Cột đồng chưa xanh (tt)
Trong phòng mọi người cười vui vẻ phẩm bình:
_ Thực đúng với câu: “Ông vua cũng thua kẻ liều” mà!
_ Quả chẳng hổ danh là một vị Đại nguyên soái bách chiến bách thắng!
_ Còn chuyện của thân phụ ngài Tế Văn Hầu sau khi được vợ thì thế nào?
Đợi sự sôi nổi của mọi người lắng xuống xong người họ Phạm mới từ từ đáp:
_ Vâng, sau khi kết hôn, ngài Phi Khanh trở về quê dạy học, mãi đến khi Hồ Hán Thương lên ngôi, ngài ra làm quan, được bổ nhiệm chức Hàn Lâm học sĩ, Thống chương Đại phu, Đại lý tự khanh kiêm Trung thư Thị lang, Tư nghiệp Quốc tử giám. Khi quân Minh xâm lược nước ta, ngài Phi Khanh bị tướng giặc Trương Phụ bắt và giải về Tàu, Tế Văn Hầu chạy theo cha ra đến ải Nam Quan. Ngài Phi Khanh quay lại bảo Tế Văn Hầu: “Bậc đại trượng phu phải biết nuôi chí diệt giặc, báo thù nhà, trả hận nước chứ lẽ đâu lại theo cha khóc lóc như đàn bà thế sao”. Nghe lời cha, Tế Văn Hầu quay lại Thăng long chờ thời cơ.
Lại có tiếng người cắt ngang:
_ Tôi nghe nói tương truyền nước mắt đưa tiễn của hai người rơi xuống nhiều đến đổi thành giếng, được đồng bào địa phương đặt tên là giếng Phi Khanh đấy!
_ Đúng rồi, dạo trước tôi có qua Đồng Quan, chính mắt nhìn thấy giếng Phi Khanh mà!
_ Thật thế hử?
_ Các ông yên để Phạm tiên sinh tiếp tục nào!
Người họ Phạm kể tiếp:
_ Lúc ấy Bình Định Vương nổi lên chống giặc ở Lam Sơn bị bại binh nhiều trận, lần cuối cùng rút về núi Chí Linh ẩn tránh, lương thực thiếu thốn, quân sĩ mỏi mệt. Tế Văn Hầu bèn cùng với Trần Tả tướng quốc lẻn vào Lỗi giang yết kiến Lê Thái Tổ, lúc ấy xưng là Bình Định Vương, dâng bản Bình Ngô Sách, vạch ra ba kế sách chiến thắng giặc mà quan trọng nhất là tâm công, tức đánh vào lòng người. Ngài được phong cho chức Tuyên phong đại phu Thừa chỉ Hàn Lâm viện, ngày đêm dự bàn việc quân. Ngài khuyên Bình Định Vương nên giảng hoà với quân Minh để tranh thủ thời gian củng cố lực lượng và được Bình Định Vương nghe theo, sai ngài viết thư cầu hoà gửi sứ giả mang đi cùng với lễ vật. Lời lẽ trong thư rất mềm dẻo khôn khéo nên được Tổng binh Trần Trí chấp thuận ngay. Sau đấy, mọi thư từ giao thiệp giữa quân Lam Sơn và quân Minh cũng như văn thư hiểu dụ các thành trì đều do một tay Tế Văn Hầu soạn thảo. Ngài mở cuộc chiến tranh tâm lý để tranh thủ lòng dân.
_ Chiến tranh tâm lý nữa à?
_ Đúng thế, ngài dùng mực trộn mỡ viết vào lá cây tám chữ Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần (黎利為君, 阮廌為臣), nghĩa là Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi. Vài ngày sau, kiến ăn mỡ khoét thành chữ trên mặt lá, rồi gió thổi lá bay, theo dòng nước trôi đi các ngả như điềm tin báo từ trên trời xuống. Cùng với truyền thuyết về thanh Thuận Thiên kiếm trên có khắc chữ “Thế thiên hành hoá” mà Bình Định Vương tình cờ bắt được khiến cho mọi người hết sức tin tưởng vào sứ mệnh của Bình Định Vương là do Trời sai xuống trần cứu dân cứu nước.
_ Mưu mẹo thần tình nhỉ? Thế mới đáng mặt quân sư cho Bình Định Vương chứ!
_ Sau thời gian hoà hoãn Trần Trí biết ý đồ Bình Định Vương không thể chiêu dụ được nên bắt giữ sứ giả, tuyệt giao với quân Lam Sơn. Nhưng từ khi có Tế Văn Hầu và Tả tướng quốc phụ giúp, nghĩa quân chiến thắng liên tục, cả miền đất từ dãy Tam Điệp trở vào đèo Hải Vân đều thuộc địa bàn cai quản của nghĩa quân Lam Sơn, quân Minh chỉ còn cố thủ trong năm thành Tây Đô, Diễn Châu, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá chờ cứu viện. Sau đấy nghĩa quân tấn công ra bắc và thắng quân Minh ở Tốt Động - Chúc Động, kiểm soát toàn bộ miền Bắc, vây hãm chủ tướng giặc Vương Thông ở thành Đông Quan. Tế Văn Hầu viết thư chiêu dụ các tướng lĩnh nhà Minh ở Nghệ an, Tân Bình, Thuận Hoá, Tam Giang và một số thành trì khác đầu hàng. Quân Minh ở Giao Chỉ càng bị cô lập nhanh chóng, chỉ còn cố thủ được ở một số thành như Đông Quan, Cổ Lộng, Tây Đô ... mà thôi. Khi 15 vạn viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh bị phá tan, Liễu Thăng chết còn Mộc Thạnh chạy thoát về Tàu, một số tướng sĩ đến yết kiến và khuyên Bình Định Vương nên đánh thành Đông Quan, giết hết quân Minh để trả thù cho sự bạo ngược chúng đã gây cho dân Việt, nhưng riêng Tế Văn Hầu khuyên Vương giảng hoà để tiết kiệm xương máu quân dân và tránh việc nhà Minh lại cử binh sang báo thù. Vương thuận tình cho Vương Thông giảng hoà, tổ chức hội thề Đông quan để rút toàn bộ quân Minh về nước. Sau chiến thắng, Bình Định Vương luận công ban thưởng, ngài được xếp đứng đầu hàng văn thần, được ban quốc tính và tước Quan phục hầu, tiếp tục giữ chức Nhập nội Hành khiển như cũ. Ngài được lệnh soạn thảo “Bình Ngô Đại Cáo” để thông báo với cả nước về việc chiến thắng quân Minh.
Ái Hoa
(còn tiếp)
__________________
Sầu mong theo lệ khôn rơi lệ
Nhớ gởi vào thơ nghĩ tội thơ (Quách Tấn)
|