Chương 23
Ngoài Nhạn Môn Quan lại thấy A Châu
Trong khi xuất kỳ bắt ý, Ðại Hán tát trúng được chiêu đầu.
Từ chiêu thứ hai Ðại Hán đánh không trúng, cả hai bên đánh đỡ đều dùng đòn hờ.
Thật là những đòn hiếm thấy trong những tay cao thủ vào loại thượng thừa.
Ðại Hán xử đủ mười hai chiêu.
Kiều Phong đang bị trọng thương và vẫn biến đổi thế thủ rất thần tốc, nhận huyệt rất đúng chống cự được.
Ðại Hán đột nhiên thu chưởng về nhảy lùi lại nói:
- Ta không ngờ ngươi ngu xuẩn đến thế. Biết vậy ta chẳng thèm cứu ngươi nữa.
Kiều Phong nói:
- Kiều mỗ xin kính cẩn nghe lời giáo huấn của ân công.
Ðại Hán mắng:
- Ngươi thật là con lừa! Ðã luyện được thành bản lĩnh thiên hạ vô địch, sao còn vì một con nhóc ẻo lả kia thí mạng? Thị đã không thân thích lại không ơn nghĩa gì với ngươi, mà tài thị đã chẳng bằng ai, sắc thị nào phải hoa nhường nguyệt thẹn cho cam. Trong thiên hạ sao lại có kẻ điên rồ như ngươi.
Kiều Phong thở dài nói:
- Lời giáo huấn của ân công thật là đích đáng! Kiều Phong này đem cái thân hữu dụng vào những việc vô ích, không xứng đáng chút nào. Chỉ vì một lúc quá bồng bột nóng giận, hành động điên rồ không kịp suy xét đến hậu quả.
Ðại Hán ngửa mặt lên trời cười một tràng dài.
Kiều Phong nghe tiếng cười có ngụ ý thê lương không khỏi ngạc nhiên.
Thốt nhiên Ðại Hán đứng phát dậy, nhảy ra ngoài một trượng, lại bay người đi một cái đã biến vào sau tảng đá lớn che khuất đi.
Kiều Phong gọi với theo:
- Ân công! Ân công!
Chỉ nghe thấy tiếng Ðại Hán nhảy luôn mấy cái nữa. Rồi tiếng chân mỗi lúc một xa.
Kiều Phong toan bước đi nhưng người lảo đảo muốn ngả phải va vào vách núi. Ông định thần quay gót trở lại quả nhiên thấy vách núi có một sơn động. Ông vừa vịn vách núi vừa từ từ tiến lên động. Ông thấy trên mặt đất có vô số thịt nướng, cơm chín, trái cây cùng cá khô để làm lương thực. Tuyệt nhất là còn có một bình rượu lớn.
Kiều Phong mở hũ rượu ra một mùi hương ngào ngạt xông lên mũi. Ông thò tay vào hũ vốc rượu lên uống, vừa ngon vừa ngọt, thật là một thứ rượu thượng hạng. Trong lòng cảm kích vô cùng ông nghĩ thầm:
- Không ngờ vị ân công này lại chu đáo đến thế, ta mà ưa rượu nên để cho một hũ. Có điều đường núi hiểm trở khó đi mà đeo hủ rượu lớn nầy đến đây chỉ thật phí nhiều hơi sức quá!
Thuốc dầu của Ðại Hán rất là linh nghiệm.
Kiều Phong rịt vài lát đã cầm máu ngay không chảy ra nữa, Ông nhờ được nội công cực kỳ thâm hậu nên tuy bị thương nặng như thế mà phục hồi rất mau.
Kiều Phong ở trong động được sáu bảy ngày thì ba vết thương đã lành mạnh khá nhiều.
Trong sáu bảy ngày này, lúc nào ông cũng lo nghĩ đến hai điều: Kẻ nào ám hại mình? Ân nhân cứu mạng cho mình là ai? Cả hai người này đều bản lĩnh nghiêng trời, xem ra không kém gì mình.
Tính ra những tay cự phách trong võ lâm như thế phỏng được mấy người? Ông nhẩm lại những tay võ nghệ tuyệt luân và suy nghĩ mãi chưa thấy ai bản lãnh được đến mức này. Cừu nhân là ai không đoán được đã đành, còn ân nhân cùng mình đấu đã ngoài hai chiêu thức phải cố nghĩ ra thuộc môn phái nào nhưng những chiêu thức của ân nhân toàn là những ngón bình thường không có chi kỳ mà chẳng khác gì những chiêu thức trong "Thái tổ trường quyền" mà mình đã xử dụng trong Tự Hiền Trang. Nó không bộc lộ một chút gốc gác nào về bản lĩnh người ra chiêu.
Kiều Phong vốn tính tình hào sảng nên hai điều kiện cốt yếu đó không đoán ra được, rồi cũng bỏ ngay không để tâm đến nữa.
Hũ rượu lớn Kiều Phong chỉ uống được hai ngày là cạn sạch. Ông nún nán ở trong động đến ngày thứ mười lăm thì những vết thương mười phần đã khỏi được bảy tám. Người khỏe lên lại càng thèm rượu, không thể nhịn được, liệu chừng trèo núi vượt khe không có điều gì đáng ngại, ông liền đi ra khỏi sơn động, lặn lội qua những khu rừng núi hiểm trở để lại len lỏi vào đám giang hồ.
Kiều Phong hồi tưởng lại: A Châu đã rơi vào tay họ nếu chết thì nàng đã chết rồi, dù nàng còn sống mình cũng bất tất phải quan tâm đến nữa. Việc đầu tiên bây giờ là phải điều tra xem mình là giống người nào? Gia nương cùng sư phụ đều đã qua đời, gốc gác mình khó lòng tìm được người để hỏi cho biết rõ. Chỉ còn cách ra ngoài ải Nhạn Môn Quan xem bài di văn ở trên vách núi.
Kiều Phong tính toán đâu đấy rồi, trông về hướng Tây Bắc mà đi. Ðến một thị trấn việc đầu tiên là ông tìm vào hàng rượu để uống vài chục bát.
Kiều Phong uống một bữa rượu, trong túi có mấy lạng bạc vụn chỉ đủ trả tiền rượu trong một ngày là hết sạch.
Thời bấy giờ giang san nhà Ðại Tống là đất Trung Nguyên, chia ra làm mười lăm lô. Thủ đô ở Ðại Lương, gọi phủ Khai Phong là Ðông Kinh, Lạc Dương là Tây Kinh thuộc Hà Nam phủ Tống Châu là Nam Kinh, Ðại danh phủ là Bắc Kinh, thế là bốn kinh.
Kiều Phong đi đến Như Châu thuộc lộ Tây Kinh.
Hôm ấy tại Lương Huyện, bên mình hết sạch tiền, ông phải chờ đến đêm liền vào huyện nha, ăn trộm mấy chục lạng bạc trong công khố. Thế là cao lương mỹ tửu cuộc hành trình của ông đều do công do nhà Ðại Tống phải đài thọ.
Một hôm Kiều Phong đi đến Ðại Châu thuộc lộ Hà Ðông , ải Nhạn Vô Quan ở trên núi Nhạn Môn cách Ðại Châu ba mươi dặm về phía Bắc. Hồi Kiều Phong còn là hiệp khách trong đám giang hồ, đã từng qua đây. Nhưng khi đó vì có việc gấp, nên chỉ đi qua chứ không để ý. Ông đến Ðại Châu lúc đầu giờ Ngọ vào thị trấn uống hơi mười bát rượu và ăn một bữa thật no xong ra khỏi thành đi về hướng Bắc. Ông đi rất mau, ba chục dặm đường chỉ mất độ nữa giờ đã tới nơi.
Kiều Phong trèo lên núi thấy hai mặt Ðông Tây, đều là hai rặng núi bích lập, giữa có một lối đi quanh co gập ghềnh, quả là một nơi rất hiểm trở.
Ông nghĩ bụng:
- Chim nhạn vào phương Nam tránh rét lúc về Bắc không thể vượt qua được những ngọn núi cao ngất trời đều phải bay len lỏi vào lối đi giữa hai rặng núi để bay ra, nên đây mới gọi là Nhạn Môn. Bữa nay mình ở phương Nam đến đây, giả tỷ mà những tự tích khắc trên núi đã chứng minh mình là giống Khất Ðan, thì Kiều mỗ sau khi ra khỏi ải Nhạn Môn Quan, sẽ vĩnh viễn thành người ải Bắc, không bao giờ trở lại cửa ải này nữa. Thật không bằng giống chim nhạn mỗi năm được một chuyến tự do đi lại cửa quan này vào phương Nam đến hết rét trở lại về Bắc .
Nghĩ tới đó ông không khỏi bùi ngùi trong dạ .
Nhạn Môn Quan là một trọng trấn biên cương về mặt Bắc nước Ðại Tống.
Hơn bốn mươi ải đất Sơn Tây thì Nhạn Môn hùng vĩ và kiên cố nhất.
Ra khỏi vài chục dặm là thuộc địa phận nước Liêu, cửa ải này có đặt trọng binh để trấn giữ bờ cõi.
Kiều Phong tính rằng nếu mình theo cửa ải mà đi tất bị quan quân tra hỏi.
Ông liền đi vòng đỉnh núi cao ở mé Tây quan ải.
Lên đến đỉnh núi cao nhất, Kiều Phong phóng tầm mắt nhìn ra bốn phía thấy mé Ðông có núi Ngũ Ðài, phương Tây có dãy Ninh Vũ, phía Nam là những ngọn Chinh Dương, Thạch Cổ, mặt Bắc là dãy thuộc Sóc Châu, dài dằng dặc không biết đến đâu là cùng. Phong cảnh núi rừng lạnh lẽo tiêu điều.
Kiều Phong nhớ lại hồi trước mình qua ải Nhạn Môn Quan rồi có nghe người bạn đồng hành kể chuyện rằng: Ðại Tướng Lý Mục Triệu về thời Trấn Quốc và Ðại Tướng Thương Ðô triều Hán đã trấn thủ ở Nhạn Môn để chống giữ quân Hung Nô vào xâm lấn Trung Nguyên. Nếu quả là giòng dõi Hung Nô Khất Ðan thì ra hơn nghìn năm trước đây, những vụ vào xâm lấn Trung Nguyên đều là tổ tiên mình cả.
Ông lại ngoảnh về phía Bắc để xem địa thế rồi lẩm bẩm: Ngày trước Uông Bang Chúa cùng bọn Triệu Tiền Tôn phục kích bọn võ sĩ Khất Ðan ngoài ải Nhạn Môn Quan, tất chọn địa điểm lợi thế trên sườn núi. Quanh đây hơn mười dặm, địa thế không hay bằng chỗ sườn núi ở góc Tây Bắc, tất bọn họ mai phục ở đó. Ông liền chạy xuống để sang sườn núi bên kia.
Thốt nhiên Kiều Phong cảm thấy một nỗi đau thương phiền não không biết từ đâu đưa đến. Ông chợt để ý nhìn chỗ sườn núi nầy, thấy một khối đá rất lớn, sực nhớ đến lời Trí Quang đại sư bữa trước kể lại quần hùng phục ở phía sau tảng đá lớn để tiện trông ra ngoài liệng ám khí, hẳn là tảng đá này.
Cách tảng đá mấy bước là đến bờ vực thẳm. Lòng vực mây mù phong tỏa trông không rõ đáy.
Kiều Phong lẩm bẩm:
- Nếu lời tường thuật của Trí Quang đại sư là đúng sự thì sau khi má má ta bị bọn họ đánh chết, gia gia ta ở chỗ này phải nhảy xuống vực thẳm tự vận. Gia gia không nỡ để ta đây phải chết theo, liền tung người ta rớt xuống trên mình Uông Bang Chúa. Gia gia ta đã viết những gì vào vách đá?
Kiều Phong quay đầu lại nhìn vách núi mé hữu, bỗng thấy một chỗ thiên nhiên phẳng phiu nhẵn nhụi. Nhưng chính giữa tấm đá phẳng phiu trên vách núi nầy đã có vết những nhát búa chém vào trông rất rõ. Phải chăng có người đã cố ý bạt những tự tích của người võ sĩ Khất Ðan đi.
Kiều Phong đứng thộn mặt nhìn vách đá, bất giác lửa giận bốc lên bùng bùng, những muốn vung dao chém chết một mẻ nhưng thốt nhiên nhớ lại một điều: Lúc ta rời khỏi Cái Bang đã từng bẻ lưỡi cương đao của Ðơn Chính, tuyên thệ rằng: "Dù tôi là người Hán hay là người Khất Ðan cũng vậy, quyết không hạ sát một người nào". Thế mà ở Tự Hiền Trang mình đã trót giết bao nhiêu người Há? Bây giờ lại còn giết người nữa há chẳng trái với lời thề ru?
Than ôi! Sự việc xảy ra như thế, mình không giết người, người cũng chẳng tha mình. Nếu bó tay chịu chết mặc người băm vằm, há phải là hành vi của đại trượng phu?
Kiều Phong rong ruỗi ngàn dặm chỉ vì mục đích muốn điều tra cho rõ thân thế mình, rút cục chẳng được việc gì.
Ông càng nghĩ càng căm giận, nóng nẩy quát to lên:
- Ta không phải là người Hán! Ta không phải là người Hán! Ta là giống rợ Hồ Khất Ðan! Ta là giống rợ Hồ Khất Ðan!
Rồi giơ tay lên đập mạnh vào vách núi thì đồng thời từ bốn phía hang núi có tiếng vọng lại "Ta không phải người Hán! người Hán! Ta là người rợ Hồ Khất Ðan! ... rợ Hồ Khất Ðan!..." .
Ngoài tiếng vọng vách núi cao ngất vẫn trơ trơ!
Nỗi uất hận của Kiều Phong không bề giải tỏ. Thương thế ông vừa khỏi, nội lực sung mãn, ông giơ tay lên đập vách đá mỗi lúc một mạnh tựa hồ như đem nỗi uất ức hơn tháng nay trút lên vách đá cho hả giận.
Trong lúc Kiều Phong đang đập tay, bất thình lình có tiếng trong trẻo của một cô gái vang lên ở phía sau lưng:
- Kiều đại gia ơi! Ðại gia đập nữa đi! Không chừng trái này sẽ bị đại gia làm đổ xuống!
|