C16:MÔNG CỔ LẬP QUỐC.
Niên hiệu Chính long Bảo ứng thứ sáu (Mậu Tý, DL.1168), đời vua Lý Anh tông bên Đại Việt, bên Trung nguyên là niên hiệu Càn Đạo thứ tư đời vua Hiếu tông nhà Nam Tống, mùa Thu tháng 8.
Đại Việt thiết đại triều tại điện Uy viễn. Nhạc tấu bản Nguyên thọ, nhà vua cùng Tuyên phi Từ Thụy Hương ra. Nhà vua ngồi trên ngai vàng. Bên trái là một long ỷ, Tuyên phi Thụy Hương ngồi đây. Bên phải là một long ỷ khác, dành cho thái tử Long Xưởng và ba hoàng tử là Kiến Ninh vương Long Minh, Kiến An vương Long Đức, Kiến Tĩnh vương Long Hòa.
Lễ nghi tất.
Tể tướng Đỗ An Di bước ra tâu :
%97 Thần Kiểm hiệu Thiếu sư, Đồng bình chương sự, Uy viễn đại học sĩ, Kinh Bắc tiết độ sứ kính tâu.
Thái tử Long Xưởng tuyên chỉ :
%97 Xin tể tướng bình thân.
%97 Chương trình nghị sự hôm nay gồm có ba phần. Phần thứ nhất, để nghe tâu về việc đi sứ Kim.
Nghe Đỗ An Di tâu, bách quan đều kinh ngạc vô cùng, vì họ chưa từng nghe nói đến việc triều đình cử sứ giả sang Kim quốc bao giờ, thế mà nay họ lại nghe tâu sứ đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ trở về. Thế chánh sứ là ai ? Lên đường bao giờ ? Sứ sang Kim với nhiệm vụ gì ?
Họ cùng đưa mắt nhìn Lễ bộ thượng thư Ngô Lý Tín như để dò hỏi, thì ông này cũng ngơ ngơ ngác ngác. Họ lại nhìn nhà vua, thì thấy đôi mắt nhà vua lờ đờ, tỏ vẻ mệt mỏi, không mấy chú ý đến việc này. Họ nhìn thái tử Long Xưởng, thì thấy ông vua con mắt sáng long lanh, da tươi hồng. Như vậy rõ ràng vụ này do thái tử chủ xướng.
Long Xưởng biết phụ hoàng mình hoàn toàn u mê, ù ù, cạc cạc về việc liên kết với Kim, vương nhắc lại để cho ngài nhớ, và cũng để cho quần thần biết :
%97 Tâu phụ hoàng, cách đây hơn năm, trong lần mật nghị quốc sự với thần nhi, phụ hoàng ban chỉ rằng : Cái thế Đại Việt ta an hay nguy là do Tống với Chiêm. Nay Chiêm đã hoàn toàn quy phục, chỉ có Tống là đáng chú ý. Nhưng tình hình Tống lại tùy thuộc vào Kim với Hạ. Vậy cần cử người sang Kim quốc, tặng phương vật, kết hiếu, để thăm dò tình hình.
Nghe Long Xưởng tâu, nhà vua mới chợt nhớ :
%97 Hôm ấy, trẫm trao toàn quyền cho hoàng nhi. Nay sự ấy ra sao ?
%97 Sau một tháng chuẩn bị, thần nhi đã tâu rằng : Sứ Việt sang Kim quốc, phải qua lãnh thổ Tống, vì vậy nên giữ kín. Vì thế, vụ này không đem ra triều nghị, cũng không làm lễ tiễn sứ. Phụ hoàng ban chỉ cử phò mã Trần Thủ Huy với công chúa Đoan Nghi làm chánh phó sứ, lại nhờ hai trong Đại Việt ngũ tuyệt là y sư Phạm Tử Tuệ, thần tiễn Trần Tử Giác xung vào sứ đoàn. Ngoài ra còn có Vỵ xuyên ngũ tiên giả làm tỳ nữ đi theo nữa.
Nghe Long Xưởng tâu, nhóm quần thần chủ yên phận hưởng thụ nghĩ thầm :
%97 Cái vụ này ắt là thái tử chủ xướng, chứ ông vua nào có thiết tha gì đến quốc sự đâu. Hèn gì, cách nay hơn năm, sau lễ cưới của công chúa Đoan Nghi với quốc công Thủ Huy, thì thái tử loan báo rằng cử phò mã với công chúa làm khâm sai đại thần, mang Thượng phương bảo kiếm đi kinh lý khắp Đại Việt. Khâm sai đặc mệnh được toàn quyền xử tử, cách chức bọn tham quan, bọn cường hào ác bá. Hồi ấy ai cũng nghi ngờ rằng Thủ Huy đang giữ trọng trách tổng lĩnh Thiên tử binh, là cánh tay mặt của thái tử, mà sao thái tử lại cho rời Thăng long ? Bây giờ mình mới hiểu ! Hà, nay mai ông vua con này lên ngôi, ắt có nhiều cải cách, ta khó mà ngồi yên hưởng thụ được.
Long Xưởng tuyên chỉ :
%97 Thỉnh phò mã, công chúa vào.
Thủ Huy, Đoan Nghi vào điện, trong khi hơn trăm nhạc công tấu, ca bản Viễn hành quy triều (đi xa về chầu vua).
Tự Thiên tử sở,
Thiên tử mệnh chi.
Chấp sự hữu khác,
Đức âm mạc vi.
Chưng tai ! Mao sĩ,
Bạc ngôn hữu chi.
Duy kì hữu chi,
Bi nhiên lai ti.
Bảo hữu quyết thổ,
Bang gia chi ki.
Dịch.
(Tự nơi đức vua,
Đức vua sai đi.
Nhiệm vụ kính cẩn,
Quyết chẳng sai di.
Tốt thay tuấn sĩ,
Lời nói cẩn trọng,
Duy có người thôi.
Vui vẻ trở về,
Bảo vệ xã tắc,
Gốc của nước nhà)
Càn nguyên điện đại học sĩ Trần Thủ Huy tâu :
%97 Thần Thiếu bảo, Trung nghĩa thượng tướng quân, lĩnh Càn nguyên điện đại học sĩ, kiêm Thượng thư lệnh, tổng lĩnh Thiên tử binh, tước Côi sơn công kính tâu.
Nhà vua tuyên chỉ :
%97 Phò mã bình thân.
Long Xưởng kéo ghế cho Thủ Huy, Đoan Nghi ngồi. Vừa ngồi xuống, đôi mắt Thủ Huy chạm ngay phải nhãn quang Tuyên phi Thụy Hương. Cả hai cùng ngỡ ngàng, cùng bồi hồi, cùng rung động thực mạnh. Nhưng mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Thủ Huy thì nghĩ thầm, Mình với Thụy Hương đã qua biết bao nhiêu hạnh phúc, biết bao nhiêu kỷ niệm mặn nồng. Vì mình không chủ trương được, mà ví dù có chủ trương được, thì cũng không có quyền chủ trương ; thành ra mình phụ nàng. Nhưng thôi, may mắn cho nàng, đã trở thành Tuyên phi. Trong khi đó Thụy Hương nghĩ, Người tình của mình ngồi ngay trước mắt mình, mà hóa ra nghìn trùng cách biệt. Cái tình là cái chi chi, thực khó hiểu. Chính mình chăng lưới bắt con nai Long Xưởng, con nai Chính long Bảo ứng, mà sao mình vẫn không quên được Thủ Huy.
Trong khi đó, tiếng Thủ Huy vẫn đều đều :
%97 Tuân chỉ phụ hoàng, thần nhi dẫn sứ đoàn, giả làm khách thương vượt biển sang Kim quốc. Nay sứ mệnh đã hoàn thành, xin tấu trình. Kim chúa có gửi quốc thư, và phương vật tặng phụ hoàng và mẫu hậu. Thần nhi kính cẩn dâng lên.
Thủ Huy dâng quốc thư. Nhà vua liếc qua, rồi trao cho Long Xưởng. Công chúa lại dâng lên hai cái áo ngự hàn bằng da điêu, cúc bằng vàng. Nhà vua tiếp lấy mặc thử, lông điêu bóng mượt thực đẹp. Còn một chiếc, ngài truyền mang vào nội cung cho hoàng hậu.
Liếc mắt nhìn ngang, thấy Thụy Hương ngồi trên chiếc ghế ở phía trái ngai vàng, tim Thủ Huy đập đến bình một cái.
%97 Sứ đoàn dùng đường biển.
Thủ Huy kể : Tất cả xuống một chiếc thuyền buôn của Tống, tại bến Vỵ hoàng thuộc trấn Thiên trường. Đây là một thương thuyền mà thủy quân tịch thu của bọn gian thương Tống. Phải nửa tháng, thuyền mới ra khỏi lãnh hải Việt. Khi thuyền qua eo biển đảo Hải Nam thì gặp thủy quân Tống. Họ kiểm soát, thấy thuyền là thuyền Tống, dưới thuyền chở nhiều hương liệu, cá khô, tôm khô, đồ đồng, đồ gỗ, thì họ tin ngay. Nhất là họ thấy trong đoàn ai cũng biết nói tiếng Hoa bằng giọng Hàng châu, họ càng tin hơn. Thuyền tiếp tục hướng Bắc mà đi. Hơn hai tháng sau, thì tới Liêu Đông. Thuyền gặp thủy quân của Kim. Sứ đoàn nói cho họ biết rõ nhiệm vụ. Họ hộ tống, đổ bộ lên bờ, rồi quan trấn thủ Liêu Đông cấp xe, ngựa, sai thiết kỵ hộ tống về Yên kinh. Tới Yên kinh, sứ đoàn được quan Lễ bộ tham tri Gia luật Sử tri tiếp đón, cho ở Nam thanh cung. Gia luật Sử tri tiết lộ cho thần nhi biết, triều đình Kim quốc đang nghị về việc gửi sứ sang Đại Việt, Đại Lý. Mục đích việc gửi sứ, là bàn kế liên binh đánh Tống. Kim sẽ cho quân đánh từ Bắc xuống, Đại lý đem quân vượt Kim sa giang tiến đánh Tứ xuyên, rồi chiếm Đông xuyên, Tây xuyên. Còn Đại Việt thì đem quân tiến chiếm Quảng Đông, Quảng Tây, Kinh Hồ (Kinh châu, Hồ Nam).
Nhóm đại thần chủ chiến đưa mắt nhìn nhau, trong cái nhìn, ngụ ý :
%97 Thì ra Kim cũng nghĩ như Đại Việt. Vụ này có cơ thành công đây.
%97 Hai ngày sau sứ đoàn được triều kiến.
Lễ bộ thượng thư Ngô Lý Tín hỏi :
%97 Thưa Thiếu bảo, triều đình Kim họ nói tiếng gì ? Về lễ nghi có giống Đại Việt không ?
%97 Các đại thần lớn tuổi, thì họ nói hai thứ tiếng, một thứ tiếng của bộ lạc Nữ chân, và tiếng Hoa vùng Yên kinh. Còn các đại thần trẻ, thì họ chỉ nói tiếng Hoa. Lễ nghi của họ rất giản dị. Khi thiết triều, các quan đều được ngồi ghế. Sau khi thiết triều, thì vua, hoàng hậu , phi tần, công chúa với các quan, vợ các quan cùng ngồi ăn yến. Họ không ngồi trên sập như mình, mà ngồi ghế, còn thực vật thì để trên bàn tròn. Họ cũng không ngồi theo thứ bậc, mà ai thích ngồi đâu thì ngồi. Sau khi ăn yến, lại cùng nhau xem hát.
Long Xưởng vẫy tay cho Thủ Huy ngừng lại, rồi hỏi quần thần :
%97 Không biết các vị có cao kiến gì không ?
Tể tướng Đỗ An Di hỏi :
%97 Thưa phò mã, nghe nói người Nữ chân theo chế độ mẫu hệ, không biết sự thực ra sao ?
%97 Không phải thế ! Họ trọng đàn bà, cho nên khi nhà vua thiết triều, thì thái hậu, hoàng hậu cũng tham dự. Trên toàn quốc, nam, nữ cũng phải luyện tập võ nghệ, học xung phong hãm trận, tổ chức hơi giống thời Lĩnh Nam của ta. Có điều hơi khác là thời Lĩnh Nam thì cả nam binh, nữ binh đều ra trận. Còn Kim thì nữ binh giữ nhiệm trấn thủ canh phòng, bảo vệ. Khi nghe nói trong sứ đoàn Đại Việt có công chúa, với Vỵ xuyên ngũ tiên nên hoàng hậu truyền mời vào hậu cung khoản đãi, và đàm đạo.
%97 Tổ chức nội cung của Kim ra sao ?
Long Xưởng hỏi Đoan Nghi : Nghi muội tâu lên để phụ hoàng cùng triều đình biết.
%97 Tâu phụ hoàng, nội cung Kim có tổ chức hơi khác nội cung Tống, cái khác ấy lại giống nội cung Đại Việt thời đức Thái tổ, Thái tông. Vua có ba bà hoàng hậu, hoàng hậu có toàn quyền trong nội cung như tuyển các vương phi cho hoàng tử, tuyển cung nga, tuyển thái giám, ban chế bổ nhiệm nữ quan. Một điều hơi khác Đại Việt ta, là các hoàng hậu, phi tần đều luyện võ, học binh pháp, hành binh, xung phong hãm trận. Ngay khi thần nhi vào cung, thì Chính Đức, Nhất Đức, Nguyên Đức hoàng hậu cùng họp lại khoản đãi. Các bà hỏi thăm rất kỹ tình hình Đại Việt.
Tuyên phi Từ Thụy Hương gật đầu tỏ vẻ hài lòng :
%97 Trước đây tôi cứ phân vân mãi về việc Kim chỉ là một bộ tộc kém văn minh, so với tộc Tống với Liêu, thế mà họ thắng Tống, thắng Liêu. Bây giờ tôi mới hiểu rằng họ biết trọng phụ nữ, như thời vua Trưng của ta. Ta phải học lấy cái hay của họ.
Thụy Hương vừa dứt lời, thì bọn chủ hòa như Tô Hiến Thành, Ngô Lý Tín, Lý Kính Tu, Trần Trung Tá mỗi người một câu tỏ vẻ phụ họa theo nàng, làm Thủ Huy, Đoan Nghi kinh ngạc không ít.
Nguyên khi nhà vua ban chỉ phong cho Từ Thụy Hương làm Tuyên phi, thì từ triều đình đến hậu cung đều nổi lên những chống đối mãnh liệt. Hoàng hậu gặp nhà vua, tâu cho ngài biết rất chi tiết những gì diễn ra ở Đông cung giữa Thụy Hương với Thủ Huy, Long Xưởng. Bà kết luận : Về danh nghĩa thì Thụy Hương là cung nữ của Long Xưởng, tức con dâu của nhà vua. Nhà vua không thể làm chuyện trái luân thường. Còn triều đình thì chống đối về tư cách của vú Mai, về việc vú Mai mang thai mà không biết cha của Thụy Hương đích thực là ai. Lập tức Thụy Hương soạn ngay một bài dụ trả lời các quan, trao cho nhà vua ký, rằng trước đây vua Thánh tông từng đem một thôn nữ về cung, sau thành Linh Nhân hoàng thái hậu. Thì nay, sao lại chống đối nhà vua phong quận chúa Thụy Hương làm Tuyên phi ? Nàng từng lập rất nhiều công với triều đình. Rằng võ công của nàng rất cao, văn chương cùng kiến thức mênh mông ! Nàng lại tâu với nhà vua rằng việc nàng với Thủ Huy, Long Xưởng là sự thực. Trước khi trao thân cho ngài, nàng đã từng tâu hết ngọn nguồn, xin ngài đừng ép nàng. Nay sự đã ra thế này, thì chỉ mình nhà vua có thể dập tắt dư luận mà thôi. Việc dập tắt đó rất dễ, chỉ cần trong một buổi thiết đại triều, nhà vua khẳng định rằng : khi Tuyên phi Thụy Hương dâng hiến cho ngài, ngài thấy rõ ràng rằng Tuyên phi còn là một xử nữ. Ai còn nói ra, nói vào về đức hạnh của nàng, sẽ bị giết cả nhà.
Thế là không ai dám chống đối nữa. Hoàng hậu, quần thần đều phải ngậm tăm, vì có tâu gì chăng nữa, nhà vua cũng không nghe, trong khi sự đã rồi. Nàng lại soạn chế, tuyển quận chúa Bùi Trang Hòa làm chính phi cho Long Xưởng. Lễ cưới được tổ chức ngay sau đó. Nàng còn tâu xin nhà vua cho mẹ nàng giữ chức trưởng ty Thượng thiện, một chức vụ rất nhỏ, nhưng cực quan trọng, trông coi việc nấu nướng cho nhà vua ăn hằng ngày, làm yến ban cho các quan, sứ thần. v.v. Thế là vú Mai đương nhiên dọn vào ở trong cung của con. Ngày đêm bà bầy mưu thiết kế cho nàng.
Cũng kể từ khi Thụy Hương được phong làm Tuyên phi, hằng ngày nàng làm việc cạnh nhà vua như một đại học sĩ. Đấy là bề ngoài, chứ thực ra, mọi tấu chương đều do nàng đọc, phê chuẩn. Còn nhà vua thì chỉ duyệt rồi ký mà thôi. Mọi quyền hành của nhà vua trước đây chuyển sang Đông cung, thì nay lại trở về với nhà vua.
Long Xưởng, với Đông cung triều chỉ còn là cái bóng mờ. Nhân đó phe chủ hòa lại xúm vào mà xu phụ Thụy Hương. Những ông đại thần phe này đa số là nho gia già nua, mũ cao, áo rộng. Chính các ông, trước đây từng chống đối vú Mai với Thụy Hương, thì bây giờ lại ra luồn vào cúi với nàng, để giữ được cái chức, cái tước. Họ luôn dâng biểu, làm thơ làm từ ca tụng nàng : Nào là tài trí không thua tể tướng thời Lĩnh Nam Nguyễn Phương Dung. Nào Tuyên phi có phong cách mẫu nghi thiên hạ như Linh Nhân hoàng thái hậu.v.v.
Những khi nhà vua thiết triều, quần thần nghị sự có rất nhiều điều trái với châu phê của Thụy Hương, nhà vua cũng ừ hự cho qua ; thành ra cùng một việc mà có hai lối giải quyết khác nhau. Thụy Hương rất bực mình về việc này, nàng trách cứ nhà vua. Nhà vua đề nghị nàng nên dự các buổi thiết triều, để đối đáp với các đại thần. Nàng bèn soạn một chỉ dụ, căn cứ vào tích xưa, vua Thánh tông cho Ỷ Lan thần phi dự các buổi thiết triều, nghị quốc sự, nay ngài cũng cho Tuyên phi Thụy Hương cái quyền ấy.
Sau khi chỉ dụ ban ra, Thụy Hương đường đường, chính chính tham dự các buổi thiết triều cạnh nhà vua. Thế là, trong cung bao nhiêu tấu chương, nàng giải quyết hết. Khi thiết triều nàng ban chỉ, quyết định chính sách. Trong triều, ngoài dã bàn tán thì thầm rằng Tuyên phi làm vua, chứ không phải Chính long Bảo ứng hoàng đế làm vua. Bọn nho thần chủ hòa càng được dịp nịnh hót, tâng bốc nàng hết lời.
Những biến cố này xẩy ra trong khi Thủ Huy đi sứ, thành ra quốc công với công chúa Đoan Nghi không biết gì. Nay, sau hơn năm trở về, hai người thấy Thụy Hương hành xử như... một ông vua đầy quyền hành, thì ngạc nhiên không ít.
Thái tử Thái phó, lĩnh Lại bộ thượng thư Lý Kính Tu hỏi công chúa Đoan Nghi về việc đối đáp trong cuộc nghị sự với các bà hoàng hậu Kim :
%97 Khải điện hạ, không biết điện hạ trả lời thế nào ?
%97 Thượng thư sợ tôi tiết lộ cơ mật của Đại Việt chăng ?
%97 Thần sợ điện hạ không quen đối đáp với những mánh lới trong phép dụng gián...
%97 Này Thượng thư ơi ! Ta đi sứ Kim với mục đích gì ? Ta cầu họ hay họ cầu ta ? Dĩ nhiên ta cầu họ. Khi ta cầu họ thì trước hết ta phải mua lòng tin của họ trước. Vì vậy ta phải thực thà. Tại sao ? Các bà hoàng hậu Kim đều tham dự chính sự. Khi Kim triều chuẩn bị gửi sứ sang ta, thì tế tác của họ đã biết hết tình hình ta ; bọn tế tác đó đã tâu về triều, thì các bà hậu đương nhiên biết hết rồi. Ta dấu làm gì ? Vô ích.
Công chúa tâu tiếp :
%97 Ngay chiều hôm ấy , nhà vua, tể tướng, Binh bộ thượng thư, ba bà hoàng hậu đãi yến thần nhi với phò mã trong cung. Sau yến là cuộc nghị sự mật. Hai bên bàn với nhau tới canh ba mới chấm dứt. Các khoản hai bên đồng ý với nhau gồm :
ị Đại Việt, Đại lý, Đại Kim cùng ra quân đánh Tống. Đại Kim sẽ giữ nhiệm vụ thuyết phục Đại lý hợp tung, liên binh với nhau. Sau khi Tống bị diệt, thì giang sơn Tống chia làm ba.
Vì vậy :
%97 Phía Đại lý đem quân vượt Độ khẩu tiến chiếm Thành đô, rồi thuận thế đánh Đông xuyên, Tây xuyên. Ba vùng này vĩnh viễn thuộc Đại lý.
%97 Phía Kim, đem quân vượt sông đánh xuống Nam kinh, rồi tỏa ra chiếm tất cả châu quận còn lại.
%97 Phía Đại Việt đem quân vượt biên tiến chiếm Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam rồi Trường sa. Tất cả các vùng này đều thuộc Đại Việt.
Ranh giới Đại Kim với Đại Việt lấy sông Trường giang làm giới hạn. Đại Kim, Đại Việt là hai nước bạn với nhau. Hằng năm, hai bên gửi sứ sang thông hiếu, và tặng phương vật.
Về thời gian ra binh, ấn định là ngày mười rằm tháng tám, năm Nhâm Thìn (1172) Ể.
Đối với vấn đề liên binh Đại Kim, Đại lý đánh Tống, nhà vua không có một ý niệm gì. Trong thâm tâm ngài thì: Phía Bắc cứ để nguyên tình trạng như vậy, ba năm tiến cống một lần. Phía Nam, Chiêm thành ; phía Tây, Lão qua muốn làm gì cũng bỏ qua, miễn sao họ không xâm phạm mình, để cho mình yên ổn là được rồi. Tuy vậy, thấy Long Xưởng, Đoan Nghi, Thủ Huy định làm những việc mà ngài coi như vá trời, không ngờ lại thành công. Ngài hỏi quần thần :
%97 Chư khanh nghĩ sao ?
Đám quan lại thuộc phe ù lỳ chỉ chờ có thế, người nào cũng muốn lên tiếng chống đối vụ này, nhưng không ai có can đảm. Họ đưa mắt nhìn người cầm đầu là Tô Hiến Thành. Bất đắc dĩ Tô phải bước ra :
%97 Thần Tô Hiến Thành, Kiểm hiệu Thái úy, Đồng bình chương sự, Trung vũ quân tiết độ sứ, Phụ quốc thượng tướng quân, Chiêu văn quan đại học sĩ, Giám tu quốc sử, Đăng châu quốc công kính tâu.
Long Xưởng tuyên chỉ :
%97 Quốc công bình thân.
%97 Khổng tử nói rằng : Di bất khả loạn Hoa. Nghĩa là các sắc dân di địch không thể nào xâm chiếm nổi Trung nguyên. Từ sau khi nhà Tấn bị suy vong, thì xẩy ra cái vạ Ngũ hồ loạn Hoa. Năm sắc dân phía Bắc vượt Vạn lý trường thành vào chiếm Trung nguyên. Họ có sức mạnh, thì họ chiếm được. Nhưng chiếm được rồi, họ bị người Hoa đồng hóa, rút cuộc năm tộc Hồ bị mất giống. Nay Kim cũng như Liêu, nguyên là những bọn rợ sống ở Quan ngoại (chỉ phía Bắc Vạn lý trường thành), xâm lấn Trung nguyên. Liêu gốc là rợ Khất đan, Kim gốc là rợ Nữ chân. Chúng không có phong hóa, chẳng có văn hiến, vì vậy khi dùng sức mạnh chiếm được Trung nguyên, thì bị Trung nguyên đồng hóa. Trước đây Liêu cai trị Hoa Bắc, nhưng trải hơn trăm năm thì tộc Khất đan không còn nữa, chúng hóa thành người Hoa hết. Kim dùng sức mạnh chiếm được Liêu và Hoa Bắc, chúng cai trị Trung nguyên mới có mấy chục năm, mà lớp trẻ đã bị đồng hóa rồi. Như phò mã nói : Các quan trẻ chỉ nói được tiếng Hoa, mà không nói được tiếng Nữ chân. Đến đây thần thấy Đại Việt mình có mấy cái may.
Hiến Thành ngừng lại một lát rồi tiếp : Cái may thứ nhất là vào thời vua Trưng. Bấy giờ nếu như công chúa Gia Hưng đánh chiếm được Trung nguyên, hay dù không chiếm được Trung nguyên, nhưng ta tái chiếm Nam hải, Quế lâm, Tượng quận, rồi cai trị thì... giờ này chúng ta đều thành người Hoa, nói tiếng Hoa, chứ đâu có còn là người Việt, nói tiếng Việt nữa ? Cái may thứ nhì, là vào thời đức Thái tôn, sau khi ta giúp Nùng Trí Cao chiếm vùng Nam sông Trường giang, lập nước Đại Nam. Giả như Trí Cao không bị Địch Thanh đánh bại, Đại Nam sát nhập vào Đại Việt, thì giờ này Đại Việt cũng chung số phận của Ngũ hồ, trở thành châu quận của Trung nguyên.
Nghe Hiến Thành nói, quần thần đều đưa mắt nhìn Long Xưởng. Vì từ gần mười năm qua, Long Xưởng cùng một số đại thần trẻ, chủ trương liên binh với Kim, Hạ, Đại lý đánh Tống, đòi lại vùng đất Lưỡng Quảng, Hồ Nam của tộc Việt. Việc sai Thủ Huy đi sứ nằm trong sách lược đó. Nhưng nay Thủ Huy vừa mới thuật sơ về Kim triều, mà Tô Hiến Thành đã lên tiếng công kích. Long Xưởng nổi giận cành hông, vương đưa mắt nhìn công chúa Đoan Nghi, ngụ ý : Em trả lời ông già ù lỳ này đi.
Công chúa Đoan Nghi phóng tầm mắt nhìn Tô Hiến Thành một cái. Hồi này nội công Âm nhu của nàng đã tiến tới tuyệt :Dnh, hàn quang chiếu ra, làm Tô rùng mình thoái lui hai bước. Công chúa lắc đầu :
%97 Tô Thái úy ơi ! Chết thực, Tô thái úy hiện là lão thần số một, số hai của bản triều, mà người kiến giải như vậy thì thực tôi không biết phải phê phán như thế nào. Thái úy đem một nước lớn như Đại Việt ta, vốn có văn hiến, phong tục, tiếng nói riêng biệt, khác hẳn với Trung nguyên ra, so sánh với một bộ tộc như Khất đan, Nữ chân thì còn trời đất nào nữa ?
Công chúa nói chậm lại :
%97 Thái úy nên biết rằng xa xưa là Ngũ hồ, gần đây là Khất Đan, là Nữ chân..., họ đều thuộc những bộ tộc thiểu số của Trung quốc, họ là người Trung quốc. Khi họ là người Trung quốc, thì họ nói tiếng Hán, pha lẫn một số tiếng Khất đan, Nữ chân. Lúc họ chiếm được toàn thể Trung nguyên, họ di cư về vùng có nhiều người Hán, thì họ nói tiếng Hán là lẽ thường. Tỷ như bên ta, tộc Thái, tộc Mèo, tộc Nùng, tộc Lô lô, họ là các trang động Bắc cương, nhưng họ đều là người Việt, họ nói tiếng Việt, hoặc tiếng Việt pha lẫn tiếng riêng của họ. Nếu như họ về vùng đồng bằng sinh sống, thì đương nhiên họ phải nói tiếng Việt, con cháu họ sẽ chỉ nói tiếng Việt, đó là lẽ thường.
Các quan nhìn nhau nghĩ thầm :
%97 Chí của cô công chúa này thực rộng, bỏ xa mấy ông già lo hưởng thụ, lười biếng.
%97 Còn như Thái úy dẫn lời Khổng tử Di bất khả loạn Hoa, rồi giải nghĩa rằng : Man di không thể chiếm nổi Trung quốc, thì đó là Thái úy nói chứ không phải Khổng tử nói. Từ xưa đến giờ, các danh gia đều giải nghĩa câu này như sau : Tộc Hoa vốn là tộc có phong hóa, có văn hiến, có pháp độ. Những thứ đó giúp cho việc giáo hóa con người. Các sắc dân di, tức sắc dân thiếu văn minh không thể, không nên phá bỏ những thứ đó ; chứ Khổng tử không chủ ý nói Di là sắc dân Khất đan, Nữ chân...vì đương thời Khổng tử, các sắc dân Khất đan, Nữ chân chưa kết hợp thành. Chính ngay Khổng tử cũng không hề dùng chữ di để chỉ tộc Việt mình.
Công chúa hỏi Tô Hiến Thành :
%97 Tôi nói như vậy có đúng không ?
Hiến Thành im lặng.
%97 Còn như, Tô thái úy cho rằng ta đòi được cố thổ, rồi dân ta sẽ nói tiếng Hoa, và thành người Hoa. Điều này thực là một điều tự ty hết sức ! Thưa Tô thái úy, nếu ta đòi được các vùng tộc Việt, ta vẫn để cho dân chúng muốn nói tiếng gì thì nói. Nhưng tiếng chính thức vẫn là tiếng Việt. Bấy giờ những người Hoa gốc Việt sẽ nói tiếng Việt. Như vậy sao lại gọi là mất nước ?
Thái tử thái phó, lĩnh Lại bộ thượng thư Lý Kính Tu bước ra, xá Long Xưởng :
%97 Khải điện hạ, Đại Việt ta liên kết với Kim, như vậy là từ nay, ta không còn xưng thần với Tống nữa sao ? Một chư hầu, đã mấy đời được thánh Thiên tử phong vương tước, ngồi tọa trấn Nam phương, bây giờ bỏ đấng quân phụ, đi theo bọn rợ Nữ chân thì sao có thể cai trị được nước? Từ đời Tam hoàng, Ngũ đế đến giờ chưa có vị vua nào bỏ một vị Thiên tử, liên kết với một nước di địch. Thần mong điện hạ xét lại.
Bọn văn quan chủ hòa nghe Kính Tu khải, đều sáng mắt ra, tỏ vẻ khoan khoái, đồng ý với những lời ông ta phát biểu. Nghĩa Thành vương Lý Long Căn, thái tử Lý Long Xưởng, thêm các hoàng tử Long Minh, Long Đức, Long Hòa cùng bật lên tiếng hừ, rồi đưa mắt nhìn Thủ Huy với Đoan Nghi. Trong y muốn hai người này trả lời Lý Kính Tu.
Trong khi đó Long Xưởng mỉm cười. Cái cười của người thiếu niên này bầy tỏ mối cảm khái, thương xót cho một nho thần, chỉ biết sách vở, giống như con ngựa kéo xe, bị che mất hai bên mắt :
%97 Được rồi, trước đây vì muốn bảo mật, mà cô gia không đem ra triều nghị về việc kết hiếu với Kim. Chính sách đối ngoại của ta, từ trước đến giờ, triều đình vẫn chưa hoàn toàn đồng ý với nhau. Đây là một vấn đề sống còn của xã tắc. Các vị đều là đại thần, ai cũng có trách nhiệm. Vậy các vị có cao kiến gì, thì phát biểu. Sau đó, không ai có quyền bàn ra, nói vào nữa. Cô gia hoàn toàn không phát biểu ý kiến. Nào xin các vị phát biểu.
Gì chứ luận bàn về sách vở, thì đám nho thần chủ hòa chuyên nhai văn, nhấm chữ này rất giỏi. Nghe Long Xưởng nói, họ cùng nhìn nhau, tỏ ý mừng rỡ, vì sẽ được xử dụng mớ kiến thức trong sách vở mà họ đọc được.Tô Hiến Thành đưa mắt nhìn Dao thụ Thái phó Ngô Lý Tín, lĩnh Lễ bộ thượng thư, người mà cứ mở miệng ra là dẫn Tứ thư, Ngũ kinh.
Ngô bước ra, cung tay :
%97 Khải điện hạ ! Kinh thư, thiên Thái thệ viết : ị Trời sinh ra dân, đặt ra vua, đặt ra thầy, đều là để giúp Thượng đế, vỗ về yên dân bốn phương Ể. Sách Tả truyện cũng viết : ị Làm chủ thiên hạ là trời. Nối trời là vua Ể. Kinh Thư, thiên Vũ cống gọi thế giới ta ở là Thiên hạ. Thiên hạ chia làm chín châu. Đất Thiên hạ chia làm năm cõi, gọi là Ngũ phục, ở giữa là kinh thành. Tiếp với bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc của kinh thành 500 dặm (250 km) là cõi Điện phục.
Kiến Ninh vương Long Minh gật đầu, mỉa mai :
%97 Phải rồi, phía trong Điện phục là Giao. Phía trong Giao 100 dặm là Quốc.Trong Quốc có thành gọi là Đô. Đô là nơi vua ở. Thưa Thái phó có đúng thế không ?
Lời mỉa mai Ngô Lý Tín của Long Minh làm Long Xưởng, Thủ Huy suýt bật cười. Nhưng ông ta không biết. Trái lại ông ta còn vui vẻ vì được dịp xả ra những gì ông ta đã thuộc lòng. Ông ta tiếp :
%97 Quả như điện hạ phán. Trong Thiên hạ, nước chính giữa là Trung quốc. Vua của Trung quốc là thiên tử. Các nước chư hầu phải quy phục.
Kiến An vương Long Đức thấy ông quan văn này không hiểu ý nghĩa châm biếm của Long Minh, trong ý nghĩ người thiếu niên nảy ra một cách châm biếm : Cứ hỏi cho ông ta nói, nói đến mệt hết hơi thì thôi. Vương cười :
%97 Thưa Thái phó, Thái phó nói Ngũ phục, thế còn bốn phục kia là gì ?
%97 Cõi thứ nhì, ngoài Điện phục là Hầu phục, cách Điện phục 500 dặm. Trong Hầu phục thì cách Điện phục 100 dặm là thái ấp phong cho các khanh đại phu ; xa hơn 200 dặm là thái ấp phong cho chư hầu tước Nam ; còn lại 300 dặm là thái ấp phong cho các chư hầu tước Công, Hầu, Bá, Tư Ư. Ngoài Hầu phục là Tuy phục. Ở cõi Tuy phục, trong 300 dặm gần là nơi truyền bá văn chương, giáo hóa ; 200 dặm tiếp là nơi tổ chức võ bị bảo vệ nước. Ngoài cõi Tuy phục là cõi Yêu phục. Trong 300 dặm gần nhất cho dân rợ Đông di. Còn 200 dặm là cõi đầy những kẻ có tội. Cõi cuối cùng là cõi Hoang phục, cách Yêu phục 500 dặm. Trong 300 dặm dành cho rợ Nam man. Còn 200 dặm để dầy những kẻ có tội nặng. Như vậy khắp Thiên hạ đều là Trung quốc. Hay nói rõ hơn : Trung quốc là cả Thiên hạ.
Đến đây thấy Ngô Lý Tín có vẻ mệt mỏi, Thủ Huy biết, nếu ông ta nói nữa thì sẽ lẫn. Khi lẫn thì không làm chủ được ngôn ngữ. Vì vậy công hỏi tiep cho lão mệt :
%97 Thái phó mới dẫn giải về Ngũ phục trong kinh Thư. Vậy tiếp theo kinh Thư, cái lý về Trung quốc với Thiên hạ là một có chi khác lạ không ?
Quả nhiên Ngô mắc mưu. Ông vừa thở hổn hển vừa nói :
%97 Sách Thuyết văn giải tự nói : ị Xét cổ thời, bờ cõi thuộc nội canh, đô ở trong giao, chỗ chư hầu được thực ấp gọi là quốc Ể. Mạnh tử, thiên Ly lâu nói : ị Thiên hạ là quốc gia. Gốc của Thiên hạ là ở quốc. Gốc của quốc là ở gia Ể. Cho nên suốt mấy nghìn năm qua, trải Tam hoàng, Ngũ đế, khắp thiên hạ này đều lấy nằm lòng, trăm nước đều hướng về Trung nguyên : ị Phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ. Xuất thổ chi tân, mạc phi vương thần Ể.Nghĩa là : Khắp dưới gầm trời, không đâu không là đất của vua. Tất cà dân trên mặt đất, không ai không là tôi tớ vua. Kinh Thư thiên Quán thích từng thuật lời Chu công Đán rằng : ị Ta muốn hoàn thành công nghiệp của Văn vương mãi mà không nản. Công nghiệp đó là che chở khắp cho dân, đem đức tới góc biển hay chỗ mặt trời mọc, không đâu là không thần phục Ể. Trong Sử ký, Tư Mã Thiên thuật lời thừa tướng Lý Tư, nói với vua Thủy Hoàng : ị Ngày xưa đất Tần chẳng qua nghìn dặm, nay nhờ bệ hạ anh linh sáng suốt, nên bình định được bốn biển, đuổi được man di. Mặt trời mặt trăng chiếu tới đâu thì nơi ấy phải quy phục Ể
Đến đây Ngô Lý Tín vừa thở hổn hển vừa nói. Thủ Huy dùng lăng không truyền ngữ rót vào tai Kiến Tĩnh vương Long Hòa : ị Xin điện hạ đặt thêm câu hỏi Ngô Thái phó về nguồn gốc chữ Hoa Hạ, để ông có dịp trổ tài Ể.
Long Hòa mỉm cười hướng Ngô Lý Tín :
%97 Thưa Thái phó, thế chữ Hoa hạ để chỉ Trung quốc gốc từ đâu ? Tại sao lại có tên này ?
Đáng lẽ đến đây Ngô Lý Tín ngừng lại để thở, nhưng khi một hoàng tử hỏi một câu đúng vào cái sở trường của mình, ông cố lấy hơi tiếp :
%97 Nguyên từ thượng cổ, người Trung hoa cư trú quanh vùng sông Hoàng hà. Còn bốn phương là các tộc khác. Để đề cao mình là giống dân có lễ nghĩa, nên họ tự xưng là Hoa hạ. Chữ Hoa hạ được giải thích trong Tả truyện : ị Miện phục thái chương viết Hoa, đại quốc viết Hạ Ể. Nghĩa là : Áo mũ đẹp đẽ, rực rỡ gọi là Hoa, nước lớn gọi là Hạ. Như vậy Trung quốc là Hoa hạ, các tộc xung quanh phải theo gió mà quy phục. Chu Lễ, thiên Vương chế nói :
Đông phương viết Di,
Tây phương viết Nhung,
Nam phương viết Man,
Bắc phương viết Địch.
Nghĩa là : Dân tộc ở phương Đông của Trung quốc là Man di, ở phương Tây là Khuyển nhung, ở phương Nam là Nam man, ở phương Bắc là Bắc địch. Điện hạ có thấy không ? Khi viết Man, người Hoa họ dùng bộ trùng là sâu bọ, chữ Địch họ dùng bộ khuyển là chó không ? Ta so với họ chỉ là sâu bọ , là chó mà thôi, vì thế ta phải hướng về Trung nguyên mà quy phục, như chó theo chủ.
Đến đây ông ta mệt quá, không nói nổi nữa. Long Xưởng nói với mấy đại thần chủ hòa :
%97 Không biết Ngô Thái phó giảng như vậy có đúng sách vở không ?
Tô Hiến Thành, Lý Kính Tu đều gật đầu :
%97 Ngô Thái phó kiến giải thực không sai. Cái lý của thiên hạ là như vậy !
Long Xưởng đưa mắt cho Thủ Huy, ngụ ý nói : Như vậy đủ rồi, nhị đệ bẻ gẫy lý luận của bọn hủ nho đi.
Nhưng Thủ Huy chưa kịp nói thì Tham tri chính sự (phó tể tướng), kiêm Hộ bộ thượng thư Vũ Tán Đường, lĩnh Vũ lâm đại học sĩ đã bước ra xin nói. Long Xưởng gật đầu :
%97 Xin đại học sĩ bình thân mà nghị luận.
%97 Thưa quan Thái phó, những lời nghị luận của quan Thái phó đều trích dẫn trong các sách cổ của Trung quốc. Mà các sách này lại được viết ra bởi bọn văn nhân hồ đồ, không đi ra ngoài, chỉ ngồi trong bốn bức màn, tưởng tượng ra. Căn bản là Ngũ phục, Cửu châu. Cái gọi là Ngũ phục hay Thiên hạ chỉ quanh quẩn ở lưu vực sông Hoàng hà, chứ đâu có bao gồm Đại Việt ta ? Thế thì kinh Thư nay có còn đúng nữa hay không ?
Kiến Ninh vương Long Minh nói lớn :
%97 Lý luận quanh sách của người Hoa, thì tại sao không lý luận thực tiễn lịch sử của Trung hoa, của ta ? Xưa kia vua Minh lập đàn trên núi Ngũ lĩnh, tế cáo trời đất, rồi phân chia lãnh thổ làm hai. Từ núi Ngũ lĩnh về Bắc chia cho con trưởng là vua Nghi làm vua phương Bắc, từ Ngũ lĩnh về Nam phong cho con thứ là Lộc Tục, ngài thề rằng : Cương thổ hai con đã phân, đời đời phải thương yêu nhau. Nam chẳng xâm Bắc. Bắc chẳng xâm Nam. Kẻ nào vi phạm lời này, sẽ tuyệt tử tuyệt tôn. Sau Bắc thành Trung nguyên, Nam thành Đại Việt. Nơi ngài lập đàn tế cáo trời đất đó, gọi là Thiên đài. Núi Thiên đài nằm bên bờ sông Tương, phía Nam hồ Động đình. Bốn nghìn năm qua, Ngũ lĩnh vẫn còn kia, Thiên đài vẫn tồn tại với đôi câu đối :
Thiên đài đại đại phân Nam, Bắc,
Lĩnh địa niên niên dữ Việt thường.
(Thiên đài thời thời chia Nam, Bắc,
Lĩnh địa năm năm với Việt thường).
Gần đây, vào thời vua Trưng, trong trận đánh Trường sa hồ Động đình, Hổ nha đại tướng quân Đào Hiển Hiệu được lệnh trấn thủ tại Thiên đài chặn quân Hán, để cho đại quân Việt rút về Nam. Nhưng khi ngài cùng chư quân thấy Thiên đài là đất linh của Đại Việt, đã cùng chư quân tử chiến, chống Lưu Long, khiến vua Quang Vũ phải thân xuống đốc chiến. Nay tại Thiên đài vẫn còn đôi câu đối :
Nhất kiếm Nam hồ kinh Vũ Đế,
Thiên đao Bắc lĩnh trấn Lưu Long.
(Một kiếm của nữ vương Phật Nguyệt ở phía Nam hồ Động đình làm kinh hồn vua Quang Vũ nhà Hán. Một nghìn tay đao ở phía Bắc núi Ngũ lĩnh trấn Lưu Long).
Trải bốn nghìn năm, Đại Việt ở phương Nam, Trung nguyên ở phương Bắc, lãnh thổ đã phân, tiếng nói có khác, phong tục bất đồng, mà luật pháp, điển chương càng không giống nhau. Kìa, Hán cai trị Đại Việt, vua Trưng cùng 162 anh hùng khởi binh, dựng lại chính thống. Rồi Triệu Trinh Nương, Tiền Lý Nam đế, Bố Cái đại vương. Kể từ Ngô vương lập ra triều đình, chính thống sáng rực, rồi Đinh triều, Lê triều. Gần đây, đức Thái tổ nhà ta ứng lòng người, thuận mệnh trời lập nghiệp rồng. Vì dân ta thưa, đất ta hẹp, ta phải tiến cống, để được yên dân. Chứ ta đâu có hèn, nước ta đâu thiếu anh hùng ? Thời đức Thái tổ, Thái tông, Thánh tông đã nói lên rằng : Nếu như Tống để ta yên, thì họ sẽ có một Nam biên yên ổn. Còn như họ cứ cho mình là thiên tử, dùng sức mạnh áp chế ta, thì họ sẽ có một kẻ thù ghê gớm, mà cái gương Bắc phạt đánh Ung, Khâm, Liêm, Dung, Nghi, Bạch thời Anh vũ chiêu thắng âm vang chưa hết. Sau trận này, ta tu cống đầy đủ. Nhưng ta vẫn là ta, vẫn là Đại Việt. Mấy năm trước, Tống dùng mưu sâu lập triều đình gà mái gáy, nhưng nhờ các đại thần, nhờ anh hùng võ lâm, nên dẹp yên được. Sau đó ta chỉnh bị binh mã định hỏi tội Tống. Tống phải nhượng bộ bằng việc công nhận quốc danh An Nam, khi phong phải phong ngay là An Nam quốc vương, chứ không còn cái nhục phong là Giao chỉ quận vương nữa.
Hơn ai hết, Kiến Ninh vương Long Minh cực thông minh. Tuy tuổi mới mười tám, nhưng được Long Xưởng uốn nắn, nên kiến thức rất rộng. Long Minh biết rằng dùng kinh điển để lý luận với một lão thần cả đời nhai văn, nhấm chữ này thì vạn vạn lần vương không thắng nổi, nên vương đã dùng lịch sử, dùng chủ đạo tộc Việt, bẻ gãy lý luận của ông ta.
Kiến An vương Long Đức tiếp lời anh :
%97 Chúng ta học nho, nhưng không phải học nho, rồi cái gì nho nói cũng phải. Nho vốn phát xuất từ Trung nguyên, nhưng không phải học nho rồi phải cúi đầu trước người Trung nguyên. Cứ như lý của Thái phó thì Thái phó muốn ta phải nhận cái gọi là Nam man của Tống hay sao ? Ta nhục nhã đến độ hạ mình là sâu bọ, là chó mèo ư ? Thái phó muốn làm sâu, làm bọ, làm :D làm mèo thì là quyền thái phó. Thái phó không thể bắt cả tộc Việt chịu nhục như vậy.
Kiến Tĩnh vương Long Hòa tiếp lời anh :
%97 Cô gia lấy làm kinh ngạc, kinh ngạc đến kinh hoàng, khi Thái tử thái phó Lý Kính Tu cho rằng mình kết thân với Kim là đi theo rợ Nữ chân. Phò mã Thủ Huy với công chúa Đoan Nghi mới đi sứ để kết thân với Kim, trong thế liên hợp, hai nước ngang vai với nhau, chứ đâu có cúi đầu làm tôi Kim ? Chính cái ông vua Tống, với bọn nho thần Tống mới phải cúi đầu đem vàng, lụa, gái đẹp dâng cho Kim để được yên. Thế mà Lý thượng thư lại tôn cái gã vua Tống là đấng quân phụ, là thánh thiên tử thì còn trời đất nào nữa ? Hỡi ơi ! Khí phách anh hùng của người Việt trong tâm thượng thư bị rơi mất ở chỗ nào rồi ?
Tăng Khoa, vốn ngang tuổi với Long Minh, Long Đức, Long Hòa, nên hầu hiểu rõ cái hài hước trong câu nói của ba hoàng tử. Hầu hỏi Ngô Lý Tín một câu đứng đắn :
%97 Thưa Thái phó, trở lại vấn đề Ngũ phục, cứ theo kinh Thư thì vùng cách xa kinh đô 2500 dặm là cõi của rợ. Bấy giờ kinh đô của vua Hoàng Đế cho tới triều Chu, Tần đều ở vùng Lạc dương. Mà từ Lạc dương đến Khúc phụ là quê hương của Khổng tử xa đến hơn 3000 nghìn dặm. Như vậy Khổng tử cũng là rợ sao ? Hỡi ơi ! Thánh nhân của nho gia mà là rợ ư ?
Câu hỏi của Tăng Khoa làm cho Ngô Lý Tín luống cuống không trả lời được đã đành, mà đến các nho thần chủ hòa cũng im.
Long Xưởng kết luận :
%97 Cuộc triều nghị về việc kết thân với Kim đã xong. Nếu chư vị không có ý kiến gì, thì xin phò mã, công chúa tâu tiếp về việc sứ đoàn đã làm ở Kim.
Công chúa Đoan Nghi nhìn Tô Hiến Thành, Lý Kính Tu mỉm cười :
%97 Tô Thái úy, Lý Thái phó, Ngô thượng thư ơi ! Vả tôi với phò mã chỉ ước hẹn sơ với Kim như vậy thôi, chứ đâu có bắt buộc phải thi hành ? Chúng tôi cũng không hề tâu xin phụ hoàng xuất binh đánh Tống mà ? Trong khi đi sứ, tôi thấy Kim không mấy thực tâm, họ cũng sắp mất nước đến nơi rồi, họ lo giữ thân chưa xong, thì hy vọng gì họ liên kết với ta ?
Triều đình kinh ngạc, họ đều chờ đợi Thủ Huy, Đoan Nghi nói rõ về tình hình Kim... Long Xưởng mỉm cười đưa mắt nhìn Thủ Huy :
%97 Phò mã tâu lên phụ hoàng chi tiết tình hình Kim, để chúng ta còn định quốc kế.
Thủ Huy tiếp lời Đoan Nghi :
%97 Trong thời gian lưu trú ở Yên kinh, thần nhi được biết, đối với Tống thì Kim mạnh. Nhưng ở phía Bắc của Kim còn rất nhiều nước, dân chúng vũ dũng kinh nhân, binh lực hùng mạnh vô cùng. Các nước đó là Khắc liệt, Nãi man, Mông cổ , Thát đát, Tây liêu, Tây hạ, Thổ phồn. Chưa biết lúc nào các nước này sẽ tràn vào chiếm Kim. Vì vậy việc liên kết với Kim chưa chắc đã thực hiện được.
Cả triều đình đều im lặng, lắng tai nghe.
%97 Trong các nước này, thì Tây liêu, Tây hạ, Thổ phồn có tổ chức triều đình giống như Tống, Kim, Đại Việt. Còn các nước Khắc liệt, Nãi man, Mông cổ thì phân nửa dân chúng sống theo chế độ định cư như chúng ta, phân nửa sống theo chế đệ lều trại, du mục. Còn Thát đát cùng hơn hai trăm bộ tộc khác sống lẻ tẻ. Khắc liệt, Mông cổ đã chinh phục được nhiều nước nhỏ, mà trở thành đế quốc hùng mạnh. Vua nước Khắc li
__________________
Hãy cười để liều lĩnh chấp nhận mình như một... người ngớ ngẩn. Hãy khóc để liều lĩnh chấp nhận mình như một người đa cảm. Hãy đến với người khác để liều lĩnh đón nhận sự mắc míu. Hãy phơi bày những cảm xúc để chấp nhận con người thật của chính mình. Hãy định đặt những ước mơ trước vầng mây để liều lĩnh đón nhận lời giễu cợt. Hãy yêu - bởi biết đâu không có tình yêu như thế trở lại lần thứ hai... Hãy dũng cảm đối mặt với những khó khăn và rồi liều lĩnh chấp nhận rủi ro.Nhưng những sự liều lĩnh ấy phải cần có bởi vì mối nguy hiểm nhất trong cuộc đời chính là không có sự liều lĩnh. Nếu ai không liều lĩnh, sẽ không có gì, không làm được gì và không là gì cả!
|