![]() |
Ai giang đầu
Thiếu Lăng dã lão thôn sinh khốc Xuân nhật tiềm hành Khúc Giang khúc Giang đầu cung điện tỏa thiên môn Tế liễu tân bồ vị thùy lục? Ức tích nghê tinh há nam uyển Uyển trung vạn vật sinh nhan sắc Chiêu Dương điện lý đệ nhất nhân Đồng liễn tùy quân tại quân trắc Liễn tiền tài nhân đới cung tiễn Bạch mã tước nghiệt hoàng kim lặc Phiên thân hướng thiên ngưỡng xạ vân Nhất tiếu chính trụy song phi dực Minh mâu hạo xỉ kim hà tại? Huyết ô du hồn quy bất đắc Thanh Vị đông lưu, Kiếm Các thâm Khứ trú bỉ thử vô tiêu tức Nhân sinh hữu tình lệ triêm ức Giang thủy giang hoa khởi chung cực Hoàng hôn Hồ kỵ trần mãn thành Dục vãng thành nam vọng thành bắc. Dịch Nghĩa Nỗi đau xót bên sông Ông già nhà quê Thiếu Lăng (1) nén tiếng khóc nghẹn ngào Ngày xuân, lẻn đi trên khuỷu sông Khúc Giang (2) Hàng nghìn cửa cung điện ở bên sông đều im ỉm khóa Cây liễu xinh, khóm bồ non, vì ai mà xanh tươi? Nhớ khi xưa, cờ bảy sắc trẩy xuống vườn ngự uyển phía nam Cảnh vật trong vườn đều tưng bừng tươi thắm Người bậc nhất trong cung Chiêu Dương (3) Được ngồi cùng xe với vua, theo hầu bên cạnh vua Trước xe là các nữ quan đeo cung tên Ngựa bạch ngậm chặt chiếc hàm thiếc bằng vàng (Nữ quan) xoay mình, ngước nhìn trời, nhắm bắn lên mây Một nụ cười đã rơi cả đôi chim đang bay sát cánh (Người đẹp) mắt trong sáng, răng trắng bóng, bây giờ ở đâu? Hồn bơ vơ vấy máu không nơi về được Nước sông Vị trong xanh chảy về đông, hang núi Kiếm Các thăm thẳm Kẻ đi người ở (4), như thế là tăm hơi vắng bặt Người đời có tình cảm, lệ chảy ướt ngực Nước sông và hoa cỏ bên sông há đều đau buồn cùng cực Dưới bóng hoàng hôn, quân Hồ cưỡi ngựa tung bụi đầy thành (Khiến mình mê man) định đi tới phía nam thành lại hướng về phía bắc! Chú thích: (1) Tức Đỗ Phủ. (2) Sông Khúc Giang ở phía đông Trường An. (3) Triệu Phi Yến, người bậc nhất trong cung Chiêu Dương nhà Hán. Đây chỉ Dương Quý Phi. (4) Ý nói: Dương Quý Phi bị thắt cổ chết ở Mã Ngôi, còn Đường Minh Hoàng chạy vào đất Thục. |
Dịch Thơ Thương đầu sông
Ông già Thiếu Lăng nghẹn ngào khóc, Ngày xuân thui thủi khúc sông Khúc. Bên sông cung điện khóa nơi nơi, Bồ liễu vì ai khoe thắm lục? Nhớ thuở bóng cờ xuống vườn nam, Vườn nam cảnh vật bừng sắc hương! Trong điện Chiêu Dương người bậc nhất, Cùng xe ngồi cạnh đức quân vương. Trước xe thể nữ đeo cung tên, Ngựa bạch ngậm chiếc nhàm hoàng kim, Né mình nhìn trời nhằm mấy bắn, Một nụ cười rơi cả đôi chim. Mặt ngọc răng ngà vắng bấy lâu, Máu hoen hồn lạc biết về đâu! Vị Thủy xuôi đông, Kiếm Các vắng, Khuất, còn, vắng bặt tăm hơi nhau! Việc đời nghĩ lại lệ ướt ngực, Hoa, nước trên sông... đâu cùng cực? Ngựa Hồ về tối, bụi đầy thành, Ta muốn về nam, hóa sang bắc! |
Ai vương tôn
Trường An thành đầu đầu bạch ô Dạ phi Diên Thu môn thượng hô Hựu hướng nhân gia trác đại ốc Ốc để đạt quan tẩu tị Hồ Kim tiên đoạn chiết cửu mã tử Cốt nhục bất đắc đồng trì khu Yêu hạ bảo quyết thanh san hô Khả liên vương tôn khấp lộ ngung Vấn chi bất khẳng đạo tính danh Đãn đạo cùng khổ khất vi nô Dĩ kinh bách nhật thoán kinh cức Thân thượng vô hữu hoàn cơ phu Cao Đế tử tôn tẫn long chuyết Long chủng tự dữ thường nhân thù Sài lang tại ấp long tại dã Vương tôn thiện bảo thiên kim khu Bất cảm trường ngữ lâm giao cù Thả vị vương tôn lập tư tu Tạc dạ đông phong xuy huyết tinh Đông lai thác đà mãn cựu đô Sóc phương kiện nhi hảo thân thủ, Tích hà dũng nhuệ kim hà ngu! Thiết văn thiên tử dĩ truyền vị, Thánh đức bắc phục Nam Thiền Vu. Hoa Môn ly diện thỉnh tuyết sỉ, Thận vật xuất khẩu tha nhân thư. Ai tai vương tôn thận vật sơ, Ngũ Lăng giai khí vô thời vô. Dịch Nghĩa Quạ đầu trắng ở đầu thành Trường An Đêm bay đến kêu trên cửa Diên Thu (1) Lại mổ rỉa nóc nhà to của người ta Dưới nhà ấy, các quan lớn đã chạy lánh quân Hồ Roi vàng quất gãy, chín ngựa (2) đều chết cả Người ruột thịt cũng không được giong ruổi cùng đi Tiếp bên lưng đeo chuỗi ngọc báu và san hô xanh Đáng thương thay, vương tôn khóc ở góc đường Hỏi sao cũng không chịu xưng tên, kể họ Chỉ xin làm tôi tớ vì đang khổ sở khốn cùng Hàng trăm ngày rồi luồn lách gai góc Da dẻ suốt người không chỗ nào lành Con cháu Cao Đế (3) đều có tướng mũi cao Nòi rồng tất phải khác người thường (Bây giờ) lang sói được ở kinh đô, rồng phải lẩn ở đồng nội (4) Vương tôn khéo giữ tấm thân nghìn vàng Nơi ngã ba đường, không dám dông dài trò chuyện Chỉ vì vương tôn nên dừng lại chốc lát Đêm qua, gió đông thổi đến những mùi máu tanh hôi Lạc đà từ phía đông đến nhan nhản đầy kinh đô cũ Các chiến sĩ phương bắc (5) có thân thể mạnh, chân tay cứng Xưa sao hăng hái sắc bén, giờ sao ngu đần Nghe đồn thiên tử đã truyền ngôi (6) Đức giáo thánh nhân làm cho Nam Thiền Vu (7) ở phía bắc phải cảm phục Người Hoa Môn ( rạch mặt (9) xin rửa nhục Khá cẩn thận giữ miệng, đừng để kẻ khác rình dò Xót thay! Vương tôn nên giữ gìn, đừng sơ hở Khí thịnh vượng của Ngũ Lăng lúc nào chẳng có (10) Chú thích: (1) Cửa Diên Thu: cửa tây vườn thượng uyển trong cung nhà Đường (2) Chín ngựa: số ngựa đóng xe của hoàng đế (3) Cao Đế: tức Hán Cao Tổ. Đây ám chỉ vua Đường (4) Chỉ Đường Huyền Tông phải lánh vào Thục, Đường Túc Tông phải ở Linh Vũ, còn An Lộc Sơn thì xưng hoàng đế ở Lạc Dương (5) Chỉ quân Kha Thư Hàn, tướng nhà Đường, phòng thủ Đồng Quan, nhưng bị An Lộc Sơn đánh tan (6) Huyền Tông truyền ngôi cho Túc Tông, còn mình làm thái thượng hoàng (7) Nam Thiền Vu phục tùng Hán Quang Vũ Đế. Đây ám chỉ Hồi Ngột thân thiện với Đường Túc Tông (8) Hoa Môn: chỉ Hồi Ngột (9) Tục Hung Nô xưa rạch mặt chảy máu để tỏ lòng trung thành (10) Ý nói nhà Đường còn có khí thế thịnh vượng có thể trung hưng được |
Dịch Thơ
Thương vương tôn Quạ đầu thành lông đầu trắng phớ, Đêm bay kêu trên cửa Diên Thu. Lại moi nhà các quan to, Các quan chạy trốn giặc Hồ lung tung. Chín ngựa chết, roi đồng đập gẫy, Bỏ thịt xương, cố chạy lấy mình. Dưới lưng vòng ngọc xanh xanh, Góc đường ngồi khóc thương tình vương tôn. Hỏi tên họ, đâu còn dám nhận, Chỉ xin cho được phận tôi đòi! Tháng ròng chui rúc chông gai, Trên mình da thịt chẳng nơi nào lành. Con cháu chúa thảy rành cao mũi, Giống rồng xem khác với người thường. Rồng thất thế, sói đầy đường, Liệu mà giữ lấy nghìn vàng tấm thân. Vì vương tôn dừng chân đứng tạm, Lối lại qua chuyện dám kề cà! Gió đưa hơi máu đêm qua, Sớm nay đô cũ lạc đà nghênh ngang. Tướng phương bắc rặt phường thao lược, Nay vì đâu nhụt sức, kém tài? Trộm nghe vua mới lên ngôi, Đức đà phục được rợ ngoài Hung Nô. Rạch da mặt, trả thù xin quyết. Chớ rỉ răng, người biết không nên! Vương tôn cố sức giữ gìn, Năm Lăng trông lại còn bền khí thiêng! Nhượng Tống dịch Đầu thành Trường An quạ trắng đầu, Đêm bay trên cửa Diên Thu gào, Lại đến nhà người mổ trên mái, Dưới mái quan to chạy lánh Hồ! Roi vàng gãy nát, chín ngựa chết, Ruột thịt chẳng được cùng ruổi dong. Ngọc xanh châu báu giắt bên lưng, Thương nỗi vương tôn khóc vệ đường! Hỏi tên chẳng nói, chỉ nói khổ, Xin làm đày tớ cơn khốn cùng. Đã qua trăm ngày rúc gai cỏ, Mình không một chỗ da liền trơn. Con chàu nhà vua đều mũi lộ Giống rồng có khác với người thường. Muông sói ở thành, rồng ở nội, Vương tôn khéo giữ thân ngàn vàng! Gặp giữa đường quan dám rỉ hơi, Dừng với vương tôn chốc lát thôi. Đêm qua gió đông thổi máu tanh, Lạc đà tràn ngập kinh xưa rồi! Phía bắc quân kia hình vạm vỡ, Xưa sao dõng dạc, giờ sao tồi? Trộm nghe nhà vua đã truyền vị, Thuyền Vu đã chịu phục oai trời. Hoa Môn rạch mặt thề rửa nhục, Chớ hở môi ra chết với người! Ơi hỡi vương tôn kín giữ lời! Ngũ Lăng khí thiêng còn đời đời. Khương Hữu Dụng dịch |
Ức đệ kỳ I
Táng loạn văn ngô đệ Cơ hàn bạng Tế Châu Nhân hi thư bất đáo Binh tại kiến hà do ? ức tạc cuồng thôi tẩu Vô thì bệnh khứ ưu Tức kim thiên chủng hận Duy cộng thuỷ đông lưu Dịch Nghĩa Nhớ em Thời buổi loạn lạc,nghe tin em Đói rét nương náu ở châu Tế Vắng người thư không đến nơi Còn giặc biết làm sao gặp nhau ? Nhớ xưa cuống cuồng giục chạy Không lúc nào biết ốm đau và lo lắng Hiện nay hàng nghìn mối hận Phó mặc cùng dòng nước chảy về đông |
Dịch Thơ
Nhớ em Loạn ly nghe được tin em, Mặc dầu đói khát vẫn yên nước Tề, Người thưa thớt, thư về không tới; Buổi binh đao khó nói tương phùng. Nhớ ngày chạy loạn khổ chung, Lo âu, đau ốm, khốn cùng khó an! Lòng còn nặng muôn ngàn mối hận; Phó dòng sông chảy tận phương đông ... Bản dịch: Chi Điền Loạn lạc nghe tin chú Cơ hàn náu Tế Châu Vắng người thư chẳng tới Còn giặc,gặp nơi đâu ? Nhớ thuở xưa cuồng chạy Đau thôi lại thảm sầu Bây giờ muôn hối hận Phó mặc nước xuôi mau Bản dịch: Lê Nguyễn Lưu |
Ức đệ kỳ II
Thả hỉ Hà Nam định Bất vấn nghiệp thành vi Bách chiến kim thuỳ tại ? Tam niên vọng nhữ quy Cố hương hoa tự phát Xuân nhật điểu hoàn phi Đoạn tuyệt nhân yên cửu Đông tây tiêu tức hi Dịch Nghĩa Hãy mừng Hà Nam đã yên Không hỏi đến vòng vây Nghiệp Thành Qua trăm trận nay còn lại ai ? Ba năm trông ngóng em về Vườn cũ hoa tự nở Ngày xuân chim vẫn bay Khói bếp nhà ai đã tắt ngấm lâu rồi Đông tây tin tức thưa thớt |
Dịch Thơ
Hà Nam mừng hết giặc Thành Nghiệp giặc đang vây Trăm trận còn ai đó ? Ba năm nhớ chú đây Vườn xưa hoa nụ nở Xuân thắm cánh chim bay Khói bếp nhà ai tắt Vắng tin đông lẫn tây Lê Nguyễn Lưu dịch |
Bát trận đồ
Công cái tam phân quốc Danh thành Bát trận đồ Giang lưu thạch bất chuyển Di hận thất thôn Ngô Dịch Nghĩa Công lớn trùm khắp, nước chia làm ba Nổi danh trận đồ Bát quái Nước sông cứ chảy đá không lay chuyển Để lại hận đă thất kế thôn tính Ngô |
Dịch Thơ
Bát Trận Đồ Vơ công trùm lợp thời Tam Quốc Danh tiếng làm nên Bát trận đồ Đá vẫn nằm trơ dòng nước chảy Hận còn để măi lỡ thôn Ngô Bản dịch: Trần Trọng San Tam phân quốc công cao tột bực Bát trận đồ danh nức muôn đời Nước trôi đá vẫn không dời Ngậm ngùi nỗi chẳng nghe lời đánh Ngô Bản dịch: Trần Trọng Kim Chú thích: -Bát trận đồ: do Khổng Minh thời Tam quốc dựng thành, ở huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên. Tướng Ngô là Lục Tốn bị quân Thục vây hăm tại đây, nhưng nhờ được nhạc phụ của Khổng Minh là Hoàng Thừa Nghiện chỉ đường nên ra thoát được -Tam phân quốc: Khổng Minh chưa ra khỏi nhà đă biết thiên hạ thế chia làm ba, Thục Ngô Ngụy -Thôn Ngô: Lưu Bị đánh Đông Ngô để trả thù cho Quan Vân Trường, bị thua to về tay Lục Tốn. |
Bạc mộ
Giang thuỷ trường lưu địa Sơn vân bạc mộ thì Hàn hoa ẩn loạn thảo Túc điểu trạch lâm chi Cựu quốc kiến hà nhật ? Cao thu tâm khổ bi ! Nhân sinh bất tái hảo Mấn phát tự thành ty Dịch Nghĩa Chiều hôm Nơi này nước sông chảy hoài Vào lúc chiều hôm nhuộm màu mây núi Hoa lạnh lẽo nấp trong đám cỏ rối Chim ngủ đêm chọn cành rậm Ngày nào thấy lại đất nước cũ ? Trời thu lồng lộng khiến lòng càng buồn ! Một đời người không gặp dịp tốt hai lần Mái tóc mấy chốc mà thành tơ bạc ! |
Dịch Thơ
Nơi nước sông tuôn đổ Chiều mây núi nhuộm màu Hoa vàng xen cỏ rối Chim tối chọn cành sâu Nước cũ bao giờ thấy ? Thu cao tấc dạ sầu ! Dịp may đời hoạ hiếm Mấy chốc bạc phơ đầu Lê Nguyễn Lưu dịch |
Bất kiến
Bất kiến Lý sinh cửu , Dương cuồng chân khả ai . Thế nhân giai dục sát , Ngô ý độc lân tài . Mẫn tiệp thi thiên thủ , Phiêu linh tửu nhất bôi . Khuông sơn độc thu xứ , Ðầu bạch hảo qui lai . Dịch Nghĩa Không gặp Ðã lâu không gặp bạn Lý sinh. Bạn phải giả đò điên cuồng, thực đáng thương xót. Trong lúc người đời đều muốn bạn phải chết, chỉ riêng tôi có ý muốn tiếc tài . Bạn làm thơ rất mau lẹ, có lẽ đến ngàn bài Bây giờ đang phải nổi trôi , lưu lạc với một chén rượu. Núi Khuông Lư là nơi bạn từng đọc sách khi xưa Đầu bạc rồi, bạn hãy trở về nơi đó . |
Dịch Thơ
Không gặp Lâu rồi không gặp Lý sinh , Giả điên vờ dại , cho mình xót ai . Giết đi là ý người đời , Ngậm ngùi riêng chỉ mình tôi mến tài . Lẹ mau thơ viết ngàn bài ; Bây giờ một chén nổi trôi bụi trần . Nơi xưa đọc sách Khuông Sơn , Mái đầu bạc trắng , cố nhân hãy về ! Bản dịch Trần Trọng San |
Bồi giang phiếm chu tống Vi Ban quy kinh
Truy tiễn đồng chu nhật Thương xuân nhất thủy gian Phiêu linh vi cửu khách Suy lão tiển quân hoàn Hoa tạp trùng trùng thụ Vân khinh xứ xứ san Thiên nhai cố nhân thiểu Cánh ích mấn mao ban Dịch Nghĩa Một buổi trên thuyền tiễn đưa nhau Thương cảnh xuân, chung một dòng nước Đã bao lâu, thân khách lênh đênh Cảnh già yếu, lại mừng gặp anh trở lại Màu hoa sặc sỡ chen lẫn lớp cây trùng điệp Mây lơ lửng trên đỉnh núi khắp nơi Bên giời hiếm bạn cũ Mái tóc càng bạc phơ |
Dịch Thơ
Sông Bồi dong thuyền đưa Vi Ban về kinh Cuộc đưa tiễn thuyền cùng một buổi, Lòng thương xuân theo với nước xuân sầu. Kiếp lênh đênh thân khách đã bao lâu, Cảnh suy lão lại mừng nhau về chốn cũ. Cây từng lớp màu hoa xem sặc sỡ Khắp ngàn non tua tủa đám mây đưa Bên giời người cũ lơ thơ Buồn thêm tóc mái phất phơ điểm màu Á Nam dịch |
Bi Thanh Bản
Ngã quân Thanh Bản tại đông môn Thiên hàn ấm mã Thái Bạch quật Hoàng đầu Hề nhi nhật hướng tây Sổ kỵ loan cung cảm trì đột Sơn tuyết, hà băng dã tiêu sắt Thanh thị phong yên, bạch thị cốt Yên đắt phụ thư dữ ngã quân Nhẫn đãi minh xuân, mạc thảng thốt. Dịch Nghĩa Quân ta đóng ở cửa đông Thanh Bản Trời rét căm căm, ngựa uống suối Thái Bạch Bọn mọi Hề trong bộ lạc "đầu vàng" (thế xuống như) mặt trời phía tây. Chỉ có vài tên kỵ binh mà cũng giương cung xông tới. Núi, tuyết, sông băng, cánh đồng xơ xác. Chỗ xanh là khói, chỗ trắng là xương khô. Ước gì gửi được thư cho quân ta, (Khuyên hãy) kiên nhẫn đợi sang xuân, chớ nóng vội. -------------------------- Thanh Bản: Nơi tướng Phùng Quán đóng quân chống An Lộc Sơn. |
Dịch Thơ
Thương trận Thanh Bản Cửa đông Thanh Bản quân ta trú Lạnh trời cho ngựa uống hồ núi Bóng xế, vài tên lính kỵ Hề, Vẫn dám giương cung, ngựa xông tới. Núi tuyết, sông băng, đồng hắt hiu, Trắng ấy xương mà xanh ấy khói. Ước gì thư đến được quân ta: Cố đợi ra năm đừng nóng vội! Bản dịch: Khương Hữu Dụng |
Bi Trần Đào
Mạnh đông thập quận lương gia tử, Huyết tác Trần Đào trạch trung thuỷ. Dã khoáng thiên thanh vô chiến thanh, Tứ vạn nghĩa quân đồng nhật tử. Quần Hồ quy lai huyết tẩy tiễn, Nhưng xướng Hồ ca ẩm đô thị. Đô nhân hồi diện hướng bắc đề, Nhật dạ cánh vọng quan quân chí. |
Dịch Thơ
Thương Trận Trần Đào Đông sang...mười quận trai tài, Máu tuôn thành nước đỏ tươi ròng ròng. Im lìm trời vắng, đồng không, Bốn muôn quân nghĩa chết trong một ngày. Giặc Hồ, tên tẩm máu đầy, Hát câu hát mán, uống say phố phường. Ngày đêm khóc ngóng Bắc phương, Quan quân đâu tá? dân đương đợi chờ. |
Biệt Phòng thái uý mộ
Tha hương phục hành dịch Trú mã biệt cô phần Cận lệ vô can thổ Đê không hữu đoạn vân Đối kỳ bồi Tạ Truyện Bả kiếm mịch Từ Quân Duy kiến lâm hoa lạc Oanh đề tống khách văn |
Dịch Nghĩa
Từ giã mộ Phòng thái uý Ta đi công cán nơi quê người Dừng ngựa giã từ nấm mồ lẻ loi Gần nước mắt,không có đất khô ráo Dưới vòm trời có những đám mây rời rạc Đánh cờ với Tạ Truyện Mang gươm tìm Từ Quân Chỉ thấy hoa rừng rụng Nghe oanh hót tiễn đưa người Dịch Thơ Lại ra miền đất khách Dừng ngựa giã cô phần Mây ủ dăng trời thấp Đất hoen ướt lệ gần Đánh cờ hầu Tạ Truyện Mang kiếm viếng Tạ Quân Chỉ thấy hoa rừng rụng Con oanh hót tiễn chân Lê Nguyễn Lưu dịch |
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ I
Hữu khách, hữu khách tự Tử Mỹ Bạch đầu loạn phát thuỳ quá nhĩ Tuế thập tượng lật tuỳ thư công Thiên hàn nhật mộ sơn cốc lý Trung Nguyên vô thư quy bất đắc Thủ cước đống thuân, bì nhục tử Ô hô ! Nhất ca hề, ca dĩ ai ! Bi phong vị ngã tòng thiên lai Dịch Nghĩa Có người, có người tên chữ là Tử Mỹ Đầu bạc phơ, tóc bù xù rũ xuống quá tai Quanh năm lượm hạt dẻ, đi theo người nuôi vượn Trời rét, buổi chiều ở trong hang núi Trung Nguyên bặt tin, không về được Chân tay cóng buốt, da thịt tê dại Hỡi ôi ! Bài hát thứ nhất, tiếng hát đã xót xa Gió buồn vì ta từ trên trời thổi xuống... |
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ II
Trường sàm, trường sàm bạch mộc bính Ngã sinh thác tử dĩ vi mệnh Hoàng độc vô miêu, sơn tuyết thịnh Đoản y sác vãn bất yểm hĩnh Thử thì dữ tử không quy lai Nam thân tứ ngâm tứ bích tĩnh Ô hô ! Nhị ca hề, ca thuỷ phóng Lư lý vị ngã sắc trù trướng ! Dịch Nghĩa Thuổng dài, thuổng dài cán gỗ trắng Đời ta cậy nhờ ngươi mà sống Khoai hoàng tinh không nẩy mầm, tuyết đầy núi Áo ngắn kéo xuống không che nổi chân Lúc này, ta và ngươi đều về không Trai than thở, gái rên rỉ, bốn vách lặng lẽ Hỡi ôi ! Bài hát thứ hai vừa cất lên Hàng xóm vì ta mà vẻ mặt thảm thiết. |
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ III
Hữu đệ, hữu đệ tại viễn phương Tam nhân các sấu, hà nhân cường Sinh biệt triển chuyển bất tương kiến Hồ trần ám thiên đạo lộ trường Tiền phi giá nga, hậu thu thương An đắc tống ngã tại nhữ bàng ? Ô hô ! Tam ca hề, tam ca phát Nhữ quy hà xứ thu huynh cốt ? Dịch Nghĩa Có em trai, có em trai ở chốn xa xôi Ba người đều gầy, có ai khoẻ mạnh đâu ! Sống chia lìa, trằn trọc vì không gặp nhau Bụi Hồ mù trời, đường sá vời vợi. Chim giá nga bay trước, chim thu thương bay sau Làm sao đưa ta đến bên các em ? Hỡi ôi ! Bài hát thứ ba, tiếng hát trỗi ba lần Các em về, biết nhặt xương anh chốn nào ? |
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ IV
Hữu muội, hữu muội tại Chung Ly Lương nhân tảo một, chư như si Trường Hoài lãng cao, giao long nộ Thập niên bất kiến lai hà thì ? Biên chu dục vãng, tiễn mãn nhãn Diễu diểu Nam quốc đa tinh kỳ Ô hô ! Tứ ca hề, tứ ca tấu Lâm viên vị ngã đề thanh trú Dịch Nghĩa Có em gái, có em gái ở Chung Ly Chồng chết sớm, các con còn thơ dại Sông Hoài sóng lớn, thuồng luồng dữ Mười năm chẳng thấy em về lần nào. Muốn vượt thuyền thăm em, tên đầy trước mắt, Cõi nam bao nhiêu cờ xí thấp thoáng. Hỡi ôi ! Hát bài thứ tư, tiếng hát bốn phen cất lên Vượn rừng vì ta kêu buồn giữa ban ngày. |
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ V
Tứ sơn đa phong, khê thuỷ cấp Hàn vũ táp táp, khô thụ thấp Hoàng cao cổ thành vân bất khai Bạch hồ khiêu lương, hòng hồ lập Ngã sinh hà vi tại cùng cốc ? Trung dạ khởi toạ, vạn cảm tập. Ô hô ! Ngũ ca hề, ca chính trường Hồn chiêu bất lai, quy cố hương Dịch Nghĩa Núi bốn bề lộng gió, nước suối đổ dồn dập Mưa lạnh ào ào, cây khô ướt đẫm Thành xưa đầy cỏ vàng, mây không tan Chồn trắng nhảy lên cầu, chồn vàng đứng sững Đời ta vì sao lại ở nơi hang cùng ? Nửa đêm ngồi dậy, muôn mối cảm xúc dồn tới Hỡi ôi ! Bài hát thứ năm, lời hát còn dài Hồn gọi không lại, đang mải về quê cũ. |
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ VI
Nam hữu long hề tại sơn thu Cổ mộc lung tung chi tương cù Mộc diệp hoàng lạc long chính trập Phục xà đông lai thuỷ thượng du Ngã hàng quái thử, an cảm xuất Bạt kiếm dục trảm thả phục hưu. Ô hô ! Lục ca hề, ca tứ trì, Khê hác vị ngã hồi xuân tư Dịch Nghĩa Phương nam có con rồng ở đầm trên núi Cây cổ thụ cao vút, cành chằng chịt xen nhau Giữa lá rụng úa vàng, rồng nằm cuộn khúc Loài rắn miền đông tới lượn lờ trên mặt nước Ta đến xứ sở lạ lùng này, không dám ra Tuốt gươm toan chém nhưng lại thôi. Hỡi ôi ! Bài hát thứ sáu, tiếng hát có vẻ chậm, Núi khe vì ta đưa dáng xuân về. |
Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ VII
Nam nhi sinh bất thành danh thân dĩ lão Tam niên cơ tẩu hoang sơn đạo. Trường An khanh tướng đa thiếu niên, Phú quý ưng tu trí thân tảo. Sơn trung nho sinh cựu tương thức, Đãn thoại túc tích thương hoài bão. Ô hô ! Thất ca hề, tiễu chung khúc, Ngưỡng thị hoàng thiên bạch nhật tốc... Dịch Nghĩa Làm trai sinh ra chưa nên danh thân đã già Ba năm đói chạy khắp nẻo núi hoang. Bọn khanh tướng ở Trường An đa phần còn trẻ Nên sớm đem thân vào chốn giàu sang. Bọn làng nho quen biết cũ đều ở núi non Thường bàn chuyện xưa, thương cho chí lớn. Hỡi ôi ! Hát bài thứ bảy, tiếng hát buồn đã dứt, Ngẩng trông trời cao, mặt trời trắng đi qua nhanh... |
Các dạ
Tuế mộ âm dương thôi đoản cảnh Thiên nhai sương tuyết tế hàn tiêu Ngũ canh cổ giác thanh bi tráng Tam hiệp tinh hà ảnh động diêu Dã khốc kỷ gia văn chiến phạt Di ca sổ xứ khởi ngư tiều Ngọa long dược mã chung hoàng thổ Nhân sự âm thư mạn tịch liêu Dịch Nghĩa Trong ngày tháng cuối năm, thời gian giục giã qua mau. Giữa khi sương tuyết ở bên trời, đêm ngừng giá lạnh. Tiếng trống và tù và nổi lên nghe bi ai, hùng tráng vào lúc canh năm. Bóng những vì sao và sông Ngân lay động trong miền Tam Hiệp. Biết bao nhà vang tiếng chiến chinh trong tiếng khóc đồng quê. Trong khi ở một vài nơi, nổi lên điệu hát của người đánh cá, kiếm củi trong tiếng ca mọi rợ. Rồng nằm, ngựa nhảy cuối cùng đều thành đất vàng. Việc đời và thư tín thảy đều vắng vẻ, yên tịnh. ------------------------------------------ Đỗ Phủ làm bài này vào mùa đông năm 766, khi ở Quỳ Châu. |
Dịch Thơ
Đêm tối trên gác Năm tàn ngày tháng dục qua mau, Biên cảnh sương pha tuyết dãi dầu. Kèn trống bi hùng thôi thúc sáng, Tinh hà dao động cõi Tam Châu. Nhà nhà than khóc hờn chinh chiến! Đây đó hò ca mấy chú tiều. Danh tướng mưu thần ba tất đất, Việc đời, thư tín thảy buồn thiu! Bản dịch: Chi Điền |
Cảm tác
Văn chương thiên cổ sự Ðắc thất thốn tâm tri Tác giả giai thù biệt Thanh danh khởi lãng thuỳ Dịch Thơ Cảm tác Văn chương là chuyện muôn đời Có chăng được mất do người ta thôi Khác chăng mỗi vẽ vẹn mười Giử thanh danh mãi sáng ngời về sau Võ Thị Xuân Ðào ( Phỏng dịch ) |
Cầm đài
Mậu Lăng đa bệnh hậu Thượng ái Trác Văn Quân Tửu tứ nhân gian thế Cầm đài nhật mộ vân Dã hoa lưu bảo yếm Mạn thảo kiến la quần Quy phụng cầu hoàng ý Liêu liêu bất phục văn Dịch Nghĩa Sau buổi lắm bệnh ở Mậu Lăng Càng thêm yêu Trác Văn Quân Quán rượu trong cõi nhân gian Cầm đài dưới bóng mây chiều Hoa dại nằm trong chén quý Cỏ hoang vương gấu quần là Ý phượng cầu hoàng xưa Nay không còn được nghe lại nữa |
Dịch Thơ
Mậu Lăng tâm bệnh vừa tan Càng thêm say đắm riêng nàng Văn Quân Tửu gia trong chốn thế nhân Cầm đài giữa ánh phù vân phiêu bồng Chén quỳnh lưu cánh hoa đồng Cỏ may vương gấu quần hồng phất phơ Cầu hoàng quy phượng ngày xưa Cung cầm trác tuyệt bây giờ còn đâu Vi Nhất Tiếu |
Cửu khách
Cơ lữ tri giao thái Yêm lưu kiến tục tình Suy nhan liêu tự thẩn Tiểu lại tối tương khinh Khứ quốc ai Vương Xán Thương thì khốc Giả Sinh Hồ ly hà túc đạo Sài hổ chính tung hoành Dịch Nghĩa Ở đất khách lâu dài Sống gửi nằm nhờ mới biết tình nghĩa bạn bè ở lâu dài mới thấy rõ thói đời Tự cười mình vẻ mặt nhăn nheo già cỗi Tên lại nhỏ mà khinh người thái quá Vương Xán đau buồn bỏ nước ra đi Giả Nghị khóc thương cho thời thế Lũ chồn cáo đâu đáng nói đến Hạng sói cọp đang lúc nghênh ngang |
Dịch Thơ
Sống gửi hay tình bạn ở lâu biết thói đời Mặt già riêng nửa dáng Lại nhỏ cũng khing người Vương Xán buồn xa nước Giả Sinh khóc tiếc thời Cáo chồn đâu đáng kể Sói cọp vẫy vùng chơi ! Lê Nguyễn Lưu dịch |
Cửu nhật Lam Điền Thôi thị trang
Lão khứ, bi thu cưỡng tự khoan Hứng lai kim nhật tận quân hoan Tu tương đoản phát hoàn xuy mạo Tiếu thảnh bành nhân vị chỉnh quan Lam thủy viễn tòng thiên giản lạc Ngọc sơn cao tịnh lưỡng phong hàn Minh niên thử hội tri thùy kiện Túy bả thù du tử tế khan Dịch Nghĩa Về già, buồn cảnh thu, gượng gạo cho khuây khỏa. Hôm nay nhân lúc cao hứng, cùng bác mua vui thật ra trò. Tóc ngắn ngủn, những thẹn bị gió thổi bay mũ (1) Cười mình đến phải nhờ người bên cạnh sửa hộ mũ cho chỉnh tề (2). Dòng Lam thủy từ ngàn suối xa xa đổ lại. Ngọc sơn vòi vọi cũng lạnh như hai ngọn núi cao. Sang năm, gặp tiết này, biết ai còn mạnh khoẻ. Sẽ uống say, rồi cái nhánh thù du điểm kỹ nhau xem. -------------------------------- (1) Do điển Mạnh gia đời Tần, nhân tiết trùng cửu (9 tháng 9), chơi núi Long Sơn, bị gió thổi rơi mũ, thành một đề tài để Tôn Thịnh làm bài văn trào lộng. (2) Cũng do điển Mạnh gia rơi mũ, phải nhờ người bên cạnh là Hoàn Ôn sửa mũ lại cho. |
Dịch Thơ
Ngày trùng cửu ở nhà họ Thôi huyện Lam Điền Tuổi già thu đến gượng khuây khoa Cao hứng vui chơi bác tại nhà Những thẹn tóc thưa cơn gió lốc Lại cười mũ lệnh khách nâng qua Lam Giang suối đổ ngàn biên tái Ngọc Lĩnh hơi lên ngọc Thái Hòa Năm đến, tiết nầy ai mạnh yếu? Thù du sẽ điểm sổ phần ta! Bản dịch:Chi Điền |
Dã vọng I
Thanh thu vọng bất cực Thiều đệ khởi tằng âm Viễn thuỷ kiêm thiên tĩnh Cô thành ẩn vụ thâm Diệp hi phong cánh lạc Sơn quýnh nhật sơ trầm Độc hạc quy hà vãn ? Hôn nha dĩ mãn lâm Dịch Nghĩa Trông cảnh đồng quê Bầu thu trong vắt khôn cùng Xa xôi bao lớp bóng râm nổi lên Nước xa lẫn vòm trời quang đãng Thành cô quạnh nấp trong sương dày Lá thưa thớt gió thổi cứ rụng dần Núi tít mù mặt trời vừa lặn Hạc lẻ bầy buổi chiều bay về đâu ? Quạ hoàng hôn xao xác khắp rừng. |
Dịch Thơ
Bầu thu vời mút mắt Lớp lớp bóng im xa Nước thẳm in trời tạnh Thành hoang khuất móc sa Lá thưa theo gió rụng Núi quạnh lẫn dương tà Hạc tối về đâu nhỉ ? Rừng đêm rộn ác tà... Lê Nguyễn Lưu dịch |
| Múi giờ GMT. Hiện tại là 02:13 AM. |
Powered by: vBulletin Version 3.6.1 Copyright © 2000 - 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.