View Single Post
  #8  
Old 04-04-2004, 12:31 PM
TongGiang
 
Bài gởi: n/a
Default

:::: Chương XXXI ::::

Tình Ca Giáo Viên Miền Núi

Thay vì ở lại giới thiệu thầy Tài với đồng bào, tôi nhờ thầy Đoàn tối hôm đó giới thiệu thầy Tài và từ giã đồng bàọ lấy cớ tôi qua thăm các thầy cô giáo khác trước khi phải bế quan tỏa cảng tại Phòng Giáo Dục cả hơn hai tuần lễ dài sắp tới. Thầy Đoàn mừng rỡ được về gần cô Hạnh cám ơn tôi rối rít nói rằng:

-- Quang đừng lo, Quang đã hết lòng vì bọn này, thì bọn này sẽ tận lực lo công tác mà!
-- Cứ vậy đi nha, rồi Quang sẽ cố gắng thay mọi người dạy để ai nấy đều có dịp nghỉ phép mà không bị bê trễ công tác. Anh Đoàn đi ngang Phòng Giáo Dục nhớ tìm gặp anh Nhật nói là Quang có chút thay đổi. Chắc phải sau ngày mốt Quang mới về Phòng Giáo Dục lạị Quang bây giờ đi một vòng tròn lên B 8, B 9, B 11, B 12 và B 10 rồi trở lại vì những tuần sắp tới Quang sẽ đóng đô tại Phòng, không đi thăm và động viên các giáo viên trong khu vực của Quang được.

Tôi quay về phía thầy Tài:

-- Còn anh Tài, cứ ráng dạy và hoà đồng như Quang đã nói với anh lúc đi đường. Có gì cứ hỏi thầy Đoàn, cô Mai, cô Hạnh hoặc Quang. Khoảng ba tuần nữa Quang trở lạị

Sau khi rời làng Ea Rong chỗ thầy Tài thay thế thầy Đoàn, tôi tạt ngang làng Ea Rung thăm cô Mai. Trên đường đi tới làng cô Mai, tôi phải hát vang mấy bài ca cách mạng quen thuộc như bài Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tâỵ Cứ khúc nào rừng cây rậm rạp không thể nhìn thấy người là tôi hát vang lên. Chỗ nào cây cao, có thể nhìn xa dưới tàng cây thì tôi ngưng hát đi nhanh. Cô Mai ngạc nhiên lắm vì tôi mới gặp cô ít hôm trước khi cô lên dạy trở lại. Tôi cười giải thích:

-- Quang đưa thầy Tài lên thế thầy Đoàn. Thầy Đoàn về làng Kờ Mông. Cô Liễu xin đổi lên B 3, khu vực của thầy Phúc, có lẽ để gần thầy Lực.
-- Quang tính làm ông mai hở?
-- Ông mai gì, họ đã quen nhau và xin đổi chứ Quang có liên quan chi! Mà Mai muốn đổi đi đâu không, Quang xin làm ông mai chuyển Mai tới nơi Mai muốn.
-- Không, Mai ở đây vui rồi! Đồng bào ở đây họ qúi mến Mai và Mai cũng không nỡ đi, bỏ lại mấy em nhỏ đang chịu khó học.

Tôi nói sơ qua về tình hình xảy ra ở Ea Rong, nói bộ đội và du kích đang phối hợp truy lùng người lạ chi đó nên xin cô Mai đừng có đi lung tung trong rừng tìm mộc nhĩ hay hoa trái mà nguy tới tính mạng. Cô Mai trả lời:

-- Du kích làng Mai cũng đi sáng nay, họ nói họ sẽ đi kiếm kẻ gian đang lẩn quẩn khu vực nàỵ

Cô Mai mời tôi ở lại, chờ cô nấu cơm chiều, tôi nói:
-- Quang phải lên các làng khác xem tình hình và động viên các giáo viên vì Quang sẽ bận mấy tuần lo vụ huấn luyện giáo viên Thượng để họ trợ lực mình sau nàỵ
-- Vậy Quang ăn chè với Mai rồi hãy đi nha!
-- Mai lúc nào cũng nấu chè ha! Mai mốt Quang gọi Mai là cô Chè đó!
-- Quang mà gọi Mai là cô Chè, Mai nghỉ chơi Quang luôn!

Cô Mai và tôi ngồi xuống ăn mỗi người một chén chè đậu đen cô Mai đã nấu sáng naỵ Chè nguội nên vị ngọt càng thấm. Tôi nhìn cô Mai tủm tỉm cười không nói chi, nhưng cô Mai bắt gặp ánh mắt tôi, hỏi:

-- Nhìn chi kỹ vậỷ
-- Quang đang mường tượng ngày tụi mình mới lên huyện, đứa nào đứa nấy buồn hiu vì lạ nước lạ cái. Bây giờ tụi mình đã quen thuộc rồi, thấy buôn làng cũng như quê hương làng xã của mình. Mai có thấy vậy không?
-- Mai cũng cùng ý nghĩ như Quang, mình sống ở đâu quen đó! Mai mốt rời đây, Mai sẽ buồn lắm!
-- Mai có tính chuyển qua chuyên nghiệp không? Có dịp Quang sẽ nói với anh Nhật.

Cô Mai ngước nhìn tôi, nét mặt rạng rỡ:
-- Thật nha! Nếu được vậy còn gì tốt bằng, vì khi về thị xã Mai cũng không biết làm nghề gì nữa.
-- Được, Quang sẽ cố gắng. Bây giờ Quang phải đi đây, Mai ở lại công tác vui vẻ.
-- Còn Quang, đi đường cẩn thận nha!
-- Quang lúc nào cũng cẩn thận mà, còn giữ mình để ăn chè chứ!

Tôi kiểm soát lại đèn pin. Pin vẫn còn mạnh. Tôi xoáy mở đáy đèn pin, lấy ra mặt nhựa màu đỏ để lên mặt cho dễ dàng lấy khi cần. Tôi sẽ phải dùng đèn pin và tín hiệu Morse đêm nay may ra anh Tâm hay anh Trung có thể nhận rạ Tôi khoác ba lô lên vai, rồi chào cô Mai, xuống nhà sàn vừa đi vừa huýt sáo có vẻ rất tự nhiên dù trong lòng hồi hộp lạ. Tôi ước ao có một con chó làm bạn lúc nàỵ Đi đường rừng lúc này tôi lo lo làm sao đó. Rủi bộ đội hay du kích bắn lầm một cái có chết không! Cái chết của tôi sẽ là một nhầm lẫn đáng tiếc, nhưng dù sao vẫn lãng xẹt! Việc giúp đỡ của tôi đối với anh Tâm và anh Trung kể ra cũng khá chu đáo rồi, việc gì không may xảy đến cho hai anh, cũng chỉ là số mệnh thôi! Không phải chính miệng hai anh đã nói ra đó sao?


:::: Chương XXXII:::

Tình Ca Giáo Viên Miền Núi

Anh Tâm và anh Trung không phải bà con ruột thịt gì của tôi và chúng tôi cũng quen chưa lâu, việc tôi liều lĩnh giúp trong lúc hoạn nạn kể ra cũng khá kỹ càng. Nếu hai anh có mệnh hệ gì, ai có thể trách tôi được. Tôi còn bao nhiêu người thân, còn bao nhiêu dự định chưa thực hiện ... Tôi vừa phân vân lưỡng lự vừa dấn bước đi nhanh trên đường mòn. Không thể thấy cái chết trước mắt mà không cứu, ngay cả là đối với một người lạ. Dù sao họ cũng là đồng hương của tôị Dù sao họ cũng là bạn của bạn tôị Mọi cuộc sống đều có mối tương quan với nhau, chuyện xảy ra cho anh Trung hay anh Tâm có thể là chuyện xảy ra cho tôi sau nàỵ Tôi không thể thờ ơ trước hiểm nguy và cái chết của họ.

Tôi đã quyết định rồi, dù gì mình cũng phải cố gắng. Nếu lỡ hai anh bị bắt, tôi sẽ dùng tiền hai anh để lại để chuộc hai anh ra, nếu lỡ hai anh bị bắn chết thì tôi cũng không hối hận là đã liều mình đi tìm hai anh để dẫn hai anh tới vùng an toàn hơn. Nếu chuyện gì xảy ra ngoài tầm mắt của tôi, ngoài khả năng cứu người của tôi, thì đó là số mệnh. Tôi phải ráng, phải ráng đi nhanh, vượt du kích và bộ độị

Cứ vừa đi vừa chạy trên đường mòn với chiếc ba lô kêu lộc cộc trên vai vì cà mên, đèn pin, và các thứ lỉnh kỉnh, tôi tới bìa làng Ea Yut khi trời ngã chiều. Ghé vào đây nghỉ, đồng thời lấy tin tức cái đã rồi hãy đi tiếp. Làng này là làng thầy Tường, người nhỏ bé hiền lành như con gáị Tôi chưa gặp thầy cả gần 2 tháng rồị Tôi dự định gặp thầy một tí thôi rồi phải đi ngay, lấy cớ còn nhiều làng phải đi, mục đích là tôi phải kịp đi thêm ít nhất 4 tiếng nữa cho kịp các anh Trung và Tâm theo dự đóan của tôi. Họ đi chậm và lẩn trốn, còn tôi vừa đi vừa chạy và biết rành rọt đường xá nên có lẽ sẽ kịp thôi, nếu bộ đội và du kích xã không bắt các anh trước khi tôi kịp đến dẫn đường đi trốn.

Tới gần giữa làng tôi thấy nhiều người tụ tập trong lớp, có bóng quân phục xanh và nón cối của bộ độị Tôi tiến lại định chào thì có tiếng quen quen:

-- Đồng chí Quang đây mà!

Tôi nhìn về phía người nói:
-- Trời anh Lý! Anh làm gì ở đâỷ Anh Công và anh Tiến đâu? Các anh lại đi săn chứ gì?
-- Bọn tớ đây này!

Tôi xoay người nhìn hai anh Công và anh Tiến lồm cồm ngồi dậỵ Hai anh có lẽ mệt đã nằm dài trên ghế trong lớp. Tôi nói:
-- Trái đất tròn và nhỏ thật rồi! Em đang định lên B 11 vào gặp các anh thì lại gặp các anh ở đây! Ngọn gió nào đưa các anh tới đây và chú Minh khoẻ không?
-- Thủ trưởng khoẻ, bữa nọ làm một bữa nhậu ngon lành!

Tôi quay một vòng nhìn quanh thấy đủ 7 anh bộ đội như lời cô Hạnh nói và một số du kích. Có lẽ họ vào đây chờ ăn cơm chiều với đồng bào. Thế là may rồi, tôi đã bắt kịp được với bộ đội và du kích! Tôi phải khôn khéo dò hỏi xem tình hình mới được.

-- Thế hôm nay các anh tính săn nai nữa hở?

Các anh bộ đội đưa mắt nhìn nhau dò hỏi, anh Lý nói với một anh bộ đội, có lẽ là cấp chỉ huy của các anh:

-- Đồng chí Quang là giáo viên chuyên trách, hôm nọ đã hướng dẫn mấy anh em tụi này bắn nai đó!

Tôi tiến lại chào anh và đưa tay ra bắt:
-- Em tên Quang! Em vào đây thăm thầy Tường và lên B 11, B 12 và B 10 lấy tình hình cho Phòng Giáo Dục huyện.
-- Tôi tên Quốc! Đồng chí có gặp người lạ mặt trên đường đi không?
-- Dạ không ạ! Có chuyện gì thế?
-- Chúng tôi truy lùng địch. Đồng bào báo chiều qua, sáng nay chúng tôi đi kiếm, nhưng chưa gặp. Họ còn lòng vòng đâu đây thôi, vì dấu vết bỏ lại ở các khu rẫy Thượng còn mới!
-- Các anh đã truy lùng ở đâu rồỉ
-- B 8 và B 9, chỗ nào cũng có dấu vết nhưng mà bọn mình tới trễ. Họ cứ lẩn quẩn chứ không có phương hướng nhất định nên tìm chưa ra. Phen này mà gặp, đếch cần bắt giữ làm gì, bắn bọn nó chết bỏ mẹ tụi nó ngay tại chỗ.

Tôi quay nhìn anh Lý, anh Tiến, và anh Công. Cả ba đều tránh cái nhìn của tôi. Ba anh đều hiền lành, nói chuyện dễ thương, nhưng giọng nói của anh Quốc tôi thấy có vẻ đanh sắt và thù hận nên tôi chưa dám đề nghị nếu bắt giam giữ thì hay hơn, may ra còn có tiền chuộc. Phải chờ cơ hội, lạng quang anh chỉ huy này nổi dóa thì chết tới nơị Tôi nói:

-- Xin phép các anh nha! Em lên nhà thầy Tường có tí chuyện. Các anh đã gặp thầy Tường chưa?
-- Chưa, có thầy giáo ma nào đâu! Bọn này tới đây khoảng nửa giờ rồi mà có thầy bà nào ra chào đâu!
-- Có lẽ thầy Tường đang soạn bài dạy tối nay, vì ban ngày đồng bào đi làm hết, buổi sáng thì thầy dạy trẻ em nếu các em ở nhà! Thôi để em lên mời thầy Tường xuống giới thiệu cho các anh.

Tôi đi về nhà thầy Tường, leo lên cột thang, làm bằng một thân cây, đẽo từng bậc đi lên. Cửa nhà mở, tôi gọi lớn:

-- Thầy Tường, có ở nhà không? Quang đây!
-- Vào đi, anh Quang! Tường không khoẻ mấy nên nằm đây nghỉ.
-- Bị sốt rét hở?
-- Không, chỉ mệt mỏi thôị
-- Trời, sao mắt trái thầy đỏ hoe thế này. Khóc hay bị gì vậy?
-- Khóc cái gì, tự nhiên nó đó cả tuần nay, xức thuốc gì cũng không xong. Thầy mo nói phải cúng Giàng!
-- Thầy tin có bùa ngải không vậy?
-- Có đó! Nếu vài ngày nữa không khỏi thì Tường cũng phải nhờ thầy mo cúng Giàng! Tường có mua mấy con gà để dành kìa!
-- Cúng thầy mo mà phải ba con gà sao?
-- Không, một con thôi! Nhưng Tường mua luôn ba con gà trống để nếu cần làm thịt đãi bạn bè!
-- Vậy Tường bán lại cho Quang 1 con nha! Luộc gà đãi mấy anh bộ đội đang ngồi ở lớp kìa!
-- Đãi mấy chả làm gì! Tốn của toi cơm thôi!
-- Kệ đi, Tường mua bao nhiêu để Quang gởi tiền lạị
-- Thôi khỏi, Quang bắt ra một con rồi làm thịt. Tiền bạc gì!
-- Không được để Quang trả lại đàng hoàng mà! Tường mua bao nhiêu vậy?
-- Mười đồng ba con đó!

Tôi mở ba lô lấy ra 5 đồng, đưa cho Tường:
-- Tường cầm 5 đồng nha! Bây giờ Tường ra lớp, Quang giới thiệu Tường với các anh bộ độị

Tường miễn cưỡng ra lớp, tôi đem con gà trống đưa cho anh Lý:
-- Thầy Tường ủng hộ chú gà này cho các anh làm thịt ăn chiềụ
-- Mẹ nó, phải có chai ba xi đế thì đỡ quá, gà luộc nhắm rượu thì còn gì bằng.

Tôi gợi ý:
-- Rượu cần được không?
-- Không đế thì cần, đâu có kém gì?

Tôi hỏi du kích làng xem có ai có ghè rượu nào để bán cho mọi người cùng uống không. Một anh nói có với giá năm đồng, tôi không tiện lấy tiền trả sợ thầy Tường nghi ngờ sao tôi lại dư dật thế này, tôi quay hỏi thầy Tường:
-- Tường cho mượn lại 5 đồng nha!

Tường cười, rút trong túi đưa tôi đồng tiền tôi vừa đưa hồi nãy, giữ chưa được nóng túi quần.
-- Tiền thầy trả thầy!

Tôi đưa năm đồng cho anh du kích đi về nhà anh gần đó, khệ nệ đưa vò rượu ra, đổ nước lạnh vào, nói được nửa giờ nữa mới uống được. Tôi nhìn con gà anh Lý và anh Tiến đang nấu nước sôi để trụng và vặt lông, thấy hơi kỳ vì con gà chỉ đủ để đãi các anh bộ đội, lên tiếng hỏi:

-- Có ai có con gà nào lớn không? Tôi muốn mua thêm 1 con để đãi cho các anh du kích vì một con gà của thầy Tường chỉ đủ cho các anh bộ độị

Có hai anh du kích dưa tay lên:
-- Hai dền một con, thầy chịu không?
-- Được, bắt hai con đi, tôi trả cho các anh mỗi người hai đồng. Các anh làm hai con gà đó ăn chung với nhau và uống rượu cần chung với các anh bộ đội cho vui vẻ.

Tôi trở vào lục ba lô lấy ra bốn tờ một đồng, và một tờ năm đồng. Đưa cho hai anh du kích mỗi anh hai đồng, còn tờ năm đồng nhét vào túi thầy Tường, cười nói lại:
-- Tiền thầy trả thầy!

Cả đám lại được một phen cười hể hả. Tôi tính cho bà con uống say chiều nay để họ dừng lại đêm nay để tôi tiện việc tìm cách liên lạc với anh Trung và anh Tâm có lẽ chỉ cách xa tôi chừng 3, 4 tiếng đồng hồ. Du kích và bộ đội nghỉ chân đêm nay ở đây thì khoảng nửa đêm hay chừng một hai giờ sáng tôi sẽ đến vùng mà tôi dự đoán hai anh đã tớị Tôi dự định ăn uống một tí rồi đi ngay vì tôi phải đi tới làng kế bên trước khi trời tốị Tôi còn nhiều làng phải đi trong một khu vực rộng nên khối gì cách để nóị



:::: Chương XXXIII::

Tình Ca Giáo Viên Miền Núi


Gà rượu sắp sẵn sàng thì dân làng đi làm về. Thấy du kích và bộ đội chuẩn bị ăn uống, bác thôn trưởng và các ông khác cũng về nhà ôm mỗi người một ghè rượu ra chung vuị Du kích thủ thỉ với dân làm sao đó nên ông thôn trưởng và dân làng cứ lại vỗ vai tôi nói:

-- Nai pơ tho (Thầy giáo ) tốt lắm! Cho đồng bào nhum pai (uống rượu)!

Ban đầu tôi còn cười trừ ôm vai từng người chào hỏi, sau thấy nhiều người cứ tới, tôi nghĩ chắc đêm nay chẳng có ai muốn học vì mọi người ai nấy sẽ say sưa hát hỏng tới khuya, tôi phải đứng lên nói:

-- Hôm nay tôi có tin vui báo cho đồng bào là còn chỉ hơn một tuần lễ nữa chúng tôi sẽ huấn luyện một số giáo viên Jrai để dạy đồng bào viết chữ Jrai. Đây đúng là nguyện vọng của đồng bào. Ai trong đồng bào biết viết chữ Jrai, xin lên Phòng Giáo Dục để đăng ký. Các giáo viên Jrai sẽ được hưởng qui chế giáo viên. Tiệc hôm nay là để vui cùng các anh bộ đội, du kích và đồng bào đã cùng nhau hợp tác làm việc và học hỏị Tôi sẽ không ở lại đây đêm nay được vì còn phải đi các làng khác lấy tình hình để báo lên Phòng Giáo Dục. Lớp huấn luyện giáo viên Jrai sẽ bắt đầu 9 ngày nữa, đồng bào biết ai biết viết tiếng Jrai, xin báo cho họ để họ có thể dạy đồng bào viết tiếng mẹ đẻ của mình.

Trong lúc đồng bào Thượng xôn xao bàn tán vui vẻ, tôi giải thích bằng tiếng Việt cho các anh bộ đội đang há hốc miệng nhìn tôi kinh ngạc vì tôi nói tiếng Thượng một tràng dài như tôi vừa đọc xong diễn văn. Tôi quay sang thầy Tường nói:

-- Hôm nay Quang phá lớp của thầy rồi!
-- Không sao! Tường cũng mệt, nghỉ một hôm không hề gì!
-- Tường nhớ nhắc ông thôn trưởng vụ kiếm người gởi lên Phòng Giáo Dục dự lớp huấn luyện nhé!

Tôi lại hỏi chuyện các anh Quốc, anh Lý, anh Tiến, anh Công và các anh bộ đội khác. Các anh hình như cũng quên cuộc săn lùng vất vả hôm nay, cứ thay phiên nhau hút rượu cần, nhón thịt gà chấm muối, tiêu và chanh bằng tay không chứ không có đũa đang gì cả. Nồi cơm chín ít ai đụng tới, ai có ăn cơm thì lấy bầu nước rửa tay rồi lấy cơm bỏ vào tay, vắt lại thành cục cơm hình tròn hoặc dài thon thon ăn ngon lành, chẳng phân biệt Kinh - Thượng. Đúng là Kinh - Thượng một nhà.

Anh Quốc nói:
-- Tớ cứ tưởng rượu cần dở, uống ngang phè phè như hôm nọ. Ai ngờ ghè này ngon đếch chịu được. Phải uống cho đã hôm naỵ
-- Ghè này ngon nên giá mới mắc đó! Họ làm bằng gạo nếp, bông cỏ,
hoặc khoai mì thượng hạng là mì già đúng cỡ! Rượu cần dở làm bằng mì non!
-- Mì là gì?
-- À khoai mì là củ sắn đó! Em nói tiếng Nam pha lẫn tiếng Bắc. Người miền Nam gọi sắn là mì!
-- Đồng chí công tác vùng này bao lâu rồỉ
-- Gần một năm rồi! Còn các anh?

Anh Quốc nói:
-- Đa số mới thôi, còn tớ từ hồi còn chiến tranh, từ năm 1972 dde^'n giờ!
-- Vậy là anh đã trải qua những trận đánh kinh hoàng ở các nơi năm 1972.
-- Ừ mẹ nó! Giặc Mỹ ném bom chạy không được, chết không biết bao nhiêu đồng chí!

Tôi thật tình thương xót anh Quốc:
-- Cũng may mà anh còn sống và không việc gì!
-- Lúc đó tớ làm hậu cần lo việc nấu nướng cho các ông lớn ở trong hang núi nên thoát nạn. Bao nhiêu bạn bè cùng làng chết cả vì bom B 52 trong trận đánh Kontum.
-- Thế anh đã về Bắc lại chưa?
-- Bố dám về đồng chí ạ! Mình là người sống sót duy nhất trong cả trăm đứa đi cùng một chuyến thì còn mặt mũi nào mà về! Mình là thằng chết nhát, bám đít ông lớn mà sống sót thôi! Nhục nhã lắm!

Tôi đoán anh Quốc ngà ngà say rồi, tại anh là người uống cang rượu đầu ngay lúc đóị Khi uống rượu cần, người Thượng thường dùng ống tre nhỏ cắm sâu xuống ghè rượu rồi đổ nước trên mặt. Họ dùng cành tre nhỏ để trên mặt ghè hoặc chum rượu bẻ xuống chừng một đốt tay làm dấu một ngấn hay một cang theo tiếng Thượng. Mỗi người uống một cang xong đổ thêm nước lạnh trên mặt, rồi mời người khác uống. Du kích Thượng và dân làng nói tôi uống trước, tôi nói xin để xếp bộ đội, rồi tới thôn trưởng, rồi các anh bộ đội, du kích rồi mới tới tôi vì tôi còn phải đi các làng khác. Khi tới lượt tôi uống, cũng khoảng là người thứ ba mươi mấy rồi mà khi hút rượu vào miệng tôi biết là rượu thứ mạnh, chứ không phải loại xoàng, Thứ rượu này làm bằng bông cỏ, chỉ dùng khi người ta muốn say ngất ngâỵ Tôi cười thầm. Không khéo anh du kích sợ bộ đội bắt đi truy lùng người buổi tối nên khi tôi mua rượu anh đã ra giá cao để phục bà con rượu đêm nay cho khỏi phải đi tìm người.

Tôi uống một ngấn bên ghè rượu ngon rồi đổi qua các ghè khác nhẹ hơn uống cầm chừng vì tôi định chuồn khi mọi người đã thấm say hoặc say sưa ca hát. Khi uống rượu người Thượng thường hát chọc đùa nhau hoặc ri hay khan là lối kể chuyện bằng thơ như ngâm truyện thơ như truyện Kiều, truyện Lục Vân Tiên ... của người Việt. Người Thượng rất tự do phóng khoáng, họ không thích ràng buộc. Đời sống họ đơn sơ, đói ăn khát uống, ít khi nghĩ tới ngày mai. Với họ miếng cơm giấc ngủ là quan trọng hơn là lý tưởng chủ nghĩa xa vời. Để họ tự do thoải mái tự lo cơm ăn áo mặc, có lẽ họ sẽ cả đời hồn nhiên hạnh phúc. Họ chưa có lòng tham vô đáy, chưa có thù hận ngập trời như những nơi gọi là gần gũi với văn minh tiến bộ, những nơi xã hội đã bị tham vọng cá nhân bóp méo lương tâm và lòng tốt bẩm sinh.

Sau khi hỏi đủ mọi thứ chuyện tôi cần biết, tôi rời anh Quốc và các anh bộ đội để đi nói chuyện với du kích và dân làng. Tôi nói chuyện thay uống rượu vì tôi còn phải đi xa, mỗi giờ trôi qua là các anh Trung anh Tâm lại đi xa hơn nữa, tôi có thể câu giờ một đêm nay thôi, chứ không thể cầm chân các anh bộ đội và du kích mãi được. Tôi không muốn thấy các anh phải chết dưới họng súng thời bình. Trong chiến tranh chết :Dc có thể là chuyện thường, nhưng chết khi chiến tranh đã kết thúc là một điều tôi không thể chấp nhận được. Nếu có lỗi lầm nặng chi nữa thì đã có nhà tù. Giết :Dc một cách bừa bãi, thù cá nhân là những điều không thể không lên án.

Anh Quốc mang mặc cảm của một kẻ sống sót khi các bạn anh đã tử trận, anh sống sót chỉ vì anh làm hậu cần, chui rúc trong hang hố lo cần vụ cho các cán bộ lớn ẩn mình trong hang hốc. Những cái bếp Hoàng Cầm đã cứu vớt họ. Hang động lớn nằm ở sườn núi phía đông, các anh bộ đội đào hang nhỏ dẫn khói tỏa bền sườn núi phía tây, nên bao nhiêu bom đạn B 52 cứ nhằm sườn núi phía tây mà thả. Tiếng bom chỉ đinh tai nhức óc, chứ họ dựng cây treo võng trong hang núi phía đông nên không hề hấn gì. Chỉ có các anh bộ đội tấn công vào các làng xã thị trấn Kontum, Dakto ... là lãnh đủ. Chỉ có núi rừng bị bom đan và thuốc độc da cam làm trơ trụi cây cành. Những người chủ tâm nắm đầu cuộc chiến tranh vẫn tồn tại trước những chết :Dc và khổ đau của đồng loại.

Tôi không thù hằn người cộng sản mặc dù ông, cha và anh tôi chiến đấu chống chủ nghĩa cộng sản bao nhiêu năm trời. Tôi chỉ ghét chủ nghĩa cộng sản đã đưa lại tang thương cho đất nước. Trên đời này có gì tồn tại, những chủ nghĩa ngoại lai rồi sẽ qua đi, đức nhân ái của một dân tộc đã trường tồn từ bao nhiêu thế kỷ hy vọng sẽ biến đổi tất cả những ý thức hệ khác để hoà nhập với sự kiêm ái lấy người dân làm căn bản của dân tộc Việt từ đời Trần Hưng Đạo hay trước đó nữạ

Sự đoàn kết của người Kinh - người Thượng đã có tự ngàn xưa như thần thoại Âu Cơ hay gần đây hơn vào cuối thế kỷ 18, dưới sự lãnh đạo của anh em Tây Sơn, đã có những đoàn quân cỡi voi của người Thượng trong việc đánh phá quân Thanh. Mối quan hệ miền xuôi miền ngược, người đồng bằng và người vùng núi là những mối giây đoàn kết đã làm đẹp quê hương hình chữ S từ Lạng Sơn tới mũi Cà Mau, làm phong phú cho nền văn học của nước nhà.

Tôi biết tôi đã ngà ngà mặc dầu đã từ chối uống nhiều lần nên mặc cho dân làng và các anh bộ đội cản tôi từ giã để ra đi, hy vọng có thể tìm ra được anh Trung và anh Tâm, dẫn họ tới một khu vực an toàn hơn, vì hướng hai anh đi là hướng bộ đội sẽ truy lùng nếu họ tìm không ra kẻ khả nghi ở vùng này ngày mai.

Nguyên Đỗ
(Còn tiếp)
Trả Lời Với Trích Dẫn