|
#91
|
||||
|
||||
|
PHẦN 6 - CHIẾC GHẾ BẠC CHƯƠNG 13 Không có vua Tất cả cảm thấy họ nhận được một cái gì đó từ cái mà Lông Vịt gọi là “nghỉ xả hơi”. Trước đấy thanh xà đã khóa cửa và bảo bọn người hầu không được quấy rầy mụ cho nên không có nguy cơ bị can thiệp từ bên ngoài, ít nhất là trong lúc này. Tất nhiên việc đầu tiêu của họ là chăm sóc cái chân bỏng của Puddleglum. Một vài chiếc áo sơ mi sạch của hoàng tử được xé ra thành từng dải, cùng với một chút bơ và dầu trộn sa lát còn lại bên trên bàn ăn làm thành một loại thuốc trị bỏng. Khi cái chân bị bỏng đã tạm ổn, cả bọn ngồi xuống nghỉ ngơi một chút và thảo luận kế hoạch trốn thoát khỏi Vương quốc Dưới Lòng Đất. Rilian giải thích rằng có rất nhiều cửa ngõ dẫn lên thế giới bên trên, anh đã đi qua hầu hết các lối ra đó ít nhất cũng một hai lần. Nhưng anh chưa từng ra ngoài một mình, bao giờ cũng có thanh xà đi cùng. Và bao giờ anh cũng đến những nơi này bằng cách đi trên con tàu qua biển Bóng Đêm. Người đất sẽ nói sao khi anh đi ra cảng không có thanh xà đi cùng mà lại với ba người lạ mặt, lại còn ra lệnh chuẩn bị một con tàu. Phải làm sao để không gây nên một nghi ngờ nào? Rất có thể người đất sẽ đặt ra những câu hỏi khó mà trả lời được. Nhưng có một lối ra mới, một lối đi chuẩn bị cho cuộc xâm lăng vào thế giới bên trên, ở ngay bên cạnh bờ biển và cách đây vài dặm. Hoàng tử biết rằng nó sắp được hoàn thành, chỉ còn một lớp đất vài chục phân ngăn cách lối đi ấy với làn không khí lấp lánh ánh mặt trời bên trên. Cũng có thể là con đường đó đã hoàn thành. Có lẽ thanh xà quay trở về để bảo với anh điều đó và để bắt đầu cuộc tấn công. Còn nếu không phải như thế thì họ cũng có thể tự đào nốt để thoát ra trong một vài giờ đồng hồ nữa – nếu như họ may mắn không bị phát hiện và nếu như con đường đang đào không bị canh gác. Đấy mới là vấn đề! - Nếu mọi người hỏi ý kiến tôi… – Puddleglum vừa bắt đầu thì Lông Vịt đã cắt ngang: - Này, có tiếng động gì thế nhỉ? - Tôi cũng đang thắc mắc đây! – Jill nói. Thật ra tất cả bọn họ đều nghe thấy tiếng động đó nhưng nó bắt đầu như thế nào và tăng dần lên ra sao thì họ không biết. Bỏi vì lúc đầu nó chỉ là một tiếng động mơ hồ như một cơn gió nhẹ hoặc một vật gì đó chuyển động ở rất xa. Sau đó nó lớn dần lên thành tiếng rì rầm như của biển rồi lại thành tiếng ầm ầm, ào ào. Bây giờ thì hình như nó là một tiếng nói, rồi lại chuyển thành tiếng động ì ì ào ào không rõ là cái gì nữa. - Nhân danh sư tử, – hoàng tử Rilian nói, – có vẻ như hòn đảo câm lặng này cuối cùng cũng đã tìm được cái lưỡi của nó. – Anh đứng dậy, bước đến bên cửa sổ, kéo màn nhìn ra. Những người còn lại cũng đến gần cửa sổ nhìn ra ngoài. Cái đầu tiên họ nhận ra là một quầng lửa đỏ rất lớn. Ánh sáng phản chiếu của nó làm thành một mảng đỏ trên mái vòm rộng mênh mông của Vương quốc Dưới Lòng Đất, cao gần một ngàn thước trên đầu họ, nhờ đó họ có thể thấy cái trần đá có lẽ đã được giấu kín trong bóng tối kể từ khi thế giới này hình thành. Quầng đỏ này đến từ đầu kia thành phố vì thế nhiều tòa nhà, sừng sững và đe dọa, vươn cái bóng đen ngòm lên đối lập với nó. Quầng lửa quét ánh sáng của nó xuống những đường phố xung quanh tòa lâu đài. Trên những đường phố này đang có một cái gì đó thật kì lạ đang diễn ra. Những đám đông người đất im lặng, gần như kết thành một khối đã biến mất. Thay vào đó là những bóng người lao đi thành từng tốp gồm một, hoặc hai, hoặc ba người. Họ hành động giống như những kẻ không muốn ai nhìn thấy: lẩn khuất sau những cái bóng của các trụ tường hay cổng ra vào, sau đó lại lao ra chỗ trống để tìm chỗ nấp mới. Nhưng điều kì lạ nhất đối với bất kì ai biết người đất vốn câm lặng suốt đời này lại là tiếng ồn. Tiếng la hét huyên náo vang lên từ khắp mọi hướng. Nhưng từ phía cảng vọng lên tiếng gầm trầm trầm mỗi lúc một lớn hơn gần như làm rung chuyển cả thành phố. - Có cái gì xảy ra với người đất vậy? – Lông Vịt hỏi. – Có phải họ đang la hét không? - Điều này thật khó tin. – Hoàng tử nói. – Tôi chưa bao giờ nghe thấy một trong những tên quỷ lùn đó nói một câu trong suốt 10 năm mệt mỏi vì bị giam cầm ở đây. Có một cái gì quái quỷ ở đây, tôi nghĩ thế. - Còn đám cháy đằng kia? – Jill hỏi. – Điều này có ý nghĩa gì? - Nếu cháu hỏi tôi, – Puddleglum nói, – tôi dám nói rằng đó là một ngọn lửa ở tâm của trái đất nổ ra để bắt đầu một trận núi lửa mới. Nếu chúng ta đang ở giữa một núi lửa thì tôi cũng chẳng lấy gì làm ngạc nhiên đâu. - Nhìn con tàu kia! – Lông Vịt rối rít kêu lên. – Sao nó bơi nhanh thế? Chẳng có ai chèo thuyền cả. - Coi kìa! Coi kìa! – Hoàng tử kêu lên. – Nó vượt qua cảng nó ở trên phố rồi. Tất cả các con tàu đều đang bơi về phía thành phố. Trời ơi biển đang dâng cao. Lũ sẽ dâng đến chỗ chúng ta. Sáng danh Aslan, tòa lâu đài này sẽ được đẩy lên cao hơn. Nhưng nước dâng lên nhanh quá sức tưởng tượng. - Ôi, điều gì có thể xảy ra đây? – Jill kêu lên. – Lửa, nước và tất cả những người đất đang lẩn quất trên đường phố. - Để tối nói cho quý vị biết điều này có nghĩa gì. – Puddleglum nói. – Xà tinh đã hóa phép sao cho vào lúc mụ tiêu đời thì cả vương quốc của mụ cũng sẽ tan tành. Mụ ta thuộc về hạng người sẽ không màng đến cái chết của mình nếu biết rằng kẻ giết mụ rồi cũng sẽ chịu thiêu cháy hoặc chôn sống hoặc bị chết đuối ngay sau đó. - Có phải thế không ông bạn Puddleglum? – Hoàng tử nói. – Khi lưỡi kiếm của chúng ta chặt đứt đầu thanh xà thì chúng cũng hủy diệt tất cả các phép thuật của mụ và mảnh đất này tan ra thành những mảnh nhỏ. Chúng ta đang chứng kiến ngày cuối cùng của Vương quốc Bóng Tối? - Đúng thế thưa điện hạ. – Puddleglum nói. – Trừ khi nó cũng xẳy ra cùng với ngày tận thế. - Nhưng chúng ta sẽ ngồi ở đây… và chờ… chết hay sao? – Jill hỏi. - Không, theo ý tôi, – hoàng tử đáp, – phải cứu ngựa của tôi, con Than Đá và ngựa của thanh xà, con Bông Tuyết (một con vật cao quý và giá trị hơn hẳn chủ nó) đang ở trong chuồng ngựa ngoài sân. Sau đó chúng ta sẽ xoay xở để thoát lên mảnh đất trên kia và hãy cầu nguyện là chúng ta tìm được lối ra. Hai con ngựa có thể mang được cả bốn người trên lưng và rất có thể chúng ta sẽ vượt qua được dòng nước lũ. - Điện hạ không mặc áo giáp ư? – Puddleglum hỏi. – Tôi không thích vẻ mặt của bọn người kia lắm. Bác ta chỉ xuống đường phố và tất cả cùng nhìn xuống. Hàng chục hàng trăm sinh vật (bây giờ khi đến gần hơn, trông họ rõ ràng là người đất) đang tiến đên từ phía cảng. Nhưng bọn họ không di chuyển như một đám đông không có vũ trang. Họ có dáng điệu của những người lính hiện đại trong một trận tấn công, thoắt ẩn thoắt hiện với chiến lược mai phục vì không muốn bị nhìn thấy từ cửa sổ lâu đài. - Tôi không dám nhìn vào bên trong cái áo giáp ấy nữa. – Hoàng tử nói. – Bao năm qua tôi ở trong nó như ở trong một cái nhà tù di động, nó thấm đẫm yêu thuật và sự nô lệ. Nhưng tôi sẽ dùng tấm khiên. Rilian rời phòng và mau chóng quy trở lại, có một cái gì rất mới mẻ trong đôi mắt anh. - Nhìn đây các bạn. – Anh nói và giơ cao khiên về phía họ. – Một giờ trước nó còn có màu đen và không có hình trang trí, còn bây giờ thì nhìn đây! Tấm khiên sáng trắng như bạc và trên đó đỏ hơn cả máu hoặc trái anh đào là hình Aslan. - Không còn nghi ngờ gì nữa, – hoàng tử nói, – điều này có nghĩa là Aslan là vị thần bảo hộ của chúng ta, bất kể là bốn chúng ta còn sống hay đã chết. Bốn người như một. Bây giờ tất cả chúng ta hãy quỳ xuống hôn lên hình ông rồi tay người nọ hãy đặt lên tay người kia như thề sinh tử có nhau như những người bạn chân chính. Sau đó chúng ta sẽ xuống phố và đón nhận cuộc phiêu lưu đang chờ đợi chúng ta. Họ làm như hoàng tử nói. Nhưng khi Lông Vịt đặt tay lên trên tay Jill, nó nói: - Cho một tình bạn lâu dài, Jill ạ. Xin lỗi vì có lúc tớ đã hèn nhát và khó chịu. Tớ hy vọng cậu sẽ về đến nhà an toàn. Còn Jill thì nói: - Cho một tình bạn mãi mãi, Eustace. Tớ… tớ cũng cảm thấy có lỗi vì có lúc tớ chỉ là một con heo xấu tính. Và như vậy đây là lần đầu tiên chúng dùng đến tên thánh của nhau, bởi vì người ta không còn làm như thế ở trường học nữa. Hoàng tử mở cửa, tất cả bước xuống cầu thang: Ba người với thanh kiếm tuốt trần còn Jill thì với con dao rút ra khỏi vỏ. Bọn người hầu đã biến mất và gian phòng lớn ở chân cầu thang hoàn toàn trống trải. Tiếng động bên ngoài lâu đài không dễ vọng đến đây như khi họ ở gian phòng trên lầu. Nơi này im lặng như cõi chết và hoàn toàn vắng vẻ. Khi họ rẽ vào một góc dẫn đến một đại sảnh ở tầng trệt họ gặp người đất đầu tiên – một sinh vật trắng trẻo mập ú với một khuôn mặt hao hao như heo đang ăn lấy ăn để đồ ăn thừa trên bàn. Người này kêu lên một tiếng (tiếng kêu cũng giống tiếng eng éc của một con heo hoảng sợ) rồi chui tọt xuống dưới một băng ghế, thò cái đuôi dài ra ngoài làm cho Puddleglum suýt chút nữa thì giẩm phải. Sau đó nó phóng vụt qua cái cửa phía đối diện, nhanh đến nỗi loáng một cái họ đã không thấy nó đâu cả. Từ đại sảnh họ đi ra sân. Jill là đứa mùa hè vừa rồi đã được học cưỡi ngựa nên nhận ra ngay cái mùi mồ hôi ngựa vừa thân quen, vừa hồn hậu thật dễ chịu và đấy là một điều khá đặc biệt ở một nơi như Vương quốc Bóng Tối. Đúng lúc đó Eustace kêu lên: - Trời ơi! Nhìn kìa! Một quả đạn pháo bắn lên từ đâu đó bên ngoài lâu đài, vỡ ra thành vô số những ngôi sao nhỏ màu xanh. - Pháo sáng! – Jill hoang mang thốt lên. - Đúng thế, – Eustace nói, – nhưng cậu không thể cho là người đất bắn pháo sáng ăn mừng. Đó có thể là pháo hiệu. - Điều đó có nghĩa là chẳng có gì tốt lành đối với chúng ta, tôi nghĩ như thế! – Puddleglum nói. - Các bạn ạ, – hoàng tử lên tiếng, – khi ai đó tham gia vào cuộc phiêu lưu như thế này, người đó phải đoạn tuyệt với hy vọng và nỗi sợ hãi. Nếu không thì cái chết hoặc sự giải thoát sẽ đến quá trễ để cứu vớt danh dự hoặc sự đúng đắn của anh ta. Ôi, chào những người bạn thân quen của ta! – Vừa nói anh vừa mở cửa chuồng ngựa. – Chào những người anh em! Sẵn sàng chưa Than Đá? Nhẹ nhàng thôi Bông Tuyết! Bọn ngươi không bị lãng quên đâu. Hai con ngựa này đang hoảng sợ vì luồng ánh sáng bất thần và những tiếng động lạ. Jill là người hết sức sợ hãi khi phải đi qua hết cái hang đen tối này đến cái hang tối đen khác thì giờ đây lại không hề sợ hãi trước những con vật đang giậm bốn vó và hí vang. Nó cùng hoàng tử đóng yên cương cho hai con vật trong vòng vài phút. Ôi chao, trông hai con ngựa mới hiên ngang và đẹp đẽ làm sao khi chúng đi ngang qua sân, đầu hất cao. Jill nhảy lên lưng con Bông Tuyết và Puddleglum ngồi sau lưng nó. Eustace cưỡi chung với hoàng tử trên lưng con Than Đá. Sau đó với tiếng móng ngựa nên giòn giã, họ phóng ra khỏi cổng chính lâu đài đi ra phố. - Không có nhiều nguy cơ bị chết cháy. Đó là điều lạc quan. – Puddleglum nhận xét, chỉ về phía tay phải. Ở đấy, cách họ chừng một trăm thước, nước biển dâng cao đến lưng chừng các bức tường nhà. - Kiên cường lên! Phấn chấn lên! – Hoàng tử nói. – Con đường đang đi xuống thấp. Nước chỉ đang cao lưng chừng những ngọn đồi cao nhất trong thành phố. Nó sẽ đến gần hơn trong nửa giờ đầu tiên và sẽ đến gần hơn trong vòng nửa giờ sau. Nỗi lo ngại của tôi còn hơn thế. Nói đoạn anh cầm kiếm chỉ vào một người đất cao lớn có những răng nanh như heo rừng, lúp xúp chạy theo sau người này là sáu người khác với những hình thù kỳ quái. Họ vừa mới lao ra từ dãy phố bên kia và chạy đến nấp dưới bóng các ngôi nhà, nơi không ai thấy họ. Hoàng tử dẫn đầu, bao giờ cũng nhằm hướng quầng lửa đỏ đi tới nhưng hơi chếch về bên trái. Kế hoạch của anh là đi vòng quanh đống lửa (nếu đó quả là lửa) đi lên cao hơn với hy vọng là họ có thể tìm đến chỗ con đường mới đào. Không giống như ba con người kia. Anh tỏ ra rất hào hứng. Anh huýt sáo suốt đường đi và lẩm nhẩm hát những khúc hát trong một bài hát cổ về hoàng tử Corin – Bàn tay thép ở Archenland. Sự thật là, anh quá vui với việc được giải phóng khỏi pháp thuật đen tối đã ám ảnh mình trong suốt 10 năm qua cho nên tất cả những nguy hiểm khác đối với anh chỉ là những cuộc phiêu lưu kì thú. Ba người còn lại thì cho rằng đây là một chuyến đi có một không hai. Phía sau họ là tiếng loảng xoảng của những con tàu mắc cạn và tiếng đổ ầm ầm của ngôi nhà. Trên đầu họ là một mảng rực rỡ đầy ánh sáng của cái gọi là bầu trời của Vương quốc Bóng Tối này. Trước mặt họ là quầng sáng kì bí, vào lúc này dường như không lớn hơn nữa. Cũng từ hướng đó vằng lại tiếng huyên náo ồn ào của một chuỗi những tiếng gào thét, chí chóe, tiếng huýt sáo, tiếng cười đùa, tiếng ré, tiếng kêu rống… pháo sáng, pháo hiệu đủ loại bay lên từ nhiều hướng trong không gian đen đặc. Không một ai đoán ra đó là cái gì. Họ đang ở gần một khu vực được thắp sáng: một phần bởi quầng lửa đỏ, một phần bởi những bó đuốc của bọn người đất. Nhưng cũng có nhiều nơi những luồng sáng này không chiếu tới được và ở đấy là một màn đêm che phủ. Đi vào đi ra những nơi này là bóng những người đất lao vào hay trượt đi, bao giờ đôi mắt cũng lấm lét liếc nhìn những người khách lạ, bao giờ cũng cố không để bốn nhà phiêu lưu của chúng ta vượt ra khỏi tâm mắt. Thôi thì có đủ những khuôn mặt to nhỏ, những đôi mắt thô lố giống mắt cá, những cặp mắt ti hí giống mắt gấu. Họ khoác trên người nhiều bộ lông, mềm thì như lông chim, cứng thì như lông nhím, ngoài ra còn sừng, nanh, mũi, những cái mũi trông như ruột mèo và những cái cằm quá dài đến nỗi trông như những bộ râu. Thỉnh thoảng lại có một tốp người rất đông từ ở đâu ùn ùn kéo lại. Thấy thế, hoàng tử múa kiếm lên làn thành một trân mưa kiếm. Đám sinh vật ấy với đủ loại tiếng kêu, gào, la ó, ủn ỉn hoặc cục cục chạy táo tác trong những chỗ tối. Con đường họ chọn lên cao dần như vậy tránh được dòng nước đang dềnh lên trong khi cả thành phố đã trở thành một hòn đảo nhưng họ lại phải đối mặt với một vấn đề còn nghiệm trọng hơn. Bây giờ họ đã tiến đến gần quầng sáng đỏ và gần như còn ở ngang hàng với nó, mặc dầu họ cũng không còn xác định rõ nó là cái gì nữa. Nhưng nhờ ánh sáng của nó, họ có thể thấy rõ kẻ thù hơn. Vài trăm – mà không- có lẽ đến vài ngàn người đất đang tiến về phía quầng sáng. Nhưng họ làm thế một cách hối hả và mỗi khi phải dừng lại, họ quay đầu đối mặt với đám du khách. - Nếu điện hạ hỏi tôi, – Puddleglum nói, – tôi sẽ nói rằng những người này chỉ muốn chặn đường tiến của chúng ta. - Tôi cũng nghĩ thế anh bạn Puddleglum ạ. – Hoàng tử nói. – Chúng ta không thể mở đường máu qua một đám đông như vậy. Các bạn hãy nghe đây! Chúng ta hãy phóng ngựa qua chỗ nước cạn ở gần bìa nhà đằng kia. Ngay khi tới được đấy, hai người ngồi sau hãy nhảy xuống núp vào bóng của nó. Tiểu thư đây và tôi sẽ phóng ngựa lên vài bước, Một số con quỷ này sẽ bám theo chúng ta, tôi không nghi ngờ điều đó đâu, bọn chúng đông đặc phía sau mà. Puddleglum, bác có cánh tay dài, nếu có thể được hãy tóm lấy một đứa, khi nó đi qua chỗ mai phục. Chúng ta có thể có được lời khai của nó về những chuyện đang diễn ra hoặc biết được chúng có âm mưu gì chống lại chúng ta. - Nhưng chớ để cho đồng bọn của họ lao đến chỗ chúng ta hòng giải thoát cho con tin, – Jill nói bằng giọng không kiên quyết lắm. - Vâng, thưa tiểu thư, – hoàng tử nói, – cô sẽ thấy chúng tôi chiến đấu đến hơi thở cuối cùng bảo vệ cho cô và sẽ cố để nhận được khen ngợi trước mặt sư tử. Bây giờ thì nào ông bạn Puddleglum tốt lành! Người bạn Puddleglum vùng đầm lầy lao vào trong bóng tối nhanh như một con mèo. Những người khác, trong một hai phút đáng sợ cũng đi theo. Rồi bất thình lình từ phía sau họ nổ ra một chuỗi những tiếng eng éc như heo bị chọc tiết, cùng với giọng quen thuộc của Puddleglum. - Chà chà, một cuộc đi săn may mắn đấy. – hoàng tử kêu lên, lập tức quay ngoắt con Than Đá lại và phóng đến hồi nhà. – này Eustace, cậu hãy giúp tôi giữ cương ngựa con Than Đá. Hoàng tử nhảy xuống ngựa, cả ba người chăm chú nhìn trong khi Puddleglum lôi tù binh của mình ra nơi ánh sáng. Rõ ràng đấy là một chú lùn giữ của tội nghiệp nhất, người chỉ cao một mẩu (chắc chưa được một thước). Người này có một cục tròn trên đỉnh đầu, nom như cái mào gà trống, đôi mắt ti hí màu hồng hồng, cái miệng và cái cằm vừa to vừa tròn đến nỗi khuôn mặt trông như mặt một con hà mã ngắn củn. Nếu không phải đang ở trong hoàn cảnh hiểm nghèo, hẳn mọi người sẽ cười phá lên khi thấy một khuôn mặt tức cười đến thế. - Này người đất kia, – hoàng tử nói, dáng người cao lớn cúi xuống người lùn, dí thanh gươm vào sát cổ tên tù binh, – nói ngay, như một người đất trung hậu và ngươi sẽ được trả tự do. Còn nếu ngươi bày đặt chơi trò gian lận ngươi sẽ chỉ là một cái xác không hồn. Này anh bạn Puddleglum, sao nó có thể nói được trong khi anh khóa mõm nó chặt như thế? - Nếu không làm thế nó sẽ quay ra cắn tôi. – Puddleglum đáp. – Giả sử tôi có đôi tay mềm yếu nhu nhược của con người (ngoại trừ đôi tay của điện hạ tôn kính) thì bây giờ nó đã đầm đìa máu rồi. Vâng, ngay cả một cư dân vùng đầm lầy cũng ghét bị nhai ngấu nghiến. - Thưa ông, – hoàng tử nối với người đất, – một lần cắn nữa là ông sẽ hồn lìa khỏi xác đấy. Puddleglum, bỏ mõm nó ra. - Eng éc, eng éc, – người đất quàng quạc kêu lên, – để tôi đi, để tôi đi. Không phải là tôi… Tôi không làm điều đó. - Không làm cái gì? – Puddleglum hỏi. - Bất cứ điều gì tôn ông nói tôi cũng đã làm. - Cho ta biết tên ngươi, – hoàng tử ra lệnh – và người đất các ngươi đang làm cái gì vậy? - Ôi làm ơn, thưa ngài… làm ơn, thưa các quý ông, quý bà, – người lùn nói giọng sợ sệt, – xin hãy hứa là không nói lại với nữ hoàng bất cứ điều gì tôi nói. - Nữ hoàng, như ngươi gọi, – hoàng tử nói giọng cứng rắn, – đã chết rồi. Chính tay ta đã giết chết. - Cái gì? – Người đất kêu lên, trong nỗi kinh ngạc tột độ, há to cái miệng tức cười làm cho nó ngoác ra một cách còn nực cười hơn. – Chết á? Phù thủy đã chết? Bởi bàn tay tôn ông? – Tên này thở ra một hơi dài vì nhẹ nhõm rồi nói thêm: – Như vậy tôn ông chính là bạn! Hoàng tử rút thanh kiếm lại một vài phân. Puddleglum để để cho tên tù binh ngồi dậy. Nó nhìn cả bốn người với đôi mắt đỏ, lấp lánh, vẫn còn ủn ỉn một hai tiếng và bắt đầu cầu nguyện.
__________________
|
|
#92
|
||||
|
||||
|
PHẦN 6 - CHIẾC GHẾ BẠC CHƯƠNG 14 Dưới đáy thế giới - Tên tôi là Golg. – Chú lùn giữ của nói. – Và tôi sẽ thưa lại với các tôn ông những gì mình biết. Khoảng một tiếng đồng hồ trước, tất cả chúng tôi đang làm việc của mình (lẽ ra tôi phải nói việc của mụ) một cách buồn bã, âm thầm như chúng tôi vẫn làm thế trong suốt bao nhiêu năm qua. Rồi bỗng nghe vang lên một tiếng loảng xoảng lớn rồi ầm ầm. Nghe thấy thế ai cũng bụng hỏi dạ: “sao vậy kìa, mình chưa hề nghe thấy một bài hát hoặc một điệu vũ hay một tiếng nổ trong một thời gian dài, tại sao lại có chuyện này?” Mọi người đều nghĩ hay là mình bị bùa phép. Sau đó ai cũng tự nhủ: Mình sẽ được ban phước lành nếu biết được vì sao lại phải mang trên lưng cái gánh nặng này, chả việc gì phải mang cái gánh nặng này lâu hơn nữa. Là thế đấy. Chúng tôi đồng loạt ném xuống đất tất cả những bao tải, gánh nặng và dụng cụ. Sau đó chúng tôi quay lại nhìn cái quầng lửa đỏ ở đằng kia. Mọi người buột miệng hỏi: “Cái gì thế kia?” Rồi lại tự trả lời: “Đó là một vết nứt hay một nhát rạch mỗi lúc một rách to ra để cho một luồng ánh sáng ấm áp, thân thiện từ một nơi nào sâu dưới chân ta hàng ngàn sải phóng lên.” - Trời đất ơi! – Eustace kêu lên. – Vẫn còn những mảng đất sâu hơn nữa hay sao? - Vâng, thư tôn ông. – Golg nói. – Đó là miền đất Hứa mà chúng tôi gọi là Bism. Còn nơi chúng ta đang đứng đây được chúng tôi gọi là Đất Nông. Nơi này quá gần mặt đất để có thể là nơi phù hợp với chúng tôi. Còn các vị, chắc các vị sống nơi bề mặt? Mọi người cũng thấy đấy, chúng tôi là những sinh vật khốn khổ bị phù thủy dùng yêu thuật bắt mang lên đây làm việc cho mụ. Nhưng chúng tôi đã quên tất cả chuyện đó, chỉ đến khi vết nứt rách ra và yêu thuật biến mất mới nhớ ra được. Suốt thời gian qua, chúng tôi đã không còn biết mình là ai hoặc mình thuộc về nơi nào nữa. Chúng tôi không thể làm bất cứ việc gì hoặc nghĩ ra bất cứ thứ gì ngoài những thứ mà mụ cài đặt vào đầu chúng tôi, mà đó thì toàn là những điều buồn não, sầu thảm. Hầu như tôi đã quên mất việc nói đùa, hát hò hoặc nhảy múa. Nhưng đúng lúc tiếng nổ bùng lên, vết nứt rộng ra và biển bắt đầu dềnh lên thì những điều đó lại quay về. Và tất nhiên tất cả chúng tôi đều muốn mau chóng chui qua vết nứt quay về chốn cũ. Các vị có thể thấy đằng kia người ta đang bắn đạn rốckét lên trời và đứng trồng cây chuối vì vui sướng. Tôi sẽ rất biết ơn quý vị nếu quý vị cho phép tôi tham gia với họ. - Tôi nghĩ tin này thật tuyệt vời. – Jill nói. – Tôi lấy làm sung sướng là chúng mình đã giải phóng cho tất cả những người đất này cũng như bản thân chúng ta khi chặt đứt đầu con mãng xà độc ác. Tôi cũng rất sung sướng khi thấy họ không phải là những sinh vật đáng sợ và không phải trải qua những đau khổ như hoàng tử. - Dường như tất cả mọi chuyện đều tốt Pole ạ. – Puddleglum nói với giọng cảnh giác. – Nhưng những người đất này, theo tôi, họ không có vẻ là đang chạy trốn. Trông giống một đội đằng đằng sát khí thì đúng hơn. Hãy nhìn thẳng vào mặt tôi đi ông bạn Golg và bảo với chúng tôi rằng các ông không chuẩn bị cho một trận đánh. - Tất nhiên là như thế, thưa ông. Ông biết đấy, chúng tôi không biết rằng phù thủy đã chết. Chúng tôi nghĩ mụ đang đứng quan sát từ trong lâu đài. Chúng tôi cố chuồn đi mà không bị phát hiện. Và rồi bốn người hiện lên trên lưng ngựa, kiếm kích sáng quắc. Tất nhiên ai cũng tự nhủ: “Có chuyện rồi.” bởi vì ai mà không biết tôn ông đây là người của phù thủy. Chúng tôi đã quyết định thà chịu chết chứ không chịu từ bỏ hy vọng về lại miếng đất Hứa tươi đẹp. - Tôi sẵn sàng chứng thực đây là một người đất rất trung hậu. Còn tôi, anh bạn Golg quý mến ạ, tôi cũng như các anh vậy bị bùa phép và sống một cuộc đời nô lệ. Bây giờ thì có một vấn đề khác quan trọng hơn: Anh có biết đường đi đến chỗ lối đi mới đào mà mụ phù thủy muốn quân đội chúng ta sẽ tấn công trên trần không? - Éc éc! – Golg kêu lên. – Có, tôi biết đó là một con đường kinh khủng. Tôi sẽ chỉ cho các vị biết nơi nó bắt đầu. Nhưng tôi xin nói trước không có điều gì trên đời này có thể ép tôi đi cùng quý vị đi trên con đường ấy. Tôi thà chết còn hơn. - Vì sao vậy? – Lông Vịt sốt ruột hỏi. – Chẳng lẽ chuyện đó lại đáng sợ hơn cái chết hay sao? - Quá gần mặt đất, – Golg vừa nói vừa run. – đó là điều tồi tệ nhất mà phù thủy đã làm với chúng tôi. Tất cả chúng tôi sẽ bị đưa qua con đường mở ra bên ngoài thế giới. Người ta nói trên đó không có mái che, chỉ có một cái gì trống rỗng, khủng khiếp gọi là bầu trời. Con đường đã đào lên cao đến mức chỉ còn vài nhát cuốc nữa sẽ đưa các ông ra ngoài. Tôi không dám đi đến gần đâu. - Hoan hô! Hoan hô cái điều mà anh bạn nói! – Eustace kêu lên, còn Jill nói thêm: - Nó không đáng sợ chút nào đâu. Chúng tôi thích nơi ấy. Chúng tôi sống ở đó. - Tôi biết những người ở trên mặt đất sống ở đấy. – Golg nói. – Nhưng tôi nghĩ đó là bởi quý vị không thể tìm được đường đi sâu vào trong lòng đất. Các vị không thể thích ở trên ấy được – con người bò giống như con ruồi ở bề mặt thế giới. - Thế anh có nghĩ đến việc chỉ đường cho chúng tôi không? – Puddleglum hỏi. - Giờ lành đã điểm! – Hoàng tử kêu lên, bắt đầu lên đường bằng cách tung người nhảy lên con ngựa chiến, Lông Vịt nhảy lên ngồi phía sau, Puddleglum trèo lên ngồi sau Jill và Golg dẫn đường. Trong lúc đi như vậy, Golg luôn miệng gào to thông báo tin tức tốt lành về cái chết của thanh xà và rằng bốn người trần gian không phải là kẻ thù. Nghe được tin này, người này lại truyền tin cho người kia và trong vòng vài phút cả Vương quốc Bóng Tối vang lên những tiếng la hét, reo hò vang dậy; hàng trăm, hàng ngàn người đất nhảy cỡn lên, quay vòng xe goòng, trồng cây chuối, biểu diễn trò nhảy cóc, bắn lên những quả pháo lớn, vây quanh hai con ngựa Than Đá và Bông Tuyết. Hoàng tử phải kể lại câu chuyện chàng bị yêu thuật và đã được giải thoát như thế nào đến lần thứ mười. Dưới sự hướng dẫn của Golg, họ đi đến đầu một cái vực rất lớn dài khoảng 300 mét và rộng chừng sáu bảy chục mét. Họ xuống ngựa đi đến bên miệng vực nhìn xuống. Một làn hơi nóng bốc lên phả vào mặt họ, trộn với một cái mùi không giống với bất cứ mùi nào họ đã ngửi qua. Nó đậm đặc, nồng nàn có cái gì kích thích họ phải hắt hơi. Dưới đáy vực sáng đến nỗi lúc đầu nó làm họ lóa mắt không còn nhìn thấy vật gì. Khi đã làm quen với ánh sáng họ nghĩ đó là một con sông lửa, hai bờ sông có thể là những cánh đồng và những khu rừng nhỏ tỏa ra một nguồn nhiệt nóng bỏng không thể nào chịu đựng nổi – dầu nó bốc lên nhiều hơi nước so với một dòng sông. Những vệt màu xanh da trời, màu đỏ, màu xanh lá cây và màu trắng trộn lẫn vào nhau. Một tấm kính cửa sổ màu khi mặt trời rực rỡ miền nhiệt đới chiếu thẳng vào trong một buổi trưa hè có thể gây ra một hiệu quả tương tự. Tuột xuống hai bờ vực dốc đứng, trông như những con ruồi đen, tương phản với luồng ánh sáng gay gắt, là hàng trăm người đất đang bò xuống. - Thưa quý ông, quý bà, – Golg nói (khi bốn người quay lại nhìn Golg họ không thấy gì ngoài một khối đen vì tất cả đều bị lóa mắt) – thưa quý vị, tại sao mọi người không xuống xứ Bism một phen? Ở dưới đấy, quý vị sẽ được hạnh phúc hơn khi là sống ở cái miền đất trần trụi lạnh lẽo và không có gì che chở trên kia. Hoặc ít nhất thì cũng hãy xuống thăm dưới ấy một lần. Jill tin chắc là không ai trong số ba người kia lại đi nghe theo một lời mời như thế. Trước sự sợ hãi của nó, hoàng tử lên tiếng: - Phải đó, anh bạn Golg, tôi cũng nửa phần muốn đi xuống với anh… Bởi vì đây sẽ là một cuộc phiêu lưu kì thú, rất có thể chưa từng có người nào đến được Bism và sẽ không có ai có dịp được đến đây nữa. Sau nhiều năm nữa, tôi cũng không biết mình có chịu đựng được khi nhớ lại rằng đã có một lần tôi có cơ hội được thăm dò đến tận đáy quả đất này mà tôi lại khước từ không. Nhưng mà con người có thể sống ở dưới đó không? Anh không thể bơi qua dòng sông lửa này phải không? - Ồ, không thưa tôn ông. Không phải chúng tôi. Chỉ có bọn rồng lửa mới sống trong lửa mà thôi. - Rồng lửa của các anh là loài thú nào vậy? – Rilian hỏi. - Thật khó có thể xếp nó vào loài nào, thưa tôn ông. – Golg nói. – Bởi vì chúng quá nóng để nhìn vào. Nhưng chúng rất giống những con rồng nhỏ. Khi nói chuyện thì miệng phun ra lửa. Chúng thông minh tuyệt vời trong nghệ thuật ăn nói: rất ý vị, không ngoan và hết sức thuyết phục. Jill vội vã liếc nhìn Eustace. Nó cảm thấy thằng bạn thích cái ý tưởng đi xuống cái vực này còn ít hơn nó nữa. Trái tim nó thắt lại khi thấy vẻ mặt bạn nó thay đổi. Trông Eustace giống hoàng tử hơn là cái thằng có biệt danh Lông Vịt ở trường Thực nghiệm. Bởi vì tất cả những cuộc phiêu lưu mạo hiểm vào những ngày nó đi trên con tàu của vua Caspian lại ùa về trong kí ức. - Thưa hoàng tử, – nó nói, – nếu người bạn cũ của tôi – bác chuột Reepicheep – có mặt ở đây hẳn bác ta sẽ nói chúng ta không thể từ chối cơ hội phiêu du đến xứ Bism mà không gây nên một nghi vấn lớn về danh dự của mình. - Đi xuống dưới đấy, tôi sẽ chỉ cho quý vị vàng, bạc và kim cương thứ thiệt. - Nói bá láp! – Jill bật lên một cách thô bạo. – Cứ như thể chúng tôi chưa từng ở bên dưới những cái mỏ còn sâu hơn cả đây nữa. - Phi. – Golg nói. – Tôi có nghe về những vết xước tí tẹo ở bề mặt mà những người thợ đào mỏ trên kia gọi là hầm mỏ. Nhưng đó là những nơi mà các quý vị chỉ có một thứ vàng chết, bạc chết và kim cương chết mà thôi. Xuống đến Bism chúng ta sẽ thấy những thứ đó còn sống và không ngừng tăng trưởng. Ở đấy tôi sẽ lấy cho quý vị những chùm hồng ngọc mà quý vị có thể ăn như ăn thứ trái cây ngon lành nhất và làm cho quý vị một ly nước kim cương ép. Các vị sẽ không thèm chạm ngón tay vào cái thứ đá lạnh lẽo chết ngắc ở những cái hõm nông choèn kia một khi đã nếm trải một thứ sống động ở Bism. - Cha tôi đã đi đến Nơi tận cùng thế giới – Rilian nói cân nhắc. – Sẽ không hổ danh con vua Caspian nếu tôi được dịp đi xuống tận đáy thế giới. - Nếu điện hạ muốn gặp phụ vương sau bao năm bặt vô âm tín – một điều tôi nghĩ sẽ làm cho bệ hạ sung sướng đến nỗi ngài sẽ sống thêm được mấy tuổi – Puddleglum nhắc, – thì đã đến lúc chúng ta đi theo con đường mới đào để quay về. - Còn tôi sẽ không đi xuống cái hố ấy, mặc cho ai muốn nói gì thì nói. – Jill khẳng định. - Tại sao, nếu quý vị muốn quay lại thế giới trên kia, thì con đường đi tới còn ngắn hơn. Và có lẽ nước vẫn tiếp tục dâng cao… - Ôi, xin hãy đi lên ngay. – Jill nài nỉ. - Tôi cũng sợ là đành phải làm thế thôi. – Hoàn tử nói với một tiếng thở dài tiếc nuối. – Nhưng tôi đến phải dứt một nửa trái tim mình ở Bism này thôi. - Xin làm ơn! – Jill cầu khẩn một lần nữa. - Con đường đâu? – Puddleglum hỏi. - Kia, nơi có những ngọn đèn thắp sáng suốt dọc đường – Golg nói. – Quý vị có thể thấy đoạn đầu con đường ở phía bên kia vực. - Đèn cháy sáng trong vòng bao lâu? – Puddleglum hỏi. Đúng lúc đó có một tiếng gì xèo xèo, rít lên như tiếng nói của lửa (sau đó họ tự hỏi có phải là tiếng nói của rồng lửa không) vang lên từ đáy vực sâu. - Nhanh lên! Nhanh lên! Nhanh lên! Đến vách núi! Các khe hở đang liền lại, khép miệng lại, khép lại. Nhanh lên! Nhanh lên! Đúng lúc đó những tiếng nổ chói tai vang lên cùng những tiếng rít và tiếng ầm ầm của những tảng đá đổ vào nhau. Trong khi họ giương mắt nhìn thì cái vực thu hẹp lại. Từ hai bên miệng vực, những người đất chậm chân xô nhau nhào cả xuống đó. Họ không có đủ thời gian để tụt khỏi những tảng đá, mà quăng mình về phía trước. Hoặc vì luồng hơi nóng bốc lên từ đáy vực hoặc vì một lí do gì đó, các du khách của ta thấy họ bay vèo vèo xuống vực như những chiếc lá. Đống lá chất lên dày hơn cho đến khi những thân hình đen đen của họ điểm lấm tấm trên dòng sông lửa và trong các rừng cây như những viên kim cương đen. - Vĩnh biệt mọi người! Tôi đi đây! – Golg kêu lên và lao xuống vực. Vài người đất còn sót lại cũng noi theo gương anh ta. Cái vực bây giờ không lớn hơn một dòng suối, rồi thu hẹp lại nhỏ như cái khe trong một cái hộp gỗ và cuối cùng chỉ còn là một sợi chỉ sáng cực mảnh. Rồi với một sự va chạm như thể có một ngàn con tàu chở hàng đâm sầm vào một tấm đệm đôi, đôi môi của vách đá khép liền lại. Cái mùi nồng nặc và cái nóng hầm hập biến mất. Du khách ở lại một mình trong Vương quốc Dưới Lòng Đất và vào lúc này trông nó thảm đạm hơn lúc nào hết. Những ngọn đèn treo trên đường hắt ra một thứ ánh sáng nhạt nhòa, mờ ảo và thê lương. - Này, tôi cá mười ăn một là chúng ta đã ở lại đây quá lâu, nhưng dù sao chúng ta vẫn phải thử một phen. Tôi cho rằng những ngọn đèn này sẽ tắt trong vòng năm phút. – Hoàng tử nói. Họ thúc ngựa chạy nước đại nhỏ rồi chạy hết tốc lực trên con đường mờ mờ ảo ảo nhìn rất đẹp. Nhưng gần như ngay sau đó con đường lại đi xuống dốc. Họ đã tưởng rằng Golg chỉ sai đường nếu không nhìn thấy bên kia thung lũng những ngọn đèn vẫn cháy sáng và chạy lên cao dần như tầm mắt có thể nhìn thấy. Ở dưới đáy thung lũng, ánh đèn chiếu lên một dòng nước đang chảy xiết. - Nhanh lên! – Hoàng từ kêu lên. Họ phì nhanh xuống dốc. Mọi chuyện diễn ra vừa khớp với nhau bởi vì chỉ 5 phút sau, thủy triều dâng lên đổ vào thung lũng với sức nước làm quay guồng máy xay. Nếu như phải bơi qua dòng nước xoáy như thế, lũ ngựa khó lòng vượt qua nổi. Nhưng may thay nước chỉ cao vài chục phân, mặc dù nó xoáy quanh chân ngựa và họ an toàn sang đầu thung lũng bên kia. Sau đó người và ngựa chậm chạp, mệt mỏi leo lên dốc. Phía trước mặt chẳng có gì để nhìn ngoài ánh sáng nhợt nhạt của những ngọn đèn chạy lên cao, lên cao mãi theo hết tầm mắt. Quay đầu lại họ có thể thấy dòng nước đang tràn đi mọi nẻo. Mỗi quả đồi ở thế giới trong lòng đất này đều là một hòn đảo và chỉ có trên những hòn đảo này mới có những ngọn đèn thắp sáng. Chốc chốc lại có một ánh đèn ở một chỗ nào đó phụt tắt. Chẳng bao lâu sau khắp nơi cũng chỉ là bóng đêm, trừ con đường mà họ đang đi và ở những khu vực thấp hơn sau lưng họ mới còn ánh đèn soi xuống dòng nước. Mặc dầu có lí do cấp bách để vộ vã, hai con ngựa không thể đi mãi mà không có lúc nghỉ. Họ dừng lại cho ngựa lấy sức. Trong khoảng không im lặng có thế nghe thấy tiếng nước vỗ ì oạp. - Tôi tự hỏi cái người khổng lồ gọi là Cha Thời gian ấy có bị nhấn chìm trong nước không? – Jill hỏi. – Và tất cả những con vật kì lạ nữa. - Tớ không nghĩ là chúng ta đã đi lên cao như vậy. – Eustace đáp. – Cậu không nhớ là chúng ta đã phải đi xuống qua bao nhiêu đồi dốc mới đến được Biển Đêm sao? Tớ không nghĩ là nước đã dâng lên đến cái hang của Cha Thời gian. - Có thể là thế. – Puddleglum nói. – Nhưng tôi quan tâm đến những ngọn đèn trên con đường này hơn. Coi kìa, nó có phần yếu đi, phải không? - Nó bao giờ cũng thế. – Jill nói. - À, – Puddleglum thừa nhận, – nhưng bây giờ ánh sáng ngả sang màu xanh hơn. - Bác không muốn nói là bác nghĩ nó sắp tắt đấy chứ? – Eustace hỏi. - Này, cháu không trông chờ nó kéo dài mãi mãi, bất kể là nó được cấu tạo như thế nào, có đúng thế không? – Puddleglum đáp lại. – Nhưng đừng thất vọng, Lông Vịt àh. Tôi cũng để mắt đến mực nước và tôi không nghĩ nó sẽ dâng quá cao đâu. - Một sự cảm thông nho nhỏ, các bạn ạ, – hoàng tử nói, – nếu chúng ta không thể tìm được đường về, tôi xin tất cả tha lỗi cho. Tôi chỉ còn biết đổ lỗi cho lòng kiêu hãnh và sự phù phiếm của mình vì nó đã làm chúng ta lãng phí một khoảng thời gian quý báu trong chuyện Bism. Nào, ta đi tiếp thôi. Trong vòng một hai giờ tiếp theo, có lúc Jill nghĩ Puddleglum đã nói đúng về các ngọn đèn, có lúc lại nghĩ điều này chỉ có trong trí tưởng tượng của nó. Trong khi ấy, mặt đất đã thay đổi. Họ đi đến một độ cao nới cái trần của vương quốc trong lòng đất đã gần sát trên đầu và dưới ánh sáng tù mù họ đã có thế nhìn mọi vật rõ hơn. Những bức tường xù xì khổng lồ kéo lại gần hơn ở nơi này. Thực ra con đường đang dẫn họ đến một địa đạo dốc đứng. Họ nhìn thấy những cái cuốc chim, xẻng, xe goòng và những dấu vết khác cho biết những người đào đất còn đang làm dở dang công việc. Nếu biết chắc sẽ thoát lên được bề mặt thì tất cả còn cảm thấy vui, nhưng cái ý nghĩ là cứ phải tiếp tục đi sâu mãi vào một cái hố mỗi lúc một thu hẹp hơn, khó đi hơn và khó lòng quay đầu lại chẳng có gì đáng mừng cả. Cuối cùng cái trần sà thấp đến nỗi Puddleglum và hoàng tử cụng đầu vào. Mọi người nhảy xuống dắt ngựa. Con đường gập ghềnh, lởm chởm khó đi hơn nên mỗi bước đi đều phải hết sức thận trọng. Jill nhận thấy bóng tối mỗi lúc một dày đặc hơn. Không có gì phải nghi ngờ vào điểm này nữa, khuôn mặt của ba người kia nom xa lạ và khủng khiếp dưới ánh sáng xanh lè. Bất thình lình Jill – không thể ngăn được – bèn kêu lên một tiếng nho nhỏ: ngọn đèn trước mặt họ phụt tắt và ngọn đèn phía sau cũng vậy. Họ ở trong một bóng tối như bưng lấy mắt. - Can đảm lên các bạn! – Giọng hoàng tử Rilian vang lên. – Dù chúng ta sống hay chết thì Aslan cũng là vị chúa tể cao quý, tốt đẹp của chúng ta. - Đúng thế, thưa điện hạ. – Puddleglum nói. – Và mọi người hãy nhớ cũng có mặt tốt khi bị kẹt ở dưới này. Chúng ta đỡ được một khoản ma chay tốn kém. Jill cắn chặt môi (nếu bạn không muốn để người khác biết mình sợ hãi như thế nào thì đó là một việc khôn ngoan nên làm bởi vì giọng nói sẽ làm bị lộ tâm trạng của bạn ngay). - Chúng ta cần đi tiếp, còn hơn là đứng lại đây. – Eustace nói và khi Jill cảm thấy sự run rẩy trong giọng nói của thằng bạn, nó biết mình đã khôn ngoan hơn khi không dám tin tưởng vào bản thân mình. Puddleglum và Eustace đi trước, đưa hai tay ra trước mặt quờ quạng vì sợ đổ nhào phải bất cứ cái gì, Jill và hoàng tử đi theo, dắt ngựa. - Này, – một lát sau giọng nói của Eustace vang lên, – không biết là mắt tôi có vấn đề gì không hay là cái vệt sáng đằng kia là có thật? Trước khi có bất cứ ai trả lời thắc mắc đó, Puddleglum kêu lớn: - Dừng lại! Tôi đi đến đoạn đường cùng rồi. Đây là đất, không phải đá. Cậu nói gì đấy hả Lông Vịt? - Sáng danh Aslan, – hoàng tử nói, – Eustace nói đúng. Có một cái gì… - Nhưng đó không phải là ánh sáng ban ngày mà chỉ là một loại ánh sáng xanh, lạnh lẽo! – Jill nói. - Dù vậy. – Có còn hơn không. – Eustace nói tiếp, – chúng ta có thể đến đó không? - Nó không ở ngay trên đầu, – Puddleglum nói, phía trên chúng ta, ở bên ngoài cái bức tường mà tôi cụng đầu phải. Dù nó là cái gì Pole à, cô hãy đứng lên vai tôi thử xem có thể với tới nó được không?
__________________
|
|
#93
|
||||
|
||||
|
PHẦN 6 - CHIẾC GHẾ BẠC CHƯƠNG 15 Jill mất tích Trong cái vùng tối mịt mùng mà họ đang đứng, ánh sáng không soi rõ bất cứ vật gì ở phía bên dưới. Những người khác chỉ nghe chứ không thấy Jill làm gì trong khi trèo lên đứng trên vao Puddleglum. Họ ít nhiều hình dung những chuyện đang diễn ra khi nghe tiếng Puddleglum: - Này cô bé, đừng cho ngón tay vào trong mắt tôi. - Cũng đừng nhét cả bàn chân vào miệng tôi! - Được rồi cứ thế đi! - Bây giờ tôi giữ hai chân cô. Như vậy cô sẽ rảnh hai tay mà bám vào gờ đất. Sau đó họ nhìn lên và chắc mấy chốc đã thấy bóng cái đầu của Jill hiện lên trong mảng sáng mờ nhạt. - Cái gì vậy? – Cả bọn kêu lên, nôn nóng. - Đó là một lỗ hổng. – Jill la lớn. – Tôi có thể chui vào được nếu tôi đứng cao hơn một chút. - Cậu đã nhìn thấy cái gì vậy? – Eustace hỏi. - Chẳng thấy gì nhiều. – Jill nói. – Puddleglum, thả chân cháu ra để cháu có thể đứng trên vai bác thay vì chỉ ngồi. Cháu sẽ giữ được thăng bằng nếu tựa được vào tường. Họ có thể nghe tiếng nó cử động, sau đó một phần thân hình nó biến vào khoảng không màu xam xám của miệng hố, thực ra thì từ đầu đến thắt lưng. - Nghe này… – Jill bắt đầu nhưng bất thình lình giọng nó vỡ ra thành một tiếng kêu. Không phải tiếng kêu thất thanh, mà là một âm thanh như thể họng nó bị chặn lại, hoặc có một vật gì chui vào chẹn lấy thanh hầu. Sau đó nó cũng tìm thấy cái lưỡi của mình và cố hết sức la lên thật lớn, nhưng không ai nghe được một lời nào. Ánh sáng tắt phụt đi trong vòng một hoặc hai giây rồi họ thấy có tiếng giằng co, vật lộn và giọng nói hổn hển của Puddleglum: - Nhanh lên! Giúp tôi! Giữ hai chân cô bé. Có ai kéo nó. Ôi thôi… muộn quá rồi ! Cái lỗ hổng lại hiện ra và ánh sáng lành lạnh chiếu qua đó, mọi thứ lại trở nên rõ ràng. Jill đã biến mất. - Jill ! Jill ! – Họ kêu lên như điên như cuồng nhưng không có tiếng ai đáp lại. - Làm thế quái nào mà bác lại không giữ được chân cô ấy chứ? - Tôi không biết nữa, Lông Vịt. – Puddleglum mếu máo. – Tôi sinh ra đời đã là một sự nhầm lẫn rồi, không có gì phải ngạc nhiên về điều đó. Định mệnh ! Định mệnh là cái chết của Jill, cũng như định mệnh đã bắt tôi ăn thịt con hươu biết nói ở Harfang. Tất nhiên đó cũng không phải hoàn toàn là lỗi của tôi. - Thật là… nỗi đau đớn và nhục nhã nhất đã bổ xuống đầu chúng ta. – Hoàng tử than thở. – Chúng ta đã đẩy một cô bé con vào tay kẻ thù, còn bản thân thì đứng đây trong vòng an toàn. - Đừng tô đen hiện thực như vậy, thưa điện hạ. – Puddleglum nói. – Chúng ta cũng chẳng an toàn đâu ngoài việc cầm chắc sẽ bị chết vì đói trong cái nấm mồ sống này. Mọi chuyện xảy ra với Jill như thế này. Ngay khi thò đầu nhìn vào cái hốc nó thấy mình như đang nhìn xuống qua một cái cửa sổ ở trên lầu chứ không phải là nhìn xuống qua một cái cửa sập nhỏ trên sàn nhà. Nó đã ở trong bóng tối quá lâu nên thoạt đầu mắt nó không nhìn ra ngay mọi vật một cách rõ ràng, nó chỉ biết một điều là nó đang nhìn vào cái thế giới có mặt trời, có ánh sáng ban ngày mà nó hết lòng mong mỏi được trông thấy một lần nữa. Không khí lạnh cóng, ánh sáng nhàn nhạt và xanh màu lá mạ. Không gian vang lên nhiều hợp âm rộn rã và có những vật trăng trắng bay lả tả trong không khí. Đó là lúc nó hét lên bảo Puddleglum để cho nó đứng lên vai bác ta. Khi làm thế nó nhìn và nghe rõ hơn. Những tiếng động mà nó nghe thấy chia làm nhiều loại: tiếng di chuyển của những đôi chân theo nhịp phách, tiếng dìu dặt của mấy chiếc vĩ cầm, tiếng réo rắt của ba ống sào và tiếng đập thùng thùng rộn ràng của một cái trống. Nó cũng xoay xở để có một vị trí nhìn cho rõ ràng hơn. Nó đang nhìn qua một cái lỗ ở lưng chừng một bờ lũy và phóng tầm mắt xuống một nơi thấp hơn nó chừng 4,5 mét. Tất cả mọi thứ đều trắng. Có nhiều người đang di chuyển qua lại. Nó định thần lại, há hốc miệng ra nhìn: Những thần rừng bé nhỏ, thanh nhã, những nữ mộc tinh đầu đội vương miện bằng lá tươi, mái tóc dài tha thướt bay bay phía sau lưng. Trong vòng một giây nó có cảm giác như thể họ đang làm một cái gì đó rất kì quái, lạ lùng. Sau đó, nó phát hiện đám người kia đang khiêu vũ- một điệu vũ với những bước đi phức tạp mà bạn phải mất một lúc mới hiểu ra. Rồi mọi vật vụt đến trong óc nó như một tia chớp rằng cái vật trăng trắng trên mặt đất chính là tuyết. Và tất nhiên có những vì sao lấp lánh trên nền trời xanh đen đang buông một lớp sương muối. Những vật đen sẫm, cao cao phía sau các vũ công là hàng cây. Cuối cùng, họ không chỉ lên được trên mặt đất mà lại còn lên đúng trung tâm Narnia. Jill cảm thấy có thể ngất đi vì vui sướng ; và âm nhạc – những giai điệu thật hoang dã, thật ngọt ngào, say đắm mà cũng rất đỗi kì lạ là một phép màu tốt đẹp đối với nó cũng như trước kia tiếng đàn của thanh xà chỉ làm cho đầu óc mê mụ đi. Điều này kể ra thì dài nhưng với Jill chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi. Nó lập tức quay ra hét lên với những người đứng ở dưới: - Nghe này ! Tất cả ổn rồi. Chúng ta ra ngoài, chúng ta về đến… Nhưng lí do nó không nói được trọn ý là vì một chuyện khác. Đi một vòng quanh các vũ công là những chú lùn, tất cả đều diện những bộ quần áo đẹp nhất, chủ yếu là màu đó, đội những chiếc mũ chỏm có viền lông trắng và những dải tua rua màu vàng. Ngoài ra họ mang những đôi ủng cao to tướng làm bằng bông. Trong lúc đi thành vòng họ luôn tay ném những nắm tuyết. (Đấy là những vật trắng mà Jill nhìn thấy đang bay bay trong không gian). Họ không ném tuyết vào các vũ công như những cậu bé nghịch ngợm, ngu ngốc vẫn làm ở Anh mà ném tuyết qua sàn nhảy theo đúng nhịp phách với một sự chính xác tuyệt đối và nếu tất cả các vũ công đều bước đi đúng nhịp thì không ai bị tuyết ném trúng người. Nó được gọi là Vũ điệu Tuyết và được tổ chức hàng năm ở Narnia vào đêm trăng đầu tiên có tuyết. Tất nhiên đó vừa là một trò chơi vừa là một điệu múa bởi vì thỉnh thoảng cũng có một vũ công nào đó đi lỡ một nhịp và lãnh trọn nắm tuyết vào mặt, thế là tất cả cùng cười ầm lên. Nhưng với một đội vũ công tài giỏi, các nhạc công sẽ giữ cho vũ điệu kéo dài hàng giờ mà không có chuyện gì xảy ra. Một đêm đẹp trời, không khí se lạnh với tiếng trống bập bùng, tiếng chim kêu và ánh trăng lành lạnh… tất cả chỉ làm cho dòng máu núi rừng, hoang dã trong họ thêm cuồng nhiệt hơn và họ có thể nhảy múa cho đến khi sáng bạch. Cái làm cho Jill không nói được hết câu chỉ là một nắm tuyết của một chú lùn đứng đối diện qua sàn nhảy chui tọt vào miệng Jill. Nó chẳng lấy thế làm buồn lòng, dù có nhận được 20 nắm tuyết vào lúc ấy. Nhưng dù bạn cảm thấy hạnh phúc như thế nào bạn cũng không thể nói được với cái mồm đầy tuyết. Và sau khi đã có thể lắp bắp được, trong niềm vui sướng tột độ nó quên đi những người bạn đang đứng phía dưới trong bóng tối, còn chưa biết nếp tẻ ra sao. Nó cố sức thò đầu vào cái lỗ hổng và kêu lên với các vũ công: - Cứu với ! Xin mọi người hãy cứu ! Chúng tôi bị chôn dưới đất. Hãy đến đây đào để lôi chúng tôi lên. Những người Narnia, tất nhiên, không nhận ra là có một cái hố nhỏ ở lưng chừng đồi, lấy làm ngạc nhiên đưa mắt dáo dác nhìn quanh, một lúc sau mới phát hiện ra tiếng nới từ đâu phát ra. Khi nhìn thấy Jill, họ chạy về phía ấy, có bao nhiêu người có thể bò lên được sườn đồi thì có bấy nhiêu cánh tay chìa ra cho nó. Jill nắm lấy tay họ chui ra khỏi hố và trượt xuống sườn đồi, đầu cắm xuống trước nhưng nó cũng đứng lên được và lên tiếng giục giã, rối rít: - Ôi nhanh lên, hãy đào đất bới họ lên ! Còn ba người nữa với hai người. Một trong số đó là hoàng tử Railian. Lúc này nó đang đứng giữa một đám đông, bởi vì ngoài các vũ công còn có rất nhiều người xem, những người mà lúc nãy nó chưa trông thấy và bây giờ họ đang ùa đến. Sóc nhảy xuống như mưa từ những cành cây, cú cũng thế. Nhím lạch bạch chạy đến nhanh trong khả năng cho phép của đôi chân ngắn củn. Gấu và lửng đi còn chậm hơn nữa. Một con báo lớn vừa đi đến vừa quật đuôi kích động. Nó là nhân vật cuối cùng. Nhưng ngay khi mọi người hiểu ra điều mà Jill muốn nói họ trở nên hoạt bát ngay. - Cuốc chim và xẻng đâu, các cậu? Mang những thứ đó lại đây ngay. Mang dụng cụ lại đây. – Những chú lùn kêu lên, vắt chân lên cổ mà chạy. - Đánh thức ngay họ nhà chũi, họ chính là những người thợ mỏ cừ khôi, họ cũng được việc như các chú lùn vậy. – Một giọng nói cất lên. - Này cô bé, cô bé nói gì về hoàng tử Rilian vậy ? – Một giọng khác hỏi. - Xì ! – Báo đen nói. – Đứa bé tội nghiệp sợ đến phát điên lên vì bị chôn sống. Nó không biết mình vừa nói gì đâu. - Ừ nhỉ. – Một con gấu già nói. – Tại sao nó lại nói hoàng tử Rilian là một con ngựa ? - Không, nó đâu có nói như thế. – Sóc nói với giọng bực mình. - Đúng, nó nói thế đấy. – Một con sóc khác khẳng định. - Điều đó đu…úng mà. Đ…đ…đừng có ngớ ngẩn như thế. – Jill nói, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập vì lạnh. Thấy vậy một trong những mộc tinh chạy đến quấn quanh người nó một cái áo choàng lông mà một chú lùn đã đánh rơi khi vội đi tìm cuốc, xẻng. Mộc tinh đề nghị một thần rừng chạy qua một quãng rừng ngắn đến cái hang phát ra ánh lửa ấm cúng kiếm một cái gì có thể làm cho cô bé nóng người lên. Nhưng trước khi chuyện ấy xảy thì các chú lùn đã quay lại với những dụng cụ đào mỏ. Rồi Jill nghe thấy có tiếng kêu oai oái: - Xin chào! Này, ngươi làm cái gì đấy? Bỏ gươm xuống! - Ồ một thằng nhóc, không phải thế! - Chu cha thằng nhóc dữ thật. Jill vội vã chạy đến gần và không biết nên cười hay nên mếu khi thấy khuôn mặt Eustace: tái mét, bẩn thỉu phóng ra từ cái hố đen ngòm, tay phải khua kiếm loạn lên về phía bất cứ ai đến gần nó. Tất nhiên Eustace vừa phải trải qua khoảng thời gian khác hẳn Jill. Nó nghe thấy bạn mình kêu lên rồi biến mất vào một nơi chẳng biết rõ là cái gì nữa. Giống như hoàng tử và Puddleglum nó nghĩ kẻ thù đã bắt sống bạn. Từ lỗ hổng hình ra nó không biết cái ánh sáng nhàn nhạt xanh xanh ấy là ánh trăng. Nó nghĩ cái lỗ hồng này chỉ dẫn đến một cái hang khác, được thắp sáng bởi chất phốt pho ma quái và tràn ngập những con quái vật – chỉ có trời mới biết là con gì – của cái thế giới tối tăm trong lòng đất. Thế là khi thuyết phục được Puddleglum công kênh mình lên vai, nó tuốt kiếm nghênh chiến và thò đầu ra ngoài – nó đã sẵn sàng thực hiện một hành vi anh hùng nhất. Hai người kia cũng chỉ muốn liều chết một phen nhưng cái lỗ quá nhỏ để họ chui qua. Eustace to con hơn và cũng vụng về hơn Jill nên khi nhìn ra nó cụng đầu vào đất đá làm một đám tuyết lở xuống rơi lả tả lên mặt nó. Và thế là khi có thể mở mắt nhìn lại, nó thấy hàng chục hình thù các kiểu chạy ùa về phía nó, thế nên không có gì lạ khi nó có một vẻ đằng đằng sát khi như vậy. - Dừng lại, Eustace, dừng lại! – Jill kêu lên. – Tất cả những người này đều là bạn. Cậu không thấy à ? Chúng ta đã đến đúng Narnia. Mọi thứ đều đâu vào đấy cả. Lúc này thì Eustace đã rõ mọi chuyện, nó xin lỗi những chú lùn (họ bảo nó đừng quan tâm đến chuyện đó). Hàng chục cánh tay mập mạp, lông lá của các chú lùn kéo nó ra khỏi hố như đã từng giúp Jill mấy phút trước. Sau đó Jill lại trèo lên miệng hố, thò đầu vào cái lỗ hổng tối om thông báo tin tốt lành cho những người đứng dưới. Nói xong nó nghe thấy tiếng người bạn già lẩm bẩm: - Ôi, rõ tội nghiệp Pole. Chuyện này quá sức chịu đựng của con bé. Chắc là nó phát điên rồi, mình còn lạ gì. Lại nhìn thấy ảo ảnh đấy thôi. Jill chạy đến chỗ Eustace, hai đứa bắt tay nhau và hít những hơi dài khoan khoái trong bầu không khí tự do lúc nửa đêm. Một cái áo ấm được mang đến cho Eustace, một cái gì nong nóng mang đến cho hai đứa uống. Trong lúc hai đứa đứng nhấp nháp thì các chú lùn đã gạt hết tuyết và dọn quang chung quanh cái hố bên sườn đồi. Rồi tiếng búa và tiếng cuốc chim vui vẻ vang lên giống như tiếng bước chân nhảy múa của các thần rừng và các mộc tinh mười phút trước. Mới chỉ có mười phút trước! Tuy vậy, rõ ràng là đối với Jill và Eustace tất cả các mối hiểm họa vừa qua: Vương quốc Bóng Đêm, hơi nóng và sự ngột ngạt trong lòng đất.. tất cả tựa hồ chỉ có trong một giấc chiêm bao. Một khi đã thoát ra bên ngoài, trong không khí lạnh buốt với vầng trăng và những vì sao lớn trên đầu (những ngôi sao ở Narnia ở gần hơn những ngôi sao trong thế giới chúng ta) và với tất cả những khuôn mặt vui vẻ vây quanh, không đứa nào có thể tin là có một vương quốc trong lòng đất. Khi hai đứa trẻ uống xong món đồ uống nóng, một chục hoặc hơn các chú chuột chũi xuất hiện, chúng vừa thức giấc, vẫn còn ngái ngủ và đi đến với vẻ miễn cưỡng. Nhưng ngay khi chúng hiểu ra là có chuyện gì thì chúng đã vui vẻ tham gia vào công cuộc chung. Thận chí cả các thần rừng cũng biết cách làm cho mình trở nên có ích; họ chở đất đi trên những chiếc xe đẩy nhỏ. Lũ cóc nhảy múa, thoắt từ bên này sang bên kia với một sự kích động lớn và Jill không bao giờ hiểu được chính xác chúng nghĩ gì khi làm như thế. Gấu và cú thì hài lòng với vai trò cố vấn và cứ mời mãi bọn trẻ vào cái hang (mà Jill thấy có phát ra ánh lửa) để sưởi ấm và ăn tối. Nhưng bọn trẻ không chịu đi khi chưa trông thấy những người bạn đồng hành của mình được giải phóng. Không có ai trong thế giới chúng ta có thể làm tốt cái việc mà chú lùn và chuột chũi đảm nhiệm ở Narnia, nhưng tất nhiên họ không coi đấy là công việc mà là một thú vui. Vì thế mà chẳng bao lâu sau họ đã nới cái hốc thành một cái hố rộng đen ngòm ở sườn đồi. Và từ cái hố đó đi ra chỗ sáng trăng – một cảnh tượng sợ chết khiếp nếu người ta không biết họ là ai – đầu tiên là cái hình thù lêu nghêu toàn tay với chân, và các mũ hình tháp chuông của cư dân vùng đầm lầy, sau đó là hai con ngựa và cuối cùng là hoàng tử Rilian. Khi Puddleglum xuất hiện, các tiếng la hét nổ ra tứ phía. - Trời ơi, té ra là một anh chàng cung quăng – ông bạn cũ Puddleglum – ông bạn Puddleglum già nua ở vùng đầm lầy miền Đông. Anh bạn làm gì ở đây vậy, Puddleglum? Người ta đã đi tìm anh ở khắp nơi – ngài Trumpkin đã cho dán cáo thị – có treo cả phần thưởng nữa… Nhưng tất cả những tiếng lao xao ồn ào này lập tức phụt tắt. Không gian chìm trong im lặng cũng nhanh như những tiếng nói chuyện tắt đi trong một phòng học ồn ào khi thầy hiệu trưởng mở cửa bước vào. Bởi vì vào lúc này tất cả đã trông thấy hoàng tử Rilian. Không có ai nghi ngờ dù chỉ trong một giây rằng đây không phải là hoàng tử. Rất nhiều con thú, mộc tinh, thần rừng và chú lùn vẫn còn nhớ mặt anh từ cái ngày hoàng tử chưa bị phù phép. Một số những cư dân lớn tuổi còn nhớ cả người cha – vua Caspian – vào những năm tuổi trẻ và giờ đây như thấy lại hình ảnh của vua Caspian thuở nào. Nhưng tôi nghĩ dù thế nào họ cũng vẫn nhận ra dù anh có nước da xanh, nhợt nhạt của người cớm nắng sau nhiều năm bị nhốt trong lòng đất, đã thế anh lại mặc một bộ đồ đen, bẩn thỉu do chui trong lòng đất, mái tóc để dài rối bời, vẻ mặt bơ phờ mệt mỏi… nhưng vẫn có một cái gì đó trên khuôn mặt anh khiến người ta không thể nhầm được. Đó là cái vẻ chỉ có trên khuôn mặt những ông vua chân chính ở Narnia, người đứng đầu thiên hạ dưới sự chỉ định của Aslan và nhờ thế được ngồi ở Cair Paravel trong chiếc ngai vàng của Peter Đại đế. Ngay lập tức tất cả đều bỏ mũ ra, cúi xuống, khuỵu một bên gối xuống chào. Rồi chỉ vài giây sau không gian im lặng bị rung động bởi tiếng chào đón chúc tụng hân hoan, những cái bắt tay, những cái hôn, những vòng tay thân ái của người này dành cho người kia và lệ rưng rưng trong mắt Jill. Không khí tưng bừng của phút giây trùng phùng đủ đền bù cho tất cả những gian nan vừa trải. - Thưa điện hạ, – chú lùn cao tuổi nhất nói, – chúng thần đang tổ chức một bữa tiệc vui trong cái hang đằng kia, chuẩn bị cho việc kết thúc Vũ điệu Tuyết. - Tốt lắm, tốt lắm, cha già ạ. – Hoàng tử nói. – Bởi vì chưa từng có bất cứ vị hoàng tử, hiệp sĩ hay một quý ông hoặc một bác gấu nào lại có một cái dạ dày khỏe và háu đói như bốn kẻ lang thang chúng tôi tối nay. Trong lúc đám đông đi qua những hàng cây về hang, Jill nghe Puddleglum nói với những người vây quanh bác ta: - Không, không, chuyện của tôi thì có thể chờ được. Không có gì đáng nói về những chuyện đã xảy ra với tôi. Bây giờ hãy cho tôi biết tin tức. Đừng có cố lảng tránh điều đó bởi vì tôi nóng lòng muốn nghe ngay lập tức. Nhà vua có bị đắm tàu không? Có vụ cháy rừng nào không? Không có chiến tranh với người Calormen chứ? Hay là có xuất hiện vài con rồng? Tôi không ngạc nhiên trước những chuyện như thế đâu. Nghe thế tất cả các loài thú đều cười ồ lên: - Ối la la! Đích thực là anh Puddleglum vùng đầm lầy… không chệch vào đâu được. Hai đứa gần như sắp khuỵu xuống vì cái mệt và cái đói, nhưng hơi ấm trong hang, hình ảnh muôn loài với ngọn lửa hồng nhảy nhót trên vách hang, tủ áo, những cái ly, cái đĩa, cái nĩa và cái sàn hang lát đá nhẵn nhụi… cái không khí có cái gì giống với gian bếp trong một nông trại thân quen đã làm chúng hồi sức chút ít. Dù vậy chúng cũng ngủ thiếp đi trước khi bữa ăn được dọn sẵn sàng và trong lúc chúng ngủ, hoàng tử Rilian kể lại cho những bác gấu và các chú lùn khôn ngoan về cuộc phiêu lưu của bọn họ. Bây giờ thì mọi người đã rõ chuyện thanh xà độc ác (rõ là cùng một giuộc với Bạch Phù Thủy kẻ đã làm cho mùa đông kéo dài hàng trăm năm ở Narnia) đã sắp đặt tất cả những chuyện này như thế nào. Bắt đầu là việc giết hoàng hậu, mẹ của Rilian và yểm bùa làm cho anh mất hết lý trí. Sau đó là kế hoạch đào một con đường đi lên Narnia từ dưới lòng đất, rồi tấn công lên và làm chủ nó thông qua quân cờ Rilian. Làm sao hoàng tử nghĩ được cái đất nước mà mụ sẽ đưa chàng lên làm vua (trên danh nghĩa còn thực chất chỉ là một nô lệ của mụ) lại chính là tổ quốc thân yêu của anh. Qua câu chuyện của bọn trẻ họ thấy xà tinh đã có quan hệ liên minh thân thiện với bọn khổng lồ ăn thịt người ở Harfang như thế nào. - Thưa điện hạ, bài học rút ra từ tất cả những chuyện này là, – chú lùn cao tuổi nhất nói, – bọn phù thủy miền bắc trước sau cũng chỉ muốn có một điều thôi; nhưng ở mỗi một giai đoạn chúng lại có một âm mưu khác để thôn tính nước ta.
__________________
|
|
#94
|
||||
|
||||
|
PHẦN 6 - CHIẾC GHẾ BẠC CHƯƠNG 16 Trở về Sáng hôm sau khi Jill tỉnh giấc và thấy mình đang nằm trong hang, nó kinh hoàng nghĩ rằng mình đã trở lại Vương quốc Bóng Tối. Nhưng khi nó nhận ra là mình đang nằm trên một cái mềm lông đắp trên người và nhìn thấy ngọn lửa tươi vui (như vừa mới nhen) trong một cái lò sưởi xây bằng đá và xa hơn, ánh sáng tinh khôn của một sớm ban mai đã tràn vào cửa hang thì nó lại nhớ lại cái sự thật vui vẻ hôm qua. Họ có một bữa tiệc liên hoan thật tuyệt, tất cả đều chen chúc vào trong hoang mặc dù nó buồn ngủ díp cả mắt lại khi bữa tiệc đã tàn. Nó có một ký ức mơ hồ về việc các chú lùn quay quần bên bếp lò với những cái chảo rang còn lớn hơn cả bản thân họ nữa. Có tiếng gì vừa xèo xèo, mùi xúc xích nướng thơm lừng và còn nhiều xúc xích, nhiều hơn nữa. Không phải loại xúc xích khốn khổ một nửa độn mì hoặc bột đậu xanh mà là loại xúc xích thật sự, có gia vị, mỡ màng, nóng hổi, bỏ vào môi trôi vào miệng. Những cái ly cối đựng đầy có ngọn một thứ sôcôla sủi bọt, khoai tây chiên, hạt dẻ rang thơm lừng, táo nướng với nho nhồi ở giữa và món kem… ôi tuyệt vời, nó làm bạn có cảm giác như mình trở thành một người khác, với cảm giác mát lạnh trong cổ sau khi vừa xơi xong những món nóng. Jill ngồi dậy nhìn quanh. Puddleglum và Eustace nằm cách nó không xa vẫn ngủ say tít. - Chào hai người. – Jill kêu to. – Bộ quý vị không tính dậy hay sao? - Suỵt suỵt! – Một giọng ngái ngủ vang lên ở đâu phía trên đầu co bé. – Mọi thứ rồi sẽ đâu vào đấy. Được một giấc ngủ ngon hả? Đừng làm ồn chứ. - A ha, tôi tin là, – Jill reo lên đưa mắt nhìn một đám lông trắng mịn như tơ đang đậu trên một cái đồng hồ cũ kĩ để ở góc hang, – tôi tin kia chính là Glimfeather. - Thì đúng, thì đúng thế, – Cú rúc lên, thò đầu ra khỏi một bên cánh, đoạn mở một con mắt ra – Tôi mang một thông điệp đến cho hoàng tử vào lúc 2 giờ sáng. Bọn sóc truyền tin vui nức lòng đến chỗ chúng tôi. Còn chúng tôi mang tin nhắn khẩn đến cho hoàng tử. Chàng đã đi. Các bạn cũng phải đi theo. Chúc một ngày tốt lành! – Và cái đầu cú lại rúc vào một bên cánh. Dường như không thể moi thêm được tin gì từ cú nữa, thế là Jill đứng nhìn quanh xem có chỗ nào rửa mặt mũi và có cơ hội ăn điểm tâm không. Ngay lúc đó một thần rừng bé nhỏ chạy và hang với tiếng móng guốc nện côm cốp trên sàn đá. - Ôi, cuối cùng cô bé đã dậy, con gái của Eva ạ. Có lẽ cháu nên đánh thức con trai của Adam dậy. hai cháu sẽ rời khỏi đây trong vòng ít phúc nữa. Hai vị nhân mã đã có nhã y mời các cháu cưỡi lên lưng họ để trở về Cair Paravel. – Đến đây ông nói thêm giọng nhỏ hơn – Tất nhiên cháu cũng nhận ra đây là một vinh dự đặc biệt chưa từng thấy nghe thấy ở Narnia chứ? Được bay đi trên lưng nhân mã! Tôi không biết là đã từng nghe có ai được vinh dự này chưa. Không nên để cho họ chờ đợi lâu. - Thế hoàng tử đâu? – Đó là câu hỏi đầu tiên của Puddleglum và Eustace lúc mở mắt thức dậy. - Chàng đã đi gặp vua cha ở Cair Parave. – Vị thần rừng có tên là Orruns nhanh nhảu đáp – Con tàu của đức vua có thể cập bến sớm. Có vẻ như vua đã gặp được Aslan – tôi không biết là trong mộng hay được gặp mặt hẳn hoi – trước khi tàu đi quá xa. Aslan đã bảo vua quay tàu về và nói ngài sẽ tìm thấy người con thất lạc lâu ngày đang đợi mình ở Cair Paravel. Eustace đã tỉnh táo, nó và Jill giúp Orruns một tay chuẩn bị bữa ăn sáng. Người ta bảo Puddleglum cứ nằm nghỉ trên giường. Một nhân mã tên là Cloudbirth, một người chữa bệnh rất mát tay sẽ đến khám vết thương ở chân cho bác. - Ối giời! Puddleglum vội nói với giọng gần như là mãn nguyện . – Chắc ông ta chỉ muốn cắt béng cái chân của tôi đến đầu gối thôi, tôi thì tôi còn lạ gì. Cứ chờ xem ông ta có làm như thế không. Trong thâm tâm bác ta rất vui sướng, khi được nằm nướng trên giường. Bữa điểm tâm có món trứng ốp la và bánh mì nướng, Eustace chén rất nhiệt tình cứ như thể nó chẳng hề ăn một bữa tối thịnh soạn vào nửa đêm hôm qua. - Này, con trai của Adam, – thần rừng ngạc nhiên khi thấy Lông Vịt tọng hết miếng này đến miếng khác vào miệng, – không cần thiết phải vội vã như vậy. Tôi không nghĩ là các nhân mã đã ăn xong bữa sáng của họ. Nếu như vậy thì họ dậy trễ đấy. Tôi đoán bây giờ cũng đã quá 10 giờ rồi. - Ồ không, – Orruns nói, – họ trở dậy trước khi trời sáng. - Thế thì chắc họ phải đợi thật lâu mới được ăn sáng. – Eustace đưa ra kết luận. - Cũng không phải vậy nốt. Họ bắt đầu ăn vào ngay cái phút mà họ thức dậy. - Khiếp! Chắc họ ăn hàng thúng uống hàng thùng hả? - Ôi, con trai của Adam, cậu không hiểu ư? Một nhân mã vừa có cái dạ dày của con người vừa có cái dạ dày của một ngựa. Tất nhiên cả hai cái đều muốn ăn sáng. Đầu tiên bác ta ăn cháu với cá pavenđơ và cật, rồi ăn thịt hun khói, trứng tráng, thịt heo muối để lạnh, bánh mì nướng, mứt cam, café và bia. Sau đó bắc ta bắt đầu chiều theo cái bao tử ngựa trong cơ thể mình bằng cách gặm cỏ trong vòng một hai tiếng rồi tráng miệng với món cám nóng và một ít lúa mạch, cuối cùng là một túi đường. Đó là lí do tại sao việc đòi hỏi một nhân mã ở lại đến cuối tuần lại đặc biệt đến như vậy. Vừa lúc đó nghe vang lên tiếng vó ngựa đạp vào đá rào rào ở ngoài cửa hang và bọn trẻ ngẩng đầu nhìn lên. Hai nhân mã, một râu đen, một râu vàng phủ dài xuống bộ ngực trần vĩ đại, đang đứng đợi chúng, đầu hơi cúi xuống một chút để có thể nhìn vào hang. Thế là hai đứa nhanh chóng kết thúc bữa sáng của chúng. Không ai dám nghĩ một nhân mã có vẻ buồn cười khi gặp họ. Họ là những người trang nghiêm, đường bệ, toát lên một vẻ khôn ngoan cổ kính, một điều họ học được từ cái vì sao và không dễ gì làm họ biểu lộ niềm vui hay sự giận dữ. Nhưng cơn giận của họ thì dữ dội và khủng khiếp như một trận bão tố một khi nó xảy ra. - Tạm biệt nhé bác Puddleglum thân yêu! – Jill nói và đi đến bên giường của bác Puddleglum già. – Cháu xin lỗi việc chúng cháu từng gọi bác là cái mền ướt. - Cả cháu cũng thế! – Eustace nói. – Bác chính là người bạn tốt nhất trên đời. - Và chúng cháu hy vọng sẽ được gặp bác lần nữa. – Jill nói thêm. - Không có cơ hội ấy đâu, tôi dám nói thế đấy. Tôi cũng không nghĩ rằng tôi còn có thể thấy cái túp lều của mình. Còn hoàng tử – một thanh niên dễ mến là thế – các cháu có nghĩ là chàng ta đủ mạnh mẽ không? Người khỏe mạnh mấy cũng bị hủy hoại vì sống lâu ở dưới lòng đất như thế. Coi xem, cả những người trai tráng vẫn có thể ra đi vào bất cứ lúc nào. - Puddlegum! – Jill phì cười. – Bác đúng là một tên đại bịp dễ thương nhất trên đời. Bác nói thì nghe sầu não như đang trong đám ma nhưng cháu tin bác là một người vui vẻ nhất. Bác nói như một kẻ hèn nhát sợ tất cả mọi thứ trên đời trong khi bác thật sự dũng cảm… như một chúa tể sơn lâm vậy. - Lại nói đến đám ma… – Puddleglum bắt đầu, nhưng Jill đã nghe thấy hai nhân mã sốt ruột gõ móng phía sau lưng và nó đã làm bác già ngạc nhiên bằng cách dang hai tay ôm cái cổ cò của bác, hôn lên khuôn mặt mai mái đến chụt một cái, trong khi Eustace bắt tay bác thật chặt. Sau đó cả hai đứa chạy về phía nhân mã còn Puddleglum lại ngả lưng xuống giường miệng lẩm bẩm một mình: - Thật không bao giờ mình ngờ được con bé lại làm thế. Cứ như thể mình là một gã bảnh trai không bằng Cưỡi trên người một nhân mã, không có gì phải nghi ngờ, chính là một vinh dự lớn (trừ Jill và Eustace chắc chắn trên đời này không có người nào được hưởng vinh dự đó) nhưng cũng có chỗ bất tiện. Bởi vì không có ai còn biết quý mạng sống của mình lại dám gợi ý là nên thắng yên cương trên người một nhân mã mà cưỡi ngựa không yên thì chẳng có gì sung sướng, nhất là Eustace một đứa chưa bao giờ học cưỡi ngựa. Nhân mã là một loại sinh vật hết sức lịch thiệp – theo cái lối trang trọng, tao nhã của lớp người nệ cổ. Khi phóng qua những cánh rừng Narnia họ không hề quay đầu lại, bình thản kể cho bọn trẻ nghe về đặc tính của các loại rễ cây và thảo mộc, sự tác động qua lại giữa các hành tinh, chín cái tên của Aslan cùng ý nghĩa của từng cái tên và những chuyện đại loại như vậy. Nhưng dù đau ê cả người vì bị xóc, hai đứa trẻ vẫn vui lòng hi sinh bất cứ cái gì để thực hiện lại chuyến đi ấy một lần nữa: được thăm lại những khóm rừng, những sườn đồi sáng lên lấp lánh dưới lớp tuyết tinh khôi, được nghe lại tiếng chào hỏi làm quen của lũ thỏ, sóc và chim chóc gặp trên đường, được ngửi lại một lần nữa bầu không khí ở Narnia và giọng nói của cây cỏ ở đây. Họ đi về phía sông, một dòng nước sáng ngời, xanh biếc tuôn chảy dạt dào trong ánh nắng mùa đông, xa xa phía dưới là cây cầu cuối cùng (ở gần thị trấn Beruna với những ngôi nhà mái đỏ ấm cúng). Khách qua sông bằng những chiếc sà lan do những người chèo đò cầm lái hoặc chính xác là những người cung quăng như Puddleglum bởi vì loại người này ở Narnia chủ yếu sống bằng nghề chở đò hoặc đánh bắt cá, nghĩ là gắn bó với sông nước. Sau khi đã qua phà, họ đi dọc bờ nam và đến Cair Paravel. Và kia chính là con tàu lộng lẫy cờ hoa mà hai đứa trẻ đã gặp khi lần đầu tiên đặt chân đến đây. Con tàu đang trôi về bến như một con thiên nga lớn. Tất cả những triều thần lại tụ họp trên đồng cỏ nằm giữa lâu đài và bến cảng để đón vua Caspian trở về. Rilian đã thay bộ đồ đen bằng một chiếc áo choàng màu đỏ khoác ra ngoài áo giáp bạc. Anh đầu để trần nôn nóng ra đứng sát tận mép nước cùng với người lùn Trumpkin trên cỗ xe lừa, để đón đợi cha mình. Hai đứa bé cảm thấy cò phần nào e ngại. Thế là chúng hỏi nhân mã xem chúng có thể ngổi trên lưng họ lâu hơn một chút để quan sát mọi việc từ trên cao không. Nhân mã đồng ý. Tiếng kèm trumpet bằng bạc phát ra một điệu nhạc hùng tráng từ boong tàu, âm nhạc lướt trên mặt sông đến tận chỗ đám đông đứng đợi. Các thủy thủ ném xuống một sợi dây tời, chuột (tất nhiên là các bạn chuột biết nói) và người cung quăng điều khiển con tàu bơi dần vào bờ, các nhạc công ẩn mình đâu đó trong đám đông bắt đầu tấu lên một khúc nhạc khải hoàn hùng tráng. Ngay lập tức một con thuyền galley hạ xuống, những chú chuột chạy lên chạy xuống chiếc cầu rút. Jill nghĩ sẽ nhìn thấy vị vua già từ từ bước ra. Nhưng rõ ràng là có trục trặc nào đó. Một quý ông với khuôn mặt tái mét bước lên, quỳ trước mặt hoàng tử và Trumpkn nhưng không ai nghe thấy họ nói gì với nhau. Nhạc vẫn chơi nhưng bạn có cảm giác có một cái gì đó làm cho bầu không khí trở nên bồn chồn. Sau đó, bốn nhà quý tộc khiêng một vật dài từ từ hiện ra trên boong tàu. Khi họ bắt đầu đi trên cầu tàu bạn có thể trông thấy cái họ đang khiêng: đó là vị vua già, xanh xao đang nằm bất động trên giường. Họ đặt cái giường xuống. Hoàng tử quỳ xuống bên cha, ôm lấy cha già. Họ có thể vị vua giơ tay lên chúc phúc cho con trai. Mọi người kêu lên chúc mừng nhưng đó là những tiếng kêu ỉu xìu buồn bã bởi vì ai cũng biết là có một điều gì đó không ổn. Chợt đầu nhà vua ngã xuống gối, các nhạc công ngừng chơi đàn, không khí im lặng chết choc bao trùm lên tất cả. Hoàng tử vẫn quỳ bên giường vua gục đầu xuống đấy, khóc. Có tiếng thì thầm và chuyện động trong đám đông. Sau đó, Jill nhận ra tất cả những người đội mũ trùm đều bỏ mũ xuống – trong số đó có cả Eustace. Rồi Jill nghe thấy tiếng phần phật và rậm rịch vang lên từ lâu đài, phóng tầm mắt về phía đó nó thấy một lá cờ lớn với hình ảnh sư tử vàng rực được mang xuống cột cờ. Sau đó cùng với những tiếng nỉ non của các dụng cụ đàn dây và tiếng rền rĩ ai oán của tù và, một khúc nhạc lễ tang bắt đầu được tấu lên, chậm rãi, bi thương. Lần này âm nhạc làm tin bạn như muốn vỡ ra, nhức nhối. Cả hai đứa cùng tụt khỏi lưng nhân mã (những sinh vật này không để ý đến chúng nữa). - Ước gì tớ đang ở nhà. – Jill phụng phịu nói. Eustace gật đầu, chẳng nói năng gì, chỉ cắn môi. - Ta đã đến! – Một giọng nói sâu thẳm vang lên từ phía sau, hai đứa giật mình quay lại thấy đó là Aslan, tỏa ánh hào quang, có thật và mãnh mẽ đến nỗi so với ông tất cả những sinh vật khác trông đều nhợt nhạt như cái bóng. Trong vài giây Jill quên mất việc ông vua vừa băng hà mà chỉ nhớ đến việc nó đã khiến Eustace rơi xuống vực, đã quên hầu hết các dấu hiệu và nhớ lại những lỗi lầm của mình cả những cuộc cãi vã. Nó chỉ muốn nói: “Con xin lỗi!” nhưng sao nó không thể mở miệng ra nói được. Sư tử đến gần, nhìn chúng với cái nhìn thấu suốt và cúi xuống, chạm đầu lưỡi vào khuôn mặt xanh xao của từng đứa và nói: - Đừng nghĩ đến những chuyện này nữa. Không phải bao giờ ta cũng trách mắng đâu. Các con đã hoàn thành công việc tao giao phó. - Thưa Aslan, – Jill nói – chúng con có thể về nhà bây giờ không ạ? - Hẳn rồi. Ta đến để đưa các con về mà. Đoạn ông há miệng thổi. Nhưng lần này bọn trẻ không cảm thấy mình bay trong không trung mà dường như chúng vẫn đứng nguyên tại chỗ, trong khi hơi thở hoang dại của Aslan thổi cho con tàu, ông vua vừa băng hà, tòa lâu đài, tuyết trắng và bầu trời mùa đông bay đi. Bởi vì tất cả những thứ này đều bay bồng bềnh trong không khí tựa như những làn khói còn bản thân chúng thì lại bất thình lình đứng trên một thảm cỏ xanh mượt giữa một rừng cây đại thụ, bên cạnh một dòng suối trong mát, nên thơ vào một ngày hè tươi sáng tràn ngập ánh mặt trời và long lanh tiếng chim kêu. Rồi hai đứa trẻ phát hiện ra rằng một lần nữa chúng lại đứng trên đỉnh núi cao vượt lên và nằm bên ngoài cái thế giới trong đó có Narnia. Đó là đỉnh núi của Aslan. Điều kì lạ là bản nhạc tiễn biệt dành cho vua Caspian vẫn vang lên mặc dù không có ai biết được nó vang lên từ đâu. Chúng đang đi dọc theo bờ suối, sư tử đi phía trước và bởi vì ông quá đẹp còn bản bi ca thì tràn ngập một âm hưởng tuyệt vọng, Jill không hiểu mắt nó ứa lệ vì cái gì. Thế rồi Aslan dừng lại, bọn trẻ nhìn xuống dòng suối. Và kia, trên lớp sỏi vàng óng giữa lòng suối, là vua Caspian, đã chết, nước chảy qua người ông như một lớp thủy tinh lỏng. Bộ râu dài trắng như bông lay nhẹ trong lòng nước như một loài rong. Cả ba người đứng lại, khóc. Cả Aslan cũng khóc: những giọt nước mắt lớn của sư tử vĩ đại, mỗi một giọt nước mắt còn quý hơn cả trái đất tựa như nó là một khối kim cương độc nhất. Jill nhận thấy rằng Eustace không giống một đứa trẻ khóc nhè hay một thằng con trai đang khóc và muốn giấu điều này, bạn nó khóc như một người đàn ông trưởng thành. Ít nhất thì đây cũng là một điều gần với cái điều nó có thể chịu được được, bởi vì trong thực tế, như sau này nó nói, con người dường như không có tuổi khi ở trên ngọn núi này. - Con trai của Adam, – Aslan nói, – con hãy vào bụi kia bẻ một cái gai mà con tìm thấy trong đó rồi đưa lại đây cho ta. Eustace vâng lời. Cái gai dài chừng ba phân, sắc như một mũi kim. - Hãy đâm nó vào móng vuốt của ta, con trai của Adam. – Aslan nói, giơ bàn chân trước bên phải lên, chìa cái móng lớn ra cho Eustace. - Con nhất định phải làm như thế sao? – Eustace nói. - Đúng! – Aslan đáp. Thế là Eustace cắn chặt hai hàm răng lại, ấn cái gai nhọn vào móng Aslan. Từ đó trào ra một giọt máu còn đỏ hơn tất cả những gì đỏ nhất mà bạn có thể nhìn thấy hoặc tưởng tượng. Giọt máu nhỏ xuống dòng nước bên trên cái xác của nhà vua. Cũng lúc đó điệu nhạc bi thương ngừng bặt. Xác vua Caspian bắt đầu có sự thay đổi. Bộ râu bạc trắng chuyển dần sang màu xám, rồi từ màu xám sang vàng, ngắn hơn, ngắn hơn rồi biến mất; đôi má hóp nhăn nheo trở nên tròn trịa, căng mọng; những nếp nhăn mở dần rồi biến mất. Đôi mắt vua mở to, cả mắt và môi đều cười và thoắt một cái vua nhảy lên, đứng trước mặt họ – một chàng thanh niên hay đúng hơn một chú bé (nhưng Jill không thể xác định rõ điều này bởi vi người ta không có một độ tuổi nhất định ở đất nước của Aslan. Tất nhiên, trên đất nước này những đứa trẻ ngu ngốc nhất là những bé thơ đúng nghĩa nhất còn những người lớn ngu ngốc nhất lại là những người trưởng thành nhất) Cậu bé nhào đến chỗ Aslan vòng đôi tay bé nhỏ để ôm lấy cái cổ to lớn của sư tử, hôn ông một cái bằng nụ hôn của một ông vua và Aslan hôn đáp lại bằng cái hôn của một vị chúa tể. Cuối cùng Caspian quay sang hai đứa bé. Nhà vua bật ra một tràng cười tươi vui với một niềm vui bồng bột trẻ thơ: - Cái gì thế này? Eustace ư? Eustace! Thế là cuối cùng cậu cũng đến được Nơi tận cùng thế giới. Lưỡi gươm tốt thứ hai của tôi đã bị cậu làm gãy khi đâm con rắn biển đâu rồi? Eustace bước lên một bước với đôi tay dang rộng, nhưng rồi nó lùi lại, hoảng sợ. - Coi này! Tôi nghĩ… – nó lập bập trong miệng, – tất cả đều rất tốt. Nhưng… nhưng không phải bệ hạ… Tôi muốn nói không phải bệ hạ đã… - Ồ, đừng có ngốc như thế chứ. – Caspian nói. - Nhưng, – Eustace nói, đưa mắt nhìn Aslan, – không phải… ông ấy… ông ấy đã chết rồi sao? - Phải, – sư tử nói bằng giọng nhẹ nhàng và Jill nghĩ rất có thể ông đang cười nho nhỏ trong cổ, – ông ấy đã chết. Con biết đây, hầu như ai cũng phải chết. Ta cũng vậy. Nhưng có một số người không biến đi hẳn. - Ồ, – Caspian nói, – tôi biết cái gì làm cậu bối rối rồi. Cậu nghĩ tôi là ma hoặc một cái gì đó rất ngớ ngẩn. Nhưng cậu không thấy sao tôi sẽ là ma nếu xấu hiện ở Narnia vào lúc này. Bởi vì tôi không còn thuộc về bất cứ nơi nào nữa. Nhưng người ta không thể là ma trên đất nước của mình. Tôi có thể là ma nếu tôi đi đến thế giới của bạn không? Tôi không rõ điều này đâu. Nhưng tôi cho rằng không phải trong thế giời các bạn bởi vì các bạn đang ở đây. Một hy vọng lớn bùng lên trong lòng hai đứa bé. Nhưng Aslan lắc cái đầu vĩ đại với cái bờm vang rực rỡ. - Không, các con thân yêu! Khi các con gặp ta ở đây một lần nữa các con có thể ở lại. Nhưng không phải lúc này. Các con phải quay lại cái thế giới của mình một thời gian. - Thưa ngài, – Caspian nói, – con bao giờ cũng mong muốn được tận mắt thấy thế giới của họ. Điều ấy có gì sai không ạ? - Con không thể mong muốn những gì sai trái nữa, bởi vì bây giờ con đã chết con trai ạ. Con sẽ thấy được thế giới của họ – trong vòng năm phút tính theo thời gian của họ. Sẽ không lâu hơn để con sắp đặt mọi thứ đúng chỗ. Rồi Aslan giải thích nơi mà Jill và Eustace sẽ trở về và tất cả những điều cần biết về trường Thực nghiệm: xem ra ông hiểu cũng rõ như chúng vậy. - Con gái, – Aslan nói với Jill, – con hãy bẻ một cành cây trong bụi. Jill làm theo, ngay lập tức cành cây trong tay nó biến thành một cái roi đi ngựa. - Bây giờ thì con trai của Aslan, con hãy rút gươm ra nhưng chỉ dùng chuôi gươm thôi bởi vì đấy chỉ là những kẻ nhút nhát và những đứa trẻ, không phải là những chiến binh thật sự dành cho con đâu. - Người sẽ đến cùng chúng con ư, Aslan? – Jill hỏi. - Bọn họ chỉ thấy cái lưng ta mà thôi. – Aslan nói. – Ông dẫn họ đi nhanh qua rừng và trước khi họ đi được một đoạn thì bức tường ở trường Thực nghiệm đã hiện ra trước mặt. Đến đây Aslan gầm lên vang động làm cho cả đến mặt trời cũng run rẩy trên trời cao và bức tường cao khoảng 10 thước sụp đổ trước mặt họ. Cả một mảng lớn. Mọi người nhìn qua chỗ bức tường sụp thấy xa xa phía dưới bụi cây là mái nhà của khu thể thao, cũng cái bầu trời mùa thu ảm đạm mà hai đứa trẻ đã thấy trước lúc bắt đầu cuộc phiêu lưu. Aslan quay lại nhìn Jill và Eustace, phà hơi thở vào người chúng, chạm lưỡi vào trán chúng. Đoạn ông nằm giữa đống gạch vụn của mảnh tường vừa bị phá, quay cái lưng vàng óng lại nước Anh, khuôn mặt cao quý hướng về phía xứ sở của mình. Cùng lúc đó Jill trông thấy một đám người mà nó biết rõ đang chạy qua bụi nguyệt quế về phía nó. Hầu hết băng đảng du côn đều có trong số này – Adela Pennyfather, Cholmondely Major, Edith Winterblott, “Spotty” Sorner, Bannister Cồ, và hai anh em sinh đôi nhà Garrett rất dễ ghét. Nhưng bất thình lình chúng dừng lại. Khuôn mặt chúng tay đổi, cái vẻ ti tiện, giả dối, độc ác và gian gải gần như biến mất chỉ còn lại biểu hiện duy nhất của nỗi kinh hoàng. Bởi vì trước mắt chúng một mảnh tường sập xuống, một con sư tử to như một con voi nằm ở ngay chỗ bức tường đổ và ba người mặc những bộ áo quần lộng lẫy, vũ khí trong tay xông về phía chúng. Nhờ sức mạnh của Aslan truyền cho, Jill múa gậy về phía bọn con gái, Caspian và Eustace vung chuôi gươm về phía bọn con trai với những đường kiếm tài tình đến nỗi chỉ trong vòng hai phút mấy đứa du côn bỏ chạy như lũ chó bị dội nước sôi, miệng la oai oái: - Quân giết người! Bọn phát xít! Sư tử! Không công bằng! Đúng lúc đó hiệu trưởng (là một phụ nữ) vội chạy đến xem có chuyện gì không. Đến khi bà thấy một con sư tử, bức tường bị phá hủy một mảng cùng Caspian, Jill và Eustace ( hai đứa này bà không nhận ra được), bà lên cơn kích động, vội vã quay về văn phòng gọi điện cho cảnh sát báo cáo rằng có một con sư tử trốn thoát khỏi một rạp xiếc và mấy người tù trại đã phá vỡ tường bao quanh trường. Bọn họ mang theo những thanh kiếm tuốt trần. Trong lúc nhốn nháo như vậy, Jill và Eustace lặng lẽ lẩn vào trong phòng ngủ thay bộ đồ rực rỡ của người Narnia mặc lại bộ đồng phục học sinh vào, còn Caspian thì trở về thế giới của mình. Sau một làn hơi của Aslen, bức tường tự khắc liền lại như cũ. Khi cảnh sát đến họ không thấy sư tử cũng chẳng có bức tường bị phá lẫn người tù nào. Hiệu trưởng đã hành động như một người mắc chứng “hoang tưởng” và thế là có một cuộc điều tra về toàn bộ vấn đề này. Trong cuộc điều tra ấy tất cả những vấn đề Thực nghiệm đều được đưa ra ánh sáng và có ít nhất 10 người bị cho nghỉ việc. Sau đó bạn bè của bà hiệu trưởng thấy bà không được việc với tư cách là một hiệu trưởng, đã mở một cuộc thanh tra với sự tham gia của những người làm công tác hiệu trưởng khác. Khi đã có bằng chứng cho thấy bà không đủ phẩm chất và tài năng để đảm nhiệm cương vị của mình họ đã đưa bà vào nghị viện và ở đấy bà sống hạnh phúc cho đến hết đời. Vào một đêm nọ, Eustace chôn bộ quần áo đẹp của nó một cách bí ẩn ở một góc trường, còn Jill thì lén đem nó về nhà và diện bộ đồ đó trong một đêm dạ hội hóa trang và kì nghỉ tiếp theo. Kể từ ngày ấy, mọi chuyện xảy ra theo chiều hướng tốt hơn ở trường Thực nghiệm và nó trở thành một ngôi trường tốt. Còn cách thật xa nơi ấy, tận Narnia xa xôi, vua Rilian an táng cha của mình, Caspian – nhà hàng hải – và thương nhớ tiên hoàng rất nhiều. Nhà vua trẻ điều hành đất nước rất giỏi. Narnia là một xứ sở của niềm vui trong suốt khoảng thời gian Rilian làm vua, mặc dầu Puddleglum – người sau đó ba tuần đã có một cái chân “ngon lành” như chân mới – thường chỉ ra rằng những sớm mai tươi đẹp bao giờ cũng kéo theo những buổi chiều ẩm ướt, u ám và bạn không thể mong mặt trời hạnh phúc sẽ chiếu sáng muôn đời. Cái hố bên sườn đồi vẫn để ngỏ và thường thường vào những ngày hè oi bức, người Narnia đến đây với những con tàu, đèn đuốc sáng trưng, cùng nhau đi xuống biển đêm vĩnh cửu. Họ giong buồm vui chơi và ca hát trong không khí mát lạnh, đen mượt như nhung của mặt biển, rồi kể cho nhau nghĩ những câu chuyện về các thành phố nằm sâu phía dưới. Nếu có bao giờ bạn có được may mắn đến Narnia, chớ quên ghé thăm những cái hang này, bạn nhé. HẾT PHẦN 6
__________________
|
|
#95
|
||||
|
||||
|
BIÊN NIÊN SỬ NARNIA PHẦN 7 - TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG CHƯƠNG 1 Lừa và vượn Trong một tai nạn tàu hỏa, Jill và Eustace được đưa tới Narnia bởi một cú ném mạnh, chúng phát hiện ra mọi thứ thật hỗn loạn và đáng nghi ngờ. Shift, con khỉ thông minh nhất, xấu xí nhất và cũng nhăn nheo nhất, đã thuyết phục con lừa Puzzle khờ dại đáng thương mặc bộ da sư tử và đóng giả làm Aslan. Và khi “Aslan” bắt đầu đưa ra những mệnh lệnh kinh khủng thì tất cả muông thú và các chú lùn đều cảm thấy bối rối không biết phải làm gì và phải tin vào ai. Và giờ đây, Tirian, vua của Narnia, phải ngay lập tức hành động trước khi các loài thú hỗn loạn và sự thanh bình của vương quốc bị phá hỏng. Một sự ngạc nhiên khi Peter, Edmund và Lucy cùng hợp sức với Jill và Eustace để giúp vua Tirian trong trận chiến ác liệt quyết định tương lai của vương quốc đã từng một thời huy hoàng của vùng đất Narnia. Narnia bị diệt vong hay đang được hồi sinh? Đây là chuyến phiêu lưu thứ bảy và cũng là cuối cùng của bộ truyện hấp dẫn: Biên niên sử về Narnia. Vào những ngày cuối cùng ở Narnia, ngược lên phía tây ở vùng biên giới gần vùng Cột đèn hoang, bên một thác nước hùng vĩ có một con vượn. Con vật này già đến nỗi không một ai nhớ được ngày đầu tiên lão đến sống ở vùng này là khi nào. Lão là một con vượn thông minh nhất, xấu xí nhất và già nua nhất trong số các con vượn mà bạn có thể tưởng tượng ra được. Lão có một nếp nhà nhỏ dựng bằng gỗ, mái lợp bằng lá tựa vào một chạc cây cổ thụ. Tên lão là Shift. Có một vài con thú biết nói, hoặc con người, cũng có thể là người lùn, hay một loại người nào đấy sống trong khu rừng này, nhưng Shift chỉ có một người bạn và cũng là người hàng xóm của lão, chú lừa Puzzle. Ít nhất thì cả hai đều tự nhận là bạn bè, nhưng căn cứ vào những gì diễn ra bạn có thể nghĩ Puzzle là đứa đầy tớ không công hơn là bạn bè chí cốt của Shift. Chú ta làm tất tật mọi việc. Khi họ cùng nhau ra bờ sông, Shift là người kín đầy những bao da đựng nước còn Puzzle mới là người thồ về. Khi họ muốn mua sắm gì đó ở các thị trấn nhỏ nằm xuôi dưới hạ nguồn thì Puzzle là người ra đi với những cái sọt rỗng và trở về với những cái sọt vừa đầy vừa nặng. Tất thảy những gì ngon lành nhất mà Puzzle mang từ trong phố chợ về đều chui cả vào miệng Shift. Bởi Shift nói: - Thế đấy anh bạn Puzzle ạ, tôi đâu có ăn cỏ và quả cây kế như chú được, vì thế âu cũng là chuyện công bằng khi tôi phải ăn uống bằng những món khác. Và Puzzle bao giờ cũng nhanh nhảu đáp: - Dễ thường tôi không biết ư? Tất nhiên tôi phải thấy rõ điều đó chứ. Puzzle chẳng bao giờ hé răng than phiền vì chú biết Shift khôn ngoan hơn mình vạn lần và chú còn lấy làm cảm kích là Shift lại chịu hạ cố đánh bạn với mình. Nếu như có bao giờ Puzzle toan tranh cãi thiệt hơn về một chuyện gì đó thì câu cửa miệng của Shift luôn là: - Này chú Puzzle, tôi thì tôi hiểu điều hay lẽ phải hơn chú chứ. Chú cũng biết là mình không được khôn ngoan lắm kia mà. Thế là y như rằng Puzzle chỉ còn nước nói với bạn: - Bác nói đúng, Shift à. Sự thật là thế! Tôi quả là một kẻ chậm tiêu. Sau đó nó thở dài sườn sượt và nhắm mắt làm theo bất cứ cái gì mà Shift nói. Vào một sớm tinh mơ, bọn chúng đi dọc ven bờ hồ Caldron. Đó là một hồ nước rộng nằm ngay dưới chân những vách đá ở miền cực tây Narnia. Thác nước hùng vĩ đổ vào lòng hồ với một âm thanh không dứt, nghe như tiếng sấm rền muôn thuở, và con sông Narnia cũng đổ vào hồ từ phía đối diện. Con thác làm cho nước trong hồ bao giờ cũng nhảy múa, sôi sục, nổi sóng và cũng chính vì thế mà nó được mang tên Caldron tức là Vạc nước sôi. Hồ nước sống động nhất là vào những ngày đầu xuân khi dòng nước tràn lên với tất cả những khối băng tuyết khổng lồ tan ra chảy xuống từ các dãy núi cao bên ngoài Narnia, nơi miền Tây hoang dã và cũng là thượng nguồn của dòng sông. Trong lúc cả hai ngắm nhìn mặt hồ, Shift bất thần giơ một ngón tay đen đúa cóc cáy chỉ xuống nước và nói: - Coi kìa! Cái gì thế kia? - Đó là cái gì vậy? – Puzzle cũng hỏi lại. - Cái vật vàng vàng từ dòng thác chảy xuống kia kìa. Nhìn coi! Đấy nó đấy, nó đang nổi lên kia kìa. Chúng ta phải tìm hiểu coi nó là cái gì. - Chúng ta? - Tất nhiên chúng ta phải tìm hiểu. Shift nói. – Biết đâu đó là một vật có ích. Chú hãy nhảy xuống hồ như một con người và vớt nó đưa lên đây coi. Sau đó chúng ta có thể đưa ra một kết luận thích đáng. - Nhảy xuống hồ ư? – Puzzle hỏi lại, vẫy vẫy đôi tay dài. - Phải, làm sao chúng ta có thể vớt được nó nếu chú không nhảy xuống hử? – lão Vượn dài giọng hỏi. - Nhưng… nhưng mà… chẳng phải bác nên là người lội xuống nước hơn tôi sao? Bởi vì bác thấy đấy, bác mới là người muốn biết đó là vật gì, còn tôi, tôi chả quan tâm lắm đâu. Với lại bác còn có đôi tay. Bác cũng khéo léo như một con người hay như một chú lùn khi cầm nắm hay bắt giữ vật gì. Còn tôi thì chỉ có bộ móng vuốt vụng về. - Ra thế đấy, Puzzle. – Shift giận dỗi nói. – Tôi chưa bao giờ dám nghĩ là chú lại có thể nói ra một điều như thế. Có nằm mơ tôi không dám nghĩ như thế đâu, thật đấy. - Vậy à, thế tôi đã nói điều gì không phải hay sao? – Lừa hỏi lại với giọng nhũn nhẵn hết sức bởi chú thấy Shift phật ý ghê gớm. – Tất cả điều tôi muốn nói chỉ là… - Muốn thằng già này nhảy xuống nước phải không? Làm như chú không biết mười mươi rằng loài vượn có một bộ ngực yếu ớt và dễ bị cảm lạnh như thế nào! Thôi được. Cứ để tôi nhảy xuống. Tôi đang lạnh run lên trong cơn gió tai ác này đấy. Nhưng tôi sẽ xuống nước. Có thể là tôi sẽ chết lúc ấy thì chú tha hồ mà ân hận! Hức hức hức! – Và đến đây giọng Shift nghẹn lại nghe như thể lão ta sắp khóc đến nơi rồi. - Xin bác đừng thế, đừng như thế mà. – Puzzle nói, nửa như be lên nửa như van nài. – Tôi chẳng có ý gì như vậy đây, Shift à, thật đấy. Bác cũng biết là tôi ngu ngốc như thế nào mà, trong một thời điểm tôi đâu có thể nghĩ ra được hơn một điều. Tôi cũng quên mất cái phổi yếu ớt của bác. Tất nhiên, để tôi nhảy xuống nước. Bác không được tự ý làm việc đó nhé. Bác phải hứa với tôi đấy. Thế là Shift hứa hẹn còn Puzzle thì lộp cộp bốn vó quanh bờ đá ven hồ tìm một chỗ có thể lội xuống. Chưa kể đến dòng nước buốt giá vào mùa này, thì nội cái việc dòng nước lúc nào cũng sôi sùng sục và nổi bọt khiến Puzzle run rẩy và tần ngần hồi lâu trước khi quyết định. Nhưng Shift đã eo éo sau lưng chú: - Puzzle, thôi cứ để đấy tôi làm. Nghe thế Puzzle vội đáp: - Không, không được. Bác đã hứa với tôi rồi mà. Để tôi lội xuống ngay bây giờ đây! – Nói rồi chú bước xuống nước. Dòng nước nổi bọt trắng xóa dìm chú chìm nghỉm xuống đáy, xộc vào mõm và mắt chú mờ tịt, cay xè. Chú nhắm mắt, nín thở đi bừa mấy bước, chỉ mấy bước thôi nhưng khi ngoi đầu lên khỏi mặt nước chú đã ở một chỗ khác. Một xoáy nước tóm lấy chú, xoay tròn xoay tròn mang đi xa, xa hơn cho đến khi chú thấy mình ở ngay dưới chân thác. Cả khối nước khổng lồ đổ ập lên người chú, dúi chú xuống sâu, sâu hơn nữa. Chao ơi, chú nghĩ là mình không thể nín thở lâu hơn nữa, bằng giá nào cũng phải ngóc đầu lên. Cuối cùng chú cũng ngoi lên được, bơi đến gần cái vật màu vàng và chú cố quơ lấy. Nhưng nó lại trượt khỏi tầm với, lặn xuống dưới dòng thác và chìm tuốt dưới đáy. Khi vật đó nổi lên một lần nữa, nó trôi đi, cách xa chú hơn bao giờ hết. Một hồi lâu sau, khi lừa ta đã mệt gần chết, toàn thân bầm dập và tê cứng vì lạnh, thì may mắn làm sao chú lại tóm được nó bằng hai hàm răng. Lừa đẩy cho cái vật đó đi trước, dùng chân trước giữ chặt lấy nó, bởi vì nó vừa to vừa cồng kềnh như một tấm thảm trải trước lò sưởi lại rất nặng, cứng ngắc và trơn trượt. Chú lôi cái vật đó đến trước mặt Shift rồi đứng đó run lẩy bẩy, nước nhỏ từ trên thân xuống thành vũng dưới chân. Chú cố lấy lại nhịp thở bình thường, nhưng lão già nào thèm để mắt đến chú hoặc hỏi xem chú có mệt không. Vượn đang bận rộn đi quanh cái vật đó, trải nó ra, vỗ vỗ lên nó rồi hít hít ngửi ngửi. Một ánh sáng độc ác lóe lên trong cặp mắt lão và lão tuyên bố: - Đây là một tấm da sư tử? - Ách xì… ách xì… à… à, có thể như thế không? – Puzzle vừa hắt hơi vừa hỏi. - Mình tự hỏi… tự hỏi… tự hỏi. – Shift lẩm bẩm nói một mình, bởi vì lão đang có một ý nghĩ rất “độc”. - Tôi tự hỏi, ai giết con sư tử tội nghiệp này – Bây giờ lừa mới có thể nói ra lời được. – Cần phải đem đi chôn. Chúng ta hãy tổ chức một đám ma. - Ồ, đây không phải là một con sư tử biết nói. – Shift gạt đi. – Chú không cần phải lo chuyện thiên hạ. Chẳng có con thú biết nói nào lại leo tuốt trên những ngọn thác hay sống ở miền tây hoang dã này. Tấm da này chắc là của một con sư tử hoang không biết nói. Điều vượn nói là đúng. Một người thợ săn đã giết chết một con sư tử rồi lột da nó ở nơi nào đó trong miền tây hoang dã vài tháng trước. Nhưng điều này không có liên quan nhiều đến câu chuyện đang kể. - Tôi cũng chỉ nói thế thôi Shift à – Puzzle nói – dẫu tấm da này có là của một con sư tử hoang, câm lặng thì chúng ta cũng nên để nó mồ yên mả đẹp, phải không? Ý tôi là, chẳng phải tất cả loài sư tử đều à mà… đều không uy nghiêm hay sao? Bởi vì bác biết, a! Bác hiểu ý tôi chứ? - Chú bắt đầu nhồi những ý nghĩ vớ vẩn như thế vào đầu từ hồi nào vậy, Puzzle? Này, chính anh bạn cũng biết rõ, suy nghĩ không phải là điểm mạnh của chú mà. Chúng ta sẽ biến tấm da này thành một cái áo khoác mùa đông ấm áp cho chú mình. - Ôi, tôi không nghĩ là thích như thế đâu, – lừa đáp, – nó sẽ giống… tôi muốn nói… nhưng con thú khác sẽ nghĩ… biết nói thế nào nhỉ, tôi sẽ không cảm thấy… - Coi kìa chú đang nói gì vậy? – Shift hỏi vừa gãi lên người sồn sột không giữ phép lịch sự gì cả, đúng cái kiểu bất chấp tất cả của một con vượn. - Tôi không nghĩ làm thế sẽ bày tỏ lòng kính trọng của tôi đối với sư tử Vĩ đại, với Aslan… một con lừa như tôi lại khoác lên người một bộ da sư tử. Không được đâu. - Thôi, thôi đừng đứng đó lý sự nữa. Một con lừa như chú thì biết cái quái gì về những chuyện này cơ chứ? Chú cũng biết là mình không có khả năng suy nghĩ, vậy sao không để việc đó cho tôi? Tại sao không đối xử với tôi như tôi đã đối xử với chú? Tôi không nghĩ mình có thể làm được tất cả mọi chuyện. Tôi biết chú tốt hơn tôi ở một vài phương diện. Đó là lí do tại sao tôi lại đi cùng chú đến đây, tôi biết chú làm việc này tốt hơn tôi. Vì vậy, cứ để tôi làm một việc gì cho chú trong khả năng của mình trong khi chú thì lại không. Chẳng lẽ tôi không nên làm những việc như thế? Phải công bằng chứ. Ở đời có qua thì phải có lại mà. - Ồ tất nhiên, nếu bác đã nói thế thì… - Để tôi bảo cho chú biết việc cần làm. – Shift nói. – Chú nên chạy một cuốc cho nóng người lên, xuôi xuống bờ sông đi đến tận Chippingford coi xem họ có cam hay chuối gì không. - Nhưng tôi kiệt sức rồi Shift. – Puzzle năn nỉ. - Phải nhưng chú cũng lạnh và ướt mèm cả người. Chú phải làm một cái gì cho nóng người lên chứ. Chạy một đoạn đường sẽ làm được điều đó. Với lại, hôm nay ở Chippingford có chợ phiên đấy. Tất nhiên đến nước này thì Puzzle đành phải làm theo ý bạn. Khi lừa đã đi khuất, vượn ta lao vùn vụt đi, có lúc đi bằng hai chi dưới, có lúc đi bằng cả bốn chi cho đến khi về đến cái cây của lão. Đoạn lão nhảy chuyền từ cành này sang cành khác, miệng kêu kèng kẹc và cười nhăn nhở suốt dọc đường. Lão nấn ná một lúc rồi mới đi vào trong ngôi nhà của mình. Ở đó, lão lôi ra hộp kim chỉ và một cái kéo lớn, những món đồ mà lão vẫn có trong nhà bởi vì lão là một con vượn thông minh và các chú lùn đã dạy lão khâu vá. Lão ngậm đầu sợi chỉ (một loại chỉ thô và dày trông giống như một thứ dây thừng loại nhỏ nhiều hơn là sợi chỉ) trong miệng, một bên má lão phồng lên như thể lão đang ngậm một viên kẹo lớn. Lão ngậm cái kim giữa hai môi và cầm cái kéo bằng chi trước bên trái. Sau đó lão nhảy xuống đất, lết sệt sệt đến chỗ bộ da sư tử, ngồi chồm hổm xuống và bắt tay vào việc. Lão thấy ngay thân hình của sư tử quá dài so với Puzzle trong khi cái cổ lại quá ngắn. Thế là lão cắt ngắn phần thân và chỗ thừa đó cũng may được một cái cổ áo cho lừa. Sau đó lão cắt phần đầu sư tử, nối cổ áo đó giữa đầu và vai. Lão khâu thêm hai đường ở thân sau cho nó vừa khít với bụng và ngực lừa. Mỗi khi có một con chim nào bay qua đầu, Shift lại ngừng tay khâu áo, ngước nhìn lên lo lắng. Nhưng không có con nào trong số đó là con chim biết nói, nên lão cũng yên tâm. Xế chiều hôm đó Puzzle mới quay về. Chú không phi nước kiệu mà mệt mỏi đi bước một với dáng đi nhẫn nại của loài lừa. - Chẳng có cam, cũng chẳng có chuối, còn tôi thì mệt bã cả người. – Lừa nói và nằm phủ phục xuống đất. - Hãy đến đây mặc thử cái áo lông sư tử đẹp đẽ, mới tinh này xem nào. – Shift nói. - Ôi dào, chỉ là một tấm da cũ mèm, chán chết. – Puzzle nói. – Tôi sẽ mặc thử vào sáng mai. Tối nay tôi đã hết sức rồi… - Puzzle, chú chẳng biết điều chút nào cả. Nếu chú mệt, thì chú nghĩ tôi sung sướng lắm hả? Suốt cả ngày hôm nay trong lúc chú có dịp được tản bộ xuống thung lũng lấy lại sức thì tôi phải còng lưng may áo cho chú. Tay chân tôi mỏi nhừ đến nỗi khó mà có thể cầm nổi cái kéo. Thế mà bây giờ chú không thèm nói một câu cám ơn… thậm chí cũng không thèm liếc nhìn lấy một cái… chú không thèm quan tâm… và… và… - Ôi bác Shift thân yêu! – Puzzle thốt lên, lập tức đứng phắt dậy. – Tôi thật có lỗi. Tôi… tôi thật quá lắm. Tất nhiên tôi cũng muốn mặc thử lắm. Trông nó đẹp quá trời. Để tôi thử ngay bây giờ. Xin bác đấy. - Được, vậy thì cứ đứng nguyên chỗ đấy. – Vượn nói. Tấm da quá nặng để cho lão nhấc lên nhưng cuối cùng với sự cố gắng lôi, kéo, đẩy và với những hơi thở hổn hển, dồn dập lão cũng khoác được lên người lừa. Lão khâu hai mép da lại dưới bụng Puzzle, khâu kín cả bốn chân và cái đuôi lại cho vừa khít. Chiếc mũi xám và một phần khuôn mặt Puzzle lộ ra qua cái miệng rộng trên lớp da đầu của sư tử. Không một ai đã từng trông thấy sư tử thật lại có thể nhìn nhầm lừa với chúa tể sơn lâm. Nhưng nếu ai đó chưa bao giờ gặp sư tử có thể nhìn Puzzle trong lốt sư tử của nó mà tưởng đó là một con sư tử, với điều kiện trời không đủ sáng và người ấy không đến quá gần, cũng như nếu Puzzle không thoát ra những tiếng kêu be be và gây nên bất cứ một tiếng động nào với những cái móng guốc nặng nề, thô kệch của loài lừa. - Trông chú tuyệt lắm, tuyệt lắm. – Vượn tấm tắc khen. – Kẻ nào trông thấy chú vào lúc này mà không nghĩ là gặp chính Aslan, sư tử vĩ đại thì tôi… tôi sẽ không phải là một thằng vượn già, lõi đời trong vùng này. - Nhưng như thế thì kinh khủng quá! - Có gì kinh khủng nào. Tất cả mọi sinh vật rồi đây sẽ đều cúi đầu làm theo lệnh của chú. - Nhưng tôi chẳng muốn sai khiến ai làm cái gì hết. - Chú phải nghĩ đến những chuyện chúng ta có thể làm với nhau chứ. – Shift nói. – Chú cũng biết là luôn có tôi ở bên cạnh làm quân sư cho chú. Tôi sẽ nghĩ ra được những cái lệnh hợp lí cho chú. Thế thì bất cứ kẻ nào cũng phải nghe lời chúng ta, kể cả đức vua. Chúng ta sẽ lập lại trật tự ở Narnia. - Nhưng chẳng phải là mọi việc đều đang rất tốt đó sao? - Cái gì? – Shift bật lên – Tốt đẹp? Tốt đẹp gì mà lại chẳng có chuối có cam gì hết. - Nhưng mà bác cũng biết đấy, – Puzzle nói, – không có bao nhiêu người… trên thực tế tôi không nghĩ có bất cứ ai ngoài bác… muốn những thứ đó. - Và cả đường cát nữa… – Shift nói. - Hừm, đúng, sẽ tốt hơn nếu có thêm đường để nhắm nháp. - Nếu vậy, mọi việc đã được an bài. Chú sẽ giả làm Aslan và tôi sẽ bảo cho chú biết phải hành động như thế nào. - Không, không, không. Đừng nói những chuyện kinh khủng như vậy. Làm thế là sai, Shift à. Có thể tôi chẳng được khôn ngoan cho lắm nhưng tôi biết rõ chuyện này. Cái gì sẽ xảy ra với chúng ta nếu như Aslan thật xuất hiện? - Tôi cho là ông ta sẽ không hài lòng. Có lẽ chính ông ta đã gửi đến cho chúng ta tấm da sư tử với mục đích ấy, để chúng ta có thể lập lại trật tự cho hết thảy mọi vật. Dù sao thì ông ấy cũng không bao giờ xuất hiện. Ít nhất là trong giai đoạn này. Đúng lúc đó vang lên tiếng sấm nổ đùng đùng ngay phía trên đầu họ, mặt đất rung lên với cơn chấn động. Hai con vật mất thăng bằng, ngã dúi mặt xuống. - Thấy chưa. – Puzzle be lên ngay khi chú kịp hoàn hồn. – Đó là một dấu hiệu, một lời cảnh cáo. Tôi biết chúng ta đang làm một việc cực kì xấu xa. Cởi ngay cái tấm da chết tiệt này ra khỏi người tôi. - Không, không. – Vượn đáp (đầu óc của lão làm việc rất nhanh). – Đó là một điềm báo nhưng theo một nghĩa khác. Tôi đang định nói là nếu Aslan thật – như chú gọi ông ta – muốn chúng ta tiếp tục làm chuyện này, ông ấy hẳn phải gửi đến cho chúng ta một tiếng sấm và một cơn chấn động. Điều ấy đã ở trên đầu lưỡi của tôi rồi đấy chứ, chỉ có điều dấu hiệu chuẩn y này lại đến trước khi tôi tìm đủ lời để nói. Thôi, thôi Puzzle chú hãy cứ làm như thế đi. Làm ơn đừng để anh em ta phải cãi vã nhau về chuyện này nữa. Chú cũng biết là chú đâu có hiểu những chuyện này nhiều. Một con lừa thì biết quái gì về các điềm báo?
__________________
|
|
#96
|
||||
|
||||
|
PHẦN 7 - TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG CHƯƠNG 2 Sự liều lĩnh của nhà vua trẻ Ba tuần sau, vị vua cuối cùng của Narnia ngồi dưới một gốc sồi đại thụ mọc gần cửa ra vào ngôi nhà đi săn của hoàng gia, nơi các đời vua thường đến ở một thời gian khi trời vừa sang xuân. Đó là một ngôi nhà tranh thấp cách không xa biên giới phía đông của vùng Cột đèn hoang là bao. Nó tọa lạc ngay phía trên chỗ giao nhau của hai dòng sông một chút. Ông vua trẻ thích cuộc sống đơn giản, thanh tịnh nơi này, tránh xa triều đình và cuộc sống náo nhiệt ở kinh thành Cair Paravel. Đó là vua Tirian và mới chỉ ngoài hai mươi tuổi. Đôi vai rộng, cường tráng, cánh tay nổi lên những bắp thịt rắn chắc và bộ râu quai nón phớt một đường xanh rì, chàng có đôi mắt xanh biếc và khuôn mặt trung thực quả cảm. Không có ai ở bên chàng vào buổi sáng mùa xuân hôm ấy trừ người bạn thân nhất, con kì lân Jewel. Họ thương yêu nhau như anh em trai, cả hai đã cứu sống nhau trong những lần vào sinh ra tử ngoài trận mạc. Con vật uy nghiêm, đường bệ đứng cạnh ghế nhà vua, trên cái đầu tròn trặn đẹp đẽ là một chiếc sừng màu xanh tao nhã tương phản với cái ức có màu trắng như váng sữa. - Tôi không thể bắt mình làm bất cứ việc gì hoặc chơi một trò thể thao nào, Jewel à. – Nhà vua nói. – Tôi không thể nghĩ đến bất cứ chuyện gì ngoài cái tin tuyệt vời này. Cậu có nghĩ là chúng ta sẽ nghe được nhiều tin tức hơn trong ngày hôm nay không? - Sẽ là cái tin tốt lành nhất mà tôi nghe nói đến trong thời của chúng ta hay cha mẹ của chúng ta hay ông bà chúng ta, thưa bệ hạ, – Jewel nói, – … nếu đó là sự thật. - Còn có thể là cái gì nữa nếu không phải là sự thật hả Jewel? Mới cách đây hơn một tuần…lần đầu tiên những con chim bay qua đầu chúng ta nói rằng Aslan đang ở đây, rằng Aslan đã trở về Narnia. Sau đó lũ sóc cũng nói vậy. Họ còn chưa gặp người nhưng họ nói chắc chắn Aslan đang có mặt trong rừng. Tiếp đến là hươu cao cổ đã khẳng định chính mắt mình nhìn thấy người ở một khoảng cách khá xa, ở Cột đèn hoang, dưới ánh trăng. Rồi một người da nâu có để râu, một thương nhân đến từ Calormen, cậu cũng rõ người Calormen không tôn thờ Aslan như chúng ta, và điều ông ta nói là một cái gì ở ngoài vòng nghi vấn. Còn một con lửng nữa, đêm qua nó đã trông thấy Aslan. - Đúng thế thưa bệ hạ. Thần tin tất cả những chuyện đó. Nếu như thần có vẻ không dám chắc thì chỉ là vì niềm vui của thần quá lớn đã khiến cho thần không dám tin tưởng quá mà thôi. Điều này gần như là quá tốt đẹp để có thể là sự thực. - Phải. – Vua đáp với một tiếng thở dài thật sâu gần như rung lên nhè nhẹ vì sung sướng. – Nó vượt ra ngoài tất cả những điều tôi hy vọng trong suốt cuộc đời này. - Nghe kìa, nghe kìa! – Jewel nói, nghiêng đầu sang một bên và dỏng tai về phía đó. - Có gì vậy? - Tiếng vó ngựa, tâu bệ hạ. – Jewel nói. – Có tiếng vó ngựa đang phi nước đại. Một con ngựa rất lớn. Chắc phải là một con nhân mã. Và kia, ông ấy đã đến. Nhân mã với một chòm râu lớn, vàng óng, những giọt mồ hôi của con người rịn ra trên trán, những giọt mồ hôi ngựa sủi bọt hai bên lườn màu hạt dẻ. Nhân mã lao tới chỗ nhà vua ngồi, dừng lại và cúi đầu chào: - Thánh thượng vạn tuế! – Nhân mã kêu lên với cái giọng âm âm trong lồng ngực nghe như giọng của một con bò mộng. - Xin chào! – Vua đáp, quay lại phía cánh cửa ngôi nhà đi săn và nói vọng vào. – Chuẩn bị một tô rượu ngon cho nhân mã ưu tú. Rất mừng là ông đã đến đây. Khi ông đã tìm lại được nhịp thở của mình rồi hãy nói cho chúng tôi hay, ông đến đây có việc gì. Một thị đồng bước ra khỏi cửa, hai tay bưng một chiếc tô lớn bằng gỗ có chạm những hình thù kì lạ và trao cho nhân mã. Vị khách giơ chiếc tô lớn lên trịnh trọng nói: - Thần uống trước là vì Aslan và sự thật, sau đó là vì sức khỏe của bệ hạ. Ông uống một hơi hết chỗ rượu (đủ cho 6 người đàn ông khỏe mạnh) rồi trả lại cái tô không cho thị đồng. - Nào, ông mang tin tức về Aslan cho chúng tôi phải không? – Vua hỏi nhân mã giọng lộ vẻ bồn chồn, đôi lông mày cau lại. - Tâu bệ hạ! Người biết rõ lão thần đã sống và nghiên cứu thuật chiêm tinh trong một thời gian dài bởi vì loài nhân mã sống thọ hơn loài người, thậm chí còn có tuổi thọ cao hơn kì lân nữa anh bạn Jewel ạ. Từ hồi nào đến giờ chưa bao giờ thần thấy những điều kinh khủng như thế được viết trên bầu trời mà những điều này lại xuất hiện từ đầu năm nay. Những vì sao chẳng nói gì về việc Aslan đến đây cho hòa bình và hạnh phúc của người dân. Với khả năng của mình, lão thần biết trong vòng 500 năm qua chưa hề có một cuộc giao hội thảm khốc như thế giữa các hành tinh. Vì thế thần quyết định tìm đến đây để thông báo trước với bệ hạ rằng có một tai họa khôn lường đang treo trên đầu Narnia. Đêm qua có một tin đồn đến tai lão thần rằng Aslan đang có mặt ở Narnia. Muôn tâu bệ hạ, người đừng tin vào lời đồn đại đó. Chuyện này không thể xảy ra. Các vì tinh tú trên trời không bao giờ nói dối, trong khi con người và muông thú thì lại có thể làm chuyện đó. Nếu Aslan thật sự đang ở Narnia thì nhất định trên bầu trời sẽ có thông báo trước. Nếu Aslan có mặt ở đây thì tất cả những ngôi sao sáng nhất sẽ hội lại để chào đón người. Không, những lời đồn đại kia đều không có cơ sở. - Một sự bịa đặt à? – Vua kêu lên giọng dữ dội. – Loài vật ở Narnia hay cả thế giới này lại dám nói dối về một vấn đề như thế sao? Rồi không ý thức được việc mình đang làm, vua bất giác đặt tay lên chuôi kiếm. - Đó là câu hỏi mà lão thần chưa tìm được lời giải thưa bệ hạ! – Nhân mã nói. – Nhưng thần biết chắc một điều, chỉ có những kẻ dối trá dưới mặt đất, còn trên trời thì không. - Tôi tự hỏi việc Aslan đến hay không đến Narnia có tùy thuộc vào sự bắt chước của các vì sao không. Ngài đâu có phải là nô lệ của các vì sao mà là người sáng tạo ra chúng. Chẳng phải có một điều được nói đến trong tất cả các câu chuyện kể rằng ngài không phải là một sư tử được thuần hóa đấy ư? – Kỳ lân lên tiếng. - Đúng, nói giỏi lắm Jewel. – Vua kêu lên. – Có những lời như thế, không phải là một sư tử thuần hóa. Tất cả các truyền thuyết đều nói như thế. Nhân mã Roonwit giơ một tay lên, cúi người về phía trước toan nói một điều gì đó rất khẩn thiết với nhà vua thì cả ba giật mình quay đầu lại khi nghe tiếng một âm thanh não lòng. Ở phía Tây cách nơi họ đứng không xa là một rừng cây rậm rạp, san sát những cây đại thụ vì thế họ chưa phát hiện nơi nào phát ra tiếng kêu có âm điệu ai oán như thế. Nhưng chẳng bao lâu họ đã nghe rõ từng lời: - Tai họa, tai họa, tai họa! – Giọng nói ấy cất cao lên. – Tai họa bổ xuống đầu các anh chị em tôi! Tai họa cho những cái cây thiêng! Cây cối đang bị chặt phá vô tội vạ. Búa rìu phóng vào chúng tôi. Đau thương quá! Chúng tôi đã bị đốn sạch. Những cây đại cổ thụ đang ngã xuống, ngã xuống, ngã xuống! Với từ “ngã xuống” cuối cùng người nói hiện ra trong tầm nhìn. Giống một người đàn bà nhưng có chiều cao tương đương với nhân mã, đồng thời người này cũng giống một cái cây. Thật khó giải thích cho bạn rõ nếu bạn chưa từng gặp một nữ mộc tinh nhưng bạn sẽ không nhầm nếu bạn đã từng gặp qua một lần – có một cái gì rất khác biệt trong thần thái, giọng nói và mái tóc của người ấy. Vua Tirian và hai người thú biết ngay rằng đó là tinh của một cây sồi lớn. - Xin bệ hạ mở lượng từ ân! – Mộc tinh kêu lên. – Xin người hãy đến giúp đỡ thần dân của người. Bảo vệ thần dân của người. Người ta đang hủy diệt chúng tôi ở Cột đèn hoang. Bốn mươi cây đại thụ là anh chị tôi chỉ còn trơ gốc. - Cái gì, quý bà nói gì! Đốn cây ở Cột đèn hoang ư? Giết hại những cái cây biết nói ư? – Vua kêu lên, nhảy phắt khỏi ghế ngồi và rút kiếm ra – Sao chúng dám làm điều đó? Kẻ nào dám làm thế? Bây giờ nhân danh Bờm sư tử… - A-a-ah! – Mộc tinh kêu lên, toàn thân rung chuyển trong một cơn đau khôn tả, giống như một thân cây lớn run bần bật từng cơn trong một trận cuồng phong mỗi lúc một cuồng bạo. Rồi bất thình lình người đàn bà đổ sang một bên tựa hồ hai bàn chân bị cắt lìa khỏi cơ thể. Trong vòng một giây họ còn thấy người đàn bà nằm sõng soài trên bãi cỏ, nhưng chớp mắt một cái đã biến mất không để lại dấu vết gì. Thế là họ biết chuyện gì đã xảy ra, đồng loại của mộc tinh ở cách đấy hàng dặm cũng bị đốn xuống như vậy. Nỗi đau đớn và giận dữ của nhà vua lớn đến nỗi trong một lúc chàng không sao nói nên lời. Cuối cùng, Tirian nói: - Đi thôi, các bạn. Chúng ta phải ngược lên dòng sông tìm cho được những tên côn đồ ác bá đã làm chuyện đó, nhanh nhanh lên không được lãng phí một giây. Tôi quyết không để cho một tên nào sống sót. - Tâu bệ hạ, đó là một quyết định đúng đắn, – Jewel nói. Nhưng Roonwit lại có ý kiến khác: - Thưa bệ hạ, hãy thận trọng, nhất là trong cơn phẫn nộ của người. Có những việc hết sức kì lạ đang xảy ra chung quanh đây. Nếu có cả một lực lượng bạo loạn ở trong vùng này thì ba chúng ta quá yếu nếu phải đương đầu với chúng. Nếu có thể được xin bệ hạ hãy nán lòng chờ đợi một lúc… - Tôi không thể đợi được dù chỉ một phần mười giây. Trong khi Jewel và tôi tiến lên phía trước, ông hãy phi như bay về Cair Paravel. Đây, hãy cầm chiếc nhẫn của tôi làm tín vật. Triệu tập lính mã, kị binh, những người lính tinh nhuệ nhất, chó biết nói, mười người lùn (họ đều là những tay thiện xạ), một hai con báo và người khổng lồ chân đá. Hãy mang họ đến chỗ chúng tôi ngay khi có thể. - Xin tuân lệnh, thưa bệ hạ. – Roonwit nói. Ngay lập tức ông quay đầu phi nước đại về hướng đông, xuống thung lũng phía dưới. Nhà Vua sải những bước chân dài nhanh thoăn thoắt, có lúc chàng lẩm bẩm nói một mình có lúc nắm chặt hai bàn tay lại. Jewel đi bên cạnh chẳng nói gì, cứ như vậy không hề có một tiếng động nào giữa đôi bạn trừ tiếng rung nhè nhẹ của sợi dây xích vàng đeo trên cổ kì lân, tiếng chân người và tiếng móng vuốt của loài vật này đi trên thảm cỏ. Chẳng bao lâu sau họ đã tới bờ sông và đến một con đường mòn cỏ mọc tốt um, bên tay trái là dòng sông còn bên tay phải là khu rừng. Thêm một đoạn đường nữa thì đến một nơi mặt đất trở nên ghồ ghề hơn và rừng cây mọc tràn ra tận bờ sông.Con đường mòn, hoặc một cái gì như thế, bây giờ chạy qua bờ bên kia và họ phải lội qua một khúc sông cạn để sang bên kia sông. Nước sông dâng lên đến vai Tirian. Jewel đi ở bên phải, cố không để cho dòng nước cuốn trôi còn Tirian quàng đôi tay cường tráng quanh cái cổ mạnh mẽ của kì lân, thế là hai người qua sông an toàn. Vua vẫn còn giận nóng cả người nên không cảm thấy là nước rất lạnh. Nhưng tất nhiên chàng cẩn thận lau thanh kiếm vào vai áo, chỗ duy nhất trên người chàng còn khô ráo khi họ bước lên bờ. Họ cứ thẳng hướng tây mà tiến, con sông bây giờ ở bên tay trái, vùng Cột đèn hoang thì ở trước mặt. Đi chưa đầy một dặm cả hai dừng lại và cùng kêu lên một tiếng. Vua bật lên: - Trước mặt có cái gì vậy? Còn Jewel thì nói: - Nhìn kìa! - Đó là một cái bè. – Tirian nói. - Đúng thế. Có khoảng sáu hoặc bảy thân cây gỗ lớn, vết chặt cành lá vẫn còn tươi nguyên. Chúng được ghép lại với nhau thành một mảng và lúc này nó đang băng băng trôi trên dòng sông. Đứng ở trước, cầm một cái sào dài đang điều khiển bè là một con chuột nước cỡ lớn. - Này, chuột nước! Nhà ngươi đang làm cái gì đấy? – Vua kêu to. - Đưa những súc gỗ này xuôi xuống hạ lưu bán cho người Calormen thưa bệ hạ. – Chuột đáp và chạm vào một tai theo cái kiểu của nó cũng tựa như chạm tay vào mũ nếu nó có một cái mũ đội trên đầu. - Người Calormen! – Tirian gầm lên như sấm động. – Ngươi nói cái gì vậy? Ai ra lệnh chặt phá những cái cây này? Đến khúc này, con sông trở thành một dòng lũ đầu xuân, chớp mắt một cái bè đã vùn vụt trôi qua vua và Jewel. Chuột nước ngoái đầu lại ráng hết sức kêu to: - Lệnh của sư tử. Của chính Aslan… – Nó còn nói thêm một cái gì đó nhưng họ không nghe ra được. Vua và kì lân đứng chết trân, đưa mắt nhìn nhau, cả hai đều lộ ra một vẻ hoảng sợ hoang mang mà ngay trong những giờ phút sinh tử nơi trận mạc họ cũng chưa để lộ ra bao giờ. - Aslan! – Cuối cùng vua nói với một giọng trầm trầm. – Aslan. Có lẽ nào đó lại là sự thật? Chẳng lẽ người lại muốn đốn cây thiêng và giết hại các mộc tinh? - Trừ phi các mộc tinh này đã gây nên một tội lỗi trời không dung, đất không tha! – Jewel lẩm bẩm. - Và lại đem bán cho bọn Calormen! – Vua thẫn thờ nói. – Có lẽ nào? - Tôi không biết. – Jewel đáp với giọng đau khổ. – Ông ấy không phải là một con sư tử được thuần hóa mà. - Phải, – cuối cùng vua nói, – chúng ta hãy tiếp tục dấn bước và sẽ đón nhận cuộc phiêu lưu đang chờ phía trước. - Đó là việc duy nhất còn lại để chúng ta thực hiện thưa bệ hạ. – Kì lân đáp. Nó không thấy là vào lúc ấy cả hai đã hồ đồ như thế nào trong những hành động bột phát. Vua cũng không nhận điều đó. Họ quá giận dữ để có thể suy nghĩ một cách hợp lí. Cuối cùng thì bao nhiêu hệ quả xấu đã xảy ra chỉ vì sự liều lĩnh của họ. Bất thình lình vua tựa người vào cổ bạn, mái đầu gục xuống: - Jewel, cái gì đang đợi chúng ta ở phía trước đây! Những ý nghĩ kinh khủng đang lồng lộn trong trái tim tôi. Nếu chúng ta chết vào ngày hôm qua có phải chúng ta đã là những kẻ hạnh phúc rồi không? - Phải. Chúng ta đã sống quá lâu. Điều tệ hại nhất trên đời sắp giáng xuống đầu chúng ta. Hai người bạn cứ đứng như như thế trong vòng một, hai phút rồi lại tiếp tục đi. Được một đoạn họ nghe tiếng chan chát của những cái rìu bổ vào thân cây còn tươi mặc dù họ chẳng nhìn thấy gì bởi vì mặt đất trước mắt họ cao dần lên thành một ngọn đồi. Khi lên đến đỉnh, họ có thể nhìn thấy toàn bộ khu vực Cột đèn hoang. Khuôn mặt nhà vua trẻ trắng bệch đi khi nhìn thấy quang cảnh trước mắt. Ngay ở giữa khu rừng nguyên sinh – chính nơi cái cây vàng cây bạc đã mọc lên và nơi một đứa trẻ trong thế giới của chúng ta đã trồng một cây thiêng để bảo vệ – cả một vạt rừng rậm đã bị phát quang. Một lối đi mới mở trông như một vết thương dài toác miệng, cày lên trên mặt đất với những vết lún đầy bùn là nơi những thân cây mới đốn bị kéo ra bờ sông. Có cả một đám đông đang làm việc, tiếng roi vút răng rắc trong không khí, tiếng những con ngựa thở hồng hộc trong khi lôi đi các súc gỗ vẫn còn rỉ nhựa tươi. Điều đầu tiên làm vua và kì lân ngạc nhiên là vào khoảng một nửa trong số đó không phải là những con thú biết nói mà là người. Điều thứ hai, đó không phải là những người Narnia tóc vàng mà là những người da nâu, râu tóc đen đến từ Calormen, một nơi đất rộng, người đông nằm dưới sự cai trị của các đời vua độc ác, bao giờ cũng đem lòng gây hấn thù địch với các nước láng giềng. Quốc gia này nằm gần Archenland, cách một sa mạc rộng lớn về phía nam. Tất nhiên không có lí do gì mà người ta lại không gặp một hoặc hai người Calormen vào những ngày này – một thương gia hay một nhà ngoại giao – bởi vì hiện Narnia và Calormen đang có mối quan hệ buôn bán. Nhưng Tirian không hiểu tại sao lại có quá nhiều người như vậy và tại sao họ lại ở đây, chặt phá rừng của người Narnia. Chàng xiết chặt đốc kiếm, chiếc áo choàng vắt lên tay trái. Họ đến gần đám người hơn. Có hai người Calormen đang điều khiển một con ngựa bị buộc vào một thân cây lớn. Nhưng khi vua đến gần, cây gỗ đang mắc lại trong một vũng bùn. - Kéo đi, con vật lười nhác! Đẩy đi, con heo lười biếng này! – Hai người hò hét, vung roi vun vút quất lên mình ngựa. Nhưng con ngựa đã ráng hết sức rồi, đôi mắt nó vằn lên những tia máu, toàn thân nó nổi bọt trắng xóa. - Làm việc đi, cái đồ thối tha lười nhác! – Một người vừa gào lên vừa quất cho con ngựa một đòn chí mạng. Và rồi có một việc kinh khủng đã xảy ra. Cho đến lúc ấy Tirian vẫn tin chắc là những con ngựa đang làm việc cho người Calormen kia là ngựa của họ – những con vật đần độn, câm lặng như loài ngựa trong thế giới chúng ta. Mặc dù chàng ghét phải chứng kiến cái cảnh một con vật câm lặng bị ngược đãi, nhưng lúc này chàng quan tâm đến những kẻ đang giết hạ cây cối hơn. Chưa bao giờ chàng có ý nghĩ rằng người ta có thể thắng cương lên một con ngựa tự do, biết nói ở Narnia chứ đừng nói đến chuyện lại dám dùng roi quất lên lưng nó. Nhưng khi ngọn roi tàn nhẫn tới tấp giáng xuống, con ngựa nhảy lùi lại và kêu lên nghe trong đó có lẫn tiếng khóc đau đớn: - Quân bạo tàn ngu ngốc! Ông không thấy là tôi đã làm tất cả những gì có thể à? Khi Tirian biết rằng con ngựa ấy là một trong những cư dân Narnia của chàng thì một cơn thịnh nộ như trời long đất lở chụp lên cả chàng lẫn kì lân và cả hai không còn biết mình đang làm gì nữa. Thanh kiếm của vua vung lên, cái sừng của kì lân lao tới, cả hai thứ vũ khí cùng phóng ra một lúc. Hai người Calormen nằm chết thẳng cẳng. Một người nhận một nhát kiếm của Tirian, một người bị sừng kì lân đâm xuyên qua tim.
__________________
|
|
#97
|
||||
|
||||
|
PHẦN 7 - TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG CHƯƠNG 3 Những ngày vinh quang của vượn Shift - Bạn ngựa, – vua nói trong khi hối hả cắt dây cương buộc vào khúc gỗ, – sao những tên súc sinh này lại dám ngược đãi bạn? Narnia bị mất rồi hay sao? Có đại họa đã xảy ra à? - Không, thưa bệ hạ, – ngựa nói, thở hồng hộc – Aslan đang ở đây. Tất cả đều làm theo lệnh của sư tử. Ông ấy ra lệnh… - Nguy hiểm, thưa hoàng thượng. – Jewel kêu to. Tirian nhìn lên, trông thấy đám người Calormen (cùng với một vài con thú biết nói) từ khắp mọi hướng đổ dồn về phía họ. Hai người kia chết không kịp kêu lên một tiếng vì thế mà phải mất một lúc đám người còn lại mới biết được chuyện gì đã xảy ra. Khi rõ chuyện, hầu như cả bọn rút thanh mã tấu lăm lăm trên tay. - Nhanh lên! Nhảy lên lưng thần! – Jewel giục. Nhà Vua nhanh nhẹn nhảy lên lưng người bạn chí cốt, kì lân quay đầu phóng đi. Nó đổi hướng hai ba lần khi phát hiện phía trước có kẻ thù, rồi băng qua một dòng suối. Nó lên tiếng hỏi mà không giảm tốc độ: - Đi đâu bây giờ, thưa bệ hạ? Về Cair Paravel nhé? - Hượm đã anh bạn. –Tirian nói. – Hãy để tôi xuống đất. Chàng tuột khỏi lưng kì lân, đứng đối diện với bạn. - Jewel, chúng ta đã gây lên một chuyện lớn rồi. - Chúng ta bị kiêu khích đến nước ấy kia mà! - Nhưng tấn công vào lúc họ không biết… không tuyên chiến với họ … trong khi họ không có vũ khí như thế… khủng khiếp quá! Giống như hai kẻ sát nhân, Jewel à. Tôi sẽ mang dấu ấn sát nhân suốt đời. Jewel gục đầu xuống. Nó cũng cảm thấy nhục nhã. - Với lại, – vua nói tiếp, – ngựa nói đó là lệnh của Aslan. Cả chuột nước cũng nói thế. Tất cả bọn họ đều bảo Aslan đang ở đây. Sao chuyện này có thể là thật được cơ chứ? - Nhưng thưa bệ hạ, sao Aslan có thể đưa ra những lệnh quái gở như vậy được? - Ông là một con sư tử chưa được thuần hóa mà, – Tirian nói, – sao chúng ta biết được ông muốn làm gì? Chúng ta… hai ta là những kẻ giết người. Jewel, tôi sẽ quay lại. Tôi sẽ bỏ kiếm xuống, tự nộp mình vào tay những người Calormen, yêu cầu họ đưa tôi đến chỗ Aslan, để người phán xử tôi. - Nếu thế, bệ hạ chỉ tìm đến cái chết mà thôi. – Jewel nói. - Bạn nghĩ tôi quan tâm đến việc sống tiếp nếu Aslan đã ấn định cho tôi phải chết ư? – Vua nói – Chuyện đó phỏng có ý nghĩa gì? Chẳng có ý nghĩa gì hết. Chết như thế há chẳng tốt hơn phải sống với một nỗi khiếp sợ rằng Aslan đã đến đây và đấy lại không phải là một Aslan mà chúng ta hằng tin tưởng, trông đợi hay sao? Điều đó cũng giống như việc một ngày kia mặt trời mọc lên nhưng là một mặt trời đen ngòm phủ màu tang tóc lên vạn vật. - Tôi biết – Jewel nói – Hoặc là cũng giống như khi bệ hạ uống nước nhưng hóa ra nước lại toàn sỏi đá. Tâu bệ hạ, người nói đúng. Đây là kết cục cho tất cả mọi chuyện. Vậy chúng ta hãy quay lại nộp mạng cho họ. - Không nhất thiết phải đi cả hai người, chỉ mình tôi là đủ. - Nếu chúng ta từng yêu thương nhau như anh em ruột thịt, thì xin hãy để cho kì lân này đi cùng với người. – Jewel nói. – Nếu bệ hạ phải chết và nếu Aslan không phải là Aslan thì cuộc sống còn có ý nghĩa gì đối với tôi nữa? Họ quay lại, đi bên nhau, những giọt lệ đắng cay lặng lẽ rơi trên má. Ngay khi họ quay lại chỗ đốn cây, bọn người Calormen đã kêu lên một tiếng, chạy về phía họ tay lăm lăm giáo mác. Nhưng vua đã chìa chuôi kiếm cho họ và nói: - Tôi là vua Narnia và bây giờ tôi là một kẻ thất phu, tự đến đây nộp mình cho sự phán xử Aslan. Hãy giải tôi đến trước mặt người. - Và cả tôi nữa. – Kì lân nói. Thế là những người râu đen vây chặt quanh họ, hơi thở nồng nặc mùi tỏi, đôi mắt trắng dã quắc lên một cách nham hiểm trên những khuôn mặt ngăm đen. Bọn chúng tròng dây vào cổ kì lân, tước thanh kiếm của vua và trói tay chàng ra sau lưng. Một người trong số này không đội khăn mà đội mũ trụ, dáng chừng là kẻ cầm đầu, hắn lột chiếc vương miện bằng vàng trên đầu vua, hối hả giấu nó vào một chỗ nào đó trong mớ quần áo lùng bùng trên người. Chúng đưa hai tù bình đi lên đồi, đến một trảng rừng thưa quang đãng. Và đây là những gì mà những tù binh này trông thấy. Ở giữa trảng rừng, cũng là nơi cao nhất của ngọn đồi, có một túp lều nhỏ trông giống như một chuồng gia súc, mái lợp bằng cỏ tranh. Cửa lều khép chặt. Trên bãi cỏ trước lều có một con vượn già đang ngồi. Tirian và Jewel trong đầu chỉ nghĩ đến việc được gặp mặt Aslan và chưa nghe nói gì đến vượn thì tỏ vẻ bối rối cực độ khi thấy lão. Đó chính là Shift nhưng trông lão khỉ đột này thập phần xấu xí hơn, quái gở hơn thời lão còn bên hồ Caldron. Bởi vì bây giờ lão giở thói ăn diện rởm đời mà trước đây chưa có dịp thể hiện. Lão mặc một chiếc áo jacket màu đỏ tươi chẳng hợp với lão chút nào, đó là tác phẩm của một chú lùn. Lão đeo châu báu vào tất cả các ngón của hai chi sau nhưng trông rất nghịch mắt, bởi vì như bạn hẳn cũng rõ chi sau của loài khỉ cũng giống như bàn chân vậy. Lão đội lên đầu một cái gì trông như một vương miện bằng giấy. Cạnh lão có một đống hạt dẻ, lão dùng chi trước bóc hạt dẻ tanh tách và luôn miệng phun phì phì vỏ hạt ra xung quanh. Lão cũng tốc cái áo đỏ lên làm trật cả rốn và luôn tay gãi sồn sột. Một đám thú biết nói đang đứng trước mặt lão, trên khuôn mặt nào cũng ngưng đọng vẻ âu lo, sầu não cùng với nét hoang mang. Khi thấy rõ tù nhân là ai, tất cả đều kêu lên và tiếng rên rỉ hoảng loạn lan đi trong đám thú rừng. - Thưa ngài Shift, phát ngôn viên của Aslan. – Tên cầm đầu người Calormen nói. – Chúng tôi giải đến đây hai tên tù binh. Bằng tài nghệ, lòng can đảm và được sự cho phép của thần Tash chúng tôi đã bắt sống hai tên giết người tàn bạo này. - Tước lấy thanh gươm của tên kia cho ta. – Vượn phán. Bọn chúng giật thanh gươm của nhà vua cùng với vỏ và dây đeo đưa cho con vượn già. Lão quàng thanh gươm quanh cổ mình, trông kệch cỡm hơn bao giờ hết. - Được, chúng ta sẽ xét đến việc của hai tên này sau. – Vượn nói, phun một cái vỏ hạt dẻ về phía hai người tù. – Ta còn có việc phải giải quyết trước đã. Bọn chúng có thể đợi được. Bây giờ tất cả bọn bay hãy nghe đây. Điều đầu tiên ta muốn nói đến là hạt dẻ. Thủ lĩnh của bọn sóc biến đâu rồi? - Tôi có mặt thưa ngài. – Một con sóc đỏ lên tiếng rồi bước lên trước một bước, đầu nó cúi xuống một cách sợ sệt. - Thì ra ngươi ở đây. – Vượn nói với một vẻ nanh ác – Bây giờ hãy tiến lên đây trình diện trước mặt ta. Ta muốn – ta muốn nói Aslan – Aslan muốn có thêm hạt dẻ. Bọn bay mang hạt dẻ đến nhưng chưa đủ. Cần phải mang nhiều hơn, nhiều hơn nữa đã nghe thủng ra chưa? Gấp đôi nghe chưa. Mà phải mang đến đây vào trước lúc mặt trời lặn ngày mai. Nhớ là không được mang đến những hạt lép và hạt nhỏ biết không? Tiếng lầm rầm thất vọng lan trong họ nhà sóc, con đầu đàn thu hết can đảm nói: - Thưa ngài, Aslan có đích thân nói với chúng tôi điều ấy không? Chúng tôi có được phép diện kiến người không? - Không, tuyệt đối không. –Vượn dằn giọng. – Ngài có thể hạ cố – mặc dù hầu hết bọn bay không xứng đáng – xuất hiện trong vòng vài phút vào đêm nay. Lúc ấy thì bọn bay tha hồ mà nhìn với ngó. Nhưng ngài không thể cho bọn bay xúm xít quanh ngài làm phiền ngài với những câu hỏi vớ vẩn đâu. Bất cứ điều gì chúng mày muốn hỏi đều phải thông qua ta, ta sẽ chuẩn y nếu ta nghĩ điều đó đáng làm rộn ngài. Trong khi đó tất cả bọn sóc các ngươi hãy mau mau đi tìm hạt dẻ mang về đây. Hãy nhớ thời hạn là tối ngày mai nếu không thì liệu hồn đấy. Bầy sóc tội nghiệp vội vã tản đi như thể có một con chó đang lồng lên đuổi theo chúng. Đây là một nhiệm vụ gần như không thể thực hiện được. Số hạt dẻ mà chúng dự trữ cho mùa đông hầu như đã bị vét sạch, thế mà số hạt dẻ mà chúng phải nộp cho vượn còn nhiều hơn số hạt dẻ tích góp đó. Chợt một giọng nói âm vang – của một con heo rừng có nanh, lông lá bù xù – cất lên từ một nhóm khác trong đám thú rừng. - Nhưng tại sao chúng tôi lại không thể gặp mặt ngài và nói chuyện với ngài. Ngày xưa ngài vẫn đến Narnia và ai cũng có thể diện kiến ngài cơ mà. - Cho dù điều đó là đúng thì nó cũng có thể thay đổi hiểu chưa? – Aslan nói rằng ngài đã quá mềm yếu với bọn thú các ngươi, rõ chưa? Phải, bây giờ ngài sẽ không nhu nhược như vậy nữa. Ngài sẽ liếm các ngươi thành ra bã hiểu chưa. Ngài sẽ dạy cho các ngươi hiểu một điều ngài không phải là một con sư tử thuần hóa. Những tiếng kêu và rên rỉ lan đi trong đám muông thú, sau đó là một sự im lặng chết chóc và một niềm đau câm lặng. - Chà chà, còn một chuyện nữa mà chúng mày cần phải biết. – Vượn nói tiếp. – Ta nghe một số đứa kháo nhau rằng ta là một con vượn. Chậc, không phải đâu. Ta là một con người. Nếu nom ta giống một con vượn thì đó là vì ta đã quá già mà thôi. Ta đã sống đến hàng trăm năm rồi. Và bởi vì sống quá lâu nên ta rất khôn ngoan. Chính bởi vì ta khôn ngoan nên ta là người duy nhất mà Aslan chọn làm người đại diện. Ngài không muốn nói chuyện với các loài thú ngu dốt chúng mày nữa. Ngài sẽ bảo cho ta biết những gì chúng mày phải làm và ta sẽ là người trực tiếp nói với bọn bay điều đó. Hãy nghe theo lời khuyên của ta và lo làm sao thực hiện mọi chuyện nhanh nhanh lên bởi vì ngài không chịu được những chuyện ba láp đâu. Đáp lại bài diễn thuyết chỉ là một sự im lặng hãi hùng, trừ tiếng khóc thút thít của một con lửng con và tiếng mẹ nó nhỏ nhẹ dỗ cho nó nín. - Và bây giờ còn một chuyện khác nữa, – vượn nói tiếp, cho mấy quả hạt dẻ mới bóc vào miệng, – ta nghe một vài con ngựa nói với nhau: “Nhanh nhanh lên, nếu chúng ta thồ mấy cây gỗ này đi thật nhanh thì chúng ta lại được trả lại tự do”. Đúng đấy, bọn bay hãy nhồi cái ý nghĩ này vào. Mà không chỉ với loài ngựa. Bất cứ kẻ nào có sức lao động đều phải làm việc hết, mà điều này sẽ sớm xảy ra thôi. Aslan đã dàn xếp việc này với vua Calormen – Tisroc, như cái tên mấy người bạn mặt đen kia gọi ông ta. Tất cả bọn ngựa, bò mộng, lừa đều phải đi đến Calormen lao động để kiếm sống – kéo xe hay thồ hàng như bò, ngựa, lừa, dê vẫn làm ở những nơi khác. Tất cả những con vật thuộc họ đào bới, gặm nhấm như chuột chũi, thỏ, người lùn thì đều xuống làm việc cho Tisroc trong các hầm mỏ. Và…. - Không, không, không. – Các con thú hú lên. – Điều này không đúng đâu. Aslan không đời nào bán chúng tôi đi làm nô lệ cho vua Calormen. - Không có chuyện thế à! Có câm miệng ngay không? – Vượn cao giọng nạt nộ. – Đứa nào nói chuyện làm nô lệ nào? Bọn bây không phải nô lệ. Bọn bây sẽ được trả công – công xá rất cao là đằng khác. Điều đó có nghĩa là công lao động của các ngươi sẽ được trả vào kho báu của Aslan và ngài sẽ dùng nó cho lợi ích chung, đã hiểu chửa? Nói đến đây Shift bắn ra một tín hiệu đồng lõa – lão nháy mắt với tên cầm đầu đám người Calormen. Tên này cúi đầu nhưng lại trả lời với cung cách huênh hoang của người Calormen: - Thưa phát ngôn viên khôn ngoan của Aslan, Tisroc (Thánh thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế) đã bàn luận với Aslan cho một sự hợp tác công bằng, hữu nghị. - Đấy! Đã nghe thủng chưa bọn kìa? – Vượn cao giọng. – Mọi cái đã được hoạch định rồi. Tất cả vì lợi ích của bọn chúng mày đấy. Chúng ta có thể – với đồng tiền mà bọn bay kiếm được – làm cho Narnia trở thành một đất nước đáng sống. Cam và chuối sẽ ùn ùn vận chuyển trên các nẻo đường. Ở những thành phố lớn, những trường học, công sở, còn có cả roi, rọ bịt mõm thú vật, yên cương, chuồng, lồng và nhà tù nữa. Tất tật, thứ gì cũng có hết. – Nhưng chúng tôi không muốn những thứ đó, – một bác gấu già lên tiếng, – chúng tôi muốn tự do. Chúng tôi muốn được nghe chính miệng Aslan nói. - Bây giờ mi lại muốn cãi lời đúng không? – Vượn đe nẹt. – Đó là điều khiến tao không chịu nổi. Tao là người, mi chỉ là một con gấu già ngu ngốc béo trương béo nứt. Mi thì biết gì về tự do? Mi nghĩ tự do có nghĩa là mi muốn làm gì cũng được à? Sai rồi. Đó không phải là thứ tự do thật sự. Tự do thật sự có nghĩa là làm đúng cái điều mà tao sai bảo. - Hừm. – Gấu hậm hực trong cổ, gãi đầu gãi tai bởi vì bác cảm thấy đây là một vấn đề khó nuốt nổi. - Xin vui lòng, xin vui lòng! – Giọng lanh lảnh của một con cừu có bộ lông trắng cất lên. Nó còn quá nhỏ và ai nấy đều ngạc nhiên là nó lại có gan dám đối thoại với vượn. - Chuyện gì nữa đây, nói nhanh đi oắt con. - Có một điều tôi thật không hiểu, thực ra chúng ta đang chơi trò gì với người Calormen vậy? Chúng ta thuộc về Aslan. Họ thuộc về Tash. Họ gọi vị thần này là Tash. Người ta nói ông có bốn tay và cái đầu của một con kền kền. Người ta giết người để cúng tế trước bàn thờ của vị thần này. Tôi không tin là có bất cứ con người nào giống như Tash. Nhưng nếu như có đi nữa thì vì cớ gì mà Aslan lại đánh bạn với một kẻ kinh tởm như thế? Tất cả các loài muông thú đều gật gù, đôi mắt chúng sáng lên nhìn về phía vượn. Chúng biết đây là câu hỏi hóc búa nhất mà không phải bất cứ ai cũng có thể đặt ra. Vượn già nhảy cỡn đến, bịt mõm cừu lại. - Trẻ ranh! – Lão rít lên. – Nói toàn những điều ngớ ngẩn, ngu xuẩn. Đi về nhà mà bú tí mẹ, miệng còn hôi sữa thì hiểu gì về những chuyện như thế này cơ chứ. Còn những kẻ lớn đầu hơn thì dỏng tai ra mà nghe đây: Tash chỉ là một cái tên khác của Aslan. Và tất cả những định kiến xa cũ rằng người Narnia tốt, người Calormen xấu đều là ngu xuẩn cả. Bây giờ chúng ta đã hiểu hơn được nhiều điều. Người Calormen dùng một thứ tiếng khác nhưng cả chúng ta và họ cũng dùng ngôn ngữ để nói về cũng những chuyện giống nhau thôi. Aslan và Tash cũng chỉ là hai cái tên để gọi một người mà ai cũng biết đấy là Ai. Đó là lý do tại sao chưa bao giờ có cuộc cãi nhau giữa hai người. Hãy ghim điều này vào đầu những con thú ngu ngốc kia. Tash là Aslan. Aslan là Tash. Có những lúc bạn chứng kiến cảnh con chó nhà bạn có một vẻ buồn tủi như thế nào, hãy nhớ lại vẻ mặt đó rồi hình dung cái vẻ ấy trên tất cả các khuôn mặt của những con thú biết nói này. Những khuôn mặt trung thực, tủi nhục, hoang mang của loài lông vũ, loài gấu, lửng, thỏ, chuột chũi, chuột đồng – nhưng những khuôn mặt muôn hình vạn trạng này còn buồn bã hơn nhiều. Tất cả những cái đuôi đều cụp xuống, những sợi ria quặp lại. Tim bạn như muốn vỡ ra vì đau buồn khi nhìn những khuôn mặt ấy. Chỉ có duy nhất một con vật không tỏ vẻ buồn bã chút nào. Đó là một gã mèo lông hoe vàng- một mèo Tom to bự trong giai đoạn trưởng thành – gã ta ngồi lưng thẳng tắp cái đuôi quấn lại quanh bàn chân, và ngồi ở ngay hàng đầu tiên. Nó chăm chú nhìn vượn và tên cầm đầu người Calormen, không chớp mắt lấy một lần. - Xin hãy thứ lỗi nếu tôi nói có điều chi không phải, – cuối cùng gã mèo nói giọng từ tốn, nhã nhặn, – nhưng có điều này làm tôi quan tâm. Bạn của ông từ phía Calormen cũng nói như thế ư? - Chắn chắn rồi. – Tên cầm đầu đáp. – Điều mà ông vượn thông thái …tôi muốn nói là người này nói … rất chi là chí lí. Aslan có nghĩa là Tash không nhiều hơn mà cũng không ít hơn. - Có nghĩa là, Aslan không có ý nghĩa nhiều hơn Tash ư? – Mèo hỏi vặn lại. - Không nhiều hơn chút nào. – Người này nói, nhìn thẳng vào mèo. - Như thế đã đủ với ngươi chưa mèo vàng kia? – Vượn hỏi. - Ồ, đã hẳn rồi. – Mèo đáp giọng tỉnh rụi – Cảm ơn ngài rất nhiều. Tôi cũng chỉ muốn hiểu cho thật rõ ràng thôi. Bây giờ tôi đã bắt đầu hiểu rồi. Cho đến lúc ấy vua và Jewel vẫn không nói gì. Họ đợi đến lúc vượn bảo họ nói bởi vì họ nghĩ can thiệp vào lúc này cũng chẳng được tích sự gì. Nhưng bây giờ, nhìn tất cả những khuôn mặt khốn khổ của cư dân Narnia và thấy rằng các loài thú đã bắt đầu tin rằng Aslan và Tash là một thì Tirian không chịu được nữa. - Con vượn kia? – Chàng lớn tiếng kêu lên – Mày là một kẻ dối trá trắng trợn. Mày nói dối như bọn người Calormen. Dối trá, bịp bợm, đúng là một con vượn… Hự… Chàng toan nói tiếp, định hỏi làm sao thần Tash kinh khủng kia có thể đối đãi với người của ông ta theo cái cách mà Aslan đã quan tâm, đã làm tất cả để bao giờ cũng tránh cho người Narnia không bị đổ máu. Nếu chàng được phép nói tiếp thì cái ngày huy hoàng của vượn sẽ cáo chung, các loài thú sẽ thấy được chân tướng của sự thật và sẽ ném vượn xuống đất. Nhưng trước khi chàng có thể nói tiếp thì hai tên Calormen đã ra sức đấm vào miệng chàng và một tên nữa đá chàng từ phía sau. Khi chàng ngã dúi dụi xuống, vượn keng kéc kêu lên trong cơn giận dữ và hoảng hốt: - Đưa hắn đi. Đưa hắn đi. Đưa hắn đến chỗ nào hắn không thể nghe chúng ta nói mà chúng ta cũng không nghe thấy hắn. Trói hắn vào một gốc cây. Ta sẽ… ta muốn nói… Aslan sẽ định tội hắn sau.
__________________
|
|
#98
|
||||
|
||||
|
PHẦN 7 - TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG CHƯƠNG 4 Lời cầu cứu vượt qua hai thế giới Vua bị choáng vì cú đánh và chàng khó mà biết chuyện gì xảy ra cho đến khi bọn Calormen cởi trói cho chàng để hai tay chàng duỗi thẳng và ấn lưng chàng vào một gốc cây tần bì. Đoạn chúng vòng dây thừng quanh mắt cá, đầu gối, cổ tay và ngực chàng, trói nghiến chàng vào thân cây tần bì rồi bỏ đi. Điều làm cho chàng khó chịu nhất vào lúc ấy – bởi vì thường những cái nhỏ nhất là những điều khó chịu đựng nhất – là đôi môi chàng vẫn rỉ máu từ cú đấm như trời đánh ban nãy và chàng không thể lau những giọt máu nhỏ xuống khiến chàng thấy nhột nhạt. Từ chỗ bị trói chàng vẫn có thể nhìn thấy túp lều nhỏ trên đỉnh đồi và con vượn già vẫn ngồi trước lều. Chàng có thể nghe thấy nó tiếp tục nói một cái gì đó và thỉnh thoảng lại có tiếng trả lời vang lên từ đám đông nhưng chàng chịu không luận ra được là chúng nói gì. - Không hiểu bọn chúng làm gì anh bạn Jewel. – Vua thầm nghĩ. Một lúc sau đám đông giải tán, các con vật tản đi bốn phương. Một số con đi qua chỗ của Tirian bị trói. Chúng nhìn chàng vẻ như sợ hãi vẻ như xót thương khi thấy ông vua trẻ bị trói như thế, nhưng không con vật nào nói gì. Chẳng bao lâu chúng đã tản đi đâu hết và chỉ còn sự im lặng ngự trị trong rừng. Thời gian nối tiếp nhau trôi qua, đầu tiên Tirian cảm thấy khát khô cả cổ, rồi đói cồn cào trong dạ. Và khi buổi chiều chầm chậm trôi qua, hoàng hôn buông xuống, chàng bắt đầu cảm thấy ớn lạnh, lưng chàng đau nhức. Mặt trời khuất sau dãy núi, chỉ còn một chút ánh sáng nhập nhoạng vương lại đâu đó. Khi trời đã gần như tối hẳn, chàng nghe có tiếng sột soạt của những bước chân và thấy vài con thú bé nhỏ đang tiến về phía chàng. Ba con đi bên trái là ba con chuột, đi giữa là một con thỏ và bên tay phải là hai con chuột chũi. Các con vật này đều mang những bao nhỏ trên lưng làm cho chúng có một vẻ kì lạ trong đêm tối và thoạt tiên chàng tự hỏi không biết chúng là giống vật nào. Rồi tất cả bọn chúng đứng thẳng trên hai chân sau, đặt những bàn chân trước lành lạnh lên đầu gối chàng, hôn lên đấy – những cái hôn của loài thú gặm nhấm. (Chúng có thể chạm đến đầu gối chàng bởi loài thú biết nói to lớn hơn những con thú cầm cùng loại ở Anh). - Thưa hoàng thượng! Thưa hoàng thượng yêu quý! – Chúng nói bằng cái giọng kim riu ríu vào nhau. – Chúng thần rất tiếc cho hoàng thượng. Chúng thần không dám cởi trói cho ngài vì sợ làm Aslan nổi giận. Nhưng chúng thần mang bữa ăn tối đến cho bệ hạ đây. Thoắt một cái, chú chuột đầu tiên nhảy phắt lên, bò đến vòng dây quấn ngang ngực nhà vua và nhiu nhiu cái mũi ngắn củn ngay trước mặt vua. Con chuột thứ hai trèo lên và dừng lại thấp hơn con chuột đầu một chút. Những con thú còn lại đứng dưới đất chuyển thức ăn lên. - Uống cái này trước đã, rồi bệ hạ sẽ thấy trong người khỏe lại và sẽ ăn ngon miệng hơn – Con chuột ở trên cao nhất nói và Tirian nhìn thấy một cái ly gỗ nhỏ chạm vào môi chàng. Nó chỉ bằng một quả trứng vì thế mà chàng khó cảm thấy mùi vị của rượu trước khi cái ly dốc cạn. Chuột lại chuyền cái ly xuống, những con vật ở dưới rót đầy một ly khác rồi chuyền lên và Tirian uống cạn lần thứ hai. Bằng cách ấy vua cảm thấy đã khát, thực ra uống như vậy lại tốt hơn là làm luôn một hơi dài đối với người khát đã quá lâu. - Thưa bệ hạ, đây là pho mát, – con chuột đầu tiên nói, – không nhiều lằm vì sợ nó sẽ làm cho bệ hạ khát nước hơn. Sau miếng pho mát, chúng cho chàng ăn bánh làm bằng yến mạch, bơ vừa mới làm và cuối cùng là một chút rượu vang. - Nào đưa lên đây một ít nước, – con chuột ở trên cao nhất nói, – để tôi còn rửa mặt cho bệ hạ. Vẫn còn dính máu đây này. Tirian cảm thấy một vật gì như một miếng bọt biển nhỏ xoa khắp mặt chàng, một cảm giác khoan khoái vô cùng. - Những người bạn nhỏ, – Tirian nói, – tôi có thể làm gì để cảm ơn những điều các bạn đã làm cho tôi đây? - Bệ hạ không phải bận tâm, không cần, không cần! – Những giọng kim riu ríu vang lên. – Chúng tôi còn có thể làm gì khác cho bệ hạ đây? Chúng tôi là thần dân của người và không muốn có bất cứ một ông vua nào khác. Chỉ có vượn và bọn Calormen mới chống lại bệ hạ, còn chúng thần thà chiến đấu với chúng cho đến khi xác chúng thần bị xé ra từng mảnh, hơn chịu cảnh để chúng trói bệ hạ như thế này. Nhất định chúng thần sẽ làm thế. Nhưng… chúng thần không thể chống lại Aslan. - Các bạn nghĩ Aslan thật sự muốn như thế sao? - Đúng, đúng. – Thỏ rối rít đáp. – Ngài đã ra khỏi lều đêm hôm qua. Tất cả chúng tôi đã nhìn thấy ngài. - Trông ngài như thế nào? - Như một con sư tử to lớn, dữ tợn – chắc chắn là như thế ạ. – Một trong những con chuột nói. - Và các bạn nghĩ đó thật sự là Aslan – người đã giết chết các nữ mộc tinh, bán tất cả các bạn đi làm nô lệ cho vua xứ Calormen? - Ồ, điều này thật tệ hại, đúng thế, – một con chuột khác nói, – sẽ tốt đẹp hơn nếu tất cả chúng ta chết trước khi chuyện này bắt đầu. Nhưng mà điều này không còn gì phải nghi ngờ nữa. Ai cũng nói đó là lệnh của Aslan. Và chúng thần đã tận mắt nhìn thấy ông ấy. Chúng thần không nghĩ là Aslan lại có thể làm thế. Tại sao lại như vậy, chúng thần thật tình mong mỏi Aslan quay về. - Dường như trở về Narnia lần này ông rất giận dữ. – Con chuột đầu tiên nói. Hẳn chúng ta đã vô tình phạm phải một tội lỗi ghê gớm nào đó mà không biết. Chắc Aslan muốn trừng phạt tất cả chúng ta. Nhưng tôi nghĩ chúng ta phải được biết là chúng ta đã gây ra chuyện gì chứ! - Tôi cho rằng có thể việc chúng ta đang làm đây cũng sai nốt. – Thỏ nói. - Tôi cóc quan tâm, dù việc làm này có sai trái đi nữa. – Một trong hai con chuột chũi nói. – Dù thế nào tôi cũng sẽ vẫn làm việc này một lần nữa. Những con vật khác vội lên tiếng: - Suỵt. Hãy cẩn trọng lời ăn tiếng nói. – Rồi tất cả đồng thanh nói. – Chúng thần xin lỗi bệ hạ nhưng đã đến lúc phải quay về. Không nên để bị bắt quả tang ở đây. - Các bạn hãy rời xa đây mau. Tôi không muốn bất cứ ai bị nguy hiểm đến tính mạng chỉ vì tôi. - Chúc bệ hạ ngủ ngon, chúc ngủ ngon. – Bầy thú chin chít nói, giụi giụi cái mõm của chúng vào đầu gối chàng. – Chúng thần sẽ còn quay lại…nếu có cơ hội. Thoắt một cái chúng đã lẫn đi đâu rất nhanh, khu rừng trở nên đen tối hơn, lạnh lẽo hơn, cô quạnh hơn bao giờ hết. Những vì sao bắt đầu lấm tấm mọc trên da trời, thời gian chậm rãi trôi qua. Hãy tưởng tượng nó lê thê như thế nào đối với vị hoàng đế cuối cùng ở Narnia trong khi chàng bị cột chặt vào gốc cây với tư thế bất động, cứng ngắc. Nhưng cuối cùng có một chuyện đã xảy ra. Từ đằng xa xuất hiện một đốm lửa đỏ. Đốm lửa biến đi đâu một lúc rồi lại xuất hiện, lần này to hơn, mạnh hơn. Vua có thể thấy những cái bóng đen đen đi qua đi lại ở một phía nguồn sáng, những cái bóng vác trên lưng một vật gì đó rồi ném xuống đất. Bây giờ thì chàng xác định rõ chuyện gì đang diễn ra. Một đống lửa trại vừa mới nhóm lên và người ta đang ném những bó củi vào đó. Dần dần ngọn lửa bùng lên, chiếu sáng xung quanh và vua có thể nhìn thấy ngọn đồi trên đó có một túp lều. Quanh đống lửa hồng rực sáng là một đám đông gồm rất nhiều loài thú. Một cái bóng nhỏ, gù gập xuống ngồi gần đống lửa nhất, chắc là lão vượn già. Nó đang nói gì đó với đám đông nhưng chàng không nghe thấy. Sau đó nó đứng lên đi về phía lều dập đầu ba lần trước cửa lều. Đoạn nó đứng dậy mở cửa lều. Một vật gì đó đi trên bốn chân nhưng lại di chuyển với dáng đi cứng nhắc, gò bó. Con vật bốn chân ra khỏi lều đứng quay mặt về phía đám đông. Trong không gian vang lên tiếng reo hò la ó, to đến nỗi Tirian cũng nghe được lõm bõm. - Aslan! Aslan! Nói chuyện… an ủi chúng thần… Xin đừng nổi giận với chúng thần. Từ chỗ bị trói, Tirian không thể nhìn rõ đó là con vật gì nhưng chàng có thể xác định rõ đó là một con vật lông lá và có màu vàng. Chàng chưa từng gặp Aslan và cũng chưa trông thấy một con sư tử bao giờ. Chàng không thể biết chắc cái vật đứng đằng xa kia có thật là Aslan không, nhưng trong suy nghĩ của mình chàng chưa bao giờ nghĩ là Aslan lại trông giống như một hình nộm, đứng trơ ra như phỗng mà không cử động và nói năng gì. Nhưng làm thế nào để biết chắc những chuyện này có thật không? Rồi những ý nghĩ kinh khủng lướt nhanh trong đầu, chàng nhớ lại những câu nói báng bổ về Aslan rằng Aslan và Tash chỉ là một và chàng biết chắc rằng tất cả những chuyện này chỉ là một trò lường gạt. Vượn già ghé đầu sát lại gần đầu của con vật vàng vàng như thể lão đang lắng tai nghe một điều cơ mật nào đó, đoạn lão quay ra nói một cái gì đó với đám đông lại reo hò vang dội. Sau đó chắc đám lửa bị dập tắt bởi vì ánh sáng bất thần phụt tắt, Tirian một lần nữa lại bị bỏ lại trong đêm trường lạnh cóng. Chàng nghĩ về những đời vua trước đã sống và chết ở Narnia, dường như vào lúc này không có ai trong những bậc tiền bối lại kém may mắn như chàng. Chàng nhớ đến một cụ tổ nhiều đời của mình – vua Rilian – từng bị một phù thủy bắt cóc khi chỉ là một hoàng tử bé và bị giam giữ mười năm trời trong lòng đất. Nhưng cuối cùng vua Rilian cũng có một kết thúc tốt đẹp nhờ hai đứa trẻ bí ẩn ở mảnh đất bên ngoài thế giới bất thần xuất hiện đã đến giải cứu hoàng tử, đưa chàng về nhà và từ đó bắt đầu một triều đại chính trị kéo dài. - Không giống như chuyện đã xảy ra với mình – Tirian tự nhủ. Sau đó chàng lại hồi tưởng về một giai đoạn xa xưa hơn và nghĩ đến cha của vua Rilian là vua Caspian hay còn gọi là Caspian – Nhà hàng hải. Vua Caspian có một ông chú độc ác âm mưu hãm hại cháu mình để chiếm đoạt ngai vàng. Caspian đã phải trốn vào trong rừng làm bạn với muôn thú và những người lùn. Nhưng cả câu chuyện đó cũng có một kết thúc có hậu bởi vì Caspian đã được mấy đứa trẻ giúp sức – lần này thì có tới bốn anh em – đến từ một nơi nào đo bên ngoài thế giới. Họ đã thắng một trận lớn và đặt hoàng tử ngồi lên ngai vàng của vua cha. - Những chuyện ngày đã xa xưa quá mất rồi, – Tirian tự nhủ, – những điều kỳ diệu như thế bây giờ đâu còn xảy ra nữa. Chợt chàng nhớ lại (bởi vì chàng rất giỏi môn lịch sử khi còn đi học) bốn đứa trẻ đã xuất hiện để giúp hoàng tử Caspian như thế nào vào khoảng hơn một ngàn năm về trước. Chính họ đã làm những việc đòi hỏi được ghi lại trong những trang sử vàng chói lọi nhất. Họ đã đánh Bạch Phù Thủy, chấm dứt hàng trăm năm ngự trị của băng giá rồi sau đó họ lên làm vua (cả bốn anh em) ở Cair Paravel cho đến khi họ không còn là trẻ con nữa mà là những ông vua vĩ đại và những nữ hoàng đáng yêu nhất. Triều đại của họ chính là kỷ nguyên Vàng ở Narnia. Aslan có quan hệ mật thiết với họ. Ông có mặt cả trong những câu chuyện khác như Tirian vẫn còn nhớ được. - Aslan và những đứa trẻ đến từ một thế giới khác. – Tirian thầm nghĩ. – Họ bao giờ cũng có mặt khi mọi việc trở nên tồi tệ nhất. Ôi, ước gì họ có mặt ở đây vào lúc này. Nghĩ đến đây, Tirian kêu lớn: - Aslan! Ôi Aslan! Hãy đến đây cứu giúp chúng con! Nhưng chung quanh vẫn chỉ có bóng đêm, cái lạnh và sự im lặng chết chóc. - Hãy để cho con chết đi cũng được. Con chẳng cầu xin gì cho bản thân, chỉ xin người hãy đến đây cứu tất cả cư dân ở Narnia. Vẫn chẳng có động tĩnh gì trong bóng đêm hay trong khu rừng nhưng lại bắt đầu có một sự thay đổi trong lòng Tirian. Không hiểu tại sao chàng bắt đầu hy vọng. Và chàng cảm thấy bằng một cách nào đó niềm hy vọng mạnh dần lên. - Ôi Aslan! Aslan! – Chàng thì thầm. – Nếu người không thể đến thì ít nhất cũng phải đến chỗ những con người ở một thế giới khác, họ có thể giúp đỡ con, hoặc hãy để con gọi họ, hãy để cho tiếng gọi của con vọng đi giữa các thế giới. Rồi không còn nhận ra là mình đang làm gì nữa, chàng kêu lên bằng giọng vang dội. - Hỡi những người bạn trẻ, những người bạn của Narnia! Nhanh lên. Hãy đến đây với tôi. Qua các thế giới tôi kêu gọi các bạn. Tôi là Tirian, vua xứ Narnia, chúa tể của Cair Paravel, hoàng đế của quần đảo Đơn Côi. Bất thình lình chàng thấy mình nhảy vào một giấc mơ (nếu đó đúng là một giấc mơ) còn sống động hơn tất cả những gì chàng đã kinh qua trong đời. Hình như chàng đang đứng trong một căn phòng đèn thắp sáng trưng, nơi đó có bảy người đang ngồi quanh một cái bàn tròn. Trông như thể họ vừa dùng bữa xong. Hai người trong số đó rất già, một ông già với bộ râu dài bạc trắng, một bà già nhưng đôi mắt rất sáng, nhìn anh và vui vẻ. Người ngồi bên tay phải ông già là một người đã trưởng thành, chắc là ít tuổi hơn Tirian, nhưng khuôn mặt lại có một vẻ uy nghi của một đấng quân vương và một bậc đại hiệp. Bạn cũng có thể nói như thế về một thanh niên khác ngồi ở bên tay phải bà già. Đối diện với Tirian ở bên kia bàn là một thiếu nữ tóc vàng trẻ hơn hai chàng thanh niên kia và ngồi ở hai bên thiếu nữ là hai em nhỏ còn ít tuổi hơn nữa. Tất cả đều mặc những bộ quần áo hết sức lạ mắt đối với Tirian. Nhưng chàng không có thời gian để ý đến những chi tiết đó bởi vì ngay lập tức cậu bé ít tuổi nhất và hai cô gái đứng lên, một trong hai người kêu lên một tiếng nho nhỏ. Bà già cũng giật mình, hít vào một hơi thật gấp. Ông già đã làm một cử chỉ đột ngột nào đó nên cái ly rượu để trước mặt ông bị gạt đổ trên bàn. Tirian có thể nghe tiếng vỡ giòn tan của nó trên nền đá hoa. Bây giờ thì Tirian nhận ra là những người này đang nhìn chàng, họ nhìn chàng với ánh mắt sững sờ như thể họ trông thấy một bóng ma. Chàng cũng để ý thấy là người thanh niên có dáng dấp đế vương ngồi bên tay phải ông già từ đầu đến cuối vẫn không hề cử động (dẫu mặt chàng trai có hơi tái đi) trừ một điều là chàng nắm chặt bàn tay lại. Cuối cùng chàng trai lên tiếng: - Nói đi, nếu anh không phải một hồn ma và không phải đang nằm mộng. Anh có vẻ mặt của người Narnia và chúng tôi đây là người bạn của Narnia. Tirian rất muốn nói. Chàng ráng sức kêu lên rằng mình là Tirian người Narnia và đang trong tình thế nguy khốn cần cứu giúp. Nhưng chàng thấy (như thỉnh thoảng tôi cũng thế trong những giấc chiêm bao) âm thanh không vọng ra như thể cổ họng chàng đã bị bít kín. Cái người đã nói với chàng, đứng dậy nói tiếp: - Dù anh là một cái bóng hay là một linh hồn hay bất cứ một cái gì. – Chàng trai nói, mắt nhìn xoáy vào Tirian. – Nếu anh đến từ Narnia, tôi yêu cầu anh nhân danh Aslan hãy nói một điều gì đó với tôi bởi vì tôi chính là Peter Đại đế. Căn phòng bắt đầu bồng bềnh trôi đi trước mặt Tirian. Chàng nghe thấy tiếng của bảy người cùng cất lên một lượt rồi tất cả mờ dần mờ dần. Những điều họ cùng thốt lên là: - Coi kìa! Nó mờ dần! - Nó tan mất! - Ảo ảnh biến mất! Sau đó chàng hoàn toàn tỉnh giấc, vẫn bị trói vào gốc cây, toàn thân lạnh buốt, đau nhức hơn bao giờ hết. Cả khu rừng nhuộm một thứ ánh sáng yếu ớt, lờ mờ thường có trước buổi bình minh, cả người chàng ướt đẫm sương đêm. Trời đã dần sáng. Như vậy chàng đã thức dậy vào một khoảnh khắc tồi tệ nhất trong đời.
__________________
|
|
#99
|
||||
|
||||
|
PHẦN 7 - TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG CHƯƠNG 5 Cứu tinh xuất hiện Những khổ ải của chàng không kéo dài quá lâu. Gần như ngay lập tức có một khối nhỏ xuất hiện, sau đó là một khối khác và kia có hai đứa trẻ đứng ngay trước mặt chàng. Mới một giây trước rừng cây trước mặt vẫn trống trải cơ mà. Chàng biết chắc là họ không thể đến từ sau gốc cây tần bì bởi vì nếu thế chàng phải nghe thấy tiếng họ đi đến. Trong thực tế họ chẳng xuất hiện từ một nơi nào hết. Với cái liếc mắt đầu tiên chàng thấy họ mặc những bộ đồ kì lạ, sẫm màu cũng giống như những người trong giấc mơ của chàng và với cái liếc mắt thứ hai, chàng thấy đó là một cô bé và cậu bé ít tuổi nhất trong bảy người. - Trời đất! – Cậu bé kêu lên – Nó làm người ta hụt cả hơi. Tớ nghĩ… - Nhanh lên, cởi trói cho anh ấy, – cô bé nói, – để sau hãy nói chuyện Đoạn cô bé nói thêm khi quay sang Tirian: - Xin lỗi vì chúng em đã đến quá trễ. Nhưng chúng em đã làm tất cả trong khả năng cho phép. Trong khi cô bé nói như thế thì cậu bé móc túi lấy ra một con dao xếp và nhanh nhẹn cắt dây trói cho vua – quá nhanh bởi vì trong thực tế vua đã tê cứng cả người nên khi vòng dây cuối cùng bị cắt đứt chàng ngã dúi dụi xuống đất. Chàng không thể đứng dậy được cho đến lúc đôi chân tê rần được xoa bóp một hồi đã có thể cử động lại được - Coi nào, – cô bé nói, – chính là anh phải không? Anh đã xuất hiện vào buổi tối hôm chúng em ngồi ăn tối với nhau, cách đây ngót một tuần? - Một tuần ư cô bé? – Tirian hỏi. – Giấc mơ kỳ diệu dẫn tôi đi vào thế giới của các bạn mới diễn ra cách đây chừng 10 phút - Chỉ là sự chênh lệch về thời gian thôi, Pole ạ, – Cậu bé nói. - Bây giờ thì tôi nhớ ra rồi. – Tirian đột ngột kêu lên. – Điều này đã được nói đến trong các truyền thuyết. Thời gian trên mảnh đất xa lạ của các bạn khác với thời gian của chúng tôi. Nhưng nói về thời gian.. đã đến lúc chúng ta phải đi khỏi đây, bởi vì kẻ thù của tôi ở sát ngay bên cạnh. Các em đi cùng tôi chứ? - Tất nhiên, – cô bé đáp, – chúng em đến đây là để giúp anh mà. Tirian đứng dậy dẫn họ chạy xuống triền đồi theo hướng nam, chạy xa khỏi cái lều nọ. Chàng biết mình muốn đi tới đâu, nhưng mục tiêu trước mắt của chàng là chạy qua những bờ đá, nơi họ không để lại dấu vết, sau đó có thể đi qua sông vì như thế họ sẽ không để lại mùi. Họ mất một giờ lồm cồm bò qua các tảng đá, sau đó thì lội nước, trong khi đi như thế không ai còn hơi sức đâu mà trò chuyện. Nhưng dù vậy, Tirian vẫn thỉnh thoảng liếc nhìn những người bạn đồng hành. Cảm giác lâng lâng kỳ diệu của việc đi bên cạnh những con người đến từ một nơi nào đó rất khác lạ khiến chàng ngất ngây như say rượu nhưng đồng thời nó cũng làm cho tất cả những huyền thoại xưa cũ trở nên thật hơn bao giờ hết… bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra. - Bây giờ, – Tirian nói khi họ đi đến đầu một thung lũng nhỏ mọc toàn cây bu lô trải dài ra trước mặt, – có lẽ chúng ta đã an toàn hơn rồi. quân địch đã ở cách ta khá xa. Có thể đi chậm lại. Một buổi bình minh yên ả. Mặt trời lên, những giọt sương long lanh trên các cành cây ngọn cỏ, chim chóc ca hát rộn ràng. - Nhậu một chút chăng? Em muốn nói.. anh.. à, hai đứa chúng em đã ăn sáng rồi. – Cậu bé nói. Tirian cứ nghĩ mãi về từ “nhậu” mà cậu bé này dùng nhưng khi cậu bé mở một cái sắc đeo bên người lấy ra một cái gói mềm mềm, dính mỡ thì chàng hiểu ra. Chàng đang đói cồn cả ruột, dù cho đến lúc ấy chàng tuyệt không nghĩ gì đến dạ dày háu đói. Có hai cái bánh sandwich ăn với trứng luộc, hai cái bánh sandwich ăn với pho mát và hai cái bánh như kiểu bột nhồi. Nếu không quá đói chàng cũng chẳng nghĩ đến chuyện ăn miếng bột nhồi đâu vì đó là loại mà không một ai ở Naria muốn ăn. Vào lúc chàng đang chén hết cả sáu cái bánh thì họ đã đi đến vùng lòng chảo của thung lũng và ở đấy họ tìm thấy một vách đá phủ rêu với một dòng nước nhỏ chảy qua. Cả ba dừng lại, uống nước và khoát nước lên rửa khuôn mặt nóng bừng. - Và bây giờ, – cô bé vừa nói vừa vén mấy lọn tóc ướt lên khỏi trán, – anh vui lòng cho chúng em biết anh là ai, tại sao lại bị trói ở đây cùng tất cả những chuyện có liên quan chứ? - Rất hân hạnh, cô bé ạ. –Tirian nói, – nhưng chúng ta cứ vừa đi vừa trò chuyện nhé. Thế là trong lúc đi tiếp, chàng kể cho họ nghe mình là ai và tất cả những việc đã xảy ra trên mảnh đất này. - Vào lúc này, – chàng kết luận – tôi đang đi đến một ngọn tháp, một trong số ba cái tháp do tổ tiên tôi dựng lên từ thời xa xưa để bảo vệ vùng Cột đèn hoang chống lại những kẻ hết sức nguy hiểm sống ngoài vòng pháp luật. Nhờ vào ý định tốt lành của Aslan, tôi đã không bị tước mất chìa khóa. Trong tháp chúng ta có thể tìm thấy vũ khí, áo giáp, cả lương ăn nữa mặc dù đấy chỉ là những cái bánh quy khô. Chúng ta cũng có thể ẩn náu lại đấy một cách an toàn trong khi bàn tính kế hoạch. Còn bây giờ mong hai em vui lòng nói cho tôi biết các em là ai và cả những điều khác có liên quan. - Em là Eustace Lông Vịt còn đây là Jill Pole, – Cậu bé nói. – Chúng em đã đến đây một lần cách đây hàng thế kỷ nhưng thực ra mới chỉ hơn một năm theo cách tính thời gian ở chỗ chúng em. Có một người gọi là hoàng tử Rilian, người ta giam chàng hoảng tử này dưới lòng đất và Puddleglum đã cho chân vào… - Tôi biết rồi, – Tirrian kêu lên, – như vậy hai người là Eustace và Jill đã cứu vua Rilian thoát khỏi pháp thuật của Thanh xà. - Phải, chính là chúng em. – Jill nói, – Bây giờ hoàng tử đã lên ngôi vua, phải không? Ồ, tất nhiên chúng ta đã…. Em quên mất…. - Không có gì, tôi là con cháu thuộc thế hệ thứ bảy tính từ cụ Tiên đế đã tạ thế hơn 200 năm rồi. Jill nhăn mặt. - Phải, đây là điều kinh khủng nhất khi quay lại Narnia. Nhưng Eustace đã cắt lời cô bé: - Bây giờ anh đã biết chúng em là ai. – Cậu bé nói, – Mọi việc là thế này: Giáo sư và dì Polly mời tất cả những người bạn của Narnia đến… - Tôi không biết những cái tên này, Eustace ạ - Họ là những người đến Narnia từ thời khởi thủy, đúng cái ngày mà các loài vật bắt đầu học nói. – Nhân danh Bờm Sư Tử. – Tirian kêu lên, – Hai người này! Ngài Digory và bà Polly. Từ thuở khai thiên lập địa! Vậy mà vẫn còn sống trong thế giới các bạn. Kỳ diệu thay và chói lọi thay cho thế giới ấy! Nhưng xin hãy kể cho tôi nghe. - Bà không phải là họ hàng của chúng tôi, bệ hạ cũng biết đấy. – Eustace nói tiếp, – bà là Miss Plummer nhưng chúng tôi gọi là dì Polly. Phải, hai người này mời chúng tôi đến dùng bữa, cũng là một dịp để tất cả mọi người nói chuyện về Narnia (bởi vì tất nhiên làm gì có ai khác để chúng tôi nói chuyện như thế này). Một phần cũng là vì giáo sư có cảm tưởng là trong thâm tâm mỗi người đều thầm mong ước có dịp được quay lại đây. Đúng lúc đó thì anh xuất hiện như một bóng ma hoặc một cái gì thì chỉ có trời mới biết được. Anh làm tất cả mọi người sợ hú hồn rồi lại đột ngột biến mất không nói một lời. Nhưng nhờ thế mà chúng tôi biết chắc một điều là ở Narnia đã xảy ra một chuyện gì đó. Câu hỏi tiếp theo là làm sao tới được Narnia. Anh không thể cứ muốn đến đâu là tới được đó ngay. Thế là chúng tôi cứ thảo luận, thảo luận mãi và cuối cùng giáo sư nói chỉ có một cách duy nhất để đến được đây là nhờ những chiếc nhẫn màu nhiệm. Đó là những chiếc nhẫn mà giáo sư và dì Polly đã có từ rất lâu. Nhưng những chiếc nhẫn này lại được chôn trong khu vườn của một ngôi nhà ở London (đấy là một thành phố lớn ở nước chúng tôi) và ngôi nhà ấy đã thuộc về một chủ khác. Bây giờ thì vấn đề là ở chỗ làm thế nào để lấy lại những chiếc nhẫn đó. Anh sẽ không bao giờ đoán được cuối cùng chúng tôi đã làm gì đâu. Peter và Edmund – người lớn tuổi hơn chính là Peter Đại đế cũng là người đã nói chuyện với anh – đến London, lẻn vào vườn sau của ngôi nhà đó vào lúc tảng sáng, trước khi mọi người thức dậy. Họ ăn mặc như những người công nhân sở vệ sinh để nhỡ có bị ai phát hiện thì có thể giả vờ là đang sửa hay thông cống rãnh. Ước gì tôi có thể cùng làm việc này với họ, chắc vui và kích động lắm đấy. Chắc chắn là họ đã thành công vì ngày hôm sau anh Peter gửi đến chỗ chúng tôi một tờ điện tín – đó là một loại thư từ, tôi sẽ giải thích về nó vào một lần khác – nói rằng đã có trong tay những chiếc nhẫn. Ngày hôm sau là ngày chúng tôi phải quay lại trường – chỉ có hai chúng tôi là còn đi học và chúng tôi học cùng trường. Hai anh em Peter và Edmund hẹn gặp chúng tôi ở một địa điểm nào đó để đưa nhẫn cho chúng tôi. Cũng chỉ có hai đứa chúng tôi là có thể đi đến Narnia bởi vì những người lớn tuổi hơn không thể đến đây được nữa. Thế là chúng tôi lên một con tàu – đó là một thứ đưa người ta đi từ chỗ này đến chỗ kia trong thế giới của chúng tôi – giáo sư, dì Polly và chị Lucy cũng đi cùng. Chúng tôi muốn ở bên nhau trong chừng mực có thể. Vậy là chúng tôi lên tàu. Con tàu đi đến một ga xép, nơi hai anh Peter và Edmund hẹn gặp chúng tôi. Trong lúc tôi đang nhìn qua cửa sổ xem có trông thấy họ không thì bất thình lình tàu giật mạnh, và một tiếng động lớn vang lên, thế rồi… chúng tôi có mặt ở Narnia, thấy anh bị trói vào một gốc cây. - Như vậy các em đã không dùng đến chiếc nhẫn? – Tirian hỏi - Đúng vậy. Chưa bao giờ nhìn thấy nhẫn nữa. Aslan đã làm tất cả những điều này theo cách của người mà không cần đến nhẫn. - Nhưng Peter Đại đế đã có những chiếc nhẫn đó. – Tirian nói - Vâng! – Jill đáp. – Nhưng chúng em không nghĩ là anh ấy có thể sử dụng được. Khi hai anh em nhà Pevensie là vua Edmund và nữ hoàng Lucy ở đây lần cuối, Aslan đã nói họ không thể quay về Narnia được nữa. Người cũng nói một điều tương tự với vua Peter trước đó ít lâu. Anh có thể chắc chắn là anh Peter sẽ thích đến đây lắm nếu được phép. - Kì quá! – Eustace kêu lên. – Trời càng lúc càng nóng. Chúng ta sắp đi đến nơi chưa Tirian? - Nó kia kìa. – Tirian nói và giơ tay chỉ. Trước mặt họ không xa, một lô cốt màu xám vươn cao vượt lên khỏi những hàng cây và sau ít phút sau họ đến một bãi cỏ rộng trống trải không có những hàng cây lớn. Một con suối chảy qua bãi cỏ và bên kia suối sừng sững một ngọn tháp vuông vức, chỉ có một vài cửa sổ hẹp và một cánh cửa nặng nề trổ trên bức tường trước mặt họ. Tirian quan sát ngược xuôi rất kĩ để biết chắc là không có kẻ thù ở đâu đây. Sau đó chàng bước thẳng đến cánh cổng. Bên trong chiếc áo đi săn chàng giấu một chùm chìa khóa được móc vào một sợi dây chuyền bạc rất dài. Có rất nhiều chìa khóa, hai cái bằng vàng, một số cái được chạm khắc rất đẹp, bạn có thể biết ngay đó là những chiếc chìa khóa được làm ra để mở những căn phòng bí mật và quan trọng trong lâu đài, hoặc những cái rương, hòm làm bằng gỗ đàn hương chứa đựng báu bật của hoàng gia. Còn chiếc chìa khóa mà lúc này nhà vua đang tra vào trong ổ khóa thì to cồ, thô kệch. Ổ khóa lâu ngày không được dùng đến nên rất khó mở, đã có lúc Tirian sợ rằng chàng không thể vặn chìa khóa được. Nhưng cuối cùng chàng đã thành công, cánh cửa mở ra với một tiếng cót két nghe như lời than vãn. - Mời các bạn đi vào, tôi e rằng đây là nơi tốt nhất mà vua Narnia có thể mời khách của mình vào lúc này. Tirian vui sướng nhận thấy hai vị khách của mình đều có một phong cách đường hoàng và đáng mến. Không ai nói một câu đãi bôi như là: Đừng nói như thế, tôi thấy nơi này khá là dễ thương đấy chứ. Vấn đề là nơi đây chẳng dễ thương chút nào, tối om om và bốc ra một mùi mốc meo, cũ kỹ, chỉ có một căn phòng ở bên trên cái trần bằng đá, một cái cầu thang gỗ dẫn đến cái cửa sập mà qua đó bạn có thể ra ngoài lỗ châu mai. Trong phòng có vài cái giường thô ráp, có rất nhiều tủ có khóa và các kiện hàng. Cũng còn có một cái lò sưởi trông như thể không có ai nhóm lên một ngọn lửa nào đã nhiều năm rồi. - Chúng ta nên ra ngoài kiếm một ít củi về nhóm lửa. – Jill gợi ý. - Khoan đã, – Tirian nói Chàng cho rằng họ không nên để bị bắt vào lúc này, khi chưa được trang bị vũ khí. Nên chàng đã lục tìm chúng trong những chiếc tủ. Nhà Vua vui vẻ nhớ lại rằng mình bao giờ cũng rất thận trọng đối với những cái tháp canh nơi tiền tiêu này, và đã làm thế nào để hàng năm những nơi này đều được cung cấp những vật dụng và vũ khí cần thiết. Những cây cung được để trong các bao lụa có bôi dầu, kiếm và giáo mác đều được tra dầu để chống gỉ, áo giáp thì sáng choang trong tấm vải bọc bên ngoài, thậm chí còn có vài thứ tốt hơn. - Nhìn đây! – Tirian nói và lôi ra một chiếc áo giáp dài có những họa tiết kỳ lạ, sáng lóa cả mắt. - Cái áo giáp này trông buồn cười quá – Eustace nói. - Đúng thế. – Tirian nói. – Không phải do những người lùn ở Narnia làm ra đâu. Những người Calormen đã làm ra chúng, một món đồ ngoại nhập. Tôi đã giữ một vài bộ phòng khi cần dùng đến bởi vì tôi không biết khi nào thì tôi và bạn của tôi có lí do đi đến vùng đất của Tisroc mà không muốn bị phát hiện. Hãy nhìn vào cái lọ bằng đá này, trong đó có một hợp chất khi xoa lên tay hoặc lên mặt các em sẽ có một nước da đen giòn như người Calormen. - Hoan hô! – Jill kêu lên. – Giả trang! Em khoái cái trò đóng giả này lắm! Tirian chỉ cách cho hai người bạn trẻ đổ một ít dầu vào lòng bàn tay rồi thoa đều lên mặt và cổ xuống đến tận vai, sau đó lại xoa hai cánh tay lên đến phía trên khuỷu tay. Bản thân chàng cũng làm thế. - Sau khi nó đã thấm sâu vào da, – chàng giảng giải, – thì dầu chúng ta có rửa đi nữa nó cũng không trôi đi. Không có gì ngoài dầu ô liu và tro có thể làm cho chúng ta có lại nước da trắng của người Narnia. Còn bây giờ, Jill thân yêu, hãy để cho chúng tôi xem cái áo giáp này có vừa với em không. Nó hơi dài, nhưng không quá dài như tôi nghĩ. Không có gì phải nghi ngờ, nó được làm cho một tùy tùng hầu hạ tiểu thư nào đó. Sau khi mặc áo giáp, họ đội mũ chiến của người Calormen, một loại mũ tròn ôm chặt lấy cái đầu và có một thanh nhọn cắm trên đỉnh. Tirian lấy từ trong tủ ra những cuộn vải trắng mềm rồi quấn quanh mũ cho đến khi nó trở thành một chiếc khăn xếp, nhưng cái thanh nhọn bằng kim loại vẫn chọc thẳng lên ở trên đỉnh. Chàng và Eustace chọn những thanh kiếm Calormen chạm trổ cầu kỳ và những cái khiên tròn. Không có thanh kiếm nào đủ độ sáng cho Jill thế là chàng đưa cho cô bé một con dao đi săn dài và thẳng có thể sử dụng thay cho thanh gươm trong tình thế nguy cấp. - Em có biết bắn cung không cô bé? –Tirian hỏi - Chỉ mới tập tành thôi ạ. –Jill đáp, mặt đỏ bừng lên. – Nhưng Lông Vịt thì bắn không tồi chút nào. - Anh đừng tin lời bạn ấy. – Eustace nói – Hai chúng em đã tập bắn cung từ khi ở Narnia trở về vào năm ngoái và có thể nói bạn ấy cũng không thua gì em đâu. Nhưng cả hai chúng em đều không giỏi khoản này lắm. Thế là Tirian đưa cho Jill một cái cung và một ống đầy các mũi tên. Việc tiếp theo là nhóm lên một đống lửa, bởi vì không khí trong một cái tháp tiền tiêu không khác gì so với một cái hang và ba vị khách của chúng ta run bắn người lên vì lạnh. Cũng may việc chạy lăng xăng kiếm củi làm cho họ ấm người lên đôi chút và lúc kiếm củi xong thì mặt trời cũng đã lên cao. Một khi ngọn lửa reo vui trong bếp lò và những cuộn khói bay lên ống khói thì nơi này cũng trở nên ấm cúng hơn, tươi vui hơn. Tuy vậy tiết mục ẩm thực lại rất đáng buồn, bởi vì điều mà họ có thể làm lúc này cho bữa trưa là nghiền những chiếc bánh quy cứng như đá ra thành bột và cho nước vào nấu như một thứ bột nhão. Và họ cũng chẳng có gì uống ngoài nước lã. - Ước gì chúng mình mang theo một túi trà. – Jill mơ mộng. - Hoặc là một hộp ca cao, – Eustace phụ họa - Hoặc giả có một thùng rượu lâu năm trong mỗi tháp canh. – Tirian nói
__________________
|
|
#100
|
||||
|
||||
|
PHẦN 7 - TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG CHƯƠNG 6 Một trận tập kích Bốn giờ sau, Tirian ngả mình vào một trong những chiếc giường cứng chợp mắt một chút. Hai thiếu niên kia đã ngon giấc từ lúc nào. Chàng bảo họ đi ngủ trước bởi vì chàng biết họ sẽ phải thức suốt đêm và ở cái tuổi ấy họ sẽ chẳng làm được gì nếu không được ngủ đẫy giấc. Vả lại chàng cũng đã mệt nhoài sau bao nhiêu biến cố. Đầu tiên chàng hướng dẫn Jill thực tập môn bắn cung và phát hiện ra là dẫu không đạt được tiêu chuẩn bắn cung ở Narnia cô bé cũng không phải là một cung thủ tồi. Thực tế, cô đã bắn trúng một con thỏ (không phải là con thỏ biết nói và có vô số những con thỏ như vậy ở miền tây Narnia). Sau đó con thỏ đã được lột da, làm sạch và treo lên chờ đấy. Chàng cũng phát hiện ra là cả hai đều thành thạo những công việc bếp núc đáng ngán và chẳng có gì vẻ vang. Mà việc này họ đã học được từ trong cuộc hành trình gian khổ qua mảnh đất của những người khổng lồ từ dưới thời của hoàng tử Rilian. Sau đó chàng cố dạy Eustace sử dụng kiếm và khiên, Eustace đã học đấu kiếm từ những cuộc phiêu lưu trước nhưng thời ấy cậu dùng thanh kiếm thẳng của người Narnia. Cậu chưa bao giờ biết tới thanh mã tấu cong cong của người Calormen – một thứ vũ khí khá nặng và động tác cũng rất khác với những gì cậu học để sử dụng thanh kiếm nhẹ và dài. Bây giờ cậu cũng cần học lại từ đầu. Tirian nhận thấy cậu bé có thị lực rất tốt và di chuyển rất nhanh. Chàng lấy làm ngạc nhiên trước sức khỏe của đôi bạn trẻ này. Thực vậy họ dường như mạnh hơn, lớn hơn, chững chạc hơn chính họ vào lúc chàng gặp họ lần đầu, chỉ mấy tiếng đồng hồ về trước. Đó là một trong những tác động tốt đẹp của không khí ở Narnia lên những vị khách đến từ thế giới của chúng ta. Cả ba nhất trí rằng việc đầu tiên họ cần làm là quay lại chỗ ngọn đồi có túp lều nọ để cứu kỳ lân Jewel. Sau đó, nếu thành công, họ sẽ tìm cách đi về phía đông đón đường đội quân mà nhân mã Roonwit mang đến từ Cair Paravel. Một chiến binh dày dặn kinh nghiệm trận mạc và một người thợ săn lão luyện như Tirian bao giờ cũng có thể thức giấc vào cái giờ mà mình muốn. Chàng ấn định sẽ dậy vào lúc 9 giờ tối, rồi gạt tất cả những lo lắng ra khỏi đầu và lập tức ngủ ngay. Dường như chàng thức dậy muộn hơn cái giờ đã định vài phút, nhưng nhìn ánh sáng và nhờ trực cảm chàng biết là mình đã thức dậy rất đúng lúc. Chàng đứng dậy đội khăn xếp lên đầu (chàng mặc nguyên áo giáp đi ngủ) rồi lay hai người kia cho đến khi họ tỉnh dậy. Thật thà mà nói chúng có vẻ ỉu xìu và thất vọng khi phải nhảy xuống giường và cứ ngáp ngắn ngáp dài luôn miệng. - Các em, – Tirian nói – từ đây chúng ta sẽ đi về hướng bắc – may mắn làm sao đêm nay lại là một đêm sao sáng. Con đường trở lại sẽ ngắn hơn chuyến đi lúc sáng bởi vì chúng ta không cần phải đi lòng vòng nữa, cứ thẳng đường mà đi. Nếu có gặp biến thì hai em cứ giữ im lặng còn tôi sẽ làm hết sách để đóng vai một ông chủ độc ác, ngạo mạn, đáng bị nguyền rủa người Calormen. Nếu thấy tôi rút kiếm ra thì Eustace hãy làm theo, chắn đằng trước để Jill nhảy ra sau chúng ta, cung tên sẵn sàng, nếu tôi kêu “Nhả” thì hai em lập tức phải quay về tháp. Hãy nhớ, đừng tiếp tục đánh dù chỉ là một động tác, sau khi tôi đã ra lệnh rút lui. Những pha hành động dũng cảm không đúng lúc đã phá hỏng nhiều chiến lược xuất sắc trong chiến trận. Còn bây giờ, hỡi các bạn, nhân danh Aslan, hãy tiến lên. Họ đi ra ngoài. Trời đêm rất lạnh. Tất cả những chòm sao lớn nhất ở miền bắc đều thắp sáng phía trên những ngọn cây. Ngôi sao phương bắc trong thế giới này có tên là Đầu Mũi Giáo – nó sáng hơn cả sao Bắc Đẩu của ta. Đầu tiên họ cứ nhằm ngôi sao Đầu Mũi Giáo mà thẳng tiến nhưng được một lúc họ đến một cánh đồng rậm rạp và họ phải bỏ hướng đó mà đi đường vòng. Sau đó, vì phải luồn lách dưới những cành cây rậm rạp nên họ rất khó định hướng. Ở Anh, Jill là một hướng đạo sinh tuyệt vời. Tất nhiên, cô biết rõ những ngôi sao Narnia. Vì đã lang thang rất nhiều đêm dưới bầu trời phương Bắc hoang dã nên cô có thể xác định phương hướng nhờ vào khả năng định vị các ngôi sao khác kể cả khi sao Đầu Mũi Giáo bị che khuất. Ngay khi Tirian thấy rằng cô bé là người hướng đạo giỏi nhất trong ba người, chàng đã để cho cô bé đi trước dẫn đường. Chàng lấy làm kinh ngạc khi thấy cô bé đi trước họ, thoắt ẩn thoắt hiện gần như không gây nên một tiếng động nào. - Nhân danh Bờm Sư Tử! – Chàng thì thầm với Eustace. – Cô bé này đúng là một sơn nữ tuyệt vời. Nếu cô ấy lại mang trong mình dòng máu của các mộc tinh thì còn tuyệt vời hơn nữa. - Bạn ấy nhỏ con, nhưng được việc lắm. – Eustace đáp lại, giọng thì thào. Nhưng từ đằng trước, Jill đã quay lại nhắc: - Suỵt, đừng làm ồn. Khu rừng bao quanh họ hoàn toàn yên tĩnh, thực ra còn quá yên tĩnh nữa là khác. Đêm Narnia thường vang lên nhiều tiếng động phong phú – tiếng chúc ngủ ngon vui vẻ của một con nhím, tiếng kêu đêm của một con cú trên đầu, có lẽ cả tiếng sáo xa xa cho biết nơi nào đó có một thần rừng đang nhảy múa, hay tiếng búa, tiếng đập của các chú lùn trong những cái hang động sâu trong lòng đất. Nhưng ở đây chỉ có sự im lặng, nỗi buồn và sự sợ hãi ủ Narnia vào lòng. Cứ đi như thế được một đoạn họ bắt đầu đi lên dốc và cây cối mọc thưa dần. Tirian có thể thấy ngọn đồi và túp lều mờ mờ trước mặt, Jill bước đi từng bước một cách thận trọng hơn. Cô bé giơ tay lên làm dấu cho họ làm theo mình. Chợt cô đứng sững lại và Tirian thấy cô ngồi sụp xuống trong đám cỏ và biến mất không gây nên một tiếng động. Một phút sau, cô xuất hiện ghé miệng sát vào tai Tirian thì thầm: - Nằm thấp. Chú ý nhìn thật kỹ. Cô bé nói “thấp” không phải vì nói ngọng mà bởi vì âm “s” của chữ “sấp” là một âm gió có thể vang xa hơn nên cô chuyển thành “thấp”. Tirian nằm ngay xuống, chỉ nhẹ nhàng gần bằng Jill thôi bởi vì chàng nặng hơn và lớn tuổi hơn. Khi đã nằm ép xuống đất, từ vị trí của mình chàng có thể thấy ngọn đồi đâm thẳng lên bầu trời lấm tấm các vì sao. Có hai bóng đen in trên khoảng trời tranh tối tranh sáng, một là túp lều, còn cái bóng kia đang đứng trước túp lều vài mét là của một tên lính Calormen. Đó là một tên lính gác rất tồi, hắn không đi tuần cũng không đứng canh mà ngồi ỳ một chỗ với mũi giáo để trên vai và cái cằm gục xuống ngực. - Tốt lắm. – Tirian bảo Jill, cô bé đã chỉ cho chàng thấy đúng cái điều chàng muốn biết. Họ đứng lên, bây giờ thì Tirian dẫn đầu. Nhón từng bước nhẹ, hầu như không dám thở mạnh, họ tìm đường đến một lùm cây nhỏ cách tên lính chừng hơn mười mét. - Đợi ở đây cho đến khi anh quay trở lại. – chàng thì thầm với hai người bạn nhỏ, – nếu anh gặp chuyện gì, hai em phải chuồn Sau đó chàng ung dung hiện ra trước mặt kẻ thù. Gã đàn ông giật mình khi trông thấy chàng và chực nhảy bật dậy, hắn sợ rằng Tirian là một trong những người chỉ huy và hắn sẽ gặp rắc rối trong tư thế ngồi gác như thế này. Nhưng trước khi hắn đứng dậy, thì Tirian đã ngồi thụp xuống, rỉ tai hắn: - Huynh có phải là một chiến binh của Tisroc (Thánh thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế) không? Trời, trái tim tôi đập hân hoan khi gặp được huynh giữa đám thú vật và ác quỷ Narnia này. Đưa tay cho tôi đi anh bạn. Trước khi biết rõ chuyện gì xảy ra thì tên lính gác Calormen đã thấy tay phải mình bị một bàn tay xiết cứng như trong một gọng kìm. Rồi một ai đó quỳ xuống bên cạnh hắn, mũi dao găm sắc lạnh kề vào cổ hắn. - Chỉ một tiếng kêu là ngươi sẽ ra ma. – Tirian nói nhỏ vào tai hắn. – Nói cho ta biết kỳ lân ở đâu thì ngày mai ngươi còn nhìn thấy mặt trời. - Đ … đằng … sau cái lều, ôi thưa chủ nhân. – Người đàn ông xui xẻo lập bập kêu lên. - Tốt. Đứng dậy, dẫn ta đến đấy. Tuy tên lính đã đứng lên nhưng mũi dao vẫn không rời khỏi cổ hắn. Nó chỉ làm một vòng ra sau gáy khi Tirian đi ra phía sau hắn và gí mũi dao vào một vị trí thuận lợi hơn phía dưới mang tai. Tên lính run như dê khi hắn líu ríu vòng ra sau túp lều. Mặc dầu trời tối, Tirian vẫn nhận ra thân hình trăng trắng của Jewel ngay lập tức. - Suỵt! Chàng nói. – Đừng hí lên, Jewel … là tôi đây. Bọn chúng trói anh bạn như thế nào? - Trói cả bốn vó lại với nhau, dây cương thì buộc vào một cái vòng trên vách lều. – Jewel thì thào đáp lại. - Đứng yên, tên lính kia, tựa lưng vào tường. Thế! Bây giờ thì Jewel, bạn hãy gí sừng vào ngực cái tên Calormen này. - Rất sẵn lòng, thưa bệ hạ. - Nếu hắn cựa quậy, cứ việc đâm thẳng sừng vào tim hắn. Chỉ trong vài giây, Tirian đã cắt đứt dây trói. Với đoạn thừng còn lại chàng trói tay chân tên lính lại. Cuối cùng, chàng bắt hắn há miệng, nhét vào đấy một nắm cỏ thật to, buộc một sợi dây từ cằm lên đỉnh đầu để hắn không có cách nào kêu cứu, rồi để hắn ngồi xuống tựa lưng vào tường. - Tôi buộc phải đối xử với huynh một cách bất kính như thế này. – Tirian bảo người lính. – Nhưng đây là một việc làm cần thiết. Nếu chúng ta gặp lại nhau lần nữa, tôi sẽ đối xử với huynh tốt hơn. Bây giờ thì Jewel, chúng ta hãy nhẹ nhàng chuồn khỏi đây. Chàng choàng cánh tay trái quanh cổ kỳ lân, cúi xuống hôn lên mũi bạn và cả hai đều rất vui sướng với phút giây hội ngộ. Họ quay lại chỗ bụi cây với những bước chân êm ru. Chỗ hẹn tối hơn vì có cây cối bao quanh, chàng suýt đụng phải Eustace trước khi nhìn thấy cậu. - Tất cả đều tốt đẹp. – Tirian thì thào. – Điệp vụ lúc nửa đêm đã thành công. Bây giờ thì về nhà. Họ quay lại, đi được dăm bước, Eustace lên tiếng hỏi: - Cậu ở đâu đấy Pole? – Không có tiếng trả lời. - Jill có đi bên cạnh anh không? - Cái gì?- Tirian giật mình. Cô bé không đi bên cạnh em sao? Thật là một khoảng khắc đáng sợ. Họ không dám gọi to, chỉ thì thào tên cô trong giới hạn của một tiếng thì thầm to nhất. Vẫn không có tiếng đáp lại. - Jill rời khỏi chỗ đợi trong lúc tôi đi khỏi phải không? – Tirian hỏi. - Em không nhìn thấy, mà cũng không nghe thấy gì khi bạn ấy bỏ đi. – Eustace đáp. Nhưng bạn ấy có thể bỏ đi mà em không biết. Jill có thể di chuyển nhẹ nhàng như một con mèo, mà anh cũng tận mắt thấy rồi đấy. Chợt lúc ấy có tiếng trống từ xa vẳng lại. Jewel nghiêng tai về phía đó. - Người lùn. – Nó nói. - Những tên lùn phản trắc, ở về phe kẻ thù, dám như thế lắm. – Tirian lẩm bẩm. - Có một cái gì di chuyển trên bốn vó đang đi đến gần, gần hơn rồi. – Jewel nói. Hai người và kỳ lân đứng im phăng phắc. Có bao nhiêu chuyện để mà lo lắng và họ thật không biết phải làm gì. Tiếng móng vuốt của một con vật càng lúc càng gần hơn. Rồi khi đến thật gần, một giọng thì thầm vang lên: - May quá? Mọi người ở đây cả rồi ư? Tạ ơn trời đất, đó là giọng Jill. - Cậu chui vào chỗ quỷ quái nào vậy? – Eustace thì thầm giọng giận dữ bởi vì nó vừa bị một cú thót tim. - Ở trong lều, – Jill nói, nhưng với một tiếng thở dồn dập như khi bạn phải cổ kìm một tiếng cười. - Ôi! – Eustace gầm gừ. – Cậu thấy có gì đáng cười lắm hả? Phải, tất cả những điều mà tôi có thể nói là … - Tirian, anh đã lấy lại được Jewel rồi chứ? – Jill hỏi. - Phải. Nó ở đây. Con quái nào đi với em vậy? - Đó là “hắn” – Jill nói – Nhưng hãy mau chóng về nhà trước khi có bất cứ ai phát hiện ra. Và một lần nữa cô bé lại cố nén một tràng cười. Những người khác làm theo lời Jill, bởi vì họ đã nấn ná ở nơi nguy hiểm này đủ lâu trong lúc tiếng trống của những người lùn mỗi lúc một tiến đến gần hơn. Chỉ sau khi họ nhắm hướng nam mải miết đi được vài phút Eustace lên tiếng hỏi nhỏ: - Bắt “hắn”? Cậu muốn nói cái quái gì vậy? - Aslan giả mạo. - Cái gì? – Tirian hỏi. – Em từ đâu ra vậy? Em đã làm cái gì vậy? - À, là thế này, – Jill đáp, – trong lúc em thấy anh cưỡng bức tên lính làm theo mình, em nghĩ tốt hơn nếu em ghé mắt nhìn vào bên trong lều, xem xem ở trong ấy có cái gì? Thế là em bò đến gần lều. Không có gì dễ cho bằng việc rút dóng cửa. Tất nhiên trong lều tối om và bốc ra cái mùi đặc trưng của bất cứ một cái chuồng gia súc nào. Em liền bật một que diêm – và anh có thể tin được không? Trong đó chẳng có gì ngoài một con lừa già với một tấm da sư tử buộc trên lưng. Thế là em rút dao ra ép nó phải đi theo em. Sự thật là em chả cần phải dùng dao uy hiếp nó làm gì. Nó cũng đã chán cái chuồng hôi thối đến tận cổ và chỉ muốn đi ra ngoài, có phải thế không Puzzle thân yêu? - Trời đất thiên địa ơi! – Eustace kêu lên – Thật khỉ quá! Tớ đã tức lộn ruột lên vì lo lắng. Chỉ mới một phút vừa rồi, tớ vẫn nghĩ cậu thật quá quắt khi một mình lẻn đi mà không cho ai biết. Nhưng … tớ phải thừa nhận – phải, tớ muốn nói – đó là một việc làm “chúa” thật đấy. Nếu là con trai, hẳn bạn ấy sẽ làm cho cả đấng mày râu cũng phải kiêng nể, có phải vậy không bệ hạ? - Nếu cô bé là con trai, – Tirian đáp, – thì phải nọc ra đánh một trận vì tội vô tổ chức vô kỷ luật. Trong bóng đêm nên không ai biết là chàng nói câu ấy với một cái cau mày hay một nụ cười. Ngay sau đó mọi người nghe thấy tiếng binh khí va vào nhau lách cách. - Bệ hạ đang làm cái gì đấy? – Jewel hỏi giọng sắc lém. - Tuốt kiếm ra để cắt béng cái đầu của con lừa trời tru đất diệt này đi. – Tirian đáp với giọng dữ dội. – Đứng tránh ra một bên, cô bé. - Ấy đừng, xin đừng làm thế. – Jill rối rít can ngăn. – Thật vậy, xin bệ hạ đừng làm thế, không phải lỗi của chú lừa này, tất cả đều do một mình vượn làm hết. Lừa không biết bất cứ chuyện gì. Chú ấy rất ân hận. Đó là một chú lừa hiền lành tên là Puzzle và em đang quàng tay quanh cổ chú ấy. - Jill, – Tirian nói, – em là một người dũng cảm nhất, thông minh nhất. Các thần dân của tôi không ai sánh bằng nhưng đồng thời em cũng ngang bướng nhất và chẳng biết nghe lời ai cả. Để cho lừa sống sót! Ngươi có còn gì để biện hộ cho mình không? - Tôi ư thưa bệ hạ? – Cái giọng sợ sệt của lừa vang lên. – Tôi … chắc chắn là tôi sẽ ân hận lắm nếu có làm điều gì sai trái. Bác vượn bảo tôi là Aslan muốn tôi đội lốt ông như thế và tôi nghĩ vượn biết rõ những chuyện này. Tôi không được khôn ngoan như người ta. Tôi chỉ làm cái gì mà kẻ khác bảo mình làm. Sống trong cái lều ấy đối với tôi chẳng có gì vui vẻ cả. Thậm chí tôi còn không hề hay biết chuyện gì đang xảy ra bên ngoài nữa. Vượn chỉ cho phép tôi ra ngoài một, hai phút gì đó vào ban đêm. Có ngày họ còn quên cho tôi uống nước nữa. - Thưa bệ hạ, – Jewel nói, bọn người lùn càng lúc càng đến gần hơn. Ta có gặp họ hay không? Tirian suy nghĩ một lúc đoạn chàng bật ra một tràng cười sang sảng. Rồi chàng nói, lần này không phải là một tiếng thì thầm nữa. - Nhờ Aslan, tôi cũng dần dần trở nên thông minh hơn. Gặp bọn họ à? Tất nhiên chúng ta sẽ gặp họ. Bây giờ chúng ta sẽ đối mặt với bất cứ ai. Ta đã có chú lừa này để chứng minh cho họ thấy. Để cho họ mở mắt ra, cái mà họ sợ hãi và khuất phục một cách tuyệt đối thực ra là cái gì. Chúng ta sẽ cho họ biết âm mưu thâm độc của vượn già. Kế hoạch của lão đã bị bại lộ. Mọi chuyện đã thay đổi rồi. Ngày mai chúng ta sẽ treo cổ vượn lên cái cây cao nhất ở Narnia. Không cần phải thì thầm, trốn tránh và ngụy trang nữa. Những người lùn trung hậu đâu rồi? Chúng ta có tin vui cho họ. Khi bạn buộc phải thì thầm hàng mấy giờ liền mà lại có ai nói to lên thì hiệu quả của nó thật tuyệt vời. Cả nhóm bắt đầu nói nói cười cười, cả đến Puzzle cũng dám ngẩng đầu be lên một tiếng hơi dài, một điều mà vượn đã cấm chú làm trong suốt những ngày qua. Sau đó họ đi về hướng có tiếng trống bập bùng. Trống đánh mỗi lúc một rộn rã hơn và chẳng bao lâu sau họ có thể thấy cả ánh đuốc nữa. Họ đi đến một trong những con đường ghồ ghề lồi lõm (chúng ta khó có thể gọi là đường nếu ở nước Anh) chạy qua vùng Cột đèn hoang. Và kia, đi thành đội ngũ nghiêm chỉnh là khoảng 20 chú lùn vai vác thuổng và cuốc chim. Hai người Calormen có vũ trang đi đầu đoàn người và hai người nữa đi tập hậu. - Đứng lại! – Tirian hét vang như sấm trong lúc nhảy ra chặn đường. – Đứng lại, những người lính kia. Các ông dẫn những người lùn này đi đâu và theo lệnh của ai?
__________________
|
![]() |
| Ðiều Chỉnh | |
| Xếp Bài | |
|
|