Go Back   Vina Forums > Thư Viện Online > Kho Tàng Truyện > Truyện Kiếm Hiệp
Hỏi/Ðáp Thành Viên Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #51  
Old 06-14-2005, 02:38 PM
vui_la_chinh vui_la_chinh is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Feb 2005
Nơi Cư Ngụ: Trum Yeu Gai
Bài gởi: 4,697
Send a message via Yahoo to vui_la_chinh
Default

Đi được lối mười bước, Hứa thị đau tưởng chết được liền, vô nằm đỡ một phòng trọ
Lúc đó đã gần hết canh một và bên ngoài gió ấc rít từng cơn. Năm nay trời rét hơn mọi năm nhiều. Cô mụ lật đật chạy tới, sai đốt dăm bảy lò than sưởi cho ấm cho hứa thị và cụ bị mọi thứ cho vợ Trình Vĩnh anh ngay trong phòng trọ.
Trình Vĩnh được cấp báo cũng bỏ tiệc chạy về. Hắn muốn đưa vợ xuống phòng riêng nhưng mụ cản vì sợ đi qua sân hứa thị nhiễm lạnh.
Nhà Trình Vĩnh vui như tết. Đèn thắp sáng choang, gia nhân chạy tới chạy lui, cười cười nói nói thiệt là vui vẻ. Trình Vĩn và tài phú Trương vạn ngồi đánh cờ cho đỡ sốt ruột…
Tiếng trống cầm canh thong thả buông ba tiếng ngắn ngủi vào đêm dài vô tận. Lát sau, có tiếng trẻ sơ sanh khóc ré lên. Trình Vĩnh đứng phắt dậy lật đật chạy tới trước phòng hỏi vọng vô: “Trai hay gái”. Cô mụ mau mắn đáp “Con trai, ông à!”.
Tài phú Trương Vạn vừa tới sau lưng chủ, nghe vậy reo lên:
- Tốt quá, tốt quá. Cái phòng này từ nay hết xui rồi.
Trình Vĩnh ngạc nhiên hỏi:
- Anh nói chi kỳ vậy? Cái phòng này làm sao mà hết xui?
- Uûa ông chủ quên rồi sao? Cũng ngày hai bảy tết này, cách đây ba năm, có Sãi Giang Long đến trọ tại phòng này rồi sớm hôm sau chuồn mất, không trả tiền trọ.Và cũng từ ngày đó, khách trọ nào ở phòng này sáng ra cũng xin đổi phòng. Người thì bảo có ma, kẻ thì bảo nó u uất thế nào ấy.
Trình Vĩnh giật mình nhớ lại chuyện năm xưa. Thôi đúng rồi, con trai đầu lòng của hắn vừa cất tiếng chào đời ngay trên giường mà trước đây hắn đã hạ sát một người để cướp của, mà kỳ dị hơn nữa là cũng vào cùng một ngày và gần như cùng một giờ!
Hắn tái mặt, cố làm ra vẻ bình tĩnh dò thử xem người làm có nghi ngờ gì không:
- Chuyện tầm bậy. Riêng anh, anh thấy sao?
- Tôi cứng bóng vía, ma nào mà nhát nổi tôi. Có lẽ cái phòng hơi tối và ẩm thấp, tôi nghĩ ông nên cho trổ thêm cửa sổ thì hết chuyện ngay.
- Cái đó thì được. Tết xong anh cho làm ngay đi.
- Tôi sẽ cho gọi thợ làm sau khi khai hạ. Bây giờ mời ông qua khoang ngoài uống rượu mừng quý tử.
Sau khi cạn chén, Trình Vĩnh về phòng nghỉ. Đêm đó hắn trằn trọc mãi không ngủ được. Những chuyện “đầu thai báo oán” mà hắn thường nghe kể lại hồi còn nhỏ, nay cứ quay cuồng trong đầu óc hắn. Tới gần sáng, mệt quá, hắn chợp mắt được một lúc. Trong lúc thiếp đi hắn mơ toàn là những cảnh hãi hùng.
Sáng dậy hắn thấy người mệt mỏi, tâm trí hoang mang. Nhưng sau hắn định thần lại và tự nhủ:
- Tất cả chỉ là một sự ngẫu nhiên, can chi mà phải lo âu, sợ hãi.
Từ bữa đó hắn cố không nghĩ đến chuyện cũ và rồi công việc hằng ngày quá bề bộn cũng giúp hắn quên dần vụ sãi Giang Long.
Đứa con trai của Trình Vĩnh thiệt là bụ bẫm và kháu khỉnh, ai trông thấy cũng phải khen. Khi nó đầy tháng, Trình Vĩnh mở tiệc ăn mừng và đặt tên con là Trình Tích.
Tích hay ăn :Dng lớn và ngày càng khôi ngô, dĩnh ngộ. Vợ chồng Vĩnh chiều con vô cùng, nhất là về sau Hứa thị không sanh thêm đứa nào nữa. Thôi thì Tích muốn gì được nấy, muốn sao được vậy. Năm nó lên bảy ,Vĩnh bắt nó đi học, nó chẳng chịu, la khóc ầm ĩ, làm mình làm mẩy. Vợ chồng Vĩnh đành chịu. Lớn hơn một chút, suốt ngày nó đánh bạn với lũ trẻ mất nết quanh vùng, tới bữa cơm gia nhân phải đi mời năm lần, bẩy lượt nó mới chịu về. Một hôm, nó đùng đùng chạy về nhà, kiếm Hứa thị và hỏi giật giọng:
- Ba đâu má?
Ít khi thấy Tích hỏi đến cha nó, nên Hứa thị ngạc nhiên đáp:
- Ba đi vắng. Có chi đó con?
- Ba là thằng ăn cướp!
Hứa thị ngỡ con nói đùa, vội ôm lấy nó mà nựng rằng:
- Con giai của má chớ nói nhảm. Ba biết, ba la à.
Tích quắt mắt bảo mẹ:
- La gì? Ba đúng là thằng ăn cướp mà.
Nói rồi nó lại bỏ chạy đi chơi.
Lúc Trình Vĩnh về thấy vợ ngồi khóc mới hỏi duyên cớ. Hứa thị thuật lại câu chuyện vừa xẩy ra. Vĩnh lặng thinh không nói chi cả. Hắn chờ lúc chỉ có hai cha con mới na6t nó:
- Lần sau không được nói bậy nữa nghe Tích.
- Cái chi mà bậy? Ba là thằng ăn cướp không phải sao?
Vĩnh vừa giận vừa sợ, bèn ngọt ngào dỗ Tích để biết ai sui nó nói bậy. Nó đáp, nghe tụi bạn nói.
Sau bữa đó, Vĩnh bắt con ở nhà học. Học được vài chữ, nó cự lại cả ông đồ rồi lại bỏ đi chơi. Vĩnh ahy tin la Hứa-thị ở nhà mà không biết dạy con. Hứa thị bưng mặt khóc ròng.Vợ chồng người bạn thân là Nghiêm Chánh đến chơi hay đặng câu chuyện mới nhận khuyên bảo Trình Tích giúp.
Hai người ra công khuyên nhủ con bạn nhưng vô ích, nó vẫn chứng nào tật ấy.
Trình Vĩnh cả giận la mắng con om sòm. Tích ngồi nhà được một lúc lại trốn đi chơi. Cứ như thế, đến năm mười sáu tuổi thì Trình Tích trở thành một tên du đãng có hạng. Qua năm sau nó lại biết uống rượu và đánh bạc như người lớn vậy. Nguy hại hơn nữa, nó còn đua đòi mấy tay ngỗ ngược trong vùng, tập múa gậy, đánh dao và thường bỏ đi đôi ba ngày mới về.
Trình Vĩnh ham đi đánh bạc không mấy khi có nhà. Khi về có hỏi đến con thì Hứa thị lại tìm cách bưng bít che đậy cho Tích.
Tuy vậy, một lần trình Vĩnh bắt gặp Tích la cà nơi tỉu điếm, Hắn nổi giận la mắng con một hồi rồi lôi nó về nhà nhốt trong phòng. Tích đập phá ầm ầm và réo tên cha lên và hăm giết. Vĩnh tím mặt toan lấy gậy đập con. Hứa thị nhẩy vào can, một mặt van xin Vĩnh, một mặt năn nỉ con. Từ bữa đó, Tích được thể, hễ mỗi lần bị rầy la hay bị trái ý là lại giở giọng sát phụ ra, ai khuyên thế nào cũng không được. Và cũng từ bữa đó, Tích ngang nhiên muốn đi lúc nào thì đi, về lúc nào thì về, không sợ ai chi nữa.
Tài phú Trương Vạn thấy Tích càng ngày càng ngỗ nghịch cũng cám cảnh, thốt tiếng than rằng:
- Cho hay, bé không vin cả gẫy ngành.
Rồi một hôm, Tích về nhà nạt mẹ lấy bạc và ra chợ mướn thợ rèn một cây đoản đao thật bén. Nó giấu đao vào túi vải đeo trên lưng rồi lần sang nhà vợ chồng Nghiêm Chánh, ở làng bên.
Thấy con trai bạn đến, Nghiêm chánh mừng rỡ, giữ lại ăn cơm. Mọi người và ngay cả vợ chồng Nghiêm Chánh đều lấy làm lạ về cách xử sự của trình Tích đối với vợ chồng nhà này. Nều Tích hỗn hào với cha bao nhiêu thì trái lại nó lễ phép với bạn cha nó bấy nhiêu.
Nghiêm Chánh vui vẻ hỏi con bạn:
- Cháu sang có việc chi không? Bên nhà ba má bình yên cả chứ, ba cháu có nhắn gì chú không?
Tích đang cười bỗng sa sầm nét mặt gay gắt đáp:
- Đừng nhắc đến cha tôi nữa. Nó là thằng ăn cướp, tôi muốn giết nó nên đã sắm đoản đao sắc bén đây rồi. Chú hay, ngày mai tôi sẽ ra tay đó.
Nói đoạn, nó lầm lì rút phắt đoản đao trong túi vải ra, múa lên trước mặt Nghiêm chánh. Ông này bình tĩnh đứng dậy, giơ tay nói lớn:
- Aáy chớ, cháu không nên làm thế. dẫu sao cũng còn tình cha con, cháu đừng để người đời chê cười.
Tích thu đao về và đáp:
- Thế nào cũng giết, nội ngày mai thôi. Chú nghe chưa?
Vợ Nghiêm Chánh là Huỳnh thị cũng chạy lại khuyên can con bạn nhưng nó đã giắt đao trong lưng vứt lại túi vải rồi lũi lũi đi ra. Huỳnh thị lắc đầu bảo chồng:
- Có bao giờ nó làm quá như thế đâu?
- Ừ, Những lần trước mình khuyên giải nó, tuy rằng nó không nghe lắm nhưng cũng còn giữ lễ độ đôi chút. Tôi xem ý nó tính giết bác Vĩnh thiệt, bà nghĩ sao?
- Tôi cũng nghi vậy.
- Bây giờ tính sao đây? Không lẽ để cha con họ Trình giết nhau. Hay là để tôi sang báo cho hai bác ấy biết mà đề phòng.
Huỳnh thị xua tay can:
- Ông qua nói thì cũng được ::146a7::, hiềm một mỗi hai bác ấy cũng không làm gì được. Muốn khỏi họa chỉ còn một cách… là đi báo quan.
- Thằng Tích nó mới mười lăm thôi mà đã đi báo quan sao đặng?
- Thế ông chờ nó đi giết cha nó rồi ông mới đi cáo quan à? Mà tới nước đó ông cáo cái gì? Ông có chứng kiến nó sát phụ đâu mà cáo, còn nếu ông khai có biết trước nó sẽ giết bác vĩnh thì ông lại bị quan hạch hỏi tại sao thấy nó nhất quyết giết cha mà không đi cáo ngay để quan ngăn chặn?
Nghiêm Chánh gật đầu nói:
- Bà nói có lý. Thôi để tôi làm đơn cáo ngay với Bao đại nhơn.
Tiếp được đơn của Nghiêm chánh, Bao Công cho lính hoả bài cấp tốc đi đòi vợ chồng Trình Vĩnh đến và hỏi rằng:
- Dạ phải.
- Nghiêm Chánh là thế nào với vợ chồng ngươi?
- Dạ, là bạn thân.
- Nay Nghiêm Chánh đệ đơn cáo với ta rằng Trình Tích vừa đến nhà y hắn sẽ giết cha, nội trong ngày mai. Tên Tích cũng đã sắm sẵn đoãn cây đoản đao bén giắt trong lưng. Vậy vợ chồng ngươi nghĩ sao?
Trình Vĩnh thưa:
- Con tôi đã từng nhiều lần hăm giết tôi, nay nó tới nhà Nghiêm Chánh nói vậy thì cũng không có chi là lạ.
Hứa thị tiếp lời chồng:
- Thưa thượng quan, nó thường hăm giết cha nó trước mặt tôi. Tôi có rầy la nó nhiều lần mà không được.Nhưng nó chỉ hăm thế thôi chớ chưa có thấy mang khí giới bao giờ.
Bao Công chậm rãi nói:
- Theo lời khai của Nghiêm chánh thì đây là lần đầu tiên hắn nghe nói như vậy và xem ra có vẻ quả quyết lắm.
Thế ra thằng Tích hăm doạ giết cha từ lâu rồi ta chắc lần này nó mần thiệt à. Nhưng tại sao nó lại ngỗ nghịch như vậy?
Vợ chồng Trình Vĩnh đều thưa không rõ nguyên nhâ. Có lẽ là tại quá nuông chiều nó vì nó là con một. Bao Công suy nghĩ một lát rồi truyền vợ chồng Vĩnh ra chờ ở ngoài. Đoạn ông sai lính đi bắt trình Tích và mời mấy người lân bang tới cho ông xét hỏi.
Lát sau, lính áp giải Trình Tích và bốn người lối xóm đến trước công đường.
Bao Công quát hỏi:
- Trình Tích, cớ sao mi lại có ý giết cha?
Tích cúi đầu đứng yên, chẳng nói chẳng rằng. Bao Công vỗ án la vang nhà, nó cũng vẫn lặng thinh. Bao Công liền hỏi mấy người lân bang:
- Các ngươi có thấy tên này hăm giết cha nó hồi nào không?
Họ đồng thanh “có”. Rồi mỗi người trình bày đầy đủ chi tiết về trường hợp đã được nghe Tích hăm như vậy. Họ còn khai thêm có thấy Tích giấu con dao trong lưng hồi sáng nay.
Bao Công hô lính khám người Tích. Không có vũ khí gì cả!
Một ông hàng xóm đưa ra ý kiến:
- Thưa thượng quan, chúng tôi không dám man khai. Nó hăm giết cha nó nội ngày mai. Chắc đao nó giấu ở trong phòna8
Lính được lệnh đền xét, quả thấy cây đoản đao sắc bén Trình Tích giấu dưới chiếu, ở đầu giường, liền đem về trình Bao Công. Bao Công hỏi Tích:
- Phải cây đao này mầy sắm để hạ sát ba mầy không?
Tích vẫn lặng thinh, không trả lời.
Bao Công tức giận sai tạm giam hai cha con họ Trình lại và ông gọi vợ chồng Nghiêm Chánh cùng bốn người lối xóm, riêng từng người một. Với ai Bao Công cũng đặt câu hỏi: “Có biết vì sao thằng Tích có ý định giết cha nó không”. Mọi người đều thưa:
- Dạ không biết đích xác, chỉ nghe Tích khai cha nó là thằng ăn cướp!
- Theo ngươi thì trình Vĩnh, cha đẻ của Tích là người thế nào?
- Da, hắn tuy có hay rượu chè cờ bạc nhưng là người biết làm ăn.
Hỏi xong, Bao Công truyền cho mọi người ra về. Ông tự bảo:
- Tình cha con thắm thiết, nay tên Tích có ý sát phụ, tất nhiên phải có điều chi uẩn khúc. Một là nó điên khùng, hai là nó có biết điều gì về cha nó đây. Ừ, mà tại sao nó nói khắp nơi cha nó là thằng ăn cướp? Vậy thì phải tìm biết dĩ vãng của trình Vĩnh mới được.
__________________




**************************************************
TRUM YEU GAI , CHET VI GAI
SONG DE YEU , CHET VI YEU
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #52  
Old 06-14-2005, 02:38 PM
vui_la_chinh vui_la_chinh is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Feb 2005
Nơi Cư Ngụ: Trum Yeu Gai
Bài gởi: 4,697
Send a message via Yahoo to vui_la_chinh
Default

Nghĩ vậy, ông liền kêu hai thám tử vô dạy phải đi điều tra ngay về gia thế, nguồn gốc tài sản cùng tánh tình hạnh kiểm của cha con Vĩnh- Tích.
Chiều hôm sau, các thám tử phúc trình kết quả đầy đủ cuộc điều tra. Suốt đêm đó, Bao Công ngồi nghiên cứu hồ sơ và suy nghĩ dữ lắm. Bỗng Bao Công gật đầu, vuốt râu, ra chiều đắc ý, miệng lẩm bẩm:
- Trình Vĩnh lúa còn nhỏ cũng chơi bời lêu lỏng, kết bạn với phường du đãng, thích rượu chè cờ bạc. Tới lúc cha mẹ qua đời, hắn mới gom góp tiền bạc mở một tiệm ngủ nhỏ có bốn phòng gần bến đò làm phương tiện sinh nhai. Kể ra cũng tạm đủ sống là may vì vì hắn lười bếng không muốn vất vả lại ham chơi bời. Vậy mà đột nhiên ba năm sau hắn trở nên cự phú sau một thời gian vắng nhà lối một năm, nói là đi buôn bán nơi xa. Rất có thể y trúng mối nên mới :Dng giàu. Nhưng tiền đâu ra mà buôn bán đã chứ? Thằng Tích năm nay mười bảy tuổi, lại ra đời sau khi cha nó đã trở thành đại phú. Theo cuộc điều tra thì từ ngày có thằng Tích, cha nó đều đều chớ không có bộc phát nữa. Vậy thời kỳ khả nghi nằm trong khoảng từ mười tám đến hai mươi năm trước, tức là sau khi song thân Trình Vĩnh qua đời và trước khi thằng tích.
Nói đoạn bao Công lấy bút son phê lên hồ sơ một hàng chữ như sau: “Nếu hắn có ăn cướp thì là vào khoảng từ mười tám đến hai mươi năm trước. Cướp của ai? Ơû đâu? Lúc nào?”
Phê xong Bao Công xếp hồ sơ, thổi tắt cây bạch lạp và đi nằm.
Đang lúc mơ màng giấc điệp, Bao Công chiêm bao thấy mình đứng ngắm cảnh ở bờ sông. Đột nhiên ông thấy mặt nước sôi lên sùng sục. Rồi thì một con rồng đen từ từ nổi lên trên mặt nước. Nó phun nước ầm ầm một hồi, gương đôi mắt to tròn nhìn Bao Công trừng trừng.
Bỗng nó bay lại phía ông. Bao Công sợ hãi toan bỏ chạy nhưng không kịp, rồng đen đã đến trước mặt rồi. Giữa lúc Bao Công luống cuống thì có tiếng nói từ trên lưng rồng vọng xuống:
- Bao Đại nhơn đừng sợ. Con thần Long này tuy dữ tướng nhưng rất hiền lành, không làm hại Đại nhơn đâu. Bữa nay bổn thần muốn nói với Đại nhơn một điều.
Bao Công ngẩng lên thấy trên lưng rồng có một vị thần, mình vận áo rồng bào, tay cầm hốt bạc, đầu râu tóc bạc phơ.
- Xin Đại nhơn đừng trách thằng con bất hiếu ấy. Chẳng qua là hai mươi năm về trước mà ra như vậy. Nó là hậu thân của con hắc Long này.
Nói rồi, cỡi rồng bay đi mất. Bao Công giật mình tỉnh giấc thì trời cũng vừa hừng sáng, bèn sửa soạn đăng đường.
Ông cho kêu trình Vĩnh lên và hỏi rằng:
- Tài sản hiện nay của nhà ngươi ước độ bao nhiêu lượng bạc?
- Thưa thượng quan, lối hơn một trăm lượng.
- Cha nhiều dữ à. thế gia nghiệp ấy do ông bà để lại hay là do ngươi tạo lập ra?
- Thưa, cha mẹ chết đi để lại chút ít, chỉ để mua lại căn nhà nhỏ bé làm tiệm ngủ kiếm ăn.
- Ờ, nhưng nghe nói ngươi có đi buôn xa mà?
- Dạ có đi lối một năm, trúng lời nhiều mà thành giàu có.
- Tiền đâu ra mà vừa nhà ngủ lại vừa đi buôn.
- Dạ thưa dạ nhờ tiệm ngủ đông khách, nhiều lời nên có vốn đi buôn thêm.
- Nhà có nuôi tài phú phải không?
- Dạ phải, tên trương vạn là tài phú của tôi.
- Tiệm ngủ có giữ sổ sách không?
- Dạ có, vì có tài phú giỏi.
- Cha mẹ ngươi chết cách đây hai mươi năm, ngươi trở nên giàu có cách đây lâu mau?
- Dạ lối mười tám năm chi đó.
Hỏi tới đây Bao Công truyền dẫn Trình Vĩnh trở lại nhà giam rồi sai lính hoả bài đòi trương Vạn đem sổ sách về ba năm đầu tiên thành lập tiệm ngủ.
Lát sau Trương Vạn ôm ba cuốn sổ vô tới công đường. Bao Công mở cuốn có đề chữ “đệ nhất niên” và lật từng trang ra coi.
Xem xong ông gập sổ lại và bảo trương Vạn:
- Nhà ngươi giữ sổ sách phân minh lắm, ta có lời khen. Theo các điều ghi trong cuốn sổ này thì năm đầu cũng chẳng lời gì cho lắm, phải không?
- Dạ phải.
- Đã không lời mà chủ ngươi lại nuôi tài phú và hay rượu chè, cờ bạc, thì đủ ăn là hay phải không?
- Dạ, tệ hơn thế vì hụt vào vốn.
- Thế qua năm thứ nhì… thì có khá hơn không?
- Thưa khá hơn vì đầu năm thứ nhì, ăn tết xong, chủ tôi cho biết sẽ đi buôn bán nơi xa. Mới đầu tôi tưởng chủ tôi dẹp tiệm ngủ lấy vống đi buôn nên có ý buồn rầu. Nhưng không phải vì ông có đưa thêm vốn cho tôi…
- Bao nhiêu có nhớ không?
- Dạ năm lượng bạc chẵn.
- Đưa ngày mấy tháng giêng?
- Ngày bảy tháng giêng, sau khi khai hạ.
- Bữa trước có ai đến trọ không?
- Không, người khách nọ đầu tiên đến ngày mười tức là hai bữa sau khi chủ trao năm lượng bạc.
- Ngươi có trí nhớ tài nhỉ!
- Cái đó có ghi vô đầu sổ “đệ nhị niên” này. Khi quan đòi mang sổ lên, tôi có lật ngay trang đầu và trang cuối mỗi sổ coi qua lại để biết đường trả lời.
- Ngươi cũng thông minh đấy. Để ta coi có đúng không.
Bao Công vừa nói vừa mở sổ đệ nhị niên ra xem rồi gật đầu nói:
- Được rồi. Nhờ năm lượng bạc đó, ngươi ở nhà duy trì được nhà ngủ và cuối năm đó chủ ngươi trở về, hô là trung mối giàu to và qua năm thứ ba xuất thêm bạc ra khuếch trương nhà ngủ. Năm ấy chủ ngươi lấy vợ vá cuối năm sanh con trai đặt tên là Trình Tích. Phải vậy không?
- Dạ phải, thượng quan biết rõ mà chưa cần coi sổ đệ tam niên thì ngài quả có tài xét đoán như thần, đúng là lời đồn đại trong dân gian.
Bao Công không đáp chỉ lặng lẽ mở cuốn sổ thứ ba ra coi. Ông thấy ghi rõ số vốn Trình Vĩnh xuất thêm là tám mươi lượng bạc. Coi xong Bao Công hỏi trương Vạn:
- Trở về câu chuyện đầu năm thứ nhì, ngươi nói sau tết Trình Vĩnh có xuất năm lượng bạc để lại cho ngươi trước khi đi xa buôn bán. Ngươi có biết số bạc ấy hắn lấy ở đâu ra?
- Thưa, lâu ngày tôi quên rồi.
Bao Công cố hỏi:
- Ráng nhớ lại coi nào?
- Thưa hình như chủ tôi nói là vay được.
- Bây giờ ngươi tạm ra ngoài chờ ta sẽ hỏi yhe6m.
Trương vạn lui ra rồi, Bao Công mới thong thả xem kỹ lại ba cuốn nhật ký của tiệm ngủ Trình Vĩnh . Ông cau mày suy nghĩ hồi lâu rồi lẩm bẩm:
- Chỉ có hai giả thuyết. Một là Trình Vĩnh ăn cướp của ai ở ngay trong vùng vào khoảng cuối năm thứ nhất đầu năm thứ nhì. Hai là hắn làm điều chi phi pháp trong thời gian nói là đi buôn nơi xa, tức là năm thứ nhì. Thiệt là khó nghĩ quá. Làm sao tra ra manh mối bây giờ.
Ông đứng dậy chắp tay sau lưng đi bách bộ trong công đường. Bỗng ông nảy ra một ý kiến liền kêu thơ lại vô giao cho cuốn sổ “đệ nhất niên” của tiệm ngủ Trình Vĩnh và bảo rằng:
- Người chép riêng ra cho ta, tên họ cùng ngày đến và đi của các khách trọ nội trong tháng chạp. Khi làm xong kêu ngay Trương vạn vô cho ta hỏi nghe.
Lát sau, viên thơ lại cùng tài phú Trương Vạn trở vô. Bao Công xem qua danh sách khách trọ rồi trao cho Trương Vạn và hỏi rằng:
- Trong những người này, có ai than phiền bị mất bạc trong lúc trọ ở tiệm ngươi không?
- Dạ không, nếu có thì đã ghi trong sổ.
Bao Công soát lại sổ rồi đáp:
- Ờ không có thiệt. Thế còn cái ông Sãi Giang Long này đến chiều hai bảy tết rồi thấy ngươi ghi bỏ ra đi hồi nào không hay, tiền trọ không trả. Câu chuyện thế nào ngươi có nhớ không?
Thấy Trương Vạn có vẻ suy nghĩ, Bao Công nói tiếp:
- Câu chuyện đã lâu ngày, hai mươi năm còn chi. Ngươi cố ráng nhớ lại coi.
- Thưa, tôi nhớ ra rồi, Sãi Giang Long là khách cuối cùng của năm đó, vì là hai bảy tết rồi. Tối đó chủ tôi và tôi uống rượu quá say ra thấy cửa sau mở tôi mới kêu chủ cho hay.
- Nhà chùa này từ đâu đến và có mang theo tiền bạc chi không?
- Không nghe thấy từ đâu đến. Chỉ nghe sãi ấy cho hay theo lệnh thầy đi về chùa đang xây cất dở ở phía Đông Nam bến đò, lối chừng ba mươi dặm. Còn tiền bạc thì tôi không rõ. Nếu có ông ta đã trả tiền trọ, hà tất phải bỏ đi như vậy.
- Ngoài việc trên đây, ngươi có biết chủ ngươi đi buôn bán qua những vùng nào không?
- Dạ có nghe chủ nói đi làm ăn ở vùng Nam đất Tây Hộ này.
- Thôi được, bây giờ ta cho ngươi về. Hễ có lệnh đòi thì phải lên ngay và cấm ngặt không được tiết lộ cho ai những điều ta hỏi. Còn ba cuo61nnha65t ký này, ta cần giữ lại coi, chừng nào xong sẽ trả.
Trương Vạn vái chào ra về. Bao Công cho đòi gấp hai thám tử Trương Long và Triệu Hổ vô và truyền rằng:
- Hai ngươi nghe cho kỹ các điều ta dặn đây mà làm cho đúng. Trương Long khá đi ngay về phía Đông Nam bến đò, vô hỏi các chùa xem có vị sư sãi nào tw6n là Giang Long và xem người đó còn sống hay đã mất tích cách đây hai mươi năm và nếu mất tích thì hỏi có đem bạc chi không? Còn Triệu Hổ hãy xuống ngay vùng phía Nam đất Tây Hộ hỏi các quan sở tại xem lại sổ sách coi có vụ cướp bóc hay giết người cướp của xảy ra cách đây mười chín năm, mà tra không ra thủ phạm. Dù có hay không họ cũng phải lập tức phúc trình cho ta rõ.
Hai thám tử vâng lệnh lên đường ngay sáng hôm đó. Trong khi chờ đợi kết quả cuộc điều tra ở các nơi, Bao Công cũng ra lệnh cho thơ lại bổn đường lục hồ sơ các vụ trộm cướp sát nhân mười chín năm trước.
Thời gian lặng lẽ trôi qua. Cha con họ Trình bị tạm giam thấm thoát đã gần nửa tháng rồi. Cũng trong khoảng ấy Bao Công nhận được phúc trình của các nơi cho biết năm đó vì trúng mùa lại làm ăn dễ dàng nên các vụ trộm cướp hầu như không có xảy ra. Bao Công tự bảo:
- Nếu vậy thì Trình Vĩnh nói là trúng mối là trúng mối lớn nên giàu to cũng không phải là vô lý. Nếu Trương Long lại tìm ra sãi Giang Long thì đúng mình nghi oan cho Trình Vĩnh và thằng con nó phải bị chém đầu.
Nhưng hai bữa sau, mới sáng chưa tỏ mặt người, đã có lính vô bẩm với Bao Công có trương Long trở về xin vào trình gấp công việc.
Bao Công lật đật trở dậy ra công đường cho đòi Trương Long vào hầu.
Thám tử trình rằng:
- Tuân lệnh thượng quan, tôi đến dọ hỏi mấy chục chùa lớn nhỏ cách bến đò ba mươi dặm về phía Đông Nam, vì các chùa ở rải rác và có nhiều ngôi lập trên sườn núi nên thiểm chức phải mất nhiều ngày giờ…
Bao Công suốt ruột ngắt lời:
- Ta cũng dư biết như vậy rồi. Kết quả ra sao nói ngay đi đừng dài dòng nữa.
- Thưa thượng quan tôi đã tìm ra tung tích sãi Giang Long và có ghi đầy đủ vào phúc trình này.
Vừa nói thám tử vừa đệ lên án thư một tờ giấy viết đầy chữ.
Bao Công cầm lấy coi rồi gật đầu nói:
- Tốt lắm. Vậy là ngày hai bảy tết cách đây hai mươi năm, Hoà thượng củ trì chùa này có biểu sãi Giang Long đem về chùa một trăm lượng bạc do thiện nam tín nữ công quả nhà chùa để xây chùa mới, tô tượng, đúc chuông. Nhưng chờ mãi không thấy sãi ấy trở về. Có lẽ đúng là người đã đến trọ tại tiệm Trình Vĩnh đây.
Ủa mà sao ngươi không hỏi Hoà Thượng có trình báo cho quan quân biết không?
- Dạ có mà quên ghi vào tờ trình vì thiểm chức tưởng không quan hệ.
- Cũng được, thế Hoà Thượng trình ở đâu và kết quả ra sao?
- Dạ, trình với quan huyện sở tại, nhưng không rõ kết quả.
- Cái ông huyện này làm việc tắc trách quá. Ông ta đi đâu rồi.
- Dạ quan ấy hồi hưu rồi qua đời đã mười năm nay.
- Thôi cho ngươi về nghỉ. À khoan đi vội, chờ ta một chút. Nói đoạn Bao Công mở kéo lấy bạc ra thưởng cho thám tử.
Thám tử vái tạ lui ra. Bao Công đứng dậy toan vô thay áo đại thần để đăng đường bỗng chợt ông vỗ trán kêu:
- Trời! Hèn chi đêm nọ ta chiêm bao thấy con rồng đen ở sông nổi lên. Giang là sông Long là rồng. Giang ngạn Hắc long, rồng đen bên bờ sông. Thôi đúng là tên Vĩnh đã sát hại sãi giang Long để đoạt một trăm lượng bạc rồi.
Nói đoạn, Bao Công kêu lính sửa soạn bữa nay ông đăng đường xét hỏi Trìng Vĩnh sớm.
Lát sau, Bao Công vận áo đại thần ngồi uy nghi lẫm liệt trên ghế bành phủ da báo, hai bên có lính cầm gươm đứng hầu.
Ông truyền lính áp giải Trình Vĩnh vô và hỏi hắn rằng:
- Con ngươi có ý định giết bố, nó sẽ bị chém đầu, nhưng nhà ngươi cũng có tội… Vậy chuyện thật thế nào mau khai ra.
- Con tôi hung hăng, ngỗ nghịch tôi không thể dạy nó được nữa, nay thượng quan xử tử nó tôi cũng bằng lòng.
Bao Công cười nhạt, hỏi tiếp:
- Ngươi chưa hiểu ý ta. Ta muốn hỏi ngươi về một chuyện cũ kia.
- Thưa thượng quan có chuyện gì đâu?
Bao Công nhìn Trình Vĩnh không chớp mắt rồi chậm rải hỏi lớn:
- Chuyện sãi Giang Long cách đây hai mươi năm, nhớ không?
Tên chủ tiệm ngủ sợ quá tái mặt, chân tay run rẩy.
Bao Công thấy vậy liền vỗ án quát vang như sấm:
Giết sãi Giang Long đêm hai bảy tết để đoạt một trăm lượng bạc, đúng là mi. Mau nhận tội đi. Trương vạn cũng đã khai rồi. Có nhận tội không?
Trình Vĩnh luống cuống đáp:
- Dạ thưa có…
Rồi hắn ngưng bặt, trán đổ mồ hôi. Bao Công hô lính đem lò than hồng và kìm kẹp ra. Trình Vĩnh hết hồn đành khai ra hết.
Bao Công liền cho đào dưới gầm giường trong nhà ngủ thì quả nhiên bắt gặp xác sãi Giang Long còn nguyên không rã, chỉ khô quắt lại thôi. Gia nhân của Vĩnh đứng đó thấy vậy bảo nhau:
- Chắc là đầu thai báo oán đây. Năm xưa Hứa thị hạ sanh Trình Tích cũng tại phòng này.
Dân chúng hay tin kéo đến xem đông như kiến cỏ.
Bao Công nghe nói, cũng xuống tận nơi xem xét.
Trở về Nha, ông ra lệnh hạ ngục Trình Vĩnh rồi cho đòi Trình Tích lên hầu. Ông không đả động đến chuyện Trình Vĩnh giết sãi Giang long và hỏi liền:
- Bây giờ ngươi còn muốc giết cha nữa không?
Nó không trả lời.
Bao Công lại hỏi:
- Ta cho ngươi đi xứ khác làm ăn, không gặp mặt cha nữa chịu không?
Lúc đó Tích mới đáp cộc lốc:
- Tôi không có tiền.
- Ta cho một trăm quan làm vốn thì ngươi làm nghề gì?
- Cho một trăm quan thì tôi đem công quả vào chùa rồi thí phát quy y cửa phật.
Bao Công sai tịch thu tài sản của Trình Vĩnh xung vào công quỹ rồi trích xuất một trăm quan giao cho Trình Tích.
Tích cám ơn rồi lặng lẽ ra đi.
Bao Công ngồi suy nghĩ hồi lâu rồi cầm bút làm án tuyên xử đày Trình Vĩnh đi nơi biên địa.
__________________




**************************************************
TRUM YEU GAI , CHET VI GAI
SONG DE YEU , CHET VI YEU
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #53  
Old 06-14-2005, 02:39 PM
vui_la_chinh vui_la_chinh is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Feb 2005
Nơi Cư Ngụ: Trum Yeu Gai
Bài gởi: 4,697
Send a message via Yahoo to vui_la_chinh
Default

Hồi 22

CON THIÊN MIÊU


(Lời tác giả – Đây là án lạ lùng nhất trong cuốn bao Công kỳ án của Trung Hoa, chúng tôi xin ghi lại đây để bạn đọc nhàn đàm trong dịp đầu xuân)
Xưa tại huyện trung Hà bên Tàu, tại một xóm làng cách núi Thiên Trước lối bốn dặm, có chàng Thi Tuấn, khôi ngô tuấn tú, tuổi mới hai mươi đã đâu tú tài. Vợ Thi Tuấn “khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”.
Hai vợ chồng rất tâm đầu ý hợp. Nhờ nhà khá giả, nên Thi Tuấn chỉ chăm lo dùi mài kinh sử chờ ngày vô kinh đô dự thi.
Tuy đã thuộc hết tứ thư, ngũ kinh nhưng chàng vẫn chưa dự thi, cố trao dồi kiến thức , cho ngày thêm tinh thông. Đến năm ba mươi tuổi, Thi Tuấn mới quyết định tranh tài với thiên hạ.
Nghe chồng nói, Hà Liễn lặng thinh không đáp. Thi Tuấn ngạc nhiên hỏi vợ:
- Uûa, anh ra đi lập công danh sao nàng lại có ý không vui?
- Sự lập công danh là nam nhi chi trí, thiếp lẽ nào không biết, và lẽ nào không vui. Tuy nhiên thiếp buồn vì phải xa chàng.
Thi Tuấn nhún vai cười đáp:
- Cho hay nhi nữ thường tình.
Nàng lại bị ám ảnh bởi các câu chuyện hoang đường ma quỷ chớ gì?
Hà Liễn lè lưỡi nói:
- Aáy chàng chớ bạo mồm như vậy. Tục truyền trong dãy Thiên trước mà chàng sẽ đi qua, thường có tàng tụ nhiều loài yêu quái.
- Mình là người, sợ chi loài ấy?
- Ngặt một điều là trên núi có năm con chuột từ bên xứ Thiên trước qua tu luyện đã lâu năm thành tinh, nên có tài biến hoá vô cùng. Chúng hay biến thành người để hãm hại kẻ lữ hành qua dãy núi rừng này. Bầy yêu tinh ấy ghê gớm lắm…
Hà Liễn vừa nói tới đây thì có gia nhân thân tín là Tiểu Nhị bưng nước lên, thoáng nghe nói mới hỏi Hà Liễn rằng:
- Mợ nói chi đến yêu tinh vậy?
Thi Tuấn cướp lời đáp:
- Mợ mày đang doạ tao về chuột yêu tinh ở núi Thiên Trước. Ta đâu có ngán. Để coi ta nạt lại tụi nó chơi.
Tiểu Nhị xua tay, trợn mắt nói:
- Mợ nói đúng đó. Chúng nó tài biến háo thần thông lắm, khi hiện thành ông gì đón khách qua đường giựt tài vật, lúc hoá ra gái đẹp mê hoặc những chàng trai có máu Tề Tuyên. Cũng có khi chúng biến thành đàn ông đẹp trai dụ dỗ đàn bà.
Thi Tuấn nghe nói cười rộ:
- Chà, ta cũng mong nó biến thành mỹ nhơn đó đường cho vui.
- Chớ giỡn mà cậu.
- Nói thiệt chớ nói giỡn đâu. Chuột chi mà hoá thành người đặng. Ta chắc đấy là một tổ chức bất lương gồm có đàn ông và đàn bà chuyên nghề cướp cạn trên quãng đường hẻo lánh mà quan quân chưa thanh trừng được thôi. Chuyến này ta đem mầy đi Tiểu Nhị à, để mày được mục kích sự thật. Mày dám đi không hay là ngán rồi.
- Thưa cậu, ngán thì có ngán thiệt nhưng theo bổn phận thì thầy đi đâu trò đó, dù có nguy hiểm tôi đâu dám từ nan.
Hà Liễn lắc đầu:
- Cũng không hẳn là như vậy. Thực ra thì thiếp lo ngại thế nào ấy… Có sự không hay sẽ xẩy ra cho đôi ta.
Thi Tuấn cười xòa:
- Nàng khéo vẽ vời, bày chuyện mê tín dị đoan. Chắc là nàng bị ảnh hưởng các câu chuyện yêu tinh hiện hình. Thôi nàng sửa soạn dần cho ta là vừa.
Ít tháng sau, Thi Tuấn từ biệt vợ lên đường vô kinh dự thi có gia tướng Tiểu Nhị mang hành lý và lều chõng đi theo.
Đường đến kinh đô xa tới ngàn dặm, ngày đi đêm nghỉ, khi cỡi ngựa lúc đáp thuyền, trèo non vượt suối, ít lắm cũng phải đôi ba tháng trời mới tới nơi.
Vất vả nhất là dãy núi dài sáu trăm dặm rừng cao, suối sâu, ít người qua lại. Được cái may là dãy núi này thuộc phần đầu cuộc hành trình của thầy trò Thi Tuấn.
Sau bốn ngày đường, hai người tới chân núi Thiến trước. Nhìn con đường lát đá tảng lớn bằng cái bàn, quanh co, âm u, vắng vẻ, Tiểu Nhị lo lắng nhìn chủ. Nhưng Thi Tuấn vẫn thản nhiên bước tới.
Lúc đó trời đã xế chiều. Tiểu Nhị nhớn nhác nhìn quanh rồi hỏi chủ:
- Đêm nay chắc ngủ trên cây quá cậu à!
Thi Tú tài giở giấy ra coi rồi nói:
- Theo người ta bảo thì qua khỏi dốc này có quán trọ hoặc nếu không thì cũng có nhà chòi để tạm trú.
Hai người lặng lẽ tiếp tục cuộc hành trình. Hồi lâu sau họ tới đỉnh dốc. Thi Tú tài reo lên:
- Kia rồi có quán trọ ở chân dốc, cạnh gốc cây to kia.
Cả hai hăng hái đi tới. Đây là một căn nhà làm bằng cây, rất chắc chắn, xung quanh có rào. Thi Tú tài vừa tới cửa đã thấy một thanh niên ăn vận sạch sẽ, mặt mũi sáng sủa chạy ra niềm nở rước vô nhà.
Thấy Thi Tú tài ăn vận sang trọng, chủ quán lân la hỏi chuyện.
- Chẳng hay tiên sinh quê quán ở đâu, có việc chi đi qua đây?
- Tôi từ huyện Thanh Hà, vô kinh dự kỳ thi Hội.
- Hay quá, hay quá, đã từ lâu tôi không có dịp bàn chuyện văn chương nay gặp tiên sinh thật là vạn hạnh.
- Vậy chớ tiên sinh cũng theo đòi chữ nghĩa thánh hiền sao? Hèn chi trong nhà nhiều câu đối quá. Đường xa gặp chủ tiệm có học như tiên sinh đây thiệt là hên quá.
- Tôi cũng có đua đòi đôi ba chữ. Cách đây bốn năm tôi có dự thi mà chẳng đậu nên bỏ văn nghiệp mở tiệm cho qua tháng ngày.
Nói rồi chủ quán dọn tiệc rượu khoản đãi. Hai người vừa ăn uống vừa đàm đạo chữ nghĩa, tích xưa. Thấy chủ quán ứng đáp trôi chảy, thi Tú tài không ngớt lời khen ngợi. Sau đó chủ quán thăm hỏi gia cảnh Thi Tú tài được chàng thư sinh thiệt thà lại hơi say rượu kể ra bằng hết. Nghe thi Tú tài tả dung nhan Hà Liễn, chủ quán trầm trồ khen ngợi:
- Thiệt là một trang quốc sắc thiên hương.
Thi Tú tài khoái trí kể lể mãi không thôi.
Chủ quán ngồi nghe mắt long lanh như thèm khát đến cực độ.
Đến khuya, Thi Tú tài đã say. Qua ánh đuốc nhựa bập bùng, chàng thấy hình như chủ quán có điều gì khác lạ. Chàng cố định thần nhưng thấy chới với như sắp xỉu đi. Mồn chủ quán dài ra như mõm chuột, hai tai to vểnh lên in hệt tai loài gặm nhấm vậy. Một làn khói đen bay từ miệng chủ quán ào vào lỗ mũi Thi Tú tài. Chàng thư sinh lảo đảo ngã gục xuống bên mâm rượu. Thì ra chủ quán là một trong năm chuột thành tinh biến ra người. Chưa biết nó định giở ngón gì đây.
Nói về Tiểu Nhị ăn cơm ở nhà dưới xong liền lên trên nhà vô sửa oạn phòng ngủ dành cho hai thầy trò. Xong xuôi Tiểu Nhị lên giường nằm chơi định bụng chờ chủ. Chẳng ngờ vì quá mệt mỏi nên ngủ quên lúc nào không hay. Tới lúc chuột yêu (chủ quán) kêu hắn mới choàng dậy ra mời chủ vô phòng nghỉ.
Tới nửa đêm, Thi Tú tài tỉnh dần lại và nổi cơn đau bụng dữ dội. Tiểu Nhị ra kiếm chủ quán lấy thuốc. Chuột yêu lắc đầu nói:
- Ở đâu không có thuốc, thôi ráng chịu, mai sáng sẽ hay.
Tiểu Nhị về phòng đấm bụng cho chủ. Lối một tiếng sau, Thi Tú tài bớt đau và nằm yên, mê mam như chết. Tiểu Nhị về giường một lát cũng ngủ say, ngáy như sấm.
Chuột yêu đẩy cửa phòng dòm vô thấy vậy mỉm nụ cười bí mật rồi lui ra miệng lẩm bẩm:
- Mình phải hạ độc kế để chiếm đoạt vợ thằng Thi Tuấn mới được. Cứ nghe nó tả lại thì Hà Liễn đẹp như tiên lại dịu hiền lắm.
Nói rồi chuột yêu đi về phòng riêng đóng chặt cửa lại. Lát sau một thanh niên giống như Thi Tú tài ở trong phòng chuột yêu đi ra.
Sáng hôm sau Tiểu Nhị tỉnh dậy thấy mình đang nằm trên bải cỏ cùng chủ, dưới gốc cây cổ thụ, bên bờ suối. Tiểu nhị hốt hoảng vùng dậy lay gọi chủ ầm ĩ. Thi Tú tài ú ớ một lát mới mở mắt lờ đờ nhìn gia nhân. Tiểu Nhị ghé tai chủ hỏi lớn:
- Cậu nghe trong mình ra sao?
Thi Tú tài mệt nhọc đáp:
- Còn yếu lắm…
- Liệu cậu có gắng dậy đi được không?
- Không đâu. Mà sao ta lại nằm ở đây?
- Cái đó tôi cũng không hiểu tại sao. Rõ ràng tối qua mình vào nhà trọ ngủ hẳn hoi mà sáng hoá ra nằm giữa rừng.
- Mày thử ngó xem gần đây có nhà cửa chi không? Gần suối thế nào cũng có người ta ở.
- Cậu cứ nằm yên đây nhé, tôi đi thử coi.
Thi Tú tài gật đầu. Tiểu Nhị theo con đường mòn đi một lát ra tới đường lớn lát toàn bằng đá tảng như hồi hôm. Nó xem hướng mặt trời mọc và nhận ra phía trước mặt là hướng Bắc là đường đi tới xứ Thiên Trước. Nó đi tới đi lui một hồi mà không tìm ra quán trọ đêm qua.
Tiểu Nhị trở về nói với chủ:
- Đường ở quãng này vướng cây nhìn không rõ phía trước nhưng cứ theo địa thế thì chỗ đất này bằng, có suối chảy tất làng mạc không bao xa.
Để tôi cõng cậu đi tới một hồi xem sao.
Rồi thì Tiểu Nhị lưng cõng chủ, tay ôm bọc đồ lần ra đường lớn mà đi.
Đi mãi, đi mãi cũng chưa thấy bản nào mà Tiểu Nhị thì đã thấm mệt rồi. Hắn đặt chủ ngồi xuống phiến đá bên đường rồi đứng thở dốc một hồi. Bỗng hắn chú ý nghe ngóng. Văng vẳng xa đưa tiếng nước đổ ùm rồi nghe thịch một cái, như ai nện mạnh xuống đất, cứ thế đều đều mãi. Đúng rồi, tiếng chày nước giã gạo.
Hắn mừng quá reo lên:
- Cậu ơi! Có bản ở gần đây rồi.
Nói đoạn hắn cõng chủ lên tiếp tục cuộc hành trình gian khổ. Được hơn trăm bước tới khúc quanh hắn thấy hiện ra một dãy nhà sàn…. Hắn vô xin dân làng chạy chữa dùm cho chủ.
Người ta bảo hắn đi sâu vô phía trong, tới gần bờ suối thỉnh vị đạo sĩ ra.
Vị đạo sĩ chống gậy trúc tới nhà trọ của Thi Tú tài chuẩn bệnh. Sau khi xem xét hồi lâu, vị đạo sĩ lặng lẽ dốc hồ lô lấy linh đơn mài ra cho Thi Tú tài uống.
Tiểu Nhị lén hỏi đạo sĩ:
- Chủ tôi mắc bệnh chi hở đạo sĩ?
- Người này bị yêu khí, e khó sống.
- Xin đạo sĩ hết lòng cứu chữa cho.
Vị đạo sĩ vuốt chòm râu bạc ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
- Đã gặp thì phải chữa. Nhưng bệnh này khó trị mà tài ta lại chưa tới độ cao siêu.
- Xin đạo sĩ cố ráng dùm.
- Không phải là ta làm khó dễ vì ta chữa đâu có đòi hỏi gì. Ta nói thiệt đó.
Bây giờ ngươi phải đi lên cái am trên kia thỉnh Đổng Chơn Nhơn xuống cứu mạng thì mới xong.
Vị đạo sĩ nhìn theo lẩm bẩm:
- Con bệnh này có phước lắm mới được người đầy tớ trung thành như vậy. Xin trời phật độ trì cho thầy trò hắn.
Tiểu Nhị leo lên tới cửa am đã thấy Đổng Chơn Nhơn từ trong ra đi. Không chờ Tiểu Nhị hỏi, Đổng Chơn Nhơn đã đưa cho gói thuốc và nói liền:
- Ta biết ngươi lên xin thuốc cho chủ bị yêu khí. Đây ngươi cầm gói linh đơn này về mài ra cho chủ ngươi uống mỗi ngày hai viên.

__________________




**************************************************
TRUM YEU GAI , CHET VI GAI
SONG DE YEU , CHET VI YEU
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #54  
Old 06-14-2005, 02:40 PM
vui_la_chinh vui_la_chinh is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Feb 2005
Nơi Cư Ngụ: Trum Yeu Gai
Bài gởi: 4,697
Send a message via Yahoo to vui_la_chinh
Default

Tiểu Nhị trố mắt nhìn Đổng Chơn Nhơn lòng kinh ngạc vô cùng. Đổng Chơn Nhơn cười bảo Tiểu Nhị:
- Nhà ngươi lấy làm lạ vì sao ta biết rõ chới gì. Đấy chẳng qua là một thuật nhỏ thường gọi là kỳ môn độn giáp. Thôi ngươi khá cầm thuốc về cho chủ uống đi kẻo muộn rồi.
Tiểu Nhị hỏi thêm:
- Thưa Chơn Nhơn, chủ tôi liệu có qua khỏi được không?
Mửa hết yêu khí, tĩnh dưỡng ít lâu thì lành bệnh. Nhưng đường công danh cản trở, gia đạo xào xáo nên đưa chủ về càng sớm càng tốt.
Tiểu Nhị vái tạ rồi lui xuống núi, về chạy chữa cho chủ. Nhờ linh dược, Thi Tú tài lần lần bình phục nhưng còn phải nằm nghỉ ít lâu.
Lại nói về con chuột yêu biến hình giống Thi Tú tài như tạc ngay đêm đó hoá phép làm tiêu quán trọ rồi đưa thầy trò Thi Tú tài đến chỗ xa bỏ giữa rừng như đã nói trên đây. Xong xuôi no đi về huyện Thanh Hà, Tới sáng bữa thứ năm thì đến nơi. Nhờ các chi tiết mà nó khéo léo dọ hỏi được nên chuột yêu tìm thấy nhà Thi Tú tài một cách dễ dàng.
Hà Liễn lúc ấy đã dậy, đang ngồi chải đầu, thấy chồng về thì lật đật ra đón và hỏi:
- Sao chàng đi mới hai mươi ngày đã về?
Chuột yêu đáp:
- Giữa đường hay tin năm nay bãi kỳ thi hội , sĩ tử về hết rồi. Còn qua làm chi nữa.
- Thế Tiểu Nhị đâu?
- À nó mắc mang đồ nhiều nên đi chậm, về sau.
Hai “vợ chồng” ngồi trò chuyện gia đạo hồi lâu. Chuột yêu nói chuyện rành rẻ, chẳng sai chút nào. Rồi chuột yêu và Hà Liễn vô phòng ân ái… Cuộc đời vợ tiệt, chồng giả ấy kéo dài được chừng nửa tháng thì Thi Tú tài nhờ được thuốc Đổng Chơn Nhơn nên thoát chết lại nghe tin bãi thi mới trở về nhà.
Hai thầy trò về tới đầu xóm thì Tiểu Nhị nói với chủ:
- Cậu thong thả đi sau, tôi chạy về báo tin cho mợ mùng, nghe cậu.
Thi Tú tài chưa kịp nói chi thì Tiểu Nhị đã phóng như bay lên trước. Hắn đẩy cửa rồi xăm xăm bước vô bắt gặt Hà Liễn va chuột yêu đang âu yếm nhau.
Tiểu Nhị xấu hổ quay trở ra. Hà thị chạy theo hỏi:
- Sao mày về trễ vậy Nhị?
Tiểu Nhị khủng khỉnh đáp:
- Tưởng cậu không còn sống về nữa chớ.
- Uûa, mày nói sao. Cậu nào nữa?
- Thì cậu… chủ tôi là Thi Tú tài chớ ai nữa.
Hà thị quắc mắt nói:
- Cho mày đi theo hầu cậu, dọc đường mày làm biếng không chịu về ngay. Cậu mày về đây đã gần một tháng rồi còn chi.
Tiểu Nhị thất kinh:
- Cô nói chi lạ vậy. Tôi đi với cậu, ăn một nơi nằm một chỗ không rời nhau một bước, cớ sao cô nói ai về trước?
- Cậu mày là Thi Tú tài về trước và đang ở trong nhà kia chớ ai.
Tiểu Nhị lắc đầu, chỉ tay về phía đầu ngõ:
- Cậu tôi bây giờ mới về tới kia, sao cô nói về trước cho đặng?
Hà thị nhìn ra quả thấy Thi Tú tài đi vô thiệt. Thị đứng lặng người dây lát rồi như chợt tỉnh, bước vội xuống thềm ôm lấy chồng khóc ròng mà nói:
- Nó giống chàng quá, thiếp lầm xin chàng tha thứ cho.
Thi Tú tài chưa rõ đầu đuôi câu chuyện, ngạc nhiên hỏi vợ:
- Nàng nói chi lạ vậy?
Hà thị chưa biết nói sao thì chuột yêu nghe ồn ào đã chạy ra hét lớn:
- Đứa nào dám ôm vợ ta vậy?
Thi Tú tài thấy một thanh niên giống mình như tạc chạy từ trong phòng ngủ ra mới vỡ nhẽ, nổi giận đùng đùng:
- Quân này láo thiệt, dám thừa dịp ta vắng nhà mà đánh lừa vợ ta.
Nói đoạn Thi Tú tài buông vợ ra, nhẩy vọt lên thềm hươi quyền đánh chuột yêu.
Chuột yêu cũng hét lên một tiếng lớn rồi xuống tấn tiếp chiến. Hai người đánh lộn nhau một hồi, Thi Tú tài vừa đau khổ lại mệt mỏi vì cuộc hành trình nên bị chuột yêu lấn đất dần.
Chồn Hà thị bị đòn tới tấp, đỡ không lại, cứ lùi dần, lùi dần ra cửa, bỗng chàng hụt chân té lăn cù từ thềm cao xuống đất. Chàng vừa lóp ngóp bò dậy đã bị chuột yêu phóng từ trên xuống, nhằm hạ bộ chàng mà đạp tới. Thi Tú tài nhào mình tránh được ngọn độc thủ rồi co giò chạy mất. Chuột yêu toan rược theo thì Tiểu Nhị đã nhảy ra cản đường. Hà thị chẳng biết làm sao, đành ôm mặt khóc ròng.
Nói về Thi Tú tài chạy thoát liền tìm đến nhà cha vợ, khóc mà trình bày tự sự.
Nhạc gia liền sai người đi coi hư thực. Lát sau gia nhân về báo:
- Quả thiệt ở bên nhà có một thanh niên giống y hệt Thi Tú tài đang khuyên giải Hà thị.
Nhạc gia không biết làm thế nào đành nói:
- Thôi bây giờ anh đi cáo với Vương Thừa tướng là hơn cả.
Thi Tú tài vâng lời, đệ đơn trình Thừa tướng.
Vương Thừa tướng coi xong đơn liền sai lính đến bắt chuột yêu, Thi Tú tài và Hà thị đến cho ông xét hỏi. Thừa tướng cho đòi riêng Hà thị vô trước và hỏi cặn kẽ mọi sự.
Vợ Thi Tuấn cứ tình thiệt khai ra. Thừa tướng hỏi:
- Chớ chồng chị có vết tích gì trong người, khả gĩ giúp ta tìm ra gỉ, thiệt chăng?
- Dạ, chồng tôi có nốt ruồi bên vai tả.
Thừa tướng kêu một lượt cả Tú tài lẫn chuột yêu vô và sai lính trật vai bên tả ra coi. Thi Tú tài có nốt ruồi còn chuột yêu thì không! Thừa tướng chỉ chuột yêu:
- Thằng này lộn sòng làm bậy, lính đâu bắt nó quỳ bên tả cho ta. Còn thi Tú tài khá qua bên hữu.
Hai người yên vị xong, Vương Thừa tướng truyền lính coi lại hễ ai không có nút ruồi ở vai tả thì cứ việc nọc cổ ra đánh năm mươi roi. Lính xúm lại coi rồi đứng yên. Thừa tướng quát:
- Tụi bây còn chờ gì ?
Viên cai lệ rụt rè:
- Bẩm Thừa tướng cả hai tên cùng có nút ruồi, biết đánh ai?
Thừa tướng xem lại cũng giật mình. Chuột yêu cũng có nút ruồi nơi vai tả. Ông nói:
- Lạ thiệt. Vừa rồi nó không có. Lính đâu, đem tống giam cả hai đứa lại chờ mai lại nghiệm xen sao.
Đêm đó, chuột yêu Ngũ (vì nó là con yêu thứ năm) hà khí bay về động cầu cứu. Bốn chuột anh đang ngồi đàm đạo thấy có gió lạ biết chuột Ngũ bị lâm nạn, chuột Nhứt kêu chuột Tứ lại gần dặn nhỏ một hồi.
Chuột Tứ vâng lệnh lên đường đến phủ Thừa tướng. Tới nơi thì trời đã sáng tỏ mặt người, nó đi vô hậu dinh núp một chỗ ngắm Thừa tướng rồi thừa lúc Thừa tướng đi ra công đường chuột Tứ lắc mình biến y hệt Thừa tướng rồi vô phòng kéo ghế ngồi đàng hoàng.
Nói về Vương Thừa tướng ra tới công đường ngắm Thi Tú tài và chuột Ngũ một hồi lâu rồi truyền:
- Đem tên này ra đánh một trăm côn cho ta.Nó là thứ giả.
Vừa nói Thừa tướng vừa lấy tay trỏ Thi Tú tài.
Lính hầu dạ rân vật chồng Hạ Liễn ra đất rồi thẳng tay đánh đập tơi bời. Thi Tú tài kêu oan và than khóc vang trời. Thừa tướng lại tống giam cả hai vô ngục rồi ông trở về hậu dinh. Vừa bước về phòng, Thừa tướng đứng sững lại. Ông dụi mắt tưởng mình nằm mơ. Không mà! Rõ ràng có một người mặt mũi quần áo giống hệt mình đang ngồi chình ình trên ghế ở giữa phòng.
Vương Thừa tướng thét lính hầu:
- Bây đâu, vô bắt tên kia cho ta.
Thừa tướng giả (là chuột yêu thứ tư hoá ra) cũng hô lính hầu trói vương Thừa tướng lại. Lính hầu nghe quan la chạy rần rần vô phòng. Chuột yêu thấy nguy vội nhẩy xuống đất chạy đến ôm lấy Vương Thừa tướng quay tít mầy vòng. Đến lúac chuột yêu buông Thừa tướng ra thì lính chịu không biết ai thiệt, giả nữa.
Người nọ hô lính bắt người kia.
Lính gương mắt ếch nhìn hai Thừa tướng, một thiệt một giả, đang giằng co nhau cãi lẫy om sòm.
Viên thơ lại lắc đầu bảo đám lính:
- Tụi bây đứng canh chừng đây, để ta làm biểu dâng lên Hoàng Thượng quyết định.
Vua Nhơn Tôn tiếp được biểu lấy làm lạ cho đòi cả hai Thừa tướng tới trước bệ rồng để phán xét:
Con chuột yêu liền hà khí khiến không thể phân biệt đâu là giả, đâu là thiệt. Vua đành truyền tống giam cả vào Thông Thiên lao chờ đến canh ba coi cho rõ.
(Vua Nhơn Tôn vốn là xích Khước Đại tiên trên Thượng giới, được Ngọc Hoàng Thượng Đế sai xuống trần gian trị vì thiên hạ, cho nên cứ đến nửa đêm vào giờ tý là hào quang :Di loà giúp nhà vua coi biết ai thiệt ai giả).
Chuột Tư biết vậy cả sợ, liền thổi khí bay về núi cầu cứu. Chuột Cả liền sai ngay chuột Ba xuống giải nguy. Chuột Ba bay ngay xuống Hoàng thành thì trời vừa hừng sáng. Nó hoá phép biến thành vua Nhơn Tôn rồi điềm nhiên bước ra ung điện, ngự trên ngai vàng. Văn võ bá quan vội tung hô vạn tuế. Vua Nhơn Tôn còn đang mặc áo ở hậu cung nghe tiếng hô vạn tuế lấy làm lạ vô cùng toan gọi quan hầu vô hỏi xẩy có quan Thái giám vô tâu rằng:
- Ngoài điện có một người giống hệt Hoàng Thượng từ dung mạo đến lễ phục đại trào, hiện ngự trên ngai. Xin Hoàng Thượng chỉ dạy.
Vua Nhơn Tông lật đật chạy ra, tiến đến trước ngai vàng. Chuột Tư vẫn nghiễm nhiên ngồi. Vua Nhơn Tôn điềm tĩnh ngồi xuống bên cạn chuột yr6u. Được cái ngai cũng rộng nên hai người ngồi vừa.
Các quan hoảng hồi vội kèo nhau vô trình Quốc mẫu. Mẹ vua cả kính theo các quan ra Càn Chánh Điện tra xét, thì thấy quả nhiên hai người giống nhau như tạc.
Quốc mẫu bảo các quan văn võ:
- Các khanh khá bình tĩnh, chớ có lo sợ thái quá. Ta đã có cách.
Nói đoạn mẹ vua tiến đến trước mặt hai “vua” và nói lớn:
- Hai ngươi hãy xoè tay ra cho ta coi. Ai có chữ Sơn Hà Xã Tắc trong lòng bàn tay, người ấy chính là vua Nhơn Tôn.
Các quan xúm lại, tay trái vua Nhơn Tôn có chữ Sơn Hà còn tay mặt có hai chữ Xã Tắc thiệt. Chuột yêu không có! Quốc mẫu ra lệnh hạ ngục chuột yêu ngay tức khắc và cấm ngặt không cho ai ra khỏi ngục .
Chuột Ba bị giam liền thổi khí về núi báo nguy. Chuột Nhì hạ sơn xuống cứu em. Nó biến hệt thành quốc mẫu ngồi ngay vào ngai và ra lệnh cho quan Thái giám phải thả chuột Ba ra.
Quan thái giám lắc đầu bảo lính:
- Mới có mấy ngày mà loạn quá xá. Bữa nọ hai Thừa Tướng, bữa qua hai vua, bữa nay lại hai Quốc Mẫu nữa. Ngặt một điều là không biết bà nào là giả, bà nào thiệt chớ. Mộ bà cứ hô giam vua giả lại, một bà lại nằng nặc đòi thả. Cái này lại phải nhờ Hoàng thượng coi giùm mới xong.
Vua cũng chịu thua luôn, đứng ngồi không yên, ăn mất ngon, ngủ mất yên. Hôm sau, Vua cho triệu Bao Công về trào gấp. Nhận được lệnh, Bao Công đi suốt ba đêm ngày mới về tới kinh đô.
Sau khi vào bệ kiến vua Nhơn Tôn, nhận chỉ thị xong, Bao Công lưu về tư dinh nghĩ phương cách tra ra sự thật.
Bữa sau ông chọn hai bốn người lính khoẻ mạnh sai bầy mười sau móm tra tấn dưới thềm rôi cho áp giải hai Tú tài, hai Thừa tướng, hai Quốc Mẫu và hai vua giả.
Bao Công xét hỏi một lúc cũng không tra ra manh mối gì, ông liền ra lệnh tống giam tất cả bảy người, hẹn sáng mai sẽ dùng cực hình tra tấn, tất sẽ rõ gian ngay. Bốn chuột yêu thất kinh vội thổi khí viện yêu cả xuống cứu.
Con Yêu Cả được tin cấp báo liền bay về phủ Bao Công đi lễ tại miễu Thần Hoàng nên vắng nhà.
__________________




**************************************************
TRUM YEU GAI , CHET VI GAI
SONG DE YEU , CHET VI YEU
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #55  
Old 06-14-2005, 02:40 PM
vui_la_chinh vui_la_chinh is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Feb 2005
Nơi Cư Ngụ: Trum Yeu Gai
Bài gởi: 4,697
Send a message via Yahoo to vui_la_chinh
Default

Chuột Cả liền hoá phép biến thành Bao Công rồi vô ngồi chễm chệ trên ghế bành phủ da cọp. Bao Công đi về thấy vậy cười lớn, rồi điểm mặt Bao Công giả mà quát rằng:
- Đứa nào mà loạn phép vậy, dám cả gan giả dạng ra ta để làm điều ám muội. Lính đâu bắt nó cho ta.
Bọn lính dạ ran ào vô toan bắt chuột yêu. Chuột cả liền chạy đến ôm Bao Công quay tít một hồi. Đến lúc hia người buông nhau ra thì không còn biết ai thiệt ai giả nữa. Lính chịu chết không dám bắt ai cả.
Bao Công thiệt cả giận hô lính đóng tất cả cửa dinh lại, cấm không cho ai vô nữa. Bọn lính bảo nhau:
- Thứ thiệt hay giả vậy mầy?
- Giả thiệt giả chi mình không rõ nhưng lệnh chả ra cũng không có mắc mỏ thiệt hại chi.
Viên cai già gật đầu nói:
- Các chú nói phải. Nay chưa biết ai là thiệt ai là giả thì cứ vít kín cửa ngõ lại cho chắc ăn cái đã.
Bọn lính trẻ nhao nhao hỏi:
- Thế bây giờ nghe lệnh ai hở thầy?
- Không nghe lệnh ai là tốt hơn cả.
Rồi viên cai già lắc đầu nói:
- Chán quá, đón được Bao đại nhơn về tưởng tra ra vụ giả thì lại lòi thêm vụ hai ông mặt sắt. Nước này chỉ còn biết hỏi ông Tời mà thôi.
Không riêng gì viện cai già nghĩ vãy, mà Bao Công cũng nghĩ vậy, mà Bao Công cũng thấy chỉ còn cách đó mà thôi.
Nghĩ vậy nên ông thủng thẳng rời công đường đi vô hậu dinh. Oâng gọi gia nhân đóng hết mọi cửa phía trong nhà, và cấm vợ con không được giao dịch với ai cho đến khi có lệnh mới.
Đoạn ông gọi vợ là Lý phu nhơn lại mà bảo rằng:
- Ta gặp một vụ khó khăn quá sức, chắc phu nhơn cũng nghe nói chuớ?
Lý phu Nhơn gật đầu. Bao Công nói tiếp:
- Ta phải lên thiên đình tâu với Ngọc Hoàng Thượng đế, để xin ngài phân xử cho. Ta đi lối hai ngày sẽ tỉnh lại vậy phu nhơn ở nhà nhớ canh xác ta cẩn thận đừng cho ai đụng tới e khó hồi dương.
Nói đoạn Bao Công lấy máu khô con công nhai cho tan rồi nuốt hết. Sau đó ông leo lên giường nằm như người chết rồi.
Y theo lời dặn, Lý phu nhơn bỏ mùng cài chặt rồi giắt gia nhân canh gác cẩn mật, trong khi ở phía ngoài công đường Bao Công giả hò hét chán nhưng chẳng ai tuân lệnh cả.
Nói về hồn Bao Công lìa dương gian liền đi thẳng tới cửa trời. Vốn là Văn Khúc Tinh quân nên hồn bao Công được thiên sứ dẫn vô tâu trước Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng kêu quan Tư Tào:
- Khanh khá tra xét coi yêu quái ở đâu làm loạn vậy?
Quan Tư Tào giở sổ ra coi một lát rồi trình:
- Muôn tâu Ngọc Hoàng, đó là bầy chuột khi xưa ở chùa Lôi Aâm bên Thiên trúc, nay trốn xuống thế gian nhiễu hại.
- Vậy phải sai thiên binh đi bắt chúng nó về chớ.
- Thưa, cả vạn thiên binh cũng không bắt nổi…
- Khanh tính sao?
- Dạ, phải bàn với Phật Thế Tôn cho mượn Ngọc Diện Miêu (mèo mặt ngọc) đem xuống mới trừ được. Một mình nó bằng cả vạn thiên binh.
- Vậy bảo thiên sứ qua bên Lôi Aâm Tự cầu mượn.
Thiên sứ vâng lệnh qua chùa Lôi Aâm trình với Phật Thế Tôn. Đức Phật liền cho mời Phật Quảng Pháp Đại Sư ra hội ý.
Quảng Pháp bàn:
- Chùa ta nhiều kinh sách lắm. Nay cho mượn Ngọc Diện Miêu sợ e chuột cắn hết kinh. Nếu là việc không mấy quan hệ, tôi tưởng cho mượn con Kim Tinh Sư Tử cũng đủ rồi.
Phật Thế Tôn hỏi thiên sứ:
- Ngươi có biết Ngọc Hoàng mượn thần miêu làm gì không?
- Dạ, dường như để gởi xuống hạ giới.
- Như vậy ngươi đem con Kim Tinh Sư Tử về coi xài đỡ được không, nhược bằng phải có con thần miêu tì ngươi khá tâu với Ngọc Hoàng gởi người nào được phép sử dụng thần miêu qua đây.
Thiên sứ đem Kim Tinh Sư Tử về trình. Quan Tư Tào vội tâu lên Ngọc Hoàng:
- Thưa, con Kim Tinh Sư Tử này không trị nổi bầy chuột đã thành tinh. Phải có Ngọc Diện Miêu mới xong.
Thiên sứ cũng nhắc lại của Phật Thế Tôn. Ngọc Hoàng liền phán:
- Thôi bây giờ thei6n sứ khá đưa Văn Khúc Tinh qua bên Lôi Aâm Tự trình bày cho rõ. Ta chắc Phật Thế Tôn sẵn sàng giúp cho.
Thiên Sứ và Văn khúc tinh (đầu thai vào Bao Công) ến chùa Lôi Aâm xin vào ra mắt Phật Thế Tôn, khẩn cầu mượn thiên miêu.
Phật Thế Tôn Nghe xong ưng thuận cho mượn . Ngài liền vỗ tay gọi thần miêu to lớn như con cọp tới bên rồi lẩm nhẩm đọc kệ một lát. Đoạn đức Phật cầm phất trần phẩy nhẹ vào đầu con mèo mặt Ngọc. Linh miêu bị thu hình lại bé bằng con chuột lắt.
Phật Thế Tôn trỏ tay áo của Bao Công, bảo thiên miêu:
- Con khá theo Văn Khúc Tinh quân xuống trần dẹp bầy chuột yêu tinh đặng cứu khổ cho loài người.
Thiên miêu cúi đầu tỏ ý tuân lệnh rồi quất đuôi nhẩy tọt vào trong tay áo bao Công – Đức Phật dặn Bao Công cách gọi thiên miêu.
Bao Công vái tạ đức Phật rồi cùng thiên sứ lui ra.
Tới ngoài, thiên sứ lấy nước dương liễu cho Bao Công uống rồi nói:
- Tuân lệnh Ngọc Hoàng, tôi đưa bác xuống trần gian.
Nói đoạn, thiên sứ vỗ vai Bao Công. Bao Công giật mình tỉnh dậy kêu Lý phu nhơn hỏi chuyện mới biết đi đã năm ngày rồi.
Oâng vừa uống trà vừa thuật chuyện lên thiên đìn cho Lý phu nhơn nghe. Lát ông viết sớ trình vua nhơn Tôn xin cho lập đài cao mười trượng tại phía Nam kinh thành và ghi rõ các điều cần thiết. Xong xuôi ông cho người thân tín đem về trình nhà vua.
Vua Nhơn Tôn liền cho ti hành đúng như chương trình của Bao Công.
Ba bữa sau, mọi sự đã hoàn tất. Sáng ngày thứ tư Bao Công sai hai bốn người lính mạnh bạo trèo lên chấn giữ đài quan sát. Dân chúng hay tin kéo đến coi đông như kiến cỏ. Gần tới ngọ, Bao Công cũng thượng đài. Vua Nhơn Tôn dẫn văn võ bá quan đứng dưới chân đài. Theo sau là lính áp giải hai Thi Tú tài, hai Thừa tướng, hai Quốc Mẫu và một vua giả.
Bao Công giả đứng dưới chân đài trỏ lên phía Bao Công thiệt mà la lối om sòm. Bao Công thiệt lặng thinh không thèm đáp.
Đúng ngọ, Bao Công đứng thẳng trên đài, giơ tay áo ra niệm câu kệ đức Phật Thế Tôn.
Ngọc diện miêu từ trong tay áo Bao Công nhẩy ra, cong lưng rồi gào lên một tiếng lớn, hiện ra nguyên hình to như con bê. Con thiên miêu đứng ngó xuống một lát rồi quất đuôi nhẩy từ trên đài xuống. Một luồng hào quang xẹt từ miệng nó ra.
Vừa xuống tới đất, thầmn miêu nhẩy tới cắn ngay giữa cổ vua Nhơn Tôn giả tức là con chuột thứ Ba. Chuột yêu thứ Hai khi trước biến thành Quốc Mẫu thấy vậy hãi quá, hiện nguyên hình và cong đuôi toan chạy trốn nhưng chưa kịp thì đã bị Thiên Miêu nhào tới cắn ngay giữa bụng chết liền. Con chuột yêu thứ Tư tức là Thừa tướng giả và con chuột yêu thứ Năm tức Thi Tú tài giả cũng bị Thiên Miêu vồ cắn chết. Riêng chuột yêu đầu đàn giả làm Bao Công lúc trước, thấy cơ nguy liền phóng lêmn mây chạy trốn. Thiên Miêu gào lên một tiếng lớn rồi quất đuôi nhẩy vọt lên mây rược bắt.
Lát sau, Thiên Miêu từ trên trời nhẩy xuống, há miệng nhả con chuột yêu đầu đàn bị cắn chết queo xuống chân đài.
Đoạn Thiên Miêu phóng lên đài gương mắt nhìn Bao Công. Bao Công niệm câu kệ của Phật Thế Tôn rồi cám ơn Thiên Miêu. Linh Miêu gật đầu nhẩy tót lên mây trở về dưới chân Đức Phật Thế Tôn.
Bao Công xuống đài đến bên xác năm con yêu thấy con nào cũng mập mạp và dài hơn một trượng, có đủ chơn cẳng giống như người.
Vua Nhơn Tôn thong thả tới ngó xem qua rồi hỏi Bao Công:
- Chuột chi mà lớn như người vậy?
- Tâu Hoàng Thượng, nó ăn thịt nhiều người nên mới lớn mập như vậy và mới thành tinh.
- Bây giờ khanh định làm gì với năm xác chuột này?
- Xin Hoàng Thượng cho quân lính xẻ thịt ăn thêm sức.
Vua Nhơn Tôn chấp thuận rồi phản giá hồi trào, đặt tiệc linh đình thết đãi bao Công.
Chiều đó Thi Tú tài dẫn vợ là Hà Liễn đến lạy tạ Bao Công. Bao Công nhìn hai người một lát rồi nói:
- Thôi hai người khá trở về sum họp với nhau. Câu chuyện vừa rồi xảy ra ngoài ý muốn của Hà thị, cho nên không đáng trách.
Vợ chồng Thi Tú tài vái tạ rồi lui về. Ít bữa sau, Thi Tú tài bắt gặp vợ ôm bụng nhăn nhó liền hỏi nguyên do. Hà thị bẽn lẽn đáp:
- Từ ngày xẩy ra chuyện chuột yêu đến giờ thiếp cứ đau bụng hoài.
Thi Tú tài lặng lẽ lấy linh đơn của Đổng Chơn Nhơn cho bữa trước, mài ra đưa vợ uống. Hà thị mửa ra hết chất độc và khỏi bệnh.
Trong sách có kết thúc chuyện nầy bằng một câu: “Thiệt là một án lạ”.
__________________




**************************************************
TRUM YEU GAI , CHET VI GAI
SONG DE YEU , CHET VI YEU
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #56  
Old 06-14-2005, 02:41 PM
vui_la_chinh vui_la_chinh is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Feb 2005
Nơi Cư Ngụ: Trum Yeu Gai
Bài gởi: 4,697
Send a message via Yahoo to vui_la_chinh
Default

Hồi 23

MẸ GHẺ CON CHỒNG


Ngày xưa tại phủ Khai Phong, có chàng Tôn Hựu họ Tần, dòng dõi trâm anh, nhà giàu có, hiền hậu và rất là dễ tính, thế nào cũng được, thế nào cũng xong.
Chính về cái bản tính xề xoè, chín bỏ làm mười, không muốn sinh sự lôi thôi mà ngay từ hồi nhỏ, lúc còn đi học, Tôn Hựu thường hay bị bạn bè ăn hiếp.
Tần ông lắm lúc phải bực mình vì con:
- Thằng Hựu lành quá đổi, sau này gặp phải con vợ đáo để tất đến bị nó sỏ mũi dắt đi mà thôi.
Tần bà cả cười xoa đầu con và bảo chồng:
- Ông cứ chê con giai tôi hoài. Tôi thấy nó giống tính ông như hệt. Thế ông có bị tôi xỏ mũi chưa?
Tần ông vểnh cầm, vuốt chòm râu muối tiêu, cười khà khà đáp:
- Chuyện cái bà này. Bà thì lại khác. Dễ đâu kiếm được người như bà.
Tần bà nhìn chồng nét mặt hân hoan.
Thấm thoát Tần Tôn Hựu đã mười sáu tuổi Tôn bà để tâm kiếm vợ cho con. Bà dò la khắp vùng, cốt ý kén đứa con dâu thuỳ mị, nết na. Kẻ mối người mai cũng được lắm, nhưng bà chưa ưng đám nào. Tần ông sốt ruột bảo vợ:
- Mình ngày càn trọng tuổi, cũng mong cho con nó yên bề gia thất và sớm có cháu bồng. Bà chớ quá rềnh rang mà sanh ra già kén kẹn hôm đó.
- Ông nói phải nhưng mình cũng phải chọn người tương xứng…
Tần ông khoái tay, ngắt lời vợ:
- Phàm lấy vợ cho con phải chọn con nhà nề nếp, gia phong, phải chú trọng đến gia đạo của nó, coi bố mẹ anh em nó ăn ở ra sao, tình hình hạnh kiểm thế nào, nhiên hiệu mới biết được ít nhiều về người con gái. Đã hay rằng, sự đời, biệt lệ cũng có, song nguyên tắc chung là như vậy. Bà nên nhớ là con cái chịu ảnh hưởng rất nhiều về nền giáo dục trong gia đình. Bà nghe kịp tôi nói không?
- Đã, tôi vẫn nằm lòng các điều ông vừa nhắc lại đó.
Tần ông hài lòng vui vẻ nói:
- Vậy thì tốt lắm.
Thế rồi người con gái được họ Tần chọn làm dâu là Trịnh thị, con Trình Mỹ. Quả là Tần bà có mắt tinh đời. Trình thị rất mực đoan trang, một lòng thờ cha mẹ chồng, một dạ kính mên chồng.
Qua năm sau Trình thị hạ sanh được một con trai được tần ông đặt tên là Tần Tôn Nhu. Vì nó là con đầu nên ngay từ bé trong nhà thường kêu là trưởng Nhu.
Ít lâu sau, Tần ông và tần bà lần lượt cưỡi hạc quy tiên. Trình thị gánh vác giang sơn nhà chồng, tỏ ra rất mực đảm đang và trị gia thật là nghiêm trang. Trong cách sử sự với chồng, Trình thị noi gương của tần bà, không mảy may sai lệch. Ai Cũng khen họ Tần tốt số. Tôn Hựu sống trong hạnh phúc đến khi Tôn Nhu được mười tuổi thì Trình thị bỗng lâm bạo bệnh qua đời vào tết trung Thu.
Tôn Hựu thương tiếc vô cùng, khóc than khôn xiết sự tình, và lo cho vợ được mộ yên mả đẹp.
Rồi từ đó chàng vốn dĩ đã hiền lành ít nói nay bị vết thương lòng quá nặng nên lại càng ít nói hơn.
Chàng lặng lẽ sống trong cảnh gà trống nuôi con thấm thoát đã được mấy năm. Cứ mỗi độ Thu về, nhìn bầy trẻ xóm giềng quây quần bên mẹ chúng nô đùa dưới ánh trăng rằm, bên mâm cỗ Trung Thu, Tôn Hựu trạnh nhớ đến vợ hiền mà héo ruột gan.
Tiết Trung Thu năm ấy, Trưởng Nhu kém sức khoẻ ngồi ủ rũ trước bàn cỗ trông trăng khiến Tôn Hựu càng thêm xót xa, thương tiếc Trình thị vô cùng. Chàng đỡ con vào giường nằm rồi lén ra sau nhà tựa gốc cây khế, bưng mặt khóc nức nở hồi lâu.
Đêm đã khuya sương xuống ướt cả hai vai mà Tôn Hựu vẫn ngồi thừ trên phiếm đá bên bờ ao, mắt lờ đờ nhìn đàn cá say mồi đớp bóng trăng Thu tan tành.
Một quả khế chín rơi bộp xuống mặt ao làm chàng giật mình trở về thực tại. Tôn Hựu ể oải đứng dậy đi về phòng ngủ.
Đêm ấy, chàng mơ thấy Trình thị về. Nàng quì xuống bên giường vùi đầu vào ngực chồng khóc lóc hồi lâu. Chàng nắm vai vợ, hai hàng lệ lã chả tuôn rơi.
Lát sau, Trình thị ngửng dậy, lấy vạt áo chấm nước mắt rồi nghẹn ngào nói với chồng:
- Thiếp nhớ chàng, thương con nên phải về đây, xin chàng khá bớt mối u sầu, kiếm người bạn trăm năm khác để hầu chàng, nuôi con, cho thiếp được an lòng nơi chín suối.
Tần Hựu buồn rầu đáp:
- Nàng lìa cõi thế, cha con ta khổ sở vô cùng. Nàng hãy trở về dương gian…
- Aâm dương đôi ngả, số trời định vậy, xin chàng bớt nỗi nhớ thương tục huyền với người hiền đức cho con đỡ khổ thì hồn thiếp mới được tiêu diêu ơi cục lạc. Thôi vĩnh biệt chàng, thiếp phải trở về.
- Nói đoạn, Trình thị đứng dậy quay lưng đi ra cửa. Tần Hựu giật mình tỉnh dậy thấy áo gối đẫm lệ và màn cửa còn nhẹ nhàng lay động.
Từ sau bữa đó, Tần Hựu không đến nỗi thờ ơ mỗi khi bạn bè, họ hàng khuyên chàng tục huyền. Theo quan niệm chung của xã hội thời bấy giờ, Tần Hựu khó mà lấy được vợ trẻ và gia thế như Trình thị. Vốn tính hiền lành thật thà, lại quen được mẹ cha và lúc vợ sanh tiền giúp đỡ quyết định trong mọi công việc nên chi tần Hựu rất lúng túng trong sự lựa chọn vợ kế.
Sau cùng chàng nhge theo bè bạn cưới Liễu thị xuất thân trong gia đình tầm thường, mặc dầu bà cô chàng hết sức can ngăn.
Bà cô chàng sợ Liễu thị theo gương mẹ đẻ về nhà chồng sẽ giở thói kém giáo dục, ẩu hỗn với Tần Hựu. Bà nói:
- Cháu chọn người gia tư kém cháu làm vợ. Điều đó cũng được. Tuy nhiên điều quan trọng khi kén vợ là chọn người hiền đức. Cứ xem tính cháu và nề nếp trong gia phong của Liễu thị, cô thấy nó sẽ lấn át cháu và để khổ cho hai bố con mật thôi.
Tần hựu chỉ vâng dạ cho qua câu chuyện rồi chàng vẫn cưới Liễu thị làm vợ kế. Có người cho rằng Tần Hựu ưa thích lấy vợ đẹp.
Quả đúng như lời bà côTần Hựu đã nói, về nhà chồng ít bữa, thấy chồng hiền lành chân thật. Liễu thị liền giở ngay thói độc dữ, ẩu hỗn, chẳng kính nể gì chồng cả. Tần Hựu bị đánh phủ đầu, nhưng vẫn chịu nhịn, thét rồi sanh ra sợ vợ.
Đối với con chồng, Liễu thị mới đầu tuy có săn sóc đôi chút nhưng tỏ vẻ không ưa ra mặt. Động một chút là Trưởng Nhu bị mẹ ghẻ la rầy, mắng chửi. Thoáng thấy cha con đến gần nhau là Liễu thị kiếm cớ đuổi Trưởng Nhu xuống nhà dưới và không quên ỉ eo chồng.
Trưởng Nhu năm nay tuy đã mười lăm nhưng vì là người chí hiếu nên chỉ cúi đầu ứa lệ đi về thư phòng ngồi rỏ lệ khóc thầm.
Đến khi Liễu thị cò thai càng tác yêu tác quái, coi Trưởng Nhu cái gai trong mắt. Những lúc Tần Hựu vắng nhà, Liễu thị thường điểm mặt Trưởng Nhu mà rủa rằng:
- Thằng kia, sao mày không chết theo mẹ mày đi cho tao rảnh nợ.
Một bữa Liễu thị vắng nhà, Trưởng Nhu mon men lên nhà trên tìm cha kể nỗi đau khổ cho cha nghe.
Tần Hữu đau đớn hỏi con:
- Sao con không cho cha biết sớm? Để cha lựa lời khuyên bảo ghẻ con.
Khi Liễu thị về nhà, Tần Hựu đem chuyện Trưởng Nhu ra nói, và ngỏ ý khuyên vợ nên đối xử với con chồng cho phải đạo. Chẳng dè thị vật mình la khóc ầm ĩ và lớn tiếng trách cha con tần Hựu những là: đồ vô ơn bạc nghĩa và đồ vu oan giáo hoạ.
Vốn người ăn nói nhỏ nhẹ, đa sầu đa cảm, lại nữa đây là lần đầu ti6n tron đời bị một vố kinh hoàng như vậy nên Tần Hựu sợ hãi nín khe, mặt xang như tàu lá.
Liễu thị biết thóp lại càng làm dữ tợn đến nỗi Tần Hựu phần thì ngỡ mình quá nghe con nghi oan cho vợ, phần thì quá sợ ồn ào tai tiếng nên vội xuống nước năn nỉ Liễu thị bỏ qua cho.
Sau trận đại thắng ấy, Liễu thị mặc sức làm mưa lám gió trong nhà họ Tần. Thấy “chủ soái” còn bị phuu nhân hạ sát ván bọn gia nhân đầy tớ sợ Liễu thị một phép. Trưởng Nhu hoàn toàn bị thế cô.
Ít bữa sau, Liễu thị hạ sanh được một đứa con traii được Tần Hựu đặt tên là thứ Nhu. Bữa đầy tháng Thứ Nhu, Liễu thị mở tiệc ăn uống linh đình.
Lời nói chẳng mất tiền mua, huống hồ nơi đây lại còn được đãi ăn uống nữa thì ai dại gì mà chẳng tiếc lời khen Thứ Nhu.
Thiên hạ đua nhau nịnh Liễu thị. Những là:
- Bác Hựu tốt phước quá, được bà kế có phần linh lợi hơn bà trước.
- Chú này tốt tiếng quá. Phen này hai bác lấy thúng ra mà hốt bạc. Tướng như vầy cha mẹ làm ăn không phấn chấn sao đặng.
Một vài người khác bắt con nữ tỳ bế Thứ Nhu lại gần làm bộ rành khoa tướng số rồi xuýt xoa nói với vợ chồng Tần Hựu:
- Tướng này ăn đứt thằng anh nó là trưởng Nhu rồi. Thằng anh rồi đến xách dép cho thằng em mất thôi.


__________________




**************************************************
TRUM YEU GAI , CHET VI GAI
SONG DE YEU , CHET VI YEU
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #57  
Old 06-14-2005, 02:41 PM
vui_la_chinh vui_la_chinh is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Feb 2005
Nơi Cư Ngụ: Trum Yeu Gai
Bài gởi: 4,697
Send a message via Yahoo to vui_la_chinh
Default

Tần Hựu mỉm cướp gạo. Còn Liễu thị bụm miệng cười thầm. Thị dư biết đứa bé mới được một tháng còn là khối thịt đỏ hỏn, làm chi mà đã nói được tướng số.
Tuy vậy thị vẫn mở cờ trong bụng. Nhất định là Thứ Nhu. Cái đó khỏi cần bàn đến, và cũng chẳng cần phải coi tướng số làm chi cho mệt.
Cứ theo kế hoạch của thị tất nhiên Trưởng Nhu phải xách dép cho em đứt rồi còn chi. Mà có khi con của Trình thị cũng không còn sống tới ngày Thứ Nhu biết đi để mà xách dép. Cái gia tài to tát của họ tần phải về tay con thị. Bằng cách nào?
Liễu thị lẩm bẩm: “rồi sẽ biết”.
Từ bữa đó, Liễu thị thẳng tay hành hạ con chồng, Trưởng Nhu không được đi học nữa, phải ở nhà tập việc đồng áng với bọn tá điền.
Đi làm đồng về, Trưởng Nhu lại bị mẹ ghẻ bắt dọn dẹp trong nhà và giặt tã lót cho em cùng quần áo cho mẹ ghẻ. Liễu thị lại theo dõi công việc làm của con chồng, động một chút là mắng chửi, đánh đập. Ôi thật là vất vả cay đắng trăm chiều. Tuy bị hành hạ quá đáng nhưng Nhu không dám mách cha vì biết chẳng ích gì, chỉ thêm khổ cho cha. Cho nên chàng chỉ âm thầm chịu đựng. Những đêm thanh vắng, Trưởng Nhu bưng mặt khóc thầm, khóc chán chàng gọi mẹ xin cho đi theo về chốn truyền đài, tránh cho cha con khỏi bị đau khổ.
Liễu thị cũng chọn những lúc đêm khuya thanh vắng năn nỉ ỉ eo với chồng đòi truất quyền thừa hưởng gia tài của trưởng Nhu.
Tuy sợ vợ, Tần Hữu cũng không đành tâm làm hại con đời vợ trước. Bị vợ thôi thúc quá, họ Tần chỉ ậm ừ cho qua, chớ không chịu làm giấy tờ chi cả. Liễu thị bực mình lắm nhưng không giám áp đảo chồng.
Thị bèn nghĩ độc kế loại trừ trưởng Như và chờ cơ hội thuận tiện để thi hành.
Cơ hội đã đến… Bữa đó Tần Hựu phải đi thăm người bà con gần đau nặng ở tỉnh xa.
Tần Hựu đã đi ra tới bụi tre đầu làng bỗng nghe tiếng chân huỳnh huỵch chạy theo. Hựu giật mình quay lại cảm động nhìn trưởng Nhu hổn hển chạy đến bên mình.
Cậu bé mười lăm tuổi mồ côi mẹ được năm năm và hiện nay đang sống trong cảnh đoạ đầy của người mẹ ghẻ, gương mắt nhìn cha không nói nên lời.
Tần Hựu nhẹ nhàng xoa đầu con và nói:
- Con ra tiễn cha à? Cha đi vài bữa thì về như mọi lần, có chi mà con phải lo âu như vậy?
Trưởng Nhu ngập ngừng:
- Cha… cha cho con đi với.
Tần Hựu cười xoà:
- Con đã lớn rồi đi theo cha làm chi?
Mọi lần con đâu có đòi đi như vậy.
- Lần này khác. Tự nhiên con thấy buồn quá.
- Thôi để lần sau cha sẽ hỏi mẹ Thứ Như rồi cho con đi, con về đi.
Trưởng Nhu lủi thủi qauy về trong khi Tần Hựu thở dài tiếp tục lên đường. Ai ngờ đây là lần cuối hai cha con giáp mặt nhau.
Biết tần Hựu đi cuyến này phải cả tuần lễ mới về, Liễu thị liền sắp đặt kế hoạch sát hại con chồng. Chiều thị lại bày thêm việc cốt ý cho gia nhân đầy tớ bận tốùi mắt ở dưới nhà hết.
Đoạn thị kêu Trưởng Nhu vô buồng kín sai dọn dẹp loanh quanh. Chờ lúc con chồng vừa cúi xuống. Liễu thị vung cây gậy đã thủ sẵn, nện thiệt mạnh vào gáy Trưởng Nhu. Trưởng Nhu đã gục xuống đất, chân giẫy tê tê. Liễu thị nhào tới cứ nhằn bụng con chồng mà đá liên hồi.
Khi con ác phụ ngừng chân thì Trưởng Nhu chỉ còn là cái xác không hồn.
Liễu thị lấy mền bọc xác Trưởng Nhu vác về buồng riêng của nó và đặt xuống chân giường. Đoạn thị lén trở về phòng…
Lát sau làm bộ tự nhiên, lũng thững đi xuống coi gia nhân làm việc. Thị giả vờ hỏi mọi người :
- Uûa, còn trưởng Nhu đâu?
Một gia nhân đáp:
- Dạ, chúng con mải làm, không để ý. Chắc cậu quanh quẩn đâu đây.
Liễu thị nghiêm giọng nói:
- Đi kiếm xem cậu ấy đâu bảo xuống làm việc chớ. Con trai lớn bằng ấy mà lười như hủi, sau đến đi ăn mày mất thôi.
- Thưa bà… con lên tìm thấy cậu… nằm dưới đất… gọi không thưa. Mời bà lên coi.
Liễu thị vờ ngạc nhiên:
- Vậy hả. Mấy đứa bây theo ta lên coi xem thế nào.
Nói đoạn thị làm bộ te tái chạy lên phòng Trưởng Nhu rồi hô gia nhân vác con chồng lên giường chạy chữa. Thị bảo gia nhân:
- Chắc là trúng gió rồi. Tụi bây lấy rượu và gường xoa bóp cho cậu. Lẹ lên, bây.
Gia nhân xúm lại kẻ góp rượu người lay gọi hồi lâu nhưng trưởng Nhu vẫn nằm ngay như khúc gỗ.
Liễu thị hô:
- Coi thử xem cậu còn thở không?
Dĩ nhiên là không rồi còn chi nữa. Liễu thị giả bộ bưng mặt khóc hu hu rồi thuên người lo liệu việc chôn cất và sai người lập bàn thờ cúng kiếng tự nhiên.
Trưởng Nhu bị chôn ngay tại thửa ruộng của cha, sát bên lề đường.
Mấy bữa sau, Tần Hựu về nhà, Liễu thị vờ khóc lóc thảm thiết, rồi kể với chồng: Chàng đi, ở nhà con nó chẳng may trúng gió độc chết, thiếp hết lòng cứu chữa mà không cải được với số Trời. Thiệt là đắc tội vời chàng.
Tần Hựu bàng hoàng đến bên bàn thờ con đốt nến thắp nhang khấn khứa hồi lâu. Người cha đau khổ quay ra, mắt đỏ ngầu, đẫm lệ, rồi hối gia nhân đưa ra đồng thăm mộ con.
Gia nhân dạ ran kéo nhau tới hai ba đứa đi theo chủ ra đồng. Dọc đường chúng không ngớt lời than tiếc cho con chủ. Chẳng qua đó chỉ là khóc mướn thương vay chớ thực ra họ chỉ mượn dịp để kể công với chủ một cách khéo léo. Nào là họ đã hết lòng cứu chữa, nào là họ đã lo cho trưởng Nhu được mồ yên mả đẹp.
Tần Hựu thấy lũ gia nhân cũng nói là trưởng Nhu chết vì gió độc nên không nghi ngờ chi cả.
Thấy chồng không tỏ vẻ thắc mắc về cái chết đột ngột của Trưởng Nhu. Liễu thị cũng mở cờ trong bụng. Thôi thế là từ nay, cái gia tài to tát của cha. Thị tự khen thầm mình đã khéo bầy ra mưu thần chước quỷ để loại trừ con ghẻ một cách êm thấm như vậy.
Hơn một tuần lễ sau ngày Trưởng Nhu bị mẹ ghẻ đập chết, xảy có Bao Công đi tuần tra cácquận trong phủ Khai Phong. Sáng đo Bao Công cỡi ngựa ra đồng quan sát công việc cầy cấy của dân.
Bao Công lỏng tay cương, cho ngựa đi bước một trên con đường đất băng qua cánh đồng bát ngát, đầy lúa mọc xanh rờn.
Lúc đi ngang qua thửa ruộng của Tần Hựu, thấy mấm mồ của Trưởng Nhu nằm bên lề đường, Bao Công dừng ngựa lại hỏi chức việc sở tại đi theo hầu:
- Mả ai mới chôn đây?
Chức sở tại đưa mắt nhìn nhau. Viên thơ lại già của Bao Công muốn cứu vãn tình thế, bèn trả lời đại:
- Dạ thưa không biết. Chắc là của người trong thành hay của người trong làng gần đây.
Bao Công bật cười nhìn viên thuộc hạ và nói:
- Thế ngươi muốn người chết rớt từ chín từng mây xuống ư?
Tất cả cười ồ vui vẻ, Bao Công chậm rãi nói:
- Mả chông lề đường theo nhẽ phải là kẻ tứ cố vô thân, chết đường chết chợ nên được chôn tại đây.
Quan sát một lúc, Bao Công nói tiếp:
- À mà không phải. Mả này lại chôn trong phạm vi thửa ruộng sát lề đường tức là thân nhân người chết thuộc hạng có tiền bạc. Mà cớ sao lại chọn chỗ úng thủy này mà táng nhỉ. Kiểu đất chỗ này không có chi lạ, lại là bại địa nữa. Lạ thiệt! Lạ thiệt!
Viên thơ lại già bạo phổi góp ý kiến:
- Thưa thượng quan hay là kẻ nằm dưới mồ không phải là thân tộc của chủ ruộng?
- Lại càng vô lý nữa. Vì đây không phải là kiểu đất lạ khó có thể kết phát, ai hoài tiền mua miếng đất này mà táng thân nhân? Ta chắc kẻ chết là thân tộc của chủ đất, nếu phải vậy tất là có sống cũng chẳng được trọng vọng, quý mến gì. Thôi ta lên đường.
Nói đoạn Bao Công giựt cương ngựa lên đường.
Được một quãng, Bao Công nghe tiếng văng vẳng bên tai như có tiếng trẻ con nói: “xin cáo oan cùng đại quan” Bao Công giật mình quay lại. Vô lý! Mình ngồi trên ngựa, ai mà nghé bên tai nói được?
__________________




**************************************************
TRUM YEU GAI , CHET VI GAI
SONG DE YEU , CHET VI YEU
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #58  
Old 06-14-2005, 02:42 PM
vui_la_chinh vui_la_chinh is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Feb 2005
Nơi Cư Ngụ: Trum Yeu Gai
Bài gởi: 4,697
Send a message via Yahoo to vui_la_chinh
Default

Hồi 24(a)

Ỷ THẾ HIẾP NGƯỜI


Ngày xưa, tại làng Thiết Khâu, xóm Hiếu Liêm, huyện Triều Thủy, thuộc phủ Triều Châu bên tàu, có thanh niên nọ tên là Viên Văn Chánh, dung mạo khôi ngô tuấn tú, trẻ tuổi tài cao, sớm đậu tú tài làm rạng sỡ tổ tông. Điểm đặc biệt của chàng là khí khái, tuy gia cảnh rất là thanh bạch.
Nhiều nhà giàu có muốn kén làm rẻ nhưng chàng chẳng chịu. Bạn bè chế giễu, liệt chàng vào hạng đồ gàn. Chàng chỉ cười đáp:
- Lấy người chớ ai lấy của. Các anh có ham thì mời nhào vô.
Còn tôi thì xin kiếu.
Một bạn đồng môn mới cưới vợ giàu, động lòng bĩu môi nói:
- Làm phách. Nghèo kiết xác còn làm bộ. Chỉ sợ rồi đây đói rã họng lại không đến lạy mà làm rể nhà giàu.
Một anh khác, thi mãi chẳng đậu tú tài, ghen ghét họ Viên, được dịp hùa theo.
- Uùi chà, may mà đậu chớ tài cán gì. Mặt ấy chỉ có chờ chết đói chớ vô kinh thi gì nổi.
Trước những lời phỉ báng của bạn bè, Viên Tú tài vẫn nở nụ cười tươi, không thèm cãi lại và cũng không nản chí, trái lại chàng ra công dùi mài kinh sử.
Cha mẹ chàng dư biết tính con vả lại thấy con còn sức ăn học và ông bà còn lo được nên cũng không hối thúc chàng kết hôn với con nhà giàu. Sau vì họ hàng nói ra nói vào, cụ bà xuôi tai bên lựa lời dọ ý cụ ông.
Cụ ông nhất định không nghe:
- Nhà mình thanh bạch nên chọn người cùng gia cảnh thì con nó đỡ bị kinh rẻ. Vả lại tôi xem ra thằng Chánh nhà ta tánh tình khí khái tất sẽ khổ cho nó.
Cụ ông chẳng chịu, cụ bà đành thôi. Từ đó bà mẹ để ý kiếm dâu hiền, trong các gia đình bằng vai phải vế. Bà chấm con gái họ Trương, là Trương thị, đẹp cả người lẫn nết, liền :báo cáo” cho cụ ông hay. Sau vài lần tới lui thăm hỏi họ Trương, Viên ông không tiếc lời khen ngợi Trương thị với Viên bà. Tú tài Viên Văn Chánh hay biết ý định của song thân cũng vui mừng khôn xiết: đã từ lâu chàng cũng yêu vụng nhớ thầm Trương thị.
Họ Viên nhờ người mai mối. Họ Trương vui vẻ nhận lời. Tin lành bay ra, người ta bàn tán xôn xao,nhưng xem ra khen nhiều chê ít.
Hôm lễ chạm ngõ Viên ông có mời cụ Tư, một ông bạn thâm giao cùng đi cho rậm đám. Sau gần một tiếng đồng hồ hàn huyên, nhà trai cáo từ ra về. Nửa đường, Viên ông hỏi cụ Tư:
- Thế nào bác, đám này được chứ bác?
- Được, được cả người lẫn nết, hiềm một nỗi…
Viên ông chợt nhớ lời đồn đại cụ Tư là một tay tử vi kiêm kỳ môn độn giáp có hạng nhưng Viên ông không hề coi bao giờ. Bữa nay cao hứng. Viên ông tò mò hỏi:
- Bác nói hiềm một mỗi là sao?
Cụ Tư vuốt chòm râu bạc, trầm ngâm một lát rồi thong thả đáp:
- Khó nói quá. Thôi bác cứ bảo cháu Viên Văn Chánh sau này đừng để vợ lọt vào mắt bọn hoàng thân quốc thích quyền cao chức trọng mà sanh đại hoạ…
Viên ông ngắt lời:
- Mà đại hoạ cho ai?
- Đại hoạ cho một vài người ngoài ra còn kiến toàn quốc bàn tán và hàng triệu người phải rơi luỵ xót thương.
- Chi mà dữ vậy.
- Định mệnh mà. Vả lại chưa biết thế nào mà nói.
Nói đoạn cụ Tư nói lảng sang chuyện khác mà Viên ông cũng chẳng vặn hỏi làm chi.
Ít lâu sau, lễ thành hôn giữa Văn Chánh –Trương thị được cử hành. Trương thị ra công thu vén giang sơn nhà chồng khiến cho ai cũng phải ghen với số phận Văn Chánh cưới được vợ đã đẹp lại đảm đang, thùy mị, nết na.
Mấy năm sau cha Trương thị rồi đến Viên ông và Viên bà lần lượt cưỡi hạt quy tiên.
Đoạn tang Viên bà xong, Trương thị mang thai và sau sanh hạ được một đứa con trai rất kháu kỉnh. Khi nó lên ba tuổi thì Văn Chánh cũng vừa tròn ba mươi còn Trương thị thì mới có hai bốn cái xuân xanh.
Một sáng, theo thường lệ, Văn Chánh cắp sách đến nhà một cụ nghè để trao dồi thêm kiến thức. Tới ửa, chàng thấy sĩ tử bàn tán lao xao về tin nhà vua sẽ mở kỳ thi tại Đông Kinh vào đầu thu năm ấy. Chàng lật đật lên huyện lỵ dọ hỏi lại cho chắc chắn rồi trở về nhà bàn tính với Trương thị:
- Nàng ơi, sắp đến ngày ta phải xa mẹ con nàng rồi.
Trương thị đang cho con ăn cơm, giật mình hỏi:
- Chàng nói chi gở vậy?
- Nàng khéo mê tín dị đoan. Ta sắp vô kinh dự thi, phải xa mẹ con nàng chẳng đúng hay sao?
Trương thị dịu dàng nhìn chồng:
- Thế là chàng tạm xa mẹ con thiếp chứ. Nhưng chàng ôi nhà nghèo, biết chạy đâu cho đủ tiền cho chàng vô Kinh dự thi?
- Nàng xem có cầm cố, phát mại được chi thì ráng lên một phen. Công mười năm đèn sách, bỏ thi thì uổng quá. Hay là nàng ngại ta không chiếm được bảng vàng.
- Thiếp đâu dám nghĩ vậy. Chàng là “vị vũ chi giao long, tại sơn chi hổ báo”. Với sức học uyên thâm, lo gì mà chẳng bảng hổ đề danh, ngựa chàng đi trước, võng thiếp theo sau? Nhưng thiếp e sợ một điều…
Văn Chánh ngắt lời cô vợ quý:
- Nàng còn lo sợ điều chi?
- Nhà ta nghèo, nay bán sạch cửa nhà cho chàng đủ tiền ăn đường và nằm chờ thi, ở nhà mẹ con thiếp biết nương tựa vào đâu.
Nghe vợ nói, Văn Chánh thở dài, buồn bã nói:
- Để thủng thẳng mình tính cách.
Thấy chồng nét mặt buồn hiu Trương thị ái ngại không dám nói chi hơn nhưng nàng cũng suy nghĩ, cố tìm một giải pháp.
Lát sau Văn Chánh bảo vợ:
- Nàng hãy xem gia sản có chi cầm bán được thì tính trước để ta đi dọ hỏi xem tổn phí hết bao nhiêu rồi sau sẽ định liệu. Nhất định phải đi thi phen này, bỏ thì uổng lắm phần thì ta tuổi ngày càng lớn phần vì không biết bao giờ mới lại mở khoa thi.
Nói đoạn, văn Chánh đi yết kiến các chân khoa bảng trong vùng để hỏi thăm các điều cần biết. Trương thị cũng bồng con chạy đi kiếm bà con cô bác thân tình xin giúp đỡ bằng cách mua dùm căn nhà lá đơn sơ và hơn sào ruộng với giá cao. Tôi nghiệp họ hàng cũng đồng cảnh với vợ chồng Văn Chánh chỉ đủ bát ăn là may có dư giả gì đâu mà nói chuyện mua bán cầm cô. Họ chỉ có thể khuyên Trương thị nên tìm đến mấy tay phú hộ trình bày hoàn cảnh may ra có người hảo tâm giúp đỡ cho chăng.
Trương thị bồng con đến gõ cửa mấy tay cự phú làng trên, xon dưới. Nàng nói đã khô cả cổ mà chẳng được kết quả gì: họ trả giá rẻ như bèo. Hơn nữa, qua những cái nhìn cú vọ của họ, cùng những lời nói ỡm ờ nàng hiểu rằng họ sẵn sàng … mua nàng với giá đắt gấp trăm lần ngôi nhà và sào đất.
Trương thị buồn bèn quay về nhà. Càng thương chồng bao nhiêu, nàng lại căm giận bọn phú hào bấy nhiêu. Nàng về nhà được một lát thì chồng nàng cũng lủi thủi bước vào.
Trương thị toan nói cho chồng biết kết quả sự thăm dò của nàng thì Văn Chánh đã uể oải bảo vợ:
- Ta đã hỏi kỹ rồi. Thôi phen này đành bó tay. Ta tính có bán hết gia sản cũng chưa đủ tiền ăn đường. Còn sự vay mượn cũng vô hy vọng. Bạn bè lánh mặt hết.
Hai vợ chồng nhìn nhau thương cảm. Thôi thế là hết hy vọng. Để phá tan bầu không khí nặng nề, Văn Chánh bồng đứa con trai đầu lòng rồi cù cho nó cười như nắc nẻ. Chàng cũng cất tiếng cười theo rồi hai cha con ngồi đùa với nhau thật là vui vẻ.
Giữa lúc ấy có tiếng chó sủa ran, nơi sân nhà.
Trương thị đã trở xuống bếp lo nấu cơm chiều liền chạy vội ra cổng.
Văn Chánh lắng tai nghe. Tiếng vợ chàng nói gần như reo lên:
- Trời, cụ tư, lạy cụ ạ, nhà cháu có nhà xin rước cụ vô. Xa xôi thế mà cụ còn đến thăm chún cháu luôn.
Giọng cụ Tư ấm áp vang lên:
- Chà, có điều chi mà cha con nó cười đùa vui vẻ làm vậy!
Vừa nói, cụ vừa tiến vô nhà. Văn Chánh cũng lật đật trao con cho vợ, sửa lại áo rồi vòng tay thi lễ.
Cụ Tư thong thả ngồi xuống giường rồi chậm rãi hỏi Văn Chánh:
- Thế nào, anh nhất định vô kinh dự thi chứ?
- Dạ thưa cụ cháu muốn đi lắm, ngặt một điều…
Cụ Tư cười khà khà ngắt lời:
- Thôi lão biết rồi. Anh thiếu tiền phải không. Đây lảo có đem bạc sang mua nhà và ruộng giúp anh đây.
Miệng nói tay cụ Tư mở túi vải xếp ra mấy lạng bạc và hàng chuỗi tiền kẽm.
Văn Chánh ngạc nhiên:
- Cụ ở xa lại, sao cụ biết cháu tính bán gia sản để có tiền đi thi? Cụ giả thế này là quá đáng, cháu không dám nhận.
Cụ Tư vuốt chòm râu bạc nhìn Văn Chánh và nói:
- Làm sao lão biết, cái đó dễ hiểu. Cha anh với lão là chỗ thâm giao mà. Còn nhà và ruộng lão trả giá mắc vì không muốn gia sản của cha anh rơi vào tay kẻ khác. Từ ngày cha anh qua đời, lão vẫn năng tới lui đây trước là để nhìn cảnh cũ, nhớ đến người xưa sau nữa là để thăm gia đình anh mà lão coi như con.
Văn Chánh cảm động nhìn cụ Tư. Chàng ngẹn ngào nói:
- Cụ đối với cháu thế này thì thật là chu đáo quá, cháu biết lấy gì trả ơn.
Cụ Tư khoát tay đáp:
- Anh đừng nói chi tới ân với huệ. Đây là bổn phận của tôi. Ta tiếc là không được dư dả để giúp anh nhiều hơn. À mà chuyến này anh có đi thì cho chị ấy và cháu qua bên lão mà ở với lũ cháu gái của lão. Tiện lắm. Anh nghĩ sao?
- Thưa cụ cháu tính cho hai mẹ con nó đi cùng.
Cụ Tư giật mình:
- Uûa, anh đem cả vợ con đi theo thì làm sao đủ tiền?
- Chẳng nói giấu gì cụ, nhà cháu còn ít tư trang và cháu cũng có ít đồ gia bảo mang theo, lên tới kinh đô sẽ bán sau.
- Chà, anh đừng tính quẩn, cứ để vợ con sang ăn ở bên tôi, có tốn kém là bao.
- Thưa cụ, cháu không dám. Cụ giúp cho thế này là quá đủ rồi.
- Anh khí khái giống hệt cha anh vậy. Thôi thế này thì anh hết thắc mắc nhé. Vợ con anh cứ sang nhà tôi nuôi cho. Chừng nào anh vinh quy bái tổ, được hưởng ân vua lộc nước rồi thì muốn trả tiền trọ cũng không muộn.
Văn Chánh một mực không chịu. Cụ Tư không biết nói sao đành chịu, nhưng nếu ai chú ý sẽ thấy nét mặt cụ trở nên đăm chiêu hơn. Cụ ngồi yên lặng hồi lâu rồi lẩm bẩm một mình: “số trời đã định”.
Tối đó cụ Tư ngủ lại nhà văn Chánh. Cụ vẫy đứa con văn Chánh lại gần, xoa đầu, hỏi chuyện nói hồi lâu rồi khẽ thở dài, nói qua hơi thở: “Tội nghiệp thằng bé đầu xanh tuổi trẻ”.
Đêm ấy cụ thức rất khuya, chăm chú ngồi đọc mấy cuốn sách nhỏ chi chít những chữ.
Lâu lâu, cụ lại ngửng đầu nhìn lên vách, nhíu lông mày, ra chiều suy nghĩ lung lắm.
Sáng sau, cụ dậy sớm sửa soạn ra về. Trong lúc ngồi uống trà, cụ dặn văn Chánh:
- Nếu như anh nhất định cho vợ con đi theo thì lão khuyên hai vợ chồng nên ăn mặc xoàng xĩnh thôi.
Riêng về phần vợ anh lại càng phải thận trọng lắm mới được. Cho tới khi anh hiển vinh anh phải bắt nó mặc áo rộng, che bớt mặt đi và nếu cần làm cho nó xấu xí đi. Đường trường nhiều cảnh nguy nan và khi tới kinh đô lại cần phải đề phòng bọn quan quyền ỷ thế hiếp người.
Văn Chánh lãnh ý rồi cả hai vợ chồng tiễn đưa cụ Tư đến tận đầu làng mới trở về. Lúc chia tay cụ tư còn dặn con bạn thêm lần :Dt:
- Anh nhớ làm theo lời tôi dặn nhé… Có chuyện chi thì …vợ hay chồng… cho tôi biết nghe. Thôi lão chúc cho anh công thành danh toại.
Văn Chánh chợt nhớ ra điều gì vội móc túi lấy cuộn giấy đưa cho cụ Tư:
- Thưa cụ, đây là văn tự bán nhà và ruộng xin cụ cầm giùm cho.
- Chà, anh khéo vẽ vời. Thôi được đưa tôi.
- Thưa bao giờ cụ sang nhận nhà và ruộng?
- Chừng nào anh đi?
- Thưa cụ cũng ngày này tháng sau.
- Được đúng ngày đó tôi sẽ cho người sang.
Nói đoạn cụ chống gậy trúc, thong thả bước đi.
Vợ chồng Văn Chánh đứng trông theo đến khi cụ Tư khuất dạng mới quay về. Dọc đường Trương thị hỏi chồng:
- Cụ Tư dặn gì anh mà xem ra có vẻ nghiêm trọng quá vậy?
Văn Chánh thuật lại đầu đủ cho vợ nghe rồi kết luận:
- Ta thấy cụ nói có lý lắm. Đờn bà đẹp đi đường xa nên làm cho xấu xí đi để khỏi có kẻ động tà tâm…
Trương thị gật đầu:
- Thiếp cũng cho là phải. Tuy hiên có điều thiếp hơi thắc mắc. Lúc đi đường vắng vẻ sợ có đứa ẩu hỗn làm bậy. Cái đó đã đành.
Nhưng một khi tới kinh đô, đông đảo người ta lại có quan quân trật tự nghiêm minh, cần chi phải ngụy trang làm xấu đi?
- Nàng nói có lý một phần thôi. Cụ Tư ngại rằng với sắc đẹp tuyệt trần của nàng, tuy ở kinh đô không sợ phường hạ tiện làm hại nhưng lại phải đề phòng bọn phong kiến mũ cao áo dài.
Thứ đó còn đáng sợ hơn.
- Chàng làm như thiếp là Hằng Nga tái thế không bằng, ở ruộng thì khá chớ lên kinh đô nhà vua thì thiếp còn kém xa.
Văn Chánh nhìn vợ rồi mỉm cười đáp:
- Chưa chắc gái đế đo đã hơn nàng. Mà thôi cứ để lên tới chốn thị thành sẽ hay.
Trương thị sung sướng, má đỏ hây, miệng chúm chím cười khiến Văn Chánh cũng phải ngây ngất.
Tháng sau Văn Chánh cùng vợ con lên đường sau khi giao nhà và ruộng cho người nhà cụ Tư.
Chồng đi trước đeo ống quyển, vai mang bọc hành lý và sách vở. Vợ đi theo sau, con cột trên lưng, tay xách bọc quần áo. Lúc đó mặt trời đã lên khỏi ngọn tre. Tới đầu làng vợ chồng Văn Chánh gặp mấy bà lối xóm đi chợ thôn bên về.
Họ ngạc nhiên:
- Làm sao mà ăn vận lôi thôi thế này? Trông như con lọ lem vậy.
Trương thị cười xoà chưa kịp đáp thì một bà đã bô bô nói:
- À bà chị khôn thiệt. Thế này thì đến quỷ sứ cũng lắc đầu khỏi phải lo gì nữa.
Mọi người cười ồ vui vẻ rồi sau mấy câu chúc tụng thường lệ họ chia tayd9e63 vợ chồng Văn Chánh tiếp tục lên đường.
Ngày đi đêm nghỉ, sau nhiều ngày trèo đèo lội suối, Văn Chánh và vợ con lên tới Đông Kinhbình yên vô sự.
Vợ chồng Văn Chánh vô tiệm Huỳnh bàhỏi thăm giá cả. Thấy tiệm ngủ cũng sạch sẽ có thổi cơm trọ giá phải chăng lại thêm Huỳnh bà tánh tình vui vẻ, đứng đắn, vợ chồng Văn Chánh thuê liềm một phòng nhỏ trông ra sân sau.
Hai vợ chồng vô cùng mừng rỡ vì nhờ ăn tiêu dè sẻn lúc đi đường nên tiền lưng còn đủ cho vợ chồng và đứa con sinh sống tới lúc chàng thi xong.
Sau khi sắp đặt xong nơi ăn chốn ở, vợ chồng văn chánh tắm rửa thay quần áo sạch sẽ rồi bồng con ra phố phường Đông Kinh, quên cả lời dặn của cụ Tư.
Khi Trương thị đi qua trước mặt nữ chủ quán họ Huỳnh, bà này ngạc nhiên trỏ nàng hỏi Văn Chánh:
- Kìa, lạ quá nhỉ, có phải cô lúc nãy vô cùng với thầy không?
Văn Chánh cười đáp:
- Dạ phải, chắc bác thấy nhà cháu thay hình đổi dạnh hoàn toàn phải không?
- Phải, nếu không có thằng nhỏ đeo trên lưng thì tôi không tin lời thầy nói đâu. Thầy cẩn thận thế là đúng lắm. Thân gái dặm trường kỵ nhất là phô bày nhan sắc và đồ trang sức. Đã lâu lắm tôi mới lại gặp một người đẹp như vợ thầy đây. Thầy và cô tốt đôi thế này, chắc là phen này thầy phải đậu cao và ra làm quan rồi.
- Bác quá khen, cháu thì tài hèn chí mọn, còn nhà cháu đây đẹp đâu bằng các cô gái đế đô.
- Tôi đã nói là đẹp hơn mà. Rồi thầy nghiệm xem lời tôi nói không phải là nịnh bợ đâu nhé. Phen này tiệm ngủ tôi hên rồi đa.
Vợ chồng Văn Chánh vui vẻ dắt nhau ra phố nhàn du. Cái gì đối với họ cũng là lạ mắt, là đẹp cả. Thấy thiên hạ cứ ngó hết chàng rồi đến vợ chàng, Văn Chánh mới đầu rất hãnh diện vì có cô vợ đẹp. Nhưng thét rồi chàng lại hơi… ghen, nhất là từ lúc lời bình phẩm tục tĩu của đôi ba chàng trai kém giáo dục bay đến tai chàng.
Hai vợ chồng đi mãi, đi mãi hết phố này qua phố khác rồi cả hai tới trước một cây cầu xây bằng đá bắc qua con rạch nhỏ. Thành cầu có khắc hai chữ “Thạch Kiều”.
Vui chân, hai vợ chồng rủ nhau vượt qua cầu sang bên kia thấy nhà cửa không nằm san sát như bát úp nữa, nhà nào cũng khang trang sạch sẽ với vường cây chạy xung quanh. Rõ ràng là khu của những tay quyền quý cao sang. Văn Chánh thấy một toà nhà nguy nga lộng lẫy, bốn bề có tường cao bao bọc, cửa ra vào đóng kín, trên cổng có chòi lính gác. Bên cổng có tấm biển ghi mấy hàng chữ nho. Vừa thoáng đọc xong Văn Chánh giật mình quay phắt lại, bảo vợ hãy về nhà ngay.


__________________




**************************************************
TRUM YEU GAI , CHET VI GAI
SONG DE YEU , CHET VI YEU
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #59  
Old 06-14-2005, 02:43 PM
vui_la_chinh vui_la_chinh is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Feb 2005
Nơi Cư Ngụ: Trum Yeu Gai
Bài gởi: 4,697
Send a message via Yahoo to vui_la_chinh
Default

Trương thị chẳng hiểu ất giáp gì cũng vội vã đi theo chồng trở lại cầu Thạch Kiều.
Được vài bước nàng khẽ hỏi chồng:
- Chi mà gấp vậy chàng?
- Không nên qua đó kẻo sơ ý thì bị khoét mắt, chặt tay như không.
Trương thị bắt rùng mình vội rảo cẳng đi mau. Khi hai vợ chồng sắp lên tới chân cầu, xảy có tiếng quân lính hô dẹp đường. Cũng như các bộ hành kh1c, vợ chồng Văn Chánh phải đứng nép bên lề đường. Phút sau, một toán chừng mười tên lính rầm rộ đổ từ trên cầu xuống mở đường cho một thanh niên mặt trái xoan, đôi mắt lẳng lơ, mặc áo đại thần cỡi ngựa bạch thong thả tiền tới. Phía sau lại có một toán lính khác đi tập hậu. Một ông già đứng bên văn Chánh lẩm bẩm: “Hoàng thân”. Gã thanh niên cưỡi con bạch mã nhìn Trương thị chằm chằm. Không biết hắn nghĩ gì chỉ thấy hắn vẫy tay gọi tên hầu cận bận thường phục lại gần và cúi xuống nói nhỏ một hồi.
Tên hầu cận cúi rạp ra chiều tuân lệnh rồi chậm bước lại để cho toán quân hậu tập đi vượt lên, mắt liếc nhìn về phía Trương thị.
Vợ chồng Văn Chánh vô tình không hay biết gì cả, cứ thản nhiên đi lên cầu. Văn Chánh hỏi nhỏ cụ già lúc nãy đứng bên cạnh:
- Thưa lão trượng, chẳng hy người vừa rồi cụ gọi là “Hoàng thân” là ai vậy?
- Chắc câu ở xa về đây chơi hẳn?
- Dạ cháu từ phủ Triều Châu về đây dự thi.
- À thế thì cậu không biết thì phải. Người vừa đi qua là Tào Nhị Quốc Cựu. Nguyên vợ vua Nhơn Tôn là Tào Hậu, con gái Thái phụ phu nhơn.bà này còn có hai con trai được phong là Đại quốc Cựu và Nhị Quốc Cựu, và liệt vào hàng Hoàng Thân.
Ông già vừa nói tới đây thì hai người cũng vừa qua khỏi cầu Thạch Kiều. Ông già chào Văn Chánh rồi rẽ qua tay mặt còn vợ chồng văn Chánh thì cứ thẳng đường về nhà trọ.
Cả hai đều không biết có tên hầu cận của Nhị Quốc Cựu đeo sát sau lưng. Đến nhà trọ của Huỳnh bà, nó dòm theo biết phòng của vợ chồng Văn Chánh liền đi loanh quanh một lát rồi lại tiệm ngủ thuê một phòng.
Tới đó, hắn lân la bắt chuyện với Văn Chánh, sáng sau hắn dời nhà trọ từ sáng sớm với đầu đủ tin tức về vợ chồng nhà này.
Tới tư dinh Nhị Quốc Cựu, hắn vô thẳng phòng chủ phúc trình kết quả cuộc điều tra. Nghe xong Nhị Quốc Cựu mở ô kéo lấy một đĩnh bạc ném cho tên hầu cận rồi nói:
- Tốt lắm, ta đã có cách chiếm người ngọc ấy.
Tên hầu cận được bạc, hót thêm:
- Được cậu chiếu cố, mụ ấy thật là đại phước. Nhưng còn thằng chồng nó cậu tính sao!
- Ta nói đã có cách mà. À bây trông kỹ nó có đẹp thiệt không? hay là ta hoa mắt trông lầm?
- Dạ thưa cậu nó đẹp lắm, gái kinh đô này dễ thường chưa ai sánh kịp. Con mà lấy đặng nó cậu có chém bay đầu con cũng cam tâm.
Nhị Quốc Cựu lim dim đôi mắt, mở một nụ cười khả ố ném cho tên hầu cận một đĩnh bạc nữa rồi truyền cho lui ra.
Ngay sáng đó, Nhị Quốc Cựu đuổi hết cung tần mỹ nữ ước đến hai chục người, sang ở bên Tây cung để nghinh đón Trương thị. Nhi Quốc Cựu cũng chọn sáu tỳ nữ kín tiếng giữ lại để hầu hạ bên Đông cung.
Đoạn Nhị Quốc Cựu truyền cho đầu bếp chuẩn bị mở tiệc rượu đêm nay.
Chiều lại, Nhị Quốc Cựu chọn hai tên lính ăn nói hoạt bát, kêu vô phòng cùng với tên hầu cận mà bảo rằng:
- Hai người khá theo tên này (trỏ hầu cận) đến tiệm ngủ Huỳnh bà vô nói với Tú tài Viên Văn Chánh rằng ta nghe người quen ở phủ Triều Châu ca tục sức học uyên thâm của Văn Chánh từ lâu nay được biết tú tài mới cùng vợ lên kinh đô để chờ ngày thi, ta có lời mời cả ba đến phủ ta, trước là để có dịp hiểu biết thêm về tài năng sau là để tiện tiến cử. Phải nói là ta xưa nay vẫn có tính trọng hiềm đãi sĩ, thường hay vì đức Vua mà chiêu mộ hiền tài, nghe chưa?
Chú lính dạ ran:
- Dạ chúng con nghe rõ rồi.
Nhị Quốc Cựu gật đầu:
- Tốt. Nhưng chưa hết đâu. Bảo họ đem tất cả hành lý lên đây ta có trú ngụ tại phủ này cho đến ngày hiển đạt. Nhớ đón vợ chồng và đứa con lên tất cả nghe.
Nói đoạn, Nhị Quốc Cựu mở tủ lấy bạc trao cho hai người lính và dặn thêm:
- Trả hết phí tổn ở tiệm ngủ Huỳnh bà cho họ và thuê cáng đưa họ về đây. Còn dư bao nhiêu cho tụi bây chia nhau mà xài. Còn tên này (trỏ hầu cận) ngươi chỉ đưa họ tới nơi, trỏ nhà cho biết rồi rút lẹ về đây, ẩn mặt đi vài bữa chớ để hai vợ chồng nó nhận diện được, hỏng việc của ta thì tù mọt gông đó. Thôi tụi bây đi ngay cho được việc.
Ba người vái Nhị Quốc Cựu rồi lui ra sửa soạn lên đường ngay tức khắc.
Ra khỏi phủ, một chú lính hỏi anh hầu cận:
- Nè bác, chiêu phụ sát phu chớ chiêu hiền sĩ gì phải không? Con mụ này đẹp lắm sao bác?
Anh hầu cận mỉm cười bí mật:
- Chia bớt cho tớ ít bạc, tớ sẽ nói cho mà nghe.
- Chẳng nói thì đừng, lát nữa tụi này cũng biết.
- Được. nhưng coi chừng ta mét ngươi phỉ báng Hoàng Than cho mà coi.
Chú lính nọ đấu dịu và thuận chia chút bạc cho anh hầu cận.
Tên này cười nói tiếp:
- Có thế chứ. Bây giờ vểnh tai mà nghe. Con mụ này đẹp lắm tên là Trương thị. Hoàng thân mê lắm rồi đấy.
Chú lính nọ thở dài đáp:
- Tôi sợ cái thói dập liễu vùi hoa của Hoàng thân, khéo mụ này lại theo số phận như hàng chục mỹ nhân từ trước đến nay.
Tên hầu cận trợn mắt la:
- Này, xin ông ngậm bớt cái miệng lại kẻo thấu tai Hoàng Thân thì lôi thôi đấy. Muốn làm ma không đầu sao?
Chú lính nọ im bặt, lấm lét nhìn hai bạn đồng hành. Ba người lặng lẽ nhắm thẳng tiệm ngủ huỳnh bà mà tiến tới.
Nói về Tú tài Văn Chánh sáng đó trở dậy có ý tìm tên hầu cận của tào Nhị Quốc Cựu mà chẳng thấy đâu. Chàng liền lên nhà hỏi thăm nơi Huỳnh bà:



- Khách trọ ở phòng cận cháu đi ròi sao bác?
- À anh tanói có việc ở quê phải đi ngay từ sớm rồi.
- Tiếc quá, cháu tính nhờ anh ấy dẫn d8i vãng cảnh nơi đế đô.
Nói đoạn, chàng trở về phòng ngồi bó gối uống trà một mình. Trương thị hỏi chồng:
- Bữa nay chàng tính cho mẹ con thiếp đi đâu?
Văn Chánh uể oải đáp:
- Ta thấy mệt mỏi, để lát nữa sẽ hay.
Trương thị nhìn chồng rồi giật mình hỏi:
- Uûa, sao khí sắc chàng bỗng nhiên kém hẳn đi vậy?
- Nàng nói thiệt sao? Thực ra từ lúc ta dậy đến giờ ta thấy tâm thần bất định, lòng bồn chồn như lửa đốt, tự nhiên ta có cảm tưởng ở nơi này không được an vui lắm.
Trương thị dịu dàng đáp:
- Có lẽ bây giờ chàng mới thấm mệt vì cuộc hành trình quá vất vả. Thiếp nghĩ chàng nên tĩnh dưỡng vài ngày cho lại sức còn ôn lại văn bài.
Suốt ngày hôm đó, Văn Chánh đứng ngồi không yên, cho tới chiều giữa lúc chàng đang nằm khàn trong phòng xảy có tiếng Huỳnh bà gọi rối rít:
- Thầy Tú ơi! Thầy Tú ơ! Có các cậu lính đằng hoàng thân lại mời vợ chồng cậu vô phủ chơi đây nè.
Văn Chánh choàng dậy, chạy vội lên. Hai tên lính chắp tay xá dài chàng rồi lễ phép nói:
- Quốc Cựu sai bọn tôi đến rước Tú tài và phu nhân cùng công tử lên phủ ở chơi cho đến ngày thi.
Văn chánh chưa kịp trả lời thì một chú lính nhanh miệng nói luôn:
- Xin Tú tài đừng khước từ. Quốc Cựu vốn trọng hiền đãi sĩ nay nghe danh Tú tài tuổi trẻ tài cao muốn mời tới tương kiến để đường tiến cử sau này. Hiện võng đã thuê chờ ở cửa xin Tú tài đi cho. Tiền trọ tôi đã trả đủ rồi.
Huỳnh bà nghe nói chắp tay xuýt xoa:
- Quốc Cựu thiệt là nhơn ái. Thôi thầy Tú hãy mau sửa soạn lên đường chớ để Ngài phải chờ lâu. Thiệt là hên cho tiệm tui quá.
Văn Chánh trở về phòng nói qua cho vợ biết rồi cả hai thay quần áo đẹp nhứt đi lên nhà.
Vừa trông thấy Trương thị hai chú lính nháy mắt nhìn nhau thì thầm: “Đẹp quá ta”.
Rồi chúng xúm lại mang hộ hành lý của vợ chồng Văn Chánh ra cổng.
Hồi lâu sau, vợ chồng Văn Chánh tới nơi. Tào Nhị Quốc Cựu sai lính mở cổng giữa và đích thân ra tận ngoài đón rước dẫn vô dinh.
Sau khi phân ngôi chủ khách, Quốc Cựu quát lính hầu trà và cho kêu thị tỳ lên bồng con cho trương thị.
Quốc Cựu giả bộ hỏi gia cảnh Văn Chánh. Rồi câu chuyện xoay qua vấn đề vấn đề văn chương thi phú. Quốc cựu làm bộ chăm chú nghe Văn Chánh phun châu nhả ngọc nhưng thực ra đầu óc đang quay cuồng trước sắc đẹp mê hồng của trương thị.
Nắng đã xé chiều rồi tắt hẳn. Trong dinh Quốc Cựu đèn thắp sáng như ban ngày. Quốc Cựu mời Văn Chánh ra ngoài huê viên dự dạ yến cho mát. Lấy cớ mình chưa có vợ, Quốc Cựu xin lỗi rồi kêu nữ tỳ rước trương thị vô Đông cung dùng cơm, lại sai người đem con văn chánh qua Tây cung săn sóc.
Vì đã có lệnh trước nên khi trương thị vừa bước vào hậu cung, bọn tỳ nữ đã đóng sập cửa lại rồi xúm nhau mời Trương thị:
- Tâu lịnh bà, xin lệnh bà tắm mát rồi thay xiêm y mới trước khi dùng bữa.
Thiếu phụ đồng ruộng chẳng hiểu ất giáp gì cứ răm rắp theo sự chỉ dẫn của bọn nữ tỳ nữ.
Khi Trương thị trở ra với y phục lộng lẫy trông như Hằng Nga tái thế, bọn hầu gái không tiếc lời tâng bốc nàng:
- Tâu lịnh bà,lịnh bà đẹp như tiên nga, chắc là Quốc Cựu phải hài lòng.
Trương thị liếc nhìn vào gương. Nàng cũng giật mình, không ngờ nàng lại xinh đẹp đến thế. Rồi nàng ngồi vào dùng cơm một mình, lòng tràn ngập niềm hân hoan vô tận. Nàng yên trí Quốc Cựu thấy Văn Chánh có tài nên vì nể mà hậu đãi nàng.
Giữa lúc ấy, ở ngoài huê viên, Quốc Cựu ra công phục rượu cho Văn Chánh. Chàng trí thức miền quê thực tình uống hết chén này qua chén khác. Gặp thứ rượu mạnh nên tới tuần thứ mười, Văn Chánh gục xuống bàn ngủ vùi. Quốc Cựu mỉm cười rũ áo đứng dậy vẫy bốn tên tâm phúc lại gần và bảo rằng:
- Tụi bây khiêng tên này ra sau vườn thủ tiêu cho ta. Còn đứa con nhỏ của nó cũng … đi theo bố nó luôn thể, cho tiện việc. Nhớ làm cho lẹ rồi vô trình ta mà lãnh thưởng.
Ra lệnh xong, Quốc Cựu trở về phòng riêng.
Bốn tên quân tâm phúc chia nhau thi hành lệnh chủ. Hai đức khiêng Tú tài văn Chánh ra vườn sau còn hai đứa đi kiếm con văn Chánh. Vườn này mênh mông, rộng tới mấy chục mẫu, có chỗ cây mọc như rừng, âm u ghê rợn, đến ban ngày cũng không ai dám tới làm chi.
Hai tên khiêng Văn Chánh đi được một quãng, bỗng tên đi đầu vấp phải rễ cây lảo đảo suýt rồi ngã. Hắn chửu thề một hồi rồi bảo bạn:
- Nè anh, mọi lần trước tụi mình thường thủ tiêu các mỹ nhân vào lúc tờ mờ sáng, nay phải thủ tiêu cha này trong đêm tối nghĩ mà khó quá. Hay là…
Tên đi sau hỏi mau:
- Hay là … sao?
- Hay ta cũng siết cổ như mọi bận rồi xô xác nó xuống giếng Quỳnh Hoa ở gần đây là hơn cả.
Tên đi sau phản đối:
- Không được giếng này ở gần nhà quá, sợ e bại lộ mất, phải đem nó ra chỗ mọi khi.
Tên đi trước đứng dừng lại nói:
- Nếu vậy thì anh chịu khó cõng thằng này đi một mình ra ngoài đó mà giết nó rồi chôn đi như mọi bận. Tôi chờ anh ở đây nghe. Tiền thưởng thì anh cứ việc lãnh cả.
Nói đoạn hắn ngưng lại chờ phản ứng của tên đi sau. Sợ tên này tham bạc làm thiệc, hắn doạ liền:
- Chẳng phải tôi làm biếng đâu mà vì đêm tối ra tận đó. Sợ oan hồn uổng tử hiện lên đòi thường mạng thì nguy. Anh có nhớ tổng số mỹ nhân bị thủ tiêu là bao nhiêu rồi không?… Đúng bốn mươi mạng rồi nghe. Anh chàng này là bốn mốt, đứa bé con là bốn hai và mụ trương thị sẽ là nạn nhơn thứ bốn ba trong ít bữa. Aáy là chưa kể tới những bào thai mà một số mang theo xuống cõi âm ty.
Tên đi sau bắt rùng mình, sợ quá đến lạc cả giọng:
- Anh nói có lý. Tôi bằng lòng xô nó xuống giếng Quỳnh Hoa. Bây giờ tụi mình tạm đặt thằng văn Chánh này xuống đây rồi chờ bọn kia đem con hắn đến mần luôn thể đặng về cùng, kẻo đức trước đứa sau Quốc cựu sinh nghi thì chết.
Tên đi trước tán thành. Thế là cả hai bỏ Văn Chánh xuống đất, đứng chờ.
Lát sau hai tên quân đi kiếm con Trương thị cũng mò tới.
Chúng hỏi nhau:
- Các cậu tài thiệt, làm thế nào mà thằng bé không khóc… Bịt miệng hả?
- Đâu có. Tớ đập cho nó một gậy sau ót chết còng queo từ lâu rồi. Mình vừa rờ đến nó thì đã khóc thét lên cho nên phải xuống tay tay gấp kẻo bại lộ. Còn anh chàng Tú tài đâu?
Hai tên đến trước cắt nghĩa cho hai tên đến sau nghe. Chúng đều đồng ý. Văn Chánh bị khiêng đến bờ giếng Quỳnh Hoa rồi bị siết cổ cho đến chết. Sau khi xô xác chồng Trương thị xuống giếng, chúng liệng luôn đứa con ba tuổi…
Thi hành xong thủ đoạn sát nhân, bốn tên quay về trình Quốc Cựu để lãnh thưởng.
Tên Hoàng Thân độc thân và dâm ô này vứt mấy nén bạc ra bàn rồi hất hàm hỏi:
- Tụi bây chôn ở chỗ cũ chứ?
- Dạ ở chỗ cũ.
- Chôn kỹ không?
- Dạ kỹ, có bó chiếu cột hai đầu và đầm đất cẩn thận lắm.
- Tốt, mai nhớ ra làm lại cho kỹ nghe. Thôi cho bây lui.
Bốn tên dạ ran, lượm bạc rồi quay trở ra.
Lúc bấy giờ mới bắt đầu sang canh hai.
Lại nói về Trương thị, cơm nước xong nàng được một tỳ nữ áo xanh rước vô phòng ngủ của Quốc Cựu. Phòng này trưng bày cực kỳ lộng lẫy, giữa phòng có kê giường bát bảo, gấm rủ màn che.
Trương thị ngồi xuống chiếc cẩm đôn ở góc phòng rồi bảo tỳ nữ:
- Nhị Quốc cựu thật là đấng hiền nhân.
Còn tỳ nữ mỉm cười đáp:
- Lệnh bà ở với Hoàng Thân thật là xứng đáng.
Trương thị chột dạ:
- Phòng này không phải của Hoàng thân dành cho vợ chồng chị ở đậu cho đến ngày thi sao?
Biết mình lỡ lời, tiết lộ quá sớm kế hoạch của chủ, nữ tỳ nói chữa:
- Tâu lệnh bà, ý em muốn nói lệnh bà ở phòng này của Hoàng Thân mới là xứng đáng với sắc đẹp kiều diễm của lệnh bà.
- Sao em cứ gọi chị là lệnh bà hoài. Thôi kêu bằng chị cho tiện. Ta đâu phải là mệnh phụ phu nhơn?
- Tâu lệnh bà, Đó là lệnh của Hoàng Thân. Vả lại rồi lệnh bà cũng tiến đến địa vị đó.
Tới đây tỳ nữ sợ bị vặn hỏi lôi thôi liền xin phép lui ra. Lát sau, nó dẫn vào sáu cung tần mang theo đờn phách để ca hát giải trí cho Trương thị.
Trương thị càng ngẫm nghĩ về lời con tỳ nữ, càng lo lắng vô cùng. Có lẽ nàng xa vào cạm bẫy của Hoàng Thân chăng? Chồng con hiện giờ ở đâu? Tự nhiên nàng thấy bồn chồn, lòng như lửa đốt.
Giữa lúc ấy mấy ngọn bạch lạp bỗng nhiên lung lay cơ hồ như muốn tắt mặc dầu trời lặng gió yên. Và trong bóng lửa chợp chờn Trương thị thoáng thấy hiện lên nơi khung cửa sổ, chồng nàng mặt sưng, tay bồng đứa con yêu quí đầu quật ra đằng sau như gẫy cổ, miệng tràn máu tươi…
Nàng sợ quá khẽ rú lên thì hình ảnh rùng rợn đó biến mất và ánh bạch lạp lại sáng tỏ như ban ngày. Bọn cung phi vẫn nghịp nhàng ca hát. Trương thị nhìn quanh có ý kiếm tỳ nữ áo xanh song chẳng thấy nó đâu cả. Nàng toan bảo bọn cung phi ngừng ca hát thì tỳ nữ áo xanh đã mở cửa vô phòng và tiến đến bên trương thị. Nó vừa ra gặp Nhị Quốc cựu để xin chỉ thị.
Trương thị mừng rỡ nắm tay tỳ nữ và bảo:
- Em đưa chị gắp chồng con.

__________________




**************************************************
TRUM YEU GAI , CHET VI GAI
SONG DE YEU , CHET VI YEU
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #60  
Old 06-14-2005, 02:44 PM
vui_la_chinh vui_la_chinh is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Feb 2005
Nơi Cư Ngụ: Trum Yeu Gai
Bài gởi: 4,697
Send a message via Yahoo to vui_la_chinh
Default

Vì được chủ dặn trước, tỳ nữ nói gạt Trương thị:
- Tú tài uống rượu say quá, Hoàng Thân dìu về phòng ngủ ở Tây cung rồi.
- Sao không đưa chàng vào đây?
- Em không biết. Đó là lệnh Hoàng Thân.
- Còn cháu bé của chị đâu?
- Cháu cũng ở bên tây cung có người chăm sóc, lệnh bà khỏi lo.
Trương thị năn nỉ:
- Em làm phước co chị gặp chồng con, chị đội ơn em muôn vàn.
- Em nói thiệt mà. Xin lệnh bà cứ yên tâm.
- Lạ hơi con chị nó khóc hết nước mắt, tội nghiệp, em cho chị gặp con chị đi. Chị van em.
Nữ tỳ lúng túng:
- Cháu nó khóc nhớ lệnh bà… Chừng đem đặt bên Tú tài thì nó … nín khe và ngủ rồi. Lệnh bà hãy tin em và đi nghỉ cho đỡ mệt.
Nói đoạn tỳ nữ ra lệnh cho đám cung phi lui ra ngoài.
Mặc dù tỳ nữ thúc giục đôi ba lần, Trương thị cứ vẫn ngồi yên trên cẩm đôn và một mực đòi gặp chồng con.
Cuối cùng thấy tỳ nữ có vẻ lúng túng, Trương thị đứng phắt dậy đi ra cửa toan mở ra ngoài. Tỳ nữ áo xanh vội níu nàng lại:
- Xin lệnh bà chớ hấp tấp làm kinh động Hoàng Thân e sợ ngài giận. Lệnh bà vui lòng nán lại đây, em xin trình Hoàng Thân quyết định.
Nói đoạn nó đẩy trương thị trở về giường rồi mở cửa đi kiếm Nhị Quốc Cựu trình bày tự sự.
Nhị Quốc Cựu cau mày đáp:
- Mi vô nói với mụ ấy là ta muốn mụ là vợ của ta. Xưa nay không ai dám trái lệnh ta bao giờ. Nếu nó không chịu thì nói thẳng cho nó biết là chồng con nó đã chết cả rồi. Trái lời ta, ta sẽ giết nốt.
Tỳ nữ áo xanh trở vô phòng. Trương thị lo lắng hỏi:
- Thế nào em? Hoàng Thân dạy sao?
- Tâu lệnh bà.. Hoàng Thân muốn từ nay cùng chung sống với lệnh bà như vợ chồng.
Trương thị tái mặt hỏi lại:
- Sao? Em nói gì chị chưa hiểu. Chị là gái có chồng và lại có con rồi. Chắc em nghe lầm.
- Tâu lệnh bà, em không lầm đâu. Hoàng Thân muốn lấy lệnh bà làm vợ.
Trương thị quắt mắt:
- Không khi nào. Hãy thả ta cùng với chồng con ta ra. Nếu không ta sẽ phá cửa cho mà coi.
Tỳ nữ lắc đầu:
- Vô ích lệnh bà ơi. Tú tài và con đã chết cả rồi, lệnh bà hết nơi nương tựa, nên ở lại kết nghĩa với hoàng Thân là hơn cả.
Trương thị nghe vậy vật mình than khóc ầm ĩ rồi toan đập đầu vào cột nhà mà tự vẫn. Tỳ nữ áo xanh nhanh tay níu lại, miệng la cầu cứu :Di lói.
Nhị Quốc Cựu vội sai người tỳ nữ khác vô trợ lực tỳ nữ áo xanh dìu Trương thị đem giam trong phòng kín, và thay phiên nhau canh giữ, khuyên dỗ.
Chúng dùng mọi thủ đoạn: hết ngọt đến xẵng, hết ve vãn đến doạ nạt, mà Trương thị chẳng nguôi tấc dạ, vẫn một hai toan tự tử chết theo chồng con.
Thấy vậy Nhị Quốc Cựu bèn cho mời lương y đến bốc thuốc an thần va ra lệnh cho tỳ nữ ép buộc trương thị uống. Thuốc ngấm, làm nàng ngủ thiếp đến hơn mọt ngày mới lại tỉnh.
Bọn tỳ nữ lại xúm lại khuyên giải. Nàng không vật mình than khóc nữa. Trái lại trở nên trầm lặng.
Nàng nằm yên suy nghĩ. Nàng nhớ lại tích xưa ghi trong sách thánh hiền mà hồi sanh tiền Văn Chánh thường đọc và giảng giải cho nàng nghe. Nàng phải thủ tiết với chồng. Điều đó rất đúng. Nhưng nàng phải sống. Sống để trả thù cho chồng con và nhất là để tố cáo với Bao Công hầu loại trừ tên quỉ dâm ô, ỷ thế hiếp người, dẹp bỏ một hiểm hoạ cho phụ nữ có đôi chút nhan sắc.
Nghĩ vậy nàng gượng sầu làm vui.
Nhị Quốc Cựu hay tin cười ha hả lấy bạc vàng gấm vóc thưởng cho đám tỳ nữ và truyền cho rước trương thị trở lại Đông cung. Rồi thì Trương thị đành chịu thất thân với tên Hoàng Thân dâm đãng, độc ác, để chờ dịp báo cừu.
Nàng lấy trộm bạc vàng mua chuộc tỳ nữ để tìm cách trốn ra ngoài phủ.
Chừng một tuần sau ngày bố con Văn Chánh bị sát hại, và bị xô thây xuống giếng, một sáng từng đàn quạ ngửi mùi tử khí, kéo đến đầy khu vườn sau phủ, kêu “quạ, quạ”suốt ngày.
Nhị Quốc Cựu sợ hãi gọi một tên quân tâm phúc vô phòng riêng và hỏi rằng:
- Tụi bây chôn nó ra sao mà quạ đến đông như vậy?
Một tên vội thưa:
- Dạ, chôn chặt dưới ba thước đất.
- Thiệt không hay là trong đêm tối làm ẩu? Có ra xem lại chưa?
- Dạ có xem lại rồi. Nếu Hoàng thân không tin xin mời ra coi. Tay chúng con chôn có hơn bốn chục mạng qua mấy năm nay rồi, đâu có phải lần đầu.
Thực ra thì sáng hôm có quạ kéo đến, bốn tên đã nháy nhau chạy ra giếng thấy xác bố con Văn Chánh nổi lên lờ mờ dưới đáy giếng nên đã lấy đá tảng thả xuống để nhận chìm đi. Bởi vậy cúng mới dám quả quyết như trên.
Nghe nhắc đến số nạn nhân đã qua tay mình, Nhị Quốc Cựu chột dạ nhìn bốn tên thủ túc bằng cặp mắt khó hiểu. Phút sau Nhị Quốc Cựu ra lệnh:
- Tụi bây trở ngay ra chõ đó hun khói cho đàn quạ bay đi. Mà phải kín miệng không thì chớ có trách ta.
Bốn đứa dạ ran, chạy đi thi hành lệnh chủ. Từng đám khói đen bốc lên từ vườn cây, sau dinh Nhị Quốc cựu. Bầy quạ bay tứ tán nhưng lát sau dường như quen với khói chẳng những chúng tụ lại như trước mà còn kêu to hơn như để phản đối nữa.
Trước tình thế ấy, Nhị Quốc Cựu suy nghĩ trọn một ngày đêm rồi qua sáng sau y ra lệnh dời toàn bộ cơ sở về vùng Trịnh Châu. Kể ra thì hắn cũng khôn ngoan. Nếu ở lại đây, người quanh vùng tất sinh nghi. Nay bỏ dinh thự hoang phế thì dù quạ có kéo đến đông gấp mười lần, cũng chẳng có gì phải ngại.
Cho được chắc chắn hơn. Nhị Quốc Cựu ngầm ra lệnh thủ tiêu bốn tên quân tâm phúc, trên con đường từ Thạch Kiều về đất Trịnh Châu.
Y yên trí từ nay không ai có thể tìm ra tội ác của y.
Nhưng mà ông trời có mắt.
Ba tháng sau ngày Nhị Quốc Cựu bỏ dinh mà đi, xẩy có Bao Công nhân khi tuần tra về, có việc trọng đại phải ghé qua Kinh Đô vào triều kiến vua Nhơn Tôn.
Bao Công cỡi con bạch mã thong thả tiến qua vùng Thạch kiều để vào đất đế đô.
Lúc bao Công đi gần tới Phủ cũ của Nhị Quốc Cựu, bỗng một cơn gió trốt thổi ào qua, làm ông suýt bay cả mũ. Cơn sốt soáy trên đầu ngựa của Bao Công rồi di chuyển dần dần đến trên miệng giếng nơi sau vườn Nhị Quốc Cựu thì dừng lại và xoáy mạnh hơn. Bầy quạ sợ hãi bốc cánh bay lên trời và cứ lượn quanh con trốt.
Bao Công dừng ngựa nhìn địa thế hồi lâu rồi trỏ tay về phía con trốt bảo hai anh lính đứng bên:
- Lạ nhỉ. Ta xem chỗ này không đất trống hay sông lớn mà sao con trốt cứ xoáy mãi vào chỗ kia. Chắc là nơi dó có giếng sâu lắm hoặc hang hốc chi đó. Lại thêm có quạ nhiều như vậy hẳn là có chi xu uế. Vây hai người đi ra phía đó coi sự thể thế nào rồi về trình cho ta rõ. Đi lẹ lên, ta chờ ở đây.
Nói đoạn Bao Công xuống ngựa đến dưới bóng mát nghỉ chân.
Hai chú lính công sai hướng theo phía con trốt mà đi. Hồi sau, họ tới phủ của Nhị Quốc Cựu. Thấy bốn bề tường cao vòi vọi, hai chú lính lần tới trước cửa phủ định bụng dòm vô. Bất ngờ thấy cửa đóng im ỉm lại có bảng lớn đề mấy hàng chữ.
Hai lính công sai hoảng hồn, co giò chạy về phi báo với Bao Công:
- Tuân lệnh thượng quan chúng tôi dò theo con trốt thì thấy có tụ ở phía trong dinh thự có tường cao bo bọc.
Bao Công tai nghe, mắt nhìn theo con trốt thấy nó tan dần. Ông liền hỏi thuộc hạ:
- Sao không dòm vô coi sự thể ra sao?
- Dạ, chúng tôi không dám vì ở cổng có bảng đề “Nếu ai dòm ngó thì khoét mắt, còn ai chỉ trỏ thì chặt tay”.
(Bạn đọc còn nhớ chính vì mấy hàng chữ này mà bữa trước Văn chánh sợ hãi kêu vợ quay về không dám đi tới nữa).
Bao Công nghe nói, cau mày, nổi giận:
- Không phải là cung điện Đức Vua mà sao dám đề như vậy?
Viên thơ lại già đứng bên góp ý kiến:
- Thưa thượng quan, chắc là Vương phủ của bậc nào đó.
Bao Công gắt:
- Ngoại trừ Hoàng Cung , không nơi nào được phép đề như vậy dù là Hoàng Thân quốc thích hay quan nhất phẩm trào đình. Bây đâu, dắt ngựa lại đây để ta đích thân đến coi xem ai mà lộng hành như vậy?
Tới trước phủ Nhị Quốc Cựu, Bao Công thấy cửa đóng im ỉm. Ngoại trừ tấm bảng đe doạ trên đây, không thấy có bảng hiệu chi cho biết danh chức tước của chủ nhân dinh cơ này.
Bao Công sai lính gõ cửa hồi lâu cũng không thấy bên trong động tĩnh gì . Ông bảo viên thơ lại cho quân đi kiếm quanh đó xem có ông già bà cả nào thì mời đến cho ông hỏi chuyện.
Lát sau lính dẫn một ông già lối sáu mươi tuổi nhưng còn quắt thước, về trình.
Bao Công liền cho tả hữu lui ra xa rồi ông xuống ngựa ôn tồn hỏi ông già:
- Lão cho biết phủ này của ai không?
- Dạ, của một Hoàng thân là Tào nhị Quốc Cựu.
Bao Công cau mày:
- Dẫu cho Hoàng thân đi nữa, cũng không cất nhà lớn như vậy được.
Ông già thiệt thà nói thêm:
- Hoàng thân xây dinh thự lớn như vầy ở ngay đất thần kinh, chắc hẳn có sự ưng thuận với đức Vua.
- Triều đình có đặt ra phẩm trật, luật lệ hẳn hoi. Nếu biết tất Hoàng thượng không khi nào chịu để như vậy, dù người đó là Nhị Quốc Cựu.
Ông già thở dài:
- Thượng quan đi tuần tra các nơi ít về chốn kinh đô nên chưa biết rõ Nhị Quốc cựu đó thôi…
- Lão nói sao?
- Quyền thế của Nhị Quốc Cựu xem ra còn lớn hơn nhà vua.
Nói đến đây ông nín bặt, nhìn Bao Công như dò xét. Bao Công cười bảo:
- Lão cứ nói đi. Cứ trông dinh cơ rộng lớn huy hoàng thế này ta cũng đã đoán ra phần nào rồi. Lão hãy nói tất cả sự thật đặng giúp ta loại trừ bớt bọn phản thần, hại vua, hại dân.
- Thưa thượng quan… Đây là Nhị Quốc Cựu…
- Lão cứ nói, ta sẽ làm theo lẽ phải. Nếu vua không nghe ta thì ta sẽ phải chết. Nhưng ta chắc không đến nỗi nào. Ta biết tánh đức vua lắm. Lão hãy nói mau đi.
- Đại nhân có hỏi tôi mới dám nói. Nhị Quốc Cựu này lộng hành quá lắm. Mỗi lần ông ta ra đường dân phải kép nép cung kính như đối với vua. Kẻ nào phạm tới ông ta là bị bắt giam, xiềng xích liền. Ông ta lại là người dâm đãng vô cùng. Tuy còn là độc thân mà trong dinh chia ra Đông Cung và Tây cung với hàng chục mỹ nữ. Vậy mà hễ gặp đàn bà con gái có nhan sắc là ông ta lại cho theo dò rồi dụ vào trong phủ thoả mãn thú tính. Người ta đồn nạn nhân không bao giờ thấy trở về nhà.
- Theo lão thì họ đã bị Nhị Quốc cựu giết chết?
- Thưa không rõ. Giết hay giữ lại nuôi trong phủ điều đó tôi không rành lắm.
- Thế sao không thấy gia đình nạn nhân khiếu nại?
- Thưa đại nhân, phần thì họ sợ vua đã không chạm được Nhị Quốc Cựu mà còn bị trả thù là khác phần thì có nhiều người hoặc bị bắt từ xa đưa về hoặc bị sa vào bẫy của Hoàng thân khi đi ngang qua kinh đô này, như thế mà người nhà biết đâu và biết ai mà cáo?
- Chà, bọn này quỷ quyệt thật.
- Dạ, mưu mẹo lắm. Riêng tôi, tôi có biết trường hợp vợ chồng nhà nọ có đứa con ba tuổi cách đây hơn ba tháng được mời vô phủ chơi, chừng tới bữa Nhị Quốc Cựu dọn đi, tôi không thấy cha con nhà ấy.
- Còn người vợ đâu? Họ làm nghề gì?
- Tôi không biết? Có lẽ vợ đi theo đám mỹ nữ của Nhị Quốc Cựu. Nghe nói người vợ đẹp lắm còn chồng là học trò.
- Đi đâu?
- Dạ không biết rõ, nghe nói về vịnh Trịnh Châu.
- Lão có chắc chồng con người đó bị giết không?
- Dạ không biết đích xác.
- Thế là khó tra quá. Chỉ còn cách khám xét Phủ này mà thôi.
- Tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng nêu nhỡ không tìm thấy bằng chứng gì thì đại nhân sẽ bị nguy hiểm.
Bao Công lắc đầu:
- Lão chớ ngại cho ta, dù không tìm thấy chi khả nghi. Nội một cái Phủ xây cất như Hoàng cung lại bỏ phế thế này, ta cũng có quyền vào xem rồi.
Ông già chưa hết thắc mắc:
- Xin đại nhân giữ kín cho kẻ họ biết tôi tọc mạch thì tính mạng chẳng còn.
Bao Công gật đầu:
- Ta có cách khiến không ai nghi ngờ cho lão cả. Tuy nhiên để đề phòng, ta thưởng cho lão một số bạc đi vùng khác làm ăn.
Nói đoạn Bao Công ngầm lấy bạc trao tặng cho ông lão rồi cho ông ta lui gấp. Ông già vừa quay lưng đi, Bao Công chợt nhớ ra điều gì liền gọi giật lại hỏi nhỏ:
- Lão có thấy đàn quạ đang bu kín vòm cây phía sau dinh không?
- Dạ có.
- Mới có hay lâu nay vẫn thế?
- Dạ mới co lối ba tháng ngoài.
- Dưới chỗ đó có chi không?
- Dạ nghe nói có giếng Quỳnh Hoa.
Bao Công suy nghĩ một lát rồi lẩm bẩm:
- Giếng Quỳnh Hoa, cách đây ba tháng, vào thời kỳ vợ chồng anh học trò bị sa bẫy. Lạ thiệt.
Khi ông già đi khỏi, Bao Công vẫy đám quân hầu lại mà bảo rằng:
- Lão già này chẳng cho được tin tức gì cả. Thôi tụi bây cứ bẻ khoá, phá cửa cho ta vô.
Bọn sai xúm lại bẩy chiếc khoá đồng to bằng cườm tay nơi cửa ra vào.
Lát sau,khoá bật tung, Bao Công điềm nhiên cỡi ngựa thong thả tiến vào, theo sau là toán quân hầu và đám thơ lại.
Tới trước phòng có bảng đề “chánh điện” Bao Công lần lượt sục sạo khắp nhà, từ Đông cung sang Tây cung. Đồ đạc để lại khá nhiều, chỉ những thứ cần thiết được dọn đi mà thôi. Sau khi xem xét kỹ các phòng, Bao Công trở lại Chánh điện tức là phòng khách của Nhị Quốc Cựu.
Ông ngồi vào án thư rồi gọi thơ lại sắp bút nghiên cho ông làm việc.
Bao Công ngồi viết một lát rồi kêu hai thám tử Vương Hưng và Lý Triết vô mà dạy rằng:
- Hai người mở rộng tất cả các cửa trong ngoài rồi ra trước cổng phủ thay phiên nhau rao thật to như sau cho ta:
“Hỡi các vonng hồn uổng tử, hỡi những kẻ bị hàm oan hay bị ức hiếp, nay Bao Đại nhơn tuần tra tới phủ Tảo Nhị Quốc Cựu “có mượn tạm nơi đây làm chổ đăng đường. Vậy ai có điều chi cứ đôi đơn vào khiếu oan. Đặt biệt con ma trốt, Bao đại nhơn truyền cho vào trước nhất”.
Hai người nhớ rõ chưa?
Vương Hưng và Lý Kiết sửng sốt, đưa mắt nhìn nhau, rồi cùng ngập ngừng thưa:
- Dạ… chúng tôi…nhớ rồi.
__________________




**************************************************
TRUM YEU GAI , CHET VI GAI
SONG DE YEU , CHET VI YEU
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến


Múi giờ GMT. Hiện tại là 02:57 PM.


Powered by: vBulletin Version 3.6.1 Copyright © 2000 - 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.