Thơ Tam Nguyên Yên Đổ - Nguyễn Khuyến
Lên Lão .
Ông chẳng hay ông tuổi đã già,
Năm lăm ông cũng lão đây mà.
Anh em làng xóm xin mời cả,
Xôi bánh, trâu heo cũng gọi là.
Chú Đáo bên làng lên với tớ,
Ông Từ xóm chợ lại cùng tạ
Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ,
Có rượu thời ông chống gậy rạ
Tự Trào .
Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy, chẳng béo chỉ làng nhàng.
Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.
Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ,
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng.
Tự Thuật .
Tháng ngày thấm thoát tựa chim bay,
Ông ngẫm mình ông, nghĩ cũng haỵ
Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ ?
Răng long ngày trước hãy còn đâỵ
Câu thơ được chửa, thưa rằng được,
Chén rượu say rồi, nói chửa saỵ
Kẻ ở trên đời lo lắng cả,
Nghĩ ra ông sợ cái ông nà
Mẹ Mốc .
So danh gía ai bằng Mẹ Mốc,
Ngoài hình hài, gấm vóc cũng thêm ra,
Tấm hồng nhan đem bôi lấm xoá nhoà,
Làm thế để cho qua mắt tục.
Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc,
Tâm trung thường thủ tự kiên kim. (1)
Nhớ chồng xa muôn dặm khôn tìm ,
Giữ son sắt cho tròn một tiết.
Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,
Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ;
Đắp tai, ngoảnh mặt làm ngơ,
Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thâỵ
Khôn em dễ bán dại này ! (2)
(1) Ngoài mặt không cần đẹp như ngọc; Trong lòng vẫn giữ bền như vàng.
(2) Mẹ Mốc quê ở gần làng Yên Đổ. Cô còn trẻ, có nhan sắc, có vốn liếng, mà chồng lại đi xạ Trong hạt nhiều chàng chòng ghẹo toan ép liễu nài hoạ Cô bèn giả điên dại, thoa tro than vào người, xé rách quần áo, chủ ý che mặt bọn kia để khỏi bị quấy nhiều trong khi chờ chồng về. Nguyễn Khuyến sau khi cáo quan về nghỉ ở nhà, người Pháp luôn tìm mọi cách để mời ông ra giúp. Ông phải viện mọi lẽ để từ chốị Nhân thất Mẹ Mốc giả điên dại, ông bèn làm bài ca trù này để ký thác tâm sự của mình
Ông Phỗng Đá .
Ông đứng làm chi đó hỡi ông ?
Trơ trơ như đá, vững như đồng.
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó ?
Non nước đầy vơi có biết không ?
Hỏi Phỗng Đá .
Mưỡu
Người đâu tên họ là chi ?
Hỏi ra trích trích tri tri (1) nực cườị
Vắt tay ngoảnh mặt trông đời,
Cũng toan lo tính sự đời chi đây ?
Nói
Thấy lão đá lạ lùng muốn hỏi,
Cớ sao mà len lỏi đến chi đây ?
Hay mảng vui hoa cỏ nước non này,
Chừng cũng muốn dang tay vào hội Lạc (2)
Thanh sơn tự tiếu đầu tương hạc,
Thương hải thùy tri ngã diệc âụ (3)
Thôi thôi đừng nghĩ chuyện đâu đâu,
Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác.
Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác,
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác,
Cuộc tỉnh say, say tỉnh một vài câu,
Nên chăng đá cũng gật đầu !(4)
(1) trích trích tri tri: trơ trơ không chuyển.
(2) hội Lạc: đời nhà Tống, Tiến sĩ Văn Ngạn Bác, làm quan đến Thái sư, khi về hưu trí nhà ở Lạc Dương, cùng với Tư Mã Quang, Phú Bật và nhiều học giả cao niên khác lập ra Lạc Dương Kỳ Anh Hội để đàm đạo văn chương.
(3) Núi xanh tự cười đầu sắp trắng như chim hạc; Biển xanh ai biết ta cũng như chim âu (ý ví người ẩn dật). Ý lấy từ hai câu thơ của Trương Dưỡng Hạo đời nhà Nguyên:
Vân sơn tự tiếu đầu tương hạc
Doanh hải thùy tri ngã diệc âu
(4) Tương truyền Nguyễn Khuyến làm bài ca trù Hỏi Phỗng Đá này trong buổi lễ mừng thọ năm mươi của quan Kinh lược sứ Hoàng Cao Khảị
__________________
|