![]() |
Giai thoại chữ nghĩa
Thơ con cóc
Hồi xưa có ba anh chàng dốt văn thơ nhưng rất thích làm thơ và hoạ thơ với nhau. Dốt mà làm thơ cũng chẳng ai cấm, nhưng khổ nỗi mấy anh này làm thơ đã rất tệ, sai vần sai luật, khổ độc tùm lum mà lại cứ dương dương tự đắc, tâng bốc lẫn nhau, tự cho thơ họ là những tuyệt tác phẩm không ai sánh bằng. Một buổi tối nọ trăng thanh gió mát, xúc cảnh sinh tình, mấy anh chàng rủ nhau làm thơ. Anh thứ nhất chợt thấy góc nhà nhảy ra một con cóc bèn ứng khẩu thành câu: _ Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra Anh thứ nhì nhìn con cóc ngồi im thì buột miệng nói theo: _ Con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó Vừa lúc đó con cóc nhảy vụt ra ngoài, anh thứ ba tiếp lời: _ Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi Ba anh ráp ba câu lại thành một bài thơ, tự cho là tuyệt tác phẩm, khoái trí đọc ngâm nga mãi và tán tụng lẫn nhau là những thiên tài thi văn thời đại. Chợt một anh la lên: _ Chết rồi! Nghe người ta nói rằng thiên tài thường hay chết yểu. Mà mình đã làm ra một tuyệt tác phẩm thì tinh anh phát tiết hết ra ngoài, thế nào mai cũng chết! Hai anh kia giật mình bảo: _ Thế thì phải lo sớm, kẻo mai chết đi thì không kịp. Bèn sai người đầy tớ chạy ra tiệm mua ngay ba cái quan tài về lo việc tống táng. Tên đầy tớ nghe chủ nói lật đật ba chân bốn cẳng chạy ra đường, hấp tấp thế nào đụng phải 1 người đi ngang. Lão ta túm cổ nó hỏi: _ Giữa đêm hớt hải thế này, chắc là mày đang làm việc gì mờ ám hử? Tên đầy tớ trả lời: _ Không phải đâu nào! Tại vì ba cậu chủ tôi mới làm xong được một bài thơ tuyệt hay, mà nghe người ta nói thiên tài sau khi sáng tác ra tuyệt tác phẩm thì sẽ chết nên sai tôi đi mua ba cái hòm về chuẩn bị sẵn, kẻo mai không kịp! _ Thế mày có nhớ bài thơ đó không? Tên đầy tớ tự hào nói: _ Nhớ chứ ạ! Ba cậu ngâm suốt cả đêm tôi nghe đã thuộc lòng đây này. Rồi nó đọc nguyên văn bài thơ cho lão kia nghe, lão ta phá lên cười sằng sặc. Một lát, lão cố nén cười bảo tên đầy tớ rằng: _ Nhân thể mày mua luôn giùm tao một cái quan tài nữa nhé? Tên đầy tớ ngơ ngác hỏi: _ Chi vậy? Nhà ông có người mới mất à? Lão ta cười nói: _ Không phải, tao sợ tao cười một hồi rồi cũng chết theo ba cậu chủ mày đó thôi! Do truyện đó mà sau này các bài thơ đọc nghe dở hơi, ngớ ngẩn được gọi là thơ con cóc! Nghe nói ba anh chàng đầu thai lại thành ba ông thi sĩ lừng danh ở đâu đó trên mạng, tiếp tục làm ra những tuyệt tác phẩm CC (xin đọc là con cóc) và lại tiếp tục tán tụng lẫn nhau. Ông nào cũng thủ sẵn một cái quan tài để chình ình giữa nhà! Ái Hoa |
Chữ gì?
Năm ấy triều đình mở khoa thi, các thầy đồ nhiều phen bút nghiên lều chõng, lảo đảo trường ốc vẫn chưa đỗ đạt, nay lại lục tục kéo về Thăng Long dự thi. Họ gặp nhau, tay bắt mặt mừng, rủ vào một quán thịt chó gần phường Bích Câu để nhậu. Rượu vào, lời ra, thi văn bốc lên hừng hực. Một ông thầy bắt đầu kể truyện Nguyễn Hiền đời Trần mới 11 tuổi đã đỗ trạng nguyên, bị vua chê không biết lễ đuổi về. Sau sứ thần Trung Hoa sang đưa một bài thơ thách đố vua quan ta. Bài thơ nguyên văn như sau : 兩 日 平 頭日 四 山癲倒 山 兩 王 爭 一 國 四 口從 衡閒 "Lưỡng nhật bình đầu nhật Tứ sơn điên đảo sơn Lưỡng vương tranh nhất quốc Tứ khẩu tung hoành gian" dịch nghĩa là : Hai mặt trời bằng đầu Bốn trái núi đảo điên Hai vua tranh một nước Bốn miệng nằm dọc ngang Cả triều thần chịu cứng không hiểu ý gì. Cuối cùng nhà vua phải đi rước Trạng về giải. Trạng Hiền chỉ xem qua bài thơ rồi trả lời ngay : "Hai nhật bằng đầu để sóng hàng Bốn sơn đảo lộn dọc cùng ngang Hai vương nghiêng ngửa lo tranh nước Bốn khẩu liền nhau ghép chữ vàng đều là chữ "điền" (= 田) cả!" Vua quan bấy giờ mới vỡ lẽ ra. Sứ thần nhận câu đáp của Trạng là đúng, phải chịu phục. Các thầy đồ gật gù khen : _ Kẻ đố đã giỏi mà kẻ giải được còn tài hơn mấy bậc! Các thầy thích chí vỗ đùi đen đét làm đổ cả chung rượu. Anh hàng thịt chó ngồi hầu rượu nghe lỏm cũng ngứa ngáy góp lời : _ Các thầy đây hay chữ, vậy tôi xin đố các thầy :"Lưỡng nghệ lưỡng biên, khuyển trên hoả dưới" là cái gì? Các thầy đồ nhìn nhau, suy nghĩ nát óc vẫn không biết có chữ gì mà hai bên là 2 chữ "nghệ", trên có chữ "khuyển" và dưới có chữ "hoả". Sau cùng họ phải chịu thua, nhờ anh hàng thịt chó giảng giải. Anh ta tủm tỉm cười đáp : _ Thưa, là chữ "chó thui" ạ! Tôi kẹp hai lát nghệ hai bên rồi để lửa (hoả) ở dưới nướng chó (khuyển) ở trên thì thành "chó thui" chứ còn gì nữa? :danhdau: |
Lê Văn Hưu
Tác giả bộ Đại Việt Sử Ký là nhà bác học thiên tài Lê Văn Hưu, giữ chức Hàn Lâm Viện Học Sĩ đời Trần, cũng là thầy dạy Tướng quốc Trần Quang Khải. Thuở nhỏ ông đã nổi tiếng thần đồng. Truyện kể rằng có người đố chú bé Hưu có dám vào núi thử xem vì trong núi có con ma râu dài. Chú bé một mình vào núi chẳng thấy ma mà chỉ thấy một ông lão nông dân đang làm rẫy, tóc râu bạc trắng như cước. Về làng mọi người hỏi bé Hưu có gặp ma không, chú bé đáp : _ Cháu chỉ gặp tiên thôi. _ Mày nói thật hay dối? _ Thật mà! Này nhé, một người đứng bên núi nhìn cháu. Người là chữ "nhân" (人), núi là chữ "sơn" (山), chữ "nhân" ghép với chữ "sơn" thì chả thành chữ "tiên" (仙) là gì? Mọi người đều phục tài chú bé. Đầu làng có bác thợ rèn trước cũng theo đòi nghiên bút và thích thơ phú. Một bận chú bé Hưu ra lò rèn chơi. Thấy chú bé mặt mũi sáng sủa, bác lò rèn bảo : _ Mày biết đối không? Tao thử cho mày một câu đối, không đối được tao bắt quai búa. Hưu đáp : _ Bác cứ đọc, tàn nhịp điếu cày là cháu đối lại ngay! Bác thợ ngạc nhiên bảo : _ Thằng này khoác lác nhỉ? Nghe này : "Sắt trong lò, than trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò, rèn nên dùi sắt". Câu đối ra có 2 chữ "sắt" và 3 chữ "lò", lại vần với chữ "phò", phải nói là khá hiểm hóc. Hưu vỗ vào túi sách mang theo, nói : _ "Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi, giật lấy khôi nguyên". Chữ "nghiên" đọc trại gần giống chữ "nguyên", 3 chữ "túi" đối với 3 chữ "lò", và vần với chữ "húi", thật là tuyệt diệu. Mọi người chung quanh thảy đều giật mình. Bác thợ rèn kêu lên : _ A! Tài thế? Chắc chắn thằng bé này rồi sẽ giật giải khôi nguyên thôi! Năm Đinh Mùi (1247), nhà Trần mở khoa thi Thái Học Sinh, Lê Văn Hưu trúng tuyển, lúc ấy mới có 17 tuổi. Tuy nhiên, ông không giật được khôi nguyên mà chỉ đậu Bảng Nhãn, dưới Trạng Nguyên Nguyễn Hiền một bậc! |
Nguyễn Hiền
Nguyễn Hiền quê làng Hà Dương, huyện Thượng Hiền (Nam Định), thông minh từ thuở nhỏ, học nhà sư ở chùa từ khi 5, 6 tuổi, năm 11 tuổi nổi tiếng thần đồng. Có người ở Kinh Bắc tên Đặng Tính tự thị mình tài giỏi hơn đời, nghe tiếng Hà Dương có thần đồng bèn lặn lội tìm đến thử tài. Đặng ra bài phú đề tài là: "Phụng hoàng sào vu A các, Kỳ lân du vu Uyển hựu" (chim phụng hoàng làm tổ trên A các, con Kỳ lân đi chơi vườn Uyển hựu). Nguyễn Hiền đọc luôn 4 câu: _ Qui phi Lạc thủy Long bất Mạnh hà Ỷ bỉ Hữu hùng chi quốc Ấp vu Trác lộc chi a" nghĩa là: Không phải con rùa sông Lạc thủy Không phải con rồng sông Mạnh hà Ấy kia nước Hữu hùng (hùng = con gấu) Đóng đô ở gò Trác lộc (lộc = con nai) Câu nào cũng có một giống cầm thú. Đặng Tính lắc đầu le lưỡi rằng: _ Thiên tài xin nhường cho bác trẻ tuổi này! Năm đó Nguyễn Hiền đi thi đỗ thủ khoa. Khi vào thi Đình, văn Nguyễn Hiền hay nhất, được vua chấm giải Trạng nguyên. Lúc vào bái mạng, vua thấy bé loắt choắt lấy làm lạ mới hỏi: _ Trạng học ai ở nhà? Hiền thưa: _ Tôi sinh ra đã biết. Chỉ thỉnh thoảng vào chùa hỏi nhà sư vài chữ thôi. Vua cho là Trạng chưa biết lễ phép, ăn nói không khiêm tốn, cho về nhà học lễ 3 năm rồi mới bổ làm quan. Không bao lâu có sứ Tàu đem bài thơ ngũ ngôn sang thử tài. Cả triều đình không ai biết nghĩa bài thơ, vua phải sai sứ giả tới làng Hà Dương mời Trạng về triều. Sứ giả tới nơi gặp một đứa trẻ trên đường làng mới kéo lại hỏi thăm thì nó không thèm đáp. Sứ giả cũng là tay hay chữ, bèn nói rằng: _ Tự là chữ, cất giằng đầu chữ Tử là con, con ai con ấy? (chữ Tự 字 có nghĩa là chữ, bỏ nét trên đầu thành chữ Tử 子 có nghĩa là con). Đứa trẻ đáp ngay: _ Vu là chưng, bỏ ngang lưng chữ Đinh là đứa, đứa nào đứa này? (chữ Vu 于 có nghĩa là chưng, mất nét ngang giữa thành chữ Đinh 丁 có nghĩa là đứa). Sứ giả biết là Trạng bèn dò tới nhà, gặp Hiền đang lúi húi nhóm bếp lại châm chọc: _ Ngô văn quân tử viễn bào trù, hà tu mị táo? (Tôi nghe quân tử xa chỗ bếp núc, lọ là phải nịnh vua bếp) Trạng đối liền: _ Ngã bản hữu qua cư đỉnh nại, khả tạm điều canh. (Ta cốt có chức Tể tướng, còn tạm nấu nồi canh. Ý nói nấu canh cũng như làm tướng, mặn lạt do tay mình) Sứ giả kính phục bèn kể ý vua rước Trạng về kinh. Hiền nói: _ Trước Thiên tử bảo ta chưa biết lễ, không ngờ chẳng những Trạng không biết lễ mà Thiên tử cũng vậy. Rồi nhất định không đi. Sứ giả về tâu, vua phải sai đem ngựa xe cờ lọng đủ lễ thỉnh Trạng mới chịu theo về triều. Liếc qua bài thơ Trạng đã biết ý giải ra ngay, sứ Tàu phải chịu phục (xem bài "Chữ gì" cùng trang ở phía trên). Vua phong Trạng làm Kim tử vinh lộc đại phu, sau thăng Công bộ Thượng thư. Không bao lâu thì mất. Vua thương tiếc, đổi tên huyện Thượng Hiền thành Thượng Nguyên để tránh húy, bắt dân nơi ấy lập miếu thờ, cấp ruộng dành cho việc cúng tế hàng năm. |
Mạc Đĩnh Chi đi sứ
Mạc Đĩnh Chi tự là Tiếu Phu quê ở làng Lũng Đổng huyện Chí Linh (Hải Dương), dòng dõi Thượng Thư Mạc Hiển Tích triều Lý. Lớn lên bốn năm tuổi, ông đã lộ tư chất thông minh hơn người. Bấy giờ hoàng tử là Chiêu Quốc Công mở trường dạy học trò, Mạc Đĩnh Chi vào học. Năm Giáp Thìn (1304) đời Anh Tôn nhà Trần, Mạc Đỉnh Chi thi Đình, văn chương tuyệt thế hơn hẳn mọi sĩ tử khác nhưng vua thấy tướng người xấu xí không muốn cho đỗ đầu. Ông làm bài phú "ngọc tỉnh liên", tự ví mình như hoa sen trong giếng ngọc. Ngọc Tỉnh Liên Phú Khách hữu: Ẩn kỷ cao trai; hạ nhật chính ngọ. Lâm bích thủy chi thanh trì; vịnh phù dung chi Nhạc phủ. Hốt hữu nhân yên: Dã kỳ phục; hoàng kỳ quan. Quýnh xuất thần chi tiên cốt; lẫm tịch cốc chi cồ nhan. Vấn chi hà lai; viết: tòng Hoa san Nãi thụ chi kỷ; nãi sử chi toạ Phá Đông lăng chi qua; tiến Dao trì chi quả. Tái ngôn chi lang; tái tiếu chi thả. Ký nhi mục khách viết: tử phi ái liên chi quân tử dã? Ngã hữu dị chủng, tàng chi tụ gian ; Phi đào lý chi thô tục; phí mai trúc chi cô hàn. Phi tăng phòng chi câu kỷ; phi Lạc thổ chi mẫu đan. Phi Đào lệnh đông ly chi cúc; phi Linh Quân cửu uyển chi lan. Nãi Thái họa phong đầu Ngọc tỉnh chi liên. Khách viết : Dị tai! Khởi sở vị: ngẫu như thuyền hề hoa thập trượng; lãnh tỉ sương hề cam tỉ mật giả da? Tích văn ký danh; kim đắc kỳ thực. Đạo sĩ hân nhiên; nãi tụ trung xuất. Khách nhất kiến chi, tâm trung uất uất Nãi phất thập dạng chi tiên, tỉ ngũ sắc chi bút Dĩ vi ca viết : Giá thủy tinh hề vi cung; tạc lưu li hề vi hộ. Toái pha lê hề vi nê; sái minh châu hề vi lộ. Hương phức úc hề trùng tiêu; đế văn phong hề nhữ mộ. Quế tử lãnh hề vô hương; Tố Nga phân hề nhữ đố. Thái dao thảo hề Phương châu; vọng mỹ nhân hề Tương phố. Kiển hà vi hề trung lưu; hạp tương phản hề cố vũ. Khởi hộ lạc hề vô dung, thán thuyền quyên hề đa ngộ. Cẩu dư bính chi bất a; quả hà thường hồ phong vũ . Khủng phương hồng hề dao lạc; hoài mỹ nhân hề tuế mộ. Đạo sĩ văn nhi thán viết : Tử hà vi ai thả oán dã? Độc bất kiến Phượng hoàng trì thượng chi tử vi, Bạch ngọc đường tiền chi hồng dược? Tuấn địa vị chi thanh cao; ái thanh danh chi chiêu chước. Bỉ giai kiến quý ư thánh minh chi triều; tử độc hà chi hồ tao nhân chi quốc? Ư thị hữu cảm tư thông, khởi kính khởi mộ. Nga Thành Trai đình thượng chi thi; canh Xương Lê phong đầu chi cú. Khiếu xương hạp dĩ phi tâm, kính hiến Ngọc tỉnh liên chi phú. Bài phú được dâng lên vua Anh Tông. Từng câu, từng chữ trong bài phú đã làm cho nhà vua bừng tỉnh và thốt lên : _ Khanh quả là bậc thiên tài, có tiết tháo! Ông được lấy đỗ Trạng nguyên. Ngay sau khi đỗ đạt, ông được sung chức Nội thư gia và bốn năm sau (năm Mậu Thân, 1308), ông được cử cầm đầu phái bộ sứ giả sang nhà Nguyên, mừng việc Nguyên Vũ Tông lên ngôi. Có một mẩu chuyện thú vị đã xẩy ra trong chuyến đi sứ này của ông, được sách "Đại Việt sử ký toàn thư" ghi lại như sau: "Đĩnh Chi thấp bé nên người Nguyên khinh ông. Một hôm, viên tể tướng mời ông vào phủ, cho cùng ngồi. Lúc ấy, đang hồi tháng 5 tháng 6. Trong phủ có treo bức trướng mỏng, trên thêu hình con chim sẻ đậu cành trúc. Đĩnh Chi vờ làm như mình nhầm tưởng là chim sẻ thật rồi chạy đến bắt. Người Nguyên thấy vậy cười ồ, cho là người phương xa quê mùa. Bất thình lình, Mạc Đĩnh Chi kéo bức trướng xuống xé đi. Mọi người lấy làm lạ, hỏi tại sao, Đĩnh Chi đáp rằng: Tôi nghe người xưa vẽ chim sẻ đậu cành mai chứ chưa hề thấy vẽ chim sẻ đậu cành trúc bao giờ. Nay bức trướng của tể tướng lại có hình chim sẻ đậu cành trúc. Trúc là biểu tượng của bậc quân tử, chim sẻ là biểu tượng của kẻ tiểu nhân, làm như vậy là để tiểu nhân trên quân tử, sợ rằng đạo đạo tiểu nhân sẽ mạnh, đạo của quân tử sẽ suy, tôi vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân vậy. Mọi người nghe vậy đều phục tài ông". Những kẻ ngạo mạn cười ồ khi Đĩnh Chi vờ bắt chim sẻ, sau khi nghe Đĩnh Chi giải thích việc làm của mình, ắt hẳn phải ngồi im thẹn thùng vì biết bị Đĩnh Chi nói xỏ là lũ tiểu nhân. Xé bức trướng xong lại nói vì thánh triều mà trừ giúp bọn tiểu nhân, Đĩnh Chi muốn ngầm bảo rằng, sao mà thánh triều lắm tiểu nhân đến vậy? Tương truyền trong thời gian đi sứ Mạc Đĩnh Chi ứng đối với vua quan Tàu rất tài tình, khiến người Tàu vô cùng nể phục. Chẳng hạn khi qua quan ải do thời tiết xấu nên tới sai hẹn, người Tàu đóng cửa quan không cho vào. Đĩnh Chi xin mở cửa, quan trên thành ném xuống một câu đối, bảo đối được mới mở. Câu ra: _ Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan. Ông viết vào mảnh giấy gởi lại: _ Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối. Người Tàu khen có tài nhanh nhẩu, mở cửa ải cho vào. Ái Hoa (còn tiếp) |
Mạc Đĩnh Chi đi sứ (tt)
Khi Mạc Đĩnh Chi vào triều gặp vua Nguyên, một viên quan Tàu bèn ra vế đối: _ An, nữ khứ, thỉ nhập vi gia (chữ an 安, bỏ chữ nữ 女đi, cho chữ thỉ 豕vào thì thành chữ gia 家). Thỉ có nghĩa là heo lợn. Mạc Đĩnh Chi đối ngay: _ Tù, nhân xuất, vương lai thành quốc (chữ tù 囚, bỏ chữ nhân 人 ra, đem chữ vương 王lại thành ra chữ quốc 国). Người Tàu phê rằng: - Con cháu về sau tất có người làm đến đế vương nhưng hiềm là chữ quốc đơn (có hai dạng chữ quốc, (chữ quốc giản thể thì viết国, phồn thể thì viết國 ) thì hưởng nước không được tràng cửu. Một viên quan khác ra đối tiếp: _ Li, mị, võng, lượng tứ tiểu quỷ. (Li, vị, võng, lượng là bốn con quỷ nhỏ) Bốn chữ li 魑, mị 魅, võng 魍, lượng 魎 đều có chứa chữ quỷ 鬼 Đáp: _ Cầm, sắt , tỳ, bà, bát đại vương. (Cầm, sắt, tỳ, bà là tám ông vua lớn) Bốn chữ cầm 琴 , sắt 瑟 , tỳ 琵, bà 琶 , mỗi chữ có hai chữ vương 王, tất cả thành tám chữ vương. Người Tàu vốn kiêu căng tự ví nước Tàu như mặt trời vĩ đại, còn các nước khác là chư hầu như mặt trăng nhỏ bé. Để trấn áp sứ thần và tỏ ý coi thường nước Đại Việt, hoàng đế Nguyên đọc một câu đối (chắc do triều thần soạn sẵn), đòi Trạng Việt phải đối lại : _ Nhật: hoả, vân: yên, bạch trú thiêu tàn ngọc thỏ. nghĩa là: lấy mặt trời làm lửa, mây làm khói, ban ngày đốt tiêu thỏ ngọc (= mặt trăng) Mạc Đĩnh Chi ứng khẩu đọc ngay : _ Nguyệt: cung, tinh: đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô. nghĩa là: lấy mặt trăng làm cung, sao làm đạn, chiều tối bắn rớt quạ vàng (=mặt trời) Vế đối thật hay và chỉnh cả về từ lẫn ý. Trăng lưỡi liềm như cánh cung, sao tròn như viên đạn, là hình dung thật tuyệt vời. Ngoài ra còn nêu lên được tinh thần bất khuất của nước nhỏ (mặt trăng) sẵn sàng đập tan mọi de doạ của nước lớn (ví như mặt trời). Do câu này người ta cho rằng con cháu ông về sau tất có người thí quân cướp nước. (Ứng với điềm cháu bảy đời của Mạc Đĩnh Chi là Mạc Đặng Dung về sau giết vua Lê đoạt ngôi). Gặp lúc công chúa nhà Nguyên chết, các sứ thần đi dự lễ tang. Triều đình nhà Nguyên trao ông vinh dự đọc điếu văn đã soạn sẵn trong buổi lễ. Tới chừng lên đọc, giở tờ giấy ra chỉ thấy bốn chữ nhất, Mạc Đĩnh Chi biết người Tàu muốn thử tài mình, ông không hề bối rối, ứng khẩu luôn bài văn điếu, nguyên văn như sau: _Thanh thiên nhất đoá vân Hồng lô nhất điểm tuyết Thượng uyển nhất chi hoa Dao trì nhất phiến nguyệt Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết! Tạm dịch: (Một) cụm mây trên trời xanh (Một) đốm tuyết cạnh lò hồng (Một) cánh hoa nơi vườn ngự (Một) mảnh nguyệt dưới ao trong Ôi! Mây tan, tuyết chảy, hoa rụng, nguyệt mờ! Bài văn này còn được chép lại trong tài liệu sử sách của Tàu. Ai cũng phải chịu là tài ứng đối nhanh. Vua nhà Nguyên cảm phục tài của Mạc Đĩnh Chi, sai mang lụa là, vàng bạc tặng ban và phong cho ông làm "Lưỡng quốc Trạng nguyên" (Trạng nguyên của cả hai nước), chữ phê do chính tay hoàng đế Nguyên viết. Ái Hoa (còn tiếp) |
Mạc Đĩnh Chi đi sứ (tt)
Trong thời gian ở Tàu, Mạc Đĩnh Chi có nhiều dịp trổ tài đối đáp với người Tàu khiến họ không dám khinh thường người Việt Nam. Có lần Mạc Đĩnh Chi cỡi lừa rong chơi đường phố Bắc Kinh, vô ý đụng phải một viên quan Tàu đang cỡi ngựa. Viên quan này vênh mặt hỏi bằng một câu đối: _ Xúc ngã kị mã, Đông di chi nhân dã, Tây di chi nhân dã? (Đụng vào ta cỡi ngựa, ấy là rợ phương Đông hay là rợ phương Tây?) Viên quan Tàu dùng chữ trong sách Mạnh Tử, có ý khinh rẻ, cho người nước ta là mọi rợ. Mạc Đĩnh Chi thấy viên quan Tàu giở giọng kẻ cả, bực lắm bèn đọc luôn: _ Át dư thừa lư, Nam phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư? (Húc vào ta cỡi lừa, hỏi rằng phương Nam mạnh, hay rằng phương Bắc mạnh?) Trong vế đối, Trạng nước ta cũng dùng chữ trong sách Trung Dung và ngụ ý để viên quan Tàu kiêu ngạo thấy: “Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào!” Lần khác, người Nguyên thấy đoàn sứ bộ ta chuyện trò với nhau, tiếng cứ ríu ra ríu rít như chim. Họ bèn ra câu đối để đùa: _ Quyết thiệt chi đầu đàm Lỗ Luận: tri chi vi tri chi, bất vi tri bất tri, thị tri (Chim chích choè đầu cành bàn sách Luận ngữ: biết thì bảo là biết, không biết thì bảo là không biết, thế mới là biết). Đây là một vế đối khó. Người Nguyên đã chọn những từ vi, tri, chi... giống tiếng chim kêu để giễu người Việt khi phát âm. Mạc Đĩnh Chi đã đối: _ Oa lâm trì thượng độc Châu thư: lạc dữ độc lạc nhạc, lạc dữ chúng lạc nhạc, thục lạc?(Con chẫu chuộc ngồi dưới ao đọc sách nhà Chu: nghe nhạc vui cùng ít người, nghe nhạc vui cùng nhiều người, đằng nào vui hơn?). Vế đối của Trạng nước ta cũng dùng từ lạc, lạc, nhạc... giống tiếng chẫu chuộc, để chọi lại, chế người Nguyên nói ồm ộp như chẫu chuộc! Một hôm Mạc Đĩnh Chi ngồi uống nước với người Nguyên ở cạnh chùa. Họ bèn ra câu đối để thử tài sứ An Nam. Câu đối bằng chữ Hán, dịch ra như sau: _ Kỷ là gỗ. Chén không phải là gỗ. Tại sao lấy kỷ làm chén? Trạng nhìn ngôi chùa, tức cảnh đối ngay: _ Tăng là người. Phật không phải là người. Tại sao lấy tăng thờ Phật? Vế đối quả là chan chát và lập luận thật là chặt chẽ, chính xác! Lại có lần Mạc Đĩnh Chi cùng với phái bộ triều Nguyên đi chơi. Tới gần một cái cầu, chẳng may Trạng Việt Nam bị sa hố, phái bộ đều chạy lại để đỡ ông dậy. Để đùa vui, họ ra cho ông một vế câu đối: _ Can mộc, hoành cừ, lục giả tương như tự đạo (Nghĩa là: Gỗ thẳng, cầu ngang, đường đi ngỡ là đất phẳng) Cái khó của câu này là ở chỗ dùng toàn tên người ghép lại. Theo đó, can mộc là Đoàn Can Mộc - một nhân vật đời Chiến Quốc, Hoành Cừ: tên hiệu của Trương Tải - một triết gia đời Bắc Tống, Lục Giả: người nước Sở, giỏi biện luận, theo giúp Hán Cao Tổ, tương như: Lạn Tương Như, một nhân vật nổi tiếng đời Chiến Quốc, tự đạo: Giả Tự Đạo, người đời nhà Tống, một quyền thần chuyên chế. Mạc Đĩnh Chi nhìn quanh nom thấy ở bên kia sông có cái đình dưới chân núi, nhân thế chỉ tay thẳng đình mà đối: _ Đại đình, anh thạch, vọng chi nghiễm nhược Thai sơn (Nghĩa là: Đình to, đá vững, nhác nom như thể Thiên Thai) Câu này cũng dùng toàn tên người ghép lại như ở câu trên mà lại có ý khoáng đạt hơn nhiều, theo đó Đại Đình là một biệt hiệu của Thần Nông, an thạch tức Vương An Thạch thừa tướng đời Bắc Tống, Vọng Chí là người đời Hán, làm phụ chính cho Hán Nguyên đế (hai từ "nghiễm nhược" và "Thai sơn", các nhà nghiên cứu cho biết chưa tra cứu ra là ai). Thế là một lần nữa, người Nguyên lại phải khâm phục tài văn học của sứ thần An Nam. Ái Hoa (còn tiếp) |
Mạc Đĩnh Chi đi sứ (tt)
Một buổi chiều hè, trời nắng như đổ lửa, Mạc Đĩnh Chi và mọi người lúc ấy đi ngang qua một quán nước ven đường. Ông cho mọi người nghỉ lại. Chủ quán là một bà cụ già tóc bạc phơ, đon đả chào khách. Cạnh đấy không xa có giếng nước trong, trên thành giếng có viết 5 chữ : "Ngân bình, kiện thượng tị ". Thấy lạ, ông hỏi duyên do. Bà cụ chậm rãi kể lại rằng khi xưa có một cô gái bán hàng nước học hành giỏi, chữ nghĩa thông làu. Gần đấy, có một anh học trò muốn ngấp nghé, cứ ngày ngày đi học về, lại vào uống nước tìm lời trêu ghẹo. Một hôm cô hàng nước nói thực với anh: _ Thiếp là con nhà lương dân, có theo đòi bút nghiên, mà chàng cũng con nhà thi lễ, nếu như phải duyên trời, thực cũng xứng đôi vừa lứa. Nhưng mà thiếp chưa được biết tài học của chàng ra sao, vậy thiếp xin ra một câu đối, nếu chàng đối được, thiếp tình nguyện theo nâng khăn sửa túi, bằng không, thì xin chàng chớ qua đây làm gì nữa. Anh học trò bằng lòng. Cô hàng nhân trông thấy cái ấm tích bằng bạc, mới ra câu đối rằng: _ Ngân bình, kiện thượng tị (Bình bạc, mũi trên vai. Ý nói cái vòi trên cổ ấm ). Anh học trò nghĩ mãi mà không đối được, xấu hổ quá, đành đâm đầu xuống giếng đó chết. Ít lâu sau, người ta cho viết vế câu đối ấy lên thành giếng để thách thức cả thiên hạ, nhưng xưa nay chưa ai đối được. Nghe đến đây, Mạc Đĩnh Chi cười nói: _ Câu ấy dễ thế sao không đối được mà phải đành ngậm oan nơi đáy giếng! Thôi để ta đối giùm hầu giải oan cho hồn kẻ thư sinh. Ông bèn đọc : _ Kim tỏa, phúc trung tu" (Khóa vàng, râu trong bụng. Ý nói cái tua khóa ở trong ruột khóa). Sau đó, ông bèn sai người viết câu ấy lên thành giếng, bên cạnh câu đối của cô hàng nước năm xưa. Mọi người đều chịu ông đối giỏi. Tin Mạc Đỉnh Chi, sứ giả An Nam rất hay chữ và đối đáp nhanh nhẹn, đã truyền đến triều đình nhà Nguyên. Cả triều đình xôn xao bàn tán, người thì bảo phải chơi cho y một vố thật đau, kẻ thì bảo phải làm cho y bẽ mặt trước công chúng. Cuối cùng, viên Thừa tướng bày mưu: _ Tâu bệ hạ, thần nghĩ ra một kế, mấy hôm nữa khi hắn ta đến, cả triều đình mũ áo cân đai chỉnh tề ra đón, sai hết cả cung phi, thị tì ra để mua một trận cười. Vua Nguyên sốt ruột hỏi : _ Kế đó ra sao, hãy nói trẫm nghe đi đã. _ Tâu bệ hạ, trước cổng thành, ta cho đào một cái hố tròn, sâu, trên bịt da thật căng để làm thành một cái trống đất đặc biệt. Chờ khi hắn đến, sai người gõ thật to, tiếng trống sẽ như tiếng động đất, như vậy, hắn ta và tùy tòng phải khiếp đảm, nhớn nhác, ngựa nghẽo kinh sợ chạy tán loạn. Vua Nguyên và quần thần hí hửng khen kế đó rất hay. Và trống đất được làm rất khẩn trương. Đoàn sứ giả đi đã lâu ngày, dầm mưa, dãi gió, gội sương đã nhiều. Ai nấy đều mệt mỏi rã rời, nước da rám nắng đen sạm. Con ngựa của Mạc Đĩnh Chi cũng kiệt sức lắm rồi, nó bước đi khấp khểnh, quất roi vào mông đen đét nó vẫn cứ ỳ ra. Khi trông thấy thành trì nhà Nguyên sừng sững trước mắt, mọi người vui sướng reo lên, trong người nhẹ hẳn như trút được gánh nặng, nỗi mệt nhọc dần dần tan biến đi. Họ hân hoan bước tới cổng thành, lúc ấy vào buổi chiều tà. Cửa thành cờ xí rợp trời, người đông nghẹt đứng giạt hai bên. Vua Nguyên mặc áo bào đỏ, ngồi chễm chệ trên đỉnh gác cổng thành. Mạc Đĩnh Chi và đoàn sứ bộ vừa đi tới, thì bỗng nghe tiếng trống đất dội vang dưới chân. Ai nấy đều ngơ ngác. Con ngựa của Mạc Đĩnh Chi không biết chạy chỗ nào, sợ quá ngã quỵ xuống đất. Cả triều đình nhà Nguyên reo hò ầm ĩ. Vua Nguyên khoái chí cười tít cả mắt lại, và đắc chí lắm. Lúc ấy Mạc Đĩnh Chi cũng bối rối, nhưng trấn tĩnh lại được ngay không thèm đếm xỉa đến vua Nguyên đang ngồi trên cổng thành, cau mặt lại nói: _ Có gì mà các ngài cười? Tôi biết mùa này làm gì có sấm đất. Có tiếng động lạ, tôi cho ngựa quỳ xuống lắng tai nghe xem có phải sấm đất chăng? Từ trên lầu cao vua Nguyên phải gật đầu khen : - An Nam Trạng Nguyên quả là nhanh trí. Nhân có người ngoại quốc dâng một đôi quạt quý, vua Tàu sai Đĩnh Chi và sứ thần Cao Ly, mỗi người đề một bài tán vào quạt. Sứ Cao Ly làm xong trước. Lời tâu rằng: _ Uẩn lòng trùng trùng, Y Doãn Chu Công, Vũ tuyết thê thê, Bá Di Thúc Tề. Nghĩa là: Đang lúc nắng nực, thì như ông Y Doãn, ông Chu Công (ý là đắc dụng với thời). Đến khi mưa tuyết lạnh lùng thì như ông Bá Di, ông Thúc Tề (ý nói là xếp xó một chỗ). Bấy giờ Mạc Đĩnh Chi chưa nghĩ ra ý tứ làm sao, nhác trông sang bên kia, thấy lời lẽ như thế mới suy ra mà đề một bài như sau này: _ Lưu kim thước thạch thiên địa vi lô nhĩ ư tư thời hề Y Chu cự nho! Bắc phong kì lương, vũ tuyết tái đồ, nhĩ ư tư thời hề Di Tề ngã phu. Y! Dụng chi tắc hành xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ, hữu như thị phù? Nghĩa là: Nắng chảy vàng tan đá, trời đất như lò, người về lúc ấy ví như Y, Chu, hai ông quan to. Gió bấc lạnh lẽo, mưa tuyết lấp đường, người về lúc ấy ví như Di Tề, hai người chết đói. Than ôi ! Khi được dùng đến thì ra làm, khi không dùng đến thì cất đi, chỉ ta cùng ngươi là thế ru? Đề xong dâng lên, vua Tàu cầm bút khuyên chữ "y", phê rằng "Lưỡng quốc trạng nguyên" nghĩa là trạng nguyên hai nước. Ái Hoa |
Người vợ Cao Ly
Đời sau vẫn còn truyền tụng huyền thoại về mối tình của Mạc Đĩnh Chi với cô gái Cao Ly (còn gọi là Triều Tiên hay Hàn Quốc). Nguyên sau khi ông và sứ thần Cao Ly cùng làm thơ đề quạt, vua nhà Nguyên khen ngợi và phong cho cả hai chức Trạng Nguyên. Được ít lâu, Trạng Cao Ly về nước có mời Trạng An Nam qua chơi nhà. Lần đầu, Mạc Đĩnh Chi ở bên Cao Ly chơi bốn tháng. Trong thời gian ấy, Trạng Cao Ly làm mối cho Mạc Đĩnh Chi một người cháu gái trong họ để làm thiếp. Mạc Đĩnh Chi đưa người thiếp ấy cùng về bên Tàu, được mấy năm thì bà thiếp ấy trở về nước Cao Ly, có dắt về hai đứa con, một trai một gái. Bà về nhà nói với anh em rằng: _ Khi ông trạng tôi về nước An Nam có viết mấy chữ để lại cho tôi rằng: "Ngày nay tôi về nước là theo lệnh quân vương, ngày sau sang thì không có kỳ hạn nào cả. Ơn trời, chúng ta sinh hạ được hai đứa con, nhờ nàng nuôi nấng, dạy dỗ cho nên người. Về sau này nàng sẽ có nơi trông cậy, mà ta cũng không đắc tội với chúng nó là chỉ biết sinh con mà không biết nuôi, biết dạy con". Cứ như thế thì tôi không còn hy vọng ông trạng Mạc nhà tôi trở lại nữa, mà thân tôi đây bỗng dưng trở nên người vị vong rồi vậy! Ai nghe thấy cũng phải ái ngại cho người thiếp đó mới ngoài hai mươi tuổi đầu không goá cũng thành như goá, lại thêm bên kẽ nách hai đứa con thơ, biết lấy gì nuôi nhau cho được nên người, giữ làm sao cho được toàn danh tiết? Ở vào địa vị bà thiếp ấy thật là khó khăn! Thắm thoắt đã mười năm trời, một hôm bà thiếp ấy đang ngồi khâu vá chợt thấy Mạc Đĩnh Chi đến, bà giật mình lăn đùng ra. Ông chạy lại ôm lấy bà, gọi mãi mới tỉnh. Khi tỉnh lại rồi bà vẫn còn bâng khuâng như trong giấc chiêm bao, lại thỉnh thoảng nói một câu như mê mẩn. Ông Trạng Mạc an ủi hồi lâu thì người thiếp đó tỉnh lại. Lần này, Mạc Đĩnh Chi lưu lại ở nước Cao Ly trong sáu tháng trời. Trong khoảng thời gian ấy, ông đi du lịch gần khắp nước Cao Ly. Ông đi đến đâu , ai cũng hoan nghênh, vì ai cũng biết ông là bậc thông minh xuất chúng , lại là người rể trong nước. Ông có làm tập thơ truyền lại cho hậu thế, hiện nay vẫn còn nhiều người truyền tụng. Hết sáu tháng thì ông trở về nước, khi ấy bà thiếp vừa có mang 3 tháng. Sau đó, bà thiếp nhớ ông quá nên lập bàn thờ sống ở trong nhà, để sớm tối hương hoa cho thoả lòng hoài vọng. Cái bàn thờ sống đó chẳng qua là bà thiếp đặt ra để kỷ niệm sự thương nhớ chồng thôi , ban đầu không có nguyện khấn gì như các bàn thờ thánh khác. Đến tháng sinh con trai út, bà thiếp có biện xôi gà làm lễ ở trong bàn thờ ấy là lần đầu tiên. Khi người con trai út được một tuổi thì bị một cơn sốt mê man, bất tỉnh nhân sự, hai ba hôm không ăn uống gì được. Các thầy thuốc đến xem bệnh ai cũng nói là rất nguy kịch, không thể chữa được nữa. Bà thiếp lại sửa lễ xôi gà, đến quỳ trước bàn thờ chồng cầu nguyện vào lúc chập tối thì đến lúc nửa đêm người con trai út đã ngớt cơn sốt, đến sáng hôm sau thì tỉnh hẳn. Cả nhà ai cũng lấy làm lạ. Từ ấy trở đi, tiếng linh ứng truyền đi khắp mọi nơi. Trước hết là một vài nhà hàng xóm xin tên hiệu ông Trạng về thờ , sau đó dần dần lan ra khắp cả châu, cả huyện, khắp cả nước không mấy nhà là không lập bàn thờ ông. Việc thờ phụng Mạc Đĩnh Chi bên Cao Ly cũng linh ứng, chẳng kém gì như thờ đức Thánh Trần ở nước An Nam . Khi Mạc Đĩnh Chi trở về An Nam, bà thiếp chịu khó nuôi nấng, dạy bảo các con. Khi các con đã khôn lớn, dựng vợ gả chồng xong rồi, bà thường ở với người con trai út. Ở được hai năm thì bà từ biệt, đi vào chùa ở. Bà hưởng thọ 93 tuổi. Trong cửa thiền, bà ăn ở rất từ bi và độ lượng, mọi người đều cảm phục. Khi bà tịch ở chốn thiền môn, người ta lập đàn cầu nguyện cho bà rất linh đình, xưa nay chốn thiền môn chưa có đám tang nào rực rỡ, vẻ vang như thế. Con trai cả của ông, sau này xuất thân làm quan võ, sinh được 12 người con gồm 8 trai , 4 gái. Sau còn hai ba đời đỗ đạt làm quan, nhưng không hiển hách lắm. Ngành này , phần nhiều là người giàu có. Con trai út khi được 19 tuổi thì đỗ cử nhân, không chịu ra làm quan, chỉ ở nhà làm thuốc và dạy học. Ông này sinh được 4 con trai đều học giỏi. Người con thứ 3 của ông này sinh được một người con văn võ song toàn, đã từng đánh đuổi quân Tàu , đánh đông dẹp bắc hiển hách một đời. Ngành thứ hai này về sau sinh ra nhiều nhân tài, phần lớn là người trung hiếu, liêm khiết. Cháu đời thứ 8 có một thi sĩ, văn thơ hay nhất trong đời, không kém gì Lý, Đỗ bên Tàu. Ông có làm một bài phú về con Rùa , ngụ ý rằng nước Cao Ly tiến hoá chậm như Rùa bị các cận quốc khinh bỉ, song cách tiến hoá thong thả, vững vàng như con Rùa bò không vấp váp. Sau này các cận quốc tự phụ là linh tiệp như hùm như hổ sẽ bị non yểu tiêu diệt dần đi, dừng lại con sông Hoàng Hạc trong khoảng trời đất ngàn thu. Lời văn thanh thoát rất ly kỳ, quân đô hộ Tàu xem xong phải tấm tắc khen ngợi, rồi kể với vua Tàu, vua Tàu sai sứ sang hậu thưởng cho 100 tấm lụa và mời ông sang làm quan bên Tàu. Ông đã làm một bài trần tạ và thoái thác không chịu sang Tàu làm quan: Tôi chỉ thích yên phận làm một con rùa hèn mà không thích nghênh ngang làm một con sư tử dữ. Tôi chỉ thích làm một anh đồ mặc áo vải ở nước Cao Ly hơn là một người có thiên tư văn chương ở bên Trung Quốc. Nếu so sánh thì ngành thứ nhiều người hiển đạt, nhiều người anh hùng hơn ngành cả. Mới ngày nào ở bên nước Cao Ly chỉ có một vết chân cụ Trạng Mạc bước tới mà dần dà nảy nở, hoá ra hàng trăm, hàng ngàn con cháu làm quan, có cả chức quan to tác động đến cả vận mệnh nước Cao Ly. Vì thế sự tôn kính, thờ phụng Mạc Đĩnh Chi ở Cao Ly không phải là ngẫu nhiên theo sự linh ứng "sống khôn chết thiêng". (theo Bùi Xuân Giang) |
Nhà sư Huyền Quang
Mạc Đĩnh Chi suốt đời sống rất liêm khiết, thanh bạch, nên tuy làm quan nhưng nhà vẫn nghèo. Vua Trần Minh Tông biết rõ sự tình đã sai người đang đêm đem 10 quan tiền bỏ trước cửa nhà ông, ngầm cho ông. Sáng mai, khi thức dậy, ông cầm số tiền đó vào triều tâu vua, xin bỏ vào kho nhà nước. Vua cười bảo: “Không ai đến nhận, cho khanh cầm lấy mà tiêu”. Chừng ấy ông biết là vàng của vua ban mới chịu lấy về. Vua khen ông trong sạch và tặng hai chữ “Lịch sử”. Đến triều vua Hiền Tông, làm nên đến chứ Tả bộc xạ (tương đương Tể tướng). Văn chương lưu truyền lại về sau rất nhiều. Con ông là Khẩn, Trực, cùng làm đến ngoại lang. Cháu là Địch, Toại, Viên cùng có quyền thế, làm quan lúc nhà Minh sang xâm chiếm. Đời cháu chắt thiên sang ở làng Cổ Trai, huyện Nghị dương thì có Mạc Đăng Dung là cháu bảy đời, cướp ngôi vua Lê, dựng nên nhà Mạc. Hồi đó, có một người tên là Lý Đạo Tái, ở làng Vạn Tải, huyện Gia Bình thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Ông này mới 19 tuổi đã đỗ trạng nguyên khoa Nhâm Tí (1252), niên hiệu Nguyên Phong thứ hai, đời Trần Thái Tông. Nhà vua thấy Đạo Tái là người tài đức, muốn gả công chúa Liễu Sinh cho, nhưng ông không ưng, tìm mọi cách từ chối. Hồi chưa đỗ đạt , gia cảnh Đạo Tái bần hàn đến mức người trong họ ai cũng coi thường, không thèm đỡ đần, cứu giúp, đành phải bỏ làng đi học nơi xa. Đến khi Lý Đạo Tái đỗ Trạng nguyên, rồi ra làm quan lại có nhiều người đến nhận họ, khiến ông cảm thấy buồn. Tương truyền Đạo Tái làm hai câu thơ nói về chuyện này : _ Khó khăn thì chẳng ai nhìn Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em. Vì cám cảnh đời đen bạc, Đạo Tái cố tìm cách giải đáp. Ông nghiên cứu đạo Phật và hiểu ra được về nỗi thống khổ của con người, từ đó quyết chí đi tu. Ông từ quan, xuất gia tu hành theo đạo Phật, mong tìm cách cứu vớt chúng sinh. Lý Đạo Tái được phong Phật hiệu là Huyền Quang, đạo pháp cao siêu, thoát khỏi lòng dục, nổi tiếng là vị chân tu, tên tuổi lừng vang khắp nước. Vua ban cho sư thầy Huyền Quang 10 dật vàng có dấu quốc khố. Ông không nhận nhưng vua cứ ép, bảo cầm 7 dật về nuôi mẹ còn 3 dật thì giữ lại phòng khi lỡ làng. Nhà sư bất đắc dĩ nhận vàng về tu ở chùa Hoa Yên, núi Yên Tử. Nhưng vua Trần Anh Tông thì vẫn chưa thật tin điều này. Có lần nhà vua đã hỏi thị thần và tăng đạo rằng: - Người ta sống ở trong đời đất đều thích ăn vị ngon, thích mặc màu đẹp, đều có tình dục cả. Tại sao mình lão tăng Huyền Quang từ trước tới nay chỉ sắc sắc không không, như nước chẳng gợn sóng, như gương chẳng mờ bụi. Đó là ngăn hãm lòng dục hay không có lòng dục vậy? Bấy giờ, Mạc Đĩnh Chi đứng bên mới tâu rằng: - Vẽ hổ chỉ vẽ được da, khó vẽ được xương. Biết người thì biết mặt không rõ được lòng. Xin cứ phải thử xem thì mới rõ. Nhà vua cho lời ông nói là phải, bèn ngầm chọn một người cung nữ rất đẹp tên là Nguyễn Thị Điềm Bích và giao cho nàng nhiệm vụ tìm đến chùa Hoa Yên, núi Yên Tử - là nơi sư Huyền Quang tu hành - để thử lòng sư, hẹn rằng nếu lấy được 3 dật vàng về thì sẽ có thưởng. Điềm Bích giả làm người đi lễ lên chùa vào một đêm trăng đẹp và xin nhà sư cho ngủ đỡ một lần. Sư Huyền Quang cho phép nàng nghỉ ở nhà phương trượng. Đêm hôm ấy, Điềm Bích lần tới phòng sư lân la chuyện trò, tìm cách trêu ghẹo, dùng đủ thuật quyến rũ, cố khêu gợi lòng dục của Huyền Quang. Nhưng nhà sư lòng trần không bợn, Điềm Bích không sao lay chuyển được kẻ tu hành. Bí quá hóa liều, nàng đành xáp đến gần co tay, kéo áo khiến cho nhà sư vô cùng lúng túng. Việc làm trâng tráo của nàng đã được một bà già đến lấy thuốc nấp sau chùa chứng kiến. Bà thấy nhà sư ở thế nguy bèn vờ gõ cửa xin thuốc, sư Huyền Quang mới thoát ra được. Điềm Bích dụ không nổi nhà sư, vừa thẹn mình, vừa sợ mệnh vua, nên định ra sau núi tự tử. Huyền Quang biết, bèn lấy lời lẽ khuyên can và hỏi rõ ngọn nguồn. Bấy giờ, Điểm Bích mới thổ lộ rằng nàng được nhà vua giao tìm cách lấy được 3 dật vàng của sư ông đưa về. Huyền Quang nghe xong ái ngại, liền vào phòng lấy ba dật vàng đưa cho, để nàng khỏi tội trước nhà vua. Điềm Bích mang được vàng về trình vua, lại còn nghĩ được một bài thơ nôm tuyệt hay và nói là của sư Huyền Quang làm để trêu ghẹo mình buổi ấy: _ Vằng vặc trăng mai ánh nước Hiu hiu gió trúc ngâm sênh Người hoa tươi tốt, cành hoa lạ Mầu thích ca, nào thú hữu tình! Bài thơ nôm quả là rất tình tứ. Nghe mấy lời thêu dệt ong bướm của nàng cung nữ, lại nhận đúng là mấy dật vàng có dấu quốc khố mình ban cho nhà sư, vua Anh Tông nổi giận lôi đình, cho Huyền Quang là sư hổ mang, định sai trị tội. May nhờ có bà lão xin thuốc kể lại và đối chất cùng Điềm Bích, vạch ra điều vu khống của nàng, vua mới biết Huyền Quang bị nghi oan. Nhà sư tiếp tục đường tu và trở thành vị tổ thứ 3 của phái Trúc Lâm. Trong lịch sử nước Nam ta chỉ có Lý Đạo Tái tức Huyền Quang là nhà sư có học vị cao nhất. Ái Hoa |
Trạng Lợn
Nguyễn Nghiêu Tư, hiệu là Tùng Khê, người xã Phù Lương, huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc. Tương truyền cha ông làm nghề thịt lợn, ông lại đẻ vào tháng 10 tức tháng Hợi nên được đặt tên là Nguyễn Văn Trư và mọi người thường gọi là cậu Lợn. Ông bản tính nhanh nhẹn, thông minh, có lần đi với bố ra đường, gặp đám rước kiệu ông Nghè vinh quy, Trư hỏi: - Ông gì thế bố? Người cha đáp: - Ông Trạng! Trư nói: - Lớn lên con cũng làm ông Trạng! Từ đó đi chơi với trẻ trong làng, ông đều khoe: - Tao là quan Trạng! Có người khách nghe được mới nói lỡm rằng: - Trạng dở hay trạng nguyên? Ông buột miệng đối ngay: - Khách quen hóa khách lạ! Cạnh làng ông là làng Yên Định đất học, có cụ đồ sang chơi, nói rằng: - Mày là Trạng thì để ta ra câu đối xem đối có được không? Trư ưng chịu. Nhân nhà Trư sinh sống bằng nghề thịt lợn cụ đồ bèn ra vế đối, mang đề tài lợn: - Lợn cấn ăn cám tốn! Lợn cấn là lợn có chửa, lợn chửa thì ăn nhiều cám tuy nhiên cái lắc léo của câu đối chính là Cấn và Tốn là hai quẻ trong Bát quái. Trư đối ngay: - Chó khôn chớ cắn càn! Câu đối tuy rằng khá xấc xược, nhưng vế đối khá hay bởi vì Khôn và Càn cũng chính là hai quẻ trong Bát quái! * Thật ra xét về luật đối thì vế đối không chỉnh lắm vì chữ "ăn" là động từ, "chớ" là trạng từ, "cám" là danh từ "cắn" là động từ. Câu đối này được gán cho Trạng Quỳnh trong truyện về Trạng Quỳnh (chú thích của Ái Hoa). Cụ đồ thấy Trư thông minh bèn khuyên bố mẹ ông cho ông đi học. Chính cụ đồ bị ông đối xược ấy dạy ông từ năm mới 8 tuổi. Ông học rất giỏi, nghe một biết mười, lễ phép, chuyên cần, bạn học có người lớn gấp rưỡi, gấp đôi tuổi thảy đều thương mến. Những ngày trời mưa bạn thường cõng ông qua chỗ lội. Khi ở nhà lúc nào ông cũng chăm lo đèn sách, thậm chí khi ra ao rửa bèo, ra vườn hái rau, tay vẫn cầm cái que nhọn vạch xuống đất hoặc vào lá chuối, lá khoai những chữ khó nhớ. Đến khi biết chữ đã kha khá, thầy đồ gửi ông ra học cụ Vũ Mộng Nguyên. Cụ Nguyên người xã Đông Sơn, huyện Tiên Du, đỗ Thái học sinh nhưng không làm quan cho nhà Hồ mà về làng dạy học. Ông đỗ Trạng nguyên khoa Mậu Thìn (1448) niên hiệu Thái Hòa năm thứ 6 đời vua Lê Nhân Tông. Tương truyền đêm trước ngày thi đình vua Nhân tông nằm mơ thấy lợn đỗ trạng. Dân gian coi yết bảng cứ kháo nhau thành vè “Long đầu lợn-Nguyễn Văn Trư”, vua liền đổi tên cho Trạng là Nguyễn Nghiêu Tư. Ông làm quan đến chức An phủ sứ Hàn lâm Trực học sỹ, đi sứ nhà Minh lại phong Lại bộ thượng thư, về phong Chưởng lục bộ thượng thư. Khi Trạng vinh quy bái tổ, dân làm cái nghè ở Phù Lương thị (chợ làng Phù Lương), tức làng Giùng, chợ Giùng để đón. Nghè còn tồn tại đến thời kháng chiến chống Pháp dân vẫn gọi là Nghè quan Trạng. Khi về hưu vua phong “Thượng quốc công chí sỹ” và vợ được hàm “nhất phẩm phu nhân”. Năm 1459 Lê Nghi Dân giết vua tiếm vị, sai Trạng đi sứ sang Tàu cầu phong. Khi đoàn sứ thần ta tới ải Nam Quan, viên quan coi cửa ải nhà Minh muốn thử trí sứ thần Đại Việt bèn treo lên cửa quan một chữ thập lớn bằng gỗ, bảo nếu đối được thì mới mở cửa đón tiếp. Trạng nói: - Các người ỷ thế nước lớn, ngạo mạn muốn coi người Trung Hoa là “tung hoành vũ trụ”. Đã vậy thì ta phải đối lại cho chúng biết người Đại Việt chúng ta không dễ gì mà bắt nạt! Trạng sai người bện một cái vòng tròn lớn bằng lụa tết mắc lên đầu chữ thập, cả chữ thập lọt trong vòng tròn ấy. Viên quan Tàu coi ải đọc ra ngụ ý vế đối là "bao quát càn khôn", để đối lại vế ra là “tung hoành vũ trụ”. Ông ta thầm khiếp phục, mở cửa quan nghênh tiếp sứ giả. Vào đến Yên Kinh, Trạng vào yết kiến vua Minh. Hoàng đế nhà Minh hoạch hoẹ: - Sao lại dám giết em mà tranh ngôi vua? Nghiêu Tư trả lời: - Đường Thái tông giết cả anh là Kiên Thành, em là Nguyên Cát là việc cũ của thiên triều, thì việc nước tôi ngày nay có gì là lạ? Thấy sứ thần Đại Việt trả lời rất đúng lý nhà Minh đành chấp nhận phong vương. Nhà vua muốn thử tài sứ giả, ngầm sai đặt trong hoàng cung quán lịch sự, đề hai chữ Kính Thiên treo ở giữa, bầy đôi sập thất bảo rất cao, xung quanh đặt nghi vệ sang trọng như chỗ giường ngủ của thiên tử, để xem Trạng có dám ngồi đó không. Khi sắp yến tiệc họ đưa Trạng và phó sứ dạo thăm cung điện rồi mới đưa đến đấy. Trạng bèn bảo phó sứ cùng ngồi lên sập thất bảo. Thấy vậy, viên quan nhà Minh ra hoạch: - Cớ sao sứ thần lại ngược ngạo, vô lễ đến như vậy? Không trông lên trên kia xem, chỗ này là chỗ gì? Trạng ta bình thản trả lời: - Dám thưa, ngài lấy cớ gì cho sứ thần tôi là ngạo? Biển đề hai chữ Kính Thiên 敬 天, chiết tự ra là kính nhị nhân 敬 二 人 (chữ thiên 天 là trời, tách ra thành hai chữ nhị nhân 二 人 là hai người) thực hẳn là ý quý quốc muốn đem cái ngôi này mà hậu đãi hai sứ thần xa lại. Ngài dạy thế chúng tôi phải tuân theo. Vả nghe cổ nhân có nói: “Đãi người phương xa cốt lấy bụng thực”. Tôi nghe Thánh triều lấy thành tín đãi người ngoại quốc. Thế mà sứ giả nước xa tới lại đem cái bụng trí thuật làm oai. Tôi sợ người ta nghe tiếng dẫu có lòng thực hướng mộ, cũng sinh nghi mà không lại nữa. Viên quan nhà Minh thấy Trạng nói như đã thấu rõ gan ruột mình từ trước, vội vàng khoả lấp ngay: - Xin quý ngài xá lỗi. Nghĩ là buổi ban đầu, thử xem ngài có phải là bậc tài giỏi không thôi. Nhưng quý ngài quả là bậc thông minh, đã giỏi mà biết trước được như thế còn hề chi? Trong thời gian ở Trung Quốc ông lập được nhiều công lớn, nhất là việc dạy hoàng tử học, được vua Minh rất đỗi quý phục phong ông là Lưỡng quốc Trạng nguyên. Ái Hoa |
NĂM HỢI NHÀN ĐÀM VỀ TRẠNG LỢN
VÀ TRUYỆN TRẠNG LỢN NGUYỄN VIẾT CHÍNH Trạng Lợn là một trong hai trường hợp ngoại lệ được xây dựng thành hình tượng văn học, Về nguồn gốc xuất xứ của truyện Trạng Lợn thì có nhiều tài liệu giải thích khác nhau. Theo Từ điển Hán-Việt của ông Đào Duy Anh thì Trạng Lợn là tên dân gian dùng để chỉ Nguyễn Nghiêu Tư ở nước ta học dốt lại vô hạnh mà đỗ Trạng nguyên nên người đời thường có câu: Trạng nguyên trư Nguyễn Nghiêu Tư, nghĩa là Trạng nguyên dốt như con lợn. Đúng là có Trạng nguyên Nguyễn Nghiêu Tư thật. Theo sử sách thì niên hiệu Thái Hoà thứ sáu (1448) trước khoa thi, vua Lê Nhân Tông nằm mơ thấy lợn đỗ trạng. Đến lúc treo bảng người đỗ trạng lại tên là Nguyễn Nghiêu Trư, người Kinh Bắc. Hỏi ra thì biết Trạng đẻ tháng Hợi, năm Hợi nên bố đặt tên cho vậy. Vua thấy tên Trạng mà như thế thì không hay nên mới đổi tên từ Nguyễn Nghiêu Trư thành Nguyễn Nghiêu Tư. Theo cụ Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng thì đương thời Thăng Long có câu: Long đầu Trư - Nguyễn Nghiêu Tư (Nguyễn Nghiêu Tư là con lợn đầu rồng), chỉ việc Tư đỗ trạng. Nhưng trong dân gian thì hai chữ “Trạng Lợn” được dùng để chỉ những kẻ nói láo gặp thời. Vào năm Canh Thân 1920 đời vua Khải Định có ấn hành sách Trạng Lợn do Mộng Quế Thư Hiên viết đề tựa. Theo tài liệu này thì Trạng Lợn là Dương Đình Chung (tục gọi là Chung Nhi), con thứ hai của ông Dương Đình Lương làm nghề mổ lợn, quê ở Mạnh Chư (tục gọi là làng Dừa), thuộc huyện Bình Lục, Nam Hà. Vì chữ Chư đồng âm với Trư (lợn) nên gọi là Trạng Lợn – theo cách gọi phổ biến ngày xưa. Tương truyền rằng, họ Dương ở làng Dừa vốn là dòng khoa bảng. Đến đời ông Dương Đình Lương thì phải xoay ra làm nghề lái lợn, hai vợ chồng sinh được một trai nhưng lại học dốt nên lấy làm buồn phiền và ngày đêm cầu mong có được một thằng con thông minh để nối nghiệp tổ tiên. Quả nhiên bà Lương thụ thai rồi sinh ra một trai nữa, hai vợ chồng mừng lắm bày tiệc ăn mừng và đặt tên là Dương Đình Chung (còn gọi là Chung Nhi). Năm Chung Nhi lên 3 tuổi, triều đình mở khoa thi. Có một ông Trạng nguyên và một ông Bảng nhãn vinh qui về qua làng Dừa. Chung Nhi chỉ vào người mặc áo trào hỏi bố: “Ông kia là gì?, hở bố?”, “Ông ấy là quan Trạng”. Lại chỉ ông mặc áo trào đi sau: “Còn ông kia?”, “Ông ấy là quan Bảng”, “Ông nào hơn ông nào?”, “Quan Trạng hơn”. Chung Nhi liền nói với bố rằng: “Thế thì sau này con cũng làm quan Trạng”. Từ đấy, Chung Nhi thường mơ tưởng đến hai chữ “Trạng nguyên”…Một hôm có ông khách của bố đến chơi hỏi đùa Chung Nhi: “Trạng dở hay Trạng nguyên?”. Chung Nhi đáp lại: “Khách quen hoá khách lạ”. Khách ngạc nhiên về vế đối hoàn chỉnh nên khuyên ông Lương cho Chung Nhi theo học… Còn về truyện Trạng Lợn. Theo ông Vương Thừa ÂN, truyện Trạng Lợn có cả thảy 19 hồi, diễn biến theo một trình tự chặt chẽ, qua đó dần dần hiện lên một nhân vật chính có đủ hoàn cảnh xuất thân, lý do ra đời, học hành, thi cử rồi hiển đạt thế nào. Sau khi đỗ Trạng được vua sai cầm quân đánh giặc, lấy được vợ tài sắc con quan, đi sứ Tàu ứng đối trôi chảy, sau lại hoá về trời. Trong truyện còn có một loạt nhân vật phụ, nhưng phần lớn là hư cấu, chỉ có hoàng đế Lê Thánh Tông và thầy địa lí Tá Ao là có thật! Trong thực tế thì làng Mạnh Chư xưa nay không có họ Dương và các sử liệu cũng không hề chép ai là Dương Đình Chung đỗ Trạng làm quan như thế cả, dưới triều vua Lê Thánh Tông lại càng không có. Rõ ràng, Trạng Lợn chỉ là một nhân vật được hư cấu lên thành hình tượng văn học. Các chi tiết hài hước trong truyện rất sâu sắc đòi hỏi người đọc phải có một số kiến thức Hán Nôm nào đó mới thấy hết sự thú vị. Tác giả Trạng Lợn phải là người có học có tài nữa, nhưng không gặp thời nên rất khinh ghét những kẻ nói láo gặp thời. Ví như truyện “Dốt chữ …thành thần”: Trạng Lợn cùng hai người bạn lạ đi đến một làng nọ khi trời nhá nhem tối bèn lần vào tìm nhà trọ. Thấy ở cổng làng đề ba chữ “Thủ chư dự” (Lấy trong quẻ dự), Trạng nghe qua lại lầm qua là “thủ trư” (thủ lợn) nên báo với hai người kia là : “Tối nay, anh em ta được chén thủ lợn”. Thực ra Trạng dốt, vừa đoán mò lại không biết cả ngữ pháp tiếng Hán (thủ lợn phải là “trư thủ” chứ không phải là “thủ trư”). Không ngờ, ba người lại trọ ở nhà ông tiên chỉ, gặp ngày tế xuân, làng đem biếu ông ta cái thủ lợn, thế là…hai người kia phục lăn Trạng. Hôm sau, ba người qua một làng khác, thấy đầu làng có biển đá khắc hai chữ “hạ mã” (xuống ngựa). Nhưng do mặt chữ chưa thuộc nên Trạng đọc thành “bất an” nên giục hai bạn đi vội kẻo nguy. Quả nhiên, một lúc sau trong làng có đám cháy lớn… Tiếng lành đồn xa, một hôm Trạng Lợn được vua mời vào cung để bói tìm kẻ trộm đánh cắp đồ nữ trang của công chúa. Nghĩ mãi không ra kế gì, Trạng cho mình là cái thân tội nên buột miệng nói: “Thật là quýt làm cam chịu”. Không ngờ hai tên trộm là Cam và Quýt rình nghe thấy liền ra tự thú. Từ đó Trạng càng nổi tiếng. Quá nổi tiếng nên Trạng được vua giao làm Chánh sứ sang Tàu. Tới ải Nam Quan, quan giữ ải đưa ra một cái biển trên viết chữ “Thập” rồi lấy tay chỉ Đông, chỉ Tây ngầm như thách đố. Trạng bực và nghĩ: Nó muốn dọc, muốn ngang thì ta khoanh một cái vòng tròn cho nó hết đường dọc ngang. Rồi Trạng khoanh một vòng lớn vào biển rồi đưa ra. Quan giữ ải giật mình: ý ta muốn nói là “tung hoành vũ trụ”, thế mà sứ An Nam biết mà đối lại là “bao quát càn khôn” thì tài thật… Trong lời đề tựa truyện Trạng Lợn, Mộng Quế Thư Hiên viết: “Đến như ông Trạng Lợn thì thực là quá, đĩnh ngộ không phải như cụ Mạc (Mạc Đĩnh Chi) mà đối đáp không khác gì bậc thông minh, uyên thâm không phải như cụ Trình mà bói toán tựa như người tinh, góp nhặt rặt những chuyện của người mà thành ra cái tài của mình thực là chuyện lạ xưa nay có một. Các cụ truyền người ta nhớ lại song ác ở miệng, văng vẳng ở tai, một câu gọi trạng, hai câu gọi trạng”. Truyện Trạng Lợn mượn bối cảnh và triều đại Lê Thánh Tông, một triều đại thịnh trị trong nhà nước phong kiến Việt Nam, công nhận một anh chàng dốt đặc cán mai mà đỗ trạng để chế diễu chế độ phong kiến họ Nguyễn một cách thoải mái. Dưới triều ấy, vua ấy mà còn thế thì dưới triều khác, vua khác sẽ ra sao. Triều Nguyễn có quy định không lấy ai đỗ Trạng nguyên vậy bịa ra một ông Trạng nguyên thời Lê, xuất thân lái lợn, dốt đặc cán mai tha hồ mà chế diễu, ai bắt bẻ được. Tuy nhiên, với nhân vật Trạng Lợn, là nhân vật bất tài vô tướng chỉ nhờ nói láo gặp thời mà nên danh vọng, nhưng người ta không ghét mà lại còn yêu thích. Bởi Trạng Lợn không làm điều gì trái với luân thường đạo lý cả, mà trái lại thể hiện vai trò đối nội, đối ngoại đều hay. Phải chăng đó cũng chính là tư tưởng của tác giả không muốn phủ nhận vai trò của kẻ sĩ trong mọi hoàn cảnh? Xây dựng nên một hình tượng Trạng Lợn, tác giả muốn cho ta thấy chế độ phong kiến đương thời đã đến lúc suy tàn, sụp đổ… “Truyện Trạng Lợn là truyện không mà hoá có, có mà lại hoá không có. Bởi lẽ ở đời lúc nào lại không có những chuyện “chó ngáp phải ruồi” khi mà xã hội còn lạc hậu như thời phong kiến?” (Vương Thừa ÂN). Vâng, chuyện của Trạng không biết thực chỗ nào, hư chỗ nào. Nhưng có điều chắc chắn là, truyện Trạng Lợn đã, đang và sẽ sống mãi trong tâm thức dân gian. NVC |
Trạng Lợn dân gian: Dương Đình Chung
Họ Dương ở làng Dừa thuộc tỉnh Hà Nam (Bắc Việt) là một quí tộc có nhiều người làm quan to trong triều. Ðến đời ông Dương đình Lương thì sa sút, con cháu không nối được nghiệp cha ông, phải làm nghề bán thịt để sinh nhai. Hai vợ chồng ông này, tuy sống trong nghề giết heo, giết bò, nhưng bản tính thực thà, phúc đức, có tiền vẫn bố thí cho những người khó ở chung quanh và thờ trời sợ phật, chớ không ác nghiệt như phần đông bạn đồng nghiệp lúc bấy giờ. Một hôm, Dương ông đi lễ ở cái miếu đầu làng về thì gặp một ông cụ già vai đeo khăn gói, tay chống gậy, hỏi thăm tìm nhà trọ. Dương ông đáp: - Thưa cụ, ở đây không có quán trọ nào hết. Bây giờ trời sắp tối rồi, cụ mà đi nữa thì lỡ dỡ đường, âu là mời cụ về nhà tôi nghỉ. Tôi không có tiền nhưng đủ cơm nước đãi cụ mươi ngày. - Nếu cụ có lòng yêu chúng tôi muốn ở lại đây chơi ít ngày. Ông khách mừng rỡ. - Nếu được như thế thì còn gì hay bằng. Dương ông hẹn đưa ông khách về nhà, tiếp đãi rất chân thành, quí hóa. Cơm nước xong, ông khách hỏi chủ nhà làm gì. Dương ông cứ thực tình mà đáp. - Không dám giấu cụ, tổ tiên chúng tôi xưa làm quan to tại triều, nhưng đến chúng tôi tài hèn sức kém nên đành phải bán thịt để sinh nhai. Hai người trò truyện một đêm, tâm đầu ý hợp. Chủ nhất định lưu khách lại vài hôm, không ngờ ông khách lì lợm ở lại luôn ba tháng, ngày nào cũng hai bữa rượu rồi chống gậy đi chơi la cà hết gò này sang đống nọ, hết ruộng nọ lại đến ao kia. Hóa ra ông khách đi xem địa lý, mà ông ta không ai khác hơn là ông thánh địa lý Tả Ao. Thấy Dương ông là một người phúc hậu, hiền lành Tả Ao muốn đáp ơn, quyết định ở lại liền ba tháng chính là để tìm cho Dương ông một ngôi đất quý. Tả Ao hỏi Dương ông: - Ông bà đãi tôi thành tâm quá, tôi cảm tạ lòng ông bà hết sức. Nay tôi tìm được một ngôi đất quý cho ông bà, vậy xin hỏi ông bà muốn gì? Dương ông đáp: - Bẩm cụ, tôi chẳng muốn gì cả, chỉ mong mỏi có một điều là sinh được một đứa con trai có học hơn tôi để nối nghiệp ông cha cho khỏi mang tai mang tiếng. Tả Ao gật đầu: - Tưởng gì, chớ nếu chỉ có thế thì dễ lắm. Ngôi đất tôi chọn cho ông phát Trạng mà lại là Trạng không phải học. Vậy ông sửa soạn đi để tôi đặt đất cho, kẻo tôi có việc sắp sửa phải đi xa rồi. Dương ông bèn nhờ ông Tả Ao đặt lại ngôi mộ của thân phụ ông. Táng xong được vài tháng thì Dương ông làm ăn thịnh vượng hơn trước. Thấy trời thương như thế, vợ chồng Dương ông lại càng cố tu nhân tích đức. Ðược gần một năm thì Dương bà có thai. Trong khi Dương bà có thai, Dương ông hàng ngày thấy một hiện tượng lạ. Nguyên từ nhà Dương ông ra chợ thì phải đi qua một cái gò kêu là gò Thần Ðồng. Lần nào đi chợ về Dương ông cũng thấy trong lùm cây có tiếng trẻ con kêu the thé: - Thầy ơi lần sau đi chợ thầy nhớ mua quà cho con nhé. Dương Ông thoạt đầu không tin, nhưng sau thấy đứa trẻ cứ nói the thé ra như thế ông phải đáp: - Để lần sau thầy mua quà cho con. Dương ông không muốn nói dối, hôm sau mua quà thật. Ông gọi: - Ðứa nào đòi quà thì ra đây mà lấy. Tiếng đứa trẻ nói vọng ra: - Thầy cứ để đấy, con ra lấy ngay bây giờ. Dương ông để ý thì đi một quãng, quay lại xem, gói quà biến từ lúc nào không rõ. Từ đó lần nào đi chợ về, Dương ông cũng mua quà cho đứa trẻ. Mua được bảy mươi hai lần thì Dương bà sanh được một con trai. Về sau này, người ta tính ra thì con trai của Dương ông sống được bảy mươi hai tuổi. Ðứa con ấy là Trạng Lợn sau này vậy. (còn tiếp) |
Trạng Lợn dân gian: Dương Đình Chung (tt)
Dương ông đặt tên cho y là Dương Đình Chung tức Chung Nhi. Tục truyền vua Thánh Tôn cũng ra đời cùng ngày với Chung Nhi cả Trạng Ăn, Trạng Vật cũng sinh năm ấy. Nói về Chung Nhi lên ba tuổi thì triều đình mở khoa thi có hai ông Trạng Nguyên và Bảng Nhỡn vinh quy về qua làng Rùa. Chung Nhi ra xem, thấy thế, cười mà hỏi cha rằng: - Ông kia là gì mà đội mão đẹp thế? Dương ông đáp: - Ông ấy là quan Trạng. Chung Nhi hỏi tiếp: - Còn ông kia là gì? - Ông ấy là quan Bảng. - Vậy trong hai ông, ai hơn ai kém? - Quan Trạng hơn quan Bảng. - Thế thì ngày sau con phải làm quan Trạng. Từ đó Chung Nhi chỉ mơ ước làm Trạng Nguyên bắt trẻ con làm cờ làm quạt rước mình như rước quan Trạng vinh quy bái tổ. Có người khách lạ, thấy thế, bĩu môi, bảo : - Trạng dở hay Trạng Nguyên? Chung Nhi đáp: - Khách quen hóa khách lạ. Khách thấy đứa trẻ đáp thế, giựt mình cho là lạ, bảo Dương ông nên cho Chung Nhi đi học. Chung Nhi hỏi mẹ: - Thầy đồ giỏi hơn Trạng Nguyên hay Trạng Nguyên giỏi hơn thầy đồ? Mẹ trả lời: - Trạng Nguyên giỏi hơn. Nghe thế, Chung Nhi lắc đầu quầy quậy: - Thế thì con không đi học thầy đồ đâu. Mẹ khuyên: - Muốn làm Trạng, phải đi học thầy đồ mới được. Nghe mẹ nói vậy, Chung Nhi mới chịu cắp sách đi học. Dương ông làm gà thổi xôi mang sang thầy đồ xin làm lễ nhập tràng cho con. Thầy bảo Chung Nhi vào lễ, Chung Nhi hỏi thầy: - Lễ ai? Thầy nói: - Lễ trình đức Thánh Khổng Tử. Chung Nhi hỏi lại: - Thánh Khổng Tử có hơn Trạng ? Thầy nói: - Nhất Thánh nhì Trạng Bấy giờ Chung Nhi mới chịu làm lễ. Lúc xong, Dương ông bảo vào làm lễ thầy. Trạng cho là thầy kém Trạng, nhất định không chịu lễ. thầy bảo: - Tiên học lễ hậu học văn. Trạng chịu là phải, lúc bấy giờ mới chịu lễ thầy. Thầy lại bảo: - Thứ nhất hay chữ, thứ nhì dữ đòn. Chung Nhi không bằng lòng, nói: - Phải đòn thì con không học đâu. Dương Ông phải dỗ: - Con chăm học thì không can gì phải đánh ! - Thế học mấy hôm thì thành Trạng ? Thầy đồ nực cười: - Học dăm ba ngày thì thành Trạng. Chung Nhi tủm tỉm cười thích lắm. Thầy đọc một câu trong Tam Tự Kinh cho Chung Nhi học "Thiên tích thông minh, thánh phù công dụng". Thầy đọc xong thì Chung Nhi quên liền mà đọc trẹo ra là: "thiên tích thong manh, thánh phù chỏng gọng" chỉ có câu ấy mà bảy tám ngày không thuộc. Thầy đồ giận lắm bắt nằm xuống đánh Chung Nhi không chịu nằm sấp, cứ nằm ngửa tênh hênh ra. Chung Nhi nói: - "Thiên tích thong manh, thánh nằm chỏng gọng" sao thầy bắt con nằm sấp ? Ái Hoa (còn tiếp) |
Trạng Lợn dân gian: Dương Đình Chung (tt)
Một hôm thầy đi vắng, có khách vào hỏi: - Thầy có nhà không? Chung Nhi nói vọng ra: - Thầy đi vắng rồi, chỉ có Trạng ở nhà thôi. Khách cười hỏi lại: - Trạng học đến đâu rồi ? Trạng nói văng mạng: - Trời đất cao sâu. Trên trời dưới đất đâu đâu cũng tường. Khách hỏi: - Trời là gì? Ðất là gì ? - Trời là thiên, đất là địa. Ông không học hành gì cả hay sao mà không biết ? Khách giận mắng: - Con cái nhà ai, mới nứt mắt đã láo xược ? Chung Nhi vênh mặt ra : - Ông tưởng ông giỏi thì tôi đố ông biết trên trời có gì và dưới đất có gì ? - Trên trời có trăng, có sao, dưới đất có núi có sông chứ gì ! Trạng - từ giờ trở xuống Chung Nhi tự xưng mình là Trạng - cười khanh khách và nói: - Ông này không học có khác, trên trời có hai người mà dưới đất có một người học trò chứ ! Khách hỏi : - Trên trời có hai người là ai ? Mà dưới đất có một người là ai? Trạng lại cười diễu khách một hồi lâu mới nói : - Hai người là nhị nhân (chữ thiên 天 có chữ nhị 二 và chữ nhân 人). Còn dưới đất có một người là Sĩ (chữ Ðịa 地 có chữ sĩ 士 ở trong) - Người sĩ ấy là ai vậy ? - Là Trạng chớ còn ai nữa. Khách ra về, lòng băn khoăn suy nghĩ về thằng bé khôn ngoan. Thấm thoắt Trạng được mười ba tuổi mà học quyển "Tam Tự Kinh" chưa thuộc. Dương ông rất buồn phiền. Có bữa Trạng tự nhiên bỏ học về nhà, Dương bà hỏi tại sao thì Trạng nói: - Tại con học hết sách rồi. Con về nhà để sửa soạn đi thi đây. Một hôm, hai cha con đi sang làng bên mua lợn tới nhà một vị quan hồi hưu. Quan ông đang ngủ, quan bà đi vắng. Ðợi cho quan dậy, Dương ông cùng con tiến vào. Ngái ngủ, ông quan thấy người mua lợn, đứng lên lấy tay chùi ngang mắt, vuốt bộ râu rẽ sang hai bên, đoạn búi tóc rồi quay vào trong nhà. Thấy thế, Trạng bảo cha cứ vào trong nhà mà bắt lợn, Dương ông hỏi tới sao thì Trạng đáp: - Thì vừa đây quan đã bằng lòng rồi mà. Ngài lại nói cho biết giá cả lợn là bao nhiêu, cha không trông thấy à ? - Quái, mày nói làm sao, chớ tao có thấy quan nói gì đâu? - Quan không nói vì quan khinh cha con mình nghèo, nhưng quan ra hiệu bằng tay. Bắt lợn xong, Trạng bảo người nhà quan cho Trạng nộp tiền. Người làm hỏi: -Thế anh đã thỏa thuận về giá heo với quan rồi à? Bao nhiêu? Trạng đáp: - Mười tám quan. Người nhà quan la lên: - Mười tám quan, rẻ quá. Ta phải vào bẩm quan mới được. Tên người nhà vào bẩm quan thực. Ngài hét lên: - Ai bán cho nó mười tám quan đâu. Trạng nói: - Bẩm quan, khi nãy chúng con hỏi giá, quan gật đầu rồi lấy tay chùi ngang mắt rồi lại vuốt từ hàm rồi vuốt hai bên râu mép. Như thế chẳng là thập bát 十 八 là gì? Quan phì cười: - Mày nhỏ mà biện bác giỏi. Thôi, tao cũng bán cho mày. Ái Hoa (còn tiếp) |
Trạng Lợn dân gian: Dương Đình Chung (tt)
Mùa thu năm sau. Dương ông bị bệnh rồi mất. Trạng đi lang thang làng này xóm khác, hết rượu chè lại cờ bạc. Mẹ Trạng buồn lắm. Trạng nói: - Mẹ đừng buồn. Nay mai con đỗ Trạng, tha hồ sung sướng. Mẹ cười: - Cái thứ con có đỗ Trạng họa chăng là Trạng Ăn, Trạng Rượu, Trạng Dổ Bác, Trạng Lông Bông. Tức quá, Trạng vào gặp mẹ xin đi thi, quyết đỗ Trạng mới nghe. Một hôm, đến làng kia, Trạng gặp hai người học trò lều chõng đi thi. Trạng chắp tay hỏi: - Thưa, hai ông đi đâu? - Chúng tôi trảy kinh đây. Còn ông đi đâu ? - Tôi cũng trảy kinh. Hay là ta cùng đi cho vui. Vì Trạng lém lắm, nên mọi tiền chi phí hai người học trò kia cũng chi đỡ Trạng. Ði đến một xóm kia thì trời tối. Có cái quán bên đường, cả ba cùng vào nghỉ đêm. Chẳng ngờ quán ấy lại là nơi tụ họp cờ bạc, đầu trộm đuôi cướp, chúng vẫn rình rập để cướp hành lý của ba nguời. Bất ngờ đêm ấy Trạng lại nằm mê, bỗng dưng hét to lên : - Ðây rồi, bắt chúng trói cả lại cắt tiết cho ta. Bọn trộm cướp thấy thế cắm đầu bỏ chạy. Hai người học trò nghe đầu đuôi câu truyện cảm ơn Trạng hết lời và phục Trạng là người can đảm, có biết đâu rằng Trạng nằm mê thấy lợn, đòi bắt trói lợn lại để đem làm thịt bán. Hôm sau, ba người đi đến một làng kia, xin vào trọ đêm. Qua cổng thấy đề ba chữ "Thủ chư dự" lấy ở trong quẻ dự Kinh Dịch, Trạng đọc "thủ chư" lại tưởng nghĩa là sỏ lợn, bảo hai ông kia: - Tối nay, anh em ta có thủ lợn đánh chén. Hai ông kia đùa: - Ði đường xa mà có người lại cho nhắm thủ lợn, chẳng là may lắm sao ! Ngờ đâu tối hôm ấy họ vào trọ nhà ông thủ chi, nhân ngày xuân tế, ông pha một cái thủ lợn ra mời ba người đánh chén cho vui. Hai người bạn phục Trạng biết việc sắp tới như thần và nói: - Chắc là bác giỏi lý số tiên tri lắm mà bác giấu chúng tôi. - Không biết tiên tri lý số sao là Trạng được. Ðến một làng khác, thấy có một các bảng đề hai chữ "hạ mã", Trạng đọc lầm là "bất yên" (vì chữ nho hai chữ hạ mã 下 馬 và bất yên 不 焉 gần giống nhau) Trạng nói: - Làng này bất yên. Hai ông bạn tủm tỉm cười, không cải chính, và cũng chiều ý Trạng không vào làng ấy. Thì vừa đi qua làng một lát, cả ba nghe thấy tiếng kêu la ầm ỹ, thì ra là đám cháy, cháy một lát một nửa làng ra tro. Lại một lần khác, đi đến một ngôi chùa kia, cả ba rủ nhau vào vãn cảnh. Nhà sư thấy ba ông cùng là thư sinh, đề nghị làm thơ tức cảnh, Hai ông kia vẫy bút đề thơ nét bút như rồng bay phượng múa, lời thơ hàm súc chứa chan, ý vị. Thấy thế Trạng nghĩ "Mình không làm thơ thì chuế". Nhưng làm thơ thì biết làm thế nào. Ðánh liều. Trạng cũng viết "Thâm tinh lập lái" những vì dốt, Trạng lại viết thành "Thâm tinh huyền lý". Nhà sư đọc xong bốn chữ thấy nét không đẹp nhưng ý vị sâu xa, đập tay vào đùi bôm bốp thán phục Trạng hết lời. - Tuyệt tác ! Tuyệt tác ! "Thâm tinh huyền lý" tức là tình sâu xa, lẽ nhiệm mầu, hay quá ! Thật hợp cảnh nhà chùa. Có biết đâu rằng chính ra Trạng định viết bốn chữ "thâm tinh lập lái" tức là tiếng lóng của bọn lái lợn, có nghĩa là ba quan và mười hai quan. Nhà sư lưu ba thày ở chùa trọng đãi và ngâm không tiếc bốn chữ thần của Trạng và cũng ngâm luôn cả hai bài thơ của ông học trò cùng đi với Trạng. Trạng cúi đầu nghe và chỉ một lát thì thuộc lòng cả hai bài. * Có mỗi câu "Thiên tích thông minh, thánh phù công dụng" học mãi không thuộc, mà chỉ nghe đọc qua đã thuộc trọn hai bài thơ tuyệt tác, rõ Trạng cũng khác thường! Ái Hoa (còn tiếp) |
Trạng Lợn dân gian: Dương Đình Chung (tt)
Một hôm kia, ba người đi qua một trang trại, nhìn vào thấy một cô gái xinh đẹp tuyệt trần đang hái hoa trong vườn, có hai thị nữ theo hầu. Trạng mê quá, lập mưu từ giã hai người bạn, rồi quay lại vẩn vơ ở ngoài trang trại để tìm cách được gần người đẹp. Hỏi thăm người chung quanh thì biết giai nhân tuyệt sắc nọ là con quan trí sĩ họ Bùi. Bùi tướng công chỉ sinh được một mình nàng là con gái, đặt tên là Phấn Khanh... Tình cờ hôm ấy, Bùi Tướng Công đang ngủ mơ màng thì nghe như có người đang đánh thức dậy và bảo "ra ngay ngoài cửa để đón quan Trạng". Tỉnh giấc Bùi tướng Công vội đi thẳng ra cổng thì thấy Trạng. Bùi tướng Công mời Trạng vào nói chuyện. Hoảng sợ tưởng là Bùi tướng Công bắt mình giam, Trạng nói: - Tôi là học trò, trẩy kinh đi thi nhất định lấy cái Trạng nguyên. Thấy trang trại của tướng công tươi tốt, tôi dừng chân lại ngắm chớ có tình ý gì đâu mà tướng công lại... Vừa nằm mơ thấy có người bảo ra cổng đón Trạng bây giờ gặp ngay một người học trò trẩy kinh quyết giựt lấy cái Trạng nguyên. Bùi tướng Công tin ngay đúng người nầy là Trạng, bèn giữ lại thiết tiệc ở Uyên Ương Ðình. Rượu ngà ngà say, Trạng xúc cảnh sinh tình đọc vanh vách hai bài thơ của hai người bạn làm ở chùa mà Trạng đã thuộc lòng. Bùi tướng Công lè lưỡi chịu là thơ hay, gọi tiểu thư lấy giấy bút lên chép lại để họa vần. Tiểu thư họa vần lại, lời thơ cũng không kém phần xuất sắc. Ưng ý quá, Bùi tướng Công bèn ngỏ ý muốn gả con gái cho Trạng. Trạng vờ khiêm tốn trả lời: - Thưa tướng công, người con trai lấy công danh làm chính, chuyện vợ con là thứ yếu. Tướng công có lòng yêu, xin lãnh ý nhưng để cho khi nào đỗ Trạng về mới có thể tính chuyện tiểu đăng khoa. Tướng công phục Trạng sát đất. Vào phòng riêng để nghỉ, Trạng bỗng thấy ở trên tường có một bức hoa tiên ghi mấy chữ như sau: "Bát đao phân mễ phấn", 八 刀 分 米 粉 nghĩa là "Tám dao chia bánh gạo", mặt khác chữ Phấn gồm có chữ Bát, chữ Ðao, chữ Phân và chữ Mễ. Chữ Phấn lại là tên nàng. Câu đó vô cùng khó đối! Bùi tiểu thư viết mấy chữ ấy là có ý đố ai đối được thì sẽ lấy làm chồng. Vốn mù chữ, trong năm chữ ấy Trạng chỉ biết có chữ "Phấn" đoán là tên của tiểu thư; sẵn trên ấn có bút nghiên cũng vạch tên mình là "Chung" vào. Viết xong, nằm quèo ra ngủ. Ðến sáng, Phấn tiểu thư thấy chữ "Chung" thì tự tán ra câu đối là "Thiên lý trọng kim chung", 千 里 重 金 鍾 nghĩa là "Ngàn dặm nặng chung vàng", trong chữ Chung có các chữ Thiên, chữ Lý, chữ Trọng và chữ Kim, tên Trạng đồng thời là Chung. Nàng nức nở khen hay và cho rằng chỉ có người này mới xứng đáng là chồng nàng. Bèn bày lễ ra giữa trời cảm tạ trời đất đã run rủi cho nàng được người chồng xứng đáng. Ðoạn nàng và Trạng cùng làm lễ thề nguyền, lấy trời đất chứng cho mối duyên lành hiếm thấy. Bùi tướng Công mừng rỡ sai đặt tiệc ở Thủy Ðình trên hồ Bán Nguyệt ăn mừng và đưa một mâm vàng cho Trạng để làm tiền lộ phí. Khi từ biệt, tiểu thư đưa cho chàng một phong thơ. Ði được một quãng đường giở ra đọc thì là một bài thơ tứ tuyệt: Bán nguyệt chi trung tương hội sứ, Uyên ương đình nội bá bôi thi. Nguyện quân kiên sấn thanh vân lộ, Tảo tháp hồi lai đan quế nhi. Tạm dịch là: Tại Bán nguyệt hồ gặp gỡ đây Uyên Ương Đình nọ chuốc chung đầy Mong chàng nhẹ bước đường mây rộng Sớm được vinh quy thỏa dạ này Ái Hoa (còn tiếp) |
Trạng Lợn dân gian: Dương Đình Chung (tt)
Xem thơ xong hả dạ quá, Trạng quên mất cả đường đi, rồi lạc vào một cái miếu hoang ở giữa đồng. Trong miếu có một ông cụ đầu râu tóc bạc đang ngồi uống nước. Trạng mon men lại gần cụ, ông cụ hỏi: - Trẩy kinh sao lại vơ vẩn vào đây ? Trạng thưa là bị lạc đường. Ông cụ cầm cái gậy chọc vào bụng Trạng một cái và bảo: - Muốn trẩy kinh, hãy ngồi xuống bóp chân tay cho lão một lát, lão sẽ chỉ đường cho. Trạng chịu liền. Bóp chân tay xong, Trạng hỏi: - Bẩm cụ, thế bây giờ cụ đã bằng lòng chỉ cho cháu đường vào kinh chưa. Ông lão cười khà khà. - Ðâu có dễ dàng thế được. Lão hỏi thực, thầy chảy kinh làm gì ? - Bẩm, để thi lấy Trạng nguyên. - Tốt lắm. Nhưng muốn đỗ Trạng nguyên, phải nghe lời lão. - Thưa cụ, dạy làm sao ? - Thầy phải cõng lão vào tại kinh thì thầy đỗ Trạng. Trạng lại chịu liền. Cõng ông lão một lát. Trạng nghe thấy ông lão hỏi: - Thầy vào kinh đỗ Trạng làm gì ? Sao không ở luôn Uyên Ương Ðình làm con rể Bùi tướng Công có hơn không ? Trạng giựt nảy mình, quay lại hỏi: - Sao cụ biết? Cụ là thần phải không ? Ông cụ đáp. - Ta chẳng phải là thần mà cũng chẳng phải là ma. Ta chỉ là một người đối với thầy có tiền duyên túc hải. Mai sau, ta còn có phen hậu hội. Nhưng ta bảo cho thầy biết thầy sẽ còn lận đận năm năm nữa, và hai năm nữa mới chiếm được Trạng nguyên. Năm nay muốn đậu cũng chưa được vì kỳ thi hoãn. Nhưng thầy nhớ lấy điều này: "tháng giêng năm tới thầy nhớ ra ngồi ở thành phía Ðông thấy ai gieo mình từ trên xuống thì chạy lại cứu lấy và cõng chạy ngay đi, không cần hỏi han gì cả". Nay lão hãy tạm dạy cho thày phép bói toán để làm kế sinh nhai và cũng là để tiện bề giao tiếp hầu rộng đường thi thố sau này với đất nước. Mừng quá. Trạng chắp tay lạy cụ già và tôn làm thầy. Ông cụ dạy cho Trạng đủ các cách tiên tri bói toán. Dạy đến đâu Trạng nhớ đến đó. Thì ra từ lúc ông lão cầm cái gậy chọc và bụng Trạng, Trạng từ một người ngu dốt tối tăm đã hóa ra một người thông minh, học một biết mười. Thấy Trạng đã giỏi, ông lão mới chống gậy đi vào rừng mất tích. Còn Trạng thì mở một ngôi hàng bói toán. Tình cờ, lại gặp hai người bạn cũ. Hai người này nhờ Trạng bói cho một quẻ để biết khoa này có đậu hay chăng. Trạng gieo quẻ bảo: - Quẻ này là quẻ quan long vô chủ, kỳ thi phải hoãn không có ai đậu mà cũng không có ai rớt. Hai người bạn cho là Trạng nói láo. Không ngờ năm ấy hoãn thi thực. Ai cũng xanh mặt chịu là Trạng tiên tri trúng phóc như thần. Ái Hoa (còn tiếp) |
Trạng Lợn dân gian: Dương Đình Chung (tt)
Một hôm có quan thượng thư trong triều mất con thiên lý mã, nghe đồn Trạng bói cát hung đúng lắm, cho người ra mời vào dinh xem một quẻ. Thằng ăn trộm thấy quan cho người ra xem bói thì lo lắm, bèn lẻn vào nhà Trạng, đứng nghe trộm. Nguyên Trạng thấy ông thượng thư cho người đến bói, lấy làm sợ, cả đêm trằn trọc suy nghĩ không ngủ được. Gần sáng Trạng lấy quyển Tam Tự Kinh ra đọc đến câu "Mã ngưu dương kê khuyển thỉ, thử lục súc nhân sở tự" (ngựa bò dê gà chó heo, đó là sáu giống vật nuôi của người) thì đọc to lên. Gã trộm tên là Tự, đứng nghe lỏm, thấy thầy đọc trúng tên mình, vội bỏ ra cắn rơm cắn cỏ lạy thầy đừng nói tên mình với quan thượng thư. Trạng hét lên: - Ừ, mày lấy cắp ngựa ngày nào và để đâu. Phải nói ngay thì tao tha tính mạng cho, không hô danh nữa. Hôm sau, vào dinh quan thượng thư, Trạng reo quẻ suýt soa khấn vái rồi cứ lời tên trộm kể lại vanh vách. Quan thượng thư cho người đến nơi, quả thấy ngựa quý thưởng cho rất nhiều vàng bạc. Từ đó, Trạng nổi tiếng như cồn, ai ai cũng phục Trạng là Trạng bói. Một hôm trong cung, công chúa mất đôi vòng ngọc rất quí mang từ bên Tàu về. Nghe có Trạng bói, Công Chúa cho mời Trạng vào xem một quẻ. Bí quá, Trạng "tranh thủ thời gian" bảo phải làm một cái lầu cao suy nghĩ và lạy trời lạy đất mới xem được quẻ bói này. Công Chúa cũng chịu. Trạng hẹn nửa tháng thể nào cũng tìm ra được thủ phạm. Nằm mười ngày ở trên lầu cao mà chẳng tính toán được gì mà cũng không tìm ra được mưu mẹo gì bịp công chúa, Trạng buồn muốn chết, than thân : "Mình có ngờ đâu lại đến nước này. Một thằng ăn cắp một thằng chịu chết lây, thực là quýt làm cam chịu. Bấy giờ tên thị vệ phụ trách canh gác tên là thằng Cam. Nửa đêm thanh vắng, nghe thấy Trạng nói thế hắn sợ cuống lên, sụp xuống lạy Trạng mà rằng: "Con cắn rơm cắn cỏ xin thầy tha cho, con chết dại chơi với thằng Quýt dính líu vào trong vụ này, nhưng bao nhiêu tội lỗi là do thằng Quýt cả chứ con tuyệt nhiên là chỉ theo đóm ăn tàn mà thôi. Thầy có trị tội thì trị tội thằng Quýt, chớ phần con, con xin thề là con không có tội. Thầy hô danh con ra, đức vua mà giết con thì quả là oan uổng quá. Cố nhịn cười, Trạng quát lên: - Ừ, mày thú tội thì ta cũng tha cho, nhưng thằng Quýt nó ăn trộm ra sao, đôi vòng nó giấu ở đâu, mày cứ thực khai ra thì ta tha tội chết. Thằng Cam kể vanh vách sự tình đầu đuôi cho Trạng nghe. Hôm sau, Trạng mời Công chúa lên lầu, gieo quẻ rồi cứ lời thằng Cam khai mà thuật lại. Nhà vua cho bắt thằng Quýt thì nó thú tội, không sai một mảy. Lấy lại được đôi vòng, công chúa đem vàng bạc thưởng cho Trạng Bói. Từ đó Trạng Bói thành một vị thần, bàn dân thiên hạ đều lắc đầu lè lưỡi chịu là một vị tiên xuống hạ giới. Một hôm có ba người đi thi, nghe thấy danh tiếng của Trạng như thế, rủ nhau sửa một cái lễ để vào xem. Lúc trò truyện, mới biết ba người ấy là những người nổi tiếng: một người là Trạng Ăn, một người là Trạng Vật, một người là Trạng Cờ. Trạng Bói gieo quẻ xong, nói: - Bốn chúng ta tuổi còn trẻ, đường bay nhảy còn dài nhưng số còn lận đận vài năm nữa, phải chờ thời mới được. Bốn người ở với nhau rất tâm đầu ý hợp. Mùa xuân năm ấy. Trạng Bói nhớ lời thần dặn, rủ ba Trạng kia hằng ngày ra đứng ở cửa thành phía đông. Thì vào một đêm đông, khoảng canh ba, Hoàng cung tự nhiên bốc cháy, dân chúng nổi làm loạn, ngoài đường giặc cướp như rươi. Thấy biến, bốn Trạng đang đứng xem thì Trạng Bói trông thấy một người mặc áo xanh, nhảy từ mặt thành xuống đấy. Trạng Bói không nói năng gì hết chạy ngay lại cõng người mặc áo xanh lên vai và chạy không quay đầu trở lại. Ái Hoa (còn tiếp) |
Trạng Lợn dân gian: Dương Đình Chung (tt)
Người ấy là Vua Lê Thánh Tôn. Thấy có người cõng Thánh Tôn chạy trốn một bọn người mang võ khí hùa lại đuổi theo. Trạng Ăn, Trạng Vật và Trạng Cờ xông ra cản lại, thành ra Trạng Bói chạy thoát về mạn chùa Thầy. Mấy hôm sau, tình hình lắng dịu. Trạng Bói cắt Trạng Ăn và Trạng Vật túc trực bên Gia Vương còn mình và Trạng Cờ thì hoá trang về thành xem xét sự tình. Ðến lúc bấy giờ mới biết là Lạng Sơn Vương Nghi Dân tiếm vị và sát hại trung thần, may nhờ hai ông Nguyễn Xí và Ðinh Liệt chiêu binh mãi mã, trừ được Nghi Dân. Hai vị trung thần bèn tâu Thái Hậu sai người đi tìm Thánh Tôn nhưng tìm đâu cũng không thấy. Trạng Bói nghĩ kế, cho người môi giới với Thái Hậu mời ông vào xem bói. Trạng nói riêng với Thái Hậu đã cứu được nhà vua và hiện để ở chùa Thầy. Mừng rỡ, Nguyễn Xí và Ðinh Liệt đem binh sĩ về chùa Thầy đón rước. Vua Thánh Tôn phong thưởng cho hết thảy các công thần, ai cũng cảm ơn, riêng có Trạng thì cho chức tước gì cũng không lấy, chỉ xin ban cho hai chữ "Trạng nguyên". Có quan đại thần quỳ tâu: - Muôn tâu bệ hạ, chức Trạng Nguyên chỉ dành riêng cho các bậc văn hay chữ tốt tài ba xuất chúng. Kẻ có công thì thưởng vàng bạc gấm vóc hay phong cho đến quan là cùng, không thể phong cho chức Trạng Nguyên. Vua Thánh Tôn nói : - Tài giỏi đến như Trạng, văn chương nào bằng ? Ngài cứ phong Trạng là Trạng Nguyên. Một hôm vua ngự giá đến chùa Thầy lễ tạ và ban cho các vị sư trụ trì rất nhiều vàng bạc để tu bổ lại chùa. Ðến khi sửa đến gác chuông, nhà vua đọc "Thiên lý trọng kim chung" rồi hỏi bách quan có ai đối được không. Tất cả đều đứng ra như phỗng. Nhớ lại câu của Phấn Khanh tiểu thư, Trạng liền đọc: "Bát đao phân mễ phấn". Vua hết lời ca ngợi Trạng là bực tài học siêu phàm và bảo: - Ta phong cho ngươi chức Trạng Nguyên quả thật là đúng quá. Sau đó vua ban cho cờ biển, tặng rất nhiều bạc vàng và ba chữ "Chân Trạng Nguyên" cho về vinh quy bái tổ. Ði qua trang trại họ Bùi, Trạng rẽ vào lạy nhạc phụ, làm lễ thành hôn với Phấn tiểu thư rồi về nhà lạy mẹ. Lúc đó Dương Bà đã già lắm ! Phụng dưỡng mẹ mấy tháng, Trạng và Phấn tiểu thư cùng rước mẹ vào Kinh vì có chiếu chỉ khẩn cấp. Ðến nơi mới biết nhà vua cho vời Trạng đi dẹp giặc Xiêm La. Trạng Lợn - tức Trạng Bói - mời Trạng Vật làm tiên phong, Trạng Cờ đốc thúc thủy lộ, Trạng ăn phụ trách bộ binh. Phấn Khanh cũng lĩnh ấn, đeo gươm theo chồng đánh giặc. Ta thắng trận, hai nước Xiêm Lào chịu hàng phục, năm năm lại một lần triều cống. Năm ấy vua Tàu sai sứ sang nước ta để phong vương cho vua Thánh Tôn. Như vua Tàu còn có ý muốn thử xem vua ta ra sao. Một hôm sứ Tàu rủ nhà vua đánh cờ. Vua lo lắm, gọi Trạng Lợn vào hỏi làm cách gì để thắng cờ. Trạng tâu: - Bệ hạ cứ cho bầy bàn cờ ra giữa sân rồi sai Trạng Cờ ăn mặc giả làm lính che lọng đứng hầu. Trên lọng, dùi một lỗ thủng. Hễ Trạng Cờ xoay lọng, ánh nắng chiếu vào chỗ nào thì bệ hạ cứ nhắc quân đi vào chỗ ấy. Vua khen phải sai lập bàn cờ. Quả nhiên đánh một lúc sứ Tàu bị dồn vào nước bí phải chịu thua. Tuy vậy sứ Tàu chưa chịu thôi. Hôm sau y lấy cây gỗ lớn ngầm đem bào nhẵn đầu đuôi như nhau rồi đố vua Thánh Tôn xem đầu nào là ngọn. Vua lại hỏi Trạng, Trạng tâu: - Bệ hạ chớ lo, hạ thần đã có cách. Ðêm đến bèn sai người ra phóng uế bừa bãi vào mấy cây gỗ,. Sáng, Trạng kêu rầm lên là dơ bẩn bắt khiêng gỗ ra sông rửa và dặn hễ thả xuống hấy đầu nào chìm thì đánh dấu. Khi đem gỗ về, Trạng ung dung chỉ vào đầu có dấu bảo đó là gốc. Sứ Tầu lại càng tức, lấy cây gỗ bào nhẵn rồi sơn kín cả đi đề ba chữ "Hồ bất thực" rồi đố vua biết là cây gỗ gì: Trạng ứng khẩu tâu vua: - Hồ bất thực là cáo chẳng ăn, cáo chẳng ăn thì cáo đói, cáo đói thì cáo gầy, cáo gầy là cây gạo. Sứ Tàu thua mấy lần than rằng: - Ai ngờ nước Nam lại có nhiều nhân tài. Từ đó, không dám giở trò gì nữa. Ái Hoa (còn tiếp) |
Trạng Lợn dân gian: Dương Đình Chung (tt)
Nước ta thì cứ ba năm lại phải cử người đi sứ sang Tàu một lần. Lần này nhà vua cử Trạng đi. Trạng Ăn, Trạng Vật, Trạng Cờ cùng đi theo. Tới Tam Quan, quân canh không mở cửa, một lát đem ra một cái biển có viết chữ thập, lấy tay chỉ đông chỉ tây Trạng bực mình quay lại bảo viên phó sứ : - Nó muốn dọc ngang thì khoanh cho nó một cái vòng tròn. Thấy cái vòng tròn, quân Tàu giật mình nghĩ rằng: - Ý ta nói "tung hoành vũ trụ", thế mà nó biết đối lại là "bao quát càn khôn". Giỏi thật ! Qua tam quan rồi, đến một quãng đồng bát ngát, trông thấy một ả con gái đương vạch quần tiểu tiện, Trạng bảo viên phó sứ: - Chép đi ! Viên phó sứ thưa "Chép gì". Trạng chặc lưỡi nói: - "Nong tay chí bẹn đỏ hân hân". Viên phó sứ nghễnh ngãng chép ra. - "Ðông Tây chí biện đổ hân hân". Khi đến Yên Kinh, quan sở tại ra đón vào rồi viết một vế câu đối. "Nam Bắc lai triều đồ tể tể" rồi xin sứ đối cho. Trạng quay lại bảo viên phó sứ cứ giơ cái giấy biên lúc nãy đọc lên. Viên phó sứ đọc: "Ðông Tây chí biện đổ hân hân". Quan Tầu kinh sợ nói: - Thật là "Thần phù thủy" chớ đâu lại có người giỏi đến thế! Vua Tàu cùng các sứ dạo vườn ngự đầy hoa thơm cỏ lạ, dưới có hồ bán nguyệt, trên hồ có đình bát giác bốn bề bỏ trống giữa đình treo hai chữ ngự thi, đó là "Trùng nhị". Vua Tàu hỏi sứ có biết đó là ý gì không. Trạng vô tình ứng khẩu đọc ngay "Phong nguyệt vô biên". Vua Tàu có ý tả cái đình này gió trăng khắp cả. Thấy Trạng ứng khẩu nhanh nhẹn và thích ứng, vua Tàu phục sát đất. Tháng năm năm ấy, trời không mưa, vua Tàu yêu cầu sứ ta lập đàn cầu mưa, Trạng nhận lời nhưng lo lắm vì không biết cầu đảo cách nào cho có mưa. Chợt nhớ tục bên ta thường bảo khi nào cỏ lang già và rễ si trắng là trời sắp mưa, Trạng bèn bảo lập một cái chòi cao, trên dán la liệt các thứ bùa bát quái, các vị tinh đẩu, các vị thần phù trợ, một mặt sai người đi xem hễ thấy rau lang già, rễ si trắng thì về bảo ngay. Vài hôm sau có người về báo tin rau lang già rồi, rễ si trắng rồi, Trạng lên đài xõa tóc chống gươm bài quyết rồi đọc một tràng toàn những tiếng lóng lái heo, ai nghe cũng không hiểu mô tê gì cả như mộc tinh, thâm tinh cổ tinh, kẹo tinh, chó... tinh rồi kết cục bằng loạt linh tinh beng, linh tinh beng ma, linh tinh beng quỷ... Ðoạn cầm một bình nước lấy mỗi cành lá vẩy lên trời, hét ba tiếng khóc ba tiếng. Lễ chưa xong thì sấm sét ầm ầm, mưa xuống như trút. Vua Tàu và các quan Tàu khiếp sợ và cho rằng Gia cát Vũ Hầu ngày xưa nhất định không thể nào sánh kịp. Hết hạn đi sứ, Trạng được về nhưng vì phục tài của Trạng vua cố nằn nì Trạng ở lại để dạy Hoàng tử. Trạng bèn sai lập một cái chòi thật cao, bắt Hoàng tử phải trèo lên. Vì sung sướng quen thân, Hoàng Tử mệt muốn chết, trèo lên tới lầu thì thở hồng hộc. Trạng hét mắng, dặn Hoàng Tử sao không chào thầy lại đứng thở như bò. Như thế là hỗn, tiên học lễ nhiên hậu mới học văn. Trạng sai nẹt hoàng tử ra đánh, đánh rồi mắng, mắng rồi lại đánh, không dạy một chữ nào. Thấy thầy dữ đòn quá. Hoàng hậu đành phải nói với vua Tàu xin để cho Trạng về kẻo "sứ Việt Nam nhớ nước nhớ nhà, cáu kỉnh đánh con mình có khi chết mất". Thế là Trạng thành công trong việc thiết mưu lập kế để được vua Tàu cho về nước. Về sau, Trạng Lơn được phong làm thượng quốc công, còn Phấn nương được phong làm Nhất phẩm phu nhân. Hai vợ chồng cùng ngao du sơn thuỷ, đàn địch ca hát nay bến này, mai bến khác, vui thú cả đời. Hết Ái Hoa (sưu tầm và hiệu chính) |
Câu đối của Lương Thế Vinh
Lương Thế Vinh người làng Cao Lương huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định, đỗ Trạng Nguyên đời Lê năm 22 tuổi, làm quan tới chức Hàn Lâm Trực Học Sĩ. Không những giỏi thi phú, thông làu kinh sử, ông còn là một nhà khoa học đại tài, người soạn sách "Đại Thành Thập Toán", và giỏi tài giúp dân đo đạc ruộng đất chính xác, nên được gọi là Trạng Lường. Một lần vua Lê Thánh Tông đi thị sát dân tình vùng Sơn Nam. Trên đường về vua ghé lại làng Cao Lương thăm quan Trạng. Ông cùng các chức sắc trong làng đón vua và mời đến thăm chùa. Sư cụ đang tụng kinh thấy vua tới, lập cập thế nào làm rớt chiếc quạt xuống đất mà chưa dám lượm sợ thất lễ. Viên quan tuỳ tùng nhà vua nhặt chiếc quạt đưa cho sư cụ. Vua quan thấy vậy cùng cười. Khi trở ra, tiệc rượu đã bày sẵn, vua quan cùng ngồi vào mâm trên, Trạng và các chức sắc làng ngồi chiếu dưới. Rượu ngà ngà, vua hừng chí đọc câu đối bắt các quan đối lại. Câu đối ra như sau : _ "Đường thượng tụng kinh, sư sử sứ" nghĩa là: "đọc kinh trên bục, sư khiến sứ" (quan sứ của vua). Không viên quan nào đối được, bởi vì khó nhất là tìm 3 chữ đồng âm khác dấu ghép liền nhau cho có nghĩa để đối với câu "sư sử sứ" của nhà vua. Thấy Lương Thế Vinh ngồi im, Lê Thánh Tông đắc ý ra lệnh cho quan Trạng phải đối. LTV bèn quay lại bảo người hầu mời bà Trạng tới ngay. Khi vợ tới rồi, ông đứng dậy lảo đảo bảo vợ dìu đi và xin phép vua về vì đã quá chén sợ thất lễ. Thánh Tông cười nói : _ Ngươi không đối được nên tìm cách trốn ta đấy phải không? Quan Trạng thản nhiên đáp : _ Muôn tâu thánh thượng, thần đâu dám trái mệnh. Thần đã đối xong rồi! Vua ngạc nhiên hỏi : _ Ngươi không say chứ? _ Muôn tâu thánh thượng, quả là thần không dám nói dối. _ Vậy thì khanh hãy đọc trẫm nghe. LTV cao giọng : _ "Đình tiền tuý tửu, phụ phù phu". nghĩa là: "Trước đình say rượu, vợ dìu chồng". Thánh Tông cười vang khen ngợi : _ Quan Trạng đối rất chỉnh và sát ý. "Đường thượng" đối với "đình tiền" đã hay, "tụng kinh" với "tuý tửu" cũng chỉnh, mà "sư sử sứ" đối với "phụ phù phu" thì thật tuyệt vời, tưởng không còn vế đối nào hơn thế nữa! Ái Hoa |
Trạng Trình nói lái
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng Nguyên và làm quan triều Mạc, được phong tước Trình Tuyên Hầu. Ông dâng sớ xin chém 18 tên gian thần hại nước không được chấp thuận nên từ quan về ở ẩn, vui thú điền viên. Học vấn uyên thâm, thi văn lưu loát, ông còn được biết nhiều về tài bói toán qua các bài sấm ký tiên đoán tương lai được người đời tin theo truyền tụng. Chẳng hạn bài thơ sau đây: _ Non sông nào phải buổi bình thời Thù oán nhau chi khéo nực cười Cá vực chim rừng ai khiến đuổi Núi xương sông máu thảm đầy nơi Ngựa phi ắt có hồi quay cổ Thú dữ nên phòng lúc cắn người Ngán ngẩm việc đời chi nói nữa Bên đầm ca hát nhởn nhơ chơi (Nguyễn Bỉnh Khiêm) Hai câu luận bài thơ được cho là lời tiên đoán về việc trung hưng của nhà Lê và sự chuyên quyền của họ Trịnh. Lúc sinh thời ông được cả vua nhà Mạc, chúa Trịnh và chúa Nguyễn tới cầu xin ý kiến. Câu nói nổi tiếng nhứt của ông là lời khuyên chúa Nguyễn Hoàng tới nhờ ông giúp sau khi anh là Nguyễn Uông bị anh rể là Trịnh Kiểm sát hại: " Hoành Sơn nhứt đái, vạn đại dung thân " nghĩa là một rặng Hoành Sơn có thể nương thân muôn đời. Theo lời khuyên của ông, Nguyễn Hoàng nhờ chị xin anh rể cho vào trấn ở phía Nam rặng Hoành Sơn (đèo Ngang), từ đó sáng lập ra cơ nghiệp nhà Nguyễn. Tại Thăng Long, thời ấy chúa Trịnh cũng ra sức ức hiếp vua Lê và muốn phế bỏ, liền cho người hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không trả lời và lẳng lặng dẫn sứ giả ra thăm chùa và nói với nhà sư: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản", ngụ ý muốn khuyên chúa Trịnh cứ tôn phò nhà Lê thì quyền hành tất giữ được. Nếu tự ý phế lập sẽ dẫn đến binh đao. Chúa Trịnh nghe lời giữ lại ngôi vua Lê làm bình phong để nắm quyền hành. Còn đối với nhà Mạc, sau những cuộc chiến tranh liên miên, phải bỏ chạy lên Cao Bằng thế thủ, vua Mạc cho người về hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông đã trả lời: "Cao Bằng tuy thiển, khả diên sổ thể" (Cao Bằng tuy đất hẹp, nhưng có thể giữ được vài đời). Quả nhiên, mãi đến năm 1688, sau ba đời giữ đất Cao Bằng, nhà Mạc mới bị diệt. Thế gian còn truyền tụng bài sấm của ông về chiến tranh thế giới như sau: _" Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh Can qua xứ xứ động đao binh Mã đề dương cước anh hùng tận Thân dậu niên lai kiến thái bình" nhiều người cho rằng ứng với thế chiến II (1939-1945), mặc dù thời điểm chưa phải phù hợp lắm. Tương truyền lúc Doanh điền Sứ Nguyễn Công Trứ phục mệnh vua Minh Mạng đi khai khẩn đất hoang vùng Hải Phòng có ra lệnh đào một con sông qua làng Trung Am quê Trạng Trình. Con sông đi thẳng qua đền thờ Trạng Trình nên sẽ phải phá đền, dân làng đến kêu quan chớ phá đền. Nguyễn Công Trứ cho là lệnh vua to hơn thần nên cứ ra lệnh phá dỡ đền đi. Binh lính vào đền bê bàn thơ và bát nhang ra thì thấy dưới có tấm bia đá, vội khuân về trình Doanh điền Sứ. Nguyễn Công Trứ bước xuống đọc trên bia khắc dòng chữ tự lâu đời: "Minh Mạng thập tứ Thằng Trứ phá đền Phá đền thì phải làm đền Nào ai đụng đến doanh điền nhà bay!" Năm ấy là năm Minh Mạng thứ 14. Nguyễn Công Trứ sợ toát mồ hôi trước thiên cơ thần toán biết trước hàng trăm năm của Trạng Trình, vội sai sửa sang lại đền đẹp đẽ và uy nghi hơn trước. Người ta còn kể rằng có hai cha con người bắt chuột đồng do ham bắt đã đào hang ở đền Trạng Trình làm đổ tấm bia đá trước đền. Làng bắt cha con họ phải trồng lại bia và phạt 3 quan tiền. Khi kéo tấm bia lên trồng thì thấy dưới chân bia có hàng chữ: _ "Cha con thằng Khả Đánh ngã bia tao Làng xóm xôn xao Bắt đền TAM QUÁN" Quả thiệt là người bắt chuột tên Khả và bị bắt phạt 3 quan tiền! Nhưng cha con họ nhà nghèo, vét hết túi cũng chỉ có quan tám, đào đâu ra thêm cho đủ 3 quan mà đóng? Có ông cử thương tình gọi tới nhà dặn dò, bày cho lão Khả cách biện bác. Lão Khả về làng xin nộp quan tám và minh rằng: _ Cụ Trạng thương chúng con nghèo nên dặn rõ ràng hai chữ câu cuối là TAM QUÁN nói lái thành QUAN TÁM. Chứ cả bài thơ gồm toàn chữ Nôm, không lý gì cụ lại dùng chữ Hán ở cuối như thế! Làng vào đền lễ tạ, xin quẻ âm dương, được Trạng Trình cho đúng như lời lão Khả, bèn bãi lệnh nộp 3 quan tiền mà cho phép lão chỉ nộp quan tám như lời nói lái của Trạng khắc trên bia! Ái Hoa |
Bất nhục quân mệnh
Giang Văn Minh ( 江 文 明, 1573 - 1638) tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, được mệnh danh là vị sứ thần “Bất nhục quân mệnh” (Không để nhục mệnh vua) vì đã đối đáp thẳng thắn trước triều đình Trung Quốc và bị vua Minh hành hình vào năm 1638, thọ 65 tuổi. Ông sinh tại làng Kẻ Mía, xã Mông Phụ, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội). Ông đỗ đầu kỳ thi Hội, và Thám Hoa kỳ thi Đình năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Khoa thi này không có ai đỗ Trạng nguyên hay Bảng nhãn, vì vậy ông là người đỗ cao nhất (tức là Đình nguyên). Ông lần lượt được bổ nhiệm vào các chức vụ như Binh khoa đô cấp sự trung, Thái bộc tự khanh. Năm Dương Hòa thứ 3, ông và Thiêm đô ngự sử Nguyễn Duy Hiểu được vua cử làm chánh sứ cùng với 4 phó sứ là: Nguyễn Quang Minh, Trần Nghi, Nguyễn Bình và Thân Khuê dẫn đầu hai đoàn sứ bộ sang Tàu cầu phong và nộp cống. Đoàn sứ bộ của Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh) triều kiến, Minh Tư Tông lấy lý do “Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ” để ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê và bãi bỏ công nhận ngoại giao với nhà Mạc. Đồng thời, vua Minh còn ngạo mạn ra cho sứ bộ một vế đối như sau: “Đồng trụ chí kim đài vị lục”" Nghĩa là: Cột đồng đến nay rêu chưa xanh Câu này vốn nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ bị diệt vong). Ngụ ý của vua Minh cho là nước ta vẫn còn dấu tích thuộc địa của Trung Quốc, nếu vô lễ coi chừng Thiên triều sẽ cử binh chinh phạt. Không hề khiếp sợ, Giang Văn Minh đã dõng dạc đáp: "Đằng Giang tự cổ huyết do hồng" Nghĩa là: Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ Vế đối này thật là chỉnh, còn mang ý nhắc lại việc người Việt đã ba lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng, nếu vua Tàu vẫn còn mang mộng thôn tính thì kết quả cũng sẽ thảm bại như những lần trước mà thôi. Vào thời bấy giờ, câu đối này được xem là cái tát thẳng vào mặt hoàng đế nhà Minh trước đông đảo văn võ bá quan của Thiên triều và sứ bộ các nước. Vua nhà Minh bừng bừng lửa giận quên mất thể diện thiên triều, bất chấp luật lệ bang giao, đã trả thù bằng cách trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Nhưng Minh Tư Tông vẫn kính trọng ông còn cho ướp xác ông bằng bột thủy ngân và đưa thi hài ông về nước. Khi thi hài của ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng bái kiến linh cữu ông và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ). Sau khi thi hài được đưa về nước, Giang Văn Minh được chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm. Trên cánh đồng này có một ngôi nhà nhỏ là nơi linh cữu ông đã được quàn và gọi là quán Giang. Hiện nay, nhà thờ ông ở làng Mông Phụ đã được xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa. Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình. (nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) |
Múi giờ GMT. Hiện tại là 08:48 AM. |
Powered by: vBulletin Version 3.6.1 Copyright © 2000 - 2025, Jelsoft Enterprises Ltd.