Từ ấy, cụ để tâm niệm Phật, bố thí kẻ nghèo thập phương. Có khi nhà tranh cụ che chở những lữ khách lỡ đường, hoặc
những người nghèo không chỗ nương thân. Lòng bác ái cứ thế mà lan ra mãi, hương bố thí của lòng nhân bay khắp
mấy vùng. Nhưng cụ vẫn không yên bởi câu chuyện hoa lài năm trước. Mỗi đêm cụ lo, tưởng như Ma vương chực hờ
đâu đấy, sắp hiện ra quyến rũ, trong khi tâm hồn cụ yếu ớt.
Những việc làm nhân đạo: săn sóc kẻ nghèo, chữa bệnh người đau ốm, đem lại cho cụ một vài bình tĩnh và sự yên ổn
trong người. Cứ mỗi lần đón tiếp người cực khổ, ốm đau, cụ thấy lòng nhẹ nhàng vui vẻ, như hình rửa được một ít bụi
nhơ.
Nhưng khách tha phương lần lần rời cụ đi nơi khác. Tâm hồn lưu lạc của họ xui giục, khiến họ không biết vui thích ở
lâu một nơi nào. Họ phiêu lưu đã quen, ngắm mãi một cảnh sinh ra chán, họ tìm nước non mới lạ, và như thế mãi
không dứt. Cụ Huyên vì đó mà sống lại cảnh quạnh hiu vắng vẻ. Rồi sự vắng vẻ gợi về những ảnh Ma vương, yêu
quái. Cụ tĩnh toạ, đọc sách, làm vườn, không cho tâm trí rảnh rang một giây nào.
Bỗng một chiều, có một thiếu nữ mười sáu xuân xanh, nghèo khổ lắm đến lạy xin cụ cho ở vài hôm. Thiếu nữ hứa với
cụ lúc nào hỏi thăm được bà con thì về, vì lúc nhỏ mồ côi cha, mẹ lấy chồng đem bán cho người khác. Lớn lên, biết
chuyện, tìm cách trốn đi, về làng Yên Tĩnh tìm họ hàng. Đến đây, không biết nhờ ai, trong lúc chưa tìm được nhà
quen, bỗng có người mách ông lão hiền từ và nhân đức mới đến xin trọ mươi hôm.
Cụ Huyên không biết làm thế nào, nhưng cũng không từ chối được. Cụ chịu nuôi thiếu nữ lúc nào biết rõ họ hàng ở
đâu thì về. Thiếu nữ, tuy bần hàn nhưng trắng trẻo, ngộ nghĩnh, có duyên. Thiếu nữ ở với cụ rất đảm đang, hầu hạ cụ
hết lòng kính mến. Lúc nào không tìm bà con, thì gánh củi ra chợ đổi gạo.
Nhưng cụ nhận thấy nhiều sự lạ trong cách ăn ở của nàng, đâm ra nghi ngờ lắm. Thiếu nữ ăn rất ít cơm, có bữa không
ăn. Cụ hỏi tại sao? - Không đáp. - Ban ngày thì ngủ, mà đêm thì thức. Mỗi tối cứ đến giờ Tý, dậy mở cửa ra sau,
không biết đi đâu, mãi đến gà khởi sự gáy bận nhất thì về.
Một hôm, cụ quả quyết rình xem thiếu nữ làm gì. Đọc kinh xong, cụ giả vờ đi nghỉ. Đến giờ Tý nghe thiếu nữ mở
cửa, thì cụ cũng dậy. Thiếu nữ đi ra sau, cụ cũng nom theo. Nàng đi về phía cuối vườn đến chỗ trống dừng lại ngó
quanh, ý chừng xem có dạng người không. Khi chắc đâu đấy thật yên lặng, không một bóng người, thì cởi hết áo mặc
trong người rồi nhảy múa. Múa một giây lâu, thì đứng lại thở, hơi thở rất dài, rất sâu mà khẽ lắm...
Cụ Huyên thấy bóng ấy giữa yên lặng của vạn vật, những nét trắng mờ linh động trong âm khí, tâm thần kích thích,
rối loạn. Cụ loạng choạng bước trở vào nhà, sương đêm xuống thấm cả đầu và áo mặc. Lúc về phòng, lên giường nằm,
sờ soạng thì có vật gì mịn màng, âm ấm nằm trong chăn. Cụ giật mình, lấy đèn soi. Đó là một con mèo đen, hệt con vật
năm trước. Nó trương mắt nhìn cụ kêu ?meo meo? như mơn trớn. Cụ giơ tay sắp đánh, thì nó phóng đi, vào bóng tối
rất nhanh, như hồn ma. Từ đấy cụ thao thức mãi không ngủ được. Muốn ép trí thư thả niệm kinh, nghĩ đến sự thực
nhiệm màu mà trí tưởng tượng lại nổi lên làm chủ. ảnh thiếu nữ theo cụ vào nằm trong chăn. Một ít lâu cụ nhuốm bịnh
không dậy được, mê man thấy đương nằm trên một cái đệm thơm tho mát mẻ. Cụ sung sướng, cố nhìn thì nệm ấy hoá
ra thiếu nữ. Cụ vội xoá hình dáng ấy đi, thì đâm ra nói nhảm.
Lúc hơi tỉnh, mở mắt, thì thấy vô số mèo đen bao quanh khắp thân thể; con thì leo lên thành giường, con thì kêu ?meo
meo?, con thì ngầu giỡn trên đình màn, con thì chạy trên người cụ cào xé. Cụ sợ hãi lắm khi thấy chúng một phút một
đông, không biết nơi nào đến. Có lúc một con bỗng đứt ra thành hai, một cái đầu và một khúc đuôi lom xom nhảy; cứ
thêm thêm nhiều, đợi khi nào cụ nhắm mắt mới thôi. Nhưng kế đó xuất hiện một không gian tối tăm, mà nơi ấy một
thân thể uyển chuyển nhảy theo điệu múa.
Bỗng cụ nghe mát lạnh ở trán. Mở mắt nhìn cụ bắt gặp đôi mắt lo lắng của thiếu nữ. Thấy đã tỉnh, nàng thỏ thẻ:
- Thưa cụ, cụ bị cảm nặng lắm, ông lang vừa ra nói cho con biết như thế và bảo con săn sóc, coi chừng thang thuốc
cho cụ luôn luôn.
Nàng đi ra, một giây sau bưng một chén thuốc cho cụ Huyên. Ông lão mệt mỏi và bần thần không ngồi được. Thiếu
nữ phải choàng tay đỡ dậy, nhưng áo đã cũ, khuy nút bở rời, bị sức nặng thân thể cụ Huyên trằn xuống mà bứt đi.
Cánh áo sứt hé mở, lộ ra cái da trắng đỏ. Cụ rùng mình, uống cạn chén thuốc, nằm nhanh xuống giường trùm chăn
kín mít và rên xiết như người bị thương.
Xế trưa cụ thấy nhẹ, bảo thiếu nữ đem mấy quyển sách trên án thư đưa cho cụ. Cụ lâm râm niệm kinh, và tối đến cụ
nhận thấy trong người khoẻ khắn, tâm thần bình tĩnh.
Cách đó ít hôm, thiếu nữ vào lạy cụ xin từ biệt vì tìm được bà con rồi. Cụ hỏi nàng về đâu thì chắp tay thưa rằng: về
Thành An. Lại hỏi người bà con tên gì thì nàng ngập ngừng dường không muốn nói. Nhưng sau vì cụ gạn hỏi, phải
nói người ấy tên Quang ở lối hàng da trong ấp.
*
* *
Cụ lo sợ vẩn vơ, bây giờ không dám ở một mình. Cụ về nhà bà con, nhờ tìm hộ một tiểu đồng. ít tháng sau có người
dắt đến một thằng bé trạc mười sáu mười bảy tuổi. Nó xấu xí, mặt mày u nần và còn một mắt. Nó không chút thông
minh và tỏ vẻ đần độn. Thấy thế cụ an tâm cho ở. Thường ngày phải lau chùi bàn ghế, quét dọn trong nhà, hay vun
phân tưới nước những hoa quả trong vườn. Nó dốt nát và không bao giờ quan tâm đến sách vở, kinh kệ chồng chất
trên án thư. Cụ thêm yên tâm và hy vọng ngày kia sẽ đem nó vào Niết bàn. Vả lại cụ thường nghĩ rằng: ngu đần, ít
lanh lợi, thì vào Niết bàn không khó, có phần dễ dàng hơn những bực thông minh là khác.
Ngày ngày, sau khi rảnh việc, cụ chỉ thấy nó lên đồi cắt những cỏ thơm đem về. Có khi nó vào một khu rừng nhỏ ven
đồi tìm quả ?viết? chín hồng. Cụ tưởng nó đem cỏ vể lót chiếu nằm cho êm, cho thơm và hái trái ?viết? về ăn, nhưng
một hôm cụ đương niệm kinh thì ngửi được một mùi thơm ngọt phảng phất trong gió. Thấy lạ, cụ đi tìm. Bước ra sau
gặp đứa ở đang loay hoay đun nấu một chất nước gì và tay nó đang cầm một cái bình nhỏ kề lên mũi ngửi. Trong ấy
chứa một thứ nước xanh, trong vắt như lọc. Cụ hỏi nó đun vật gì, nó kính cẩn thưa:
- Con đun nước cỏ thơm và chất mật của trái viết.
- Mày đun để làm gì? - Cụ hỏi.
- Để nấu linh dược.
Cụ ngạc nhiên lấy bình linh dược của nó mà xem, ngửi thử thấy bay mùi thơm. Hỏi có nếm được không thì nó gật
đầu. Cụ nhắm một ít thấy ngọt ngon lạ, và khi nuốt vào thấy ấm. Một giây sau, cả người nhẹ nhàng khoẻ khắn, cụ vui
vẻ hơn lên.
Ông lão Huyên mừng rỡ, hình như cụ đắc chí về một sự bào chế tiên thánh nào. Vì từ đó ngày ngày đồi Yên Tĩnh
được nghe cụ hát nghêu ngao, và tiểu đồng sáng đi cắt cỏ thơm thực nhiều, trưa vào rừng tìm trái viết đem về lấy mật.
Trí thông minh sáng suốt lại giúp cụ chế được một thứ hơi rất nhẹ mà rất mạnh. Hơi thơm đậm đà, cụ gọi là tinh hoa
của linh dược.
Bây giờ khắp vùng đều biết mùi thơm ấy. Họ không hiểu là gì, nhưng cũng đoán phỏng rằng:
- Cụ Huyên tu hành đắc đạo, phúc đức lan rộng thơm tho trùm một ven đồi. Cũng vì đó, cụ Huyên bớt tĩnh toạ dần, chỉ
nếm thường linh dược, hoặc ngửi tinh hoa của linh dược cất trong bình đậy kỹ. Và sau những lúc nếm hoặc ngửi ấy,
trí não thông minh sáng suốt lạ thường. Người cụ nhẹ nhàng, thân thể mọc cánh bay bổng lên thượng tầng không khí,
tìm chơn lý và Niết bàn.
Một hôm, uống và ngửi nhiều linh dược quá, cụ ngã lăn xuống đất mê man. Tiểu đồng thấy cụ nằm mê, lấy bình tinh
hoa ngửi thử. Nó chưa biết thứ ấy khác với linh dược của nó thế nào. Ngửi xong nó cũng ngất đi, trong lúc lửa trong
một lò đun linh dược cháy dần. Vì nóng quá hơi linh dược đọng nhiều sức mạnh, tung bắn ra ngoài. Lửa bắt hơi bùng
cháy không tài nào dập tắt. Khi đó cụ Huyên và đầy tớ vừa tỉnh, còn ngơ ngác không biết tai hoạ ra sao. Có dân trong
xóm đem gầu đến cứu, nhưng một người cản lại bảo rằng:
- Cụ Huyên thiêu mình để tịch.
Trong cơn nguy ông lão rối bấn, lúng túng, còn tiểu đồng thì ngồi dưới đất xem ngọn lửa cười xoà. Cụ nhìn nó ghê
tởm. Bỗng nó trợn mắt nhe răng, trỏ tay về phía cụ vừa thét:
- Ông có nhìn được không? Có nhìn được không?
Cụ run cầm cập:
- Gì? Cái gì?
- Ha ha! Quỷ vương, kia là Quỷ vương!
Cụ vội ngoái ra sau xem xét, nó đứng xổng dậy nhảy lại chụp cụ, đè xuống cho ngửi nốt tinh hoa linh dược. Cụ ngã
khuỵu bất tỉnh, liền đó, nó xốc cụ lên vai, nhằm nồi linh dược đang sôi mà phóng vào.
Bên ngoài lửa thiêu hết nóc nhà tranh, cột kèo chuyển nghe răng rắc. Một tiếng ầm vang lên, cả nhà đều sập, và ngọn
lửa cháy bừng.
Rút trong tập truyện ngắn Cách ba nghìn năm,
Nxb. Đời nay, Hà Nội, 1944
|