View Single Post
  #9  
Old 07-18-2013, 05:56 PM
da1uhate's Avatar
da1uhate da1uhate is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Oct 2007
Bài gởi: 605
Default

Chương 8


Từ nhà thằng Dũng ở quận 6, đạp xe ra đường Phạm Ngũ Lão mất chừng nửa tiếng. Nhà in của ba nó làm nằm ở đường Phạm Ngũ Lão, gần chợ Thái Bình. Thằng Dũng không hiểu sao khu này lại có rất nhiều tờ báo tập trung ở đây - nhất là đoạn đường đối diện với tường nhà ga hỏa xa Sài Gòn. Nhiều lúc rảnh việc, nó đạp xe từ đầu trên, đoạn ngay tử bùng binh cống Quỳnh, Nguyễn Trãii cỏ rạp chiếu bóng Khải Hoàn, chạy thẳng một lèo ra đường Trằn Hưng Đạo, nó thấy các bảng hiệu của các tờ báo lớn như Sài Gòn mới, Phổ thông, Kịch trường, Điện ảnh... Rồi nào là tên của các nhà in Thư Lâm ấn quán, nhà in Nguyễn Đình Vượng. Đó là những nhà in lớn. Ba của nó làm ở một nhà in loại nhỏ, chỉ chuyên in tờ nhật báo Dân Quyền.
Theo lời ba nó thì nơi nào có nhà in thì nơi đó có nhật báo, tuần báo, tạp chí bởi vì tờ báo chạy theo nhà in, đóng đô ở nhà in chứ ông chủ tờ báo không phải là ông chủ nhà in. Ông chủ nhật báo, trước khi ra báo, là phải tìm cho được một nhà in. Mà nhà in nào phải gần các nhật báo khác để các ký giả, nhà văn tiện việc liên lạc, gặp gỡ, mua bán tin cho các tờ báo. Chỉ đến Phạm Ngũ Lão, ba nó nói, “một ký giả có thể bán tin, đưa bài cho nhiều tờ báo cùng lúc, đỡ mất công đi lại.” Thí dụ như nhà in ba nó làm, ông chủ là một người Tàu, nól tiếng Việt không rành, mọi chuyện đều thông qua một tay quản lý người Việt. Nhà in này được một dân biểu Hạ nghị viện thuê in riêng cho tờ báo “Dân Quyền” - một tờ báo đối lập do ông ta làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.
Buổi sáng, từ khoảng 9 giờ đến buổi trưa là buổi sáng êm ả tại các nhà in. Lúc này, công nhân sắp chữ - những thợ bắt ruồi - đang trả chữ vào những ô chữ như đang bắt những con ruồi. Một số ấn công đã xong việc ra ngồi nhâm nhi ly cà phê vớ của bà Năm sổ tại hẻm Sáu Lèo. Không biết địa danh Sáu Lèo xuất phát từ tên của một nhân vật nào nhưng xóm Sáu Lèo, sau lưng rạp chiếu bóng Thanh Bình, ở khu vực Phạm Ngũ Lão, ngã tư Đề Thám - Bùi Viện mà mấy ký giả, các công nhân đều biết tiếng. Trong đường hẻm Sáu Lèo có nhà của nhà thơ Nguyên Sa “Nắng Sài Gòn em đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo ỉụa Hà Đông...”. Hẻm Sáu Lèo nổi tiếng vì nó là nơi gặp gỡ của những ký giả nhà văn khi đến đường Phạm Ngũ Lão. Họ đến để uống cà phê, trao đổi đề tài và bán tin cho các chủ báo.
Thằng Dũng cũng đã hân hạnh được uống nước xá xị con cọp ở quán bà Năm sổ cùng với ba nó và những người thợ “bắt ruồi” khác sau khi làm xong việc. Công việc của những thợ sắp chữ typo thường bắt đầu vào giữa trưa khi những ký giả bắt đầu đưa tin về và rộn rịp nhất là tầm khoảng 4 đến 5 giờ chiều vì giờ đó ông thư ký tòa soạn chuyển bài xuống sắp chữ ào ạt. Nhưng rộn rịp nhất là lúc báo phát hành khoảng 4 giờ sáng. Một đoạn đường Phạm Ngũ Lão, nơi có những nhà in báo, đèn đuốc sáng choang. Các sạp báo, các nhà phát hành, các người bán báo dạo tập trung tại đây để đếm từng chồng báo. Khoảng nửa tiếng sau, họ như những đàn ong, biến mất khỏi khu này một cách lặng lẽ để lại trên mật đường những tờ báo lót, tờ báo rách nằm tơi tả chờ công nhân quét rác đến dọn dẹp. Sau giờ này là đến giờ tán gẫu của thợ sắp chữ và dần dần theo sự ló dạng của mặt trời là sự xuất hiện trước hết của các ông ký giả đi từ xe đạp, Solex, Mobylette, Sach, Goebel và xe hơi con cóc, sau đó là các ông nhà văn nhà thơ.
Nhờ được ngồi uống nước chung với các thợ sắp chữ ở quán bà Năm sổ ở xóm Sáu Lèo, thằng Dũng trở nên khôn sớm vì cái đầu của nó chứa đủ loại thông tin từ chuyên tán gẫu của thợ sắp chữ và đám ký giả. Có bữa đang ngồi uống nước ngọt với bác Chín, thầy cò nhà in thì từ đàng xa có một cô gái mặc áo dài như cô giáo ngồi trên xe xích lô đạp đi đến trước cửa nhà báo rồi ngừng lại. Chú Sìn, một thợ sắp chữ nói với bác Chín:
- “Bữa nay cô nhà văn này giao bài sớm dữ!”
- “Cô nhà văn nào vậy?”
- “Mai Châu. Cô ấy viết truyện Thằng Hai Nhỏ đó.”
Bác Chín ngạc nhiên, kêu lên:
- “Trời ơi, sao con gái hiền khô mà nó viết truyện khiêu dâm quá vậy? Cũng ngang ngửa với Cậu chó của Trần Đức Lai với mấy chuyên đồng quê của Lê Xuyên chứ chẳng phải chơi.” Thằng Dũng chưa được đọc truyện của cô nhà văn này cũng như Cậu chó gì đó nên nó không biết nhưng nhờ vậy nó mới biết biệt danh cậu chó của thằng Hoàng trong lớp nó.
Một hôm thằng Hoàng mang một quyển tiểu thuyết in hai chữ Cậu chó với hình một con chó đang lè lưỡi với một cô gái đang khép nép vào lớp để trong hộc bàn. Thằng Hoàng nháy mắt với thằng Thuật và đưa ngón tay cái lên trên hàm ý là số một.
Suốt giờ học cổ văn của thầy Khôi, thằng Hoàng, do ngồi ở cuối bàn, tục danh là xóm nhà lá nên nó có thể ngồi gầm đầu đọc truyện mà không sợ thầy Khôi bắt gặp. Khi chuông reng đến giờ ra chơi, thường là thằng này ra khỏi lớp sớm nhất vì nó ngồi ngay bàn cuối cạnh cửa ra vào, nhưng hôm nay nó ngồi im re, mặt đỏ rần. Thằng Thuật nóng lòng muốn xem nên đi lại chỗ ngồi của thằng Hoàng để lấy sách. Nhưng bỗng dưng thằng Thuật cười lớn rồi kêu thằng Ngầu lại chỗ thằng Thuật. Thằng này chỉ cho thằng Ngầu xem giữa đủng quần thằng Hoàng nổi lên một cục rất to. Vì thằng Hoàng vốn đã mập lại mặc quần vừa bó vừa xệ, nên “thủ phạm” nổi lên rất rõ. Thằng Hoàng trở thành Hoàng Cậu chó là do đọc quyển truyện này.
Nhớ lại chuyện thằng Hoàng, thằng Dũng tủm tỉm cười. Ngồi ở đây nó nghe đủ thứ chuyên lạ lùng trong giới nhà văn - một thế giới của những người “cao siêu”, sống bằng mơ mộng chứ không bằng cơm gạo. Nó nghe mấy ông ký giả kể chuyện nhà văn Dương Trữ La đi nhậu với bạn bè hết cả tiền vợ đưa đi đóng tiền hụi. Rồi nghe nói nhà văn Ngọc Thứ Lang nghiện hít-tô-phe, suốt ngày nằm hút trong động bà Năm ở xóm Sáu Lèo này mà sợ. Thằng Dũng thầm nghĩ “không lẽ muốn trở thành nhà văn, nhà thơ, nhà báo phải sống như vậy mới có hồn thơ hay sao?”
Ba nó, trong những lần ngồi uống nước với bác Chín, thường nhận xét “Làm nhà văn nhà thơ như thế thì khổ cho vợ con chứ ích gì”. Nó tự hỏi không biết là ba nó nhận xét bâng quơ hay cố tình răn dạy nó, chớ đi vào con đường nguy hiểm đó vì ba nó biết nó mê thơ và mê làm thơ. Thật ra, ba nó đâu biết là nó mê làm ông chủ nhà in, hoặc chủ báo để in thơ cho các nhà văn, nhà thơ và in thơ nó. Nhà văn, nhà thơ, ký giả nếu không có tờ báo hoặc nhà in in thơ thì làm sao mà có tiền để sống? Làm sao mà thơ, văn chương đến tay độc giả được.
Chú Chín nhấp ngụm cà phê đen, rít hơi thuốc Bastos xanh nói với ký giả Hoài Phương:
- “Bên tờ Tia Sáng có truyện chưởng “Lệnh xé xác”, Dương Chí Tôn hấp dẫn quá. Nhờ nó mà tở báo tăng ti-ra dữ lắm..” Hoài Phương gật gù:
- “Không ngờ thằng cha Vũ Bình Thư hay thiệt nghe... sáng tác cả tiểu thuyết chưởng?”
- “Vũ Bình Thư là ai?”
- “Ủa, anh không biết sao? Vũ Bình Thư là Lã Phi Khanh đó.” Chú Chín ngạc nhiên:
- “Té ra Lệnh xé xác, tàn chi quái đao, tàn chi lệnh gì gì đó là do người Việt viết chứ không phải do dịch từ báo Hongkong như “Cấm Dùng xếnh sáng”. Hay thiệt, hồi trước giờ tôi cứ tưởng là của “Hướng cỏn” chứ!”
- “Việt Nam mình cũng có truyền thống viết phơi-ơ-tông kiếm hiệp từ lâu rồi. Đâu có ai biết Người đao phủ thành Đại La là do nhà thơ Đinh Hùng viết ký tên là Hoài Điệp Thứ Lang đâu.” Trong lớp nó, thằng Thạch là thằng mê truyện Lệnh xé xác đến nỗi mở miệng là “tàn chi quái đao”, nhưng nó đâu có biết là của nhà văn người Việt viết. Phải đem chuyện này hù nó để bắt nó bao ăn cháo huyết mới được. Thằng Dũng gật gù, im lặng, ngồi lắng nghe câu chuyện một cách chăm chú như để nhập tâm những gì chú Chin và ký giả Hoài Phương trao đổi.
Một chiếc xe xích lô đạp khác trờ tới. Lần này là một ông đàn ông, tóc húi cua, miệng hô, răng vẩu, nói chung rất là xấu trai ngồi trên xe xích lô đạp đang gạch gạch, xóa xóa gì đó trên bản thảo. Khi chiếc xe xích lô ngừng trước nhà in, ông không đi thẳng vào tòa báo mà đi về phía bàn nước của chú Chín với ba nó. Chú Chín hỏi:
- “Uống gì anh?”
- “Thì cái bạc xỉu với mấy điếu Ruby.”
Chú Chín hỏi cũng chẳng ra hỏi:
- “Có gì lạ hông anh?”
Không trả lời chú Chín mà ông nhà văn này lại nói với bà Năm sổ khi bà này mang cà phê sữa với thuốc Ruby lại cho ông:
- “Chị Năm ngày càng đẹp à ta.”
Bà Năm sổ ngúng nguẩy:
- “Thôi, tin làm sao được mồm miệng của các ông nhà văn, nhà báo mấy anh.”
- “Tui nói thiệt với chị Năm nghe tui uống cà phê nhiều nơi rồi không có bà bán cà phê nào có “giang" như chị”
- “Thôi đi ông ơi, muốn ghi sổ nữa hả, sổ của ông đầy cả trang giấy tập rồi nghe.”
- “Chút xíu nữa, tui gặp thằng cha quản lý tòa báo lấy tiền cái phơi-ơ-tông mới viết này là trả cho bà liền. Đừng đòi tiền nợ sớm, xui lắm.”
Bà Năm sổ hứ rồi nguýt một cái và liếc mắt một cái với ông nhà văn ốm nhom, om nhách này. Bà Năm sổ là “quới nhơn” cho thợ sắp chữ, ký giả, nhà văn ở khu vực xóm Sáu Lèo này. Không ai, từ những nhà thơ, nhà văn, ký giả có có tên tuổi trên những trang báo hàng ngày lại không có tên nằm trong quyển sổ cũ xì, những trang giấy cong quèo dày đặc những con số ký hiệu ghi bằng mực viết bíc xanh, đỏ mà chỉ có bà Năm Sổ mới đọc được. Có lần, một thợ sắp chữ typo, trước khi thanh toán tiền ghi sổ đã lấy quyển sổ riêng của anh ta đề nghị đối chiếu và kết quả là hai quyển sổ của chủ nợ và con nợ hoàn toàn khớp với nhau về ngày giờ và con số tiền ghi nợ. Tất nhiên là tử trước đến nay những con nợ của bà Năm Sổ luôn tin tưởng vào sự đàng hoàng của bà Năm sổ vì họ nghĩ, nếu bà có ăn gian chút đỉnh thì cũng không sao. Đó cũng như là tiền lời phải trả khi đi vay nợ vậy thôi. Nhưng từ khi có cuộc “đọ sổ” giữa hai tay chủ nợ và con nợ thi uy tín của bà Năm sổ lại càng được tăng lên gấp bội.
Rắn mắt nhất cũng là mấy thằng thợ sắp chữ còn trẻ. Tối ngày cứ kêu bà Năm sổ bằng má má, con con nhưng khi bà vừa quay lưng đi thì nó lại chôm mất cuốn sổ ghi nợ. Tưởng bà Năm sẽ quýnh quáng vì mất cuốn sổ “đoạn trường”, không còn nhớ số tiền từng người mà đòi nợ. Ai dè, ngày trước bị mất sổ, ngày hôm sau, bà đem đến quán cuốn sổ mới láng cóng, rồi đọc vanh vách tên tửng người thiếu nợ, nợ bao nhiêu, ngày nào y như cuốn sổ bà đã mất. Bà Năm sổ nói với mấy tay thợ sắp chữ trẻ: “Nè, tao có con gái đang học đại học nghen, hàng ngày tao đưa sổ về cho nó chép sang ra hai cuốn sổ lận. Mất quyển này còn quyển khác. Chỉ trừ phi cháy nhà tao mới mất mấy cuốn sổ nợ đời của tụi bay chứ còn lâu nghen mấy con.”
Không biết trời xui đất khiến, ông ứng bà hành thế nào mà khu vực nhà ở của bà bỗng dưng cháy rụi cả khu xóm. Người thì đồn là do mấy nhà hàng xóm bất cẩn củi lửa nên nó bắt cháy nhưng giới ký giả bật mí rằng chính quyền cần giải tỏa khu nhà đó để xây dựng thương xá gì đó nên phóng hỏa đốt nhà, đuổi bà con nơi đó đi nơi khác. Chuyện bà Năm Sổ được chính quyền bồi thường bao nhiêu thì không biết nhưng khỉ hay tin bà cháy nhà, nghĩa là những cuốn sổ nợ đời đã đi theo bà hỏa thì những con nợ của bà đều tự giác trả nhanh, trả đủ và còn tặng thêm it nhiều để bà và đứa con gái có thể tìm được nơi chốn bình yên, để bà Năm có thể an tâm còn bán cà phê, la-de, nước ngọt ghi sổ cho nhũng con nợ lưu niên ở cái xóm Sáu Lèo này. ông nhà văn xấu trai từ chuyện này đã viết được một truyện ngắn “Tình nghĩa xóm Sáu Lèo” vô cùng cảm động trên báo Dân Quyền, được bạn đọc xa gần viết thư khen ngợi quá xá quà xa.
Bây giờ ông nhà văn xấu trai ngồi đây tán tỉnh bà Năm. Ống nháy nháy mắt:
- “Ê, mấy cha biết hông, phụ nữ cỡ nào cũng khoái mấy thằng đàn ông tán hươu tán vượn hết nha mấy cha. Làm bộ chửi mình già dê chứ trong bụng mấy bả khoái dữ lắm.”
Chú Chín cười hề hề:
- “Vụ này anh là sư phụ rồi. Tiểu đệ xin bái phục.”
Ông nhà văn trầm ngâm:
- “Nhưng dính vào thì nuôi không nổi đâu nha mấy cha.” Một nhà văn chuyên viết truyện tình yêu lâm ly bi đát chen vào:
- “Coi gương của tôi nè. Hồi trước, mỗi ngày tôi chỉ viết có hai cái phơi-ơ-tông hà, nhưng mỗi khi “có chuyện” là phải tăng thêm một cái phơi-ơ-tông nữa."
Ba thằng Dũng hỏi:
- “Bây giờ mỗi ngày anh viết mấy cái?”
- ‘‘Bốn cái là muốn le lưỡi rồi. Kỳ này phải ăn chay thôi mấy cha ơi.”
Thằng Dũng nghe ông nhà văn nói chuyên say sưa. ổng xấu trai nhưng nói chuyện có duyên vô cùng, làm người nghe không muốn dứt ra khỏi câu chuyện thuộc loại “thông kim bác cổ, trên thông thiên văn dưới thông địa lý” của ông. Hình như cái gì ông cũng biết, nhất là về địa danh trong khắp thành phố này cũng như những tiếng lóng mà nó cũng chẳng biết nghĩa và vì sao mà có. Có một bữa cao hứng, ổng ngôi giải thích với một vài ký giả trẻ trong tòa báo mà thằng Dũng nghe lỏm được khi đang trả chữ vào đúng ô của nó.
- “Ê, mấy cha biết hông, chữ “phi yến thu lâm" mà mấy tay “hít-to-phe” hay viết trong tiểu thuyết đó chính là chữ “phiện thú lắm” nói trại ra thôi.”
Một ký giả trẻ hỏi:
- “Còn chữ “hít-to-phe” từ đâu mà ra bố già?”
- “Cái này qua nghe nói nghen, không biết có chính xác hay không, hình như chữ này do Tô Văn - Trần Đức Lai nói trại ra từ chữ “hít cho phẻ.”
Đi làm thêm, ngoài chuyên học việc, một cách tự nhiên - thằng Dũng lại biết thêm nhiều từ ngữ lạ lẫm mà các ký giả thường hay nói chuyện với nhau. Có lần, trong giờ làm trần thuyết trước lớp với đề tài “Tả lại mối tình giữa Loan và Dũng trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh” thằng Dũng đã đạt được điểm cao nhất vì trong đó nó sử dụng những kiến thức và những chữ mà nó học lóm trong những câu chuyện của các ký giả. Thầy Khôi, đang chấm bài trần thuyết của nó hỏi: “Tại sao em lại trích dẫn câu nói của ông Nhất Linh “đời tôi, chỉ lịch sử mới có quyền phán xử” vào bài luận?”
- “Dạ, thưa thầy, sau khi đảo chính chính phủ Ngô Đình Diệm thất bại, ông Nhất Linh bị tòa xử nhưng ông chẳng thà chết chứ không để tòa án xử mình... giống như chí làm cách mạng của Dũng...”
Thầy Khôi gật gù. Thầy hỏi tiếp, miệng hơi mỉm cười: “Còn ba chữ “đi ăn chè" có nghĩa là gì?”
Thằng Dũng gãi tai, ấp úng:
- “Dạ. Em đọc được từ báo..."
Thực ra, chữ này nó nghe được từ buổi kháo chuyện của mấy tay ký giả viết về chuyện hậu trường của các ca sĩ, tài tử, nhạc sĩ. Bữa đó đang ngồi uống nước cùng chú chín trong quán bà Năm sổ thì nó nghe ký giả kịch trường ca nhạc Văn Huy nói với mấy ông thư ký tòa soạn:
“Tin này sốt dẻo, nóng hổi nghe anh Ký. Thằng cha cảnh sát kiểm tục quận Nhà Bè là bạn của tôi nên sáng nay nó cho tôi biết là tối hôm qua khí đi tưần mấy bờ ruộng thì nó bắt được thằng cha nhạc sĩ du ca với lại bà chị vợ đang tủ ti tú tí...”
Thằng Dũng nghe giọng của ông thư ký tòa soạn có vẻ ngạc nhiên: “Hả, nữ ca sĩ Hồng Thanh trong ban hợp ca Về Nguồn, vợ của ca sĩ Trần đó hả?”
- “Đúng vậy sếp. Nhưng vui là khi cảnh sát kiểm tục lập vi bằng thì tay nhạc sĩ đó nói hai người đi ăn chè. Ha... ha.... chè cháo gì ở bờ ruộng đầy ếch nhái...”
Thế là sáng hôm sau trên tờ báo đó có tin:”Nhạc sĩ và ca sĩ đi ăn chè” do anh ký giả này viết.
Thầy Khôi lấy viết xóa đi những chữ mà nó đã dùng, rồi nói: “Trong tình yêu cúa Dũng và Loan không có sự “chim, chuột” nên em dùng chữ “đi ăn chè” không đúng chỗ: Tình yêu giữa Loan và Dũng thanh cao chứ không như những người “đi ăn chè”. Tội nghiệp cho những người thèm ngọt...” Tụi trong lớp cười vui theo nhận xét của thầy Khôi. Thầy dạy kim văn nhưng thỉnh thoảng thầy cao hứng kể những giai thoại đối đáp văn chương trong cổ văn làm tụi nó nghe mê say. Với Nguyễn Công Trứ, tụi nó không nhớ nhiều lắm “nguyệt lai, môn hạ nhàn” nhưng lại nhớ nhiều về giai thoại “giang sơn một gánh giữa đồng, thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng?” Cuộc đời Nguyễn Công Trứ được tụi nó nhớ lại trong chữ “ứ hự”. Thầy Khôi không đẹp trai, tướng mập, tròn lẳng, đi dạy lái chiếc xe con cóc, cái giọng Bắc của thầy nghe du dương nên được tụi trong lớp, dựa theo một giai thoại Nguyễn Công Trứ đã gọi thầy là “Thuyền quyên Khôi”. Thằng Thuật nhận xét nếu Thuyền quyên mà có hình dáng như thầy, dù có giọng nói du dương cách mấy, thì cũng cỏn lâu mới được ứ hự!?
Giờ trần thuyết là giờ học kim văn mà tụi nó khoái nhất. Giáo sư dạy văn cho tụi nó tự do chọn đề tài trong chương trình đang học để làm trần thuyết. Tùy theo đề tài, thằng xung phong làm trần thuyết sẽ đọc tác phẩm trích đoạn hoặc cả tác phẩm - nếu như chọn tác phẩm đó là đề tài trần thuyết, rồi đọc những nhận xét, phê bình lừ các sách giáo khoa của nhiều giáo sư viết khác nhau, các sách tham khảo... những học sinh nào đọc kỹ tác phẩm, tham khảo nhiều sách giáo khoa, có nhiều ý kiến nhận xét dù khác lạ với các sách đã đọc và đã học đều được trên điểm trung bình. Điểm quyết định là khi học sinh trần thuyết đó ra đứng trước lớp, trả lời tất cả những câu hỏi tra vấn nằm trong bài hoặc đôi khi chỉ là sự phá bĩnh một cách trôi chảy và đôi khi câu hỏi của giáo sư nếu như giáo sư đó thấy còn nhiều điểm cần làm rõ hơn. Tất nhiên, vui nhất vẫn là giờ các học sinh tra vấn lẫn nhau.
Hỏi: “Tại sao Hoàng Đạo viết chỉ có 10 điều tâm niệm mà không phải là 11 hay 12?”
Trả lời: “Theo tác giả chỉ cần làm đủ 10 điều thì chẳng cần điều thứ 100 đừng nói đến điều thứ 11.”
Hỏi: “Tại sao trong truyện “Anh phải sống” Khái Hưng không để người cha hy sinh mà lại để người mẹ hy sinh?” Trả lời “Vì người mẹ nghĩ rằng với bầy con đông như gà thì chỉ có đàn ông mới làm ruộng nuôi nổi thôi chứ đàn bà chân yếu tay mềm thì không nuôi nổi. Ngưởi mẹ nghĩ trong hai người thì ngưởi sống có ích nhất vẫn là người cha.”
Hỏi: “Làm sao mầy biết.. ủa lộn làm sao trần thuyết viên biết là bà mẹ nghĩ như vậy?”
Trả lời “Tui không biết mà là nhà văn Khái Hưng biết.” Vỗ tay... Tiếng huýt sáo... Tiếng bình phẩm của tụi nó rào rào. Trên bàn, giáo sư ngồi gật gù nghe đối đáp giữa đám học sinh ngồi dưới và câu trả lời của học sinh trần thuyết. Giáo sư căn cứ vào câu trả lời của học sinh trần thuyết để hiểu rằng học sinh này đã nghiên cứu bài đến đâu, và quan trọng nhất sự thông minh của học sinh này nằm trong câu trả lời, dù không theo sát sách giáo khoa. Chỉ cần sự biện minh đúng, đưa ra được những lập luận riêng.
Riêng thằng Dũng có một kỷ niệm lớn trong lần làm trần thuyết năm đệ ngũ với đề tài về “nhà văn Sơn Nam”. Cùng chọn đề tài này với nó là thằng Hòe. Hòe là một học sinh giỏi gần như toàn diện về các môn, tuy nhiên về điểm văn chương nó vẫn thua thằng Dũng nên ức lắm. Lần này, nó quyết tâm chọn cùng đề tài về nhà văn Sơn Nam với thằng Dũng để tranh tài cao thấp về môn kim văn. Trong khi thằng Dũng chọn trần thuyết “con người nhà văn Sơn Nam” thì thằng Hòe chọn “nhà văn Sơn Nam và Hương rừng Cà Mau". Và buổi trần thuyết trong giờ kim văn của cô Hương với hai bài trần thuyết của thằng Hòe và Dũng là giờ học mà tụi trong lớp mong đợi.
Hòe không hổ danh là một học sinh chăm học. Gia đình nó là một gia đình có truyền thống về học vấn. Ba nó hiện là giáo sư, hiệu trưởng một trường trung học tại Sài Gòn. Mẹ nó
là giáo sư toán trưởng Gia Long. Anh chị nó đều tốt nghiệp đại học nên chuyện thằng Hòe học giỏi là điều đương nhiên. Có thể khi làm luận văn nó không thể dùng những chữ hay hay những dẫn chứng thật văn hoa mặc dù lý luận rất thính xác của một học sinh có tư duy về toán học. Nhưng khi làm một bài trần thuyết thì, với đầu óc chuyên chứng minh những định lý, định đề, nó dẫn chứng, lập luận và trích dẫn nhiều tài liệu trong sách giáo khoa, sách tham khảo, những bài báo phê bình tác phẩm “Hương rừng Cà Mau”. Khi đứng giữa lớp thì thằng Hòe rất tự tin vì những vấn đề cần phải trần thuyết thì nó nắm rất chắc. Tuy nhiên, những điều nó phát biểu trước lớp chỉ là những điều nó đã học và đã đọc trong những cuốn sách khác nhau. “Trong Hương rùng Cà Mau, nhà văn Sơn Nam đưa chúng ta trở lại với không khí khẩn hoang của những người Nam bộ, với tấm lòng của những con người trọng nghĩa khinh tài, thấy chuyện bất bình thì ra tay cứu giúp, không một chút nghĩ suy đến cái gì sẽ được bồi đắp...” thằng Hòe nói trơn tru, không vấp một chữ y như nó đã học thuộc lòng.
Khi thằng Hòe vừa chấm dứt phần trần thuyết của mình thì nhiều cánh tay đã giơ lên. Tụi trong lớp khoái “quây” thằng Hòe. Rồi từng câu hỏi được trả lời trơn tru:
Hỏi: “Hương rừng Cà Mau có bao nhiêu truyện?”
Đáp: “Có tất cả là 18 truyện?”
Hỏi: “Trong Tình nghĩa giáo khoa thư có mấy nhân vật. Nhân vật nào làm bạn có cảm tưởng đó là tác giả?”
Đáp: “Có hai. Nhân vật là phái viên báo “Chim Trời” và độc giả Trần Văn Có.”
Hỏi: “Trong truyện này họ nói về nội dung gì?”
Đáp: “Về tình nghĩa trong quyển sách Quốc vãn giáo khoa thư. Thí dụ như phái viên báo Chim Trời nói với ông Trần Văn Có một độc giả như sau “Người du lịch mới trả lời: ở chốn quê hương... từ cái bụi tre ở xó vườn cho đến con đườnq khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi cho tôi những mối cảm tình chứa chan...”
Lúc này thằng Dũng mới xuất quân - vì trong quy định thì người cùng trần thuyết chung một đề tài cũng có quyền chất vấn.
- “Mầy... ý quên, trần thuyết viên có thể cho tóm tắt mấy dòng từ tác phẩm của nhà văn Sơn Nam có thể tóm gọn hết tâm sự của tác giả?”
Thằng Hòe ngắc ngứ với câu hỏi này. Nó hiểu rõ nội dung, đại ý của từng truyện mà nó đã đọc nhưng nó nhớ đâu có đoạn nào nói lên tâm trạng của tác giả đâu. Nó bèn ứng lchẩu nói đại:
- “Khó có thể dùng mấy giòng để gói trọn tâm sự của tác giả vì mỗi truyện có những nội dung khác nhau.”
Lúc này cả lớp thật sự yên lặng, không còn lời bàn tán xì xào nữa. Ngay cả cô Hương cũng bị hai trần thuyết viên lôi cuốn. Thằng Dũng phản bác:
- “Thưa cô...”
Cô Hương nhắc khéo:
- “Sao lại thưa cô? ở đây chỉ có hai nhà “phê bình” tranh luận thôi và cử tọa thôi, đâu có cô.”
- “Dạ, thưa các bạn trong lớp, tôi có thể chứng minh rằng có, nếu thằng Hòe đồng ý.”
Hòe thách thức vì Ĩ1Ó nghĩ thằng Dũng sẽ không chứng minh được điều mà nó đặt ra.
- “Tao đồng ý.”
Cô Hương tiếp tục nhắc:
- “Không có mầy tao trong tranh luận. Hai chữ đó chỉ để dành để các em nói chuyện với nhau thôi.”
- “Dạ. Nếu trần thuyết viên Hòe để ý thì ngay từ đầu cuốn truyện nhà văn Sơn Nam đã làm một bài thơ và, theo tôi, mấy câu kết của bài thơ chính là tâm sự của tác giả, một người con xa quê, đã lên Sài Gòn để tìm việc làm và sinh sống.” Nói xong nó đọc, giọng diễn cảm như đang ngâm thơ: năm tháng đã trôi qua/ ray rứt mãi đời ta/ nắng mưa miền cố thổ / Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hat bụi nghiêng mình nhớ đất quê..."
Tiếng vỗ tay, tiếng đập bàn và tiếng xuýt xoa của bọn nhỏ kèm theo những tiếng “bis... bis...” như khi tụi nó đang xem hát. Cô Hương củng lim dim mắt, gật gù. Sau đó cô nhận xét về bài trần thuyết của thằng Hòe:
- “Em Hòe có đọc bài, nghiên cứu về tác phẩm rất kỹ, đọc Hương rừng Cà Mau với những truyện đầy tâm sự như vậy mà em đã thấu hiểu và chia sẻ với tác giả như vậy là hay lắm rồi. Tuy nhiên, Dũng đã bổ sung cho em được một điều quan trọng mà trong bài trần thuyết của em còn thiếu đó là tâm sự của tác giả...”
Cô Hương chỉ nhận xét nhưng chưa công bố điểm chấm cho bài trần thuyết của thằng Hòe vì còn đợi bài trần thuyết của thằng Dũng. Mặc dầu vậy, nhưng tụi trong lớp nhận định rằng điểm cao kỳ này chắc chắn lọt vào cột sổ điểm của thằng Hòe chứ không phải thằng Dũng.
Sau khi thằng Hòe về ngồi vào bàn thì thằng Dũng bước ra giữa lớp, bình tĩnh nói:
- “Tui xin được trần thuyết về đề tài nhà văn Sơn Nam với nội dung con người của nhà văn. Tui đọc trong sách giảng văn có viết là nhà văn Sơn Nam, sinh năm 1926, tên là Phạm Minh Tày tại Rạch Giá, Kiên Giang. Thật ra, theo ổng nói ổng tên là Tài nhưng cái ông ghi giấy khai sinh lộn là Tày. Còn bút hiệu Sơn Nam, chữ Sơn là lấy họ của người vú nuôi, bà này người gốc Miên, chữ Nam là phía nam. ông học tiểu học tại Rạch Giá, sau đó ỉên học tại cần Thơ. ồng lên Sài Gòn viết văn nhật trình từ năm 1954. Sách viết không nhiều, tui chỉ nói được tới đó.”
Nó ngưng lại một chút, cả lớp và ngay cả thằng Hòe cũng chưng hửng. Thằng Dũng nói đúng. Trong sách giảng văn chỉ ghi sơ lược vài giông tiểu sử tác giả, phần còn lại là liệt kê các tác phẩm của ông. Nhưng, hết sức bất ngờ, thằng Dũng nói tiếp:
- “Sách giảng văn chỉ nói tới đó, và nếu nói theo sách thì cũng chẳng nói được tới đâu...” cả lớp bật cười lên vì câu nói dí dỏm, tưng tửng hết sức bất ngờ của nó. Được thể, thằng Dũng tiếp tục:
- “Tui có dịp được gặp nhà văn Sơn Nam...” Tụi trong lớp “ô” lên với vẻ ngạc nhiên. Ngay cả cô giáo Hương cũng hơi sửng sốt, không ngờ thằng này gặp được nhà văn Sơn Nam nên có vẻ bán tin, bán nghi. Nó tiếp tục nói:
- “Ông Sơn Nam không biết đi xe đạp, xe gắn máy gì cả. ông ấy chỉ đi xe xích lô đạp.” Khi nó nói tới đây thì cả lớp xì xào vì thông tin ngộ nghĩnh này vì bọn học sinh không thể hình dung có người lại không biết đi xe đạp. “Ổng hút thuốc lá rất nhiều. Khi có tiền thì ổng hút thuốc Ruby, không có tiền thì ổng hút thuốc Bastos xanh, ông rất nghèo, ông ấy nói nhà văn, nhà báo thì không thể giàu được, ông thường uống cà phê ghi sổ của bà Năm sổ ở xóm Sáu Lèo. Mặc dầu thiếu nợ, ghi sổ, nhưng mỗi khi ông lãnh được nhuận bút, ông trả ngay tiền nợ cho bà. Mà trả còn nhiều hơn tiền nợ vì ông nói mình nợ người ta mình phải trả lãi...”
- “Đúng rồi, tiền đẻ ra tiền mà.” Thằng Thịnh kẹo tán thành.
- “Ông ấy ăn mặc rất bình dân, áo sơ mi không được sạch sẽ lắm, lúc nào củng bỏ áo ngoài quần, ông ấy không đi giày mà chi đi dép da...”
Cả bọn trong lớp ngồi im lặng nghe nó thông tin những điều trái ngược mà bọn nó từng nghĩ về nghề nhà văn, nhà báo. Ngay cả cô giáo Hương cũng vậy. Trong đầu họ hình dung nhà văn, nhà báo phải là những người sang trọng, bảnh chọe như các thầy Vũ Ký, Tạ Ký , Phạm Mạnh Cương ... trong trường. Chính vì vậy những điều thằng Dũng nói nghe vô cùng hấp dẫn như nghe kể chuyện xì-căng-đan giữa hề Tùng Lâm và nữ ca sĩ học trò Phương Anh trong chương trình Tạp lục.
- “Ông Sơn Nam viết truyện khi ngồi trên xe xích lô đạp, có khi tại ngay chỗ sắp chữ của thợ ty-pô. Ông cho biết một ngày ông phải viết truyện cho ba tờ báo để kiếm sống. Có nhiều khi ổng đưa lộn truyện của tờ báo này cho tờ báo khác mà họ không biết. Không biết viết báo như thế nào mà năm 60-61 ông bị bắt đi ở tù. Chắc có lẽ do đưa lộn bài nhiều lần quá chăng?”
- “Ồ...”
- “Nhà văn mà cũng đi ở tù như cao bồi, du đãng à?”
- “Tao nghi thằng Dũng này thêm mắm, thêm muối quá...” Mấy đứa ngồi dưới lớp xì xào vì không tin nhà văn có thể bị ở tù như bọn trộm cướp. Như vậy thì làm nhà văn, nhà báo làm gì? Tụi nó nghe nói nhà văn, nhà báo có quyền bất khả xâm phạm như là dân biểu quốc hội hay nghị sĩ thượng nghị viện mà tụi nó đã học từ môn công dân giáo dục. Bất chấp sự ồn ào trong lớp, thằng Dũng vẫn tiếp tục:
- “Ông Sơn Nam hay ghi chép. Trong túi ổng lúc nào cũng có mấy cái cạc nho nhỏ, mỗi khi ai nói điều gì, thấy hay hay ông viết vào cạc, rồi bỏ vào túi. ổng nói “để sau này làm tài liệu”. Hình như chuyện gì ông Sơn Nam cũng biết, nhất là chuyện xưa tích cũ của miệt vườn, Lục tỉnh. Khi bắt đầu câu chuyện ổng thường nói “Ê, mấy cha... mấy cha biết hông, chữ điệu nghệ của dân Nam bộ nói trại ra từ chữ đạo nghĩa. Thằng đó chơi điệu nghệ lắm nghe nghĩa là thằng ấy có đạo nghĩa kiểu Lục Vân Tiên...” Ổng là bạn của nhà thơ Nguyễn Bính. Ổng kể rất nhiều chuyện về nhà thơ Nguyễn Bính thời còn ở miệt Lục tỉnh, ổng nói người chị trong bài “Lỡ bước sang ngang” là một cô gái tên NH. Nhưng Nguyễn Bính thường gọi là chị Trúc. Chị Trúc này chỉ là “người em văn nghệ của anh ruột nhà thơ Nguyễn Bính.” Ông Sơn Nam nói chuyện nghe mê ly luôn, đàn ông con trai nghe ổng nói chuyện cả buổi còn muốn nghe nói chi tới mấy bà phụ nữ mặc dù ổng rất xấu trai. Đầu hớt tóc húi cua, mắt lé kim, răng hơi hô và xỉn vì hút thuốc lá nhiều vậy mà nghe nói nhiều nữ độc giả rất mê ổng. Ổng ưa chọc bà Năm sổ bán cà phê vì ổng nói “phụ nữ nào cũng khoái đàn ông dê hết...”
Nghe đến đoạn này, bọn trong lớp vỗ tay bốp bốp, khoái chí. Còn cô Hương thì hơi đỏ mặt.
- “Thưa cô và quý bạn, bài trần thuyết của em chỉ có bao nhiêu đây và câu kết của em về ông Sơn Nam là ổng rất “nghiêng mình nhớ đất quê."
Cả lớp vỗ tay hoan nghênh bài trần thuyết của thằng Dũng. Nó về chỗ ngồi, chờ nghe cô Hương nhận xét và cho điểm. “Chắc chắn mình sẽ được 19 điểm”, thằng Dũng tự tin nghĩ như vậy.
Cả lớp im lặng. Cô Hương suy nghĩ một lúc rồi nói chậm rãi:
- “Khi chọn đề tài là “con người một nhà văn” hay bất cứ ai đều đã là một đề tài khó. Nói về một con người bình thường A hoặc B hay nói về cô thì cũng rất là dễ vì những con người này đều là những người bình thường, đúng hoặc sai thì cũng chẳng có gì trầm trọng. Nhưng khi nói về một con người được đưa vào sách giảng văn để học, nghĩa là một con người của văn học sử thì chúng ta phải cẩn thận. Cô không biết em Dũng gặp nhà văn Sơn Nam lúc nào và ở đâu, vì việc gặp nhà văn này củng có thật không, vì đâu phải dễ dàng gì để gặp một nhà văn như nhà văn Sơn Nam. Tuy nhiên, cô cũng tạm tin điều đó. Duy có những điểm mà chúng ta thấy rằng trò Dũng, trong bài trần thuyết của minh đã vô tình xúc phạm nhà văn Sơn Nam với những chi tiết sau đây: một - nhà văn bị ở tù; hai - nhà văn thiếu nợ tiền thuốc lá cà phê; ba - nhà văn nói về phụ nữ không được đàng hoàng; bốn - nhà văn là người xấu trai, ăn mặc lượm thượm, cẩu thả. Rồi nào là nhà văn đưa nhầm truyện, viết bài trong nhà in... những điều mà không có sách vở hoặc báo chí nào nói đến thì làm sao cô biết được tính xác thực của bài trần thuyết... Hồi nãy, trong lúc Hòe trần thuyết, Dũng có một câu hỏi và trả lời rất hay nên cô bù vào điểm cho bài trần thuyết của Dũng là 10 điểm, còn bài của em Hòe là 17...”
Buổi trần thuyết của hai “địch thủ” chấm dứt trong tràng vỗ tay của lớp. Mặt mày thằng Hòe hớn hở vì nó cảm thấy chuyện học văn chương của nó cũng không đến nỗi nào. Còn thằng Dũng thì ngồi lặng im, cúi gằm mặt vì quê. Không phải nó quê với tụi bạn mà là nó quê với ông Sơn Nam. Nó tự hỏi trong lòng “không biết mình có xúc phạm ổng như cô giáo nói không?”
Vài ngày hôm sau, trong khi uống nước ờ quán bà Năm sổ trước khi vào làm việc, chú Chín hỏi:

- “Thằng nào rã chữ ở bát chữ 10 vậy?”

Thằng Dũng lí nhí:

- “Dạ, con.”

- “Sao mầy trả chữ trật ô hết vậy? Mầy làm kiểu này là mấy ông thầy cò chửi mấy thằng sắp chữ tụi tao tóe khói đó. Mầy bị cái gì vậy?”

- “Dạ, con không biết. Chắc có lẽ đầu óc con hơi lộn xộn.”

- “Bộ, thất tình hả?”

Thằng Dũng đỏ mặt:

- “Dạ, đâu có chú Chín. Con còn nhỏ mà.”

- “Vậy chứ chuyện gì nói tao nghe coi. Nói tao nghe, tao thấy hợp lý thì tao mới tha mầy cái tội hại mấy thằng xếp chữ tụi tao.”

Thằng Dũng ngắc ngứ, nó không biết có nên kể cho chú Chín nghe chuyện trần thuyết về cuộc đời ông Sơn Nam không? Nhưng nếu không kể thì nó vẫn cứ ấm ức trong lòng. Không hiểu mình có xúc phạm chú Sơn Nam như cô Hương nói không? Trước giờ, những điều thầy cô dạy trong trường học đều là khuôn vàng thước ngọc, nhưng trong nhận xét của cô Hương đối với bài trần thuyết là nó chưa được thông suốt lắm. Nghĩ vậy nên nó không ngần ngại kể hết cho chú Chín nghe mọi chuyện về buổi trần thuyết của nó. Nghe xong, chú Chín gật gù:

- “Tao thấy mầy nói về anh Sơn Nam đúng quá chứ có gì sai đâu, mà hình như còn thiếu nữa. Cô giáo mầy không hiểu, và cũng có thể nghĩ là mầy không biết anh Sơn Nam nên nói vậy.”

- “Như vậy con có xúc phạm bác Sơn Nam không?”

- “Không. Có gì đâu mà xúc phạm. Thôi yên tâm đi. Ráng làm việc đàng hoàng. Trong thời gian học việc không được phân tâm. Tụi bây mà phân tâm, đem chữ M bỏ vào chữ T thì mấy ông thầy cò chửi, tụi tao lãnh đủ nghen...”

Sau khi nói chuyện vơi chú Chín, trong lòng thằng Dũng trở nên nhẹ nhàng. Rồi mọi việc hàng ngày như gió cuốn trôi. Giờ trần thuyết về nhà văn Sơn Nam không còn đọng trong lòng nó chút gợn nào dù cho trong sổ điểm vẫn còn ghi lại dấu tích cụ thể. Nó hầu như quên. Những buổi ngồi với chú Chín typo ở xóm Sáu Lèo vẫn hồn nhiên, trong trẻo và vô tư với những tiếng cười trong veo.

Một buổi chiều, trong giờ cổ văn, cô Hương đang giảng về “Đoạn trường tân thanh" thì bác tùy phái mang giấy mời cô lên phồng khách giáo sư. Cô cho cả lớp chép một đoạn thơ trong bài Kiều gặp Kim Trọng rồi đi xuống phòng khách giáo sư. Trước đó, một người đàn ông, đến trường trên xe xích lô đạp. Ông đến thẳng văn phòng xin gặp ông hiệu trưởng.

Ông hiệu trưởng mời ông vào phòng khách. Nhìn dáng vẻ của người đàn ông có gương mặt khắc khổ, trong bộ quần áo xềnh xoàng, và mang một đôi săng-đan cũ lòi cả những móng chân dài thâm đen, ông hiệu trưởng biết đây là cha của một học sinh trong trường đang muốn gặp hiệu trưởng để khiếu nại gì đó. Đây không phải là trường hợp đầu tiên và cuối cùng. Sau khi người tùy phái rót trà mời khách xong, thầy hiệu trưởng ôn tồn hỏi:

- “Xin được hỏi, ông là phụ huynh của trò...”

Người đàn ông hơi ngần ngừ:

- “Dạ, nói phụ huynh cũng phải mà không phải phụ huynh cũng phải... Tôi đến đây để được xin gặp giáo sư Kim Hương, dạy quốc văn lớp ngũ 7 có chút chuyện...”

Ông hiệu trưởng nhìn lên bảng thời gian biểu dạy trong tuần của các giáo sư rồi nói:

- “Hiện giờ giáo sư Hương đang có giờ dạy. Được rồi, xin mời ông qua phòng khách giáo sư, tôi sẽ cho mời giáo sư Hương cho ông gặp.”

Ông hiệu trưởng đứng dậy, bắt tay người đàn ông. Viên tùy phái đưa người đàn ông sang phòng tiếp khách. Sau khi mời khách ngồi, ông tùy phái nói:

- “Ông ngồi đây chờ, giáo sư Hương đang dạy trên lớp, tôi sẽ mời giáo sư xuống gặp ông.”

Ông khách ngồi chưa nóng đít thì cô Hương đã bước vào phòng khách giáo sư. ông khách đứng dậy, gật đầu chào. Giáo sư Hương cũng gật đầu chào đáp lễ. Và hỏi:

- “Ông là phụ huynh của em...”

Chưa hỏi hết câu, cô chợt thấy thấp thoáng bóng một chiếc xe xích lô đạp trong sân trường, cô Hương chợt đổi câu hỏi: “Dạ, xin thưa ông đi xe xích lô đạp đến đây?”

Ông khách nghe cô giáo nói bằng giọng Huế ngọt ngào cũng nói vui:

- “Dạ, nó là phương tiện mưu sinh của tôi đó cô.”

Cô Hương nhìn ông khách. Một gương mặt khắc khổ, vầng trán đầy những vết nhăn, má hóp, răng hơi vẩu, người gầy nhom, những ngón tay cháy vàng vì khói thuốc. Cô nghĩ thầm “Không biết đứa nào dám mượn một ông xích lô đóng vai phụ huynh để xin cái gì đây?”

- “Dạ, ông là phụ huynh của em...”

- “Dạ, tôi không phải là phụ huynh chỉ là người nhà của thằng Dũng thôi...”

Cô Hương nghĩ tiếp: “Vậy là rõ rồi.”

- “Dạ, ông gặp tôi có chuyện chi không?”

Ông khách nhìn vào mặt cô Hương, nói giọng Nam bộ, hơi nhanh:

- “Dạ, tôi đường đột gặp cô về cái chuyện, e... hèm, tôl chỉ nghe nói lại thôi là... là. Thằng Dũng có làm một bài trần thuyết về Sơn Nam, được cô cho có 10 điểm vì có rihững lời lẽ xúc phạm đến ông Sơn Nam...”

Cô Hương nói nhẹ nhàng chậm rãi:

- “Trước khi trao đổi với ông, tôi xin được phép hỏi nếu ông không phải là phụ huynh của em Dũng, thì chính xác, ông là gì của Dũng?”

- “Cha... e... hèm... là chú của nó.”

- “Dạ, nhưng chú ruột phải không?”

- “Nó chỉ kêu tôi bằng chú thôi, chứ đâu có bà con chi.”

- “Ông đi xích lô đến?!”

- “Dạ. Tôi đi xích lô hàng ngày. Đó là phương tiện di chuyển của tôi.”

- “Em Dũng nhờ ông đến khiếu nại cho nó về bài trần thuyết?”

- “Nó đâu có nhờ. số là tôi nghe anh Chín nói lại.”

- “Anh Chín là ai?”

- “Anh Chín là sếp thợ sắp chữ typo ở nhà in Bình Minh.”

Cô Hương càng lúc càng tin chắc là thằng Dũng đã nhờ một ông xích lô đạp giả làm người nhà đến khiếu nại cho nó. Cô đã nghe thầy tổng giám thị kể về trường hợp của một học sinh, con của một giới chức khá cao cấp trong chính quyền mà nhiều người biết mặt biết tên. Học sinh này cúp cua, bỏ học nhiều quá nên thầy tổng giám thị đã làm giấy mời phụ huynh vào trường để thông báo sẽ đưa em ra hội đồng kỷ luật nhà trường. Sợ gia đình biết được mình trốn học quá nhiều, học sinh này liền mướn một ông xích lô đạp giả dạng làm cha của em vào trường gặp thầy tổng giám thị. Trước khi đưa ông xích lô vào trường, em học sinh đã bắt ông này mặc quần áo, mang giầy mới, đeo kính cận thị, thậm chí có cả một cây bút máy nắp vàng gắn ngay túi. Mấy đứa bạn trong lớp nhìn cũng không ra đây là một phụ huynh giả dạng. Nhưng em học sinh ấy không ngờ một điều rằng vì ba em là một giới chức cao cấp trong chính quyền Ngô Đình Diệm thường xuyến xuất hiện trên các mặt báo nên ông tổng giám thị biết ngay đây là sự giả mạo. Ông tổng giám thị bèn truy vấn ông xích lô lẫn em học sinh này nên em đã khai thật mọi chuyên với thầy tổng giám thị. Chuyện này xảy ra đã khá lâu. Hiện giờ em là một du học sinh với học bổng toàn phần tại Mỹ.

Nghĩ vậy nên cô Hương không muốn mất thời giờ nữa, bèn hỏi thẳng:

- “Thật ra, ông làm nghề chạy xe xích lô đạp phải không?”

- “Nghề này có gì xấu không cô?” ông khách hỏi lại.

- “Nghề đạp xích lô không có xấu, nhưng phụ huynh học sinh trường Petrus Ký...”

Ông khách chận ngang:

- "Cô làm như học sinh trường này không có ba làm nghề đạp xe xích lô vậy!”

- “Xin hỏi thật ông là gì của trò Dũng?”

- “Một người quen biết với ba nó và với nó nữa...”

- “Thôi được. Ông gặp tôi có chuyện gì không?”

- “về chuyện cái bài trần thuyết về Sơn Nam mà cô cho rằng thằng Dũng đã xúc phạm nhà văn này...”

- “Đúng. Tại vì em Dũng chỉ nghe ai đó kể về nhà văn này mà không kiểm chứng, tôi sợ như thế sẽ làm xấu đi hình ảnh con người nhà văn được đưa vào dạy trong sách giảng văn. Thí dụ như Dũng nói rằng nhà văn Sơn Nam bị ở tù. Nhà văn làm sao bị ở tù được. Tiểu sử nhà văn đâu có nói như vậy.” - “Có. Sơn Nam có đi ở tù. Nhưng ở tù vì lý do chính trị chứ không phải là tình, tiền, tù tội hay tham nhũng của thường phạm hình sự. Tôi biết!”

- “Em Dũng nói nhà văn Sơn Nam uống cà phê quán cóc ở xóm Sáu Lèo, còn ghi sổ nợ nữa...”

- “Đúng, nhưng chưa rõ. Uống cà phê ghi sổ không phải vì không có tiền mà muốn thanh toán một lần cho nó khỏe.”

- “Nó nói nhà văn Sơn Nam là một người xấu trai.”

- “Bộ đặc tính của nhà văn là cần phải đẹp trai sao cô?!"

- “Nó còn nói là ông Sơn Nam nói “phụ nữ tuổi nào cũng thích đàn ông dê hết.” Không chịu nổi.”

- “Thì quan niệm của ổng như vậy có chết... bà nào đâu.”

- “Ông... làm sao ông biết, ông là người nhà hay là bạn của nhà văn Sơn Nam hả?”

- “Không phải người nhà hay là bạn mà tôi là Sơn Nam.”

- “Hả, ông là nhà văn Sơn Nam?”

Cô Hương nghĩ thầm: “Ông xích lô này thật là quá đáng. Hết nhận là người nhà của thằng Dũng bây giờ lại tự nhận là nhà văn Sơn Nam.”

- “Ông có gì chứng minh ông là nhà văn Sơn Nam?”

Ông khách móc trong bóp ra đưa cho cô Hương thẻ căn cước. Cô Hương nhìn vào ảnh rồi nhìn vào gương mặt của ông khách để đối chiếu. “Ảnh xấu mà người cũng không đẹp”, cô nghĩ thầm rồi nhìn vào mục họ và tên trong căn cước: “Phạm Minh Tày, sinh năm 1926. Quê quán: Kiên Giang.” Thấy cô giáo còn có vẻ ngờ ngợ, ông khách liền tiếp tục đưa cho cô một cái thẻ chứng nhận là ký giả: “Chứng nhận ông Phạm Minh Tày - bút hiệu Sơn Nam là ký giả - nhà văn thuộc Nghiệp đoàn Ký giả Nam Việt.” Khi thấy thẻ này, cô Hương như reo lên:

- “Trời ơi... ông là nhà văn Sơn Nam... Thật hân hạnh cho tôi quá. Xin ông bỏ qua lỗi cho tôi. Hồi nãy tôi cứ tưởng ông là...” Cô không dám nói hết ý nghĩ của mình.

- “Cô tưởng tôi là ông xích lô hả? Cũng được chứ có sao. Tôi cũng đâu có khác gì mấy ông xích lô đạp đâu. Mỗi người có mỗi kiểu... đạp để kiếm sống vậy mà.”

- “Dạ, ông quá khiêm nhường. Xin lỗi chắc Dũng kể chuyện cho ông nghe và nhờ ông...”

- “Không. Thằng Dũng nó không kể. Thằng nay nhỏ mà biết tự trọng nghe ta... Nó không hề nói một tiếng.”

- “Nhưng sao ông biết. Chắc ba trò Dũng nhờ bác đi gặp tôi.”

- “Không, thằng cha này tự trọng càng dữ nữa. Bạn tù của tôi, tôi biết tánh giả mà. Tôi nghe một người khác kể lại, cho vui thôi. Nhưng nghe xong câu chuyện, tôi nghĩ tôi phải cần gặp cô...”

Cô giáo ngắt lời:

- “Dạ, chắc tôi sẽ xem lại điểm và nâng điểm cho Dũng...”

- “Không... không phải vậy đâu. Tôi gặp cô không phải là chuyện điểm của thằng Dũng. Đối vởi tôi, chuyện điểm không phải là quan trọng. Điều quan trọng là đừng để thằng Dũng nói riêng và học sinh nói chung đánh mất niềm tin...”

- “Niềm tin...?!”
- “Đúng rồi. Người mà học sinh tin tưởng nhất là giáo sư. Vì giáo sư là người truyền thụ kiến thức, lối sống và phương cách suy nghĩ cho học sinh, mà học sinh tứ lớp năm cho tới lớp đệ nhất gần như túi tưởng tuyệt đối vào những gì mà giáo sư dạy dỗ. Nếu giáo sư dạy không đúng hoặc sai lệch thì học sinh sẽ hiểu vấn đề đó sai lệch trong suốt cuộc đời của nó. Còn nếu như, một học sinh nào đó, có thể trong một hoàn cảnh đặc biệt lại biết nhiều hơn trong những điều sách giáo khoa không nói, không dạy nhưng thầy, cô lại phủ nhận điều nó biết sẽ làm nó mất lòng tin vào sự suy nghĩ độc lập của mình. Nó sẽ nghi ngờ vào sự hiểu biết của nó, nghi ngờ vào bản thân nó thì nó khó có thể tiếp tục truy tìm, phát kiến những điều mới mẻ trong đời sống tương lai được. Người ta nói học đó là học vẹt đó, thưa cô..."

- “Dạ, tôi hiểu những điều ông nói... Nhưng vì niềm tin của Dũng... sao ông lại mất công đến trường?”

- “À... Tôi nói cái này nghe không phải, nhưng tôi đến đây gặp cô để tạo niềm tin cho... cô, người dạy học trò.”

- “Cho tôi?! Tôi đâu có mất niềm tin...”

- “Có chứ. Cô mất niềm tin về bài trần thuyết của thằng Dũng về nhà văn à... à về tôi, trong khi cô biết về tôi rất ít, chỉ qua sách giáo khoa mà thằng Dũng lại biết về tôi rất nhiều. Cô không tin học sinh mình. Tôi đến đây để chứng nhận rằng những điều thằng Dũng nói về tôi là đúng để cô tin vào bài trần thuyết cúa nó.”

- “Trong trường hợp này ông sẽ xử trí như thế nào?”

Ông Sơn Nam rút điếu thuốc nhưng nghĩ sao, ông lại bỏ điếu thuốc vào gói trở lại:
- “Tôi á... à... Tôi sẽ hỏi nó có quen ông ấy thật không? Quen trong trường hợp nào. Chắc nó sẽ kể cho cô nghe tuốt luốt về tôi.”

Lời nói của ông Sơn Nam khiến cô Hương suy nghĩ. Đúng là cô không nghĩ rằng thằng Dũng có thể quen với nhà văn Sơn Nam nên cô nghĩ nó dựng chuyện khiến cô có nhận xét không đúng về nó. Cô chưa kịp nói ý nghĩ của mình thì nhà văn Sơn Nam nhìn ra quanh khu trường đang hửng nắng rồi nhận xét:

- “Cái ông kiến trúc sư Tây Hébrard de Villeneuve vẽ họa đồ kiến trúc trường này đẹp thật. Nhìn cái trường tôi cũng muốn đi học trở lại. Ở Cần Thơ, thời tôi đi học và cho tới bây giờ đâu có cái trường nào được như cái trường này. Nó là đệ nhứt xứ Nam kỳ Lục tỉnh này đó cô... Cái trường này nổi tiếng không vì chuyện đào tạo học sinh giỏi mà còn nổi tiếng về việc trò Trần Văn Ơn, biểu tình chống Tây bị bắn chết năm 1950, dẫn đến cuộc biểu tình vĩ đại trong ngày đám tang...” Ông Sơn Nam nói như thầm thì, như một nhà khảo cổ đang nói chuyện với bức tượng cổ mình vừa đào được dưới lòng đất. Cô Hương bỗng dưng bị hút vào câu chuyện kể về ngôi trường mà cô đang dạy với nhiều điều cô chưa biết hết về lịch sử, những cơn biến động qua năm tháng. Khi được điều về dạy ở trường này, cô cũng cảm thấy vô cùng vinh dự vì những vị giáo sư được Bộ Quốc gia giáo dục phân công dạy ở đây là những giáo sư đã được công nhận là giáo sư giỏi: tốt nghiệp thuộc loại cao được đặc quyền chọn trường để dạy, hoặc là một giáo sư dạy giỏi ở các nơi khác được chuyển về. Nhưng bây giờ, qua câu chuyện mà nhà văn Sơn Nam đang nói cô lại càng cảm thấy tự hào hơn khi được là giáo sư, là người đào tạo những thế hệ tiếp nối cho ngôi trường này. Rồi trong những học sinh này có người sẽ là giáo sư, nhà bác học, nhà chính trị, nhà kinh tế... giỏi phục vụ cho xã hội. Bất chợt, cô hỏi nhà văn Sơn Nam với giọng rụt rè:

- “Không biết ông có thể dành chút ít thời giờ để nói chuyện với học sinh trường tôi không ạ?”

- “Tôi không có ít thời giờ mà còn nhiều thời giờ, không biết làm sao cho hết đây...” ông nói vui thật là hân hạnh cho tôi. “

- “Dạ, cám ơn ông. Tôi sẽ xin ý kiến thầy hiệu trưởng về thời gian, sau đó tôi sẽ báo cho ông.”

Khi ông Sơn Nam từ giã ra về, cô quay lại lớp. Cả lớp, khi vắng cô thì ồn ào như mọi lớp học tất cả trường khác, bỗng chợt im lặng như ru. Cô đứng trước lớp nói ngay:

- “Vừa rồi, trong giờ trần thuyết, cô có nhận xét về bài trần thuyết của em Dũng không đúng. Những gì mà Dũng trần thuyết về cuộc đời nhà văn Sơn Nam là chính xác, ngay cả cho rằng nhà văn Sơn Nam là người xấu trai. Đúng là nhà văn Sơn Nam xấu trai thật nhưng, Dũng thiếu một điều là, dù xấu trai nhưng nhà văn Sơn Nam rất có duyên...” cả lớp cười cái rần. “Dũng có một hân hạnh là quen thân với nhà văn Sơn Nam... à, cô nhìn Dũng cũng hơi giông giống à nghen..! Cô nâng điểm cho Dũng từ 10 lên 19.”

Tất nhiên là nhân cơ hội này bọn chúng lại vỗ tay, lại đập bàn. Thằng Thuật lại để tay bóp môi dưới, thè lưỡi huýt gió “hoét hoét”. Thằng Dũng cúi gằm mặt vì mắc cỡ. Trong khi đó thằng Hòe cũng cười và giơ ngón tay cái lên, chia vui với Dũng.
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn