Ðề tài: Khách ở quê ra
View Single Post
  #1  
Old 10-12-2004, 05:15 PM
dethuong123 dethuong123 is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Sep 2004
Nơi Cư Ngụ: none
Bài gởi: 1,547
Send a message via AIM to dethuong123 Send a message via MSN to dethuong123 Send a message via Yahoo to dethuong123
Default

Khách ở quê ra
Nguyễn minh Châu:::::


Ðịnh rót r­ợu ra chiếc chén hạt mít. Khách nhìn, áng chừng lấy làm sốt ruột và có lẽ cho là nhiêu khê, liền cầm lấy chai r­ợu từ trên tay chủ. Trong tay ông khách, chiếc chai bảy ồng ộc xối r­ợu xuống chiếc bát ăn cơm còn để không đặt ở rìa mâm.

Ngoài trời vẫn m­a. M­a đã mấy ngày cũng chả còn ai nhớ đ­ợc nữa. Chỉ thấy một khối n­ớc trắng lúc nào cũng tuôn rào rào ngoài mảnh sân hẹp và mau hơn, giòn hơn trên mái ngói chi chít của dãy phố. "Cho mày m­a! Cho mày m­a! - khách nâng chiếc bát lên lại đặt xuống - cứ m­a nữa đi! Lúa trổ xong rồi. Lạc cũng nhổ rồi. Chỉ còn mấy miếng nếp. Chà, mấy miếng nếp m­a này rồi cũng hơi gay đây. Nh­ng cũng chẳng sao! Cũng chẳng việc quái gì!".

- ... Vậy rồi nó xách một con dao... một con dao quắm hẳn hoi chú à! - đang nhìn ra ngoài trời, khách thu cả hai con mắt về, nhô nửa ng­ời qua mâm cơm - Tôi thấy nó lao nh­ mũi tên từ trong bếp ra. Con dao cầm lăm lăm trong tay. Con dao quắm vừa sáng vừa sắc, tôi vừa mới mài. Con dao thì sáng loáng mà cái mặt nó thì cứ trắng nhợt. ấy là tôi đang nói cái thằng Dũng - cái thằng con trai đầu của tôi đó chú à! Nó chạy xồng xộc ra chỗ đầu bờ m­ơng tôi với lão chắt Hòe đứng. Tôi biết ngay. Phen này mình không nhanh tay ắt có án mạng. Chứ không còn là chuyện cãi cọ đôi co vì mấy con dê giữa tôi với lão chắt Hòe nữa. Bọn thanh niên nó khác. Chúng nó không thích đôi co đâu!

Mà cái lão chắt Hòe thì đằng thẳng ra, cũng đáng chết lắm. Chú tính, cái giống dê, dù rằng mỗi con có bốn chân nh­ng chân cẳng của dê làm sao giẫm hết cả một sào nếp? Ðàn dê của tôi có sáu con cả thảy. Nh­ng chân dê chứ có phải chân trâu bò đâu?

Tôi cũng có một miếng nếp, nhất định tôi sẽ đền cho bác - Tôi nói với lão chắt Hòe - Cả hai miếng cùng một tràn ruộng, cũng đều một sào cả - Tôi nói ôn tồn. Vậy mà cha con nhà lão cứ chực xông vào đánh tôi. Lại đem tên bố mẹ tôi ra mà réo chửi. Cho nên thằng Dũng nó tức.

May làm sao! Cái con mẹ Huệ nhà tôi lúc ấy cũng vừa gánh hai thúng đá ngoài ruộng về. Ðặt gánh đá xuống, nó lao theo. Nó ôm chặt lấy thằng Dũng, giằng đ­ợc con dao quắm! Tôi nghĩ thật hú vía!... chứ không thì bồ ổ nhà lão chắt Hòe bữa đó... thế nào cũng có đứa biến thành ma ông Cụt. Nói vô phép chú chứ, con cái nhà nó tiếng là đông cũng chỉ có hai mống là lớn, chứ bên nhà tôi có những bốn đứa lớn cơ!

***

Trong khi khách nói, Ðịnh ngồi ngắm lão. Ðịnh ngắm kỹ và lâu nhất hai bàn tay của lão. Chẳng còn là hình thù một cái bàn tay con ng­ời nữa! Hai bàn tay lão đầy những chỗ nỗi u nổi cục, các ngón vặn vẹo và bọc một lớp da giống nh­ một thứ vỏ cây, và cả bàn tay lão giống y nh­ một tòa rễ cây vừa mới đào d­ới đất lên. Và Ðịnh nh­ đang nhìn thấy một thứ đất đến kỳ cục: cứ lổng chổng đầy những đá. Viên bé chỉ là một hòn đá kỳ l­ng, hòn to cũng ngang cái đầu. Và lại còn cơ man là rễ cỏ tranh. Một vùng đất của dân biển lên mở trại (1) lúc nào cũng phả ra chung quanh mùi rễ cỏ tranh ngai ngái, hăng hắc và ai đã đến đấy khi trở về, vẫn cứ phải nghe mãi cái d­ âm ken két đầy rền rĩ của những chiếc xe cút kít - mà sự ra đời của nó lại nh­ một phát kiến của loài ng­ời: Công việc khẩn đất ở đấy nặng nhất là khâu nhặt đá. Ban đầu từ ng­ời lớn đến đứa con nít cũng chỉ dùng tay. Về sau mới tiến lên đan ky, đan sọt để khiêng và gánh. Tiến lên một b­ớc nhảy vọt, ng­ời ta đóng xe cút kít để chở đá.

Vùng đất đó là một vùng phía tây của miền trung - cái vùng "chó ăn đá, gà ăn sỏi" - mà giá không có bàn tay của những ng­ời nh­ lão Khúng, lão cháu ruột của Ðịnh kia thì vẫn mặc sức ngủ kỹ d­ới lốt chân hổ báo, d­ới gió Lào, d­ới giông bão, d­ới bom đạn.

Vào một lần cách đây đã m­ời bốn năm, Ðịnh khoác chiếc ba lô cóc nặng gần bốn chục cân - trên đ­ờng đi B dài - đến một cung độ từ đấy đâm thẳng xuyên qua đ­ờng số Một về phía biển là làng Ðịnh. Ðoạn đ­ờng giao liên vừa bỏ rừng chạy qua những triền đồi trọc. Hình nh­ địch vừa ném bom. Trong cái nắng đến ngột thở có pha lẫn mùi thuốc bom. Hố bom, cái đỏ quạch, cái vàng sẫm. Nhìn ra bốn phía chung quanh nhấp nhô những dãy đồi cứ chạy xô vào nhau nh­ rắn cuộn, thỉnh thoảng y nh­ tận trên trời cắm thẳng xuống một hòn núi đá nh­ một chiếc l­ỡi tầm sét.

Trong cái nắng chiều ong ong, ngột ngạt, không lúc nào ngớt tiếng máy bay phản lực Mỹ bay lên từ mạn biển, một dáng ng­ời đàn ông cúi khom l­ng xuống đẩy một chiếc xe chở đầy đá.

- Anh Ðịnh đấy hả?

Ðịnh nhận ngay đ­ợc giọng "kẻ biển" của làng mình - vừa nặng trịch vừa véo von nh­ hát - nh­ng phải một lát sau mới có thể nhận ra lão chắt Hòe:

- Bác làm gì tận trên này?

- Tàu bay thằng Mỹ nó vít mất lối ra chỗ có con cá rồi! - lão chắt Hòe thở hắt ra một tiếng, cái mặt nhuộm muối biển càng đen sắt - Bố con tôi vừa kéo nhau lên đây!

Ðịnh kéo lão chắt Hòe tới một gốc cây, mở l­ơng khô khoản đãi, đ­a thuốc lá cho lão hút, tỷ tê hỏi đủ mọi chuyện d­ới làng. Ðến lúc sắp đứng dậy lão mới bảo:

- à này anh Ðịnh, nhà thằng Khúng cũng đang ở trên này...

- Thằng Khúng nhà tôi hả bác? Nó lên đây một mình hay cả nhà?

- Cả con vợ với ba thằng quỷ sứ.

- Nó lên lâu ch­a?

- Nó lên đầu tiên. Bỏ làng lên đã nửa năm nay. Tôi thấy bồ ổ nhà nó sống đ­ợc nên cũng mới nghe nó rủ, kéo lên theo.

- Nó ở gần đây không?

Ðịnh nhìn theo mũi con dao quắm lão chắt Hòe nhứ nhứ về phía khoảng bìa rừng xanh um, từ ở đấy vẳng lên tiếng hót đầy lảnh lói nh­ có cạnh sắc của com chim "bắt tép kho cà".

Gần trọn ngày hôm sau, Ðịnh lạc giữa một vùng rừng và đồi trọc, đến chiều tối mới tìm thấy cái gia đình ông cháu chả khác nào một cái ổ gấu chó nằm lọt vào giữa một vùng rừng cỏ tranh cao ngập đầu, đó là một cái túp bằng lá cỏ tranh bện lại, bốn chung quanh xếp đầy đá, dựng trên mấy vạt đất mới vỡ.

Trong cái ổ gấu, mấy chú gấu con đang đánh lộn nhau khi ấy chỉ mới là một phần ba số con cái của Khúng, và ng­ời đàn bà đã đẻ ra những đứa trẻ ấy, tuy sống giữa rừng nh­ng vẫn trẻ đẹp, còn Khúng, y nh­ một con ng­ời vừa từ d­ới lỗ lên, vừa đen vừa gầy vừa già vừa xấu.

Bữa đó Ðịnh cầm mấy phong l­ơng khô đi theo định làm quà cho mấy đứa cháu gọi Ðịnh bằng ông, nh­ng đến nơi mới biết, trong túp lều vợ chồng Khúng, d­ới cái hầm thùng chất đến những ba thùng l­ơng khô còn mới nguyên. Thì hóa ra cái vùng đồi dân miền biển lên sơ tán và khai hoang để chống đói này cũng không xa các bãi khách của bộ đội đi B là mấy nỗi. Các đơn vị tên lửa và xe pháo đều đóng đầy quanh đây cả, trăm thứ của nả của chiến tranh đều không thiếu.

Trên đ­ờng vào nam đánh giặc, Ðịnh mới có dịp hiểu biết kỹ hơn ý đồ làm ăn lâu dài của ng­ời cháu: Rời làng lên đã nửa năm mà Khúng ch­a chịu làm nhà, hắn vẫn để vợ con chui rúc d­ới mấy tấm phên cỏ che trên cái hầm thùng. - "Dựng nhà làm khỉ gì - Khúng nói với vợ - làm mục tiêu cho tàu bay nó bắn ­?". Bao nhiêu sức lao động trong "b­ớc đi ban đầu" hắn đem dồn hết vào việc vỡ đất. Hắn tranh chấp với rừng từng b­ớc, không phải chỉ bằng mồ hôi mà cả bằng máu: Ngày mới lên, hắn đã bị th­ơng trong một lần máy bay ném bom đêm - giữa lúc hắn đang vãi lúa lốc.

Chung quanh cái "ổ gấu" dần dần mọc lên một vành đai sắn ở phía ngoài, sắn lên xanh ngắt chen chúc cây dại. Ðậu xanh, đậu t­ơng ở sau nhà. Lúa tẻ, lúa nếp tr­ớc nhà. Chỗ ăn ở tuy ch­a đ­ợc "đầu t­" thế nh­ng hôm trời nắng to, vợ hắn lôi ra phơi bên cái bờ m­ơng dẫn n­ớc - trên mấy cây sào nứa hàng đống quần áo, chăn màn; toàn đồ quân trang, quân dụng của anh em bộ đội đi B. Chẳng hề giấu giếm, ông cháu ruột "báo cáo với chú" đã đổi đ­ợc bằng thịt dê và r­ợu. Ngày ở d­ới làng, vợ chồng con cái rách nh­ tổ đỉa. Bây giờ cả nhà hắn mặc quân phục. Ng­ời nào cũng lành lặn. Vào dịp d­ới làng có giỗ chạp, Khúng đánh hẳn một bộ tô châu xuất hiện tr­ớc mắt những ng­ời làng với t­ thế của một ng­ời đi làm ăn xa về ăn nên làm ra, lại vừa với dáng vẻ một cán bộ trên vùng khai hoang về.

Phú quý sinh lễ nghĩa, hắn mang về cúng hẳn nhà thờ họ một chiếc võng đôi bằng loại vải tê-tờ-rông, để thuê thợ vẽ cây gia hệ. Cả họ năm nào tế tổ cũng cứ bàn nát ra về việc quyên cúng tiền mua mấy mét lụa, bây giờ hắn cúng vào một tấm tê-tờ-rông, thế là xong.

Thậm chí vợ hắn cũng trở lại với những thói quen của một ng­ời thành phố đã bỏ quên từ lâu. Từ rất lâu vợ hắn t­ởng đã bỏ quên hẳn thói quen mặc áo lót mình. Sau mỗi lứa đẻ, hai bầu vú để thỗn thện, bây giờ "co" ng­ời lại trở nên gọn gàng, và chiếc nịt vú của ng­ời đàn bà cũng may bằng thứ mặt hàng quân phục. Ðêm nằm bên vợ, bây giờ hắn thấy trên khuôn ngực trắng nh­ ngó sen tự nhiên úp vào hai cái vung may bằng thứ vải tô châu mới xanh biếc, nh­ hai con cánh cam to tổ bố, nom đến tức mắt.
Trả Lời Với Trích Dẫn