thanh niên bước lên trước tầm nhìn của Tuyền rồi ngồi xuống, nét mặt anh ta buồn hiu:
- Ở chỗ này không có băng cứu thương và bông gòn. Tôi chỉ có thể dùng lá cây để cầm máu cho cô thôi.
Rồi không chờ Tuyền đồng ý hay không, anh ta với tay sang hai bên hái vài ngọn cỏ lá tròn màu xanh bỏ vào miệng nhai nát, nhả ra đắp vào chỗ vết thương cho Tuyền. Mọi động tác có vẻ rất thành thạo:
- Xong rồi dó. Nó sẽ cầm máu ngay thôi.
Tuyền mấp máy bờ môi:
- Anh cứ làm như là thuốc tiên. Những lá cây này mà linh nghiệm dữ vậy sao?
- Thì cô hãy chờ coi. Thuốc tiên thì không phải, nhưng nó sẽ cho cô thấy tác dụng của nó liền tức khắc. Xem, máu đã ngừng chảy rồi phải không?
Tuyền quan sát chỗ đau rồi gật đầu nhìn nhận:
- Ồ hay thật...
- Có cần cám ơn tôi thêm lần nữa không cô Tuyền?
Tuyền đột nhiên bướng bỉnh:
- Tôi đang muốn mắng anh thì có.
- Vì chuyện gói quà tôi gửi sáng nay ư?
- Không phải. Vấn đề khác.
Đôi chân mày anh khẽ nhướng lên:
- Tôi không nhớ mình đã gây ra cho cô điều gì.
Rồi những giọt nước mắt tức tưởi của Tuyền lại ứa ra, trông cứ như vừa bị người ta ăn hiếp vậy khiến Sinh không nín được phải bật cười. Anh gọi cô bằng tên:
- Tuyền trẻ con quá xá.
Nghe thấy vậy, Tuyền càng khóc lớn hơn.
Ánh mắt Sinh đầy buồn phiền, anh buông lời than thở:
- Tuyền không hiểu tôi gì hết.
Tuyền la ầm ĩ lên:
- Tôi cần gì phải hiểu anh?
Sinh cắn mạnh vào môi sững sờ nói:
- Thì ra tôi đã quá nhầm lẫn khi dành cho cô một chỗ đứng trong tim mình. Xin chào!
Tuyền dự định sẽ quay về rồi sai nhỏ Tú qua nhà ông bà Thành Danh xin phép nghỉ ít bữa, song cô chưa kịp rời khỏi chỗ ngồi thì bỗng có một tiếng sột soạt nghe rất gần làm Tuyền phải quan tâm. Cô đảo mắt với tia nhìn cảnh giác:
- Anh đừng có giở trò với tôi nghe.
Cứ tưởng là Sinh quay trở lại nên Tuyền đã buột miệng. Nào ngờ, ánh mắt cô chợt thấy một hình hài mà bất cứ ai nhìn thấy cũng đều giật mình kinh hãi. Nhất là ở chỗ vắng không người qua lại. Tuyền toan khụy xuống vì tay chân bủn rủn, song phản xạ tự nhiên đã tiếp thêm cho cô sức mạnh... và Tuyền ù té chạy bán sống bán chết cho đến ngôi biệt thự Thành Danh mà không hề cảm thấy cái chân đang bị đau.
Từ trong nhà bước ra, bà Thành Danh đã bị Tuyền tông thẳng vào người thật mạnh đến độ phải ngã ngồi. Bà vừa nén đau vừa giương mắt nhìn Tuyền đầy kinh ngạc:
- Làm gì mà hấp tấp dữ vậy cháu?
Gương mặt Tuyền chất chứa sự hãi hùng. Cô lắp bắp nói câu được câu mất:
- Thưa... thưa bác ghê... ghê quá... thật kinh hồn!
Không hiểu ất giáp gì, bà Thành Danh ngơ ngác lay tay Tuyền:
- Bộ có chuyện chi nghiêm trọng lắm hả cháu? Sao giờ này mới tới đây?
Tuyền ngọng nghịu dù biết đã thoát khỏi sự nguy hiểm. Cô thở không ra hơi:
- Cháu... vừa... gặp...
Bà Thành Danh hỏi lấn tới:
- Gặp gì vậy? Bộ nơi này có thú dữ hay sao?
Tuyền lắc đầu, khắp người cô toát mồ hôi lạnh:
- Thú dữ còn đỡ sợ, đây là người đó bác à.
Nghe nói, bà Thành Danh chau mày:
- Người thì có gì đáng làm cho cháu phải khiếp hãi đến như vậy? Quanh đây chỉ có công nhân của nông trường trà Thành Danh thôi. Chẳng lẽ họ lại dám sàm sỡ với cháu?
Tuyền vội vàng đính chính:
- Không phải ạ...
- Vậy điều gì khiến cháu sợ thế này?
Tuyền nói nhanh vì sợ không đủ can đảm lặp lại:
- Cháu vừa trông thấy một người có dáng dấp khuôn mặt dị dạng lắm! Hắn đã xuất hiện trên đường từ chỗ ở của cháu đến đây.
Bà Thành Danh ngẩn người ra:
- Thật là chuyện lạ.
- Thưa... cháu không hề nói dối ạ. Phải chăng hắn cũng là công nhân của nông trường trà này?
- Cháu hãy tả lại hình dáng cụ thể cho bác nghe thử xem. Công nhân ở đây bác cũng rõ từng mặt.
Nghe hỏi, Tuyền cắn môi phác một cử chỉ chậm chạp:
- Cháu không thấy kỹ lắm, nhưng trên đời này chưa ai xấu bằng hắn. Ôi, một bộ mặt nhăn nhúm như ma quỷ lại đi khập khiễng giống như hình ảnh của những bức tranh biếm họa về lão Thần Chết ấy! Cháu thật không ngờ ở ngoài đời cũng có một con người sống như vậy.
Lời Tuyền khiến bà Thành Danh ngạc nhiên không thể tả, bởi bấy lâu sống ở đây bà chưa từng nghe ai nói về điều này. Bà Thành Danh muốn hỏi Tuyền thêm nhiều điều thắc mắc nữa, song chợt nhìn thấy ngón chân đau của cô nên lộ vẻ quan tâm:
- Hậu quả của sự sợ hãi lúc nãy có phải không?
Tuyền ngượng ngập gật đầu đại:
- Thưa... vâng ạ.
Bà Thành Danh với nét mặt lo âu:
- Không hề gì chứ cháu?
Tuyền líu ríu:
- Dạ... cũng đau đau. Chắc việc đi lại sẽ khó khăn nếu như ngày mai nó bắt đầu sưng tấy lên.
Bà Thành Danh nhiệt tình:
- Vậy thì cháu hãy nghỉ dạy ít hôm đi. Để bác nói lại với bác trai, cháu đừng ngại gì cả.
***
Tối nay Tuyền thức khuya nhưng trong lòng cô thật bình yên. Cô không còn cảm thấy sợ hãi mơ hồ về những điều chỉ cách đó một ngày cô đã sợ đến mất ăn, mất ngủ.
Ngón chân đau vẫn không thôi nhức buốt vì khí lạnh ngày càng xuống thấp. Tuy vậy, Tuyền lại nghe dễ chịu hơn nên ca hát vang nhà. Cô cố làm cho vú Dần và em gái thay đổi cách nghĩ về ngôi nhà mình đang ở.
K...é...t... k...ẹ...t... tiếng kêu nghe rợn óc giữa đêm khuya làm Tuyền giật thót người, dù rằng cô đã tự trấn an nỗi sợ từ lâu. Sao lại còn sự kiện này xảy ra khi cô đã rõ trên đời này không hề có ma. Người đàn ông quái dị ấy vẫn tiếp tục giở trò nhát ta chăng? Hay Sinh có ý muốn trêu chọc cô nên thừa nước đục thả câu, làm cho người ta phải sợ? Vậy làm thế nào? Rõ ràng cô đã nghe tiếng mở cửa thật to mà.
Tâm trạng về sự khủng hoảng ban đầu khi cảm giác ớn lạnh cứ liên tục trỗi lên. Một con ma khác xuất hiện nữa chăng? Chẳng lẽ ngoài người đàn ông quái dị kia, còn có thêm một oan hồn lẩn khuất ở trong ngôi biệt thự này để tiếp tục làm cho những ai ẩn náu nơi đây phải sợ? Ôi, như thế thì Tuyền cứ phải đến chịu thua, đầu hàng mất. Cô trở lại giường nằm song trằn trọc mãi vẫn không tài nào ngủ được. K...é...t... k...é...t... tiếng mở cửa bên ngoài lặp lại lần thứ hai cùng với âm thanh ặc... ặc... nghe thật kỳ quái, khác với những lần trước. Ôi, cứ thế này thì đến đau tim mà chết mất thôi, Tuyền nhắm mắt lại cố nhẩm đọc số từ một... hai... ba... và phải đến mấy trăm cô mới có thể thiếp đi trong giấc ngủ khá nặng nề.
Sáng hôm sau khi thức dậy cô hỏi vú Dần rối rít:
- Đêm qua nhà mình có bị mất thứ gì không hả vú?
Vú Dần ngẩn người ra rồi lắc đầu:
- Làm sao mất được khi cửa nẻo đều đóng kín.
Tuyền buột miệng:
- Rõ ràng con nghe tiếng mở cửa hai lần mà...
- Cô có nằm mơ không?
- Lúc đó con còn thức.
- Nhưng sáng nay cửa vẫn còn cài then cẩn thận.
Tuyền cảm giác sống lưng mình thật lạnh dù cô đã mặc áo ấm và choàng khăn. Đích thị ngôi biệt thự này có vấn đề, mà sự kiện dường như nghiêm trọng hơn. Phải tìm anh chàng Sinh hỏi cho ra lẽ rồi mới khẳng định được, vì chỉ anh ta là biết rõ...
Ăn sáng qua loa bằng một quả trứng luộc và miếng bánh mì sấy rắc đường, Tuyền lên tiếng rủ em gái:
- Nè, Tú. Mi có thể dẫn ta đi tới nhà anh chàng từng đến đây tặng mứt mận cho chúng ta được không?
Nhỏ Tú hóm hỉnh nheo đuôi mắt:
- Mới bảnh mắt chị đã có ý định thăm người ta sớm quá vậy?
Tuyền ngượng nghịu tìm lời:
- Không phải đi thăm mà là có chuyện muốn hỏi...
- Bộ có vấn đề nghiêm trọng hả?
- Ta không có thời gian đàm luận với mi nữa. Hãy lên đường ngay đi.
Mặc cho chị thúc giục, nhỏ Tú vẫn lề mề. Nhỏ Tú thầm cầu mong một điều mà nó vừa hình dung, song đó là ý trời... nó chỉ có nhiệm vụ đẩy họ lại gần thôi.
***
- Đó. Ngôi nhà gỗ đằng trước có giàn hoa thiên lý màu vàng mà chúng ta đang nhìn thấy... là nhà của anh ấy! Chị vào đi, em ngồi ở ngoài này.
Cô dấn bước về phía trước sau khi để lại câu dặn dò:
- Mi đừng có đi đâu nghe. Ngộ nhỡ ta bị ức hiếp thì cũng còn có một đồng minh.
Nhỏ Tú lè lưỡi nháy với theo:
- Không dám đâu, đụng chuyện em sẽ co giò chạy trước đó!
Lời nhỏ Tú chưa kịp dứt thì phía trước Tuyền đã được đón tiếp. Sinh xuất hiện với bộ mặt khá thân thiện:
- Liệu có phải rồng đến nhà tôm không đây?
Định trả đũa lại những lời trêu chọc của Sinh, nhưng có vài cặp mắt tò mò của các nhà bên cạnh phóng ra nên Tuyền đành nhượng bộ. Cô vừa lườm vừa nhẹ bước chân.
- Á... đau...
Tiếng kêu của Sinh gây cho Tuyền sự ngạc nhiên:
- Sao?
Sinh liếc qua hóm hỉnh:
- Cô vừa đâm vào ngực tôi một dao mà còn hỏi nữa hả?
Vô tình Tuyền nhìn xuống tay mình và phát hiện Sinh đang tiếp tục nhạo bằng lời. Cô mím môi quay phắt lại:
- Yêu cầu anh nghiêm chỉnh.
Sinh cũng chẳng chịu thua cô:
- Thì tôi có giỡn mặt với Tuyền đâu. Được Tuyền tới thăm tôi thấy cảm động lắm!
- Anh đừng có mừng vội. Tôi không có lòng tốt đi thăm hỏi người khác đâu.
- Vậy Tuyền đi đến nhà tôi để làm chi? Chắc không phải muốn gặp chú Nhị của tôi chứ?
Nào ngờ Tuyền lại nói:
- Tôi muốn gặp chú ấy!
Sinh rụt cổ vào vai:
- Cô đã hết sợ rồi ư?
Tuyền cố giữ cho giọng mình đừng run:
- Với ông ấy thì tôi không còn sợ, nhưng lại có một bóng ma nữa vừa xuất hiện đêm hôm qua.
- Cô trông thấy nó à?
Tuyền lắc đầu:
- Không thấy gì, song nó đã nhát tôi chết khiếp suốt cả đêm.
Cặp chân mày Sinh chau nhẹ:
- Bằng cách nào?
Hai tay Tuyền phát ra những động tác:
- Tiếng mở cửa kèn kẹt nhưng cánh cửa vẫn cài then.
Chẳng biết có ý dọa Tuyền hay không mà Sinh lại gật đầu:
- Như vậy là ngôi nhà đó có oan hồn chết thật rồi. Tôi bảo đảm đêm qua chú Nhị đã ở bên tôi đến sáng.
- Anh lấy gì làm bằng chứng?
Sinh cười hiền:
- Tôi cho chú ấy uống thuốc ngủ. Tới giờ này chú ấy còn chưa thức nổi nữa kìa. Không tin cô hãy bước vào bên trong mà xem.
- Biết đâu ông ấy đi cả đêm nên giờ mới ngủ mệt.
Tuyền vẫn tỏ ý nghi ngờ.
Sinh dang rộng cánh tay:
- Tin hay không là tùy cô. Nhưng tôi cũng xin nhấn mạnh ngôi biệt thự cô đang ở không tốt đâu, cả chủ nhà của nó cũng thế!
Tuyền hơi bất mãn nhưng Sinh không cho cô cơ hội mở miệng, anh nói tiếp:
- Cô hãy khoan phản ứng. Cứ chờ thời gian trả lời rồi mắng tôi cũng chưa muộn mà. Thật tình thì tôi không có tật nói và nghĩ xấu về người ta. Chẳng lẽ cô không thắc mắc gì về câu chuyện nghe lỏm được của chú Nhị hay sao? Trước kia chú ấy cũng là một con người đẹp đẽ lắm.
Tới đây Sinh mới đưa mắt nhìn Tuyền:
- Cô có muốn đặt câu hỏi hay không?
Tuyền ngần ngừ:
- Tôi nghĩ mình không có liên quan gì về thân thế của người khác.
- Nhưng cô cũng có quyền thắc mắc chứ?
- Anh gài tôi vào chuyện đó để làm chi?
Sinh rót một ly nước đẩy tới cho Tuyền rồi biểu lộ thái độ của mình. Trông anh thật là buồn:
- Tôi muốn cô hiểu về nỗi thống khổ của một con người đang sống mà phải bị biến thành ma.
Đôi mắt đẹp của Tuyền mở thật to:
- Anh đang nói...
Sinh cắn môi:
- Tôi nói về chú Nhị đấy! Chú ấy không phải là chú ruột của tôi, mà là người đã cưu mang giúp đỡ gia đình thuở trước nên tôi coi như người thân... Khi mẹ tôi mất đi, tôi chỉ còn có chú ấy bên cạnh. Tôi tự hứa là sẽ trông nom săn sóc và bảo bọc cho chú ấy đến hết đời.
Sự tò mò trong Tuyền đang được khơi dậy từ từ. Cô bắt đầu muốn biết về thân phận của người đàn ông quái dị. Tuyền buột miệng:
- Ông ấy bị tai nạn gì mà biến dạng đến như vậy?
Sinh bồi hồi một lúc rồi mới nói:
- Một tai nạn khủng khiếp do con người tạo ra. Chú Nhị bị chính em trai mình làm hại để chiếm đoạt tài sản... Chú ấy bị người ta đánh đến thừa sống thiếu chết rồi bỏ lên một chiếc xe hơi đẩy lao xuống vực nhằm tạo ra tai nạn do bất cẩn. Nhưng trong sổ thiên tào, số chú ấy chưa hết hạn nên vẫn chưa chết, gặp người tốt cứu mạng và chú đã tìm về nhà tôi với thân xác thế này.
Lẽ ra Tuyền lặng yên chỉ ngồi nghe, song bản năng đã xúi cô lên tiếng:
- Tại sao em trai của ông ấy lại dã man như vậy chứ? Của cải sao sánh được với tình cảm ruột thịt...
Sinh ngắt lời Tuyền ở chỗ này. Anh nói sau khi tự đốt cho mình một điếu thuốc:
- Đó không phải châm ngôn của những con người tàn bạo. Vì sự giàu sang lẫn ước muốn tội lỗi, họ có thể làm bất cứ điều gì.
- Anh nói rõ hơn đi.
Sinh nhìn Tuyền dò ý:
- Sự việc trên lẽ ra tôi phải giấu để giữ an toàn cho chú Nhị. Nhưng tôi tin cô nên mới kể lại cho cô nghe.
Tuyền bỗng thấy lo lắng:
- Ông ấy vẫn còn bị truy đuổi để sát hại nữa sao?
- Đúng, chú ấy bị săn đuổi.
- Anh có thể cho tôi biết kẻ đó là ai không?
Thay vì đáp câu hỏi của Tuyền, Sinh lại cầm tay cô vẻ mặt thật hiền hòa:
- Rồi Tuyền sẽ biết mà không phải do tôi nói. Tôi muốn Tuyền thay đổi cách nghĩ về tôi thôi.
Tuyền cố rút tay về nhưng không được. Cô cảm thấy mình như đang chịu ảnh hưởng cuồng nhiệt từ người Sinh truyền sang.
Sinh dùng hai tay giữ chặt lấy người cô:
- Anh đang nói chuyện rất nghiêm chỉnh với em.
Tuyền ra sức vùng vẫy:
- Tôi không nghe. Anh hãy buông tôi ra.
- Tuyền... đừng cứng lòng như vậy. Anh yêu em thật tình mà...
Toàn thân Tuyền như bốc khói trước lời tỏ tình này dù không khí bên ngoài đang còn lạnh, cô thở hào hển:
- Tôi... tôi...
- Hãy nói một tiếng em đi Tuyền.
Lời yêu cầu của Sinh đã không được Tuyền đáp ứng.
- Nếu còn thắc mắc gì thì cứ hỏi tiếp đi.
Sinh vừa nói tới đây thì người đàn ông quái dị thức giấc lò dò ra. Trông thấy ông ta xuất hiện, Tuyền không tránh khỏi hoảng hốt dù bụng đã trấn an, đã bảo đừng sợ. Cô phải chạy tới nép sát vào người Sinh.
Tuy trong lòng rất não nề, Sinh vẫn không để Tuyền có cảm giác bị đe dọa. Anh tạo vòng đai bảo vệ ngay:
- Chú Nhị à, đây là cô Tuyền. Người đến ở trọ trong ngôi biệt thự của chú đó!
Chú Nhị gật đầu vẻ hiểu biết:
- Không cần cháu giới thiệu. Cô bé này thì chú quá quen rồi.
Tuyền giữ nguyên tư thế cũ, cô bật thốt với Sinh:
- Vừa rồi anh bảo ngôi biệt thự cũ kia là của ông ta ư?
Sinh ngẩng lên nhìn rồi tư lự:
- Đúng như vậy.
- Không phải.
- Thế Tuyền cho nó là của người đang làm ơn cho em hả?
- Thì sự thật là thế, không thể phủ nhận được.
- Ôi... quá bậy...
Tuyền nghiêng nghiêng một bên đầu:
- Anh đừng châm biếm nữa. Anh không có tài làm thay đổi sự thật đâu.
- Tuyền... em nghĩ anh xấu như vậy sao?
- Tôi không có quyền bình luận về ai cả.
- Cô hơi quá đáng! Sinh nóng mặt.
Tuyền nhích người giữ khoảng cách với Sinh:
- Mong anh hiểu mà thông cảm giùm cho tôi không thể có cái nhìn sai về người đã cưu mang tôi được.
Sinh gằn giọng:
- Ngay cả khi họ làm một kẻ thủ ác?
- Anh vừa nói cái gì? - Mắt Tuyền xoe tròn lên.
Nhưng Sinh không giải thích mà phẩy tay như xua đuổi:
- Thôi, cô hãy rời khỏi ngôi nhà này và đừng đến đây nữa. Chuyện về chú Nhị cô muốn giữ bí mật hay nói toạc ra thì tùy ý. Bây giờ tôi có việc phải làm đây.
Nói xong, Sinh bước nhanh ra ngoài rồi khuất bóng sau một lùm cây. Còn lại một mình với người đàn ông quái dị, Tuyền chợt nghe run rẩy dù biết ông ta là con người thật sự chứ không phải bóng ma từng làm cho cô sợ. Và Tuyền phải đối diện với ông ta:
- Ngồi xuống đi. Ta tuy xấu xí nhưng không biết ăn thịt đồng loại đâu. Thế nào? Cô quen biết sao với gia đình Thành Danh?
Bất đắc dĩ, Tuyền phải mở miệng để đáp lại:
- Dạ, tôi là con cái của bạn bác ấy! Ba má tôi vắn số vì tai nạn, chị em tôi bơ vơ nên bác ấy đã nhận lãnh cưu mang.
Chú Nhị nhìn chăm chú vào Tuyền, đôi mắt ông rất sáng phát ra từ bộ mặt luôn làm cô kinh hãi:
- Hắn cũng tốt quá hả? Hèn chi cô ngộ nhận là phải rồi. Nhưng ba má cô tên là gì?
Tuyền không định nói, nhưng chẳng hiểu sao âm thanh cứ thoát ra:
- Ba tôi tên là Vĩnh Khương, bạn rất thân với bác Thành Danh.
Vừa chợt nghe, chú Nhị đã kêu lên:
- Trời... vợ chồng Vĩnh Khương đã chết hết rồi sao?
Tuyền ngạc nhiên:
- Ông cũng biết ba tôi ư?
Giọng chú Nhị buông thõng:
- Rất thân là đằng khác.
- Vậy thì ông là ai?
- Ta nghĩ cô cũng đã biết ít nhiều về ta rồi. Còn về cái lý lịch gốc của ta bây giờ chưa phải lúc ta tiết lộ.
Tuyền tỏ ra là cao thủ:
- Ông không nói thì tôi cũng đoán được. Phải chăng ông là nhân tình cũ của bà Thành Danh?
Tức thì Tuyền bị mắng:
- Con bé này nói năng hàm hồ quá. Trong đời ta chưa từng biết hai chữ "nhân tình" là gì. Trước khi gặp nạn, ta có vợ con đàng hoàng mà...
- Ông bào chữa làm chi. Hôm trước tôi có nghe lỏm chuyện giữa ông và anh Sinh ở chỗ ngôi biệt thự cũ. Ông đã chẳng muốn gặp bà Thành Danh để đòi con là gì?
Chú Nhị lộ nét đau khổ tột cùng cho Tuyền thấy:
- Cháu đã nghe thì ta không giấu. Nhưng cháu hãy hứa giúp ta một chuyện, ta sẽ kể hết về ta cho cháu rõ.
Tuy đã biết phần nào về người đàn ông tàn phế này, song tò mò vẫn luôn là cố tật mà phụ nữ ít khi tránh khỏi. Tuyền cắn ngón tay vài cái rồi bằng lòng:
- Được... tôi sẽ giúp ông nếu như có đủ khả năng.
Chú Nhị mừng rỡ thấy rõ:
- Chuyện nhỏ, không quá khả năng của cháu đâu.
- Vậy ông muốn gì nào?
- Cháu tạo cơ hội giúp ta gặp riêng bà Thành Danh.
Tuyền nhíu mày suy nghĩ:
- Ở đâu cho tiện đây?
Chú Nhị cuống quýt nói:
- Đâu cũng được. Nhưng cháu hãy sắp xếp cho sự gặp gỡ thật tình cờ.
Tuyền than thở:
- Chà, khó thật. Sao ông không nhờ anh Sinh?
- Nếu cháu đã nghe lỏm chuyện thì cháu biết nó không muốn ta gặp nguy hiểm. Tội nghiệp... Ta cũng không muốn nó phải lo lắng và nuôi nấng ta cả đời. Nếu không vì ta, nó đã có cuộc sống khá hơn là làm công nhân kỹ thuật ở cái nông trường trà này.
- Thế tôi giúp ông, anh ấy có phiền hà gì không?
- Đừng nói gì cho nó biết.
Tuyền miễn cưỡng gật đầu:
- Thôi được.
Và liền sau đó, cô nghe chú Nhị kể về lai lịch và thân thế. Cô không ngờ và cũng chẳng dám tin điều ấy là thật khi chưa có sự đối chứng rõ ràng.
***
Sau ba ngày nghỉ với lý do bị đau chân, hôm nay Tuyền phải bắt đầu đi dạy lại. Học trò và cô giáo gặp nhau mừng tíu tít nên buổi học thật hào hứng dù hai cô bé Diễm, Kiều không thể phát âm được bằng lời. Hết giờ rồi, chúng vẫn bám chặt lấy Tuyền như không muốn tiễn cô về. Thấy vậy, Tuyền đành nán lại bày trò chơi với chúng cho tới tận giờ cơm trưa.
- Cháu Tuyền ở lại dùng cơm với bác nghe?
Tiếng bà Thành Danh nơi cầu thang làm cô và trò phải ngừng chơi. Tuyền vội đáp:
- Thưa... để cháu về nhà ăn cơm cũng được mà.
Song bà Thành Danh đã phẩy tay:
- Ăn ở đây với bác và các em đi. Trưa nay bác trai không về, có mấy mẹ con buồn lắm.
Toan từ chối thêm lần nữa nhưng sực nhớ đến lời hứa với chú Nhị, Tuyền nhận thấy đây là cơ hội để cô thực hiện yêu cầu.
- Vâng ạ. Bác đã mời, cháu không dám từ chối.
Cùng với hai cô bé Kiều và Diễm, Tuyền ngồi vào bàn. Cô được bà Thành Danh tự tay gắp thức ăn giống như mẹ cô khi còn sống khiến lòng cô nghẹn lên xúc động:
- Ăn đi cháu. Món mực sốt chua ngon lắm! Ở vùng đất cao nguyên này có được đồ biển tươi để ăn cũng là hiếm chứ không dễ đâu nghe.
Bà Thành Danh trò chuyện rất thân tình:
- Có cháu lui tới dạy học cho các em thì cái nhà này mới được chút sinh khí để vui lên. Bằng không, từ người đến cảnh vật tất cả đều u buồn, ảm đạm. Tội nghiệp cho hai đứa con gái của bác... chính vì thế mà chúng không năng động, hồn nhiên như các bạn cùng trang lứa với mình.
Theo đà, Tuyền ngừng ăn tiếp nối câu chuyện:
- Thưa bác, sao lại xảy ra vấn đề như vậy? Cháu thấy hai bác có đủ điều kiện để tạo ra cuộc sống vui vẻ cho các em mà.
Khóe mắt bà Thành Danh rưng rưng những giọt buồn:
- Bộ cháu tưởng cứ giàu sang là đã sung sướng mãn nguyện à. Thú thật, bác không hề thấy hạnh phúc.
Tuyền như bị nghẹt thở:
- Không phải về vấn đề tình cảm chứ, thưa bác?
Ngập ngừng một chút, bà Thành Danh thú nhận:
- Là nó đó.
- Bác và bác trai có chuyện xích mích ư?
Bà Thành Danh lắc đầu:
- Đời nào bác dám đụng đến ông ta. Bác chỉ là một phụ nữ yếu đuối.
Nói tới đây, thấy không khí chùng xuống theo mình, bà Thành Danh vội sửa lại thần sắc tươi tỉnh hơn. Bà mỉm cười gượng gạo:
- Thôi đừng nói chuyện của bác nữa. Cháu hãy nói về mình đi. Thế nào... nông trường trà này đã có gì thu hút được cháu chưa?
Tuyền bẽn lẽn:
- Thưa, mọi sự vẫn bình thường thôi bác ạ. Cháu vừa quen được một công nhân có tên là Sinh.
- À... anh chàng này thì bác biết. Cháu cũng khéo quen, anh ta là công nhân kỹ thuật giỏi nhất của nông trường trà Thành Danh đó! Tính tình hơi nóng nảy một chút nhưng rất tốt.
Rồi bà tỏ ra khôi hài:
- Giá ông tơ bà nguyệt mà biết được, xe sợi chỉ hồng cho hai đứa nhỉ?
Đôi má Tuyền chợt gợn sắc hồng của sự thẹn thùng. Cô kêu lên nho nhỏ:
- Kìa, bác...
Bà Thành Danh nói thêm:
- Nếu thật sự hai đứa đã quen và thích nhau, bác sẽ tình nguyện làm bà mai giúp đỡ.
Tuyền càng mắc cỡ:
- Chưa đến giai đoạn ấy đâu bác. Hơn nữa anh ta giận cháu rồi.
- Chuyện trai gái vấn đề đó là thường. Ghét rồi thương... thương rồi giận... hết giận lại hờn... lẩn quẩn chỉ bấy nhiêu.
- Bác tâm lý quá cỡ.
Bà Thành Danh cười ôn tồn:
- Thì tại bác đã trải qua mà. Tình yêu thời tuổi trẻ luôn tuyệt vời và mãnh liệt. Có đôi lúc bác ao ước mình được sống lại giây phút ấy chết cũng cam lòng.
Bữa cơm đã xong, bà Thành Danh kéo Tuyền ra hành lang ngồi tâm sự. Có lẽ bà cho rằng cô là người mà bà có thể trút cạn mọi nỗi niềm. Tuy nhiên, bà cũng chỉ nói những điều mà Tuyền không hề chờ đợi. Thấy cơ hội không đến, Tuyền bộc phát mở lời:
- Thời trẻ bác có yêu ai đắm đuối không?
Bà Thành Danh hơi thay đổi sắc diện trước khi gật đầu:
- Có... Thời con gái ai mà tránh được chuyện vấn vương tình cảm.
- Thế bác có lấy được người ấy làm chồng không?
Dường như khóe mắt của bà Thành Danh đang bắt đầu long lanh. Bà nói như muốn mếu:
- Lấy được.
Tuyền cảm thấy hồi hộp:
- Người ấy là bác trai hiện giờ?
Tới đây, bà Thành Danh bỗng khóc ròng nhưng vẫn nói:
- Không phải.
Cô nhẹ nhàng đặt tay mình lên tay bà Thành Danh:
- Cháu xin lỗi đã quá tọc mạch vào đời tư của bác. Chỉ tại cháu có quá nhiều thắc mắc...
- Không phải tại cháu, mà chỉ tại bác xúc động khi hồi tưởng lại dĩ vãng.
Tuyền tiếp tục công việc dò hỏi một cách khôn khéo:
- Dĩ vãng của bác chắc là không được vui vẻ lắm?
- Cháu đoán đúng chỉ một phần. Thật ra thì bác có một thời gian hạnh phúc vô cùng. Nhưng tiếc là ngắn ngủi quá, chỉ kéo dài được một năm.
Lặng người đi để đè nén nỗi buồn, bà Thành Danh lại kể:
- Sau một năm vui vẻ là cả chuỗi thời gian dài đau khổ. Nhiều lúc bác muốn tự giải thoát cho mình, song nghịch cảnh trò đời cứ trói buộc, bắt bác phải chịu đựng điều mà bác kinh tởm nhất.
- Dường như trong giọng nói, bác không có tình yêu với bác trai?
- Lần này thì cháu đúng trăm phần trăm.
Đã đoán trước song Tuyền vẫn ngỡ ngàng:
- Không yêu sao bác lại có thể lấy làm chồng?
Những giọt nước mắt không kìm hãm được của bà Thành Danh tuôn như suối. Bà khẽ nấc:
- Chuyện gì cũng có vấn đề của nó cả. Cháu không thể hiểu được khi chưa biết rõ đâu Tuyền.
Đến đây thì Tuyền hiểu mình không nên lấn sâu thêm, dù thật lòng cô rất muốn được biết hết về đời tư của một người phụ nữ có cuộc sống cao sang. Tuyền đề nghị một cách rụt rè:
- Nếu bác có bí mật cần giấu kín thì không nên thổ lộ. Cháu trẻ người non dạ chẳng giúp gì được cho bác ngoài ý muốn chia sẻ rất chân thành.
Bà Thành Danh dùng khăn thấm khô lệ rồi cười buồn, vành môi phớt màu son nhưng trông thật héo hắt:
- Bác cám ơn cháu đã có tấm lòng cảm thông với cuộc đời bất hạnh của bác. Có lẽ trong thế giới bao la này bác chỉ gặp được một người là cháu thôi.
Tuyền rất đỗi khiêm tốn:
- Chỉ tại bác ưu ái cho cháu quá, chứ tấm lòng thì ai ai cũng có mà.
Bà Thành Danh siết chặt bàn tay nhỏ nhắn của Tuyền:
- Không đâu. Suốt bao nhiêu năm nay bác chưa hề có dịp để tâm sự với ai về nỗi thống khổ của mình. Ngay cả hai đứa con gái của bác, bởi trò chuyện với chúng là cả một vấn đề rất khó.
- Theo như cháu được biết thì bác còn có thêm một người con.
Câu nói bất ngờ này làm bà Thành Danh hoảng hốt:
- Nguồn tin từ đâu vậy?
Tuyền bình tĩnh:
- Bác khoan hỏi mà xin bác hãy xác nhận.
Bà Thành Danh cúi đầu:
- Phải. Nó là con riêng của bác với người chồng trước.
- Vậy hiện giờ người con ấy ở đâu mà không cùng sống chung tại đây?
Bà Thành Danh lại khóc:
- Bác không biết. Bác đã bỏ công tìm nó cả năm, sáu năm nay, nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy tung tích gì. Bây giờ chắc nó đã lớn lắm. Có thể bằng hoặc hơn cháu một tuổi.
- Cậu ấy là con trai.
- Đúng rồi. Nó là đứa con trai duy nhất được sinh bằng tình yêu đích thực. Nhưng phần số nó cũng không may mắn nên vừa mới chào đời đã chịu cảnh mất cha.
Tuyền xúc động theo từng lời kể và những giọt lệ đau buồn của bà Thành Danh:
- Cháu biết không? Vì thương chồng và muốn giữ mãi trong tim hình ảnh người đàn ông đầu tiên của đời mình bác đã lấy tên anh ấy đặt cho con. Nó là Đạt... Thành Đạt... Nếu sau này cháu có gặp người nào mang tên đó thì hỏi giùm bác...
Không biết từ bao giờ, Tuyền đã khóc theo bà. Có lẽ tại cả hai có cùng chung tâm trạng yếu đuối của một người phụ nữ:
- Thưa bác... con trai bác bỏ nhà đi vì không chịu sống chung với dượng ghẻ hay nguyên do nào khác?
Bà Thành Danh nghẹn ngào nước mắt:
- Con trai bác là một đứa trẻ vô tư, nó không hay biết gì về việc cha nó đã chết. Trong tâm tưởng nó từ nhỏ đến lớn vẫn chỉ có một người cha là người đang sống với bác hiện thời. Nó yêu ông ta lắm và luôn xoắn xuýt bên cạnh...
Tuyền nghe sự hồi hộp trong người gia tăng:
- Thế còn phía ông ta?
Bà Thành Danh nuốt nước bọt một cách khó khăn:
- Bề ngoài thì không ai có thể nghĩ ông ta là dượng ghẻ. Còn trong lòng bác thật sự không hiểu ông ta có yêu nó hay không? Cho đến một ngày năm thằng Đạt tròn mười lăm, nó bỗng dưng biến mất để lại cho bác nhiều nghi vấn. Bác đã cật vấn ông ta rồi lăn lộn khóc lóc, nhưng ông ta luôn đưa ra một lý do rất xác đáng là có lẽ thằng Đạt phát hiện ra nó đã bị lừa dối tình cảm nên buồn mà bỏ nhà đi. Cho tới tận bây giờ nó không về và bác cũng chẳng biết nó ở đâu.
- Việc này bên ngoài có ai hay biết gì không hả bác?
- Để giữ vững thanh thế, ông ta bắt bác phải giấu nhẹm việc thằng con mất tích. Trước kia cả nhà sống ngoài phố để tiện việc cho các em đi học. Nhưng sau đó ông đã cho xây dựng ngôi biệt thự mới tại đây rồi dọn về ở luôn, nên bác và các em như bị tuyệt giao với thế giới bên ngoài.
- Còn ngôi biệt thự cũ hai bác đang cho chị em cháu nương náu xây dựng từ bao giờ? Tại sao lại bỏ hoang uổng quá vậy?
Giọng bà Thành Danh nghe u uất:
- Ngôi biệt thự đó là của gia đình chồng bác. Nó bị bỏ hoang vì... vì...
Thấy bà Thành Danh mở miệng khó khăn, Tuyền bèn ngăn:
- Có lẽ nãy giờ cháu đã đi quá phạm vi của mình. Cháu thành thật xin lỗi, cháu chỉ muốn mình hiểu bác hơn như một người con hiểu mẹ.
Bà Thành Danh có vẻ mệt nên hơi thở thật nặng nhọc:
- Vậy là cuộc sống của bác vẫn còn gặp may đấy. Cháu hãy thường xuyên gần gũi bác để nỗi buồn trong lòng bác được có người chia sẻ nghe cháu.
Tuyền dành cho bà Thành Danh tia nhìn ấm áp của một người con:
- Chiều nay bác có thể tới chơi với cháu được không?
- Tất nhiên là phải được rồi. Bác sẽ tìm tới cho cháu một ít lương thực để dùng trong những ngày rét mướt.
- Ồ, cháu không dám làm phiền bác nhiều như vậy. Được bác thương là cháu cảm thấy ấm lòng rồi.
- Đừng khách khí nữa mà. "Có thực mới vực được đạo" chứ!
Thấy đã muộn, Tuyền bèn đứng dậy cáo từ. Cô biết chắc ở nhà vú Dần và nhỏ Tú đã đứng ngồi không yên vì sự chậm trễ bất thường của cô ngày hôm nay. Nhưng dẫu sao cô cũng thấy rất vui vì chiếm được tình cảm của bà Thành Danh. Trên đường về, Tuyền còn gặp phải một người đang đặt hết niềm hy vọng ở cô. Đó là chú Nhị, kẻ mà cô đã phần nào tin tưởng lẫn xót xa cho cuộc đời của ông.


Phần 4


Chiều nay không gian bỗng trở nên u ám hơn dù trời còn rất sớm. Ngồi trong nhà nhìn ra, Tuyền đoán bà Thành Danh không thể đến khi thời tiết thế này! Vậy là uổng công cô đã sắp xếp cuộc gặp gỡ theo lời hứa với chú Nhị. Biết tới chừng nào Tuyền mới thực hiện được lần nữa đây?
Tuyền khoác thêm chiếc áo nữa rồi đi tới, đi lui. Trông cô cũng nôn nóng như người đang muốn gặp bà Thành Danh vậy.
- Chị Hai ơi... chị làm ơn ngồi xuống giùm em đi.
Tú vừa nói tới đây thì có tiếng rũ phành phạch ở bên ngoài. Cả hai chị em giật mình nhìn ra thì thấy bà Thành Danh đang giũ cây dù nơi thềm cửa bà mỉm cười nhìn hai chị em:
- Bác không sai hẹn chứ?
Tuyền vội chạy đến bên người phụ nữ mà cô có ý ngóng chờ:
- Cháu cứ ngỡ mưa thế này bác không ra khỏi nhà đâu.
Bà Thành Danh có vẻ lạnh nên đã giấu vội hai tay vào túi áo măng tô dài màu đỏ đang mặc sẵn trên người. Bà dùng ánh mắt chỉ cho Tuyền giỏ thức ăn đầy ắp mà bà đã đem tới.
- Cất nó đi mà dùng từ từ cháu. Trước kia dù thời tiết đẹp hay xấu bác cũng không thích ra bên ngoài. Còn bây giờ dẫu có bão bác cũng giữ đúng lời hứa của mình mà.
Nói xong, bà đi thẳng vào trong nhà không khách sáo đợi Tuyền mời. Chọn một chỗ ngồi có thể nhìn ra ngoài, bà Thành Danh từ từ buông người xuống. Bà đảo mắt ngó vòng quanh:
- Ở đây coi vậy mà đỡ buồn hơn chỗ bác. Tuy chỉ có ba người nhưng còn trò chuyện được với nhau.
Tuyền ra hiệu cho nhỏ Tú đem giỏ thức ăn cất đi rồi bước lại ngồi gần bà. Trông cứ như mẹ và con gái.
- Sao bác không vui đùa với chị em Kiều và Diễm chứ? Hai đứa không nói được nhưng đã có thể đàm thoại bằng cách viết ra chữ rồi.
Bà Thành Danh thở dài:
- Cám ơn cháu đã làm được điều ấy cho hai đứa con gái tội nghiệp của bác. Nhưng bản tính chúng kỳ quặc lắm. Bác không hiểu tại sao từ khi anh trai chúng biến mất chúng lại ra nông nỗi này.
- Đó là cái giá phải trả của cô và thằng em bất nghĩa của tôi gây ra. Tố Lan à. Ông trời tuy cao nhưng không có mù đâu.
Tiếng nói bất thình lình từ bên ngoài ập vào làm cho tất cả cùng sửng sốt, bàng hoàng. Ngay cả Tuyền đã biết trước cũng không tránh khỏi sững sờ khi bóng dáng của người đàn ông ấy xuất hiện chặn ngay ngưỡng cửa. Cô thầm trách chú Nhị quá nôn nóng, không chịu chờ cô kịp đãi bà Thành Danh món chè trôi nước. Và cô biết bắt đầu từ bây giờ, không khí trong nhà sẽ trở nên nặng nề hơn. Quả đúng như cô nghĩ, bà Thành Danh đã hét lên vì sợ hãi:
- Á...
- Cô sợ tôi lắm à?
Sắc mặt bà Thành Danh tái nhợt, tay chân run lẩy bẩy:
- Ông... ông... là ai?
Chú Nhị ngửa cổ cười một tràng dài song âm điệu đầy đau khổ:
- Hà... hà... hà... tôi là con ma đội mồ về đây để bới móc lại cái gọi là tội ác của những người còn sống.
- Ông nói gì tôi không hiểu? Phải chăng ông đã từng là một người quen...
Chú Nhị nhấc mạnh đôi chân vào giữa phòng tạo khoảng cách rất gần bà Thành Danh khiến cho bà quíu người phải bám chặt lấy Tuyềm mới đứng vững. Bà lắp bắp:
- Ông... là... là...
Chú Nhị gằn giọng lên:
- Là người đã từng sống những tháng ngày hương lửa yêu đương với cô đây.
Cặp đồng tử của bà Thành Danh như muốn bắn tung ra khỏi hố mắt đang mở lớn. Bà ngọng nghịu:
- Ông... là... Thành... Đ...ạ...t...
Chú Nhị khoanh tay, hơi thở khá nặng nhọc:
- Đúng. Tôi là Thành Đạt, người chồng khốn khổ của cô gần hai chục năm về trước đây.
Nghe thấy vậy, bà Thành Danh lảo đảo tựa như mặt đất dưới chân đang lung lay chuyển động. Đứng bên cạnh, Tuyền vội choàng tay đỡ lấy bà. Cô cảnh cáo chú Nhị:
- Ông không được gây tác hại gì cho bác ấy!
Nhưng chú Nhị phẩy cánh tay đã tàn tật:
- Yên tâm đi, tôi chỉ muốn gặp người vợ cũ của tôi để hỏi han cuộc sống của họ có hạnh phúc không thôi.
Bất ngờ, bà Thành Danh chồm lên như có một động lực nào đó thúc đẩy. Bà thét lớn:
- Ông nói dối... ông mạo nhận.
- Thế theo cô thì Thành Đạt đã ra sao?
Bà Thành Danh ôm lấy ngực trấn áp sự đau đớn:
- Anh ấy đã chết. Một cái chết không toàn thây, chiếc xe lao từ đèo cao xuống vực thẳm.
- Đó là lời của thằng Thành Danh có phải không?
Bà Thành Danh thở hổn hển:
- Không phải chỉ bằng lời, mà xác anh ấy được đem về nhà chôn cất đàng hoàng.
Giọng chú Nhị đầy ai oán:
- Một đám ma giả tạo để khai tử một người đang còn sống kể cũng dã man quá. Hèn gì gần hai chục năm nay các người đã yên ổn trong sự khốn khổ của thằng này.
- Ông... ông là ai?
- Thì tôi chẳng giới thiệu rồi đó sao?
- Nhưng bằng chứng đâu mà ông dám nhận mình là Thành Đạt?
Chú Nhị nhìn xuống hình hài mình rồi lắc đầu:
- Bây giờ thì thân xác tôi giống như một con ma thực thụ vậy, làm sao cô có thể nhận dạng được điểm nào của Thành Đạt ngày xưa?
Tuy chưa tin những sự kiện vừa xảy ra với mình, song mức độ căng thẳng đã làm tinh thần bà Thành Danh khủng hoảng. Bà nói không ra hơi:
- Nếu... là Thành Đạt thì... ông phải biết những dấu ấn kỷ niệm của chúng ta.
- Cám ơn cô đã gợi ra điều đó! Cô còn nhớ lần đầu tiên khi Thành Đạt tỏ tình với cô hắn đã nói gì không? Có phải hắn nói: "Tố Lan ơi... trên cuộc đời này chỉ có em là người phụ nữ duy nhất mà anh yêu ngoài mẹ ruột của anh ra. Em sẽ là điểm tựa để cho anh bước đến sự thành đạt mai sau...", và rồi đêm tân hôn của cả hai diễn ra là một sự kiện khó quên, họ không thể động phòng vì cha mẹ của Thành Đạt đột ngột qua đời ngay buổi tối hôm đó.
Chú Nhị nói tới đây thì bà Thành Danh ôm lấy đầu mình lắc lư.
- Đủ rồi... đủ rồi...
Chú Nhị vẫn tiếp tục làm bà Thành Danh chới với:
- Thành Đạt thích nhất là được ngắm và mân mê cái nốt ruồi trên ngực trái của Tố Lan.
Bà Thành Danh bàng hoàng:
- Trời ơi... Thành Đạt... đúng ông là Thành Đạt rồi... Thành Đạt của em...
Tuyền toan níu giữ song đã bị bà Thành Danh xô ngã để lao về phía chú Nhị. Cả hai ôm lấy nhau trong tư thế đứng chết lặng một hồi, rồi tiếng khóc của người phụ nữ tỏa ra:
- Anh ơi! Tại sao anh còn sống mà tới bây giờ mới chịu tìm về? Anh ác quá... anh đã để em sống trong khốn khổ mỏi mòn nhung nhớ.
Chú Nhị đẩy nhẹ bà Thành Danh ra khỏi sự va chạm, nhếch môi cười héo hắt:
- Em sống khổ sở ư? Thế thằng Thành Danh nó không quan tâm, chăm sóc em cẩn thận như anh trước kia à?
Nước mắt bà Thành Danh lại tuôn trào:
- Thành Đạt ơi, anh làm sao hiểu được em phải trải qua những giây phút khốn khổ thế nào khi nghe tin anh chết. Nếu không vì đứa con trong bụng, em đã theo cho trọn nghĩa.
Chú Nhị thoáng mỉa mai:
- Vậy sao hiện giờ em lại trở thành bà Thành Danh? Chị dâu lấy em chồng chắc không để giữ gìn nòi giống chứ?
Bà Thành Danh uất nghẹn:
- Đừng nghi ngờ lòng dạ của em, anh Thành Đạt! Phải lấy Thành Danh và sống chung với hắn đã là một cực hình đối với em.
- Em nói sao hả Tố Lan?
- Hãy bình tĩnh mà nghe em nói đi Thành Đạt. Nếu biết anh còn sống thì em không đời nào...
Chú Nhị cay đắng thốt:
- Còn sống hay đã chết với tôi không còn ý nghĩa nữa. Tôi về đây không phải để buộc em về làm vợ, mà là chỉ muốn nhìn mặt thằng con trai của tôi thôi. Nếu các người đối xử với nó tốt, tôi hứa sẽ không truy cứu lại chuyện gì, dù tôi đã bị hại đến thân tàn, ma dại.
Bà Thành Danh mở to mắt:
- Ai đã hại anh hả Thành Đạt?
Chú Nhị cắn môi mình rướm máu:
- Kẻ đang sống chung với em đó!
Thêm một lần nữa, bà Thành Danh sửng sốt bàng hoàng. Bà gần như há hốc miệng:
- Thành Danh ư?
Chú Nhị gật đầu, sự đau khổ trào dâng trong giọng nói:
- Chính nó. Thằng em bất nghĩa, vô nghĩa của tôi. Thành Danh đã bỏ tiền ra thuê bọn bất lương chặn đường về của tôi trên lưng chừng ngọn đèo Prenn. Chúng đã lôi tôi ra khỏi xe đánh đập rất dã man, làm bàn tay tôi bị gãy nát...
Vừa kể chú Nhị vừa chìa cánh tay tàn phế ra cho bà Thành Danh nhìn thấy rồi nuốt lệ nói tiếp:
- Lúc ấy tôi tưởng rằng mình đã gặp phải bọn cướp nên van xin chúng cứ lấy đi thứ gì chúng cần, với điều kiện tha cho tôi được sống. Nhưng chúng đã cười rú lên với nhau và nói rằng mạng sống của tôi đã được người ta mua với giá cao. Không tin, tôi đã mắng chúng là bọn cướp bất lương. Song chúng đã ném vào mặt tôi tờ giấy cam kết của Thành Danh hứa trả cho chúng mười cân vàng sau khi loại tôi ra khỏi cuộc sống. Phải nói lúc đó tôi như bị rơi từ trên trời cao xuống vực thẳm, vì không ngờ thằng em ruột của mình lại thuê kẻ giết mình. Bởi thế, khi bị chúng ấn trở lại xe rồi đẩy xuống vực thẳm, tôi đã không còn cảm giác sống hay chết. Tiếc thay ông trời còn muốn tiếp tay hành hạ tôi thêm nữa nên khiến tôi được người ta cứu, để rồi phải đứng trước em với hình hài như thế này!
Nghe xong, bà Thành Danh rũ người buông thõng hai cánh tay. Bà cảm thấy khiếp đảm tột độ trước những gì người chồng xưa đã kể:
- Trời ơi... sao lại có thể xảy ra sự tác tệ như vậy?
- Em hãy đi mà hỏi thằng Thành Danh ấy? Cho tới tận bây giờ tôi cũng chưa rõ nó giết anh trai nó với mục đích gì? Phải chăng, chỉ là để được thừa kế sản nghiệp?
Ngừng lại một chút, chú Nhị lẩm bẩm nói:
- Mà cũng có thể vì... cả em nữa Tố Lan à...
- Không... không...
Bà Thành Danh đập hai tay lên bờ vai người chồng cũ tỏ thái độ phản đối kịch liệt vấn đề này, và bà đã ngất xỉu vì không còn chịu nổi. Mọi người phải quýnh quáng đổ xô tới đưa bà vào phòng trong để cứu chữa. Giữa lúc ấy thì Sinh từ bên ngoài xông vào lôi thốc chú Nhị đi:
- Hãy theo cháu ra khỏi nơi đây ngay.
Nhưng chú Nhị đã ghì lại:
- Ta chưa thể đi được. Ta còn chưa hỏi được gì về con trai ta.
Giọng Sinh đầy hối hả:
- Chờ dịp khác cũng chưa muộn mà chú. Ông Thành Danh và người nhà của ông ta sắp sửa tới đây rồi.
- Cháu đừng có dọa ta.
- Ôi, cháu dọa chú làm chi. Trên đường đến đây cháu đã trông thấy họ. Kìa... chú xem, đèn đuốc sáng trưng đằng kia.
Tưởng chú Nhị sẽ hoảng lên mà theo mình, nào ngờ ông còn nói:
- Vậy cũng tốt. Để ta đối điện với thằng khốn đó hỏi cho ra lẽ một phen.
Sinh cuống quýt khuyên:
- Cháu nghĩ chưa phải lúc này đâu. Chú nên nghe cháu chờ cơ hội khác đến, đừng để cô Tuyền bị vạ lây vì đã có lòng giúp chú gặp bà Thành Danh.
Lời Sinh không có tác dụng bằng ánh mắt khẩn khoản của Tuyền. Khi chú Nhị tiếp nhận tia nhìn ấy, chú liền đồng ý:
- Thôi được... ta về.
Không chậm trễ, Sinh kéo phăng chú Nhị ra khỏi phòng băng mình vào bóng tối dày đặc ở bên ngoài, trước sự hồi hộp của Tuyền khi cô phát hiện cách đó không xa ánh đèn pin đang loang loáng.
***
Bà Thành Danh vừa tỉnh lại sau cơn ngất đã nghe tiếng người cật vấn:
- Mình đến đây làm gì?
Không đáp lại, bà Thành Danh từ từ ngồi dậy đảo ánh mắt thất thần nhìn chung quanh. Thấy vậy, ông Thành Danh lại hỏi:
- Mình đang muốn tìm gì vậy?
Lần này bà Thành Danh bỗng chộp lấy ngực áo ông:
- Hãy nói mau, con trai của tôi đang ở đâu?
Ông Thành Danh gỡ tay vợ ra một cách phũ phàng. Ông gắt toáng lên:
- Đã nói bao nhiêu lần rồi mà còn cứ hỏi mãi... Bộ muốn lên cơn điên rồi hay sao?
Vốn yếu đuối nên bà Thành Danh khóc to lên:
- Phải, tôi điên rồi đây. Tôi làm sao tỉnh được khi thằng con trai của tôi biệt tích chứ?
- Việc đó bà hãy bắc thang mà hỏi ông trời thử. Có thể ông ấy ngồi trên cao sẽ thấy được thằng con của bà nó đi lang thang nơi nào.
Rồi ông quay phắt sang phía chị em Tuyền đang ở bên cạnh bà Thành Danh chăm sóc nãy giờ. Ông chỉ vào từng đứa:
- Nói... Có chuyện gì vừa xảy ra ở đây?
Nhỏ Tú run bắn lên trước bộ mặt gườm gườm của ông Thành Danh nên chực mở miệng, nhưng Tuyền nhanh nhảu hơn nó nên vội cướp lời:
- Thưa bác, không có chi đâu ạ. Bác gái thấy chị em cháu thiếu thốn nên đem thức ăn lại cho. Tiện thể vú Dần nấu chè trôi nước nên cháu đã giữ bác gái ở lại dùng. Nào ngờ chè chưa ăn bác ấy bỗng dưng bị ngất... và sau đó là bác đến đây và...
Nhỏ Tú theo đà nói của chị nhưng không bình tĩnh:
- Dạ... đúng là như vậy. Trong bếp có chè trôi nước để cháu bưng lên mời bác cùng ăn luôn.
Ánh mắt ông Thành Danh đầy khả nghi quét theo lưng nhỏ Tú và dán chặt vào nó khi nó trở lên. Mùi thơm của gừng và đậu phộng rang rất hấp dẫn làm không khí căng thẳng trong gian phòng khách dịu xuống. Tiếng ông Thành Danh dễ nghe hơn:
- Ta không hảo mấy thứ đồ ngọt này đâu.
Tuyền cố tỏ ra láu lỉnh:
- Vậy bác cho phép cháu mời bác gái ăn nhé!
- Nếu chỉ là việc ăn thì ta đâu có cấm.
Rồi ông dịu dàng với vợ hơn:
- Mình thích chè thì ăn chè đi rồi về.
Nhưng bà Thành Danh đã gạt đi:
- Hết còn hứng rồi. Ăn một chén chè mà phải xin với xỏ thì nuốt trôi được ư?
- Mình nói quá lời. Thôi để tôi về trước vậy.
Nói xong, ông Thành Danh bước ra ngoài thì thầm gì đó với những người đã đi theo. Có lẽ ông đang dặn dò họ canh chừng ngôi biệt thự. Hiểu chuyện, bà Thành Danh thấy mình cũng không nên ở lại. Bà nói khẽ vào tai Tuyền:
- Hãy tạo cho bác một cơ hội gặp gỡ khác nhé.
Tuyền không dám đáp mà nhận lời bằng cái gật đầu rất nhẹ, cô tiễn bà Thành Danh ra về rồi quay trở vào.
***
Nói về bà Thành Danh, sau khi biết được người chồng cũ còn sống thì lòng dạ bà tựa con thuyền đang gặp bão tố giữa đại dương. Bà không thể ngờ rằng kẻ đang sống chung với mình bấy lâu nay lại quá đỗi hiểm ác, còn thua loài cầm thú. Ôi, tội nghiệp cho Thành Đạt của bà quá. Cả đời ông ấy nhân từ, đức độ thế mà sao lại có một thằng em bất nghĩa vô lương. Cứ hình dung đến hình hài tàn tạ, thảm thương của Thành Đạt dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu là nước mắt bà Thành Danh lại ứa ra. Bà muốn túm lấy cổ kẻ ác ôn để hỏi cho ra lẽ vì sao anh em ruột lại có thể hại chết lẫn nhau? Nguyên nhân vì tiền thì không đến nỗi thế đâu, bởi Thành Danh cũng được chia một phần tài sản. Còn vì tình ư? Ôi, bà tự xét mình rồi lẩm bẩm: "Ta có quá đẹp, quá quyến rũ hay không mà lại khiến cho hai người đàn ông phải điêu đứng vì ta?". Không! Tình yêu là một sự thiêng liêng chứ không phải do sắc đẹp, và càng không thể chiếm lĩnh nó bằng bạo lực. Việc bà và ông Thành Đạt gặp nhau, yêu nhau rồi đi đến hôn nhân là sự sắp đặt của Thượng Đế. Còn Thành Danh có để ý đến bà hay không đó là chuyện của ông ta. Vậy thì tại sao lại xảy ra vấn đề của ngày hôm nay? Thành Danh nỡ vì một người đàn bà mà gạt bỏ tình cốt nhục sao chứ? Bà nhớ lại cái ngày nhận được tin Thành Đạt chết. Bà đã ngất đi nhiều lần nhưng đều ở trên tay của Thành Danh. Rồi sau khi chôn cất xong, chưa được trăm ngày Thành Danh đã lấy cớ phải bảo bọc cho mẹ con bà và duy trì sản nghiệp của dòng họ, ép bà phải làm vợ hắn. Ôi...! Tại sao bà không nghĩ đến lòng tốt của một gã em chồng vào cái ngày ấy chứ. Bà lại còn cảm động đến nghẹn lời vì được hắn lo lắng, bảo bọc mới là chuyện nực cười. Bà giận mình ngu ngốc nhất trên đời. Tuy cũng được nhận tình yêu từ nơi hắn, song làm sao có thể sánh với những gì Thành Đạt đã cho bà. Hắn là một người đàn ông ích kỷ số một mà. Ở hắn ít khi có sự dịu dàng, đằm thắm... mà nếu có thì dường như đầy giả tạo. Không biết việc mất tích của con trai bà có liên quan gì tới hắn chăng? Một nỗi lo lắng tột độ trào dâng, bà biết phải trả lời với Thành Đạt ra sao về nó? Cần gạn hỏi kỹ lại Thành Danh mới được. Hắn đã dám làm điều ác lớn thì việc ác nhỏ hắn cũng không từ đâu. Nghĩ tới đây, bà Thành Danh khoác thêm áo ấm vào người rồi đẩy cửa phòng ngủ đi ra. Bước xuống phòng khách thì bắt gặp ông Thành Danh đang nói chuyện với những người đi theo ông lúc nãy. Thấy bà, họ liền lảng tránh bỏ đi. Không chịu nổi sự thôi thúc trong lòng, bà đã bước nhanh tới:
- Sao? Ông mướn người theo dõi tôi đó hả?
Ông Thành Danh buông giọng nói ôn tồn:
- Mình nghĩ xấu về tôi rồi. Tôi làm chuyện này vì gần đây khu vực nông trường trà của chúng ta không được an ninh như trước.
Bà Thành Danh cười mỉa:
- Có bọn cướp xuất hiện ư?
Vẻ mặt ông Thành Danh hơi ngượng:
- Đại khái là như vậy.
- Ông có biết chúng là ai không?
- Tất nhiên là không rồi. Vì nếu biết, tôi sẽ không để chúng có cơ hội lộng hành.
- Ông sẽ làm gì chúng nếu như tóm cổ được?
Câu hỏi này làm ông Thành Danh phải nhìn bà bằng đôi mắt khác:
- Mình quan tâm tới điều đó làm gì chứ?
Bà Thành Danh mím môi:
- Chẳng lẽ tôi không thể biết được ý định của ông?
- Nhưng bọn chúng có liên quan gì tới mình đâu mà tìm hiểu?
Song lúc này, bà Thành Danh tỏ ra rất khôn ngoan:
- Bộ ông tưởng tôi là đàn bà chỉ biết ở trong xó bếp để hầu hạ thôi sao?
Ông Thành Danh cười hà hà, ánh mắt dịu hẳn xuống:
- Thì tôi có dám coi thường mình hồi nào đâu. Chẳng qua tôi sợ mình đụng chạm với những vấn đề mang tính chất bạo lực sẽ không tốt...
- Ông nói như vậy là có ý gì chứ?
- Mình không cần thắc mắc. Mình chỉ cần biết tôi luôn bảo vệ mình là được rồi.
Bà Thành Danh cười giọng mỉa mai:
- Bảo vệ hay là giam lỏng tôi?
Lẽ ra bà Thành Danh nên nhịn để tìm hiểu, nhưng sự thật về câu chuyện ngày xưa đau lòng quá khiến bà không thể giữ im lặng được lâu.
- Hãy nói cho tôi nghe đi. Thằng Đạt hiện giờ đang ở đâu?
Vẻ mặt ông Thành Danh thay đổi sắc diện bởi câu hỏi:
- Lại nhắc đến thằng mất dạy ấy làm gì chứ? Ở từng tuổi hiện giờ, nó cũng đã đủ sức để tự lo cho nó được rồi.
Bà Thành Danh gằn giọng:
- Nhưng tôi muốn biết nó ở đâu? Dẫu nó có làm được gì để sống nó cũng không nên mất liên lạc với mẹ nó trong suốt bấy lâu chứ.
Tỏ ra thông cảm với nỗi đau của vợ, ông Thành Danh bước lại gần an ủi:
- Đừng lo buồn nữa mình ạ. Rồi sẽ có ngày nó biết hối hận quay về thôi.
- Nhưng đã năm, sáu năm, không lẽ nó còn chưa biết nghĩ lại?
- Hay để tôi đăng báo tìm nó thêm lần nữa vậy?
Bà Thành Danh bỗng buột miệng:
- Tôi có cảm giác nó sẽ không bao giờ còn đọc được những dòng tin đó nữa.
Nghe vợ nói vậy, ông Thành Danh giật thót người, mặt tái lại:
- Mình vừa nói gì vậy? Có lẽ tôi phải đưa mình đi khám bác sĩ thần kinh thôi.
Song bà Thành Danh đã giật lùi nhìn vào mặt ông trân trối:
- Đừng lo tôi bị điên sớm như vậy. Tôi phải tỉnh táo để coi hậu vận của ông tốt hay xấu nữa mà...
Lần này ông Thành Danh thật sự mất bình tĩnh, chộp lấy vai vợ lay mạnh:
- Bà biết gì về tôi mà phát ngôn như thế? Phải chăng lúc nãy ở ngôi nhà cũ đã xảy ra chuyện gì?
Không tự lượng sự cô thế của mình, bà Thành Danh quyết định phanh phui mọi chuyện. Bà mạnh dạn hất mặt:
- Đúng như vậy. Ở tại đó tôi vừa gặp một người đã chết gần hai mươi năm rồi đội mồ sống dậy đó...
Ông Thành Danh quả là một kẻ đáng gờm, đã kịp trấn tĩnh lại mình nên bộ mặt lạnh băng. Dường như ông đã hiểu được chút ít của sự việc:
- Sao? Người chết đội mồ à? Hoang đường quá...
Bà Thành Danh cố giữ mình thật cứng rắn để đừng run:
- Không hoang tưởng chút nào đâu. Mà chuyện có thật đã xảy ra. Ông có muốn nghe không?
Ông Thành Danh cười gằn trong cổ họng:
- Tôi không có thời gian. Hơn nữa, một kẻ đã chết đi sống lại thì có gì hấp dẫn đâu.
Sự bình tĩnh đến độ coi như không có gì của ông Thành Danh làm bà điên tiết. Bà dùng bàn tay yếu ớt của mình tát mạnh vào mặt ông:
- Đồ khốn!
Sững sờ trước những hành động của vợ, nhưng ông Thành Danh không xoa chỗ đau mà phản công ngay tức thời. Ông dang rộng bàn tay chộp vào yết hầu của vợ rồi đè xuống:
- Bà... dám hả?
Song lòng căm thù của bà Thành Danh đã tạo cho bà sức lực để gồng lên. Bà trừng mắt nhìn thẳng vào mặt ông ta mắng:
- Tại sao tôi lại không dám với một con người đã lừa dối tôi gần hai mươi năm nay chứ? Ông tưởng rằng cái kim trong bọc không thể lòi ra được ư? Lầm to rồi Thành Danh ơi. Tôi thật kinh khiếp vì đã sống chung với con người có lòng dạ dã thú như ông.
Ông Thành Danh cũng mím môi tức giận:
- Dã thú thì sao chứ? Hừm, tôi đối xử với bà như thế mà còn chưa tốt à? Bà cho rằng mình là thứ gì nếu không lấy được thằng Thành Danh này? Hừ... một con đàn bà góa có cái bụng chửa vượt mặt kiếm đâu ra một tên khờ khom lưng gánh của nợ? Thế mà bây giờ lại mở miệng vong ân.
Bị chửi lại, bà Thành Danh có cảm tưởng máu trong người mình dồn hết cả lên mặt và nó buộc phải bộc phá để bắn tung ra ngoài:
- Không biết ai đã phải mắc nợ ai. Và ngày nay tôi buộc ông phải trả...
Rồi bà hất ngược tay ông Thành Danh đang đè chặt nơi cổ vùng thoát được. Bà chỉ tay vào mặt ông:
- Tôi sẽ tố cáo ông chuyện vụ án năm xưa. Ông chính là tên chủ mưu đã hãm hại anh trai mình để chiếm đoạt tài sản.
Vẻ mặt ông Thành Danh tràn đầy sát khí, ông tiến tới từ từ:
- Ai nói cho bà nghe điều này?
Bà Thành Danh lại dại dột:
- Người đã bị ông hại.
- Ý bà muốn nói Thành Đạt sống lại à?
- Ông có thừa thông minh, không cần tôi lặp lại.
- Và bà cũng gặp hắn ở ngôi nhà cũ lúc nãy phải không?
Tỏ thái độ khinh khi người đàn ông đã từng sống chung, bà Thành Danh im lặng quay mặt đi nơi khác. Thấy vậy, ông Thành Danh khẽ gật:
- Dự doán của tôi không bao giờ sai cả. Nhưng các người đừng tưởng sẽ dễ lật ngược thế cờ với thằng Thành Danh này đâu. Thành Đạt đã được chôn dưới mồ, đã khai tử từ lâu rồi... một cách rất đàng hoàng, và vợ của hắn cũng đi lấy chồng sinh ra mấy đứa con với người ta. Việc hắn sống và trở về là điều không nên có.
Bà Thành Danh gào thét:
- Như vậy có nghĩa là ông hoàn toàn nhìn nhận?
Ông Thành Danh giả tảng:
- Nhận gì chứ? Bà hoang tưởng vừa vừa thôi...
Không chịu nổi thái độ vờ vĩnh ấy của người chồng sau, bà Thành Danh lao vào cấu xé ông thì liền bị đánh tới tấp:
- A... a... a...
- Đồ điên... Tôi sẽ nhốt bà luôn ở trong phòng cho mà xem. Để xem bà còn tơ tưởng gì đến cái thằng chồng cũ đã chết...
Bà Thành Danh hứng một trận đòn đau bởi những cái đấm dã man vào lưng và ngực. Thế nhưng lúc này bà không thể khóc lên được một tiếng, và đây là lần đầu tiên bà bị đối xử bởi người chồng vũ phu. Bà chỉ co rút người lại rồi bặm môi chịu trận, vì nỗi đau trong lòng gấp mười lần như thế. Ông lôi bà vào phòng ngủ rồi khóa cửa.
***
Đưa được ông Thành Đạt về đến nhà, Sinh thật sự cảm thấy mừng. Anh thở phào nhẹ nhõm nhìn ông nói:
- Chú làm cháu hú hồn. Nếu lúc nãy không nhanh chân thì chắc đã xảy ra chuyện lớn.
Ông Thành Đạt tỏ ra không chịu hiểu, trách khẽ Sinh:
- Lẽ ra cháu đừng ép ta rời khỏi chỗ đó sớm như vậy. Ta còn rất nhiều việc cần phải làm.
- Nhưng có thể đợi đến lúc khác được mà. Trả thù cũng cần phải có cơ hội chứ?
Ánh mắt ông Thành Đạt gợn nhiều nỗi khổ tâm. Ông chép miệng than van:
- Lúc trước ta có ý trả thù Thành Danh mãnh liệt lắm! Sao bây giờ ta lại cứ quay quắt vì hai chữ tình thâm? Phải chăng lý trí đang nhắc nhở ta và Thành Danh là hai núm ruột cùng một mẹ sinh ra?
Sinh ngạc nhiên trước thái độ lúc này của ông Thành Đạt. Chẳng phải bấy lâu nay ông đã nung nấu nỗi oán hận thằng em bất nghĩa giết hại mình để đoạt vợ hay sao? Vậy mà giờ đây ông lại dằn vặt lương tâm. Liệu ông có thể tha thứ được không khi bản thân mình đã phải chịu đựng quá nhiều thiệt thòi, mất mát? Anh ngồi im chờ nghe ông Thành Đạt nói tiếp:
- Nhiều lúc nghĩ lại những việc làm của thằng em khốn kiếp ấy, ta chỉ muốn nghiền nát nó cho hả giận. Song ông trời lại phú cho mỗi người có một bộ óc để suy tính điều hơn lẽ thiệt. Bởi thế cho nên ta mới lâm vào tình cảnh bối rối, khổ tâm như hiện giờ.
Sinh lên tiếng:
- Vậy theo chú, những việc làm của ông Thành Danh có thể tha thứ được hay không?
Ông Thành Đạt thở hơi dài sầu não:
- Nếu như nó biết ăn năn sám hối thì dẫu tội lớn đến đâu cũng gột sạch được thôi. Khi ta gặp được thằng con trai của ta rồi, ta sẽ xét lại mà tha hay buộc tội.
Sinh châm lửa đốt cho mình một điếu thuốc, anh thật sự không muốn can thiệp vào chuyện riêng của ông Thành Đạt, mặc dù anh luôn coi ông như một người cha. Anh chỉ nói lên ý nghĩ của mình:
- Phải sống trong hận thù dai dẳng cũng không mấy dễ thở. Nhưng ông Thành Danh không phải là người dễ dàng khuất phục nhìn nhận lỗi lầm của mình đâu. Cháu làm việc cho ông ta nên cháu hiểu rõ về bản chất con người ông ta mà.
- Ta cũng hiểu như cháu đó Sinh à, bởi ta và Thành Danh cùng sống và lớn lên trong một mái nhà. Nhưng ta hy vọng thời gian dài vừa qua đã làm biến đổi con người nó.
Nghe ông Thành Đạt bảo thế, Sinh bèn cười nửa miệng:
- Cháu cầu chúc cho niềm hy vọng của chú trở thành hiện thực. Chỉ e tình thế sẽ đảo ngược lại thôi.
Rồi anh nói lảng sang chuyện khác:
- Dường như chú có quen biết với cha mẹ của cô Tuyền?
Ông Thành Đạt hơi khựng lại:
- Phải! Ta với họ là bạn thân... thân hơn cả Thành Danh.
- Chú nghĩ sao về hoàn cảnh của chị em cô Tuyền hiện giờ?
- Đáng thương lắm! Ta không ngờ vợ chồng Vĩnh Khương lại chết sớm, bỏ con cái côi cút.
- Phải ở trong ngôi biệt thự cũ ấy, họ cũng khổ sở lắm nhưng vì không còn chỗ nương thân nên mới đành chấp nhận thôi. Giá như có điều kiện cô ta được tiếp tục đi học thì hay biết mấy.
Ông Thành Đạt chợt hiểu:
- Ta hiểu nỗi lòng của cháu đối với con bé như thế nào rồi. Cháu đã yêu nó chứ gì, kể ra cũng xứng đôi vừa lứa đấy! Nếu còn là một Thành Đạt khi xưa, nhất định sẽ tác hợp được cho hai đứa.
Sinh rít mạnh một hơi thuốc rồi nhả khói từ từ:
- Cần gì phải là một ông chủ khi xưa hả chú Nhị? Cháu chỉ muốn chú là một chú Nhị như hiện giờ thôi.
Ông Thành Đạt ôm vai Sinh trìu mến:
- Cám ơn cháu đã quý ta như người cha của mình. Nhưng dẫu có thay đổi hình dạng tới đâu, ta vẫn là ta... một Thành Đạt khốn khổ như ngày nào.
- Chú lại mặc cảm nữa rồi. Có lúc nào cháu nhìn chú bằng ánh mắt phân biệt rẻ rúng đâu. Với cháu, người thân duy nhất hiện giờ là chú đó! Thú thật, cháu cũng không mong chú được người ta nhìn nhận là ông Thành Đạt. Vì như thế, chú không còn là chú Nhị từng sống với cháu bao nhiêu năm.
- Ồ... cái thằng này thật trẻ con. Bộ cháu tưởng chú là hạng người tồi tệ, chóng quên những ngày tháng gian khổ khi được sống sung sướng sao? Không bao giờ có vấn đề ấy xảy ra đâu. Chú cháu ta vẫn sống chung dù trong hoàn cảnh nào đi nữa.
Nét mặt Sinh trầm tư:
- Cháu thì lại có ý nghĩ khi chú tìm về gia đình của mình, cháu sẽ sống lãng tử một phen.
Ông Thành Đạt nghiêm khắc:
- Không được. Ta không nhất trí vấn đề này, làm người phiêu bạt thì có gì hay đâu. Ta khuyên cháu nên lập gia đình đi, con bé Tuyền cũng là một người phụ nữ tốt trong mắt của ta đó! Phải chi Vĩnh Khương còn sống ta sẽ tự tới xin ông ta gả con gái cho cháu ngay. Song giờ không được rồi, cháu phải tự chinh phục nó chứ?
Sinh bật cười trước những lời nói thật thà nhưng chứa đựng đầy tình thương của ông Thành Đạt. Chuyện tình cảm, tất nhiên anh không thể nhờ cậy người nào nói giùm cho mình được.
- Cháu đang nghĩ gì vậy Sinh?
Tiếng ông Thành Đạt làm cho Sinh giật mình bối rối:
- Dạ, cháu đang nghĩ đến một chuyện vui.
- Thế à. Có cô gái ở ngôi nhà cũ kia không?
Trong lúc Sinh chưa tìm được câu để đáp thì nghe có tiếng nói chuyện ở ngoài đường, âm thanh rất lớn nên vọng vào tận trong nhà. Anh lắng tai rồi đưa tay làm hiệu với ông Thành Đạt ra ý bảo im lặng. Sinh tiến lại sát bên cánh cửa hơn, tiếng bên ngoài vẫn đều đều:
- Ông Thành Danh giám đốc nông trường trà sục sạo gì trong cái xóm này vậy ta? Cứ như là công an truy bắt kẻ gian ấy!
Giọng người thứ hai tiếp:
- Tôi bị ông ta chặn lại hỏi rằng có thấy ai lạ xuất hiện ở đây không? Kỳ thật nha, xóm này hầu hết là công nhân của nông trường trà bao nhiêu năm, chẳng lẽ ông ấy còn chưa thuộc nằm lòng? Có người nào mới đến ở đây đâu?
Tiếng nói chuyện nhỏ dần rồi mất hút trong nỗi lo lắng của Sinh. Anh quay bảo ông Thành Đạt:
- Chú à, có lẽ từ hôm nay chú không nên ra khỏi nhà một mình.
- Nhưng ta còn nhiều việc phải làm.
- Chú có thể sai cháu... - Sinh gạt đi.
Ông Thành Đạt lắc đầu:
- Có những việc phải tự ta đi mới được cháu à. Chẳng hạn như gặp vợ của ta...
- Bây giờ thì việc gặp riêng bà ấy rất khó khăn. Chắc chú cũng đã nghe thấy những lời vừa rồi chứ?
- Ta không sợ...
- Nhưng mọi người sợ cho chú.
- Thành Danh dám giết ta lần nữa không?
Sinh nhún vai trước cơn gàn dở của ông Thành Đạt:
- Có thể ông ta sẽ dám đấy!
Ông Thành Đạt cười khà khà:
- Chết lần thứ hai chắc sẽ không đau hơn lần trước.
Câu nói của ông Thành Đạt chưa kịp dứt thì có tiếng chân chạy rầm rập ở bên ngoài. Phản ứng của Sinh rất nhanh, anh đẩy ông Thành Đạt vào căn buồng, buông màn cửa rồi đứng im chờ đợi sự việc đến. Quả nhiên, tiếng ông Thành Danh vang lên ở ngoài sân:
- Cậu Sinh... đã ngủ chưa?
Sinh giữ thái độ bình tĩnh bước ra hỏi:
- Thưa ông có việc gì mà ông đến đây vào giờ này?
Giọng ông Thành Danh đầy trịch thượng:
- Nhà cậu có mấy người?
- Hai người. Dường như ông có ý kiểm tra hộ khẩu của chúng tôi. - Sinh lộ vẻ khó chịu song vẫn nói.
Ông Thành Danh phóng tia nhìn vào trong nhà:
- Cậu nói hơi quá lời. Tôi chỉ muốn biết để coi sĩ số công nhân là bao nhiêu?
Sinh chế giễu:
- Bao nhiêu thì đã có ghi trong sổ sách, ông muốn biết thì cứ giở ra xem, tội gì đi kiểm tra thế này cho mệt?
Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu hắt ra, đôi mắt ông Thành Danh gợn lên nét hung ác. Giọng ông ta thật đanh:
- Cậu nên nhớ, tôi là ông chủ làm việc rất có kỷ cương.
Sinh cũng không để mình bị xỏ mũi:
- Tôi nghĩ mình chẳng làm điều gì vi phạm nguyên tắc của nông trường đề ra cả. Hơn nữa tôi xin nhắc cho ông biết rõ là nhà này chỉ có mình tôi là công nhân của ông thôi.
- Vậy còn một người nữa làm gì?
- Đó là chú tôi. Ông ta ngoài tuổi lao động rồi, chỉ ở nhà nghỉ ngơi.
Cặp chân mày ông Thành Danh nhíu lại:
- Ông ta đến đây ở lâu chưa?
- Từ khi tôi bắt đầu làm công nhân cho ông.
- Có khai báo nhân khẩu với địa phương không?
- Tất nhiên là có rồi. Mà ông điều tra gì gớm vậy? Sao không nhờ công an họ phối hợp cho dễ dàng?
Ông Thành Danh không quan tâm tới câu nói của Sinh:
- Cậu hãy gọi ông chú ra đây cho tôi nhận diện thử.
Sinh bực bội:
- Ông tình nghi chú tôi là hạng người gì chứ? Chú tôi đang bị ốm... nằm liệt giường cả tháng trời nay rồi. Nếu ông không sợ ngửi mùi xú uế thì hãy theo tôi.
Nói rồi anh dợm quay lưng đi, thái độ dứt khoát này của Sinh làm ông Thành Danh bỏ ý định. Ông cất tiếng:
- Thôi... cậu Sinh. Xin lỗi đã làm phiền.
Đứng nhìn ông Thành Danh và hai người nữa bỏ đi. Sinh nghe nhẹ cả lòng. Suýt chút nữa thì anh em họ gặp nhau, để rồi không biết niềm vui hay bi kịch sẽ xảy ra tiếp tục. Đóng cửa lại, Sinh bước nhanh vào căn buồng dành làm chỗ ngủ cho ông Thành Đạt. Nhưng anh đã phải đứng khựng lại vì chẳng hề thấy bóng dáng của ông đâu? Lạ thật, chú ấy không ở đây mà lại đi đâu giữa đêm hôm khuya khoắt như vậy? Đến ngôi biệt thự cũ hay theo sau ông Thành Danh để thanh toán câu chuyện giữa họ? Điều gì thì Sinh cũng chẳng thể an lòng được, anh vặn to đèn, tìm áo khoác mặc vào người rồi lao ra màn đêm lạnh cắt da dù bản thân đang rất mệt.


Phần 5


Suốt một đêm tìm ông Thành Đạt khắp nơi không thấy, Sinh trở về nhà với thân hình rời rã. Anh nghe mệt và buồn ngủ đến độ không thể cưỡng lại được, dù giờ phải làm việc trên đồi trà. Nấu một gói mì ăn qua loa, anh đi tắm cho tinh thần sảng khoái. Nhưng làn nước lạnh buổi sớm chỉ làm Sinh tỉnh táo được một ít khi anh mặc bộ đồ lao động vào người, những cái ngáp thật dài thi nhau hành hạ anh. Cố gắng lắm anh mới đến được chỗ con suối gần ngôi biệt thự cũ, song cơn buồn ngủ đã thắng thế, buộc Sinh phải tìm nơi nào đó để ngã lưng. Mặt trời lên làm tan loãng màn sương, trong khoảng không gian ấm áp đó Sinh ngủ thật ngon lành... và giấc ngủ ngày hiếm có đã cho anh một giấc mơ thú vị.
- Anh Sinh... anh thật lòng yêu em chứ?
- Thế chẳng lẽ em nghĩ anh nói dối để lừa gạt em sao?
- Nhưng ở đây không có sự bình yên đâu. Em sợ lắm!
- Yên tâm đi cô bé. Anh sẽ bảo vệ em bằng chính sức mạnh của mình.
- Em vẫn chưa thể an lòng vì cái ác trên đời còn tồn tại.
- Dẫu sao thì điều thiện cũng chế ngự được những dã tâm của con người em ạ. Vấn đề là chúng ta có sức chịu đựng hay không thôi.
- Anh Sinh... anh đã làm em mềm lòng rồi.
- Anh chờ em nói một câu dễ thương hơn.
- Không được.
- Tại sao vậy?
- Bởi em là phụ nữ.
- Phụ nữ cũng có thể biểu lộ tình cảm của mình chứ.
- Nhưng em... thì không dám...
Ôi... ôi... mình đang ở mặt đất hay trên mây? Trần gian hay thiên đường hạnh phúc? Giữa lúc ấy thì...
- Anh Sinh... sao lại nằm ở đây như thế này?
Choàng tỉnh nhìn dáo dác mới biết mình nằm mơ, Sinh tiếc hùi hụi mắng kẻ đã phá đám mà không thèm nhìn mặt:
- Khỉ thật. Tôi nằm ở đâu thì có phiền hà chi đến người nào?
Tiếng con gái thánh thót:
- Đành là thế. Nhưng ai cho phép anh réo gọi tên tôi.
Sinh quay phắt lại cãi:
- Hồi nào?
Và sau đó anh thật sự ngỡ ngàng:
- Ủa, cô Tuyền... cô đến đây bao giờ vậy?
Tuyền vờ dỗi ngoảnh mặt đi:
- Đến lâu rồi... bởi tôi biết có kẻ ngủ ngày và nằm mơ ở đây.
- Tôi thật không hiểu có làm gì cho Tuyền giận hay chăng? - Sinh ngượng nghịu dò hỏi.
Tuyền mím môi trong bụng rất buồn cười:
- Có thì sao?
- Xin lỗi vậy.
- Suông thế ai mà chịu.
Sinh vỗ tay vào trán mấy cái cho tỉnh táo rồi nhìn đăm đăm Tuyền:
- Muốn đòi hỏi tôi điều gì?
Tuyền mau miệng:
- Kể lại giấc mơ vừa rồi của anh cho tôi nghe.
Ánh mắt Sinh khẽ nhìn đi hướng khác:
- Chỉ sợ tôi nói Tuyền lại cho là đùa.
- Có thú vị lắm không mà trông anh lúc ấy ngộ nghĩnh quá. Cứ như là...
- Là gì...
Tuyền lắc đầu:
- Tôi không thể diễn tả được. Mà sao anh lại ngủ vào lúc này? Hôm nay anh không phải đi làm ư?
Càng mệt hơn bởi giấc ngủ quá ngắn không đã mắt, Sinh cố ngăn những cái ngáp nhưng nó cứ xuất hiện liên tục. Anh giải thích ngắn gọn:
- Tôi đã phải đi tìm chú Nhị suốt cả đêm hôm qua.
Nghe thấy vậy, Tuyền tròn mắt:
- Sao? Ông ấy bỏ đi à?
Sinh mệt mỏi kể lại chuyện tối qua sau khi về nhà. Nghe xong, Tuyền tắc lưỡi hòa chung tâm trạng với Sinh. Dự đoán của cô thông minh hơn:
- Rất có thể ông Thành Đạt đang ẩn nấp đâu đó để chờ cơ hội gặp riêng bà Thành Danh.
Sinh lộ nét lo âu:
- Chú ấy sẽ bị nguy hiểm nếu như bọn người ông Thành Danh thuê theo dõi phát hiện được.
Tuyền gật gù:
- Phải đó. Nhưng biết ông ta đang ở đâu mà bảo vệ được đây.
- Mình chia nhau đi tìm chăng?
Tuyền ngần ngại:
- Tôi không rảnh lúc này. Đã tới giờ tôi phải đi dạy...
Sinh vụt nói:
- Hay là Tuyền đến gặp bà Thành Danh rồi nói rõ giùm tôi. Tôi hy vọng bà ấy sẽ có cách bảo vệ cho chú ấy.
Điều này thì Tuyền phải nhận lời, bởi cô thừa hiểu mình gặp bà Thành Danh dễ hơn Sinh:
- Được! Tôi sẽ cho bà ấy biết chuyện ngay.
Nói rồi Tuyền toan dợm bước chân đi liền bị Sinh kéo lại:
- Gì nữa vậy?
- Tuyền không có câu nói nào dành riêng cho tôi sao?
Gương mặt Tuyền lúc này trông ngây ngô quá cỡ. Cô giương mắt nhìn Sinh rồi nhoẻn miệng cười:
- Anh lộn xộn quá. Tôi thấy anh nên về nhà ngủ một giấc tới chiều tối thì hơn.
- Điều đó tất nhiên tôi sẽ phải làm ngay. Nhưng cô phải bồi thường cho tôi giấc mộng ban nãy.
- Anh lạ thật... mộng thì làm sao đền?
- Chỉ cần cô bằng lòng nó sẽ tự khắc đến.
Ngạc nhiên lẫn thích thú, Tuyền không nghĩ ngợi lâu. Cô gật đầu:
- Bằng lòng thì bằng lòng... song anh không được đánh lừa tôi.
Tức thì Sinh vòng tay ôm lấy Tuyền đẩy cô vào thế thụ động cùng nụ hôn rất dài. Khi được buông ra, Tuyền khẽ trách:
- Đã nói trước mà còn...
Sinh nghiêng đầu ngắm Tuyền:
- Đúng "hợp đồng" đàng hoàng. Bởi giấc mơ của tôi y như vậy.
Tuyền thẹn thùng như cô dâu ngày cưới:
- Anh nói dối...
Sinh đưa một cánh tay lên thật cao:
- Tôi xin thề...
- Thôi đừng.
- Sợ gì nào?
Tuyền khúc khích:
- Sợ lời thề linh thiêng, anh bị quở phạt tội nghiệp.
Sinh nhướng nhẹ cặp chân mày:
- Có đáng chi một kẻ ít may mắn như tôi.
- Sao cơ?
- Tuyền đừng giả vờ thương hại tôi. Là một thằng đàn ông, tôi không chấp nhận sự miễn cưỡng.
Tuyền trở nên nghiêm chỉnh:
- Nhưng nếu là sự tự nguyện...
Câu nói gây cho Sinh nỗi bất ngờ. Khuôn mặt anh rạng rỡ hơn:
- Tôi muốn Tuyền nói rõ hơn.
Tuyền cắn ngón tay e lệ:
- Hãy thay đổi cách xưng hô trước đi đã.
Sinh nhanh nhạy đáp ứng liền:
- Em nói cho anh nghe đi Tuyền.
Song cô gái lại mắc cỡ lí nhí trong miệng:
- Xin hãy để ánh mắt em lên tiếng.
- Cả trái tim nữa chứ.
- Vâng... Anh nghe nè, nó đã bắt đầu rồi.
Sinh cúi xuống thật gần áp tai vào ngực Tuyền, anh sung sướng muốn reo lên khi nghe được những nhịp tim của cô gái mà mình yêu thương nhất. Vậy là từ nay tình cảm của anh không còn đơn phương nữa. Nó đã có nơi tiếp nhận như con người có chốn để về.
Chuyện vui làm cả hai quên mất cả thời gian, chừng sực nhớ Tuyền hốt hoảng:
- Chết... muộn giờ dạy học của em rồi.
Không nán lại thêm giây phút nào, Tuyền vừa đi vừa chạy về hướng ngôi biệt thự Thành Danh trước tia nhìn vời vợi của Sinh ở phía sau. Đến nơi, Tuyền chợt phát hiện ra một điều gì đó bất thường lẫn trong không khí tại đây. Người cô chạm mặt đầu tiên là chị giúp việc đang lấm la, lấm lét nơi phòng khách. Tuyền bước tới gần hỏi:
- Chị ơi... học trò của tôi sẵn sàng chưa?
Chị giúp việc nhìn Tuyền rồi khẽ suỵt:
- Nói nhỏ thôi. Giờ này cô mới tới là trễ mất cả hơn một tiếng đồng hồ rồi đó!
Biết lỗi, Tuyền cúi đầu:
- Tôi hiểu. Ông bà chủ có nhà không hả chị?
Chị giúp việc lại dáo dác rồi mới nói:
- Có lẽ ông ấy vừa đi khỏi. Còn bà chủ thì...
- Thì sao chị? Bà ấy mắng tôi đến muộn à?
Chị giúp việc xua tay rối rít lên:
- Ồ, không. Có chuyện vừa xảy ra ở đây hồi đêm.
Vừa nghe thấy thế, Tuyền đã nghĩ ngay đến sự an nguy của ông Thành Đạt. Cô âm thầm lo lắng trong bụng:
- Bắt bớ hay giết người hả chị?
Chị giúp việc trợn mắt:
- Cô nói gì kinh khủng vậy. Chỉ mới chứng kiến ông chủ đánh người thôi mà tôi đã sợ muốn đứt hơi nữa là...
Tuyền hối hả hỏi dồn:
- Ông Thành Danh đã đánh ai?
Chị giúp việc vừa nói, vừa chỉ tay lên lầu:
- Đánh bà chủ.
Tuyền hết sức kinh ngạc:
- Sao kỳ vậy? Chẳng lẽ ông ấy đã phát điên?
Chiếc môi dưới của chị giúp việc trề dài ra, chị lôi Tuyền lại sát bên mới nói:
- Không điên một chút nào. Ngược lại tôi thấy ông ấy tỉnh táo là đằng khác.
- Nếu tỉnh sao ông ấy lại đánh vợ?
- Cô đi mà hỏi ông ấy chứ sao tôi biết được.
- Bây giờ bà Thành Danh ra sao rồi?
- Đang bị nhốt ở trên lầu.
Đúng là một chuyện quá bất ngờ mà Tuyền không thể nào hình dung được. Ông Thành Danh bắt đầu cư xử tồi tệ với vợ bằng vũ lực. Ôi, có cần báo tin này cho ông Thành Đạt biết không? Nhưng suốt đêm qua ông Thành Đạt đã đi đâu? Liệu có phải do họ lén lút gặp nhau nên mới xảy ra cớ sự? Tuyền thấy mình thật hoang mang, rối rắm trước những chuyện chẳng thuộc về mình. Không hỏi chuyện thêm nữa, Tuyền bước nhanh lên phòng học của hai cô bé Kiều, Diễm để làm tròn phận sự. Song khi cánh cửa bật mở thì trước mắt cô là hình ảnh rất đáng thương. Hai chị em cô bé đang ôm nhau gục khóc ở góc phòng. Dường như chúng cũng đã thấu hiểu hết những nỗi đau mà mẹ chúng đang chịu đựng.
***
Không có tinh thần để dạy học khi chị em Kiều và Diễm đang trong cơn khủng hoảng bởi biến cố của gia đình. Tuyền lẳng lặng bỏ ra về với nỗi ưu tư nặng nề. Làm gì để giết khoảng thời gian trống trải này chứ? Chẳng lẽ lại tìm đến nhà Sinh khi vừa gặp mặt anh. Hay về nhà ngủ một giấc hoặc rủ nhỏ Tú bày trò chơi gì đó cho vui. Nghĩ tới nghĩ lui, Tuyền lại thấy không thích nên để đôi chân thơ thẩn theo con đường mòn dẫn đến một nơi mà cô chưa hề đặt chân tới. Đó là khu nghĩa trang, có thể do dân địa phương tại đây thành lập nên không được rộng rãi cho lắm! Với khoảng vài chục ngôi mộ đã đắp nhưng lúp xúp vì toàn là mộ đất, chỉ duy có một ngôi được xây cất khá công phu song nằm mãi tít đằng kia.
Thoạt đầu thấy nơi này hoang vắng, Tuyền có ý ngần ngại, song không hiểu động lực nào thúc đẩy cô đã tỏ ra bạo dạn hơn. Chợt một cái đầu lấp ló từ bụi cỏ lau làm cho cô hoảng kinh toan chạy thì nghe gọi:
- Cháu Tuyền... tôi đây mà...
Tuyền dừng chân ngoái đầu lại thì nhận ra ôngThành Đạt. Ông đưa tay vẫy cô:
- Lại đây.
Tuyền bước tới như người bị sai khiến:
- Ông đi đâu mà để anh Sinh tìm suốt cả đêm hôm qua?
Ông Thành Đạt ủ dột:
- Ta đi đào mồ của ta lên coi xương cốt có còn không.
Cảm giác rờn rợn của Tuyền nổi lên theo câu nói của ông. Cô thấy hơi hối hận vì đã dám mạo hiểm. Ông Thành Đạt nói tiếp:
- Cháu có thể giúp ta không?
Nhiệt tình của Tuyền không dám xuất hiện trong lúc này. Cô mạnh dạn lắc đầu:
- Thưa... không được ạ!
- Vì sao vậy?
Tuyền cố kiếm cớ để thoái thác. Cô nhớ đến chuyện của bà Thành Danh:
- Ông không biết đó thôi. Ở ngôi biệt thự Thành Danh đang xảy ra sự cố nghiêm trọng lắm.
Câu nói này làm ông Thành Đạt phải tạm dừng ý nghĩ điên khùng của mình. Ông hỏi dồn:
- Lại có điều gì nghiêm trọng trong lúc này?
Tuyền nói nhanh như sợ không có cơ hội nói:
- Đêm qua bà Thành Danh đã bị ông ấy hành hạ. Hiện giờ bà ta đang bị nhốt trong phòng riêng.
Đúng là một cái tin giật gân khiến ông Thành Đạt phải chết lặng hồi lâu mới trấn tĩnh lại được:
- Tại sao Thành Danh lại phải làm thế nhỉ? Chẳng lẽ vì sự sống của ta mà nó lại làm khổ người đàn bà mà nó đã cố tình chiếm đoạt sao?
Tuyền xen vào:
- Chắc tại bà Thành Danh truy cứu ông ta chuyện ngày xưa.
Từ đáy lòng ông Thành Đạt nỗi đau đớn bùng dậy. Ôi... một bên là tình máu mủ, một bên nghĩa vợ chồng. Giá mà ngày ấy ông chết quách dưới chân đèo thì còn hay hơn là phải sống để đối diện với sự thật hôm nay.
- Đi...
Nghe câu nói cụt ngủn, Tuyền chẳng hiểu ất giáp gì. Cô bèn hỏi:
- Đi đâu cơ?
Ông Thành Đạt cáu gắt:
- Đến biệt thự Thành Danh...
- Để cứu bà ấy ư?
- Cứ cho là như vậy. Còn nhiều điều cần giải quyết ở đó nữa.
Tuyền thấp thỏm trong lòng:
- Có một mình ông đến đó e không còn đường để sống.
Ông Thành Đạt gằn giọng:
- Lẽ nào ta lại để người ta giết mình lần thứ hai sao? Mà cảm giác bị chết ta đã từng quen rồi, sẽ không đau nữa đâu.
Tuyền cố giữ chân ông Thành Đạt bằng cách ngăn cản:
- Nếu muốn đến biệt thự Thành Danh thì ông nên về nhà cùng đi với anh Sinh.
Song ông Thành Đạt lại phản đối:
- Kéo nó vào chuyện này làm chi cho rắc rối. Cứ để ta đến đó một mình.
(??) Bguy anh có biết hay không?
Anh bảo cô:
- Chúng mình phải đi ngay.
Và chỉ trong một giây, anh đã buột miệng thốt:
- Tại sao chúng ta không lôi kéo cánh công nhân đang làm việc trên đồi trà vào cuộc nhỉ? Dù có là cọp cũng không dám ăn thịt người trước cả một đám đông.
Nghe thấy vậy, Tuyền bèn đẩy vai Sinh:
- Anh đi đi, để em tới biệt thự Thành Danh xem sao!
***
Ánh nắng mặt trời đầu tiên chiếu vào phòng nhưng bà Thành Danh vẫn nằm im, mặc dù bà thức giấc đã lâu. Bởi lẽ trận đòn đêm qua làm toàn thân bà bị sưng tấy lên nhiều chỗ, nhức nhối không thể tả. "Cộc... cộc... cộc...", bà Thành Danh nhổm đầu dậy, ánh mắt láo liên. Bà chợt trông thấy một mảnh giấy đang luồn qua khe cửa bèn cố lết lại để lấy. Mở ra coi, bà nhận ra nét chữ của con gái. Lướt mắt trên tờ giấy, bà Thành Danh đọc nhỏ: "Má đã bớt đau chưa? Có cần chúng con giúp đỡ gì không? Ba đã đi từ sớm... má đừng sợ. Hãy chỉ cho chúng con cách cứu má ra bên ngoài...". Nước mắt bà Thành Danh ứa ra vì thương cho hai đứa con gái. Giá mà chúng nói được bằng lời thì bà sẽ xúc động biết dường nào. Dùng hai tay gạt những giọt nước mắt rồi lấy sức đứng lên. Bà Thành Danh ghé miệng qua khe hở nói lớn:
- Kiều, Diễm... các con của má... các con đừng mạo hiểm kẻo bị trừng phạt nặng nề đấy!
Một tờ giấy nữa được nhét vào phòng, và bà Thành Danh đã đón đọc: "Má... anh Thành Đạt không có ở xa chúng ta đâu. Nếu má muốn, tụi con sẽ đưa má đến... Nhưng trước tiên má phải ra khỏi căn phòng này". Quả là một sự kinh ngạc khôn cùng, hai con bé này đã biết chỗ ở của anh nó bấy lâu nay... vậy mà nó lại kín miệng không chịu nói. Chắc bây giờ thằng Thành Đạt đã lớn, nó có thừa sức bảo vệ mẹ và em gái trước bạo lực xảy ra từ phía nào. Nghĩ tới đó, bà Thành Danh như được tăng thêm sức lực, bắt đầu tìm cách để thoát thân. Bà cố hét lên để hai đứa con gái bên ngoài nghe thấy:
- Hãy mau đi kiếm một cái thang dựng ngay cửa sổ phía bên trái căn phòng của má, má sẽ cố gắng trèo ra...
Ở trong phòng, bà Thành Danh không thể hiểu hết nỗi khó khăn của chị em Kiều, Diễm trước một sự việc mà chúng chưa từng làm. Là con gái chân yếu tay mềm, lại không nói dược, chỉ làm hiệu cho nhau, giờ phải đối mặt với những tình cảnh nghiệt ngã thế này thật khó mà chấp nhận. Không hiểu có phải do tình mẫu tử quá lớn hay còn nguyên nhân nào khác nữa đã khiến hai cô bé mạnh mẽ lên trong công việc đưa mẹ thoát khỏi căn phòng giam. Kiều và Diễm kéo nhau chạy xuống nhà kho để kiếm thang, nhưng nó quá dài và nặng, cả hai không tài nào khiêng đi nổi. Hì hục rồi kéo thêm cả chị giúp việc, mất cả tiếng đồng hồ họ mới dựng được cái thang vào đúng chỗ bà Thành Danh yêu cầu, song nó lại thấp hơn cửa sổ cả một quãng dài...
Đã mở được cửa sổ, nhưng từ trên cao nhìn xuống bà Thành Danh cũng phát ớn. Bà cảm thấy lỡ trượt chân rơi xuống thì cái chết sẽ cầm chắc trong tay. Mà nếu gặp may sống sót cũng què quặt chứ không thể an toàn. Ôi... thế thì sẽ khổ lắm! Làm một người tàn tật thà chết quách còn hơn. Hình ảnh người chồng cũ bỗng hiện ra trong tâm não bà Thành Danh. Tội quá... thương quá... nhưng ông vẫn phải sống dù ao ước được ngủ yên vĩnh viễn. Lại thêm ít phút mủi lòng, bà Thành Danh chần chừ mãi trên khung cửa sổ cao, cho đến khi chị giúp việc sốt ruột vì sợ ông chủ mình quay về, luôn miệng hối thúc thì bà mới thu hết can đảm để trèo xuống. Không riêng gì trái tim của bà Thành Danh muốn bắn ra khỏi ngực mà những người bên dưới cũng hồi hộp lo sợ giống như bà. Họ nín thở theo từng cái nhích chân của bà Thành Danh trên bậc thang, và cùng thở phào nhẹ nhõm khi bà đã xuống thật thấp:
- Ôi... đã thoát...!
Tiếng reo đầu tiên của ai đó vang lên trong số bốn người đang có mặt nghe ngồ ngộ như trẻ em vừa tập nói làm bà Thành Danh ngơ ngác. Bà nhìn chị giúp việc khi vừa đặt chân xuống mặt đất:
- Chị...
Song chị giúp việc cũng kinh ngạc nhìn lại bà. Bốn mắt nhìn sững nhau rồi mỗi người cùng quay đi một phía. Bà Thành Danh chọn Kiều, còn chị giúp việc thì trỏ tay vào bé Diễm đồng thanh hỏi:
- Ai vừa nói?
Kiều mấp máy bờ môi:
- C...on...
Sự bất ngờ đến đột ngột làm bà Thành Danh há hốc mồm. Bà lắp bắp giống con gái:
- Trời... ơ...ơi... con... nói... được... rồi... sao?
Cô bé Diễm cũng bắt chước chị tạo ra sự kiện lạ:
- Má... m...má...
Bà Thành Danh có cảm giác mình đang bay bổng lên trời vì niềm vui quá đỗi lớn lao. Bà dang tay ôm cả hai đứa con gái, miệng cười mà mắt đẫm lệ:
- Ôi... tôi hạnh phúc quá!
Nép đầu trong ngực mẹ, hai cô bé cũng bật khóc. Nhưng có lẽ đây là nước mắt vui sướng của những tâm hồn vừa được tái sinh. Bà Thành Danh yêu cầu con:
- Hãy lặp lại lần nữa cho má nghe đi Diễm, Kiều.
Diễm giành nói song phát âm thật chậm:
- Con... hết bị... câm rồi...
Kiều tiếp luôn:
- Tụi con không nói được là tại ba cấm...
- Tại sao ông ấy lại cấm? - Bà Thành Danh trố mắt.
Cả hai đứa đều lắc đầu, dáng vẻ đầy sợ sệt. Thấy vậy, bà Thành Danh vội dỗ dành:
- Nói đi con. Chỉ mình má nghe thôi mà.
Song chúng không chịu mở miệng thêm, mỗi đứa nắm một bên tay lôi bà Thành Danh chạy về hướng ngôi biệt thự cũ.
***
Mẹ con bà Thành Danh đến được ngôi biệt thự cũ vào lúc gần mười một giờ trưa, khi vú Dần đã nấu xong bữa cơm đang chuẩn bị dọn lên bàn. Trông thấy họ, vú cười tươi:
- Tiếc quá... bà tới chơi, cô Hai tôi lại không có ở nhà.
Bà Thành Danh không quan tâm tới điều này, chỉ nhếch môi đáp rồi quay sang hỏi lại đứa con:
- Lúc nãy các con bảo anh Đạt con đang ở đâu? Chẳng lẽ nó lại trốn má trong ngôi nhà này?
Con bé Diễm bỗng gật đầu, chỉ tay vào phòng khách:
- Trong đó!
Kiều cũng nói:
- Phải!
Bà Thành Danh lay mạnh các con, vẻ mặt như vẫn không tin:
- Đừng đùa với má như vậy chứ. Căn phòng này trống trải, nó nấp chỗ nào?
Kiều và Diễm chạy ào vào giữa phòng rồi cả hai cùng giậm chân của mình xuống nền gạch, cử chỉ thật ngộ nghĩnh và khó hiểu. Vú Dần không biết ất giáp gì cũng vào cuộc:
- Ủa, bà và các cô tính tìm chi chỗ này?
Không muốn giải thích dông dài, bà Thành Danh vắn tắt:
- Tôi tìm thằng con trai của tôi.
Vú Dần càng ngạc nhiên hơn nữa:
- Không hề có người lạ nào đến đây cả.
Rồi vú chau vầng trán đã có nhiều nếp nhăn như nhớ điều gì:
- À, đêm qua khu vực quanh nhà này bị người ta theo dõi.
Bà Thành Danh sợ vú Dần làm lạc mất ý định chính của mình, vội gắt:
- Chuyện đó để bàn luận sau đi. Tôi đang bận tìm tung tích của con tôi, mong vú đừng có hỏi...
Cụt hứng, vú Dần bèn đứng nép một bên giương mắt, lên theo dõi. Nhưng sự thắc mắc của vú không lâu khi cô bé Kiều lên tiếng:
- Đúng chỗ này nè má.
Mặt bà Thành Danh bỗng trở nên xám ngắt:
- Con nói thế nghĩa là sao?
Diễm đáp thay cho Kiều:
- Ảnh bị ba bóp cổ chết rồi chôn xuống chỗ này.
Vừa thoạt nghe, bà Thành Danh đã không còn sức đứng vững trên đôi chân. Bà khuỵu xuống, miệng lưỡi cứng đờ... Con bé Diễm vừa nói gì mà bà không nghe rõ. Dường như nó đang đùa thì phải? Toàn thân bà Thành Danh lạnh toát rồi run lên. Bà có cảm tưởng mình bị nhét vào giữa một tảng băng và những mạch máu lưu thông đang đông đặc, không còn hơi nóng của một người đang sống, Thành Đạt... Thành Đạt... đứa con trai khốn khổ của mẹ!
Không hiểu âm thanh của tiếng gọi có thoát ra bên ngoài không mà người vừa đến đã nghe thấy:
- Tôi đây... Tố Lan...
Đó là ông Thành Đạt, ông tức thời bị người vợ cũ ôm chầm. Bà rên rỉ thảm thiết:
- Hết... hết rồi... con... con... của chúng ta...
Ông Thành Đạt hỏi tới:
- Nó đâu?
Bà Thành Danh lắc đầu, điệu bộ thẫn thờ:
- Nó đâu?
- Tôi đang hỏi em mà.
Bà Thành Danh nhìn xuống nền gạch, nói lắp bắp:
- Nó đó!
- Sao tôi không nhìn thấy?
- Bởi nó đã... ngủ giấc ngàn thu rồi còn đâu...
Giọng bà Thành Danh nấc lên rồi vỡ òa theo câu nói sau cùng. Bà rũ xuống tựa một thân cây bị đốn gãy phải đoạn tuyệt với sự sống. Nhưng ông Thành Đạt đã không chịu để bà yên, gào thét lên:
- Em nói sao? Thằng con tôi ngủ giấc ngàn thu là thế nào?
Bà Thành Danh không cất nổi tiếng nói mà bất thần nhìn thẳng về phía trước một cách vô thức. Hồi lâu, bà bị ông Thành Đạt buộc phải trả lời:
- Em nói đi. Em không phải là một người mẹ tồi tệ chứ?
Bà Thành Danh khóc rưng rức:
- Em không biết... không tự khẳng định được.
- Thôi đừng dông dài nữa. Tôi chỉ cần em nói một câu là thằng con của tôi đang ở đâu?
- Không biết mà...
Trong lúc bà Thành Danh vật vã vì không dám nhìn thẳng vào sự thật thì hai cô bé Kiều, Diễm lại có đủ bình tĩnh. Chúng bước ra đứng chắn trước mặt mẹ như không muốn ông Thành Đạt làm khó bà. Nhỏ Kiều hơi hất mặt:
- Má tôi không biết thật. Chuyện này chỉ có hai chị em tôi là chứng kiến tỏ tường thôi.
Diễm tiếp lời khi thấy Kiều có vẻ mệt khi phải phát âm dài:
- Hồi đó... chị em tôi còn nhỏ xíu... cỡ chừng này...
Vừa nói, Diễm vừa đưa tay ngang tầm ngực để diễn tả, và cô bé thật sự làm mọi người xúc động qua cách kể thật chậm rãi của mình:
- Hôm ấy... má tôi có việc phải về thành phố mấy ngày, để ba anh em chúng tôi ở nhà với một bà giúp việc đã lớn tuổi. Ngày đầu không có gì xảy ra cả, nhưng chẳng hiểu sao ba tôi lại cho bà giúp việc nghỉ làm. Ngày hôm sau thì chính ba tôi phải tự nấu ăn và săn sóc chúng tôi, vì trong nhà chẳng còn ai.
Kiều chen vào tường thuật tiếp:
- Tối đó... sau khi ăn uống xong, ba tôi bắt chị em tôi đi ngủ sớm, còn anh Thành Đạt thì ba tôi giữ lại để kiểm tra bài vở. Vì để quên con búp bê nơi phòng khách nên đã vào phòng lâu rồi mà chị em tôi không ngủ được, bèn rủ nhau trở ra lấy. Nhưng thật là khủng khiếp, ló đầu ra phòng khách chúng tôi thấy ba tôi đang bóp cổ anh Đạt...
- Trời khốn nạn quá...
Tiếng kêu của ông Thành Đạt làm cô bé phải tạm dừng câu chuyện, ngơ ngác nhìn lúc này trong nhà có thêm nhiều người xuất hiện, nhưng thấy họ là những công nhân vườn trà nên chị em Kiều Diễm không hoảng sợ. Chúng cố nhớ lại mọi chi tiết đã qua rồi thay phiên nhau nói:
- Ông đừng có ngắt lời... để chị em tôi kể xong đã... Chứng kiến cảnh ba tôi giết anh Đạt, chị em tôi sợ hãi đến độ không nhúc nhích hay la hét gì nổi. Cứ nhớ lại hình ảnh anh Đạt giãy giụa, đôi tay chới với, hai mắt trợn ngược, miệng há hốc rồi sau đó duỗi thẳng buông xuôi mà tới giờ này chị em tôi vẫn còn bị ám ảnh.
- Câm miệng...
Chặn đứng câu chuyện của chị em Kiều, Diễm lúc này không phải ông Thành Đạt mà là ông Thành Danh. Ông ta xuất hiện đột ngột nhưng không làm ai sợ, ngoại trừ hai đứa con gái của ông ta. Ông Thành Danh xông tới tát thẳng tay vào mặt chị em Kiều, Diễm rồi quát mắng:
- Đồ khốn kiếp... Tụi bay là con tao hay con của bọn bá vơ kia mà ăn nói lung tung như thế? Khôn hồn thì câm trở lại như xưa đi.
Mặc dù hai cô bé Kiều và Diễm đang co rúm người lại vì bị đánh, Sinh và Tuyền vẫn bước tới động viên:
- Đừng sợ... cứ nói hết đi các em. Phải chăng bấy lâu nay các em biến thành người câm là vì bị sức ép của người cha tàn bạo?
Ông Thành Danh to tiếng không để cho hai đứa con gái kịp mở miệng. Ông trừng mắt về phía chúng:
- Hừm... tụi bay mà phát ngôn bừa bãi tao cắt lưỡi.
Rồi quay qua phía Sinh và Tuyền, ông gầm lên:
- Thì ra bọn chúng mày cấu kết với nhau để hại ta à? Rõ là nuôi ong tay áo mà...
Song ông Thành Đạt đã đứng ra đính chính cho những người vì ông, ông chỉ tay vào mặt thằng em trai đốn mạt:
- Không phải nuôi ong tay áo đâu, mà là sự trừng phạt của ông trời đó Thành Danh.
Sự trùng phùng này gây tác động khá mạnh mẽ. Ông Thành Danh phải lùi lại mấy bước chứ không dám đứng gần khiến ông Thành Đạt cả cười:
- Mày không nhận ra tao à?
- Ô... ông... - Ông Thành Danh lắp bắp.
- Anh trai của mày nè. Chẳng lẽ tao còn sống trở về mà mày không tỏ thái độ mừng rỡ chút nào sao?
Nhưng chỉ chấn động tâm lý một chút thôi, ông Thành Danh đã lấy lại tư thế ngay tức thì. Ông quắc mắt nhìn tất cả mọi người:
- Định bày trò gì ra thế này?
Sinh lên tiếng:
- Lật lại vụ án năm xưa để đem đứa em bất nghĩa giết anh ra trước vành móng ngựa...
Ông Thành Danh nạt vội:
- Một lũ khùng đang nghĩ cách tống tiền bằng biện pháp vu oan giá họa cho người khác hả?
Song Tuyền đã nhanh nhảu đọc "bản cáo trạng" thứ hai:
- Nếu ông cho vụ án hai mươi năm đã cũ rồi thì còn chuyện mới đây. Ông nghĩ sao về lời tố cáo của con ông?
Không nao núng, ông Thành Danh nói:
- Bọn chúng mày không có đủ tư cách để thẩm tra tao điều gì cả.
Bà Thành Danh đang khuỵu trên nền gạch từ nãy giờ vụt ngẩng mặt lên:
- Thế còn tôi thì sao?... Có đủ tư cách để hỏi ông về thằng con trai của tôi không?
Trong lúc ông Thàng Danh lúng túng thì bà rời chỗ bước lại gần túm ngực áo ông giật mạnh. Nỗi đau đớn của người mẹ mất con trút cả ra:
- Ông nói đi! Có phải ông đã giết chết con tôi không?
Dù biết khó lòng mà chối được, ông Thành Danh vẫn không chịu nhìn nhận:
- Đừng gieo tiếng ác cho tôi chứ. Chẳng phải bà đã từng thấy tôi đối xử tốt với nó trong suốt bao nhiêu năm trời đó sao?
- Tình cảm của ông là sự giả dối chứ không hề thật lòng. Chừng nào ông trả nó lại cho tôi thì tôi mới tin ông được. - Bà Thành Danh gào lên.
Ông Thành Danh dang hai bàn tay phân bua:
- Tôi biết tìm nó ở đâu được chứ?
- Tự ông biết ông đừng có vờ vĩnh...
Tới đây, ông Thành Danh bỗng hạ giọng tình cảm:
- Kìa, mình... chẳng lẽ bấy nhiêu năm chung sống mình không coi tôi là chồng của mình ư? Tôi đã từng thương yêu mình và các con chân thật mà...
Gương mặt của bà Thành Danh đẫm lệ giận dữ:
- Phải, ông thương yêu tôi nhiều lắm, nhiều đến nỗi ông đã hành hạ tôi như thế này đây.
Nói chưa dứt câu, bà Thành Danh nhanh tay vạch những khoảng da thịt bầm tím của mình làm bằng chứng trước mọi người. Bà nhìn ông Thành Danh bằng sự căm thù:
- Chắc ông không ngờ rằng tôi đã thoát ra khỏi cái nơi ông cầm tù tôi chứ?
Ông Thành Danh trơ tráo:
- Mình nói gì nặng lời vậy? Tôi chỉ muốn mình được bảo đảm an toàn thôi mà.
- Hừ... miệng lưỡi của một con mãng xà. Chẳng qua ông chưa dám giết thêm một mạng người nữa thôi.
Đôi co tới đây ông Thành Danh tự kết thúc câu chuyện bằng cách vung mạnh cánh tay lên. Nhưng ông chưa kịp giáng xuống thì đã bị Sinh và một công nhân nữa giữ chặt:
- Ông đã để lộ bản chất của mình rồi đó!
Ông Thành Danh gầm lên:
- Buông ra mau, kẻo tao ra lệnh cho người của tao đánh chết bọn mày bây giờ!
- Người của ông có đông bằng số anh em công nhân đang hiện diện ở đây không?
- Đồ phản chủ.
- Ông cần phải điều chỉnh lại lời nói của mình kẻo chúng tôi không để yên cho ông đâu.
Những công nhân cũng ào đến và la lên:
- Chúng tôi làm việc cho ông bằng sức lao động để lấy tiền chứ không phải làm nô lệ, chấp nhận cả những điều xấu xa tồi tệ.
Sinh hất mặt:
- Bây giờ ông hãy thú nhận tội lỗi của mình đi. May ra sự thành khẩn của ông còn có thể cứu vãn được.
Chẳng thể chờ được lâu, bà Thành Danh bèn lên tiếng yêu cầu:
- Xin mọi người hãy giúp tôi. Theo như lời hai đứa nhỏ nói thì... căn phòng này... căn phòng này. - Lời bà Thành Danh uất nghẹn không thể nói tiếp được, nhưng tất cả đã hiểu ý. Khoảng hơn chục thanh niên trai tráng của đồn điền trà chạy đi tìm cuốc và xà beng đem tới trước sự hoảng hốt của ông Thành Danh.
- Bọn mày làm cái quái gì vậy?
Sinh nhấn mạnh:
- Khai quật căn phòng này để tìm đứa trẻ bị mất tích!
- Bọn mày quả là khùng...
- Để xem bọn khùng này có được việc hay không?
Rồi anh phất tay như ra hiệu:
- Đào xới lên đi các bạn.
Ông Thành Danh vùng vẫy:
- Muốn đào gì thì đào nhưng phải bỏ tao ra...
- Ông định trốn hả? Không kịp đâu, chính quyền địa phương sắp sửa có mặt để chứng kiến rồi. Nào, ông hãy ngồi lên chiếc ghế kia mà coi mọi người làm việc.
Bị đẩy vào giữa một vòng vây người dày đặc, ông Thành Danh nghe lòng nao núng tận cùng. Ông tự hỏi chẳng lẽ số phận ông kết thúc ở chỗ này? Mà lại kết thúc trong tay bọn công nhân mới là nhục nhã chứ! Không... Thành Danh không thể nào bị hạ gục một cách dễ dàng như vậy. Chỉ tại hai đứa con gái khốn kiếp của ông đã không chịu câm vĩnh viễn, hay tại ả đàn bà mà ông chiếm được sau khi đã hạ thủ thằng anh trai? Thành Đạt ơi! Sao cái mạng của anh lớn quá vậy? Độ cao của ngọn đèo Prenn không làm cho anh tan da nát thịt được, để hôm nay anh có cơ hội về đây tố cáo lại tôi sao? Không... Thành Đạt... lẽ ra anh phải chết quách đi. Anh đâu có xứng đáng được hưởng mọi thứ trên đời này như tôi, nên tôi buộc phải loại trừ anh chứ không hề có ác ý. Thành Đạt... Anh hãy biết nhường nhịn tôi một chút đi. Đừng đào bới những gì đã thuộc về dĩ vãng. Tôi có thể trả cho anh người đàn bà của anh ngày cũ, nhưng... còn thằng con trai của anh thì...
Dòng suy nghĩ, tính toán của ông Thành Danh bị gián đoạn bởi tiếng nói của ai đó:
- Chắc không có gì đâu. Đã xới đất lên từng này...
Song Thành Danh chưa kịp mừng thì nỗi lo khác lại đến khi một trong hai đứa con gái ông đưa tay chỉ:
- Hãy đào chỗ ngang bộ ghế đó!
Tuyền nghe mà giật thót cả người. Phải chăng nơi đây thật sự đã xảy ra án mạng, và bên dưới nền gạch kiên cố kia là một cái xác người? Nếu đúng như vậy thì bấy lâu nay chị em cô đã sống chung cùng người chết. Ôi, khủng khiếp! Hèn chi đã bao đêm cô phải nghe những tiếng mở cửa chẳng bình thường. Và trông thấy những hiện tượng tưởng thật mà như giả tưởng, có mà lại không.
- Đây rồi...!
Không hiểu người nào reo lên mà bao nhiêu cặp mắt hiếu kỳ cùng đổ xô vào một chỗ. Những nhát cuốc bập xuống rồi nẩy lên hất văng mấy khúc xương chân nằm trơ trên mặt đất.
Ồ... à... tiếng xuýt xoa trỗi lên cùng lời bàn luận lẫn giả thuyết tạo âm thanh ồn ào như cái chợ. Sinh và Tuyền phải ra sức giữ trật tự cho đến lúc bộ hài cốt bên dưới được nhặt nhạnh đưa lên đầy đủ. Mặt ông Thành Danh lúc này xám ngắt như màu chì, cúi gằm mặt xuống không dám ngẩng nhìn ai. Bà Thành Danh vừa trông thấy bộ xương của con trai liền ngất xỉu trong tay chị em Tuyền. Riêng ông Thành Đạt thì có lẽ sức chịu đựng mạnh mẽ hơn, ông đứng chết lặng một hồi lâu, nghe nỗi đau lan tràn khắp thân thể. Vậy là giọt máu duy nhất của ông cũng không còn lưu lại trên dương thế. Nó đã bị người chú ruột giết chết rồi vùi xác dưới lòng đất lạnh từ lâu. Thế mà bấy lâu ông vẫn hy vọng có ngày cha con gặp lại nhau. Để ông có cơ hội cưới con dâu và được nghe đứa cháu nội đầu tiên bập bẹ gọi hai tiếng "ông ơi". Nhưng bây giờ thì niềm hy vọng đã vụt tan rồi. Ôi, tại sao ông trời lại bất công như vậy chứ? Ông chỉ có mỗi một đứa con thôi, song ông không thể bảo vệ cho nó được, để nó bị người ta giết, để nó biến thành bộ hài cốt thế này! Sau những giây phút đau khổ tột cùng là tiếng khóc vỡ ra. Ông Thành Đạt nức nở như con nít làm ai nấy đang chứng kiến đều động lòng quay đi. Rồi tiếp theo sự yếu đuối là nỗi căm thù ngùn ngụt bốc lên. Ông đã sấn tới bên người em, dùng đôi cánh tay tật nguyền thụi mạnh vào ngực, vào mặt, khiến ông Thành Danh phải liên tục chống đỡ.
Ông Thành Đạt gầm lên tựa con thú bị thương:
- Thành Danh ơi...! Tao không ngờ mày quá táng tận lương tâm. Ngay một đứa trẻ con mà mày cũng dám giết để trừ hậu hoạn. Vậy thì tao sẽ không nương tay với mày nữa! Mày sẽ phải trả giá mọi hành động của mày đã gây cho tao và con tao.
Rồi những lời xầm xì, cười chê của mọi người tiếp theo:
- Là anh em ruột sao có thể hại nhau đến dường này?
- Đúng là quỷ vương đầu thai lên trần gian rồi...
- Người như thế ai mà dám gần gũi hay cộng tác làm ăn nữa. Chỉ bắn bỏ...
***
Dẫu đau thương dồn nén thế nào thì sự thật vẫn phải đối đầu. Ông Thành Đạt lo cải táng hài cốt con trai xong, bèn tỏ ý định từ giã:
- Tố Lan à, có lẽ thu xếp xong mọi chuyện tôi sẽ đi xa...
Bà Thành Danh gầy hẳn đi, đôi mắt trũng sâu buồn bã:
- Anh không thương hại đời em một chút nào sao?
Ông Thành Đạt nghe tim mình đau nhói. Ông không biết phải diễn tả tình cảm như thế nào trước ngườl xưa. Tại sao lại dùng chữ "thương hại" ở đây? Chuyện xảy ra nào do lỗi của ông hoặc Tố Lan, vậy mà khi gặp lại người nào cũng như đánh mất chính mình:
- Thành Đạt... Anh nên ở lại đây vì mọi thứ là của anh.
- Tiền bạc, của cải thì có nghĩa gì đâu. Sự trở về của tôi chỉ là vì đứa con, nhưng rất tiếc... nó đã không còn...
Khóe mắt bà Thành Danh ngân ngấn nước:
- Mất núm ruột của mình em cũng đau xót lắm. Em biết mình có lỗi vì đã...
Ông Thành Đạt ngắt lời bà:
- Trời không cho ta hưởng hạnh phúc thì đành vậy Tố Lan à. Dẫu trách em mọi việc cũng không thể thay đổi được. Chi bằng ta phải chấp nhận nó...
- Nhưng em không muốn anh lại tiếp tục ra đi. Hãy ở lại đi Thành Đạt... Em van anh!
Tiếp theo lời thỉnh cầu là những dòng lệ tuôn tràn, bà Thành Danh gục đầu trên vai người chồng cũ thổn thức khiến trái tim đầy thương tích của ông thêm một phen nhức buốt. Ông như bị mềm lòng:
- Đừng khóc nữa Tố Lan ơi. Dù sao thì thời gian chung sống giữa em và Thành Danh cũng lâu dài hơn. Tuy nó là một kẻ dã tâm, nhưng em cũng không nên bỏ rơi nó vào lúc này. Hiện giờ ở trong tù rất có thể nó biết ăn năn và đang mong chờ em...
Nghe vậy, bà Thành Danh cười chua xót:
- Anh có quá nhiều lòng nhân ái. Thành Danh không phải là kẻ dễ bị khuất phục đâu. Sống với hắn bấy lâu, em đã hiểu rõ về hắn hơn cả anh. Nếu bây giờ thoát ra được khỏi tù thì rất có thể Thành Danh sẽ làm hại nhiều người phải lao đao, khốn khổ đó. Thành Đạt... Anh đừng quan tâm tới hắn nữa. Cứ mặc kệ hắn với pháp luật xét xử.
- Em sẽ không đau lòng nếu như Thành Danh lãnh mức án cao nhất chứ?
Người phụ nữ nuốt nước bọt một cách khó khăn:
- Anh thử em làm chi. Sự lừa dối không thể giữ được bất cứ điều gì dù có là tình cảm. Gần hai chục năm sống với Thành Danh, chưa bao giờ em cảm thấy mình yêu và được yêu.
Giọng ông Thành Đạt chùng hẳn xuống:
- Tội nghiệp cho em quá!
- Sự thương hại của anh chỉ làm em tủi thân thêm mà thôi.
- Tố Lan... Anh rất muốn làm điều gì đó cho em...
Người phụ nữ ôm chặt lấy chồng:
- Vậy thì anh hãy làm đi, đừng nói suông Thành Đạt ạ.
- Chúng ta sẽ trở lại những ngày tháng ban đầu, em có đồng ý không? Còn hai cháu Diễm và Kiều, anh có bổn phận phải chăm sóc. Hơn nữa, anh là bác ruột của chúng khi cha chúng đang trả giá trong tù. Dù sao thì anh cũng rất cần tình yêu thương từ mọi phía.
- Thành Đạt... Anh quả là người đàn ông cao thượng. Thành Danh dẫu có chết đi nhiều lần cũng không trả hết nợ cho anh.
Chuyện giữa hai người tới đây thì Kiều, Diễm từ bên ngoài vào. Chúng có vẻ hối hả:
- Má...! Chị Tuyền đang định dọn đi kìa. Có cả anh Sinh nữa.
Nghe thấy vậy, ông Thành Đạt vội kéo vợ:
- Mau lên... suýt nữa thì ta quên hai đứa này.
Thế là bốn người cùng rảo bước về hướng ngôi nhà cũ, nơi đã chứa đựng và xảy ra quá nhiều điều. Còn cách khoảng vài chục mét, họ trông thấy chị em Tuyền và bà vú đang xách va ly đi ra ngoài, phía sau có cả Sinh. Ông Thành Đạt là người lên tiếng trước:
- Ai cho phép mấy đứa dám tự tiện rời chỗ ở của mình vậy?
Nhỏ Tú giành đáp lại:
- Một ngôi nhà đã từng xảy ra án mạng và chôn lấp xác chết thì tụi cháu làm sao dám ở nữa chứ?
Ông Thành Đạt bước tới:
- Nhưng nó có làm hại gì các cháu đâu. Vẫn ấm cúng đấy chứ.
Sinh càng trêu:
- Có gì đáng sợ đâu. Theo anh được biết thì cậu Thành Đạt kia rất đẹp trai...
- Xí... đẹp trai mấy cũng là ma, đâu có sánh vai cùng em dạo phố được. Mà cái anh chàng này nghịch ngợm vô kể đấy. Đêm nào cũng mở cửa ken két trêu ghẹo người ta sợ đến sút mấy ký lô.
Lời nhỏ Tú không nghĩ không suy khiến Tuyền e nó sẽ làm phật lòng những người lớn. Cô vội mắng:
- Tú... nói năng đàng hoàng chứ!
Song ông Thành Đạt đã bảo cô:
- Cứ mặc kệ em nó. Chúng đang ở tuổi hồn nhiên mà.
Rồi ông đẩy lưng hai chị em Kiều, Diễm:
- Các con hãy hòa đồng với bạn đi.
Tỏ ra vâng lời ông, Kiều và Diễm tới giữ chân nhỏ Tú bằng cách rủ:
- Mình đi hái hoa kết lại đeo cho cô dâu, chú rể nhé.
Tú ngơ ngác:
- Nhưng ở đây ai đóng vai trò quan trọng ấy?
Kiều chỉ vào hai người lớn nhất, vui vẻ nói:
- Đây một cặp.
Diễm cũng không chịu chậm trễ kéo tay Tuyền đặt vào tay Sinh:
- Đây một căp.
Niềm vui vụt nhân đôi trong ánh mắt mọi người. Tú nhoẻn cười dí dỏm:
- Thế có nghĩa là ở đây sắp sửa có đám cưới.
Ông Thành Đạt liền nói:
- Ta sẽ đứng chủ hôn cho anh Sinh hỏi cưới chị cháu, cháu có bằng lòng không?
Nhỏ Tú chớp mắt:
- Cháu làm sao dám bảo không ạ.
Nhỏ Tú chợt quay qua Sinh:
- Anh Sinh... anh thật sự muốn lấy chị Hai của em sao? Nè, suy nghĩ cho kỹ nghen.
Sinh với tay ngắt đại một chùm hoa dại mọc ở trước sân trịnh trọng trao cho cô trước những tiếng vỗ tay tán thưởng của mọi người:
- Anh xin lỗi... đã làm em sắp khóc. Anh thật sự yêu và muốn cưới em làm vợ.
Tuyền bật cười để lộ hai hàm răng trắng đều:
- Khóc hồi nào. Anh quả là vô duyên tệ!
Chị em Diễm, Kiều nãy giờ phải lúi húi ở chỗ lùm hoa dại bỗng tiến lại gần Tuyền và Sinh. Trên tay hai cô bé là một vòng hoa đủ màu sắc, chúng kéo hai anh chị xuống rồi choàng vào cổ:
- Xin chúc mừng... cô dâu, chú rể.
Tuyền hốt hoảng khiếu nại:
- Chưa được. Các em phải chúc mừng mẹ của các em và bác Thành Đạt kìa.
Nhưng hai người lớn đã nhìn nhau bẽn lẽn:
- Chúng tôi già rồi, không cần thiết phải rườm rà vậy đâu.
Ông Thành Đạt buông một câu đầy ý nhị:
- Nếu không có những điều tồi tệ, thì ta biết lấy gì so sánh những điều tuyệt diệu đang diễn ra ở đây. Kể từ nay tất cả các con đều là con của ta. Ta sẽ cho tu sửa ngôi nhà cũ này để nó không còn bị hoang phế, không còn gây ấn tượng sợ hãi đối với một ai.
Sinh tự nguyện:
- Con sẽ đến ở đây với Tuyền sau khi chúng con làm lễ thành hôn.
Diễm và Kiều cùng giơ tay:
- Hai đứa con cũng đến.
Ông Thành Đạt gật gù:
- Tốt rồi... Linh hồn thằng nhỏ bây giờ chắc đã vui, bởi nó đã được siêu thoát từ nay không làm phiền ai nữa.
Quả là thế! Từ đó về sau tiếng mở cửa giữa đêm không còn diễn ra nữa. Mọi người sống ở đó thật vui vẻ, nhất là sau khi Tuyền cho ra đời một thằng nhóc bụ bẫm vào buổi sáng mùa đông. Hạnh phúc bao trùm lên cuộc sống của tất cả mọi người sau những biến cố bi thương. Hoa pensée nở rộ khắp sân vườn như lời chúc tốt lành cho các tâm hồn nhân ái, dù luôn bị vây quanh bởi những đám sương mù...

Helen 11-07-2012 06:25 AM

TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 37
 
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG


Quyển XXXVII:Oan Hồn Người Vợ Trẻ -Phần I


Về đây đã hai ngày rồi mà Thiện vẫn chưa bước ra tới đầu ngõ. Suốt ngày anh chỉ quanh quẩn trong khuôn viên ngôi nhà mà người bạn đã có nhã ý cho mượn để Thiện ở trong hai tháng hầu hoàn thành luận án tiến sĩ mà anh sẽ trình trong tháng sau, có nghĩa là sau lễ cưới chưa đầy hai tuần.
- Cậu gì ơi!
Thiện quay lại đã thấy một ông lão đang vẫy tay về phía mình. Ngạc nhiên, nhưng Thiện vẫn bước ra cổng lễ phép hỏi:
- Dạ, bác kêu cháu?
- Phải. Thấy cậu là người lạ, hình như mới tới nơi này sao chưa đi chơi quanh đây, cảnh ở đây đẹp lắm.
Thiện hơi bất ngờ về sự quan tâm của ông lão, tuy nhiên anh vẫn thấy thích thú bởi sự quan tâm này:
- Dạ thưa bác, mấy bữa này cháu còn hơi mệt nên chưa ra ngoài. Có lẽ lát nữa cháu sẽ đi. Cháu cũng nghe nói nơi này cảnh quang đẹp lắm.
- Nếu cậu có hứng thú thì đi theo lão, lão có biết một nơi lạ lắm, chắc là cậu sẽ thích!
Tự dưng Thiện đâm ra tò mò và anh cũng bất ngờ với chính mình khi nhận lời:
- Dạ, cháu sẽ đi với bác.
Anh định trở vào lấy theo chiếc máy ảnh, nhưng như biết ý ông lão nói:
- Cậu không nên chụp hình nơi nào mình thấy nó không thích hợp để chụp hình.
Tuy thắc mắc, nhưng thấy chưa tiện hỏi nên Thiện im lặng đi theo. Chừng hơn mười lăm phút sau, Thiện đã phải ồ lên:
- Đẹp quá!
Ông lão cười hiền hòa:
- Chỉ mới một phần thôi, cái thác này càng bước sâu vào bên trong càng đẹp. Cậu thích ở đây hay còn muốn tới chỗ kia, nơi có một hang động rất ngộ nghĩnh?
Vừa nghe, Thiện đã thích thú ngay:
- Gần không bác?
- Cách chỉ chưa đầy hai trăm mét. Nếu muốn cậu có thể theo tôi.
- Dạ, bác cho cháu đi với!
Thiện chạy theo được một đoạn thì lại phải reo lên:
- Đẹp quá! Cái thác nước này quá đẹp nhưng chỉ tiếc là con người chưa biết khai thác nó.
- Ở Đà Lạt này người ta chưa biết tới nó, chỉ quanh quẩn nào Datanla, Cam Ly, Prenn, Gougah, Pongour. Nó bị bỏ quên cậu ơi! Đây là thác Dambri, nó đẹp nhất trong các thác ở vùng này vậy mà cho tới năm Tân Hợi này vẫn chưa ai nghĩ tới huyện khai thác nó. Đó, cậu thử nhìn xem.
Thiện mải mê nhìn ngắm, khi quay lại thì chẳng còn thấy ông lão đâu.
Anh kêu lên:
- Bác ơi!
Không nghe tiếng đáp, Thiện đành phải một mình bước tới. Nghĩ là ông lão ở trong động đá trước mặt, nên Thiện lại gọi:
- Bác ơi!
Lần này không có tiếng đáp của ông cụ, mà chỉ có tiếng dội lại từ tiếng gọi của anh. Thiện bước vào hang động với đầu óc trống rỗng, cho đến khi anh giật mình bởi trước mắt là một tảng đá rất to, chứ chẳng còn lối đi nữa. Thì ra đây chỉ là một hang động rất nông, không thể gọi là một hang động như nhiều hang động sâu hun hút khác.
Hơi thất vọng bởi lời giới thiệu về hang động của ông lão, anh vừa định quay ra thì chợt thoáng thấy có những dòng chữ trên vách đá chắn ngang.
Những dòng chữ này lúc mới vào chưa quen nhìn trong bóng tối thì không thể nhìn thấy, còn bây giờ Thiện có thể đọc được từng chữ một... "Một thuở yêu người, ngàn năm không hết nhớ... Nửa tuần trăng mật, suốt kiếp khó phôi pha...".
Bài thơ còn khá dài, nhưng trong bóng tối không thể đọc hết được một lúc, nên Thiện phải mò mẫm khá lâu...
Cuối cùng anh phải ngừng lại vì ở đoạn sau do màu đá sậm nên rất khó đọc. Tuy nhiên với hai câu trên Thiện cảm giác thích thú, anh cứ lẩm nhẩm đọc lại nhiều lần, đến thuộc lòng.
Một thuở yêu người, ngàn năm không hết nhớ...
Nửa tuần trăng mật, suốt kiếp khó phôi pha...
Mải mê đọc thơ mà Thiện quên cả thời gian. Khi anh bước ra ngoài thấy mặt trời đã lên khỏi đỉnh đầu. Nhìn đồng đồ tay, Thiện giật mình:
- Đã hơn ba giờ rồi!
Thiện tìm ông lão một lần nữa nhưng cũng chẳng thấy đâu. Khi anh về nhà thì chị giúp việc đã đưa một cái túi bằng thổ cẩm và nói rất rõ ràng:
- Của một cô gái lạ gửi cho cậu. Cô ấy nhắn rằng, cậu đừng mất công tìm hiểu xem cô ấy là ai, bởi rồi đây cô ấy sẽ trở lại gặp cậu.
Đã nghe chị ấy nói như vậy thì Thiện còn hỏi gì nữa. Anh cầm cái túi định xem bên trong chứa vật gì, nhưng chị giúp việc đã nói:
- Cô ấy dặn cậu chỉ được mở ra khi ở phòng riêng.
Thiện về phòng mở chiếc túi ra ngay và thật bất ngờ khi thấy có một bộ quần áo nữ bằng lụa rất đẹp trong đó. Lại là bộ đồ ngủ!
Hầu như suốt từ đó đến tối Thiện không tài nào nghĩ ra người gửi giỏ đồ cho mình là ai. Có hỏi lại chị người làm Tư Thủy thì cũng chẳng hiểu thêm được thêm chút gì, nên Thiện chỉ biết mang thắc mắc đó cho đến lúc đi ngủ. Mà nào có dễ ngủ đâu, phải đến hơn mười hai giờ thì Thiện mới chợp mắt được...
***
- Người gì mà ngủ như chết, khách vào nhà cũng không hay!
Lúc đầu tuy có nghe giọng nói đó, nhưng Thiện cứ tưởng mình nằm mơ, nên anh vẫn nằm im. Sau nửa phút thì giọng ấy lại cất lên:
- Giữ đồ của người ta mà không trả thì làm sao đây? Lạnh lắm!
Thiện cảm giác như có ai đó chạm vào chân mình, rất nhột, nên phải bật dậy. Và một lần nữa giọng nói lại cất lên, lần này ngay sát tai anh:
- Trả bộ đồ cho em!
Thiện lạnh cả người, anh còn đang lúng túng thì bàn tay của một phụ nữ đã chạm vào tay mình, cùng với lời thúc giục:
- Mau trả lại bộ đồ cho em, em lạnh lắm!
- Cô... cô là...
Câu nói của Thiện chưa dứt thì vô tình trong lúc sờ soạng anh đã chạm vào một tấm thân với quần áo đẫm nước, lạnh như băng!
- Cô...
Thiện chỉ nói được tới đó, rồi người như bất động, chỉ cử động được khi đã có sự tiếp sức của người con gái lúc ấy gần như đã ghì chặt lấy anh, đầu nàng ta gục vào cổ anh như đang hút máu! Trong khi Thiện như bị điện giật, máu trong người như tuôn chảy ra không kiểm soát được thì giọng nàng thân thiết hơn:
- Lát nữa em lấy lại bộ đồ đó nghe!
Thiện cố nói cho rõ ràng, bởi lúc ấy anh hầu như không còn kiểm soát được mình:
- Cô là người gửi tôi cái giỏ?
- Chứ còn ai dám vào đây khi anh nợ em bộ đồ!
- Nhưng... cô gửi, chứ nào tôi có ý lấy đâu?
- Nhưng tại sao em lại gửi cho anh chứ không phải là ai khác?
- Cái đó...
Thiện ấp úng đến tội nghiệp, trong lúc cô nàng chủ động đẩy anh nằm xuống và nói một cách cương quyết:
- Lát nữa chính anh phải mặc đồ lại cho em, nếu không thì em lại... tồng ngồng như lúc đến mà ra về đó.
Thiện giật mình:
- Cô tới đây mà không... mặc gì hết?
Cô gái cười khúc khích:
- Mặc, nhưng ướt hết rồi!
- Nhưng... nhưng lỡ có ai thấy thì sao?
Nàng đáp tỉnh khô:
- Có người thấy rồi!
Thiện hốt hoảng:
- Trời ơi, người ta thấy thì...
Nàng lại cười ngặt nghẽo:
- Người duy nhất nếu có thấy thì là anh! Như bây giờ...
Thiện thở phào:
- Vậy mà cứ tưởng...
Thiện không nói thêm được lời nào nữa và hầu như hoàn toàn bất động.
Cô gái lại nói thì thầm bên tai anh:
- Anh còn nợ em điều này nữa. Bài thơ mà anh thuộc lòng là của em.
Thiện reo lên:
- Em đã viết lên vách đá, thảo nào nét chữ bay bướm quá nhỉ!
- Thuộc thơ của người ta vậy mà chẳng nghe đọc lại gì hết! Hay là đã quên ngay rồi?
Thiện buột miệng đọc ngay hai câu thơ thuộc từ vách đá. Xong, anh đột ngột hỏi:
- Cô là gái đã có chồng?
Cô nàng chợt thở dài rồi im lặng, chứ không luôn miệng liến thoắng như lúc đầu. Thiện nghĩ có lẽ mình đã chạm vào tự ái cô ta nên lên tiếng:
- Tôi xin lỗi...
Anh muốn bật dậy nhưng lúc ấy tuy cô nàng không đè cắn cổ anh nữa, nhưng Thiện cũng không làm sao nhúc nhích được. Anh đành lặp lại câu nói:
- Tôi xin lỗi...
- Chỉ xin lỗi suông vậy thôi sao? Nợ người đến hai lần, mà bây giờ...
- Thế cô muốn tôi phải làm sao nữa?
- Anh phải cưới em!
Câu nói đó khiến cho Thiện hốt hoảng:
- Cô nói sao?
- Anh phải cưới em để trả hết nợ!
Nàng vừa nói xong thì nhảy xuống giường liền. Lúc này Thiện mới cử động được, anh nhảy theo. Nhưng thoắt một gái, nàng đã rất nhanh bước ra khỏi phòng. Lúc này Thiện mới hoàn hồn bước theo. Chẳng thấy bóng dáng nàng ta đâu...
Chợt nhớ đến bộ quần áo trong giỏ xách, Thiện lấy và chạy theo ra tới vườn ngoài. Anh gọi lớn:
- Cô... cô gì ơi!
***
Sáng hôm sau khi tỉnh dậy, Thiện nhìn thấy chiếc giỏ xách vẫn còn đó, nhưng khi xem lại thì bên trong không có bộ quần áo mà thay vào đó là một đôi dép nữ. Như vậy có nghĩa là lúc anh ngủ cô gái đã trở lại.
- Cô gì ơi!
Thiện gọi lần nữa nhưng cũng như lần trước, anh lại thất vọng. Đặt chân xuống giường, tính bước ra ngoài và Thiện phát hiện là toàn thân mình đau nhức như vừa trải qua cơn bạo bệnh.
Phải đến hơn sáu giờ thì cơn choáng váng trong anh mới đỡ dần, Thiện lại gấp gáp trở ra thác nước. Dưới chân tảng đá bài thơ, có bộ quần áo vứt bừa ra đó, bên cạnh có một chiếc lá to nằm đè lên. Thiện định vứt chiếc lá đi để cầm bộ đồ lên xem thì chợt nhìn thấy trên lá có dòng chữ viết vội: "Giặt sạch rồi mắc trong phòng, em sẽ tới lấy! Cám ơn trước - Yến Vỹ". Thiện giật mình:
- Cô nàng tên là Yến Vỹ?
Nhìn kỹ lại bài thơ trên vách đá, bên dưới có hai chữ viết tắt YV.
- Thơ của cô ấy!
Thiện còn đang tần ngần thì chợt nghe có tiếng nói phía sau lưng:
- Sao bây giờ cậu mới ra?
Quay lại thì thấy ông lão hôm qua đang đứng nhìn mình chăm chú, Thiện reo lên:
- Kìa bác, cháu đang muốn tìm...
Ông lão vẫn nụ cười hiền hòa:
- Bác biết. Nhưng phải để cho cậu gặp cô ấy đã...
- Cô Yến Vỹ?
Ông lão nhẹ gật đầu:
- Phải.
- Bác biết cô ấy?
- Chẳng những biết mà còn thân nữa.
- Bác và cô ấy có quan hệ thế nào? Tại sao...
Giọng ông lão buồn buồn:
- Ta chính là... ông ngoại của nó. Tội nghiệp con nhỏ, chỉ một ngần ấy tuổi đầu mà đã vướng bao nhiêu khổ đau cho đến lúc chết vẫn không yên thân!
Câu nói của ông ta khiến Thiện giật mình:
- Bác nói sao? Cô... cô ấy đã chết? Cô Yến Vỹ...
Giọng ông gần như khóc:
- Nó đã là người cõi âm rồi!
Thiện nhớ lại cuộc gặp gỡ đêm qua mà bắt rùng mình. Giọng anh run run:
- Vậy sao cháu và cô ấy mới gặp đêm qua? Cô ấy...
Ông lão chợt nói:
- Tốt hơn hết là cậu hãy chấm dứt quan hệ với nó...
- Nhưng thưa bác, cháu muốn gặp một lần nữa để...
Xua tay nhanh, ông lão nghiêm giọng:
- Không nên! Một lần là quá đủ. Cậu đã giúp cháu nó như vậy là coi như cậu đã hy sinh rồi. Tôi không muốn lại có thêm một mạng người nữa...
Thiện hốt hoảng:
- Bác nói mạng người nào?
Ông lão bỗng ôm mặt như đang ân hận điều gì, giọng ông trở nên khó nghe:
- Tôi chẳng qua là... chiều lòng nó... nó bảo phải tìm cho ra người nhà họ Đoàn... mà cậu là người đầu tiên và chắc cũng là người duy nhất...
Thiện quá đỗi ngạc nhiên:
- Người họ Đoàn? Nhưng cháu đâu phải người họ ấy. Cháu họ Dương mà. Cháu là bạn của nhà ấy.
Ông lão vụt ngẩng lên, sắc mặt biến đổi:
- Cậu nói... cậu không phải họ Đoàn?
- Dạ, hoàn toàn không. Cháu chỉ tới ở trọ trong nhà ấy một thời gian thôi. Nhưng có chuyện gì vậy bác?
Ông lão kêu lên hai tiếng trời ơi, rồi lại ôm lấy đầu:
- Tôi đã sai rồi! Tôi hại cậu rồi!
Thiện ngơ ngác:
- Chuyện gì vậy bác? Bác có làm gì cháu đâu?
Ông già bất thần chụp tay Thiện, hỏi lớn:
- Cháu và nó đã có... làm gì với nhau chưa?
Thiện không định nói, nhưng sau khi nghe ông lặp lại lần thứ hai với vẻ mặt hốt hoảng, anh đành phải gật đầu:
- Dạ có...
Ông lão buông tay ra, thảng thốt:
- Trời ơi!
Ông như muốn bỏ chạy đi, cũng may là Thiện chụp lại kịp:
- Bác nói rõ hơn cho cháu nghe. Hại là hại thế nào?
Ông lão suy sụp hoàn toàn. Người ông co rúm lại, giọng trở nên thều thào:
- Chỉ vì quá thương cháu, thấy nó chịu cảnh thảm thương đó nên ta mới đành lòng... chứ ta đâu có muốn thêm một mạng người nữa bị chết oan... Một mình nó là đủ rồi...
- Bác nói gì cháu không hiểu?
Bất chợt lão đưa tay chỉ vào Thiện và nói:
- Cậu chính là... người tiếp theo!
Thiện ngơ ngác:
- Cháu! Nhưng tiếp theo để làm gì?
- Để chết!
Câu trả lời rất rõ ràng, nhưng Thiện cứ nghĩ mình nghe lầm:
- Bác nói...
Không để cho Thiện nói thêm, ông lão nói một hơi:
- Con Yến Vỹ bị người ta hại phải chết oan, hồn phách nó lang thang không nơi nương tựa nên ta phải luôn theo nó, nuôi nó hết chốn này đến chốn khác, cũng chỉ muốn có cái ăn, cái mặc để không phải làm con ma đói. Nhưng chính ta cũng không ngờ là sự lang thang của vong hồn nó là có ý đồ... Nó muốn tầm thù. Nó muốn trả thù nhà họ Đoàn!
- Vậy cô ấy đã làm được chưa?
Lại chỉ vào Thiện một lần nữa:
- Gặp rồi, là cậu đó!
Thiện trợn tròn mắt:
- Sao lại là cháu?
Ông già thở dài:
- Có thể do lầm lẫn thôi. Con Yến Vỹ bảo ta đi tìm người nhà họ Đoàn, một nam nhân, khi thấy cậu xuất hiện trong ngôi nhà đó sau hơn hai chục năm không có ai ở, ta cứ tưởng đó chính là người mà cháu ta đang cần tìm, nên ta đã gặp cậu thuyết phục cậu tới nơi này để cho Yến Vỹ tiếp xúc và...
Chợt hiểu ra, Thiện chép miệng:
- Cháu bị hiểu lầm. Nhưng cháu nghĩ, rồi cô ấy sẽ nhớ ra, cô ấy đâu nỡ hại cháu!
Ông lão lại thở dài:
- Chậm mất rồi. Sau khi cậu và nó có quan hệ thân xác với nhau thì đã chậm quá rồi!
Thiện giật mình:
- Cháu đâu có ngờ... vả lại đó là cô ấy chủ động...
Ông lão gật đầu:
- Tất nhiên là do nó muốn rồi. Mà cậu có muốn biết tại sao nó lại làm vậy không?
Ông ngừng một lúc rồi nói tiếp:
- Vong hồn nó về báo cho ta biết rằng nó muốn được sớm đi đầu thai kiếp khác mà không được. Bởi ở cõi âm chỉ cho phép những người chết bình thường, chết do tuổi già hay đau bệnh được sớm tiêu diêu. Còn những người như nó thì phải kiếm người thế mạng mới được ra đi. Nó chọn nhà họ Đoàn, bởi nhà đó có mối hận thiên thu với nó. Chính họ đã cưỡng bức nó rồi giết chết, thả trôi theo dòng thác này. Chính nó...
Ông lão hình như không còn sức để nói nữa... Rồi bất thần ông đứng lên, bước đi khập khiễng nhưng vẫn cố bước. Thiện lo sợ:
- Vậy cháu phải làm sao đây bác?
Ông nói vọng lại:
- Để ta cố. Cậu gặp ta ở lầu... lầu...
Chỉ nói được tới đó rồi ông ta gần như kiệt sức, ngã nằm dài trên đá.
Thiện hốt hoảng chạy tới đỡ ông dậy:
- Kìa bác, bác có sao không?
Ông lão không động đậy nữa. Mắt ông ta nhắm nghiền chẳng khác người đã chết, Thiện hoảng quá, anh không kịp suy nghĩ thêm, đã bế xốc ông lên chạy bay về xóm dân cư gần đó. Đang chạy bỗng có người nhận ra, đã kêu lên:
- Ông lão lang thang đây mà!
Thiện dừng lại hỏi:
- Chị biết ông lão này?
Người phụ nữ kia đáp:
- Biết chứ. Ông ấy là ông già cô đơn, không thân nhân, không biết nhà cửa ở đâu, nhưng về xóm này và cư ngụ trong ngôi nhà hoang gần nghĩa địa đằng kia. Ông lão bị sao vậy?
- Ông bị ngất ở ngoài thác nước, tôi tình cờ...
Chị nọ nói:
- Cậu đã làm ơn thì làm ơn cho trót, đưa giùm ông ấy về nhà đi. Ngôi nhà hoang đó người ta hay gọi là lầu ma, gần nghĩa địa!
Nói xong chị ta đi ngay. Thiện đành phải bế ông lão đi tiếp. Cũng may ngôi nhà gọi là lầu ma đó không xa, nên trước khi kiệt sức thì Thiện cũng đã đưa được ông lão vào nhà, sau khi một cậu bé đánh xe bò đi ngang qua đã xác định ông lão ngụ ở đây.
Vừa ngẩng lên sau khi đặt ông lão xuống chiếc chõng tre, Thiện đã giật mình kêu lên:
- Cô nàng?
Anh thấy ở góc nhà có một chiếc bàn thờ, trên đó có một khung ảnh bán thân của một cô gái mà vừa chợt nhìn thấy Thiện đã kêu lên:
- Yến Vỹ!
Tiếng kêu của Thiện rất khẽ, gần như là kêu chỉ mình anh nghe, nhưng chẳng hiểu sao lại làm cho khung ảnh rơi xuống đất và vỡ toang! Hốt hoảng, Thiện vội cúi xuống nhặt nó lên. Trong lúc nhặt vội, một ngón tay của anh đã bị cứa đứt khá sâu. Thiện cố nén đau để cầm được bức ảnh lên. Lúc này một bên khung kính đã bị bể, lộ ra một góc ảnh đã bị một vết máu rơi làm nhòe đi. Bằng phản ứng tự nhiên, Thiện lại chạm tay vào đó như để chặn vết máu loang nhiều hơn lên ảnh. Nhưng hành động của Thiện lại khiến cho vết máu loang ra rộng hơn, phút chốc nó loang tới trán và mắt. Chẳng hiểu sao, tự dưng vết máu đó chảy xuôi theo hai khóe mắt của tấm ảnh và... tạo thành hai giọt nước mắt màu đỏ như máu!
- Trời ơi!
Thiện không phải ngạc nhiên mà là sợ! Anh gọi khẽ:
- Cô Yến Vỹ, tôi xin lỗi...
Anh định nói nữa, nhưng lúc ấy chẳng hiểu quá xúc động hay tay run vì mất máu, Thiện lại để khung ảnh rớt xuống lần nữa. Nhưng lần này nó không vỡ, trái lại khi vừa chạm đất thì tự nhiên nó bay trở lên và... đứng đúng vị trí ban đầu. Thiện chắp hai tay lại, khấn rất thành tâm:
- Tôi xin lỗi đã xúc phạm tới cô. Lòng tôi không muốn...
Lời nói đó của Thiện chưa dứt đã nhận ngay một cái tát vào mặt, mà chẳng thấy người tát là ai?
Muốn kêu lên, nhưng lúc ấy chợt Thiện nhìn vào đôi mắt của cô gái, sau màu máu hình như hai tròng mắt đang lay động. Anh im lặng, bước lùi như muốn kiếm đường tháo lui! Bỗng phía sau lưng Thiện có người lên tiếng:
- Cứu người là quan trọng, cớ sao lại để người ta nằm đó chứ?
Quay lại không thấy ai, chỉ có ông lão nằm im như chết ở đó. Thiện không dám chần chừ, anh định bước ra ngoài để tìm mua lọ dầu, nhưng thật bất ngờ, anh nhìn thấy ai đó đã để lọ dầu gió và một ly sữa nóng ngay bên cạnh ông lão.
Thiện xoa dầu, lát sau ông lão tỉnh lại. Vừa nhìn thấy anh, ông đã nhẹ giọng nói:
- Cậu đã thoát nạn bước đầu. Nhưng tốt hơn hết là đi đi. Cậu nên rời khỏi chỗ này sớm chừng nào tốt chừng ấy! Tôi xin lỗi cậu...
Thiện vẫn chưa hết thắc mắc:
- Nhưng bác xin lỗi về chuyện gì?
- Chuyện tôi nhìn lầm cậu, cứ tưởng cậu là con cái nhà họ Đoàn. Để cậu lâm vào cảnh ngộ này là điều ngoài ý muốn.
Nhìn thấy vết máu trên ngón tay Thiện, ông lão hốt hoảng nói:
- Ai làm cậu chảy máu vậy?
- Dạ, vừa rồi cháu vô tình làm rơi khung hình trên bàn thờ, mảnh kính vỡ đâm vào cháu...
Ông lão bật ngồi dậy và nhìn về bức ảnh còn thấm máu, ông kêu lên:
- Cậu cần phải đi ngay đi, kẻo không kịp nữa!
Thiện kinh ngạc:
- Chuyện gì vậy bác?
- Máu của cậu đã thấm vào hồn ma của nó thì cậu nhập vào nó rồi, nó sẽ...
Ông nói tới đó thì gần như nghẹt thở, giống như bị ai đó bóp cổ. Thiện phải hỏi to:
- Bác làm sao vậy?
Ông lão gần như líu lưỡi:
- Đi... đi liền đi! Cậu đừng...
Ông vội kéo mạnh Thiện xuống, khiến cho anh mất thăng bằng ngã nhoài đè lên thân thể ông. Anh chợt nghe một giọng nói rất khẽ từ miệng ông lão:
- Được rồi, tôi trả nợ cho cậu... Tôi chết để cho cậu được sống...
Rồi ông ta im lặng, hai tay xuôi xuống...
Thiện hốt hoảng:
- Bác!
Anh đưa tay sờ lên mũi ông lão thì phát hiện ông đã ngừng thở...
***
Từ Bảo Lộc về, Thiện bị bệnh nằm gần hai tuần. Người anh lúc nóng lúc lạnh và hễ cứ nhắm mắt thì lại như nghe có ai đó gọi tên mình! Thiện phải uống thuốc an thần liên tục thì tình trạng đó mới chấm dứt. Nhưng có những điều mà Thiện chẳng thể nào hiểu nổi, đó là mỗi khi anh được mẹ nhắc tới ngày cưới thì anh nghe tiếng khóc nức nở ở đâu đó rất gần mà chẳng biết là ai.
Bởi vậy sáng nay vừa thấy bóng mẹ bước vào phòng, Thiện đã phải lên tiếng trước:
- Con biết rồi... bữa nay mình phải qua bên nhà Diệu Hương để lo cho lễ cưới. Má đừng nói gì hết, để con chuẩn bị.
Thiện âm thầm chuẩn bị, thay quần áo và tự mang sính lễ rồi ra dấu cho mẹ cùng đi mà không dám nói gì. Như thế mà yên. Cho đến khi diễn ra cuộc nói chuyện giữa hai bên sui gia thì xảy ra một bất ngờ! Cô chị Diệu Hạnh chạy ra nói với mẹ:
- Con Diệu Hương bỗng nhiên phát sốt rồi bứt tóc bứt tai la hét om sòm trong phòng!
Bà Hai Phấn kinh hãi chạy vào ngay. Vừa nhìn thấy mẹ, Diệu Hương đã ôm chầm lấy và tiếp tục gào khóc. Bà Phấn lo sợ:
- Con bị bệnh gì nói má nghe coi, đừng làm má sợ. Có má chồng con và thằng chồng...
Bà nói tới đó thì Hương đã la lớn:
- Đuổi anh ta về đi! Bảo anh ta đi đi!
Bà Năm, mẹ của Thiện cũng có mặt ở ngoài, bà vội lên tiếng:
- Có má đây con, thằng Thiện nó đang bị bệnh mà cũng ráng qua đây, nếu con bệnh nhiều thì để nó đưa đi khám thầy thuốc.
Diệu Hương vùng la lớn:
- Mấy người đi hết đi, tôi sợ mấy người!
Bà Phấn thất thần:
- Con sao vậy Hương?
Bà nhìn sang Thiện cầu cứu:
- Con coi nó bị sao vậy?
Thiện nắm lấy tay Diệu Hương, bỗng anh kêu lên:
- Tay em sao vậy?
Cảm giác lạnh như băng đang chạy rần khắp thân thể Thiện, đồng thời anh bị đẩy lùi ra xa đến mấy mét!
Hai bà mẹ đều kêu lên:
- Sao vậy?
Bà Năm kịp đỡ con mình, nhưng phải buông tay ra ngay, bởi hơi lạnh từ người Thiện truyền sang khiến bà phải kêu thét lên:
- Con sao vậy Thiện?
Thiện đang ngơ ngác nhìn Diệu Hương thì nàng đã lên tiếng:
- Mấy người đi ra khỏi chỗ này ngay!
Cả mẹ mình, Hương cũng xua đuổi:
- Bà cũng đi ra luôn! Tôi bảo đi!
Nhìn con với vẻ ái ngại, nhưng bà Phấn cũng đành phải kéo tay bà sui gia ra ngoài. Giọng bà run run:
- Lạy trời lạy Phật, xin cho con tôi bình yên!
Rồi bà gần như năn nỉ Thiện:
- Con có cách nào giúp má với! Mẹ sợ quá...
Thiện có một linh tính hơi lạ, anh lẩm bẩm:
- Không lẽ...
Rồi anh nói riêng với mẹ:
- Má ở đây chờ con một lát.
Anh bước vội ra ngoài trước sự ngạc nhiên của bà Phấn:
- Nó đi đâu vậy chị sui?
Bà Năm lắc đầu:
- Tôi cũng không biết.
Thiện bước thật nhanh về phía trước mặt, con đường hoàn toàn xa lạ nhưng như được ai đó đưa lối nên anh đi không chút lúng túng. Lát sau, dừng lại bên một cây to, nhìn xuống có một cái miếu nhỏ nằm dưới gốc cây, Thiện cúi xuống nhặt lên một chiếc khăn tay của ai đó, rồi nhanh tay cho vào túi quần và bước thật nhanh trở lại nhà.
Bước vào nhà trước sự ngạc nhiên của hai bà mẹ:
- Con đi đâu vậy?
Thiện không đáp, anh đi thẳng vào phòng chỗ Diệu Hương đang nằm.
Nhìn thấy cô nàng nhắm nghiền mắt như đang ngủ, Thiện nhẹ đặt chiếc khăn đó lên mặt cô, rồi bước lui ra khỏi phòng mà chẳng nói lời nào.
Chừng năm phút sau, bỗng từ trong Diệu Hương bước ra, sắc diện bình thường, tươi tỉnh như chẳng có gì xảy ra.
Bà Phấn kinh ngạc:
- Con đây hả, Hương?
Cô nàng cười tươi:
- Chứ má tưởng con là ai?
Chợt nhìn thấy chiếc khăn tay con đang cầm, bà Phấn càng ngạc nhiên hơn:
- Phải chiếc khăn mà sáng sớm nay con quát ầm lên nói là phơi rồi bị mất đây không?
Diệu Hương đáp tỉnh táo:
- Anh Thiện mới vừa đem về cho con!
Bà Năm hỏi con:
- Con lấy nó ở đâu vậy?
Thiện đáp:
- Nơi người ta cố tình đem giấu.
Bà Phấn ngạc nhiên:
- Ai đem giấu?
Thiện chưa kịp trả lời thì Diệu Hương đã nói:
- Con cám ơn người đã trả lại cho con vật tưởng đã mất!
Rồi cô như chẳng có chuyện gì xảy ra, quay sang mẹ:
- Sao chưa lo đám cưới cho con vậy?
Bà Phấn mừng khôn tả:
- Con thật sự không còn... như lúc nãy phải không? Con làm má sợ quá...
Diệu Hương giục:
- Ngày mai là rước dâu rồi sao má còn ở đó nói lung tung gì vậy! Con có sao đâu?
Bà Năm kề tai nói khẽ với bà sui:
- Chắc nó bị cái gì ám lúc nãy, giờ thì chắc hết rồi. Cám ơn bề trên.
Bà hỏi khẽ Thiện:
- Con làm gì mà nó tỉnh lại vậy?
Thiện lắc đầu:
- Con đâu biết. Con chỉ đi lấy vật cô ấy mất đem về...
- Sao con biết nơi chiếc khăn bị giấu?
Thiện vẫn lắc đầu:
- Con cũng không biết.
Mà thật sự Thiện hoàn toàn không biết, bởi anh hành động như bị ai đó sai khiến. Mãi đến khi hai người đứng riêng ra ở một góc sân, Diệu Hương mới nói khẽ với anh:
- Anh chậm một chút nữa thì đám cưới ngày mai coi như bỏ!
Giọng nói của Hương nghe hơi lạ, nhưng ngoài Thiện ra khó ai mà hiểu được...
Bà Phấn bàn tiếp với bà sui trai chuyện đám rước dâu ngày mai:
- Như mình tính rồi, ngày mai khi bên chị qua thì bên này sẽ theo đưa dâu khoảng hai chục người. Nhưng cái khó cho bên tôi là hiện giờ ông cậu con Diệu Hương, người sẽ giúp đứng ra chủ hôn, đáng lý đã đến từ hôm qua, mà tới giờ này vẫn chưa thấy đến. Vậy nếu giờ chót mà cậu ấy vẫn chưa có mặt thì chắc phải nhờ người khác. Ngặt nỗi con Hương lại không chịu nhờ ai trong dòng họ ở đây cả, nó đòi phải đúng ông cậu đó thôi. Tôi đang lo...
Vừa lúc ấy, từ ngoài cửa bước vào một người mà vừa trông thấy bà Phấn đã reo lên:
- Cậu Tư, chờ cậu dài cổ ra, sao bây giờ mới qua?
Một ông lão mà chẳng riêng bà Phấn ngạc nhiên, sự xuất hiện của ông đã làm cho Thiện trợn tròn mắt, kinh hoảng:
- Kìa, sao... sao lại là bác?
Đó là ông ngoại của Yến Vỹ, người đã chết khi bị Thiện ngã đè ở Dambri! Chính Thiện đích thân chôn cất cho ông trước khi về, sao bây giờ lại ở đây và...
Anh không nghe ông lão nói, liền hỏi lại:
- Sao bác lại... sống?
Ông già ngơ ngác:
- Cậu là ai? Mà sao tôi lại... không sống?
Cả hai câu hỏi và đáp đó khiến cho hai bà mẹ đều ngơ ngác:
- Con nói gì vậy Thiện? Con... quen với cậu Tư?
Thiện không đáp câu hỏi của bà mẹ vợ, mà quay sang hỏi ông lão:
- Bác thật sự không nhớ cháu? Chính con đã ở Dambri, đã chôn...
Ông lão quay sang bà Phấn:
- Phải thằng này là chồng con Diệu Hương không? Nó nói gì mà tôi không hiểu?
Thiện nghi là ông ta không nhớ, nên cố nói:
- Bác là ông ngoại của Yến Vỹ mà! Chính bác đã...
Vừa nói tới đó thì Thiện nghẹn lại, như có ai chặn họng mình. Anh cố nói tiếp, nhưng càng cố thì có cảm giác ngạt thở. Trong khi đó thì giọng ông già vẫn thản nhiên:
- Trai tráng bây giờ mới ngần này tuổi mà đã lẫn rồi! Tôi có gặp nó bao giờ đâu và tôi có ở Dambri gì đó đâu mà nó cứ cả quyết...
Bà Năm phải nhắc con:
- Chắc là con lầm với ai đó rồi.
Thiện từ phút đó như người mất hồn. Ngồi nói chuyện mà thỉnh thoảng anh cứ liếc nhìn ông lão, khiến cho Diệu Hương cũng phải nói riêng với anh:
- Để ý làm gì chuyện đó. Chúng ta đi ra sau vườn đi. Em hái mấy thứ trái cây gửi về cho mấy đứa cháu bên nhà.
Thiện theo cô ra ngoài mà vẫn không hết thắc mắc về ông lão. Lát sau anh không dừng được, phải nói:
- Anh không thể lầm dược, ông ấy chính là...
Lại một lần nữa, cổ họng anh như bị nghẹn lại và đầu óc Thiện quay cuồng! Anh lại nghe có tiếng khóc văng vẳng bên tai.


Phần II


Sau buổi sáng rước dâu về nhà, trong lúc cả nhà đang vui vẻ tiệc tùng thì ông cậu Tư, tức ông lão mà Thiện nhìn lầm là ông ngoại của Yến Vỹ đã đột ngột biến mất!
Sau bữa tiệc, bà Phấn đã đợi khá lâu rồi mới chịu về, sau khi nhắn lại với Thiện:
- Có thể cậu ấy già rồi mà còn uống rượu nhiều nên đi đâu đó rồi bị lạc. Nếu cậu có về con nhờ người đưa cậu qua nhà giùm má.
Thiện không thể nào hiểu nổi con người kỳ lạ này, nên anh quả quyết với vợ:
- Anh chắc chắn ông cậu này có điều gì đó không bình thường!
Diệu Hương vẫn dửng dưng:
- Thì mặc cậu ấy. Bây giờ mình lo chuyện mình. Em muốn đi ngủ thật sớm và anh nhớ dặn má và người nhà không được đánh thức mình dậy trước chín giờ sáng hôm sau!
Thiện ngơ ngác:
- Ngủ tới giờ đó bộ em muốn má chửi cho sao? Con dâu mới về nhà chồng phải dậy sớm chứ!
Diệu Hương vẫn tỉnh bơ:
- Con dâu này khác!
Nói xong, cô đi ngay vào phòng mặc cho tiệc tùng còn đang diễn ra. Bà Năm nhìn thấy, nhưng thương con nên bà cười bảo Thiện:
- Nó mệt, để cho nó nghỉ ngơi. Má hiểu...
Bà còn nói thêm:
- Qua vụ hồi sáng hôm qua, má biết nó chưa khỏe hẳn đâu, vậy mà vẫn cố gắng, tội nghiệp con nhỏ.
Thiện thì không nghĩ vậy anh lặng lẽ bước theo vợ vào phòng. Chỉ sau Diệu Hương có nửa phút, vậy mà khi Thiện vào tới nơi thì cô nàng đã nằm yên trên giường ngủ say. Thử gọi và lay nhưng Hương vẫn chẳng hề hay biết. Đêm tân hôn của Thiện sẽ trọn vẹn nếu vào nửa đêm hôm đó anh không chợt nghe có tiếng thì thầm bên tai:
- Hưởng rồi bây giờ chán, không thèm nữa phải không?
Giật mình, toan bật dậy thì Thiện đã bị vợ kéo lại:
- Muốn trốn trách nhiệm phải không!
Nghe giọng nói quen quen nhưng khác với giọng của Diệu Hương, Thiện hốt hoảng:
- Cô là...
- Người đã hiến thân cho anh rồi, nay anh tính phủ nhận để chiếm đoạt thêm người nữa phải không?
Tới lúc này thì Thiện không còn lầm lẫn nữa, anh kêu khẽ:
- Yến Vỹ!
- Không phải Yến Vỹ nào cả. Là hồn ma được cô ấy nhờ về đây đòi nợ! Vay gì phải trả nấy!
Thiện định vùng dậy thì nàng ta quát:
- Yên nào!
Thiện lo lắng:
- Diệu Hương đâu?
Giọng bên tai anh đanh lại:
- Anh mà còn nhắc tới tên cô nàng lần nữa thì đừng có trách!
Trong đêm tân hôn mà biết mình đang ngủ với một hồn ma thì còn cảm giác nào rùng rợn hơn! Bởi vậy Thiện nằm xuống mà người cứng đờ, hầu như không có một cử động nào của một người chồng... Nhưng điều đó là về phần anh, chớ cô nàng thì đâu chịu như vậy. Cô ta chủ động hết mọi việc, đưa Thiện trở về với cảm giác bị mất máu như đêm ở Dambri, đến nỗi sau cùng Thiện chỉ còn biết nằm thở dốc, thân thể rã rời...
Sáng sớm hôm sau...
Mãi tới hơn chín giờ thì bà Phấn mới cho người vào gọi vợ chồng Thiện dậy. Nhưng gọi mãi mà vẫn không nghe ai trả lời. Phải đích thân bà Phấn gọi lớn:
- Dậy đi chứ tụi bay?
Vẫn im lặng. Sau ba lần gọi nửa, bà Phấn bắt đầu lo, đẩy mạnh cửa vào và...
Trong phòng không thấy Diệu Hương, chỉ có Thiện nằm nửa người trên giường, còn nửa người thòng xuống sàn, sắc mặt tái xanh!
- Con!
Bà Phấn kêu to rồi lao tới chạm vào Thiện. Toàn thân anh lạnh như băng và hầu như không còn chút sinh lực nào.
- Con ơi!
Thiện được đưa ra ngoài để cấp cứu. Trong khi những người khác thì chạy đi tìm Diệu Hương. Đến chiều hôm đó thì người ta chỉ tìm thấy một đôi guốc của Hương nằm bờ sông gần nhà. Ai cũng nghĩ là Diệu Hương đã bị chết đuối, nên ra sức tìm khắp đoạn sông gần đó. Tuy nhiên tìm cả buổi vẫn chẳng có kết quả.
Thiện được cấp cứu đã tỉnh, nhưng trong trạng thái như người mất hồn...
Đến giữa trưa ngày hôm sau thì bên nhà bà Phấn có người qua báo tin là người ta đã tìm thấy xác của Diệu Hương nằm chết ở gốc cây cổ thụ, cạnh miếu cổ, nơi Thiện đã tìm được chiếc khăn tay bữa trước!
Đang kiệt sức, nhưng vừa nghe điều đó Thiện đã bật dậy đòi đi. Khi sang tới chỗ, Thiện đã bật khóc khi thấy xác vợ được mang về nằm ở nhà mà sắc diện vẫn còn nguyên như khi sống. Bà Phấn vừa khóc vừa kể lại:
- Má đang ngủ thì nghe có tiếng gọi và khóc ở ngoài, má ra mở cửa thì chỉ thấy một cái bóng vụt chạy nhanh. Nhìn cái bóng đó tự dưng má nghĩ tới con Diệu Hương! Má chạy theo và cuối cùng tới chỗ miếu cô hồn, và... đã thấy xác nó nằm ở đó.
Bà khóc hết nước mắt, trong lúc Thiện thẫn thờ, anh lẩm bẩm:
- Người ta đã hại em rồi.
Bà Phấn nghe loáng thoáng không rõ nên hỏi lại:
- Ai hại ai?
Thiện không đáp, anh lặng im bước ra ngoài rồi âm thầm đi về hướng miếu cô hồn. Có điều gì uẩn khúc khiến cho Thiện nghĩ anh có thể tìm ra ở đây...
Đang lúc còn đang nhìn ngắm, chợt Thiện giật mình khi phát hiện trên vách phía trong tòa miếu cô hồn có hai dòng chữ viết bằng thứ máu đỏ mà lâu ngày đã trở thành màu nâu sẫm. Vừa thấy dòng chữ Thiện đã tái mặt, bởi nó giống y như hai câu thơ trên vách đá ở thác Dambri:
"Một thuở yêu người, ngàn năm không hết nhớ,
Nửa tuần trăng mật, suốt kiếp khó phôi pha..."
- Yến Vỹ!
Thiện chết điếng. Như vậy là anh đã không thoát được nàng ấy. Vậy mà khi đè chết ông lão hôm đó, chính ông lão cho biết là anh đã thoát được sự báo oán, bởi chính ông đã hy sinh để cứu mạng cho anh, sao bây giờ vẫn còn cuộc tầm thù này?
- Tại sao giữa chốn quê này và Dambri xa xôi lại có sự trùng hợp ngẫu nhiên này? Không lẽ nơi này là quê hương của Yến Vỹ mà ngôi miếu này là để thờ nàng?
Đầu óc Thiện càng lúc càng thêm hoang mang. Anh đứng tần ngần đọc đi đọc lại hai câu thơ mà không để ý có người đang quan sát mình rất lâu, đến khi người đó cất tiếng hỏi:
- Cậu tìm gì ở đó vậy?
Ngẩng lên thấy một bà cụ, Thiện vội nói:
- Thưa bà, cháu thấy lạ vì trong miếu có mấy câu thơ...
Bà già hình như am hiểu về ngôi miếu hoang:
- Chuyện chỉ liên quan tới người ta, cậu việc gì phải tò mò...
Câu nói đó làm cho Thiện càng tò mò thêm:
- Bà nói liên quan tới ai?
- Tại sao cậu muốn biết?
- Dạ, xin bà cho biết, cháu muốn...
Bà già vừa quay bước vừa nói:
- Lâu rồi ta không nói với ai chuyện này, nhưng mấy hôm nay ta cảm thấy trong người gần như không còn sức nữa, ta hiểu rằng cũng nên nói cho ai đó biết chuyện của ngôi miếu này, kẻo rồi chẳng còn ai biết mà kể...
Thiện bước theo, anh năn nỉ:
- Bà kể cho cháu nghe đi, cháu cần biết...
Ra dấu cho Thiện theo mình về một ngôi nhà ngói cũ gần đó, khi về đến nơi bà mới nói tiếp:
- Cậu là người đầu tiên nghe tôi nói chuyện này, cậu vào nhà đi.
Thiện ngoan ngoãn bước theo vào. Vào bên trong rồi anh chưa kịp hỏi gì thì đã nghe bà già lên tiếng:
- Cậu là người xứ nào tới?
- Dạ... cháu ở xã bên kia sông, cháu tới đây để làm rể nhà Hai Phấn.
Vừa nghe nói bà già đã trố mắt:
- Nhà có đứa con gái vừa mới chết?
- Dạ.
- Chết bởi dính tới nhà họ Đoàn?
Thiện hốt hoảng:
- Bà biết chuyện đó?
Không nhìn Thiện, bà lão đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, giọng trầm buồn:
- Chuyện này tưởng đã trôi qua rồi, sao bây giờ lại tái diễn nữa, oan oan tương báo đây mà...
Thiện cố ý lắng nghe, nhưng bà già ngừng nói khá lâu rồi mới tiếp:
- Tưởng nhà họ Đoàn đó bỏ đi thì hết chuyện, nào ngờ khi cái miếu âm hồn còn đó thì vẫn còn chuyện oán thù...
- Nhà họ Đoàn ở xứ này sao?
Chỉ tay ra phía ngôi miếu âm hồn, bà nói:
- Chính chỗ cây đa cổ thụ đó ngày xưa là cổng nhà của họ. Chính ngôi miếu đó là nguyên nhân khiến họ bỏ nhà đi biệt cho đến nay không nghe tin tức gì!
- Ai bỏ đi vậy bà?
- Thì nhà họ Đoàn! Trước kia, khoảng hơn hai mươi năm họ là một bá hộ trong vùng này, có ngôi nhà lớn nhất làng, ngoài ra nghe nói còn vài ngôi nhà nghỉ mát ở những nơi xa xôi nữa... bởi ông chủ họ Đoàn là người làm nghề khai thác gỗ rừng ở vùng cao nguyên, giàu có lớn lắm!
Thiện thêm tò mò:
- Giữa chuyện bỏ xứ ra đi của họ Đoàn đó có liên quan gì tới ngôi miếu âm hồn đó vậy bà?
- Có chứ. Cái miếu đó là do chính họ Đoàn lập nên trước khi trốn đi!
Rồi không đợi Thiện hỏi, bà nói tiếp:
- Họ lập miếu vì bị oan hồn phá dữ quá! Nghe nói họ gây tội ác gì đó với một cô trinh nữ ở đâu đó trên miệt rừng, rồi khi trở về đây oan hồn theo về. Hồi đó ở đây đã từng nghe chuyện cả hai đứa con do vợ ông chủ họ Đoàn vừa sinh ra đã bị chết một cách đầy bí ẩn, khiến cho bà vợ sợ quá phải đem đứa con thứ ba vừa sinh ở thành phố gửi đi biệt luôn, chẳng biết là đi đâu, cho đến khi họ rời khỏi làng này. Thiên hạ nói sau đó nhà họ Đoàn chẳng những trốn đi xứ khác mà còn thay họ đổi tên nữa! Có lẽ nhờ vậy mà từ đó nơi này không còn chuyện đêm đêm hồn ma một cô gái hiện về ở miếu âm hồn để kêu khóc, đòi mạng nữa. Vậy mà nay lại xảy ra chuyện con gái Hai Phấn bị hại, xác lại ở ngay miếu đó. Chẳng lẽ...
Bà già chợt nhìn sững vào Thiện:
- Cậu có liên quan gì tới họ Đoàn không?
Thiện hốt hoảng:
- Dạ không! Cháu họ Dương.
- Kỳ lạ...
Bà già buông câu nói rồi im lặng. Hình như bà đang suy nghĩ điều gì đó...
Hồi lâu, bà chợt hỏi:
- Sao cậu biết gia đình bà Hai Phấn mà cưới con gái bà ấy?
- Dạ, do má cháu quen biết. Trước đây nghe nói má cháu có ở xứ này.
- Má cậu tên gì?
- Dạ... người ta hay gọi là bà Năm.
- Phải Năm Hường không?
Nghe bà hỏi Thiện giật mình, bởi cái tên Hường là tên tục của mẹ mà lâu lắm rồi ít nghe ai gọi. Anh lúng túng:
- Bà... bà biết má cháu?
Bà già sửng sốt nhìn Thiện:
- Chẳng lẽ cậu là...là...
Bà không nói hết câu đã đứng vụt dậy. Đột ngột hỏi:
- Cậu là con trai của Đoàn Trung?
Thiện lắc đầu:
- Dạ không. Cha cháu là Dương Hòa.
Sau câu trả lời của Thiện, bà già mới bớt căng thẳng:
- Vậy là không phải rồi, nhưng cậu về hỏi bà mẹ cậu xem bà có biết ông Đoàn Trung không? Và bà có phải là Năm Hường ngày xưa là con của nghiệp chủ Lợi ở Cần Thơ không?
Tuy bớt căng thẳng, nhưng bà cụ vẫn không thôi nhìn Thiện với đôi mắt tò tò:
- Sao mẹ cậu lại là Năm Hường?
Thiện lắc đầu:
- Cháu cũng không biết.
Bà già lẩm bẩm một mình:
- Chuyện này không lẽ...
Rồi có lẽ do đã ngồi nhiều, nói nhiều nãy giờ, nên bà già nhẹ lắc đầu bảo Thiện:
- Thôi, cậu biết bao nhiêu đó đủ rồi. Nếu không phải là người của họ Đoàn thì tôi khuyên cậu không nên tò mò ở cái miếu đó làm gì. Đã có biết bao nhiêu rắc rối xung quanh nó rồi, mà làng này cũng không còn muốn xảy ra thêm những cái chết oan uổng nữa! Thôi, cậu về đi. Nói tôi gửi lời chia buồn với bà Hai Phấn.
Bà ta nói xong thì lặng lẽ đi vào nhà trong để lại Thiện với những thắc mắc trong lòng...
***
Chôn cất vợ xong thì Thiện trở về nhà ngay. Và việc đầu tiên là anh hỏi ngay mẹ mình:
- Có phải trước đây má ở Cần Thơ không? Ông ngoại con là nghiệp chủ Lợi?
Tuy có ngạc nhiên, nhưng bà Năm vẫn nhẹ nhàng đáp:
- Phải. Con hỏi chi vậy?
- Tại vì lâu nay con ít có dịp hỏi chuyện dòng họ mình.
- Cũng bởi ngay từ nhỏ con đã xa nhà, sống tận bên Pháp, nên đâu có dịp nào...
Thiện chợt hỏi:
- Sao con phải xa nhà từ lúc con nhỏ xíu vậy má?
Câu hỏi đó khiến bà Năm phải nhìn sững vào con trai, rồi lát sau bà mới đáp:
- Anh em con thuộc dạng khó nuôi, cho nên ba má phải gửi con cho chú Sáu ở bên Pháp nuôi.
- Má nói con khó nuôi là sao? Bộ hồi mới sinh ra con bệnh hoạn dữ lắm sao?
Bà Năm lắc đầu:
- Không. Trái lại lúc sinh ra con nặng trên ba ký và bụ bẫm lắm, má tính giữ lại, nhưng ba con quyết không cho. Cũng bởi hai anh chị con trước đó đã...
Bà ngừng nói, nhưng Thiện đã đột ngột hỏi:
- Anh chị con có phải đã chết hết ngay từ khi mới sinh ra không?
Bà Năm nhìn con ngạc nhiên:
- Sao con biết?
- Vậy là đúng phải không? Nhưng sao từ lâu nay con không nghe má nói? Nếu con không nhờ người ta cho biết thì...
Rồi bất chợt Thiện hỏi:
- Mình thật ra là họ gì má?
Bà Năm hốt hoảng thấy rõ:
- Con... con hỏi để làm gì?
- Nhưng má chưa trả lời con. Con có phải thật sự họ Dương không, hay là... họ Đoàn?
Câu hỏi này đã làm cho bà Năm run lên, biến sắc liền:
- Con... con đừng hỏi!
Thiện mới là người hoảng loạn trong lúc này. Anh run giọng nói:
- Như vậy thật sự là họ Đoàn rồi.
Rồi như thân cây đổ xuống, Thiện ngã ngồi xuống sàn nhà trước sự hoảng hốt của bà Năm:
- Kìa, con làm sao vậy Thiện?
Thiện nói như người tâm thần:
- Vậy ra con là người nhà họ Đoàn. Cha con là Đoàn Trung chứ đâu phải là Dương Hòa, phải không má?
Bà Năm cũng như chiếc bong bóng xì hơi:
- Con biết hết rồi còn gì phải hỏi má nữa...
Một sự im lặng đến khó thở... mãi một lúc sau Thiện mới thở dài:
- Con nhận hậu quả là phải rồi, cớ sao lại bắt vợ con phải chết, hở trời!
Bà Năm ấp úng:
- Chuyện ngày xưa đó... đã qua rồi.. ba con cũng đã chết rồi. Hơn hai mươi năm rồi còn gì...
- Nhưng rõ ràng là chưa hết. Má có biết Diệu Hương chết là do ai không? Do oan hồn người con gái tên là Yến Vỹ!
Vừa nghe tới cái tên ấy, bà Năm đã kêu thét lên:
- Sao con biết tên đó? Sao con...
- Chẳng những biết mà còn gặp nữa. Và còn...
Anh lặng người đi, rồi lát sau òa lên khóc! Bà Năm sợ hãi:
- Chuyện gì đến nỗi vậy con? Má nghĩ đây là chuyện do ba con làm ngày xưa. Mà tội ai làm nấy chịu chứ? Vả lại lâu nay má đâu có thấy vong hồn của cô ấy về nữa đâu?
- Má có biết hai câu thơ này không: Một thuở yêu người ngàn năm không hết nhớ - Nửa tuần trăng mật suốt kiếp khó phôi pha...
Bà Năm suy sụp hoàn toàn:
- Vậy là con hiểu hết rồi...
Bà gục xuống ôm mặt khóc ròng. Thiện dịu giọng:
- Con muốn biết nhiều hơn về chuyện nhà mình, má đừng giấu con nữa.
Bà Năm khóc một lúc rồi chợt ngẩng lên hỏi:
- Ai nói cho con hết chuyện này?
- Chính con đã gặp cô ấy!
- Ở đâu?
- Ở thác Dambri.
- Trời ơi!
Bà Năm kêu lên như vậy rồi lại khóc. Hồi lâu sau, bà mới nói qua làn nước mắt:
- Tội ác của ba con xảy ra ở trên ấy, đúng rồi!
- Má kể hết cho con nghe đi.
Bà Năm vụt đứng lên, rồi thay vì bước vào phòng riêng, bà lại đi ra bên hông nhà. Thiện đi theo, hỏi mẹ:
- Má đi đâu vậy?
Cầm lấy cây thuổng đào đất dựng bên hông nhà, bà Năm đi thẳng tới gốc cây mít lớn nhất trong vườn rồi bảo con:
- Má đào không nổi, con giúp má đào nó lên.
Thiện ngạc nhiên:
- Cái gì ở dưới?
- Tất cả sự thật mà con muốn biết!
Thiện đào từng nhát thuổng mà lòng rối bời. Lát sau, anh phát hiện một chiếc rương sắt nhỏ nằm dưới lớp đất sâu, hơi ngạc nhiên thì bà Năm đã nói:
- Con lấy nó lên, không có tiền bạc gì hết trong ấy, chỉ có một quyển sổ mà má đã đốt, nhưng đốt năm lần bảy lượt nó vẫn không cháy, nên đành phải chôn, hy vọng thời gian sẽ làm nó tiêu hủy...
Mở rương sắt ra thì quả nhiên chỉ có đúng một quyển sổ bìa cứng đã khá cũ nằm trong đó. Thiện chưa dám cầm lên thì bà Năm đã nhắc:
- Con cứ mang đề phòng riêng mà đọc. Đọc rồi tùy con muốn hủy bỏ hay chôn lại cũng được. Má sợ nó lắm rồi!
Bà quay lưng bỏ đi. Thiện cầm quyển sổ một lúc lâu rồi mới bước về phòng. Mặc dù đã khá mệt sau những gì từ sáng đến giờ, nhưng Thiện vẫn cố mở quyển sổ ra và đọc ngấu nghiến:
Ngày... tháng... năm...
Đúng ra hôm nay mình không lên Blao. Nhưng có lẽ duyên số trời định nên mình đột ngột từ Gia Nghĩa đã quay xe về đó qua con đường đi tắt và... đã gặp được nàng! Người con gái hai dòng máu Kinh - Thượng mà sao đẹp đến lạ thường! Khi mình hỏi nàng tên gì, nàng chỉ đáp gọn hai chữ: Yến Vỹ!
Mình tự giải thích:
- Yến Vỹ là cái đuôi con chim én! Mà con chim én (hay yến) có duyên và đẹp nhất là ở cái đuôi ngúng nguẩy!
Nàng cười tít mắt rồi đột ngột hỏi lại mình:
- Anh có muốn nuôi con chim én này trong lồng không?
Trong lúc ngẫu hứng mình đã đáp nhanh:
- Muốn quá đi chứ!
Thế là chỉ trong vòng một buổi ngắn ngủi gặp nhau, mình và Yến Vỹ đã yêu nhau. Mà cũng đâu có gì là sai trái, bởi mình là trai chưa vợ và nàng là gái chưa chồng, cả hai đều có quyền đến với nhau, yêu nhau!
Hai tháng sau khi mình trở lên Blao lần nữa thì mình đã đi tới một quyết định khá bất ngờ đối với nàng:
- Anh sẽ cất nhà và ở lại đây lập nghiệp.
Yến Vỹ ngạc nhiên không tin:
- Nơi đây đâu có cơ sở làm ăn gì của anh đâu mà anh quyết định ở lại?
Mình cười đáp:
- Sao lại không? Cơ sở vững chắc đó là em! Anh sẽ cưới em và vợ chồng mình xây tổ ấm nơi đây, ngay gần cái thác nước này. Anh đã tới thác Cam Ly, thác Prenn, Pongour... nhưng chỉ thấy nơi đây là đẹp hơn cả. Có lẽ tại vì có em!
Vậy là mình gắn cuộc đời với vùng đất có dòng thác Dambri đẹp mê hồn.
Thiên tình sử đẹp như tranh vẽ đã bắt đầu với lời hứa hẹn của hai đứa bên dòng thác tuôn chảy ì ầm, mình đã hứa với nàng:
- Suốt đời này anh chỉ có mình em mà thôi! Dù cho vật đổi sao dời thì vẫn chỉ một cái tên Yến Vỹ trong đời Đoàn Trung này!
Nàng cũng đã long trọng hứa vào buổi chiều ánh hoàng hôn vắt qua ngọn thác:
- Trong đời này nếu trời còn, đất còn thì tình của Yến Vỹ dành cho Trung mãi mãi còn! Nếu sai lời thì trời tru đất diệt!
Mình đã rợn người trước câu thề thốt nặng nề đó, nhưng biết sao khi tình của nàng ấy đối với mình phút chốc đã quá sâu nặng rồi! Và mình cũng đã phải thề lại cho nàng tin:
- Anh nguyện suốt đời bên em, nếu bội ước thì sẽ phải trả bằng cả tương lai của mình!
Ngày... tháng... năm...
Vậy là hai đứa hoàn thành được ước nguyện. Mặc dù cha mẹ mình từ quê nhà nghe tin đã phản đối cuộc tình mà họ cho là trái chiều, không hợp lẽ, bởi theo họ thì người Kinh không thể thành vợ chồng với người con gái Thượng.
Mà phía gia đình Yến Vỹ cũng phản đối. Họ cho rằng tình yêu mình dành cho Yến Vỹ là không thật, họ nghi ngờ... Chỉ có một người duy nhất là ông ngoại của cô ấy luôn ủng hộ, nhưng ông cũng không có được ảnh hưởng lớn trong nhà. Cho nên cuối cùng tụi mình đã chọn giải pháp tự quyết định tương lai bằng cuộc hôn nhân không có hai bên cha mẹ chứng kiến! Yến Vỹ nhờ có học tiếng Kinh nên cô ấy hiểu biết luật lệ về nếp sống người Kinh, nhờ vậy khi hai đứa sống với nhau trong ngôi nhà mình mới xây, gần khu vực toàn người Kinh sinh sống, chẳng một ai biết nàng là người dân tộc. Cái tên Yến Vỹ là một cái tên Việt hoàn toàn do nàng tự đặt khi đi học trường Kinh, chớ tên dân tộc Châu Ro của nàng Th'ơ Ria. Nàng bảo rằng từ nay nàng chỉ muốn được gọi là Yến Vỹ!
Ngày... tháng... năm...
Không ngờ tai nạn ập đến với hai đứa quá sớm! Lại tới từ phía gia đình mình: Khi hay tin mình xây nhà ở riêng với Yến Vỹ, cha mẹ mình đã lên tận nơi tìm và cương quyết phản đối, bắt mình phải bỏ ngay cô ấy! Mình không nghe thì cha mình đã mạnh tay, cắt đứt hết mọi nguồn tiền bạc mà từ lâu cho mình kinh doanh gỗ và lâm sản. Điều này cũng chẳng sao, nếu không thêm việc ba mình cho tổ chức bắt cóc Yến Vỹ đem giấu biệt đến hơn một tháng, khiến mình phát điên lên, tìm kiếm khắp nơi!
Sau cùng mình giải thoát được cho Yến Vỹ, nhưng khi trở về thì cô ấy bỗng phát bệnh và gần như câm và điên loạn! Mình tìm đủ mọi cách để cứu chữa, nhưng cũng vô hiệu, bởi sau đó mình biết được là ba mình đã nhờ một ông thầy mo, cho Yến Vỹ uống một loại thuốc gì đó mà ông ta nói là khi uống vào, người uống sẽ bị mất hết trí nhớ về những gì xảy ra trước đó. Có nghĩa buộc nàng phải quên mình đi!
Ngày... tháng... năm...
Thấy mình vẫn không chịu rời xa nàng, ba mình lại ra tay mạnh hơn. Ông tung tin, vu cho nàng là cô gái ma lai! Với sự giúp sức của một ông thầy mo vô lương tâm, Yến Vỹ bị người trong làng, bản xa lánh, xua đuổi. Kể cả những người xóm Kinh gần ngôi nhà của mình xây cho nàng ở cũng ghét bỏ, tẩy chay, khiến Yến Vỹ càng điên nặng hơn, và một ngày kia nàng biến mất không để lại chút tung tích gì! Mình đã tìm khắp nơi, vào tận buôn làng của nàng để tìm nữa mà vẫn không thấy...
Ba tháng trôi qua...
Ngày... tháng... năm...
Mình trở lại Dambri sau mấy tháng đi khắp nơi tìm kiếm thì thật bất ngờ khi nhìn thấy những câu thơ trên vách đá. Mình biết ngay đó là do chính Yến Vỹ viết, điều đó lại càng khiến lòng mình tan nát. Mình ở lại vách đá đó suốt ba ngày đêm, mong được gặp nàng, nhưng vẫn bặt vô âm tín... Cho đến một buổi chiều kia, mình nghe tin sét đánh: có một xác chết trôi phía hạ nguồn dòng thác là phụ nữ! Khi mình tìm đến nơi thì chính đó là xác của Yến Vỹ!
Mình đem xác nàng về định chôn ngay trong vườn nhà, nhưng xác nàng đến nửa đêm hôm đó thì đột nhiên biến mất!
Ngày... tháng... năm...
***
Thiện buông quyển sổ nhật ký xuống, anh thảng thốt kêu lên:
- Trời ơi!
Rồi anh ngồi thừ người ra. Làm sao anh có thể tưởng tượng ra câu chuyện lại đến nông nỗi này! Cũng may, khi hồn ma Yến Vỹ gặp anh lần đầu nàng ta chỉ muốn trả thù nên hút máu, chứ không làm chuyện gì đó xằng bậy...
Thiện quay lại hỏi mẹ:
- Thời gian đó má đã có quen với ba chưa?
Bà Năm lắc đầu:
- Cũng may là chưa. Khi ông ấy bị vụ đó làm cho bấn loạn, bỏ nhà đi đến gần cả năm sau mới về nhà trong tình trạng không ra người ngợm gì cả. Ông nội con nhân cơ hội đó đã đi hỏi cưới má cho ông ấy! Ban đầu ông ấy không chịu, nhưng sau cùng có lẽ quá chán ngán với chuyện giang hồ, cho nên ông ấy đã bằng lòng. Má là gái nhà quê, đâu có biết gì ngoài việc vâng lời cha mẹ. Khi về ở với ba con được hai năm thì má sinh đứa con đầu. Má mừng lắm, nhưng chưa kịp vui trọn vẹn thì vào một đêm khuya, lúc má đang cho con bú thì bỗng có một bóng người đầu tóc rối bời, mình mẩy ướt đẫm, đã từ ngoài cửa sổ nhảy xổ vào cướp lấy đứa con trên tay má và chạy mất! Má gào khóc lên, nhưng khi mọi người chạy vào thì chẳng ai biết phải tìm ở đâu? Đến sáng hôm đó thì chính ba con tìm gặp xác chị con nằm chết ở miệng giếng cạnh cây đa cổ thụ trước nhà! Hình như xác chị con mới được vớt lên từ dưới giếng.
Bà phải ngừng lại mấy lần bởi cơn xúc động cắt ngang lời nói. Hồi lâu mới nói tiếp:
- Hai năm sau đến lượt anh con. Nó vừa được sinh ra, lúc còn đang nằm trên tay bà mụ sinh thì đã bị cướp đi lần nữa, cũng bởi một bóng trắng xõa tóc! Và sau đó xác thằng bé cũng được tìm thấy ở bờ giếng như lần trước. Mà lần này còn táo tợn hơn, kẻ sát nhân còn lớn tiếng báo cho biết nó sẽ tiếp tục giết bất cứ đứa bé nào chào đời trong nhà họ Đoàn!
Thiện không dừng được, vội chen vào:
- Người đó là ai?
Bà Năm nói trong nước mắt:
- Ba con đã biết ngay là Yến Vỹ! Chính oan hồn cô ấy còn ngồi dưới gốc cây cổ thụ mấy đêm liền sau đó. Bởi vậy khi má mang thai con thì ba con vì không muốn mất con nên đã quyết định chuyển nhà đi nơi khác, rồi sau khi má sinh con ra, ba má liền quyết định gửi con cho chú Sáu ở bên Pháp nuôi giùm. Rồi cũng từ ấy theo lời khuyên của một ông thầy, ba con thay đổi luôn tên họ, đoạn tuyệt luôn với quá khứ, bỏ luôn quê nhà và không bao giờ còn trở lại những nơi mà trước kia ba con đã từng ở.
Thiện cắt ngang:
- Nhưng sao khi con trở về nước và có ý định lên Bảo Lộc má lại không cản?
Bà Năm lắc đầu:
- Má nào hay con đi lên đó!
Thiện nhớ lại khi anh có ý định tìm nơi yên tĩnh để soạn luận án tiến sĩ mà sau khi lấy vợ anh sẽ trở qua Pháp để trình thì có người bà con đã âm thầm cho anh địa chỉ ở Dambri. Thiện cũng không nhớ rõ đó là ai, anh hỏi mẹ:
- Cái chú gì đem xe chở con lên Bảo Lộc hôm trước, má có nhớ không?
Bà Năm lại lắc đầu:
- Má tưởng là bạn con ở bên Pháp cùng về.
Thiện chép miệng:
- Con nào có bạn cỡ tuổi đó. Chính ông ta xưng là bà con với nhà mình, tình nguyện đưa con ra Bảo Lộc và còn chỉ cho căn nhà mà ông ta nói là nhà của mình đang bỏ trống, có ý cho con ở miễn phí thời gian dài!
Bà Năm kêu lên:
- Con đã bị hồn ma nó dẫn đường đưa lối rồi! Ngôi nhà đó từ khi ba con chết má cũng bỏ luôn, không bao giờ nhắc tới, cũng chẳng biết ra sao nữa.
Thiện lẩm bẩm:
- Con mang họ Dương, vậy làm sao oan hồn cô Yến Vỹ lại biết con là họ Đoàn?
Bà Năm chợt hiểu:
- Do má chủ quan thôi. Má nghĩ chắc đã quá lâu rồi, vả lại mấy chục năm nay không hề thấy oan hồn cô ấy hiện về quấy phá nữa, nên khi nghe bà Hai Phấn ngỏ ý muốn gả con, má đã vội dẫn con sang bên ấy gặp ngay, mà quên rằng chốn cũ đó là nơi vẫn còn cái miếu âm hồn mà má đã nhờ người ta xây để thờ oan hồn cô Yến Vỹ! Có lẽ việc trả thù của vong hồn cô ấy vẫn chưa dứt.
Kể xong, bà nói khẽ với con:
- Quyển sổ nhật ký không hay ho này má đã bao nhiêu lần tìm cách đốt, nhưng không lần nào làm được, dẫu bỏ vào lò lửa nó vẫn không cháy, bởi vậy má mới chôn. Bây giờ con thử đốt lại lần nữa coi, nếu được thì coi như mình hủy nó luôn!
Thiện làm theo. Anh đốt một đống lửa ngoài vườn và tự tay ném quyển nhật ký vào đó. Anh cứ nghĩ nó sẽ không cháy như lời kể của mẹ. Tuy nhiên, thật bất ngờ, quyển sổ bùng cháy một hơi, ngọn lửa cao hơn bình thường và tỏa ra ngọn khói màu đen kỳ dị. Vài phút sau thì không còn lại gì. Chính bà Năm cũng kinh ngạc:
- Vậy là sao?
Thiện nói khẽ:
- Có lẽ mọi việc đã được hóa giải rồi. Diệu Hương đã chết thay cho con và oan hồn cô Yến Vỹ đã hài lòng, thôi không truy cứu nữa...
***
Ngay chiều hôm đó đích thân Thiện trở qua nhà vợ. Anh thắp nhang cúng Diệu Hương và khóc nức nở trước bàn thờ:
- Chính anh đã hại chết em và em đã cho anh được sống Hương ơi! Em sống khôn thác thiêng, xin hãy phù hộ cho anh được ở lại đây cùng em sống cảnh âm dương chia xa nhưng không cách lòng. Anh xin được mãi mãi ở vậy cùng em tại ngôi nhà này...
Anh xin phép mẹ vợ để về sống trong căn phòng mà Diệu Hương trước khi chết đã sống. Bà Hai Phấn dẫu không muốn nhưng cũng chiều lòng Thiện.
Từ hôm đó, Thiện sắm vai người ở rể chăm chỉ, cần cù và mẫu mực. Trước sự ngạc nhiên của nhiều người, Thiện một mình tới ngôi miếu âm hồn để quét dọn, sơn phết lại khang trang, sạch sẽ. Anh đã khấn rất thật lòng:
- Cô Yến Vỹ đã biết rõ rồi, tôi không giấu nữa, tôi là dòng máu của Đoàn gia. Tôi đã hiểu được việc làm của ông cha tôi ngày trước, đó là một tội lỗi khó tha và việc cô tầm thù, trả thù là chính đáng, tôi không trách gì cô cả, chỉ tội cho người con gái vô tội đã vì tôi mà phải mất mạng. Kính mong cô từ bi hỉ xả, tha cho chúng tôi. Từ nay tôi nguyện làm người hầu hạ vong hồn cô, làm ông từ giữ miếu cho cô. Nếu cô chấp nhận thì để tôi sống và làm nhiệm vụ đã hứa. Còn bằng không thì xin cho tôi chết ngay tại nơi này, ngay lúc này!
Anh quỳ xuống và chờ đợi...
Nhưng suốt một buổi, trước sự ngạc nhiên của người qua kẻ lại, Thiện vẫn yên ổn. Khi anh xá xong ba xá đứng dậy thì ngôi miếu bỗng nhiên bốc cháy dữ dội! Thiện kinh hoảng định lao vào chữa, nhưng anh không làm kịp, bởi lửa mới chỉ bùng lên là đã thiêu rụi hoàn toàn ngôi miếu có tuổi thọ gần ba mươi năm!
Thiện lẩm bẩm:
- Đúng là dứt thật sự rồi. Xin cám ơn và cầu chúc cho hương hồn cô Yến Vỹ sớm siêu thoát...
Từ hôm ấy, Thiện sống yên lành bên nhà vợ và cũng không giấu giếm mình là người mang họ Đoàn.

Helen 11-07-2012 06:26 AM

TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 37
 
Oan Hồn Người Vợ Trẻ 2 - Phần 1


Rời tiệm uốn tóc mà Ngọc Hà phải giữ chặt chiếc nón trên đầu, tuy không có gió nhưng cô vẫn không dám buông tay ra, chỉ bởi... mái tóc trên đầu bây giờ nếu ai nhìn thấy thì chắc là Hà sẽ... tự tử!
Một tai nạn từ trên trời rơi xuống ngày hôm qua đã khiến cho Ngọc Hà bị nguyên một thùng sơn rơi từ mấy người thợ sửa nhà xuống đã giội trọn lên đầu, và Hà chỉ còn biết đau khổ lãnh trọn phần sơn đó lên mái tóc dài và mượt mà xưa nay là niềm tự hào của cô!
Sau khi cật lực dùng dầu hôi và nhiều cách, Ngọc Hà không dám nhìn mặt mình trong gương, bởi mái tóc bây giờ chỉ còn lại là mớ bòng bong xù xì, xơ xác. Đến nỗi sáng nay Hà phải trùm nón và tìm tới tiệm uốn tóc gần nhà để nhờ cứu! Tuy nhiên, sau gần hai giờ cố gắng, người thợ chính của tiệm cũng chỉ làm được một phần. Tóc gốc được cứu, nhưng phải cắt ngắn từng mảng, nham nhở chẳng khác miếng ruộng bị cày xới vô tội vạ!
- Ủa, con Hà đây mà! Con đi đâu đến giờ này trời tối rồi mà vẫn còn đội nón sùm sụp vậy con?
Nhìn lại thấy bà dì Hai em họ của mẹ, Ngọc Hà thở phào, bởi cô chỉ ngại gặp phải người lạ.
- Dạ... con đi uốn tóc...
Bà dì Hai xuýt xoa:
- Tóc con đẹp nhất làng này mà sao còn đi uốn chi cho uổng vậy.
Thấy Hà ấp úng, dì Hai chợt nhớ ra:
- À, có phải vụ đổ sơn hồi sáng không? Dì quên...
Rồi bà hỏi nhanh:
- Con có muốn đội tóc giả không?
Ngọc Hà nhìn sững dì mình:
- Tóc giả mua ngoài tiệm hả?
Bà Hai Dung kéo tay Hà:
- Con ghé qua dì, tao có tóc đẹp lắm!
Ngọc Hà miễn cưỡng đi theo bà dì. Khi vào nhà, bà Dung chạy vào buồng lấy ra một cái hộp giấy tuy đã cũ nhưng còn sạch sẽ, đưa cho Hà:
- Hồi dì còn trẻ, có lần ham muốn tóc dài nên đã ước có được một đầu tóc mượn, và dì được như ý khi người yêu của dì là một thầy giáo dạy tiếng Pháp đã đem tặng cho dì cái đầu tóc này. Đây là đầu tóc giả của tiệm làm tóc lớn của người Tây, nên không sợ tóc xấu, tóc bệnh của người mình... Nhưng rồi sau đó dì lấy chồng, không cần đến nó, nên từ ấy đến nay dì cất trong tủ luôn, chưa dùng lần nào!
Ngọc Hà vốn không thích dùng tóc giả, nhất là tóc của người khác, nhưng bây giờ, trong tình cảnh này, cô đành phải lấy hộp tóc ra xem thử. Vừa nhìn thấy mái tóc dài chẳng thua gì tóc cũ của mình, cô reo lên:
- Đẹp quá!
Dì Dung thật tình:
- Dì cho con, cứ đội lên trong khi cho tóc ra trở lại!
Dì còn trấn an:
- Đây là tóc mua mắc tiền, lại của tiệm lớn nên con yên tâm, không phải tóc của người chết đâu!
Bà còn moi phía dưới chiếc hộp, lấy ra một tờ giấy đưa cho Hà:
- Đây là tờ giấy cam kết của tiệm uốn tóc, họ nói rõ tóc này là của một cô gái hai mươi tuổi, sau khi lấy chồng, ở nhà chồng không thích tóc dài nên cô ấy đã nhờ tiệm cắt ngắn giùm và tặng luôn cho tiệm.
Hà đọc sơ qua tờ giấy rồi có vẻ hài lòng, cô nói:
- Dì cho con...
Dì Dung phấn khởi:
- Có được người dùng thứ mà dì thích là điều dì rất vui. Vậy con có cần mang nó liền bây giờ không, dì biết kết tóc giả, để dì làm giùm cho!
Hà gật đầu ngay:
- Dạ, con nhờ dì!
Dì Dung là người khéo tay nên sau nửa giờ, mớ tóc giả đã được kết nối một cách hài hòa với số tóc nham nhở còn lại trên đầu. Khi nhìn vào gương, chính Hà cũng quá đỗi ngạc nhiên:
- Giống y như thật dì Hai ơi!
Nhìn cháu gái mình, dì Dung cũng rất hài lòng:
- Đúng là của này dành riêng cho con rồi!
Buổi tối đó về nhà, bà Tú Lệ, mẹ của Hà cũng ngạc nhiên về sự tươi vui của con gái, khác với khi mái tóc bị nạn. Sau khi xem mái tóc giả, bà đã phải kêu lên:
- Nhìn con như một công chúa!
Ngọc Hà cảm động ôm vai mẹ, cô nói rất khẽ:
- Như vậy không phải hoãn đám cưới hả má?
Bà Lệ phấn khởi:
- Nó đã giải tỏa được nỗi lo của má từ sáng đến giờ! Cũng may là má chưa báo cho bên kia biết chuyện xin hoãn ngày cưới. Thôi được rồi, sáng mai đích thân mẹ con mình qua bên nhà thằng Tuấn bàn thêm về chuyện đám cưới.
Nỗi lo sợ Tuấn nhìn thấy cái đầu nham nhở của mình giờ đã tan biến, nên đêm hôm đó Ngọc Hà đã ngủ một giấc thật say đến nửa đêm. Trước khi ngủ, Hà phải gỡ đầu tóc giả ra, mắc cẩn thận trên cao, nên lúc thức giấc Hà phải bước xuống giường nhìn thăm chừng. Sau khi nhìn xong, khi trở lại giường ngủ tiếp, Hà không dám nhìn mặt mình trong gương, bởi cô biết giờ mà nhìn thì chắc chắn cô sẽ phải thất vọng lắm. Nhưng chỉ nằm được trên giường khoảng nửa giờ thì Hà lại bật dậy. Nhìn đồng hồ theo tường thấy mới có hai giờ sáng. Hà không muốn ngủ tiếp, cô mày mò đầu tóc giả rồi bắt chước theo dì Dung, cô tự trùm lên và tỉ mỉ gắn, kết. Tuy có lâu hơn dì mình nhưng cuối cùng Hà cũng hoàn thành được. Điều đó giúp cho cô từ nay sẽ không phải làm phiền dì Dung nữa.
- Ít ra cũng phải như vậy.
Ngọc Hà định để nguyên đầu tóc như vậy chờ sáng. Tuy nhiên chỉ được hơn mười phút thì hai mí mắt cô nặng trĩu, cơn buồn ngủ khiến Hà không tài nào cưỡng được, mặc dù lúc ấy đã hơn ba giờ...
- Hà ơi! Trưa rồi con, dậy để còn đi...
Nghe tiếng mẹ gọi đến hai lần Hà mới choàng dậy được, cô giật mình khi nhìn thấy đồng hồ chỉ 9 giờ!
- Sao má không kêu con sớm!
Bà Lệ ở ngoài nói vọng vào:
- Kêu rát cổ họng mà cô nương có nghe đâu! Mai mốt về nhà chồng mà ngủ kiểu đó mẹ chồng họ chửi cho!
Hà bước lại gương trang điểm, cô vừa nhìn vào trong gương đã kêu thét lên:
- Trời ơi!
Bà Lệ từ bên ngoài chạy vào, hốt hoảng:
- Chuyện gì vậy con?
Rồi chính bà cũng phải thét lên:
- Trời ơi!
Trước mặt bà, đứa con gái yêu của mình đang có bộ mặt như quỷ. Da mặt xanh dờn, mái tóc dài dựng đứng như cây chổi sể!
- Con... con sao vậy Hà?
Bà Lệ vừa hỏi vừa bước lùi ra:
- Có phải là con không Hà?
- Con... con...
Bà Lệ run đến muốn ngã, trong khi Ngọc Hà thì gần như bị tê liệt, cô lắp bắp không thành lời:
- Chuyện... chuyện gì vậy... chuyện gì...
Rồi trước mắt Hà tối sầm lại, cô ngã nhoài tới trước...
***
Nhà lúc ấy không có ai ngoài hai mẹ con, nên khi cả hai tỉnh dậy đã ngơ ngác nhìn nhau, rồi Hà hỏi:
- Con bị sao vậy má?
Bà Lệ nhìn con gái mình và mừng rỡ:
- Ủa, con đâu có gì?
Gương mặt của Hà giờ đã trở lại bình thường, khi nhìn vào gương chính cô cũng ngạc nhiên:
- Mặt con đâu có gì hả má?
Bà Lệ vẫn chưa hết run:
- Lúc nãy... mà có lẽ mình hoa mắt...
Hà cũng nói:
- Có lẽ con mất ngủ và lo lắng...
Nhớ lại gương mặt quỷ tối qua, Hà vẫn còn hoài nghi, nên săm soi mặt mình trong gương khá lâu, cho đến khi bà Lệ nhắc:
- Tuy trễ, nhưng mình đã nhắn qua bên đó rồi, phải đi ngay thôi con à!
Ngọc Hà trang điểm hơi kỹ, bởi cô sợ nét hốc hác lộ ra trước mặt người yêu. Nhất là cô vẫn còn bị ám ảnh về bộ mặt như quỷ của mình! Ra tới đường rồi mà Hà còn khẽ hỏi mẹ mình:
- Má coi trên mặt con có gì bất thường không?
Bà Lệ cười tươi:
- Còn đủ sức hớp hồn thằng Tuấn được mà!
Vuốt mái tóc giả của con, bà lại khen:
- Nó còn mượt mà hơn là tóc cũ của con nữa!
Họ sang nhà Tuấn, trong lúc anh chàng đi ra chợ chưa về thì bà Sương, mẹ Tuấn đã kể liền câu chuyện mà lúc đó vẫn còn chưa lấy lại bình tĩnh:
- Tối qua nhà này có ma chị ơi!
Bà Lệ ngạc nhiên:
- Ma thế nào?
- Thằng Tuấn gặp ma mới kỳ lạ chứ! Tôi đang ngủ nửa đêm thì nghe nó la hoảng lên. Khi tôi chạy qua gọi nó dậy thì nó chỉ tay ra phía cửa sổ vừa la lớn, tôi hỏi nó thấy gì, nó nói có cô nào đó cứ đòi nó phải đi với cô ta!
Rồi bà hạ thấp giọng:
- Nghe thằng Tuấn kể thì cô gái đó có mái tóc dài, nhưng gương mặt khi thì đẹp như tiên nga, lúc lại như quỷ dạ xoa. Từ sáng tới giờ nó vẫn còn chưa hoàn hồn, nên phải đi bác sĩ lấy thuốc uống giờ vẫn chưa về!
Vừa nghe tới đó bỗng Ngọc Hà hơi run, cô hỏi lại:
- Anh Tuấn thấy ác mộng đó lúc mấy giờ?
- Quá nửa đêm, hình như là hơn ba giờ sáng gì đó...
Bà Lệ chợt kêu lên:
- Đúng giờ đó!
Bà Sương ngạc nhiên:
- Chị nói đúng giờ là sao?
Ngọc Hà buột miệng nói thay mẹ:
- Giờ đó con cũng gặp chuyện lạ!
Bà Sương vừa nhìn sang Hà định hỏi thì lúc ấy Tuấn từ ngoài bước vào.
Anh chàng khựng lại ngay và nhìn trân trối vào Ngọc Hà, với vẻ bàng hoàng:
- Chẳng lẽ lại là... em?
Mọi người chưng hửng, trong lúc Hà kinh ngạc:
- Anh... nói em?
Tuấn không rời mắt khỏi Hà, anh lắp bắp:
- Đúng... đúng là...
Rồi anh vùng la to:
- Chính là em...
Rồi anh bước tới gần hơn, chụp lấy vai Hà lắc mạnh:
- Em vào phòng anh đêm qua phải không?
Lúc này bà Lệ không nhịn được, bà la lên:
- Nè, nó là con gái tôi, không cho phép ai nói xấu nó! Cậu nhìn thấy quỷ ma gì là chuyện của cậu, chứ còn con gái tôi suốt đêm qua ở nhà với tôi, và mới qua đây nãy giờ!
Bà Sương cũng chen vào:
- Con đừng trông gà hóa cuốc. Hãy bình tĩnh lại con...
Tuấn vẫn nhìn Hà như nhìn một người lạ, phải mất một lúc anh mới kéo ghế ngồi xuống và bình tâm lại:
- Con xin lỗi má, xin lỗi Hà. Chỉ vì đêm qua là một cơn ác mộng mà lần đầu con gặp phải?
Rồi Tuấn quay sang nhẹ giọng với Hà:
- Nửa đêm tự dưng anh có cảm giác như có người gọi tên mình, khi anh mở mắt ra thì thấy một dáng người giống hệt như em đang đứng ngay cửa sổ. Anh vừa định cất tiếng gọi thì bỗng người ấy quay lại nhìn, và anh... muốn đứng tim bởi bộ mặt quỷ của cô ta! Anh chưa từng nhìn thấy một gương mặt như vậy nên nhất thời gần như á khẩu không kêu lên được tiếng nào. Cho đến khi anh lấy lại thần hồn, vừa tính mở miệng ra kêu thì chợt người ấy nhìn anh cười và... gương mặt lại trở nên hiền hòa, đẹp như một thiên thần! Có lúc cô ta đẹp y như em, lại có nét của em...
Tuấn siết chặt tay Hà:
- Cho anh xin lỗi.
Ngọc Hà vụt nói:
- Em cũng thấy gần giống như anh vậy! Cũng một bộ mặt như quỷ...
Cô kể lại đầu đuôi câu chuyện. Vừa nghe xong, bà Sương kêu lên:
- Như vậy là cả hai đứa đều thấy một lượt!
Bà Lệ cũng nói:
- Chính mắt tôi cũng nhìn thấy đúng như vậy.
Tuấn kể lại chuyện mình đi khám thầy thuốc:
- Ông bác sĩ này giỏi lắm, chuyên trị bệnh tâm thần. Sau khi nghe anh kể, ông ấy bắt mạch, rồi khi nhìn vào mắt anh, ông nói rằng anh đang bị một cái gì đó ám!
Ngọc Hà ngạc nhiên:
- Bác sĩ tây y đâu có tin chuyện quỷ ma, sao có chuyện quỷ ám ở đây?
- Ông bác sĩ này còn kiêm luôn nghiên cứu về tâm linh học, nên ông nói không thể bỏ qua yếu tố duy tâm này. Ông ấy còn dặn anh nếu có người yêu thì nên dẫn tới để ông coi sắc diện, ông có thể kết hợp tây y và tâm linh để tìm ra manh mối chuyện kỳ lạ này.
Ngọc Hà tuy lo ngại, nhưng cô vẫn muốn được nghe chính ông bác sĩ nói, nên cô nói nhỏ với Tuấn:
- Lát nữa nếu được thì anh dẫn em tới đó với!
Tuấn biết nếu đồng ý thì sẽ gặp sự phản đối của hai bà mẹ, nên anh chỉ ngầm nhận lời với Hà. Lát sau khi xong giờ cơm, anh tìm cách rủ Hà ra ngoài:
- Má cho phép con dẫn Hà đi coi mấy thứ nữ trang một chút.
Hai bà mẹ ưng thuận ngay và còn dặn:
- Đi đâu cũng được, miễn là nhớ về trước trời tối để còn về bên nhà cho kịp.
Vị bác sĩ tiếp Hà với sự có mặt của Tuấn. Khi bắt mạch xong, ông bảo Hà nhìn vào mắt ông và bất chợt ông kêu lên:
- Nhãn quan cô còn đáng lo ngại hơn cậu Tuấn nữa!
- Đây là vợ sắp cưới của con, bác sĩ xem kỹ giùm con!
- Mạch không ổn định, nhưng đáng ngại hơn là ánh mắt thiếu thần, như vừa trải qua một chuyện gì đó dữ lắm! Cô nói thật lòng, cô vừa bị gì?
Hà không giấu:
- Dạ, đêm qua con cũng thấy ác mộng như anh Tuấn. Chỉ có điều hình ảnh quỷ quái lại ở chính... gương mặt con.
Vị bác sĩ trầm ngâm một lúc rồi giở một quyển sách bằng tiếng Pháp, lật ra một đoạn được ông đánh dấu bằng bút đỏ, ông nói:
- Trường hợp của cô cậu gần giống với trong này, ở châu Âu đã từng xảy ra những hiện tượng như vậy, người ta gọi đó là bị ma ám, mà dân ta gọi nôm na là ma nhập!
Tuấn hỏi:
- Nhưng sao ma lại nhập cùng lúc cả hai chúng tôi?
- Không có gì lạ cả. Khi một cái vong hiện về thì nó tìm đúng cái mà ta gọi là vía hạp với nó nhất để cho vía đó thấy. Vong hồn không phải là vật thể hiện hữu, nên việc cùng lúc cho cả hai người ở hai nơi xa cách nhau nhìn thấy là điều có thể xảy ra. Giữa vong hồn và vía người sống giao lưu với nhau qua thế giới tâm linh chứ không phải hiện thực!
Ông trấn an:
- Tuy nhiên cô cậu cũng chớ quá lo lắng. Sẽ không có việc gì nữa, miễn là đừng nghĩ về nó nữa.
Thật ra trong đầu của hai người có nghĩ gì về ai đó đang làm cho họ bị ám ảnh đâu? Thậm chí Ngọc Hà còn chưa hiểu tại sao mình bị như vậy? Cô dò hỏi Tuấn:
- Anh có gặp hay bị ám ảnh gì về cô gái nào đó không?
Tuấn lắc đầu rất dứt khoát:
- Không hề có!
Họ trở về nhà thì trời hơi tối, bà Sương bàn:
- Tối rồi, mà đường từ đây về bên nhà cũng khó đi, hay là chị sui với Ngọc Hà cứ ở lại ngủ rồi sáng mai thằng Tuấn nó đưa về sớm.
Bà Lệ muốn đồng ý, nhưng Hà lại tỏ ra bồn chồn:
- Có lẽ con xin phép về. Đây về bên đó cũng không xa, chỉ đi chừng nửa tiếng là tới, mà trời cũng chưa tối lắm. Con xin phép.
Thấy vậy, bà Lệ cũng nói:
- Thôi, để mẹ con tôi về. Sáng mai con Hà còn phải đi đo áo cưới nữa. Chỉ còn một tuần nữa thôi chứ mấy!
Bà Sương bảo Tuấn:
- Vậy con lấy ghe chạy theo, đưa chị sui và Hà về. Con kêu đứa nào đó cùng đi, để lượt về nó chèo cho con.
Tuấn cười:
- Con đi một mình được chứ bộ. Đưa vợ về mà cũng cần vệ sĩ nữa sao má!
Lúc qua, mẹ con bà Lệ đi bằng xe lôi, bây giờ đi bằng ghe an toàn hơn, nên bà nói với Tuấn:
- Con chèo chậm thôi, lâu lắm má không đi ghe nên muốn nhìn sông nước một chút.
Tuấn chỉ cái máy đuôi tôm:
- Ghe chạy bằng máy, nhưng con sẽ chạy chậm để má đủ thời gian ngắm cảnh.
Ngọc Hà chen vào:
- Chỉ má ngắm thôi, còn vợ bỏ đâu?
- Ừ, thì vợ cũng ngắm. Vợ lo ngắm cảnh mà quên cả chồng phải lái ghe!
Thấy hai đứa đùa vui với nhau bà Lệ hài lòng, bà nhìn chúng với ánh mắt yêu thương. Nhờ vậy suốt quãng đường năm cây số qua mau. Đến nơi, bà bảo Tuấn:
- Con lên nhà uống nước, nghỉ một lát rồi hãy về.
Tuấn vội nói:
- Con phải về kẻo má con trông.
Anh đưa bà mẹ vợ lên tận nhà, sau đó mới quay xuống ghe đi về. Lúc sửa soạn lui ghe, anh ngạc nhiên khi không thấy Ngọc Hà ra tiễn. Nghĩ có lẽ cô nàng bận việc gì đó nên sau mấy giây tần ngần, Tuấn lui ghe ra giữa dòng, nổ máy chạy nhanh vì trời đã bắt đầu tối.
Gió hơi mạnh nên Tuấn cho ghe chạy cặp sát bờ, mặt trời vừa khuất sau ngọn tre nên Tuấn phải căng mắt ra mà chạy, không để ý đến một vật đang cử động nhè nhẹ ở phía giữa ghe. Cho đến khi một chuỗi cười khúc khích vang lên khiến cho Tuấn giật mình:
- Ủa, ai vậy?
- Mỹ nhân đây! Cho thiếp quá giang một đoạn, thiếp bị lạnh!
Tuấn định tắt máy cho ghe ngừng lại thì đã bị giọng cô gái ra lệnh:
- Đang chạy nước ngược mà tắt máy cho ghe trôi sao! Cứ chạy đi!
Lúc này giọng nói nghe đã rõ ràng hơn, Tuấn kêu lên:
- Hà! Sao em lại ở đây? Hồi nãy anh thấy em lên rồi, và sau đó anh tìm để từ giã về mà không thấy...
Nàng lại cười khúc khích:
- Người ta trốn dưới ghe mà không biết, chắc là tưởng người đẹp nào khác phải không?
- Trời tối rồi để cho anh về, làm thế này anh phải đưa em trở lại chắc tới khuya mới về tới nhà quá!
Nàng nũng nịu:
- Muốn đuổi người ta lên phải hôn? Được người ta nhảy xuống lội vào bờ cho coi!
Tuấn hốt hoảng:
- Đừng! Để anh quay ghe lại.
Ngọc Hà lúc này mới nói nghiêm túc:
- Không cần đâu, em đã xin phép má rồi, em có việc cần ở ngoài chợ tối nay nên em phải ra đó, rồi sáng mai đi đo áo cưới luôn!
- Ủa, lúc nãy anh đâu có nghe má cho phép như vậy?
Hà nheo mắt:
- Em chỉ cần rỉ tai là má chịu liền! Nhất là khi có anh đi cùng...
- Nhưng... anh còn phải về nhà mà. Đâu có theo em ra chợ được. Mà anh cũng đâu có nghe em nói có nhà quen ngoài chợ bao giờ đâu?
Giọng của Tuấn đầy vẻ hoài nghi, đáng lý Hà phải giải thích, đằng này cô lại cố nói:
- Đâu phải người quen nào cũng phải nói ra hết. Anh không tin em có nhà quen ngoài chợ phải không? Nếu vậy... anh có dám cùng với em tới đó ở qua đêm không?
Tuấn đâu ngờ cô vợ sắp cưới của mình ăn nói bạo miệng như vậy, nên trố mắt ngạc nhiên:
- Em nói gì vậy Hà?
- Thì em nói điều em đang nghĩ trong đầu. Anh không chịu thì thôi, em sẽ đi một mình!
Hà giận dỗi bò ra mũi ghe ngồi một mình. Tuấn không thể bỏ tay lái ghe nên đành phải xuống nước:
- Thôi, anh chịu. Để lát nữa anh ghé nhà báo cho má biết, rồi cùng đi với em.
Hà vẫn còn giận:
- Không cần đâu! Nếu về nhà báo thì đời nào bà già cho anh đi, và như thế em sẽ biến thành đứa con gái hư hỏng bỏ nhà đi qua đêm với trai!
- Nhưng... anh là chồng sắp cưới của em chứ phải trai nào đâu!
Tuy có ngạc nhiên về thái độ, cách ăn nói bạo miệng hơn thường khi, nhưng sợ nàng giận, nên cuối cùng Tuấn cũng chấp nhận cùng đi với Ngọc Hà.
Họ gửi ghe ở một nơi tại bến chợ, rồi dắt nhau tới một phòng trọ...
***
Sáng ra khi tỉnh giấc, Tuấn ngơ ngác tìm quanh thì không thấy Ngọc Hà. Anh gọi liền mấy tiếng không nghe trả lời nên vội chạy ra ngoài tìm. Lúc đó người chủ nhà trọ ngạc nhiên hỏi Tuấn:
- Tối qua cậu làm gì uống say dữ vậy?
Tuấn ngơ ngác:
- Tôi say hồi nào? Sáng nay ông có thấy cô gái đi chung với tôi không?
Đến lượt ông chủ ngạc nhiên:
- Cô nào?
- Thì cô đi với tôi tối qua?
- Làm gì có ai. Chính tôi đã tìm thấy cậu say bí tỉ nằm ở trước cửa nhà trọ này. Tôi đã phải vất vả lắm mới kéo cậu vào phòng được, rồi cậu nghỉ mê man tới giờ này...
Nghĩ tới sự an nguy của Hà, Tuấn hốt hoảng:
- Chẳng biết nàng ra sao rồi? Rõ ràng lúc tới đây tôi với nàng cùng đi, nàng mặc bộ quần áo màu xanh, giống như màu tấm màn cửa kia kìa!
Anh đưa tay chỉ thì ông chủ trọ lắc đầu:
- Tôi đã nói là cậu tới đây chỉ một mình, nằm say khướt ở ngoài kia kìa.
Tuấn chạy trở vào phòng, anh chợt nhìn thấy nguyên một đầu tóc giả còn nằm trên giường thì cầm lên xem và la lớn:
- Tóc của Hà đây mà!
Anh cầm chạy trở ra và hỏi với giọng đầy kích động:
- Anh đã làm gì vợ tôi?
Lão chủ nhà ngơ ngác:
- Làm gì là sao? Tóc này của ai vậy?
Tuấn hét lớn:
- Mấy người làm gì vợ tôi mà cắt nguyên đầu tóc của cô ấy bỏ lại đây? Mấy người giết cô ấy rồi phải không?
Thấy Tuấn lồng lộn, ông chủ điềm tĩnh nói:
- Cậu không nên nóng nảy nói bừa như vậy! Tôi nghĩ là cậu nên về nhà tìm lại xem, có thể bây giờ vợ cậu cũng đang tìm cậu đó!
Tuấn quên cả cám ơn ông ta, vội chạy bay về nhà. Bà Sương nhìn thấy con về thì mừng lắm:
- Trời ơi, con đi đâu mà suốt đêm rồi má kiếm khắp nơi? Cứ tưởng con chạy ghe bị tai nạn, nên má cho người qua bên nhà con Ngọc Hà tìm, thì bên nó cũng ngạc nhiên nói con đã về đây ngay từ chiều tối!
Tuấn hỏi liền:
- Ngọc Hà đang ở đâu?
Bà Sương chỉ tay ra ngoài nói:
- Kìa, má con nó qua tới kìa!
Tuấn nhìn ra thì thấy Ngọc Hà đang tất tả đi bên mẹ bước vào nhà. Anh hỏi lớn:
- Từ đêm đến giờ em đi đâu?
Hà ngơ ngác:
- Em ở nhà với má chứ đi đâu?
Tuấn gay gắt:
- Sao em bỏ anh mà không nói lời nào hết, làm sáng ra anh lo hết sức!
Bà Lệ phải chen vào, lên tiếng:
- Con nói cái gì vậy, Ngọc Hà nó ở nhà, ngủ với má từ lúc con chèo ghe về tới sáng. Khi nãy nghe tin con mất tích nó còn giục má qua đây gấp, mà bây giờ con ăn nói gì vậy?
Tuấn vẫn quả quyết:
- Tối qua Hà xuống ghe với con, bảo phải ra chợ ngủ để sáng đi đo áo cưới, con sợ Hà ở một mình nên mới đi theo...
Hà kêu lên:
- Anh Tuấn điên rồi má ơi! Má coi anh ấy ăn nói như người cõi trên vậy.
Bà Sương cũng nói:
- Hồi sáng mấy đứa nó qua nhà báo tin thì còn thấy Ngọc Hà ở bên nhà, con nói gì vậy?
Tuấn sững sờ hết nhìn Hà rồi nhìn lại mình. Bà Sương bắt đầu hoảng:
- Từ hôm qua tới nay con toàn làm cho má sợ, sao vậy Tuấn? Trong đầu con có chuyện gì không?
Tuấn ngồi bệt xuống sàn nhà, thẫn thờ như người mất hồn. Trong lúc giọng bà Lệ vẫn đều đều:
- Đêm qua tôi sợ nên không cho con Hà ngủ một mình, mà cũng may, nhờ vậy mà chuyện thằng Tuấn nói tôi không nghi ngờ con gái tôi được. Tôi nghĩ, cần phải đưa nó đi khám bệnh lại, không chừng có gì đó không bình thường!
Ngọc Hà bước tới bên Tuấn, nhẹ giọng nói:
- Chắc là có chuyện gì đó, anh hãy bình tĩnh nhớ lại xem.
Tuấn hỏi lại:
- Có đúng là không phải em không?
Hà phải khéo léo lắm mới khơi cho Tuấn kể lại đầu đuôi. Khi anh bảo là còn có cái đầu tóc giả ở chỗ nhà trọ thì Hà giật mình:
- Đầu tóc đó ra sao?
Cô đưa tay lên sờ tóc mình rồi ái ngại bước lùi một chút, sợ Tuấn sờ lên đầu. Tuấn vụt nói:
- Để anh đi lấy cái đầu tóc của em về!
Bà Sương liền nói:
- Tóc nó còn đây mà con nói gì vậy?
Tuấn khựng lại, nhưng anh vẫn lẩm bẩm:
- Rõ ràng mình thấy...
Hà bỗng nói:
- Cho em đi tìm chỗ đó với!
Cả hai bà mẹ đều không cho, nên cuối cùng chỉ một mình Tuấn gọi xe lôi đi. Lát sau trở về, trên mặt của Tuấn còn nguyên nét thất vọng:
- Không có...
Hà hỏi:
- Anh nói không có là sao?
Tuấn bực dọc kể:
- Rõ ràng lúc nãy anh cầm cái đầu tóc giả ấy trên tay, xem rất kỹ, vậy mà khi trở lại thì chẳng thấy đâu! Lão chủ nhà trọ cũng phủ nhận, nói là không thấy gì.
Cứ nghe Tuấn nhắc tới tóc giả là Ngọc Hà cảm thấy như mình bị soi mói, cô quay mặt đi, cố tránh ánh mắt nhìn của mọi người. Nhưng thật ra lúc ấy họ nào để ý đến cô...
Bà Sương bảo con:
- Con đừng làm má sợ nữa, hãy đi nghỉ đi!
Khi ra về, chính Hà đã bất ngờ nói với mẹ:
- Anh Tuấn gặp chuyện gì đó thật, chứ không phải anh ấy bịa chuyện đâu.
Bà Lệ thắc mắc:
- Nhưng là chuyện gì? Má thấy thằng này càng lúc càng giống như người cõi trên chứ không phải bình thường. Có khi nào nó bị... ma nhập không? Hay là... nó đi chơi với gái rồi sợ nên bịa chuyện?
Hà lắc đầu:
- Con không tin như vậy. Con nghĩ...
Thấy con gái cứ ngập ngừng hoài, bà Lệ buột miệng:
- Hay tụi bay có điều gì giấu tao?
- Làm gì có, má...
Hà cứ thẫn thờ mãi về chuyện của Tuấn. Những lời nói của vị bác sĩ hôm qua khiến cho Hà càng suy nghĩ nhiều hơn. Cô liên tưởng mọi chuyện xảy ra từ mấy hôm nay, cuối cùng cô nói với mẹ:
- Con muốn hoãn đám cưới!
Bà Lệ sửng sốt nhìn con:
- Con điên rồi hay sao vậy?
Hà nói thật:
- Chính con cũng có cảm giác kỳ lắm... nhất là mỗi khi con nhớ tới chuyện cái mặt quỷ của con đêm hôm trước. Hình như...
Cô sờ lên tóc của mình, lúc đó bà Lệ mới chợt nhớ tới chuyện cái đầu tóc giả mà Tuấn nói:
- Cái đầu tóc mà nó nói là sao má không hiểu? Chẳng lẽ cũng có người xài tóc giả y như con hay sao? Hay là... nó nghi ngờ gì về con?
Hà lắc đầu:
- Không phải vậy đâu. Con nghĩ là Tuấn gặp ai đó thật. Thí dụ như gặp một cô gái giống y như con chẳng hạn...
Bà Lệ la lên:
- Nó gặp ma sao chứ?
Hà hạ thấp giọng:
- Cũng không chừng...
Bà Lệ rùng mình:
- Con đừng nói làm má sợ! Mà sao con biết?
- Má không nghe anh ấy kể rành rọt đó sao? Không phải ma thì làm sao có một người giống con như đúc xuất hiện trên ghe khi con còn ở nhà với má?
Bà Lệ gật đầu:
- Ờ há, hồi nãy nó kể chuyện mà vì mải mê lo hỏi nó chuyện khác nên mình quên không nghĩ đó là ma. Đúng rồi, chỉ có ma mới như vậy!
Hà trầm ngâm một lúc, bất chợt cô bảo mẹ:
- Con phải đi gặp dì Dung thôi!
Bà Lệ ngạc nhiên:
- Dì Dung con thì dính gì tới chuyện này?
Hà chỉ lên tóc mình rồi nói:
- Chính dì ấy cho con mái tóc giả này!
- Nhưng... đó chỉ là tóc, nó có gì liên quan đâu?
- Có! Con nghĩ ra rồi, kể từ khi con mang tóc này tới nay đã xảy ra bao nhiêu chuyện rồi.
Hà quay sang người đạp xe lôi:
- Anh cho xe chạy về ấp 4, chỗ nhà máy xay lúa Hiệp Thành.
Bà Lệ hoang mang lắm, nhưng vẫn đi theo con gái..


Phần 2


Dì Dung lắng nghe kỹ những lời kể của Hà. Nghe xong, bà mất hẳn sự tự tin như thường lệ, và chợt kêu lên:
- Vậy là đúng rồi!
Bà Lệ ngạc nhiên:
- Dì nói đúng chuyện gì?
Quay sang Hà, dì nói mà giọng còn hơi run:
- Đêm qua và mấy đêm trước, đêm nào dì cũng chiêm bao thấy có một đứa con gái với cái đầu trọc lóc, cứ gào khóc, đòi dì phải trả lại tóc cho nó!
Ngọc Hà tái mặt:
- Tóc gì?
- Dì cũng đâu có biết. Chỉ thấy con nhỏ đẹp lắm, nhưng da mặt xanh xao, cái đầu không có tóc lại nham nhở còn hơn cái đầu con bữa trước! Lần nào trong mơ nó cũng khóc và đòi lại tóc, mà dì đâu nhớ ra có thể là mớ tóc mà dì đã cho con!
- Sao bữa trước dì nói đây là tóc mua từ tiệm, có giấy chứng nhận?
- Thì đó, dì đã cho con coi giấy chứng nhận hẳn hoi. Mà cái này là của ông hiệu trưởng trường Tây cho dì...
Nói tới đây, bỗng bà kêu lên:
- Đúng rồi, ông ta!
- Dì nói ông nào?
- Ông Henri, hiệu trưởng...
- Người cho dì mớ tóc?
Dì Dung hơi ngại khi nói ra:
- Ông ấy nghỉ hưu lâu rồi, hiện sống ở Sài Gòn... Vừa rồi dì nghe tin ông ấy bị tố cáo một chuyện động trời lắm, dì không tin, nhưng người ta lại quả quyết chuyện ấy có thật!
Hà tò mò:
- Chuyện gì vậy dì?
- Cưỡng bức một cô gái nhỏ hơn ông ta trên mười tuổi!
Cả bà Lệ và Ngọc Hà đều kêu lên:
- Trời ơi!
Hà còn hỏi:
- Mới đây hả dì?
Bà Dung lắc đầu:
- Chuyện cũ chứ không phải mới đây. Chuyện hồi ông ấy còn làm hiệu trưởng. Nghe nói cô gái là một nữ sinh lớp lớn...
Bà Lệ tắc lưỡi:
- Mấy ông Tây già thường sinh tật lắm!
Dì Dung kể thêm:
- Mà không chỉ cưỡng hiếp thôi đâu. Ông ta còn nhẫn tâm đẩy cô gái ấy vào chỗ quẫn trí rồi đi tìm cái chết nữa!
Ngọc Hà không thể ngồi yên:
- Có chuyện đó nữa sao dì?
Dì Dung nhìn Hà, bà hơi mất tự tin:
- Nghe câu chuyện đó dì lo. Nhất là mớ tóc này...
Hà ngơ ngác:
- Dì nói mớ tóc của con?
- Ừ... dì sợ e...
Bà quay sang bà Lệ:
- Chị không dời đám cưới lại ít tháng được sao? Thí dụ như mình nại lý do con Hà phải né ngày tháng kỵ của ông bà gì đó... Đợi cho tóc nó mọc dài dài một chút... Chứ chị tưởng tượng xem, lỡ trong đêm tân hôn mà thằng chồng con Hà phát hiện vợ mình đội tóc giả thì biết ăn nói ra sao?
Hà không lo chuyện đó bằng chuyện của ông hiệu trưởng trường Tây. Cô hỏi tới:
- Dì biết nhà ông ấy không?
- Chi vậy con?
- Tự dưng con muốn tìm hiểu chuyện ông ấy bị tố cáo!
Bà Lệ rầy:
- Con lo chuyện bao đồng chi cho mệt. Ông ta làm gì thì mặc ông ấy, hơi sức đâu...
Hà không cãi mẹ, nhưng cô vẫn không thôi suy nghĩ về chuyện ấy. Mãi cho tới chiều hôm đó khi đã trở về nhà rồi mà Hà vẫn còn thắc mắc, cô hỏi mẹ:
- Mấy người bị chết oan nghe nói linh lắm phải không má?
- Thì đã chết oan mà, hồn phách đâu siêu thoát được nên linh hiển thôi.
- Như nạn nhân của ông đốc Tây đó có phải là oan hồn không?
Sợ con hỏi linh tinh nên bà Lệ gạt ngang:
- Con quan tâm đến chuyện ấy làm gì?
Bà giục Hà đi ngủ sớm, cô nghe lời. Nhưng đến sáng hôm sau thì Hà biến mất!
Bà Lệ hốt hoảng chạy đi tìm kiếm khắp nơi. Cuối cùng bà bắt gặp một phong thư của Hà để lại. Đại khái cô báo cho mẹ biết là có việc phải đi Sài Gòn gấp, xin bà cứ yên tâm, đừng đi tìm và lo lắng!
Đã biết như vậy rồi, nhưng bà Lệ vẫn như ngồi trên lửa. Bà linh tính chuyện này ắt có liên quan tới vụ ông đốc Tây.
Cuối cùng vẫn không yên tâm. Bà Lệ tức tốc đi tìm con.
Rủ cả dì Dung cùng đi, bởi bà Lệ nghi Ngọc Hà sẽ tới chỗ ông đốc Tây nghỉ hưu. Và quả đúng như vậy. Khi hai bà tới nơi thì gặp lúc Hà đang tiếp xúc với chị người làm của ông Henri. Bà Tám Ni, một người giúp việc trung thực, rất bức xúc chuyện đó. Bà kể lại mà giọng vẫn còn bị kích động:
- Chuyện xảy ra đã lâu rồi, ai cũng tưởng nó đã chìm vào quên lãng, bỗng gần đây nó lại sống dậy và khiến cho ông Tây ăn ngủ không yên. Mà chính tôi cũng tận mắt...
Bà hạ thấp giọng như sợ có người nghe:
- Cách đây không lâu, tôi còn nhìn thấy một cô gái có cái đầu trọc lóc đứng giữa nhà gào khóc! Nhìn kỹ lại tôi nhận ra chính là... nó.
Hà hỏi lại:
- Nó là ai?
- Là đứa con gái, cô ấy là nạn nhân! Cô này là cô thư ký riêng của ông Henri. Ngày đó tôi còn nhớ, cô ấy đẹp lắm và cũng hiền lắm... Bỗng một hôm tôi nghe tin cô ấy mất tích. Ban đầu tôi cứ nghĩ cô ấy yêu ai đó rồi bỏ nhà đi xây tổ ấm. Nhưng hai tháng sau thì một tin động trời đã nổ ra: Cô thư ký Mỹ Dung đó được phát hiện treo cổ chết phía sau ngôi chùa lớn gần nhà ông Henri! Mà chết trong tình trạng thương tâm lắm, ngoài nhan sắc tiều tụy ra, cô ấy còn có cái đầu nhẵn thín, không còn sợi tóc nào!
Bà Lệ ngơ ngác:
- Sao vậy?
Ngọc Hà cũng sững sờ:
- Ai đã làm gì cô ấy?
Tám Ni nói như sắp khóc:
- Cô ấy đã xuống tóc xin quy y cửa Phật trước khi chết.
Hà bị sốc dữ dội:
- Trời ơi, đã quy y rồi sao còn tìm cái chết!
- Đó là điều Làm cho ông Henri hối hận và đau khổ vô cùng!
Hà buột miệng:
- Phải chăng ông ta biết trước sự việc mà không ngăn cản được?
Tám Ni gật đầu:
- Cô nói đúng. Khi sự việc về mối quan hệ giữa ông ấy và cô Mỹ Dung xảy ra, chính ông ấy đã dàn xếp để cô ấy bỏ việc, lánh đi. Họ thuê một căn nhà để ở và dự tính chờ sau khi ông Henri làm thủ tục ly dị xong với bà vợ đầm xong sẽ chính thức cưới cô Mỹ Dung, thì đùng một cái, chẳng biết có ai tiết lộ, nên bà vợ già của ông Henri đã tìm tới tận nơi và quậy tung lên, làm nhục cô Mỹ Dung, đến nỗi cô ấy phải chạy vào chùa xin tá túc. Rồi đêm hôm đó sau khi xin quy y, cạo mái tóc dài quá lưng của mình, gói nó lại, nhờ nhà chùa gửi lại cho người yêu và sau đó cô lẻn ra ngoài phía sau chùa treo cổ tự tử!
Ngọc Hà bỗng kêu lên:
- Mái tóc này!
Rồi cô quay sang dì Dung:
- Dì nói chính ông Henri đã tặng cho dì đầu tóc này?
Dì Dung gật đầu:
- Đúng vậy. Nhưng ông ấy nói là mua ở một tiệm lớn...
Tám Ni ngạc nhiên:
- Tóc gì?
Hà vuốt lên tóc của mình và nói:
- Tóc tôi đang mang!
Nhìn kỹ rồi chị ta kêu lên:
- Đúng rồi! Hồi trước cô Mỹ Dung có mái tóc giống y như thế này!
Rồi chị tiết lộ:
- Tôi nhớ ra rồi, hồi đó có một hôm ông Henri nhờ tôi đem số tóc dài của cô Mỹ Dung ra một tiệm uốn tóc nhờ họ kết lại, rồi cho vào hộp, ông ấy nói để dành kỷ niệm...
Hà nói mà cảm giác lạnh cả người:
- Đúng rồi!
Cô nhìn sang dì Dung, run run giọng:
- Làm sao bây giờ hả dì?
Bà Lệ cũng lo sợ:
- Phải mau lột đầu tóc ra đi!
Lúc này Tám Ni mới rõ mọi việc, chị nói:
- Cô đây nếu sợ thì tôi có cách. Ở tiệm uốn tóc gần đây họ có nhiều kiểu tóc giả khác, chi bằng cô tới đó để họ thay, lấy đầu tóc này trả lại cho ông Henri.
Dì Dung cũng đồng tình:
- Hay là con làm vậy đi Hà...
Ngọc Hà đi với Tám Ni tới tiệm uốn tóc, và thật bất ngờ, người chủ tiệm khi vừa thấy Hà bước vào đã nói liền:
- Có người tới đây nhắn cô Ngọc Hà, rằng nếu cô muốn trả lại tóc thì hãy về ngay nhà chồng, có người đang đợi cô ở đó!
Hà hỏi lại:
- Người thân tôi là ai vậy?
Người chủ tiệm lấy ra một mảnh giấy nhỏ trên đó có ghi mấy chữ. Hà đọc đủ cho mấy người chung quanh cùng nghe:
- "Mỹ Dung"!
Tám Ni kêu lên sửng sốt:
- Cô ấy đây mà!
Hà lặng người đi trong nỗi sợ hãi...
Tuy nhiên cô vẫn phải thay tóc khác, bởi cô không tài nào dám mang lại mớ tóc dài mà cô rất thích kia.
Tuy vẫn còn muốn ở lại, nhưng nhớ đến lời trong mảnh giấy, Hà giục mẹ đi về.
Hà cùng với mẹ lên xe đò trở về nhà ngay, nhưng xui cho họ, chiếc xe họ đi lại gặp tai nạn, trên xe có đến gần chục người bị thương, trong số đó có Hà và mẹ. Hà lại bị thương ở vùng đầu, nên hôn mê đến hai ngày hai đêm, đến khi tỉnh lại thì cô hoảng sợ vô cùng khi thấy tóc trên đầu mình không còn sợi nào!
- Trời ơi!
Cô y tá chăm sóc cô giải thích:
- Vết thương của cô nặng lắm, nếu không vào kịp bệnh viện thì có thể đã nguy tới tính mạng! Các bác sĩ đã phải làm hết sức mình. Bây giờ thì cô hết nguy hiểm rồi, nhưng phải nằm lại bệnh viện vài tuần để theo dõi.
Hà chợt nhớ tới mẹ, liền hỏi:
- Má tôi đâu?
Cô y tá đáp:
- Bà không sao, nhưng cũng bị gãy chân, đang nằm ở một phòng khác.
Và cô y tá thắc mắc:
- Theo địa chỉ của má cô cho, bệnh viện đã cho người đi đánh điện tín về nhà, vậy mà đã hai ngày rồi chẳng thấy ai lên nuôi bệnh hết! Kể cả nhà bên chồng cô nữa...
Hà hoảng hồn:
- Sao cho bên chồng tôi hay làm gì! Cái đầu tôi...
Cô đưa tay sờ lên tóc, e ngại. Bỗng cô y tá nói:
- Khi điều trị vết thương cần phải cạo tóc để dễ phẫu thuật, lúc ấy tụi này mới biết là cô mang tóc giả. Chính tôi đã gỡ búi tóc của cô, đặt ở đầu giường này, nhưng sáng hôm sau thì chẳng hiểu sao lại biến mất!
Hà sững sờ một lúc lâu, cho đến khi cô y tá hỏi:
- Cô có tính làm lại tóc giả không? Nếu cần thì vừa rồi có người đem vào tặng cho cô một hộp tóc giả, tôi để ở đầu giường kìa...
Chị ta vừa nói vừa lấy chiếc hộp giấy lại. Vừa định mở ra thì Hà đã kêu thét lên:
- Đừng!
Trong hộp chứa một đầu tóc giả mà thoạt trông Hà đã nhận ra ngay, chính là đầu tóc mà cô đã gửi lại cho Tám Ni giao cho ông Henri!
- Sao nó lại ở đây?
Cô y tá nói:
- Tôi nghĩ có lẽ ai đó biết cô mất đầu tóc nên đem cho tóc mới.
- Người mang hộp này tới là ai vậy?
Cô y tá lắc đầu:
- Tôi cũng không biết, chỉ thấy nó nằm sẵn ở phòng trực, trên hộp có ghi nhờ chuyển cho bệnh nhân tên Ngọc Hà ở phòng số 3, nên tôi biết là gửi cho cô.
Hà sợ sệt:
- Chị làm ơn đem nó ra ngoài giùm, tôi không cần!
Chợt cô y tá nhìn thấy một mảnh giấy dưới đáy hộp, cô lấy ra đưa cho Hà, có mấy chữ: "Đừng từ chối, hãy mang nó vào khi xuất viện. Không có tóc sẽ mất luôn chồng!".
Ngọc Hà bàng hoàng, cô lẩm bẩm:
- Ai vậy?
Nhìn kỹ lần nữa thì rõ ràng đúng là tóc mình đã mang thời gian gần đây.
Hà còn đang lưỡng lự thì cô y tá giục:
- Cô nên nhận rồi bỏ vào tủ kia khóa lại, để ngoài coi chừng mất nữa!
Không còn cách nào khác nên Hà đành phải chấp nhận như vậy và một lần nữa cô lại phải canh cánh bên lòng về cái tên Mỹ Dung.
Nằm bệnh viện đến mười ngày mà vẫn không thấy ai bên nhà chồng, kể cả Tuấn lên thăm. Chính bà Lệ cũng ngạc nhiên:
- Má đã nhờ người đi đánh hai lần điện tín rồi mà sao họ vẫn không lên thăm?
Qua ngày thứ mười hai thì má con bà Lệ được xuất viện. Ngọc Hà ở thế bắt buộc nên lại phải đeo bộ tóc giả... của Mỹ Dung. Bà Lệ lo lắng khi nhớ đã qua ngày đám cưới, bà nói:
- Không liên lạc được với nhà chồng con, chẳng biết dưới đó họ tính sao, tự nhiên má thấy lo...
Hà cũng bồn chồn:
- Linh tính cho con hay hình như có chuyện gì đó...
Và điều gì đó đã xảy ra!
Khi họ về tới thì nghe người nhà báo tin:
- Đám cưới đã diễn ra rồi. Anh Tuấn đã lấy vợ, đám cưới đúng ngày quy định mà sao nhà gái mình không có má, chỉ có tụi con được rước qua bên đó cùng với chị Hà. Mà má nữa, sao ngày hôm đó má không về, để chị Hà một mình, chị ấy buồn lắm!
Bà Lệ ngơ ngác:
- Sao có vụ đó? Tao với con Hà bị tai nạn tưởng chết, nằm bệnh viện bữa nay mới về, vậy đám cưới với ai?
Ngọc Liên, em Hà, cũng ngơ ngác:
- Bữa đám cưới con thấy chị Hà mặc bộ đồ cưới lộng lẫy, con nghĩ chắc chỉ đi Sài Gòn mua về, chị Hà còn đưa tay vẫy con nữa, má nói gì kỳ vậy? Bên nhà đó còn nói do má đi đâu không biết mà lâu quá, sợ lỡ việc nên họ cử hành lễ cưới luôn. Khi nào má về sẽ tính sau!
Bà Lệ tức giận quát nên:
- Đồ quân tráo trở, bạc tình! Lợi dụng lúc người ta bị tai nạn lại đi cưới vợ khác!
Nhưng đứa em của Hà lại nói:
- Con thấy đó là chị Hà, chứ có ai khác đâu?
Hà vùng đứng dậy, cô nói giọng nghiêm trọng:
- Vụ này không đơn giản nữa rồi! Nó dính tới việc an nguy của con nữa, má để con đi qua bên đó!
Cô nói xong đi liền, bà Lệ không kịp cản, nên phải giục Ngọc Liên cùng bà đi theo sau. Khi họ qua tới nơi thì thấy nhà sạp che làm đám cưới vẫn còn đó, trong nhà tuy bớt rộn ràng, nhưng vẫn còn đông. Mọi người vừa thấy Hà bước vào đã ngạc nhiên hỏi:
- Ủa, mợ Ba mới đi hưởng tuần trăng mật sao về nhanh vậy?
Ngọc Hà trố mắt:
- Tuần trăng mật của ai?
- Thì của mợ...
Vừa lúc ấy bà Sương bước ra, bà chau mày hỏi:
- Sao con về, còn thằng Tuấn đâu?
Hà vốn đã bực tức về việc Tuấn làm đám cưới mà cô dâu không phải là cô, nên xẵng giọng:
- Má còn hỏi được sao? Tuấn đi đâu hẳn má biết rõ hơn ai hết mà?
Bà Sương ngạc nhiên:
- Kìa, con sao vậy Hà?
Hà xổ ra bao nhiêu uất ức:
- Con không ngờ má là người lớn mà lại xử sự như vậy. Sao chưa hỏi rõ đầu đuôi, trong lúc con vắng nhà có mấy ngày mà má đã đi cưới vợ cho anh Tuấn! Má biết mấy bữa nay con bị tai nạn thập tử nhất sinh, suýt nữa đã không trở về được rồi không!
Bà Sương ngơ ngác:
- Con nói gì má không hiểu? Cái gì mà tai nạn, rồi cái gì là má đi cưới vợ khác cho thằng Tuấn? Vậy chớ đứa nào làm cô dâu rồi cùng thằng Tuấn đi hưởng tuần trăng mật?
Ngọc Liên cùng với mẹ chạy vừa tới, cô lên tiếng liền:
- Chị Hà con nói không phải chị là người trong đám cưới! Chị ấy với má con nằm bệnh viện hơn mười ngày mới về tới đây!
Bà Sương như từ trên trời rơi xuống, bà lắp bắp:
- Chuyện... chuyện đó... có chuyện đó sao?
Rồi bà quay vào nhà hỏi mấy người giúp việc:
- Tụi bay biết thằng Tuấn đưa vợ nó đi đâu không?
Một người nói:
- Dạ, nghe cậu Ba nói đưa mợ Ba đi Sài Gòn ở một tuần! Đây, cậu Ba có để lại địa chỉ, nói đây là nhà quen của mợ Ba.
Hà chụp lấy mảnh giấy ghi địa chỉ, cô hốt hoảng:
- Đường Hai Mươi, má có nhớ ngôi chùa Phước Hòa cũng ở đường này không? Nơi đó... cô Mỹ Dung treo cổ tự tử!
Cả mấy mẹ con đều sững sờ. Sau đó Hà vụt chạy đi trong hoảng loạn, vừa gào lên:
- Không xong rồi, anh Tuấn...
Hà chạy ra bến xe đò...
Cũng may là còn chuyến xe đêm, nên Hà không phải đợi qua sáng hôm sau.
Chuyến xe tốc hành đó đưa Hà trở lại Sài Gòn rất sớm. Vừa tới bến xe, Hà đã gọi chiếc xe kéo về đường Hai Mươi. Sợ không nhớ chỗ, Hà hỏi người phu xe:
- Chú biết chùa Phước Hòa ở đường Hai Mươi không?
Người kéo xe tỏ ra am hiểu:
- Ngôi chùa có cô gái tự tử chứ gì! Ở đây ai mà không biết chùa đó. Nhất là gần đây thiên hạ lại càng biết nó nhiều hơn, bởi cái hồn ma đêm nào cũng hiện ra nhát người qua lại, khiến ai nấy điếng hồn, thót tim luôn.
Hà tò mò:
- Chuyện đó có thật sao chú?
Người kéo xe rùng mình:
- Chuyện ma quỷ đâu phải chuyện giỡn đâu mà nói chơi! Mới hôm qua đây thôi, chính mắt tôi đây khi chở khách ngang qua đó còn nhìn thấy một người đàn ông ăn mặc như một chú rể, chạy từ bên ngoài vào sân chùa, rồi từ đó bò lê ra phía sau chùa, là nơi mà trước đây nghe nói có cô gái treo cổ tự tử! Tôi không dám chạy vào coi, nhưng nghe người ta đồn là hễ đàn ông nào mà chạy vào đó thì coi như đi nạp mạng cho oan hồn con ma thắt cổ ấy! Tội nghiệp cho người đàn ông nào đó...
Hà hốt hoảng:
- Sao chú không giúp cho người ta?
Cô xuống xe trước chùa và đầu óc nghĩ tới Tuấn đang gặp nguy!
Chạy thẳng vào chùa, chẳng nhìn thấy ai, Hà đi luôn ra phía sau chùa. Ở gốc cây cổ thụ, rõ ràng là Tuấn đang quỳ gối một mình!
Hà bước tới, vừa định lên tiếng gọi thì chợt nhìn thấy trước mặt Tuấn, thòng từ cành cây xuống là thi thể của một người nữ. Nhìn kỹ hơn, Hà phát hiện người đang treo lơ lửng kia có cái đầu hầu như không có sợi tóc nào!
Tuấn thì như đang ngây dại, đôi mắt nhìn về phía thi thể kia mà như đang nhìn vào một nơi xa xăm nào đó... Thậm chí anh chẳng hề nghe tiếng bước chân rất gần của Hà. Cho đến khi Hà lên tiếng gọi:
- Anh Tuấn!
Vẫn như pho tượng gỗ, qua hai lần Hà gọi mà Tuấn chẳng có phản ứng gì. Bỗng nhiên anh ngã chúi về phía trước khi Hà gọi lần thứ ba! Tuấn vừa ngã xong thì thi thể kia cũng từ trên cây rơi xuống đất.
Hà chưa kịp có phản ứng gì thì trước mắt cô tối sầm lại, người cô lảo đảo...
***
Một người Pháp già nói tiếng Việt rất trôi chảy, reo lên khi thấy Hà và Tuấn tỉnh lại:
- May quá!
Tuấn ngơ ngác nhìn ông ta, trong khi Hà thì bật ngồi dậy liền:
- Ông là...
Giọng nói quen thuộc của Tám Ni:
- Đây là ông Henri mà lần trước tôi đã kể. Ông ấy được vong hồn cô Mỹ Dung về báo nên kịp tới đây cứu hai cô cậu đó!
Hà nhìn ông ta đang ôm khư khư một cái túi thì nghi ngờ:
- Ông này là thủ phạm gây ra cái chết cho cô Mỹ Dung, thì làm sao hồn ma cô ấy lại để cho ông ấy cứu người được?
Tám Ni chỉ tay vào chiếc túi ông Henri đang ôm bên mình nói:
- Ông ấy đã tới kịp và ôm cái xác của cô Mỹ Dung vào trong túi kia, để cô ấy không còn quấy phá ai nữa!
Chính ông Henri lên tiếng:
- Mỹ Dung là hồn ma, nhưng không phải lúc nào cô ấy cũng ác hay hại người. Bằng chứng là mới rồi, chính cái hồn thiện trong cô ấy đã không để cho anh này bị chết!
Hà gay gắt:
- Nhưng chính cô ta đã giả đóng vai tôi để gạt chồng tôi làm đám cưới với cô ấy và đưa chồng tôi về đây. Nếu tôi tới không kịp thì có phải chồng tôi đã bị cô ấy hại rồi không!
Giọng ông Henri vẫn nhẹ nhàng:
- Đúng là cô ấy có làm việc đó. Nhưng đó là cái hồn ác trong Mỹ Dung đã làm. Còn khi đã dẫn cậu này về đây rồi thì chính cái hồn thiện trong cô đã thắng được mặt ác nhờ vậy mà chồng cô mới thoát được chết, chứ nếu không thì anh ấy sẽ là người phải treo cổ trên cành cây, thay cho cô Mỹ Dung.
Hà nghe lạ, nhưng không thể tin được ngay, cô còn đang tính hỏi lại thì chợt nghe một giọng nói cũng khá quen thuộc vang lên sau lưng:
- Điều đó là đúng hoàn toàn!
Quay lại nhìn, cả hai Hà và Tuấn đều kêu lên:
- Bác sĩ!
Bác sĩ Thuần khoa tâm thần, người đã điều trị cho Tuấn vừa xuất hiện.
Ông hướng về Hà giải thích:
- Cô khó mà tin được lời ông Henri nói, nhưng đó là sự thật. Tôi nghiên cứu sách vở về tâm linh đã có biết những chuyện như ông Henri vừa nói. Trong hồn phách người chết có hai trạng thái, lúc hiện về hay nhập vào ai đó. Có lúc thiện, lúc ác!
Bây giờ Tuấn mới lên tiếng:
- Tôi đã trải qua với cô ấy vào những giai đoạn như vậy! Lúc cô ấy hiện ra trong vai của Ngọc Hà vợ tôi, thì cô ấy rất dịu dàng để tôi tin đó là sự thật. Nhưng đến khi cần khống chế tôi dẫn đi thì cô ấy đanh đá, dữ dằn đến đỗi tôi không dám cãi lời! Như lúc về đây, cô ấy bắt tôi quỳ dưới gốc cổ thụ này và bảo rằng cô ấy phải trả thù, phải tìm ra người phải chết để thế mạng cho cô ấy đi đầu thai! Đến khi vợ tôi xuất hiện thì bỗng dưng hồn ma lại biến đổi thái độ rất nhanh, chuyển sang là một oan hồn yếu đuối, ngã ra đất bất động như một người ở cõi trần!
Ông Henri vuốt nhẹ chiếc túi vải bên mình:
- Nhờ thế mà tôi mới có thể thu hồi hài cốt cô ấy về mai táng lại. Hy vọng từ nay hồn phách cô ấy không còn về quấy phá ai nữa cả.
Ông nói xong đứng lên bắt tay bác sĩ Thuần:
- Cám ơn ông bạn già đã không quản ngại đường xa mà tới đây giúp tôi giải tỏa được gánh nặng này.
Ông ta bước đi xiêu vẹo, ôm cứng chiếc túi như sợ có người giành lấy...
Bác sĩ Thuần chép miệng:
- Tội nghiệp họ! Người ta lên án ông ấy là không công bằng. Thật ra ông ấy yêu cô Mỹ Dung tha thiết, yêu chân thành. Và ngược lại cô ấy cũng yêu ông một cách trong sáng, bằng thứ tình yêu mà mãi đến chết vẫn không nguôi!
Hà chen vào:
- Nhưng chính ông ấy đã khiến cho cô ấy tự tử!
Bác sĩ Thuần lắc đầu:
- Tôi quen ông ta từ lâu, biết rõ mối tình của ông ấy với cô Mỹ Dung. Tôi biết chắc cô Mỹ Dung chết do quá phẫn uất chuyện bị đánh ghen, bị bôi nhọ danh dự nên bồng bột nhất thời mà tìm đến cái chết, chứ thật ra cô ấy vẫn yêu Henri tha thiết, yêu đến bứt không rời, xé không tan! Bằng chứng như chúng ta thấy đó, xác một hồn ma thì làm gì còn, vậy mà vì tình yêu, hồn phách kia đã tích tụ lại còn cho ông lấy được hài cốt kia. Ông ta hy vọng đúng, từ nay hồn phách cô Mỹ Dung sẽ không còn xuất hiện nữa!
Ông quay sang Tuấn và Hà:
- Cô cậu cũng mừng đi, từ nay đã thoát được sự quấy nhiễu rồi. Cô cậu có thể yên ổn mà sống bên nhau.
Tuấn thắc mắc:
- Tôi vẫn chưa hiểu, tại sao giữa chúng tôi và cô ấy chẳng hề có liên quan gì với nhau, thế tại sao hồn cô ấy lại đeo theo quấy phá?
Bác sĩ Thuần nhìn Hà và nói:
- Chính bởi cái đầu tóc giả kia. Tóc này nếu tôi không lầm là của cô Mỹ Dung? Hồn người chết luôn bám theo bất cứ vật gì mà khi chết mình còn để lại dương gian! Đặc biệt là tóc. Bởi tóc có liên quan tới máu của con người. Nó là một phần cơ thể của cô Mỹ Dung khi sống. Nó được cắt ra trước khi cô ấy chết, tức phần sự sống trong tóc đó vẫn còn sống. Đúng hơn là còn cái hồn sống của người đó! Cho nên khi có người khác đeo vào cơ thể họ thì sự giao thoa giữa người sống và người chết lập tức được theo nhau. Có thể gọi đây là hồn của tóc đã giúp cho Mỹ Dung bám theo cô Hà này, và từ cô Hà đã dính đến cậu Tuấn!
Những lời ông nói làm cho cả Hà và Tuấn rùng mình! Họ nhìn nhau rồi cùng siết chặt tay nhau, như sợ bị chia cắt lần nữa!
Tám Ni cũng lạnh người khi nói:
- Vậy còn ai dám dùng tóc giả nữa!
Bác sĩ Thuần lắc đầu bảo:
- Không đúng đâu. Trường hợp xảy ra hiện tượng như tôi vừa kể là khi nào người để lại tóc mà bị chết oan, bị bức tử! Chứ người chết bình thường thì có sao đâu.
Trước khi đi khỏi chỗ đó, vị bác sĩ tâm thần vỗ vai Tuấn nói thêm:
- Là một bác sĩ tây y mà nói chuyện tâm linh, hoang đường, không khéo người ta cười cho! Nhưng tôi còn là một nhà tâm linh học. Tôi nghiên cứu và biết nhiều về linh hồn, về thế giới tâm linh...
Ông ta đi lâu rồi mà Tuấn và Hà vẫn còn đứng yên. Lát sau chợt nhớ ra, Tuấn nhẹ giọng bảo vợ:
- Mình về nhà ngay kẻo má ở nhà lo.
Hà nói rất khẽ:
- Lấy vợ ma rồi bây giờ bắt người ta thế vai phải không!
Tuấn ôm chặt Hà vào lòng:
- Còn vợ này tướng tinh còn dữ hơn ma nữa, cho nên hồn ma phải nhường tình yêu lại cho! Bây giờ mời... nương nương!
Họ tay trong tay bước đi mà lòng tràn ngập hạnh phúc. Có lẽ nhờ những gì đã xảy ra mà họ cảm thấy thương yêu nhau hơn...
***
Bà Sương thấy hai con về thì mừng lắm. Có cả bà Lệ và Ngọc Liên ở đó nữa. Họ cùng nói:
- Hai người đi hưởng tuần trăng mật về có khác!
Sau đó, hai bà mẹ dè dặt nói đủ cho Hà và Tuấn nghe:
- Để tránh những rắc rối nữa xảy ra, có lẽ mình phải rước thầy về trừ khử cái vong lâu nay theo quấy phá!
Hà nghiêm giọng nói:
- Không cần đâu má!
Tuấn nói thêm:
- Chẳng những không cần rước thầy bà gì hết, mà trái lại tụi con sẽ lập một cái trang để thờ vong hồn cô ấy. Một con người đáng thương, đáng quý...
Hà cũng đồng tình:
- Con sẽ là người ngày ngày cúng vái cho cô ấy...
Không ai phản đối. Và kể từ hôm ấy, trong phòng riêng của vợ chồng Tuấn có thêm một trang thờ. Họ không có ảnh của Mỹ Dung, nên thay cho ảnh chân dung, Hà đặt lên trang thờ chính lọn tóc mà cô từng mượn một thời gian...
Một năm sau thì Hà sinh đứa con đầu lòng. Vào trước ngày sinh, Hà mơ thấy một cô gái với chiếc đầu trọc, gọi cô và nói:
- Đặt cho đứa con đầu lòng là Mỹ Hạnh, đó là tên đáng lẽ tôi đã có mà chưa kịp.
Thức dậy, Hà nói cho Tuấn nghe, anh gật đầu đồng ý ngay:
- Dẫu sao mình cũng còn nợ cô ấy. Vậy thì nên theo ý cô ấy mà lấy tên Mỹ Hạnh cho đứa bé, nếu nó là con gái.
- Em nghi nó là con gái. Cái bụng nhỏ xíu...
Quả nhiên Hà sinh một bé gái thật xinh. Con bé mang tên Mỹ Hạnh!

Helen 11-07-2012 06:27 AM

TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 37
 
CÁI CHẾT CÔ VŨ NỮ


Ông Phát Sanh gọi người quản gia tới hỏi lại lần nữa:
- Mọi việc chuẩn bị đã xong hết chưa?
Quản gia Bảy Thành tự tin đáp:
- Dạ bẩm ông, xong cả rồi.
- Vụ rước ban nhạc xong chưa?
- Dạ, chuyện rước dàn nhạc và các cô vũ nữ do cậu Hai lo, nhưng con biết chắc là đã xong hết rồi. Bởi lúc sáng cậu Hai gọi điện về nhờ con đưa xe lên đón mấy người đó. Con đã cho thằng Chín Sự đem xe đi, chắc chút nữa là về tới.
Ông Phát Sanh là người làm việc gì cũng cẩn thận, ông dặn lại:
- Tuy mọi việc đã coi như xong, nhưng để chắc ăn, mày coi lại lần nữa rồi có gì báo cho tao liền. Tao không muốn có một sơ suất nhỏ, bởi tối nay có tới gần chục người khách quan trọng, để họ phiền lòng là chẳng những tao mất mặt, mà cả công việc làm ăn của tao cũng tiêu đời luôn!
Chín Sự biết trong số khách mời có ông tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng, biện lý, ông cảnh sát trưởng, người hét ra lửa ở xứ này và nhiều quan chức khác. Ông Phát Sanh làm bữa tiệc mừng thọ cho mình lớn như thế này là có ý đồ, bởi nếu được sự hậu thuẫn của số quan chức kia, thì việc làm ăn của ông sẽ thuận buồm xuôi gió và lợi nhuận không biết cơ man nào mà kể cho hết!
- Thưa ông chủ, có khách muốn gặp ông.
Ông Phát Sanh cau mày:
- Khách nào vậy?
Người làm đáp:
- Dạ, một phụ nữ ăn mặc sang trọng, đi chiếc xe hơi đen đậu ngoài cổng.
Đúng ra ông không tiếp khách vào giờ này, nhưng nghe khách là nữ sang trọng, lại đi xe hơi, nên ông Phát Sanh bảo:
- Mời người ta vào phòng khách.
- Dạ, bà ấy đã đợi sẵn ở phòng khách rồi.
Ông Phát Sanh vừa bước ra phòng khách đã thấy một phụ nữ lạ, phục sức sang trọng, tỏ ra là một quý bà, đang ngồi nhìn ngắm khắp gian phòng.
- Xin lỗi, bà là...
Người phụ nữ vội đứng lên và rất lịch sự cúi chào:
- Kính chào ông chủ Phát Sanh. Xin tự giới thiệu, tôi là Anna Kiều, được ngài chánh án Robert Trần giới thiệu đến. Đại diện cho ông ấy để dự buổi tiệc hôm nay.
- Rất vinh dự cho chúng tôi, vậy xin mời bà ở đây chơi, bởi buổi tiệc đến bảy giờ tối nay mới bắt đầu. Hay là mời bà lên phòng trên lầu nghỉ, nhà có sẵn phòng cho khách.
Người phụ nữ rất tự nhiên:
- Thưa ông chủ Phát Sanh, tôi còn một số công việc phải làm, nên có lẽ tối nay đúng giờ tôi sẽ trở lại. Tuy nhiên, sở dĩ tôi ghé sớm là có một chút việc. Đúng hơn là có một món quà đặc biệt mà ngài chánh án gửi riêng cho ông, dặn phải đích thân tôi giao cho ông. Mong ông nhận cho!
Bà ta nói xong quay đằng sau phất tay ra dấu, người tài xế cùng một người nữa hình như đã đợi sẵn, nên vội khiêng một cái thùng giấy lớn vào.
Ngoài thùng có bao giấy và gắn ru-băng rất đẹp, đúng điệu là một gói quà, chỉ có điều là nó quá to, chẳng khác nào cái tủ lạnh.
Ông Phát Sanh hơi ngạc nhiên, nhưng không tiện hỏi, liền ra lệnh cho gia nhân:
- Bay đâu, nhận quà của bà đây, đem vào trong đợi một lát sẽ khui ra!
Bà ta đưa tay ngăn lại:
- Đây là quà đặc biệt dành riêng cho ông chủ, vậy phải để lúc ông vào phòng riêng và tự tay ông khui ra!
Ông Phát Sanh cười lớn:
- Chà, quà của quan chánh án có khác, nó đầy bí mật!
Bà Anna cười tươi:
- Như vậy mới gọi là quà quý hiếm chứ.
Nói xong, bà ta đứng lên ngay:
- Bây giờ xin kiếu ông chủ, đúng bảy giờ tôi sẽ trở lại.
Bà ta đưa tay ra bắt với vẻ sành điệu khiến ông Phát Sanh cũng phải nể nang. Khi bà ta đi rồi, ông buột miệng:
- Đúng là mẫu phụ nữ có tài giao tế!
- Phải chi ba có được bà đầm như bà này, giao cho bà ấy đi ngoại giao thì nhất trần đời!
Quay lại thấy thằng con cả nhà mình, ông Phát Sanh, điểm mặt anh ta:
- Cái miệng oang oang của mày mà lọt tới tai "bà chằn" má mày thì có mà cháy nhà!
Hai Sung cười tít mắt:
- Con chỉ nói đúng tim đen ba thôi mà! Vả lại, má con chỉ ru rú trong nhà, ba cũng phải kiếm một bà để thay mặt đi ngoại giao chứ!
Ông Phát Sanh nạt anh ta:
- Nín đi mày, thằng khỉ! Phải rồi, nếu gặp mày thì chắc mày quơ hết chứ chẳng chừa!
Hai Sung lại cười hô hố:
- Phải chi bà ta còn trẻ thì con xin ba nhường cho!
Anh ta nói xong thì định biến ra ngoài, ông Phát Sanh phải gọi giật lại:
- Vụ dàn nhạc và đám vũ nữ xong chưa?
- Thằng tài xế đang chở về. Có mấy con nhỏ ác chiến luôn, bảo đảm mấy cha quan chức sẽ híp con mắt, nhểu nước miếng ừng ực cho coi!
- Chừng nào đưa tụi nó về thì bảo tụi nó đưa vào nhà bên kia cho ở tạm, dọn cơm nước cho tụi nó ăn trước, nhớ đừng để cho má mày thấy và biết.
Hai Sung lắc đầu:
- Tiếp khách theo kiểu ba thì làm sao rước được đám này! Trên đường về con đã chiêu đãi cho cả bọn một bữa cơm trưa, hai cữ cà phê thuốc lá, và còn đưa trước cho mỗi đứa một ít để dằn túi nữa! Nếu không tụi nó đâu có chịu, bởi bỏ một đêm ở vũ trường tụi nó mất "sở hụi" biết bao nhiêu.
- Cậu Hai chịu chơi thì ráng móc tiền túi ra mà chi!
Hai Sung nheo mắt cười:
- Sao lại là tiền của con? Việc của ba thì ba phải chịu chứ! Con lấy tạm tiền thu nợ lúa được kha khá, nên con chi cũng bạo tay...
Ông Phát Sanh kêu lên:
- Trời ơi, mày xài hết tiền của tao rồi! Tiền đó...
Hai Sung thản nhiên:
- Thì trước sau gì cũng chi. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn mà!
Nói xong anh ta biến rất nhanh, để lại nỗi ấm ức của ông bố! Thằng con trời đánh này thật ra phá của ông gấp trăm lần hơn số đó, mà từ lâu nay ông nào có nói được. Nói ra thì chính bà vợ ông cũng bảo:
- Thì cha nào con nấy mà.
7 giờ tối...
Các quan khách tới rất đúng giờ. Tiệc được bày ở sân vườn rộng trên nửa mẫu tây của ngôi nhà, đèn đuốc sáng choang, chẳng khác một ngày hội lớn!
Đón xong các quan khách chủ chốt, đáng lý ông Phát Sanh đã yên lòng, nhưng chẳng hiểu sao ông lại bồn chồn, như còn chờ đợi mong ngóng một ai đó... Cuối cùng ông cũng phải buột miệng:
- Sao bà ta chưa tới?
Thì ra ông đang ngóng đợi Anna Kiều!
Chợt quản gia Chín Sự hấp tấp chạy vào đưa ông một tấm danh thiếp:
- Thưa ông, có người gửi ông cái này.
Tấm danh thiếp ở mặt trước có dòng chữ: Anna Kiều - nguyên hoa hậu Sài thành. Còn mặt sau thì đầy chữ:
"Thành thật cáo lỗi cùng ông chủ,
Do có việc đột ngột phải quay về Sài Gòn ngay, nên không dự buổi tiệc của ông được. Xin chúc ông sống thọ trăm tuổi, sức khỏe dồi dào! Cũng xin nhắc ông, nên mở món quà ra ngay thời khắc khai mạc buổi tiệc. Chúc ông hài lòng!
Anna Kiều."
Bị hụt hẫng, ông Phát Sanh vụt đứng dậy, bỏ bàn tiệc đang có các yếu nhân và đi thẳng vào nhà, tự mở cửa phòng riêng và không nhờ một ai vào phụ.
Ông cắt dây buộc bên ngoài cái thùng giấy. Lòng tự dưng hồi hộp...
Cái thùng giấy được mở bung ra. Có tất cả hai lớp thùng, nên ông ta phải cắt hai lần dây thì mới tới lớp trong cùng. Và...
- Trời ơi!
Lão ta bật ngửa ra sau, mồm há hốc và suýt đứng tim! Trước mặt ông ta, nằm gọn trong thùng là... xác chết của một cô gái!
Trong phòng không có ai, nên việc xảy ra chỉ một mình ông ta biết. Mà sự biết lúc ấy cũng chẳng có nghĩa gì, khi chỉ sau tiếng kêu không thành tiếng thì ông chủ Phát Sanh đã không còn biết gì nữa...
***
Người đầu tiên phát hiện ra sự thể là quản gia Chín Sự. Số là do ông Phát Sanh vắng mặt khá lâu ở bàn tiệc, nên ngài tỉnh trưởng đã thắc mắc. Ông ta gọi quản gia lại và hỏi, Chín Sự lúng túng, nhưng nhờ kinh nghiệm nhiều năm phục vụ chủ mình, nên anh ta đã nói khéo rằng ông chủ bị đau bụng bất ngờ nên phải đi giải quyết...
Nói xong, Chín Sự vội đi tìm chủ và khi anh ta mở cửa phòng riêng thì gặp ông Phát Sanh nằm ngất trong đó! Anh ta vội đỡ chủ dậy mà chưa kịp nhìn vật trong cái thùng. Ông Phát Sanh nhờ vậy đã tỉnh lại. Ông ta bật dậy và hỏi ngay:
- Nó đâu rồi?
Chín Sợ ngạc nhiên:
- Thưa ông, ông hỏi ai ạ?
Nhìn thấy cái thùng còn đó, ông ta chồm lên và một lần nữa sửng sốt!
Nhưng lần này ông ta không ngất xỉu, mà trái lại đã kịp nhìn rõ mặt xác chết.
Một tiếng kêu thảng thốt:
- Kiều Mi!
Thì ra đó là một người quen của ông ta! Đúng hơn đó là một trong những người mà ông Phát Sanh đã quen biết... đã từng có quan hệ tình cảm!
Chín Sự lúc này mới chú ý tới thùng giấy, và anh điếng hồn khi nhận ra xác chết!
- Ai... ai vậy ông chủ?
Lần đầu tiên ông Phát Sanh hạ thấp giọng trước thuộc hạ của mình:
- Mày... mày đừng la lớn. Mày coi có cách nào...
Ông ta cố trấn tĩnh:
- Mày coi lại coi, có phải cô ta... chết thật rồi không?
Chín Sự hơi run, nhưng cũng không dám cãi, vội đưa tay lên mũi xác chết rồi hốt hoảng:
- Chết rồi!
- Mày... mày đừng nói cho ai biết! Mày ra ngoài và đóng chặt cửa lại...
Ông ta cùng ra với Sự và cửa phòng được khóa chặt lại, nhốt trong đó một bí mật mà chính ông Phát Sanh cũng không hiểu...
Buổi tiệc bên ngoài vẫn tiếp diễn...
Chỉ có điều là suốt trong buổi tiệc đó, chủ nhân như kẻ mất hồn. Ông ta tiếp khách mà đầu óc cứ để đâu đâu, thậm chí còn ăn nói không đầu không đuôi, cứ quên trước, quên sau... Đến đỗi mấy khách lớn phải nói riêng với nhau:
- Lão này chắc bị lẫn rồi, đâu còn minh mẫn như trước đây nữa!
Họ bàn với nhau một lúc, rồi cùng nháy mắt ra hiệu và rút hết trong lúc chưa đến hồi kết thúc. Cái màn hấp dẫn nhất là khiêu vũ với mấy chục vũ nữ xinh đẹp rước từ Sài Gòn về vẫn chưa bắt đầu...
Không ai biết chuyện gì đang xảy ra...
Ngay trong đêm đó, khi bữa tiệc vừa tan thì quản gia Chín Sự đã phải làm một việc mà bản thân anh ta không hề muốn: chôn cái xác ngay trong vườn nhà!
Do bị ông chủ nghiêm cấm không cho bất cứ ai ngoài anh ta biết chuyện, nên suốt hơn một giờ đồng hồ, chỉ bằng cây cuốc chim mà Chín Sự đã vừa đào huyệt vừa kéo cái xác ra, chôn luôn cả xác và cái thùng giấy lớn.
Vừa làm xong, do quá mệt, anh ta ngả lưng đại bên nấm mồ vừa chôn.
Nhưng chưa kịp thở lấy hơi thì Chín Sự đã suýt kêu lên, bởi có một người xuất hiện lù lù trước mặt anh ta, chẳng khác một hồn ma! Người ấy cất tiếng thanh trong nhưng có phần đanh đá:
- Chuyện ai làm nấy lo, sao anh lại cáng đáng việc này?
Đến lúc này Sự mới nhận ra người đứng sát bên mình là một phụ nữ ăn mặc sang trọng, mà dù trong ánh sáng lờ mờ, Sự vẫn nhận ra đó chính là bà khách ban chiều!
- Bà... bà...
Lời anh ta chưa trọn câu thì giọng nói sắc lạnh lại vang lên:
- Gọi chủ anh ra đây!
Giờ này mà gọi ông chủ ra quả là việc khó. Bởi sau tiệc thì lão Phát Sanh đã rút vào trong phòng riêng với bà vợ già và đố ai dám gọi. Anh ta lưỡng lự thì người kia quát:
- Mày có muốn tao la ầm lên để mọi người cùng biết là mày đang giết người rồi chôn xác phi tang không?
Chín Sự đành phải vừa bước lùi vừa lắp bắp nói:
- Để... để tôi kêu!
- Mày mà trốn luôn thì sẽ như cái xác này, nghe chưa!
Sự riu ríu chạy đi và làm đúng như lời. Anh ta phải gõ cửa nhè nhẹ mấy lượt thì bên trong mới có tiếng càu nhàu của bà chủ:
- Chuyện gì mà làm phiền vậy?
Chín Sự phải dùng cách hù dọa:
- Có trộm leo tường phía sau, chúng nó đông lắm, ông dậy lấy súng săn ra đối phó ngay đi ông!
Bà chủ cùng chạy ra với ông, nhưng Sự nhanh trí nói:
- Cướp có vũ khí, bà đừng ra mà nên ở trong phòng khóa cửa lại, để con với ông đi thôi!
Ông Phát Sanh tưởng cướp thật nên run rẩy:
- Mày... mày lấy súng... bắn nó, chứ tao ra làm chi?
Chín Sự phải nheo mắt mấy lượt, lão ta mới hơi hiểu và dè dặt bước theo ra ngoài với khẩu súng hai nòng trên tay. Ra khỏi nhà, Sự mới nói nhanh:
- Không có cướp, nhưng có người muốn gặp ông!
Lão Phát Sanh chưa kịp hỏi thêm thì đã ra tới chỗ chôn xác, lão vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi đến bước đi không vững:
- Mày... mày đưa tao ra đây chi vậy?
Lão định tháo lui, nhưng vừa khi ấy giọng người đàn bà đã cất lên:
- Sao bạc tình bạc nghĩa đến vậy hả ông chủ? Đến người tình chết mà cũng không được ông đến nhỏ cho vài giọt nước mắt nữa sao!
Vừa nghe giọng nói là ông Phát Sanh đã điếng hồn. Ông lắp bắp:
- Bà... bà là...
- Anna Kiều xin chào tái ngộ ông chủ! Sao, không muốn tiếp tôi hả?
Ông Phát Sanh líu cả lưỡi:
- Tôi... tôi không hề làm chuyện này... Tại sao cô... cô đem cái xác này...
Bấy giờ, giọng bà ta trở nên sắc lạnh hơn:
- Chối tội thì tôi, ông hay anh quản gia này đều có thể chối được! Nhưng cái xác này chết ở đâu, ai đem chôn nó và chôn chỗ nào? Bấy nhiêu đó ông trả lời trôi hay không?
- Tôi... tôi không...
Hất hàm về phía Chín Sự, bà ta ra lệnh:
- Hãy đào thêm cái huyệt nữa!
Chín Sự cuống lên:
- Thưa bà... đào chi nữa?
- Để cho ông chủ của anh! Ông ta không muốn nhận cái xác này thì phải chôn ông ta theo với nó, may ra ông ấy sẽ hiểu việc ông ấy đã làm và tội của ông ấy tới đâu! Nhanh lên!
Chín Sự đủ sức để chống lại mụ đàn bà yểu điệu kia, nhưng chẳng hiểu sao anh ta lại ngoan ngoãn nghe lời, mà còn cóng tay chân trước bà ta nữa!
- Đào nhanh lên, và chính anh xô ông ta xuống huyệt, chừng nào ông ta không chịu lên tiếng nhận là mình đã giết cô gái dưới mồ này!
- Dạ...
Chín Sự vừa đào đất, thỉnh thoảng lại liếc về phía ông chủ mình... Bỗng nghe ông ta lên tiếng:
- Ừ... tôi chịu...
- Chịu là chịu thế nào? Dám ra trước nhà chức trách mà nhận tội giết người không?
- Tôi... tôi đâu có giết Kiều Mi? Tôi chỉ...
Bấy giờ bà ta mới rít lên:
- Không cầm dao cầm súng giết, nhưng lấy con người ta có thai, rồi ép người ta phá thai, trong lúc cái thai đã năm tháng tuổi, như vậy còn hơn cả tội sát nhân nữa! Bởi chẳng phải chỉ giết một mạng người, mà có đến hai mạng cùng chết!
Lúc này ông Phát Sanh mới hốt hoảng:
- Có... có chuyện đó sao? Kiều Mi... cô ấy...
Người phụ nữ phá lên cười đắc ý:
- Cuối cùng thì ông cũng đã nhận ra người chết rồi! Kiều Mi, cái tên đẹp giống như người, đẹp đến khách làng chơi đều phải ngẩn ngơ, thèm muốn. Vậy mà chẳng một ai sở hữu được người đẹp, chỉ vì lão trọc phú Phát Sanh đã độc chiếm, đã dùng đồng tiền mua đứt cô ta! Nhưng sao dám chơi mà không dám nhận hậu quả? Sao lại nhẫn tâm xúi người ta phá thai khi cái thai đã thành người! Đến đỗi cô ấy phải vong mạng...
Mỗi lời nói của bà ta như hàng vạn mũi kim xuyên vào thịt da lão, khiến lão Phát Sanh run lên bần bật:
- Đừng nói... đừng nói nữa. Tôi... tôi biết... tôi có tội...
- Vậy hãy đền tội đi!
Lời bà ta vừa dứt thì chẳng còn thấy bóng dáng đâu! Lão Phát Sanh thay vì mừng thì lại càng run rẩy hơn:
- Tôi... tôi không...
Chín Sự thấy mụ kia đi rồi thì dừng tay, hỏi ông chủ:
- Bà ấy đi rồi sao ông không chạy đi?
Bấy giờ ông Phát Sanh mới chợt hoàn hồn, ông ta vừa định bước đi thì chợt có ai đó nói từ phía sau:
- Chờ em với chứ!
Nhìn lại không thấy ai chung quanh, ông Phát Sanh phát hoảng:
- Ai... ai vậy?
- Em lạnh lắm, sao để em nằm dưới này một mình? Xuống đây với em!
Chín Sự nghe rõ giọng nói đó vang lên từ dưới nấm mồ! Anh ta hốt hoảng nhảy lên khỏi hố huyệt đang đào và định bỏ chạy. Nhưng giọng nói kia lại cất lên:
- Khoan đã! Phải đẩy lão ta xuống rồi muốn đi đâu thì đi!
Lão Phát Sanh kêu lên:
- Kiều Mi!
Lão ta đã nhận ra giọng nói của người tình, nên càng sợ hãi hơn:
- Em... em đó sao, Kiều Mi? Em đừng...
Lão ta định bước lùi, nhưng chẳng hiểu sao lại luống cuống và ngã sấp người tới trước, gần rơi xuống cái hố huyệt Chín Sự đang đào, suýt nữa nhát cuốc của anh này bổ trúng vào đầu lão ta!
- Ông chủ! Ông đừng...
Chín Sự buông tay cuốc đỡ chủ mình dậy, nhưng vừa lúc đó anh ta đã nhận ra đang có một bàn tay chụp cánh tay lão ta ghì mạnh xuống lòng đất!
- Ông chủ!
Chín Sự chỉ kêu lên được mấy tiếng rồi người lảo đảo, mắt tối sầm lại...
***
Bà vợ ông Phát Sanh tiếp người khách mà bà hoàn toàn chưa biết mặt.
Một cô gái còn trẻ, nhưng dáng vẻ tiều tụy và già trước tuổi. Cô ta ngập ngừng bước vào phòng khách trong khi bà chủ nhà đang ngồi trên bộ ghế trường kỷ.
- Thưa bà, cháu tới để đưa thư của bà Phán Thơ ở Cà Mau.
Nghe tới tên người bà con mà lâu ngày chưa gặp lại, bà Sanh mừng rỡ:
- Vậy sao? Cháu là gì của chị Phán?
- Dạ, cháu là... cháu kêu bằng mợ. Bà Phán Thơ là vợ của cậu cháu.
Cô ta đưa một phong thư dán kín, bà Phát Sanh tiếp nhận và quay ra sau gọi lớn:
- Con Tư Lài đâu, ra đọc thư cho bà coi.
Con nhỏ giúp việc Tư Lài là đứa có học trong đám tôi tớ, nên mọi việc liên quan tới chữ nghĩa của bà chủ nó đều là đứa đảm nhận. Cầm lấy phong thư còn dán kính nó đưa mắt nhìn chủ thì được cho phép:
- Xé ra coi nói gì ở trong đó?
Con Tư Lài xé ra và đọc lớn. Thì ra trong thư bà Phán Thơ giới thiệu cô gái tên Ngọc Diện với một đoạn nói rõ:
"... nó là cháu ruột của chồng tôi, có nghề làm thuốc rất giỏi, mà ở quê thì không có điều kiện để làm nghề. Vừa qua nghe người nhà của chồng tôi đi về nói có quen biết với chị, bảo rằng chị bị bệnh thấp khớp nặng, đi đứng khó khăn, nên tôi mới mạo muội gởi con Ngọc Diện này lên, nó sẽ ở bên chị, giúp theo dõi bệnh, điều trị thường xuyên... Thù lao, công cán thì nó không cần đâu, chỉ ở giúp thôi. Mai này nếu được, chị cứ coi nó như con cháu, xem được mối nào thì tính chuyện chồng con cho nó luôn cũng được. Con nhỏ mồ côi đáng thương lắm!".
Việc trị bệnh phong thấp là gãi đúng chỗ ngứa của bà Phát Sanh. Bởi từ hơn ba năm nay, bà đã khổ sở bởi chứng bệnh này, thuốc thang thầy bà biết bao nhiêu rồi mà vẫn không khỏi. Tự dưng bà có cảm tình ngay với cô gái:
- Cháu biết trị bệnh sao không mở phòng mạch?
- Dạ, nhà cháu nghèo, nơi ở còn không có thì lấy đâu ra vốn liếng mở tiệm. Hơn nữa, cháu xưa nay chỉ chữa bệnh miễn phí. Giúp người chứ chưa ăn tiền ai.
Bà Phát Sanh càng mừng rỡ hơn:
- Đúng là tôi gặp được quý nhân rồi! Thôi được rồi, cháu cứ ở đây, coi như con cháu trong nhà. Ngoài việc trị bệnh cho thím, cháu không phải làm việc gì hết!
Cô gái mừng rơn:
- Dạ, cám ơn bà chủ. Con còn biết nấu ăn, may vá. Con sẽ phụ lo cơm nước cho ông bà. Mà nghe nói ông cũng bị chứng đau nhức nửa đầu nữa phải không?
Bà Sanh ngạc nhiên:
- Ủa, sao cháu biết?
- Dạ, cháu nghe mợ cháu nói.
- Ờ, chứng bệnh đó cũng làm cho ông ấy khó chịu lắm, lâu nay thầy ta thầy tây gì đủ thứ mà bệnh vẫn trơ trơ. Cháu mà trị được cho ông thì ông tôn làm sư phụ cho coi!
Chợt bà nhìn sắc diện cô gái và hơi yên tâm:
- Cháu không có nhan sắc mặn mà, chắc là được...
Cô gái không hiểu, hỏi lại:
- Bà nói vậy là sao?
Bà Phát Sanh muốn nói thẳng ra là bà mướn người trong nhà này đều lựa những người không có nhan sắc, hoặc người lớn tuổi, bởi từ ông cha cho tới thằng con trai, đều là những tay háo sắc!
Thấy bà có vẻ ngập ngừng, cô gái nói:
- Cháu mát tay lắm, trị bệnh cho ai là hết liền. Nhưng với một điều kiện, đã uống thuốc của cháu rồi thì không được uống bất cứ thuốc gì khác!
Bà Sanh chịu liền:
- Thím sợ thuốc lắm, chỉ cần uống một thứ thôi đã ngán, còn sức đâu mà uống cho nhiều! Mà thuốc bắc hả?
- Dạ không, của cháu là thuốc nam. Từ lá cây bông trái... nên rất dễ uống. Hơn nữa, cháu còn có cách trị bệnh mà không cần uống thuốc!
Nghe vậy, bà Phát Sanh reo lên:
- Có chuyện đó nữa sao? Trời ơi, đúng là Phật trời cử con nhỏ này tới giúp thím đây mà!
Bà ôm chầm lấy Ngọc Diện mà tưởng chừng như là con cháu ruột hay người thân thiết lâu đời! Bà bảo Tư Lài:
- Mày dẫn chị này ra chỗ dãy nhà khách, lấy căn phòng ở bìa ngoài cho nó ở. Nó là khách chứ không phải người làm trong nhà, nên tụi bay phải đối đãi như khách của tao vậy, nghe chưa!
Vừa đi, Tư Lài nói khẽ với khách:
- Chị là ngoại lệ đó, chứ trong nhà ít ai được như vậy lắm. Bà con của bà ấy dưới quê lên mà bà ấy còn cho ngủ ở nhà ngang dành cho bồi bếp!
Ngọc Diện chỉ cười không đáp.
Thế là từ một người hoàn toàn xa lạ, cô gái tên Ngọc Diện đã nghiễm nhiên trở thành một người trong nhà, lại càng lạ hơn nữa là chỉ sau một lần trị bệnh, bà Phát Sanh đã hết lời khen ngợi và tuyên bố thẳng với mọi người:
- Nó là con nuôi của tôi đó nghen!
Thời gian này, ông Phát Sanh đang nằm bệnh viện. Sau vụ xảy ra đêm đó thì ông ta phát bệnh và nằm liệt một chỗ luôn. Các bạn bè khuyên nên đưa lên Sài Gòn, cho vào nằm bệnh viện Grall của Pháp. Người ta không tìm được chứng bệnh chính thức của ông ta là gì, chỉ ghi nhận là ông ta bị chấn động thần kinh bởi một nguyên nhân nào đó chưa rõ...
Ông ta nằm bệnh viện được mấy ngày thì sốt ruột hỏi đứa gia nhân nuôi bệnh:
- Thằng Chín Sự đâu không thấy?
- Dạ, chẳng hiểu sao anh ấy phát điên, quậy phá nhiều chuyện nên bà chủ ra lệnh không cho ở trong nhà nữa. Bây giờ chẳng hiểu anh ấy ở đâu!
Ông Phát Sanh lo ngại:
- Có ai biết nó đi đâu thì bảo đi tìm nó, cho tiền nó trị bệnh rồi bảo nó về trại ruộng dưới Phong Điền mà ở, chờ tao hết bệnh về sẽ tính.
Ông đưa một số tiền kha khá cho thằng Hai Xê, bảo nó đi tìm Chín Sự ngay.
Điều lo ngay ngáy trong lòng ông ta lúc này là cái miệng của thằng quản gia. Nó mà bép xép thì tiêu đời! Cũng may là nó phát điên...
Qua một tuần điều trị, chứng hoảng loạn trong ông đã có phần thuyên giảm, nhưng chứng nhức nửa đầu thì hình như có phần tăng thêm. Cứ nửa đêm thì cơn đau lại đến và hành hạ ông đến sáng. Ông Phát Sanh đã báo cho bác sĩ Tây, nhưng họ cũng chỉ làm cho ông cắt cơn đau tạm thời thôi, sau đó mọi việc lại như cũ.
Bỗng một buổi tối, khi ông đang nằm trong phòng bệnh một mình thì có một người đứng lấp ló bên ngoài, sau đó nhẹ bước đi vào. Nhìn lên thấy người lạ, ông giật mình hỏi:
- Cô là ai mà vào đây? Đi lộn phòng phải không?
Cô gái trùm kín mặt bằng chiếc khăn choàng theo kiểu dân nhà quê, nhỏ nhẹ đáp:
- Cháu theo lệnh bà ở nhà đem thuốc vào cho ông. Chứng bệnh đau nửa đầu của ông mà không trị kịp thời thì đứt mạch máu não mà chết đó!
- Nhưng... cô là ai?
Cô gái không đáp, chỉ đặt lên bàn cạnh đầu nằm của bệnh nhân một chén thuốc còn nóng và quay ra ngay...
Ông Phát Sanh gọi giật ngược lại:
- Cô kia, làm sao tôi dám uống thuốc này khi cô không nói rõ cô là ai?
Cô gái không dừng lại, chỉ nói với:
- Không uống thì nội đêm nay ông sẽ bị hôn mê!
Ông Phát Sanh muốn đứng dậy, nhưng nửa bên đầu của ông lại đau nhói lên, lần này đau dữ dội, chưa từng bị như vậy!
Rồi từ phút đó, cơn đau cứ gia tăng, đau đến độ không tài nào chịu nổi, định lên tiếng gọi y tá, nhưng cũng không làm sao gọi được! Mà lạ thay, mỗi lần hít được mùi thuốc từ chén thuốc nóng thì cơn đau có vẻ dịu đi trong chốc lát.
Đến khi không còn chịu đựng nổi nữa, lúc này ông ta mới chụp chén thuốc và uống đại, thuốc chỉ vào miệng được phân nửa, còn nửa kia thì đổ ra ngoài. Tuy nhiên, chỉ trong vài chục giây thì... như thuốc tiên, cơn đau nửa đầu của ông biến mất!
Chưa tin đó là sự thật, ông Phát Sanh bật ngồi dậy rồi đưa tay sờ đầu. Trước đó một phút thì chỉ một cơn gió lùa qua, tóc lay động nhẹ cũng đủ làm cho ông đau buốt tới tận óc! Còn bây giờ, ông thử lùa tay vào tóc mà vẫn chẳng có cảm giác đau đớn nào!


Phần 2


Sáng hôm sau, lúc ông Phát Sanh còn đang ngủ thì Hai Xê vào tới. Anh ta báo tin:
- Chín Sự đột nhiên khỏi bệnh. Anh ta đã trở về nhà và được bà chủ cho làm việc lại! Hôm nay anh ta lên thăm ông!
Chín Sự vừa bước vào đã đưa cho ông bốn thang thuốc nam và nói:
- Của cô Ngọc Diện gửi cho ông, nói ông cứ uống hết bốn thang này thì ra viện được. Cô ấy nói hôm qua vào đây mà chưa kịp chào ông, chỉ sợ ông trách!
Ông Phát Sanh ngạc nhiên:
- Thì ra là con nhỏ đó! Mà nó là ai vậy?
- Là con gái nuôi của bà chủ!
- Con gái nuôi? Hồi nào đến giờ có nghe bà ấy nói tới đứa con gái nuôi nào đâu?
Chín Sự hạ giọng nói:
- Cô này lạ lắm ông chủ, cô ấy mới vào nhà mình ở có mấy ngày mà hầu như biết hết chuyện trong nhà. Kể cả chuyện cái xác chết nữa...
Vừa nghe tới đó, ông Sanh đã giật bắn người:
- Mày nói sao? Nó biết gì?
Chín Sự trấn an:
- Không có gì đâu. Nó chỉ nói là trong vườn nhà mình có oan hồn! Con hỏi nó tại sao nói vậy thì nó trả lời là nó có thể biết được chuyện quá khứ vị lai và rành chuyện âm dương... Chỉ vậy thôi chứ nó nào có biết chuyện gì khác!
Ông Phát Sanh cũng hạ thấp giọng, không muốn cho Hai Xê nghe:
- Mày đã san bằng nấm mộ đó chưa?
- Dạ xong rồi. Chẳng những san bằng mà con còn trồng liếp rau lên đó nữa. Bữa nay rau mọc xanh rì, đố ai biết bên dưới có gì!
Ông Sanh thở phào nhẹ nhõm:
- Tao cứ lo...
Chợt Hai Xê lấy trong túi ra tờ giấy nhỏ đưa:
- Có người gửi cho ông ở phòng y tá trực.
- Gì vậy?
Ông Phát Sanh vừa mở ra đã sững sờ:
- Trời ơi!
Chín Sự ngạc nhiên:
- Gì vậy ông?
Trong tờ giấy nhỏ đó chỉ có hai chữ mà vừa trông thấy ông Phát Sanh đã điếng hồn. Bởi đó là hai chữ "Kiều Mi" viết hoa.
- Mày... mày...
Ông lắp bắp đến líu cả lưỡi. Trong khi Chín Sự vẫn vô tư:
- Mọi việc xem ra ổn rồi ông. Chuyến này về con sẽ rước thầy yểm cho dứt nọc luôn! Con nghĩ có ai đó muốn phá ông nên mới đem... cái ấy về nhà...
Anh ta quay lại nhìn thấy Hai Xê thì vội nói:
- Mày bước ra ngoài để tao nói chuyện với ông chủ một chút.
Nhưng ông Phát Sanh không chú ý lời nói của Sự, giọng ông run run khi buông tờ giấy xuống. Chín Sự cầm tờ giấy lên, vô tình hỏi:
- Kiều Mi là ai vậy ông?
Ông Phát Sanh quay sang hỏi Hai Xê:
- Mày ra hỏi coi người gửi này là ai, gửi hồi nào?
Cô y tá lúc ấy vừa bước vào đã trả lời thay:
- Một cô gái rất đẹp xưng tên là Kiều Mi, nói có việc phải đi gấp nên chỉ gửi lại tên chứ không vào thăm ông được! Cô ấy nói chúc ông mau bình phục!
Ông Phát Sanh rụng rời tay chân, ông nói lắp bắp:
- Kiều... Kiều Mi, sao lại...
Ông ta nhìn sang Chín Sự, rồi nói như muốn khóc:
- Cô ta... là người mày đã chôn dưới mộ!
Chín Sự trợn tròn mắt, người anh ta toát mồ hôi lạnh và cũng lắp bắp nói:
- Sao... sao lại có chuyện này?
Hai chủ tớ còn đang xanh mặt, thất thần thì chợt có tiếng của bà Sanh từ ngoài cửa phòng bệnh:
- Nằm bệnh viện mà cũng tụ tập đông vui quá cỡ há.
Bà bước vào với Ngọc Diện đi kèm bên. Vừa trông thấy ông, bà đã nói liền:
- Sao cử người lên chăm sóc cho ông mà ông lại đuổi về?
Nhìn sang Ngọc Diện, ông chỉ ngờ ngợ về dáng vóc chứ không biết là ai.
Nghe vợ hỏi vậy, ông nói liền:
- Bà cử ai đâu mà nói vậy? Mấy bữa nay thằng Hai Xê đi về dưới, tôi ở một mình, nửa đêm đau muốn tắt thở luôn, phải chi có ai thì đỡ biết mấy.
- Vậy sao tối qua con nhỏ này vào ông không cho ở lại?
- Vào hồi nào?
Cô gái nhỏ nhẹ nói:
- Con đem thuốc vào cho ông, tính nói lệnh của bà bảo ở lại thì lúc đó con thấy hình như có ai trong phòng này, nên sợ quá con đi ra ngay chưa kịp nói gì!
- Lúc đó tôi đau gần chết, có ai trong phòng đâu?
Cô y tá buột miệng:
- Có lúc nửa khuya có một bà ăn mặc sang trọng đến đứng trước cửa phòng này rất lâu. Khi tôi ra hỏi thì bà ta vụt đi ngay, không nói mình là ai. Tôi cứ tưởng đó là người nhà của ông...
Ông Phát Sanh hốt hoảng:
- Lại mụ ta!
Bà Sanh vừa nghe nói đã chanh chua lên ngay:
- Thấy chưa, còn chối nữa thôi...
Cô y tá còn bồi thêm một câu:
- Cô gái hồi nãy hình như đi cùng với bà tới đây hồi khuya! Cô ta gửi mảnh giấy này rồi ra ngoài đường có chiếc xe đen của bà nọ chở đi liền!
Bà Sanh như phỏng nước sôi:
- Trời ơi, bệnh hoạn nằm bệnh viện gần chết tới nơi mà còn hẹn hò nữa nè trời!
Rồi bà đột ngột quay sang Chín Sự:
- Có phải mày dẫn mối cho ông ấy không? Cũng do mày hết, chính đêm lễ mừng thọ ông ấy, tao nghe nói là mày dẫn gái về hẹn ông ấy ở ngoài vườn, cho nên mày gạt tao là có cướp, để ông ấy ra gặp nó! Có phải con này không?
Trong lúc bất cập, lại bị hỏi dồn, Chín Sự vô tình để lộ ra điều cần giấu:
- Dạ, đâu có. Đêm đó con chỉ đào mộ chôn người thôi!
Câu nói của anh ta khiến bà Sanh kinh ngạc mà ông cũng điếng hồn:
- Mày... mày...
Bà quát lớn:
- Mày chôn cái gì? Chôn của để dành cho nó à?
- Dạ... dạ... đâu có... Chôn người!
- Trời ơi, mày hại tao rồi Sự ơi.
Tiếng gào lên là của ông Phát Sanh, còn bà thì run rẩy:
- Mày... mày nói chôn ai? Ai giết người mà chôn?
Thấy có cô y tá ở đó không tiện, bà yêu cầu cô ra ngoài, rồi nghiến răng:
- Ông và thằng này làm chuyện mờ ám gì, nói tôi nghe coi?
Chín Sự là người yếu bóng vía, nên chỉ mới dọa sơ sơ đã gần như nói hết ra:
- Dạ đâu có gì mờ ám. Chỉ bởi đêm đó ông và con bắt gặp một xác chết của ai đó để trong phòng, nên mới đem đi phi tang, sợ gặp rắc rối đến cò bót...
- Ai chết?
- Dạ... một cô gái!
- Chết ở đâu?
- Dạ... trong phòng đọc sách của ông!
Tất cả những lời khai của Sự như lời cáo trạng của tòa án phán xuống cho ông Phát Sanh, khiến ông ta cứng họng, chẳng làm sao nói được lời nào...
Phần bà Sanh thì sau khi nghe Sự nói xong, bà đứng dậy, nói như ra lệnh:
- Đi về!
Chín Sự lúng túng:
- Con... con còn phải...
- Mình đi về, còn ông ấy thì mặc kệ, cứ để ông ấy ở đây mà chờ gặp mấy con quỷ cái đó!
Bà ngoe nguẩy bỏ đi ra. Chín Sự còn đang chưa biết phải làm sao thì đã nghe bà quay lại hét lớn:
- Mày phải về mà đào mả đó lên? Bằng không thì chớ trách tao!
Ông Phát Sanh đành phải nói xuôi:
- Mày cứ về với bà ấy đi, rồi liệu mà làm...
Chính Sự bước ra thì đã thấy chiếc xe nhà đợi sẵn. Bà chủ ra lệnh:
- Chạy thẳng về nhà!
Phải mất hơn sáu tiếng đồng hồ họ mới về tới nơi. Việc đầu tiên là làm theo lệnh của bà chủ:
- Thằng Chín Sự đã đào mả chôn người, thì bây giờ chính mày phải đào đem nó lên và nói cho tao rõ nó là ai!
Chín Sự run rẩy:
- Đào lên thì con đào được. Nhưng nói đó là ai thì làm sao con biết được...
Trước sự chứng kiến của một mình bà ta, Chín Sự hì hục đào nấm mộ mới chôn chưa đầy một tháng lên. Anh ta hồi hộp chờ chứng kiến một hình ảnh ghê rợn, nhất là cái xác chỉ chôn bằng cái thùng giấy đơn sơ. Anh ta nói:
- Bà đứng xa xa một chút và lấy khăn che mũi lại, coi chừng mùi hôi thối dữ dội lắm!
Tuy cơn ghen tức làm cho bà lồng lộn lên, chứ thật sự bà ta đang lo sợ.
Nghe Sự nói thế, bà bảo:
- Khi nào đào tới đó thì cho tao biết...
Bà bước lùi mấy bước và chờ đợi...
Chín Sự lại hì hục đào... Lát sau, anh ta kêu khẽ:
- Tới rồi!
Cái thùng giấy vẫn còn nguyên, nhưng sao lạ quá, không hề có mùi hôi thối của xác chết? Chín Sự cố nín thở và dùng tay kéo nắp thùng giấy ra, anh ta chờ đợi nhìn thấy cái thây ma trương to lên! Nhưng...
- Sao lạ quá? Đâu rồi?
Trước mắt anh ta, cái thùng giấy trống không!
Bà Sanh nghe anh ta kêu như vậy cũng ngạc nhiên:
- Cái gì? Xác nó đâu?
Chín Sự đưa tay chỉ vào cái thùng giấy vừa nói:
- Mất rồi!
- Cái gì mất?
- Bà tới mà coi!
Bà Phát Sanh bây giờ mới dám rón rén bước tới. Bà nhìn chăm chú vào và ngạc nhiên hỏi:
- Nó đâu?
Sự buông thõng một câu rồi ngồi thừ ra:
- Biến mất rồi!
***
Bỗng nhiên có tin ông Phát Sanh giết người rồi phi tang xác được tung ra làm chấn động dư luận! Ban đầu nhiều người không tin, bởi với một người giàu sang tột bậc, lại chưa từng có tai tiếng gì về những vụ lôi thôi, thì làm sao ông ta có thể mang tội giết người được! Vậy mà có bằng chứng!
Bằng chứng đó do một người tên là Anna Kiều tung ra. Mụ ta lúc này mới ra mặt là một trùm vũ trường. Làm chủ ba cái vũ trường lớn nhất ở Hồng Kông và Chợ Lớn, tuy đứng trong bóng tối kinh doanh, nhưng giới tài phiệt thì không ai là không biết. Bởi vậy khi báo chí đăng lời tố cáo của mụ ta nhắm vào trọc phú Phát Sanh thì dù là người tin tưởng lão trọc phú này cũng phải xét lại.
Người ta tự hỏi:
- Nếu vì tình thì ai cũng có thể hành động mà không làm chủ bản thân mình!
Mụ Anna Kiều đứng ra tố cáo ông Phát Sanh giết người yêu là cô vũ nữ Kiều Mi, một hoa khôi vũ trường làm việc dưới quyền của mụ. Bằng chứng mà mụ đưa ra những tấm hỉnh chụp cảnh Phát Sanh âu yếm với Kiều Mi trong vũ trường, trong phòng riêng và cả khi lão đang mở cái thùng giấy đựng thi hài Kiều Mi, và cảnh Phát Sanh chứng kiến lúc Chín Sự đào huyệt chôn xác cô vũ nữ hoa khôi kia!
Trước những bằng chứng như vậy, nên dẫu có quen biết nhiều, nhưng lão Phát Sanh vẫn bị bắt tạm giam dù lúc ấy lão vẫn còn nằm điều trị trong bệnh viện.
Hay tin, dù còn đang ấm ức chuyện chồng lăng nhăng mèo chuột, nhưng bà Sanh cũng cuống cuồng chạy lo. Những quan chức địa phương lúc đầu hứa hẹn giúp đỡ, nhưng sau đó có lẽ biết được đằng sau vụ này còn có bàn tay của một cấp cao hơn, nên họ từ từ lảng ra hết. Sau cùng, có người chỉ cho bà tới một nơi mà bà không ngờ tới, đó là lão chánh án Robert!
- Sao lại dính tới lão này?
Dù ngạc nhiên nhưng bà Sanh cũng nhờ người dẫn dắt, tiếp xúc được với lão này. Thật bất ngờ, trong cuộc nói chuyện, một phụ tá của lão ta đã đưa ra một đề nghị thẳng thừng:
- Đây là một vụ đại hình, ông Phát Sanh muốn thoát thì phải tốn kém lớn. Bà đồng ý?
Bà Sanh lúc này đã gần như suy sụp tinh thần, bà nói buông xuôi:
- Tốn bao nhiêu cũng được, miễn là lo cho chồng tôi khỏi tù tội. Ông cho giá đi.
Tay phụ tá nói rõ số tiền phải chi, mà vừa nghe bà Sanh đã sửng sốt:
- Trời ơi. Ông có biết là số tiền đó tôi bán cả sản nghiệp chưa chắc đã có đủ.
Ông ta vẫn thản nhiên:
- Tùy bà thôi.
Cuộc thảo luận chấm dứt ngang. Bà Sanh hốt hoảng:
- Xin ông nói với ngài Robert châm chước cho vợ chồng tôi nhờ!
Ông ta vẫn lạnh lùng:
- Phải suy nghĩ lại là bà chứ không phải chúng tôi. Bà quyết định sớm thì còn kịp, bằng để ra tòa xử công khai thì lúc đó có một chục ông Robert cũng không cứu nổi!
Bà Phát Sanh đành phải chấp nhận. Hẹn sau khi có bản án, tất nhiên chồng bà được trắng án, thì sẽ giao tiền. Rời chỗ tiếp xúc bước ra, bà Sanh vô cùng ngạc nhiên khi thấy Ngọc Diện đã đứng đợi bên ngoài. Việc này là chuyện riêng, bà đã bí mật đi thương thảo, vậy tại sao cô gái này biết được? Bà ngập ngừng hỏi:
- Sao con biết má ở đây?
Ngọc Diện cười tươi:
- Chẳng những biết mà con còn biết rõ là má đang bị người ta ép để lấy tài sản nữa!
Bà giật mình:
- Sao con biết?
- Biết nên mới đợi ở đây để nhắc má rằng, cái bằng chứng quan trọng nhất là xác người bị hại, tức cô vũ nữ Kiều Mi, đã không có dưới mồ, thì lấy gì họ kết án được mà má lo?
Lời nhắc nhở này khiến cho bà Sanh chợt nhớ! Thì ra do quá sợ trước các bằng chứng và dư luận, cho nên mấy hôm nay bà quên bẵng chuyện đào mộ không thấy xác của cô vũ nữ! Bà run giọng nói:
- Con nhắc má mới nhớ. Trời ơi, chút nữa là nguy rồi! Vậy... vậy mình làm cách nào đây?
- Má cứ phản cung, yêu cầu giám định pháp y, lúc đó đương nhiên người ta sẽ cho khai quật tử thi lên, và...
Bà Sanh reo lên mừng rỡ:
- Có vậy mà má cũng không biết!
Ba ngày sau...
Trong lúc cuộc khai quật tử thi chưa tiến hành thì thật bất ngờ, tại vũ trường Paradise có sự xuất hiện của một người mà vừa trông thấy cô, thiên hạ đã sửng sốt, suýt đứng tim!
- Kiều Mi!
Vũ nữ Kiều Mi vẫn lộng lẫy như ngày nào, cô bước lên sân khấu, nơi ban nhạc đang đệm đàn, dõng dạc tuyên bố:
- Sau mấy ngày lánh mặt, nay Kiều Mi tái ngộ, xin gửi lời chào quý vị thân hữu!
Mọi người ồ lên kinh ngạc, rồi sau đó họ xúm lại tiếp xúc với cô nàng.
Tuy nhiên quản lý vũ trường đã ngăn lại, tuyên bố ai muốn nhảy với Kiều Mi thì phải mua tích-kê. Nhờ vậy mà chỉ trong khoảnh khắc, số tích-kê bán ra dành cho người muốn được nhảy với Kiều Mi đã vượt qua con số cao ngất, mà dù cho có nhảy liền ba đêm cô vũ nữ hoa khôi này cũng không thể nhảy hết với số lượng khách!
Trong khi đó, nguồn tin lạ lùng truyền tới tai người điều hành trong bóng tối dịch vụ vũ trường là mụ Anna Kiều! Mụ ta vừa nghe tin đã sững sờ:
- Làm sao có chuyện đó được? Chính tao đã... tao đã cho nó uống thuốc phá thai và... mạng vong rồi, làm sao sống lại được?
Tay côn đồ Ba Búa, người giúp chủ mình thực hiện các hành động bảo kê, đã vội lên tiếng:
- Chị để em tới coi ra sao đã. Có thể có ai muốn phá công việc của mình!
Mụ Anna Kiều dặn nhỏ:
- Dù con nào đó giả dạng thì cũng bắt ngay nó về đây cho tao! Bây giờ tao nhớ ra rồi, mới đây cái tin xác con Kiều Mi chôn trong vườn nhà lão Phát Sanh không cánh mà bay, chắc là có liên quan tới vụ này!
Ba Búa tự tin:
- Em đã làm đúng theo lời chị, mướn thợ ảnh rình chụp hết mọi việc xảy ra, nên dù cho có phi tang được xác thì cũng còn có ảnh, làm sao chúng thoát được!
Mụ Anna giục:
- Nhưng phải tới coi đứa nào dám tự nhận là Kiều Mi đã!
Ba Búa đi ngay. Hắn ta là bảo kê của vũ trường nên sự xuất hiện của hắn khiến đám đàn em bâu lại báo cáo:
- Lạ quá anh Ba, con nhỏ Kiều Mi sao lại xuất hiện khi có tin là nó đã chết rồi?
Ba Búa vẹt đám đàn em xong đi thẳng vào sàn nhảy. Lúc đó Kiều Mi đang nhảy với một đại gia, bị Ba Búa thô bạo nắm tay kéo ra. Kiều Mi không phản ứng, chỉ nhỏ nhẹ nói:
- Làm gì dữ vậy anh Ba?
Ba Búa quát lên khi đẩy cô nàng vào phòng riêng:
- Mày nói đi, mày là ai?
Kiều Mi cười giòn:
- Lâu ngày không gặp, tưởng Ba Búa có khôn ra chút đỉnh, nào ngờ vẫn chỉ là tên côn đồ, đầu bã đậu! Mày không nhìn thấy cô nương của mày đây sao mà còn hỏi? Tao là ai hả, tao là... má mày!
Vừa nói cô nàng thẳng tay tát mấy cái liền, khiến cho Ba Búa lảo đảo!
Trong đời hắn có lẽ đây là lần đầu tiên hắn bị một người đánh, mà người đó lại là con vũ nữ thường khi vẫn sợ oai của hắn như sợ cọp.
- Mày... mày...
Hắn lồng lên, định giáng cho cô nàng mấy cái tát, nhưng sao tay hắn nặng như đeo chì, không tài nào cất lên được!
Trong khi ấy Kiều Mi thản nhiên bước ra cửa phòng, nói với lại:
- Muốn yên thân thì để tao yên! Sớm muộn gì cũng tới phiên mày thôi, thằng khốn!
Cô nàng đi thẳng ra sàn nhảy, tiếp tục cuộc vui và xem như chẳng có chuyện gì xảy ra! Tên Ba Búa sau khi hoàn hồn, tự dưng hắn co vòi, lẳng lặng rời khỏi vũ trường và... đi luôn chứ không trở lại báo cáo cho mụ Anna!
Chờ hơn một tiếng đồng hồ mà chưa thấy hắn về, mụ Kiều sốt ruột bảo tài xế Tư:
- Mày lấy xe đưa tao tới vũ trường Paradise.
Tới nơi, mụ ta không khéo léo ẩn mặt nữa, mà công khai đến quầy, vừa ra lệnh cho tài-pán Linh Nga:
- Mày kêu con nhỏ xưng là Kiều Mi tới đây. Bảo nó vào phòng quản lý, tao chờ ở đó!
Mụ ta không phải chờ lâu, chỉ vài phút sau thì Kiều Mi bước vào. Nhưng cô ta không vào một mình, mà bên cạnh còn có mấy người nữa. Trong số người này, có hai người mà vừa trông thấy mụ Anna đã giật mình:
- Sao mấy người này vào đây?
Người thứ nhất là ông cò cảnh sát đô thành, gọi là cò Sĩ, còn người kia là phóng viên Anh Quốc của tờ nhật báo bán chạy nhất thời ấy, báo Diễn Đàn. Cả hai đều lên tiếng:
- Chúng tôi được cô Kiều Mi mời tới để chứng kiến một màn vui!
Kiều Mi lên tiếng trước:
- Thế nào, bà chủ còn tính giở trò gì nữa đây? Các trò ác của bà chưa đủ sao?
Biết nếu để cô nàng ta nói trước thì sẽ lôi thôi, nên mụ Anna nói một hơi:
- Cô là ai mà dám giả dạng Kiều Mi? Cô nên nhớ Kiều Mi đã chết rồi...
Nhưng lời nói của mụ đã bị chặn ngang bởi giọng đanh thép của Kiều Mi:
- Chết do bàn tay độc ác của bà chứ gì! Chết bởi gói thuốc bà nói là dưỡng thai mà thật ra đó là thuốc phá thai! Bà cho tôi uống thuốc phá thai trong lúc cái thai đã hơn năm tháng, và... tôi chết để cho bà thực hiện ý đồ vu oan cho ông Phát Sanh, người mà bà muốn chiếm đoạt tài sản!
Đúng ra với miệng lưỡi của một trùm kinh doanh vũ trường, mụ ta thừa sức cãi lại, nhưng chẳng hiểu sao lại lặng im nghe tiếp những lời tố cáo nữa của Kiều Mi:
- Sau khi giết tôi chết, bà đã mướn Ba Búa đưa tôi về nhà ông Phát Sanh, bắt ông ta phải chịu hàm oan! Tội nghiệp cho người đàn ông đó, ông ta có tính hảo ngọt, là tác giả bào thai trong bụng tôi, nhưng tôi không hận ông ta, bởi từ đầu ông ta đã chu cấp cho tôi đầy đủ, rồi khi thấy xác tôi, ông ta cũng cho mai táng đàng hoàng, chứ không bỏ mặc! Sao, những lời tôi nói có đúng không?
Sau một hồi im lặng, mụ Anna đáp thật nhỏ, nhưng mọi người cũng nghe được:
- Phải, tôi nhận.
Ông cò Sĩ quay sang phóng viên Quốc:
- Anh cũng đã nghe rồi đó. Chỉ cần thu thập thêm vài chi tiết nữa thì chúng tôi đã đủ bằng chứng để truy tố bà này rồi!
Quốc cũng nói:
- Giờ thì chúng tôi mới hiểu, nhân đây chúng tôi có lời xin lỗi cô Kiều Mi, nhất là rồi đây chúng tôi sẽ đăng lời xin lỗi ông Phát Sanh.
Ông cò Sĩ quay sang hỏi Kiều Mi:
- Cô có thể nói rõ về nguyên do mà cô không chết, mặc dù đã uống nhằm thuốc và đã bị chôn xuống mộ rồi?
- Số trời cả các ông ạ. Tôi sống được là do... nợ duyên của tôi với người tôi yêu chưa dứt. Nhất là vì đứa con trong bụng tôi...
Cò Sỹ ngạc nhiên:
- Cô nói đã mang thai hơn năm tháng, mà sao...
Kiều Mi cười:
- Mà sao cái bụng tôi nhỏ xíu chứ gì? Thưa với ông cò, khi bị ép uống thuốc, đúng ra thuốc đó đã làm cho chẳng những tôi chết, mà bào thai trong bụng cũng phải chết theo! Nhưng kỳ lạ thay, nhờ cái thai quá lớn, quá khỏe, nó vùng vẫy, nó chòi đạp mạnh quá, khiến cho tôi nôn ra gần hết số thuốc phá thai kia, và... nhờ vậy mà tôi sống! Khi bị chôn, do anh chàng chôn tôi quá sợ, chỉ chôn sơ sài, lại không có hòm gỗ, nên sau nửa giờ là tôi đã moi đất chui lên được!
Những lời nói xác thực đã thuyết phục được hai người nghe quan trọng.
Họ ghi nhận và trước khi ra về còn nói:
- Chúng tôi sẽ cho công luận biết sự thật, còn bây giờ để cho bà Anna đây có thì giờ sám hối tội lỗi, tôi tạm để cho bà tại ngoại, khi nào cần thiết chúng tôi sẽ mời bà.
Khi họ ra về hết, mụ Anna vẫn còn ngồi lại một mình. Nửa giờ sau, khi mụ ta định bước ra thì một người xuất hiện khiến mụ bực mình:
- Sao bảo mày đi lo vụ con Kiều Mi mày lại biến mất? Rồi bây giờ tới đây làm gì khi tao đã bị lộ tẩy rồi!
Ba Búa trông có vẻ thảm não:
- Em báo cho bà hay, em phải bỏ trốn thôi!
Mụ Anna hốt hoảng:
- Mày mà trốn thì tao sẽ nhận án một mình sao, không được!
Ba Búa lạnh lùng nói:
- Mọi chuyện do bà gây ra thì bây giờ bà phải một mình gánh chịu thôi!
Nói xong, anh ta còn lấy trong túi ra một bịch giấy. Đặt trước mặt mụ, anh ta nói:
- Đây là thang thuốc độc của bà đặt mua để đề phòng con Kiều Mi chưa chết thì cho uống thêm. Nay không còn dùng nữa thì tôi trả lại cho bà để... bà có dùng thì dùng! Đây, cả địa chỉ bà thầy chuyên phá thai nữa, bà giữ lấy!
Anh ta bỏ đi nhanh khiến cho mụ Anna có muốn gọi lại cũng không còn kịp nữa.
Sắc mặt đầy phấn son của mụ giờ đây cũng không che nổi sự nhợt nhạt vì biến sắc, cho nên trông mụ ta rất thảm hại...
Khi mụ ta bước qua sàn nhảy để ra về thì nhìn thấy Kiều Mi vẫn đang nhảy nhót tưng bừng. Cô nàng trông thấy và nheo mắt với mụ, như cố tình chọc tức! Mụ ta vẫn còn cái máu ác trong người, nên trợn mắt nghiến răng:
- Tao mà ăn tươi nuốt sống được mày lúc này tao sẽ nuốt ngay! Đồ... đồ...
Tự nhiên mụ cảm thấy cổ họng mình có chất nhờn tràn lên, rồi không ngăn được nó trào ra khóe miệng: Máu!
***
Bà Sanh quá bất ngờ khi thấy Ngọc Diện tay ôm một đứa trẻ sơ sinh từ ngoài bước vào. Bà trố mắt:
- Con ai vậy?
Ngọc Diện với thái độ bất thường, đang nhìn thẳng vào bà, giọng rõ ràng:
- Nó là con của tôi. Nó sống được nhờ tôi uống thuốc phá thai!
- Diện, mày...
Bà Phát Sanh nghĩ đứa con nuôi của mình bị tâm thần:
- Mày ăn nhằm thứ gì mà kỳ vậy Ngọc Diện?
Giọng cô nàng vẫn bình tĩnh:
- Con tỉnh táo đây bà. Hôm nay con muốn nói ra một sự thật, mà có lẽ nghe xong bà sẽ ngạc nhiên lắm. Con chỉ xin bà nghĩ tới công chữa hết bệnh cho bà và ông mà tha cho những gì con phạm phải...
Lời cô ta càng nói càng bí hiểm, nên bà Sanh gắt lên:
- Có gì con nói đại đi, lòng vòng hoài!
Ngọc Diện đặt đứa bé xuống, vừa nhìn nó và hỏi:
- Bà coi nó có giống con không?
Liếc nhìn sang đứa bé, bà nói đại:
- Giống.
- Còn giống ai nữa?
Bà Sanh nói đại lần nữa:
- Không lẽ nó giống tao!
Không ngờ Ngọc Diện cười to và nói:
- Giống bà thì không, nhưng nó... giống ông chủ!
Câu nói này một lần nữa khiến bà Sanh giật mình, bà nhìn sững đứa trẻ và thảng thốt kêu lên:
- Nó... nó giống thật!
Giống nhất là cái mũi lân và hai dái tai dài, trông chẳng khác ông Phát Sanh chút nào!
- Sao... sao lại như vậy?
Cô nàng lạnh lùng nói:
- Bởi nó là giọt máu của ông thì phải giống cha nó chứ sao!
- Kìa, con Diện...
Bà đứng dậy nhìn vào đứa bé lần nữa, rồi hỏi lớn:
- Có phải ai đó bảo mày ẵm đứa nhỏ này về nằm vạ đây không?
Giọng của Diện vẫn đều đều:
- Nó là con của ông thì giao lại cho ông nuôi, đó là điều hợp lý.
Bà Sanh thét lên:
- Mẹ nó đâu?
Vẫn giọng bình thản:
- Là con đây. Bà nhĩn kỹ con coi.
Bà Sanh ngẩng lên nhìn và bà hốt hoảng khi thấy trước mắt mặt mình giờ đây không phải là Ngọc Diện nữa, mà là... một cô gái khác!
- Bà ngạc nhiên cũng phải, bởi bà chưa một lần gặp tôi! Xin tự giới thiệu, tôi là... Kiều Mi, người tình của ông Phát Sanh!
Nếu như thường khi thì bà Sanh đã gầm lên, nhào tới cấu xé kẻ trước mặt mình. Nhưng bây giờ bà lại đứng bất động, mặt tái mét!
- Bà đừng ghen, cũng đừng làm ầm ĩ. Bởi tôi tuy có lỗi là giành chồng với bà, nhưng tôi lại có hai công lớn: Công thứ nhất là sinh cho ông nhà một đứa trẻ kháu khỉnh, ngoan hiền, chính đứa bé này về sau sẽ nối dõi tông đường, thừa kế xứng đáng cho dòng họ này, chứ không phải là thằng anh cả trác táng, phá của Hai Sung đâu! Công thứ hai là đã cứu cho tài sản nhà này không bị mất về tay mụ Anna Kiều. Bà nhớ vụ ông bị vu cáo vừa rồi không, ai đã cứu nhà này?
- Tôi... tôi...
- Chắc bà nghe kể lại rồi, chính nhờ sự xuất hiện của tôi đã làm đảo lộn hết mọi mưu mô của bọn người xấu, hóa giải được chuyện ông Phát Sanh giết người chôn xác ở ngoài vườn...
- Chuyện đó là âm mưu của con Anna Kiều?
- Âm mưu thì có, nhưng với bằng chứng là cái xác trong vườn, thử hỏi làm sao ông nhà thoát tội?
Bà Sanh lớn tiếng:
- Nhưng tôi đã đào mồ lên rồi, không có xác nào dưới đó! Và bằng chứng là cô vẫn còn sống nhăn ra đây, lấy gì buộc tội chồng tôi chứ!
Kiều Mi cười gằn:
- Bà vẫn tự tin quá đáng. Vậy bây giờ bà có dám ra xem ngôi mộ lần nữa không?
Bà Sanh phát bực lên:
- Tôi không rảnh!
Nhưng Kiều Mi đã đứng lên và nói như ra lệnh:
- Đi ra xem!
Tự dưng bà Sanh ngoan ngoãn bước theo. Đến nơi, đã thấy nấm mộ đất đã được đào lên sẵn, chỉ có cái thùng giấy là còn đậy nắp.
Kiều Mi chỉ tay và nói:
- Bà có muốn xem cái thi thể trong thùng không?
Bà Sanh hơi khựng lại, đứng im. Bất ngờ, Kiều Mi đá chân một cái, nắp thùng giấy bật tung ra, và... trong đó có một thi thể phụ nữ!
Và còn bất ngờ hơn khi bà Sanh nhìn kỹ và la lên:
- Con Ngọc Diện!
Người nằm chết trong thùng đúng là Ngọc Diện! Giọng của Kiều Mi vang lên:
- Ngọc Diện cũng chính là tôi. Tôi là Ngọc Diện. Và xin nói ngay để bà biết, tôi thật sự đã chết rồi, chết đúng là do uống thuốc phá thai. Nhưng có điều là khi chết hồn phách tôi không tiêu diêu được bởi cái bào thai chưa tới số. Tôi phải sanh cho được đứa con, gửi nó lại cho bà nuôi giùm, bởi dẫu sao nó cũng là giọt máu của chồng bà! Vừa qua, cám cảnh ông đã giúp tôi nhiều khi sống, cho nên tôi đã hiện về và giải oan cho ông, cứu nhà bà không bị phá sản. Bây giờ nhiệm vụ tôi đã xong, tôi xin kiếu!
Dứt lời, cô ta thoắt một cái đã biến mất! Nhìn lại thì trong thùng giấy cũng chẳng còn xác Ngọc Diện.
- Cô... cô...
Bà Phát Sanh đứng im như bị trời trồng...

Helen 11-08-2012 03:12 AM

TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyến 38
 
TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG


Quyển XXXVIII: Người Mượn Hồn- Phần 1


Bà chủ ngôi biệt thự Xuân Lan nhờ Trọng giúp một tay thì mới đẩy được cánh cổng sắt vô. Bà giải thích như sợ anh chàng ngại:
- Mùa này trời mưa thường xuyên và độ ẩm cao, nên cổng sắt bị rỉ sét, chớ thật ra nhà này không có người chỉ chưa đầy hai năm.
Nhưng Trọng lại có vẻ thích điều ấy, anh vui vẻ nói:
- Cháu lại khoái ở những nơi lâu lắm không có ai như vậy mọi hơi hám của người khác sẽ không còn chút gì...
Nghe cách nói lạ của anh chàng khá điển trai và có chút phong trần, bà chủ nhà tuy tuổi đã gần sáu mươi cũng phải liếc nhìn. Và chẳng hiểu nghĩ sao, bà chỉ nhẹ mỉm cười...
Dẫn khách đi xem qua một lượt khắp nơi, đến các căn phòng đóng kín cửa, bà Xuân Lan mở từng phòng, phòng nào cũng đầy đủ tiện nghi, trang bị hiện đại, nên chắc chắn là rất thích hợp với những người trẻ tuổi.
Trọng cười:
- Tuy trông bụi vậy chớ cháu chỉ mới ba mươi, còn có thể gọi là trẻ sao?
- Cỡ như tôi đây mới đúng là già, phải không cậu!
Hình như mình vô tình đã chạm vào điều cấm kỵ của một phụ nữ lớn tuổi, nên Trọng chữa lại ngay:
- Trẻ nghĩa thông thường chỉ những người tuổi dưới ba mươi, còn hiểu rộng ra thì ở tuổi sáu mươi trở xuống vẫn còn được gọi là trẻ. Bởi một công chức phải tuổi sáu mươi mới bị cho nghỉ hưu kia mà!
Mải lo nói chuyện Trọng quên nhìn kỹ một căn phòng có cách trang trí lạ hơn các phòng khác, đến khi bà chủ sắp đóng cửa phòng lại, anh mới kêu lên:
- Bà cho tôi xem lại căn phòng này.
Cửa mở ra, Trọng lại suýt xoa:
- Như vầy không công bằng. Tại sao chỉ riêng có phòng này là toàn bộ đều màu hồng, nổi bật hơn tất cả các phòng kia?
Biết Trọng hỏi đùa, nhưng bà chủ vẫn vui vẻ trả lời:
- Đây là căn phòng riêng mà mới tháng trước tôi cho trang trí, sơn phết lại đúng theo ý người tới thuê. Tiếc là giờ chót cô ấy bỏ cả sáu tháng tiền đặt cọc, vì một lý do bất khả kháng, cô ấy kẹt ở nước ngoài không về được.
- À, ra thế...
Trọng có vẻ thích thú trước việc có một cô gái nào đó cũng có ý định thuê một biệt thự ở xa thành phố giống như mình. Như vậy ít ra anh cũng không phải là người duy nhất có ý tưởng khác người, chỉ thích những nơi thật ít người, sống biệt lập.
- Như vậy lỡ khi cháu vào ở rồi mà cô ấy về đột ngột thì sao?
Bà chủ Xuân Lan cười:
- Cần đuổi là tôi đuổi, nhưng với một người hoạt bát, hiểu biết nhiều như cậu thì tôi đâu đủ sức làm càn, đuổi đi khi hợp đồng còn hiệu lực!
Trọng cũng đùa:
- Nhưng nếu cô ta về, bà không đuổi tôi đi!
- Cô nào?
- Thì cô gì bà vừa nói, đã đặt tiền cọc mà bỏ, không ở.
Bà Xuân Lan cười thành tiếng:
- Cậu này nịnh đầm thuộc loại dữ đây!
- Chẳng qua do tôi sợ phụ nữ thôi. Nơi nào có phụ nữ là tôi tránh xa.
- Thiệt hông?
- Bằng chứng là tôi chỉ thích ở một mình nơi nào thật vắng vẻ. Và đó là lý do tôi chấp nhận thuê một ngôi nhà rộng đến tám phòng, giá thật cao, chỉ để ôm gối ôm mà ngủ.
Bà Xuân Lan lại nhìn khách như dò xét:
- Điều này chắc là phải chờ thời gian trả lời. Bởi trong điều khoản thuê nhà, đâu có điều nào quy định người thuê chỉ ở một mình?
Thấy bà chủ cũng vui tính, nên sau khi xem xong nhà, nhận chìa khóa. Trọng đã vui vẻ nói nửa đùa nửa thật:
- Nói vậy chớ nếu cần, bà có thể báo trước vài tuần là tôi có thể hủy hợp đồng. Với điều kiện là chỉ nhường lại nhà cho cô nào đó đã lỡ hạn hợp đồng trước đây thôi.
Trước khi ra về, bà chủ nhà còn nói vói lại:
- Chiều nay tôi sẽ giới thiệu cho cậu một người giúp việc rất tốt. Trước đây chị ta từng làm ở nhà này.
Trọng chỉ định sau khi xem nhà xong sẽ ra về, và đợi khi nào nhờ người dọn dẹp xong mới dọn đến ở, tuy nhiên chẳng hiểu sao anh lại tò mò, muốn xem lại cho kỹ căn phòng màu hồng lúc nãy.
Dẫu sao thì giờ đây ngôi nhà này cũng đã thuộc về mình, tại sao không xem những gì mình muốn? Nghĩ vậy nên Trọng bước trở lại căn phòng lúc nãy. Sau vài giây lưỡng lự, Trọng bước thẳng vào bên trong. Chỉ còn lại một mình nên Trọng có thì giờ xem tỉ mỉ hơn, lúc này anh mới thầm phục óc thẩm mỹ của người trang trí căn phòng, bởi từng chi tiết nhỏ nhặt, cũng được thực hiện một cách hoàn hảo, chứng tỏ giữa người có ý tưởng và người thực hiện có sự đồng cảm sâu sắc.
Đi một lượt khắp phòng, điều làm cho Trọng ngạc nhiên hơn cả là sự sạch sẽ đến tuyệt đối ở mọi nơi, còn hơn những căn phòng đang có người ở. Trong lúc bà chủ nhà nói là cô ấy từ ngày đặt cọc trên một năm nay rồi chưa hề đặt chân đến đây lần nào...
Càng ngạc nhiên hơn khi ở dưới chiếc gối còn thẳng nếp, có một mảnh giấy nhỏ với dòng chữ rất đẹp, nắn nót: Nơi hò hẹn của chúng ta.
Cầm tờ giấy trên tay Trọng không khỏi băn khoăn. Không phải nội dung của nó, mà là bởi hương thơm mà nó đang toát ra. Dù cho là loại dầu thơm nhân tạo đắt tiền cỡ nào, hay bông hoa thiên nhiên cực hiếm thế nào, thì cũng không thể lưu giữ hương lâu qua vài tháng. Đằng này đã hơn một năm, như lời bà chủ nhà nói...
Trong đầu Trọng hình dung ra một cuộc hò hẹn vụng trộm nào đó của một đôi nam nữ mà căn phòng lý tưởng này là địa điểm họ dùng gặp mặt thường xuyên, trong lúc gia chủ vô tình không hay biết. Mà họ cũng khéo chọn một nơi tiện nghi và đẹp nhất như thế này, chứng tỏ họ cũng không phải hạng phàm phu tục tử.
Thuận tay, Trọng vò mạnh giấy và vứt vào thùng rác đặt ở chân giường ngủ, vừa lẩm bẩm:
- Trước khi dọn về mình phải cho thay hết tấm trải giường...
Bước vào phòng vệ sinh, Trọng khá hài lòng về sự tươm tất của nơi này, anh nghĩ chắc mình không phải sửa đổi gì khi vào ở.
Trở ra, vừa tính ngồi xuống chiếc ghế ở bàn trang điểm, chợt Trọng giật nảy mình khi nhìn thấy tờ giấy mình vò nhỏ và vất vào sọt rác, giờ lại nằm ngay ngắn trên gối như lúc đầu!
Không tin vào mắt mình, Trọng bước lại cầm tờ giấy lên, thì nhận ra đúng là tờ giấy lúc nãy, không sai một chi tiết nào. Nhìn trong thùng rác thì... chẳng còn gì.
- Cái này...
Một cảm giác là lạ xâm chiếm thần kinh Trọng, nhưng vốn là con người bướng bỉnh, ít khi sợ hãi bất cứ chuyện linh tinh nào, nên Trọng lại một lần nữa vò nát tờ giấy, mà lần này chẳng những vò, anh còn xé nó nát ra từng mảnh, không vất thùng rác như lúc nãy, mà cho luôn vào túi quần. Xong, anh bước ra ngoài, đóng cửa phòng lại.
Tuy nhiên, đó chỉ là động tác giả, chỉ sau vài phút, Trọng bất thần mở cửa phòng ra và... lần này thì Trọng thật sự sửng sốt, khi... tờ giấy giống hệt lại nằm y chang.
Thọc tay vào túi quần, Trọng kêu lên khẽ:
- Lạ thiệt!
Bởi trong túi Trọng chẳng hề còn mảnh giấy vụn nào!
Nếu là người khác có lẽ họ đã phát hoảng. Còn Trọng, sau vài giây lặng đi, anh nhẹ nhàng khép cửa lại và đi ra. Việc đầu tiên Trọng làm sau đó là lái xe thẳng vào Chợ Lớn, tìm ông thầy Tướng số mà đã từ lâu có người bạn đã giới thiệu rằng ông ta là bậc thầy của thế giới cõi âm.
Trọng vốn không tin, nhưng hôm nay anh lại muốn kiểm tra lại điều nghi vấn đang gặp phải.
Dò tìm khá lâu Trọng mới mò ra được nơi trú ngụ của lão FengXiao. Lão ngụ trong một ngôi nhà xưa ở một con đường nhỏ, mà chung quanh toàn là người Hoa. Khi Trọng vừa xuất hiện ở cửa phòng, thì lão Feng đã từ trong nói vọng ra:
- Anh hãy lấy tờ giấy trong túi ra trước khi bước vào đây!
Trọng theo phản xạ tự nhiên vội cho tay vào túi quần, chạm phải mảnh giấy nhỏ, anh rút ra ngay và... tái mặt khi thấy đó chính là mảnh giấy lúc nãy! Chưa biết phải làm gì, thì thật bất ngờ mảnh giấy như bị ai đó thổi bay ra khỏi tay và biến mất trong nháy mắt.
Lúc này từ trong nhà một ông lão tuổi khá cao nhưng trông còn rất tráng kiện, nhẹ bước đi ra. Không nhìn Trọng, lão lên tiếng:
- Cậu tìm tôi về chuyện ngôi nhà mới vừa mướn?
Tlọng ngơngác:
- Ông biết chuyện ấy?
Rất điềm tĩnh, lão Feng mời Trọng ngồi, rồi châm trà mời khách:
- Cậu không tìm tới đây thì nội nhật này tôi cũng đi tìm cậu. Chỉ vì mảnh giấy lúc nãy.
Trọng càng ngạc nhiên hơn:
- Ông cũng biết?
- Nếu không biết thì chính cậu là người đem tai họa đến cho tôi vừa mới rồi đó!
Câu nói lạ của ông lão làm cho Trọng thắc mắc:
- Ông nói thế, nghĩa là...?
- Do đâu cậu biết đây mà tới? Chắc có người chỉ hay do... mảnh giấy đó khiến cậu tìm đến chính xác nơi mà họ muốn?
- Họ là ai, ông nói gì cháu không biết? Quả đúng là có người bạn đã chỉ cho cháu địa chỉ này.
- Người đó chỉ cậu sau khi cậu có ý định thuê ngôi nhà?
Nhớ lại khi người bạn mách cho mình địa chỉ này, đúng lúc Trọng vừa đọc báo xong, đang có ý định tìm ngôi nhà cho thuê. Trọng gật đầu:
- Đúng là như vậy.
Ông lão gục gặc đầu:
- Họ muốn phá tôi đó.
Trọng cau mày:
- Sao lại phá ông và có liên quan gì tới ngôi nhà tôi đang thuê?
Lão Feng càng làm cho Trọng ngạc nhiên hơn:
- Vì tôi chính là người đã ếm ngôi nhà đó!
- Ông nói...?
- Cậu đã từng nghe người ta nói về việc những ngôi nhà mới xây bị ếm, không thể ở được chưa?
- Có! Nhưng không lẽ...
Giọng ông ta trở nên nghiêm trọng hơn:
- Không ai thuê tôi làm chuyện ấy. Mà đơn giản chỉ vì tôi phải làm. Đúng ra tôi giữ kín chuyện này, nhưng hôm nay cậu đã tới đây thì dù tôi có giữ cũng không được. Tôi đã ếm ngôi nhà nên từ lúc xây xong đến nay không ai có thể vào ở được. Người chủ của nó phải trả giá cho những gì bà ta đã gây ra cho tôi.
Trọng quan sát thật kỹ lão già đang ngồi trước mặt. Anh không hoàn toàn tin lời một người chưa gì đã khai toạc ra hết mọi chuyện như vậy. Tuy nhiên đến khi lão ta lấy ra một cuộn giấy nhỏ mà trên đó có những chữ viết thoạt trông Trọng đã giật mình. Dòng chữ viết tháo, nhưng đọc được dễ dàng: Không ai được ở, cho đến khi nó trở thành nhà hoang...
Lão đột nhiên hỏi:
- Cậu có biết ai đã viết những chữ này không?
Trọng chưa kịp đáp thì lão đã trả lời thay:
- Chính người chồng của bà chủ nhà. Bà Xuân Lan, cậu biết rồi chớ?
- Chồng bà ấy đã chết? Vậy thì... người nào đang ở nhà bà ta? Chính tôi...
Lão Feng ngửa mặt lên trời cười một tràng cười rất khó hiểu, giọng ông ta trở nên bí hiểm hơn:
- Chẳng riêng gì cậu, mà hầu như ai tới liên hệ thuê nhà đều được bà chủ nhà giới thiệu là chồng bà ta đã chết. Bàn thờ và di ảnh người đàn ông mà cậu nhìn thấy đó là...
Lão ngừng nói, đứng lên đi vào trong rồi mãi hơn mười phút sau vẫn không trở ra. Trọng chờ mãi không được, anh phải gọi lớn:
- Tôi về đây, ông thầy ơi!
Vẫn không có tiếng trả lời. Trọng đành phải bước hơi sâu vào trong nhà và rất đỗi ngạc nhiên, bởi ngoài ông Feng ra thì hầu như chẳng có bóng người nào khác.
Mà kể cả lão Feng, giờ này lão cũng biến đi đâu mất, trong khi Trọng tìm kỹ vẫn không thấy một lối ra nào khác, ngoài lối vào như anh đã tới. Lão ta đi đâu? Nửa giờ sau, không tiện ở lâu, Trọng bước ra ngoài và lần này anh lại một phen kinh dị, khi gặp một người hàng xóm, anh ta hỏi:
- Ông tìm ai trong ngôi nhà hoang đó?
Trọng ngơ ngác:
- Đây là nhà hoang?
Người đàn ông tỏ ra rành rẽ:
- Từ hơn năm năm nay chẳng có người nào ở, không gọi là nhà hoang thì gọi là gì?
Trọng lẩm bẩm:
- Vậy ai mới vừa rồi?
Người kia nghe câu nói của Trọng:
- Anh gặp một ông lão người Hoa phải không?
Không đợi Trọng trả lời, anh ta nói ngay:
- Nhiều người đã từng gặp lão như anh vậy. Ma đó!
Sau câu nói, anh ta bỏ đi luôn, nên dù có muốn hỏi gì thêm, Trọng cũng đành phải chịu. Nhìn lại ngôi nhà một lúc, Trọng càng thêm tò mò, anh tìm thêm vài người hàng xóm nữa để hỏi, nhưng chẳng một ai biết gì. Có một chị lớn tuổi, sau khi nghe Trọng hỏi, đã hỏi lại anh:
- Nếu có ai đó hỏi nhà anh có phải là nhà hoang không, thì anh nghĩ gì?
Hình như họ không muốn vây vào chuyện của ngôi nhà đó...
***
Trọng ngồi đợi khá lâu thì bà Xuân Lan mới về tới. Nhìn sắc mặt căng thẳng của Trọng, bà ta ngạc nhiên hỏi:
- Có chuyện gì vậy, cậu Trọng?
Trọng cố giữ bình tĩnh, nhưng vẫn khó giấu cảm xúc:
- Có lẽ tôi sẽ không thể tiếp tục thuê ngôi nhà...
Bà Xuân Lan nhìn khách, dò hỏi:
- Có chuyện gì phải không? Hay là cậu không hài lòng về điểm nào trong ngôi nhà?
- Đơn giản chỉ bởi...
Trọng đưa trả lại chìa khóa nhà:
- Bà có thể trừ ba tháng tiền nhà do tôi phá vỡ hợp đồng, số còn lại tôi lấy lúc nào cũng được, không nhất thiết phải là bây giờ.
Trọng đứng dậy ngay, chợt bà Xuân Lan hỏi:
- Có phải cậu nghe ai nói gì về ngôi nhà? Chuyện ma chẳng hạn...
Thấy bà ta đã đề cập thẳng, Trọng ngồi lại và hỏi không rào đón:
- Bà biết trong nhà bà có ma?
Bà chủ nhà vẫn rất bình tĩnh:
- Tôi đoán ra ngay mà. Có phải một ông gọi là FengXiao?
- Bà biết ông ta?
Bà Xuân Lan không trả lời ngay, mà ra dấu cho khách chờ, bà bước vào phòng riêng, lát sau trở ra, đưa cho Trọng một gói giấy nhỏ:
- Cậu nhìn xem, cái này có phải là vật người ta thường hay ếm khi xây nhà?
Không rành lắm chuyện thư ếm, nhưng nhìn tờ giấy màu vàng, trên đó có nhiều chữ viết theo dạng tượng hình ngoằn ngoèo, Trọng nghi nghi:
- Có vẻ như vậy...
Bà Xuân Lan chậm rãi kể:
- Khi tôi vừa ăn tân gia ngôi nhà đó thì tình cờ phát hiện tờ giấy bùa này được ai đó đặt trong tường bên trên cửa ra vào. Địa điểm đặt không dễ phát hiện, nếu hôm đó tôi không có một giấc mơ kỳ lạ và nghe một người nào đó mách rằng nhà tôi bị ếm, do có ai tư thù.. Tôi không tin chuyện mê tín, nhưng một buổi chiều khi từ ngôi nhà mới đi ra, tôi gặp một lão già người Hoa...
Trọng chen ngang:
- Lão Feng Xiao!
- Chắc cậu cũng đã gặp lão ta. Lúc đầu tôi cũng chưa biết lão ta là ai, cứ tưởng đó là người hàng xóm, nhưng sau mấy câu chào hỏi thông thường, lão ta đã nói thẳng rằng lão ta sẽ ngăn không cho bất cứ ai vào ở ngôi nhà mới của tôi! Hỏi lý do thì lão cũng không giấu giếm bảo rằng ngôi nhà đã bị thư ếm mà lão ta là tác giả. Nói xong lão ta đi mất. Tuy không tin lắm, nhưng tôi vẫn cho người đi dò hỏi thì phát hiện là ở Chợ Lớn quả có một ông thầy như vậy, lão ta tên Feng Xiao.
- Bà đã gặp lão ta?
Bà Xuân Lan lắc đầu:
- Tôi chưa gặp nhưng nghe người ta kể rành mạch rằng có một ông thầy tướng số chuyên làm việc đó. Hình như lão ta được ai đó thuê mướn để phá tôi.
Trọng trầm ngâm một lúc rồi nói:
- Lão ta không phải là người hiện hữu trên đời này.
Câu nói của Trọng thật sự làm cho bà chủ nhà kinh ngạc:
- Sao cậu biết?
- Tôi đã gặp ông ta. Và...
Sau một lúc đắn đo, Trọng thuật lại chuyện mình gặp lão tướng số người Hoa. Cuối cùng anh hỏi:
- Có phải từ chuyện đó mà ngôi nhà mới của bà không một ai ở được không?
Chừng như muốn giấu, nhưng nghĩ là Trọng đã biết hết, nên bà Xuân Lan gật đầu:
- Gần như vậy. Tuy nhiên, đó là trước khi tôi tìm ra vật ếm này.
Bà kể:
- Tôi phải sang tận Hồng Kông, tốn khá nhiều tiền để rước ông thầy này. Ông ta sau khi lấy được vật giấu trong tường ra, đã quả quyết là coi như yên ổn. Do vậy tôi mới dám cho cậu thuê.
Sau khi nói mọi điều, bà Xuân Lan tỏ ra là không bắt ép người thuê, bà hỏi lại Trọng:
- Bây giờ cậu còn có ý trả lại nhà không? Nếu cậu trả thì tôi sẽ gởi lại đủ tiền cậu ứng trước, không trừ một xu nào, bởi đơn giản là cậu chưa ở ngày nào.
Trọng có chút áy náy, nên sau một lúc suy nghĩ, anh cương quyết:
- Nếu thế thì tôi sẽ tiếp tục thuê. Xưa nay tôi chưa từng sợ bất cứ gì liên quan đến thế giới tâm linh.
- Tôi không ép, như cậu thấy đó, tôt rất kén người thuê, nếu cậu không hội đủ những điều kiện thì tôi đã chẳng đồng ý.
Trọng nhớ, hôm tới hỏi thuê nhà, bà ta đã hạch hỏi đủ điều, sau khi anh trả lời xuôi mọi điều khoản chủ nhà mới cho thuê và còn dặn:
- Khi đã thuê, thì trong suốt thời gian hợp đồng, cậu là chủ toàn quyền ngôi nhà thuê đó. Kể cả chủ nhà cũng không được quyền can thiệp vào những chuyện xảy ra trong nhà đó.
Trọng lấy lại xâu chìa khóa, anh đứng lên cáo từ bằng quyết tâm:
- Tôi sẽ ở cho đến khi nào bà đuổi mới đi.Với điều kiện là bà đừng tăng tiền thuê theo kiểu mỗi tháng một lần.
Bà Xuân Lan cũng nổi hứng:
- Tôi thích tính cách của cậu, nên xin miễn cho cậu sáu tháng tiền nhà đầu tiên. Có nghĩa là, thay vì ở một năm, nay cậu có quyền ở đến mười tám tháng luôn!
Trọng cười:
- Xin cám ơn lòng tốt của bà. Tuy nhiên xưa nay tôi không thích nhận những ân huệ như vậy. Thay vào đó, tôi muốn bà lắp một đường điện thoại nữa vào tận phòng riêng với chức năng gọi được cả ra nước ngoài.
- Ồ, cậu quên là phòng dành cho cậu, tôi đã cho kéo đường dây riêng sẵn rồi.
- Tôi muốn lắp thêm ở căn phòng sơn màu hồng phấn kia. Phòng của...
Bà Xuân Lan ngạc nhiên:
- Cậu thích ở căn phòng của cô gái thuê hụt đó hả? Nó đâu rộng bằng phòng ở phía ngoài. Vả lại phòng ấy thiết kế riêng cho nữ mà...
Trọng cười nhẹ:
- Tôi lại thích phong cách ấy...
- Thôi được, tôi sẽ cho thực hiện ngay. Mong là cậu sẽ không mau chán.
Trọng chào bà chủ nhà, nhưng khi vừa bước ra tới ngoài anh chợt nhớ đến chuyện mảnh giấy trên gối, nên quay lại vừa móc trong túi quần ra mẩu giấy gấp tư, hỏi:
- Bà có nhớ tuồng chữ này không?
Vừa nhìn vào bà Xuân Lan nói ngay:
- Chữ của cô Dạ Hương, người ký hợp đồng thuê nhà mà không ở. Tôi còn mẫu chữ của cô ấy đây.
Bà bước ngay vào phòng, lấy ra tờ hợp đồng đưa cho Trọng. Vừa thoạt nhìn Trọng đã kêu lên:
- Đúng rồi!
Hai mẫu chữ giống nhau như đúc, mà bất cứ ai nhìn vào cũng đều không thể nhầm lẫn được.
Mà mảnh giấy trong túi của Trọng lúc này là mảnh thứ tư anh nhặt được mới đây thôi...
***
Ba đêm liền Trọng ngủ yên giấc, không mộng mị, cũng không điều gì xảy ra trong căn phòng màu hồng phấn. Điều đó khiến Trọng không tin cũng không được khi nhớ lại câu anh đọc được một cách tình cờ trong quyển sách mới mua: “Muốn ngủ yên giấc, bạn nên đặt cạnh gối mình một đóa hoa mà bạn ưa thích.” Trọng đã chọn hoa trà mi là loại hoa mà từ khi đọc tác phẩm Trà Hoa Nữ anh đã đâm ra yêu mến. Nhất là từ khi có cái tên Trà My trong cuộc đời chàng sinh viên nghèo tên Hoàng Trọng.
Thì ra yếu tố tâm lý rất quan trọng. Nó giúp thần kinh bớt dao động, từ đó con người có thể vượt qua được những điều mà bình thường họ thấy khó vượt qua. Như trường hợp này, Trọng tin rằng hoa trà mi chính là yếu tố giúp củng cố tinh thần và đẩy lùi mọi suy nghĩ viễn vông để đưa anh vào giấc ngủ ngon lành...
Từ niềm tin đó, tự dưng Trọng ao ước mình có được một cây trà mi ngay trong nhà. Và anh quyết định tìm ở những nơi bán hoa kiểng. Cái khó của Trọng là việc anh chưa từng biết hình dáng cây trà mi là như thế nào, chỉ ngẫu nhiên anh được người bạn tặng cho đóa trà mi đã hái sẵn, không cành không lá, nên việc tự đi tìm có lẽ sẽ khó. Dẫu vậy Trọng vẫn không muốn hỏi chủ vườn hoa, mà anh thử tự tìm và tin chắc là mình sẽ nhận ra cây hoa lạ này qua hoa của nó.
Tuy nhiên, đã đi hai vòng trong vườn kiểng mà Trọng vẫn không thể tìm ra. Bởi ngoài những loại hoa phổ biến như hồng, cúc, mẫu đơn, lan, thược dược đang nở, còn phần nhiều loài hoa khác thì chỉ ở dạng nụ, thậm chí có nhiều cây chưa có nụ. Cuối cùng Trọng dừng chân trước một lùm cây xanh tốt, định sẽ chờ người trong vườn tới và nhờ họ tìm hộ.
- Ông cần lấy chậu trà mi lớn đó phải không?
Trọng giật mình nhìn lại thì thấy người phụ nữ đứng tuổi ra dáng chủ vườn, đang nhìn khách mỉm cười.
- Dạ, đây là... trà mi?
- Đúng là trà mi, giống này của Pháp nên rất hiếm. Vườn tôi chỉ còn đúng hai cây loại đó. Nhưng đã được người mua và còn gởi lại.
Trọng nhìn thật kỹ hai cây trước mặt mình, anh không ngờ ngẫu nhiên mình lại chọn đúng nơi có cây hoa mình đang cần để đứng nhìn. Anh tiếc rẻ:
- Bà không còn cây nào khác?
Bà chủ vườn tươi cười:
- Nếu có thì cũng phải mất một tháng nữa thì vườn ươm của tôi trên Dalat mới kịp mang về. Tuy nhiên...
Bà quay lại gọi một công nhân.
- Em bưng một trong hai chậu trà mi này ra đây coi.
Chậu trà mi được bê ra đặt ngay trước mặt Trọng. Bà chủ vườn bảo:
- Đây có lẽ là một cơ may hiếm gặp, nó lại rơi đúng vào ông!
Trong lúc Trọng chưa hiểu ý bà ta nói gì thì bà chủ vườn đã tiếp lời:
- Hôm qua tôi đã được người ta trả tiền mua hai chậu trà mi này và họ có dặn, họ chỉ lấy một chậu, còn chậu còn lại thì tặng cho bất cứ ai tìm mua. Tôi thắc mắc nhưng không tiện hỏi, nên từ sáng đến giờ có ý trông xem ai là người tới mua. Không ngờ là ông...
Trọng vô cùng ngạc nhiên:
- Người mua là ai vậy?
Bà chủ lắc đầu:
- Tôi không gặp mặt. Chỉ thấy một anh đạp xích lô tới nói có người đưa tiền nhờ anh ta mua và dặn như vậy.
Trọng chép miệng:
- Tiếc quá, phải chi tôi tới sớm hơn. Tôi đang rất cần chậu trà mi như vầy...
- Ông cần mua cả hai chậu?
Trọng lắc đầu:
- Dạ không, chỉ một cây là đủ.
- Vậy thì cây trà mi này đã là của ông rồi.
Trọng lẳng lặng bỏ đi, khiến bà chủ vườn phải gọi :
- Nè ông, người ta đã có nhã ý tặng cho bất cứ ai yêu hoa trà mi mà!
Trọng vẫn không quay lại. Với Trọng, anh rất ngại chuyện nhận không của ai bất cứ cái gì, mặc dù lúc này anh tiếc rẻ vô cùng chậu hoa trà mi đó...
Anh tới bốn điểm hoa kiểng khác, nhưng không nơi nào có hoa trà mi, chủ vườn rất ngạc nhiên hỏi với Trọng:
- Hôm qua có người đã tới mua hết số chậu trà mi mà chúng tôi có. Loại này kén khách nên chúng tôi ươm rất ít, phải vài tuần nữa mới có.
Cho là chuyện ngẫu nhiên nên Trọng thất vọng ra về, tự an ủi khoảng vài tuần nữa sẽ trở lại mua.
Nhưng lúc vừa về đến cổng nhà Trọng đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy chậu hoa trà mi ai đã đặt ngay trước cổng. Nhìn quanh không thấy ai, Trọng ngẩn người ra khá lâu trước khi quyết định gọi xích lô chở trở lại vườn hoa kiểng lúc nãy. Vừa trông thấy anh, bà chủ vườn nói ngay:
- Ông vừa đi vài phút thì người mua đã tới chở cả hai chậu hoa đi. Tôi đâu biết là họ biết chỗ của ông...
Trọng yêu cầu được trả lại chậu hoa, anh nói:
- Tôi sẽ không nhận cái gì không phải của mình.
Nhưng bà chủ vườn đã nghiêm giọng:
- Ở đây một khi hàng đã chở ra khỏi nơi bán thì không nhận lại. Nhất là chậu hoa này không hề có một khuyết điểm nào.
Bà bỏ đi vào trong có lẽ sợ Trọng nói lôi thôi thêm.
Sau vài phút lúng túng, cuối cùng Trọng đành phải đưa chậu hoa về nhà với nỗi thắc mắc đang lớn dần trong đầu. Anh tự hỏi:
- Ai chơi trò cắc cớ như thế này?
Dẫu vậy Trọng cũng tìm chỗ để đặt chậu hoa. Ngôi biệt thự đã được trồng khá nhiều loại hoa khác và mọi nơi hầu như đều đã có sự sắp xếp hài hòa, khó tìm một nơi để chen thêm vào. Nên cuối cùng Trọng chọn bên ngoài cửa sổ của căn phòng màu hồng phấn. Anh tự hài lòng, bởi ở đó bất cứ lúc nào hễ mở cửa sổ ra, hoặc nằm trong phòng là anh cũng có thể nhìn thấy hoặc ngửi được hương thơm của hoa.
Hôm đó, buổi tối cuối tuần...
Đã từ lâu lắm rồi, Trọng hầu như quên hẳn cái thú tiêu khiển đêm bên ngoài, đặc biệt là những cuộc hẹn hò nhảy nhót ở một vũ trường nào đó với người yêu, để rồi khi tàn cuộc, nắm tay nhau ra khỏi vũ trường thì trời đã gần sáng. Những cuộc hò hẹn như vậy hầu như mất hẳn với Trọng, kể từ khi người con gái mang tên loài hoa mà anh đang thích, Trà My biến mất khỏi cuộc đời anh mà không một lời giải thích. Trọng thích cô đơn và chọn lối sống khép kín là bởi đó...
Nhưng hôm nay tự dưng Trọng nghĩ khác. Chẳng hiểu sao anh lại muốn ra ngoài, đi đâu đó một vòng, tìm chỗ nào đó uống vài ly rượu chẳng hạn, có thể là do tâm trạng bớt căng thẳng sau khi ổn định được chỗ ở, hay do... tìm được chậu hoa trà mi?
Trọng không thích liên tưởng chuyện này sang chuyện kia, chỉ đơn giản là hiện tại anh có nhu cầu muốn thư giãn. Tuy nhiên, lúc Trọng vừa thay quần áo xong thì chợt chuông điện thoại reo. Không nghĩ là khách của mình, bởi từ khi dọn về nhà mới Trọng chưa hề cho ai số điện thoại ngôi nhà này, mà thậm chí anh còn chưa thuộc số nữa là...
- A lô!
Trọng chỉ nghe từ đầu dây bên kia lên tiếng có bấy nhiêu đó, rồi lặng im, không nói thêm gì, mặc dù Trọng đã hỏi lại đến lần thứ ba.
- Ai vậy?
Hỏi lại lần thứ tư, bên kia vẫn không đáp, Trọng bắt đầu bực, muốn gắt lên, nhưng bởi người bên kia đầu dây là một phụ nữ, nên Trọng khẽ lắc đầu rồi định đặt máy xuống.
- Trọng phải không?
Lúc này bên kia mới chịu lên tiếng. Mà sao giọng nói nghe như...
- Ai vậy? Phải chăng...
Trọng suýt rú lên bởi giọng nói như từ trong giấc mơ vọng về!
- Trọng hả?
- Trà My, anh đây!
Trọng mừng đến quýnh lên, tay chân run rẩy đến nỗi làm rơi chiếc ống nghe. Đến khi nhặt lên thì chỉ còn nghe bên kia nói nhanh:
- Ở đó, em sẽ tới!
Mọi chuyện đúng là như một giấc mơ. Trọng đã mất Trà My từ hơn sáu năm nay. Buổi chiều cuối năm ấy Trà My lên xe đò về quê ở một tỉnh miền Trung rồi không bao giờ trở lại. Trọng đợi chờ trong vô vọng đến ba tháng sau và đã về tận quê của nàng để tìm, nhưng ngoài đó người ta bảo Trà My không về quê, cũng không có tin tức gì!
Ban đầu Trọng nghĩ là nàng phản bội anh, đi theo tiếng gọi của một mối tình khác, bởi thời điểm đó Trọng đang thất nghiệp, túng bấn... Nhưng sau một thời gian, tình cờ Trọng đọc lại một tờ báo cũ, anh chết điếng khi đọc tin một vụ lật xe ở đèo Cả, làm chết gần chục người, trong số đó có tên Trà My!
Vậy mà...
Nhìn đồng hồ, lúc ấy mới hơn chín giờ, Trọng hồi hộp như chàng trai mới lớn lần đầu hẹn hò với người yêu. Anh hết ra rồi lại vào, dọn cái này, dẹp cái kia cố để cho khi Trà My tới nàng thấy mọi thứ đều tươm tất, đẹp như ngôi nhà hạnh phúc mà ngày xưa khi bắt đầu yêu nhau hai người thường mơ ước...
Mười giờ...
Vẫn chưa nghe tiếng gọi cổng. Có lẽ nàng còn phải đi tìm nhà...
Mười một giờ...
Lúc này Trọng như tỉnh giấc mơ, anh bình tâm lại và tự hỏi:
- Có đúng nàng là Trà My? Giọng thì không sai rồi. Nhưng...
Bao nhiêu thắc mắc trong đầu, nhưng niềm náo nức thì vẫn không vơi theo kim đồng hồ...
Mười một giờ rưỡi…
Điện nhà tự dưng tắt phụp. Mà hình như cả khu phố đều mất điện. Trọng lúng túng chẳng biết làm sao, bởi mới dọn về, nên anh không hề chuẩn bị đèn dầu hay nến dự phòng. Lỡ nàng tới thì làm sao?
Không do dự, Trọng bước ra mở khóa cổng, chỉ khép hờ, phòng khi Trà My tới không bấm được chuông cổng thì cũng có thể vào được nhà. Hồi hộp trở vào ngồi đợi thêm.
Mười hai giờ...
Chẳng hiểu do chờ đợi lâu quá mệt mỏi, hay do ly rượu thuốc uống sau giờ ăn chiều, mà Trọng đã gục ngủ ngay tại salon, nơi anh đang ngồi đợi. Cho đến khi...
- Đợi khách mà như thế này sao!
Nghe tiếng, Trọng choàng tỉnh dậy, anh ngơ ngác nhìn quanh. Toàn một màu tối đen.
- Trà My phải không? Em đâu...?
Trọng như kẻ mộng du, bật dậy và đưa tay quờ quạng vào khoảng không. Anh chạm phải đôi tay của người con gái.
- Em đây mà! Ngủ mà không khóa cổng, lỡ không phải em vào thì sao...
Nàng ôm chầm lấy người yêu và nụ hôn của họ đã thay bao nhiều lời nói mà đáng lẽ lúc ấy họ đã phải nói với nhau.
Giọng nàng nồng nàn:
- Anh đừng hỏi gì hết lúc này. Em chỉ muốn tận hưởng... Em chỉ muốn mãi mãi trong vòng tay anh như thế này... Đừng rời em ra, em... chết mất. Siết chặt em đi... ôm em nữa đi...
Nàng chủ động đẩy Trọng lùi dần vào phòng ngủ và đôi môi không rời ra khỏi môi anh chàng. Họ quấn lấy nhau, lúc ấy chỉ còn hơi thở gấp là còn có thể nghe trong màn đêm...
Khá lâu sau...
- Em nói cho anh nghe xem, chuyện gì đã xảy ra gần sáu năm trước?
- Chuyện em xa anh đột ngột?
- Cả chuyện báo đăng...
Giọng nàng cười ríu rít trong bóng tối, hồn nhiên và dễ thương như ngày nào...
- Cho rằng em chết nên anh... mừng phải không? Thảo nào không lo đi tìm người ta...
- Sao lại không tìm. Anh về quê em hai lần, đi khắp nơi quen biết để hỏi nữa. Nhưng không nơi nào...
- Tại sao không lên am Cô Ba, anh không nghĩ em ở đó sao?
- Am Cô Ba! Thảo nào...
- Em bị bệnh hiểm nghèo, chán nản, em không muốn cho anh biết nên trốn lên đó. Nghĩ là trước sau gì anh cũng tìm ra em. Vậy mà...
Nàng lại ghì lấy Trọng như để bù đắp thời gian xa nhau quá lâu. Giọng nàng qua hơi thở:
- Đến khi em biết chắc mình không còn bệnh nữa mới dám đi tìm anh.
Chừng như lúc này Trọng cũng không quá quan tâm đến những lời giải thích. Với anh điều quan trọng nhất là một Trà My bằng xương bằng thịt đã trở về.
- Anh không hỏi làm sao em biết được nơi anh ở? Anh cũng không hỏi tại sao em có tên trong danh sách người tử nạn trên chuyến xe đò rơi xuống vực mà vẫn còn sống?
- Rồi mình sẽ nói sau...
- Nếu anh không hỏi bây giờ thì sau này đừng bắt em trả lời. Nhớ đấy...
- Ừ...
Đúng là Trọng không còn biết gì khác. Đã quá lâu rồi, cái cảm giác như lúc này thiếu vắng nơi một chàng trai đang độ sung sức, nên Trọng có quên hết mọi thứ trên đời cũng là điều dễ hiểu. Và việc mất điện kéo dài hình như ngẫu nhiên mà vô cùng hữu lý, nó hỗ trợ cho cuộc trùng phùng kỳ lạ trở nên tuyệt vời, vô tận...
Nhưng rồi việc gì cũng đến hồi kết thúc. Trọng trong trạng thái ngụp lặn sâu vào thế giới như mơ như thực, đã phải choàng tỉnh lại khi ánh mặt trời từ cửa sổ xuyên thẳng vào giường ngủ. Vừa mở mắt ra Trọng đã chạm vào một thân thể bên cạnh. Nhớ lại chuvện vừa qua, Trọng bật dậy ngay, và việc đầu tiên của anh là ôm choàng lấy cô gái đang ngồi ủ rũ với mái tóc dài phủ kín khuôn mặt...
- Trà My! Anh muốn nhìn lại em...
Nàng ngẩng lên và lần đầu tiên Trọng nhìn rõ mặt.
- Cô là...
Trọng trợn tròn mắt, buông nàng ta ra và hấp tấp tìm cách bước xuống giường, suýt nữa đã vấp té. Trước mặt Trọng là một cô gái hoàn toàn xa lạ, chớ không phải là Trà My!
- Sao lại như thế này?
Cô gái oà lên khóc, giọng nghẹn ngào, nhưng vẫn còn nghe rất rõ:
- Em biết rồi sẽ có giây phút này mà. Đời con gái nó phũ phàng giống nhau cả, trao thân cho người ta để rồi...
Lạ làm sao, giọng nói ấy đúng là của Trà My! Dẫu đã cách xa nhau bao nhiêu năm, nhưng làm sao Trọng quên được cái âm điệu từng đã khắc sâu vào tâm trí anh.
- Cô là...?
Cô nàng không đáp, vụt bước khỏi giường và vồ lấy quần áo đang vươn vãi dưới sàn nhà, chạy biến ra khỏi phòng, mà tiếng khóc nức nở vẫn còn vọng lại.
Sau vài giây sững sờ, Trọng chạy theo. Nhưng khi ấy anh chàng phát hiện là mình trong tình trạng gần như chẳng có gì che thân, nên khựng lại. Đến khi mặc lại quần áo, Trọng ra tới ngoài thì chẳng còn thấy cô nàng đâu.
Ở ngay cửa ra vào có một vật gì đó rơi nằm ngay tầm mắt, Trọng cúi xuống nhặt và kêu lên:
- Trà My!
Miếng ngọc bội bằng cẩm chạch này là của mẹ Trọng, chính tay anh đã đeo vào cổ Trà My gần mười năm trước, nó không thể lẫn vào với thứ nào khác, bởi nó là của gia bảo nhà Trọng, truyền từ đời bà cố, đến bà ngoại, rồi mẹ anh và chính bà trước khi mất đã tin tưởng giao cho Trọng, dặn là chỉ trao lại cho người con gái sẽ là dâu bà.
- Trà My!
Trọng lặng người đi, đầu óc đang quay cuồng với những gì diễn ra đêm qua...
Vừa lúc ấy có tiếng chuông điện thoại reo vang. Trọng đợi chuông reo đến lần thứ ba anh mới bước tới nghe. Nhưng đôi chân của anh hầu như không thể cất lên được. Nó như bị ai đó ghì kéo lại...
Chuông đổ liên hồi...


Phần 2


Bà Xuân Lan ái ngại hỏi cô y tá:
- Tình trạng cậu ấy ra sao rồi cô?
Cô y tá rút cây đo nhiệt độ ra, vừa lắc đầu:
- Không khả quan hơn chút nào. Sáng nay khi chúng tôi nhận bệnh nhân vào thì ông ấy đã trong tình trạng này rồi. Bác sĩ đã khám, cho thuốc, đích thân tôi đã chích hai lần nhưng ông ấy vẫn không tỉnh lại và nhiệt độ thì vẫn rất cao. Hình như người nhà chở vào quá chậm...
Bà Xuân Lan thở dài:
- Tôi gọi điện thoại tới nhà cậu ấy rất lâu mà không nghe trả lời, lúc đầu tôi cứ tưởng là cậu ấy ngủ quên, nên phải một giờ sau tôi mới gọi lại, lần này có người nhấc ống nghe lên, nhưng không trả lời, rồi tôi nghe có vật gì đó đổ vỡ mạnh. Tôi bảo tài xế chạy tới thì phát hiện cậu ta nằm ngất đi ở cạnh điện thoại nhấc lên mà không kịp nghe...
Vừa lúc ấy vị bác sĩ điều trị bước vô, ông hỏi liền:
- Bà là gì của anh này?
- Tôi là chủ nhà, cậu ấy là người thuê.
- Nghe bà nói thì anh ấy ở một mình lúc xảy ra chuyện?
Bà Xuân Lan gật đầu:
- Cậu ấy một mình mướn nguyên ngôi biệt thự của tôi. Cậu ấy độc thân.
Vị bác sĩ nghiêm giọng:
- Một người đàn ông độc thân không đồng nghĩa với việc họ có quan hệ nam nữ. Trong trường hợp này, tôi có thể kết luận, anh ấy đã... quá tải chuyện tế nhị...
Tuy là lớn tuổi, nhiều kinh nghiệm, nhưng bà Xuân Lan vẫn không hiểu hết ý của bác sĩ, bà hỏi lại:
- Bác sĩ nói thế nghĩa là sao?
Vị bác sĩ giờ mới cười:
- Nói cho dễ hiểu, anh này bị lâm vào tình trạng kiệt lực do quan hệ nam nữ quá độ, cộng thêm cơ thể đang yếu. May cho anh ta đã vào đây kịp, nếu không thì...
Trước khi bước ra khỏi phòng bệnh, vị bác sĩ trấn an:
- Đã qua hiểm nguy rồi. Tôi sẽ cho truyền dịch với đạm và thuốc bổ liều cao, chỉ sau một ngày nữa là anh ấy có thể về nhà. Nhưng tôi dặn riêng bà, phải ngăn cấm anh ấy tránh xa chuyện kia. Nếu không...
Bà Xuân Lan lúng túng:
- Thưa bác sĩ, tôi chỉ là...
Cô y tá che miệng cười vừa bước nhanh ra ngoài như chạy trốn... trong lúc ấy bỗng Trọng cử động nhẹ mi mắt và từ từ mở mắt ra. Anh ta vừa hồi tỉnh...
- Trà My!
Bà Xuân Lan ngạc nhiên.
- Tôi đây mà. Cậu vừa gọi ai vậy, cậu Trọng?
Nhận ra người trước mắt mình, Trọng muốn gượng dậy mà không được, anh nói rất khẽ:
- Nàng đâu rồi, tìm nàng ta giúp tôi...
Tằng hắng một tiếng lớn, bà Xuân Lan nghiêm giọng:
- Bác sĩ vừa cảnh cáo, nếu cậu không biết giữ mình thì... chết không kịp hối đó!
Trọng ngơ ngác:
- Tôi làm gì?
- Làm gì thì cậu biết! Đúng là đàn ông, người nào cũng y như nhau. Vậy mà cậu nói với tôi, cậu sợ đàn bà, ghét phụ nữ, chỉ muốn sống độc thân.
- Thì tôi...
Bà Xuân Lan không muốn chạm vào điều tế nhị mà chính bà cũng đang cố quên nó. Bà nhẹ bước ra ngoài, khiến Trọng phải kêu lên:
- Kìa, bà chủ. Tôi cần nhờ bà...
Chợt nhớ ra, bà Xuân Lan quay lại dặn:
- Nghe tài xế tôi kể lại, lúc nó tới cứu cậu thì thấy cửa trong, cửa ngoài cổng gì cũng mở toang hoác ra hết trong lúc cậu ngủ. Bộ cậu tưởng đây là chốn thiên đàng sao chớ?
Trọng định nói rõ, nhưng lại thôi. Đợi khi bà Xuân Lan đi rồi, anh nhắm mắt lại cố xua hết những hình ảnh đang rối tung trong đầu ra, thậm chí là tìm một giấc ngủ dài... Tuy nhiên, chỉ nửa phút sau Trọng đã nghe ai đó càu nhàu:
- Lại ngủ nữa rồi...
Trọng mở mắt ra và gặp ngay cô y tá. Anh chưa kịp hỏi gì thì cô đã đặt lên bàn một bó hoa hồng vàng tươi thắm vừa nói:
- Có người gởi cho anh. Đào hoa quá, thảo nào...
Trọng vừa nhìn thấy bó hoa, anh đã kêu lên:
- Trà My!
- Kìa, anh làm sút dây truyền dịch ra rồi!
Trong lúc phản ứng tức thời sau khi nhìn thấy bó hoa, Trọng đã bật dậy, tính nhảy xuống khỏi giường bệnh.
- Tôi xin lỗi...
Thấy anh lảo đảo, cô y tá phải làm nhiệm vụ, đỡ một bên, nhưng càu nhàu lần nữa:
- Anh quên là đang kiệt sức hay sao chớ. Người gì mà...
Chợt thấy mình quá lời, cô ta nín ngang, nhưng vẫn không quên liếc xéo một cái. Cũng may là Trọng không nhìn thấy:
- Ai gởi cho tôi bó hoa này?
Cô y tá đáp và nhìn Trọng với ánh mắt là lạ:
- Hình như chung quanh anh chỉ toàn những người như thế?
- Người nào?
- Các cô gái đẹp!
Cô ta nói dứt lời đã bước nhanh ra ngoài, khiến Trọng phải kêu lên:
- Kìa cô! Người nào đã gởi...
Cô ta đi khuất rồi. Trọng thắc mắc trong đầu, đợi cô ta trở lại hỏi cho ra xem ai gởi. Nhưng cho đến hơn một giờ sau vẫn chẳng thấy bóng dáng cô ta đâu.
Đến giữa trưa thì một cô y tá khác, trẻ hơn đến thay ca. Trọng hỏi ngay:
- Ai đã gởi cho tôi bó hoa này?
Cô y tá mới ngơ ngác:
- Tôi mới tới thay ca, đâu biết gì.
Chỉ có Trà My là biết sở thích của Trọng. Ưa trà mi trong chậu, nhưng lại thích hoa hồng vàng cắm trong lọ. Ngày xưa, mỗi khi sinh nhật Trọng, Trà My đều tặng số hoa theo tuổi của anh và chỉ cần nhìn bó hoa cắm trong lọ mà không cần nhìn thấy người tặng, Trọng cũng hiểu ngay đó là nàng.
- Cô có thể giúp tháo ống truyền dịch ra, tôi cần ra ngoài một chút, được không?
Cô y tá lắc đầu ngay:
- Bác sĩ có ghi trong bệnh án của anh như thế này: Không để bệnh nhân này ra khỏi giường khi nào chưa có ý kiến của bác sĩ điều trị. Như vậy làm sao tôi dám.
Trọng bực bội:
- Tôi có bệnh gì đâu mà phải nằm đây cho tốn thì giờ!
Cô y tá nhìn vào bệnh án rồi nói ngay:
- Bệnh kiệt sức cấp hai thì đâu phải là nhẹ. Bộ anh lao lực nặng mà thiếu dinh dưỡng hay sao vậy?
Trọng đang cáu, nên vừa nghe hỏi đã gắt lên:
- Đúng là mấy ông thầy thuốc khám ai cũng ra bệnh cả! Sức tôi bẻ cổ voi còn được, sao lại suy dinh dưỡng?
Cô y tá nhìn Trọng rồi lắc đầu:
- Mặt mày anh xanh rờn thế kia, không phải bác sĩ cũng đoán ra bệnh! Chắc là anh chưa nhìn vô gương hả.
Cô ta bước ra khỏi phòng, lúc ấy Trọng mới vào phòng vệ sinh và nhìn vào gương soi. Anh giật mình cúi sát mặt vào, vừa lẩm bẩm:
- Sao... sao lại thế này?
Trong gương, sắc mặt Trọng xanh dờn, hốc hác thấy rõ. Chính anh cũng không thể ngờ.
- Thế nào, anh còn đủ sức bẻ cổ voi chớ?
Cô y tá trở lại với vị bác sĩ lúc sáng. Ông nhìn Trọng với nụ cười:
- Anh lúc này chỉ đủ sức bẻ cổ voi trên giấy thôi! Nếu anh muốn xuất viện lúc này cũng có thể được, với điều kiện là khi trở lại đây sẽ không được nằm phòng săn sóc riêng.
Trọng vẫn cãi:
- Tôi đâu có bệnh gì, thưa bác sĩ?
- Nếu tôi không lầm thì trước đây anh rất phong độ, hồng hào, tráng kiện?
Trọng đáp ngay:
- Tôi cao 1,72 mét, nặng 72 ký, ít khi đau bệnh gì.
Vị bác sĩ lại cười:
- Để tôi bảo cô Yến đây đi lấy cân bàn tới, anh cân thử xem bây giờ còn mấy ký.
Yến, cô y tá chạy đi ngay, vài phút sau đã trở lại với chiếc cân bàn đặt ngay dưới chân Trọng. Anh chàng bước lên ngay bàn cân và kêu lên:
- Sao kỳ vậy? Tôi mới cân cách đây mấy ngày mà!
Cô y tá Yến đọc to lên:
- 56 ký!
Không tin, Trọng cúi sát xuống nhìn và con số 56 lạnh lùng hiện ra trước mắt, khiến cho anh sững sờ. Chỉ mới qua một đêm mà đã như thế...
Vị bác sĩ hỏi rất khẽ, để tránh cho Trọng sự ngại ngùng:
- Anh trác táng hay phung phí sức vào việc gì mà mau xuống vậy? Lúc anh 72 ký là khi nào.
- Mới hôm qua đây thôi!
Ngay như bác sĩ cũng không tin:
- Con người ta chỉ xuống sức, mất cân khi trải qua năm ba ngày, thậm chí là cả tháng mới như vậy. Còn anh...
Ông ngừng lại nhìn Trọng, rồi nhìn sang bó hoa hồng, rồi nói như một kết luận:
- Những nhan sắc như thế, thảo nào....
Trọng nhìn ông, hỏi lại:
- Bác sĩ nói gì?
Vừa bắt tay Trọng, bác sĩ vừa đáp:
- Sáng nay tôi đã nhìn thấy cô gái đẹp như hoa hậu đến gởi cho anh bó hoa này. Anh có diễm phúc, nhưng cũng...
Có lẽ sợ nói ra điều không đúng chức năng một bác sĩ, nên ông ngừng lại, nheo mắt với Trọng rồi bước ra.
Nhưng Trọng thì đời nào chịu tin:
- Bác sĩ nhìn thấy cô gái đó ra sao? Cô ấy...
- Một cô gái rất trẻ, mặc chiếc áo lụa màu vàng giống như màu những đóa hồng kia. Còn là ai thì làm sao tôi biết được, hả ông đào hoa!
Ông ta đi khỏi rồi, cô y tá Yến nói chen vô:
- Hồi sáng, lúc tôi vào thay ca, tôi có thấy cô gái ấy cầm bó hoa đưa cho chị Hạnh, y tá trực ca trước. Cô ấy đẹp mê hồn luôn! Tôi tưởng khách nào, ai dè là... là...của anh.
Trọng không còn kiên nhẫn nữa, anh thay ngay bộ đồ bệnh viện ra, mặc lại quần áo của mình và nói với cô y tá:
- Cô đi làm thủ tục xuất viện giùm tôi rồi lát nữa tôi trở lại lấy.
Trọng để lại một số tiền vượt quá tiền viện phí, rồi chạy ngay ra ngoài. Cái bóng áo vàng ám ảnh Trọng, khiến cho ai xuất hiện trước mặt anh cũng đều có sắc vàng. Suốt hơn nửa giờ tìm kiếm khắp nơi trong bệnh viện, cuối cùng Trọng đành tiu nghỉu bước ra khỏi bệnh viện, như một kẻ mất hồn...
Trọng quên là chưa làm thủ tục xuất viện, giấy tờ, tiền bạc vẫn còn trong đó. Anh gọi xe taxi và bảo:
- Cho tôi ra bến xe đò đi Bảo Lộc.
***
Không phải nhất thời ngẫu hứng, mà bằng sự tính toán, Trọng tìm về Bảo Lộc, nơi mà anh và Trà My đều biết: Am Cô Ba!
Nhưng tại sao lại là nơi này? Trọng còn nhớ, đêm vừa gặp lại nhau, chính Trà My đã nhắc cho anh nhớ nơi này. Đó không phải là quê hương bản quán gì của cả hai, mà chính là một cái am thờ vong hồn ba cô gái bị tai nạn chết đã lâu đời, mà một lần khi đi chơi Đà Lạt về, hai người đã buột miệng nói đùa một câu: "Khi nào một trong hai đứa bị đứa kia phụ thì sẽ tìm về ẩn cư nơi này". Gần sáu năm xa cách phải chăng Trà My đã về đây như nàng nói đêm hôm ấy! Lạy trời đúng là như vậy...
Trọng đi chuyến xe khá trễ, nên khi tới ngang am Ba Cô (thay vì là Am Ba Cô, Trọng lại gọi là am Cô Ba) thì đã gần nhá nhem tối. Thấy anh bảo cho xuống ở đó, người tài xế ái ngại:
- Nơi này chỉ có mấy cái miếu, rồi làm sao ông đón được xe đi tiếp hay trở về vào giờ này?
Trọng chỉ khẽ mỉm cười rồi bước thẳng lên núi.
Chưa từng đặt chân tới đây bao giờ, nên Trọng hơi dè dặt bước từng bậc đá, nhắm nơi có ánh đèn dầu leo lét mà lần tới. Một hồi chuông ngân nga, vang ra từ trong ngôi miếu, khiến Trọng dừng lại trong giây lát, trước khi bước tiếp. Anh yên tâm, vì trong am có người.
Vừa bước tới thềm am, bỗng Trọng nghe có người hỏi:
- Ngài viếng am muộn quá!
Trọng quay lại và hơi ngạc nhiên khi thấy một sư cô khá trẻ.
- Dạ, do trễ xe...
Sư cô nói vọng vào trong:
- Giờ này vẫn có người viếng am, thầy ạ.
Tiếng chuông trong am cũng vừa dứt. Một sư cô lớn tuổi hơn nhẹ bước ra. Vừa nhìn thấy Trọng bà nói ngay:
- Mô Phật, cửa thiền, cửa am luôn rộng mở cho mọi người. Nhưng chắc tín hữu không chỉ viếng am?
Trọng lúng túng:
- Dạ, con có việc...
Ni cô trẻ lịch sự mời khách:
- Dạ, mời ngài vào.
Vị sư cô nhìn qua Trọng một lượt rồi bỗng lên tiếng:
- Chắc là về chuyện gần sáu năm trước!
Trọng ngơ ngác:
- Dạ, sư cô nói...
- Gần sáu năm trước, một hôm có người mang tới tận am này một gói đồ....
Sư cô ra dấu cho ni cô trẻ đi lấy một chiếc ba lô nhỏ mang tới.
- Vật này đây...
Vừa trông thấy Trọng đã kêu lên:
- Của Trà My!
- Đúng là người mà chúng tôi đợi rồi!
Đặt chiếc ba lô trước mặt khách, sư cô nhẹ giọng:
- Người mang chiếc ba lô này tới chỉ nói rằng, ông ta cùng đi chung trên chuyến xe đò qua Đèo Cả, ngồi chung băng ghế với chủ chiếc ba lô này. Khi xe bị nạn rơi xuống vực thì cô gái còn sống, cô ấy biết mình không thể qua được nên đã đưa ba lô này cho người ngồi bên cạnh may mắn sống sót và dặn hãy giúp mang nó đến am ba cô, gởi ở đó, chờ đến khi nào có người tên là Trọng đến thì đưa... Tôi đã giữ nó từ ấy đến nay mà chưa thấy người nào tới tìm. Bởi am này ít khách, nên lúc nãy khi nhìn thấy ông, tôi đã nghĩ ngay tới người tên là Trọng...
Trọng run run giọng:
- Dạ, chính tôi là Trọng. Chiếc ba lô này đúng là của Trà My, người tôi yêu đã mất tích gần sáu năm rồi. Vừa rồi...
Trọng không tiện nói ra chuyện mấy hôm trước. Tuy nhiên vị sư cô đã nói:
- Cách đây hai hôm, tôi nằm mơ thấy có một cô gái mặt mày đầy máu me, vừa khóc vừa nói rằng cô ấy cám ơn tôi lâu nay đã giữ giùm những kỷ vật và nhờ vậy mà ngày nay cô ấy sắp được gặp lại người yêu. Nhưng có điều này hơi lạ, mà hai hôm nay tôi cứ nghĩ ngợi mãi không ra.
Bà ngừng nói một lúc rồi kể tiếp:
- Trong giấc mơ ấy tôi thấy cô gái mặt đầy máu lại đi chung với một cô gái khác rất đẹp, mà vài tuần trước đã từng ghé am này...
Bà lại ngừng kể, quay sang ni cô trẻ:
- Diệu Thiện sẽ kể cho ông nghe chuyện ấy...
Ni cô được gọi là Diệu Thiện thật thà kể:
- Cách đây hơn hai tuần, có một cô gái đẹp, ăn mặc sang trọng ghé am này. Lúc ấy sư cô đi hái thuốc sau núi nên tôi đã tiếp. Trong lúc nói chuyện cô ấy nói mình gốc Sài Gòn, đi xa mới về, nhân đi chơi Đà Lạt về ghé qua viếng am, nơi mà cô ấy chưa hề biết, nếu không có giấc mơ lạ, mà trong giấc mơ ai đó đã khuyên cô nên ghé qua am này. Bởi tò mò nên sau khi hỏi thăm đường cô ấy mới ghé được nơi đây. Nghe nói thế tôi nghĩ tới chiếc ba lô mà lâu nay sư cô vẫn chờ chủ tới lấy, nên vội đem nó ra, kể qua chuyện lai lịch chiếc ba lô. Cô gái ấy muốn xem những thứ bên trong ba lô, mà thú thật từ nào đến giờ tôi chưa hề xem qua. Thấy yêu cầu không có gì quá đáng nên tôi đã đánh bạo mở ba lô ra. Bên trong chỉ có vài bộ quần áo, một số sách, tập vở và một album ảnh, gồm toàn ảnh chụp một đôi trai gái và chân dung riêng của một cô gái, chừng như đó là của chủ nhân chiếc ba lô này. Chẳng hiểu sao khi vừa nhìn thấy ảnh trong album ấy bỗng dưng cô gái đẹp kia sững sờ nhìn trân trối rồi sau chừng nửa phút bỗng ôm đầu kêu chóng mặt rồi ngã vật ra chỗ này, cho tới lúc sư cô về tới.
Sư cô tiếp ngay:
- Tôi không hài lòng chuyện Diệu Thiện cho người khác xem ba lô, nhưng khi ấy thấy tình trạng vị khách kia tôi hơi hoảng nên giục lấy dầu bôi để cứu chữa. Cũng may nữ thí chủ ấy đã tỉnh lại. Vừa tỉnh cô ấy đã kiếu đi ngay. Đến khi cô ấy đi hồi lâu Diệu Hiền mới phát hiện là cô ấy cầm theo luôn cuốn album ảnh.
Trọng chép miệng:
- Tiếc quá, đó là ảnh của tôi và Trà My.
Trọng xin phép xem lại những vật trong ba lô. Anh bồi hồi khi nhìn quyển nhật ký đang viết dở dang của nàng, bên cạnh còn có hai quyển sách mà chính Trọng đã mua và đề tặng mấy hôm trước khi xảy ra tai nạn.
Anh thắc mắc:
- Tại sao cô gái lạ kia lại lấy quyển album? Cô ta không lẽ là người nhà của Trà My ư?
Ni cô Diệu Thiện nhận xét:
- Trước lúc mở ba lô ra tôi không thấy cô ấy có biểu hiện gì quan tâm lắm, cho đến khi nhìn thấy quyển album với những bức ảnh. Lúc ấy tôi nghe không rõ lắm, nhưng hình như cô ấy có kêu lên khẽ trong miệng như là đúng cô ấy đây mà... rồi nhìn sửng sốt.
Trọng lúc này mới chợt nhớ ra, anh hỏi:
- Cô ấy có nói là người ở đâu không?
- Không nói, mà chúng tôi cũng chưa kịp hỏi. Nhưng hình như là Việt kiều ở nước ngoài. Qua cách ăn mặc và qua giọng nói.
Đóng ba lô lại, Trọng hỏi:
- Sư cô có thể cho tôi nhận vật này được không ạ?
Sợ bị từ chối, Trọng móc túi lấy ra giấy tờ tùy thân:
- Tôi đúng là Trọng.
Sư cô cười hiền hòa:
- Cậu đúng là người mà chủ nhân ba lô đã phó thác thì cứ nhận, chúng tôi giữ làm gì, chỉ tiếc là quyển album, đó là sơ xuất của chúng tôi...
- Dạ, không có gì. Chắc là người đó trong lúc bị bấn loạn sao đó nên quên. Hy vọng lúc nào đó họ sẽ đem trả lại đây, tôi xin để lại địa chỉ, nếu họ gởi trả quyển album thì phiền sư cô báo tin giùm.
Trọng ghi vội địa chỉ rồi xin phép cáo từ. Sư cô ngăn lại ngay:
- Giờ này quá tối, mà đường đèo ở đây lại không có xe đi vào giờ này. Ngoại trừ cậu có xe riêng...
Trọng đành phải nói cho qua chuyện:
- Dạ không sao, tôi có quen trạm kiểm lâm trên đèo. Tôi sẽ...
Anh đi nhanh xuống đèo. Lúc ấy đồng hồ tay đã chỉ chín giờ...
Đúng là Trọng quá liều. Vào giờ này không mấy ai dám đi bộ trên đèo vắng này. Bởi sự hoang vắng đến rợn người của nó, mà còn có sự nguy hiểm đang chực chờ đi trong bóng đêm dày đặt như thế này. Nhũng chiếc xe chở gỗ, xe tải nặng lên đèo thường ép sát vách núi và là mối đe dọa mạng sống người đi bộ như Trọng.
Tuy nhiên lúc ấy Trọng quên hết mọi hiểm nguy, anh cứ cắm đầu đi xuống dốc, hướng về phía Sài Gòn.
Cho đến lúc bất chợt mắt Trọng mờ đi, một phần vì sương đêm xuống nhanh, một phần có lẽ do quá mệt. Trong mơ hồ, Trọng thấy hình như có một chiếc xe dừng bên cạnh và anh chỉ kịp đưa tay chạm vào thành xe...
***
Sau chuyến đi Bảo Lộc về Trọng ngã bệnh nằm liệt giường đến ba bốn ngày liền. Sáng nay khi vừa cảm thấy trong người sảng khoái hơn thì nhà anh có khách. Nghe tiếng chuông gọi cổng Trọng hấp tấp chạy ra với một hy vọng. Nhưng khi nhìn thấy một lão già đợi ở ngoài, Trọng thất vọng. Người anh đợi đã không tới.
- Cậu không mở cửa mời khách sao?
Câu hỏi đó làm cho Trọng giật mình. Anh còn chưa kịp hỏi thì người đàn ông đang đứng đợi ngẩng mặt lên, nhìn thẳng vào Trọng.
- Ông... ông là...
Vị khách cười nhẹ:
- Là ông thầy tướng số mà cậu đã từng tìm tới nhà!
Trọng còn tròn xoe mắt nhìn, thì ông ta đã tự động đưa tay về phía Trọng:
- Nếu cậu còn yếu không mở cổng được thì đưa chìa khóa đây, tôi mở cho.
Trọng còn chưa định thần kịp thì như bị sai khiến, anh đưa ngay xâu chìa khóa cho lão ta, rồi bước vào nhà như kẻ mất hồn.
Lão già bước theo rất nhanh, giọng lão nghe khỏe và bình tĩnh:
- Tôi đợi cậu hai ngày rồi. Hôm nay là ngày cuối cùng, nếu không gặp được thì cậu sẽ là người hối hận.
Trọng quay lại nhìn lão để xác định xem lão ta là người hay là... ma. Trọng nhớ lại hôm lão biến mất trong ngôi nhà hoang.
- Thật sự ông là ai?
Lão tướng số hình như hiểu ý của Trọng:
- Cậu nghĩ tôi là ma cũng được. Nhưng bữa nay tôi tới đây không phải với tư cách một... âm hồn. Mà là người sẽ cứu cậu thoát khỏi một tai ách.
Lão ta tự nhiên ngồi xuống ghế, lấy từ trong túi ra một gói giấy nhỏ, mở ra trước mặt Trọng:
- Cậu đã từng nhìn thấy vật này?
Trọng trố mắt:
- Lá... bùa ếm của ông?
Trọng đã nhìn thấy lá bùa này một lần do bà Xuân Lan đưa cho xem, nên nhận ra ngay. Tuy nhiên lão tướng số lắc đầu bảo:
- Cái này không phải của tôi, mà là của bà chủ nhà cậu đang mướn!
Nghĩ là Trọng không hiểu, lão ta giải thích thêm:
- Đúng là trước đây tôi có ếm ngôi nhà này, nhưng không phải phá hay trù cho chủ nhà tàn mạt, mà chỉ nhằm mục đích ngăn cản không cho người khác thuê. Tôi không muốn...
Trọng chợt nhớ:
- Thảo nào đã từng có người đặt cọc cả năm tiền thuê rồi mà phải bỏ!
Lão ta trầm ngâm một lúc rồi thở dài:
- Điều đó trái lại mới đúng. Người duy nhất tôi muốn cho vào thuê ngôi nhà này chính là người phải bỏ tiền cọc đó!
Trọng càng lúc càng rối:
- Vậy ông ếm để làm gì?
- Là ngăn không cho ai khác được thuê, kể cả cậu!
Nhớ lại những mảnh giấy để trên gối, Trọng hỏi:
- Có phải ông là tác giả những mảnh giấy đó?
Lão ta nhìn Trọng một lúc rồi lắc đầu:
- Không phải tôi, mà chính do lá bùa này.
Lão ta lấy ra thêm một mảnh giấy nữa, đưa cho Trọng xem:
- Cậu nhìn kỹ xem, đây có phải là chữ viết của bà chủ nhà Xuân Lan không?
Đã từng thấy bút tích của bà chủ nhà trong tờ hợp đồng, nên Trọng nhận ra ngay:
- Đúng là chữ của bà ấy.
- Còn chữ ở đây, có phải cũng là của cùng một người không?
Lão ta đưa thêm một tờ giấy khác có nhiều chữ hơn. Vẫn là tuồng chữ của bà Xuân Lan và có cả ký tên và ghi đầy đủ họ tên của bà nữa. Trọng ngạc nhiên khi đọc thấy nội dung tờ giấy: Tờ thuận tình ly hôn.
- Cậu đọc xem, có phải bà ấy và tôi đã ly hôn cách đây ba năm không?
Đúng là nội dung tờ giấy đề cập chuyện ly hôn giữa bà Xuân Lan và FengXiao, lỗi thuộc về người chồng, nên bà vợ được quyền hưởng trọn số tài sản ở Việt Nam!
- Thì ra ông và bà Xuân Lan...
- Chúng tôi là vợ chồng. Từ Hồng Kông chúng tôi sang đây làm ăn lúc còn hàn vi. Đến khi phất lên thì bà ấy tìm cách tống cổ tôi ra khỏi nhà. Tờ thuận tình ly hôn này là do bà ấy ép tôi phải ký, chỉ vì tôi phạm phải một lỗi lầm do hớ hênh. Ngôi nhà này do tôi đứng ra xây, khi gần xong thì chuyện ly hôn xảy ra, tôi không còn cách nào khác hơn là tự mình làm lá bùa ếm, để bà ấy không bán hoặc cho ai khác thuê, ngoại trừ đứa con riêng của tôi. Vậy mà...
Lão ta lại cầm lá bùa trên tay:
- Bà ta cao tay hơn tôi. Khi biết được tôi ếm ngôi nhà, bà ta đã về tận Hồng Kông nhờ một lão thầy số giỏi hơn tôi, làm đạo bùa này về và phá tác dụng đạo bùa tôi làm. Chính đạo bùa của bà ta đã ngăn không cho đứa con gái riêng của tôi, khiến nó phải bỏ ngang số tiền cọc khá lớn!
Trọng ngạc nhiên:
- Người bỏ tiền cọc thuê nhà kia là con gái của ông?
- Nó là con riêng đời vợ trước của tôi. Tôi đưa nó về đây là nhằm tính kế lấy lại số tài sản đã mất về tay người đàn bà quá quắt mà cậu vẫn gọi là bà chủ Xuân Lan! Bà ta đã lừa, lấy hết sản nghiệp của tôi như cậu vừa nghe đó.
Trọng đã dần hiểu ra sự việc, lúc này anh mới đánh bạo hỏi:
- Ông là người vẫn còn.. sống?
Không trả lời Trọng ngay, lão ta đứng dậy bước ra cửa mới nói:
- Giờ thì tôi đã làm được điều mình muốn. Tôi đã gỡ được lá bùa của bà ta gài trong căn phòng màu hồng mà cậu vẫn ngủ. Từ nay con gái tôi có thể trở về và sẽ là chủ nhân của ngôi nhà này. Điều này cũng có nghĩa là cậu phải dọn đi ngay, nếu không muốn nguy đến sinh mạng. Bởi thú thật với cậu, tôi đã lỡ ếm bùa hơi nặng tay, người ngăn cản con gái tôi tất sẽ bị nguy hiểm mà không có cách nào cứu được!
Lão ta bước luôn ra cổng sau khi buông ra những lời lẽ đầy hăm dọa đó. Trọng không quên nhìn theo bước chân lão đi, xem có gì khác thường như thiên hạ lâu nay vẫn nói ma luôn đi lướt trên mặt đất. Tuy nhiên Trọng đã không kịp nhìn kỹ thì lão già đã biến rất nhanh, chẳng thể nào kết luận được.
Trọng tính khóa cổng lại rồi chẳng tiếp khách nào nữa, cho tới lúc khỏe lại hoàn toàn. Anh viết một mảnh giấy dán lên cổng với dòng chữ: "Chủ nhà đi vắng", đang tìm cách dán lên thì có chiếc xe hơi ngừng lại.
- Cậu Trọng lại tính đi nữa à?
Bà Xuân Lan bước xuống xe, nhìn Trọng với cặp mắt dò xét. Trọng đành phải phịa chuyện:
- Tôi có chút việc phải đi...
Chợt lúc ấy có người lên tiếng từ trong xe:
- Vậy thì sẵn xe, mời đi luôn!
Một cô gái rất trẻ bước xuống. Vừa trông thấy Trọng đã trố mắt nhìn!
- Sao... sao lại là…
Trọng làm sao quên được cô gái mà anh tưởng lầm là Trà My đêm hôm trước. Cô gái này đang đứng trước mặt anh.
- Hai người đã quen nhau rồi sao? Vậy mà cô Dạ Hương đây cứ đòi tôi dẫn tới gặp cho được người chủ mới của ngôi nhà mà đáng lý ra là của cô. Tôi làm phiền cậu một ít phút, được chớ cậu Trọng?
Không để Trọng nói, cô gái đã tiếp:
- Anh đã nhớ lại lúc nửa đêm ở đèo Bảo Lộc anh về đây bằng gì chưa?
Trọng như người bừng tỉnh từ giấc mơ:
- Cô là...
Anh nhìn chiếc xe hơi, đầu óc đang lộn xộn của Trọng từ từ nhớ lại...
- Cô đã chở tôi về?
Cô gái mỉm cười:
- Nếu tối đó tôi không tình cờ từ Đà Lạt về ngang đó giờ ấy thì có lẽ...
Trọng bỗng rùng mình, cảm giác lạnh lan cả toàn thân. Cả một chuỗi sự việc rời rạc giờ đây hình như đang được xâu chuỗi lại và trong đầu Trọng đang lờ mờ hiện ra tất cả...
- Anh không mời chúng tôi vào nhà sao?
Trọng còn đang lúng túng thì bà Xuân Lan đã nói đỡ:
- Cô Dạ Hương này chỉ muốn nói với cậu một chút chuyện gì đó rồi đi ngay, không phiền cậu lâu đâu.
Lúc ấy Trọng mới mời khách vào nhà. Càng nhìn cô gái này Trọng càng khẳng định cô nàng chính là người đã cùng với anh. Nhưng chỉ có giọng nói thì không có chút âm hưởng nào của Trà My như đêm hôm đó.
Cô gái chợt nói, làm cho Trọng ngơ ngác:
- Trước mặt bà chủ nhà đây có lẽ anh Trọng không dám thú thật là đã từng tiếp tôi trong nhà này cách nay không lâu. Tiếp vào ban đêm nữa...
Cả bà Xuân Lan cũng tròn mắt nhìn hai người. Trọng thì như con gà mắc tóc:
- Tôi... tôi...
Nàng lại tiếp:
- Đàn ông mau quên, chớ phụ nữ chúng tôi thì nhớ dai và cũng thù dai nữa!
Những câu nói không đầu đuôi của cô ta khiến bà Xuân Lan càng lúc càng mù tịt, bà quay sang Trọng định hỏi, thì chợt cô gái lấy từ trong túi xách ra một vật mà vừa nhìn thấy Trọng đã kêu lên:
- Quyển album!
Đúng là quyển album của anh và người yêu quá cố.
- Tôi vô tình cầm nhầm ở am Ba Cô, nay hoàn lại cho anh. Cũng nhờ có nó...
Nàng ta không nói hết câu, thái độ hơi lạ... Tuy nhiên vì lúc này Trọng chỉ để ý đến quyển album, nên anh chụp lấy ngay và giở liền ra xem. Ở ngay trang đầu tiên, bức ảnh chân dung của Trà My đang cười rất tươi, sống động đến nỗi Trọng có cảm giác như nàng đang muốn nói gì đó với mình!
Trong ảnh Trà My mặc chiếc áo dài lụa màu vàng anh mà ngày xưa lúc nào hẹn hò cùng nhau, lúc nào nàng cũng mặc màu áo này.
- Anh không cám ơn tôi về việc có lại tập ảnh này?
Lúc này Trọng mới nhớ ra, anh hỏi:
- Chính cô là người tới am và lấy đi. Tại sao cô biết chốn đó?
Câu hỏi thật đúng lúc. Lúc này cô gái mới hết vẻ thách thức như nãy giờ:
- Tôi làm theo lệnh của con tim mách bảo. Tôi cũng không biết tại sao nữa.
Bà Xuân Lan không còn đủ kiên nhẫn:
- Giữa hai người đã có chuyện gì? Này cô Dạ Hương, cô nói với tôi là chỉ muốn gặp người chủ mới của ngôi nhà để dặn một chút về căn phòng sơn màu hồng phấn mà cô đã cố công bỏ tiền ra cho thợ thực hiện trước kia. Chớ đâu có nói việc hai người từng qua lại với nhau. Bây giờ...
Hầu như không để ý đến sự có mặt của bà chủ nhà, Trọng cố hỏi cho ra lẽ câu nói còn bỏ lửng của cô gái:
- Cô nói con tim mách bảo việc gì? Tại sao cô ghé am chỉ để nghe kể về cái ba lô của Trà My và bị kích động khi xem thấy ảnh của chúng tôi trong album?
Trước những câu hỏi dồn dập của Trọng, rõ ràng cô gái không còn tự chủ nữa, cô hấp tấp đứng lên và bước thẳng về phía căn phòng, vừa nói như lời xin phép:
- Anh có thể cho tôi vào phòng riêng một chút, tôi cần...
Trọng nói đại, theo trực giác của mình:
- Có phải cô đi tìm vật người ta ếm trong phòng đó không? Nếu thế thì đã có người lấy đi rồi. Cha cô đã lấy!
Cô gái đứng khựng lại, trong lúc bà Xuân Lan thì hoảng hốt:
- Cậu nói ai lấy vật gì trong phòng kia?
- Lão Feng Xiao!
Vừa nghe tới tên con người này thì bà Xuân Lan tái mặt, bà run run giọng:
- Lão ta... tới... tới đây?
- Đúng. Lão ấy vừa ra khỏi đây thì bà tới. Lão đã lấy đi vật mà bà đã giấu trong căn phòng màu hồng. Lão ta đã nói vật đó do chính bà đem về từ Hồng Kông với mục đích để...
Không muốn Trọng nói hết ý, bà Xuân Lan chận ngang:
- Cậu có biết là đã rước họa vào thân không! Lão ấy là người... đã chết!
- Bà nói....
Không để bà ta trả lời, cô gái đã chen vô:
- Một người chết, một hồn ma không hại ai, chỉ muốn đòi sự công bằng cho con gái mình thôi! Người con gái đó là chính tôi đây, bà Xảo Lan!
Nghe cô ta gọi đúng tên tộc của mình, bà Xuân Lan giật nảy mình:
- Cô là... là XiangWa?
- Bà cứ gọi tôi là Giáng Hương như lâu nay cho dễ. Chắc bà còn nhớ lúc tôi tới làm hợp đồng thuê nhà một năm trước chớ? Lúc ấy bà có nói là sẽ chỉ cho người nào thích sơn phòng ngủ với màu hồng phấn và sau khi tôi nói ra ý của mình là tôi chỉ thích màu đó thì bà lại nhờ thầy tướng số ếm căn phòng đó, nhằm không để cho tôi thực hiện việc thuê nhà. Thì ra bà đã biết là ba tôi có cô con gái riêng sống ở nước ngoài, người đó cũng là một hồn ma từ mấy năm trước do tự tử sau khi nghe tin cha mình bị mất cả sản nghiệp về tay bà vợ kế nhiều mưu mẹo như bà! Hồn tôi đã hiển hiện về đôi lần dọa sẽ trở về báo thù khi nào tôi lọt được vô nhà, sống trong căn phòng sơn màu hồng phấn. Biết được điều đó nên bà đã ra tay trước, rước thầy về làm phép, khiến tôi đành phải rút lui, bỏ cả số tiền đặt cọc lớn. Nhưng trời còn thương cha con tôi, nhờ người con trai tên Trọng này, mà ở cõi âm tình cờ tôi gặp được người yêu chết oan của anh ta và chúng tôi đã hứa giúp nhau...
Cô ta quay sang Trọng, nhẹ giọng:
- Tôi cám ơn anh nhiều lắm. Qua một đêm thử thách, tôi đã biết được lòng dạ anh. Biết rằng anh xứng đáng được tôi trả ơn và anh cũng rất xứng đáng để trùng phùng với người yêu, cô Trà My!
Cô nàng nói xong bước thẳng vào phòng. Ở trong đó khá lâu, trong lúc bà Xuân Lan đứng im bên ngoài như người bị thôi miên, chẳng nói lời nào, cũng chẳng cử động.
Trọng thì không bị gì, nhưng anh cũng nhẫn nại chờ...
Lát sau cô nàng trở ra, trên tay cầm chiếc áo lụa màu vàng anh đưa cho Trọng:
- Anh nhận ra chiếc áo này chứ?
Trọng kêu lên:
- Áo của Trà My!
- Đúng như vậy. Lúc tới am ngoài quyển album tôi còn lấy đi chiếc áo này. Mục đích của tôi là hóa thân thành Trà My, để qua anh sẽ thâm nhập được vào nhà này. Nhưng bà ta quá cao tay, đã phát hiện được ý đồ ấy qua mách nước của tay tướng số từ Hồng Kông, mụ ta đã nhờ lão ấy đánh cắp chiếc áo này và đem nó đặt bên trong gối của anh, nhằm một lần nữa ngăn không cho anh đón tôi vô phòng. Cũng may, từ nay chủ thật sự của chiếc áo này có thể về với anh.
Trọng quá đỗi ngạc nhiên:
- Trà My?
- Anh cứ bình tĩnh, việc gì tới rồi nó sẽ tới.
Nhưng Trọng làm sao không sốt ruột:
- Tôi muốn biết, Trà My giờ ở đâu?
- Bà này sẽ cho anh biết lúc nào thì anh gặp được cô ấy. Nói gặp thì cũng chưa chính xác, phải nói là sẽ mãi mãi ở bên anh!
Trọng nhìn sang bà Xuân Lan hỏi:
- Thế nào, bà chủ?
Trái với thái độ kẻ cả lúc trước, giờ bà ta nói, giọng yếu xìu:
- Cậu muốn làm gì cũng được.
Nhưng cô nàng đã gắt lên:
- Bà phải lấy hết giấy tờ nhà ra đây, ký tên vào tờ "đoạn mãi" như bà từng làm với ba tôi ngày xưa. Bà làm ngay đi, như thế tôi còn để cho bà con đường sống, bằng không...
Vừa nói, cô nàng vừa lấy ra một tờ giấy nhỏ màu vàng, chữ viết đen, đưa ngay trước mặt bà Xuân Lan:
- Bà nhìn ra vật này rồi phải không Chính bà đã thuê tên tướng số ở Hồng Kông làm để hại cha con tôi bấy lâu nay linh hồn không siêu thoát được, nhưng giờ đây tôi sẽ dùng nó để đốt và rắc lên đầu bà, bà biết tác dụng của nó như thế nào rồi chứ!
Bà Xuân Lan tái mặt, run lẩy bẩy:
- Xin... tha... tha cho tôi. Tôi sẽ làm, sẽ làm...
Cô nàng rười rít lên, giọng cười lạnh như băng:
- Bà rõ hơn ai hết, nếu giờ đây tôi đốt tờ giấy này thì bà sẽ ngã lăn ra chết tức khắc! Bà hãy chọn đi, trả lại những gì lấy của chúng tôi hay là chết?
- Dạ... dạ... tôi xin nghe. Đây, toàn bộ giấy tờ nhà và đây, cô cứ đọc đi, tôi sẽ viết tờ đoạn mãi.
Mọi việc được làm rất nhanh. Xong xuôi, cô nàng cầm cả số giấy tờ đó đưa cho Trọng:
- Anh giữ lấy. Bởi chỉ có anh mới giữ được chúng.
Trọng xua tay:
- Sao được! Những thứ này là của cô mà.
- Nãy giờ tôi nói hết rồi mà anh vẫn chưa hiểu sao? Tôi, cha tôi đã là người của cõi âm thì làm sao sở hữu tài sản của dương thế được! Chúng tôi đòi lại của là vì sự công bằng, chớ đâu để hưởng.
- Nhưng tôi thì...
- Anh hãy nghe lời, rồi anh sẽ hiểu và chắc chắn là không hối hận. Cứ tin tôi đi.
Bà Xuân Lan sau khi làm theo lời cô gái, đã lầm lũi bước ra cổng, đi như cái xác không hồn...
***
Ngày hôm sau...
Có một câu chuyện mà ngoài cô gái tên Dạ Hương, Trọng và bà Xuân Lan ra, thì chẳng một ai nữa biết. Nhưng bà Xuân Lan thì từ lúc ấy đã trở thành một người bị tâm thần nặng, hầu như không nhớ chuyện gì hết, còn Trọng và cô nàng thì đã như hai mà một: Từ phút ấy họ chính thức sống với nhau như đôi vợ chồng vô cùng hạnh phúc. Trọng luôn gọi nàng là Trà My và nàng thì hầu như không còn nhớ đến tên mình là Dạ Hương nữa.
Trọng biết rất rõ, hồn Trà My đã nhập vào xác của Dạ Hương và mãi mãi sống bên người yêu, không biến đi nữa. Trọng hỏi thì cô nàng giải thích:
- Do khi chết ở bên nước ngoài xác của Dạ Hương được ướp lạnh theo phương pháp cấp đông nên sau hơn một năm xác vẫn còn nguyên và nhờ vậy hồn Trà My mới may mắn nhập được vào đó, sống lại. Tuy nhiên, chuyện này chỉ hai người mình biết thôi, nếu để người ngoài biết thì tức khắc hồn người cõi âm sẽ tan biến vào hư vô ngay!

Helen 11-08-2012 03:14 AM

TỔNG TẬP TRUYỆN MA CỦA NGƯỜI KHĂN TRẮNG, Quyển 38
 
Người Chết Trở Về


Ông bà Phạm trước đây cư ngụ ở thành phố, nhưng trước khi ông Phạm hồi hưu, hai ông bà quyết định về sống tại miền quê để được hưởng bầu không khí trong lành và sự yên tĩnh cần thiết cho tuổi già. Họ mua một mảnh đất xinh xắn nằm trên một sườn đồi. Và vừa dọn vào, công việc đầu tiên của bà Phạm là cho trồng ngay một vườn rau với đủ những loại rau cải mà ông bà ưa thích. Với một vườn rau xanh tươi, mỗi tuần ông bà chỉ cần mua sắm thêm một ít thực phẩm và một vài thứ lặt vặt là đã có thể sống thoải mái suốt tuần.
Một hôm trong khi đang làm việc ngoài vườn, bà Phạm có cảm tưởng như mình đang bị ai đó theo dõi.
Ngước mắt nhìn lên, bà thấy một thiếu niên ốm yếu với đôi mắt trũng sâu đang đứng nhìn bà. Cậu bé mặc một chiếc quần Jean cũ và đi chân không. Bà giơ tay vẫy chào nhưng cậu bé cứ đứng bất động. Bà thầm nghĩ có lẽ cậu ta yếu ớt quá tới độ không đủ sức đưa tay lên vẫy lại. Cậu bé gầy trơ xương và bà Phạm có thể đếm được từng cái xương sườn của nó.
Đứng theo dõi bà làm việc trong vài phút, cậu bé quay mình rảo bước và chẳng mấy chốc đã biến dạng sau những bụi cây rậm rạp. Hai hôm sau cậu ta trở lại và đi cùng là một người đàn bà khoảng bốn mươi tuổi, cũng ăn mặc rách rưới, mặt mũi hom hem. Người đàn bà tiến tới sát hàng rào, lên tiếng hỏi bà Phạm trong khi cậu bé cúi đầu lẽo đẽo theo sau:
- Bà là người mới mua mảnh đất này phải không?
- Dạ đúng đó. Bà có cần tôi giúp gì không?
Người đàn bà nói với vẻ cứng cỏi:
- Tôi tới đây xem có giúp được gì cho bà hay không. Đây là Mẫn, con trai tôi. Nó làm việc rất giỏi và rất khỏe mạnh chứ không yếu ớt như cái dáng vẻ bề ngoài của nó đâu. Nếu bà cần, nó sẽ phụ bà trong công việc vườn tược cũng như để bà sai vặt. Mỗi ngày chỉ xin bà cho cháu năm ngàn đồng.
Bà Phạm toan từ chối vì bà không cần có ai phụ giúp mà trái lại bà rất thích hoạt động một mình trong bầu không khí trong lành tại đây. Tuy nhiên thấy hình ảnh tiều tụy của cậu bé với đôi tay buông xuôi và đôi mắt trũng lơ, bà hơi ngập ngừng:
- Con bà coi bộ còn nhỏ quá, và hình như nó cũng không được khỏe mạnh lắm....
Người đàn bà giơ tay ngắt lời:
- Năm nay nó đã mười sáu tuổi tuy coi nó có vẻ nhỏ hơn tuổi của nó. Như tôi đã nói, nó rất mạnh khỏe chứ không yếu đuối như hình dáng của nó đâu. Tôi bảo đảm là bà sẽ không có điều gì than phiền. Mẫn là một người giúp việc rất giỏi.
Năm ngàn đồng một ngày đối với bà Phạm không nghĩa lý gì và bà nghĩ rằng nếu cho cậu bé này phụ giúp bà một tay, bà sẽ có cơ hội cho cậu ta ăn uống đầy đủ.
Nghĩ thế bà Phạm bèn đáp:
- Được thôl! Mỗi ngày cháu Mẫn có thể tới đây vào lúc mười giờ sáng và đi về vào lúc năm giờ chiều. Tôi sẽ cho cháu ăn trưa luôn.
Rồi bà Phạm quay sang phía cậu bé:
- Sao Mẫn cháu thấy như vậy có được không?
Mẫn không trả lời khiến bà Phạm tự hỏi không biết cậu ta có nghe bà nói hay không vì cậu ta vẫn đứng yên cúi đầu, không hề ngước mắt. Mẹ của Mẫn ra hiệu cho bà Phạm bước ra xa với bà rồi bà thầm thì:
- Thưa bà, tôi không muốn con tôi phải đi đi về về vì nhà chúng tôi ở đây khá xa. Nó có thể ngủ trong căn chòi nhỏ đằng kia và xin bà đừng bận tâm gì về việc cho nó ăn uống, tôi sẽ đem đồ ăn tới cho nó mỗi ngày. Nó ăn uống khó khăn lắm. Tôi biết nó muốn ăn món gì và sẽ lo cho nó. Mỗi lần tôi tới, xin bà cho tôi năm ngàn đồng.
- Thế còn cháu Mẫn thì sao? Nếu cháu ấy làm việc cho tôi, tôi phải trả tiền cho cháu mới phải!
Người đàn bà lắc đầu:
- Thưa bà, bà không hiểu. Tôi cần tiền để nuôi mấy đứa nhỏ ở nhà. Ba của cháu Mẫn mất rồi và bây giờ chỉ còn mình nó là người có thể làm việc được để nuôi gia đình. Nó muốn làm việc để giúp đỡ tôi và bà sẽ không ân hận khi nhận cho nó giúp việc. Nó rất siêng năng, làm việc không biết mệt và không bao giờ than phiền bất cứ điều gì cả.
- Thôi được rồi. Nhưng tôi nghĩ rằng có lẽ nó không nên ngủ ngoài lều, để tôi sửa soạn một phòng trong nhà dành cho nó. Nhà tôi rất rộng!
- Thưa bà, không sao đâu. Nó không cần ngủ trong nhà đâu. Nó khó ngủ lắm và tôi không muốn nó làm phiền bà. Nó ngủ trong cái chòi tranh kia là tốt nhất.
Thế là ngày hôm sau Mẫn đến làm việc cho bà Phạm.
Chẳng bao lâu, bà Phạm nhận thấy những gì mẹ cậu ta nói với bà hoàn toàn đúng. Mẫn không bao giờ than phiền cũng như không bao giờ tỏ ra mệt mỏi. Mỗi buổi sáng dù ông bà Phạm dậy sớm tới đâu đi nữa. Mẫn đã đang làm việc hăng say, khi thì cho gà vịt cho cá ăn, khi thì làm vườn... Dần dần bà cho Mẫn làm một vài việc vặt trong nhà và bất cứ việc gì bà sai cậu ta, không bao giờ bà phải nhắc lại lần thứ hai. Một hôm bà nói với ông Phạm:
- Thằng bé Mẫn nó giỏi thật! Nhưng nó không giống một đứa con trai mà giống như... một cái máy vậy. Ông có biết là nó không hề nói một lời nào với tôi hay không. Nó cũng không bao giờ nhìn tôi mà chỉ luôn luôn nhìn xuống đất.
Ông Phạm càu nhàu:
- Hừ! Tôi chỉ biết một điều là nó làm tôi nổi da gà. Có thể nó bị câm hay sao đó. Và theo ý tôi, có thể tâm trí nó không bình thường cho lắm.
Bà Phạm lắc đầu:
- Không thế đâu, tôi thấy nó rất thông minh. Tôi có cảm tưởng như nó là một kẻ mộng du, làm việc trong khi đang ngủ...
Ông Phạm ngắt lời:
- Ờ, thì... giá thuê mướn như vậy cũng được... à, mà không được! Chỉ có năm ngàn đồng một ngày quả là không thể chấp nhận được khi nó làm việc thật sự siêng năng. Mình cho nó lên mười ngàn đồng đi. Tôi không bực bội gì vì sự hiện diện của nó, nhưng để coi việc tăng lương có khiến nó phản ứng gì hay không.
Bà Phạm thì không nghĩ rằng Mẫn để ý tới vấn đề tiền bạc vì cậu ta không bao giờ đụng chạm tới. Mỗi ngày, sau buổi trưa cậu bé ngưng làm việc, đứng yên tại chỗ nghiêng đầu như nghe ngóng. Chỉ mấy phút sau mẹ cậu xuất hiện từ sau hàng cây dâm bụt dày đặc, mang đồ ăn trên một cái gà mên đậy kín tới cho cậu. Bà ta chờ tới khi bà Phạm trả tiền rồi mới dẫn con tới lều và ngồi chờ trong khi con bà ăn uống. Bà Phạm nói với chồng bằng một giọng bất bình:
- Tại sao bà ta không chịu để tôi cho nó ăn uống? Tôi đã thấy món ăn của bà ta mang tới cho nó, trông giống như một loại cháo lỏng. Đó không phải món ăn thích hợp cho một đứa bé làm việc vất vả như vậy. Tôi thấy hình như nó còn ốm hơn khi vừa mới tới đây nữa.
Ông Phạm hoàn toàn đồng ý. Xương mặt của Mẫn bây giờ lộ ra rõ rệt. Khi cậu ta cúi xuống, những đốt xương sống hiện lên thật rõ sau làn vải áo. Bà Phạm cố gắng một lần nữa khi gặp mẹ Mẫn:
- Tôi muốn cho cháu Mẫn ăn đồ nóng hàng ngày. Nếu không, tôi không thể để nó tiếp tục làm việc như hiện tại, nó mỗi ngày một gầy yếu. Tôi sợ rằng nó có thể bị bệnh hay là bị suy dinh dưỡng.
Một nét hoảng hốt hiện lên trong đôi mắt người đàn bà:
- Thưa bà! Bà không hiểu đâu. Mẫn giống y như cha nó. Nó không ăn được những món ăn của bà và của tôi. Nó không thể ăn muối được. Cơ thể của nó không chịu đựng được muối. Xin bà cứ để mọi việc diễn tiến như hiện tại và xin cho cháu nó tiếp tục được làm việc với bà. Nó là đứa con duy nhất mà tôi nhờ cậy được. Nếu không có số tiền mà nó kiếm được ở đây, mấy đứa em nó ở nhà sẽ chết đói hết cả.
Bà Phạm đành phải nhượng bộ:
- Thôi được. Nó có thể tiếp tục làm việc với tôi. Phải nhìn nhận rằng nó làm việc rất giỏi nhưng nó có vẻ không được vui lắm khi ở với chúng tôi. Nó không bao giờ cười và cũng không bao giờ nói một lời nào với tôi hoặc nhà tôi.
Người đàn bà nhún vai:
- Thưa bà, điều đó không có nghĩa gì hết. Mẫn là đứa trẻ rất khác người. Nó không có cùng sự xúc cảm như những đứa trẻ khác. Nó chỉ biết một việc duy nhất là giúp đỡ tôi và các em nó. Xin ông bà đừng thắc mắc gì về nó. Nó luôn luôn làm những gì nó muốn. Xin hãy để yên cho Mẫn...
Tuy nhiên bà Phạm vẫn tự hỏi "Có phải đó là việc Mẫn muốn làm hay không?". Rồi buổi tối hôm đó bà đứng ở cửa sổ phòng ngủ nhìn ra căn chòi tranh nơi Mẫn thường ngủ. Cậu bé không ngủ mà ngồi ngay ở cửa, hai tay bó gối nhìn ánh trăng không chớp mắt. Bà nói lớn:
- Chắc có điều gì lạ lắm thì phải.
Ông Phạm đang ngái ngủ lên tiếng:
- Bà nói cái gì thế?
- Thằng Mẫn đó. Tôi đứng theo dõi nó đã nửa tiếng đồng hồ rồi. Nó ngồi yên như phỗng đá vậy. Với những việc nó làm ban ngày, đáng lẽ nó đã phải ngủ từ lâu rồi. Nhưng mà không, nó vẫn ngồi bó gối ngoài kia kìa.
Ông Phạm vừa ngáp vừa tiến tới bên vợ:
- Đáng lẽ tôi phải cho bà biết điều này từ lâu rồi. Tôi thấy nó vẫn luôn luôn ngồi đó suốt đêm. Theo tôi biết, nó hình như không bao giờ ngủ. Thú thực với bà, tôi thấy thằng bé này có vẻ ma quái quá! Nhưng thực ra nó đâu có làm phiền ai đâu!
Bà Phạm không nói nhưng biết rõ rằng Mẫn đã khiến bà lo nghĩ rất nhiều. Sáng hôm sau, hình dáng cậu bé khiến bà cảm thấy bất nhẫn. Làn da xanh xao của Mẫn bây giờ đã trở thành vàng khè, bóng loáng. Xương trán và xương má của Mẫn như lộ rõ ra. Bà còn lo lắng hơn nữa khi thấy Mẫn có vẻ chậm chạp hơn và mệt mỏi hơn thường lệ, bà hỏi:
- Sao, cháu thấy không được khỏe trong người có phải không?
Mẫn không đáp lại, lặng thinh cúi đầu đi qua trước mặt bà. Cảm thấy bứt rứt, bà Phạm nói với chồng:
- Ông coi nó kìa. Tôi nghĩ rằng nó bị bệnh. Nó di chuyển như một ông già vậy.
Ông Phạm chăm chú nhìn Mẫn đang cắt cỏ một cách chậm chạp:
- Bà nói đúng. Sao da nó bị đen ở nhiều chỗ thế nhỉ?
- Tôi không biết nhưng chắc chắn một điều là nó thiếu dinh dưỡng quá độ. Tôi không cần biết mẹ nó nói những gì và tôi sẽ chuẩn bị một vài món ăn ngon lành và bổ dưỡng cho nó. Rồi ngày mai ông đưa nó lên tỉnh gặp bác sĩ xem sao.
Nghĩ rằng có lẽ Mẫn thiếu chất protein, bà Phạm bèn làm một món súp khoai tây, cà rốt, sườn heo, hột gà, còn làm thêm một ly sữa tươi và một cái bánh ngọt. Xong xuôi bà gọi Mẫn vào, đưa cậu ta vào phòng ăn và nói thật ngọt ngào:
- Cháu mau ngồi vào bàn đi. Tôi sửa soạn một bữa ăn thật đặc biệt cho cháu vì hôm nay là đúng ba tháng cháu làm việc với tôi. Đây là một kỷ niệm dành cho cháu.
Mẫn cắn một miếng, rồi một miếng nữa. Cậu nhai miếng sườn heo chầm chậm trước khi nuốt. Rồi cậu ta từ từ đứng lên. Bà Phạm lên tiếng với vẻ lo lắng:
- Sao vậy? Cháu chưa ăn xong mà muốn đi đâu vậy?
Nhưng Mẫn đã đi ra ngoài rồi. Bà Phạm chạy tới mở tung cánh cửa. Mẫn đã đi tới hàng cây bao quanh mảnh đất với những bước chân thật dài. Bà Phạm lớn tiếng gọi nhưng Mẫn vẫn không hề nhìn lại. Ông Phạm cầm tay vợ:
- Thôi cứ để nó yên. Chắc là nó muốn đi về nhà. Có lẽ mẹ nó nói đúng. Đáng lẽ bà không nên cho nó ăn những món đó.
Đêm hôm đó bà Phạm trằn trọc suốt đêm. Hôm sau khi trời mới tờ mờ sáng bà đã dậy, ra vườn đi tới, đi lui.
Đúng như bà lo ngại, Mẫn đã không quay trở lại. Tuy nhiên ngay trước buổi trưa, mẹ cậu ta tới nơi, tiến thẳng tới trước mặt bà Phạm, khuôn mặt bà ta đanh lại:
- Bà đã làm việc đó phải không? Bà cho nó ăn sau khi tôi đã dặn bà không được làm như vậy. Bà cho nó ăn cái gì thế?
- Thì... tôi cho nó ăn súp khoai tây và sữa tươi, là những thứ đồ ăn cần thiết cho Mẫn.
Người đàn bà rên lên:
- Súp khoai tây! Trời ơi! Bà cho nó ăn muối rồi!
Rồi bà ta rít lên the thé:
- Bà điên rồi hay sao? Tại sao bà không để cho nó được yên?
Bà Phạm có vẻ bối rối:
- Tôi rất tiếc nếu đồ ăn của tôi khiến cho cháu Mẫn bị bệnh.
Đột nhiên bà Phạm đổi giọng nặng nề:
- Nhưng... nó thiếu ăn đến độ gần chết đói ngay trước mắt tôi. Tôi không thể nhắm mắt làm ngơ được. Tôi sẽ trả tiền thuốc men và sẽ nhờ một bác sĩ săn sóc cho nó.
Người đàn bà kia im lặng trong một phút trước khi lên tiếng bằng một giọng khá buồn bã:
- Thưa bà xin bà vui lòng đi theo tôi để xem những gì bà đã làm cho con tôi.
Người đàn bà quay lưng. Bà Phạm đi theo bà ta xuyên qua cánh rừng trước khi tiến tới một chân đồi. Khoảng nửa tiếng sau, hai người tới một túp lều xiêu vẹo nơi ba đứa nhỏ ngồi yên ngoài cửa. Khi bà Phạm dừng lại, người đàn bà nắm tay bà tiếp tục kéo lôi đi. Bà Phạm hỏi:
- Đây không phải nhà bà hay sao? Cháu Mẫn không có trong căn nhà này hay sao?
Người đàn bà lắc đầu tiếp tục đi tới. Mấy phút sau cả hai vượt qua một hàng cây trước khi tiến tới một khoảng đất trống với một vài ụ đất cỏ mọc um tùm. Một vài ụ đất có cắm cây thánh giá, những ụ khác thì không. Bà Phạm rùng mình:
- Đây là chỗ nào vậy bà?
Người đàn bà thản nhiên đáp:
- Một khu nghĩa trang cũ. Không còn ai dùng đến nữa. Đây mời bà tới đây.
Rồi bà ta chỉ vào một ụ đất. Bà Phạm giật mình nổi gai ốc khi thấy đám cỏ phía trên như bị xé bung ra và dường như có người tìm cách đào một cái hố ở phía dưới.
Không một ai hoặc một sức mạnh nào có thể buộc bà tới gần ngôi mộ bị đào tung lên đó. Tuy nhiên từ nơi bà đứng, bà Phạm nhìn thấy dưới hố một hình thù co quắp trong chiếc quần Jean sờn rách và cái áo thun bẩn thỉu.
Người đàn bà rên rỉ:
- Đó, thằng Mẫn đó. Đó là chỗ bà đưa nó tới đó. Chồng tôi và nó chết từ hai năm nay giữa một mùa đông lạnh lẽo vì chứng sưng phổi. Tôi cầu khẩn cả hai trở lại nhưng chỉ có thằng Mẫn đáp lại lời cầu xin của tôi. Nó biết là tôi cần nó. Nó muốn săn sóc cho tôi và mấy em của nó. Nó luôn luôn là một đứa con ngoan ngoãn.
Bà Phạm ngẩn ngơ:
- Bà nói gì thế? Tôi... tôi không hiểu gì cả...
Người đàn bà không để ý, lẩm bẩm:
- Tôi phải săn sóc cho nó thật cẩn thận.Bà có biết là bà không thể cho người chết ăn muối hay không? Muối làm cho người chết quên tất cả mà chỉ nhớ chỗ nghỉ ngơi cuối cùng của họ mà thôi. Chính bà đã khiến cho thằng Mẫn phải trở về nắm mồ cũ của nó, và từ bây giờ trở đi, chắc chắn nó sẽ không bao giờ rời khỏi nơi đó nữa.


Trăng Ngàn Nanh Sói


Mùa thu. Bên kia đèo Rù Rì là khu rừng nhiệt đới đang ở vào mùa mưa. Mưa rừng như trút nước, mưa như chẳng bao giờ biết tạnh. Gió rừng vù vù thổi, bầy thú lạc đàn kêu vang. Khung cảnh ảm đạm thê lương bao trùm.
Mới năm giờ chiều mà trời tối đặc như lúc nửa đêm. Đám đào vàng tuy có bảy tám người lực lưỡng bậm trợn nhưng trước cảnh rừng chiều mưa gió bão bùng trông họ ủ dột giống như những con thỏ non chết nhát. Cả bọn rút lên cái lán trại cất kiểu nhà sàn bằng những khúc gỗ rừng to, xung quanh được rào bằng những cây tre già vát nhọn đầu giống như thành lũy của bọn sơn tặc.
Sở dĩ họ cần có một nơi trú ẩn an toàn, vững chắc như vậy vì khu vực đại ngàn này thường có những đàn voi dữ, những bầy hổ tinh ma, những con chó mắt đỏ ăn thịt người thường hay xuất hiện..
Cư, gã đàn ông lớn tuổi nhất xuống nhà sàn đốt một đống củi nhỏ nhằm mục đích, thứ nữa là phòng ngừa đám thú hay lảng vảng xung quanh.
Nhìn ngọn lửa đã bắt cháy Cư trở lên cầu thang thì thấy mấy thằng bạn đang ngồi quanh một bàn nhậu. Một đĩa to thịt heo rừng luộc cùng một ít lá cây dại trong rừng thay rau. Thịt luộc chấm muối ớt bên cạnh một can rượu trắng.
Để chống lại lam sơn chướng khí, đàn ông đi rừng nào cũng phải biết uống rượu. Rượu giúp người chống lạnh, cũng như làm cho người ta thêm can đảm trước những hiểm nguy luôn rình rập đợi chờ.
- Vào đi anh Cư, giờ này chỉ còn nhậu thôi.
Một người lên tiếng. Một gã khác mặt xanh tái nhớt đang bị sốt rét kinh niên hành đẩy cái chén sành sứt mẻ và đôi đũa tre sang Cư:
- Mai chắc chúng ta vẫn phải ở nhà. Nghe nói bên hầm bọn thằng Quý "khùng" bị lũ bùn chôn hết mấy đứa. May mà bọn mình cất lán trại ở trên đồi cao... nè làm một miếng mở hàng đi đại ca Cư!
Một gã đầu trọc tuếch trên ngực xăm hình một con linh cẩu báo cáo:
- Nghe nói bên trại bọn "Châu" điên hôm kia có đứa bị ông Ba Mươi vồ mang vô rừng, hai ngày sau bọn họ mới tìm thấy một đống xương và chiếc đầu lâu nham nhở máu của thằng Sơn "hủi".
Gã tóc bù xù vừa mới tu xong một chén rượu báo cáo tiếp:
- Em mới gặp đám vận lương cho hầm thằng Chắt "điếc", xì ra rằng bọn chúng vừa mới trúng một mạch vàng khẳm lắm. Nghe nói mỗi đứa vận lương đều được Chắt "điếc" cho một bụm vàng nát có cả lượng. Mình qua đó khoắng một mớ được không Đại ca Cư?
Cư lơ đãng gắp một miếng thịt chấm muối ớt bỏ vào miệng nhai nhóp nhép. Không phải Cư không muốn nghe mấy thằng đàn em báo cáo nhưng kinh nghiệm đi rừng và sống ở rừng còn nhiều hơn thời gian sống ở nhà đã cho Cư biết đêm nay rừng có chuyện lạ.
Hôm qua lúc ra bờ suối tắm giặt Cư đã phát hiện nhiều dấu chân dẫm trên bãi cát. Ngoài dấu chân của cọp còn có những dấu chân mới rõ ràng của một loài lang sói. Hổ coi vậy chớ chưa đáng sợ bằng loài linh cẩu mắt đỏ này.
Cư từng thấy một bầy lang sói đào bới một ngôi mộ của dân đi rừng bị chết mới chôn và chúng thi nhau cấu xé xác người xấu số. Chỉ mới vừa tàn điếu thuốc thì thi hài người xấu số chỉ còn lại đống xương trắng hếu. Loài lang sói này có con vì ăn thịt người quá nhiều nên chúng đã thành tinh, biết giả giọng người nửa khuya vào các làng bản gọi cửa những nhà ở sát bìa rừng. Ai vô tình không xem xét trước mà mở cửa là nó nhào vô cắn cổ và tha đi. Loài sói tinh này có đôi mắt đỏ như lửa, tiếng tru của nó như tiếng xé lụa, như tiếng bốc vãi của mảnh vỡ thủy tinh.
Cư đang lắng tai nghe. Bên ngoài hàng rào tre vạt nhọn nghe có tiếng chạm nhẹ. Cư xoay người nhìn xuyên qua khe hở. Trong bóng đêm dày đặc của đại ngàn Cư nhìn thấy một đôi mắt đỏ vượt cao hơn tầm hàng rào chừng một gang tay. Đây có lẽ đúng là con sói tinh từng ăn thịt mấy tay đào vàng do bị sốt rét nặng quá bị đồng bọn bỏ lại giữa rừng.
Lần ấy Cư đi theo đám săn trầm, kỳ nam vô mãi tận rừng sâu. Nơi đây tưởng là chốn không người, vậy mà sau cùng họ cũng gặp một cái lán trại bỏ hoang chắc đã qua mấy mùa mưa nắng. Mái tranh đã nát tả tơi, vách phên xiêu vẹo. Khi bọn người săn trầm vừa leo lên khỏi chiếc thang gỗ đã rùng mình sởn gáy khi nhìn thấy rải rác trên sàn nhà là những khúc xương người bị nhai gặm nham nhở. Xương sọ bị vỡ ra thành từng mảnh vụn. Nghe nói con sói tinh đầu đàn là con được quyền ăn óc người mà nó giết trước. Hàm răng sắc như dao của nó bập vào xương sọ người cũng dễ như người ta cắn vào hạt dưa.
Đám săn trầm, kỳ nam từng kể cho Cư nghe chuyện chính mắt họ trông thấy một con sói tinh cắn gỗ chiếc quan tài rào rạo để lôi ra cho được xác người xấu số.
Những người đó kể rằng, cả bầy sói kéo xúm lại cắn vào cổ áo quan, tiếng cắn nghe rào rạo như người ta nhai cốm. Hút chưa tàn điếu thuốc nắp quan tài đã bị lũ sói mắt đỏ cắn bung ra và nhanh như chớp cái xác sắp phân hủy bị chúng tha đi...
Cư quan sát hai con mắt đỏ đang đi dài theo bờ rào tre vạt nhọn. Chứng tỏ con sói tinh này đang đi bằng hai chân đang tìm cách để nhảy vào. Cư chui qua lỗ hở của vách phên nhặt một viên đá. Chờ cái đầu của con quái vật nhô lên cao, Cư ném vào đầu nó đánh bốp một tiếng, đôi mắt đỏ biến mất đồng thời một tiếng tru sắc lạnh như tiếng mảnh vỡ thủy tinh kéo dài mất hút tận rừng xa.
Mấy gã đồng bọn với Cư đã thấm rượu. Gã bị bệnh sốt rét bắt đầu bị cái lạnh của núi rừng ban đêm hành hạ, gã chụp một tấm chăn vá chằng vá đụp trùm vào người rồi ngồi run. Cư nói:
- Tao không dám đốt một lò lửa cho mầy đâu Hũ. Ngoài kia vừa mới xuất hiện một con sài tinh mắt đỏ. Đây là một con sài rất ranh ma tinh quái vì nó ăn thịt quá nhiều người rồi.
Hưng mãng xà bỏ ly rượu xuống hỏi:
- Con sài tinh xuất hiện bao giờ?
- Mới đây thôi, tao đã ném đá đuổi nó đi rồi.
Gã đầu trọc rùng mình nói giọng mái:
- Cách đây hai tháng cánh đi săn kỳ nam của Bảy "hòn" đi suốt bảy ngày băng rừng, lội suối đã gần hết lương thực mà vẫn chưa thấy hình dạng một cây kỳ nam nào thì trong đoàn có một gã sốt rét nặng như thằng Hũ. Cả bọn hội ý chọn một cây cổ thụ cất trên đó một mái lều cho người bệnh tạm trú cho an toàn trong lúc cả đoàn dắt nhau đi săn. Thời may được thần rừng độ, họ trúng một cây kỳ nam nặng cả trăm ký. Để tránh bị các toán khác phát hiện nên họ tranh thủ mải mê bới đào, cưa đục để mong khi trời tối thì chia nhau mang về tập kết ở căn lều nằm trên một chạc cây cổ thụ sum xuê um tùm cành lá.
Gã đầu trọc tạm dừng câu chuyện, húng hắng ho. Hưng - gã xâm mình hình con mãng xà trên ngực thúc:
- Rồi sao nữa mày?
Gã đầu trọc lắp bắp:
- Đến khoảng tám giờ tối... rừng xuống một màu đen đặc.... tiếng tắc kè ở đây kêu nghe lắt nhắt từng tiếng thật buồn. Cả bọn bật đèn săn bỏ kỳ nam vào bao rồi hối hả quay trở về lán. Chỉ còn độ hơn hai trăm mét nữa thì về đến gốc cây dựng lán chợt nghe tiếng hú xoải dọc theo bờ suối như ai vốc mảnh chai vỡ đi mà ném. Biết là gặp đám sài đi săn đêm rồi nên cả bọn hối hả vừa đi vừa chạy mong cho chóng về đến trại. Dù mỗi người phải mang vác hàng hai ba chục ký kỳ nam nhưng không ai biết mệt vì nghĩ đến ngày mai mọi người sẽ có một khoản tiền tỷ trước mắt.
Họ đi mà như chạy. Về đến leo lên lều mọi người tưởng đâu gã sốt rét vẫn còn nằm trên võng. Nhưng đến khi giở tấm chăn ra thì chỉ thấy nhầy nhụa một vũng máu còn gã bị sốt rét hành thì biến mất. Xuống chân cầu thang rọi đèn xem chỉ thấy lố nhố dấu chân sài... như vậy, con sài tinh đã leo được lên cây rồi lôi xác gã sốt rét đang lên cơn sốt xuống đất và tha về hang ổ của chúng.
Nghe gã đầu trọc kể chuyện, gã tên Hũ càng run lên bần bật. Gã lắp bắp:
- Xin các bạn đừng bỏ tôi một mình khi lo khui mẻ vàng ở bên suối, Sài tinh đang lảng vảng đâu đây. Em sợ quá!
Đúng lúc đó ba người đi vận lương thực cũng vừa về đến, quần áo họ đầy bụi đỏ với mỗi người một ba lô nặng trĩu. Gã đội chiếc nón rộng vành vừa quăng ba lô xuống sàn lều vừa chỉ tay ra ngoài rừng nói với Cư:
- Bọn tôi vừa gặp con Sài cao to. Đầu có bờm, hai con mắt đỏ như hai hòn than, con sài đi hai chân như người, rất quái quỷ.
Gã chột mắt mặc bộ đồ rằn ri đi rừng đã bạc màu mặt như còn in vẻ bàng hoàng phụ họa:
- Cũng may là bọn tôi qua được bên này suối rồi nếu không, chắc đã chết với lũ sói quân lính của con sài đầu đàn mắt đỏ đó.
Gã vác chiếc xà gạc trên vai nói với vẻ sợ hãi:
- Vậy mà chúng còn hùa nhau qua suối. Bọn tôi phải dùng đá bên bờ suối tấn công lại bọn chúng, cũng nhờ suối chảy khá xiết nên có con bị trôi tuột theo dòng nước. Nếu không giờ này chưa biết sẽ ra sao?
Cư mỉm cười hất đầu qua phía hàng rào:
- Vậy mà nó lại vừa đến đây trước bọn mầy đấy. Cách đây mươi phút con sài tinh ấy đã xuất hiện ở ngoài kia. Đêm nay phải chia nhau ra kẻ canh người ngủ. Đứa nào lấy ra đây cho tao khẩu súng săn, mấy quả pháo và vài cây chĩa. Đợt canh đầu tiên để cho tao và thằng Hưng. Phiên canh sau tất cả mấy thằng bây phải thức. Thôi mấy đứa mới về ăn chút gì đi rồi đi ngủ, mọi chuyện để đó cho tao với thằng Hưng "mãng xà" lo.
Ú ớ tiếng người.
Quá nửa khuya một cơn mưa rừng bất chợt ào đến một cách xối xả. Tiếng gió rừng thổi trùng trùng trong đại ngàn, những tia chớp kèm theo tiếng sét đinh tai, nhức óc càng làm cho rừng khuya thêm vẻ thần bí ma quái.
Căn lều trại mặc dù được cất trên những cột gỗ vững chắc nhưng với những cơn gió thốc hung bạo như muốn xô ngã, hất tung nó. Ngọn lửa dưới sàn nhà đã tắt ngấm từ bao giờ. Chung quanh trời tối đen như mực. Thỉnh thoảng dưới làn tia chớp như xé bầu trời thành những mảnh rạn vỡ Cư mới nhìn thấy được Hưng "mãng xà" cũng ngồi lặng lẽ ngó mông lung ra phía rừng sâu. Bên trong lều tiếng ngáy, tiếng mớ của mấy gã đàn ông tạo thành một thứ âm thanh kỳ quái.
Mưa kéo dài độ hơn một giờ đồng hồ thì ngưng tạnh. Từ sau đám mây đen sũng nước đã tan rã, một vầng trăng như vừa được tắm sạch, tròn lẳn hiện ra dãi ánh sáng trong vắt xuống khu rừng già, tiếng động của rừng khuya lại bắt đầu. Tiếng con hoẵng, con cheo bên rừng nghe sao buồn đến não ruột. Hình như bên con suối có tiếng rống của một đàn voi ở khu rừng le dày dặc như một thành lũy bất khả xâm phạm.
Cư đang nghĩ đến bãi vàng của mình chẳng biết có bị ngập nước hay không Cư biết lực lượng của mình yếu hơn những cánh đào vàng khác nên anh và mấy bạn chọn một bãi ở tận rừng sâu núi thẳm xa dấu chân người để không ai có thể phát hiện được sự có mặt của họ. Dân đào vàng là loại dân giang hồ đang ở tận cùng của xã hội. Vì thế họ sẵn sàng chém giết nhau một khi khám phá có một đối tác cùng làm ăn ở bên cạnh mình. Nhất là những khi nghe tin bên đối phương đã tìm thấy mạch vàng thì chắc chắn sẽ có cuộc... "gió tanh, mưa máu" xảy ra.
Vì vậy, biết lực lượng mình yếu thế Cư dắt đám bạn đi đường vòng bí mật tránh bọn họ đi xa tận những cánh rừng sâu chưa từng có dấu chân người. Chính vì thế mà ở nơi sơn cùng thủy tận này bọn họ phải đối mặt với những hiểm nguy khác là sơn lam chướng khí, thú dữ và kể cả yêu ma của chốn rừng thiêng nước độc.
Sau cơn mưa, ánh trăng rừng sáng rỡ soi xuống những tàn lá ướt đọng những hạt mưa lấp lánh. Bỗng dưng Cư nghe một tràng tiếng tru từ bên kia dòng suối lướt sang phía bên này nhanh như một luồng gió. Bầy thú yêu tinh này đã phát hiện ra nơi ẩn náu của bọn Cư rồi. Có lẽ món thịt người là món ăn sơn hào hải vị của bọn chúng nên bọn chúng khó lòng bỏ qua.
Cư lên đạn cho khẩu súng săn, đưa mũi súng hướng ra phía hàng rào tre vạt nhọn. Người ta bảo ở trong rừng sâu thì hổ là chúa tể sơn lâm, nhưng mấy ai biết được chính loài sài lang, linh cẩu mới là loài hung bạo. Chúng xem bọn cọp beo vớ vẩn như loài cỏ rác. Nhiều đám sài lang đã tấn công cả hổ báo làm cho bọn chúa tể sơn lâm này phải cuốn vó chạy dài.
Đúng lúc Cư ngồi chờ đám sài xuất hiện thì Hũ lên cơn sốt nặng. Anh ta chồm dậy, hai tay đánh vào ngực mình binh binh như mấy con dã nhân khi nổi giận. Rồi như nổi cơn điên Hũ lao ra cửa lán và như được cơn điên hỗ trợ hắn phóng như bay qua hàng rào cao hai thước và biến mất vào trong rừng khuya.
Cả bọn đang ngủ bật dậy. Hưng "mãng xà" như chết điếng hỏi Cư.
- Thằng này bị sao rồi anh Hai?
Cư đứng lên cầm súng trên tay chỉ thị:
- Tất cả mặc quần áo, giầy ủng, mang đèn vào rồi theo tao!
Năm phút sau, cả bọn biến vào màn đêm cô tịch.
Sau cơn mưa, rừng trở nên ẩm ướt, ánh trăng sáng tỏ vậy mà vẫn không sao lọt qua từng đám lá rừng đan xen vào nhau. Cư soi đèn cố tìm dấu chân của Hũ. Đây rồi, dấu chân Hũ đang chạy băng về hướng bờ suối. Sau mấy giờ đồng hồ mưa xối xả, nước từ thượng nguồn đổ về như được tăng thêm cả về thể tích và khối lượng, nên suối chảy xiết và vô cùng hung hãn, gã điên này nếu vượt suối ắt sẽ phải chết, tiếng một gã lẩm nhẩm ở phía sau Cư.
- Đừng nói chuyện, lũ sói sẽ nghe thấy chúng ta. Nó không chết vì dòng suối thì cũng có thể rơi vào miệng con sài mắt đỏ đã biến thành tinh.
Đi thầm trong bóng đêm dầy đặc độ nửa giờ, cả bọn đã nghe tiếng suối chảy ầm ầm trước mặt. Cư lại chiếu đèn dưới con đường mòn, dấu chân Hũ vẫn còn làm đục nước đây.
Độ hai mươi phút sau, cả bọn dừng lại bên bờ suối. Dấu chân Hũ đã mất nhưng cái áo bông của hắn lại bị vất ở trên một tảng đá.
- Nó đâu rồi?
Hưng "mãng xà" chỉ vào chiếc áo và hỏi bâng quơ. Đúng lúc đó bên kia suối chỗ khoảng rừng le có tiếng xào xạc và tiếng gì đó vang lên như một tiếng cười rất là quái dị. Gã mắt chột và gã tóc bù xù dừng chân lại thì thào:
- Ai cười? Người hay ma vậy anh Cư?
Thoáng qua một góc rừng le Cư thấy chớp rất nhanh hai đốm sáng đỏ. Cư nhỏ giọng:
- Không phải tiếng người cũng chẳng phải tiếng ma mà đó là tiếng của sói tinh.
Hưng “mãng xà” sợ hãi:
- Hay là con tinh này đã bắt được thằng Hủ rồi. Vì sao đang nửa đêm mà nó lại lên cơn mê loạn?
Cư kéo mọi người ngồi xuống sau một tảng đá to:
- Tao với thằng Hũ đã phiêu bạt với nhau hồi mới mười mấy tuổi đầu, hai đứa đã từng trôi dạt qua Miên theo đám cửu vạn vác hàng lậu, và tại đây thằng Hũ đã có thời nó nghiện bồ đà. Tánh tình nó thay đổi từ đó, lúc vui, lúc buồn rất thất thường. Có những đêm nó không ngủ, một mình nó lang thang ra giữa những cánh đồng hoang. Những khi no thuốc, nó nói đang bay trên bảy sắc cầu vồng! Nó thấy được cả ma, cả quỷ làm cho ai nghe cũng sợ. Thằng này...
- Sao anh Cư? - gã đầu xù lo lắng.
Cư chép miệng quả quyết:
- Phải cứu nó thôi. Tao sẽ qua suối, thằng nào theo thì đi, bằng không thì phục nơi đây chờ.
Cả bọn nhao nhao lên:
- Anh đi thì bọn em đi, sống chết có nhau.
Cư đanh giọng:
- Nhưng suối chảy xiết lắm, rất nguy hiểm. Để tao đi trước bắt cầu dây cho tụi bây theo sau.
Nói xong Cư mở cái túi vải sau lưng lấy ra một khoanh dây dù to tướng. Một đầu dây, Cư cột vào một thân cây to, còn khoanh dây ước chừng cả sáu bảy chục thước thì mang vào vai. Cư ra hiệu:
- Khi nào bọn bây thấy tao nhá đèn ba cái là tao đã sang tới bên ấy rồi thì bọn bây sẽ lần theo dây mà sang.
Gã đầu xù lắp bắp:
- Nhưng nhỡ bọn em không nhìn thấy ánh đèn?
Cư vò đầu thằng đồng bạn cười:
- Nếu như thế thì có nghĩa là thằng anh mầy đã bị dòng suối nhai sống rồi. Thế thôi.
- Đừng nói gở làm bọn em sợ mà anh Cư. Anh lội giỏi như nhái mà làm sao không qua được chứ! - Gã mắt chột nói riu ríu.
Cư cười:
- Thôi yên tâm, tao qua suối đây.
Nói rồi Cư lặng lẽ đi xuống mép bờ suối. Nước suối lạnh quá. Bây giờ trăng hiện lên phía trên dòng suối soi xuống dòng nước trắng bạc đang chảy xiết. Cây súng săn mang một bên vai. Cư lần từng bước. Có lẽ dòng suối cạn.
Cư cứ đi xiên xiên theo dòng nước, có lúc gặp luồng nước chảy mạnh nước hất tung anh ta lên rồi rơi xuống, tuy vậy Cư vẫn cố gắng đều đặn thả từng mối dây. Ra càng xa lòng suối càng sâu dần. Nước chảy mạnh như cắt, nhiều lúc Cư nghĩ chắc mình sẽ không sao sang được tới bờ bên kia. May sao chính những lúc thập tử nhất sinh anh lại được những tảng đá to giữa dòng suối cứu mạng. Cuối cùng vào lúc đuối sức nhất Cư lại được một luồng nước mạnh xô dạt vào bờ. Cư nằm xoải trên bờ cát ven suối để thở, ánh trăng chếch sang phía mấy quả đồi trọc.
Đột nhiên Cư nghe một tràng những tiếng sói tru kéo dài từ rừng le lên mấy quả đồi. Tiếng tru gồm nhiều cung bậc, âm sắc tạo nên một giai điệu ma quái, dễ sợ.
Nghỉ độ mươi phút, Cư vội ngồi dậy tìm một gốc cây, căng thẳng cái sợi dây rồi buộc vào. Quay qua bên kia suối, Cư nhá đèn ba cái. Phía bên kia cũng nhá đèn đáp lại. Như vậy là bọn kia đang sắp sửa men theo sợi dây để qua suối.
Trong lúc chờ đợi đồng bạn, Cư móc một bọc thuốc được gói trong cái gói da dê ra vấn hút và thẫn thờ ngồi nhìn trăng rừng. Bỗng dưng đúng lúc đó trên quả đồi trọc cách chỗ Cư ngồi độ hai trăm thước hiện lên những cái đầu sói vươn cao cùng cất lên những tiếng hú trăng quái đản. Rồi từ dưới chân đồi có một đôi mắt đỏ như lửa vượt lên và theo sau là một bóng người cũng chạy nhanh như gió.
Mười lăm phút sau, cả bọn đeo dây đã vượt qua dòng suối cùng ngồi lại quây quần bên Cư. Cư chỉ lên quả đồi, Hưng "mãng xà" nhìn một lúc rồi nói thì thào:
- Có một bóng người chạy theo sau bầy sói.
Gã chột mắt sợ hãi:
- Hình như bóng của thằng Hũ thì phải.
Một gã đồng bọn lên tiếng:
- Đúng là nó rồi. Mà vì sao lũ sói chưa ăn thịt nó?
Một gã khác nói trong tiếng thở:
- Tôi nghe thằng Hũ cũng tru lên giống như bầy sói. Kìa, cái bóng của nó chạy theo phía sau sát với con sói tinh mắt đỏ. Lẽ nào nó đã hóa thành sói.
Cư lặng thinh vất mẩu thuốc lá, khoát tay ra hiệu:
- Chúng ta bò lên nhưng phải yên lặng.
Rồi Cư dẫn đầu, cả bọn chạy lúp xúp men theo những bụi cỏ cao dưới chân đồi trọc. Càng đến gần chân đồi trong tiếng hú trăng của đám sói rừng còn có tiếng cười, tiếng rú man dại của Hũ.
Để tránh sự phát hiện hơi người của bầy sói tinh, Cư ra hiệu cho cả bọn bọc vòng hướng ngược chiều gió. Còn độ năm mươi thước đến đỉnh đồi cả bọn nhìn thấy con sói tinh mắt đỏ đầu đàn đứng dựng hai chân bên cạnh Hũ và cả hai hú lên một tràng dài man dại.
Gần một giờ sau đám sói lẳng lặng đi xuống đồi hướng về phía rừng khộp trước mặt. Con sói tinh đầu đàn mắt đỏ cũng phóng theo chỉ còn Hũ đứng lại tru lên những tiếng thật quái dị.
Cư đề nghị:
- Chúng ta phải tìm cách cứu nó.
Gã đầu trọc đề nghị:
- Phải chăng dây trên lối nó đi mới được vì thằng này đã hóa thành sói mất rồi!
Gã đầu xù quay lại mấy đứa phía sau ra lệnh:
- Mấy đứa bây chuẩn bị căng dây đi. Khi nào nó chạy theo bầy sói qua ngang dây thì căng thẳng sợi dây cho nó té ngã, lúc đó phải xông vào trói nó lại.
Trăng đã xuống thấp thoáng bên kia quả đồi...
Cả bọn đưa Hũ về được căn lán thì trời đã sáng. Bấy giờ mọi người mới nhìn rõ Hũ. Mặt mày anh ta xanh xám, một bên mép nước bọt chảy thành dòng, đôi mắt ngầu đỏ long lên trông thật dễ sợ.
Tuy đã bị trói chặt hai tay nhưng Hũ giãy giụa hết sức hung hãn, hai hàm răng nhe ra như muốn cắn mọi người.
Cư căn dặn:
- Thằng này đã bị bệnh sói điên rồi, tụi bây phải cẩn thận với nó.
Bất chợt Hũ lại cất tiếng tru lên như đang muốn kêu cứu với bọn sói tinh. Lúc Hũ ngửa cổ lên kêu, Cư kịp nhìn thấy có hai dấu răng nanh rướm máu trên cổ hắn, vết máu chưa kịp khô, Cư kêu lên:
- Thôi rồi, thằng này đã bị sói tinh hút máu và truyền cho nó con vi trùng sói dại rồi.Trong người nó lúc này là nửa người nửa sói, hết mong cứu chữa giữa chốn rừng hoang này.
Cả ngày hôm đó Hũ ngồi trong bóng tối ở góc lều, miệng luôn gầm gừ. Đến đêm lúc trăng vừa mới mọc khi nghe tiếng bầy sói tinh kêu hú phía bên kia bờ suối, Hũ chợt chồm đứng dậy dùng răng cắn đứt dây, hú lên một tiếng dài rồi phóng qua hàng rào chạy biến vào rừng. Cư nhìn theo Hũ ứa nước mắt, từ đêm nay toán đào vàng của anh sẽ mất một thành viên. Người bạn thuở thiếu thời với một lần lầm lỡ nghiện bồ đà. Bản chất con người từ đó đã thay đổi, nay lại bị một con sói tinh hút máu truyền bệnh nên cái chủ thể con người mong manh còn sót lại của anh ta cũng biến mất và anh ta đã hóa sói.
Cư buồn bã thở dài...
Trăng rừng khuya vẫn lung linh trên cánh rừng hoang dại, phía đồi trọc bên kia suối vang lên tiếng bầy sói man dại gọi trăng.


Ma Rắn


Câu chuyện ma rắn được cha tôi kể lại cho nghe từ khi tôi còn tấm bé, ông vẫn thường kể đi, kể lại câu chuyện lạ lùng này trong gia đình cho đến khi tôi lớn lên. Cha tôi không phải là người ưa thích những câu chuyện hoang đường. Trước sau ông chỉ kể một câu chuyện này thôi bởi nó đã xảy ra trong chính gia đình ông cố tôi tức là ông nội của cha tôi. Những tình tiết ly kỳ của chuyện ma rắn cứ ám ảnh mãi anh em chúng tôi cho đến bây giờ. Nó hấp dẫn vì câu chuyện người thật, việc thật đã để lại dấu ấn đậm nét như một mảng màu bám mãi vào ký ức trong suốt quãng đời niên thiếu của mấy anh em tôi.
Bây giờ đã khôn lớn, trưởng thành nhưng mảng màu đó vẫn chưa rơi rụng nhạt nhòa. Chuyện xảy ra trong gia đình ông bà cố nội tôi cách đây gần trăm năm...
Thuở ấy vùng quê ông cố tôi trồng mía nấu đường. Những phú hộ, phú nông thuở ấy nhiều ruộng mía đều dựng lò đường thủ công trong nhà để sản xuất đường mía.
Khi mía đã già ngoài ruộng, người ta chặt đem ép lấy nước đưa vào lò nấu cô đặc lại thành đường. Ông cố tôi là một phú nông, đất ruộng nhiều nên kẻ ăn người làm trong nhà rất đông. Bà cố vừa lo ăn uống cho đám thầy thợ trong nhà vừa ra ruộng coi ngó người làm. Hầu như trong suốt mùa thu hoạch mía ngày nào bà cũng phải đi về giữa nhà và ruộng. Quãng đường từ nhà ra ruộng cũng khá xa, đi ngang qua một ngôi miếu hoang.
Một hôm, đang lúc trưa nắng khi đi ngang qua chỗ miếu hoang bà nghe tiếng thở phì phò cùng tiếng rào rào như tiếng quạt giê lúa. Liếc mắt nhìn vào bà điếng hồn.
Một con rắn to như gốc cột nhà nằm cuộn tròn mấy vòng trên nền gạch cạnh các bát nhang. Đầu rắn có mống mào đỏ tía lắc lư qua lại, những chiếc vảy rắn to như nửa bàn tay ánh lên những sắc xanh đỏ.
Bà cố bỏ chạy thục mạng. Đến chỗ ruộng mía có đông người bà mới kịp dừng lại thở không ra hơi, mặt mày tái ngắt. Một lúc sau bà mới hoàn hồn. Vốn là người trầm tĩnh và có bản lĩnh, bà cố im lặng không hé lộ cho đám người làm biết chuyện gì vừa xảy ra. Khi những trai tráng chuyển mía về nhà, bà đi lẫn vào giữa đám người đi ngang qua chỗ ngôi miếu hoang. Lén nhìn vào, bà thấy cái nền gạch giữa miếu trống không vẫn như thường ngày không có chuvện gì xảy ra.
Bà giữ kín câu chuyện không cho ai biết cho đến sau này mới kể lại cho ông cố nghe. Cũng từ đó mỗi khi đi ngang qua ngôi miếu hoang này, bà luôn bảo người khác theo bên cạnh chứ không dám đi một mình nữa.
Khoảng mươi hôm sau trên con đường đi chợ trở về nghe tiếng sột soạt phía sau lưng, bà quay lại thì thấy con rắn lửa. Đây là loại rắn nhỏ rất hiền lành chiều dài khoảng ba gang tay, thân chỉ bằng ngón chân cái, sở dĩ gọi tên rắn lửa vì cổ nó có cái khoang dài khoảng mười phân màu đỏ như lửa. Thường ngày có thể thấy rắn lửa ở trong vườn, bụi cây, bờ ruộng nên sự xuất hiện của nó không làm bà ngạc nhiên.
Đi được một đoạn lại nghe tiếng sột soạt bà quay lại nhìn cũng chính là nó. Bà thật sự lo lắng khi thấy nó bám đuổi theo mình. Kinh ngạc hơn khi bà bước vào cổng ngõ vào sân, vào nhà nó vẫn lặng lẽ bò sát bên chân. Bà ra sau nhà nó vẫn theo, đám gia nhân thấy vậy tóm lấy nó hất bay vèo ra ngoài bờ rào. Nó lại nhanh chóng vào lại theo sau chân bà. Người ta liền báo cho ông cố biết, ông vội chạy xuống xem, ông sai người làm bắt con rắn lửa đem bỏ ra bàu nước cách xa nhà một khoảng, ở vùng quê tôi thời ấy cho đến bây giờ người ta không giết rắn lửa vì niềm tin trong dân gian rằng mỗi con rắn lửa như thế là hiện thân của một hồn ai đó.
Một lát sau con rắn vẫn bò vào, lẩn quẩn theo quanh chân bà cố, ông lại đích thân tóm nó đem bỏ ở nơi xa hơn. Nhưng rồi nó lại hiện diện trong nhà. Năm lần bảy lượt bắt nó ra khỏi nhà bỏ ở những nơi mỗi lúc một xa hơn, có khi cách nhà cả buổi đi đường nhưng nó vẫn về được làm ông cố bực mình.
Mấy hôm sau thấy con rắn vẫn ngang nhiên bò theo bước chân bà chẳng sợ sệt ai, hễ bà lên nhà trên nó theo lên, hễ bà xuống nhà dưới nó theo xuống, ông nổi giận chộp lấy nó vất mạnh ra giữa sân gạch. Đang cơn giận dữ ông vớ chiếc vồ đập đất giáng liên tục lên nó đến khi đầu mình nó giập nát ra từng mảnh nhỏ vẫn chưa thôi.
Ông vất cái vồ không quên chửi theo một câu: "Tiên sư mầy! Thử xem mày còn sống lại bò theo chân bà nhà tao nữa không?".
Chưa hết lời, ông bỗng giật mình, ngoài bờ rào có hai con rắn lửa y chang như con rắn vừa rồi bò vào sân ngay chỗ ông giần nát con rắn trước đó. Cơn giận lại trào dâng, ông vớ lấy cái vồ nện tiếp. Trong chốc lát, hai con rắn nát bấy. Định quẳng cái vồ, phủi tay xong việc nào ngờ thêm bốn con nữa từ đâu bò đến tiếp. Tức khí xung thiên, với sức mạnh của người hay luyện võ ông lại cầm cái vồ lên giần chúng. Ngay tức khắc, lại hàng chục con nối tiếp nhau từ ngoài bờ rào bò vào. Chúng như thách thức ông, ông lại càng điên tiết, cái vồ trên tay càng vung lên kịch liệt nhắm vào đám rắn. Những âm thanh bình bịch, bèm bẹp náo động một khoảng sân. Máu và thịt rắn tóe ra, vung vãi khắp sân bốc mùi tanh tưởi... Mọi người trong nhà hốt hoảng kéo nhau đến xem ông kịch chiến với đám rắn. Như ma hiện ra, lũ rắn ngoài vườn liên tục bò vào. Chúng bò hàng năm, hàng bảy.
Mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, xác rắn chất chồng cao đến đầu gối có đến hàng ngàn con. Dòng rắn tiến vào hầu như vô tận, ông thì mồ hôi, mồ kê ướt đẫm cả người. Ông khỏe thế nhưng cái vồ vung lên cũng chậm chạp dần. Đến một lúc ông không còn sức liền vất cái vồ đứng thở hổn hển coi như đầu hàng chúng. Đám rắn tỏa ra khắp nhà. Chúng bò ngang, bờ dọc một hồi rồi tản ra ngoài vườn đi đâu mất hết. Đống rắn chết còn nguyên đó bốc mùi tanh lợm giọng. Ông cố ra lệnh cho đám gia nhân đem xác rắn vất ra ngoài bàu nước...
Hôm sau con rắn lửa hôm qua lại thấy trong nhà. Nó vẫn bám theo sau chân bà. Đến đêm bà lên giường ngủ nó cũng bò theo lên. Ông cố nổi tiếng là người ương ngạnh. Sự kiện hôm qua không làm cho ông cố sợ sệt con ma rắn này. Ông liền tóm lấy nó đem đến chỗ lò đường đang nấu. Lò đường đun những chảo đường được đốt bằng củi hay bã mía khô cháy hừng hực tỏa ra sức nóng ghê gớm. Ông vứt con rắn vào giữa lò. Vậy là nó sẽ cháy ra tro thôi. Nhưng thật kinh hãi, con rắn lại thong thả bò trở ra xem như một chuyến đi... dạo mát. Rõ ràng nó là con rắn ma. Bây giờ ông mới hoảng kinh thật sự. Con rắn lửa lại lẽo đẽo bò theo sau bà cố nội tôi ở trong nhà hay đi bất cứ đâu... xem ra ông cố không làm gì được nó.
Từ khi có con rắn lửa hiện diện trong nhà mọi người luôn lo lắng bất an, nhất là ông cố, không biết tai họa gì sẽ xảy ra đây. Đêm đêm ai nấy đều nín thở lắng nghe bên ngoài cửa hay đâu đó trong vườn, trên mái nhà có tiếng thở phì phì như trâu lặn nước và trong rào rào như quạt giê lúa. Ai cũng sợ đến nổi da gà, run cầm cập. Không hé miệng với ai ngoài ông cố, bà cố biết rằng những âm thanh kia là từ con rắn to như gốc cột nhà có mống mào đỏ tía mà bà nhìn thấy trong ngôi miếu hoang hôm trước.
Buổi trưa hôm ấy mùa hè trời nắng như thiêu đốt. Trong vườn, ngoài ruộng đâu đâu cũng không có lấy một cơn gió thoảng. Tiếng ve kêu rền rĩ trên những ngọn me cao một hồi rồi nín bặt, trả lại không gian yên ắng hoang sơ cho cái làng quê hẻo lánh chuyên nghề trồng mía nấu đường. Trên con đường làng vắng vẻ có một ông cụ già đang rảo bước. Cụ đi guốc mộc, mặc bộ quần áo bà ba màu đà, đầu đội nón lá, tay nải quàng sau vai. Hình như cụ đang bôn ba vượt đường xa dưới cơn nắng gay gắt nên mồ hôi thấm tất cả lưng áo.
Đến cổng ngõ ngót cạnh bụi tre già có bóng râm cụ dừng lại giở nón lá xuống phe phẩy quạt. Cụ thoắt nhìn cái cổng ngói rồi rảo bước luôn vào bên trong. Đây chính là nhà ông cố tôi.
Đang trên đường đi, giữa cơn nắng trưa mùa hè nóng bức, tình cờ gặp được nhà dân cụ tạt vào xin miếng nước uống. Ông cố tôi tiếp cụ rất niềm nở. Ông sai người làm đem nước chè tươi ra mời cụ. Thấy ông cụ tóc bạc trắng như cước trán rộng, mắt sáng, tay chân dài hơn người bình thường như một dị nhân, vóc dáng phương phi đạo mạo, ông cố biết vị khách này không phải là người tầm thường. Ông cố liền đem sự việc con rắn lửa trong nhà kể cho cụ nghe với mong muốn nhờ cụ giúp đỡ hoặc cụ đi đây đi đó nhiều, hiểu biết rộng có thể mách bảo những vị cao nhân nào đâu có phép thuật hay phương pháp gì giúp cho gia chủ trục con rắn lửa ra khỏi nhà. Hiện nay gia đình ông cố tôi như đang gặp nạn lớn, miệng thế gian đồn đại ông nhà có rắn ma khiến công việc làm ăn bị ảnh hưởng nghiêm trọng, gia nhân phần lớn sợ hãi bỏ đi, người làm công thì không dám đến, các lò nấu mía đường ngưng nghỉ... Ông cụ nghe xong mỉm cười bảo:
- Bây giờ thì con rắn sẽ không có ở trong nhà này!
Ông cố nghe vậy liền gọi bà cố lên. Quả nhiên không thấy con rắn lửa bò theo sau, ông bảo mọi người tìm kiếm khắp trong nhà vẫn không thấy con rắn đâu. Ông cố mừng rỡ vô cùng, rõ ràng vị khách không phải con người bình thường. Ông chấp tay kính cẩn trước mặt cụ già:
- Thầy quả thật bậc cao nhân. Uy linh của thầy đã khiến cho loại tà ma trong nhà phải né tránh, vạn lần phúc đức cho gia chủ được may mắn gặp thầy. Xin thầy ra tay cứu giúp diệt trừ con rắn ma!
Cụ già khoát tay vui vẻ như không có chuyện gì xảy ra:
- Có gì đâu mà anh phải nhiều lời, để ta giúp cho!
Rồi cụ già căn dặn ông cố lát nữa đây khi cụ ra khỏi nhà con rắn sẽ trở vào lại. Ngày mai gia chủ ra chợ mua một cái hủ mới và một con gà trống trắng, rang một bát nổ từ lúa nếp để sẵn. Bắt con rắn bỏ vào hủ, hơ lá chuối tiêu bịt miệng hũ lại. Lấy dây mây to thắt nhiều chiếc bóng cho thật chắc, bền. Lưu ý là phải chọn loại dây mây tốt, dẻo bền vô cùng, nếu không sẽ hỏng việc. Ra vườn chặt hai gốc tre già to cứng cáp làm đòn. Chọn năm, bảy người lực điền mạnh mẽ nhất túc trực chờ lệnh trong nhà. Ba ngày sau cụ sẽ trở lại giúp cho gia chủ.
Khi cụ già bước ra khỏi nhà quả nhiên con rắn bò vào lại. Ông cố thực hiện đúng y lời dặn của cụ già.
Ba hôm sau y hẹn cụ đến. Đích thân cụ mở miếng lá chuối tiêu bịt miệng hũ ra. Bên trong hũ trống không. Cả nhà lo lắng, cụ già thì tủm tỉm cười:
- Con đại xà yêu này cũng cao tay đây, nhưng không sao, sẽ có cách!
Nói rồi cụ mở tay nải lấy một tờ giấy ra, dùng ngón tay khoắn mấy chữ đưa cho ông cố và bảo rằng ba hôm nữa ông sẽ trở lại. Khi con rắn xuất hiện bắt bỏ vào hũ và bịt miệng lại bằng lá bùa này. Quả nhiên ba hôm sau cụ già trở lại thì con rắn vẫn còn nằm im trong lòng hũ.
Cụ già cho bày bàn nhang đèn ra. Cụ già cắt tiết con gà trống trắng đổ vào trong bát nổ trắng được rang từ lúa nếp. Cụ đọc lầm thầm những câu thần chú rồi bưng bát nếp nổ thảy lên không. Kỳ lạ thay, những hoa nếp tan biến nhanh trong không khí chẳng còn gì. Bây giờ những trai điền được lệnh bê chiếc hũ đặt vào những chiếc gióng mây lồng vào nhau. Cây đòn gốc tre gài rắn chắc được xỏ vào. Hai người trai điền lực lưỡng khiêng cái hũ ra khỏi nhà.
Cụ già bảo những trai điền khác cùng tháp tùng và đem theo cái đòn tre và những chiếc gióng còn sót lại. Họ được lệnh tiến thẳng về phía sông lớn cách nhà một buổi đường. Lúc đầu hai trai điền khiêng cái hủ đi rất nhẹ nhàng. Ông cố và những người đi theo không hiểu cụ già bảo họ đem theo gióng mây và đòn tre nữa làm gì.
Ra khỏi nhà một đoạn cái hủ bắt đầu nặng dần. Những sợi gióng mây căng ra, chiếc đòn bằng gốc tre già võng xuống. Hai người trai điền mạnh mẽ thế mà bắt đầu thở dốc. Hai người trai điền khác vào thay. Đi một đoạn nữa cái hũ trở nên nặng một cách kỳ lạ, những sợi gióng mây căng hết cỡ muốn đứt không biết lúc nào. Nhớ lời dặn của cụ già đừng bao giờ để gióng đứt rơi vỡ hũ sẽ hỏng việc, ông cố cho đám trai điền còn bao nhiêu chiếc gióng thì lồng hết vào. Đến bây giờ thì hũ nặng đến nỗi hai trai điền khiêng không nỗi nữa. Ông cố cho luồn thêm vào cân đòn gốc tre còn lại. Bốn người khiêng nhưng, xem ra cũng phải nhấc từng bước một vì hũ càng trở nên quá nặng.
Càng gần đến bờ sông thì hũ như trĩu xuống sát mặt đất gây khó khăn cho những bước di chuyển của bốn người khiêng vốn đã quằn lưng vì sức nặng tưởng chừng như khiêng hòn đá núi mấy nghìn cân. Cách bờ sông một đoạn ngắn cái hũ đã trì xuống sát mặt đất, nặng như một tảng đá lớn hầu như không nhấc lên được nữa.
Ông cố cùng đám trai điền vận hết sức lực vừa nhích vừa xê đít hũ lên trên mặt đất từng tấc một. Ai nấy mồ hôi mồ kê đổ giọt, lưng vai, tay chân tím bầm.
Cuối cùng, họ đã đem được cái hũ ra được mé sông chỗ vực thẳm. Dồn hết sức vào những cánh tay, bờ vai, đôi chân lực lưỡng, gần chục cái miệng lấy hơi hò lên một tiếng đẩy cái hũ rơi ầm xuống vực. Ông cố quày quả trở về nhà hậu tạ cụ già có quyền phép đã giúp đỡ mình tống khứ con rắn ma nhưng cụ đã lặng lẽ rời khỏi nhà tự lúc nào mà người nhà chẳng ai hay biết.
Từ đó không thấy con rắn lửa và những âm thanh kỳ quái đêm đêm trong khu vườn nhà nữa.


Cái Đầu Báo Oán


- Tại sao lại có nhiều máu đến thế này!
Tiếng la thất thanh của cụ Sáu Thọ làm cho mọi người trong xóm đều đổ ra bờ sông để cùng nhìn xem. Lại có tiếng nói:
- Trời ơi! Đây chính là máu người đó!
Và câu nói ấy càng làm cho hầu hết mọi người đang đổ tới xem đều tỏ ra vô cùng hoảng sợ.
Một vài người đàn bà phải đứng dựa vào nhau với khuôn mặt nhớn nhác sợ hãi.
- Chị Bảy Thắm đã chết! Chị ta đã bị ai đó chặt đứt mất cái đầu!
Thêm một câu nói hoảng hốt như mất hơi của cụ Tám già từ trong xóm cũng vừa chạy ra. Tiếng kêu rên:
- Giêsu-ma! Lạy chúa tôi!
Thoát ra từ miệng mọi người và tay chân của một số người mềm ra như không thể cất bước, còn một số người khác tỏ ra mạnh dạn hơn thì đang nhanh chân chạy về hướng nhà của chị Bảy Thắm.
Xác của chị Bảy Thắm nằm đó nhưng cái đầu thì hầu như đã hoàn toàn biến mất. Tại sao lại như vậy? Câu hỏi này hầu như đều nằm trong đầu mọi người nhưng không một ai dám chính miệng mình thốt lên. Chung quanh nhà chị Bảy Thắm, tiếng bàn tán xôn xao của những người tò mò và tiếng khóc rên của những người thân làm cho khung cảnh làng xóm càng thêm bi đát và lạnh lẽo. Lẽ từ xưa đến nay chưa bao giờ dân trong làng Dìn lại nhận thấy tình trạng ghê gớm như thế này xảy ra nên ai nấy đều vô cùng hoang mang lo sợ...
Buổi chiều tối hôm ấy, mới có gần bảy giờ mà nhà mọi người đều đóng cửa kín mít. Có một vài gia đình phải tụ tập chung với nhau cho đỡ sợ hãi. Riêng đám tuần đinh do anh Năm Lâm đứng đầu được dân làng ủy nhiệm canh giữ cái xác của chị Bảy Thắm, đồng thời cũng canh gác cho mọi người dân trong làng Dìn. Tuy toàn là trai tráng trong làng nhưng bọn anh Năm Lâm thật ra với tám người có cái gan cũng tương đối nhỏ lắm. Trời càng về đêm thì càng lạnh lẽo. Ngồi gần bên một cái xác người không đầu càng làm cho anh Năm Lâm cảm thấy lạnh run mặc dù anh đã khoác vào người một cái áo bông rất to. Cứ mỗi một cơn gió thổi vào người Năm Lâm là một cơn ác mộng thoảng đến trong đầu anh.
Lúc thì anh tưởng tượng ra một người nào đó đang giơ cái búa phía sau lưng, lúc thì anh tưởng tượng ra cái đầu của chị Bảy Thắm đang bay đâu đó quanh đây...
- Mấy người kia sao lâu về quá vậy, Tư Nhôm?
Anh Năm Lâm vờ quay qua hỏi người cùng ngồi canh cái xác với mình. Thì ra chỉ có anh Tư Nhôm và anh Năm Lâm có nhiệm vụ canh giữ cái xác, còn những người khác thì đã chia ra hai tốp đi xem xét mọi ngóc ngách trong làng.
- Có lẽ đêm nay họ sẽ không kịp trở về đây đâu anh Năm Lâm à!
Tiếng trả lời của anh Tư Nhôm càng làm cho Năm Lâm thêm ngay ngáy lo sợ. Tới lúc khoảng gần nửa đêm thì gió bắt đầu thổi mạnh thêm. Những cơn gió thổi làm cho cây cối xung quanh nhà phát lên những tiếng như tiếng ma kêu quỷ gào, cộng với đôi lúc căn nhà tranh tuềnh toàng phát lên những tiếng ken két làm cho khung cảnh càng tăng thêm sự ma quái huyền ảo. Giá mà không có Tư Nhôm ngồi ở kế bên thì có cho vàng chắc Năm Lâm cũng không còn hồn vía nào mà ngồi đây.
Anh Năm Lâm bèn hớp một hớp rượu Bàu Đá đoạn cất giọng hát nho nhỏ để tự trấn an lòng mình, nhưng thật sự thì chỉ cần một tiếng động nhỏ sau lưng cũng làm cho anh ta giật bắn mình quay lại ngay lập tức.
Thời gian cứ âm thầm lặng lẽ trôi qua cho tới khoảng hơn một giờ sáng thì anh Năm Lâm nghe thấy một tiếng rên nho nhỏ phía ngoài cửa sổ nhưng anh cứ giả vờ như không nghe thấy. Anh nhắm chặt hai mắt lại, miệng lâm râm khấn vái rồi bất chợt, Năm Lâm giật mình hoảng sợ khi anh cảm thấy dường như đang có một bàn tay ai đó khẽ khàng vỗ nhẹ lên vai mình. Năm Lâm lấy hết bình tĩnh mở mắt:
- Trời đất! Thì ra là mày hả? Chuyện gì vậy Tư Nhôm?
- Hình như tui vừa nghe có tiếng động ngoài cửa sổ.
Tư Nhôm cố nài nỉ Năm Lâm, một phần vì sợ Tư Nhôm biết là mình nhát gan nên Năm Lâm cũng miễn cưỡng bước tới cái cửa sổ đâm ra hướng bắc. Năm Lâm lấy hết bình tĩnh mở hé cánh cửa sổ ra nhưng không thấy gì nên thử làm liều, mở toang cả cánh cửa sổ ra. Năm Lâm bỗng hồn kinh kéo cửa sổ trở vào một cái đánh rầm khi anh mơ hồ nhìn thấy chiếc đầu của chị Bảy Thắm đang lơ lửng bay bay ở ngoài sân. Cả người như đông cứng lại nên anh xoay người lại tìm Tư Nhôm cho bớt sợ nhưng hình như anh Tư Nhôm cũng đã biến mất từ hồi nào. Năm Lâm liền la hoảng lên một tiếng và chụp vội lấy cây đòn gánh, đưa mắt cố tìm kiếm Tư Nhôm nhưng ngoài cái xác người không đầu vẫn nằm đấy thì không còn thấy ai cả.
Mỗi một lần ánh mắt của Năm Lâm vô tình chạm đến cái xác người kia thì lại tưởng tượng đến cái đầu bay lơ lửng ngoài sân làm anh ta càng run rẩy thêm. Cuối cùng Năm Lâm lại mò tìm được chai rượu Bàu Đá, đưa lên miệng tu một hớp lớn cho đỡ sợ rồi nép vào góc nhà ngồi đọc kinh. Bất thình lình "rầm" một tiếng khiến cho cánh cửa sổ bật mở tung ra. Và kìa, một khuôn mặt quen thuộc bỗng vừa xuất hiện, nhe hai hàm răng trắng toát ra với một giọng nói khàn khàn. Thì ra là Tư Nhôm.
- Sao? Có thấy gì lạ không anh Năm Lâm?
Năm Lâm bấy giờ vẫn còn đang run nhưng cố cất giọng lớn hỏi dồn:
- Trời! Nãy giờ mày bỏ đi đâu vậy Tư Nhôm? Mày có thấy gì ngoài đó không?
Và như vớ được chiếc phao cấp cứu, Năm Lâm chạy vội ra mở cửa chính để đón Tư Nhôm vào nhà. Ở bên ngoài gió đã ngưng thổi làm cho không gian chìm trong một sự tĩch mịch rất đáng sợ. Mặt trăng cũng đã thoát ra khỏi những cụm mây che, le lói chiếu qua những khe hở của căn nhà gỗ tựa như ánh mắt sáng ngời của ai đó đang cố nhìn vào tận bên trong căn nhà. Sương cũng bắt đầu xuống nặng hạt tăng thêm sự mờ ảo ma quái.
Ở trong nhà, Năm Lâm vẫn ngồi đó với đôi mắt nhắm nghiền, tay chân ướt đẫm mồ hôi và thịt trên gò má anh ta cứ giật giật liên hồi. Nhìn sơ qua thì trông giống như Năm Lâm đang ngủ, nhưng mỗi một tiếng động nhỏ anh ta cũng nghe thấy được.Thời gian cứ lặng lẽ trôi, tuy rất chậm nhưng cũng đã tới hơn 2 giờ sáng...
- Gâuuuuuuuuuuuuuuu! Gâuuuuuuuuuuuuuuuuuu ! Gâuuuuuuuuuuu...!
Tiếng chó tru đâu đó bên ngoài làm cho Năm Lâm giật mình hoảng hốt đưa mắt nhìn xung quanh. Anh Tư Nhôm lúc này hình như đã ngủ mê lắm rồi nên không thấy anh ta nhúc nhích gì cả. Năm Lâm lại với lấy chai rượu Bàu Đá tu một hơi dài đoạn móc túi lấy ra điếu thuốc đưa lên môi. Lục lọi một hồi trong túi cũng không thấy cái hộp quẹt diêm ở đâu nên Năm Lâm đành phải đi lại chỗ bàn thờ để mồi thuốc. Bất ngờ "Phụt!" cái đèn dầu chợt tắt ngấm, không biết tại do Năm Lâm hay là có ai đó đã cố tình thổi tắt. Căn nhà tối om càng trở lên rùng rợn hơn. Mò mẫm mãi cũng trở về được chỗ cũ ngồi, Năm Lâm làm thêm một ngụm Bàu Đá nữa và lại nhắm mắt cầu nguyện.
"Kẽo kẹt Kẽo kẹt...!"
Tiếng kêu đó làm tim Năm Lâm như muốn nhảy vọt ra ngoài, tuy vậy, anh ta vẫn cứ vờ nhắm mắt bất động chờ đợi xem chuyện gì sẽ xảy ra. Một phút, rồi hai phút qua đi nhưng tuyệt nhiên không có tiếng gì nữa nên Năm Lâm từ từ mở mắt ra. Không có tiếng gì nữa nên đến nỗi anh muốn la to lên nhưng không thể thoát ra tiếng được. Anh nhìn thấy cái đầu của chị Bảy Thắm đang dừng lại trên không ngay phía trước mặt, đang chăm chú nhìn vào cái xác không đầu của chị ta. Năm Lâm nắm chặt hai tay và nhắm mắt lại cố giữ im lặng để cho cái đầu của chị Bảy Thắm không biết anh đang ngồi dậy. Thế nhưng dường như cái đầu kia bất thình lình trợn trừng cặp mắt xanh lè và nhe hai hàm răng trắng phếu phì phò bay tới trước mặt Năm Lâm. Trời ơi quả là đáng kinh sợ quá. Mắt mũi miệng của cái đầu đang dính đầy những máu và chiếc cổ vẫn còn phun phọt từng tia máu tươi ra ngoài. Quá hãi hùng, Năm Lâm la lên một tiếng:
- Giêsu-ma! Xin cứu con!
Và rồi anh bèn mở cặp mắt của mình thật lớn nhìn lên cái đầu chị Bảy Thắm. Anh Năm Lâm thở phào nhẹ nhõm, thì ra đó là chỉ vì anh tưởng tượng ra mà thôi chứ cái đầu chị Bảy Thắm vẫn còn xoay cái ót của nó về phía anh.
Nhưng ngay lúc này thì Năm Lâm mới thật sự run sợ vì hình như cái đầu kia cũng đã kịp nghe thấy tiếng la của anh nên nó đang từ từ xoay lại. Năm Lâm đã hoảng lại càng thêm hoảng kinh đến độ muốn chạy bay ngay ra cửa nhưng chân anh như đã đông cứng lại từ khi nào, không còn nghe theo ý muốn của chủ nhân nữa. Quả tim của Năm Lâm mỗi lúc một đập mạnh và như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực khi cái đầu người mỗi lúc một xoay gần về phía anh... Không gian chung quanh như bị đông cứng lại. Không có một tiếng gì ngoài tiếng thở hổn hển của Năm Lâm. Khuôn mặt trắng xanh của chị Bảy Thắm vẫn bay lơ lửng trong bóng đêm mờ ảo tạo nên một khung cảnh rùng rợn ghê gớm. Nhưng lạ thay, lúc nhìn thẳng vào cái mặt xanh xao của chị Bảy Thắm cũng là lúc Năm Lâm cảm thấy hết còn sợ hãi. Khuôn mặt của chị Bảy Thắm trông khá hiền từ và đáng thuơng. Cặp mắt và cặp môi của chị như muốn nói với Năm Lâm điều gì đó rồi từ từ bay ra ngoài. Nhìn vào cặp mắt của chị Bảy Thắm, Năm Lâm giống hệt như người đang bị thôi miên và bất giác anh mở cửa ra đi theo cái đầu.
Khi ra đến gần bờ sông thì cái đầu dừng lại và mấp máy cặp môi khô với Năm Lâm. Tuy không biết chắc chị Bảy Thắm muốn nói gì nhưng căn cứ vào những gì Năm Lâm biết được lúc sáng thì anh đoán chắc là cái đầu thật của chị Bảy Thắm còn ở quanh quẩn đâu đây và chắc là chị ta đang muốn ám chỉ điều đó. Năm Lâm nhắm theo tia mắt của chị Bảy Thắm thì liền trông thấy chiếc đầu thật của chị Bảy Thắm đang bị sóng đùa lay qua lay lại ở bên bờ sông, gần chỗ anh đang đứng. Năm Lâm liền cởi chiếc áo khoác bông ra bọc lấy cái đầu của chị Bảy Thắm và mang trở lại căn nhà. Sau khi Năm Lâm bỏ chiếc đầu của chị Bảy Thắm vào gần chỗ cái xác thì ánh mắt của chị Bảy Thắm ngoài cửa sổ tỏ ra một sự biết ơn sâu sắc và từ từ biến mất...
Đã hơn mười năm nay, câu chuyện chị Bảy Thắm bị ai đó chặt đầu đã từ từ đi vào quên lãng. Khu xóm đã trở lại mức sinh hoạt bình thường như trước khi chuyện xảy ra đối với chị Bảy Thắm. Cũng từ cái ngày mà Năm Lâm kiếm được cái đầu cho chị Bảy Thắm thì hình như chị đã an giấc cũng như từ đó không còn chuyện gì ghê gớm xảy ra nữa...
Hôm nay, xóm làng Dìu hân hạnh đón tiếp anh Tám Tàng dọn vào trong một ngôi biệt thự đẹp đẽ và to lớn. Không ai biết anh Tám Tàng từ đâu tới và cũng chẳng ai thèm để ý chuyện đó làm gì. Mọi người ở xóm làng Dìu chỉ biết anh ta là một người to con, đẹp trai và giàu có. Lý trưởng chắc đã được anh Tám Tàng tặng cho quà hậu hĩ nên đã tổ chức một bữa ăn rất trịnh trọng mời tất cả những người có máu mặt đến cùng tham dự. Năm Lâm vốn là đội trưởng tuần đinh chuyên về công tác giữ gìn trật tự an ninh trong xóm nên cũng được hân hạnh đến tham gia buổi tiệc ra mắt của anh Tám Tàng. Buổi tiệc diễn ra rất vui vẻ và ồn ào. Vì Năm Lâm có tính tình phóng khoáng và cũng là một bợm nhậu có cỡ nên anh uống rất nhiều rượu và luôn nói cười oang oang trong suốt bữa tiệc.
Nhưng bữa tiệc vui nào rồi cũng có lúc phải tàn, riêng Năm Lâm tuy vẫn không nỡ rời bàn nhưng mà vì đã gần quá nửa đêm nên anh bèn nốc một hơi cạn một ly rượu lớn và xin phép từ biệt gia chủ ra về....
Ánh trăng đêm nay lúc tỏ lúc mờ nhịp theo những cành lá đong đưa đùa theo những cơn gió mát làm tâm hồn anh Năm Lâm cảm thấy vô cùng khoan khoái. Anh vừa đi vừa ngân nga hát câu vọng cổ: Từ là từ phu tướng... nghe cũng rất hay và thú vị. Khi Năm Lâm đi ngang qua bờ sông thì tự nhiên anh im bặt tiếng hát và lắng tai nghe ngóng vì hình như anh vừa nghe được tiếng nức nở của ai đó chung quanh đây. Anh dừng lại nghe ngóng một hồi rồi ngoái ngoái lỗ tai bước đi và lẩm bẩm: Có lẽ tại mình uống nhiều rượu quá nên bị ù tai chăng?
Nhưng hình như không phải vì tiếng nức nở đó lại văng vẳng lên bên tai. Năm Lâm thử đưa mắt liếc chung quanh. Lúc này tự nhiên anh bị nổi gai óc, người anh cảm thấy lành lạnh. Anh liền móc túi lấy ra điếu thuốc đưa lên môi, tay run run bật cái diêm quẹt mà mắt thì không ngừng liếc qua liếc lại. Một đám mây đâu đó đã đến che khuất chỗ của ánh trăng, không gian trở nên u tối mờ mịt. Lúc này anh trông thấy có một ánh lửa hồng chợt sáng bừng lên rồi lại từ từ nhạt dần rồi lại sáng bừng lên tạo nên một khung cảnh ma quái hão huyền...
Và kìa, một bóng trắng xuất hiện bên bờ sông với làn tóc xõa xuống tận đến chân. Anh Năm Lâm tự hỏi: Ai mà giữa đêm khuya khoắt ra ngồi đây làm gì? và tự nhiên anh nghĩ ngay đến ma.
Năm Lâm từ từ bước tới bờ sông. "Phựt!" ánh lửa hồng chợt tắt ngúm đúng khi điếu thuốc trên môi anh rớt xuống đất, ấn tượng ma quái mỗi lúc một ám ảnh Năm Lâm. Tuy nhiên, anh cũng cố bước gần người áo trắng đó để tìm hiểu sự tình. Càng tới gần, Năm Lâm càng cảm thấy sờ sợ. Thế rồi cuối cùng anh toan quay đầu định bỏ chạy và thầm nghĩ trong đầu khi anh nhìn thấy chân của người áo trắng đó không hề chấm đất.
"Ma!... Trời ơi đúng là ma! Mình phải chạy khi nó chưa nhìn thấy mình!" Nhưng đã quá trễ khi bóng ma đó đã xoay người lại nhìn anh. Năm Lâm té sấp xuống và xoa xoa cái đầu còn đang nhức như búa bổ, Năm Lâm mường tượng đến bóng ma đêm qua và tự nghĩ: "Ai đã đem mình về nhà vậy...?" Không lẽ chính là người đó?... Tiếng "đinh đoong" làm Năm Lâm giật mình nhìn lên chiếc đồng hồ treo tường. Đã mười giờ đêm rồi, vậy là Năm Lâm đã ngủ suốt cả một ngày trời....
Trời lại về đêm, nhưng đêm nay thì không gian u ám hơn đêm trước. Trời không có ánh trăng vì mây đen từng cụm từng cụm đua nhau che phủ, gió lốc thì cứ từng cơn từng cơn thổi ào ào uốn cong những cành lá bên hiên nhà miết vào mái tôn nghe kêu ken két rờn rợn như ai đó nghiến răng từng chập. Ở trong nhà, dưới ánh đèn dầu le lói phất qua phất lại, Năm Lâm nằm trên phản mà mắt cứ mở thao láo. Chuyện xảy ra đêm qua còn đang ám ảnh trong đầu... Tiếng đinh đoong lại vang lên làm Năm Lâm một lần nữa đưa mắt ngó mông vào chiếc đồng hồ treo tường và lẩm bẩm: "Không biết đêm nay làm sao mà khó ngủ đến vậy?” Và tiếng "đinh đoong" của chiếc đồng hồ cứ lần lượt văng vẳng vang lên trong đêm vắng làm Năm Lâm cảm thấy sốt cả ruột....
Đã hai giờ sáng. Ngoài trời mưa đã bắt đầu lất phất, không gian bắt đầu trở lạnh, và gió thì vẫn không ngừng thổi... Trời đất! Giờ phút này mà Năm Lâm chợt thấy buồn tiểu! Vậy là anh liền khoác vào người chiếc áo mưa, mở cửa đi ra bụi chuối sau hè. Khi Năm Lâm định đi trở lại nhà thì anh nghe thấy có tiếng rên rỉ giống tiếng hồi đêm qua lại vọng đến. Năm Lâm rùng mình, đôi mắt ngó ngang ngó ngửa và chợt bắt gặp một ánh đèn pin đang lay động trong đêm tối. Thử mò mẫm đi theo ánh đèn, Năm Lâm không khó khăn gì để nhận ra đây chính là sân sau của nhà cô Chín Tước. Cánh cửa sau của nhà cô Chín Tước từ từ mở ra. Bên trong, cô Chín Tước đang ngủ say với khuôn mặt mịn màng chất phác dưới ánh đèn dầu le lói. Đột nhiên, một chiếc búa được đưa lên phía trên cái cổ trắng ngần của cô Chín Tóc, tựa như bàn tay sắc bén của Diêm vương đang tính đùa giỡn trước một người con gái sắp sửa lìa trần. Lưỡi búa từ từ bốc lên cao, cao thêm chút nữa và sắp sửa phập mạnh xuống cổ cô Chín Tước. Từ trong bóng tối, Năm Lâm nhắm nghiền mắt lại và run lên từng hồi như thể anh sẽ là người lãnh nhận cái chém ấy. Song một bàn tay vô hình nào đó đã đẩy bật Năm Lâm ra ngoài. Anh liều mạng phóng tới cản lấy cán búa và lúc này thì cô Chín Tước cũng vừa tỉnh dậy la to lên. Vô tình thay, đầu cô lại chạm phải cái gì đó cùng với sự quá hoảng sợ nên cô Chín Tước cuối cùng đã té xỉu...
Lăn lộn vật vã với sức mạnh của người cầm búa, Năm Lâm càng lúc càng cảm thấy quá mệt mỏi, đuối sức. Sau đó Năm Lâm chỉ biết rên lên một tiếng thảm thiết và té ngã nhoài xuống đất. Lưỡi búa lại một lần nữa được nhấc lên cao, cao nữa nhưng lần này không phải nhắm vào cái cổ ngọc ngà của cô Chín Tước mà là ngay ở chiếc cần cổ đen sậm đang ướt đẫm mồ hôi của anh Năm Lâm.
Năm Lâm trợn trừng hai mắt đã mất hết dũng khí nhìn vào lưỡi búa đang chực kết liễu đời mình. Lưỡi búa bén ngót vẫn vô tình giáng xuống, giáng xuống từ từ. Và khi lưỡi búa chỉ còn cách cổ Năm Lâm trong gang tấc thì bỗng nhiên nó khựng lai. Năm Lâm thoáng thấy "con ma áo trắng" đêm qua xuất hiện và đang giơ hai tay giữ lại chiếc búa. Trong lúc người cầm búa đang giằng co giật lại chiếc búa thì Năm Lâm kịp thời lăn người ra đằng sau chụp được một cây đòn gánh và ráng sức phang mạnh vào phía sau ót của người cầm búa. Trúng đòn, hắn ta ngã té xỉu. Anh Năm Lâm ngước mắt lên nói:
- Cám ơn chị Bảy Thắm đã cứu mạng!
Cũng chính đôi mắt hiền từ như hơn một năm về trước, chị Bảy Thắm quay nhìn Năm Lâm một lần nữa và từ từ biến mất. Khi này, cô Chín Tước cũng đã tỉnh lại và nhóm tuần đinh của làng đã được báo đến. Anh Năm Lâm được băng bó những vết thương. Mọi người cùng xúm nhìn kẻ gian trong tay còn giữ chặt chiếc cán búa. Hóa ra kẻ đã chặt đầu Bảy Thắm hơn mười năm về trước là gã Tám Tàng. Trước áp lực của dân làng, gã Tám Tàng được chuyển lên tỉnh để điều tra và kết án.
Thế nhưng cuối cùng cũng không một ai có thể biết được nguyên do tại sao gã tám Tàng lại làm những chuyện kinh tởm như vậy vì chỉ sau khi bị bắt giam khoảng một tuần lễ, gã Tám Tàng đã kịp tự cắt cổ kết liễu đời mình ở nhà lao...


Người Về Từ Đáy Mộ


Lão Ba cố hả miệng thều thào hỏi một cách đau đớn:
- Mày đầu độc tao hả? Đúng không? Mày đầu độc tao! Đồ quỷ cái!
Bà Ba gật đầu, đáp bằng một giọng thật lạnh lùng:
- Đúng vậy! Chính tôi đã đầu độc ông. Trước sau gì thì ông cũng chết, bác sĩ đã nói như vậy, chỉ còn vấn đề thời gian. Có thể một vài tháng, có thể một vài năm, và ông hiểu rằng tôi không thể chịu đựng lâu hơn nữa. Mười lăm năm nhọc nhằn! Mười lăm năm quá nhiều điều cay đắng.
Lão Ba nghiến chặt hai hàm răng vì đau đớn nhưng cũng ráng gừ lên một tiếng chửi rủa như lão vẫn chửi rủa vợ lão mỗi ngày trong suốt mười lăm năm qua:
- Con khốn nạn! Rồi đây Trời sẽ phạt mày.
Bà Ba vẫn lạnh lùng:
- Đáng lẽ chúng ta không nên lấy nhau. Tôi không hề yêu ông và ông cũng chẳng ưa gì tôi. Ông căm hận tôi vì việc ông không lấy được con Tư cháo lòng. Còn tôi, ông cũng biết rằng tôi chỉ muốn làm vợ anh Sáu thợ hồ. Chỉ vì mấy thửa ruộng của hai nhà sát bên nhau mà cha mẹ ông và cha mẹ tôi buộc tôi phải lấy ông và ông phải lấy tôi. Tôi biết đó là một cực hình cho ông cũng như cho tôi.
Lão Ba lại vừa tiếp tục lăn lộn vừa không ngớt buông lời chửi rủa:
- Khốn nạn!
Bà Ba vẫn nói bằng giọng đều đều:
- Tôi đã có ý định đầu độc ông từ khi ông mới ngã bệnh. Bác sĩ nói tình trạng ông có thể sống lây lất thêm hàng năm nên tôi không thể nào chịu nổi. Tôi không còn muốn bị ông cứ đánh đập, chửi rủa mỗi ngày nữa.
Lão Ba rên rỉ:
- Tao cầu mong rồi đây có lúc lũ quỷ mặt xanh nanh vàng tra tấn mày dưới địa ngục.
- Có thể đấy... Nhưng dù sao tôi cũng tìm được sự bình an trên cõi đời này trước đã. Còn tiếp tục chung sống với ông đâu có khác gì đang bị ác quỷ hành hạ tra tấn!
Lão Ba vặn mình đau đớn, hai bàn tay lão nắm chặt lại chịu đựng. Là một người cứng rắn và mạnh mẽ, lão cố thu hết tàn lực, quát lớn:
- Tao sẽ trở về! Trở về từ đáy mộ... Hãy chờ đó con quỷ cái!
Rồi lão còn ráng giơ một nắm tay về phía bà vợ:
- Tao sẽ chờ mày xuống địa ngục...
Nói xong lão kiệt lực, buông tay xuống, mồ hôi tháo ra như tắm, toàn thân run rẩy:
- Trời đất ơi! Đau bụng quá! Hệt như dao đang đâm vào ruột...
Đột nhiên bà Ba ngẩng đầu lên nghe ngóng. Có tiếng xe gắn máy. Bà bước vội tới bên cửa sổ, nhìn ra ngoài lẩm bẩm:
- Sao ông bác sĩ hôm nay tới sớm quá vậy kìa?
Rồi bà bước tới bên gương, nhặt lấy chiếc khăn lông nằm dưới chân giường cuộn thành bó đè cứng vào mặt cho lão Ba ngột thở. Lão Ba cố sức vùng vẫy nhưng bà Ba còn đè nguyên người mình lên tấm khăn... chân tay lão Ba giật mạnh mấy cái rồi dần dần buông xuôi... Biết lão Ba đã tắt thở, bà Ba bèn đứng lên thở phào nhẹ nhõm.
Bà ném cái khăn lông lên lưng ghế trước khi bước ra mở cửa. Bà nói với ông bác sĩ vừa bước vào bằng một giọng điệu khá lạnh lùng:
- Ông ấy đã đi rồi sau khi bị bất tỉnh giống như mấy kỳ trước. Tụi nhỏ đi học hết nên tôi không biết làm sao kêu thầy. Nhưng dẫu sao tôi cũng mừng khi lão ấy không còn hành hạ tôi được nữa.
Vị bác sĩ lắc đầu tỏ vẻ thông cảm. Ngôi làng hẻo lánh này xem ra mọi người đều biết chuyện gia đình của nhau. Ông bác sĩ già đứng nhìn thi thể của lão Ba trước khi kéo cái mền phủ kín mặt lão rồi quay sang bà Ba:
- Hãy ngồi nghỉ ngơi một chút đi bà Ba. Đừng lo nghĩ gì thêm nhiều, để tôi cho ông Tám Tàng trại hòm hay trước khi nói với thầy giáo cho con Hoa và thằng Đực về ngay bây giờ. Bà Ba còn muốn kêu ai nữa không?
Bà Ba lắc đầu:
- Nhờ bác sĩ nói dùm với ông Tám Tàng tới đem lão ấy đi ngay giùm tôi. Bây giờ căn nhà này là của tôi. Lão đi khuất mắt tôi sớm phút nào hai phút ấy. Tôi không muốn nhìn mặt lão thêm chút nào nữa.
Bà Ba nói tiếp bằng một giọng đầy cay đắng:
- Suốt đời lão ấy đã làm khổ tôi. Tôi thù ghét lão từ ngày phải về với lão. Bây giờ căn nhà này là của tôi. Tôi sẽ khóa chặt căn phòng của lão ngay khi ông Tám Tàng đem lão đi. Tôi không bao giờ muốn nhìn thấy bên trong căn phòng đó nữa. Chỉ toàn là kỷ niệm đớn đau, những lời chửi rủa, hận thù. Tôi sẽ thiêu rụi căn phòng của lão nếu như căn nhà này không bị ảnh hưởng gì.
Rồi bà Ba ngồi xuống ghế ngước nhìn vị bác sĩ bằng đôi mắt lạnh lùng ráo hoảnh.
Ông bác sĩ cũng ngồi nhìn bà Ba, nói bằng một giọng dịu dàng, thông cảm:
- Có lẽ bà đã quá mệt mỏi rồi. Để tôi về lấy chai thuốc bổ mang tới cho bà.
- Tôi không cần thuốc bổ. Cái chết của lão là liều thuốc bổ tốt nhất đối với tôi rồi...
Ông bác sĩ già gạt ngang:
- Thôi bà à, chúng ta không nên nói xấu người quá cố nữa. Ai cũng biết ông Ba luôn đối xử với bà ra sao rồi. Thôi để tôi giúp bà đi kêu ông Tám Tàng đây...
Chưa đầy nửa giờ sau, ông Tám Tàng và một thanh niên phụ việc đẩy xe ba gác mang theo một chiếc quan tài lớn tới. Bà Ba đứng ngay cửa phòng chờ cho hai người vừa khiêng lão Ba tẩm liệm xong liền nói:
- Ngày mai sẽ tiến hành hỏa táng ông ta. Nhưng tôi thề với lòng mình cũng sẽ không bao giờ đặt chân vào căn phòng này sau khi đã hỏa thiêu ông ấy cho tới khi tôi tắt thở...
Hai người đàn ông nọ cũng lắc đầu thông cảm, họ hiểu rõ cuộc sống khốn khổ nhọc nhằn của bà Ba bên ông Ba từ nhiều năm qua.
Những năm kế tiếp, bà Ba thường ngày ra đồng làm việc cùng các lực điền và dành dụm mua thêm được khá nhiều vào cái vốn đã tương đối đồ sộ của ông Ba để lại.
Nhưng cuộc sống bà vẫn lạnh lùng, không hề mở môi và không hề có bạn, hệt như lão Ba đã không hề có bạn.
Rồi hai đứa con bà cũng dần lớn lên, trưởng thành. Con Hoa lập gia đình rồi theo chồng về làng kế bên, thằng Đực lớn lên ra đồng làm việc phụ mẹ khiến bà giảm được một gánh nặng. Rồi thằng Đực lấy vợ và mang cô dâu mới về ở chung với bà Ba. Rồi một lũ con nít theo nhau ra đời, cả sáu đứa hết thẩy. Nếu những tiếng cười vô tư của bầy trẻ có khiến tâm hồn bà nội chúng mềm đi một chút, bà không hề để lộ ra ngoài. Trong suốt những năm tháng dài đó, có một cái phòng, được gọi là phòng của nội, vẫn luôn luôn được khóa chặt. Cả gia đình không một ai nhắc nhở tới. Lũ trẻ tự cảm nhận thấy dường như có một cái gì mà chúng cho là rất kinh khủng đang ở bên trong nên mỗi lúc phải đi ngang căn phòng ấy, chúng vẫn cố tình đi thật nhanh, và khi bóng tối bao phủ căn nhà, ánh đèn dầu lung linh tạo nên những hình nhân lắc lư rung động trên tường chúng cũng không bao giờ dám bước tới gần căn phòng của nội. Dĩ nhiên đầu óc trẻ thơ của chúng luôn tưởng tượng ra thật nhiều điều...
Rồi một năm châu chấu xuất hiện tràn lan phá hoại mùa màng. Và năm sau đó trời hạn hán khiến giá thóc gia tăng trong khi lương bổng bị cắt giảm. Nhiều chủ điền buộc phải cho thợ nghỉ việc. Gia đình cô Hoa là một trong những nạn nhân đầu tiên. Mùa màng thất bát, chồng đau ốm rồi một đứa con nhỏ chào đời. Vợ chồng cô Hoa liền bồng con về xin bà Ba cho ở chung. Tuy vẫn lạnh lùng như thường lệ, nhưng bà Ba vẫn quyết định nhường cho vợ chồng Hoa một phòng. Lại tới phiên người anh vợ của Đực cũng bị chủ điền cho nghỉ việc. Không có công ăn việc làm, không tiền trả tiền mướn, anh ta cầu cứu vợ Đực. Nàng dâu bèn thưa chuyện với mẹ chồng. Bà Ba, lúc này đã già, nói với con dâu bằng một giọng cương quyết trong bữa ăn chiều:
- Thêm bốn miệng ăn nữa cũng chẳng sao. Má đồng ý cho tụi nó tới đây, nhưng... không biết phải cho tụi nó ngủ ở đâu?
Cô Hoa liếc nhìn anh Đực trước khi ngập ngừng nói lên cái ý nghĩ của tất cả mọi người:
- Căn phòng của nội. Mình có nên mở cửa phòng cho thoáng khí trước khi cho mấy người họ dọn vào ở đó được không má?
Bầu không khí đột nhiên yên lặng, nặng nề. Bà Ba liếc nhìn đứa con gái trước khi lần lượt nhìn vào mặt từng người, đoạn gằn giọng:
- Má đã thề sẽ không bao giờ bước chân vào phòng đó cho tới ngày má nhắm mắt.
Cô Hoa thu hết can đảm:
- Nhưng má cũng đâu có cần bước vào đó làm gì. Nhà mình chật quá đâu còn chỗ nào khác nữa đâu má?
Bà Ba đặt đôi đũa xuống bàn nói thật chậm rãi:
- Nếu có ai ngủ trong phòng đó, người đó phải là má. Má đã ở với cha tụi bây mười lăm năm trời, mười lăm năm trời đầy đắng cay thù hận. Cha tụi bây ghét má hơn má thù ghét ông ấy. Căn phòng đó đầy những sự thù ghét và sau mấy chục năm trời đóng kín, những sự thù ghét đó hiện đang sôi sục chỉ chờ cửa mở là tràn ra phủ ngập căn nhà này. Nhưng cũng không sao đâu! Má sẽ dọn vào đó...
Cô Hoa nói bằng một giọng đầy hối hận.
- Má ơi! Phải chi con đừng đưa ra đề nghị đó. Con biết là có một cái gì giữa ba và má nằm trong căn phòng đó nhưng con không biết...
Bà Ba ngắt lời đứa con gái:
- Một cái gì đó mà con nói đó chính là sự thù ghét giữa má và ông ấy. Nhưng má nói rồi. Cũng chẳng sao đâu! Má giờ đã già rồi, hơn bảy mươi rồi. Chắc má cũng chẳng còn sống được bao nhiêu lâu nữa đâu...
Bà ngưng lại, đôi mắt già mỏi mệt nhìn thật xa xôi:
- Có thể đây là sự tiền định! Trước khi chết ông ấy đã nói rằng ông ấy sẽ chờ má... Có thể lắm... Ai biết được!
Rồi bà Ba đứng lên:
- Má sẽ cho mở cửa phòng vào sáng ngày mai.
Dứt lời, bà mím chặt đôi môi, bước lên cầu thang về phòng ngủ trên lầu. Bước vào phòng, bà Ba đóng sầm cửa lại, ngồi yên lặng trên cái ghế nhỏ bên giường, đôi mắt mệt mỏi nhìn vào hư không trong khi cuốn phim dĩ vãng hiện lên thật rõ. Bây giờ, bà đang bị thúc giục mạnh mẽ bởi một ước muốn mà bà vẫn chôn chặt trong lòng từ gần một nửa thế kỷ, ước muốn của tất cả những kẻ sát nhân muốn nhìn lại hiện trường. Uớc muốn ấy đã tới với bà hàng ngàn lần trước đó nhưng lần nào bà cũng nén lòng được. Bây giờ, chỉ còn có mấy tiếng đồng hồ nữa căn phòng kia sẽ được mở ra, ước muốn lại trở về, mãnh liệt hơn bao giờ hết, căn phòng đóng kín kia đang réo gọi bà. Trong óc bà, một tiếng nói vô cùng mạnh mẽ vang lên: Bây giờ! Bây giờ! Tiếng nói này rất quen thuộc với bà vì đó là tiếng nói của chính ông Ba, người bà thù ghét, người mà bà đã đang tâm giết chết.
Bà Ba lặng lẽ đứng dậy, bước tới tủ áo, ngồi xuống mò dưới đáy tủ lấy chiếc chìa khóa mà bà đã giấu kín hàng mấy chục năm trời. Rồi bà trở lại ngồi trên ghế lắng nghe những tiếng chân lần lượt về phòng. Một lúc sau, căn nhà tối om đã hoàn toàn yên tĩnh. Bà Ba đứng dậy hé cửa nhìn ra dãy hành lang. Tất cả đều ngủ yên. Bà bèn trở vào phòng cầm cây đèn dầu, mở cửa thật nhẹ rồi rón rén bước xuống cầu thang.
Ngoài trời không khí bỗng nhiên trở nên nặng nề dường như muốn bão. Bà nghe tiếng gió rít qua những cành cây. Có cái gì tương tự như tiếng gió than van ngoài đêm tối? Bà Ba dừng lại, nghiêng tai lắng nghe và đột nhiên ký ức trở về thật rõ. Bà lẩm bẩm:
- Giống y như cái đêm trước khi lão ấy chết.
Tim bà đập mạnh hơn khi đứng trước cánh cửa đen ngòm, lạnh lùng của căn phòng chứa đầy thù hận. Sau một thoáng ngập ngừng, bà chuyển cây đèn sang tay trái tay phải lấy chìa khóa đút vào ổ khóa... bà vặn nhẹ... Chiếc ổ khóa không chuyển động. Bà vặn mạnh tay hơn... Cạch một tiếng ổ khóa bật ra. Bà đứng yên một lát, bàn tay đặt trên nắm cửa. Tự nhiên bà run lên vì lý do gì không rõ. Bà lẩm bẩm một mình:
- Lão ấy đã nói là lão sẽ trở về từ đáy mồ... Chắc là lão ấy sẽ chờ...
Bà vặn nắm cửa, đẩy mạnh... Cái bản lề cũ kêu rít lên phản đối trước khi cánh cửa mở bung ra. Một làn sóng hận thù từ trong phòng tràn ra phủ kín người bà. Bà chậm chạp bước vào, đôi môi mím chặt. Giơ cao ngọn đèn dầu, bà quan sát mọi vật trong phòng. Đó chính là cái giường với tấm khăn trải giường nhăn nheo, nơi ông Ba đã trút hơi thở cuối cùng hay không thể là hơi thở cuối cùng? Đó là cái gối mà ông Ba từng gối đầu trước khi nhắm mắt. Mọi vật không hề thay đổi. Bà Ba thoáng nhớ cả vị bác sĩ lẫn ông Tám Tàng, những người cuối cùng đặt chân vào căn phòng này bây giờ đây đều đã ra người thiên cổ. Kế bên đầu giường là một chiếc bàn nhỏ nơi vẫn còn cái ly mà bà pha thuốc độc cho ông Ba uống. Bà Ba lẩm bẩm:
- Lão ấy đã nói là lão sẽ chờ mình...
Căn phòng thật ẩm thấp và bụi bặm. Bà Ba khép cửa lại, đặt ngọn đèn dầu lên cái bàn nhỏ bên cạnh cái ly rồi bước tới bên cửa sổ, mở toang cánh cửa.
Một ngọn gió từ bên ngoài lùa vào, rít lên... ngọn đèn chợt lung linh vì gió tạo nên những bóng đen quái đản nhảy múa trên tường. Trên lưng ghế, chiếc khăn lông mà bà dùng đè cho ông Ba chết ngợp nay đã trở thành vàng khè, tuy bà vẫn nhìn thấy thật rõ một đốm đen ở chính giữa, đốm đen mà bà biết đấy chính là những giọt nước dãi cuối cùng của ông Ba. Bà bước tới giữa phòng, đôi mắt vẫn không rời khỏi đốm đen trên chiếc khăn lông. Rồi bà lặp đi lặp lại:
- Lão ấy đã nói là lão sẽ trở về từ đáy mồ... lão sẽ chờ mình...
Đột nhiên một cơn gió mạnh thổi vào qua khung cửa sổ. Ngọn đèn chao lên trước khi tắt ngấm. Bóng tối bất ngờ khiến bà Ba hoảng hốt. Lần đầu tiên trong đời bà biết sợ hãi! Bà liếc về cái giường, và chợt nhận thấy dường như có một người nào đó đang nằm, mặt quay về phía bà đưa tay vẫy vẫy. Bà run rẩy bước lui trước khi té ngồi xuống ghế. Một cơn gió mạnh thổi chiếc khăn lông như một con bạch tuộc với những cái vòi gớm ghiếc đang siết mạnh quanh cổ bà. Bà đưa hai tay lên cố kéo mạnh chiếc khăn lông ra trong khi bên tai bà, tiếng ông Ba vang lên mồn một: "Tao sẽ trở về từ đáy mồ... Tao chờ mày..."
Sáng sớm hôm sau, người ta thấy bà Ba nằm chết cứng đờ trong căn phòng của nội. Quanh cổ bà là chiếc khăn lông vàng khè, y như chiếc vòi bạch tuộc!


Chiếc Xe Trở Chứng


Tuấn khởi động cách nào nó cũng không chịu nổ máy. Anh xem đồng hồ, hơn sáu giờ chiều. Bực bội, Tuấn đóng cửa nhà xe, xách cặp ra ngoài đón taxi.
Đây là lần thứ ba chiếc xe bị như vậy. Hai lần trước Tuấn cũng có hẹn vào khoảng giờ này và cũng không khởi động được chiếc xe. Sáng hôm sau khi chuẩn bị đi làm, chiếc xe lại nổ máy và chạy bình thường.
Lần thứ hai, anh đã điện thoại cho người chủ ga ra, cũng là bạn anh, nhờ xem lại. Sau khi kiểm tra,chiếc xe được xác nhận là bình thường, thậm chí còn ở trạng thái hoàn hảo nữa là khác. Mà cũng lạ, chỉ có trên dưới khoảng sáu giờ chiều thì chiếc xe mới không nổ. Còn lúc khác thì không sao cả.
Có lẽ thợ sửa xe chưa tìm được bệnh. Triệu chứng này chỉ mới xảy ra trong thời gian gần đây, sau lần Tuấn đưa xe nhờ ga ra theo dõi và chăm sóc chiếc xe hôm cuối tuần.
Trong lúc chờ taxi, Tuấn lại điện cho ông bạn sửa xe:
- Nó lại chứng nữa rồi ông ơi! Tôi làm cách nào nó cũng không chịu nổ máy. Ừ. Đích thân ông coi kỹ lại dùm!
Tối hôm đó, sau khi quan hệ với khách hàng xong, Tuấn về đến nhà thì đã hơn mười một giờ đêm. Tuấn mở cửa rào vào nhà. Anh thấy chiếc xe nằm ngoài sân. Có lẽ ông bạn đã đến sửa và để xe ở đây. Anh mở cửa đề máy và đưa xe vào nhà xe, khóa cẩn thận.
Sáng hôm sau, trong lúc điểm tâm, Tuấn hỏi vợ:
- Hồi tối anh Khải lại sửa xe cho anh hả?
- Đâu có đâu anh.
- Vậy sao chiếc xe nằm ngoài sân?
- Vậy hả, em đâu có biết.
- Kỳ vậy. Hồi anh đi, anh đề máy xe không nổ, anh phải đi bằng taxi. Đến chừng về, anh thấy xe đậu ngoài sân. Anh phải đưa xe vô nhà xe mà.
- Đâu có ai chạy xe đâu. Nếu anh Khải tới sửa thì phải kêu em mở khóa nhà, rồi mở cửa nhà xe chớ.
Tuấn điện thoại cho Khải:
- A lô, chừng nào ông mới tới coi xe giùm tôi?
Đầu kia có giọng trả lời vừa mệt mỏi và như ngáy ngủ:
- Xin lỗi Tuấn. Mình chưa tới được. Chiều hôm qua mình có khách nên xỉn quá. Giờ này dậy còn chưa nổi đây. Mà mình thấy xe ông có vấn đề gì đâu. Thông cảm nghe, chiều nay mình tới.
- Vậy thì ai đưa xe ra sân? Không lẽ trộm.
Là một nhà kinh doanh, chuyện xe cộ đối với Tuấn hết sức quan trọng, xe phải tốt để bảo đảm giờ hẹn. Chiếc xe còn thể hiện phong cách làm việc của chủ nhân. Chiếc xe nay hư, mai hỏng vừa làm người đi bực mình, vừa làm xấu đi hình ảnh trước đối tác.
Ý thức như vậy, Tuấn mới mua chiếc xe đắt tiền này và luôn bảo trì cẩn thận. Mỗi tháng anh đều giao cho Khải kiểm tra một lần. Nhờ vậy, từ trước đến nay anh luôn hài lòng với nó. Hơn nữa, anh không mướn tài xế, anh luôn tự lái mỗi khi đi đâu.Trong nhà chỉ có vợ anh, hai con nhỏ và bà mẹ. Tất cả đều không biết lái xe. Nếu anh có thì giờ, anh sẽ đưa họ đi khi cần, còn không thì cả nhà đi taxi.
Tại sao xe anh có lúc nổ máy, lúc không? Tại sao tối hôm qua chiếc xe anh lại đậu ở sân? Tạm thời anh chưa trả lời được câu hỏi nào cả.
Tuấn mở cửa xe. Bước vào. Đút chìa khóa công tắc. Đề máy. Chiếc xe nổ máy với âm thanh êm ái một cách vừa ý. Anh hôn vợ và dặn:
- Đóng cửa giùm anh nghen.
Chiếc xe nhẹ nhàng ra đường hòa vào dòng xe cộ đang hối hả của thành phố chuyển mình.
Chiều hôm đó, khi Tuấn đang sắp xếp chuẩn bị về thì có điện thoại của vợ anh:
- Anh Khải tới coi xe cho anh, em trả lời sao đây?
- Được rồi. Em nói anh Khải đợi anh, anh về tới liền.
Khi Tuấn về đến nhà Khải mở cổng. Anh lái một đường cong nhẹ để đưa xe đậu ở thềm. Khải ra dấu bảo Tuấn đừng tắt máy. Khải ép sát tai vào ca-pô. Thang máy nổ chậm đều và rất ngọt. Khải nhắm mắt, chăm chú lắng nghe. Tuyệt đối không có một âm thanh lạ, dù rất nhỏ. Khải lại giở ca-pô, nhìn thật kỹ và nghe thật kỹ.
- Không có gì hết. Tất cả đều hoàn hảo.
Tuấn yên tâm khi nghe bạn nói. Tuấn và Khải là bạn học chung thời trung học. Hai người chơi với nhau khá thân. Lên đại học, Khải chọn ngành kỹ thuật, tốt nghiệp kỹ sư cơ khí, Khải tiếp quản cơ sở sửa chữa xe hơi của cha. Với tay nghề kinh nghiệm gia truyền cộng với kiến thức khoa học kỹ thuật của Khải, cơ sở sửa xe ngày một phát triển và rất uy tín của thành phố này.
Còn Tuấn thì lao vào kinh doanh và cũng là một doanh nhân tương đối thành đạt. Mặc dù hiện nay do điều kiện công việc họ không còn cặp đôi như xưa nữa, nhưng tình cảm thân thiết vẫn không hề sứt mẻ tí nào.
Mỗi khi người nào cần thì chỉ cần ới một tiếng, người kia có mặt ngay. Ngay cả khi đi mua chiếc xe này Khải cũng đích thân đi và chọn lựa.
Tuấn tắt máy, mở cửa bước xuống. Khải lên xe khởi động. Chiếc xe nổ máy êm như ru. Khải đánh nhẹ tay lái đưa xe vào nhà xe.
- Em cho anh món gì ngon ngon để anh với anh Khải lai rai một chút.
Tuấn đưa Khải lên lan can tầng một. Nơi đó có cái bàn nhỏ rất hữu tình được thiết kế dành riêng cho các cuộc hội ngộ bạn bè chí cốt.
Cũng như những người bạn khác, lâu lâu mới có dịp thư thả ngồi với nhau, hai người thăm hỏi gia đình, vợ con. Kế đó là trao đổi cho nhau những tin tức về sự thành công hay thất bại của những người bạn chung.
Khi vợ Tuấn mang đĩa thức ăn, đột ngột Khải đổi đề tài:
- Ông nói chiếc xe thường khởi động không được trong khoảng thời gian nào?
Vừa khui chai rượu, Tuấn vừa trả lời:
- Tôi thấy là khoảng sáu tới bảy giờ. Những lúc có chuyện đi trong giờ này thì y thường...
- Hay là bà chủ xe không muốn ông đi giờ đó?
Vợ Tuấn cười:
- Không có đâu anh. Em đâu có biết gì về xe cộ.
- Đùa thôi. Thế này thì lạ thật.
Họ nâng ly. Chất rượu màu mật ong sóng sánh. Thời gian chầm chậm trôi qua. Lâu sau, bất ngờ Khải hỏi:
- Mấy giờ rồi?
- Sáu giờ hai mươi.
- Mình xuống thử xe.
Hai người xuống nhà để xe, mở cửa, lao lên xe, khởi động máy. Chỉ có tiếng khởi động. Máy xe không nổ. Khải kiểm tra thật kỹ, xem máy, thử điện, thử lửa, thử xăng tất cả đều tốt.
- Kỳ à nghen.
Khải trầm ngâm nhìn chiếc xe một lúc, bất ngờ nói:
- Thôi mình lên nhậu tiếp.
Hai người lại tiếp tục uống lai rai. Bảy giờ mười phút. Họ trở xuống nhà xe. Chiếc xe khởi động ngọt ngào như chưa bao giờ trở chứng. Khải lắc đầu, nhún vai, cười và từ giã bạn ra về.
Tuấn hoàn toàn không thể tưởng tượng được khi sáng hôm sau anh xuống nhà đi làm thì chiếc xe đã đậu ở ngoài sân, thay vì trong nhà xe. Chiếc xe đậu bên thềm. Cái dáng đậu đó chưa phải là vị trí của chiếc xe sắp ra cổng.
- Chuyện gì đã xảy ra?
Tuấn không thể nào dự đoán được một điều gì. Trong đầu anh có biết bao nhiêu nghi hoặc, thắc mắc mà không hề giải thích nổi.
Cuối cùng thì Tuấn cũng có được một kế hoạch.
Chiều hôm đó, anh mắc dây đặt chiếc Camera trên lan can lầu một hướng xuống sân. Tối đến anh cố thức thật khuya quan sát nhưng không có chuyện gì xảy ra. Anh đi ngủ sau khi bật camera.
Sáng hôm sau chiếc xe đậu sẵn ở sân. Tuấn vào phòng mở đoạn phim thu được. Trong bóng tối, không một bóng người, hình ảnh chiếc xe mờ mờ di chuyển tới sân. Anh thấy dường như trên nắp xe có một bóng trắng mờ mờ hình người nằm trên đó. Anh tua đi quay lại nhìn thật kỹ và xác định đúng như vậy.
Tuấn chạy xuống nhìn vào nắp xe. Không thấy có gì lạ.
Hôm sau Tuấn thay đổi vị trí lắp camera. Chiếc máy được lắp sát vào chậu cây cảnh dưới sân. Từ vị trí này góc nhìn của máy rất rộng, có thể thấy từ cửa nhà để xe đến sân. Chiếc camera này là loại mới, có thể nhìn thấy rõ hình ảnh trong đêm tối mà anh mới mượn được của người bạn trưa nay.
Đến hơn mười một giờ Tuấn đi ngủ và mở máy quay. Thức dậy, việc đầu tiên là Tuấn chạy ra lan can nhìn xuống. Chiếc xe đã đậu ở sân. Anh xuống chỗ đặt máy quay lấy phim thu được. Hình ảnh lần này khá rõ. Cái khóa nhà xe tự mở, hai cánh cửa sắt bung rộng ra, chiếc xe không người lái di chuyển từ từ. Không phải, nói đúng hơn là chiếc xe đang trôi chầm chậm. Đầu tiên là nó lùi ra khỏi nhà xe để trở đầu, qua một khúc cua dễ dàng và đến đậu trước sân. Trong xe không có người lái.
Quan trọng hơn là trên nắp xe có người. Hình ảnh cho thấy một người đang nằm trên nắp xe. Xem lại nhiều lần, Tuấn thấy rõ đó là thân một người con gái, nằm bất động và có cả máu. Cô gái mặc bộ quần áo trắng, mái tóc dài bện máu. Máu trên nắp xe, máu dính vào cản xe. Anh thấy rõ máu còn nhểu từng giọt trên khuôn mặt người con gái tội nghiệp.
Toát mồ hôi Tuấn điện thoại cho Khải. Khải đi sửa xe cho người quen ở tỉnh. Khải hẹn tối nay gặp. Tối hôm đó vào khoảng bảy giờ rưỡi, Tuấn lái xe đến nhà Khải.
Đây là con đường khá tối trong thành phố, đèn đường rất thưa và có cái hư, nên hai bên đường tối và đường vắng. Đèn đỏ, Tuấn ngừng xe. Bất ngờ anh ngước lên kính chiếu hậu. Cái gì vậy? Một người con gái ngồi nép băng sau xe anh. Đó lại đúng là cô gái mà anh nhìn thấy trong phim thu được. Cô gái mặc bộ quần áo trắng, mái tóc dài bị bện máu. Có cả những giọt máu.
Anh cảm thấy ớn lạnh. Mồ hôi tuôn trơn ướt hai bàn tay đang cầm vô lăng. Anh phải hết sức mình để giữ bình tĩnh.
Bất thần anh quay lại nhìn phía sau. Không có gì cả. Anh nhìn lại kính chiếu hậu, cô gái vẫn còn ngồi đó. Thật tình thì anh định mở cửa xe bỏ chạy.
Có tiếng còi xe phía sau. Đèn đã chuyển sang xanh. Tuấn tăng ga cho xe chạy chầm chậm và nhìn lên kính chiếu hậu. Hình ảnh cô gái đã biến mất.
Vượt qua một ngã tư nữa, anh từ từ tấp xe vào lề trước nhà Khải. Đây lại là đoạn đường tối.
Trời ơi, trong ánh đèn pha cô gái lại hiện ra trước mắt Tuấn. Vẫn bộ quần áo trắng. Vẫn mái tóc dài bay thấp thoáng còn bện máu.
Nghe tiếng xe ngừng, biết anh tới, Khải mở cửa nhà. Cô gái biến mất.
***
Vợ chồng Khải im lặng khi nghe Tuấn kể câu chuyện. Từ việc anh quay phim đến việc anh thấy người con gái ma trong xe, trong ánh đèn pha. Nhưng không hiểu sao cả hai đoạn phim đều không chiếu được trên máy nhà Khải.
Vợ Khải có vẻ sợ. Khải trầm ngâm hút thuốc.
Sau một lúc suy nghĩ đầy căng thẳng, Khải đứng dậy vào phòng. Khi trở ra anh cầm theo một tờ báo. Mở trang cuối, Khải chỉ cho anh một cột báo có đóng khung.
Tuấn đọc. Đó là thông báo truy tìm chủ xe và người lái xe gây tai nạn. Chiếc xe màu xanh lợt, có hai số sau là 09, gây tai nạn làm chết một cô gái rồi bỏ chạy vào tối thứ bảy tuần rồi...
Tuấn chợt hiểu ra:
- Là xe anh.
Khải nói, giọng trầm và chậm rãi:
- Tôi vừa mới đọc được chiều nay. Tối thứ bảy vợ chồng tôi đi Vũng Tàu. Cơ sở nghỉ. Chỉ có một thằng thợ trực ở tiệm.
Khải quay qua bảo vợ:
- Em kêu thằng Thành qua cho anh.
Ít phút sau vợ Khải và anh thợ sửa xe Thành bước vào. Không khí im lặng và căng thẳng, cái nhìn của ông chủ cơ sở và ông chủ xe quen thuộc, Thành ngơ ngác như mất hồn một chút rồi ngã bệt dưới đất:
- Em lỡ... Tối thứ bảy, em lén lấy xe đi uống cà phê rồi lỡ...
Thành khóc như mưa...


Múi giờ GMT. Hiện tại là 07:19 AM.

Powered by: vBulletin Version 3.6.1 Copyright © 2000 - 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.