Ðề tài: Khách ở quê ra
View Single Post
  #3  
Old 10-12-2004, 05:24 PM
dethuong123 dethuong123 is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Sep 2004
Nơi Cư Ngụ: none
Bài gởi: 1,547
Send a message via AIM to dethuong123 Send a message via MSN to dethuong123 Send a message via Yahoo to dethuong123
Default

Khách ở quê ra


- Ðã già, mặt mũi lại y nh­ cái nồi đất kho cá, mà... mà cái lão chắt Hòe một bận đang đêm lẻn vào buồng vợ tôi, nấp vào sau cái chum. Nhà Huệ nó biết liền đóng sập cửa lại. Có mà chạy đ­ờng trời! Chẳng xơ múi gì mà từ đó hễ trở trời là lão kêu đau. Tôi chỉ giáng cho một gậy th­ớc vào l­ng chứ có nhiều đâu.

- Cậu uống n­ớc đi rồi ăn cơm! - Ðịnh giục ông cháu.

- Tôi không ăn cơm đâu... Từ đó, lão ta đâm ra thù tôi, lão nói với thằng Dũng nhà tôi rằng mày không phải là con lão Khúng. Mẹ nó chứ, không phải là con tôi mà tôi lại nuôi từ lúc mới lọt lòng ra? Mà tôi đã c­ới vợ cho nó tốn hết bao của nả? Không phải là con tôi mà trời m­a gió lụt lội thế này, tôi cũng phải cất công tiễn nó ra tận Hà Nội... để cho nó đi bộ đội.

Ông khách nhắc chiếc chai lên, lại xối r­ợu vào chiếc bát sứ. Nh­ng khách vẫn ch­a nhấc chiếc bát mà chỉ chun mũi hít hít cái không khí ẩm ­ớt hơi lành lạnh tan vào trong hơi men. Chẳng còn nhớ gì nữa đến những miếng nếp và khoảnh lạc bao quanh cái ngôi nhà mới xây năm gian tuyền bằng đá, lão Khúng chỉ còn nhớ đ­ợc cái lúc chuyến tàu hỏa sắp vào ga Hàng Cỏ, tàu lắc mạnh hơn và đi chậm lại. Trong lúc thằng Dũng cùng lũ trẻ mới đi bộ đội thò nửa mặt ra ngoài cửa sổ ngắm phố xá san sát hai bên thì lão mặc dầu ch­a ra Hà Nội bao giờ, mặc dầu trăm thứ lạ lùng đang bày ra chung quanh, lão cũng không muốn để con mắt đi đâu ngoài đứa con. Lão nghĩ: hễ đến khi tàu dừng hẳn là mình cũng phải xa nó hẳn. Lão thế mà yếu đuối.

Gần một đêm một ngày ngồi tàu chung với đám thanh niên tòng quân, lão chỉ toàn khoe đứa con. Ðến nỗi ng­ời chịu chuyện, một đồng chí th­ợng úy làm nhiệm vụ đ­a hai toa tàu chở tân binh từ miền trung ra, cũng phát sốt ruột vì lão. Lão kể lể bao nhiêu thứ chuyện về cái thằng Dũng với một nỗi tuyệt vọng: không bao giờ bộ đội ng­ời ta có thể hiểu hết giá trị của con lão, một cái máy cực tốt sản xuất ra bao của nả nhà lão. Thế vậy mà vợ chồng lão đem trao cho bộ đội quách. Thế vậy mà vợ chồng lão lại lấy đó làm điều vinh dự, sung s­ớng.

Nh­ng mà tiếc, nh­ng mà nhớ nó lắm! Chao ôi, từ nay sẽ không bao giờ đ­ợc trông thấy cái dáng nó đứng trong rừng, ­ỡn ng­ời về sau, tay nâng l­ỡi rìu lên quá đầu, một tiếng ":Dc" của l­ỡi thép chém ngập vào thân gỗ đã tan đi rất lâu, vậy mà không có gì xóa đi đ­ợc những khoảng da thịt t­ơi non ­ớt đẫm mồ hôi in vào lá cây, in vào cõi im vắng của rừng sâu. Nó là đứa con trai làm việc khỏe lại thành thạo nhất trong bốn đứa con lớn nhất của nhà lão. Là đứa con có mặt ngay bên cạnh lão, khi có đứa hiếp ức lão.

Xì, làm việc gì mình chỉ nên nghe mình là hơn cả! Sau ngày vợ chồng lão trả miếng đất linh thiêng lại cho thần làng sau cái vụ có đứa đốt nhà lão, một cô y tá đứng tr­ớc thềm trạm xá xã phát thuốc ngừa thai cho đám đàn bà đi khai hoang, đã đ­a bàn tay vỗ vỗ lên vai vợ lão: "Chị Huệ, chị đẻ ít thôi, ba cháu là đủ rồi!".

Ðủ sao đ­ợc? Dù vợ không muốn, lão cũng bắt vợ phải đẻ. Ðẻ rồi nuôi, sợ gì? Cái kho ng­ời nằm trong bụng vợ chứ có ở đâu xa? Ðã dám bỏ làng bìu ríu nhau lên sống giữa chốn rừng thiêng, hoang vắng, đi hàng nửa ngày không gặp một ng­ời, thì phải có thêm ng­ời chứ? Không có thật đông ng­ời làm sao dọn hết đá? Làm ra con ng­ời khó đếch gì?

- Cũng chẳng phải dân đi trang trại mà dân ở làng cũng vậy, chú Ðịnh ạ. Cái cô y tá khoa sản ở trạm xá xã ta, hắn nói vậy chứ hắn cũng đẻ khiếp lắm! ở nhà quê mình, nhà nào đông con mới có uy thế đ­ợc...

- Cậu nói cái gì lạ vậy hử? - Tự nhiên ông chú nổi giận - Cậu định phá cái n­ớc này đi đấy hử? Tung ra bao nhiêu cán bộ y tế để vận động sinh đẻ có kế hoạch, nói đến rã bọt mép. Khéo, khéo cậu đang tuyên truyền phá chính sách đấy. Cậu phải thay đổi cái đầu óc đi!

Ðịnh hiểu những vấn đề trầm trọng của phát triển dân số trên toàn thế giới và trong n­ớc mà lão Khúng mù tịt. Lão không cãi, chỉ đ­a mắt ngắm cái gian nhà bằng cái lỗ mũi của ông chú với một cái gác lửng xếp tú ụ những đống chăn, gối mà đêm qua lão phải ngủ trên đấy, suốt đêm mót đái lại thèm thuốc lào mà cứ phải nằm im, ho khạc một cái cũng sợ làm tỉnh giấc nhà hàng xóm.

Tự nhiên hăng lên, lão xòe năm ngón tay khẽ khàng quắp vào khoảng x­ơng đầu gối ông chú:

- Nh­ng cháu xin hỏi: cả một đời chú, đã bao giờ chú phải dọn đá, trồng cây và làm nhà ch­a, hay chỉ ăn l­ơng và ở nhà của Nhà n­ớc? Ðã bao giờ chú phải chịu những đứa chung quanh cậy đông hà hiếp mà phải cắn răng chịu ch­a?

Ðịnh c­ời ha hả:

- Cứ nh­ cái ngày đi B ghé vào chỗ cậu, cũng khó mà tin đ­ợc vợ chồng có thể trụ lại ở đấy đ­ợc thực.

- Tôi trụ lại đ­ợc là nhờ có bầy con sau này lớn lên.

- Cũng phải nói cho thỏa đáng, về sau có thêm nhiều bà con lên nữa chứ? Cũng phải nhờ có cái tập thể dựa vào nhau nữa chứ?

- Cũng có khi tối lửa tắt đèn. Thực là thế. Nh­ng đã có thêm ng­ời là có thêm ganh ghét nhau, thậm chí thù ghét nhau. Chú có biết tại sao lão Hòe từ ngày lên khai hoang trở thành thù ghét với tôi không? Do là ngay từ ngày đầu, trong bụng lão đã ngầm ức với tôi vì mấy khúc x­ơng của một con lợn lòi bắn đ­ợc ngoài rừng. Ðều muốn nấu một nồi cao toàn tính cả, cả lão và tôi đều muốn lấy. Vì tôi mạnh hơn thế nên tôi lấy đ­ợc.

- Thì chia nhau có hơn không?

- Nói nh­ chú!

Chai r­ợu hết. Khuôn mặt ông khách vẫn nh­ th­ờng, chỉ có hai con mắt hơi gợn những vằn đỏ. Từ đầu bữa đến giờ lão mới nhấc đôi đũa gắp một khúc x­ơng rán cháy cạnh nh­ng rồi lại thả xuống, nhón trên đầu đũa một trái ớt đỏ t­ơi chẻ t­ nh­ một bông hoa trong cái thẩu dấm, đ­a lên miệng. Lão nhấp ngụm r­ợu cuối cùng. Vị cay chua truyền đi khắp ng­ời lão. Lão cầm chiếc khăn mặt bông trên đầu gối, lau hai con mắt ­ơn ­ớt và đến bấy giờ lão mới nhận thấy những câu chuyện với ông chú từ đầu bữa đều là chuyện tào lao cả.

Lão lại trở về với cõi lòng sâu thẳm và mỗi ngày một khép kín của đời lão. Phàm con ng­ời ta ở đời, có cái gì hơn ng­ời, s­ớng vì nó mà chuốc lấy cay chua cũng vì nó? Vợ lão đẹp thực. Chả là cái thá gì cả, chẳng phải chủ tịch, bí th­, cũng chẳng phải điển hình chăn nuôi hay vệ sinh, chỉ vì một con vợ đẹp mà suốt đời lão nổi tiếng. ở d­ới làng hay lên trại, lão đều có nhiều ng­ời biết tên. Có nhiều công việc phải lên xã hay ra ngoài hợp tác, lão nói rã bọt mép không xong, nh­ng mụ Huệ vấn chiếc khăn xanh lên đầu, đi là xong. Trong số chín đứa con - tẻ, nếp lẫn vào cũng có. Lão biết. Nh­ng cũng đừng một kẻ nào nên nghĩ rằng có thể dễ bờm xơm đ­ợc với vợ lão. Giới chức việc chẳng ai lay chuyển đ­ợc vợ lão, tuy rằng "cái đám dân đi cày ngồi bàn giấy ấy" - nh­ lão th­ờng gọi - cũng "lãng mạn" ra phết. Có một anh theo đuổi vợ lão từ khi còn là một nhân viên coi kho của hợp tác xã cho đến khi leo lên đến cái chân kế toán tr­ởng, rồi phó chủ nhiệm hợp tác xã, từ khi còn là một anh ch­a vợ đến tận khi đã vợ con, gần nh­ vợ lão có tà thuật sai bảo là phải nghe, vậy mà suốt đời chỉ một lần, đ­ợc nắm cái cổ tay của mụ Huệ chừng một phút.

Chán vạn ng­ời quyền thế, chán vạn kẻ phong l­u, đẹp mã, mụ Huệ đều không mắc, tr­ớc sau một mực chỉ biết có một ng­ời đàn ông là lão; vậy mà một lần, mụ đã mắc với một ng­ời, chung chạ và đẻ con với một ng­ời khiến cả làng không ai t­ởng t­ợng nổi. Làng n­ớc có thể gọt đầu bôi vôi một ng­ời đàn bà khôn ba năm dại một giờ, nh­ng lại tha bổng và thậm chí đồng tình với một kẻ đã dám cố ý làm một công việc ng­ợc ngạo.

Mụ Huệ phải lòng thằng Mới thật là ng­ợc ngạo. Từ tr­ớc Cách mạng tháng Tám, ng­ời ta thấy thằng Mới - vốn là con hoang của một tay làm mõ trong làng - sống vất v­ởng ở đầu ghềnh cuối bãi, theo thủy triều lên xuống để kiếm con ngao, con cá và th­ờng n­ơng náu nơi cổng đền làng. Sau Cách mạng, đáng lẽ hắn đ­ợc đổi đời, nh­ng trong khi tổ chức các đội dân quân cũng nh­ các đoàn thể cứu quốc, ng­ời ta quên không gọi hắn, vả lại hắn còn nhỏ. Sau kháng chiến, Mới đã hai m­ơi tuổi, cũng là một điều lạ lùng, trong những năm bom đạn, hắn vẫn bám lấy cửa lạch và cái cổng đền đã bị bom đánh sập, vậy mà không chết. Hắn sắm đ­ợc một chiếc mảng làm nghề câu biển, cũng có khi chạy sang nghề nông, cứ xam bán, và một lần nữa, trong khi tổ chức hợp tác xã, ng­ời ta lại quên hắn, nghĩ rằng cứ để hắn đứng ngoài với một chiếc mảng ghép bằng dăm ba cây b­ơng, hắn chẳng chết đói mà cũng chẳng phát triển lên t­ bản chủ nghĩa đ­ợc.

Ngày cái nhà của Khúng ở d­ới quê ch­a cháy, có một vài kẻ trong làng thuê Mới đốt cái nhà dựng trên nền đền, nh­ng hắn đã không làm mà còn mách với Khúng. Cũng vì cái ơn ấy mà Khúng cho hắn dựng nhờ cây sào, tấm l­ới, có khi động biển, hắn còn đ­ợc phép kéo chiếc mảng lên dựng vào sau túp nhà bếp của Khúng và nấu nhờ một bữa cơm. Không hiểu sao từ khi thoạt nhìn thấy thằng Mới, Huệ đã cảm mến ngay. Huệ có thể ôm con ngồi ngóng ra ngoài cửa lạch suốt buổi, để xem hắn câu, cái mảng lúc vào gần, lúc ra khơi, cứ lững lờ: hoặc là ngồi nghe hắn kể thói quen từng loài cá, tính nết từng đám mây. Hắn thật hiền, có lẽ hiền nhất làng và có một cái gì đó nh­ một tâm hồn nghệ sĩ - một tâm hồn vô cùng thính nhạy nh­ng lúc nào cũng khép kín. Ðến bấy giờ thì Huệ đã hiểu vì sao trên khuôn mặt bầu bầu và rám nắng của Mới luôn luôn hiện lên một vẻ lơ đễnh đầy trong sạch gần nh­ ngây ngô, giống nh­ lột cái vẻ mặt của Th - bố thằng Dũng - những lúc Th. ngồi tr­ớc những mẩu đá.

Khoan, đứa con vụng trộm với Mới là thằng con trai thứ t­ của Huệ, lớn lên mặt mũi giống Mới nh­ lột - và Khúng, một ng­ời cha vốn quý trọng mọi nguồn lao động, vẫn yêu và quý thằng con trai thứ t­, đứa con đầu tiên sinh ra khi vợ chồng lão vừa lên vùng khai hoang, chả kém gì những đứa khác.

Kể cả cái thằng bé Khoan có khuôn mặt bầu bầu và nổi tiếng hiền lành nhất nhà ấy, dù là gì đi nữa nh­ng điều quan trọng là lão đã biết rành rành nó là con thằng Mới, vẫn thuộc dòng máu của một anh dân làng Khơi tầng lớp mạt hạng - nghĩa là, lão đã biết hết cả mọi xuất xứ và nguồn gốc của nó.

Trong đàn con cái đông đúc mà mụ Huệ đã đẻ cho lão nh­ một nguồn lao động trời cho ấy, chỉ có một đứa- là chính cái thằng Dũng - lão không hề biết rõ con cái nhà ai, không đ­ợc phép hỏi mụ vợ, cũng không đ­ợc phép tìm hỏi ng­ời khác suốt đời lão, không hề bao giờ lão hắt hủi và bằng tất cả tấm lòng thành thực, lão yêu th­ơng nó, nh­ng không bao giờ lão thoát ra đ­ợc cái nỗi ám ảnh rằng nó mang dòng máu xa lạ với lão. Thằng con ấy, nó là đứa đẹp trai nhất nhà, một mình nó một khuôn mặt, từ con mắt, cái mũi đều nh­ đ­ợc chạm trổ tinh vi hơn. Nh­ng đấy lại chẳng là cái vết th­ơng sâu nhất của đời lão - suốt đời lão mang tiếng lấy vợ thừa ng­ời khác, chẳng là vì nó?

Tr­a hôm qua, chia tay với thằng Dũng rồi lão còn quay lại đoàn tàu hỏa đang còn đậu ở trong sân ga một lần nữa, lão khúm núm tr­ớc cái anh bộ đội cấp th­ợng úy: "Ðừng để nó phải khổ, đừng để nó phải đói rét, cái thằng Dũng nhà tôi ấy, việc gì làm cũng đ­ợc nh­ng lại khảnh ăn nh­ một đứa con gái nhà thành phố!" - "Biết rồi bố ạ - anh bộ đội dẫn quân chế nhạo lão - vào bộ đội cũng không phải đi đày đâu. Bố cứ yên tâm!".

Thấy mình phút chốc trở nên y nh­ một mụ đàn bà lẩn thẩn, nh­ng lão vẫn cứ quanh quẩn bên cái tàu hỏa có đứa con đang ngồi, hết mua hoa quả lại bánh trái lật đật mang về bắt nó ăn.

Nửa giờ sau mới có một chiếc xe tải của một đơn vị bộ đội Hà Nội đến đón đám tân binh miền trung vừa ra. Trông thấy thằng Dũng rời tàu b­ớc lên xe, thế là lão Khúng cứ quýnh cả lên. Chẳng biết làm gì trong cái phút :Dt, lão dúi thêm một mớ giấy bạc vào tay nó khiến thằng bé vừa th­ơng bố lại vừa ng­ợng với bạn, đến n­ớc nó phải gắt lên với lão tr­ớc lúc xe chạy.

Lão đứng lại một mình giữa cái sân ga Hàng Cỏ đầy những ng­ời lạ. Ðến bây giờ lão mới đ­a mắt ngắm nhà cửa, phố xá Hà Nội và lão sực nghĩ đến những lá th­ đ­ợc gửi đi từ đây - mà suốt gần hai m­ơi năm nay, cứ một vài năm vợ lão lại nhận đ­ợc một lá. Ðó là những lá th­ riêng của vợ, mà lão đã đọc trộm. Những bức th­ viết trên một thứ giấy thật mỏng, mà mỗi lần đọc xong, suýt nữa lão đã toan lấy làm giấy vấn thuốc. Nh­ng lão không dám, lại đem cất lại nh­ cũ, tận d­ới đáy một cái trong xó buồng vợ.

Mỗi lần nhận th­, bao giờ đêm ấy vợ lão cũng thức chong, đuổi lão ra nhà ngoài nằm, hai ba ngày sau, cứ nh­ một ng­ời câm và đối xử với lão nh­ một ng­ời xa lạ.

Dù rằng suốt một đời đã bị lão Khúng biến thành một cái máy đẻ và đến bây giờ đã trở thành một ng­ời đàn bà thôn quê thực sự, một bà ké miền rừng thật sự, chắc hẳn Huệ vẫn cất giữ cho riêng mình một chút hình ảnh cuối cùng của cái thời thiếu nữ sống ở thành phố, cùng với một mảnh tình yêu đầu tiên đầy sâu nặng mà thời gian hai m­ơi năm chỉ có thể càng đào sâu chôn chặt vào tâm khảm.

Suốt gần hai m­ơi năm nay ng­ời đàn bà vừa gần gũi vừa xa lạ với lão Khúng không hề đặt chân đến một thành phố nào cả, kể cả cái thị trấn lâm nghiệp cỏn con, đìu hiu nằm kề sông chỉ cách nhà dăm cây số, cũng ngại đến.

Huệ đã gắn bó ngày một chặt chẽ với nhà cửa, n­ơng rẫy, bởi chính chị đã phải cùng với lão Khúng nát óc tính toán, thức khuya dậy sớm, trút mồ hôi và sức lực đến gần cạn kiệt, để có tất cả ngần ấy của một gia đình nông dân đông con.

Ðất đai và cây trái, trong khi con ng­ời làm ra nó thì chính nó cũng làm ra con ng­ời. Chính Huệ cũng đã trở thành một ng­ời đàn bà nông dân với cái tính ky cóp, chắt bóp, tham công tiếc việc, tham của và thậm chí đôi khi còn lắm điều nữa. Hàng xóm, láng giềng sang chơi thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy cặp mắt Huệ nhìn len lén từ trong bóng tối, trong khi trút hàng chục vò r­ợu giấu trong buồng ra những chiếc bong bóng lợn.

Hoặc vẫn bằng hai bàn tay con gái thành phố - bây giờ đã đen đúa và sứt sẹo - Một tay b­ng bát r­ợu, một tay cầm chiếc đũa cả ghè miệng một con dê bị trói chặt nằm giữa sân, Huệ đổ r­ợu vào miệng con vật tr­ớc khi cắt tiết nó bằng một con dao nhíp với tất cả vẻ thành thạo.
Trả Lời Với Trích Dẫn