Go Back   Vina Forums > Thư Viện Online > Kho Tàng Truyện > Truyện Tiểu Thuyết - Truyện Dài
Hỏi/Ðáp Thành Viên Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #31  
Old 12-08-2012, 03:05 PM
Helen's Avatar
Helen Helen is offline
Super Moderator
 
Tham gia ngày: Jan 2007
Bài gởi: 3,082
neww Ván Bài Lật Ngửa - Phần 8 - Chương 8

Ván Bài Lật Ngửa


Phần 8 - Chương 8


Mỹ đào hố dưới chân ông Diệm (Business Week):
Chúng ta - nước Mỹ - sẽ phải hậu thuẫn cho một cuộc đảo chính quân sự ở Sài Gòn để chấm dứt chế độ thối nát mà sự kéo dài của nó đồng nghĩa với sự tiêu tốn đôla lẫn uy tín của nước Mỹ một cách ngu xuẩn. Hãy đào hố dưới chân viên Tổng thống hoàn toàn mất cảm giác về tất cả những gì xảy ra quanh ông ta...
Nếu có một người hùng (Washington Post):
Rốt cuộc, nước Mỹ vẫn phải trở lại ngón sở trường của mình là dùng một hoặc một số tướng nào đó trong quân đội Nam Việt để hạ bệ ông Diệm. Hẳn ông Dean Rusk sẵn sàng hỗ trợ, ít nahats, về tinh thần cho một cú đấm như vậy. Công việc của "người hùng" Nam Việt sẽ đơn giản vô cùng so với một số "người hùng" mà Mỹ xây dựng ở Nam Mỹ bởi dân chúng đang căm ghét đến độ có thể xẻ thịt ông Diệm đồng thời một số nhà sư khét tiếng chống Cộng cùng một số bộ hạ của họ trong các trường đại học nắm chặt xu hướng này, không để có kẽ hở cho Cộng Sản lợi dụng.
Uy tín Hoa Kỳ sẽ lên cao (Newsweek)
Hạ bệ ông Diệm lúc này là nâng cao uy tín của Tổng thống Kennedy và Hoa Kỳ - những người cứu rỗi Nam Việt thoát ách cai trị gớm ghiếc của một chế độ trở thành thù địch của nhân dân, nhưng liệu rằng hạ bệ ông Diệm, công cuộc chống Cộng đạt hiệu quả cao hơn không? Còn có ý kiến phân vân và có lẽ người phân vân hơn cả là Tổng thống Kennedy.
Báo cáo mật: Người nhận: Cố vấn Ngô Đình Nhu.
Tổng thống Kennedy vừa họp với ngoại trưởng Dean Rusk và hai thượng nghị sĩ Church và Fulbright. Sức ép của Bộ Ngoại giao và Thượng viện mạnh đòi Kennedy lật đổ Tổng thống ta. Thái độ của đại sứ Bửu Hội rất bất lợi cho chính phủ ta. Trong số nhân vât Mỹ thù địch Việt Nam Cộng hòa, đáng kể hơn hết là Roger Hilsman, Averell Harriman, Paul M. Kattenburg. Người sau chót nay là giám đốc Việt Nam vụ tại Bộ ngoại giao, trước đây là sĩ quan tình báo OSS, đã từng dính líu vào bọn phiến loạn chống ta năm 1955. Ký: Hà Như Chi.
Đài tiếng nói Hoa Kỳ (Buổi tiếng Việt): Nhờ bạn mua dùm một chai Whisky tại P.X.
Điện mật. Nơi nhận: các tỉnh trưởng. Đài tiếng nói Hoa Kỳ vừa phổ biến ám hiệu cho bọn phản loạn hành động phá rối an ninh quốc gia. Lệnh các tỉnh trưởng: a) Theo dõi chặt chẽ tình hình các thế lực từ trước có dấu hiệu bất mãn, đặc biệt các nhà sư. b) Theo dõi động tĩnh các đơn vị quân đội, kể cả quân vùng chiến thuật và tổng trừ bị trú đóng tai địa phương, nhất là sự đi lại của các tướng, trong đó, hễ tướng Nguyễn Hữu Có đến đâu thì phải giám sát và báo cáo ngay. c) Huy động các hiệp hội, thân hào gửi điện công khai ủng hộ Tổng thống, kết án chính phủ Hoa Kỳ xúi giục đảo chính và cảnh cáo các thế lực tay sai ngoại bang. d) Theo dõi các hoạt động của Việt Cộng về quân sự, chính trị. Điện này chỉ tỉnh trưởng nhận và thi hành. Ký: Ngô Đình Nhu.
Những triệu chứng (Helen Fanfani - Financial Affairs). Tôi học bậc tiểu học ở Sài Gòn. Bài giảng nhập môn về triệu chứng các bệnh, tôi nhớ đoạn tóm tắt bênh thương hàn như sau: đau đầu, nhức mỏi, rối loạn đường tiêu hóa... Chế độ Sài Gòn đang có các triệu chứng của một bệnh có lẽ nguy hiểm hơn thương hàn. Điều đặc biệt là con bệnh cố gắng để cho tất cả loại vi trùng thêm sức mạnh phá hủy cơ thể đồng thời thày thuốc thi nhau cho các loại và liều lượng thuốc trái ngược nhau, hình như không vì con bênh, hoắc có vì con bênh, nhưng không nhằm cứu chữa.
Ngày 26 tháng 10, tôi có mặt trong buổi Tổng thống Ngô Đình Diệm tiếp các đoàn thể dân chúng Việt Nam. Tôi đã dự nhiều lần tiếp khách nhân lễ Quốc khánh này. Không khí năm nay buồn tẻ và ông Diệm không còn thói quen thịnh nộ khi một cái gì trái ý ông xảy ra. Một bộ trưởng cài nút áo cẩu thả, nếu trước kia, sẽ là cái cớ để ông lên lớp: ông thậm chí không chú ý đến lễ phục của chính ông. Trước giờ tiếp khách độ 5 phút, tôi gặp ông lững thững ngoài vườn, trong bộ quần áo màu xám nhạt, tay chống gậy, đội mũ len, giống như ông đi thăm dinh điền, săm soi mấy hòn non bộ nhỏ vừa đắp xong.
Một loạt tướng lĩnh chào ông. Ông hững hờ bắt tay họ và hoàn toàn lơ đễnh khi tướng Tôn Thất Đính đi giật lùi ra cửa - cử chỉ mà ông rất ưa thích trước kia.
Sau khi nghe các lời chúc tụng - rõ ràng, ông không nghe - ông nói, giọng cực kỳ ai oán:
- Chế độ này tuy còn nhiều khuyết điểm song còn hơn nhiều chế độ khác. Người ta chê nó là độc tài, nhưng tôi ngại sẽ còn những thứ độc tài khủng khiếp hơn. Với các vị đại biểu cho hội đoàn, tôi nói rõ: Tôi tiến thì theo tôi, tôi lùi thì bắn tôi, tôi chết thì trả thù cho tôi...
Tổng thống Diệm nói bấy nhiêu - một vài bà sụt sịt khóc. Ông nhắc câu nói của một người Âu xưa, nhưng hình như ông nhập thân vào nó.
Buổi tiếp khách quốc nội diễn ra độ nửa giờ. Tôi xuống thềm khi gặp ông Nhu. Ông chào tôi. Tôi kinh ngạc: ông gầy xọp, nét mặt chảy xệ và đen xạm, trông già hẳn. Bỗng nhiên, tất cả gợi cho tôi nhớ bức ảnh to đăng trong số Paris Match tháng 7 năm 1958: Vua Faycal của xứ Irak bị lực lượng đảo chính giết trong cảnh vàng son...
Nhà ngoại giao yêu cầu giấu tên bảo tôi: một số tướng lĩnh Nam Việt muốn lật đổ ông Diệm nhưng Bộ ngoại giao Hoa Kỳ trả lời lững lờ: "Hoa Kỳ không xúi giục đảo chính, sẽ không ngăn cản sự thay đổi chính phủ, và sẽ không từ chối viện trợ kinh tế và quân sự cho chế độ mới nếu nó tỏ ra có khả năng tăng cường hiệu quả nỗ lực quân sự, đảm bảo được dân chúng hậu thuẫn để chiến thắng Cộng Sản" Thật ra, câu trả lời chẳng phải lững lờ chút nào. Nó cho thấy Mỹ nghiêng hẳn về giải pháp thanh toán chế độ ông Diệm sau gần mười năm do dự mãi.
Tổng thống Mỹ dè dặt- ông ngại hậu quả việc thay Diệm không sáng sủa. Chính Tổng thống Mỹ đích thân yêu cầu tờ NewYork Time gọi Haberstam phóng viên thường trú ở Sài Gòn về Mỹ vì ông này nói nhiều đến sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam - điều Kennedy rất muốn tránh từ sau vụ "Vịnh Con Heo" ở Cuba thất bại. Tuy nhiên, chắc chắn Tổng thống Mỹ đang bị thuyết phúc.
Ông Diệm hiểu hơn ai hết điều đó. Và, tự ông, đã là một triệu chứng của biến cố mà mọi người, có thể đếm được theo vòng quay của kim đồng hồ...
Điện mật: Gửi ngoại trưởng Dean Rush. Mọi cái xấu có thể xảy ra, nhưng sẽ không thể xấu hơn tình hình mà chúng ta đang chứng kiến. Ký: Cabot Lodge.
* * *
Luân đang ăn sáng. Anh sắp cùng Nhu tiếp phái đoàn điều tra Liên hiệp quốc thì hai người khác không hẹn cùng đến: thiếu tướng Lâm và trung tá Nguyễn Thành Động.
- Các anh ăn sáng chưa? - Luân hỏi. Và anh biết liền, họ chưa ăn.
Dung và chị Sáu, mấy phút sau, đã bày phần ăn gồm trứng, thịt nguội cho hai người. Động ăn ngấu nghiến. Anh rời Bến Tre từ bốn giớ sáng.
- Đài Hoa Kỳ "bật đèn xanh" rồi! - Động nói, khi ba người uống cà phê ở phòng khách.
- Anh có cách gì bàn với Nhu giao tôi chỉ huy Liên binh phòng vệ không? - Thiếu tướng Lâm đặt thẳng vấn đề.
Luân lắc đầu:
- Làm sao việc đó xảy ra được! Nhu tin Lê Quang Tung và rất nghi anh.
- Thật là chó đẻ! Lúc này mà chỉ có hai tay không... - Lâm bực dọc.
- Tôi khống chế Bến Tre không khó. Song, chỉ là một tỉnh.. Tôi không thích vấy máu ăn phần mà muốn làm cái gì vang dội hơi. Thằng Phụng cũng chỉ được mấy tiểu đoàn ở Kiến Tường. Tôi gợi ý thằng Lê Khánh Nghĩa, nó chết nhát, bảo: đợi cái đã... - Động sôi sục.
- Đại tá biết thằng thiếu úy tên Tường không? - Lâm hỏi.
- Biết...
- Thằng đó là cái chó gì mà nó xộc vô nhà tôi, bảo tôi hợp tác và hợp tác để khử Ngô Đình Nhu... Tôi mà thèm khử Ngô Đình Nhu... Tôi muốn tóm cổ nó giao cho An ninh, song nghĩ chẳng dại giúp thêm cho bọn bồi bếp...
- Thiếu tướng quan hệ với Tôn Thất Đính ra sao? - Luân hỏi.
- Không quan hệ - Lâm lắc đầu quầy quậy... - Không chơi với bọn điếm...
Luân nhìn hai người một lúc.
- Theo tôi, điều cần đối với mọi người có ý muốn tốt vào lúc này là nên nghĩ xem nếu một sự kiện lớn xảy ra xong rồi, có thể làm gì và làm với cái gì... Lúc bấy giờ, chính những người có ý muốn tốt mới thật sự làm chủ công việc. Hiện nay, không phải lúc.
Động không đồng ý ra mặt: "Bây giờ chầu rìa sẽ chầu rìa suốt đời!"
Thiếu tướng Lâm, trái lại, gật đầu: "Tôi phục đại tá! Đúng, tình thế rối như canh hẹ.. Đôi khi, vài đơn vị cũng có thể nổi đình nổi đám. Hạ Diệm hết còn là chuyện bí mật - ngoài quán hủ tiếp, nguòi ta cũng bàn. Nhưng, sau Diệm? Đúng..."
Thái độ của thiếu tướng Lâm giúp Nguyễn Thành Động bớt bộp chộp - "Có lẽ phải như vậy... Tôi sẽ gặp Trương Tấn Phụng, Lê Khánh Nghĩa..."
- Gặp Phụng thì được, còn Nghĩa có lẽ không nên. Như trung tá nói, Nghĩa nhát... nguy hiểm.. - Luân lựa lời.
- Nó nhát, nhưng tụi này bạn thân với nhau.
Hai người khách vừa ra khỏi nhà thì điện thoại reo. Thiếu úy Tường gọi Luân.
- Xin nhắc "phương án Y".. - Giọng Tường trịnh thượng.
- Mọi phương án đều do tôi định - Luân xẵng giọng. Các thứ mà anh và thầy của anh rêu rao chỉ là bọt xà phòng... Anh cần "Phương án Y" lắm phải không, hành động duy nhất chứng tỏ các anh có mặt. Nếu anh có thể thực hiện được thì anh tự làm lấy...
- Tôi nhắc C.7... - Tường lắp bắp.
- Không có C.7! Tôi khôgn thích lối cắn lén hèn nhát.
- Ông sẽ ân hận!
- Anh có muốn ân hận ngay bây giờ không? - Luân gác máy.
* * *
Bản tường trình những hoạt động của phái đoàn điều tra Liên hợp quốc, theo thứ tự thời gian (trích)
- Do văn thư ngày 4-9-1963, đệ lên ông Tổng thư ký Liên hiệp quốc những đại diện thường trực của 14 nước: A Phú Hãn, Angieri, Cambot, Tích Lan, Ghine, Ấn độ, Indonesia, Mông Cổ, Nigieria Hồi Quốc, Ruanda (Rwanda), Xiẻa Léon (Sierraleone), Xômali, Trinite (Trinite) và Tôbago (Tobago), về sau có thêm hai nước Mali và Nêpan (Népal) đã xin ghi vào chương trình nghị sự khóa 18 cua Đại hội đồng Liên hiệp quốc một vấn đề mới mệnh danh là "sự vi phạm nhân quyền tại miền Nam Việt Nam". Văn thư này được phát cho tất cả hội viên của Liên hiệp quốc, ngày 9-9-1963. Ngày 13-9-63 một bản giải thích sự việc trên cũng được trao cho tất cả hội viên của tổ chức này.
- Trong phiên họp thứ 1232 ngày 7-10-1963, Đại hội đồng đã xét đến điểm 77 của nghị trình. Sau khi đại diện nước Tích Lan trình bày khái quát vấn đề, ông Chủ tịch Đại hội đồng tuyên bố có nhận được hai văn thư của ông trưởng phái đoàn đặc ủy của Việt Nam Cộng hòa tại Liên hiệp quốc và đọc hai văn thứ ấy? Một trong hai văn thư, đề ngày 4-10-63, có lời mới như sau:
" Tôi được lệnh của chính phủ tôi trao một bức thư mời, qua sự trung gian của ngài và của ông Tổng thư ký Liên hiệp quốc; một số đại diện các nước hội viên đến viếng Việt Nam trong một ngày gần đây để nhận xét tường tận thực trạng sự giao thiệp giữa chính phủ và tập đoàn Phật giáo Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam Cộng hòa trân trọng cảm tạ ngài nếu được ngài vui lòng giúp đỡ cho sự thành lập phái đoàn quan sát ấy".
Sau đó, đại diện Côxta Rica (Costa Rica) đề nghị Đại hội đồng nên nhận lời mời nói trên đến tại chỗ quan sát một cách đứng đắn và tỉ mỉ tất cả các dữ kiện sẵn có: ông chủ tịch yêu cầu Đại hội đồng chấp nhận lời đề nghị ấy, với những lời lẽ như sau:
"Tôi yêu cầu Đại hội đồng cho biết có ai phản đối gì về ý kiến của Costa Rica đề nghị, trước khi thảo luận nên chấp nhận lời mời của chính phủ Cộng hòa Việt Nam cử một phái đoàn gồm một số đại diện của các nước hội viên đến Việt Nam để điều tra sự việc và phúc trình cho đại hội đồng để đại hội đồng bằng vào phúc trình ấy mà xét xử."
Sau lời tuyên bố của ông Chủ tịch, đại diện Liên Xô đề nghị Đại hội đồng nên yêu cầu hai đồng chủ tịch của Hội nghị Geneve năm 1954 nhờ Ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến, mở một cuộc điều tra và phúc trình cho hai đồng chủ tịch, để hai vị này phúc trình lại cho Đại hội đồng trước khi khóa họp thứ 18 của Liên hiệp quốc bế mạc. Đại biểu Anh quốc đưa ra những nghi ngờ về quyền năng của hai đồng chủ tịch, cũng như của Ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến về vấn đề này. Sau hai phát biểu ý kiến trên, đại diện xứ Costa Rica tuyên bố sẽ đệ trình một dự án giải quyết vấn đề này, và yêu cầu ngưng phiên họp. Đề nghị này được 80 phiếu tán thành, không một phiếu nào phản đôi, 5 phiếu trắng.
- Trong phiên họp khoáng đại thứ 1239 của Đại hội đồng, ngày 11-10-63, ông chủ tịch đã tuyên bố như sau:
"Trong phiên họp khoáng đại thứ 1234, tôi đã được đại hội cho phép chấp nhận bức thư đề ngày 4-10-63 trong ấy ông trưởng phái đoàn đặc ủy của Việt Nam Cộng hòa nhân danh chính phủ ông, mời quý vị đại diện một số nước hội viên sang Việt Nam trong một ngày gần đây. Vì thế, tôi đã cử một phái đoàn gồm quý vị đại diện các nước hội viên: A Phú Hãn, B Tây (Braxin), Tích Lan, Cost Rica, Đahomay (Dahomey), Marốc và Nê pan
Ông Prazwak, đại sứ A Phú Hãn là trưởng phái đoàn. Nhiệm vụ của phái đoàn, như đã định rõ trong văn thư ngày 4-10- 63, là đến Việt Nam Cộng hòa để nhận xét tại chỗ tình hình của sự liên lạc giữa chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Phật giáo đồ của nước ấy.
Phái đoàn phải lên đường càng sớm cáng hay để bản phúc trình được đệ lên đại hội đồng trong khóa này".
- Sau khi phái đoàn điều tra của Liên Hợp Quốc tại Miền Nam Việt Nam được ông Chủ tịch đại hội đồng thành lập như trên, ông Tổng thư ký Liên hợp quốc đã bổ xung vào phái đoàn những nhân viên của văn phòng sau đây: Chánh thư ký: ông John P.Humphey. Nhân viên báo chí: ông Valieri J.G Stavridi. Phụ tá chánh thư ký: ông Ilban Lutem. Phụ tá chánh thư ký: ông Alain L.Dangeard (nhân viên hành chính và tài chính).
Văn phòng Ủy hội kinh tế tại châu Á và Viễn Đông ở Vọng Các có cung cấp cho phái đoàn một phụ tá, thông dịch viên Việt ngữ, ông The Pha Thay Vilaihongs và một thông dịch viên Anh ngữ và Pháp ngữ, cô G.Bazinet.
Khi đến Sài Gòn, ngày 24-10-63, lúc 0 giờ 30, phái đoàn đã được ông Phạm Đăng Lâm, Tổng thư ký Bộ ngoại giao và các nhân viên khác trong Bộ tiếp đón. Trước sự hiện diện của phóng viên báo chí trong nước và ngoài nước, ông trưởng phái đoán đã lặp lại đại khái nội dung lời tuyên bố mà ông đã nói trước khi khởi hành. Ông nhắc lại sứ mệnh và dự định của phái đoàn là điều tra tại chỗ, nghe nhân chứng, và thu thập những lời khiếu nại. Sau khi lặp lại lời kêu gọi với các thành phần liên hệ đừng biểu tình, và nói thêm: "Chúng tôi đến đây với ý chí muốn biết rõ sự thật và tường trình các sự việc".
- Các nhân viên của phái đoàn đến khách sạn Majestic lúc hai giờ sáng. Ông trưởng phái đoàn liền triệu tập ngay một phiên họp của phái đoàn để nghiên cứu dự án chương trình mà chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã đề nghị. Theo dự án này thì phái đoàn ở Sài Gòn ba ngày đầu, rồi đi Vũng Tàu để thăm viếng một ngôi chùa, lên Đà Lạt thăm viếng nhiều ngôi chùa khác, các trường học và các thắng cảnh. Trong chương trình cũng có dự trù thăm viếng chùa chiền và thắng cảnh ở Huế, Phan Rang, Phan Thiết, Ba Xuyên và Vĩnh Bình; ngày cuối cùng sẽ dành cho sự thăm viếng một ấp chiến lược. Vì thời giờ đã quá khuya, ông trưởng phái đoàn đề nghị nên xem xét chương trình dự trù cho ngày đầu là ngày 24-18-63 mà thôi. Phái đoàn chấp nhận chương trình của ngày đầu là: viếng thăm xã giao ông Bộ trưởng Ngoại giao và ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, yết kiến ông Tổng thống Việt Nam Cộng hòa và dự buổi tiệc do ông Bộ trưởng Bộ nội vụ khoản đãi.
- Về các phần sau trong chương trình, phái đoàn ngỏ ý cần có thì giờ xem xét sau. Phái đoàn cũng quyết định tin cho chính phủ biết phái đoàn không nhận đề nghị của chính phủ là đài thọ tất cả chi phí tại chỗ của phái đoàn. Nhưng vị đại diện của chính phủ bảo rằng, vì lý do an ninh, chính phủ phải đảm nhiệm sự di chuyển của phái đoàn ở trong xứ; phái đoàn đã chấp nhân đề nghị ấy. Nhận thấy khi vừa đến nơi, những chiếc xe hơi chở nhân viên phái đoàn đều cắm quốc kỳ mỗi nước của nhân viên phái đoàn và quốc kỳ Việt Nam, ông trưởng phái đoàn yêu cầu tất cả các xe hơi đều chỉ cắm cờ Liên Hợp quốc, bởi vì mỗi nhân viên của phái đoàn không đại diện cho nước họ mà cho Liên hợp quốc. Chính phủ Việt Nam đồng ý là công xa của ông trưởng phái đoàn thì cắm cờ Liên hợp quốc và cờ Việt Nam, còn các xe khác thì không cắm cờ gì hết.
- Trong phiên họp sau, ngày 24-10, phái đoàn nghiên cứu chương trình của chính phủ cho những ngày 25 và 26 tháng 10. Dự án của chương trình ngày thứ hai dự trù một cuộc yết kiến ông Tổng thống, một cuộc hội kiến với ông Ngô Đình Nhu, cố vấn chính trị của Tổng thống và sự viếng thăm ba chùa ở Sài Gòn để họi đàm với những hội viên của các hội Phật giáp. Phái đoàn quyết định chấp thuận chương trình ngày 25-10, nhưng ngỏ ý muốn chính phủ dời vào ngày cuối của phái đoàn tại Việt Nam, buổi tiếp tân mà Bộ trưởng Bộ ngoại giao định tổ chức vào rối ngày 25-10. Phái đoàn cũng được chính phủ mời đến dự chính thức cuộc duyệt binh trong ngày Quốc khánh 26 tháng 10. Phái đoàn quyết định nhận lời mời, vì nghĩ rằng, khi Đại hội đồng Liên hợp quốc chấp nhận thư mời của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, cũng đã tiên đoán các trường hợp như thế rồi. Nhưng trước khi nhận lời, phái đoàn đã được chính phủ cam đoan là sẽ không đề cập một điều gì về phái đoàn trong các bài diễn văn đọc hôm ấy.
- Phái đoàn cũng quyết định báo tin cho chính phủ Việt Nam biết phái đoàn mong muốn hạn chế đến mức tối thiểu các lễ lạt, tiệc tùng và các cuộc du ngoạn. Mặt khác, phái đoàn sẽ ngỏ ý cho các nhân viên chính phủ mà phái đoàn sẽ tiếp xúc trong hai ngày đầu biết rằng phái đoàn muốn tự sắp đặt lấy cuộc điều tra và chương trình hoạt động của mình.
- Trong buổi hội kiến đầu tiên với phái đoàn, ngày 24-10, ông Bộ trưởng Bộ ngoại giao, trong khi nhắc lại lời mời của chính phủ Việt Nam, có đoạn nhắc với phái đoàn rằng phái đoàn sẽ được hoàn toàn tự do di động và ông hứa sẽ làm những gì ông có thể làm được để giúp đỡ phái đoàn trong nhiệm vụ thu thập sự việc một cách khách quan và vô tư. Ông nói thêm: "Chúng tôi không hoàn toàn; sự hoàn toàn không có trong thế giới này, Chính phủ không hoàn toàn, các Bộ trưởng không phải là các vị thánh, nhưng chúng tôi sẽ rất hân hạnh nghe những ý kiến của các ngài và cố gắng sửa chữa những khuyết điểm của chúng tôi". Ông trưởng phái đoàn ghi nhận những lời cam kết ấy và sau khu nhắc lại nhiệm vụ của phái đoàn, có cho ông Bộ trưởng hay rằng chương trình làm việc của phái đoàn sẽ được trực tiếp giao cho ông hay gián tiếp thông qua trung gian của ông Tổng thư ký Bộ ngoại giao, người đã được cử làm đại diện của chính phủ bên cạnh phái đoàn. Trong một cuộc thăm viếng xã giao của phái đoàn cũng trong ngày ấy tại Bộ nội vụ, ông Bộ trưởng cũng nói lại những cam kết và sự hợp tác của chính phủ, tương tự nhu những lời của ông Bộ trưởng Ngoại giao.
- Sau khi thi hành xong chương trình của ngày đầu, trong ấy có cuộc yết kiến Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, sáng thứ hai 25-10 trong khi hội đàm với ông Ngô Đình Nhu, cố vấn chính trị Tổng thống phủ, phái đoàn có đề cập một lần nữa về những họat động của phái đoàn. Theo lời yêu cầu của phái đoàn, ông Nhu hứa sẽ gửi tất cả những tài liệu mà chính phủ có được trong vụ Phật giáo cho phái đoàn. Ông cũng hứa để cho phái đoàn đến thăm các trại giam trong ấy có những nhà sư bị bắt trong những vụ lộn xộn mấy tháng trước, và các trại thanh niên trong ấy một số thanh niên được gửi đến để "thảo luận với chính quyền".
- Chương trình ngày 25-10 gồm có cuộc đi thăm các chùa Xá Lợi, Ấn Quang và Giác Lâm. Đến phút cuối cùng, cuộc viếng thăm chùa Ấn Quang bị bãi bỏ; khi phái đoàn đòi hỏi một sự giải thích về sự thay đổi chương trình ấy, thì người ta bảo rằng các vị tăng ni ở chùa ấy, nhất là bà Diệu Huệ, cũng như ngài Hội chủ Thích Tịnh Khiết bị mệt trong buổi chiều ấy vì tuổi già. Sự đi thăm chùa Ấn Quang, dự trù vào buổi chiều, đã bị hoãn lại bởi chính phủ, như thế là chính phủ đã thay đổi chương trình mà không hỏi ý kiến của phái đoàn. Sau đó, phái đoàn được biết rằng sư bà Diệu Huệ và ngài Hội chủ Thích Tịnh Khiết, thật ra chiều hôm ấy, có đợi tiếp phái đoàn tại chùa Ấn Quang. Về sau, phái đoàn được chính quyền cam kết rằng phái đoàn có thể đến thăm chùa Ấn Quang bất luận lúc nào, nhưng tốt hơn là về buổi sáng, và hai nhân vật nói trên sẽ có ở đấy.
- Căn cứ vào sự hợp tác của chính phủ mà ông Nhu, cố vấn chính trị và ông Bộ trưởng ngoại giao đã cam kết trong những cuộc hội kiến, phái đoàn đã trao cho ông Tổng thư ký Bộ ngoại giao ngày 26-10, một bản tổng lược ghi những điểm chính trong chương trình hoạt động của phái đoàn. Trong bản ấy, phái đoàn ngỏ ý muốn hủy chương trình dự trù cho những ngày từ 27 đến 29 tháng 10, mà chính phủ đã đề nghị, và phái đoàn mong muốn để dành ba ngày ấy để đi thăm các trại thanh niên, các tăng ni bị giữ trong các nhà giam và chùa Ấn Quang. Phái đoàn cũng mong được đi Huế ngày 30 tháng 10, như chính phủ đã dự trù trong chương trình, để gặp ông đại biểu chính phủ và nhân dịp ấy, triệu tập một buổi họp có tính cách thông tin để am tường tình hình của đô thị ấy, thăm chùa Từ Đàm, các chùa khác và hội đàm với một số nhân vật mà phái đoàn sẽ trao danh tánh cho chính phủ biết rõ. Phái đoàn cũng quyết định hủy bỏ tất cả những cuộc tiếp tân và thăm viếng thắng cảnh tại Huế. Những ngày cuối tuần dành để nghe nhân chứng ở Sài Gòn. Phái đoàn ngỏ ý hy vọng sẽ rời Việt Nam chậm lắm là vào ngày thứ hai 4 tháng 11.
- Chương trình phác họa trong bản tổng lược ấy đã được chính phủ thỏa thuận, nhưng chính phủ đề nghị phái đoàn nên đến thăm vùng Vĩnh Bình là nơi có nhiều Phật giáp đồ gốc Khmer, vì chính phủ cũng bận tâm đến lời khiếu nạu, tại Liên hợp quốc và các nơi khác, cho rằng có sự tàn sát dân thiểu số ở vùng ấy. Phái đoàn quyết định trong hiện tại chưa xét đến đề nghị ấy.
- Buổi chiều 26-10, phái đoàn đã thảo một bản công bố mời những ai muốn làm nhân chứng hãy đến gặp phái đoàn hay gởi đến chp phái đoàn một bản khiếu nại. Như đã dự định trước, bản công bố ấy sẽ gửi cho báo chí trong nước và ngoại quốc, và đồng gửi đến cho ông Bộ truỏng Ngoại giao với một bức thư đính theo báo tin cho biết là bản công bố ấy đã được phổ biến. Phái đoàn hành động như thế trong phạm vi của nhiệm vụ mình và yêu cầu sự giúp đỡ của chính quyền để bản công bố kia được phổ biến rộng rãi.
- Bản công bố của phái đoàn, gửi đi ngày 26-10 đã được phổ biến bằng Anh ngữ và Pháp ngữ trong bản tin tức của Việt tấn xã. Những nhật báo Anh ngữ và Pháp ngữ trong nước đã đăng tải đúng nguyên văn trong ngày hôm sau. Theo sự thăm dò trong làng báo Việt ngữ, phái đoàn cũng nhận thấy bản công bố ấy đã được dịch đăng trong một số nhật báo Việt ngữ.
Nhưng vì theo các báo ngoại quốc, thì báo chí Việt Nam không đăng tải trọn vẹn bản công bố nói trên, nên phái đoàn quyết định sẽ xem xét kỹ lưỡng các báo xuất bản tại đây. Chính phủ hứa sẽ giúp đỡ phái đoàn. Tuy thế, phái đoàn ước lượng rằng những phương tiện thông tin địa phương đến một mức độ vừa phải, trong sự phổ biến kêu gọi các nhân chứng và những người khiếu nại nói trên.
- Ngày 31-10, ông trưởng phái đoàn đến gặp Bộ trưởng Ngoại giao để thảo luận về vấn đề có thể thẩm vấn nhà sự Thích Trí Quang, hiện xin tỵ nạn tại sứ quán Hoa Kỳ hay không.
Ông Bộ trưởng tuyên bố "theo quốc tế công pháp, một cá nhân được hưởng sự tỵ nạn không có quyền hoạt động gì hết và cũng không được tiếp xúc với người nào, nếu không có sự ưng thuận của chính phủ xứ ấy. Ông còn nói thêm: Trong trường hợp như thế chính phủ phản đối mọi sự tiếp xúc của nhà sư Thích Trí Quang với phái đoàn hay với một người nào khác; chính phủ chỉ có thể chấp nhận một sự gặp gỡ như thế nếu nhà sư này được trao trả cho chính quyền".
Ông Bộ trưởng có phát biểu ý kiến là phái đoàn đã tiếp xúc với các giáo phái Đại thừa tại Việt Nam, thì ít nhất, cũng nên đi viếng thăm một giáo phái của Tiểu thức. Cuộc viếng thăm này có thể trù liệu vào ngày thứ bảy. Ông Trưởng phái đoàn trả lời ông sẽ hỏi ý kiến của phái đoàn về vấn đề này; phần ông, ông không thấy có gì trở ngại.
- Ngày 30-10, báo chí quốc tế có đăng tải một điện tín cho biết rằng một nhân viên của phái đoàn đã đến thăm ông đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Đây là cuộc viếng thăm có tính cách riêng tư và thân hữu, nhưng để đánh tan mọi sự hiểu lầm, phái đoàn nghĩ rằng ông trưởng phái đoàn nên đề cập đến cái điện tín ấy trong buổi hội đàm với ông Bộ Trưởng Ngoại giao. Vì thế ông trưởng phái đoàn cam đoan với ông bộ trưởng rằng buổi viếng thăm trên không liên quan gì đến phái đoàn và có tính cách hoàn toàn riêng tư.
- Ngày 29-10, phái đoàn được ông Bộ trưởng nội vụ cho biết có 10 nhà sư định tự thiêu trong dịp phái đoàn sang thăm Việt Nam. Một trong những vị sư ấy đã thi hành dự định trên ngày 27-10. Chính phủ đã bắt được năm vị trước khi họ chưa kịp hành động. Phái đoàn yêu cầu được gặp năm nhà sư ấy, nhưng chỉ gặp được một người vào chiều 30-10. Cũng trong buổi chiều ngày ấy, phái đoàn đến thăm Bệnh viện Đô Thành, ở đây có những nạn nhân của những vụ xung đột từ trước đang được điều trị. Phái đoàn có nghe một nhân chứng tự nguyện đến cung khai tại khách sạn Majestic, trụ sở của phái đoàn.
* * *
Bản tường trình tất nhiên không thể đi sâu vào một số chi tiết chỉ liên quan đến vài thành viên của phái đoàn và bản thân giờ giấc cũng không đúng như văn bản.
Nửa giờ sau khi ngày hai mươi bốn tháng mười bắt đầu, phái đoàn đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Họ được đại biểu chính phủ đón tiếp nồng nhiệt và, vào giờ đó, thành phố đang giới nghiêm, không một dân thường có mặt. Những chiếc xe hơi sang trọng đưa tất cả phái đoàn về khách sạn Majestic, cạnh bờ sông. Phòng tiện nghi cao nhất dành cho từng người. Sau bữa ăn nhẹ, có chút rượu, phái đoàn đi nghỉ. Bấy giờ đã gần ba giờ sáng, trưởng đoàn yêu cầu các thành viên mười một giờ sáng sẽ dùng bữa và họp nội bộ để mười lăm giờ chính thức gặp mặt bộ trưởng Bộ ngoại giao bàn về chương trình hoạt động của phái đoàn.
Khách sạn Majestic được đặt dưới sự bảo vệ của cảnh sát dã chiến và gần như bị cô lập.
Tám giờ sáng, đại sứ X. trong phái đoàn đang ngủ say thì cửa phòng hé mở. Ông tỉnh giấc, vươn người một cách thỏai mái - năm giờ ngủ liền đã giúp ông sảng khóai.
Một nữ nhân viên rón rén bày khay cả phê ngay trên chiếc bàn con cạnh giường. Đại sứ X. qua ánh sáng hắt từ ngoài vào, nhìn trọn bộ ngựccuar cô nhân viên. Ông trỗi dậy, vào phòng vệ sinh. Khi ông rửa mặt, tấm kính to in càng nổi hơn cô nhân viên - cô mặc minijupe, như dềnh dàng xếp chăn gối trên giường ông.
Đại sứ X. không kịp cạo râu, ông trở ra, ngồi cạnh khay cà phê.
- Xin mời ngài.. - Cô gái nói tiếng Anh - Có quá sớm và phiền ngài không?
- Không! Cám ơn...
- Ngài dùng sữa hay đường? - Cô gái, bấy giờ chỉ cách đại sứ X. có vài tấc, cúi người mở hộp đường, dù đại sứ chưa trả lời. Nhưng cô nghe rõ từ cổ hộng đại sứ tiếng ấm ứ.
Đại sứ X. giả như ngăn cô gái, ông cầm tay cô. Cô gái để yên. Nhưng, khi đại sứ kéo mạnh cô vào ông thì cô vùng ra, lùi xa mấy bước. Chiếc áo bật nút, một bên vai cô phơi trần cùng phần trên bộ ngực đồ sộ.
- Xin lỗi! - Đại sứ lắp bắp...
Nhưng cô gái nhoẻn cười và trở lại khay cà phê. Cô đã nhìn rõ đôi mắt đờ đẫn và cả gân trên thái dương đại sứ giật. Lần này, đại sứ đứng hẳn dậy. Cô gái lọt vào vòng tay màu nâu của ông. Một cuộc giằng co kéo dài chừng ba bốn phút, cứ mỗi lần thoát ra khỏi tay đại sứ, thân thể cô gái mất đi một chút che đậy. Và sau cùng...
Không chỉ riêng ở phòng đại sứ X. Phòng đại sứ Y, Z... quang cảnh đại khái như vậy.
Mười giờ ba mươi, phái đoàn ngồi vào bàn ăn. Câu chuyện rời rạc. Mười ba giờ, cuộc họp nội bộ chóng vánh.
Đêm hai mươi bốn rạng hai mươi lăm màn hấp dẫn không diễn trong vài tiếng đồng hồ mà bắt đầu từ giữa đêm đến tận sáng.
Theo chương trình, phái đoàn sắp gặp cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu. Sau bữa ăn, họ nghỉ vài tiếng đồng hồ. Và khi thức dậy, các đại sứ X, Y, Z đều thấy trên bàn một phong bì, các bức ảnh khổ carte postale rơi ra, ảnh màu với những ghi nhận điển hình nhất...
Hội kiến với ông Ngô Đình Nhu, cố vấn chính trị Tổng thống phủ (Biên bản tốc ký của phái đoàn Liên hợp quốc).
Ông cố vấn chính trị: - Vấn đề chính yếu đặt ra đúng là một vấn đề chậm tiến chung cho nhiều xứ. Vấn đề Phật giáo chỉ là một khía cạnh của vấn đề chính. Những phong trào chính trị, xã hội và tôn giáo tiến triển khá mạnh từ khi xứ sở vừa mới thu hồi độc lập. Nhưng cán bộ lại thiếu trong các phong trào ấy cũng như trong guồng máy chính phủ. Chính phủ bắt buộc phải nhờ đến chuyên viên ngoại cuộc trong mọi lĩnh vực (hành chính, giáo dục, v.v...) nhưng họ đều có chủ thuyết riêng và sự hiện diện của họ trong cơ quan mang đến điều lợi và bất lợi, đó là động lực phát sinh sự tranh chấp. Phong trào Phật giáo cũng ở trong tình trạng ấy. Phong trào Phật giáo phát triển mạnh nhưng cán bộ không đủ, do đó có nhiều sự sai lệch không tránh khỏi. Tôi nghĩ rằng đường lối chính phủ Việt Nam cũng có những lệch lạc. Vấn đề tự do không phải là vấn đề độc nhất mà dân tộc Việt Nam phải giải quyết, vấn đề chính yếu là vấn đề công bằng. Phải động viên các từng lớp dân chúng vào việc kỹ nghệ hóa. Khi nào những đặc quyền chính trị, kinh tế và xã hội chưa lọai trừ được thì chưa có thể động viên được dân chúng. Người ta không thể tách rời vấn đề quân sự và kinh tế khỏi vấn đề xã hội. Trong khối thứ ba, đâu đâu cũng thế, xứ nào cũng có vấn đề, đối với bạn cũng như thù. Nếu quý ông có những câu hỏi cần phải nêu ra, tôi sẽ sung sướng trả lời, trong phạm vi có thể.
Ông trưởng phái đoàn: Ông nói rằng vấn đề Phật giáo là vấn đề chậm tiến. Ông quan niệm như thế nào? Như thế phần nào có nghĩa là Phật giáo phát triển không bằng các cộng đồng khác?
Ông cố vấn chính trị: Vấn đề Phật giáo bắt nguồn trong những ngày tàn của thời kỳ thực dân và có lẽ xa hơn nữa, trước đệ nhị thế chiến không lâu. Không riêng về Phật giáo, những tổ chức chính trị và tôn giáo khác, nhất là Khổng giáo, cũng đều có những vấn đề như thế. Lúc bấy giờ có sự trỗi dậy của tất cả dân tộc châu Á, nguyên nhân vì đường lối chính trị của Nhật Bản. Đường lối của Hitler và chủ nghĩa phát xít đã gây ra sự khủng hoảng tâm lý ở châu Á và đặc biệt là ở Việt Nam. Hầu hết các đảng phái chính trị ở Việt Nam muốn cố gắng bí mật phát triển đều ít nhiều bị chủ nghĩa phát xít chi phối. Vào thời kỳ ấy cũng có sự phục hưng trên bình diện tôn giáo. Đây là một hiện tượng để xác nhận phẩm giá của Việt Nam về địa vị của mình trên trường quốc tế. Đối với Phật giáp, sự phục hưng không đóng một vai trò quan trọng lắm trong những ngày tàn của thời kỳ thực dân và sự kiện ấy có nhiều lý do: theo cổ truyền của xứ sở, tinh thần tự trị của chùa chiền đã ăn sâu trong Phật giáo Việt Nam. Mỗi ngôi chùa là một giáo đường riêng biệt. Mỗi vị trụ trì và bổn đạo làm thành một cộng đồng độc lập. Giáo lý nhà Phật và tính tình người Việt Nam đều mang màu sắc cá nhân. Vấn đề tu dưỡng chỉ là việc riêng của mỗi người. Vì thế, những cố gắng bị phân tán, không hợp nhất, tuy lúc đó đã có một phong trào để đi đến thống nhất. Sự suy tưởng nội tâm của Phật giáo và tính tình người Việt tạo nên một hiện tượng ly tán. Dù muốn hay không, phải công nhận rằng có nhiều vấn đề quan trọng cần giải quyết và người ta tự hỏi không biết Phật giáo có thể giải quyết nó như thế nào. Thật thế, sự tranh đấu cho độc lập là một sự đấu tranh vũ trang, cần đổ mái, trong khi Phật giáo chủ trương hỷ xã, bất bạo động. Như vậy làm thế nào Phật giáo có thể đại diện cho một uy quyền thần bí khả dĩ tập hợp phong trào chống thực dân? Dù muốn hay không, nước Việt Nam phải được kỹ nghệ hóa vào đệ nhị thế chiến khi xứ sở bị Nhật Bản xâm nhập, người ta cảm thấy từ trước nước Việt Nal không sản xuất gì hết, thật là một khoảng trống không trong lãnh vực kỹ nghệ.
Do đó người ta phải tìm ra một uy quyền thần bí để kích động khả năng quốc gia vào công cuộc kỹ nghệ hóa. Vấn đề Phật giáo hiện nay cũng ở trong một hoàn cảnh tương tự. làm thế nào Phật giáo có thể giải quyết sự cần thiết vừa chống Cộng vừa kỹ nghệ hóa xứ sở? Có những vấn đề thế tục cần đặt ra cho những quốc gia trong khối thứ ba: phải tìm một giải pháp hữu hiệu giữa Đông và Tây. Phật giáo có thể giải quyết nhiệm vụ cấp bách và hiện hữu ấy không? Và chính trong điều kiện ấy, phong trào Phật giáo lại phục hưng. Những vấn đề ấy đã có từ năm một nghìn chín trăm ba mươi ba. Năm rôi còn ở Balê và vào thời ký đó đã có những vấn đề. Chúng tôi thành lập những câu lạc bộ tập hợp những bạn hữu khác chủng tộc để nghiên cứu những vấn đế cấp bách cho tương lai. Bắt đầu năm một nghìn chín trăm bốn mươi lắm, những tư tưởng ấy trải qua nhiều thử thách cay chua. Phong trào Độc lập liền bị đặt dưới quyền kiểm soát của Cộng Sản. Những năng lực nhiệt thành đều bị ảnh hưởng của Cộng Sản. Người ta không thể áp dụng nguyên tắc thống nhất cho nhiều xu hướng dân chủ phức tạp. Người ta không thể hợp nhất các lực lượng chống thực dân. Vào lúc đó phong trào Phật giáo cùng phát khởi. Có những cuộc thảo luận sôi nổi để xem người ta đứng về phía Cộng Sản hay chống lại. Chính lúc bấy giờ phong trào Phật giáo cứu quốc cũng ra đời một lần với phong trào Công giáo cứu quốc. Những tổ chức ấy hoạt động khá mạnh, nhất là ở Bắc và Trung vì được tập hợp dưới quyền chỉ huy của Cộng Sản và nằm trong mặt trận đấu tranh của Cộng Sản. Ở miền Nam cũng có một phong trài tôn giáo cùng một xu hướng như trên, nhưng ở trong hoàn cảnh khác: Giáo phái Hòa Hảo và Cao Đài được quân đội viễn chinh võ trang để chống Cộng. Phong trào Phật giáo bành trướng mạnh nhờ phong trào tranh thủ Độc lập. Đây là những hiện tượng lịch sử bộc phát vì liên hệ đến sự tồn vong của Việt Nam. Mỗi tổ chức tìm một cách củng cố theo phương thức riêng của mình: Phật giáo, Gia tô giáo cũng như đảng phái chính trị. Nhưng sự củng cố ấy bị lôi kéo giữa Cộng Sản và Đế quốc. Tình hình hiện tại chỉ là sự nối tiếp của tình hình lúc bấy giờ, Phong trào Phật giáo là một phong trào chính đáng của một tổ chức bị thực dân đàn áp và muốn phát triển vào những ngày tàn của thực dân.
Đó là một phong trào chính đáng, nhưng lại phát triển trong những điều kiện không thuận lợi. Phong trào ấy bị lôi kéo giữa Đông và Tây. Mỗi chủ nghĩa đều cố tìm cách lợi dụng phong trào ấy. Những điều vừa trình bày là quan điểm của nhà sử học và xã hội học. Quan điểm của chính phủ lại khác. Chính phủ đứng ngòai vòng tôn giáo. Sự liên lạc giữa chính phủ và phong trào tôn giáo đều dựa vào tính chất thế tục. Nước chúng tôi là một nước chậm tiến muốn tối tân hóa và vì thế phải giải quyết một số vấn đề : động viên quần chúng vào sự đòi hỏi của chiến tranh (vì chiến tranh đối với chúng tôi là bắt buộc) và kỹ nghệ hóa là điều cần thiết cho sự tiến hóa. Nhưng không nên quên thực tại: phong trài Phật giáo bị lôi kéo giữa Đông và Tây. Chính phủ không có một đường lối chính trị nào chống Phật giáo hết, nhưng ngay trong Phật giáo cũng có những vấn đề riêng. Trong tất cả các tổ chức đều có công tác ngấm ngầm do bàn tay Đông và Tây điều khiển. Cho đến cơ quan hành chính và quân đội cũng có sự len lỏi của chủ nghĩa ngoại lai. Ấy là một nhu cầu lịch sử do hoành cảnh chính trị dựa trên địa lý đặc biệt vủa Việt Nam gây nên. Hoa Kỳ chủ trương phát triển tự do để giải quyết vấn đề chậm tiến. Nhưng tự do không phải là giải phóng. Mà giải phóng theo Cộng Sản chủ trương lạ không phải là tự do. Vị cứu tinh không phải là người có tư tưởng tự do, người có tư tưởng tự do không hẳn là vị cứu tinh. Đứng trước hai quan niệm trái ngược ấy, cần phải dứt khoát. Phật tử cũng ở trong tình trạng bối rối như tín đố tôn giáo khác. Viện trợ Hoa Kỳ rất quý báu đối với chúng tôi, nhưng lại chứa mầm phân hóa: Làm thế nào động viên được quần chúng với một thứ tự do không chịu trút bỏ đặc quyền, trái lại người ta còn đề nghị chúng tôi cứ bảo vệ đặc quyền trên con đường tiến hóa! Thật là một chuyện thần thoại.
Ông trưởng phái đoàn: Ông đã nhắc lại bất bạo động là một nguyên tắc của Phật giáo, nhưng chúng tôi đọc trong nhiều báo chí lại thấy các đoàn thể Phật giáo bị tố cáo là có bạo hành. Ông có thể giải thích cho chúng tôi rõ điều ấy không?
Ông cố vấn chính trị: Trong một cuộc phục hưng nào cũng có sự trở về nguồn. Nếu Phật giáo muốn trở về nguyên thủy thì sự kiện ấy chỉ có thể do một thiểu số ưu tú là những thánh nhân chân chính mà sứ mạng là nói cho chúng ta, những người đang tham gia chiến tranh và góp phần vào công cuộc kỹ nghệ hóa, rằng vật chất không phải là tất cả. Các vị thánh nhân ấy nhắc cho ta, những kẻ đang lao động trong bùn lầy, rằng có một lý tưởng về giá trị tinh thần và sự suy tư, một sức mạnh có thể đập tan sự phản ứng liên tục của thuyết duy vật. Ấy là sứ mạng tôn giáo. Nhưng trong hoàn cảnh lịch sử Việt Nam, phong trào Phật giáo đã đi lạc hướng, đã trở thành công cụ chính trị và đi đến mức muốn lật đổ chính phủ. Có rất nhiều nguyên nhân tâm lý đã thúc đẩy các nhà Phật giáo có sự lệch lạc trên. Về nội dung, Phật giáo đứng trước hai thực tế trái ngược (tại miền Nam Việt Nam mà thôi) nếu trở thành một lực lượng chính trị thì không còn là Phật giáo thuần túy nữa.
Đó là mâu thuẫn căn bản ở Việt Nam, và Phật tử từng đau khổ vì mâu thuẫn ấy. Họ thấy những phong trào tôn giáo khác phát triển mạnh hơn rồi họ suy luận là bị đàn áp. Những tôn giáo khác như Hồi giáo, Thiên Chúa giáo tự mình giải quyết những vấn đề thế tục. Phật giáo không phải như thế vì là một tôn giáo chủ trương hoàn toàn thoát tục. Phật tử khi thấy các tôn giáo khác phát triển, kết luận là mình bị bắt nạt. Có nơi tổ chức đưa dân cả toàn xã vào Thiên Chúa giáo. Tín đồ Phật giáo khi thấy nhiều xã theo Công giáo thì lại tưởng đó là áp lực của Chính phủ. Nhưng khi đọc các tài liệu, người ta mới thấy Chính phủ rất lo lắng về sự trở về với Chúa từng loạt như thế, Chính phủ không khuyến khích điều ấy vì đó là Cộng Sản trá hình. Sự kiện này gây cho chúng tôi thiệt hại nhiều vào năm 1960 khi chiến tranh phá hoại phát khởi. Chính phủ Diệm xích mích với hàng giáo phẩm Gia tô về phong trào rửa tội toàn khối ấy. Lực lượng an ninh phải canh chừng những xã ấy nhiều hơn xã khác, nhất là phong trào di cư. Phật tử lập luận rằng chính phủ khuyến khích Gia tô giáo hơn Phật giáp vì trong số 1 triệu dân di cư từ Bắc vào Nam có đến 700.000 tín đồ Gia tô. Người ta tưởng đó là vì Tổng thống Việt Nam Cộng hòa là một tín đồ Gia tô. Người ta không thấy đấy là một vấn đề tổ chức. Trên bình diện thế tục, Gia tô giáo được tổ chức chặt chẽ hơn nên có cả giáo khu được tập hợp và chỉ huy để rời quê hương, trong khi ấy Phật tử lại tản mát và không được tổ chức. Lúc bấy giờ chính phủ Diệm còn yến, ông vừa mới về nước và chính phủ trước đó đã vơ vét hết tiền bạc. Trong ngân khố quốc gia chỉ còn đủ trả lương cho công chức trong một tháng. Những vị Bộ trưởng đều không có lương, vợ tôi nuôi tất cả mọi người. Chúng tôi sống ở đây như đi "picnic". Vì chính phủ yếu và kém tổ chức, nên Tổng thống phải hỏi người Pháp (tướng Salan) có thể giải quyết cho bao nhiêu người di cư vào Nam. Họ trả lời không quá 25.000 trong khi số di cư có đến hàng triệu. Họ đến Hải Phòng và người Pháp bị tràn ngập. Thật là kinh khủng. Người ta đợi hàng tháng để xuống tàu, bao nhiêu của cải mất sạch. Ông Diệm không có phương tiện gì hết. Người Pháp trở nên bi quan, không ngờ tín đồ công giáo đông như thế. Ông Diệm phải nhờ đến người Mỹ vì không cò một cơ quan nào lo việc ấy hết. Vị Bộ trưởng của chính phủ Diệm phụ trách di cư lại chống phong trào ấy. Ông cho rằng về phương diện chính trị, tốt hơn nên để họ ở lại ngoài Bắc vì họ là lực lượng chống đối Cộng Sản, nếu đưa vào Nam mà không làm vừa lòng họ, họ sẽ trở thành lực lượng chống chính phủ. Đó là điều làm cho Phật tử nghĩ rằng Chính phủ ưu đãi tín đồ Công giáo.
Ông trưởng phái đoàn: Theo một bản tuyên bố của Chính phủ, tất cả tổ chức bất hợp pháp đều bị tiêu diệt. Có phải tất cả những tổ chức ấy đềy là của Phật tử không? Và có bao nhiêu tổ chức như thế?
Ông cố vấn chính trị: Âm mưu ấy được tổ chức do Ủy ban liên phái. Ủy bạn này chỉ đại diện cho một thiểu số Phật tử Việt Nam thôi. Số còn lại, không đồng ý và về phương diện tình cảm, họ đau khổ trước sự kiện ấy. Những kẻ âm mưu là đạo hữu của họ và đối với những kẻ ấy, họ có một sự liên kết tinh thần. Người ngoại quốc lợi dụng điều ấy. Cuộc âm mưu thành hình được nhờ những kẻ xúi giục ngoại quốc và nhất là báo chí Mỹ đã đưa dư luận quốc tế lên chống Chính phủ. Tất cả những tổ chức ấy đều do Ủy ban liên phải điều khiển.
Ông trưởng phái đoàn: Quân đội và chính quyền đã khám phá nhiều tài liệu. Chúng tôi có thể xem được bao nhiêu?
Ông cố vấn chính trị:: Quý ông có thể xem tất cả.
Ông Gunewardene: Có bao nhiêu Phật tử trong Chính phủ?
Ông cố vấn chính trị: Ba phần tư.
Ông Gunewardene: Trong hàng ngũ tướng lãnh?
Ông cố vấn chính trị: Trong mười bày vị tướng thì có mười bốn vị Phật tử, thuần túy hay không, tôi không được rõ, và ba tín đò Gia tô trên hình thích.
Ông Gunewardene: Có bao nhiêu Phật tử trong quân đội?
Ông cố vấn chính trị Cúng một tỷ lệ như trong dân chúng. Nhưng đa số thờ cúng tổ tiên, thờ cúng những người quá cố. Họ không đến chùa. Việt Nam không phải là một xứ sùng đạo. Đúng hơn, người Việt Nam không muốn ràng buộc vì giáo điều. Họ đến chùa khi bênh hoạn hay đau khổ. Ngòai ra, họ không đến làm gì.
Ông Gunewardene: Ai là tưởng chỉ huy Quân đoàn thủ đô? Có phải là một phật tử không?
Ông cố vấn chính trị: Thiếu tướng là một Phật tử. Nhưng cho đến này, đối với chúng tôi, đó không phải là một điều quan trọng đểu đánh giá trị.
Ông Gunewardene: Nhưng đối với Phật tử điều ấy có làm họ băn khoăn không?
Ông cố vấn chính trị Chúng tôi không muốn đi sâu vào những nhận xét ấy. Người ta có thể thay đổi tôn giáo. Như tôi chẳng hạn, tôi là tín đồ Gia tô, nhưng chống Giáo hội.
Ông Correa De Costa: Cũng trong vấn đề này, tôi xin đặt câu hỏi sau: Trong điều kiện như thế thì làm sao lại nảy sinh vấn đề đỏi hỏi của Phật giáo?
Ông cố vấn chính trị: Trong hoàn cảnh lịch sử của các nước chậm tiến, Phật tử đã đi lệch con đường giáo lý vì thiế cán bộ để nghiên cứu. Với tư cách là tín đồ Gia tô, như tôi chẳng hạn, tôi nghĩ rằng, Hội nghị Công đồng thế giới hiện nay chỉ có kết quả tốt đẹp nếu có sự cải cách trong việc nghiên cứu Thần học. Sự tiến triển về hoạt động của Gia tô giáo không đi đôi với phẩm chất của việc nghiên cứu Thần học. Hiện nạy những nhà Thần học Gia tô ở đâu? Lẽ dĩ nhiên là không phải trong các vị Hồng y. Họ chỉ là cán bộ.
Ông Amor: Có những trại thanh niên ở Sài Gòn; chúng tôi có thể đi xem được không?
Ông cố vấn chính trị:: Có, những trại ấy cách đây vài cây số.
* * *
Khi phái đoàn Liên hợp quốc dời dinh Gia Long, Nhu bảo Luân: - Để cho họ điều tra. Càng nhiều nhân chứng càng tốt. Tất nhiên, có nhân chứng nọ, nhân chứ kia... Ta không cần các biên bản tốc ký hoặc ghi âm, dù hàng đống cũng được. Ta cần kéo dài thời gian. Sau "Bravo", mọi thứ coi nhu mất hết giá trị. Sức mạnh, bây giờ là tiếng nói của sức mạnh. Tôi sẽ mở một tiệc thật lớn để tiễn họ và tôi sẽ ghi bằng phim vẻ mặt tiu nghỉu của họ. Tôi tin một trong số họ thích kéo dài cuộc điều tra. Về phương diện này, Ngô Trọng Hiếu làm việc không đến nỗi tồi...
Luân ngồi trên xe về nhà, suy nghĩ khác Nhu. Ngô Trọng Hiếu không thể xỏ mũi toàn thể phái đoàn và trò gài bẫy này sẽ vô hiệu hóa nếu những gã đại sứ dại gái kia thú nhận - cá nhân họ mất chức, song câu chuyện Phật giáo vẫn còn nguyên trong chương trình nghị sự, nếu không nói là cũng sự lột mặt của các đại sứ ậm ờ thì bản thân chế độ cũng tự lột mặt, chẳng một tí sạch sẽ, tha hồ cho báo chí thế giới bêu rếu và càng thúc đẩy Tổng thống Mỹ hạ bàn tay còn phần nào do dự xuống bàn cờ; các con cờ nhảy tung cả lên, đôi luyến tiếc cuối cùng của ông với Ngô Đình Diệm sẽ tan biến...
Về cuộc gặp gỡ, Luân có thể nhận diện ai rơi vào cái bẫy của Ngô Trọng Hiểu - những câu hỏi mở đường cho chính phủ như lời họ thú tội - nhưng một đại sứ đã gặp Cabot Lodge, nghĩa là gặp cả Bộ tham mưu Mỹ tại Sài Gòn đủ điều chỉnh mọi chuệch choạc. Suốt cuộc gặp gỡ, Luân không nói, ngoài cái bắt tay xã giao với khách. Và Luân biết liền ai đã gặp Cabot Lodge qua cái siết tay hơi mạnh so với người khác. Cabot Lodge hẳn đã giới thiệu Luân. Cái nực cười nhất là Nhu dám đổ cho Cộng Sản tôe chức cả xã vào đạo Thiên chúa - sự ngụy biện trơ tráo báo hiệu khả năng suy nghĩ của Nhu mỗi lúc mỗi tối hơn.
Một khách không hẹn đợi Luân. Một Linh mục. Người gầy, đeo kính trắng, nho nhã. Ông tự giới thiệu, Luân mới biết ông là Linh mục - bề ngòai ông như một trí thức bình thường, sơ mi trắng ngắn tay, quần tropical cũ, đi xăng - đan. Luân nghe tiếng Linh mục từ lâu, giảng viên đại học, người Huế, thuộc nhóm mà Nhu liệt vào danh sách "đầu bò". Ông có cái tên đẹp như tên phụ nữ: Kim Huệ.
- Chúng ta nên bắt đầu từ đâu, thưa Cha? - Luân cười.
Linh mục không cười. Nét căng thẳng hiện rõ trên vẻ mặt khôi ngô của Linh mục - ông không thể quá tuổi ba mươi.
- Tôi muốn xác định phạm vi trao đổi. Đại tá là người có đạo, tôi là Linh mục, nhưng đây là cuộc nói chuyện bình đẳng giữa hai người có thể có chung mối quan tâm về tình hình miền Nam và tình hình giáo hội... Tôi nói lại, không chỉ tình hình giáo hội mà tình hình những người theo đạo Thiên Chúa, đặc biệt là đạo Thiên Chúa La Mã.
- Cám ơn Cha đã cho phép... Tuy vậy, con vẫn thấy Cha chưa nêu chủ điểm của cuộc trao đổi...
- Trước hết, để thực hiện nguyên tắc bình đẳng, tôi đề nghị chúng ta theo cách xưng hô thế tục - gọi nhau là anh, xưng là tôi... Không phải lúc nào cách xưng hô trong đạo cũng thích hợp cả... Còn chủ điểm? Anh hiểu hơn rôi. Chế độ ông Diệm đang thoi thóp...
- Và, tôi là thành viên của chế độ đó, không dễ thở... - Luân lại cười.
- Chưa hẳn... Tôi không làm nghề tình báo, không có nguồn tin bên trong song tôi hiểu anh và chế độ ông Diệm chưa bao giờ hòa đồng. - Linh mục Kim Huệ nghiêm mặt.
- Phong trào Phật giáo không hề uy hiếp những người như Linh mục... - Luân nói.
- Đâu phải vì nghĩ rằng phong trào Phật giáo uy hiếp chúng tôi, mà tôi đến đây. Anh không có tư cách thay mặt cho Phật giáo. Tôi đã gặp những người cầm đầu Phật giáo và vì vậy, tôi lo...
- Anh đã gặp thầy Thiện Hoa chua?
Bây giờ, Linh mục Kim Huệ mới cười:
- Tôi đoán không sai. Người mà anh quan tâm là thầy Thiện Hoa, thầy Trí Tịnh, thầy Thiện Hòa, hòa thượng Thiện Luật, hòa thượng Tịnh Khiết... Tôi biết đêm đẫm máu chùa Xá Lợi, anh có mặt. Có người cho rằng anh vào chùa để làm nội ứng cho Trần Văn Tư. Ít người nói vậy thôi...
- Thích Đức Nghiệp là một!
- Đúng... Có người nói anh muốn tạo chân đứng sau này...
- Lập luận của ông Thích Tâm Châu...
- Đúng.. Thậm chí, có một lá thư từ Mỹ gửi về dặn các nhà sư coi chừng anh. Anh là người của cơ quan tình báo Mỹ...
- Của Thích Nhất Hạnh!
- Đúng!
- Có lẽ ông ta nói không sai.. Ông ta là người của Mc. Cône - Luân châm biếm.
- Thích Nhất Hạnh có là CIA hay không, tôi không rõ và cũng chẳng cần rõ. Nếu anh có tài liệu, thì ông ta cũng chỉ có thể đạt cái mức nhân viên tình báo Mỹ thôi. Còn anh, nếu ông ta nói đúng, thì theo tôi, phải đảo ngược: Tình báo Mỹ là nhân viên của anh!
Luân mỉm cười để che cái chớp giật trong người. Linh mục Kim Huệ đáo để thật!
- Tôi suy đoán, hoàn toàn theo logich học, dựa trên các hiện tượng rời rạc... Anh đã góp phần không nhỏ vào tình cảnh khốn quẫn hiện nay của chế độ ông Diệm, nghĩa là của Mỹ... Nhân tiện, tôi thuật cho anh nghe cuộc đấu khẩu giữa tôi và Thích Đức Nghiệp. Ông ta cho rằng nếu mai kia ông Diệm dời khỏi chính trường là do công của Phật giáo, chủ yếu là do công của Phật giáo - không có các vụ tự thiêu, không có các chịu đựng tai họa, không có cuộc vận động quốc tế... thì ông Diệm vĩnh viễn là ông Diệm... Tôi bảo: Không có Mặt trận giải phóng, không có quân Giải Phóng, không có một nửa nước độc lập, không có cuộc đấu tranh chống Pháo kiên quyết kéo dài chín năm, liệu có thể có phong trào Phật giáo với quy mô vừa qua không? Ông Thích Đức Nghiệp lắc đầu, lắc đầu một cách yếu ớt. Tôi nói thêm: Tuy hằng triệu người đứng trong hàng ngũ Phật giáo, tín đồ thật sự là bao nhiêu? Ông ta cũng tiếp tục lắc đầu yếu ớt. Tôi biết một số người theo Công giáo có mặt trong các cuộc biểu tình...
- Nhưng không thể không đánh giá đúng cống hiến của Phật giáo... - Luân ngắt lời Kim Huệ.
- Tôi không nghĩ khác... Chính tôi nói thẳng với thầy Thiện Hoa những ý trên, thầy Thiện Hoa gật đầu: Đạo pháp và dân tộc gắn chặt, cái nền chính là dân tộc... Tôi gặp anh để nêu lên hai câu hỏi: một, cái gì tiếp sau biến động hôm nay. Tốt hay xấu cho đất nước, nghĩa là cho hòa bình và cho cả thống nhất. Hai, người theo đạo Chúa cần làm gì, có thể làm gì...
Luân trầm ngâm. Anh mời thuốc lá, Linh mục không hút. Câu hỏi lớn quá. Tâm trạng những người như Kim Huệ bao quát quá. Nó cũng là câu hỏi và tâm trạng của Luân.
Thấy Luân chưa trả lời, Kim Huệ nói thêm, rất sôi nổi:
- Thay đổi chế độ, mong ước ấy không riêng của Phật giáo. Nhưng, cái gì đang chờ chúng ta? Ông Diệm nói một câu tiên tri: Cái sẽ tới còn ghê rợn hơn... Có thể như vậy không?
- Thay đổi chế độ? - Luân hỏi vặn Kim Huệ - Sẽ không có một thay đổi đến mức đó... Anh hiểu chế độ chỉ là ông Diệm?
Kim Huệ phản ứng thật nhanh: - Tôi đính chính. Thay đổi bộ máu bản xứ của người Mỹ...
- Nếu anh đã nhận thức được như vậy thì anh đã tự trả lời...
- Nghĩa là, đối với đất nước vẫn xấu?
- Có thể xấu hơn, đồng thời có thể ít xấu hơn...
- Có thể... mơ hồ quá. Khả năng nào nhiều?
- Nếu để cho diến tiến của tình hình trong phạm vi một cuộc đẩy cây giữa hai phía - ông Diệm và Mỹ, tức là giữa những người do Mỹ khống chế - thì khả năng đầu nhiều hơn...
- Tôi không tin Mặt trận khoanh tay...
- Cũng như anh, tôi không hiểu chuyện ngoài bưng, ngoài rừng...
- Anh không hiểu, tôi đồng ý... Không hiểu cụ thể...
- Còn anh?
- Tại sao tôi phải úp mở: Tôi có hiểu, tuy chẳng sâu.
- Anh nghe tôi: Ván bài cần bốn tay chơi. Anh và tôi mới nghĩ đến ba. Thiếu một. Một quan trọng nhất, sẽ trả lời câu hỏi của anh.
- Phải chăng, theo anh, trả lời câu hỏi này liên quan đến câu hỏi thứ hai của tôi?
Luân lắc đầu:
- Lực lượng Công giáo chưa thể có sức nặng... Tôi nói lực lượng không mù quáng.
- Năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba này khác những năm một nghìn chín trăm năm mươi bốn, một nghìn chín trăn năm mươi lăm...
- Tôi hy vọng. Song, tôi không ảo vọng. Rất có thể sau khi có một đổi thay nào đó? - ta cứ giả định đi - điều anh và tôi hy vọng sẽ lớn ra... Phải làm gì, với một Linh mục, nghĩa là với sự ràng buộc của giáo hội, tôi không dám nói. Anh cũng thấy, một trong những cái dấy lên phong trào phản đối hiện nay là chính sách ưu đãi Công giáo của Tổng thống...
- Nhưng, không phải tất cả Linh mục, thậm chí Giám mục đều nhận và tán thành một ân sủng như vậy.
- Tôi đồng ý. Dẫu sao, ấn tượng mà dân chúng ghi trong đầu không quá bị bóp méo... Tôi hỏi anh một câu - bởi anh hỏi tôi hàng chục câu - có bao nhiêu Linh mục suy nghĩ và muốn hành động như anh?
- Suy nghĩ như tôi, nhất định đông, nhất là số Linh mục trẻ từ Châu Âu về. Còn muốn hành động?
Linh mục Kim Huệ nhún vai.
- Anh có thể hiểu sức mạnh mà những ngườ như anh cần, dựa vào đâu để tạo ra không?
Linh mục Kim Huệ cười rộ:
- Tôi không phải quá trẻ...
Sau cái bắt tay thật chặt, hai người từ giã nhau như đôi bạn thân.
Phái đoàn Liên hợp quốc thẩm vấn các nhân chứng (trích)
* Nhân chứng số 1
- Ông trưởng phái đoàn: Theo ý ngài, những lời tố cáo chính phủ Việt Nam đã vi phạm các quyền tín ngưỡng Phật giáo đồ có căn cứ không? Nếu có, chúng tôi mong được ngài cho biết càng nhiều càng tốt những bằng chứng về những vi phạm ấy.
- Nhân chứng: Những tố giác về những vi phạm của chính phủ đối với việc tu hành hay với Phật pháp bắt nguồn từ bốn tỉnh ở Trung Việt, cách đây đã ba hay bốn năm. Bốn tỉnh ấy là: Phú Yên, Bình Định, Quảng Nam và Quảng Ngãi. Còn những tố giác khác, tôi không được biết rõ. Những đoàn thể Phật giáo của các tỉnh ấy đã đệ đơn khiếu nại lên chính phủ và lên Tổng hội, đại diện cho họ ở Sài Gòn. Những đơn ấy quý ông có thể tìm thấy trong những tập tài liệu. Chắc quý ông cũng đã biết đến năm nguyện vọng đã được trình lên chính quyền trong mùa hè năm nay. Tôi không được biết những tố giác khác. Tại Việt Nam, 80% dân chúng là Phật tử, mà những lễ lạt của Phật giáo lại không được Tổng thống nhìn với một con mắt có thiện cảm như các lễ lạt của Thiên Chúa giáo. Thí dụ ngày lễn Noel được tổ chức một cách to tát và chính phủ tham gia vào các lễ tại nhà thờ.
- Ông trưởng phái đoàn: Có phải, như một số người đồn, phong trào Phật giáo đã bị xúi giục, bằng cách này hay cách khác, bởi Cộng Sản, Việt Cộng hay tay sai ngoại quốc không? Ngài, hoặc những người quen biết với ngài, có ai là nạn nhân của sự xúi giục ấy không?
- Nhân chứng: Tất cả vụ này phát khởi từ Huế. Như quý ông đã biết, ở đây trong ngày lễ Phật đản, vấn để lá cờ Phật giáo được nêu lên. Biến cố này đã gieo mầm bất an vào đến Sài Gòn, và cứ thế mà tiếp tục mãi. Riêng về phần tôi, tôi không bị ai xúi giục cả.
- Ông Gunewardene: Ở Huế, có sự xúi giục nào không?
- Nhân chứng: Tôi không được biết.
* Nhân chứng số 3
- Ông trưởng phái đoàn: Ngài có biết phái đoàn đến gặp ngài hôm nay không?
- Nhân chứng: Vâng, tôi có biết đại diện của Liên Hợp quốc sẽ đến điều tra về tình hình Phật giáo đồ ở miền Nam Việt Nam. Tôi là phát ngôn viên của Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo. Tôi ở chùa Xá lợi.
- Ông Correa Da Costa: Ủy ban liên phái là gì? Nhiệm vụ của nó thế nào?
- Nhân chứng: Ủy ban có nhiệm vụ đòi hỏi quyền tự do tín ngưỡng tại Việt Nam Cộng hòa bằng một chính sách bất bạo động.
- Ông Correa Da Costa: Ủy ban liên phái được thành lập ngày nào?
- Nhân chứng: Đã năm tháng nay.
- Ông Correa Da Costa: Sau những vụ lôi thôi ở Huế?
- Nhân chứng: Vâng, tất cả giáo phái Phật giáo đã hợp tác với Ủy ban từ ngày ấy.
- Ông Correa Da Costa: Có khoảng mười chín giáo phái Phật giáo quan trọng tại Việt Nam. Vậy có bao nhiêu phái tham dự trong Ủy ban?
- Nhân chứng: Trong mười sáu giáo phái ở miền Nam Việt Nam, mười bốn giáo phái có đại diện trong Ủy ban liên phái.
- Ông Correa Da Costa: Hai giáo phái nào không tham dự?
- Nhân chứng Giáo phái Cổ Sơn Môn và Tịnh độ tông.
- Ông Correa Da Costa: Vì sao họ không tham dự?
- Nhân chứng: Vì họ cộng tác với chính phủ.
- Ông Correa Da Costa: Có những mối liên quan như thế nào giữa Ủy ban liên phái và Tổng hội Phật giáo?
- Nhân chứng: Tổng hội Phật giáp thành lập từ năm 1951, 1952 và gồm có tăng già, cư sĩ của tập đoàn Phật giáo.
- Ông trưởng phái đoàn: Từ khi bị bắt, ngài có bị hành hạ không?
- Nhân chứng: Thật khó trả lời câu hỏi của ngài trong lúc này. Tôi ước mong ngày thông cảm cảnh ngộ hiện tại của tôi. Tôi không thể trả lời nơi đây được.
* Nhân chứng số 6:
- Ông trưởng phái đoàn: Ngài bị bắt giam lúc nào?
- Nhân chứng: Ngày 20-8-1963
- Ông trưởng phái đoàn: Lúc mấy giờ?
- Nhân chứng Lúc hai giờ sáng.
- Ông trưởng phái đoàn: Cảnh sát có phá cửa khi họ bắt ngài không?
- Nhân chứng Có.
- Ông trưởng phái đoàn: Cửa chùa hay cửa phòng ngài??
- Nhân chứng: Họ phá cửa sắt mà thôi. Tôi ở trong phòng, họ đến đập cửa và gọi tôi ra.
- Ông trưởng phái đoàn: Ai?
- Nhân chứng: Những sĩ quan.
- Ông trưởng phái đoàn: Những sĩ quan quân đội hay của cảnh sát?
- Nhân chứng: Những sĩ quan và binh sĩ của quân đội.
- Ông trưởng phái đoàn:: Ngài có bị đánh đập không?
- Nhân chứng: Một ít thôi.
- Ông Volio: Thế nào? Họ đánh bằng tay hay bằng gậy?
- Nhân chứng: Bằng tay.
- Ông trưởng phái đoàn: Vì sao họ đánh ngài?
- Nhân chứng: Họ không nói lý do vì sao cả.
- Ông Gunewardene: Những quân nhân đến đây có vũ trang không?
- Nhân chứng: Tôi không biết họ có lọai súng gì. Họ cầm súng như thế này (phái đoàn biết đó là súng có lưỡi lê).
- Ông Gunewardene: Họ đem ngài đi đâu?
- Nhân chứng: Họ dẫn tôi tới một nơi xa và không biết nơi ấy là đâu cả.
- Ông Gunewardene: Họ giao ngài cho ai canh gác?
- Nhân chứng: Họ dẫn tôi đến chỗ ấy lúc hai giờ sáng và đến bốn giờ sáng họ lại đưa tôi đến một nơi khác rồi giam tôi vào trong một xà lim.
- Ông Gunewardene: Ngài bị giam trong ấy mấy ngày?
- Nhân chứng: Vào khoảng một tuần lễ.
- Ông Gunewardene: Họ đối đã với ngài như thế nào?
- Nhân chứng: Tôi không bị ngược đãi.
- Ông Gunewardene: Đêm ngài bị bắt có bao nhiêu nhà sư ở trong chùa?
- Nhân chứng: Vào khoảng mười.
- Ông Gunewardene: Họ đề bị bắt cả?
- Nhân chứng: Vâng.
- Ông Koirala: Người ta cho rằng Cộng Sản, Việt Cộng và những nhân viên ngoại quốc khác, là nguyên nhân của các vụ lôi thôi ấy, ngài nghĩ sao?
- Nhân chứng: Tôi chỉ biết tu mà thôi, tôi không thể nói được việc ấy.
* Nhân chứng số 26.
- Trưởng phái đoàn: Anh có phải là phật tử không?
- Nhân chứng Tôi là Phật tử.
- Trưởng phái đoàn: Anh bị bắt khi nào?
- Nhân chứng: Ngày hai mươi tám tháng tám.
- Trưởng phái đoàn: Anh có dự các cuộc biểu tình của sinh viên không?
- Nhân chứng: Có.
- Trưởng phái đoàn: Anh có bị đánh đập không?
- Nhân chứng: Không.
- Trưởng phái đoàn: Bao nhiêu sinh viên tham dự cuộc biểu tình?
- Nhân chứng: Hơn một nghìn sinh viên.
- Ông Gunewwardene: Bao nhiêu bị bắt và bị giam?
- Nhân chứng: Tám trăm bị giam, rồi được thả ra.
- Ông Gunewwardene: Anh biểu tình để chống đối gì?
- Nhân chứng: Vì tôi nghĩ rằng đó là việc phải làm sau các biến cố xảy ra, và đó là lý do khiến tôi tham dự cuộc biểu tình. Tôi không biết tôi có bị các phần tử ngoại lai khai thác hay lợi dụng không. Lúc khởi đầu đó là một phong trào thuần túy, không có sự can thiệp nào từ bên ngoài cả, nhưng về sau - theo ý tôi, có một phần nào.
* Nhân chứng số 34:
- Ông Amor: Anh có phải là Phật tử không?
- Nhân chứng: Tôi không phải là Phật tử, không phải theo Thiên chúa giáo, cũng không phải là Cộng Sản. Tôi không có tôn giáo.
- Ông Correa De Costa: Vì sao anh bị bắt.
- Nhân chứng: Tôi không phải là Cộng Sản. Tôi bị bắt vì có liên hệ với các tổ chức chính trị.
- Ông Amor: Anh nghĩ gì về vấn đề Phật giáo?
- Nhân chứng: Tôi không lưu tâm đến vấn đề ấy. Là một sinh viên khoa chính trị học, tôi nhìn vấn đề dưới một khía cạnh khác.
- Ông Pinto: Với tư cách sinh viên khoa chính trị học, vấn đề Phật giáo không làm anh xúc động một tí nào sao?
- Nhân chứng: Như mọi sinh viên khoa chính trị học theo dõi những mục tiêu chính trị, không phải tôi không bị xúc động vì vấn đề Phật giáo, nhưng tôi cho nó chỉ có một tầm quan trọng nào đó thôi. Do đó, phản ứng của tôi không phải là phản ứng của một công dân thường.
- Ông Koirala: Anh có tham dự các cuộc biểu tình không?
- Nhân chứng: Tôi không tham sự biểu tình, nhưng tôi là thủ lĩnh một nhóm sinh viên và tôi không quên cho biết quan điểm của tôi trong mọi cơ hội. Tôi không đi theo nhóm biểu tình ngòai lộ.
- Ông Gunewrdene: Anh có phát biểu ý kiến về vấn đề Phật giáo không?
- Nhân chứng: Từ lâu, tôi đã phát biểu ý kiến và tôi chống chính phủ này, nhưng, vì lí do tôn giáo, thật rất khó khăn. Tôi muốn rằng các Phật tử bị bắt được thả ra.
- Ông Koirala: Anh có nghĩ rằng vấn đề Phật giáo là triệu chứng của một sự bực bội rộng lớn hơn trong xứ này không?.
- Nhân chứng: Những người thấy điều ấy có thể có cảm tình nồng nhiệt với phong trào trên, những người không thấy gì có thể bị đánh lạc.
- Pinto: Anh có bị đánh đập không?
- Nhân chứng: Trường hợp tôi là một trường hợp đặc biệt. Vì người ta biết rằng tôi là thủ lĩnh một nhóm chính trị trong sinh viên, không bao giờ tôi bị đánh đập, người ta để tôi yên. Lẽ tất nhiên, có thể khác đối với những người khác. Trong quá khứ, tôi không bị phiền lụy gì, còn vai trò của tôi trên trường chính trị, bao giờ tôi cũng được xem như một thủ lĩnh; do đó, người ta đối xử với tôi rất tử tế, người ta cố gắng không đụng tới tôi, nếu không có lý do khác, về các vấn đề chính trị, người ta để tôi làm điều gì tôi muốn.
- Ông Gunewardene: Như một người không có tôn giáo, anh nghĩ gì về việc quân đội tấn công các chùa chiền?
- Nhân chứng: Tôi không thấy điều đó. Tôi chỉ nghe nói, nhưng không thấy tận mắt...
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #32  
Old 12-08-2012, 03:12 PM
Helen's Avatar
Helen Helen is offline
Super Moderator
 
Tham gia ngày: Jan 2007
Bài gởi: 3,082
neww Ván Bài Lật Ngửa - Phần 8 - Chương 9, 10

Ván Bài Lật Ngửa


Phần 8 - Chương 9


Theo Thùy Dung thì Nhu ngửi được đôi chút về quả bóng căng thẳng sắp vỡ nhưng lại cố giữ vẻ bình thản. Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia hiểu rõ việc phải làm khi “bravo” khởi sự; đích thân Nhu chỉ thị cho ông chi tiết của kế hoạch. Bản danh sách dài đặc - những người sẽ bị bắn ngay khi súng nổ, những người sẽ bị biệt giam để khai thác, những người an trí lâu dài… Chỉ kể nhân vật tiếng tăm, Thuỳ Dung đếm trên hai trăm ngàn, trong đó, loại một - loại phải chết không cần hỏi cung lên đến hàng chục, đứng đầu là tướng Có, đại tá Đỗ Mậu, tướng Xuân, thiếu tá Nguyễn Bá Liên… Riêng tướng André, Nhu nghĩ sao không rõ – có thể người vợ Huỳnh Hữu Hiền đã vô hiệu hoá tướng này – nên không có tên trong danh sách. Minh Lớn cũng không có tên. Luân biết danh sách tại chỉ huy sở của Tôn Thất Đính. Nhu hoàn toàn không bàn với Luân, anh ta tự ghi tên và đích danh đánh máy – theo Luân, chỉ đánh máy bốn bản, Nhu giữ một, còn ba bản thì giao cho Tổng Giám đốc cảnh sát, Tôn Thất Đính và Tổng Uỷ trưởng tình báo.
Tôn Thất Đính thắc mắc về trường hợp của Minh Lớn. Tất nhiên, giả vờ thắc mắc. Luân nhún vai. Anh không khó phát hiện cái gượng gạo của Đính.
- Với tôi, cả bản danh sách đều vô lý!
Đính kinh ngạc thật sự:
- Đại tá không tán thành sự phân loại này?
- Tôi không tán thành toàn bộ kế hoạch “bravo”…
- Ồ! – Đính kêu to - Vậy mà tôi vẫn nghĩ đại tá là tác giả của bản kế hoạch…
- Tôi không thích! Đơn giản như vậy…
- Nhưng, chính ông cố vấn cử đại tá chịu trách nhiệm với tôi… hoặc chính xác hơn, chỉ huy tôi.
- Thiếu tướng đã nghe ông Nhu nói về vai trò của tôi. Đó là quyết định của ông Nhu và tôi không còn cách nào khác hơn là chấp hành. Nhưng, tôi không chỉ huy và ngay cả cùng chịu trách nhiệm tôi cũng thấy mình không đủ tư cách…
- Ở đây, không có vấn đề tư cách xét theo cấp bậc. Nhưng tôi đồng ý: từ khi được giao trách nhiệm, đại tá lơ là. Tôi cho rằng đại tá kín đáo, tế nhị…
- Thưa thiếu tướng, điều cật vấn lương tâm tôi ở chỗ khác. Tại sao? Tại sao phải có “bravo” và tại sao lại phải có “bravo tiếp theo” - Giọng Luân bình thản, đều đều.
Mặt Tôn Thất Đính biến sắc. Anh ta mất tự chủ, đánh rơi bản danh sách xuống bàn, ngó Luân trân trối. Dù cho năm phút trước giờ cử sự, Luân vẫn có thể gông cổ Đính và thế là mọi thứ tan tành… Liệu lão thầy bói có phải là người của Luân không? “Bravo tiếp theo” là quy ước của Đính với nhóm André.
Luân liếc Đính, gần như đọc rành rọt từng ý nghĩ ẩn hiện trong đầu viên tướng có bộ vó lấc cấc và đầy tâm địa phản trắc. Nói chung, Luân ít giao du với Đính vì nhiều lẽ. Lúc Luân vừa nhập vào gia đình họ Ngô thì Đính chưa có tiếng tăm gì, cấp bậc rất thấp, lại thuộc hoàng tộc, là đối tượng mà Diệm rất nghi ngờ. Đính thích phô trương dòng dõi vua chúa trong khi họ “Tôn Thất” đông đến hàng vạn, những râu ria nhà Nguyễn. Đính vốn cao ngạo, tốt nghiệp trường võ bị Pháp, xem Luân như gã vô danh tiểu tốt ở bưng biền, nhảy phóc tận bếp núc nhà Ngô, nơi mà Đính rất thèm nhưng không được. Sau cùng, Đính nổi tiếng ăn chơi trác táng còn Luân giữ một cuộc sống gần như mô phạm. Trong công vụ, hai người thỉnh thoảng gặp nhau nhưng ngoài cái bắt tay xã giao họ chưa lần nào nói chuyện riêng ngay với tư cách sĩ quan chớ chưa phải bạn bè.
Những năm gần đây, qua các tin đồn đại, Đính bắt đầu ngại Luân: một tay mưu trí, lập được nhiều công, Mỹ tin cậy như một thứ con bài dự trữ. Dự một số cuộc họp quân sự, nghe Luân thuyết trình hoặc phát biểu, Đính thay đổi dần cách nhìn Luân - một gã hiểu biết nhiều, sắc sảo. Và Đính tự thấy mình kém hơn. Ít thạo chính trị. Đính càng gờm Luân - cả sợ, phục và ganh. Luân hiểu Đính kỹ và sâu hơn là Đính hiểu Luân. Một tay rỗng tuếch, háo danh, ngang với háo quyền lực, háo tiền và háo gái, ti tiện trong cư xử - nịnh bợ Diệm. Tệ hơn Trịnh Minh Thế, Nguyễn Đình Thuần và các loại đầu cơ khác. Trong bàn cờ này, Nhu quá chủ quan, bị lòng tin của Diệm lôi cuốn nên không bao giờ mang tâm địa của Đính ra mổ xẻ - nếu làm việc đó, Nhu thừa sức lột mặt Đính khi Đính trở cờ. Tất nhiên, Đính trở cờ vào những ngày gần đây thôi, song không phải không có những triệu chứng dễ thấy. Nhu bước vào thế “đánh xả láng” và anh ta nghĩ rằng mọi tính toán của anh ta đã thật chi li, thật chặt. Phòng thủ từ xa, Nhu có Huỳnh Văn Cao và Nguyễn Khánh. Vùng 3 và đô thành có Đính, tiếp cận có Bùi Đình Đạm, sư trưởng ở Mỹ Tho và Nguyễn Văn Thiệu, sư trưởng ở Củ Chi, hải quân thuộc Hồ Tấn Quyền, không quân thuộc Huỳnh Hữu Hiền, liên binh phòng vệ có Lê Quang Tùng. Cảnh sát thì khỏi cần bàn. Nhu ngại Nguyễn Bá Liên, chỉ huy thiết giáp song, mỗi Liên sẽ chẳng làm nên trò trống gì. Gia đình Liên đồng hương với Diệm, Diệm khi thất thế đã nhờ cậy cha của Liên, Diệm không ưa Liên: đòi hỏi của anh ta về chức tước, theo Diệm, hơi lố. Đúng ra, nếu trước kia yêu cầu xin lên chức của Liên không khó thoả mãn - Diệm từng đặc cách phong quân hàm cho hàng trăm sĩ quan – nhưng sau này Nhu khuyên Diệm nên thận trọng đối với đồng hương bởi thiên hạ xầm xì khá rộng và Mỹ nhiều lần không bằng lòng. Nhu nắm chắc Liên bất mãn và chờ dịp phản bội.
Điều hệ trọng khác, rất quyết định, ấy là bộ máy thông tin của Nhu bị nhiễu - người ta giấu Nhu. Nhu lờ mờ về quyền lực của bản thân mà không hiểu rằng đại sứ quán Mỹ mới đúng là một thứ Phủ tổng thống hạng siêu và lũ bộ hạ của Nhu - cả bộ hạ chính trị lẫn mật vụ - hướng về đường Hàm Nghi hơn là về Dinh Gia Long. Vụ Phật giáo càng thúc đẩy chúng canh chừng cái lắc, cái gật của Cabot Lodge
- Tôi và đại tá đều có tín ngưỡng tôn giáo là Phật giáo chứ không phải Công giáo, song cả hai chỉ mong điều thiện… - Tôn Thất Đính ấp úng.
Luân cười mỉm: “Tôn Thất Đính mà cũng định thuyết giảng về tôn giáo!”.
- Ở đây không có chuyện về tôn giáo, về ước vọng. Ở đây chỉ có chuyện những quân nhân phục tùng kỷ luật. Tôi không tán thành kế hoạch “bravo” và những cái tương tự, song tôi sẽ chấp hành…
- Nghĩa là? – Đính hỏi đột ngột. Hỏi xong biết hớ. Đính cúi lượm bản danh sách, che giấu bối rối.
- Nghĩa là tôi thực hiện chỉ thị của thiếu tướng! Tôi muốn nhắc, ngoài “bravo” còn có “horse tail”…
Đính ngó Luân một lúc, hơi lâu
- Horse tail? Cái đuôi ngựa? Cái mô?
- Rồi chúng ta sẽ biết!
Viên tướng bắt tay Luân thật chặt. Khi Luân rời trại Lê Văn Duyệt, Đính hối hả gọi điện cho Trần Văn Đôn. Hai người gặp nhau, Đính thuật lại lời của Luân. Đôn trầm ngâm nghe, sau đó bảo:
- Mỹ bật đèn xanh rồi. Bất kể thằng Luân thuộc cánh nào nó cũng không dám cãi lại Mỹ.
- Có đúng là Mỹ bật đèn xanh không? – Đính vẫn do dự - Tướng Harkin thế nào?
- Harkin thì giữ quan điểm khác. Ông ta đã loan báo một bộ phận quân đội Mỹ sẽ về Mỹ ăn Noel này. Tạm thời, không hé ra chút gì cho Harkins biết. Nhưng người chỉ huy ở đây là Cabot Lodge… Cabot Lodge sốt ruột lắm rồi…
- Tôi ngại Harkins! Ông ta mà trở quẻ thì chúng minh tiêu tùng sạch! Tuy chỉ có chục nghìn lính Mỹ, chúng nó có thể ngăn trở chúng ta…
- Đừng lo! Cứ theo kế hoạch. Tôi có thể đảm bảo với thiếu tướng. Không có gì trục trặc từ phía Mỹ…
Cam đoan hăng hái với Tôn Thất Đính như vậy nhưng Trần Văn Đôn gặp liền Conell
- Tôi được phép nhân danh đại sứ Cabot Lodge chính thức thông báo với các tướng lãnh Việt nam cộng hoà rằng nếu các tướng lĩnh dám hành động và hành động thắng lợi thì sẽ không hề xảy ra một trong những điều sau đây: Mỹ can thiệp vào nội tình Việt Nam cộng hoà, Mỹ ngưng viện trợ cho chính phủ mới. Tôi chỉ nhắc ông: hành động của các ông thất bại. Mỹ không giúp được gì, kể cả cho tị nạn chính trị. Về tướng Harkins, hãy đặt ông ấy trước việc đã rồi. Ông ấy là quân nhân và chỉ biết nghe lệnh của tổng thống nước Mỹ.
- Còn Nguyễn Thành Luân? – Đôn hỏi.
Conell cười khẩy
- Ông ta được nhiều cây dù che như đại sứ, thống tướng Taylor, tướng Harkins, tướng Jones Stepp nhưng tôi nghĩ rằng ông ta không gây rối cho các ông…
- “Horse tail” là cái gì?
Mặt Conell vụt tái:
- Ai nhắc tên đó với trung tướng?
- Nguyễn Thành Luân nói với tướng Đính.
- Thế à…Một ám hiệu gì đó, tôi không rõ… - Conell lấy lại bình tĩnh.
André không kịp nhận xét thái độ hoảng hốt của Conell.
- Tại sao Luân biết “horse tail”? – Conell lầm bầm.
***
Sáng 31/10, Ngô Đình Nhu làm hai việc: trả lời nữ ký giả Suzane Lebin và trả lời đài truyền hình Mỹ CBS
Với nữ ký giả, Nhu nói toạc: ông Cabot Lodge luôn luôn hành động chống lại chúng tôi với một thành kiến bất di bất dịch mà quan thái thú tại một xứ bảo hộ có thể có được trước đây ba mươi năm với một xứ bảo hộ. Tổng thống Ngô Đình Diệm cố gắng một cách hết sức để chứng minh rằng mỗi trò chơi của ông Cabot Lodge chắc chẳng chỉ có thể làm lợi cho Cộng Sản và đang rơi vào bẫy Cộng Sản nhưng càng cố gắng chứng minh sự thật thì ông Lodge lại càng hiểu ngược ý chúng tôi. Ông Lodge có gan buộc tôi và vợ tôi rời khỏi Việt Nam. Cô thử tưởng tượng nếu đại sứ Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn lên tiếng buộc tổng thống Kenedy phải ra lệnh cho bào đệ của ông là thượng nghị sĩ Robert Kenedy và em dâu phải dời Mỹ thì gia đình Kenedy sẽ phản ứng như thế nào? Theo những gì chúng tôi được nghe, được thấy thì ông đại sứ Cabot Lodge không hề làm phận sự đại sứ tại một quốc gia đồng minh có chủ quyền là nâng cao tinh thần chiến đấu và hợp tác của quân đội Mỹ được gửi đến đây giúp chúng tôi chống Cộng Sản, ông ta chỉ lo việc âm mưu chống lại chính phủ hợp pháp mà ông ta đã trình uỷ nhiệm thư.
Nữ ký giả Lebin cười duyên dáng
- So sánh của ông cố vấn cũng như bà cố vấn về vai trò của ông bà và vai trò của ông bà Robert Kenedy có vẻ không hợp lý lắm… Ở đây, người Mỹ muốn nói một tình trạng khác…
- Họ nói rằng chúng tôi lộng quyền chứ gì? – Nhu hậm hực.
- Đại khái như vậy…
- Họ không hiểu phương Đông!
Và Nhu bồi tiếp một nhận xét, lấy của Bayard Talor từ giữa thế kỷ trước:
- L’Amérique est un angle-saxon retombe dans une semi-barbarie*
Lebin vẫn duyên dáng ghi câu ấy
Với hãng CBS, Nhu trả lời – chưa bao giờ Nhu trả lời với báo chí kiểu đó.
- Chế độ Việt Nam cộng hoà và Cộng sản Việt Nam khác nhau, hết sức rõ ràng song khác nhau về ý thức hệ trong khi chúng tôi cùng một huyết thống. Còn chúng tôi với Mỹ, chăng có gì chung cả!
Bài Nhu trả lời nữ ký giả Lebin và đài truyền hình CBS chỉ mấy giờ sau, nằm trên bàn giấy của tổng thống Kenedy.
***
Sáng ngày 1/11/1963 - nhằm thứ sáu và mười sáu tháng chín âm lịch Quý Mão. Một buổi sáng bình thường khi mùa mưa chấm dứt. Trời trở mát dù nắng vẫn chói chang.
Đô đốc Harry De Felt, tổng tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương đến Dinh Gia Long chào từ biệt tổng thống Diệm sau mấy ngày công cán tại Việt Nam. Trưa nay, đô đốc dời Sài Gòn. Cùng đến Dinh Gia Long với Felt có đại sứ Cabot Lodge. Việc Lodge đến Dinh Gia Long khiến Diệm vui. Trong mươi ngày nay, Lodge không gặp Diệm, thậm chí, vài lần Diệm phải gõ cửa đại sứ quán mà Lodge viện đủ cớ không tiếp. Người ta xem như Lodge trả đũa Diệm: khi Lodge nhận chức đại sứ, Diệm cũng viện đủ cớ không tiếp Lodge.
Nhưng, bây giờ, Lodge đã ngồi giữa phòng khách Dinh Gia Long.
- Tin đồn đảo chính ngày càng rộng - Diệm bảo thẳng hai người khách – Tôi muốn nghe ý kiến của đô đốc và đại sứ.
Felt cười xã giao ngó Lodge. Dĩ nhiên, người phải trả lời là Lodge.
- Tổng thống biết đấy, tin đồn bao giờ cũng chỉ là tin đồn… - Lodge, với tất cả thái độ tự nhiên đã giúp cho ly sâm banh mà họ vừa cụng thêm ngọt
- Chính sách của Tổng thống Mỹ trước sau cũng chỉ nhằm thắt chặt tình bạn bè giữa hai nước. Tôi rất vui mừng khi thấy không khí chính trị vài hôm nay được cải thiện ở Sài Gòn và Huế - Lodge nhấn mạnh.
- Đúng, tôi đã ra lệnh thả tất cả những người bị bắt từ tháng năm đến nay qua các biến động… - Diệm thoả mãn
Felt và Lodge chào Diệm. Ông tiễn họ ra tiền sảnh.
Quanh Dinh Gia Long, những chiếc xe bọc thép nằm bất động - từ vài tháng nay, chúng túc trực để ngăn ngừa các cuộc biểu tình. Ngoài ra, tất cả đều im ắng. Hôm nay, ngày lễ các Thánh, công sở nghỉ. Hơn nữa, Liên binh phòng vệ chỉ để lại thủ đô vài đại đội, phần lớn được điều ra vùng có chiến sự theo lệnh của Nhu. Kế hoạch “bravo” dự kiến tạo bất ngờ: Liên binh phòng vệ không quân ở Sài Gòn nghĩa là không có điều gì bất trắc xảy ra cả. Các tướng lĩnh và phe đối lập nhất định mất cảnh giác, Nhu sẽ tóm gọn, bằng lực lượng của Tôn Thất Đính. Đẩy lực lượng của Lê Quang Tung đi xa thủ đô theo gợi ý của Đính, Nhu đánh giá cao gợi ý ấy…
Đúng là Cabot Lodge sổt ruột. Diệm đã thay đổi nước cờ - ông giải toả tất cả các chùa, thả một số tăng ni và Phật tử, học sinh sinh viên bị bắt. Phái đoàn điều tra của Liên hiệp quốc sửa soạn một báo cáo chính thức gửi Tổng thư ký Uthant. Nếu đại hội đồng liên hiệp quốc và dư luận thế giới biết được báo cáo này, kế hoạch thanh toán Ngô Đình Diệm gặp trở ngại hầu như khó vượt qua, bởi không phải ai khác mà chính tổng thống Kenedy ra lệnh đình chỉ mọi kế hoạch. Trong trường hợp đó, Cabot Lodge trở thành cái bia của mọi đường bắn: Diệm, tướng lĩnh Nam Việt, Harkins và luôn Kenedy cùng Bộ quốc phòng.
Đã có thêm mấy vụ tự thiêu nữa – song tác dụng kích động giảm hẳn so với trước kia. Kéo dài tình trạng hiện nay đưa đến một loạt hậu quả - tất cả sẽ trút trách nhiệm lên đầu viên đại sứ: Việt Cộng đánh rã hệ thống ấp chiến lược trên một diện rộng. Diệm hồi phục thế lực có nghĩa là chiến dịch thanh trừng nội bộ quân đội Nam Việt mở đầu với mức hung hãn chưa từng thấy mà “những người bạn của Mỹ” sẽ hoặc bị xoá sổ hoặc bị về vườn. Diệm rất có thể đi một bước tai hại – công khai nêu vấn đề thương lượng với Việt Cộng…
Điện mật. Gửi đại sứ Cabot Lodge. Đài tiếng nói Hoa Kỳ sẽ phát lời nhắn tin: Bạn khỏi mua Whisky ở P.X. Lý do: tình hình có vẻ không cần các biện pháp dự kiến. Tổng thống bắt đầu lo ngại. Ký: Dean Rusk và Marc Cone.
Điện mật.Gửi ngoại trưởng Dean Rusk. Khoan phát lời nhắn tin tai hại ấy. Sẽ có kết quả trong vài giờ nữa. Ký: Cabot Lodge
Người giúp Cabot Lodge thở phào là Ngô Đình Nhu. Conell đã báo cáo với Cabot Lodge vào sáng nay. Nhu quyết định ngày giờ nổ “bravo” và Đính đang sửa soạn bấm nút.
Điện mật. Gửi ngoại trưởng Dean Rusk. Khi đô đốc Felt trên đường về Honolulu, mọi việc sẽ tiến triển như dự kiến. Ký: Cabot Lodge
Điện đàm giữa Mai Hữu Xuân và Trần Văn Đôn
Xuân: Tại sao tôi được lệnh thả tất cả những người bị giam ở Quán Tre… Lệnh đó rất xấu…
Đôn: Thiếu tướng khoan thực hiện. Sẽ thả vào giờ nào, tôi thông báo sau…
Xuân: Nhưng Cao Xuân Vỹ đến kiểm tra… Tôi là chỉ huy trưởng của trung tâm, không thể không thi hành lệnh của ông cố vấn.
Đông: Cứ tìm cách trì hoãn…
***
Bức thư đặt trên bàn tướng André. Đó là bức thư tay, phong bì màu trắng, trên góc in hàng chữ: Đại sứ quán Việt Nam Cộng hoà tại Hiệp chủng quốc Mỹ. Nếu không có dấu hiệu đặc biệt như vậy, tướng André không bóc ra. Hàng đống thư trên bàn, đều là thư riêng, số không ít là của các nhân tình…Đồng hồ chỉ mười giờ hơn, xé phong bì ra, một phong bì thứ hai mầu hồng, thoảng mùi nước hoa. Ngó nét chữ, André biết là ai gửi cho mình. Kèm theo trang giấy là mấy tấm ảnh màu. Tướng André tần ngần ngắm mấy bức ảnh. Kỷ niệm cũ vụt sống dậy. Bãi biển. Biệt điện Ban Mê Thuột, Đà Lạt. Ngay tại đây, trên salong này, và một tấm ảnh mới nhất: bãi biển Ý. Cô ta vẫn còn rất hấp dẫn. André tìm một cách so sánh: vợ Huỳnh Hữu Hiền tất nhiên mơn mởn hơn song ấn tượng lưu lại trong ông chưa thể sâu bằng cô ta.
Anh yêu,
Em viết cho anh mấy dòng giữa cuối thu ở Mỹ. Em nhớ anh, muốn gọi điện nhưng ngại. Anh hiểu chứ. Em biết anh chóng quên em bởi cô gì vợ của viên chỉ huy không quân. Phần em, không bao giờ quên anh, quên những phút sống cạnh anh…
Bức thư ngắn thôi và ngoài lời lẽ nhớ nhung không len một câu chính trị nào. André đọc nhiều lần bức thư, đặt tấm ảnh trước mặt…
- Mụ phù thuỷ giở trò!
André giật thót người - Đỗ Mậu đứng sau lưng tự bao giờ
- Tốt nhất hãy vứt cả thư lẫn ảnh vào bếp… - đốt cái quá khứ chẳng hay ho đi - Giọng Đỗ Mậu lạnh lùng.
André uể oải xếp thư, ảnh cho vào ngăn kéo
- Thời gian không còn dài, trung tướng nên tập trung… Hoặc chúng ta được mọi thứ, hoặc sẽ bị bắn chết như con chó.
André vẫn ngồi bất động. Đỗ Mậu bực dọc nện mạnh gót giầy, ra khỏi phòng. André trông theo, tóc của viên đại tá vừa mọc lởm chởm, phảng phất một cái gì rất man rợ. Phần Đỗ Mậu, ông ta suy tính, khi ngồi vào bàn viết. Ông ta gọi điện thoại. Hai mươi phút sau, một chiếc xe đỗ trước sân. Vợ Huỳnh Hữu Hiền trong bộ quần áo bó sát người, nổi bật những đường nét khêu gợi nhất, nhí nhảnh gõ cửa phòng André.
Đỗ Mậu cười – khi ông ta cười, gương mặt dài như thêm hiểm hóc. Đồng hồ chỉ mười một giờ. Phòng André vẫn đóng chặt. Mười một giờ ba mươi, Đỗ Mậu gõ cửa. Vợ Huỳnh Hữu Hiền bước ra, kéo vội fermenture, chưa kịp chải tóc và tô lại son môi, tất bật lên xe. Điện thoại từ phòng tướng André tất bật gọi đi các hướng…
***
John Hing đi lại trên thảm len, nhiệt độ điều hoà mát rượi.
Mọi người căng thẳng theo dõi bước đi lại rất nhẹ nhàng của John Hing. Họ lọt thỏm giữa những ghế bành quá rộng. Trong ngôi nhà này, ngôi nhà hình như John Hing mướn khi cần bàn những việc tối mật. Tầng dưới, người ta đang sửa soạn khai trương một hiệu buôn máy thu thanh - hiệu của lão Loẻng. Khách do Lý Kai thông báo, phải đổ xe cách nhà khá xa, cuốc bộ đến, kín đáo lướt qua cánh cửa, theo cầu thang lên lầu. Thế giới người Hoa đủ mặt. Tần Hoài, chủ Đại La Thiên. Bá Thượng Đài, “vua sắt”, Tào Phu, giám đốc Mekong Rice Export, Diệu Thọ, chủ Vạn An Đường, Tôn Phương Truyền, tuỳ viên sứ quán Trung Hoa dân quốc, Lâm Sử, đại diện Trung Cộng ở Sài Gòn và Lý Kai. Thế giới người Hoa đa dạng ấy đau đáu chờ ý kiến phát lạc của Dương Tái Hưng – đúng hơn, của John Hing.
- Giá mà Nghị Lực cũng đến – John Hing vẫn đều bước, liếc qua số người gần như chiêm ngưỡng hắn, tiếc rẻ. Hắn đã gợi ý cho Lý Kai và Lâm Sử song không ai có cách gì lôi Nghị Lực đến cuộc gặp mặt này. Chính Lý Kai phản ứng.
- Cho thằng cha đó biết cuộc họp, nó dám mang mìn đến chào chúng ta!
John Hing hiểu rằng quyền lực của hắn dù sao cũng có giới hạn và với nhóm Nghị Lực, tức là với nhóm người Hoa giống như Nghị Lực, đôla không lung lạc nổi.
- Sao? – John Hing bỗng hất hàm hỏi Lý Kai
- Ông muốn nhắc Mã Tuyên?… Và không nhận lời. Va bảo việc của va chẳng dính dấp gì tới chúng ta.
- Buôn lậu á phiện mà không dính dấp tới chúng ta? – John Hing cau mày. Thôi được, tôi sẽ dạy cho Mã Tuyên bài học…
John Hing xem đồng hồ tay. Hắn đứng lại, bắt đầu nói, tiếng Bắc Kinh:
- Các vị, cục diện mới bắt đầu diễn ra trong vài giờ nữa. Tôi không thể nói cho các vị chi tiết của cục diện song tôi đoán chắc rằng điều sẽ xảy ra, đưa đến một tình thế ở Nam Việt, thậm chí, rộng hơn, khác hẳn tình thế mà chúng ta từng chứng kiến từ hàng chục năm nay. Chắc ở đây, trong các vị, có hai sự quan tâm không hoàn toàn giống nhau. Ông Lâm Sử và ông Tôn Phương Truyền nghĩ nhiều đến các vấn đề chính trị, các vị còn lại đặt câu hỏi: cục diện thay đổi ảnh hưởng thế nào về kinh doanh. Riêng ông Lý Kai, câu hỏi đặt biệt hơn: Ông sẽ làm việc với ai… Về chính trị, chúng ta sẽ sống với những điều kiện cởi mở so với trước và do đó, kinh doanh cũng cởi mở hơn. Tôi xin lưu ý các vị: những ngành mà gia đình ông Diệm độc quyền sẽ được trao cho ai đủ khả năng. Sẽ thêm một ngành mới, cực kỳ rộn rịp – tôi muốn nói ngành thầu xây dựng và cung cấp các loại nhu cầu cho quân sự, không chỉ đóng khung trong phạm vi quân lục Việt Nam cộng hoà. Đương nhiên, sự cạnh tranh cũng hết sức ráo riết: các hãng thầu nước ngoài, các tướng tá và các chính khách ở Nam Việt…
John Hing ngưng nói, tư thế hoàn toàn thung dung dù hắn đang đề cập đến vận mệnh của triều đại
- Liệu ông Diệm còn tồn tại không? – Lâm Sử hỏi, giọng rụt rè
- Tôi nghĩ là còn – Tôn Phương Truyền nói thay John Hing - Tưởng thống chế không muốn vị trí của tổng thống Diệm bị xé rách.
John Hing cười - nụ cười mà ai cũng thấy là trịnh thượng.
- Ông Tưởng Giới Thạch, ông Mao Trạch Đông không quyết định được bất cứ mức nào ở cục diện Nam Việt. Người có khả năng tác động là ông Hồ Chí Minh. Chúng ta cố gắng hạn chế một tác động như vậy. Lẽ ra, ông Lâm Sử giữ vai trò lớn hơn, nhưng ông không giữ nổi, lời khuyên của Trung Cộng không được Việt Cộng nghe theo. Việt Cộng bỏ các nguyên tắc quân sự của ông Mao, họ đang sáng tạo một hình thức chiến tranh tiến công mới, không lấy nông thôn bao vây thành thị mà mở rộng ở cả hai vùng, không trường kỳ mai phục mà đánh luôn bằng cả quân sự lẫn chính trị, kết hợp với vận động binh lính và khai thác các khả năng liên hiệp trong nội bộ chế độ Nam Việt, khai thác cả cái khả năng từ phía Pháp, luôn trong chính giới Mỹ, họ xây dựng lực lượng trung đoàn và chắc trung đoàn không là quy mô cuối cùng…Ông Diệm sẽ ra sao? Xin phép các vị, tôi không thể tiết lộ. Tuy nhiên, ta hãy cứ xem ông Diệm chỉ là cái bóng. Sự không ngoan hơn cả là các vị bám các tướng lĩnh. Tôi cho rằng, phần ông Lâm Sử, một chuyến vào khu Dương Minh Châu hết sức cần thiết - nếu thuận tiện, ông ra Hà Nội, đường bay Nam Vang - Thượng Hải của Air France vẫn đều đều. Ông Tôn Phương Truyền, tôi nghĩ ngài Trần Thành, ngài Lý Long Thần rất thích hợp để Đài Loan đứng vững tại Nam Việt. Tôi không cần giấu giếm, hãng thầu BRJ – RMK mà tôi có cổ phần, đang sửa soạn nhận các lô thầu lớn – xây sân bay, quân cảng. .. Chúng tôi sẵn sàng nhận thêm các cổ phần mới.
Tại sao các vị bỏ lỡ cơ hội? Còn bao nhiêu mảnh đất mới hậu cần cho quân đội Nam Việt, dịch vụ cho quân đội Mỹ và … (John Hing cười rất tươi) không ai trong chúng ta từ chối nếu Việt Cộng yêu cầu vũ khí, lương thực, thuốc men, quân trang… Vấn đề là giá cả và họ trả bằng loại tiền gì.
John Hing nói như đùa. Những người có mặt đều nhẩm tính, có lẽ trừ Lâm Sử.
- Ông Lý Kai, ông không thất nghiệp đâu! – John Hing ngó Lý Kai – ông không đủ tiền mua cổ phần song ông vẫn tìm ra tiền, dễ dàng thôi. Nếu lát nữa, tất cả các vị nhanh chân về nhà và năm yên trước khi cục diện ngã ngũ thì riêng ông, ông Lý Kai, ông phải hành động. Người Mỹ dặn tôi không được đụng đến Nguyễn Thành Luân, chính tôi đã ghi tên Luân vào một trương mục ngân hàng, nhưng suy nghĩ kỹ, tôi thấy phải xoá gã đại tá này trong lúc hỗn loạn. Mỹ sửa soạn cho Luân vài trò mới, tôi không thích. Vai trò mới phải thuộc về người của tôi, viên tướng tư lệnh Tây Nguyên… Tôi tiết lộ có sớm không? Không… Ông Lý Kai, ông nhớ chưa? Sẽ có người giúp ông… Còn bây giờ… - John Hing xem đồng hồ tay.
- Tay hãy nghe bản tin của đài Hà Nội, tiếng Quảng Đông…
John Hing mở máy thu thanh và mở luôn máy ghi âm.
- Tôi luôn luôn ghi âm các bài của đài Hà Nội, chúng ta rất cần…
Phát thanh viên giới thiệu chương trình, mở đầu là bài bình luận của bình luận viên chính trị của Thông tấn xã Giải Phóng mang tên Đại Nghĩa, nhan đề “Khai thác thời cơ, kiên quyết tấn công địch, đánh bại quốc sách ấp chiến lược, giành thắng lợi to lớn”.
“Mỹ - Diệm hục hoặc đến mức không còn thu xếp nổi, nhất thiết nội bộ chúng ta sẽ phát sinh đấu đá, có thể đẫm máu. Mỹ nhân lòng căm thù của dân chúng vùng tạm chiếm đối với Ngô Đình Diệm, lợi dụng được một bộ phận theo đạo Phật và giới học sinh, sinh viên, trí thức. Ngô Đình Diệm không can tâm chịu làm vật tế thần cho sự phá sản của chính sách Mỹ ở miền Nam Việt nam, nhất định chống cự lại. Kẻ thù đang ỉ vào tình trạng suy yếu và rối loạn. Trong hàng ngũ nguỵ quân ngụy quyền bắt đầu xuất hiện những lực lượng được thực tế thức tỉnh, muốn chấm dứt chế độ độc tài gia đình trị đàn áp tự do dân chủ đồng thời thoát khỏi số kiếp nô lệ Mỹ và cảnh chết chóc. Thời cơ trước mắt hết sức lớn lao. Trọng tâm của phong trào cách mạng hiện nay là nổi dậy phá tan cái gọi là quốc sách ấp chiến lược, giành quyền kiểm soát ở nông thôn; phong trào ở thành thị là tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước, yêu hoà bình, tán thành độc lập và trung lập, đòi những ai thay thế Ngô Đình Diệm phải lập tức tôn trọng quyền tự do tổ chức, tự do ngôn luận, trả tự do cho những người bị giam giữ vì lý do chính trị. Mặt trận dân tộc giải phóng sẵn sàng xem xét khả năng đi đến giải pháp ngừng xung đột vũ trang, nếu Mỹ rút khỏi miền Nam và cầm quyền Sài Gòn thừa nhận nguyên tắc độc lập và trung lập. Mặt trận cũng sẵn sàng tiếp xúc với bất cứ lực lượng nào tán thành đường lối hợp tình hợp lý ấy…”
Bài bình luận vừa dứt, John Hing tắt máy
- Việt Cộng đã ngửi được một cái gì rồi! Sắp tới, đề tài trung lập sẽ hấp dẫn ngay một số tướng lĩnh của Việt Nam cộng hoà. Trung lập đồng nghĩa với chống Mỹ. Hơn nữa, trung lập sẽ được De Gaulle đón nhận với tất cả sự hài lòng và Sihanook luôn luôn là chiếc loa rao hàng… Chống trung lập! Các vị nhớ cho, chống trung lập là nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta…
Cuộc họp giải tán, Lý Kai ở lại độ nửa giờ. John Hing, Lý Kai và một người nữa bàn một kế hoạch nhằm vào Nguyễn Thành Luân. Người thứ ba là thiếu uý Tường.
***
Mười hai giờ, Luân và Dinh Gia Long như đã hẹn với Nhu. Bữa cơm trưa chỉ gồm Diệm, Nhu và Luân. Trong bữa cơm, Nhu thông báo đầy đủ các chi tiết kế hoạch “Bravo” với Diệm. Trái với thường lệ, Diệm chỉ nghe và sau đó uể oải đứng lên - Diệm ăn không ngon miện. Ông không nói một lời. Luân hiểu rằng Diệm phó mặc cho Nhu và có lẽ ông không tin lắm “bravo” sẽ cất đi gánh nặng đang đè lên sinh mệnh của chế độ ông.
Diệm về phòng riêng, bước hơi lảo đảo dù hôm nay ông không uống bất kỳ một thứ rượu gì
- Tổng thống không được khoẻ! – Luân nhận xét.
- Không! Anh Tổng thống lo lắng thôi. Tôi cam đoan mọi sự sẽ trót lọt, nhưng anh vẫn ngại… - Nhu giải thích.
- Tổng thống ngại cái gì?
Nhu nhún vai: tâm trạng bất ổn, cái gì cũng ngại cả…
- Tổng thống đánh giá thiếu tướng Đính thế nào?
- Một trong những tướng mà Tổng thống tin cậy nhất. Chỉ xếp sau Huỳnh Văn Cao…
Luân mỉm cười:
- Tôi biết anh không tin tướng Đính. Nhưng tôi tin. Sau vụ này Đính sẽ là Tổng tham mưu trưởng. Tôi đã báo cho Đính biết. Còn tướng Cao, tại sao anh không tin?
- Tôi chưa nói là tôi không tin… Song, anh có thấy tướng Cao hơi lố trong khi báo bẩm với Tổng thống…
- Tôi hiểu! Bất kỳ việc gì anh ta giải thích là nhờ hoặc Đức mẹ hoặc các Thánh báo mộng… Đức giám mục thích anh ta. Tổng thống cũng vậy. Tôi không đần độn đến mức lầm lạc kiểu bịa đặt của anh ta, Song, chức tư lệnh quân đoàn 3 kiêm Tổng trấn Sài Gòn mà tôi hứa sẽ giữ anh ta trung thành với chúng ta.
Luân không muốn tranh luận. Những chức tước kia phải đâu chỉ do mỗi Nhu có quyền ban phát.
- Anh thấy đại tá Thiệu thế nào? – Luân hỏi.
- Thiệu, sư 5 hả…
- Phải…
- Anh ta theo đạo
Lại một cách giải thích đơn giản nữa.
- Còn non hai giờ, chúng ta nên soát xét các dự định. Đúng mười bốn giờ, sau khi đài phát thanh tuyên cáo của Uỷ ban cứu quốc do tôi làm chủ tịch, Cao Xuân Vỹ sẽ đưa Tổng thống lên Đà Lạt bằng trực thăng đang túc trực trên sân Tao Đàn có máy bay chiến đấu bảo vệ. Từ mười bốn giờ năm, lịnh giới nghiêm ban hành. Cuộc lục soát, vây ráp bắt đầu và chấm dứt trước mười lăm giờ. Toà án đặc biệt xử ngay, lấy luật 10/59 làm cơ sở. Tôi sẽ trao cho đại sứ Cabot Lodge bức thư gửi tổng thống Mỹ và trước mười bảy giờ, phái đoàn Liên hiệp quốc phải rời Sài Gòn. Tài liệu về âm mưu phản nghịch khá phong phú, tướng Đính sẽ họp báo… Sáng mai, Uỷ ban cứu quốc sẽ trình diện. Cao Xuân Vỹ từ Đà Lạt về, tổ chức một cuộc biểu dương thanh niên lớn nhất lịch sử nước ta – tôi nghĩ trên một triệu – và tôi sẽ nói chuyện từ khán đài dựng sau Nhà thờ Đức Bà. Đại tá Đỗ Cao Trí thay Mai Hữu Xuân, toàn bộ Quán Tre dùng tạm giam các phần tử chống đối trước khi chuyển chúng ra Côn Sơn, Phú Quốc… Cũng từ mười bốn giờ, anh chính thức mang quân hàm thiếu tướng, phụ tá Chủ tịch Uỷ ban cứu quốc về các vấn đề chính trị an ninh và quốc phòng. Uỷ ban cứu quốc gồm chủ tịch và các phụ tá, quyền lực tập trung cao. Chính phủ, quốc hội giải tán. Đoàn thể chỉ còn thanh niên và phụ nữ, đều quân sự hoá. Phóng viên báo chí nước ngoài nhất loạt bị trục xuất. Đóng cửa phi cảng…
Nhu nói giọng tin tưởng chắc nịch – đúng hơn, anh ta tỏ ra tin tưởng. Luân lặng lẽ hút thuốc.
- Hình như anh có điều gì băn khoăn? – Nhu hỏi
- Tướng Minh, tướng Đôn, tướng Xuân, đại tá Đỗ Mậu…
- Ồ! – Nhu vỗ tay vào đùi – Toàn là bọn không có lính! Tướng Minh Lớn không là cái gì khiến anh quan tâm. Số kia, lát nữa anh sẽ gặp họ khi toà án đặc biệt làm việc… Tôi nắm chắc giờ này họ ở đâu, đang làm gì… Anh phải công nhận Tôn Thất Đính không chỉ biết ngủ với gái.
Nhu xô ghế, đứng lên.
- Anh không nên về nhà. Còn không mấy giờ nữa – Nhu xem đồng hồ - Bây giờ kém năm là mười ba giờ. Chúng ta đợi đúng sáu mươi lăm phút…
Nhu vào phòng làm việc, bảo Luân theo
- Alô! Tướng Đính đấy phải không? Nhu đây… Tình hình thế nào? Ổn cả. Tốt…
- Alô! Cao Xuân Vỹ, xem trực thăng sẵn sàng chưa? Tốt. Liên lạc với Huỳnh Hữu Hiền chặt không… Đúng, cho ba chiếc AD6 hộ tống…
- Alô! Lê Quang Tung… Nhờ đảm bảo liên binh phòng vệ quay về thật nhanh nhé…
- Alô! Chuẩn đô đốc Hồ Tấn Quyền… Không sao, tôi gọi trước cấp bậc đại tá hợp lý thôi…
- Alô! Đại tá, tổng giám đốc nha cảnh sát quốc gia… Tiếp cận các đối tượng cả rồi chứ.. So đồng hồ với tôi nhé…. mười ba giờ sáu phút…
Nhu quay điện thoại như chong chóng. Một nhân viên vào báo với Luân:
- Thưa đại tá! Bà Saroyan muốn gặp đại tá ở điện thoại văn phòng…
Luân ra hiệu cho Nhu, Nhu gật đầu, Luân sang phòng bên cạnh.
- Alô! Luân đây… Hiểu rồi, Saroyan yên tâm. Cảm ơn Saroyan. Tôi sẽ chú ý. Có. Tôi biết Lý Kai và Tường…
Luân quay điện thoại cho Dung
- Alô! Em nhớ không nên về nhà. Saroyan đã nhờ Jones cho một bán đội quân cảnh Mỹ giữ nhà ta… Thôi nhé.
Luân trở lại phòng Nhu. Nhu đang chăm chú nghe băng thu thanh tuyên cáo của Uỷ ban cứu quốc.
- Có một đoạn không hay lắm. Tức là không mạnh lắm, tôi muốn sửa song không còn thì giờ. Tôi sẽ bổ sung sau
Nhu bấm chuông, một sĩ quan vào.
- Anh mang băng này đến đài phát thanh, trao cho ông Ngô Trọng Hiếu… Anh hiểu? Đi ngay!
Viên sĩ quan rời phòng. Nhu gọi địên thọai cho Ngô Trọng Hiếu.
- Chỉ được phát đúng giờ quy định. Hễ nhân được băng, báo liền. Băng có dấu đảm bảo. Ông còn đủ thì giờ để kiểm tra…
Nhu lại bấm chuông. Một sĩ quan vào. Luân biết anh ta là đại uý Đỗ Thọ, cháu gọi Đỗ Mậu là chú ruột nhưng là tuỳ viên của Tổng thống, rất được Tổng thống tin cậy.
- Chú mời Tổng thống sửa soạn… sắp đến giờ rồi.
Đỗ Thọ hấp tấp sang phòng Diệm
Nhu ngả người lên ghế
- Mệt quá… - Anh ta cố kềm một cái ngáp. Đồng hồ chỉ mười ba giờ hai mươi
- Tôi định kéo dài chế độ quân sự chừng một năm. Đến quốc khánh 1964, Uỷ ban cứu quốc giải tán.
Chuông điện thoại reo. Nhu nhấc máy:
- Alô!
Anh ta che máy, bảo Luân:
- Nhà tôi gọi từ Nữu Ước…
- Alô, anh nghe đây… Em ngủ muộn quá. Bây giờ ở Mỹ đã một giờ sáng… Không có gì đáng ngại… Anh khoẻ. Em thế nào? Mệt lắm hả? Hả, Lệ Thuỷ thế nào? Ở Pháp ổn thôi. Cả nhà bình yên. Có thể. Anh sẽ điện cho em… Tổng thống sắp đi nghỉ trên Đà Lạt. Thế à, em đã đọc bài trả lời của anh. Tất nhiên, phải cứng mới được. Hôn em. Chúc em ngủ ngon. Anh và anh Luân đang làm việc, anh sẽ chuyển lời của em…
- Nhà tôi hỏi thăm anh, cô Dung, cu Lý. Nhà tôi định ghé Tokyo và muốn tôi sang đó… - Nhu gác máy bảo Luân
Mười ba giờ ba mươi súng nổ rộ. Nhu cau mày:
- Sao nổ trước những ba mươi phút?
Nói thế nhưng Nhu vẫn ngồi trên ghế đốt thuốc. Diệm vừa vào phòng, mặt hơi tái

Phần 8 - Chương 10


Thế là súng đã nổ. Từ khi nhận lãnh nhiệm vụ mới, suốt 9 năm, Luân mong chờ hơn ai hết tiếng súng trưa nay. Nó là kết quả tất yếu của một chuỗi nguyên nhân và quá trình mà, trong đó, với mức này hay mức khác, Luân cùng những người hoạt động theo phương thức như Luân – anh biết, không chỉ có anh – góp phần gieo rắc và thúc đẩy.
Lần này sẽ không giống những lần trước kia. Bình Xuyên và giáo phái ồn ào một lúc, mang tính chất khác hẳn. Đối với chế độ Ngô Đình Diệm, đó là “một cuộc khủng hoảng đi lên”. Ban Mê Thuột, tiếng súng đầu tiên, vang dội thật, nhưng xét cho cùng, không hơn một âm mưu đơn độc, một hành động yêu nước chân chính mà tự phát. Cuộc đảo chính tháng 11-1960, quy mô rộng, vẫn nằm trong vòng hạn chế của chính sách mà Mỹ muốn dọ dẫm. Sự kiện tháng 2-1962, như Luân từng nhận xét, lời cảnh cáo sau chót – dù sao, cũng chỉ là lời cảnh cáo, tuy sản phẩm của Mỹ đồng thời len lỏi ý đồ “thù vặt” của đám Đại Việt.
Còn lần này...
Tâm trạng Luân rối bời. Anh cố giữ bình tĩnh cái bề ngoài tương phản dữ dội với cái bên trong của anh. Linh cảm – không chỉ linh cảm mà bằng vô số chứng cớ và phân tích, kể cả dự kiến của cấp trên – cho Luân thấy một đảo lộn lớn lao sẽ cùng ụp đến với niềm Nam, có thể diễn đạt như vậy, đã bắt đầu, nếu không nói phạm vi tác động có thể trùm cả Việt Nam và cả Đông Dương nữa.
Điều hệ trọng nhất là cách mạng sẽ được những gì? Chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ - ít ra, không còn cái chế độ ấy trong nguyên chất của nó và Luân chưa xác định Mỹ sử dụng Diệm nay mai như thế nào – sự hiển nhiên đó hết còn quan trọng đối với Luân. Cái quan trọng là “sau Diệm”. Cuộc chiến tranh không giảm mà tăng, gần như chưa thấy triển vọng khác. Một đánh đổi có vẻ khắc nghiệt. Tuy nhiên, mọi việc còn lệ thuộc ở chuyển động của chiến trường. Luân hy vọng dù rằng anh hiểu chuyển động mãnh liệt đến mấy vẫn có ranh giới, trừ phi... Cái “trừ phi” thứ nhất, Luân từng nghĩ tới và cũng từng mau chóng gạt bỏ: chưa thể có điều kiện đại quân ta vượt vĩ tuyến 17. Một lần, trong một báo cáo, anh trình bày khả năng tương tự với A.07 và anh nhận một điện trả lời gọn gãy: Hãy thực tế hơn! Đúng, tình hình thế giới những năm 1960 không cho phép một vụ Triều Tiên tái diễn. Trung Quốc ngày nay không như xưa – học thuyết “lấy thịt đè người” của Mao bị chiến tranh Triều Tiên uốn nắn; đường lối đối ngoại của giới cầm quyền Bắc Kinh “sau Triều Tiên” và sau khi nổ ra tranh chấp quan điểm trong phong trào Cộng sản quốc tế đã sang một nguyên tắc quái đản: đổi bạn ra thù và ngược lại. Đường lối ấy đang từng bước hình thành và không còn nghi ngờ gì nữa nó sẽ ngự trị tư tưởng cùng chính sách của Bắc Kinh.
Cái “trừ phi” thứ hai còn là ẩn số. Những người thay Diệm – có thể thay trên nhiều dạng mà chắc chắn thay trên thực quyền – liệu mang lại ít nhiều tích cực hay không? Tức là hạn chế vai trò của Mỹ, tức là thu hẹp chiến tranh? Khó lắm. Luân không thiếu tài liệu về khuynh hướng của những con cờ mà Mỹ đang sử dụng. Mỹ sử dụng tất cả những thế lực nào chống Diệm, mặc kệ xuất xứ. Tỷ lệ thân Pháp trong hạng chóp bu rõ là không thấp, nếu không phải là chủ chốt. Tỷ lệ thân Mỹ - vai vế lép hơn – chủ yếu thuộc nhóm Đại Việt và các nhân viên CIA, nhưng hầu hết nắm thực lực, từ cấp sư đoàn trở xuống. Mỹ lại bố trí được một số tay chân trong Phật giáo và sinh viên. Ngay lực lượng thân Pháp cũng đang “cắn câu”.
Mồi của Mỹ hợp với mọi đối tượng: quốc gia dân tộc, chống độc tài gia đình trị dành cho những người quan tâm thật sự đến thời cuộc; bình đẳng tôn giáo dành cho những người tín ngưỡng; loại bỏ Nhu, Lệ Xuân dành cho những người chưa hết mê tín Diệm; chức vụ dành cho số bị phân biệt đối xử trước đây, đặc biệt số sĩ quan cao cấp do Pháp đào tạo, lợi ích vật chất, nhất là “tự do kinh doanh” cho những ai them thuồng các công ty của gia tộc Diệm v.v... Thật khó mà đặt bất kỳ một hy vọng nào ở số sĩ quan và trí thức thân Pháp – họ thích Pháp hơn Mỹ, đương nhiên rồi, nhưng trước mắt họ tìm trong những cuộc rỉ tai nhiều điều hấp dẫn từ phía Mỹ. Tuyên bố về chính sách trung lập Đông Dương của De Gaulle không kèm theo biện pháp cụ thể - cụ thể về tất cả các mặt: tổ chức, tài chính... và, bao quát hơn cả, họ chống Cộng, chống phong trào giải phóng dân tộc, chống quần chúng – nếu không tất cả thì cũng là xu thế chủ yếu trong họ. Do vậy, lực lượng thân Pháp chính là lực lượng của Mỹ, dù cho rồi đây có thể có phân hóa.
Thế lực yêu nước chưa đủ mạnh. Mặt trận Dân tộc Giải phóng giữ nông thôn, đang vất vả trước “quốc sách ấp chiến lược”. Quân Giải phóng khó lòng đánh chiếm các thị xã, thị trấn, nếu biến động nội bộ chế độ Sài Gòn không đủ gay gắt và không kéo dài – việc thiết thực nhất là nhân thời cơ mà phá ấp chiến lược. Nói cách khác, cách mạng chỉ tạo cơ sở và tiền đề mới chứ chưa thể “dứt điểm”. Tiến công vào Sài Gòn gần như không thể đặt ra. Thế lực yêu nước trong quân đội Sài Gòn – trừ một vài trường hợp, phần lớn thuộc quân Bảo an và Tổng đoàn dân vệ trang bị kém. Đội ngũ tướng lĩnh, rõ ràng chưa có ai. Tướng Lâm – hẳn chịu tác động của gia đình đến chưng mực nào đó – lại không có quân, tính khí “bốc đồng”. Về chính trị, không ít nhân sĩ đứng hẳn về cách mạng, song họ chưa tập hợp được quần chúng. Trong Phật giáo, nhiều vị cao tăng yêu nước, chống cả Diệm lẫn Mỹ, nhưng không tác động quyết định đối với phong tráo Phật giáo hiện nay. Số tiến bộ hơn, trong Thiên Chúa giáo mới manh nha. Lực lượng sinh viên, học sinh còn co kéo mà phe Mỹ, phe cơ hội và số mơ hồ lại giữ vai trò chủ đạo. Tổ chức nghiệp đoàn chưa thoát khỏi kìm kẹp của Trần Quốc Bửu.
Toàn cảnh bức tranh hiện lên trong đầu Luân. Anh nôn nả và rồi anh cũng hiểu ra: nôn nả suông chẳng đi tới đâu; không phải bây giờ mà mọi việc sẽ sang tỏ từ ngày mai, ngày kia... Và, anh cân nhắc thân phận anh – một thích nghi mới đang đòi hỏi. Luân chợt cười trong bụng: “Đứa con nuôi của vị giám mục” sắp kết thúc. Cái gì sẽ tới? Những cổ phiếu của John Hing và James Casey thoáng hiện, cùng với hình ảnh Saroyan, Jones Stepp và nhiều thứ...
*
Dinh Gia Long bình thản, khi Diệm sắp sửa lên trực thăng. Nhu ra hiệu và Luân hiểu anh cần liên lạc với Tôn Thất Đính. Điện thoại tại chỗ Đính reo nhưng không ai nhấc máy. Diệm cũng chờ báo cáo của Đính. Chính Diệm phân vân về kế hoạch “Bravo” – Luân đoán như vậy.
Tiếng súng càng lúc càng căng hơn; từ tự tin chuyển sang hoài nghi. Súng nổ căng ở thành Cộng Hòa, nơi một bộ phận Liên binh phòng vệ đang trú đóng. Trong kế hoạch, không ghi tình huống này.
- Gọi Đài phát thanh! – Nhu ra lệnh cộc lốc. Và Luân thực hiện. Đồng hồ chỉ 13 giờ 35.
- A lô! Phủ Tổng thống đây... Ai ở đầu dây đó? Tôi muốn nói chuyện với ông Ngô Trọng Hiếu...
Nhu dán mắt theo dõi Luân. Một nữ nhân viên trả lời:
- Ông Hiếu không thấy ở đây... - Giọng cô run.
Tiếng trả lời của cô nhân viên bị tạp âm – những tràng đại liên mà Luân nghe rõ.
- Việc gì xảy ra ở đài? – Luân hỏi, cố ý cho Nhu nghe.
- Súng bắn vào dữ lắm... Lính bảo vệ đang bắn trả... - Luân lặp lại câu trả lời của cô nhân viên.
- Bảo cho phát băng ghi âm của tôi! – Nhu nói gần như quát.
- Tôi không biết... - Cô nhân viên trả lời.
- Cho tôi nói chuyện với giám đốc đài...
- Vâng, xin chờ một chút...
“Một chút” qua khá lâu.
- Ban giám đốc không ai có mặt cả... - Luân báo với Nhu.
- Hư rồi! – Nhu kêu lên thảng thốt.
Vừa lúc đó, một trái cối rơi ngoài vào dinh Gia Long, nổ oành. Toán lính thiết giáp – phần lớn sử dụng xe bọc thép loại nhẹ - hốt hoảng nằm bẹp xuống lề đường.
Nhu đến bên máy, giằng ống nói từ tay Luân, quay cho Tôn Thất Đính.
- Alô! Nhu đây... Chào thiếu tướng...
Luân nhận ra những nét giãn trên trán Diệm và mặt tái nhợt của Nhu nhuận máu lại.
- Tình hình thế nào rồi? Sao bắn loạn xạ vậy?
Luân không nghe rõ Đính trả lời với Nhu, nhưng không khó đoán ra qua lời của Nhu:
- Thế à? Tất nhiên chúng không khoanh tay đâu. Phải đánh lui bọn tấn công thành Cộng Hòa và giải tỏa ngay Đài phát thanh... Được, tôi sẽ cho ba xe thiết giáp đang túc trực tại đây đến Đài phát thanh...
Nhu ra hiệu cho Đỗ Thọ, hất cằm về số thiết giáp đỗ ở đường Nguyễn Du. Đỗ Thọ gật đầu, bước ra khỏi phòng.
- Những bọn nào chống lại? – Nhu hỏi. Và anh ta lặp lại lời của Đính; một pháo đội 105 thuộc Tư lệnh pháo binh, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 4 Thủy quân lục chiến, một vài đại đội thuộc Sư đoàn 5...
- Chỉ có bấy nhiêu thôi? – Nhu vừa hỏi vừa như nhấn mạnh.
- Rứa thì thằng Liên phản! – Diệm buông thỏng câu nói, không hẳn trách cứ mà cũng không hẳn giận dỗi.
- Tốt thôi! – Nhu trả lời, sau khi dặn Đính giữ liên lạc chặt và báo rằng có thể Nhu phái Luân đến trại Lê Văn Duyệt ngay...
- Thiếu tướng Đính chờ anh! – Nhu bảo Luân.
Luân thừa biết Đính chờ anh bằng cái gì.
- Tôi đi? – Luân hỏi.
- Anh đợi một chút... Tiễn Tổng thống đã...
- Anh lên Đà Lạt, mấy đứa nhỏ đang mong. - Nhu nói với Diệm, giọng ôn tồn – Em liên lạc với Huỳnh Hữu Hiền một tí...
Người tiếp xúc với Nhu là Nguyễn Cao Kỳ.
- Đại tá Hiền đâu? Họp? Họp cái gì! Tôi đã bảo... Alô ... Alô...
Hình như Kỳ cắt máy.
- Thằng này hỗn! – Tay Nhu lẩy bẩy quay máy. Bây giờ thì chỉ còn tiếng chuông reo mà ai quanh Nhu cũng nghe rõ.
- Ta gọi Đính xem! – Diệm gợi ý.
Luân chờ cái gật đầu của Nhu. Nhưng Nhu đã ném phịch người xuống ghế bành, bóp trán. Có vẻ đôi điều bắt đầu rõ trong đầu óc của Nhu.
Nhu đột ngột đứng lên quay máy:
- Nhu đây. Tôi muốn nói chuyện với đại tá Lê Quang Tung... Đi họp? Họp ở trại Lê Văn Duyệt?
Một phát đại bác vút qua dinh Gia Long và nổ, có thể sau dinh Độc Lập. Nhu đổi số máy.
- Trại Lê Văn Duyệt! Bảo đại tá Lê Quang Tung đến máy nói chuyện với tôi, Ngô Đình Nhu đây!
Máy lại bị cắt một cách nghiễm nhiên... Đồng hồ chỉ 14 giờ. Sự cố đã diễn ra trọn nửa giờ.
- Mở máy thu thanh! – Nhu ra lệnh. Đỗ Thọ mở chiếc máy bán dẫn và tìm làn sóng. Đài Sài Gòn đang phát một bài hành khúc.
- Rà đài Quân đội! – Nhu lại ra lệnh.
Đài quân đội cũng phát một bài hành khúc.
- Gọi bộ đàm cho chiến xa phải giữ cho được Đài phát thanh... - Lệnh của Nhu do Đỗ Thọ thực hiện ngay ở tiền sảnh dinh Gia Long, với chiếc bộ đàm dã chiến thường dành cho cảnh sát.
- Thưa ông cố vấn, xe tăng của Liên binh phòng vệ bị đánh bật, không vào được Đài ... Hay là...
Nhu ngăn Đỗ Thọ:
- Không nên lấy bớt xe tăng bảo vệ ở đây còn ít quá...
Nhu trở lại tư thế khác: “Bravo” đang đánh vào anh em Diệm – Nhu.
Chuông điện thoại reo, Nhu ra hiệu cho Luân tiếp nhận.
- Tôi, Nguyễn Thành Luân đây... Chào trung tướng! Trung tướng cần nói chuyện với ông cố vấn không?... Cả Tổng thống đang có mặt tại đây... Tôi nghĩ là trung tướng nên nói chuyện thẳng với ông cố vấn hoặc Tổng thống... Tất nhiên, tôi có thể báo song sẽ mất thời giờ... Xin trung tướng nhắc lại.
Tôi nghe rõ: Các tướng lĩnh yêu cầu Tổng thống trao quyền cho một Hội đồng quân nhân... Vâng, Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Tổng thống và ông cố vấn rời khỏi Việt Nam... Tôi vẫn giữ ý kiến là trung tướng nên...
Luân nói chưa hết câu máy đã cắt.
- Thằng Đôn? – Nhu hỏi.
Luân gật đầu.
Tiếng động cơ máy bay ầm ĩ trên trời. Dứt khoát không phải là máy bay của Huỳnh Hữu Hiền – tất cả mọi người trong dinh Gia Long đều hiểu như vậy.
- Ta xuống hầm, hè! – Diệm bảo.
Luân xuống sau cùng, anh có thể quan sát bước thất thểu của Diệm – vẫn chiếc batoong trên tay và chiếc nón phớt trên đầu. Đôi vai của Nhu oằn hẳn.
Gian hầm ngột ngạt – một số thiết bị chưa kịp lắp. Nhân viên văn phòng phải mang vội mấy quạt máy xuống. Diệm ngồi vào bàn, im lặng. Nhu không vào phòng, đi lại ngoài hành lang.
- Tôi xin phép liên lạc với nhà tôi... - Luân hỏi Nhu.
- Phải, tiện thể hỏi tin tức ở Tổng nha... - Nhu cho phép.
Dung tiếp điện thoại, giọng điềm tĩnh. Vào lúc đó, Tổng nha đã bị Thủy quân lục chiến bao vây. Cuộc mặc cả đang diễn ra ngay phòng Tổng giám đốc. “Chắc chẳng có xô xát đâu, anh yên tâm... Em vừa nói chuyện xong với Saroyan và chính Saroyan mời tiểu đoàn trưởng Thủy quân lục chiến đến bên máy; sau đó, viên tiểu đoàn trưởng tươi cười bắt tay em, anh ta bảo em cứ ở Tổng nha, đợi tình hình ổn sẽ về nhà”. Dung cấp thêm một số tin tức: Tới giờ phút này, tham gia đảo chánh là trung đoàn 7 thuộc Sư đoàn 5, đại đội 5 thám báo và tiểu đoàn pháo hỗn hợp cũng của Sư 5; chiến đoàn Vạn Kiếp gồm tiểu đoàn 2, chiến đoàn Thủy quân lục chiến gồm tiểu đoàn 1 và 4. Lực lượng nổ súng đầu tiên là Thủy quân lục chiến – tiểu đoàn 1 từ Vũng Tàu di chuyển về Củ Chi họp với tiểu đoàn 4 rồi lấy thêm một đại đội ở Trung tâm Quán Tre, tờ mờ sáng hôm sau kéo qua Bình Dương về Thủ Đức, vì chưa tới giờ hẹn, lại ngược lên Biên Hòa và xuất phát từ Biên Hòa theo xa lộ vào 12 giờ 45 trưa nay.
Nghe Luân thông báo, Diệm không hề có một phản ứng. Nhu nhẩm tính một lúc rồi nói ra lời:
- Chừng ba nghìn quân là cùng... Lê Quang Tung, Hồ Tấn Quyền có thể dẹp được không mấy khó... Nhưng, để phòng xa...
Nhu vào phòng truyền tin, bảo gọi Bùi Đình Đạm, sư trưởng Sư 7. Máy hoạt động và mấy giây sau, một giọng oang oang trong máy:
- Tôi là Nguyễn Hữu Có, phó tư lệnh quân đoàn III đây! Đại tá Bùi Đình Đạm đã ngã về cách mạng, giao quyền chỉ huy Sư đoàn 7 cho tôi... Thời thế đã thay đổi, mong Tổng thống và ông cố vấn hiểu cho để tránh đổ máu vô ích. Sư 7 án ngữ phía Tây, chúng tôi đã tập trung “bắc” về bờ bên này song, tướng Huỳnh Văn Cao không thể vượt sông lên được...
Nhu bảo tắt máy. Thêm một thất bại nữa. Bây giờ thì Nhu mới hiểu vì sao Tôn Thất Đính đòi sát nhập Sư 7 về quân đoàn III – và cũng hiểu luôn vì sao mật lệnh truy nã Nguyễn Hữu Có giao cho Đính thực hiện không mang lại kết quả.
- Thằng Đính! – Diệm mở miệng và kèm theo một tiếng thở dài não ruột.
Kẻ mà Diệm – Nhu tin đến mức đặt sinh mệnh vào sự bảo trợ của hắn, kẻ đó phản. Đòn tâm lý mạnh đến mức Diệm phải bấu chặt thành ghế, còn Nhu phải tựa lưng vào tường mới khỏi ngã xỉu. Nguyễn Bá Liên phản, Diệm – Nhu thừa nhận như đương nhiên, nhưng với Đính thì không.
- Anh linh tính hơn tôi. – Lúc sau, Nhu thều thào với Luân.
Luân không nỡ nhắc đến Nguyễn Văn Thiệu, người “đồng đạo” mà Nhu đã giải thích với Luân.
Chuông điện thoại reo – điện thoại ở tầng trên vừa mang xuống hầm. Dung gọi Luân. Nghe xong, Luân mím môi.
- Gì thế? - Nhu hỏi.
- Thưa anh, đại tá Lê Quang Tung bị bắn gục ngay bàn họp tại trại Lê Văn Duyệt!
Nhu ngồi vật xuống ghế. Diệm ôm đầu...
- Họ buộc ông Tung đừng chống cự... - Luân nói tiếp... - Đại tá Huỳnh Hữu Hiền đầu hàng. Đại tá Hồ Tấn Quyền cũng bị giết trên xa lộ...
Căn hầm, ngoài tiếng quạt máy, chỉ còn những hơi thở nặng trĩu, dồn dập.
“Tình thế này, những người ủng hộ Diệm không thể chống cự lâu hơn...”. Luân có nỗi lo riêng. Anh muốn liên lạc với trung đoàn 7 Sư 5 – trung đoàn phó là Lê Khánh Nghĩa. Nhưng anh không dám. Không có sự kìm chế nào khổ tâm hơn sự kìm chế mà Luân đang trải qua. Các ngả cứu viện gần như bị bít.
Một người xuống hầm: Cao Xuân Vỹ. Nhu lãnh đạm nhìn anh ta. Trong giọng lật cập, Vỹ trình kế hoạch huy động Thanh niên Cộng hòa chống đảo chính. Nhu lắc đầu mà không bình luận, hý hoáy viết mấy dòng, đến chìa cho Diệm. Diệm liếc qua rồi uể oải đứng lên, sang phòng truyền tin. Đài phát sóng nhấp nháy đèn:
“Hỡi binh sĩ các đơn vị trong toàn quốc!
Vào 1 giờ 30 trưa hôm nay, 1-11-1963, lợi dụng ngày Lễ các thánh, một nhóm binh sĩ do một nhóm nhỏ sĩ quan bất mãn, hèn nhát và ngu xuẩn cầm đầu đã làm phản, đánh vào các cơ sở của chính phủ. Lực lượng phòng vệ và các lực lượng trung thành với chính phủ đang chiến đấu anh dũng bảo vệ Tổng tư lệnh tối cao. Nhân danh Tổng thống và tổng tư lệnh tối cao quân lực Việt Nam Cộng hòa, tôi hạ lệnh:
Một, quân lính sĩ quan, lỡ tầm nghe bọn Thực – Phong – Cộng xúi giục mà hành động sai quấy hãy quay lại bắn vào những tên chỉ huy bán nước, tách khỏi hàng ngũ chúng, trở về chính nghĩa quốc gia.
Hai, lực lượng ở khắp các vùng lãnh thổ, các quân binh chủng hãy nhanh chóng kéo về thủ đô dẹp phiến loạn, giữ gìn an ninh trật tự.
Ba, đồng bào các giới hãy bình tĩnh, chỉ tuân theo một chính phủ hợp hiến pháp do tôi đứng đầu. Nhà nước tức là tôi!
16 giờ ngày mồng 1 tháng 11 năm 1963
Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa
NGÔ ĐÌNH DIỆM”
Lời kêu gọi ghi băng, theo chỉ thị của Nhu phát liên tục, dùng cả đài siêu tần số và telex.
- Huỳnh Văn Cao xin nói chuyện với ông cố vấn...
Cao cho biết đã nghe lời kêu gọi của Tổng thống và đang điều động lực lượng, nhưng vì Sư 7 không còn thuộc quyền của vùng IV, cho nên lực lượng của Cao nhanh gì cũng phải giữa đêm mới đến thủ đô, với điều kiện đò giang thuận tiện. Riêng về không quân Trà Nóc thì Bộ tư lệnh đã rút tất cả máy bay chiến đấu về Tân Sơn Nhất từ chiều hôm qua. Lực lượng giang thuyền của vùng IV cũng không mạnh, đặc biệt thiếu tàu vận tải vượt song.
Nhu ầm ừ chiếu lệ. Hình như từ khi nghe Đính phản, Nhu không còn tin ở cái gì cả.
- Có lẽ Tổng thống nên gọi cho đại sứ Cabot Lodge – Luân đề nghị.
Cuộc điện đàm giữa Diệm và Cabot Lodge qua máy tuyền tin trực tiếp.
- Tôi, tổng thống Việt Nam Cộng hòa, muốn nói chuyện với đại sứ Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ Henri Cabot Lodge...
Diệm cố giữ vẻ đĩnh đạc.
- Vâng, xin Ngài Tổng thống chờ nửa phút. – Một phụ nữ Mỹ trả lời rất lễ phép.
Nửa phút chẳng là bao, song Nhu - và hầu hết mọi người – chăm chú xem chừng chiếc kim gió đồng hồ đang nhích.
- Xin chào Ngài Tổng thống. Tôi, Henri Cabot Lodge, xin nghe Ngài.
- Chắc ngài đại sứ đã biết một nhóm phản loạn đang nổ sung, thậm chí bắn cối và đại bác vào chỗ chúng tôi...
- Tôi có nghe tiếng súng nổ, thưa Ngài Tổng thống kính mến. Tuy nhiên, tôi chưa được thông báo về nguyên cớ. Như Ngài Tổng thống biết, hôm nay là Lễ các thánh, các cố vấn Mỹ đều nghỉ... Riêng tôi, sau khi hội kiến với Ngài cùng đô đốc Felt sáng nay và sau khi cùng Trung tướng Trần Văn Đôn đưa đô đốc Felt lên máy bay, đã về sứ quán giải quyết một số công việc, ăn trưa... Sự thể hiện giờ ra sao?
- Đó là câu tôi muốn đặt với Ngài đại sứ!
- Ồ! Thưa Tổng thống, rõ ràng câu hỏi đó nằm quá giới hạn hiểu biết của tôi.
- Tôi tạm tin lời Ngài đại sứ. Tôi muốn nói chuyện thẳng với Tổng thống Kennedy, nhờ đại sứ giúp...
- Thưa Tổng thống, lại thêm một việc vượt ngoài khả năng của tôi. Như Tổng thống biết, Washington đang giữa đêm, rất khó mà gọi các cố vấn. Tổng thống nước chúng tôi vào giờ giấc như thế và không có các cố vấn cung cấp tư liệu, Tổng thống nước chúng tôi không thể nào đưa ra nhận định, dù nhỏ, dù lớn. Vả lại, tôi có thể cam đoan với ngài Tổng thống rằng nếu quả xảy ra một điều gì đó liên quan đến chính trị, đặc biệt dưới hình thức xung đội vũ trang giữa các lực lượng thuộc quý quốc thì điều đó nhất định không dính đến nước Mỹ. Tốt nhất, thưa ngài Tổng thống, ngài nên liên lạc thẳng với ai đang cầm đầu cuộc phiến loạn, nếu đúng là phiến loạn...
- Xin cám ơn đại sứ...
Điện thoại lại reo – vẫn là điện thoại thường – Dung nói chuyện với Luân:
- Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia đã vào trại Lê Văn Duyệt. Hình như ở đó có một cuộc họp quan trọng. Trung tá James Casey đến Tổng nha, ông ta đề nghị đưa em về nhà, em từ chối. Ông ta bảo tình hình có thể xấu, đe dọa an toàn của em.
- Chẳng có gì đe dọa đâu... Saroyan vẫn gọi em chứ?
- Chừng 15 phút, Saroyan gọi một lần...
- Thế thì ổn. Nếu em thấy cần về nhà thì nhờ Saroyan đưa...
- Em cũng nghĩ như anh. Còn anh? Ổn không?
- Gì mà không ổn!
- Một cuộc họp ở trại Lê Văn Duyệt à? – Nhu hỏi gặn
Chiếc đài bán dẫn mà Đỗ Thọ vẫn mở, chấm dứt bài hành khúc một cách đột ngột. Xướng ngôn viên, giọng hơi khan, loan báo:
- Binh lính hạ sĩ quan, sĩ quan các cấp, tướng lĩnh và đô đốc, công chức và toàn thể quốc dân đồng bào hãy nghe sau đây lời kêu gọi của các tướng lĩnh trong Ủy ban cách mạng.
Một giọng khác, hơi ồm cất lên và gian hầm nhất loạt kêu nhau: Tướng Big Minh!
“Hỡi quốc dân đồng bào!
Hỡi binh lính, sĩ quan, tướng lĩnh!
Sự nghiệp chống Cộng giữ gìn độc lập và tự do của Việt Nam Cộng hòa đang đứng trước nguy cơ thất bại thảm hại do chế độ độc tài gia đình trị của ông Ngô Đình Diệm gây ra. Xương máu các chiến sĩ quốc gia bị lợi dụng. Chế độ tối phản động của gia đình ông Ngô Đình Diệm đã nã súng vào cả những người theo đạo Phật, mặc dù tín đồ đạo Phật chỉ yêu cầu được hành đạo một cách bình đẳng với mọi tôn giáo và trong khuôn khổ luật pháp.
Để cứu nguy đất nước, quân đội phải đứng lên hành động. Chúng tôi, từ giờ phút này, thông qua Hội đồng cách mạng vừa được công cử, nắm quyền điều khiển đất nước. Hội đồng cách mạng, cho phép ông Ngô Đình Diệm và em trai ông là Ngô Đình Nhu xuất ngoại, đến nước nào mà các ông ấy lựa chọn. Chúng tôi bảo đảm an toàn cho họ và gia quyến họ. Nếu ông Ngô Đình Diệm tự nhận mình là phần tử Quốc gia thì đấy là cơ hội cuối cùng giúp ông bảo toàn thanh danh.
Cũng từ giờ phút này, mọi mệnh lệnh về chính trị, hành chính và quân sự trong toàn quốc chỉ có giá trị khi mang chữ ký của Hội đồng cách mạng.
Chúng tôi kêu gọi đồng bào bình tĩnh, kêu gọi binh sĩ tướng lãnh tinh thần kỷ luật.
Cuộc cách mạng đánh đổ chế độ độc tài nhất định thành công!
Làm tại Sài Gòn vào 16 giờ ngày 1-11-1963.”
Tiếp sau lời kêu gọi, thay cho chữ ký, là từng người xưng danh:
Trung tướng Dương Văn Minh, Chủ tịch Ủy ban Cách mạng.
Trung tướng Trần Văn Đôn, Đệ nhất phó chủ tịch.
Trung tướng Tôn Thất Đính, Đệ nhị phó chủ tịch.
Trung tướng Trần Thiện Khiêm, Ủy viên quân sự.
Trung tướng Trần Văn Minh, Ủy viên kinh tế.
Trung tướng Phạm Xuân Chiểu, Ủy viên an ninh.
Thiếu tướng Đỗ Mậu, Ủy viên chính trị.
Trung tướng Lê Văn Kim, Tổng thư ký kiêm Ủy viên ngoại giao.
Trung tướng Mai Hữu Xuân, Ủy viên.
Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu, Ủy viên.
Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, Ủy viên.
Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có, Ủy viên.
“Tôi, trung tướng Dương Văn Minh”
“Tôi, trung tướng Trần Văn Đôn...
Đỗ Thọ cố giữ vẻ thản nhiên khi Đỗ Mậu xướng tên. Cả Nhu lẫn Diệm không ai tỏ ra chú ý mối liên hệ này...
- Còn thằng Trí, thằng Cao, thằng Khánh... - Diệm nhắc bâng quơ.
Tất nhiên, 12 viên tướng chưa đủ. Không quân, hải quân chưa có tên. Tướng Lâm, tướng Dương Văn Đức và nhiều tướng nữa. Song, Luân hiểu số tướng tiêu biểu nhất đã tham gia đảo chính.
Đài Sài Gòn và Đài quân đội, công suất mạnh, phát lời kêu gọi của Ủy ban cách mạng. Đài của dinh Gia Long, công suất yếu, vẫn phát lời kêu gọi của Diệm.
Trong khi đó, thành Cộng Hòa tiếp tục đề kháng.
*
Nhân viên truyền tin báo với Diệm: Đại sứ Cabot Lodge muốn nói chuyện. Diệm đứng phắt dậy. Nhu và Luân theo sau ông, Thái độ của Diệm chứng tỏ một chút hy vọng mong manh vừa lóe lên.
- Tôi, Tổng thống Ngô Đình Diệm đang nghe.
- Kính chào ngài. Tôi là Cabot Lodge.
- Có việc gì đấy, ngài đại sứ?
- Thưa ngài... Tôi vừa liên lạc với tướng Dương Văn Minh, ông ta rất khổ tâm đã phải hành động. Tuy nhiên, ông ta cùng các cộng sự luôn luôn khính trọng ngài và rất lo về sự an toàn của ngài...
- Hết sức đơn giản, nếu quả họ có lòng tốt như ngài đại sứ cho biết, họ hãy chấm dứt trò phản loạn. Tôi hứa sẽ không truy tố...
- Thưa ngài. – Cabot Lodge ngắt lời Diệm – tình hình không như ngài nghĩ. Quân đội quyết định hành động tới cùng. Họ đề nghị một giải pháp...
- Tôi đang nghe...
- Ngài hạ lệnh các lực lượng trung thành với ngài thôi đề kháng và ngài cùng gia quyến rời ngay Sài Gòn. Về việc sau, tôi sẽ đảm bảo: nhiều trực thăng của quân đội Mỹ đáp trước sân cỏ dinh Độc Lập, ngài và gia quyến được đưa ra chiến hạm của chúng tôi đang đậu ở vùng biển Đông gần Vũng Tàu. Thời gian để ngài thu xếp có thể đến giữa khuya nay, trong lúc đó, quân của tướng Minh ngưng tấn công... .
- Tức là ngài đại sứ bảo tôi đầu hàng và bỏ chạy? Để bọn phản loạn chiếm quyền? Cuộc bầu cử và hiến pháp bị đối xử theo một thứ luật rừng?
- Có thể mỗi người có cách hiểu hiện thực khác nhau. Song, thưa ngài, tôi nặng về việc đảm bảo cho ngài an toàn và giảm tối thiểu đổ máu vô ích...
- Vô ích? Chống phản loạn mà vô ích?
- Theo tôi, vô ích. Vì thưa ngài, lực lượng của các tướng lĩnh áp đảo...
- Tôi cảm ơn lòng tốt của ngài đại sứ. Câu trả lời của tôi là: Tướng Minh phải ngừg hành động phản phúc. Về phần tôi, tôi không bao giờ đầu hàng và chạy trốn, tôi nhắc lại: Không bao giờ!
- Tôi thiết tha...
- Tôi không chấp nhận! Ông nghe rõ chứ... Tôi không nhận điều kiện nào hết ngoài việc các tướng đến gặp tôi. Tôi là Tổng thống nước Việt Nam Cộng hòa, thưa ông đại sứ...
Diệm đang nói tiếng Anh, bỗng chuyển sang tiếng Pháp, nhấn mạnh từng chữ:
- Je vous remercie since`rement. Jen e quitte jamais mon people! (1).
Diệm vung batoong. Máy truyền tin vỡ. Ông ta hậm hực quay ra phòng khách.
“Cabot Lodge không một lần gọi Diệm là Tổng thống, sự đoạn tuyệt đã rõ. Còn chiếc batoong của Diệm kết thúc cuộc tình duyên 9 năm... ” – Luân hiểu và có lẽ Nhu cũng hiểu.
- Tình hình này phải đợi Huỳnh Văn Cao và Nguyễn Khánh... Em đề nghị anh phát lời kêu gọi này.
Nhu đưa cho Diệm mảnh giấy.
“Hỡi các sĩ quan, tướng lĩnh trong Ủy ban cách mạng.
Để tránh cảnh huynh đệ tương tàn chỉ có lợi cho Cộng sản và ngoại bang. Tôi, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, chấp thuận sẽ trao quyền cho một Hội đồng tướng lĩnh. Tôi mời Ủy ban cách mạng vào dinh Gia Long để cùng tôi bàn bạc cách thức trao quyền cốt không rối lòng quân và dân. Tôi cam đoan cuộc bàn bạc sẽ diễn ra trong tình thân ái và bình đẳng tự do...”
Lời của Diệm được truyền tin ngay lập tức.
Tất nhiên, không một ai tin lần này các tướng lĩnh mắc lừa như năm 1960. Nhưng, Nhu không còn kế hoãn binh nào tốt hơn. Thành Cộng Hòa sớm muộn gì cũng bị chiếm, khả năng sống sót của chế độ le lói. Mọi thứ chỉ có thể đảo ngược khi quân đoàn 2 và quân đoàn 4 khịp thời về Sài Gòn.
Gian hầm im ắng. Người ta chờ điện thoại... Ông già phục vụ tên là Ẩn mang xuống một tô cháo gà. Diệm vừa ăn vừa bảo: Mang xuống cho chú Nhu và mấy anh em.
Ông già phục vụ “dạ”. Nhưng, qua cái liếc của ông ta, Luân hiểu rằng dinh Gia Long chỉ còn có thể nấu đủ một tô cháo gà riêng cho Tổng thống...
---
(1) Tôi chân thành cám ơn ông. Tôi không bao giờ bỏ dân của tôi.
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #33  
Old 12-09-2012, 11:23 AM
Helen's Avatar
Helen Helen is offline
Super Moderator
 
Tham gia ngày: Jan 2007
Bài gởi: 3,082
neww Ván Bài Lật Ngửa - Phần 8 - Chương 11 - 13

Ván Bài Lật Ngửa


Phần 8 - Chương 11


Bóng tối lấn dần chiếc hầm – ngay đèn cũng chưa kịp gắn. Ngoài các nhân viên truyền tin, Luân đếm được cái rốt chót của một triều đại lừng lẫy một thời: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. Cao Xuân Vỹ, Đỗ Thọ, ba đại úy cận vệ của Diệm, ông già cần vụ và Luân. Tất cả chừng đó. Và chỉ có chừng đó. Quách Tòng Đức, đổng lý văn phòng Phủ tổng thống vắng mặt và Võ Văn Hải, bí thư của Tổng thống cũng không đến dinh từ trưa. Giờ này, trên dinh Gia Long, ngoài số bảo vệ thuộc Liên binh phòng vệ, lái xe – vài người, trong đó có Thạch – không còn ai nữa. Dĩ nhiên, vòng ngoài dinh Gia Long, lực lượng chưa suy suyển: tiểu đoàn thiết giáp mới mất có ba chiếc, hai tiểu đoàn bộ binh, một đại đội phòng không, một đại đội pháo chống chiến xa, hai đại đội thủy quân và một tiểu đoàn cảnh sát dã chiến. Với lực lượng như vậy, nếu chịu đánh và dựa vào công sự tự nhiên – tường, gốc cây... - thì quân của Nguyễn Bá Liên không phải dễ đến gần...
Dầu sao, cả một triều đại mà vào giờ định mệnh còn chừng đó binh mã thì quả thân cô thế cô thật...
Đài phát thanh liên tục phát lời kêu gọi Ủy ban cách mạng, Diệm toan đạp vỡ luôn chiếc máy thu bán dẫn nếu Đỗ Thọ không kịp tắt. Từng tướng xưng tên thách đố. Ngày nào, những viên tướng – còn là trung tá, đại tá - khúm núm trước Diệm và bây giờ hách dịch gọi Diệm đầu hàng.
Có lẽ giọng của Tôn Thất Đính dõng dạc nhất đám khiến Diệm phát khùng hơn cả. Luôn những tên hôm qua còn thụt ló ở cánh gà, kẻ “chạy hiệu”, nay khá rộng họng như Nguyễn Văn Thiệu.
Nhu rít thuốc. Mỗi lúc ánh lửa bùng lên, Luân thấy đôi mắt của Nhu thêm sâu thẳm. Trong trận đấu trí suốt 9 năm, Nhu luôn thắng và đến canh bạc này, anh ta thua - thua một cách nhục nhã. Luân biết Nhu muốn thổ lộ những kẽ hở của anh ta. Một người mà dưới mắt, ai cũng chỉ là con chốt trên bàn cờ, bây giờ bị những con chốt gí vào chiếc hầm ngột ngạt, xe pháo mã kẹt nơi xa, sĩ tượng bị đánh cho tơi tả.
- Tôi nhớ hôm chúng ta chơi cờ… - Nhu bảo. Hôm đó, Nhu thí hết sĩ tượng. Bây giờ Nhu thấm thía lời khuyên của Luân - Luân chỉ buột miệng nhận xét bâng quơ, nhưng lại như một thứ tiên tri.
Thật ra, Nhu quên một điều hệ trọng hơn mọi điều hệ trọng nhất: đối thủ chủ yếu của anh ta là Mỹ. Anh ta lý giải cái thắng lợi của anh ta trong quá khứ hơi giản lược - đánh bại một loạt thế lực mà anh ta chưa chịu hiểu tất cả đều là con rối và kẻ điều khiển các con rối chưa muốn anh ta phơi áo. Ngay Bảy Viễn, nếu Mỹ và Pháp đạt được thỏa thuận, các nhóm Công an xung phong Bình Xuyên, Ngự lâm quân của Nguyễn Văn Vỹ, lính của Năm Lửa, Ba Cụt, Nguyễn Văn Hinh thừa sức xóa sổ triều đại họ Ngô non ngày non tháng. Nhu không đến mức mơ hồ như Diệm - Diệm khoác lên chiến thắng ánh hào quang tưởng tượng “nhà chí sĩ được toàn dân tôn sùng”, “Chúa giao cho sứ mệnh cứu dân tộc Việt” - nhưng anh ta tự thị không ai thông minh, mưu trí bằng anh ta. Kế hoạch “Bravo” do anh ta phác thảo và chọn một viên tướng kém khả năng quân sự hơn hết thực hiện kế hoạch. Với Nhu, Đính là một thứ rôbốt và Nhu chỉ cần động tác máy chứ không cần trí não. Nhu không lầm ở điều đó. Nhưng, tai họa lại phát sinh từ đó. Mỹ cũng cần rôbôt và một kẻ đầu óc trống rỗng như Đính ngả về phía nào chẳng dính dáng gì đến trí não, mà dính đến những thứ Mỹ thừa Nhu thiếu.
- Tội nghiệp Lê Quang Tung, Hồ Tấn Quyền! - Nhu buột miệng. Nghe câu than của Nhu, trong ánh sáng mờ mờ, Diệm làm dấu thánh. Hình như Diệm khóc.
Chuông điện thoại reo. Đỗ Thọ nghe. Nhu dụi thuốc. Có thể các tướng lĩnh chịu vào dinh Gia Long chăng?
- Dạ… Đỗ Thọ đây… Xin đại tá… Xin lỗi, thiếu tướng nói chuyện với ông cố vấn... Sao, không cần... Dạ, Tổng thống bình thường. Dạ, ở dưới hầm... Dạ, tôi sẽ báo lại…
Nhu nôn nả chờ Đỗ Thọ gác máy.
- Ai?
- Thưa, ông Nguyễn Văn Thiệu.
- Nói gì?
- Thưa, ông ta nói: nên đầu hàng.
Nhu đốt thuốc. Kế hoãn binh không xài được nữa…
Điện thoại lại reo. Luân nghe.
- Tôi, Nguyễn Thành Luân. Chào ông. Ông muốn nói chuyện với anh Đỗ Thọ? Tôi nghe... Đó là quyền của các ông và tôi nghĩ nhất thiết phải chạm súng thôi... Cái đó không thuộc ý kiến quyết định của tôi. Tất nhiên, nếu tôi được giao trách nhiệm... Anh Đỗ Thọ nói chuyện với ông...
Luân trao ống nghe cho Đỗ Thọ.
- Vâng! – Thọ nói – Tôi không ngại. Cám ơn anh...
- Thiếu tá Nguyễn Bá Liên bảo tôi nên tránh xa khu vực dinh Gia Long. Thủy quân lục chiến sắp tấn công... - Thọ báo lại với Nhu.
- Hắn bảo gì với anh? – Nhu hỏi Luân.
- Ông ta cho biết cấp trên của ông ta sắp thanh toán xong thành Cộng Hòa và sẽ ném bom dinh Gia Long, rồi cho bộ binh xung phong. Ông ta hỏi có phải tôi sẽ phụ trách bảo vệ dinh Gia Long không...
- Thằng nớ sợ anh! Anh trả lời như vậy là tốt...
Nhu ra hành lang cùng Cao Xuân Vỹ. Hai người thì thầm một lúc. Nhu quay vào, đến gần Diệm nói rất khẽ. Một lúc sau, Luân nghe Diệm càu nhàu:
- Không! Chú đâu, tôi đó!
- Tôi trình với Tổng thống ý sau đây: Cao Xuân Vỹ sẽ đưa Tổng thống xuống Cần Thơ, còn tôi, tôi ra miền Trung. Lực lượng chúng ta còn mạnh, dù tạm mất Sài Gòn vẫn có thể thu hồi dễ dàng. Nhưng Tổng thống không chịu.
Nhu thở dài, sau khi thuật lại với Luân cuộc trao đổi vừa rồi.
Theo lệnh của Nhu, chiếc máy phát được chuyển lên khỏi hầm.
- Nó sẽ phát lưu động! – Nhu bảo.
- Tình hình này, ở lâu tại đây không có lợi. Tổng thống và tôi phải tạm lánh. Phần anh, tôi không muốn anh bị gò bó trong hoạt động. Tùy anh. Lực lượng phòng vệ đủ cho anh dùng, tất nhiên, cũng chỉ cầm cự thôi, trước khi quân đoàn 4 và 2 về thủ đô, dinh Gia Long khó giữ lắm!
Đó là phần bí mật mà Nhu chia xẻ với Luân. Hẳn Nhu và Diệm sẽ có mặt ở bên kia sông Tiền trong đêm nay – con đường xuống đó thuận hơn vượt qua Biên Hòa để ra quân đoàn 2.
Nhu chìa tay cho Luân bắt. Hai người cầm tay nhau khá lâu.
- Có thể chúng ta sẽ gặp lại, có thể không. – Nhu bảo, giọng xúc động. – Bất kể như thế nào, tôi luôn cám ơn anh. Giờ phút này, chúng ta chỉ nên nghĩ điều tốt cho nhau. Và làm điều tốt cho nhau. Tôi nói như vậy là vì không phải không có người gợi ý tôi nên khử anh tại đây, tại hầm này. Người đó có tài liệu về mối quan hệ giữa anh và Trần Kim Tuyến. Nhưng, tôi không nghe, mặc dù tài liệu hoàn toàn thật. Tôi hiểu, nếu anh dự định hành động thì hoàn toàn không nhằm vào cá nhân Tổng thống và tôi. Tại sao tôi mong anh bình yên? Tôi thua chúng nó, anh thì khó thua. Trên nghĩa ấy, anh vẫn là bạn của tôi...
Nhu nói đều đều. Hầm quá tối nên Luân không kiểm tra được nét mặt Nhu song anh tin là Nhu nói thật. Hẳn Cao Xuân Vỹ phát hiện việc anh và Trần Kim Tuyến móc nối và có lẽ mới khi nãy, ngoài hành lang, Vỹ yêu cầu Nhu khử Luân.
- Tôi cho là chúng ta không nên đi vào chuyện vặt. – Luân nói, giọng bình thản – Tôi mong anh thoát và đánh trả. Đó là điều hết sức lớn, tối cần thiết, vượt xa những gì bó hẹp giữa chúng ta. Tôi đồng ý: chúng ta luôn là bạn...
- Bạn thân nữa! – Nhu cười. Từ khi xuống hầm, lần đầu, Nhu cười. – Tôi biết anh đã không chấp nhận một hành động hèn hạ nhằm ám sát tôi... - Nhu nghiêm trở lại... - Người Mỹ quý anh... Tôi mong, ở cương vị nào, anh không quên chúng tôi! Anh còn nhớ lần đầu chúng ta gặp nhau ở Vĩnh Long chứ?...
Nhu siết tay Luân.
Họ lên khỏi hầm, ra mặt tiền dinh Gia Long, Diệm tần ngần, buột miệng hỏi Cao Xuân Vỹ:
- Dinh Độc Lập có bị pháo kích không?
Vỹ không trả lời. Lính liên binh phòng vệ vẫn canh gác. Súng phía thành Cộng hòa nổ đều. Đèn thành phố vẫn sang.
Chiếc “deux chevaux” loại fourgonnette đang chờ họ, Diệm mượn Đỗ Thọ chiếc kính sẫm Rayband và chui vào phía sau với Nhu. Phía sau không có băng, hai người ngồi hẹp. Trước khi chui vào xe, Diệm bắt tay Luân:
- Cháu khỏe, hỉ! – Ông chỉ nói bấy nhiêu.
- Nhớ lời chúng ta trao đổi với nhau! – Nhu bắt tay Luân lần nữa.
Một đại úy ngồi cạnh anh em Diệm còn Đỗ Thọ ngồi băng trước với tài xế.
Cao Xuân Vỹ ngồi chiếc xe thứ hai, chiếc Land Rover.
- Chào đại tá! Công cuộc phòng thủ dinh Gia Long đã được xếp đặt đâu vào đó! Đại tá là một trong vài người biết Tổng thống rời dinh Gia Long.
Vỹ nói với Luân, không bắt tay. Ngập ngừng giây lát Vỹ nói tiếp:
- Thiếu úy Nguyễn Văn Tường cho tôi hay mọi việc!
Cánh cửa sắt mở. Hai xe ra đường Pasteur, rẽ vào cổng sau Tòa đô chính. Luân biết họ sẽ ra cổng đường Lê Thánh Tôn.
Bấy giờ, gần 7 giờ rưỡi. “Hắn muốn cho nhóm đảo chính hiểu rằng Diệm vẫn ở dinh Gia Long”. Luân suy nghĩ về câu nói của Cao Xuân Vỹ. Tên Tường và sau lưng hắn... Và, anh trông theo hướng Diệm, Nhu đào tẩu: 9 năm, anh và Nhu đấu với nhau; kẻ mà anh phải giữ kẽ từng li từng tí để khỏi mất mạng, kẻ đó có thể không còn nữa. Trong Luân, có một cái gì như tiếc rẻ, anh không thể gọi nó bằng tên. Anh buồn bã đứng tần ngần trên thềm dinh Gia Long.
Một loạt đại bác nổ quanh dinh.
*
Chuông điện thoại reo. Luân vào phòng khách nhấc ống nghe.
- Alô! Dinh Gia Long phải không? Ai đó?
Giọng rất quen và Luân kêu lên:
- Thiếu tướng Lâm!
- Ủa! Đại tá Luân... Sao lại kẹt trong dinh?
- Gì mà kẹt? Đang rất ung dung đây... Thiếu tướng từ đâu gọi đến?
- Tôi đang chỉ huy. Chỉ huy một sư đoàn hẳn hoi!
- Sư nào?
- Sư 5. Thay cho thằng Thiệu. Nó chỉ huy thiết giáp thay cho thằng Vĩnh Lộc... Còn anh?
- Tôi chỉ huy...
- Cũng chỉ huy?
- Tất nhiên. Chỉ huy giữ dinh Gia Long!
- Đừng có giỡn cha nội... Mấy “vị” còn ở đó không?
- Anh hỏi làm gì? Cứ cho là còn...
- “Tẩu” rồi hả? “Tẩu” hướng nào?
- Bí mật!
- Tôi cho nã pháo vào dinh được không?
- Tùy anh... Nhưng...
- Tôi hiểu. Tay trung đoàn phó – anh nhớ chứ - dự kiến đợi sáng mai mới tấn công...
- Nói với Nghĩa tôi thăm nó...
Một phi đội AD6 gầm rú trên nền trời.
- Máy bay của thằng Kỳ đó. Nó làm tàng. Hồi chiều, nó tính bốc hết Hội đồng cách mạng chạy sang Miên, bị nghe tin thằng Khánh kéo về “cứu giá”. Bây giờ, nó tỉnh hồn rồi... Anh coi chừng nó ném bom.
- Thành Cộng Hòa thế nào?
- Tôi cho bắn pháo 105 vô. Đánh lẹt đẹt thôi...
- Tôi muốn gặp anh được không?
- Được, anh đi bằng cái gì?
- Bằng xe...
- Tôi đón anh tại ngã tư Mạc Đĩnh Chi – Hồng Thập Tự, gần chỗ anh.
Luân rời dinh Gia Long, theo ngã Pasteur. Thạch chờ Luân từ trưa, chia khẩu phần bánh mì nguội với liên binh. Cậu định vào dinh hỏi tin Luân song lính gác ngăn.
- Tình hình kỳ cục quá! – Thạch mở máy,càu nhàu.
- Đảo chính mà! – Luân trả lời, giọng vui.
- Đảo chính gì mà không ra đánh...
Thiếu tướng Lâm đón Luân đúng điểm hẹn.
- Ở đây nói chuyện bất tiện, hay anh đến nhà tôi?
Lâm đồng ý, sau khi gọi Lê Khánh Nghĩa bằng bộ đàm:
- Alô! Nghĩa cứ siết vòng vây thành Cộng Hòa, kêu gọi đầu hàng, đừng xung phong. Tôi gặt đại tá Luân một chút.
Lê Khánh Nghĩa reo trong máy:
- Cho gửi lời chào đại tá!
Nhà Luân được nửa tiểu đội quân cảnh Mỹ canh giữ cẩn thận. Saroyan đưa Dung về nhà khi sập tối. Dung đón Luân và Lâm giống mọi ngày.
- Chị cho ăn cái gì... Tôi đói quá. Chắc anh Luân cũng đói.
Trong khi chờ đợi Dung và chị Sáu lo bữa ăn, hai người uống bia.
- Điệu này, phía ông Diệm chẳng chống cự nổi... - Luân rầu rầu.
- Chưa phải tụi tướng tá theo đảo chính hết cả đâu, song chúng nó chờ đợi. Thằng Conein giục thằng Đôn, thằng Đính làm lẹ.
- Lũ này mà thắng, để gọn tình hình sẽ rất xấu...
- Tôi cũng lo. Cậu Nghĩa có một ý táo bạo, nhưng tôi chưa dám gật đầu, đợi trao đổi với anh...
- Nghĩa muốn bắt Hội đồng các tướng, bắt luôn Diệm, phải không?
- Phải!
Luân trầm ngâm. Không phải là một kế hoạch tồi... Song, với một trung đoàn, e khó... Trong trường hợp đó, đến hai thế lực cùng chĩa mũi nhọn vào Trung đoàn 7. Mỹ sẽ dứt khoát chống lại một vụ “xé rào”ngoài kịch bản như vậy. Quân Giải phóng chưa thể hỗ trợ cho quân khởi nghĩa.
Thức ăn dọn lên. Lâm nhai ngấu nghiến.
- Tình hình tổng nha thế nào? – Luân hỏi Dung.
- Ông Y đầu hàng sớm nhất. Ông Minh giao cho ông ấy tiếp tục công việc, chờ quyết định sau. Chẳng có gì thay đổi. Thủy quân lục chiến đã rút. Chỉ phiền là số bị bắt dính đến Phật giáo chưa được lệnh xử trí. Ông Y rầu rĩ... Em bàn nên thả, ông ấy do dự một lúc bảo em lập danh sách, thả ở Tổng nha, Chí Hòa, các chi nhánh...
Dung nói mà nháy mắt ra hiệu. Luân hiểu: Dung trộn vào danh sách số người hoạt động cho Mặt trận, cơ sở nội thành, tình nghi “Việt Cộng” v.v...
- Bây giờ tính sao? – Lâm vỗ bụng thỏa mãn.
- Chưa thể làm theo ý của Nghĩa. Tất nhiên, anh nên tỏ ra thật tích cực trong đảo chính... Chuyện lâu dài.
Lâm đồng ý liền.
- Lão Diệm lủi về hướng nào? – Anh ta hỏi Luân.
- Tôi đoán ông Diệm, ông Nhu tính xuống chỗ Huỳnh Văn Cao.
- E đi không thoát. Sao anh không giúp họ trốn?
- Thằng Vỹ không tin tôi... Nó tự lo.
- Thằng đó mà lo cái con mẹ gì. Thứ buôn á phiện lậu chuyên nghiệp...
Câu nói của Lâm gợi cho Luân chỗ tạm trú chân của Diệm. Họ sẽ vào nhà Mã Tuyên. Tuyên cũng là Phó tổng thủ lãnh Thanh niên Cộng hòa đồng thời đầu mối tiếp nhận á phiện của Francisci từ Tam giác vàng.
Điện thoại reo. Jones Stepp nói chuyện với Luân:
- Hello! Đại tá đã về... Không việc gì xảy ra cả chứ? Chúc mừng đại tá. Saroyan đã đưa bà đại tá về nhà...
- Rất cám ơn tướng quân và phu nhân...
- Tôi trả lại cho đại tá hai chữ “cám ơn” xã giao và sẽ nói với đại tá hai chữ cám ơn chân thành nếu đại tá cho biết ông Diệm, ông Nhu hiện ở đâu?
- Tướng quân nghĩ rằng họ ở đâu? Nếu không trong dinh Gia Long, dưới chiếc hầm tránh bom?
- Tôi không tin... Máy định vị cho biết đài phát sóng của họ di chuyển về phía tây thành phố.
- Vậy thì tướng quân đoán đúng. Nhưng, tôi vừa chia tay họ mà không biết họ định đi đâu...
- Các tướng đảo chính rất ngại, đúng hơn, rất sợ, một khi chưa tóm được ông Diệm, ông Nhu. Đại tá sẽ trở thành người hùng của cuộc đảo chính nếu cho biết nơi, hoặc hướng họ di chuyển...
- Thưa tướng quân, tôi không thể làm điều ấy, tức là làm điểm chỉ một cách ti tiện. Quả thật tôi không biết, mà dầu biết, tôi cũng không hé môi. Chắc tướng quân hiểu danh dự một quân nhân.
- Tôi hiểu... Song...
- Tôi không tán thành nhiều mặt trong chính sách của ông Diệm, tướng quân chẳng lạ gì. Chống một chế độ với hành vi điểm chỉ ti tiện là hai việc khác nhau...
- Thôi được! Tôi đồng ý với đại tá. Bây giờ đại tá định làm gì?
- Tôi chưa định làm gì cả. Có lẽ, tôi nghỉ ngơi...
- Ồ đừng... Đại tá có liên lạc với tướng Lâm, đang chỉ huy sư 5 không? Nên liên lạc ngay và nên cùng tướng Lâm bàn cách đẩy nhanh các mũi tiến công... Cố thu xếp đêm nay, cho xong... Đừng để mọi người hiểu đại tá làm theo điều ông Diệm... tôi xin lỗi, ông Diệm di chúc: Tôi chết hãy trả thù cho tôi!
- Tôi xin phép tướng quân được suy nghĩ và sẽ trả lời sau... Còn dư luận, kể luôn các tướng cầm đầu đảo chính đánh giá về tôi như thế nào, tôi không mấy quan tâm...
- Không có gì phải suy nghĩ! Saroyan muốn nói chuyện với bà đại tá.
Luân trao máy cho Dung, thầm thì với Lâm.
- Nó không biết tôi đang ngồi ở nhà đại tá! – Lâm cười.
- Nó sẽ biết. Quân cảnh Mỹ sẽ báo...
- Saroyan bảo em khuyên anh nên hợp tác với thiếu tướng Lâm – Dung che máy, nói với Luân.
- Em bảo là thiếu tướng vừa đến và chúng tôi đang trao đổi.
*
Diễn biến tình hình trong đêm 1 và sáng 2 tháng 11.
Chiếc “deux chevaux” chạy ngang qua rạp Rex, rẽ tay phải, theo đường Lê Lợi, ôm bùng binh, theo đường Trần Hưng Đạo. Phố sá hơi vắng so với ngày thường, nhưng, ngoài tiếng đại liên rộ từng chập chen vài tiếng pháo từ phía Sở thú vọng đến, chẳng có vẻ gì Sài Gòn đang ở vào khúc quanh. Cảnh sát vẫn đứng ở góc đường. Xích lô, taxi vẫn chạy. Xe du lịch còn nhởn nhơ. Chỉ có rạp hát là đóng cửa cùng một số hiệu buôn lớn. Xe qua Nha cảnh sát đô thành – dáng vẻ bình thường. Nha thanh niên đây rồi... Tức khu Đại thế giới cũ. Người lái xe tốp tốc độ, ý chừng chờ lệnh Nhu.
- Dừng lại! – Nhu ra lệnh.
Người tài xế toan quanh xe vào cổng chính, Nhu bảo:
- Chạy khỏi cổng một chút rồi hãy dừng.
Chiếc Land Rover trờ tới. Một cuộc chuyển đổi xe diễn ra trong im lặng. Diệm, Nhu, Đỗ Thọ sang chiếc xe Land Rover. Số còn lại sang chiếc “deux chevaux”. Nhu bắt tay Cao Xuân Vỹ, thầm thì một lúc. Chiếc Land Rover theo đường Đồng Khánh chạy sâu vào Chợ Lớn. Phố sá Chợ Lớn có vẻ tấp nập hơn Sài Gòn. Bảng quảng cáo hiệu ăn Are En Ciel nhấp nháy như tự thuở. Việt Nam Cộng hòa không có chủ - đang đổi chủ, mà mọi sự như không ngưng đọng. Hẳn Diệm và Nhu phải suy nghĩ. Cái mà họ tự thị về sức nặng cá nhân của họ, cứ qua mỗi khu phố, vơi đi thêm một ít.
Xe dừng trước một ngôi nhà không đồ sộ nhưng khá bề thế, trên đường Phùng Hưng, vào lúc 8 giờ 45. Cổng đã mở sẵn. Cửa nhà cũng mở sẵn. Một Hoa kiều – với dáng dấp người Hoa thuần túy – đón Diệm, Nhu ngay thềm. Họ chỉ bắt tay chào nhau. Chủ nhà Mã Tuyên, tuổi trên 40, mời khách vào ngồi giữa phòng. Cổng khép và cửa cũng khép, Mã Tuyên pha trà, thái độ kính cẩn. Mấy phút sau, Mã Tuyên đưa vợ con ra chào khách. Tuyên có bốn vợ. Xong tuần trà – loại đặc chế của các phú thương người Hoa – Mã Tuyên hướng dẫn Diệm và Nhu lên lầu. Trước khi lên lầu, Nhu ra lệnh cho Đỗ Thọ không cho phép bất kỳ ai ra vào nhà và cấm sử dụng điện thoại. Mã Tuyên xuống nhà dưới, tiếp tục ngồi uống trà một mình, sau một lúc nghe thấy Nhu dặn dò. Bấy giờ, gần 10 giờ đêm.
Người Hoa kiều này tất nhiên hiểu rõ cơn gió nào đưa Tổng thống và bào đệ đến đây, không có tùy tùng. Đài phát thanh cả tiếng Việt lẫn tiếng nước ngoài đang ra rả về cuộc đảo chính. Mã Tuyên vừa uống trà vừa suy nghĩ.
Không phải chức Phó tổng thủ lãnh Thanh niên Cộng hòa khiến ông ta bận tâm. Cái đáng bận tâm là đường dây nối Tam giác vàng sẽ hoạt động như thế nào nếu phe đảo chính thành công. Nhu dặn Mã Tuyên tiếp tục chuyển ngân khoản vào trương mục Ngân hàng Hồng Kông như từ trước, nghĩa là Nhu có một kế hoạch đối phó đã định trước.
Sở dĩ Mã Tuyên không đi ngủ còn vì ông ta nghĩ rằng anh em Diệm ghé tạm nhà, nhiều nhất vài tiếng đồng hồ. Đỗ Thọ cũng nghĩ như vậy bởi Thọ loáng thoáng nghe chương trình hai người sẽ theo đường thủy xuống Tân An, rồi từ Tân An băng Đồng Tháp Mười, cũng bằng đường thủy, ra sông Tiền. Huỳnh Văn Cao chực đón họ tại một điểm nào đó.
Ở góc đường Hậu Giang, chiếc xe Dodge 4x4 tiếp tục phát lời kêu gọi của Tổng thống đồng thời liên lạc với lực lượng bảo vệ dinh Gia Long. Sĩ quan chỉ huy dinh Gia Long ngỡ rằng Diệm đang cố thủ trong hầm.
Vào lúc Diệm đến nhà Mã Tuyên thì thành Cộng Hòa thất thủ. Nói “thất thủ” là diễn đạt cường điệu thêm, sự thật, quân đồn trú nghe tin Lê Quang Tung chết, chỉ chống cự cầm chừng, nhưng lính của Sư đoàn 5 lại không xung phong. Sau cùng, họ mở cổng và mọi sự kết thúc như đôi bên chưa hề cãi cọ nhau chứ không nói là đánh nhau.
Mục tiêu bấy giờ là dinh Gia Long. Ba giờ rưỡi sáng, quân đảo chính mới khép vòng vây. Tất cả lực lượng bảo vệ, kể luôn xe bọc thép, lặng lẽ rút lui. Trước mặt quân đảo chính là vòng rào không hề có một dấu hiệu kháng cự. Nhưng, chẳng ai tiếp cận dinh. Lệnh của tướng Đính luôn luôn mâu thuẫn, khi thì giục “thanh toán” ổ đề kháng cuối cùng, khi thì bảo tướng Lâm “hãy thận trọng”. Thái độ của Đính tùy thuộc thái độ của tòa đại sứ Mỹ. Mà đại sứ Mỹ thì bận giải thích cho tướng Harkins về cuộc đảo chính – viên Tổng chỉ huy Mỹ nổi cáu khi biết Cabot Lodge vượt qua đầu ông ta. Ông ta đích thân gọi điện về Ngũ giác đài và đến lượt Ngũ giác đài cãi cọ với Dean Rusk, mãi khi Kennedy trực tiếp can thiệp thì trận giặc mồm mới tạm lắng.
Trên lầu, Diệm im lặng hút thuốc. Nhu đi lại, suy nghĩ. Có thể quá khứ sống dậy với từng chi tiết trong đầu óc hai người. Có thể chỉ là những mơ ước...
Một đêm trôi qua. Khi trời hừng sáng, Diệm và Nhu thay quần áo – cả hai mặc bộ quần áo mà họ ưa thích. Diệm màu nhạt, Nhu màu tro, thắt cà vạt, đi giầy đánh xi bóng. Họ xuống nhà, uống trà với Mã Tuyên. Xong, cả hai từ giã chủ nhà, lên chiếc Land Rover. Bấy giờ, 5 giờ sáng ngày 2-11.
*
Diệm và Nhu ra khỏi nhà Mã Tuyên chừng vài phút thì điện thoại reo.
- Alô! Có phải số máy 37301 đó không?
- Phải... Ai gọi đó! – Mã Tuyên trả lời, giọng lớ.
Và nghe liền một tràng tiếng Quảng.
- Có, có... Đi rồi! Vừa đi. – Mã Tuyên rối rít.
- Đi đâu không biết. Đi xe hơi. Xe sơn xanh. Không phải xe du lịch... Hình như loại xe đi đường rừng...
- Không thấy ông đại tá nào theo cả...
- Không thấy, chỉ có một người thư ký tên Thọ... Tôi chưa gặp đại tá Luân bào giờ... Mà chắc người thư ký không phải đại tá Luân. Tôi không biết họ đi đâu, hướng nào...
- Vâng, tôi sẽ không hé răng cho bất kỳ ai...
Mã Tuyên không thể biết một sự kiện rùng rợn xảy ra sau cuộc điện đàm vài phút. Tại một ngã tư con đường gần Phú Lâm, một chiếc Land Rover của ai đó bỗng bị một phát hỏa tiễn, không rõ do ai đó núp trong một hẻm, bắn cháy. Tất cả người trong xe đều chết. Nhân chứng tại chỗ báo cho cảnh sát: xe gồm ba trẻ em và một đàn ông.
John Hing nhận điện của Ly Kai và một trận lôi đình giáng vào Ly Kai:
- Thật là ngu xuẩn... Mày có biết Luân hiện ở đâu không? Nó sẽ bắn mày như một con chó nếu mày lò mò gần nó. Nó đang chỉ huy tấn công dinh Gia Long! Tại sao không phải. Nó với thằng thiếu tướng Lâm đang ngồi ở sở chỉ huy thành Cộng Hòa. Thật là ngu, ngu như con heo!
*
Chiếc Land Rover ngừng trước cửa nhà thờ Cha Tam. Năm giờ sáng. Lẽ ra phố xá đã tấp nập, song vì có đảo chính, người đi lại và cửa hiệu thưa thớt hơn mọi ngày.
Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu vào nhà thờ, chọn chỗ. Họ quỳ ngay hàng ghế đầu. Đỗ Thọ đứng sau lưng họ. Rải rác năm bảy tín đồ đến dự lễ sáng, không ai chú ý hai người khách chưa từng đến nhà thờ Cha Tam bao giờ.
Diệm và Nhu đọc kinh. Với Diệm, ông vẫn thường dự lễ buổi sáng ngay trong dinh, còn Nhu, chỉ thỉnh thoảng mới dự lễ - Nhu tin Chúa nhưng không tán thành giáo hội, như anh ta thường nói. Cả hai đọc kinh khá lâu, đến 15 phút.
Rồi họ đứng lên, rất mệt mỏi. Họ bước vào phía trong, gặp cha sở. Cuộc nói chuyện kéo dài chừng nửa giờ. Linh mục tên Jean, người Pháp, nói tiếng Việt khá sõi.
Đỗ Thọ được lệnh liên lạc với Hội đồng cách mạng. Người nói chuyện đầu tiên với Đỗ Thọ là Đỗ Mậu. Người kế đó là Trần Thiện Khiêm.
“Chúng tôi sẽ đón cụ” - Khiêm bảo như vậy.
Vào lúc đó, quân đảo chính chiếm dinh Gia Long. Thương vong không đáng kể - nếu không nói là gần như chỉ vài người tiến công và bảo vệ chết vì đạn lạc.
Tiếng súng tắt dần. Đài phát thanh đưa tin mới: một số Bộ trưởng của chính phủ cũ đã trình diện với Hội đồng đảo chính, mà người đầu tiên là Nguyễn Đình Thuần.


Phần 8 - Chương 12


Điện mật.
Theo thống kê, bình quân hàng tháng có 4,97 binh sĩ Mỹ chết và 13,66 bị thương do chiến cuộc ở Nam Việt, tính đến tháng 10 năm 1963.
Ký: Paul Harkins.
Điện mật và khẩn.
Gửi Cabot Lodge.
Thống kê thương vong của binh sĩ Mỹ do tướng P. Harkins gửi về, cho thấy khả năng tổn thất của chúng ta là có thể chịu đựng được. Cần xem xét lại giải pháp. Một sự xáo trộn nếu dẫn đến kết quả bi quan hơn là nên cân nhắc. Tôi nghĩ vẫn đủ thì giờ thu xếp.
Ký: Kennedy.
Báo cáo khẩn.
Với nhóm cầm đầu mới, khả năng thương vong của chúng ta sẽ còn thấp hơn. Không thể thay đổi giải pháp vì những người bạn chúng ta sẽ mất lòng tin.
Ký: Cabot Lodge.
Điện khẩn
Cho biết tình hình hiện nay của ông Diệm.
Ký: Kennedy.
Điện khẩn
Chúng tôi được tin ông Diệm và em của ông lẩn tránh trong một nhà thờ Thiên Chúa giáo, đã xin đầu hàng. Đang cho đón về và sẽ xử lý bằng cách nào có lợi nhất.
Bây giờ là 7 giờ sáng, giờ địa phương. Trong một điện sau, tôi sẽ tường trình chi tiết với Tổng thống.
Ký: Cabot Lodge.
Quân lịnh số 1
Kể từ hôm nay, 1-11-1963, Hội đồng cách mạng ban hành lịnh giới nghiêm 24/24 giờ trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Cấm tất cả các cuộc tập họp với bất cứ lý do gì, đóng cửa tất cả các nơi giải trí. Công sở phải làm việc như thường, không một nhân viên nào vắng mặt. Cơ sở bưu điện, điện nước, truyền thanh, báo chí, y tế làm việc không gián đoạn. Hiệu buôn, chợ búa xưởng hãng hoạt động bình thường, nhưng không mở của trước 7 giờ sáng và không được đóng cửa quá 17 giờ chiều, trừ những phòng khám bệnh và chữa bệnh. Đóng cửa trường bay dân dụng trên toàn quốc.
Cấm trại tất cả đơn vị quân đội thuộc tất cả quân binh chủng. Cảnh sát và quân cảnh hoạt động bình thường. Báo chí phải thông qua kiểm duyệt quân sự. Tất cả tướng lĩnh, sĩ quan, nhân viên của chế độ cũ bị truy nã (danh sách đính kèm) phải trình diện với nhà chức trách nơi gần nhất. Niêm phong toàn bộ tài sản của gia đình Ngô Đình Diệm và những người thân cận của gia đình này.
21 giờ ngày 1-11-1963,
Hội đồng cách mạng
Tuyên cáo số 1
Để cứu nguy dân tộc, quân đội đã đứng lên lật đổ chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm. Đây là một cuộc cách mạng được toàn thể các giới đồng bào toàn quốc tham gia.
Một Hội đồng quân nhân cách mạng đảm đương điều khiển công việc quốc gia. Hội đồng long trọng tuyên cáo:
1) Hủy bỏ hiến pháp, giải tán quốc hội và chính phủ.
2) Hội đồng quân nhân cách mạng đương nhiên là cơ quan quyền lực tối cao của Việt Nam Cộng hòa về đối nội cũng như đối ngoại. Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng là Quốc trưởng kiêm tổng tư lệnh quân đội.
3) Trong thời gian ngắn nhất, Hội đồng sẽ cử một chính phủ lâm thời điều hành công việc hành chính.
4) Trong thời gian ngắn nhất, Hội đồng sẽ cử một hội đồng nhân sĩ để tư vấn cho Hội đồng quân nhân cách mạng và chính phủ.
5) Hội đồng quân nhân cách mạng sẽ trao quyền cho quốc dân khi các định chế dân chủ được thực hiện.
Ngày 2 tháng 11 năm 1963
Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng:
Trung tướng Dương Văn Minh.
TIN CỦA ĐÀI PHÁT THANH SÀI GÒN
Vào 7 giờ sang hôm nay, 2 tháng 11, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu đã tự sát.
TIN KHẨN CỦA U.P.I
Ngô Đình Diệm, Tổng thống bị lật đổ, đã chết cùng với em trai của ông. Thi thể hai người đặt tại Bộ tổng tham mưu, nơi nhóm quân nhân cấp tướng nổi loạn đóng đại bản doanh. Mặt mũi và thân thể hai quân nhân vật khét tiếng bị nhiều vết đạn súng ngắn và lưỡi lê. Nguyên nhân của cái chết chưa được người có trách nhiệm làm sáng tỏ. Xu hướng giải thích của một số tướng có chân trong Hội đồng đảo chính yêu cầu không công bố tên là có thể hai người bị các sĩ quan cấp thấp sát hại vì phẫn nộ. Dù sao, tin chính thức của Đài phát thanh Sài Gòn do quân đảo chính kiểm soát cho hay là ông Diệm và em ông tự sát là không thể chấp nhận được.
TIN KHẨN CẤP CỦA A.F.P
Người hùng của Nam Việt, ông Ngô Đình Diệm và người em trai đầy quyền lực của ông đã chết trước 7 giờ sáng ngày hôm nay khi họ bị bắt sau khi đã chống cự một cách yếu ớt với các tướng nổi loạn do tướng Big Minh đứng đầu và rút vào một nhà thờ Thiên Chúa giáo tại một khu vực dày đặc Hoa Kiều. Tin tức về lý do hai người chết trái ngược nhau, phe đảo chính cho rằng họ tự sát, dư luận xã hội cho rằng họ bị giết trên một chiếc xe bọc thép.
TIN CỦA A.P
Tin về cái chết của Ngô Đình Diệm và em trai ông, ông Ngô Đình Nhu, đến thủ đô Washington khá đột ngột. Phát ngôn viên Nhà Trắng từ chối mọi bình luận. Văn phòng ngoại trưởng Dean Rusk trả lời điện thoại cho báo chí bằng một câu: Ngoại trưởng được tin này cùng lúc với dư luận, nên chưa thể có điều gì nói thêm.
Phóng viên A.P đã gặp bà Nhu tại khách sạn New York. Trong chiếc khăn màu đen và đôi mắt sưng, mặt hốc hác vì không trang điểm, bà Nhu trở nên dữ tợn trước ống kính của chúng tôi: Tổng thống nước tôi và chồng tôi bị ám sát hèn hạ vì không chịu quỳ gối trước các ông! Tổng thống Mỹ, cơ quan CIA Mỹ, tức là những cái gì bẩn thỉu nhất thế gian... Các ông thích bọn phản bội, bọn đần độn. Lịch sử sẽ mở mắt các ông. Dư luận Mỹ cần hiểu nước Mỹ đang bị những tay lưu manh điều khiển chính sách. Bà Nhu tuyên bố như vậy.
BÁO CÁO MẬT
Nơi gửi: Phân cục tình báo Mỹ ở Sài Gòn.
Nơi nhận: Giám đốc cục tình báo trung ương (đồng đệ trình Tổng thống theo nhu cầu của bí thư riêng của tổng thống)
Về cái chết của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, tin tức chưa phối kiểm. Tất nhiên, loại trừ khả năng hai người tự sát vì họ không có điều kiện tự sát theo kiểu đó. Một nguồn tin là khi họ nộp mình thì lập tức bị nhốt vào chiếc xe bọc thép M.113 và họ bị tra tấn đến chết tại Tổng nha cảnh sát. Một nguồn tin là họ bị bắn trên xe, do họ xỉ vả các sĩ quan áp giải khiến các sĩ quan này nổi nóng. Thân thể hai người đều bị thương do tra tấn và đều bị nhiều vết đạn súng ngắn, kể cả lưỡi lê.
Hai tướng được lệnh đón Diệm và Nhu là Mai Hữu Xuân và Dương Ngọc Lắm. Người trước, nguyên giám đốc trường huấn luyện lục quân vừa nhận nhiệm vụ Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia thay đại tá Nguyễn Văn Y. Người áp tải Diệm và Nhu là đại úy Nhung, cận vệ của tướng Minh đang nắm quyền và thiếu tá Nghĩa, em của tướng Lắm.
Phân cục tình báo hoàn toàn không hay biết gì về những triệu chứng dẫn đến cái chết này. Đại sứ Cabot Lodge, tướng Jones Stepp sẽ có báo cáo chính thức và đầy đủ, Phân cục tình báo nghiêng về khả năng đây là hành động tự phát của các sĩ quan cấp thấp.
Ký: Conein (đã qua thẩm duyệt của W. Porter).
VÀ THẾ LÀ THẢM KỊCH...
(Bài của Helen Fanfani gửi Financial Affairs)
Sài Gòn, 2 tháng 11
Không phải đây là lần đầu một nguyên thủ quốc gia bị lực lượng chống đối thanh toán – và, bao giờ cũng vậy, sự thanh toán kiểu Nam Mỹ, châu Phi và châu Á giữa các tập đoàn bản xứ nhưng tiêm nhiễm thói quen của nền văn minh nước Mỹ chúng ta đều theo một thứ luật: luật rừng – cái chết của ông Ngô Đình Diệm và em ông lại mang nhiều câu hỏi hơn bất kỳ sự thanh toán nào. Bức ảnh mà Financial Affairs công bố - hai thi thể bị trói gô và gần như bị các hình cụ tra tấn, các lưỡi lê và đạn băm nát – đang khiến ngay tác giả đích thực, tôi muốn nói ai đó gật đầu cho cuộc xóa sổ này, phải băn khoăn.
Có lẽ sẽ phí thì giờ nếu chúng ta lao vào cuộc tranh luận quái đản: hai người tự sát hay bị giết. Càng sẽ phí thời giờ nếu chúng ta tìm hung thủ. Người tra khảo, người thọc nhát lê hay bóp cò chẳng nghĩa lý gì và họ vô tội khi phải ra tòa án. Điều có ích là tìm hiểu ai gật đầu. Bài báo của tôi nhất định không làm đại sứ Henri Cabot Lodge hài lòng. Tuy nhiên, người không hài lòng – thậm chí rất có thể đây là bài báo cuối cùng của tôi với tư cách phái viên đặc biệt của Financial Affairs tại Sài Gòn – đến phẫn nộ đôi khi là Tổng thống nước Mỹ chúng ta: Tổng thống một mặt sẽ phẫn nộ về cái chết của ông Diệm và ông Nhu – một phẫn nộ cần thiết mà cả ông Dean Rusk lẫn ông McCone đang bóp óc tìm công thức thể hiện sao cho Tổng thống “đạt” trên màn ảnh – đồng thời, ông phẫn nộ không cần đạo diễn khi liếc qua bài báo viết lại hiện tượng này. Tôi cố gắng một cách tuyệt vọng để chứng minh cái khó chứng minh nhất: Vẫn còn có một nươc Mỹ lương tri. Lần đầu tôi nói về tôi trong bài báo và tôi hy vọng ngài Richard Blouse, giám đốc chính trị của Financial Affairs tỏ ra dũng cảm lần chót, nếu không nói là lần duy nhất, đừng cắt xén dù một chữ...
Do một nguồn tin đặc biệt, 5 giờ 30 sáng tôi rời khách sạn cùng với chồng tôi, mặc kệ lịnh giới nghiêm, phóng xe vào Chợ Lớn – Chinatown và đỗ trước một nhà thờ Thiên Chúa La Mã. Nhà thờ nhỏ thôi, do một linh mục người Hoa nào đó xây cất và bây giờ thì do một linh mục người Pháp điều khiển, linh mục Jean. Khi xe chúng tôi đỗ, đã có quân đội chực sẵn. Sau này, tôi biết, chính thư ký của ông Diệm gọi điện cho tướng Đỗ Mậu, chú ruột của viên thư ký, báo về việc ông Diệm và ông Nhu muốn liên lạc với nhóm sĩ quan đảo chính. Tướng Trần Thiện Khiêm báo cáo với tướng Big Minh và tướng Big Minh ra lịnh đón ông Diệm, ông Nhu về Bộ tham mưu. Người xung phong đi đón là tướng Mai Hữu Xuân – vào giữa khuya ngày 1 sắp qua ngày 2 tháng 11 ông được phong trung tướng vào giao chức Tổng giám đốc cảnh sát vốn là nghề thành thạo nhất của ông. Cùng đi đón, có ông Dương Ngọc Lắm, cũng vừa nhận quân hàm thiếu tướng. Trước khi họ ra đi, Hội đồng đảo chính họp một phiên họp cấp tốc. Tướng Big Minh chủ trương đón ông Diệm, ông Nhu về Bộ tham mưu và sẽ cho phép họ rời Việt Nam một cách an toàn và bí mật. Tướng Trần Thiện Khiêm ra lệnh sửa soạn hai căn phòng bí mật ngay trong Bộ tham mưu làm nơi tạm nghỉ của anh em ông Diệm. Trong cuộc trao đổi, có hai ý kiến quan trọng của ông Đỗ Mậu và ông Mai Hữu Xuân. Một phương ngôn Việt Nam quen thuộc được thốt từ miệng ông Mậu và người gật đầu là ông Xuân: Nhổ cỏ phải nhổ hết cả gốc. Hai ông vẫn sợ ông Diệm, ông Nhu – ngoài cái sợ, còn cả nhiều ẩn ý mà chỉ có lịch sử mới đủ tư liệu chứng minh – ông Mậu là người của đảng Đại Việt và thuộc danh sách tướng lĩnh lương tháng của ông Conein, McCone, còn ông Xuân vốn trùm mật thám Pháp, vẫn còn giữ quan hệ thân thiết với Savani, một chỉ huy Phòng nhì Pháp có hạng; ông Mậu phải nhân danh cho chiến hữu Đại Việt của ông đã chết thê thảm vì ông Diệm và phải thừa hành lệnh của ông Conein, ông Xuân phải trả món nợ mà ông cho anh em ông Diệm vay suốt 9 năm và ông phải chứng minh với ông Conein rằng ông còn thính mũi gấp nghìn lần ông Mậu. Đến đây, mẹo vặt của ông Mậu, ông Xuân hiệu nghiệm: họ đề nghị tướng Minh cử người tin cậy nhất của ông ta theo họ để đảm bảo lệnh mang ông Diệm, ông Nhu còn sống về đại bản doanh – tướng Big Minh cử liền đại úy Nhung.
Ông Diệm, ông Nhu ra khỏi nhà thờ. Tướng Dương Ngọc Lắm chào họ một cách kính cẩn. Tôi và Victor, chồng tôi, đến gần và bị cái khoát tay của tướng Xuân xua lùi cách vài mươi bước. Tôi hiểu ông Diệm, ông Nhu đinh ninh mình sẽ được đi một trong hai chiếc xe du lịch sang trọng đỗ cạnh đó. Nhưng không. Thiếu tá Nghĩa, em của ông Lắm, trỏ một chiếc M.113 và – không phải mời – bảo hai ông chui vào đó. Tổng thống Diệm không phản ứng rõ rệt. Ông Nhu quát to:
- Các anh đón Tổng thống và cố vấn của Tổng thống như thế a?
Và, ông giụi điếu thuốc đang hút dở vào ngực viên thiếu tá.
- Bây giờ, chỉ có hai tên phản động bị bắt, chẳng có ai là Tổng thống, cố vấn tại đây!
Victor đã chụp được ảnh cuộc đôi co này và cả ảnh ông Diệm, ông Nhu bị còng. Tôi chỉ quan sát được cái hất hàm ra lệnh của ông Xuân. Viên thư ký của ông Diệm và chiếc cặp da của ông Diệm bị quẳng lên một chiếc xe Jeep.
Cửa M.113 khép lại, đại úy Nhung và thiếu tá Nghĩa cùng vào xe. Xe lăn bánh. Tôi và Victor vội nổ máy xe, tôi rất ngại tướng Xuân tịch thu máy ảnh của chúng tôi. Nhưng, xe chúng tôi không được theo đoàn áp giải.
Tôi đã đoán lầm: giục Victor tăng tốc độ về Bộ tổng tham mưu – không khí chờ đợi ở đây căng thẳng như đầu óc chúng tôi. Trong đời làm báo của tôi, lần sai lầm này thật khó tha thứ. Tôi quên tướng Xuân dễ dàng liên lạc vô tuyến điện với Conein, với Cabot Lodge và ông ta dễ dàng trong vài từ thôi, chỉ thị cho nửa tá lính trong chiếc M.113 hành động. Sau này, tôi được tiết lộ: hai anh em Diệm, Nhu bị kết thúc trên đường Hồng Thập Tự, trước một rạp hát tên Olympic, nghĩa là gần dinh Gia Long của họ.
Bàn tay đang được giấu kỹ. Tướng Big Minh không thể chối bỏ trách nhiệm khi người tin cẩn của ông cùng ngồi trong chiếc M.113 và khi ông là Quốc trưởng như tuyên cáo có mang chữ ký của chính ông xác nhận.
Ông Diệm, ông Nhu không còn nữa. Nhưng, chính sách của nước Mỹ thì chẳng trốn đằng nào được cả, Phibul Songgram rời vị trí chóp bu Thái Lan, Lý Thừa Vãn rời Seoul... mức bi thảm không đáng kể. Macsayasay chết vì “tai nạn” máy bay ghê rợn hơn một tí, cũng dễ rơi vào lãng quên. Ông Diệm, ông Nhu chết, đến thi thể họ tan cùng với đất, trách nhiệm Hoa Kỳ vẫn bị quật tới quật lui. Uy tín ông Diệm, ông Nhu vứt trên nền, trừ mấy viên tướng đứng nghiêm chào với vẻ mặt xúc động – có xúc động thật vì ân nghĩa như tôi nhận trên gương mặt tướng Khiêm, có xúc động vì quá khứ mà họ hưởng từ vòng tay rộng của kẻ chết như tướng Đôn, có xúc động vì hoảng hốt như tướng Đính, có xúc động vì chứng kiến một tai biến lớn như tướng Kim, có xúc động để mọi người thấy mình xúc động tướng Xuân, tướng Mậu... tôi phải nói rằng tuy dân chúng hỉ hả thật, song phong tục Việt Nam theo lối hỉ xả của đạo Phật: Chết là hết – Cho nên khi hai nhà sư nổi tiếng Đức Nghiệp và Tâm Châu đòi mang thi thể ông Diệm, ông Nhu đi diễn hành thì quả vấn đề hé ra cái chiều sâu báo động. Tướng Minh dĩ nhiên không đồng ý.
Trước khi thanh toán ông Diệm, ông Nhu cả hai thu hút mọi trọng lực về phía họ. Nay, không còn họ nữa, tất yếu nhóm đảo chính nhìn nhau. Tôi bắt gặp những cái nhìn đó quanh thi thể ông Diệm, ông Nhu.
Và, khi tôi viết một mạch bài báo này, dân chúng đang hò reo ngoài đường. Dân chúng ảo tưởng và khi ảo tưởng tan biến, khó mà đoán tiếng hò reo hoan hô đảo chính sẽ đổi thành thứ âm thanh gì – không loại trừ tiếng súng. Đại sứ Cabot Lodge hoàn thành sứ mạng, nhưng tôi tin ông đang đau đầu. Tổng thống Kennedy hẳn trầm ngâm trước bàn giấy. Vấn đề ông Diệm không phải là vấn đề Việt Nam. Việt Cộng có lợi hơn hết – chắc không lợi nhiều như họ mong, song họ vẫn thủ lợi. Đối thủ, mà với tính trung thực của người Cộng sản, công nhận ông Diệm, ông Nhu. Hai người từ nay đi vào dĩ vãng. Nghĩa là Việt Cộng mất đối thủ. Và, người Mỹ, tôi nghĩ như vậy, sẽ phải chường mặt.
Tôi biết ông Nhu khá rõ. Con người nhiều suy nghĩ, thông minh. Có lẽ, ông Nhu đang làm bảng quyết toán dưới chân Chúa; ông mưu mô một và không ngờ còn có kẻ mưu mô mười.
Ai? Ai sẽ thay ngọn cờ ông Diệm? Tướng Big Minh hệch hạc chăng? Tướng Đính láu cá láu tôm chăng? Tướng Đôn tài tử chăng? Tướng Kim “hiền triết” chăng? Tướng Xuân lá mặt lá trái chăng? Một nhà tình báo quân sự có cỡ của quân đội Mỹ, sau khi cho tôi biết tướng Harkins nổi nóng đùng đùng về cái chết của ông Diệm, đã rỉ tai tôi về sự chọn lựa mới: không phải cấp tướng.
Bàn cờ đang xếp quân. Bàn cờ xếp quân trong thảm kịch. Nhưng, ông Diệm chết chưa phải là tấn thảm kịch đến cao trào. Cao trào của vở kịch còn ở phía trước...
Tin ngắn của Reuter
Sài Gòn đang hỗn loạn: Trụ sở Việt tấn xã, 9 tờ báo thân ông Diệm bị đập phá. 26 trụ sở các đoàn thể ủng hộ chế độ ông Diệm cũng bị đám đông đập phá. Tượng hai phụ nữ anh hùng Việt Nam xa xưa, gọi là bà Trưng chị, bà Trưng em tạc giống mẹ con bà Ngô Đình Nhu bị xô ngã và chặt đầu. Lịnh giới nghiêm thực tế không có hiệu lực.
Tin chiến trường cho biết Việt Cộng đẩy mạnh hoạt động nhằm vào ấp chiến lược.
Tuyên cáo số 2
Hội đồng quân nhân cách mạng long trọng tuyên cáo:
Lập trường của chế độ:
a) Áp dụng hình thức dân chủ trong tinh thần kỷ luật, không độc tài và cũng không phóng túng quá trớn.
b) Chống Cộng triệt để và hữu hiệu.
c) Đứng trong thế giới tự do.
d) Tôn trọng các cam kết trước đây với các đồng minh, tôn trọng tính mạng và tài sản của ngoại kiều.
e) Đoàn kết toàn dân, sẽ cho các đảng phái quốc gia (trừ Cộng sản và thân Cộng) tự do hoạt động, sửa soạn định chế dân chủ, tập trung nỗ lực trên các lĩnh vực ngõ hầu đáp ứng yêu cầu quốc gia, thực hiện bình đẳng triệt để giữa các tôn giáo, trả tự do cho tất cả chính trị phạm không Cộng sản, ban hành tự do báo chí (trừ xu hướng Cộng sản), tiếp tục các công trình lợi ích cho toàn dân.
Hiến ước tạm thời số 1
Nay ban hành Hiến ước tạm thời số 1 thay cho Hiến pháp được áp dụng từ ngày 26-10-1956.
1) Việt Nam là một nước Cộng hòa.
2) Quyền lập pháp và hành pháp thuộc Hội đồng quân nhân cách mạng.
3) Quyền hành quốc trưởng thuộc chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng.
4) Quyền hành pháp ủy cho chính phủ lâm thời do Hội đồng quân nhân cách mạng chỉ định.
5) Quyền lập pháp ủy cho chính phủ, trừ về ngân sách, thuế, an ninh, quốc phòng.
6) Luật lệ hiện hành vẫn tạm thời áp dụng.
Quyết định về việc thành lập chính phủ tạm thời
Chiếu Hiến ước tạm thời số 1, nay chỉ định chính phủ lâm thời:
Thủ tướng kiêm tổng trưởng kinh tế - tài chính: Nguyễn Ngọc Thơ.
Tổng trưởng quốc phòng: Trung tướng Trần Văn Đôn.
Tổng trưởng an ninh: Trung tướng Tôn Thất Đính
Tổng trưởng ngoại giao: Phạm Đăng Lâm
Tổng tưởng tư pháp: Nguyễn Văn Mầu
Tổng trưởng giáo dục: Phạm Hoàng Hộ
Tổng trưởng cải tiến nông thôn: Trần Lê Quang
Tổng trưởng thông tin: Thiếu tướng Trần Tử Oai
Tổng trưởng công chính: Trần Ngọc Oành
Tổng trưởng y tế: Bác sĩ Vương Quang Trường
Tổng trưởng lao động: Nguyễn Lê Giang
Tổng trưởng thanh niên: Nguyễn Hữu Phi
Bộ trưởng tại Phủ thủ tướng: Nguyễn Thành Cang
Bộ trưởng tài chính: Lưu Văn Tình
Bộ trưởng kinh tế: Âu Trường Thanh
Bộ trưởng Tổng trấn Sài Gòn: Trung tướng Mai Hữu Xuân
Báo cáo mật
Nơi gửi: Phân cục tình báo Sài Gòn
Nơi nhận: Trung tâm Washington
Phúc điện về chính phủ mới: Đa số thành phần chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp, dễ ngả về hướng trung lập. Trong số tổng, bộ trưởng, nhiều người liên hệ mức này hay mức khác với Việt Minh hoặc Việt Cộng...
Tin AFP:
Con gái ông Ngô Đình Nhu được đưa sang châu Âu đoàn tụ với mẹ.
Tin AP:
Nhà đương cục Huế đang sai áp tài sản của Ngô Đình Cẩn và giam giữ ông này.
Tin UPI:
Sài Gòn ồn ào bề ngoài. Chính phủ chưa có hành động gì rõ rệt.


Phần 8 - Chương 13


Khi quân của tướng Lâm vào dinh Gia Long – “vào” chứ không phải “chiếm” kinh qua đánh nhau dữ dội – đài phát thanh đưa tin về cái chết của Diệm – Nhu. Luân không nghe tin ấy, chính tướng Lâm phấn khởi báo cho anh bằng điện thoại. Luân, giọng khản đặc, nói đứt quãng:
- Sao? Chết rồi? Vô lý!
- Anh tới dinh Gia Long ngay, ta còn vô số chuyện phải trao đổi, hai thằng “cù lần” có sống hay chết ăn thua gì... - Tướng Lâm bực dọc bảo Luân.
Luân buông người rơi phịch xuống ghế.
- Chết cả rồi! – Luân trả lời Dung, vừa từ bếp lên, lạ lùng về thái độ của chồng.
Dung cũng sững sờ.
- Sao lại chết? – Cô hỏi và Luân chỉ lắc đầu.
Luân thừa sức đoán cái kết thúc của kịch bản nhưng anh hoàn toàn không thể nghĩ đến cái kết thúc như vậy. Tâm trạng Luân rất phức tạp. Anh lọt sâu leo cao trong chế độ, chính anh cực kỳ nồng nhiệt muốn chấm dứt vai trò của Ngô Đình Diệm, cho nên bắt buộc phải dùng tất cả suy tính, mưu mẹo, ngay từng chi tiết, suốt ngần ấy năm tháng để lọt được sâu, leo được cao. Về mặt cá nhân, anh với Ngô Đình Nhu không vướng mắc bất cứ điều gì đòi hỏi phải thanh toán đẫm máu, dù rằng, nếu cần, anh vẫn có thể tự tay kết thúc họ dưới hình thức nào đó vì lợi ích của đất nước. Nhưng, cái chết của hai người mà anh vừa được thông báo chứa đựng một tính cách đặc biệt. Mỹ thủ tiêu không một chút thương xót thương tay sai của mình – không phải lần đầu. Trong trường hợp Diệm – Nhu, việc đó được tiến hành không phải vì sự cứng đầu cứng cổ của tay sai mà vì Mỹ hy vọng giành ưu thắng đối với cách mạng. Nói cách khác, theo Luân, người có quyền trừng phạt Diệm, Nhu là cách mạng, là người dân miền Nam bị họ gây không biết bao nhiêu đau khổ mà cái đau khổ hang đầu là đất nước chia cắt lâu dài và đặt dưới ách đô hộ Mỹ. Mỹ lợi dụng phong trào cách mạng lợi dụng long phẫn nộ của dân chúng, đặc biệt lợi dụng thái độ của tín đồ đạo Phật để xử lý tôi tớ theo hướng bảo tồn mức cao nhất vị trí của Mỹ tại Nam Việt.
Diệm, Nhu chết – anh chưa biết họ chết bằng cách nào, song chắc chắn không phải “tự sát”; họ là tín đồ đạo Thiên Chúa, đạo Thiên Chúa cấm tự sát; vả lại chưa hề có một triệu chứng báo trước họ sẽ tự sát khi họ chia tay Luân, những người như Diệm – Nhu chắc chắn không bao giờ chọn con đường tự sát, đó là chưa kể họ không dễ tự sát khi lọt vào tay phe đảo chính – Luân xót xa... Luân xót xa bởi họ bị phản bội và kẻ phản bội chủ mưu là Mỹ. Diệm – Nhu chết, khả năng đề kháng của phía chống đảo chính mất ngọn cờ và sẽ quy hàng ngay thôi. Tình thế rối loạn khó kéo dài, thời cơ để phong trào cách mạng giành thắng lợi quyết định ngắn ngủi quá...
Dung lặng lẽ theo dõi chồng. Hai người không nói gì nhau, nhưng Dung đọc được hết ý nghĩ trong đầu chồng, qua vầng trán cao xếp nhiều nếp nhăn và hình như vừa thêm vài nếp nhăn mới.
Cô đến cạnh Luân, tôn trọng phút trầm tư như cô từng tôn trọng. Luân thò tay vào túi... Dung biết anh tìm thuốc lá. Gần đây, Dung hạn chế Luân hút. Bây giờ, chính Dung đến ngăn kéo, lấy thuốc và châm lửa. Những làn khói mỏng bay...
- Tội nghiệp mấy đứa nhỏ!- Dung thỏ thẻ. Cô nghĩ đến đám con của Nhu đang ở Đà Lạt.
- Anh đi gặp tướng Lâm! – Luân bật dậy, Dung biết Luân đã hình dung một kế hoạch hành động rồi.
- Anh nên mặc thường phục. – Dung toan mang quần áo cho Luân thay; từ hôm qua, Luân vẫn mặc bộ quân phục.
- Không, anh mặc quân phục! Em yên tâm.
Luân lên xe. Nhưng một hạ sĩ quân cảnh Mỹ đã chận xe Luân, lễ phép chào:
- Tôi được lệnh cùng đi với đại tá mỗi khi đại tá ra khỏi nhà...
Lưỡng lự mấy giây, Luân gật đầu. Người hạ sĩ quân cảnh ngồi lên xe, ở băng ghế trước, xốc khẩu Colt12 mà Luân thấy bao súng đã mở và chốt an toàn cũng đã mở.
Nhiều đám đông hò reo trên đường phố. Dân chúng có lý do vui mừng chính đáng; điều luôn luôn âm ỉ trong Luân là nguyện vọng tự do của số đông đang như một món hàng, cả Mỹ lẫn bọn đầu cơ bán rao và chẳng bao lâu nữa, mọi người sẽ hiểu được cái giá rẻ mạt, dù để có niềm hoan hỉ hôm nay, hằng vạn người ngã xuống ở chiến khu, hằng vạn người bị tù đày đến tàn phế, nhiều vị cao tăng đã lấy thân làm đuốc... Thêm một nỗi xót xa nữa len vào chỗ thầm kín của Luân.
Tất nhiên Luân không thể biết một diễn biến khác, bên ngoài.
Khi xe Luân ra khỏi cổng, rẽ về đường Hồng Thập Tự thì trên một tầng lầu góc đường Phan Đình Phùng, Ly Kai nói vào máy bộ đàm:
- Chú ý... Ra khỏi hang... Đúng hướng...
Tiếng bộ đàm hỏi lại:
- Vẫn xe cũ?
- Vẫn xe cũ...
- Ôkê!
Ly Kai áp sát tai vào máy, mắt nhìn đồng hồ.Chừng nửa phút nữa thôi... Nửa phút trôi qua...
- Sao? – Ly Kai hỏi, nôn nả.
- “Thúi” rồi!
- Sao “thúi”?
- Có một thằng Mẽo ngồi cùng xe...
- Tỉu na má! – Ly Kai chửi và tắt bộ đàm.
Đó là lúc xe Luân xuôi đường Thống Nhất. Một tốp Thủy quân lục chiến đóng giữa hàng cây cao, theo một lệnh đặc biệt của một thiếu úy – anh ta tên Tường – sẽ bắn vào chiếc xe đang chạy về hướng dinh Độc Lập. Khẩu M.72 – không phải một mà tới ba - sẵn sàng buông những quả đạn chống tăng vào chiếc xe du lịch. Chiếc xe sẽ bốc cháy. Không ai trên xe sống sót vì áp suất và độ nóng của loại vũ khí lợi hại này. Chiếc xe chỉ còn là một khối kim loại đỏ rồi co lại như một thứ sáp...
Tường đưa tay lên. Ba xạ thủ chờ gã buông tay xuống. Tầm bắn hiệu quả nhất hiện dần trên đường ngắm. Tường sắp buông tay xuống.
- Khoan! – Một tiếng quát nghiêm khắc.
Tiếng quát của thiếu tá Trương Tấn Phụng – Phụng được chỉ định làm chỉ huy phó Thủy quân lục chiến trước đây ba hôm.
Tường vẫn buông tay xuống. Song, ba xạ thủ không bấm cò. Chiếc xe chở Luân vút qua mặt chúng.
- Tại sao? – Tường đặt tay lên báng súng ngắn, quắc mắt hỏi Phụng.
- Anh có đui không? – Phụng, tay cũng đặt lên báng súng ngắn, hỏi lại, mặt cau có.
- Mày... Mày chết! – Tường lắp bắp.
- Một quân cảnh Mỹ ngồi trên xe... anh dám bắn? – Phụng cười khỉnh – Ai chết? Tôi chỉ huy tại đây, anh định giết lính Mỹ? Anh chết ngay...
- Mày không đọc lệnh của trung tướng?
- Tôi có đọc. Song, ngay trung tướng Xuân cũng chết nếu một lính Mỹ bị quân đảo chính khử... Riêng anh, liệu hồn!
Trán của Tường vã mồ hôi, rời tay khỏi báng súng.
- Anh cút đi! Cút nhanh trước khi tôi đổi ý.
Tường chạy vụt lại chiếc xe và gọi bộ đàm cho Ly Kai. Còn Phụng, anh cũng lau mồ hôi trán. Khi xe của Luân lọt vào ống dòm của anh, Phụng bối rối – chiếc xe quen thuộc, tuy anh không nhận ra Luân. Nhưng, một tên lính Mỹ to sầm đang che cho một người. Hay quá!
... Luân vào dinh Gia Long. Tướng Lâm đón anh ngay cổng. Bấy giờ, gần 9 giờ sáng. Anh rời dinh Gia Long vỏn vẹn 14 tiếng đồng hồ. Tường dính lỗ chỗ một ít vết đạn. Nói chung, ngoại cảnh vẫn y như cũ, mặc dù Sài Gòn qua một đêm đảo lộn.
- Sao anh lầm lì vậy? – Thiếu tướng Lâm hỏi.
Luân không trả lời. Anh lên bậc thềm, vào phòng khách. Một số sĩ quan, sau khi lục lọi các phòng riêng của gia đình Diệm – Nhu, đang ngồi nốc rượu.
- Anh yên chí, chẳng có đứa nào dám cướp giật, trừ vài chai rượu mà tôi cho phép – Lâm bảo Luân. Viên hạ sĩ quân cảnh Mỹ, giống tượng ximăng đúc, đứng sau lưng Luân. Sự xuất hiện của viên hạ sĩ Mỹ là biến cố lớn – Luân hiểu như vậy vì số sĩ quan thuộc sư 5 vội vã rút chân đang gác lên bàn và ngồi lại tề chỉnh.
- Lê Khánh Nghĩa được lệnh đem một tiểu đoàn ra Phú Lâm... - Thiếu tướng Lâm thông báo.
- Tình hình Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Khánh và Đỗ Cao Trí thế nào? – Luân hỏi.
- Chưa rõ. Nghe đâu tụi nó định mang quân về, nhưng Diệm chết, không thấy rục rịch gì...
- Anh đã vào Bộ tổng tham mưu chưa?
- Chưa... - Tướng Lâm trả lời, pha chút lo lắng.
- Anh không còn nắm sư 5 bao lâu nữa, tôi tin chắc sắp có lệnh giao sư đoàn lại cho một tay khác.
- Tôi không giao!
Luân ngó Lâm:
- Chưa được đâu!
Lâm mím môi.
- Ta đi một vòng, xem xét các phòng... - Luân bảo Lâm.
Hai người vào phòng Diệm rồi qua phòng Nhu. Viên hạ sĩ quân cảnh theo họ bén gót.
- Anh nên mở tủ chứa hồ sơ riêng của Nhu... Có thể có cái chúng ta cần. – Luân nói khẽ vào tai Lâm.
Luân trở lại phòng khách, còn Lâm ngồi vào bàn viết của Nhu.
Điện thoại reo. Một sĩ quan nghe rồi báo lại:
- Thưa tướng Jones Stepp hỏi có đại tá Luân ở đây không?...
Luân nói chuyện với Jones. Jones báo là sẽ đến dinh Gia Long ngay.
Tốp sĩ quan tản ra ngoài. Độ 10 phút, Jones Stepp đến, James Casey tháp tùng.
- Chào mừng đại tá! – Jones vồ vập bắt tay Luân. – Tôi đã cam đoan với trung tá James Casey là chính đại tá thanh toán dinh Gia Long mà không phải đổ máu... Quả đúng vậy. Tôi đã thắng cuộc...
James Casey làm bộ rầu rầu:
- Dại tá đã cho tôi một vố đau điếng... Tôi thua thiếu tướng một thùng Whisky Scotland...
Luân không thích lối đùa dai này.
- Ta ngồi! – Anh mời hai người Mỹ...
- Chúng ta nên trao đổi – Luân bảo.
Jones ra hiệu cho viên hạ sĩ quan quân cảnh cùng cả lô bảo vệ vừa theo Jones tới giạt xa tận góc phòng.
- Trao đổi cái gì nào? – Jones hỏi – Đại tá muốn vén bức màn bí mật về cái chết của ông Diệm, ông Nhu?
- Tất nhiên, đó là một trong những điều chúng ta cần trao đổi. Song, trước hết, tôi muốn tướng quân minh xác: sự thể sẽ đi đến đâu? Chính biến hiện nay có phải nằm trong một tính toán khít khao? – Luân cật vấn, giọng khô khốc.
- Hẳn cái chết của ông Diệm, ông Nhu tác động mạnh vào tình cảm đại tá. Tôi hiểu. Và tôi chia xẻ... - Jones trả lời theo lối thăm dò.
- Tôi không giấu. Tôi đau đớn thật sự. Lẽ ra, còn có giải pháp khác với họ... Tuy nhiên, chúng ta thống nhất: tạm thời chưa bàn việc đó. Tôi muốn nghe tướng quân ở tầm rộng hơn.
- Còn gì mà chúng ta không hiểu nhau nhỉ? – Jones làm ra vẻ ngạc nhiên... Cuộc họp Hội đồng An ninh quốc gia ngày 31-8 tôi đã thông báo riêng cho đại tá...
- Tôi nhớ, cuộc họp do ngoại trưởng Rusk chủ tọa thay cho Tổng thống Kennedy...
- Đúng... Harriman, Hillsman, Paul Kittenburg... đã dẫn giải các nguy cơ ngăn trở cố gắng quân sự của chúng ta từ hàng loạt chính sách mất lòng dân của ông Diệm...
- Paul Kittenburg đã đưa ra một ý kiến độc đáo: Mỹ nên rút khỏi Việt Nam ngay vì tình hình rất xấu. Ý kiến độc đáo để bảo vệ một quan điểm độc đáo không kém: Xóa ông Diệm! Nhưng thưa tướng quân, Bộ trưởng Mac Namara và tướng Taylor lại có cách nhìn ngược lại mà, theo tôi hiểu, tướng quân cũng tán thành...
- Đúng! Bởi vì chính ngoại trưởng Dean Rusk đã kết thúc phiên họp với những lời sau đây: Mỹ sẽ không rút ra khỏi Việt Nam trước khi cuộc chiến tranh giành được thắng lợi và Mỹ sẽ không điều khiển một cuộc đảo chính. Phó tổng thống Johnson cũng tán đồng kết luận ấy...
- Nhưng...
- Đại tá hãy nghe tôi... Đại sứ Lodge và tướng Harkins nhận được chỉ thị phải thiết lập quan hệ “tốt” với ông Diệm và nói cho ông ấy hiểu: Bằng mọi cách, phải tiến hành cuộc chiến tranh đến thắng lợi, đó là yêu cầu chính của hai phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa...
- Xin phép tướng quân... Kết luận của ông Rusk được hiểu hết sức khác nhau giữa các cố vấn chóp bu của Tổng thống. Tại đây, tại Sài Gòn, giữa đại sứ Lodge và tướng Harkins cũng đứng trên chỗ riêng để nhận kết luận ấy.
Jones Stepp nhún vai. James Casey đỡ lời:
- Mối quan hệ “tốt” mà chúng ta mong không đạt được, lỗi không thuộc về người Mỹ...
- Tôi muốn nhắc hai vị câu tuyên bố nổi tiếng của Tổng thống Kennedy ngày 12-9: Cái gì giúp cho việc giành thắng lợi trong chiến tranh thì người Mỹ ủng hộ, cái gì ngăn trở cố gắng chiến tranh thì người Mỹ phản đối... Từ nguyên lý đó, Tổng thống đã nghĩ đến một thay đổi. Tôi hiểu, sự trì hoãn thay đổi là do tướng Harkins và cả tướng quân – nếu tôi không lầm, cả trung tá James Casey...
- Đại tá nắm tin tức không đến nỗi hời hợt lắm! – Jones cười hóm hỉnh.
- Tôi nắm tin tức vừa đủ để tìm hiểu chính sách của Mỹ - Luân trả lời tỉnh bơ – Tôi biết ông Lodge nhiều lần can không cho Ngũ Giác Đài tỏ thái độ lạnh nhạt với các tướng Nam Việt không thích ông Diệm...
- Ồ! Đó chính là tin tôi báo cho đại tá... - Jones kêu lên, vỗ vai Luân – Đại sứ Lodge đã nói với Nhà Trắng: Từ Washington xa vời, không thể nào kiểm soát nổi tình hình tế nhị ở Sài Gòn... Tôi nghĩ khác: đại sứ Lodge lần đầu tiên nhận nhiệm vụ quan trọng ở châu Á.
- Nhưng, ông Lodge không phải hoàn toàn vô lý: Từ Washington đến Sài Gòn, cần những 62 giờ bay... - Luân cười mỉm.
- Tôi chưa đồng ý với đại tá...
- Cũng như Krulask và Mendenhall không đồng ý với nhau. – Jones Stepp đưa tay lên trời – Tổng thống Kennedy từng hỏi hai phái viên của mình: Hai ngài có phải đều cùng chung một đất nước không?
- Theo lịch, ông Lodge dự định trở về Mỹ ngày 31-10. Và, thưa tướng quân, hôm nay, đại sứ vẫn có mặt ở Sài Gòn! – Luân nói nửa đùa nửa thật.
- Cũng như Đại tá Conein có mặt trong Bộ tổng tham mưu Nam Việt từ sáng ngày 31-10! – James Casey bổ sung thêm...
- Và tất cả những cái đó không phải là việc của chúng ta – Jones Stepp tỏ ý cuộc tranh cãi như vậy là quá đủ - Việc của chúng ta, những quân nhân, là chiến thắng trong cuộc chiến tranh. Tôi đến đây gặp đại tá không phải để chúng ta rơi vào cái bãi lầy của ông Lodge. Ông ấy sẽ tự tìm cách rút chân – tôi nói vấn đề chính trị, trong đó, có trường hợp ông Diệm, ông Nhu chết, bất kể chết vì lý do gì. Việc của chúng ta – mà tướng Harkins trực tiếp chỉ thị cho tôi – là trao đổi ngay với các chỉ huy Việt Nam về những khả năng hành động lập tức đảm bảo tình hình ngoài mặt trận không xấu hơn. Hãy mặc kệ các viên tướng đích thích chính trị cãi vã với nhau, còn các viên tướng đích thực là quân nhân thì nên quay mặt nình đối phương... Với đại tá, tôi có một lời khuyên chắc không vô ích: Đừng quá xót xa về cái chết của hai người mà đại tá quan hệ với họ sâu và lâu...
- Tôi là con nuôi của Giám mục Ngô Đình Thục... - Luân thở dài.
- Tôi hiểu. Thậm chí, tôi tôn trọng tình cảm của đại tá. Nhưng, dù sao, đại tá cũng phải xếp trong đội hình mới...
- Với tôi, đó là điều khó khăn...
- Đại tá không thể từ chối khó khăn và chắc không có ý định từ chối... Tôi và trung tá James Casey đến dinh Gia Long gặp đại tá. Đại tá có hai tư cách cần chọn lựa: hoặc là người phòng thủ cuối cùng dinh Gia Long để ông Diệm, ông Nhu thoát ra ngoài, hoặc là người tiến công dinh Gia Long. Tư cách thứ nhất: đại tá là tù binh và sẽ ra trước tòa án của các tướng đảo chính...
- Tôi bổ sung: Tôi là trợ lý về an ninh và quốc phòng của chủ tịch Hội đồng cứu quốc Ngô Đình Nhu... - Luân cười lạt.
- Tôi hiểu khá đủ. Tôi có băng ghi âm của ông Nhu. Nhưng, đại tá còn tư cách thứ hai. Và, tôi mong đại tá đừng từ chối tư cách rất có lợi ấy... Ngày mai, có thể ngày kia, tướng Harkins sẽ chủ tọa một cuộc họp quân sự chung. Trong danh sách, chúng tôi đã ghi tên đại tá...
Jones và James chào Luân ra về.
Thiếu tướng Lâm – có lẽ nghe được một phần câu chuyện – từ phòng làm việc của Nhu bước ra.
- Tôi dồn mọi thứ vào valy... Anh sẽ mang đi?
- Không tiện. Nhờ anh cho chuyển ngay đến nhà tôi giúp tôi...
- Tụi nó tưởng tôi lấy hột xoàn, đôla!
- Nếu như vậy, cũng không sao...
Lâm nhún vai:
- Ừ, chẳng lẽ tôi vào đây mà ra tay không!
- Tụi Mỹ vừa nói gì với anh? – Lâm hỏi tiếp.
- Thăm dò... Họ chưa biết phải làm gì.
Viên hạ sĩ đã sát gần. Luân ra hiệu bằng mắt cho Lâm: “Có Chúa mới rõ thằng hạ sĩ này nói thạo tiếng Việt đến cỡ nào”.
- Tôi về nhà... - Luân bảo Lâm... - Để đi viếng thi thể ông Diệm, ông Nhu.
Vừa lúc đó, đài phát thanh loan báo tin đại tá Nguyễn Chánh Thi từ Nam Vang, bác sĩ Trần Kim Tuyến từ Băng Cốc vừa đáp máy bay về đến Tân Sơn Nhất, điện ủng hộ Hội đồng quân nhân cách mạng của tướng Đỗ Trí Cao, tư lệnh vùng I, cáo phó về cái chết của thiếu tá Bùi Nguyên Ngải. Luân chưa ra khỏi dinh Gia Long, đài đọc một thông báo: Hội đồng quân nhân cách mạng ra lệnh trong vòng 6 tiếng đồng hồ là thời gian tối đa, đại tá Nguyễn Thành Luân phải trình diện ở Bộ tổng tham mưu. Thông báo được đọc hai lần.
- Có cần bảo vệ anh không? – Lâm hỏi, sau một câu văng tục.
- Khỏi... cám ơn anh...
Luân bước xuống thềm. Số sĩ quan vừa nghe thông báo, ngó anh. Luân cười rất tươi, vẫy họ. Viên quân cảnh Mỹ lầm lì bám sát Luân. Một sĩ quan nào đó nói đổng.
- Kỳ thấy mẹ! Mấy cha nội tính đảo chính liền tù tì hay sao cà?
*
Vợ chồng Trần Trung Dung đứng đơn xin chôn cất Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Hai kim tĩnh đã xây xong.
Cái chết của hai người gieo ít nhiều dao động trong Hội đồng quân nhân cách mạng. Dù hai người chỉ còn là hai thi thể, một cái gì day dứt không thể dập tắt từ chỗ sâu kín của một số tướng lĩnh. Không ai công khai nhận mình đã ra lệnh thủ tiêu anh em Diệm – Nhu và nhiều cách giải thích quá quắt nên các sĩ quan cấp thấp không tự kìm chế nổi, đã hành động như một phản ứng tất nhiên. Day dứt vì ân sủng bao năm của Diệm đó là một phần. Day dứt cho số phận chính mình vào một buổi xấu trời nào đó phần này quan trọng hơn. Và, bao trùm tất cả, lo lắng về sự trả thù dưới nhiều dạng của những người từng trung thành với cố Tổng thống – chưa ai quên ngót triệu dân di cư và một khối lượng đáng kể ủng hộ Diệm trước đây.
Diệm – Nhu còn sống, người ta hình dung viẹc xóa bỏ họ vừa bức thiết vừa đơn giản. Khi tin hai người chết về đến Bộ tổng tham mưu, các sĩ quan đảo chính không phải hồ hởi, mừng rơn, trái lại, mang tâm trạng nặng nề. Vài thành viên của Hội đồng hỏi riêng tướng Andre: Mỹ có cho phép không? Andre không biết. Tướng Đính cũng lắc đầu trước câu hỏi tương tự. Conein phải thuyết trình dài dòng với tướng Harkins, không có mặt ở Bộ tổng tham mưu.
Hằng loạt nhà thờ theo đạo Thiên Chúa, bất chấp lệnh giới nghiêm, tổ chức lễ cầu hồn cho hai con chiên “bị bức hại” như một số linh mục tuyên bố công khai.
Tín đồ đạo Thiên Chúa bao vây Bộ tổng tham mưu đòi xác anh em Diệm, Nhu không phải không thể xảy ra. Đã có nhiều cú điện thoại nặc danh đe dọa chủ tịch Hội đồng quân nhân, đại úy Nhung, tướng Xuân - nhất là tướng Xuân.
Cuối cùng rồi thi thể của anh em Diệm – Nhu cũng được tẩm liệm. Nhưng, vào giờ chót, vợ chồng Trần Trung Dung được lệnh của Đỗ Mậu không cho phép an táng ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Lý do: ngại dân chúng quật mả Diệm – Nhu. Chắc sự giải thích kia không hoàn hoang tưởng song chưa phải là lý do chính. Lý do chính – Cabot Lodge đã chỉ thị cho Đỗ Mậu qua Conein – là nếu đưa quan tài Diệm – Nhu ra khỏi bộ tổng tham mưu sẽ dễ dàng dẫn đến một cuộc xô xát giữa tín đồ đạo Thiên Chúa và đạo Phật; cái hình ảnh “nội chiến tôn giáo” lởn vởn trong đầu của Lodge. Hơn thế nữa, Lodge không thích chuyện thanh toán đẫm máu này phơi bày lộ liễu trước mắt thiên hạ.
Không an táng ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi mà cứ quàn ở Tổng tham mưu thì thật bất tiện. Không ai bảo ai, các thành viên của Hội đồng mỗi khi qua lại nơi đặt quan tài đều có chung cảm giác thiếu thoải mái. Hai cỗ áo quan đôi khi len cả vào phòng họp – một ý tứ đang tuôn ào ào của một vị tướng bỗng ngắc ngứ...
- Chúng ta là những người cách mạng!
Đỗ Mậu, Ủy viên chính trị Hội đồng gào thét. Đáp lại, các gương mặt lạnh lùng của các tướng khác, đôi người không giấu vẻ hổ thẹn.
- Phải chi mình làm cách mạng thiệt!
Một tướng lầu bầu mà mọi người đều nghe.
Tân thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ khi vào gặp Hội đồng, gần như chạy thật nhanh khỏi cái góc nhỏ đặt hai cỗ áo quan. Mọi người đều thấy cử chỉ như sợ hãi, như thú tội ấy...
Thế là Đỗ Mậu đưa ra một sáng kiến: Tạm chôn Diệm – Nhu trong mảnh đất cạnh Bộ tổng tham mưu. Sáng kiến lập tức được tán thành.
*
Buổi tối hôm chôn hai cỗ áo quan xuống huyệt, hai nấm đất vừa phủ xong thì một chiếc xe đỗ bên cạnh.
Ánh đèn đủ sáng theo dõi bước đi của hai người từ trên xe bước xuống: đại tá Nguyễn Thành Luân và Thạch. Họ mang một vòng hoa. Hẳn đây là vòng hoa đầu tiên và duy nhất mang đến vĩnh biệt Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Vòng hoa không lớn nhưng rất tươi.
Lính gác báo động. Tiếng điện thoại trong Bộ tổng tham mưu reo.
Luân nhờ Thạch giúp, đặt vòng hoa trước hai nấm mộ. Anh đứng thẳng người, chào theo đúng quân phong, rồi giỏ mũ, làm dấu thánh và sau đó cúi đầu im lặng.
Một ánh lóe. Nhà báo Mỹ Fanfani ghi hình ảnh này.
Một người thứ hai xuất hiện. Anh ta quát Fanfani:
- Ai cho phép bà chụp ảnh?
- Ai cho phép ông cấm tôi chụp ảnh? – Fanfani bĩu môi, hỏi vặn.
Đó là Tường, bây giờ đeo thêm một hoa mai trắng, không tranh cãi với cô nhà báo Mỹ mà thét vào mặt Luân:
- Anh không trình diện theo lệnh của Hội đồng quân nhân, dám lén lút đến đặt vòng hoa... Tôi bắt anh!
Tường tiến đến Luân. Luân vẫn đứng yên.
- Đ.M, mày làm phách hả?
Tường nghiến răng và thẳng cánh tát Luân.
Một tiếng nổ thật gọn. Thạch bắn Tường. Tường ôm ngực lảo đảo, rồi ngã vật, Luân, Thạch và luôn Fanfani nghe tiếng culát tiểu liên của toán lính kéo lên rờn rợn. Sẽ có mấy băng đạn ghim vào hai người.
Luân bình tĩnh đánh bay khẩu súng ngắn trên tay Thạch, khom người lấy chiếc còng mà Tường cầm vừa rơi xuống đất.
- Không được bắn! – Fanfani lấy thân che Luân.
Luân tự còng mình và còng Thạch, gọi một sĩ quan gần đấy:
- Mang chúng tôi đến nơi nào các anh muốn!
Giọng Luân đĩnh đạc.
- Cảm ơn cô Helen. Song đây là việc của chúng tôi!
Luân lách khỏi Fanfani, tiến về phía các họng súng...
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #34  
Old 12-09-2012, 11:27 AM
Helen's Avatar
Helen Helen is offline
Super Moderator
 
Tham gia ngày: Jan 2007
Bài gởi: 3,082
neww Ván Bài Lật Ngửa - Phần 9 - Chương 1 - 4

Ván Bài Lật Ngửa


Phần 9 - Chương 1

Kỵ sĩ và Mimosa


Luân trầm tư trên chiến ghế đặt ở hiên, nhìn ra mảnh vườn nhỏ mà Dung đã bỏ công tạo một vùng đỏ của hoa tỷ ngọ giữa một thảm cỏ xanh. Những dây leo đầy lá biếc bám vào tường cho Luân cảm giác thanh thản đôi chút sau các biến cố dồn dập. Mùa mưa đã dứt, ánh nắng buổi sáng chói chang, dù vậy khi trời không oi bức. Một con chim đơn côi có lẽ từ cành me ngoài cổng sà xuống thảm cỏ nhà Luân, nhưng hôm nay anh mới phát hiện nó. Một con chim nhỏ và nó là chim tự do. Còn anh, anh đang bị giam lỏng. Một đám quân cảnh đặt hẳn trạm gác ngay tại cổng nhà anh, với lý do khá lịch sự: Bảo vệ cho đại tá khỏi bị bọn thâm thù chế độ Ngô Đình Diệm quấy phá.
Dung vẫn đi làm, đối với Phạm Văn Chiểu - vừa được thăng Trung tướng, Ủy viên an ninh của Hội đồng quân nhân cách mạng – thì Dung luôn luôn là một sĩ quan cảnh sát mẫn cán. Bộ an ninh do Trung tướng Tôn Thất Đính phụ trách. Đính chẳng ác cảm mà cũng chẳng thiện cảm với Dung, tuy Đính không thể nào ưa Luân – lý do đơn giản: Luân hiểu Đính quá kỹ, bây giờ viên tướng hoàng tộc bận tâm nhiều việc khác hơn là vợ một đại tá một thời ông ta rất e dè.
Điều buồn cười là sau đảo chính một tuần lễ, trong lúc can phạm chính trị, trừ Cộng sản, từ các khám đất liền và từ Côn Đảo trở về thì Hoàng Thị Thùy Dung nhận được quyết định do Tổng trưởng an ninh ký thăng từ Đại úy lên Thiếu tá cảnh sát quốc gia. Có thể đó là một quyết định mà người ký chẳng cần cân nhắc, cũng có thể xuất phát từ một ý đồ nào đó và của một ai đó.
Luân và Dung hiểu điều buồn cười ấy trong như một trong vô số biểu hiện mâu thuẫn mà Mỹ đang phải đối phó, đang “phân thế” trong mớ hỗn tạp lên đến độ cao ở Nam Việt Nam sau cái chế của anh em Diệm, Nhu.
Tuyên cáo số 1 lập lờ với 5 điểm: quân đội phải lật đổ chế độ độc tài; đây là một cuộc cách mạng được toàn thể các giới tham gia; Hội đồng quân nhân cách mạng tạm giữ quyền bính; sẽ thành lập một Hội đồng nhân sĩ để chuẩn bị các điều kiện cho một thể chế dân cử ra đời; chính phủ lâm thời ra mắt sớm. Nhưng cũng ngày 2-11, tuyên cáo số 2 ra tiếp, không kém mơ hồ, trừ khoảng chống Cộng, xác định các vấn đề chủ chốt: chế độ mới không độc tài, không phóng túng, dân chủ mà kỷ luật
Lập trường của chế độ mới vẫn chống Cộng, trong thế giới tự do giao hảo với các lân bang và các nước bạn, tôn trọng các hiệp ước đã ký, tôn trọng tài sản và tính mạng của ngoại kiều, đoàn kết toàn dân, cho các đảng phái tự hoạt động - trừ các đảng chịu ảnh hưởng của Cộng sản, tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do báo chí,...
Tuyên cáo số 2 là văn kiện mà trong đó những người đảo chính nhân nhượng lẫn nhau, những người đảo chính tính đến phản ứng của dân chúng đồng thời chịu sức ép của Mỹ và cả của Pháp - sức ép sau tế nhị hơn. Dĩ nhiên, quốc hội được bầu ngày 27-9-1963 bị giải tán. Các loại mâu thuẫn nói trên thể hiện qua thành phần của Hội đồng quân nhân cách mạng. Chủ tịch Hội đồng là trung tướng Dương Văn Minh, đệ nhất Phó chủ tịch là trung tướng Trần Văn Đôn, đệ nhị Phó chủ tịch là trung tướng Tôn Thất Đính, ủy viên quân sự là trung tướng Trần Thiện Khiêm; ủy viên kinh tế: trung tướng Trần Văn Minh; ủy viên an ninh: trung tướng Phạm Xuân Chiểu; ủy viên chính trị: thiếu tướng Đỗ Mậu; Tổng thư ký kiêm ủy viên ngoại giao: trung tướng Lê Văn Kim; các ủy viên: trung tướng Mai Hữu Xuân, thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu, trung tướng Lê Văn Nghiêm, thiếu tướng Nguyễn Hữu Có.
Bằng một phân tích đơn giản, người ta đã thấy thế lực thân Pháp - do Pháp đào tạo, chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp - chiếm số lượng tuyệt đối, có thể chỉ trừ Đỗ Mậu và Thiệu, hai nhân vật dính dáng đến đảng Đại Việt. Riêng Thiệu còn là tín đồ Thiên Chúa giáo - gần như người theo đạo Thiên Chúa duy nhất trong Hội đồng; các người khác hoặc công khai tuyên bố theo đạo Phật hoặc chưa bị Phật giáo kết án trong cả nửa năm chế độ Ngô Đình Diệm dùng bàn tay sắt trấn áp tôn giáo này - kể cả Tôn Thất Đính mà ai cũng thấy chỉ là con rối.
Ngày 4-11, Hiệp ước tạm thời số 1 chưa thoát khỏi cơn giằng xéo của các thế lực: Việt Nam vẫn là nước cộng hòa; quyền lập pháp và hành pháp thuộc về Hội đồng quân nhân cách mạng; quyền hành Quốc trưởng thuộc về Hội đồng; Hội đồng chỉ định một chính phủ lâm thời phụ trách hành pháp, trừ ngân sách, thuế, an ninh và quốc phòng; luật lệ hiện hành còn nguyên giá trị...
Danh sách chính phủ cũng mang dấu ấn của những nhân nhượng: Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Kinh tế tài chính: Nguyễn Ngọc Thơ; Tổng trưởng Quốc phòng: Trần Văn Đôn; Tổng trưởng An ninh: Tôn Thất Đính; Tổng trưởng ngoại giao: Phạm Đăng Lâm; Tổng tưởng Tư pháp: Nguyễn Văn Mầu; Tổng trưởng Giáo dục: Phạm Hoàng Hộ; Tổng trưởng Cải tiến nông thôn: Trần Lê Quang; Tổng trưởng Thông tin: Trần Tử Oai; Tổng trưởng Công chính: Trần Ngọc Oành; Tổng trưởng Y tế: Vương Quang Trường; Tổng trưởng Lao động: Nguyễn Lê Giang; Tổng trưởng Thanh niên: Nguyễn Hữu Phi; Bộ trưởng Phủ thủ tướng: Nguyễn Thành Cang; Bộ trưởng Tài chính: Lưu Văn Tình; Bộ trưởng Kinh tế: Âu Trường Thanh; Tổng trấn Sài Gòn: Mai Hữu Xuân.
Hội đồng có tham vọng làm dịu những lo ngại của các phần tử Cần Lao và những người liên quan đến chế độ Ngô Đình Diệm, như vị thủ tướng không ai khác hơn là phó tổng thống của Diệm, từng là trưởng phái đoàn chính phủ trong thương lượng không thành công với Phật giáo. Và, Hội đồng – hoặc vài người quan yếu nhất của Hội đồng – muốn có mộ chính phũ “chuyên viên kỹ thuật”, dù rằng thực chất chính phủ vẫn là sự phân bố chức tược theo một xu thế chính trị chớm nở: đáp ứng lời kêu gọi trung lập hóa Đông Dương của tướng De Gaulle đọc ở Nam Vang năm trước...
Luân đã nghĩ đến những xáo trộn một khi Diệm bị thay thế. Song, anh không lường trước hình thức thay thế lại quá thô bạo như vậy và cũng không lường trước mãi hôm nay, 10 ngày sau đảo chính, sự thể tiếp tục rối rắm đến mức nếu không có đảo chính lần thứ hai thì chưa thế nói Việt Nam sẽ như thế nào, ít nhất, về mặt chính trị.
Dĩ nhiên, Luân bực bội. Anh không làm được bất cứ điều gì. Dung phải thận trọng và cái chính là mỗi ngày, Dung cung cấp cho anh tin tức, mức mà anh và Dung đồng ý giới hạn hoạt động hiện nay. Chẳng gì khó mà không đoán ra bao nhiêu cặp mắt đang dòm dỏ Luân, chờ chực một động tác nhỏ vội vã của anh để nói tiếng chung cuộc về mạng sống của anh.
Ngô Đình Nhu chết, nhìn về phía nào, anh cũng tấy hối tiếc. Anh mất một đối thủ thâm độc nhưng trí tuệ, một đối thủ đúng với tầm vóc đối thủ. Nhu chết, với anh, cuộc chiến như là khoảng không. Những gì anh phải đương đầu xuất hiện ngay trước nấm mộ chưa ráo của Nhu. Từ nay, một lũ võ biền làm mưa làm gió và chúng thì chẳng cần suy nghĩ cho cực cái đầu; suy nghĩ chung đã có người Mỹ thay, chúng chỉ nghĩ mỗi việc thanh tóa mọi chướng ngạu trên con đường tranh giành làm ngựa kéo xe cho chủ Mỹ. Tất nhiên, một trong số các tướng lãnh đang cầm quyền và một số trong nội các đang chọn lối đi, song họ quá mù mờ về những khái niệm lãnh đạo quốc gia và chắc chắn họ không ăn đời ở kiếp với những chức tước mà họ tự phong trong bài tóan còn bỏ ngỏ của Mỹ... Nhu chết, Diệm chết, cơn khủng hoảng tuy không giảm song con đường sụp đổ hoàn toàn của Mỹ ở miền Nam lại có một cây cầu quá độ - Luân cảm giác cuộc cách mạng của nhân dân miền Nam sẽ phải lâu dài hơn anh tưởng trước đây.
Con chim con vỗ cánh rời thảm cỏ khi còi xe của Dung vọng từ cổng...
*
MƯỜI NGÀY ỒN ÀO TRONG LẶNG LẼ
Sài Gòn, giữa tháng 11
Hélen Fanfani (Financial Affairs)
Nhà văn Mỹ John Reed nổi tiếng vì những bài báo xâu chuỗi thành quyển sách lớn của ông: Mười ngày rung chuyển thế giới; ông viết về biến cố thế nào cũng phải được xếp vào hàng quan trọng nhất của loài người - cuộc nổi loạn đã đưa Đảng Cộng sản lên cầm quyền ở nước Nga cách chúng ta 46 năm. Tôi không phải và chẳng thể là John Reed ở bất cứ phương diện nào - học thuyết chính trị tầm cỡ - song tôi lại dùng tựa cho bài báo đầu tiên của tôi sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông bị sát hại man rợ, theo gợi hứng của nhà văn đáng bậc thầy của tôi về nghề nghiệp, đáng bậc cha ông của tôi về tuổi tác. Thật ra, sự liên tưởng của tôi cũng có một chỗ đúng: hai sự kiện xảy ra cùng tháng, xê dịch chỉ mỗi một tuần lễ thôi. Nhưng chỗ đứng ấy hoàn toàn để tôi câu bạn đọc Financial Affair trong khi điều chứa đựng bên trong của cả hai sự kiện chẳng một tí dính dấp với nhau, thậm chí, sự kiện chưa thể gọi được như một sự kiện. Một màn kịch thì đúng hơn, và một màn kịch vừa bi vừa hài.
Giờ này, những ai nôn nóng nhất đòi xóa ông Diệm hẳng đang chưng hửng. Cuộc đời hơn một lần dạy các phù thủy rằng các âm binh do mình nặn ra chưa phải luôn luôn ngoan ngoãn, nhất là khi lắm phù thủy và cũng lắm âm binh. Tôi vừa nói theo cách phương Đông. Và tiện thể cũng theo cách phương Đông, tôi nói leo qua chữ “số” - “số mệnh”. Gia đình họ Ngô thuộc “số” chết không toàn thây – vẫn theo cách đánh giá phương Đông. Anh cả của họ là Khôi bị Việt Minh xử tử. Chúng ta hiểu lẽ công bằng ở đây – Khôi, quan cai trị cao cấp của Pháp, ông ta bị Việt Minh giết, tính logic khó bác bỏ nổi. Ông Diệm, ông Nhu – và, như tôi linh cảm sẽ tới lượt ông Cẩn nữa - đều bị giết và đao phủ không phải là Việt Cộng. Về hình thức, các chiến hữu của ông Diện ra tay trừ khử ông với mức hằn học hơn cả mức Việt Cộng hằn học ông - suốt thời gian trị vì, ông Diện bị Việt Cộng cố một lần bắn hụt ở Buôn Mê Thuột, nếu chúng ta cứ cho tên Phúc nào đó là Việt Cộng; nhưng lại bị chiến hữu cho mình những ba cú đấm; hai cú là hai cuộc động binh hẳn hoi tuy thất bại, và cú thứ ba là cuộc mưu phản thành tựu. Bóc lớp vỏ bên ngoài, các vụ đều bí ẩn – bí ẩn theo nghĩa chúng ta chưa được phép công bố các tài liệu mật. Dẫu sao dự luận ở Nam Việt và toàn thế giới đều giải mã các bí ẩn ấy không một chút khó khăn: Công trình của CIA.
Tôi tin chắc rằng bài báo này sẽ được ông Colby đính chính ngắn gọn theo ngôn ngữ của cơ quan tình báo Mỹ: CIA long trọng bác bỏ ước đoán không cơ sở của bà Helen Fanfani. Đôi khi bác bỏ là thừa nhận. Và, cũng đôi khi không bác bỏ mà im lặng cũng là dấu hiệu của sự thừa nhận.
Bài báo của tôi đăng bốn tấm ảnh kèm. Ảnh 1 như tôi ghi chú, thi thể của anh em ông Diệm vừa lôi ra khỏi chiếc quan tài sắt M.113, máu còn đầm đìa, mặt mày bị đâm nát. Ảnh 2, chân dung tướng Dương Văn Minh, “người hùng” theo truyền thuyết, còn tự nét mặt của ông, ông gần với “bon papa” (1) hơn là một kẻ mưu mô. Ảnh 3, các tướng lãnh chủ trì cuộc họp báo – hai người thỏa mái, nhất là tướng Đôn và Đính mặc dù có giả định rằng họ chỉ là cái bóng. Ảnh cuối cùng tôi săn được ngay cạnh ông Bộ tổng tham mưu: Đại tá Nguyễn Thành Luân - lẽ ra, ông là Thiếu tướng nếu ông nhận và lệnh của Tổng thống Diệm công bố sớm – đang bị xích tay...
Bốn bức ảnh khái quát được tình hình mười ngày sống trong lặng lẽ.
Ồn ào, tất nhiên. Súng nổ thì không thể không ồn ào. Tuyên ngôn; tuyên cáo phải ầm ỹ thôi. Dân chúng hồ hởi - hồ hởi thật, khỏi cần mướn mỗi người một ổ bánh mỳ như những thuộc hạ ông Diệm thích làm khi cần vòi ân sủng của ông Diệm, bà Nhu – đâu đâu cũng hộp họp, nhất là các nhà chùa và trường học. Báo chí bán chạy, tờ nào cũng đăng ảnh. Các vụ mờ ám cũ được phanh phui – phanh phui nghiêm túc và phanh phui bịa đặt. Thế giới xôn xao. Phóng viên nước ngoài đến Sài Gòn thậm chí không xin trước thị thực nhập cảnh.
Nhưng lặng lẽ. Mười ngày chỉ là tuyên cáo, với thành phần Hội đồng quân nhân và chính phủ. Chẳng có chính sách gì rõ ràng, nhất là chính sách đối với cuộc chiến gia tăng – dân chúng Nam Việt thiết tha với hòa bình hơn cái sống và cái chết của ai đó, dù là nguyên thủ quốc gia. Lập trường của tướng Minh chẳng những chưa có mà nó chưa tượng hình, ngoại trừ các nhân vật quanh ông mà qua quá khứ của từng người mà dư luận đoán được phần nào cái có thể xảy ra mang đến hy vọng. Và khi sự bồng bột lắng xuống, nỗi băn khoăn trồi lên: cái gì sẽ tới? Thái độ lừng khừng phài đâu cứ được công nhận như là giải pháp.
Ông Diệm ông Nhu chết, một thời kỳ lịch sử qua. Nhưng ông Diệm, ông Nhu không chết. Thời kỳ lịch sử không chịu qua trong thực tại nếu không có sự thay thế tương xứng. Giới ngoại giao nước ngoài tại Sài Gòn bảo nhau: Lỗ hổng trong việc thủ tiêu xác ông Diệm, ông Nhu không bao giờ san lấp nổi. Việt Cộng không còn ai cứng đầu để khiến họ phiền lòng – dĩ nhiên, đại sứ Cabot Lodge cũng giữ niềm sảng khoái cá nhân. Ông phủi đi những con người dám cãi lại ông. Trước đây tôi thuộc về phía nghĩ rằng, đại sứ Cabot Lodge là ứng cử viên sáng giá chức Tổng thống Mỹ. Nhưng bây giờ tôi dám đánh cuộc ông Cabot Lodge sẽ thất cơ sau vụ đảo chính này mà chẳng bao lâu người ta sẽ kết án nó là hành động dại dột.
Cuộc họp báo do các tướng lãnh chủ trì khá hài hước. Tướng Đôn, tướng Đính trả lời khá thành thạo, chen lẫn tiếng Việt và tiếng Pháp. Một nhà báo hỏi ai là người quyết định thành công của cuộc đảo chính. Tướng Đính đưa ngón tay cái trỏ ngực mình và nói như quen mồm: C’est Moi! (2). Và một nhà báo khác hỏi thái độ của phe đảo chính đối với bà Nhu. Cũng tướng Đính trả lời: Nous sommes des chevaleresques (2), giữa tiếng cười vui nhộn của phiên họp báo chính trị và chính thức cao cấp nhất! Ở Phương Đông, tên một nhân vật bị đồng hóa với sự phản trắc là Lã Bố - bạn Mỹ nào muốn hiểu rõ nhân vật này, tôi mách cho bộ tiểu thuyết mang tên “Tam quốc diễn nghĩa”, chưa rõ đã dịch sang tiếng Anh chưa – và ở Sài Gòn người ta đồng hóa tướng Đính với Lã Bố. Sự cả tin của ông Diệm và ông Nhu đưa họ đến cái chết thảm khốc. Người tráo trở ấy ngồi ở cuộc họp báo và đưa ngón tay trỏ vào ngực mình không một chút ngượng. Mọi người đều biết tướng Đính giành công hết trong khi có lẽ ông là một công cụ hơn là một cái đầu biết suy nghĩ. Hoặc ông chỉ có thể suy nghĩ về những câu chuyện như thế này: cũng tại cuộc họp báo, ông đã nhận xét bà Nhu đã qua thời xuân sắc rồi.
Giới theo đạo Thiên Chúa – mà số đông hạng cầm đầu tôn giáo, chính trị lẫn kinh tài đều liên hệ với gia đình ông Diệm khá chặt, không khoanh tay. Có vẻ đại sứ Cabot Lodge cũng nghiêng về thiên hướng phải có một đối trọng ở Nam Việt, vừa giữ cho chính phủ hiện thời (hoặc sẽ ra đời) đừng mơ màng đến thuyết trung lập mà phải chống Cộng dữ dội hơn, vừa hạn chế uy thế của Phật giáo đang lên vùn vụt.
Đại tá Nguyễn Thành Luân bị xích tay như bạn đọc Financial Affair thấy trong ảnh đã được tháo xích không lâu sau đó – vì ông ngang nhiên mang vòng hoa đặt trước mộ hai ông Diệm và Nhu. Và, ông là Phó Tổng bí thư Trung ương đảng Cần Lao, ủy viên quân ủy trung ương, tổ chức của đảng Cần Lao trong quân đội. Lẽ ra người ta phải bắn chết ông ta cùng với người vệ sĩ; người vệ sĩ đã bắn chết một trung úy dám tát tai ông Luân. Nhưng một cú điện thoại đâu đó gọi đến, kẻ căm ghét đại tá Luân cực độ đã phải vội vàng mở khóa xích. Cái mà những người căm ghét ông cho đến ngày hôm nay chỉ có thể làm là giam lỏng ông.
Nước Mỹ đang dự tính một nước cờ. Có thể chính tướng Paul Harkins rồi cũng “về vườn”. Những triệu chứng báo trước: Không có gì tốt đẹp sau những phát súng đảo chính bởi cơn ồn ào đang trôi đi một cách lặng lẽ...
*
Luân và Thạch vào Bộ tổng tham mưu. Cả hai đi rất đàng hoàng, giữa hai hàng lính ghìm tiểu liên, mặt đầy sát khí.
Không có một tướng lãnh nào có mặt tại Bộ tổng tham mưu giờ đó, chắc họ tránh gặp Luân. Một trung tá không quân nhìn thấy Luân đã quát:
- Bắn bỏ mẹ nó đi! Đồ Cần Lao!
Hắn khoát tay, coi như số phận của Luân và Thạch đã định đoạt
- Tại sao bắn tôi? – Luân hỏi
- Tao đã bảo: Đồ Cần Lao!
- Tôi nhớ hình như trung tá cũng là Cần Lao. – Luân điềm tĩnh nói – Đơn xin gia nhập đảng của trung tá lúc trung tá còn là trung úy, do tôi ký nhận...
- Tao khác, mày khác!
Hắn xông tới, lột quân hàm của Luân, vứt xuống đất và lấy đế giầy chà lên...
- Tại sao trung tá không lột quân hàm của chính mình? – Luân hỏi, hơi cười khinh miệt.
- Tao à... Tao... - Hắn ấp úng.
- Ai định ném bom quân đảo chính? – Luân lại hỏi
- Không lắm mồm, lôi nó ra sân bắn ngay! - Hắn nổi khùng.
- Không được!
Tiếng lanh lảnh của Fanfani cùng ánh chớp của chiếc đèn máy ảnh.
- Ê! Con mụ kia... - Hắn chỉ mặt Fanfani
- Tôi là nhà báo Mỹ...
- Tao đếch cần biết mày là nhà báo nước nào...
Hắn tạt lại quầy, rót một cốc Whisky pha soda, nốc cạn. Số lính áp giải ngơ ngác, không biết phải làm gì.
- Đến tổng thống chúng ông còn bắn,... Nói cho chúng mày biết - Hắn liếm môi, đôi mắt một mí như cụp hẳn xuống.
Một ô tô đỗ ngay thềm Bộ tổng tham mưu. Saroyan tất tả ra khỏi xe.
- Thêm con mẹ nào nữa đây? - Hắn hỏi
Fanfani cười nhẹ:
- Thưa trung tá, bà Jones Stepp... Phu nhân thiếu tướng Jones Stepp...
- Tao không biết trung tướng, thiếu tướng nào ráo... Alê, bắn!...
Saroyan đến cạnh Luân
- Em hơi chậm một chút... Phải cảm ơn cú phone của Fanfani vừa rồi... Anh yên tâm.
Thật ra viên trung tá không dám bắn Luân. Chỉ với Fanfani hắn ta đã ớn, bây giờ thêm Saroyan nữa. Hắn ta nói cũng chỉ vì cốc whisky và mấy trăm sĩ quan và lính đang có mặt.
Một sĩ quan cấp úy hớt hải báo cáo với hắn:
- Thưa trung tá, có lệnh của trung tướng chủ tịch...
Hắn uể oải bước đến chỗ đặt điện thoại, người ngoài chỉ nghe rặt một kiểu nói của hắn:
- Tôi nghe rõ... Xin tuân lệnh... Tôi nghe rõ... Xin tuân lệnh... - Hắn trả lời bằng tiếng Việt rồi tiếng Anh.
Thật ra trung tướng chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng chỉ bảo hắn đừng làm rối còn đích thân Jones Stepp sẽ ra lệnh cho hắn phải trả tự do ngay lập tức và xin lỗi đại tá Luân.
Hắn lững thững quay ra:
- Mở còng cho nó! - Hắn bảo cộc lốc.
Một hạ sỹ tra khóa vào còng, tiếng “cạch” nhẹ nhàng.
- Còn thằng này! - Hắn trỏ Thạch – Lôi cổ nó đi...
- Không! – Luân quắc mắt - Mở cả còng cho thiếu úy Thạch...
- Mày ra lệnh cho tao à? - Hắn cũng quắc mắt
Saroyan không nói gì, đến chỗ máy nói. Hắn không đủ bình tĩnh nữa
- Khỏi! Bà thiếu tướng, tôi thả cả hai...
Thạch được mở còng
- Theo chỗ tôi biết, trung tá phải xin lỗi đại tá... Chừng nào tôi chưa nghe được tận tai lời xin lỗi của trung tá thì tôi chưa bỏ ý định nói với nhà tôi...
Hắn nhún vai rồi chìa tay cho Luân:
- Ta coi như không có việc gì xảy ra cả, đồng ý chứ?
Luân nhìn quân hàm của anh dưới đất, viên trung tá toan cúi nhặt nhưng chính Luân đã nhặt trước. Viên trung tá giằng quân hàm, lau sạch bằng chiếc mù soa của hắn và thận trọng đính lên ve áo của Luân. Bằng cả hai tay, viên trung tá vồ tay Luân:
- Đại tá đừng giận!
Hắn tiễn Luân ra xe và đứng nghiêm chào đúng điều lệnh...
Dung đến cạnh Luân. Cô vuốt nhẹ tóc chồng. Luân áp tay vợ vào má, vẫn ngồi yên. Một lát sau, Dung rời Luân xuống bếp
- Tình hình có thể khá hơn đối với anh... – Dung nói lúc hai vợ chồng dùng cơm
- Thế nào gọi là khá hơn?
- Sáng nay, trung tướng chủ tịch điện cho em, hỏi thăm sức khỏe của anh.
- Anh nằm trong diện “Ủy ban điều tra tội ác”, đang nghiên cứu hồ sơ... – Luân cười nhẹ.
- Hình như đang có một cuộc vận động từ phía người Mỹ cho anh
- Sẽ không ổn nếu Saroyan bộp chộp!
- Theo em, không phải Jones Stepp mà của đại sứ Mỹ hoặc tướng Harkins. Họ muốn anh có mặt trong cuộc họp bàn về chủ trương khái quát ở Việt Nam sau khi ông Diệm đổ.
Luân nhịp nhẹ đũa lên vành chén, lát sau anh nói:
- Lại một mưu toan. Cabot Lodge tự xem như đã xong nhiệm vụ, còn Harkins thì khác... Ông ta quan tâm tới các cuộc hành quân mang hiệu quả để chứng minh rằng ông bỏ Diệm là sai và ông phải cố gắng lắm để ấp chiến lược không thành bình địa trước sức tấn công của phía bên kia.
- Tướng Maxell Taylor sẽ thay Cabot Lodge. – Dung thông báo.
- Anh đã đoán khả năng này. Harkins thích cộng tác với một đại sứ xuất thân từ quân đội. Song tình thế chắc chắn không cho phép một đại tướng chuyên yểm trợ chuyển sang một tổng tư lệnh viễn chinh. Tuy nhiên...
- Nếu họ ngỏ ý, thái độ của anh sẽ như thế nào? – Dung hỏi
- Anh sẽ đặt điều kiện!
- Anh đặt điều kiện gì?
Luân trìu mến nhìn Dung
- Anh đòi hỏi họ phải công nhận giết ông Diệm, ông Nhu là sai lầm...
- Em hiểu rồi... và em tán thành!
- Chừng nào họ chưa công nhận điều đó, anh chịu bị giam lỏng như hiện nay, dù cho vô thời hạn...
- Anh không đơn độc trong quan điểm này... Em biết ngay tướng Phạm Xuân Chiểu cũng ngao ngán trước cái chết của anh em nhà Diệm
- Nhưng, tổng nha của em nên đề phòng. Đảng Đại Việt không bao giờ bỏ qua chỗ béo bở này...
- Em biết. Sở dĩ người ta thăng cấp cho em, một phần cũng để ngăn ngừa sự thâm nhập quá đáng của Đại Việt vào ngành cảnh sát. Tại sao bỗng nhiên em từ Bí thư của Tổng giám đốc được chuyển sang Nha công vụ... Ở đó, em là phó giám đốc giải quyết các việc thu nhận, thăng cấp sĩ quan cảnh sát.
Cơm nước xong, hai vợ chồng nghỉ trưa. Luân bỗng như khám phá cái gì đó ở Dung mà trước kia anh còn mơ hồ; một cán bộ tình báo cao tay...
- Tại sao anh ngó em dữ vậy? – Dung nũng nịu
Luân kéo Dung sát vào anh, đằm thắm hôn lên đôi má mịn, hơi ửng hồng...
---
(1) Ông bố tốt bụng
(2) Chính tôi!
(3) Chúng tôi là những kẻ mã thượng!



Phần 9 - Chương 2


Chiếc máy điều hòa buông tiếng êm như ru, gian phòng mát lạnh, John Hing lật từng trang giấy đánh máy thưa hàng, chi chít con số, ông ta dừng lâu hơn trang chót, nơi kết toán các con số và con số cuối cùng nằm trên hai vạch mực đỏ thật đậm. John Hing xếp xấp giấy lại, âu yếm đặt lên bàn, ngả lưng vào ghế... Chừng một phút trôi qua, John Hing đột nhiên chộp xấp giấy, lật lại từng trang, chăm chú dò số ngang, số dọc. Chốc chốc ông ta đối chiếu với trang kết toán. Rồi, ông ta kéo chiếc máy tính điện tử đặt trước mặt, lanh lẹn bấm các nút. Từng hàng số xanh vụt hiện, vụt tắt. Sau cùng, như tìm ra cái muốn tìm, John Hing dùng bút chì đánh liên tục mấy dấu hỏi... Xong, John Hing liền quay điện thoại:
- Hello, John đây! – Ông ta nói tiếng Anh - Tất nhiên là có việc mới quấy rầy anh. William này, bản chiết tính số XK.143 nhiều chỗ không ổn, không khớp với kết toán cuối cùng... Anh đang đọc nó à, tốt... trang 6, đoạn IX, mục d... thấy chưa? Làm một bài toán nhỏ, thậm chí tính nhẩm cũng được, thế nào?... Đúng, chệch đến 170.000 dollar mà lợi không thuộc về chúng ta... Chưa hết, vẫn trang 6 đoạn gần chót, đoạn XII, mục f... tại sao một khẩu Garant chỉ có 12 dollar? Phải,... 12 dollar 82 cent; 82 cent anh nhớ chứ, nhân cho bao nhiêu? Mất đứt hơn 100.000 dollar. Kỳ quặc à? Chưa hết, trang 9, ngay mục đầu... Phải, nói về đạn... Anh đùa hả? Không phải đạn đại bác mới đáng quan tâm... Tôi hiểu, tôi hiểu! Một viên đạn đại bác cỡ 155 ly giá bằng 400 đạn tiểu liên AR15, song tối đa, mỗi ngày người ta sử dụng bao nhiêu đạn đại bác... Tôi hiểu, cả sơn pháo, cả súng không giật, cả pháo tự hành, cả pháp 105 ly... Tôi phải tin là tôi có lý mới gọi anh chứ! Mỗi ngày một triệu viên đạn tiểu liên, trung liên, đại liện, súng trường... Lãi 1/3 cent một viên thôi, anh tính đi... Anh choáng váng rồi ư? Một ngày thôi nhé – 24 giờ. Cái gì? Đạn súng ngắn ư? Tôi biếu không, loại nào cũng biếu không, tất nhiên cả Colt 45 và Vesson... Người ta không thể thu hút các cô gái bằng hàng thùng đạn, súng ngắn, còn với tù binh Việt Cộng, vài viên cho mỗi khẩu là quá thừa... Anh đang rà soát đấy à? Ôi, ông bạn William thân mến, sao mà chúng ta tri kỷ đến thế! Đúng, hẫng 2.632519 dollar lẻ 4 cent... Chỉ trong một bản XK43 thôi... Chúng ta có ít nhất hàng trăm bản chào giá... Tôi sẽ làm việc với James, thằng đó đểu kinh khủng...
John Hing bỗng cười sặc sụa:
- Sao anh bảo hắn đểu chỉ bằng một móng tay tôi... Này, đừng tâng bốc nhau, ngượng chết. OK! Hoặc anh gọi tôi hoặc tôi gọi anh.
John Hing gác máy, nhìn đồng hồ trên tường, rồi bậc công tắc Interphone:
- Khách đến chưa? – John Hing hỏi bằng tiếng Quảng.
- Thưa, ông Ly đang đợi... - Tiếng trả lời của một nữ thư ký.
- Mời ông ấy vào phòng khách
Đặt tất cả giấy tờ vào cặp, bỏ cặp vào tủ sách và khóa theo mã số, John Hing rời phòng làm việc sang phòng khách.
Ly Kai khúm núm chào John Hing. John Hing chìa tay hờ hững, chỉ ghế cho Ly Kai ngồi, Ly Kai thoáng rùng mình.
- Tôi tắt máy điều hòa nhé? – John Hing mỉm cười nói tiếng Tiều.
- Khỏi, để máy mát hơn... – Ly Kai ấp úng.
- Ta uống một ly con... Henessy, Martin hay Whisky?
- Tùy ông chủ!
John Hing đến bên tủ rượu, rót hai ly Remy Martin, cùng uống cạn với Ly Kai.
- Ông luôn luôn làm hỏng việc... – John Hing bắt đầu nhìn Ly Kai với đôi mắt sắc như dao, nói bằng tiếng Bắc Kinh.
Ly Kai gãi đầu:
- Xin ông chủ hiểu cho... Con mụ nhà báo Mỹ rồi sau đó con mụ Saroyan. Cả Big Minh và Jones Stepp cũng can thiệp... ..
- Tôi biết tất cả, đó là việc sau. Tôi hỏi ông tại sao tên Tường của ông lại không ra lệnh cho đội cảnh vệ quạt luôn mấy băng vào hai thằng đó mà còn huênh hoang đấm sặc mũi Nguyễn Thành Luân để lãnh mấy viên đạn ngã chết như con chó? Ai cho phép nó đánh? Chỉ cho phép nó bắn. Việc chính không làm... Hừ! Mất toi 10.000 đôla... Vợ nó hưởng số tiền đó nếu ông không ăn chặn... Nhưng lẽ ra nó được 100.000 kìa! Và cũng chỉ nằm quân lao một tháng là cùng... Tôi bắt đầu hoài nghi khả năng của ông, ông Ly Kai.
- Thưa ông chủ... Tôi sơ xuất không bảo kỹ tên Tường. Đúng như ông chủ nói, nếu ngay lúc đầu... Mụ nhà báo Mỹ không làm gì được... - Ly Kai nhún nhường, nói mà không dám nhìn John Hing.
- Thôi được! – John Hing chợt đăm chiêu khiến Ly Kai hú hồn. - Có lẽ tôi quở ông hơi oan. Chưa chắc Tường ra lệnh bắn mà số cảnh vệ đã bắn... Tôi nghi con mụ Fanfani đã bố trí trước hoặc chính Jones Stepp đã bố trí... Tất nhiên, Tường có thể bắn với khẩu súng ngắn của hắn ta, song trường hợp đó, Tường sẽ ngã quỵ trước khi bấm cò... Không cần Luân mà tay bảo vệ của nó chắn chắn nhanh tay hơn tên Tường lấc cấc của ông... Chuyện bây giờ là khử thằng Luân tại ổ, nó đang bị giam lỏng.
Ly Kai không nói không rằng. Gã biết thế nào John Hing cũng yêu cầu gã. Nhưng, đây là điều khó, nếu không phải là vô phương. Nhà Luân canh gác cẩn mật, làm sao lọt qua nổi bọn quân cảnh. Không phải lần đầu Ly Kai lãnh sứ mạng giết Nguyễn Thành Luân song chẳng rõ vì số của hắn xui hay số của Luân hên mà Ly Kai luôn thất bại. Ngay lần dễ ăn nhất là phục kích trên đường Thống Nhất, nhân lúc hỗn quan hỗn quân, bắn một phát M.72 vào xe, Luân chỉ còn mấy mẩu xương vụn. Thế mà...
- Khó lắm!... Tôi hiểu... – John Hing động viên – Song càng khó thì càng cần ông. Ví dụ... nay mai Luân được tự do, nắm quyền trong tay, ông làm sao hạ được nó? Nó hạ ông thì dễ. Bây giờ các thằng cha tướng lĩnh bận nói tào lao, không ai bận gì đến viên đại tá thuộc gia đình Diệm.
- Thưa ông chủ, Ủy ban điều tra tội ác chế độ nhà Ngô có tên Luân trong danh sách, tên hàng đầu nữa, sau Ngô Đình Cẩn thôi, trước cả Trần Trung Dung và bác sĩ Tuyến... Hay là ông chủ cho tôi dúi cái Ủy ban đó để kết tội Luân thật nặng...
John Hing bật cười, ông ta nói tiếng Quảng:
- Xếnh xáng ngây thơ thật... Ủy ban! Tỉu na má mấy cái ủy ban... Điều tra Nguyễn Thành Luân rồi ai điều tra thành viên Ủy ban? Liệu Ủy ban dám điều tra ông Nguyễn Ngọc Thơ; tướng Tôn Thất Đính, tướng Trần Thiện Khiêm, Đỗ Cao Trí không? Đều thuộc hạ nhà Ngô hết cả! Và luôn ông, ông là mật vụ của Ngô Đình Nhu...
John Hing đứng lên, ra hiệu Ly Kai ngồi đó, ông sang phòng làm việc. Một phút sau, John Hing trở lại, cầm một xấp đô la không gói ghém gì cả.
- Vụ vừa rồi tuy thất bại, – John Hing nói trong lúc Ly Kai hau háu nhìn xấp giấy bạc màu xanh ước tính chừng bao nhiêu – Nhưng ông cũng cực. Tôi biếu ông năm ngàn.
Ly Kai nhận tiền, bỏ nhanh vào túi nhưng mắt vẫn không rời tay John Hing vì còn mấy xấp đô la nữa...
- Còn đây, năm ngàn...
Ly Kai vồ liền.
- Năm ngàn này tôi biếu thêm gia đình Tường. Ông trao giùm. Tôi sẽ kiểm tra, nếu ông không đưa đủ thì liệu hồn.
Ly Kai tiu nghỉu, bỏ tiền vào túi. Nhưng John Hing vẫn còn cầm một xấp bạc có vẻ dày gấp đôi hai tập vừa rồi...
- Còn đây, mười ngàn... Tùy ông sử dụng trong công việc mới mà tôi giao. Không phải phần của ông, phần của ông tôi sẽ đưa sau, kể cả ông ký gửi ở ngân hàng Hồng Kông vì nó lớn. Một trăm ngàn... ông nghe rõ chưa... Mười ngàn này để ông chi cho em út hay ai đó... Tôi không cần biết và cũng không kiểm tra... Tôi kiểm tra cái thây của thằng Luân...
- Thưa ông chủ, tôi sẽ cố sức. Song khó...
- Ông biết người ta tốn bao nhiêu tiền để bắn ông Diệm, ông Nhu không? Một ngàn đô la!
- Thưa, đó là trường hợp khác. Chưa chắc người bắn đã nhận đô la...
- Ông thông minh đấy... Nhưng người ra lệnh bắn chỉ nhận một ngàn đô la thôi...
- Ai vậy?
John Hing trừng mắt:
- Ông không được tò mò! Tôi chỉ muốn nhắc ông về chỗ sai biệt quá lớn của số tiền... Và mạng của anh em tổng thống với mạng của một gã đại tá thất thế, gần như đang ở tù...
Ly Kai có lẽ đã có thể cãi lại nhưng John Hing đã đứng dậy – coi như mọi việc chỉ có thể chấp hành mà thôi.
*
Ly Kai là một người tháo vát, rất tháo vát. Song công việc mà John Hing – Dương Tái Hưng – giao cho y bắt buộc y phải chửi thề thầm giống như Dương Tái Hưng - Tỉu na má!
Ngôi biệt thự nhỏ của Luân chẳng xa lạ gì với Ly Kai. Giữa bốn bức tường có gắn lưới B.40, mỗi góc đặt một đèn chiếu sáng cực mạnh, biệt thự như giấu mình trước mọi biến thiên – bên trong là khoảnh vườn vài trăm thước vuông, tất cả chẳng nhằm nhò gì với thủ hạ của Ly Kai - kể cả lưới B.40 có điện chúng vẫn vượt qua không mấy khó khăn. Song, bọn quân cảnh chó chết chẳng bao giờ rời vọng gác, nửa giờ một lần đi tuần tra. Không cần tuần tra chúng cũng có thể kiểm tra ngay con chuột vượt tường – đèn sáng hơn cả mặt trời. Bên trong, còn Thạch, một tay súng không tồi, còn Thùy Dung – cô ả này có thể bắn đồng tiền giữa không trung – và Luân: Ly Kai biết Luân bắn nhanh và chính xác như đoàn cao bồi Texas, cần để thẹo ở đâu anh ta chưa bao giờ sai lời hứa. Chính Ly Kai chứng kiến Luân bắn tung mũ một sĩ quan, bắn vỡ cả lỗ chai bia... và bắn thủng quần một sĩ quan Mỹ trong cuộc đấu súng vui nhộn.
Nhưng, mười ngàn đô la ứng trước – hơn gã nào đó ra lệnh sát hại anh em Diệm Nhu gấp mười lần và nếu thành công, trương mục của y ở ngân hàng Hồng Kông thêm con số khó tưởng tượng! Giá của thằng đại tá này mắc thiệt. Làm sao? Nghề bịp bợm cơ bạc gỡ cho Ly Kai nhiều phen ngỡ như đi đứt, nhưng vụ này mẹo cờ bạc có vẻ không trót lọt. Vô tình, Ly Kai lật quyển sổ tay... Những năm trước, gã thường tặng quà cho Luân... Đây rồi, ngày sinh của Thùy Dung - gần đây hơn, so với ngày sinh của Luân. Hay là... Ly Kai chợt bừng tỉnh. Tại sao ta không đi đường vòng? Kết thúc chẳng có gì khác, trừ phi Luân không dự sinh nhật của vợ...
Kế hoạch hành động hiện ra trong đầu Ly Kai với các chi tiết hợp lý mà gã nghĩ rằng không còn có thể nào hợp lý hơn. Rồi, Dương Tái Hưng sẽ nghiêng mình bái phục gã. Chớ có coi thường tay chủ thầu các sòng bạc ở Đại thế giới! Và Ly Kai chợt nhớ câu nói đó bằng tiếng Quảng của Nguyễn Thành Luân cách nay năm, sáu năm... tại Nhà hát lớn, ngoài hành lang Đại hội văn hóa: “Một trò cờ bạc nhỏ trong một canh bạc lớn” – cái gì cũng là cờ bạc tuốt, gã thu nhận câu nói của Luân dưới góc độ đó.
*
Dung không hé môi cho bất kỳ ai về sinh nhật của cô, trừ bác sĩ Soạn và cô của Dung. Dĩ nhiên, chị Sáu, Thạch thì biết. Không hiểu sao Luân lại chăm sóc ngày sinh của Dung khác hơn mọi năm. Hàng năm Luân vẫn tổ chức nhưng rất gia đình – các người thân của anh cùng Dung khui sâm banh, thế thôi. Năm nay Luân bảo chị Sáu mua một bó hoa thật to và chuẩn bị bữa ăn khá rôm rả: gà, vịt, cừu nướng, rượu vang và sâm banh. Anh dặn chia phần cho toán quân cảnh đàng hoàng. Nhưng chắc chắn không có khách ngoài vì không ai được quyền vào nhà Luân.
Trước khi tan sở - Dung xin phép về sớm – nhân viên Tổng nha mang đến cho Dung một thùng champagne Cordon Rouge nổi tiếng. Tấm danh thiếp đính kèm: “Một số chiến hữu ái mộ đại tá Nguyễn Thành Luân chia vui với bà đại tá nhân ngày sinh lần thứ 34 của bà.”. Rất bình thường, có thể là Nguyễn Thành Động, có thể là Lê Khánh Nghĩa, có thể là Trương Tấn Phụng, cũng có thể là tướng Lâm. Hoàn cảnh của Luân chưa cho phép thân hữu xưng họ tên thật. Dung vui vẻ nhận món quà tình nghĩa.
Khi xe về đến cổng, cô khoe liền với Luân két sâm banh hảo hạng đó.
Luân yên lặng, tại sao có người biết sinh nhật của Dung? Và tại sao gửi qua Tổng nha cảnh sát? Thái độ của chồng khiến Dung băng khoăn. Cái gì đây? Luân bảo Thạch bê két sâm banh vào nhà. Anh xem xét từng chai, đúng là sâm banh cordon rouge thật, nút còn nguyên vẹn. Anh đưa lên ánh sáng – sâm banh màu ngà như màu loại sâm banh lừng lẫy này mà anh từng nếm qua.
- Có gì khả nghi không anh?
- Để xem, có thể không có gì, có thể có...
Luân khui một chai, tiêng nổ dòn. Anh khui chai thứ hai, cũng tiếng nổ dòn. Anh ngửi lâu hơi bốc lên từ hai chai. Bình thường. Luân định thôi khui – rõ ràng chúng cũng giống như mọi chai sâm banh khác. Nhưng, anh vẫn ngần ngại. Anh lấy chai thứ ba, không theo trật tự, lấy ở giữa thùng. Chai sâm banh được khui không nổ. “Ga” tản từ trước. Cũng có thể hãng sản xuất phạm lỗi kỹ thuật. Nhưng tại sao mùi của nó khác mùi của chai sâm banh trước? Luân quyết định khui cả két. Có hai chai loại đó. Anh bảo Dung giữ cả hai chai, sáng mai vào Tổng nha nhờ bộ phận hóa nghiệm phân chất.
Lễ sinh nhật của Thùy Dung vẫn tiến hành ấm cúng. Điện thoại của tướng Phạm Xuân Chiểu chúc mừng. Điện thoại của Fanfani và một khách đến – Sorayan.
Sorayan hôn Dung, hôn Luân và hôn bé Lý.
- Jones sắp gặp anh. – Saroyan bảo Luân, phấn khởi. Nhưng cô cụt hứng vì thấy Luân lầm lỳ.
- Tại sao? – Saroyan hỏi lo lắng.
- Saroyan biết tôi căm ghét tội ác...
- Em biết,... và em nói thật với anh, Jones không dính vào việc giết anh em ông Diệm. Jones chống lại vì Jones thuộc cánh quân báo, người của Ngũ Giác Đài và ở đây, người của tướng Harkins.
- Tuy nhiên, tác phẩm này của người Mỹ!
- Em không cãi... Đúng, phải là của người Mỹ... Song, anh nghĩ thế nào nếu anh từ chối gặp Jones? Anh chịu cảnh giam lỏng như thế này mãi sao? Và, không chỉ giam lỏng. Anh từ chối gặp Jones nghĩa là từ chối mọi che chở và em tin là cả nhà sẽ bị tai họa kinh khủng...
Luân vẫn mím môi, Saroyan sà sát Luân mặc kệ sự có mặt của Dung và bé Lý.
- Anh! Anh nghe lời em đi! – Saroyan lay cả người Luân
Luân trìu mến nắm tay Saroyan đôi mắt hết sức buồn rầu.
- Anh cám ơn em... Anh có cách hàng động, không để người thân phải đau buồn đâu.
- Anh đã bằng lòng gặp Jones? – Saroyan mừng rỡ.
- Jones bảo em thông báo với anh?
- Không trực tiếp như vậy nhưng mang ý nghĩa như vậy. Tối hôm qua Jones nhắc em ngày sinh nhật của Dung và dặn em đừng quên đến mừng, thay mặt cho cả ông ta... Ông ta đang bận công việc khẩn, sẽ tiếp anh trong vài ngày tới... Nói bấy nhiêu thôi.
- Em có thể cho Jones biết thái độ của anh: anh thấy chưa phải lúc. Anh muốn Jones làm sáng tỏ cái chết của anh em ông Diệm...
- Nhưng, vào lúc này... công khai giữ lòng trung thành với ông Diệm, e...
- Không sao! vào lúc này anh thấy trung thành với chủ thuyết do ông Nhu và anh thảo ra... Về tình cảm, anh không chấp nhận lối thanh toán cá nhân tàn ác như vậy, về chính trị, anh không thể tự cho phép làm trái lại.
- Em tin là anh đã dự định các hành động... Em sẽ nói lại với Jones.
- Được... Em không cần giấu diếm Jones điều gì cả. Em thuật lại đúng y những lời anh đã nói tại đây...
Saroyan nhoẻn miệng cười.
– Em sẽ làm vừa lòng anh!
Khi hai người phụ nữ ngồi kề nhau to nhỏ - thế nào Dung cũng kể về két sâm banh – Luân vào phòng làm việc. Anh mở radio tìm làn sóng Đài giải phóng. Phần tin tức khá phong phú: khí thế phá ấp chiến lược dân cao lan rộng từ nam vĩ tuyến 17 trở vào, đồn bót bị hạ liên tục, đánh lớn ở Vĩnh Bình, đồn Ba Chúc bị vây hãm, quận lỵ Bến Tranh ở Định Tường bị tấn công... Bình luận viên của Đài giải phóng nhấn mạnh việc khai thác thời cơ, đánh rã quốc sách ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng... “Tình thế Mỹ nguỵ đang rối loạn, phe phái giành nhau địa vị, trả thù trả oán... Phong trào thành thị có khả năng chuyển biến tích cực - những người theo đạo Phật lần hồi thấy được Mỹ lợi dụng vấn đề tôn giáo để thay ngựa giữa dòng, học sinh sinh viên cũng bắt đầu hiểu ra không thể làm bình phong cho các âm mưu cướp nước và bán nước... Kẻ thù chính của nhân dân ta là đế quốc Mỹ và bọn tay sai hiện nay can tâm rước voi về dày mả tổ. Đồng bào các giới đừng để Mỹ và bọn tay sai cực đoan dùng cái chết của anh em Diệm Nhu mà mê hoặc. Đó là chuyện nội bộ của chúng. Nếu phải suy nghĩ thì các tướng tá và chính khách phải suy nghĩ. Khi cần bảo vệ lợi ích của kẻ cướp, Mỹ sẵn sàng sát hại ngay thủ hạ thân tín nhất... ”. Bài bình luận kết thúc như vậy.
*
Phiên họp đầu của Hội đồng chính phủ tẻ nhạt. Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ vốn quen cương vị của một công chức thừa hành, không sao điều khiển nổi một phiên họp, nhất là phiên họp bốn viên tướng: Tổng trưởng quốc phòng, tổng trưởng an ninh, tổng trưởng thông tin và đô trưởng Sài Gòn. Trong bốn tướng, trừ Trần Tử Oai mới nổi lên, còn ba là những kẻ trực tiếp âm mưu và nhúng tay vào cuộc đảo chánh - đặc biệt, tướng Xuân, cặp mắt “có cô hồn” như Nguyễn Ngọc Thơ nghĩ trong đầu. Thế là mạnh ai nấy nói. Tướng Đính giành cả giờ khoe khoang “mưu kế” lừa gạt Nhu qua kế hoạch Bravo, tướng Đôn rung đùi thỏa mãn, tướng Xuân im lặng quan sát. Các thành viên khác có vẻ chưa yên tâm lắm. Hầu hết họ là kỹ thuật gia và phiên họp đầu chưa phải đi vào những vấn đề xử lý cụ thể. Bộ trưởng Lưu Văn Tính thông báo tình hình tài chính: khá ngặt nghèo, quỹ cạn. Lối ra không có gì mới: đích thân Nguyễn Ngọc Thơ sẽ gặp đại sứ Mỹ, Nguyễn Thành Cung chịu trách nhiệm thảo thông báo phiên họp. Bản thông báo gồm mấy dòng: Phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời do Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ điều khiển, đã nghe trung tướng Tổng trưởng quốc phòng Trần Văn Đôn thông báo tình hình chiến sự chung các vùng chiến thuật; Trung tướng tổng trưởng an ninh Tôn Thất Đính thông báo tình hình nội địa. Phiên họp cũng nghe Tổng trưởng ngoại giao Phạm Đăng Lâm thông báo về quan hệ Quốc ngoại của Việt Nam Cộng hòa và Bộ trưởng Lưu Văn Tính thông báo về tình hình ngân sách quốc gia. Chính phủ đã đề ra một số biện pháp cấp bách.
Báo chí và đài phát thanh công bố trước sự dửng dưng của dân chúng...


Phần 9 - Chương 3


Dung ngồi vào bàn làm việc. Trước mặt cô một chồng hồ sơ cần xem xét, liên quan đến các kiến nghị bổ nhậm nhân viên cảnh sát và công an từ cấp quận trở lên. Sau đảo chính, theo như những người dưới quyền Dung cho biết, hồ sơ tăng đột ngột - gấp hai, ba mươi lần do sự xáo trộn cả hệ thống cảnh sát; số bị sa thải quá đông. Nếu không có sự khuyến cáo của Đại sứ quán Mỹ và phái đoàn cố vấn cảnh sát Mỹ, con số còn lớn hơn nhiều. Người Mỹ bảo: trừ ai bị dân chúng căm ghét đến mức mà nếu có mặt sẽ gây phẫn nộ, thậm chí biểu tình chống đối và sẽ bị Việt Cộng lợi dụng, những người đơn thuần thừa hành lệnh của cấp trên thì nên thận trọng, tốt nhất cứ giữ lại vì họ giàu kinh nghiệm, riêng số nhân viên không thuyên chuyển để cho công việc giữ được liên tục.
Phòng làm việc của Dung tách khỏi phòng Tổng Giám đốc, đặt trong ngôi nhà hai tầng quét vôi vàng nhạt nằm giữa chu vi rộng lớn của Tổng nha. Giám đốc Nha, một đại tá lớn tuổi, nguyên chủ sự của ngành cảnh sát thời Pháp, ít nói và đúng là một công chức mẫn cán. Nhưng, trọn tuần nay ông đang phải vào bệnh viện Grall, nghe đâu sẽ phải chịu một ca mổ thận. Tất cả giấy tờ đè lên đầu Dung, phó giám đốc.
Bên ngoài, vào buổi sáng thường lặng gió. Tán cây điệp che rợp nửa bên ngôi nhà và Dung, vào mùa điệp rộ, có thể qua cửa sổ với tay lấy một cành hoa cắm vào bình đặt trên bàn. Nhưng tháng này đã hết mùa điệp. Cô thiếu úy làm nhiệm vụ thư ký – cô làm việc ở tầng dưới - mỗi sáng đều cắm hoa cho Dung. Hoa hồng, hoa huệ... trong vườn ngay thềm Nha công vụ.
Dung vuốt nhẹ mấy cành hoa. Chồng hồ sơ vẫn chưa mở ra. Cô không thích công việc này dù nó giúp cô nắm khá kỹ các nhân viên cảnh sát công an từ tương đối quan trọng đến quan trọng khắp Nam Việt. Dung nghĩ cách khai thác khả năng Nha công vụ có lợi nhất. Chỉ nắm danh sách và phân loại nhân viên cảnh sát công an – cô vừa làm khi nhận nhiệm vụ mới – thì quả là phí.
Miên man với suy tính kế hoạch sắp tới, Dung chợt xuýt xoa, một gai hồng đâm vào tay cô. Thế đấy! Dung cười mỉm, ngay chơi hoa cũng có thể đổ máu...
Chuông điện thoại reo, Dung nhấc máy.
- Trình thiếu tá, ngoài cổng có một xe thuộc Bộ tư lệnh biệt khu thủ đô do một đại úy cảnh sát hướng dẫn, đưa một đại tá làm việc với Nha...
Cô thư ký báo cáo.
- Tôi không hẹn!... – Dung trả lời
- Thưa thiếu tá, hôm qua họ xin gặp đại tá giám đốc. Em trả lời: Đại tá đi vắng, họ bảo gặp thiếu tá. Em đã ghi vào giấy đính trong hồ sơ...
Dung chưa mở cặp hồ sơ.
- Thôi được. Nhưng đại tá tên gì?
- Xin thiếu tá chờ em một phút, em hỏi đội cảnh vệ.
“Đại tá ở biệt khu thủ đô gặp mình làm gì?” – Dung nghĩ
- Alô, trình thiếu tá. Đại tá bảo chỉ xưng tên khi gặp thiếu tá.
Dung cau mày. Chuyện chi? Có dính đến trung tướng Mai Hữu Xuân, đô trưởng không? Giấu tên để làm gì?
- Trình thiếu tá, Nha cảnh sát Đô thành giới thiệu đại tá sang... Xin cho biết thiếu tá sẽ tiếp ở đâu...?
- Mời vào phòng khách...
- Vâng!
Dung toan gác máy, cô thư ký nói thêm:
- Thưa, người của Nha cảnh sát có được vào không ạ?
- Ông ta là ai?
- Xin thiếu tá chờ một phút nữa...
Dung ngó ra ngoài. Tàn cây điệp xanh rờn và cô xem đồng hồ: giờ này anh ấy đang đọc báo, còn bé Lý vào mẫu giáo, hẳn đang bi bô với bạn. Dung gửi Lý vào một trường mẫu giáo đường Phan Đình Phùng, do các bà sơ dạy, dành cho con cái những hạng giàu và viên chức, sĩ quan cao cấp. Luân băn khoăn và Dung cũng băn khoăn nhưng phải đợi Lý lớn một chút nữa mới đưa đến trường khác, vả lại, bây giờ như vậy cũng có lợi – Luân là tín đồ đạo Thiên Chúa, bằng một chi tiết nhỏ sẽ giảm bớt bao nhiêu nghi kỵ.
- Alô! Trình thiếu tá, người của Nha cảnh sát Đô thành là đại úy Lê Ngân...
Dung kịp nuốt tiếng reo:
- Mời đại úy vào cùng với đại tá... Và, tôi sẽ tiếp khách ngay phòng làm việc của tôi...!
- Vâng!
Chiếc Peugeout màu xám tro đỗ trước cửa sân. Dung nhìn rõ Quyến và một người - gầy gầy, râu mép, đeo kính đen và ngậm pipe. Chưa biết là ai, tuy dáng đi hình như rất quen...
Cô thiếu úy hướng dẫn khách. Dung nghe bước chân của họ. Ối chà, gặp Lê Ngân, hay lắm... Chắc chưa tiện nói điều gì nhưng có thể hẹn. Cậu ta đi học ở Philippines về từ bao giờ? Đã thăng cấp đại úy rồi...
Tiếng gõ cửa, Dung nói vọng ra:
- Mời vào!
Lê Ngân, đẫy đà hẳn, chập gót chân chào:
- Tôi, đại úy Lê Ngân ở Nha cảnh sát Đô thành có mặt...
Dung chào đáp lễ, mắt của cô và mắt của Lê Ngân hơi nhấp nháy
- Xin giới thiệu, – Lê Ngân quay sang viên đại tá – Đây là thiếu tá Hoàng Thị Thùy Dung, phó giám đốc Nha công vụ thuộc Tổng Nha cảnh sát quốc gia... – Viên đại tá khẽ gật đầu.
- Còn đây, đại tá ở Bộ tư lệnh biệt khu!
Dung chập gót chân chào cấp trên. Viên đại tá khẽ cười, chìa tay. Dung bắt tay đại tá và bỗng muốn lảo đảo. Đại tá siết tay cô hơi mạnh như nhắc cô phải làm chủ tình cảm. Thật ra, Dung cảm thấy tay đại tá cũng hơi rung.
- Mời đại tá và đại úy ngồi!
- Em mang cái gì uống... – Dung bảo cô thiếu úy, cố gắng hết mức giữ giọng bình thản.
Cô thiếu úy mang trà và cả bia hộp
- Tôi bàn một số công việc riêng với thiếu tá... Đại úy có thể ra ngoài một lúc - Đại tá bảo Quyến.
Quyến uống xong lon bia đứng lên. Cô thiếu úy cứ liếc cậu tá liên hồi.
- Thiếu úy đưa tôi ra ngoài... Nếu có cà phê thì rất hoan nghênh
Quyến dịu dàng ngó cô thiếu úy, một cô gái khá xinh, mắt tròn và đen nhánh, môi trái tim. Cô gái bỗng lúng túng...
-Mời, mời... có, có... – cô lắp bắp
Dung nói đùa:
- Đại úy trẻ quá, nếu chưa lập gia đình hoặc chưa có người yêu, tôi giới thiệu cô Hằng cho!
Cô thiếu úy mặt đỏ bừng, chạy ra khỏi phòng.
Quyến chào Dung và đại tá, lững thững bước theo. Hành lang vắng ngắt, cô thiếu úy biến mất. Anh đang ngơ ngác thì Hằng - thiếu úy Dương Thị Bích Hằng - từ tầng dưới mang cà phê lên. Cô còn phải tạt vào phòng làm việc soi gương, sửa lại mái tóc và tất nhiên, tô lại một tí son...
- Chúng ta ngồi đây... Được không? - Quyến chỉ vào góc hành lang, có đặt hai chiếc ghế tựa và chiếc bàn con, ngay giữa cầu thang, chỗ phân chia phòng giám đốc và phó giám đốc Nha; phòng giám đốc cửa đóng kín.
Hằng bày phin cà phê, phích nước, hộp đường. Hai người ngồi và Quyến bắt đầu gợi chuyện
... Dung khóa trái cửa và toan lao vào lòng đại tá. Đại tá đưa tay ra hiệu và Dung hiểu. Cô lắc đầu: không có máy nghe lén. Đại tá ngó qua cửa sổ. Tàn điệp che kín, người bên dưới hoặc các ngôi nhà chung quanh không tài nào nhìn thấy - khả năng quan sát hoặc chụp hình trộm đều không thể có.
Bấy giờ đại tá mới mở vòng tay. Dung sà vào lòng đại tá, nước mắt ròng ròng:
- Chú! Trời ơi, chú... con không ngờ...
Đại tá gỡ kính đen, mắt ông cũng ươn ướt. Ông ngồi yên một lúc, xoa nhẹ tóc Dung. Thế là trọn 9 năm, ông - đại tá Hoàng Đình Thuận, Cục trưởng Cục phản gián thuộc Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - mới gặp lại đứa cháu ruột và cũng là đứa học trò do ông dìu dắt vào ngành an ninh từ khi Dung còn là học sinh trung học.
Một phút, hai phút...
- Thôi, con nhé! Con đi lau mặt... Chúng ta không có nhiều thì giờ lắm
Ông Thuận âu yếm khẽ bảo Dung
- Bố con đã về hưu. Khỏe. Mỗi ngày tập thể dục đều. Nhớ con lắm xong yên tâm nhờ bác sĩ Soạn thỉnh thoảng gửi tin qua Nam Vang, có khi qua Paris. Bố con biết con đã lập gia đình và sinh cháu Lý. Bố chỉ biết chồng con là một kỹ sư, còn các thứ khác đều không biết rõ. Tất nhiên, bố con hiểu ngầm vợ chồng con đang làm việc cho đất nước. Đó là điều mà anh ấy tìm được chút an ủi lúc tuổi già. Nhà vẫn chỗ cũ nhưng vì nhà rộng nên bố chỉ ở hai phòng trên gác - đặc biệt vẫn giữ phòng con nguyên vẹn...
Ông Thuận thông báo vắn tắt tình hình cha Dung, khi Dung đã lau sạch nước mắt.
Ông ngắm cháu, một thoáng tự hào lóe lên mắt. Nó đã trưởng thành, thậm chí, rất giỏi giang.
Dung cũng ngắm chú, tóc chú bạc gần trắng. Gương mặt thì như xưa nhưng da hơi đen, nhất là bộ râu – Dung nhớ chú không nhiều râu. Rồi, Dung hiểu ngay, chú hóa trang... Dung ngó lên trần nhà. Những lời của chú gợi cho Dung nỗi xót xa người cha tội nghiệp đang sống một mình và hẳn mỗi ngày ngồi hàng giờ trong phòng ngày xưa của Dung, nhìn sách vở, đồ vật của Dung để lại...
- Công việc của vợ chồng con, chú trực tiếp theo dõi, lại thường đọc báo cáo của anh Sáu Đăng, A.07 quan tâm các con... – Ông Thuận kéo Dung trở về thực tại.
- Chú hơi tiếc là không gặp được “Kỵ sĩ”... Nhất là không gặp cháu Lý
Dung lấy trong ví mấy tấm ảnh, trao cho chú.
- “Kỵ sĩ” thì chú không lạ. Báo chí đăng hình của anh ta khá nhiều... còn Lý... – Ông đeo kính trắng để ngắm cho rõ - Giống ông ngoại quá!
Ông Thuận trả lại xấp ảnh cho Dung:
- Chú muốn giữ ảnh của cháu Lý gửi cho bố con, song không được...
- Chú lập gia đình chưa?
Ông Thuận cười héo hắt:
- Từng tuổi này lập gia đình làm chi hả con?
Dung không dám đi sâu hơn vào tâm tình của chú. Chú của Dung là hạng người chỉ yêu một lần và khi dở dang thì sống với hình ảnh cũ đến trọn đời. Dung càng không hỏi chú có đến nhà bác sĩ Soạn không...
- Chú dặn con: đừng nói gì với cô chú Soạn về chú!
Ông Thuận như đoán ra, đã ngăn Dung. “Trước đây, chú vào Nam, ở nhà bác sĩ Soạn, nhưng có lẽ lần này chú nhận công tác tuyệt mật nên không thể đến thăm người bạn thân”.
Dung lại ngắm bộ quân phục và quân hàm của ông Thuận. Cô sung sướng thật sự. Mạng lưới của ta bủa vây khá vững. Một đại tá quân khu thủ đô lại là chú Thuận!
- Chú chỉ đóng vai đại tá, đại tá Lê Văn Hưng hôm nay thôi... Có một đại tá Lê Văn Hưng thật song hiện nay ông ta vắng mặt, ông về quê vợ ở miền Trung. Chú cung cấp vài chi tiết để khi cần đối phó con biết liệu đường. Lê Văn Hưng là người của CIA, chú được tin giám đốc Nha công vụ nằm bệnh viện nên mới hẹn đến đây. Giám đốc quen đại tá Hưng, quen nhưng không thân.
Ông Thuận dừng một giây, chợt cười:
- Đóng vai đại tá lúc này rất tiện. Nhiều đại tá đến nỗi không còn ai nhớ mặt, nhớ tên...
- Ta bắt đầu con nhé! Con nhớ nghe cho kỹ... – Ông Thuận nghiêm mặt và Dung hiểu đã đến lúc vào việc chung.
- Cùng vào với chú có chị ruột của thiếu tướng Lâm. Thiếu tướng Lâm không phải là cơ sở cách mạng nhưng gia đình lại tham gia cách mạng, cha và chị tập kết... Nghĩa là “Kỵ sĩ” có thể tác động thiếu tướng Lâm, miễn khéo léo, không được lộ thân phận.
- Còn tướng Đức? – Dung hỏi chen
- Ông ta bất mãn... Khai thác khía cạnh đó thì được... Nhưng ông ta uống rượu nhiều, thần kinh không ổn định, nên thận trọng.
- Các ông Tôn, Trí?
- Phức tạp. Họ thuộc nhiều phe nhóm, có người chịu ảnh hưởng của đảng Đại Việt, có người do CIA nắm... Tuy nhiên cứ lợi dụng mâu thuẫn. Chú biết “Kỵ sĩ” sốt ruột.
- Anh ấy dự kiến kế hoạch “dứt điểm”!
- Chú biết... và do đó, chú phải gặp con. Chú không thể gặp “Kỵ sĩ”. Trách nhiệm và nguyên tắc bí mật không cho phép. Tình hình hiện nay thuận lợi cho cách mạng, song thuận lợi ở mức gây rối làm cho kẻ thù suy yếu chứ chưa có khả năng “dứt điểm” nhất là “dứt điểm” bằng lực lượng quân sự do “Kỵ sĩ” nắm hoặc ảnh hưởng, kể cả lực lượng của tướng Đức ở vùng IV. “Dứt điểm” trước hết phải hiệp đồng cho được lực lượng khởi nghĩa của binh sỹ với phong trào quần chúng thật mạnh, đồng thời cả hai phải hiệp đồng với quân Giải phóng. Con thấy đấy, lực lượng binh lính khởi nghĩa còn mỏng, chủ yếu mới có một số đơn vị bộ binh. Quân binh chủng khác còn trong tay bọn xấu, như pháo, thiết giáp, không quân, thủy quân, quân tổng trù bị như dù, thủy quân lục chiến... Cố vấn Mỹ lại nắm các đơn vị khá chặt. Ở vùng III và biệt khu thủ đô, gần như ta chưa có gì đáng kể. Về phong trào chính trị, mới chuyển hóa bước đầu, thế lực phản động còn khống chế Phật giáo và trường học, tay chân của Trần Quốc Bửu vẫn sử dụng công đoàn theo mục đích của chúng. Chủ lực của cách mạng miền nam – chú muốn nói quân Giải phóng và quần chúng nông thôn do ta kiểm soát - đang xây dựng từng bước, phải nói là “quốc sách ấp chiến lược” gây khó khăn lớn cho ta, nay nhân thời cơ Sài Gòn hỗn loạn, ta bắt đầu phá nhưng không thể một ngày, một buổi là xong. Quân Giải phóng chưa tập trung phổ biến đến mức trung đoàn, trang bị còn yếu, thiếu nhiều binh chủng hỗ trợ nên chưa thể có cú đấm quyết định. “Kỵ sĩ” và kể cả “Mimosa” nữa, – Ông Thuận cười độ lượng - Cần hiểu tất cả những cái đó. Trung ương Cục chỉ đạo các nơi “chớp thời cơ” cụ thể là phá ấp chiến lược. Không thể đặt yêu cầu cao hơn. Một cuộc nổi dậy đơn thuần quân sự, nhất là của vài đơn vị bộ binh, khó “dứt điểm” vì quân Giải phóng không thể phối hợp với quy mô lớn, nhân dân thành thị chưa sẵn sàng đứng lên. Các con cần nhớ: việc bỏ Diệm gây một mức ảo tưởng trong quần chúng - Mỹ đã thành công về phương diện đó. Chúng “xả xú páp an toàn” đánh lạc hướng quần chúng. Chỉ mới mươi ngày thôi, nhiều người vẫn còn cho đảo chính là cách mạng. Tất nhiên, bộ mặt thật của Mỹ và tay sai sẽ sớm bộc lộ, ngay với những người ít nhiều ý thức dân tộc trong các tướng lĩnh... Nhưng phải có thời gian, “Kỵ sĩ” cần nắm vững phương châm lâu dài... Chừng nào Mỹ chưa chịu thua thì chừng ấy ta chưa thể dứt điểm. Mỹ vẫn cho rằng chúng có nhiều chủ bài, kể cả đưa một khối lượng thực binh nào đó tham chiến...
Dung tập trung trí óc để ghi nhớ lời của chú Thuận. Tiếng gõ cửa gián đoạn câu chuyện, thiếu úy Bích Hằng vào phòng, trình cho Dung một mảnh giấy đánh máy. Cô chào và ra, hơi vội vã.
“Quyến đã “tiến bộ” trong lần giao thiệp đầu tiên này!” – Dung nghĩ thầm, cô có vẻ vui nữa. Bích Hằng trước làm ở văn phòng tổng Nha, trực tiếp với Dung khi còn đeo hàm thượng sỹ. Hằng cũng là dân di cư, cũng học luật, tính tình điềm đạm. Hồi Trần Vĩnh Đắt còn làm Tổng Giám đốc, nhiều lần hắn gạ Hằng làm vợ bé, Hằng chẳng những cự tuyệt mà còn mắng gã. Có lần Đắt toan làm hỗn, Hằng thẳng tay tát gã và xin nghỉ việc. Chính Dung đã khuyên Hằng tiếp tục ở Tổng nha. Cô rất nghiêm, thế mà vừa gặp Quyến đã xao xuyến. Quyến lấy được Hằng cũng hay nhưng không biết cậu ta đã có vợ con chưa?
Mảnh giấy của phòng hóa nghiệm – hai chai sâm banh chứa chất độc cyanua, không chết người ngay vì lượng nhẹ nhưng uống vào sẽ chết vài ngày sau do dạ dày và gan bị hủy hoại.
Dung báo cáo sự việc và kết quả xét nghiệm cho chú Thuận. Chú ngồi khá lâu, trán xếp nhiều nếp nhăn.
- Đây là một âm mưu của một cánh nào đó, có thể là bọn ganh tỵ với “Kỵ sĩ” trong các tướng lãnh, có thể của một cánh CIA. Nó xác nhận dự đoán của A.07: Mỹ vẫn còn cân nhắc vai trò của “Kỵ sĩ”. Theo chú, đây không phải là “đèn xanh” của CIA, càng không phải của Ngũ Giác Đài và cánh tình báo quân sự.
- Con sẽ cố làm rõ bằng con đường nào két sâm banh đến nhà con...
- Chú không phản đối. Song, không phải con mà Jones Stepp đang làm việc đó. Nhất định Saroyan đã thuật cho Jones nghe và tướng Harkins nổi cáu. Với Harkins, việc giết anh em Diệm là quá lắm rồi... Con cứ làm nhưng đừng ầm ỹ. Thậm chí đừng cho bất kỳ ai biết sự việc. Cứ tỏ ra bàng quan. Tại sao các con lại không thể chưa đụng đến những chai sâm banh ấy? Cứ để cho kẻ thù hy vọng...
Dung gật đầu đồng tình.
- A.07 chỉ thị cho “kỵ sĩ” chú ý các thế lực thân Pháp.
- Thưa chú, tướng Mai Hữu Xuân thù nhà con.
Ông Thuận đưa tay ngăn Dung:
- Mai Hữu Xuân là người của Phòng Nhì. Ông ta thi hành công việc theo quán tính. Nhưng không bao lâu nữa tình thế sẽ thay đổi, ông rất có thể trở nên đồng minh của “Kỵ sĩ” - tiếc rằng, lúc ấy ông không còn quyền lực... Chính sách của Pháp thay đổi lớn. Chú biết con vẫn đặt ông Xuân trong tầm cảnh giới, song đã đến lúc ông ta hết còn nguy hiểm với “Kỵ sĩ” dù ông ta là trung tướng đô trưởng Sài Gòn.
Dung lại gật đầu đồng tình
- Tướng Harkins sắp rời chức vụ. Tướng Westmoreland thay. Nghĩa là Mỹ dứt khoát tăng thực binh ở Nam Việt. Và Cabot Lodge sau khi thực hiện nhiệm vụ triệt hạ Diệm sẽ nhường chỗ cho tướng Taylor.
- Nhà con quen Taylor...
- Chú biết, Taylor có quan điểm gần giống với “Kỵ sĩ”, thậm chí, muốn “Kỵ sĩ” giữ cương vị cao để chứng minh học thuyết của ông ta...
- Về tướng Big Minh?
Ông Thuận nhún vai:
- Một con người đang âm ỉ trong lòng nhiều mối tranh chấp. Ông ta không phải xấu theo nghĩa đơn thuần cá nhân. Ông ta chống Cộng nhưng không cuồng tín và tự thấy không có lý do xác đáng, một tín đồ đạo Phật, nhiều họ hàng tham gia cách mạng, kể cả em ruột...
- Người em ruột, thiếu tá Nhựt, con có nghe, đã về Nam chưa?
Mặt ông Thuận bỗng khắc khổ hẳn:
- Tại sao con tò mò như vậy?
Và ông vụt cười nhẹ:
- Chính chú chưa thành thục lắm trong nghề, thái độ cáu ghắt của chú gần như một lời xác nhận... Từ nay, con cứ lo việc của con!
Dung thè lưỡi và im thin thít
- Chú nói tiếp: Ông Minh Lớn được nhiều người quý mến, do cá tính. Người Mỹ không ưa ông, sở dĩ chọn ông đứng đầu cuộc đảo chính là vì cần danh nghĩa của ông hơn là cần sự năng nổ. Ông sống kiểu một “Mạnh Thường Quân” khổ nỗi, thời Chiến quốc cách chúng ta hơn 3.000 năm. Ông lại cả tin, tốt bụng, những thứ cần cho một người cha, người anh trong gia đình mà đôi khi không cần, nếu không nói là nguy hiểm cho một lãnh tụ. Mỹ thừa biết ông ta không thích Mỹ.
- Có lần tướng Taylor nhận xét với nhà con rằng ông ta quan tâm đến quần vợt hơn mọi thứ! – Dung bây giờ mới dám nói xen.
- Và phong lan nữa...
Tiếng gõ cửa, thiếu úy Hằng báo cáo:
- Tổng Giám đốc vừa thông báo: sắp có cuộc biểu tình của giới Thiên Chúa giáo di cư...
- Tổng giám đốc chỉ thị thêm điều chi không?
- Thưa, chỉ nhắc các Nha chú ý!
- Được... Có gì em cho chị biết nhé!
Hằng, như lần trước, lộ hẳn vẻ mừng rỡ khi Dung không hỏi han thêm chi tiết
- Em tiếp đại úy Ngân thật chu đáo nghe!
Hằng “vâng” và đôi má chợt ửng đỏ. Cô đi ra, nhẹ nhàng khép cửa
- Tướng Big Minh không phải là nhà chính trị. - Ông Thuận tiếp – Mà Mỹ cần một nhà chính trị... Cuộc chọn lựa đang tiến hành, danh sách có cả “Kỵ sĩ”. Sớm muộn rồi ông Minh cũng rời chiếc ghế tượng trưng.
- Xin phép chú nói rõ hơn: ai thay tướng Minh?
Ông Thuận cười nụ:
- Chú không phải thầy bói! Nhưng, con lưu ý tướng Khánh. Tướng Khánh cũng chỉ có thể là trái độn...
- Đỗ Mậu thế nào?
- Mỹ không dùng Đại Việt đến mức cao đâu. – Ông Thuận lắc đầu – Theo ý riêng của chú, hoặc “Kỵ sĩ” hoặc tướng Thiệu...
- Thiệu cũng dính dáng với Đại Việt!
- Mỹ thừa biết Thiệu Đại Việt mấy phần trăm... Mỹ cần một con bài ổn định các xung khắc hiện nay. Con bài đó na ná như Diệm: Thiên Chúa giáo hơi hám Cần Lao. Mỹ xúi Phật giáo đồng thời muốn kìm hãm Phật giáo. Con nên lưu ý điều này: Mỹ chia làm năm ba phe. Cánh Ngũ Giác Đài khác cánh Bộ Ngoại giao và sau cùng, chính phố Wall quyết định tất cả. Ở đây có một đại diện quyền lực của phố Wall – gã Dương Tái Hưng hoặc John Hing.
- Nhà con thường nhắc gã này...
- “Kỵ sĩ” phải tỏ ra là một nhà quân sự giỏi, một nhà chính trị sắc sảo... Chú hoan nghênh thái độ “trung thành với lý tưởng Cần Lao” của “Kỵ sĩ” thân Mỹ trong chừng mực đó...
Dung thuật lại lời của Saroyan và cách đối xử của Luân
- Thế là tốt... Chú tin “Kỵ sĩ” biết lúc nào cứng, lúc nào mềm.
- Nhà con đang suy nghĩ về một phương án dự hội nghị quân sự sắp tới...
- Hay lắm!
- Nhưng nhà con nằng nặc đòi Mỹ phải nhận sai lầm trong cái chết của Diệm – Nhu...
- Càng tốt... “Kỵ sĩ” nên can thiệp về trường hợp Ngô Đình Cẩn. Can thiệp công khai. Vụ “Vòng hoa trước mộ” là một nước cờ cao...
- Nhà con thực sự xúc động về cái chết của ông Diệm, ông Nhu...
- Đúng, kết hợp tự nhiên được giữa lý trí và tình cảm là bản lĩnh. Nhưng, không phải Mỹ ngu xuẩn đâu. Khá nhiều dấu hỏi được đánh trên các hành động rải rác của “Kỵ sĩ”. Làm sao không có kẻ cộng các sự việc rời rạc ấy để tìm cái ẩn giấu bên trong của “Kỵ sĩ”?
Dung chợt rùng mình. Ông Thuận không làm giảm bớt nỗi lo âu của Dung
- Đây là một ván bài, như người ta thường nói, mọi con bài đều lật ngửa... Không thể đảm bảo mọi điều an toàn tuyệt đối. Cuộc đấu trí rất khắc nghiệt. Chú không sao dự kiến hết mọi sự. Con ở bên cạnh “Kỵ sĩ”, số phận hai người đã là một, con phải đủ tỉnh táo. Chú sợ nhất là “Kỵ sĩ” nôn nóng!
- Anh ấy lo quân Mỹ đổ bộ lên Nam Việt...
- Một nỗi lo cao cả. Rất đáng lo. Song hấp tấp hành động không làm cho nguy cơ ấy giảm... Chú khâm phục tầm nhìn và tấm lòng của “kỵ sĩ”. A.07 chỉ thị: hễ thấy tình hình xấu thì “Kỵ sĩ” và “Mimosa” phải vào khu an toàn ngay. Cấp trên dự kiến sẽ bố trí một tổ bảo vệ, thư ký và cả người lái xe cho “Kỵ sĩ”. Sẽ có danh sách, họ đăng ký vào dân vệ hay bảo an. “Kỵ sĩ” tìm cách điều động họ...
- Cám ơn chú.
Dung chợt nhớ việc của cô. Liếc về chồng hồ sơ nhân sự, Dung báo cáo:
- Tuyệt, chú sẽ bàn với anh Sáu Đăng. Với quyền hạn của con, con có thể bổ nhiệm một số người tốt...
Ông Thuận hài lòng
- Thế là những gì cần nói chú đã nói hết. Cuộc chiến đấu còn lâu dài... À! Lần này bất đắc dĩ chú phải nhờ Lê Ngân, từ nay con và “Kỵ sĩ” tuyệt đối không được liên hệ với chú ấy. Chú ấy có việc riêng...
- Liên lạc giữa tụi con và anh Sáu Đăng thường trục trặc...
- Chú Sa vẫn lo công việc ấy.
- Cháu xin hỏi một chuyện, chú đừng giận. Vũ Huy Lục thế nào rồi?
Ông Thuận cười:
- Yên tâm!
Và ông đứng lên, Dung lại lao vào lòng ông. Chú cháu đứng yên mấy phút...
Interphone bỗng cất tiếng:
- Cuộc biểu tình của giới Thiên Chúa giáo di cư xảy ra có xung đột... Thông báo của văn phòng.
- Loạn xạ! – Chú Thuận bảo Dung.
- Con nhớ bố... ! – Dung nghẹn ngào.
- Chú sẽ tìm cách nói khéo... Bây giờ chú phải đi.
Hai người ra khỏi phòng, thấy thiếu úy Bích Hằng đang xem một họa báo với đại úy Lê Ngân – hai mái đầu gần như kề nhau...
- Con có thể nói lại tất cả cho “Kỵ sĩ”... Nhưng, đừng cho biết là chú có mặt ở đây.
Dung gật đầu, vẻ miễn cưỡng.
- Chú rất buồn, song không thể...
Ông Thuận không nói tiếp.
Quyến và Bích Hằng bẽn lẽn đứng lên
- Thế nào, đại úy và cô Bích Hằng “tìm hiểu” đến đâu rồi? – Dung đùa
- Đâu mà nhanh dữ vậy, thưa thiếu tá! – Bích Hằng giả bộ nghiêm, lại bắt chước giọng Nam Bộ.
- Có thể về phần cô. Còn phần đại úy, e bị tiếng sét...
Quyến lúng túng.
Dung và Quyến bắt tay từ giã. Họ không nói thêm lời nào.


Phần 9 - Chương 4


Tin tức từ ngày 17 đến ngày 22 tháng 11 năm 1963 (tin các báo và các hãng thông tấn)
17-11: Đụng độ dữ dội ở Chương Thiện (VTX). Sức ép của Việt Cộng gia tăng ở Vị Thanh (AP). Nhiều ấp chiến lược lưu vực sông Cửu Long bị Việt Cộng giải tán (UPI). Quân đội Việt Nam Cộng hòa thắng lớn ở Chương Thiện (báo Việt hàng ngày). Thiệt hại của quân đội Việt Nam Cộng hòa đáng kể trong các cuộc đánh nhau ở miền tây Nam Việt (New York Times).
18-11: Thủ tướng chính phủ quyết định các công sở từ hôm nay làm việc một buổi, từ 8 giờ sáng đến 4 giờ 30 chiều, trưa nghỉ nửa giờ. Bình luận của báo Chính Luận: quyết định này do yêu cầu của đại sứ quán Mỹ.
Tòa đại sứ Philippines tại Sài Gòn trao trả chính phủ Việt Nam cựu bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu. Ông Hiếu, một yếu nhân của chế độ Ngô Đình Diệm, xin lánh nạn ở sứ quán Philippines từ ngày 1-11. Ông được Tổng nha cảnh sát tiếp nhận và sau đó đưa về Bộ tổng tham mưu. Theo các nguồn tin đáng tin cậy, ông Hiến được tự do tạm, theo bảo trợ của Đại sứ Mỹ (tin AFT).
Đại tướng Lê Văn Tỵ được cử làm cố vấn quân sự cho Thủ tướng chính phủ. Ông Tỵ, nguyên Tổng tham mưu trưởng, một chuyên viên không có khiếu chính trị. Hình như người ta muốn qua ông để trấn át một số sĩ quan cho tới nay vẫn chưa dứt khoát thái độ: họ sợ bị trả thù, sợ bị dính trong danh sách của Ủy ban điều tra tội ác thuộc chế độ cũ và Ủy ban điều tra tài sản do sắc lệnh của chủ tịch Dương Văn Minh ký, mang số 7/SL/CT đề ngày 16/11/1963 (tin AP).
Đại tá Nguyễn Tấn Thi và trung tá Vương về nước sau ba năm lưu vong. Thi ở Nam Vang, làm đủ thứ nghề, kể cả dắt mối điếm cho Hoa kiều để kiếm ăn; còn Vương thì sang Pháp. Cả hai đều chủ mưu trong cuộc đảo chính bất thành ngày 11-11-1960. Theo các quan sát viên có mặt ở phi trường, khi máy bay vừa hạ cánh, đại tá Thi và trung tá Vương đã to tiếng cãi vã. Thi toan đánh Vương có lẽ do Vương vạch lối sống không được đoàng hoàng của Thi trên một số tờ báo Pháp – vì vậy, Thi không được đại sứ quán Pháp và chính phủ Cambot trợ cấp... (tin của Helén Fanfani)
Đường Ngô Đình Khôi được đổi thành đường Cách mạng 1-11 (tin các báo). Thi hài ông Nhu và ông Diệm được cải táng trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Ông Trần Trung Dung và vợ đứng tên xin. Lễ an táng được cảnh sát bảo vệ nghiêm ngặt. Chừng 50 người đi đưa. Trong số người đi đưa, có vợ chồng đại tá Nguyễn Thành Luân – ông Luân hiện còn bị quản thúc tại gia, song được phép cùng vợ đi sau xe tang tới huyệt với vòng hoa lớn. Ông Luân vẫn vận quân phục đại tá còn vợ, dù là thiếu tá cảnh sát, mặc áo dài - cả hai đều đính băng tang. Linh mục Nguyễn Viết Khai đã làm lễ và một lễ lớn khác tiến hành ở nhà thờ Đức Bà. Đám tang ít người, song sau đó, rất nhiều vòng hoa không rõ của ai phủ kín hai ngôi mộ, nhất là mộ ông Diệm. Ông Trần Trung Dung cho biết, hai ngôi mộ sẽ được xây bằng cẩm thạch... (tin của nhiều hãng thông tấn nước ngoài).
19-11: Sinh viên của trường Cao đẳng Nông Lâm Súc ở Bảo Lộc bãi khóa, đòi thay đổi Ban Giám đốc. Lý do không được rõ, vì hình như trong ban giám đốc không có ai thuộc đảng Cần Lao mà là người của các phái trước đây chống ông Diệm (tin của báo tự do).
Học sinh Trung học Huế biểu tình đòi các giáo sư vốn là “mật vụ” phải từ chức. Phong trào lan các tỉnh Trung phần, thậm chí, đến Cao Lãnh ở Kiến Phong. Hình như có một trung tâm điều khiển các biến động này (tin AP).
22-11: Sinh viên, học sinh Huế biểu tình, nhắc lại khẩu hiệu đòi thanh lọc hàng ngũ giáo chức. Cảnh sát can thiệp. Có xung đột. Một số cảnh sát và sinh viên bị thương. Một số sinh viên các báo (tin các báo).
Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng ký sắc lệnh số 15 cho biết sẽ mời 40 đến 80 nhân sĩ tham gia một hội đồng tư vấn để soạn thảo quy chế và chuẩn bị hiến pháp. Danh sách chưa tiết lộ (tin các báo).
HAI BIẾN CỐ, MỘT TIẾNG NÓI CHUNG
Helén Fanfani (Financial Affair)
Sài Gòn, 25-11.
Tôi đang ngồi đợi điện thoại của Victor tại phòng riêng như thường lệ, sau buổi ăn chiều. Chuông điện thoại reo. Victor không giữ được cách tế nhị vẫn giữ từ khi chúng tôi cưới nhau – anh hổn hển mà tôi nghe được dù từ Hongkong đến Sài Gòn không phải gần: “Helén nghe gì chưa?”. Tôi bị Victor lôi cuốn: “Chưa nghe, chuyện gì?” – “Kennedy bị ám sát!” – “Lạy Chúa! Kennedy nào?” – “John...” – “Tổng thống?” – “Tất nhiên!” – “Chết không?” – “Chết!” – “Ở đâu?” – “Dallas”.
- “Bao giờ?” – ‘Hôm qua, 23 tháng 11. Anh phải bay về Mỹ ngay...” - “Còn máy bay không?” – “Còn”.
Tôi gác máy, không đợi lời âu yếm – có thể Victor cũng quên – lao đến chiếc máy thu chuyên nghiệp, tìm các đài. Và, các đài đã tường thuật... Thật ra, Victor quen múi giờ Viễn Đông. Sự việc diễn ra theo múi giờ Dallas.
Sáng nay, Nam Việt treo cờ ủ rũ và tổ chức lễ cầu hồn ở các nhà thờ Thiên Chúa và Phật giáo.
Một biến cố gây sửng sốt đồng thời gây nhiều tâm trạng, có cả những liên tưởng nhân quả rất phương Đông. Không đầy ba tuần lễ khi Kennedy gật đầu thanh toán ông Diệm, đến lượt ông. Mấy phát đạn chính xác từ lầu cao chấm dứt cuộc đời của một tổng thống trẻ và không ai nghi ngờ về khả năng ông sẽ tái đắc cử trong nhiệm kỳ tới – chưa có đối thủ nội bộ đảng Dân chủ nặng ký bằng ông và đối thủ đảng Cộng hòa cỡ Cabot Lodge thật khó giành quyền với ông. Vài phát đạn phán quyết. Johnson đã tuyên thệ nhậm chức.
Ai giết tổng thống Kennedy? Thủ phạm mất hút. Nhưng chắc chắn không phải là người Việt Nam, càng không phải một đảng viên Cần Lao cuồng tín nào đó báo thù cho ông Diệm. Người Mỹ giết tổng thống mình – tôi không nghi ngờ chút nào điều đó. Cũng như người Việt giết tổng thống Diệm. Tất nhiên, giết ông Diệm do sự ưng thuận của ông Kennedy; còn giết ông Kennedy do ưng thuận của ai? Có người bảo là ý của Thượng đế. Cho quả như vậy đi. Thượng đế qua tay ai? Bài toán hóc hiểm. Tuy vậy, không phải chúng ta rơi vào ngõ cụt.
Trong cái chết của ông Diệm, tỷ lệ Mỹ chiếm ít nhất cũng 75% - nghĩa là vì lợi ích của Mỹ mà ông Diệm phải chết. Trong cái chết của Tổng thống Kennedy, Việt Nam chiếm một tỷ lệ có lẽ cũng tương ứng; vì vấn đề Việt Nam mà ai đó buộc phải hy sinh Tổng thống mình. Tôi không phải là FBI hay CIA - nghề nghiệp chuyên môn về các vụ án của tôi non – song về chính trị, tôi hiểu Tổng thống Kennedy đứng trước hai họng súng: phe nôn nóng muốn đổ quân lên Nam Việt, chấp nhận cuộc viễn chinh hao tốn để tạo ra một Hawaii tận lục địa châu Á sau khi cân nhắc rằng Trung Cộng dứt khoát không tái hiện sự việc như ở Triều Tiên 10 năm trước, họ hạ thủ Kennedy là người mà họ cho rằng nhu nhược, muốn hòa hoãn với Cộng; phe muốn giữ bộ mặt Mỹ ở châu Á như một chủ ngân hàng hơn là một anh lính Tây, phe đó ngại cú giết Diệm mở đầu cho bước phiêu lưu mới ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư của họ, họ gạt bớt một con diều hâu...
Đằng nào thì Tổng thống Kennedy cũng chết - chết trên chiếc xe mui trần chứ không trong quan tài thép M.113.
Sài Gòn xôn xao. Có người điếng lên với suy luận: Mỹ làm tất cả khi thích làm. Các tướng lãnh đảo chánh đang sờ gáy. Có vẻ giết con gà còn dễ hơn giết Tổng thống, huống chi, chỉ là các tướng mà ngôi vị gần với hư danh hơn thực chất.
Hai biến cố của hai bán cầu lại cùng có tiếng nói chung. Việt Nam đòi sinh mạng cỡ nguyên thủ quốc gia để đi đến giải pháp.
Mỗi ngày qua, tôi linh cảm Việt Nam hết còn là việc gói gọn trên một giải đất hẹp bên bờ Thái Bình Dương.
CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG KENNEDY
Dự định của tổng thống Kennedy viếng bang Texas vào tháng 11-1963 được nghiên cứu kỹ. Trong cuộc vận động bầu cử năm 1960, Kennedy chỉ đến bang này trong một thời gian ngắn ngủi. Ông phải đến Texas bởi vì năm bầu cử sắp tới 1964 mà nội bộ đảng Dân chủ lại chia rẽ và trung tâm là vùng nổi tiếng cứng đầu cứng cổ này, “xứ sở của các chàng chăn bò”, Texas là bang rộng nhất của Hợp chủng quốc - chỉ đứng sau bang Alaska thực tế băng giá – nơi mà vì các lý do lịch sử (chẳng hạn Texas nguyên là thuộc địa của Tây Ban Nha mới giành được độc lập) chỉ gia nhập Hợp chủng quốc năm 1845, gồm số đông là người Mexico trong hơn 11 triệu dân của bang, là vùng dầu mỏ quan trọng của Mỹ... mà Kennedy đặc biệt chú ý. Hơn thế nữa, tổng thống dự định qua bài diễn văn chuẩn bị sẵn sẽ đọc trong buổi đại tiệc tại Austin - thủ phủ của bang - sẽ hỗ trợ cho đảng Dân chủ giành ưu thắng đối với đảng Cộng hòa, là dịp để tổng thống tỏ ra tính cách bình dân của mình.
Chương trình viếng thăm Texas của tổng thống được thông qua trên nguyên tắc giữa Kennedy, Phó tổng thống Johnson và Thống đốc bang Texas – Connelly - tại khách sạn Contez ở thành phố El Paso ngày 5-6. Ông sẽ “đi như gió” qua các thành phố Dallas, Fort Worth, San Antonio, Houston và một vài thành phố khác từ xế ngày 21 đến chiều ngày 22 tháng 11. Ngày 4-10, Thống đốc Connelly vào Nhà Trắng xác định các chi tiết - Thống đốc được phép tổ chức các cuộc biểu tình đón Tổng thống. Keneth O’Donel - trợ lý đặc biệt của tổng thống cùng thống đốc bàn kế hoạch hợp đồng. Ai cũng nghĩ rằng cần phải có một đoàn theo tổng thống đi dọc các thành phố để dân chúng dễ dàng thấy mặt nguyên thủ quốc gia. Thống đốc Connelly không thích thú với cuộc diễu hành vì ông ta có ít thời gian quá để làm cho cuộc nghinh tiếp thật xôm tụ.
Để đến Dallas, thành phố lớn của Texas – đông những một triệu dân và là trung tâm lọc và hóa dầu – hai mật vụ được giao bảo đảm an toàn cho tổng thống: Winston C. Lawson từ Nhà Trắng và Forrest V. Sorrels, trưởng mật vụ Dallas. Chính Roy II Kellerman, phó chỉ huy mật vụ phủ tổng thống chỉ đạo Lawson.
P.R.S (1) nghiên cứu lý lịch từng người dân Dallas trong diện chống đối tổng thống – không ai bị liệt vào diện nguy hiểm. Cơ quan mật vụ cẩn thận hơn, đã lưu ý các tổ chức an ninh, cảnh sát huy động mọi năng lực bảo đảm chuyến viếng thăm của tổng thống.
Ngày 24-10, ở Dallas, một cuộc biểu tình xảy ra, tất cả đều được chụp ảnh và nhận diện từ người - cuộc biểu tình chỉ chống Adlai Stevenson, đại sứ của Tổng thống. Nhân viên mật vụ được phân các ảnh đó, họ sẽ ra tay khi tại Trade Mark – nơi tổng thống nói chuyện – có lẫn lộn người tham gia cuộc biểu tình. FBI thông báo với các quan chức địa phương rằng có một kẻ nào đó cư ngụ trong vùng Dallas có thể nguy hiểm. Cảnh sát liên bang cũng nhắc một truyền đơn chống Kennedy được tìm thấy trên đường phố Dallas. Tuy nhiên, không cơ quan nào phát hiện ra ai là tác giả của tờ truyền đơn. Tóm lại, chẳng có gì đáng ngại. Và trong danh sách tình nghi thiếu một nhân vật: Lee Harvey Osward.
Bài diễn văn mà tổng thống sẽ đọc ở bữa ăn trưa do các nghiệp chủ và nhân vật tai mắt Dallas chiêu đãi chính là phần trọng yếu nhất của chương trình. Ban thư ký Nhà Trắng cho các cơ quan biết tổng thống đến và đi từ sân bay Love, cho nên mọi thứ phải được đảm bảo để đoàn xuyên qua trung tâm thành phố và sau bữa tiệc, tổng thống sẽ trở lại sân bay bằng lối ngắn nhất. Vấn đề là tìm ngay nơi nào sẽ diễn ra bữa tiệc mà các điều kiện an toàn đều đạt mức không có tí cơ sở dù nhỏ nhặt cũng như các đoạn đường mà tổng thống phải qua.
Ngày 4-11, Gerald A. Behn, chỉ huy nhóm mật vụ Nhà Trắng yêu cầu Sorrels đến tận ba nơi có thể tổ chức bữa ăn trưa. Một trong ba nơi đó là Market Hall, không có chỗ trống ngày 22. Nơi thứ hai, Womenis Building, nằm giữa vòng rào khu Hộichợ quốc gia Texas, là một ngôi nhà trệt, ít ngả vào trong, dễ bảo vệ nhưng không có tiện nghi cho một bữa tiệc. Nơi thứ ba, Trade Mart, tòa nhà mới xinh xắn, có tất cả các đòi hỏi nhưng khó bảo vệ vì có nhiều cửa ra vào. Ngày 4 ấy, Sorrels trả lời với Behn là theo ý ông ta, vấn đề bảo vệ ở Trade Mart có thể giải quyết nếu tiến hành những phòng ngừa đặc biệt. Lawson cũng nghiên cứu việc này và cuối cùng, Kennet O’Donnell quyết định tổ chức bữa ăn trưa ở Trade Mart, ngày 14 Behn thông báo quyết định ấy với Lawson.
Dĩ nhiên, Trade Mart được đặt dưới các ngọn đèn soi mói của mật vụ từ đủ các phía. Kế hoạch bảo vệ Trade Mart được nhiều nấc duyệt, bổ sung, trong đó ngoài mật vụ túc trực, sẽ có vòng rào cảnh sát bên ngoài. Các nhóm cảnh sát trên nóc nhà và tất cả nhà lân cận. Hơn hai trăm cảnh sát được huy động vào công việc ngay tại ngôi nhà. Ngày 8-11, Lawson cho các người có trách nhiệm hay đoàn của tổng thống sẽ diễu hành qua thành phố 45 phút từ sân bay Love đến Trade Mart. Ngày 14, Sorrels và Lawson dự một cuộc họp tại sân bay, và sau đó đi theo lộ trình mà Sorrels cho rằng tốt nhất – con đường dài 16 cây số.
Từ Love, đoàn sẽ qua một khu ngoại ô rồi khu trung tâm theo đường Main, có một đoàn sử dụng xa lộ Stemmons. Sau bữa ăn, đoàn sẽ trở lại sân bay theo con đường dài 6 cây số. Lawson và Sorrels làm việc với Giám đốc cảnh sát Dallas – Jessey E. Curry, phó giám đốc Charles Batchelor, phó giám đốc N.T. Fitsher và nhiều sĩ quan cao cấp của ngành cảnh sát, quân đội, an ninh, nội địa. Ngày 18, Sorrels, Lawson và Batchelor cùng nhiều sĩ quan cảnh sát đi trên xe và cho chạy thử - đúng 45 phút theo lối điều hành. Chiều ngày 18, lộ trình, nơi ăn, đường quay lại sân bay... xem như không có gì trao đổi nữa.
Sorrels yên tâm – năm 1936, ông ta từng bảo vệ tổng thống Franklin Rooselvet công du Dallas.
Gần ngày Kennedy đến Dallas, hai tờ nhật báo địa phương đăng nhiều tin tức liên quan đến lộ trình của tổng thống. Ngày 15-11, tờ Dallas Times – Herald lần đầu tiên cho biết Trade Mart sẽ là nơi tổng thống ăn trưa. Ngày hôm sau, cũng tờ báo này đăng tin lộ trình của tổng thống có thể qua trung tâm thành phố bằng con đường Main, từ sân bay Love. Ngày 19, Dallas Times–Herald viết rõ: từ sân bay, đoàn sẽ đi ngang Mockingbird Lane và đường Lemmons để đến Turtl Creek, nơi đoàn sẽ chuyển hướng về phía Nam, nhắm Codar Springs. Đoàn lại xuyên thành phố qua đường Harwood, trở lại đường Elm nới giáp nối với đường Harwood, lại quay sang hướng Tây, theo đường Main, trở về đường Elm đoạn đường Houston, rồi theo xa lộ Stemmons đến Trade Mart.
Sáng ngày 22, tờ Morning News cho biết: đoàn xe sẽ chạy từ từ để mọi người có thể nhìn rõ mặt tổng thống và phu nhân khi đến trung tâm thành phố.
Dư luận Dallas phân tán về chuyến công du này. Tờ Times–Herald ngày 17-9 từng viết xã luận kêu gọi dân Dallas nên “lịch sự” với vị khách quý mặc dù năm 1960, Dallas không bỏ phiếu cho Kennedy và sẽ làm như vậy năm 1964. Người ta nhớ ngày 24-10, Adlai Stevenson, đại sứ Mỹ ở Liên hiệp quốc, thuộc đảng Dân chủ đến Dallas, sau bài diễn văn lúc ra khỏi nhà hát, bị đám đông vây, xô đẩy, thậm chí nhổ vào ông. Ngày 26-10 có thông báo của cảnh sát Dallas gọi 100 cảnh sát trù bị nhập ngũ. Trong tháng 11, báo chí Dallas thường xuyên tường thuật các biện pháp nhằm bảo đảm an toàn cho tổng thống với mọi chi tiết, đăng các bài của các nhân vật Texas kêu gọi dân chúng đừng biểu tình hay làm điều gì không hay. Hai ngày trước khi Kennedy đến Dallas, Giám đốc cảnh sát Curry tuyên bố dứt khoát sẽ không tha thứ bất kỳ cuộc biểu tình nào trong dịp này.
Ngày 21-11, vào 10 giờ 45 phút - giờ địa phương – Kennedy và vợ bắt đầu cuộc viếng thăm Texas. Họ rời Nhà Trắng trên một trực thăng để đến căn cứ không quân Andrews rồi sử dụng chiếc chuyên cơ giành cho tổng thống - chiếc Air Force One - cất cánh hồi 11 giờ và hạ cánh ở San Antonio hồi 13 giờ 30 phút. Phó tổng thống Johnson và thống đốc Connelly tiếp họ. Đoàn của tổng thống xuyên thành phố San Antonio. Buổi chiều, tổng thống hoạt động theo chương trình định trước; khánh thành trường y học không quân – vũ trụ tại căn cứ Brooks. Sau đó, họ đến Houston bằng máy bay, vào thành phố bằng ô tô và tổng thống nói chuyện ở sân vận động Rice; dự cơm tối do dân biểu Thomas Albert chiêu đãi. Tại sân vận động, đám đông cuồng nhiệt hoan nghênh tổng thống. Ở Houston và suốt chặng đường, người ta dành cho bà Kennedy một tình cảm rõ rệt - một thiếu phụ đẹp và duyên dáng. Khá khuya, tổng thống và đoàn tùy tùng bay đến Fort Worth và nghỉ đêm ở khách sạn Texas.
Sáng 22, tổng thống ăn nhẹ tại khách sạn, sau đó ông ra chào đám đông hoan hô ông. Có người ngại nguy hiểm khi Kennedy muốn đi ra ngoài trời để nhìn và nghe. Kennedy bảo: nếu ai đó muốn giết tổng thống Mỹ thì chẳng khó khăn gì - cứ đặt ở một ngôi nhà nhiều tầng nào đó một tay súng có máy ngắm.
Giữa buổi sáng, Dallas tạnh mưa, mặt trời chói chang. Chuyên cơ đáp xuống sân bay Love vào hồi 11 giờ 40 phút - giờ địa phương. Máy bay chở phó tổng thống đỗ trước đó 5 phút. Tổng thống vẫy chào đám đông đón ông. Mật vụ giăng dây để đám đông không đến gần được tổng thống, kể cả nhà báo và nhân viên nhiếp ảnh. Mười phút sau, họ lên xe vào Dallas.
Đoàn gồm xe mô tô, xe hướng dẫn, xe cảnh sát. Kennedy đi trên chiến xe Lincoln mui trần, loại đặc biệt, sản xuất năm 1961, được thiết bị an toàn riêng. Kennedy ngồi bên phải băng sau với vợ. Thống đốc Connelly ngồi ở băng trước. Mật vụ viên đặc biệt William R. Green cầm lái và bên cạnh là Kellerman. Kellerman ngoài nhiệm vụ bảo vệ còn giữ liên lạc vô tuyến điện với cả đoàn. Bên mỗi hông xe tổng thống có hai mô tô. Sau xe tổng thống là chiếc Cadillac 8 chỗ ngồi, kiểu 1935, chở 8 nhân viên mật vụ, mỗi người trang bị một khẩu súng ngắn “38”, một súng trường và một súng trường tự động. Powers và O’Donnel chỉ huy bảo vệ ngồi trên xe máy. Đoàn xe dài đến 400 thước.
11 giờ 50 phút, Kennedy rời sân bay với tốc độ từ 48 đến 50 cây số/giờ. Ở trung tâm thành phố, tổng thống được đông đảo dân chúng hoan hô nồng nhiệt. Tình hình ấy khiến cả đoàn, đặc biệt là nhân viên mật vụ và cảnh sát lơi lỏng cảnh giác.
12 giờ 30 phút, xe của tổng thống chạy trên đường Elm đến ngã ba có cái tên kỳ quặc: Triple Underpass với tốc độ 17 cây số/giờ, nhiều phát súng carbine nổ và giết ngay tổng thống, làm bị thương nặng thống đốc Connelly. Một viên đạn xuyên cổ tổng thống, viên kế tệ hại hơn, làm nổ bộ phận phải sọ não của tổng thống. Giữa lúc ấy, bà Kennedy đang chào đáp lễ dân chúng. Tiếng nổ làm bà giật nảy: Trời ơi, họ giết chồng tôi... Tôi yêu anh, Jack!
Và sau đó, một gã Osward nào đó trở thành mục tiêu của cuộc điều tra...
*
- Đấy là với tổng thống họ! – Luân bảo Dung
Cả hai không nói gì hơn khi đọc xong tài liệu về cái chết của Kennedy.
Luân và Dung không bao giờ tin thuyết quả báo. Song, họ cảm nhận cuộc chiến đấu thay hình đổi dạng đến mức tàn bạo, khó mà biết được đâu là chốn tận cùng.
---
(1) Phòng trinh sát bảo vệ (Protective Research Section)
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #35  
Old 12-09-2012, 11:32 AM
Helen's Avatar
Helen Helen is offline
Super Moderator
 
Tham gia ngày: Jan 2007
Bài gởi: 3,082
neww Ván Bài Lật Ngửa - Phần 9 - Chương 5 - 8

Ván Bài Lật Ngửa


Phần 9 - Chương 5


Sáng 30-11, một tuần lễ sau cái chết của tổng thống Mỹ Kennedy và một tháng sau cái chết của Ngô Đình Diệm, Hội đồng nhân dân cách mạng họp phiên toàn thể. Lẽ ra cuộc họp được mở sớm hơn, liền sau sự cố Dallas, song hầu hết thành viên của hội đồng đều hoang mang, họ chờ đại sứ Cabot Lodge giải thích. Cabot Lodge phải chờ chính tổng thống tiếp nhiệm Johnson giải thích. Và, chiều 29, Cabot gặp tướng Big Minh.
- Đại sứ Mỹ đã thông báo với tôi diễn biến cuộc ám sát tổng thống Kennedy, hung thủ là Oswald, một kẻ loạn trí. - Tướng Big Minh mở đầu phiên họp.
- Đây là việc nội bộ của nước Mỹ, - Tướng Big Minh nói tiếp – Hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến chính sách của Mỹ đối với Nam Việt. Tổng thống Johnson bảo đảm sẽ trung thành theo đường lối của cố tổng thống Kennedy về châu Á, về Đông Dương và về Việt Nam. Tôi đã nêu thắc mắc: tại sao một kẻ loạn trí lại chọn tổng thống làm mục tiêu mà không chọn người khác?
Phòng họp – phòng lớn ở dinh Độc Lập vừa xây xong – nín thở nuốt từng lời của vị chủ tịch.
- Oswald tiêu khiển bằng cách hạ sát tổng thống - đại sứ trả lời với tôi... các bạn thấy, chỉ là trò tiêu khiển!
Phòng họp như bị đè dưới một tảng đá nghìn cân.
- Qua lý giải của đại sứ Mỹ, tôi càng hiểu rằng ở Mỹ thú tiêu khiển không có hạn độ... - Tướng Big Minh hơi châm biếm, điều rất ít có ở ông – Chúng ta, tôi và anh em, không ai có thể làm gì hơn là nghe giải thích và bằng lòng với mọi cách giải thích từ miệng người Mỹ, nhất là từ miệng vị đại sứ đặc mệnh toàn quyền.
- Tướng Harkins có cái nhìn hơi khác. - Tướng Lê Văn Kim xen vào...
- Tôi biết! - Tướng Big Minh gật chiếc đầu tóc cắt thật ngắn, môi dưới vốn đã dày như trề thêm - Tướng Harkins phản đối cả cái chết của anh em ông Diệm... Giới quân sự và bây giờ thêm một bộ phận trong giới chính trị gắn hai cái chết với nhau.
- Họ cho là nhân và quả? - Tướng Kim ngắt lần nữa lời của chủ tịch.
- Không chỉ như vậy! - Tướng Minh nhếch mép, không phải cười mà biểu hiện ngao ngán - Họ cho là sự mở đầu một kiểu thanh toán... Mới mở đầu thôi...
Các tướng cúi gầm. Da mặt của hai người dễ thấy nhất: Tôn Thất Đính và Mai Hữu Xuân.
- Khi mà giới quân nhân làm chính trị, tình thế thường như vậy. Tôi trình hội đồng một huấn thị: quân nhân nào liên hệ với các đảng phái, bất kể đảng nào, đều phải chấm dứt, băng không hội đồng buộc xét kỷ luật, kể cả hình thức cho giải ngũ.
- Nhưng ở Mỹ, cái chết của tổng thống đâu có dính tới giới quân nhân? - Đỗ Mậu cao giọng.
- Làm sao biết được? - Tướng Minh buông thõng.
- Tôi tán thành ý kiến của trung tướng chủ tịch! - Thiếu tướng Thiệu nói nhanh.
- Có anh em nào không đồng ý không? - Tướng Minh hỏi.
- Tôi không đồng ý! Mỗi tướng lãnh đều có quyền tự do, miễn quyền đó không ảnh hưởng đến trách vụ mình. - Đỗ Mậu vẫn khăng khăng.
- Tôi đề nghị anh em cho ý kiến bằng cách giơ tay? Ai tán thành đề nghị của tôi?
Tất nhiên, chỉ trừ Đỗ Mậu, tất cả các tướng đều giơ tay.
- Tôi thiểu số nên phải phục tùng... .. Nhưng xin cho tôi nói hết ý của mình: chúng ta đang làm chính trị... - Đỗ Mậu dằn từng tiếng.
- Đúng, nhưng làm chính trị khác với theo một đảng. – Lê Văn Kim trả lời thay tướng Minh
- Tôi thấy nên chấm dứt cãi cọ: việc lớn không phải đảng này hay đảng nọ... - Tướng Đôn can thiệp
Hội đồng có vẻ chịu kiểu “thực dụng” của tướng André
- Ngày mai, đại hội nhân sĩ sẽ họp... Tôi đến chào đại hội xong tôi không giỏi về khoa biện luận nên nhờ anh Kim hoặc anh Xuân họp với họ, chắc có nhiều câu hỏi khó... - Tướng Minh ngó tướng Kim và Xuân.
- Anh Kim dự tiện hơn... - Xuân đẩy sang Kim
- Tôi sẽ dự. Nhưng, nên có anh Đỗ Mậu vì tôi biết đảng Đại Việt thế nào cũng nêu yêu sách tham chính, tôi trả lời không tiện bằng anh Mậu.
Tướng Kim đã công khai giới thiệu đảng tịch của Đỗ Mậu...
- Tôi sẵn sàng... Tôi có nhiều bè bạn trong đảng Đại Việt, ai cũng biết, nhưng tôi không phải là người lãnh đạo họ. Lãnh đạo họ là Hà Thúc Ký, Trương Tử Anh và Nguyễn Tôn Hoàn. Ông Hoàn chưa về nước...
- Ông Ký chắc chắn có mặt tại đại hội. Tôi đã mời ông ta. - Tướng Minh nói thêm.
Tướng Minh dừng một lúc.
- Nếu không còn anh em nào có ý kiến gì khác, tôi đề nghị phiên họp kết thúc.
- Tôi muốn anh chủ tịch cho biết quyết định về ông Nguyễn Chánh Thi và Vương Văn Đông vừa về nước... - Tướng Trần Thiện Khiêm đặt câu hỏi khi các tướng sắp rời ghế...
- Ông Thi thì nên giao cho Bộ tổng tham mưu để nhận công việc. Còn ông Đông, thì hơi ngại! - Tướng Đỗ Mậu nói.
- Ông ngại điều gì? - tướng Xuân hỏi.
- Ông Đông là người của Phòng Nhì... - Đỗ Mậu trả lời, mắt soi mói Xuân.
- Không có bằng chứng... Chưa chi huynh đệ đã tương tàn! Ông Đông có công trong cuộc chính biến tháng 11-1960... - tướng Xuân phớt tỉnh.
- Thôi, tôi sẽ hỏi Tổng nha cảnh sát về cả hai người... - Tướng Minh cắt đứt cuộc lời qua tiếng lại của hai viên tướng.
- Tôi hỏi: Thái độ của hội đồng đối với đại tá Nguyễn Thành Luân? - Tướng Xuân lại nêu vấn đề.
- Tướng Jones Stepp nhắc chúng ta: hãy để cho đại tá yên. - Tướng Phạm Xuân Chiểu nói.
- Tại sao lại để ông ta yên? Phó tổng bí thư đảng Cần Lao... Xuân cau mày.
- Thôi! Nhắc chuyện đảng Cần Lao làm gì. Ở đây, trừ tôi, các anh em đều ở đảng Cần Lao hết! Chẳng qua thời thế bắt buộc, đâu phải chuyện lớn! – Big Minh xua tay.
- Nếu không, tôi đề nghị công bố quân hàm thiếu tướng của ông ta do ông Diệm ký và cho ông ta làm việc! – Xuân nói lẫy.
- Công bố quân hàm? Đâu được! - Tướng Thiệu phản ứng nhanh – Còn làmviệc, việc gì? Ông ta không phải hạng chầu rìa... Tiện thể, tôi hỏi anh Đính tại sao thăng vợ của đại tá Luân lên thiếu tá và chuyển làm phó giám đốc Nha công vụ Tổng Nha cảnh sát?
- Cái đó do ông Chiểu... - Đính trả lời
- Cũng không phải do tôi mà do phái đoàn cố vấn cảnh sát Mỹ đề nghị và đại sứ quán Mỹ tán thành, có cả sự ưng thuận của tướng Jones Stepp. - Chiểu nói xuôi xị.
- Thôi... - Big Minh lại xua tay - Việc đại tá Luân sẽ tính sau... Còn gì nữa không?
- Tướng Harkins yêu cầu sớm họp hội nghị quân sự... Tôi hứa sẽ họp nhưng họ giục do chiến sự gia tăng và do quân đội ta tổn thất khá... Ấp chiến lược rã nhiều rồi. - Tướng Đôn ngồi ghé xuống ghế mà nói không mấy phấn chấn.
- Thế nào cũng họp. Nhưng, phải sửa soạn kỹ kế hoạch. Đừng để vô hội nghị, phía mình im re, còn người Mỹ nói hết trơn. Họ nắm nhiều tình hình hơn mình, lại còn nghiên cứu... - Tướng Minh vẫn ngồi yên trên ghế chủ tọa.
- Tướng Harkins muốn tiếp xúc với đại tá Luân trước khi họp. - Tướng Đôn uể oải ném thêm một quân bài lên bàn họp.
- Không được! - Tướng Thiệu nói như quát... - Thiếu gì người cần hỏi ý kiến...
- Nhưng Bộ chỉ huy Mỹ đề nghị đích danh đại tá Luân. Nếu anh Thiệu không chịu thì anh trả lời thay tôi. - Tướng Đôn cười mỉm...
- Thôi! - Tướng Minh vẫn mở đầu bằng chữ “thôi” – Tôi sẽ gặp đại tá Luân.
Hội nghị có vẻ ngơ ngác
- Tôi không thích đại tá Luân phát biểu ở hội nghị như là một phe, còn tụi mình là một phe trước người Mỹ. Đại tá Luân chắc có nhiều suy nghĩ và đó là suy nghĩ của một sĩ quan Nam Việt trong đoàn của Nam Việt.
- Vậy là giao việc cho ông ta rồi! - Tướng Xuân nói như than.
- Ừ, thì giao việc. Có sao? Ta không giao thì người Mỹ giao... Cái sau rất bất tiện, phải không anh em?
Tướng Big Minh đã thuyết phục được hội đồng.
*
Bác sĩ Trần Kim Tuyến về nước, tuy kín đáo, song ngay cầu thang máy bay đã có hai nhóm người đón với hai thái độ khác nhau. Nhóm thứ nhất, mặc thường phục mà lưng người nào cũng cộm “con chó lửa” và có một người cầm sẵn cây còng số 8. Bác sĩ đang hớn hở bước xuống cầu thang, gia đình chực xô tới chào thì bị nhóm người kia ngăn lại.
- Ông bị bắt!
Một người tuyên bố dõng dạc và tra còng vào tay bác sĩ.
- Cái gì vậy? - Bác sĩ Tuyến kinh dị hỏi.
- Cấp trên của chúng tôi sẽ trả lời... Các ông thừa biết một trùm mật vụ nên được ưu đãi như thế nào.
Người còng tay Tuyến trả lời lạnh lùng. Bác sĩ, qua đôi kính cận, mặt trắng bệt – ông biết cái gì đang đợi ông như ông đã từng chỉ thị cho bộ hạ trước đây; may mà ngay cầu thang máy bay, bằng không ông đã nhận vài cú lên gối đến hộc máu mồm...
- Đi! – Người còng tay Tuyến có vẻ chỉ huy, ra lệnh.
- Đi đâu?
Không phải bác sĩ Tuyến hỏi mà một giọng khác oang oang, hơi cười cợt. Hai quân nhân, một mang quân hàm trung tá - với toán quân cảnh trang bị tiểu liên giống như dưới đường băng bê tông ngoi lên, án ngữ đám nhân viên mặc thường phục.
Viên trung tá chập gót chân chào bác sĩ Tuyến.
- Mở còng ra? – Viên trung tá bảo cộc lốc.
- Ông là ai? - Viên chỉ huy mặc thường phục hỏi, giọng hơi run.
- Tụi bây là ai? - Viên trung tá bốp chát
- Chúng tôi mang lệnh bắt nguyên Trưởng cơ quan mật vụ chế độ cũ... - Viên chỉ huy lắp bắp.
- Lệnh đâu? – Viên trung tá vẫn giọng cộc lốc.
Viên chỉ huy mặc thường phục chìa tờ giấy đánh máy. Viên trung tá giật phắt giấy, nheo mắt đọc: “Đại tá giám đốc Nha cảnh sát đô thành... Tao cóc biết thằng này, còn mày, thằng đại úy cà chớn!”. Và anh ta xé vụn tờ công lệnh, buông nó bay lả tả theo gió.
- Mở còng! – Viên trung tá nhắc lại...
Viên đại úy cảnh sát ngỡ ngàng
- Tao đếm ba tiếng. Nếu mày không mở còng cho bác sĩ thì tao cho mỗi đứa một băng chầu ông bà, ông vải!... Một...
Chưa đến tiếng thứ hai, chiếc còng đã được mở.
- Mời bác sĩ về ngay Bộ tổng tham mưu... Trung tướng Tôn Thất Đính đang đợi bác sĩ - Viên trung tá lễ phép bảo.
Rồi quay sang viên đại úy cảnh sát, anh ta bảo giọng thật trịnh thượng:
- Còn đứng đó hả? Bác sĩ ra lệnh bắt tụi mày thì tụi mày vào nhà xác ngay! Đồ chó lợn!
Hành khách vây quanh như xem một trò ảo thuật. Đám cảnh sát bảo nhau bằng mắt, lủi trong đám người vào sân bay.
Tôn Thất Đính và Đỗ Mậu đón Tuyến ngay thềm Bộ tổng tham mưu
- Bravo! - Đính ôm Tuyến thét to... - Chào vị mưu sỹ tài ba. Mọi việc như bác sĩ dự kiến.
Khi ngồi trong phòng khách, Tuyến hỏi:
- Tôi nghe thiếu úy Tường bị bắn.
- Đúng! Gã vệ sĩ của Nguyễn Thành Luân bắn...
- Thế thì việc đầu tiên, coi như các vị trả công cho tôi, là lôi cổ Luân lẫn tên vệ sĩ của hắn ra bắn...
Tuyến nói điềm đạm nhưng âm sắc đầy quyền lực.
- Không thể làm theo ý bác sĩ... - Đỗ Mậu lắc đầu.
- Tại sao... ?
- Vì, ngày mai chính chủ tịch Hội đồng quân nhân sẽ gặp đại tá Luân và ngày kia, đại tá Luân dự một phiên họp quân sự hỗn hợp Việt Mỹ do đại tướng Harkins và trung tướng Đôn chủ trì...
- Đến thế kia? - Tuyến thất vọng.
- Có thể còn hơn thế nữa... Không có gì ngăn đại tá Luân trở thành nhân vật quan trọng ở Việt Nam Cộng hòa. Người Mỹ muốn, và - Đỗ Mậu chua chát - Người Mỹ muốn là Trời muốn.
- Ngay lông chân của gã vệ sĩ cũng không đụng được à?
- Có lẽ sự thật gần như bác sĩ nghĩ...
- Chuyện đại tá Luân còn phức tạp lắm. Bây giờ bác sĩ đã về, nên gặp gia đình, nghỉ ngơi vài hôm rồi chúng ta sẽ mời bác sĩ làm việc... Vẫn việc cũ. Chúng ta đang xây dựng lại cơ quan mật vụ... - Tôn Thất Đính nói.
- Tôi nghe lời hai ông. Còn mối thù với Nguyễn Thành Luân, tôi không bao giờ quên!
- Rất tốt. Nếu bác sĩ khôn khéo... - Đỗ Mậu lên giọng dạy đời - Nhất là đừng tỏ cho Luân biết bác sĩ thâm thù hắn và chớ hé môi với giới quân sự Mỹ... Nắm cơ quan mật vụ, bác sĩ đủ điều kiện hành động...
- Ly Kai còn không?
- Còn! - Đỗ Mậu trả lời.
- Được... Thế tôi có cần trình diện tướng Minh không?
- Khoan đã! - Đỗ Mậu đắn đo – Ông Minh có vẻ không thích bác sĩ
- Ai chủ trương bắt tôi tại sân bay? – Bác sĩ hỏi.
- Cảnh sát... - Đỗ Mậu trả lời.
- Nhưng trung tướng Đính là Tổng trưởng an ninh...
- Tổng trưởng không kiểm soát hết mọi việc đâu. – Đính nheo mắt, coi như đó là chuyện vặt.
- Ngay tôi, nếu trung tướng Đính không thuật lại mọi sự, tôi cũng ra lệnh bắt bác sĩ! – Đỗ Mậu nói như rít qua kẽ răng.
- Chúng ta nên sòng phẳng... Tôi biết nhiều chiến hữu Đại Việt của thiếu tướng chết ở nhiều nơi, kể cả ở P.42... Nhưng tôi không thể làm khác. Nếu tôi làm khác, không có cuộc cách mạng... - Tuyến phân trần.
- Chưa chắc! - Đỗ Mậu như hết tự kiềm chế.
- Nghĩa là?
- Nghĩa là không cần các biện pháp như bác sĩ đã làm và nghĩa là, không có bác sĩ chúng tôi vẫn lật được Diệm.
- Này, ngày vui, đừng tranh cãi gây cấn. – Tôn Thất Đính dàn hòa - Vả lại, thiếu tướng không còn là Đại Việt nữa, chúng ta thỏa thuận rồi... Mời bác sĩ uống với chúng tôi...
Sau khi cụng ly, bác sĩ Tuyến ra khỏi phòng - vợ con ông đang thắc thỏm chờ. Bác sĩ đi mà lòng ngổn ngang. Sự thể này rõ không ổn. Ông ta nhớ lời dặn sau chót của Tôn Thất Đính: “Bác sĩ nên nén mình. Chớ để giới Phật giáo thấy mặt, họ có thể kéo biểu tình đập phá nhà bác sĩ... Bác sĩ cũng đề phòng giới Thiên Chúa giáo, hình như phong phanh biết bác sĩ nhúng tay vào vụ đảo chính, họ cũng biểu tình đập phá... ”. Thế là như bị giam lỏng rồi còn gì?
- Tôi định viếng mộ ông Diệm... - Tuyến thăm dò.
- Không nên! Chắc bác sĩ đọc báo biết việc làm của đại tá Luân, ông ta hành động phù hợp, nổi tiếng nữa. Song không phải sự bắt chước nào cũng tốt cả đâu, bác sĩ sẽ làm bia cho báo chí phỉ báng. - Đỗ Mậu tuôn một thôi lời lẽ cay độc.
*
Trung tướng Dương Văn Minh dự khai mạc đại hội nhân sĩ. Đây là một đại hội do các đoàn thể triệu tập, không từ sáng kiến của Hội đồng quân nhân. Mặt mũi của chừng 100 người chẳng lạ gì với công chúng; số khá đông vừa rời khỏi tù với tấm huân chương “Chống chế độ độc tài gia chính trị” - chống thật và chống giả, số còn lại là các trí thức có tên tuổi, thật tình thấy nhẹ nhõm hơn khi Diệm bị lật đổ. Đại hội gần như không có ai cầm càng - Kỹ sư Phan Khắc Sửa được cử nói mấy lời mở đầu và ông giới thiệu trung tướng Minh. Trung tướng được hoan hô khá lớn – ông bối rối vì cảm động.
- Tôi cảm ơn quý vị! - Trung tướng cảm động nói – Tôi mong đại hội đóng góp nhiều ý kiến thiết thực cho Hội đồng quân nhân và chính phủ trong lúc đất nước khó khăn. Tôi cũng đề nghị quý vị đề cử một hội đồng nhân sĩ đủ tài đức tư vấn cho Hội đồng quân nhân và chính phủ. Tôi mong quý vị để quyền lợi quốc gia lên trên hết... Lẽ ra tôi phải dự cùng quý vị suốt đại hội, song công vụ không cho phép, trung tướng Lê Văn Kim, thiếu tướng Đỗ Mậu, thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ sẽ làm việc cùng quý vị, tôi sẽ xem lại biên bản... Chúc quý vị và gia quyến an khang...
Vỗ tay. Nhưng có vẻ đại hội thất vọng vì vị chủ tịch nói quá ngắn, tiếng vỗ tay giảm hẳn nồng nhiệt...
Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ được yêu cầu trình bày chương trình hành động của chính phủ. Ông Thơ không sẵn sàng nên nói khá lập cập. Ý duy nhất mọi người ghi nhận là: Việt Nam Cộng hòa đang thực hiện một cuộc cách mạng, song cách mạng ôn hòa. Các vấn đề kinh tế, xã hội, về chiến tranh, về dân chủ đều bị bỏ qua. Lê Văn Kim giống một triết gia, lý luận về những khái niệm rất chung. Đỗ Mậu nói về những hy sinh của các chiến sĩ quốc gia để đánh đổ Ngô triều. Đại hội rơi vào cảnh hỗn lọan. Các nhân sĩ chân chính chán nản, và lần lượt rút lui. Phần mà đại hội coi như quan trọng nhất là giới thiệu người tham gia Hội đồng nhân sĩ. Con số lên đến một trăm. Đủ hết! Hà Thúc Ký, Phan Quang Đán, Hồ Hữu Tường, Trịnh Khánh Vàng, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Thành Phương, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Nguyễn Xuân Chữ, Hoàng Quỳnh, Thích Tâm Châu, Lê Văn Tất, Trần Văn Vân... Riêng Hà Thúc Ký còn đưa ra một “phương châm”: đảng nào đổ máu nhiều tức là có công nhiều trong cách mạng 1-11 thì được quyền chiếm tỷ lệ cao trong Hội đồng nhân sĩ và chính phủ. Đại hội bế mạc trong không khí ai cũng thấy mình phải là thành viên của Hội đồng nhân sĩ - một thứ siêu nghị viện – và phải là tổng trưởng...
... Tướng Big Minh ghé nhà Luân. Thật ra nhà riêng của ông cũng gần nhà Luân, nhưng chưa bao giờ ông đến với bất cứ tư cách nào. Cuộc viếng thăm không báo trước. Đoàn xe vào cổng, Luân vẫn còn mặc đồ pyjama...
- Khỏi thay quần áo làm gì. - Tướng Minh hệch hạc bắt tay Luân trong lúc lực lượng bảo vệ tỏa quanh nhà.
- Tôi ghét rùm beng lắm, mà mấy ông An ninh quân đội và Tổng nha cảnh sát cứ bắt tôi theo... - Tướng Minh giả lả, có lẽ ông thấy khó chịu về sự phô trương trước mắt Luân, một sĩ quan ông không ưa nhưng có phần nể.
Luân mời tướng Minh ngồi, anh vào trong thay quần áo. Trong bộ quân phục đính hàm đại tá, anh chào tướng Minh thật nghiêm chỉnh.
- Ồ! Sao galon của đại tá méo mó và dơ quá vậy? - Tướng Minh hỏi.
Luân cười mỉm, thuật lại chuyện ở Bộ tổng tham mưu.
- Như vậy đó! - Tướng Minh trầm ngâm một lúc, khẽ thở dài rồi nói – Chà lên quân hàm tức chà lên chính mình... Lúc nào cũng có bọn du côn! Tôi nghe tin đại tá đặt vòng hoa trước mộ ông Diệm, ông Nhu, tôi khâm phục. Nhân đây tôi muốn nói rõ với đại tá, như tôi nói với vợ chồng ông Trần Trung Dung, cái chết của hai người ngoài dự kiến của tôi...
- Tôi tin trung tướng, song làm rõ nguyên nhân đâu có khó! – Luân nói giọng buồn bã.
- Khó chớ! Tôi hỏi thiếu tá Nhung, anh nói trong xe tối lắm, ai nổ súng đầu tiên thì anh không rõ, song nhiều người bắn sau một lúc cãi cọ. Ông Nhu chửi một số lính áp giải...
- Đó là một cách giải thích dễ dãi nhất. Ông Nhu chửi, lính nổi nóng bắn hai anh em ông... Nhưng sự thể chắc không đơn giản như vậy.
- Tôi cũng nghĩ như đại tá.
Luân thấy không cần kéo dài vụ này nữa.
- Xin trung tướng chủ tịch cho biết mục đích chuyến đến nhà tôi.
- À! Tôi không hẹn, cũng hơi đường đột... .. Song tôi nghĩ đại tá không chấp nhất...
Vẻ mặt chất phát của tướng Minh gợi cho Luân sự xúc động vì ít ra, ông ta cũng là con người lương thiện theo nghĩa đạo lý cá nhân phương Đông và bị cuốn vào trò cờ bạc bịp chắc là sở đoản của ông...
- Ngày mai, tướng Harkins triệu tập một cuộc họp quân sự liên tịch với tướng Đôn, mỗi bên cử một số sĩ quan tham gia để bàn về biện pháp quân sự hiện thời. Tướng Harkins yêu cầu đại tá có mặt trong cuộc họp...
- Thưa trung tướng chủ tịch...
Tướng Minh đưa tay ngăn Luân:
- Chúng ta đổi cách xưng hô... Tôi không mấy gì ưa cấp chức này... Tại sao chúng ta không gọi là anh em cho thân mật?
- Nếu trung tướng cho phép. – Luân đồng ý
- Anh nói đi.
- Giả tỷ tướng Harkins không nêu đích danh tôi, có lẽ tôi bị bỏ xó tại ngôi nhà này không biết đến bao giờ...
- Anh đừng buồn. Tôi không quen nói láo. Đúng vậy... Mà không phải trong hội đồng ai cũng đồng ý để anh dự hội nghị ngày mai...
- Những người phải đối có lý của họ. Tôi là một Cần Lao gộc mà...
- Thôi anh cay đắng làm chi... Ai mà không Cần Lao... ?
- Trung tướng không vô đảng Cần Lao...
- Phải, tôi không vô nhưng tôi vẫn thi hành chủ trương của ông Diệm, tức của đảng Cần Lao. Nào có khác gì? Chuyện cũ, không nên nhắc nữa. Bây giờ nên để tâm trí lo đại cuộc. Tôi muốn anh suy nghĩ và thử nói ý kiến của anh trước tình hình hiện thời, ta phải làm thế nào?... Hội đồng quân nhân nói vậy chứ đâu có đồng tâm nhất trí. Chính phủ thì thiếu đầu đàn. Ông Thơ hiền quá. Quân đội sau đảo chính, ngoài mặt thì yên ổn mà bên trong thì nghễnh ngãng dữ lắm, các tướng vùng, sư đoàn không phục trung ương, quân binh chủng này kỵ quân binh chủng kia. Khó!
Tướng Minh thổ lộ hết những cái ông chỉ thổ lộ với người chí thân và chấm câu bằng tiếng “Khó!” như thú nhận sự bất lực.
- Hội nghị bàn về quân sự thì không phải không tìm lối ra được. – Luân lựa lời – Song, ở nước cộng hòa chúng ta, vấn đề cần mổ xẻ là chính trị, có cơ sở chính trị rồi thì sẽ có biện pháp quân sự thỏa đáng...
- Đó là chỗ yếu của hội đồng. Có lẽ trừ ông Kim, ông Đỗ Mậu, chúng tôi không ai có khiếu chính trị. Ông Kim thì hay nói chuyện đâu đâu, còn ông Đỗ Mậu... nói thiệt, tôi không ưa ông ta!
- Cho tới nay, Hội đồng quân nhân chưa vạch được đường lối chung, mọi thứ bỏ lửng... - Luân quyết định thăm dò sâu hơn một mức - Tỷ như việc chiến tranh, tỷ như việc hòa giải dân tộc, tỷ như chính sách ngoại giao... chưa có cái nào rõ ràng cả. Đánh nhau tới bao giờ? Và, người Việt đánh người Việt, sau đó, có khi Mỹ nhảy vô tàn phá quê hương mình, chết chóc... Tôi băn khoăn những điều vừa thưa với trung tướng.
Tướng Minh thở dài.
- Tôi biết chớ... Nhưng làm sao? Không lẽ không chống Cộng? Tôi đã nghĩ tới Cao Miên, tôi sẽ cử ông Trần Chánh Thành lên Nam Vang để vừa dàn xếp tranh chấp giữa hai nước vừa xem cái cách mà họ theo đuổi...
Luân thấy hé ra một chút ánh sáng, nhưng anh giật mình:
- Trung tướng bàn ý vừa rồi với ai chưa?
- Tôi có trao đổi với anh Kim, anh Xuân, anh Đôn, trao đổi sơ qua thôi.
- Ý các ông kia thế nào?
- Anh Kim giống tôi nhiều hơn hết. Anh Đôn, anh Xuân chắc cũng vậy, nhưng họ sợ.
- Tại sao chính phủ ta lại găng với Pháp?
- Không phải chính phủ đâu, ông Đỗ Mậu, ông Thiện thôi. Có thể ông Khánh nữa.
- Tôi biết đang có môt cuộc vận động bài Pháp, chống trung lập trong một số giới... Nói thẳng, cuộc vận động đó nhằm chống Hội đồng quân nhân, cá nhân chủ tịch và các phó chủ tịch... Nghĩa là vai trò “đệm” của Hội đồng đang bị đe dọa nếu hội đồng không chủ động bỏ vai trò “đệm” mà thực sự trở thành một cái gì vững bền hơn...
Luân nhìn tướng Minh đăm chiêu mà thương hại. Anh suy tính xem có nên rán thêm một bước nữa, chẳng hạn hỏi về Dương Văn Nhựt, Dương Văn Diệu và khá nhiều anh em họ hàng của tướng Minh tập kết hoặc cũng có thể đã về Nam. Nhưng anh thấy chưa tiện.
- Tôi sẽ dự cuộc họp và sẽ chỉ nói về phương pháp hành quân tác chiến thôi... Chỉ e chúng ta tốn công vô ích. Sự thể không dậm chân tại chỗ. Hội đồng đảo chính ông Diệm được thì một số tướng nào đó cũng đảo chính hội đồng được. Khó là làm lần đầu, làm lần đầu trót lọt, người ta dễ theo gương đó. Mỹ cho máy bay đâm vào núi để giết tổng thống Phi Luật Tân Magsaysay hoặc dùng áp lực buộc ông Phibul Songram, ông Lý Thừa Vãn lưu vong thì tại sao không làm được vậy ở Sài Gòn? Tổng thống Kennedy bị bắn sau khi tổng thống Diệm bị bắn, tôi nghĩ rằng một thời kỳ tàn bạo bắt đầu... Thời gian còn ít lắm... Tôi thiết tha mong trung tướng tính gấp...
Tướng Minh chăm chú nghe. Ông không có vẻ gì sợ hãi những hình ảnh ghê rợn mà Luân vừa điểm qua, nhưng trong cặp mắt mệt mỏi của ông, Luân nhìn thấy nỗi lo lắng như cao rộng hơn.
- Dân chúng Việt Nam chúng ta có tội tình gì? - Tướng Minh thốt ra một câu não nuột, câu thốt ra khiến Luân suýt rơi nước mắt.
- Bởi vậy, nếu tôi dự họp và nói thì sẽ không trả lời nổi câu hỏi của trung tướng. Hội nghị quân sự phải bàn việc đánh nhau, giết chóc... Với tướng Harkins chưa phải đã gay gắt lắm. Nhưng, nếu người thay Harkins theo lệnh của tổng thống Johnson đặt yêu cầu đưa chừng một trăm ngàn quân vào Nam Việt thì chúng ta sẽ có thái độ như thế nào?
- Tôi phản đối! - Tướng Minh, như thân hình ông, nói một câu chắc nịch.
- Phản đối suông không thể có hiệu quả...
- Tôi sẵn sàng từ chức!
- Cũng không phải là thượng sách!
- Thì không phải là thượng sách, nhưng chúng ta đâu phải là Việt Cộng. Việt Cộng đánh lại Mỹ còn chúng ta là đồng minh của Mỹ...
Tướng Minh nói giọng đầy đau khổ. Các mâu thuẫn nội tâm của ông bộc lộ rõ ràng. Luân cắn môi: Tội nghiệp cho ông! Luân cho rằng việc tiếp xúc với tướng Minh như thế là đủ, hơn nữa, tướng Minh đang ngả lưng vào ghế - gánh nặng quá sức của ông.
- Ngày mai, tôi sẽ có mặt...
- Đã quyết định họp tại dinh Độc Lập... Tôi không dự, tướng Đôn là trưởng đoàn.
- Tôi có cần trao đổi trước với tướng Đôn không?
- Nên trao đổi... Anh hẹn điện thoại trước với anh Đôn. Từ giờ này, tôi quyết định bãi bỏ trạm quân cảnh...
- Xin phép trung tướng. – Luân nói vội vàng - Tốt nhất cứ để trạm quân cảnh. Có lợi cho an toàn của tôi hơn...
- Vậy cũng được, họ sẽ chuyển sang nhiệm vụ trái ngược với nhiệm vụ trước kia.
- Cám ơn trung tướng!
Luân ngỡ rằng tướng Minh ra về, nhưng ông đến chỗ đặt điện thoại, quay số:
- Alô! Bộ quốc phòng đó phải không? Cho tôi nói chuyện với trung tướng Đôn... Tôi là trung tướng Dương Văn Minh.
Luân ngắm nghía Minh. Chọn nghề binh là một lầm lẫn, bây giờ làm Quốc trưởng, ông còn lầm lẫn hơn – Luân nghĩ về vị Chủ tịch Hội đồng quân nhân.
- Anh Đôn đó hả? Tôi, Minh đây... Để ngày mai làm việc với tướng Harkins, tôi đề nghị anh gặp đại tá Nguyễn Thành Luân trước... Tôi hỏi đại tá, tôi đang ở nhà đại tá. – Minh che máy – Anh Đôn hẹn anh ba giờ chiều nay, tại Bộ quốc phòng...
Luân gật đầu.
- Alô, đại tá thấy được. Đúng ba giờ... chào anh.
Tướng Minh cầm kêpi, chìa tay bắt chặt tay Luân. Luân tiễn ông ra xe, đứng nghiêm chào.
Cuộc gặp buổi chiều với tướng Đôn là chủ yếu để cả Luân và Đôn nghe sĩ quan tham mưu thông báo tình hình chiến sự. Đôn chưa có một dự kiến nào rõ rệt.
- Thôi, mai họp. Tùy tình hình, mỗi người cứ nói...
Tướng Đôn ngáp dài. Luân biết, những cuộc chơi thâu đêm trác tác đang tiêu hao sức lực của viên tướng nổi tiếng hào hoa này, nhất là khi lệnh cấm khiêu vũ của Trần Lệ Xuân bị bãi bỏ...
Cuộc họp với tướng Harkins thì lại phức tạp. Phức tạp không từ Harkins mà từ viên trợ lý của ông tướng Westmoreland. Westmoreland nói không úp mở: cần đưa thực binh Mỹ vào Nam Việt mới mong chống đỡ Nam Việt tránh khỏi bị Cộng sản tràn ngập. Ông ta không nói rõ quân số cần thiết là bao nhiêu, nhưng lập luận của ông ta như sau: Thời kỳ chỉ hạn chế sự có mặt của Mỹ ở hình thức cố vấn và một số đơn vị yểm trợ đã lạc hậu trước thực tế.
Tuy là phó của Harkins, Westmoreland lại tỏ ra trên vai vế chủ tướng của mình. Harkins nói rất ít.
- Các ông bớt bàn chuyện chính trị đi, chuyện chính trị này để các nhà chính trị lo, các ông là sĩ quan cấp tướng, chuyện của các ông là đánh giặc... - Westmoreland nói xả vào mặt Đôn như vậy.
- Thưa tướng quân, – Luân thấy đến lúc phải lên tiếng – Tất nhiên, tướng phải cầm quân, song, như tướng quân thấy số quân sỹ mà tướng quân nhắc chắc cao hơn số 20.000 hiện diện – chính là do sai lầm về chính trị mà ra...
- Tôi không nghĩ khác đại tá, – Westmoreland gật đầu - Cả tướng quân Harkins, tướng quân Jones Stepp có mặt ngày hôm nay, chúng tôi phản đối đảo chính và phản đối cách xử trí với ông Diệm, ông Nhu... Chính các ông - Tướng Westmoreland ngó thẳng tướng Đôn, tướng Thiệu – Chính các ông lật đổ tổng thống của mình. Bây giờ người Mỹ phải hứng hậu quả tai hại đó... Nhưng, đại tá Luân thân mến, ngày hôm qua là ngày hôm qua... Ta phải nói những gì thuộc ngày hôm nay và ngày mai. Luyến tiếc quá khứ là không xấu, song, quên hiện tại và tương lai là có tội... Đại tá đồng ý chứ? Hơn nữa, chúng ta là quân nhân, quân nhân chỉ biết chấp hành và chiến thắng...
- Cũng có nhiều cách đi đến chiến thắng! – Luân không chịu thua
- Đúng... Và chúng ta sẽ bàn cách đi đến chiến thắng! – Westmoreland tỏ ra là một tướng khá giỏi về khoa ăn nói.
- Bây giờ, tôi nghĩ là nên đi vào vấn đề kỹ thuật - Tướng Harkins lên tiếng – Tôi đề nghị thành lập một tiểu ban, danh sách tiểu ban sẽ do tướng Đôn và tướng Westmoreland trao đổi và thông báo.
Cuộc họp kết thúc. Luân hiểu rằng ngay tại cuộc họp này đã diễn ra cuộc bàn giao giữa Harkins và phụ tá của ông.
Luân rời phòng họp. Anh hy vọng tướng Harkins hay tướng Westmoreland sẽ mời anh ở lại.
Đúng, có lời mời đó, nhưng:
- Mời tướng Thiệu ở lại!
Westmoreland nói to.
Luân vừa về đến nhà, điện thoại reo – Mai Hữu Xuân hẹn gặp anh và muốn gặp ngay.
“Một cuộc hòa giải mới!” – Luân nghĩ.
Xuân, chỉ có một xe quân cảnh hộ tống, bắt tay Luân, ngồi xuống ghế và nói luôn:
- Tôi cho rằng chỉ có những tên ngu ngốc mới không đo lường hết tình thế nguy hiểm của Nam Việt và do đó, sự gắn bó giữa hai anh em có đầu óc càng cần phải thắt chặt... Tôi với đại tá vốn hiềm khích từ lâu, tôi không muốn giấu diếm... Song, mỗi thái độ chỉ thích hợp với mỗi thời kỳ, từ thù hóa ra bạn cũng như từ bạn hóa ra thù...
Xuân “vào đề” như ông ta tính toán sẵn. Trán bóng lưỡng, môi thâm, da ngăm, tướng Xuân - Ủy viên Hội đồng quân nhân, đô trưởng Sài Gòn - kẻ không phải một lần ra tay khử Luân đang ngồi “tâm tình” với anh! Luân phân biệt rõ tướng Xuân và tướng Minh. Minh thật thà và có ý thức dân tộc; Xuân là tên mật thám chuyên nghiệp. Song, Luân hiểu, hôm nay Xuân không nói dối - hoặc ít ra, ông ta thật thà một cách chủ động. Dung đã chuyển cho Luân ý kiến của lãnh đạo về thái độ cần phải có với gã này và không cần đợi ý kiến lãnh đạo, Luân cũng phân tích được vị trí của nhóm thân Pháp bấp bênh ra sao hiện nay.
- Trước hết, tôi muốn đại tá bỏ qua những thành kiến trước đây với tôi. Nếu cần, tôi xin lỗi đại tá, dù tôi tự biết mình không có lỗi mà chỉ làm theo ý hướng của mình...
- Dẫu vậy, vẫn chưa công bằng... - Luân nói chen, hóm hỉnh – Vì tôi chưa hề một lần toan tính xóa bỏ trung tướng...
- Đúng, đúng... - Xuân vồ vập – Đó là chỗ đại tá cao tay hơn tôi... Nhưng, nói cho cùng, cả đại tá và tôi đang còn sống, ngồi ngó mặt nhau.Chỉ mới hôm kia thôi, tôi chưa từ bỏ ý nghĩ loại bỏ đại tá... Nhưng, tôi chợt tỉnh ngộ: tôi lầm...
- Một cuộc hòa giải trên xác chết ông Diệm, ông Nhu. – Luân mỉa mai
- Đại tá hận thật hay hận giả? – Xuân tỏ ra không kém.
- Về việc giết người, tôi hận thật! – Luân nói, mắt long lên.
- Vậy, tôi xin lỗi đại tá lần nữa về việc đó... Chắc đại tá thông cảm. Nếu ông Diệm, ông Nhu thoát chết thì người đầu tiên bị cọp xé xác phải là tôi! Quy luật cạnh tranh sinh tồn mà!
Luân nghe cổ họng mình có cái gì lờm lợm, muốn nôn.
- Bây giờ, mọi việc xảy ra đều theo ước muốn của trung tướng...
- Không chắc! Người ta đang tính loại bỏ chúng tôi...
- Lại quy luật cạnh tranh sinh tồn chăng?
- Quy luật giạnh chỗ ngồi!
- Xin lỗi, tôi đứng ngoài vòng cuộc tranh chấp ghế đẩu đó.
- Nhưng, đâu chỉ có tranh chấp ghế đẩu! Đại tá là ai, định làm gì, xin đại tá đừng cho tôi là tên bị bịt mắt. Tôi hiểu đại tá gần như đại tá hiểu đại tá! Sở dĩ tôi đến đây là vì chuyện lớn... - Giọng của Xuân lạnh như nước đá.
- Cứ cho như trung tướng hiểu tôi đúng đi, nhưng trung tướng đang là Đô trưởng. Tướng Đính đánh bại ông Diệm nhờ chức Tổng trấn Sài Gòn đó!
- Đại tá quả sành đời. Song hoàn cảnh của tướng Đính và tôi không giống nhau. Tổng trấn và Đô trưởng đâu thể ngang hàng nhau về quyền binh...
- Trung tá Savani không dặn trung tướng điều gì sao?
Luân nhứ một cú đấm như võ sĩ quyền Anh. Xuân tỉnh bơ:
- Có, song chính sách của Pháp còn lừng khừng...
- Trung tướng muốn gì ở tôi?
- Tôi muốn đại tá đừng đặt tôi vào vòng ngắm của đại tá. Trong những lúc thích hợp, chúng ta có thể dựa vào nhau mà hành động...
- Tôi đồng ý trên nguyên tắc. Nhưng, tôi e các ông không có đủ thì giờ...
- Tôi sẽ chạy thi với thời gian...
- Trung tướng đoán hướng nào đe dọa Hội đồng không?
- Tôi biết... Nguyễn Khánh và Nguyễn Văn Thiệu...
- Trung tướng định làm gì?
- Tiếc là ông Minh không mạnh tay. Tôi phải tự lo.
- Trung tướng lo với gã thiếu tá hay trung tá Hùng? Luân cười...
- À... - Xuân nhíu mày mấy giây - Nếu thằng đó khiến đại tá bực mình thì tôi sẽ làm cho đại tá hết bực mình, chúng ta coi như đã thỏa thuận...
Xuân chào từ biệt.
Hôm sau, báo chí đưa tin: Trên xa lộ, một tai nạn xe hơi rùng rợn: Trung tá Lê Đình Hùng chết khi xe ông tông phải một xe tải...
Luân đọc tin ấy mà rùng mình!


Phần 9 - Chương 6


Luân nhận quyết định của Bộ quốc phòng do tướng Trần Văn Đôn ký, giao cho anh nhiệm vụ Phó tổng thanh tra Quân lực Việt Nam Cộng hòa mà Tổng thanh tra là tướng Nguyễn Ngọc Lễ. Quyết định ký ngày 20-12, bốn ngày sau sắc lệnh 026 tịch thu tài sản của Ngô Đình Diệm – gia đình thuộc hạ gồm 21 người – và tài sản của đảng Cần Lao, Phong trào cách mạng quốc gia, Phong trào thanh niên cộng hòa, Phong trào phụ nữ liên đới, Hội Việt Nam cao đẳng giáo dục. Trong danh sách 21 người, không có Luân, Trần Trung Dung và tổng giám mục Ngô Đình Thục, Ngô Đình Luyện. Chủ tịch Phong trào cách mạng quốc gia Trần Chánh Thành cũng được bỏ qua, hơn nữa, ông ta đang đại diện cho chính phủ trong cuộc tiếp xúc với Sihanouk ở Nam Vang. Tất cả chỉ là một pha hình thức, không làm thì dư luận phản ứng mà làm thì phải tính đến mọi tế nhị của tình hình. Báo chí – Sài Gòn đã có đến 44 nhật báo – đưa tin với tít chạy suốt 8 cột, song không một bài bình luận nào ra hồn: cần phải tránh sự việc đụng chạm đến hàng vạn người đang giữ chức vụ rất cao...
Chế độ mới cố tạo một vỏ bọc khả dĩ mơ hồ dư luận. Thành Cộng Hòa, đại bản doanh của Liên binh phòng vệ cũ, chuyển sang Bộ giáo dục để xây dựng khu đại học. Đồng thời, chiều hướng ngược lại, sắc lệnh số 2 hủy bỏ lệnh bảo vệ luân lý - sản phẩm của Trần Lệ Xuân - với vài điều chỉnh: các tiệm khiêu vũ được mở cửa nhưng phải nộp thuế xa xỉ 200 đồng trên mỗi khách và mỗi lần, cấm vị thành niên vào quán nhảy... Hội đồng nhân sĩ được thành lập chính thức với 60 người.
Đã 60 ngày qua kể từ khi xảy ra cuộc đảo chánh, Sài Gòn và Nam Việt vẫn trong thế thả nổi...
Người khách không hẹn mà đến nhà Luân là bác sĩ Trần Kim Tuyến. Nghe Thạch báo tin ông ta, Luân mỉm cười. Gã mật vụ đang cố xoay song nghe chừng rất khó, nhất là sau khi Nguyễn Chánh Thi về nước. Thi căm Tuyến, nếu lột da được ông ta thì Thi cũng không run tay. Bộ hạ của Thi bị Tuyến đánh hàng loạt, số bị chết dưới gầm P.42 không ít. Em út Thi thúc giục Thi trả thù. Cái khó cho Thi là chiếc dù của Mỹ mà Tôn Thất Đính và Đỗ Mậu thừa hành lệnh che chở. Tuy nhiên, giới quân sự Mỹ không ưa Tuyến; Chủ tịch hội đồng quân nhân Dương Văn Minh phản đối việc tái lập cơ quan mật vụ, theo ông, mọi việc do Tổng nha cảnh sát, tình báo quân đội và trung tâm tình báo quốc gia đảm đương, khỏi cần thêm một tổ chức nữa, đặc biệt tổ chức mang tên Mật vụ ghê rợn.
Gã bác sĩ mật vụ thế nào cũng xì ra một mưu kế nào đó.
Đúng như Luân đoán, vừa bắt tay chủ nhà xong, Tuyến xổ liền một hồi:
- Đại tá nghĩ thế nào? Tình hình bát nháo, chẳng còn kỷ cương, mạnh ai nấy hành động, chia năm xẻ bảy... Cuộc đảo chính rốt cuộc sẽ đưa NamViệt về đâu? Tại sao không thành lập một chính đảng cầm quyền đủ sức lãnh đạo đất nước, tại sao không khôi phục hệ thống nòng cốt trong quân đội, tại sao không cho cơ quan mật vụ hoạt động? Tướng lãnh suốt ngày tán phét, chủ tịch ấm ớ, thủ tướng thì không dám có lấy một cái gật, một cái lắc đầu. Chết đến nơi rồi! Người Mỹ đang theo dõi, nếu chúng ta chẳng nên trò trống, họ sẽ bấm nút. Tôi tìm đại tá bởi trước đây chúng ta từng hợp tác và chia xẻ. Đảng Cần Lao, Quân ủy hay quá, phải không? Tôi muốn đại tá phác ra một phương hướng chính trị, một học thuyết thích ứng với đòi hỏi hiện tại. Tôi tin người Mỹ sốt ruột như tôi... Phó tổng thanh tra quân đội là bù nhìn! Chúng nó định vô hiệu hóa đại tá. Đại tá lại dưới quyền một thằng đại cù lần khác là Nguyễn Ngọc Lễ và cùng chức với một thằng đại cù lần khác là Phạm Văn Đổng... Tại sao đại tá lại nhận? Tôi biết nếu đại tá không nhận, chúng nó rối lên, sẽ mời đại tá ở cương vị khác, béo bở hơn, tư lệnh một chiến thuật hoặc một quân chủng, chẳng hạn...
Tuyến tuyệt nhiên không nhắc buổi chia tay trước khi gã rời Sài Gòn, nhận quyết định là Tổng lãnh sự ở Le Caire và không nhắc đến Tường, bộ hạ thân tín của gã bị Thạch bắn chết.
- Tôi tin là Hội đồng quân nhân sẽ giao cho bác sĩ một trọng trách. – Luân đợi Tuyến nói xong, chen vào một câu không ăn với chủ đề mà Tuyến đang hăng hái giãi bày.
- Không đâu! - Tuyến lắc đầu dứt khoát – Cái tôi đợi là hoặc vào khám hoặc lại ra đi, bây giờ không còn là đại sứ hay Tổng lãnh sự mà là một bí thư sứ quán...
- Chẳng thể như vậy được! – Luân cũng lắc đầu dứt khoát.
Tuyến cười héo hắt.
- Sao lại không thể như vậy? Tôi chẳng có ký lô nào trước các tướng lãnh.
- Nhưng, người Mỹ hiểu bác sĩ...
- Cũng không. Người Mỹ chỉ dùng tôi như một nhân viên quèn. Họ sợ!
- Sao lại sợ?
- À! Đại tá hỏi thật hay thăm dò? Người Mỹ cho rằng tôi hay lật lọng...
- Người Mỹ là quán quân của thói lật lọng!
- Đấy! Kỵ “jeu” mà! Tôi hối hận đã không chuẩn bị tư thế như đại tá... Tôi chỉ là tôi, không có thế lực...
- Tôi có lẽ còn tệ hơn bác sĩ. Chỉ có hai bàn tay trắng!
- Không, đại tá không qua mặt tôi nổi đâu. Đại tá là ai? Một Việt Cộng? Một CIA? Một Cần Lao? Tóm lại, là một người mà cả tướng lãnh Nam Việt lẫn Mỹ đều cần... Còn tôi? Tôi có một nhúm bộ hạ nay hầu hết quay lưng lại tôi. Nếu Mỹ định khử tôi thì một trong những bộ hạ của tôi sẽ nhận công việc đó, chỉ cần một số tiền kha khá. Tôi dựa vào Francisci...
Tuyết vụt cười giòn.
-... Mà tên buôn lậu này hẳn chọn đại tá chứ không chọn tôi!
- Tôi có cảm giác bác sĩ quá bi quan!
- Tôi chỉ nói sự thật... Sự thật bao giờ cũng chua xót! Tôi...
Tuyến ngập ngừng, đôi mắt cận chăm chăm vào mặt Luân.
- Tôi thổ lộ với đại tá đồng nghĩa với việc giao sinh mệnh cho đại tá... Liệu tôi có thể gởi sinh mệnh mình cho đại tá không?
- Nếu bác sĩ ngại... tốt hơn hết là không nên nói... - Luân trả lời ung dung.
- Tôi biết số xe của tôi đã bị ghi khi vào nhà đại tá... Thậm chí, chụp ảnh nữa. Bây giờ ở chỗ ông Chiểu hoặc chỗ tướng Stepp đã có các tài liệu về cuộc viếng thăm này...
Luân nhún vai.
- Tôi nghĩ là không có gì phiền nhiễu bác sĩ. Mỗi ngày, tôi tiếp hàng chục khách... Tướng Minh đã đến đây!
- Tôi biết! - Tuyến dồn dập – Chính tướng Minh đến nhà đại tá mà tôi biết người ta theo dõi mọi lui tới đây. Tôi xem bức ảnh chụp xe ông chủ tịch, tướng Đính cho tôi xem...
- Chẳng có sao cả, quân cảnh bảo vệ tôi!
Tuyến cười nửa miệng.
- Đại tá tin như vậy?
- Tất nhiên!
- Thôi, dù sao sự xuất hiện của tôi không còn bí mật, quân cảnh không báo cáo thì đại tá cũng báo cáo...
- Còn tùy... Báo cáo không phải chỉ mang bất lợi cho khách đến thăm tôi...
- Tôi nói thẳng! Tôi sửa soạn đảo chính! - Tuyến nói gọn gãy
Luân bình thản – anh không lộ một quan tâm đặc biệt trước tin kinh khủng này. Gã bác sĩ không nói đùa, anh biết.
- Đại tá hoài nghi?
- Tôi chưa nói gì cả...
- Tôi có một con bài... Đại tá cần biết không?
Luân cười hóm hỉnh.
- Tôi không cần biết!
Tuyến lột kiếng, lau lớp hơi mờ trên tròng, ngó Luân:
- Tại sao đại tá không cần biết?
- Vì tôi đã biết!
Tuyến gần như nhảy dựng:
- Ai thông báo cho đại tá? Tổng nha cảnh sát hay Jones Stepp?
- Chẳng ai thông báo cả... Tôi biết, vì tôi biết, thế thôi!
- Tôi không tin...
- Dễ kiểm tra thôi. Có phải “con bài” của bác sĩ là người này không?
Luân thấm ngón tay vào nước trà, viết hai chữ NK...
Tuyến sững sờ.
- Đại tá không phản đối?
- Tại sao tôi phản đối?
- Ngoài “con bài” đó, tôi còn một số con bài khác...
- Thôi, đủ rồi! – Luân ngắt lời Tuyến – Bác sĩ không nên đi quá xa...
- Thế là tốt, rất tốt! Đại tá không phản đối, không hành động chống lại, tôi yên tâm... Tôi xem đây là một đóng góp của đại tá. - Tuyến rối rít.
- Tôi chẳng đóng góp gì cả...
- Đó là đại tá nghĩ. Còn tôi, tôi phải nhớ...
Tuyến chào Luân ra về. Luân đóng cửa phòng, viết một báo cáo cho anh Sáu Đăng và A.07.
*
Với tư cách Phó tổng thanh tra, Luân tiến hành một cuộc thị sát, từ vùng I trở vào. Tình hình quân sự nói chung là xấu, khu vực mất an ninh ngày một rộng hơn, có nơi lan tận thị xã tỉnh lỵ. Cái nhìn chung đó khiến Luân vui. Thời cơ để quân giải phóng và quần chúng tấn công chính quyền vẫn còn, tuy không đồng loạt như năm 1960 song nguy hiểm hơn vì lần này lực lượng vũ trang cách mạng nắm khá nhiều súng, dân vệ tỏ ra bất lực và cả bảo an cũng không phải là đối thủ của họ. Quân chủ lực và tổng trừ bị bị điều như chong chóng. Các trận đánh quy mô tiểu đoàn khá phổ biến. Mỹ nhiều lần phải trực tiếp can thiệp, do đó, số thương vong Mỹ gia tăng.
Anh gặp Lê Khánh Nghĩa ở Tây Ninh. Sau đảo chính, Nghĩa được trả về Bảo an tỉnh. Cuộc tiếp xúc với viên chỉ huy Bảo an tỉnh giúp Luân hiểu thêm nhiều điểm mới – dù hai người toàn nói với nhau tiếng lóng. Luân tránh gặp riêng Nghĩa, tất cả các phiên làm việc đều công khai, các sĩ quan trợ lý của Luân có mặt cũng như các sĩ quan dưới quyền Nghĩa. Quân Giải phóng lấy Tây Ninh và Bình Long làm địa bàn chỉ huy; bộ chỉ huy miền Nam do tướng Trần Văn Quang phụ trách - lấy bí danh là Bảy Tiến – và tướng Trần Lương, bí danh Hai Hậu, phụ trách chính trị. Luân không quen hai tướng này. Nghĩa cho biết Trần Văn Quang người Thừa Thiên còn Trần Lương người Quảng Ngãi, Quang từng là Tổng tham mưu phó Quân đội Nhân dân và Lương, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Trung ương Cục miền Nam bấy giờ lấy tên là Ban chấp hành trung ương đảng Nhân dân Cách mạng, do Nguyễn Văn Cúc làm Bí thư. Võ Toàn tự Võ Chí Công, Phó bí thư, cũng đóng trên địa bàn này với Ủy ban trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng mà luật sư Nguyễn Hữu Thọ đứng đầu với các phụ tá cao cấp như bác sĩ Phùng Văn Cung, hòa thượng Thích Thượng Hào, giáo sư chủng viện đạo Thiên Chúa Joseph Marie Hồ Huệ Bá, thượng tọa người Miên Sơn Vọng, lãnh tụ đạo Cao đài phái Tiên Thiên Nguyễn Văn Ngợi, trung tá Bình Xuyên Võ Văn Môn... Đài phát thanh Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng, báo Giải phóng, đoàn văn công Giải phóng, xưởng phim Giải phóng... đều sử dụng biên giới Việt – Miên chạy từ đầu nguồn sông Vàm Cỏ Đông sau đầu nguồn sông Sài Gòn làm căn cứ. Lưu Khánh, nay xuống miền Tây Chmắc phụ trách tham mưu trưởng quân khu. Lê Khánh Nghĩa cố gắng thông báo tin đó với Luân, giọng nói và sắc mặt không thể thay đổi... Hẳn Nghĩa đã gặp cha trong một dịp nào đó và hẳn Nghĩa đang nhận nhiệm vụ.
Theo Nghĩa, sư đoàn bộ binh 13 vẫn không ổn. Luân hiểu là nội tuyến của ta tiếp tục phát triển trong sư đoàn này sau khi Phan Cao Tòng thôi chức sư trưởng. Nghĩa nhắc Luân nhớ Băng Trinh, vợ Cao Tòng mà nghề buôn lậu nhất định giúp cô ta giữ quan hệ cũ với các sĩ quan sư đoàn: một khả năng đáng khai thác; Luân trách mình quên bẵng vụ trại Lam Sơn bị quân giải phóng tiến công năm 1960 và vợ chồng Cao Tòng nhờ anh che chở.
- Tôi không thích chỉ huy bảo an. Tôi muốn nắm đơn vị chính quy, đánh nhau cho ra đánh nhau... - Lê Khánh Nghĩa bày tỏ nguyện vọng khi đã báo cáo xong với Luân, Luân hiểu ý định của Nghĩa từng nắm một trung đoàn thuộc sư 5 và trung đoàn đó nổi bật trong cuộc đảo chính – nó đánh thành Cộng Hòa, khuất phục Liên binh phòng vệ phủ Tổng thống.
Luân gật gù, gián tiếp cho Nghĩa biết là anh tán thành và sẽ nghĩ phương pháp giúp Nghĩa:
- Một nguyện vọng chính đáng. Tôi ủng hộ trung tá... Sư 13 được không?
- Cám ơn đại tá... Nếu sư 5 thì thuận hơn vì tôi đã quen với nó...
- Cũng tốt! Sư 5 án ngữ thủ đô, đó là sư cơ động...
Lê Khánh Nghĩa chiêu đãi cực kỳ long trọng Luân và đoàn tùy tùng một bữa ăn tối có đoàn ca nhạc rước từ Sài Gòn lên vui, có cả những màn thoát y. Luân thầm phục Nghĩa. Nếu tình báo nghi ngờ sự ủng hộ của Luân đối với Nghĩa – Luân sẽ đề nghị hội đồng quân nhân giao Nghĩa chỉ huy một trung đoàn hay chỉ huy phó một sư đoàn – thì đã có một biện hộ đắc lực: buổi tiệc lớn, màn thoát y và quà cáp mà mỗi người trong đoàn đều nhận...
Luân gặp Trương Tấn Phụng, bây giờ là Phó tỉnh trưởng nội an tỉnh Kiến Tường. Phụng không dự cuộc họp chính thức - chỉ có các sĩ quan bảo an và viên trung đoàn trưởng thuộc sư 7 báo cáo với Luân. Nhưng, Phụng mời Luân ăn cơm riêng. Bữa cơm không vui. Phụng thắc mắc đủ thứ chuyện. Tất nhiên, Luân càng giải thích, Phụng càng thắc mắc. Điều thắc mắc lớn nhất của Phụng là tại sao Mỹ thọc mó quá sâu vào nội tình Nam Việt và tại sao các tướng lãnh chưa vạch ra được đường lối thoát khỏi cuộc chiến bỉ ổi này – phía bên kia giương ngọn cờ Dân tộc còn phe Quốc gia thì mỗi lúc một lộ nguyên hình bù nhìn.
- Không rõ đại tá thế nào, phần em, em chán quá. Em không thể đâm thuê chém mướn, không thể nhìn đồng bào mình chết vô lối dưới làn bom đạn Mỹ. Ở Kiến Tường, nhóm sĩ quan Mỹ trịnh thượng không chịu được. Nhiều lúc em muốn bắn ráo mấy thằng chó đẻ đó rồi ra tòa án binh.
“Anh ta chỉ mới đi được một nửa chặng đường” – Luân nghĩ thầm – “Tại sao lại chịu ra tòa án binh mà không tính một ngả khác?”
- Có lúc em muốn nhảy sang phía bên kia... - Phụng giải đáp băn khoăn của Luân – Song, một là em sợ họ không tin, em vừa sĩ quan, vừa có đạo, giống như đại tá; hai là ra bưng với hai tay trơn, ăn thua gì... Hồi nắm quân, em chưa nghĩ đến khả năng này, bây giờ làm tới chức nội an, chẳng có một mống binh tôm tướng cá. Ngán quá trời!
Giọng của Phụng kéo dài não nề. Đây là một Phụng khác hẳn: trước kia, một chú học sinh ngờ nghệch, đâu có lối nói ngang, pha “anh chị”. Cũng dễ hiểu. Mặt Phụng rắn rỏi hẳn. Mưa nắng Đồng Tháp Mười cùng bao biến động đột ngột, dữ dội hẳn trên gương mặt hết còn những sợi lông măng.
- Theo đại tá, tình hình rồi sẽ ra sao?
Trương Tấn Phụng hỏi Luân một câu mà anh không biết phải trả lời như thế nào cho ổn.
- Chiến tranh sẽ ác liệt hơn... - Luân lựa lời.
- Mỹ đánh với người Việt chúng ta?
Luân nhún vai:
- Mỹ và cả những người mang quân phục giống tôi là người Việt...
- Thật vô lý!
- Vô lý... Đúng rồi... Song chúng ta quen với mọi thứ vô lý không phải mới có hôm nay...
- Tôi không đồng ý với đại tá! - Phụng không xưng “em” nữa - Phải làm cho cái vô lý thành có lý!
Luân cười mỉm.
- Nhưng, như trung tá nói... Một tỉnh phó nội an biến cái vô lý thành có lý e quá sức chăng?
Phụng ngồi thừ khá lâu:
- Em xin chuyển vị trí...
Một lúc sau, Phụng hỏi Luân:
- Còn đại tá? Đại tá bằng lòng với chức Phó tổng thanh tra sao?
Luân không trả lời, anh nghĩ đến Mai – đây là một đầu mối tốt, nếu Mai móc nối được và nếu Phụng ra đơn vị.
- Em không bao giờ quên những bài viết của đại tá. Em mong đại tá đừng quên chúng!
Câu từ giã của Trương Tấn Phụng chẳng khác gì một lời khuyến cáo. Luân buồn buồn bắt tay Phụng. Những người như Phụng không ít, song làm sao vạch cho họ con đường đúng và liên kết họ lại với nhau.
- Trung tá vẫn gặp trung tá Lê Khánh Nghĩa chớ? – Luân hỏi.
- Lâu rồi em không gặp... Đại tá nhắc, em sẽ phone cho nó...
*
Nguyễn Thành Động gặp Luân sôi nổi hơn hai người kia... Động không úp mở và có lẽ Động cũng ít nhiều hiểu quan điểm của Luân nếu chưa hiểu thân phận của anh.
- Tụi “tả pí lù” này không quét thì chớ hòng xã hội sạch sẽ. Toàn là vi trùng gônô, dầu chích một tấn pêni cũng không ăn thua. Đại tá chắc không rành bệnh giang mai, khi nó đã vô máu rồi thì thịt loét, xương nục, mùi thối không chịu nổi, chỉ cần ngồi gần cũng bị lây. Tôi không dại chịu chết chùm với chúng nó. Ông Diệm ba trợn, rõ ràng lắm, ông Nhu hiểm, càng rõ ràng hơn. Mụ Lệ Xuân khôn vặt... nhưng họ còn có cái gì đó để mình nể. Tới tụi thằng Đính, thằng Mậu thì tôi chào thua. Ông Big Minh không bao giờ có thể trở thành chính khách, tôi phục nhân cách của ông, mà Mạnh Thường Quân khác nguyên thủ quốc gia. Tôi đọc Đông Châu Liệt quốc, Mạnh Thường Quân bất quá nuôi được lũ bộ hạ làm gà gáy, chó sủa lúc túng cùng chứ làm sao cai trị được một nước. Quanh Big Minh toàn ma cô ma cạo. Thằng cha Mai Hữu Xuân thâm như cặp môi thâm của y ta nhưng thời buổi này chỉ bằng mẹo trẻ con. Mỹ cho nó một phát, chết không kịp ngáp! Chống Cộng kiểu nhảy đầm, vuốt đùi em út, tôi cá một ăn trăm, Cộng sản tràn ngập lãnh thổ, không có đất mà chôn... Thế là dọn sân bãi cho Mỹ nhảy vào, tụi mình thành partisan (1) ráo. Tôi thấy bọn sĩ quan Kiến Hòa đêm không đi nhậu mà học tiếng Anh, đánh lưỡi thật dẻo từ “All right” (2) giống thời tây học “Oui” (3). Đại tá thấy chán không? Cố vấn Mỹ là thá gì? Chúng nó dốt đặc cán mai vậy mà lên mặt ta đây! Thằng cố vấn bảo an Kiến Hòa mặt dài như mặt ngựa, lúc nào cũng nhai kẹo cao su, một tuần hai buổi giảng vể lý thuyết chiến tranh. Nó chê lính Việt nhát. Bữa nó giảng bài, ông Việt Cộng nào đó chơi ác, ném một lựu đạn về bên trong sở chỉ huy Bảo an, tụi tôi ngồi yên, thằng cố vấn đút đầu nó xuống gầm bàn, đưa mông lên trời, la như heo bị chọc huyết! Vậy mà sau đó, nó vẫn tiếp tục múa mỏ. Tởm thấy mẹ!
Nguyễn Thành Động vẫn ngang như thuở nào, song anh chẳng hiểu chính trị, yên chí chống Cộng là đúng mặc dù anh không làm gì để chống Cộng cả.
- Quét bằng cách nào? – Luân hỏi, hơi châm chọc
- Nếu tôi là đại tá, tôi đủ sức quét. Cần một sư đoàn, đảo chính gọn bân! Một tiểu đoàn vây bắt sạch Hội đồng quân nhân, một tiểu đoàn chiếm Bộ tổng tham mưu, một tiểu đoàn chiếm đài phát thanh. Dư hai,ba trung đoàn - chặn lối ra vào thủ đô, khống chế sân bay... Ba thằng tướng nhát như thỏ đế, tôi bắn thị oai vài loạt đạn, tụi nó té đái, té cứt, bò lổm ngổm, xin hàng.
- Rồi thôi sao? – Luân tiếp tục cười cợt.
- Tất nhiên phải có tuyên ngôn, tuyên cáo, phải có hội đồng, ủy ban, phải có chính phủ...
- Ai ra tuyên ngôn, tuyên cáo?
- Tôi thì không ra được. Thằng trung tá quèn này chỉ có mấy cô bán bar Trúc Giang biết đến. Đại tá ký tên... Cứ thăng nó lên đại tướng, thống chế, chết ai mà sợ... Ba ông Lào đảo chính lia lịa, đều đại tướng ráo. Kong Le là tướng rồi đó.
- Anh nói chuyện bằng trời mà như đùa!
- Đại tá nghĩ rằng đảo chính vào thời buổi này là nghiêm chỉnh sao? Trò đùa, tại sao ta không đùa chơi một phát? Tôi nghe phong thanh tay Dương Văn Đức hơi “mát” cũng tính đảo chính thử thời vận đó.
- Thế thì anh thử thời vận đi. – Luân cười vui.
- Tôi đâu có ngán... Nhưng Bảo an yếu xìu, thiếu xe tăng, thiếu máy bay. Nắm được một sư đoàn hỗn hợp, tôi đánh rốc vô Sài Gòn liền. Tôi “phơ” tụi thằng Mậu, thằng Thi; thằng Kỳ, thằng Đính... ngay chợ Bến Thành, kề súng vào mang tai tướng Minh bảo ra lệnh các vùng, các binh chủng đầu hàng, tôn đại tá lên ngôi Quốc trưởng...
- Anh sẽ nhận chức gì?
- Tôi chẳng nhận chức gì, trở lại với đám Bảo an Kiến Hòa ăn no, ngủ kỹ, giao ước với Việt Cộng đừng đụng tới thị xã...
- Thế làm sao anh chống Cộng được?
- Chống Cộng nghĩa là đất ai nấy ở. Tôi không lấn chiếm vùng kiểm soát của Việt Cộng, Việt Cộng đừng phá tôi... !
- Tương lai sẽ ra sao... Đâu thể giữ công thức đó lâu dài mãi được...
- Thây kệ, tới đâu hay tới đó...
Luân biết Động chưa có chủ đích chính trị, anh ta bực bội và có thể anh ta manh động. Nhưng Luân không tiện nói nhiều, Nguyễn Thành Động khác Trương Tấn Phụng - Phụng suy nghĩ cân nhắc còn Động thì bốp chát. Hễ ai đảo chính thì anh ta theo... Đành phải để thời gian giúp kinh nghiệm cho anh ta. Chỉ ngại anh ta lốp bốp, chưa chi đã phải ra tòa án binh...
Luân lựa lời khuyên Động, nhẹ nhàng thôi:
- Tôi biết bọn chó săn đầy chợ Bến Tre. Kệ tổ tụi nó, thằng nào ló mòi, tôi tống giam, lên gối cho hộc máu... Ngay tụi cố vấn Mỹ có ngày cũng bị tôi. Tôi đã tát tai một thằng vô văn phòng tôi mà gác chân lên bàn.Tụi nó làm um xùm, thằng Trần Ngọc sợ, tôi cho bố trí một chục khẩu đại liên ngay cửa, tụi nó đến lấc cấc, tôi bắn! Tụi nó ngán, im re...
Luân lắc đầu thở dài. Tại sao Bộ quốc phòng chưa lột lon Nguyễn Thành Động? Luân hơi lạ, có thể Sài Gòn quá bận rộn với việc khác - những tướng ghét Động không đủ thời giờ nhòm ngó một tỉnh nhỏ và hẻo lánh như Kiến Hòa, những tướng khác có khi ngầm tán thành Động. Nhưng, chắc chắn Mỹ sẽ không bỏ qua đâu.
- Tôi khuyên trung tá bớt nói, dè dặt vẫn hơn.
- Cám ơn đại tá... Nhưng, tôi hiểu không sai chạy một ly: các cha nội Hội đồng quân nhân lo thân chưa xong, tụi Mỹ lo canh đám sớm đầu, tối đánh, hồ sơ của tôi nếu có, xếp ở dưới chót. Hội đồng đến khi bị phơi áo cũng chưa rờ tới nó... Sức mấy mà Hội đồng nhớ tới tôi.
- Anh dám lập: “Cộng hòa Kiến Hòa” lắm! – Luân vỗ tay Động.
- Tôi có một giang đội mạnh, vài chục máy bay chiến đấu, một chi đoàn thiết giáp, một trung đoàn súng cao xạ và pháo tấn công thì tôi dám kéo cờ tuyên cáo Kiến Hòa là Lương Sơn Bạc với tấm biển tổ bố: Thế thiên hành đạo! Mà, phải mời đại tá ngồi ghế của Tống Giang... Nói giỡn, chớ Bến Tre nhỏ quá... tôi đã làm đơn xin chuyển về Định Tường hoặc Long An, lý do vợ con tôi ở Tân Hương...
- Đâu có! Tôi biết mà...
- Đại tá biết tôi chưa lập gia đình, song Bộ Tổng tham mưu thì biết mẹ gì.”Bồ” của tôi ở Tân Hương thiệt...
Tay Động thật lanh chanh quá, Luân không mấy phấn khởi khi rời Kiến Hòa...
---
(1) Lính ăn theo, thân binh
(2) Chí lý – tiếng Anh
(3) Vâng, dạ - tiếng Pháp



Phần 9 - Chương 7


Thế là năm 1963 trôi qua. Noel, một ngày buồn, và tết dương lịch còn buồn hơn. Buổi tiếp tân đầu năm của Quốc trưởng tại dinh Độc Lập, tuy đủ mặt ngoại giao đoàn, song không những ly sâm banh không hâm nóng nổi không khí chung mà những nhà chính trị thành thạo chờ một cái gì đó bùng nổ tiếp sau cuộc đảo chính. Đại sứ Cabot Lodge, vẫn tỏ vẻ mãn nguyện - chỉ mãn nguyện bề ngoài, vì người ta đôi lúc bắt gặp ông ta phân tâm, như đăm chiêu suy nghĩ về một bài toán khác bắt đầu hình thành trong ông. Đại sứ Pháp thản nhiên – cũng bề ngoài nốt, ông ta không phải không biết âm mưu bài Pháp sắp được công khai hóa, sự răn đe của người Mỹ với bộ sậu của tướng Minh! Mỹ lật Bảo Đại, tấn phong Diệm là hất cẳng Pháp, họ không thích cái trò luẩn quẩn ấy tái hiện. Mỹ lật Diệm và tấn phong Dương Văn Minh nhất thiết không có nghĩa phe thân Pháp ngoi lên và phục thù. Trong lúc chúc mừng Quốc trưởng nhân dịp đầu năm, Cabot Lodge nói ngắn, và nói vừa đủ cho mọi người nghe:
- Thưa trung tướng Chủ tịch, tôi hân hạnh thay mặt chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ khi tống tiễn năm cũ về quá khứ và đón năm mới, chúc trung tướng Chủ tịch, toàn thể Hội đồng quân nhân, chính phủ và dân chúng Việt Nam Cộng hòa những ngày tháng sắp tới đầy hy vọng. Với chúng ta, thành viên của thế giới tự do, chúng ta chịu ân sủng của Thượng đế và bằng lòng với sự an bài của Thượng đế. Hôm qua là hôm qua. Nền dân chủ mà chúng ta hy sinh để bảo vệ sẽ hướng về phía trước cũng như Việt Nam Cộng hòa mãi mãi đứng vững trên tư thế tiền đồn của thế giới tự do, không ai có thể quay ngược bánh xe lịch sử. Chủ nghĩa thực dân gây đau khổ cho dân chúng quý quốc, chế độ gia đình trị cũng như thế. Bây giờ Việt Nam Cộng hòa giành được một triển vọng tốt đẹp, nó đảm bảo sự nghiệp chống Cộng đạt thắng lợi. Chừng nào Việt Nam Cộng hòa kiên định lý tưởng tự do và chống Cộng không ngả nghiêng thì chừng đó Hoa Kỳ sát cánh với các bạn.
Rõ ràng Cabot Lodge cảnh cáo tướng Minh và nhắn khéo chính phủ Pháp. Ý này bộc lộ trắng trợn khi ông ta chạm cốc với tướng Minh:
- Trung lập là nạn dịch nguy hiểm!
Trung tướng Quốc trưởng ít cười, trừ những lúc bắt buộc phải cười. Không thông thạo lắm về chính trị, song ông hiểu rằng trò chơi vừa ở pha khởi sự, vai trò của ông và đồng sự bấp bênh như thế lực thật của các ông. “Tay đại sứ Pháp yếu quá!”. Đó là nhận xét của trung tướng Chủ tịch, nhận xét thầm thôi.
Quốc trưởng nói còn ngắn hơn Cabot Lodge và ông đã khiến đôi mày của vị đại sứ Mỹ nhíu lại một cách lộ liễu.
- Thưa các vị đại sứ và đại diện ngoại giao, nhân đầu năm theo Tây lịch, tôi cám ơn tất cả các vị đã đến chúc mừng Hội đồng quân nhân cách mạng, chính phủ Việt Nam Cộng hòa và cá nhân tôi. Tôi xin chúc các vị, quý mến và quốc gia mà các vị đại biểu một năm mới tốt đẹp. Việt Nam Cộng hòa vừa trải qua cơn xáo trộn.Chúng tôi đang cố gắng khôi phục để tình hình trở lại bình thường. Nguyện vọng của nhân dân chúng tôi là được sống trong thanh bình và tình huynh đệ. Về ngoại giao chúng tôi hy vọng liên kết với mọi quốc gia theo nguyên tắc bình đẳng, không can thiệp vào nội bộ, mỗi quốc gia giữ nếp sống chính trị và văn hóa riêng mà mình lựa chọn. Xin mời các vị cạn ly!
Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa không nhắc, dù một lần, quyết tâm chống Cộng, không lên án Bắc Việt, không cám ơn Hoa Kỳ, không chúc sức khỏe tổng thống Johnson, không ca ngợi đại sứ Mỹ - tác giả của cuộc khuynh đảo đưa Big Minh lên sân khấu. Tất cả những người có mặt đều thấy thái độ giận dỗi của Cabot Lodge lúc kết thúc buổi tiếp tân – ông ta cố ý nện mạnh gót giầy lên bậc thềm...
*
Một “điều chỉnh” nhỏ năm hôm sau buổi tiếp tân ở dinh Độc Lập. Văn phòng Hội đồng quân nhân ra thông báo mà không kèm theo một lời giải thích: Trung tướng Tôn Thất Đính từ Tổng trưởng an ninh chuyển sang Tổng trưởng nội vụ, thiếu tướng Đỗ Mậu làm Tổng trưởng thông tin thay thiếu tướng Trần Tử Oai, trung tướng Trần Văn Đôn thôi Tổng trưởng quốc phòng mà lĩnh chức Tổng Tư lệnh quân đội.
Cuộc điều chỉnh tất nhiên có dụng ý. Không còn Bộ An ninh mà chỉ còn Bộ Nội vụ - công việc an ninh bỏ ngỏ trong khi chờ đợi một Tổng cục trưởng tình báo; Đỗ Mậu lẽ ra giữ một trọng trách hơn Bộ thông tin; Tổng tư lệnh chỉ là danh nghĩa dành cho tướng Đôn, cũng như Tổng tham mưu trưởng dành cho tướng Kim. Riêng Trần Thiện Khiêm vớ được chỗ béo bở: Quân đoàn III và vùng III khống chế thủ đô, nơi mà tướng Đính đã sử dụng binh lực làm đảo chính.
Cabot Lodge dí các quân cờ. Tán thành hay không, tướng Big Minh cũng phải ký một quyết định mà thế của ông qua đó đã mỏng càng thêm mỏng.
Hai dấu hiệu khác mang ý nghĩa báo động: đám tang Nhất Linh Nguyễn Trường Tam bỗng biến thành cuộc biểu tình chống trung lập – cái chết của Nhất Linh dù ai giàu tưởng tượng đến mấy cũng không thể cột nó với ý nghĩa phản đối thuyết trung lập: Ngân hàng quốc gia bỗng công bố giá vàng từ 6.200 đồng đến 6.500 đồng một lạng, kéo theo giá hối đóai đồng bạc so với đồng dollar Mỹ.
*
Dung lái xe, thong thả chạy qua chùa Xá Lợi. Cờ phướn rợp cổng chùa, nơi tiến hành Đại hội thống nhất Phật giáo. Ngôi chùa từng là địa điểm xung đột đẫm máu mấy tháng trước nay trang hoàng rực rỡ. Cờ Phật giáo uốn lượn trước cơn gió nhẹ trên từng chiếc cột dài theo đường Bà huyện Thanh Quan. Có vẻ như cuộc tranh chấp xung quanh quyền treo cờ đã kết thúc mà thắng lợi thuộc về giới Phật tử. Nhưng lẽ nào về chuyện treo cờ tôn giáo mà một triều đại phải sụp đổ? Tất cả chỉ là cái cớ. Ngô Đình Diệm chọn cái cớ “phải tôn trọng quốc kỳ” để ngăn ngừa một nguy cơ đối với chế độ của ông ta.
Những người theo đạo Phật bình thường - họ chiếm số đông và rất thành tâm - dồn nỗi uất ức chế độ Ngô Đình Diệm lên cái cớ “không được treo cờ” họ được hàng triệu người không theo đạo Phật ủng hộ, đây là lực lượng chủ công trong trận đánh chính trị đầy gian khổ qua vô vàn hy sinh và tiểm ẩn trong họ ý thức chống Diệm đồng nghĩa với chống Mỹ xâm lượng, chống Mỹ gây chiến tranh, chống Mỹ hủy hoại đạo lý dân tộc... Giới cầm đầu Phật giáo cũng không đồng nhất; bộ phận chân tu đau lòng trước cơn pháp nạn, ít nhiều hiểu Ngô Đình Diệm là cái bóng của Mỹ, do Mỹ đặt để chống Diệm, tức chống một phần chính sách của Mỹ, họ không hứng khởi vì chỗ treo của một lá cờ, họ băn khoăn vận nước song họ không đủ nhạy bén chính trị, ít tháo vát, ít mưu lược; bộ phận cực đoan dùng phong trào Phật giáo như chiếc bình phong để đạt ý đồ chính trị, hễ Phật giáo trở thành “quốc giáo” thì họ là chúa tể của mảnh đất này, nắm quyền lực tinh thần lẫn vật chất, đổ máu hay cái gì khác không khiến họ bận tâm, họ sẵn sàng đưa hàng chục vạn sinh mệnh tín đồ mặt quân phục Mỹ và chấp nhận vượt vĩ tuyến 17. Họ dính dáng với tình báo Mỹ và các đảng phái do tình báo Mỹ tài trợ, họ căm thù Cộng sản và những cái do Cộng sản đẻ ra: giải phóng đất nước, xây dựng Tổ quốc... Bộ phận đứng giữa gồm số người lừng chừng, không có chủ đích, đánh đồng Mỹ và Cộng sản, họ lại bị số cơ hội chủ nghĩa nhiều tham vọng cầm đầu, những kẻ dùng mọi đối địch để giành quyền chế ngự cả đạo lẫn đời... Liệu Đại hội thống nhất Phật giáo dung hòa nổi các mâu thuẫn nội tại gay gắt này không? Khả năng phái chân tu bị cô lập thì đã rõ. Một Thích Thiện Hoa, một Thích Thiện Luật, một Thích Trí Tịnh, luôn cả Thích Thịnh Khiết, Thích Đôn Hậu, Thích Trí Thử; khó mà chi phối những Thích Tâm Châu, Thích Tâm Giác, Thích Đức Nghiệp “sát máu”, được Thích Nhất Hạnh quỷ quyệt nhằm hỗ trợ. Quyền bính thực sự sẽ lọt vào tay số ăn tiền Mỹ... Quần chúng bị lừa gạt trước những ngọn cờ Phật uốn lượn trong gió, không trong khuôn viên nhà chùa mà ngoài quan lộ này. Những hy sinh lớn lao của Phật tử rốt lại chỉ gắn lên cầu vai một số thượng tọa, đại đức quân hàm sĩ quan Tuyên úy, nhằm trang bị cho một số người cầm đầu những gian phòng lộng lẫy có máy điều hòa nhiệt độ, những chiếc ô tô sang trọng, và tệ hại hơn, những cô gái mơn mởn cùng tài khoản nước ngoài tính bằng dollar...
Dung theo đuổi ý nghĩ cho đến khi xe cô dừng lại đầu đường, nơi giáp với đại lộ Hồng Thập Tự.
Ngôi nhà mà Dung tìm đây rồi. Một biệt thự kiểu mới. Dung bấm chuông.
Người tiếp Dung là Lưu Thị Băng Trinh, vợ của thiếu tướng Phan Cao Tòng, trưởng quân tiếp vụ - nguyên sư trưởng sư 13. Mặc dù cách nhau hơn ba năm, Băng Trinh vẫn không thay đổi, có lẽ chuyến đến thăm của Dung hơi đột ngột nên Băng Trinh không được bình tĩnh lắm. Qua vài lời chào hỏi và cử chỉ của Băng Trinh, Thùy Dung khẳng định rằng Băng Trinh vẫn như xưa, vẫn thật thà...
- Em không ngờ gặp bà... Tụi em định thỉnh thoảng đến chào ông bà, nhưng ngại quấy rầy ông bà, anh Tòng của em thường nhắc ông bà, nhắc cái ơn lớn đó, mà ảnh dặn em, đại tá nghiêm lắm. Thôi mình nhớ ơn thì để bụng, nay thăm mai viếng e đại tá không bằng lòng...
- Ơn nghĩa gì mà chị nhắc. – Dung ngắt lời Băng Trinh – Ông thiếu tướng vắng nhà?
- Dạ, anh Tòng của em bữa nay đi thăm ông Chiểu... họ là bạn bè thuở xưa... Ông Chiểu sắp lãnh một bộ nào đó...
- Chị có hay về quê không? – Dung hỏi như tình cờ.
- Dạ có,... em lên Tây Ninh thăm anh Nghĩa... - Băng Trinh xởi lởi
- Công việc làm ăn của chị thế nào?
- Cũng tàm tạm. Cơ sở nuôi bò của em vẫn ở chỗ cũ...
Câu chuyện từ chỗ thù tiếp xã giao chuyển dần sang các nội dung cao hơn. Bây giờ Thùy Dung tin chắc mình gặp Băng Trinh là đúng. Băng Trinh liên hệ chặt với Lưu Khánh Nghĩa, đã xuống rừng U Minh thăm Lưu Khánh - những khám phá gián điệp của Dung bởi Băng Trinh tin Dung mà lộ ra.
“Cô ta nhất định nhận nhiệm vụ gì đó của các đồng chí” – Dung đi đến kết luận. Phần Phan Cao Tòng, qua Băng Trinh, Dung hiểu ông ta mù tịt việc làm của vợ, bản thân lo làm giàu: nghề quân tiếp vụ luôn mang tiền vô như nước, tuy vậy, Tòng không phải loại chống cách mạng – ông ta an phận thủ thường, Băng Trinh quan hệ rộng với các sĩ quan, trong đó Dung chú ý Lê Đạo, quê Quảng Bình, nguyên trưởng phòng an ninh sư đoàn 13, người từng thảo một báo cáo bịa đặt trong vụ hậu cứ sư đoàn 13 bị tấn công năm 1960 – và Luân còn giữ báo cáo đó. Hiện nay, Đạo hàm trung tá, sĩ quan sư đoàn 5 thuộc Bộ tổng tham mưu, chuyên theo dõi tình hình vùng II. Có thể dùng tài liệu này mà khống chế Lê Đạo không? Dung đắn đo mãi. Sau cùng cô nghĩ tốt nhất nên đưa tài liệu đó cho Lê Khánh Nghĩa – cô sẽ gửi bản sao theo đường bưu điện mà không cần nhắc nhở gì, tự khắc Nghĩa sẽ hiểu ra công dụng của nó và tìm cách sử dụng có lợi nhất.
Dung gặp Băng Trinh để cốt xác định giả thiết của Luân và thăm dò thử thực lực Nghĩa nắm – cô yên tâm: Nghĩa tạo được chân rết khá rộng, và trong mọi hoàn cảnh nào, Nghĩa cũng yểm trợ được cho Luân.
Tìm Mai khó hơn tìm Băng Trinh. Báo “Ngôn luận” và “Người Việt tự do” đăng ở mục rao vặt: nhắn bà Đào, nguyên tiếp viên hàng không Air Việt Nam, trước ở đường Trần Hưng Đạo để thương lượng vụ mua nhà. Hỏi chị Cả, có thể liên lạc bằng điện thoại mà bà đã biết.
Luân và Dung không dám mạo hiểm đến nhà chị Cả. Họ cũng ít hy vọng gặp được Mai - từ sau vụ đánh bom dinh Độc Lập đến nay đã lâu, không rõ Mai còn ở thành phố hay đã ra Khu. Báo đăng ba kỳ liền, chẳng thấy động tĩnh gì.Họ bắt đầu nghĩ đến phương pháp khác. Báo cáo với anh Sáu Đăng...
Đến một tuần lễ sau, vào buổi trưa, điện thoại reo. Mai hẹn gặp Luân.
Mai hóa trang người xin làm việc vặt đến nhà Luân. Dung tiếp Mai ngoài hiên. Mai đang ở chiến khu, đọc báo biết có việc cần, vừa vào thành phố hôm qua. Dung thông báo liền tình hình Nguyễn Thành Động và Trương Tấn Phụng. Mai nghe rất chăm chú. Trả lời câu hỏi của Dung về tướng Đức, Mai lắc đầu: chưa đặt được một quan hệ nào tốt. Nhưng về tướng Lâm thì Mai mỉm cười, Dung có thể hiểu là chị của tướng Lâm đã tiếp xúc với ông ta và tin cậy được.
*
Tình hình mâu thuẫn tôn giáo ngày mỗi căng thẳng – ít nhất, cái vẻ bề ngoài cho họ cảm giác như vậy. Bộ Nội vụ ra một thông báo kêu gọi dân chúng đừng nghe theo các tin tức kích động, không hề có xung đột tôn giáo. Tuy nhiên, tại tỉnh Bình Tuy, quận trưởng Tánh Linh nổ súng, bắn chục tín đồ Thiên Chúa giáo bị chết, nhiều người bị bắt. Đây là số dân dinh điền võ trang gậy gộc không chịu cho quận trưởng khám xét - quận trưởng được mật báo dân dinh điền tàng trữ thuốc nổ và truyền đơn chống chính phủ. Một phái đoàn từ Sài Gòn ra Tánh Linh điều tra theo yêu cầu của một số linh mục. Giáo hội Phật giáo bầu Thích Tâm Châu làm Viện trưởng Viện Hóa đạo, cơ cấu giáo hội cải tổ hoàn toàn với hệ thống và chức danh na ná một bộ máy nhà nước - quyền hành pháp thuộc Viện Hóa đạo.
Dấu hiệu đầu tiên về cơn rối loạn mới xuất hiện với cuộc biểu tình gượng ép: một số sinh viên, học sinh do ai đó giật dây xuống đường chống thuyết trung lập, nhân ông Basdevant, Giám đốc Viện Văn hóa Pháp thăm Sài Gòn. Trước đó mấy hôm, chính phủ Pháp quyết định công nhận chính phủ Bắc Kinh và lập quan hệ ngoại giao với cấp đại sứ. Chính phủ Sài Gòn không nhận tân đại sứ Pháp Du Gardier vì ông này từng làm đại sứ Pháp ở Cuba? Đà chống Pháp và chủ trương trung lập mở rộng, tất nhiên hoàn toàn giả tạo. Hội đồng nhân sĩ lên án “mưu toan trung lập hóa Nam Việt”, chính phủ tuyên bố sẽ có biện pháp mạnh đối với Pháp. Hội đồng nhân sĩ kêu gọi chính phủ đoạn giao với Pháp; Bộ Kinh tế cấm nhập hàng Pháp, không cấp hộ chiếu nhập cảnh cho người Pháp và mang quốc tịch Pháp, sinh viên yêu cầu chính phủ quốc hữu hóa tài sản của Pháp...
Dư luận hiểu biết chính trị đoán rằng bức màn khỏi nói trên mào đầu cho một cú gì đó.
*
Cuộc điện đàm trưa ngày 29-1-1964
- Alô! Tôi xin được nói chuyện với trung tướng Tổng tư lệnh quân đội!
- Ai đó?
- Tôi, đại tá Nguyễn Thành Luân...
- Trung tướng đang nghỉ trưa...
- Tình hình rất xấu, tôi muốn hầu chuyện gấp với trung tướng...
- Không thể được. Đại tá không biết sáng nay trung tướng vừa làm lễ cưới không chính thức với một nghệ sỹ tên tuổi sao?
... ..
- Alô! Tôi xin nói chuyện với trung tướng Tổng trưởng nội vụ
- Ai đó?
- Tôi, đại tá Nguyễn Thành Luân...
- OK... Đợi một phút...
- Allo! Đính đây. Việc mô mà đại tá gọi?
- Trình trung tướng, theo các nguồn tin chắc chắn, một cuộc động binh lớn đã âm thầm diễn ra...
- Một cuộc động binh lớn? Mần răng có chuyện đó? Quân ở đâu?
- Quân ở quân đoàn II, kết hợp với thiết giáp...
- Này, đại tá định đánh một đòn gì đấy?...
(tiếng ngáp và tắt máy)
- Allo, tôi xin nói chuyện với trung tướng Mai Hữu Xuân
- Tôi đây, ai đó, việc gì?
- Thưa, tôi là đại tá Nguyễn Thành Luân... Tôi nghĩ rằng đang có một cuộc sửa sọan đảo chính...
- Tôi cũng nắm được một số tin tức... Tôi sẽ trao đổi với Hội đồng quân nhân... Đại tá nên báo ngay với trung tướng chủ tịch...
... .. .
- Alô, tôi xin gặp trung tướng chủ tịch...
- Ai đó?
- Tôi, đại tá Nguyễn Thành Luân...
- Chào đại tá, tôi là thiếu tá Nhung. Xin đại tá chờ một chút
- Alô, Minh đây! Có việc gì, anh Luân?
- Thưa, đang có một cuộc bố trí quân... Tôi nghĩ đến khả năng đảo chính...
- Vậy ư? Quân của ai?
- Của tướng Nguyễn Khánh...
- Chà, chà!
- Xin trung tướng chủ tịch phát lệnh báo động...
(Im lặng một lúc)
- Đại tá liên hệ với đại sứ quán Mỹ chưa? Với tướng Jones Stepp chẳng hạn...
- Thưa, chưa...
(Lại im lặng)
- Nếu người Mỹ cho phép, dẫu tôi báo động cũng như không!
- Tôi chỉ có trách nhiệm báo với trung tướng chủ tịch... Mọi quyết định do trung tướng.
- Cám ơn anh. Để tôi suy nghĩ... Tôi phải trao đổi với tướng Đôn, Đính, Kim và Xuân...
- Tôi nghĩ rằng mục tiêu mà ông Khánh nhắm là chủ tịch và các vị tướng mà chủ tịch vừa nhắc.
- Có thể! Cảm ơn anh...
... - Allo, có phải anh Luân đó không?
- Anh đây! Saroyan, anh nghe...
- Ngày nay, ngày mai anh không được ra khỏi nhà. Bảo Dung không đi làm, bé Lý không đi học... Anh hiểu em nói gì chứ?
- Hiểu... Jones thông báo với anh phải không?
- Có thể hiểu như vậy...
- Cám ơn Saroyan...
- Anh nhớ! Không ra khỏi nhà!
- Anh nghe rõ...


Phần 9 - Chương 8


Đêm 16 tháng Chạp, năm Quý Mão, như mọi đêm trôi qua, còn nửa tháng nữa là Tết, dân chúng hy vọng năm Giáp Thìn sẽ dễ chịu hơn - những biến động 3 tháng qua đã xáo động không ít đời sống của dân chúng, nhất là giá cả. Vả lại mọi thứ đều chưa có vẻ gì vô nề nếp. Ngày nào cũng có biểu tình và khẩu hiệu khác nhau... Thậm chí chửi nhau: đám thì hoan hô Hội đồng quân nhân và ca ngợi cuộc cách mạng 1-11; đám thì đả đảo kỳ thị tôn giáo - Thiên Chúa giáo và Phật giáo cùng đả đảo, khiến thiên hạ chẳng rõ tôn giáo nào bị kỳ thị; đám hò hét đòi tống khứ đại sứ quán Pháp, cắt quan hệ ngoại giao với Pháp, cấm nhập hàng Pháp và bài xích thuyết trung lập mặc dù chưa ai dĩ hơi về thuyết này...
Thành phố sáng đèn, bóng trăng tròn chỉ soi lách những nơi âm u. Và, đường vắng nên không người nào phát hiện cánh lính nép mình dưới các cột cây, cạnh những xe thiết giáp chĩa nòng vào dinh Độc Lập.
Trời sáng dần. Từ ngoại ô, những đoàn xe quân sự hồng hộc giải xuống các giao điểm giữa trung tâm thành phố các bộ binh, súng trên tay, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Dân chúng vội vã rút vô nhà, hé cửa nhìn ra. Chắc chắn đang có một biến cố...
Thực tế biến cố bắt đầu từ giữa đêm, khi Hội đồng quân nhân mở phiên họp khẩn cấp. Chính cuộc tụ tập đông đủ này giúp cho Nguyễn Khánh thực hiện trót lọt ý định của anh ta. Nội dung phiên họp quay ngoắt – lúc đầu, một ít tướng lãnh đặt vấn đề tước quyền tướng Khánh do tin tức đồn đãi gần đây và do một số tuyên bố lung tung của tướng Khánh; nhưng đến khi tướng Khánh đứng lên tố giác Hội đồng quân nhân mưu toan đi chệch con đường chống Cộng; dung túng cho xu hướng trung lập nảy nở, làm suy yếu tiềm lực quốc gia, gieo hoài nghi cho đồng minh Mỹ về ý chí đứng trong thế giới tự do cả Việt Nam Cộng hòa thì không khí của phòng họp căng thẳng cực độ. Kẻ nói tiếp, với giọng cục cằn và thái độ láo xược là Nguyễn Chánh Thi. Y chỏ mặt tướng Big Minh, các tướng Đôn, Xuân, Kim, Đính thóa mạ đủ điều: phản bội, cơ hội, lem nhem, tiền, gái, dốt... Tất nhiên, phải có ai đó mớm cho hai người ba hoa và trịnh thượng, bởi mọi người hiểu cả Khánh lẫn Thi đều dốt đặc về chính trị; đặc biệt tướng Khánh trở giọng khác thường – chưa bao giờ người ta nghe anh ta chống trung lập. Thậm chí trong ngày 1-11, người ta còn ngại Nguyễn Khánh xách quân vùng II về “cứu giá”, cho nên trong danh sách Hội đồng quân nhân không có tên anh ta. Thế mà...
Những sĩ quan được đào tạo kiểu “Tây” choáng váng trước tên du côn Nguyễn Chánh Thi. Mối thù năm 1960 – Thi phải bỏ chạy vì những người có mặt tại đây – luôn ào ào. Vài tướng nhát gan cứ lom lom ngó khẩu “Colt” xệ bên hông Thi mà thỉnh thoảng y vỗ đốp đốp lên báng. Gì chứ trò bắn gục ngay bàn họp, Mai Hữu Xuân từng hạ lệnh, hình ảnh Lê Quang Tung vụt hiện trong óc Xuân.
Tướng Big Minh giữ được sự điềm đạm. Ông buồn rầu phân trần. Theo ông không hề có dấu hiệu nào lơi lỏng chống Cộng trong hàng ngũ tướng lãnh sau khi lật đổ Ngô Đình Diệm. Ông cũng thanh minh về chủ trương trung lập – đúng một vài tờ báo đã nêu chính sách này nhưng chính phủ cấm. Với Pháp, ông thấy cần hòa hoãn bởi ngày nay, Pháp không thể gây rối ở Việt Nam Cộng hòa được; việc Pháp thừa nhận Bắc Kinh đâu ảnh hưởng gì đến Việt Nam Cộng hòa.
Thi nhất mực bác bỏ các ý kiến phân trần của Big Minh. Nếu Nguyễn Khánh không lừ mắt ra hiệu, y đã xông tới túm áo vị chủ tịch, thậm chí tát tai. Từ mà Thi xài nhiều lần trong đối đáp là “Đ.M”, là “C.C”.
- Không nói dai nữa! – Thi quát khi đồng hồ chỉ 4 giờ sáng.
Một toán lính tiến vào phòng họp
- Còng bọn chó đẻ lại! - Vẫn Thi ra lệnh
Năm tên lính, mang năm chiếc còng bước về tướng Big Minh, Xuân, Đôn, Kim, Đính.
Vào những giờ phút như vậy, thường điện thoại hay reo. Và, điện thoại reo, tướng Nguyễn Khánh nhấc máy.
- Tôi, Nguyễn Khánh đây...
Thái độ của anh ta vụt trở nên khúm núm.
- Nguyễn Khánh here,... Yes,... All right,... Thank you very much... Yes... .. All right... Yes...
Khánh gác máy. Thi sượng bộ chờ đợi...
- Từ giờ phút này, – Khánh hắng giọng – Tôi đảm đương các chức vụ lãnh đạo đất nước. Bốn tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim và Mai Hữu Xuân lên Đà Lạt chờ xét xử...
- Không được còng! – Khánh ngó số lính đã tra còng vào tay các tướng.
- Riêng với trung tướng Dương Văn Minh, xin trung tướng về nhà nghỉ...
- Tôi muốn chia xẻ số phận với các bạn tôi! - Tướng Big Minh vẫn ngồi yên.
- Lên Đà Lạt chẳng qua là cách ly với không khí Sài Gòn, không phải tù đày chi mà trung tướng định chia xẻ...
Rồi Khánh hất hàm; toán lính áp giải bốn tướng ra khỏi phòng. Đến thềm, tướng Đính loạng choạng sắp ngã. Ai cũng hiểu cú đánh này thật quá đau với kẻ hôm qua còn vỗ ngực tự xem như “người hùng” không thể lung lay nổi, ôm ấp ôm mộng thay tướng Big Minh...
- Tôi muốn giải thích... - Tướng Big Minh không rời ghế
- Tôi sẽ giải thích sau! – Khánh trả lời.
- Đã bắt Nguyễn Ngọc Thơ... - Nguyễn Chánh Thi thông báo với Khánh.
- Anh ra lệnh mời ông Thơ về nhà.
- Tại sao? - Nguyễn Chánh Thi kinh ngạc
Khánh ngó Thi từ đầu đến chân.
- Ở đây, tôi là người có quyền hỏi, có quyền ra lệnh chứ không phải ông!
Nguyễn Chánh Thi nổi đóa.
- Tao cóc cần! Tao bắn ráo...
- Ông Thi! - Giọng Khánh đanh hẳn – Tôi nhắc lại lần nữa và là lần chót: Ông mời ông Nguyễn Ngọc Thơ về nhà nghỉ! Với bốn tướng lên Đà Lạt, phải bố trí cho họ ăn ở đoàng hoàng, có người phục dịch theo cấp bậc của họ. Họ không bị ngược đãi. Ai đụng đến họ sẽ bị xử theo quân luật, kể ông luôn!
- Đ.M... thế này là thế nào? – Thi rống lên.
- Hoặc ông bỏ thói vô học thức của ông, hoặc ông sẽ tra tay vào còng ngay bây giờ... Tôi hết sức rộng lượng với ông và không còn có thể rộng lượng hơn...
Khánh liếc về số lính vẫn còn cầm đến năm chiếc còng.
Mắt Thi tóe lửa. Nhưng y đủ thông minh để biết đòn cân giữa Khánh và y đang nghiên về ai... Thi quay lưng, bước ra khỏi phòng, làu bàu...
- Được! Thua keo nữa chưa phải đã thua sạch túi! Tụi mày chờ xem... Đ.M! Chắc là cú điện thoại của mấy thằng Mỹ...
*
Chín giờ sáng ngày 30-1, báo chí và đài phát thanh đưa tin về “cuộc chỉnh lý” nội bộ quân đội. Quyết định lại mang tên của tướng Dương Văn Minh, với một điều khoản: Chấm dứt nhiệm vụ của Ban chấp hành Hội đồng quân nhân cách mạng thành lập từ ngày 1-11-1963. Đồng thời, báo chí và đài phát thanh công bố tuyên cáo của trung tướng Nguyễn Khánh: Sở dĩ quân đội phải một lần nữa ra tay can thiệp vào tình hình chính trị đất nước vì suốt 3 tháng qua, cục diện chung suy sụp toàn diện, nguy cơ Việt Nam Cộng hòa rơi vào ách Cộng sản nghiêm trọng hơn bao giờ hết do chính quyền phản bội cuộc cách mạng ngày 1-11-1963, phản bội xương máu các chiến sĩ, nội các gồm những kẻ bất tài, một số chạy theo thực dân và Cộng sản. Tuyên cáo nhấn mạnh nhiều lần, đây chỉ là cuộc chỉnh lý nội bộ, không phải là đảo chính. “Một số tướng lãnh tỏ ra dao động trước sứ mệnh cao cả chống Cộng cần phải bị thanh lọc. Họ đang được bảo vệ ở một nơi an toàn, nay mai hội đồng tướng lãnh sẽ xét xử họ” – tuyên cáo nên sự việc mà không nêu đích danh ai...
... John Hing không cần đọc báo, ông ta vẫn loay hoay với các bản chiết tính về giá cả vũ khí và thỉnh thoảng gọi điện đi nơi nào đó – công chuyện vẫn quanh những “cent” nhỏ nhoi của từng đơn vị vũ khí; khối lượng chung thì bằng những chữ số trăm nghìn, thậm chí triệu, chục triệu...
- Trở ngại đầu tiên đã thanh toán xong... Đúng, tướng Khánh được việc lắm... Ồ! Tất nhiên, tại sao chúng ta không thưởng cho ông ta xứng đáng. Ông ta giúp chúng ta mở ra một thời kỳ mới... Harkins à? Mặc xác lão... Anh xem lại loại phóng lựu M.72... Tôi không phản đối M.79, song chắc M.72 cũng cần. M.113 ư? Tốt thôi... Như cái tôi biết, Cộng sản chưa có súng chống chiến xa ngay chiến xa hạng nhẹ... Phải, xe lội nước cần ở vùng đầm lầy, song bước đầu, chúng ta chọn vùng đồi núi... OK...
... Luân và Dung nắm các tin tức qua điện thoại của tướng Lâm.
- Tôi không được mời dự - Lâm bực tức – Tôi mà có mặt trong cuộc họp thì các tướng không xụi lơ như vậy đâu...
- Không có một biến cố nào được giải quyết ở cuộc họp. Họ đã giải quyết từ mấy hôm trước... - Luân nói chán nản.
- Ai đời một tổng tư lệnh như cha Đôn lại để một thằng râu dê bắt như bắt gà!
- Tổng tư lệnh là thứ trang sức...
- Tôi biết... Nhưng nếu tôi là Andre, tôi không thèm theo lệnh của tụi thằng Khánh, ai dám làm gì nè?
- Thôi, không nên nói nhiều, nhất là qua điện thoại.
- Tôi chẳng sợ... Thằng Khánh sống bằng nghề phản phúc từ hồi nào tới giờ...
Luân gác máy. Vậy là một pha sôi động nữa quấy phá Sài Gòn. Lần này, ý của Mỹ khá rõ: chính phủ Mỹ muốn thay đổi gấp vai trò của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam. Cái lôgic tự kiêu tự đại mãn tính của giới cầm quyền Mỹ bị thêm sức ép của các công ty khổng lồ muốn bỏ vội khu vực Đông Nam Á dẫn đến kết luận rằng, nếu Mỹ không trực tiếp nhúng tay bằng quân đội thì mọi việc sẽ hỏng, trước mắt Pháp sẽ quay lại Đông Dương, Kennedy chết, Johnson không phải là thứ gì đủ sức cân bằng cuộc tranh chấp giữa các phe ở Mỹ.
Dung trầm ngâm bên máy thu thanh. Họ đã dự kiến khá sát vai trò của Nguyễn Khánh. Điều họ không ngờ là phe tướng Big Minh không có lấy một phản ứng dù thật nhỏ.
- Mỹ đạo diễn và từ nay, chỉ còn mỗi đạo diễn múa may trên sân khấu.
Dung nói, Luân gật đầu.
- Một cuộc dọn bãi đổ bộ... - Luân bổ sung. Anh nhìn tờ lịch trên tường rồi chép miệng.
- E không kịp!
Tất nhiên, Dung hiểu: Cách mạng không đủ thì giờ để chuyển tình hình sang hướng khác, có lợi hơn, tức hướng không có thực binh Mỹ đông đặc trên đất nước mình, hướng đất nước bị tàn phá ghê gớm...
... Sáng ngày 31-1-1964, Nguyễn Khánh họp báo tại Bộ tổng tham mưu. So với cuộc họp báo sau khi lật đổ Ngô Đình Diệm, ký giả trong và ngoài nước khá đến thưa thớt, mất hẳn vẻ háo hức. Nguyễn Khánh, trong bộ quân phục dã chiến, ngực đính 3 sao một bên và bên kia là tấm biển đồng nhỏ ghi tên anh ta, bắt đầu cuộc họp báo bằng bài thuyết trình viết sẵn, trong đó anh ta đã nhai lại tuyên cáo đã công bố; không phải đảo chính mà chỉnh lý, phải chỉnh lý để chính quyền theo đúng đường lối cách mạng...
- Thưa trung tướng, thế nào là theo đúng “đường lối cách mạng”? - Một phóng viên AFP hỏi.
- Đường lối cách mạng đã đề ra sau ngày 1-11 năm ngoái: chống Cộng, chống trung lập, thực hiện dân chủ song trong kỷ luật, phát triển kinh tế... - Khánh trả lời như một học sinh trả bài.
- Nhưng, suốt 3 tháng qua chúng tôi chưa thấy điều gì đi trệch chủ trương đó... - vẫn phóng viên AFP tiếp tục nêu ý kiến.
- Có chệch chớ! Thực dân và Cộng sản chen vào chính quyền... - Khánh quả quyết.
- Trung tướng có thể cho biết ai là thực dân trong chính quyền?
- Và ai là Cộng sản?
Phóng viên tờ New Week và phóng viên AFP cùng hỏi một lượt.
- Cái đó... cái đó... chưa phải lúc công bố! – Khánh ấp úng.
- Trong bốn tướng bị an trí, có thuộc loại tay sai thực dân hay Cộng sản không? – Phóng viên Kyodo hỏi.
- Như tôi đã vừa trả lời, cái đó chưa phải lúc công bố...
- Thế thì vì sao bốn tướng bị an trí? – Phóng viên Kyodo vẫn chưa tha.
- Vì sao? Họ có tội!
- Tội chi?
- Cái đó chưa phải lúc công bố.
- Liệu rằng một chế độ dân chủ mà an trí Tổng tư lệnh quân đội, bộ trưởng an ninh, đô trưởng Sài Gòn khi chưa công bố tội trạng, còn có thể gọi là dân chủ không? Và, làm tất cả các việc ấy lại không phải đảo chính... Dư luận trong nước chúng tôi khó hiểu lắm!
Nguyễn Khánh mất bình tĩnh, nhìn người hỏi anh ta. Nhưng anh ta xìu ngay: ngực của phóng viên mang tên tờ Washington Post.
- Các vị phải giúp chúng tôi làm cho dư luận quý quốc hiểu!
Phóng viên Washington Post nhún vai.
- Thật ngoài sức của chúng tôi...
- Thưa trung tướng, sau cuộc chỉnh lý, chế độ của Nam Việt sẽ như thế nào? – Fanfani hỏi.
Khánh nhoẻn cười. Chòm râu cằm xén nhọn khẽ rung rinh. Anh ta cho rằng Fanfani cứu anh ta khỏi các câu hỏi khó trả lời. Khánh ưỡn ngực.
- Bà Helén... Hội đồng quân nhân cử tôi làm chủ tịch kiêm tổng tư lệnh quân đội!
- Thế còn tướng Dương Văn Minh?
- Ông Minh sẽ là cố vấn tối cao của Hội đồng quân nhân.
- Sự phân công của đại sứ Cabot Lodge kể cũng chu đáo! – Phóng viên France Soir nói trổng.
Nguyễn Khánh đỏ mặt.
- Chúng tôi không chịu sự phân công của ai cả. Chúng tôi tự phân công... .. Cách hiểu của nhà báo France Soir theo đúng tập quán của thực dân Pháp!
- Thưa trung tướng, trung tướng vừa nói một câu mà máy ghi âm của tôi sẽ được truyền bá khắp nước Pháp... Tôi xin được đi cho hết đà ý kiến của vị chủ tịch mới của Việt Nam Cộng hòa: các ngài chống lại nước Pháp?
- Không... không... ! - Khánh xua tay lia lịa... - Nước Pháp là đồng minh của tôi. Chúng tôi chỉ chống thực dân Pháp.
- Nhưng, thưa ngài chủ tịch, tìm ở đâu ra thực dân Pháp ở giữa Sài Gòn này? Hay ngài định đóng cửa hãng Effiel Carie, đóng cửa các đồn điền cao su, đóng cửa luôn Alliance Française và tòa đại sứ Pháp?
- Trong chương trình của Hội đồng quân nhân không có các mục đó!
- Tôi xin phép hỏi thêm một câu. – Fanfani vẫn duyên dáng – Trung tướng chấp nhận cho bao nhiêu quân Mỹ đổ bộ lên Nam Việt?
Cả phòng họp chờ Khánh trả lời. Các máy ghi âm được mở. Khánh cảm thấy hụt hơi. Câu trả lời có nghĩa định đoạt sinh mệnh chính trị của anh ta.
- Mỹ là đồng minh quan trọng nhất của Việt Nam Cộng hòa!
Khánh chọn mãi mới ra được câu trả lời hết sức chung.
- Tôi muốn trung tướng nói rõ hơn... Bao nhiêu quân Mỹ được phép đổ bộ lên đất nước ta và bao giờ thì đổ bộ? - Một tiếng gần như thét vang ở cuối phòng họp, của một thanh niên Việt Nam.
- Anh bạn là ai? – Khánh hỏi.
- Tôi đại diện cho Tổng hội sinh viên ở Sài Gòn...
- Vậy thì mời anh bạn vài hôm nữa gặp tôi. Hôm nay là cuộc họp báo...
- Đúng, là cuộc họp báo nên tôi xin trung tướng trả lời câu hỏi của tôi! – Fanfani len lên phía trước, gần giáp mặt Khánh.
- Tôi đã trả lời!
Rồi Khánh nói luôn.
- Nếu không còn câu hỏi quan trọng nào nữa, cuộc họp báo xin kết thúc... Cám ơn tất cả các bạn.
Nguyễn Khánh chuồn mất, bỏ quên chiếc kêpi trên bàn...
*
Ngày 1-2-1964, chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ đệ đơn xin từ chức. Nguyễn Khánh nhận đơn song giao Nguyễn Ngọc Thơ tiếp tục xử lý công việc.
Trong ngày, Khánh mở cuộc tiếp xúc với ngoại giao đoàn. Đại sứ Cabot Lodge không có mặt mà cử một bí thư sứ quán đến dinh Độc Lập. Ngoại giao đoàn không chờ đợi một cái gì giật gân được thông báo, tham tán sứ quán Pháp, thay mặt đại sứ, tỉnh bơ bỏ về mà không nói một lời. Hầu như chẳng có nhân viên ngoại giao nào phát biểu, kể cả chúc mừng tân Quốc trưởng. Người của Khánh vận động nhân viên ngoại giao Hán Thành, Đài Bắc nói đôi câu hoan hỉ, họ đều từ chối. Do đó, cuộc tiếp xúc chỉ diễn ra nửa giờ, vừa vặn đủ cho Khánh đọc bài diễn văn y hệt bài anh ta đã đọc ở cuộc họp báo. Ngay tuần sâm banh cũng nổ lẹt đẹt, có đại diện ngoại giao lặng lẽ rút lui khi Khánh vừa dứt lời.
Toàn bộ quang cảnh thu vào máy quay phim và một giờ sau, Cabot Lodge ở một nơi, John Hing ở một nơi, Jones Stepp ở một nơi xem trọn tường thuật bằng ảnh.
- Hello! – John Hing gọi điện thoại cho ai đó - Phải sửa soạn con bài khác, trước khi quá muộn...
- Tôi cũng nghĩ như ông... - Ai đó trả lời ở đầu dây bên kia, bằng tiếng Anh.
John Hing đột ngột bấm chuông, Ly Kai xuất hiện.
- Ông nghĩ như thế nào về Nguyễn Thành Luân?
Ly Kai ngơ ngác, trả lời lúng túng:
- Tôi đã làm hết sức mình, song nó vẫn sống!
- Không! Tôi hỏi ý khác. – John Hing lạnh lùng ngó Ly Kai - Liệu ta có thể nắm gã Luân này không?
Ly Kai vẫn ngơ ngác.
- Ông có biết cuộc họp báo hôm qua và cuộc tiếp xúc với đoàn ngoại giao của ông Nguyễn Khánh sáng nay không?
John Hing chợt mỉm cười.
- Tôi quên, ông không có khiếu chính trị...
Rồi, John Hing ra dấu bằng cách nắm chặt bàn tay.
- Tôi hỏi ông, bằng cách nào, ta nắm Nguyễn Thành Luân bằng tay như thế này?
Ly Kai im lặng. Gã quen “nắm” bằng đô la, bằng gái, bằng đe dọa... Với Nguyễn Thành Luân, gã chưa nghĩ ra cách nào - lối mà hắn từng thành công quả chẳng sờ nổi áo Luân chứ đừng nói là “nắm”.
- Ta cần một thủ lĩnh thông minh... một tổng thống, một Quốc trưởng, một tổng tham mưu trưởng, một thủ tướng... Phải thông minh... Ông hiểu chưa? Nguyễn Khánh thiếu cái này! – John Hing gõ vào đầu.
- Nắm vợ ông ta được không? Vợ ông ta thích cái gì? Nữ trang loại đắt tiền nhất? Ô tô?
John Hing hỏi dồn dập, Ly Kai nhíu mày.
- Tôi có một cách, thưa ông chủ. - Ly Kai rụt rè.
- Nói đi!
- Bắt cóc con của họ và nói họ phải nghe theo ta...
- Ý hay! - John Hing tán thưởng. - Song...
John Hing ngừng một lúc
- Song, liệu có thể giữ kín không?
- Giữ được!
- Không làm tổn thương con họ... Một chú bé?
- Thưa một chú bé lên bốn... Không thể tổn thương.
- Ông đảm bảo bằng cái đầu của ông?
- Thưa ông chủ, đảm bảo bằng cái gì?
- Về không tiết lộ ông dính vào vụ bắt cóc, không gây bất kỳ một vết trầy nào cho chú bé, không làm chú bé hoảng hốt.
- Cái sau cùng hơi khó, thế nào nó cũng sợ. Nhưng, ta dụ dần... Điều tôi muốn biết, thưa ông chủ, sẽ giữ chú bé bao lâu?
- Bao lâu à? Chừng nào ta nắm được họ - nắm cả hai hoặc nắm một người...
- Chà! E lâu quá...
- Một tuần lễ.
- Vậy thì được. Việc của tôi...
- Việc của ông là bắt cóc thằng bé, dấu kín... Các việc khác của tôi!.
John Hing theo cách giao thiệp đã thành nếp với Ly Kai, mở ngăn kéo, trao gã một xấp đô la.
*
Sau buổi họp báo và tiếp đoàn ngoại giao thất bại. Nguyễn Khánh bị nện thêm hai chùy nữa, trong ngày đầu tiên anh ta ngồi vào dinh Độc Lập.
Hội đồng nhân sĩ họp – như đã định trước – và ra một thông cáo kêu gọi đại đoàn kết quốc gia, chống mọi biểu hiện huynh đệ tương tàn, đề cao hết lời những người có công trong vụ hạ bệ Ngô Đình Diệm và kết án các toan tính cưới công, tiếm quyền, vu khống... Cả một thông cáo tràng giang đại hải không có lấy lời ca ngợi cuộc chỉnh lý và lờ luôn viên chủ tịch thích huyênh hoang. Hội đồng vỗ tay rất lâu khi chủ tịch trịnh trọng đọc một bức thư ngắn của tướng Dương Văn Minh cáo lỗi vì đã vắng mặt và chúc Hội đồng thành công.
Nguyễn Khánh nghe tường thuật thu thanh cuộc họp và anh ta gọi điện chửi bới viên giám đốc đài phát thanh...
Ngày thứ hai là Tổng hội sinh viên thay đổi bộ phận điều hành. Chủ tịch Tổng hội từ chức - thực ra bị cắt chức. Mười lăm chủ tịch, mười lăm phân khoa đương nhiên nắm quyền tổng hội và hội đồng các chủ tịch phân khoa sẽ bầu người đứng đầu. Tại hội nghị, gần một nửa chủ tịch phân khoa công khai nói lên thái độ bất mãn của sinh viên với cái gọi là cuộc “chỉnh lý” - họ gọi đích danh đảo chính, đảo chính lén lút, hèn hạ.
Cứu tinh của Nguyễn Khánh cũng đến kịp thời: Bộ ngoại giao Mỹ công bố trên đài phát thanh một văn kiện nói rõ Mỹ phản đối giải pháp trung lập ở Việt Nam.
Thế là Nguyễn Khánh ký liền một sắc luật, mang mã 003, được soạn thảo vội vã: Chủ nghĩa Cộng sản và thuyết trung lập thân Cộng bị đặt ngoài vòng pháp luật.
Sắc luật chẳng mang ý nghĩa gì, ngoài tiếng đáp “yes” của Nguyễn Khánh đối với Washington.
“Như đứa bé vừa tập nói, trung tướng Nguyễn Khánh, tân nguyên thủ quốc gia nước Việt Nam Cộng hòa đăng quang trong một màn hài kịch, đã đọc theo lời mớm của bà vú: Đả đảo Cộng sản và trung lập. Điệp khúc ấy, buồn thay, từng nhai nhải ở xứ này và nó chẳng thêm một chút uy tín nào cho viên trung tướng bị dư luận đánh giá tráo trở hơn mọi tráo trở. Chắc chắn, dư luận muốn nhắc tướng Tôn Thất Đính, ngỡ là đỉnh cao của sự tráo trở bây giờ tụt giá so với tướng Nguyễn Khánh. Sẽ còn ai phá kỷ lục trong tương lai? Helén Fanfani viết bản tin này cho Financial Affair mà không hy vọng nó được gửi về Mỹ. Chẳng rõ tại sao Bộ Thông tin Sài Gòn lại lờ, chẳng kiểm duyệt.
Nguyễn Khánh điên tiết, ra lệnh trục xuất Helen Fanfani trong thời hạn 24 giờ. Một lệnh khác - chắc chắn từ đại sứ quán Mỹ - vô hiệu hóa lệnh của Nguyễn Khánh. Fanfani hôm sau tươi cười chào Nguyễn Khánh tại chùa Xá Lợi. Và, Nguyễn Khánh coi như mình chưa ký một sắc lệnh như vậy bao giờ...
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #36  
Old 12-09-2012, 11:36 AM
Helen's Avatar
Helen Helen is offline
Super Moderator
 
Tham gia ngày: Jan 2007
Bài gởi: 3,082
neww Ván Bài Lật Ngửa - Phần 9 - Chương 9, 10

Ván Bài Lật Ngửa


Phần 9 - Chương 9


Đúng ra, trong vụ bắt giữ bất thần đêm ngày 29 rạng ngày 30 tháng 1 năm 1964 phải có đến năm tướng và một trung tá. Tướng thứ năm là Nguyễn Văn Vĩ và trung tá Trần Đình Lan.
Họ đã bị đưa về trại Hoàng Hoa Thám, giam ở các phòng riêng dành cho các sĩ quan độc thân.
Từ xe bước xuống, họ chạm mặt liền Nguyễn Chánh Thi - hắn đi xe nhỏ, đến trước. Gần như một cuộc điểm danh các “tù nhân”. Thi gọi tên từng người, gọi cộc lốc.
- Tôn Thất Đính!
- Dạ!
- Vô phòng kia...
- Lê Văn Kim!
- Có mặt...
- Đ.M, sao không dạ?
Tướng Lê Văn Kim không trả lời, lững thững bước vào hỏi:
- Tôi ở phòng nào?
Thi lượng sượng một thoáng
- Phòng kia... Mai Hữu Xuân...
- Dạ!
- Đ.M, lễ phép dữ! Đồ lưu manh...
Hầm hừ như thế xong, Thi không làm gì. Xuân, trỏ phòng ông ta.
- Trần Văn Đôn.
Trần Đôn không trả lời, bước lên... Thi ngó nghiêng ông rồi chửi:
- Đ.M, mày mà tướng! Tướng cái con c... Tướng gì mà lấy vợ người khác? Vô phòng kia!
Đôn đi rồi, còn lại hai người.
- Nguyễn Văn Vĩ...
- Có tôi.
- Vô phòng, rồi mày sẽ biết tay tao.!
Nguyễn Chánh Thi ngó Trần Đình Lan; ông này từ Pháp về đến Sài Gòn sau Trần Kim Tuyến một ngày.
- Đồ chó săn của Tây!
Và Nguyễn Chánh Thi thoi vào mặt Trần Đình Lan, cú thoi cực mạnh, máu mũi Lan chảy ướt đẫm chiếc áo sơ mi trắng.
- Không có phòng cho mày... Mày nằm ở nhà xe. Tao bắn mày, nói trước để mày cầu nguyện...
Trần Đình Lan lủi thủi theo một lính gác về phía nhà xe. Nguyễn Chánh Thi chống nạnh, đứng trên thềm quát to cho cả phòng đều nghe.
- Không đứa nào được bước ra khỏi phòng, hễ bước ra bị bắn liền...
Vừa lúc đó, một Chevrolet đen đỗ, tướng Nguyễn Khánh vội vã bước xuống. Sau xe của Khánh, hai xe hộ tống đầy lính.
- Cái gì? – Thi bỏ tay chống nạnh, chào Khánh. Hắn bối rối. “Hay là nó bắt mình?”. Hắn nghĩ.
- Mời tướng Nguyễn Văn Vĩ ra... – Khánh ra lệnh.
- Tại sao? – Thi trấn tĩnh hỏi lại.
Khánh không trả lời. Và, cũng không đợi lệnh của Thi, lính đã đưa tướng Vĩ ra. Khánh bắt tay Vĩ.
- Xin lỗi... Đây là một lầm lẫn, mời anh lên xe tôi, ta về...
- Còn trung tá Trần Đình Lan?
- Ủa, ai bắt trung tá? – Khánh kinh ngạc - Mời trung tá ra...
- Không được! - Nguyễn Chánh Thi nổi nóng.
- Anh bắt trung tá Lan?
- Phải...
- Tại sao?
- Tay sai của Pháp.
- Anh không có quyền bắt bất kỳ ai... Anh là cái gì mà bắt bớ lung tung vậy?
- Tôi bắt đó.
- Hèn chi đại sứ quán Mỹ hỏi tôi tại sao có các vụ bắt lung tung... Họ dặn tôi coi chừng anh làm ẩu và một số tướng lĩnh muốn tôi lột lon và tống giam anh... Anh đừng buộc tôi phải làm điều tôi không muốn.
Nguyễn Chánh Thi ỉu xìu ngay lập tức. Trung tá Trần Đình Lan, với chiếc sơ mi đẫm máu, cùng Nguyễn Khánh và Nguyễn Văn Vĩ lên xe.
Mấy hôm sau, trung tá Trần Đình Lan trở sang Pháp.
*
Bốn tướng lên máy bay ra Đà Nẵng. Họ bị giam ở Sơn Trà một hôm rồi phân tán. Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim lên Đà Lạt, Mai Hữu Xuân về Huế, Tôn Thất Đính lên Pleiku.
... Hoàng Thị Thùy Dung được Tổng nha cảnh sát giao một việc thật bất ngờ: lập hồ sơ và trực tiếp hỏi cung bốn tướng. Tội danh gồm thái độ chính trị (thân Cộng, thân Pháp, chủ trương trung lập), biển thủ tiền bạc, lạm dụng chức quyền, xây nhà cửa riêng...
- Cái trò “đánh trống lảng” và kéo dài ngày tháng để dư luận quên vụ chỉnh lý... - Luân nhận xét.
- Nhưng tại sao lại giao cho em?
- Em là Giám đốc Nha công vụ thuộc Tổng nha... Về danh nghĩa, đó là trách nhiệm của em.
- Lẽ ra phải của anh, Phó tổng thanh tra quân đội mới đúng, phải điều tra vụ này.
- Họ muốn làm ra vẻ phải chuyển các ông này sang tòa án. Làm ra vẻ thôi... Đâu rồi cũng vô đó. Cũng là cơ hội để em hiểu thêm một số mặt cần cho chúng ta.
- Anh sẽ gặp tướng Khánh chứ?
- Chắc thế nào cũng gặp, nghi thức mà! Saroyan nói chỉ thay đổi ở chóp bu và không phải lần thay đổi cuối cùng...
... Dung ra Huế. Cô định hôm sau đến đồn Mang Cá là nơi giam tướng Mai Hữu Xuân. Khi nhận phòng ở khách sạn xong, cô thả bộ dạo phố. Huế không xa lạ với Dung, nhất là kỷ niệm cùng với Luân dự lễ thượng thọ của mẹ Ngô Đình Diệm, như mới đây thôi. Bây giờ thì ngôi nhà Phú Cam đã bị sung công – trên danh nghĩa, còn thực tế nó đã bị chia tam xẻ tứ cho những tay cầm quyền mới. Nhà thờ Phú Cam chắc vẫn sung túc, nhưng không đặt dưới lọng của tổng giám mục Ngô Đình Thục nữa. “Dù sao mình cũng phải thăm bà Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi...”, Dung tự nhủ. Chính Dung đã thăm Ngô Đình Cẩn trong nhà lao Sài Gòn...
Trên đường phố, Dung rẽ vào một hiệu bán hàng mỹ nghệ. Cô thấy hai ô tô đỗ trước cửa hiệu, một chiếc Peugeot khá xinh và một xe quân cảnh. Và, trong hiệu, Dung gặp tướng Mai Hữu Xuân.
Xuân chào Dung rất lịch sự. Người ông không thay đổi - vẫn da ngăm, vẫn dáng trầm tư, vẫn cặp môi thâm và chiếc píp phì phò khói...
- Chào bà đại tá!
- Chào trung tướng... Trung tướng đi dạo?
- À, buồn quá ra xem hàng mỹ nghệ... Bà mới đến Huế!
- Thưa, vừa đến...
- Có đại tá cùng đi với bà không?
- Thưa, nhà tôi đang ở Sài Gòn.
- Bà đi chơi? Đi thăm gia đình Ngô?
- Tôi định đi thăm bà cụ cố và chị Cả.
- Tốt! Nhà bà Ngô Thị Hoàn bị niêm phong, bà không đến được... Họ đang dồn lại một ngôi nhà trong châu vi Phú Cam...
- Dạ... - Dung ngập ngừng một cách cố ý.
- Còn việc gì?
- Thưa trung tướng, sáng mai, xin phép trung tướng cho tôi gặp tại đồn Mang Cá.
- Hả? Gặp tôi? Đại tá bảo bà ra gặp tôi? – Thái độ Mai Hữu Xuân thay đổi, vồ vập.
- Thưa, tôi gặp trung tướng với tư cách khác... Sáng mai, tôi sẽ trình... Xin hẹn vào 9 giờ sáng...
- Được... Tôi đợi...
Dung quay về khách sạn. Một sĩ quan cảnh sát chờ Dung. Đại úy Vũ – anh ta giới thiệu - được lệnh của Nha cảnh sát Bắc Trung phần đến làm việc với Dung. Dung nói chương trình của mình, kể cả kế hoạch thăm gia đình Ngô Đình Khả. Đại úy Vũ không nói gì, chỉ báo sẽ có xe trực tại khách sạn cho Dung, và bản thân anh lúc nào cũng có mặt, tùy Dung sai khiến.
Dung cười mỉm: nếu trước kia Ngô Đình Diệm chưa bị lật đổ, cô đến đây thì từ cầu thang sân bay Phú Bài đã có mặt viên tỉnh trưởng...
Chiều hôm đó, Dung đi thăm gia đình họ Ngô. Cả cơ ngơi đồ sộ, tường cao cổng kín, bây giờ giống một khu chung cư. Mỗi nhà do một viên chức chiếm, họ xây tường ngăn cách. Toàn gia đình họ Ngô - vợ Ngô Đình Khả, vợ Ngô Đình Khôi, Ngô Thị Hoàn và con cháu sống chung trong một biệt thự, thật ra thì cũng khá rộng. Chiếc xe kéo vẫn để bên hiên nhà. Nhưng “vườn thượng uyển” của Ngô Đình Cẩn không còn nữa.
Vợ Ngô Đình Khả đã lẫn. Bà không nhận ra Dung. Đón Dung là tiếng khóc râm ran. Bàn thờ Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi thêm lư hương và bài vị Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. “Sẽ thêm bài vị Ngô Đình Cẩn”, Dung nghĩ.
- Thím có mần răng mà cứu cậu Út! - người nói là Ngô Thị Hoàn, bà “Cả Lễ”, chị của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu mà báo chí đang “phóng sự điều tra” lia lịa.
Dung thắp hương trước bàn thờ, hỏi han sinh hoạt gia đình. Về vật chất, họ không thiếu khả năng. Nhưng, cái án Ngô Đình Cẩn ám ảnh họ.
- Hồi tổng thống còn tại vị, khách khứa nườm nượp. Bây giờ vắng tanh. Chỉ có thím mới tới... Tôi nghe chú đại tá đặt hoa trước mộ hai anh mà bị bắt, tội thiệt! - Vợ Ngô Đình Khôi tâm sự.
Dung lựa lời an ủi, ở lại ăn bữa cơm chiều với gia đình. Trên xe về khách sạn, đại úy Vũ không giấu ý nghĩ trong đầu anh ta:
- Bà đại tá làm rứa là phải đạo.
*
Mai Hữu Xuân tiếp Dung trong phòng khách. Nếu không biết đây là đồn Mang Cá, thì khó mà đánh giá Mai Hữu Xuân đang bị giam lỏng. Phòng khách khá đẹp, đầy đủ tiện nghi.
- Bà có thể phúc trình với ai đó là đã gặp tôi ngoài phố...
Mai Hữu Xuân cười mai mỉa. Dung hiểu cái cười kiểu thơ Thế Lữ “hùm xám sa cơ” của Xuân. Theo quy định, các tướng không được rời nơi bị giam lỏng, nếu muốn đi đâu phải báo cho tiểu khu trưởng trước 6 tiếng đồng hồ và phải được tư lệnh vùng chuẩn y. Nhưng theo đại úy Vũ, tướng Xuân bất chấp quy định, thích đi thì thót lên xe đi. Tiểu đội quân cảnh phải hấp tấp đuổi theo.
Với Xuân, đây là thay đổi đột ngột trong nếp sống gần suốt đời của ông ta. Nỗi bất mãn thật nặng nề, bao nhiêu mưu toan đã thành đạt bỗng chốc tan biến, tan biến một cách tàn nhẫn. Mai Hữu Xuân bắt đầu uống rượu và tửu lượng khá cao, nốc bao nhiêu cũng không say. Trong phòng khách, Dung thấy có rất nhiều vỏ chai Cognac, Whisky...
- Trung tướng nghĩ thế nào lại đặt cho tôi vai trò dòm ngó chuyện vặt vãnh... - Thùy Dung trả lời điềm đạm.
Câu trả lời lễ độ lại khiến thái dương Xuân giật giật, bởi, “dòm ngó chuyện vặt vãnh” vốn là nghề của Xuân.
- Trung tướng cho phép tôi được trình bày công việc...
Thùy Dung trao cho Xuân một công văn mang chữ ký của Nguyễn Khánh. Liếc qua tờ giấy, Xuân cười khỉnh:
- Lần đầu tiên trong đời tôi, tôi bị hỏi cung. Và, người hỏi cung tôi lại là một phụ nữ, cấp thiếu tá!
- Trung tướng có thể hiểu sự việc theo ý riêng. Phần tôi, tôi chỉ thi hành công vụ. Có hai cách thực hiện: hoặc trung tướng trả lời những câu hỏi mà tôi mang theo, những câu hỏi hoàn toàn không do tôi nghĩ ra, tôi ghi âm trả lời của trung tướng; hoặc trung tướng viết câu trả lời...
- Bà cho tôi xem các câu hỏi...
- Thưa, đây...
Mai Hữu Xuân đọc các câu hỏi, đọc kỹ. Thùy Dung lặng lẽ ngó ra ngoài, như không quan tâm đến thái độ của Mai Hữu Xuân. Những câu hỏi chung chung, tuy vậy, không phải dễ dàng trả lời, nhất là không thể chỉ trả lời cụt ngủn: Có, không...
Thời gian chầm chậm trôi qua. Vỏn vẹn hai trang đánh máy mà tướng Xuân mất gần một tiếng đồng hồ để đọc.
- Ông nhà có dặn bà điều chi trước khi gặp tôi không?
Sau cùng, Xuân xếp tờ giấy, hỏi giọng phân vân.
- Thưa, không...
- Bà muốn tôi trả lời như thế nào?
Câu hỏi thật bất ngờ.
- Tôi nghĩ trung tướng trả lời theo suy đoán của trung tướng.
- Suy đoán? Ồ! Vậy là được. Tôi cám ơn bà. Bà mở máy ghi âm và đọc câu hỏi đầu. Tôi sẽ trả lời ngay.
- Thưa, trung tướng Mai Hữu Xuân, – Dung mở máy – Xin trung tướng cho biết mối quan hệ giữa trung tướng và ông Savani, sĩ quan Phòng Nhì Pháp...
- Savani là người chỉ huy cũ của tôi, cũng như Bazin, Perrier. Tôi là nhân viên Sở mật thám Pháp, từ 1948 tôi phụ trách Ty Cảnh sát đặc biệt miền Đông, gọi tắt là PSE. Sau khi Pháp rút, tôi làm việc cho chế độ ông Diệm, qua nhiều chức vụ khác nhau, ngành tôi ở lâu hơn hết là An ninh quân đội... Giữa tôi và Savani tận bây giờ vẫn thư từ thăm hỏi nhau... Savani không còn là sĩ quan Phòng Nhì Pháp nữa. Ông ta đã về hưu.
- Thưa trung tướng, giữa trung tướng và đại sứ Pháp hoặc một yếu nhân nào của đại sứ quán Pháp, có mối liên lạc gì đặc biệt không?
- Thế nào là “liên lạc đặc biệt”?
- Dạ câu hỏi trong văn bản không dự kiến vấn đề do trung tướng nêu ra, nên tôi không được quyền giải thích...
- Nếu vậy, câu trả lời của tôi là: Không!
- Cám ơn trung tướng. Thưa trung tướng, có bao giờ trung tướng liên lạc với một nhân vật chính thức của chính phủ hoàng gia Cambốt?
- Trong một số lần, theo lễ tân tôi có gặp tướng Niek Tionlong, tướng Fenandez, tướng Lon Nol, đại tá Umswwouth, thiếu tá Kossem. Với hai người sau, tôi bàn về an ninh biên giới lúc tôi chỉ huy chiến dịch Trương Tấn Bửu và lúc tôi phụ trách Bộ tư lệnh hành quân... Tất cả các lần tiếp xúc ấy đều có mặt các sĩ quan và riêng bàn về an ninh biên giới thì có văn bản.
- Thưa trung tướng, người ta bảo rằng trung tướng vẫn giữ một mạng lưới điệp viên riêng. Ai cung cấp tiền để chi trả cho mạng lưới đó?
- Tôi chỉ làm việc với các nhân viên theo đúng phạm vi được phân công. Người của tôi trong ngành An ninh quân đội lãnh lương theo cấp chức của quân đội.
- Theo người ta báo, trung tướng tổ chức ám sát bà Saroyan khi bà ấy vừa ly dị với ông Fishel. Xin trung tướng cho ý kiến...
- Việc này tốt nhất cơ quan an ninh điện hỏi ông Fishel.
- Người ta cũng báo trung tướng ráo riết săn lùng đảng viên Đại Việt. Tại sao?
- Câu hỏi này nên đặt cho bác sĩ Trần Kim Tuyến!
- Trung tướng có mấy biệt thự?
- Hai. Một ở Sài Gòn, một ở Đà Lạt.
Máy ghi âm làm việc đến trưa. Mai Hữu Xuân mời Thùy Dung dùng cơm với ông.
- Bà không hỏi riêng tôi câu nào sao? – Xuân hỏi khi dùng cơm xong
- Dạ, không...
- Tại sao?
- Tôi nghĩ rằng không cần...
- Nghĩa là bà biết tất cả?
- “Biết tất cả” thì hơi quá, song gọi là chưa biết gì cả cũng không đúng.
- Bà khuyên tôi nên làm gì?
- Tất nhiên, tôi không khuyên trung tướng bỏ trốn, lập chiến khu hay tụ tập người của trung tướng lại làm một cú tự chứng minh sự có mặt của mình.
- Bà rất thông minh, thưa bà Thùy Dung. Tôi chẳng có cái gì cả. Tôi nghĩ đến đồn điền, trà, cà phê. Nếu tôi được tự do. Tôi chán ghê gớm cảnh quan trường...
- Trung tướng vừa mới chán đây, phải không?
- Đúng...
- Tại sao trung tướng thủ tiêu ông Diệm, ông Nhu?
- Bà mà hỏi tôi câu đó thì bà đã không tin tôi. Tại sao bà không hỏi đại sứ Cabot Lodge?
- Ngay đại sứ cũng lạ lùng về cái chết của hai người...
- Tôi từng “lạ lùng” như vậy trong không ít hơn một trăm trường hợp...
... Dung còn làm việc với Mai Hữu Xuân một buổi nữa. Các câu hỏi sẵn đều đều nêu lên và Xuân cũng trả lời đều đều.
“Ông ta mất hết hăng hái. Quả ông ta muốn trở thành chủ đồn điền... ”. Trong đầu của Dung, cuộc gặp gỡ này quá nhạt nhẽo.
Đại úy Vũ cung cấp cho Dung thêm tin tức: Mai Hữu Xuân chẳng giao dịch với ai, vả lại, ở vùng I, ông ta ít quen biết, thỉnh thoảng vợ con ra thăm. Sách của ông ta đọc thuộc loại trồng tỉa cao su, trà, cà phê... Báo chí trong nước và ngoài nước xếp bằng chồng, ông ít khi ngó tới.
“Ông ta chấm dứt ham muốn hơi sớm” - Dung nhận xét như vậy.
Tất nhiên, Dung không thể biết bao nhiêu thơ khẩn Xuân gửi Savani mà không có hồi âm. Có hồi âm: một mẩu tin ngắn trên tờ báo Pháp do vợ Xuân mang ra. Mẩu tin thế này: “Nhắn ông De Printemps. Thời tiết thay đổi. Khu vườn mà chúng ta định trồng ở phía Nam không có giá trị nữa. Phải tính toán cách làm ăn khác. Tôi thông cảm với người hùn vốn với tôi, song hoàn cảnh chúng ta bất khả kháng. Cũng đừng quá lo lắng. Số tiền trong ngân hàng sẽ được dùng khi thích hợp. Ký tên: Jean Claude Sani... ”
“Thời tiết thay đổi!”. Dự định cũ “không còn giá trị nữa”. “Phải tính cách làm ăn khác”. “Số tiền trong ngân hàng...”. Điều sau cùng là hệ thống điệp viên của Xuân. Ông ta muốn đăng một tin nhắn: Đủ rồi! Xin chào! Còn “số tiền trong ngân hàng” chẳng bao nhiêu, nếu không nói là sạch bách! Những Trần Bá Thành, Géo Nam, Thomas Bocal ra rìa từ lâu. Số trong An ninh quân đội trở cờ. Hai bộ hạ thân tín là Lưu Kỳ Vọng và Hùng, kẻ bị Việt Cộng cho chầu Diêm Vương, kẻ chính tay Xuân ra lệnh khử...
Đủ rồi! Sau khi thiếu tá Thùy Dung chào tạm biệt, tướng Mai Hữu Xuân ném người lên ghế bành, lẩm bẩm.
Người Mỹ không dùng ông. Hàng tá đứa đủ sức thay ông, Mỹ cóc cần một gã ruột gan đều hướng về Pháp. Mai Hữu Xuân rót một ly rượu đầy, nốc cạn... Thôi thì cái món chót cuối cùng an ủi ông là rượu Pháp – ngon tuyệt!
*
Từ Huế, Dung bay lên Đà Lạt, nơi cô phải “hỏi cung” hai tướng Lê Văn Kim và Trần Văn Đôn.
Tướng Lê Văn Kim tiếp Thùy Dung ở một ngôi biệt thự nhỏ - càng rất nhỏ khi đối diện với nó là ngôi biệt thự đồ sộ, xây cả pháo đài án ngữ phía ngoài, vốn là nhà riêng của tướng Tôn Thất Đính, bây giờ thì chỉ có vài quân cảnh canh gác. Lê Văn Kim sống ẩn dật với thú đọc sách báo.
- Tôi đã được cho biết trước là bà sẽ đến làm việc với tôi. Tôi đang bị giam lỏng. Tuy vậy, tôi không một lần bước ra khỏi ngôi nhà này. Bà cứ thực hiện nhiệm vụ... - Tướng Lê Văn Kim nói rõ từng lời.
- Thưa trung tướng...
- Có lẽ bà cứ gọi tên tôi: Lê Văn Kim
Trong bộ quần áo dân sự đơn giản, Lê Văn Kim trả lời câu hỏi của Dung. Cũng ghi âm.
Một “mưu sỹ”, một “lý thuyết gia” như người ta gắn cho ông, không phải vô cớ. Dung nghĩ như vậy thông qua cách trả lời khúc chiết của tướng Kim. Ông ta khá thâm trầm. Đúng, chính ông ta vạch kế hoạch lật đổ Ngô Đình Diệm, chính ông ta tính toán nước cờ sau ngày 1-11-1963. Mặc dù ông ta chưa bao giờ tuyên bố lung tung, chưa bao giờ trồi lên hạng đầu sỏ. Ông ta biết và thích sai khiến.
- Tôi có nghĩ đến giải pháp trung lập. Song trung lập mà tôi hình dung khác thuyết trung lập của Sihanouk... Tôi chủ trương phải đánh bại Việt Cộng về tư tưởng, về ảnh hưởng chính trị rồi mới nói đến trung lập - Tướng Kim không chối bỏ lời buộc tội nghiêm trọng trong các câu hỏi.
Có thể người Mỹ và tướng Khánh không chú ý đến tướng Kim – ông ta qua lời khai để xác định quan điểm và hy vọng Mỹ sẽ nghiên cứu – Dung kết luận khi xong công việc.
- Ông có nghĩ rằng, chính ông Đỗ Mậu không thích ông? – Dung xếp máy ghi âm, hỏi một câu bên ngoài.
Lê Văn Kim cười nhẹ:
- Tôi có nghĩ, bởi vì chức Ủy viên ngoại giao của tôi trong Hội đồng quân nhân khiến ông Đỗ Mậu, ủy viên chính trị cảm thấy bị lấn quyền; tôi hết sức tế nhị trong cư xử. Song bà biết đấy, ông Đỗ Mậu không phải là hạng chịu ngồi dưới hay ngồi ngang bất kỳ ai...
- Trong vụ “chỉnh lý”, ông ấy đang ở Đại Hàn...
- Đại Hàn xa Nam Việt tính theo đường chim bay, còn nếu tính theo vô tuyến điện thì khác gì quân đoàn 2 của tướng Nguyễn Khánh với Sài Gòn...
- Nghĩa là ông ghép ông Đỗ Mậu trong vụ này?
- Tôi không ghép, sự thật là như vậy...
- Ông ân hận điều gì nhất?
- Tôi ân hận tôi: tôi không đề phòng bất trắc. Rất khó đề phòng với người Mỹ! Có lẽ bà nói đúng.
- Xin được hỏi một câu hoàn toàn riêng tư: dự kiến tương lai của ông?
- Tôi sẽ trở lại đời sống thường dân. Tôi không muốn vấy lại chính trị...
- Ông chọn ngành nào?
- Thương mại.
- Bà nhà cũng đồng ý?
- Vợ tôi và phu nhân của tướng Trần Văn Đôn là chị em ruột. Cả hai bà đều ngao ngán...
- Ông Trần Văn Đôn cũng ngao ngán?
- Tốt nhất, bà nên hỏi ông ta...
Thêm một kẻ tự loại ra khỏi vòng chiến nữa. Dung trầm tư trước khi đến gặp tướng Trần Văn Đôn.
*
Tướng Trần Văn Đôn mời Thùy Dung ngồi ở phòng khách. Biệt thự khá sang. Quanh biệt thự, một mảnh vườn nho nhỏ. Nếu so sánh, biệt thự chỉ kém nhà của Trần Trung Dung. Dung được thông báo về ngôi biệt thự này, nó thuộc một người Trung Quốc lấy Pháp tịch, tên Dominique Hoa Hồng Hỏa - dòng họ chú Hỏa (1). Với quyền lực, tướng Đôn chiếm biệt thự, chi một số tiền nhỏ rồi trả góp hàng tháng.
Dung biết tướng Đôn tự kiềm chế dữ dội trong cuộc gặp gỡ cô. Ông ta vận quân phục và ngồi thật ngay ngắn. Hai người không phải xa lạ nhau. Tướng Đôn thích Dung, đôi lần ông ta nói với bè bạn, song ông đủ khôn ngoan để dừng ở mức ngắm từ xa vợ của viên đại tá nổi danh này. Trong đời, ông bẻ đủ loại hoa, có chủ hay không chủ. Ngay Trần Lệ Xuân cũng từng mặn nồng với ông. Vợ viên tư lệnh không quân từng hiến thân cho ông. Ông từng cưới bán chính thức với diễn viên điện ảnh đang lên. Ông ngủ với vợ hàng loạt sĩ quan. Nói chung, ông không thô bạo mà tỏ tình và “con mồi” nào ông nhắm đều không thoát. Hào hoa, đẹp trai, khỏe... Ông còn một số lợi thế.
Tiểu khu trưởng Đà Lạt báo với Dung, mỗi lúc vợ ông ta về Sài Gòn thì lập tức có một – không phải một, mà hai ba – “bồ” thay thế trong các buổi nhảy thâu đêm.
Bây giờ ông ngồi trước người đàn bà đẹp và phải trả lời các câu hỏi do người đàn bà ấy nêu ra. Tuy nhiên, ông không tỏ ra khúm núm hay e dè khi trả lời, Dung hiểu tướng Đôn là bậc “trên trước” trong hàng tướng, chỉ sau tướng Big Minh. Bị Nguyễn Chánh Thi làm nhục, Đôn căm tức - tại cuộc họp tại Bộ Tổng tham mưu và trại Hoàng Hoa Thám, ông ta sợ thật vì Thi dám đánh ẩu, bây giờ lên Đà Lạt, khi mọi sự lắng dần, ông tự đánh giá lại mình: sớm muộn gì người Mỹ cũng phải dùng ông; trong hàng các tướng bị gọi là “già”, Big Minh và ông vững thế hơn hết; mọi lộn xộn rồi sẽ qua thôi... Cho nên, vài ngày sau khi lên Đà Lạt, vào ngôi biệt thự lộng lẫy của ông, ông mở liền buổi dạ hội tưng bừng, mời bạn bè từ Sài Gòn lên chơi suốt sáng. Tin đó tới tai Nguyễn Chánh Thi, Thi hộc tốc bay lên Đà Lạt và hộc tốc chạy tới biệt thự. Đã 10 giờ sáng. Thi đá mạnh vào cửa, thét quân cảnh gọi Đôn ra. Đôn đã thức dậy, bảo quân cảnh trả lời là Đôn còn đang ngủ... Thi định xộc vào phòng Đôn, Đôn nói qua cửa hé: “Thằng nào ló đầu vào phòng riêng của tao, tao bắn còn nếu thằng đó tự cho mình là con trời thì cứ nổ súng trước; bằng không, nên mang bộ mặt láu cá ra khỏi nhà tao để khỏi bị bắt về tội định ăn trộm!”
Thi tức điên ruột, song bộ hạ thân tín chỉ cho Thi xem ở phòng khách hàng đống danh thiếp, gồm các tướng Mỹ và nhân viên cấp cao của tòa đại sứ Mỹ...
- Đ.M! – Thi chửi thề mà không biết phải làm sao.
- Tên lưu manh đầu đường xó chợ nào vào nhà tao đó? Để tao gọi điện cho cố vấn quân sự Mỹ ở Đà Lạt nhờ quân cảnh Mỹ tới quét thứ dơ dáy này ra khỏi nhà tao...
Thi xô cửa phòng ngủ và thấy tướng Đôn đang quay điện thoại thật...
- Rút lui! – Tên bộ hạ thân cận của Thi bảo nhỏ và Thi rút lui.
*
- Thưa trung tướng, trung tướng mang quốc tịch Pháp? – Dung đọc các câu hỏi.
- Rồi sao? André Đôn, ai mà không biết. Cả nhà tôi đều tên Đôn. Như đại tá Nguyễn Thành Luân, Robert Nguyễn Thành Luân...
- Trung tướng sinh ở Bordeaux?
- Rồi sao?
Dung không hỏi thêm sau mỗi câu “rồi sao” của Đôn. Cô làm công việc đơn thuần chuyên môn.
- Người ta nói trung tướng muốn chấm dứt chiến tranh?
- Ai nói?
- Chấm dứt chiến tranh nghĩa là thương lượng với Cộng sản.
- Nếu không tiêu diệt hết cộng sản thì phải thương lượng, chuyện con nít cũng hiểu. Mỹ không tiêu diệt được Nga Xô, Trung Cộng thì phải đặt quan hệ ngoại giao...
- Trung tướng chủ trương trung lập ở Nam Việt?
- Nếu ông Nguyễn Khánh tìm ra được một chỗ đứng nào hay hơn trong hoàn cảnh Đông Nam Á hiện thời thì bảo ông ấy tranh luận với tôi.
Dung tắt máy. Cuộc “hỏi cung” chính thức xong.
- Trung tướng nghĩ thế nào nếu Mỹ đưa vài trăm ngàn quân vào Nam Việt?
Đôn nhún vai:
- Tôi không ưa!
- Quan điểm của trung tướng có được nhiều người chia xẻ không?
- Bạn bè của tôi đều nghĩ như tôi.
- Đây là một câu hỏi riêng của cá nhân tôi: trong đời hoạt động của trung tướng, đến hôm nay, trung tướng thấy mình hối tiếc điều gì nhất?
Đôn cắn môi một lúc.
- Ít nhất, có ba trường hợp tôi hối tiếc: một, không sát cánh với tướng Nguyễn Văn Hinh khi ông Diệm còn bấp bênh; hai, để anh em ông Diệm chết; ba, bị thành công cuộc cách mạng 1-11 lóa mắt không đề phòng phản bội... Tất cả do tôi non về chính trị. Tôi ngán binh nghiệp và muốn hoạt động chính trị hơn.
- Bà cho phép tôi gởi lời hỏi thăm đại tá. – Đôn tiễn Dung ra bậc thềm.
- Cám ơn trung tướng... Thế nào rồi Trung tướng và nhà tôi cũng gặp nhau thôi! – Dung nói, ý nhị...
- Gặp nhau về phương diện nào? Gặp mặt hay cùng chung suy nghĩ? – Đôn hỏi lại, hóm hỉnh.
- Có thể cả hai nghĩa...
Và, trước khi Dung lên xe, Đôn trở lại cái quán tính trong người ông ta; ông cầm bàn tay, mỗi ngón thon dài, trắng nuột của Dung đưa lên môi hôn.
Ông ta còn tham vọng... Muốn trở thành chính khách. Dung đánh giá tướng Đôn.
*
Cuộc “hỏi cung” tướng Tôn Thất Đính ồn ào nhất. Khi hoàn hồn rồi, lại bị tống lên xứ Pleiku núi non trùng điệp, tướng Đính nổi đóa. Tư lệnh vùng II thường đến chào ông và lần nào cũng bị ông chửi bới vuốt mặt không kịp. Tôn Thất Đính luôn mở đầu câu chuyện bằng công lao lật đổ Diệm và xỉ vả Nguyễn Khánh không tiếc lời. Đính nhậu, chơi gái và phần thì giờ còn lại thì chìm đắm trong ván bài tứ sắc, thứ mà Đính đam mê. Pleiku không có nhà to, nhưng quan chức địa phương vẫn phải thuê cho Đính một biệt thự tốt nhất. Khách khứa không ngớt. Vợ Đính thỉnh thoảng lên thăm chồng - một phụ nữ đẹp, thùy mị, nhưng vợ chồng không ở chung lâu - vợ Đính về Sài Gòn và Huế để còn lo nhà cửa.
Đính phục Luân nên nể Dung.
- Tụi nó lo chỗ ăn ở cho bà có đàng hoàng không? – Đính hỏi.
Dung trình bày nhiệm vụ của mình, xin lỗi Đính và mở máy.
- Bà cứ mở máy... Tôi chẳng thèm dấu diếm... - Đính liếc qua các câu hỏi, xếp tờ giấy lại – Tôi không trả lời từng câu, thẩm vấn tôi? Chính tôi mới đủ tư cách thẩm vấn thằng Khánh. Còn thằng Thi, nó là con rận. Tụi Vĩnh Lộc, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ hở? Đồ cặn bã. Tôi chống Cộng. Tôi chống độc tài, độc tài Ngô Đình Diệm hay độc tài Nguyễn Khánh tôi đều chống. Tôi là hoàng tộc. Tôi biết đánh giặc, tôi biết thắng giặc. Tôi... tôi... tôi...
Rồng rặc “tôi” trong cả băng ghi âm C.90
- Mỹ lầm nên sài thằng Khánh. Nó sẽ cho Mỹ sạt nghiệp... Tôi chẳng trung lập, chẳng thân Pháp... Còn lợi dụng tiền bạc? Tôi có một nhà ở Đà Lạt, vùng chiến thuật xây cho tôi. Đừng bày đặt hỏi vụ tiền bạc. Tôi không phải thằng ăn mày, tôi giàu, vợ tôi giàu. Về tiền bạc lem nhem, nên hỏi cung thằng Thi, thằng Ky, thằng Khánh. Thằng Kỳ buôn lậu á phiện với Francisci. Chị nó là trạm chuyển hàng lậu ở Savanakhet. Thằng Thi moi trong đống rác kiếm xương cá đầu tôm ở Nam Vang, về nước có nửa tháng mua liền hai biệt thự. Thằng Khánh chứa gái điếm ở Pleiku này... Tôi mà được Mỹ trả tự do, nắm quyền, tôi bắn ráo mấy thằng phản phúc... Bà đừng xóa chữ nào trong băng và, nếu bà cam đảm, xin in một bản gửi cho đại sứ Cabot Lodge hoặc cho tướng Jones Stepp...
- Đây là câu hỏi riêng của tôi. – Dung tắt máy - Người ta nói ông Diệm vì tin trung tướng mà chết... Nói cách khác, trung tướng phản bội...
- Tôi đợi bà hỏi câu này... Tại sao tôi phải trung thành với ông Diệm?
- Ông từng được ông Diệm xem như con nuôi...
- Thế đại tá Luân không phải là con nuôi của giám mục Ngô Đình Thục đó sao?... Tuy vậy, tôi phản đối giết anh em ông Diệm. Chắc đại tá Luân cùng quan điểm với tôi.
Dung chào từ biệt Tôn Thất Đính.
- Về phần tôi, bà sẽ thấy, người ta sẽ xin lỗi tôi và khôi phục danh dự cho tôi. Ở Việt Nam, không dùng tôi trong việc quân thì dùng ai? Cũng như việc chính trị, không dùng đại tá Luân thì dùng ai?
*
- Tôn Thất Đính còn rất hăng máu mà rất lông bông. - Thùy Dung nhận xét với Luân khi về đến Sài Gòn
Nghe xong các băng, Luân nói:
- Đây là những con người của ngày hôm qua...
---
(1) tức Hui Bon Hoa, một đại tư sản người Hoa tại Sài Gòn đầu thế kỷ XX


Phần 9 - Chương 10


Sáng ngày 2-2, Nguyễn Khánh làm một cú “chiến tranh tâm lý” khá lả lướt; cùng tướng Dương Văn Minh đến dâng hương chùa Xá Lợi. Thực sự đây không phải là sáng kiến của Nguyễn Khánh mà y ta chỉ chấp hành lệnh của Mỹ, cần tung ra hỏa mù về sự cố ngày 30-1; rõ ràng chỉ là một cuộc “chỉnh lý” hoàn toàn nội bộ, không hề va chạm đến nội dung lập đổ triều đại Ngô Đình Diệm, không hề là dấu hiệu “Cần Lao ngóc đầu dậy”, không hề có rạn nứt trong hàng tướng lĩnh. Phong trào Phật giáo đã tạo điều kiện lật đổ Ngô Đình Diệm, phong trào đó đang “làm chủ” dư luận, hàng đêm, hàng vạn, thậm chí hàng chục vạn đến các chùa nghe nhà sư thuyết pháp – đúng ra, nói chính trị, đủ loại chính trị; sách của Thích Nhất Hạnh bán chạy, tài hùng biện của Thích Hộ Giác thu hút... Những cái đó không thể coi thường. Mặc dù tổng thống Johnson gửi thư cho Nguyễn Khánh cam kết ủng hộ bộ sậu mới, sự ủng hộ đó không phải vô điều kiện. Chẳng hạn, một đợt tấn công của Phật tử hoặc sinh viên vào Nguyễn Khánh thì Washington dễ dàng rút lời cam kết như họ từng làm. Không ít sĩ quan cấp tướng, chính khách rất ranh ngoi lên và sẵn sàng quật Khánh. Trong trường hợp này, tốt nhất là dựa hơi tướng Minh.
Ngày 3-2, Nguyễn Khánh tiếp xúc với các giới, sửa soạn thành lập chính phủ mới. Ngày hôm sau, anh ta bị một cú đánh phủ đầu mà không có triệu chứng báo trước: mấy nghìn sinh viên, học sinh biểu tình qua các đại lộ và công sở chính, mang các khẩu hiệu thách đố bí hiểm:
Phải đại đoàn kết quốc gia!
Phải thực thi dân chủ!
Đả đảo chế độ độc tài cá nhân nguỵ trang!
Đả đảo bọn lật lọng!
Không có khẩu hiệu nào, kể cả hô bằng miệng: kết án đích danh Nguyễn Khánh, nhưng ai cũng biết cuộc biểu tình rầm rộ hàm chứa cái gì. Nhất là, đồng thời, các giám mục đạo Thiên Chúa cũng ra lời kêu gọi đoàn kết quốc gia. Và cũng khá đặc biệt, cách đây mấy hôm, cũng học sinh, sinh viên biểu tình chống thuyết trung lập - khẩu hiệu đó bỗng nhiên biến mất.
*
Báo cáo của Tổng nha cảnh sát
Tuyệt mật
Nơi nhận: Trung tướng Nguyễn Khánh
Cuộc biểu tình coi như ôn hòa của ba nghìn học sinh, sinh viên bắt đầu từ trụ sở 4 Duy Tân, kéo qua nhà thờ Đức Bà, thẳng đến dinh Độc Lập, theo đường Công Lý, ra đường Lê Thánh Tôn trước tòa Đô chính, theo đường Lê Lợi, quanh lại trụ sở Quốc hội, theo đường Tự Do trở về đường Thống Nhất, qua tòa Đại sứ Mỹ và giải tán ở số 4 Duy Tân.
Chưa thể xác định ai đứng ra tổ chức cuộc biểu tình này, mà số tham gia gồm sinh viên trường Luật, Khoa học, Trung tâm kỹ thuật Phú Thọ, Vạn Hạnh, học sinh trường Phan Sào Nam, Cao Thắng, Huỳnh Khương Ninh. Có người của Phật giáo, có người ở Thiên Chúa giáo, có người của phe phái Đại Việt, cũng có thể có các phần tử thân Cộng trà trộn vào... Đang thẩm tra và phúc trình sau. Điều đáng chú ý mà số người mà Tổng Nha giữ liên hệ trong Tổng hội sinh viên, Hội đồng chỉ đạo trong từng phân khoa loại hoàn toàn không hay biết gì về cuộc biểu tình này.
*
Tin các báo
Ngày 5-2, bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, lãnh tụ đảng Đại Việt, sau nhiều năm sống lưu vong ở Pháp và Mỹ, về nước trên chuyến máy bay thường lệ của hãng hàng không Pan America. Ra sân bay đón bác sĩ có thiếu tướng Đỗ Mậu, ông Hà Thúc Ký, ông Nguyễn Ngọc Huy cùng nhiều người khác. Được hỏi về hoạt động của ông trong những ngày sắp tới, bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn cho biết ông sẽ bàn với các chiến hữu quốc nội để hoạch định một chiến thuật thích hợp trong điều kiện hiện nay, nhất là thành lập Mặt trận quốc gia cấp tiến, mà theo ông là hết sức cần thiết. “Chế độ ông Diệm tuy mang nhiều nhược điểm, song nó dựa trên chủ thuyết Cần Lao nhân vị, trong khi nhóm tướng lãnh lật đổ ông Diệm không tạo ra được một chủ thuyết nào. Lỗ hổng đó cần được lấp. Tôi kỳ vọng Mặt trận quốc gia cấp tiến sẽ trình trước quốc dân con đường cứu nước hữu hiệu” – ông Hoàn tuyên bố như vậy, sau đó cùng phu nhân lên xe về một ngôi nhà đã được sửa soạn để đón ông.
Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn tốt nghiệp ở Hà Nội và từng chống lại Việt Minh. Ông không được chế độ họ Ngô trọng dụng, phải sang Pháp mở hiệu bán cơm lấy tên là Sông Hương ở Paris. Những năm sau này, khi Việt Cộng hoạt động mạnh tại Nam Việt và chế độ ông Diệm mất lòng dân, ông Hoàn được một số chính khách Mỹ mời sang Mỹ.
*
TỪ QUÁ ĐỘ ĐẾN QUÁ ĐỘ
(Helén Fanfani, Financial Affair)
Sài Gòn, tháng 2
Tướng tư lệnh vùng II – vùng cao nguyên và bờ biển Nam Trung Việt, chỉ huy một cú sân khấu giật gân mà ông gọi là “chỉnh lý nội bộ” cốt tránh một danh từ khác lịch sự hơn song cũng đáng sợ hơn: đảo chính. Theo cung cách phương Đông, thường thể hiện trong các tiểu thuyết đánh kiếm, khi một phái nào đó phát sinh lộn xộn thì bậc tôn trưởng đứng ra chỉnh đốn, lập lại trật tự, bảo đảm kỷ luật. Tướng Nguyễn Khánh còn rất xa mới được giới quân sự đánh giá như một bậc tôn trưởng – ông không có tài, ông không đủ sức, tuổi ông chưa cao, về cấp bậc ông vừa từ đại tá thăng nhanh lên trung tướng. Về chính trị, ông và một số tướng khác như Đỗ Cao Trí, Huỳnh Văn Cao thường bị xem như tay chân của ông Diệm; trong biến cố 1-11, người ta ngại ông kéo quân về Sài Gòn để giải vây cho ông Diệm. Thế mà ông lật đổ dễ dàng cả nhóm của tướng Big Minh, không cần nổ súng. Lý do “chỉnh lý” hơi khó hiểu. Thoạt đầu, ông kết án Hội đồng quân nhân “phản lại cuộc cách mạng 1-11-1963, ngả nghiêng, chịu ảnh hưởng thuyết trung lập và thân Pháp”. Có vẻ lập luận ấy không đủ sức gây ấn tượng nghiêm chỉnh bởi vì chính ông cũng xuất thân từ trường võ bị do Pháp đào tạo trên Đà Lạt, một thời gian ngắn ngủi đã đi theo Việt Minh rồi quay về trong vòng tay người Pháp. Một lập luận khác thay thế: các tướng trong Hội đồng quân nhân quá già. Lập luận này vẫn là đề tài cho dư luận cười cợt, tuổi tác của họ chưa thể coi là già.
Nhưng, tất cả đều nhằm che đậy điều thực tình ai cũng rõ; giới ngoại giao Sài Gòn và người dân Nam Việt bình thường. Êkíp Big Minh không đáp ứng đủ đòi hỏi của chính sách Mỹ - chính sách dồn lực lượng quân đội để đánh bại Việt Cộng thật nhanh. Sau khi ông Diệm đổ, quốc sách ấp chiến lược mà ông Nhu hao bao nhiêu tâm trí thực hiện theo gợi ý của kinh nghiệm Anh ở Malay, quốc sách ấy sụp đổ. Việt Cộng không làm được gì sớm hơn giữa lúc Sài Gòn rối loạn nhưng họ đã khai thác tối đa cơn dao động của binh lính và viên chức chính quyền cấp xã ấp, đồng loạt phá vỡ hệ thống ấp chiến lược, biến nông thôn thành dinh lũy đề kháng dưới ngọn cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng, dựng lên chính quyền Việt Cộng kiểm soát khá rộng lãnh thổ Nam Việt. Các thước phim quay từ máy bay cho thấy Việt Cộng thậm chí làm chủ hàng loạt thị trấn sầm uất. Hiển nhiên, Việt Cộng đã có nhiều súng hơn, nhiều binh đoàn hơn so với ba năm trước.
Êkíp Big Minh lúng túng. Nếu dàn mỏng lực lượng thì dễ làm mồi cho Việt Cộng. Nếu tập trung cho các chiến dịch lớn thì không sao cùng lúc tiến công rộng được.
Người Mỹ sốt ruột. Thời gian kéo dài sẽ ủng hộ đối phương. Phải tính đến khả năng xấu nhất, tức đổ quân Mỹ vào Nam Việt. Đó là phương án Johnson. Tuy nhiên, hậu cứ của Mỹ và Nam Việt chưa bảo đảm cho cuộc viễn chinh bằng thực binh Mỹ. Người ta không tin rằng êkíp Big Minh thích hợp với một tình huống như vậy.
Ông Diệm khá cứng đầu. Những người thay thế ông ngoan ngoãn hơn nhưng chưa đủ ngoan ngoãn như Mỹ cần. Tướng Nguyễn Khánh xuất hiện và lãnh vai trò phá bĩnh. Đại sứ Cabot Lodge hiểu đâu là biên độ không vượt quá. Cho nên, tướng Big Minh lại được cử làm Quốc trưởng và tướng Nguyễn Khánh xuống giá một chút: ông làm Thủ tướng.
Màn kịch vừa bắt đầu, Quốc trưởng và Thủ tướng khó mà nhìn mặt nhau dù họ cùng đến ngôi chùa nổi tiếng sào huyệt của các nhà sư. Tướng Nguyễn Khánh đi sau và người ta mường tượng ông dí súng vào lưng tướng Minh buộc Quốc trưởng phục tùng mình. Liệu tướng Big Minh chịu phục tùng không?
Dù thế nào, êkíp cũ của tướng Big Minh, trong tay nhào nặn của ông Cabot Lodge, chỉ là chiếc cầu quá độ. Bây giờ, êkíp mới, kể các tướng Nguyễn Khánh chắc chắn cũng là chiếc cầu nửa vời chờ một chiếc cầu khác kiên cố hơn, đủ sức chịu trên lưng một trọng tải những trăm ngàn binh sỹ Mỹ... Từ quá độ đến quá độ, tới hôm nay chưa thể nói rằng đã có thể đặt dấu chấm dứt khoát cho “những người bạn Mỹ” ở Sài Gòn.
*
Thông cáo của văn phòng Quốc trưởng
Sau khi thăm dò ý kiến các nhân sĩ, trung tướng Nguyễn Khánh đã trình Quốc trưởng danh sách chính phủ mới. Quốc trưởng chấp thuận danh sách này và chính phủ mới bắt đầu hoạt động từ ngày 8-2-1964 theo tinh thần Hiến ước lâm thời số 2.
Thủ tướng: Trung tướng Nguyễn Khánh
Phó thủ tướng đặc trách bình định: Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn.
Phó thủ tướng đặc trách kinh tế và tài chính: Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh.
Phó thủ tướng đặc trách văn hóa và xã hội: Thiếu tướng Đỗ Mậu.
Quốc vụ khanh: Bác sĩ Lê Văn Hoạch
Tổng trưởng ngoại giao: Bác sĩ Phan Huy Quát.
Tổng trưởng nội vụ: Hà Thúc Ký.
Tổng trưởng công chánh: Kỹ sư Hoàng Ngọc Oanh
Tổng trưởng quốc gia giáo dục: Luật sư Bùi Tường Huân.
Tổng trưởng quốc phòng: Trung tướng Trần Thiện Khiêm
Tổng trưởng cải tiến nông thông: Nguyễn Công Hầu
Tổng trưởng y tế: Bác sĩ Vương Quang Trường.
Tổng trưởng lao động: Đàm Sỹ Hiến.
Tổng trưởng thông tin: Phạm Thái.
Tổng trưởng tài chính: Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh
Tổng trưởng kinh tế: Tiến sĩ Âu Trường Thanh.
Tổng trưởng tư pháp: Luật sư Nguyễn Văn Mần
Tổng trưởng xã hội: Giáo sư Trần Quang Thuận.
Bộ trưởng phủ thủ tướng: Nghiêm Xuân Hồng.
Bình luận của báo chí:
Việt tấn xã điểm dư luận các dư luận các báo Mỹ và Pháp về thành phần chính phủ Nguyễn Khánh.
1) Một cuộc xoa dịu sau cú “chỉnh lý”
2) Tính chất “chính chủ chuyên viên” có pha loãng nhưng nhân vật của chính phủ cũ còn lại, ở các ngành kinh tế - xã hội – văn hóa như Vương Quang Trường, Âu Trường Thanh, Trần Ngọc Oanh và bổ sung thêm Nguyễn Xuân Oánh, Bùi Tường Huân, Nguyễn Văn Mậu.
3) Vẫn ba viên tướng có chân trong chính phủ, số lượng như chính phủ trước, trong đó có hai tướng mới là Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm và tướng cũ là Đỗ Mậu.
4) Thành phần đảng Đại Việt và Quốc dân đảng tăng rõ rệt: Nguyễn Tôn Hoàn, Hà Thúc Ký, Phan Huy Quát, Nghiêm Xuân Hồng, Phạm Thái, Đỗ Mậu. Có hai nhân sĩ tôn giáo: Lê Văn Hoạch (Cao Đài), Trần Quang Thuận (Phật giáo).
*
Luân được chính Nguyễn Khánh thăm dò. Cuộc gặp gỡ chừng 15 phút, tại Bộ tổng tham mưu.
- Tôi sắp trình trước Quốc trưởng một chính phủ mới thay chính phủ ông Nguyễn Ngọc Thơ... Đại tá có thể nhận một bộ nào trong chính phủ của tôi không?
- Trước khi trả lời trung tướng, tôi muốn biết chủ trương chung của chính phủ.
- Đó là điều kiện của đại tá?
- Thưa trung tướng, dẫu sao tôi cũng không thể gật hoặc lắc đầu trước hảo ý của trung tướng nếu tôi chưa biết dự định hành động theo phương hướng nào...
- Đây là chính phủ cách mạng, theo hiến ước đã công bố. Chính phủ phải chấp hành tinh thần cuộc chỉnh lý, tức phải dành cho nỗ lực an ninh khắp lãnh thổ, chống Cộng và trung lập, hợp tác chặt chẽ hơn với lực lượng người Mỹ tại chiến trường, và cũng hợp tác chặt chẽ hơn với người Mỹ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao...
- Tôi chưa thấy điểm nào khác so với chính phủ trước...
- Tại sao lại phải khác?
- Nói thế thôi, tôi hiểu một điểm khác rất lớn...
- Đại tá muốn nói gì?
- Một chính phủ mở cửa...
- Cho người Mỹ?
Luân mỉm cười.
- Đại tá không thích?
- Vấn đề không phải là thích hay không... Vấn đề là cần hay không.
- Là Phó tổng thanh tra quân lực, đại tá hiểu quá rõ tình hình chiến trường hiện nay. Chúng ta cần sự giúp đỡ của người Mỹ nhiều hơn nữa và trực tiếp hơn nữa...
- Thưa trung tướng, một số người Mỹ vẫn đắn đo...
- Tôi hiểu. Người Mỹ sợ dính líu quá sâu vào Việt Nam. Song, tổng thống Johnson quyết tâm.
- Quyết tâm mạo hiểm?
- Đại tá chơi thân với tướng Jones Stepp. Tôi cho là tướng Jones Stepp cũng bắt đầu có cái nhìn khác... ..
- Không ít các bạn Mỹ của tôi lo lắng... Và, riêng trung tướng, thủ tướng chính phủ, đã sẵn sàng đứng trước lịch sử về vai trò cùng người Mỹ rẽ bước ngoặt trong cục diện Nam Việt?
Khánh thoáng đăm chiêu:
- Trước lịch sử! Danh từ to tát quá!
- Rồi trung tướng sẽ thấy...
- Ta trở lại việc chính của buổi gặp hôm nay: Liệu đại tá có thể làm việc với tướng Trần Thiện Khiêm hay không?
- Tôi và tướng Khiêm chưa bao giờ có gì không bằng lòng nhau hoặc bằng lòng nhau... Đó là ý riêng của tôi.
- Tôi mời tướng Khiêm làm tổng trưởng quốc phòng và tôi đề nghị đại tá làm bộ trưởng...
- Rất cám ơn trung tướng, song...
- Hay đại tá nhận nhiệm vụ Quốc vụ khanh... Tôi đã mời bác sĩ Lê Văn Hoạch, hai Quốc vụ khanh cũng được...
- Rất cám ơn trung tướng, song...
- Đại tá từ chối?
- Tôi cho là chưa phải lúc tôi nhận các trọng trách...
- Đại tá tin rằng tôi không đứng vững? - Giọng Khánh hơi sừng sộ.
- Tôi chưa nói như vậy.
- Chưa nói mà đại tá nghĩ như vậy... Tôi được đảm bảo sẽ lãnh đạo Nam Việt đến ngày toàn thắng...
Luân không nói gì, đứng lên chào đúng điều lệnh.
- Đại tá sẽ hối tiếc...
Luân muốn nói “anh sẽ hối tiếc!”. Nhưng, Luân kìm được.
Thật ra, Saroyan đã gặp anh và chuyển lời khuyên của Jones Stepp: Đừng vội nhận lời. Luân biết rõ trò múa rối của Nguyễn Khánh sắp hạ màn...
*
Cuộc họp tay ba kéo dài từ 6 giờ chiều đến gần 12 giờ đêm. Lẹt đẹt pháo đón tết Giáp Thìn từ ngoài phố vọng vào. Hôm nay, 28 tết. Họ hầu như không uống rượu. Bàn ăn dọn cũng đơn sơ với vài món. Ngôi biệt thự lùi sâu, phòng khách im ắng, ngoài tiếng máy điều hòa chạy đều đều.
- Ta có thể gút lại kế hoạch. - Một người mặt mũi thư sinh, cố tỏ ra đường bệ, nói giọng pha trộn Nam Trung Bắc.
- Tôi còn e ngại một chút... - Một người béo, da hơi sạm, nói giọng Nam Trung Bộ vẻ đắn đo.
- Thiếu tướng e ngại điều chi? - Người thứ ba đeo kính cận, trông bề ngoài đã thấy tính giảo hoạt của y.
- Nguyễn Cao Kỳ nắm không quân, ta khó mà... - Người được gọi thiếu tướng - là Nguyễn Văn Thiệu - trả lời.
- Anh Huy đã tính kỹ rồi... - Người mặt mũi thư sinh nói, đó là Nguyễn Tôn Hoàn...
- Tôi đảm bảo! - Nguyễn Ngọc Huy, người đeo kính cận, quả quyết.
- Ai sẽ thực hiện? - Thiệu hỏi.
- Có cần nói chi tiết với hai anh không?
Thiệu cau mày:
- Không nói cũng được. Có sao không?
- Tin cậy tuyệt đối!
- Là đảng viên?
Nguyễn Ngọc Huy bật cười:
- Không, cần gì là đảng viên? Có lúc, ta xem “hắn” như đảng viên đó... Và bây giờ... Còn gã thừa hành thì...
Huy ra dấu đếm bạc.
- Một gã phiêu lưu dám làm tất cả, miễn có đô la...
- Liệu có thể bị lộ không?
- Không! Tôi đã rà kỹ với gã. – Huy trở nên bực bội
- Tôi tin anh. - Thiệu dịu giọng – Bây giờ ta gút bước thứ hai...
- Tôi sẽ lấy tư cách quyền Thủ tướng giải quyết các việc cần. - Nguyễn Tôn Hoàn trình bày.
- Ý kiến người Mỹ? - Thiệu hỏi.
- Tất nhiên... Anh khỏi lo.
Hoàn tiễn hai người ra về.
*
... Ly Kai đến một nơi – nơi mà lần đầu Ly Kai gặp John Hing, căn phố hẹp, bán hàng mã. Vẫn tên Loẽng gầy nhom, hom hem chỉ thang gác ọp ẹp cho Ly Kai lên lầu. Và, vẫn căn phòng cũ kỹ với giá sách, bộ tràng kỷ, chiếc đi văng.
- Ông có gì gấp mà hẹn bất thường? Bắt được con của Nguyễn Thành Luân rồi? – John Hing hỏi.
Ly Kai không thấy bàn đèn thuốc phiện, chắc John Hing đã hút xong.
- Vụ con của Nguyễn Thành Luân chưa xong, đang nghỉ tết, trẻ con không đến trường... Nhưng thế nào cũng xong.
- Thế thì vụ gì?
- Vụ này khá quan trọng...
Ly Kai lại thấp giọng.
- Không được! – John Hing xua tay – Tôi còn cần ông ta!
- Nhưng, mới hôm kia, ông có ý...
- Phải! Song đó là hôm kia... Nói rõ với ông, tôi chưa tìm được người thay
- Vậy... tôi phải... - Ly Kai lắp bắp
- Ông trả tiền lại, chứ gì?
Ly Kai gật đầu
- Càng không được... Tụi nó thịt ông ngay, hiểu chưa.
Ly Kai ngẩn ngơ.
- Bom hẹn giờ?
Ly Kai gật đầu.
- Thế thì quá dễ... Bao giờ?
- Mồng hai tết.
- Cho nổ trước?
- Báo động hả? Y ta biết...
- Ừ, tôi muốn báo động... .. Phần ông, ông có thể trả lời với nhóm kia là do trục trặc kỹ thuật... Đã gắn bom chưa?
- Sẽ gắn...
- Bảo đảm bí mật chứ?
- Dĩ nhiên...
- Tốt! Cách bịt đầu mối?
- Có cách...
- Tôi dặn ông thêm: Phải đối đáp cho xuôi với nhóm kia...
- Tôi hiểu...
*
Tám giờ sáng mùng Hai tết, chủ tịch Hội đồng quân nhân, Tổng tư lệnh quân đội, Thủ tướng chính phủ, trung tướng Nguyễn Khánh, sau chuyến chúc tết quân đội vùng I, đang có mặt ở phòng khách sân bay Sơn Trà. Độ một tiếng đồng hồ nữa Khánh bay về Sài Gòn, theo chương trình dự định – tối nay, đại tá Dương Ngọc Lẫm, đô trưởng mở tiệc chiêu đãi.
Khánh thỏa mãn ra mặt. Viên chức và quân đội Quảng Trị đón vị Chủ tịch Hội đồng quân nhân cực kỳ trọng vọng. Một cuộc duyệt binh lớn ngay Thành cổ. Huế cũng không chịu kém. Nguyễn Khánh đón giao thừa ngay trong thành nội và ngồi lên chiếc ghế từ lâu không có ai ngồi - ghế dành cho Bảo Đại. Trưa mùng Một, Nguyễn Khánh đón trực thăng về Đà Nẵng. Buổi chiều duyệt binh và Khánh huấn thị. Tiệc đến quá nửa đêm.
Đôi lúc, Khánh tự vấn: Thật như vậy sao? Vinh quang đến với anh ta khá ly kỳ và anh ta lòng hẹn lòng: phải tận hưởng cái quyền uy trời ban cho này.
Chốc chốc, một sĩ quan khúm núm báo cáo:
- Máy bay rời Tân Sơn Nhất từ sáng sớm, đang trên vùng trời Phú Yên...
- Máy bay vào vùng trời Quảng Ngãi
Chiếc máy bay riêng, trước kia Ngô Đình Diệm sử dụng, ngay trong các chuyến công du sang Đài Bắc, Manila... Máy bay đã tu bổ và thêm cờ hiệu bên hông với số 1 kẻ thật đậm. Khánh chỉ thị ngay việc này khi lên ghế chủ tịch, bắt chước Mỹ. Máy bay riêng của Tổng thống Mỹ có mang chữ Air Force One.
Tuần rượu chót, Nguyễn Khánh chạm cốc với các người ra sân bay tiễn khi được báo: máy bay vào vùng trời Quảng Nam.
Nhân viên không lưu sân bay Sơn Trà đã cầm cờ đứng trên đường băng. Chiếc cầu thang từ từ lăn bánh. Đoàn xe rục rịch nổ máy để chờ Nguyễn Khánh, tùy tùng và quan chức đưa tiễn đến tận máy bay.
Bỗng viên sĩ quan mặt tái mét, báo cáo lạc cả giọng:
- Đứt liên lạc với máy bay...
- Sao? - Nguyễn Khánh sửng sốt.
- Trình trung tướng, không nghe tín hiệu hoặc đàm thoại của phi hành đoàn...
*
Tin khẩn
Phóng viên AP ở Sài Gòn điện về Tổng xã Washington. Lúc 7 giờ 48 phút ngày 14-2, đúng dịp tết cổ truyền Việt Nam, chiếc C.47 của không lực Việt Nam Cộng hòa chuyên dùng cho nguyên thủ quốc gia, trên đường từ Sài Gòn ra Đà Nẵng đón Thủ tướng Nguyễn Khánh đã phát nổ trên không phận Quảng Nam, đâm vào núi. Phi hành đoàn bốn người đều thiệt mạng...
*
Tin các báo
Đại úy kỹ thuật cơ khí không quân Tân Sơn Nhất Phan Hòa chết đột ngột, tại phòng làm việc. Theo các nguồn tin thông thạo, đại úy bị đầu độc...
*
Thông báo của Chủ tịch Hội đồng quân nhân
(công bố trên các báo chí, đài phát thanh)
Chủ tịch Hội đồng quân nhân ra lệnh cho cựu bộ trưởng chế độ Ngô Đình Diệm là Nguyễn Đình Thuần, cựu trung tá Vương Văn Đông đang lẩn tránh phải ra trình diện với cảnh sát trong vòng 12 tiếng. Quá thời hạn đó, bất kỳ nhân viên công lực nào cũng có quyền bắt sống hay bắn chết hai người nói trên...
*
... Luân trao đổi với Dung.
- Chắc chắn không phải Nguyễn Đình Thuần hay Vương Văn Đông dính vào vụ nổ máy bay và cái chết của Phan Hoà...
- Thế tại sao lại có việc phát lệnh truy nã?
Luân cười:
- Hỏa mù do nhiều phía tung ra... Riêng Phan Hòa, anh ta phải chết vì là đầu mối cần phải bịt...
- Ai? – Dung hỏi.
Luân nhún vai, im lặng
*
Cùng ngày 17-2, hai sự kiện được báo chí nêu bật:
Lựu đạn nổ tại rạp chiếu bóng Kinh Đô - rạp dành riêng cho người Mỹ, hơn một trăm người chết và bị thương (tin các báo).
Sỹ quan báo chí quốc phòng cho biết: thiếu tá Nguyễn Văn Nhung, cận vệ của tướng Dương Văn Minh, bị giam tại Lữ đoàn dù từ hôm 30-1, tức là hôm Nguyễn Khánh “chỉnh lý”, đã dùng giây dày thắt cổ (tin các báo). Nguyễn Văn Nhung trong toán áp giải anh em Ngô Đình Diệm. Đã có dư luận gán thiếu tá Nhung tự tay bắn chết anh em ông Diệm mặc dù thiếu tá đính chính. Việc thiếu tá Nhung bị giam, phải hiểu như là sự trả thù của những người ủng hộ ông Diệm và bây giờ, thiếu tá “tự vẫn” xác minh thêm phe Cần Lao không khoanh tay trước món nợ máu lớn ngày 2-11-1963 – (bình luận của AFP).
Ý nghĩa của hành động ông Nhung chết khá rộng: vừa cảnh cáo tướng Big Minh, vừa dằn mặt tướng Nguyễn Khánh. Cũng có thể tướng Nguyễn Khánh bí mật hạ thủ thiếu tá để lấy lòng dư luận đảng Cần Lao. Bất kể như thế nào – ông Nhung tự sát hay bị giết – sân khấu chính trị Sài Gòn ngày mỗi thêm yếu tố để thêm bi đát, bởi tướng Big Minh dù trầm tĩnh đến đâu vẫn khó mà không phản ứng ở mức nào đó khi sĩ quan cận vệ của mình bị bắt dẫn đến cái chết (bình luận của Reuter)
Người ta đặt câu hỏi: Nguyễn Chánh Thi dính líu như thế nào đến thiếu tá Nhung? Và Nguyễn Chánh Thi là ai? – chính xác hơn, thi hành lệnh của ai? (bình luận của AEP).
Liệu người ta có thể treo cổ bằng một sợi dây cột giày không? (báo Đất Tổ)
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #37  
Old 12-09-2012, 11:39 AM
Helen's Avatar
Helen Helen is offline
Super Moderator
 
Tham gia ngày: Jan 2007
Bài gởi: 3,082
neww Ván Bài Lật Ngửa - Phần 9 - Chương 11, 12

Ván Bài Lật Ngửa


Phần 9 - Chương 11


Bé Lý bị bắt cóc. Sự việc diễn ra khá ồn ào. Hết giờ học, Lý ra khỏi phòng, chị Sáu đã chực sẵn như mọi ngày, dẫn Lý qua cổng trường. Một xe taxi trờ tới, một phụ nữ như đợi từ lâu, giật bé Lý khỏi tay chị Sáu, ôm bé Lý chui vào xe đã mở cửa, một người đàn ông đón bé Lý. Bé Lý kêu thét. Chị Sáu cũng kêu thét. Xe lao vút...
Bà sơ hiệu trưởng trường mẫu giáo, khai với cảnh sát: vào 3 giờ chiều, một người đàn bà mới trên 40, ăn mặc sang trọng, đến lớp xin lãnh bé Lý ra ngoài. Cô giáo không cho. Người đàn bà chìa danh thiếp – hình như tên Tuyết - nói là họ hàng với đại tá Luân, muốn đón cháu về sớm vì chiều nay nhà có giỗ chạp. Cô giáo vẫn không cho. Người đàn bà, vẻ mặt hiền lành, đến gặp hiệu trưởng. Hiệu trưởng nhã nhặn xin lỗi không thể làm theo ý bà ta vì quy định của nhà trường, chỉ có người sau đây mới được nhận cháu: chị Sáu, thiếu úy Thạch, vợ chồng đại tá Luân. Người đàn bà cũng nhã nhặn phân trần rồi về.
Dung nhận được điện của bà hiệu trưởng. Cô gần ngất xỉu. Sau khi báo cho Tổng giám đốc biết tin này, Dung hối hả lái xe đến trường. Cùng lúc, Luân có mặt.
Theo các nhân chứng khai với cảnh sát, bà sơ xác nhận người đàn bà bắt có bé Lý chính là người xin lãnh bé Lý - cách ăn mặc thì thay đổi: không phải chiếc áo dài trang nhã mà chiếc áo bà ba màu sậm.
Chị Sáu còn nhớ ra: vài ngày trước, chiếc taxi hay đậu ở góc đường. Nhưng chị không lưu ý.
Dung khóc rất nhiều. Luân trầm ngâm. Sau cùng Luân an ủi Dung:
- Chắc chắn trước mắt không có điều gì nguy hiểm đối với con đâu... Thậm chí, chẳng bao lâu nữa ta sẽ được tin con.
Saroyan đến nhà Luân. Theo Saroyan, Jones Stepp đã biết tin này và đã ra lệnh hệ thống tình báo quân sự Mỹ kiểm tra các đầu mối, tìm dấu vết. Tất nhiên, Tổng nha cảnh sát, Nha cảnh sát đô thành lập tức tiến hành công việc truy lùng.
“Ai? Để làm gì?”
Luân theo đuổi lập luận qua khói thuốc, giữa lúc Saroyan và Dung nức nở. Loại trừ các nhóm, Luân nghĩ nhiều đến cánh Đại Việt, đến cá nhân Nguyễn Chánh Thi và John Hing. Khả năng tống tiền hoàn toàn bị gạt bỏ. Còn lại khả năng uy hiếp tinh thần Luân. Saroyan ra về. Vẫn chưa có tin. Suốt đêm, hai vợ chồng Luân không ngủ, chờ điện thoài reo. Không có. Sáng, Luân đi làm. Anh đoán là bọn bắt cóc không muốn nói chuyện với anh, một người đàn ông. Chúng sẽ đánh vào Dung.
- Em không nên đồng ý hoặc không đồng ý khi chúng nêu giá về con chúng ta... - Luân dặn vợ - Đây rõ ràng là một hành động vì mục đích chính trị. Hôm nay, em ở nhà... Anh tin là sẽ có người gọi lúc anh vắng mặt.
- Cần theo dõi các máy điện thoại không? – Dung hỏi.
- Không cần... Tuy chúng nhắm vào anh, nhưng nếu biện pháp của ta quá đáng, rât có thể ảnh hưởng đến con... Em phải bình tĩnh. Tất nhiên, em tỏ cho ai đó biết là em hết sức lo lắng về con... Một cái gì khá đặc biệt xuất hiện đây...
- Đêm hôm, con nó khóc... Tội nghiệp con tôi! – Dung vật vã, ràn rụa nước mắt.
- Em cố gắng làm chủ tình cảm. Thủ đoạn của chúng thật man rợ. Thời kỳ những cái gì man rợ nhất đã bắt đầu... Anh nghĩ rằng Jones Stepp biết, Saroyan bị lừa, nhưng không sao...
- Có nên giảm truy lùng không?
- Cứ tiếp tục truy lùng. Tổng nha không liên can đến vụ này. Tiếp tục truy lùng có nghĩa là thúc giục kẻ dấu mặt phải ra mặt sớm. Em nói chuyện với Tổng giám đốc và giám đốc đô thành yêu cầu thông báo trong nghành nhận dạng người bắt cóc, chiếc xe, ảnh của bé Lý... Thông báo nội bộ thôi. Thế nào bọn chúng cũng theo dõi hoạt động của cảnh sát. Nhất là khu vực quận Năm...
- Tại sao quận Năm?
- Em không thấy nơi giữ bé Lý tốt nhất là quận Năm sao? Vùng khó kiểm soát nhất...
Thực tế, Luân đã bố trí một phương án riêng. Anh cho Thạch rời khỏi nhà từ tờ mờ sáng, hóa trang làm một khách đi môtô mà xe hỏng, quan sát bên ngoài.
Luân hôn vợ, lên xe. Xe ra khỏi cổng. Thay chổ Thạch là một tài xế khác, một quân nhân vóc vạc như Thạch. Vẫn người bảo vệ cũ – một sĩ quan an ninh –ngồi trước Luân.
Xe qua chỗ Thạch. Một cái hất hàm của Thạch cho Luân biết kết quả có kẻ đang chờ Luân ra khỏi nhà. Luân còn kịp thấy Thạch mở máy môtô, lao ngược hướng xe Luân...
Trong Bộ Tổng tham mưu, nhiều sĩ quan nghe tin con Luân bị bắt cóc, bao quanh anh chia buồn, phán đoán, chửi bới. Ngoài dự kiến của Luân, chính Nguyễn Chánh Thi lôi Luân vào góc hành lang miêng không ngớt văng tục:
- Tụi chó đẻ! Chơi gì mà nhè con nít! Tôi bắt được đứa nào làm trò khốn kiếp đó tôi róc xương... Tổ mẹ chúng nó! Loạn rồi...
Luân đủ nhạy cảm để hiểu rằng Thi vô can. Có thể hắn ta văng tục cốt lấy lòng Luân song phải loại hắn ra ngoài vụ này.
Nguyễn Khánh gọi Luân vào phòng làm việc của Tổng tư lệnh.
- Tôi đã nghe báo cáo về việc cháu bị băt cóc... Thật quái đản. Chính phủ hứa với đại tá sẽ làm ra lẽ... Đất nước cần luật pháp. Ngày nào tôi còn trên vị trí mà quân đội và quốc dân giao thì ngày đó bọn phá hoại luật pháp phải bị dạt ngoài lề...
Nguyên Khánh hùng hổn như vậy rồi bỏ nhỏ:
- Đại tá có biết tụi nào bắt cháu không?
Luân lắc đầu:
- Đại tá nghi bọn nào?
Luân lắc đầu tiếp:
Rõ ràng Nguyễn Khánh lo sợ. Thoạt tiên, Luân ngờ ngợ về nỗi lo sợ vô căn cứ này, lần lần, anh hiểu. Nguyễn Khánh lo sợ một thế lực nào đó dùng bé Lý để khống chế Luân và Luân sẽ trở thành nhân vật đủ sức quật đổ Khánh. Là hạng người từng rơi vào tình trạng bị “mua” qua nhiều thời kỳ, Nguyễn Khánh ngán các cạm bẫy khó mà cưỡng lại. Bản thân anh ta leo lên sân khấu và đặt địavị như hiện nay là theo một tính toán khít khao – anh ta nộp mạng sống của mình bởi các bức ảnh, các chữ ký nhận tiền, các bức thư do anh ta viết...
- Liệu chúng nó đỏi hỏi đại tá điều gì?
- Tôi không rõ...
- Chưa đứa nào liên lạc với đại tá? – Giọng Khánh hồi hộp.
- Chưa!
- Nếu... - Khánh ngập ngừng.
Luân chỉ mỉm cười. Ván bài càng lúc càng không tuân theo một quy tắc nào hết. Dẫu sao, cá nhân anh cũng còn giá, nghĩa là còn an toàn, một an toàn khá bấp bênh và thay đổi như chong chóng.
- Chúng ta luôn luôn là bạn!- Nguyễn Khánh bắt tay Luận thật chặt.
Phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn mời Luân đến văn phòng, tạm thời đặt trong dinh Độc Lập. Luân sửa soạn tư thế cho một cuộc chạm trán – một cuộc trả giá quanh bé Lý. Lãnh tụ đảng Đại Việt hẳn nghĩ rằng ông ta đang nắm thóp Luận...
Hoàn đón Luân ngay cửa phòng và Luân nhận ra ngay anh đã lầm: Đại Việt không nhúng tay vào vụ bắt cóc. Hoàn hỏi Luân nhiều về khả năng dẫn đến vụ bắt cóc và suy tư một lúc. Hoàn không đóng kịch. Nét mặt ông ta cho Luân thấy ông ta cũng lo lắng giống Nguyễn Khánh. Sau đó, hai người quay sang chủ để mà Hoàn bận tâm – bình định Nam Việt.
- Tôi nghiền ngẫm khá kỹ tình hình của nước cộng hòa chúng ta. Tôi đọc không phải một mà nhiều lần các sách, các bài của ông Ngô Đình Nhu, các bài và tài liệu của đại tá. Kết luận của tôi là các ông hoàn toàn đúng khi chú trọng đến một chủ thuyết làm cơ sở chính sách. Nhưng, các ông sai vì chủ thuyết pha hơi quá nhiều giáo điều đạo Thiên Chúa, rất không thích hợp với hoàn cảnh Nam Việt; hơn nữa, ông Diệm chưa gột sạch óc vua chúa, bộ máy mang tính gia đình và địa phương, chủ yếu dựa vào giáo dân đi cư đồng thời cả tin số sĩ quan cao cấp. Hệ thống tình báo kém hiệu lực. Nếu khắc phục các thiếu sót đó thì chúng ta đứng vững hơn. Tôi muốn cùng đại tá đánh giá lại toàn bộ chủ thuyết Cần Lao Nhân vị dưới ánh sáng mới, nói cách khác, bổ sung giá trị thực hành cho nó... Bình định là phạm vi cực kỳ phức tạp. Bình định nghĩa là thế nào? Nếu chỉ là các cuộc hành quân thì sẽ thất bại. Ấp chiến lược hay đó, song cần cải thiện điều kiện sinh hoạt trong từng ấp, nên chăng dồn ấp ra gần các trung tâm, trục lộ? Trên tất cả, phải ổn định ở cấp xã. Nên chăng duy trì các vùng chiến thuật và dành cho các sĩ quan các quyền hạn như cũ? Nên chăng tập trung về Bộ Tổng tham mưu, chỉ thành lập các bộ tư lệnh hành quân khi cần thiết? Và, nên chăng cử một bộ trưởng quốc phòng dân sự?
Nguyễn Tôn Hoàn nói một mạch. Chắc chắn Nguyễn Ngọc Huy đã chuẩn bị kỹ cho Hoàn.
Quan điểm của Hoàn, theo Luân nhận xét, phản ảnh sự phân vân của Washington. Từ năm 1960, môt loại yếu tố mới xuất hiện và tác động hạ tầng của chế độ Nam Việt. Lớp tư sản Việt Nam không như thời Pháp, họ đã thành thế lực kinh tế và chính trị đáng kể, cố kết chặt với giới quân phiệt và giới quan lại, liên mình với tư sản người Hoa đã đổi quốc tịch, làm chủ một loạt ngành kinh tế sống còn: lúa gạo, xuất nhập cảng, ngân hàng... Cái “chủ thuyết” mà Nguyễn Tôn Hoàn mong hoàn thiện nhằm thỏa mãn bước phát triển mới này, nhất là khi các hình thức độc quyền của Diệm sụp đổ, Nguyễn Tôn Hoàn và đảng Đại Việt của ông sửa soạn ngoi lên như chính đảng tư sản, rập khuôn đảng Cộng hòa Mỹ.
- Tôi chủ trương tôn giáo đứng ngoài chính trị. - Hoàn nói tiếp – Trước kia, Thiên Chúa giáo thao túng, bây giờ tới phiên Phật giáo, không được... Tâm lý cân bằng giữa các tôn giáo trên bình diện lời quyền sẽ xâu xé đất nước: Đã có tuyên úy Công giáo, Phật giáo, tại sao không có tuyên úy Cao Đài, Hòa Hảo? Đã có trường đại học Thiên Chúa giáo, đại học Phật giáo, rồi sẽ có trường đại học các tôn giáo khác... Chẳng lẽ chúng ta quay lại thời kỳ thi trường học chưa tách khỏi nhà thờ? Tôi cũng chủ trương các tướng tuyệt đối không làm chính trị. Bên Mỹ, tướng tại chức không làm chính trị, muốn làm chính trị thì ra khỏi quân ngũ. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân Mỹ là một sĩ quan chuyên nghiệp, thừa hành lệnh của tổng thống và bộ trưởng quốc phòng...
Luân tỏ ra không nồng nhiệt lắm trong cuộc trao đổi.
- Đại tá không thích lý luận nữa? – Hoàn hỏi.
Luân trả lời bằng cái mỉm cười.
- Phải chăng ông Nhu chết, đại tá mất hứng thú tranh luận vì không có đối thủ? – Giọng Hoàn pha chút khôi hài.
- Ông Nhu là một nhân vật lớn! – Luân nói gọn.
- Đại tá, ông sẽ không thất vọng đâu. Tôi rất thích lý luận, triết học.
- Tôi hiểu, song vấn đề là những cơ sở để chúng ta có thể gặp nhau...
- Tôi đã nói, ông đã nghe, nếu tôi không lầm, ông nghe chăm chú. Đó là những cơ sở... Hay, vì ông mang quân hàm đại tá mà ý sau cùng của tôi không khiến ông cởi mở?
- Thưa Phó thủ tướng! Bộ quân phục không cản ngại gì cả. Khi tôi gặp ông Nhu, cách nay 9 năm, với bộ áo thường dân...
- Vậy là hay lắm! Chắc hiện giờ, việc cháu bị bắt cóc đè nặng tâm tư ông. Ta hẹn hôm khác.
*
Tin báo cáo:
- Nạn dịch tả hoành hành. Sau tết đã có gần 500 người chết.
- Sắc luật số 2/64 xác nhận quyền tự do ngôn luận đồng thời ghi các điều khoản trừng phạt báo chí phạm tội, cụ thể tuyên truyền cho Việt Cộng, trung lập...
- Nhà cháy ở hẻm Bạch Đằng, Gia Định, thiêu rụi 200 căn. Nhà cháy ở Phú Thọ, Bình Thới, đường Trần Bình Trọng, thiệt hại nặng...
- Hành quân “Phượng Hoàng” ở Định Tường, “Quyết Thắng” ở Kiến Phong, hành quân ở Kontum, Bình Định, Tây Ninh... Chạm súng ác liệt. Đặc biệt, cuộc hành quân Kiến Phong, đại tá Cao Văn Viên được thăng thiếu tướng.
- Ngày 8-3-1964, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mac Namara cùng đại tướng, Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ Maxwell Taylor sang Sài Gòn. Ngày hôm sau, bộ trưởng, tướng Taylor cùng tướng Nguyễn Khánh đi thị sát Cần Thơ, Bạc Liêu, An Giang.
Trước đó, tướng Nguyễn Khánh công bố chương trình hoạt động một năm của chính phủ.
- Bộ Công dân vụ sát nhập vào Bộ Thông tin. Vụ Văn hóa sáp nhập vào Bộ Giáo dục.
- Ngày 13, Bộ trưởng Mac Namara về nước. Tại phi cảng, ông tuyên bố hoàn toàn ủng hộ đường lối của chính phủ Nguyễn Khánh và hô bằng tiếng Việt: Việt Nam muôn năm!
*
HOẠT CẢNH KHÔNG CÓ ĐOẠN KẾT
Hélen Fanfani (Financial Affairs)
Sài Gòn, 22-3
Vào thời gian này, cách nay 10 năm, trận đánh tại lòng chảo Điện Biên Phủ bắt đầu ác liệt, các đồn ngoại vi Béatrice, Anne–Marie bị tràn ngập, viên đại tá tư lệnh tư lệnh quân trú phòng Pháp De Castries co rúm giữa cánh đồng dưới tầm hỏa lực của Việt Minh. Và, gần hai tháng sau, viên đại tá vừa được thăng lên thiếu tướng, đã trương mảnh vải trắng ngay hầm chỉ huy xin đầu hàng. Chiến cuộc Đông Dương mà người Pháp xướng xuất, đi vào ngõ kết thúc không mấy vinh dự với một trong tứ cường.
Nước Mỹ nhảy vào Nam Việt Nam, một phần tư còn lại của Đông Dương trong vòng tay phương Tây. Kế hoạch ổn định và bành trướng theo cung cách mới được thảo ra, lấy Ngô Đình Diệm làm vật thí nghiệm. Từ đó, cơn sóng gió tuy khác về hình thức song vẫn là cơn sóng gió được dấy lên, đầu tiên chỉ là những áp suất nhiệt đới, dần dần tụ hội đủ lực gió để gọi là trận bão. Vấn đề cực kỳ phức tạp. Bao nhiêu yếu tố đổ về đây mà mỗi phía buộc phải toan tính chi li trước khi hành động. Nếu vào năm 1950, Mỹ có thể giương ngọn cờ Liên hiệp quốc trong “sự trừng phạt” Bắc Cao Ly và Trung Cộng thì ngày nay, đồng minh của Mỹ tỏ ra dè dặt trước các yêu cầu của Mỹ. Đặc biêt, nước Pháp, người chủ cũ ở Đông Dương, chọn lối đi khác hẳn - trở ngại không nhỏ, nếu chúng ta không gọi là đối thủ của chúng ta.
Châu Á biến đổi, Trung Cộng đứng vững trên một Hoa lục mênh mông, Ấn Độ muốn làm minh chủ một thế lực đang trỗi dậy thuộc thế giới thứ ba. Nhật Bản thích làm giàu hơn vấy vào các sự kiện chính trị. Và, người ta không thể không tính đến Nga Xô, một cường quốc nguyên tử.
Tự thân Đông Dương cũng biến động. Bắc Việt nghiễm nhiên là một quốc gia Cộng sản, không hề dấu diếm nguyện vọng thống nhất lãnh thổ, nghĩa là nhuộm đỏ cả Việt Nam, Lào, sau bao nhiêu va chạm, thế lực thiên tả chẳng những còn nguyên vẹn mà gần như là thế lực mạnh nhất trên đất nước ẩn dật này. Cambốt, với vị Quốc trưởng đầy thực dụng, khó mà xếp hàng theo tiếng còi của Mỹ, hơn nữa, luôn nhắc rằng phần cực nam của Nam Việt phải được trả về cho vương quốc.
Đến lượt mình, Nam Việt cũng không đứng yên. Ở đây, cuộc tranh chấp gay gắt giữa các phía: Mỹ, đồng minh tại chỗ của Mỹ, Việt Cộng, Pháp và đồng minh Pháp. Đồng minh của Pháp yếu kém, song vẫn tồn tại. Đồng minh của Mỹ thì vừa chống Cộng, vừa chống lẫn nhau, vừa nhìn Mỹ với đôi mắt hoài nghi.
Tháng 11 năm ngoái, anh em ông Diệm bị thanh toán không một chút xót thương. Người Mỹ ngỡ rằng sự thủ tiêu thể xác những con người khó bảo ấy sẽ giúp cho đồng mình của họ tỉnh ngộ mà ngoan ngoãn hơn. Tướng Big Minh, không phải là nhà chính trị, không đáp ứng điều Mỹ muốn. Thế là cái tiền lệ hạ bệ Diệm được lập lại qua cuộc “chỉnh lý”. Tướng Khánh tỏ ra rất dễ bảo với Mỹ, song ông ta không đủ mạnh, không đủ uy tín.
Người Mỹ nóng ruột thanh toán càng nhanh càng tốt Việt Cộng. Tướng Taylor, tác giả kế hoạch bình định Nam Việt trong 18 tháng, trở lại chiến trường khi mà thời gian hứa hẹn đã hơn gấp đôi, rất bực tức. Tướng Harkins, người long trọng thề thốt rằng Noel 1963, binh lính Mỹ sẽ đoàn tụ với gia đình, nay đang đòi thêm quân viễn chinh. Đại sứ Cabot Lodge, vị phù thủy phất tay áo xóa ông Diệm, phải phất tay áo lần nữa lật ông Minh. Chắc, đây không phải là động tác cuối cùng của ông.
Hoạt cảnh trên sân khấu chính trị Sài Gòn đánh lừa khán giả. Không ít người tin rằng lật ông Diệm là cao trào của vở diễn. Thế nhưng, vở diễn nối tiếp với vai trò tướng Khánh. Và đừng ai mong sớm được xem đoạn kết, bởi có khi đoạn kết sẽ đưa lên sân khấu toàn diễn viên Mỹ, người cao bồi Taxes bắn hai súng lục cùng một lúc.
Lịch sử thường hay tình cờ. Mười năm trước, lòng chảo Điện Biên Phủ nuốt chửng uy danh nước Pháp. Mười năm sau, môt lòng chảo khổng lồ hơn, lòng chảo Nam Việt không đáy đang quyến rũ những kẻ tự nguyện lao xuống. Thật đáng buồn, chính nước Mỹ chính nước Mỹ mon men đến cái lòng chảo đáng sợ ấy.
*
- A lô! Tôi muốn nói chuyện với bà Hoàng Thị Thùy Dung...
- Tôi đây... Xin lỗi, ai ở đầu dây?
- Bà không cần biết... Tôi, báo cho bà hay con trai của bà...
- Con tôi ra sao rồi?
- Bà nhớ con lắm phải không? Con bà gọi bà luôn...
- Con tôi ra sao rồi?
- Suốt đêm nó gọi bà...
- Trời ơi, con trai của tôi...
- Không ai dỗ được nó... Bà đừng khóc... Cháu bình yên...
- Các ông muốn gì?
- Bà thông minh thật... Bà gọi “các ông” tức bà biết không phải một người hành động mà một tổ chức...
- Các ông muốn gì?
- Muốn điều tốt cho cả ông lẫn bà...
- Tôi không hiểu...
- Tạm thời, chúng tôi chưa nói đến ông. Ông là một nhà chính trị, một quân nhân cuồng tín. Chúng tôi thương lượng với bà...
- Các ông nói rõ đi...
- Không thể nói qua điện thoại. Bà sẽ nhận được một phong bì theo đường bưu điện. Trong đó, bà đọc các điều kiện của chúng tôi.
- Bao giờ thì con tôi được về nhà?
- Tùy cách bà đáp ứng các điều kiện của chúng tôi.
... Phong bì trên tay Dung. Cô và Luân cùng đọc. Một tờ giấy đánh máy với hàng chữ gạch dưới: Trả lời bằng viết tay và gởi theo đường bưu diện. Chớ phăng theo địa chỉ này, nó là địa chỉ giả. Hễ có triệu chứng phăng theo địa chỉ thì bà đến một đống rác nào đó nhận xác con, bởi bà tỏ ra không thành tâm.
Nội dung “điều kiện” rất gọn: Bà phải cung cấp cho chúng tôi theo cách mà chúng tôi sẽ báo lại cho bà từng lúc tất cả báo cáo của ông và của bà gởi cho V.C, kể cả báo cáo bằng điện và các thông báo, chỉ thị mà ông và bà nhận được từ nơi ấy hoặc từ nơi khác. Chúng tôi sẽ thù lao xứng đáng cho bà. Như vậy, bà đã hiểu chúng tôi không phải mù mờ về ông bà. Bà ghi dưới tờ giấy này dòng chữ: “Tôi đồng ý điều kiện của các ông” và ký tên lên, với ngày tháng. Trong vòng 3 tiếng đồng hồ, khi bà bỏ phong bì vào thùng thư, con của bà sẽ có mặt ở một nơi để bà đến đón. Ngược lại, nghĩa là bà từ chối, bà dễ dàng đón nhận hậu quả. Sáng nay, cận vệ kiêm lái xe của chồng bà đuổi theo chúng tôi. Lẽ ra tôi khử anh ta, song nghĩ rằng chúng ta đang thương lượng ôn hòa, nên đã để anh ta sống sót. Chúng tôi nhắc bà: tướng Jones Stepp và phu nhân không giúp ích gì cho bà.
Thạch báo: Anh đuổi theo chiếc ôtô nhưng bị hai chiếc mô tô lạng kềm và đến bùng binh chợ Bến Thành thì mất dấu. Ôtô hiệu Austin, màu sôcôla. Hai mô tô Norton, phân khối lớn, người lái đội mũ bảo hiểm, khó nhìn rõ mặt...
... John Hing và Ly Kai trao đổi.
- Ta hẹn vợ Luân đến một điểm nào đó rồi đánh thuốc mê... - Ly Kai nêu ý kiến.
John Hing lắc đầu:
- Ông muốn dùng kiểu hạ cấp, phải không?
Ly Kai không trả lời.
- Ông sẽ chụp ảnh bà ta đang lõa lồ với một người đàn ông... Rất tiếc, tôi chọn ông, chọn cái đầu quá kém. Ông hẹn và chắc chắn bọn ông bị bắt, trước khi thực hiện trò lưu manh. Mà, dù ông dù ông thực hiện trót lọt, ông sẽ chẳng được cái gì cả, ngoài việc phải ra trường bắn. Tôi thích sòng phẳng. Ông theo kế hoạch của tôi. Đây, phong bì, ông bỏ ở bưu điện Trung ương. Sẽ có thư trả lời, tôi tin chắc như vậy.
- Thư trả lời? Theo địa chỉ nào?
- Đừng lo... Địa chỉ ngay nhà bưu điện Trung ương!
*
Thông báo của chính phủ Hoa Kỳ:
Sau khi nghe Bộ trưởng quốc phòng Mac Namara và tướng Maxwell Taylor phúc trình tỉ mỉ chuyến công tác ở Việt Nam Cộng hòa, Tổng thống L.B Johnson đã quyết định:
1) Ủng hộ hoàn toàn đường lối đối nội và đối ngoại của chính phủ Việt Nam Cộng hòa do trung tướng Nguyễn Khánh đứng đầu.
2) Tăng viện khẩn cấp cho quân lực Việt Nam Cộng hòa ngõ hầu đối phó hữu hiệu với các hoạt động phá hoại của Việt Cộng và sự xâm nhập của Cộng sản Bắc Việt. Cụ thể, chính phủ Hoa Kỳ đảm bảo chi phí và trang bị cho thêm 50.000 quân và 7.500 cán bộ bình định nông thôn, cung cấp cho quân lực Việt Nam Cộng hòa máy bay chiến đấu và tàu tuần sông. Tổng số ngân khoản là 50 triệu dollar.
3) Bộ tư lệnh viện trợ Mỹ ở Sài Gòn hợp tác chặt chẽ với Bộ Tổng tham mưu Việt Nam Cộng hòa thực hiện chương trình tái lập an ninh từng vùng do chính phủ Nguyễn Khánh đề xuất.
Washington, ngày 17 tháng 3 năm 1964
*
Thông cáo của chính phủ Việt Nam Cộng hòa:
Để dàn xếp mọi hiểu lầm và xung đột biên giới giữa Việt Nam Cộng hòa và Cambốt, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã cử thiếu tướng Huỳnh Văn Cao đến Nam Vang tiếp xúc với Thái tử Norodom Sihanouk. Chuyến công vụ trước đó của đặc phái viên Trần Chánh Thành, biểu thị thiện chí của chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Sài Gòn, ngày 19 tháng 3 năm1964
*
Thông cáo của Hội đồng quân nhân cách mạng:
Nhằm củng cố tiềm lực quốc gia, thống nhất lãnh đạo cuộc chiến tranh chống Cộng, ngày 21-3-1964, các tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa đã họp và quyết định đổi tên Hội đồng quân nhân cách mạng thành Hội đồng quân đội và bầu ra ban lãnh đạo mới.
Chủ tịch: Trung tướng Nguyễn Khánh
Đệ nhất phó chủ tịch: Trung tướng Trần Thiện Khiêm
Đệ nhị phó chủ tịch: Thiếu tướng Đỗ Mậu
Đệ tam phó chủ tịch: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu
Cố vấn tối cao: Trung tướng Dương Văn Minh


Phần 9 - Chương 12


Tám tháng sau ngày lật đổ Ngô Đình Diệm, ngày 28-6-1964, Henry Cabot Lodge rời Sài Gòn, nhường chức cho một người vốn rất quen thuộc ở Việt Nam, tướng Maxwell Taylor. Một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, Alexis Johnson được Washington cử làm phó đại sứ. Sự thay đổi nhân sự này nằm trong một dự kiến đồng bộ: Tướng William Westmoreland trở thành Tư lệnh quân đội Mỹ ở Viễn Đông, còn tướng Paul Harkins thì về hưu.
Bắt chước đại sứ tiền nhiệm Nolting, Cabot Lodge ra sân bay Tân Sơn Nhất trong bộ “quốc phục” Việt Nam: Áo dài chấm đen, khăn be. Lễ tiễn thật long trọng. Đô trưởng Sài Gòn huy động gần một vạn công chức và binh sĩ cầm cờ hai nước tụ tập từ cổng sân bay vào phòng khác. Trẻ con hiếu kỳ, khá đông. Dẫu sao, một ông Mỹ mặc áo dài chít khăn be cũng vui vui. Nguyễn Khánh cùng văn võ trong Hội đồng quân đội, chính phủ có mặt. Nhà sư Thích Tâm Châu cầm đầu một đoàn Phật giáo hùng hậu đứng ngay cửa ra vào phòng khách. Cabot Lodge hoan hỉ vẫy tay đáp lễ. Tất nhiên các nhà báo trong và ngoài nước rất nhạy – họ phát hiện quốc trưởng Dương Văn Minh không có mặt và không nghe thông báo đại sứ Cabot Lodge chào từ biệt quốc trưởng, dù theo nghi thức ngắn ngủi. Gần như không có đại biểu giới theo đạo Thiên Chúa tiễn đại sứ Mỹ. Và, bộ trưởng Nội vụ Lâm Văn Phát, chẳng viện cớ gì cả, không ra sân bay.
Tại phòng khách, sâm banh nổ dòn. Nhưng, kẻ đi người ở chưa kịp chạm cốc thì một toán nhà báo quốc tế ùa vào, chủ yếu là nhà báo Mỹ. Cabot Lodge nhíu mày. Viên sĩ quan quân cảnh nhún vai, có vẻ phân bua: Tôi không thể ngăn họ. Dĩ nhiên, cảnh sát Việt càng bất lực hơn, bởi đấy là nhà báo phương Tây, nhà báo Mỹ.
Ánh magnesium lóe giống hệt một trận tiến công bằng các tia sáng giữa Cabot Lodge còn cau có. Những bức ảnh này thật bất lợi. Nhà ngoại giao Hoa Kỳ cỡ lớn, một ứng cử cỡ lớn, một ứng cử viên tổng thống sẽ xuất hiện trên mặt báo với dáng vẻ thiếu khả ái, cái cớ cho trăm thứ bình luận cực kỳ nguy hiểm. Và, trước công chúng Mỹ, chiếc áo gấm, chiếc khăn be quả đặc biệt hài hước. Vị đại sứ quê Massasuchetts, còn đúng một tuần nữa là lễ sinh nhật lần thứ 62, vốn cũng hành nghề báo chí – viết bài cho những tờ sừng sỏ: Boston Evening Transeript, New York Herald Tribune... – thế mà mãi chọn không ra tư thế trước ống kính quái ác. Vào giờ phút đó, bà đại sư Emily Sears cố gắng cứu chồng. Bà, vẫn mặc váy như mọi phụ nữ phương Tây, tươi cười nâng cốc sâm banh hướng về các nhà báo: “Xin chúc sức khỏe! Xin tạm biệt các bạn và mong các bạn được vui vẻ ở đất nước đáng yêu này!”
Đó là giây phút Cabot Lodge lấy lại tư thế.
- Tôi cảm ơn các bạn...
- Xin hỏi ngài một câu ngắn: Ngài có hài lòng không khi rời công vụ tại đây, tại Sài Gòn? – Phóng viên News Week phát pháo.
- Tất nhiên, tôi rất hài lòng. Mọi việc đều tốt!
- Ngài có lạc quan quá chăng? – Phóng viên News Week dấn thêm một bước...
- Không phải tôi mà sự thật cho thấy những mặt đáng hài lòng đó... - Cabot Lodge bắt đầu cảnh giác – Tôi nói đúng không, ngài chủ tịch Hội đồng quân đội?
Nguyễn Khánh mau miệng: “Đúng, rất đúng, hoàn toàn đúng”. Tiếng cười ồ của các nhà báo chuyển không khí từ dễ chịu sang căng thẳng.
- Mọi việc đều tốt! – Fanfani chĩa máy quay vào mặt Nguyễn Khánh – Ba anh em họ Ngô bị bắn, nhiều cuộc biểu tình của giáo dân Thiên Chúa ở Huế, Sài Gòn, hàng không mẫu hạm Card trọng tải những hơn 16.000 tấn bị Việt Cộng đánh mìn ngay tại cảng Sài Gòn... Đã có hơn 200 lính Mỹ chết ở chiến trường. Tổng thống Johnson phải xin việc trợ thêm 125 triệu dollar cho Nam Việt. Tất cả đều tốt! Dư luận không thể hiểu. Tôi muốn hỏi ngài cựu đại sứ và ứng cử viên tổng thống tương lai Cabot Lodge một câu: Điều gì ngài ân hận nhất trong thời gian làm việc tại Sài Gòn?
Chẳng rõ vô tình hay cố ý, thay vì trả lời câu hỏi hóc búa của Fanfani, Cabot Lodge lại ngó Nguyễn Khánh.
Phóng viên Washington Post rất nhạy bén:
- Ngài không hài lòng về những mẫu người kiểu ông Nguyễn Khánh?
Nguyễn Khánh nổi cáu:
- Ông nhà báo, ông có biết đây là đâu không?
Nhà báo Mỹ cười rất tươi:
- Thưa ông có biết ông là ai không?
Cabot Lodge không phủ nhận lối nhận xét rất thâm của nhà báo, ông ta nhìn ra cửa. Cô tiếp viên vào đúng lúc:
- Thưa, máy báy sắp cất cánh...
*
Bài của phóng viên News Week
Bộ “quốc phục” Việt Nam không còn tôn vinh Cabot Lodge và đúng như các nhà báo đã tặng ông các câu hỏi giá trị ngang những quả cà chua và trứng thối, ông để lại một gia tài tại Nam Việt khốn nạn hơn nhiều so với lúc ông nhậm chức: nội tình rối bét, phe phái phân tranh, dân chúng nhìn nước Mỹ bằng đôi mắt hoài nghi, đàn ngựa sẵn sàng lừa dip tặng nhau những cú đã chết người. Bài toán tuy của Kennedy song chính Cabot Lodge được toàn quyền đề xuất sáng kiến và thời gian tuy ngắn, đã chứng tỏ ông là một chính khách thành thạo các mưu mẹo vặt. Giết Diệm, Lodge bảo đảm với chính phủ Mỹ rằng không cần thêm lính Mỹ nào nữa, Nam Việt sẽ ổn định, Việt Cộng sẽ rút dần và tan rã thành từng đám phỉ. Tình hình Nam Việt không nghe ông, nó rẽ vào cái ngả mà cuối cùng ông phải bảo vệ một quan điểm khác: không có thực binh Mỹ, Nam Việt rơi vào tay Cộng sản.
Paul Harkin luôn không tán thành Cabot Lodge về việc giết Diệm. Harkins chủ trương duy trì Diệm để thắng Việt Cộng, có thể chỉ tăng thêm khí tài chiến tranh và thu xếp cho em xuôi vụ xung đột Diệm và Phật giáo.
Về mặt này, cả Cabot Lodge và Harkins đều theo thuyết ứng dụng, trong khi đằng sau Nhà Trắng còn có cả một thế lực áp đảo – dứt khoát Mỹ phải đứng vững ở Việt Nam và không lệ thuộc vào hình thức: ôn hòa cũng tốt, đưa quân Mỹ ồ ạt tham chiến cũng không xấu. Chắc chắn Cabot Lodge đã hiểu ra sự thật ấy cho nên ông không mấy băn khoăn, Harkins thì bất mãn. Cabot Lodge còn đi nốt con đường danh vọng mà ông đam mê và chức đại sứ chỉ là chiếc cầu; Harkins trái lại, xin về hưu.
Phó tướng của Harkins thay ông. Đây gần như một xếp đặt sẵn. Viên tướng có đôi mắt sâu nhận thêm một sao khi ngồi vào ghế Tổng chỉ huy lực lượng Mỹ ở Viễn Đông. William C. Westmoreland sinh năm 1914 tại Sparenburg County, bang Nam Carolina, nhỏ hơn tướng tiền nhiệm Paul Donal Harkins 10 tuổi, trong một gia đình không danh tiếng, thuộc dòng họ mà mãi đến ông mới có một sĩ quan cấp tướng – ông nhận quân hàm chuẩn tướng năm 1953 mặc dù nhập ngũ từ năm 1936, kinh qua Học viện quân sự, từng bị cú đánh bất ngờ của Nhật ở Trân Châu Cảng... Tuy nhiên, chỉ cần 8 năm, Westmoreland leo thật nhanh, những ngôi sao trên cầu vai thi nhau nẩy nở. Người ta nói trong lịch sử quân sự Mỹ chưa người nào thành đạt bằng ông và giữ kỷ lục khó phá vỡ nổi về tốc độ lên cấp – trung tướng vào tuổi 50.
Vợ ông, Katherine S. Van Deusen, gốc Hà Lan, lai Đức, thỉnh thoảng dẫn con sang Sài Gòn thăm ông.
Có một cách giải thích về sự xuất hiện của Westmoreland ở chiến trường Nam Việt: ông từng chỉ huy pháo binh, quân dù, không quân, từng tham chiến ở Triều Tiên, từng phụ giảng ở Học viện West Point và Fort Bragg, nghĩa là một người hội đủ các điều kiện: Lý thuyết, thực hành, kinh nghiệm và cả thế lực.
Giới chính trị biết Westy – nhà quân sự Mỹ gọi ông một cách thân ái – nhưng ông tự giới thiệu mình qua các bức điện của ông đăng trên tờ “Những ngôi sao và sọc”, cơ quan lực lượng quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương trong ngày tướng Mac Acthur từ trần, 5-4 năm nay. “Với tư cách là một sĩ quan cấp tá trong tập đoàn quân thứ 8 dưới quyền của Ngài giữ lúc cuộc chiến Triều Tiên ở vào giai đoạn khốc liệt, tôi gởi điện phân ưu đến gia đình Ngài và đến những thân hữu của Ngài, từ một chiến trường sôi bỏng như ở Triều Tiên năm xưa. Tôi học được ở Ngài vị chỉ huy xuất sắc cả quân lực Hoa Kỳ, bậc thầy về chiến lược và chiến dịch, tính kiên định khi Ngài khi Ngài bất chấp các dư luận phản ứng của dư luận chính trị, cho đổ quân lên Fusan và vùng đất phân chia Nam và Bắc Triều Tiên, một quyết định vĩnh viễn đi vào lịch sử bởi nhờ nó mà Cộng hòa Đại Hàn được cứu thoát.
Giã từ cuộc sống trần thế vào tuổi 84, Ngài để lại một bề dày đồ sộ về quá khứ binh nghiệp mà các đân tọc Thái Bình Dương không bao giờ quên công ơn, từ Borneo, Lucon, Okinawa... Tôi học ở Ngài vô vàn đức tính và cái đọng sâu sắc trong tôi là thái độ của một chiến binh chuyên nghiệp, chỉ phục tùng một mệnh lệnh, ấy là lương tâm quyết chiến thắng. Nỗi bất hạnh đối với Ngài (1) càng khoác lên Ngài ánh hào quang của trí tuệ. Nếu bấy giờ, người ta chịu nghe ý kiến của Ngài, có thể không hề xảy ra một sự lặp lại như nước Mỹ đang đối phó ở Nam Việt. tôi hy vọng bài học cũ đang nhắc nhỡ giới chức cầm quyền nước ta. Và, thưa cố Thống tướng, tôi hy vọng Ngài không phiền lòng về đứa học trò nhỏ của Ngài đang ôn lại những gì Ngài nói và thực hiện...”
Không có một phản ứng nào của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc về bức điện “tuyên ngôn” – như vài nhà báo bình luận – mang chữ ký của Westmoreland, một trung tướng trợ lý nơi vùng hẻo lánh của trái đất.
Lễ bàn giao chức vụ Tư lệnh Bộ Tư lệnh Mỹ ở Nam Việt và Thái Lan giữa Harkins vàWestmoreland cử hành tại trụ sở Bộ chỉ huy, một ngôi nhà cổ đường Trần Hưng Đạo, gần nơi giáp giới thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn. Hơn hai trăm sĩ quan từ cấp trung tá trở lên có mặt, có mặt cả đại sứ Cabot Lodge, tướng Jones Stepp, tướng Trần Thiện Khiêm.
Paul Harkins nói ngắn: “Tôi cố gắng và có thành công cũng như không thành công. Nam Việt mang quá nhiều đặc thù, vai trò chính trị chi phối đậm nét trong mọi hoạt động của giới quân nhân chúng ta. Dù sao, tôi phải nói rằng cái gánh mà tôi trao cho tướng Westmoreland – tiện đây, tôi xin thông báo, Tổng thống đã quyết định nâng quân hàm Westy của chúng ta lên cấp đại tướng – quả thật nặng. Tôi xin lỗi người kế nhiệm tôi, các chiến hữu. Tôi tin tưởng tướng Westmoreland sẽ hoàn thành các việc mà tôi không hoàn thành...”
Westmoreland nói còn ngắn hơn – ông không ca ngợi nửa lời vị chỉ huy cũ của mình: “Các sĩ quan, tướng lãnh! Chấp hành lệnh của Tổng thống, từ giờ này, tôi chỉ huy lực lượng Mỹ ở Nam Việt và Thái Lan. Tôi báo trước và nhờ những người có mặt tại đây báo với toàn quân: Tôi là một chỉ huy khó tính, thích đòi hỏi cấp dưới!”.
Westmoreland lập lại gần như nguyên văn phát biểu đầu tiên của tướng De Lattre de Tassigny khi được cử làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, năm 1950, tại lễ đón tiếp ông ở sân bay Tân Sơn Nhất.
Hôm sau, nhân cuộc họp ở Bộ Tổng tham mưu, nghe Trần Thiện Khiêm thuật lại lời của Westmoreland, Nguyễn Thành Luân cười mỉm:
- Ông ta chưa nói như Napoléon trong chiến dịch Ai Cập: “Hỡi binh sĩ Pháp! Từ tầm cao lồng lộng của các Kim Tự Tháp, lịch sử đang quan chiêm chúng ta!”.
*
Tình hình Nam Việt tiếp tục rối loan. Ngô Đình Cẩn và Phan Quang Đông bị kết án tử hình và bị bắn, chẳng thêm gì cho Nguyễn Khánh. Tướng Big Minh thì lại mất thêm: ông là Quốc trưởng, ông bác đơn xin ân xá của Cẩn. Nguyễn Thành Luân hiểu rõ tâm trạng của vị Quốc trưởng hoàn toàn tượng trưng và vị trí bấp bênh đến từng ngày.
- Tôi nghĩ trung tướng nên ân xá cho Ngô Đình Cẩn...
Luân vào phòng tướng Minh và chính thức nêu ý kiến.
- Nếu tôi có quyền! – Tướng Minh trả lời kèm theo tiếng thở dài nặng nề.
- Tôi có thể ký đơn xin ân xá không?
- Vô ích! Áp lực đòi bắn Cẩn không từ giới Phật giáo mà từ đại sứ Mỹ. - Tướng Minh không dấu vẻ cay đắng.
- Người Mỹ sẽ được gì khi bắn Cẩn?
- Đại tá hiểu hơn tôi...
- Trung tướng Nguyễn Khánh có thể là một trọng lực vào trong vụ này?
Tướng Minh lắc đầu ngao ngán:
- Tôi là bù nhìn của ông Khánh, ông Khánh là bù nhìn của đại sứ Mỹ và đại sứ Mỹ rất có thể, là bù nhìn của ai đó...
Luân thảo một loạt đơn xin ân xá cho Cẩn và tất cả đều quay trở về với những nhận xét giống nhau: Tội của ông Cẩn quá nặng...
Tội của Cẩn nặng, đúng, song vụ án lại không vì những tội trạng thông thường – ý đồ chính trị giảm tội cho người này, cột tội thêm cho người khác... “Mỹ và các thế lực thân Mỹ ở Sài Gòn muốn lật một trang sử với thái độ bề ngoài dứt khoát!...”. Luân hiểu chiều sâu của những phát súng thanh toán.
Mọi sự cố khác xôn xao dư luận: báo chí đưa tin hai Việt Cộng đặt mìn ở cầu Công Lý nhằm vào bộ trưởng quốc phòng Mac Namara, họ bị phát hiện và bị bắt. Ảnh trên báo thấy cả hai còn rất trẻ - một tên là Nguyễn Văn Trỗi, thợ điện.
Những diễn biến gần đây cho Luân và Dung một nhận định quang trọng: phong trào thành phố Sài Gòn và cả miền Nam đang chuyển mình. Về chính trị, lực lượng Phật giáo và học sinh, sinh viên vuột lần khỏi trên tay chi phối của tình báo Mỹ, các phái xấu, các phần tử cơ hội. Cuộc tranh chấp trong giáo hội Phật giáo khá gay gắt, mặc dù thượng tọa Tâm Châu và Trí Quang ra thông bạch “không hề có sự rạn nứt trong Phật giáo”. Vai trò của các bậc chân tu như Thích Thiện Hoa, Thích Thiện Hòa, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Luật, Thích Đôn Hậu, Thích Đức Nhuận v.v... tất cả đều giữ vị trí cao quanh Tăng thống Thích Tịnh Khiết – ngày mỗi nổi bật như đại biểu cho đạo pháp, cho đức từ bi, cho những gắn bó với dân tộc. Trong lúc các vị giữ nếp thanh bạch, không coi vụ lật đổ Diệm là dịp phô trương Phật giáo thì một bộ phận khác tập trung sức lực quảng cáo Phật giáo. Ngày Phật đản đầu tiên sau pháp nạn biến thành cuộc biểu dương hình thức: một tượng Phật cao 8 thước, nặng 3 tấn đặt ngay trên đài cao ở bến Bạch Đằng và 42 xe hoa diễn hành qua các phố. Nhiều tượng Phật từ chốn khiêm tốn âm thầm đột nhiên hiện ra ở những nơi dễ nhìn thấy nhất, từ Sài Gòn đến Vũng Tàu. Chùa chiền được sửa chữa, trang bị hiện đại. Nhà sư trẻ mặt đạo phục ủi phẳng phiu, phóng mô tô thậm chí lái ô tô, gảy đàn và hát... Cuộc cạnh tranh với đạo Thiên Chúa ráo riết. Chiến thắng được mô hình hóa kiểu đó khá rộng. Viện Hóa đạo mà Thích Tâm Châu là viện trưởng được chính phủ cho phép quyên trong một năm số tiền 20 triệu đồng để lo “Phật sự”. Được biết giá vàng 6.500 đồng một lạng – số tiền quá lớn... Và, các bậc chân tu thở dài, lo lắng. Bởi chưa thể gọi là chiến thắng. Vận nước đang ở vào thời điểm thử thách ác liệt... Một số nhà sư, cư sĩ, một số hội đoàn Phật tử linh cảm với điều không hay này. Đã nảy ra luồn dư luận phản đối kiểu “hiện đại hóa Phật giáo” tầm thường.
Các cố vấn quân sự Mỹ bận tâm hướng khác. Quân đội Nam Việt, theo quyết định của họ, thống nhất thành ba loại: chủ lực quân, địa phương quân và nghĩa quân. Năm đại tá thành chuẩn tướng: Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đổng, Bùi Hữu Nghĩa, Cao Hảo Hớn và Ngô Dzu.
Ngày 29-5, Hội đồng quân đội họp ở Đà Lạt để xử bốn tướng – cãi vã, chửi bới loạn ẩu. Cuối cùng Nguyễn Khánh ký một văn bản: bốn tướng bị phạt theo quân kỷ, loại khỏi hội đồng một thời gian và không được nắm cương vị chỉ huy. Cái màn “chỉnh lý” hạ khá tức cười và “tội trạng” của Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính không xuất hiện trong quyết định kỷ luật.
Ngày 31-5, hội nghị quân sự ở Honolulu đánh giá toàn diện tình hình Nam Việt với những tin tức mập mờ về khả năng thêm quân Mỹ ở Nam Việt và ném bom Bắc Việt.
Trong lúc đó, nước Lào láng giềng trải qua cơn khủng hoảng mới. Tướng Abhay cùng tướng Siho đảo chính, mưu toan lật đổ chính phủ liên hiệp của ông hoàng Phouma, song vấp phải phản ứng mạnh của các lực lượng ủng hộ chính sách trung lập và của các cơ quan đại diện nước ngoài đóng ở Vientiane. Abhay lại phải tuyên bố trung thành với ông hoàng Phouma. Sự kiện nói trên nối tiếp sự kiện máy bay Mỹ và Nam Việt ném bom biên giới Lào Việt và bổ sung, trắng trợn hơn, bàng trận ném bom Khang Khay, thủ đô của Pathét Lào, do chính không quân Mỹ thực hiện. Ý đồ Mỹ phá thế ổn định ở Lào, theo chủ trương trung lập của Phouma, ngày mỗi công khai. Tất nhiên Pathét Lào không khoanh tay: Paksane bị quân Pathét Lào uy hiếp, cánh đồng Chum thất thủ, Xiêng Khoảng thất thủ... Địa bàn của Pathét Lào mở rộng, thủ tướng Phouma lên án phái hữu, lên án Mỹ và kêu gọi ba phái Lào gặp mặt để hòa giải...
Mỹ đồng thời cũng đẩy quân đội Sài Gòn gây rối dọc biên giới Cambốt, một số cuộc đụng độ được ghi nhận và nhiệm vụ của tướng Huỳnh Văn Cao coi như thất bại. Dưới sức ép của Mỹ, Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc cử một phái đoàn điều tra về các va chạm Việt – Cambốt. Nhưng ông hoàng Sihanouk từ chối; ông tuyên bố: Không cần một phái đoàn nào mới mà chỉ cần Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát đình chiến Đông Dương quy định trong hiệp nghị Genève 1954 hoạt động là đủ.
Ngày 7-6, 29 họ đạo Thiên Chúa giáo Hố Nai cùng các họ đạo xóm Mới, Bắc Hà, Bình An... giương biểu ngữ, tràn ngập đường phố số lượng ước hai vạn. Đây là cuộc biểu dương quy mô lớn đầu tiên của giáo dân sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Điểm tụ hội là công trường Lam Sơn. Trong hàng mấy trăm khẩu hiệu, đáng chú ý khẩu hiệu: Lột mặt nạ bọn lợi dụng cách mạng đàn áp Công giáo.
Ngày 15-6, vài vạn giáo dân biểu tình ở Huế với khẩu hiệu na ná như Sài Gòn.
*
TỔNG THỐNG JOHNSON VÀ ĐƠN THUỐC CHO CON BỆNH VIỆT NAM
(Financial Affairs – Helen Fanfani).
Sài Gòn, đầu tháng 7.
Nhà Trắng có vẻ từ do dự đã nghiêng về một thử nghiệm khác cho sự tìm chiến thắng ở Nam Việt. Những hoạt động ngoại vi Nam Việt cho thấy Tổng thống Johnson xếp chung hàng, nếu không đường hoàng thì cũng rón rén với thế lực được dư luận Mỹ gọi là “diều hâu” nhân danh cho tất cả, kể luôn Chúa. Một lần nữa, Bộ ngoại giao, được phố Wall yểm trợ, đã đánh bại chiến lược của Ngũ Giác Đài - không chờ đợi quân lực Việt Nam Cộng hòa trưởng thành mà chính người Mỹ gánh vác mọi diễn tiến ở Nam Việt, dù cái giá như thế nào. Bom Mỹ rơi trên đất Lào; bom Mỹ sẽ rơi trên đất Cambốt, cả hai quốc gia đều theo thuyết trung lập. Tính logic dẫn người ta đến một viễn cảnh gần gũi hơn: Bom Mỹ không từ chối rơi trên lãnh thổ Bắc Việt. Tình hình phơi bày hàng ngày ở Nam Việt củng cố tính toán của Tổng thống Mỹ: khó lòng hy vọng ở sức mạng chống Cộng của các phe cánh chính trị, còn lâu mới gọi được là đảng nếu thiếu dollar Mỹ làm chất keo dính số chính khách mà quá khứ từng người đã lau chùi mấy cũng chẳng bốc lên mùi hấp dẫn, dân chúng Nam Việt đã chán chê và nghi kỵ: khó lòng hy vọng ở các tướng và đội quân do Mỹ trang bị từ đầu đến chân, bận tâm giành chỗ ngồi và ngân khoản hơn đánh giặc...
Chưa bao giờ Sài Gòn đậm đặc những mây thuẫn đan chéo như hiện nay. Môt mặt người ta phải tỏ ra “cách mạng triệt để” với sắc luật lấy ngày 1-11 làm ngày Quốc khánh và với một loạt bản án lạc lõng và quái dị: bắn Ngô Đình Cẩn và một trùm mật vụ khác ở Huế, xử tù Dương Văn Hiếu không tên tuổi, đồng thời hạ án Đặng Sỹ, nổi tiếng hơn, xử chiếu lệ Tổng cục trưởng tình báo Nguyễn Văn Y... Giới ngoại giao và báo chí cười mỉa: Lẽ ra phải xử chính tướng Nguyễn Khánh, nếu không phải đại sứ Cabot Lodge và cao hơn nữa, các Tổng thống Mỹ từ năm 1954 đến nay!
Phật giáo được thỏa mãn: đoàn Tuyên úy chính thức thành lập trong quân đội. Nhưng người ta hỏi: mấy người theo đạo Phật thật sự vui mừng về việc một số tu sĩ thuộc tôn giáo đeo quân hàm và dấn sâu vào việc sát sinh mà đạo Phật cấm kỵ? Công giáo bực tức, nổ liền mấy cuộc biểu tình và chính phủ của tướng Khánh ve vãn.
Tướng Khánh giải tán Hội đồng Nhân sĩ và ra sắc luật lập Quốc hội lập hiến – trò chơi dân chủ như trò cút bắt của trẻ con. Sài Gòn đã có 7 đảng chính trị hoạt động, 15 đảng được cấp giấy phép và còn 16 đơn xin phép, tổng cộng 38. Số đảng mọc như nấm này ngang với số báo hàng ngày và tất nhiên người ta phải đăng trên mục rao vặt: Đảng X cần bao nhiêu đảng viên, ai đăng ký sẽ được một ổ bánh mù kẹp thịt nguội!
Chiến trường không chơi trò cút bắt. Việt Cộng tấn công mạnh, xe lửa quân sự bị giật mìn, huyện lỵ bị pháp kích, hàng không mẫu hạm Mỹ bị đánh thủng, quân đội Nam Việt bị phục kích liên miên, ấp chiến lược rã hàng mãnh, những trận đụng độ quy mô lớn, phi cơ Nam Việt xuất kích ồ ạt, an ninh suy sụp.
Khi tôi viết bài báo này, một tiền đồn quan trọng trên cao nguyên Trung phần lọt vào tay Việt Cộng, với thương vong công bố chính thức của Sài Gòn – bao giờ nhà báo chúng tôi cũng tính xác xuất theo cách riêng của mình: giảm một nửa thương vong của Việt Cộng và nhân gấp đôi thương vong của Việt Nam Cộng hòa – 45 chết, 27 bị thương, có 2 Mỹ; vài ngày sau, một tiền đồn khác ở Thừa Thiên bị hạ, thương vong của Việt Nam Cộng hòa lên đến 58 chết, trong đó có một Mỹ và một Úc... Ngay tại Sài Gòn, như các báo đưa tin, bộ trưởng Mac Namara bị mưu sát. Một trong hai thanh niên bị bắt đã hiên ngang nhận sứ mệnh trừng phạt kẻ gây chết chóc cho dân tộc Việt Nam.
Và, sự thể còn đáng lo ngại hơn nhiều: một cuộc xung đột đẫm máu không diễn ra ở chiến trường mà tại thủ đô và giữa những người có lẽ không hề có mối quan hệ với Việt Cộng. Toán giáo dân Thiên Chúa từ nơi nào đó ụp đến một trường dạy nghề cách chợ Bến Thành vài trăm mét, hành hung. Trường này không phải thuộc Phật giáo. Số tấn công đập cổ chai bia làm khí và rất không may cho họ, họ phải chọi với hàng nghìn học sinh có đủ dụng cụ đề kháng trong tay: búa, kềm, mỏ lết, thanh sắt... Cảnh sát can thiệp trễ tràng, máu nhuộm cả một đoạn đường. Lý do của cuộc tấn công vẫn chưa sáng tỏ. Hình như học sinh của trường dạy nghề này – trường rất cổ - là nòng cốt của bộ phận chống lại tướng Khánh trong tổ chức sinh viên và học sinh. Thế thì, không hẳn giáo dân cuồng tín này chủ mưu trả thù cho ông Diệm. Ai giật dây, đúng tính chất hơn, ai chi tiền cho họ? Thật là câu hỏi hóc hiểm, trừ đại sứ quân Mỹ, không đâu có câu trả lời thỏa đáng.
James Killens được chính phủ Mỹ bổ làm giám đốc viện trợ Mỹ ở Nam Việt. Máy tính điện tử mà ông sẽ sử dụng đòi nhiều hàng đơn vị, chắc chắn con số lên mức tỷ dollar. Mỹ tình nguyện đưa cả hai chân xuống bãi lầy. Đơn thuốc của Tổng thống Johnson đồng nghĩa: cả con bệnh lẫn thầy thuốc cùng chịu chung một hậu quả.
Viết thêm: Tôi chưa gửi bài báo thì được tin tướng Taylor đến Sài Gòn – lần này với tư cách đại sứ. Một đại sứ là tướng, ngôi sao sáng nhất của giới quân sự Mỹ và một tư lệnh nuôi nấng mơ ước thành Mac Arthur – bản giao hưởng từ nay không thể đổ cho sự thiếu hài hòa giữa các nhạc công chủ yếu.
Cũng lần đầu tiên, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, ông U Thant, công khai lên tiếng về vấn đề Việt Nam: ông đề nghị triệu tập lại hội nghị Genève.
Tất nhiên, ai cũng biết nội ngày mai, chính phủ Mỹ, Anh và Việt Nam Cộng hòa sẽ phản đối ông U Thant. Với Tổng thống Johnson, phải cho cả Đông Nam Á thấy thế nào là cơn thịnh nộ của Mỹ...
(H.F 9-7-64)
*
Bức thư theo đường bưu điện đặt cho Luân và Dung một bài toán từ khi nhận nhiệm vụ họ chưa phải giải đáp bao giờ. Một thế lực nào đó – một “siêu thế lực” – khống chế vợ chồng Luân, nói trắng ra, buộc vợ chồng Luân trở thành nhân viên tình báo chuyên nghiệp, ở đây, hẳn là của Mỹ.
Luân ngồi thừ rất lâu. Dung cũng vậy. Cả hai rất yêu con. Nhưng, sinh mệnh con và sinh mệnh chính trị cùng lúc đăt lên đòn cân.
Dung không khóc. Cô cố dằn và một lúc, chính cô thấy rằng khóc là vô lý, chẳng những rối tâm trí Luân mà trước hết không cho phép cô đủ sáng suốt phân tích sự việc.
- Con chúng ta ít có khả năng bị hại... - Dung nêu suy nghĩ của mình.
- Đúng! – Luân đồng tình.
- Vấn đề là chúng ta phải đóng vai trò như thế nào... Vai trò đó gần với trách nhiệm của chúng ta – Dung nói thêm.
- Em có lý...
Luân gọi điện. Saroyan cầm máy và sau đó, trao cho Jones Stepp.
- Tôi vừa nhận được thư nặc danh liên quan đến con tôi...
-Thế à? – Giọng Jones Stepp ngạc nhiên rất thành thực, hình như ông ta cho máy thông báo với Saroyan.
- Tôi muốn tướng quân cho xin số điện thoại của ông John Hing.
- Đại tá nghi ngờ John Hing?
- Không phải nghi ngờ mà quả quyết...
- Nội dung bức thư nói gì?
- Bảo nhà tôi chấp nhận cung cấp tin của Việt Cộng.
- Sao lại thế... Thôi được, số máy của ông ta đây...
- Cám ơn tướng quân...
Dung ngăn Luân:
- Anh khoan gọi cho John Hing.
Cô tìm trong danh bạ điện thoại đặc biệt.
- Anh để máy cho em.
Dung gọi, nói tiếng Anh.
- Hello! Tôi xin được nói chuyện với ngài William Porter... Vâng, tôi ở Tổng nha cảnh sát quốc gia... Xin chào ngài. Tôi là Hoàng Thị Thùy Dung, giám đốc Nha công vụ Tổng nha... Cám ơn ngài. Tôi đã có tin báo về cháu. Tôi nghĩ là một trò kém thông minh. Không... Vợ chồng tôi không bao giờ cho rằng ngài liên can đến vụ này. Tôi chỉ báo để, nếu có ai đó trao đổi với ngài về con chúng tôi và cả chúng tôi nữa thì ngài không ngạc nhiên... Vâng, tôi sẽ nói rõ với ngài sau. Cám ơn ngài...
Dung cắt máy và trao cho Luân. Luân cầm luôn tay vợ, hôn lên:
- Em tôi thông minh lắm!
Luân quay máy, giọng John Hing đầu máy kia. Y cũng nói tiếng Anh.
- Williams đấy hả?
- Không, một người khác... - Luân nói tiếng Anh.
- Tại sao ông biết số điện thoại của tôi?
- Chính ngài Porter cung cấp!
- Ồ! Lạ thật... Ông là ai?
- Tôi đi vào vấn đề: ông nên chấm dứt trò chơi ngu xuẩn bằng cách dùng con để uy hiếp cha mẹ...
- Thế ông là...
Luân không trả lời, nói luôn:
- Ông dùng Ly Kai với phương pháp quen thuộc của hắn... Tôi, vợ tôi sẵn sàng cùng ông bàn nghiêm chỉnh, nhưng không phải theo lối đặt sệt Chicago ấy. Hãy tỏ ra là người lớn và bàn việc người lớn.
Đầu dây kia im lặng một lúc nhưng nghe có tiếng máy quay. Luân đoán John Hing gọi William Porter.
- OK! – John Hing trở lại nói chuyện với Luân - Tôi sẽ gặp ông và bà... Đúng, nên cư xử như người lớn. Dù sao, con của ông bà vẫn bình yên, nếu tôi không lầm, không sụt cân. Còn Ly Kai, ông đã biết, tùy ông xử lý, tôi không can thiệp. Con của ông bà sẽ về nhà, trễ nhất là nửa giờ nữa. Còn người của tôi ở bưu điện...
- Ông yên tâm. Đó là người của ông. Chúng ta không chơi theo luật rừng...
- Bravo... Gần như tôi không cần gặp ông và bà, chúng ta hiểu nhau hơn mức tôi mong... Nói thế, tôi sẽ gặp. Xin lỗi ông. Và có lẽ cũng không cần phải nói quá kỹ về sự việc với Williams Porter hoặc Jones Stepp.
- Đồng ý...
- Xin ông bà đốt cho tờ giấy kém thông minh ấy...
---
(1) Ý nói sự tranh chấp giữa Mac Arthur và Eisenhower – Tổng thống Mỹ bấy giờ - chung quanh việc quân Mỹ vượt sông Áp Lục và ném bom lãnh thổ Trung Quốc, đã khiến Mac Arthur bị cách chức vì Eisenhower chủ trương khoanh chiến sự trên đất Triều Tiên.
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #38  
Old 12-09-2012, 11:43 AM
Helen's Avatar
Helen Helen is offline
Super Moderator
 
Tham gia ngày: Jan 2007
Bài gởi: 3,082
neww Ván Bài Lật Ngửa - Phần 9 - Chương 13, 14

Ván Bài Lật Ngửa



Phần 9 - Chương 13


Đã lâu, từ khi chú Thuận đến Tổng nha, Luân và Dung không nhận được chỉ thị của cấp trên. Những bản tin, bài bình luận của cả hai đài Tiếng nói Việt Nam và Giải phóng không đủ giúp hai người hình dung đầy đủ chiến lược và sách lược mới của cách mạng trong điều kiện Mỹ can thiệp sẵn và trực tiếp vào Nam Việt chỉ còn tính theo đơn vị tháng. Ngoài ra, đôi việc riêng cần xin ý kiến lãnh đạo vì nó vượt quá trách nhiệm hai người, tỷ như... “đề nghị” của John Hing - họ hiểu là của bộ phận chỉ huy cao nhất của ngành tình báo Mỹ.
Một buổi sáng đầu tháng 7, điện thoại thuộc hộ công cộng nhà Luận bị tạp âm, Dung toan gọi Bưu điện, thì một người thợ lù lù đến cổng với đủ đồ nghề. Quân cảnh báo và Dung cho vào. Lúc đó Luân sửa soạn đi làm.
Người thợ sửa điện thoại, khi trật chiến nón bảo hộ lao động ra, Luân và Dung mừng rỡ: Sa.
- Em mang chỉ thị của A.07, nhưng chỉ thị miệng, em nói lại... Để cho tiện, anh cứ đi làm... em nói với chị...
Luân nhìn quanh, không có ai, vụt ôm ghì Sa, hai người rơm rớm nước mắt. Dung cũng không kiềm nổi xúc động.
Luân đi rồi, Sa vừa tháo máy vừa nói:
- Chị nghe cho kỹ... Ở ngoài đã biết vụ cháu Lý bị bắt cóc, biết cả điều kiện của John Hing. Các chú khen anh chị đối phó giỏi. Nhưng, thế nào anh chị cũng sẽ gặp hắn...
- Đây là nước cờ mới, quan trọng. Tốt nhất là chị gặp, còn anh thì không. Hắn cần một trong hai người thôi. Mà ta cũng chỉ cần một người đứng ra cam kết là đủ...
- Cam kết? – Dung ngắt lời Sa.
- Em không thể nói rõ hơn, bởi em chỉ học thuộc lòng chỉ thị... Chị nghe tiếp: Hắn đòi hỏi gì cũng suy tính mà trả lời, sao cho có lợi, kể cả nhận nhiệm vụ tình báo của chúng, nhưng không được hạ thấp động cơ, tức là không thể vì tiền mà vì quan điểm, như từ trước tới nay anh chị đã tỏ rõ. Chắc chắn hắn yên tâm hơn với chị mà vẫn còn e ngại anh. Đây là một bẫy rập nguy hiểm, anh chị nên hết sức tỉnh táo. Chúng có một số tài liệu về anh và sẽ khai thác, đó là những những nhận xét của Ngô Đình Nhu, Mai Hữu Xuân, Nguyễn Văn Y mà chúng lấy được và của chính cơ quan tình báo Mỹ. Ngay việc anh quan hệ tốt với một số nhà báo Mỹ có xu hướng độc lập như Robert Shaplen, Helen Fanfani cũng làm cho chúng lo ngại. Anh Luân bận tâm trước sự can thiệp sâu của Mỹ vào Việt Nam, đó là bận tâm chính đáng. Lãnh đạo cũng bận tâm như vậy. Song, không thể gạt bỏ sự can thiệp sâu của Mỹ, chỉ có thể làm nó diễn ra chậm, khó khăn, nhất là trên một cái nền càng bấp bênh càng tốt. Anh Luân cố gắng quan hệ kín đáo với một số tướng tá có thực quyền đồng thời tự giới thiệu như một nhà chính trị cởi mở, thông minh, biết đưa chủ nghĩa quốc gia đến thắng lợi bằng lối riêng thỏa mãn được mọi xu hướng. Đại Việt sẽ hoạt động mạnh song họ vấp nhiều trở ngại vì quá khứ riêng không lành mạnh, thiếu lực lượng bên dưới, không được các nhóm sĩ quan thích. Trước bọn Mỹ và các phe nhóm, thái độ chính trị của anh và chị không nhất thiết giống nhau. Chị nên lưu ý Mỹ vì khả năng chuyên môn, một cảnh sát chuyên nghiệp... Khi có biến động lớn, lãnh đạo sẽ trực tiếp gặp anh chị. Đó, tất cả những cái lãnh đạo dặn, em đảm bảo không bỏ sót điều nào...
Dung chăm chú nghe. Sa nói đều, tay không ngừng thao tác các mối dây của chiếc máy nói.
- Sau vụ bắt cóc, cháu Lý khỏe không hả chị?
- Cháu bị ốm mất mấy hôm, nay đã bình thường... Anh chị mong thần kinh cháu không bị tổn thương.
- Tụi nó hay làm trò khốn nạn!
- Làm sao các đồng chí biết rõ mọi chi tiết vừa rồi của chúng tôi?
Sa hấp hay mắt:
- Em đoán: ở đâu cũng có người của ta...
Cậu quay thử máy về tổng đài. Máy hoạt động bình thường.
- Em phải đi. Chưa biết lúc nào lại đến. Anh chị không cần gởi báo cáo, không cần hộp thơ, điện đài... Thời kỳ mới, phương pháp làm việc mới. Ngay anh Quyến cũng được chỉ thị không liên lạc với anh chị...
Dung thở dài, Sa ái ngại:
- Chị yên tâm... Và cậu nhắc câu vừa nói: Ở đâu cũng có người của ta.
Sa thu xếp đồ nghề vào túi.
- Bà chú ý đừng để dây bị ẩm... - Cậu ta nói lớn.
Dung trao cho Sa một xấp tiền, cậu nhận:
- Cám ơn bà!
- Đây cũng là bẫy rập nguy hiểm! – Luân lập lại lời dặn dò của lãnh đạo mà suy nghĩ mông lung.
- Em đoán: Tình báo Mỹ khi cần, hé ra cho các thế lực khác biết anh hay em, nhất là anh, quan hệ với họ để mượn tay các thế lực khác thanh toán ta. Quả là một bẫy rập nguy hiểm!
Luân rít dài hơi thuốc. Suy luận của Dung đúng quá.
- Em sẽ gặp John Hing...
Luân gật đầu. Muốn hay không, canh bạc đến hồi đòi tay chơi dấn sâu vào cơn sát phạt, dù phiêu lưu thế nào.
... John Hing tiếp Thùy Dung trong một biệt thự đường Công Lý.
Gian phòng khách thoáng, trưng bày theo lối mới: Salon nệm mousse, tủ rượu và kệ sách nhập từ Pháp. Tất nhiên, Dung biết chắc máy ghi hình và ghi âm đặt rất kín đáo đâu đó, John Hing cần những bằng chứng... Và Thùy Dung, trong chiếc sắc tay, máy ghi âm cực nhỏ cũng sẽ chạy khi cô chạm đến nó.
- Bà có thể dùng một chút rượu không?
- Cám ơn, tôi không dùng được rượu.
- Vậy, bà dùng nước ngọt?
- Cám ơn, ta nên đi vào câu chuyện. Tôi đến không để uống.
John Hing cười:
- Nếu vậy, chúng ta bắt đầu, và là người biết chủ động...
- Các ông bắt cóc con tôi và ra giá cho chúng tôi. Tôi thích sòng phẳng. Con tôi về nhà an toàn. Tôi đến để nghe điều kiện của các ông...
- Đúng, chúng tôi đã bắt cóc con bà... Thế, tại sao bà không dùng sức mạnh của bộ máy cảnh sát để giải thoát mà lại nhận đến gặp chúng tôi, nhất là con bà đã tự do?
- Nhà tôi đã hứa. Nhà tôi nói với ông: Hãy dẹp trò ngu xuẩn và hãy cư xử với nhau như người lớn...
John Hing cười ra vẻ sảng khoái.
- Chỉ vì một lời hứa?
Rồi y lẩm bẩm:
- Trò ngu xuẩn? Chớ vội kết luận...
- Tất nhiên, đó là trò ngu xuẩn và phần tôi, tôi muốn biết các ông định đẩy trò chơi tới đâu?
- Không phải trò chơi! – John Hing làm mặt ngiêm – Chúng ta thảo luận công việc đàng hoàng...
- Tôi đang nghe ông...
John Hing ngắm Dung. Trong một thoáng, y đã tiếc không chấp nhận mưu mẹo của Ly Kai – mưu mẹo hạ cấp thật, song trước mắt y là một thiếu phụ đẹp, quá đẹp...
- Bà đẹp, tôi phải nói điều đó...
Dung mỉm cười:
- Tôi tin là ông mời tôi đến không để nó những câu vô ích!
John trở lại tư thế vốn có của y...
- Một lời khen bình thường, không có gì quá đáng sẽ mở đầu cuộc trao đổi nghiêm chỉnh... Bà có quan hệ với Việt Cộng?
John Hing chờ một thay đổi nhỏ trên nét mặt của Thùy Dung; y thất vọng.
- Tôi muốn hiểu ông hỏi câu đó theo nghĩa nào?
- Ví dụ, bà liên lạc và nhận chỉ thị của họ...
- Tại sao tôi phải nhận chỉ thị của Việt Cộng? Ông John Hing, ông đã mở đầu cuộc trao đổi theo lối đánh bạc mà giới chuyên nghiệp gọi là “thấu cáy”. Tôi mong ông giữ lời hứa: ta nói chuyện nghiêm chỉnh.
- Bà do Cộng sản Bắc Việt phái vào... Tất nhiên, bà giữ liên lạc với họ...
Dung bật dậy, cầm sắc tay:
- Ta coi như chấm dứt ở đây. Tôi lầm vì ngỡ ông hiểu biết ít nhiều về tôi, về chúng tôi... Hóa ra...
John Hing bối rồi:
- Xin lỗi bà... Mời bà ngồi xuống... Bà xem những lời vừa rồi của tôi chỉ là đùa...
- Đùa, chúng ta đùa? Ông John Hing, ông bất lịch sự lắm. Địa bàn hoạt động của ông gần khắp các lục địa. Thế mà... - Dung dằn mạnh từng tiếng.
- Bà hãy ngồi xuống... Thú thật tôi đánh giá bà sai...
Dung ngồi xuống, nhưng cho thấy cô sẵn sàng bước ra khỏi nhà ngay tức khắc nếu John Hing không đi vào cốt lõi buổi gặp mặt.
- Vẫn câu hỏi đó, tôi đặt mục tiêu khác: bà có người trong hàng ngũ Việt Cộng không?
- Một câu hỏi còn mang đôi ý nghĩa. – Dung cười lạt – Tất nhiên, tôi phải nắm phương tiện làm việc. Ông quên tôi là nhân viên giữ trách nhiệm không thấp ở Tổng Nha cảnh sát quốc gia?
- Bà có bằng lòng chia sẻ với tôi hai điều: một là bà giúp tôi kinh nghiệm tổ chức xây dựng mạng lưới trong Việt Cộng; hai là bà sao cho tôi những tin tức từ nguồn của bà...
Dung làm ra vẻ suy nghĩ.
- Tôi không bao giờ keo kiệt... - John Hing hiểu phút do dự của Dung theo hướng khác.
- Đó lại thêm một bằng chứng ông chưa phải là người lớn... Tôi không bao giờ bán các tin mật cho ông...
- Tôi không thiếu tin mật đâu! – John Hing lại cười – Tôi chỉ cần tin mật của bà.
- Ông nên nói chính xác: ông cần tin tức do tôi cung cấp, còn độ mật chỉ là cái cớ...
- Thưa bà, bà quá thông minh... Nhưng, tại sao bà từ chối hợp tác với chúng tôi?
- Có lẽ bây giờ ông mới nói một câu thật. Tôi biết ông là ai... Và, tôi sẽ quyết định hợp tác hay không với các ông, với cơ quan của ông, khi chúng ta sòng phẳng về điều kiện...
- Thế thì, chẳng hạn Việt Cộng có thể mua vũ khí của chúng tôi không?
Dung hơi chới với. Cô chưa dự kiến John Hing đặt vấn đề kiểu đó.
- Tôi nghĩ là Việt Cộng có nguồn vũ khí riêng... - Cô hoãn binh, để nắm rõ ý đồ của đối phương.
- Tôi biết... Francisci là một nguồn...
- Francisci chỉ cung cấp cho các toán Fulro không thể đảm bảo cho một đạo quân...
- Tôi biết Trung Cộng chuyên chở vũ khí của Nga Xô quang cảng Sihanoukville...
- Mọi người đều biết...
- Nhưng, chúng tôi có thể cung cấp nhiều hơn về số lượng, nơi giao hàng cũng tiện...
- Chẳng hôm nay ông biến tôi thành lái súng?
- Bà Thùy Dung, bà quên rằng cuối cùng rồi ai quyết định vận mệnh của Nam Việt...
- Tôi chưa thể hứa... Tuy nhiên, tôi sẽ dọ qua người của tôi...
- Tốt!
- Thế là chúng ta đã bàn xong?
- Tạm thời... Bà nên nhớ những gì bà trao đổi với tôi hôm nay đã được lập biên bản.
- Biên bản bằng máy ghi âm và thu hình... Tôi hiểu!
- Cái cần hiểu hơn cà là chúng ta thỏa thuận và chỉ chúng ta biết các điều thỏa thuận đó... Tôi chờ kết quả của bà. Tôi đảm bảo: chừng nào bà không vi phạm sự thỏa thuận thì không ai đụng đến bà... đến gia đình bà...
- Quyền lực của các ông ghê ghớm đến thế? – Dung hỏi mỉa mai.
- Tôi nghĩ là bà hỏi một câu mà chính bà đã biết rõ. Ngay Tổng thống Kennedy, bà hiểu chứ, vẫn phải phục tùng, theo kiểu của ông ấy, ở Dallas.
Dung vận dụng tài đóng kịch: cô tỏ ra phần nào nao núng qua cái nhìn rụt rè người tiễn cô ra cửa.
- Bà hấp dẫn hơn bà Saroyan!
John Hing chìa tay nhưng Dung không bắt, cô lên xe chẳng đáp lại cái vẫy chào của John Hing. Cô mở công tắc, toan ấn ga thì John Hing đã thò đầu vào xe. Dung nghĩ liền phải đánh vỡ mặt tên này...
- Bà đừng nóng. – John Hing đoán được ý nghĩ của Dung. - Tôi quên không nhắn ông: Đại tá nên hành động theo lời khuyên của bà thôi!
- Và, ông sẽ cung cấp cho tôi lời khuyên đó! - Dung cho xe nổ.
- Bà cực kỳ thông minh... Đúng vậy. Chúng tôi cần đại tá!
John Hing vừa kịp rút đầu ra khỏi xe, chiếc xe của Dung vọt ra khỏi cổng...
*
Lần đầu tiên, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mac Namara tuyên bố công khai trước báo chí là Mỹ rất có thể mở rộng “một kiểu chiến tranh thích hợp” ra Bắc Việt. Trả lời các câu hỏi trong cuộc họp báo ngày 11-7-1964 sau chuyến thị sát Nam Việt trở về, Mac Namara giải thích rằng “nguyên nhân gây nên tình trạng bất ổn ở Nam Việt là do sự thâm nhập của Bắc Việt”. Một nhà báo vặn lại: tình trạng bất ổn ở Nam Việt bắt đầu từ vụ Phật giáo dẫn đến cái chết của Ngô Đình Diệm, rồi cuộc chỉnh lý của Nguyễn Khánh, cách đánh giá nguyên nhân tình hình Nam Việt của Bộ trưởng thiếu thuyết phục. Mac Namara nổi cáu: Các nhà báo Mỹ có thiên hướng nghi ngờ chính phủ, nếu Bắc Việt không thâm nhập thì sao trong một thời gian ngắn quân Việt Cộng lên đến hàng vạn; không ngăn ngừa trước nguy cơ này thì không bao giờ Nam Việt ổn định... Một nhà báo khác bác bỏ lập trường của Bộ trưởng: sẽ càng thêm nhiều Việt Cộng hơn nếu Mỹ dính líu sâu vào Nam Việt là nơi mà tinh thần quốc gia phát triển mạnh; bài toán đặt ở khía cạnh khác – khía cạnh Nam Việt có một chính phủ được lòng dân. Đến đây, bộ trưởng quốc phòng Mỹ gần như điên tiết: tôi rất lạ là Bắc Việt Cộng sản thâm nhập cả vào hàng ngũ ký giả trên nước Mỹ! Người ta cười ồ, bộ trưởng đỏ mặt có thể vì câu nói hớ của mình cũng có thể vì quan cảnh họp báo không mấy thuận lợi đối với bước ngoặc của chính sách Mỹ ở Nam Việt àm ông ta có nhiệm vụ sửa soạn dư luận. Một nhà báo khác đặt câu hỏi: Mở rộng chiến tranh ra Bắc Việt nghĩa là như thế nào? Mac Namara lảng tránh: Tôi sẽ thông báo khi tình hình cho phép; mọi cái do Tổng thống quyết định. Một nhà báo khác nữa hỏi: Theo hiến pháp, những hành động như tuyên chiến với một quốc gia, Tổng thống phải trình cho Quốc hội, hiện nay, Quốc hội đang nghỉ hè, liệu Tổng thống Johnson dám tự mình quyết định không? Mac Namara trả lời: Tôi không phải là Tổng thống nên không thể nói gì hơn...
Một tuần lễ sau cuộc họp báo của Mac Namara, tại Sài Gòn lại nổ ra các cuộc biểu tình nhân ngày gọi là “quốc hận” 26-7 ký hiệp định Genève năm 1954 đình chỉ chiến sự ở Đông Dương. Khẩu hiệu: chống Cộng, chống Pháp.
Vài nhóm sinh viên dùng sơn bôi lên tượng đài “Tướng sĩ trận vong” do Pháp dựng trước đây, vài nhóm khác đập phá bên ngoài đại sứ quán Pháp, đốt vài cái xe. Chính quyền Quảng Trị tổ chức một cuộc biểu tình ở bờ sống Bến Hải...
Thế nhưng, cái đập mạnh dư luận là “Đêm không ngủ” do sinh viên, học sinh tổ chức tại trường đại học Văn Khoa. Ở đây, hai xu hướng đụng nhau, một là phe lớn tiếng đổ tội chia cắt đất nước cho Cộng sản và Pháp, một phe khác, đông hơn cướp diễn đàn, kết án “Mỹ và tay sai” mưu toan gây chiến tranh, mưu toan biến Nam Việt thành một bang của Mỹ. Tổng hội sinh viên ra tuyên bố không chịu trách nhiệm về các cuộc bạo động bài Pháp của một thiểu số ăn tiền của bọn phản động.
Cuộc dàn dựng của Nguyễn Khánh không thành công. Bởi vậy, khi Tổng thống Mỹ loan báo số quân Mỹ ở Nam Việt từ 16.000 lên 21.000, bố trí hệ thống cố vấn Mỹ đến cấp tiểu đoàn trong lực lượng Nam Việt thì sinh viên một số trường đại học Sài Gòn đột ngột mở hội thảo, công khai phản đối chính sách mới của Mỹ và phê phán gay gắt Nguyễn Khánh – nhiều diễn giả coi Nguyễn Khánh như Gia Long “cõng rắn cắn gà nhà”.
Phản ứng dây chuyền lan tận Duy Xuyên – một huyện của Quảng Nam, nơi năm 1955 xảy ra cuộc thảm sát những người kháng chiến do đảng Đại Việt nhân danh chế độ Ngô Đình Diệm thực hiện. Tại đây, chính quyền Quảng Nam đã phải giải tán một cuộc biểu tình lớn chống Nguyễn Khánh và bắt giam gần 2.000 người. Cả Phật giáo lẫn đảng Đại Việt đều lên tiếng phản đối.
*
St. MADDOX VÀ TURER JOY: CỬA ĐỘT PHÁ ĐI VÀO CHỐN VÔ TẬN.
Hélen Fanfani (Financial Affairs)
Sài Gòn, 9-8-1964
Tôi choàng thức dậy khi cả phố, vào giờ tấp nập nhất – 7 giờ sáng, vang lên tiếng còi báo động. Trong vòng một tuần lễ nay, người ta cố gắng cưỡng bức thành phố - bây giờ nhiều tiệm buôn, cắt tóc, may, giặt ủi, tiệm ăn và nhất là quán rượu kết hợp với khiêu vũ mang nhãn hiệu Mỹ - phải tự xem như sống trong thời chiến khi mà quân số Mỹ tăng thêm. Giới ngoại giao cùng nhất trí: thình thoảng, một quả mìn nổ tung một rạp hát, một quán rượu đông đặc lính Mỹ, ví dụ ngày 1-8 vừa rồi, tại nơi tụ tập các sĩ quan Mỹ đường Nguyễn Minh Chiếu: tuy nhiên hình thái chiến tranh lạ lùng ấy không chỉ mới mẻ, nó xuất hiện từ lâu và gây tổn thất nặng nề, so với những vụ đang xảy ra. Lịnh giới nghiêm do tướng Nguyễn Khánh ban hành ngày hôm qua – cấm mọi đi lại từ 11 giờ đêm đến 4 giờ sáng – hoàn toàn không phải vì tình thế gay gắt thật sự. Trước đây hai hôm, tướng Nguyễn Khánh ra sắc lệnh ban bố tình trạng khẩn trương khắp lãnh thổ Nam Việt, trong đó ông tái lập chế độ kiểm duyệt báo chí và cấm các cuộc hội họp dân chúng, trừ lý do tôn giáo.
Đòn chiến tranh cân não của tướng Nguyễn Khánh là bản phối âm với sự kiện được gọi là “sự kiện vịnh Bắc Bộ”. Ngày 2-8, tuần dương hạm Maddox của Hải quân Hoa Kỳ, theo thông báo của bộ tư lệnh Mỹ, đang tuần tra thường lệ trên hải phận quốc tế thuộc vùng vịnh Bắc Bộ thì bị ba tiểu đỉnh Cộng sản Bắc Việt truy đuổi, bắn đại liên và phóng ngư lôi. Maddox bị một số thiệt hại. Phi cơ Mỹ từ hàng không mẫu hạm Ticonderoga can thiệp. Ngày hôm sau, cũng chính chiếc Maddox “bị một số thiệt hại” này cùng với chiến hạm Turner Joy lại bị các tiểu đỉnh Bắc Việt tấn công. Ngày 5-8 các tiểu đỉnh Bắc Việt đánh tiếp tàu chiến Mỹ. Tổng thống Johnson xuất hiện trên vô tuyến truyền hình – vị thầy cải chuyên nghiệp này đã thuyết phục dân chúng Mỹ rằng an ninh Mỹ bị đe dọa nghiêm trọng và sau đó, ông thuyết phục luôn Quốc hội Mỹ cho phép ông áp dụng mọi biện pháp cần thiết, kể cả vũ lực, để đối phó ở Đông Nam Á.
Hàng đàn máy bay chiến F.102 như chực sẵn lao xuống môt loạt địa điểm ven biển Bắc Việt: Gòn Gai, Tuần Châu, Hòn Mê, Hải Phòng, Kiến An, thậm chí Vinh... Có ngày, Mỹ sử dụng đến 64 phi xuất... Lời báo trước của bộ trưởng Mac Namara đi vào giai đoạn thực hiện. Sài Gòn đào công sự, hầm trú ẩn, nhưng những lao công chiến trường vừa xẻng đất vừa đùa. Cơ quan truyền thông đại chúng do chính phủ kiểm soát muốn dùng các hình ảnh “khẩn trương” để cân bằng với tiếng bom ầm ĩ phía bắc vĩ tuyến 17.
Mọi thủ đoạn trơ tráo đều tung ra và không một ai, nguyên thủ quốc gia Mỹ hay Việt Nam như chưa hề biết hổ thẹn là gì. Vài chiếc phóng ngư lôi của Bắc Việt lại có thể uy hiếp cả hạm đội số 7 của Mỹ, sự tưởng tượng dù bay bổng tới đâu cũng khó mà đạt tới. Nhất là, người ta chỉ chờ một phát súng lục bắn vào tuần dương hạm Maddox để phân bua: Nước Mỹ phải tự vệ. Kế hoạch phản ứng soạn trước – giới ngoại giao ở Sài Gòn gọi kế hoạch bằng cái tên thực chất: Mỹ leo thang chiến tranh. Không có vụ Maddox thì sẽ có vụ khác. Chẳng khó khăn gì gây môt khêu khích - cứ cho tàu chiến xâm nhập hải phận quốc gia có chủ quyền và khi quốc gia kia phản ứng, Mỹ hí hửng bắt được cái cớ. Chuyện của nhiều thế kỷ trước và Tổng thống Johnson sao chép gần như nguyên văn.
Thế là chiến tranh vượt khỏi lằn giới tuyến được hiệp định Genève công nhận.
Tướng Nguyễn Khanh có lý do phấn khởi: địa vị của ông có vẻ vững vàng hơn trước, Mỹ cần người như ông. Tuy vậy, báo chí địa phương giới thiệu một nhân vật khác. Trong bộ quần áo phi công chiến đấu, tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng cạnh một máy bay ném bom và khoe: ông ta vừa hoàn thành một phi vụ ném bom xuống Vinh kết hợp với không lực Mỹ. Nguyễn Khánh không chỉ đối phó với tướng Kỳ. Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh quân khu I, tuyên bố đã sẵn sàng vượt sống Bến Hải.
Tổng thống Johnson chắc chắn toại nguyện. Ông thề dìm cả nước Việt Nam trong biển lửa, sự kiện Bắc Bộ mở màn theo ý ông. Ông chọc một lỗ thủng lớn để nước Mỹ tuông của cải và sinh mệnh. Maddox và Turner Joy quá nhỏ bé nhưng sẽ được nhắc lâu dài, bởi vì từ hai chiến hạm vô danh này, nước Mỹ lọt vào một không gian và thời gian đối thoại bằng vũ khí có thể nói là vô tận.
*
Thông cáo ngày 11-8 của Hội đồng quân đội cách mạng:
Xét công lao và tài năng nay thăng trung tướng Trần Thiện Khiêm lên quân hàm đại tướng.
Xét công lao và tài năng nay phong các đại tá có tên sau đây quân hàm chuẩn tướng: Nguyễn Đức Thắng, Vĩnh Lộc, Nguyễn Xuân Trang, Đặng Văn Quang, Hoàng Xuân Lãm, Lê Nguyên Khang, Nguyễn Văn Kiểm, Nguyễn Cao Kỳ.
Chủ tịch Hội đồng
Nguyễn Khánh.
*
Thông cáo của Hội đồng quân nhân cách mạng:
Ngày 16-8, Hội đồng quân nhân cách mạng đã họp toàn thể ở Vũng Tàu quyết định ban hành Hiến chương mới thay cho Hiến ước lâm thời số 2 ký ngày 7-2-1964. Do tình hình đất nước bước vào giai đoạn quyết liệt, Hội đồng quân đội cách mạng thấy rằng cần phải tập trung quyền lực vào những người đủ tài đức, ngỏ hầu tránh nạn phân tán làm suy yếu công cuộc kháng Cộng. Chủ tịch Hội đồng quân đội cách mạng phải kiêm luôn chức Quốc trưởng. Hội đồng nhất trí bầu Trung tướng Nguyễn Khánh đảm nhiệm cả hai chức vụ trên. Chủ tịch và Quốc trưởng Nguyễn Khánh được Hội đồng giao các quyền đặc biệt trong tình hình hiện nay: chọn lựa quốc hội gồm 100 nhân viên dân sự và 50 nhân viên quân sự, ban bố và thu hồi các sắc lệnh về tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tổ chức, quyết định thành phần nội các, đề bạt và hạ cấp quân nhân từ cấp tướng trở xuống bất kỳ thuộc binh chủng nào.
*
Thông cáo của Bộ Thông tin:
Sau khi Hiến chương Vũng Tàu công bố, nhiều địa phương và đoàn thể gởi điện văn và kiến nghị: Nhiệt liệt hoan nghinh hiến chương ban bố đúng lúc, kính dâng trung tướng chủ tịch lời chúc mừng nồng nhiệt, nguyện đồng tâm nhất trí đoàn kết sau lưng Trung tướng, vị lãnh tụ tài ba của Việt Nam Cộng hòa.
Quốc trưởng Phi Luật Tân, Đại Hàn, Trung Hoa Dân quốc, gởi điện chúc mừng Trung tướng Nguyễn Khánh.
*
Điện mật:
Nơi nhận: Đại sứ M. Taylor – Sài Gòn.
Dư luận Mỹ không thuận lợi lắm về bản hiến chương mới ở Việt Nam và về vai trò của tướng Khánh. Tổng thống nhận được nhiều điện hoài nghi của các đồng minh. Cũng có một số nhân vật Sài Gòn gởi điện phản đối. Báo chí Mỹ sẽ lên tiếng, chắc chắn dấy lên làn sóng bất bình.
18.8.1964
Rusk.
*
Điện mật:
Nơi nhận: Ngoại trưởng D. Rusk – Washington.
Chúng tôi chưa hoàn toàn kiểm soát “vụ Vũng Tàu”. Sẽ báo cáo sau.
18.8.1964
M. Taylor.
*
Phó tổng thanh tra quân lực Việt Nam Cộng hòa, đại tá Nguyễn Thành Luân đến Cần Thơ, như lịch làm việc của cơ quan Tổng thanh tra thông báo với các cùng. Nhiệm vụ của Tổng và Phó tổng thanh tra đơn thuần chuyên môn: xem xét năng lực chiến đấu của quân đoàn và các đơn vị, ghi nhận kiến nghị của các Tư lệnh địa phưong và đơn vị về trang bị, về hậu cần...
Tướng Dương Văn Đức tiếp đại tá Luân. Lẽ ra, một sĩ quan phụ tá tư lệnh đã có đủ tư cách làm việc, nhưng chính tướng Đức muốn thông báo về mọi mặt của vùng IV mà ông hay phàn nàn là “đứa con út, ít được Bộ quốc phòng và Tổng tham mưu chiếu cố”.
Buổi họp chính thức không dài – chừng hai tiếng đồng hồ. Luân phải nghe cả một bảng cáo trạng của tướng Đức với lời lẽ mạnh mẽ về đủ loại khó khăn: thiếu quân số để đóng đồn hoặc hành quân, thiếu phương tiện vận tải, thiếu pháo và xe lội nước để có thể thọc sâu vào vùng đầm lầy, nhiều sông rạch, thiếu hải thuyền để đảm bảo an ninh từ Phú Quốc đến Nam Du, thiếu vật liệu xây dựng tuyến phòng ngự ngăn lính Cambốt dọc kinh Vĩnh Tế...
Sau buổi họp chính thức tướng Tư lệnh vùng mời cơm đại tá – cũng khá đông sĩ quan dự. Tiệc đến 8 giờ tối. Bởi nói chung đó cũng là nhà riêng của tướng Đức, cho nên tiệc tan, đại tá Luân ở lại “cụng tay đôi” với tướng Đức và anh sẽ nghỉ tại đây. Bàn ăn chỉ còn hai người – họ chuyển chỗ ra góc sân vắng vẻ – tướng Đức mới thật sự bộc lộ điều ông ấm ức.
- Thằng Khánh muốn làm tên độc tài. Hiến chương Vũng Tàu chính là “chiếu lên ngôi” của nó. Thằng đểu cáng hết chổ nói. Nó thị tất cả sĩ quan là con nít. Tôi quyết ăn thua đủ với nó...
- Ăn thua bằng cách nào? – Luân hỏi.
- Anh quên tôi là Tư lệnh vùng sao?
- Nhưng, như anh báo trong cuộc họp, quân của anh yếu...
- Đó là yếu với Việt Cộng chớ đâu có yếu với thằng Khánh.
Luân mân mê ly rượu, không hỏi thêm. Tướng Đức nóng tính, định làm gì thì không ai ngăn nổi. Chắc chắn ông ta sẽ động binh thôi. Song, liệu ông ta làm nên được cái gì không?
- Tại sao anh im lặng? Giữa tụi mình, giữ kẽ làm chi... - Đức hơi bực dọc.
- Tôi đâu có giữ kẽ. Tôi đang suy nghĩ... - Luân trả lời điềm đạm.
- Tôi liên kết được nhiều tay lắm... - Đức kề miệng vào tai Luân nói nhỏ.
- Các sĩ quan thuộc quyền anh biết ý định của anh không?
- Biết chung chung...
Luân thở dài, nghĩ bụng: Ông tướng ăn nói bạt mạng này chắc đã phun ráo kế hoạch với các sĩ quan chung quanh...
- Anh tin đi! Tụi nó một bụng với tôi...
- Anh đã hỏi một người bạn Mỹ nào chưa?
- Tại sao phải hỏi Mỹ?
- Trong hoàn cảnh của anh, muốn thành công, phải hỏi hai người: Mỹ và Việt Cộng.
- Mỹ thì tôi chưa hỏi. Còn Việt Cộng thì tôi hỏi rồi!
- Anh hỏi ai?
Tướng Đức trỏ vào ngực Luân:
- Hỏi anh! – Và ông cười ha hả.
- Ta bàn đại sự, anh đừng đùa... Tôi khuyên anh hỏi môt người Mỹ nào đó có vị trí mà anh tin...
- Tay cố vấn quân đoàn chắc chắn không phản đối tôi. Hắn đảm bảo tôi sẽ được ủng hộ.
- Ai ủng hộ?
- Tướng Westmoreland...
- Tôi chưa tin. Song, anh vẫn không thiếu cơ may nếu...
Luân bỏ lửng câu nói, nhấm nháp ly rượu.
- Nêu anh bắt được tướng Khánh và quả quyết hành động, không giống tướng Vĩ với đám Ngự lâm quân năm xưa...
- Ối! Thằng Vĩ là lính cậu. Tôi “phơ” ráo bọn sớm đầu tối đánh. – Giọng tướng Đức dứt khoát.
- Nhưng, còn một vấn đề nữa, quan trọng không kém: anh sẽ bố cáo với quốc dân về chính sách đối nội đối ngoại như thế nào?
Tướng Đức lắc lư cái đầu:
- Chuyện đó tôi chắc phải nhờ anh.
- Điều tối cần là một mặt kiên quyết với Nguyễn Khánh, một mặt khôn khéo với Mỹ. Phải làm cho người Mỹ thấy anh có thể chiến thắng được Việt Cộng mà không cần phải thêm quân Mỹ...
- Chà! Rắc rối quá... Tôi ghét thằng Khánh, quất cho nó hết phách láo. Cái thứ chính trị lôi thôi, nếu anh không giúp thì tôi cũng phải nhờ người khác giúp...
- Anh sẵn sàng chưa?
- Chưa thật sẵn sàng, phải chờ thêm một ít nữa...
- Chúc anh thành công! – Luân cụng ly với tướng Đức.
- Anh cụng ly với tôi không thấy phấn khởi lắm?
- Biết nói thế nào với anh đây... Mỗi người chọn con đường hành động riêng cho mình. Bao giờ cũng phải đặt ra nhiều giả thiết, nhiều tình huống với nhiều phương án thích hợp. Và chọn đúng thời cơ. Nguyễn Khánh ban bố Hiến chương Vũng Tàu là thời cơ. Thời cơ đó sẽ qua...
- Nhưng tôi phải bàn với tụi kia...
- Rất tiếc! Và, anh biết là tôi không có quân trong tay... - Luân nói gần như tâm sự với bạn bè.
- Tôi biết quá, đời nào tụi nó dám giao quân cho anh... Không sao. Anh chưa đến nỗi thất nghiệp đâu...
Hôm sau, Luân rời Cần Thơ. Anh buồn buồn:
- Tướng Đức chắc nổ ra được một cú giật gân, song không thể tạo bước chuyển biến. Ông ta không có hậu thuẫn chính trị và bản thân cũng không có đường lối chính trị... Và, quan trọng hơn hết, ông ta bỏ lỡ thời cơ.
Mấy ngày sau, tình hình chứng minh ý kiến của Luân là đúng đắn.


Phần 9 - Chương 14


Tại nhà riêng của Nguyễn Tôn Hoàn, cuộc họp bộ phận đầu não Đại Việt đã nhanh chóng thống nhất ý kiến. Cuộc họp sôi nổi ngay từ phút đầu khi Hoàn nếu lý do: biểu thị thái độ đối với “Hiến chương Vũng Tàu”. Tất cả những người có mặt độ ba chục, đều hầm hầm tức giận. Có lẽ chỉ hai người thỉnh thoảng mỉm cười kín đáo: Nguyễn Tôn Hoàn và Nguyễn Ngọc Huy.
Tướng Đỗ Mậu đến trễ. Vừa thấy mặt Đỗ Mậu, đã có tay bốp chát liền: Đó, chiến hữu Đại Việt, đệ nhị phó chủ tịch Ủy ban lãnh đạo Hội đồng quân đội cách mạng, phó thủ tướng chính phủ, chắc góp công vào cái Hiến chương quỷ quái kia! Đỗ Mậu, giống như Hoàn và Huy, mỉm cười với nhiều ngụ ý.
- Thôi phẫn nộ thế là đủ. Nên bàn về việc sắp tới, thiết thực hơn! – Đỗ Mậu điềm nhiên ngồi xuống ghế, ngó khắp phòng họp.
- Chúng tôi đợi thiếu tướng... - Hoàn bảo, nhỏ nhẹ.
Không khí phòng họp chợt lắng. Và, mọi người như hiểu ra.
- Theo ý của lãnh tụ, tôi thôi thúc cuộc họp Vũng Tàu, cho bản Hiến chương ra đời nhanh. Nó đã ra đời. Nguyễn Khánh bị vào tròng, tự y lên án y trước công luận. Một phong trào phản kháng sẽ bùng nổ dữ dội. Cơ hội rất tốt cho đảng ta giành quần chúng và mặc cả. Bây giờ, không phải lúc nói suông. Đảng ta ra tuyên bố. Nhưng, điều quang trọng là đảng giữ riêng mình ngọn cờ chống hiến chương Vũng Tàu, chế độ quân phiệt, chế độ độc tài tái sinh. Nếu đảng ta tự giới thiệu được là thế lực mạnh nhất về chính trị ở miền Nam thì người Mỹ sẽ bàn với lãnh tụ ta về tương lai chính trị ở xứ này và vai trò của đảng ta trong chính phủ, một vài trò áp đảo...
Đỗ Mậu vừa phác qua mấy nét, nhiều tiếng xuýt xoa khen ngợi. Ngay Trung ương Đại Việt mà cũng không ngờ ngón đòn của lãnh tụ họ thâm đến thế.
Nguyễn Tôn Hoàn liếc Nguyễn Ngọc Huy. Huy tỉnh bơ. Người ta hiểu cái bẫy giương lên từ cái đầu thông thái của nhà lý luận tuy đứng thứ hai trong đảng lại xứng đáng lãnh tụ hơn của Hoàn.
- Đảng ta chưa đủ mạnh. – Nguyễn Ngọc Huy hắng giọng và đứng lên, nói đều đều – Trước, có phương án đảo chính, qua vài viên tướng cầm quân như tướng Dương Văn Đức ở vùng IV. Song, anh Hoàn thấy không có lợi, bởi dùng tướng này hạ tướng kia, chúng ta không thoát khỏi vòng lẩn quẩn. Một số bè bạn Mỹ khuyên chúng ta nên tìm cách chuyển tình hình... Được anh Hoàn cho phép, tôi xin trình bày với Trung ương kế hoạch hành động gồm mấy điểm sau đây...
Nguyễn Ngọc Huy nói gọn, rõ, cụ thể. Cuộc họp trở nên nhẹ nhàng, thoải mái. Thắng lợi của đảng Đại Việt gần đến nơi, anh cũng thấy cảnh quyền bính nắm gọn trong tay, ơn đền oán trả diễn ra trong nháy mắt... ..
*
- A lô! John đây! William, phải không?
- Tôi biết ông bạn muốn nói điều gì rồi... Nhưng đừng vội!
- Tại sao? Tôi bảo vệ hắn đến mức cần thiết và bây giờ, nên sửa gáy hắn... Êkip khác đã sẵn sàng rồi...
- Tôi hiểu. Thậm chí, xin lỗi ông bạn, hiểu hơn ông bạn nữa. Song, cần đi đúng những bước dự kiến.
- Tôi ngại các phe phái lợi dụng sự đần độn này, đặc biệt Việt Cộng...
- Bình tĩnh nào! Phải có một cái gì đó như thái độ phản kháng quyết liệt của dân chúng. Không thể hành động mà không có cớ. Cái cớ từ nội bộ họ. Ông bạn nên nhớ ta còn bao nhiêu đồng minh ở Đông Nam Á theo dõi chúng ta, nếu vội vã, đồng minh nghi ngờ. Vả lại, sự thể sẽ tiến triển không ngoài ý của ta đâu. Tôi bảo đảm...
- Bao lâu?
- Alexis vừa trao đổi với tôi, chóng thôi...
*
Tin các báo:
- Sinh viên họp sáng 19-8 tại trụ sở số 4 đường Duy Tân tranh luận sôi nổi về Hiến chương Vũng Tàu. Nhiều diễn giả lên tiếng hoan nghênh quyết định của các tướng lãnh. Nhiều diễn giả phản đối. Cuộc họp mất trật tự. Xuýt xô xát giữa hai nhóm.
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất họp thật đông tại chùa Ấn Quang, bề ngoài là kỷ niệm một năm ngày đạo Phật bị đàn áp, nhưng các nhà sư lại nêu Hiến chương Vũng Tàu thành đầu đề thuyết pháp. Có hai ý kiến chính trị trái ngược nhau: một số tán thành Hiến chương, một số đông hơn, lên án gay gắt. Riêng ngày 20-8, hầu như các chùa trong đô thành đều tiến hành tập họp Phật tử giống như chùa Ấn Quang.
*
Thông cáo của văn phòng chủ tịch Nguyễn Khánh:
Tám giờ sáng ngày 22-8-1964, chừng 6.000 sinh viên thuộc các khoa kéo đến văn phòng chủ tịch Nguyễn Khánh. Chủ tịch Hội đồng quân đội đi công vụ vắng, ông bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng đã thay mặt chủ tịch tiếp nhận kiến nghị trong đó, thay mặt cho các khoa, sinh viên tuyên bố hậu thuẫn công cuộc cách mạng của Hội đồng quân đội và Trung tướng Nguyễn Khánh, qua Hiến chương Vũng Tàu. Bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng cám ơn đại biểu sinh viên. Cuộc tiếp xúc diễn ra trong vòng trật tự.
Một giờ trưa cùng ngày, chủ tịch Nguyễn Khánh đã đích thân tiếp đoàn đại biểu sinh viên. Đoàn đại biểu trao cho chủ tịch bản kiến nghị mới nhất trong đó tỏ lòng biết ơn chủ tịch và tuyên bố ủng hộ Hiến chương Vũng Tàu.
Kiến nghị còn lên án các phần tử Thực, Cộng và Cần Lao đang ẩn núp trong chính quyền, mong chủ tịch kiên quyết vì lợi ích của quốc gia mà sớm thành trừng bọn bán dân hại nước này...
*
Tin các hãng thông tấn nước ngoài:
Một không khí căng thẳng gần như bạo loạn xảy ra suốt ngày 25-8 tại Sài Gòn. Vừa sáng, chừng vài trăm sinh viên kéo đến đài phát thanh, sau đó con số lên đến vài ngàn. Sinh viên xông vào bên trong đài phát thanh, đòi ban giám đốc phải cải chính tin loan báo về hai cuộc gặp mặt giữa sinh viên và chính phủ ngày hôm qua. Theo bản thông tin in ronéo phân phát rộng rãi bằng Việt ngữ và Anh ngữ ngay tại đài phát thanh, Tổng hội sinh viên cho biết văn phòng tướng Nguyễn Khánh đã trơ tráo nói láo: cả hai cuộc tiếp xúc, một với bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng, một chính tướng Nguyễn Khánh, sinh viên long trọng tuyên bố phản đối Hiến chương Vũng Tàu, đòi hủy ngay hiến chương phản dân chủ ấy, đòi thành lập chính phủ dân sự trẻ, trọng sạch, có năng lực.
Ban giám đốc đài phát thanh lánh mặt. Tức giận, sinh viên bây giờ lên đến ước một vạn, đập phá đài phát thanh, đốt hồ sơ, giấy tờ, thiệt hại khá nặng.
Quân cảnh và cảnh sát kéo đến định can thiệp, cuối cùng vì thái độ sẵn sàng xung đột với lực lượng an ninh của sinh viên mà lực lượng an ninh rút êm. Sinh viên định sử dụng đài đọc tuyên cáo, nhưng có lẽ vì không có nhân viên kỹ thuật nên sau cùng họ cũng rút.
Cùng lúc, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo qua trường J.J. Rousseau đường Hồng Thập Tự kêu gọi số học sinh trường này nhập vào hàng ngũ họ rồi kéo đến Bộ Thông tin đòi Tổng trưởng và Thứ trưởng phải tiếp. Sinh viên chất vấn về các tin được loan thất thiệt. Họ đòi hủy bỏ chế độ kiểm duyệt. Tổng trưởng Phạm Thái đã trả lời, song sinh viên không thỏa mã, nên xông vào cơ quan Bộ Thông tin đập phá dữ dội... Thiệt hại vật chất khá nghiêm trọng song không ai bị thương.
Vào ba giờ chiều, lối 200 người, không rõ tông tích, dùng xe chở khách bất thần kéo đến trụ sở Tổng hội sinh viên, số 4 đường Duy Tân là đường phố chính, mang cây hèo, dao búa, xông vào đập phá trụ sở đốt đồ đạt và đánh sinh viên. Sinh viên phản kích bằng gậy gộc, đá. Một số trường trung học quanh đó được báo động kéo sang giải vây trụ sở. Xô xát đẫm máu. Số tấn công bị đánh bại, không dám lên xe mà chạy bộ. Theo dư luận, đây là số lưu manh đâm thuê chém mướn.
Một câu hỏi đặt ra: thực chất của sự việc là gì?
*
TUYÊN CÁO CỦA BA CHÍNH ĐẢNG
Chúng tôi đại diện đảng Đại Việt, đảng Dân chủ Xã hội và Việt Nam Quốc dân đảng long trọng tuyên cáo với quốc dân và thế giới:
Sau 9 năm sống dưới ách thống trị nhà Ngô, nhân dân Việt Nam Cộng hòa vô cùng chán ghét chế độ độc tài cá nhân chà đạp dân chủ, do đó, hết sức phấn khởi hết sức phân khởi trước hành động anh hùng cứu nước của quân đội ngày 1-11-1963. Nhưng, thời gian vui mừng quá ngắn ngủi. Cuộc cách mạng 1-11 bị phản bội. Mượn cớ vu vơ “chỉnh lý”, tướng Nguyễn Khánh đã cướp công của những chiến sĩ cách mạng và vẫn chưa thỏa mãn tham vọng, ông dấn thêm một bước phiêu lưu, cho ra dời cái quái thai “Hiến chương Vũng Tàu” nhằm thu tóm mọi quyền hành vào tay cá nhân ông ta.
Việc làm của tướng Nguyễn Khánh gây hại cho an ninh quốc gia, làm suy yếu thế lực chống Cộng gây nghi ngờ trong đồng minh và nhất là nãn lòng binh sĩ nơi tiền tuyến.
Là những đảng chính trị mang trên vai sứ mệnh lịch sử cao cả, chúng tôi:
- Một, phản đối trò tráo trở của Nguyễn Khánh.
- Hai, đòi hủy bỏ cái gọi là “Hiến chương Vũng Tàu”
- Ba, giải tán Hội đồng quân đội.
- Bốn, trao quyền cho các đoàn thể và đảng phái chính trị, đại biểu tôn giáo, trí thức, sinh viên, triệu tập đại hội quốc dân soạn thảo Hiến ước lâm thời, bầu hội đồng lập pháp và đề cử chính phủ lâm thời điều khiển việc nước.
Chúng tôi kêu gọi đồng bào hãy bày tỏ thái độ kiên quyết phản đối “Hiến chương Vũng Tàu”. Chúng tôi kêu gọi đồng minh của Việt Nam Cồng hòa, đặc biệt nước Mỹ, thông cảm và ủng hộ nguyện vọng chính đáng trên đây của dân chúng Việt Nam, điều kiện số một để chiến thắng Việt Cộng.
Làm tại Sài Gòn, ngày 23 tháng 8 năm 1964.
*
- Allo! Tôi xin được nói chuyện với đại sứ Taylor...
- Xin lỗi, ông là ai?
- Tôi là trung tướng Nguyễn Khánh...
- Nguyễn Khánh? Tôi không biết...
- Tôi là Chủ tịch Hội đồng quân đội, Tổng tư lệnh quân đội và Thủ tướng chính phủ Việt Nam Cộng hòa...
- Thế à? Xin đợi ít phút. Đại sứ đang bận...
- Tôi cần nói chuyện gấp... Nhờ bà... Xin lỗi...
- Tôi là Mariene Hardort...
- Xin bà Mariene...
- Có lẽ nên gọi tôi bằng cô, hợp hơn...
- Vâng, xin lỗi, xin cô Mariene...
- Tôi đã bảo đợi ít phút!
- Ít phút là mấy phút?
- Có thể 3 phút, có thể 5 phút và cũng có thể 15 phút hoặc lâu hơn...
- Ôi chao! Cô giúp tôi nhanh hơn, được không?
- Ông không biết tính của tướng quân sao? Với tướng quân bao giờ cũng chính ông quyết định mọi việc, dù nhỏ nhất.
- Nhưng, tôi là Nguyễn Khánh...
- Nguyễn Khánh? Điều đó quan trọng như thế nào?
- Tôi đã tự giới thiệu với cô... Tôi là...
- À, tôi nhớ, ông là Chủ tịch Hội đồng quân đội... Ở nước Mỹ hình như không có chức này... Ông là Tổng tư lệnh... Chức này tôi biết, ở Mỹ, chính Tổng thống là Tổng tư lệnh. Còn Thủ tướng, tôi hiểu, trên thế giới có rất nhiều thủ tướng.
- Tôi van cô! Cho tôi gặp đại sứ...
- Ông đợi nửa phút, tôi phải xem đại sứ đã rảnh chưa...
- Nửa phút rồi. Sao?
- Đại sứ đang bận...
- Bận việc gì mà không nói chuyện điện thoại được với tôi?
- Ồ! Ông hơi tò mò... Nhưng tôi nghĩ có lẽ không hại gì khi báo cho ông biết giờ này đại sứ đang chơi cờ...
- Trời ơi! Chơi cờ! Chơi với ai?
- Chơi một mình!
- Cô báo giúp đi... Tôi rất cần nói chuyện với đại sứ, chuyện hệ trọng, vô cùng hệ trọng.
- Vixi tấn công Sài Gòn ư?
- Không!
- Thế thì tôi chịu. Ngay Tổng thống Mỹ vào giờ này gọi điện cũng đành phải chờ đại sứ giải quyết xong ván cờ do đại sư chơi cả hai phía... Ông cho tôi số điện thoại tôi sẽ gọi khi đại sứ đồng ý...
... Nửa giờ sau...
- Allo!
- Lại ông Nguyễn Khánh gì đó phải không?
- Vâng, tôi đây!
- Tôi hy vọng lần này đại sứ sẽ nói chuyện với ông...
- Hello! Tôi, Taylor đang nghe...
- Xin kính chào đại sứ... Vụ “Hiến chương Vũng Tàu” đang xôn xao dư luận, có thể phát triển xấu hơn...
- Xấu hơn là thế nào?
- Thưa, ví dụ biểu tình của dân chúng...
- Ồ! Ông không đủ sức chống các cuộc biểu tình tay không à?
- Bằng vũ lực thì đủ sức, song...
- Đó không phải là công việc của một đại sứ ở một nước thân hữu. Liệu báo chí Mỹ và Quốc hội Mỹ nhận xét sao nếu một nguyên thủ quốc gia không sử lý nổi điều sơ khởi là giữ trật tự thủ đô? Chẳng lẽ tướng Westy của chúng tôi phải tung quân ngăn chặn các đám biểu tình bản xứ? Hay tôi phải nói trên đài phát thanh?
- Nhưng, tôi cần một lời khuyên...
- Chỉ một lời khuyên thì đây: Ông Nguyễn Khánh thân mến, ông hãy tự chứng mình những cương vị ông đang giữ không hề giống món trang sức của nữ giới! Xin chào ông!
*
Nhật lệnh của Chủ tịch Hội đồng quân đội cách mạng:
Hiến chương vừa ban bố có thể theo nhận định của tập thể các tướng lãnh trong Hội đồng trước tình hình phân tán quyền lực quốc gia nhằm tăng thêm sức mạnh chống Cộng và sau khi tham khảo đồng minh Hoa Kỳ, nhưng lại bị các thế lực ích kỷ chống đối và xúi giục số nhỏ thanh niên nhẹ dạ gây rồi.
Nhân danh Chủ tịch Hội đồng quân đội cách mạng, Tổng tư lệnh quân đội Việt Nam Cộng hòa và Thủ tướng chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Căn cứ sắc lệnh 215 và 18 về ban bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc.
Tôi ra lệnh:
1. Cấm mọi tập họp quá 5 người ở ngoài đường với hình thức biểu tình chính trị.
2. Cho phép lực lượng an ninh và quân đội được giải tán những cuộc tập họp như thế.
3. Quân nhân nào dính vào các hoạt động chính trị sẽ bị nghiêm trị.
Ngày 24 tháng 8 năm 1964

Nguyễn Khánh
*
Thông cáo báo chí của Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn:
Thừa ủy nhiệm của đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hợp chủng quốc Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa Maxwell Taylor. Phòng thông tin Mỹ tại Sài Gòn thông báo với công luận Việt Nam Cộng hòa: mọi diễn biến về chính trị tại Sài Gòn hiện nay hòa toàn không liên quan đến trách nhiệm của chính phủ Mỹ và đại sứ quán Mỹ.
*
Xe Luân và Dung không thể nào vòng ra khỏi bùng binh chợ Bến Thành. Cả quảng trường đông nghịt, lùi lại cũng không được. Hằng trăm xe các loại đứng yên. Dân chúng từ nhiều ngã đổ về đây. Một tấm băng giăng cao, có vẻ viết vội nên chữ không ngay hàng thẳng lối: “Noi gương chết vì dân tộc chống độc tài của Quách Thị Trang! Đả đảo Hiến chương Vũng Tàu!”. Dưới chân tượng nữ sinh, một thanh niên đang cầm loa điện diễn thuyết. Quân cảnh và cảnh sát dã chiến kéo đến, song hàng rào bảo vệ quá dày, họ hò hét bảo giải tán, tiếng hò hét của họ bị các khẩu hiệu long trời át mất.
- Đây mới đúng là chúng ta cần!
Luân nói khẽ vào tai Dung. Khí thế hàng vạn – chắc hơn nữa – bừng bừng. Luân chợt nhớ tháng 8-1945, đúng ngày này, 25-8. Và Dung cũng nhớ y như vậy, ở Hà Nội.
Diễn giả nói gì, Luân và Dung không nghe rõ. Họ đoán lời diễn giả qua các nắm tay đưa lên và tiết thét khẩu hiệu:
- Hẳn không phải tất cả đều được lãnh đạo hay tổ chức cả!
- Tất nhiên... Làm sao tổ chức ngần ấy người. Nhưng, nghệ thuật của lãnh đạo là biết đưa khẩu hiệu đúng, khẩu hiệu đúng sẽ tập họp. Trong đây, bộ phận đông nhất là những người bất bình Hiến chương Vũng Tàu, những người không muốn Mỹ đổ quân lên Nam Việt Nam, đồng thời có nhóm từng đấu tranh chống Khánh, có nhóm yêu nước, có cả đồng chí ta lẫn bọn tình báo... Anh tiếc...
Dung đặt tay lên cánh tay Luân.
- Tướng Đức chậm quá... Biết làm thế nào?
- Anh muốn liên hệ với Tổng hội sinh viên...
Dung lắc đầu:
- Không cần! Em tin chắc Tổng hội đã được lãnh đạo. Cả một số bộ phận Phật giáo, như gia đình Phật tử, cả báo chí... Anh không nhớ Sa nói sao? Ở đâu cũng có người của ta!
- Nhưng... - Luân thở dài.
Dung thông cảm với chồng, cô siết cánh tay Luân:
- Chỗ của anh không phải ở Tổng hội, không phải các cuộc biểu tình. Ta cố vào dinh Độc Lập. Em tin tại đó sẽ có sẽ có cái gì sẽ xảy ra.
Luân dặn lái xe, nếu cuối cùng không đến dinh Độc Lập được thì quay về nhà. Anh, Dung và Thạch ra xe, len lỏi giữa đám đông, men hông chợ Bến Thành, đến dinh Độc Lập.
Cửa dinh đóng kín. Toán lính gác nhận ra Luân nên cho vào.
Tại tiền sảnh, Nguyễn Khánh đang đi lại, sốt ruột. Anh ta hờ hững chào Luân. Thành viên chính phủ có mặt đủ. Hình như chính phủ sắp họp.
Lâm Văn Phát đến bắt tay Luân:
- Chính phủ chưa họp được vì thiếu mấy người quan trọng, như hai phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn và Đỗ Mậu, ngoại trưởng Phan Huy Quát...
- Tụi nó sắp biểu tình tới đây!
Nguyễn Khánh nói trổng, sau khi nghe một sĩ quan cảnh sát báo cáo.
Và, vài phút sau tiếng thét của mấy vạn người dội mạnh vào dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập thật sự bị bao vây từ bốn con đường.
“Giá mà dân chung trèo qua rào vào bắt hết chính phủ!”. Luân nghĩ trong bụng.
- Lúc này, tôi có một tiểu đoàn là đủ! – Tướng Lâm Văn Phát nói nhỏ với Luân.
Dân chúng giương biểu ngữ. Không phải một vài mà hàng trăm. Tất cả đều đòi hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu.
- Làm thế nào? - Nguyễn Khánh hỏi Trần Thiện Khiêm.
Khiêm không trả lời mà quay về phía Luân. Luân tảng lờ im lặng. Trong thâm tâm, Luân mong tình hình kéo dài, để cho độ căng thẳng đủ thành chất nổ. Khi quần chúng nổi nóng cái gì cũng có thể xảy ra cả. Quần chúng chỉ đứng ngoài rào, điều đó cho Luân thấy lực lượng lãnh đạo nòng cốt còn ít và non, đồng thời các thế lực khác vấn khống chế được quần chúng ở mức biểu dương thái độ mà họ định. Trời hôm nay oi bức, tuy nắng không gay gắt. “Cứ kéo thêm độ nửa tiếng nữa, khó tránh khỏi đột biến”. Luân thấp thỏm. Dung chia sẻ ý nghĩ của Luân: “Chỉ cần vài người hô khẩu hiệu, chẳng hạn “Xông vào dinh Độc Lập”, tình hình chuyển sang bước ngoặc ngay!”. Dung nói thật khẽ mà Luân nghe như lệnh khai hỏa. Anh ngó đăm đăm ra cửa chính dinh Độc Lập. Quân cảnh và cảnh sát sẵn sàng nổ súng, nhưng chúng sẽ xẹp liến nếu cả mấy vạn người xung phong. “Không phải là chuyện của anh!”. Dung lại siết cánh tay Luân đau điếng.
Bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng báo cáo việc gì đó với Nguyễn Khánh, Nguyễn Khánh tất tả vào phòng.
- Đại sứ quán Mỹ chị thị đây! – Luân bảo Dung, giọng ảo não.
Năm phút sau, Nguyễn Khánh tất tả ra, lôi theo phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh. Tiến sĩ, nhà chuyên môn uể oải cùng Khánh xuống thềm, tiếng ra cổng chính, với một tốp bảo vệ và nhân viên.
“Hỏng rồi!”. Luân than thầm.
Mười lăm phút sau, Khánh và tùy tùng trở vào. Đám đông giải tán.
Mặt Khánh nặng chình chịch.
Luân buồn rầu ngó Dung. Vừa lúc đó, một tiếng nổ rung rinh cả dinh Độc Lập. Chưa ai biết lý do.
Nghiêm Xuân Hồng từ văn phòng đâm bổ ra, líu lưỡi:
- Khách sạn Caravelle bị V.C nổ mìn, sụp mấy tầng!
Nguyễn Khánh điên tiết:
- Bắt được bọn khủng bố không?
- Không! – Hồng trả lơi.
- Thế nào ông Taylor cũng la lối... Đó là khách sạn của người Mỹ...
Một nhân viên đến báo có điện gọi Khánh.
Không phải Taylor la lối mà trung tướng Phạm Xuân Chiểu thông báo Hội đồng quân đội họp khẩn...
*
Tin tức
Reuter và UPI: Nhiều nguồn tin đồn đại công khai ở Sài Gòn: Sắp sửa nổ ra một đợt khủng bố các chùa, nhà sư quy mô như thời ông Ngô Đình Diệm, kể cả chùa Ấn Quang, do tướng Nguyễn Khánh chủ trương để dẹp chống đối. Mặt khác, có tin tín đồ đạo Phật sẽ đập phá các nhà thờ theo đạo Thiên Chúa, trong đó có nhà thờ Đức Bà. Giữa lúc ấy, các tướng Việt Nam Cộng hòa họp mật ở Bộ Tổng tham mưu.
Một tình hình khác thường diễn ra ở Sài Gòn: tín đồ theo đạo Phật canh giữ suốt đêm trụ sở của các nhà sư háo động và tượng một nữ sinh chết trước đây dựng ngay ngôi chợ to nhất thành phố; các khu đông người theo đạo Thiên Chúa vũ trang dao, gậy búa...
Trật tự trở nên tồi tệ khi hằng mấy chục nghìn dân chúng biểu tình chống tướng Khánh và khách sạn đông người Mỹ nay bị đánh mìn thiệt hại nặng nề người và vật chất. Việt Cộng nhận họ đã đặt quả mìn cực mạnh ấy, nhưng các chính khách cho tướng Khánh nổ mìn để cảnh cáo Mỹ nếu hạ bệ ông ta thì an ninh sẽ như thế hoặc người Mỹ nổ mìn để chứng minh cần hạ bệ tướng Khánh, người không đủ năng lực làm chủ thủ đô.
Tin từ Đà Nẵng càng bi thảm hơn: một đám dân chúng theo đạo Phật kéo ngang căn cứ Mỹ trên đường đến một ngôi chùa dự lễ. Lính Mỹ nổ súng. Dân chúng tức giận dùng đá ném vào lính Mỹ. Lính Mỹ bắn rát hơn. Đám đông chạy vào một làng theo đạo Thiên Chúa thì bị tự vệ làng tấn công. Cuộc xô xát ác liệt. Nhiều người chết (26-3-1964).
*
Điện mật:
Nơi nhận: Đại sứ M.Taylor – Sài Gòn.
Các diễn biến tình hình ngày 25 và 26 càng xác định quan điểm cần phải có thêm quân Mỹ ở Nam Việt và cần một bộ máy bản xứ hiệu lực. Tổng thống sẽ trực tiếp chỉ thị cho đại sứ và tướng Westmoreland bằng con đường riêng.
Ký: Dean Rusk.
*
Thông cáo của Hội đồng quân đội cách mạng:
Sau 2 ngày làm việc, Hội đồng quân đội cách mạng đã đi đến quyết định thu hồi Hiến chương ngày 16-8, sẽ tổ chức bầu nguyên thủ quốc gia và nguyên thủ quốc gia sẽ thực hiện một cơ cấu dân chủ. Quân đội trở về nhiệm vụ chính của mình là chiến đấu chống Cộng. Tạm thời, chính phủ hiện hành xử lý công việc trong một thời gian nữa.
*
Thông cáo của Hội đồng quân đội cách mạng:
Hội đồng quân đội cách mạng quyết định lập một Ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực các tướng Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Khánh.
Chính phủ Nguyễn Khánh phải triệu tập trong vòng 2 tháng, kể từ hôm nay, Quốc dân đại hội, trong lúc đó, để bảo đảm nguyên tắc dân sự hóa, ủy quyền Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh thừa ủy nhiệm Thủ tướng, quyền thủ tướng chính phủ.
*
Hội đồng quân đội họp từ 14 giờ 25, không khí ngột ngạt. Theo đúng thủ tục, chính tướng Nguyễn Khánh phải khai mạc hội nghị, song người khai mạc hội nghị là tướng Dương Văn Minh. Tâm trạng tướng Khánh khá phức tạp. Cú điện thoại của Phạm Xuân Chiểu triệu tập hội nghị bất thường khiến anh ta lo lắng. Biết đâu tại cuộc họp; anh ta phải xỏ tay vào còng và nhẹ nhất cũng lên Đà Lạt nghỉ mát một thời gian. Sự lấc cấc và lố lăng của anh ta bây giờ hành hạ anh ta. Khánh điện cho đại sứ Taylor và chỉ được trả lời như điệp khúc quen thuộc: Mỹ không can thiệp vào nội bộ đồng minh.
Một ý nghĩ lóe trong đầu Khánh: đại tá Nguyễn Thành Luân trong trường hợp này rất hữu ích. Do đó, Khánh mời Luân dự họp, tất nhiên, dự thính. Tướng Trần Thiện Khiêm ngần ngừ một lúc rồi đồng ý. Tướng Lâm Văn Phát đồng ý ngay.
Luân xuất hiện ở Hội nghị gần như không gây một chú ý nào, trừ cái ngó thăm dò và không thiện cảm của hai tướng Nguyễn Chánh Thi và Nguyễn Cao Kỳ. Hình như hai tướng có hỏi Khánh và Khánh trả lời – Luân biết, Khánh úp mở rằng đại sứ Mỹ muốn Luân dự họp.
Khánh ngại tướng Minh, thiếu tá Nhung, cận vệ của tướng Minh chết, các bạn của ông như Đôn, Kim bị lăng nhục, nếu tướng Minh trả thù thì đây là cơ hội tốt nhất.
Song, tuyên bố khai mạc của tướng Minh giúp Khánh lấy lại tư thế.
- Giữa lúc lộn xộn này, tôi xin anh em gác chuyện riêng tư sang một bên, chúng ta cùng nhau tìm cách đối phó với khó khăn của đất nước.
Luân ngồi trên hàng ghế thứ ba, kê sát tường như một thư ký. Anh quan sát các tướng. Những người này, tại Vũng Tàu, đã thông qua bản Hiến chương đang trở thành mục tiêu của mọi mũi tấn công, bây giờ cũng những đó làm ra vẻ bực bội.
- Chuyện ở Vũng Tàu không có lợi, nên tôi xin anh em bỏ nó đi... - Vẫn thái độ điềm đạm, tướng Minh tiếp tục hòa giải.
Luân thấy tội nghiệp cho viên tướng được kính trọng song, luôn luôn bị lợi dụng và luôn luôn chịu nhận sự lợi dụng ấy khá thành thực.
- Đã nghị quyết, đã tuyên cáo bây giờ rút lại, thiên hạ coi chúng ta như con nít!
Tướng Khánh lần lần ổn định tinh thần, mở đợt phản pháo.
- Chính mấy anh đồng lòng, chớ phải tôi ép uổng chi đâu!
Tướng Khánh như được thế, lấn tới.
“Rầm”! Ly tách nhảy dựng, tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng phắt dậy, vỗ bàn thẳng cánh.
- Đồng lòng? Anh lấy sức ép của người Mỹ đặt tất cả trước sự đã rồi... Tình hình xấy hẳn, anh vẫn chưa hiểu sao?
Tướng Khánh không chịu thua, chồm người lên phái trước, nói gần như quát:
- Anh là người nói đầu tiên ở Vũng Tàu. Khi tôi đắn đo, anh còn chê tôi nhát. Loại người trở mặt từng giờ mà không xấu hổ...
- Ai trở mặt như còn đĩ? Ngủ với thằng này rồi ngủ với thằng khác mà lúc nào cũng nói: anh là người em yêu đầu tiên... - Kỳ bĩu môi. Lúc trước, người ta chắc cười phá lên vì câu ví von độc địa kia, nhưng không khí cuộc họp không thích hợp với các câu ví von.
- Tôi can các anh… - Tướng Minh rên rỉ.
- Coi như tất cả đều là đĩ! – Tướng Nguyễn Chánh Thi bô bô – Song đừng có tình chuyện làm trùm đĩ! Ông Khánh định mở nhà thổ. Dẹp liền vụ Hiến chương tào lao ngay!
- Tôi là người ủng hộ Hiến chương. – Tướng Đỗ Mậu nói, rất ung dung – Tôi không chối… Chúng ta dự định điều tốt, nhưng tình hình bất lợi, đòi vận dụng chiến thuật khéo…
- Tôi xá dài anh, anh Đỗ Mậu ơi! Miệng lưỡi anh lúc nào cũng ngọt… Tôi đi guốc trong bụng anh. Anh không dự họp nội các mà lòn ngả hậu. Thôi, tôi rút khỏi chức chủ tịch nhường cho anh đó… - Nguyễn Khánh xỉa xói Đỗ Mậu.
- Anh Khánh đánh giá tôi sai rồi. Tôi định xin rút khỏi Hội đồng. Tôi cáng đáng chức chủ tịch thế nào nổi…
Cứ lời qua tiếng lại như thế cho đến bữa ăn tối. Vừa ăn vừa cãi. Ăn xong, họp tiếp. Không ai chịu ai. Lâu lâu, tranh cãi giống hàng tôm hàng cá.
Điều mà Luân lo nhất là những cú điện thoại, khi thì Nguyễn Khánh tiếp điện, khi thì Đỗ Mậu, khi thì Trần Thiện Khiêm, khi thì Nguyễn Văn Thiệu. Mỹ đang theo dõi hội nghị khá khít khao. Luân nghĩ, nếu cứ để các tay này tố nhau thì hội nghị cả tháng không xong. Bầy ngựa giành kéo xe, chẳng ngựa nào chịu thua ngựa nào...
Đã 1 giờ sáng. Nhiều tiếng ngáp mệt mỏi, vài viên tướng ngủ gật không thèm che giấu, kể luôn tiếng ngáy ầm ĩ.
Một sĩ quan báo với Luân có điện.
Dung gọi anh, hỏi tình hình. Gác máy, Luân chưa trở lại phòng họp thì Jones Stepp gọi Luân.
- Chào đại tá!
- Chào tướng quân!
- Nên tạm ngưng hội nghị, mai sẽ tiếp... Tôi cho rằng như vậy là có lợi nhất...
Luân muốn nắm chắc hơn ý định của Mỹ nên anh nói:
- Thưa tướng quân, dù có họp ngày mai cũng khó đi đến thống nhât...
- Tôi hiểu... Và, tôi tin sau một giấc ngủ thoải mái, mọi người sẽ minh mẫn hơn.
Luân báo lại với tướng Minh ý kiến của Jones Stepp, tướng Minh – mệt mỏi hơn bất kỳ ai - gật đầu liền. Song, tướng Khánh nhất quyết đòi hội nghị phải đi đến kết luận. Giải pháp tạm thời là hội nghị “xả hơi”. Và, hội nghị “xả hơi” đến 8 giờ sáng – mỗi người tìm một chỗ ngả lưng, không ai rời Bộ Tổng tham mưu, không ai chịu bị đâm lén cả.
Ăn sáng xong, hội nghị bắt đầu. Lại cù cưa cù nhầy. Chủ đề là nên duy trì hội đồng quân đội hay chuyển sang chính quyền dân sự. Đây là chủ đề bên ngoài. Chủ đề đích thực là ai sẽ đứng đầu guồng máy ở Nam Việt. Mức phân hóa đến đây càng gay gắt. Đa số tướng không thể là chính khách bởi không có khiếu. Cách nào đó, chính tướng Minh sẽ đăng quang và cái gọi là “chỉnh lý” của Khánh vừa công cốc vừa dễ bị kết án. Rải rác đòi coi lại vụ “chỉnh lý”. Nguyễn Chánh Thi, trong vụ này, đứng về phía Khánh.
- Tôi thấy mấy anh em nên công bình... Tôi đã thăng bao nhiêu anh em lên cấp tướng. Tôi đâu có độc tài. Cấp đại tướng dành cho anh Khiêm... - Khánh đổi bài bản, đúng giọng nỉ non.
- Ối! Anh không phong thì người khác phong... - Đỗ Mậu gạt ngang ý của Khánh.
Ăn trưa. Họp tiếp. Luân thủy chung không nói một lời, dù đôi khi một tướng mời anh. Anh lắc đầu: Tôi chỉ xin nghe thôi.
Nguyễn Cao Kỳ ghé vào tai Nguyễn Chánh Thi:
- Tống cái thằng Cộng sản này ra khỏi cuộc họp. Có mặt hắn tôi thấy ớn ớn thế nào...
- Ừ... Đ.M... đấy là chỗ các tướng trong hội đồng...
Lâm Văn Phát ngồi cạnh nghe rõ, cười khẩy:
- Trước hết, hai ông hãy xin lịnh của tướng Jones Stepp... Va đến đây do cơ quan tình báo quân sự Mỹ phái.
- Để chi?
Phát nhún vai:
- Để coi tụi mìn múa giống thứ gì.
Kỳ và Thi xìu hẳn.
*
NHỮNG PHÁT ĐẠI BÁC THEO KIỂU NAPOLÉON
Hélen Fanfani (Financial Affairs)
Sài Gòn, tháng 8-1964.
Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hòa nằm trên con đường lớn dẫn đến sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm thành phố Sài Gòn, trong phút chốc đi vào biên niên sử của xứ sở Việt Nam cực kỳ rối loạn và tương lai mịt mù này.
Giữa trưa, giờ địa phương, tôi nhận được một cú điện thoại của một người bạn quen – xin tạm giấu tên – vội vã giục Victor, chồng tôi, mang máy quay phim đến trước cổng cơ quan quân sự đầy bí ẩn, như một thâm cung các vua chúa. Cửa Bộ Tổng tham mưu đen đặc người và người. Luớt qua họ, tôi biết liền đây là giáo dân Thiên Chúa từ nhiều vùng khác nhau kéo đến. Khẩu hiệu của họ khá lộn xộn. Dù sao, tôi và Victor cũng hiểu một trận phục thù đang diễn ra. Họ, những người biểu tình, bị truất phế đặc quyền sau cái chết thảm khốc của anh em ông Diệm, đã làm ra cớ đòi nợ. Tất nhiên, không phải Dương Văn Minh hay Tôn Thất Đính phải trả nợ. Chính tướng Nguyễn Khánh, theo họ, phải tỏ ra sòng phẳng. Mấy ngày đêm liền, Sài Gòn sống trong không khí tiền đảo chính và tự các giáo dân kinh nghiệm khơi ngòi nổ.
Lối bốn hoặc năm nghìn, hầu hết trai tráng, nắm trong tay các thứ có thể choảng nhau và cũng có thể giết nhau theo cách đánh giặc thời trung cổ, dao, búa, gậy, thanh sắt. Mặt mũi người nào cũng đầy sát khí. Con đường Lê Văn Duyệt tắc nghẽn. Quân cảnh và cảnh sát gọi bộ đàm liên tục. Cảnh sát dã chiến với mặt nạ phòng hơi cay, chiếc khiên và gậy quen thuộc cùng với một nhóm khác, đủ súng phóng hỏa tiễn, chờ một tín hiệu xanh.
Victor lướt máy. Cái khẩu hiệu đã vào phim. Ủng hộ Hội đồng quân đội cách mạng! Đả đảo Cộng sản và Trung lập! Đả đảo bọn phá hoại đoàn kết quốc gia! Đả đảo các hành động côn đồ ở Đài phát thanh và Bộ Thông tin! Yêu cầu được trao kiến nghị quyết tử chống Cộng cho Hội đồng quân đội...
Khó mà nói rằng đây là những yêu sách chống chính phủ. Thế nhưng, cổng Bộ Tổng tham mưu vẫn đóng im ỉm. Quân cảnh dùng loa kêu gọi đám đông giải tán. Chẳng những không giải tán, đám dông dùng tiếng “hô ta” lay cánh cửa sắt, mỗi lần mấy chục người lấy đà phóng vào cửa. Đã có những dấu hiệu cánh cửa sẽ đổ. Quân cảnh và cảnh sát dã chiến vung gậy. Thế là một trận hỗn chiến diễn ra. Quân cảnh và cảnh sát ít hơn, bị đánh dạt. Số có hỏa tiễn cũng bỏ chạy.
13 giờ 3 phút, một vị tướng được cả một trung đội bảo vệ ra sát cửa, tướng Nguyễn Ngọc Lễ.
- Yêu cầu không nhượng bộ? Yêu cầu không sửa hiến chương Vũng Tàu! Hoặc tướng Khánh tiếp tục là nguyên thủ quốc gia hoặc phải ra đây chịu tôi!
Một người - có vẻ là linh mục – xướng một câu, cả nghìn người phản ứng...
- Tôi yêu cầu đồng bào giải tán! Chúng tôi đang họp... - Tướng Lễ rõ ràng cố dằn cơn nóng, nói ôn tồn mà đầy quyền uy.
- Chả họp gì cả! Phải giải tán!
Đám hưởng ứng ồn ào.
Tướng Lễ quay trở vào.
- Nguyễn Khánh gặp chúng tôi! Hoan hô tướng Nguyễn Khánh! Treo cổ tướng Dương Văn Minh!
Tôi bảo Victor: “Họa chăng Chúa mới hiểu được là cái gì!”. Victor cười. Anh vốn ít nói song hẳn đây có kinh nghiệm hơn tôi...
Mười phút trôi qua. Đám đông bắt đầu hoạt động.
Khẩu hiệu lại hô vang rền và cánh cửa càng lúc càng long, sắp đổ tới nơi.
Tướng Nguyễn Ngọc Lễ trở ra. Nhưng ông không đi đến cửa. Tôi dụi mắt và đúng như tôi thoạt thấy, bốn khẩu đại bác 75 ly – pháo tự hành dính theo các xe chiến đấu – hạ thấp nòng. Victor bảo tôi: Napoléon tái sinh!
Thú thật, tôi không tin Victor, vì nhiều lẽ: đây là tín đồ theo đạo Thiên Chúa, không ai dám đối xử theo kiểu của viên tướng hơi mất thăng bằng về thần kinh trên đường phố Paris cách chúng ta hơn 100 năm; đây là pháo Mỹ và họ, những người biểu tình, đâu có đòi lật đổ chính phủ!
Họ dọa già thôi! Tôi đinh ninh vậy. Victor thận trọng lùi xe xa đám đông. Tôi cười anh.
Cổng Bộ Tổng tham mưu mở. Đám đông ùa vào. Và, trong một nháy mắt, họ hoặc tháo chạy, hoặc sẽ không bao giờ còn chay được nữa. Nòng đại bác khạc đạn, khối lửa giã đám đông thành từng mảnh, tiếp sau tiếng nổ đinh tai. Khó mà ước lượng số nạn nhân của các phát đại bác. Từng đống xác nhầy nhụa máu bít lối ra vào Bộ Tổng tham mưu. Đám đông bỏ chạy tán loạn. Cổng Bộ Tổng tham mưu khép lại một cách lạnh lùng. Tướng Nguyễn Ngọc Lễ bình thản đứng trên thềm...
Tôi bảo Victor thoát nhanh. Đã có một số quân cảnh hướng về phía chúng tôi, họ tịch thu máy. Victor lùi xe và trở đầu thật táo bạo. Tôi nghe nhiều tiếng đạn đuổi theo chúng tôi.
Xe chúng tôi lao vào trung tâm thành phố, bắt gặp nhiều toán dân chúng, đều là đạo Thiên Chúa, kéo về hướng đài phát thanh. Victor, theo đề nghị của tôi, vòng đến đài phát thanh. Chúng tôi đến vừa kịp khi một đại biểu của đoàn biểu tình trao cho giám đốc đài phát thanh bản tuyên ngôn: Lực lượng cộng hòa Công giáo do linh mục Hoàng Quỳnh, vị thầy tu chống Cộng khét tiếng ở Bắc Việt, yêu cầu giữ Hiến chương Vũng Tàu.
Trong lúc giám đốc đài và đại biểu đoàn biểu tình đang dằn co – viên giám đốc rõ ràng quá sợ hãi, vì hôm kia, đài của ông bị đập phá với lý do ngược lại – chúng tôi nghe nhiều tiếng thét ở đường Phan Đình Phùng, gần đó. Victor ghê rợn. Những điều tôi hỏi cho biết đoàn biểu tình này đã đánh nhau với học sinh trường Nguyễn Trường Tộ. Nghe đâu hai học sinh bị đâm chết và nghe đâu nhiều người biểu tình cũng bị chết.
Trước hai phe chực hầm hầm xông vào xé, hai vị lãnh đạo tinh thần đang nói. Tôi biết linh mục Hồ Văn Vui và thượng tọa Thích Tuệ Đăng cố giảng hòa.
Trời tối dần. Khi đường Phan Đình Phùng im ắn tôi xem đồng hồ: 19 giờ.
Một câu hỏi trong đầu tôi: Ai? Ai chủ mưu?Tôi sẽ điện cho đại sứ quán Mỹ và hẹn bài sau sẽ nói rõ về sự thể ly kỳ này...
*
... Sau các loạt đại bác mà bức tường Bộ Tổng tham mưu cho một hồi âm rõ mồn một, hội nghị Hội đồng như có một trọng tài thổi còi, không ai mở mồm. Khó mà để quyết người nào đã ra lệnh bắn, hành động hết sức mạo hiểm. Khi tướng Lễ vào báo cáo, Nguyễn Chánh Thi bô bô đúng kiểu của hắn:
- Bắn mẹ nó! Cho đại bác bắn... Đồ quấy rối.
Nguyễn Ngọc Lễ chờ. Không ai nói. Ông ta quay ra. Cứ coi như ý của Nguyễn Chánh Thi là ý của Hội đồng. Lễ chả thâm thù gì giáo dân Xóm Mới, Hố Nai, chả theo phe nào. Tuy nhiên, ông ta không thích cái trò gây rối khi mà ruột gan ông rối bời bời.
Luân xin nói. Đúng ra, anh cứu hội nghị. Tướng Minh vui vẻ ra mặt:
- Mời đại tá!
Luân nói:
- Thưa các vị tướng lãnh...
Cả cuộc họp dồn vào Luân. Gã đại tá “Cần Lao” hoặc “Cộng sản” nổi tiếng suy nghĩ tinh tế...
- Tôi xin trình bày một nguyên tắc để các vị cứu xét. Tôi không phải thành viên của hội đồng, nói ở đây là không đúng chổ, không đúng nguyên tắc.
- Nói đi, đừng dè dặt. – Nguyễn Khánh đốc vô.
- Cám ơn các vị... Nên nghĩ đến tình thế, tình thế đòi một đầu não khả dĩ giải tỏa các xung đột nay đã quá trầm trọng. Tôi đề nghị thành lập một Ban lãnh đạo quốc gia, đồng thời duy trì chính phủ hiện hữu trong một thời gian ngắn để đưa đất nước vào nề nếp dân chủ. Ban lãnh đạo quốc gia, theo tôi, gồm ba vị: trung tướng Dương Văn Minh, đại tướng Trần Thiện Khiêm và trung tướng Nguyễn Khánh...
Luân ngồi xuống. Tướng Minh trầm ngâm. Tướng Khiêm cố không bộc lộ sự hài lòng. Tướng Khánh thì giống như kẻ chết đuối vớ được cây sào cứu mạng.
- Tôi đồng ý! - Tướng Phạm Xuân Chiểu nói to.
- Tôi thấy nên... - Đỗ Mậu ngập ngừng.
- Vậy là đúng rồi! Cám ơn đại tá Luân! - Tướng Thiệu đưa tay. Lâm Văn Phát không hài lòng, nhưng không nói gì.
Mãi khi rời phòng họp. Phát hỏi riêng Luân:
- Ông Big Minh, thằng Khiêm tạm đươc, còn thằng Khánh?
Luân cười, vỗ vai bạn nói khẽ:
- Anh bỏ ý định của anh rồi sao?
*
Mặc Hội đồng quân đội đã ra quyết định, tình hình các nơi vẫn bên bờ vực xô xát lớn, tổng lực giữa các nhóm cực đoan Công giáo và Phật giáo. Khu Công giáo Phú Nhuận, Trương Minh Giảng báo động, tổ chức canh gác, chực chờ xung trận. Viện Hóa đạo, chợ Bến Thành và các chùa cũng quy tụ hàng trăm hàng nghìn sinh viên.
Thông cáo của Tòa Tổng giám mục và Viện Hóa đạo kêu gọi thông cảm không có tác dụng.
Học sinh, sinh viên hội thảo sôi nổi khắp các trường và thường xuyên tập trung ở các công viên lớn. Cảnh sát bắt bớ. Xung đột xoay qua giữa học sinh, sinh viên và cảnh sát.
Giữa trưa ngày 28, thủ tướng Nguyễn Khánh họp báo tại tòa Đô chính. Như được thêm sinh lực, Khánh đọc một bản soạn sẵn thóa mạ Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký không tiếc lời, ghép hai lãnh tụ Đại Việt và đảng Đại Việt vào trọng tội, tội âm mưu đảo chính. Nhưng, Khánh không nêu được bằng chứng thuyết phục, và gọi là cuộc họp báo mà các báo chỉ chỉ nghe Khanh nói, nói xong, Khánh lên xe dông mất.
Trường Nguyễn Bá Tòng bỗng bị một nhóm bao vây. Chẳng rõ nhóm nào đó tông tích ra sao, thật sự họ đến trường Nguyễn Bá Tòng làm gì, nhưng khu phố náo động. Hai phe đánh đấm nhau tơi bời. Báo Xây dựng của người theo đạo Thiên Chúa di cư và nhà in đặt trong trường bị đập phá. Bộ Tổng tham mưu điều quân Dù đến can thiệp. Quân Dù nổ súng...
Những ngày cuối tháng 8 thật ảm đạm: đám tang các nạn nhân trước Bộ Tổng tham mưu, ở trường Nguyễn Bá Tòng, ở các công viên... Hàng nghìn người bị bắt, bị dán cho cái nhãn du đãng.
Và, phó đại sứ Alexis Johnson nhận được bức điện của bộ Ngoại giao Mỹ, vỏn vẹn chỉ có một chữ: STOP!
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #39  
Old 12-09-2012, 11:47 AM
Helen's Avatar
Helen Helen is offline
Super Moderator
 
Tham gia ngày: Jan 2007
Bài gởi: 3,082
neww Ván Bài Lật Ngửa - Phần 9 - Chương 14, 15

Ván Bài Lật Ngửa


Phần 9 - Chương 14


Tại nhà riêng của Nguyễn Tôn Hoàn, cuộc họp bộ phận đầu não Đại Việt đã nhanh chóng thống nhất ý kiến. Cuộc họp sôi nổi ngay từ phút đầu khi Hoàn nếu lý do: biểu thị thái độ đối với “Hiến chương Vũng Tàu”. Tất cả những người có mặt độ ba chục, đều hầm hầm tức giận. Có lẽ chỉ hai người thỉnh thoảng mỉm cười kín đáo: Nguyễn Tôn Hoàn và Nguyễn Ngọc Huy.
Tướng Đỗ Mậu đến trễ. Vừa thấy mặt Đỗ Mậu, đã có tay bốp chát liền: Đó, chiến hữu Đại Việt, đệ nhị phó chủ tịch Ủy ban lãnh đạo Hội đồng quân đội cách mạng, phó thủ tướng chính phủ, chắc góp công vào cái Hiến chương quỷ quái kia! Đỗ Mậu, giống như Hoàn và Huy, mỉm cười với nhiều ngụ ý.
- Thôi phẫn nộ thế là đủ. Nên bàn về việc sắp tới, thiết thực hơn! – Đỗ Mậu điềm nhiên ngồi xuống ghế, ngó khắp phòng họp.
- Chúng tôi đợi thiếu tướng... - Hoàn bảo, nhỏ nhẹ.
Không khí phòng họp chợt lắng. Và, mọi người như hiểu ra.
- Theo ý của lãnh tụ, tôi thôi thúc cuộc họp Vũng Tàu, cho bản Hiến chương ra đời nhanh. Nó đã ra đời. Nguyễn Khánh bị vào tròng, tự y lên án y trước công luận. Một phong trào phản kháng sẽ bùng nổ dữ dội. Cơ hội rất tốt cho đảng ta giành quần chúng và mặc cả. Bây giờ, không phải lúc nói suông. Đảng ta ra tuyên bố. Nhưng, điều quang trọng là đảng giữ riêng mình ngọn cờ chống hiến chương Vũng Tàu, chế độ quân phiệt, chế độ độc tài tái sinh. Nếu đảng ta tự giới thiệu được là thế lực mạnh nhất về chính trị ở miền Nam thì người Mỹ sẽ bàn với lãnh tụ ta về tương lai chính trị ở xứ này và vai trò của đảng ta trong chính phủ, một vài trò áp đảo...
Đỗ Mậu vừa phác qua mấy nét, nhiều tiếng xuýt xoa khen ngợi. Ngay Trung ương Đại Việt mà cũng không ngờ ngón đòn của lãnh tụ họ thâm đến thế.
Nguyễn Tôn Hoàn liếc Nguyễn Ngọc Huy. Huy tỉnh bơ. Người ta hiểu cái bẫy giương lên từ cái đầu thông thái của nhà lý luận tuy đứng thứ hai trong đảng lại xứng đáng lãnh tụ hơn của Hoàn.
- Đảng ta chưa đủ mạnh. – Nguyễn Ngọc Huy hắng giọng và đứng lên, nói đều đều – Trước, có phương án đảo chính, qua vài viên tướng cầm quân như tướng Dương Văn Đức ở vùng IV. Song, anh Hoàn thấy không có lợi, bởi dùng tướng này hạ tướng kia, chúng ta không thoát khỏi vòng lẩn quẩn. Một số bè bạn Mỹ khuyên chúng ta nên tìm cách chuyển tình hình... Được anh Hoàn cho phép, tôi xin trình bày với Trung ương kế hoạch hành động gồm mấy điểm sau đây...
Nguyễn Ngọc Huy nói gọn, rõ, cụ thể. Cuộc họp trở nên nhẹ nhàng, thoải mái. Thắng lợi của đảng Đại Việt gần đến nơi, anh cũng thấy cảnh quyền bính nắm gọn trong tay, ơn đền oán trả diễn ra trong nháy mắt... ..
*
- A lô! John đây! William, phải không?
- Tôi biết ông bạn muốn nói điều gì rồi... Nhưng đừng vội!
- Tại sao? Tôi bảo vệ hắn đến mức cần thiết và bây giờ, nên sửa gáy hắn... Êkip khác đã sẵn sàng rồi...
- Tôi hiểu. Thậm chí, xin lỗi ông bạn, hiểu hơn ông bạn nữa. Song, cần đi đúng những bước dự kiến.
- Tôi ngại các phe phái lợi dụng sự đần độn này, đặc biệt Việt Cộng...
- Bình tĩnh nào! Phải có một cái gì đó như thái độ phản kháng quyết liệt của dân chúng. Không thể hành động mà không có cớ. Cái cớ từ nội bộ họ. Ông bạn nên nhớ ta còn bao nhiêu đồng minh ở Đông Nam Á theo dõi chúng ta, nếu vội vã, đồng minh nghi ngờ. Vả lại, sự thể sẽ tiến triển không ngoài ý của ta đâu. Tôi bảo đảm...
- Bao lâu?
- Alexis vừa trao đổi với tôi, chóng thôi...
*
Tin các báo:
- Sinh viên họp sáng 19-8 tại trụ sở số 4 đường Duy Tân tranh luận sôi nổi về Hiến chương Vũng Tàu. Nhiều diễn giả lên tiếng hoan nghênh quyết định của các tướng lãnh. Nhiều diễn giả phản đối. Cuộc họp mất trật tự. Xuýt xô xát giữa hai nhóm.
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất họp thật đông tại chùa Ấn Quang, bề ngoài là kỷ niệm một năm ngày đạo Phật bị đàn áp, nhưng các nhà sư lại nêu Hiến chương Vũng Tàu thành đầu đề thuyết pháp. Có hai ý kiến chính trị trái ngược nhau: một số tán thành Hiến chương, một số đông hơn, lên án gay gắt. Riêng ngày 20-8, hầu như các chùa trong đô thành đều tiến hành tập họp Phật tử giống như chùa Ấn Quang.
*
Thông cáo của văn phòng chủ tịch Nguyễn Khánh:
Tám giờ sáng ngày 22-8-1964, chừng 6.000 sinh viên thuộc các khoa kéo đến văn phòng chủ tịch Nguyễn Khánh. Chủ tịch Hội đồng quân đội đi công vụ vắng, ông bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng đã thay mặt chủ tịch tiếp nhận kiến nghị trong đó, thay mặt cho các khoa, sinh viên tuyên bố hậu thuẫn công cuộc cách mạng của Hội đồng quân đội và Trung tướng Nguyễn Khánh, qua Hiến chương Vũng Tàu. Bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng cám ơn đại biểu sinh viên. Cuộc tiếp xúc diễn ra trong vòng trật tự.
Một giờ trưa cùng ngày, chủ tịch Nguyễn Khánh đã đích thân tiếp đoàn đại biểu sinh viên. Đoàn đại biểu trao cho chủ tịch bản kiến nghị mới nhất trong đó tỏ lòng biết ơn chủ tịch và tuyên bố ủng hộ Hiến chương Vũng Tàu.
Kiến nghị còn lên án các phần tử Thực, Cộng và Cần Lao đang ẩn núp trong chính quyền, mong chủ tịch kiên quyết vì lợi ích của quốc gia mà sớm thành trừng bọn bán dân hại nước này...
*
Tin các hãng thông tấn nước ngoài:
Một không khí căng thẳng gần như bạo loạn xảy ra suốt ngày 25-8 tại Sài Gòn. Vừa sáng, chừng vài trăm sinh viên kéo đến đài phát thanh, sau đó con số lên đến vài ngàn. Sinh viên xông vào bên trong đài phát thanh, đòi ban giám đốc phải cải chính tin loan báo về hai cuộc gặp mặt giữa sinh viên và chính phủ ngày hôm qua. Theo bản thông tin in ronéo phân phát rộng rãi bằng Việt ngữ và Anh ngữ ngay tại đài phát thanh, Tổng hội sinh viên cho biết văn phòng tướng Nguyễn Khánh đã trơ tráo nói láo: cả hai cuộc tiếp xúc, một với bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng, một chính tướng Nguyễn Khánh, sinh viên long trọng tuyên bố phản đối Hiến chương Vũng Tàu, đòi hủy ngay hiến chương phản dân chủ ấy, đòi thành lập chính phủ dân sự trẻ, trọng sạch, có năng lực.
Ban giám đốc đài phát thanh lánh mặt. Tức giận, sinh viên bây giờ lên đến ước một vạn, đập phá đài phát thanh, đốt hồ sơ, giấy tờ, thiệt hại khá nặng.
Quân cảnh và cảnh sát kéo đến định can thiệp, cuối cùng vì thái độ sẵn sàng xung đột với lực lượng an ninh của sinh viên mà lực lượng an ninh rút êm. Sinh viên định sử dụng đài đọc tuyên cáo, nhưng có lẽ vì không có nhân viên kỹ thuật nên sau cùng họ cũng rút.
Cùng lúc, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo qua trường J.J. Rousseau đường Hồng Thập Tự kêu gọi số học sinh trường này nhập vào hàng ngũ họ rồi kéo đến Bộ Thông tin đòi Tổng trưởng và Thứ trưởng phải tiếp. Sinh viên chất vấn về các tin được loan thất thiệt. Họ đòi hủy bỏ chế độ kiểm duyệt. Tổng trưởng Phạm Thái đã trả lời, song sinh viên không thỏa mã, nên xông vào cơ quan Bộ Thông tin đập phá dữ dội... Thiệt hại vật chất khá nghiêm trọng song không ai bị thương.
Vào ba giờ chiều, lối 200 người, không rõ tông tích, dùng xe chở khách bất thần kéo đến trụ sở Tổng hội sinh viên, số 4 đường Duy Tân là đường phố chính, mang cây hèo, dao búa, xông vào đập phá trụ sở đốt đồ đạt và đánh sinh viên. Sinh viên phản kích bằng gậy gộc, đá. Một số trường trung học quanh đó được báo động kéo sang giải vây trụ sở. Xô xát đẫm máu. Số tấn công bị đánh bại, không dám lên xe mà chạy bộ. Theo dư luận, đây là số lưu manh đâm thuê chém mướn.
Một câu hỏi đặt ra: thực chất của sự việc là gì?
*
TUYÊN CÁO CỦA BA CHÍNH ĐẢNG
Chúng tôi đại diện đảng Đại Việt, đảng Dân chủ Xã hội và Việt Nam Quốc dân đảng long trọng tuyên cáo với quốc dân và thế giới:
Sau 9 năm sống dưới ách thống trị nhà Ngô, nhân dân Việt Nam Cộng hòa vô cùng chán ghét chế độ độc tài cá nhân chà đạp dân chủ, do đó, hết sức phấn khởi hết sức phân khởi trước hành động anh hùng cứu nước của quân đội ngày 1-11-1963. Nhưng, thời gian vui mừng quá ngắn ngủi. Cuộc cách mạng 1-11 bị phản bội. Mượn cớ vu vơ “chỉnh lý”, tướng Nguyễn Khánh đã cướp công của những chiến sĩ cách mạng và vẫn chưa thỏa mãn tham vọng, ông dấn thêm một bước phiêu lưu, cho ra dời cái quái thai “Hiến chương Vũng Tàu” nhằm thu tóm mọi quyền hành vào tay cá nhân ông ta.
Việc làm của tướng Nguyễn Khánh gây hại cho an ninh quốc gia, làm suy yếu thế lực chống Cộng gây nghi ngờ trong đồng minh và nhất là nãn lòng binh sĩ nơi tiền tuyến.
Là những đảng chính trị mang trên vai sứ mệnh lịch sử cao cả, chúng tôi:
- Một, phản đối trò tráo trở của Nguyễn Khánh.
- Hai, đòi hủy bỏ cái gọi là “Hiến chương Vũng Tàu”
- Ba, giải tán Hội đồng quân đội.
- Bốn, trao quyền cho các đoàn thể và đảng phái chính trị, đại biểu tôn giáo, trí thức, sinh viên, triệu tập đại hội quốc dân soạn thảo Hiến ước lâm thời, bầu hội đồng lập pháp và đề cử chính phủ lâm thời điều khiển việc nước.
Chúng tôi kêu gọi đồng bào hãy bày tỏ thái độ kiên quyết phản đối “Hiến chương Vũng Tàu”. Chúng tôi kêu gọi đồng minh của Việt Nam Cồng hòa, đặc biệt nước Mỹ, thông cảm và ủng hộ nguyện vọng chính đáng trên đây của dân chúng Việt Nam, điều kiện số một để chiến thắng Việt Cộng.
Làm tại Sài Gòn, ngày 23 tháng 8 năm 1964.
*
- Allo! Tôi xin được nói chuyện với đại sứ Taylor...
- Xin lỗi, ông là ai?
- Tôi là trung tướng Nguyễn Khánh...
- Nguyễn Khánh? Tôi không biết...
- Tôi là Chủ tịch Hội đồng quân đội, Tổng tư lệnh quân đội và Thủ tướng chính phủ Việt Nam Cộng hòa...
- Thế à? Xin đợi ít phút. Đại sứ đang bận...
- Tôi cần nói chuyện gấp... Nhờ bà... Xin lỗi...
- Tôi là Mariene Hardort...
- Xin bà Mariene...
- Có lẽ nên gọi tôi bằng cô, hợp hơn...
- Vâng, xin lỗi, xin cô Mariene...
- Tôi đã bảo đợi ít phút!
- Ít phút là mấy phút?
- Có thể 3 phút, có thể 5 phút và cũng có thể 15 phút hoặc lâu hơn...
- Ôi chao! Cô giúp tôi nhanh hơn, được không?
- Ông không biết tính của tướng quân sao? Với tướng quân bao giờ cũng chính ông quyết định mọi việc, dù nhỏ nhất.
- Nhưng, tôi là Nguyễn Khánh...
- Nguyễn Khánh? Điều đó quan trọng như thế nào?
- Tôi đã tự giới thiệu với cô... Tôi là...
- À, tôi nhớ, ông là Chủ tịch Hội đồng quân đội... Ở nước Mỹ hình như không có chức này... Ông là Tổng tư lệnh... Chức này tôi biết, ở Mỹ, chính Tổng thống là Tổng tư lệnh. Còn Thủ tướng, tôi hiểu, trên thế giới có rất nhiều thủ tướng.
- Tôi van cô! Cho tôi gặp đại sứ...
- Ông đợi nửa phút, tôi phải xem đại sứ đã rảnh chưa...
- Nửa phút rồi. Sao?
- Đại sứ đang bận...
- Bận việc gì mà không nói chuyện điện thoại được với tôi?
- Ồ! Ông hơi tò mò... Nhưng tôi nghĩ có lẽ không hại gì khi báo cho ông biết giờ này đại sứ đang chơi cờ...
- Trời ơi! Chơi cờ! Chơi với ai?
- Chơi một mình!
- Cô báo giúp đi... Tôi rất cần nói chuyện với đại sứ, chuyện hệ trọng, vô cùng hệ trọng.
- Vixi tấn công Sài Gòn ư?
- Không!
- Thế thì tôi chịu. Ngay Tổng thống Mỹ vào giờ này gọi điện cũng đành phải chờ đại sứ giải quyết xong ván cờ do đại sư chơi cả hai phía... Ông cho tôi số điện thoại tôi sẽ gọi khi đại sứ đồng ý...
... Nửa giờ sau...
- Allo!
- Lại ông Nguyễn Khánh gì đó phải không?
- Vâng, tôi đây!
- Tôi hy vọng lần này đại sứ sẽ nói chuyện với ông...
- Hello! Tôi, Taylor đang nghe...
- Xin kính chào đại sứ... Vụ “Hiến chương Vũng Tàu” đang xôn xao dư luận, có thể phát triển xấu hơn...
- Xấu hơn là thế nào?
- Thưa, ví dụ biểu tình của dân chúng...
- Ồ! Ông không đủ sức chống các cuộc biểu tình tay không à?
- Bằng vũ lực thì đủ sức, song...
- Đó không phải là công việc của một đại sứ ở một nước thân hữu. Liệu báo chí Mỹ và Quốc hội Mỹ nhận xét sao nếu một nguyên thủ quốc gia không sử lý nổi điều sơ khởi là giữ trật tự thủ đô? Chẳng lẽ tướng Westy của chúng tôi phải tung quân ngăn chặn các đám biểu tình bản xứ? Hay tôi phải nói trên đài phát thanh?
- Nhưng, tôi cần một lời khuyên...
- Chỉ một lời khuyên thì đây: Ông Nguyễn Khánh thân mến, ông hãy tự chứng mình những cương vị ông đang giữ không hề giống món trang sức của nữ giới! Xin chào ông!
*
Nhật lệnh của Chủ tịch Hội đồng quân đội cách mạng:
Hiến chương vừa ban bố có thể theo nhận định của tập thể các tướng lãnh trong Hội đồng trước tình hình phân tán quyền lực quốc gia nhằm tăng thêm sức mạnh chống Cộng và sau khi tham khảo đồng minh Hoa Kỳ, nhưng lại bị các thế lực ích kỷ chống đối và xúi giục số nhỏ thanh niên nhẹ dạ gây rồi.
Nhân danh Chủ tịch Hội đồng quân đội cách mạng, Tổng tư lệnh quân đội Việt Nam Cộng hòa và Thủ tướng chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Căn cứ sắc lệnh 215 và 18 về ban bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc.
Tôi ra lệnh:
1. Cấm mọi tập họp quá 5 người ở ngoài đường với hình thức biểu tình chính trị.
2. Cho phép lực lượng an ninh và quân đội được giải tán những cuộc tập họp như thế.
3. Quân nhân nào dính vào các hoạt động chính trị sẽ bị nghiêm trị.
Ngày 24 tháng 8 năm 1964

Nguyễn Khánh
*
Thông cáo báo chí của Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn:
Thừa ủy nhiệm của đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hợp chủng quốc Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa Maxwell Taylor. Phòng thông tin Mỹ tại Sài Gòn thông báo với công luận Việt Nam Cộng hòa: mọi diễn biến về chính trị tại Sài Gòn hiện nay hòa toàn không liên quan đến trách nhiệm của chính phủ Mỹ và đại sứ quán Mỹ.
*
Xe Luân và Dung không thể nào vòng ra khỏi bùng binh chợ Bến Thành. Cả quảng trường đông nghịt, lùi lại cũng không được. Hằng trăm xe các loại đứng yên. Dân chúng từ nhiều ngã đổ về đây. Một tấm băng giăng cao, có vẻ viết vội nên chữ không ngay hàng thẳng lối: “Noi gương chết vì dân tộc chống độc tài của Quách Thị Trang! Đả đảo Hiến chương Vũng Tàu!”. Dưới chân tượng nữ sinh, một thanh niên đang cầm loa điện diễn thuyết. Quân cảnh và cảnh sát dã chiến kéo đến, song hàng rào bảo vệ quá dày, họ hò hét bảo giải tán, tiếng hò hét của họ bị các khẩu hiệu long trời át mất.
- Đây mới đúng là chúng ta cần!
Luân nói khẽ vào tai Dung. Khí thế hàng vạn – chắc hơn nữa – bừng bừng. Luân chợt nhớ tháng 8-1945, đúng ngày này, 25-8. Và Dung cũng nhớ y như vậy, ở Hà Nội.
Diễn giả nói gì, Luân và Dung không nghe rõ. Họ đoán lời diễn giả qua các nắm tay đưa lên và tiết thét khẩu hiệu:
- Hẳn không phải tất cả đều được lãnh đạo hay tổ chức cả!
- Tất nhiên... Làm sao tổ chức ngần ấy người. Nhưng, nghệ thuật của lãnh đạo là biết đưa khẩu hiệu đúng, khẩu hiệu đúng sẽ tập họp. Trong đây, bộ phận đông nhất là những người bất bình Hiến chương Vũng Tàu, những người không muốn Mỹ đổ quân lên Nam Việt Nam, đồng thời có nhóm từng đấu tranh chống Khánh, có nhóm yêu nước, có cả đồng chí ta lẫn bọn tình báo... Anh tiếc...
Dung đặt tay lên cánh tay Luân.
- Tướng Đức chậm quá... Biết làm thế nào?
- Anh muốn liên hệ với Tổng hội sinh viên...
Dung lắc đầu:
- Không cần! Em tin chắc Tổng hội đã được lãnh đạo. Cả một số bộ phận Phật giáo, như gia đình Phật tử, cả báo chí... Anh không nhớ Sa nói sao? Ở đâu cũng có người của ta!
- Nhưng... - Luân thở dài.
Dung thông cảm với chồng, cô siết cánh tay Luân:
- Chỗ của anh không phải ở Tổng hội, không phải các cuộc biểu tình. Ta cố vào dinh Độc Lập. Em tin tại đó sẽ có sẽ có cái gì sẽ xảy ra.
Luân dặn lái xe, nếu cuối cùng không đến dinh Độc Lập được thì quay về nhà. Anh, Dung và Thạch ra xe, len lỏi giữa đám đông, men hông chợ Bến Thành, đến dinh Độc Lập.
Cửa dinh đóng kín. Toán lính gác nhận ra Luân nên cho vào.
Tại tiền sảnh, Nguyễn Khánh đang đi lại, sốt ruột. Anh ta hờ hững chào Luân. Thành viên chính phủ có mặt đủ. Hình như chính phủ sắp họp.
Lâm Văn Phát đến bắt tay Luân:
- Chính phủ chưa họp được vì thiếu mấy người quan trọng, như hai phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn và Đỗ Mậu, ngoại trưởng Phan Huy Quát...
- Tụi nó sắp biểu tình tới đây!
Nguyễn Khánh nói trổng, sau khi nghe một sĩ quan cảnh sát báo cáo.
Và, vài phút sau tiếng thét của mấy vạn người dội mạnh vào dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập thật sự bị bao vây từ bốn con đường.
“Giá mà dân chung trèo qua rào vào bắt hết chính phủ!”. Luân nghĩ trong bụng.
- Lúc này, tôi có một tiểu đoàn là đủ! – Tướng Lâm Văn Phát nói nhỏ với Luân.
Dân chúng giương biểu ngữ. Không phải một vài mà hàng trăm. Tất cả đều đòi hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu.
- Làm thế nào? - Nguyễn Khánh hỏi Trần Thiện Khiêm.
Khiêm không trả lời mà quay về phía Luân. Luân tảng lờ im lặng. Trong thâm tâm, Luân mong tình hình kéo dài, để cho độ căng thẳng đủ thành chất nổ. Khi quần chúng nổi nóng cái gì cũng có thể xảy ra cả. Quần chúng chỉ đứng ngoài rào, điều đó cho Luân thấy lực lượng lãnh đạo nòng cốt còn ít và non, đồng thời các thế lực khác vấn khống chế được quần chúng ở mức biểu dương thái độ mà họ định. Trời hôm nay oi bức, tuy nắng không gay gắt. “Cứ kéo thêm độ nửa tiếng nữa, khó tránh khỏi đột biến”. Luân thấp thỏm. Dung chia sẻ ý nghĩ của Luân: “Chỉ cần vài người hô khẩu hiệu, chẳng hạn “Xông vào dinh Độc Lập”, tình hình chuyển sang bước ngoặc ngay!”. Dung nói thật khẽ mà Luân nghe như lệnh khai hỏa. Anh ngó đăm đăm ra cửa chính dinh Độc Lập. Quân cảnh và cảnh sát sẵn sàng nổ súng, nhưng chúng sẽ xẹp liến nếu cả mấy vạn người xung phong. “Không phải là chuyện của anh!”. Dung lại siết cánh tay Luân đau điếng.
Bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng báo cáo việc gì đó với Nguyễn Khánh, Nguyễn Khánh tất tả vào phòng.
- Đại sứ quán Mỹ chị thị đây! – Luân bảo Dung, giọng ảo não.
Năm phút sau, Nguyễn Khánh tất tả ra, lôi theo phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh. Tiến sĩ, nhà chuyên môn uể oải cùng Khánh xuống thềm, tiếng ra cổng chính, với một tốp bảo vệ và nhân viên.
“Hỏng rồi!”. Luân than thầm.
Mười lăm phút sau, Khánh và tùy tùng trở vào. Đám đông giải tán.
Mặt Khánh nặng chình chịch.
Luân buồn rầu ngó Dung. Vừa lúc đó, một tiếng nổ rung rinh cả dinh Độc Lập. Chưa ai biết lý do.
Nghiêm Xuân Hồng từ văn phòng đâm bổ ra, líu lưỡi:
- Khách sạn Caravelle bị V.C nổ mìn, sụp mấy tầng!
Nguyễn Khánh điên tiết:
- Bắt được bọn khủng bố không?
- Không! – Hồng trả lơi.
- Thế nào ông Taylor cũng la lối... Đó là khách sạn của người Mỹ...
Một nhân viên đến báo có điện gọi Khánh.
Không phải Taylor la lối mà trung tướng Phạm Xuân Chiểu thông báo Hội đồng quân đội họp khẩn...
*
Tin tức
Reuter và UPI: Nhiều nguồn tin đồn đại công khai ở Sài Gòn: Sắp sửa nổ ra một đợt khủng bố các chùa, nhà sư quy mô như thời ông Ngô Đình Diệm, kể cả chùa Ấn Quang, do tướng Nguyễn Khánh chủ trương để dẹp chống đối. Mặt khác, có tin tín đồ đạo Phật sẽ đập phá các nhà thờ theo đạo Thiên Chúa, trong đó có nhà thờ Đức Bà. Giữa lúc ấy, các tướng Việt Nam Cộng hòa họp mật ở Bộ Tổng tham mưu.
Một tình hình khác thường diễn ra ở Sài Gòn: tín đồ theo đạo Phật canh giữ suốt đêm trụ sở của các nhà sư háo động và tượng một nữ sinh chết trước đây dựng ngay ngôi chợ to nhất thành phố; các khu đông người theo đạo Thiên Chúa vũ trang dao, gậy búa...
Trật tự trở nên tồi tệ khi hằng mấy chục nghìn dân chúng biểu tình chống tướng Khánh và khách sạn đông người Mỹ nay bị đánh mìn thiệt hại nặng nề người và vật chất. Việt Cộng nhận họ đã đặt quả mìn cực mạnh ấy, nhưng các chính khách cho tướng Khánh nổ mìn để cảnh cáo Mỹ nếu hạ bệ ông ta thì an ninh sẽ như thế hoặc người Mỹ nổ mìn để chứng minh cần hạ bệ tướng Khánh, người không đủ năng lực làm chủ thủ đô.
Tin từ Đà Nẵng càng bi thảm hơn: một đám dân chúng theo đạo Phật kéo ngang căn cứ Mỹ trên đường đến một ngôi chùa dự lễ. Lính Mỹ nổ súng. Dân chúng tức giận dùng đá ném vào lính Mỹ. Lính Mỹ bắn rát hơn. Đám đông chạy vào một làng theo đạo Thiên Chúa thì bị tự vệ làng tấn công. Cuộc xô xát ác liệt. Nhiều người chết (26-3-1964).
*
Điện mật:
Nơi nhận: Đại sứ M.Taylor – Sài Gòn.
Các diễn biến tình hình ngày 25 và 26 càng xác định quan điểm cần phải có thêm quân Mỹ ở Nam Việt và cần một bộ máy bản xứ hiệu lực. Tổng thống sẽ trực tiếp chỉ thị cho đại sứ và tướng Westmoreland bằng con đường riêng.
Ký: Dean Rusk.
*
Thông cáo của Hội đồng quân đội cách mạng:
Sau 2 ngày làm việc, Hội đồng quân đội cách mạng đã đi đến quyết định thu hồi Hiến chương ngày 16-8, sẽ tổ chức bầu nguyên thủ quốc gia và nguyên thủ quốc gia sẽ thực hiện một cơ cấu dân chủ. Quân đội trở về nhiệm vụ chính của mình là chiến đấu chống Cộng. Tạm thời, chính phủ hiện hành xử lý công việc trong một thời gian nữa.
*
Thông cáo của Hội đồng quân đội cách mạng:
Hội đồng quân đội cách mạng quyết định lập một Ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực các tướng Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Khánh.
Chính phủ Nguyễn Khánh phải triệu tập trong vòng 2 tháng, kể từ hôm nay, Quốc dân đại hội, trong lúc đó, để bảo đảm nguyên tắc dân sự hóa, ủy quyền Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh thừa ủy nhiệm Thủ tướng, quyền thủ tướng chính phủ.
*
Hội đồng quân đội họp từ 14 giờ 25, không khí ngột ngạt. Theo đúng thủ tục, chính tướng Nguyễn Khánh phải khai mạc hội nghị, song người khai mạc hội nghị là tướng Dương Văn Minh. Tâm trạng tướng Khánh khá phức tạp. Cú điện thoại của Phạm Xuân Chiểu triệu tập hội nghị bất thường khiến anh ta lo lắng. Biết đâu tại cuộc họp; anh ta phải xỏ tay vào còng và nhẹ nhất cũng lên Đà Lạt nghỉ mát một thời gian. Sự lấc cấc và lố lăng của anh ta bây giờ hành hạ anh ta. Khánh điện cho đại sứ Taylor và chỉ được trả lời như điệp khúc quen thuộc: Mỹ không can thiệp vào nội bộ đồng minh.
Một ý nghĩ lóe trong đầu Khánh: đại tá Nguyễn Thành Luân trong trường hợp này rất hữu ích. Do đó, Khánh mời Luân dự họp, tất nhiên, dự thính. Tướng Trần Thiện Khiêm ngần ngừ một lúc rồi đồng ý. Tướng Lâm Văn Phát đồng ý ngay.
Luân xuất hiện ở Hội nghị gần như không gây một chú ý nào, trừ cái ngó thăm dò và không thiện cảm của hai tướng Nguyễn Chánh Thi và Nguyễn Cao Kỳ. Hình như hai tướng có hỏi Khánh và Khánh trả lời – Luân biết, Khánh úp mở rằng đại sứ Mỹ muốn Luân dự họp.
Khánh ngại tướng Minh, thiếu tá Nhung, cận vệ của tướng Minh chết, các bạn của ông như Đôn, Kim bị lăng nhục, nếu tướng Minh trả thù thì đây là cơ hội tốt nhất.
Song, tuyên bố khai mạc của tướng Minh giúp Khánh lấy lại tư thế.
- Giữa lúc lộn xộn này, tôi xin anh em gác chuyện riêng tư sang một bên, chúng ta cùng nhau tìm cách đối phó với khó khăn của đất nước.
Luân ngồi trên hàng ghế thứ ba, kê sát tường như một thư ký. Anh quan sát các tướng. Những người này, tại Vũng Tàu, đã thông qua bản Hiến chương đang trở thành mục tiêu của mọi mũi tấn công, bây giờ cũng những đó làm ra vẻ bực bội.
- Chuyện ở Vũng Tàu không có lợi, nên tôi xin anh em bỏ nó đi... - Vẫn thái độ điềm đạm, tướng Minh tiếp tục hòa giải.
Luân thấy tội nghiệp cho viên tướng được kính trọng song, luôn luôn bị lợi dụng và luôn luôn chịu nhận sự lợi dụng ấy khá thành thực.
- Đã nghị quyết, đã tuyên cáo bây giờ rút lại, thiên hạ coi chúng ta như con nít!
Tướng Khánh lần lần ổn định tinh thần, mở đợt phản pháo.
- Chính mấy anh đồng lòng, chớ phải tôi ép uổng chi đâu!
Tướng Khánh như được thế, lấn tới.
“Rầm”! Ly tách nhảy dựng, tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng phắt dậy, vỗ bàn thẳng cánh.
- Đồng lòng? Anh lấy sức ép của người Mỹ đặt tất cả trước sự đã rồi... Tình hình xấy hẳn, anh vẫn chưa hiểu sao?
Tướng Khánh không chịu thua, chồm người lên phái trước, nói gần như quát:
- Anh là người nói đầu tiên ở Vũng Tàu. Khi tôi đắn đo, anh còn chê tôi nhát. Loại người trở mặt từng giờ mà không xấu hổ...
- Ai trở mặt như còn đĩ? Ngủ với thằng này rồi ngủ với thằng khác mà lúc nào cũng nói: anh là người em yêu đầu tiên... - Kỳ bĩu môi. Lúc trước, người ta chắc cười phá lên vì câu ví von độc địa kia, nhưng không khí cuộc họp không thích hợp với các câu ví von.
- Tôi can các anh… - Tướng Minh rên rỉ.
- Coi như tất cả đều là đĩ! – Tướng Nguyễn Chánh Thi bô bô – Song đừng có tình chuyện làm trùm đĩ! Ông Khánh định mở nhà thổ. Dẹp liền vụ Hiến chương tào lao ngay!
- Tôi là người ủng hộ Hiến chương. – Tướng Đỗ Mậu nói, rất ung dung – Tôi không chối… Chúng ta dự định điều tốt, nhưng tình hình bất lợi, đòi vận dụng chiến thuật khéo…
- Tôi xá dài anh, anh Đỗ Mậu ơi! Miệng lưỡi anh lúc nào cũng ngọt… Tôi đi guốc trong bụng anh. Anh không dự họp nội các mà lòn ngả hậu. Thôi, tôi rút khỏi chức chủ tịch nhường cho anh đó… - Nguyễn Khánh xỉa xói Đỗ Mậu.
- Anh Khánh đánh giá tôi sai rồi. Tôi định xin rút khỏi Hội đồng. Tôi cáng đáng chức chủ tịch thế nào nổi…
Cứ lời qua tiếng lại như thế cho đến bữa ăn tối. Vừa ăn vừa cãi. Ăn xong, họp tiếp. Không ai chịu ai. Lâu lâu, tranh cãi giống hàng tôm hàng cá.
Điều mà Luân lo nhất là những cú điện thoại, khi thì Nguyễn Khánh tiếp điện, khi thì Đỗ Mậu, khi thì Trần Thiện Khiêm, khi thì Nguyễn Văn Thiệu. Mỹ đang theo dõi hội nghị khá khít khao. Luân nghĩ, nếu cứ để các tay này tố nhau thì hội nghị cả tháng không xong. Bầy ngựa giành kéo xe, chẳng ngựa nào chịu thua ngựa nào...
Đã 1 giờ sáng. Nhiều tiếng ngáp mệt mỏi, vài viên tướng ngủ gật không thèm che giấu, kể luôn tiếng ngáy ầm ĩ.
Một sĩ quan báo với Luân có điện.
Dung gọi anh, hỏi tình hình. Gác máy, Luân chưa trở lại phòng họp thì Jones Stepp gọi Luân.
- Chào đại tá!
- Chào tướng quân!
- Nên tạm ngưng hội nghị, mai sẽ tiếp... Tôi cho rằng như vậy là có lợi nhất...
Luân muốn nắm chắc hơn ý định của Mỹ nên anh nói:
- Thưa tướng quân, dù có họp ngày mai cũng khó đi đến thống nhât...
- Tôi hiểu... Và, tôi tin sau một giấc ngủ thoải mái, mọi người sẽ minh mẫn hơn.
Luân báo lại với tướng Minh ý kiến của Jones Stepp, tướng Minh – mệt mỏi hơn bất kỳ ai - gật đầu liền. Song, tướng Khánh nhất quyết đòi hội nghị phải đi đến kết luận. Giải pháp tạm thời là hội nghị “xả hơi”. Và, hội nghị “xả hơi” đến 8 giờ sáng – mỗi người tìm một chỗ ngả lưng, không ai rời Bộ Tổng tham mưu, không ai chịu bị đâm lén cả.
Ăn sáng xong, hội nghị bắt đầu. Lại cù cưa cù nhầy. Chủ đề là nên duy trì hội đồng quân đội hay chuyển sang chính quyền dân sự. Đây là chủ đề bên ngoài. Chủ đề đích thực là ai sẽ đứng đầu guồng máy ở Nam Việt. Mức phân hóa đến đây càng gay gắt. Đa số tướng không thể là chính khách bởi không có khiếu. Cách nào đó, chính tướng Minh sẽ đăng quang và cái gọi là “chỉnh lý” của Khánh vừa công cốc vừa dễ bị kết án. Rải rác đòi coi lại vụ “chỉnh lý”. Nguyễn Chánh Thi, trong vụ này, đứng về phía Khánh.
- Tôi thấy mấy anh em nên công bình... Tôi đã thăng bao nhiêu anh em lên cấp tướng. Tôi đâu có độc tài. Cấp đại tướng dành cho anh Khiêm... - Khánh đổi bài bản, đúng giọng nỉ non.
- Ối! Anh không phong thì người khác phong... - Đỗ Mậu gạt ngang ý của Khánh.
Ăn trưa. Họp tiếp. Luân thủy chung không nói một lời, dù đôi khi một tướng mời anh. Anh lắc đầu: Tôi chỉ xin nghe thôi.
Nguyễn Cao Kỳ ghé vào tai Nguyễn Chánh Thi:
- Tống cái thằng Cộng sản này ra khỏi cuộc họp. Có mặt hắn tôi thấy ớn ớn thế nào...
- Ừ... Đ.M... đấy là chỗ các tướng trong hội đồng...
Lâm Văn Phát ngồi cạnh nghe rõ, cười khẩy:
- Trước hết, hai ông hãy xin lịnh của tướng Jones Stepp... Va đến đây do cơ quan tình báo quân sự Mỹ phái.
- Để chi?
Phát nhún vai:
- Để coi tụi mìn múa giống thứ gì.
Kỳ và Thi xìu hẳn.
*
NHỮNG PHÁT ĐẠI BÁC THEO KIỂU NAPOLÉON
Hélen Fanfani (Financial Affairs)
Sài Gòn, tháng 8-1964.
Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hòa nằm trên con đường lớn dẫn đến sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm thành phố Sài Gòn, trong phút chốc đi vào biên niên sử của xứ sở Việt Nam cực kỳ rối loạn và tương lai mịt mù này.
Giữa trưa, giờ địa phương, tôi nhận được một cú điện thoại của một người bạn quen – xin tạm giấu tên – vội vã giục Victor, chồng tôi, mang máy quay phim đến trước cổng cơ quan quân sự đầy bí ẩn, như một thâm cung các vua chúa. Cửa Bộ Tổng tham mưu đen đặc người và người. Luớt qua họ, tôi biết liền đây là giáo dân Thiên Chúa từ nhiều vùng khác nhau kéo đến. Khẩu hiệu của họ khá lộn xộn. Dù sao, tôi và Victor cũng hiểu một trận phục thù đang diễn ra. Họ, những người biểu tình, bị truất phế đặc quyền sau cái chết thảm khốc của anh em ông Diệm, đã làm ra cớ đòi nợ. Tất nhiên, không phải Dương Văn Minh hay Tôn Thất Đính phải trả nợ. Chính tướng Nguyễn Khánh, theo họ, phải tỏ ra sòng phẳng. Mấy ngày đêm liền, Sài Gòn sống trong không khí tiền đảo chính và tự các giáo dân kinh nghiệm khơi ngòi nổ.
Lối bốn hoặc năm nghìn, hầu hết trai tráng, nắm trong tay các thứ có thể choảng nhau và cũng có thể giết nhau theo cách đánh giặc thời trung cổ, dao, búa, gậy, thanh sắt. Mặt mũi người nào cũng đầy sát khí. Con đường Lê Văn Duyệt tắc nghẽn. Quân cảnh và cảnh sát gọi bộ đàm liên tục. Cảnh sát dã chiến với mặt nạ phòng hơi cay, chiếc khiên và gậy quen thuộc cùng với một nhóm khác, đủ súng phóng hỏa tiễn, chờ một tín hiệu xanh.
Victor lướt máy. Cái khẩu hiệu đã vào phim. Ủng hộ Hội đồng quân đội cách mạng! Đả đảo Cộng sản và Trung lập! Đả đảo bọn phá hoại đoàn kết quốc gia! Đả đảo các hành động côn đồ ở Đài phát thanh và Bộ Thông tin! Yêu cầu được trao kiến nghị quyết tử chống Cộng cho Hội đồng quân đội...
Khó mà nói rằng đây là những yêu sách chống chính phủ. Thế nhưng, cổng Bộ Tổng tham mưu vẫn đóng im ỉm. Quân cảnh dùng loa kêu gọi đám đông giải tán. Chẳng những không giải tán, đám dông dùng tiếng “hô ta” lay cánh cửa sắt, mỗi lần mấy chục người lấy đà phóng vào cửa. Đã có những dấu hiệu cánh cửa sẽ đổ. Quân cảnh và cảnh sát dã chiến vung gậy. Thế là một trận hỗn chiến diễn ra. Quân cảnh và cảnh sát ít hơn, bị đánh dạt. Số có hỏa tiễn cũng bỏ chạy.
13 giờ 3 phút, một vị tướng được cả một trung đội bảo vệ ra sát cửa, tướng Nguyễn Ngọc Lễ.
- Yêu cầu không nhượng bộ? Yêu cầu không sửa hiến chương Vũng Tàu! Hoặc tướng Khánh tiếp tục là nguyên thủ quốc gia hoặc phải ra đây chịu tôi!
Một người - có vẻ là linh mục – xướng một câu, cả nghìn người phản ứng...
- Tôi yêu cầu đồng bào giải tán! Chúng tôi đang họp... - Tướng Lễ rõ ràng cố dằn cơn nóng, nói ôn tồn mà đầy quyền uy.
- Chả họp gì cả! Phải giải tán!
Đám hưởng ứng ồn ào.
Tướng Lễ quay trở vào.
- Nguyễn Khánh gặp chúng tôi! Hoan hô tướng Nguyễn Khánh! Treo cổ tướng Dương Văn Minh!
Tôi bảo Victor: “Họa chăng Chúa mới hiểu được là cái gì!”. Victor cười. Anh vốn ít nói song hẳn đây có kinh nghiệm hơn tôi...
Mười phút trôi qua. Đám đông bắt đầu hoạt động.
Khẩu hiệu lại hô vang rền và cánh cửa càng lúc càng long, sắp đổ tới nơi.
Tướng Nguyễn Ngọc Lễ trở ra. Nhưng ông không đi đến cửa. Tôi dụi mắt và đúng như tôi thoạt thấy, bốn khẩu đại bác 75 ly – pháo tự hành dính theo các xe chiến đấu – hạ thấp nòng. Victor bảo tôi: Napoléon tái sinh!
Thú thật, tôi không tin Victor, vì nhiều lẽ: đây là tín đồ theo đạo Thiên Chúa, không ai dám đối xử theo kiểu của viên tướng hơi mất thăng bằng về thần kinh trên đường phố Paris cách chúng ta hơn 100 năm; đây là pháo Mỹ và họ, những người biểu tình, đâu có đòi lật đổ chính phủ!
Họ dọa già thôi! Tôi đinh ninh vậy. Victor thận trọng lùi xe xa đám đông. Tôi cười anh.
Cổng Bộ Tổng tham mưu mở. Đám đông ùa vào. Và, trong một nháy mắt, họ hoặc tháo chạy, hoặc sẽ không bao giờ còn chay được nữa. Nòng đại bác khạc đạn, khối lửa giã đám đông thành từng mảnh, tiếp sau tiếng nổ đinh tai. Khó mà ước lượng số nạn nhân của các phát đại bác. Từng đống xác nhầy nhụa máu bít lối ra vào Bộ Tổng tham mưu. Đám đông bỏ chạy tán loạn. Cổng Bộ Tổng tham mưu khép lại một cách lạnh lùng. Tướng Nguyễn Ngọc Lễ bình thản đứng trên thềm...
Tôi bảo Victor thoát nhanh. Đã có một số quân cảnh hướng về phía chúng tôi, họ tịch thu máy. Victor lùi xe và trở đầu thật táo bạo. Tôi nghe nhiều tiếng đạn đuổi theo chúng tôi.
Xe chúng tôi lao vào trung tâm thành phố, bắt gặp nhiều toán dân chúng, đều là đạo Thiên Chúa, kéo về hướng đài phát thanh. Victor, theo đề nghị của tôi, vòng đến đài phát thanh. Chúng tôi đến vừa kịp khi một đại biểu của đoàn biểu tình trao cho giám đốc đài phát thanh bản tuyên ngôn: Lực lượng cộng hòa Công giáo do linh mục Hoàng Quỳnh, vị thầy tu chống Cộng khét tiếng ở Bắc Việt, yêu cầu giữ Hiến chương Vũng Tàu.
Trong lúc giám đốc đài và đại biểu đoàn biểu tình đang dằn co – viên giám đốc rõ ràng quá sợ hãi, vì hôm kia, đài của ông bị đập phá với lý do ngược lại – chúng tôi nghe nhiều tiếng thét ở đường Phan Đình Phùng, gần đó. Victor ghê rợn. Những điều tôi hỏi cho biết đoàn biểu tình này đã đánh nhau với học sinh trường Nguyễn Trường Tộ. Nghe đâu hai học sinh bị đâm chết và nghe đâu nhiều người biểu tình cũng bị chết.
Trước hai phe chực hầm hầm xông vào xé, hai vị lãnh đạo tinh thần đang nói. Tôi biết linh mục Hồ Văn Vui và thượng tọa Thích Tuệ Đăng cố giảng hòa.
Trời tối dần. Khi đường Phan Đình Phùng im ắn tôi xem đồng hồ: 19 giờ.
Một câu hỏi trong đầu tôi: Ai? Ai chủ mưu?Tôi sẽ điện cho đại sứ quán Mỹ và hẹn bài sau sẽ nói rõ về sự thể ly kỳ này...
*
... Sau các loạt đại bác mà bức tường Bộ Tổng tham mưu cho một hồi âm rõ mồn một, hội nghị Hội đồng như có một trọng tài thổi còi, không ai mở mồm. Khó mà để quyết người nào đã ra lệnh bắn, hành động hết sức mạo hiểm. Khi tướng Lễ vào báo cáo, Nguyễn Chánh Thi bô bô đúng kiểu của hắn:
- Bắn mẹ nó! Cho đại bác bắn... Đồ quấy rối.
Nguyễn Ngọc Lễ chờ. Không ai nói. Ông ta quay ra. Cứ coi như ý của Nguyễn Chánh Thi là ý của Hội đồng. Lễ chả thâm thù gì giáo dân Xóm Mới, Hố Nai, chả theo phe nào. Tuy nhiên, ông ta không thích cái trò gây rối khi mà ruột gan ông rối bời bời.
Luân xin nói. Đúng ra, anh cứu hội nghị. Tướng Minh vui vẻ ra mặt:
- Mời đại tá!
Luân nói:
- Thưa các vị tướng lãnh...
Cả cuộc họp dồn vào Luân. Gã đại tá “Cần Lao” hoặc “Cộng sản” nổi tiếng suy nghĩ tinh tế...
- Tôi xin trình bày một nguyên tắc để các vị cứu xét. Tôi không phải thành viên của hội đồng, nói ở đây là không đúng chổ, không đúng nguyên tắc.
- Nói đi, đừng dè dặt. – Nguyễn Khánh đốc vô.
- Cám ơn các vị... Nên nghĩ đến tình thế, tình thế đòi một đầu não khả dĩ giải tỏa các xung đột nay đã quá trầm trọng. Tôi đề nghị thành lập một Ban lãnh đạo quốc gia, đồng thời duy trì chính phủ hiện hữu trong một thời gian ngắn để đưa đất nước vào nề nếp dân chủ. Ban lãnh đạo quốc gia, theo tôi, gồm ba vị: trung tướng Dương Văn Minh, đại tướng Trần Thiện Khiêm và trung tướng Nguyễn Khánh...
Luân ngồi xuống. Tướng Minh trầm ngâm. Tướng Khiêm cố không bộc lộ sự hài lòng. Tướng Khánh thì giống như kẻ chết đuối vớ được cây sào cứu mạng.
- Tôi đồng ý! - Tướng Phạm Xuân Chiểu nói to.
- Tôi thấy nên... - Đỗ Mậu ngập ngừng.
- Vậy là đúng rồi! Cám ơn đại tá Luân! - Tướng Thiệu đưa tay. Lâm Văn Phát không hài lòng, nhưng không nói gì.
Mãi khi rời phòng họp. Phát hỏi riêng Luân:
- Ông Big Minh, thằng Khiêm tạm đươc, còn thằng Khánh?
Luân cười, vỗ vai bạn nói khẽ:
- Anh bỏ ý định của anh rồi sao?
*
Mặc Hội đồng quân đội đã ra quyết định, tình hình các nơi vẫn bên bờ vực xô xát lớn, tổng lực giữa các nhóm cực đoan Công giáo và Phật giáo. Khu Công giáo Phú Nhuận, Trương Minh Giảng báo động, tổ chức canh gác, chực chờ xung trận. Viện Hóa đạo, chợ Bến Thành và các chùa cũng quy tụ hàng trăm hàng nghìn sinh viên.
Thông cáo của Tòa Tổng giám mục và Viện Hóa đạo kêu gọi thông cảm không có tác dụng.
Học sinh, sinh viên hội thảo sôi nổi khắp các trường và thường xuyên tập trung ở các công viên lớn. Cảnh sát bắt bớ. Xung đột xoay qua giữa học sinh, sinh viên và cảnh sát.
Giữa trưa ngày 28, thủ tướng Nguyễn Khánh họp báo tại tòa Đô chính. Như được thêm sinh lực, Khánh đọc một bản soạn sẵn thóa mạ Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký không tiếc lời, ghép hai lãnh tụ Đại Việt và đảng Đại Việt vào trọng tội, tội âm mưu đảo chính. Nhưng, Khánh không nêu được bằng chứng thuyết phục, và gọi là cuộc họp báo mà các báo chỉ chỉ nghe Khanh nói, nói xong, Khánh lên xe dông mất.
Trường Nguyễn Bá Tòng bỗng bị một nhóm bao vây. Chẳng rõ nhóm nào đó tông tích ra sao, thật sự họ đến trường Nguyễn Bá Tòng làm gì, nhưng khu phố náo động. Hai phe đánh đấm nhau tơi bời. Báo Xây dựng của người theo đạo Thiên Chúa di cư và nhà in đặt trong trường bị đập phá. Bộ Tổng tham mưu điều quân Dù đến can thiệp. Quân Dù nổ súng...
Những ngày cuối tháng 8 thật ảm đạm: đám tang các nạn nhân trước Bộ Tổng tham mưu, ở trường Nguyễn Bá Tòng, ở các công viên... Hàng nghìn người bị bắt, bị dán cho cái nhãn du đãng.
Và, phó đại sứ Alexis Johnson nhận được bức điện của bộ Ngoại giao Mỹ, vỏn vẹn chỉ có một chữ: STOP!


Phần 9 - Chương 16


Sáng 13-9, Sài Gòn một lần nữa báo động mặc dù tin đảo chánh lan truyền trước đó trong các giới tại các điểm tụ họp, ngay quán cà phê.
Những đơn vị bộ binh di chuyển trên các xe vận tải lớn theo ngã Phú Lâm ụp vào thành phố với một số xe thiết giáp hạng nhẹ và xe kéo pháo.
Trong vòng một tiếng đồng hồ, quân đảo chính chiếm gọn các điểm chủ chốt từ Gia Định sang trung tâm Sài Gòn, kể cả Phủ Thủ tướng, Đài Phát thanh, các bộ, tòa đô chính và tòa tỉnh trưởng Bà Chiểu, Nha cảnh sát đô thành, Sở Bưu điện...
Mới có 10 tháng, ba cuộc đảo chính...
Dân chúng mở đài. Không ai hy vọng một cái gì đảo lộn ghê ghớm sẽ xảy ra nhưng tính hiếu kỳ thúc giục dân chúng. Và, “Hội đồng quân dân cứu quốc” lên tiếng:
“Hỡi quốc dân đồng bào!
Hỡi các chiến hữu trong quân lực Việt Nam Cộng hòa!
Kể từ sau chính biến 1-11-1963, nhất là sau mưu đồ bội phản ngày 30-1-1964, Việt Nam Cộng hòa rơi vào cơn hỗn loạn, trật tự kỷ cương đảo lộn, uy quyền quốc gia lung lay, sự nghiệp chống Cộng suy yếu. Tại sao? Tại sao sau bao nhiêu xương máu đổ ra vì sinh tồn của đất nước mà rốt cuộc chúng ta chuốc lấy cảnh đồi bại nhục nhã như vậy? Tại sao vô số nhà ái quốc nhiệt thành không được trọng dụng, các cơ quan quân đội và chính phủ chỉ dung nạp kẻ bất tài, thất đức? Tại sao trước mặt các bạn đồng minh, Việt Nam Cộng hòa trở nên sân khấu để vài phần tử tham quyền cố vi múa rối, làm trò hề, khiến quốc thể bị khinh miệt? Hỏi tức là trả lời. Tất cả chỉ vì Nguyễn Khánh, một phần tử cặn bã lợi dụng tình hình, xảo trá lừa mị đồng bào và chiến hữu, xuyên tạc sự thật, thông báo sai lạc diễn tiến ở Việt Nam Cộng hòa với các đồng minh, cốt thực thi chế độ độc tài, ngõ hầu thỏa mãn tham vọng cá nhân ích kỷ.
Một lần nữa, quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng quốc dân đồn bào phải đứng lên hành động cứu quốc. “Hội đồng quân dân cứ quốc” long trọng tuyên cáo.
Một, kể từ hôm nay, 13-9-1964, “Hội đồng quân dân cứu quốc” đảm đương mọi trách nhiệm đối nội vào đối ngoại của Việt Nam Cộng hòa, là cơ quan quyền lực tối cao nhất về chính trị, hành chính và quân sự.
Hai, giải tán chính phủ Nguyễn Khánh, ra lệnh cho Nguyễn Khánh phải trình diện trước Hội đồng trong vòng 12 tiếng đồng hồ.
Ba, Hội đồng hợp tác với Ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực, với Thượng hội đồng quốc gia để sớm có những thể chế và cấu trúc dân chủ phù hợp với lòng dân và nhu cầu bảo vệ Việt Nam Cộng hòa.
Bốn, Hội đồng kiên quyết đối phó với bất kỳ ai ngăn cản bước tiến của cách mạng đồng thời mong mỏi cuộc cách mạng diễn ra không đổ máu. Hội đồng tin tưởng vào lòng yêu nước, yêu chính nghĩa của tướng lãnh, đô đốc, sĩ quan và binh sĩ trong tất cả binh chủng Việt Nam Cộng hòa, tin tưởng sự sáng suốt của các nhân sĩ trí thức và các vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo cùng toàn thể dân chúng không phân biệt tín ngưỡng hay giai tầng.
Năm, Hội đồng cam kết tôn trọng quyền lợi của các giới đồng bào, nghiêm cấm các hành động xâm phạm tự do và tài sản công dân. Ai vi phạm sẽ bị nghiêm trị theo luật lệ thời chiến.
Sáu, Hội đồng cam kết tôn trọng các hiệp ước đã ký với đồng minh.
Bảy, tạm thời ban bố tình trạng giới nghiêm trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa.
Tám, Hội đồng triệu tập ngay ngày hôm nay hội nghị các tướng lãnh, đô đốc, tại Tổng hành dinh của Hội đồng đặt tại Phủ Thủ tướng.
Hỡi quốc dân đồng bào!
Hỡi binh sĩ Việt Nam Cộng hòa!
Đất nước lâm nguy vì tên độc tài Nguyễn Khánh. Hội đồng quân dân cứu quốc kêu gọi tất cả siết chặc hàng ngũ quanh Hội đồng để hoàn thành nghĩa vụ cao cả mà lịch sử giao phó cho chúng ta.
Sài Gòn, 9 giờ sáng ngày 13-9-1964
Thay mặt Hội đồng quân dân cứu quốc.
Trung tướng DƯƠNG VĂN ĐỨC
Thiếu tướng LÂM VĂN PHÁT”
Một vài tờ báo ra số đặc biệt phát hành vào giữa trưa đăng tít to về cuộc đảo chánh và tuyên cáo của Hội đồng quân đân cứu quốc. Tất nhiên, báo bán chạy nhưng so với sự cố ngày 1-11-1963 dư luận không vồn vã bởi nhiều nhất nó cũng ngang cuộc “chỉnh lý” của Nguyễn Khánh, hoặc cứ diệu võ giương oai của của Nguyễn Văn Vĩ thời kỳ Ngô Đình Diệm – Bình Xuyên xung đột. Chưa chắc đã bằng Nguyễn Chánh Thi.
Nguyễn Thành Luân tiếp nhận tin đảo chính với thái độ bực dọc. Tuyên cáo bộc lộ điểm yếu của tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát: một cuộc trả thù trả oán cá nhân.
Kể ra, lực lượng của nhóm đảo chính cũng không mỏng lắm. Ngoài quân của quân đoàn 4, họ còn được một số đơn vị thuộc quân đoàn 3 hỗ trợ. Nhưng họ đã để sổng Nguyễn Khánh, không chiếm bộ tổng tham mưu và bộ tư lệnh không quân: về chính trị, họ không dám kêu gọi dân chúng xuống đường mà dầu kêu gọi vị tất đã có việc xuống đường bởi khẩu hiệu của họ lờ mờ quá – và hạn không chịu đưa tướng Dương Văn Minh lên vị trí “minh chủ”.
Luân biết rằng, anh không thể can thiệp nổi và khi mà sự thất bại của cuộc đảo chính không sao tránh khỏi, anh đành bó tay ngồi nhà, thậm chí e ngại tướng Đức hoặc tướng Phát gọi điện cho anh – nhất định tình báo Mỹ kiểm soát chặt chẽ đường dây liên lạc của anh.
Rồi, điện thoại vẫn reo.
- A lô! Tôi nghe đây...
- Có phải đại tá Nguyễn Thành Luân không?
- Phải...
- Tôi xin tự giới thiệu: người phát ngôn của Hội đồng quân dân cứu quốc...
- Ông cần chi ở tôi?
- Các vị tướng trong Hội đồng mời ông đến Tổng hành dinh...
- Tôi phải trình diện, đúng không? Nếu thế, xin tống đạt văn thư đến.
- Không phải! Đâu có chuyện đại tá trình diện, Hội đồng muốn trao đổi tình hình với đại tá...
- Tôi không có gì để trao đổi cả!
- Có chứ! Tiếp tục những lần các vị gặp nhau mà chưa đi đến kết luận... Cánh nhà binh đã hoàn thành nhiệm vụ, bây giờ, xin đại tá vào cuộc...
- Ông càng nói, tôi càng không hiểu...
- Ông có muốn trực tiếp nói chuyện với tướng Dương Văn Đức hoặc Lâm Văn Phát không?
- Tôi chẳng thấy cần thiết...
- Chẳng lẽ ông quên mối thù cũ?
- Mối thù nào?
- Ông là người thuộc gia đình cụ Ngô...
- Tôi chưa phủ nhận lần nào về mối quan hệ đó...
- Ông là người lãnh đạo của đảng Cần Lao...
- Tôi xin hỏi: Ông là ai?
- Tôi à... Trung tá Lê Đạo...
- Trung tá Lê Đạo? – Luân cau mày – À! Nguyên trưởng an ninh quân đội sư đoàn 13...
- Đại tá có trí nhớ tốt. Bây giờ, đại tá có thể đến chỗ chúng tôi không?
- Như tôi đã trả lời: Không!
- Tại sao? Đây là việc chúng ta cần bàn... Không phải tôi trực tiếp, song đại tá và tướng...
- Xin phép ông nhé!
Luân cắt máy. “Trò khêu khích!”. Tên Lê Đạo này chắc chắn không liên quan đến các tướng đảo chính.
Chuông điện thoại lại reo. Luân mặc kệ. “Tiếp tục trò khêu khích!”. Nhưng hết đợt này đến đợt khác, chuông reo liên tục. Cuối cùng. Luân nhấc máy, giọng cáu:
- Gì vậy?
Và anh cười liền: Dung gọi anh.
- Anh yêu!... Mấy ông tướng trời đất quấy rồi an ninh... Anh không đi đâu chứ?
- Không... Chỗ em yên không?
- Chưa thấy mấy ông đảo chính lò mò tới. Cổng Nha đóng... Đại tá Sanh, tổng giám đốc, điều mấy tiểu đoàn cảnh sát chiến đấu sẵn sàng nổ súng...
- Tốt! Em cẩn thận nhé...
Luân hiểu cú điện thoại của Dung không cốt thông báo những chuyện vặt ấy với anh, mà cốt để cho tình báo Mỹ nghe...
Và, điện thoại lại reo. Lần này John Hing nói chuyện với Luân.
- Hello! Đại tá đang làm gì đấy?
- Đang uống và đọc tiểu thuyết!
- Đọc một tác phẩm phiêu lưu nào đó phải không?
- Nếu thích phiêu lưu thì tôi không ngồi đọc sách!
- Tại sao ông không dự vào trò chơi này?
- Tôi không thích “trò chơi”!
- À, ông thích làm thật...
- Đúng, nếu tôi hành động thì dứt khoát không phải trò chơi...
- OK! Tôi vừa thích trò chơi vừa thích trò thật... Chúc đại tá uống một mình và giải buồn với một nhà văn giàu tưởng tượng.
Nhưng Luân không uống và không đọc. Anh nghĩ cách liên lạc với tướng Lâm, phải cứu vãn tình thế, phải bảo tồn lực lượng. Liên lạc bằng cách nào?
Luân, cuối cùng tìm được lối ra. Anh ngồi vào máy, đánh một thư:
“Anh Lâm,
Việc làm của các anh sẽ mang hậu quả nghiêm trọng cho bản thân các anh. Tôi đề nghị các anh mời tướng Big Minh phát biểu trên đài, kêu gọi không xung đột và nhận đứng ra giải hòa với các điều kiện: không ai được trả thù và quân ở đâu, về đó, cương vị vẫn như cũ. Đã không thể hành động mạnh mà cứ chần chờ, các anh tự trói mình... Mong anh hiểu. Không có hai khả năng. Các anh không dựa được vào dân, không hướng cho binh sĩ các nơi phải làm gì thì đến lúc các anh phải tính mình phải làm gì để không bị mất sạch.”
Thư không ký tên.
Luân gọi điện cho Saplen, nhà báo Mỹ ở khách sạn.
- Ồ! Đại tá... Tôi đang cùng cô Fanfani ngồi chờ tin... Cô Fanfani đánh cuộc với tôi là đại tá không ra khỏi nhà. Đúng không? Tôi muốn phỏng vấn đại tá về tình hình hiện nay... Thú thật, tình hình hơi khó hiểu...
- Phỏng vấn? Danh từ to tát quá. Tuy nhiên, tôi có thể nói vài suy nghĩ cá nhân, nếu ông bằng lòng với sự vô vị của những ý kiên mà ông sẽ nghe...
- Tôi sẽ đến! Và, tôi không rủ Fanfani cùng đi để bài của tôi thuộc loại “exclusive” (1)...
- Tôi chỉ ngại ông thất vọng. Một bình luận viên tồi về sự kiện cũng tồi tương ứng!
Saplen đến. Họ quen nhau và Luân hiểu nhà báo Mỹ này chơi thân với các tướng Việt Nam Cộng hòa.
- Tôi muốn tránh một tai họa! – Luân nói thẳng.
- Tôi cũng cảm giác các bạn tôi chọn không đúng thời cơ. – Saplen đồng tình – Và, hành động rụt rè quá...
- Rụt rè mà thiếu khôn ngoan...
- Rất đúng. Mấy gã CIA quen với tôi nhún vai: CIA chờ cái gì dữ dội hơn...
- Tướng Westmoreland chưa tỏ thái độ...
- Ông ta đang xem cuộc đua ngựa để chọn con ngựa mà ông tính có thể đánh cuộc không bị thua...
- Tôi cho rằng đại sư Taylor cũng như thế...
- Tất nhiên!
Luân trao mảnh giấy đánh máy cho Saplen, dịch cho ông hiểu và nhờ ông chuyển tận tay tướng Lâm.
- Được thôi. Tôi là nhà báo. Tôi xin gặp Hội đồng để lấy tin.
Mãi đến 2 giờ chiều, đài phát thanh quân đội mới đọc một lệnh ngắn của đại trướng Trần Thiện Khiêm: Các binh chủng không được theo phe đảo chính.
Sự chần chờ đó còn sớm hơn phát biểu của tướng Nguyễn Khánh trên Đà Lạt: 4 giờ 30. Tướng Khánh dùng từ phản loạn để chỉ hành động của tướng Đức và Phát.
Vợ chồng Luân ăn cơm chiều như thường lệ. Không đợi vợ báo, Luân cũng biết sinh hoạt đường phố bình thường, trừ các xe thiết giáp đậu tại các ngả giao thông quan trọng mà binh sĩ rõ ràng chẳng hiểu họ đang làm gì...
Báo buổi chiều đăng cuộc phỏng vấn của tướng Dương Văn Đức lẫn lệnh của tướng Khiêm và phát biểu của tướng Khánh.
- Thật phí! – Luân buôn thõng câu nói mà Dung hiểu.
Tờ báo trước mặt họ. Dung đọc các câu trả lời của tướng Dương Văn Đức với nhà báo Mỹ Saplen.
Saplen: Thưa trung tướng, đây là một cuộc đảo chính?
Tướng Đức: Không!
Saplen: Thế nó là cái gì?
Tướng Đức: Một cuộc biểu dương lực lượng...
Saplen: Mục đích của cuộc biểu dương lực lựong?
Tướng Đức: Để bảo vệ uy tín của chính phủ và quân đội...
Saplen: Tại sao phải bảo vệ uy tín bằng cách kéo quân về thủ đô, chiếm các cơ quan và thôi, không làm gì cả?
Tướng Đức: Uy tín chính phủ và quân đội xuống thấp do tướng Nguyễn Khánh dàn dựng các tấn tuồng mà mọi thứ trở thành đồ chơi của ông ta. Chúng tôi phải cho ông ta biết rằng quân đội là quân đội, rằng chúng tôi không phải trẻ con, rằng chúng tôi có thể thay đổi tình thế nếu ông ta không biết thân phận minh. Nếu chúng tôi đảo chính thì đã bắt ông ta rồi...
Saplen: Nhưng các ông tuyên bố giải tán chính phủ, tự xem Hội đồng cứu quốc như cơ quan quyền lực và đòi tướng Khánh phải ra trình diện...
Tướng Đức: Thời giờ này tuyên cáo của chúng tôi vẫn giữ nguyên hiệu lực!
Saplen: Ngoài ra, các ông còn có ý định gì nữa?
Tướng Đức: Chúng tôi phản đối việc trả tự do cho các tướng Kim, Đôn, Xuân, Đính...
Saplen: Các ông đã bắt các tướng ấy?
Tướng Đức: Chưa!
Saplen: Chưa, có nghĩa là sẽ bắt hoặc có thể bắt?
Tướng Đức: Khi cần...
Saplen: Trung tướng có thấy mâu thuẫn trong lập luận của trung tướng không? Tướng Khánh bắt giam các tướng có công lật đổ ông Diệm, trung tướng kết án tướng Khánh là bội phản, mưu mô và đồng thời phản đối sự trả tự do cho các tướng bị tướng Khánh bắt... Vậy, Hội đồng cứu quốc có thái độ như thế nào với tướng Big Minh?
Tướng Đức: Chúng tôi tôn trọng tướng Dương Văn Minh.
Saplen: Nếu đòi hỏi các ông không được tướng Khánh thỏa mãn, các ông sẽ làm gì?
Tướng Đức: Chúng tôi bắt buộc ông ta phải thỏa mãn!
Nhà báo Mỹ không bình luận thêm một đoạn nào, song cuộc phỏng vấn đủ để Luân thở dài liên tục...
- Jones Stepp có gọi điện cho anh không? – Dung hỏi.
- Không... Hình như ông ta và Saroyan đi vắng.
- Em quên, Saroyan báo là họ đi nghỉ đâu đó... Nhưng nếu có ở nhà, Jones Stepp cũng chưa lên tiếng đâu.
Luân gật đầu: Người Mỹ chờ liều lượng mà quân đảo chính cho thấy. Cuộc đảo chính cần cho họ ở một mức độ nhất định.
- Tận bây giờ, một ngày qua rồi, chính phủ Mỹ, đại sứ quán Mỹ không đưa ra lời bình luận nào. Tính chất khá bình thường đó nói lên nhiều điều... Ở Tổng nha, đại tá Sanh giàn giá thế thôi... Kiểu đảo chính Thái Lan mà!
- Nhưng, em nên nhớ, hậu trường đang bận rộn. Lê Đạo thăm dò anh...
- Lê Đạo nào?
- Em quên vụ sư đoàn 13, vợ chồng Phan Cao Tòng sao?
- À... Gã báo cáo láo trận Trảng Sụp...
- Gã hỏi anh sao không nhân thời cơ này trả thù cho ông Diệm và khôi phục ảnh hưởng đảng Cần Lao.
- Gã này không dính đám đảo chính.
- Vậy mà gã mời anh đến đại bản doanh của tướng Đức!
- Gã phịa đấy! Có khi từ cơ quan tình báo Mỹ, gã gọi anh...
- Chẳng “có khi” gì cả, đúng là gã ngồi trong phòng Phân cục tình báo nói chuyện với anh. Bởi vì sau đó. John Hing nói chuyện với anh...
- Anh Lâm chắc hiểu ý anh, song em nghĩ là anh ấy không làm được điều cần làm. Không có hai khả năng. Đúng. Các anh vẫn có thời gian và vẫn còn thời gian, nhưng em cảm thấy các cố vấn Mỹ kèm cả tướng Đức lẫn anh Lâm chặt quá... Họ chỉ cần kêu gọi dân chúng một tiếng, chỉ cần bám chặt lý do khôi phục ý nghĩa của cuộc lật đổ ông Diệm, tố cáo thật đậm hành động cướp công của Khánh thì sự thể khó mà biết sẽ chuyển biến ra sao...
Luân ngó vợ, buồn rầu:
- Giá anh hay em ở trong bộ tham mưu của họ...
- Người của ta hẳn quan hệ với anh Lâm, song...
- Ảnh hưởng gia đình có giới hạn. Anh Lâm chưa đủ hiểu biết để hành động có lợi nhất. Anh chỉ mong các anh ấy đừng bộc lộ hết lực lượng. Dù sao, một bộ phận Mỹ bày ra trò này, tự nó mang đến một số hậu quả khó tránh, tức sự rạn nứt trong quân lực, trong các tướng, thêm nhiều người bất mãn. Đó là việc mà anh và em phải nghiên cứu kỹ.
Trời tối hẳn, xe cộ ngoài đường vẫn không thưa. Đài phát thanh Sài Gòn tiếp tục đọc tuyên cáo của Hội đồng cứu quốc và đài phát thanh quân đội tiếp tục đọc lệnh của tướng Khiêm và tuyên bố của tướng Khánh, đài nào cũng chen kẽ bằng các bài hành khúc.
Dung tìm đài VOA. Đài đưa tin ngắn về tình hình Sài Gòn: một vụ chống đối tướng Nguyễn Khánh. Sau tin ngắn đài VOA đọc cuộc phỏng vấn tướng Dương Văn Đức của nhà báo Saplen có minh họa bằng vài đoạn văn ghi âm và cuối bản tin, bài viết của Saplen về Luân:
“Khi nghe tin đảo chính, một trong những người mà tôi muốn gặp ngay là đại tá Nguyễn Thành Luân. Tại sao ông ta không ít nhất cũng là thành viên trong ban lãnh đạo đảo chính? Và nhiều bạn nhà báo lẫn giới ngoại giao cùng sống chung trong khách sạn với tôi đo đạc tầm vóc của các sự kiện giật gân bằng đơn vị đo đơn giản: Đại tá Luân tham gia hay không? Một cô nhà báo, bạn thân của đại tá cam đoan rằng đại tá đang đứng ngoài vòng. Và, chúng tôi mất hứng thú.
Từ khách sạn Majestic, xe tôi qua vài đường phố lớn, binh sĩ đảo chính có vẻ làm chủ không khó khăn gì thủ đô Nam Việt, mặt khác, nếu đài không đọc tuyên cáo của quân đảo chính, tôi cảm nhận thành phố thanh bình hơn bao giờ hết! Những cô gái áo dài tha thướt hoặc quần jean áo pull cười khúc khích mỗi khi họ nghe tiếng huýt sáo trêu chọc từ trên các xe thiết giáp...
Đại tá Luân đón tôi tại nhà riêng, trong bộ thường phục. Có vẽ ông quan tâm mấy chậu hoa hồng hơn là cuộc đảo chính.
Với nụ cười hơi chế nhạo, ông ta hỏi tôi:
- Nên gọi sự việc đang diễn ra bằng cái tên gì cho chính xác?
Tôi không thể thực hiện điều tôi muốn vì ông Luân bàn quang.
- Tại sao? – Tôi hỏi ông.
- Tại vì tôi không phải là con bù nhìn múa may theo người điều khiển...
- Nếu ông chủ xướng và chủ động thì sao?
Ông lại cười:
- Câu hỏi quá sớm. Tôi không thể trả lời khi những điều kiện bắt buộc tôi hành động chưa hiện ra...
- Liệu chúng có thể hiện ra gì không?
Đại tá nhún vai:
- Tôi chưa bao giờ hành nghề thầy bói!...”
... Dung cười thật vui:
- Anh nói với Saplen như thế?
- Ông ta tưởng tượng ra thôi... Nhưng, chúng ta phải cảm ơn ông ta.
*
Cuộc đảo chính kết thúc, quân của tướng Đức rút khỏi thành phố. Không vấp phải trở ngại gì khi vào cũng như ra. Bấy giờ, Bộ ngoại giao Mỹ mới cho phát bản tuyên bố ngắn gọn: chính phủ Mỹ vẫn ủng hộ chính phủ Nguyễn Khánh – một tuyên bố che giấu sự chiếu lệ của nó.
Hai ngày sau, Nguyễn Khánh về Sài Gòn, ra lệnh điều tra cuộc đảo chính và cách chức trung tướng Dương Văn Đức, thiếu tướng Lâm Văn Phát, thiếu tướng Dương Ngọc Lắm, đại tá Huỳnh Văn Tồn, trung tá Dương Hiếu Nghĩa cùng một số người khác. Vài nhóm sinh viên tập họp dưới khẩu hiệu: Đả đảo bọn Cần Lao ngóc đầu dậy.
Tuy mọi việc có vẻ nhanh chóng đi vào quên lãng, Nguyễn Khánh lại cảm nhận mối đe dọa vị trí của anh ta tăng lên. Trong hàng ngũ sĩ quan cấp tướng, khi Khánh từ Đà Lạt về, không ai tỏ ra vui mừng, hình như họ bực tướng Dương Văn Đức đã do dự...
Biến cố của tướng Dương Văn Đức vừa tạm lắng – quyết định cách chức một loạt tướng và sĩ quan cao cấp mang ý nghĩa hình thức nhiều hơn, bởi vì không ai trọng bị bắt và có lẽ không dễ bắt họ nếu tướng Khánh không muốn đưa cuộc đảo chính thẳng thừng mà lần này, chưa hẳn Mỹ do dự bật đèn từ vàng sang xanh – thì cú đánh thứ hai khá nặng tay vào quai hàm tướng Khánh: Lực lượng đặc biệt người Thượng nổi loạn ở đồn Sapar.
Lực lượng đặc biệt một đồn trên cao nguyên Ban Mê Thuột xa xôi kia lại gây hốt hoảng cho Nguyễn Khánh hơn cả một vài dòng thời sự mang tầm vóc lớn: Hội đồng nhân dân cứu quốc thành lập ở Huế, nói là để ưu tiên bài trừ dư đảng Cần Lao, đòi cách chức Viện trưởng đại học Cao Văn Luận nhưng bên trong có trời mới biết ý định thật sự và lâu dài của họ là gì; trận bão lụt tệ hại hủy hoại cả dải miền Trung từ Huế, Đà Nẵng đến Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, nước dâng cao và cuốn sạch mùa màng, nhà cửa, vườn tược... gây đổ nát và giết chết nhiều người; vịnh Bắc Bộ sôi sục trở lại với các chạm trán giữa tàu tuần Bắc Việt và chiến hạm Mỹ; chiến sự vụt gia tăng khắp các vùng v.v...
Nguyễn Khánh có lý do để hốt hoảng. Trại Sapar do người Mỹ phụ trách, nói trắng ra, do CIA chi tiền và cử huấn luyện viên; họ chiếm đài phát thanh, nêu yêu sách tự trị cho người Rađhê trên một vùng rộng và để làm áp lực cho yêu sách, họ giữ 60 con tin là sĩ quan người Kinh.
Mối nguy hiểm không phải ở chỗ người Thượng nổi loạn, ở chỗ chiếm đài phát thanh Ban Mê Thuột, thậm chí yêu sách tự trị, càng không phải sinh mệnh 60 sĩ quan. Thêm một bằng chứng nữa về thái độ khó hiểu của người Mỹ đối với Nguyễn Khánh dù cho chỉ mới 60 ngày trước đó, Bộ Ngoại giao Mỹ nhắc lại cam kết ủng hộ chính phủ Nguyễn Khánh.
Trưa ngày 20, điện khẩn cấp ở Tư lệnh vùng 2 báo về sự kiện đồn Sapar đến tay Nguyễn Khánh. Ngôn ngữ của điện mật bao giờ cũng ngắn gọn: Vào 6 giờ 10 phút, lực lượng đặc biệt thuộc trại Sapar bắt giam 60 sĩ quan người Kinh trong lễ chào cờ sáng. Sau đó, họ chia làm nhiều tốp, trang bị súng tiểu liên, sử dụng xe bọc thép, chiếm các ngả ra vào thị xã và trung tâm thị xã, chiếm đài phát thanh, công bố yêu sách thành lập vùng tự trị Rađhê, mang tên trung tá Y Nouth, tư lệnh lực lượng đặc biệt. Quận trưởng Buôn Hồ Ymơ Eban chắc chắn hậu thuẫn cho nhóm này. Đại tá Đoàn Chí Khoa, chỉ huy bảo an tỉnh, người Chàm, im lặng. Xin cho lệnh ngay...
Nguyễn Khánh lặng người trước bức điện. Tướng tư lệnh vùng đóng ở Pleiku, hẳn nhận tin của một trung đoàn nào đó từ Ban Mê Thuột...
Tướng Trần Thiện Khiêm điện thoại cho Khánh – tin của Bộ quốc phòng không hơn báo cáo của vùng II lấy một chi tiết.
- Anh ra lệnh gì chưa? – Khánh hỏi.
- Tôi chờ ý anh... - Khiêm trả lời.
- Anh đã thông báo với tướng Westmoreland chưa?
- Đã... Và có người thông báo trước cho Bộ chỉ huy Mỹ rồi...
- Ai?
- Tướng Nguyễn Văn Thiệu!
- Lạ quá, sao ông Thiệu biết trước cả anh và tôi?
- Chỉ có ông Thiệu mới trả lời nổi câu hỏi đó!
- Bây giờ ta phải làm gì?
- Tôi chờ ý anh... - Khiêm lập lại.
- Tôi muốn biết ý anh...
- Tôi chỉ có thể nêu ý của tôi sau khi nghe ý của tướng Westmoreland...
- Tướng Westmoreland đã có ý kiến gì chưa?
- Ông ấy bảo đợi báo cáo của trung tá James Casey, người trực tiếp phụ trách đoàn sĩ quan huấn luyện Mỹ...
- Tôi phải làm gì?
- Anh hỏi một câu mà anh thừa biết tôi không thể trả lời vì anh chớ không phải tôi là thủ tướng.
- Hay là tôi liên lạc với đại sứ Taylor?
- Đó là chuyện của anh...
- Trước mắt, anh điện cho tư lệnh vùng, khoan có hành động gì cả...
- Nếu quân đội bị tấn công thì sao?
- Cố gắng tránh nổ súng...
- Tôi sẽ truyền đạt ý của anh như là mệnh lệnh. Có cần cho máy bay trinh sát thu nhập tình hình không?
- Tùy anh. Nhưng đừng gây căng thẳng... Tình báo quân sự của ta không nắm được chút gì triệu chứng vụ này?
- Chẳng có... Chính anh vừa rời Đà Lạt cách nay ba hôm thôi...
- Thôi được...
Khánh xin nói chuyện với đại sứ Taylor. Vẫn cô thư ký đỏng đảnh tiếp điện và vẫn rơi vào đúng giờ Taylor đang chơi cờ...
---
(1) độc nhất
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #40  
Old 12-09-2012, 11:54 AM
Helen's Avatar
Helen Helen is offline
Super Moderator
 
Tham gia ngày: Jan 2007
Bài gởi: 3,082
neww Ván Bài Lật Ngửa - Phần 9 - Chương 17, 18

Ván Bài Lật Ngửa


Phần 9 - Chương 17


Luân nghe điện thoại của Dung: Anh rà đài Ban Mê Thuột, có việc đấy!
Lọc qua các làn sóng, cuối cùng rồi Luân nghe được đài Ban Mê Thuột. một người nào đó đang đọc một đoạn bằng tiếng Rađhê, Luân không hiểu. Anh chờ. Hết phần tiếng Rađhê, sau một bản hành khúc ngắn, đài phát tin tiếng Anh. Tất nhiên, đây là điều khá lạ lùng – chưa bao giờ đài địa phương có buổi phát tiếng Anh. Giọng xướng ngôn viên đúng là người Rađhê, toàn văn bản tuyên cáo của “lực lượng tự trị người Rađhê ở Nam cao nguyên Trung phần”:
“Dân tộc Rađhê sinh trưởng và làm chủ vùng cao nguyên Đăklăk từ rất xa xưa. Thế nhưng, mảnh đất do tổ tiên chúng ta khai phá thu hẹp dần, chúng ta phải đi sâu vào những nơi không có điều kiện sống, dân tộc chúng ta bị việt vong. Chế độ Ngô Đình Diệm bóc lột chúng ta. Chế độ của ông Nguyễn Khánh chẳng tốt đẹp gì hơn. Người Rađhê không thiếu trí thức, không thiếu sĩ quan có tài, vậy mà chúng ta luôn bị chèn ép. Người Mỹ đã kịp đến với chúng ta. Họ viện trợ cho chúng ta tất cả, gạo, muối, vải, máy điện, thuôc men. Nhưng chúng ta nhận rất ít sự viện trợ rộng lượng ấy. Các vị linh mục Tin lành của chúng ta không được tự do đi lại để giảng đạo. Người Rađhê trong quân đội, gan dạ và mưu trí, được huấn luyện tốt về làm tham mưu và chỉ huy, chưa ai được đề bạt cương vị cao, chỉ là lính đánh thuê cho người Kinh.
Phải chấm dứt nỗi bất công trên.
Chúng tôi, sĩ quan và binh sĩ Sapar, thể có Chúa Trời chứng giám, quyết không tiếc máu của mình, đòi chính phủ ông Nguyễn Khánh phải tiến hành thương lượng, trong đó, phải thỏa mãn đòi hỏi thiêng liêng của dân tộc Rađhê là để cho người Rađhê làm chủ vùng đất Đăklăk là xứ sở của mình, trong khuôn khổ liên bang với Việt Nam Cộng hòa. Quan cai trị nơi đây phải là người Rađhê và do hội đồng tự trị Rađhê đề cử và bổ nhiệm, quân đội người Rađhê thì sĩ quan phải là người Rađhê và chỉ hoạt động trên địa bàn của tỉnh Đăklăk, mở trường đại học cho người Rađhê.
Chúng tôi tin rằng các dân tộc bạn Sêđăng, Bana, Mơnông v.v... ủng hộ chúng tôi bởi vì chúng tôi đấu tranh cho cả quyền lợi các bạn, chúng tôi muốn luôn luôn là thân hữu của người Kinh và long trọng tuyên bố sẽ không bao giờ có một hành vi kỳ thị nào với các bạn trên địa bàn Đăklăk.
Chúng tôi kêu gọi người Mỹ, ân nhân lớn của chúng tôi, ủng hộ yêu sách khiêm tốn mà rất chính đáng trên. Chúng tôi kêu gọi cộng đồng thế giới chú ý đến số phận của chúng tôi. Chúng tôi kêu gọi Hội thánh Tin Lành thế giới và nước Mỹ theo lời dạy của Chúa cao cả đứng bên cạnh chúng tôi.
Chúng tôi tạm giữ 60 sĩ quan và không hề ngược đãi họ, để đề phòng sự tráo trở của chính phủ ông Nguyễn Khánh
Đăklăk, ngày 20 tháng 9 năm 1964
Trung tá Y Nouth”
Sau phần tiếng Anh, đài phát thanh tiếng Pháp, một số ngữ có lẽ là Sêđăng, Bana – Luân không rõ – rồi tiếng Việt.
“Màn này vừa hạn, màn kia đã vén... Tấn bi kịch quả dồn dập”. Luân trầm ngâm với các suy nghĩ.
Hôm qua, thiếu tướng Lâm Văn Phát gửi cho Luân một thư, công nhận việc làm của anh ta ấy nửa vời, bỏ lỡ thời cơ nhưng cho biết “đây chỉ là một keo, một khúc dạo đầu” hy vọng sau này sẽ bàn kỹ với Luân, “trên một tầm chính trị rộng hơn, với yêu cầu liên quan đến vận nước chứ không chĩa vào vài cá nhân, nhất là loại cá nhân thực tế sẽ bị Mỹ loại bỏ chẳng bao lâu nữa”
- Anh ta đĩnh đạc dần! – Luân kết luận và đốt bức thư của Lâm.
Luân cũng được thư của Nguyễn Thành Động:
“Tụi ông Đức, ông Lâm “chọc cứt không nên lỗ”, “vừa địt vừa run” thì ra cái con mẹ gì! Trong đội ngũ lại tạp nham đủ thứ tào lao... Nói thiệt, ai cũng trông chờ đại tá! Làm một phát ra hồn coi! Hễ phất cờ thì kêu gọi thanh niên xuống đường, mà cũng mí mí cho thấy mình không ưa Mỹ... Thằng Động này bàn những việc này với đại tá chẳng qua là đụng đâu nói đó, đại tá là sư phụ của tụi này. Vừa gặp thằng Phụng nó chửi ông Đức, ông Lâm tàn tệ...”
“Vẫn còn lực lượng, vẫn còn người dám hành động. Động bạt mạng song có suy nghĩ...”
Luân đang đốt thư Động thì chuông điện thoại reo: Thủ tướng Nguyễn Khánh mời Luân vào ngay Phủ Thủ tướng.
Nguyễn Khánh niềm nở khác thường, biểu lộ ngay trong cái bắt tay Luân.
- Anh Luân này, có việc cần anh đây... - Khánh mời Luân ngồi và vào đề ngay.
Việc mà Khánh cần, Luân đoán khi nhận được điện thoại, chắc chắn là vụ lực lượng đặc biệt Sapar.
Quả vậy!
- Anh đã nghe qua vụ nổi loạn ở Sapar chưa? – Khánh vừa hỏi vừa đùa về phía Luân mấy bức điện.
- Tôi nghe đài Ban Mê Thuột!
- Vậy sao? – Khánh kêu thảng thốt – Tôi chưa nghe... Nó nói giống gì?
Luân tóm tắt tuyên cáo của Y Nouth.
- Lớn chuyện đa! – Nguyễn Khánh nói giọng rầu rĩ – Thằng Y Nouth là thằng nào?
- Tôi chưa biết, song cũng dễ biết thôi. Nếu trung tướng cần, cho tôi vài mươi phút...
- Cần chớ! Anh gọi điện cho Tổng ủy tình báo hay Bộ quốc phòng, hay Tổng nha cảnh sát?
- Không, tôi gọi cho James Casey... Y đang ở Ban Mê Thuột.
- Liên lạc với Ban Mê Thuột chậm. Có nơi nào mau hơn không?
- Có... Xin phép tôi dùng điện thoại của văn phòng...
- Anh dùng điện thoại của tôi, ngay đây...
- Cám ơn trung tướng...
- Anh đừng xưng hô thủ tướng, trung tướng với tôi. Ta là bạn của nhau mà...
- Hello! Nguyễn Thành Luân đây... Xin gặp thiếu tướng Jones Stepp... May quá! Chào tướng quân...
Năm phút sau, Luân gọc ghi chép trong tờ giấy cho Khánh nghe.
- Y Nouth sinh năm 1931, người Buôn Hồ, dân Rađhê. Tốt nghiệp trung học ở Sài Gòn, theo lớp đào tạo sĩ quan ở Đà Lạt khóa 4, ra trường năm 1955. Năm 1957, bổ túc ở Okinawa về pháo binh. Năm 1958, tu nghiệp ở căn cứ Clack, Phi Luật Tân, tập sự chống du kích vùng núi đến năm 1961. Hàm đại úy từ 1959, năm 1961 thăng thiếu tá, cuối năm 1963, trung tá, biệt phái làm chỉ huy trưởng trường đào tạo lực lượng đặc biệt Sapar, quan hệ chặt chẽ với James Casey, Ymơ Eban, Đoàn Chí Khoa, Kossem của Miên. Có ba vợ, một người Rađhê, một người Việt lai Âu và một người Hoa, theo đạo Tin Lành truyền nối nhiều đời. Bố của Y Nouth là tộc trưởng một tộc thanh thế ở Buôn Hồ. Vợ người Hoa của Y Nouth đang ở Chợ Lớn, chủ hiệu buôn vàng lớn. Tất cả Y Nouth có 6 con, bốn trai hai gái... Nói tiếng Pháp giỏi hơn tiếng Anh.
- Cám ơn anh! Anh hỏi thì văn phòng của tướng Jones Stepp mới hé, tôi hỏi thì chớ hòng!
Giọng Khánh vừa rầu rĩ vừa pha chút ganh tị:
- Người Mỹ họ nắm sĩ quan của ta chặt quá!
Và, Luân hơi bỡ ngỡ khi Nguyễn Khánh gọi điện cho Bộ Tổng tham mưu:
- Nguyễn Khánh đây, cho tôi gặp sĩ quan phụ trách nhân sự. Này cho tôi biết về trung tá Y Nouth, chỉ huy trưởng lực lượng đặc biệt Sapar ở Buôn Mê Thuột... Không biết gì hết à? Tên lạ hoắc à?
Khánh dằn máy, trở lại chỗ ngồi, bóp trán:
- Hỏi thật anh, nếu không có nguồn tin của tình báo quân sự Mỹ, anh đã hiểu gã Y Nouth này chưa?
Khánh hỏi Luân theo kiểu sát hạch.
- Tất nhiên, với nhiệm vụ thanh tra, tôi ít nhiều biết về các sĩ quan từ cấp úy trở lên... Nhưng, hồ sơ của Mỹ đầy đủ hơn...
- Thôi, ta sẽ bàn sau việc lập hồ sơ các sĩ quan. Bây giờ, tôi muốn trao đổi với anh về cách thương lượng với Y Nouth... Anh từng cùng Ngô Đình Nhu đi thuyết Ymơ Eban... Ta nên bắt đầu từ đâu?
- Anh quyết định thương thuyết? – Luân hỏi và đổi cách xưng hô.
- Chớ còn con đường nào khác? Mỹ muốn vậy.
- Điều kiện ra sao?
- Tôi cũng chưa biết... Điều kiện của Y Nouth thì đã rõ...
- Anh có quyền thỏa mãn các yêu sách của họ không?
Khánh không trả lời Luân, anh ta như ngó vào chỗ mông lung. Câu hỏi của Luân đánh trúng tâm trạng của Khánh, người cách đây vài hôm hò hét cách chức một loạt tướng tá, đột nhiên thấy bơ vơ.
- Anh có cho rằng những vụ liên tiếp xảy ra là dấu hiệu của một cái gì đó? – Khánh hỏi lại Luân.
Luân không thường gặp Khánh và các lần gặp Khánh lại luôn ở trong tư thế pha một ít kịch, cho nên lần đầu Luân thấy Khánh đúng là Khánh. Khánh tránh trả lời Luân đặc biệt chữ “có quyền” mà Luân dùng. Nếu Khánh từ chối thương lượng, Mỹ sẽ bảo: Đấy, ông ta không thể đoàn kết quốc gia, yêu cầu sinh tử để chống Cộng hiệu quả. Nếu Khánh thỏa thuận theo điều kiện của Y Nouth thì vẫn không tránh khỏi một chẳng kém nghiệt ngã và vẫn của người Mỹ - của phán xét khác, người Mỹ song được ai đó phát ngôn: Đấy, ông ta bán rẻ lãnh thổ quốc gia, làm suy yếu tiềm lực chống Cộng, làm tan nát kỷ cương quân đội...
- Về nghĩa nào? Tôi muốn hỏi anh cái dấu hiệu kia. – Luân làm ra vẻ muốn sáng tỏ ý nghĩ của Khánh.
- Ví dụ, những tiết mục trình diễn theo một chương trình lập sẵn...
- Tôi chưa dám đoán vội vàng... Nhưng theo cái nghĩa tình hình xấu khuyến khích bao nhiêu đột biến thì tôi cho đây là một trong các dấu hiệu đáng lo ngại.
- Nghĩa nào cũng không ổn đối với chúng ta phải không?
Luân không gật đầu. Chữ “chúng ta” của Khánh hoàn toàn không chính xác – trong phòng chỉ có hai người và đại danh từ “chúng ta” không phản ánh nội dung chật chội của nó.
Dù sao, Luân cũng rút được một nhận xét bổ ích: Khánh dao động.
- Anh có quen má Bảy của tôi không? – Khánh lại hỏi một câu không ăn nhập với việc hai người đang trao đổi.
Tất nhiên Luân biết tiếng nữ nghệ sĩ lẫy lừng Trương Phụng Hải, tức cô Bảy Phùng Há và biết đối với quan hệ gia đình của Nguyễn Khánh với nữ nghệ sĩ này.
- Quen thì không, nhưng ai mà không biết cô Bảy – Luân trả lời đẩy đưa. Anh muốn tìm nguồn gốc thật sự câu hỏi không vô tình của Khánh.
- Tôi mới thăm bà... .. Bà khuyên tôi nên cẩn thận...
Cánh cửa hé từ từ.
- Cẩn thận như thế nào? – Luân hỏi.
- Bà không nói... Anh chắc biết tôi xem bà như mẹ. Phải có nguyên có gì đó bà mới nhắc tôi.
- Tại sao anh không hỏi kỹ?
- Bà lắc đầu: con lớn rồi, con tự suy nghĩ. Chiến tranh chỉ làm đồng bào mình đau khổ mà thôi... Bà bảo có bấy nhiêu.
Luân chợt bừng sáng trong đầu: Nữ nghệ sĩ Phùng Há quan hệ rộng, bạn bè nhiều, thân nhất có các ông Năm Châu, Ba Vân, Ba Du, Tám Danh, Tám Củi, bà Thanh Loan, ông Tư Trang... Các ông Năm Châu, Ba Vân đang ở Sài Gòn, họ chắc chắn không phải người xấu nếu không nói họ liên quan đến cách mạng từ rất lâu, trong hồ sơ Tổng nha, Năm Châu bị liệt vào danh sách “Cộng sản nằm vùng”. Các ông các bà khác hoặc ở Hà Nội, hoặc trong thu giải phóng. Kể thêm, còn ông Chín Châu, Ba Thừa Vĩnh, Triệu Vân...
- Ta trở lại vụ Sapar... - Luân bình thản trao đổi với Nguyễn Khánh. Thâm tâm, Luân tự trách mình đã quên môt khả năng có thể gọi là khá độc đáo để tiếp cận tướng Khánh.
- Chúng ta lên Ban Mê Thuột, sẽ tính toán tại chỗ.
- Tôi chưa biết tôi sẽ cùng đi với anh...
Nguyễn Khánh cười:
- Tôi dùng chữ “chúng ta” giữa lúc chỉ có mỗi tôi và anh. Anh không đi, làm sao “chúng ta” được.
- Nhưng từ đầu tới giớ, chưa bao giờ anh nói điều đó với tôi.
- Thôi mà! Anh cần gì tranh chấp thủ tục hình thức... Anh sửa soạn, ta lên đường trong ngày hôm nay...
- Đi bằng máy bay?
- Trực thăng...
Rồi mặt Nguyễn Khánh dàu dàu:
- Trực thăng riêng, đảm bảo...
- Tôi hỏi để biết chứ không phải sợ máy bay nổ như ở Đà Nẵng đâu! – Luân nói, hơi hài hước.
- Anh không sợ, còn tôi, tôi sợ... Nói thiệt với anh, chưa bao giờ tôi ớn các cú đâm lén bằng lúc này.
Theo Luân, Nguyễn Khánh linh cảm một số phận đen tối đang chờ anh ta. Không ít tiền lệ ở Việt Nam về lối “vắt chanh bỏ vỏ” của Mỹ. Nhưng, mặt khác, Khánh lại là con người háo danh, hám địa vị, thích quyền uy...
- Tại sao anh đích thân đi mà không cử một tướng khác?
- Tôi phải đi! – Khánh gằn giọng – Tôi phải cho mọi người biết tôi đủ sức giải quyết các vụ phức tạp... Chính tôi, chứ không phải ai khác!
Khánh vừa nói vừa trỏ ngón tay cái vào ngực mình. Luân bông nhớ Tôn Thất Đính, trong cuộc họp báo sau khi lật đổ Ngô Đình Diệm đã có một cử chỉ y hệt như vậy.
- Vụ Ymơ Eban, chính Ngô Đình Nhu lên tận sào huyệt của Fulro kia mà!
Khánh quả quyết. Tất nhiên, Luân hiểu Khánh chẳng có gì cả so với Nhu - Nhu gặp Ymơ Eban vì lý do chính trị chung chứ không để tự quảng cáo: sau này, gần như Nhu không một lần nhắc “cuộc đi săn” ở bảng làng heo hút kia.
*
Trực thăng hạ cánh trong tiếng gầm rú của hàng tốp máy bay chiến đấu và trực thăng bảo vệ; mặt đất được canh phòng nghiêm ngặt. Tướng tư lệnh vùng, tỉnh trưởng đón Nguyễn Khánh và hộ tống về biệt thự.
Dọc đường, Luân không thấy quân của Y Nouth. Thật ra, lực lượng Đặc biệt đã rút về trại, vẫn con tin và chiếm đài phát thanh.
Nghe báo cáo tình hình xong, Khánh chỉ thị:
- Giành lại đài phát thanh nhanh gọn!
Cũng chẳng nổ súng, lực lượng đặc biệt “trao trả” đài phát thanh, lên xe nổ máy, chạy xuyên thị xã về trại, không tỏ vẻ hối hả mà cốt phô trương thanh thế.
Khánh mất bình tĩnh:
- Bao vây trại Sapar, cắt mọi nguồn tiếp tế, cả nước và điện...
Lần này lệnh của Khánh không được thi hành.
- Tôi nhắc lại: bao vây... - Khánh bật dậy, thét.
- Thưa trung tướng, trong trại có đến 30 sĩ quan Mỹ... Không thể thực hiện các điều đó.
Khánh giống cầu thủ mất đà khi lao theo bóng, ngồi phịch xuống ghế. Bao nhiêu hào khí bốc hơi trong nháy mắt.
- Vậy thì phải làm sao? – Khánh hỏi, yếu ớt.
Không ai trả lời.
- Anh Luân có ý kiến gì?
Luân như đắn do một lúc:
- Tôi xin phép vào trại Sapar, gặp trung tá James Casey.
- Muốn gặp trung tá James Casey thì không cần vào Sapar. Chiều nào ông ta cũng uống rượu ở bar và đêm ông ngủ tại một biệt thự gần ngay đây thôi... Có lẽ, bây giờ, ông đang chơi bài hay uống rượu tại biệt thự. - Tỉnh trưởng Đăklăk báo cáo.
- Cho tôi nói chuyện với trung tá James Casey, nếu ông ở nhà... - Luân đề nghị.
James Casey ở nhà.
- Tôi muốn gặp trung tá! – Luân nói và cả phòng đều nghe.
- Chào đại tá, người bạn quý của tôi... Nhưng vì việc công hay tư?
- Tất nhiên, tôi lên đây với trung tướng, thủ tướng chính phủ...
- Nghĩa là vì việc công. Nếu thế, tôi xin tiếp đại tá trong trại Sapar.
- Bao giờ?
- Tùy đại tá...
- Tôi sẽ thông báo trong vòng vài phút...
Luân che máy, thuật lại lời của James Casey.
- Họ muốn cái gì? – Khánh hỏi.
Luân nhún vai.
- Anh hẹn chiều nay đi... Thử coi. Tôi nghĩ chẳng có gì nguy hiểm đâu.
Luân trả lời James Casey.
Chiếc xe Jeep chở Luân đến cổng doanh trại Sapar, cách thị xã 4 cây số. Doanh trại trên ngọn đồi, bao bọc chiến hào, rào kẽm gai và tường cao, nhiêu lô cốt, thoáng nhìn, có thể đánh giá khu doanh trại khá rộng.
James Casey đón Luân, đưa xe anh vào trong. Các tốp lực lượng đặc biệt đi lại rầm rập. Ngôi nhà hai tầng dành cho cố vấn Mỹ mới xây xong, nơi James Casey tiếp Luân. Vài sĩ quan Mỹ chào Luân rồi lẩn mất.
- Giờ này, các cố vấn lên lớp lý thuyết ở các toán... - James Casey giải thích. Y mời Luân chọn rượu.
- Trại Sapar là trung tâm lớn nhất cao nguyên đào tạo lực lượng đặc biệt người Thượng - James Casey vừa nhấp Cognac pha Soda vừa trình bày – Tại đây, mỗi khoá 6 tháng, với gần 500 học viên... Khung huấn luyện gồm 60 sĩ quan và hạ sĩ quan Việt Nam, 30 sĩ quan Mỹ. Bộ chỉ huy lực lượng đặc biệt sắc tộc Rađhê đóng ngay trong trại mà người cầm đầu, như đại tá biết, là trung tá Y Nouth... Hiện, dưới quyền ông ta đã có 4 tiểu đoàn hoạt động từ Tuyên Đức lên đến Kontum. Cuối năm này, tiểu đoàn thứ năm sẽ xuất quân. Đại tá hẳn đã đánh giá được hiệu lực của lực lượng đặc biệt từ nhiều năm nay. Y Nouth là một sĩ quan học vấn cao, giỏi tổ chức, thông minh và uy tín...
James Casey không đi vào nội dung việc thương lượng, Luân cũng không nhắc.
- Ta đi một vòng, đại tá đồng ý? - James Casey mời.
Luân cùng James Casey ngồi chung trên xe của Luân, chạy theo các con đường trải đá đỏ, qua những dãy nhà cất theo lối trại lính lợp tôn tương đối rộng và không quá tồi tàn. Xen kẽ các dãy trại lính, những ngôi nhà khang trang hơn, lính ngồi trên bàn nghe giảng.
Xe ngừng trước một tiệm giải khát, James Casey dẫn Luân vào. Đúng ra đó là nơi ăn uống và nhảy dành cho lực lượng đặc biệt: cửa kính, máy điều hoà không khí, quầy đủ loại rượu, thuốc là, đồ hộp... Họ uống mấy lon bia Đan Mạch.
- Có ba nơi như thế này... - James Casey khoe.
- Lương của lực lượng đặc biệt đủ cho họ tiêu xài ở nơi này không? – Luân hỏi, như tò mò.
- Thừa! Lương họ ngang với lương quân nhân Mỹ...
Trở về phòng khách James Casey:
- Hôm nay, đại tá thích ở trong trại Sapar không? Tôi sẽ giới thiệu đại tá với Y Nouth. Hai người định chương trình làm việc, tôi chỉ làm trung gian thôi...
- Sẵn sàng... Song tôi phải báo cho tướng Khánh...
- Được, đại tá dùng điện thoại của tôi.
Nghe Luân báo sẽ ở đêm trong trại, Khánh hơi lo. Có thể anh ta lo về an toàn cho Luân mà cũng có thể lo điều khác: Luân chơi canh bạc trên lưng anh ta.
- Trung tá James Casey nói chuyện với trung tướng! – Luân mỉm cười, trao máy cho James Casey.
- Xin chào Trung tướng Thủ tướng... Nếu trung tướng thích, xin mời vào trại Sapar ngủ đêm với chúng tôi!
James Casey nheo mắt ngó Luân. Tất nhiên Khánh từ chối.
- Ông ta sợ chính ông ta làm con tin! - James Casey cười hóm hỉnh.
“Nguyễn Khánh cũng là một thứ con tin của Mỹ!”. Luân nghĩ bụng.
- Trước khi ăn tối, tôi muốn thăm một số sĩ quan Việt Nam Cộng hòa bị giữ. Trung tá giúp tôi nhé!
- Tôi phải trao đổi với trung tá Y Nouth... Chắc có thể được.
Luân biết James Casey chả trao đổi gì với Y Nouth. Hắn ta vào phòng một lát rồi trở ra, cùng một đại úy Mỹ.
- Đại úy Jeffroy Tukey sẽ đưa đại tá đến khu con tin.
“Khu con tin” là một ngôi nhà gạch được canh gác cẩn thận. Sáu mươi sĩ quan và hạ sĩ quan chia nhau các phòng, mỗi phòng 4 người, mừng rỡ khi nghe Luân đến...
- Đại tá thương lượng chóng chóng cho chúng tôi ra khỏi đây. Tù túng quá! – Một trung tá nói như mếu.
Điều kiện ăn ở của họ cũng không đến nỗi nào. Nhưng họ sợ bị giết.
- Tụi nó dám giết chúng tôi, nếu yêu cầu của tụi nó bị bác... - Vẫn viên trung tá – chắc cấp cao nhất trong số con tin – than thở.
- Song điều kiện của Y Nouth cao quá, tôi e trung tướng Nguyễn Khánh không đồng ý! – Luân bảo.
- Gì mà cao? Nguyễn Khánh nhờ ai mà leo lên ghế hiện nay... Hy sinh hết chúng tôi ư? Kệ Nguyễn Khánh, chúng tôi chỉ tin đại tá thôi...
- Cuộc thương lượng chưa bắt đầu... Tôi chưa dám hứa điều gì. Nhưng tôi tin tình hình không đến nỗi xấu... Tất cả đều do người Mỹ, như đại úy Tukey đây, quyết định... Đại úy không bao giờ cho phép ai hành động man rợ...
Luân biết Jeffroy Tukey rành tiếng Việt song gã giả bộ như không hiểu gì cả.
Trung tá Y Nouth vạm vỡ, ăn mặc đĩnh đạc, đeo quân hàm y như sĩ quan Mỹ, bắt tay Luân theo kiểu bề trên và chủ nhà, mới Luân và Casey ngồi vào bàn – bàn kê ở cuối phòng. Nhạc ầm ĩ. Các binh lính, sĩ quan lực lượng đặc biệt ngồi chật phòng, cũng đều ăn mặc chỉnh tề.
“Chúng nó dàn cảnh đây”, Luân nghĩ thầm.
- Chúng ta biết nhau cả rồi... tôi không cần giới thiệu thêm. – James Casey đóng vai người đạo diễn...
- Tôi đồng ý! – Luân nói – Dù tôi là người đi trước để thu xếp một cuộc gặp gỡ chính thưc giữa trung tá Y Nouth với trung tướng Nguyễn Khánh...
- Nghĩa là ông không có nhiệm vụ vàn bạc về bản tuyên cáo của chúng tôi?... - Y Nouth hỏi, xoi mói.
- Đúng! Tôi không có quyền...
- Hóa ra cái giá của Y Nouth này cũng khá cao... Nhưng nói thật, nếu thương lượng được với đại tá, tôi thích hơn... - Y Nouth nốc một ly rượu, lau mép bằng chiếc khăn tẩm nước hoa.
- Nếu như vậy, trung tá thương lượng với trung tá James Casey càng dễ dàng hơn... - Luân cười.
- Thôi, tôi đã đồng ý không bàn chuyện chính trị tối nay... - James Casey rót vào ba cốc và lại mời.
- Tôi muốn hỏi thăm sức khỏe bác sĩ Ymơ Eban...
- Ồ! Ông ta khỏe... Nhưng, chúng tôi không gặp nhau.
- Tại sao?
- Nói thế nào với đại tá đây? Mỗi người có lối đi riêng.
- Các ông đúng là say máu chính trị. - James Casey kêu lên – Đã cam kết: ăn uống nghe nhạc, nhảy... Món thịt rừng nướng này tôi cam đoan đánh bạt các khách sạn danh tiếng của Sài Gòn... Nào...!
- Vả lại, ông ta thích Tổng tư lệnh nhưng đất ông ta kiểm soát thu hẹp dần. Không ở đâu nhiều Việt Cộng hơn Buôn Hồ. Thế mà, ông ta cấm lực lượng đặc biệt chúng tôi vào địa giới của ông ta. – Y Nouth không thèm đếm xỉa đến James Casey – Và chính phủ Sài Gòn chỉ biết ông ta...
Giọng Y Nouth càng lúc càng hậm hực.
- Ý của chính phủ là hòa hợp các lực lượng dân tộc. – Luân theo đuổi mục đích của mình.
Y Nouth cười to, đến sặc, phải uống một ngụm rượu để dằn cười rõ ràng mỉa mai.
- Trước hết, ông Nguyễn Khánh hãy hòa hợp với ông Dương Văn Minh, ông Trần Văn Đôn, ông Dương Văn Đức... Người ta đồn và người ta viết trên báo đại tá Nguyễn Thành Luân là nhà tư tưởng. Nhưng lẽ nào ông bán rao thứ rẻ tiền ấy?
- Ông đại tá Luân phải nói như cương vị, chức vụ của ông đòi hỏi... Ông là một quân nhân kiểu mẫu. - James Casey đỡ lời.
- Không! – Luân can thiệp – Trung tá nhận xét đúng...
- Cám ơn đại tá! Tôi chống Cộng. Lý do đơn giản: tôi sinh và được nuôi dưỡng để chống Cộng. Tôi chống Cộng theo cách của tôi. Tôi đứng đầu lực lượng đặc biệt, môt loại binh chủng cơ động. Nói cách khác, tôi đánh du kích với Việt Cộng.
- Nhưng lực lượng đặc biệt do người Mỹ thành lập, huấn luyện, trang bị và trả lương... - Luân phản kích...
- Phải! Tuy nhiên, người Mỹ đã thất bại ở nhiều nơi. Tôi đã nghiên cứu kỹ. Lực lượng đặc biệt phát sinh từ Bình Dương và chính đại tá diệt nó!
Thấy Luân nhổm người, Y Nouth đưa tay ngăn:
- Đại tá nghe cho hết... Thứ biệt kích đó không diệt cũng không xong. Bọn cướp “Rừng Xanh”, tôi hiểu. Còn chúng tôi khác. Lực lượng đặc biệt trang bị súng, mìn, tất nhiên, trang bị cả thuốc trị bệnh, muối. Tôi xây dựng một chương trình khác. Về phương diện này, trung tá James Casey không huấn luyện cho chúng tôi mà học ở chúng tôi...
James Casey chẳng tỏ vẻ một chút tự ái:
- Hoàn toàn đúng như vậy...
- Nếu thế, quân hàm trung tá hơi thấp đối với ngài Y Nouth.
- Tôi không thích quân hàm. – Y Nouth vụt cười ha hả - Đại tá cao hơn tôi một cấp, nhưng chính trung tướng Khánh sẽ là người đối thoại với tôi... Trong khi tôi cho người đối thoại xứng đáng lại là đại tá! Thực chất tài năng, đại tá nên là đại tướng... Chỗ chúng ta quan tâm và chắc có thể gặp nhau không ở số hoa mai trên cầu vai. Tôi biết đại tướng Trần Thiện Khiêm và tôi dám nói tôi là người đứng trên bục giảng về chiến tranh chứ không phải ông đại tướng đó...
- Ta có thể thỏa thuận được chăng, theo tinh thần mà trung tá nói: sẽ thương lượng nhưng nên thả các con tin ra. – Luân đề nghị.
- Thả con tin? Ông Khánh hay lật lọng...
- Nhưng, 60 con tin đâu phải là vốn bảo đảm có giá!
- Đúng! Đa số là cò con... Nhưng, tôi đồng ý tra tự do sáng mai cho 60 con tin và giữ đại tá làm con tin... Được không? - Y Nouth nói, đôi mắt ánh lên vẻ tinh nghịch.
- Tôi sẵn sàng.
- Con tin có nghĩa là chính phủ phản bội, chúng tôi sẽ bắn con tin.
- Tôi hiểu!
- Trung tá James Casey thấy thế nào?
- Ồ... Phức tạp, rất phực tạp! Một triệu lần phức tạp... Đại tá làm con tin nghĩa là đại sứ quán Mỹ, nghĩa là tướng Jones Stepp làm con tin. Chúa ơi! Sao được. Tôi phản đối. Và, tôi mà vấy vào đây thì bà đại tá sẽ nhổ vào mặt tôi!
- Trung tá James Casey hơn một lần thổ lộ tình cảm đặc biệt với bà đại tá, phu nhân của ông...
- Trung tá Y Nouth không nói, đại tá cũng hiểu... Nhưng, đó là một phụ nữ chỉ biết có chồng mình...
- Ta trở lại việc trao đổi con tin... - Luân cắt đứt câu chuyện có thể phát triển thành tào lao.
- Sáng mai, tôi thả hết! Chỉ đại tá ở lại thôi... Bây giờ, nhạc đã tấu. Người ta đã dọn bàn nhảy.
Như từ dưới đất chui lên, hằng trăm phụ nữ ăn mặc hở hang đang bước ra sàn.
- Tôi phải nhảy! - James Casey uống cạn cốc rượu chọn liền một cô.
- Trung tá không nhảy? – Luân hỏi.
- Thỉnh thoảng thôi... Tôi không thích. Tôi có gia đình và thú thật, phục vụ ba bà vợ không phải là điều hay nếu ta còn nhảy nhót... Đại tá ít nhảy, tôi hiểu... Tôi muốn hỏi thẳng đại tá một câu: Tướng Khánh có thể là con tin đổi chác có giá trị không?
- Chà! Ý nghĩ táo bạo... Song, trước khi trả lời trung tá, tôi còn chưa rõ: Làm thế nào để bắt một thủ tướng làm con tin?
Y Nouth cười nửa miệng:
- Với ông Dương Văn Đức thì đó là điều khó. Với tôi, rất dễ. Nếu ông thách, nội đêm nay, tướng Khánh sẽ bị nhốt!
- Tôi không tin...
- Tại sao?
- Người Mỹ sẽ trừng phạt các ông.
- Nếu chính Mỹ thực hiện thì sao?
- Tôi nghĩ rằng tốt nhất ông đừng nghĩ đến chuyện phiêu lưu đó...
- Đại tá hoặc giả vờ hoặc quả ngây thơ. Thôi, ta nghỉ. Tôi hơi mệt và có lẽ đại tá cũng ghét ồn ào. Chúng ta về nhà. Tùy đại tá, tôi vẫn còn phòng cho khách, chỗ các cố vấn Mỹ cũng thế...
- Tôi đi với trung tá!
- Hay! Tôi sẽ nói với James Casey...
Y Nouth vẹt các cặp đang ôm ghì dưới ánh đèn mờ ảo, đến cạnh James Casey nói cái gì đó mà Casey gật đầu.
Luân và Y Nouth rời quán ăn, lên xe.
Cô vợ người Hoa từ Chợ Lớn lên, đón họ ở thềm. Đêm đó. Luân ngủ trong một phòng đủ tiện nghi. Thạch cùng ngủ với anh.
- Chúc đại tá ngon giấc! – Y Nouth chia tay Luân ngay cửa phòng... - Bảo vệ của đại tá cứ ngon giấc! - Y Nouth ra hiệu chào Thạch.
Và Luân ngủ ngon giấc thật... Chỉ tội Thạch trằn trọc mãi...
*
Sáng sớm Y Nouth gõ cửa phòng Luân:
- Mời đại tá đến chứng kiến lễ phóng thích các con tin. Tôi đã hứa thì tôi giữ lời.
Tại ngôi nhà tạm giữ các con tin, chưa ai thức dậy hẳn. Cho nên khi nghe cửa mở và tiếng giày khua, tất cả hốt hoảng rời khỏi giường, càng hốt hoảng hơn khi thấy Y Nouth xộc và nhà thét:
- Mặc quần áo và tử tế, tập họp ngay ngoài sân! - Anh ta thét bằng tiếng Kinh.
- Chúng nó xử bắn chúng ta! – Ai đó rên tuyệt vọng.
Năm phút sau, 60 con tin đứng giữa sân. Bấy giờ họ mới nhìn ra Luân.
“Nếu đúng đạo lý, 60 thằng này cũng đáng bị bắn... Chúng đào tạo bọn biệt kích...”. Luân, mặt lạnh lùng, nghĩ đến công việc rất mâu thuẫn của mình.
Y Nouth lướt qua khối người lẩy bẩy, tái nhợt. Anh ta chợt mỉm cười. Có lẽ anh ta đánh giá sự đảo lộn này một cách thích thú.
- Chính phủ và chúng tôi chưa thương lượng. – Y Nouth nói tiếng kinh – Lẽ ra, các ông còn nằm ở đây một thời gian và số phận sẽ được quyết định tùy kết quả của thương lượng.
- Họ đày chúng ta đi đâu? – Một người trong số con tin nói khẽ mà ai cũng nghe.
- Nhưng đại tá Nguyễn Thành Luân đến Sapar và tự nguyện làm con tin thay cho các ông. Vậy, tôi cho phép các ông rời trại. Xe đang chờ. Ai cần lấy đồ đạc gì, vào lấy ngay để còn kịp về thị xã ăn sáng!
Sự sợ hãi chuyển sang ngơ ngác, ngơ ngác chuyển sang ngờ vực, ngờ vực chuyển sang vui mừng tột độ, bởi Luân bảo họ:
- Nhanh lên, các bạn!
Không ai vào nhà. Hai chiếc xe tải quân sự đỗ trước cổng, họ tranh nhau lên xe...
Luân sánh vai Y Nouth, đi ăn sáng.
- Tám giờ rưỡi, ông Nguyễn Khánh sẽ đến đây! – Y Nouth báo một tin mà Luân bàng hoàng.
- Tất nhiên, người Mỹ ra lệnh cho ông ta vì tôi muốn cuộc thương lượng diễn ra ngay trong trại này, lãnh thổ của tôi!
Y Nouth cười ha hả.
- Các ông đòi quyền tự trị, tôi không ngạc nhiên. Không chỉ có các ông đòi quyền đó. Phía bên kia, ông Ibih Aléo cũng đang thực hiện quyền đó. - Luân bắt đầu tiến công, nhân lúc James Casey không có mặt.
- Tôi hiểu, thưa đại tá! Tôi chưa hân hạnh quen ông Ibih Aléo nhưng danh tiếng của ông ấy lớn. Nguyên là sĩ quan của Pháp, nhà của ông ấy gần đây... Tôi còn biết nhiều người Rađhê trong hàng ngũ Cộng sản, như Y Ngông Niek Đam, như Y Ban, như thượng tá Y Blốc đang là phó tư lệnh Cộng sản ở Tây Nguyên...
Y Nouth xoay tách cà phê, nói mà không ngó Luận:
- Trung tá quen Francisci không? Bonnaventuro Francisci? – Luân chợt hỏi.
- Biết! Hơn cả biết, chơi thân với nhau nữa... Đại tá cũng quen y ta? - Y Nouth không dấu kinh ngạc, ngó Luân trân trân.
- Tạm gọi là biết... - Lung nói đủng đỉnh – Các ông có làm ăn với nhau?
- Ồ! Vậy là đại tá thông thạo hơn tôi tưởng... Có làm ăn!
- Còn với Kossem ở Cambốt?
- Không... Đó là cánh của Ymơ Eban.
- Với Đoàn Chí Khoa?
- Không... Gã này láu cá lắm...
- Lực lượng đặc biệt của trung tá...
Không đợi Luân nói hết câu, Y Nouth đã chen vào:
- Tất nhiên, gọi là Lực lượng đặc biệt thì phải hành động như tên của nó: Khủng bố... Song, dưới quyền của tôi, phạm kỷ luật như cướp, hiếm dâm, lập tức bị xử bắn!
- Người Mỹ bỏ tiền ra để xây dựng một lực lượng như thế sao?
- Thưa đại tá, ông quên một điều người Rađhê chúng tôi vẫn có những cái đầu. Hình như đại tá chỉ tin rằng người Rađhê chuyên bị lừa, xỏ mũi... Không hẳn như thế đâu.
- Các ông đòi tự trị, nhưng trong phạm nào?
- Hai phạm vi: Về địa bàn, chúng tôi phải làm chủ khu vực do chúng tôi lựa chọn, về quyền lợi chúng tôi bình đẳng với người Kinh...
- Nếu ông Nguyễn Khánh không thỏa mãn?
- Chúng tôi sẽ đánh!
Luân cười mỉm, Y Nouth đỏ mặt.
- Đại tá nghi ngờ khả năng đánh của chúng tôi?
- Không phải nghi ngờ mà quả quyết rằng các ông không đánh được!
- Tại sao?
- Người Mỹ không cho phép... Họ chỉ muốn các ông đóng vai trò khuấy động tạo sức ép... Thế thôi. Các ông trái ý họ, họ không chi tiền, không tiếp tế, không cấp vũ khí...
Y Nouth lại cười.
- Đại tá vẫn đánh giá chúng tôi theo cách cũ. Lẽ nào tôi không tính những tình huống ấy? Núi rừng Tây Nguyên bạt ngàn, chúng tôi hiểu quê hương mình. Người Mỹ lợi dụng chúng tôi và tại sao chúng tôi không lợi dụng người Mỹ. Đại tá vừa hỏi Francisci... Tôi ngỡ đại tá nắm được cái cốt yếu rồi... Vả lại, thưa đại tá kính mến, dù thuộc sắc tộc Rađhê, tôi không bao giờ quên Tây Nguyên là bộ phận của nước Việt Nam, gọi tôi là dân tộc Việt Nam cũng không sai.
Thấy Luân im lặng, Y Nouth nói luôn:
- Có đến hai Việt Nam phải không? Nhưng chẳng lẽ chúng tôi chọn thứ Việt Nam của Nguyễn Khánh!
“Khêu khích chăng?”. Luân quan sát Y Nouth. Không! Viên trung tá không có vẻ chỉ điểm hay tình báo.
Luân trầm ngâm một lúc:
- Trung tá cho tôi hỏi một câu, một câu hơi nguy hiểm, song tôi tin là chúng ta sòng phẳng...
- Tôi nghe câu hỏi của đại tá...
- Trung tá là chi, tức thân tộc gần xa, với cụ Ibih Aléo?
- Với người khác, câu hỏi đó sẽ được trả lời bằng phát súng... Nhưng, tôi tí nhiều nghe nói về đại tá. Tôi không bà con gì với cụ Ibih Aléo, nhưng tôi là em trai út của thượng tá Y Blốc! Nói cho chính xác, cùng cha khác mẹ...
- James Casey có biết điều này không?
- Việc đầu tiên của James Casey là tìm gốc tích tôi. Song, làm sao ông ta phăng ra nổi. Người Rađhê chúng tôi thuộc mẫu hệ. Mẹ tôi chỉ là một người bình thường, đã mất khi tôi còn bé. Cha tôi cũng mất sớm, anh tôi ra đi khi tôi còn đi học... Chị tôi nuôi tôi và chị tôi có môt lý lịch không chê vào đâu được: vợ một mục sư người Mỹ.
Luân nghiêng dầu, suy nghĩ. Y Nouth nhận thấy chút hoài nghi trong mắt Luân.
- Chắc đại tá nghiên cứu lý lịch của tôi và nhận thấy tôi quan hệ quá chặt với Pháp rồi Mỹ...
- Về mặt đó, không riêng gì trung tá... - Luân trả lời lơ lửng.
- Hoặc vì tôi có tới bà vợ mà một là nhà buôn người Hoa?
Luân im lặng.
- Tại sao tôi không cố làm cho thiên hạ biết tôi cần thêm nhiều vợ nữa, như phong tục dân tộc tôi cho phép và như một bảo đảm chính trị cho tôi? – Y Nouth cười mỉm. - Còn người Hoa, đúng, vợ tôi người Hoa... Tôi cưới từ lâu. Và, hẳn đại tá hiểu, có đến mấy loại người Hoa trên Việt Nam...
Luân chụp tay Y Nouth, siết chặt. Y Nouth cũng có cử chỉ tương tự.
Họ phải ngừng cuộc nói chuyện vì được báo: Nguyễn Khánh và đoàn tùy tùng đã đến.


Phần 9 - Chương 18


Trong lúc Nguyễn Khánh ở Ban Mê Thuột thì Sài Gòn lại lên cơn sốt, lần này mang tính chất đặc biệt: công nhân, lao động toàn thành phố bắt đầu cuộc tổng đình công lớn nhất từ 6 giờ sáng ngày 21-9 và kéo dài đến 23-9. Chủ xướng cuộc tổng đình công là Tổng liên đoàn lao công Thiên Chúa giáo, tổ chức nghiệp đoàn hàng đầu ở Việt Nam Cộng hòa, với người lãnh đạo khét tiếng Trần Quốc Bửu, được đánh giá là “Cần Lao gộc”. Các tổ chức nghiệp đoàn khác cũng phối hợp với Tổng liên đoàn Lao công như Tổng liên đoàn lao động mà lãnh tụ Lê Văn Thốt bị công an cho vào sổ “liên quan tới Việt Cộng”. Liên hiệp các nghiệp đoàn tự do mà lãnh tụ là Bùi Lượng được thợ thuyền xem như có líu với đảng Đại Việt, lực lượng thợ thuyền mà lãnh tụ Nguyễn Khánh Văn ít nhiều nhờ vả Pháp...
Lý do của cuộc tổng đình công: Hãng dệt Vimytex vô cớ sa thải công nhân.
Tổng nha cảnh sát quốc gia biết tin sẽ có cuộc Tổng đình công từ ba hôm trước, khi đại diện nghiệp đoàn không đi đến thỏa thuận với Ban giám đốc hãng dệt – hãng dệt loại lớn, trang thiết bị tối tân và riêng cái tên cho thấy bề thế của nó: Việt – Mỹ. Nhưng, Tổng nha không nghĩ rằng cuộc tổng đình công sẽ được hưởng ứng rộng. Bởi vậy, chiều 20-9, đại tá tổng giám đốc không ra một chỉ thị gì đột xuất.
Dung bị dựng dậy vào 5 giờ rưỡi sáng. Cô thiếu úy Hằng trực đêm gọi điện cho Dung:
- Thưa thiếu tá! Đại tá triệu tập các sĩ quan chỉ huy có mặt ở Tổng nha trước 6 giờ!
- Tại sao?
- Cuộc tổng đình công sắp bắt đầu...
- Chúng ta đã biết việc đó rồi...
- Nhưng tình hình nghiêm trọng hơn...
- Nghiêm trọng như thế nào?
- Thưa, em chỉ được lệnh như thế...
- Chị sẽ có mặt.
Dung hôn nhẹ lên má con, căn dặn chị Sáu rồi lái xe đến Tổng nha. Cô đến vừa kịp lúc đại tá Nguyễn Quang Sanh bắt đầu nói, bên ngoài trời chưa sáng hẳn, những giọt mưa đêm còn đọng trên lá cây thỉnh thoảng buông xuống thềm một tiếng lách tách buồn bã.
- Cuộc tổng đình công sắp bắt đầu... - Đại tá vén xem đồng hồ - Còn 5 phút nữa... Trừ bệnh viện, còn toàn thành phố sẽ không có điện và nước. Từ 8 giờ trở đi, sẽ có những cuộc biểu tình và tuần hành lớn. Ít có khả năng cuộc tổng đình công chỉ chĩa vào vụ sa thải công nhân Vimytex. Thật ra, đêm qua, giữa lúc các ông bà ngủ yên, – Đại tá hơi cười - Tôi đã phải thức để gặp trực tiếp chủ hãng Vimytex và vụ sa thải coi như kết thúc êm đẹp: không ai bị đuổi cả. Nhưng thông báo của Bộ lao động và cả của tôi cho các nghiệp đoàn không được hưởng ứng. Thủ tướng hiện không có mặt ở thủ đô, phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh bảo ông không được ủy quyền xử lý các tình huống tương tự. Phó thủ tướng Đỗ Mậu bảo đó là việc của Bộ lao động và của Tổng nha. Đại tướng Trần Thiện Khiêm hỏi vặn tôi: Đại tá muốn chúng tôi nã đại bác vào người biểu tình? Trung tướng Dương Văn Minh yêu cầu tôi hãy làm việc đúng người có trách nhiệm...
Dung thấy rõ đôi mắt đỏ chạch của đại tá Tổng giám đốc...
- Tôi gọi điện cho đoàn cố vấn Mỹ. Họ bảo: Chuyện của các ông!... Các bạn nghe chưa? Tôi gõ hết các cửa dù giữa đêm và dù bây giờ cũng nhận tiếng quở trách, thậm chí, tiếng chửi kèm theo tiếng ngáp. Và bây giờ, tôi làm phiền các bạn, những cộng sự của tôi. Tôi vừa chỉ thị...
Đèn vụt tắt. Nhưng ánh sáng ban mai đã dần dần tràn vào phòng.
- Nhà đèn đình công rồi! Họ không dọa suông đâu.
Cả phòng nghe tiếng thở dài của đại tá Tổng giám đốc.
- Tôi nói đến đâu rồi? À, tôi vừa chỉ thị cho Nha cảnh sát đô thành, Nha cảnh sát Nam phần tung lực lượng bảo vệ các cơ quan quan trọng, các sứ quán và tôi sẽ gặp ông Trần Quốc Bửu. Tôi hy vọng cuộc tổng đình công chấm dứt nội nửa ngày hôm nay. Lực lượng dã chiến của Tổng nha phải sẵn sàng, hễ nơi nào gọi bộ đàm báo cáo có biến động thì lập tức can thiệp. Giải tán tất cả các cuộc tập họp dù mang màu sắc nào – tôi nhấn mạnh: sư sãi, linh mục... cũng không được biểu tình khi mà cả nước đang sống trong lệnh giới nghiêm. Các ông bà chỉ huy phải trực tại chỗ. Quá 12 giờ trưa, căn cứ vào tình hình diễn biến, tôi sẽ gặp lại tất cả tại đây...
Đại tá ngập ngừng một lúc, nói tiếp:
– Giải tán mọi cuộc biểu tình nhưng không được gây thương tích cho bất kỳ ai! Không bắt ai!
Mọi người lặng lẽ rời phòng với gương mặt nặng chình chịch: Làm sao giải tán biểu tình mà không va chạm và nhất là không bắt ai? Lệnh của đại tá Tổng giám đốc tự nó đã vô hiệu hóa ngay từ đầu.
- Bà thiếu tá Thùy Dung, tôi nói chuyện với bà!
Tổng giám đốc gọi Dung.
- Tôi hẹn 7 giờ gặp ông Trần Quốc Bửu và các ông lãnh đạo nghiệp đoàn tại Nhà Kiếng. Bà cùng đi với tôi!
Dung đứng nghiêm, dấu hiệu tuân lệnh và rời phòng, về Nha công vụ.
Trên bàn viết của Dung đã có sẵn một số tờ báo, phần lớn là báo của chính phủ, quân đội và vài tờ “độc lập” vẫn phát hành dù tổng đình công. Liếc qua các tít to, Dung nắm được ý nghĩa sâu xa của cuộc tổng đình công, hoặc, nói cách khác, biết được lực lượng nào nhảy vào vòng chiến với ý đồ riêng. Công nhân lao động tham gia bởi lẽ đơn giản: quyền lợi của họ bị xâm phạm, hôm nay chủ sa thải công nhân Vimytex, ngày mai Vinatexco, ngày mốt Caric, Nhà Đèn, rồi BRJ – RMK, Caltex v.v... Nhưng, cũng không chỉ bấy nhiêu lý do. Khi Dung vào Nam một thời gian thì nổ ra cuộc tổng đình công nhân ngày 20-7 – đó là cuộc tổng đình công chính trị đòi hai miền Nam Bắc hiệp thương, lập lại quan hệ bình thường, tiến tới tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, chỉ diễn ra vài giờ. Một ít lần “tổng đình công” do Trần Quốc Bửu xướng xuất để chống Cộng, chống Bình Xuyên, chống Nguyễn Chánh Thi, ủng hộ “Ngô Chí sĩ”... là trò đùa vô duyên. Lần này tổng đình công thật sự. Hàng chục vạn công nhân lao động nghỉ việc hẳn hoi. Đằng sau yêu sách chống sa thải, cả một sức bật mạnh mẽ: biểu thị sự bất mãn đối với chế độ và biểu thị luôn nguyện vọng ngăn ngừa Việt Nam thành một Triều Tiên thứ hai với hàng trăm nghìn quân viễn chinh Mỹ, với tàn phá và chết chóc khó lường, với nguy cơ đe dọa nền luân lý dân tộc... Na ná như phong trào lật đổ Ngô Đình Diệm năm trước những người lao động bình thường nhân một cái cớ để tỏ thái độ. Bởi vậy, cuộc đình công đầu tiên giương cao khẩu hiệu kinh tế lại chính là đợt tiến công chính trị. Theo Dung, chưa đủ sức phát khởi cuộc tổng đình công, chủ yếu là lợi dụng các thế lực tranh chấp, nhưng nó cũng giới thiệu nước mức tiến bộ của cách mạng trong vòng 10 tháng qua, kể từ chính biến 1-11-1963. Chưa thể đòi hỏi cách mạng cao hơn...
Còn Mỹ? Mỹ muốn thêm có một cú cảnh cáo Nguyễn Khánh? Hãy đóng cho thật tốt vai trò lót đường, hãy tỏ ra một tướng lãnh thật sự “bàn tay sắt” – lần thử thách có thể là cuối cùng.
Còn các thế lực khác? Các phe phái chính trị sau thắng lợi xé bỏ Hiến chương Vũng Tàu, vẫn chưa hạ được Khánh, kể cả cuộc “biểu dương lực lương” của tướng Đức. Cuộc chạy đua để trở thành con ngựa độc quyền kéo cỗ xe của Mỹ kích thích dữ dội ham muốn điên dại các chính khác và cả các tướng lãnh. Quân đội chống Nguyễn Khánh, người Thượng chống Nguyễn Khánh, sinh viên học sinh chống Nguyễn Khánh, bây giờ, thợ thuyền chống Nguyễn Khánh. Thế là đủ, quá đủ. Cho nên, họ gặp nhau và dù “đồng sàng dị mộng”, họ đều chống, chống thật, chống giả, lợi dụng sức chống đối của kẻ khác...
Thái độ của Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia cho thấy điều đó: lệnh của ông cực kỳ bí hiểm. Thật ra ông đã thổ lộ: gõ cửa ông Nguyễn Xuân Oánh, đại tướng Trần Thiện Khiêm, trung tướng Dương Văn Minh, phái đoàn Mỹ. Đại tá Nguyễn Quang Sanh không dại gì đưa đầu gánh chịu hậu quả, nếu các cuộc biểu tình rùm beng đến mức nguy kịch thì cả Mỹ lẫn tướng Khiêm sẽ phải hành động, nhiều nhất ông bị khiển trách “không làm tròn nhiệm vụ” hơn là các lời cáo buộc các cực kỳ dữ dội.
Bảy giờ kém mười, Thùy Dung có mặt ở văn phòng Tổng giám đốc.
- Tôi vừa điện cho ông Nguyễn Khánh, ông còn ngủ. Ta sẽ nói chuyện với ông ấy khi đến Nhà Kiếng.
Hai xe con và một xe hộ tống rời Tổng nha. Tại trụ sở Tổng liên đoàn lao công đường Lê Văn Duyệt, thợ thuyền tập trung đông đặc, chờ giờ xuất phát. Qua bộ đàm trên xe, đại tá Sanh và Dung biết nhiều trung tâm đang sửa soạn xuống đường, có cả học sinh sinh viên tháp tùng.
Trần Quốc Bửu và một số người cầm đầu Tổng liên đoàn Lao công đón các nhân viên cấp cao của ngành cảnh sát khá hờ hững. Không ai ra cổng chờ họ, không ai đứng trên thềm đón họ.
- Chào đại tá và thiếu tá! – Trần Quốc Bửu chìa tay theo lối kẻ cả. - Mời hai vị và các vị cùng đi đợi tôi vài phút...
Trần Quốc Bửu tiếp họ ngay trong phòng làm việc giữa lúc các tay “cai thầu” nghiệp đoàn – như báo chí gọi – đang họp.
Mặc kệ sự có mặt của Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia. Trần Quốc Bửu bô bô:
- Thế nhé... Lộ trình như đã ấn định: từ sân Tao Đàn, Hồng Thập Tự, đến Ngã Sáu, theo Lê Lai đến chợ Thái Bình, ra Trần Hưng Đạo, qua chợ Bến Thành, theo Lê Lợi, đến Nguyễn Huệ, dừng một lúc ở tòa đô chính, theo Lê Thánh Tôn đến Công Lý, dừng một lúc trước dinh Độc Lập, rồi theo Thống Nhất đến phủ Thủ tướng trao kiến nghị, xong, theo Cường Để rồi Bến Bạch Đằng, Hàm Nghi, giải tán tại công viên Quách Thị Trang... Đội tự vệ sẵn sàng nếu cảnh sát dã chiến can thiệp thì kiên quyết giữ vững hàng ngũ...
Dung biết lộ trình của cuộc tuần hành đã được phổ biến chi tiết từ hôm trước và chắc chắn vừa đây, Thường vụ Tổng liên đoàn lao công đã thống nhất - cô nhìn tấm bảng đen, vẽ phấn xanh lộ trình ấy – nhưng Trần Quốc Bửu vẫn lập lại lần nữa trước đại diện ngành cảnh sát, như cách tuyên chiến.
Hầu hết những người có mặt trong phòng ra khỏi phòng.
- Tôi muốn gặp đủ đại diện các tổ chức công đoàn tại đây... - Đại tá Sanh mở đầu.
Trần Quốc Bửu nhún vai:
- Chúng tôi hành động độc lập... Nếu đại tá muốn gặp ông Thốt thì xin mời đến đường Lý Thái Tổ. Còn ông Nguyễn Khánh Văn, ông Bùi Lượng, họ ở đâu nhỉ? Tôi sẽ hỏi giúp đại tá.
Trần Quốc Bửu giữ thái độ trịch thượng, không chỉ với Tổng nha cảnh sát mà với các nghiệp đoàn.
- Chúng ta nên tìm một giải pháp êm thắm... Chủ hãng Vimytex đã thu nhận số công nhân sa thải... - Nguyễn Quang Sanh nhún nhường.
- Trễ rồi, thưa đại tá. - Trần Quốc Bửu cười rộ - Tôi không làm thì ngọn cờ sẽ rơi vào tay Lê Văn Thốt hay Bùi Lượng.
- Nhưng Tổng liên đoàn lao công là lực lượng đông nhất!
- Đúng... Nhưng, tôi không muốn lép. Các ông chửi Cần Lao... Xin lỗi bà thiếu tá, vì đại tá Nguyễn Thành Luân bào giờ cũng là cấp trên của tôi trong đảng Cần Lao – nên đảng Cần Lao cần cho các ông biết chúng tôi không thể là chiếc thùng rỗng. - Trần Quốc Bửu huênh hoang.
- Do đó, tôi và thiếu tá Thùy Dung đến đây để thương lượng. Ta nên ngưng cuộc tuần hành... - Nguyễn Quang Sanh cố nhịn.
- Làm thế nào được? - Trần Quốc Bửu ngó Thùy Dung... - Lẽ ra Tổng nha nên thương lượng nội bộ... Bà Thùy Dung là người có thể bật đèn đỏ, nếu bà muốn... - Trần Quốc Bửu cười rất khó hiểu.
- Tôi làm sao bật đèn được? – Dung cười mỉm.
- Được! Nếu ngài Alexis Johnson và ngài Jones Stepp trao đổi với bà... chính xác là, với đại tá Nguyễn Thành Luân.
Trần Quốc Bửu phản kích, mặt tỉnh bơ.
- Ông nhận bao nhiêu đô la để làm việc này? – Dung hỏi, giọng cay độc.
- Chắc hơn số đô la bà nhận để im lặng... Hơn nhiều nữa. Đúng là bất công! Bà chẳng làm gì cả... - Trần Quốc Bửu không kém cay độc.
- Tôi thấy không cần đôi co. Việc nhận đô la của ai đó để làm trò, là quyền sở thích của riêng ông. Tùy ông. Nhưng ông, ông Bửu, ông đi hơi xa... - Dung nghiêm mặt.
- Bà yên tâm... tôi không đi xa đến mức như đại tá Luân đi xa đâu... - Trần Quốc Bửu ném một cái cười khinh bạc.
- Ta sẽ không thể bàn bất kỳ điều gì với những người như ông Bửu, thưa đại tá! – Thùy Dung nói lạnh lùng.
- Đúng! – Nguyễn Quang Sanh gật đầu.
- Vậy xin mời hai vị rời nơi đây... đây không phải chỗ của sở mật thám mà là cơ quan của giới thợ thuyền. – Trần Quốc Bửu chỉ tay ra cửa...
Nguyễn Quang Sanh giận run người mà không biết phải là gì. Dung lặng lẽ đến máy điện thoại.
- Bà thiếu tá gọi người đến bắt tôi! Tôi chờ... - Trần Quốc Bửu tiếp tục mỉa mai.
Dung quay số.
- Hello! Tôi muốn nói chuyện với ông John Hing.
Mặt Trần Quốc Bửu từ vênh váo bỗng cụp xuống, da đỏ au bỗng tái mét...
- Bà... Bà... - Hắn lắp bắp.
- Chào ông, ông John Hing... Tôi là Hoàng Thị Thùy Dung. Tôi muốn hỏi ông, ông chi cho ông Trần Quốc Bửu bao nhiều tiền Việt Nam và dollar để tổ chức các cuộc biểu tình, đình công?... Tất nhiên, tôi cần thiết gấp vì những lý do chưa tiện thông báo với ông... Ông nói bao nhiêu? Năm triệu đồng Việt Nam... Trao bằng tiền mặt. Tốt... Mười nghìn dollar gửi ngân hàng Thụy Sĩ... Xin ông nói lại... Ký hiệu ngân hàng số 0762A371... Ông Bửu có biên nhận không? Có à? Tốt lắm... Ngoài ông Bửu ông còn chi cho ai nữa? Ông Bùi Lượng? Bao nhiêu? Một triệu đồng Việt Nam... Không có dollar. Còn ông Thốt? Không ư? Không loại tiền nào cả ư? Tôi hiểu... Không thể mua ông Thốt, tôi đồng ý với ông. Tôi đang nói chuyện với ông tại văn phòng ông Bửu. Sao? Điều kiện ông Bửu còn thêm cả một chuyến nghỉ mát nửa tháng ở Hongkong... Ông cho ông ta bần tiện? Tùy ông. Ông hứa chia cho những người phe cánh của ông? Tôi sẽ hỏi họ... Cám ơn, nếu ông chụp cho tôi biên nhận do ông Bửu ký... Trưa nay, ông gởi đến văn phòng của tôi... Tất nhiên, ông chọn người không kỹ. Chào ông!
Trần Quốc Bửu ngồi chết trân trên ghế. Đại tá Sanh bĩu môi...
- Thế nào? Thưa lãnh tụ Tổng liên đoàn Lao công? – Dung hỏi – Tôi sẽ thông báo tin này trên báo chí, kèm theo ảnh chụp biên nhận của ông... Tốt nhất ông tìm chỗ trốn. Còn ông định chuồn ra nước ngoài thì không được đâu. Ông lợi dụng những người lao động trên 10 năm rồi và ông vẫn còn chưa thỏa mãn. Trương mục ngân hàng Thụy Sĩ của ông hẳn lên đến con số triệu. Chính phủ có thể phong tỏa trương mục ấy... Ổng chẳng Cần Lao, chẳng Quốc gia gì cả. Đơn giản thôi, ông là tay bịp! Ông nghĩ rằng chúng tôi có thể tống giam ông ngay, được không?
- Bà... Bà... - Trần Quốc Bửu lắp bắp mãi.
- Công nhân Vimytex sa thải, công nhân thành phố phản đối. Tôi không thấy có gì thiếu chính đáng. Các tổ chức nghiệp đoàn tỏ thái độ phản đối chủ Vimytex, tôi cũng không thấy gì thiếu chính đáng. Nhưng ông, ông hành động như gã lái buôn. Dù có người chết, người bị thương, ông mặc kệ. Không lột bộ mặt ông thì thợ thuyền phải đổ cả máu cho ông mập ú ra, cho ông có đến năm, bảy vợ... Không thể được!
Dung quay sang đại tá Sanh:
- Ta về, thưa đại tá!
Dung mở cửa phòng. Bên ngoài một nhóm người lố nhố. Họ theo dõi cuộc nói chuyện vừa rồi. Điều không thể tránh khỏi là họ sẽ ùa vào phòng, đòi Trần Quốc Bửu chia chác.
*
Về đến Tổng nha, đại tá Sanh đọc một loạt báo cáo cuộc tổng đình công được hưởng ứng khá rộng, cuộc tuần hành kéo dài trên các lộ chính của thành phố với nhiều khẩu hiệu vượt khỏi giới hạn vụ Vimytex đòi tự do nghiêp đoàn, đòi chấm dứt đuổi thợ cúp lương, đòi tự do báo chí, hội họp, đòi bảo vệ văn hóa dân tộc, chống chế độ độc tài v.v...
Đại tá xin liên lạc với Thủ tướng Nguyễn Khánh. Cũng đến mười phút, cuộc nói chuyện mới bắt đầu:
- Trình trung tướng, tình hình đình công, biểu tình ở Sài Gòn khá rắc rối...
- Tôi có nghe báo cáo. Các anh phải dập tắt ngay!
- Nhưng bằng cách nào?
- Bằng cách nào, tùy các anh... Tôi đang ở trong trại Sapar.
- Xin trung tướng cho lệnh về ông Oánh hoặc đại tướng Khiêm.
- Tôi lệnh cho anh, không được sao?
- Thưa rất khó... Lệnh phải mang chữ ký...
- Anh không biết tôi đang gặp khó khăn trong thương lượng với trại Sapar sao?
- Dù sao cũng xin trung tướng nói chuyện với ông Oánh hoặc ông Khiêm...
- Được! Tôi sẽ nói...
Đại tá Sanh gác máy, bảo Dung:
- Ta đợi lệnh của ông Oánh, ông Khiêm...
Nhưng, không có lệnh mà chỉ có báo cáo và báo cáo ngày càng xấu. Dinh Thủ tướng gần như bị bao vây...
Gần 10 giờ trưa, điện reo. Trần Quốc Bửu nói chuyện với đại tá Sanh.
- Tôi nghe đây!
- Tôi đã ra lịnh đình chỉ tuần hành và sẽ chấm dứt tổng đình công vào 12 giờ trưa...
- Thế là tốt!
Nghe đại tá Sanh thuật lại, Dung chỉ cười.
- Tại sao bà cười?
- John Hing ra hiệu cho Bửu...
- Tôi cũng nghĩ như thế...
- Song, từ khi cuộc tổng đình công và tuần hành nổ ra, Trần Quốc Bửu không còn quyền nữa. Người đình công, người tuần hành giữ quyền... Ông Bửu không bắt buộc nổi hàng vạn người theo ý ông ta...
- Nghĩa là sao?
- Nghĩa là phải thỏa mãn một phần yêu sách cảu thợ thuyền nếu chúng ta không muốn chứng kiến các cuộc bạo động...
- Nhưng, bà cũng hiểu, chúng ta đâu có quyền?
- Tốt hơn hết, đại tá cứ làm báo cáo từng giờ cho chính phủ... Việc này chính phủ phải quyết định.
*
Điện mật:
Trưởng ty cảnh sát Bình Định gửi đại tá Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia – Sài Gòn.
Tình hình thành phố Quy Nhơn đột nhiên căng thẳng. Chừng ba tới bốn nghìn thanh niên xông vào chiếm đài phát thanh và một số đông công sở như dinh tỉnh trưởng, tu thông tin, tu giáo dục v.v... giương khẩu hiệu chống Cần Lao, cho đài phát thanh tuyên cáo của Hội đồng Nhân dân cứu quốc, phổ biến báo chí và truyền đơn đả kích chính phủ. Nghiêm trọng hơn, từng tốp mang dao, gậy, dây thừng lục sục các phố, khám phá, gọi rằng tìm bắt dư Cần Lao nhưng phần lớn lại là công chức đương nhiệm liên quan đến thiểm ty (mật báo viên), các cán bộ chiêu hồi và công dân vụ. Tỉnh trưởng không cho chỉ thị. Quân đội không can thiệp. Tỉnh xin chỉ thị Sài Gòn, không được trả lời. Kính trình đại tá và chờ hướng dẫn...
11 giờ ngày 21-9-1964
*
Điện khẩn, mật:
Trưởng ty canh sát quốc gia Bình Thuận khẩn cấp báo Tổng nha: Sáng nay, hơn 1.000 thanh niên mang gậy gộc tập họp tại dinh tỉnh trưởng, hô hào diệt Cần Lao và xông vào đập phá công sở. Cảnh sát can thiệp. Đã xảy ra đổ máy. Thiểm ty chờ chỉ thị Tổng nha.
11 giờ ngày21-9-1964
*
Tin đài VOA:
Chiến hạm Mỹ tuần tra thường lệ trên hải phận quốc tế thuôc vịnh Bắc Việt bị năm tiểu hạm Cộng sản tiến công bằng ngư lôi. Để tự vệ, chiến hạm Mỹ phản kích, bắn chìm ba tiểu hạm Cộng sản.
*
Tin đài Hà Nội:
Sáng nay, 22-9, một khu trục hạm Mỹ cùng sáu tiểu tỉnh và một tuần dương hạm thâm nhập trái phép vào lãnh hải Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khỏi hải phận quốc tế đến 10 km. Hải quân đã nhắc nhở tàu Mỹ bằng các phương tiện thông dụng quốc tế: trên làn sóng điện, dùng pháp màu và bằng hiệu cờ, nhưng hạm đội Mỹ vẫn ngang ngược tiến sâu vào lãnh hải Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tàu tuần của Hải quân Việt Nam và pháo bờ biển buộc phải bắn cảnh cáo. Hạm đội Mỹ khai hỏa dữ dội, kết hợp với máy bay xuất phát từ tàu chờ máy bay đậu ngoài xa. Hai hộ tông hạm Mỹ bị trúng đạn, từ đó, chúng mới rút lui...
*
Nguyễn Khánh và đoàn tùy tùng vào trại Sapar, đúng 8 giờ sáng. James Casey và Nguyễn Thành Luân đón Khánh ngay cổng.
Vẻ mặt căng thẳng của Nguyễn Khánh – còn đám tùy tùng thì sợ hãi – giảm hẳn khi thấy James Casey.
- Chào trung tướng! - James Casey chập gót chân đúng điều lệnh, nhưng mặt thì lộ vẻ đùa cợt.
Luân cũng chào Khánh. Khánh bảo Luân cùng ngồi xe với anh ta, theo sau xe James Casey, chạy vào giữa khu trại.
- Họ tổ chức đàng hoàng quá! – Khánh quan sát và nhận xét.
- Thế nào? Anh đi tiền trạm, thấy khả năng thu xếp ổn thỏa được không? – Khánh hỏi Luân.
- Hơi khó đoán... Y Nouth là người bản lĩnh.
- Ông ta đòi cái gì?
- Như những thứ ông ta tuyên bố trên đài...
- Ông tá dám đánh lại quân chính phủ sao?
- Tôi nghĩ rằng ông ta dám...
- Lực lượng đặc biệt bao nhiều mà dám đánh?
- Vấn đề không phải ở chỗ ông ta có bốn năm tiểu đoàn. Ông ta có địa bàn, có dân và có người Mỹ!
Nguyễn Khánh im lặng một lúc:
- Chính cái sau mới phức tạp cho mình... Trong bị của họ thế nào?
- Hơn quân đội một bậc!
- Vậy sao?
- Đúng... Họ có nhiều tiểu liên AR.15, M.79, M.72, cối, đại liên, phóng lựu, tất cả đều loại mới...
- Từ đâu mà họ có?
Luân cười:
- Từ cái sau cùng mà anh vừa nhắc!
- Tụi Mỹ đểu thật!
Y Nouth chỉ đón Nguyễn Khánh ngay cửa ngôi nhà khách, không chào theo quân kỷ mà bắt tay, theo lối ngang vai ngang vế.
- Ta không nên để mất thì giờ! – Y Nouth nói ngay khi mọi người đã ngồi quanh chiếc bàn dài.
Phòng không treo cờ Việt Nam Cộng hòa.
James Casey đứng lên:
- Người Mỹ là bạn của mọi người Việt Nam. Thật bất tiện nếu tôi dự vào cuộc trao đổi của các bạn hữu của Mỹ, về các bất đồng hoàn toàn nội bộ của các bạn. Bởi vậy, tôi chỉ xin đóng vai trò môi giới và bây giờ, các bạn gặp nhau. Tất cả sẽ tùy thuộc vào các bạn, tức tùy thuộc vào sự thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau của các bạn. Người Mỹ chỉ hy vọng một điều: chúng tôi có điều kiện tốt nhất để giúp các bạn, dĩ nhiên, nếu xảy ra tranh chấp gay gắt thì chúng tôi khó làm tròn trách nhiệm mà Tổng thống nước chúng tôi giao cho chúng tôi. Tôi chờ đợi kết quả tích cực của hai phía, tại đây... Xin phép các bạn, tôi phải trở lại công việc thường ngày của tôi. Hôm nay, lực lượng đặc biệt diễn tập chiến đấu quy mô 3 tiểu đoàn trên địa hình rừng núi, cuộc diễn tập trải rộng trong phạm vi 100km vuông, quanh thị xã sẽ kết thúc vào 16 giờ chiều... Tôi bắt buộc ngồi trên trực thăng suốt thời gian diễn tập, trừ một giờ nghỉ ăn trưa... Lẽ ra, trung tá Y Nouth chỉ huy cuộc diễn tập này, song cuộc hội đàm hai bên quan trọng hơn.
James Casey chào và ra khỏi phòng.
“Lão nói dóc!” - Luân cười trong bụng – “Làm quái gì có cuộc diễn tập quy mô như vậy...”
Nguyễn Khánh cảm nhận những lời của James Casey từ góc độ khác: Mỹ tỏ rõ thái độ thiên vị, trong phát biểu James Casey nhắc mấy lần “cuộc gặp gỡ giữa các bạn”, “cuộc hội đàm hai bên”... Hạ một trung tướng Thủ tướng chính phủ bằng một gã trung tá chỉ huy biệt kích!
Điện thoại reo, Nguyễn Quang Sanh thông báo tình hình Sài Gòn. Khánh trả lời. Mặt Y Nouth thoáng vẻ cười cợt.
Đúng là thế của Nguyễn Khánh yếu thêm khi giữa lúc này, Sài Gòn lại tổng đình công...
“Phải thu xếp vụ lực lượng đặc biệt này thật nhanh mới ổn”. Khánh nghĩ trong đầu và bắt đầu nghe Y Nouth trình bày...
Nghe xong, Khánh đề nghị ngưng họp nửa giờ, để đoàn chính phủ hội ý.
- Anh thấy sao? – Khánh hỏi Luân.
- Đòi hỏi hơi cao...
- Quá cao! Song, anh biết cái gì đang diễn ra ở Sài Gòn không?
Luân không biết.
- Tổng đình công, biểu tình lớn... Gay go!
Luân chủ ý kéo dài cuộc thương lượng, làm cho nó bế tắc càng tốt. Y Nouth có lý do để hành động mạnh và Mỹ không trách được anh ta.
- Chuyện Sài Gòn rồi sẽ yên... Nếu không dẹp vụ nổi loạn ở đây, thật nguy hiểm... - Luân gợi ý.
- Đúng là nguy hiểm... Nhưng, nếu Sài Gòn rối loạn, lại xảy ra đảo chính thì sao?
Đó là điều Khánh sợ nhất.
- Khó xảy ra đảo chính lắm!
- Tôi không tin... Anh quên rằng thằng Khiêm đang nắm quân. Anh quên rằng thằng Thiệu... Đảo chính bây giờ dễ ợt!
- Nhưng, còn Mỹ...
- Đảo chính lật đổ tôi thì ăn nhằm gì với Mỹ? Có khi họ còn khoái nữa. Nếu không như vậy, họ cho đám Y Nouth này gây rối làm chi?
- Nhưng, anh phải cẩn thận. Anh tại cớ cho các tướng lãnh chống anh...
- Tôi hiểu. Khó quá! Mọi thứ do Mỹ hết ráo!
Khánh kết luận một cách chua chát.
*
Tin các báo:
Ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực ra sắc lệnh số 4 chỉ định 17 hội viên Thượng hội đồng quốc gia. Thượng hội đồng đã làm lễ trình diện tại hội trường Diên Hồng. Kỹ sư nông học Phan Khắc Sửu được bầu làm chủ tịch Thượng hội đồng.
Phát hiện tại một là rèn ở Xóm Củi trên một ngàn con dao do tàn dư Cần Lao sửa soạn một cuộc tàn sát đẫm máu...
Hội đồng Nhân dân cứu quốc Thừa Thiên họp đại hội, có đại biểu Hội đồng Nhân dân cứu quốc các tỉnh Trung phần tham dự, chuẩn bị thành lập Ủy ban Trung ương Hội đồng Nhân dân cứu quốc nhằm mục đích thanh toán Cần Lao khắp Trung phần.
“Lực lượng sinh viên học sinh bảo vệ giáo dục thuần túy” biểu tình trước Viện Đại học Sài Gòn, yêu cầu “đưa chính trị ra khỏi học đường”. Hội đồng chỉ đạo sinh viên học sinh Sài Gòn cũng ra nghị quyết theo tinh thần tương tự.
Các cuộc bạo động dưới danh nghĩa chống Cần Lao vẫn tiếp tục ở Quy Nhơn và nhiều nới khác.
Thượng tọa Thích Trí Quang yêu cầu Việt Nam Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng ngừng chiến ở vùng bão lụt.
Phó thủ tướng Đỗ Mậu đệ đơn từ chức. Ông Nghiêm Xuân Hồng, bộ trưởng phủ thủ tướng cũng từ chức.
*
Thông cáo của phái đoàn viện trợ Mỹ:
Báo chí Việt ngữ địa phương đưa tin về vụ bắt hàng ngàn dao ở lò rèn Lâm Hiệp Thành, Xóm Củi, thuộc thành phố Chợ Lớn. Phái đoàn viện trợ Mỹ được phép cải chính: đó là nông cụ do phái đoàn thuê để cung cấp cho vùng Bình Định.
*
Bình luận của đài BBC:
Giữa lúc tình hình chính trị ở Sài Gòn rối ren, lực lượng Việt Cộng tấn công mạnh ở các tỉnh Trung phần Việt Nam thì một thượng tọa có danh tiếng ở Nam Việt kêu gọi đôi bên tạm ngừng chiến được giới chính trị và quân sự Sài Gòn hoang nghênh vì nó cứ cho các tiền đồn Nam Việt khỏi bị tiêu diệt.
*
MỘT CÁI CHẾT MỞ ĐẦU
Hélen Fanfani (Financial Affairs).
Sài Gòn, ngày20-10.
Khi bài báo này đến tay bạn đọc thì cả thế giới đã đều biết trước một con người Việt Nam bước lên bục danh dự chỉ dành cho những nhân vật lịch sử và bất tử. Ảnh của anh, được đăng trên khá nhiều báo gần như khắp các lục địa, trừ ở Việt Nam Cộng hòa. Hai tay bị cột vào cọc gỗ, không cần bịt mắt, người thanh niên 25 tuổi mấy giây cuối cùng của mình bằng khẩu hiệu: Cụ Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm! Đội hành quyết hẳn đã run tay vì chính họ, ngày 15-10-1964, đã chứng kiến câu chuyện có vẻ như thần thoại.
Nguyễn Văn Trỗi, người thợ trẻ, đặt mìn dưới chiếc cầu nối sân bay Tân Sơn Nhất và trung tâm thành phố Sài Gòn định giết chét Bộ trưởng quốc phòng Mỹ cách đây không lâu, ý định của anh không đạt được và anh bị bắt. Những người du kích Venezuela thu xếp với chính phủ Mỹ một cuộc trao đổi: sinh mệnh của anh Trỗi và sinh mệnh một sĩ quan Mỹ bị du kích Venezuela cầm tù. Đề nghị hết sức công bằng dù cũng hết sức lạ lùng – mối quan hệ tinh thần giữa hai phong trào chống Mỹ ở hai lục địa cách nhau nửa vòng trái đất.
Có vẻ người Mỹ đắn do. Người ta hy vọng không ai phải chết trong vụ này, nếu cuộc trao đổi xúc tiến.
Thế nhưng, không hiểu do áp lực nào, cuộc trao đổi kết thúc bằng những phát súng. Cả thế giới sửng sốt. Qua báo chí và đài phát thanh nước ngoài, dân chúng Sài Gòn sửng sốt. Sửng sốt vì cách thi hành bản án hấp tấp và từ sửng sốt chuyển sang khâm phục người Cộng sản trẻ nhất định sẽ thành biểu tượng cho nhiều thế hệ Viêt Nam.
Hẳn người cuối cùng ra lệnh thi hành án giờ đang bàng hoàng. Một cái chết của một người dấy lên bao nhiêu suy nghĩ, gợi lên bao nhiêu hành động, nhất là người đó chỉ làm cái việc mà hàng triệu người Việt Nam đang làm: chống lại sự có mặt của người Mỹ trên đất nước họ.
Giới cầm quyền Việt Nam muốn chứng tỏ lòng trung thành của họ với Mỹ ư? Đương nhiên rồi, song cách chứng tỏ quá vụng về, đem lại hậu quả khó lường.
Các bạn nhà báo nước ngoài ở Sài Gòn và không ít nhà ngoại giao bảo tôi: chính phủ của tướng Nguyễn Khánh quả thiếu thông minh.
Cùng ngày, tòa án quân sự xử tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát và một tá sĩ quan cao cấp trong biến động ngày 13-9. Không ai, trong chúng tôi, nghĩ đến một cái gì ghê ghớm sẽ xảy ra. Chắc chắn, nhóm tướng Đức sẽ trắng án. Nhưng, nương nhẹ số sĩ quan dám chiếm thủ đô, mưu toan lật đổ tướng Nguyễn Khánh trong khi xử tử một thanh niên yêu nước, lần nữa, chính phủ Sài Gòn rời vào cơn rồi loạn của mọi tính toán.
Anh thợ trẻ Nguyễn Văn Trỗi chết. Với lớp trẻ Sài Gòn mà tôi gặp gỡ, đó là cái chết mở đầu, như tôi đọc trong sách về cái chết của một học sinh tên Ơn 40 năm trước, mở đầu thời kỳ lớp trẻ Sài Gòn không khoan nhượng với chính quyền khi họ nhận ra chính quyền ấy hiện dưới mọi lăng kính mà cái họ ghét nhất trong một nước sôi sục chủ nghĩa quốc gia: công cụ của Mỹ...
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 10:09 PM.


Powered by: vBulletin Version 3.6.1 Copyright © 2000 - 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.