:::: Chương XXXIX:::
Tình Ca Giáo Viên Miền Núi
Đi đường rừng một mình, trời nắng còn đỡ, chứ đi dưới cơn mưa thật là rầu rĩ. Tôi vừa đi vừa suy nghĩ lung tung đủ mọi thứ chuyện không biết làm cách nào để giúp dân làng mau bình phục, chuyện vệ sinh căn bản bảo vệ sức khoẻ của đồng bàọ Rời căn cứ chú Minh chừng 20 phút, vừa xuống khỏi con dốc tới vùng tương đối bằng phẳng cỏ còn xanh vì có con suối nhỏ chạy dọc dưới chân đồi, thì tôi giật mình thấy một đàn trâu rừng đang nhẩn nha gặm cỏ cách đó không xạ Trâu rừng thường đi từng đàn cả mấy chục con, có khi cả trăm con, đây là lần thứ ba tôi gặp đàn trâu rừng. Lần thứ nhất khi tôi đi lên B 12 vùng Đức Cơ - Pleime, lần đó trâu ở phía xa, lần thứ hai trâu chạy ầm ầm đất rung chuyển, tôi và mấy người Thượng phải vội vã leo lên cây chưa biết chuyện gì xảy ra thì bất ngờ một bầy trâu có đến cả trăm con chạy dồn về phía tây có thể đạp chúng tôi tan thây nát thịt nếu chúng tôi không kịp leo lên caọ Tôi nghe nói thịt trâu dai nhanh nhách, nhưng bắn được một con trâu rừng là một dịp lễ lớn cho dân làng vì họ cho rằng đó là tặng phẩm của Giàng (Yang = Trời). Làng nào bắn được trâu rừng thì làng đó coi như được một ân xá, một đại xá có thể chuyển nghèo thành giàu, chuyển bệnh thành khoẻ trong năm đó. Tôi tuy không phải là người Thượng, nhưng làng Tung Breng đã xem tôi như người làng, nếu tôi bắn được một con trâu, không chừng vì lòng tin của họ biết đâu chừng họ mau khoẻ. Niềm tin mạnh hơn liều thuốc! Tôi mừng rỡ vòng ngược trở lại báo chú Minh và bộ đô.ị
--Kìa sao cháu trở lạỉ
--Cháu gặp một đàn trâu rừng dưới thung lũng, trở lại báo cho các chú xem các chú có muốn săn trâu rừng không?
Một anh bộ đội trẻ xen vào:
--Trâu rừng hở? Được lắm, chuyến này có thịt tươi ăn rồi! Ăn rau cải thiện mãi ngán ơi là ngán!
Chú Minh hỏi:
-- Đàn trâu bao nhiêu con, và liệu còn đó khi mình đến không?
-- Nhiều lắm, trời mưa, chúng lo ăn đâu để ý đâu! Bắn vài con là dư ăn rồi! Cháu xí một con đó!
Chú Minh cười:
-- Biết bắn không mà xí phần rồỉ
-- Chú cho cháu mượn một khẩu AK hay một khẩu CKC là biết ngay!
-- Cháu biết dùng súng AR-15 không?
-- Hồi nhỏ cháu có tập bắn ít lần với các anh lính đóng đồn ở gần nhà cháu\. Cháu đi gánh nước cho họ để được tập bắn chơi thôi!
-- Cháu thật thà quá! Được, chú có khẩu AR-15 và ít băng đạn trong kia, nếu cháu bắn được trâu, súng đó là của cháu!
-- Thôi cháu mượn lần này thôi! Giữ súng có ngày cháu bị tù!
-- Tù gì, giao cho cháu súng, chú phải cấp giấy phép chứ!
-- Cháu có phải bộ đội đâu!
-- Thằng này lôi thôi quá, chắc gì đã bắn được con gì nào! Coi như cá cuộc, nếu bắn được trâu, súng này của cháu, nếu không trúng, kiếm cho các chú một ghè rượu!
Tôi cao hứng giơ tay ra bắt tay:
-- Chú nói đó nha! Chứ cháu không phải là người đòi giữ súng đó!
Chú Minh giao súng cho tôi, chỉ cho tôi cách nạp đạn vào, lên đạn, cách bắn liên thanh, cách bắn từng phát một. Tôi thử một hồi, tập nhắm mà không bắn. Giả như chú Minh giao AK hay CKC cho tôi, tôi chắc chắn sẽ bắn được trâu thôi vì tôi đã mượn du kích Thượng súng CKC và AK để đi săn , còn súng AR-15 của lính Việt Nam Cộng Hoà và lính Mỹ thời xưa, tôi chỉ tập bắn chơi lúc còn nhỏ nên không mấy tự tin. Kệ thôi, tôi đâu cần súng, và một ghè rượu đâu có khó gì, ba ghè còn chưa lo, huống chi có một ghè! Tôi nhủ thầm, tôi phải ráng bắn trúng một con cho dân làng, rồi nhờ các chú bộ đội khiêng về làng cho tôi, rồi tôi tặng ba ghè rượu chứ không phải một hay hai ghè! Cho các chú bộ đội một ngày say bí tỉ với dân làng, rồi rinh thêm ba ghè nữa về căn cứ, gắn chặt thêm tình quân dân thì còn gì hơn nữạ Tôi đang mơ màng như cô gái đội rổ trứng ra chợ thì chú Minh lên tiếng:
-- Việc gì mà thừ người ra vậỷ
Tôi vá vấp:
-- Cháu đang suy nghĩ nếu cháu bắn được một con trâu và các chú cũng bắn được vài con nữa, cháu tính xin các chú khiêng con trâu cháu bắn vào làng Tung Breng được không?
Tôi kể cho chú Minh và bộ đội điều mê tín dị đoan của người Thượng về việc săn bắn trâu rừng, các chú bộ đội vỗ vai:
-- Nếu bắn được một con, thì bọn này giữ hết, hai con thì một con phần chú mày! Anh em bộ đội sẵn sàng khiêng vào làng, chú mày phải kiếm ít vò rượu đó!
-- Khỏi phải hỏi mà, cháu dư sức lo chuyện đó!
Mọi người đã sửa soạn xong, bọc vải nhựa trước họng súng, để tránh cho nước khỏi vàọ Cả căn cứ đòi đi, vì không ai chịu ở lại canh. Cuối cùng chú Minh viết giấy gập tư bỏ vào mũ cho mọi người bốc. Mười chú bộ đội được đi cùng với tôi nữa là mười một, chú y sĩ cũng bốc trúng. Chú Minh không bốc và cũng không đi dù chú rất muốn. Nhưng chú phải làm gương tốt nên cười nói với một người:
-- Đi cho đông, mà về không có con trâu nào, ngày mai Quang phải đem rượu vào đây đó!
-- Cháu về tới làng là đưa rượu sang cho các chú liền! Giá mà chú y sĩ vào làng cùng cháu chữa bệnh, cháu đem cả ba vò rượu vào đã các chú!
Chú y sĩ cao hứng vì cuộc đi săn kỳ thú:
-- Được, được trâu hay không được trâu, sau khi đi săn về, chú cháu cùng vào làng.
Tôi mừng thầm trong bụng, cám ơn Trời, cám ơn Giàng đã cho tôi gặp đàn trâu, thế là tôi không phải qua làng Ea Blang tìm thầy Nhân để nhờ thầy về huyện xin y tá lên đây, vừa xa xôi, vừa hiểm trở, không biết có ai hăng hái lên không. Tôi nhìn chú y sĩ cảm động nói:
-- Cám ơn chú thật nhiềụ Dân làng Tung Breng không quên ơn các chú đâu!
-- Thôi đi đi, kẻo trâu đi mất!
Chúng tôi đi nhanh, khi xuống dưới triền đồi thì chậm lạị Tôi khều tay chú y sĩ chỉ xuống thung lũng:
-- Kia kìa, các chú thấy không? Trâu rừng đó!
-- Mẹ kiếp, trâu đông thế này, nó mà chạy về phiá mình sừng nó húc cũng phanh thây!
Chú y sĩ ra lệnh cho mọi người dừng lại để có một chương trình hành đô.ng. Trời mưa như thế này thì không sợ lộ, nhưng một khi bắn thì phải bắn đồng loạt chứ không thì bầy trâu sẽ chạy mất. Tôi nhìn đồng hồ rồi hỏi:
-- Các chú có đồng hồ hết phải không?
Cả đám lắc đầu, kể cả chú y sĩ tên Dũng lúc đi đường vui vẻ tự giới thiệu! Thế này thì thật khổ, chúng tôi không thể tụ lại cùng một chỗ vì phải tìm vị trí thuận tiện để bắn, chú Dũng nói:
-- Bây giờ mọi người đếm từ một tới một ngàn, tới 1001 là nổ súng!
Chúng tôi chia tay để tìm vị trí dễ dàng bắn. Chú Dũng đi với tôi cùng một anh bộ đội trẻ. Anh vừa đi vừa đếm. Chúng tôi rạp người luồn đi dọc theo con suối để tránh khỏi bị phát giác. Khi chỉ còn cách đàn trâu một quãng thì anh bộ đội trẻ đếm tới 500. Chú Dũng nói:
-- Vừa tầm bắn rồi đó! Tìm chỗ thuận tiện bắn là vừa\.
Tôi chỉ con trâu nhỏ đứng gần nhất:
-- Cháu chọn con trâu nhỏ gần nhất kia! Chú Dũng và anh chọn mỗi người một con khác nhé!
Chú Dũng nói:
-- Tớ chọn con trâu sừng dài phiá bên phải!
Anh bộ đội đang đếm tới số 775, chỉ con trâu phía trái\. Tôi gật đầu:
-- Vầy nhé, vì mình ở gần nhau khi đếm tới 998 thì anh giơ tay lên, rồi mình đếm nhẩm 1, 2, 3 là bắn nhé!
Ba người chúng tôi mỗi người núp mỗi gốc cây ở gần nhau, nên có thể nhìn thấy nhau một cách dễ dàng, tôi hy vọng các nhóm kia cũng đã sẵn sàng trong tư thế bắn, vì nhóm tôi đã chuẩn bị sẵn.
Tôi ngồi trong tư thế bắn, thầm thì cầu nguyện xin Trời cho tôi bắn trúng con trâu rừng. Tôi nhắm thẳng vào đầu con trâu, hy vọng trúng đạn là trâu sẽ qụy ngaỵ Mọi sự đã sẵn sàng chỉ cần bóp cò súng. Tôi liếc mắt và lắng nghe tiếng đếm nho nhỏ của anh bộ đội trẻ.
Tôi nhẩm theo:
-- 995, 996, 997 ...
Tôi liếc thấy anh giơ cao tay lên, tôi nhắm lại đích ngay đầu con trâu trong lẩm nhẩm đếm một hai ba\. Tay tôi giữ chặt súng, ngón tay trỏ bóp cò:
-- Đoàng.
Tôi không nghe tiếng súng của ai cả, con trâu của tôi lảo đảo chạy, tôi nhắm thêm một lần nữa, bấm cò liên tiếp hai lần, vì sợ trâu chạy mất:
-- Đoàng, đoàng.
Tôi chỉ thấy con trâu của tôi ngã xuống trong khi cả bầy trâu giật mình chạy về phía Tây trong cơn mưa\.
Lúc này tôi mới ngẩng lên nhìn chú Dũng và anh bộ đội, thấy cả hai đều cười mãn nguyện trong khi tiếng la ó của các chú bộ đội khác át cả tiếng mưa\.
-- Các đồng chí bắn sớm quá!
Chú Tiến cười ha hả dưới mưa:
-- Bắn được ba con rồi còn gì! Khiêng về một con còn chưa nổi, mỗi thằng chúng bay đòi bắn mỗi thằng một con, thì thịt thối cũng chưa đưa về hết!
Cả bọn mười một người gặp nhau chỗ ba con trâu nằm, máu đỏ hoà với nước mưa, con trâu nào cũng chết ngay khi bị đạn vào đầu, nên cũng không tội nghiệp lắm. Con trâu của tôi bị trúng viên đạn đầu tiên ngay vào chỗ hiểm, tôi không cần phải bồi thêm hai viên nữa trúng trên vaị Hai con trâu kia cũng bị trúng mấy viên đạn, thì ra cả chú Dũng cũng như anh bộ đội trẻ cũng lo sợ như tôi, bồi thêm mấy phát cho chắc ăn.
Tám anh kia, dù chưa kịp bắn, nhưng cũng cười hả dạ, chỉ có một hai anh cằn nhằn, nói:
-- Thủ phó chơi ăn gian quá, làm gì đếm tới 1000! Bọn này mới đếm tới 900 thì đã nghe súng nổ rồi! Không thể nào mà đếm nhanh thế được. Một người còn sai chứ 8 người sai coi bộ vô lý quá!
Tôi nhìn anh bộ đội trẻ dò hỏi, vì thực tình tôi không để ý mãi cho tới khi tới lúc đếm tới 900 tôi mới để ý thôi, chẳng lẽ chúng tôi ăn gian. Anh bộ đội quay nhìn chú Dũng! Chú Dũng cười nói:
-- Lũ bay tinh thật! Tao bảo thằng Hùng đếm nhảy 100 con số đó! Tao sợ bọn bay nổ súng trước bọn tao đó mà. Thôi bỏ qua đi, được cả ba con trâu rồi còn đòi gì nữạ Mà cách nào đưa ba con về đây, con nào con nấy to kềnh thế này? Ca'c đồng chi’ bỏ qua cho tớ lần này!
Trời mưa mãi, ba con trâu to kềnh càng, nhìn trâu nghĩ tới đoạn đường leo dốc mà bắt ngán! Tôi đề nghị:
-- Vài chú về báo cho căn cứ biê't, đem dao tới đây mổ trâu, rồi mỗi người đem về một ít là xong. Riêng con trâu cháu bắn, chắc không cần nhờ các chú khiêng vào làng vì các chú lo cho hai con trâu này đủ mệt rồi! Cháu sang làng Ea Blang đề nghị dân làng ra xẻ trâu, một nửa đem về cho họ, còn một nửa họ đưa sang làng Tung Breng! Các chú thấy được không?
Chú Dũng, y sĩ, nói:
-- Đề nghị tốt! Nhất trí! Nhưng đừng quên mấy ghè rượu nhé!
Tôi bật cười thành tiếng:
-- Chú cũng đừng quên đi vào làng xem bệnh tình của dân làng với cháu đó!
Tôi giao khẩu súng AR-15 lại cho chú Dũng nói chú giữ dùm vì tôi không tiện mang súng vào làng Ea Blang. Tôi dẫn theo ba anh bộ đội trẻ để xin làng Ea Blang cho ít ghè rượu thay vì làng Tung Breng người bệnh không biết có rượu sẵn không. Cũng may mà hôm ấy trời mưa nên dân làng Ea Blang không ai đi làm, tôi gặp thôn trưởng trình bày đề nghị của tôị Ông thôn trưởng cười vui, nói ông thầy hay thật, bắn được trâu chia cho đồng bàọ Tôi nói con trâu to lắm làng phải đi ra đó cắt thịt, một nửa cho thanh niên đưa qua làng Tung Breng vì làng đó bị bệnh, cho làng đó nguyên cái đầu, và cái đuôi để cúng Giàng, còn thân mình thì chia đôị Ông thôn trưởng vỗ vai tôi nói:
-- Được mà, dân làng này có cái thịt để uống rượu ngày mưa là vui rồi!
-- Phải nướng, nấu kỹ đó, tôi không muốn ai bị đau cái bụng đâu nhé!
-- Đừng có lo, con Jrai khoẻ mà!
-- Khoẻ cũng phải cẩn thận, bộ dân làng Tung Breng không phải con Jrai à, sao mà họ bệnh hết vậỷ
-- Tại họ không cúng Giàng đó! Mấy hôm trước họ lấy được xác một con nai to trong rừng, đã chết mấy ngày rồi, nên không cúng Giàng nên bị Giàng phạt!
-- Sao ông biết?
-- Cháu tôi có cái chồng bên đó mà!
Tình cờ tôi biết được nguyên nhân bệnh của dân làng Tung Breng, họ ăn trúng thực chứ không phải dịch tả. Có lẽ con nai mắc bệnh chết chương rồi mà ăn không nấu kỹ nên bị té re tống tàng thôị Khổ cái là giáo viên của tôi sao cũng bị. Dù sao tôi cũng bớt lo phần nàọ Có trâu để cúng Giàng tạ tội, có người đem thịt trâu tới đãi tiệc chắc là mọi người sẽ phấn chấn và khoẻ mạnh trở lại mau :Dng hơn. Tôi hỏi mua vài ghè rượu cần cho bộ đội, ông xã trưởng nói:
-- Không được, ông thầy cho dân làng trâu, dân làng cho ông thầy rươ.ụ
Ông bảo dân làng đưa ra ba ghè rượu, bỏ vào gùi, rồi nói:
-- Rượu này cho ông thầy và bộ đội!
Giao ba chiếc gùi có ba ghè rượu cho bộ đội đeo, tôi dẫn dân làng cầm theo dao, gùi để xẻ thịt trâụ Lúc gặp chú Dũng tôi nói:
-- Dân làng cho các chú 3 ghè rượu, cháu đề nghị chú cho họ hai cái đầu và hai cái đuôi trâu, các chú cũng chẳng làm gì với các thứ đó, để họ cúng Giàng, được không?
-- Được mà, lấy mấy thứ đó làm gì cho mệt!
Tôi quay ra nói với ông thôn trưởng và dân làng bằng tiếng Jrai:
-- Bộ đội cám ơn lòng tốt của dân làng đã cho rượu, bộ đội muốn cho dân làng hai cái đầu và đuôi của hai con trâu nằm kia để cúng Giàng đó!
Ông thôn trưởng lại gần chú Dũng, cười vui:
-- Bộ đội tốt! Bộ đội tốt! Ngày mai tới uống rượu với dân làng!
Mọi người đang vui vẻ xúm vào xẻ thịt trâu thì chú Minh và cả căn cứ cũng xuống. Thấy ba con trâu to và ba ghè rượu trên lưng ba chú bộ đội, chú Minh cười thật lớn nói với tôi:
-- Cái thằng này thật hên! Đã trúng mối trâu, lại được rượu! Cháu Quang may mắn thật! Đi đâu cũng được dân làng cho cái này cái nọ Khẩu súng chú đưa cho cháu hồi trưa, cháu giữ luôn đi! Chút nữa về căn cứ chú làm giấy tờ chọ
Có súng để đi săn thì thật vui, nhưng giao súng ống một cách dễ dàng như vậy tôi phát sợ, không chừng là cạm bẫy bắt tôi vào tù thì khổ: tôi từ chối:
-- Thôi cháu mượn súng xài lúc cần thôi, cháu không lấy đâu! Việc bắn trâu xong rồi, cháu cần gì nữa! Coi chừng người ta tưởng cháu là phản động thì tiêu đời nhà ma!
-- Cháu khéo lo! Chú nói được là được mà! Chút nữa về căn cứ chú giải thích kỹ càng cho! Dân làng tốt với cháu vậy mà không lẽ chú thua saỏ
Tôi không nói gìthêm cầm tay chú Minh tới xem dân làng họ xẻ trâu, cắt thịt một cách nhanh :Dng. Tôi nói:
-- Đồng bào giỏi quá, cắt nhanh như cắt luá! Đồng bào cắt luôn hai con trâu kia giùm bộ đội đi, trông họ kìa chưa cắt được gì cả!
Mưa vẫn tiếp tục, mỗi nhát dao làm máu hoà với nước chảy loang. Tôi chạy tới chú Dũng:
-- Chút nữa chú cháu mình mang thịt về căn cứ trước rồi cháu dẫn chú sang làng Tung Breng nha!
-- Ừ, chưa bao giờ thấy vui như hôm nay! Chú đi với cháu một lần vào làng xem sao!
Tôi mừng lắm vì thấy nhiều chuyện xảy ra trong đời một cách thật tình cờ làm biến chuyển con người và cuộc sống. Mới sáng nay chú Dũng nhất định không đi đâu cả, tôi đã nảy ra dự định nhờ thầy Nhân về huyện tìm y tá hay bác sĩ lên đây, rồi chỉ vì nhìn thấy đàn trâu mà mọi chuyện gần như đâu vào đấy, tôi biết được nguyên nhân đau bụng của dân làng, thuyết phục được chú Dũng vào làng khám bệnh, lại còn được giao súng nữạ Có nên nhận khẩu súng đó không, tôi băn khoăn suy nghĩ! Hãy để nghe chú Minh giải thích khi về căn cứ đã, dù sao mình cũng chẳng mất mát gì! Điều mừng là dân làng không phải bị bệnh dịch tả, lại có thịt trâu tươi, có đầu và đuôi trâu để cúng Giàng, và nối kết được tình thân giữa dân hai làng với nhau, giữa dân làng và bộ đô.ị
:::: Chương XL:::
Tình Ca Giáo Viên Miền Núi
Trong lúc mọi người lục đục nấu nướng thịt trâu rừng, thì chú Minh dẫn tôi tới nhà kho, nói anh cần vụ tìm ít đồ quân phục giao cho tôi, vì mặc dù có áo đi mưa, nhưng quần áo tôi đã bị ướt, người tôi bắt đầu thấm lạnh, môi thâm và nổi da gà. trên tay chân. Chú cần vụ đưa cho tôi một bộ mặc vào người, rồi lấy thêm một bộ nữa:
-- Quà của các chú cho cháu đó! Thủ trưởng cho phép chú tặng cháu hai bộ quân phục!
Tôi thực tình cám ơn chú Minh và chú cần vu, cám ơn rối rít! Áo quần hơi thụng thịnh một chút nhưng khô ráo nên đỡ phần nào lạnh. Chú Minh gọi tôi lên phòng riêng của chú, mở ngăn kéo lấy một tờ giấy đã đánh máy sẵn đặt lên bàn. Chú hỏi tôi:
-- Giấy chứng minh nhân dân cháu đâu để chú điền cho đúng, để cháu khỏi lo lung tung về chuyện chú giao khẩu súng AR-15 cho cháu?
-- Cháu thực sự không cần súng mà! Chỉ thỉnh thoảng đi săn cháu mượn của dân làng hay của các chú là được rồi!
Chú Minh nhìn thẳng vào mặt tôi:
-- Cháu có máu thợ săn, thấy súng đương nhiên là ham rồi, nhưng tại sao cháu lại từ chối không nhận súng?
Tôi thật thà:
-- Cháu sợ bị đi cải tạo vì chuyện không đâu!
-- Chú đã nói là có giấy tờ đàng hoàng, hơn nữa chú chỉ có cháu có hai băng đạn thôi, thì lấy gì mà lọ Chiến tranh đã hết rồi, cháu có khẩu súng và hai băng đạn này thì làm gì ai được. Đảng và nhà nước còn chủ trương giao súng ống cho các thanh niên phường xã rộng rãi hơn nữa kìa, nhưng chỉ giao cho ít đạn dược thôi, mà đôi khi còn là đạn giả. Những khẩu súng AR-15, M-16 của Mỹ Nguỵ hồi xưa còn để lại nhiều lắm. Trung ương đã có chủ mưu giao súng Mỹ Nguỵ lại cho các thành phần chống đối để dễ bề tóm bắt một cách dễ dàng.
-- Trung ương không sợ phản loạn saỏ
-- Sợ cái gì? Các thành phần cốt cán có âm mưu phản loạn là người của mình gài vào trong đó hết rồi, nhúc nhích một chút là trung ương đã biết ngaỵ Chú giao súng cho cháu là chú thấy cháu thật tình với chú , hết lòng dạy dỗ dân làng. Cháu mà có manh nha vớ vẩn là chú bắn thẳng tay chứ không có phải chuyện trò như thế này đâu.
Tôi đưa giấy chứng minh nhân dân ra cho chú Minh, chú loay hoay điền họ, tên tôi, ngày tháng năm sinh, số chứng minh nhân dân vào một tờ giấy vàng nhạt đã in sẵn có hàng chữ Tổng Cục Tình Báo Trung Ương in đậm trên đầu trang. Tôi trố mắt nhìn thấy chú ghi lý do được cấp súng: Đương sự thi hành công tác đặc biệt. Mọi thắc mắc liên lạc thẳng với cục tình báo trung ương. Tôi giật mình mặt tái xanh vì tôi thực sự không muốn dính líu gì tới cơ quan phản gián trong khi tôi chỉ là một dân sự, con em của những người đã tham gia chính quyền và quân lực Việt Nam Cộng Hoa, chỉ là một giáo viên đi công tác trong miền núi xa xôi mà thôì. Chú Minh loay hoay lấy ra mười mấy con triện, chú thử ít cái, rồi mới đóng mộc một con vào. Chú đưa cho tôi rồi cười nói:
-- Cháu là nhân viên chính thức của sở tình báo trung ương rồi đó!
Tôi cầm lấy tờ giấy, đọc lại kỹ thêm, rồi đưa trả lại:
-- Cháu không dám nhận đâu, cháu chỉ muốn làm một giáo viên quèn thôi, không muốn dính líu tới chính trị hay quân sự
-- Chú có đòi cháu làm gì đâu, giữ tờ giấy này, có lợi cho cháu chứ không có hại đâu mà sợ.
-- Cháu không làm tình báo được đâu thật sự đó!
-- Đã bảo là chỉ có danh mà thôi, chứ chú có trả lương hay đòi cháu làm gì đâu, nhà nước còn tốn phí bao nhiêu tiền, bao nhiêu giờ cho những chuyện, những người không đáng, mà chú chỉ tốn một mảnh giấy, một khẩu súng trước sau gì cũng giao cho người khác để giao cho cháu, một người đi đâu cũng được người mến, người thương thì có gì đâụ Ngay cả chú chính trị viên y sĩ cũng thích và thay đổi ý định đi vào làng với cháu kìạ Việc này chú đã tham khảo với chú Dũng rồị Nhận lấy đi!
Cực chẳng đã, tôi đành nhận lấy thẻ công tác đặc biệt, tôi nói:
-- Trước khi rời nhiệm sở này, cháu sẽ giao súng và thẻ lại cho các chú!
-- Việc đó nói sau đi!
-- Chú Minh à, hồi nãy cháu thấy chú thử mấy con triện rồi mới chọn một cái để đánh dấu, sao vậy chú? Bộ chú làm cho nhiều cơ quan khác nhau hở?
-- Không, con dấu là của một cơ quan thôi đấy, nhưng tùy thuộc vào ngày giao chú ghi xuống mà chọn một con dấu cho đúng để tránh người ngoài đánh dấu bậỵ
-- Cháu không hiểu.
Chú Minh cầm mấy con triện lên, đóng mộc xuống một tờ giấy trắng, rồi chỉ tôi:
-- Cháu thấy vị trí của các ngôi sao khác nhau không? Cháu để ý các chòm sao đứng bên phải tượng trưng cho tháng. Cũng mười hai ngôi sao, nhưng cái này một con đứng rời là tháng giêng, cái kia năm sao đứng chung là tháng năm, cái kia chín sao đứng chung là tháng chín... Chú cấp cho cháu tháng Giêng dương lịch, nên có một ngôi sao nằm riêng hẳn không dính liền với mười một ngôi sao kiạ Nếu chú ghi xuống ngày cấp giấy là tháng Hai, công an cầm tờ giấy này có thể còng cháu ngay tại chỗ vì biết là giấy tờ giả mạo.
Tôi giật mình sợ hãi vì tính cách tỉ mỉ dù rất mộc mạc thô sơ này, nhưng phải là những người trong ngành mới hiểu được, lơ xơ như tôi cứ lấy đại con triện nào rồi đóng dấu để dành xài bậy thì có ngày đi tù dễ dàng như chơị Tôi thắc mắc không biết Phòng Giáo Dục có làm theo hệ thống này không, nhưng giữ kín trong lòng không dám hé răng. Tôi nói:
-- Nhà nước và các chú chu đáo quá, bảo sao mà Mỹ không thua!
Chú Minh nói:
-- Đảng và nhà nước tính toán kỹ lắm, muốn chạy cũng không được. Trong đám người chạy ra khỏi nước năm 1975, cháu biết có bao nhiêu người của ta gài vào trong đó không?
-- Cháu sao biết được chuyện đó, ngay cả con số người đi ra nước ngoài cháu cũng không biết nữạ
-- Một trăm hai mươi mốt ngàn người, trong đó hơn hai mươi ngàn người là của tạ Những người này một số ít đã ra mặt trong vụ đấu tranh đưa người về Việt Nam, số đông còn lại phải nằm vùng, bám sát vào dân, tạo uy tín trong các cộng đồng để làm các nhiệm vụ đặc biệt sau nàỵ
-- Sao mà nhà nước tính kỹ thế\? Họ đã rời Việt Nam thì đâu liên quan gì tới mình nữạ
-- Phải như vậy mới được cháu ạ! Phải cô lập và bất hiệu hoá những hành động không có lợi cho đất nước mình! Cháu cứ hỏi chú Dũng, chú ta là đảng viên chính trị viên, chú ấy sẽ nói cặn kẽ cho mà nghe! Trong hàng ngũ địch hồi xưa, người của ta có người làm tướng, tá, cố vấn, trong cả bộ tham mưu của tụi nó nữa đó cháu ạ! Đảng và nhà nước dùng tiền, dùng gái, dùng liên hệ gia đình, dựa vào những điểm yếu của mỗi người để đưa người ta vào tròng.
Không biết sao hôm nay chú Minh nói nhiều chuyện cơ mật vậy, có phải chú định đưa tôi vào vòng hoạt động cho nhà nước không. Tôi đã tự hứa với bản thân là không bao giờ tham gia lực lượng mà cha anh tôi đã suốt một đời phản kháng, gia đình bố mẹ tôi đã bỏ Bắc vào Nam, lẽ gì tôi lại vì một khẩu súng mà làm chuyện tồi bại gì để cắn rứt lương tâm sau này, hay bị mang tiếng là hoạt động cho một tổ chức đã bắt thân nhân tôi đi cải tạo. Có thể nào tôi dùng gậy ông đập lưng ông được không trước một guồng máy chính trị tinh xảo như thế nàỵ Tôi phải làm sao đây? Đang suy nghĩ chưa kịp hỏi gì thêm thì chú Du~ng dda~ thay đồ và chuẩn bị xong ít thuốc men ghé đầu vào hỏi:
-- Mình đi được chưa, chú còn phải về cho kịp.
-- Dạ được, cháu dẫn chú đi!
Khi bước ra ngoài tôi ngạc nhiên thấy năm chú bộ đội khác cũng sẵn sàng, súng ống và mọi thứ cần thiết. Chú Minh cũng bước ra khỏi văn phòng. Chú Dũng trịnh trọng hô:
-- Thao tác nghiêm!
Năm chú bộ đội trước văn phòng đứng thẳng người trong tư thế nghiêm. Chú Dũng cầm khẩu súng AR-15 hồi trưa đưa lại cho chú Minh, nói đồng chí thủ trưởng giao súng cho lính mới.
Chú Minh cầm súng đứng trước mặt tôi lúc này trông không khác gì bộ đội, chỉ thiếu cái nón cối thôi.
-- Tân binh, nhận súng!
Tôi luýnh quýnh cầm khẩu súng giữa tiếng vỗ tay và cười vui vẻ của mọi ngườị Có lẽ họ sực nhớ tới ngày đầu được nhận súng mà tháng năm dạn dày chinh chiến đã làm họ lãng quên.
Tôi nhớ lại những lần anh cả tôi kể chuyện lúc anh ra trường sĩ quan Đà Lạt trước khi anh tử trận khi nhảy dù xuống cánh đồng Chum trong chiến dịch Hạ Làọ Lần nào cũng rưng rưng nước mắt hồi tưởng lại một thời mộng bay cao phụng sự tổ quốc. Bố tôi dạo ấy đã về hưu nói với anh vài tháng trước khi anh về phép thăm vợ con và bố mẹ tôi:
-- Mày chuẩn bị hồn xác trong sạch! Chúa có thể gọi về bất cứ lúc nào!
Mẹ tôi trách bố:
-- Cái ông này, chỉ nói qưở!
Lúc đó tôi còn nhỏ, nhưng trong bữa ăn cuối cùng, tôi thấy chị dâu và anh tôi buồn lắm, nhưng cũng cứ gượng vui với mọi người. Tôi vội vàng ăn mau rồi cõng cháu tôi đi ra đường chơi vì không khí ngột ngạt trong gia đình người nào hình như cũng muốn khóc.
Bây giờ tôi lại mặc trên người bộ quân phục của những người đã bắn chết anh tôi, tự dưng nước mắt tôi trào ra!
Chú Minh vỗ vai tôi nói:
-- Lúc chú lần đầu đeo súng, cũng muốn khóc như cháu!
Tôi yên lặng không trả lời, khoác lên vai giây đạn với ba băng đạn và đeo súng lên vaị Tôi chià tay bắt tay chú Minh nói:
-- Cám ơn chú! Cháu sẽ trở lại!
Chiến tranh là gì? Kẻ thù là ai? Tôi thấy bố tôi, anh tôi không hề sai lầm, tôi thấy chú Minh, các chú, các anh bộ đội khác, ngay cả chú Dũng cũng đáng mến. Con người với con người, nếu đối xử với nhau trong tình người, không phải để phục vụ một lý tưởng nào một cách mù quáng sẽ có thể ngồi lại được và giao thiệp với nhau một cách thân mật, chứ không để thù hận làm biết thái bản tính con người. Tôi sẽ phải làm gì đã xoá lấp hố sâu ngăn cách giữa người cộng sản và người quốc gia, người Thượng và người Kinh. Tôi phải làm gì để chứng minh cho người cộng sản biết rằng người quốc gia cũng là những người yêu nước chân chính, biết yêu quê hương, yêu tự do, yêu độc lập không kém gì họ, chỉ có một điều khác là người miền Nam không hề tôn sùng một chủ nghĩa nào, một lãnh tụ nào một cách mù quáng để vấp ngã nghiêm trọng trong cuộc đời.
Chương 41
Tình Ca Giáo Viên Miền Núi
Năm chu’ bộ đội cùng vơ’i chu’ Dũng và tôi từ giã mọi người rồi lên đường. Vì đường mòn đê’n làng Tung Breng nhỏ hẹp, chu’ng tôi hàng một đi theo nhau, tôi dẫn đầu, chu’ Dũng đi theo sau, rồi tơ’i ca’c chu’ bộ đội kha’c. Chu’ng tôi lầm lũi đi trong mưa, thỉnh thoảng mơ’i no’i qua no’i lại vài câu, vì chu’ng tôi vội vã đi mau để tránh bị ươ’t.
Chẳng mấy chốc chúng tôi đã tới làng Tung Breng. Tôi ngạc nhiên thấy nhiều người đi lại hoạt động chứ không im lìm như sáng naỵ Khi đến gần tôi mới biết đó không phải là dân làng Tung Breng mà là dân làng Ea Blang qua phụ giúp nấu nướng để cúng Giàng.
Chú Dũng cùng tôi vào từng nhà bắt mạch và coi bệnh của từng người\. Đúng như dự đoán, mọi người đều bị trúng thực chứ không phải bị dịch tả\. Thật là may!
Ông trưởng làng xin lỗi là không tổ chức tiệc lớn được vì mọi người đều bị bệnh, nói rằng:
-- Đồng bào bị bệnh nhiều quá không tiếp đãi bộ đội và thầy giáo chu đáo, ngày trăng tròn tháng tới mời bộ đội và thầy giáo tới đây uống rượu và ăn chơi với dân làng\. Hôm nay chúng tôi với sự giúp đỡ của làng anh em Ea Blang chỉ cúng Giàng và ăn uống chút xíu thôi\.
Chú Dũng quay sang nói với tôi:
-- Nói dân làng không được ăn uống gì trong hai ngày, chỉ uống nước đun sôi thôi\. Khi bụng không còn gì, thì bịnh tự khắc sẽ ngưng, không cần thuốc men gì\.
Khi tôi dịch cho ông trưởng làng, ông nhăn nhó nói:
-- Cúng Giàng thì mình cũng phải ăn uống với Giàng mới được chứ! Không có là khinh khi Giàng sao\?
Tôi biết phép vua thua lệ làng, khoa học chưa bài trừ hết lòng mê tín nơi những người con của núi rừng nên nói:
-- Ăn uống ít ít thôi cho phải lễ rồi còn dưỡng bịnh, nếu không sẽ bệnh lâu hơn.
-- Được, được. Tôi sẽ nói dân làng ăn uống ít ít thôi\.
Tôi cũng thừa biết khi đang bệnh, người bệnh cũng chẳng muốn ăn uống gì, nhưng sự thật cần phải nói thế thôi\. Ông trưởng làng gọi mấy nhà gần ông đưa sang 2 ghè rượu và lấy thêm một ghè rượu của nhà ông nói tôi đưa cho bộ đội đưa về căn cứ\. Tôi nói với ông trưởng làng:
-- Họ đã có ba ghè rượu của làng Ea Blang rồi, không cần nữa đâu\. Mấy ghè rượu này để cúng Giàng đi\.
-- Không được rượu làng Ea Blang là rượu làng Ea Blang, còn rượu làng Tung Breng là rượu làng Tung Breng. Không lẽ làng Tung Breng lại thua làng Ea Blang sao\?
-- Nói vậy thì tôi thua\. Để tôi nói lại với bộ đội\.
Tôi dịch cho chú Dũng, chú cười hể hả, bắt tay ông trưởng làng.
-- Đồng bào tốt quá, cám ơn! Đồng bào và bộ đội có quan hệ tốt.
Chúng tôi ở lại nhà ông trưởng làng một lúc rồi đi sang các nhà khác. Khi xong hết vòng, thì cũng là lúc mọi người đến tề tựu đông đủ nơi nhà ma để cúng Giàng cầu cho mọi người tai qua nạn khỏi và tiễn đưa người xấu số về thế giới thần linh\.
Người chết được bỏ vào phần mộ gia tộc. Thông thường đó là một cây cổ thụ bị chặt đẽo thành một cái hòm thật lớn, chôn nửa chừng, phầnửa còn trồi lên trên được đậy nắp kín, nằm dưới mái nhà con con không có tường vách để tránh mưa tránh nắng mà thôi\. Những người trong gia tộc thường được chôn chung trong một hòm. Cũng may là sự chết :Dc không xảy ra thường xuyên trong một gia tộc, chứ như thời chiến tranh, không biết họ sẽ phải làm gì\.
Dân làng Ea Blang cũng cùng có mặt cúng Giàng với dân làng Tung Breng. Hình như họ đã chuẩn bị trước nên làng Ea Blang đã nấu rất nhiều cơm nếp trong ống nứa và thịt trâu cũng được nấu với rau cỏ. Mọi người uống rượu và ăn uống qua loa, ông trưởng làng Ea Blang mời bộ đội và mọi người ba ngày nữa tới uống rượu tại làng ông, nhấn mạnh là làng ông có những hai cái đầu trâu do bộ đội cho\.
Mọi người cười vui vẻ, không có vẻ ghen ghét gì, vì làng Tung Breng chỉ có một cái đầu trâu để cúng Giàng. Ba ngày nữa thì đã hết hạn cấm ăn rồi, nên thời gian tiệc tùng bên làng Ea Blang thật đúng lúc, mọi người sẽ được ăn uống thả giàn. Tôi cáo lỗi với làng Ea Blang là tôi không thể tham dự được vì tôi phải về dạy khóa huấn luyện giáo viên. Ông trưởng làng Ea Blang có vẻ buồn, tôi nói:
-- Tháng tới tôi trở lại vui với làng Tung Breng, tôi sẽ sang làng Ea Blang vui với dân làng một hai hôm mà\. Không chừng chúng ta lại bắn thêm một con trâu, hay một con nai, hay một con heo rừng thì tha hồ ăn uống chung vui với mọi người\.
-- Tốt tốt, thầy giáo phải giữ lời đó!
Tôi đưa chú Dũng và năm chú bộ đội về căn cứ\. Họ cười nói vui vẻ ra phết\. Đưa họ ra tới bià làng, thì chú Dũng quay lại bảo tôi:
-- Thôi cậu trở lại chơi với dân làng đi, bọn này chưa say mà, ba ghè rượu này, mai căn cứ tha hồ say, cậu ghé lại chơi trước khi về huyện đó!
-- Được chú, mai cháu ghé lại!
Tôi trở lại chơi với dân hai làng một lát nữa, rồi kiếu nói rằng tôi hơi mệt và mai tôi phải trở về huyện sớm, dân làng Ea Blang mỗi người đưa cho tôi vài ống cơm nếp nói:
-- Để thầy giáo đi đường ăn.
-- Để dân làng ăn cho vui đi\.
-- Còn nhiều mà, thầy giáo không nhận, chúng tôi buồn đó\.
Tôi đành nhận hết tính ra cũng khoảng ba mươi ống, một mình tôi ăn cũng cả tuần cũng chưa hết.
-- Cám ơn đồng bào nhé. Cơm đồng bào cho tôi ăn đủ hai tuần huấn luyện giáo viên đó!
Mọi người cười sung sướng. Tôi mừng là đủ lương thực cung cấp cho năm người bạn mới còn đang ẩn núp trong rừng lồ ô kia\. Nhưng hôm nay tôi không thể tới được, phải chờ sáng mai kia, chứ không thì lộ hết. Không lẽ tôi kiếu mệt rồi lại đi liền, khi về lại không còn cơm ống. Ngày mai trước khi sang căn cứ bộ đội để về huyện tôi đem cho các bạn ấy thì cũng chẳng muộn và lại an toàn. Hơn nữa cả ngày đi, chạy ngược xuôi, cũng làm tôi uể oải rồi\.
Tôi đưa cơm ống về nhà, thầy Dũng mệt cáo bệnh không ra nhà mả được đã ngủ tự lúc nào rồi\. Tôi để cho thầy ít ống cơm ống còn bao nhiêu tôi lấy áo mưa cuốn gọn vào rồi để cạnh ba lô\.
Xong đâu đấy, tôi lấy khăn tắm và quần áo xuống suối tắm trước khi về ngủ để sáng mai còn phải đi sớm cho kịp giờ ghé lại rừng lồ ô, sang căn cứ bộ đội và về huyện. Đêm nay chắc tôi sẽ ngủ như chết cho mà xem.
(Còn tiếp)
Nguyên Đỗ
|