Biên hoang truyền thuyết
Hồi 7
Trại đêm nấu rượu
Lưu Dụ từ một lối mòn trong cánh rừng rậm rạp nhảy ra, dưới ánh trăng chiếu sáng rực rỡ xuất hiện một tòa thành bảo màu xanh thẫm, gã không lạ chút nào, loại thành bảo như thế ở miệt bắc sông Hoài là sản phẩm độc đáo của địa phương này, có điều tòa thành trước mắt rõ ràng đã bị bỏ hoang khá lâu, cỏ dại um tùm, tường thành đổ nát, không một ánh đèn lửa, cổng vào đã biến thành ô trống tối thui.
Từ Vĩnh Gia chi họa trở về sau, những thành bảo kiểu này trở thành một loại cứ điểm sanh tồn dành cho bách tính chống lại chiến hỏa tàn phá, người cùng thôn hoặc cùng họ tụ tập sinh sống, nghiễm nhiên thành ra đơn vị võ trang tự vệ dựa vào thành cao hào sâu. Thành bảo loại lớn có tới hàng ngàn hộ dân sinh sống, khói lửa mặn nồng, xóm giềng thân thiết.
Theo kiến trúc mà coi tòa thành bảo trước mắt thuộc loại nhỏ, cũng có vọng lâu, trên tường còn đắp một đoạn thành dài chừng ba thước, qui mô chỉ hơn trăm hộ cư trú. Bất quá đấy là chuyện quá xưa rồi, hiện giờ chỉ còn vườn không nhà trống, tự tại lặng thinh tố cáo lão thiên gia về khổ nạn trên thân mình.
Lưu Dụ bỗng nhiên tăng nhanh tốc độ, chuồn vào cổng bảo, thò đầu ra nhìn, mục quang quét nhanh, ba xác người liên tiếp nằm trên con đường lớn, giống như được xếp thành hàng cách nhau một trượng, thi thể gần nhất bị người bóp nát sọ, trảo kình thực là kinh khủng.
Lưu Dụ hoàn toàn không muốn nhập bảo truy tìm căn nguyên, càng không muốn gióng chuông kêu gọi yêu đạo Thái Bình Giáo tới, chỉ liếc qua rồi quay đầu mau chóng li khai, hướng Nhữ Âm chuốn thẳng.
Nếu để hỏng chuyện chính, huyết án trong bảo căn bản không đáng để nói đến.
o0o
Khất Phục Quốc Nhân chạy tới bờ đông Dĩnh Thủy, dòng sông trải dài dưới ánh trăng, sóng nước long lanh, trên bờ rừng cây tỏa bóng, hư hư thực thực, càng khiến người ta nghi thần nghi quỷ, Yến Phi thì không thấy tăm dạng.
Thiên nhãn ưng liệng vòng tròn trên cánh rừng hoang rậm rạp bờ bên kia, hiển nhiên chưa nhìn ra nơi ẩn náu của Yến Phi trên một cành cây thô tháp giống như một cánh tay đang thuận dòng trôi xuống phía nam.
Khất Phục Quốc Nhân lạnh lùng cười gằn, Yến Phi nhất định ôm cây ẩn núp trên sông, lại tá lực sang ngang cách bờ chừng sáu trượng, sau đó chuồn vào rừng rậm, hòng tránh né ánh mắt tinh tường của Thiên nhãn. Nghĩ tới đó, đang còn do dự, đại điểu đã đằng không lượn đi, hướng tới những khúc cây trôi trên sông, vô luận là cự ly hay tốc độ bập bềnh trên sóng ra làm sao cũng đều chụp tới không sót tí gì.
Mắt đang nhìn mũi nước, đột nhiên dị biến phát sinh hết sức mau lẹ, khiến cho Khất Phục Quốc Nhân bản lĩnh ứng biến như vậy mà cũng không kịp phòng bị, cước bộ đại loạn.
Từng tấc từng tấc cả một vùng bị băm nát, một đạo thanh mang phá thủy xung thiên vọt tới, kích thẳng vào những điểm yếu hại của Khất Phục Quốc nhân.
Khất Phục Quốc Nhân quát to một tiếng, thi triển bản lĩnh đề kháng giấu kín xưa nay, là chiêu thức cứu mệnh tối hậu, cố gắng đề khởi chân lực vào hữu cước thay cho tả cước đạp thẳng lên trên mũi kiếm, toàn thân công lực đều tụ vào Dũng Tuyền huyệt.
“Oanh!”.
Trường kiếm bay lên cắm xuông mặt sông, Khắc Phục Quốc Nhân rú lên kinh thiên động địa, chiếc giày nát bấy, tiên huyết bắn tóe từ bàn chân, loạng choạng mấy cái, quay đầu đi mất về bờ đông.
Dưới nước Yến Phi tuy thầm vui mừng diệu kế thành công, nhưng cũng bị lực phản chấn của đối phương khiến cho toàn thân khí huyết dâng trào, lại càng tiếc trong hoàn cảnh thuận lợi như thế nhưng cũng không thể dồn đối phương vào tử địa, dù sao thì Khất Phục Quốc Nhân cũng đã nếm mùi lợi hại, nếu không tốn thời gian điều dưỡng đừng mong quay lại truy bắt gã.
Kế sách xảo diệu của gã chính là trước tiên bám cây gỗ qua sông, chuồn vào rừng rậm, nhử cho Thiên nhãn tới truy tìm, lại bí mật xuống nước, tại đó phục kích kẻ địch. Khất Phục Quốc Nhân vừa đặt chân xuống đất, lập tức kêu gọi Thiên nhãn rồi thong thả tiến vào rừng cây bên bờ đông.
Yến Phi trèo lên bờ tây, thở sâu một hơi, không dám dừng lại, hướng Nhữ Âm tiến tới. Gã thụ nội thương nghiêm trọng, cần tìm nơi ẩn mật tránh được Thiên nhãn nhòm ngó, điều tức dưỡng thương, chờ khi phục nguyên rồi lại quay về Biên Hoang Tập. Không có chốn nào lý tưởng hơn tòa thành hoang phế này.
o0o
Đô thành Kiến khang của Nam Tấn, Ô Y Hạng, Tạ phủ, Vong Quan Hiên trong Tứ Qúy Viên.
Tạ An trải chiếu ngồi gần song cửa phía đông, đang tấu cây đàn ngũ huyền cổ cầm, ánh trăng vàng rải khắp vườn, trong hiên không một ngọn đèn, chỉ có ngọn lửa trong lò than nhỏ bập bùng, một vị tăng mang bạch y phong thần tú dật dùng quạt quạt lửa hâm rượu, thần thái du nhàn tự đắc.
Tạ An đã tiến vào thế giới của cầm âm, hiện thực không còn tồn tại, tất thảy chỉ còn âm nhạc, gió theo tây song dịu dàng thổi đến, y phục hai người không ngừng bay lất phất, phảng phất như tiên nhân. Cầm âm chuyển điệu, khi thanh thoát khích lệ vượt lên, bỗng lại tiêu trầm ai oán, bất luận biến đổi ra sao, đều khiến người ta rũ sạch lo âu, tâm tình trong sáng, quên đi trần tục.
Tiếng đàn ngưng lại, nhưng dư âm chưa dứt, vẫn quanh quẩn trong hiên. Tăng nhân nọ lắc đầu ngâm:
“Ngoại bất ký ngoại,
Nội nhuận quỳnh dao;
Như bỉ tiềm hồng,
Phất vũ vân tiêu.
Tạ huynh ẩn thì tiêu sái, làm quan thì hiển hách; ẩn thời là phong lưu danh sĩ, quan thì vẫn là phong lưu tể tướng, cả đời phong lưu, nhưng điều khiến Chi Tuần ta bội phục ấy là lúc ở ẩn không quên tình thiên hạ, khi làm quan không quên tình núi sông, không thẹn là đệ nhất phong lưu nhân vật tự xưa tới nay”.
Tạ An cười nhẹ: “Chi Tuần đại sư sao bỗng dưng tán tụng Tạ An như thế, Tạ An thẹn không dám nhận, tự Hán Tấn trở lại đây, danh sĩ bội xuất, khi nào mới tính đến ta, ta coi đại sư có ý khác đúng không?”.
Chi Tuần gật đầu: “Nghe tiếng đàn của Tạ huynh mới rõ huynh bên ngoài tỏ ra phóng đạt tiêu dao, bên trong lại có mối thâm tình lưu luyến, âm thầm chất chứa niềm thương tiếc đối với trường nội loạn ngoại nạn này, tiếng đàn đêm nay tâm sự lại càng thêm nặng nề. Có phải vì lo lắng trường đại chiến sắp tới chăng?”.
Nói xong đặt hồ rượu lên trên lò than, tay kia lấy ra hai cái chén, tự nhiên đi tới ngồi xuống đối diện Tạ An.
Tạ An khoan thai nói: “Cuộc chiến này thành bại, đã giao cho bọn trẻ phụ trách, Tạ An ta không để trong lòng. Chỉ bất quá vào thời khắc quyết định Đại Tấn tồn vong này, ta lại nghĩ đến rất nhiều điều trước đây không để ý. Đạo cùng tắc biến, vật cấp tất phản, đấy là cái lý của trời đất, không người nào đủ sức cải biến”.
Nói những lời cuối cùng, hiện ra một nét khổ sở tuyệt vọng.
Chi Tuần nâng hồ rượu nóng rót cho Tạ An, nói: “Huynh nói như dễ lắm. Thế nhưng ta lại biết rõ ngay khi Phù Kiên quật khởi, huynh đã lập tức chuẩn bị ứng phó với trường đại quyết chiến này, chẳng những tiến hành biên tịch thổ địa, thu hồi vô số đất đai từ các thế tộc, mà còn chiêu mộ tráng đinh rất nhiều, thành lập Bắc phủ binh. Chỉ bất quá huynh nhất nhất phụng mệnh hoàng thượng mà làm, hoàn toàn không làm khó cho dân, làm như kẻ thiện chiến mà không công lao hiển hách, kỳ thực thì lấy hòa tĩnh mà trấn giữ, dùng kế lâu dài để phòng ngự, vì đại cục mà bỏ qua tiểu tiết, dạy người dưới bằng hành động, bề ngoài vụng về mà bên trong cực khéo, đâu có giống như huynh nói không hề can thiệp vào chuyện gì?”.
Lại tự châm rượu cho mình, nói tiếp: “Từ hưng thịnh coi ra suy diệt, theo sinh cơ mà biết tử vong, thịnh suy sinh tử tuần hoàn xoay chuyển, chỉ một qui luật, Tạ huynh sao còn trăn trở tiếc nuối?”.
Tạ An nâng chén mời, hai người một hơi uống cạn.
Tạ An đặt chén xuống, ưu tư nói:
“Thứ nhất vong tình,
Thứ hai tận tình,
Thứ nữa nhờ tình,
Gõ tiếng chuông tình,
Chính thị bọn ta.
Vừa rồi ta đánh đàn, bỗng nhiên nghĩ đến vị trí của bản thân, mới sinh ra cảm giác lo lắng”.
Chi Tuần ngạc nhiên hỏi:”Vì sao lại nói thế?”.
Tạ An không trực tiếp trả lời mà nói: “Do Vương Đạo đến gặp ta, mỗi lần đều thúc giục chuyện cắt đất, sự thực chỉ muốn chiếm đoạt đất đai và nhân khẩu trong tay các thế tộc, nhưng bọn ta Vương, Tạ hai nhà đều là thế tộc trong hàng thế tộc, đại sư nói coi thế chẳng phải là rất mâu thuẫn hay sao?”.
Chi Tuần đã hiểu rõ.
Tấn thất lập nước, đại phong tông thất, dùng các tông vương nắm giữ các đạo quân, gieo mầm cái họa Bát vương, là cao môn thế tộc, đương nhiên theo phẩm cấp hưởng đặc quyền chiếm đất, cha truyền con nối, chiếm đoạt đất đai hộ khẩu nhiều vô số kể, lại còn được miễn trừ đóng góp cho quốc gia, cắt đất chính là hạn chế loại đặc quyền này của các công khanh thế tộc, lại càng có ý đối phó với vấn đề cưỡng chiếm thổ địa với thủ đoạn có xu hướng ngày càng ác độc.
Tạ An trầm giọng nói: “Cuối thời Đông Hán, hết loạn khăn vàng lại đến loạn Đổng Trác, quần hùng thiên hạ quật khởi, công phạt lẫn nhau, chiến họa liên miên, đến nay cũng chưa ngừng nghỉ, trải hai trăm năm, chỉ có Đại Tấn ta là thực hiện được việc thống nhất tạm thời, tuy mới có được ba mươi tám năm, trung thổ lại bị phân liệt thành cục diện cát cứ. Loạn Bát vương đương nhiên tạo sự phá hoại nghiêm trọng đối với Đại Tấn, cũng có thể vì vậy khiến các tộc Hồ làm loạn, không ai lường nổi, làm cho bách tính lưu vong, Trung Nguyên tiêu điều, ngàn dặm không thấy bóng khói, cơ hàn lưu tổn, ruộng đồng bỏ hoang, dân chúng không nơi nương tựa, từ khai thiên lập địa, theo thư tịch để lại, chưa bao giờ có chuyện như thế. Xét cho cùng nguyên nhân chính là do quyền lợi môn phiệt làm tối mắt và Hồ tộc xâm nhập Trung Nguyên, Tạ An mỗ thân là thế tộc chi thủ, nghĩ đến chuyện này, trong đầu thật quả là ngổn ngang trăm mối”.
Chi Tuần nói: “Tạ huynh có thể tự mình chiếu tình huống nghiêm khắc cảnh tỉnh mọi người, tin rằng Đại Tấn lại có hy vọng”.
Tạ An cười khổ: “Ta vì phát giác không còn hy vọng mới sanh ra đa cảm, ta cũng già rồi, ngày tháng không còn nhiều nữa, chỉ mang hy vọng ký thác vào điệt nhi Tạ Huyền, chỉ cần coi hắn tổ chức Bắc phủ binh, có thể biết hắn là người dám dỡ bỏ thành kiến, không quan tâm chuyện môn hộ, theo tài mà dùng người. Nhưng mà hiện giờ tình thế rõ ràng, cuộc chiến này nếu bại đương nhiên chẳng nói làm gì, nhược bằng đắc thắng, triều đình tất sẽ mọi bề áp chế hắn, vì sợ hắn lại trở thành một Hoàn Ôn nữa, uy hiếp cơ nghiệp hoàng triều của Tư Mã gia, trong tình huống này, Huyền điệt muốn duy trì địa vị gia tộc thật chẳng dễ, cần kíp bàn luận tiến hành cải cách nền chính trị hiện thời. Ai! Đại Tấn chẳng có hy vọng gì rồi”.
Chi Tuần nghe rồi mặc nhiên không nói gì.
Tạ An bỗng nhiên vươn tay ve vuốt cây đàn, thanh âm như lưu thủy vang lên, cất giọng ca:
“Vị quân ký bất dịch,
Vị lương thần độc nan,
Trung tín sự bất hiển,
Nãi hữu kiến nghi hoạn...”.
(Tạm dịch: vì người đã không dễ, làm trung thần còn khó hơn. Trung tín không mang lại vinh hiển, chỉ gây nên sự nghi ngờ)
Giọng ca trầm thấp khàn đục, chứa đầy nỗi niềm lo nước thương đời vang mãi đi xa.
o0o
Nhữ Âm thành chịu đựng sự phá hoại còn quá Biên Hoang Tập, tường thành hầu như không còn tồn tại, quá nửa số phòng ốc bị thiêu trụi, chỉ hai bên nam bắc con đường lớn còn lại khoảng trăm nhà dân cùng cửa tiệm vẫn được bảo trì hoàn chỉnh như cũ, tuy nhiên cửa giả các cái đều tan tành, cỏ dại tràn lan thật thê lương.
Lưu Dụ từ phía nam thận trọng tiến vào, ánh trăng chiếu xuống con đường âm u, Dĩnh Thủy chừng như ở bên hữu chảy qua, cảm thấy nguy cơ bốn bên tiềm phục, không rõ vì bị ám ảnh bởi Thái Bình yêu nhân hay là do trực giác quân nhân mẫn cảm của gã.
Phán đoán dứt khoát rồi, gã quyết định không nhập thành, mà chuyển thành đi quanh khu vực hoang phế góc đông nam, theo Dĩnh Thủy tiếp tục đi lên phía Bắc, lấy Dĩnh Thủy làm phương hướng chỉ dẫn, cho dù trăng mờ gió lớn cũng không lo lạc đường.
Vốn gã muốn vào thành tìm kiếm hoang nhân người Hán chạy trốn, nhưng tiến vào trong thành thấy tình cảnh như vậy liền hiểu rõ, dù rằng có hoang nhân trốn trong thành cũng rất mất công tìm kiếm, lại còn sợ gặp phải Thái Bình yêu đạo, nghĩ rằng thêm một việc chẳng bằng bớt một việc, mới quyết định vượt qua chứ không vào thành. Đã quyết định xong chủ ý, không do dự triển khai thân pháp, men theo bức tường thấp phía nam toàn tốc tiến về phía đông, sau đó rẽ lên phía bắc dựa vào tường thành mà đi, đó chính là nét cơ trí của gã, gặp sự tùy thời có thể tránh vào khu vực hoang phế, muốn đánh muốn chạy đều dễ.
Vừa qua khỏi góc đông bắc Nhữ Âm thành, bỗng nghe phía trước có tiếng vó ngựa dội lại, Lưu Dụ thầm kêu may mắn, vội vọt lên bức tường đổ phía tả cao chừng ba trượng chăm chú nhìn về phía bắc.
Dưới ánh trăng vàng vọt, cách đó chừng một dặm, chim chóc kinh hãi bay vọt lên, bụi đất mịt mù, ánh lửa nhập nhoạng, dùng con mắt nghề nghiệp đánh giá, thấy chừng vài trăm quân lính chắc là quân phong dọn đường của Phù Kiên, đang làm công tác chuẩn bị, dọn dẹp chướng ngại cho đại quân vượt Hoài Hà
Gã cũng rõ kiểu này không chỉ có một đội, mà chia nhiều đường tiến tới khống chế cả khu vực Dĩnh thủy.
Bản thân gã không nhất thiết phải quay lại đi lên phía bắc, có thể tránh không đụng phải chủ lực của địch nhân, nhưng lại nhiều khả năng bị trinh sát kỵ binh của đối phương bắt gặp trên đường, tính toán lợi hại thấy tốt nhất tránh vào thành nội, đợi địch quân đi qua mới tiếp tục bắc hành. Hơn nữa từ giờ đến lúc trời sáng chỉ còn chừng hai canh giờ, trời sáng rồi càng khó mà ẩn giấu tung tích.
Lưu Dụ hít thầm một hơi thở, nhảy lên bờ tường đổ phía tây, theo đường lớn chạy tới đám phòng xá phía đông bắc, một mặt quan sát hình thế nhà cửa, ghi nhớ vào lòng chuẩn bị đường tiến lui.
Đương khi gã tiềm nhập vào một tiệm ăn bên con đường lớn phía đông bắc qua song cửa lớn nhìn ra phía tây, thấy mấy trăm lính Tần vừa vào thành, phân ra hai đội di chuyển về phía nam, không buồn vào nhà tra xét.
Lưu Dụ lớn gan phục bên cửa sổ quan sát địch tình, hiểu rõ trước đó đã có thám tử vào thành tra xét nên toàn đội yên tâm vào thành không lo bị phục kích.
Gã thậm chí còn nhìn rõ dưới ánh lửa chiếu vào địch nhân đều mang nét mỏi mệt, hiển nhiên từ lúc xuất phát ngựa không dừng gót, vất vả bạt thiệp trường đồ, đang khi chăm chú nhìn, phía sau bỗng có thanh âm truyền tới.
Lưu Dụ thất kinh quay đầu lại ngó, lập tức ánh mắt trở nên ngơ ngác.
o0o
Yến Phi ung dung vô nhân vô ngã, quên hết mọi sự, đương yên lặng điều tức tĩnh dưỡng, bị tiếng động của đoàn quân nhập thành làm cho tỉnh lại, bao nhiêu thương thế trong mình đã không thuốc mà lành.
Nội công tâm pháp cơ sở của gã được mẫu thân truyền thụ, cộng thêm tự gã sáng tạo khổ luyện mà thành.
Từ sáu năm trước, thoát ly cuộc sống an lạc, dần dần giảm nhẹ nỗi đau do cái chết của từ mẫu mang đến, chuyên chí kiếm đạo, một mình một kiếm đi khắp thiên hạ, lưu lãng tứ xứ, tìm kiếm bậc cao hiền, tận sức với đan đạo huyền học, ra sức khai phá cảnh giới mới của kiếm đạo, tới Biên Hoang Tập mới yên tâm dừng bước, trải qua quá trình rèn luyện âm thầm bền bỉ, đến một đêm minh nguyệt treo cao mới ngộ thông đạo “hữu vô”, sáng tạo ra Nhật Nguyệt Ly Thiên Đại Pháp, lấy nhật nguyệt vi hữu, lấy thiên không vi vô, lấy hữu chiếu vô, minh thuộc nhật nguyệt, ám thuộc về hư không, hư thực cùng phát huy, tự đây mới bắt đầu thấp thoáng thấy cảnh giới của kiếm đạo.
Từ sau khi nhà Hán mất, huyền học phát triển mạnh mẽ, lấy công phu của Lão Tử, Trang Tử và Chu dịch làm căn bản, uyển chuyển kết hợp với xu hướng tư tưởng kinh nghĩa của nho gia hết sức phong phú thời lưỡng Hán mà thành, căn bản cuối cùng tập trung ở hai chữ “hữu vô”. Ứng dụng vào võ học, tất thành “ thiên địa vạn vật lấy vô làm gốc”, cùng với “ hữu vốn tự sinh” là hai loại tâm pháp chủ yếu, nay Yến Phi có thể dung hợp hai đại chủ lưu tâm pháp này, sáng tạo ra độc môn tâm pháp xưa nay chưa từng có. Tuy mới chỉ ở tầng sơ bộ, nhưng khả năng phát triển là vô hạn. Cũng trong khi phát triển tiềm lực này gã mới hiểu rõ Khất Phục Quốc Nhân không đời nào bỏ qua cho mình.
Một câu nói của Khất Phục Quốc Nhân khơi dậy tâm sự chất chứa trong lòng gã. Gã chẳng phải sợ Mộ Dung Tiên Ti tộc truy sát, mà là bị chạm đến hồi ức đau khổ về cái chết của từ mẫu.
Mộ Dung Văn chính là nguyên hung hại chết mẹ gã.
Bảy năm trước, Phục quốc bị Phù Tần diệt, ngoại công của gã Văn đại vương Thập Dực Kiền bị bắt rồi bị giết, gã cùng mẫu thân theo bộ hạ của Thác Bạt Khuê đi theo một bộ phận phân liệt của Phục quốc là bộ lạc của Lưu Khố Nhân. Tuy là sống nhờ người ta, nhưng cũng có được nơi an lạc qua ngày, chỉ tiếc ngày vui không dài, do Phù Kiên ngầm ra lệnh, Mộ Dung Văn đột ngột tập kích Lưu khố Nhân, thi hành thủ đoạn diệt tộc tàn bạo. Lưu Khố Nhân tử chiến tại chỗ, mẫu thân gã Tiên Ti Phi Yến Thác Bạt Yến vì bảo hộ gã cùng Thác Bạt Khuê mà thân trúng nhiều kiếm, mang bọn gã chạy tới nương nhờ bộ lạc Hạ Lan. Thác Bạt Yến cố sống được mấy tháng, cuối cùng chết vì thương thế bất trị. Gã cùng Thác Bạt Khuê trở thành một đôi cô nhi không cha không mẹ cùng quyết chí phục cừu. Thác Bạt Khuê hơn gã được một điểm, ít nhất hắn cũng biết cha mẹ là ai, gã thì lại không biết người cha Hán tộc của mình là thần thánh phương nao. Thác Bạt Yến tới khi chết cũng không chịu tiết lộ bí mật, còn những người trong nội tộc biết rõ sự tình đều vì chiến tranh liên miên mà chết cả.
Không muốn giữ mãi họ mẹ mang niềm đau thương về người quá cố, gã đổi tên thành Yến Phi để kỷ niệm vong mẫu.
Dù Thác Bạt Khuê phản đối dữ dội, gã vẫn nhất quyết cất bước lên đường lưu lãng cho tới tận ngày nay.
Hai năm trước, gã tiềm nhập kinh thành Trường An của Phù Tần, giữa phố đông giết chết Mộ Dung Văn, sau đó toàn thân thoái lui, chuyện này làm chấn động phương Bắc, cũng khiến Mộ Dung Tiên Ti cừu hận thấu trời, khi đó em trai của Mộ Dung Văn là Mộ Dung Xung và Mộ Dung Vĩnh từng phát động toàn lực truy bắt gã, may gã tinh thông thuật ẩn gấu hành tung, cuối cùng trốn đến Biên Hoang Tập mới yên tâm dừng bước, kết thúc những năm tháng sống lưu lãng phục thù.
Khất Phục Quốc Nhân đã thông qua thanh kiếm và kiếm pháp mà nhận ra gã, giấy đã không gói được lửa, lần này nếu gã không chết, về sau cần ứng phó thế lực mạnh nhất ở phương Bắc là Mộ Dung Tiên Ti hoàn thành việc báo thù.
Tuy nhiên gã cũng không để chuyện đó trong lòng, tự khi mẹ chết, gã không còn quan tâm đến chuyện sinh tử. Đời sống này không còn gì luyến tiếc, loạn thế hoàn toàn không hy vọng, kết thúc chỉ có cái chết khốn khổ, nhất thiết tùy ý làm cái mình muốn, cho đến tận khi chết.
Ánh trăng dịu dàng chiếu qua song cửa nát, bất giác khiến gã nhớ lại tình cảnh khi còn là một đứa trẻ, trên bình nguyên, trong căn lều tạm, trên trời vầng nguyệt vừa to vừa tròn, mẫu thân xinh đẹp ngồi trên một bọc chăn bên ngoài căn lều đang làm một tấm áo mới cho gã, khẽ hát lên một khúc ca của nhi đồng trên thảo nguyên, lọt vào nơi gã đang ngủ trong lều.
Giọng ca ôn nhu ngọt ngào đầy thâm tình của mẫu thân lúc này vang bên tai gã, nước mắt dâng tràn khóe mắt, tự sau khi mẹ chết, gã chưa bao giờ khóc, đêm nay bị Khất Phục Quốc Nhân khơi dậy niềm tâm sự, lại thêm xúc cảnh sinh tình, mới không có cách nào áp chế tâm trạng buồn đau giấu kín.
Từ khi gã hiểu sự, mẹ luôn vui cười, nhưng lại không phải chân chánh khoái lạc, tình yêu của bà hoàn toàn trút cho gã, nhưng gã lại không thôi bướng nghịch khiến cho mẫu thân không vui, hiện tại hối mà không kịp, vô pháp sửa chữa. Từ ngày mẫu thân quá thế đến giờ, vết thương đau trong lòng gã không sao hồi phục, Nhật Nguyệt Ly Thiên cũng bằng vô dụng.
Hồi 8
Xà huyết mỹ nhân
Cho dù nhìn thấy đích thị Thái Bình yêu đạo, cũng chưa chắc khiến Lưu Dụ có phản ứng như thế, bởi vì nhân vật vừa xuất hiện lại là một vị thiên kiều bách mị nữ tử, loại người chẳng có lý do gì để có mặt ở đây vào lúc này. Nàng ta từ cửa sau tối tăm tiến ra châm lửa, ánh sáng bừng lên, mang theo một cảm giác quỷ dị không tên. Lưu Dụ tuy bị vẻ kiều diễm của nàng ta làm chấn động, nhưng lại thấy sự xuất hiện đột ngột của nàng ta hết sức tà môn, liền âm thầm cảnh giới.
Mỹ nữ mặc áo xanh nhạt, vạt áo đuôi én bằng tơ nõn màu lục khâu chồng lên nhau, nối liền với áo ngoài phiêu phất, bên dưới quần rộng bằng lụa bạch sắc, dây lưng to bản, trang điểm như thể đang trình diện ở đại gia hào môn nào đó trong đô thành Kiến Khang, với cảnh trí nơi đây không chút hòa hợp, tuy nhiên thần thái hoàn toàn tự nhiên của nàng ta lại khiến điều bất hợp lý biến thành hợp lý.
Mái tóc đen mịn màng đẹp như gấm đoạn xõa xuống lưng một cách tự do thoải mái, da thịt nõn nà được trang điểm sơ sài càng làm nổi bật dung nhan như hoa như ngọc, cặp mắt mê người tự biết nói, như nhìn thấu mọi sự đời, thần thái ngây thơ hồn nhiên, thuần mỹ như một đóa sen trắng còn ngậm nụ.
Nàng ta tựa như không để ý đến Lưu Dụ, bỗng mau lẹ bước tới bên song cửa, ngó nghiêng ra ngoài, rồi nói nhỏ:” Trung Hoàng Thái Ất”. Thanh âm trong trẻo dễ nghe, đầy chất nhạc động lòng người, thanh khiết lạ thường, cùng với dung nhan đẹp đẽ, đều có dị lực câu hồn nhiếp phách. Lưu Dụ bỗng nghĩ tới một người, ngấm ngầm thất kinh, lắc đầu nói: “Ta chỉ là một hoang nhân qua đường”.
Trong Bắc phủ binh, gã phụ trách công tác điều tra, đối với tình hình nam bắc rất quen thuộc, vì vậy mới sơm nhận ra kẻ hành thích Hồ Bân có quan hệ với Tôn Tư, nữ tử này mỗi câu nói đều dùng ám ngữ, khiến gã liên tưởng tới một nữ tử tại bắc phương hoành hành một thời, hành sự ác độc, lập tức hiểu rõ mình không may bị hãm vào tình thế hết sức nguy hiểm, sơ sảy một chút sẽ táng mạng vì ngu xuẩn.
Trung Hoàng Thái Ất là vị thần giặc khăn vàng thời Hán mạt tin theo, giặc khăn vàng có hai đại hệ thống, phân biệt bởi Thái Bình đạo do Trương Giốc sáng lập và Thiên Sư đạo của Trương Lăng. Sau khi giặc khăn vàng bị diệt, hai hệ đạo môn lưu truyền lại, phân liệt thành nhiều hệ phái, Tôn Tư chính là tông sư của đạo giáo tại nam phương, tự xưng là kẻ kế thừa Thái Bình đạo, muốn thống nhất lưỡng đạo Thái Bình Thiên Sư làm một.
Ở phương bắc, vốn dĩ thờ phụng Thái Thanh Huyền Nguyên Thiên Sư đạo tổ sư là Trương Lăng, giáo chủ hiện thời Giang Lăng Hư, danh mãn lưu vực Hoàng Hà, cùng Tôn Tư tranh đoạt danh vị kế thừa đạo thống, thế như thủy hỏa, không thể tương dung.
Độc lập với lưỡng đại đạo thống là một nhân vật xuất chúng tên là An Thế Thanh, ngoại hiệu Đơn Vương, chuyên về thuật luyện đơn, tự xưng đạo gia phi đạo giáo, coi Thái Bình và Thiên Sư lưỡng đạo là tà dị ngu dân, sống ẩn dật ngoài tầm ảnh hưởng của hai đạo giáo này.
Nhân phẩm và hành động của người này ra sao, ít ai biết đến, vì người này không có nơi định cư, thường qua lại các danh sơn và đại giang tìm phúc địa để luyện đơn. Sở dĩ người này tên tuổi lẫy lừng là do Giang Lăng Hư và Tôn Tư đều muốn qua ông ta kiếm đạo giáo bảo vật gì đó, lần lượt phái từng nhóm cao thủ vào núi tìm An Thế Thanh, lại bị ông ta đánh cho tơi bời khói lửa, kẻ chết thì hoành thây đương trường, kẻ bị thương chạy về thì không cách chữa trị, hai sự kiện này làm rung động thảo nguyên nam bắc. Tự đó Giang Lăng Hư và Tôn Tư không dám đụng chạm đến ông ta nữa.
Đương khi mọi chuyện dần lắng dịu, bắc phương bỗng nhiên lại xuất hiện một vị nữ tử mỹ lệ tự xưng là An Ngọc Tình, nhi nữ của An Thế Thanh, liên tiếp chọc giận tam đạo đàn Thái Ất giáo, khiến cho Thái Ất giáo đồ đông đảo truy sát, khi đó hành tung của nàng ta lại biến mất. Không còn nghi ngờ gì, nữ tử trước mắt chính thị nàng ta.
Lưu Dụ đồng thời cũng minh bạch cao thủ đáng sợ lúc trước của Thái Bình đạo không phải sẵn có ý định giết Hồ Bân, chỉ vì trên đường tới Nhữ Âm thành, vớ được cơ hội thuận tiện ra tay, bản thân coi ra An Ngọc Tình cũng không phải là người của Thái Ất giáo, mà có khả năng liên quan tới đại sự của đạo giáo phát sinh tại đó, dẫn dụ được Thái Bình đạo nhân, An Ngọc Tình khơi khơi kiếm nẻo tìm tới tòa thành hoang phế này.
Lưu Dụ liền nghĩ đến chuyện sau khi chờ đợi Tần quân tới, phải lập tức rời xa chốn này.
Đúng lúc này, bàn tay gã bỗng có cảm ứng, hữu thủ vụt bung ra đỡ lấy tay áo thoảng hương của An Ngọc Tình, chạm vào vật gì đó cực kỳ sắc bén, tỉnh ngộ ra là một ngọn thiết tật lê, thì đã bị thích trúng đầu ngón tay. Một cảm giác đau nhức khó chịu lập tức theo tay truyền lên, hiển nhiên mang theo kịch độc.
An Ngọc Tình có lẽ vì gã có thể kịp thời ứng phó với thủ pháp độc môn ám khí vô thanh vô tức, vô ảnh vô hình của mình, ngước mắt nhìn gã, cứ như không có chuyện gì, ngạc nhiên nói: “Quả nhiên chân tay lanh lẹ, thật là không ngờ đấy”.
Lưu Dụ trong tâm đại nộ, thầm nghĩ lão tử không đụng tới ngươi, ngươi lại dám trêu vào ta, căn bản còn phải lo không giữ được tính mệnh, hiểu rõ tuy dung mạo tựa thiên tiên, nhưng chính thị là yêu nữ coi mạng người như cỏ rác, không biết so với Thái Hồ yêu đạo hơn kém bao nhiêu. Bất quá lúc này trục độc là khẩn yếu, tạm thời chưa tính toán với ả, chỉ ầm ừ một tiếng khô khan, đề khởi công pháp, ra sức tống xuất kịch độc theo độc tật lê ra ngoài, hầu mong nhanh chóng hồi phục.
Gã càng thêm cảm kích lão thiên gia, đã ban cho gã một đôi tay như vậy.
Lưu Dụ mười sáu tuổi tòng quân, đi theo thủ hạ thân tín của Lưu Lao Chi là phó tham quân Tôn Vô Chung, được ông ta chọn đúng làm thân binh, trải qua huấn luyện đặc biệt, không tới hai năm vô luận võ công tâm pháp đều vượt hẳn người đứng đầu Bắc phủ thập kiệt, được Tôn Vô Chung đặc biệt coi trọng, đề bạt làm chức quan tư mã, chuyên trách thâm nhập vào vùng địch thám sát tình hình.
Tôn Vô Chung có nhãn quan đặc biệt, với gã đặc biệt đánh giá cao song thủ thần kỳ, không những đối với các loại kỹ nghệ học đâu hiểu đấy, mà còn có cảm xúc linh mẫn dị thường, khiến gã vượt lên trên những bon chen của lũ hạ nhân, trở thành vì tinh tú mới mọc của Bắc phủ binh.
Trước mắt nhiệm vụ cấp bách, lại ở cách xa Tần quân, phải mau chóng thanh trừ độc tố trong mình, bằng không, yêu nữ có thể sẽ hạ sát thủ đối với gã mà không chút cố kỵ.
An Ngọc Tình nhẹ nhàng như nói một mình: “Không nói được nữa sao? ngươi trúng phải một trong chín loại độc đơn do cha ta luyện ra, kiến huyết phong hầu, ngươi lần này chết chắc, nhưng đừng có trách người ta, chết rồi cũng đừng có tìm người ta đòi nợ, có trách chỉ nên trách ngươi sinh ra nhằm giờ xấu, ở đây làm vướng víu chân tay người ta thôi”.
Lưu Dụ khí tức đầy ruột, nhưng cũng cảm thấy kỳ quái, ả nói cái gì độc tố huyền bí lợi hại, vì sao rõ ràng mình dễ dàng bài xuất ra ngoài như thế.
“Trích!”.
Máu tươi theo tật lê tràn ra, rỏ xuống đất.
An Ngọc Tình nhìn xuống, thần tình bình tĩnh, hốt nhiên trong tay xuất hiện một thanh chủy thủ, ánh sáng lóe lên, nhằm vào bên cổ Lưu Dụ vạch xuống.
o0o
Cái đuôi của đoàn quân Tần vừa khuất sau một ngã tư.
Yến Phi chuồn từ nhà nọ qua nhà kia, theo dãy sau của tòa phá viện nhảy lên mái nhà, di chuyển tới mặt trước của một ngôi điếm, nhìn qua song cửa gãy nát ra ngoài, theo dõi quân binh của Phù Tần vừa ly khai, chếch bên đối diện của đường phố là một tòa điếm khác, bên trong quang mang lóe lên, hiển nhiên là ánh sáng phản xạ của binh khí, trong lòng rất lấy làm kỳ. Bất quá tuy cách có một con đường, nhưng bằng cả thiên sơn vạn thủy, trước khi Tần quân rời thành, gã không cách nào qua đó coi cứu cánh.
Tiếng vó ngựa dần dần đi xa, bỗng nhiên từ phía tây bắc, sau những dãy phòng truyền lại tiếng rên rỉ thảm thiết. Yến Phi không khỏi run lên, toàn thần giới bị. Gã cảm thấy rõ Nhữ Âm thành đêm nay hoàn toàn không như vẻ ngoài bình an của nó, trái lại nguy cơ tứ phía rình rập.
o0o
An Ngọc Tình tay cầm chủy thủ hướng Lưu Dụ đâm tới. Lưu Dụ nắm chắc độc tật lê dùng đầu ngón tay xảo diệu bắn ra, nhanh như điện chớp nhằm vào tấm lưng thon nhỏ bé hấp dẫn của đối phương, vị trí và góc độ hết sức chính xác, nếu yêu nữ nguyên thức không đổi, ở cự ly cực gần, nhất định trúng chiêu, đồng thời người cũng mau lẹ thối lui, động tác như hành vân lưu thủy, gọn gàng nhanh nhẹn.
An Ngọc Tình chủy thủ đổi chiều, hướng xuống dưới điểm tới, nhằm trúng độc tật lê, ám khí theo tay văng xuống đất phát ra một tiếng 'ba' do kình khí tiếp xúc, có thể thấy dụng kình thật tinh xảo.
Lưu Dụ tự nghĩ mình không làm nổi như vậy, chợt có ý nghĩ, ngờ rằng ả e có người nghe thấy, sợ bại lộ hành tung, đối tượng có khả năng là Tần quân, lại nhiều khả năng là Thái Bình yêu đạo hoặc là người của Thái Ất giáo.
Nghĩ tới đó, liền có kế sách, thân mình đang tựa vào vách tường, mau chóng đứng thẳng lên, đao rời vỏ sau lưng xuất ra, chỉ thẳng vào đối thủ mỹ lệ như tiên, lập tức đao khí dàn dụa mau chóng phong tỏa toàn thân đối phương. Lưu Dụ trong lòng tự tin mãnh liệt, bất kể đối phương lợi hại cỡ nào, gã cũng đã nắm chắc điểm yếu chí mệnh của ả, cũng không cần để ý tấm nhan sắc kiều diễm mê người.
An Ngọc Tình quả nhiên không thừa thế công kích, đứng lặng mỉm cười, hộ thể chân khí vẫn tự nhiên cự lại đao khí cúa gã, cặp nhãn tinh tựa như hàm tình đắm đuối lộ xuất thần sắc kinh dị, nhìn trên ngó dưới săm soi gã, thần thái tỏ ra đã có cách nhìn khác hẳn, môi đào hé mở nói: “Không đánh được! Xem ngươi nha! Mà lại còn không sợ độc đan nữa chứ”.
Lưu Dụ chẳng biết nên giận hay nên cười, ả đã không tự trách mình thi triển độc thủ, lại còn trách người không chịu trúng độc. Lúc này tiếng vó câu đã xa, gã chắc chắn đối thủ sợ bại lộ hành tung, càng không dám chơi tới bến, liền hạ giọng nói: “Cất giùm ta thanh chủy thủ đi”.
An ngọc Tình cười ngọt ngào, thần tình ngây thơ xòe đôi ngọc chưởng nhỏ nhắn trắng như tuyết, yêu kiều nói: “Không thấy rồi nha”.
Quả nhiên chủy thủ đã biến đi đâu, kỹ xảo thật thần kỳ.
Lưu Dụ biết ả tùy lúc có thể tái xuất chủy thủ, rất không nên trêu vào ả ta, sự thực gã cũng như ả đều không muốn bị người khác phát giác, để khỏi dính phải những phiền não không cần thiết, ảnh hưởng đến chánh sự.
Gã khẽ cười nói: “Ta lại thay đổi chủ ý rồi, quyết có oán báo oán, có thù báo thù, giết chết ngươi”.
Trong mắt An ngọc Tình thấp thoáng một tia khác lạ, nhưng lập tức biến mất, bình tĩnh nói: “Con người ngươi là cái giống quỷ gì vậy? Người ta lần đầu tiên tới đây, ngươi lại kêu gào muốn đánh muốn giết. Nói thật nha, người ta thấy ngươi thân thủ cao minh, bỗng dưng sanh tâm ái mộ, còn đánh nhau gì nữa chứ?”.
Lưu Dụ tuy biết rõ lời ả không có lấy một câu thực lòng, nhưng nghe một nữ tử thiên kiều bách mị cất lên âm thanh nũng nịu mê người nói ái mộ mình, đao khí lập tức giảm đi mấy phần lợi hại, lắc đầu cười khổ, cắm đao vô bao, nói: “Ta phải đi đây”.
An Ngọc Tình nhìn trước ngó sau, vẫy tay nói: “Đi đâu chứ? Chuyện hay sắp đến rồi, hãy bồi tiếp người ta ở lại đây coi nhiệt náo chẳng phải hay lắm sao?”.
Lưu Dụ đề tụ công lực vào song nhĩ, tiếng vó ngựa trên quan đạo ngoài thành ẩn ước truyền lại, thầm nghĩ nếu lúc này lập tức ly khai, có khi lại đánh động nhân mã phía sau của Tần quân, biện pháp thông minh là rời xa yêu nữ, tới tường thành phía bắc quan sát tình thế, rồi mới quyết định đi hay ở. Nhưng nghĩ là nghĩ như thế, cặp giò dường như mọc rễ không muốn cất bước, phát giác mình đã di chuyển về vị trí ban đầu, cùng ả ta nhòm về phía con đường lớn, bỗng tỉnh ngộ, yêu nữ này tuy độc như xà hiết, phản phúc không lường, mặt khác lại có sức hấp dẫn rất mạnh với gã. Lập tức có cảm giác kích
thích hung hiểm như đang chơi với lửa, bất giác ngước nhìn ả, dưới ánh trăng lung linh, ả thần tình chuyên chú, các đường nét trông nghiêng của khuôn mặt như được điêu khắc hết sức tinh tế, không có chút tỳ vết nào, da thịt mềm mại mịn màng, chứa đầy sinh khí thơm ngát, tốt tươi mạnh khỏe, một thân hình cao và đẹp đẽ ẩn ẩn lộ lộ dưới lớp áo, khiến người ta cầm lòng không được liên tưởng đến ngọc thể mê người, hẳn phải là tuyệt phẩm nhân gian.
An Ngọc Tình đi lại phía gã, Lưu Dụ cảm thấy khó hiểu trong lòng, ngạc nhiên mở to mắt lúng túng, yêu nữ bật cười khúc khích nói nhỏ: “Tử sắc quỷ, muốn dùng mắt để chiếm tiện nghi của người ta à?”.
Lưu Dụ nghe lời này, trong lòng ngứa ngáy, càng biết rõ hàm ý ả muốn ám chỉ ham muốn xấu xa kín đáo của mình, đang lúc muốn nói, thanh âm như xé gió từ con đường lớn theo không gian truyền lại.
o0o
Yến Phi kín đáo chạy qua nhiều ngôi nhà dân, kẻ này sau khi giết người ở phía sau dãy nhà nào đó, thầm lén tiến tới cửa tiệm bên kia, khiến gã phát giác hành tung qua tiếng y phục phất động khe khẽ. Kẻ này có khả năng là Khất Phục Quốc Nhân? Hay là người của hắn? Nhưng khẳng định là cao thủ. Đổi lại nếu kẻ truy sát gã chẳng phải Khất Phục Quốc Nhân, gã sẽ lập tức ly khai, nhưng chỉ nghĩ đến Thiên nhãn có lẽ đang lượn vòng tìm kiếm trên bầu trời hoang thành, thế thì trốn ở một nơi có mái ngói che đầu chắc rằng sẽ ổn hơn.
Ngôi nhà đối diện tối om, không chút động tĩnh, ánh trăng ôn nhu trải dọc con đường, lặng yên như quỷ vực.
Ví như thực có chuyện âm hồn bất tán, khẳng định sẽ có hàng ngàn hồn ma bóng quỷ đang dật dờ trong chốn hoang lương này, khóc than cho số mệnh đau buồn của mình, trăn trở với một nghi nan không lời giải về định mệnh, phải chăng bản thân sẽ thành dã quỷ?
Yến Phi tâm trí chuyển sang nghĩ về Thác Bạt Khuê, tiểu tử này chắc chắn không đánh giá thấp Phù Dung, vấn đề là ở chỗ có thể có phản ứng ngoài dự liệu. Chính điều đáng nói là Thác Bạt Khuê trong lúc khẩn cấp xuất thủ cứu gã, sẽ bại lộ hành tàng, chỉ coi Khất Phục Quốc Nhân dễ dàng suy đoán ra mình là người đã giết chết Mộ Dung Văn, có thể biết Khất Phục Quốc Nhân trong lòng đã sớm biết người cứu gã chính là Thác Bạt
Khuê, bởi vì Mộ Dung Văn cùng Thác Bạt tộc có mối thâm cừu là chuyện nhiều người biết.
Phù Dung điều quân từ ngoài nhập thành, khiến gã cảm giác những suy đoán của mình dù không đúng cũng không mấy sai trật. Chẳng những Thác Bạt Khuê bị rơi vào tình thế nguy hiểm, mà những người của Tiên Ti bang có quan hệ với hắn cũng sẽ đại họa lâm đầu. Phù Dung nếu bắt được Thác Bạt Khuê, khả năng sẽ lưu lại mạng sống của hắn, bức bách hắn nói ra sào huyệt bí mật của tộc nhân, nếu gã kịp thời quay về, nói không chừng có thể tận điểm nhân lực, cùng lắm là bồi thêm một mạng chứ sao?
Nghĩ tới đây, liền hạ quyết tâm, không lý đến Thiên nhãn trên trời giám thị, quyết ý toàn tốc chạy về Biên Hoang tập.
o0o
Lại nói lúc này, vang lên âm hưởng của tay áo, trước mắt hình ảnh lay động, nhập lại thành một người xuất hiện trên đường phố.
Đó là một lão nhân to béo mặc đạo bào trắng, trên đạo bào trước sau có hình thêu đẹp đẽ màu đen và đỏ, biểu thị phẩm cấp cao nhất. Trong đen có chấm đỏ, trong đỏ có chấm đen, thể hiện dương trong âm hòa âm trong dương, hết sức bắt mắt.
Lão không lùn, nhưng do thân thể to béo, cái bụng phình ra to tướng, miễn cưỡng mới cài được khuy áo, nhìn cách nào cũng thấp hơn người khác một đoạn. Đầu tóc quấn thành một búi to, nằm trong đạo quan, coi hình dung sạch sẽ, dù gặp gỡ lâu cũng không khiến người ta chán ghét, nét mặt lúc nào cũng tươi cười thiện ý, coi ra cũng có chút hoạt kê, chỉ vì cặp mắt nhỏ sâu thẳm tinh tường ẩn hiện tử quang lấp loáng, kẻ có nhãn lực cao minh nhìn là biết lão không phải hạng dễ trêu vào.
Bàn đạo nhân chuyển mình xoay tròn, cười ha ha nói: “An toàn mà! Đúng lúc Phụng Thiện giáo huấn”.
Lưu Dụ đang lúc ngưng thần nhìn trộm động tĩnh của bàn đạo nhân Phụng Thiện, bên tai vang lên giọng nói dù cố tình hạ thấp nhưng vẫn đầy nhạc điệu mê hoặc dễ nghe của An ngọc Tình: “Phụng Thiện yêu đạo là môn đồ đắc ý được chân truyền của Thái Ất giáo chủ Giang Lăng Hư, đừng có vì lão lúc nào cũng cười cợt mà coi thường, lão càng cười càng muốn sát nhân. Thật ta hận không thể một đao xẻ lão làm đôi”.
Lưu Dụ lấy làm kỳ, vừa mới rồi ả nhất tâm muốn lấy cái tiểu mệnh của mình, hiện giờ lại như bằng hữu thâm giao giải thích tình hình cho gã, bỗng nhiên tỉnh ngộ, thì ra ả sợ mình bỏ đi, mà ả lại không dám kinh động đến Phụng Thiện nên vô pháp xuất thủ, vì thế cố ý nói những lời vừa rồi, đều là vì muốn lưu gã ở lại.
Lại nghĩ sâu thêm một tầng, ả vừa rồi động thủ giết mình, lý do có lẽ cũng giống như Thái Bình yêu đạo, là muốn tận sát những người sống ở kế bên, tránh để bí mật gì đó bị tiết lộ. Cũng có khả năng nữ nhân này đang lợi dụng gã, nhưng gã cũng có thể tùy tình huống biến thành hữu dụng cho mình.
Lưu Dụ tài trí hơn người, chỉ với mấy lời qua loa của yêu nữ suy đoán ra ngần ấy chuyện, quả thực tài giỏi.
Lưu Dụ cười thầm trong bụng, cố ý nói: “Đối với mấy chuyện này ta không hứng thú, chỉ muốn đi thôi”.
An Ngọc Tình quả nhiên trúng kế, vội nói: “Ngươi không muốn biết lão vì cái gì mà tới đây sao?”.
Lưu Dụ nhún vai: “Biết rồi thì làm sao? Đối với ta có ích gì?”.
An Ngọc Tình tức khí phồng mang trợn mắt nói: “Nếu chẳng phải thấy ngươi thân thủ không tệ, ta đã sớm đá cho ngươi một phát rơi xuống hoàng tuyền rồi, cái gì mà không chút lợi ích gì, thật sự là đại đại ích lợi ấy chớ”.
Phụng Thiện đạo nhân nhàn nhã đứng trên đường, như thể cứ thế mà chờ mà đợi tới lúc thế giới tận cùng.
Lưu Dụ di chuyển ánh mắt nhìn vào khuôn mặt đẹp đẽ khiến gã cho đến tận lúc này vẫn lo sợ bị sắc đẹp quyến rũ không thôi, nói: “Nói đi nào, ta không có tính nhẫn nại đâu nhé”.
An Ngọc Tình trừng mắt dữ tợn nhìn gã: “Ba năm trước, Thái Ất giáo chủ Giang Lăng Hư và Thái Bình giáo chủ Tôn Tư, hứ! Ngươi có biết bọn họ là ai không chứ?”. Lưu Dụ cười hi hi: “Nói đi! An đại tiểu thư của ta”.
An Ngọc Tình ngạc nhiên, hơi bối rối khi nghe gã nói ra danh tánh của mình, trợn mắt nhìn gã, cười mắng: “Đồ quỷ chết toi nhà ngươi, là đoán bừa mà trúng chứ gì”.
Giọng nói của Phụng Thiện đạo nhân lại vang lên ngoài đường: “Phụng Thiện ứng ước mà tới, nếu đạo huynh còn không chịu hiện thân, Phụng thiện đành quay về gặp Thái Tôn phục mệnh”.
Lưu Dụ ngoảnh đầu nhìn ra, gã đoán đạo huynh mà Phụng Thiện nhắc tới chính là Thái Bình yêu đạo, liền phát sinh ra ý định tọa sơn quan hổ đấu.
Giọng nói yêu kiều của An ngọc Tình lại rót vào tai gã: “Không cần nói chi tiết, hai người bọn họ vì tranh đoạt một khối bảo ngọc đồ có quan hệ với hai hoàn tiên đan, ác đấu một trận, kết quả là lưỡng bại câu thương, chẳng ai làm gì được ai, mỗi người quay về nam bắc dưỡng thương, ước định ba năm sau phái xuất đồng môn tái quyết chiến để quyết định xem đan ngọc đồ về tay ai. Nếu như ngươi giúp ta cướp được đơn ngọc đồ, người ta chia cho ngươi một hoàn tiên đơn thì thế nào?”.
Lưu Dụ khẳng định tiên đơn cho dù có cũng chỉ có một hoàn, chỉ bất quá ả nói có hai hoàn để dụ gã, hơn nữa gã cũng không tin tưởng cái gì tiên đơn diệu dược, bằng không người luyện đơn đã chẳng nuốt ngay từ đầu.
Đang khi cười thầm trong bụng, phong thanh vụt nổi lên, bốn đạo nhân ảnh phân ra đông nam tây bắc từ các mái nhà lao tới Phụng Thiện, đao kiếm tề phi.