Người Chết Trở Về
Ông bà Phạm trước đây cư ngụ ở thành phố, nhưng trước khi ông Phạm hồi hưu, hai ông bà quyết định về sống tại miền quê để được hưởng bầu không khí trong lành và sự yên tĩnh cần thiết cho tuổi già. Họ mua một mảnh đất xinh xắn nằm trên một sườn đồi. Và vừa dọn vào, công việc đầu tiên của bà Phạm là cho trồng ngay một vườn rau với đủ những loại rau cải mà ông bà ưa thích. Với một vườn rau xanh tươi, mỗi tuần ông bà chỉ cần mua sắm thêm một ít thực phẩm và một vài thứ lặt vặt là đã có thể sống thoải mái suốt tuần.
Một hôm trong khi đang làm việc ngoài vườn, bà Phạm có cảm tưởng như mình đang bị ai đó theo dõi.
Ngước mắt nhìn lên, bà thấy một thiếu niên ốm yếu với đôi mắt trũng sâu đang đứng nhìn bà. Cậu bé mặc một chiếc quần Jean cũ và đi chân không. Bà giơ tay vẫy chào nhưng cậu bé cứ đứng bất động. Bà thầm nghĩ có lẽ cậu ta yếu ớt quá tới độ không đủ sức đưa tay lên vẫy lại. Cậu bé gầy trơ xương và bà Phạm có thể đếm được từng cái xương sườn của nó.
Đứng theo dõi bà làm việc trong vài phút, cậu bé quay mình rảo bước và chẳng mấy chốc đã biến dạng sau những bụi cây rậm rạp. Hai hôm sau cậu ta trở lại và đi cùng là một người đàn bà khoảng bốn mươi tuổi, cũng ăn mặc rách rưới, mặt mũi hom hem. Người đàn bà tiến tới sát hàng rào, lên tiếng hỏi bà Phạm trong khi cậu bé cúi đầu lẽo đẽo theo sau:
- Bà là người mới mua mảnh đất này phải không?
- Dạ đúng đó. Bà có cần tôi giúp gì không?
Người đàn bà nói với vẻ cứng cỏi:
- Tôi tới đây xem có giúp được gì cho bà hay không. Đây là Mẫn, con trai tôi. Nó làm việc rất giỏi và rất khỏe mạnh chứ không yếu ớt như cái dáng vẻ bề ngoài của nó đâu. Nếu bà cần, nó sẽ phụ bà trong công việc vườn tược cũng như để bà sai vặt. Mỗi ngày chỉ xin bà cho cháu năm ngàn đồng.
Bà Phạm toan từ chối vì bà không cần có ai phụ giúp mà trái lại bà rất thích hoạt động một mình trong bầu không khí trong lành tại đây. Tuy nhiên thấy hình ảnh tiều tụy của cậu bé với đôi tay buông xuôi và đôi mắt trũng lơ, bà hơi ngập ngừng:
- Con bà coi bộ còn nhỏ quá, và hình như nó cũng không được khỏe mạnh lắm....
Người đàn bà giơ tay ngắt lời:
- Năm nay nó đã mười sáu tuổi tuy coi nó có vẻ nhỏ hơn tuổi của nó. Như tôi đã nói, nó rất mạnh khỏe chứ không yếu đuối như hình dáng của nó đâu. Tôi bảo đảm là bà sẽ không có điều gì than phiền. Mẫn là một người giúp việc rất giỏi.
Năm ngàn đồng một ngày đối với bà Phạm không nghĩa lý gì và bà nghĩ rằng nếu cho cậu bé này phụ giúp bà một tay, bà sẽ có cơ hội cho cậu ta ăn uống đầy đủ.
Nghĩ thế bà Phạm bèn đáp:
- Được thôl! Mỗi ngày cháu Mẫn có thể tới đây vào lúc mười giờ sáng và đi về vào lúc năm giờ chiều. Tôi sẽ cho cháu ăn trưa luôn.
Rồi bà Phạm quay sang phía cậu bé:
- Sao Mẫn cháu thấy như vậy có được không?
Mẫn không trả lời khiến bà Phạm tự hỏi không biết cậu ta có nghe bà nói hay không vì cậu ta vẫn đứng yên cúi đầu, không hề ngước mắt. Mẹ của Mẫn ra hiệu cho bà Phạm bước ra xa với bà rồi bà thầm thì:
- Thưa bà, tôi không muốn con tôi phải đi đi về về vì nhà chúng tôi ở đây khá xa. Nó có thể ngủ trong căn chòi nhỏ đằng kia và xin bà đừng bận tâm gì về việc cho nó ăn uống, tôi sẽ đem đồ ăn tới cho nó mỗi ngày. Nó ăn uống khó khăn lắm. Tôi biết nó muốn ăn món gì và sẽ lo cho nó. Mỗi lần tôi tới, xin bà cho tôi năm ngàn đồng.
- Thế còn cháu Mẫn thì sao? Nếu cháu ấy làm việc cho tôi, tôi phải trả tiền cho cháu mới phải!
Người đàn bà lắc đầu:
- Thưa bà, bà không hiểu. Tôi cần tiền để nuôi mấy đứa nhỏ ở nhà. Ba của cháu Mẫn mất rồi và bây giờ chỉ còn mình nó là người có thể làm việc được để nuôi gia đình. Nó muốn làm việc để giúp đỡ tôi và bà sẽ không ân hận khi nhận cho nó giúp việc. Nó rất siêng năng, làm việc không biết mệt và không bao giờ than phiền bất cứ điều gì cả.
- Thôi được rồi. Nhưng tôi nghĩ rằng có lẽ nó không nên ngủ ngoài lều, để tôi sửa soạn một phòng trong nhà dành cho nó. Nhà tôi rất rộng!
- Thưa bà, không sao đâu. Nó không cần ngủ trong nhà đâu. Nó khó ngủ lắm và tôi không muốn nó làm phiền bà. Nó ngủ trong cái chòi tranh kia là tốt nhất.
Thế là ngày hôm sau Mẫn đến làm việc cho bà Phạm.
Chẳng bao lâu, bà Phạm nhận thấy những gì mẹ cậu ta nói với bà hoàn toàn đúng. Mẫn không bao giờ than phiền cũng như không bao giờ tỏ ra mệt mỏi. Mỗi buổi sáng dù ông bà Phạm dậy sớm tới đâu đi nữa. Mẫn đã đang làm việc hăng say, khi thì cho gà vịt cho cá ăn, khi thì làm vườn... Dần dần bà cho Mẫn làm một vài việc vặt trong nhà và bất cứ việc gì bà sai cậu ta, không bao giờ bà phải nhắc lại lần thứ hai. Một hôm bà nói với ông Phạm:
- Thằng bé Mẫn nó giỏi thật! Nhưng nó không giống một đứa con trai mà giống như... một cái máy vậy. Ông có biết là nó không hề nói một lời nào với tôi hay không. Nó cũng không bao giờ nhìn tôi mà chỉ luôn luôn nhìn xuống đất.
Ông Phạm càu nhàu:
- Hừ! Tôi chỉ biết một điều là nó làm tôi nổi da gà. Có thể nó bị câm hay sao đó. Và theo ý tôi, có thể tâm trí nó không bình thường cho lắm.
Bà Phạm lắc đầu:
- Không thế đâu, tôi thấy nó rất thông minh. Tôi có cảm tưởng như nó là một kẻ mộng du, làm việc trong khi đang ngủ...
Ông Phạm ngắt lời:
- Ờ, thì... giá thuê mướn như vậy cũng được... à, mà không được! Chỉ có năm ngàn đồng một ngày quả là không thể chấp nhận được khi nó làm việc thật sự siêng năng. Mình cho nó lên mười ngàn đồng đi. Tôi không bực bội gì vì sự hiện diện của nó, nhưng để coi việc tăng lương có khiến nó phản ứng gì hay không.
Bà Phạm thì không nghĩ rằng Mẫn để ý tới vấn đề tiền bạc vì cậu ta không bao giờ đụng chạm tới. Mỗi ngày, sau buổi trưa cậu bé ngưng làm việc, đứng yên tại chỗ nghiêng đầu như nghe ngóng. Chỉ mấy phút sau mẹ cậu xuất hiện từ sau hàng cây dâm bụt dày đặc, mang đồ ăn trên một cái gà mên đậy kín tới cho cậu. Bà ta chờ tới khi bà Phạm trả tiền rồi mới dẫn con tới lều và ngồi chờ trong khi con bà ăn uống. Bà Phạm nói với chồng bằng một giọng bất bình:
- Tại sao bà ta không chịu để tôi cho nó ăn uống? Tôi đã thấy món ăn của bà ta mang tới cho nó, trông giống như một loại cháo lỏng. Đó không phải món ăn thích hợp cho một đứa bé làm việc vất vả như vậy. Tôi thấy hình như nó còn ốm hơn khi vừa mới tới đây nữa.
Ông Phạm hoàn toàn đồng ý. Xương mặt của Mẫn bây giờ lộ ra rõ rệt. Khi cậu ta cúi xuống, những đốt xương sống hiện lên thật rõ sau làn vải áo. Bà Phạm cố gắng một lần nữa khi gặp mẹ Mẫn:
- Tôi muốn cho cháu Mẫn ăn đồ nóng hàng ngày. Nếu không, tôi không thể để nó tiếp tục làm việc như hiện tại, nó mỗi ngày một gầy yếu. Tôi sợ rằng nó có thể bị bệnh hay là bị suy dinh dưỡng.
Một nét hoảng hốt hiện lên trong đôi mắt người đàn bà:
- Thưa bà! Bà không hiểu đâu. Mẫn giống y như cha nó. Nó không ăn được những món ăn của bà và của tôi. Nó không thể ăn muối được. Cơ thể của nó không chịu đựng được muối. Xin bà cứ để mọi việc diễn tiến như hiện tại và xin cho cháu nó tiếp tục được làm việc với bà. Nó là đứa con duy nhất mà tôi nhờ cậy được. Nếu không có số tiền mà nó kiếm được ở đây, mấy đứa em nó ở nhà sẽ chết đói hết cả.
Bà Phạm đành phải nhượng bộ:
- Thôi được. Nó có thể tiếp tục làm việc với tôi. Phải nhìn nhận rằng nó làm việc rất giỏi nhưng nó có vẻ không được vui lắm khi ở với chúng tôi. Nó không bao giờ cười và cũng không bao giờ nói một lời nào với tôi hoặc nhà tôi.
Người đàn bà nhún vai:
- Thưa bà, điều đó không có nghĩa gì hết. Mẫn là đứa trẻ rất khác người. Nó không có cùng sự xúc cảm như những đứa trẻ khác. Nó chỉ biết một việc duy nhất là giúp đỡ tôi và các em nó. Xin ông bà đừng thắc mắc gì về nó. Nó luôn luôn làm những gì nó muốn. Xin hãy để yên cho Mẫn...
Tuy nhiên bà Phạm vẫn tự hỏi "Có phải đó là việc Mẫn muốn làm hay không?". Rồi buổi tối hôm đó bà đứng ở cửa sổ phòng ngủ nhìn ra căn chòi tranh nơi Mẫn thường ngủ. Cậu bé không ngủ mà ngồi ngay ở cửa, hai tay bó gối nhìn ánh trăng không chớp mắt. Bà nói lớn:
- Chắc có điều gì lạ lắm thì phải.
Ông Phạm đang ngái ngủ lên tiếng:
- Bà nói cái gì thế?
- Thằng Mẫn đó. Tôi đứng theo dõi nó đã nửa tiếng đồng hồ rồi. Nó ngồi yên như phỗng đá vậy. Với những việc nó làm ban ngày, đáng lẽ nó đã phải ngủ từ lâu rồi. Nhưng mà không, nó vẫn ngồi bó gối ngoài kia kìa.
Ông Phạm vừa ngáp vừa tiến tới bên vợ:
- Đáng lẽ tôi phải cho bà biết điều này từ lâu rồi. Tôi thấy nó vẫn luôn luôn ngồi đó suốt đêm. Theo tôi biết, nó hình như không bao giờ ngủ. Thú thực với bà, tôi thấy thằng bé này có vẻ ma quái quá! Nhưng thực ra nó đâu có làm phiền ai đâu!
Bà Phạm không nói nhưng biết rõ rằng Mẫn đã khiến bà lo nghĩ rất nhiều. Sáng hôm sau, hình dáng cậu bé khiến bà cảm thấy bất nhẫn. Làn da xanh xao của Mẫn bây giờ đã trở thành vàng khè, bóng loáng. Xương trán và xương má của Mẫn như lộ rõ ra. Bà còn lo lắng hơn nữa khi thấy Mẫn có vẻ chậm chạp hơn và mệt mỏi hơn thường lệ, bà hỏi:
- Sao, cháu thấy không được khỏe trong người có phải không?
Mẫn không đáp lại, lặng thinh cúi đầu đi qua trước mặt bà. Cảm thấy bứt rứt, bà Phạm nói với chồng:
- Ông coi nó kìa. Tôi nghĩ rằng nó bị bệnh. Nó di chuyển như một ông già vậy.
Ông Phạm chăm chú nhìn Mẫn đang cắt cỏ một cách chậm chạp:
- Bà nói đúng. Sao da nó bị đen ở nhiều chỗ thế nhỉ?
- Tôi không biết nhưng chắc chắn một điều là nó thiếu dinh dưỡng quá độ. Tôi không cần biết mẹ nó nói những gì và tôi sẽ chuẩn bị một vài món ăn ngon lành và bổ dưỡng cho nó. Rồi ngày mai ông đưa nó lên tỉnh gặp bác sĩ xem sao.
Nghĩ rằng có lẽ Mẫn thiếu chất protein, bà Phạm bèn làm một món súp khoai tây, cà rốt, sườn heo, hột gà, còn làm thêm một ly sữa tươi và một cái bánh ngọt. Xong xuôi bà gọi Mẫn vào, đưa cậu ta vào phòng ăn và nói thật ngọt ngào:
- Cháu mau ngồi vào bàn đi. Tôi sửa soạn một bữa ăn thật đặc biệt cho cháu vì hôm nay là đúng ba tháng cháu làm việc với tôi. Đây là một kỷ niệm dành cho cháu.
Mẫn cắn một miếng, rồi một miếng nữa. Cậu nhai miếng sườn heo chầm chậm trước khi nuốt. Rồi cậu ta từ từ đứng lên. Bà Phạm lên tiếng với vẻ lo lắng:
- Sao vậy? Cháu chưa ăn xong mà muốn đi đâu vậy?
Nhưng Mẫn đã đi ra ngoài rồi. Bà Phạm chạy tới mở tung cánh cửa. Mẫn đã đi tới hàng cây bao quanh mảnh đất với những bước chân thật dài. Bà Phạm lớn tiếng gọi nhưng Mẫn vẫn không hề nhìn lại. Ông Phạm cầm tay vợ:
- Thôi cứ để nó yên. Chắc là nó muốn đi về nhà. Có lẽ mẹ nó nói đúng. Đáng lẽ bà không nên cho nó ăn những món đó.
Đêm hôm đó bà Phạm trằn trọc suốt đêm. Hôm sau khi trời mới tờ mờ sáng bà đã dậy, ra vườn đi tới, đi lui.
Đúng như bà lo ngại, Mẫn đã không quay trở lại. Tuy nhiên ngay trước buổi trưa, mẹ cậu ta tới nơi, tiến thẳng tới trước mặt bà Phạm, khuôn mặt bà ta đanh lại:
- Bà đã làm việc đó phải không? Bà cho nó ăn sau khi tôi đã dặn bà không được làm như vậy. Bà cho nó ăn cái gì thế?
- Thì... tôi cho nó ăn súp khoai tây và sữa tươi, là những thứ đồ ăn cần thiết cho Mẫn.
Người đàn bà rên lên:
- Súp khoai tây! Trời ơi! Bà cho nó ăn muối rồi!
Rồi bà ta rít lên the thé:
- Bà điên rồi hay sao? Tại sao bà không để cho nó được yên?
Bà Phạm có vẻ bối rối:
- Tôi rất tiếc nếu đồ ăn của tôi khiến cho cháu Mẫn bị bệnh.
Đột nhiên bà Phạm đổi giọng nặng nề:
- Nhưng... nó thiếu ăn đến độ gần chết đói ngay trước mắt tôi. Tôi không thể nhắm mắt làm ngơ được. Tôi sẽ trả tiền thuốc men và sẽ nhờ một bác sĩ săn sóc cho nó.
Người đàn bà kia im lặng trong một phút trước khi lên tiếng bằng một giọng khá buồn bã:
- Thưa bà xin bà vui lòng đi theo tôi để xem những gì bà đã làm cho con tôi.
Người đàn bà quay lưng. Bà Phạm đi theo bà ta xuyên qua cánh rừng trước khi tiến tới một chân đồi. Khoảng nửa tiếng sau, hai người tới một túp lều xiêu vẹo nơi ba đứa nhỏ ngồi yên ngoài cửa. Khi bà Phạm dừng lại, người đàn bà nắm tay bà tiếp tục kéo lôi đi. Bà Phạm hỏi:
- Đây không phải nhà bà hay sao? Cháu Mẫn không có trong căn nhà này hay sao?
Người đàn bà lắc đầu tiếp tục đi tới. Mấy phút sau cả hai vượt qua một hàng cây trước khi tiến tới một khoảng đất trống với một vài ụ đất cỏ mọc um tùm. Một vài ụ đất có cắm cây thánh giá, những ụ khác thì không. Bà Phạm rùng mình:
- Đây là chỗ nào vậy bà?
Người đàn bà thản nhiên đáp:
- Một khu nghĩa trang cũ. Không còn ai dùng đến nữa. Đây mời bà tới đây.
Rồi bà ta chỉ vào một ụ đất. Bà Phạm giật mình nổi gai ốc khi thấy đám cỏ phía trên như bị xé bung ra và dường như có người tìm cách đào một cái hố ở phía dưới.
Không một ai hoặc một sức mạnh nào có thể buộc bà tới gần ngôi mộ bị đào tung lên đó. Tuy nhiên từ nơi bà đứng, bà Phạm nhìn thấy dưới hố một hình thù co quắp trong chiếc quần Jean sờn rách và cái áo thun bẩn thỉu.
Người đàn bà rên rỉ:
- Đó, thằng Mẫn đó. Đó là chỗ bà đưa nó tới đó. Chồng tôi và nó chết từ hai năm nay giữa một mùa đông lạnh lẽo vì chứng sưng phổi. Tôi cầu khẩn cả hai trở lại nhưng chỉ có thằng Mẫn đáp lại lời cầu xin của tôi. Nó biết là tôi cần nó. Nó muốn săn sóc cho tôi và mấy em của nó. Nó luôn luôn là một đứa con ngoan ngoãn.
Bà Phạm ngẩn ngơ:
- Bà nói gì thế? Tôi... tôi không hiểu gì cả...
Người đàn bà không để ý, lẩm bẩm:
- Tôi phải săn sóc cho nó thật cẩn thận.Bà có biết là bà không thể cho người chết ăn muối hay không? Muối làm cho người chết quên tất cả mà chỉ nhớ chỗ nghỉ ngơi cuối cùng của họ mà thôi. Chính bà đã khiến cho thằng Mẫn phải trở về nắm mồ cũ của nó, và từ bây giờ trở đi, chắc chắn nó sẽ không bao giờ rời khỏi nơi đó nữa.
Trăng Ngàn Nanh Sói
Mùa thu. Bên kia đèo Rù Rì là khu rừng nhiệt đới đang ở vào mùa mưa. Mưa rừng như trút nước, mưa như chẳng bao giờ biết tạnh. Gió rừng vù vù thổi, bầy thú lạc đàn kêu vang. Khung cảnh ảm đạm thê lương bao trùm.
Mới năm giờ chiều mà trời tối đặc như lúc nửa đêm. Đám đào vàng tuy có bảy tám người lực lưỡng bậm trợn nhưng trước cảnh rừng chiều mưa gió bão bùng trông họ ủ dột giống như những con thỏ non chết nhát. Cả bọn rút lên cái lán trại cất kiểu nhà sàn bằng những khúc gỗ rừng to, xung quanh được rào bằng những cây tre già vát nhọn đầu giống như thành lũy của bọn sơn tặc.
Sở dĩ họ cần có một nơi trú ẩn an toàn, vững chắc như vậy vì khu vực đại ngàn này thường có những đàn voi dữ, những bầy hổ tinh ma, những con chó mắt đỏ ăn thịt người thường hay xuất hiện..
Cư, gã đàn ông lớn tuổi nhất xuống nhà sàn đốt một đống củi nhỏ nhằm mục đích, thứ nữa là phòng ngừa đám thú hay lảng vảng xung quanh.
Nhìn ngọn lửa đã bắt cháy Cư trở lên cầu thang thì thấy mấy thằng bạn đang ngồi quanh một bàn nhậu. Một đĩa to thịt heo rừng luộc cùng một ít lá cây dại trong rừng thay rau. Thịt luộc chấm muối ớt bên cạnh một can rượu trắng.
Để chống lại lam sơn chướng khí, đàn ông đi rừng nào cũng phải biết uống rượu. Rượu giúp người chống lạnh, cũng như làm cho người ta thêm can đảm trước những hiểm nguy luôn rình rập đợi chờ.
- Vào đi anh Cư, giờ này chỉ còn nhậu thôi.
Một người lên tiếng. Một gã khác mặt xanh tái nhớt đang bị sốt rét kinh niên hành đẩy cái chén sành sứt mẻ và đôi đũa tre sang Cư:
- Mai chắc chúng ta vẫn phải ở nhà. Nghe nói bên hầm bọn thằng Quý "khùng" bị lũ bùn chôn hết mấy đứa. May mà bọn mình cất lán trại ở trên đồi cao... nè làm một miếng mở hàng đi đại ca Cư!
Một gã đầu trọc tuếch trên ngực xăm hình một con linh cẩu báo cáo:
- Nghe nói bên trại bọn "Châu" điên hôm kia có đứa bị ông Ba Mươi vồ mang vô rừng, hai ngày sau bọn họ mới tìm thấy một đống xương và chiếc đầu lâu nham nhở máu của thằng Sơn "hủi".
Gã tóc bù xù vừa mới tu xong một chén rượu báo cáo tiếp:
- Em mới gặp đám vận lương cho hầm thằng Chắt "điếc", xì ra rằng bọn chúng vừa mới trúng một mạch vàng khẳm lắm. Nghe nói mỗi đứa vận lương đều được Chắt "điếc" cho một bụm vàng nát có cả lượng. Mình qua đó khoắng một mớ được không Đại ca Cư?
Cư lơ đãng gắp một miếng thịt chấm muối ớt bỏ vào miệng nhai nhóp nhép. Không phải Cư không muốn nghe mấy thằng đàn em báo cáo nhưng kinh nghiệm đi rừng và sống ở rừng còn nhiều hơn thời gian sống ở nhà đã cho Cư biết đêm nay rừng có chuyện lạ.
Hôm qua lúc ra bờ suối tắm giặt Cư đã phát hiện nhiều dấu chân dẫm trên bãi cát. Ngoài dấu chân của cọp còn có những dấu chân mới rõ ràng của một loài lang sói. Hổ coi vậy chớ chưa đáng sợ bằng loài linh cẩu mắt đỏ này.
Cư từng thấy một bầy lang sói đào bới một ngôi mộ của dân đi rừng bị chết mới chôn và chúng thi nhau cấu xé xác người xấu số. Chỉ mới vừa tàn điếu thuốc thì thi hài người xấu số chỉ còn lại đống xương trắng hếu. Loài lang sói này có con vì ăn thịt người quá nhiều nên chúng đã thành tinh, biết giả giọng người nửa khuya vào các làng bản gọi cửa những nhà ở sát bìa rừng. Ai vô tình không xem xét trước mà mở cửa là nó nhào vô cắn cổ và tha đi. Loài sói tinh này có đôi mắt đỏ như lửa, tiếng tru của nó như tiếng xé lụa, như tiếng bốc vãi của mảnh vỡ thủy tinh.
Cư đang lắng tai nghe. Bên ngoài hàng rào tre vạt nhọn nghe có tiếng chạm nhẹ. Cư xoay người nhìn xuyên qua khe hở. Trong bóng đêm dày đặc của đại ngàn Cư nhìn thấy một đôi mắt đỏ vượt cao hơn tầm hàng rào chừng một gang tay. Đây có lẽ đúng là con sói tinh từng ăn thịt mấy tay đào vàng do bị sốt rét nặng quá bị đồng bọn bỏ lại giữa rừng.
Lần ấy Cư đi theo đám săn trầm, kỳ nam vô mãi tận rừng sâu. Nơi đây tưởng là chốn không người, vậy mà sau cùng họ cũng gặp một cái lán trại bỏ hoang chắc đã qua mấy mùa mưa nắng. Mái tranh đã nát tả tơi, vách phên xiêu vẹo. Khi bọn người săn trầm vừa leo lên khỏi chiếc thang gỗ đã rùng mình sởn gáy khi nhìn thấy rải rác trên sàn nhà là những khúc xương người bị nhai gặm nham nhở. Xương sọ bị vỡ ra thành từng mảnh vụn. Nghe nói con sói tinh đầu đàn là con được quyền ăn óc người mà nó giết trước. Hàm răng sắc như dao của nó bập vào xương sọ người cũng dễ như người ta cắn vào hạt dưa.
Đám săn trầm, kỳ nam từng kể cho Cư nghe chuyện chính mắt họ trông thấy một con sói tinh cắn gỗ chiếc quan tài rào rạo để lôi ra cho được xác người xấu số.
Những người đó kể rằng, cả bầy sói kéo xúm lại cắn vào cổ áo quan, tiếng cắn nghe rào rạo như người ta nhai cốm. Hút chưa tàn điếu thuốc nắp quan tài đã bị lũ sói mắt đỏ cắn bung ra và nhanh như chớp cái xác sắp phân hủy bị chúng tha đi...
Cư quan sát hai con mắt đỏ đang đi dài theo bờ rào tre vạt nhọn. Chứng tỏ con sói tinh này đang đi bằng hai chân đang tìm cách để nhảy vào. Cư chui qua lỗ hở của vách phên nhặt một viên đá. Chờ cái đầu của con quái vật nhô lên cao, Cư ném vào đầu nó đánh bốp một tiếng, đôi mắt đỏ biến mất đồng thời một tiếng tru sắc lạnh như tiếng mảnh vỡ thủy tinh kéo dài mất hút tận rừng xa.
Mấy gã đồng bọn với Cư đã thấm rượu. Gã bị bệnh sốt rét bắt đầu bị cái lạnh của núi rừng ban đêm hành hạ, gã chụp một tấm chăn vá chằng vá đụp trùm vào người rồi ngồi run. Cư nói:
- Tao không dám đốt một lò lửa cho mầy đâu Hũ. Ngoài kia vừa mới xuất hiện một con sài tinh mắt đỏ. Đây là một con sài rất ranh ma tinh quái vì nó ăn thịt quá nhiều người rồi.
Hưng mãng xà bỏ ly rượu xuống hỏi:
- Con sài tinh xuất hiện bao giờ?
- Mới đây thôi, tao đã ném đá đuổi nó đi rồi.
Gã đầu trọc rùng mình nói giọng mái:
- Cách đây hai tháng cánh đi săn kỳ nam của Bảy "hòn" đi suốt bảy ngày băng rừng, lội suối đã gần hết lương thực mà vẫn chưa thấy hình dạng một cây kỳ nam nào thì trong đoàn có một gã sốt rét nặng như thằng Hũ. Cả bọn hội ý chọn một cây cổ thụ cất trên đó một mái lều cho người bệnh tạm trú cho an toàn trong lúc cả đoàn dắt nhau đi săn. Thời may được thần rừng độ, họ trúng một cây kỳ nam nặng cả trăm ký. Để tránh bị các toán khác phát hiện nên họ tranh thủ mải mê bới đào, cưa đục để mong khi trời tối thì chia nhau mang về tập kết ở căn lều nằm trên một chạc cây cổ thụ sum xuê um tùm cành lá.
Gã đầu trọc tạm dừng câu chuyện, húng hắng ho. Hưng - gã xâm mình hình con mãng xà trên ngực thúc:
- Rồi sao nữa mày?
Gã đầu trọc lắp bắp:
- Đến khoảng tám giờ tối... rừng xuống một màu đen đặc.... tiếng tắc kè ở đây kêu nghe lắt nhắt từng tiếng thật buồn. Cả bọn bật đèn săn bỏ kỳ nam vào bao rồi hối hả quay trở về lán. Chỉ còn độ hơn hai trăm mét nữa thì về đến gốc cây dựng lán chợt nghe tiếng hú xoải dọc theo bờ suối như ai vốc mảnh chai vỡ đi mà ném. Biết là gặp đám sài đi săn đêm rồi nên cả bọn hối hả vừa đi vừa chạy mong cho chóng về đến trại. Dù mỗi người phải mang vác hàng hai ba chục ký kỳ nam nhưng không ai biết mệt vì nghĩ đến ngày mai mọi người sẽ có một khoản tiền tỷ trước mắt.
Họ đi mà như chạy. Về đến leo lên lều mọi người tưởng đâu gã sốt rét vẫn còn nằm trên võng. Nhưng đến khi giở tấm chăn ra thì chỉ thấy nhầy nhụa một vũng máu còn gã bị sốt rét hành thì biến mất. Xuống chân cầu thang rọi đèn xem chỉ thấy lố nhố dấu chân sài... như vậy, con sài tinh đã leo được lên cây rồi lôi xác gã sốt rét đang lên cơn sốt xuống đất và tha về hang ổ của chúng.
Nghe gã đầu trọc kể chuyện, gã tên Hũ càng run lên bần bật. Gã lắp bắp:
- Xin các bạn đừng bỏ tôi một mình khi lo khui mẻ vàng ở bên suối, Sài tinh đang lảng vảng đâu đây. Em sợ quá!
Đúng lúc đó ba người đi vận lương thực cũng vừa về đến, quần áo họ đầy bụi đỏ với mỗi người một ba lô nặng trĩu. Gã đội chiếc nón rộng vành vừa quăng ba lô xuống sàn lều vừa chỉ tay ra ngoài rừng nói với Cư:
- Bọn tôi vừa gặp con Sài cao to. Đầu có bờm, hai con mắt đỏ như hai hòn than, con sài đi hai chân như người, rất quái quỷ.
Gã chột mắt mặc bộ đồ rằn ri đi rừng đã bạc màu mặt như còn in vẻ bàng hoàng phụ họa:
- Cũng may là bọn tôi qua được bên này suối rồi nếu không, chắc đã chết với lũ sói quân lính của con sài đầu đàn mắt đỏ đó.
Gã vác chiếc xà gạc trên vai nói với vẻ sợ hãi:
- Vậy mà chúng còn hùa nhau qua suối. Bọn tôi phải dùng đá bên bờ suối tấn công lại bọn chúng, cũng nhờ suối chảy khá xiết nên có con bị trôi tuột theo dòng nước. Nếu không giờ này chưa biết sẽ ra sao?
Cư mỉm cười hất đầu qua phía hàng rào:
- Vậy mà nó lại vừa đến đây trước bọn mầy đấy. Cách đây mươi phút con sài tinh ấy đã xuất hiện ở ngoài kia. Đêm nay phải chia nhau ra kẻ canh người ngủ. Đứa nào lấy ra đây cho tao khẩu súng săn, mấy quả pháo và vài cây chĩa. Đợt canh đầu tiên để cho tao và thằng Hưng. Phiên canh sau tất cả mấy thằng bây phải thức. Thôi mấy đứa mới về ăn chút gì đi rồi đi ngủ, mọi chuyện để đó cho tao với thằng Hưng "mãng xà" lo.
Ú ớ tiếng người.
Quá nửa khuya một cơn mưa rừng bất chợt ào đến một cách xối xả. Tiếng gió rừng thổi trùng trùng trong đại ngàn, những tia chớp kèm theo tiếng sét đinh tai, nhức óc càng làm cho rừng khuya thêm vẻ thần bí ma quái.
Căn lều trại mặc dù được cất trên những cột gỗ vững chắc nhưng với những cơn gió thốc hung bạo như muốn xô ngã, hất tung nó. Ngọn lửa dưới sàn nhà đã tắt ngấm từ bao giờ. Chung quanh trời tối đen như mực. Thỉnh thoảng dưới làn tia chớp như xé bầu trời thành những mảnh rạn vỡ Cư mới nhìn thấy được Hưng "mãng xà" cũng ngồi lặng lẽ ngó mông lung ra phía rừng sâu. Bên trong lều tiếng ngáy, tiếng mớ của mấy gã đàn ông tạo thành một thứ âm thanh kỳ quái.
Mưa kéo dài độ hơn một giờ đồng hồ thì ngưng tạnh. Từ sau đám mây đen sũng nước đã tan rã, một vầng trăng như vừa được tắm sạch, tròn lẳn hiện ra dãi ánh sáng trong vắt xuống khu rừng già, tiếng động của rừng khuya lại bắt đầu. Tiếng con hoẵng, con cheo bên rừng nghe sao buồn đến não ruột. Hình như bên con suối có tiếng rống của một đàn voi ở khu rừng le dày dặc như một thành lũy bất khả xâm phạm.
Cư đang nghĩ đến bãi vàng của mình chẳng biết có bị ngập nước hay không Cư biết lực lượng của mình yếu hơn những cánh đào vàng khác nên anh và mấy bạn chọn một bãi ở tận rừng sâu núi thẳm xa dấu chân người để không ai có thể phát hiện được sự có mặt của họ. Dân đào vàng là loại dân giang hồ đang ở tận cùng của xã hội. Vì thế họ sẵn sàng chém giết nhau một khi khám phá có một đối tác cùng làm ăn ở bên cạnh mình. Nhất là những khi nghe tin bên đối phương đã tìm thấy mạch vàng thì chắc chắn sẽ có cuộc... "gió tanh, mưa máu" xảy ra.
Vì vậy, biết lực lượng mình yếu thế Cư dắt đám bạn đi đường vòng bí mật tránh bọn họ đi xa tận những cánh rừng sâu chưa từng có dấu chân người. Chính vì thế mà ở nơi sơn cùng thủy tận này bọn họ phải đối mặt với những hiểm nguy khác là sơn lam chướng khí, thú dữ và kể cả yêu ma của chốn rừng thiêng nước độc.
Sau cơn mưa, ánh trăng rừng sáng rỡ soi xuống những tàn lá ướt đọng những hạt mưa lấp lánh. Bỗng dưng Cư nghe một tràng tiếng tru từ bên kia dòng suối lướt sang phía bên này nhanh như một luồng gió. Bầy thú yêu tinh này đã phát hiện ra nơi ẩn náu của bọn Cư rồi. Có lẽ món thịt người là món ăn sơn hào hải vị của bọn chúng nên bọn chúng khó lòng bỏ qua.
Cư lên đạn cho khẩu súng săn, đưa mũi súng hướng ra phía hàng rào tre vạt nhọn. Người ta bảo ở trong rừng sâu thì hổ là chúa tể sơn lâm, nhưng mấy ai biết được chính loài sài lang, linh cẩu mới là loài hung bạo. Chúng xem bọn cọp beo vớ vẩn như loài cỏ rác. Nhiều đám sài lang đã tấn công cả hổ báo làm cho bọn chúa tể sơn lâm này phải cuốn vó chạy dài.
Đúng lúc Cư ngồi chờ đám sài xuất hiện thì Hũ lên cơn sốt nặng. Anh ta chồm dậy, hai tay đánh vào ngực mình binh binh như mấy con dã nhân khi nổi giận. Rồi như nổi cơn điên Hũ lao ra cửa lán và như được cơn điên hỗ trợ hắn phóng như bay qua hàng rào cao hai thước và biến mất vào trong rừng khuya.
Cả bọn đang ngủ bật dậy. Hưng "mãng xà" như chết điếng hỏi Cư.
- Thằng này bị sao rồi anh Hai?
Cư đứng lên cầm súng trên tay chỉ thị:
- Tất cả mặc quần áo, giầy ủng, mang đèn vào rồi theo tao!
Năm phút sau, cả bọn biến vào màn đêm cô tịch.
Sau cơn mưa, rừng trở nên ẩm ướt, ánh trăng sáng tỏ vậy mà vẫn không sao lọt qua từng đám lá rừng đan xen vào nhau. Cư soi đèn cố tìm dấu chân của Hũ. Đây rồi, dấu chân Hũ đang chạy băng về hướng bờ suối. Sau mấy giờ đồng hồ mưa xối xả, nước từ thượng nguồn đổ về như được tăng thêm cả về thể tích và khối lượng, nên suối chảy xiết và vô cùng hung hãn, gã điên này nếu vượt suối ắt sẽ phải chết, tiếng một gã lẩm nhẩm ở phía sau Cư.
- Đừng nói chuyện, lũ sói sẽ nghe thấy chúng ta. Nó không chết vì dòng suối thì cũng có thể rơi vào miệng con sài mắt đỏ đã biến thành tinh.
Đi thầm trong bóng đêm dầy đặc độ nửa giờ, cả bọn đã nghe tiếng suối chảy ầm ầm trước mặt. Cư lại chiếu đèn dưới con đường mòn, dấu chân Hũ vẫn còn làm đục nước đây.
Độ hai mươi phút sau, cả bọn dừng lại bên bờ suối. Dấu chân Hũ đã mất nhưng cái áo bông của hắn lại bị vất ở trên một tảng đá.
- Nó đâu rồi?
Hưng "mãng xà" chỉ vào chiếc áo và hỏi bâng quơ. Đúng lúc đó bên kia suối chỗ khoảng rừng le có tiếng xào xạc và tiếng gì đó vang lên như một tiếng cười rất là quái dị. Gã mắt chột và gã tóc bù xù dừng chân lại thì thào:
- Ai cười? Người hay ma vậy anh Cư?
Thoáng qua một góc rừng le Cư thấy chớp rất nhanh hai đốm sáng đỏ. Cư nhỏ giọng:
- Không phải tiếng người cũng chẳng phải tiếng ma mà đó là tiếng của sói tinh.
Hưng “mãng xà” sợ hãi:
- Hay là con tinh này đã bắt được thằng Hủ rồi. Vì sao đang nửa đêm mà nó lại lên cơn mê loạn?
Cư kéo mọi người ngồi xuống sau một tảng đá to:
- Tao với thằng Hũ đã phiêu bạt với nhau hồi mới mười mấy tuổi đầu, hai đứa đã từng trôi dạt qua Miên theo đám cửu vạn vác hàng lậu, và tại đây thằng Hũ đã có thời nó nghiện bồ đà. Tánh tình nó thay đổi từ đó, lúc vui, lúc buồn rất thất thường. Có những đêm nó không ngủ, một mình nó lang thang ra giữa những cánh đồng hoang. Những khi no thuốc, nó nói đang bay trên bảy sắc cầu vồng! Nó thấy được cả ma, cả quỷ làm cho ai nghe cũng sợ. Thằng này...
- Sao anh Cư? - gã đầu xù lo lắng.
Cư chép miệng quả quyết:
- Phải cứu nó thôi. Tao sẽ qua suối, thằng nào theo thì đi, bằng không thì phục nơi đây chờ.
Cả bọn nhao nhao lên:
- Anh đi thì bọn em đi, sống chết có nhau.
Cư đanh giọng:
- Nhưng suối chảy xiết lắm, rất nguy hiểm. Để tao đi trước bắt cầu dây cho tụi bây theo sau.
Nói xong Cư mở cái túi vải sau lưng lấy ra một khoanh dây dù to tướng. Một đầu dây, Cư cột vào một thân cây to, còn khoanh dây ước chừng cả sáu bảy chục thước thì mang vào vai. Cư ra hiệu:
- Khi nào bọn bây thấy tao nhá đèn ba cái là tao đã sang tới bên ấy rồi thì bọn bây sẽ lần theo dây mà sang.
Gã đầu xù lắp bắp:
- Nhưng nhỡ bọn em không nhìn thấy ánh đèn?
Cư vò đầu thằng đồng bạn cười:
- Nếu như thế thì có nghĩa là thằng anh mầy đã bị dòng suối nhai sống rồi. Thế thôi.
- Đừng nói gở làm bọn em sợ mà anh Cư. Anh lội giỏi như nhái mà làm sao không qua được chứ! - Gã mắt chột nói riu ríu.
Cư cười:
- Thôi yên tâm, tao qua suối đây.
Nói rồi Cư lặng lẽ đi xuống mép bờ suối. Nước suối lạnh quá. Bây giờ trăng hiện lên phía trên dòng suối soi xuống dòng nước trắng bạc đang chảy xiết. Cây súng săn mang một bên vai. Cư lần từng bước. Có lẽ dòng suối cạn.
Cư cứ đi xiên xiên theo dòng nước, có lúc gặp luồng nước chảy mạnh nước hất tung anh ta lên rồi rơi xuống, tuy vậy Cư vẫn cố gắng đều đặn thả từng mối dây. Ra càng xa lòng suối càng sâu dần. Nước chảy mạnh như cắt, nhiều lúc Cư nghĩ chắc mình sẽ không sao sang được tới bờ bên kia. May sao chính những lúc thập tử nhất sinh anh lại được những tảng đá to giữa dòng suối cứu mạng. Cuối cùng vào lúc đuối sức nhất Cư lại được một luồng nước mạnh xô dạt vào bờ. Cư nằm xoải trên bờ cát ven suối để thở, ánh trăng chếch sang phía mấy quả đồi trọc.
Đột nhiên Cư nghe một tràng những tiếng sói tru kéo dài từ rừng le lên mấy quả đồi. Tiếng tru gồm nhiều cung bậc, âm sắc tạo nên một giai điệu ma quái, dễ sợ.
Nghỉ độ mươi phút, Cư vội ngồi dậy tìm một gốc cây, căng thẳng cái sợi dây rồi buộc vào. Quay qua bên kia suối, Cư nhá đèn ba cái. Phía bên kia cũng nhá đèn đáp lại. Như vậy là bọn kia đang sắp sửa men theo sợi dây để qua suối.
Trong lúc chờ đợi đồng bạn, Cư móc một bọc thuốc được gói trong cái gói da dê ra vấn hút và thẫn thờ ngồi nhìn trăng rừng. Bỗng dưng đúng lúc đó trên quả đồi trọc cách chỗ Cư ngồi độ hai trăm thước hiện lên những cái đầu sói vươn cao cùng cất lên những tiếng hú trăng quái đản. Rồi từ dưới chân đồi có một đôi mắt đỏ như lửa vượt lên và theo sau là một bóng người cũng chạy nhanh như gió.
Mười lăm phút sau, cả bọn đeo dây đã vượt qua dòng suối cùng ngồi lại quây quần bên Cư. Cư chỉ lên quả đồi, Hưng "mãng xà" nhìn một lúc rồi nói thì thào:
- Có một bóng người chạy theo sau bầy sói.
Gã chột mắt sợ hãi:
- Hình như bóng của thằng Hũ thì phải.
Một gã đồng bọn lên tiếng:
- Đúng là nó rồi. Mà vì sao lũ sói chưa ăn thịt nó?
Một gã khác nói trong tiếng thở:
- Tôi nghe thằng Hũ cũng tru lên giống như bầy sói. Kìa, cái bóng của nó chạy theo phía sau sát với con sói tinh mắt đỏ. Lẽ nào nó đã hóa thành sói.
Cư lặng thinh vất mẩu thuốc lá, khoát tay ra hiệu:
- Chúng ta bò lên nhưng phải yên lặng.
Rồi Cư dẫn đầu, cả bọn chạy lúp xúp men theo những bụi cỏ cao dưới chân đồi trọc. Càng đến gần chân đồi trong tiếng hú trăng của đám sói rừng còn có tiếng cười, tiếng rú man dại của Hũ.
Để tránh sự phát hiện hơi người của bầy sói tinh, Cư ra hiệu cho cả bọn bọc vòng hướng ngược chiều gió. Còn độ năm mươi thước đến đỉnh đồi cả bọn nhìn thấy con sói tinh mắt đỏ đầu đàn đứng dựng hai chân bên cạnh Hũ và cả hai hú lên một tràng dài man dại.
Gần một giờ sau đám sói lẳng lặng đi xuống đồi hướng về phía rừng khộp trước mặt. Con sói tinh đầu đàn mắt đỏ cũng phóng theo chỉ còn Hũ đứng lại tru lên những tiếng thật quái dị.
Cư đề nghị:
- Chúng ta phải tìm cách cứu nó.
Gã đầu trọc đề nghị:
- Phải chăng dây trên lối nó đi mới được vì thằng này đã hóa thành sói mất rồi!
Gã đầu xù quay lại mấy đứa phía sau ra lệnh:
- Mấy đứa bây chuẩn bị căng dây đi. Khi nào nó chạy theo bầy sói qua ngang dây thì căng thẳng sợi dây cho nó té ngã, lúc đó phải xông vào trói nó lại.
Trăng đã xuống thấp thoáng bên kia quả đồi...
Cả bọn đưa Hũ về được căn lán thì trời đã sáng. Bấy giờ mọi người mới nhìn rõ Hũ. Mặt mày anh ta xanh xám, một bên mép nước bọt chảy thành dòng, đôi mắt ngầu đỏ long lên trông thật dễ sợ.
Tuy đã bị trói chặt hai tay nhưng Hũ giãy giụa hết sức hung hãn, hai hàm răng nhe ra như muốn cắn mọi người.
Cư căn dặn:
- Thằng này đã bị bệnh sói điên rồi, tụi bây phải cẩn thận với nó.
Bất chợt Hũ lại cất tiếng tru lên như đang muốn kêu cứu với bọn sói tinh. Lúc Hũ ngửa cổ lên kêu, Cư kịp nhìn thấy có hai dấu răng nanh rướm máu trên cổ hắn, vết máu chưa kịp khô, Cư kêu lên:
- Thôi rồi, thằng này đã bị sói tinh hút máu và truyền cho nó con vi trùng sói dại rồi.Trong người nó lúc này là nửa người nửa sói, hết mong cứu chữa giữa chốn rừng hoang này.
Cả ngày hôm đó Hũ ngồi trong bóng tối ở góc lều, miệng luôn gầm gừ. Đến đêm lúc trăng vừa mới mọc khi nghe tiếng bầy sói tinh kêu hú phía bên kia bờ suối, Hũ chợt chồm đứng dậy dùng răng cắn đứt dây, hú lên một tiếng dài rồi phóng qua hàng rào chạy biến vào rừng. Cư nhìn theo Hũ ứa nước mắt, từ đêm nay toán đào vàng của anh sẽ mất một thành viên. Người bạn thuở thiếu thời với một lần lầm lỡ nghiện bồ đà. Bản chất con người từ đó đã thay đổi, nay lại bị một con sói tinh hút máu truyền bệnh nên cái chủ thể con người mong manh còn sót lại của anh ta cũng biến mất và anh ta đã hóa sói.
Cư buồn bã thở dài...
Trăng rừng khuya vẫn lung linh trên cánh rừng hoang dại, phía đồi trọc bên kia suối vang lên tiếng bầy sói man dại gọi trăng.
Ma Rắn
Câu chuyện ma rắn được cha tôi kể lại cho nghe từ khi tôi còn tấm bé, ông vẫn thường kể đi, kể lại câu chuyện lạ lùng này trong gia đình cho đến khi tôi lớn lên. Cha tôi không phải là người ưa thích những câu chuyện hoang đường. Trước sau ông chỉ kể một câu chuyện này thôi bởi nó đã xảy ra trong chính gia đình ông cố tôi tức là ông nội của cha tôi. Những tình tiết ly kỳ của chuyện ma rắn cứ ám ảnh mãi anh em chúng tôi cho đến bây giờ. Nó hấp dẫn vì câu chuyện người thật, việc thật đã để lại dấu ấn đậm nét như một mảng màu bám mãi vào ký ức trong suốt quãng đời niên thiếu của mấy anh em tôi.
Bây giờ đã khôn lớn, trưởng thành nhưng mảng màu đó vẫn chưa rơi rụng nhạt nhòa. Chuyện xảy ra trong gia đình ông bà cố nội tôi cách đây gần trăm năm...
Thuở ấy vùng quê ông cố tôi trồng mía nấu đường. Những phú hộ, phú nông thuở ấy nhiều ruộng mía đều dựng lò đường thủ công trong nhà để sản xuất đường mía.
Khi mía đã già ngoài ruộng, người ta chặt đem ép lấy nước đưa vào lò nấu cô đặc lại thành đường. Ông cố tôi là một phú nông, đất ruộng nhiều nên kẻ ăn người làm trong nhà rất đông. Bà cố vừa lo ăn uống cho đám thầy thợ trong nhà vừa ra ruộng coi ngó người làm. Hầu như trong suốt mùa thu hoạch mía ngày nào bà cũng phải đi về giữa nhà và ruộng. Quãng đường từ nhà ra ruộng cũng khá xa, đi ngang qua một ngôi miếu hoang.
Một hôm, đang lúc trưa nắng khi đi ngang qua chỗ miếu hoang bà nghe tiếng thở phì phò cùng tiếng rào rào như tiếng quạt giê lúa. Liếc mắt nhìn vào bà điếng hồn.
Một con rắn to như gốc cột nhà nằm cuộn tròn mấy vòng trên nền gạch cạnh các bát nhang. Đầu rắn có mống mào đỏ tía lắc lư qua lại, những chiếc vảy rắn to như nửa bàn tay ánh lên những sắc xanh đỏ.
Bà cố bỏ chạy thục mạng. Đến chỗ ruộng mía có đông người bà mới kịp dừng lại thở không ra hơi, mặt mày tái ngắt. Một lúc sau bà mới hoàn hồn. Vốn là người trầm tĩnh và có bản lĩnh, bà cố im lặng không hé lộ cho đám người làm biết chuyện gì vừa xảy ra. Khi những trai tráng chuyển mía về nhà, bà đi lẫn vào giữa đám người đi ngang qua chỗ ngôi miếu hoang. Lén nhìn vào, bà thấy cái nền gạch giữa miếu trống không vẫn như thường ngày không có chuvện gì xảy ra.
Bà giữ kín câu chuyện không cho ai biết cho đến sau này mới kể lại cho ông cố nghe. Cũng từ đó mỗi khi đi ngang qua ngôi miếu hoang này, bà luôn bảo người khác theo bên cạnh chứ không dám đi một mình nữa.
Khoảng mươi hôm sau trên con đường đi chợ trở về nghe tiếng sột soạt phía sau lưng, bà quay lại thì thấy con rắn lửa. Đây là loại rắn nhỏ rất hiền lành chiều dài khoảng ba gang tay, thân chỉ bằng ngón chân cái, sở dĩ gọi tên rắn lửa vì cổ nó có cái khoang dài khoảng mười phân màu đỏ như lửa. Thường ngày có thể thấy rắn lửa ở trong vườn, bụi cây, bờ ruộng nên sự xuất hiện của nó không làm bà ngạc nhiên.
Đi được một đoạn lại nghe tiếng sột soạt bà quay lại nhìn cũng chính là nó. Bà thật sự lo lắng khi thấy nó bám đuổi theo mình. Kinh ngạc hơn khi bà bước vào cổng ngõ vào sân, vào nhà nó vẫn lặng lẽ bò sát bên chân. Bà ra sau nhà nó vẫn theo, đám gia nhân thấy vậy tóm lấy nó hất bay vèo ra ngoài bờ rào. Nó lại nhanh chóng vào lại theo sau chân bà. Người ta liền báo cho ông cố biết, ông vội chạy xuống xem, ông sai người làm bắt con rắn lửa đem bỏ ra bàu nước cách xa nhà một khoảng, ở vùng quê tôi thời ấy cho đến bây giờ người ta không giết rắn lửa vì niềm tin trong dân gian rằng mỗi con rắn lửa như thế là hiện thân của một hồn ai đó.
Một lát sau con rắn vẫn bò vào, lẩn quẩn theo quanh chân bà cố, ông lại đích thân tóm nó đem bỏ ở nơi xa hơn. Nhưng rồi nó lại hiện diện trong nhà. Năm lần bảy lượt bắt nó ra khỏi nhà bỏ ở những nơi mỗi lúc một xa hơn, có khi cách nhà cả buổi đi đường nhưng nó vẫn về được làm ông cố bực mình.
Mấy hôm sau thấy con rắn vẫn ngang nhiên bò theo bước chân bà chẳng sợ sệt ai, hễ bà lên nhà trên nó theo lên, hễ bà xuống nhà dưới nó theo xuống, ông nổi giận chộp lấy nó vất mạnh ra giữa sân gạch. Đang cơn giận dữ ông vớ chiếc vồ đập đất giáng liên tục lên nó đến khi đầu mình nó giập nát ra từng mảnh nhỏ vẫn chưa thôi.
Ông vất cái vồ không quên chửi theo một câu: "Tiên sư mầy! Thử xem mày còn sống lại bò theo chân bà nhà tao nữa không?".
Chưa hết lời, ông bỗng giật mình, ngoài bờ rào có hai con rắn lửa y chang như con rắn vừa rồi bò vào sân ngay chỗ ông giần nát con rắn trước đó. Cơn giận lại trào dâng, ông vớ lấy cái vồ nện tiếp. Trong chốc lát, hai con rắn nát bấy. Định quẳng cái vồ, phủi tay xong việc nào ngờ thêm bốn con nữa từ đâu bò đến tiếp. Tức khí xung thiên, với sức mạnh của người hay luyện võ ông lại cầm cái vồ lên giần chúng. Ngay tức khắc, lại hàng chục con nối tiếp nhau từ ngoài bờ rào bò vào. Chúng như thách thức ông, ông lại càng điên tiết, cái vồ trên tay càng vung lên kịch liệt nhắm vào đám rắn. Những âm thanh bình bịch, bèm bẹp náo động một khoảng sân. Máu và thịt rắn tóe ra, vung vãi khắp sân bốc mùi tanh tưởi... Mọi người trong nhà hốt hoảng kéo nhau đến xem ông kịch chiến với đám rắn. Như ma hiện ra, lũ rắn ngoài vườn liên tục bò vào. Chúng bò hàng năm, hàng bảy.
Mặt trời đã lên đến đỉnh đầu, xác rắn chất chồng cao đến đầu gối có đến hàng ngàn con. Dòng rắn tiến vào hầu như vô tận, ông thì mồ hôi, mồ kê ướt đẫm cả người. Ông khỏe thế nhưng cái vồ vung lên cũng chậm chạp dần. Đến một lúc ông không còn sức liền vất cái vồ đứng thở hổn hển coi như đầu hàng chúng. Đám rắn tỏa ra khắp nhà. Chúng bò ngang, bờ dọc một hồi rồi tản ra ngoài vườn đi đâu mất hết. Đống rắn chết còn nguyên đó bốc mùi tanh lợm giọng. Ông cố ra lệnh cho đám gia nhân đem xác rắn vất ra ngoài bàu nước...
Hôm sau con rắn lửa hôm qua lại thấy trong nhà. Nó vẫn bám theo sau chân bà. Đến đêm bà lên giường ngủ nó cũng bò theo lên. Ông cố nổi tiếng là người ương ngạnh. Sự kiện hôm qua không làm cho ông cố sợ sệt con ma rắn này. Ông liền tóm lấy nó đem đến chỗ lò đường đang nấu. Lò đường đun những chảo đường được đốt bằng củi hay bã mía khô cháy hừng hực tỏa ra sức nóng ghê gớm. Ông vứt con rắn vào giữa lò. Vậy là nó sẽ cháy ra tro thôi. Nhưng thật kinh hãi, con rắn lại thong thả bò trở ra xem như một chuyến đi... dạo mát. Rõ ràng nó là con rắn ma. Bây giờ ông mới hoảng kinh thật sự. Con rắn lửa lại lẽo đẽo bò theo sau bà cố nội tôi ở trong nhà hay đi bất cứ đâu... xem ra ông cố không làm gì được nó.
Từ khi có con rắn lửa hiện diện trong nhà mọi người luôn lo lắng bất an, nhất là ông cố, không biết tai họa gì sẽ xảy ra đây. Đêm đêm ai nấy đều nín thở lắng nghe bên ngoài cửa hay đâu đó trong vườn, trên mái nhà có tiếng thở phì phì như trâu lặn nước và trong rào rào như quạt giê lúa. Ai cũng sợ đến nổi da gà, run cầm cập. Không hé miệng với ai ngoài ông cố, bà cố biết rằng những âm thanh kia là từ con rắn to như gốc cột nhà có mống mào đỏ tía mà bà nhìn thấy trong ngôi miếu hoang hôm trước.
Buổi trưa hôm ấy mùa hè trời nắng như thiêu đốt. Trong vườn, ngoài ruộng đâu đâu cũng không có lấy một cơn gió thoảng. Tiếng ve kêu rền rĩ trên những ngọn me cao một hồi rồi nín bặt, trả lại không gian yên ắng hoang sơ cho cái làng quê hẻo lánh chuyên nghề trồng mía nấu đường. Trên con đường làng vắng vẻ có một ông cụ già đang rảo bước. Cụ đi guốc mộc, mặc bộ quần áo bà ba màu đà, đầu đội nón lá, tay nải quàng sau vai. Hình như cụ đang bôn ba vượt đường xa dưới cơn nắng gay gắt nên mồ hôi thấm tất cả lưng áo.
Đến cổng ngõ ngót cạnh bụi tre già có bóng râm cụ dừng lại giở nón lá xuống phe phẩy quạt. Cụ thoắt nhìn cái cổng ngói rồi rảo bước luôn vào bên trong. Đây chính là nhà ông cố tôi.
Đang trên đường đi, giữa cơn nắng trưa mùa hè nóng bức, tình cờ gặp được nhà dân cụ tạt vào xin miếng nước uống. Ông cố tôi tiếp cụ rất niềm nở. Ông sai người làm đem nước chè tươi ra mời cụ. Thấy ông cụ tóc bạc trắng như cước trán rộng, mắt sáng, tay chân dài hơn người bình thường như một dị nhân, vóc dáng phương phi đạo mạo, ông cố biết vị khách này không phải là người tầm thường. Ông cố liền đem sự việc con rắn lửa trong nhà kể cho cụ nghe với mong muốn nhờ cụ giúp đỡ hoặc cụ đi đây đi đó nhiều, hiểu biết rộng có thể mách bảo những vị cao nhân nào đâu có phép thuật hay phương pháp gì giúp cho gia chủ trục con rắn lửa ra khỏi nhà. Hiện nay gia đình ông cố tôi như đang gặp nạn lớn, miệng thế gian đồn đại ông nhà có rắn ma khiến công việc làm ăn bị ảnh hưởng nghiêm trọng, gia nhân phần lớn sợ hãi bỏ đi, người làm công thì không dám đến, các lò nấu mía đường ngưng nghỉ... Ông cụ nghe xong mỉm cười bảo:
- Bây giờ thì con rắn sẽ không có ở trong nhà này!
Ông cố nghe vậy liền gọi bà cố lên. Quả nhiên không thấy con rắn lửa bò theo sau, ông bảo mọi người tìm kiếm khắp trong nhà vẫn không thấy con rắn đâu. Ông cố mừng rỡ vô cùng, rõ ràng vị khách không phải con người bình thường. Ông chấp tay kính cẩn trước mặt cụ già:
- Thầy quả thật bậc cao nhân. Uy linh của thầy đã khiến cho loại tà ma trong nhà phải né tránh, vạn lần phúc đức cho gia chủ được may mắn gặp thầy. Xin thầy ra tay cứu giúp diệt trừ con rắn ma!
Cụ già khoát tay vui vẻ như không có chuyện gì xảy ra:
- Có gì đâu mà anh phải nhiều lời, để ta giúp cho!
Rồi cụ già căn dặn ông cố lát nữa đây khi cụ ra khỏi nhà con rắn sẽ trở vào lại. Ngày mai gia chủ ra chợ mua một cái hủ mới và một con gà trống trắng, rang một bát nổ từ lúa nếp để sẵn. Bắt con rắn bỏ vào hủ, hơ lá chuối tiêu bịt miệng hũ lại. Lấy dây mây to thắt nhiều chiếc bóng cho thật chắc, bền. Lưu ý là phải chọn loại dây mây tốt, dẻo bền vô cùng, nếu không sẽ hỏng việc. Ra vườn chặt hai gốc tre già to cứng cáp làm đòn. Chọn năm, bảy người lực điền mạnh mẽ nhất túc trực chờ lệnh trong nhà. Ba ngày sau cụ sẽ trở lại giúp cho gia chủ.
Khi cụ già bước ra khỏi nhà quả nhiên con rắn bò vào lại. Ông cố thực hiện đúng y lời dặn của cụ già.
Ba hôm sau y hẹn cụ đến. Đích thân cụ mở miếng lá chuối tiêu bịt miệng hũ ra. Bên trong hũ trống không. Cả nhà lo lắng, cụ già thì tủm tỉm cười:
- Con đại xà yêu này cũng cao tay đây, nhưng không sao, sẽ có cách!
Nói rồi cụ mở tay nải lấy một tờ giấy ra, dùng ngón tay khoắn mấy chữ đưa cho ông cố và bảo rằng ba hôm nữa ông sẽ trở lại. Khi con rắn xuất hiện bắt bỏ vào hũ và bịt miệng lại bằng lá bùa này. Quả nhiên ba hôm sau cụ già trở lại thì con rắn vẫn còn nằm im trong lòng hũ.
Cụ già cho bày bàn nhang đèn ra. Cụ già cắt tiết con gà trống trắng đổ vào trong bát nổ trắng được rang từ lúa nếp. Cụ đọc lầm thầm những câu thần chú rồi bưng bát nếp nổ thảy lên không. Kỳ lạ thay, những hoa nếp tan biến nhanh trong không khí chẳng còn gì. Bây giờ những trai điền được lệnh bê chiếc hũ đặt vào những chiếc gióng mây lồng vào nhau. Cây đòn gốc tre gài rắn chắc được xỏ vào. Hai người trai điền lực lưỡng khiêng cái hũ ra khỏi nhà.
Cụ già bảo những trai điền khác cùng tháp tùng và đem theo cái đòn tre và những chiếc gióng còn sót lại. Họ được lệnh tiến thẳng về phía sông lớn cách nhà một buổi đường. Lúc đầu hai trai điền khiêng cái hủ đi rất nhẹ nhàng. Ông cố và những người đi theo không hiểu cụ già bảo họ đem theo gióng mây và đòn tre nữa làm gì.
Ra khỏi nhà một đoạn cái hủ bắt đầu nặng dần. Những sợi gióng mây căng ra, chiếc đòn bằng gốc tre già võng xuống. Hai người trai điền mạnh mẽ thế mà bắt đầu thở dốc. Hai người trai điền khác vào thay. Đi một đoạn nữa cái hũ trở nên nặng một cách kỳ lạ, những sợi gióng mây căng hết cỡ muốn đứt không biết lúc nào. Nhớ lời dặn của cụ già đừng bao giờ để gióng đứt rơi vỡ hũ sẽ hỏng việc, ông cố cho đám trai điền còn bao nhiêu chiếc gióng thì lồng hết vào. Đến bây giờ thì hũ nặng đến nỗi hai trai điền khiêng không nỗi nữa. Ông cố cho luồn thêm vào cân đòn gốc tre còn lại. Bốn người khiêng nhưng, xem ra cũng phải nhấc từng bước một vì hũ càng trở nên quá nặng.
Càng gần đến bờ sông thì hũ như trĩu xuống sát mặt đất gây khó khăn cho những bước di chuyển của bốn người khiêng vốn đã quằn lưng vì sức nặng tưởng chừng như khiêng hòn đá núi mấy nghìn cân. Cách bờ sông một đoạn ngắn cái hũ đã trì xuống sát mặt đất, nặng như một tảng đá lớn hầu như không nhấc lên được nữa.
Ông cố cùng đám trai điền vận hết sức lực vừa nhích vừa xê đít hũ lên trên mặt đất từng tấc một. Ai nấy mồ hôi mồ kê đổ giọt, lưng vai, tay chân tím bầm.
Cuối cùng, họ đã đem được cái hũ ra được mé sông chỗ vực thẳm. Dồn hết sức vào những cánh tay, bờ vai, đôi chân lực lưỡng, gần chục cái miệng lấy hơi hò lên một tiếng đẩy cái hũ rơi ầm xuống vực. Ông cố quày quả trở về nhà hậu tạ cụ già có quyền phép đã giúp đỡ mình tống khứ con rắn ma nhưng cụ đã lặng lẽ rời khỏi nhà tự lúc nào mà người nhà chẳng ai hay biết.
Từ đó không thấy con rắn lửa và những âm thanh kỳ quái đêm đêm trong khu vườn nhà nữa.
Cái Đầu Báo Oán
- Tại sao lại có nhiều máu đến thế này!
Tiếng la thất thanh của cụ Sáu Thọ làm cho mọi người trong xóm đều đổ ra bờ sông để cùng nhìn xem. Lại có tiếng nói:
- Trời ơi! Đây chính là máu người đó!
Và câu nói ấy càng làm cho hầu hết mọi người đang đổ tới xem đều tỏ ra vô cùng hoảng sợ.
Một vài người đàn bà phải đứng dựa vào nhau với khuôn mặt nhớn nhác sợ hãi.
- Chị Bảy Thắm đã chết! Chị ta đã bị ai đó chặt đứt mất cái đầu!
Thêm một câu nói hoảng hốt như mất hơi của cụ Tám già từ trong xóm cũng vừa chạy ra. Tiếng kêu rên:
- Giêsu-ma! Lạy chúa tôi!
Thoát ra từ miệng mọi người và tay chân của một số người mềm ra như không thể cất bước, còn một số người khác tỏ ra mạnh dạn hơn thì đang nhanh chân chạy về hướng nhà của chị Bảy Thắm.
Xác của chị Bảy Thắm nằm đó nhưng cái đầu thì hầu như đã hoàn toàn biến mất. Tại sao lại như vậy? Câu hỏi này hầu như đều nằm trong đầu mọi người nhưng không một ai dám chính miệng mình thốt lên. Chung quanh nhà chị Bảy Thắm, tiếng bàn tán xôn xao của những người tò mò và tiếng khóc rên của những người thân làm cho khung cảnh làng xóm càng thêm bi đát và lạnh lẽo. Lẽ từ xưa đến nay chưa bao giờ dân trong làng Dìn lại nhận thấy tình trạng ghê gớm như thế này xảy ra nên ai nấy đều vô cùng hoang mang lo sợ...
Buổi chiều tối hôm ấy, mới có gần bảy giờ mà nhà mọi người đều đóng cửa kín mít. Có một vài gia đình phải tụ tập chung với nhau cho đỡ sợ hãi. Riêng đám tuần đinh do anh Năm Lâm đứng đầu được dân làng ủy nhiệm canh giữ cái xác của chị Bảy Thắm, đồng thời cũng canh gác cho mọi người dân trong làng Dìn. Tuy toàn là trai tráng trong làng nhưng bọn anh Năm Lâm thật ra với tám người có cái gan cũng tương đối nhỏ lắm. Trời càng về đêm thì càng lạnh lẽo. Ngồi gần bên một cái xác người không đầu càng làm cho anh Năm Lâm cảm thấy lạnh run mặc dù anh đã khoác vào người một cái áo bông rất to. Cứ mỗi một cơn gió thổi vào người Năm Lâm là một cơn ác mộng thoảng đến trong đầu anh.
Lúc thì anh tưởng tượng ra một người nào đó đang giơ cái búa phía sau lưng, lúc thì anh tưởng tượng ra cái đầu của chị Bảy Thắm đang bay đâu đó quanh đây...
- Mấy người kia sao lâu về quá vậy, Tư Nhôm?
Anh Năm Lâm vờ quay qua hỏi người cùng ngồi canh cái xác với mình. Thì ra chỉ có anh Tư Nhôm và anh Năm Lâm có nhiệm vụ canh giữ cái xác, còn những người khác thì đã chia ra hai tốp đi xem xét mọi ngóc ngách trong làng.
- Có lẽ đêm nay họ sẽ không kịp trở về đây đâu anh Năm Lâm à!
Tiếng trả lời của anh Tư Nhôm càng làm cho Năm Lâm thêm ngay ngáy lo sợ. Tới lúc khoảng gần nửa đêm thì gió bắt đầu thổi mạnh thêm. Những cơn gió thổi làm cho cây cối xung quanh nhà phát lên những tiếng như tiếng ma kêu quỷ gào, cộng với đôi lúc căn nhà tranh tuềnh toàng phát lên những tiếng ken két làm cho khung cảnh càng tăng thêm sự ma quái huyền ảo. Giá mà không có Tư Nhôm ngồi ở kế bên thì có cho vàng chắc Năm Lâm cũng không còn hồn vía nào mà ngồi đây.
Anh Năm Lâm bèn hớp một hớp rượu Bàu Đá đoạn cất giọng hát nho nhỏ để tự trấn an lòng mình, nhưng thật sự thì chỉ cần một tiếng động nhỏ sau lưng cũng làm cho anh ta giật bắn mình quay lại ngay lập tức.
Thời gian cứ âm thầm lặng lẽ trôi qua cho tới khoảng hơn một giờ sáng thì anh Năm Lâm nghe thấy một tiếng rên nho nhỏ phía ngoài cửa sổ nhưng anh cứ giả vờ như không nghe thấy. Anh nhắm chặt hai mắt lại, miệng lâm râm khấn vái rồi bất chợt, Năm Lâm giật mình hoảng sợ khi anh cảm thấy dường như đang có một bàn tay ai đó khẽ khàng vỗ nhẹ lên vai mình. Năm Lâm lấy hết bình tĩnh mở mắt:
- Trời đất! Thì ra là mày hả? Chuyện gì vậy Tư Nhôm?
- Hình như tui vừa nghe có tiếng động ngoài cửa sổ.
Tư Nhôm cố nài nỉ Năm Lâm, một phần vì sợ Tư Nhôm biết là mình nhát gan nên Năm Lâm cũng miễn cưỡng bước tới cái cửa sổ đâm ra hướng bắc. Năm Lâm lấy hết bình tĩnh mở hé cánh cửa sổ ra nhưng không thấy gì nên thử làm liều, mở toang cả cánh cửa sổ ra. Năm Lâm bỗng hồn kinh kéo cửa sổ trở vào một cái đánh rầm khi anh mơ hồ nhìn thấy chiếc đầu của chị Bảy Thắm đang lơ lửng bay bay ở ngoài sân. Cả người như đông cứng lại nên anh xoay người lại tìm Tư Nhôm cho bớt sợ nhưng hình như anh Tư Nhôm cũng đã biến mất từ hồi nào. Năm Lâm liền la hoảng lên một tiếng và chụp vội lấy cây đòn gánh, đưa mắt cố tìm kiếm Tư Nhôm nhưng ngoài cái xác người không đầu vẫn nằm đấy thì không còn thấy ai cả.
Mỗi một lần ánh mắt của Năm Lâm vô tình chạm đến cái xác người kia thì lại tưởng tượng đến cái đầu bay lơ lửng ngoài sân làm anh ta càng run rẩy thêm. Cuối cùng Năm Lâm lại mò tìm được chai rượu Bàu Đá, đưa lên miệng tu một hớp lớn cho đỡ sợ rồi nép vào góc nhà ngồi đọc kinh. Bất thình lình "rầm" một tiếng khiến cho cánh cửa sổ bật mở tung ra. Và kìa, một khuôn mặt quen thuộc bỗng vừa xuất hiện, nhe hai hàm răng trắng toát ra với một giọng nói khàn khàn. Thì ra là Tư Nhôm.
- Sao? Có thấy gì lạ không anh Năm Lâm?
Năm Lâm bấy giờ vẫn còn đang run nhưng cố cất giọng lớn hỏi dồn:
- Trời! Nãy giờ mày bỏ đi đâu vậy Tư Nhôm? Mày có thấy gì ngoài đó không?
Và như vớ được chiếc phao cấp cứu, Năm Lâm chạy vội ra mở cửa chính để đón Tư Nhôm vào nhà. Ở bên ngoài gió đã ngưng thổi làm cho không gian chìm trong một sự tĩch mịch rất đáng sợ. Mặt trăng cũng đã thoát ra khỏi những cụm mây che, le lói chiếu qua những khe hở của căn nhà gỗ tựa như ánh mắt sáng ngời của ai đó đang cố nhìn vào tận bên trong căn nhà. Sương cũng bắt đầu xuống nặng hạt tăng thêm sự mờ ảo ma quái.
Ở trong nhà, Năm Lâm vẫn ngồi đó với đôi mắt nhắm nghiền, tay chân ướt đẫm mồ hôi và thịt trên gò má anh ta cứ giật giật liên hồi. Nhìn sơ qua thì trông giống như Năm Lâm đang ngủ, nhưng mỗi một tiếng động nhỏ anh ta cũng nghe thấy được.Thời gian cứ lặng lẽ trôi, tuy rất chậm nhưng cũng đã tới hơn 2 giờ sáng...
- Gâuuuuuuuuuuuuuuu! Gâuuuuuuuuuuuuuuuuuu ! Gâuuuuuuuuuuu...!
Tiếng chó tru đâu đó bên ngoài làm cho Năm Lâm giật mình hoảng hốt đưa mắt nhìn xung quanh. Anh Tư Nhôm lúc này hình như đã ngủ mê lắm rồi nên không thấy anh ta nhúc nhích gì cả. Năm Lâm lại với lấy chai rượu Bàu Đá tu một hơi dài đoạn móc túi lấy ra điếu thuốc đưa lên môi. Lục lọi một hồi trong túi cũng không thấy cái hộp quẹt diêm ở đâu nên Năm Lâm đành phải đi lại chỗ bàn thờ để mồi thuốc. Bất ngờ "Phụt!" cái đèn dầu chợt tắt ngấm, không biết tại do Năm Lâm hay là có ai đó đã cố tình thổi tắt. Căn nhà tối om càng trở lên rùng rợn hơn. Mò mẫm mãi cũng trở về được chỗ cũ ngồi, Năm Lâm làm thêm một ngụm Bàu Đá nữa và lại nhắm mắt cầu nguyện.
"Kẽo kẹt Kẽo kẹt...!"
Tiếng kêu đó làm tim Năm Lâm như muốn nhảy vọt ra ngoài, tuy vậy, anh ta vẫn cứ vờ nhắm mắt bất động chờ đợi xem chuyện gì sẽ xảy ra. Một phút, rồi hai phút qua đi nhưng tuyệt nhiên không có tiếng gì nữa nên Năm Lâm từ từ mở mắt ra. Không có tiếng gì nữa nên đến nỗi anh muốn la to lên nhưng không thể thoát ra tiếng được. Anh nhìn thấy cái đầu của chị Bảy Thắm đang dừng lại trên không ngay phía trước mặt, đang chăm chú nhìn vào cái xác không đầu của chị ta. Năm Lâm nắm chặt hai tay và nhắm mắt lại cố giữ im lặng để cho cái đầu của chị Bảy Thắm không biết anh đang ngồi dậy. Thế nhưng dường như cái đầu kia bất thình lình trợn trừng cặp mắt xanh lè và nhe hai hàm răng trắng phếu phì phò bay tới trước mặt Năm Lâm. Trời ơi quả là đáng kinh sợ quá. Mắt mũi miệng của cái đầu đang dính đầy những máu và chiếc cổ vẫn còn phun phọt từng tia máu tươi ra ngoài. Quá hãi hùng, Năm Lâm la lên một tiếng:
- Giêsu-ma! Xin cứu con!
Và rồi anh bèn mở cặp mắt của mình thật lớn nhìn lên cái đầu chị Bảy Thắm. Anh Năm Lâm thở phào nhẹ nhõm, thì ra đó là chỉ vì anh tưởng tượng ra mà thôi chứ cái đầu chị Bảy Thắm vẫn còn xoay cái ót của nó về phía anh.
Nhưng ngay lúc này thì Năm Lâm mới thật sự run sợ vì hình như cái đầu kia cũng đã kịp nghe thấy tiếng la của anh nên nó đang từ từ xoay lại. Năm Lâm đã hoảng lại càng thêm hoảng kinh đến độ muốn chạy bay ngay ra cửa nhưng chân anh như đã đông cứng lại từ khi nào, không còn nghe theo ý muốn của chủ nhân nữa. Quả tim của Năm Lâm mỗi lúc một đập mạnh và như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực khi cái đầu người mỗi lúc một xoay gần về phía anh... Không gian chung quanh như bị đông cứng lại. Không có một tiếng gì ngoài tiếng thở hổn hển của Năm Lâm. Khuôn mặt trắng xanh của chị Bảy Thắm vẫn bay lơ lửng trong bóng đêm mờ ảo tạo nên một khung cảnh rùng rợn ghê gớm. Nhưng lạ thay, lúc nhìn thẳng vào cái mặt xanh xao của chị Bảy Thắm cũng là lúc Năm Lâm cảm thấy hết còn sợ hãi. Khuôn mặt của chị Bảy Thắm trông khá hiền từ và đáng thuơng. Cặp mắt và cặp môi của chị như muốn nói với Năm Lâm điều gì đó rồi từ từ bay ra ngoài. Nhìn vào cặp mắt của chị Bảy Thắm, Năm Lâm giống hệt như người đang bị thôi miên và bất giác anh mở cửa ra đi theo cái đầu.
Khi ra đến gần bờ sông thì cái đầu dừng lại và mấp máy cặp môi khô với Năm Lâm. Tuy không biết chắc chị Bảy Thắm muốn nói gì nhưng căn cứ vào những gì Năm Lâm biết được lúc sáng thì anh đoán chắc là cái đầu thật của chị Bảy Thắm còn ở quanh quẩn đâu đây và chắc là chị ta đang muốn ám chỉ điều đó. Năm Lâm nhắm theo tia mắt của chị Bảy Thắm thì liền trông thấy chiếc đầu thật của chị Bảy Thắm đang bị sóng đùa lay qua lay lại ở bên bờ sông, gần chỗ anh đang đứng. Năm Lâm liền cởi chiếc áo khoác bông ra bọc lấy cái đầu của chị Bảy Thắm và mang trở lại căn nhà. Sau khi Năm Lâm bỏ chiếc đầu của chị Bảy Thắm vào gần chỗ cái xác thì ánh mắt của chị Bảy Thắm ngoài cửa sổ tỏ ra một sự biết ơn sâu sắc và từ từ biến mất...
Đã hơn mười năm nay, câu chuyện chị Bảy Thắm bị ai đó chặt đầu đã từ từ đi vào quên lãng. Khu xóm đã trở lại mức sinh hoạt bình thường như trước khi chuyện xảy ra đối với chị Bảy Thắm. Cũng từ cái ngày mà Năm Lâm kiếm được cái đầu cho chị Bảy Thắm thì hình như chị đã an giấc cũng như từ đó không còn chuyện gì ghê gớm xảy ra nữa...
Hôm nay, xóm làng Dìu hân hạnh đón tiếp anh Tám Tàng dọn vào trong một ngôi biệt thự đẹp đẽ và to lớn. Không ai biết anh Tám Tàng từ đâu tới và cũng chẳng ai thèm để ý chuyện đó làm gì. Mọi người ở xóm làng Dìu chỉ biết anh ta là một người to con, đẹp trai và giàu có. Lý trưởng chắc đã được anh Tám Tàng tặng cho quà hậu hĩ nên đã tổ chức một bữa ăn rất trịnh trọng mời tất cả những người có máu mặt đến cùng tham dự. Năm Lâm vốn là đội trưởng tuần đinh chuyên về công tác giữ gìn trật tự an ninh trong xóm nên cũng được hân hạnh đến tham gia buổi tiệc ra mắt của anh Tám Tàng. Buổi tiệc diễn ra rất vui vẻ và ồn ào. Vì Năm Lâm có tính tình phóng khoáng và cũng là một bợm nhậu có cỡ nên anh uống rất nhiều rượu và luôn nói cười oang oang trong suốt bữa tiệc.
Nhưng bữa tiệc vui nào rồi cũng có lúc phải tàn, riêng Năm Lâm tuy vẫn không nỡ rời bàn nhưng mà vì đã gần quá nửa đêm nên anh bèn nốc một hơi cạn một ly rượu lớn và xin phép từ biệt gia chủ ra về....
Ánh trăng đêm nay lúc tỏ lúc mờ nhịp theo những cành lá đong đưa đùa theo những cơn gió mát làm tâm hồn anh Năm Lâm cảm thấy vô cùng khoan khoái. Anh vừa đi vừa ngân nga hát câu vọng cổ: Từ là từ phu tướng... nghe cũng rất hay và thú vị. Khi Năm Lâm đi ngang qua bờ sông thì tự nhiên anh im bặt tiếng hát và lắng tai nghe ngóng vì hình như anh vừa nghe được tiếng nức nở của ai đó chung quanh đây. Anh dừng lại nghe ngóng một hồi rồi ngoái ngoái lỗ tai bước đi và lẩm bẩm: Có lẽ tại mình uống nhiều rượu quá nên bị ù tai chăng?
Nhưng hình như không phải vì tiếng nức nở đó lại văng vẳng lên bên tai. Năm Lâm thử đưa mắt liếc chung quanh. Lúc này tự nhiên anh bị nổi gai óc, người anh cảm thấy lành lạnh. Anh liền móc túi lấy ra điếu thuốc đưa lên môi, tay run run bật cái diêm quẹt mà mắt thì không ngừng liếc qua liếc lại. Một đám mây đâu đó đã đến che khuất chỗ của ánh trăng, không gian trở nên u tối mờ mịt. Lúc này anh trông thấy có một ánh lửa hồng chợt sáng bừng lên rồi lại từ từ nhạt dần rồi lại sáng bừng lên tạo nên một khung cảnh ma quái hão huyền...
Và kìa, một bóng trắng xuất hiện bên bờ sông với làn tóc xõa xuống tận đến chân. Anh Năm Lâm tự hỏi: Ai mà giữa đêm khuya khoắt ra ngồi đây làm gì? và tự nhiên anh nghĩ ngay đến ma.
Năm Lâm từ từ bước tới bờ sông. "Phựt!" ánh lửa hồng chợt tắt ngúm đúng khi điếu thuốc trên môi anh rớt xuống đất, ấn tượng ma quái mỗi lúc một ám ảnh Năm Lâm. Tuy nhiên, anh cũng cố bước gần người áo trắng đó để tìm hiểu sự tình. Càng tới gần, Năm Lâm càng cảm thấy sờ sợ. Thế rồi cuối cùng anh toan quay đầu định bỏ chạy và thầm nghĩ trong đầu khi anh nhìn thấy chân của người áo trắng đó không hề chấm đất.
"Ma!... Trời ơi đúng là ma! Mình phải chạy khi nó chưa nhìn thấy mình!" Nhưng đã quá trễ khi bóng ma đó đã xoay người lại nhìn anh. Năm Lâm té sấp xuống và xoa xoa cái đầu còn đang nhức như búa bổ, Năm Lâm mường tượng đến bóng ma đêm qua và tự nghĩ: "Ai đã đem mình về nhà vậy...?" Không lẽ chính là người đó?... Tiếng "đinh đoong" làm Năm Lâm giật mình nhìn lên chiếc đồng hồ treo tường. Đã mười giờ đêm rồi, vậy là Năm Lâm đã ngủ suốt cả một ngày trời....
Trời lại về đêm, nhưng đêm nay thì không gian u ám hơn đêm trước. Trời không có ánh trăng vì mây đen từng cụm từng cụm đua nhau che phủ, gió lốc thì cứ từng cơn từng cơn thổi ào ào uốn cong những cành lá bên hiên nhà miết vào mái tôn nghe kêu ken két rờn rợn như ai đó nghiến răng từng chập. Ở trong nhà, dưới ánh đèn dầu le lói phất qua phất lại, Năm Lâm nằm trên phản mà mắt cứ mở thao láo. Chuyện xảy ra đêm qua còn đang ám ảnh trong đầu... Tiếng đinh đoong lại vang lên làm Năm Lâm một lần nữa đưa mắt ngó mông vào chiếc đồng hồ treo tường và lẩm bẩm: "Không biết đêm nay làm sao mà khó ngủ đến vậy?” Và tiếng "đinh đoong" của chiếc đồng hồ cứ lần lượt văng vẳng vang lên trong đêm vắng làm Năm Lâm cảm thấy sốt cả ruột....
Đã hai giờ sáng. Ngoài trời mưa đã bắt đầu lất phất, không gian bắt đầu trở lạnh, và gió thì vẫn không ngừng thổi... Trời đất! Giờ phút này mà Năm Lâm chợt thấy buồn tiểu! Vậy là anh liền khoác vào người chiếc áo mưa, mở cửa đi ra bụi chuối sau hè. Khi Năm Lâm định đi trở lại nhà thì anh nghe thấy có tiếng rên rỉ giống tiếng hồi đêm qua lại vọng đến. Năm Lâm rùng mình, đôi mắt ngó ngang ngó ngửa và chợt bắt gặp một ánh đèn pin đang lay động trong đêm tối. Thử mò mẫm đi theo ánh đèn, Năm Lâm không khó khăn gì để nhận ra đây chính là sân sau của nhà cô Chín Tước. Cánh cửa sau của nhà cô Chín Tước từ từ mở ra. Bên trong, cô Chín Tước đang ngủ say với khuôn mặt mịn màng chất phác dưới ánh đèn dầu le lói. Đột nhiên, một chiếc búa được đưa lên phía trên cái cổ trắng ngần của cô Chín Tóc, tựa như bàn tay sắc bén của Diêm vương đang tính đùa giỡn trước một người con gái sắp sửa lìa trần. Lưỡi búa từ từ bốc lên cao, cao thêm chút nữa và sắp sửa phập mạnh xuống cổ cô Chín Tước. Từ trong bóng tối, Năm Lâm nhắm nghiền mắt lại và run lên từng hồi như thể anh sẽ là người lãnh nhận cái chém ấy. Song một bàn tay vô hình nào đó đã đẩy bật Năm Lâm ra ngoài. Anh liều mạng phóng tới cản lấy cán búa và lúc này thì cô Chín Tước cũng vừa tỉnh dậy la to lên. Vô tình thay, đầu cô lại chạm phải cái gì đó cùng với sự quá hoảng sợ nên cô Chín Tước cuối cùng đã té xỉu...
Lăn lộn vật vã với sức mạnh của người cầm búa, Năm Lâm càng lúc càng cảm thấy quá mệt mỏi, đuối sức. Sau đó Năm Lâm chỉ biết rên lên một tiếng thảm thiết và té ngã nhoài xuống đất. Lưỡi búa lại một lần nữa được nhấc lên cao, cao nữa nhưng lần này không phải nhắm vào cái cổ ngọc ngà của cô Chín Tước mà là ngay ở chiếc cần cổ đen sậm đang ướt đẫm mồ hôi của anh Năm Lâm.
Năm Lâm trợn trừng hai mắt đã mất hết dũng khí nhìn vào lưỡi búa đang chực kết liễu đời mình. Lưỡi búa bén ngót vẫn vô tình giáng xuống, giáng xuống từ từ. Và khi lưỡi búa chỉ còn cách cổ Năm Lâm trong gang tấc thì bỗng nhiên nó khựng lai. Năm Lâm thoáng thấy "con ma áo trắng" đêm qua xuất hiện và đang giơ hai tay giữ lại chiếc búa. Trong lúc người cầm búa đang giằng co giật lại chiếc búa thì Năm Lâm kịp thời lăn người ra đằng sau chụp được một cây đòn gánh và ráng sức phang mạnh vào phía sau ót của người cầm búa. Trúng đòn, hắn ta ngã té xỉu. Anh Năm Lâm ngước mắt lên nói:
- Cám ơn chị Bảy Thắm đã cứu mạng!
Cũng chính đôi mắt hiền từ như hơn một năm về trước, chị Bảy Thắm quay nhìn Năm Lâm một lần nữa và từ từ biến mất. Khi này, cô Chín Tước cũng đã tỉnh lại và nhóm tuần đinh của làng đã được báo đến. Anh Năm Lâm được băng bó những vết thương. Mọi người cùng xúm nhìn kẻ gian trong tay còn giữ chặt chiếc cán búa. Hóa ra kẻ đã chặt đầu Bảy Thắm hơn mười năm về trước là gã Tám Tàng. Trước áp lực của dân làng, gã Tám Tàng được chuyển lên tỉnh để điều tra và kết án.
Thế nhưng cuối cùng cũng không một ai có thể biết được nguyên do tại sao gã tám Tàng lại làm những chuyện kinh tởm như vậy vì chỉ sau khi bị bắt giam khoảng một tuần lễ, gã Tám Tàng đã kịp tự cắt cổ kết liễu đời mình ở nhà lao...
Người Về Từ Đáy Mộ
Lão Ba cố hả miệng thều thào hỏi một cách đau đớn:
- Mày đầu độc tao hả? Đúng không? Mày đầu độc tao! Đồ quỷ cái!
Bà Ba gật đầu, đáp bằng một giọng thật lạnh lùng:
- Đúng vậy! Chính tôi đã đầu độc ông. Trước sau gì thì ông cũng chết, bác sĩ đã nói như vậy, chỉ còn vấn đề thời gian. Có thể một vài tháng, có thể một vài năm, và ông hiểu rằng tôi không thể chịu đựng lâu hơn nữa. Mười lăm năm nhọc nhằn! Mười lăm năm quá nhiều điều cay đắng.
Lão Ba nghiến chặt hai hàm răng vì đau đớn nhưng cũng ráng gừ lên một tiếng chửi rủa như lão vẫn chửi rủa vợ lão mỗi ngày trong suốt mười lăm năm qua:
- Con khốn nạn! Rồi đây Trời sẽ phạt mày.
Bà Ba vẫn lạnh lùng:
- Đáng lẽ chúng ta không nên lấy nhau. Tôi không hề yêu ông và ông cũng chẳng ưa gì tôi. Ông căm hận tôi vì việc ông không lấy được con Tư cháo lòng. Còn tôi, ông cũng biết rằng tôi chỉ muốn làm vợ anh Sáu thợ hồ. Chỉ vì mấy thửa ruộng của hai nhà sát bên nhau mà cha mẹ ông và cha mẹ tôi buộc tôi phải lấy ông và ông phải lấy tôi. Tôi biết đó là một cực hình cho ông cũng như cho tôi.
Lão Ba lại vừa tiếp tục lăn lộn vừa không ngớt buông lời chửi rủa:
- Khốn nạn!
Bà Ba vẫn nói bằng giọng đều đều:
- Tôi đã có ý định đầu độc ông từ khi ông mới ngã bệnh. Bác sĩ nói tình trạng ông có thể sống lây lất thêm hàng năm nên tôi không thể nào chịu nổi. Tôi không còn muốn bị ông cứ đánh đập, chửi rủa mỗi ngày nữa.
Lão Ba rên rỉ:
- Tao cầu mong rồi đây có lúc lũ quỷ mặt xanh nanh vàng tra tấn mày dưới địa ngục.
- Có thể đấy... Nhưng dù sao tôi cũng tìm được sự bình an trên cõi đời này trước đã. Còn tiếp tục chung sống với ông đâu có khác gì đang bị ác quỷ hành hạ tra tấn!
Lão Ba vặn mình đau đớn, hai bàn tay lão nắm chặt lại chịu đựng. Là một người cứng rắn và mạnh mẽ, lão cố thu hết tàn lực, quát lớn:
- Tao sẽ trở về! Trở về từ đáy mộ... Hãy chờ đó con quỷ cái!
Rồi lão còn ráng giơ một nắm tay về phía bà vợ:
- Tao sẽ chờ mày xuống địa ngục...
Nói xong lão kiệt lực, buông tay xuống, mồ hôi tháo ra như tắm, toàn thân run rẩy:
- Trời đất ơi! Đau bụng quá! Hệt như dao đang đâm vào ruột...
Đột nhiên bà Ba ngẩng đầu lên nghe ngóng. Có tiếng xe gắn máy. Bà bước vội tới bên cửa sổ, nhìn ra ngoài lẩm bẩm:
- Sao ông bác sĩ hôm nay tới sớm quá vậy kìa?
Rồi bà bước tới bên gương, nhặt lấy chiếc khăn lông nằm dưới chân giường cuộn thành bó đè cứng vào mặt cho lão Ba ngột thở. Lão Ba cố sức vùng vẫy nhưng bà Ba còn đè nguyên người mình lên tấm khăn... chân tay lão Ba giật mạnh mấy cái rồi dần dần buông xuôi... Biết lão Ba đã tắt thở, bà Ba bèn đứng lên thở phào nhẹ nhõm.
Bà ném cái khăn lông lên lưng ghế trước khi bước ra mở cửa. Bà nói với ông bác sĩ vừa bước vào bằng một giọng điệu khá lạnh lùng:
- Ông ấy đã đi rồi sau khi bị bất tỉnh giống như mấy kỳ trước. Tụi nhỏ đi học hết nên tôi không biết làm sao kêu thầy. Nhưng dẫu sao tôi cũng mừng khi lão ấy không còn hành hạ tôi được nữa.
Vị bác sĩ lắc đầu tỏ vẻ thông cảm. Ngôi làng hẻo lánh này xem ra mọi người đều biết chuyện gia đình của nhau. Ông bác sĩ già đứng nhìn thi thể của lão Ba trước khi kéo cái mền phủ kín mặt lão rồi quay sang bà Ba:
- Hãy ngồi nghỉ ngơi một chút đi bà Ba. Đừng lo nghĩ gì thêm nhiều, để tôi cho ông Tám Tàng trại hòm hay trước khi nói với thầy giáo cho con Hoa và thằng Đực về ngay bây giờ. Bà Ba còn muốn kêu ai nữa không?
Bà Ba lắc đầu:
- Nhờ bác sĩ nói dùm với ông Tám Tàng tới đem lão ấy đi ngay giùm tôi. Bây giờ căn nhà này là của tôi. Lão đi khuất mắt tôi sớm phút nào hai phút ấy. Tôi không muốn nhìn mặt lão thêm chút nào nữa.
Bà Ba nói tiếp bằng một giọng đầy cay đắng:
- Suốt đời lão ấy đã làm khổ tôi. Tôi thù ghét lão từ ngày phải về với lão. Bây giờ căn nhà này là của tôi. Tôi sẽ khóa chặt căn phòng của lão ngay khi ông Tám Tàng đem lão đi. Tôi không bao giờ muốn nhìn thấy bên trong căn phòng đó nữa. Chỉ toàn là kỷ niệm đớn đau, những lời chửi rủa, hận thù. Tôi sẽ thiêu rụi căn phòng của lão nếu như căn nhà này không bị ảnh hưởng gì.
Rồi bà Ba ngồi xuống ghế ngước nhìn vị bác sĩ bằng đôi mắt lạnh lùng ráo hoảnh.
Ông bác sĩ cũng ngồi nhìn bà Ba, nói bằng một giọng dịu dàng, thông cảm:
- Có lẽ bà đã quá mệt mỏi rồi. Để tôi về lấy chai thuốc bổ mang tới cho bà.
- Tôi không cần thuốc bổ. Cái chết của lão là liều thuốc bổ tốt nhất đối với tôi rồi...
Ông bác sĩ già gạt ngang:
- Thôi bà à, chúng ta không nên nói xấu người quá cố nữa. Ai cũng biết ông Ba luôn đối xử với bà ra sao rồi. Thôi để tôi giúp bà đi kêu ông Tám Tàng đây...
Chưa đầy nửa giờ sau, ông Tám Tàng và một thanh niên phụ việc đẩy xe ba gác mang theo một chiếc quan tài lớn tới. Bà Ba đứng ngay cửa phòng chờ cho hai người vừa khiêng lão Ba tẩm liệm xong liền nói:
- Ngày mai sẽ tiến hành hỏa táng ông ta. Nhưng tôi thề với lòng mình cũng sẽ không bao giờ đặt chân vào căn phòng này sau khi đã hỏa thiêu ông ấy cho tới khi tôi tắt thở...
Hai người đàn ông nọ cũng lắc đầu thông cảm, họ hiểu rõ cuộc sống khốn khổ nhọc nhằn của bà Ba bên ông Ba từ nhiều năm qua.
Những năm kế tiếp, bà Ba thường ngày ra đồng làm việc cùng các lực điền và dành dụm mua thêm được khá nhiều vào cái vốn đã tương đối đồ sộ của ông Ba để lại.
Nhưng cuộc sống bà vẫn lạnh lùng, không hề mở môi và không hề có bạn, hệt như lão Ba đã không hề có bạn.
Rồi hai đứa con bà cũng dần lớn lên, trưởng thành. Con Hoa lập gia đình rồi theo chồng về làng kế bên, thằng Đực lớn lên ra đồng làm việc phụ mẹ khiến bà giảm được một gánh nặng. Rồi thằng Đực lấy vợ và mang cô dâu mới về ở chung với bà Ba. Rồi một lũ con nít theo nhau ra đời, cả sáu đứa hết thẩy. Nếu những tiếng cười vô tư của bầy trẻ có khiến tâm hồn bà nội chúng mềm đi một chút, bà không hề để lộ ra ngoài. Trong suốt những năm tháng dài đó, có một cái phòng, được gọi là phòng của nội, vẫn luôn luôn được khóa chặt. Cả gia đình không một ai nhắc nhở tới. Lũ trẻ tự cảm nhận thấy dường như có một cái gì mà chúng cho là rất kinh khủng đang ở bên trong nên mỗi lúc phải đi ngang căn phòng ấy, chúng vẫn cố tình đi thật nhanh, và khi bóng tối bao phủ căn nhà, ánh đèn dầu lung linh tạo nên những hình nhân lắc lư rung động trên tường chúng cũng không bao giờ dám bước tới gần căn phòng của nội. Dĩ nhiên đầu óc trẻ thơ của chúng luôn tưởng tượng ra thật nhiều điều...
Rồi một năm châu chấu xuất hiện tràn lan phá hoại mùa màng. Và năm sau đó trời hạn hán khiến giá thóc gia tăng trong khi lương bổng bị cắt giảm. Nhiều chủ điền buộc phải cho thợ nghỉ việc. Gia đình cô Hoa là một trong những nạn nhân đầu tiên. Mùa màng thất bát, chồng đau ốm rồi một đứa con nhỏ chào đời. Vợ chồng cô Hoa liền bồng con về xin bà Ba cho ở chung. Tuy vẫn lạnh lùng như thường lệ, nhưng bà Ba vẫn quyết định nhường cho vợ chồng Hoa một phòng. Lại tới phiên người anh vợ của Đực cũng bị chủ điền cho nghỉ việc. Không có công ăn việc làm, không tiền trả tiền mướn, anh ta cầu cứu vợ Đực. Nàng dâu bèn thưa chuyện với mẹ chồng. Bà Ba, lúc này đã già, nói với con dâu bằng một giọng cương quyết trong bữa ăn chiều:
- Thêm bốn miệng ăn nữa cũng chẳng sao. Má đồng ý cho tụi nó tới đây, nhưng... không biết phải cho tụi nó ngủ ở đâu?
Cô Hoa liếc nhìn anh Đực trước khi ngập ngừng nói lên cái ý nghĩ của tất cả mọi người:
- Căn phòng của nội. Mình có nên mở cửa phòng cho thoáng khí trước khi cho mấy người họ dọn vào ở đó được không má?
Bầu không khí đột nhiên yên lặng, nặng nề. Bà Ba liếc nhìn đứa con gái trước khi lần lượt nhìn vào mặt từng người, đoạn gằn giọng:
- Má đã thề sẽ không bao giờ bước chân vào phòng đó cho tới ngày má nhắm mắt.
Cô Hoa thu hết can đảm:
- Nhưng má cũng đâu có cần bước vào đó làm gì. Nhà mình chật quá đâu còn chỗ nào khác nữa đâu má?
Bà Ba đặt đôi đũa xuống bàn nói thật chậm rãi:
- Nếu có ai ngủ trong phòng đó, người đó phải là má. Má đã ở với cha tụi bây mười lăm năm trời, mười lăm năm trời đầy đắng cay thù hận. Cha tụi bây ghét má hơn má thù ghét ông ấy. Căn phòng đó đầy những sự thù ghét và sau mấy chục năm trời đóng kín, những sự thù ghét đó hiện đang sôi sục chỉ chờ cửa mở là tràn ra phủ ngập căn nhà này. Nhưng cũng không sao đâu! Má sẽ dọn vào đó...
Cô Hoa nói bằng một giọng đầy hối hận.
- Má ơi! Phải chi con đừng đưa ra đề nghị đó. Con biết là có một cái gì giữa ba và má nằm trong căn phòng đó nhưng con không biết...
Bà Ba ngắt lời đứa con gái:
- Một cái gì đó mà con nói đó chính là sự thù ghét giữa má và ông ấy. Nhưng má nói rồi. Cũng chẳng sao đâu! Má giờ đã già rồi, hơn bảy mươi rồi. Chắc má cũng chẳng còn sống được bao nhiêu lâu nữa đâu...
Bà ngưng lại, đôi mắt già mỏi mệt nhìn thật xa xôi:
- Có thể đây là sự tiền định! Trước khi chết ông ấy đã nói rằng ông ấy sẽ chờ má... Có thể lắm... Ai biết được!
Rồi bà Ba đứng lên:
- Má sẽ cho mở cửa phòng vào sáng ngày mai.
Dứt lời, bà mím chặt đôi môi, bước lên cầu thang về phòng ngủ trên lầu. Bước vào phòng, bà Ba đóng sầm cửa lại, ngồi yên lặng trên cái ghế nhỏ bên giường, đôi mắt mệt mỏi nhìn vào hư không trong khi cuốn phim dĩ vãng hiện lên thật rõ. Bây giờ, bà đang bị thúc giục mạnh mẽ bởi một ước muốn mà bà vẫn chôn chặt trong lòng từ gần một nửa thế kỷ, ước muốn của tất cả những kẻ sát nhân muốn nhìn lại hiện trường. Uớc muốn ấy đã tới với bà hàng ngàn lần trước đó nhưng lần nào bà cũng nén lòng được. Bây giờ, chỉ còn có mấy tiếng đồng hồ nữa căn phòng kia sẽ được mở ra, ước muốn lại trở về, mãnh liệt hơn bao giờ hết, căn phòng đóng kín kia đang réo gọi bà. Trong óc bà, một tiếng nói vô cùng mạnh mẽ vang lên: Bây giờ! Bây giờ! Tiếng nói này rất quen thuộc với bà vì đó là tiếng nói của chính ông Ba, người bà thù ghét, người mà bà đã đang tâm giết chết.
Bà Ba lặng lẽ đứng dậy, bước tới tủ áo, ngồi xuống mò dưới đáy tủ lấy chiếc chìa khóa mà bà đã giấu kín hàng mấy chục năm trời. Rồi bà trở lại ngồi trên ghế lắng nghe những tiếng chân lần lượt về phòng. Một lúc sau, căn nhà tối om đã hoàn toàn yên tĩnh. Bà Ba đứng dậy hé cửa nhìn ra dãy hành lang. Tất cả đều ngủ yên. Bà bèn trở vào phòng cầm cây đèn dầu, mở cửa thật nhẹ rồi rón rén bước xuống cầu thang.
Ngoài trời không khí bỗng nhiên trở nên nặng nề dường như muốn bão. Bà nghe tiếng gió rít qua những cành cây. Có cái gì tương tự như tiếng gió than van ngoài đêm tối? Bà Ba dừng lại, nghiêng tai lắng nghe và đột nhiên ký ức trở về thật rõ. Bà lẩm bẩm:
- Giống y như cái đêm trước khi lão ấy chết.
Tim bà đập mạnh hơn khi đứng trước cánh cửa đen ngòm, lạnh lùng của căn phòng chứa đầy thù hận. Sau một thoáng ngập ngừng, bà chuyển cây đèn sang tay trái tay phải lấy chìa khóa đút vào ổ khóa... bà vặn nhẹ... Chiếc ổ khóa không chuyển động. Bà vặn mạnh tay hơn... Cạch một tiếng ổ khóa bật ra. Bà đứng yên một lát, bàn tay đặt trên nắm cửa. Tự nhiên bà run lên vì lý do gì không rõ. Bà lẩm bẩm một mình:
- Lão ấy đã nói là lão sẽ trở về từ đáy mồ... Chắc là lão ấy sẽ chờ...
Bà vặn nắm cửa, đẩy mạnh... Cái bản lề cũ kêu rít lên phản đối trước khi cánh cửa mở bung ra. Một làn sóng hận thù từ trong phòng tràn ra phủ kín người bà. Bà chậm chạp bước vào, đôi môi mím chặt. Giơ cao ngọn đèn dầu, bà quan sát mọi vật trong phòng. Đó chính là cái giường với tấm khăn trải giường nhăn nheo, nơi ông Ba đã trút hơi thở cuối cùng hay không thể là hơi thở cuối cùng? Đó là cái gối mà ông Ba từng gối đầu trước khi nhắm mắt. Mọi vật không hề thay đổi. Bà Ba thoáng nhớ cả vị bác sĩ lẫn ông Tám Tàng, những người cuối cùng đặt chân vào căn phòng này bây giờ đây đều đã ra người thiên cổ. Kế bên đầu giường là một chiếc bàn nhỏ nơi vẫn còn cái ly mà bà pha thuốc độc cho ông Ba uống. Bà Ba lẩm bẩm:
- Lão ấy đã nói là lão sẽ chờ mình...
Căn phòng thật ẩm thấp và bụi bặm. Bà Ba khép cửa lại, đặt ngọn đèn dầu lên cái bàn nhỏ bên cạnh cái ly rồi bước tới bên cửa sổ, mở toang cánh cửa.
Một ngọn gió từ bên ngoài lùa vào, rít lên... ngọn đèn chợt lung linh vì gió tạo nên những bóng đen quái đản nhảy múa trên tường. Trên lưng ghế, chiếc khăn lông mà bà dùng đè cho ông Ba chết ngợp nay đã trở thành vàng khè, tuy bà vẫn nhìn thấy thật rõ một đốm đen ở chính giữa, đốm đen mà bà biết đấy chính là những giọt nước dãi cuối cùng của ông Ba. Bà bước tới giữa phòng, đôi mắt vẫn không rời khỏi đốm đen trên chiếc khăn lông. Rồi bà lặp đi lặp lại:
- Lão ấy đã nói là lão sẽ trở về từ đáy mồ... lão sẽ chờ mình...
Đột nhiên một cơn gió mạnh thổi vào qua khung cửa sổ. Ngọn đèn chao lên trước khi tắt ngấm. Bóng tối bất ngờ khiến bà Ba hoảng hốt. Lần đầu tiên trong đời bà biết sợ hãi! Bà liếc về cái giường, và chợt nhận thấy dường như có một người nào đó đang nằm, mặt quay về phía bà đưa tay vẫy vẫy. Bà run rẩy bước lui trước khi té ngồi xuống ghế. Một cơn gió mạnh thổi chiếc khăn lông như một con bạch tuộc với những cái vòi gớm ghiếc đang siết mạnh quanh cổ bà. Bà đưa hai tay lên cố kéo mạnh chiếc khăn lông ra trong khi bên tai bà, tiếng ông Ba vang lên mồn một: "Tao sẽ trở về từ đáy mồ... Tao chờ mày..."
Sáng sớm hôm sau, người ta thấy bà Ba nằm chết cứng đờ trong căn phòng của nội. Quanh cổ bà là chiếc khăn lông vàng khè, y như chiếc vòi bạch tuộc!
Chiếc Xe Trở Chứng
Tuấn khởi động cách nào nó cũng không chịu nổ máy. Anh xem đồng hồ, hơn sáu giờ chiều. Bực bội, Tuấn đóng cửa nhà xe, xách cặp ra ngoài đón taxi.
Đây là lần thứ ba chiếc xe bị như vậy. Hai lần trước Tuấn cũng có hẹn vào khoảng giờ này và cũng không khởi động được chiếc xe. Sáng hôm sau khi chuẩn bị đi làm, chiếc xe lại nổ máy và chạy bình thường.
Lần thứ hai, anh đã điện thoại cho người chủ ga ra, cũng là bạn anh, nhờ xem lại. Sau khi kiểm tra,chiếc xe được xác nhận là bình thường, thậm chí còn ở trạng thái hoàn hảo nữa là khác. Mà cũng lạ, chỉ có trên dưới khoảng sáu giờ chiều thì chiếc xe mới không nổ. Còn lúc khác thì không sao cả.
Có lẽ thợ sửa xe chưa tìm được bệnh. Triệu chứng này chỉ mới xảy ra trong thời gian gần đây, sau lần Tuấn đưa xe nhờ ga ra theo dõi và chăm sóc chiếc xe hôm cuối tuần.
Trong lúc chờ taxi, Tuấn lại điện cho ông bạn sửa xe:
- Nó lại chứng nữa rồi ông ơi! Tôi làm cách nào nó cũng không chịu nổ máy. Ừ. Đích thân ông coi kỹ lại dùm!
Tối hôm đó, sau khi quan hệ với khách hàng xong, Tuấn về đến nhà thì đã hơn mười một giờ đêm. Tuấn mở cửa rào vào nhà. Anh thấy chiếc xe nằm ngoài sân. Có lẽ ông bạn đã đến sửa và để xe ở đây. Anh mở cửa đề máy và đưa xe vào nhà xe, khóa cẩn thận.
Sáng hôm sau, trong lúc điểm tâm, Tuấn hỏi vợ:
- Hồi tối anh Khải lại sửa xe cho anh hả?
- Đâu có đâu anh.
- Vậy sao chiếc xe nằm ngoài sân?
- Vậy hả, em đâu có biết.
- Kỳ vậy. Hồi anh đi, anh đề máy xe không nổ, anh phải đi bằng taxi. Đến chừng về, anh thấy xe đậu ngoài sân. Anh phải đưa xe vô nhà xe mà.
- Đâu có ai chạy xe đâu. Nếu anh Khải tới sửa thì phải kêu em mở khóa nhà, rồi mở cửa nhà xe chớ.
Tuấn điện thoại cho Khải:
- A lô, chừng nào ông mới tới coi xe giùm tôi?
Đầu kia có giọng trả lời vừa mệt mỏi và như ngáy ngủ:
- Xin lỗi Tuấn. Mình chưa tới được. Chiều hôm qua mình có khách nên xỉn quá. Giờ này dậy còn chưa nổi đây. Mà mình thấy xe ông có vấn đề gì đâu. Thông cảm nghe, chiều nay mình tới.
- Vậy thì ai đưa xe ra sân? Không lẽ trộm.
Là một nhà kinh doanh, chuyện xe cộ đối với Tuấn hết sức quan trọng, xe phải tốt để bảo đảm giờ hẹn. Chiếc xe còn thể hiện phong cách làm việc của chủ nhân. Chiếc xe nay hư, mai hỏng vừa làm người đi bực mình, vừa làm xấu đi hình ảnh trước đối tác.
Ý thức như vậy, Tuấn mới mua chiếc xe đắt tiền này và luôn bảo trì cẩn thận. Mỗi tháng anh đều giao cho Khải kiểm tra một lần. Nhờ vậy, từ trước đến nay anh luôn hài lòng với nó. Hơn nữa, anh không mướn tài xế, anh luôn tự lái mỗi khi đi đâu.Trong nhà chỉ có vợ anh, hai con nhỏ và bà mẹ. Tất cả đều không biết lái xe. Nếu anh có thì giờ, anh sẽ đưa họ đi khi cần, còn không thì cả nhà đi taxi.
Tại sao xe anh có lúc nổ máy, lúc không? Tại sao tối hôm qua chiếc xe anh lại đậu ở sân? Tạm thời anh chưa trả lời được câu hỏi nào cả.
Tuấn mở cửa xe. Bước vào. Đút chìa khóa công tắc. Đề máy. Chiếc xe nổ máy với âm thanh êm ái một cách vừa ý. Anh hôn vợ và dặn:
- Đóng cửa giùm anh nghen.
Chiếc xe nhẹ nhàng ra đường hòa vào dòng xe cộ đang hối hả của thành phố chuyển mình.
Chiều hôm đó, khi Tuấn đang sắp xếp chuẩn bị về thì có điện thoại của vợ anh:
- Anh Khải tới coi xe cho anh, em trả lời sao đây?
- Được rồi. Em nói anh Khải đợi anh, anh về tới liền.
Khi Tuấn về đến nhà Khải mở cổng. Anh lái một đường cong nhẹ để đưa xe đậu ở thềm. Khải ra dấu bảo Tuấn đừng tắt máy. Khải ép sát tai vào ca-pô. Thang máy nổ chậm đều và rất ngọt. Khải nhắm mắt, chăm chú lắng nghe. Tuyệt đối không có một âm thanh lạ, dù rất nhỏ. Khải lại giở ca-pô, nhìn thật kỹ và nghe thật kỹ.
- Không có gì hết. Tất cả đều hoàn hảo.
Tuấn yên tâm khi nghe bạn nói. Tuấn và Khải là bạn học chung thời trung học. Hai người chơi với nhau khá thân. Lên đại học, Khải chọn ngành kỹ thuật, tốt nghiệp kỹ sư cơ khí, Khải tiếp quản cơ sở sửa chữa xe hơi của cha. Với tay nghề kinh nghiệm gia truyền cộng với kiến thức khoa học kỹ thuật của Khải, cơ sở sửa xe ngày một phát triển và rất uy tín của thành phố này.
Còn Tuấn thì lao vào kinh doanh và cũng là một doanh nhân tương đối thành đạt. Mặc dù hiện nay do điều kiện công việc họ không còn cặp đôi như xưa nữa, nhưng tình cảm thân thiết vẫn không hề sứt mẻ tí nào.
Mỗi khi người nào cần thì chỉ cần ới một tiếng, người kia có mặt ngay. Ngay cả khi đi mua chiếc xe này Khải cũng đích thân đi và chọn lựa.
Tuấn tắt máy, mở cửa bước xuống. Khải lên xe khởi động. Chiếc xe nổ máy êm như ru. Khải đánh nhẹ tay lái đưa xe vào nhà xe.
- Em cho anh món gì ngon ngon để anh với anh Khải lai rai một chút.
Tuấn đưa Khải lên lan can tầng một. Nơi đó có cái bàn nhỏ rất hữu tình được thiết kế dành riêng cho các cuộc hội ngộ bạn bè chí cốt.
Cũng như những người bạn khác, lâu lâu mới có dịp thư thả ngồi với nhau, hai người thăm hỏi gia đình, vợ con. Kế đó là trao đổi cho nhau những tin tức về sự thành công hay thất bại của những người bạn chung.
Khi vợ Tuấn mang đĩa thức ăn, đột ngột Khải đổi đề tài:
- Ông nói chiếc xe thường khởi động không được trong khoảng thời gian nào?
Vừa khui chai rượu, Tuấn vừa trả lời:
- Tôi thấy là khoảng sáu tới bảy giờ. Những lúc có chuyện đi trong giờ này thì y thường...
- Hay là bà chủ xe không muốn ông đi giờ đó?
Vợ Tuấn cười:
- Không có đâu anh. Em đâu có biết gì về xe cộ.
- Đùa thôi. Thế này thì lạ thật.
Họ nâng ly. Chất rượu màu mật ong sóng sánh. Thời gian chầm chậm trôi qua. Lâu sau, bất ngờ Khải hỏi:
- Mấy giờ rồi?
- Sáu giờ hai mươi.
- Mình xuống thử xe.
Hai người xuống nhà để xe, mở cửa, lao lên xe, khởi động máy. Chỉ có tiếng khởi động. Máy xe không nổ. Khải kiểm tra thật kỹ, xem máy, thử điện, thử lửa, thử xăng tất cả đều tốt.
- Kỳ à nghen.
Khải trầm ngâm nhìn chiếc xe một lúc, bất ngờ nói:
- Thôi mình lên nhậu tiếp.
Hai người lại tiếp tục uống lai rai. Bảy giờ mười phút. Họ trở xuống nhà xe. Chiếc xe khởi động ngọt ngào như chưa bao giờ trở chứng. Khải lắc đầu, nhún vai, cười và từ giã bạn ra về.
Tuấn hoàn toàn không thể tưởng tượng được khi sáng hôm sau anh xuống nhà đi làm thì chiếc xe đã đậu ở ngoài sân, thay vì trong nhà xe. Chiếc xe đậu bên thềm. Cái dáng đậu đó chưa phải là vị trí của chiếc xe sắp ra cổng.
- Chuyện gì đã xảy ra?
Tuấn không thể nào dự đoán được một điều gì. Trong đầu anh có biết bao nhiêu nghi hoặc, thắc mắc mà không hề giải thích nổi.
Cuối cùng thì Tuấn cũng có được một kế hoạch.
Chiều hôm đó, anh mắc dây đặt chiếc Camera trên lan can lầu một hướng xuống sân. Tối đến anh cố thức thật khuya quan sát nhưng không có chuyện gì xảy ra. Anh đi ngủ sau khi bật camera.
Sáng hôm sau chiếc xe đậu sẵn ở sân. Tuấn vào phòng mở đoạn phim thu được. Trong bóng tối, không một bóng người, hình ảnh chiếc xe mờ mờ di chuyển tới sân. Anh thấy dường như trên nắp xe có một bóng trắng mờ mờ hình người nằm trên đó. Anh tua đi quay lại nhìn thật kỹ và xác định đúng như vậy.
Tuấn chạy xuống nhìn vào nắp xe. Không thấy có gì lạ.
Hôm sau Tuấn thay đổi vị trí lắp camera. Chiếc máy được lắp sát vào chậu cây cảnh dưới sân. Từ vị trí này góc nhìn của máy rất rộng, có thể thấy từ cửa nhà để xe đến sân. Chiếc camera này là loại mới, có thể nhìn thấy rõ hình ảnh trong đêm tối mà anh mới mượn được của người bạn trưa nay.
Đến hơn mười một giờ Tuấn đi ngủ và mở máy quay. Thức dậy, việc đầu tiên là Tuấn chạy ra lan can nhìn xuống. Chiếc xe đã đậu ở sân. Anh xuống chỗ đặt máy quay lấy phim thu được. Hình ảnh lần này khá rõ. Cái khóa nhà xe tự mở, hai cánh cửa sắt bung rộng ra, chiếc xe không người lái di chuyển từ từ. Không phải, nói đúng hơn là chiếc xe đang trôi chầm chậm. Đầu tiên là nó lùi ra khỏi nhà xe để trở đầu, qua một khúc cua dễ dàng và đến đậu trước sân. Trong xe không có người lái.
Quan trọng hơn là trên nắp xe có người. Hình ảnh cho thấy một người đang nằm trên nắp xe. Xem lại nhiều lần, Tuấn thấy rõ đó là thân một người con gái, nằm bất động và có cả máu. Cô gái mặc bộ quần áo trắng, mái tóc dài bện máu. Máu trên nắp xe, máu dính vào cản xe. Anh thấy rõ máu còn nhểu từng giọt trên khuôn mặt người con gái tội nghiệp.
Toát mồ hôi Tuấn điện thoại cho Khải. Khải đi sửa xe cho người quen ở tỉnh. Khải hẹn tối nay gặp. Tối hôm đó vào khoảng bảy giờ rưỡi, Tuấn lái xe đến nhà Khải.
Đây là con đường khá tối trong thành phố, đèn đường rất thưa và có cái hư, nên hai bên đường tối và đường vắng. Đèn đỏ, Tuấn ngừng xe. Bất ngờ anh ngước lên kính chiếu hậu. Cái gì vậy? Một người con gái ngồi nép băng sau xe anh. Đó lại đúng là cô gái mà anh nhìn thấy trong phim thu được. Cô gái mặc bộ quần áo trắng, mái tóc dài bị bện máu. Có cả những giọt máu.
Anh cảm thấy ớn lạnh. Mồ hôi tuôn trơn ướt hai bàn tay đang cầm vô lăng. Anh phải hết sức mình để giữ bình tĩnh.
Bất thần anh quay lại nhìn phía sau. Không có gì cả. Anh nhìn lại kính chiếu hậu, cô gái vẫn còn ngồi đó. Thật tình thì anh định mở cửa xe bỏ chạy.
Có tiếng còi xe phía sau. Đèn đã chuyển sang xanh. Tuấn tăng ga cho xe chạy chầm chậm và nhìn lên kính chiếu hậu. Hình ảnh cô gái đã biến mất.
Vượt qua một ngã tư nữa, anh từ từ tấp xe vào lề trước nhà Khải. Đây lại là đoạn đường tối.
Trời ơi, trong ánh đèn pha cô gái lại hiện ra trước mắt Tuấn. Vẫn bộ quần áo trắng. Vẫn mái tóc dài bay thấp thoáng còn bện máu.
Nghe tiếng xe ngừng, biết anh tới, Khải mở cửa nhà. Cô gái biến mất.
***
Vợ chồng Khải im lặng khi nghe Tuấn kể câu chuyện. Từ việc anh quay phim đến việc anh thấy người con gái ma trong xe, trong ánh đèn pha. Nhưng không hiểu sao cả hai đoạn phim đều không chiếu được trên máy nhà Khải.
Vợ Khải có vẻ sợ. Khải trầm ngâm hút thuốc.
Sau một lúc suy nghĩ đầy căng thẳng, Khải đứng dậy vào phòng. Khi trở ra anh cầm theo một tờ báo. Mở trang cuối, Khải chỉ cho anh một cột báo có đóng khung.
Tuấn đọc. Đó là thông báo truy tìm chủ xe và người lái xe gây tai nạn. Chiếc xe màu xanh lợt, có hai số sau là 09, gây tai nạn làm chết một cô gái rồi bỏ chạy vào tối thứ bảy tuần rồi...
Tuấn chợt hiểu ra:
- Là xe anh.
Khải nói, giọng trầm và chậm rãi:
- Tôi vừa mới đọc được chiều nay. Tối thứ bảy vợ chồng tôi đi Vũng Tàu. Cơ sở nghỉ. Chỉ có một thằng thợ trực ở tiệm.
Khải quay qua bảo vợ:
- Em kêu thằng Thành qua cho anh.
Ít phút sau vợ Khải và anh thợ sửa xe Thành bước vào. Không khí im lặng và căng thẳng, cái nhìn của ông chủ cơ sở và ông chủ xe quen thuộc, Thành ngơ ngác như mất hồn một chút rồi ngã bệt dưới đất:
- Em lỡ... Tối thứ bảy, em lén lấy xe đi uống cà phê rồi lỡ...
Thành khóc như mưa...